Đăng bởi: Ngô Minh | 08.09.2014

Huyền thoại giáo dục Phần Lan

Huyền thoại giáo dục Phần Lan

 
 

Hồ Anh Hải/Tia sáng 
 NQL: Bài viết từ 2012 đến nay vẫn mới mẻ. Cần đăng lại lần nữa để cuộc tranh luận về  cải cách giáo dục có thêm một ví dụ thú vị về một triết lý giáo dục lâu nay được xem là bậy bạ và phản giáo dục
Giáo dục Phần Lan bắt đầu được dư luận quốc tế quan tâm từ sau khi Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển OECD tổ chức các kỳ thi PISA (Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (Programme for International Student Assessment). Thành công xuất sắc của học sinh Phần Lan trong các kỳ thi này đã làm cả thế giới ngạc nhiên.
 


PISA là bài kiểm tra kiến thức của các trẻ em 15 tuổi, thực hiện 3 năm một kỳ tại hơn 40 địa điểm cho gần nửa triệu HS trên toàn cầu. PISA mới tiến hành được 4 kỳ (2000-2003-2006-2009) thì Phần Lan giành được vị trí thứ nhất trong 3 kỳ đầu. Tại PISA 2009 họ đứng thứ hai về khoa học, thứ ba về đọc hiểu và thứ sáu về toán học.


Sau một thời gian say sưa tranh cãi về cuốn Chiến ca của Mẹ Hổ, cuối cùng phương pháp giáo dục của Phần Lan lại đang trở thành một chủ đề nóng ở Mỹ sau khi nước này chiếu bộ phim tài liệu Chờ đợi Siêu nhân1 , vạch ra các vấn đề tồn tại của giáo dục công lập Mỹ, có so sánh với Phần Lan. Báo The Economist của Anh Quốc còn kiến nghị các nhà lãnh đạo châu Âu tạm ngừng công việc để đến Phần Lan dự các giờ học cấp phổ thông, tìm hiểu xem vì sao học sinh nước này giỏi thế. Người Trung Quốc càng hết lời ca ngợi giáo dục Phần Lan. Một bà mẹ đem hai con sang Phần Lan sống mười mấy năm, tự mình trải nghiệm thực tế giáo dục từ vườn trẻ đến đại học của xứ này, sau đó nhận xét: So với Phần Lan thì giáo dục Trung Quốc chỉ là một bãi rác lớn.

Cần nhấn mạnh: người Phần Lan không hề coi trọng mọi kỳ sát hạch học sinh, kể cả PISA, họ không bao giờ mở các lớp chuyên để đào tạo “gà nòi” đi thi PISA như ở một số nước khác. GS Pasi Sahlberg, nhà giáo dục nổi tiếng, Tổng Giám đốc Trung tâm Luân chuyển và Hợp tác quốc tế Phần Lan (National Centre for International Mobility and Cooperation, CIMO) nói: “Chúng tôi chuẩn bị cho trẻ em học cách để học chứ không phải học cách để làm một bài kiểm tra. Chúng tôi không quan tâm nhiều tới PISA. Nó không phải là thứ chúng tôi nhắm tới”.
Chính người Phần Lan cũng không hiểu tại sao HS họ lại chiếm vị trí hàng đầu trong các kỳ kiểm tra PISA, bởi lẽ họ đâu có quan tâm gì tới việc xếp hạng. Nhưng khi các đoàn cán bộ giáo dục từ khắp thế giới kéo đến Phần Lan tìm hiểu kinh nghiệm dạy và học của xứ này thì họ mới để ý tới chuyện ấy. Ngành du lịch Phần Lan cũng khởi sắc nhờ thành tích của ngành giáo dục.

Triết lý giáo dục đúng đắn


Giáo dục Phần Lan vận hành theo một triết lý (tư tưởng) giáo dục độc đáo, thể hiện ở quan điểm đối với HS và giáo viên: hai chủ thể quan trọng nhất này của nhà trường phải được quan tâm và tôn trọng hết mức.


GS Sahlberg nói: “Chúng tôi không tin vào thi cử, không tin rằng có một kỳ thi thống nhất là việc tốt. 12 năm học đầu tiên trong đời HS chỉ có một kỳ thi duy nhất vào lúc các em đã ở độ tuổi 18-19, đó là kỳ thi trước khi vào đại học. Nhờ thế thầy và trò có nhiều thời gian để dạy và học những gì họ ưa thích. Các thầy cô của chúng tôi tuyệt đối không giảng dạy vì thi cử, HS cũng tuyệt đối không học vì thi cử. Trường học của chúng tôi là nơi học tập vui thích 100%. Ưu điểm của chế độ học tập ở Phần Lan là ươm trồng tinh thần hợp tác chứ không phải là tinh thần cạnh tranh. Chúng tôi không lo HS sau này sẽ cảm thấy sợ hãi khi bước vào xã hội đầy cạnh tranh”.

Sự ưu ái HS thể hiện ở chỗ ngành giáo dục phải làm cho nhà trường trở thành thiên đường của trẻ em! Muốn thế người Phần Lan đã hủy bỏ mọi chuyện khiến lũ trẻ đau đầu nhức óc như cạnh tranh (hoặc dưới mỹ từ “thi đua”), xếp hạng giỏi kém trong học tập và các kỳ sát hạch thi cử. Ở cấp tiểu học hoàn toàn không có kiểm tra kiến thức. Nhiệm vụ của giáo viên là làm cho HS hào hứng học tập, say mê hiểu biết, quan tâm tập thể và xã hội. Tóm lại, HS không phải chịu bất cứ một sức ép nào trong học tập.

GS Sahlberg nói: “Chúng tôi không tin vào thi cử, không tin rằng có một kỳ thi thống nhất là việc tốt. 12 năm học đầu tiên trong đời HS chỉ có một kỳ thi duy nhất vào lúc các em đã ở độ tuổi 18-19, đó là kỳ thi trước khi vào đại học. Nhờ thế thầy và trò có nhiều thời gian để dạy và học những gì họ ưa thích. Các thầy cô của chúng tôi tuyệt đối không giảng dạy vì thi cử, HS cũng tuyệt đối không học vì thi cử. Trường học của chúng tôi là nơi học tập vui thích 100%. Ưu điểm của chế độ học tập ở Phần Lan là ươm trồng tinh thần hợp tác chứ không phải là tinh thần cạnh tranh. Chúng tôi không lo HS sau này sẽ cảm thấy sợ hãi khi bước vào xã hội đầy cạnh tranh”.


Luật pháp Phần Lan quy định không được dùng cách xếp hạng hoặc cho điểm để đánh giá các HS trước lớp 6. Khi các thầy cô muốn bình xét năng lực và biểu hiện của HS nào đó thì họ phải dùng văn bản ghi lại sự đánh giá, có thuyết minh cặn kẽ, chứ không được đơn giản dùng điểm số hoặc thứ bậc xếp hạng để bình xét. Bởi lẽ mỗi HS đều có sở trường của riêng mình, giáo viên chỉ có thể thông qua nhiều hình thức hoạt động để tìm hiểu HS và khai thác phát huy tiềm năng của các em.


Có người cho rằng trong môi trường không có so sánh, không có cạnh tranh, không có sát hạch thi cử thì HS sẽ không có động lực để học tập. Thực ra HS Phần Lan vẫn có thi đại học, kỳ thi duy nhất sau 12 năm học, cạnh tranh cũng rất quyết liệt, nhưng khi ấy HS đã trưởng thành. Người ta cố gắng không để HS cạnh tranh với nhau quá sớm. Các nhà trường ở châu Á cạnh tranh với nhau rất gay gắt, đó là do giáo viên, phụ huynh, HS và mọi người luôn so bì lẫn nhau. Người Phần Lan không làm như vậy, họ trau dồi cho HS tinh thần Hợp tác quan trọng hơn cạnh tranh, nhấn mạnh ở cấp mẫu giáo và trung tiểu học lại càng cần tạo ra bầu không khí không có cạnh tranh. Đây là một ưu điểm của chế độ giáo dục Phần Lan.


Một nhà tâm lý học từng nói: “Hôm nay HS biết hợp tác với nhau thì ngày mai họ sẽ có năng lực cạnh tranh”. Muốn giỏi cạnh tranh thì trước hết phải biết mình, rồi tìm hiểu người khác. Biết mình để tự tin. Biết người, tức biết đối phương, là để hiểu được ưu điểm của họ; điều ấy thực hiện được trong quá trình hợp tác với họ, qua đó sẽ có được năng lực cạnh tranh. Trau dồi năng lực sáng tạo trong môi trường chan hòa tình người thì tốt hơn trong môi trường cạnh tranh khốc liệt, vì khi ấy người ta không muốn chia sẻ kinh nghiệm cho người khác, và cũng không muốn mạo hiểm, như vậy sao có thể có được sức sáng tạo. Vì thế người Phần Lan chủ trương HS học hỏi lẫn nhau, chia sẻ với nhau thành công của mình.


Người Phần Lan trau dồi cho HS tinh thần Hợp tác quan trọng hơn cạnh tranh, nhấn mạnh ở cấp mẫu giáo và trung tiểu học lại càng cần tạo ra bầu không khí không có cạnh tranh.

Chủ thể quan trọng thứ hai của giáo dục là giáo viên cũng phải được sống trong môi trường ít sức ép nhất. Thầy cô giáo phải được xã hội tôn trọng hết mức. Muốn vậy, cũng như với HS, đối với giáo viên, nhà trường áp dụng nguyên tắc không so sánh, không xếp thứ hạng hoặc cho điểm các giáo viên, không tổ chức thi tay nghề giảng dạy, cũng không làm bản nhận xét đánh giá giáo viên.

Ngành giáo dục không làm cái việc đánh giá, xếp hạng chất lượng các trường. Nhờ thế tất cả giáo viên đều rất tự tin, ai cũng tự hào về trường mình. Họ giải thích: Nếu thầy cô còn coi thường trường mình thì HS sao có thể tin vào nhà trường?


GS Sahlberg nói: “Rất nhiều quốc gia tiến hành cải cách giáo dục xuất phát từ mặt hành chính, thậm chí tham khảo giới kinh doanh, đưa phương thức vận hành công ty vào áp dụng trong trường học, lập chế độ thưởng phạt. Cách làm như thế là không đúng. Chúng ta đều biết, trừ khi nhà trường có giáo viên giỏi, trừ khi chúng ta luôn đào tạo chuyên môn cho giáo viên và giúp đỡ họ, trừ khi xã hội biết tôn trọng giáo viên, nếu không thì cải cách giáo dục sẽ không thể thành công”.


Điều đó xuất phát từ nhận thức: Nếu xã hội đã không tín nhiệm chính thầy cô giáo của mình thì còn nói gì tới việc HS tin yêu và nghe lời thầy cô? Một khi thực thi cơ chế đánh giá xếp hạng giáo viên thì tất nhiên giáo viên bị xếp hạng thấp sẽ còn đâu uy tín để dạy các em? Một nhà trường bị xếp hạng kém thì còn ai muốn cho con mình vào học? Như vậy giáo dục còn có ý nghĩa gì?


Nếu bạn hỏi bất cứ quan chức nào của Bộ Giáo dục Phần Lan về chất lượng giáo viên xứ này thì họ sẽ nói: “Tất cả thầy cô giáo của chúng tôi đều giỏi như nhau!”. Họ cũng nói: “Tất cả các trường của chúng tôi đều giỏi như nhau!” “Tất cả các HS của chúng tôi đều giỏi cả”. Câu trả lời ấy nói lên sự tự tin của một quốc gia đã thực sự đạt được sự bình đẳng trong giáo dục, vì vậy họ có quyền nói như thế. 2


Giáo viên cũng phải được sống trong môi trường ít sức ép nhất. Muốn vậy, cũng như với HS, đối với giáo viên, nhà trường áp dụng nguyên tắc không so sánh, không xếp thứ hạng hoặc cho điểm các giáo viên, không tổ chức thi tay nghề giảng dạy, cũng không làm bản nhận xét đánh giá giáo viên.

Nhằm thực hiện được các nội dung triết lý kể trên, Bộ Giáo dục Phần Lan nêu yêu cầu cực cao đối với chất lượng giáo viên, chỉ tuyển những người có tinh thần hết lòng phụng sự nhân dân và đạo đức nghề nghiệp cao thượng, và hơn nữa còn tạo điều kiện tốt nhất tiếp tục đào tạo họ. Về trình độ chuyên môn, toàn bộ thầy cô giáo tiểu học và trung học đều phải có bằng thạc sĩ trở lên, và phải có chứng chỉ đạt yêu cầu sát hạch tư cách giáo viên. Người giỏi mới được làm giáo viên. Các trường sư phạm tuyển sinh rất khắt khe, tỷ lệ thi đỗ chỉ đạt 10%. GS Sahlberg cho biết: trong năm 2010 có khoảng 6.600 ứng viên tranh nhau 660 chỗ giảng dạy ở cấp tiểu học. Nghề giáo thực sự là nghề cao quý, được xã hội trọng vọng.

Ngành giáo dục thiết lập một hệ thống dựa trên tinh thần trách nhiệm, cho phép giáo viên được quyền tự do nhất định trong việc giảng dạy. HS cũng được quyền tự chọn phương thức học tập của mình. Giáo viên lên lớp bình quân 3 tiết mỗi ngày (so với 7 ở Mỹ), do đó có nhiều thời gian để sáng tạo bài giảng truyền được cảm hứng cho HS.


Một quốc gia không có cơ chế đánh giá hoặc xếp thứ hạng giáo viên và HS, không yêu cầu thầy trò tranh vị trí thứ nhất, thế mà lại được cộng đồng OECD xếp hạng có nền giáo dục phổ thông tốt nhất. Khi biết tin này, chính những người Phần Lan rất ngạc nhiên.


Giấc mơ bình đẳng giáo dục       


Trước thập niên 70 thế kỷ XX, giáo dục Phần Lan chưa có gì đáng tự hào. Ngành giáo dục thực hiện chế độ quản lý tập trung, có rất nhiều quy chế ràng buộc công việc của giáo viên. Thời ấy HS đến 10 tuổi đều phải qua một kỳ thi, dựa theo kết quả thi để phân ban, một loại là lớp phổ thông, một loại là lớp học nghề; việc phân ban đó quyết định tương lai các em một cách võ đoán, tương lai cả cuộc đời phụ thuộc vào một kỳ thi. Kết quả thi được cho điểm từ 4 đến 10; điểm 10 là điểm số cao nhất; điểm 4 là trượt. Thời ấy các em HS tuổi còn nhỏ mà đã biết dùng đẳng cấp để so bì lẫn nhau, qua điểm số mà cho rằng mình kém hoặc hơn người khác. Trong mỗi lớp lại còn chia ra các nhóm HS tùy theo năng lực, các em luôn so kè lẫn nhau.


Về sau giới chức giáo dục Phần Lan nhận thấy cách làm như vậy là không tốt, bởi lẽ mỗi người đều có năng lực và cách biểu hiện khác nhau. Làm như vậy chẳng khác gì bắt voi, chim cánh cụt và khỉ thi tài leo cây; dùng tài leo cây làm tiêu chuẩn đánh giá năng lực của chúng là rất vô lý. Vì thế ngành giáo dục nước này đã quyết định hủy bỏ chế độ chia đẳng cấp, không dùng điểm số để phân chia thứ bậc nữa. Các giáo viên nhanh chóng nhận thấy cách làm này là tốt. Nhờ thế đã thay đổi không khí học tập trong trường, thầy trò hợp tác với nhau, đoàn kết nhất trí. Từ thập niên 80, mọi hình thức sát hạch và thi cử, kể cả chế độ thi thống nhất chung cho các trường đều bị hủy bỏ.


Một nội dung nữa của triết lý giáo dục Phần Lan là toàn thể HS phổ thông trong cả nước phải được hưởng nền giáo dục như nhau, không thể để con nhà giàu được học tốt hơn con nhà nghèo, con em người da trắng được học tốt hơn con em người da màu di cư từ châu Phi châu Á đến. Tư tưởng bình đẳng giáo dục ấy được Nhà nước Phần Lan nêu ra trong một đạo luật ban hành năm 1860. Từ năm 1915, giáo dục được thừa nhận là một quyền công dân.


Trong đợt cải cách giáo dục tiến hành vào những năm 70 thế kỷ XX, ngành giáo dục Phần Lan nêu ra ước mơ HS trong cả nước đều được học trong các trường công chất lượng tốt 3. Họ gọi ước mơ ấy là Giấc mơ Phần Lan (The Finnish dream). Sự nghiệp giáo dục của họ phát triển liên tục, bền vững suốt 40 năm nay chính là nhờ tất cả các nhiệm kỳ Chính phủ nước này đều nối tiếp nhau thực hiện bằng được giấc mơ bình đẳng giáo dục ấy, dù đảng phái nào lên cầm quyền cũng vậy.  


Ít thấy nước nào có được giấc mơ giáo dục đẹp như thế, nó kích động lòng người và gợi mở bao ý tưởng tuyệt vời, nó giúp thu hẹp tới mức tối thiểu sự khác biệt giữa các trường và khoảng cách giữa HS kém nhất với HS giỏi nhất, giảm đáng kể ảnh hưởng của địa vị kinh tế-xã hội của phụ huynh đối với HS. Các trường đều không có cơ chế đào thải HS khi các em chưa đủ 10 tuổi ; tất cả HS đều có cơ hội học tập bình đẳng. Điều đó xuất phát từ nhận thức: Tâm hồn trong trắng ngây thơ của trẻ em cần được sự dẫn dắt đúng đắn của người lớn trong môi trường trong sạch thuần khiết chứ không phải môi trường cạnh tranh tàn nhẫn của thế giới người lớn.


Phải thay đổi tư duy nếu muốn học được gì từ giáo dục Phần Lan


Rõ ràng tư duy giáo dục của người Phần Lan rất độc đáo. Nguyên tắc giảm hết mức sức ép đối với HS, chủ trương thực hiện trường nào, thầy trò nào cũng giỏi như nhau của họ khác xa lối dạy và học nhồi nhét kiến thức cũng như chủ trương xây dựng các trường lớp “chuyên” thường thấy ở phương Đông. Phải chăng chừng nào chưa thay đổi tư duy thì khó có thể học được điều gì từ huyền thoại giáo dục Phần Lan?


Các phụ huynh Á Đông lo chuyện học tập của con với tư duy không để con thua kém ngay từ vạch xuất phát,  chỉ lo đưa con vào học trường nổi tiếng, bắt con học kiểu nhồi vịt khi chúng còn bé tẹo. Người ta quá say sưa với những cuộc thi kiến thức, buộc tâm hồn trong trắng thơ ngây của lũ trẻ phải nhồi nhét bao nhiêu kiến thức thế gian người lớn từ cổ Hy Lạp tới hậu hiện đại mà chẳng biết có trau dồi được chút đầu óc sáng tạo nào cho chúng hay không4. Cha mẹ đua nhau dạy con từ khi còn là bào thai, đưa con vào lớp năng khiếu từ tuổi mẫu giáo, thi HS giỏi, thi Olympic, học thêm, học hè. Tư duy ấy làm họ hao tổn công của, chỉ làm mồi cho bao kẻ cơ hội vớ bẫm bằng cách mở các trường lớp nhắm vào nhu cầu của họ. Cả xã hội lao vào thi cử, học để mà thi, cho nên học vẹt chứ không phải học để có năng lực sáng tạo. HS chấp nhận mọi kiến thức được dạy mà không dám nghi ngờ, phản biện.


Cần phải thấy quan niệm không để con em thua kém ngay từ vạch xuất phát là có hại cho sự trưởng thành của trẻ em. Mục đích của giáo dục phổ thông là trau dồi luân lý đạo đức, gợi mở tri thức. Một nền giáo dục quá chú trọng điểm số và cạnh tranh sẽ chỉ làm tổn thương trí tuệ và tâm hồn thuần khiết của trẻ em. Thật đáng thương những đứa trẻ thơ ngây hết cặm cụi học ở trường lại vùi đầu làm bài tập ở nhà, không còn thời gian rảnh rỗi, lúc nào cũng sống trong sức ép căng thẳng do người lớn tạo ra. Học tập đáng lẽ là niềm vui lại trở thành gánh nặng, thành nỗi lo âu, thâm chí sợ hãi của chúng. Điều đó không thể không ảnh hưởng tới sự phát triển tâm sinh lý bình thường của trẻ.


Hàn Quốc có một Thần đồng thất bại. Đó là Kim Ung-Yong sinh năm 1962, được sách Kỷ lục Guinness công nhận có IQ cao nhất thế giới : trên 210. Mới 4 tuổi Kim đã được học và đọc được ba ngoại ngữ Nhật, Đức, Anh. Sau đó chú bé được mời vào học khoa Vật lý Đại học Hanyang. 7 tuổi, Kim được Cơ quan Không gian NASA mời sang Mỹ. Tại đây anh học xong đại học và lấy bằng tiến sỹ vật lý khi chưa đầy 15 tuổi. Sau 10 năm ở Mỹ, Kim quyết định về nhà để… phụng dưỡng cha mẹ, chọn con đường làm người kỹ sư xây dựng bình thường, tránh xa mọi vinh quang của danh hiệu thần đồng.

Khưu Thành Đồng – người Hoa đầu tiên được tặng huy chương Fields Toán học (1982) – từng khuyên Trung Quốc bỏ các kỳ thi Olympic, vì các nghiên cứu sinh Trung Quốc do ông hướng dẫn tuy đều là HS giỏi thi Olympic nhưng rất kém năng lực sáng tạo. Ngược lại, Einstein học tiểu học, trung học, đại học đều rất bình thường, thậm chí bị chê là chậm hiểu. Hồi học trung học ông từng bị đuổi học một lần, thi đại học lần thứ hai mới đỗ. Nhưng điều đó đâu có ảnh hưởng tới sức sáng tạo vĩ đại của ông.

Quá nhấn mạnh giáo dục ngay từ khi trẻ còn nhỏ, nóng vội nhồi nhét quá nhiều kiến thức cho trẻ thực ra là cách làm mâu thuẫn với chính lời của cổ nhân Trung Quốc:  Mười năm trồng cây, trăm năm trồng người 5, coi giáo dục là việc lâu dài, cần hết sức nhẫn nại chờ đợi. Đời người là cuộc chạy marathon, chỗ nào, lúc nào cũng là vạch xuất phát, phải học suốt đời thì mới giỏi, người dẫn đầu lúc mới xuất phát chưa chắc đã là người về nhất sau chót. Người Phần Lan không vội vàng bắt lũ trẻ học quá căng thẳng mà dần dần từng bước gợi mở ở chúng lòng ham học, ham khám phá, ham sáng tạo chứ không ham thành tích, ham điểm số cao, thứ hạng cao.


Vài số liệu về Phần Lan (theo CIA Factbook và các nguồn khác):
Diện tích 338.145 km2. Số dân 5,26 triệu. Số người đi học 1,9 triệu. Số trường học các loại 5103. GDP năm 2011: 195,6 tỷ USD (PPP). GDP đầu người 38.700 USD. Chi phí giáo dục (2007) chiếm 5,9% GDP hoặc hơn 15% ngân sách. Có hơn 3500 trường tiểu học và trung học.
[So sánh: Singapore 5,35 triệu dân và giàu hơn (GDP đầu người 59.900 USD) nhưng số trường tiểu-trung học ít hơn Phần Lan gần 10 lần; Hà Nội 6,5 triệu dân có 1444 trường tiểu-trung học]. 

Theo Tia Sáng
—————————-
Ghi chú:
1 Waiting for Superman , được tặng giải thưởng phim tài liệu hay nhất năm 2010 tại Sundance Film Festival.
2 Báo Trung Quốc kể chuyện khi đến thăm một trường phổ thông ở Mỹ, đoàn cán bộ giáo dục Trung QuốcQ có tặng nhà trường hai con gấu trúc nhồi bông với đề nghị dùng để thưởng cho hai HS giỏi nhất. Ông hiệu trưởng cảm ơn và nói “Ở trường chúng tôi em nào cũng giỏi như nhau cả ”.
3 Finnish Lesson #3: What can we learn from educational change in Finland?    http://www.pasisahlberg.com /blog/?p=32.
4 Tôi đã tận mắt thấy chương trình lớp 10 ở Singapore dạy HS tác phẩm Macbeth, một vở bi kịch viết bằng thứ English cổ của Shakespeare cực kỳ khó hiểu ngay cả với người Anh; hơn nữa thày dạy là người Singapore thì HS chỉ có thể học vẹt chứ sao mà tiếp thu nổi.
5 Thập niên dục thụ, bách niên dục nhân (It takes ten years to grow trees, but a hundred years to rear people). Xin chớ nhầm với câu “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. 

( Nguồn :quechoa)

 

TẠP CHÍ THƠ IN LUẬN VĂN TÁC GIẢ NGUYỄN PHÚ TRỌNG LIỆU CÓ LỢI CHO ÔNG ?

(Tạp chí Thơ – Hội Nhà văn Việt Nam số 1&2 – 2012)
Đỗ Hoàng
 
Thật ra luận văn “Phong vị ca dao, dân ca trong thơ Tố Hữu” của tác giả Nguyễn Phú Trọng (đương kim Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam) Khoa Văn, Đại học Tổng hợp Văn khóa 1964 -1967 cũng bình thường như luận văn của các sinh viên khác trong Khoa. Trong đó có nhiều sinh viên xuất sắc như : Thái Ninh (sau này là Trưởng Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1991 – 1992), Phan Cung Việt (nhà thơ –nguyên phóng viên báo Tiền Phong), Nguyễn Ngọc Thiện (nhà văn – Tổng biên tập tạp chí Diễn đàn văn nghệ Việt Nam), Ngôn Vĩnh (nhà văn – nguyên Tổng biên tập báo Công an nhân dân)…
Khóa học có rất nhiều người tài, và có một người duy nhất làm nông dân thứ thiệt. Tôi đã viết bài về khóa học này in trên báo Giáo dục & thời đại cách đây độ hơn mười năm.
Tố Hữu là nhà thơ lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam, điều đó không ai bàn cải. Các nhà thơ, nhà văn như Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hoài Thanh, Trần Dần, Nguyễn Đình Thi…đã viết nhiều bài hay và đúng về thơ Tố Hữu. Xuân Diệu – Tình thương mến trong thơ Tố Hữu, Chế Lan Viên – Tố Hữu con chim vụ đường bay nhưng bộ lông cánh rất đẹp…
Bài luận văn của tác giả Nguyễn Phú Trọng không có phát hiện gì mới về thơ Tố Hữu.
Bên cạnh sự thành công học tập ca dao, dân ca làm cho thơ Tố Hữu thẩm đầy phong vị ca dao, dân ca, được đại đa số người đọc nằm lòng thuộc thơ ông thì cũng nên chỉ ra những hạn chế khi Tố Hữu sử dụng ca dao, dân ca chưa nhuần nhụy, nhiều chỗ không chính xác hoặc à ơi, vần vè, chung chung…
“Ai về thăm mẹ quê ta
Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm…”
Sao lại nhớ thầm? Chỉ có trai gái yêu nhau mới thầm thương, trộm nhớ. Đây là nhớ mẹ kia mà? Ngay cả nhớ vợ, người ta cũng không nhớ thầm, người ta công khai:
“Tôi nhớ vợ tôi quá
Cho tôi về hai ngày
Nhà tôi ở Mường Lay
Có con sông Nậm Rốm
Một ngày kia sẽ đến
Tôi cầm sung được ngay
Tôi sẽ bắn trúng Tây
Vì tay có hơi vợ…
(Cầm Vĩnh Uy)
Bài thơ Việt Bắc là bài thơ nói tới cái nhớ thương chung chung.
Nhớ thương rất nhiều, nhưng nhớ toàn nhớ trời, nhớ đất, lãnh tụ, nhớ rừng, nhớ cây đâu đâu, chứ không có nỗi nhớ nỗi thương cụ thể nào. Cũng như nhiều kẻ nói thương cả trái đất, tinh cầu, nhưng thật ra chẳng thương ai cả!
Bài thơ Việt Bắc đã có nhà phê bình nói rằng: “ Người ta chỉ cần cốc sữa chứ không cần một chum nước pha cốc sữa vào. Ngửi đâu cũng nghe mang mang mùi sữa nhưng không có sữa thật!” (Đông Hồ)
Luận văn đã không có phát hiện gì mới mà tác giả lại không chỉ ra mấy câu thơ ca ngợi Stalin của Tố Hữu là không đúng với tình cảm của người Việt của con người.
Tác giả còn nâng lên tư tưởng cách mạng dễ hóa ra một nếp nghĩ hồn nhiên.thương mình thương một, thương ông thương mười.
Ca dao người Việt nói:
“Thương người như thể thương thân
Thấy người hoạn nạn thì thương”
Thế đã nhân ái lắm, bao dung lắm. Nhân ái và bao dung tột đỉnh. Không có gì hơn.
Vì lý do chính trị, vì nhiều lý do, nhà thơ Tố Hữu quá ca tụng lãnh tụ Stalin:
“…Hôm qua tiếng gọi ngoài đồng
Tiếng loa xé ruột xé lòng biết bao!
Làng trên xóm dưới xôn xao
Làm sao ông đã làm sao, mất rồi
Ông Stalin ơi! Ông Stalin ơi!
Hỡi ơi ông mất đất trời có không?
Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Thương mình thương một, thương ông thương mười!…”
(Đời đời nhớ ông –Tố Hữu)
Thơ này các cháu mẫu giáo bé cũng biết phân tích đúng sai!
Thế mà tác giả Nguyễn Phú Trọng viết trong luận văn:
“Hình thức hát ru làm cho nội dung trở thành tất yếu phải có gắn bó mật thiết với đời sống tình cảm của nhân dân. Nó như những chuyện thường tình – chuyện “cày cấy”, ra chợ bán chè, bán rau, chuyện thương cha, thương mẹ , thương chồng” – từ đời nảo, đời nào trong đời sống và tình cảm của cha ông chúng ta. Nó đã thành máu thịt trong con người chúng ta. Cái cao xa đang trở thành gần gủi, cái mới lạ đang trở thành quen thuộc. Tình cảm gia đinh quyện với tình cảm xã hội, cái riêng hòa vào cái chung, tư tưởng cách mạng dễ hóa ra một nếp nghĩ hồn nhiên:
Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Thương mình , thương một, thương ông thương mười
Yêu con, yêu nước, yêu đời
Yêu bao nhiêu lại thương người bấy nhiêu…”
Dù ông Phật đi nữa thì cũng thương không thể thương mười như thế được!
Nếu luận văn của tác giả Nguyễn Phú Trọng chỉ ra những hạn chế trong thơ Tố Hữu thì chất lượng của luân văn này sẽ nâng cao hơn!
Còn luận bàn về Stalin thì cách đây hơn 30 năm tờ MOLODOI – Tuổi trẻ của Nga đã trưng cầu độc giả là ai ác nhất thế kỷ XX, người ta đã bình Stalin đứng đầu, Hítle đứng thứ hai! Nhà thơ Tố Hữu làm chính trị chọn lãnh tụ để ca ngợi, Nguyễn Phú Trọng làm chính trị chọn Tố Hữu làm luận văn. Sao không chọn Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu…? Và tác giả Nguyễn Phú Trọng đã thành công khi từ bỏ văn chương nghiên cưú để
trở thành nhà chính trị!
Đại học Tổng hợp Văn là nơi đào tạo ra người nghiên cứu văn học, chứ không đào tạo nhà chính trị. Nhưng khoa văn Đại học Tống hợp lại có nhiều nhà chính trị hàng đầu của Đảng Cộng sản Việt Nam như Nguyễn Phú Trọng và Thái Ninh…
Cũng hay là ông Nguyễn Phú Trọng bỏ văn chương để làm chính trị. Nếu theo văn chương nghiên cứu, may mắn lắm ông kế cận được thầy dạy mình là Hà Minh Đức hoặc Phạn Cự Đệ (Phan Cự Đệ đã từng lùng bắt và trói Giáo sư Trương Tửu thầy dạy mình nộp cho Công an). Nhưng hai thầy giáo và hai nhà phê bình này và các ông Hồ Sỹ Vịnh, Trần Đình Sử, Phong Lê…là những nhà phê bình Mậu dịch quốc doanh tem phiếu thứ thiệt!
Luận văn đại học của sinh viên dù kém, dù giỏi gì thì cũng chỉ ở trong phạm vi nhà trường để xét tốt nghiệp, chẳng ai bắt bẻ việc này. Đáng phê phán là phê phán Tạp chí Thơ đã in luận văn này và còn viết rất ẩu:
“ Tiểu luận này đã được tác giả Nguyễn Phú Trọng viết từ hơn bốn mươi năm trước, song có lẽ giờ đây vẫn còn mang ý nghĩa sâu sâu sắc với chúng ta trong tiến trình phát triển và định hướng thơ hôm nay!”
Đúng là “ Nịnh vua lại hại hơn mười phụ vua!”
Hà Nội, ngày 5 tháng 9 năm 2014
Đỗ Hoàng
Tel: 0913 369 652
( Nguồn : VANDANNNB)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 07.09.2014

THÔNG ĐIỆP TỪ GIỌT SƯƠNG

 THÔNG ĐIỆP TỪ GIỌT SƯƠNG

Nguyễn Hưng Hải

(Đọc tập thơ “Nghe trong giọt sương” của Lê Mạnh Tuấn-NXB Hội Nhà văn, XB 2007)

Nhìn giọt nước thấy đại dương là cảm giác mà tôi có được khi đọc tập thơ “Nghe trong giọt sương” của Nhà thơ Lê Mạnh Tuấn – Một giọng thơ thăm thẳm nỗi người, nỗi đời, với rất nhiều can dự, cảnh tỉnh và thức tỉnh. Hơn cả thế, tôi còn nghe được từ “trong giọt sương” tiếng suối, tiếng sông, tiếng biển khi trầm lắng, lúc sôi trào như núi lửa. Thành công này, thêm một lần nữa khẳng định, Lê Mạnh Tuấn là một trong những nhà thơ phong phú về giọng điệu, rất dồn nén trong cảm xúc và chồng lợp nhiều vỉa tầng ý tưởng trong những câu thơ thế sự. Tôi rất thích những câu thơ hay không giải thích được của ông. Chính sở trường, thế mạnh này đã tạo nên phong cách, giọng điệu riêng, thô ráp và biến ảo, giản dị mà sâu sắc, trầm lắng mà đa nghĩa, đa thanh khiến cho ai đó, dù có vội vã đến đâu, cũng phải đọc chậm lại, trăn trở cùng Lê Mạnh Tuấn trong những nghĩ suy nhiều day dứt về kiếp người, về những va đập của thời thế và nhân thế. Thơ ông không dễ đọc bởi mỗi câu chữ hàm chứa trong đó rất nhiều thông điệp. Bao trùm lên tất cả là một thái độ đầy dấn thân, không bị tiếng bão, tiếng mưa vọng từ đâu lại, át đi những âm thanh trong trẻo nhưng dứt khoát cùng với nỗi ấm lạnh nghe được từ phía quả tim luôn thổn thức. Quả tim ấy chất chứa yêu thương, thấm đẫm nỗi đau, niềm nhân ái- Và luôn mang đến cho mọi người sự ấm áp, sẻ chia.

Lê Mạnh Tuấn không tuyên ngôn, nhưng tôi như nghe được từ trong những câu thơ đẫm đầy nước mắt tiếng của ngàn đời, tiếng của một thời, tiếng của “những khoảnh khắc say giữa dòng đời luôn phải tỉnh” . Trong những câu thơ như cứa vào lòng người, thông điệp trước hết mà ông mang lại cho tôi là khát vọng khôn cùng của vẻ đẹp nhân cách. Ngay trong bài thơ mở đầu của tập thơ “Nghe trong giọt sương” đã đầy hẫng hụt: “Tìm trong khói bụi/tia nắng nhòe soi cửa phòng ai/vướng nhành bụt mọc”. Cái đẹp ở ngay đó, nhưng không phải lúc nào cũng “với tới” được, bởi xung quanh ta còn rất nhiều hệ lụy, nhiều khi đau đến tức tưởi, quặn thắt. Trong khao khát như bông mai bị nghẽn lại, không nở được ở trên tường, Lê Mạnh Tuấn đã lặng lẽ chịu gió sương. Ông đã nhận ra trong thơm tho giả tạo, mùi khê và khét của tình người, của những sự băng hoại, và dũng cảm lột tẩy: “Đêm chảy qua thơ ngây mắt trẻ/Ngự trị ngay trong những đố kỵ và ganh ghét/của biết bao từng trải và nhân danh từng trải/Họ đã lừa lọc trong đêm và lừa lọc chính đêm/mà cứ chảy”…

(Đọc tiếp…)

CẢNH GIÁC TÀU CÁ TRUNG QUỐC VÀ CHUẨN BỊ ĐỐI ĐẦU

 Vĩnh Nguyên

Ắt chúng ta ai cũng còn nhớ, Trung Quốc (TQ) ngang nhiên cho 30 tàu cá (có một tàu hậu cần 3.000 tấn) rời Tam Á, và ngày 4/7/2012 đến bãi Vĩnh Thử (Chữ Thập – Trường Sa). Đến ngày 16/7/2012, 30 tàu này rời Vĩnh Thử đến bãi Chữ Bích (bãi Su Bi thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam). Su Bi cách đảo Thị Tứ (Philippines đang ở) chỉ 16 hải lý. Mặc Việt Nam, Philippines phản đối TQ xâm phạm chủ quyền, đoàn tàu cá này cứ đi và về ngang nhiên.

Người ngư dân Việt Nam nói: Chúng đi thăm dò luồng lạch đó, còn thích thì đánh vài mẻ ăn cá tươi chơi. “Thăm dò luồng lạch”, thuật ngữ khoa học gọi là Tác nghiệp hàng hải, hay Tác nghiệp hải đồ.Thực sự TQ coi Biển Đông như ao nhà của chúng từ năm 1988, năm chúng đánh chiếm Gạc Ma, Su Bi và chiếm dần 5 đảo đá khác thuộc Trường Sa. Su Bi dài 6,5km, rộng 3,7km, TQ đã xây kiên cố bến tàu, bãi đỗ trực thăng. Còn Gạc Ma họ đang xây sân bay nhân tạo, lập hai căn cứ quân sự trên Biển Đông.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 06.09.2014

Đốt lửa đón máy bay

NV Nguyễn Đắc Xuân

Đốt lửa đón máy bay

Nhà văn Nguyễn Dắc Xuân

QTXM- Bạn đọc thân mến. Công tác tuyên truyền của nhà nước Việt Nam có nhiều khi phản tác dụng vì nói không thành có như vụ Lê Văn Tám. Ở Huế cũng có nhiều chuyện như thế, ví dụ chuyện 11 cô gái Sông Hương. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân sẽ cung cấp cho bạn đọc một nghi vấn nữa về việc dựng truyện để tuyên truyền…

Một đêm tôi nhận được lệnh của ông Trần Anh Liên-Chính ủy Cánh Bắc, điều động Đội Công tác Thanh niên chúng tôi đi đốt lửa trước cửa Ngọ Môn làm dấu hiệu để máy bay ngoài Bắc vào thả dù lương thực và đạn dược cho chiến trường Huế. Đang thiếu gạo, thiếu đạn dược, nghe có máy bay vào tiếp tế thì mừng vô cùng chứ chưa kịp nghĩ chuyện đó có thực hiện được hay không trong bầu trời do quân đội Hoa Kỳ làm chủ và hậu quả về chính trị “Máy bay miền Bắc vào đánh ở miền Nam” sẽ phải giải thích với dư luận thế giới ra sao.

(Đọc tiếp…)

12

XÁC LẬP CHỦ QUYỀN VỀ BIỂN ĐẢO CỦA TRIỀU NGUYỄN QUA CHÂU BẢN

Nguyễn Phước Hải Trung

Ngày 14.5.2014, Châu bản triều Nguyễn được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thế giới khu vực Châu Á – Thái Bình Dương thuộc chương trình “Ký ức thế giới”. Châu bản triều Nguyễn (Châu bản) là tập hợp các tập tấu, sớ, chiếu, chỉ dụ, tư trình, bẩm, truyền, sai, phó, khiển… được đích thân vua ngự lãm hoặc ngự phê bằng mực màu son, truyền đạt ý chỉ hoặc giải quyết các vấn đề chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, xã hội chính từ năm 1802 đến năm 1945. Đặc biệt, trong số Châu bản còn lưu trữ, hiện có hơn 20 văn bản đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc xác lập chủ quyền biển đảo… (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 05.09.2014

HẬN NAM QUAN

HẬN NAM QUAN


Kha Tiệm Ly

alt
Nguyễn Trãi khóc cha là Nguyễn Phi Khanh tại ải Nam Quan

Tổ quốc mất rồi núm ruột Hoàng Sa
Nay lại mất ngàn dặm vuông quan ải
Ai yêu nước mà lòng không tê tái
Bởi núi sông này là xương máu ông cha

Từ đao thù bầm nát mình hải đảo
Thì biển ta đã dậy sóng căm hờn
Nghe đất Lũng Nhai vang lời thề sắt máu
Nghe gươm mài rên đá núi Lam Sơn

Đâu Diên Hồng, đâu cánh tay sát thát?
Đâu Ngô Quyền, đâu Hưng Đạo đại vương?
Đâu ánh mắt luôn rực ngời ánh thép?
Đâu lửa hận thù hun đúc gươm thiêng?

Ta nợ giang san lòng yêu tổ quốc,
Nợ trống Ngọc Hồi, nợ thớt tượng Quang Trung.
Nợ Ức Trai lời Bình Ngô đại cáo
Nợ tổ tiên một dòng máu anh hùng

Chẳng có dịp cho trường giang dậy sóng
Nên cọc Bạch Đằng nuốt hận đứng chơ vơ
Không đủ sức để nâng ngang nòng súng
Ta vẫn còn chất thép trong thơ

Kha Tiệm Ly

99/5 Đinh Bộ Lĩnh Phường 2, tp Mỹ Tho Tiền Giang
Tel: 0987 701 952 – 01229 880 130
Email: khatiemly@gmail.com

KIẾN NGHỊ của một số cựu sĩ quan Lực lượng vũ trang nhân dân gửi Lãnh đạo Nhà nước và Chính phủ CHXHCN Việt Nam

 
 
Ngày 2 tháng 9 năm 2014
 
Kính gửi: – Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Thống lĩnh các lực lượng vũ trang Nhân dân, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh 
-Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng 

Chúng tôi là những người lính trọn đời “Trung với Nước, Hiếu với Dân”, luôn trăn trở với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và Nhân dân. Đứng trước tình hình nghiêm trọng, đe dọa an ninh, chủ quyền và sự phát triển của Quốc gia, chúng tôi vô cùng lo lắng và thấy cần phải kiến nghị với Lãnh đạo Nhà nước một số điểm như sau. 
1. Lực lượng vũ trang mang tên Nhân dân phải luôn luôn vì Nhân dân, nên không được huy động Quân đội và Công an vào bất cứ việc gì có hại cho Nhân dân. Sức mạnh của Lực lượng vũ trang chỉ có được khi dựa vào Nhân dân, nên không được đánh mất tín nhiệm đối với Nhân dân. Vì vậy, để bảo vệ uy tín của Quân đội là lực lượng có nhiệm vụ hiến định “quốc phòng”, tức là bảo vệ Tổ quốc trước ngoại xâm, cần chấm dứt ngay việc huy động Quân đội vào những sự vụ mang tính đối kháng với Nhân dân, như giải tỏa đất đai, ngăn chặn các cuộc biểu tình yêu nước ôn hòa… Để khôi phục uy tín của Công an, nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ hiến định “bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm”, tuyệt đối không lạm dụng lực lượng Công an vào việc đàn áp những người dân vô tội, chỉ yêu cầu giải quyết quyền lợi hợp pháp của mình. 
2. Các chiến sĩ Lực lượng vũ trang chỉ có thể yên tâm rèn luyện và sẵn sàng hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc khi tin tưởng rằng cống hiến của họ luôn được Nhà nước ghi nhận thỏa đáng và gia đình của họ sẽ được Nhà nước chăm sóc chu đáo. Việc cố tình phớt lờ cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 và mấy trận chiến bảo vệ biển đảo không chỉ phủ nhận lịch sử, xúc phạm đồng bào và chiến sĩ đã hy sinh xương máu vì Tổ quốc, mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới tinh thần và quyết tâm chiến đấu của Lực lượng vũ trang. Đó là sai lầm không được phép tái phạm. Để khắc phục hậu quả, phải nhanh chóng giải quyết những cách cư xử không đúng đối với với thương binh và gia đình liệt sĩ. Đặc biệt, phải sớm khôi phục danh dự và quyền lợi đã bị lãng quên của các liệt sĩ và thương binh đã hy sinh xương máu trong chiến tranh biên giới phía bắc và ngoài biển đảo, gấp rút tu bổ các nghĩa trang liệt sĩ dọc biên giới phía Bắc đã bị bỏ bê hơn hai chục năm qua. 
3. Lực lượng vũ trang cần được xác định rõ ràng và chính xác đối thủ, không thể mơ hồ biến thù thành bạn hoặc coi bạn là thù. Đối tượng tác chiến của Quân đội phải là những thế lực có thể đe dọa chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc trong hiện tại và tương lai, chứ không thể là những đối thủ đã thuộc về quá khứ. Đối tượng khống chế của Công an phải là những kẻ tội phạm và các hành vi vi phạm hiến pháp, pháp luật, dù ở trong hay ngoài bộ máy cầm quyền, chứ không thể là những người dân vô tội. Lịch sử đã chỉ ra rằng Nhân dân ta phải thường xuyên đề cao cảnh giác trước nguy cơ ngoại xâm từ nước láng giềng phương Bắc. Việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan HD 981 trên vùng đặc quyền kinh tế của của chúng ta, tuy nay đã tạm rút đi, nhưng vẫn cho thấy họ không hề từ bỏ quyết tâm bá chiếm Biển Đông. Lịch sử cũng cho thấy, sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều nước cựu thù đã hợp tác với nhau rất hiệu quả và bền vững, ví dụ như mối quan hệ giữa CHLB Đức và ba nước Mỹ, Anh, Pháp, giữa Nhật Bản và Mỹ, giữa Việt Nam và hai nước Pháp, Nhật Bản. Do đó, không thể vì những quan niệm bảo thủ, giáo điều mà đánh mất các cơ hội hợp tác với các cường quốc tiên tiến văn minh, nhằm phát triển kinh tế, công nghệ, nâng cao sức mạnh quốc phòng và tăng cường sự ủng hộ quốc tế trong sự nghiệp bảo vệ đất nước. 
4. Là người chủ và người bảo vệ đất nước, Nhân dân và lực lượng vũ trang phải được biết chính xác hoàn cảnh thực tế của Quốc gia. Vì vậy, Nhà nước phải báo cáo rõ ràng với Nhân dân về thực trạng quan hệ Việt-Trung và về những ký kết liên quan đến lãnh thổ trên biên giới, biển đảo và các hợp đồng kinh tế ảnh hưởng lớn đến an ninh và chủ quyền của Quốc gia. Về Hội nghị Thành Đô, có tin nói rằng Tân Hoa xã và Hoàn cầu Thời báo của Trung Quốc đã công bố nội dung thỏa thuận giữa hai bên, trong đó trích dẫn: “Việt Nam mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền trung ương tại Bắc Kinh như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây… Phía Trung Quốc đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc”. Chúng tôi không biết thật giả thế nào, yêu cầu Chủ tịch và Thủ tướng cho chúng tôi và nhân dân biết rõ thỏa thuận tại Hội nghị Thành Đô năm 1990. Chuyến đi thăm Trung Quốc gần đây của đặc phái viên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam đã thỏa thuận với phía Trung Quốc về ba nguyên tắc chỉ đạo phát triển quan hệ Việt-Trung mà nội dung chỉ nhắc lại những câu sáo ngữ, không nói gì tới thực trạng và các biện pháp chấm dứt các hành động ngang ngược của thế lực bành trướng Trung Quốc xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta trong mưu đồ bá chiếm Biển Đông. Chưa biết bên trong còn có những thỏa thuận cụ thể gì, nhưng toàn dân và toàn quân yêu cầu lãnh đạo Đảng và Nhà nước có đối sách đúng đắn trước mưu đồ và hành vi xâm lược của thế lực bành trướng Trong Quốc, không thể chấp nhận thái độ thể hiện sự thần phục họ, và càng đòi hỏi phải công khai, minh bạch thực trạng quan hệ giữa hai bên. 
Trên đây là mấy đòi hỏi cấp bách, nhằm khôi phục uy tín của Quân đội và Công an trong Nhân dân, đồng thời tăng cường sức chiến đấu của Lực lượng vũ trang, để có thể đáp ứng được những thách thức to lớn trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. 
DANH SÁCH NGƯỜI KÝ
 
1. Lê Hữu Đức, Trung tướng – nguyên Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham Mưu.
2. Trần Minh Đức, Thiếu tướng – nguyên Phó Tư lệnh về hậu cần Mặt trận Trị Thiên – Huế.
3. Huỳnh Đắc Hương, Thiếu tướng – nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào.
4. Lê Duy Mật, Thiếu tướng – nguyên Tư lệnh Phó Tham mưu trưởng Quân khu 2.
5. Bùi Văn Quỳ, Thiếu tướng – nguyên Phó Tư lệnh về chính trị bộ đội Tăng–Thiết giáp.
6. Nguyễn Trọng Vĩnh, Thiếu tướng – nguyên Chính ủy Quân khu 4.
7. Bùi Văn Bồng, Đại tá – nguyên Trưởng Đại diện báo Quân đội Nhân dân khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
8. Phạm Quế Dương, Đại tá – nguyên Tổng Biên tập tạp chí Lịch sử Quân sự.
9. Nguyễn Gia Định, Nghệ sĩ ưu tú Điện ảnh quân đội.
10. Lê Hồng Hà – nguyên Chánh Văn phòng Bộ Công an, ủy viên Đảng đoàn Bộ Công an.
11. Phạm Hiện, Đại tá – nguyên Chánh Văn phòng B 68 đoàn chuyên gia giúp Campuchia.
12. Xuân Phương, Đại tá – nguyên chuyên viên Cục Nghiên cứu Tổng cục Chính trị.
13. Nguyễn Đăng Quang, Đại tá – nguyên cán bộ thuộc Bộ Công an.
14. Đào Xuân Sâm, Cựu chiến binh Hà Nội – nguyên chủ nhiệm khoa Quản lý kinh tế Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
15. Tạ Cao Sơn, Đại tá – nguyên Phó Tham mưu trưởng Quân khu 2.
16. Đoàn Sự, Đại tá– nguyên Phó Cục trưởng Cục Xuất bản Tổng cục Chính trị.
17. Lê Văn Trọng, Đại tá – nguyên Trưởng Ban lịch sử Cục Nghiên cứu Bộ Tổng Tham Mưu.
18. Nguyễn Thế Trường, Đại tá – nguyên Tổng Biên tập báo Quân giải phóng Trung Trung bộ.
19. Nguyễn Văn Tuyến, Đại tá cán bộ tiền khởi nghĩa – nguyên cán bộ Viện Lịch sử Quân sự.
20. Nguyễn Huy Văn (tức Kim Sơn), Đại tá lão thành cách mạng – nguyên Phó Trưởng phòng Sở chỉ huy Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham Mưu.

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 04.09.2014

MƯA HUẾ

 

             MƯA HUẾ

Ngô Minh 

1

Con đường dâng trước ngực tôi lời ngợi ca đầy ắp. Cơn mưa rộng dài tâm tình sung mãn thành phố trăm năm trong bóng nước mây dâng tặng mai này. Bước mưa dạo giữa hồn tôi nhẹ nhàng mát mẻ

 

Tất cả tan vào mưa, không gian không chia hướng. Những ô cửa tầng cao lim dim niềm ngẫm nghĩ. Hạnh phúc tiềm ẩn nơi đâu bỗng quánh đặc khoảng trời. Bác xích-lô giad nép lòng mưa mai mỉn cười đón khách, chia người qua đường chút lửa ấm trên môi

 

Những hạt mưa gieo xuống lòng tôi như người trồng rau ngoại ô gieo hạt vào đất ẩm.Tiếng đất nghẹn cồn cào cơn khát hạ say mở lòng chào đón và dắt mưa quấn quýt bước người cày

 

Mưa nảy mần hạnh phúc giữa lòng tay… (Đọc tiếp…)

Việt Nam 1945–  chiếu thoái vị của vua Bảo Đại

  Phụ Lục A: Tờ Chiếu của Vua Bảo Đại sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh

Cựu Hoàng Bảo Đại tại ParisCựu Hoàng Bảo Đại tại Paris

Ba ngày sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh và hai ngày trước khi Việt Minh giành được chính quyền ở Hà Nội, Vua Bảo Đại tuyên cáo với quốc dân, xác định tư cách độc lập của Việt Nam, nhưng tiên liệu việc Pháp có thể theo chân Đồng Minh về tái chiếm Đông Dương. Ông kêu gọi tất cả mọi người yêu nước giúp ông lập chính phủ mới để “đương đầu với một cuộc tái hồi ngoại thuộc. ” (Khi đó, chính phủ Trần Trọng Kim vừa từ chức.) Trước tình hình chính trị sôi động ở trong nước, Vua Bảo Đại đã có một lời nói lịch sử: “Trẫm ưng làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ.”

 

 VIỆT NAM HOÀNG ĐẾ BAN CHIẾU

Cuộc chiến tranh thế giới đã kết liễu. Lịch sử nước Việt Nam hiện tới một thời kỳ nghiêm trọng vô cùng.

Đối với dân tộc Nhật Bản, Trẫm có nhiệm vụ tuyên bố rằng: Dân tộc ta có đủ tư cách tự trị và nhất quyết huy động tất cả lực lượng, tinh thần và vật chất của toàn quốc để giữ vững nền độc lập cho nước nhà.

Trước tình thế quốc tế hiện thời, Trẫm muốn mau mau có nội các mới.

Trẫm thiết tha hiệu triệu những nhà ái quốc hữu danh và ẩn danh đã nỗ lực chiến đấu cho quyền lợi dân chúng và nền độc lập nước nhà mau mau ra giúp Trẫm để đối phó với thời cuộc. Muốn củng cố nền độc lập của nước nhà và bảo vệ quyền lợi của dân tộc, Trẫm sẵn sàng hi sinh về tất cả các phương diện.

Trẫm để hạnh phúc của dân Việt Nam lên trên ngai vàng của Trẫm. Trẫm ưng làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ. Trẫm chắc rằng toàn thể quốc dân cùng một lòng hi sinh như Trẫm.

Trong sự chiến đấu mà ta cần phải đương đầu với một cuộc tái hồi ngoại thuộc, toàn thể dân tộc Việt Nam chắc chắn ở sự đắc thắng của công lý và nhân đạo và tin rằng chỉ một nước việt Nam độc lập mới có thể cộng tác một cách có hiệu quả với tất cả các nước để gây dựng một nền hòa bình vững chắc ở hoàn cầu.

Khâm thử,

Phụng ngự ký: Bảo Đại

Ban chiếu tại Thuận Hoá ngày 10 tháng 7 năm Bảo Đại thứ 20 (Dương lịch ngày 17 tháng 8 năm 1945)

Số 181 CT Ngự tiền Văn phòng cung lục Thuận Hoá ngày 11 tháng 7 năm Bảo Đại thứ 20 (Dương lịch ngày 18 tháng 8 năm 1945)

Quan Tổng Lý

Ký tên: Phạm Khắc Hòe

———-

 

Phụ lục B: Tờ Chiếu Thoái Vị của Vua Bảo Đại

Nguồn: Báo Kiến thứcNguồn: Báo Kiến thức

Ngày 25 tháng Tám, 1945, Vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị để trao quyền cho chính phủ Hồ Chí Minh vừa được thành lập trước đó một ngày. Ôn nhấn mạnh rằng “sự hi sinh của trẫm phải có bổ ích cho tổ quốcÔng đưa ra ba điều mong ước cho chính phủ  mới, đối với tông miếu và tăng tẩm nhà Nguyễn, đối với các đảng phái quốc gia, và đối với quốc dân, tất cả đều hướng về chủ đề “Đoàn kết là sống, chia rẽ là chết ”

VIỆT NAM HOÀNG ĐẾ BAN CHIẾU

• Hạnh phúc của dân Việt Nam  

• Độc lập của nước Việt Nam

Muốn đạt mục đích ấy, Trẫm đã tuyên bố: Trẫm sẵn sàng hi sinh hết cả mọi phương diện, và cũng vì phương diện ấy nên Trẫm muốn sự hi sinh của Trẫm phải có bổ ích cho Tổ quốc.

Xét thấy điều bổ ích cho Tổ quốc lúc này là sự đoàn kết toàn thể quốc dân, Trẫm đã tuyên bố ngày 22 tháng 8 vừa rồi rằng: trong giờ nghiêm trọng này đoàn kết là sống, chia rẽ là chết.

Nay thấy nhiệt vọng dân chủ của quốc dân Bắc bộ lên quá cao, nếu Trẫm cứ ngồi yên mà đợi quốc hội thì không thể nào tránh khỏi nạn Nam, Bắc phân tranh, đã thống khổ cho quốc dân lại thuận tiện cho người lợi dụng.

Cho nên, mặc dầu Trẫm hết sức đau đớn nghĩ đến công lao liệt thánh, vào sinh ra tử trong gần 400 năm để mở mang giang sơn đất nước từ Thuận-hoá tới Hà-tiên.

Mặc dầu trẫm hết sức bùi ngùi cho nỗi làm vua trong 20 năm, mới gần gũi quốc dân được mấy tháng, chưa làm được gì ích lợi cho quốc dân như lòng Trẫm muốn, Trẫm cũng quả quyết thoái vị để nhường quyền điều khiển quốc dân lại cho một chính phủ dân chủ cộng hòa.

Trong khi trao quyền cho chính phủ mới, Trẫm chỉ mong ước có ba điều này:

1. Đối với Tông Miếu và Lăng Tẩm của Liệt Thánh, chính phủ mới nên xử trí thế nào cho có sự thể.

2. Đối với các đảng phái đã từng tranh đấu cho nền độc lập quốc gia nhưng không đi sát theo phong trào dân chúng, Trẫm mong chính phủ mới sẽ lấy sự ôn hòa xử trí để những phần tử ấy cũng có thể giúp vào việc kiến thiết quốc gia và tỏ rằng chính phủ dân chủ cộng hòa nước ta đã xây đắp ở trên sự đoàn kết của toàn thể quốc dân.

 

3. Đối với quốc dân, Trẫm khuyên hết cả các giai cấp, các đảng phái, cho đến cả người Hoàng phái cũng vậy, đều nên hợp nhất mà ủng hộ triệt để chính phủ dân chủ, giữ vững nền độc lập của nước, chứ đừng vì lòng quyến luyến Trẫm và Hoàng gia mà sinh ra chia rẽ.

 

4. Còn về phần Trẫm, sau 20 năm ngai vàng bệ ngọc, đã biết bao ngậm đắng nuốt cay. Từ nay Trẫm lấy làm vui được làm dân tự do của một nước độc lập, chứ Trẫm nhất quyết không để cho ai lợi dụng danh nghĩa của Trẫm hay của Hoàng gia để lung lạc quốc dân nữa.

Việt Nam độc lập muôn năm!

Dân chủ cộng hòa muôn năm!

Khâm thử

Phụng ngự ký: Bảo Đại

Ban chiếu tại lầu Kiến Trung ngày 18 tháng 7 năm Bảo Đại thứ 20  (25 tháng 8 năm 1945)

Số hiệu 1871 GT

Ngự tiền văn phòng cung lục

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 02.09.2014

TRÊN CHIẾN KHU BA LÒNG

TRÊN CHIẾN KHU BA LÒNG

 
Lê Phương
Đại tá – Cựu chiến binh
 
QTXM: Ông Lê Phương – Đại tá, cựu chiến binh – quê làng Hòa Ninh, xã Quảng Hòa, Quảng Trạch, Quảng Bình; vào bộ đội khi 16 tuổi, cùng đơn vị với Nhà văn Phùng Quán. Ngày mới nhập ngũ, ông làm liên lạc, rồi được quân đội cử đi học ở trường “Thiếu sinh quân” (Khu 4). Chưa xong khóa học, do nhu cu của chiến trường, trở về đơn vị trên chiến trường Bình Trị Thiên. Năm 1953 – 1954, được điều ra nước ngoài dự khóa huấn luyện và tiếp nhận pháo cao xạ 37mm; là sĩ quan “Cao xạ pháo” của “Trung đoàn pháo cao xạ 367” chiến đấu trên chiến trường Điện Biên Phủ lịch sử. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông công tác tại Cục Chính trị, Quân chủng Phòng không – Không quân. Nhân dịp Cách mạng Tháng 8 – Quốc khánh 2/9 lần thứ 69, QTXM trích đăng hồi ký “Những tiếng lòng của tuổi xuân” của Đại tá Lê Phương, kể về những ngày tháng chiến đấu ở Chiến khu Ba Lòng – mặt trận Bình Trị Thiên, thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp.
Chiến sĩ văn công từ U Bò – Ba Rền đến Chiến khu Ba Lòng
Cuộc kháng chiến vĩ đại bước sang năm thứ 4. Ngoài Bắc, quân ta đại thắng, mặt trận Bình Trị Thiên có những bước đi lên. Chiến trường cần thêm nhiều chiến sĩ; theo lệnh của Khu uỷ Khu 4, một số lớn học sinh của các trường “Thiếu sinh quân” cần bổ sung cho mặt trận miền Bắc và Phân khu (Bình Trị Thiên). Xác định được nhiệm vụ của mình, tôi trở về hàng ngũ chiến đấu, đó là tháng 2 năm 1950. Cuộc đời “thiếu sinh quân” chỉ vẹn vẹn có 6 tháng.
Trèo đèo lội suối, vượt U Bò – Ba Rền đến chiến khu Ba Lòng, nơi “đầu vào” của mặt trận kháng chiến Bình Trị Thiên. Một sự gặp gỡ bất ngờ trên dốc cao Làng Hạ. Chị hai tôi (con thứ 2 trong gia đình – chị Lê Thị Hạnh Phúc) đi học ở Phân khu về. Hai chị em gặp nhau giữa lưng đèo. Em vào Nam chị ra Bắc, gặp nhau mà nghẹn ngào, chả nói nên lời. Tôi nhìn người chị mến yêu không chớp mắt, gian khổ đã hiện lên khuôn mặt hiền từ của chị. Chị vô cùng ngạc nhiên khi gặp em ở đây, vì tôi mới rời áo lính đi học có mấy tháng, chưa kịp nói rõ lý do cuộc hành quân này. Đoàn của tôi, đội của chị đã cách nhau xa, không thể nấn ná lâu, vì “chúa sơn lâm” đang rình những người đi về (thời kỳ này đã có những chiến sĩ bị hổ vồ trên đường ra trận). Phút chia tay sao mà buồn thế. Tôi đứng yên trên tảng đá nhìn bóng dáng người chị khi đã khuất dần trong cây lá. Chị càng đi càng gần lại quê hương, được gặp mẹ và cac em. Tôi muốn gửi theo chị lời chào với mẹ kính yêu, nhưng chị đã đi xa rồi…

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 01.09.2014

Bàn về chữ “Giá” trong một bài thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm

  •   Thế Anh

Trên tạp chí Kiến thức ngày nay số 839 ra ngày 01-12-2013 có đăng  bài Kỷ niệm về một bài thơ & một câu hỏi chưa lời giải đáp của Nguyễn Cẩm Xuyên. Vấn đề nêu lên rất thú vị: đó là cách hiểu chữ giá trong bài thơ Cảnh nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bài thơ này trong nguyên văn chữ Nôm không có tên gọi. Những người soạn giáo khoa đã căn cứ vào nội dung đặt tên cho bài thơ là Cảnh nhàn và đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường trước đây.

Hiện nay bài thơ cũng được chọn vào chương trình Ngữ văn 10 của bậc THPT và lấy tên gọi là Nhàn. Bài thơ như sau:

Một mai, một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dù ai vui thú nào

Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn, người đến chốn lao xao

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

Rượu đến cội cây đa sẽ uống

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

Bài thơ nôm na, dung dị, không dùng từ Hán – Việt và điển cố cầu kỳ. Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí có nhận xét chung về thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm như sau: Văn chương ông tự nhiên, nói ra là thành, không gọt dũa, giản dị mà linh hoạt, không màu mè mà có ý vị, đều có quan hệ đến việc dạy đời. Bài thơ đã được trao đổi, phân tích, bình giảng của nhiều nhà giáo, giáo sư, cán bộ nghiên cứu, nhà thơ và cả những người yêu thích văn chương nữa. Phần lớn các ý kiến phân tích đều có sức thuyết phục và đã giúp cho các em học sinh hiểu được một cách sâu sắc hơn quan niệm sống của nhà thơ (chữ Nhàn) qua đó thấy được nhân cách và những nét đặc trưng trong phong cách thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm (giọng điệu trữ tình kết hợp với chất triết lý). Thế nhưng cũng có một vị Phó GS đã gán ghép cho cụ Trạng và bài thơ hàng loạt điển cố xa lạ của Tàu[1]. Ông cho rằng người soạn sách giáo khoa giảng cho các em học sinh mai để đào đất, cuốc để xới đất, cần câu để bắt cá là sai, mà phải hiểu như ông là khi phá đề Nguyễn Bỉnh Khiêm lấy ngay điển từ Nhạc phủ – bài Kích nhưỡng ca để mở đề: “Tạc tỉnh nhi ẩm, canh điền nhi thực, nghĩa là đào giếng mà để uống, cày ruộng mà để ăn”. Ông còn trích dẫn tràng giang đại hải tư tưởng Mặc Tử, Trang Tử, Hàn Phi Tử. Về chữ cần câu tác giả bài viết này cũng buộc cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm không được dùng lưỡi câu bình thường và mồi câu thơm như ở quê nhà mà phải câu lưỡi thẳng như cụ Lã Vọng trong lịch sử cổ đại Trung Hoa. Ông gán cho Nguyễn Bỉnh Khiêm điển Trang Tử về cần câu và dẫn bài Trúc Can trong Kinh Thi để minh họa. Sự gán ghép trên đây quả là khiên cưỡng, bởi vì Lã Vọng ngồi câu với lưỡi câu thẳng là để chờ thời và cuối cùng cụ đã đạt được mục đích là giúp Vũ Vương diệt Trụ lập nên triều đại nhà Chu, còn cụ Trạng của chúng ta thì đã từ quan về ở ẩn ở chốn quê nhà, lấy chữ nhàn làm lạc thú nhìn xem phú quý tựa chiêm bao  thì việc gì cụ lại phải bắt chước Lã Vọng. Vị PGS này còn xúc phạm những người viết sách giáo khoa là vẹt hót khi họ phân tích: Bốn mùa xuân, Hạ, Thu, Đông, mùa nào nào thiên nhiên cũng là môi trường sống thanh tao:

Thu ăn mang trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

Hai câu là bộ tranh tứ quý, có cảnh, có người, có mùi vị, có hướng sắc.

Măng trúc và giálà hai loại thức ăn bình dân, quê kiểng bao đời nay, cần gì phải đi tìm gốc gác trong kho thư tịch cổ ngổn ngang của Tàu và trích dẫn lời Mã Viện (14TCN đến 49SCN)- một tên tướng đã từng xâm chiếm và cai trị nước ta – cho rằng, vị măng đông ngon hơn măng cuối xuân, hoặc dẫn chứng những câu chuyện có liên quan đến măng của các danh nhân cổ đại Trung Quốc chẳng dính líu đến câu thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Cái kiểu bình luận văn chương theo lối nói lấy được để phô trương kiến thức biến con chuột thành con voi đã làm cho vị PGS đi quá đà đẩy câu thơ cụ thể của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm lên một phạm trù triết học trừu tượng, siêu hình, thú thật tôi cũng không hiểu ông ta định nói gì, xin ghi lại đây để độc giả tham khảo:

“Câu đầu, Nguyễn Bình Khiêm đưa ăn lên trên và đặt song trùng: ăn (măng)// ăn (giá). Đấy là hình nhi hạ. Câu sau, thi nhân vẫn dùng phương pháp sóng đôi: tắm (hồ)// tắm (ao). Đây mới là hình nhi thượng. Hai câu luận song song đối nhau. Nhưng ngay trong mỗi câu, Nguyễn Bỉnh Khiêm lại chặt đôi: hình nhi thượng trước (măng trúc)// hình nhi hạ sau (giá). Măng trúc do trời ban, thiên nhiên ban; còn giá bởi con người vất vả làm ra. Câu sau vẫn lối cấu trúc: Hình nhi thượng trên – hồ sen do ông xanh tạo hóa, ông ban cho được tắm hương trời; mà nếu, ông xanh không cho thì vui vẻ trở về tắm ao (cũng có thể tắm ao tù) – Hình nhị hạ dưới. Con người tự làm, chẳng phái đội Thiên tử (!).”

Trở lại chữ giá mà tác giả Nguyễn Cẩm Xuyên đề cập đến trong bài viết của mình chúng tôi xin có ý kiến như sau: Trong cấu trúc chữ Nôm có một loại đọc theo âm Hán – Việt nhưng không lấy nghĩa mà chỉ lấy âm. Chẳng hạn một số câu trong Truyện Kiều:

Trăm năm trong cõi người ta (些)

Trải qua (戈) một cuộc bể dâu

Tà tà bóng ngả (我) về tây

Đi đâu (兜) chẳng biết con người Sở Khanh

Chữ ta (些) tiếng Hán có nghĩa là ít, một ít, chữ qua (戈) là một binh khí ngày xưa; ngã (我) là ta, tôi; đâu (兜) cái mũ ngày xưa lúc ra trận; nghĩa của những chữ Hán trên đây không liên quan gì đến nội dung câu thơ, mà chủ yếu là mượn âm đọc.

Chữ giá (蔗, 稼) mà ông đề cập đến trong bài viết cũng thuộc loại này, cho nên không thể hiểu câu thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm là Thu ăn măng trúc, đông ăn mía hay ăn mạch nha được, mà chỉ có một cách đọc và hiểu duy nhất là Thu ăn măng trúc, đông ăn giá (giá đỗ) và lại càng không thể hiểu là băng giá hay nước đá như ông đã phân tích.

Chữ Nôm của các cụ trước đây chưa được điển chế và qui chuẩn hóa, nên một âm có thể viết được nhiều cách tùy trình độ từng người, một chữ cũng có thể được đọc khác nhau, tùy theo từng văn cảnh cụ thể và cảm nhận của từng người, chẳng hạn như chữ nghỉ/nghĩ, nêm/nen, nét ngài/nét người… trong Truyện Kiều.

Một điều đng chú ý nữa là khi thưởng thức văn chương trung đại, ta không nên phân tích quá tỉ mẩn theo con mắt của nhà khoa học hiện đại, như có người đã cố đi tìm cho được hệ đo lường của Trung Quốc thời xưa để xác định chiều cao của Từ Hải trong Truyện Kiều. Măng trúc và giá trong câu thơ, cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng chỉ muốn đề cập đến những món ăn dân dã, quê kiểng và cái thú tắm ao, tắm hồ ở nông thôn khi cụ về ở ẩn tìm thú an nhàn thế thôi, chứ cụ đu có suy nghĩ theo kiểu hàn lâm ăn măng/ăn giá là hình nhi hạ, tắm hồ/tắm ao là hình nhi thượng (!) hay đi câu với lưỡi câu thẳng như người ta đã gán cho cụ.


[1]Xin xem bài đăng trên Tạp chí Hán Nôm số 4/2009 của Nguyễn Đăng Na có nhan đề Về bài thơ số 79 của Nguyễn Bỉnh Khiêm

( Nguồn :VHNA)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 01.09.2014

Di chúc của Lê Nin

Di chúc của Lê Nin

 
Phạm Ngọc dịch từ tiếng Nga/ FB Bùi Quang Minh
Di chúc” của Lênin là toàn văn “Thư gửi đại hội” được vợ ông gửi tới ủy ban trung ương ngay sau khi Lênin qua đời, nó được đọc trước Đại hội lần thứ 13 của Đảng cộng sản vào tháng 5 năm 1924.. Trong số 6 nhân vật được nhắc tên trong Di chúc – Stalin, Trotsky, Zinovyev, Kamenev, Bukharin, Pyatakov nên ủy ban quyết định không công bố công khai. Ủy ban trung ương cho rằng di chúc là hậu quả của tình trạng tâm thần bất ổn của Lenin trong những năm cuối đời, và vì thế, những lời phán xét cuối cùng của ông không đáng tin cậy. Việc không đếm xỉa tới những ý kiến của Lenin sau này được cho là một sai lầm nghiêm trọng.

Sau khi nắm quyền lãnh đạo sau đại hội, Stalin đã trục xuất Trotsky khỏi Nga và sau đó phái người ám sát ông, 4 người còn lại lần lượt bị Stalin hãm hại, bị kết án “tổ chức chống phá nhà nước Xô-viết”, “kẻ thù nhân dân” và bị xử bắn.
THƯ GỬI ĐẠI HỘI
(Di chúc Lenin)
23-12-1922
Theo tôi trong kì đại hội này nên tiến hành một loạt thay đổi trong chế độ chính trị của đảng ta.
Tôi muốn chia sẻ với các đồng chí những dự định tôi cho là quan trọng nhất.
Điều đầu tiên, tôi đặt vấn đề tăng số lượng ủy viên BCHTW lên vài chục cho đến một trăm. Tôi nghĩ BCHTW đang đứng trước hiểm họa to lớn trong trường hợp diễn biến sự kiện xảy ra không có lợi cho ta (ta chưa thể lường trước việc này), – nếu như chúng ta không áp dụng cải cách này.
Tiếp theo, tôi đề nghị đại hội lưu ý đến đặc trưng pháp lí của nghị quyết Ủy ban kế hoạch nhà nước, trong những điều kiện nhất định; vấn đề này liên quan trực tiếp đến đồng chí Trotsky, đến một mức độ nào đó trong những điều kiện nhất định.
Liên quan đến điểm đầu tiên, tức là vấn đề tăng số lượng ủy viên BCHTW, tôi nghĩ việc này thật sự cần thiết để nâng cao uy tín của BCHTW, và quan trọng để hoàn thiện bộ máy nhà nước của ta, hầu ngăn chặn xung đột của một bộ phận nhỏ trong BCHTW có thể gây nên hậu quả lớn, có hại cho số phận của đảng ta.
Theo tôi, đảng ta có quyền đòi hỏi từ giai cấp công nhân 50-100 ủy viên BCHTW và có thể đạt được mà không phải cố gắng quá sức.
Cải cách này tăng cường đáng kể sự vững mạnh của đảng và làm giảm bớt áp lực của cuộc đấu tranh giữa các nước thù địch, mà theo tôi có thể và chắc chắn sẽ gay go khốc liệt hơn trong những năm tới. Tôi nghĩ sự ổn định của đảng ta nhờ biện pháp này sẽ tăng lên cả ngàn lần.
24-12-1922
Vì sự ổn định của BCHTW, như tôi đã nói ở trên, tôi nhận thức được những biện pháp ngăn chặn sự chia rẽ, trong một chừng mực nào đó, những biện pháp này có thể được thực hiện. Vì lẽ, tất nhiên, tên bạch vệ trong tạp chí “Tư tưởng Nga” (hình như là S.S. Oldenburg) đã có lí, một là, khi đặt vấn đề về sự chia rẽ của đảng ta, trên quan điểm chống lại nước Nga Xô-viết của chúng, hai là, đặt vấn đề về mâu thuẫn nghiêm trọng trong nội bộ đảng đối với sự chia rẽ đó.
Đảng ta dựa trên hai giai cấp và vì thế, tình trạng mất ổn định có thể xảy ra và sự sụp đổ cũng không tránh khỏi, nếu giữa hai giai cấp này không thể đạt được một sự đồng thuận. Trong trường hợp đó, thực hiện biện pháp này hay biện pháp khác, nói chung, bàn về sự bền vững của BCHTW là một việc vô ích. Không biện pháp nào trong trường hợp này có thể ngăn chặn được sự chia rẽ. Nhưng tôi hi vọng đó còn là một tương lai rất xa và là một biến cố có xác suất rất nhỏ để chúng ta phải bàn luận trong lúc này.
Tôi nói đến sự bền vững, đảm bảo không xảy ra chia rẽ trong một tương lai gần và tôi có ý định xem xét ở đây một loạt dự định có tính cách hoàn toàn cá nhân.
Tôi nghĩ rằng vấn đề chính yếu của sự ổn định từ quan điểm này là các ủy viên BCHTW, như Stalin và Trotsky. Theo tôi, quan hệ giữa hai người chiếm hơn một nửa hiểm họa chia rẽ, có thể tránh khỏi và để tránh được nó, theo ý kiến tôi, chỉ bằng cách tăng số ủy viên BCHTW lên 50 hoặc 100 người.
Từ khi nắm trọng trách tổng bí thư đảng, đồng chí Stalin đã thâu tóm vào tay mình quyền lực vô hạn mà tôi không dám chắc đồng chí sẽ đủ thận trọng để sử dụng quyền lực này. Mặt khác, đồng chí Trotsky, được chứng tỏ qua việc chống lại BCHTW về vấn đề Bộ dân ủy giao thông, không chỉ nổi bật về khả năng xuất chúng mà thôi. Về phương diện cá nhân, có lẽ Trotsky là người có năng lực nhất trong BCHTW hiện nay, nhưng lại tự tin quá mức và hay bị lôi cuốn bởi khía cạnh hành chính thuần túy của công việc.
Những phẩm chất ấy của hai nhà lãnh đạo xuất sắc của BCHTW hiện nay có thể vô tình dẫn tới sự chia rẽ, và nếu đảng ta không thực hiện những biện pháp đề phòng, sự chia rẽ ấy có thể bùng nổ bất ngờ.
Tôi miễn nêu tính cách những ủy viên BCHTW khác theo phẩm chất cá nhân của họ. Tôi chỉ lưu ý, biến cố tháng Mười của Zinovyev và Kamenev, tất nhiên, không phải là tình cờ, nhưng không thể quy đó là lỗi lầm cá nhân của họ, cũng như không thể quy cho Trotsky không phải là bôn-sê-vích.
Trong số những ủy viên BCHTW trẻ tuổi, tôi muốn có vài lời về Bukharin và Pyatakov. Theo ý tôi, họ là những lực lượng xuất sắc nhất (trong số lực lượng trẻ) và đối với họ, cần chú ý như sau: Bukharin chẳng những là lí thuyết gia quý báu nhất và cứng cáp nhất của đảng, mà còn có quyền được xem như con cưng của toàn đảng, tuy nhiên, khó mà chắc chắn được những quan điểm lí luận của đồng chí có thể được coi là hoàn toàn Mac-xit, bởi có gì kinh viện giáo điều trong đó (đồng chí chưa bao giờ học hỏi, và theo tôi, chưa bao giờ thông hiểu toàn bộ biện chứng pháp).
25-12-1922
Về Pyatakov, không nghi ngờ gì, là người có ý chí sắt đá và khả năng xuất chúng, nhưng lại quá thiên về quản lí hành chính và khía cạnh hành chính của công việc, thành thử không thể dựa vào đồng chí trong những vấn đề chính trị quan trọng.
Dĩ nhiên, những nhận định này khác của tôi chỉ có giá trị trong giai đoạn hiện tại, giả sử như hai cán bộ xuất sắc và trung thành này không có dịp bồi dưỡng thêm kiến thức và thay đổi quan điểm phiến diện của mình.
Bổ sung thư ngày 24-12-1922
4-1-1923
Stalin là người quá thô lỗ và nhược điểm này hoàn toàn có thể chịu đựng được trong quan hệ giữa chúng ta, những người cộng sản, song không thể chấp nhận được trên cương vị tổng bí thư đảng. Vì thế, tôi đề nghị các đồng chí hãy suy nghĩ về biện pháp thuyên chuyển Stalin khỏi trọng trách này và đề cử vào vị trí đó một đồng chí khác, với những phẩm chất ưu tú hơn so với Stalin, cụ thể là kiên nhẫn hơn, trung thực hơn, nhã nhặn hơn, chu đáo với đồng chí hơn, ít thất thường hơn v.v… Tình huống này có thể là không đáng kể. Tuy nhiên, tôi nghĩ, trên quan điểm ngăn ngừa sự chia rẽ như những gì tôi trình bày ở trên về quan hệ giữa Stalin và Trotsky, thì điều này hoàn toàn không hề nhỏ nhặt, bằng không, đó là sự nhỏ nhặt có thể mang một ý nghĩa quyết định.
Ghi chép tiếp theo
26-12-1922
Việc tăng số lượng ủy viên BCHTW lên đến 50 hoặc thậm chí 100 người, theo tôi, phải phục vụ cho hai mục đích hoặc thậm chí ba mục đích, càng nhiều ủy viên BCHTW, càng phải tăng cường việc bồi dưỡng công tác cho các ủy viên và càng giảm nguy cơ chia rẽ do sự bất cẩn nào đó. Việc lôi kéo nhiều công nhân vào BCHTW sẽ giúp công nhân hoàn thiện bộ máy nhà nước của ta, hiện đang rất non kém. Bộ máy của chúng ta, về bản chất, được thừa kế từ chế độ cũ, vì lẽ hoàn toàn không thể cải tạo nó trong một thời gian ngắn, đặc biệt trong điều kiện chiến tranh, nạn đói xảy ra, v.v…. Vì vậy, đối với những búa rìu “phê bình”, với sự mỉa mai hay ác cảm, đang chỉa mũi dùi vào những yếu kém của bộ máy chúng ta, có thể bình tĩnh trả lời rằng những người này hoàn toàn không hiểu gì về điều kiện cách mạng hiện đại. Nói chung không thể nào đủ thời gian trong vòng 5 năm cải tạo lại bộ máy nhà nước, đặc biệt trong những điều kiện như cuộc cách mạng xảy ra ở ta. Sẽ đủ thời gian nếu như trong vòng 5 năm chúng ta thiết lập được nhà nước kiểu mới, trong đó công nhân tiên phong cùng nông dân chống lại tư sản, và trong tình trạng tồn tại hận thù giữa các dân tộc thì vấn đề này là một công cuộc vô cùng to lớn. Tuy nhiên chúng ta không bao giờ được phép lơi lỏng nhận thức về vấn đề này, là về bản chất, chúng ta giành lại bộ máy từ tay phong kiến và tư sản và giờ đây bắt đầu thời kì hòa bìnhvà đảm bảo nhu cầu tối thiểu do nạn đói tất cả nhiệm vụ phải tập trung vào việc hoàn thiện bộ máy.
Tôi hình dung sự việc theo khía cạnh này, vài chục công nhân tham gia vào thành phần BCHTW có thể tốt hơn bất kì một ai khác đảm trách nhiệm vụ kiểm tra, hoàn thiện, và tái lập bộ máy nhà nước ta. Chức năng này đầu tiên thuộc về Ban thanh tra nhà nước công nông, mà hầu như không đảm đương nổi nhiệm vụ và có lẽ sẽ được sử dụng như “cánh tay phụ” hoặc người trợ giúp, trong những điều kiện nhất định, cho những ủy viên BCHTW. Những công nhân tham gia vào thành phần BCHTW, theo ý tôi, phải được ưu tiên không phải từ những người đã kinh qua quá trình phục vụ lâu dài trong nhà nước Xô-viết (thành phần công nhân trong thư này bao gồm cả nông dân), bởi vì trong con người họ đã hình thành những truyền thống nhất định, những thành kiến nhất định cần phải đấu tranh để khắc phục.
Những công nhân từ tầng lớp thấp, thuộc tầng lớp công nhân tiên phong và nông dân, trực tiếp hay gián tiếp, không nằm trong hàng ngũ giai cấp bóc lột, phải được ưu tiên tham gia vào thành phần ủy viên BCHTW, để rồi sau 5 năm họ được đưa vào đội ngũ những người phục vụ nhà nước Xô-viết. Tôi nghĩ, những công nhân ấy, hiện diện tại tất cả các phiên họp của BCHTW, các phiên họp của Bộ Chính trị, nghiên cứu các văn kiện của BCHTW, có thể lập ra bộ khung gồm những đồng sự trung thành với chế độ Xô-viết, một là, có khả năng tạo sự ổn định cho chính BCHTW; hai là, có khả năng thực sự thực hiện đổi mới và hoàn thiện bộ máy nhà nước.
(Phạm Ngọc dịch từ tiếng Nga)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 31.08.2014

AI MUA THƠ TA BÁN THƠ CHO…

  Tượng ĐỢI của Đào Phương

  AI MUA THƠ TA BÁN THƠ CHO…

    Ngô Minh    

  “Bán thơ “, ở góc độ lãng tử là một từ đẹp, thậm chí rất đẹp. Tản Đà thi sĩ từng  “gánh thơ lên bán Chợ Trời” ! Hàn Mặc Tử thì rao : ” Ai mua trăng ta bán trăng cho”. Bán thơ cũng như bán trăng , là bán cái trinh tuyết của tâm hồn . Bán là cách nói cho có vẻ đời thực, chứ thơ, cũng như trăng là thứ  chỉ để ngắm, để tặng, để dâng hiến .. Ngay cả chuyện ra tiệm sách mua một tập thơ của ai đó rồi về tặng người yêu, mượn thơ người khác trao gửi tình cảm của mình cũng là chụyện bất đắc dĩ lắm . Một lần cách đây đã nhiều năm, tôi bươn bả ra hiệu sách ở đường Trần Hưng Đạo, Huế mua cuốn thơ của đại thi hào Targor kẻo sợ hết. Cô bán sách xinh đẹp nhìn tôi tủm tỉm cười rồi đột nhiên hỏi :” Anh mua thơ mần chi ?”. Trời ơi, người đã đẹp lại hỏi “chết người” như rứa, mần răng mà trả lời ! Tôi đoán chắc là sách hết liền xuống giọng cấu khẩn và biến baó :”Ờ, ơ.., tôi mua thơ để tặng cô bạn gái, chị làm ơn..”. Tôi chưa hết câu người đẹp đã cười khanh khách và phán một câu xanh rờn :” Anh phải tự làm lấy thơ mà tặng người yêu, ai lại đi mua thơ người khác để tặng, kỳ chết ” ! Dường như câu nói đó đã xui tôi làm thơ.. ! Vâng đó là một kỷ niệm thật đẹp về chuyện mua bán thơ. Còn chuyện “bán thơ” mà tôi đang “rao” đây lại hoàn toàn tục lụy trong chốn thị trường mồ hôi, nước mắt.. (Đọc tiếp…)

Báo chí Trung Quốc viết về chuyến thăm Trung Quốc của ông Lê Hồng Anh

  •   Nguyên Hải dịch và giới thiệu

 Dưới đầu đề « Tập Cận Bình : Trung Quốc, Việt Nam nên trở lại quỹ đạo phát triển đúng đắn, mối tình hữu nghị truyền thống đáng được quý trọng » , Nhân dân Nhật báo Trung Quốc ngày 27/8/2014 đăng bản tin của Tân Hoa Xã nói về cuộc gặp giữa ông Lê Hồng Anh với Chủ tịch Tập Cận Bình, toàn văn như sau:

Ngày 27 tại Đại Lễ đường Nhân dân, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), Chủ tịch nhà nướcTrung Quốc Tập Cận Bình đã hội kiến với đặc phái viên của Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), Ủy viên Bộ Chính trị ĐCSVN, Bí thư thường trực Ban Bí thư Lê Hồng Anh.

Lê Hồng Anh đã chuyển lời nhắn (nguyên văn khẩu tín) của Tổng Bí thư Trung ương ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch Nhà nước Việt Nam Trương Tấn Sang gửi Tập Cận Bình.

Tập Cận Bình nói : Trung Quốc, Việt Nam là láng giềng gần, lại đều là quốc gia xã hội chủ nghĩa do đảng cộng sản lãnh đạo. Láng giềng gần thì khôngthể dọn đi đâu được, (quan hệ) hữu hảo phù hợp với lợi ích chung của hai bên. Mấy năm gần đây, mối quan hệ giữa hai nướcvề tổng thể phát triểntốt, nhưnggần đây bị xói mòn (nguyên văn xung kích) rất lớn, gây ra sự quan tâm cao độ của nhân dân hai nước và cộng đồng quốc tế. Tổng Bí thư NguyễnPhú Trọng cử đồng chí làm đặc phái viên đếnTrung Quốc tiến hành gặp gỡ cấp cao hai đảng, điều đó thể hiện nguyện vọng phía Việt Nam muốn cải thiện và phát triển mối quan hệ hai nước. Tôi coi trọng lời nhắn của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch Trương Tấn Sang, mong muốn phía Việt Nam và phía Trung Quốc cùng cố gắng  làm cho mối quan hệ Trung-Việt trở lại quỹ đạo phát triển đúng đắn.

Tập Cận Bình nhấn mạnh, cấp cao hai đảng Trung Quốc và Việt Nam nên nắm đại cục, duy trì và tăng cường giao lưu, kịp thời đi sâu trao đổi, kiên trì từ tầm cao chiến lược và góc độ lâu dài dẫn dắt mối quan hệ Trung-Việt, đặc biệt vào thời điểm quan trọngcó sự quyết đoán chính trị đúng đắn. Phía Trung Quốc sẽ tiếp tục nắm phương châm ổn địnhlâu dài, hướng tới tương lai, láng giềng hữu hảo, hợp tác toàn diện, củng cố tốt, phát triểntốt mối quan hệ hai đảng hai nước.

Tập Cận Bình nhấn mạnh, tình hữu nghị truyền thống Trung Quốc-Việt Nam là do nhữngngười lãnh đạothế hệ trước của hai đảng hai nướctự tay xây dựng và hết lòng vun đắp nên, đáng đượcquý trọng và gìn giữ gấp bội. Hàng xóm với nhau khó tránh đượcva chạm, điều quan trọng là dùng thái độ và phương thức như thế nào để đối xử và giải quyết. Hai phía Trung Quốc, Việt Nam cần kiên trì xuất phát từ đại cục giữ gìn tìnhhữu nghị Trung-Việtvà mối quan hệ Trung-Việt, loại bỏ các can nhiễu, giải quyết ổn thỏa các vấn đề liên quan, đặc biệtlà kiên trì dẫn dắt dư luận đúng hướng, vun đắp, giữ gìn tình cảm hữu hảo giữa nhân dân hai nước. Trongcuộc hội đàm với đồng chí hôm nay, đồng chí Lưu Vân Sơn đã trình bày toàn diện lập trườngcủa Đảng và Chính phủ Trung Quốc về mối quan hệ Trung-Việt. Hai bên cần phảiquán triệt vào thực tế nhận thức chung và thành quả cuộc gặp cấp cao hai Đảng lần này, thúc đẩy mối quan hệ Trung-Việtthiết thực đượccải thiện và phát triển.

Lê Hồng Anh tỏ ý : tôi sẽ báo cáo trung thực và đầy đủ với Đảng và Chính phủ Việt Nam lời của Tổng Bí thư Tập Cận Bình. Phía Việt Nam sẵn lòng cố gắng hết sức cùng với phía Trung Quốc duy trì giao lưu cấp cao, tiến hành trao đổi chân thành, tăng cường hiểu biết và tín nhiệm lẫn nhau, tăng cường đoàn kết hợp tác, giải quyết ổn thỏa các vấn đề, cùng nhau thúc đẩy mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai Đảng hai nướckhôngngừng đượccủng cố và phát triển ; điều đó phù hợp lợi ích căn bản và lâu dài của hai nướcvà của nhân dân hai nước, cũng có lợi cho hòa bình, ổn địnhvà phồn vinh của khu vực. Sáng nay tôi đã cùng đồng chí Lưu Vân Sơn tiến hành hội đàm thẳng thắn chân thành và hữu hảo, đạt đượcsự nhận thức chung quan trọng. Phía Việt Nam mong muốn thực hiện tốt nhữngnhận thức chung đó, thúc đẩy việc cải thiện và phát triển mối quan hệ hai Đảng, hai nước.

Ủy viên Quốc vụ Dương Khiết Trì, Phó Chủ tịch Chính Hiệp toàn quốc, Trưởng ban đốingoại Trung ương Đảng Vương Gia Thụy đã tham gia buổi hội kiến.  

 

Về cuộc gặp Lê Hồng Anh – Lưu Vân Sơn, Tân Hoa Xã Trung Quốc ngày 27/8 đưa tin như sau (toàn văn) :

Sáng ngày 27/8/2014 tại Đại Lễ đường Nhân dân, Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị Trung ương ĐCSTQ, Bí thư Ban Bí thư Trung ương Lưu Vân Sơn đã hội đàm với đặc phái viên của Tổng bí thư ĐCSVN, Ủy viên Bộ Chính trị ĐCSVN, Bí thư thường trực Ban Bí thư Lê Hồng Anh.

Lưu Vân Sơn nói, Trung Quốc, Việt Nam đều là quốc giaxã hội chủ nghĩado đảng cộng sản lãnh đạo, mối quan hệ giữa hai nướcmấy năm gần đây về tổng thể giữ được xu thế phát triển ; sự giao lưu hợp tác trên các lĩnh vực quan hệ đảng, ngoại giao, kinh tế thương mại, nhân văn đượctriển khai rộng rãi, đem lại nhữnglợi ích thực sự cho nhân dân hai nước.

Lưu Vân Sơn vạch ra : trong thời kỳ trước đây, mối quan hệ Trung Quốc-Việt Nam có một dạo xuất hiện cục diện căng thẳng, đây là điều chúng tôi khôngmuốn thấy. Vào lúc mối quan hệ Trung -Việt gặp khó khăn,ĐCSVN cử đặc phái viên của Tổng Bí thư đếnTrung Quốc tiến hành gặp gỡ cấp cao hai đảng, điều đó thể hiện ý nguyện chính trị tích cực thúc đẩy sự cải thiện, phát triểnmối quan hệ Trung -Việtcủa Đảng và Chính phủ Việt Nam. Mong rằng phía Việt Nam tiếp tục cùng phía Trung Quốc cố gắng thúc đẩy mối quan hệ Trung -Việttrở lại quỹ đạo phát triểnôn địnhlành mạnh. Lưu Vân Sơn nhấn mạnh Trung Quốc, Việt Nam cần qua hợp tác mà giải quyết ổn thỏa vấn đề trên biển, hai bên cần kiên trì đàm phán song phương và hiệp thương hữu hảo, thiết thực quản lý kiểm soát tốt tình hình trênbiển, thực sự làm đượcviệc cùng nhau khai thác, mở ra cục diện mới Trung Quốc-Việt Nam hợp tác chiến lược toàn diện.

Lê Hồng Anh nói, lãnh đạoĐảng và Nhà nướcViệt Nam coi trọng mối quan hệ song phương Việt Nam-Trung Quốc, đặt nó ở vị trí ưu tiên trongchính sách ngoại giao. Trước sau coi trọng tình hữu hảo truyền thống với phía Trung Quốc, trước sau chân thành mong mỏi thúc đẩy mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai nướclà phương châm nhất quán và chiến lược lâu dài của Đảng và Chính phủ Việt Nam. Trong tình hình quốc tế phức tạp hiện nay, thúc đẩy hợp tác, giải quyết bất đồng, làm cho hai nướcdốc sức vào sự nghiệp của mỗi nước, là điều quan trọng so với bất cứ thời kỳ nào. Tin rằng thông qua sự quyết tâm và cố gắng của hai bên, mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt -Trung ắt sẽ đượckhôi phục và phát triển theo chiều sâu.

Hai bên đạt được nhận thức chung ba nguyên tắc về phát triển mối quan hệ Trung Quốc-Việt Nam : một là lãnh đạohai đảng hai nướcsẽ tăng cường hơn nữa sự trực tiếp chỉ đạo phát triển mối quan hệ hai bên, thúc đẩy mối quan hệ Trung-Việt luôn luôn phát triển lành mạnh ổn định. Hai là hai bên cần tiếp tục làm sâu sắc sự giao lưu về đảng, chú ý khôi phục lâu dài và tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực quốc phòng, kinh tế thương mại, an ninh chấp pháp, nhân văn. Ba là hai bên đồng ý nghiêm chỉnh tuân theo các nhận thức chung quan trọng mà lãnh đạo hai đảng hai nước đã đạt được, nghiêm chỉnh thực hiện « Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa hai nước », sử dụng tốt cơ chế đàm phán biên giới của chính phủ Trung Quốc-Việt Nam, tìm kiếm các biện pháp giải quyết cơ bản và lâu dài mà hai bên đều có thể tiếp thụ, tích cực nghiên cứu và bàn bạc các vấn đề cùng phát triển, không sử dụng hành động làm phức tạp và mở rộng tranh chấp, giữ gìn đại cục quan hệ Trung-Việt và hòa bình ổn định ở biển Nam Hải.

Phó Chủ tịch Chính Hiệp toàn quốc, Trưởng ban đốingoại Trung ương Đảng Vương Gia Thụy đã tham gia hội đàm.  

( Nguồn : VHNA)

Nguyên Hải  dịch theo nguồn tin

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 30.08.2014

Thời nay không đọc là chết

Thời nay không đọc là chết

Từ Sâm

Truyện ngắn

Tôi có thằng bạn, lâu không gặp nhau thì nhớ, mà gặp thì chào hỏi, bắt tay, bai bai không sao chứ năm mười phút tâm sự là bắt đầu sinh chuyện. Y như vợ chồng thường cãi nhau thì sống với nhau cả đời, còn vợ chồng nào không cãi nhau một tiếng, mà đã cãi nhau rồi là to chuyện, có khi cãi nhau trước tòa không chừng. Tôi không bỏ nó, và nó cũng chẳng bỏ tôi. Nó làm ở ban tuyên giáo tỉnh. Đúng là trời sinh voi sinh cỏ. Nó học khoa nuôi, tôi học hàng hải cùng trường Đại học. Những năm tám mươi học nuôi trồng ra trường là thua vì người ta nuôi heo nuôi gà chứ làm gì nuôi tôm nuôi ốc như bây giờ.

 Nó chạy thế nào mà vào được ban tuyên giáo (vợ hắn khoe là mất mấy ký đường, dăm hộp sữa và một năm phiếu thịt). Lúc đầu nó làm phòng tổ chức, sau đi học mấy khóa đào tạo gì đó, rồi học nữa…và như ngày nay. Thỉnh thoảng thấy bài nó đăng trên báo tỉnh, thường là chuyên mục lý luận. Gần đây nhất có bài “Tính thực tiễn và sáng tạo trong văn học nghệ thuật tỉnh nhà”, và “Các văn nghệ sĩ vững vàng trước nền văn hóa ngoài luồng xâm nhập vv.. và vv..”. Các bài viết của nó thường xuất hiện trước kỳ đại hội, đặc biệt là đại hội Đảng, Hội đồng nhân dân vv…nhưng, có khi lại xuất hiện trước đại hội “Câu lạc bộ nuôi dê” vài ngày (tôi biết tỏng là nó viết theo đặt hàng vì dê đang lên giá). (Đọc tiếp…)

NM và tác giả Cửu Phúc

MỘT THỜI ĐỂ NHỚ, CUỐN SÁCH THÚ VỊ VỀ HUẾ THÁNG TÁM NĂM 1945

  Ngô Minh

Một thời để nhớ ( NXB Thuận Hóa, 2014) là cuốn tự truyện của anh Nguyễn Cửu Phúc, nguyên cán bộ giáo viên Trường Cao đẳng sư phạm, Cao đẳng Mỹ thuật Huế  đã nghỉ hưu. Tôi, cũng như nhà thơ Mai Văn Hoan, Hoàng Vũ Thuật , Đỗ Hoàng… quen anh Cửu Phúc mấy chục năm nay. Thỉnh thoảng  về nhà anh ở khu nhà số 2 đường kiệt số 8 (nay kaf nhà 26.1, đường Nguyễn Công Trứ , Huế ) để uống rượu và nghe anh đọc thơ. Thơ anh bài nào cũng dài, tứ mạnh như các bài Protít tẩm mật ông, Howeix Thượng Đế, Chí Phèo…Những lúc ấy tôi chưa hề biết anh viết văn xuôi.Anh cũng chẳng khoe bao giờ. Thế rồi tháng 6/2014 vừa qua, nhà thơ Mai Văn Hoan đưa đến  cho tôi cuốn tự truyện Một thời để nhớ anh tặng. Mai Văn Hoan bảo rằng, anh Nguyễn Cửu Phúc đã viết xong  bộ tự truyện Định mệnh loài người gồm 20 tập, tập đầu là Một thời để nhớ, dày 160 trang .Tôi đọc và thấy cuốn sách rất thú vị. Điệu văn của Nguyễn Cửu Phúc di dỏm, độc đáo, nhiều chi tiết đời thực rất  xúc động. và ám ảnh

      Một thời để nhớ là tập I, là tự truyện về thời niên thiếu của anh và gia đình ở Huế, đặc biệt là những sự kiện đầy biến động năm 1945, khi Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương.  Vì bố anh là ông Nguyễn Cửu Khương. Ông Khương lấy con gái bà Nử sử Đạm Phương, mà gia đình bà Đạm Phương là địa chỉ trung tâm thu hút các nhà hoạt động cách mạng. như Hải Triều ( Nguyễn Khoa Văn), Tố Hữu, Lâm Hồng Phấn, Nguyễn Cửu Thạnh…Cửu Phúc gọi Hải Triều là cậu ruột. Qua Hải Triều, Tố Hữu, Cửu Phúc được biết các văn nghệ sĩ như Phạm Duy, Lưu Hữu Phước, Tôn Thất Đào, Lượng Xuân Nhị, Trần Văn Cẩn …từ đó  anh mê thơ mê họa, Đi học vẽ từ nhỏ và đã thành một họa sĩ thực thụ. Cửu Phúc kể :” Tôi gặp Phạm Duy ở hiệu sách Hương Giang. Lúc đó Phạm Duy đang xem tập Hò Huế của nhà sư Vân Đàm. Phạm Duy vui vẻ dạy cho tôi hát bài Xuất quân mà nhạc sĩ mới hoàn thành: Ngày, bao hùng binh tiến lên / Bờ cõi vang lừng câu quyết chiến !… Kèn  vang theo bước chân đang dồn dập xa xa… (Đọc tiếp…)

Lao động Trung Quốc ở Vũng Áng đủ lập 2 “sư đoàn”

 
Nam Nguyên/ RFA
Cùng với chuyến đi Bắc Kinh ngày 26-27/8/2014 của Ông Lê Hồng Anh, Thường trực Ban Bí thư, Đặc phái viên của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng mà mục đích chính là để làm giảm căng thẳng giữa hai bên, báo chí trong nước đưa tin hơn 1 vạn lao động Trung Quốc sắp đến Vũng Áng Hà Tĩnh.
Vị trí địa lý nhạy cảm về quân sự

Trước biến động tháng 5/2014, số công nhân làm việc tại các gói thầu của dự án Formosa ở Vũng Áng Hà Tĩnh lên tới 26.000 người, trong số này có rất nhiều người quốc tịch Trung Quốc nhưng con số đích thực thì không được công bố. Hiện nay số công nhân làm việc chỉ còn 19.000 người nhưng các nhà thầu đang chờ cấp phép để đưa thêm 11.000 lao động Trung Quốc vào làm việc. Với đợt tăng cường này số lượng công nhân Trung Quốc ở Vũng Áng đủ để thành lập hai sư đoàn.
Dự án Khu liên hợp Gang thép công suất 22 triệu tấn thép/năm và Cảng nước sâu Sơn Dương do Tập đoàn Formosa Đài Loan đầu tư xây dựng  được nhà nước Việt Nam biệt đãi. Dự án này có tổng mức đầu tư 15 tỷ USD được phép sử dụng 3.300 ha, bao gồm 2.000 ha trên đất liền và 1.200 ha diện tích mặt nước ở phía Nam Vịnh Vũng Áng Hà Tĩnh.
Báo chí Việt Nam từng nêu ý kiến phản biện của chuyên gia cho rằng những ưu đãi về thuế và cung cấp tín dụng ngân hàng Việt Nam đặc biệt là ưu thế về đất đai và cảng biển sẽ có thể giết chết hàng loạt doanh nghiệp thép trong nước khi khu liên hợp gang thép Formosa đi vào hoạt động.
Tuy vậy điều mà dư luận quan tâm trước hết là vấn đề an ninh chính trị. Khu Liên hợp Gang thép và Cảng nước sâu Sơn Dương thuộc khu Kinh tế Vũng Áng nằm ở vị trí địa lý nhạy cảm về mặt quân sự. Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành từ Hà Nội phân tích: 
“Vùng Vũng Áng-Hà Tĩnh đó đối diện và gần với Hải Nam. Nếu ngày nào Trung Quốc xây dựng cảng Vũng Áng ấy mà bên Hải Nam chĩa qua ngay Vũng Áng, thì có thể nói Vịnh Bắc Bộ sẽ trở thành một ao hồ của Trung Quốc và nó ngăn cản sự vận chuyển giao thông hàng hải của Việt Nam từ Bắc vào Nam, sẽ ra sao đây? Ngoài ra nó có những nguy cơ về quốc phòng, từ cảng Vũng Áng đi qua Lào chỉ có 50 km thôi. Như vậy nếu có vấn đề gì thì làm sao có thể phòng thủ khi Trung Quốc từ bên Lào đi qua Vũng Áng, 50km chạy ô tô vài tiếng đồng hồ là có thể cắt đôi Việt nam ra hai khúc.”
Trên báo Đất Việt, bà Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ mô tả dự án Gang thép Vũng Áng, cảng nước sâu Sơn Dương là một quyết định đáng tiếc. Nguyên văn lời bà Chi Lan: “Địa điểm địa lý nhạy cảm như thế nào về quốc phòng an ninh thì ai cũng biết cả rồi.” Bà Chi Lan nhấn mạnh tới việc nhà thầu Trung Quốc và công nhân Trung Quốc tham gia phần lớn các gói thầu của dự án này. Được biết công nhân Trung Quốc có thói quen đem theo gia đình sang và ở gần công trường thi công, khá nhiều nơi trở thành những cụm dân cư người Hoa.
Rút đi 4000 nhưng đưa qua 10.000
Bên cạnh câu chuyện Vũng Áng Hà Tĩnh, sự kiện Nhà thầu Trung Quốc, công nhân Trung Quốc có mặt ở hầu hết các dự án lớn nhỏ ở Việt Nam đã và đang gây ra sự quan ngại trong dư luận. TS Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế độc lập ở Hà Nội từng nhận định:
“Sự lo ngại của người dân Việt Nam là hiện nay Trung Quốc đã có những dự án ở Tây Nguyên là một vùng địa bàn chiến lược về mặt quân sự cũng như về mặt chiến lược đối với Việt Nam. Ngoài ra Trung Quốc đầu tư vào nhiều dự án, nhưng khác với các nước khác, Trung Quốc xây một khu riêng và dựng hàng rào lên kín mít và người dân không biết trong đó họ làm cái gì và đấy là công nhân hay là lính hay là họ định chuẩn bị cái gì đây. Cho nên sự lo ngại trong công luận Việt Nam rất là lớn và tôi cũng không hiểu tại làm sao mà trên lãnh thổ Việt Nam lại có những đơn vị Trung Quốc kinh doanh đóng kín như người dân ở Hà Tĩnh nói lại là công an vào họ cũng không cho vào.” 
Ít nhất có 4.000 lao động Trung Quốc đã sơ tán khỏi Vũng Áng sau vụ biểu tình bạo động ngày 14/5 làm một số người Trung Quốc thiệt mạng và bị thương. Lúc đó đó Bắc Kinh đã đưa mấy chuyến tàu vào Cảng Vũng Áng để thực hiện việc di tản. Rút đi 4.000 và bây giờ đưa qua  hơn 1 vạn thì chứng tỏ mọi việc đang bình thường hóa.
Chắc không phải ngẫu nhiên mà báo chí Việt Nam cùng lúc đưa tin về chuyến đi Bắc Kinh của Thường vụ Bộ Chính trị Lê Hồng Anh và sự kiện hơn 1 vạn lao động Trung Quốc sắp vào Hà Tĩnh. Sau vụ giàn khoan Hải Dương 981 và các hành động gây hấn khác của Trung Quốc trên Biển Đông, giới chuyên gia đặt vấn đề thoát khỏi ảnh hưởng Trung Quốc. Điều đáng chú ý là người dân muốn thoát Trung nhưng những gì Đảng Cộng sản và Chính quyền Việt Nam thể hiện thì đi đang ngược lại điều này.

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 28.08.2014

Phạm Duy và Huế

Phạm Duy và Huế

  •   Đặng Tiến

 

Nhạc sĩ Phạm Duy Nhạc sĩ Phạm Duy

Nhạc sĩ Phạm Duy không có quan hệ dây mơ rễ má gì với đất Huế và người Huế, nhưng xứ Thần kinh đã để lại trong nhạc phẩm anh nhiều âm hưởng và hình ảnh sâu đậm, đặc biệt sau bốn lần ghé Huế : 1944 khi đi hát rong ; 1946 sau cách mạng tháng 8, từ chiến khu Nam Bộ về Bắc ; 1948 trong kháng chiến chống Pháp ; và 1953 khi về thành.

1948, từ chiến trường Bình Trị Thiên chống Pháp, Phạm Duy về hoạt động tại vùng địch hậu Đại Lược và nhiều đêm bí mật về gặp gỡ cán bộ, nghệ sĩ nội thành tại Vỹ Dạ, thời điểm sáng tác bài Về Miền Trung :

Ôi quê hương xứ dân gầy, ôi bông lúa,

Con sông xưa, thành phố cũ..

Ngần ấy chữ thôi là cô đọng tất cả hình ảnh chủ yếu về một vùng đất và một thành phố ;không cần đến những « Huế đẹp và thơ », « áo tím, áo trắng, nón nghiêng… » là những vẽ vời, lâu ngày sáo mòn trở nên phù phiếm.

Con sông xưa, thành phố cũ, là đầy đủ, hàm súc và tình nghĩa.

Mùa Xuân 1944, Phạp Duy lưu diễn trong gánh Đức Huy Charlot Miều, từ Bắc vào Nam, ghé Huế, hát tại rạp Tân Tân, trên đường Paul Bert, nay  là Trần Hưng Đạo. Nhạc sĩ chưa sáng tác nhiều, nhưng 1944 là  bước ngoặt quan trọng vì anh khám phá ra dân nhạc Huế, trong nhiều đêm nằm đò lắng nghe những câu hò mái nhì, mái đẩy, những bài Nam Ai, Nam Bình mà trước kia anh chỉ nghe qua đĩa hát. Lần này Phạm Duy nghe trực tiếp, ghi lại nhạc lý, viết thành biên khảo « Những điệu hát bình dân Việt Nam ».

Anh nhắc lại : Âm giai ngũ cung lơ lớ của hò mái nhì khác hẳn với âm giai điều hòa (harmonie tempérée) của Âu Tây và âm giai ngũ cung đúng của dân nhạc miền Bắc. Các cung bực của hò Huế có những cao độ (intervalles) non hơn hay già hơn cung bực trong âm giai Âu Tây, hay âm giai Miền Bắc.

 

Hò mái nhì hay hò mái đẩy là tiếng nói điển hình của người dân tại một miền nên thơ nhất của đất nước Việt. Tiếng hát xây dựng trên một âm giai lơ lớ đã thể hiện được sự thần bí của cõi lòng, vì vậy nên dễ dàng đi sâu vào tâm hồn người nghe hơn là nhạc ngũ cung đúng của Miền Bắc » [1].

1944, Phạm Duy chỉ mới là ca sĩ phụ diễn trên sân khấu bình dân, ngoài hai mươi tuổi ; anh học hỏi thêm về nhạc dân tộc và trao đổi với các vị Vĩnh Phan, Bửu Lộc, Vĩnh Trân.

Về tân nhạc, anh tiếp xúc với Ngô Ganh, VănGiảng, Nguyễn văn Thương.

Anh cũng nếm mùi ái tình tại Huế, như đã nhắc lại trong bài Tình Ca, sáng tác mười năm sau, 1953 :

Tôi yêu những sông trường

Biết ái tình ở dòng sông Hương…

Cách mạng tháng Tám xảy ra khi Phạm Duy đã trở về Hà Nội, 1946. Anh tham dự đoàn quân Nam Tiến, vào Nam Bộ chiến đấu trong chiến khu Bà Rịa, bị thương nhẹ trên cánh tay. Mùa thu 1946, trên đường về Bắc, anh dừng chân mấy tháng tại Huế, cũng để trình diễn « âm nhạc cải cách » theo tên gọi thời đó, chủ yếu là tại phòng trà ca nhạc Quán Nghệ Sĩ, có khi hát cho Đài Phát Thanh. Anh có gặp gỡ các vị Hải Triều, Tố Hữu, Nguyễn chí Thanh. Nhưng chủ yếu là gặp lại bạn cũ, như Vĩnh Phan, Võ đức Duy và nhất là Lưu Trọng Lư, mà anh vừa phổ nhạc bài thơ Tiếng Thu nổi tiếng.

Huế, mùa thu 1946, thời nghỉ ngơi của người chiến sĩ.  Phạm Duy tranh thủ để sáng tác, hoàn chỉnh, biên tập nhiều ca khúc : Thu chiến trường, Chiến sĩ vô danh, Nợ xương máu, nhạc kháng chiến phổ biến một thời.

Khối Tình Trương Chi phảng phất ít nhiều âm hao Huế :

Êm êm dần lan

         Cung Nam Thương mờ vang

Cung Nam Ai thở than

Ai  thương em lầu buồn mỗi lúc khuya tàn cung

Ngoài nhạc điệu ảo não, hình ảnh  người khuê nữ trong bài hát gần với cô gái Huế tân thời, cuổi triều Bảo Đại hơn là cô Mỵ Nương thời các vua Hùng.

Sự thật là có một nàng Tôn nữ như thế, cấm cung trong một dinh thự phía Nam Giao. Anh Trương Chi là chàng ca sĩ trẻ tuổi đẹp trai, nhưng  «  xa cách nhau vì đời » do hoàn cảnh và tình huống đôi bên. Chút tình riêng thầm lặng này giải thích, nhạc và lời lãng mạn, tha thiết của bài Khối tình Trương Chi, mà chất trữ tình dào dạt không có trong những nhạc phẩm kể chuyện cổ tích khác, như Trầu Cau của Phan huỳnh Điểu chẳng hạn.

Sau đó là toàn quốc kháng chiến. Từ Hà Nội, Phạm Duy tham gia kháng chiến chống Pháp, chủ yếu là ở khu Tư, có lúc công tác tại chiến trường Bình Trị Thiên non sáu tháng, 1948 Phạm Duy đã sáng tác Mười hai lời Ru, Bà mẹ Gio Linh, Bao giờ anh lấy được đồn Tây, sau đổi thành Quê Nghèo. Và đặc biệt Về Miền Trung.

Phạm Duy kể :« tôi đã làm công việc phát triển mạnh mẽ cái thanh âm lơ lớ(PD nhấn mạnh) của Miền thùy dương này (…) Tuy nhiên đối với tôi, hình thức không quan trọng bằng nội dung. Bài Về Miền Trung là một bài ca Huế hùng dũng, không bi quan yếm thế như một bài Nam Ai, Nam bình chẳng hạn » [2].

Tại Sài gòn, đài Pháp Á đầu thập niên 1950 là cơ quan phổ biến tân nhạc mạnh nhất. Trong mục nhạc yêu cầu, trong hai năm 1951-1952, Về Miền Trung là ca khúc được thính giả yêu cầu nhiều nhất, không nhất thiết phải từ Huế.

Có thể vì nó là khúc ca tiêu biểu nhất cho người Huế đất Huế.

Tháng 5-1951, Phạm Duy rời kháng chiến về thành, cùng với gia đình nhà vợ. Năm 1953, anh có dịp trở lại Huế sống dài ngày hơn ba lần trước « có đủ thời giờ để biết Huế hơn xưa ». Cuộc sông êm đềm đưa đến dạ khúc Dạ Lai Hương, 1953, một sérénade theo kỹ thuật Âu Tây. Lời ca tràn đầy hạnh phúc « đời vui như ong bay, ngọt lên cây trái… Đẹp duyên người sống cho người… » Phạm Duy gọi là  « cảnh sắc đêm thơm xứ Huế ».

 Thời điểm này Phạm Duy không sáng tác nhiều nhạc trữ tình, nhưng âm hưởng Huế lắng sâu vào tâm thức và sẽ tái hiện trong trường ca Con đường Cái Quan sáng tác rỉ rả từ 1954 đến 1960, nhất là đoạn II Qua Miền Trung với đoản khúc Nước non ngàn dặm ra đi. Ca khúc mới nhất của Phạm Duy về Huế là Huế đa tình, anh vừa mới phổ thơ Bích Khê, đang thu đĩa và  sẽ phát hành cuối năm nay 2010.

*

Nhạc dân gian Huế, những cảnh sắc và tình người cố đô đã để lại  âm hưởng đậm đà trong tác phẩm Phạm Duy, mà đã có nhiều người Huế nhận ra, từ đó gìn giữ nhiều cảm tình với anh Thời Việt Nam khép kín, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường trong một bài viết dũng cảm, có mơ ước một cuộc đoàn viên giữa giới văn nghệ trong và ngoài nước, trong một bữa tiệc tại cồn Giã Viên. Năm 2005, Phạm Duy được về nước lâu dài, các bạn Huế, trước mọi nơi, đã nồng nhiệt đón tiếp, đưa về Gio Linh thăm người Mẹ năm xưa. Họa sĩ Bửu Chỉ cao hứng vẽ một chân dung và tự hào rằng đã phác họa được tất cả chủ đề chính trong nhạc phẩm Phạm Duy. Trong một festival Huế, ban tổ chức đã dự trù trình diễn Con Đường cái Quan, tiếc là dự án bị đình chỉ.

Sắp tới, ngày 5-10 là sinh nhật Phạm Duy, sinh 1921. Tính tuổi ta là anh lên 90, mà sức sáng tác còn sung mãn.

Ấy là cũng do tinh thần yêu nghệ thuật, yêu con người, yêu quê hương qua bao nhiêu cuộc khóc cười qua mệnh nước nổi trôi.
 


[1]Phạm Duy, Hồi Ký I, tr.309, nxb PhạmduyCường, 1990, California. Bài này đã in trong Dân Ca, nxb Văn Nghệ, 1948, Việt Bắc. Và in lại trong Lược khảo về dân nhạc Việt Nam, nxb Hiện Đại, 1970, Sài Gòn.

[2]Phạp Duy, Hồi Ký II, tr. 257, nxb Phạm Duy Cường, 1989, California.

( Nguồn: VHNA)

 

Cụ Nguyễn Khuyến

            NGUYỄN KHUYẾN- CHỐNG THAM NHŨNG  BẰNG BÀI VĂN SÁCH THI ĐÌNH NỔI TIẾNG

                                                                              Ngô Minh

          Nguyễn Khuyến ( 1835- 1909) là một nhà thơ cổ điển lớn của dân tộc, là “sư tổ” của nghệ thuật câu đối Việt Nam. Đồng thời ông còn là một nhà “kinh bang tế thế” mẫn tiệp và chính trực. Năm Tân Mùi ( 1871) trong kỳ thi Đình ở Kinh Đô Huế, Nguyễn Khuyến đỗ Hoàng Giáp Đình Nguyên (Tam Nguyên) với bài văn sách nổi tiếng. Bài văn sách thi Đình ấy là áng văn sắc sảo vạch trần tệ tham nhũng và tâu vua kế sách chống tham nhũng và cải cách hành chính mạnh bạo.  

Khoa thi Đình đó vua Tự Đức đích thân ra đề :” Trẫm thường đọc sách Luận Ngữ , đến chỗ Tử Cống hỏi về chính sự, Không Tử  nói rằng :” Đủ lương thực, đủ binh lính, dân tin theo vậy”. Nhân nghĩ công việc hiện nay, không gì quan trọng hơn điều đó, mà muốn thực hiện điều đó thì sự lựa chọn người tốt lại là quan trọng hơn cả. Trẫm từng đêm ngày lo nghĩ mà vẫn chưa đạt được hiệu quả mong muốn.oông đảo kẻ sĩ các ngươi lúc mới xuất thân ắt hẳn có sở học kinh bang tế thế. Vậy thì những loại việc thiết thực như vậy, suy từ cổ đến kim, nghĩ thế nào, làm thế nào để công hiệu, hãy nói hết với trẫm. Các ngươi chớ lặp lại người khác, chớ bàn phù phiếm, trẫm cũng bất tất phải hỏi nhiều để các ngươi có thì giờ rộng rãi, nói được hết ý nghĩa, xứng với ý muốn của trẫm .”

 

(Đọc tiếp…)

« Newer Posts - Older Posts »

Danh mục