Đăng bởi: Ngô Minh | 21.08.2014

NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ

NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ

Bùi Mai Hạnh

Vừa rồi về Việt Nam, bất ngờ được chị bạn (làm công tác văn hóa văn nghệ) nhắc nhở: “Em chẳng nhạy cảm chính trị gì cả!”. 
Thực ra “nhạy cảm chính trị” là cái quái gì nhỉ? Ngơ ngác một lúc, nhớ ra, ngay từ buổi đầu viết báo, mình từng được/bị nhắc như thế. Không chỉ một lần. 
Lần thứ nhất cách đây cũng gần hai chục năm. Sau đợt đi thực tế theo chương trình thực tập của Trường Viết văn Nguyễn Du, mình nộp bài cho tờ X. Một tuần căng thẳng hồi hộp chờ đợi trôi qua, mình được bà Tổng biên tập tiếp bằng nụ cười tươi rói và thương cảm: “Đúng là nhà thơ nhà văn các bạn lơ mơ thật. Chẳng nhạy cảm chính trị tí nào!”. 
Bài báo viết về nỗi đau chết hụt trong “căn nhà tình nghĩa” của một bà mẹ anh hùng ở Ninh Hòa, vùng đất có nhiều mẹ anh hùng nhất nước. Không nhạy cảm chính trị là sao? 
Căn nhà đó có bảy bát hương xếp hàng trên ban thờ lặng ngắt u buồn. Vệt nước lụt vẫn còn thẫm đen đánh dấu trên nửa già cánh cửa gỗ sắp mục. Bức tường nứt đút lọt ngón tay út. Gian bếp lạnh tanh chỏng chơ cái nồi nhỏ… Thỉnh thoảng mẹ mới đến nhà mình để thắp hương cho những người chết trận (chồng và các con trai). Vì mẹ sợ. Ở căn nhà đó, mẹ sợ đủ thứ. Sợ trộm cắp, sợ lụt lội, sợ cái nhà ụp xuống đầu bất cứ lúc nào. Sợ hơn cả là nỗi cô đơn không hàng xóm láng giềng. Mới đấy, lũ lụt tràn qua bất ngờ trong đêm, mẹ suýt chết đuối. May có đứa cháu họ xa sực nhớ đến, chạy ra cõng mẹ về. Từ đó, mẹ về hẳn trong làng ở nhờ nhà người bà con. 
Không hề ngần ngại, mẹ thổ lộ nỗi buồn, sự bất bình với chính quyền địa phương khi xây cho mẹ căn nhà không đảm bảo chất lượng vì đã “bị rút ruột một nửa” và nằm chơ vơ giữa cánh đồng hoang vắng. Từ xa, ngôi nhà nom giống mô hình “nhà cô đơn trên sa mạc”. Có lẽ, chức năng của căn nhà là làm nhân chứng cho “sự quan tâm của Đảng và nhà nước” thì đúng hơn là làm “nhà tình nghĩa”, mái ấm cho một bà mẹ anh hùng cô đơn. 
Kết luận bài báo, mình nói về cảm giác buồn nôn khi chứng kiến ông quan chức Phòng Thương binh Xã hội, miệng cười hềnh hệch gào thét zô zô, tay thản nhiên thò vào khuấy đá trong vại bia đang sủi bọt ở quán ăn chiêu đãi các tân nhà báo. Chỉ mấy phút trước, trong buổi mít-tinh tưởng nhớ liệt sĩ, những ngón tay chuối mắn này còn vung lên hùng hồn phụ họa cho bài diễn văn “nghèn nghẹn xúc động”… 
Tuy nhiên, bài viết nhiều thông tin thực tế và cảm xúc “lai láng” của một đứa thơ thẩn đã không được duyệt chỉ vì nó rất thiếu “nhạy cảm chính trị”. 

Lần thứ hai khái niệm “nhạy cảm chính trị” do một sếp nữ giảng giải. Chẳng nhớ là mình đã phạm lỗi gì cụ thể (vì nhiều lỗi quá), chỉ nhớ hôm ấy, ở hành lang cơ quan, mình hút thuốc và sếp cũng… xin một điếu. Đấy là lần duy nhất mình thấy sếp hút thuốc (hình như sếp đang bức xúc gì đó). Sếp chân tình nói: “Này, chị bảo thật, người ta nói ăn cây nào rào cây ấy, nếu em định viết bài chê ngành văn hóa thì em chỉ có cách ra khỏi ngành, rồi muốn viết gì thì viết. Ngành văn hóa tham nhũng giỏi lắm được vài chục triệu, làm sao bằng ngành giao thông tham nhũng hàng chục tỉ hả em. Em cần phải nhạy cảm chính trị hơn chứ đừng có ngây thơ như thế…”. 
Mình nghe sếp nói và… im lặng. Sếp nói quá chuẩn! Sau đó, mình đã thực hiện đúng lời khuyên của sếp, tình nguyện vĩnh biệt đời công chức, ra khỏi ngành và viết “Lê Vân yêu và sống”, một cuốn sách mình muốn viết. Cuốn sách bị cấm tái bản (theo lệnh miệng) sau một tháng phát hành. Đến giờ, lệnh cấm vẫn còn nguyên hiệu lực, mà chẳng ai cho mình biết lý do tại sao cấm để mình còn “rút kinh nghiệm”. Đoán mò, chắc tại mình kém “nhạy cảm chính trị” chăng? 
Lần thứ ba mình được “thụ giáo” bởi một anh chàng dễ thương bên an ninh văn hóa. Khi đó, mình đang say sưa viết một loạt bài điều tra về ông hiệu trưởng một trường đại học tham nhũng, lạm quyền. Vì là chỗ quen biết, chàng đọc thấy bèn chân tình khuyên nhủ: “Em viết làm gì. Ông trưởng bảo đúng ông phó bảo sai. Đố em biết được ai đúng ai sai!!! Cơ chế là thế. Hôm nay đúng ngày mai sai ngày kia lại đúng. Chẳng có ai sai cả. Viết thế chứ viết nữa cũng chả giải quyết được gì!!! Em phải biết trên ông ấy là ai chứ! Em chả nhạy cảm chính trị tí nào”. 
Quả thật, bốn số liền đăng bài tố cáo mà “ngài hiệu trưởng khả kính” không thèm ra lời. Thậm chí, không hiểu phù phép thế nào, ông ta lại được ca ngợi hết lời, cũng chính trên tờ báo đó. Thế mới đau chứ! 
Nỗi đau này mãi gần chục năm sau mới… lên da non được. Tình cờ một hôm, cà phê vỉa hè, mình đọc được tin ngài hiệu trưởng phù thủy ấy sắp ra tòa. Vì tham nhũng hay gì gì đó, ở một phi vụ khác… Bỗng nhớ lời khuyên chân tình của chàng an ninh văn hóa về “căn bệnh” kém “nhạy cảm chính trị” của mình. 
Và còn nhiều lần nữa, mỗi lần được nhắc nhở kém / thiếu “nhạy cảm chính trị”, mình chỉ ừ hữ hoặc im lặng mà không có thuốc nào chữa được. Vái tứ phương, được các “lang vườn” bạn bè kê đơn bắt uống loại thuốc cây nhà lá vườn rất hiệu nghiệm có tên tiếng Tây là “Mackeno” và tên tiếng Việt là “Vô cảm”. 
Vô cảm. Ai đó đã dùng chữ này đầu tiên để miêu tả căn bệnh thờ ơ, chán nản, buông xuôi, trơ lì của toàn xã hội, từ dân đen tới cán bộ? Vô cảm trước sự đói nghèo, vô cảm trước áp bức bất công, vô cảm trước cường hào tham nhũng, vô cảm trước tội ác bạo hành, vô cảm khi an ninh quốc gia bị đe dọa, và đặc biệt vô cảm trước sự vô cảm. Cả một xã hội ù lì u mê không cảm xúc yêu ghét. 
Giống y hệt lúc tắc đường, là khi gương mặt xã hội được phản ánh rõ nhất. 
Đầu tiên cáu vì bỗng nhiên bị chặn đứng (như bị ngâm hồ sơ giấy tờ, bị sách nhiễu vòi vĩnh…). 15 phút đầu bực lắm. Bực ra mặt. Trán nhăn lại cau có, mắt láo liên nhìn quanh tìm lối thoát. 15 phút tiếp theo vẫn đứng im một chỗ, bắt đầu chửi đổng trong bụng. 15 phút nữa trôi đi trong cam chịu, nhẫn nhục. Ai cũng giống hệt mình. Cuối cùng, thêm 15 phút hay lâu hơn nữa cũng vậy. Chẳng còn trông đợi gì nữa… Sau một giờ đồng hồ, thậm chí hai giờ, chôn chân tại chỗ, nắng đổ lửa xuống hay mưa như xối trên đầu, khói xăng xe mù mịt ngộp thở, mọi cảm xúc bực bội, chán nản, lo lắng, đau khổ, oán than, nguyền rủa… lên tới đỉnh điểm rồi bất ngờ rơi về trạng thái trống rỗng. 
Dù đã được nhích lên từng tí một thì cũng chẳng còn hơi sức đâu mà mỉm cười. Dù sẽ được giải thoát nhưng lại nhận thức ngay rằng ngày mai vẫn thế, ngày kia vẫn thế, tháng sau vẫn thế, năm sau vẫn thế… Chẳng cáu chẳng chửi thậm chí cũng chẳng mừng. Một lần, sau cú tắc đường gần hai tiếng (đoạn đường dọc sông Kim Ngưu về nhà ở Kim Giang), khi được giải thoát cũng là lúc mình tự nhiên ngã lăn quay vì kiệt sức. Và hoàn toàn tê liệt mọi giác quan. Hoàn toàn vô cảm. 
Một thời gian dài, đọc đâu cũng thấy chữ “nhạy cảm”, muốn nói gì viết gì cũng được miễn đừng đụng đến “vùng nhạy cảm’, tức vùng cấm, sợ động chạm, sợ phạm húy… Chữ “nhạy cảm” được dùng nhiều quá, trở nên chai lỳ, báo chí chuyển qua phong trào dùng chữ “vô cảm”, báo hiệu căn bệnh các vùng nhạy cảm bị… vô cảm. 
Phải chăng, cái đích cuối cùng của báo chí tiếng Việt là đi từ “nhạy cảm” đến “vô cảm”, một quá trình triệt tiêu mọi cảm xúc một cách hoàn hảo để chữa căn bệnh thiếu /kém nhạy cảm chính trị

( Nguồn :vanviet)

 

THƯ CỦA THIẾU TƯỚNG LÊ DUY MẬT GỬI TRUNG ƯƠNG ĐẢNG

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Hà Nội ngày 20 tháng 07 năm 2014

Kính gửi:
Đ/C Tổng Bí Thư BCHTƯ Đảng
Các đ/c Uỷ viên Bộ Chính Trị
Các đ/c Uỷ viên Ban Bí thư TƯ Đảng
Các đ/c ủy viên Trung ương Đảng khóa XI.

Tôi là: Lê Duy Mật – Thiếu tướng – Nguyên Phó Tư lệnh – Tham mưu trưởng Quân khu 2 và Tư lệnh Mặt trận 1979-1984 (Hà Giang) thay mặt một số đảng viên, xin được nêu thắc mắc và kiến nghị như sau:

Cuộc chiến tranh biên giới 1979 – 1984 cũng là một trong những cuộc chiến đẫm máu vô cùng đau thương trong lịch sử nước ta. Đây là cuộc chiến tương tự các cuộc chiến Bạch Đằng,Chi Lăng, Đống Đa, nhưng tại sao đã qua 30 năm mà cuộc chiến này vẫn không được tổng kết, đúc rút kinh nghiệm phục vụ cho mục tiêu bảo vệ Tổ quốc cấp thiết trước mắt, Việc tổng kết này vô cùng cần thiết và sẽ rất hữu ích khi mà đối tượng chiến đấu vẫn là một, khi mà quân xâm lựợc đang cận kề chứ không xa xôi như trong các cuộc chiến chống Pháp, chống Mỹ. Bên cạnh đó các chính sách đối với gia đình liệt sĩ và những người chống xâm lược năm 1979 – 1984 ,chúng tôi đã nhiều lần đề nghị nhưng vẫn không được giải quyết ,mà chỉ có những lời hứa hẹn xuông.

Phải chăng có một nguyên nhân mà chúng tôi săp nêu lên sau đây.

Chúng ta đều biết mọi tiêu cực trong xã hội hiện nay từ Trung Quốc gây ra, khiến cho nước ta sản xuất lẹt đẹt, lạc hậu, đã thế, họ lại còn có những lời sỉ nhục đôi với cả dân tộc ta :“Việt Nam là con hoang, loại vô liêm sỉ, phải cho thêm vài bài học”. Vậy mà, lãnh đạo ta không hề có một phản ứng nào!

Rồi khi bọn xấu trà trộn trong đám biểu tình được xúi giục phá phách gần 1000 nhà máy của Hàn Quốc, Đài Loan,Singapore,Trung Quốc, thì công an lúc đó làm ngơ , sau đó mới xuất hiện, chỉ xử lý qua loa và xin lỗi xin đền bù thiệt hại cho họ. Trong khi đó Tung Quốc đâm phá gần 30 tàu ,thuyền của chúng ta thì không quyết liệt đòi bồi thường, mà chỉ “nhẹ nhàng” lên án.

Khi có hiện tượng bất thường nho nhỏ về dân sự thì lập tức nửa đêm đại sứ của Việt Nam ở Bắc Kinh bị gọi đến để nhận thư phản kháng, còn khi Trung Quốc gây hại cho ta thì chỉ có cán bộ Bộ Ngoại giao Việt Nam đến gặp cơ quan Lãnh sự Trung Quốc tại Hà Nội để giao công hàm phản kháng.

Lạ lùng nhất là tỉnh ủy Quảng Đông mà lại ngang nhiên gửi công văn cho Bộ Ngoại giao Việt Nam yêu cầu phải thực hiện 16 việc phải làm. Một thái đọ trịch thượng ,coi thường nước ta rất vô lễ mà ta vẫn chịu đựng.

Trung Quốc tự tiện cho giàn khoan vào xâm nhập lãnh hải Việt Nam bất chấp mọi ý kiến phản đối của nhân dân ta và dư luận các nước lên án. Khi rút đi, họ tuyên bố là do họ đã xong việc. Trung Quốc làm như vậy mà ta vẫn khen Trung Quốc là bạn tốt, 16 chữ vàng và 4 tốt. Đến nỗi dư luận thế giới cũng phải ngạc nhiên về thái độ quá ư nhu nhược của chúng ta.

Ngạc nhiên hơn là Nhà nước đàn áp những người biểu tình chống xâm lược ở trong nước mà chỉ khuyến khích biểu tình ở nước ngoài.

Chẳng lẽ một dân tộc Việt Nam anh hùng đã ba lần chiến thắng Nguyên Mông, đã có Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu, mà nay lại hèn kém như vậy sao! Chúng tôi cho rằng nguyên nhân sâu xa là ở Thỏa hiệp Thành Đô ngày 4/9/1990 của một số vị lãnh đạo. Chúng tôi chưa rõ thực hư thế nào mà chỉ biết sau này những hiện tượng tiêu cực xảy ra đã thể hiện nội dung của bản Thỏa hiệp đó . Xin trích một đoạn Thỏa hiệp Thành Đô: “Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa Cộng sản, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam sẽ cố gắng hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị vốn lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp trong quá khứ. Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh , như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông,Tây Tạng,Quảng Tây….

Phía Trung Quốc đồng ý và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.” .(Hết trích) (1) .

Vì vậy, chúng tôi yêu cầu trong hội nghị TW này Bộ chính trị , Ban Bí thư cần công bố các văn bản của Thỏa hiệp Thành Đô ,để chứng minh thực hư thế nào.Nếu Thỏa hiệp Thành Đô là đúng như vậy thì rõ ràng là một bản thỏa hiệp rất nguy hiểm cho đất nước như là phản bội Tổ Quốc. Vì vậy, chúng tôi đề nghị Hội nghị TƯ xem xét và ra tuyên bố phản bác bản thỏa hiệp đó ,chấn chỉnh lại tổ chức, kỷ luật những người đã ký và những người thực hiện sau này. Có như vậy Đảng ta mới thực sự là một Đảng chân chính, dám nhận khuyết điểm, dám công khai khuyết điểm như Bác Hồ đã nói: “Một Đảng mà không dám nhận khuyết điểm, công khai khuyết điểm là một Đảng hỏng”.

Theo điều lệ Đảng (điều 3 khoản 3), Đảng là của nhân dân lao động ,Đảng của toàn thể đảng viên vì vậy chúng tôi có quyền yêu cầu phải công khai các hoạt động của những người lãnh đạo để dân biết ,dân bàn,dân làm,dân kiểm tra như trong các Nghị quyết TƯ đã đề ra .

Trên đây là những kiến nghị tâm huyết và bức xúc của đảng viên.Tôi mong rằng :Bộ chính trị ,Ban bí thư nên tôn trọng ý kiến của các đảng viên cơ sở và thực hiện các việc nói trên .Tóm lại là:

1- Tổng kết cuộc chiến tranh chống quân xâm lược năm 1979 ,thực hiện chính sách qui tập mồ mả ghi công các anh hùng liệt sĩ trong cuộc chiến tranh chống quân xâm lược cũng như bao cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc trước đây của dân tộc ta, tổ chức kỷ niệm trọng thể hàng năm.

2- Công khai bản Thỏa hiệp Thành Đô tháng 9/1990 để toàn dân ,toàn Đảng biết được thực hư và ra tuyên bố để giải thích các hiện tượng tiêu cực . Thỏa hiệp Thành Đô là thứ ung nhọt đang di căn khắp cơ thể đất nước ta.

Nguy cơ mất nước đang là sự thật, mong các đồng chí có lương tâm ,vì sự nghiệp của tổ quốc mà thực hiện cho được. Nếu ở Hội nghị Trung ương X này không ra được bản tuyên bố thì yêu cầu đưa vào chương trình Đại hội Đảng bất thường hoặc Đại hội 12.

Chúng tôi chờ mong hồi đáp của các đồng chí.

Kính

Thiếu tướng Lê Duy Mật

 

              

CÁC NHÀ VĂN NỔI TIẾNG THỦ ĐÔ MÊ ẨM THỰC HUẾ

        Ngô Minh

Giáo sư Nhật Bản Tomita Kenje có một nhận xét rất tinh tế rằng:” Phong cách ăn của người Việt Nam đôi khi còn đậm tính dân tộc hơn cả ngôn ngữ’’. Huế là xứ sở ẩm thực độc đáo, vừa dân dã, vừa sang trọng. Ai đến Huế sau khi thưởng thức các món ăn nấu theo lối Huế, cũng đều xuýt xoa khen ngợi, và nhớ mãi như một kỷ niệm đẹp đời mình! Nhiều nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ lớn đương đại Việt Nam cũng rất mê các món ăn Huế, rượu làng Chuồn. Xin kể vài ký ức để thấy rằng: không chỉ người Huế thích món Huế mà cả những người sành ẩm thực nhất nước cũng mê món Huế !

 

          Năm 1986, Nhà văn Nguyễn Tuân vô Huế chơi. Ông ở Nhà khách tỉnh ở 2- Lê Lợi Huế. Tôi cùng mấy anh em nhà thơ ở Huế đến hầu chuyện ông. Ông mở “ba lô” lấy ra một cút rượu và ba cái chén, từ tốn rót rượu rồi ngửng lên nheo mắt cười mời chúng tôi :” Mời các bạn trẻ chủ tập thể đi!”. Ông kể “ rượu ấy là  rượu Vân,  đi đâu mình cũng phải bới đi ”. Ở Huế chưa được tuần, hết rượu Vân, ông thờ thẫn. Anh em mang đến chai rượu Chuồn Huế mời ông, ông nhấp nhấp thử rồi phán ”Thằng này được !”. Thế là  ông mê rượu Chuồn từ đó .

          Nguyễn Tuân vốn luôn xê dịch qua rất nhiều vùng đất, nên ông rất sành điệu các món ăn ba miền. Ông đã viết rất tụyệt vời về phở Hà Nôi, về cốm Vòng. Ông đã một lần viết rất hay về cơm muối Huế. Ông đặc biệt thích nhấm rượu với nem tré, tôm chua- vả chuối ăn kẹp với thịt lợn phay theo kiểu Huế. Đã thành lệ, lúc sinh thời nhà văn Nguyễn Tuân, các nhà văn, nhà thơ đất Cô Đô khi ra Hà Nội, ai cũng không quên mang theo xâu nem, lọ tôm chua với chục quả vả để làm quà cho người đồng nghiệp vong niên sành ăn của mình. Nhà thơ Nguyễn Xuân Thâm kể: Một lần nhà thơ về quê ra, mang biếu Nguyễn Tuân một lọ tôm chua Huế và chục quả vả. Mươi hôm sau, nhà thơ lại đến thăm cụ Nguyễn Tuân, thấy lọ tôm chua vẫn còn để nguyên trên giá, bên cạnh chai “Ông già chống gậy”. Hỏi mới biết nhà văn Nguyễn Tuân phải chờ hai ông bạn thân là họa sĩ Bùi Xuân Phái và họa sĩ Nguyễn Sáng đang đi vẽ xa về, để được cùng nhau thưởng thức phong vị Huế ! Khi mời khách ăn món Huế, tự tay Nguyễn Tuân gọt vả, thái chuối xanh, luộc thịt lợn, gắp tôm chua ra đĩa với một  thái độ rất trân trọng các loại thực phẩm đời thường mà tạo ra được những rung cảm thẩm mỹ và niềm tự hào về văn hóa dân tộc !

          Nhà thơ – nhạc sĩ Văn Cao, “người Việt Nam tài danh của thế kỷ XX”, tác giả Quốc Ca nước Việt, người từng viết bài thơ “Một đêm đàn lạnh trên sông Huế” nổi tiếng từ những năm 1940, năm 1987 ông lại “vi hành” vào Huế và rất mê rượu Chuồn. Lần vào thăm Huế đó, ngày nào ông cũng được nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo và bạn bè mời rượu Chuồn, rượu Hiếu. Ông bảo rượu Chuồn là “vô địch”, trên tài vốt-ka ngoại! Tuần ấy, không may ông bị ốm phải vào nằm bệnh viện Trung ương Huế. Buổi sáng hôm đó nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo và tôi vào viện thăm ông. Thấy chúng tôi vào mắt ông sáng hẳn lên. Ông kéo Nguyễn Trọng Tạo xuống nói gì đó rồi nhấp nháy mắt cười hóm hỉnh. Anh Tạo bảo với tôi:”Cụ thèm rượu Chuồn, ông ngồi đây, mình đi một lúc’’. Lát sau, Nguyễn Trong Tạo trở vô viện với cút rượu, cái chén mắt trâu giấu trong cặp: “Chỉ cho cụ uống tí chút cho đỡ thèm, chứ bác sĩ cấm ngặt!“. Tôi chiêu một chén cho cụ rồi giấu chai rượu xuống góc giường. Nhạc sĩ Văn Cao chưa kịp nhấp hết chén rượu thì bất ngờ bác sĩ viện trưởng dẫn một ông lãnh đạo tỉnh đến thăm. Bị bắt quả tang đang vi phạm điều luật của bệnh viện, nét mặt cụ Văn Cao trở nên bẽn lẽn, lúng túng như trẻ con. Nhạc sĩ thú thật :” Cái giống Chuồn này ngon lắn, trộm nhấp tí kẻo nhớ ..!” Tất cả mọi người đều cười vui trước sự chân tình đến dễ thương của người nhạc sĩ lớn của dân tộc. Sau đó nhạc sĩ -nhà thơ Văn Cao được các nhà thơ Huế Võ Quê, Nguyễn Quang Hà mời về làng Chuồn, đi giăng lưới đánh cá với dân làng trên Phá Tam Giang. Đánh được con cá nào ngon là nướng và uống với gió, với trăng mờ, rồi đọc thơ suốt đêm. Sau đêm rượu đó ,ông viết : Tôi níu lấy mảnh lưới / Lưới là cái cuối cùng / Đang hắt tôi xuống biển…

          Nhà thơ Hoàng Cầm là người trong các cuộc rượu vui thường thích đọc thơ và say nói chuyện với người đẹp hơn là ăn uống. Có nhiều bữa tôi để ý chẳng thấy ông gắp tí gì. Một lần duy nhất tôi thấy ông ăn một cách thích thú là hôm chúng tôi mời ông ăn nem lụi ở quán Đông Phương, Huế. Hôm đó cùng vui có nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Đình Toán và cô tiếp viên hàng không xinh đẹp mà nhà thơ vừa “làm quen” trên chuyến bay từ Hà Nội vào Huế. Như thường lệ Hoàng Cầm ngồi cạnh người đẹp và đọc thơ. Tôi giới thiệu mãi ông mới cầm ăn một lọn nem lụi mà tôi đã cuốn sẵn . Không ngờ, ăn xong que nem này, ông lấy bánh đa nem nhờ gói que khác, miệng luôn tấm tắc “tuyệt vời, tuyệt vời”. Rồi ông tự gói nem, múc nước lèo mời người đẹp, rồi nói một câu rất có cánh:” Mình không ngờ thức ăn cũng có thể làm cho người ta xúc động chẳng khác gì thơ” ! 

 

          Tháng 5 năm 1988, sau 30 năm “ ngồi một chỗ” ở Hà Nội, nhà thơ Trần Dần khập khiểng theo Phùng Quán vào Huế. Một buổi tối vợ chồng tôi mời cơm ông, anh Phùng Quán cùng một số nhà văn ở Huế như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Quang Lập… trong căn phòng tập thể của mình ở lưng chừng dốc Bến Ngự. Anh em thì uống rượu với đồ nhấm “cây nhà lá vườn”. Riêng nhà thơ Trần Dần vì răng yếu nên được “ưu tiên” các loại bánh Huế như bánh nậm, bánh bèo, bánh khoái, bánh ướt.. mua ở quán về . Hai đứa con tôi lâu ngày không có tiền để ăn bánh, khi thấy mấy thứ bánh ngon thì đứa nào cũng sáng mắt lên mừng rỡ. Thế là cả ba bác cháu được “ăn riêng” món bánh. Bữa vui phải đốt đèn dầu vì mất điện. Dù vậy câu chụyện văn chương vẫn rôm rả đến tận nửa đêm. Sáng hôm sau, gặp lại tôi, ông cảm kích ghì chặt tay nói từ chuyện bánh sang chuyện văn rất hồn nhiên: “Ở Huế ăn ngon, hợp khẩu vị. Món ăn Huế không cay nặng như món ăn Ấn Độ. Bánh Huế, bánh của “nhân loại tím” là chúa sơn lâm ! Các nơi khác có nguyên liệu mà không làm được. Cái ngon, cái mới trong thơ cũng có sẵn đâu đó trong cuộc sống như trong bánh Huế. Chỉ có người thích làm, dám làm, biết làm mới làm được..”.

 

CUỘC ĐỜI ĐAU BUỒN VÀ KHÍ PHÁCH CỦA TÁC GIẢ “Màu tím hoa sim”


 
Nhà thơ Hữu Loan sinh ngày 2 tháng 4 năm 1916  mất ngày 18 tháng 3 năm 2010. Ông ra đi thanh nhàng nhẹ nhõm và mãn nguyện như vừa chở xong một chuyến xe đá giữa bà con xóm giềng. Những người như ông không bao giờ coi cái chết là trút xong một món nợ đời, mà chính là bước sang một thế giới khác sinh sinh, hóa hóa vô thường. Thế hệ đời sau nhớ mãi một nhà thơ chiến sĩ, nhớ mãi thi nhân chở đá xây đời.  Ông có một cuốn  tự thuật kể lại cuộc đời mình vô cùng cảm động . Đặc biệt là đoạn viết về hai người vợ của mình trong đó người vợ đầu và bài thơ MÀU TÍM HOA SIM nổi tiếng.

  
Nàng có ba người anh
Đi bộ đội
Những em nàng còn chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh.
Tôi là người chiến binh
Xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo cưới,
Tôi mặc đồ quân nhân
Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân,
Nàng cười xinh xinh
Bên anh chồng độc đáo.
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi!
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng đời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về
Thì thương người vợ chờ
Bé bỏng chiều quê …

Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người gái nhỏ hậu phương
Tôi về không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con
Đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
Thành bình hương
Tàn lạnh vây quanh …

Tóc nàng xanh xanh
Ngắn chưa đầy búi
Em ơi!
Giây phút cuối
Không được nghe nhau nói
Không được trông thấy nhau một lần.

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa một mình
đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa…

Một chiều rừng mưa
Ba người anh
Trên chiến trường Đông Bắc,
Biết tin em gái mất
Trước tin em lấy chồng.

Gió sớm thu về
Rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió thu về
Cỏ vàng chân mộ chí.

Chiều hành quân
Qua những đồi sim ..
Những đồi hoa sim …,
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
Tím cả chiều hoang biền biệt
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa.
Áo tôi sứt chỉ đường tà,
Vợ tôi chết sớm mẹ già chưa khâu

Hữu Loan
 

Đây là những dòng tự thuật của chính nhà thơ Hữu Loan:
“Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học.
Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh Văn Xuấn, Đỗ Thiện và…tôi – Nguyễn Hữu Loan.Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái Thị Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên.
Ở Thanh Hóa, bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới. Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà.Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi – mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: ” Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời.Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non”.
Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chỗ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt …..
Có lần tôi kể chuyện ”bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành… Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ…
Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu” Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi …..


Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì.
Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:- Thầy có thích ăn sim không ?- Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ …
Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.- Thầy ăn đi. Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ: Ngọt quá!Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế!
Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì….tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo!Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến.Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi…Tôi quay đầu nhìn lại… em vẫn đứng yên đó … Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa.Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ …
Chín năm sau, tôi trở lại nhà…Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em, hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi.Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp… Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm ”soạn kịch bản”.
Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: ”yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”.
Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay…lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng.
Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết! Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ.
Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại…..
Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống. Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối!Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn…
Dường như càng kìm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép.Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra: “Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội… Những em nàng có em chưa biết nói. Khi tóc nàng đang xanh…” Tôi về không gặp nàng…
Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh.
Đó là bài thơ Màu tím hoa Sim. Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chỗ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa.Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : “Chiều hành quân, qua những đồi sim…
Những đồi sim, những đồi hoa sim.. Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết.. Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt…Và chiều hoang tím có chiều hoang biết…Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.”
Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi” hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!
Đó là thời năm 1955 – 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cặn.Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng…
Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông…
Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chỗ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc? Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày.Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo.Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi …
Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956, khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!
Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955. Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học , lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa.Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền. Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước.Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chỗ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông .Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách.Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng. Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta.Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói.Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói. Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ.
Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó , bữa đói bữa no…. Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai, 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa!Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì.Năm 1988, tôi ” tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự.
Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu tím hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan.Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác, nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán”.
Nhà thơ Hữu Loan

(Đọc tiếp…)

200 triệu đồng lấy được bằng Tiến sỹ y khoa

 
Nhóm Pv điều tra/ Dân việt

Ông Đàm Khải Hoàn chụp ảnh cùng sinh viên.
Qua giới thiệu của một nguồn tin, PV Dòng Đời đã tìm gặp Phó Giáo sư (PGS) Đàm Khải Hoàn, Trưởng bộ môn Y học Cộng đồng, Đại học Y Thái Nguyên để nhờ vị Phó GS này tìm cách “tậu” cho tấm bằng Tiến sỹ Y khoa danh giá.
Trong vai một người có nhu cầu làm nghiên cứu sinh, phóng viên Dòng đời đã tiếp cận với vị giáo sư này cũng như công nghệ lấy bằng tiến sĩ mà “thầy” đã vẽ ra 
 Trước khi tiếp PV tại nhà riêng, PV đã điện thoại trước cho Phó GS Hoàn, tự giới thiệu có mong muốn được vị Phó GS này hướng dẫn Nghiên cứu sinh. Khi đó, vị Phó GS đang bận một cuộc nhậu. Tuy nhiên, chỉ sau đó khoảng 30 phút, vị Phó GS này rời cuộc vui để gặp PV tại nhà riêng của mình.
 
Đi mua… bằng Tiến sỹ Y khoa 
 
Tọa lạc trên một khu đất rộng, ngôi nhà của vị Phó GS này là một nhà sàn “chất”, mà theo ông khoe, là: “Mấy năm trước, tôi mới mua được của một gia đình dân tộc trên huyện Võ Nhai. Hồi đó, giá của nhà sàn rẻ lắm! Cả làm “luật” cho kiểm lâm và vận chuyển nữa hết có gần 20 triệu!”. 
\
Trước những cảnh quan và vật dụng liên quan chủ yếu tới lâm sản, PV nhanh chóng nghĩ ra một “vai diễn” phù hợp với bối cảnh khi tự nhận mình là một “trùm” buôn gỗ. Sau khi “đi” vài đường cơ bản về gỗ, PV nhanh chóng đặt vấn đề:
 
“Nhà em vốn có truyền thống theo nghề Y nên khi học xong cấp 3, em đã thi vào ĐH Y Hà Nội. Tuy nhiên, sau khi vào học ngành này, em lại không có hứng thú nên học hành rất chểnh mảng, gần như không biết gì. Đi học thì thuê, đi thi thì “chạy”.
 
Khi học xong bằng cử nhân, gia đình lại ép em học luôn thạc sỹ. Lúc này, em đã tham gia vào công việc kinh doanh gỗ nên đi lại triền miên. Vì thế, bằng Cao học của em cũng là đi mua nốt. Bây giờ, việc kinh doanh gỗ của em chủ yếu chuyển trọng điểm về Thái Nguyên, công việc cũng đang phát đạt nên bố mẹ em nhất quyết bắt em phải học nốt cái bằng Tiến sỹ để sau này có cái bằng mà mở phòng khám.
 
Công việc trên Thái Nguyên thì em không thể bỏ được nên em rất mừng khi được anh em giới thiệu qua gặp thầy để thầy hướng dẫn Nghiên cứu sinh. Nhưng thực tình, kiến thức thì em không biết gì…”.
 
- “Thế em đã có bài báo hay công trình khoa học nào chưa?” vị Phó GS Đàm Khải Hoàn ngắt lời, hỏi.
- “Dạ, chưa ạ!”.
- “Thế em đã đi làm chuyên môn ở đâu chưa?”.
- “Dạ, chưa ạ!”, PV lí nhí.
- “Vậy được rồi! Việc lấy bằng Tiến sỹ của cậu, tôi sẽ giúp được. Cậu cứ yên tâm! Tôi nhận lời với cậu”, vị Phó GS chốt lại.
Ông Đặng Kim Vui, Giám đốc Đại học Thái Nguyên: “Việc anh Hoàn trao đổi chuyện làm bằng tiến sỹ kiểu đó là sặc mùi mua bán. Không thể chấp nhận được! Chúng tôi sẽ không bao che cho những hành động tiêu cực này!”.
Kỹ nghệ “lấy” bằng
 
Sau khi câu chuyện đã cởi mở, ông Hoàn nói thêm: “Trước tiên, tôi sẽ viết cho cậu vài bài báo khoa học để đăng trên tạp chí Y học Thực hành. Mấy bài báo này sẽ ký tên cậu. Cậu chỉ việc tới tòa soạn, đưa cho họ mấy đồng rồi nhờ họ đăng bài, tôi sẽ có lời cho cậu. 
 
Việc tiếp theo, cậu phải nhờ các mối quan hệ của gia đình mình để có tên trong một cơ quan hoặc tổ chức phi chính phủ nào đó để khi hội đồng xét duyệt hồ sơ, họ tin rằng cậu đã làm ở cơ quan, tổ chức đó chứ không phải là anh buôn gỗ” – ông Hoàn bắt đầu tiết lộ bí quyết nghề nghiệp của mình.
 
“Việc cậu đi làm, cậu cứ đi. Tôi sẽ làm đề cương đề tài cho cậu (đây là phần quan trọng nhất mà thí sinh phải trình bày trước Hội đồng các Giáo sư, Phó GS để được chấp nhận đậu đầu vào Nghiên cứu sinh – PV). Tôi sẽ trao đổi với cậu qua email” – ông Hoàn nói thêm.
 
Trước sự hướng dẫn nhiệt tình của vị Phó GS, tôi tiếp tục thể hiện “quan điểm: “Nhưng thực tình em không biết gì hết. Lỡ khi vào bảo vệ đề cương đề tài các thầy trong hội đồng hỏi thì em không biết trả lời sao? Thầy có lo cho em được cả hội đồng không ạ?”.
 
Lúc này, vị Phó GS trấn an ngay: “Yên tâm, cái đó lo được! Không biết rửa bát thì phải bế em thôi. Tôi đã hướng dẫn nhiều người rồi! Cần gặp ai thì tôi sẽ bảo cậu đến gặp. Mấy người đó toàn… đàn em của tôi thôi mà!” (Ý nói mấy vị trong hội đồng xét tuyển Nghiên cứu sinh – PV).
 
Trước sự chắc chắn của vị Phó GS này, tôi chốt lại: “Vâng, trăm sự em nhờ thầy! Vậy thầy cho em biết là em sẽ phải chuẩn bị bao nhiêu tiền để lo việc này hả thầy?”.
 
“Thôi, cậu cứ về đi. Mới gặp lần đầu, tôi chưa muốn nói chuyện này. Để hôm khác. Cậu cứ yên tâm là tôi giúp được cậu. À mà cậu tên là gì nhỉ?”, lúc này, vị Phó GS Đặng Khải Hoàn mới kịp nhớ ra là mình chưa hỏi tên “khách hàng”.
 
Tuy nhiên, trong câu chuyện về ngôi nhà sàn của mình, ông Hoàn có “gợi ý” rằng ngôi nhà sàn của ông vẫn còn những gỗ tạp và kêu than chuyện lúc này, lực lượng kiểm lâm làm gắt quá. Dù có nhiều mối quan hệ với cả lực lượng kiểm lâm và lâm tặc, ông Hoàn vẫn không thể vận chuyển được số gỗ nghiến về để hoàn thiện nốt ngôi nhà sàn của mình. Trước ý tứ trên, PV buộc phải gợi ý là mình có thể làm được việc này.
 
Sau đó, PV có nhận được email từ vị Phó GS này với đoạn có nội dung sau: “Thầy định thay toàn bộ sàn bằng nghiến. Có lẽ vẫn phải dầy 5cm, vì nó mới im, mỏng sẽ rung. Diện tích toàn bộ sàn là 100m2. Các tấm gỗ dài ngắn tùy theo đều được cả vì phải ghép mà. Em lo hộ thầy”.
 
Trước tình hình trên, tôi buộc phải đồng ý sẽ lo giúp thầy Hoàn 100m2 gỗ nghiến loại dày 5cm. Tại lần gặp thứ hai, PV đã một lần nữa hỏi về số tiền phải đưa cho Phó GS Đàm Khải Hoàn để lo chuyện đầu vào. Lần này, ông Hoàn đã đồng ý với mức giá 200 triệu đồng và cho tôi số tài khoản ngân hàng để chuyển tiền vào.
 
Những nội dung của cuộc ngã giá chỉ được PV tiến hành sau khi gặp gỡ với nhiều người đã, đang được vị Phó GS này hướng dẫn Nghiên cứu sinh. Các nhân vật này đều khẳng định: Nếu muốn mua bằng Tiến sỹ Y khoa bằng tiền tại Đại học Y Thái Nguyên, PV nên tìm đến Phó GS Đàm Khải Hoàn là đúng địa chỉ nhất.
 
Sặc mùi mua bán
 
Khi những tư liệu trên đầy đủ, PV quyết định ra mặt để đối chất với vị Phó GS. Ngay sau khi PV công bố các tư liệu đã thu thập, Phó GS Đàm Khải Hoàn im lặng một hồi rồi bỏ về. Sau đó, ông Hoàn có gửi lại một email cho chúng tôi.
 
Email này có đoạn: “Anh giới thiệu là người buôn gỗ nhưng đã học Cao học Y tế công cộng. Tuy nhiên mải làm ăn cho nên học không đến nơi đến chốn. Nhưng với điều kiện đó tôi nghĩ sẽ dạy cho anh được. Anh nói anh làm ra rất nhiều tiền, sẵn sàng cho tôi cái này, cái nọ. Nhưng đấy là anh đặt vấn đề và xuất phát từ anh chứ tôi có đòi hỏi gì đâu? Tôi nghĩ xã hội này có nhiều người có nhiều tiền thì khi học, họ có thể biếu tôi món quà to…”.
 
PV cũng đã liên hệ với lãnh đạo Đại học Y Dược Thái Nguyên để làm việc. Trước những thông tin nghiêm trọng mà phóng viên đưa ra, Ban Giám hiệu Đại học Y dược Thái Nguyên đã triệu tập một cuộc họp với đầy đủ lãnh đạo nhà trường, phóng viên và Phó GS Đàm Khải Hoàn với mục đích để các bên xem các tư liệu, đối chất và đưa ra các quan điểm về vụ việc.
 
Tại đây, ông Hoàn nhận mình có khả năng giúp các nghiên cứu sinh có bằng Tiến sỹ Y khoa mà không cần phải học, ông Hoàn vẫn giữ quan điểm rằng viêc ông nói như vậy đơn thuần nghĩ rằng việc hướng dẫn một nghiên cứu sinh có điều kiện về kinh tế thì việc nhận được những món quà có giá trị vật chất lớn là điều bình thường.
 
Trong khi đó, đại diện cho lãnh đạo nhà trường, ông Nguyễn Văn Sơn cho rằng việc ông Hoàn nói như vậy bước đầu có thể kết luận là không đúng với đạo đức của người thầy giáo.
 
Tuy nhiên, bình luận về những tư liệu mà phóng viên đưa ra, ngày 4.8.2014, ông Đặng Kim Vui, Giám đốc Đại học Thái Nguyên (Đại học Y Dược Thái Nguyên là 1 trường đại học thành viên của Đại học Thái Nguyên) nhìn nhận thẳng thắn: “Việc anh Hoàn trao đổi chuyện làm bằng tiến sỹ kiểu đó là sặc mùi mua bán. Không thể chấp nhận được! Chúng tôi sẽ không bao che cho những hành động tiêu cực này!”.
 

(Đọc tiếp…)

Học giả Trung Quốc bác bỏ quan điểm sai trái về Biển Đông

Mới đây, học giả Lê Oa Đằng, chủ trang Blog có tới hơn 4.039.130 người đọc trên diễn đàn mạng Sina.com lớn hàng đầu Trung Quốc, đăng bài “Nam Hải từ xưa đến nay là của Trung Quốc ư?”, thẳng thừng bác bỏ những luận điểm sai trái của chính quyền Trung Quốc về vấn đề Biển Đông.

Đầu tháng 8 vừa qua, Trung Quốc lại cho phát hành cuốn sách “Bàn về lịch sử, địa vị và tác dụng của Đường 9 đoạn” do một số học giả, quan chức viết. Cao Chí Quốc, Viện trưởng nghiên cứu chiến lược phát triển Cục Hải dương Trung Quốc – chủ bút cuốn sách này rêu rao sản phẩm của ông ta và 2 đồng nghiệp “cung cấp chỗ dựa pháp lý quan trọng để Trung Quốc bảo vệ quyền lợi biển ở Nam Hải (tức biển Đông)” (!?).

Tuy nhiên, chỉ cần đọc qua những lời giới thiệu, người ta thấy ngay nó chả có gì mới mẻ hơn những điều mà viên tướng Vương Quán Trung, Phó Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc đã đưa ra tại Diễn đàn Shangri La hồi tháng 6/2014 và đã bị dư luận quốc tế kịch liệt phê phán và bác bỏ…

 

 Những luận điệu xằng bậy của Vương Quán Trung: “Trung Quốc có chủ quyền, quyền chủ quyền, chủ trương quyền quản hạt ở Nam Hải được hình thành trong quá trình phát triển lâu dài; từ triều Hán hơn 2000 năm trước đã bắt đầu phát hiện và từng bước hoàn thiện việc quản lý đối với Nam Hải, đặc biệt là các đảo bãi Nam Sa (Trường Sa) và vùng biển liên quan”, đã bị chính các học giả Trung Quốc hiểu biết và tôn trọng lẽ phải nghiêm khắc lên án, bác bỏ.  

Người Chiêm Thành phát hiện ra Hoàng Sa đầu tiên

Học giả Lê Oa Đằng phân tích, Vương Quán Trung đã khôn khéo trộn lẫn hai khái niệm “phát hiện” và “quản lý” để cố tình dẫn dắt khiến người ta lầm tưởng Trung Quốc “từ xưa đến nay đã có chủ quyền” đối với Trường Sa. Ông cho rằng “phát hiện” và “quản lý” là hai khái niệm khác hẳn nhau về mặt ý nghĩa pháp luật; “phát hiện” không mang lại chủ quyền, chỉ có “quản lý” mới có; càng không thể gắn 3 vấn đề “Nam Hải” (Biển Đông), “Nam Sa” (Trường Sa) và “vùng biển liên quan” làm một.

Học giả Lê Oa Đằng viết: Trung Quốc có thực sự có chủ quyền “không thể tranh cãi” đối với Nam Hải hay không? Hãy để sự thật lên tiếng. Trung Quốc thực tế đã “phát hiện” Nam Hải từ triều Hán; nhưng Nam Hải không phải do người Trung Quốc phát hiện sớm nhất, mãi đến đời Tần Trung Quốc mới đến Nam Hải; còn trước đó từ rất lâu, tộc người Bách Việt sinh sống ở vùng Quảng Đông và bán đảo Đông Dương đã sinh sống ven Nam Hải.

Nếu nói ai “phát hiện” ra Nam Hải thì người Việt Nam có tư cách hơn chúng ta, vì họ là hậu duệ trực hệ của người Bách Việt, và cũng là quốc gia duy nhất được xây dựng bởi chủ thể là các hậu duệ của tộc người Bách Việt.

Học giả Lê Oa Đằng khẳng định: Các sách, sử liệu của Trung Quốc từ đời Tống trở về trước đều “rất khó xác định người Trung Quốc đã biết đến Tây Sa (Hoàng Sa) hay chưa, chứ đừng nói tới Nam Sa (Trường Sa).Ví dụ sách “Dị vật chí” đời Đông Hán mà Trung Quốc hay nhắc tới niên đại có ý kiến cho rằng thực ra nó được viết vào đời nhà Ngô sau này, viết: “Trướng Hải Kỳ Đầu, nước nông có nhiều đá có từ tính, từ thạch”.

Chính phủ Trung Quốc cho rằng: Trướng Hải chính là Nam Hải, Kỳ Đầu chính là các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Phán đoán đó đã phạm sai lầm tối thiểu về mặt lô-gic “lấy cá thể thay cho tổng thể”. Mấy chữ đó không thể chứng minh được những địa danh đó ở nơi nào, cũng chẳng có bài viết nào của Trung Quốc chỉ ra rằng chúng ở đâu.

Sự thật là, những ghi chép đầu tiên giúp xác định Tây Sa (Hoàng Sa) lại do người Chiêm Thành cung cấp. Theo ghi chép trong sách “Tống hội yếu”, năm 1018, sứ giả Champa đi sứ Trung Quốc có nói (dịch nghĩa): “Chúng tôi đến Quảng Châu, thuyền bị gió thổi trôi đến Thạch Đường, đi mãi mới đến được đây. Thạch Đường trên biển cách Nhai Châu 700 dặm, chìm dưới nước 8-9 thước”.

Qua miêu tả cho thấy, Thạch Đường chính là quần đảo Hoàng Sa. Do đoạn văn tự này do người Trung Quốc ghi lại, nên các chuyên gia Trung Quốc liền cho rằng đó là một chứng cứ lịch sử cho thấy Hoàng Sa là của Trung Quốc, nhưng họ cố tình không chịu hiểu là: phía Trung Quốc chỉ là người ghi chép lại, còn người Chiêm Thành mới là bên cung cấp thông tin, sự việc được ghi lại chính là: người Chiêm Thành đã đến quần đảo Hoàng Sa.

Chính vì vậy, nếu lấy ghi chép trong sử liệu làm chuẩn, người Chiêm Thành phát hiện ra Hoàng Sa sớm nhất, Vương quốc Champa là một bộ phận của Việt Nam ngày nay. Xét về quan hệ kế thừa chủ quyền, chính người Việt Nam chứ không phải Trung Quốc đã phát hiện ra quần đảo Hoàng Sa đầu tiên.

Trung Quốc biết tới Trường Sa còn muộn hơn

Lê Oa Đằng khẳng định, theo sử sách của chính Trung Quốc, họ biết đến Trường Sa còn muộn hơn nhiều. Ông dẫn lại những ghi chép trong Quyển 197, sách “Tống hội yếu”, có chép lại sự kiện ngày 20 tháng 7 năm Gia Định thứ 9 (1209), có sứ giả nước Chanlifu (Chanthaburi ở Đông Nam Thái Lan ngày nay) đến thăm.

Ông ta kể lại với các quan chức nhà Tống việc từ nước mình sang tới đây phải qua Chiêm Thành, sắp đến Giao Chỉ thì bị gió lớn thổi dạt đến “Vạn Lý Thạch Đường” nước chỗ nông chỗ sâu, nhiều đảo bãi, thuyền lật chết đuối mười mấy người; may có gió Đông Nam vượt qua được Giao Chỉ, đi 4-5 ngày nữa mới đến được Khâm Châu, Liêm Châu. Đoạn văn này chỉ ghi lại sự việc, chẳng nói ai phát hiện ra “Vạn Lý Thạch Đường” theo phỏng đoán là quần đảo Trường Sa.

Lê Oa Đằng cho rằng, Trung Quốc luôn nhấn mạnh bắt đầu từ đời nhà Tống đã quy Hoàng Sa và Trường Sa vào Vạn Châu. Chứng cứ là các địa phương chí có ghi “Vạn Châu có biển Trường Sa và biển Thạch Đường”, nhưng chỉ cần đọc hoàn chỉnh cả câu thì thấy ngay cách nói đó không đáng tin cậy.

“Thực ra, hoạt động của các quốc gia khác ven Nam Hải có lịch sử rất lâu đời. Người Chiêm Thành, nay thuộc Việt Nam biết đến Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) rất sớm, thậm chí có thể là những người phát hiện ra chúng. Việt Nam có chứng cứ đã quản trị Tây Sa (Hoàng Sa) từ đầu thế kỷ 18, thậm chí đã được quốc tế thừa nhận. Trái lại, Trung Quốc chả có chứng cứ gì về mặt này”.

  Học giả Lê Oa Đằng khẳng định

 Theo Thu Thủy

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.08.2014

NGUYỄN ÁNH VÀ NGUYỄN DU

Gia Long - Nguyễn Ánh

(Trích KỊCH NGUYỄN ÁNH)

PHẠM DŨNG

Vở kịch này đã được giải của Hội sân khấu VN. Một thành viên BGK nhận xét: “nói lên được một số vấn đề của thời đại một cách sâu sắc!”. Đây là đoạn đối thoại giữa Nguyễn Ánh và Nguyễn Du.

Nội dung:

Nguyễn Ánh phẩy tay. Lê Văn Duyệt vào rồi ra cùng Nguyễn Du. Nguyễn Du chào theo nghi lễ. Nguyễn Ánh tiếp chân tình.

NGUYỄN ÁNH: Ồ! Mời ngồi… người đâu, mời rượu.

NGUYỄN DU: Bẩm Hoàng thượng… hôm nay long thể của người…

NGUYỄN ÁNH: Trẫm không uống không có nghĩa là khách của trẫm không uống.

Người hầu bưng rượu ra. Nguyễn Ánh rót ra cho Nguyễn Du.

NGUYỄN ÁNH: Mời!

NGUYỄN DU: Dạ, thần… xin đạ tạ… nhưng…

NGUYỄN ÁNH: (cười) Trẫm có nghe nói người ta bảo uống rượu dở nhất là uống với vua. Uống ngon là uống với cố tri… nhưng đặc biệt, một hôm nào đó về làng, trai thanh gái tú, dưới ánh trăng mờ ảo… vừa uống vừa… ca hát và tý toáy được với một cô gái làng…

NGUYỄN DU: Thưa bệ hạ, đó là chuyện tầm phào của bọn người đường chợ, bệ hạ nghe làm chi cho rác tai rồng.

NGUYỄN ÁNH: Nào, tả tướng khanh cạn chén với quan Đông các đại học sĩ cho có bạn.

LÊ VĂN DUYỆT: Dạ, bệ hạ cho thần không phải phạm quân lệnh ạ.

NGUYỄN DU: Dạ, bệ hạ đã nói thế thần xin không dám khước từ. (Nguyễn Du uống cạn) Dạ… rượu ngon lắm ạ.

NGUYỄN ÁNH: Ha! Ha! Ha! Cứ bảo nhà thơ là ngông… nhưng sao trẫm thấy khanh rất… khoan hòa…

NGUYỄN DU: Dạ…

NGUYỄN ÁNH: Trẫm đùa thôi. Những kẻ ngông bên ngoài cũng chỉ là phường bù nhìn canh ruộng. Trẫm biết ông ngông. Ông ngông ở trong tác phẩm kìa. Không ngông làm sao dám ngợi ca một kỹ nữ Thúy Kiều, một loạn thần Từ Hải. Không ngông làm sao mà trong tác phẩm của mình chỉ có một mệnh quan duy nhất, một tổng đốc đại thần lại tráo trở, vô sỉ như Hồ Tôn Hiến?

NGUYỄN DU: Dạ… thưa bệ hạ… hôm nay bệ hạ triệu thần đến đây chắc không phải chỉ để bàn về mấy cái chuyện cỏn con đó?

NGUYỄN ÁNH: Mấy chuyện đó sao có thể là chuyện cỏn con… Nó là văn hóa, là nguồn cội của một dân tộc. Còn nhớ nhà Nguyên xâm lược Trung Quốc, rồi sau đó vì nền văn hóa Trung Quốc lớn hơn, sâu sắc hơn mà nhà Nguyên bị nhà Minh đồng hóa. Người dân sống theo cách sống của nhà Minh đã đành mà quan lại cũng sống theo cách sống của nhà Minh. Và rốt cuộc hóa ra lại là nhà Nguyên bị nhà Minh xâm lược.

NGUYỄN DU: Dạ…

NGUYỄN ÁNH: Dạ, sao quan Đông các đại học sĩ có gì muốn nói?

NGUYỄN DU: Dạ… thần nghĩ đó là những ý nghĩ sâu sắc và thấu đáo hiếm có của một bậc quân vương.

NGUYỄN ÁNH: Chà! Trẫm ngồi trên ngai vàng mà suốt ngày nghe nào là sâu sắc, nào là thấu đáo, thậm chí minh ý nữa…  Cứ thế thì dẫu vua Nghiêu vua Thuấn cũng khó mà không ngộ nhận về bản thân.

NGUYỄN DU: Nhà vua đã chấp nhận mình… làm vua thì phải chấp nhận những thứ theo cùng với nó. Ví như một người nghèo thì khó mà không bị khinh rẻ. Một người thành đạt khó mà không được nể vì. Người bại trận khó mà không bị người đời gọi là ngụy tặc.

NGUYỄN ÁNH: Đúng thế! Và đó là điều trẫm lo lắng.

NGUYỄN DU: Dạ… Hoàng thượng đã biết lo lắng tất Hoàng thượng đã có chủ ý không để những điều tầm thường, sai trái làm mình lầm lạc.

NGUYỄN ÁNH: Nhưng còn con, còn cháu trẫm… (Nguyễn Du im lặng) Thôi được rồi, Nguyễn Du… Nhiều lúc ta… ta cô đơn lắm khanh biết không?

NGUYỄN DU: Dạ… thần trộm nghĩ không chỉ riêng bệ hạ…

NGUYỄN ÁNH: Cả khanh cũng thế ư? (im lặng) Có lẽ bất kể ai tự mở con đường riêng của mình… cũng đều sẽ có cảm giác này. Họ không có người chia sẻ… (im lặng hồi lâu) Khanh?

NGUYỄN DU: Dạ, có thần…

NGUYỄN ÁNH: Bây giờ trẫm phải làm gì?

NGUYỄN DU: Dạ…

NGUYỄN ÁNH: Trẫm phải làm gì?

NGUYỄN DU: Dạ, thần không hiểu… ý của bệ hạ?

NGUYỄN ÁNH: Trẫm… Ta… ta muốn nói về những sai lầm của ta trong quá khứ. Ta đã cầu viện ngoại bang, ta đã đào mồ Nguyễn Huệ. Ta đã giết hại công thần… ta phải làm sao để xóa đi những vết ố trong quá khứ của mình… Ta đã bắt giam quan ngự sử khi hắn không chịu viết theo ý ta… Ta có thể sai các văn thần tô vẽ lên lịch sử đời mình với những trang chói lọi… Nhưng như thế đâu phải là ta…

NGUYỄN DU: Bệ hạ… bệ hạ còn day dứt vì điều đó… còn hiểu bệ hạ  cũng chỉ là một quân cờ của đấng cao xanh thì chính là bệ hạ đã lĩnh được ý thiêng của thánh thần rồi ạ.

NGUYỄN ÁNH: Khanh nói nữa đi… những lời từ gan ruột…

NGUYỄN DU: Bệ hạ… bệ hạ không thể sửa chữa những sai lầm nhưng nếu bệ hạ… trong phần đời còn lại… biết sống cho bá tánh… và hậu duệ của bệ hạ cũng biết sống như vậy, thì nhân dân sẽ tri ân với bệ hạ hơn là hờn trách những sai lầm của bệ hạ.

NGUYỄN ÁNH: Không! Khanh an ủi ta…  Mà thôi ta và khanh là đạo quân thần… Ta phải chấp nhận thôi… Chấp nhận đã ngồi trên ngai vàng thì không thể nào có một người tri kỷ… Khanh về đi.

NGUYỄN DU: Dạ… hạ thần xin cáo lui ạ…

Nguyễn Du vào. Nguyễn Ánh ho rũ rượi. Thái tử Đảm vào.

THÁI TỬ ĐẢM: Cha! Cha ho nhiều quá. Thái y đâu?

THÁI Y: Dạ! Thuốc của bệ hạ đây ạ.

Thái y mang thuốc vào. Thái tử cho Nguyễn Ánh uống. Nguyễn Ánh uống xong.

NGUYỄN ÁNH: Con…

THÁI TỬ ĐẢM: Gì, thưa cha!

NGUYỄN ÁNH: Tuy con có những điểm không bằng các anh con nhưng con lại được gần cha nhiều hơn. Con thông minh, có ý chí và lòng bao dung, đó là ba phẩm chất để tạo ra một vị vua sáng. Con cần biết điều này. Khi con đã chấp nhận làm vua là con phải chấp nhận sống không theo nhưng thế tục thông thường… Thí dụ cha cố tình bức hại Nguyễn Văn Thành…

THÁI TỬ ĐẢM: Cố tình?

NGUYỄN ÁNH: Phải… Chính là vì cha sợ cho con sau này. Ông ta chẳng những là một vị tướng lỗi lạc mà còn là một người có uy tín trong triều. Con sẽ không đấu lại ông ta khi cha mất. Cái họa thái sư Bùi Đắc Tuyên đối với vua Quang Toản con trai Nguyễn Huệ là nhỡn tiền. Lê văn Duyệt cũng là một kẻ gian hùm, cha có thể ra tay trừ khử nhưng… Sau khi cha chết con hãy dùng ông ta làm vật tế để bọn quan thần kinh sợ.

THÁI TỬ ĐẢM: Ôi cha?

NGUYỄN ÁNH: Với bọn nước ngoài con nên gắng học hỏi nhưng đừng để cho họ gần mình. Khi để họ gần con sẽ lu mờ và uy danh thiên tử sẽ dần dần sẽ mất thiêng đi. Còn với những nước gần ta thì với nước lớn ta phải khôn khéo đừng bao giờ để chúng mất thể diện. Với nước nhỏ thì phải luôn khiến chúng cảm thấy cái uy của mình mà thực tâm nể phục.

THÁI TỬ ĐẢM: Con thấy cha rất tôn trọng Nguyễn Du?

NGUYỄN ÁNH: Cũng là bề ngoài thôi. Có lần ta bảo ông ta so sánh ta với Nguyễn Huệ. Ông ta nói Nguyễn Huệ là một nông dân không có thiên mệnh làm thiên tử, nên dù đánh thắng 20 vạn quân Thanh vẫn không được làm vua. Ta hơn ông ấy vì, cuối cùng ta đã đã thắng ông ta. Nhưng, con phải biết là một quan đương triều mà xây dựng nên một hình tượng quan lại phản trắc, vô sỉ như Hồ Tôn Hiến… thì chắc chắn vị quan đó có rất nhiều uẩn ức và không hết lòng với triều đình mà ông ta đương phải nương nhờ.

THÁI TỬ ĐẢM: Thế thì con phải làm sao?

NGUYỄN ÁNH: Không riêng gì Nguyễn Du, những quan lại từng theo Lê – Trịnh giờ làm quan cho ta đều có chung nỗi niềm: một thân phải thờ hai chủ. Bọn danh sĩ Bắc Hà còn tức tối vì chuyện triều đình thường o bế, tâng tiu những quan lại phía đàng trong do đám quan lại này có công phò tá ta những năm gian khổ. Danh sĩ Bắc Hà thường là những kẻ có tài… rất hữu dụng cho ta khi xây dựng vương triều. Con phải biết tùy người, tùy việc mà ứng phó.

THÁI TỬ ĐẢM: Dạ, con xin nghe lời cha…

NGUYỄN ÁNH: Còn nữa, cái bọn văn nhân hèn kém ấy, chúng luôn xúc xiểm bá tánh làm loạn. Bá tánh như trâu bò ngựa dê, mình khéo chăn dắt thì sẽ vào khuôn khổ. Không có cái lũ văn nhân rót vào tai chúng những điều sằng bậy thì lũ trâu bò kia có bao giờ biết ngẩng lên mà nói tiếng người.

THÁI TỬ ĐẢM: Dạ…

NGUYỄN ÁNH: Với bọn văn nhân con cư sử với chúng nhất định phải khôn khéo. Luôn an ủi vỗ về chúng, và cho chúng thỏa mãn cái ngông kẻ sĩ. Lôi kéo được thì tốt bằng không được thì cũng đừng bao giờ làm chúng nổi điên.

THÁI TỬ ĐẢM: Dạ… con xin khắc cốt ghi tâm.

NGUYỄN ÁNH: Tuy nhiên đôi khi trong những tác phẩm của chúng cũng có những điều ta cần phải học. Nguyễn Du từng khuyên cha muốn giữ vững ngai vàng phải chăm lo đến bá tánh. Con hãy nhớ những ông vua khai quốc bao giờ cũng chú ý đến bá tánh, những đời vua sau thường chỉ lo hưởng lạc. Đó là họa mất nước. Ông ta cũng nói rằng những sai lầm của cha sẽ được người đời quên đi nếu đời con biết chăm lo đến bá tánh… sửa những sai lầm cha đã mắc. (ho rũ rượi)

THÁI TỬ ĐẢM: Con sẽ khắc cốt ghi tâm điều này. Cha mệt rồi… cha đi nghỉ đi.

NGUYỄN ÁNH: Còn điều này nữa, sau khi cha chết… con hãy thả Nguyễn Trung Nghĩa ra và cho phục lại chức cũ…

THÁI TỬ ĐẢM: Nhưng hắn…

NGUYỄN ÁNH: (khoát tay) Lịch sử… Cuối cùng thì cha cũng nhận ra không một ông vua nào có thể viết lại lịch sử theo ý của mình… con hãy nhớ điều đó để luôn tự sửa mình.

THÁI TỬ ĐẢM: Dạ…

( tác giả gửi cho QTXM)

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 16.08.2014

BA THẾ KỶ HÀ TIÊN ĐẤT VIỆT

NM trước tượng Mạc Cửu

                       BA THẾ KỶ HÀ TIÊN ĐẤT VIỆT

               Ghi chép của Ngô Minh

 (QTXM)- Bạn đọc thân mến. Mấy ngày nay, những phần tử quá khích chống Việt Nam ở Cawmpuchia đã biểu tình, đốt cờ Việt Nam.Đây là sự kích động của bọn Tàu Khựa. Những năm tôi ở miền Đông Nam Bộ, nhiều lần quân khơ me đỏ cũng tấn công các căn cứ sư đoàn bộ  của ta đang đóng trên đất Cawmphuchia. Chúng cho rằng, Việt Nam xhieems đất của chúng, nay đòi lại. THời kỳ Polpot, bọn Tàu đã xúi quân Khơ Me Đỏ tấn công dọc tuyến biên giới Việt Nam, tàn sát dân ta rất thảm khốc. Thực sự thì vùng Chân Lạp (Đồng bằng sông Cửu Long) vua Xiêm giao cho Mạc Cửu, một người Hoa cai quản. Tháng 8-1708 ( Mậu Tý) tính chuyện muốn tồn tại  lâu dài thì không thể không  đi với Đại Việt, thế là Mạc Cửu cử  cận thần mang ngọc lụa đến thành Phú Xuân  dâng biểu xưng thần, xin được làm Hà Tiên trưởng . Chúa Nguyễn Phúc Chu, với sự mẫn cảm chính trị, tầm nhìn xa trông rộng đã rất  vui mừng đón nhận vùng đất mới , như là tiểu quốc tự trị mới của Đại Việt , liền chấp nhận và đặt là Trấn Hà Tiên của Đại Việt và phong Mạc Cửu tước Cửu Ngọc Hầu, chức Tổng binh.

  (Đọc tiếp…)

VỤ THẢM SÁT ‘THẾ GIỚI CHƯA TỪNG BIẾT ĐẾN’

 
Bài viết của ông James Zumwalt, Trung tá Thủy quân Lục chiến Mỹ, nói về đoạn video Trung Quốc đã ra tay tàn sát những người lính Hải quân Việt Nam ngày 14-03-1988 ở đảo Gạc Ma.
Tác giả: James Zumwalt
Người dịch: Nguyễn Văn Phước
14-08-2014
Đây là một trong những tội ác trắng trợn nhất thời hiện đại.
Chẳng có gì ngạc nhiên khi thủ phạm đã không nói gì về nó, nhưng đáng ngạc nhiên là cả nạn nhân cũng im lặng. Người ta đã chọn cách làm như vậy, có lẽ là để sau này thiếu bằng chứng cho thế giới thấy, nó đã xảy ra.
Tháng 6 năm 2012, một đoạn video về vụ thảm sát đã được công bố. Thông thường, quốc gia phạm phải hành động tàn bạo như vậy sẽ giữ im lặng về nó. Tuy nhiên, video này đã được chính thủ phạm công bố, điều này làm dấy lên câu hỏi: “Tại sao?”

Vụ việc xảy ra vào tháng 3 năm 1988, giữa hai nước Trung Quốc và Việt Nam. Nó xảy ra ở vùng biển Nam Trung Hoa (Việt Nam gọi là Biển Đông – ND), nơi có tranh chấp giữa hai quốc gia về chủ quyền quần đảo Trường Sa, tranh chấp sau đó tiếp tục và hiện vẫn còn tồn tại.
Như kết quả sự im lặng của Việt Nam thời điểm đó, người dân Việt Nam không có cách nào để biết về vụ việc đã xảy ra cho đến khi Trung Quốc công bố đoạn video – sự giận dữ đã nổi lên vì vụ thảm sát và vì sự im lặng của chính phủ.
Quần đảo Trường Sa là một quần đảo gồm khoảng 750 đảo, đảo nhỏ, rạn san hô và đảo san hô.
Vụ việc liên quan đến ba rạn/đảo san hô rất gần nhau. Mỗi đảo san hô thấp đến mức nước biển đôi khi nhấn chìm một phần củachúng.
Dự đoán là phía Trung Quốc sẽ cố gắng chiếm các rạn san hô, hai tàu vận tải của Việt Nam, HQ-604 và HQ-605, chở 73 binh sĩ, đã được lệnh cho công binh đổ bộ để khởi công xây công sự.
Các quân nhân Việt Nam đã đổ bộ lên rạn san hô Gạc Ma, bản đồ phương Tây gọi là Johnson South Reef, vào tối ngày 13 tháng 3 năm 1988.
Hai tàu vận tải của Việt Nam được mô tả chỉ là có thể chống lại những đe dọa quân sự nhỏ. Chúng là những tàu thương mại được vũ trang để vận chuyển binh lính và vật liệu xây dựng, và như vậy, chúng là những tàu quân sự được trang bị rất nhẹ. Những tàu này phải tiếp cận mục tiêu trong phạm vi 500 m thì những khẩu súng của nó mới có hiệu lực.
Vụ việc đã diễn ra ở Gạc Ma.
Với lực lượng Việt Nam đã để lại đó, hai tàu vận tải đi về phía hai đảo san hô khác.
Sáng 14 tháng 3 năm 1988, tàu chiến Trung Quốc tiếp cận các rạn san hô. Họ không chỉ có lực lượng đổ bộ trên các tàu vận tải, họ còn có tàu khu trục đi kèm với hỏa lực mạnh để hỗ trợ lực lượng đổ bộ.
Rõ ràng, nếu cuộc đối đầu giữa các lực lượng hải quân Trung Quốc và Việt Nam xảy ra, lợi thế sẽ thuộc về phía Trung Quốc vì tầm bắn lớn hơn nhiều của các khẩu pháo.
Cờ Việt Nam đã được dựng lên trên đảo san hô Gạc Ma, và cùng lúc đó, trên một đảo san hô khác, Cô Lin.
Tại Gạc Ma, những người lính công binh, đội quân được trang bị nhẹ – có thể so sánh với một Seabee – một đơn vị thuộc Tiểu đoàn Xây dựng của Hải quân Hoa Kỳ – nằm dưới sự chỉ huy của phó chỉ huy trưởng, trung úy Trần Văn Phương. Mặc cho sự hiện diện của đội tàu Trung Quốc rình rập gần đó, những ngườilính Việt Nam vẫn tập trung vào các công trình xây dựng của mình.
Khoảng 6 giờ sáng, một số xuồng tấn công chở thủy quân lục chiến có vũ khí, đã xuất phát từ vận tải Trung Quốc và hướng đến Gạc Ma.
Phía Việt Nam ngay lập tức hình thành một vành đai phòng thủ 360 độ với cờ của họ ở trung tâm – họ tạo nên hình thể một”vòng tròn bất tử” – biểu thị quyết tâm bảo vệ rạn san hô bằng mọi giá.
Với số ít binh lính trên đảo san hô, những người lính công binhViệt Nam đã được lệnh cản trở để giữ vững đường vành đai. Các tàu tấn công đã đổ bộ, và trong trận chiến chủ yếu là cận chiến do phạm vi hạn hẹp, người Trung Quốc đã thất bại khi cố gắng xâm nhập vào vành đai.
Khi Trung úy Phương chụp lấy lá cờ Việt Nam, giành giật nó với kẻ thù, ông đã bị bắn vào đầu. Ngay lập tức lá cờ được giương lên bởi Nguyễn Văn Lanh – người ghì giữ nó cho đến khi ông liên tiếp bị đâm và bắn. Thật kỳ diệu, Lanh sống sót, và khi phía Trung Quốc rút lui, Lanh đã chứng kiến ông và những người sống sót khác phải chịu một cuộc oanh tạc dữ dội và hủy diệt bằng súng máy từ tàu Trung Quốc.
Cùng lúc đó, một cuộc oanh tạc khác nhắm vào tàu vận tải HQ-604 của Việt Nam – con tàu như dự kiến, đã cho thấy nó không có khả năng tấn công đáp trả tàu Trung Quốc nằm ngoài tầm bắn của mình. Bị nước xâm nhập, HQ-604 được khôn khéo làm mắc cạn trên Gạc Ma nhưng phát bắn trực tiếp vào phòng động cơ khiến nó nhanh chóng chìm xuống khi nhiều người vẫn còn trên tàu.
Tiếp đến phía Trung Quốc tấn công HQ-605. Nó nhanh chóng bốc cháy, buộc chỉ huy của nó phải ra lệnh bỏ tàu.
Điều đáng lo ngại nhất về video này là những gì đã xảy ra sau đó. Tại thời điểm đó, những người lính Việt Nam còn sống sót trên các rạn san hô hoàn toàn không phải là mối đe dọa cho quân Trung Quốc. Tuy nhiên, đoạn video cho thấy súng của hải quân Trung Quốc đang tập trung vào Gạc Ma nơi những người sống sót phía Việt Nam không có một chỗ trú ẩn. Những tiếng súng liên thanh cào rạn san hô khi đối phương không có vũ khí tự vệ, nhẫn nhịn đứng chịu trận, chờ đợi cuộc tấn công dữ dội cuối cùng – số phận của họ đã được định đoạt khi từng người một, họ ngã xuống để bảo vệ đất nước. Đối với những kẻ tấn công Trung Quốc, thách thức với họ chỉ là câu cách ngôn “bắt cá trong chậu”.
Video còn để lại một hoài nghi. Người Việt Nam dễ bị tấn công. Người ta chỉ có thể cảm nhận sự bất lực, họ cảm thấy điều đó khi người Trung Quốc bắt đầu nổ súng tàn sát không thương tiếc. Chín người Việt Nam sống sót sau đó bị giam giữ trong ba năm.
Hiện nay, Trung Quốc đang chiếm bãi đá ngầm, trên đó họ đã có căn cứ và đang xây dựng một sân bay. Việt Nam đã mất 64 chiến sĩ dũng cảm ngày hôm đó. Trong số những người sống sót, Lanh bị thương nặng.
Nhưng tại sao Trung Quốc, sau 24 năm im lặng, lại công bố video?
Câu trả lời nằm ở Haiyang Shiyou 981 của Trung Quốc, một giàn khoan nửa nổi nửa chìm được triển khai vào ngày 2 tháng 5 năm 2012 tại Biển Đông gần quần đảo Hoàng Sa, nơi quyền sở hữu vẫn đang là tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam. Động thái này của Trung Quốc gây ra một số cuộc đối đầu trên biển.
Một tháng sau đó, Trung Quốc không hề nao núng đã phát hành video như là lời đe dọa ngấm ngầm rằng những gì đã xảy ra vào năm 1988 có thể xảy ra một lần nữa.
Rõ ràng Trung Quốc dự định sử dụng các mối đe dọa quân sự có thể – không bị thách thức bởi bất kỳ nước láng giềng nào trong khu vực,  hơn là ngoại giao để “đàm phán” giải quyết vấn đề chủ quyền.
Trong khi hành động tàn bạo năm 1988 của Trung Quốc tại Gạc Ma là vụ thảm sát “thế giới chưa từng biết đến”, thì việc Bắc Kinh công bố một cách trắng trợn video ghi lại vụ việc cung cấp cơ hội nữa để chắc chắn rằng lần này nó lại như vậy.
—-
Tác giả: Ông Zumwalt là Trung tá Thủy quân Lục chiến về hưu, đã từng phục vụ trong chiến tranh Việt Nam, cuộc đổ bộ vào kênh đào Panama và cuộc chiến Vùng Vịnh lần thứ nhất. Ông thường viết bài phê bình về những vấn đề chính sách đối ngoại và quốc phòng cho nhiều tờ báo. Ông cũng là tác giả của 3 cuốn sách: “Bare Feet, Iron Will—Stories from the Other Side of Vietnam’s Battlefields,” “Living the Juche Lie: North Korea’s Kim Dynasty” and “Doomsday: Iran—The Clock is Ticking” 

(Đọc tiếp…)

  MỘT CHỦ TRƯƠNG  LƯƠNG BỔNG ĐANG HẠ THẤP UY TÍN CỦA ĐẢNG, CẦN BÃI BỎ.

                                                                            Ngô Minh

 

Trong một cuộc gặp gỡ của các trí thức ở Huế như giáo sư Thân Trong Ninh , ông Vĩnh Mẫn, cựu trưởng Ban tuyên giáo của Đoàn tàu không số, anh Phan Tân Hội, con cụ Phan Anh, nhà văn Nguyễn Khắc Phê, nhà văn Dương Phước Thu…, tôi nghe mọi người bàn tán đến một chủ trương lương bổng trong Đảng CS làm dân tình bức xúc . Đó là việc lương của các cơ quan Đảng từ Trung ương đến địa phương hiện nay cao hơn lương của cơ quan hành chính sự nghiệp gần gấp đôi (đến 65%). Và việc “hưởng lương cao ngoài chế độ lương” ấy đã diễn ra ba năm rồi. Tôi nghe mà bàng hoàng, kinh sợ và vô cùng xấu hổ. Tôi dự tính sẽ đi tìm bằng chứng để nói cho toàn dân biết cái chủ trương “ăn trên ngồi trốc” này của cơ quan Đảng. Tôi chưa kịp tìm thì đọc trên báo Văn Nghệ ( Hội Nhà văn Việt Nam) số 31 (2-8-2014) chuyên mục “tiếng nói nhà văn” ở trang nhất, bài “ Đã thực sự cùng nhau vui cười ?…” của nhà văn Trần Cao Sơn. Xin trích :

 

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 13.08.2014

NGUYỄN HỮU ĐANG: MỘT BI KỊCH LỚN

NGUYỄN HỮU ĐANG: MỘT BI KỊCH LỚN

Nhân kỷ niệm 101 năm ngày sinh Nguyễn Hữu Đang (15/8/1913-15/8/2014):

 Lê Thọ Bình
Đang nắm giữ những chức vụ và đảm nhiệm những công việc rất quan trọng của chính quyền: Thứ trưởng Bộ Tuyên truyền, Thứ trưởng Bộ Thanh niên, được giao nhiệm vụ tổ chức ngày Lễ Độc lập (2-9), ông như con đại bàng đang bay cao. Nhưng rồi cái tư tưởng phóng khoáng, tự do của một chú đại bàng “hoang dã” muốn đưa đồng loại của mình tới khoảng trời bay nhày tự do đã khiến ông rơi từ “trời cao” xuống vực thẳm, để lại cho nhân gian những câu chuyện thật đau lòng bằng một vụ án văn chương mà người ta gọi là “Nhân văn giai phẩm”.
Vâng, ông là Nguyễn Hữu Đang, người được coi là “Lãnh tụ tinh thần” của “Nhân văn Giai phẩm”.

Hành trình bài bút ký

Lần đầu tiên tôi gặp Nguyễn Hữu Đang là mùa hè năm 1993, khi ông vừa lên Hà Nội cư trú sau gần 20 năm bị quản thúc thúc tại Thái Bình, quê ông.
Hôm ấy tôi đang làm việc ở Văn phòng cơ quan thì một cụ già vận chiếc quần bộ đội bạc phếch, áo sơ mi cộc tay trắng đã ố vàng bỏ ngoài quần, đi dép cao su 3 quai,đầu đội chiếc mũ lá tềnh toàng. Tôi đã nghĩ “Lại cụ nông dân đi kiện về đất đai” và chào ông. Ông cởi chiếc mũ lá. Đầu trọc lốc. Ông không chào, cũng chẳng đáp lời tôi, hỏi cộc lốc: “Các ông có biết tôi là ai không?”. Tôi lắc đầu. Ông nhăn mặt: “Tôi là Nguyễn Hữu Đang vừa ở tù 15 năm và quản thúc 20 năm đây!”. Tôi hết sức ngạc nhiên. Không, phải nói là sửng sốt thì đúng hơn. Nguyễn Hữu Đang, Lãnh tụ tinh thần của “Nhân văn giai phẩm” đây sao!
Thú thực, ban đầu tôi không thực sự ấn tượng vì cách nói chuyện theo kiểu không đầu không cuối của ông. Đầu hơi cúi gằm. Thỉnh thoảng lại lấm lét ngước mắt lên nhìn người nghe. Tuy nhiên, ông lại có chất giọng hào sảng, âm thanh rất vang.Cuối buổi trò chuyện ông rút trong chiếc bị cói ra tập bản thảo bút ký 15 trang giấy viết tay kể về “Tổ chức Ngày Lễ Độc lập năm 1945”. Nét chữ của ông nắn nót, tròn, đều tăm tắp. Tôi cảm ơn ông và hứa sẽ tìm cách đăng cho ông.
Tôi đã kỳ công biên tập ngắn gọn lại thành một bài viết 1.500 chữ và gửi cho báo Tuổi trẻ Chủ nhật (Nay là Tuổi trẻ cuối tuần) để đăng nhân dịp Quốc khánh, 2-9. Tuổi trẻ trả lời không đăng được. Tôi đã gửi đi tới cả chục báo, tạp chí như Đại đoàn kết, Lao động, Phụ nữ TP.HCM, Tạp chí Thế giới mới, Kiến thức ngày nay… nhưng tiếc rằng không báo nào “dám đăng”.
Đó là điều mà tôi đã tiên liệu trước: Ai dám đăng bài viết mà tác giả của nó là “Lãnh tụ tinh thần” của Nhóm”Nhân văn giai phẩm”. Tuy nghĩ là vậy, nhưng tôi vẫn hy vọng vào lòng quả cảm của một Tổng biên tập nào đó, vì thực ra ngay từ năm 1989 ông đã được “phục hồi”, năm 1990 đã được trả lương hưu và năm 1993 đã được về sống tại Thủ đô.

Tôi như người “mắc nợ” với ông, mặc dù khi đưa tập bản thảo cho tôi ông đã bảo: “May ra có Tuổi trẻ dám đăng”. Sau đấy năm nào cũng vậy,cứ đến dịp Quốc khánh tôi lại gửi đến một vài báo khác nhau. Và vẫn câu trả lời: “Không đăng được”. Tôi luôn nặng trĩu trong lòng và vì “món nợ” ấy mà đã nhiều năm liền không dám tìm gặp ông.
6 năm sau, năm 1999, tôi về làm việc tại Báo Nông thông ngày nay. Vì là người được chị Mai Nhung, Tổng biên tập giao nhiệm vụ Tòa soạn, biên tập, duyệt đăng bài, nên tôi đã bê nguyên xi bản thảo ông Đang viết đăng 4 kỳ ở chân trang. Sau khi báo phát hành nhận được rất nhiều lời khen ngợi. Thậm chí ông Vũ Duy Thông, lúc ấy là Vụ trưởng báo chí Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương) biểu dương. Thì ra lâu nay toàn sợ bóng sợ gió cả.
Phần vì bận nhiều công việc, phần không tìm được ra nhà ông Nguyễn Hữu Đang, nên tôi đã không chuyển nhuận bút bài báo cho ông được.Mãi tới năm 2004 tôi mới tìm ra được căn hộ ông ở tít mãi tận Nghĩa Đô (quận Cầu Giấy, Hà Nội) lúc ấy còn rất hoang vắng.Như vậy là sau 6 năm, kể từ khi ông đưa cho tôi, bài Bút ký mới được đăng và sau 5 năm nữa món nhuận bút mới được chuyển đến tay ông.

Ở căn hộ khu tập thể Nghĩa Đô

Sau nhiều lần tìm kiếm rồi cuối cùng chúng tôi cũng tìm ra nơi ông ở. Tôi và nhà báo Lương Thị Bích Ngọc chui qua cầu thang ẩm ướt, tối mò, lên tầng 2 dãy nhà Tập thể Bột mì (Nghĩa Đô) gõ cửa nhà ông. Chừng 5 phút sau ông Đang ra mở cửa.Căn phòng nhỏ, bộn bề, đặc mùi ẩm mốc.Ông đã bước sang tuổi 90, cơm nước phải nhờ đến một người cháu tới giúp, song những hoạt động trí tuệ thì ai có thể thay thế được cho con người vốn có tinh thần độc lập từ xưa- kể từ khi ông bị thực dân Pháp bắt tra tấn và suýt đưa ra tòa lúc còn là vị thành niên?
Ngồi ở chiếc bàn nhỏ vừa để ăn vừa để đọc sách của ông, nhìn quanh trên tường và trên bàn có nhiều tấm ảnh chân dung chắc chắn là rất thân thiết với ông; và đập ngay vào mắt chúng tôi là tấm ảnh lịch sử: Lễ đài Ba Đình 2-9-1945 được cho vào khung ảnh cẩn thận kê ngay ngắn trên một chiếc vỏ hộp bánh quy. Chiếc bàn kê sát giá sách để chiếc điện thoại bàn lấm bụi, chiếc kính lúp, cái đèn pin, mấy cục pin con thỏ để lăn lóc.
Cuộc đời có thể tước đoạt của ông nhiều thứ song không thể tước đi quyền tự hào là người đã được chủ tịch Hồ Chí Minh trao cho trọng trách tổ chức ngày lễ Độc Lập ở Ba Đình, và tới năm 1947, ông vẫn còn được coi là nhân vật quan trọng nhất nhì bên cạnh chủ tịch Hồ Chí Minh.Mái đầu húi cua bạc cháy tựa nương cằn miền núi sau trận cháy rừng giờ không còn ngẩng cao kiêu hãnh mà hơi cúi gằm bởi năm tháng, nhưng cái vóc dáng cồng kềnh và chắc chắn của ông vẫn cho thấy một nghị lực sống được nén lại, và đôi lúc ánh mắt ông vô tình vẫn lóe lên những luồng ánh sáng trí tuệ.
Nhìn ông, ai có thể tin rằng: Sau mười lăm năm tù đầy, ở tuổi 63, ông đã từng phải sống nhờ vào côn trùng và cóc- nhái- chuột- rắn trong suốt hơn mười lăm năm vất vưởng bên lề xã hội ở một làng quê Thái Bình… Trải qua quá nhiều nỗi đớn đau thử thách, và ở giai đoạn cuối cuộc đời vẫn phải lo tránh cạm bẫy, ông phải tự giữ gìn và giữ cho cả người đang đối thoại với mình mà bằng trực giác ông biết là lòng lành, song dường như ông vẫn không bị mất đi sự sắc sảo pha chút hóm hỉnh.
Thấy mấy cuốn sách,vài ba tờ báo vứt lỏng chỏng trên bàn, trên giường,tôi hỏi ông: “Lâu nay bác vẫn nhận được sách báo đều chứ ạ?”. Ông không nói gì, chập chạp, run rẩy đứng dây khỏi giường, chậm rãi bước tới cái giá sách nhỏ ở góc nhà lục tìm cái gì đó. Nhìn dáng ông đi liêu xiêu, mảng lưng hở qua chiếc áo bở tã đến thê thảm. Ông lúi húi bên giá sách cạnh tấm ảnh đen trắng Dostoievski chợt nhòe đi. Bên dưới tấm ảnh văn hào Nga được nhiều thế hệ độc giả Việt yêu quý là chiếc tủ lạnh cũ. Bất giác tôi đứng lên, bước tới chiếc tủ lạnh, tự động mở ra: cả hai ngăn trên và dưới đều trống rỗng! Ông Đang không hề để ý tới việc khách mở tủ lạnh và quan sát đồ dùng sinh hoạt trong phòng ông. Ông rời giá sách trên tay cầm theo cuốn sách dày cộp. Ông giở bìa cuốn từ điển Bách khoa“Le petit Larousse” in năm 2.000 ra, chỉ tay vào trang đầu tiên có chữ nắn nót của ông: “Mất từ tr. 865 đến tr. 968″. Rồi ông vội vã mở cuốn sách ra để chứng minh điều mình đã thông báo. Tôi hỏi ông: “100 trang sách đã bị xé. Ai đã xé những trang này hỡ bác?”. Ông thở dài: “Còn ai vào đây nữa!”. Ông nói nhỏ dường như chỉ để cho mình ông nghe:“Những người có trách nhiệm kiểm soát trước khi chuyển nó đến cho tôi. Còn những mục gì ư? Chỉ là những thứ mà theo người ta, sẽ đầu độc một lão già vô hại là tôi!”.
Câu cuối ông nói ra vừa có gì diễu cợt lại vừa đượm nước mắt. Một công trình văn hóa hoàn hảo, một trong những biểu tượng của trí tuệ nhân loại bị phá hoại bởi những người quen thói bao cấp tư tưởng, quen hăng hái săn sóc tâm hồn và tri thức cho người khác- kể cả với những người đương nhiên là bậc thầy về văn hóa của họ! Thực là một tấn bi hài kịch không đáng có, vậy mà đã nó diễn ra thường xuyên như thứ một tập quán ghê sợ!

Nguyễn Hữu Đang: ông là ai?

Nguyễn Hữu Đang sinh ngày 15/8/1913 tại làng Trà Vy, huyện Vũ Tiên, tỉnh Thái Bình. Theo bản “Tóm tắt quá trình hoạt động xã hội của Nguyễn Hữu Đang” do chính tay ông viết thì năm mười sáu tuổi, ông tham gia Học sinh hội (tổ chức thuộc Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội, rồi Đông dương Cộng sản đảng), làm tổ trưởng Hội này. Ngay từ năm 1929 Nguyễn Hữu Đang đã là đối tượng được kết nạp vào đảng. Cuối năm 1930, ông bị bắt, bị tra tấn và bị giam 2 tháng rưỡi tại nhà lao thị xã Thái Bình. Mùa hè năm 1931, bị đưa ra toà, nhưng vì tuổi vị thành niên (trên giấy tờ, ông rút tuổi, khai sinh năm 1916), cho nên chỉ bị quản thúc tại quê nhà. Từ 1932 đến 1936, Nguyễn Hữu Đang theo học trường sư phạm Hà Nội.
Năm 1937-1939 ông tham gia Mặt trận dân chủ Đông Dương. Biên tập các báo của Mặt trận như Thời báo (cùng Trần Huy Liệu, Nguyễn Đức Kính), Ngày mới (cùng Nguyễn Đức Chính, Nguyễn Đức Kính) và các báo của Đảng Cộng sản như Tin tức (cùng Trần Huy Liệu, Phan Bôi), Đời nay (cùng Đặng Xuân Khu tức Trường Chinh, Trần Huy Liệu)
Từ 1938 đến 1945, Nguyễn Hữu Đang hoạt động trong Hội Truyền bá Quốc ngữ, ở các vị trí: Uỷ viên ban trị sự Trung ương, Huấn luyện viên Trung ương, trưởng ban dạy học, Trưởng Ban Cổ động, Phó trưởng Ban Liên lạc các chi nhánh tỉnh.
Năm 1943 Nguyễn Hữu Đang gia nhập Đảng Cộng sản Đông dương, bắt đầu liên lạc mật thiết với Tổng bí thư Trường Chinh và thành ủy Hà Nội, nhưng vẫn chưa được chính thức kết nạp vào Đảng.
Năm 1943-46 ông Tham gia sáng lập và lãnh đạo Hội Văn hoá cứu quốc, tiếp tục hoạt động chống nạn mù chữ. Mùa thu năm 1944 bị Pháp bắt ở Hà Nội và bị giam một tháng tại Nam Định. Được ra, lại tiếp tục hoạt động cách mạng.
Tháng 8-1945 ông tham dự đại hội Tân Trào, được bầu vào Ủy ban giải phóng dân tộc. Tham gia Chính phủ lâm thời mở rộng, được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ truyên truyền. Đồng thời cũng trong năm đó ông được Hồ Chí Minh cử làm Trưởng Ban Tổ chức Ngày Lễ tuyên bố độc lập 2-9-1945.
Từ tháng 10-1945 đến tháng 12-1946 ông giữ các chức vụ Thứ trưởng Bộ Thanh niên, Chủ tịch Ủỷ ban vận động Mặt trận văn hoá. Tổ chức Hội nghị văn hoá toàn quốc lần thứ nhất tại Hà Nội.
Từ tháng 12-1946 đến tháng 3-1948 ông làm Trưởng Ban Tuyên truyền xung phong trung ương.
Năm 1947, ông chính thức được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương.
Từ tháng 4-1948, đến tháng 4-49, ông phụ trách báo Toàn dân kháng chiến, cơ quan trung ương của Mặt Trận Liên Việt.
Từ tháng 7-1949 đến tháng 10-1954 Nguyễn Hữu Đang làm Trưởng ban Thanh tra Nha bình dân học vụ. Từ tháng 11-1954 đến tháng 4- 1958 ông tổ chức và biên tập báo Văn Nghệ. Cuối năm 1956 đầu năm 1957 Nguyễn Hữu Đang tổ chức, lãnh đạo và biên tập báo Nhân Văn, giúp đỡ tập san Giai Phẩm.

Phong trào “Nhân Văn giai phẩm”

Nguyễn Hữu Đang chính thức tham gia hoạt động phong trào Nhân Văn Giai Phẩm từ tháng 9-1956, với sự ra đời của báo Nhân Văn số 1 (20-9-1956). Báo Nhân văn ra được 5 số và đến số thứ 6 chưa kịp phát hành đã bị đình bản (tháng 12-1956).
Trong thời gian tổ chức và tham gia phong trào “Nhân văn giai phẩm”, Nguyễn Hữu Đang tổ chức lớp học tập dân chủ 18 ngày (từ ngày 8-8 đến 26-8-1956) và trong ngày cuối cùng, ông đã đọc một bài tham luận “nảy lửa” chỉ trích những sai lầm trong công tác lãnh đạo văn nghệ. Trương Tửu đánh giá bài tham luận của Nguyễn Hữu Đang là”sự việc thực là cụ thể, lời lẽ thực là tha thiết”. Hoàng Cầm cho rằng tinh thần nêu những thắc mắc, có từ kháng chiến, tích tụ lại và bùng nổ lên trong lớp học này.
Nhà văn Lê Đạt sau này kể lại: “Trong cuộc học tập này, anh em phê phán văn nghệ rất nhiều, trong đó nổi bật lên vai trò của anh Nguyễn Hữu Ðang. Lúc đó Ðang có nói một câu với Nguyễn Ðình Thi (Nguyễn Ðình Thi lúc ấy là một trong những người chịu trách nhiệm tờ Văn Nghệ-VN) rằng: “Thế nào tao cũng ra một tờ báo, tờ báo chưa biết tên là gì, tao thì không làm được nhưng để cho bọn Giai Phẩm Mùa Xuân nó làm”.
Còn Nguyễn Huy Tưởng ghi lại không khí lớp học 18 ngày, trong nhật ký của mình như sau: “Nguyễn Hữu Đang nổi lên. Tiếc rằng kéo anh ta về văn nghệ để làm rầy rà mình. Chính người chửi mình nhất là Nguyễn Hữu Đang”.Những bực mình và dằn vặt của Nguyễn Huy Tưởng, càng làm rõ tấm lòng và nhân cách của ông: Mặc dù không đồng ý với Nguyễn Hữu Đang, bị Đang chỉ trích nặng nề, nhưng sau này, ông là người duy nhất trong ban lãnh đạo văn nghệ đã đứng ra bênh vực Nhân Văn, như Lê Đạt từng thuật lại và ông cũng ghi trong nhật ký: “đã phản ảnh lên Trường Chinh về vụ Nhân Văn, nhưng vô hiệu”.
Về phía buộc tội, Nguyễn Hữu Đang được coi là lãnh tụ, “đầu sỏ”. Mạnh Phú Tư viết: “Người ta không thấy tên tuổi Nguyễn Hữu Đang trên những số đầu báo Nhân Văn, nhưng chính hắn là linh hồn của tờ báo.Thông qua tờ báo Nhân Văn, hắn đã trở thành một thứ lãnh tụ của một bọn người cơ hội, có âm mưu chính trị… “.
Thực vậy, là người làm chính trị, Nguyễn Hữu Đang, với tài tổ chức và hùng biện trong lớp học 18 ngày, ông đã chiếm được lòng tin của giới trí thức và văn nghệ sĩ cấp tiến. Ông nắm lấy cơ hội, đứng ra tổ chức “Nhân Văn Giai Phẩm” với những người bạn cùng chí hướng từ trong kháng chiến như Trương Tửu, Trần Thiều Bảo, Lê Đạt, Hoàng Cầm… chủ trương tạp chí “Giai phẩm mùa xuân”.
Tuy không có nhiều bài ký tên thật, nhưng dấu ấn của Nguyễn Hữu Đang trên báo Nhân Văn là hết sức đậm nét bằng hàng loạt bài phỏng vấn các tên tuổi lớn như Nguyễn Mạnh Tường, Đào Duy Anh, Trần Đức Thảo, Đặng Văn Ngữ về vấn đề dân chủ.
Sau này Nguyễn Hữu Đang nói: “Thực chất phong trào “Nhân Văn Giai Phẩm”, nếu đứng về mặt chính trị, thì đó là một cuộc đấu tranh của một số người trí thức, văn nghệ sĩ và một số đảng viên về chính trị nữa, là chống, không phải chống đảng cộng sản, mà là chống chủ nghĩa Staline và chủ nghĩa Mao. Sự thâm nhập của chủ nghĩa Statline và chủ nghĩa Mao đưa đến nhiều hiện tượng cực quyền toàn trị. Nó gay gắt ghê lắm! Chúng ta đã phạm sai lầm trong Cải cách ruộng đất, rồi thì Chỉnh huấn, Chấn chỉnh tổ chức, Ðăng ký hộ khẩu v.v… Tất cả những chính sách quá tả đó là đều từ phương Bắc xâm nhập vào Việt Nam”.
Tháng 4-1958 Nguyễn Hữu Đang bị bắt. Ngày 19-1-1960, ông bị đưa ra toà cùng với Thụy An, Trần Thiếu Bảo, Phan Tại, và Lê Nguyên Chí.
Sau này Nguyễn Hữu Đang nhớ lại: “Ở trước tòa án thì tôi nhận mấy điểm như thế này: (1).Tôi có phạm kỷ luật của Ðảng và của nhà nước về phương diện tuyên truyền. (2).Trong việc làm của tôi, cũng có những vụ sai sót. Anh em cũng như tôi thôi, thế nhưng tôi gánh trách nhiệm nặng hơn. (2). Ðộng cơ thì nhất định là tốt: Chúng tôi chỉ vì dân, vì nước mà tin rằng việc mình làm có ích nước lợi dân cho nên làm thôi.
Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội đã tuyên: Nguyễn Hữu Đang và Thụy An: 15 năm phạt giam và 5 năm mất quyền công dân sau khi ra tù; Minh Đức: 10 năm phạt giam và 5 năm mất quyền công dân; Phan Tại: 6 năm phạt giam và 3 năm mất quyền công dân; Lê Nguyên Chí: 5 năm phạt giam và 3 năm mất quyền công dân.
Sau này có lần Nguyễn Hứu Đang nói: “Ra tòa tôi nhận hết, chứ tôi không bào chữa, không cãi cọ gì nhiều cả. Thậm chí là sau khi bị kết án 15 năm tù tôi cũng không có ký chống án gì cả. Từ bấy giờ đến nay tôi cũng không viết một cái đơn nào để thanh minh, phân trần, xin xỏ, khoan hồng hay là nọ kia. Không! Cái việc đó không!

Có thật là Nguyễn Hữu Đang tìm cách trốn vào Nam?

Thông tin thời bấy giờ và cả sau này nữa đều cho rằng Nguyễn Hữu Đang bị bắt khi ông đang trên đường trốn vào Nam. Tuy nhiên sự thật có phải như vậy không? Chúng ta hãy nghe chính Nguyễn Hữu Đang sau này kể lại: “Tôi muốn ra nước ngoài, chứ không phải vào Nam, nhưng tôi đã đặt điều kiện: Nếu các anh giúp tôi đi ra một nước khác, tôi chấp nhận, nhưng vào Nam thì tôi từ chối, vì như thế hàm chứa cái ý phản bội, chạy sang phe địch, phe thù. Đó là một sự nhục nhã. Vào Nam? – Để làm gì chứ? Vào Nam làm gì với Ngô Đình Diệm? Nhưng tôi thực sự muốn ra nước ngoài- tôi đã nói thẳng với Trường Chinh trong một cuộc gặp giữa ông ấy và tôi. Câu hỏi thứ nhất mà Trường Chinh vừa cười vừa đặt ra cho tôi là: “Hả, sao kia, anh đã tuyên bố với các đồng chí rằng anh muốn ra nước ngoài, vì không khí trong nước nghẹt thở quá. Vậy là anh muốn ra nước ngoài, nhưng đến một nước trong phe xã hội chủ nghĩa hay phe đế quốc, anh nói tôi nghe”. Ông ta cười. Lúc đó tôi vừa cười vừa trả lời: “Tôi rất muốn ra nước ngoài, một nước trong phe xã hội chủ nghĩa nếu điều kiện cho phép. Nhưng nếu vì những khó khăn buộc tôi phải đến một nước theo chế độ tư bản, tôi có thể chấp nhận. Bằng chứng là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cư trú ở Pháp, và ông đã giữ được lòng yêu nước và tinh thần cách mạng, và tôi có thể làm như ông ấy. Tôi nghĩ rằng tôi có thể làm như Nguyễn Ái Quốc. Nguyễn Ái Quốc là một nhà cách mạng, tôi cũng là nhà cách mạng. Nguyễn Ái Quốc là một người cộng sản, tôi cũng là cộng sản. Nguyễn Ái Quốc có lòng dũng cảm, tôi cũng có lòng dũng cảm. Tôi không sợ cư trú dài hay ngắn hơn trong một nước tư bản”. Thế là người ta đã sửa soạn… Người bạn đã khuyên tôi nên ra nước ngoài đã nhận lời giúp tôi đến được một nước khác. Anh ấy đã hứa, nhưng chuyến đi đã không được thực hiện. Vậy là tôi lỡ một dịp đi đến một nước khác. Nhưng để tô vẽ bản cáo trạng, người ta đã đưa vào câu tôi muốn vào Nam. Khi đó tôi trả lời toà án: “Không, tôi không muốn vào Nam; tôi muốn đi ra nước ngoài”. Và người ta hỏi tôi: “Nhưng ở nước ngoài anh sẽ làm gì?”- “Đấu tranh cho thống nhất, thống nhất hai miền; ở nước ngoài tôi sẽ tiếp tục đấu tranh thực hiện thống nhất đất nước, thống nhất hai miền Bắc Nam”. Nghe lời tuyên bố ấy, cử toạ… phiên toà bao gồm những người ủng hộ chính phủ, quần chúng của Đảng, đảng viên, những cán bộ của nhiều tổ chức và hoạt động khác nhau đều phản nhân văn, họ phá lên cười nhạo cái ý định đấu tranh cho thống nhất đất nước của tôi. Trong chuyến đi rời đất nước ra nước ngoài, tôi muốn thăm Ấn Độ và Nam Tư của Tito, tôi tin ở Nehru và Tito. Tôi rất muốn gặp họ và xin họ lời khuyên để đấu tranh cho nước Việt Nam bị chia cắt, để Việt Nam được thống nhất và độc lập. Tôi muốn gặp Tito và Nehru…”.
Sau này, khi ra tù, Nguyễn Hữu Đang cho biết: “ Khi Hiệp nghị Paris trả lại tự do cho tôi, tôi đã viết thư cho gia đình – người ta cho phép tôi viết thư cho gia đình để báo tin tôi được trả tự do. Lúc ấy cả gia đình tôi kinh ngạc, cả gia đình tôi hoàn toàn sửng sốt: “Ôi, kìa, anh Đang còn sống, thế mà chúng ta cứ tưởng anh đã chết lâu rồi”.

Mối tình bi thương

Sẽ là không vẹn toàn nếu nói về cuộc đời đầy bi kịch của Nguyễn Hữu Đang mà không nhắc tới mối tình đầy lãng mạn, nhưng cũng không kém phần bi thương của ông.
Ngày Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Hữu Đang 32 tuổi. Ở cái tuổi “tam thập nhi lập”, lẽ thường đã phải yên bề gia thất, nhưng ông vẫn độc thân sau những năm tháng mải mê với những công việc xã hội.
Trong đống bản thảo mà Nguyễn Hữu Đang để lại có một bản mà giấy đã ngã màu vàng, gần như đã bắt đầu mục nát, không hiểu ông viết vào thời gian nào, ông đã kể lại mối tình đầu với một thiếu nữ Hà Nội tên là Huyền Nhiên: “Năm ấy mới 19 tuổi là con một gia đình thương nghiệp trung lưu sống theo nền nếp cổ truyền, chưa học hết bậc thành chung, phong cách thùy mị… không thích đua đòi”.
Ông viết: “Đối với tôi lúc ấy, sắc đẹp là tất cả, biết bấy nhiêu về Nhiên đã là thừa. Không cần biết gì về Nhiên mới đúng. Có ai lại ngớ ngẩn chỉ chú ý đến tài năng, đạo đức, học vấn, gia sản, lý lịch Hằng Nga, Tiên nữ bao giờ?… Theo lòng mình, tôi kính trọng Huyền Nhiên tới mức yêu nhau nửa năm trời tôi chưa từng dám chạm vào thân thể Huyền Nhiên, dù chỉ cầm tay cũng đã coi là xúc phạm, còn nói chi đến ôm hôn”… Hồi ức còn viết rất nhiều, bằng những lời lẽ mà chỉ đọc vẫn nhận ra tình cảm rất nồng nàn của người viết sau nửa thế kỷ đầy những truân chuyên.
Cuối cùng, vị Thứ trưởng Bộ Thanh niên cũng quyết định phải thổ lộ với người mình yêu bằng việc tặng cho Huyền Nhiên tiên nữ một chiếc vòng tay bằng bạc như một giao ước kết hôn. Nàng đã đặt chiếc vòng cầu hôn vào hộp, nói những lời cam kết là sẽ yêu chàng suốt đời, sẽ đến lúc thành hôn, sẽ chung sống với nhau trọn đời… Người đẹp chỉ có một yêu cầu: “Em chỉ ước ao được đến gặp cụ Hồ, được đứng gần cụ. Mà anh thì đến chỗ cụ luôn, anh cho em đến chỗ cụ Hồ một lần, chỉ một lần thôi”.
Tuy công việc khiến vị Thứ trưởng Thanh niên có cơ hội gặp Cụ Hồ, nhưng ông cũng e ngại vì không muốn lẫn lộn việc công tư. Nhưng tình yêu đã giúp ông thực hiện được một cách mỹ mãn ý nguyện của người mình yêu.
Có một nhà tư sản yêu nước ở tỉnh Bắc Giang tên là Ngô Tiến Cảnh mà ông từng quen biết trong thời kỳ tham gia chống thất học, lúc bấy giờ đang làm chủ tịch cuộc vận động “Mùa đông binh sĩ”. Cuộc vận động này từng được cụ Hồ phát động nhằm cung cấp trang phục cho lực lượng vũ trang cách mạng mới thành lập còn nhiều thiếu thốn. Cuộc vận động đã làm được 1 vạn chiếc áo trấn thủ. Ông Cảnh muốn được gặp cụ Hồ để báo cáo tình hình và trao tặng tượng trưng tấm áo cho Người.
Nhà tư sản nhờ ông Nguyễn Hữu Đang đề đạt và cụ Hồ tỏ lòng sẵn sàng tiếp một đoàn đại biểu “Mùa đông binh sĩ”. Ông Đang bàn với ông Cảnh những nghi thức của buổi tiếp, để thêm phần trang trọng khi tặng áo cho Hồ Chủ tịch sẽ có một thiếu nữ bưng một cái khay trên đó đặt tấm áo được trao. Ông Đang hứa sẽ tìm người giúp ông Cảnh làm công việc này và đương nhiên người đó chính là cô thiếu nữ Hà thành đang mong ước được gặp cụ Hồ. Nhất cử lưỡng tiện.
Cuộc gặp được Nguyễn Hữu Đang kể lại trong bản thảo hồi ký của minhfnhw sau: “Tới ngày giờ hẹn, tôi dùng xe hơi đưa Nhiên đến trụ sở “Mùa đông binh sĩ” rồi đến Bắc Bộ phủ. Cụ Hồ ra phòng khách lớn tiếp đoàn đại biểu trong đó có cả Huyền Nhiên đứng cạnh ông Cảnh, tay bưng sẵn chiếc khay trên đó có một chiếc áo trấn thủ. Ông Cảnh nói đến câu “xin kính biếu Chủ tịch tấm áo trấn thủ đầu tiên may được” thì Nhiên bước nhanh đến sát cụ Hồ, khay nâng ngang mặt cung kính. Cụ cầm áo xem xét kỹ, khen “tốt lắm!”, rồi đưa cho Vũ Đình Huỳnh giữ. Cụ nói chuyện với đoàn đại biểu có vẻ tự nhiên, cởi mở. Rồi như thường lệ, cụ không quên cử chỉ quan tâm đến người con gái vừa dâng áo, hãy còn cầm khay đứng đó. Cụ đặt bàn tay lên đầu Nhiên vỗ vỗ nhẹ mái tóc, nói dịu dàng: “Cháu mang đến cho Bác áo chống rét, quà quý của Ủy ban Mùa đông binh sĩ, Bác cảm ơn cháu. Cháu sẽ rủ các bạn của cháu cùng với cháu giúp các chiến sĩ bộ đội nhiều hơn giúp Bác, đem lại cho họ những món quà tỏ tình thương yêu của đồng bào. Cháu làm được không?”. Tất cả mọi người có mặt đều đổ dồn sự chú ý vào Nhiên và chờ cô đáp lại. Phần vì cảm động quá, phần vì chẳng biết trả lời thế nào, Nhiên e lệ cúi mặt nói yếu ớt tiếng run run như sắp khóc “vâng”. Cụ cười độ lượng, khuyên nhủ ngọt ngào: “Phụ nữ thời cách mạng phải mạnh bạo. Có mạnh bạo mới đấu tranh được”…
Ít lâu sau, chiến tranh bùng nổ. Người thiếu nữ đã đính hôn của Nguyễn Hữu Đang phải theo gia đình tản cư khỏi Hà Nội. Năm 1948, quân Pháp đánh rộng ra các tỉnh xung quanh, càn quét liên miên hai bên các trục đường giao thông lớn. Gia đình Nhiên không chịu nổi gian khổ phải trở về Hà Nội. Không thể một mình ở lại vùng tự do, Nhiên đành theo gia đình. Từ đấy tôi không còn dịp nào gặp lại Nhiên”…
Chiến tranh, rồi cuộc kháng chiến 9 năm, khiến cuộc hôn nhân không thành và hai người sống cách xa nhau, nhưng lời hẹn ước thì không ai đơn sai. Ngày kháng chiến thành công trở về với thủ đô giải phóng, cuộc sống bề bộn cùng những bi kịch của đời ông, nên tiếc rằng mối tình duy nhất của ông đã trở thành dang dở.
Sau này Nguyễn Hữu Đang không kể thêm về cuộc đời tiếp theo của người bạn gái nhưng cho đến cuối đời, mối tình ấy vẫn là một ký ức đẹp nhất của cuộc đời ông.
Năm 2007 ông qua đời ở tuổi 93, mang xuống tuyền đài tất cả những vinh quang, cay đắng, hạnh phúc và khổ đau.

Trường Sa
Tháng 4 năm 2014

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 13.08.2014

Người Việt đang rất xấu

Người Việt đang rất xấu

PGS-TS Huỳnh Văn Sơn
(Phó chủ tịch Hội Tâm lý học xã hội VN)

 Trong vài năm trở lại đây số lượng người VN đi du lịch nước ngoài mỗi năm một tăng nhanh, nhất là những ‘mùa’ du lịch như hè, Giáng sinh – tết Tây, tết ta… Và cũng từ đây, trong mắt của người nước ngoài, nhiều hình ảnh không hay của người VN đã xuất hiện và ngày càng rõ nét.

Một thói xấu thường thấy: tiểu tiện nơi công cộng

Điều này không những tạo nên sự trăn trở của những người bản xứ – nơi mà người Việt đến tham quan mà còn trở thành mối bận lòng của nhiều người có trách nhiệm với văn hóa Việt hôm nay.

“Xin mời ăn bao nhiêu lấy bấy nhiêu”

Hè năm ngoái, khi đi du lịch Thái Lan, vào một nhà hàng ăn buffet, tôi ngạc nhiên khi nhìn thấy cái biển ghi chữ tiếng Việt: “Xin mời ăn bao nhiêu lấy bấy nhiêu. Nếu ăn không hết sẽ phạt từ 200 baht đến 500 baht. Xin cảm ơn!”.

Chuyện ăn uống này đã thành câu chuyện buồn của khách du lịch Việt không chỉ ở Thái Lan mà còn cả ở Singapore. Tại Singapore, biển ghi bằng tiếng Việt (và chỉ có duy nhất tiếng Việt): “Lấy vừa đủ ăn”. Quả thật, phải vào tận nơi mới biết tại sao người ta phải trưng những cái biển đấy. Nhà hàng đông khách, ai ai cũng xếp hàng đợi đến lượt mình lấy đồ ăn. Bỗng dưng một cặp đôi người Việt từ đâu ùa tới chen ngang. Những người xung quanh chỉ biết lắc đầu cười. Hai người này lấy những năm, sáu con hàu, trong khi người phục vụ bàn đang tách từng con hàu một cho khách. Vào một nhà hàng khác thì lại gặp một anh người Việt ăn tham, bê mấy đĩa đồ ăn đầy bự về bàn, cứ như kiểu không lấy thì sợ ai “hốt” hết, ăn không hết rồi bỏ bê luôn.

 

Có thể nhìn nhận đây đã trở thành một thói quen xấu của người VN. Một thói xấu gần như khó sửa. Người Việt bất chấp cái bụng của mình có thể ăn được bao nhiêu, mà ăn bằng “mắt”, lấy cho sướng tay, kể cả những món ăn lạ, không hợp khẩu vị, và để trên bàn ngồi ngắm nhìn như thành tích, rồi bỏ đi, trong ánh mắt vừa khó chịu vừa kinh ngạc của những người xung quanh. Lý giải cho điều này thật nhiều chuyện phải bàn. Thói quen? Sự nhận thức lệch pha về khả năng ước lượng? Hay sự sang trọng tức thời? Hoặc một yếu tố nào khác?

Những tiếng xấu về ứng xử thiếu văn hóa của người VN ngày càng lan truyền mạnh mẽ. Sự thụt lùi về văn hóa đang trở thành một nạn lớn đối với thế hệ trẻ của đất nước. Đầu tiên chỉ là sự thiếu tôn trọng cá nhân nhưng sau đó sẽ thành sự thiếu tôn trọng, phân biệt đối xử cho quốc thể

“Đi vệ sinh nhớ dội nước”

Thêm một lần choáng nữa ở nhà vệ sinh khi tôi bắt gặp cái biển to tướng, đánh máy bằng tiếng Việt hẳn hoi “đi vệ sinh nhớ dội nước” được gắn trên một nhà hàng đồi cát trên đất Thái. Vẫn đáng chú ý là chỉ có mỗi tiếng Việt mà không có ngôn ngữ khác.

Chuyện đi vệ sinh cũng là chuyện tế nhị, và với du khách người Việt thì phải luôn có sự nhắc nhở “giữ vệ sinh chung”, như nhắc trẻ mẫu giáo, nhưng cũng chỉ là “nước đổ lá khoai”. Họ cứ thẳng tiến “vào”, và đi “ra” tự nhiên, để người đến sau phải nhăn mặt bởi những gì người đi trước để lại. Đã có những chuyện cười ra nước mắt ở châu Âu, du khách Việt bị nhốt trong toilet, bởi muốn cửa mở ra thì phải có động tác giật nước xả.

Còn chuyện xả rác bừa bãi thì nhiều vô kể. Hay gặp nhất là ở sân bay. Có lần tôi đang ở sân bay Đài Loan, vì thời tiết xấu nên bị hoãn chuyến bay lại 2 giờ. Sân bay đông người không đủ chỗ ngồi, rất nhiều người nước ngoài phải đứng. Thế mà một đoàn người Việt, toàn những người trẻ 8X, 9X lôi báo ra trải dưới sàn ngồi, lôi bài ra đánh reo hò ầm ĩ. Đến khi đứng dậy thì báo mỗi chỗ một mảnh, mặc đấy cho nhân viên sân bay dọn dẹp. Đúng hôm ấy, chủ đề tôi chia sẻ lại là: bản sắc văn hóa và mối quan hệ với hành vi ứng xử.

Bài nói làm tôi ngậm ngùi lâu không hẳn chỉ vì sự cảm xúc quá lên khi trình bày về văn hóa người Việt mà đó là những gì thuộc về lòng tự trọng.

“Sorry, turn back please”

Tôi ít khi nói về những gì mình trải qua nếu mình có điều kiện hơn những cá nhân khác dù chỉ là một nhóm. Nhưng kinh nghiệm học tập tại Singapore từ những năm sau đại học khoảng 1999 – 2000 đến những cơ hội tập huấn về tư vấn ở một vài quốc gia như: Philippines, Malaysia hay xa hơn là Đan Mạch thì chuyện ứng xử đặc thù của người Việt vẫn là sự trăn trở tất bật trong suy nghĩ mỗi khi tình cờ gặp đồng hương xa xứ. Vừa mừng, vừa lo vì không biết mình có phải nhạy cảm quá đáng… Hay chuẩn bị gặp một tình huống đặc biệt nào đó trong cuộc sống từ người đồng hương ấy.

Dép trong nhà vệ sinh công cộng cũng bị lấy cắp

Có lần tôi lang thang ở Singapore và tình cờ gặp một sinh viên rất trẻ được một giải thưởng công nghệ. Vốn đang nghiên cứu về nghệ thuật nói trước công chúng, tôi sẵn sàng nhận lời mời để tham gia buổi nhận thưởng của bạn ấy cách trung tâm TP 3 km. Cùng lên chuyến xe taxi do một tài xế người gốc Malaysia lái. Anh ta từ chối thẳng thắn, không chịu chở cả tôi và cậu sinh viên ấy khi hai lần đề nghị cài dây an toàn nhưng chàng trai cứ giả vờ không nghe thấy. Tôi hỏi cậu ta không nghe rõ à. Cậu bảo: Nghe chứ, nhưng bên mình có cần cài đâu. Đi có chút xíu cài chi cho mệt. Không chở thì đi xe khác…

Có lần tôi lang thang ở Disneyland từ sáng sớm đến khuya chỉ để làm một thao tác khá đơn giản. Vốn khi học sau đại học ngành quản trị hành vi trong tổ chức, tôi muốn xem xét hành vi giám sát thương mại ở các khu vui chơi. Chọn Disneyland làm điểm đến, tôi kiên nhẫn chờ đợi, quan sát.

Mọi sự cứ lặng lẽ trôi nếu như không có cảnh nao lòng và buốt dạ. Một du khách bị tống cổ ra khỏi vị trí cuối cùng khi chuẩn bị được dạo chơi để hàn huyên cùng chị hằng. Người phụ trách giám sát trưng ra bằng chứng là một hình ảnh. Ban đầu, vị khách ấy đứng sau khoảng 8 người khách Tây và 4 trẻ em trong nước (có lẽ là người Hồng Kông hay Trung Quốc). Nhưng hình ảnh ghi nhận từ camera cho thấy anh ta đã len lỏi hai lần để tiến hơn 12 bậc để được lên sớm. Hành vi ấy được thực hiện bằng cách khều người phía trước để ra hiệu tìm người quen, nhưng rồi khi đến vị trí mới, anh ấy lại “sorry” để tiếp tục thực hiện. Và người cuối cùng tìm được cũng không phải người quen.

“Sorry, turn back please”. Câu hỏi “Anh đến từ VN?” cất lên bởi giọng lơ lớ của cô nhân viên giám sát làm tôi điếng người. Cái đau như vọng từ tiềm thức về hành vi công cộng bị xem thường hay sự xem thường chính mình của người Việt? (Còn tiếp)

Và một chuyện xấu nữa có thể kể đến là việc đi mua sắm. Người Việt đi du lịch và mua sắm nhưng gần như không có nhiều kiến thức về hàng hóa. Do đó khi mua sắm, nhiều người đã trở thành “trưởng giả học làm sang”, mua sắm vô tội vạ, đua nhau mua theo kiểu “anh có gì ả có đó”, khi mua, lấy hàng chọn hàng vứt bừa bãi lộn xộn, bới tung cả lô hàng… chưa kể chuyện “rình” để ăn cắp vặt.

Tháng 6.2013, một bức ảnh chụp biển cảnh cáo hành vi ăn cắp vặt có in tiếng Việt (dưới là dòng chữ dịch sang tiếng Nhật) gây xôn xao. Tấm biển cảnh cáo có nội dung: “Ăn cắp vặt là phạm tội. Nếu ăn cắp vặt thì bị phạt tù dưới 10 năm. Ngay khi phát hiện ăn cắp vặt thì chúng tôi sẽ thông báo cho cảnh sát ngay lập tức”.

Tiếng xấu ngày càng lan truyền mạnh mẽ

Tất nhiên không thể đánh đồng tất cả người VN đều mang những “tật” trên, nhưng đó cũng là một bộ phận không nhỏ. Và trong mắt không ít người ngoại quốc, nhiều trường hợp khách du lịch VN đã trở thành “con sâu làm rầu nồi canh”. Những tiếng xấu về ứng xử thiếu văn hóa của người VN ngày càng lan truyền mạnh mẽ. Sự thụt lùi về văn hóa đang trở thành một tệ nạn lớn đối với thế hệ trẻ của đất nước. Đầu tiên chỉ là sự thiếu tôn trọng cá nhân nhưng sau đó sẽ thành sự thiếu tôn trọng, phân biệt đối xử cho quốc thể. Thử hỏi, với những tiếng xấu về văn hóa đó, làm sao thế hệ trẻ có đủ tự tin để hòa nhập và phát triển đất nước?

Tính cách có một phần yếu tố di truyền, song một phần lớn khác là do ảnh hưởng của sự giáo dục (trong gia đình, nhà trường) và môi trường xã hội tác động đến. Do đó, tính cách ấy không thể bất biến được. Muốn thay đổi tính cách, con người cần phải đặt trong môi trường nhất định. Nếu như trong một cộng đồng, một xã hội được thắt chặt kỷ cương, đạo đức xã hội, pháp luật nghiêm minh, người thực thi pháp luật không nể nang bất cứ ai, tạo ra xã hội thực sự dân chủ, minh bạch thông tin thì những thói xấu như tham ăn, háo danh, sĩ diện, tùy tiện… sẽ khó có đất mà tồn tại.

Ngoài ra, xã hội cần có sự tuyên truyền mạnh mẽ về việc chống lại các thói quen xấu đã, đang và có xu hướng được hình thành. Bản thân mỗi cha mẹ cần là một tấm gương sáng để con cái noi theo. Nhà trường cần chú trọng khâu rèn luyện đạo đức, nếp sống, thói quen cho trẻ. Bên cạnh dạy kiến thức, nhà trường và gia đình cần dạy dỗ nhiều hơn về văn hóa giao tiếp và ứng xử. Có như vậy mới góp phần đưa văn hóa VN trở thành một điểm sáng trong mắt bạn bè thế giới.

(Đọc tiếp…)

Ông Đặng Văn ViệtĐVV đang nhảy đầm

“PHÉP” SỐNG THỌ CỦA “CON HÙM XÁM ĐƯỜNG SỐ 4”

Nhà văn Nguyễn Khắc Phê

“Con Hùm Xám Đường số 4” là một trong rất nhiều “danh hiệu” mà người đời phong tặng cho “người lính già” Đặng Văn Việt (ĐVV), sau chiến dịch biên giới Cao-Bắc-Lạng (1950). Hồi đó, ĐVV là Trung đoàn trưởng trung đoàn 174 – một trong các trung đoàn chính quy đầu tiên của quân đội nhân dân Việt Nam, đã làm giặc Pháp kinh hồn không chỉ trên đường số 4; ông đã chỉ huy đánh thắng trên trăm trận, nên ông cũng có danh hiệu là “Nã Phá Luân nhỏ”, đối thủ gọi ông là “Un Général, un Maréchal sans étoile” (Một đại tướng, một Nguyên soái không sao); đồng đội thì gọi ông là “Anh hùng dân phong”… Có chuyện “không sao” và “dân phong” vì ông “vướng lí lịch”, nên đã phải sớm chuyển ngành sang Bộ Thủy sản, rồi Bộ Xây dựng.

 

(Đọc tiếp…)

Chống Trung Quốc xâm lược

Lại bàn về cái Gốc : Việt Nam chọn đồng minh chiến lược mới

Vũ Duy Phú

Hiện nay trong nhân dân đang nảy sinh những ý kiến mâu thuẫn nhau về nhiều vấn đề quốc tế, trong đó rõ nhất là “Chọn đồng minh chiến lược số 1”… Chẳng cần úp mở làm gì, hiện nay, rõ ràng VN đang đứng trước sức ép trong nước và thế giới về sự lựa chọn Mỹ hay Trung Quốc làm Đồng minh quan trọng nhất của mình.

Đặt vấn đề

1/ TQ đã từng là đồng minh chiến lược của VN suốt mấy chục năm vừa qua, khi mục tiêu quốc gia của VN và TQ trùng hợp với nhau. Hơn thế VN và TQ còn dựa vào nhau và tận tình giúp đỡ nhau thực hiện mục tiêu (việc VN giúp trở lại TQ – tạo bàn đạp chiến lược cho TQ – thì hầu như chỉ có những nhà chiến lược của các nước mới thấy rõ và đã ghi nhận). Nhưng nay, khi mục tiêu của TQ đã khác mục tiêu của VN (TQ muốn gấp rút trỗi dậy để thế chân Mỹ trong thế kỷ XXI ), thì VN lại ngẫu nhiên, trên quan điểm của TQ, trở thành “vật cản” tự nhiên của TQ trên đường đi của họ. Vì vậy, trên thực tế hành động, TQ đã đối xử với VN không khác một kẻ thù. Chính đó là cái khó cho VN, vì thực chất bây giờ là cần/phải từ bỏ quan hệ đồng minh chiến lược vốn có với TQ, để chống đỡ lại một TQ đang tự thể hiện như là kẻ thù của mình. Do vậy VN cần chọn thêm một đồng minh chiến lược mới cho giai đoạn cách mạng hiện nay.

 

2/ Mỹ đã từng là kẻ thù lớn nhất của VN suốt mấy chục năm qua cho đến năm 1975. Nhưng sau khi Mỹ đã nhận ra sai lầm chiến lược do nhầm lẫn tệ hại ngay từ năm 1945 đối với bản chất của Chính phủ VNDCCH, nên Mỹ đã có thái độ tích cực tham gia khắc phục những hậu quả sai lầm tại VN, và đặc biệt từ năm 2013, Mỹ đã bắt tay với VN trong quan hệ “đối tác hợp tác toàn diện”, đang ủng hộ và hỗ trợ VN chống lại bành trướng bá quyền Đại Hán/TQ. Vì vậy, hiện nay, Mỹ rất xứng đáng để VN chọn mời làm đồng minh chiến lược với mình, ngoài những đồng minh rất quan trọng đã có.

Như trên đã nói, trong thế giới phẳng ngày nay, nếu lãnh đạo một nước cần một sự lựa chọn lớn mà sai lầm, không chỉ bị nhân dân phê phán, chống đối, mà còn bị nhân dân thế giới chê cười và không đồng tình ủng hộ. Vì vậy, chọn đồng minh chiến lược số một là một bài toán rất lớn cho người lãnh đạo và cho đất nước. Rõ ràng, vừa qua VN đã từng chọn TQ là đồng minh chiến lược. Vậy nay giới lãnh đạo TQ tự biến mình thành kẻ thù của VN, thì có nghĩa tự họ đã vứt bỏ cái mác đồng minh chiến lược ấy đi. Còn Mỹ, bằng hành động và các quyết định cấp nhà nước của mình, thực tế là đã quên đi thời gian nhầm lẫn đen tối trước đây để bắt tay xây dựng mối quan hệ mới tốt đẹp với VN. Bản chất vấn đề đã sáng tỏ như vậy, thì nếu VN có luyến tiếc cái cũ hay sợ hãi cái mới cũng chẳng giúp ích gì, mà lại còn bị chê cười là kỳ dị, lú lẫn hay tránh né một sự thật!

Tình thế hiện nay bắt buộc VN phải nghiêm chỉnh xem xét tìm một đồng minh chiến lược số 1 mới để có chỗ dựa trong cuộc chiến đấu lâu dài xây dựng và bảo vệ đất nước trong thế kỷ XXI.

Để khách quan, tin tưởng quyết định của mình là đúng, và để nhân dân TQ (láng giềng hữu nghị) cũng phải thừa nhận sự thật và không thể phản đối, sau đây chúng tôi xin đưa ra một phương án (chủ quan, sơ bộ) so sánh lại cho cẩn thận ngay giữa TQ (đồng minh chiến lược số 1 cũ) với Mỹ (đồng minh chiến lược số 1 mới đang được đưa ra lựa chọn) không chỉ ở thời điểm hiện tại, mà tính đến cả những diễn biến trong tương lai ngắn hạn và trung hạn nữa.

I. Bàn về tiêu chuẩn chung

Rõ ràng cạnh tranh phát triển là một đặc điểm bẩm sinh. Mà cạnh tranh để chiếm ngôi “Đứng đầu thế giới” giữa các nước có tiềm năng là không thể tránh khỏi và gay go nhất. Tất nhiên chúng ta lựa chọn các đồng minh chiến lược, nhất là đồng minh chiến lược số một – tuy không phải là yếu tố bất biến – phải là sự lựa chọn giữa những nước đang đứng hàng đầu thế giới và đang ủng hộ chúng ta phù hợp quan điểm và lợi ích của đất nước chúng ta. Nhưng trước đó, để không mơ hồ, nhầm lẫn, và khách quan, chúng ta hãy xem xét vấn đề này theo một hệ tiêu chí chung của toàn cộng đồng Nhân loại.

Tiêu chí để lựa chọn đồng minh chiến lược văn minh theo lẽ đương nhiên là:

1. Thể chế chính trị, mô hình phát triển tiên tiến nhất, hay tiên tiến hơn;

2. Sức mạnh kinh tế, quân sự, văn hóa xã hội… ưu việt hơn;

3. Thái độ chính trị và các mặt quan trọng khác của họ đối với nước đang tìm chọn phải là tốt hơn. Đây có lẽ là điều quan trọng nhất;

4. Thái độ của thế giới, của khu vực đối với nước được lựa chọn là tốt hơn;

5. Ảnh hưởng của những yếu tố gắn bó quan hệ truyền thống, lịch sử giữa 2 bên.

Điều cần lưu ý ngay là, các tiêu chuẩn trên chủ yếu được đánh giá tại thời điểm hiện nay.Vì vậy, rất cần thêm điểm phân tích thứ 6:

6. Sự thay đổi trong tương lai gần và trung hạn các tiêu chí nói trên của từng nước được đưa ra lựa chọn.

II. Đi vào cụ thể

Về tiêu chuẩn 1 và 2: Đến thời điểm hiện nay 2014, thì chính TQ cũng phải thừa nhận rằng, về tổng thể, Mỹ đang vượt trội hơn TQ. Vì vậy, thế giới và chính TQ mới gọi Mỹ là siêu cường đứng đầu thế giới, thừa nhận thế giới còn đang “độc cực”, còn TQ mới đang phấn đấu “mở hết tốc lực” để đuổi kịp, và tự gọi mình là “nước đứng đầu thế giới tiềm năng” (xem trong “Giấc mộng Trung Hoa” của chính TQ). Vậy nếu chỉ xét điểm 1 và điểm 2, cộng với thái độ cụ thể rất rõ rệt không cần bàn cãi về vấn đề thời sự Biển Đông của TQ đối với nước ta hiện nay (TQ thì chèn ép, xâm lược, dã man tàn bạo), còn Mỹ, và thế giới thì bênh vực, ủng hộ VN (nội dung thời sự quan trọng của điểm 3 và 4), nên nếu chúng ta không chọn Hoa Kỳ là đồng minh chiến lược số một, trong khi Mỹ đã sẵn sàng, để đối phó lại với TQ thì thế giới và nhân dân nước ta có thể coi đó là một điều kỳ lạ, hay kỳ dị!

Có lẽ điều kỳ lạ đó được giải thích như sau: Để chọn đồng minh chiến lược số 1, ta không nên chỉ dựa vào tình thế hiện tại. Vấn đề Biển Đông như vậy mà bị xem chỉ là một “đụng chạm nhỏ” (!), mà cần xét kỹ cả những yếu tố quan hệ lịch sử nữa (điểm 5, đã nói ngắn gọn trong phần mở đầu) và chiều hướng chuyển biến toàn cục trong tương lai ngắn hạn và trung hạn (điểm 6).

 Vì vậy, sau đây, để hoàn toàn an tâm, tôi sẽ phân tích ngắn gọn toàn diện lịch sử và triển vọng diễn biến phát triển (về điểm 6), của Trung Quốc và Mỹ trong tương lai:

Về so sánh cụ thể mạnh hay yếu và diễn biến sắp tới của 2 nước ứng viên

2.1. Hoa Kỳ

- Về tiêu chuẩn thể chế chính trị: Thể chế chính trị của Mỹ là thể chế mà tại thế kỷ XXI này mọi quốc gia trên thế giới đang hướng tới, đó là “Nhà nước pháp quyền tam quyền phân lập, Thị trường tự do hướng tới thị trường xã hội và Xã hội dân sự hiện đại” (dẫn đầu xu thế tất yếu trung hạn: Toàn cầu hóa TBCN). Bởi thế ngay từ khi Mỹ ra Tuyên ngôn lập nước, Các Mác đã viết: “Hoa Kỳ là nơi đầu tiên sản sinh ra tư tưởng của nước cộng hòa dân chủ vĩ đại”, Mác coi “Tuyên ngôn độc lập” năm 1776 của Hoa Kỳ là “Tuyên ngôn nhân quyền đầu tiên của Nhân loại”. Mác cũng đánh giá rất cao “Tuyên ngôn giải phóng” nô lệ của Mỹ năm 1863, vì vậy ông đã “thay mặt Quốc tế Cộng sản I phát đi lời chúc mừng đầy nhiệt huyết”. Còn Tôn Trung Sơn sau khi quan sát nghiên cứu kỹ tình hình nước Mỹ, đã ca ngợi: “Mỹ là nước văn minh tiên tiến, là nước cộng hòa đầu tiên trên thế giới”, ông đã khuyến khích người TQ học tập Mỹ, trước hết là học tập tinh thần cách mạng và xây dựng đất nước của Mỹ. Còn Mao Trạch Đông thì “quyết tâm đuổi kịp và vượt Mỹ trong vòng 15 – 20 năm”. Hồ Chí Minh ngay từ 1945 đã vận dụng mô hình chính trị của Hoa Kỳ. Hiện nay những chính khách tầm cỡ của giới tư bản Mỹ đã nhận định: Hoa Kỳ hiện nay đã chuyển từ CNTB đế quốc sang CNTB dân chủ. Còn chính giới Trung Quốc hiện nay thì nhận định rằng: “Hoa Kỳ đã tự do dân chủ một nửa, là tự do dân chủ đối với trong nước, còn vẫn là bá quyền đối với nước ngoài”, vả lại, Mỹ mới chỉ có “dân chủ theo chiều ngang” (xem giải thích tại phụ lục (*)). Như vậy có thể kết luận: Về mặt thể chế, chưa có nước nào được các chính khách lớn trên thế giới đánh giá cao như vậy. Tuy nhiên: Cái sai lớn nhất của Mỹ là: a) đã để hình thành các “tập đoàn kinh tế” toàn cầu không có cơ chế kiểm soát hữu hiệu và ngăn chặn độc quyền ngay từ đầu. Các tập đoàn này đã biến thành “Siêu quyền lực” điều khiển cả Chính phủ Mỹ và Thế giới; b) Thái độ ứng xử với thế giới rất chủ quan, tự mãn kiêu căng; nhiều khi lợi dụng thực hiện chức năng sen đầm thế giới để trục lợi quốc gia và các tập đoàn…; c) Khi bị nhân dân thế giới chống lại, đã có thời kỳ thi hành chính sách phản động: “Không theo ta là kẻ thù”, gây chiến tranh bảo vệ quyền lợi quốc gia và đồng minh với rất nhiều nước; d) Nhầm lẫn trong chủ trương chống “CSVN” (tưởng rằng Hồ Chí Minh tuân theo đường lối QTCS III), đó là sai lầm chiến lược trong chiến tranh ở VN.

Với tất cả những thành công to lớn từ khi lập nước và những thất bại nặng nề đã trải qua tại nửa sau thế kỷ XX, nước Mỹ đã đủ thông minh – và đủ tiềm lực – để bắt đầu “Tìm lại giấc mơ cũ”. Từ cuối thế kỷ XX, Mỹ đang chuyển dần từ “Chủ nghĩa tư bản đế quốc” sang “Chủ nghĩa tư bản Dân chủ” mà Obama là đại diện (theo sự chứng minh của John Perkins, một chính trị gia nổi tiếng của Mỹ). Mỹ cũng đã nhận thấy sai lầm ở VN và đang tự giác đền bù lại sai lầm của mình, đã quyết định coi VN là “đối tác hợp tác toàn diện”.

- Về các nội dung kinh tế, KHCN, quân sự, văn hóa, xã hội dân sự…: hầu như nước Mỹ đều đứng đầu bảng, hoặc vẫn vào tốp đầu, ví dụ về thu nhập bình quân đầu người của Mỹ còn kém một số nước. Chính vì vậy Mỹ mới được thừa nhận rộng rãi là siêu cường hùng mạnh nhất thế giới.

Vậy tại sao Mỹ lại có được vị trí như vậy? Cái lòng tham phổ quát toàn cầu nó đóng góp vào thành tựu này của Mỹ như thế nào?

Quả thật, với lòng tham vốn có của con người và sự dũng cảm vượt đại dương sang kiếm sống tại lục địa Hoa Kỳ của những người Châu Âu đầu tiên đã dựng nên nước Mỹ hơn 200 năm trước đây. Bản thân cái tên “Hợp chúng quốc Hoa Kỳ” đã nói lên rằng, nước này không có gì trong quá khứ để tự hào, luyến tiếc, và cũng chẳng phải là nô lệ của một cái gì xấu xa trước đó, hay một lịch sử dân tộc “hàng mấy ngàn năm” trì trệ. Vì vậy, khi những công dân Mỹ đầu tiên (mang theo mình những trí thức khai sáng của Châu Âu là chính, nơi vừa rũ bỏ thành công chủ nghĩa phong kiến tập quyền mất dân chủ tự do, đang bắt đầu xây dựng chủ nghĩa tư bản với những đặc điểm cơ bản như chúng ta đã thấy: Nhà nước pháp quyền, thị trường tự do và xã hội dân sự) họ sang mảnh đất hoang sơ này để được hoàn toàn tự do dân chủ bình đẳng cạnh tranh lao động kiếm sống. Và để hòa bình, yên ổn làm ăn, họ đã tự mình xây dựng một thể chế tổ chức quản lý đất nước, đấu tranh “thống nhất giang sơn’ và chống xâm lược. Mô hình của Châu Âu Tư bản chủ nghĩa đã được người dân Mỹ tham khảo và nhanh chóng được họ cải tiến tốt hơn cho chính nước họ. Trong quá trình phát triển TBCN, Tư bản Mỹ, với “lòng tham của con người” và với hoàn cảnh thuận lợi – tự mình làm chủ – như đã nói, nước Mỹ đã nhanh chóng trở nên hùng cường, đủ “khôn” để bành trướng ra thế giới. Nhưng tại sao họ không đi chiếm thuộc địa, mở mang bờ cõi, xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải của các nước xung quanh? Bởi lẽ họ có đủ thông minh: a) Vì họ tôn trọng bản đồ thế giới đã hình thành, và học được bài học thất bại của các nước TBCN thực dân đi trước; b) Vì với KHKT tiên tiến nhất thế giới, với những sản phẩm chất lượng, tinh xảo hàng đầu, Mỹ nhận thấy rằng, cứ thuyết phục các nước “mở cửa” thị trường thì Mỹ sẽ thống lĩnh được kinh tế thế giới không cần chiến tranh (cái ý ấy là đặc sệt “cá nhân chủ nghĩa”, khôn ngoan, nhưng là tiên tiến cho đến tận ngày hôm nay). Mỹ đã cố gắng đứng ra làm “Sen đầm” giữ trật tự thế giới để cùng cạnh tranh trong hòa bình, yên tâm rằng, chừng nào KHCN và sản phẩm công nghệ cao của Mỹ vấn đứng đầu thế giới. Thái độ chống CNCS gay gắt cũng chính là vì Mỹ sợ cái đường lối đưa công nông (nghèo khó, ít học) lên lãnh đạo, xóa bỏ thị trường tự do thì nó sẽ chặn đứng, thậm chí tiêu diệt cái chủ trương tự do dân chủ cạnh tranh thị trường theo tài trí sáng tạo của mọi công dân; c) Vì một điều may mắn: đất Mỹ đã đủ rộng cho khoảng 2-300 triệu dân.

Tất cả những cái xấu xa cũ đã thúc ép, và tất cả những cái tốt đẹp vốn có đang tạo ra khả năng để Hoa Kỳ có thể chuyển dần từ CNTB đế quốc, về CNTB Dân chủ, cơ hồ có thể tìm lại giấc mơ cũ trong các bản Tuyên ngôn nổi tiếng của nước Mỹ. Mỹ rất xứng đáng là đồng minh chiến lược số 1 của VN.

 

2.2. Trung Quốc

Khác hẳn với Mỹ, nếu đem hệ thống thang bậc tiến hóa abc của thế giới ra áp vào TQ, thì hầu như TQ đang đứng ở bậc trung bình về hầu hết các nội dung, trừ tổng lực kinh tế đứng thứ hai (của 1,3 tỷ dân, trong khi Mỹ chỉ có trên 300 triệu dân), chinh phục vũ trụ và số lượng trang bị quân sự là đạt được hàng thứ ba, thứ tư thế giới. Trung quốc có lịch sử chí ít cũng đến 3, 4 ngàn năm. “Hiện nay tại TQ đang nổi lên trạng thái tâm lý rất cực đoan đang thịnh hành ở nước này liên quan đến cái gọi là tính ưu việt về chủng tộc của Trung Quốc, chủ nghĩa quân phiệt, và trường phái lý luận coi ý chí chính trị đóng vai trò quyết định tối hậu của nước này” (Theo TTX VN). Tâm lý ấy đang động viên Trung Quốc “chạy hết tốc lực” để trở thành “quốc gia số một” hay “cường quốc đứng đầu thế giới” thay thế Mỹ. Nhưng vì cái gì, để cho ai, thì các nhà lý luận chiến lược của TQ chưa trả lời được rõ ràng. Một số chuyên gia TQ nói rằng, “để TQ làm mẫu, tạo mô hình tân tiến “dẫn dắt” thế giới” (!).

Trên cơ sở nào xuất hiện tư duy nôn nóng, vội vã độc đáo ấy? Đây là truyền thống thông minh, sáng tạo, tiên tiến đặc sắc; hay ý muốn chủ quan siêu hình, lập dị, ảo tưởng; là sự bừng tỉnh của một số người TQ tiên phong đã từng đi tham quan khảo sát ở các nước phương Tây; hoặc đơn giản chỉ là biểu hiện của lòng tham không đáy, muốn có sức mạnh để lặp lại những sai lầm của CN thực dân đế quốc hay phát xít trước đây?

Sau đây là điểm qua mấy nguyên nhân:

1. TQ là nước lớn nhất cả về dân số lẫn đất đai và lịch sử văn hóa lâu đời. Vậy thì TQ hèn kém gì mà không đặt cho mình mục tiêu trở thành một nước đứng đầu thế giới? (**)

2. Trung quốc đã từng là cường quốc kinh tế thế giới. Đã từng có nền văn minh Trung Hoa nổi tiếng “nhân đạo và hòa bình” (!) thời Trung Đại, đã phát minh ra giấy, thuốc súng, la bàn, đã tự sáng tạo ra chữ viết và các triết giáo nổi tiếng như Đạo Lão, Đạo Khổng; TQ có định hướng thể chế tân tiến (XHCN đặc sắc TQ), có mô hình hiện đại là “Dân chủ theo chiều dọc” (xem phụ lục), có sức mạnh của “Trung Quốc vương đạo” không bao giờ phai lạt… Vậy TQ có quyền “lập chí” đứng đầu thế giới!

Nhưng TQ đã cố bỏ qua cái Gốc: Vì lý do gì TQ đã từng có vị trí đứng đầu thế giới phong kiến, nhưng sau đó đã để mất tư thế đó, thậm chí đã trở thành “một nước nghèo yếu nhất thế giới để cho các nước tư bản phương Tây sâu xé suốt gần một thế kỷ”, như Tôn Trung Sơn đã từng nói? Đó là vì: a) Trung Quốc đã chìm sâu vào Chủ nghĩa phong kiến, đã hoàn thiện, chăm chút, tô điểm, nâng cấp cái chủ nghĩa “Trung quân Vương đạo” này đến mức tinh xảo, ưu việt nhất trong “Thế giới phong kiến” toàn cầu. Nếu Chủ nghĩa phong kiến trên thế giới có những đặc điểm gì cản trở sự tiến hóa văn minh, thì chủ nghĩa phong kiến của TQ luôn thuộc loại đứng đầu. Người TQ vẫn tự hào về nền văn hóa cổ kính của mình, đặc biệt cái đỉnh cao của nó là Đạo Khổng, chuyên dạy người ta phải sống có nhân nghĩa, đạo đức (đó là cái tốt), nhưng thực chất trước hết là để hết lòng trung thành với nhà vua (Chủ nghĩa Trung quân) (mâu thuẫn với nhân nghĩa, đạo đức); b) Các vua chúa phong kiến rất ghét tư duy Dân chủ, độc lập, sáng tạo, sự tự do, thậm chí ghét đến mức rất nhiều triều đại cho quân lính tịch thu đốt hết sách vở, bắt giết cả trí thức có ý vươn ra ngoài quy chế lễ giáo phong kiến, nhất là tại các “thuộc quốc” để triệt tiêu sự nổi dậy. Bởi họ coi những thứ đó là rất nguy hiểm cho chế độ vương đạo, cho ngai vàng của họ; c) Nói về cái bệnh phổ quát của con người là bệnh tham lam, thì có lẽ TQ là tập hợp chứa chấp một số nhóm người tham lam nhất thế giới. Không ai dám bịa: Chính những nhóm người này là hạt nhân cực kỳ lợi hại, nguy hiểm của Chủ nghĩa bành chướng bá quyền phong kiến cực đoan Trung Hoa. Do lòng tham vô độ, nhưng thay vì nghiên cứu sáng tạo KHCN, làm ra sản phẩm mới, thì họ lại không ngừng nghỉ “sáng tác” ra mọi mục tiêu và mưu mẹo xảo trá dã man thâm độc để “mở mang” bờ cõi, xâm chiếm đất đai, đồng hóa các dân tộc khác chung quanh, không để cho người ta sống hòa bình, yên ổn. Đó là nguyên nhân dẫn đến kết quả không ngờ: Từ một vùng đất rộng lớn, trên đó cư trú trên hai chục quốc gia độc lập (như kiểu các quốc gia độc lập Châu Âu tồn tại cho đến hiện nay), họ đã đánh chiếm bằng cả quân sự lẫn mưu mẹo, rồi bằng mọi cách đồng hóa bên bị thua để các nước thua không thể đòi tách ra độc lập trở lại như cũ được nữa (Dấu vết của cái dã tâm xâm chiếm đồng hóa này vẫn còn chưa kịp hoàn thành đến giờ này, đó là các vùng Tân Cương, Tây Tạng và Nội Mông…)(***); g) Chính vì Chủ nghĩa trung quân được điêu luyện trên đất TQ, nên nó đã triệt tiêu đến tệ hại mọi ý chí vươn lên sáng tạo và cạnh tranh phát triển KHCN, sản xuất sản phẩm cao cấp hiện đại, đời sống văn hóa và thể chế chính trị phi phong kiến…, làm cho đất nước Trung Hoa ngày càng tụt hậu so với thế giới hiện đại như Tôn Trung Sơn đã nhận xét (người đã rất nhiều lần tìm đường sang phương Tây quan sát, học hỏi).

Bây giờ một số giới TQ với đầu óc dân tộc rất cao, có chí hướng lớn, có tầm nhìn rất “chiến lược”… đã gợi dậy tinh thần xô vanh nước lớn của Nhân dân TQ để thực hiện ý đồ chính trị của mình (“nước mà đứng đầu, thì dân sẽ rất có lợi”). Tôn Trung Sơn đã từng nói: “Người TQ phải làm nên những kỳ tích vĩ đại nhất của Nhân loại” (!), “Phải xây dựng TQ trở thành quốc gia “4 nhất’: Mạnh nhất thế giới, giàu nhất thế giới, nền chính trị tốt nhất thế giới, dân chúng hạnh phúc nhất thế giới”. Những tư tưởng đó thật vĩ đại, thật đặc sắc. Và Tôn Trung Sơn cũng đã nói: “Thế giới phải hòa bình, thế giới phải đại đồng. Mong muốn người TQ sẽ đảm bảo hạnh phúc lớn nhất cho nhân loại, làm nên kỳ tích lớn nhất cho nhân loại, không chỉ mang lại lợi ích cho một dân tộc, một quốc gia, mà là cho toàn thể nhân loại”. Giải pháp của Tôn Trung Sơn đưa ra là theo bước chân của Hoa Kỳ.

Vậy tại sao bây giờ TQ đi ngược lại 180 độ những lời chỉ giáo của lãnh tụ của mình, phải “tăng tốc tận lực” bóc lột nhân dân TQ, phải dùng biện pháp bành trướng bá quyền ra chung quanh, chà đạp lên luật pháp quốc tế và quyền lợi các nước khác để thực hiện mục tiêu phát triển thành một “nước lớn đứng đầu” thế giới?

Có rất nhiều lý do khác nhau:

1. Về chính trị. Tôn Trung Sơn đã dạy: Muốn phát triển, TQ phải thực thi Tam quyền phân lập (Lập pháp, tư pháp, hành pháp) như các nước phương Tây, thậm chí cần sáng tạo thêm, thực hiện “Ngũ quyền phân lập”, tức phải thêm “hai quyền phân lập” nữa, là thêm chế độ chất vấn và thi cử (như chất vấn quốc hội, tranh cử nghị sĩ và tổng thống). Tôn Trung Sơn còn nói: “Nếu TQ có thể đi theo con đường cách mạng của Mỹ, thì kết quả tương lai đương nhiên sẽ tốt đẹp hơn Mỹ”. Nói tóm lại, đáng lẽ là phải Tự do dân chủ đa nguyên như phương Tây, và hơn phương Tây. Nhưng Mao Trạch Đông và phe phái của Mao cầm quyền thì lại rất nôn nóng, tôn sùng, học theo nhà độc tài Stalin và lãnh chúa khát máu Tần Thủy Hoàng… để thực hiện ý đồ không lành mạnh “chạy cho thật nhanh” để soán ngôi cường quốc chủ trì thế giới nhằm trục lợi! Vậy bao giờ TQ mới “dẫn dắt” được thế giới về chính trị, về mô hình phát triển?

2. Về kinh tế. Để phát triển trỗi dậy, đương nhiên phải tự chăm sóc nội lực và quan hệ tốt với thị trường quốc tế. Nhưng với phương châm nóng vội “chạy cho thật nhanh” thì TQ không thể theo mô hình dân chủ cạnh tranh bình đẳng tự nhiên như các nước, vì cái này đòi hỏi thời gian dài. Vì thế TQ đã dùng mọi mưu ma chước quỷ dụ dỗ các nước phương Tây, sau khi Mỹ thua tại VN nên gặp nhiều khó khăn, để họ sẵn sàng giúp biến TQ thành “công xưởng của thế giới” để TQ tự bóc lột mấy trăm triệu nhân dân nước mình, thông qua thu hút đầu tư, công nghệ và giải quyết thị trường bên ngoài. Việc TQ coi thường luật pháp quốc tế và các quan hệ láng giềng, đã hung hăng bành trướng bá quyền ra các nơi chung quanh không cần dấu diếm như đang thấy, chính là nằm trong chiến lược “chạy thật nhanh” để chiếm “vị trí đứng đầu thế giới” nói trên. Sự nôn nóng, ăn xổi đó đã dẫn đến tác hại mà chính một chuyên gia TQ đã cho biết: “Nền kinh tế TQ có 16 cái “tử huyệt”, nếu phương Tây mà “trừng phạt” vào đấy, thì kinh tế TQ có thể gục ngay sau vài tháng”. Vậy bao giờ TQ mới ở vị trí “Dẫn dắt” thế giới về kinh tế như họ muốn ?

3. Về KHCN và kỹ thuật quân sự. Sự lạc hậu về KHCN và KT quân sự của TQ có nguyên nhân sâu xa từ chế độ tập quyền phong kiến, như đã nói (nên mới bị các nước phương Tây và Nhật “bắt nạt”). Vì việc tự lực nâng trình độ KHCN và kỹ thuật QS lên không thể nhanh, cho nên TQ đã có cực nhiều sáng kiến “sao chép” mọi lĩnh vực KHCN của thế giới, đã khôn khéo lôi kéo được các chuyên gia KHCN và KT quân sự LX chạy sang, đồng thời cũng huy động được các trí thức chuyên gia TQ học tại các nước phương Tây trở về. Tình báo thu thập thông tin KHCN và KT QS của TQ cũng phát triển rất mạnh. Một chân lý: Khi đã ngang bằng, mà muốn vượt lên, thì phải bằng chính trí tuệ và sức lực của mình. Nhưng chính các chuyên gia chiến lược KHCN, Kỹ thuật quân sự của TQ cũng mới chỉ hy vọng rằng: TQ sẽ sớm bỏ qua vị trí thứ ba trong lĩnh vực sức mạnh này. Vậy bao giờ TQ mới “dẫn dắt” được thế giới về những mặt KHCN và KT quân sự ?

Tóm lại, cái mối lo và đáng ngại nhất của thế giới đối với TQ thực chất là sự hung hăng và ý chí nóng vội “chạy thật nhanh”. Cái đáng gờm thứ hai là sự tàn bạo mưu mô sảo quyệt dã man của TQ, không chỉ đối với bên ngoài, mà họ dám làm đối với ngay trong nước họ, để diệt những ý tưởng chống đối sự mất dân chủ và bất chính. Nhưng 2 cái đó chỉ là sức mạnh đe dọa tạm thời, không cơ bản, chỉ có thể hữu hiệu cho những mục tiêu cụ thể trước mắt. Trước đây, TQ chê Mỹ và phương Tây là Cường đạo dã man, còn TQ sẽ là Cường đạo văn minh. Nhưng nay, thực tế đang diễn ra là đã đảo ngược lại. Điều đó không có gì khó hiểu: TQ đi sau phương Tây khoảng một thế kỷ. Họ không thể không trải qua những bước tiến hóa theo trật tự quy luật, nhưng vì nôn nóng, để rút thật ngắn, họ buộc phải tìm cách nhảy cóc bằng “cơ bắp” và thủ đoạn gian dối.

Mặc dù TQ đã có thời đứng hàng đầu thế giới, nhưng nên nhớ, đó là hàng đầu trong thể chế và văn minh phong kiến. Nên thực tế không thể chối cãi là TQ hiện nay đang giống nhiều nước phương Tây trước thế chiến một và thế chiến hai. Vì vậy, trong khi Mỹ đã chuyển sang CNTB Dân chủ, thì Tàu mới bắt đầu đi vào giai đoạn Tiền TBCN, để rồi sau đó sang nửa đầu thế kỷ XXI này mới “định hướng” đạt đến giai đoạn CNTB đế quốc như Mỹ tại nửa sau của thế kỷ XX vừa qua. Chính Mao Trạch Đông, sau khi thất bại nặng nề trong “Đại nhẩy vọt” đã điều chỉnh thời gian cần để TQ vượt Mỹ từ 15 – 20 năm lên 50 – 100 năm. Còn Đặng Tiểu Bình thì nêu thời gian để TQ tiến lên vượt trước Mỹ, đứng đầu thế giới là “nửa sau của thế kỷ XXI”. Chúng tôi, căn cứ sự tiến hóa văn minh của Nhân Loại, thấy rằng, mỗi thế kỷ tiếp sau, các thế hệ CON NGƯỜI mới sinh ra lại có bao điều mới mẻ, tiến bộ thông minh hơn các thế hệ trước, do đó nếu Bồ Đào Nha chỉ giữ được vị chí “đứng đầu thế giới” gần 1 thế kỷ, Hà Lan giữ được “cường quốc đứng đầu” trên 1 thế kỷ, nước Anh đứng đầu thế giới khoảng 2 thế kỷ, thì Mỹ có thể đủ thông minh, tài trí để giữ được vị trí đứng đầu thế giới khoảng từ 2 đến 2,5 thế kỷ. Còn TQ, vì bắt đầu tham gia vào cuộc đua quá chậm, không đi từ CNTB Dân chủ hàng ngang, mà từ “CNTB đặc sắc Dân chủ hàng dọc”. Điều đó bắt buộc TQ phải đi từ giai đoạn, về thực chất, là “Tiền TBCN” (ít nhất vài chục năm như đang tiếp tục diễn ra trong nước), sau đó mới “tiến” lên CNTB đế quốc (nửa thế kỷ nữa), rồi sau nhiều thất bại (như TB phương Tây trước đây) mới tỉnh ngộ để tham gia phấn đấu tiến tới CNTB Dân chủ (dự kiến 1 thế kỷ). Hiện nay, 2014, đối với trong nước, thì TQ vẫn đang ở giai đoạn Tiền TBCN, đối với ngoài nước thì TQ đã bắt đầu “nhảy cóc” đi vào giai đoạn CNTB đế quốc. Có kết quả lệch pha như vậy, chính là do “ý chí vươn lên đuổi kịp và vượt” ghê gớm của giới cầm quyền, bắt đầu từ Mao Trạch Đông. Theo quy luật thế giới, TQ cần trải qua một số thất bại mang tính quyết định, cái đó tuỳ tình hình lực lượng các bên trên thế giới, sau đó – theo đúng quy luật – có thể TQ mới bước vào giai đoạn CNTB Dân chủ như Mỹ hiện nay được. Nên nhớ: Thất bại của “Đại nhảy vọt” 1958 của Mao Trạch Đông chưa phải là thất bại của CNTB đế quốc Trung Quốc, mà mới là thất bại của “ảo tưởng” công xã nhân dân trong giai đoạn hướng theo chế độ XHCN.

Lịch sử trỗi dậy của những nước lớn không phải ở dân số đông, diện tích rộng, mà là ở chí hướng, ở sức mạnh trí tuệ, trình độ văn hóa xã hội của nhân dân, và tầm nhìn nhân bản của lãnh đạo nước họ. Một khi chí hướng đã bị đặt sai lệch, trí tuệ không đầy đủ, đạo đức lại yếu kém, thậm chi điên rồ, dã man… thì chẳng được chính nhân dân nước mình ủng hộ, nói gì có sức mạnh thật sự để sớm vươn lên thành “nước lớn vĩ đại”, có mô hình “dấn dắt” để được chúng ta tự nguyện chọn làm “Đồng minh chiến lược”.

Tuy nhiên, cần thấy trên đây chỉ là đạo lý nghiêm chỉnh, là tư duy của những người có thần kinh bình thường. Còn TQ là một nước lớn sát ngay biên giới và biển đảo với VN, từ ngàn xưa đã nhiều lần xâm chiếm VN, nay rất muốn chi phối, bắt VN thành thuộc quốc, phên dậu cho họ, dắt mũi được lãnh đạo VN nhiều năm dài, nên VN không thể không tính đến, không thể không đề phòng tình hình bất trắc đối với một TQ “đồng chí” dởm như vậy, khi họ bị VN gạt ra khỏi “vị trí” vẫn muốn có của họ. Để khắc phục sự lo lắng, băn khoăn, dẫn đến lưỡng lự, mâu thuẫn nội bộ, bỏ lỡ cơ hội mà chính TQ và Thế giới đã mở ra cho VN nắm lấy, thì chúng ta cần trước hết phải dũng cảm thuyết phục, loan báo được cho toàn dân, toàn đảng và bạn bè thế giới biết về bản chất cái Gốc của vấn đề như đã trình bày ở trên.

Cuối cùng, nếu có lo rằng, liệu Mỹ có duy trì lâu dài được vai trò “đứng đầu thế giới”, thì đó là một tư duy chiến lược nghiêm chỉnh, nhưng cái đó không chỉ phụ thuộc chính vào nước Mỹ. Nếu TQ chẳng hạn, sau này sẽ vươn lên đạt tiêu chuẩn, chúng ta sẽ lại đem ra xem xét và điều chỉnh sự lựa chọn đồng minh chiến lược số 1 của mình. Cái khó cho VN trong việc hoán đổi đồng minh chiến lược hiện nay là TQ thì không muốn VN từ bỏ đồng minh số một với TQ, để TQ có thể tiếp tục thực hiện Dân chủ chiều dọc tới VN (như Dương Kiết Trì vừa mới thực hiện, sang chỉ thị cho lãnh đạo VN nhưng không dám công khai cho nhân dân biết), còn VN thì cần dũng cảm thực thi Dân chủ chiều ngang đầy đủ để nhân dân Mỹ cho phép chính phủ Mỹ nhận VN là đồng minh chiến lược. Vì vậy, đây chính là cái Gốc cực kỳ quan trọng hàng đầu trong quan hệ quốc tế đối với sự nghiệp bảo vệ đất nước chính nghĩa của VN, mà chúng ta phải nắm được. 

Tóm lại, chúng ta vẫn chân thành hữu nghị với nhân dân TQ, chúc họ sẽ sớm đạt danh hiệu mà họ mong muốn là “Quốc gia hàng đầu” và tham gia “dẫn dắt thế giới”, nhưng tại giai đoạn này, nhân dân ta cần cương quyết, cố gắng, dứt điểm tiếp nhận thời cơ trăm năm có một và những tư vấn chân tình của bạn bè quốc tế để chọn một đồng minh chiến lược số 1 của mình, đó là Hoa Kỳ – nước đứng đầu CNTB Dân chủ, đương kim siêu cường thế giới.

Mặt khác, cũng rất mong muốn thế giới sẽ từ bỏ “Mô hình” độc cực một siêu cường đứng đầu, phấn đấu để toàn cầu trở nên đa cực nhiều siêu cường, từ đó thế giới sẽ có thể tồn tại cân bằng trong hòa bình dân chủ và văn minh.

Hà Nội, ngày 28 tháng 7, năm 2014

V.D.P.

Chú thích: Đây là phương án sơ bộ (dự thảo) về “chọn Đồng minh”. Nếu ai có thời gian và quan tâm, xin đưa ra phương án “chọn Đồng minh” tốt hơn để nhân dân và chính quyền tham khảo, chắc chắn sẽ được mọi người hoan nghênh.

 

Phụ lục

(*) Xin giải thích rõ, đi từ hình ảnh cực đoan để diễn tả:

Dân chủ theo chiều ngang điển hình đầu tiên là dân chủ tại một cái chợ thời xã hội hoang sơ, Dân làm chủ thật sự, nhưng tự phát, thiếu kỷ cương, đôi khi hỗn loạn. Bây giờ Dân chủ chiều ngang đã tiến tới Dân làm chủ có tổ chức, cạnh tranh đa nguyên, đa đảng, nhà nước pháp quyền, thị trường tự do có kiểm soát và xã hội dân sự lành mạnh.

Dân chủ theo chiều dọc từ trên xuống, điển hình nhất là chế độ tù trưởng, lãnh chúa, vua quan đứng đầu, vương triều chỉ đạo, có tham khảo ý kiến một số thần dân. Sau đó nâng cao bằng học thuyết Khổng Tử, Đến bây giờ là độc đảng toàn trị, có “bầu bán dân chủ” dưới sự “lãnh đạo liên tục của một đảng “sáng suốt” độc quyền duy nhất”.

Thực ra hiện nay, thể chế dân chủ tự do đa nguyên phương Tây là đã có kết hợp nhuần nhuyễn Dân chủ chiều dọc với Dân chủ chiều ngang rồi. Cụ thể là, Dân chủ chiều ngang dùng để toàn dân lựa chọn Thể chế, Hiến pháp, và lựa chọn tự do công bằng một đảng cầm quyền vừa ý nhất theo nhiệm kỳ, sau khi Dân đã dân chủ chiều ngang lập ra Hiến pháp và chọn ra một đảng cầm quyền rồi, thì đảng đó được quyền thực hiện Dân chủ chiều dọc theo quyền lực tập trung trong phạm vị một hoặc hai nhiệm kỳ. Nếu nhân dân thấy chưa ổn ở chỗ nào thì lại thực hiện Dân chủ chiều ngang để tìm cách sửa chỗ đó, tức là sửa Hiến pháp, hay thay đổi, lật đổ thủ lĩnh đảng đang cầm quyền.

Hiện nay, chính nhân dân TQ, và Đảng CSTQ cũng rất băn khoăn, dao động về cái khái niệm thể chế CNXH hay CNTB. Người ta nói, Trung quốc đang là “đầu Ngô, mình Sở”. Có nghĩa đầu thì vẫn muốn tự gọi là, hay phấn đấu để đi theo (định hướng) XHCN đặc sắc TQ “Dân chủ chiều dọc”, nhưng mình và chân tay thì đã hoạt động theo cái thể chế TBCN rồi, cụ thể nhất là TQ đang thuyết phục các nước tư bản “công nhận TQ có cơ chế thị trường đầy đủ”; Xã hội dân sự thì đã phát triển tràn lan “khắp hang cùng ngõ hẻm” và “chiếm lĩnh không gian mạng” rồi (hai cái thứ mà CN Mác – Lê “kỵ” nhất, ghét nhất). Còn Mỹ thì, nói ngắn gọn là: Sau nhiều thất bại nặng nề do tư tưởng đế quốc mới phát sinh, với thái độ huênh hoang, ngạo mạn, chủ quan do địa vị “siêu cường độc cực” trên thế giới mang lại, nay, sau nhiều lần thất bại, và trước sự giác ngộ và áp lực của toàn dân và thế giới, nước Mỹ đã và đang chuyển từ CNTB đế quốc trở về CNTB dân chủ đúng như “Tuyên ngôn lập nước” và Hiến pháp Dân chủ của Mỹ bắt đầu từ nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Obama (như “Tìm lại giấc mơ Mỹ”). Như vậy, để khách quan, và để dùng đúng cái chuẩn khái quát nhất của phát triển, tức là nhận dạng cho đúng cái tương lai “sẽ” đến của thể chế chính trị, cái mà các nước đang quan tâm so sánh rõ nhất trong cạnh tranh là “Mô hình phát triển”. Chúng ta nên đem “Mô hình phát triển” của Mỹ và “Mô hình phát triển” của Trung Quốc hiện nay và cách thức họ đang triển khai đã trình bày ở trên ra để xem xét là tiện nhất.

(**) Nếu so sánh với Bồ Đào Nha khi trỗi dậy trở thành “nước lớn” ở thế kỷ 16, đất đai chỉ có 92 ngàn km2, với dân số hơn 1 triệu người. Hà Lan nước nhỏ làm nên nghiệp lớn, đứng đầu thế giới ở thế kỷ 17, khi dân số Hà Lan chỉ có 1,7 triệu người. Sau đó đến nước Anh, một đảo quốc không lớn, dân số mấy chục triệu người, vậy mà cũng đứng đầu thế giới suốt 2 thế kỷ. Nước Mỹ có diện tích và dân số vừa phải, mới lập quốc vài trăm năm, nhưng họ đã trở thành một đất nước vĩ đại của thế kỷ XX.

(***) Matteo Ricci, một nhà nghiên cứu phương Tây đã lục lọi trong tàng thư của TQ và ghi chép lại: “Trước kia TQ chỉ là một nước nhỏ”, nằm quanh khu vực Bắc Kinh hiện nay, với Vạn lý trường thành để bảo vệ phía Tây chỉ cách Bắc Kinh mấy chục cây số. “Khi đó, phía đông TQ có 3 nước, phía tây có 53 nước, phía nam có 55 nước, phía Bắc có 3 nước, vị chi là 114 nước”. Vậy nếu quả thật TQ là một nước tồn tại hòa bình có văn hóa, thì tại sao đến bây giờ chung quanh TQ lại còn lại chỉ có 8-9 nước như đang thấy? Không phải ngẫu nhiên Bà Mac Kell đã tặng Ông Tập Cận Bình một tấm bản đồ cổ, trong đó TQ chưa có đất Nội Mông, Tân Cương, Tây Tạng, Hải Nam và Đài Loan…, đương nhiên càng chưa có Hoàng Sa và Trường Sa.

(Nguồn :BVN)

 

 

Dịch Ebola: Lời tiên tri khủng khiếp của bà lão mù Vanga đã linh nghiệm?

 


Những tiên đoán đúng khiến loài người giật mình

- Tàu ngầm Krusk của Nga chìm vào năm 2000
Đúng 20 năm trước khi thảm kịch xảy ra, vào năm 1980, Vanga đã tiên tri rằng: “Cuối thế kỷ này, vào tháng 8/1999 hoặc 2000, Kursk sẽ chìm dưới nước, và cả thế giới sẽ than khóc vì nó”. Ngày đó, không một ai quan tâm đến lời tiên tri buồn cười này. Nhưng rồi người ta mới biết rằng Kursk bà nói không phải là về thành phố mang tên Kursk.


Tàu ngầm Krusk của Nga được Vanga đoán trước sẽ chìm vào năm 2000
Vào đúng tháng 8 năm 2000, tàu ngầm nguyên tử Kurst của Nga (đặt theo tên của thành phố Kurst) đã gặp nạn và 118 thủy thủ trên tàu không còn cơ hội sống sót. Cả thế giới nói chung và nước Nga nói riêng vô cùng đau buồn trước sự tổn thất lớn không lấy gì bù đắp lại được này.

– Sự hồi sinh của nước Nga

Hình ảnh Dịch Ebola: Lời tiên tri khủng khiếp của bà lão mù Vanga đã linh nghiệm? số 3
Nước Nga hồi sinh sau thảm hoạ tàu ngầm

Năm 1988 khi tiên tri về nước Nga, bà Vanga vẽ một vòng tròn lớn trong lòng bàn tay và nói: “Nga sẽ một lần nữa trở thành đế chế vĩ đại, chỗ dựa tinh thần cho toàn thế giới. Tuy nhiên phải đợi rất lâu khi con số 8 xuất hiện và có những ký kết về Trái đất”. Và trên thực tế, nếu nước Nga trở thành cường quốc lớn mạnh và tham gia nhóm G7 đến biến nó thành G8 thì họ sẽ có tác động tới tiến trình chiến tranh và hòa bình thế giới
- Khủng bố toà tháp đôi của Mỹ 11/9/2001
Lời tiên đoán năm 1989: “Đáng sợ! Đáng sợ! Những anh em sinh đôi của Mỹ sẽ ngã xuống sau khi bị những con chim sắt tấn công. Những con sói sẽ gầm rú trong lùm cây và máu của những người vô tội sẽ chảy” dường như đã được ứng nghiệm với sự kiện tòa tháp đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới (New York) đổ sập bởi vụ tấn công khủng bố ngày 11/9/2001.

Toà tháp đôi của Mỹ bị khủng bố vào ngày 11/9 theo như lời tiên tri của bà Vanga

Tháp đôi cũng có nghĩa khác là “sinh đôi” (Twins) hay còn gọi là anh em. Những kẻ khủng bố đã khống chế toàn bộ hành khách trên máy bay – “những con chim sắt” – và lao vào tòa tháp. Lùm cây trong tiếng Anh có nghĩa là “bush” nên ở đây có thể cũng ám chỉ đến tên của vị Tổng thống đương nhiệm của G. Bush.
- Thảm hoạ động đất, sóng thần ở Nhật Bản năm 2011
Và gần đây nhất là sự “hiện thực hoá” về thảm hoạ động đất, sóng thần tại Nhật Bản vào ngày  11/3/2011.
Thảm họa thiên tai quá lớn, quá đột ngột và việc người dân Nhật “không kịp trở tay” ấy một lần nữa gây xôn xao thế giới khi có thông tin cho rằng, nó đã được dự đoán trước bởi một nữ tiên tri mù có tên Vanga. Người ta bắt đầu tìm kiếm lại những lời tiên đoán ấy và vô cùng kinh ngạc trước mức độ chính xác của nó.

Hình ảnh Dịch Ebola: Lời tiên tri khủng khiếp của bà lão mù Vanga đã linh nghiệm? số 5

Thảm hoạ động đất, sống thần xảy ra ở Nhật Bản năm 2011

“Do những trận mưa phóng xạ nên ở Bắc Bán cầu cả động vật lẫn thực vật đều sẽ bị tuyệt diệt vào tháng 3 năm 2011”. Chỉ riêng mốc thời gian được nhắc đến trong lời tiên đoán cũng khiến cho không ít người phải giật mình.
Thời điểm tháng 3 kinh hoàng của lịch sử Nhật Bản đã được đề cập đến. Không những vậy, hai chữ “phóng xạ” cũng khiến người ta nghĩ ngay đến thảm họa phóng xạ mà những vụ rò rỉ của nhà máy điện nguyên tử của Nhật Bản đang khiến nước Nhật lo lắng.
 Nhiều tiên đoán…trật lất
- Chiến tranh thế giới thứ III năm 2010
Bà cho rằng, xung đột vũ trang tại Nam Ossetia và trong thế giới của người Hindu, những vụ mưu sát các nhà lãnh đạo và nguyên thủ quốc gia sẽ dẫn tới bùng nổ Chiến tranh thế giới III vào năm 2010 và kết thúc vào năm 2014. Theo bà, Ngày tận thế là kết quả do Cuộc Chiến tranh thế giới III dẫn đến thảm họa chiến tranh hạt nhân trên phạm vi toàn cầu, sự diệt vong của loài người và toàn bộ sự sống trên Trái đất. Thế nhưng, bây giờ đã là năm 2012 và thực tế đã chứng minh không hề có cuộc chiến tranh nào trên quy mô toàn cầu như vậy cả.

Theo Vanga, năm 2010, chiến tranh thế giới thứ III sẽ xảy ra

Tuy nhiên, người ta cũng khá quan tâm tới những lời tiên tri này của bà bởi với tình hình thế giới bất ổn như ngày nay: chiến tranh dầu mỏ, hạt nhân, vũ khí sinh học…; nguy cơ bùng nổ một cuộc chiến quy mô lớn đến như vậy được bà đặt ra không phải là không có cơ sở.
- Dịch Ebola sẽ huỷ diệt loài người vào năm 2014?
Trước khi qua đời, nữ tiên tri lỗi lạc này cũng đã tiên đoán, đến năm 2014 “đa số người dân sẽ bị mụn nhọt, ung thư da và những chứng bệnh khác về da” do hậu quả của chiến tranh Thế giới thứ III.

alt


Lời dự đoán này khiến nhiều người nghĩ rằng dịch bệnh Ebola đang hoành hành ở Tây Phi gây nên cái chết của gần 1000 người hiện nay chính là ứng nghiệm lời tiên tri này.
Tuy nhiên, trên thực tế, dịch bệnh Ebola do virus Ebola gây ra và hoàn toàn không bắt nguồn từ chiến tranh hóa học như lời dự đoán của nhà tiên tri lỗi lạc này.


(Theo Tin Mới)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 10.08.2014

Nguyễn Quang Lập kể ‘Chuyện nhà quê’

Nguyễn Quang Lập kể ‘Chuyện nhà quê’

Bạch Tiên

Giọng điệu châm biếm, hài hước và phong cách “khẩu văn” – viết như nói – giúp Nguyễn Quang Lập rút ngắn khoảng cách giữa độc giả và tác giả.

Tên sách: Chuyện nhà quê
Tác giả: Nguyễn Quang Lập
NXB Hội Nhà văn

“Chuyện nhà quê” là tập truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Quang Lập.

Qua những trang viết trong Chuyện nhà quê, ông phơi bày tật xấu của các nhân vật một cách không thương tiếc. Lối viết “khẩu văn” đặc trưng của bọ Lập có thể khiến người đọc lần đầu tiên tiếp xúc những tác phẩm của ông có đôi chút choáng ngợp với những suy nghĩ về con người, cuộc sống được bộc lộ một cách rất thành thật và hồn nhiên, chẳng hề ngượng ngùng hay cố gắng hoa mỹ.

'Bìa sách Chuyện nhà quê

Bìa sách “Chuyện nhà quê”.

Chẳng hạn như ở truyện ngắn Anh hờ hờ, tác giả dám đưa cả bản thân mình và những tên tuổi khác vào làm nhân vật như: Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Khải… Cả câu chuyện là để phê phán thói hư vinh, xem trọng danh vọng hơn bản chất nghệ thuật của anh Hờ Hờ. Tác giả can đảm tự phê phán thói xấu của chính mình qua một chi tiết trong truyện: khi biết ai về nhà anh Hờ Hờ cũng được đãi cỗ linh đình, ông cũng mong muốn được anh Hờ Hờ mời về nhà và khi có cơ hội đó, ông đã nhận ngay lập tức. Tinh thần tự phê phán đó khiến người đọc phần nào nhớ đến Trung Trung Đỉnh vì ông cũng nhiều lần tự phê phán bản thân qua những truyện ngắn có nhân vật chính như đang đại diện cho chính bản thân mình.

Trang viết của Nguyễn Quang Lập cũng không thể thiếu chất hài hước, trào phúng. Đọc hết một truyện ngắn của ông, thường người ta tìm thấy sự châm biếm ẩn sau cuối mỗi câu chuyện. Như trong Ký ức năm hào, ở đầu truyện, có thể người đọc sẽ chỉ nghĩ đây là hồi ức dễ thương, có phần hài hước của một cậu bé về lần đầu tiên khi cậu kiếm được năm hào và nâng niu nó như thế nào. Cậu có phần tự mãn về bản thân mình khiến chúng ta chưa thấy rõ sự tự châm biếm mỉa mai, nỗi buồn của cậu. Chỉ đến tận cùng, câu chuyện mới đột ngột chuyển hướng. Tiêu biểu cho kiểu cấu trúc này là những truyện như: Thằng sứt môi, Chuyện tình anh cu Đom…

Chuyện nhà quê còn là mảng hồi ức khó quên của một người con khi nhớ về nơi chôn nhau cắt rốn. Làng phố trong văn của bọ Lập có sự kết hợp giữa cái bần cùng, chất phác của làng với cái ồn ào, xô bồ của phố. Sự nhạy cảm vốn có của một nhà văn nhiều kinh nghiệm sống giúp Nguyễn Quang Lập viết nên những trang viết rất đời. Ông trăn trở trong từng câu chuyện và nhân vật thể hiện cái nhìn thương cảm trước những tha hóa, đổi thay của con người, của thời cuộc. 

Nguồn: http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/sach/diem-sach/nguyen-quang-lap-ke-chuyen-nha-que-3018194.html

Đăng bởi: Ngô Minh | 09.08.2014

Khốn khổ nước tôi

Khốn khổ nước tôi

altKhalilGibran

” …Khốn khổ nước tôi
Mê tín thì vô hạn
Tôn giáo thì nông cạn…

Tác giả mấy câu thơ vừa dẫn ở trên là Khalil Gibran, thi sĩ xứ Liban (Lebanon)- ông cũng là người viết câu thơ bất hủ:

Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương…

 

(Wake at dawn with winged heart
and give thanks for another day of loving…)

Chưa hết, câu nói trứ danh của Tổng thống Mỹ, J.F. Kennedy:

“Đừng hỏi nước Mỹ đã làm gì cho bạn mà hãy hỏi bạn đã làm gì cho nước Mỹ” cũng xuất phát từ ý một bài thơ của Khalil Gibran, nhưng có lẻ bài thơ Pity the Nation dưới đây mới kinh khủng về sức tiên tri của nó, không chỉ ở đất nước ông mà nhiều xứ sở khác.

Pity the Nation -
(Khalil Gibran)

“Pity the nation that is full of beliefs and empty of religion.
Pity the nation that wears a cloth it does not weave
and eats a bread it does not harvest.

Pity the nation that acclaims the bully as hero,
and that deems the glittering conqueror bountiful.

Pity a nation that despises a passion in its dream,
yet submits in its awakening.

Pity the nation that raises not its voice
save when it walks in a funeral,
boasts not except among its ruins,
and will rebel not save when its neck is laid
between the sword and the block.

Pity the nation whose statesman is a fox,
whose philosopher is a juggler,
and whose art is the art of patching and mimicking

Pity the nation that welcomes its new ruler with trumpeting,
and farewells him with hooting,
only to welcome another with trumpeting again.

Pity the nation whose sages are dumb with years
and whose strongmen are yet in the cradle.

Pity the nation divided into fragments,
each fragment deeming itself a nation.”

(The Garden of the Prophet – 1934)
***

Bản dịch:

Khốn khổ nước tôi
Mê tín thì vô hạn
Tôn giáo thì nông cạn

Khốn khổ nước tôi
Mặc áo mình không dệt
Ăn gạo mình không trồng
Uống rượu mình không làm

Khốn khổ nước tôi
Ca ngợi côn đồ là anh hùng
Gọi kẻ xâm lăng là bạn vàng

Khốn khổ nước tôi
Trong mơ thì ghét cay ghét đắng
Tỉnh dậy lại đầu hàng

Khốn khổ nước tôi
Chỉ dám nói năng khi đưa tang
Chỉ dám khoe khoang di sản hoang tàn
Chỉ dám phản kháng khi đầu sắp lìa khỏi cổ

Khốn khổ nước tôi
Chính khách xảo quyệt như chó sói
Triết gia tung hứng chữ làm xiếc
Nghệ thuật bắt chước chắp và vá

Khốn khổ nước tôi
Kèn loa tưng bừng rước kẻ cai trị mới
Rồi tống cổ chúng bằng la hét phản đối
Rồi lại tưng bừng kèn loa đón kẻ cai trị khác

Khốn khổ nước tôi
Vĩ nhân càng nhiều tuổi càng lú
Thánh nhân chờ mãi chưa ra đời

Khốn khổ nước tôi
Cứ chia năm xẻ bảy chơi
Phe nào cũng xưng mình là nước

 

( Nguồn : Nhà văn TrầnThùy Mai cung cấp)

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 08.08.2014

GIẢI CỨU KẺ THÙ

GIẢI CỨU KẺ THÙ

Trích kịch của Phạm Dũng

 Kịch nước mình, chỉ thấy anh bộ đội Giải phóng tha cho anh bộ đội Cộng hòa. Chiến tranh mà, sao lại chỉ một chiều như thế? Tôi viết một vở ngược lại.

 CẢNH 1 – HANG ĐÁ

 Việt bước ra, nằm vật ra thở. Tiếng quát một người đàn ông vang lên.

 Đàn ông:    Đứng dậy!

 Việt giật bắn người. Theo quán tính anh cầm Khẩu súng Ak lên. Âm thanh một loạt đạn vang lên. Việt hốt hoảng vội bỏ Khẩu súng xuống đất. Tiếng người đàn ông vẫn vọng ra.

 Đàn ông:    Ném súng đi!

 Việt vội vàng ném súng ra xa. Hội ra.

 Hội:            Tên gì?

Việt:           Nam!

Hội:            Đơn vị nào?  (ném ra một sợi dây dù) Buộc chân lại đi!

 Việt ngồi xuống lấy dây dù buộc hai chân của mình lại.

 Hội:            Buộc thắt nút! Đ. má! Tao bắn chết mẹ mày bây giờ. Láu cá! Có gì ăn không?

 Việt buộc chặt lại, rồi đưa ra một cục lương khô. Hội bẻ một miếng đưa cho Việt, ra hiệu ăn. Việt ăn.

 Việt:           Tôi Khát quá! Anh có nước không?

 Hội lấy bi đông đưa cho Việt.

 Hội:            Một ngụm thôi!

 Việt uống một ngụm rồi trả lại. Hội ngồi ăn lương khô ngấu nghiến.

Hội:            (bất chợt) Nam!

 Việt không có phản ứng gì.

 Hội:            Đ.má! Tên gì?

Việt:           (nói nhỏ) Việt!

Hội:            Tao tên Hội. Đằng nào thì lát nữa mày cũng chết, nói dối làm mẹ gì. Hả? Mày lấy hết đồ trong túi ra.

Việt lục túi lấy hết những thứ trong người ra.

 Hội:            Sách gì thế?

Việt:           Truyện Kiều!

Hội:            Mày cũng mê Truyện Kiều nhỉ?

Việt:           Tôi bói Kiều.

Hội:            Còn ảnh ai kia? Người yêu mày phải không?

Việt:           Cô ấy là người yêu… mối tình đầu…

Hội:            Mày ngủ với nó chưa?

 Hội nhếch mép cười.

 Hội:Thô thiển quá hả? Hồi còn là sinh viên văn khoa tao đã bụp 3 con, vẫn còn thua khối thằng. 

Việt:           Rồi anh có hạnh phúc không?

Hội:            Mày làm tao cáu, tao sẽ giết mày sớm hơn. Quê mày ở đâu?

Việt:           Tôi ở Quảng Ngãi.

Hội:            Huyện nào? Xã nào?

Việt:           Huyện Mộ Đức. Xã Đức Nhuận.

Hội:            Sao nói giọng Bắc?

Việt:           Tôi là dân tập kết.

Hội:            Tao dân Ninh Bình. Nhà ở ngay Phát Diệm. Mày đến đó chưa?

Việt:           Nhà thờ ở đó rất lớn. Có tượng Đức Mẹ, đôi mắt lúc nào cũng khóc.

Hội:            Vậy là khi  má tao dắt tao vào Nam thì má mày ẵm mày ra Bắc.(cười) Hồi đó, ông Hồ Chí Minh mà chọn miền Nam thì tao với mày sẽ không phải di chuyển gì cả. Đúng không? (quát) Đúng không?

Việt:           Đúng!

Hội:            Nói cho cùng đây là một cuộc chiến tranh chó đẻ.

Việt:           Người Mỹ đã xâm lược Việt Nam.

Hội:            Hừ! Bọn cộng sản nhồi sọ mày thế hả? Bọn mày có Liên Xô đứng đằng sau. Bọn tao có Hoa Kỳ. Huề!

Việt:           Không giống nhau.

 Hội điên tiết chĩa súng vào Việt.

 Hội:            Mày quỳ xuống và hô “Trần Anh Hội muôn năm!”. Mau!

Việt:           Anh học văn mà sao lại muốn làm nhục người Khác?!

Hội:            Tao bảo quỳ xuống!

 Việt định quỳ thì Hội đạp Việt ngã lăn ra đất.

 Hội:            Nếu không có cuộc chiến tranh chết tiệt này thì chắc tao với mày đã trở thành bạn thân. (cầm ảnh cô gái lên, cười) Và có khi thành tình địch cũng nên. (cầm cuốn Truyện Kiều lên) Mày có biết Nguyễn Du viết.(đọc thơ)

Mụ già hoặc có điều gì,

Liều công mất một buổi quỳ mà thôi.

(ngừng đọc)

Nghĩa là gì không?

Việt:           Tôi không hiểu lắm. Quỳ chắc… cũng có nghĩa là quỳ lạy chứ gì?

Hội:            Hồi tốt nghiệp tao đã làm luận văn về Kiều. Đề tài là từ láy trong Truyện Kiều. Mày có biết từ láy là gì không?

Việt:           Là… là… thí dụ lấp lánh, xênh xang, mênh mông…

Hội:            Có thể tao sẽ tha chết cho mày? Quỳ trong trường hợp này không phải là quỳ gối như lúc nãy tao bắt mày quỳ đâu. Đây, mày nghe đây.

(đọc)

Tình cờ chẳng hẹn mà nên

Mạt cưa, mướp đắng, đôi bên một phường.

Chung lưng mở một ngôi hàng,

Quanh năm buôn phấn, bán hương đã lề.

(ngừng đọc)

Câu này diễn nôm có nghĩa là hai người này cùng chung vốn làm nghề buôn phấn, bán hương. Quan hệ giữa Mã Giám Sinh và tú bà là quan hệ ngang hàng nên Mã Giám Sinh có lợi dụng cơ hội, lấy đi trinh tiết của Kiều thì anh ta cũng không đến nỗi phải quỳ trước tú bà. Quỳ ở đây là chơi kiểu quỳ. Mày hiểu chưa?

Việt:           Tôi… không hiểu.

Hội:            Mày học lớp mấy mà đi lính?

Việt:           Lớp 10.

Hội:            Lớp 10?

Việt:           Ở miền Bắc hết lớp 10 là vào đại học.

Hội:            À thế thì tương đương với lớp 12 trong này. Mày không hiểu là phải. Thế tao hỏi cái câu.

(đọc)

Nước vỏ lựu, máu mào gà

Mượn màu chiêu tập lại là còn nguyên.

Mập mờ đánh lận con đen,

Bao nhiêu cũng bấy nhiêu tiền, mất chi?

(ngừng đọc)

Nghĩa là gì?

Việt:           Nghĩa là tú bà dạy cho Thúy Kiều dùng nước vỏ lựu và máu của mào con gà bôi vào tấm vải trải giường để lừa khách làng chơi là mình còn trinh.

Hội:            Rất nhiều người hiểu như thế. Thực ra tao hỏi mày, kiểu lừa ấy làm sao qua mặt được bọn đi chơi gái? Nghĩa của nó thế này. Trong nước vỏ lựu, có một chất gì đó có thể làm da thịt săn lại. Bọn gái điếm ngày xưa dùng thứ nước đó bôi vào âm đạo. Để Khách làng chơi tưởng là chúng mới vào nghề.

Việt:           Quả là giờ tôi mới hiểu. Anh học văn có khác. Anh Hội… tôi muốn hỏi anh… nói cho cùng… anh giết tôi có lợi gì cho anh?

Hội:            Mày nói thêm một câu tương tự, tao bắn mày ngay lập tức. Đừng làm tao mất hứng.

 Việt liếc Hội. Hội gườm gườm nhìn Việt.

 Hội:            Định cướp súng hả? Mày đánh giá tao quá thấp đấy!

Việt:           Tôi muốn đi tiểu.

Hội:            Đi đi!

 Việt nhảy lò cò ra một góc quay lưng đái.

 Hội:            Mày có thuộc bài thơ nào đọc lên nghe cho vui?

Việt:           Tôi có làm được một số bài.

Hội:            Đọc nghe thử?

Việt:           Bài thơ này có tên là “Đừng nói lời yêu nhé” tôi viết để tặng người yêu tôi. 

(đọc)

Đừng nói lời yêu nhé,

Chỉ mãi hoài vậy thôi.

Đừng đốt ta thành lửa,

Mà tro than suốt đời.

 

Cứ đi bên đời nhau,

Như sương và như khói.

Không một lần cầm tay.

Không một lần gian dối.

 

Một ngày nào hấp hối,

Ta nhớ người xiết bao

Giật mình ta tự hỏi,

Thật hay là chiêm bao?

 Hội:            Cũng được đấy!

Việt:           Anh chắc cũng có làm thơ?

Hội:            Tao từng giật giải nhất về thơ ở trường đại học văn khoa, mày tin không? Bài này có tên là “Em, đồ chó!” Sao? Nghe đã thấy hấp dẫn rồi chứ hả? Nghệ thuật trước tiên phải lạ. Có hàng triệu bài thơ rồi, thêm một bài thơ giống như những bài đã có thì thêm làm mẹ gì?

(đọc)

Em, đồ chó!

Hẹn mà không đến.

 Em, đồ chó!

Yêu hay là không?

Cứ chập chờn như ngọn nến trước gió

 

Em, đồ chó!

Ta muốn lồng lên như sói

Tru những tiếng tru man dại Khát thèm

Hoan ca của loài cầm thú

 

Em, đồ chó!

Ta hộc lên.

 

Em, đồ chó!

 Việt:           Thơ anh… kỳ kỳ. Tôi nhớ có một nhà thơ đã viết “Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé. Để lòng buồn tôi dạo gót quanh sân…”.

Hội:            Tao thế. Nó hẹn mà không đến, tao chửi. Còn mày? Mày yêu nó, mày muốn lên giường với nó chết mẹ, thế mà mày lại “Không một lần cầm tay” với lại “Đừng nói lời yêu nhé”?! Thế có phải là đạo đức giả không?

Việt:           Đó là cảm giác thật của tôi.

Hội:            Tao không hiểu. Tao khác! Yêu con nào là tao muốn ăn thịt con đó.

Việt:           Như vậy là anh chưa từng yêu.

 Hội cười to. Việt cười theo.

 Hội:            Mày không cần nịnh. Trời sáng là tao bắn mày. Hát một bài đi! Biết đâu… tao sẽ đổi ý… Biết hát chứ?

Việt:           Tôi… hát được…

Hội:            Hát đi!

Việt:           (hát) Khi cất lên tiếng ca gửi về người yêu phương xa. Ta át tiếng gió mưa thét gào cuộn dâng phong ba. Em ơi…

 

Việt hát xong.

 

Hội:            Mày hát hay lắm! Có biết bài “Bèo dạt mây trôi” không?

Việt:           (hát) Bèo dạt mây trôi chốn xa xôi, em ơi anh vẫn đợi í a bèo dạt…

 

Hội hát theo. Hai người hát say sưa. Hai người hát xong. Việt nói với Hội.

 

Việt:           Anh Hội, anh tha cho tôi đi. (rưng rưng) Tôi còn má già và một cô em gái… Tôi mới 23 tuổi… (bật khóc) Tôi xin anh…

Hội:            (đứng bật dậy) Mày im đi! Lính tráng gì thế?

 Việt câm bặt.

 Hội:            Mẹ kiếp! Cái cuộc chiến tranh quái quỷ này… (chồm lên, nhìn vào mắt Việt) Nếu đổi lại, mày có giết tao không?

 Việt lắc đầu.

 Hội:            Chưa chắc!

Việt:           Thà là chúng ta không đọc thơ và hát cho nhau nghe… Anh lại còn giải thích cho tôi truyện Kiều.

Hội:            Câm! Mày cố làm tao mềm lòng. Đừng hòng! (chua chát) Mẹ kiếp! Tao biết cuộc chiến này chúng mày cuối cùng rồi cũng sẽ thắng. Chúng mày có chính nghĩa. Chúng mày có lý tưởng, lại được Nga Xô, Trung Cộng giúp đỡ. Nhưng về chế độ xã hội mà chúng mày đang theo đuổi thì chúng mày sai. Tổng thống Truman từng nói chế độ cộng sản trước sau gì cũng tan rã vì nó sai trong hệ thống cấu trúc của nó.

Việt:           Anh Hội, anh tha cho tôi, biết đâu sau này…

Hội:            Mày sẽ bắt được tao? Sẽ không có ngày đó đâu!

Việt:           Anh Hội, trên cổ anh có đeo thánh giá. Chúa Giesu có nói gì đó, đại ý là… nếu người ta tát mình một bên má thì hãy đưa má còn lại cho người ta tát…

Hội:            Chúa Giesu lúc này nói với tao, chiến tranh là chiến tranh. Mày có biết bói Kiều không?

Việt:           Hôm nay tôi đã bói… cho một người đồng đội…

Hội:            Bói sao?

Việt:           Tôi… chỉ nói đùa là cô ấy sẽ chết…

Hội:            Rồi sao?

Việt:           Một trái bom… và cô ấy… đã chết!

Hội:            Ha! Ha! Ha! Vậy là mày có năng lực siêu phàm. Tốt! Thế hôm nay mày đã bói cho mày chưa?

Việt:           …

Hội:            Bây giờ mày bói đi… Mày định kháng chỉ sao?

Việt:           Tôi… được rồi. (giở Kiều ra nhìn)

Hội:            Làm sao mà cái mặt mày dại ra thế kia, hả?

Việt:           Tôi… tôi… giở được đúng chỗ ban sáng…

Hội:            Đọc lên đi! Mà thôi. Mày bói trúng như vậy thì mày là thiên tài rồi. Các thầy bói không bói được cho bản thân. Mày hơn họ. Lát nữa tao sẽ giúp mày. Ê! Mày thử đoán xem, tại sao tao lại chưa giết mày?

Việt:           Sự thú vị của con mèo vờn con chuột.

Hội:            Đúng thế! Trong phim Tom và Jerry, lúc nào con chuột cũng thắng.

Việt:           Tom và Jerry là cái gì?

Hội:            À, mày không biết. Chúng mày không chiếu phim đó mà. Tom và Jerry là phim hoạt hình trẻ con. Nó kể chuyện con mèo và con chuột đấu trí với nhau.

Việt:           À… ngoài đó có chiếu một bộ phim tương tự, nói về con chó sói và con thỏ.

Hội:            Và con thỏ lúc nào cũng thắng, đúng không?

Việt:           Đúng!

Hội:            Thế đấy… những tác phẩm nghệ thuật luôn ve vuốt con người. Mày có công nhận ngoài đời con sói bao giờ cũng ăn thịt con thỏ không? Và bây giờ, định mệnh đã cho tao là con sói, mày là con thỏ… Ha! Ha! Ha!

Việt:           Đằng nào tôi cũng chết, anh bắn tôi ngay đi. Cứ như thế này…

Hội:            Mày đừng vờ vĩnh nữa. Con người ai cũng tham sống sợ chết. Mày có đọc “Tình yêu cuộc sống” của Jaclondon không?

Việt:           Có!

Hội:            Đấy!… Có một con người và một con chó… đói khát… Cả hai rơi vào trạng thái mà cái chết e chính là một ân huệ. Thế mà cả người và chó đều muốn sống. Con chó cắn được vào tay con gười. Con người cắn được vào thịt con chó… cả hai cùng cố sức… cố sức. Cuối cùng con người đã mạnh hơn và uống được máu con vật mà sống… Tao với mày bây giờ cũng đâu có khác gì…

Việt:           Anh bắn tôi ngay đi!

Hội:            Được. Là mày muốn chết đấy nhé.

 Hội giương súng lên. Việt nhắm mắt.

 Hội:            Mở mắt ra!

 Hội bắn một phát, trúng chân của Việt.

 Hội:            Hôm nay mày bói mày phải chết. Tao tha mạng cho mày… Tao chính là đức chúa trời của mày… Ha ! Ha ! Ha!

 Việt thét lên đau đớn và ôm chân lăn lộn trên đất. Hội uống thêm một ngụm nước, để cái bi đông và miếng lương khô cuối cùng lại. Hội bước đi vài bước. Nghĩ thế nào Hội quay lại lấy cuốn truyện Kiều đút vào người.

Tất cả tối sầm.

 (Hết cảnh 1)

 Ghi chú: Phần sau, sau giải phóng, anh Hội bị bắt oan, và anh Việt đi “giải cứu” cho anh Hội. Rồi họ thành bạn thân – như mơ ước của tôi.

Vở này, tất nhiên không (hoặc chưa) được dựng. Hi Hi…

Phạm Dũng

( Tác giả gửi cho QTXM)

 

Sắc Dục Của Hoàng Đế Mao Trạch Đông


Tác giả: Thuỵ My – RFI
 

LND : Tác phẩm « Tình dục, dối trá và chính trị » – Những kẻ bị ám ảnh đang lãnh đạo chúng ta – của tác giả Pierre Lunel, nhà xuất bản L’Archipel, Paris 2012 – gồm có ba phần. Phần đầu « Các nhà độc tài » viết về Stalin, Mussolini, Mao Trạch Đông và Bokassa. Phần hai về các lãnh đạo ở Mỹ : Kennedy, Bill Clinton, Arnold Schwarzennegger, và phần thứ ba dành cho châu Âu : Mitterand, Giscard d’Estaing, Berlusconi, Chirac, DSK.
 
Pierre Lunel là cựu hiệu trưởng trường đại học Paris 8, tác giả nhiều đầu sách tiểu sử và biên khảo sử học. 
 
Thụy My xin giới thiệu một phần chương sách « Mao Trạch Đông và hàng ngàn thê thiếp » trong tác phẩm trên, đã tạm lược bỏ 8 trang đầu nói về những người vợ của Mao là Dương Khai Tuệ (Yang Kaihui), Hạ Tử Trân (He Zizhen), Giang Thanh (Jiang Qing).
 
 
…Mao có tính cách giản đơn của các tên tuổi lớn. Đa số thời gian, ông xử lý các vấn đề của Trung Quốc trên chiếc giường gỗ rộng mênh mông mà ông vẫn mang theo khi di chuyển, hay bên cạnh hồ bơi riêng. Ông ta có thể không mặc quần áo suốt nhiều ngày.
 
bia-private_life_of_chaiman_mao
 
Mao rất thích các hồ bơi và những món ăn mỡ màng, ngập trong dầu béo ngậy. Ông ta không bao giờ đánh răng, chỉ súc miệng với nước trà. Mao không bao giờ tắm, mà vệ sinh thân thể bằng cách bắt những người tình một đêm dùng khăn nóng chà lên người mình. Bị chứng mất ngủ, ông có thể thức trắng nhiều đêm, và các cán bộ của ông phải chuẩn bị tinh thần để bị triệu đến lúc hai, ba giờ sáng. Làm việc với Mao thì cứ phải khỏe như vâm.
 
Suốt ngày hầu như ông ta lững thững chỉ với chiếc áo choàng tắm khoác hờ trên người, để lộ bờ vai lực lưỡng và chiếc bụng to tướng. Mao có nước da trắng đẹp, khuôn mặt đầy đặn luôn nở nụ cười, mái tóc đen dày.
 
Mao vẫn giữ thói quen nông dân. Khi phải mặc đồ, ông ta tròng vào bộ quần áo cũ mèm và đôi giày cà tàng. Bộ trang phục « kiểu Mao Trạch Đông » nổi tiếng và những đôi giày bóng lộn được dành cho những dịp long trọng. Chính trong cái bộ dạng kỳ khôi đó mà Mao đã lãnh đạo đất nước Trung Quốc.
 
Khi không có việc gì buộc phải ngồi dậy, ông ta nằm ườn trên chiếc giường gỗ « khủng », kích thước to gấp đôi một chiếc giường đôi thông thường. Người khách nào có óc quan sát có thể để ý thấy cái góc giường mà Mao dựa lưng cao hơn khoảng mười phân. Nếu có ai liều lĩnh đặt câu hỏi, sẽ được nghiêm chỉnh trả lời là đóng cao hơn để tránh cho khi ngủ mê không bị té xuống giường. Nhưng thật ra chỉ là nhảm nhí – gờ giường đóng cao theo yêu cầu của Mao để cho những trận bão tình ái được thuận tiện.
 
Mao « tán » các con mồi qua những buổi tối khiêu vũ, đây là một điều đặc biệt. Nhảy đầm đã bị Cách mạng cấm vì cho là lối sống suy đồi, và tất cả các sàn khiêu vũ đều bị chính thức đóng cửa. Thế nhưng Mao hàng tuần vẫn tổ chức những đêm khiêu vũ, tại sảnh Xuân Liên rộng mênh mông, không xa căn hộ của Mao là mấy.
 
Khi Mao vừa tới nơi khiêu vũ, là hàng chục thiếu nữ liền bổ nhào đến, năn nỉ ông nhảy với mình một bản. Mao nhảy một cách nặng nề, nhưng điều đó có nghĩa lý gì đối với các cô gái muốn được thần tượng chú ý bằng mọi giá. Các cô được những người thân cận của Mao tuyển lựa từ các đội văn công, theo tiêu chuẩn có ngoại hình đẹp và trung thành về mặt chính trị.
 
Mao nhanh chóng cho đặt một trong những chiếc giường size « khủng » của ông ta trong một căn phòng giáp với phòng khiêu vũ. Sau khi nhảy được vài ba bản, đại đế Mao tỏ ý muốn nghỉ ngơi, nắm lấy tay một trong những cô gái hơ hớ tuổi xuân này và đưa vào phòng. Ông ta chỉ ra khỏi phòng chừng hai tiếng đồng hồ sau đó, đa phần là với vẻ hài lòng vì đã được cô gái phục vụ tận tình.
 
Mao luôn bị ám ảnh với ý nghĩ một ngày nào đó sẽ bị mất đi khả năng tình dục. Khi các bác sĩ báo cho biết là ông ta đã trở nên vô sinh, Mao trả lời một cách xúc động :
 
- Thế là tôi đã thành hoạn quan rồi à !
 
Các bác sĩ phải hết lời trấn an, nói rằng tuy « tinh binh » của Mao không bình thường, nhưng không hề ảnh hưởng gì đến năng lực tình dục cũng như ham muốn.
 
Thực ra Mao chẳng hề quan tâm đến việc vô sinh, nhưng sợ hãi khi nghĩ đến khả năng bị bất lực, nhất là khi ông ta mang nặng trong đầu ám ảnh là năng lực làm tình sẽ chấm dứt vào tuổi sáu mươi. Đến tuổi này, ông ta có đôi khi bị trục trặc, nên thường cho tiêm truyền chất bột nhung hươu, mà tương truyền theo đông y là món thuốc cường dương đại bổ. Nhưng thấy nhung hươu không giúp giải quyết được vấn đề, Mao bèn ngưng sử dụng và quay lại với tây y – nói chung, ông ta không tin tưởng vào đông y.
 
Mao muốn được lưu danh theo truyền thống các hoàng đế Trung Quốc, đặc biệt là một vị theo truyền thuyết đã trở nên trường sinh bất tử nhờ quan hệ với một ngàn thiếu nữ đồng trinh. Ông ta hy vọng theo gót được vị tổ sư này. Không tin mấy vào năng lực tự nhiên, Mao say mê thu thập tất cả những tin tức từ phương tây hay những nơi khác, loan báo việc phát hiện các loại dược liệu giúp hoạt động tình dục cho đến chín mươi tuổi.
 
Trong khi chờ đợi thần dược ra đời, Mao nhồi nhét vào người đủ loại nhân sâm và đưa lên giường một số lượng đáng nể các cô thiếu nữ. Dù sao thì ông ta vẫn cho rằng đi ngủ và tắm rửa là lãng phí thời gian.
 
Nếu làm tình là thú tiêu khiển hàng đầu đối với Mao, thì ngược lại ông ta không yêu mến ai cả. Mao không có khả năng yêu thương lẫn cảm tình. Cũng có thể do ông ta đã chứng kiến quá nhiều thảm kịch và cái chết trong đời. Người vợ thứ hai, Dương Khai Tuệ bị Quốc dân đảng xử bắn, cũng như hai người em trai của ông. Nhiều người con của Mao đã chết trong cuộc Trường Chinh. Tất cả những bi kịch này làm Mao Trạch Đông trở nên sắt đá.
 
Trong thâm tâm, Mao hài lòng đã sống sót được qua nhiều nghịch cảnh, mà theo ông ta đó là dấu hiệu cho thấy mình sẽ trường thọ. Ông đã chứng tỏ trái tim sắt thép qua tất cả những hành động trong đời sống thường ngày, theo gương những hoàng đế Trung Hoa tồi tệ nhất. Chẳng hạn như Trụ vương đời nhà Thương, vị hôn quân thích trưng bày cái xác bị tùng xẻo của các nạn nhân, đổ đầy rượu vào hồ bơi, có hàng ngàn nàng hầu vây quanh. Hoặc Tùy Dạng Đế (Sui Yangdi), một trong những bạo chúa tệ hại nhất trong lịch sử Trung Hoa, đã bắt những cô gái trẻ đẹp phải kéo thuyền rồng đi ngược gió bằng những dải lụa.
 
Một bằng chứng cho sự tàn bạo của Mao Trạch Đông, lịch sử đặc biệt ghi nhận câu trả lời của ông ta trước Nehru :
 
- Chúng tôi chẳng việc gì phải sợ bom nguyên tử cả. Nếu ai tấn công tôi bằng bom nguyên tử, thì tôi có thể trả đũa tương tự. Mười triệu hay hai chục triệu người chết cũng chẳng ăn nhằm gì đối với chúng tôi !
 
Nehru không phải từ bi hỉ xả gì, nhưng cũng phải dựng tóc gáy khi nghe câu nói của Mao coi mạng người như ngóe.
 
Không một điều gì có thể làm Mao xúc động. Trong chiến dịch Đại nhảy vọt, nhiều triệu người dân nông thôn đã chết đói, nhưng ông ta vẫn ăn ngon ngủ yên. Ngay cả đối với người thân trong gia đình cũng thế. Chỉ cần kể ra đây thái độ đối với chính người con trai lớn của Mao.
 
Mao Ngạn Anh (Mao An Ying) tử nạn ngày 25/11/1950, trong cuộc chiến tranh Triều Tiên đã làm cho khoảng 400 ngàn người Trung Quốc thiệt mạng. Ngạn Anh đã lấy vợ trước đó một năm và vợ anh, Lưu Tư Tề (Liu Xi Qi), từ vài năm qua vẫn được xem như là con gái nuôi của Mao Trạch Đông. Ông ta thích cô đến nỗi tỏ ra vô cùng giận dữ khi nghe tin Ngạn Anh và Tư Tề đính hôn. Sự thực đằng sau cơn thịnh nộ này là: Lưu Tư Tề hết sức xinh đẹp, và Mao ghen với người con trai sẽ được ngủ với cô. Ông ta cản trở việc tổ chức đám cưới với những cái cớ kỳ lạ, chẳng hạn như phải chờ đến lúc tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc ngày 01/10/1949…Khi nghe tin con trai mình tử thương, Mao phát biểu câu này thay cho lời ai điếu :
 
- Đã là chiến tranh làm sao không có người chết cho được ?
 
Ông ta không tỏ ra buồn phiền một chút nào, không hề nhỏ một giọt nước mắt. Tư Tề suốt một thời gian dài vẫn không hay biết về cái chết của chồng, và cuối cùng khi cô chất vấn Mao Trạch Đông về vấn đề này, ông ta trả lời là Ngạn Anh đã chết. Lưu Tư Tề kề cận cha chồng gần như hàng ngày trong suốt hai năm rưỡi trời, nhưng chưa bao giờ thấy Mao tỏ vẻ u sầu. Thậm chí ông ta còn nói đùa với cô về Ngạn Anh, như là con trai vẫn còn sống…
 
Kể từ năm 1958, trong cơn say Đại nhảy vọt, Mao trở nên ít kín đáo hơn trong cuộc sống riêng tư. Cho đến nỗi nhiều người đều biết về cách sống xa hoa, phóng đãng của ông ta, về những tòa biệt thự nằm rải rác khắp đất nước Trung Quốc, và về việc cung cấp gái đẹp mà chính Mao gọi là « tuyển lựa cung phi ». Các nữ nghệ sĩ trẻ của các đội văn công tham gia các buổi dạ vũ, cạnh tranh với nhau để làm đẹp lòng Mao, và kết thúc bằng việc qua đêm với ông ta. Các cô ganh tị lẫn nhau, cô nào được Mao nắm tay dẫn vào phòng ngủ trở thành mục tiêu bị các cô khác thù ghét.
 
Một hôm – và đây là lần duy nhất trong đời – Giang Thanh đã làm ầm ĩ lên với Mao. Ông ta phản ứng bằng cách cấp tốc ra khỏi phòng. Giang Thanh nhanh chóng hối hận vì cơn nóng giận này, và gởi đến Mao lời xin lỗi. Ông ta chỉ nhún vai. Có nghĩa lý gì, vài cô hầu thiếp dành cho con người quyền lực nhất, nhà sáng lập nước Trung Hoa cộng sản ?
 
Từ đó Mao hoàn toàn yên ổn, không hề bị bà vợ chua ngoa chỉ trích. Ông ta cũng không còn giấu diếm việc đi lại thường xuyên với các cô gần như là gái gọi hạng sang. Thỉnh thoảng lại có một trong số những cô gái này, nhờ quyến rũ hơn, đã được nâng cấp : thay vì là người tình một đêm, được ân sủng trở thành quý phi.
 
Người đầu tiên giành được vị trí ưu tiên này là một nữ nhân viên trẻ của Cơ mật viện – một cô gái tuyệt đẹp có làn da trắng như tuyết, đôi mắt sáng và cặp chân mày xinh như vẽ. Cô ta không thèm giấu diếm gì với Giang Thanh, và còn tìm cách làm thân với bà. Giang Thanh, được nịnh hót và vẫn còn áy náy vì mới đây đã nổi nóng với Mao, vui vẻ chấp nhận sự hiện diện của cô ta. Bà tự hứa với chính mình là sẽ không gây sự với chồng vì chuyện các cô bồ của ông ta nữa.
 
Những người thân tín của Mao luôn tìm cách làm vui lòng ông ta. Ban đầu mỗi tuần chỉ có một đêm dạ vũ, nhưng sau đó họ nhanh chóng thấy rằng để chiều lòng chủ tịch thì như thế chưa đủ. Thế là từ một buổi dạ vũ trở thành hai buổi mỗi tuần, có nghĩa là số cung phi dành cho Mao phải tăng gấp đôi. Tất cả các đoàn văn công đều phải đóng góp vào. Sự chăm sóc này không phải là quá đáng, vì chủ tịch càng cao tuổi thì ham muốn tình dục lại tăng lên. Năm đó Mao đã 67 tuổi.
 
Khi phải nhận lãnh những ngón đòn chính trị và bực tức trước những lãnh đạo cao cấp khác của Đảng, Mao nằm lì suốt nhiều ngày và chỉ ra khỏi giường để dự dạ vũ. Ông ta thường xuyên nhảy nhót cho đến hai giờ sáng, rồi sang phòng bên cạnh « nghỉ ngơi » với các « đối tác ». Không một tiếng động nào lọt ra khỏi căn phòng có cánh cửa bọc vải dày. Những cô gái được chọn lựa không hề phàn nàn, mà hoàn toàn ngược lại.
 
Chưa bao giờ, ngay cả trong những giấc mơ điên rồ nhất, các cô có thể tưởng tượng ra có ngày lại được phục vụ cho thú vui nhục cảm của vị thượng đế được hàng trăm triệu người tôn sùng. Rất ít người từ chối đề nghị của chúa tể Trung Quốc. Có thể chỉ có vài cô y tá hay phụ nữ hơi cứng tuổi. Cô y tá nào từ chối thì đó là vì đạo đức nghề nghiệp không cho phép lẫn lộn vai trò, còn phụ nữ lớn tuổi thì do mắc cỡ khi phải gia nhập hậu cung gồm toàn các thiếu nữ tuổi xuân hơ hớ. Còn tất cả những cô gái khác đều phát cuồng vì Mao, và sẵn sàng thỏa mãn những đòi hỏi dù có quá quắt của ông ta.
 
Hầu hết là những cô gái rất nghèo khó. Chẳng hạn cô Lưu từng đi ăn xin trên đường phố cùng với mẹ, cô Chu là trẻ mồ côi. Thường thì cha mẹ các cô này, đã qua đời, được xem là « liệt sĩ cách mạng ». Nhiều cô không được học hành gì cả, và trở thành diễn viên múa nhờ có Đảng. Các đoàn văn công đầy dẫy những thiếu nữ loại này, được tuyển mộ nhờ ngoại hình chuẩn, để giúp người của các cán bộ cao cấp trong Đảng giải trí.
 
Các cô được lên giường với Mao là « hàng tuyển trong số hàng tuyển », cho dù chỉ vài tiếng đồng hồ. Điều này chỉ có thể hiểu được nếu chúng ta nhớ lại nạn thần thánh hóa Mao Trạch Đông. Sự xuất hiện của Mao trong những dịp lễ lạc trang trọng, oai vệ như một bức tượng đại đế tại quảng trường Thiên An Môn, là một kỷ niệm không thể quên đối với mỗi người tham dự. Chưa nói đến những người được đặc ân có một không hai là bắt tay với Mao, họ không rửa ráy trong nhiều tuần lễ để giữ trên người loại « nước thánh ». Có thể nói, Mao gần như một huyền thoại, và còn được yêu mến và kính trọng hơn cả các đại đế Trung Hoa.
 
Làm thế nào trong điều kiện đó, các cô gái trẻ dốt nát lại không cảm thấy hãnh diện khi được vinh dự ngủ vài tiếng đồng hồ bên cạnh vị thánh sống ? Việc này cũng như một lễ hiến tế tối thượng, và các cô sẵn sàng làm tất cả để xứng đáng với niềm vinh hạnh lớn lao như thế. Tất cả những cô gái này đều chưa chồng, vừa mới tròn hai mươi, hai mươi hai tuổi, và một khi đã bị Mao chán chê thì cũng phải đợi đến khi chủ tịch cho phép mới được lập gia đình.
 
Đôi khi Mao cũng ngạc nhiên vì các cô gái không coi ông ta là một người đàn ông, mà như Thượng đế. Điều ấy làm Mao bật cười, nhưng cái chính không phải ở đó. Các thiếu nữ này phải chứng tỏ họ xứng đáng với ham muốn của Mao, vốn chừng như không giảm sút đi với thời gian.
 
Gần đến tuổi bảy mươi, Mao có vẻ đã nói lời vĩnh biệt với chứng bất lực mà trước kia vẫn làm ông ta khiếp sợ mỗi khi nghĩ đến nguy cơ này. Trở thành tín đồ nhiệt thành của các phương pháp làm tình theo tinh thần Lão giáo, xem hành vi tình dục là nghi lễ phù hợp với luật âm dương của trời đất để trường thọ, Mao cần những thiếu nữ có đủ điều kiện tham gia và tỏ ra xuất sắc trong lãnh vực này.
 
Từ đó, chiếc giường size « khủng » của Mao đón tiếp có thể đến một tá cô gái cùng một lúc. Thực tế, quan niệm Lão Tử chỉ là cái cớ cho tính dâm dục tự nhiên của ông ta. Những điều mà các người tình một đêm này cho là hạ cấp đối với những người đàn ông khác, thì với Mao lại được coi là tuyệt vời, và các cô tự hào kể lại những kỳ tích của Mao.
 
Các cô gái không ngần ngại học hỏi kỹ năng làm tình để đáp ứng được những đòi hỏi trớ trêu của ông ta, vì thật là tệ hại nếu không phục vụ được ngang tầm. Cô nàng đó sẽ bị loại ngay lập tức, trong khi có hàng tá cô gái khác đang chầu chực ngoài cổng. Một trong số các cô, một hôm đã ngây ngất thổ lộ :
 
- Tất cả những gì ông ấy làm hết sức tuyệt vời, đê mê !
 
Ở tuổi bảy mươi, Mao vẫn cảm thấy cường tráng, mà ông ta cho rằng đó là nhờ hoạt động tình dục có thể sánh vai với Sardanapale (một vị vua thời cổ đại chỉ thích khoái lạc – ND).Mao thích làm tình hơn tất cả mọi thứ trên đời, cũng như các cô gái trẻ xinh xắn, đặc biệt là các trinh nữ.
 
Người ta đưa các cô đến phục vụ cho Mao như là thức ăn hàng ngày, tuyển lựa dựa theo các tiêu chuẩn cụ thể : phải thật đẹp và xuất thân từ thành phần vô sản. Mao chúa ghét những phụ nữ tinh tế, học thức và ở lứa tuổi chín chắn. Những cô gái trúng tuyển choáng ngợp trước vinh dự này.
 
Người cầm lái vĩ đại thực sự là một con sư tử trong lãnh vực tình dục. Cho đến lúc chết, cuộc sống riêng tư của Mao là một loạt những cuộc truy hoan. Đó là thú vui duy nhất của ông ta, và Mao tiêu thụ một số lượng thiếu nữ không thể đếm xuể.
 
Sự ham mê sắc dục của Mao không chỉ giới hạn ở những cô gái trẻ. Ông ta cũng thích các thanh niên đẹp trai lực lưỡng, như đa số các nam nhân viên phục vụ vẫn thường xuyên phải đấm bóp cho ông dễ ngủ. Mao đòi hỏi các chàng thanh niên này phải xoa bóp cả bộ phận sinh dục của ông ta nữa. Và cũng không ít trường hợp khi đã được làm nóng, Mao lại vuốt ve bộ phận kín của chàng trai. Đây không hẳn là khuynh hướng đồng tính luyến ái, nhưng đúng ra là một nhu cầu tình dục mãnh liệt dưới mọi dạng thức.
 
Đương nhiên không phải là đơn giản khi để cho bằng ấy thiếu nữ có ngoại hình hoàn hảo sống cùng một mái nhà với các chàng trai đẹp « lung linh ». Đội ngũ cận vệ gồm đủ loại người, trừ các hoạn quan, và họ không ngần ngại buông lời trêu hoa ghẹo nguyệt với các cô gái tuổi đôi mươi này. Nhưng hãy coi chừng cơn thịnh nộ của vị chúa tể…Mao không ưa người khác đi săn trên lãnh địa của mình, và đã có nhiều người học được bài học đắt giá.
 
Có vài ba lần Mao say đắm tài năng của một trong số các tì thiếp cho đến nỗi không cho cô ta kết hôn, khi cô phải lòng một anh chàng đẹp trai. Thế là nhiều nhân chứng đã phải chứng kiến những vụ cãi cọ chẳng khác ngoài chợ. Một cô ái phi khác thì dần dà có ảnh hưởng lớn đến mức cô ta tự cho phép mắng Mao sa sả. Nhưng cô này làm tình rất nghệ thuật cho nên Mao bỏ qua tất cả. Hơn nữa cô ta còn giới thiệu với Mao một lô một lốc các người đẹp trong gia đình mình, cô sau lại còn đẹp hơn cô trước.
 
Vào thời kỳ đó, cuộc sống tình dục của Mao Trạch Đông gần như trở thành quan hệ gia đình. Ông ta nhanh chóng sủng ái một trong các cô em của cô bồ đương nhiệm, và cô này đương nhiên bị hất cẳng. Cô em đã có chồng, nhưng điều này có can hệ gì…Một buổi tối, Mao mời cả gia đình đến ăn tiệc. Lúc đến món tráng miệng, ông ta bất thần nảy sinh ham muốn. Mao yêu cầu anh chồng đi nơi khác để có thể « chăm sóc » cô vợ. Đương nhiên là người chồng chẳng dám hé miệng, thậm chí còn cho rằng việc vợ mình được Mao chọn lựa là một sự ưu ái. Mao ưa thích các phụ nữ trong gia đình này cho đến nỗi ông ta có thể ngủ cả với người mẹ nếu bà còn sống…
 
**
 
Thời gian càng trôi đi, các người tình của Mao càng trở nên ngạo mạn. Hãy còn vô tư lúc mới gặp gỡ, chỉ cần được vời đến nhiều đêm trên giường của Mao là những người đẹp này bỗng trở thành những cô ả đanh đá. Đa số vô học, nên các cô nhanh chóng trở nên kiêu căng. Những người đẹp này ngu ngơ cho đến mức khi bị lây nhiễm căn bệnh hoa liễu, vốn không có lý do gì mà không ập đến chốn thanh lâu này, các cô còn tỏ ra hãnh diện vì được Mao Trạch Đông lây bệnh cho. Những thiếu nữ này xem đó là một niềm vinh hạnh, và nhất là, đây là bằng cớ chứng tỏ mình đã được ngủ với Mao.
 
Khi phải chữa trị cho nhân vật là nguồn gây lây lan bệnh, thì lại là chuyện khác vì Mao không bị ảnh hưởng gì, cho rằng đây là điều vô bổ. Các bác sĩ cảnh báo nguy cơ :
 
- Thưa chủ tịch, điều gì sẽ xảy ra nếu đến lượt phu nhân Giang Thanh của ngài cũng bị lây bệnh ?
 
Mao cười lớn :
 
- Điều đó chẳng bao giờ xảy đến đâu ! Tôi không quan hệ tình dục với bà ấy từ đời nảo đời nào rồi…Tôi bảo với bà ấy là tôi già quá rồi, không thể làm tình được nữa.
 
Nguy cơ lây truyền bệnh hoa liễu lại càng cao hơn vì Mao không bao giờ tắm rửa. Kể cả rửa « cái ấy ». Ông ta cười hô hố :
 
- Tôi rửa nó trong cơ thể phụ nữ rồi !
 
Hậu quả là Mao Trạch Đông mang trong người vi trùng hoa liễu cho đến cuối đời, và tiếp tục lây nhiễm căn bệnh cho hàng mấy trăm thiếu nữ…

 

 

  Tiến trình Trung Quốc lần chiếm đất của Việt Nam

Thật ra, người Việt đã bị Tàu cướp đất dài dài trong tiến trình lịch sử, bắt đầu từ thời mới lập quốc cho đến ngày nay, do đó người Việt phải tiến dần xuống phía Nam. Tuy nhiên, cha ông chúng ta cũng đã chiếm đất của Lâm Ấp, Chiêm Thành và Chân Lạp để lập thành một nước mới.

Trong bài này chúng tôi chỉ nói về tiến trình bị mất đất trong lịch sử.

BÀI HỌC LỊCH SỬ?
Trong bài Tựa của bộ “Việt Nam Sử Lược”, cụ Trần Trọng Kim (1882 – 1953) có than phiền:

“Sử mình đã không hay, mà người mình lại không mấy người biết sử. Là vì cách học tập của mình làm cho người mình không có thể biết được sử của mình”.

Bài Tựa này được viết vào năm 1919, khi bộ “Việt Nam Sử Lược” lần đầu tiên được xuất bản, nhưng đến nay vẫn còn đúng. Không những thế, một số “sử gia” đời nay khi viết sử, thường không dựa theo chính sử như cụ Trần Trọng Kim, mà chỉ ghi lại những phần mình thích, bỏ đi những phần bị coi là mất “khí thế” hay không oai hùng, biến hoá nhiều đoạn và thêm huyền thoại vào làm cho sử không còn là thực sử nữa! Một vài thí dụ cụ thể:
(1) Khi viết về vua Lê Lợi đánh thắng giặc Minh, các “sử gia” ta chỉ ghi lại “Bình Ngô Đại Cáo” và giấu đi tờ biểu thê thảm mà Lê Lợi dưng lên vua Minh xin phong vương. Trong vụ Nguyễn Huệ đánh thắng quân Thanh, các “sử gia” ta cũng chỉ ghi lại “Hịch Đánh Trịnh” của Nguyễn Hữu Chỉnh và “Hịch Gọi Đò” của Nguyễn Huệ, còn tờ biểu được Nguyễn Huệ dưng lên vua Thanh năn nỉ xin ban sắc phong được coi như không có. Họ cho rằng những tở biểu đó làm mất “khí thế” nên phải loại ra khỏi sử, không nên cho con cháu đọc.
(2) Thiền sư Lê Mạnh Thát đã sửa lại sử, cho rằng không có chuyện Bắc Thuộc lần thứ nhất và Mã Viện đem quân đánh hai Bà Trưng. Trái lại, các đời vua Hùng Vương đã kéo dài ra đến sau Công Nguyên, tức đến khi Phật giáo được truyền vào đất Việt! Việc sửa sử này nhắm mục tiêu chứng minh: “Phật giáo là dân tộc” vì đã du nhập vào Việt Nam từ đời Hùng Vương!
Pháp nạn kinh hoàng (gần như làm cỏ) mà Nguyễn Huệ đã gây ra cho Phật Giáo để có phương tiện tiến đánh quân Thanh, không được ai ghi lại một vài dòng, kể cả các “sử gia” Phật Giáo! Họ chỉ nói đến “Pháp nạn” dưới thời Ngô Đình Diệm!
(3) Tàu xây Ải Nam Quan như thế nào và các diễn biến về sau ra sao, đã được ghi rất tỉ mỉ trong chính sử của Tàu cũng như của ta. Công Ước Thiên Tân ngày 9.6.1885 giữa Pháp và Trung Hoa và các văn kiện đính theo đã gọi Ải Nam Quan là “Porte de Chine” (cửa của Trung Hoa) và vẽ nó nằm trên đất Trung Hoa.

Bây giờ người Việt ở trong cũng như ngoài nước, gần như nhà nào cũng xem phim Đại Hàn, trong đó có nhiều phim lịch sử, chẳng hạn như Thời Đại Anh Hùng, Những Ngày Đen Tối, Jumong, Bài Ca Sơ Đông, Đại Hiệp Sĩ, v.v. Qua các bộ phim này, chúng ta thấy người Đại Hàn đã diễn tả rất trung thực lịch sử của họ: thời kỳ nào cường, thời kỳ nào nhược, những sự rối loại trong cung đình, những thủ đoạn gian ác áp chế dân lành của các quan lại phong kiến, những phương thức mà cha ông họ đã dùng để chống ngoại xâm… Nhờ diễn tả lịch sử một cách trung thực như vậy, người Đại Hàn ngày nay đã rút được kinh nghiệm lịch sử để xây dựng một đất nước Đại Hàn tốt đẹp hơn. Trái lại, sử của người Việt đã bị hai bên đối nghịch biến chế theo sở thích và theo nhu cầu chính trị, làm sao có thể dựa vào đó để rút kinh nghiệm của cha ông được?

NƯỚC TA KHỞI TỪ BÊN TÀU?
Theo truyền thuyết và dã sử, thời kỳ Hồng Bàng bắt đầu từ năm 2879 trước Tây lịch, thuộc niên đại vua Kinh Dương Vương, với quốc hiệu Xích Quỷ. Địa bàn của Việt Nam dưới thời Kinh Dương Vương nằm ở tận bên Tàu, rất rộng lớn: Phía bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ Nam), phía đông là Đông Hải, phía tây là Ba Thục (Tứ Xuyên), và phía nam tới nước Hồ Tôn (Chiêm Thành).
Nước Chiêm Thành lúc đó nằm ở đâu? Bộ “Phương Đình Dư Địa Chí” của Nguyễn Văn Siêu đã ghi lại như sau:

“Chiêm Thành: phiá đông giáp bể, phía Tây đến Vân Nam, phía nam giáp Chân Lạp, phía bắc liền Annam, phía đông bắc đến Quảng Đông…”

Thật ra, phải đến thế kỷ thứ 13, nước ta mới có quan viết sử, nên những điều xẩy ra trước đó đều được chép lại theo tục truyền, không biết đúng được bao nhiêu phần trăm. Nhưng chắc chắn người Việt ngày xưa ở tận bên Tàu, sau đó trụt dần xuống phía nam. Tại sao như vậy? Cụ Trần Trọng Kim giải thích:

“Người nòi gióng Việt Nam ta mỗi ngày một nẩy nở ra nhiều, mà ở phía bắc đã có nước Tàu cường thịnh, phía tây thì lắm núi nhiều rừng, đường đi lại không tiện, cho nên mới theo bờ biển lấn xuống phía nam, đánh Lâm Ấp, dứt Chiêm Thành, chiếm đất Chân Lạp, mở ra bờ cỏi bây giờ.”

Đây là kiểu “Dùi đánh đục thì đục đánh săng (gỗ)” hay “Cá lớn nuốt cá bé”.

ĐỒNG TRỤ NẰM Ở ĐÂU?
Nước ta có ranh giới đầu tiên với nước Tàu là do Mã Viện ấn định. Lịch sử kể lại rằng dưới thời Đông Hán, năm 41 sau Tây lịch, vua Quang Vũ của Tàu sai Mã Viện làm Phục Ba Tướng Quân, sang đánh Trưng Vương, đem đất Giao Chỉ về lại cho nhà Hán (Thiền sư Lê Mạnh Thát nói chuyện này không có!). Mã Viện dời phủ trị về Mê Linh và dựng cây đồng trụ ở chỗ phân địa giới, khắc sáu chữ: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt”. Nghĩa là cây đồng trụ gãy thì người Giao Chỉ mất. Người Giao Chỉ đi qua dưới chân cột đồng ấy cứ lấy đá bồi đắp lên mãi thành gò đống cao, vì sợ cột đồng ấy bị đổ gãy.
Nhưng cột đồng này đã được dựng ở đâu?
Theo “Lĩnh Ngoại Đại Đáp” của Tàu (đời Đường) và “An Nam Chí Lược” của Lê Tắc, cột này được dựng ở Khâm Châu, trong vùng hang động Cổ Sâm.
Khâm Châu là một châu của Tàu nằm sát biên giới với Giao Chỉ, còn Cổ Sâm là một động của ta nằm sát biên giới Tàu.
Sách “Vân Đài Loại Ngữ” của Lê Quế Đường (tức Lê Qúy Đôn) có ghi: “Giữa đỉnh núi Phân Mao ở Khâm Châu có cột đồng to độ hai thuớc. Có lẽ đây là Mã Tống dựng lên.”
Núi Phân Mao (Phân Mao lĩnh) ở đâu?
Sách “Dư Địa Chí” của Nguyễn Trãi viết:

“Vân Cừ, Kim Tiêu, Phân Mao ở về Yên Bang (sau tránh húy đổi làm Yên Quảng). Vân Cừ là tên sông, tên khác của sông Bạch Đằng, Tiền Ngô Vương bắt Hoằng Tháo, Hưng Đạo Vương bắt Ô Mã Nhi đều ở đây. Phân Mao là tên núi, Kim Tiêu là cột đồng. Ở phía Tây lộ Hải Đông 300 dặm có đèo Phân Mao, ở nửa đèo có cột đồng của Mã Viện dựng, lớn chừng ba thước.”

(Dư Địa Chí, Nguyễn Trãi toàn tập, bản dịch của NXB KHXH – Hà Nội, tr. 202)
Sách “Gia Khánh Trùng Tu Nhất Thống Chí” của Nhà Thanh cho biết: Núi Phân Mao ở phía Tây Khâm Châu (nay là đất tỉnh Quảng Đông). Năm Tuyên Đức thứ 2 (1427) thời Minh, núi ấy thuộc vào châu Tân An của Giao Chỉ. Đến năm Gia Tĩnh thứ 21 (1542) Mạc Đăng Dung hàng, mới thuộc về nước Tàu.
Đồng trụ nếu to 2 thước ta (theo Lê Qúy Đôn) hay 3 thước ta (theo Nguyễn Trải) thì cũng rất lớn. Mỗi thước ta bằng 0,425 mét. Như vậy 2 thước là 0,850 mét và 3 thước là 1,275 mét.
Về sau, cả người Tàu lẫn người Việt đều không biết rõ đồng trụ nói trên nằm ở đâu. Sách “Khâm Định Việt Sử Thương Giám Cương Mục” có cho biết năm 1272, nhà Nguyên đã sai Ngột Lương sang Việt Nam hỏi giới mốc đồng trụ ngày trước ở đâu. Vua Trần Thánh Tôn đã sai viên phái Lê Kính Phu đi hội đồng khám xét. Lê Kính Phu tâu với Nhà Nguyên: “Chỗ cột đồng do Mã Viện dựng lên lâu ngày bị chìm lấp, nay không thể biết ở chỗ nào được”. Việc đó sau cũng thôi. (Quyển VII, tr. 219).
Thật ra, Mã Viện không phải chỉ dựng một đồng trụ ở Cổ Sơn. Ông đã mở mang bờ cỏi của nhà Hán, dựng lên một đồng trụ ở Đèo Ngang (giữa Hà Tĩnh và Quảng Bình) và hai đồng trụ ở Bình Định. “Phương Đình Dư Địa Chí” của Nguyễn Văn Siêu cho biết: Sách Tần Thư Điạ Lý Chí ghi: Ở quận Nhật Nam có cột đồng từ đời Hán dựng làm địa giới. Sách Lâm Ấp Ký chép: Phía tây quận Nhật Nam có nước Tây Đồ Di, Mã Viện qua đất này dựng hai cột đồng nêu bờ cỏi nhà Hán.
Quận Nhật Nam lúc đó gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định ngày nay (có tài liệu cho là đến tận cửa Đại Lãnh, Phú Yên). Vùng này là bắc Chiêm Thành.
Nhìn lại, nếu đồng trụ do Mã Viện dựng để phân ranh giới Việt – Trung mà còn thì nó cũng đã nằm trên đất Tàu, vì năm 1540 Mạc Đăng Dung đã giao vùng đất Cổ Sơn, nơi có đồng trụ, cho Trung Hoa rồi.

MẤT ĐẤT DƯỚI THỜI PHONG KIẾN
Nhiều người tưởng rằng, trong lịch sử, cha ông chúng ta luôn kiên cường dựng nước và giữ nước, không để mất một tấc đất nào. Thực tế không phải như vậy. Ngoài việc bỏ Hồ Nam, Quảng Đông và Quảng Tây chạy xuống Bắc Việt hiện nay, cha ông chúng ta còn phải chịu bị mất đất rất nhiều lần.
Mặc dầu Mã Viện đã dựng đồng trụ ở Phân Mao để đáng dấu ranh giới giữa Giao Chỉ và nước Tàu, những việc phân định ranh giới giữa hai nước không dễ dàng vì biên giới rất rộng lớn. Mỗi lần có tranh chấp, vua hay quan Tàu đều giàng quyền quyết định phần nào thuộc Tàu và phần nào thuộc ta.. Thí dụï năm 1442, nhà Minh gởi dụ cho vua Lê Thái Tông, nói rằng Chiêm Lãnh và Như Tích là thuộc Châu Khâm của Trung Quốc, do Hoàng Khoan cai quản, nên phải trả lại cho Trung Quốc. Năm 1547, Đô Đốc Mã của nhà Thanh gởi thư cho Chúa Trịnh và nói: “Từ Sa Châu trở ra ngoài đến Phân Mao – Đồng Trụ là đất của quý quốc cày cấy chăn nuôi từ lâu, cho về An Nam”.
Ngoài chuyện tranh chấp về vùng biên giới, các vua và quan Tàu luôn tìm cách chiếm thêm đất của nước ta. Tạm bỏ qua “một ngàn năm đô hộ giặc Tàu” đi, chúng ta thấy từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ thứ 18, dưới các triều đại của Trung Quốc từ Tống, Nguyên, Minh đến Thanh đều đem quân xâm lấn Đại Việt. Nhà Tống xâm chiếm 2 lần, nhà Nguyên 3 lần, nhà Minh và nhà Thanh mỗi vương triều một lần. Ngoài những cuộc xâm chiếm đại quy mô như thế, các triều đại Trung Quốc cũng thường tìm cách cướp đất của người Việt ở vùng biên giới. Sau đây là một số thí dụ cụ thể:
1.- Mất hai động Vật Ác và Vật Dương.
Dưới thời nhà Tống, Quách Quỳ đã chiếm 4 châu và một huyện của Đại Việt là Quảng Nguyên, Quang Lang, Tô Mậu, Môn, và Thuận châu. Sau đó, năm 1057 Nùng Tôn Đàn nộp động Vật Ác và năm 1064 Nùng Trí Hội nộp thêm động Vật. Dương. Vua Lý Nhân Tông phái sứ qua thương lượng nhiều lần, vua Tống chỉ chịu trả cho 4 châu và một huyện, nhưng không trả hai động Vật Ác và Vật Dương.
2.- Mất 59 thôn ở Cổ Lâu
Năm 1401, khi Hồ Hán Thương được Hồ Quý Ly nhường ngôi, đã sai sứ sang xin vua nhà Minh phong vương. Vua Thánh Tổ nhà Minh nghe tin ở An Nam đang có chuyện lộn xộn nên cho điều tra và biết được Hồ Quý Ly đã cướp ngôi nhà Trần. Nhà Minh muốn nhân cơ hội này đem quân sang chiếm nước An Nam, lấy lý do là để hạch tội Hồ Quý Ly. Khởi đầu, vào năm 1405 nhà Minh sai sứ sang đòi lại đất Lộc châu, tức Lộc Bình thuộc tỉnh Lạng Sơn ngày nay, viện lý do đất này trước đây thuộc châu Tự Minh của tỉnh Quảng Tây. Lúc đầu Hồ Quý Ly không chịu, nhưng thấy áp lực của nhà Minh quá nặng nên Hồ đã sai quan hành khiển là Hoàng Hối Khanh đến dàn xếp. Hoàng Hối Khanh quyết định cắt 59 thôn ở Cổ Lâu nhường cho Tàu. Hồ Quý Ly thấy cắt nhiều quá, có mắng Hoàng Hối Khanh. Tuy đã nhún nhường như thế, nhà Minh vẫn không chịu, đem binh qua chiếm nước ta.
3.- Mạc Đăng Dung giao hai châu và 4 động cho Tàu
Theo cuốn “Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí” của Phan Huy Chú, năm 1540 khi Mạc Đăng Dung đầu hàng nhà Minh, đã trao trả 2 châu và 4 động cho nhà Minh. Hai châu là Như Tích và Chiêm Lãng, và 4 động là Tê Phù, Kim Lạc, Cổ Sâm và Liêu Cát. Các lãnh thổ này được sát nhập vào châu Khâm của Tàu. Nhưng Mạc Đăng Dung không được nhà Minh phong vương mà chỉ phong làm Đô Thống Sứ.
4.- Mất 13 châu và 3 động.
Năm 1684, thổ quan huyện Khai Hóa của tỉnh Vân Nam đem quân chiếm ba động Vị Xuyên, Bảo Lạc và Thủy Vĩ thuộc tỉnh Tuyên Hưng của ta. Chúa Trịnh Thuận Đức cho sứ qua đòi lại nhưng nhà Thanh không trả.
Năm 1698 thổ quan tỉnh Vân Nam lại chiếm thêm ba động Ngưu Dương, Hồ Điệp và Phổ Viên thuộc tỉnh Tuyên Quang. Sứ thần Nguyễn Đăng Đạo đến Trung Quốc xin vua Khang Hy trả lại, nhưng vua từ chối. Chúa Trịnh Bính lại phái sứ khác qua nhà Thanh xin xem lại vụ này, nhưng quan Tuần Phủ Quảng Tây không cho đi. Từ đó, ba động này kể như mất luôn.
Năm 1781, dưới thời Tây Sơn do Nguyễn Nhạc lãnh đạo, Hoàng Công Thư đã đem 10 châu của nước Việt nộp cho Tổng Đốc tỉnh Vân Nam. Triều đình ta gởi thư yêu cầu Tổng Đốc Vân Nam xét lại biên giới. Tổng Đốc Vân Nam trả lại thư và nói rằng biên giới tự nhiên không cần vạch lại.
Trên đây là một số vụ mất đất điển hình trong thời phong kiến.

MẤT ĐẤT DƯỚI THỜI XHCN
Có thể nói, nếu không có Pháp xâm chiếm và đô hộ nước ta, khó mà ấn định được đường ranh giới hợp lý và khoa học trên bộ và trên biển giữa Việt Nam và Trung Hoa.
Sau nhiều lần thương lượng rất gay cấn, kể cả dùng sức mạnh quân sự, ngày 9.6.1885 nhà cầm quyền Pháp và Trung Hoa đã ký Công Ước Thiên Tân về biên giới Việt – Trung được gọi là “Hiệp Ước Hòa Bình, Hữu Nghị và Thương Mại” (Traité de Paix, d’Amitié, et de Commerce). Công ước này đã được bổ túc do công ước ngày 26.6.1887 và công ước ngày 20.6.1895.
Mặc dầu có những hiệp ước ấn định ranh giới một cách rõ ràng nói trên, kể từ năm 1954, sau khi Pháp rút khỏi miền Bắc, Trung Quốc bắt đầu xâm phạm biên giới Việt Nam. Những vụ xâm phạm này đã được nhà cầm quyền Hà Nội ghi rõ trong tập “Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc”, do nhà xuất bản Sự Thật của Hà Nội xuất bản năm 1979, sau khi Trung Quốc đem quân “dạy cho Việt Nam một bài học.” Trong “Lời Nhà Xuất Bản”, nhà xuất bản Sự Thật nói rõ đây là toàn bộ “Bị vong lục của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc nhà cầm quyền Trung Quốc gây khiêu khích, xâm lăng lãnh thổ Việt Nam ở vùng biên giới”.
Vì tập sách khá dài, chúng tôi chỉ ghi lại những điểm chính. Trong phần “Tình hình Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam từ năm 1954 đến nay”, nhà cầm quyền Hà Nội cho biết thủ đoạn lấn chiếm đất của Trung Quốc như sau:
(1) Từ xâm canh, xâm cư, đến xâm chiếm đất (tr. 8).
(2) Lợi dụng việc xây dựng các công trình hữa nghị để đẩy lùi biên giới sâu vào lãnh thổ Việt Nam (tr. 10).
(3) Đơn phương xây dựng các công trình ở biên giới lấn sang đất Việt Nam (tr. 11).
(4) Từ mượn đất của Việt Nam đến biến thành lãnh thổ của Trung Quốc (tr. 12).
(5) Lợi dụng việc vẽ bản đồ giúp Việt Nam để chuyển dịch đường biên giới, điển hình là đã sửa ký hiệu ở khu vực thác Bản Giốc (mốc 53), nơi chúng định chiếm một phần thác Bản Giốc và cồn Pò Thông (tr.14)…
Sau đây là một số trích đoạn được trích dẫn:
1.- Từ xâm canh, xâm cư đến xâm chiếm đất.
Tài liệu cho biết:

“Lợi dụng đặc điểm là núi sông hai nước ở nhiều nơi liền một dải, nhân dân hai bên biên giới vốn có quan hệ họ hàng, dân tộc, phía Trung Quốc đã đưa dân họ vào những vùng lãnh thổ Việt Nam để làm ruộng, làm nương rồi định cư những người dân đó ở luôn chỗ có ruộng nương, cuối cùng nhà cầm quyền Trung Quốc ngang ngược coi những khu vực đó là lãnh thổ Trung Quốc.”

Một thí dụ cụ thể: Từ năm 1956 phía Trung Quốc tìm cách nắm số dân Trung Quốc sang làm ăn ở Trình Tường bằng cách cung cấp cho họ các loại tem phiếu mua đường, vải và nhiều hàng khác, đưa họ vào công xã Đồng Tâm thuộc huyện Đông Hưng, khu tự trị Choang-Quảng Tây. (tr. 8 và 9)
2.- Lợi dụng việc xây dựng các công trình hữu nghị để đẩy lùi biên giới sâu vào lãnh thổ Việt Nam.
“Năm 1955, tại khu vực Hữu Nghị Quan, khi giúp Việt Nam khôi phục đoạn đường sắt từ biên giới Việt-Trung đến Yên Viên gần Hà Nội, lợi dụng lòng tin của Việt Nam, phía Trung Quốc đã đặt điểm nối ray đường sắt Việt Trung sâu trong lãnh thổ Việt Nam trên 300m so với đường biên giới lịch sử, coi điểm nối ray là điểm mà đường biên giới giữa hai nước đi qua. Ngày 31 tháng 12 năm 1974, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà đã đề nghị Chính phủ hai nước giao cho ngành đường sắt hai bên điều chỉnh lại điểm nối ray cho phù hợp với đường biên giới lịch sử nhưng họ một mực khước từ bằng cách hẹn đến khi hai bên bàn toàn bộ vấn đề biên giới thì sẽ xem xét…” (tr.10)
3.- Đơn phương xây dựng các công trình ở biên giới lấn sang đất Việt Nam.
“Trên đoạn biên giới đất liền cũng như ở các đoạn biên giới đi theo sông suối, tại nhiều nơi, phía Trung Quốc đã tự tiện mở rộng xây dựng các công trình để từng bước xâm lấn đất.
“Tại khu vực mốc 53 (xã Đàm Thuỷ, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) trên sông Quy Thuận có thác Bản Giốc, từ lâu là của Việt Nam và chính quyền Bắc Kinh cũng đã công nhận sự thật đó. Ngày 20.2.1970 phía Trung Quốc đã huy động trên 2.000 người kể cả lực lượng vũ trang lập thành hàng rào bố phòng dày đặc bao quanh toàn bộ khu vực thác Bản Giốc thuộc lãnh thổ Việt Nam, cho công nhân cấp tốc xây dựng một đập kiên cố bằng bê tông cốt sắt ngang qua nhánh sông biên giới, làm việc đã rồi, xâm phạm lãnh thổ Việt Nam trên sông và ở cồn Pò Thoong, và ngang nhiên nhận cồn này là của Trung Quốc… (tr.11 và 12).
Trên đây chỉ là một vài thí dụ cụ thể. Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này sau.

LỆNH PHẢI GIỮ ĐẤT
Năm 1473 khi Lê Duy Cảnh, Thái bảo kiến dương bá, đi trấn giữ ở vùng biên giới giáp với tỉnh Quảng Tây, vua Lê Thánh Tông đã trao cho ông một sắc dụ, trong đó viết:

“Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vứt bỏ, ngươi nên cố cãi, chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe, còn có thể sai quan sang xứ Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di.”

Lữ Giang
Theo Sách Hiếm
( Nguồn : Nguyennguyenbay…)

 

 

« Newer Posts - Older Posts »

Danh mục