Cụ Nguyễn Trọng Vĩnh

GHI NHANH CUỘC GẶP Ở NHÀ CỤ NGUYỄN TRỌNG VĨNH

-Nguyễn Đăng Quang-

Chiều 19/11/2014 Hà Nội đã vào cuối thu,bầu trời nắng vàng đẹp đẽ. Tôi tranh thủ đến thăm sức khỏe lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh. Tôi quen biết cụ đã gần 40 năm nay và rất kính trọng và khâm phục cụ về nhân cách, đạo đức cũng như tấm lòng của cụ đối với dân và đất nước. Dù năm nay đã 99 tuổi song cụ vẫn nhanh nhẹn, khỏe mạnh và minh mẫn! Mặc dù hơn tôi 26 tuổi song cụ vẫn coi tôi là một người bạn vong niên thân thiết.

Tiếp tôi, ngoài cụ còn có con gái cụ là nhà văn Nguyên Bình và chồng chị là anh Trịnh Văn Trà, một đại tá quân đội đã nghỉ hưu. Tôi đứng lên chào và xin phép cụ ra về vì đã tâm tình và trò chuyện với cụ hơn một tiếng đồng hồ thì cụ bảo tôi cố nán lại ít phút để dự buổi cụ tiếp đoàn khách của Thành ủy Hà Nội đến thăm cụ.

  Năm phút sau khách đến. Dẫn đầu là Ủy viên Thường vụ Thành ủy kiêm chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Thành ủy cùng 5 quan chức của Đảng, gồm: một chuyên viên của UBKT Thành ủy, ông Phó bí thư Quận ủy Đống Đa, ông Chủ nhiệm UBKT Quận ủy Đống Đa, bà Bí thư Đảng ủy phường Kim Liên và ông Bí thư chi bộ nơi cụ sinh hoạt Đảng. Đoàn khách đi luôn vào nội dung cuộc viếng thăm: Hỏi cụ có phải là người ký vào Thư ngỏ 61 không và ai là người chấp bút,thảo ra thư đó? Họ thuyết phục cụ tuyên bố rút tên khỏi danh sách 61 đảng viên ký Thư ngỏ đó vì đã vi phạm vào quy định của Đảng, đặc biệt là “19 điều cấm” mà Đảng không cho đảng viên làm. Cụ khẳng định chính cụ là người ký vào Thư ngỏ 61 đó, và vì cụ nhiều tuổi đảng nhất 75 năm tuổi đảng nên anh em xếp cụ lên danh sách đầu tiên. Còn ai là người soạn thảo thư đó thì cụ nói là mọi người ngồi trao đổi với nhau, đều nhất trí và đồng tình những nội dung cấp thiết phải kiến nghị với Lãnh đạo Đảng như nội dung Thư ngỏ đã nêu rõ, còn ai là người chấp bút khởi thảo thì không quan trọng, cụ không đáp ứng câu hỏi này vì cụ cho rằng mọi người ký vào Thư ngỏ thì đều có trách nhiệm như nhau và sẵn sàng đối thoại, tranh luận công khai và dân chủ với Lãnh đạo Đảng về những vấn đề mà Thư ngỏ 61 đã nêu lên. Liệu Đảng có đồng ý đối thoại và tranh luận công khai với nhóm 61 đảng viên ký vào Thư ngỏ này không?

Còn về yêu cầu cụ tuyên bố rút tên khỏi danh sách những người ký tên Thư ngỏ này thì cụ nói không, dứt khoát không bao giờ tôi rút theo yêu cầu của các anh!  Còn việc Đoàn kết luận cụ cùng 61 đảng viên ký tên tập thể vào Thư ngỏ là vi phạm qui định của Đảng và “19 điều cấm” không cho đảng viên làm thì cụ hoàn toàn bác bỏ, cụ nói chính những qui định đó đã triệt tiêu tinh thần dân chủ trong đảng và ngay “19 điều cấm” cũng vi phạm Điều lệ Đảng! Ông Chủ nhiệm UBKT Thành ủy trách cụ là tại sao cụ không trực tiếp góp ý kiến với Đảng theo con đường mà Đảng đã qui định mà lại tán phát những quan điểm sai trái,làm cho đảng viên và người dân hoang mang,dao động? Cụ trả lời là cụ rất thất vọng vì trong suốt gần 10 năm qua cụ đã kiên trì và chân tình góp ý, đã không dưới 10 lần viết thư tay gửi Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban CHTW Đảng và cả Tổng Bí thư nhưng không lần nào cụ được hồi âm,trả lời! Cụ nói: Đến như cụ 16 năm là Ủy viên Trung ương Đảng (Khoá III),là lão thành cách mạng, có 75 năm tuổi đảng, mà các anh ấy trốn tránh, không thèm trả lời thì thử hỏi những góp ý, kiến nghị của các đảng viên khác các anh ấy coi ra gì?

Lãnh đạo Đảng ngày nay chỉ thích nghe những ý kiến xu nịnh, thuận tai của bọn cơ hội, giáo điều, nhưng ngược lại họ coi các ý kiến phản biện và những đóng góp chân tình, xây dựng, tâm huyết và khoa học của rất nhiều nhân sỹ trí thưc và đảng viên là những ý kiến có động cơ xấu, thậm chí còn bị chụp mũ là suy thoái, biến chất hoặc bị các thế lực thù địch xúi dục! Đấy chính là một trong các lý do cụ ký tên vào Thư ngỏ 61 và công khai thư đó cho nhân dân biết sau khi thư đó đã gửi chuyển phát nhanh cho TBT, BCT, BBT và  tất cả 200 UVTW Đảng.

Ông Chủ nhiệm UBKT Thành ủy trách là việc tán phát Thư ngỏ đó trên mạng là sai trái, làm cho các đảng viên hoang mang, dao động, không tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng. Điều đó làm ảnh hưởng lớn đến uy tín của Đảng. Nghe đến đây tôi phải xin phép cụ Vĩnh để có đôi lời với ông Chủ nhiệm UBKT Thành ủy. Tôi nói: Vâng, thưa đồng chí Chủ nhiệm UBKT, tôi nguyên là cán bộ Bộ Công an, đã về nghỉ hưu 11 năm nay và là một trong 61 đảng viên ký tên vào Thư ngỏ 61. Ý kiến đồng chí vừa nói rất đúng. Nếu có ai hoang mang, giao động và không tin vào sự lãnh của Đảng thì người đó chính là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Đồng chí Phú Trọng nói “Đến hết thế kỷ này không biết là đã có CNXH hoàn chỉnh ở Việt Nam hay chưa?”  Đồng chí TBT không phải nói ở chỗ riêng tư mà phát biểu chính thức trong một buổi thảo luận Tổ đại biểu ở Quốc hội khóa XIII để góp ý cho Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 2013 tháng10 năm ngoái và đã được VTV, VOA và TTXVN loan tải rộng rãi!  Chính phát biểu bi quan đó của đồng chí TBT làm tôi thực sự dao động, hoang mang và không còn tin vào sự lãnh đạo hiện nay của Đảng nữa, và đây cũng chính là một trong các lý do khiến tôi ký vào Thư ngỏ 61. Lúc nãy tôi có hỏi về di chúc của Chủ tịch HCM và đồng chí trả lời là di chúc của Bác Hồ rất đúng và tuyệt đối đúng! Vâng, tôi hoàn toàn đồng ý với đồng chí. Di chúc của Bác không căn dặn Đảng ta xây dựng CNXH mà chỉ  dặn Đảng xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, giầu mạnh và xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ văn minh thôi, và trong di chúc không có một từ nào Bác đề cập đến chủ thuyết Marx-Lenine và căn dặn nhân dân và Đảng ta phải kiên định con đường này! Vậy tại sao Đảng ta không làm theo di chúc của Bác?

Ông Chủ nhiệm UBKT Thành ủy không trả lời trực tiếp mà chuyển sang việc đề cập đến thành tựu lãnh đạo cách mạng của Đảng. Ông gợi lại chuyện 75 năm trước (1939) khi cụ vào Đảng và thoát ly tham gia cách mạng thì đất nước ta còn nghèo lắm, dân ta còn khổ lắm nhưng nhờ sự lãnh đạo tài tình và sáng suốt của Đảng nên ngày nay nước ta đã hết nghèo, dân ta đã hết khổ, nay thì nhà nào cũng có ít nhất một xe máy thì làm sao cụ lại nói đường lối của Đảng là sai lầm, cần phải từ bỏ con đường xây dựng CNXH theo mô hình Xô Viết?

Đảng đã và đang kiên định con đường XHCN, mang lại hạnh phúc cho nhân dân, xã hội ta không có người bóc lột người, Đảng không cho phép bọn tư bản bóc lột giá trị thặng dư nhân dân lao động VN, hiện nay nhân dân làm theo sức và hưởng theo lao động, mai này khi tiến lên xây dựng CNCS thì người dân sẽ làm tùy sức và sẽ hưởng thụ theo nhu cầu!  Về đối ngoại, Đảng ta cũng có chính sách khôn khéo và cương quyết với TQ, buộc họ phải rút giàn khoan HD-981 khỏi vùng đặc quyền kinh tế của ta trước thời hạn. Đây rõ ràng là thắng lợi của ta. Cụ Vĩnh nói: Nó rút chủ yếu là do sức ép quốc tế. TBT Nguyễn Phú Trọng không hề có một lời nào lên án TQ. Hội nghị TW9 đang họp, cũng không hề có một tuyên bố nào. Rồi đến Quốc Hội họp cũng không ra tuyên bố hoặc nghị quyết lên án TQ, Chính phủ cũng vậy! Sao nay lại tự nhận là do ta đấu tranh kiên quyết, mạnh mẽ nên buộc nó phải rút? TQ không bao giờ từ bỏ dã tâm bành trướng, xâm lược nước ta. Đảng phải hết sức cảnh giác và phải thực sự dựa vào nhân dân và phải đặt lợi ích của đất nước, của dân tộc lên trên lợi ích của Đảng thì mới có thể thắng lợi kể cả trong xây dựng đất nước cũng như bảo vệ Tổ quốc, và đừng có quá nhẹ dạ tin vào 16 chữ vàng và 4 tốt, kẻo sẽ bị lừa và dễ mất nước!

Đại tá Trà dù đã rất kiên nhẫn ngồi nghe từ đầu, song đến đây ông không kìm được, ông nói: Nghe các đồng chí lập luận, tôi không thể thông! Đồng chí khẳng định VN chỉ có thể chọn mô hình XHCN để xây dựng đất nước, ngoài ra không có con đường nào khác. Thế thì đồng chí giải thích tại sao Lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta đi hết nước tư bản này đến nước tư bản kia để van nài họ công nhận nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường? Phải chăng điều đó chứng tỏ chính Đảng không tin vào CNXH và thú nhận học thuyết Marx-Lenine là bế tắc? Không thấy vị Chủ nhịêm UBKT Thành ủy và các vị khách trả lời, tôi nói: Cho đến lúc này, ngay cả Hội đồng lý luận Trung ương cũng như các nhà nhà lý luận của Đảng cũng không có ai đưa ra được một định nghĩa có sức thuyết phục thế nào là nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Kinh tế thị trường và Chủ nghĩa xã hội không thể tồn tại và giao thoa cùng nhau được! Có cái này thì không có cái kia và ngược lại.

Cụ Vĩnh nghe vị Chủ nhiệm UBKT Thành ủy thuyết giảng, chắc cảm thấy rất mệt, song cụ vẫn vui vẻ nói: Lúc nãy nghe đồng chí Chủ nhiệm UBKT Thành ủy nói thời tôi vào Đảng và tham gia hoạt động CM đã cách đây 75 năm rồi. Vâng, đồng chí nói đúng. Hồi đó tôi vào đảng là Đảng Cộng sản Đông Dương sau này đổi tên thành Đảng Lao Động Việt Nam, và tôi thấy Đảng tôi chọn lúc đó đều rất trong sáng và thực sự vì dân tộc và đất nước, và nó khác xa ĐCSVN hiện nay. Mong các đồng chỉ về và phản ảnh trung thực, đầy đủ các ý kiến ta trao đổi hôm nay, và kiểm tra giúp các đơn thư mà tôi đã gửi Lãnh đạo Đảng trong hơn 9 năm qua và nhắc họ cố gắng đọc và ng/cứu. Nếu bố trí gặp trực tiếp tôi thì tốt, nếu không thì cố gắng hồi âm các thư tôi đã gửi.

Đoàn khách cũng cảm thấy khó có gì để nói thêm nên đứng dậy xin phép ra về. Ông Trưởng đoàn kính chúc cụ mạnh khỏe để tiếp tục đóng góp ý kiến xây dựng Đảng theo đúng quy định để Đảng thực sự trong sạch và vững mạnh.  Tôi về đến nhà  là  đã gần 6 giờ chiều, tuy khá mệt song cố gắng ghi lại trung thực nhưng chắc không đầy đủ nội dung cuộc gặp này, kẻo để lâu lại quên. Tôi nghĩ chắc đây chưa phải là cuộc thăm viếng và trao đổi cuối cùng.

N.Đ.Q

( Nguồn: BVN)

 

Nguyễn Công Khế: Tự do báo chí, không còn cách nào khác

Mặc Lâm, RFA

 Nhà báo Nguyễn Công Khế trả lời RFA về sinh hoạt báo chí ở VN

Báo International New York Times trong số ra ngày hôm nay 19/11 có đăng một bài viết của nhà báo Nguyễn Công Khế, nguyên Tổng biên tập báo Thanh Niên viết về vấn đề tự do báo chí tại Việt Nam.

Bài báo này xuất hiện vào lúc Quốc hội Việt Nam chất vấn Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và các bộ trưởng mở ra một góc tối của tự do báo chí tại Việt Nam cần phải được Quốc hội và người đứng đầu chính phủ có thái độ dứt khoát vì tính chất quan trọng khó chối cãi của nó.

Biên tập viên Mặc Lâm của Đài Á Châu Tự Do phỏng vấn tác giả bài báo, nguyên Tổng biên tập báo Thanh Niên Nguyễn Công Khế, về bài viết này.

Sự cấm đoán trong làng báo VN

Mặc Lâm: Thưa ông, là một nhà truyền thông có bề dày và kinh nghiệm trong bối cảnh xã hội Việt Nam chưa quen thuôc với tự do báo chí, ông đã mang kinh nghiệm khó khăn ấy để viết lên bài báo với tựa đề “Một nền Tự do báo chí cho Việt Nam” nói về sự cấm đoán trong làng báo Việt Nam và đăng trên một tờ báo lớn có lịch sử trong ngành báo chí thế giới là tờ International New York Times. Xin ông cho biết đây có phải là thời điểm thích hợp cho bài báo này hay không?

Nguyễn Công Khế: Cách đây không lâu, khi trả lời chính thức trên báo Thanh Niên và báo Một Thế Giới, tôi đã nói rõ việc này. Chính vì sự cấm đoán và mở rộng các vụ nhạy cảm của các nhà lãnh đạo, nó đã để báo chí đi vào ngõ cụt. Những thông tin cần thiết nhất thì lại không được đến từ những tờ báo chính thống.

Bây giờ với thời đại thông tin này, người ta phải đọc trên mạng, hàng nghìn trang xuất hiện. Hồi trước chúng ta làm báo nhật trình, tức là báo ngày.

Bây giờ không phải là báo ngày nữa mà là báo phút. Do vậy, nếu chúng ta không để cho những tờ báo chính thống do chính phủ kiểm soát ở Việt Nam nói những điều cần thiết và những sự thật thì dứt khoát người ta sẽ đọc các trang mạng và tin đó là sự thật.

 

 

Ví dụ như cuốn Đèn Cù của ông Trần Đĩnh chẳng hạn, rồi một số cuốn sách người ta in ra trên mạng ở nước ngoài thì anh đâu có kiểm soát được. Cả một bộ máy chính thống không hề nói lại một câu từ “cải cách ruộng đất” cho đến “bệnh tình của các nhà lãnh đạo” tức là làm cho cả một nền báo chí thụ động. Và từ đó làm cho mất niềm tin của nhân dân đối với chính sách thông tin này.

Nhà báo e ngại, lãnh đạo sợ mất ghế

Mặc Lâm: Với kinh nghiệm của Tổng biên tập một tờ báo lớn khi ông quyết định cho đăng các bài báo có tính đối diện với thời cuộc, đối diện với những vấn đề bị cho là nhạy cảm trong kinh tế xã hội hay chính trị…sau khi bài báo ấy xuất hiện ông có quan sát những hiệu quả mà nó mang tới hay không?

Nguyễn Công Khế: Thời của tụi tôi thì cách đây không lâu đâu –như tôi, Tô Hòa, Võ Như Lanh, Kim Hạnh…. một số Tổng biên tập trước đó. Khi đăng một bản tin chúng tôi nghĩ đến công chúng, đến đất nước mình nhiều hơn là nghĩ đến cá nhân của Tổng biên tập.

Bây giờ, từ các cán bộ nhà nước cho đến các cơ quan báo chí, người ta sợ bị “mất ghế” cho nên người ta không dám dũng cảm để nói lên sự thật mặc dù sự thật đó rất có lợi cho đất nước.

Nghị quyết của đảng, của chính phủ, quốc hội đang đặt vấn đề tham nhũng lên hàng đầu. Thế nhưng khi đặt bút viết chống tham nhũng của các vụ lớn thì các nhà báo rất e ngại, rất sợ, chùn tay. Điều đó làm cho tham nhũng hoành hành và dẫn đến nhiều hệ quả của đất nước.

Vấn đề nợ công, nợ xấu, những vấn đề mà cả đất nước và rất nhiều người dân quan tâm thì không làm được. Tôi nghĩ không phải là các nhà báo kém, thiếu chuyên nghiệp nhưng mà người ta ngại. Lãnh đạo các tờ báo thì sợ “mất ghế. Còn phóng viên thì ngại từ kiểm duyệt.

Tôi nghĩ nền báo chí như thế nó rất có hại, tai hại cho một đất nước đang phát triển. Sự công khai minh bạch của báo chí giúp cho sự phát triển của đất nước rất nhiều.

Lãnh đạo các tờ báo thì sợ “mất ghế. Còn phóng viên thì ngại từ kiểm duyệt. Tôi nghĩ nền báo chí như thế nó rất có hại, tai hại cho một đất nước đang phát triển.

Nguyễn Công Khế

Sa đà vào những chuyện vặt vãnh

Mặc Lâm: Theo nhận xét chung của chúng tôi thì ngày nay nhiều tờ báo dám xâm nhập vùng cấm, vùng nhạy cảm hơn mặc dù chấp nhận sau đó bài báo có thể bị gỡ xuống và Tổng biên tập có thể bị mất chức. Tuy nhiên các hiện tượng đó không nhiều. Theo ông những hoạt động ngoài lề này phải chăng là chủ trương của nhà nước mở một chút cửa để không khí tràn vào xóa bớt sư ngộp thở của tự do báo chí nhưng vẫn chưa đủ không khí cho một lá phổi lành mạnh. Theo ông nếu nhà nước mở hẳn cánh cửa này thì sự lợi hại ra sao?

Nguyễn Công Khế: Tôi nghĩ nhà nước mở ra chỉ có lợi hơn chứ không có hại. Bây giờ như VTV đang bàn đến vấn đề Công Phượng, nói về lý lịch của Công Phượng. Đó chỉ là một việc rất nhỏ thôi. Công Phượng với các hồ sơ của Tư pháp ở xã, phường vùng nông thôn Việt Nam rất lơ mơ. Vấn đề tuổi Công Phượng 19 hay 21 thì có gì thiết yếu đâu mà người ta lại ầm ầm trên đài. Những vụ lớn, những vụ tham nhũng, những vấn đề nhức nhối của đất nước thì không.

Việt Nam chúng ta sống phụ thuộc vào cái gì? Lao động rẻ, công nhân rẻ, tài nguyên thô và chúng ta sử dụng vốn ODA rất không hiệu quả. Tất cả những vấn đề nhức nhối thì báo chí ít đề cập đến.

Còn không thì báo chí sẽ phân ra hai con đường: Một là các trang lá cải sẽ đăng cô đào này, bữa nay mặc cái áo này, bữa nay hở cái vòng một, vòng hai; Rồi người ta đi quá đà để khai thác, để câu view, tìm bạn đọc. Còn những vấn đề chính thì lại không đề cập. Đó là cái tai hại chứ.

Tôi nghĩ một chính quyền mạnh, một chính phủ mạnh thì cần một nền báo chí minh bạch, một nền thông tin minh bạch.

Mặc Lâm: Và ông nghĩ chính phủ hiện nay đã đủ mạnh chưa đề tiếp cận các nguồn thông tin minh bạch ấy?

Nguyễn Công Khế: Tôi thấy họ vẫn chưa dám để cho có thông tin nhiều chiều, có các phản biện thuyết phục. Một chính quyền mạnh, tôi nói trước đây-thời của chúng tôi cách đây không lâu như tôi đã nói ở trên- những phản ảnh của chúng tôi về tình hình thực trạng của kinh tế, chính trị, xã hội khi được đưa ra mà hơi gay gắt và nó gần với sự thật thì tôi nghĩ điều đó thúc đẩy cho xã hội lành mạnh. Nó chả có hại gì cả. Khi mà thông tin minh bạch thì người dân đặt lòng tin vào đất nước họ, vào xã hội nhiều hơn.

Con đường, chính sách minh bạch thông tin và tự do báo chí trước sau gì nó cũng đến và dứt khoát mình phải làm thôi. Không có cách nào khác, không có lựa chọn nào khác.

Nguyễn Công Khế

Thời của Minh bạch, Tự do sẽ đến

Mặc Lâm: Phải nói đây là một chủ đề rất gay gắt trong chính trường Việt Nam hiện nay. Ông là một đảng viên kỳ cựu, đã có những cống hiến nhất định cho đất nước, cho Đảng Cộng sản Việt Nam và hơn nữa cho ngành báo chí với tư cách một Tổng biên tập…khi ông đưa những nhận xét này trên một tờ báo lớn của thế giới ông có lo ngại sẽ có những động thái nào đó từ chính quyền gây khó khăn cho ông hay không?

Nguyễn Công Khế: Tôi trả lời báo trong nước còn mạnh hơn báo này nhiều. Anh phải đọc lại bài “Tôi đã bị trả giá nhiều lần” và “Dân thường không có quyền tham nhũng”. Trong các bài đó tôi nói mạnh hơn bài này rất nhiều. Tôi nói chủ yếu về chính sách thông tin của nhà nước hiện nay.

Mặc Lâm: Nhưng đó là những bài báo trong nước nhưng bây giờ thì ông công khai trên diễn đàn báo chí quốc tế và do đó nhà nước sẽ để ý hơn và có biện pháp khác hơn? Nó có thể phát sinh hai vấn đề, một là phản ứng tích cực có nghĩa là họ sẽ thay đổi theo đề nghị của ông hai là họ tiêu cực trong thái độ phủ nhận và chống đối. Giữa hai thái độ đó ông hy vọng nó diễn ra theo chiều hướng nào?

Nguyễn Công Khế: Tôi nghĩ nó sẽ diễn ra chiều hướng tích cực. Tôi đặt vấn đề trong nước rồi. Tôi có cảm giác là người ta đồng tình với tôi nhiều hơn. Tuy người ta chưa sửa được nhưng tôi nghĩ phần đồng tình nhiều, rất nhiều.

Tôi nghĩ con đường, chính sách minh bạch thông tin và tự do báo chí trước sau gì nó cũng đến và dứt khoát mình phải làm thôi. Không có cách nào khác, không có lựa chọn nào khác.

Mặc Lâm: Xin cám ơn ông.

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.11.2014

Nhà văn Tạ Duy Anh

Một quốc gia nhỏ chỉ ăn rồi chơi

Tạ Duy Anh/ Quê Choa
Có lẽ không quốc gia nào mà cuộc sống của giới công chức chứa nhiều điều nghịch lý như ở Việt Nam: Lương không đủ sống nhưng lại thuộc thành phần khá giả của xã hội; đã vào biên chế là có thể nằm lỳ cho đến hết đời, ngang nhiên đòi hỏi mọi chế độ phúc lợi, ngay cả khi chẳng làm gì; là người làm thuê cho dân nhưng lại hành xử như ông chủ có quyền ban ơn; năng lực cũng như tinh thần trách nhiệm trước công việc phần lớn ở mức trung bình và thấp, nhưng cực kỳ có khả năng trong việc kinh doanh “quyền lực Nhà nước” để tư lợi …Nhưng điều nghịch lý nhất là một nền hành chính cồng kềnh, ì ạch, dôi dư cả triệu người như vậy lại vẫn cứ đang tiếp tục ngày một phình to?
Không phải là do tôi bịa ra hiện thực đó. Trong một hội nghị có đưa tin trên truyền hình và sau đó hầu như các báo đều đưa lại, Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói thẳng ra rằng: “Trong bộ máy chúng ta có tới 30% số công chức không có cũng được, bởi họ làm việc theo kiểu sáng cắp ô đi, tối cắp về, không mang lại bất cứ thứ hiệu quả công việc nào”. Nói cách khác, cái số 30% công chức đó hoàn toàn không cần thiết, y như cái bướu trên cổ. Với 2,8 triệu công chức, chỉ cần làm phép tình nhẩm cũng ra ngay con số thuộc diện có cũng như không kia khoảng trên 800.000 người. Nghĩa là mỗi 100 người dân Việt Nam, phải nuôi không một ông (bà) vô công rồi nghề mang danh công chức! Vậy tại sao một nền dịch vụ công chỉ cần 2 triệu người, mà phải trả lương cho tận những gần ba triệu? Ai phải chịu trách nhiệm về vấn đề này? Trong khi chưa thể tìm ra câu trả lời, chúng tôi chỉ xin làm thứ công việc đơn giản hơn là giúp mọi người hình dung một phần cái gánh nặng vật chất và tinh thần mà cả xã hội đang phải è lưng chịu đựng, để “cõng” gần một triệu công chức dư thừa đó.
Trước hết, 800 ngàn người lớn đến mức nào? Đó là số dân (hơn kém chút ít) của Cyprus, Bahrain, Bhutan, Qatar, Đông Timor…Hay nó có quy mô gấp đôi dân số Luxemburg, Brunei, Malta, Iceland…
Thứ hai, và đây là vấn đề chính, cần bao nhiêu tiền để nuôi cái đám công chức thừa thãi ấy? Chắc chắn là không ai có thể tính chính xác, vì có những công chức thuộc loại dư thừa, nhưng lại hưởng mức thu nhập nhiều người mơ ước. Hẵng chỉ tính đơn giản thế này: Mỗi người trong số đó, vì họ là công chức, nên thuộc diện thu nhập trung bình khá (so với mức 1000 USD trung bình) sẽ nhận của Nhà nước khoảng 60 triệu đồng (gần 3000 USD) một năm. Nghĩa là cần số tiền lên tới 50.000 tỷ đồng (2,5 tỉ USD) cho việc chi lương để ngày ngày 800.000 người ăn mặc sang trọng chỉ để “sáng vác ô đến cơ quan, tối vác ô về nhà” mà không làm bất cứ việc gì. Tuy nhiên, số tiền phải bỏ ra phục vụ việc ngồi chơi xơi nước của “một quốc gia nhỏ” ấy trên thực tế còn lớn hơn nhiều. Theo thông lệ thì số tiền lương cho công chức chỉ bằng hai phần ba số tiền phải chi ra để họ có thể làm việc, được tính vào khoản duy trì hoạt động của cơ quan Nhà nước. Đó là tiền thuê nhà, tiền điện, tiền điện thoại, tiền khấu hao tài sản, tiền phúc lợi, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, chi phí đi lại và cơ man nào những thứ tiền khác được gọi bằng cái tên chung là văn phòng phí. Khiêm tốn tính gộp thì con số 50.000 tỉ đó phải cộng thêm khoảng 20.000 tỉ đồng. Giờ ta thử xem 70.000 tỷ đồng nhiều đến mức nào? Nó nhiều hơn toàn bộ số tiền thu được từ xuất khẩu gạo năm 2012; nó bằng khoảng 10-12 lần số tiền phí bảo trì đường bộ mà Bộ GTVT dự kiến thu được hằng năm từ ô tô, xe máy với giá phải trả là hứng chịu biết bao lời chì chiết của dư luận; nó bằng già nửa số tiền 120.000 tỉ đồng cần để nâng cấp quốc lộ 1A lên thành đường bốn làn xe ô tô; nó giúp cho khoảng 7 triệu dân miền núi đủ gạo ăn trong một năm để không phá rừng. Nếu có ngần ấy số tiền, toàn bộ các xã nghèo miền núi có trường học, có chợ, có đường trải bê tông. Nó có thể mua được số bò giúp cho Chương trình Lục lạc vàng duy trì liên tục 150.000 buổi, với khoảng 900.000 gia đình nông dân thuộc dạng nghèo nhất nước có cơ hội đủ cơm ăn. Nó là con số dài tới mức mà không một nông dân bình thường nào đọc chính xác được.
Nhưng đấy mới chỉ tính về khoản vật chất, cho dù không hề nhỏ nhưng chưa chắc đã là lớn nhất. Tai họa của nạn biên chế tràn lan là nó khiến cho bộ máy hành chính công của chúng ta thuộc loại cồng kềnh, kém hiệu quả và lạc hậu vào loại nhất khu vực. Nhàn cư vi bất thiện. Vì không làm gì nên những ông, bà công chức thừa thãi trên trở thành những “con bệnh” của xã hội. Ta hãy xem họ làm gì mỗi ngày để tiêu hết 8 giờ vàng ngọc? Nếu là đàn ông thì phần lớn lướt web, chơi game oline, xem phim sex, tìm cách môi giới chạy chọt dự án. Thời gian còn lại ngồi nghĩ mưu kế tư lợi hoặc hại người khác. Còn với thành phần nữ giới thì mua sắm tối ngày, ăn uống, khoe của tối ngày, buôn dưa lê tối ngày… Nhiều người coi trụ sở cơ quan chẳng hơn gì cái bếp nhà mình, tranh thủ tận dụng điện nước miễn phí để nấu nướng. Số còn lại, nếu không làm những việc như trên, thì làm chim bói cá, cứ thấy ở đâu có mầu mỡ là đến. Cũng vì thừa dẫn đến lười, ích kỷ, đấu đá chèn ép nhau thay vì thực thi công vụ. Có rất nhiều người cả một đời công chức chỉ chuyên kiện cáo, lao vào đấu đá vì những lợi ích cá nhân. Nhưng lương của họ thì vẫn cứ đến hẹn lại lên. Chức của họ thì cứ thăng tiến theo tuổi tác. Kèm với lương với chức là đủ thứ tiêu chuẩn ưu đãi khác. Những công bộc này, về nguyên tắc là những người giúp việc cho “ông chủ” Nhân dân, nhưng trên thực tế cũng là những người quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu, tham lam, làm khổ “ông chủ” vào loại nhất thế giới. Làm bất cứ việc gì thuộc phạm vi chức phận cũng đòi lót tay. Trong bất cứ nhiệm vụ nào cũng lồng lợi ích của mình vào. Từ lái xe, nhân viên đóng dấu, nhân viên gác cổng…đến những người có tí chức, tí quyền đều là những kẻ chỉ thạo ăn tiền, vòi vĩnh, hạch sách…biến cửa Công đường thành nơi nhếch nhác, bất tín, đáng sợ hơn cả hang hùm. Nền đạo đức xã hội xuống cấp, có phần đóng góp không nhỏ của những thành phần được gọi là công chức ấy.
Nhưng thiệt hại vẫn chưa dừng lại ở đó. Nạn chạy chức chạy quyền thì ai cũng biết. Nhưng nạn chạy chọt để được thành công chức Nhà nước còn khốc liệt hơn và cũng bi hài hơn rất nhiều. Vì số người tham gia luôn rất đông, diễn ra trên một diện rộng, với sự tham gia của mọi thành phần. Nó làm hư hỏng cả người có quyền nhận và người được nhận. Người có quyền nhận thì một khi đã lấy tiền, đã nhúng chàm, làm sao còn dám yêu cầu cấp dưới phải nêu cao đạo đức, kỷ cương, nhân cách-ngoại trừ đó là một truyện hài! Người được nhận vào làm công chức thì cậy tiền nên không cần học, không cần trau dồi chuyên môn, coi thường kỉ cương, phép tắc. Đó là chưa kể họ phải tìm cách ăn chặn, ăn bẩn, vơ vét bằng mọi cách để bù lại số vốn đã bỏ ra.
Nhưng những bệnh tật trên, dù rất trầm trọng, nếu quyết tâm ngăn ngừa, vẫn còn nhiều hy vọng chữa chạy, dù rất tốn kém. Song có một thứ bệnh do nạn chạy công chức gây ra rất khó chữa, thuộc loại nan y, là bệnh ỷ lại, lười biếng và mất khả năng tự trọng. Căn bệnh thuộc loại lây nhiễm này có thể huỷ hoại nhân cách cả một thế hệ, góp phần làm nghèo đất nước. Người ta cần một cái bằng đại học với bất cứ giá nào đôi khi không phải để sau đó làm việc, cống hiến, mà để có cơ hội gia nhập cái đội quân công chức vốn là thừa thãi kia. Với những người này, cái điều đáng lẽ thành nỗi xấu hổ khi chả làm gì ngoài việc “sáng vác ô đi, tối vác ô về”, thì lại là mục tiêu phấn đấu, là sự nghiệp của đời họ. 
Liệu có khác gì một thứ quốc nạn?
(Rút từ cuốn Làng quê đang biến mất, NXB Hội nhà văn và Công ty Văn hóa truyền thông Nhã Nam ấn hành tháng 5-2014.)
( Nguồn : quechoa)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.11.2014

CHUYỆN THẦY HÀ NHẬT LÀM THƠ

Thầy Hà Nhật đang đọc thơ                      

 CHUYỆN THẦY HÀ NHẬT LÀM THƠ 

                                                                          Ngô Minh

             Đá sỏi trên đường (*) là tập thơ đầu tay của nhà thơ – thầy giáo Hà Nhật, khi thầy đã U80. Tại sao một nhà thơ có tiếng từ những năm 60 của thế kỷ XX, đến nay mới in tập thơ đầu tay ? Câu chuyện Hà Nhật làm thơ dài lắm. Tính từ bài thơ đầu tiên Đêm mưa Vĩ Giạ viết  năm 1953 in ở đầu tập, đến bài thơ Dưới chân núi Rùa viết năm 2009 cuối sách , là 56 năm. Năm mươi sáu năm để có một tập thơ 51 bài, quả là bất quý hồ đa. Đọc Sỏi đá trên đường ta thấy thơ như sự cô đặc của tâm tình, tâm cảm. Xin lướt qua thời gian: học ở Huế :Trên đồi sim/ Ánh dương chìm/ Chiều tàn lịm/ Tàn cả trong tim / …Tiếc tình xưa tan võ / Như những cánh sim bay (Trên đồi sim, An Cựu, 1954). 22 tuổi, sinh viên , đang yêu ở Hà Nội năm 1958 :

Sao lại yêu cả tên đường phố

                            Thấy cuộc đời ai ai cũng vui

                             Không biết vì sao vô cớ mỉm cười

                             Nói chuyện với cả cầu thang gác ( Khắp nơi )

Và đây là thơ tình viết ở giữa biển Đông năm 1961, 25 tuổi :

                                 Nếu ở cuối trời có đảo chân trâu

                                 Hay ở đảo xa có nụ hoa thần tìm ra hạnh phúc

                                 Hay có người gái đẹp

                                 Môi hồng như san hô

                                 Cũng không thể khiến anh xa được em yêu

 

                                  Nhưng hỡi em

                                  Nếu có người trai chưa từng qua bão tố

                                 Chưa từng qua thử thách gian lao

                                  Lẽ nào có thể xứng với tình em?

( Bài thơ tình của người thủy thủ) (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.11.2014

NHỚ NHỮNG NGÀY HẬU LỘC

Nhà văn Tô Nhuận Vỹ

NHỚ NHỮNG NGÀY HẬU LỘC

 

Nhà văn Tô Nhuận Vỹ

Lớp sinh viên chúng tôi tốt nghiệp Khoa Văn-Sử trường Đại học sư phạm Hà nội năm 1964,đúng vào thời điểm Mỹ đánh phá miền Bắc và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam kêu gọi con em miền Nam đang ở miền Bắc hãy trở về chiến đấu cho quê hương.Nhiều anh em xung phong vào bộ đội như Phạm Tiến Duật,Tô Hoàng,Vương Trí Nhàn… và gần như tất cả sinh viên quê ở miền Nam đều viết đơn xin trở về chiến đấu cho quê hương.Ở lớp Văn 3B có tôi và Nguyễn khoa Điềm,xin về chiến trường Trị Thiên Huế.Nhưng, Nguyễn Khoa Điềm được chấp nhận,còn tôi thật đau khổ : tôi bị từ chối vì mắt đang bị bệnh viêm màng tiếp hợp mùa Xuân.Cái bệnh quái ác lại mang tên mùa Xuân mà lẽ ra phải gọi là bệnh hại người mùa đen tối! Tôi quá buồn.Hồi đó,sinh viên tốt nghiệp loại giỏi được Khoa kêu lên để chọn nhiệm sở.Tôi được chọn một trong 5 nơi: Sơn tây,Trường sư phạm Nam định,Thanh hóa,Quảng bình và 1 nơi nữa mà tôi quên rồi (trừ Hà nội không ở trong danh sách chọn lựa).Tôi xin đi Quảng bình chỉ với ý nghĩ đây là nơi gần với Huế nhất.Nhưng Quảng bình chỉ cần 1 chỉ tiêu mà Ty Giáo dục đã nhận 1 giáo viên mới.Chỉ còn Thanh hóa là nơi gần với Huế hơn cả.

Và tôi được về Thanh hóa. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.11.2014

MỘT THỜI ĐỂ YÊU, MỘT THỜI ĐỂ VIẾT

Nhà văn Đặng Ái

NGÔ XUÂN HỘI

Nhà văn Đặng Ái, tên khai sinh là Đỗ Minh Phong, quê xứ Thanh. Ông nội Đặng Ái người Hải Phòng, trên đường lưu lạc  tới Thanh Hóa thì dừng bước giang hồ. Tại đây ông lập gánh hát tuồng,  vừa là chủ, vừa là thầy trò (đạo diễn), chuyên biểu diễn tại thị xã Thanh Hoá và thỉnh thoảng có đi lưu diễn dọc vùng Nam Định – Nghệ An. Ông mất vì đột quỵ trên sân khấu Thái Mộng Đài, cạnh Cổng Chốt, thị xã Vinh năm 1942, khi mới 51 tuổi.

Bố Đặng Ái tên là Đỗ Minh Vân, từ nhỏ đã theo cha lên sân khấu, chuyên đóng các vai trẻ em, biết hát, biết múa, biết đánh võ và những trò diễn thông thường. Đầu năm 1947 ông Vân lập gia đình.

Năm đó Thanh Hoá tiêu thổ kháng chiến, ông Vân đưa vợ đang bụng mang dạ chửa tản cư về làng Yên Lai, xã Trường Giang, huyện Tĩnh Gia (nay thuộc huyện Nông Cống). Vợ ông sinh con đầu lòng ở đây. Ông đặt tên con là Phong, Đỗ Minh Phong. Cũng không có ngụ ý gì sâu xa, chỉ bố tên Vân là mây, con tên Phong là gió. Mây sáng, gió sáng cho vui, vậy thôi.

Yên Lai là ngôi làng quê hai nhà thơ: Xuân Sách và Minh Hiệu. Đặng Ái sinh ra ở đây, nghiễm nhiên làng có hẳn 3 “nhà”.

Suốt thời gian ở Yên Lai, ông Vân hành nghề buôn chuyến. Nhưng máu nghệ sĩ trong ông vẫn nổi lên. Thỉnh thoảng  cậu bé Phong lại thấy bố mang về khi thì cây đàn, khi thì sáo nhị, lại có cả đàn an tô, măng đô lin nữa. Vì thế Phong biết gẩy an tô tưng tưng, biết vê măng đô lin rất giòn từ thời đó. Nhưng không chỉ có nhạc cụ, thương nhân Đỗ Minh Vân còn mang cả nghề chằm nón từ Thanh Hóa về phổ biến cho dân làng.

Buôn bán có tiền, ông Vân mua mấy mảnh ruộng cho vợ cấy hái, làm nông. Thóc thu được, vợ ông đóng bịch cất bên kia bờ ao đình. Nhưng làm nông không phải là mộng ước của ông, vì thế xảy tin thế giặc Pháp sắp tan, ông đem số ruộng ấy cho mấy người dân làng. Nhờ việc làm hồn nhiên này mà khi cải cách ruộng đất diễn ra, ông thoát án địa chủ. Sau khi Điện Biên giải phóng ông đưa vợ con về thị xã ngay. Vợ chồng ông được chính quyền cấp một lô đất diện tích gần 400 m2 ngay mặt tiền phố Huế (nay là đường Trần Phú), một phố lớn của thị xã Thanh Hóa.

Ông dựng nhà, mở cửa hiệu buôn bán lá nón. Trong nhà những cái tên Vinh, Kỳ Anh, Ba Đồn… được nhắc đến thường xuyên. Lá nón đã phơi khô đóng kiện đem bán cho người cất lại từ các huyện. Lá còn tươi, ông bà sai các con đem phơi dọc phố vài nắng. Vẫn say mê lang bạt, ông mua một chiếc ô tô tải, chuyên chở khách tuyến Hà Nội – Vĩnh Linh. Khi việc buôn lá nón kém dần, ông Vân bàn với vợ chuyển sang nghề chằm nón. Cả nhà làm việc rộn ràng như một tổ hợp tác sau này. Mười đứa con ông bà, 5 trai 5 gái đứa nào cũng hay lam hay làm. Lớn lên một tí, biết cầm cái kim, sợi móc là biết chằm nón, khâu nón rất đẹp. Nhà ông trở thành một gia đình sản xuất nón lá có tiếng ở Thanh Hoá.

Dù đã làm việc quần quật ngày đêm, nhưng vì con cái đông nên ông bà Vân vẫn không giàu lên được. Tuy nhiên, khi công cuộc cải tạo Tư bản chủ nghĩa xảy ra, cái ô tô nhỏ cũng đủ nâng ông bà lên hàng tiểu chủ. Người ta đến nhà kê biên xe, kê biên cả vài thứ đồ dùng trong nhà, biến chúng thành của công tư hợp doanh. Chỉ thế cũng đủ để ngáng đường vào đại học của cậu cả Đỗ Minh Phong mấy năm sau…

*

Trong một lần giảng dạy Văn học Việt Nam trước Khóa I trường viết văn Nguyễn Du, Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh nói: “Nước ta có cái lạ, nhiều người khi không biết làm gì nữa thì quay sang làm thơ…”. Đối tượng nhiều người mà ông đề cập ở đây, ngụ ý chỉ những ai mưu sự cuộc đời ngoài văn chương. Dẫu vậy ngẫm lời Giáo sư, tôi thấy Đặng Ái lại không nằm ngoài sự lạ ấy.

Anh học trung học phổ thông trường cấp 3 Lam Sơn, tốt nghiệp niên khóa 1966 – 1967.  Bấy giờ đất nước đang chiến tranh, việc thi Đại học được thay bằng xét tuyển, căn cứ vào ‎ lý lịch. Học sinh hết lớp 10, làm hồ sơ nạp cho ban Tuyển sinh tỉnh, xong, chờ một thời gian sẽ có giấy gọi. Nếu lý lịch tốt còn được cho đi Liên Xô, hoặc một nước nào đó trong phe Xã hội chủ nghĩa.

Lệ thường là vậy, nhưng Đặng Ái không hiểu sao mãi không đến lượt mình ? Cuối cùng anh đánh liều cuốc bộ gần 10 cây số giữa trưa nắng tìm đến nơi sơ tán của Ban tuyển sinh tỉnh. Ông cán bộ tuyển sinh dò tìm trong một cuốn sổ lớn, giọng vô cảm: “Đỗ Minh Phong hả ? Nhưng cậu về đi! ”. Đặng Ái chưa hiểu ý ra sao, đang chần chừ muốn hỏi thêm thì đúng lúc kẻng gọi cơm trưa. Ông cán bộ tuyển sinh nọ liền  mở cánh cửa chiếc tủ gỗ đựng hồ sơ  lấy ra chiếc bát, đôi đũa rồi đi nhanh về nhà bếp. Đặng Ái biết ‎ý lặng lẽ ra khỏi phòng, ngồi bên vỉa hè đắp đất xói lở như một gã ăn mày đói khát, thất vọng. Anh nhìn vào phòng qua cái cửa sổ  khung tre, không có chấn song, thấy rõ cuốn sổ “thiên tào” còn nằm nguyên trên bàn. Chung quanh vắng ngắt, chỉ mấy lùm cây im lìm ủ rũ với tiếng ve rít chói chang. Anh liều lĩnh nhảy qua cửa sổ, vồ lấy cuốn sổ, lật giở vội vã. Danh sách lũ học trò hiện ra, có nhiều đứa học cùng lớp. Cạnh tên đứa nào cũng ghi tên một trường đại học. Cuối cùng Đặng Ái thấy tên mình, bên cạnh ghi: “Tổng hợp văn” nhưng bị gạch ngang bằng bút mực xanh. Ngoài lề có một câu phê, bằng mực đỏ, ngắn gọn sắc lẻm như một nhát dao đâm thấu tim anh:“Gia đình thuộc thành phần bóc lột. Bản thân không phải đoàn viên”.

Mặt mũi tối sầm, Đặng Ái vọt qua cửa sổ, đi như mê ra khỏi ngôi làng nghèo khổ đang nằm rũ dưới nắng hè gay gắt, cảm thấy như mình đã bị cuộc sống gạt sang bên lề…

Thời đó là vậy, ai cũng có cơ quan đoàn thể, nơi làm việc. Bét nhất cũng là xã viên HTX nông nghiệp. Có như thế mới thành người, mới đáng là con người. Anh không thể đứng ngoài con đường lớn cuồn cuộn của dân tộc. Đứng ngoài là một nỗi nhục, một sự phỉ báng. Quá thất vọng, Đặng Ái xoay sang định hướng cuộc đời mình theo nghiệp nhà binh, quyết chí sẽ đi bộ đội trong đợt tuyển quân tới, vì bộ đội chỉ chê con nhà địa chủ chứ không chê tư sản. Trong lúc chờ đợi, anh  xin vào Hợp tác xã nghề mộc gần nhà và gia nhập dân quân tự vệ phường. Vận hạn đến: Bất ngờ một trận máy bay Mỹ ném bom trúng chỗ đơn vị dân quân của anh gác đêm, Đặng Ái không may bị thương, được cáng vào bệnh viện. Mãi hai năm sau vết thương mới ổn định. Thế là chưa kịp tòng chinh, cậu tú Đỗ Minh Phong đã thành “người có công”. Ra viện, anh thương binh trẻ chẳng biết làm gì, để kiếm sống, chàng quay lại hợp tác xã nghề mộc, một vài lần mang cưa đục đi làm nhà thuê cho thiên hạ. Nhưng trong buổi “Trạch quốc giang sơn nhập chiến đồ” (*), điều muôn dân quan tâm là những căn hầm lặn chìm trong lòng đất hơn là những ngôi nhà gỗ hoành tráng. Tay thợ tài hoa của Đỗ Minh Phong vì thế không có cơ hội phát triển. Chàng liền đổi sang nghề phụ bơm vá xe đạp, ô tô với bố ở nhà. Toàn những công việc nặng nhọc.

Nghĩ về bạn bè cùng trang lứa trường Lam Sơn ngày nào đứa quốc ngoại, đứa quốc nội đang sôi kinh nấu sử, chuẩn bị mai này làm kỹ sư, bác sĩ, có lương, có tem phiếu gạo, được vào biên chế Nhà nước, vẻ vang. Đỗ Minh Phong buồn nản, biết là “Lập thân tối hạ thị văn chương” nhưng thấy mình cũng chỉ còn cách ấy: Viết văn! Để công việc thêm phần lung linh, nhà văn tương lai liền đi tìm bút danh. Đây chẳng là điều mới, trước anh mấy thập niên bác Nguyễn Sen cũng đã làm. Nhớ con sông Tô Lịch lịch xưa xinh đẹp, bác lấy bút danh Tô Hoài và chỉ bằng một “Dế mèn phiêu lưu ký” cái tên Tô Hoài lập tức nổi tiếng, át cả tên cúng cơm. Rồi Thế Lữ, Chế lan Viên, Nam Cao, Khái Hưng, Nhất Linh, Hàn Mặc Tử… đều là bút danh cả! Nhưng Nguyễn Sen nhớ sông Tô thì được, Phan Ngọc Hoan hời ông vua Chàm nào đó thì hay…   còn Đỗ Minh Phong mà đi nhớ tru nhớ ngựa (sông Chu, sông Mã) thì vô duyên. Tìm tích để dịch nên tuồng. Phong có một người bạn gái thời phổ thông, tên Sơn, đang học đại học ở Liên Xô. Vậy bút danh của Phong sẽ là Hoài Sơn, đúng quá chứ còn gì nữa. Nhưng Hoài Sơn lại là… củ mài, quý đấy, mà nghe lam lũ sao sao ấy. Nhà văn phải sang trọng, không thể là củ này củ kia được. Không nhớ thì yêu, bút danh Ái Sơn ra đời như thế. Thêm chữ Đặng đằng trước, thành ra Tôi Yêu Sơn! Thông điệp càng rõ ràng hơn. Truyện ngắn “Kể về một tình yêu” với bút danh Đặng Ái Sơn ra đời như thế. Nhưng khi gửi truyện đi, nàng Sơn đã mất hút bóng chim tăm cá, thế là Đặng Ái Sơn chỉ còn là Đặng Ái, Tôi Yêu. Yêu gì ? Tam tài giả, Thiên – Địa – Nhân. Trời –  Đất –  Người, ba ngôi trong vũ trụ này tôi yêu cả, càng rộng đường văn bút. Phải vậy mà ngay ở cuộc thử bút đầu tiên “Kể về một tình yêu” đã đoạt giải cuộc thi truyện ngắn của tuần báo Văn nghệ ? Giải khuyến khích thôi. Nhưng với bất cứ cuộc thi viết nào, được chọn in đã là may, huống nữa đây là một cuộc thi viết truyện do báo Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức.

Từ vô danh thoắt hữu danh, khỏi phải nói Đặng Ái hãnh diện thế nào, sự hãnh diện đã khiến anh có những nhầm tưởng, “mục hạ vô nhân” đến tức cười. Cuộc họp tổng kết báo Thanh Hóa năm ấy tổ chức ở hội trường thị ủy Sầm Sơn, ông Tổng Biên tập để tỏ lòng trọng thị đối với một tài năng văn học của tỉnh, đã thủ vai một công tác viên đến phỏng vấn anh: “Đồng chí thấy tờ báo Thanh Hóa của chúng ta thế nào ?”. Đáng lẽ phải nói những lời có cánh, thì tân khoa văn chương báo Văn nghệ sau vài chén rượu sần sần đứng dậy nói một câu để đời: “Từ bé đến giờ tôi chưa biết có tờ báo nào gọi là báo Thanh Hóa cả…”. Thần khẩu hại xác phàm, sau “phát súng thần công chọc vào lỗ tai”(**) ấy, Đỗ Minh Phong bị ông Tổng Biên tập cấm cửa. Hễ thấy bản thảo nào có tên tác giả như thế, như thế gửi đến, ông lập tức cho vào sọt rác. Cùng tắc biến, dấu mình dưới một bút danh khác nữa Phong tiếp tục “là một cộng tác viên thân thiết” của báo tỉnh. Khi in được 7 bài thơ trên trang Văn hóa – Văn nghệ báo, thấy đã nhiều nhiều anh đến phòng Trị sự xin lĩnh nhuận bút. Vở kịch đến đây hạ màn. Vì sự việc này mà nhà thơ Đỗ Minh Dương, người giữ gôn trang Văn hóa – Văn nghệ của báo sau đó bị Tổng Biên tập đì cho không mọc mũi sủi tăm lên được.

Người khôn vấp ngã ở đâu đứng dậy ở đó, đi tiếp. Đặng Ái vấp ngã, đứng dậy, nhưng không đi tiếp mà đi loanh quanh để vấp tiếp ở đó lần hai. Lần thứ hai, ấy là khi kịch bản phim “Những con đường” của anh được Xưởng phim truyện Việt Nam đưa vào sản xuất. Khi phim quay xong, để tỏ lòng trân trọng Văn nghệ, tỉnh cử hẳn một ông Phó Ban Tuyên huấn tỉnh ủy đi gặp đoàn làm phim vỗ tay mừng buổi chiếu ra mắt. Biết tác giả kịch bản là người Thanh Hóa, ông Phó liền đến bắt tay Đặng Ái, nói giọng nhũn nhặn:

“Tỉnh còn khó khăn lắm anh à, mời anh thỉnh thoảng về góp ý, giúp đỡ tỉnh nhà…”.

Như người khác thì ờ à cho qua, nhưng Đặng Ái ngang cành bứa, thẳng mực tàu cười cười đáp lời ông:

“Không anh ạ, tôi chữa xe đạp ở đầu phố Huế đây. Cần tôi góp ý điều gì, mời anh đến tiệm sửa xe của nhà  tôi, số…”.

Ông Phó Ban Tuyên giáo tỉnh bị một phen tẽn tò.

Rồi lần thứ ba, lần thứ tư…

Nhiều ẩn ức quá mà bộc phát vậy, sự thực Đặng Ái không phải là một người gai ngạnh. Tính anh nhân hậu, thương người, hay mủi lòng trước những phận đời oan trái. Nhưng chưa đầy 20 tuổi đã bị cuộc sống gạt sang bên lề, anh không sao dung được sự giả trá. Khi làm phật ý một vài quan chức là khi anh đã viết hàng trăm lá đơn xin việc, đã đi mòn lối công môn, lặng hơn nước thấp hơn cỏ rạp mình trước cửa người để mong được vào biên chế nhà nước, trở thành cán bộ công nhân viên của một cơ quan, xí nghiệp nào đó. Đáp lại tấm tình của anh chỉ là những lời hứa suông, những cái bắt tay hờ hững.

“Họa, phúc bất sở ỷ…”, trong rủi có may. Chúng ta sẽ không có nhà văn Đặng Ái ngày nay nếu ngày ấy đường đời của anh thanh niên Đỗ Minh Phong thuận buồm xuôi gió, nhưng đường đời bất trắc đã sinh cho đời một nhà văn tài danh. Sau “Kể về một tình yêu” Đặng Ái nhanh chóng vượt lên, viết liền liền. Một loạt truyện ngắn của anh như Đò ơi, Chiếc nhẫn cờ, Cầu đã lao sang, Anh bạn 10B của tôi, Hoa hải sơn, Nhà hàng hải, Nước mắt đồng quê… ra đời, được giới thiệu trên các báo gây dư luận sôi nổi trên văn đàn. Những truyện ngắn đầy chất thơ của anh trong đó nhân vật hầu hết trẻ tuổi, tất cả đều hồn nhiên, phơi phới, khát khao được hy sinh, cống hiến, hãnh diện làm thành viên của một tập thể nhanh chóng chiếm được cảm tình của bạn đọc. Đây  cũng chính là tâm trạng của tác giả ngày nào.

Trong các thể loại văn học, truyện ngắn giữ vai trò xung kích trong việc phản ánh đời sống hiện thực. Mỗi truyện ngắn là sự thể hiện những trăn trở của người nghệ sĩ về cuộc đời. Chúng luôn để lại cho người đọc những bài học qua sự chia sẻ, gửi gắm của nhà văn. Truyện ngắn mang rất rõ cái chất của từng người viết, nhất là cái chất quả quyết, đột ngột. Viết truyện ngắn phải có nghề lắm. Vả lại, phải viết về những cái mới, những cái không dễ thấy, nhưng ở chiều sâu của nó, cuộc đời đang đặt ra… Với người này, truyện ngắn là những lát cắt ngang của cuộc sống; với người khác, mỗi truyện ngắn là một trường hợp. Trong quan hệ giữa con người và đời sống, có những thời gian nào đó, khoảnh khắc nào đó, một mối quan hệ nào đó được bộc lộ đặc biệt. Truyện ngắn phải nắm bằng được các trường hợp ấy. Trên phương diện một người viết, tôi rất chịu ý kiến của Đặng Ái khi anh cho rằng, mỗi truyện ngắn là một câu chuyện. Tôi biết câu chuyện này, tâm đắc với nó và tìm cách kể nó ra với mọi người. Còn kể thế nào, ngắn hay dài, thuyết phục hay nhàm chán phụ thuộc vào bản lĩnh của từng ngòi bút. Quan niệm như vậy, nên cũng như Crixtian Anđecxen “Người kể chuyện cổ tích” (K. Pautovsky), suốt đời Đặng Ái là người kể chuyện cuộc đời: Một cô gái mù lặng lẽ năm này qua năm khác kéo bè sang sông chở bộ đội đi ra chiến trường không cần mọi người biết tên, một phi công bị thương nặng vẫn lái máy bay chiến đấu như anh hùng phi công Meretxep ở Liên Xô (cũ), một cô gái chung thủy đợi người yêu từ chiến trường về, một người thợ say mê học tập để nắm vững tay nghề làm việc cho tập thể, một anh kỹ sư được làng cử đi học đại học vẫn quyết tâm về xây dựng làng quê khốn khó…   Đọc anh là thấy như cuộc đời thực đang chuyện trò, vui cười hay hờn giận trên từng con chữ. Anh không thêu dệt, huyền hoặc hay rảy nước hoa, choàng lụa mỹ miều lên mặt cuộc sống. Anh luôn anh trung thực với cuộc sống, với nhân vật dù họ là ai, ở giai tầng nào trong  xã hội. Với tài hoa bẩm sinh, Đặng Ái đã vẽ nên một một thế hệ, một thời sống tốt, sống đẹp, cống hiến hết mình cho quê hương đất nước trong cuộc kháng chiến ái quốc chống Mỹ xâm lược. Từ những trang văn của anh, người đọc cảm nhận sâu sắc những nét tinh tế, nhân hậu trong tâm hồn người Việt, đặc biệt là người xứ Thanh, trong sản xuất, học tập và chiến đấu trong giai đoạn chiến tranh và sau chiến tranh. Và viết với một tấm tình chân thành, nên truyện của anh sau mấy chục năm đọc lại vẫn có sức lay động. Đây là điều tưởng đơn giản mà không mấy người đạt được.

Nhưng Đặng Ái không chỉ có viết truyện ngắn, anh còn viết nhiều tiểu thuyết, thơ và cả kịch bản. Trong các tác phẩm anh xuất bản đến nay ngoài 9 tập truyện ngắn, còn có 4 tập truyện, tiểu thuyết, kịch,  2 tập bút ký, 2 tập thơ. Đấy là những: Đỉnh Ngọc (tập truyện ngắn, 1975); Bức tranh đẹp (tập truyện ngắn, 1976); Có một mùa hè (tiểu thuyết, 1984); Phía trước đường đời tôi (truyện ngắn, 1986); Tín hiệu bình yên (truyện, 1986); Nhà hàng hải (tập truyện ngắn, 1987); Huyền thoại dốc ba cây sến (tập truyện ngắn, 1987); Mắt buồn (thơ, 1990); Thuở dại khờ (tiểu thuyết, 1991); Giai điệu mùa thu (truyện ngắn, 1994); Biến tấu (truyện ngắn, 1996); Giữa nồng nàn gió thổi (thơ, 2002); Đi đường xa (bút ký, 2003); Đêm có bắn pháo hoa (truyện ngắn, 2004); Tiệm cà phê khói mơ (truyện, 2005); Hồi ức mùa thi (tập truyện ngắn, 2005); Và gần đây để tổng kết cuộc đời viết văn của mình, anh đưa in Đặng Ái tác phẩm, gồm 5 tập theo các thể loại: Truyện ngắn (thành tựu lớn nhất) 2 tập; truyện dài 1 tập; kịch bản và thơ 1 tập; Tạp bút (gồm những bút k‎ý chọn lọc từ hai cuốn đã in và hàng trăm bài bào đủ các thể loại) 1 tập… do nhà xuất bản Thanh Hóa ấn hành năm 2013. 

Một bộ sách đầy sức nặng, nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Những tác phẩm đã đưa anh lên hàng những nhà văn xuất sắc trong lớp nhà văn chống Mỹ.

*

Như nhiều người cầm bút nói chung, Đặng Ái thích “khoác ba lô lên và đi”. Cho vui thôi, chẳng nghĩ gì khác. Bàn chân anh phủ sóng gần như khắp các tỉnh thành trong nước. Ngày tôi công tác ở Hội Văn nghệ Nha Trang, một lần thấy anh xuất hiện ở trụ sở 6A Lý Tự Trọng, tôi cảm khái: “Bác ngậm ngãi tìm trầm”. Đặng Ái cười: “Ta đi chơi thôi mà, có tư tưởng gì đâu…” (***)..

Một đêm năm 1984, hai anh em đang ngủ say trên sàn nhà bỗng nghe rầm một tiếng, liền đó có một cái gì đó thật khủng khiếp đổ xuống đập ngang ngực làm tôi tức thở, đau quằn quại. Trong lúc thần hồn nát thần tính, tôi bỗng nghe giọng ai đó hỏi hốt hoảng: “Có sao không Hội ơi ?”. Định thần lại, tôi nhận ra giọng Đặng Ái và hiểu ngay vấn đề. Do trước khi đi ngủ, chúng tôi bất cẩn buộc hai đầu dây màn vào giá sách. Cái giá sách tôi làm bằng một con dao rựa cùn, chẳng có đinh cũng chẳng có mộng mẹo liên kết. Chỉ cần tôi hoặc anh trở mình cuốn màn vào người là nó lập tức đổ xuống. Phía Đặng Ái nằm các khoang chứa đầy sách. Được sách che đỡ, anh không việc gì. Phía tôi giá trống trơn và tôi lãnh đủ…

Trở dậy, gạt các thứ sang một bên chúng tôi ngủ tiếp. Nhưng không ngủ được, cảm thấy đêm tối có cái gì đó bất an như trước những trận bom Mỹ xưa, chúng tôi rì rầm trò chuyện. Đặng Ái kể tôi nghe cuộc đời anh. Đến lúc ấy tôi mới biết ngày mấy cây bút đồng lứa xứ Thanh cùng tôi ra Hà Nội học khóa I trường viết văn Nguyễn Du (xem “Người tốt trại Vân Hồ”, báo Văn nghệ số 22 (2832), ngày 31/5/2014)  anh cũng muốn đi học, nhưng vì không phải là người trong biên chế Nhà nước nên đành chịu.

“…Khi nên trời cũng chiều người/ Nhẹ nhàng nợ trước, đền bồi duyên sau…”  (truyện Kiều). Ba năm sau, năm 1983 việc “đền bồi duyên sau” của Đặng Ái được Trời tiến hành. Bỗng dưng anh vượt qua chướng ngại, được vào biên chế Nhà nước, trở thành học viên khóa 2 của trường. Từ đó, “…Cửa trời rộng mở đường mây…”, Đặng Ái được đủ thứ, được kiến thức đã đành, mà còn được vợ. Đây thực là một điều đáng kể, vì với anh chọn vợ nghĩa là chọn bà chị cho 9 đứa em. Được việc làm (phóng viên báo Thương nghiệp), nhưng ngoạn mục nhất vẫn là được chức Chủ tịch Hội Văn nghệ Thanh Hóa.

Chuyện như đùa. Năm 1989, ông phóng viên báo Thương nghiệp Đặng Ái nhân chuyến công tác Thanh Hóa, đến Hội Văn nghệ tỉnh chơi thăm bạn bè. Thấy trong góc phòng Hành chính của Hội có một đống cặp giả da cao bề bộn, hỏi để làm gì ? Ông Trưởng phòng nói quà đại hội. Đặng Ái hỏi xin một cái. Ông ta quan trọng bảo: “Cho răng được. Ông muốn lấy cặp phải đến đại hội…”. Thế là Đặng Ái đi dự đại hội Văn nghệ tỉnh mà mục đích ban đầu chỉ là để kiếm một cái cặp. Tới lúc bầu cử, được nhiều người khuyến khích, anh ra ứng cử và trúng luôn chức Chủ tịch. Trúng thì làm. Tạm xin nghỉ công việc ở báo Thương nghiệp, anh công dân hạng hai Đỗ Minh Phong ngày nào khăn gói hồi hương để làm quan Văn nghệ. Cho đến nay, Đặng Ái có lẽ là người duy nhất ở nước ta làm trưởng một ngành cấp tỉnh khi chưa là đảng viên. Nhiệm kỳ ấy đi qua với nhiều bất trắc, sóng gió nhưng cũng đầy ngẫu hứng.

Nhiệm kỳ sau Đặng Ái lại đắc cử BCH với số phiếu còn cao hơn. Đến nước này thì Đảng phải ra tay, ông Bí thư tỉnh ủy gọi anh vào tâm tình: “Cậu chưa phải đảng viên, kỳ này làm phó thôi nhé!” Hiểu chế độ ta Đảng lãnh đạo toàn diện, Đặng Ái vui lòng lui xuống hàng hai, làm Phó Chủ tịch Hội.

Thời Đặng Ái tham chính, Hội Văn nghệ Thanh Hóa có nhiều chuyện vui. Vui nhất là năm 1993, Hội xây được nhà cho nhà thơ Hữu Loan, đây là ngôi nhà đầu tiên… (vô tình) dẫn đầu phong trào làm nhà tình nghĩa cho các đối tượng chính sách nở rộ trong cả nước sau này. Để hoàn thành ngôi nhà như tâm nguyện, Chủ tịch Hội, Chánh văn phòng Hội (nhà thơ Nguyễn Văn Túy‎) đã phải chạy đôn chạy đáo xoay tiền đến bạc mặt. Trong lúc  ngôi  nhà đang thi công, một số cụ hội viên vốn không ưa Đặng Ái, nay lại khó chịu với việc ưu ái Hữu Loan (mà các cụ cho là không phải hội viên lại cũng chẳng có đóng góp gì cho văn nghệ tỉnh nhà), tụ tập nhau đến chất vấn ông Chủ tịch: “Sau Hữu Loan Hội làm nhà cho ai ?” Thấy tình hình có vẻ căng, ông Chủ tịch vận hết mười thành công lực thoắt trở lại phong độ của chàng trai thợ mộc ngày nào, trả lời tỉnh bơ: “Sau Hữu Loan đến tôi”. Biết gặp phải cao thủ, các cụ ớ ra nhìn nhau rồi lảng chuyện. Thế là Đặng Ái thoát hiểm.

Ngôi nhà xây xong, không đóng biển “nhà tình nghĩa” này nọ như thói thường. Nhưng tác giả Màu tím hoa sim đã ở trong ngôi nhà này suốt 17 năm cuối đời, đã gặp gỡ, giao lưu, tâm sự với hàng ngàn người yêu thơ, hàng trăm nhà văn, nhà báo, và đã trút hơi thở cuối cùng tại đây (ông mất ngày 18 tháng 3 năm 2010, thọ 95 tuổi).

Cảm động vì tấm tình của lớp hậu sinh, hôm khánh thành ngôi nhà Hữu Loan đã có một nhượng bộ đáng kể, đấy là cho phép Hội Văn nghệ Thanh Hóa khi in thơ Hữu Loan được quyền tùy nghi thay đổi kiểu dáng kiến trúc, dẹp bớt một số bậc thang trong thánh đường thơ gập ghềnh của ông cho đỡ… tốn giấy. Tiếp nhận sự nhượng bộ ấy, ông Chủ tịch Hội Đặng Ái mỗi khi có dịp in thơ của tác giả Màu tím hoa sim trên Văn nghệ Thanh Hóa, không những không dẹp bớt mà còn cao hứng xây thêm cho nhà thơ dăm ba bậc thang thơ mới. Sinh thời, Hữu Loan rất khoái điều này. Theo ông, như thế Hữu Loan trông càng Hữu Loan hơn.

 

Thành phố Hồ Chí Minh, 21 – 6 – 2014

                                                              N.X.H

____

    * Thơ Tào Tùng, đời Hán ?: Trạch quốc giang sơn nhập chiến đồ/ Sinh dân hà kế lạc tiều tô/ Bằng quân mặc thuyết phong hầu sự/ Nhất tướng công thành vạn cốt khô.”

  ** Chữ của Nam Cao.

*** Thơ Trần Nhuận Minh.

( Nguồn: nguyentrongtao…)

 

 Công Phượng: chuyện buồn về cách đối xử với một tài năng

 
Hà Văn Thịnh/ Một thế giới
Ảnh bên:Cuộc sống của Công Phượng này vẫn chưa được để yên. Ảnh: Bạch Dương (TNO)
Cứ nghĩ rằng một trong những nguyên nhân làm cho miền Trung nghèo là do sự ghen ăn, tức ở, níu chân nhau, ganh tỵ mất đoàn kết đã thành ‘truyền thống’ nhưng qua câu chuyện về tuổi thật của cầu thủ bóng đá tài năng Công Phượng, mới thấy rằng cách nghĩ đó là sai mà, sự thật, đó có lẽ là thói quen thật xấu xưa nay của… người Việt?

Có một ‘truyền thuyết’ trong dân gian hiện đại kể rằng một người muốn tìm mua thứ cua ở miền Trung có hương vị đậm đà hơn so với cua ở miền Nam giữa chợ Bến Thành. Anh ta được chỉ dẫn là cứ tìm cái thùng đựng cua nào không đậy nắp, đó đích thị là cua miền Trung: Bởi ‘thứ cua’ đó có thói cứ níu kéo nhau, con nào trèo gần lên đến miệng thùng, ngay lập tức sẽ bị cả bầy cua kéo xuống…
Trên FB, một giảng viên trẻ của Đại học Ngoại ngữ Huế là Đoàn Minh Triết bày tỏ sự bức xúc rất đúng rằng, Công Phượng 19 hay 21 tuổi thì đâu có là gì để hết dư luận này đến dư luận kia lao vào xăm xoi tìm vết?
Giả sử nếu như cái tuổi 19 không đúng đi nữa thì có sao vì đội U19 có quyền bổ sung 3 cầu thủ quá tuổi. Hơn nữa, nếu như sau cùng, ‘chứng cứ lịch sử’ khẳng định Công Phượng 21 tuổi thì đó cũng đâu phải là lỗi của cầu thủ trẻ này?
Khai sinh là việc của mẹ cha và tuyển chọn từ nguồn là quyền của Hoàng Anh Gia Lai, người ta đã ‘cho qua’ từ khi Công Phượng còn nhỏ, chẳng ai biết sau này em ấy sẽ thành danh để đến nỗi chịu cái kiếp nạn ‘hội đồng’ tốn biết bao nhiêu là giấy mực…
cong phuong hinh anh
Công Phượng thấy buồn cười về nghi án gian tuổi của mình
Như là ‘định mệnh’, chuyện lùm xùm của Công Phượng xảy ra gần như cùng một lúc với chuyện ông nông dân Hai Lúa Trần Quốc Hải (cụm từ 5 chữ này là tên gọi trìu mến của bà con nông dân Tây Ninh dành cho Đại tướng quân Trần Quốc Hải) được nhà nước Campuchia tặng huân chương Đại tướng quân vì có đóng góp đặc biệt trong việc sửa chữa xe bọc thép do Liên Xô cũ sản xuất: Nhiên liệu tiết kiệm được 50% mà các tính năng kỹ thuật lại vượt trội – hỏa lực mạnh hơn, cơ động hơn…
 Cái đau và cái xót là ở chỗ, Hai Lúa Trần Quốc Hải không phải là người từ trên trời rơi xuống, ‘sau một đêm ngủ dậy làm ra cả tập thơ thần’ như ai đó, mà phát minh của ông chỉ là sự tiếp nối cả một chuỗi phát minh, cải tiến từ rất lâu rồi nhưng không được… cua miền Trung chấp nhận!
Hàng vạn kỹ sư, TS, PGS… của nước mình dường như chẳng có một ai chịu thừa nhận rằng có những người không có bằng cấp vẫn có thể giỏi hơn những cái bằng hư danh của họ. Đây không hề là điều mới bởi cách đây hàng ngàn năm, Chúa Jésuse đã phải đau đớn mà kêu lên rằng “Tiên tri nào cũng bị hắt hủi ở ngay chính quê hương mình”.
Làm sao đội ngũ bằng cấp đông như quân Nguyên có thể chấp nhận nổi một người chỉ lo làm mà không nói, khác xa với rất nhiều những người khác nói hay, nói nhiều mà không chịu làm bởi không biết làm gì khác ngoài mớ lý thuyết kinh điển vừa nặng, vừa dày? Họ quên mất Thomas Edison (1847-1931) dù bị đuổi học ngay trước khi kết thúc tiểu học vẫn có hơn 1.500 bằng phát minh, Bill Gates chỉ mới học đến năm thứ ba đại học nhưng lại tài giỏi phi thường và giàu nhất thế giới…
Hai Lúa Trần Quốc Hải đích thị là một nhà phát minh: Chỉ riêng việc tiết kiệm được 50% nhiên liệu cho chiếc xe bọc thép được ra đời từ công trình nghiên cứu của vô số kỹ sư, phó TS, TS của Liên Xô cũ đã là một giá trị rất đáng tôn vinh rồi. Một con người vừa tài năng vừa khiêm tốn như thế sao phải lâm vào cảnh đất dữ đất buồn chim khó ở chim bỏ chim phải bay đi?
Chưa thấy bất kỳ một nhà khoa học nào trong nước lên tiếng (trừ các GS người Việt ở nước ngoài) – có nghĩa là mãi đến lúc này, vẫn chẳng có ai muốn thấy – thừa nhận một ‘con cua’ xứng đáng vượt thoát ra khỏi cái thùng tức tưởi, vì sự tức ở xót xa…
Nếu như mỗi chúng ta ít phải vật vã hơn với những câu thành ngữ cay đắng như thói ghen ăn, tức ở, đâm bị thóc, chọc bị gạo; gắp lửa bỏ tay người; thọc gậy bánh xe; ném đá giấu tay…, thì chắc hẳn, cuộc sống sẽ ấm êm hơn, sự phát triển sẽ lành mạnh hơn. Một bậc thầy về nghề báo có ‘định nghĩa’: Xe cán chó không phải là tin mà chó cán xe mới đích thị là tin.
Thật buồn …

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.11.2014

Hình như kiến gió cũng có linh hồn

Hình như kiến gió cũng có linh hồn

Mai Khắc Ứng

Cuối năm 1981 anh Phan Thuận An và tôi được ông Trưởng ban Quản lý Di tích Cố đô Huế phái lên phối hợp với ông Tôn Thất Hy thường ngày gọi là Đội Hy, Đội trưởng bảo vệ lăng Gia Long, tìm cách chống sập điện Gia Thành thuộc lăng bà Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu, tục danh Trần Thị Đang thân mẫu nhà vua Nguyễn Thánh Tổ.

Hơn một giờ cắm cổ guồng, hai anh em tôi qua đò ngang bến Kim Ngọc, gửi xe đạp ở quán nước bên đường rồi lội bộ vào Minh Thành điện tìm ông Đội Hy. Ông Ố mới lên thay ông Cẩn cho biết thường ngày ông Đội ở ngoài nhà dân, ít khi vào điện.

Ngồi với nhau e chừng chưa giập miếng bả trầu thì đã nghe tiếng dội chát chúa từ Gia Thành điện. Hai anh em tôi cùng ông Đội Hy đi ngay vào nơi phát ra tiếng chặt phá đang rộn rã.

Đến nơi, đứng giữa những tay rừu rựa mà ánh mắt họ long lên theo lòng căm thù đế quốc phong kiến ngùn ngụt, biết tính sao đây! Ông Đội Hy thì hằng ngày chén nước, điếu thuốc làm lành với họ để được yên thân đi về. Anh Phan Thuận An với tôi lạ nước lạ cái thấy ánh thép lưỡi rìu loang loáng đã nản.

Đụng cọp rồi. Tôi thoáng nghĩ thế, để tự trấn an mà lên tiếng trước. Xin anh em dừng tay, Di tích đã được xếp hạng và chỉ vào một tấm biển nhỏ có 4 chữ: “Di tích xếp hạng” bị ai đó gạt sang một bên nằm chênh vênh bên thềm. 

Cả bọn rìu rựa quay lại nhìn tôi rồi ngạo mạn cười.

Đây là công trình kiến trúc duy nhất còn sót lại của lăng Thiên Thụ Hữu. Định Môn vốn là căn cứ địa thời “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” nên bom đạn cũng lắm mà trình độ giác ngộ cách mạng cũng rất cao. Sự tôi luyện trong gian khổ chiến tranh cộng với tư tưởng bất cần quen bươn trong rừng sâu tìm cơ may đổi đời đã tôi luyện số người này thái độ ứng xử với người lạ cũng lạnh như lưỡi rừu.

Mùa mưa gió việc “ngậm ngãi tìm trầm” tạm ngưng. Ngồi xo ro trong những mái nhà tranh mà vách liếp chỉ đủ che tầm nhìn nhưng không ngăn luồng gió, thiếu chất đốt sao yên.

Gia Thành điện đứng giữa đồi không mông quạnh đã gần thế kỷ rưỡi với nắng mưa gió bão và trống vắng hơi người nên đã hư hỏng nứt gãy dột nát quá nặng.

Ông Tôn Thất Hy làm đội trưởng. Ông Ố mới lên thay ông Cẩn làm đội viên. Với  khu lăng rộng giữa đồi không mông quạnh chỉ có 2 con người. Kham sao nổi. Một mảng rui, mèn không còn ngói che. Một vài câu đầu, xà, trến đã lơi mộng. Trước tầm nhìn của củi số vật liệu này gợi nên ấm áp. Với anh em Định Môn, Gia Thành điện hiện diện như một “nguồn nhiên liệu”. Mưa gió. Dễ lấy. Gần nhà. “Mỏ củi” trước mũi không tranh thủ không yên.

“Các ông giữ những thứ vua quan này làm gì. Chúng tôi không lấy thì mưa gió cũng lấy! Các ông định chống đỡ ư? Chống bằng tay à?”.

Một người trong bọn tiếp chúng tôi với lời đầu tiên là thế.Ông đội Hy thì trước sau vẫn phải giữ chỗ đi về. Anh Phan Thuận An là một thư sinh Huế  “bản địa” từng được nâng niu trong tay “lá ngọc cành vàng” chưa một lần tiếp xúc với thực tế xã hội du đãng ngoài đời. Còn tôi, người Nghệ mới nhận việc, lại được chính ông Trưởng Ban Quản Lý Di Tích gọi lên văn phòng giao việc. Vả lại, anh An từng đã bảo vệ thành công Luận văn Cao học Sử về Phòng Thành Huế, vào thời điểm năm 1981 là “con chim đầu đàn” của bộ phận nghiệp vụ. Tôi mới nhập tịch chưa biết chi về văn hóa Huế nên thực hiện lời dạy dân gian “Học thầy không tầy học bạn”. Rủ anh An đi là tự tôi. Gặp tình huống này hai người Huế quả là khó ăn khó nói. Tôi là người Hà Tĩnh, vốn có máu “cá gỗ” lại sắm vai tổ trưởng của ba người nên phải ra giọng phân trần đôi lời với anh em.

Để tránh những cái lưỡi rừu vô tri kia, chúng tôi đành phải đấu dịu mà giữ lối đi về, tôi thỏa thuận: Số rui mèn, đòn tay,… trót đã thành củi rồi, công ai người đó lấy. Kể từ nay xin anh em dừng tay để “chúng ta” còn cứu vãn di tích.

Không ngờ hai tiếng “chúng ta” lúc đó lại “đắt giá” đến thế.

Những người kiếm củi tươi tĩnh hẵn rồi hò nhau bó củi vác ra về.

Khi chỉ còn ba anh em đứng lại giữa sự sụp đổ như là tất nhiên vẫn văng vẳng câu hỏi: “Các ông định chống đỡ ư? Chống bằng tay à?”.

Câu hỏi ngang nhiên của người Định Môn trước “sứ mệnh” của những người bảo tồn di tích năm 1981 quả là chí lý!

Phút khó xử nhất coi như qua, ba người chúng tôi đứng lại ngao ngán trước phế tích đang trong cơn “hấp hối” giữa mùa mưa bão của trời và vô tri của con người. Tôi nghĩ có củi trong tay rồi nên họ dễ ra về. Nhưng đối với họ, sự trở lại vẫn là tiếng gọi của bếp lửa mùa mưa. 

Một tòa nhà trùng thiềm điệp ốc lợp ngói âm dương quá nặng đang đuối sức. Một số chân cột đã bị gió bão xô trượt ra khỏi đá táng chênh vênh. Toàn bộ ngôi điện đã xiêu về một phía. Tường vôi vữa đã bong, nứt, nghiêng, sụt. Một góc mái chính tích với hai đầu mái chái tiền tích ngói đã sụt, rui mèn đã được “hạ thổ” ra Định Môn làm nhiên liệu rồi.

“Chống bằng tay à?”.

Kinh phí không một đồng. Vật liệu không một tấc. Sức nặng hàng chục tấn trên đầu 3 con người mong manh sao mà hài hước vậy. Ra khỏi chỗ đứng là điều đầu tiên đối với chúng tôi.

Trời về chiều. Những mảng mây mọng nước u ám đã nhòa những cây thông cây xoài tốt số. Hai anh em tôi theo ông đội Hy sang Minh Thành điện.

Ông Ố đang lúi húi trong một góc sập của Tả vu lo bữa cơm chiều cho 4 anh em. Ba gian Tả vu chỉ còn lại mái chái trái cũng là may. Hai bờ tường thấp đỡ một mái nghiêng như người gánh quá nặng đã quỵ đầu gối.

Bếp là một mớ tro với ba cục đá làm ba ông đầu rau. Leo lét lửa và phảng phất mùi dưa chua nấu với cá con mấy người đơm tát ngoài hồ Dài cho ông Ố. Bên cạnh bếp là một tấm ván hình như là cánh cửa cũ kê sát tường hồi để tránh sập là chỗ nằm của bác Cẩn nhường lại cho người đến thế chân. Cơm tối xong ông đội Hy giúp chúng tôi kê hai tấm ván vào gian giữa Minh Thành điện làm chỗ ngạ lưng qua đêm.

Minh Thành điện là một tòa nhà trùng thiềm điệp ốc, cột lim đen bóng bởi sắc gỗ lâu ngày lên nước y như cột đình thờ Cương Quốc công Nguyễn Xí của làng tôi.

Một số chân cột của chính tích và tiền tích đã chệch ra bên ngoài đá táng. Ngói mái sau và hai mái chái kép đã sụt, vở nhiều chỗ nên nền chính tích lênh láng nước mưa. Duy chỉ còn gian giữa tiền tích không dột lại vừa được chống đỡ nên ông đội Hy sắp xếp cho hai chúng tôi chỗ đó. So với các gian bên, gian giữa có vẽ còn vững hơn. Tuy nhiên để đề phòng sự sụp đổ bất ưng, chúng tôi kê hai tấm ván sát bậc thềm và bảo nhau trở đầu ra phía ngoài để nhỡ khi mái sập dễ thoát chí ít còn giữ được cái đầu. Bởi chỉ nghĩ đến cái đầu mình nên quên lễ nghĩa. Đêm càng vào khuya càng rờn rợn bởi sự im lặng quá nặng nề và bởi cả những tiếng rừng rất lạ mà khó đoán. Bồn chồn nên khó ngủ, hai chúng tôi cứ trằn trọc băn khoăn và một điều rất lạ là như có hàng triệu triệu con kiến gió bò rân rân trên da thịt khắp cơ thể tôi. Bò mà không cắn.Tôi ngồi dậy cởi áo vừa phủi vừa xoa rồi dém màn lên kéo chiếu ra sân để rủ. Phan Thuận An thấy tôi ôm chiếu ra ngoài cũng làm theo. Thì ra bên đó cũng bị hàng triệu con kiến bò như tôi. Rủ chiếu, rung mùng, thay áo, nhưng cả hai không tìm thấy một con kiến nào. Thế mới lạ. Kiến bò rõ ràng thế mà không nhận ra dù chỉ một con.

Tôi rờn rợn nghĩ ngay đến ma. Nhưng trong điện thờ vua ma vào thế nào được.

Thôi rồi! tôi nghĩ mình là một thần dân nằm ngược trước án thờ vua là phạm trọng tội vô lễ.

Tôi nghĩ vậy liền khẻ nói với anh Phan Thuận An, ván bên. Ta nằm giữa gian bảy (quê tôi gian giữa thường gọi là gian bảy) mà quay đầu ra ngoài là vô lễ, phạm thượng rồi! Ta bị quở đó. Quay lại thôi!  Thế là hai anh tôi đều trở đầu vào phía trong.

 Từ phút đó, chúng tôi không hề bị kiến bò, an tâm ngủ một giấc thật sâu cho đến sáng. Bị quở để nhắc nhỡ mà không bị phạt là phúc lớn đối với chúng tôi.

Xem ra, những con kiến gió dù nhỏ cũng vẫn có linh hồn. Đó là loại âm binh lành, thiện tâm.

Hướng thượng mỗi khi vào đền chùa đình miếu lăng tẩm là lời dạy của bà ngoại tôi từ thuở chúng tôi còn lẻo đẻo theo bà lên chùa đã trở thành thuộc tính. Niềm tin vào các đấng vô biên cao cả vốn đã tiềm ẩn trong tâm trí tôi từ nhỏ. Sau buổi tối Minh Thành điện với anh Phan Thuận An tôi càng đinh ninh hơn.

Thế rồi điện Gia Thành vẫn không giữ được. Một số người Định Môn đã nhanh tay hơn mưa bão, nhanh tay hơn kế hoạch mà chúng tôi đệ trình lên Trưởng ban Quản lý Di tích, xin kinh phí mua vật tư chống đỡ. Tiếc nhất là những ô chữ trên các dải liên ba. Giá mà hồi đó chúng tôi có máy ảnh, có kinh phí và nhất là người trên đừng miệt thị chúng tôi chỉ là “những kẻ giữ mả vua” thì may cho hôm nay biết nhường nào! Những ô chữ về sau khi tìm ra mối liên hệ tôi mới biết đó là các ô thơ vua. Tiếc quá.

Cái thời mà ngay ông Trưởng ty Văn hóa Thông tin Trần Hoàn sai ba quân đập gờ cửa Loan, Phụng nới rộng để xe tải đưa máy in vào Lục Viện (Hoàng Thành) và cho đập bỏ một đoạn La Thành Hiếu lăng để nhân viên văn hóa chở phân, hom sắn vào tăng gia sản xuất thì lăng Thiên Thụ chẳng là cái gì trong mắt người đứng đầu nghề văn hóa.

“Quả báo nhãn tiền”. Cha ông ta dạy thế! Những chiếc ghế Hợp tác xã Nông nghiệp Định Môn đóng bởi gỗ tháo gỡ trong các công trình kiến trúc lăng, chiếc thạp đất nung vài ba người cuỗm về ít lâu lại theo nhau mang vào chổ cũ. Một vài vật dụng từ lăng lưu lạc theo những tấm lòng tham, lục tục được vãn hồi. Một số trai làng ngỗ ngáo từng phá lăng, đào mộ, sống buông thả bất cần dường như mỗi ngày một điêu linh tàn tạ.

Vậy là từ ngày về với Huế, lên lăng Gia Long dần dần tôi nhận ra mối giao hòa tương dữ giữa Thiên lý, Địa lý, Nhân lý vô hình mà hữu lực. Những con kiến bò rân rân nhưng không hề cắn trong đêm ngủ ở điện Minh Thành nhắc tôi đừng bao giờ vô lễ với người đã khuất. Nhất là các vị tiền bối có công khai sáng một Vương triều.

                                                            Montreal, ngày 21 tháng 3 năm 2014

(Nguồn :vanhoanghean)

Lá thư của cô gái xứ Nghệ gửi tới Chủ tịch tập đoàn sữa TH

“Tôi gửi bài viết này lên face book như một lời kêu cứu của hàng nghìn người dân chúng tôi đang phải mang khẩu trang khi ngủ. Mong rằng các bạn hãy tiếp thêm sứ mạnh để bài viết này có thể tới tận tay người cần tới và hy vọng sẽ có một phép nhiệm màu để cứu rồi những con người hàng ngày đối diện với ranh giới sinh tử. Xin chân thành cảm ơn!”.
Đông Lâm, 2h sáng ngày 18/4/2014. Gứi cô Thái Thị Hương – Chủ tịch tập đoàn TH true milk! Thật thất lễ khi chưa một lần gặp mặt cũng như chưa nói chuyện với cô lần nào mà lại gửi bức tâm thư này tới cô. Xin cho cháu xưng hô là vậy bởi cháu năm nay 25 tuổi và đang là một giáo viên nên phần nào hiểu về cái quyền tự do ngôn luận.
Cô Hương thân mến! Cháu là người con sinh ra và lớn lên tại môt vùng quê mà trước đây cháu còn nghĩ nếu ở thời chiến tranh thì đây chính là nơi trú ẩn an toàn bởi vì nơi đây bạt ngàn những rừng cao su, rừng tràm, cà phê, cam, mía… và bao quanh là dòng sông nhỏ. Thế nhưng giờ đây mọi nơi đều được trải bê tông để nhường chỗ cho nhưng chú bò nhập ngoại trú ngụ và những nhà máy hoạt động liên tục 24h. Cũng chẳng hiểu sao xóm cháu “được”chọn là nơi xây dựng nhà điều hành, lại thêm những trại bò sữa vây quanh, cùng với một trung tâm thức ăn đồ sộ phục vụ cho một trang trại bò sữa có quy mô lớn nhất Đông Nam Á.
Hẳn cô đã phần nào hiểu tại sao cháu không gửi thư cho ai khác mà lại chọn cô – người đứng đầu tập đoàn sữa TH true milk. Cháu không viết thư để đòi lại những vườn cam, vườn cao su, vườn mía… mà giờ đây bê tông đã trải kín nền, không còn nghĩ đến chuyện người dân xóm cháu thức ngày đêm để đòi quyền bồi thường thỏa đáng, cũng không than vãn hộ chị gái hằng đêm phải trốn hai đứa con nhỏ lúc hai giờ sáng để đi làm kịp ca đặc biệt là những ngày đông giá rét mà lương cơ bản hàng tháng vẫn chỉ 2 triệu đồng, không còn thắc mắc chuyện dân cháu mỗi ngày 24 tiếng đều đặn phải nghe những âm thanh ồn ào của máy móc, của xe tải… và những tiếng la hét của đàn bò, lại càng không muốn khóc lóc mà khiếu nại chuyện những chuyến xe chở chất thải cứ tung tăng chạy trên đường để rồi những người tham gia giao thông cùng như cháu lại có những hôm đang trên đường đi làm phải trở về vì phân thải dội khắp người, hậu quả là học sinh nhao nhác chờ cô còn cháu thì chỉ dám nói lí nhí với thầy hiệu trưởng cái lí do đi dạy muộn mà nghe xong chắc ai cũng phải bịt mũi.
Mà nói thật là cũng từ sau cái chuyện ấy cháu lại dạy thêm cho học sinh một văn hóa ửng xử trong giao thông là chữ “nhường”, để thực hiện chữ “nhường” đó thì mỗi lần gặp những xe trọng tải lớn của TH là cháu cứ phải tấp hẳn xe vào lề đường rồi nín thở chờ họ đi qua. Ấy vậy mà dù có nép theo chiều thẳng đứng với cột mốc thì mạng sống cũng chỉ xem như trò đùa, khi chiếc xe tải chở phân vẫn lao hầm hập như không phanh và cố tình đánh lái để có thể lao vào trực diện thế rồi tay lái xe có vẻ như đang thể hiện trình độ lái xe của mình khi phanh két trước mặt, rồi từ từ mở cửa xe hỏi một câu rất chi là lịch sự: “Đi làm về hả em?” (chắc xe này mua phí bảo hiểm cao lắm)… và còn lắm lắm những điều mà lúc này đúng 2h30p cháu suy nghĩ tới bởi cho dù đã bịt khẩu trang thì cháu vẫn không tài nào ngủ được khi tất cả mùi hôi thối từ trại bò cứ thi nhau luồn lách để vào trong tận màng phổi.
Cháu nghĩ tới căn bệnh ung thư phổi mà Bố cháu đã chịu đựng và không gào thét bắt TH phải trả lại mạng sống cho Bố cháu, cho Bác ruột của cháu, những người hàng xóm của cháu lần lượt ra đi vì căn bệnh ung thư. Nhưng cháu không thể cầm lòng khi giờ đây những người xung quanh cháu đang thoi thóp từng ngày mong chờ được thêm cơ hội sống dù ai cũng biết là vô vọng. Bác Hồ đã từng nói: “mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, quyền được sống và mưu cầu hạnh phúc” và khi cận kề cái chết thì niềm khao khát được sống lại lớn lao hơn cả. Bởi cách đây không lâu khi chứng kiến Bố chịu đựng những cơn đau giằng xé nội tạng mà không một lời than vãn, suốt 3 tháng ròng chỉ ngồi mà không thể nằm nhưng không muốn tiêm thuốc giảm đau vì Bố nghĩ nếu tiêm thuốc đó thì sẽ mất hết hy vọng và gia đình cháu cũng mong lắm điều diệu kì.

 Cho tới hôm nay, một lần nữa chứng kiến cảnh bác xóm trưởng bị căn bệnh ung thư gan hành hạ, chị hàng xóm lại nhận kết quả dương tính với căn bệnh ung thư tử cung, bác bí thư chi bộ bị u não, cô gần nhà lại mắc bệnh hiểm nghèo… lúc nghe tin mà người như rụng rời bởi nỗi đau này cháu và gia đình đã từng chịu đựng,tới nỗi ông nội cháu – người đã từng tham gia hai cuộc kháng chiến Pháp – Mỹ – là một trong những người đầu tiên khai hoang mảnh đất này lại phải đau xót mà thốt lên rằng: “Trời ơi TH đã cướp mất hai người con tôi” khi hai năm liền ông lần lượt chứng kiến hai người con từ giã cõi đời.
Thực lòng cháu không muốn đổ lỗi cho ai nhưng giờ đây nơi cháu ở là một dòng sông chứa đầy chứa đầy chất thải của bò bao quanh phía Đông, là một con đập chứa nước mà mỗi mùa mưa lũ những hồ chứa phân vỡ ra và rồi nó hứng chịu cứ thế ngấm vào nguồn nước ngầm của nhà dân lại nằm ở phía Tây, là những trại bò sữa giáp với khu dân cư trải dài ở phía Nam và một khu trung tâm thức ăn với đủ các loại mùi hôi thối nồng nặc án ngự phía Bắc.
Đã bao giờ cô phải mắc màn để ăn cơm chưa ạ? Dân chúng cháu phải mắc màn mỗi khi ăn cơm vì quá nhiều ruồi từ các trại bò xâm nhập, ấy vậy nên cô lại có chương trình cấp cho mỗi hộ dân xóm bên cạnh 200 trăm nghìn đồng để mua thuốc diệt ruồi còn xóm cháu cứ thế mà chịu. Kể ra có lẽ cũng chẳng ai tin khi người dân hằng đêm phải mang khẩu trang đi ngủ nhưng lại có thật tại nơi đây. Có thể chúng cháu đã biết đến cuộc đời 25 năm nay, nhưng còn những em nhỏ – một thế hệ tương lai đang hàng ngày, hàng giờ phải sống trong một môi trường quá ô nhiễm. Liệu các em có thể phát triển bình thường như bao đứa trẻ khác? Hãy thử đặt mình trong hoàn cảnh đó và liệu mình có thể để yên như vậy khi hàng ngày chứng kiến người thân của mình ra đi hay không.
Thiết nghĩ, cô cho xây dựng một số đền miếu, lại hay lập đàn cầu siêu… vậy tại sao không tạo thật nhiều ân phúc. Cô tin vào thuyết “Duy tâm” liệu cô có tin vào hai chữ “Quả báo”? Đến bây giờ điều cháu mong muốn nhất đó là cô hãy thực hiện những lời hứa với người dân mà hơn 4 năm qua cô đã lỡ hẹn. Dân chúng cháu cần lắm những tấm lòng biết cảm thông, chia sẻ và có trách nhiệm với hàng nghìn con người đang ngày đêm đối diện với tử thần.

Kính thư! Hoàng Thị Trâm”.

 

Nguồn: http://blog.zing.vn/jb/dt/mainuthan5a/19745556?from=my

Đăng bởi: Ngô Minh | 16.11.2014

NGƯỜI THẦY ĐẦU TIÊN

Thầy Quảng Bá Hùng( phải) và NM ( ảnh chụp  8-2012 ở Hội An)                                

NGƯỜI THẦY ĐẦU TIÊN

                                                                    Ngô Minh

             Trong đời học sinh của tôi từ vỡ lòng cho đến đại học, tôi đã học với rất nhiều thầy cô giáo. Nhưng những thầy cô giáo dạy giỏi, hết lòng vì học sinh, gây ấn tượng mạnh đối với tôi cho đến bây giờ chỉ đếm trên đầu ngón tay. Trong đó có thầy Quảng Bá Hùng, là người thầy đầu tiên của làng biển quê tôi. Thầy là thầy giáo đầu tiên khai sáng nền giáo dục ở xã Ngư Thủy, góc biển nam Quảng Bình. Học trò của thầy bây giờ đã bảy mươi tuổi, ai cũng cháu nội cháu ngoại cả rồi, thế mà ngồi với nhau ai cũng nhắc về thấy với một lòng ngưỡng mộ, biết ơn sâu sắc. Nhắc đến thầy, ai cũng say sưa kể những kỷ niệm xúc động . Gần ngày Nhàg giáo Việt Nam 20/11, anh Ngô Tấn Ninh, anh trai tôi bảo tôi :” Chú đưa anh đi một chuyến vô Hội An thăm thầy Hùng, kẻo thầy già rồi mà mình cũng đã bảy mươi rồi…”. Thế là chúng tôi đi Hội An … (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 16.11.2014

27 BÍ QUYẾT DƯỠNG SINH THỰC SỰ RẤT HỮU ÍCH

           27 BÍ QUYẾT DƯỠNG SINH THỰC SỰ RẤT HỮU ÍCH

Bạn có biết tổ tiên chúng ta đời xưa lưu lại bảo bối dưỡng sinh gì không?

1, Ăn no không gội đầu, đói không tắm. Rửa mặt nước lạnh, vừa đẹp vừa khỏe. Mồ hôi chưa khô, đừng  tắm nước lạnh.  Đánh răng nước ấm, chống ê chắc răng.

2, Ăn gạo có trấu, thức ăn có chất sơ. Nam không thể thiếu rau hẹ, nữ không thể thiếu ngó sen. Củ cải trắng, sống không tốt nhưng chín thì bổ. Ăn không quá no, no không nên nằm.

3, Dưỡng sinh là động, dưỡng tâm là tĩnh. Tâm không thanh tịnh, ưu tư vọng tưởng dễ nảy sinh. Tâm thần an bình, bệnh sao đến được. Nhắm mắt dưỡng thần, tĩnh tâm ích trí.

4, Dược bổ thực bổ, đừng quên tâm bổ. Coi tiền như cỏ, coi thân như bảo. khói hun cháy lửa, tốt nhất không ăn. Chiên dầu ngâm ướp, ít ăn thì tốt.

5, Cá thối tôm rữa, lấy mạng oan gia. Ăn mặc giữ ấm, nhất thân là xuân. Lạnh chớ chạm răng, nóng chớ chạm môi. Đồ chín mới ăn, nước chín mới uống.

6, Ăn nhiều rau quả, ít ăn đồ thịt. Ăn uống chừng mực, ngủ dậy đúng giờ. Đầu nên để lạnh, chân nên giữ ấm. Vui chơi biết đủ, không cầu an dật.

7, Dưỡng sinh là cần cù, dưỡng tâm là tĩnh tại.

8, Người đến tuổi già, thì phải rèn luyện, đi bộ chạy chậm, luyện công múa kiếm; đừng sợ giá lạnh, quét sạch sân nhà, hội họa thêm vui, tấm lòng rộng mở;

9, Nghe tiếng gà gáy, đừng cố nằm thêm, trồng hoa nuôi chim, đọc sách ngâm thơ; chơi cờ hát kịch, không ham phòng the, việc tư không nhớ, không chiếm lợi riêng.

10, Ẩm thực không tham, bữa tối ăn ít, khi ăn không nói, không nên hút thuốc; ít muối ít đường, không ăn quá mặn, ít ăn chất béo, cơm không quá nhiều; (Đọc tiếp…)

Tổng tư lệnh Quân đội Hoàng gia Campuchia trao Huân chương cho anh Trần Quốc Thanh( con Hai Lúa)

Đại tướng quân hai lúa Việt được Campuchia cấp xe hơi, biệt thự hoành tráng

 

Vài hôm nay, cái vụ bác Hai lúa Trần Quốc Hải sang Campuchia làm khoa học khiến mình bạc mặt vì mất ngủ. Hết chuông điện thoại để bàn đến chuông di động réo từ sáng đến trưa, từ trưa đến tối, từ tối đến đêm. Hóa ra mấy bác “khoa học” cũng đang “tâm tư” như mấy bác bên quân đội tâm tư vì cái vụ không được lên tướng (dù nước mình, “trần phong tướng” nghe đâu là gần 500, trong lúc thằng Tàu bự cũng chỉ có khoảng 190 tướng). Điện thoại hàng trăm cú nhưng nội dung thì chỉ có một: Campuchia muốn Đại tướng quân Hai lúa hạ cố nhận cho 18 ha xoài, 1 ô tô, 1 biệt thự ở Pnông-Pênh… Nhưng Hai lúa vẫn chưa chịu nhận. Chuyện thật mà nghe cứ như là … “gặp nhau cuối tuần”. Mấy bác giáo sư tiến sĩ bạn mình đang tính đến nước sang Campuchia làm “thuyền nhân” rồi tìm cách trổ tài với bác Hunxen, chí ít cũng được hưởng vài mẫu xoài, chiếc ô tô. Nghe xong, mình mới bảo họ rằng các anh không yêu Đảng à, không yêu tổ quốc Việt Nam XHCN à. Tôi thà làm ăn mày nước Nam còn hơn làm vương Campuchia… Nói vậy nhưng nghĩ lại mình thấy cũng hơi bị lo lo: ngộ nhỡ chất xám mà cứ chảy ồ ồ suốt ngày đêm sang Campuchia thì gay quá, còn gì là tầng lớp trí thức XHCN do Đảng đào tạo nữa. Đảng vừa mất cả tiếng vừa mất cả miếng. Thế cho nên mới tính làm một cái kiến nghị gửi Đảng về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với giới khoa học theo như cách làm bóng đá vậy. Nghĩa là nhà trường XHCN cứ đào tạo thật nhiều nhà khoa học sau đó đem bán dần cho Campuchia, như các câu lạc bộ vẫn bán cầu thủ. Nhất cử lưỡng tiện, Nhà nước thì được tiền, nhà khoa học thì được biệt thự, ô tô, vườn xoài. Tiền thu được có thể đủ phong thêm vài ngàn ông tướng, cho anh em đỡ “tâm tư”, như lời bác Phùng Quang Thanh. Rồi lập thêm mấy cái hội, mấy cái mặt trận để vỗ tay cho rôm rả mỗi khi mấy bác Bộ Chính trị đăng đàn giáo hóa cho dân. Nếu vẫn chưa hết tiền thì mở mấy trường đài tạo dư luận viên rồi gửi tuốt hết sang Campuchia luôn để đám dư luận viên này mở mang đầu óc cho đám trí thức làm thuê kia rằng Đảng ta là đạo đức, là văn minh, ta dân chủ gấp vạn lần bọn tư bản cá mập và nhớ liệu thần hồn mà gửi tiền về cho Đảng để Đảng còn đào tạo 90 triệu con dân thành 90 triệu tôi tớ làm thuê cho đám tập đoàn tư bản lũng đoạn Samsung, Ford, Sony… Được như vậy thì đám trí thức chúng mày không cần phải sang Campuchia làm thuê làm chi cho khổ, cứ ở yên trong nước mà làm thuê cũng sướng chán rồi, khỏi lo mất danh dự vì 90 triệu dân ai cũng làm thuê, cũng bình đẳng nhéBauxitte Việt Nam

 

Sửa chữa và chế tạo xe bọc thép thành công tại Campuchia, cha con Đại tướng quân hai lúa Trần Quốc Hải được biệt đãi như chế độ của đại tướng quân thật sự. Chính phủ Campuchia đã cấp cho gia đình ông một biệt thự, một xe hơi trong những ngày lưu lại nước bạn.

Không chỉ vậy, ông sẽ được sở hữu tất cả cộng với vườn xoài rộng 18 ha nếu chấp nhận sang Campuchia làm khoa học

“Nước bạn kêu tôi sang làm khoa học. Họ cấp nhà đất, xe cộ bảo đảm kinh tế, mình chỉ cần chuyên tâm sáng tạo” – ông Trần Quốc Hải nói.

Chuyện làm tướng của ông hai lúa

Lúc được trao Huân chương Đại tướng quân, ông cũng không ngờ mình và gia đình được đối đãi tử tế như thế. Huân chương do Quốc vương Norodom Sihamoni ký lệnh và Thủ tướng Hun Sen trao tặng.

 

Thủ tướng Hun Sen trao tặng Huân chương Đại tướng quân cho ông Trần Quốc Hải.

“Lúc nhận huân chương tôi cũng run lắm. Cả đời mình chưa bao giờ dự một nghi lễ long trọng như vậy”. Ông kể, buổi lễ có rất đông người, rất nhiều lãnh đạo cao cấp và tướng lĩnh. Sau này ông mới biết, đó là nghi thức cấp quốc gia.

Ông Hải thật thà cho biết, số tiền đi kèm huân chương chỉ có vài ngàn USD. Tuy nhiên, sau khi phong tướng, cả gia đình ông được biệt đãi rất trịnh trọng. Cuộc sống, sinh hoạt của gia đình ông hưởng đúng tiêu chuẩn cấp tướng.

Gia đình ông được cấp một ngôi biệt thự ở ngay Phnom Penh, cách nơi ông làm việc 3 km. Ông cho biết đó là một ngôi biệt thự rất rộng và bề thế.

Riêng ông Đại tướng quân hai lúa được cấp riêng một chiếc xe hơi 4 chỗ hiệu Hyunhdai Sonatta mới cứng để tùy nghi sử dụng.

“Mọi việc ăn uống, sinh hoạt của gia đình tôi đều có người phục vụ, đúng theo tiêu chuẩn cấp tướng” – ông Hải hồ hởi kể.

Ngoài ông và con trai, nước bạn còn mời vợ và con gái ông sang biệt thự ở chung một thời gian ngắn. Khi hoàn tất công việc, một quan chức dẫn gia đình ông thăm quan vườn xoài 18 ha cùng với thông điệp: Gia đình ông sẽ sở hữu tất cả, biệt thự, xe hơi và vườn xoài nếu sang Campuchia định cư làm khoa học. Họ để dành sẵn chờ ông trả lời.

“Ở bên đó cấp tướng vinh dự lắm, được người ta nể trọng” – ông nói. Quan niệm của nước bạn, đại tướng là thần, chỉ xếp sau vua nên có nhiều đặc ân. Chính phủ bạn còn cho biết, Huân chương Đại tướng quân cho phép ông nhập quốc tịch Campuchia bất cứ lúc nào.

 

Tổng tư lệnh Quân đội Hoàng gia Campuchia trao Huân chương cho anh Trần Quốc Thanh (con trai ông Hải)

“Sướng nhất là làm khoa học”!

“Họ làm tất cả vì muốn gia đình tôi sang hẳn. Nhưng tôi chưa nghĩ đến việc sang đó. Nói thật tôi đi nhiều nước rồi. Mong muốn lớn nhất là phục vụ dân mình, nước mình” – ông Hải trải lòng.

Ông còn mẹ già ngoài 90 tuổi ở quê nhà Tây Ninh, còn nhiều công trình dang dở phải theo đuổi. Trở về sau chuyến đi Campuchia, ông Đại tướng lại cởi bỏ quân phục, làm anh nông dân chuyên sáng chế.

Nhìn vẻ ngoài rất bình dị và khiêm tốn, ít ai ngờ ông là người quả quyết, dám nghĩ dám làm và thành công. Ông nói thật với chúng tôi, tiền bạc quyền lợi không quan trọng. Cái “sướng” nhất của người làm khoa học là được thỏa mãn đam mê.

“Không định cư nhưng tôi sẽ thường xuyên sang nước bạn. Ở đó làm khoa học sướng lắm” – ông Hải nói tiếp. Tất cả những sáng kiến của ông đưa ra đều được tiếp thu và ủng hộ tức thì. Kinh phí vừa yêu cầu xong, lập tức đến tay.

Mỗi chiếc xe bọc thép sửa chữa, ông được khoán trắng 25.000 USD cả phụ tùng lẫn công cán. Chế tạo xe bọc thép mới, ông được cấp ngay kinh phí trọn gói 200.000 USD/chiếc.

Sắp tới, Đại tướng quân hai lúa Trần Quốc Hải sẽ tiếp tục sang Campuchia thực hiện các đề án khoa học. Tuy nhiên, ông lần nữa khẳng định với chúng tôi, ông vẫn chưa gật đầu với chiếc xe hơi, tòa biệt thự, 18 ha xoài và chế độ biệt đãi dành cho một vị tướng.

 

“Tiền bạc lời lãi mình không đặt nặng nhưng được tin tưởng, khuyến khích thì mình phấn khích lắm” – ông phân tích. Cộng với việc được phục vụ như một ông tướng, ông chuyên tâm làm, hào hứng làm và đã thành công.Theo Một thế giới

( Nguồn: BVN)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 15.11.2014

VIẾT BÊN TỦ SÁCH GIA ĐÌNH

Ngô Minh

                VIẾT BÊN TỦ SÁCH GIA ĐÌNH

Gửi con trai

 Khi ba già nua không còn nữa trên đời

Những cuốn sách vẫn còn trẻ lắm

Trẻ như biển như tiếng gà gọi sớm

Như câu ru và chuyện cổ mùa đông

 

Là người dẫn đường thông thái của thời gian

Sách sẽ thay ba cùng con kết bạn

Trang sách mở buồn vui câu chuyện

Triệu cuộc đời về dưới mái nhà ta

 

Thời ba lớn lao việc nước việc nhà

Bao đoàn tụ chia ly nước mắt

Máu mồ hôi đọng thành trang sách

Thành người dẫn đường lặng lẽ bên con

 

Mai sau con lớn khôn

Có thể những buồn vui sẽ khác

Những thư viện tí hon chứa

                      hàng triệu nghìn trang sách

Của thời con chưa ai biết bao giờ

 

Hẳn có nhiều người máy làm thơ

Làm tiểu thuyết đóng hòm xuất khẩu

Nhưng đắng ngọt tình yêu ướt đẩm vạt áo

Đất nước muôn đời vẫn mới mẻ nghe con

 

Con hãy đi với người dẫn đường

Để đến chân trời tình yêu đích thực

Người dẫn đường trẻ trung thông thái nhất

Đêm đêm thầm nhắc tên con…

Cái tôi độc lập của Trần Đĩnh trong Đèn Cù

 
Đinh Quang Anh Thái thực hiện/ Người Việt 
LTS: Ông Trần Đĩnh năm 15 tuổi đã tham gia cuộc tổng khởi nghĩa do Cộng Sản lãnh đạo ngày 19 Tháng Tám, 1945. Ông trở thành đảng viên năm 19 tuổi, lúc đó, đảng Cộng Sản Đông Dương rút vào bóng tối, đổi tên thành Hội Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mác và xuất bản tờ báo Sự Thật, ông được điều về viết cho báo này. Sau đó, ông đưọc đưa qua học tại đại học Bắc Kinh. Trong thời gian học, ông tham gia một cuộc họp chống phái hữu, và chính nhờ vậy, ông rút tỉa được nhiều bài học quí báu.
 Bài học đó là, các đảng viên chân chính, tích cực đã nghe lời đảng khuyến khích họ phê bình đảng. Nhưng khi họ phê bình thì bị đảng quay lại đánh. Theo lời ông Đĩnh thì đó là âm mưu của Mao Trạch Đông. Học xong, ông về Hà Nội làm việc một thời gian, thì xẩy ra việc đảng Cộng Sản Việt Nam đưa vấn đề chọn lựa tư tưởng Mao để chống xét lại, tức là chống lại chủ trương sống chung hoà do tổng bí thư đảng Cộng Sản Liên Xô lúc bấy giờ là ông Nikita Khrushchev đưa ra. Ông Trần Đĩnh ủng hộ lập trường của ông Khrushchev và chống tư tưởng Mao, nên bị khép vào tội chống đảng. Mặc dù không bị bắt như anh ruột ông là nhà báo Trần Châu, hay như những người khác như ông Hoàng Minh Chính, Vũ Thư Hiên, hoặc phải sống lưu đày như Nguyễn Minh Cần, v.v… ông Trần Đĩnh cũng bị khai trừ khỏi đảng và chịu nhiều trù dập về mặt tinh thần cho mãi tới ngày nay. Hiện nay, ông Trần Đĩnh đang sống tại Sài Gòn. Nhân dịp Đèn Cù cuốn 2 của Trần Đĩnh sắp ra mắt độc giả, ông dành cho nhật báo Người Việt cuộc phỏng vấn sau đây, do Đinh Quang Anh Thái thực hiện.
 
 Đinh Quang Anh Thái (NV): Ông viết Đèn Cù bằng lối văn “truyện tôi,” có gì, nhớ gì thì ghi lại, bình thản, không để cảm tính chen vào; nhưng độc giả vẫn cảm được những nỗi đau vô cùng to lớn của ông, của gia đình ông, và lớn hơn, của Việt Nam: Nỗi đau như những giọt máu nhỏ xuống từng trang giấy.  Không biết cảm nhận như thế có nói được phần nào tâm tư của ông không ạ?

 
Trần Đĩnh: Tôi nghĩ tâm tư có lẽ chính là sự lắng đọng của những điều ta từng sống hết mức, từng lăn lóc lâu dài với chúng. Tới mức lắng đọng nào đó, tâm tư của người viết sẽ trở thành hơi thở của hắn và khi được thể hiện thì tâm tư đó sẽ ra tự nhiên, bình thản như hơi thở. Việc nhào nặn ở vô thức và ý thức này chính là  công trình làm giả – hay đúng hơn, sáng tạo – vì nó là hậu-trải nghiệm, sống lại, và về chất, nó có khác đôi phần với diện mạo ban đầu vốn dĩ thường thô mộc của trải nghiệm. Trong điện ảnh có diễn viên đóng thế nhưng không ai chê bộ phim là giả. Viết bình lặng nỗi đau cũng là một kiểu đóng thế. Thế cho tiếng khóc, tiếng gầm. Chắc hẳn nhiều người đọc thấy tôi có lúc đuối giọng. Đã từ lâu, chả hiểu sao khi nghĩ, khi nhìn,  tôi luôn cố tìm sự bình lặng.
Nhận là “truyện tôi,” tôi có ý khoanh những điều tôi đã sống, đã trải vào phạm vi cá nhân. Như thế tôi hy vọng sẽ tránh lên mặt “ta đây nạn nhân,” thân phận vốn dễ được đồng tình, bảo hộ. Và đồng thời tôi cũng không gây hận. Đôi lúc chợt nhẩn nha viết về cái đẹp của thiên nhiên, về cảm thụ riêng của bản thân là tôi muốn cho chính tôi rồi người đọc lảng đi được một thoáng những giây phút nặng nề bày ra trước đó. Một làn gió thoảng mơn trớn vết đau.
Tôi nhiều cái xấu. Như chậm mở mắt (trước cái Ác). Như hay sợ. Tôi đã viết trong Đèn Cù: “Nếu tát cạn được bụng mình thì tôi sẽ thấy vô số xác cái sợ ở đó.” Song có một cái xấu hình như lớn hơn mà tôi luôn cố lìa cho xa là thói không ngay thẳng với bản thân. Nhờ đó tôi đã không tự vẽ mình thành kẻ vừa nhận thấy cái xấu liền phủi nó sạch bong. (Tức là vừa mạnh mẽ lên án người dối trá vừa cho bản thân mạnh bạo bịa đặt, tự tô vẽ mình, điều mà khi cầm bút hình như ta để bỏ quên đi mất). Vâng, một thời gian tôi còn le lói hy vọng vào một thứ Cộng Sản có mặt người.
Mong được ngay thẳng, tôi dành một chương thú nhận lỗi lầm với vợ.
Đèn Cù là tiếng kêu đau của tôi. Nó không mang mục tiêu chính trị rõ rệt. Vâng, đúng vậy. Tôi đau, vợ tôi, anh ruột tôi, bố vợ tôi và các bạn bè thân thiết của tôi đau. Quốc tế Cộng Sản có câu ca tập hợp “hỡi những ai cực khổ bần hàn” nhưng chúng tôi, những chiến binh của quốc tế  đã bị đẩy vào biển khổ và bị gạt bỏ hết sức dửng dưng, không được hưởng qua cảnh tượng dù là kệch cỡm của pháp đình (Cộng Sản).
NV: Khi thấy đứa con tinh thần, Đèn Cù, ra mắt độc giả, ông có nguôi ngoai chút nào không, vì đã trút được những u uất chất chứa bao năm nay trong lòng?
 
Trần Đĩnh: Tôi không thấy rõ điều này. Vì tôi không bao giờ thấy đau khổ của mình là ghê gớm. Trong đất nước biết bao người còn khốn nạn hơn gấp bội. Tôi cố đánh giá đúng chỗ của mình ở vùng đất đẫm nước mắt này. Tôi không mượn cái khổ để tự nâng cấp. Tất nhiên tôi rất sung sướng khi nhiều người ái ngại, áy náy cho tôi. Còn gì bằng được nhiều người quan tâm, chia sẻ. Mà quan tâm là yêu, chia sẻ là yêu. Được trăm nghìn người yêu là hạnh phúc vô cùng. Viết “truyện  tôi,” tôi mong  được xã hội chìa ra cho tôi một bàn tay anh chị em, bạn bè. Từ đó cùng đứng bên nhau ngăn chặn tệ nạn dày xéo cuộc đời người khác để thực hiện cái lý tưởng chưa từng tỏ lộ hình thù nhưng được bảo là giải phóng nhân loại thiêng liêng lắm, huy hoàng lắm.
Tôi thích khái niệm người hiền. Hay người khôn ngoan. Vì khôn (ở trí tuệ sáng) và ngoan (ở lòng nhân ái từ bi). Viết Đèn Cù, tôi chỉ thấy hài lòng vì đã làm được một điều mình hằng tâm nguyện.
NV: Đèn Cù được xuất bản ngoài nước, nhưng cũng phổ biến rộng rãi trên mạng Internet và bản truyền tay cũng được đón nhận nồng nhiệt tại quê nhà; tâm trạng ông ra sao khi thấy mọi người đọc ông?
 
Trần Đĩnh: Được đông người ân cần đón nhận quyển sách mình viết về đời mình, cái cảm thụ ấy, cảm thụ bát ngát về một nhân quần thân thiện, bầu bạn, giao hòa, chính là một bù đắp, một nuôi dưỡng hết sức to lớn cho kẻ viết. Ở Đèn Cù, cái tôi Trần Đĩnh hiện ra nguyên vẹn, không chung vai diễn với bất kỳ ai.
NV: Một số người nhận định, Đèn Cù là liều thuốc “trục độc” chủ nghĩa Cộng Sản khỏi cơ thể Việt Nam; có người nói Đèn Cù là lời “giải thiêng” huyền thoại Hồ Chí Minh. Ông có tâm đắc với những cảm nhận này không?
 
Trần Đĩnh: Nhận xét này vượt khỏi ý định cầm bút viết Đèn Cù ở tôi. Ý định tôi là viết sự thật. Cho thấy nên xa lìa chủ nghĩa Cộng Sản coi thường con người. Cho thấy công cuộc thần thánh hóa một cá nhân là đòi hỏi phải dìm một số đông cá nhân khác vào trạng thái đầu óc mụ mị, thấp kém. Và phải nói dối, v.v… Còn ở tôi, những mục tiêu “trục độc” và “giải thiêng” chưa hình thành rõ như thế. Song các nhà văn, nhà báo đã nhận ra ý tại ngôn ngoại này. Tôi xin chịu tầm nhìn và sức cảm của các vị. Phóng cây lao đi, người viết có mấy khi biết nó sẽ lao bao xa. Giới phê bình đo cái đó.
NV: Đèn Cù toàn tập là một công trình nhiều năm; sau Đèn Cù, ông có dự tính gì không?
 
Trần Đĩnh: Tôi không quen báo trước sẽ viết cái gì. Rất dễ thành anh Cả Phiệu, viết bằng miệng. Dĩ nhiên anh viết nào cũng đều muốn viết liên tục nhưng trước tiên cần xem tâm tư đã đủ chứa chan chưa.
NV: Cảm ơn ông trả lời phỏng vấn nhật báo Người Việt nhân dịp Đèn Cù II ra mắt độc giả.
( Nguồn: quechoa)

 

Động Sơn Đoòng

Hội chứng cáp treo? & Bộ VHTTDL bác đề nghị xây cáp treo ở động Sơn Đoòng

Nguyễn Văn Mỹ/ Quê Choa 
NQL: Phát biểu của ông Nguyễn Văn Mỹ, giám độc công ty du lịch Lửa Việt, trong tọa đàm “Thách thức bảo tồn từ các dự án phát triển” do Trung Tâm Con Người & Thiên Nhiên Tòa đại sứ Anh, Mac Arthur Foundation, The Asia Foundation, Critical Ecosystem Partnership Fundphối hợp tổ chức tại nhà khách Quân Đội, 33C Phạm Ngũ Lão, Hoàn Kiếm, Hà Nội từ 8 – 11g ngày 14.11.  Ông Mỹ là 1 trong 6 khách mời, là khách mời duy nhất của ngành du lịch và từ miền Nam.
  Hình như “tâm lý đám đông”“hội chứng bầy đàn” là thuộc tính của con người?. Tại Việt Nam, thuộc tính này gần như phổ cập, có mặt khắp nơi, trên mọi lĩnh vực. Từ thói quen mua sắm, học hành, vui chơi, giải trí, ăn ở cho đến chuyện lớn như kinh doanh, đầu tư…Từ hành vi cá nhân cho đến tập thể. Điều này lý giải vì sao người Việt rất dễ tin vào những lời đồn thổi, rỉ tai và hậu quả là dễ bị lừa, cứ “Thấy thiên hạ ăn khoai là vác mai đi đào”. Tâm lý ăn thua còn thể hiện qua việc đầu tư tại địa phương. “Con gà tức nhau tiếng gáy”. Tỉnh bạn có gì, tỉnh ta cũng phải có, làm sau thì phải to hơn, chẳng cần biết hiệu quả. Cái gì cũng muốn hoành tráng, ăn đứt thế giới về đủ thứ kỷ lục. Kỷ lục mà thiên hạ quan tâm nhất là tính hiệu quả thì người Việt lại lờ tịt vì thường không trả lời được. 
            Từ các nhà máy bia, xi măng, sắt thép, cảng biển cho đế nhà văn hóa, sân vận động, lễ hội…và gần đây là cáp treo. Tự thân, các hạng mục này không có lỗi, thậm chí tối cần thiết và hữu ích. Điều quan trọng là mục đích, phương thức thực hiện và tính hiệu quả. Đừng mang tâm lý “Gắp đồ ăn cho khách” của người Việt vào kinh doanh và đầu tư. Người cùng quê đã khác nhau nhiều thứ, huống chi khách tỉnh, nhất là nước ngoài. Đầu tư cáp treo cũng vậy. Đó là loại hình vận chuyển hiện đại đi từ mắt đất lên các điểm cao hoặc từ đỉnh cao này qua đỉnh cao khác mà các loại hình khác không thực hiện được, chỉ mới xuất hiện trên trăm năm và không ngừng được cải tiến. Cáp treo Giessbahn ở Bernese Oberland, Thụy Sĩ năm 1879 được xem là cổ nhất thế giới. Cáp treo đầu tiên của Việt Nam ở núi Bà Đen, Tây Ninh; khai trương năm 1998, sau 2 năm thi công, rất nhiêu khê với thủ tục và áp lực. Cho tới nay, đây là dự án cáo treo hiệu quả nhất dù công nghệ của Trung Quốc hơi lạc hậu. Núi Bà Đen cũng là khu du lịch đầu tiên dẹp được nạn ăn xin và bán hàng rong chèo kéo “đông như quân Nguyên”. Điểm sáng này gắn liền công sức và tâm huyết của giám đốc công ty Du Lịch Tây Ninh lúc đó là Trịnh Ngọc Lan. Núi Bà Đen cũng vừa khai trương thêm hệ thống cáp treo mới, theo công nghệ tiên tiến của Áo, vốn đầu tư là 208 tỉ. Hệ thống cáp treo cũ chỉ hoạt động song hành và tăng cường khi lượng khách vượt ngưỡng.
            Sau cáp treo Bà Đen, Tây Ninh; Việt Nam có thêm hàng loạt cáp treo ở Takou, Bình Thuận; chùa Hương, Hà Tây (nay là Hà Nội); Vinpearland, Khánh Hòa; Yên Tử, Quảng Ninh;  Cấm Sơn, An Giang; Bà Rá, Bình Phước; Hồ Mây, Bà Rịa Vũng Tàu; Bà Nà, Đà Nẵng; Hương Tích, Hà Tĩnh; Đà Lạt, Lâm Đồng; Tây Thiên, Vĩnh Phúc….Đang được thi công là cáp treo Fansipan, Lào Cai; đang khảo sát là cáp treo Sơn Đoòng , Quảng Bình và cáp treo Hạ Long, Quảng Ninh. Ở nhiều nước, sau khi có cáp treo, đường bộ lên núi vẫn tiếp tục duy trì để khách chọn lựa. Còn Việt Nam thì ngược lại. “Được trăng là quên đèn”, đường bộ hoang phế và ngập rác. Lâu nay chưa có cáp treo, thiên hạ vẫn leo núi viếng chùa và vãn cãnh được nếu có lòng thành và sức khỏe. Đó là phần thưởng tinh thần vô giá vì đã vượt qua chính mình. Đây là lý do mà thiên hạ hạn chế cáp treo lên chùa hoặc các danh thắng đỉnh cao. Ở Việt Nam cứ có chùa trên núi là có cáp treo. Có núi nào đẹp là xây chùa và làm cáp treo cho “bằng em bằng chị”.Lên chùa mà sợ mệt, phải đi cáp treo thì Phật sẽ bớt thiêng?. Ngoạn cảnh núi rừng, mà không đủ sức khỏe và thiếu cả nghị lực thì cứ việc “du lịch qua sách báo hoặc màn ảnh nhỏ”. Hà cớ gì vì sự ích kỷ của một số người mà bạc đã và tàn nhẫn với thiên nhiên như vậy. Các dự án cáp treo đơn thuần thường chỉ vài trăm tỉ. Dư luận xã hội, đặc biệt là dân du lịch leo núi, mạo hiểm, sinh thái; các nhà quản lý lữ hành và các nhà khoa học bắt đầu nóng lên khi dự án cáp treo Fansipan 8.000 tỉ được khởi công thần tốc, không cho ai có ý kiến phản biện. Khi dự án Sơn Đòng 4.500 tỉ đang dậy sóng thì lập tức có thêm dự án cáp treo trên vịnh Hạ Long 6.000 tỉ; tất cả đều của Sun Group, kể cả Bà Nà trước đó.
            Dư luận chia làm 2 phe đối nghịch. Một bên là các nhà đầu tư và chính quyền địa phương. Một bên là các nhà khoa học, các nhà quản lý lữ hành và dân du lịch “thứ thiệt”. Bên nào cũng cực đoan ra sức bảo vệ ý kiến của mình. Số trung dung ít hơn thì ủng hộ, vì có treo treo mới leo lên nóc nhà Đông Dương (vì không đủ sức khỏe, quan trọng hơn là ý chí), mới vào Sơn Đòng (vì giá hiện nay trên 3.000 usd/người) được. Miễn là đừng phá cảnh quan. Thử hỏi, trên đời này, có thứ gì xây mà không phá? Giải pháp tối ưu hiện nay là bạch hóa các thông tin đa chiều. Báo chí và người dân cần được nghe ý kiến các nhà khoa học chân chính, không phải loại khoa học bàn giấy ba phải. Chủ đầu tư cần chứng minh đầy đủ số liệu và chứng cứ khoa học để thuyết phục chứ không “cả vú lấp miệng em”, áp đặt dư luận xã hội vào việc đã rồi. Việc làm này không quá khó. Không chỉ chính quyền, người dân và bất cứ nhà quản lý nào cũng rất mừng khi có nhà đầu tư hàng ngàn tỉ vào tỉnh mình, ngành mình. Tiền đổ vào đầu tư rất cần. Nhưng cần hơn là tính hiệu quả và trách nhiệm xã hội của nhà đầu tư. Trước hết, việc đầu tư và sản xuất không được làm tổn hại đến mội trường sống, cả tự nhiên và nhân văn. Xã hội phản đối kiểu nhắm mắt đầu tư, lợi trước mắt và hại lâu dài, lợi cho nhóm nhỏ còn hậu quả cộng đồng lãnh đủ.
            Chẳng hiểu căn cứ vào đâu mà lãnh đạo tỉnh Quảng Bình cho rằng “Thiên nhiên tặng, không làm cáp treo thì phí” (Nguyễn Văn Phương, đại biểu quốc hội Quảng Bình). Còn chủ tịch tỉnh Nguyễn Hữu Hoài khi  khẳng định “Cáp treo Sơn Đoòng sẽ không làm tổn hại đến hang động”. Hình như những kết luận cảm tính này chỉ dựạ vào cam kết miệng của nhà đầu tư?  Chắc chắn là cả lãnh đạo và nhà đầu tư đều chưa vào Sơn Đoòng. Sao không ai hỏi ý kiến Hiệp Hội Hang Động Hoàng Gia Anh và những chuyên gia từng khảo sát Sơn Đoòng? Liệu có thể tin, một dự án tầm cỡ khu vực, ban đầu thì bảo cáp treo đi thẳng vào Sơn Đoòng; bây giờ lại nói còn cách Sơn Đoòng 300m? Chiều ngày 12.11, trả lời báo chí, ông Đặng Minh Trường, TGĐ Sun Group cho biết “Unesco đồng ý, chưa chắc Sun Group đã đầu tư”. Nếu vậy hà cớ gì phải họp báo, mời cả đối tác làm cáp treo từ Áo qua để thuyết phục và trấn an dư luận? Hà cớ gì lãnh đạo tỉnh Quảng Bình xăng xái vận động và khẳng định như trên. Trừ các nhà nghiên cứu địa chất từng “mục sở thị”, chưa ai biết rằng, bên dưới địa điểm dự tính đặt trụ cáp treo cuối cùng, cách Sơn Đoòng 300m là hang Va, với hàng ngàn măng đá (từ dưới mọc lên, khác với nhủ đá, từ trên rủ xuống) độc đáo; là cửa ngõ nối với nhiều hang động khác. Tôi càng nghi ngờ ý kiến của giám đốc Asean Doppelmay, tập đoàn thang máy Áo, khi cho rằng “Thế giới có 86 cáp treo trong vườn quốc gia và di sản thế giới của 26 nước”. Càng khó tin với số liệu “Trung Quốc có 26 dự án cáp treo qua vườn quốc gia, trong đó 22 dự án qua di sản thế giới?”. Những số liệu này cần được kiểm chứng cụ thể. Tôi chỉ biết động Batu ở Malaysia, không phải di sản thế giới, bé tẹo như bàn tay nhưng dự án cáp treo vào động đã bị cấm vĩnh viễn từ 2013, sau 6 năm lobby và tranh luận. Malaysia cũng không làm cáp treo lênđỉnh Kinabalu, nóc nhà Asean bởi đó là thương hiệu quốc gia, không thể bán buôn. Các nước Asean không có hội chứng cáp treo như Việt Nam. Nước Anh cũng vừa quyết định không cho phép làm cáp treo vào động Cheddar Gorge, dù chưa phải di sản thế giới…và…
            Cáp treo không có tội và cần được nhân rộng để phát triển cả du lịch và cuộc sống. Tuy nhiên phải đảm bảo hiệu quả và không tổn hại môi trường. Những việc nhỏ cần làm ngay ở các dự án cáp treo hàng ngàn tỷ hiện nay là nhà vệ sinh tối thiểu cho du khách, là chấm dứt nạn chặt chém, trấn lột du khách, là thái độ  thân thiện của người làm dịch vụ và cả người dân, là dọn dẹp môi trường đang ô nhiễm trầm trọng, là kiểm soát chặt chẽ vệ sinh thực phẩm… Đó sẽ là cơ sở thuyết phục, tạo niềm tin cho xã hội về sự thành tâm và năng lực quản lý của nhà đầu tư cũng như chính quyền sở tại.
( Nguồn: quechoa)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 13.11.2014

Thiền Sư Thích Nhất Hạnh lâm bệnh nặng

 


Thiền su THích Nhất Hạnh
11.10.1926 

 

 

Thiền Sư Thích Nhất Hạnh lâm bệnh nặng


Thích Nhất Hạnh là một thiền sư, giảng viên, nhà văn, nhà thơ, nhà khảo cứu, nhà hoạt động xã hội, và người vận động cho hòa bình. Ông sinh ra ở Thừa Thiên-Huế, miền Trung Việt Nam, vào ngày 11 tháng 10 năm 1926, xuất gia theo Thiền tông vào năm 16 tuổi, trở thành một nhà sư vào năm 1949. Pháp hiệu “Thích” được sử dụng bởi các nhà sư Việt Nam, nghĩa là họ là một phần của dòng tu Thích Ca. Ông là nhà lãnh đạo Phật giáo có ảnh hưởng lớn thứ hai ở phương Tây chỉ sau Đạt-lai Lạt-ma.Ông đã lam bệnh nặng ở làng Mai (Pháp)
Thiền sư Thích Nhất Hạnh được sinh ra với tên húy là Nguyễn Xuân Bảo. Vào năm 16 tuổi ông xuất gia ở chùa Từ Hiếu gần Huế, nơi ông thọ giáo với Thiền sư Thanh Quý Chân Thật. Tốt nghiệp Viện Phật học Bảo Quốc ở miền Trung Việt Nam, Thích Nhất Hạnh tu học thiền theo trường phái Đại thừa của Phật giáo và chính thức trở thành một nhà sư vào năm 1949. Thích Nhất Hạnh bây giờ được công nhận là một thiền sư và là lãnh đạo tinh thần của chùa Từ Hiếu và các tu viện liên quan khác. Ông là tổ của nhánh Từ Hiếu đời thứ 8 của dòng Liễu Quán trong đời thứ 42 của phái thiền Lâm Tế Dhyana. Vào ngày 1 tháng 5 năm 1966 tại chùa Từ Hiếu, Thiền sư Chân Thật trao ấn khả cho Thích Nhất Hạnh để từ đây ông trở thành một thiền sư (thầy dạy về thiền).


 
Thiền sư Thích Nhất Hạnh tại Việt Nam, 2007
Thích Nhất Hạnh đã phối hợp kiến thức của ông về nhiều trường phái thiền khác nhau cùng với các phương pháp từ truyền thống Phật giáo Thượng tọa bộ, những nhận thức sâu sắc từ truyền thống Phật Giáo Đại thừa, và vài phát kiến của ngành tâm lý học đương đại phương Tây để tạo thành cách tiếp cận hiện đại của ông đối với thiền. Thích Nhất Hạnh đã trở thành một người có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của Phật giáo phương Tây.
( Nguồn : VANDAN NNB)

 

“Họ coi trọng mình thì mình đến phục vụ cho họ”

 
Gs Nguyễn Văn Tuấn/ FB Nguyen Tuan
Ảnh bên:Ngoài máy trồng mì, ông Trần Quốc Hải còn sản xuất hàng loạt máy như máy nhổ củ mì, máy làm cỏ, máy bón phân…, cơ giới hóa gần như toàn bộ quy trình trồng mì. Theo RFA
Đó là câu nói chí lí của ông Trần Quốc Hải, người mới được phong tướng quân bên Kampuchea. Đọc tin về hai cha con làm xe bọc thép cho Kampuchea (KPC) và được phong tướng quân (1), tôi nghĩ bất cứ ai cũng thấy ngậm ngùi cho thân phận của những người đam mê sáng chế ở VN.

Họ trở thành những người “tị nạn”, vì ý tưởng và công trình của họ không được chào đón, thậm chí bị cấm, ngay trên quê hương, để rồi họ phải đi tìm đất khách để thực hiện ước nguyện của mình. 
Hoá ra, hai cha con ông chính là người đã xây dựng chiếc trực thăng mà báo chí nhắc đến trước đây. Số phận chiếc trực thăng đó thoạt đầu không được may mắn vì bị quân đội “bắt giam”, nhưng cuối cùng thì cũng có cái may đến từ … Mĩ. Ông Trần Quốc Hải (người chế chiếc trực thăng) cho biết một viện bảo tàng bên New York mua chiếc trực thăng về Mĩ để triển lãm. Phóng viên RFA hỏi ông giá bao nhiêu, ông chỉ lịch sự nói là giá “ưu đãi” và ông “có một số vốn kha khá để tiếp tục công trỉnh của tôi”. Nhưng ông không chỉ chế trực thăng, vì sau đó, ông còn chế hàng loạt máy nhổ củ mì, máy làm cỏ, máy rải phân, v.v. Ông thực sự là một inventor – nhà sáng chế đúng nghĩa, chứ không phải làng nhàng. 
Nhưng công trình của ông không được chào đón ở VN. Ông nói với phóng viên đài BBC rằng ông gặp rắc rối với chính quyền địa phương và trung ương, vì chiếc trực thăng. Ông nói: “Khi làm trực thăng thì họ nói thế này: thứ nhất là không phù hợp. Thứ hai là Việt Nam không có đủ trình độ để chế tạo máy bay. Tôi cũng tranh luận với họ, nhưng họ cũng không muốn tranh luận ra ngô ra khoai” (2). Ông cho biết thêm “Tôi nói ở châu Âu người ta làm máy bay từ cách đây cả trăm năm, Việt Nam không lẽ thua họ? Tôi tự hào là người Việt Nam chứ. Họ cũng im lặng không tranh luận, nhưng về họ viết văn bản. Họ nói: “Anh chế rất là giỏi, nhưng thôi đừng chế nữa”. Thế thì đã rõ: người ta không muốn ông sáng chế. Có lẽ VN là nước duy nhất trên hành tinh này khuyên công dân mình đừng sáng chế. 
VN không chào đón và cấm ông sáng chế thì ông phải tìm đất lành. Và, cái đất lành đó hoá ra là nơi rất gần VN: Kampuchea. Theo như báo chí mô tả và chính ông thừa nhận thì KPC rất trọng vọng tài năng của ông, nhất là trong việc phục hồi mấy chiếc xe bọc thép do Nga chế tạo. Ông kể rằng thoạt đầu, ông chỉ kí hợp đồng chế tạo máy nông nghiệp cho KPC, nhưng khi thấy xe bọc thép bị hư hỏng, ông đề nghị cho phép ông sửa chữa. (Cần nói thêm rằng mấy xe này từng được các chuyên gia VN sang sửa, nhưng quân đội KPC không hài lòng vì họ sửa mà vẫn còn hư hỏng, và họ không quan tâm đến “khách hàng”). Từ việc sửa xe bọc thép, ông phát hiện rằng mấy xe này không thích hợp với vùng đầm lầy và nhiệt đới Đông Nam Á, nên ông đề nghị quân đội KPC cho ông cải tiến xe bọc thép. Từ cải tiến xe bọc thép, ông tiến lên một bước quan trọng hơn là làm ra xe bọc thép luôn! Như vậy, ông có công khá lớn với KPC, và không ngạc nhiên khi Hoàng gia KPC phong cho ông chức danh “tướng quân”. 
Câu chuyện hai cha con ông Trần Quốc Hải làm cho chúng ta phải suy nghĩ về môi trường khoa học kĩ thuật ở VN. Bây giờ thì ai cũng biết VN có 24 ngàn tiến sĩ và hơn 10 ngàn giáo sư, phó giáo sư. Đó là một con số “khủng” trong vùng. Nhưng cái độ ngũ đó làm được gì cho VN? Hình như chẳng làm được gì nhiều. Số bài báo khoa học thì quá thấp. Còn số bằng sáng chế càng kém hơn nữa. So sánh với các nước trong vùng như Singapore, Mã Lai, Nam Dương, Thái Lan, Phi Luật Tân, VN là một nước có ít bằng sáng chế nhất. Số bằng sáng chế được đăng kí ở USPTO chỉ đếm đầu ngón tay. Có năm chẳng có bằng sáng chế nào được cấp. Mới đây, chúng ta còn biết rằng VN thực ra chưa sản xuất được ốc vít! Do đó, công chúng VN chế nhạo giáo sư, tiến sĩ suốt ngày này sang năm khác cũng có lí do. Một đất nước có quá nhiều “sư sĩ” mà làm không được cái đơn giản nhất thì quả là đáng xấu hổ. 
Ấy thế mà khi người khác làm được việc thì họ không để yên, thậm chí mỉa mai, khinh thường. Ông Trần Quốc Hải chua chát nhận xét: “Ở Việt Nam các nhà khoa học không làm được công trình nào cả, còn người làm thì bị gán cho tên ‘Hai Lúa’ như tôi.” Có một số chuyên gia nói rằng ông Hải không biết gì về cơ học, điện học, nên không thể nào sáng chế được. Họ mỉa mai rằng chiếc trực thăng do Hai Lúa sáng chế chỉ hơn đồ chơi một chút thôi. Tôi không biết nhận xét như vậy có chính xác không, vì không có dịp nhìn tận mắt ra sao, nhưng qua những sáng chế máy nông nghiệp của ông thì không thể nào nói là “đồ chơi” được. Báo chí nói rằng lần đầu thì trực thăng do ông sáng chế ra cất cánh không tốt, nhưng sau đó qua cải tiến, thì trực thăng cất cánh “ngọt xớt” (chữ của hai ông Hai Lúa). Ôi, tôi thích cách nói đậm chất Hai Lúa và đặc “mùi Nam Bộ” đó quá đi thôi! Như vậy, khó mà nói đó là đồ chơi được. Vả lại, rất nhiều thiết bị quân đội không bắt đầu từ đồ chơi là gì. Đừng xem thường người ta như thế trong khi bản thân mình chưa làm được gì dù với bằng cấp đầy mình. Thật ra, nói theo cách nói của Tây là nếu anh chưa sáng chế được gì thì anh chưa đủ tư cách để đánh giá sáng chế của người khác. 
Nhưng tôi có thể nói rằng việc làm của ông Trần Quốc Hải chẳng khác gì việc làm của ông Soichiro Honda ở bên Nhật lúc mới lập nghiệp. Ông Honda kể lại rằng thời đó (sau thế chiến thứ II), ông là một thợ máy, và ông cũng rất đam mê chế tạo xe. Ông chỉ đơn giản mua xe về, nghiền ngẫm, và cải tiến xe đạp thành xe gắn máy. Hãng của ông chính là căn nhà nhỏ của gia đình. Sau đó thì chúng ta biết cái xe Honda của ông trở thành một danh từ chung của thế giới! Ngay cả sau này khi có chút tiền, ông lập “Honda Technical Research Institute” (Viện Nghiên cứu kĩ thuật Honda), nghe thì rất “hoành tráng”, nhưng thực chất chỉ là một ngôi nhà gỗ nhỏ. Nhưng từ những bước đầu nhỏ và đơn giản như thế mà ông có thể xây dựng được một “đế chế” Honda sau này. So với ông Honda, ông Trần Quốc Hải có vẻ hoàn thiện hơn nhiều. Do đó, đừng xem thường những cái sáng chế ban đầu, và cũng đừng mỉa mai người ta là chỉ “hơn đồ chơi” một chút. Nói như thế là kiểu nói rất yếm thế.
Nhưng nhìn lại lịch sử, chúng ta thấy hình như có khá nhiều người Việt có tài toàn đi đầu quân bất đắc dĩ ở nước khác. Trước đây, vào thế kỉ 15, Hồ Nguyên Trừng từng bị giặc Tàu bắt, và sau này ông có công sáng chế súng cho Tàu. Một người sống vào thế kỉ 15 khác là ông Nguyễn An cũng bị Tàu bắt làm tù binh, và sau này ông trở thành tổng công trình sư thiết kế và xây dựng Tử Cấm Thành cho Tàu. Bọn Tàu dấu nhẹm chi tiết này, mãi đến khi một kí giả Đức phát hiện thì chúng ta mới biết về công trạng của ông. Một người thuộc dòng dõi hoàng tộc là Lý Long Tường, suýt tí nữa bị Trần Thủ Độ thủ tiêu, phải chạy tuốt sang Cao Ly tị nạn, và sau này thành tướng của Đại Hàn. Có thể nói Hoàng tử Lý Long Tường là người tị nạn vượt biển đầu tiên trong lịch sử VN. Sau này thì kỉ lục vượt biển thuộc về người dân miền Nam Việt Nam. Bây giờ chúng ta biết có hàng ngàn, có thể hàng vạn, chuyên gia gốc Việt đang “đầu quân” cho nước ngoài. Trước đây, tôi đọc tin nói rằng người sáng chế ra máy tính IBM là người Việt Nam tên là Trương Trọng Thi (Việt kiều Pháp). Xem ra, các chuyên gia, nhà sáng chế người Việt có duyên với nước ngoài hơn là với Việt Nam. 
Đáng lẽ, theo logic thông thường, một dân tộc như thế thì VN phải giàu có chứ đâu phải nghèo hèn như hiện nay. Quả vậy, ông Lý Quang Diệu từng nhận xét rằng VN đáng lẽ phải là một người khổng lồ, ở vị trí số 1 ở châu Á. Ông nhận xét như thế là vì ông đánh giá rất cao tinh thần sáng tạo và sự nhạy bén của người Việt, ông hết lời khen sinh viên VN, ông dành những từ ngữ đẹp nhất cho cộng đồng người Việt ở Mĩ. Nhưng ông chê rằng chính quyền VN không biết trọng dụng người tài, và hệ quả là người tài ở Việt Nam đã định cư ở nước ngoài hết rồi. Phải nói thêm là một số người tài của VN đang đầu quân cho Singapore đấy. Không hiểu khi đọc bản tin về cha con ông Trần Quốc Hải và nhận xét của ông Lý Quang Diệu, các nhà chức trách VN nghĩ gì. Có lẽ họ chỉ nhún vai nói: đã làm đúng qui trình. 
( Nguồn : quechoa)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 12.11.2014

NHÀ VĂN PHẠM VIẾT ĐÀO KỂ CHUYỆN TÙ

HỆ LỤY ĐIỀU LUẬT 258 CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ (Phần 3)

Cơ quan pháp luật Việt Nam đã truy cứu trách nhiệm hình sự blogger – nhà văn Phạm Viết Đào theo Điều luật 258 như thế nào ?

  Phạm Viết Đào

  Đêm đầu tiên ngủ tại buồng số 7, nhà C, trại giam số 3 (Sala) – Công an Hà Nội…

(14/6/2013)

Chiều 14/6/2013, sau một ngày ròng rã bị hỏi cung, người mệt nhoài, mình được 4 cán bộ của PC 92 áp giải từ số 6 Quang Trung, Hà Đông về Trại giam số 3; dọc đường đi, thấy trong túi còn hơn 100.000 đ, mình đưa cho điều tra viên H nhờ mua cho mấy chai nước và 1 giây sữa đậu nành, vì mình sợ vào trại lộn xộn, mang tiền vào nguy hiểm. Vào tới cửa trại giam, cán bộ làm thủ tục nhập trại như đã kể phần 2, mình được đưa vào trại và chính thức trở thành tù…

Cán bộ trại giam đưa mình vào trại. Bước vào cổng trại được hơn chục mét, một cán bộ quản giáo chạy ra nhìn trừng trừng vào mặt mình, lần đầu tiên trong đời mình nhìn thấy ánh mắt lạ kỳ như vậy; từ trước đây, mình là cán bộ Bộ Văn hoá, lại là nhà văn, nhà báo đi đến đâu, vào nhà ai đều được đón tiếp niềm nở; còn hôm nay vào đây, mới bước chưa được 10 bước mình đã bắt gương mặt đằng đằng sát khí, một thứ “ánh mắt hình viên đạn”, nửa như uy hiếp, nửa như muốn lột truồng mình ra mặc dù mình là đàn ông đã ngoài 60 tuổi…

 Sau này mình hiểu, đây là nét đặc trưng của nghề quản giáo; mình đoán: những cán bộ quản giáo trẻ, nếu chưa có người yêu chắc khó lấy vợ vì dễ mắc bệnh nghề nghiệp, nghề trông coi tù, hễ gặp ai mắt cũng nhìn trừng trừng; đối tượng của họ quản là giới tội phạm nguy hiểm, hở ra là có thể gây án, phản thùng, chơi lại ngay…

Thử hình dung các cán bộ quản giáo này mà gặp các cô gái hay đến nhà người yêu mà quen nghề, mắt cứ trừng trừng, ném những “ánh mắt hình viên đạn”… ngay từ cái nhìn đầu tiên thì ai mà không khiếp, bỏ chạy mất dép…

Mình được dẫn giải vào nhà C., một khu sau này mình biết là khu dành cho các loại tội phạm về kinh tế; cán bộ quản giáo đưa mình vào “phủ”; trong tù, nơi làm việc của quản giáo được gọi là “phủ”, tù thường gọi cán bộ quản giáo là “thầy”, mặc dù các thầy ở đây mở miệng ra là mày tao, chí tớ, đ. mẹ, đ. cha tù lộn tùng bậy cả lên.

Mình được đưa lên tầng 2 của nhà C., bước lên khỏi cầu thang độ dăm bước là thấy “phủ” – nơi làm việc của các “thầy” quản giáo; được đưa vào phủ, ở đây thấy có 2 cán bộ quản giáo trẻ, khoảng 25, 27 tuổi nhìn mình trừng trừng. Theo phép lịch sự mình ngỏ lời:

- Chào các anh.

Một quản giáo, sau này được biết tù gọi anh ta là D. “trố”, mắt hơi trô trố hỏi mình cộc lốc:

- Tên gì ?

- Tôi tên là Phạm Viết Đào, mình cũng trả lời cộc lốc !

- Phạm tội gì ?

- Tôi phạm tội: Lợi dụng các quyền tự do dân chủ, xâm phạm lợi ích…

- Tuyên truyền phản động à ?

- Không, tôi viết bài trên blog phản biện một số chủ trương, chính sách của nhà nước…

D. vẫn ngồi hỏi, còn mình thì vẫn đứng trả lời rành rọt, mặc dù phía trước mình thấy có chiếc ghế nhưng vì không thấy mời nên mình không ngồi…

D. thì ngồi, còn mình thì cứ đứng trả lời; D. có vẻ như thấy khó chịu nói như quát:

- Ngồi xuống !

Mình tiến lại gần bàn, định ngồi vào ghế thì anh ta chỉ vào góc tường đối diện với cái bàn D. ngồi và quát:

- Ngồi xuống góc kia !

Mình biết là mình không được phép ngồi ở bàn ngang hàng anh ta mà phải ngồi bệt xuống sàn nhà. Mình tiến đến góc tường ngồi bệt xuống chân tường…

D. vẫn trừng mắt nhìn mình và nói như quát:

- Anh viết để làm gì? Ai trả tiền cho anh viết ? Anh viết thuê cho ai ?

- Tôi viết bài đưa lên mạng và không lấy tiền của ai cả.

- Thế viết để làm gì ?

- Trước những vấn đề xã hội, thấy cần lên tiếng, bày tỏ chính kiến thì viết…

- Thế anh có biết tôi là ai không ?

- Anh chắc là quản giáo của trại !

- Trong tù, tù gọi quản giáo là cán bộ và xưng tôi, nghe rõ chưa?

- Vâng tôi hiểu, thưa cán bộ.

- Bây giờ anh ra ngoài hàng lang nhìn cái bảng nội quy của trại treo ở tường, anh đọc to lên 3 lần !

Một cán bộ của trại đưa tôi ra khỏi phủ, chỉ cho tôi cái bảng nội quy treo ở tường có tất cả 11 điều, tôi đọc lướt qua…

Đọc xong tôi quay vào phủ, thấy tôi không tỏ ra sợ sệt hay mất tinh thần, D. vẫn nhìn tôi trừng trừng, nói năng cộc lốc, tôi cũng gân mặt lên, bất cần; D. bắt đầu dịu giọng, lên lớp:

- Anh phạm tội là phạm tội với nhà nước chứ không phạm tội với chúng tôi; anh lớn tuổi rồi, ở ngoài có thể tuổi ngang với tuổi cha, tuổi chú của chúng tôi nhưng vào đây, anh là thằng tù, tôi yêu cầu anh phải chấp hành đầy đủ nội quy của trại; anh phải ăn, ở, sống, quan hệ như thế nào để người ta nể trọng anh, để chứng tỏ mình là người có học; sau này ra tù, biết đâu chúng ta còn có thể gặp nhau có thể còn mời nhau đi uống rượu, uống bia. Còn bây giờ tôi bố trí anh vào buồng giam số 7, ở chung với 2 tù nữa. Anh nhớ lời tôi chưa ?

- Vâng, tôi nhớ và tôi sẽ chấp hành đúng nội quy của trại…

Tôi được D. đưa vào buồng giam, tất cả đồ dùng, tư trang D. yêu cầu tôi để lại ở phủ, chỉ cho tôi mang theo chai nước, một bộ đồ lót, bàn chải đánh răng, khăn mặt…

D. mở cửa sắt của hàng lang dài, phía trong cửa sắt tôi thấy có 2 tù nhân trẻ đang ngồi bệt xuống, người dúm dó như 2 con chuột ướt. Tôi bước vào dãy nhà C. là dãy có tất cả 12 buồng kế tiếp nhau. D. dặn 2 tù ngồi lại chờ D, còn tôi thì D. dẫn tôi đi đưa tôi tới buồng giam số 7. D. mở khoá, tôi bước vào.

Buồng giam là một căn phòng độ 7 mét vuông, chiều rộng khoảng 2,4 m, chiều sâu khoảng 3 m. Chiếc cửa sắt nặng nề rộng khoảng 80 cm, cao khoảng 2,4 m, phía trên có chấn song làm cửa thông thoáng, phía dưới bịt kín bằng tôn sắt. Buồng được xây thành 2 bục 2 bên, mỗi bục rộng khoảng 80 cm, dài 2 m là nơi làm giường… Cuối giường là bức tường lửng cao khoảng 1,2 m ngăn cách bệ ngủ bằng xi măng với khu phụ; khu phụ gồm 2 đơn nguyên, một bên là cái bể nước nổi đựng được khoảng 40 cm3 nước và bên kia là bệ xí để tù vệ sinh khép kín ngay trong buồng giam… Mình nhìn vào cái xí xổm, đã ố vàng vì nước thải, còn bể nước thì còn một ít nước trông như nước cống, đen ngòm; buồng giam có một bóng đèn compak ở tường trong và một bóng ở cửa sổ sáng nhờ nhờ. Buồng giam bật điện sáng cả ngày lẫn đêm. Nhà tù này chắc xây dựng vào những năm 80, tường xây nguyên trạng không hề có sơn vôi ve đã ám khói, đen xỉn, nhiều chỗ đã bong vôi vừa lòi cả cốt thép…

Thiết kế buống giam theo tôi hiểu dành cho 2 tù, ngủ ở 2 cái bệ xi măng, giữa là lối đi rộng khoảng 80 cm. Sau này, ở lâu tôi hiểu, mỗi phòng như thế thường được bố trí 5-6 tù, có khi lên tới 7, 8 tù; khi tù đông thì thay nhau nằm, ngồi… Tôi liếc nhìn buồng và chọn cái bục xi măng liền kế với bể nước, D. ném cho tôi chiếc chiếu để tôi rải lên bục nằm…

Một chốc sau, D. quay lại đưa thêm 2 tù trẻ lúc nãy tôi bắt gặp ở hành lang vào ở chung buồng với tôi. D. chắc vừa dặn gì đó với 2 tù trên, một tù tên Chinh, khoảng 27, 28 tuổi, một tù tên là Hùng, trên 40 tuổi… ( Xin không nêu tên thật 2 tù nhân này, tôi tạm đổi tên khác vì hiện họ đang thi hành án…).

 Sau khi đưa thêm 2 tù trẻ vào ở chung với tôi, D. quay ra, tôi hỏi qua quýt tên họ của hai bạn tù rồi quay ra giường ngủ, không muốn bắt chuyện gì. Hùng chủ động hỏi tôi:

- Chú phạm tội gì ?

- Tao phạm tội giết người… Tôi trộ Hùng.

- Chắc trong phút giây nóng nảy chứ nhìn người chú đâu đến nỗi…

- Tao đang mệt, để tao ngủ. Tôi lên giọng “đại ca”…

Cả hai lục tục dọn giường, thu xếp đồ đạc lên giường nằm…

Vì quá mệt, tôi nằm thiếp đi, độ 1-2 giờ sang, tôi tỉnh dậy đi vệ sinh thấy Chinh ngủ còn Hùng thì vẫn ngồi ngáp ngắn ngáp dài, người ủ rũ như tàu lá…

Tôi lại quay vào, sau một giấc ngủ ngắn, người tôi đã có phần tỉnh táo. Tôi liếc nhìn Hùng thấy hắn ngồi ngáp vặt, tôi dục:

- Cậu không ngủ à ?

- Chúng cháu được giao nhiệm vụ phân công nhau trông chú ngủ…

- Chúng mày sợ tao trốn hay tự tử ?

- Các thầy bảo chúng cháu trông chú, chúng cháu phải theo !

- Đi ngủ đi, chúng mày không phải trông đâu; từ đây ra cổng có tới 6 khoá, có mở tao cũng chẳng trốn đâu mà sợ; còn lâu tao mới tự tử nghe con…

- Thấy chú lớn tuổi, chúng cháu lo cho chú, các thầy bắt các cháu trông…

Tôi dục Hùng đi ngủ, không phải thức trông…

 ( Còn nữa… )

P.V.Đ.

Nguồn: http://nvphamvietdao.blogspot.com/2014/11/he-luy-ieu-luat-258-cua-bo-luat-hinh-su_6.html

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 11.11.2014

QUÀ TẶNG XỨ MƯA KÍNH CÁO

QUÀ TẶNG XỨ MƯA KÍNH CÁO

Từ ngày 10/11/2014 đến nay, Ngô Minh, chủ nhân QTXM bị viêm loét dạ dày phải  nằm Bệnh viên Trung ương Huế. Tình hình có thể còn lâu dài. Ngô Minh đã cố gắng cập nhật bài vở lên QTXM để phục vụ bạn đọc. Nhưng chắc chắn có ngày phải ngưng vì Ngô Miknh không có láp tốp, mà máy bàn thì không thể tha lên bệnh viên được. Rất mong độc giả thông cảm. Sau đây là 2 bài thơ  viết ở Bệnh viện Trung ương Huế năm 2009,  đăng lại để phục vụ bạn yêu thơ.

 

     QUA Ô CỬA BỆNH VIỆN

  ngoài kia cuộc sống sùng sục như nồi nước sôi

người xe lấn chen  hú còi rượt đuổi

tất cả lao về phía trước

còn ở đây người nhăn nhó, người rên

người nhắm mắt ngồi thiền

người co quắp nghĩ về cõi chết ?…

ngoài kia hàng cổ thụ trăm tuổi trổ lá xanh non

như môi trẻ

sông Hương dang vòng tay đợi

những cặp tình nhân dìu nhau dưới tán hương long não

ở đây chàng trai hóa ông già

chống gậy lom khom lần đi toilet

 

ở đây sáng nay xe đưa hai tử thi ra nhà xác

chở theo tiếng khóc sụt sùi

ở đây sáng nay ba đứa trẻ lọt lòng

tiếng khóc oe oe như mần tách vỏ

 

bệnh viện là nhà ga nối sự sống với cái chết

ở đây con người như bóng thời gian

nhìn qua ô cửa bệnh viện

không biết mình trẻ hay già !

BV Trung ương Huế, 6-3-2009 (Đọc tiếp…)

Vị trí của dự án Trung Quốc trên núi Hải Vân trọng yếu như thế nào?

QTXM : Dự án “bán nước ” như thế Ngô Minh cũng kịch liệt phản đối. Tất cả là do lòng yêu nước và thấp nhìn chính trị của cán bộ quá thấp mới sinh ra thế.

 
Hải Châu/ Infonet/
Đại tá Thái Thanh Hùng, Ct Hội CCB TP Đà Nẵng (Ảnh: HC)
Theo Đại tá Thái Thanh Hùng, nguyên Chỉ huy phó Bộ chỉ huy Quân sự TP Đà Nẵng, dự án Trung Quốc trên núi Hải Vân nắm ở vị trí “yết hầu” có thể chia cắt đất nước, khống chế toàn bộ vịnh Đà Nẵng!

Sau khi báo điện tử Infonet đưa tin Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng có văn bản kiến nghị Chính phủ yêu cầu tỉnh Thừa Thiên – Huế (TT-H) chỉ đạo thu hồi giấy chứng nhận đầu tư khu nghỉ dưỡng của Công ty cổ phần Thế Diệu (Trung Quốc) trên núi Hải Vân do nằm trong khu vực chưa thống nhất về địa giới hành chính giữa hai địa phương và có vị trí trọng yếu về an ninh quốc phòng, đông đảo bạn đọc đã bày tỏ sự hoan nghênh. 
 
Để bạn đọc hiểu rõ thêm tính chất trọng yếu về an ninh quốc phòng của vị trí mà phía Trung Quốc được cấp phép xây dựng dự án, PV Infonet đã trao đổi với Đại tá Thái Thanh Hùng, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh TP Đà Nẵng, nguyên Chỉ huy phó Bộ chỉ huy (BCH) Quân sự tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng (QN-ĐN), Chỉ huy phó BCH Quân sự TP Đà Nẵng (sau khi chia tách tỉnh năm 1997) và một số người khác.
Đại tá Thái Thanh Hùng: “Nắm vị trí đó là nắm cả vùng trời, vùng núi, vùng biển khu vực phòng thủ Đà Nẵng!”
Toàn bộ vùng rừng núi và đèo Hải Vân là khu vực phòng thủ của TP Đà Nẵng. Thực tế trong thời kỳ chiến tranh, tỉnh TT-H không đưa quân vô trấn giữ mà Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng giao cho lực lượng vũ trang Quân khu 5 và mà cụ thể là lực lượng vũ trang tỉnh QN-ĐN phải bảo đảm giữ vững khu vực phòng thủ đó. Sau ngày giải phóng, Bộ chỉ huy (BCH) Quân sự tỉnh QN-ĐN, sau đó là BCH Quân sự TP Đà Nẵng tiếp tục xây dựng các công trình quốc phòng trong khu vực phòng thủ Hải Vân.
Nếu để cho đối tác nước ngoài, chưa nói là Trung Quốc, vào xây dựng, chiếm lĩnh vị trí trọng yếu đó sẽ không bảo đảm được khu vực phòng thủ cho cả nước nói chung, đặc biệt là đối với TP Đà Nẵng. Đây là vị trí chiến lược, là địa bàn trọng điểm. Ở miền Trung thì khu vực đèo Hải Vân mọi người đều biết cả rồi. Nếu xảy ra chiến tranh, nơi này bị chiếm thì đất nước bị chia cắt liền. Do nó đặc biệt quan trọng như vậy nên theo tôi là không nên cho nước ngoài đầu tư vào khu vực đó.
Hơn nữa, vị trí tỉnh TT-H cấp phép cho phía Trung Quốc xây khu du lịch lại nằm ngay mũi Cửa Khẻm (nơi núi Hải Vân đâm ra biển) và coi như bao trùm cả hòn Sơn Trà con cách đó không xa. Khu vực này chính là “yết hầu” của vịnh Đà Nẵng với núi Hải Vân và bán đảo Sơn Trà tạo thành hình cánh cung trấn giữ phía Bắc và phía Đông Bắc. Mà vịnh Đà Nẵng là một trong những khu vực cực kỳ trọng yếu trên dọc tuyến biển Việt Nam.
Phó Viện trưởng Viện Quy hoạch xây dựng Đà Nẵng Lê Tự Gia Thạnh chỉ vị trí dự án Trung Quốc được cấp phép xây dựng trên núi Hải Vân (Ảnh: HC)
Tàu bè vô ra cảng Đà Nẵng đều phải qua đó. Nếu phía nước ngoài nắm được vị trí này thì tất cả tàu quân sự ra vô khu vực cảng Vùng 3 Hải quân họ đều biết hết. Và đây là vấn đề hết sức quan trọng trong bối cảnh chúng ta đang tăng cường năng lực phòng thủ trên biển để sẵn sàng ứng phó với tình hình trên biển Đông đang diễn biến ngày càng phức tạp. Ai nắm được vị trí này sẽ làm chủ cả cửa biển Đà Nẵng. Nếu phía nước ngoài khống chế vị trí này thì tàu bè sẽ không vô cảng Đà Nẵng được.
Trước đây, Tiểu đoàn 72 của lực lượng vũ trang QN-ĐN đóng quân tại hòn Sơn Trà con. Sau cơn bão số 2 năm 1988, do nhà cửa bị sập đổ nên BCH Quân sự tỉnh báo cáo Bộ Tư lệnh Quân khu 5 cho tạm thời rút vào khu vực núi Hải Vân. Khi Tiểu đoàn 2 chưa trở lại kịp thì phía TT-H đưa lực lượng ra giữ hòn Sơn Trà con (mà TT-H gọi là hòn Sơn Chà).
Đà Nẵng hay TT-H trấn giữ chỗ đó cũng được, nhưng cho nước ngoài đầu tư làm ăn trên địa bàn đó là hết sức phức tạp. Ở vị trí mà sau lưng là đỉnh Hải Vân, trước mặt hướng ra biển Đông, chỉ cần thiết lập trạm ra-da dã chiến ở đó thì coi như nắm giữ cả không phận rộng lớn trên vùng núi, vùng biển của một TP mà cả Pháp, Mỹ đều chọn nơi đây làm nơi đầu tiên để đổ quân vào xâm chiếm hoặc chia cắt đất nước Việt Nam.
Chúng tôi đã định ở kỳ họp sắp tới của HĐND TP Đà Nẵng sẽ lên tiếng không đồng tình với việc tỉnh TT-H cho phép phía Trung Quốc đầu tư vào khu vực này. Điều đáng quan tâm nhất ở đây là ảnh hưởng vị trí quốc phòng an ninh, chứ chưa nói là đất của ai. Đất của TT-H hay của Đà Nẵng thì cũng đều là đất Việt Nam. Vấn đề là không nên để cho nước ngoài đầu tư vào một vị trí chiến lược như vậy.
Nằm ở vị trí vòng đỏ, dự án của Trung Quốc sẽ nắm rõ tình hình tàu bè ra vào cảng Đà Nẵng và cảng Vùng 3 Hải quân ở vị trí vòng vàng (Ảnh: HC)
Trung Quốc chiếm quần đảo Hoàng Sa của Đà Nẵng, HĐND TP đã ra Nghị quyết phản đối. Bây giờ tỉnh TT-H lại cấp phép cho họ vào vị trí vô cùng trọng yếu trên núi Hải Vân. Đây không còn là chuyện giữa hai địa phương mà đã trở thành vấn đề quốc gia. Chúng tôi định đề nghị UBND TP Đà Nẵng có ý kiến báo cáo Thủ tướng. Nay Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng đã có văn bản trình Thủ tướng thì Hội Cựu chiến binh TP rất đồng tình. Và chúng tôi tin Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ sẽ chỉ đạo xử lý rốt ráo vấn đề này.
Ông Nguyễn Thương, Phó Giám đốc Sở Nội vụ Đà Nẵng: “Bè cá ngoài đảo Sơn Trà và khu du lịch trên núi Hải Vân chỉ là một!”
Dự án này nằm trong khu vực chưa thống nhất về địa giới hành chính giữa Đà Nẵng và TT-H. Từ năm 1997, Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản chỉ đạo hai địa phương giữ nguyên trạng mọi thứ, không được làm phức tạp thêm tình hình. Trong thời gian qua, TP Đà Nẵng đã chấp hành nghiêm chỉ đạo của Thủ tướng. Tuy nhiên hiện nay tỉnh TT-H lại cấp phép cho phía Trung Quốc xây dựng dự án tại đây.
Ai cũng biết, nhiều doanh nghiệp Trung Quốc ngoài làm kinh tế thì còn có những động cơ khác nữa. Không hà cớ chi họ đi mua móng chân trâu, móng chân bò. Đặc biệt là họ tìm những khu vực trọng điểm để làm kinh tế nhưng thực chất là nắm tình hình diễn biến của ta. Không bỗng dưng họ đi nuôi cá ngay trong khu vực cảng Cam Ranh. Ở Đà Nẵng cũng không ngoại lệ. Từng có người Trung Quốc nuôi cá bè ngoài bán đảo Sơn Trà, và những người đó cũng cùng “group” với Công ty CP Thế Diệu này chứ không phải ai khác cả, cũng một chủ thôi nhưng “chẻ” ra nhiều nhánh. Hiện nay đã dẹp rồi.
Bè cá ngoài đảo Sơn Trà với khu du lịch trên núi Hải Vân đều nằm ở vị trị “yết hầu” của vịnh Đà Nẵng, nhắm ngay vào khu vực cảng Vùng 3 Hải quân, và đều chung “tập đoàn” chứ không ai khác. Nên không phải chuyện đơn giản như một số người nghĩ. Tại sao ở một chỗ heo hút như vậy mà họ vẫn tính đổ hàng trăm triệu USD vào đó? Tại vì chỗ đó bao trùm cả vịnh Đà Nẵng. Qua hai cuộc Pháp, Mỹ gây chiến tranh ở Việt Nam đã cho thấy rõ, ai nắm giữ chỗ đó sẽ nắm giữ cả vùng biển này, từ chỗ đó vô cửa Hàn thâm nhập sâu vào trung tâm Đà Nẵng chỉ vài cây số. Chiều dài lịch sử cũng đã phản ảnh rất rõ rồi.
Ông Nguyễn Thương, Phó Giám đốc Sở Nội vụ Đà Nẵng (Ảnh: HC)
Người dân bình thường cũng thấy điều đó, cần chi tới tôi là người làm công tác xây dựng chính quyền, quản lý địa giới hành chính. Đây là chuyện mang tính chất quốc gia, ở tầm chiến lược. Hiện chúng tôi đang tham mưu cho lãnh đạo TP làm việc với Bộ Tư lệnh Quân khu 5, Bộ Tư lệnh Vùng 3 Hải quân, đề nghị họ sớm lên tiếng về vấn đề này để Thủ tướng Chính phủ và các Bộ ngành hữu quan quyết định chính thức trong thời gian sớm nhất, chứ không để xảy ra chuyện đã rồi ở một khu vực nhạy cảm về an ninh quốc phòng như vậy. Hiện cử tri và người dân rất quan tâm đến việc này.
Ông Lê Phú Nguyện, Chánh Văn phòng UBND huyện Hoàng Sa: “Đây là câu chuyện chủ quyền!”
Nếu chỉ là chuyện chưa thống nhất về phân định ranh giới giữa hai địa phương thì chỉ là chuyện trong nhà, không phải là chuyện lớn. Ai giữ chỗ đó cũng được hết. Nhưng câu chuyện ở đây là câu chuyện chủ quyền, câu chuyện an ninh, quốc phòng của quốc gia có nguy cơ bị đe dọa. Nếu cho rằng đây chỉ là chuyện tranh chấp giữa hai địa phương sẽ không giải quyết được vấn đề chi mà còn khiến nhiều người có cái nhìn sai lệch.
Việc để cho doanh nghiệp nước ngoài vào những vị trí chiến lược về an ninh, quốc phòng như vậy là hết sức thiếu cẩn trọng trong bối cảnh Việt Nam đang tăng cường năng lực phòng vệ trên biển để sẵn sàng ứng phó với diễn biến tình hình trên biển Đông ngày càng phức tạp, nhất là trong lúc Trung Quốc đang ngày càng hung hăng đe dọa, xâm phạm chủ quyền lãnh hải của nước ta!
Ông Lê Tự Gia Thạnh, Phó Viện trưởng Viện Quy hoạch xây dựng Đà Nẵng: “Không phải không khai thác, nhưng…”
Về mặt quy hoạch, tôi cho rằng khu vực đó hai bên nên thống nhất với nhau giữ nguyên trạng một khu vực tự nhiên. Không phải là không khai thác. Vẫn có thể khai thác nhưng với hình thức tham quan, ngắm cảnh có kiểm soát chứ đừng ở lại là hay nhất. Có chăng thì làm một vài điểm khai thác du lịch nhưng không được lưu trú. Du khách có thể ra đó khám phá rồi quay về đất liền chứ không nên xây dựng những công trình phục vụ lưu trú có thể dẫn đến những “biến tấu” khó lường!

 

« Newer Posts - Older Posts »

Danh mục