LO TẾT THỜI BAO CẤP
Ngô Minh
Thoát khỏi thời “trăm thứ thứ gì cũng phân” vô cùng khó chịu ấy là một cuộc giải thoát vĩ đại. Nhưng công bằng mà nói, thời kỳ gian nan ấy, những “cán bộ mậu dịch” đã làm hết sức mình để năm nào cũng lo được cho hàng triệu gia đình có một cái Tết đàng hoàng. Đó là cũng là chuyện không thể quên… Những cái Tết thời bao cấp mới xa cách đây hơn 20 năm thôi, còn đậm trong trí nhớ của nhiều người, nhưng đối với thế hệ , 8X, 9X thì vô cùng lạ lùng khi nghe kể lại..
Đối với người Việt Nam, Tết Nguyên Đán là lễ trọng nhất trong năm . Dân gian diễu thầy bói : Số cô không giàu thì nghèo. Ba mươi Tết có thịt treo trong nhà. Nhưng ngẫm lại thì thầy bói đã nói rất đúng . Bởi vậy mà Tết đến, nhà nào cũng cố sắm cái Tết cho thật tươm tất dù trong lúc hàng ngày phải ăn bo bo, nước ruốc… Trên bàn thờ phải có chai rượu, lọ hoa, nải chuối, bánh chưng, bánh tét. Đây không chỉ là món ăn mà là chuyện tâm linh, hồn vía Tết. Tết phải có đĩa bánh, mứt, kẹo để tiếp khách. Phải có cành mai, cành đào cắm trong nhà. Thời kỳ ấy tôi là cán bộ tổ chức của Công ty Thực phẩm, rồi Sở Thương mại Bình Trị Thiên ( cũ), nên các cuộc họp bàn chuyện Tết, những đợt “đi chỉ đạo Tết” tôi đều có mặt. Có khi thức cả đêm ở lò mổ lợn Tết. Lo Tết ở đây là lo cho mấy trăm ngàn hộ gia đình cán bộ, công nhân và người ăn theo họ trong đối tượng chính sách có tem phiếu. Còn hơn 80 % nhân dân lao động ở nông thôn, thành thị tất nhiên là họ tự lo Tết …Người dân lo Tết theo cách riêng của họ, trên thị trường “nước nổi bèo nổi”. Cuối cùng ai cũng có cái Tết đàng hoàng như xưa nay vốn dĩ.
Tết truyền thống người Việt là “ Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ. Dây nêu tràng pháo bánh chưng xanh” . Nên trước Tết cả quý, lãnh đạo tỉnh sốt sắng về làm việc với lãnh đạo các ngành Thương mại, Lương thực để tính toán khả năng khai thác nguồn hàng, cung cấp Tết được những thứ gì, khả năng dự trữ, tổ chức phân phối sao. Sau đó ngành Thương nghiệp tỉnh nào cũng đã vắt giò lên cổ mà chạy. Tết là thước đo “chất lượng phục vụ” của cả năm. Đầu tiên là Ban cán sự Đảng , lãnh đạo ngành họp với công ty để bàn chuyện Tết. Bàn cãi tóe khói. Câu hỏi được nêu lên gay gắt là : Tết năm nay loại hàng gì đủ, nguồn ở đâu? . Hàng gì thiếu, kiếm ở đâu cho có , không kiếm được thì có thứ hàng gì thay thế ?. Sau đó là phân công cán bộ phụ trách từng “mũi công tác” như “mũi thịt lợn”, “mũi gạo nếp”; rồi “mũi đường”, mũi trà thuốc, pháo, bánh kẹo, củi, là dong, chuối thờ .v.v… Với quyết tâm không được để có hộ nào cán bộ không mua được “tiêu chuẩn” Tết. Ví dụ mỗi khẩu phải có 0,5 kg thịt lợn, 0,3 kg gạo nếp, hai lạng đậu xanh, một cân bánh kẹo, năm lạng mứt, một phong pháo.v.v…rất chi tiết, không thế đùa được . Thống nhất rồi mới tính toán và công bố “tiêu chuẩn Tết” năm nay có những thứ gì lên báo , rồi dán ở các cửa hàng thực phẩm, công nghệ phẩm, lương thực . Đã công bố công khai thì người tiêu dùng có quyền đỏi hỏi, có quyền phán xét. Căng thẳng lắm. Các giám đốc công ty, trưởng cửa hàng luôn vò đầu bứt tai vì lo. Mấy mặt hàng Tết không thể thiếu là : thịt lợn, gạo nếp, đậu xanh, chè gói, thuốc lá, rượu, nước mắm, hạt dưa, bánh kẹo, mứt gừng…rồi mì chính, hạt tiêu, củi, lá dong gói bánh, chuối nải để thờ.v.v.. Nghĩa là nhu cầu Tết xưa nay gồm những thứ gì đều tất tật được đưa vào kế hoạch cung cấp.
Ở Hà Nội thời đó, đi cửa hàng Mậu dịch mua hàng Tết như “đi chiến đấu”, cũng phải xếp hàng, chen lấn, xô đẩy, có khi cả ngày mới mua được suất của mình . Phải đi từ bốn năm giờ sáng. Dù cô mậu dịch viên khuôn mặt đầy vẻ ban ơn, cáu gắt, người mua vẫn kiên nhẫn chịu đựng. Cô cắt tem phiếu, ghi sổ, thu tiền rồi gọi tên cộc lốc, trịch thượng ném hàng cho người mua. Thế nhưng, vì một cái Tết gia đình, mọi người hàng mấy chục năm ròng đã quen chịu đựng, chẳng ai phản ứng gì. Mấy năm đầu, hàng Tết được bán từng mặt hàng một. Bán như thế thấy mậu dịch viên vất vả mà người mua hàng cũng phải chầu chực ở nhiều của hàng rất khổ. Nên người ta đã nghĩ ra cách đóng gói nhiều thứ hàng Tết vào trong một cái túi. Ở Hà Nội và các thành phố lớn, người ta đóng tất cả các loại hàng Tết trong túi nilông ( trừ thịt, gạo nếp, đậu xanh) in cành hoa đào hoặc hoa mai và dòng chữ “Chúc mừng năm mới”. Túi hàng Tết ai cũng như ai, đều có : hộp mứt thập cẩm đựng trong cái hộp bìa thô kêch, mẫu mã xấu xí, mấy lạng măng, miến, bóng bì, ít mộc nhĩ, nấm hương, gói mì chính nho nhỏ, một túi hạt tiêu , bánh đa nem, gói chè Hồng Đào hoặc Thanh Hương, bao thuốc Điện Biên hoặc Trường Sơn bao bạc , một chai rượu cam, rượu chanh Hà Nội, một bánh pháo tép…Còn thịt, gạo nếp, đậu xanh… thì đến cửa hàng xếp hàng mua trực tiếp. Ở các tỉnh thì người có tem phiếu trực tiếp ra cửa hàng mua. Sau này học tập Hà Nội , cũng đóng thành túi “Hàng Tết” như vậy, nhưng ít thứ hơn.
Tất cả thứ đó đối với từng hộ gia đình thì ít ỏi lắm, nhìn hàng mua về ai cũng thấy loãnh loãng, không vừa lòng vì còn thiếu nhiều thứ. Nhưng tính gộp chung cả tỉnh, cả ngành sẽ thành những con số khổng lồ. Thứ gì cũng lên đến vài trăm tấn, năm bảy chục tấn , hay vài chục vạn cái cả. Trong một cuộc họp lo Tết như thế, ông Phan Đình Chi, Giám đốc Sở Thương mại Bình Trị Thiên cũ quát :”Không lo đủ lợn Tết thì cán bộ cả ngành ta phải nộp lợn nuôi của gia đình mình vô cho đủ”. Anh Phan Đình Chi và những cán bộ thương nghiệp vất vả năm ấy bây giờ nhiều người không còn nữa. Nhưng hình ảnh gãi đầu vò tai vì lo lắng của các anh thì không thể quên . Hồi đó, cán bộ thu mua nào cũng về từng thôn xã để “kiểm kê” lợn cho Tết. Nắm đầu lợn “như công an nắm hộ khẩu” !. Họ ghi chép “hồ sơ lý lịch” con lợn nuôi từ bao giờ, đến Tết thì được bao nhiêu ký. Rồi họp thôn, họp xã công bố công khai các hộ có lợn Tết, để họ không bán ra “thị trường tự do”. Bí thư Đảng ủy xã phải đứng lên quán triệt, dặn dò. Rồi công bố chế độ đối lưu hàng hóa ưu tiên hơn ngày thường. Những vải tốt, đạm urê, chăn màn tốt.v.v..được chuẩn bị . Chặt chẽ thế mà không phải hộ nuôi lợn nào cũng bán lợn cho nhà nước, vì mậu dịch thời bao cấp luôn “mua như cướp”, giá chỉ bằng hai phần ba giá đầu nậu chợ đen mua, chịu không thấu. Người ta nuôi con lợn sáu bảy tháng ròng mà giá thu mua một cân lợn hơi chỉ đồng sáu, hai đồng, chỉ bằng một phần ba giá bán cho thương lái, ai mà không xót ruột !
Anh Phan Tấn Thanh, một thời là giám đốc Công ty thực phẩm Bình Trị Thiên, người gầy gò nhanh nhẹn, hiện đang sống ở Huế, đi bộ sáng nào tôi cũng gặp. Gặp nhau là dừng lại nói chuyện lo Tết thời bao cấp. Vào dịp Tết là anh thức cả đêm để tính toán. Người gầy rộc đi . Thời bao cấp tem phiếu thực phẩm chia ra nhiều loại : A1, A, B, C, E… Ở tỉnh không có phiếu A. Phiếu A chỉ có ở cửa hàng Tôn Đản, Hà Nội. Tỉnh chỉ có vài người hưởng phiếu B như Bí thư , chủ tịch tỉnh . Ở Huế có một người “dân” được hưởng phiếu thực phẩm loại B, đó là bà Từ Cung ( Từ Cung Hoàng thái hậu, vợ vua Khải Định, tên thật là Hoàng Thị Cúc ), mẹ vua Bảo Đại . Mới hay chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hóa cũng rất trân trọng đối với những nhân vật quan trọng trong triều đình nhà Nguyễn đang sống, dù triều Nguyễn đã sụp đổ từ năm 1945. Đến năm 1980 bà Từ Cung mới mất.
Anh Phan Tấn Thanh mở sổ cái to tướng theo dõi từng huyện. Cái sổ cái ấy ấy khổ lớn như giấy A3 bây giờ, đóng bìa cứng. Tôi thấy trong đó có từng cột ghi số lượng cán bộ, người ăn theo , hưởng tem phiếu gì của từng huyện thị trong tỉnh. Cẩn thận lắm. Số liệu không chỉ năm ngoái, năm kia mà hàng chục năm về trước. Cuốn sổ cái của anh Phan Tấn Thanh xứng đáng được đưa vào bảo tàng kinh tế Việt Nam. Tiếc là bây giờ không biết nó thất lạc đi đâu. Tôi nhớ trong sổ cái ấy, anh Thanh ghi rõ số lượng cán bộ công nhân viên và hưu trí cả tỉnh lúc đó là 600.000 người, cộng thêm các “đối tượng ăn theo” như trẻ em, người già được hưởng tem phiếu gấp ba nữa , rồi bộ đội, nên số người phải lo lên đến hơn 1,8 triệu. Bình quân các loại phiếu thực phẩm là 0,5 kg thịt một người trong tháng Tết, vị chi phải có 900 tấn thịt, công thêm nhu cầu quân đội và cầu giao tế của tỉnh, tổng số thịt lợn phải lo trong mỗi dịp Tết lên đến 1200 tấn. Một tạ lợn hơi khi mổ thu được 70 ký thịt , tính ra khối lượng lợn hơi là 1600 tấn. Muốn có 1600 tấn lợn hơi, phải thu mua và nuôi dự trữ cho được hơn 3000 con lợn trong một thời gian ngắn. Thật không dễ. Dự trữ thì phải có đủ cám lợn ăn, chuồng trại, người chăm sóc. Rất tốn kém. Nên các tổ thu mua phải đi về các làng xã, nằm cả tháng trời. Gay go nhất là lúc mổ thịt. Vì thời đó hầu hết gia đình cán bộ không có tủ lạnh, mà Tết chỉ trong 3 ngày, nên không thể cung cấp thịt sớm trước cả tuần được. Họ thường mua thịt cũng như các loại hàng Tết vào những ngày 28 Tết trở đi.
Các công ty, cửa hàng thực phẩm, lương thực phải mở thêm hàng chục điểm “bán hàng Tết” để đưa hàng Tết đến mọi gia đình đúng vào dịp Tết. Những đêm mổ thịt lợn Tết lãnh đạo Công ty Thực phẩm, các trưởng cửa hàng và anh em vận chuyển đều thức trắng ở Lò Mổ ở đường Huỳnh Thức Kháng Huế. 3 giờ sáng thịt lợn đã được chuyển về quầy bán lẻ…Có lần vào chiều 30 Tết tôi về Cửa hàng C ở đường Phan Đình Phùng, Huế, là nơi cung cấp thực phẩm cho các đối tượng phiếu C, D. Biết tôi ở phòng Tổ chức Công ty, mấy em mậu dịch viên trẻ như Liệu, Tiến, Lưu… dân Đông Hà, Đồng Hới bỗng òa khóc nức nở. Tôi hỏi sao khóc. Liệu bảo :” Bọn em không được về ăn Tết với bố mẹ rồi, phải trực đến 10 giờ đêm 30 Tết…”. Tôi ngậm ngùi an ủi :” Nghề phục vụ phải thế, rồi ra Tết về nghỉ dài hơn, em ạ…”. Đó là gái mậu dịch viên chưa chồng. Còn có chồng con rồi, thì chồng phải thay vợ làm dưa món, muối kiệu, hành, đi đánh bóng bộ tam sự, ngũ sự, mua cát bỏ bát nhang, đi xếp hàng mua hàng Tết ở các quầy hàng. Chiều 30 Tết phải nấu cúng tất niên, vì vợ về đến nhà tắm rửa xong là Giao thừa…
Ấy là chuyện những người lo thịt cho Tết. Ngoài thịt còn bao nhiêu thứ nữa như gạo nếp, kẹo, mứt, lá dong…Muốn có mỗi gia đình vài cân gạo nếp để gói bánh chưng, nấu xôi chè ông bà trong một cái Tết, ngành lương thực phải vô tận Đồng bằng Sông Cửu Long mua hàng trăm tấn gạo nếp. Kẹo, bánh, mứt , hạt dưa phải vô Sài Gòn mua, chuối thờ thì lên huyện miền núi A Lưới, Hướng Hóa hoặc vô tận Đồng Nai, Bình Phước, Khánh Hòa mới mua nhiều được. Thời đó cả nước dùng tiền mặt. Mỗi cái Tết Công ty Thực phẩm phải dùng xe con chở một lúc ba bì tải tiền ( năm sáu trăm triệu ) vô miền Nam mua hàng Tết về . Huế là xứ sở có nhiều bàn thờ, trang thờ nhất nước ta. Mỗi nhà trong mỗi cái Tết phải mua ít nhất năm bay nải chuối thờ. Có nhà mua tới vài chục nải. Lần đầu cung cấp chuối thờ, do vận chuyển kém nên chuối chở từ miền Nam ra bị xây xát, bầm vỏ, ba bốn xe tải chuối thờ đành đổ đi, lỗ cả trăm triệu đồng.
Đó là là chuyện lo Tết cho toàn tỉnh. Riêng từng cơ quan còn có sự “lo Tết” riêng. Ngoài tiêu chuẩn Tết Phòng Hành chính hoặc Công Đoàn trước Tết thường phân công nhau bủa về các địa phương, các nông trường , xí nghiệp mà mình thường quan hệ “năn nỉ” mua con lợn hay bò , ít gạo nếp, đậu xanh, chuối thờ … đem về chia thêm cho anh em. Được thứ gì tốt thứ đó, vì thứ gì cũng “đói “cả. Ngày 28, 29 Tết, bếp ăn tập thể của cơ quan mổ lợn. Thịt thì chia cho từng người. Lãnh đạo cũng như anh em đều bằng nhau, không phân biệt. Còn đầu, lòng , xương thì nấu các món để cả cơ quan ăn “bữa cơm tất niên” trước khi nghỉ Tết. Ăn bữa tất niên xong mọi người chia tay nhau, xe đạp treo lỉnh kỉnh túi thịt, túi gạo, nắm lá dong, nải chuối thờ …không khác gì đi chợ Đông Ba về. Ngày Tết cơ quan dán lịch phân công cán bộ “Trực Tết”. Cơ quan Sở Thương Nghiệp của tôi quy định trực Tết phải cả đêm, cả ngày. Mỗi buổi trực được cơ quan “bồi dưỡng một chiếc bánh chưng” to tướng, thứ bánh gói bằng nửa cân nếp. Trực cả ngày thì được hai chiếc bánh. Vui lắm…
Phản hồi gần đây