Đăng bởi: Ngô Minh | 16.07.2014

VĂN HỌC MIỀN NAM (II)

 

VĂN HỌC MIỀN NAM (II)

Văn học Miền Nam từ 1954 đến 1975

Thụy Khê

Sau 1954, ở Miền Nam có thể phân biệt hai lớp trí thức văn nghệ sĩ:

Thế hệ đầu, gồm những người đã từng hoạt động và nổi danh từ tiền chiến hoặc trước như: Hồ Biểu Chánh, Nhất Linh, Lê Văn Trương, Tam Lang, Nguyễn Vỹ, Đỗ Đức Thu, Vi Huyền Đắc, Phùng Tất Đắc, Vũ Bằng, Tchya Đái Đức Tuấn, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Đức Quỳnh, Đào Đăng Vỹ, Đỗ Thúc Vịnh, Tạ Tỵ, Lý Văn Sâm, Tam Ích, Thiên Giang, Thê Húc, Lê Văn Siêu, Thẩm Thệ Hà, Phi Vân, Phú Đức, … các nhà thơ như Tương Phố, Đông Hồ, Mộng Tuyết, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Bàng Bá Lân, Quách Tấn, … các nhạc sỹ như Lê Thương, Hùng Lân, Thẩm Oánh, Phạm Duy, Dương Thiệu Tước, v.v. Trừ các nhạc sĩ như Phạm Duy, Dương Thiệu Tước… vẫn còn hoạt động mạnh, các nhà văn nhà thơ trong thế hệ này không còn sức thu hút như trước mặc dù họ vẫn có mặt trên văn đàn; Nhất Linh với tờ Văn hoá ngày nay và hai tác phẩm giá trị Xóm Cầu Mới Dòng sông Thanh Thuỷ, Vũ Hoàng Chương vẫn làm thơ, vẫn được mọi người xưng tụng, nhưng dường như các ông đã bị thời đại và lớp trẻ đẩy lùi vào quá khứ. Đinh Hùng là trường hợp đặc biệt sự nghiệp thi ca bắc cầu giữa thời tiền chiến và chia đôi Nam Bắc, nhưng thơ Đinh Hùng mang dấu vết của thời lãng mạn, trở thành một giá trị “cổ điển”. (Đọc tiếp…)

Thư tay gửi Bộ chính trị của Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh

Nguyễn Trọng Vĩnh/BVN

NQL:Hiếm thấy ai ở tuổi 99 nét bút vẫn rắn rỏi, lời lẽ vẫn mạch lạc sáng sủa và tinh thần vị quốc vong thân của một người lính vẫn rực cháy trong trái tim yêu nước như vị tướng già Nguyễn Trọng Vĩnh. Cảm phục thay!

Trong cuộc đấu tranh, chúng ta chỉ còn có 1 thứ vũ khí khả dĩ chặn hành động xâm lược của TQ là kiện. Cơ hội này nếu không kiên quyết thoát ra khỏi vòng tay kìm kẹp của TQ, tìm những bạn thân mới thì việc mất biển, đảo là điều khó tránh khỏi và hơn nữa trong tương lai trở thành 1 thứ thuộc địa kiểu của chủ nghĩa bành trướng bá quyền Đại Hán cũng không phải là chuyện hoang đường“.

Theo BVN

 

 Ai tiếp tay cho ông Hồ Xuân Mãn thành “anh hùng”?

Hoàng Quân/CA Tp HCM 
Ông Hồ Xuân Mãn- Ảnh Intrernet
Ban Bí thư vừa kết luận xem xét hủy bỏ quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang (LLVT) nhân dân của ông Hồ Xuân Mãn (nguyên Ủy viên Trung ương (UVTƯ) Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên – Huế). Ông Mãn khai man, gian dối, ‘chạy” thành tích và có sự “tiếp tay” của không ít cán bộ. Phóng viên Báo Công an TPHCM đã tìm ra nhiều sự thật xung quanh vụ việc này.

KHAI MAN ĐỂ ĐƯỢC PHONG ANH HÙNG 

Trong Đại hội thi đua yêu nước tỉnh Thừa Thiên – Huế lần thứ ba vào ngày 21-8-2010, ông Hồ Xuân Mãn được trao tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân (gọi tắt là danh hiệu Anh hùng). Đây là vinh dự lớn không chỉ của ông Mãn mà đối với toàn thể nhân dân cố đô Huế. Một tháng sau, ông Mãn về hưu sau hai nhiệm kỳ làm Bí thư Tỉnh ủy (2000 – 2010).

Ngày 2-1-2014, đoàn công tác Ủy ban Kiểm tra (UBKT) Trung ương (T.Ư) Đảng có buổi làm việc thông báo kết luận với nội dung: Ban thi đua – khen thưởng T.Ư báo cáo các cơ quan chức năng Nhà nước có thẩm quyền xem xét hủy bỏ quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng và thu hồi hiện vật, tiền thưởng của ông Mãn; đồng thời UBKT T.Ư chỉ đạo các cơ quan liên quan kiểm điểm làm rõ trách nhiệm và xử lý theo quy định đối với các tổ chức, cá nhân có liên quan đã để xảy ra các vi phạm, khuyết điểm trong việc xét đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng cho ông Mãn. Theo kết luận của UBKT T.Ư, 17 thành tích mà ông Mãn khai chỉ đúng có hai. Tuy nhiên, một trong hai thành tích lại gây hậu quả xấu, đó là diệt giặc nhưng làm tổn hại đến cách mạng, nhân dân địa phương.

Như vậy, 15 thành tích còn lại ông Mãn khai đều là bịa đặt, gian dối như: đã tự tổ chức đơn vị đánh gần 100 trận, diệt 150 tên Mỹ – Ngụy, phá hủy 1 máy bay, 37 xe quân sự (1969 – 1975); dẫn đường cho Quân đoàn 2 giải phóng Huế và truy quét ngụy quân, ngụy quyền… Thành tích “láo” đồng nghĩa với những tặng thưởng cũng được nghi vấn là giả mạo: 33 lần được tặng Dũng sĩ diệt Mỹ; Chiến sĩ thi đua; các Huân chương Chiến công, Giải phóng; Kháng chiến các hạng…

Kết quả trên gây chấn động dư luận, nhưng không làm mọi người bất ngờ bởi chuyện danh hiệu Anh hùng của ông Mãn đã bị nghi ngờ và tố cáo từ lâu. Gần 20 cựu chiến binh (CCB), cán bộ hưu trí là những “nhân chứng sống”, những đồng đội, có người là chỉ huy của ông Mãn tố cáo ông cựu bí thư khai man, bịa đặt, cướp công đồng đội để được phong tặng danh hiệu Anh hùng.

Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, một anh hùng sẽ bị tước danh hiệu. Ông Nguyễn Ngọc Thiện, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên – Huế cho biết: “Sắp tới Tỉnh ủy sẽ thực hiện công việc theo kết luận của Ban Bí thư về thẩm quyền của tỉnh là xem xét sai sót, vi phạm các cơ quan, cá nhân trong tỉnh theo quy định. Dự kiến có thể ra Tết tiến hành kiểm điểm Ban Thường vụ Tỉnh ủy và các cá nhân liên quan”.

NHỮNG CÁ NHÂN, ĐƠN VỊ LIÊN QUAN SAI PHẠM 

  
 Ảnh bên:Vì đại cuộc, ông Hồ Văn Nghĩa cũng tố cáo, vạch trần người cháu của mình
Một con người “ưu tú, có thành tích xuất sắc” nhưng sau 10 năm làm cách mạng (như ông Mãn đã khai) mới được vào Đảng (năm 1974) và 25 năm sau ngày giải phóng mới được phong tặng danh hiệu Anh hùng, khiến nhân dân nghi ngờ, không phục. Ông Mãn tự làm thành tích, không có đơn vị vũ trang hay tập thể giới thiệu, bầu chọn mà được đơn vị công tác (Tỉnh ủy) xác nhận. Bản báo cáo thành tích được 15 người của Thường vụ Tỉnh ủy nhất trí với tỷ lệ 100%. Nghiêm trọng hơn, dù không ai biết cụ thể những việc ông Mãn làm, nhưng vẫn nhất trí với thành tích đó. Rồi hồ sơ lần lượt được chuyển đến Ban chỉ huy quân sự (CHQS) huyện, Bộ CHQS tỉnh, Quân khu 4, Bộ Quốc phòng và các ban ngành ở T.Ư.

Danh hiệu cao quý của Nhà nước trao nhầm người, là lỗi ở người khai đã bịa đặt. Nhưng cũng cần làm rõ trách nhiệm, sai phạm của cá nhân, tập thể đã “tê liệt”, để lọt hồ sơ giả. Trước đây, một số lãnh đạo tỉnh khẳng định với báo chí là việc xét tặng danh hiệu Anh hùng cho ông Mãn được thực hiện đúng quy trình, nguyên tắc. Thế nhưng những người tố cáo nói hồ sơ này đi trái nguyên tắc: từ trên xuống chứ không phải dưới lên (cơ sở đề nghị, cấp trên xét duyệt) và người ký chỉ việc ký, không được đọc, sao lưu…

Ông Hồ Viết Bá, Trưởng ban tổ chức Tỉnh ủy, lúc đó là Chánh Văn phòng Tỉnh ủy đã ký xác nhận vào bản báo cáo thành tích. Việc làm này không đúng thẩm quyền vì ông Bá không phải là cấp trên của ông Mãn. Ông Bá cho biết: “Ban Bí thư đã có kết luận rồi và UBKT T.Ư đang làm, tôi nói sẽ không khách quan. Nếu sai đến đâu, kỷ luật ra sao thì tôi xin chịu, chấp hành theo quyết định của UBKT T.Ư, bây giờ biết nói sao?”.

Thượng tá Nguyễn Văn Lương, nguyên Chỉ huy trưởng Ban CHQS huyện Phong Điền (đã nghỉ hưu) viết xác nhận: “Khi đang đương chức, là chỉ huy trưởng tôi có ký hồ sơ của anh Mãn và một số người khác nữa. Tôi có đọc thành tích của anh Mãn nhưng lâu rồi nên không nhớ hết”.

Đại tá Đặng Ngọc Nghĩa, Phó tham mưu trưởng Quân khu 4, nguyên Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Thừa Thiên – Huế (giai đoạn 2005 – 2011, một trong 15 người thuộc Thường vụ Tỉnh ủy từng ký xác nhận hồ sơ cho ông Mãn) thừa nhận: “Tôi ký vào tờ trình chấp hành theo nghị quyết của Thường vụ Tỉnh ủy. Lúc đó 100% thường vụ đều nhất trí, không ai phản đối gì. Ngành quân đội làm chặt chẽ từ Ban CHQS huyện lên tỉnh, sau đó đề nghị ra Quân khu 4, Tổng cục Chính trị – Bộ Quốc phòng rồi Nhà nước. Lúc đó ông Mãn là Bí thư Tỉnh ủy, ông cũng có công qua hai nhiệm kỳ. Tôi là lớp hậu sinh, ông Mãn khai thế nào thì biết vậy và ông ấy phải chịu trách nhiệm về lời khai”.

Thường vụ Tỉnh ủy lúc đó gồm 15 người là cán bộ chủ chốt của Đảng, chính quyền, lực lượng vũ trang và các ban ngành của tỉnh, hiện đa số đều đang đương chức hoặc chức vụ cao hơn. Với câu hỏi: 15 người nhất trí với hồ sơ của ông Mãn mà không phát hiện ra bất thường, không ai phản đối gì mặc dù không rõ về thành tích của ông Mãn?


Những nhân chứng sống vạch trần sự gian dối của ông Mãn
Tiếp tục liên hệ với lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Hội đồng cùng Ban thi đua khen thưởng tỉnh để tìm hiểu về tờ trình, hồ sơ đề nghị xét tặng danh hiệu Anh hùng cho ông Mãn, chúng tôi đều nhận được câu trả lời là “bận họp” hoặc gặp “UBKT T.Ư mà hỏi”. Chiều 6-1-2014, phóng viên liên hệ với ông Lê Hồng Liêm, Phó chủ nhiệm UBKT T.Ư thì ông nói đang họp ở Hà Nội và không thể trả lời qua điện thoại.

“ÔNG MÃN MÀ ANH HÙNG THÌ HUẾ CÓ HÀNG NGHÌN NGƯỜI”

 Các CCB, cán bộ hưu trí – những người vạch trần sự gian dối của ông Hồ Xuân Mãn đã nói như thế. Ông Hoàng Phước Sum (trung tá), nguyên Đội trưởng An ninh huyện Phong Điền) cho biết: “Hay tin Mãn được phong anh hùng, nhân dân Phong Điền và nhiều nơi trong nước phản ứng dữ lắm. Mãn mà anh hùng thì hàng nghìn người ở Huế cũng là anh hùng. Chúng tôi (gần 20 cán bộ hưu trí, CCB) là những đồng đội, nhiều người là cấp trên của Mãn, cùng chiến đấu, cùng quê với Mãn, quá hiểu về Mãn. Lúc đó, anh em đã làm đơn khiếu nại nhưng không được trả lời, giải quyết. Đến khi có bản báo cáo thành tích của Mãn, anh em mới có cơ sở để tố cáo. Nay Ban Bí thư có kết luận Mãn bịa đặt thành tích và đang xem xét thu hồi danh hiệu. Anh em phấn khởi lắm vì vụ việc nhạy cảm và phức tạp đã được T.Ư giải quyết khách quan, nghiêm minh”.
 
Các CCB cho biết nguyên nhân vạch trần Hồ Xuân Mãn là vì uy tín, sự trong sạch của Đảng; vì danh dự của quân đội, trách nhiệm đối với những liệt sĩ; vì sự thật chứ không hề có tư thù cá nhân. Trong quá trình chống tiêu cực, những người tố cáo tự bỏ tiền túi ra đi nhiều nơi để thu thập tài liệu, chứng cứ; tìm thêm nhân chứng; gặp lãnh đạo, ban ngành có liên quan. Trong thời gian đó, họ đối diện với nhiều cạm bẫy, nguy hiểm: bị mua chuộc, dụ dỗ, tung tin thất thiệt, đe dọa, hành hung… Việc này đã được báo cáo đến cơ quan ban ngành từ T.Ư đến địa phương đề nghị làm rõ, nhưng nay vẫn chưa có kết quả.

Thật đau đớn khi những người cùng chiến đấu với Hồ Xuân Mãn không ai xem là đồng đội, bởi ông ta đã cướp công của chính đồng đội mình. Ông Mãn còn bị chính người trong dòng tộc tố cáo, tẩy chay. Ông Hồ Văn Nghĩa, nguyên Trưởng ban an ninh huyện Phong Điền, chú ông Mãn cho rằng bị ông Mãn lừa, cho người bịt mặt đến hành hung mình. “Mãn gian dối, bịa đặt thành tích. Chạy đua để nhận anh hùng làm chi cho nhục. Giờ nó còn mặt mũi nào về quê nhìn anh em, họ hàng, làng xóm”, ông Nghĩa nói.

Các CCB tiếp tục đề nghị thu hồi danh hiệu “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” của ông Mãn. Năm 2010, ông Mãn là một trong ba Bí thư Tỉnh ủy tiêu biểu của cả nước được tuyên dương vì có nhiều thành tích trong cuộc vận động này. Bởi theo ông Hoàng Phước Sum: “Mãn khai bịa đặt để được anh hùng thì không đủ tư cách, đạo đức, phẩm chất để cho các thế hệ học tập, noi theo”. Trong lần biểu dương đó, ông Mãn kể lại chuyện trong một lần đi công tác về, được vợ chuyển cho tập tài liệu kèm theo phong bì, bên trong có 3.000 USD. Ông liền mang đến báo cáo cơ quan và công an. Ông Sum nói: “Chuyện này khó tin quá, không ai chứng thực cả. Không ai đi đưa tài liệu cùng phong bì mà không nói tên, nói rõ mục đích”.

CHUYỆN VỀ ÔNG “VUA CỐ ĐÔ”

 Cái tên Hồ Xuân Mãn rất “nổi tiếng”. Những ngày này, người dân bàn tán sôi nổi và bày tỏ vui mừng vì T.Ư kiên quyết thu hồi danh hiệu Anh hùng đã trao nhầm và đang chỉ đạo cơ quan chức năng tiếp tục xử lý cán bộ vi phạm. Ban Bí thư chưa kỷ luật ông Mãn vì căn cứ Quy định 181 của Bộ Chính trị, theo tờ trình của Hội đồng chuyên môn bệnh viện sức khỏe miền Trung thì ông Mãn đang bị bệnh hiểm nghèo. Như vậy đến khi nào cơ quan chức năng xác nhận ông Mãn hết bệnh hiểm nghèo thì mới kỷ luật?

Những người tố cáo lại cho biết, ông Mãn vẫn đi lại bình thường và vẫn xuất hiện ở nhiều nơi. Ông Hoàng Tiến Dũng, một người đứng đơn tố cáo cho biết: “Tháng trước, Mãn đi dự đám cưới con của một lãnh đạo huyện tại xã Phong Hiền, cũng có ăn nhậu. Ông Mãn hát ba bài, trong đó có bài “Cuộc đời vẫn đẹp sao”… Ngày 21-12-2013, ông Mãn ăn nhậu tại nhà cộng đồng thôn Vĩnh Hương, xã Phong An, cũng hát hò”. Ngày 3-3-2013, ông Mãn có mặt trong buổi lễ trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới cho GS.TS Bùi Đức Phú, Giám đốc Bệnh viện Trung ương Huế. Và người dân xôn xao mỉa mai: Anh hùng dỏm đi dự lễ của anh hùng thật. Ngày 31-12, có mặt trong buổi lễ kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, ông Mãn ngồi ở một góc hội trường với vẻ buồn rầu…

Lúc còn đương chức, quyền lực ông Mãn đi kèm với tai tiếng. Trong bài “Đất cố đô có vua” (Báo Lao Động ngày 26-11-2005) và một số bài báo khác nói về ông cán bộ to nhất tỉnh đi nhậu ở một nhà hàng. Đoạn cao trào, “vua” ghì đầu cô gái hôn vào má trước mặt nhiều người. Cô gái vừa chửi “đồ mất dạy” vừa tát vào mặt “vua”. “Vua” liền hô hào nói chủ nhà hàng đuổi ngay cô tiếp viên. Vụ việc trên vẫn còn được nhiều người kể đến hôm nay. Ông Thương (trú phường Vỹ Dạ, TP.Huế), chủ một nhà hàng cho biết: “Trước đây, một số báo viết về ông Bí thư sàm sỡ nhân viên ở nhà hàng C.A, phường V., TP.Huế. Nhà hàng tôi tên Châu Anh, mọi người tưởng là xảy ra ở đó. Rồi khách vắng dần, tôi buôn bán không được phải trả lại mặt bằng, đi chỗ khác làm ăn. Có thể sự việc xảy ra ở một nhà hàng thân thiết của ông Bí thư. Tôi được nghe ông bí thư có “bảo kê” cho một người tên M. mở nhà hàng “Nhất Hồ”, nghĩa là: nhất Hồ Xuân Mãn và khu ăn chơi giải trí lớn ở thị xã Hương Trà. Thằng M. vốn sửa xe dạo, lang thang bụi đời nhờ có cha thân với ông bí thư mà phất lên nhanh chóng. Rồi M. thành lập Công ty vận tải Nhất Hồ nhưng sau đó tan rã từ khi ông bí thư về hưu”.

Ông Mãn có thú tiêu khiển là săn bắn chim. Cách đây 19 năm, trong một lần đi săn, đạn lạc làm chị H.T.T.P (43 tuổi, trú huyện Phong Điền) bị trọng thương. Sau chuyện đó, người dân mỗi lần thấy ông Mãn xách súng đi bắn chim thì tránh xa kẻo… lãnh đạn.

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 14.07.2014

TUÂN NGUYỄN – TÔI LÀ NGƯỜI CÓ LỖI…

                 TUÂN NGUYỄN – TÔI LÀ NGƯỜI CÓ LỖI

                       ( Nhân đọc sách  Nhớ Tuân Nguyễn )

 NGÔ MINH

                Nhà văn Trần Phương Trà, người Huế ở Hà Nội vừa gửi tặng tôi cuốn sách “ Nhớ Tuân Nguyễn” do anh sưu tầm và biên soạn ( NXB Hội Nhà văn, 2008). Cuốn sách 420 trang dày dặn là tập hợp đầy đủ nhất về tính cách, sáng tác và cuộc đời đau đớn của nhà thơ Tuân Nguyễn và những kỷ niệm sâu sắc của bạn bè về anh. Đã 25 năm Tuân Nguyễn  về cõi vĩnh hằng, hình ảnh của anh, thơ ca của anh vẫn nóng hổi nước mắt trong tâm trí bạn bè. Điều ấy không dễ có. Họ vẫn lưu giữ thơ anh, vẫn thuộc thơ anh để chép lại cho người biên soạn sách. Đọc xong tập sách, tôi xúc động thẫn thờ . Trong tôi cứ nhói lên một câu hỏi : Sao người trí thức trẻ ấy lại lâm vòng lao lý oan khiên  làm vậy ?  Trong bài “ Tuân Nguyễn- Kẻ mơ mộng”, Hà Nhật kể :” Buổi chiều ngồi nói chuyện với Cao Xuân Hạo về Tuân Nguyễn, Hạo buông một câu nghe là lạnh người : Tuân Nguyễn sinh ra ở đời là để đóng cái vai trò này : Khi có ai đó muốn kêu lên :” Trời ơi sao mà tôi khổ thế ?”, thì nhìn vào Tuân Nguyễn  sẽ thấy mình chưa phải là người khổ”. (Đọc tiếp…)

 

Chương trình Nhịp Cầu Hoàng Sa chính thức giao nhà cho bà quả phụ Hải quân trung tá Ngụy Văn Thà

Huy Đức

Hôm nay, 11-7-2014, Chương trình Nhịp Cầu Hoàng Sa chính thức giao nhà cho bà quả phụ Hải quân trung tá Ngụy Văn Thà (nhũ danh Huỳnh Thị Sinh), đó là một căn hộ 3 phòng, rộng hơn 60 m2 nằm trên tầng năm (5.05) cao ốc B – Nguyễn Kim, phường 7, Quận 10. Đây là lần đầu tiên bà Huỳnh Thị Sinh có quyền sở hữu nhà.

Hải quân Trung tá Ngụy Văn Thà, Hạm trưởng Chiến hạm Nhật Tảo (HQ-10), cùng với 73 người lính Việt Nam Cộng hòa khác, hy sinh trong trận Hải chiến Hoàng Sa chống lại quân Trung Quốc ngày 19-1-1974. Khi chồng hy sinh, bà Huỳnh Thị Sinh chỉ mới 26 tuổi. Trong suốt 40 năm qua, bà Sinh đã âm thầm thờ chồng, lặng lẽ nuôi ba con gái trong căn hộ ấy mà vợ chồng bà đã sống từ năm 1973 đến năm 2009, khi chung cư bị giải tỏa để xây những cao ốc mới.

Bà Sinh đăng ký nhận một căn hộ tái định cư kèm theo một khoản tiền hỗ trợ là 546 triệu đồng. Tuy nhiên, suốt 5 năm qua, khu tái định cư chưa hề có dấu hiệu khởi công. Do tuổi cao sức yếu, bà Sinh có nguyện vọng muốn chuyển sang mua một căn hộ trong khu kinh doanh (xây dựng trên nền chung cư Nguyễn Kim trước đây). Từ ngày 15-2-2014, chúng tôi đã bắt đầu cùng bà xúc tiến thủ tục, nhưng phải tới nay, sau gần năm tháng, việc mua nhà cho bà Huỳnh Thị Sinh mới hoàn thành.

Căn hộ mới có giá bán (bao gồm cả thuế) lên tới 1.343.797.981 VNĐ. Trong thời gian chờ nhà tái định cư, Nhà nước đã chi một số tiền để bà Sinh thuê nhà, cho nên “khoản tiền hỗ trợ” 546 triệu bị trừ đi, còn 229.505.000 VNĐ. Nhịp Cầu Hoàng Sa đã chi trả toàn bộ số tiền còn lại là 1.114.292.981 VNĐ. Số tiền này cao hơn rất nhiều so với mức mà chúng tôi dự tính (750 triệu đồng).

Với mức 750 triệu đồng, chúng tôi có thể mua một căn hộ ở ngoại ô. Nhưng, cả đời bà Huỳnh Thị Sinh đã gắn bó với nơi đây; các anh, em ruột của bà cũng đang sinh sống quanh đây. Nguyện vọng của bà là có một căn hộ ở nơi mà anh em có thể qua lại thăm nhau, bà có thể phụ giúp các cháu buôn bán.

Sau nhiều lần trao đổi với bà Huỳnh Thị Sinh và các thành viên Nhịp Cầu Hoàng Sa, chúng tôi quyết định mua căn hộ này. Tuy mức giá vượt quá xa so với dự toán ban đầu nhưng chúng tôi nghĩ rằng, ý nghĩa của ngôi nhà sẽ không còn trọn vẹn nếu nó làm đảo lộn cuộc sống thường nhật của bà Huỳnh Thị Sinh và khiến bà phải xa nơi đầy ắp kỷ niệm với người chồng mà bà đã dành trọn tuổi xuân thờ phụng.

Nhịp Cầu Hoàng Sa là một chương trình được khởi xướng từ ngày 7-1-2014 bởi một nhóm các nhà báo: Vũ Kim Hạnh, Cựu TBT Tuổi Trẻ; Nguyễn Thế Thanh, Cựu TBT báo Phụ Nữ TP; TS Nguyễn Thị Hậu, kỹ sư Đỗ Thái Bình…  Sau hơn sáu tháng vận động, Chương trình đã nhận được sự ủng hộ bằng tiền, bằng hiện vật từ hơn 524 lượt đóng góp với tổng số tiền là 1.711.965.042 VNĐ.

Trong dịp Tết Giáp Ngọ, Nhịp Cầu Hoàng Sa đã gửi tặng 10 phần quà, mỗi phần 5 triệu đồng tới 5 gia đình Hoàng Sa và 5 gia đình Gạc Ma. Cùng thời gian xúc tiến việc mua căn hộ này cho bà quả phụ Ngụy Văn Thà, Nhịp Cầu Hoàng Sa chi 320 triệu đồng giúp cựu binh Gạc Ma Lê Hữu Thảo mua một lô đất ở thành phố Hà Tĩnh và sẽ chi thêm 80 triệu giúp anh Thảo xây nhà; Nhịp Cầu Hoàng Sa cũng đang xúc tiến thủ tục để giúp bà Hồ Thị Đức – mẹ của thiếu úy Trần Văn Phương, anh hùng trong trận hải chiến Gạc Ma – sửa nhà ở Quảng Bình.

Như đã cam kết với các bạn, Nhịp Cầu Hoàng Sa sẽ tiếp tục vận động để giúp bà quả phụ Hải quân thiếu tá Nguyễn Thành Trí cải thiện chỗ ở; giúp các gia đình Hoàng Sa, Gạc Ma khác vượt qua hoàn cảnh khó khăn.

Nhịp Cầu Hoàng Sa xin thông báo kết quả ban đầu này, xin chân thành cám ơn toàn thể các bạn đã quan tâm và nhiệt tình ủng hộ.

H.Đ.

(Nguồn :BVN)

 

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 13.07.2014

BÁC TÔ HOÀI

 

Nhà văn Tô Hoài tai Hội Nhà Văn Hà Nội

     Lúc ấy là khoảng 14h chiều. Anh Bằng Việt thảng thốt gọi cho tôi: Kha ơi, cụ Tô Hoài mất rồi, lúc 11h. Lặng đi kể từ giây phút ấy. Ngày 6 tháng 7 năm 2014.

     Rồi cũng bắt đầu anh Bằng Việt đi đâu thì tôi đi đấy để cùng anh Phương Vũ con trai út của Nhà văn, cùng cơ quan lo việc cho Cụ. Vũ không ngủ mấy hôm liền, thì mấy anh em tôi cũng căng ra khác gì con cái Cụ.

      Tôi lăng xăng về  19 Hàng Buồm khoảng đầu những năm 90 thế kỷ trước. lúc đó Nhà văn Tô Hoài là Chủ tịch Hội Văn Nghệ Hà Nội (từ năm 1996 mới thành Hội Liên hiệp, còn giờ thì đang chuyển sang Liên hiệp Hội). Làm hẳn thì khoảng năm 1994, 1995  nhưng dạng amatơ, hay nói như anh Vũ Quần Phương lúc ấy là Tổng Biên tập báo Người Hà Nội: “Kha ở Hàng Buồm chỉ nên giữ vai khách!”. Tôi giữ mãi cách ấy cho đến năm 1999 khi anh Bằng Việt từ Hội đồng Nhân dân Thành phố trở về làm Chủ tịch Hội thì mới nửa chủ nửa khách cho tới tận giờ.

     Tức là tôi cũng được khoảng 4 năm làm dưới trướng Bác Tô Hoài vì lúc ấy tôi giúp việc cho anh Bùi Việt Mỹ, khi đó là Chánh Văn phòng Hội, nay là Tổng Biên tập báo Người Hà Nội.

     Vậy tôi là quân nhà của Cụ. Là khi tôi in tập thơ thứ hai năm 1996. Chính nhà văn Tô Hoài đọc và chịu trách nhiệm bản thảo. Cụ tinh khiếp lắm. Cụ ghi từng bài bằng bút bi đỏ, chỉ ra một bài thơ tình kiểu sexy nhưng thô. Lúc ngồi ở quán Nghệ sĩ phố Mã Mây Cụ mới nói hồi mới vào nghề cụ có làm thơ nhưng nghiệp văn sinh kế lôi Cụ theo như một người tình, đành vậy.

     Thực ra, đến bây giờ, dù được gặp Cụ rất nhiều lần, trong quãng thời gian 20 năm có lẻ, tôi vẫn thấy nhà văn Tô Hoài thuộc hàng tiền bối, thân gần đấy nhưng cũng khách sáo lắm. Tôi hay được Cụ gọi ra Mỹ Kinh (ở phố Hàng Buồm) uống bia. Cụ thích và sành bia hơi. Ăn ít, có khi chỉ mấy lát giò lụa. sau năm 1988 nghỉ công việc ở Hà Nội, cụ uống bia chai Hà Nội. Mấy năm nay thì toàn uống rượu vang đỏ của Pháp hoặc Chi Lê. Tôi thấy Cụ ít cà phê trà lá. Cụ Tô Hoài đôi lúc cởi mở, kể chuyện, dù gì cũng rất duyên.

     Nhà văn Tô Hoài là một kho kiến thức, một cây từ điển viết hoa. Có lẽ thứ nhất là ở cách đọc, dù là quyển sách hay tờ báo. Cụ đọc hết, kể cả mục quảng cáo. Đọc để biết, để triết, để viết. Thứ hai là cách làm việc. Chỉ khi đối diện với trang giấy để sáng tác cụ mới chăm chỉ nghiêm cẩn, còn những lúc công tư quan trọng đời thường thấy Cụ thanh thản cứ như không. Làm nghề văn như cụ là hiếm có. Sống một đời cách mạng, đời văn sĩ, đời thường, đời lãng tử như Cụ cũng chỉ ít người.

     Lại nói về nghề văn.

     Tôi cũng thuộc dạng tập ngông hạng điếc không sợ súng. Làm thơ thấy cạn là tôi viết truyện ngắn. Nhớ cái truyện Mèo lại do anh họa sĩ Công Quốc Hà minh họa năm 1998 số Tết báo Người Hà Nội do anh Hồ Xuân Sơn làm Tổng Biên tập. Đọc xong Cụ bảo cậu chưa biết kết. Thì tôi viết đến đoạn cho vợ chồng người ta cùng chung lại phấn đấu làm ăn, đổi đời, ngòi bút cứ loay hoay đành tóm vài lời dông dài triết lý vụn cho xong. Thế mà Bác Tô Hoài vẫn nhận ra.

     Tôi học nhiều ở Cụ cách sử dụng từ, nhưng cúng chỉ ở hàng Thượng sĩ. Điều khiển đội quân chữ nghĩa, cụ là Thống soái văn chương. Những giống đực, giống cái, giống trung (tạm chia ra mô phỏng từ nước ngoài chứ tiếng Việt không tách bạch như vậy) vào văn cụ là đúng nơi không thay đổi được.

Chả thế mà ở tác phẩm Dế mèn phiêu lưu ký bất tử xuất bản năm 1941, Bác Tô Hoài có thể nói đã chững chạc ngồi vào vị trí các văn hào thế giới. Nhân vật Dế mèn, có thể nói, sánh ngang được với nhân vật AQ của Lỗ Tấn. Chỉ khác là sau 30 năm, cậu AQ của cách mạng Tân Hợi thụ động và dốt nát đã phải nhường chỗ cho chàng Dế mèn ôm hoài bão  độc lập khám phá, hiểu biết, và hiện đại cùng lý tưởng thế giới đại đồng. Ấy là vì dù nằm trong khung cảnh và phong tục phương Đông, nhưng Dế mèn đã là một kiểu nhân vật nhân văn – triết lý nhân sinh đậm đặc chất văn hóa nhân bản.

    Nhà văn Tô Hoài là một trong những người thành công nhất khi dùng phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa trong sáng tác, mà tác phẩm Miền Tây, đặc biệt là truyện Vợ chồng A Phủ là một minh chứng. Khi chuyển sang bộ phim cùng tên do Nhà văn viết kịch bản, cùng các diễn viên tài năng và bài hát nhạc phim Bài ca trên núi, từ ấy đến giờ vẫn làm rung động hàng triệu triệu người mấy thế hệ Việt Nam.

     Chuyện Cũ Hà Nội lại là một thành công, có lẽ là lớn nhất về con người, khung cảnh, tập tục, lối sống năm mươi năm đầu thế kỷ XX mà ngoài Bác Tô Hoài ra, chắc ít người làm được. Những hồi ức như được một thư ký thời đại viết ra dựng lại một thời sống động đầy ý nghĩa làm cho ta cảm phục sức nhớ, sức viết của Nhà văn, mà những biến động thời cuộc, những thay đổi thế nhân không thể làm đổi thay chí hướng.

     Tôi đã say mê đọc Cát bụi chân ai, Chiều chiều, Ba người khác. Gọi là hồi ký cũng được, hồi ức tiểu thuyết cũng được, Đó thực sự là lịch sử – lịch sử con người xã hội. Giọng văn hóm hỉnh, bi và hài xen nhau, nói về mình mà như tự sự, tưởng lạnh lùng mà thấm thiết lắm. Viết về cái khốn khổ khốn nạn của những kiếp người nhưng không miệt thị hạ thấp, tưởng phải là thứ văn người tâm đạo mới kham nổi.

     Hôm vào thăm Bác ở Bệnh viện Việt Xô, thấy cô y tá cứ nhem nhẻm gọi anh Hoài trêu Bác, mà mắt Bác vẫn sáng ánh lên hóm hỉnh, tưởng còn lâu Cụ mới rời xa cõi tạm, mà nay Bác Dế mèn đã phiêu lưu sang thế giới người Hiền (chữ dùng của nhà thơ Bằng Việt). Đành rằng sinh biệt tử ly là đau thương mất mát, mà sao hụt hẫng cứ thường trực thế này. Muốn nói nhiều lại nhớ Bác Tô Hoài dặn lúc sinh thời, đã là nghề văn phải chú tâm vào viết. Lớp hậu sinh chúng cháu kính cẩn “cao sơn – cảnh hành”.

     Ngoài trời mấy hôm nay hình như mưa nhiều!

                                    Ngày 12/7/2014

    ( Nguồn :nguyentrongtao…)

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 12.07.2014

Nước mắt Vị Xuyên

 

Nước mắt Vị Xuyên

TT – 30 năm sau trận chiến tàn khốc, những người lính của sư đoàn 356 trở về chiến trường Vị Xuyên. Những “đồi thịt băm”, chỏm yên ngựa, thung lũng chết… vẫn luôn hằn trong hồi ức của họ.

 

 

 

Business Insider: Việt Nam đứng thứ 23/35 quân đội hùng mạnh nhất thế giới

 

(TNO) Trang tin Business Insider (Mỹ) ngày 10.7 đăng tải bảng xếp hạng 35 quân đội mạnh nhất thế giới, trong đó Việt Nam đứng hàng thứ 23.

 alt
Tàu hộ vệ tên lửa Đinh Tiên Hoàng của Việt Nam – Ảnh: Tấn Tú

Đứng đầu bảng xếp hạng là Mỹ, tiếp theo là Nga và thứ ba là Trung Quốc.

Business Insider đưa ra bảng xếp hạng này dựa vào chỉ số Global Firepower Index (tạm dịch: chỉ số sức mạnh quân sự toàn cầu, gọi tắt GFI) tại địa chỉ globalfirepower.com.

Trang globalfirepower.com đã đưa ra bảng thống kê sức mạnh quân sự của 106 quốc gia trên thế giới dựa trên 50 yếu tố, ngân sách quốc phòng, binh sĩ, khí tài quân sự…

Bảng xếp hạng của GFI được công bố vào tháng 4.2014. Trang globalfirepower.com cho rằng trong những số liệu đưa ra để làm nên bảng xếp hạng, một số được công bố công khai, còn lại là do ước tính.

Những thông số này chỉ mang tính tương đối và vẫn đang được tiếp tục điều chỉnh, theo globalfirepower.com.

“Quân đội Việt Nam được cung cấp nhiều khí tài quân sự từ các nước như Nga, Ấn Độ, Ukraine và Israel”, theo globalfirepower.com.

Theo globalfirepower.com, với dân số 92.477.857 và nguồn nhân lực có sẵn là 50.645.430 người, quân đội Việt Nam hiện có 412.000 binh sĩ, và 5.040.000 lính dự bị.

Globalfirepower.com cho hay quân đội Việt Nam hiện sở hữu 3.200 xe tăng, 413 máy bay quân sự (trong đó có 209 chiến đấu cơ), sức mạnh hải quân với 65 tàu trong đó có tàu ngầm lớp Kilo và ngân sách quốc phòng là 3.365.000.000 USD.

(Nguồn : thanhnienonline)

 

 

THẢO LUẬN THOÁT TRUNG VỀ VĂN HOÁ (10) THOÁT TRUNG RỐT CUỘC LÀ THOÁT GÌ?

  Nguyễn Ngọc Lanh

  Thoát Trung là thoát sự lệ thuộc vào Trung Quốc. Vì, đã lệ thuộc, dù ít, dù đó là nước cùng lý tưởng… nền độc lập sẽ không thể toàn vẹn.

Về địa lý, số phận đã an bài, chúng ta không thể (và cũng không cần thiết) thoát Trung. Vĩnh viễn, ta và TQ là lân bang.

Do đâu lệ thuộc?

Lân bang và lệ thuộc là những khái niệm khác nhau, không liên quan. Tuy nhiên, một nước vừa “nhược” vừa “tiểu”, lại có lân bang hùng mạnh và văn minh hơn, trước sau sẽ là nạn nhân của mưu đồ thôn tính, đồng hóa, thậm chí tiêu diệt. Đây là quy luật của lịch sử mà loài người đã trải qua, từ thượng cổ cho tới thời kỳ văn minh nông nghiệp. Chúng ta mất nước, đưa đến họa Bắc thuộc và Pháp thuộc là do vậy.

 

Tuy nhiên, so với sức mạnh vật chất thì văn minh (văn hóa) mới là cái gốc, mới lâu bền. Mông Cổ và Mãn Thanh từng chinh phục Trung Quốc bằng sức mạnh, nhưng sau một-hai trăm năm cai trị, chính giới cầm quyền đã bị trình độ văn minh của Trung Quốc đồng hóa. Và sau đó, chính Mông Mãn còn bị TQ nuốt lại. Bởi vậy, khi đã bị lệ thuộc hoặc mất nước, sự kháng cự về văn hóa (để khỏi bị đồng hóa) mới thật sự là “thiên nan, vạn nan” và trường kỳ gian khổ. Đó là hoàn cảnh tổ tiên ta từ ngàn năm trước. Tới khi Ngô Quyền mở ra kỷ nguyên độc lập, thì cũng chỉ là độc lập “tương đối”. Tổ tiên ta không thể sáng tạo hay du nhập ý thức hệ nào khác – ngoài ý thức hệ phong kiến, mà chủ thuyết là đạo Nho của Khổng tử. Cái lợi là chế độ phong kiến ở Việt Nam được củng cố, phát triển, thực hiện được thiên chức do lịch sử trao. Cái hại là Việt Nam lệ thuộc và rất ham ngưỡng vọng văn minh Trung Quốc.

Vẫn rất thời sự

Tới thế kỷ XX, chúng ta vẫn còn lại phần đất hiện nay (mất lưỡng Quảng thời nhà Triệu), chứng tỏ tổ tiên ta đã nhiều lần “thoát Trung” thành công và không thành công. May, đến nay chuyện các dân tộc chinh phục, đồng hóa hoặc tiêu diệt nhau bằng bạo lực ngày càng khó xảy ra; nhưng sự nô dịch nhau bằng văn minh, văn hóa (bao gồm chính trị, chủ thuyết, ý thức hệ…) vẫn là chuyện rất thời sự. Chưa nói chuyện tự đeo gông và không tự tháo gông.

Nước Nga xô viết quy tụ được gần đủ các nước “anh em” (vốn là chư hầu của Nga hoàng) là nhờ giúp các nước đó lập đảng cộng sản – bất cần sự hình thành của giai cấp công nhân – chỉ cốt chung ý thức hệ (thế giới đại đồng). Bài học gì có thể rút ra?

Tiếp thu và đồng hóa những cái hay của kẻ đô hộ

Chỉ xin nêu 2 ví dụ: từ vựng và đạo Khổng

- Vốn từ vựng

Một dân tộc nhỏ yếu như Việt Nam trải ngàn năm bị đô hộ mà không bị diệt vong hoặc bị đồng hóa, chính một phần quan trọng là nhờ biết tiếp thu và đồng hóa những gì có lợi cho sự sống còn và phát triển của mình.

Kho từ ngữ và sự sáng tạo thêm từ ngữ (để đáp ứng các khái niệm mới nảy sinh) của một dân tộc nói lên trình độ văn minh của dân tộc đó. Do trình độ còn thấp, tổ tiên ta buộc phải tiếp thu chữ viết và các từ ngữ gốc Hán. Nhưng tổ tiên ta đã đồng hóa chúng và sử dụng nhuần nhuyễn theo cách của mình. Thoạt tiên, là Việt hóa triệt để cách đọc chữ Hán. Không khó gì phát âm “chung quở” nhưng chúng ta đọc là “trung quốc”. Tiếp đó là sáng tạo chữ Nôm; nhờ vậy giữ được ngữ pháp Việt, nhất là ghi lại được kho tàng văn hóa dân tộc (ca dao, tục ngữ, cổ tích) và dùng tiếng Việt để sáng tác (truyện Kiều). Sau cùng, là dùng chữ quốc ngữ thay hẳn chữ Hán và chữ Nôm. Tốn cả ngàn năm mới có kho từ vựng được đồng hóa như hiện nay, nếu nay muốn “thoát” thì chỉ có… chết!

- Đạo Khổng (Nho giáo)

Văn minh nông nghiệp là trình độ mà loài người phải trải qua sau thời kỳ mông muội, trong đó chế độ phong kiến là đương nhiên phù hợp. Thoạt đầu, do trình độ quản lý còn thấp, chế độ phong kiến chưa thể tập trung, mà phân tán, nhỏ lẻ… Chiến tranh giành đất đai sẽ liên miên (thời Xuân Thu – Chiến Quốc dài gần ngàn năm). Sự tiến hóa xã hội đòi hỏi tập quyền. Đạo Khổng ra đời đúng lúc, có tác dụng củng cố và phát triển chế độ này. Ở đây, không phải chỗ bàn vì sao đạo Khổng chỉ có thể ra đời ở phương Đông và vì sao chế độ phong kiến châu Á kéo dài quá lâu.

Sự tiếp thu đạo Khổng (từ đời Lý) là cần thiết cho Việt Nam. Mặc dù các vua Lý rất sùng đạo Phật, nhưng công lớn được lịch sử ghi lại là triều Lý mở đầu các kỳ thi Nho giáo để tuyển chọn quan lại. Đạo Phật (đề cao nhân ái và thiện căn) rất thích hợp khi đất nước còn phân tán, chia rẽ (nội chiến), nhưng không thể dùng để trị quốc – mà phải là đạo Khổng. Xin đừng oán trách đạo Khổng thời xa xưa và than vãn cho sự éo le của số phận dân tộc.

Chính sự lan tỏa của văn minh công nghiệp từ phương Tây sang châu Á là thời điểm đạo Khổng bộc lộ sự phản tiến bộ của nó. Tàn dư đạo Khổng quả là một tai họa với nước ta (có người gọi đó là thứ “văn hóa quỳ lạy”). Chỉ xin nêu 2 hiện tượng ai cũng trải (ai cũng từng đi học) để thấy di họa của đạo Khổng thâm căn tới mức nào. Khẩu hiệu Tiên học lễ, hậu học văn được đề cao suốt 4 đời bộ trưởng Giáo dục. Bộ này còn phát động phong trào “chữ đẹp” với thành tích cao nhất là lùa học sinh cả huyện đi thi… Éo le ở chỗ là nơi phát sinh đạo Khổng từ lâu đã không có 2 hiện tượng này.

Đạo Khổng bị gột rửa sớm nhất và triệt để nhất ở Nhật (duy tân), sau đó tới các nước “hóa rồng” khác: Đài Loan, Nam Hàn, Singapore. Đạo Khổng cũng bị thanh toán mạnh mẽ ngay ở Trung Quốc – quê hương nó. Mao đã phát động phong trào “phê phán Lâm Bưu và Khổng Tử” rầm rộ cách đây cả nửa thế kỷ.

Do vậy, việc dứt bỏ tàn dư của đạo này không mang ý nghĩa thoát Trung, mà là chuyện của riêng Việt Nam. Chính chúng ta đã không tự tháo chiếc gông trên cổ.

Trung Quốc: tấm gương tự “thoát” chính mình

Cũng chỉ xin nêu 2 ví dụ

- Mao Trạch Đông “bắt tay” đế quốc Mỹ

Hãy hỏi các cụ 80 tuổi để biết phong trào chống Mỹ – do đích thân Mao chủ tịch phát động – hừng hực cỡ nào ở đất nước tỷ dân. Đó là thập niên 60 và 70 thế kỷ trước. Quả là kỳ công, khi làm cho cả tỷ người tin Mỹ chỉ là “hổ giấy”. Trung Quốc quyết liệt chống Liên Xô (có nổ súng ở biên giới) với cái cớ là Khrusov chủ trương chung sống hòa bình với Mỹ – kẻ thù số 1 của CNXH. Nhưng… đùng một cái, năm 1972, chính Mao bắt tay Mỹ, và bị đảng VN phê phán gay gắt (phản bội đồng chí, phản bội ý thức hệ). Đảng Việt lên án Mao dựa trên quan điểm tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa; nhưng “đảng bạn” lại đặt ý thức hệ thấp hơn lợi ích dân tộc. Tranh luận với nhau vô ích.

- Đặng Tiểu Bình chủ trương “bốn hiện đại hóa”

Đặng bị mất mọi chức vụ trong “cách mạng văn hóa” vì cái tội nói rằng: Miễn là bắt được chuột, bất kể mèo trắng hay đen. Chủ nghĩa Mác-Lê chân chính đòi hỏi phải tập thể hóa sản xuất; nhưng phong trào “công xã hóa” nông nghiệp do Mao khởi xướng đã thất bại thê thảm (chết đói 30 triệu người). Câu nói của Đặng chỉ hàm một ý: Miễn là sản xuất phát triển (mục đích), còn tư nhân hóa hay tập thể hóa chỉ là biện pháp. Mao phát động “cách mạng văn hóa” để trừ khử những ai phê phán sai lầm của ông; do vậy Lưu Thiếu Kỳ là nạn nhân số 1; Đặng – với câu nói trên – là số 2.

Năm 1976, Đặng lấy lại địa vị cao, câu nói của ông trở thành nổi tiếng và mang ý nghĩa rộng lớn hơn nhiều. Nó ngầm nêu ý tưởng “thoát Mao” và thoát cả Mác-Lê. Trung Quốc cần hùng cường, bằng bất kể biện pháp nào.

Năm 1978, Đặng chủ trương “bốn hiện đại hóa”, bị đảng Việt phê phán nặng nề: Xa rời chủ nghĩa, rơi vào “vũng lầy” tư bản. Thực ra, Đặng coi lợi ích dân tộc là cao nhất, trong khi chưa dám “sổ toẹt” ý thức hệ chỉ vì phái bảo thủ còn rất mạnh.

Hội nghị Thành Đô 1990: thể hiện sự kiên định lý tưởng của phía VN

Về mặt trung thành với lý tưởng, đảng CSVN cao cả gấp bội so với đảng bạn bên Trung Quốc! Đảng TQ chính thức bị chúng ta coi là kẻ thù từ năm 1979 khi tiến hành chiến tranh xâm lược đẫm máu các tỉnh biên giới nước ta. Và thêm một lần chúng ta nhận ra: đây là kẻ thù truyền kiếp chứ có mới mẻ gì cho cam…

Không ai ở VN dám ngờ rằng chỉ 10 năm sau, khối XHCN Đông Âu bắt đầu tan vỡ mà Liên Xô cứ bỏ mặc (vì lo thân mình chưa xong!). Sự trung thành với ý thức hệ đã giúp đảng CSVN bỏ qua mối thù 1979 (bấy giờ được đảng coi là nhỏ, so với “đại cục”) để chủ động xin gặp gỡ đảng bạn, đề nghị chủ trì sự nghiệp cứu vãn phần còn lại của CNXH. Kết quả: Thành công; hội nghị Thành Đô 1990 đã đi đến những thỏa thuận (nào đó)…

Thoát Trung, rốt cuộc là “tự thoát”?

Xin nhường lời cho bạn đọc.

N.N.L.

( Nguồn : BVN)

 

 

 

Đối đáp giữa TBT Nguyễn Phú Trọng và Hồ Cẩm Đào năm 2011


Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trong cuộc gặp năm 2011 với Tổng bí thư Trung Quốc
Nguyễn Phú Trọng và Hồ Cẩm Đào, đối đáp 2011
Trong buổi nói chuyện ngày 9/7 tại kỳ họp thứ 14, HĐND TP.HCM, trung tướng Phạm Văn Dỹ – Chính ủy quân khu 7 đã đề cập đến cuộc nói chuyện giữa Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và ông Hồ Cẩm Đào vào năm 2011. Qua đó có thể thấy lãnh đạo Đảng ta đã có thái độ chính trực, mềm dẻo nhưng rất cương quyết khi đề cập đến vấn đề chủ quyền quốc gia.
Theo trung tướng Phạm Văn Dỹ, cuộc gặp diễn ra vào tháng 10/2011. Trong một buổi nói chuyện Tổng bí thư Trung Quốc khi đó là Hồ Cẩm Đào đã nói rất rõ với đại ý: “Tôi là người Trung Quốc tôi không nói Nam Sa – Tây Sa là của tôi thì tôi không phải là người Trung Quốc. Cũng như các đồng chí là người Việt Nam mà không nói Hoàng Sa – Trường Sa là của các đồng chí thì các đồng chí không phải là người Việt Nam”.
Bình luận về lập luận này Trung tướng Dỹ cho rằng đó là thứ lý lẽ ngụy biện bởi “một cái gì đó hoặc là của anh, hoặc là của tôi, làm gì có chuyện ai cũng nói là của tôi được”.
Cũng trong cuộc gặp này ông Hồ Cẩm Đào còn nói rằng đại ý: “Tôi không thể bỏ đường 9 đoạn được vì đường chín đoạn là cái lịch sử để lại, nếu chúng tôi bỏ nó thì người dân Trung Quốc không theo chúng tôi”.
Đáp lại câu này Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nói: “Các đồng chí nói sai rồi, cái đường đó đâu phải là đường lịch sử để lại. Đường đó là của Tưởng Giới Thạch. Chúng tôi và các đồng chí đều không công nhận Tưởng Giới Thạch vì thế làm sao có thể công nhận sản phẩm của họ!
Nếu các đồng chí nói lịch sử thì lẽ ra phải nói đến “Nhị thập tứ sử” hay “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ”.
Đến đây, Hồ Cẩm Đào chỉ còn biết im lặng…
* “Nhị thập tứ sử” là bộ chính sử được các triều đại Trung Quốc thừa nhận. Bộ sử ký này ghi chép từ Thượng cổ đến thời nhà Thanh. Trong đó các mục Địa lý đều không đề cập đến các hòn đảo ở xa hơn đảo Hải Nam.
* “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” - Tập bản đồ Địa dư toàn đồ tới các tỉnh của TQ được thực hiện dưới thời nhà Thanh, xuất bản năm 1904 trong đó ghi rõ cực Nam của Trung Quốc là đảo Hải Nam
 
( Nguồn : Nguyennguyenbay…)

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 10.07.2014

104 KIỂU HỐI LỘ KHÔNG THỂ NHẬN !

 

Đặng Huy Trứ 

104 KIỂU HỐI LỘ KHÔNG THỂ NHẬN !

 

           Ngô Minh

                              Mình thiệt, lợi dân, DÂN gắn bó

                             Đẽo dân ,mình béo, DÂN căn hờn

                             Hờn căm, gắn bó tùy ta cả

                             Duy chữ THANH, THANH đối thế nhân 

                                    (Đặng Huy Trứ)

          Đó là bốn đề từ cho cuốn sách có một không hai trong lịch sử nước ta :TỪ THỤ YẾU QUY (không thể nhận và có thể nhận). Đặng Huy Trứ  (1825- 1874) là ông quan nổi tiếng triều Nguyễn về đức thanh liêm. Không chỉ liêm khi đương chức, về cuối đời, khi đang bệnh nặng ở Trung Quốc, ông đã dốc hết trí tuệ và sinh lực  để soạn cuốn sách  dày 650 trang  bàn về nạn hối lộ và đức thanh liêm của người làm quan, gọi là Từ thụ yếu quy , rồi tự bỏ tiền túi ra in năm 1868, mong để lại cho đời sau những điều tâm huyết: Muốn làm quan phải luôn luôn tâm niệm có 104 thứ hối lộ không thể nhận. Cuốn sách cũng đưa ra những điển tích, những tấm gương sáng của người xưa về đức thanh liêm (Đọc tiếp…)

Còn cay đắng hơn cả câu chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy

Nguyễn Trung/ Viet-studies

Chẳng lẽ đốn đời đến mức phải nói lời cảm ơn với cái giàn khoan HD 981 hả trời đất!? Tôi cảm thấy xấu hổ trong lòng về ý nghĩ này, và quả thực  trong bụng có lúc tôi đã nghĩ như vậy!  

 

Sự thật là không ít các bạn đồng niên của tôi cũng có cách nghĩ như thế trước một thực tế đau lòng: Hàng chục năm nay, chí ít là từ khi anh Trần Quang Cơ trong cuốn Hồi ức và suy nghĩ  (2001) của mình đã giấy trắng mực đen cảnh báo rành rành trước cả nước về mối họa Thành Đô. Nhưng tất cả cứ như nước đổ đầu vịt! Các lời cảnh báo khác qua mấy khóa đại hội đảng cũng thế… (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 09.07.2014

TẬP CẬN BÌNH

 

Tập Cận Bình là người khát khao đưa nước Trung Hoa trở thành cường quốc số một thế giới. Khẩu hiệu “Giấc mơ Trung Hoa” của ông được người dân Trung Quốc hưởng ứng. Thế nhưng, đợt thanh trừng phe đối lập, dưới danh nghĩa chống tham nhũng “bắt cả hổ lẫn ruồi” của ông chỉ lừa được những người dân nhẹ dạ. Một phong trào chống đối âm ỉ, phát triển nhanh đến chóng mặt khiến ông vô cùng lo lắng.

Ông triệu tập một cuộc họp Bộ chính trị mở rộng có nội dung rất trực tiếp là: “Bàn về chống diễn biến hòa bình, cứu vớt sự sụp đổ tất yếu của chính thể!”.

Ông có hai người con trai: Tập Cận Đại hiện sống ở một nước tư sản và Tập Cận Thắng đang làm trợ lý cho ông. Cả hai đều được đặc cách mời dự.

Mở đầu cuộc họp ông nói ngắn gọn: “Hôm nay tôi cho phép mọi người nói thẳng những suy nghĩ của mình, ngay lập tức chúng ta phải làm một điều gì đó, căn cốt, nếu không trong vòng không tới 5 năm nữa, chế độ này sẽ tiêu tan và viễn cảnh là tất cả chúng ta ngồi đây, hoặc phải sống lưu vong, hoặc phải chịu chung số phận như Gaddafi”.

Mọi người ngồi im theo thói quen, song cũng muốn dò xem người đang nắm mọi quyền lực của Đảng, có thực sự muốn nghe lời nói thẳng hay không. Không khí mỗi giây lại căng thêm tưởng như có người điếc nhạc đang lên dây đàn.

Phựt! Dây đàn đứt chăng?

Không! Đó là phát biểu của Tập Cận Đại, một kẻ có vẻ ít quan tâm đến cái ghế của cha.

-      Tôi nghĩ chúng ta phải tam quyền phân lập thôi!

Lại im lặng. Ai cũng hiểu chỉ cần tính toán sai, nói hớ một câu biết đâu số phận lại chẳng giống như ông chú rể của cậu Ủn khùng bên Bắc Hàn.

Thực ra, trước đó ông Tập đã bí mật gặp riêng Tập Cận Đại. Chúng ta nghe chuyện này thì biết cha con họ thế nào.

Ông Tập hỏi.

-      Tài khoản của con được bao nhiêu rồi?

-      Mới bằng của thằng Gaddafi.

-      Trời! Nó ở một nước nghèo mạt rệp…

-      Ba mới lên mà…

-      Ờ… cũng phải!

Nói rồi ông Tập vỗ vai con, căn dặn: “Nhớ làm thân với tổng thống các nước, nhất là các nước tư bản, nghe!”.

Và chuyện này chỉ có ông biết, nó biết, trời biết.

Chúng ta trở lại cuộc họp.

Thấy con nói vậy, thừa hiểu các đồng chí của ông lo lắng những gì, Tập Cận Bình thủng thẳng nhận xét, cốt để kích động không khí tự do vốn là thứ tuyệt đối không có trong những cuộc họp Đảng, chẳng khác mấy các triều đình phong kiến trước đó.

-      Đó là một phương án không tồi!

Sau câu đó của ông Tập, bộ trưởng Công an, như người mót trung tiểu (ghi chú: là rắm! – hết ghi chú) nhịn, dồn nén đã lâu, bục ra:

-      Dân sắp hóa điên rồi!

-      Thế còn bộ đội? – Tập hỏi.

-      Tôi đã cho treo khẩu hiệu khắp các doanh trại: “Quyết tử cho Đảng quyết sinh!”, Bộ trưởng bộ chiến tranh Nhân dân đáp.

      Ông Tập gật gù:

-      Tốt lắm!

-      Không ăn thua, – ông chủ tịch Quốc hội, nơi tập trung tất cả đại biểu ôsin của dân, nhún vai – dậu đổ bìm leo. Hễ có động là binh lính họ… ai muốn bắn vào cha mẹ mình chứ?

Tất cả lại chìm vào im lặng. Ông trưởng ban Tuyên huấn rụt rè:

-      Tôi nghĩ nhân mới nhậm chức, đồng chí nên có thông điệp đầu năm nói mấy câu phỉnh phờ để yên lòng dân.

-      Việc đó nên làm nhưng bọn trí thức nước mình chó lắm – Ông thủ tướng nhăn nhó – Toàn nuôi ong tay áo. Hàng năm chi cho chúng biết bao tiền, thế mà… Chúng toàn lợi dụng mạng méo diễn biến hòa bình ghê lắm!

-      Bọn ăn cháo đá bát ấy, cứ nhập kho tuốt! – Ông trưởng ban Nội chính Trung ương gầm gừ.

-      Nhưng, Tập Cận Đại vẫn khẳng khái – Tôi vẫn cho là gì thì gì ta không tam quyền phân lập là không xong!

Ông Tập cố tỏ ra nhẹ nhàng:

-      Các đồng chí thấy sao?

-      Đừng dại! – ông trưởng ban tổ chức Trung ương – Cả bộ máy lâu nay quen thế rồi… Tam quyền phân lập chính là nút nhấn của cái máy chém. Không khéo ta nhấn nút chém chính mình!

Mọi người lại ngồi yên. Ông trưởng ban soạn thảo Hiến pháp mới, tỏ vẻ lo ngại:

-      Thưa đồng chí, có một điều khá hệ trọng, nhiều người đề nghị bỏ điều 1 trong Hiến pháp nói về sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản.

-      Không! – ông Tập khẳng định – Nếu có thể ta cứ cho tam quyền phân lập, tự do dân chủ, thậm chí có thể cho biểu tình, nhưng nhất định không thể bỏ điều 1 được.

Ông chủ tịch Quốc hội băn khoăn:

-      Nhưng bọn dân chủ bảo điều này phủ nhận tất cả những điều khác.

-      Nếu cần thì bỏ cũng được. Thậm chí bỏ, và cho trưng cầu dân ý… càng hay!

Khiếp, ai mà dám trái lời ông Tập vào lúc này chứ. Nhìn ra mới biết đó chính là cậu con trai Tập Cận Thắng thư ký riêng của ông.

-      Cái gì?

-      Hả?

-      Cậu nói sao?

Mọi người hốt hoảng, căng thẳng. Câu hỏi dồn dập. Người bật ra mồm, người tóe ra mắt.

-      Hiến pháp là con mẹ gì? – Tập Cận Thắng lạnh lùng, trong giọng nói tỏa ra luồng tử khí – Từ lâu nay, bao nhiêu điều có trong hiến pháp mình chẳng thực hiện, ai làm gì nào?

-      Hay!

Hứng chí ông Tập, đập bàn cái “phập!” (tiếng động nghe y như… xem ghi chú ở trên, hết ghi chú).

Ông chỉ Tập Cận Thắng:

-      Tôi tuyên bố thằng này làm thái tử. Thôi, giải tán!

( Nguồn :nguyentrongtao)

 

 

Từ điều 9 Hiến pháp Nhật đến hợp tác hàng hải Nhật – Việt – Philippines

Hà Văn Long – Huỳnh Tâm Sáng/Một thế giới

Đã có những ý kiến về một liên minh pháp lý, nâng cấp mối quan hệ đối tác chiến lược, hợp tác quân sự chung giữa Nhật Bản và Việt Nam, Philippines. Việc Trung Quốc ngày càng quyết đoán hơn trong chính sách tại biển Đông, khiến nhiều quốc gia khó có thể “ngồi im”.

Tâm lý lo lắng bao trùm, chủ nghĩa dân tộc của các quốc gia nổi lên, tăng cường chạy đua vũ trang, khiến an ninh của khu vực nói chung và an ninh hàng hải nói riêng đang đứng trước một thách thức. Hệ quả có thể dẫn đến một sự phân chia quyền lực trong khu vực được coi là tương lai của thế giới.
Các nước nhỏ đang bị Trung Quốc bắt nạt, đặc biệt là Philippines và Việt Nam hiểu rằng để đối phó với một “con rồng hung hăng”, ngoài việc tăng cường sức mạnh trong nội tại của quốc gia, việc hợp tác với những nước đang có chung vấn đề với nhau sẽ giúp họ có thêm những sức mạnh cần thiết và kịp thời để đối phó với những thách thức an ninh chung của khu vực. 
 
Và một nước lớn đang cùng có chung vấn đề đó, không ai khác chính là Nhật Bản.
 
Vai trò an ninh mới của Nhật Bản 
 
Đối với Nhật Bản, ngoài những tranh chấp đơn thuần với Trung Quốc trên biển Hoa Đông thì biển Đông chính là con đường sinh mệnh của họ. 
 
Cục phòng vệ Nhật Bản (bây giờ là Bộ Quốc phòng Nhật Bản) tuyên bố: “Đông Nam Á, trong đó có eo biển Malacca, biển Đông, vùng biển gần Philippines và Indonesia, vô cùng quan trọng đối với việc vận chuyển tài nguyên thiên nhiên đến Nhật Bản, khu vực này là điểm then chốt để liên kết giao thông giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương”. 
 
Vì vậy, bất cứ một xung đột lớn nào tại đây đều sẽ làm gián đoạn tuyến đường cung cấp dầu khí cho Nhật Bản, trực tiếp tác động tới sự sống còn của nền kinh tế, chính trị và an ninh của Nhật Bản.
 
Cùng với đó, trước những biến động lớn của tình hình thế giới và khu vực, Nhật Bản đang muốn thoát khỏi cái bóng của “kẻ thua trận” trong thế chiến thứ hai, để đảm nhận một vị trí cao hơn trong nền an ninh, chính trị khu vực cũng như toàn cầu.
 
Điều 9 trong “Chương II: Phủ nhận chiến tranh” nêu rõ: “[…] Nhật Bản sẽ không bao giờ duy trì các lực lượng lục quân, hải quân, không quân hay các tiềm năng quân sự khác. Quyền tham chiến không được công nhận”. Đây là rào cản quá lớn đối với Nhật Bản từ năm 1947. Đó là lý do từ sau thế chiến II, Nhật Bản vẫn phải chịu “lép vế” hơn so với Trung Quốc về mặt quân sự.
 
Thủ tướng Abe giữ vai trò quan trọng trong quyết định tu sửa chính điều 9 của Hiến pháp. Những năm gần đây, ông Abe và những người ủng hộ luôn đề cao thuyết “hòa bình tích cực” (active pacifism). Điều 9 của Hiến pháp với ý nghĩa nhất định sẽ cản trở khả năng này. Hiển nhiên, theo điều 9 thì Nhật sẽ không thể đánh chặn tên lửa nhằm vào Mỹ hoặc bảo vệ tàu của một đồng minh đang bị tấn công. Khi đó, mối đe dọa cho đồng minh sẽ là mối đe dọa cho Nhật.
 
Ngoài ra, Tokyo cũng luôn giữ thái độ thận trọng với đồng minh chiến lược Washington. Mặc dù các cam kết vẫn luôn hiện hữu nhưng không ai đảm bảo Mỹ sẽ hỗ trợ Nhật tích cực khi Senkaku/ Điếu Ngư bị đe dọa. Nếu chính Nhật Bản không thể hiện vai trò chủ động, Mỹ cũng chẳng mặn mà gì đánh cược quan hệ Mỹ – Trung khi xung đột Trung – Nhật diễn ra xung quanh Senkaku/ Điếu Ngư. Quan hệ “đồng minh kiềm chế” của Mỹ đã buộc Nhật phải chủ động và tránh làm phật lòng “quan thầy” của mình. 
 
Sáng ngày 1.7, Dự thảo Nghị quyết cho phép Nhật Bản sử dụng quyền “tự vệ tập thể” (collective self defence) đã được thông qua. Điều này đồng nghĩa với việc Nhật Bản không còn bị ràng buộc bởi điều 9 của Hiến pháp chủ hòa. 
 
Từ đây, Nhật Bản từ chấp nhận quyền tự vệ (sử dụng vũ lực với mức độ tối thiểu) khi bị tấn công đã có thể chủ động bảo vệ đồng minh khỏi các mối đe dọa từ bên ngoài lãnh thổ. Động thái này được xem là một cuộc cách mạng cả trong chính trị đối nội và đối ngoại của Nhật.
 
Theo cách giải thích mới, quân đội Nhật Bản sẽ có thể trợ giúp trong trường hợp quân đội Mỹ bị tấn công bởi một kẻ thù chung, ngay cả khi Nhật Bản không phải là đối tượng của cuộc tấn công đó. Việc giải thích lại Hiến pháp vừa là động thái ôn hòa khả dĩ mà ông Abe có thể tìm đến như một cứu cánh trong bối cảnh an ninh Đông Bắc Á đang như chỉ mành treo chuông.
 
Khao khát khôi phục vị thế “cường quốc bình thường” đã buộc Nhật phải toan tính kỹ lưỡng. Những động thái của Trung Quốc gia tăng căng thẳng tại biển Đông và biển Hoa Đông từ năm 2007 đến nay chính là “phép thử” cho ông Abe. Nhật Bản đã nhanh chóng chớp lấy cơ hội khi lợi dụng “lực cản” từ Trung Quốc để tạo “lực đẩy” cho ý thức tự chủ, ý nguyện an ninh và nhu cầu tăng tường quan hệ đồng minh chiến lược Mỹ – Nhật. 
 
Thực tế, Nhà trắng cũng đã “bật đèn xanh” cho Nhật khi Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ Jen Psaki tuyên bố vào cuối tháng 6.2014 rằng luôn “khuyến khích Nhật Bản trang bị quyền tự vệ cho họ một cách minh bạch và sẽ vẫn hợp tác với nhau về những vấn đề quan trọng khác”.
 
Liên minh hàng hải Nhật Bản – Việt Nam – Philippines 
 
Qua việc “diễn dịch lại hiến pháp ”, thông điệp mà Nhật truyền đi cho Trung Quốc hẳn sẽ là “con giun xéo lắm cũng quằn”. Mặc dầu giải pháp quân sự cần hội tụ đủ 3 điều kiện (i) một đe dọa thực sự với nhà nước Nhật Bản, (ii) mối nguy hiểm rõ ràng tới quyền sống, tự do, theo đuổi hạnh phúc người dân Nhật và (iii) không còn một giải pháp thay thế nào khác, nhưng rõ ràng đây là một nỗ lực mang tính quyết đoán của nội các Thủ tướng Abe. 
 
Từ sự quyết đoán của Nhật, những quốc gia như Việt Nam và Philippines sẽ có thể xem đây là gợi mở để có cách tiếp cận quả quyết và khéo léo hơn với Trung Quốc xung quanh vấn đề biển Đông, đặc biệt trong việc hình thành một liên minh hay hợp tác về an ninh hành hải.
 
Trong hợp tác này, Nhật Bản là nước duy nhất có đủ khả năng để hỗ trợ cho Việt Nam và Philippines trang thiết bị kỹ thuật nhanh nhất, kịp thời nhất để đảm bảo an ninh hàng hải. Đồng thời điều này phù hợp với một chiến lược lâu dài của Nhật Bản nhằm tăng cường vai trò của nước này.
 
Việt Nam và Nhật Bản đang có mối quan hệ ngày càng sâu sắc với nhiều chuyến thăm cấp cao từ hai phía trong thời gian qua. Việt Nam là nước không có mâu thuẫn về lãnh thổ với Nhật Bản, sẵn sàng chia sẻ quan điểm với Nhật Bản trên nhiều vấn đề. Nhật Bản mong muốn nhận được sự ủng hộ tích cực từ các nước trong khu vực về mặt chính trị. 
 
Từ tầm nhìn đó, chính phủ Nhật Bản đã bước vào một cuộc thảo luận về quyền phòng thủ tập thể, có ý kiến cho rằng khi quyền phòng thủ tập thể được áp dụng, Nhật Bản có thể trợ giúp Việt Nam trước động thái cứng rắn của Trung Quốc. 
 
Đây là điều hoàn toàn hợp lý về nguyên tắc, nhưng việc trợ giúp có thực hiện được hay không lại là vấn đề khác. 
 
Nếu Nhật Bản chủ trương công khai hỗ trợ Việt Nam có thể khiến Bắc Kinh nổi giận và sẽ đáp trả Nhật Bản, đó còn chưa kể đến rào cản trong những quan điểm khác nhau đến từ giới chính trị Nhật Bản. 
 
Do đó, trong chiến lược sắp tới Tokyo có thể sẽ từng bước hỗ trợ và hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực an ninh. Trong đó điểm bắt đầu là tăng cường năng lực của Việt Nam trong việc đảm bảo an ninh hàng hải tại tuyến đường “sinh mệnh” trên biển của Nhật Bản bằng việc huấn luyện lực lượng bảo vệ bờ biển và chia sẻ thông tin, cung cấp các tàu tuần duyên cho lực lượng cảnh sát biển, kiểm ngư Việt Nam. 
 
Bên cạnh đó, quan điểm hiện nay của Việt Nam rõ ràng: “Việt Nam luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó” (Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng). 
 
Việc Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng biển Việt Nam đã khiến quan hệ Việt – Trung ngày càng xấu đi, những cuộc đụng độ, va chạm trên biển khiến an ninh hàng hải đang bị đe dọa nghiêm trọng. Trong bối cảnh đó, Việt Nam nhận ra rằng, lực lượng kiểm ngư, cảnh sát biển cần phải tăng đầu tư nhanh, cường mạnh mẽ hơn nữa để đối phó với các thủ đoạn từ Trung Quốc hiện tại và tương lai.
 
Philippines cũng đang có cùng một nỗi lo ngại với Việt Nam và Nhật Bản. Hiện nay quan hệ giữa hai nước đang thực sự khởi sắc trong quan hệ chiến lược do tác động của nhận thức chung về mối đe dọa từ Trung Quốc và các quan ngại về chính trị và kinh tế trong nước.
 
Với sự cầm quyền trở lại của Thủ tướng Shinzo Abe, Nhật Bản đang thực hiện hình ảnh về một cường quốc “toàn diện” trong khu vực và Philippines có thể đóng một vai trò quan trọng trong chiến lược đó. Trong khi đó, Manila đang đẩy mạnh quan hệ đối tác với các đồng minh trong khu vực, bao gồm cả Nhật Bản, nhằm tăng cường tiềm lực quốc phòng của mình, đồng còn ủng hộ mạnh mẽ Nhật Bản tái vũ trang, thoát khỏi ràng buộc của Hiến pháp hòa bình để trở thành một yếu tố cân bằng quan trọng trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. 
 
Những bước đi cụ thể
 
Việc chuyển giao 10 tàu tuần tra mới cho Philippines đã thể hiện một chiến lược của Nhật Bản nhằm tăng cường sức mạnh hàng hải. Mặc dù nó sẽ không làm nghiêng quá mức cán cân hải quân ở biển Đông nhưng nó sẽ nâng cao nhận thức về biển của Philippines và thúc đẩy các thương lượng chiến lược của Nhật Bản trong khu vực Đông Nam Á.
 
Lực lượng Bảo vệ Bờ biển của Philippines có thể giúp Nhật Bản bằng cách giám sát các hoạt động hàng hải của Trung Quốc ở biển Đông. Đối với Nhật Bản, biển Đông là một trường hợp thử nghiệm về cách hành xử của Trung Quốc trong cuộc tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư. Hơn nữa, Nhật Bản thấy rằng bằng cách tăng số lượng tàu có sẵn mà Philippines có thể sử dụng trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, sự tập trung và nguồn lực của các cơ quan hàng hải Trung Quốc sẽ có khả năng bị phân tán giữa biển Hoa Đông và biển Đông. 
 
Ngoài ra, tăng cường năng lực cho các lực lượng biển không được trang bị tốt của Philippines cũng sẽ cho phép nước này đóng góp vào việc bảo vệ tự do hàng hải ở biển Đông, bao gồm cả tuyến đường biển không bị cản trở của Nhật Bản.
 
Song song với hợp tác an ninh hàng hải với Nhật Bản, Việt Nam và Philippines đang tiến hành những bước đi cần thiết để cùng nhau bảo vệ các nguồn lợi thủy sản, chống lại các hoạt động phi pháp trên biển và sự xâm nhập các vùng lân cận giữa hai nước.
 
Trong chuyến thăm làm việc của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng tại Philippines và dự Diễn đàn Kinh tế thế giới về Đông Á 2014 (WEF Đông Á 2014), Tổng thống Aquino khẳng định: “Hai nước đã đối mặt với thách thức chung với tư cách là quốc gia biển và thành viên của ASEAN. Việc tăng cường hợp tác giữa Philippines và Việt Nam sẽ cho phép chúng ta bảo vệ tốt hơn các nguồn lợi thủy sản của mình. Chúng ta tiếp tục theo đuổi các chiến lược giúp tăng trưởng và vì lợi ích của người dân và khu vực”.
 
Còn Thủ tướng Việt Nam đã phát biểu rằng: “Chúng tôi cũng tái khẳng định hợp tác biển là một trụ cột trong quan hệ hai nước; nhất trí tiếp tục thường xuyên trao đổi, phối hợp, hợp tác có hiệu quả tại các cơ chế song phương như Ủy ban Hỗn hợp về hợp tác biển và đại dương, nhóm chuyên gia pháp lý về các vấn đề hợp tác trên biển; thúc đẩy hợp tác trong nghiên cứu khoa học biển, khí tượng, thủy văn và bảo vệ môi trường biển”.
 
Việc hai nước đều là thành viên của ASEAN và cũng đang đứng trước những thách thức nghiêm trọng từ phía Trung Quốc, việc hợp tác hỗ trợ lẫn nhau trở thành việc cấp bách. Đã có những ý kiến về một liên minh pháp lý, nâng cấp mối quan hệ đối tác chiến lược, hợp tác quân sự thông qua việc cho mượn hoặc mua một số các vũ khí đã qua sử dụng hay khả năng đào tạo nhân sự và diễn tập quân sự chung giữa Nhật và Việt Nam, Philippines. 
 
Nhưng quan trọng nhất trong bối cảnh một Trung Quốc trỗi dậy “không hòa bình” là các quốc gia chịu ảnh hưởng đang cần một cuộc cách mạng về tư duy, trong việc nhìn nhận và đánh giá lại các mối quan hệ khu vực và quốc tế. 
 
Sự ủng hộ lẫn nhau đang diễn ra trong bối cảnh khu vực Đông Á đang đứng trước nhiều thách thức về an ninh, đặc biệt là an ninh hàng hải. Nhật Bản và Philippines đã đi trước về quân sự và pháp lý vậy Việt Nam chúng ta còn chờ đợi gì?

Theo Một thế giới

 

 

 

Cố Tổng bí thư Lê Duẩn: “Chúng ta không được phép sợ Trung Quốc”

Trên cương vị là Bí thư thứ nhất và sau đó là Tổng Bí thư suốt 26 năm, ông Lê Duẩn đã để lại nhiều di sản cho lịch sử Việt Nam. Có thể người ta còn tranh cãi về ông ở vài vấn đề, nhưng công lao to lớn trong sự nghiệp giải phóng và thống nhất dân tộc cũng như ý chí kiên cường và tinh thần cảnh giác cao độ trong việc chống lại chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc, thì có lẽ ít người nghi ngờ…
“Chúng ta không được phép sợ Trung Quốc”
 
Bài học lớn về Trung Quốc
Trước hiệp định Geneva, ông Lê Duẩn là người lãnh đạo phong trào cách mạng ở miền Nam. Như nhiều nhà lãnh đạo của Việt Nam khi ấy, ông thực sự tin Trung Quốc là người anh em, đồng chí thực sự của cách mạng Việt Nam.
Năm 1954, Hiệp định Geneva được ký kết đã bẻ ngoặt nhận thức của ông về mối quan hệ với Trung Quốc. Nhà thơ Việt Phương, thư ký của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng kể:
“Khi bàn thảo về Hiệp định Geneva, Bộ Chính trị của ta chỉ đồng ý lấy vĩ tuyến 16 là ranh giới cuối cùng của khu phi quân sự tạm thời giữa hai miền Nam – Bắc trong thời gian chờ tổng tuyển cử. Nhưng Trung Quốc với sự ảnh hưởng của mình, đã khăng khăng ép ta phải đồng ý chọn vĩ tuyến 17. Khi chúng ta bàn bạc vấn đề này với Trung Quốc, họ đã nói: “Chúng tôi là tướng ngoài mặt trận. Các đồng chí hãy để cho chúng tôi tùy cơ ứng biến”. Khi nói như thế, người Trung Quốc đã tự cho mình quyền định đoạt số phận của người Việt Nam”.
Thời điểm đó, ta đã kiểm soát phần lớn vùng Nam bộ, ngoại trừ một vài đô thị nhỏ. Ở miền Bắc, ta chiến thắng vang lừng ở Điện Biên. Nhưng Trung Quốc đã bắt ta phải ký một hiệp định chia cắt đất nước – một hành động mà sau này như nhiều người nói: “người anh lớn” đã phản bội lại “người em” của mình.
Sau khi hiệp định được ký,  trên đường từ Bắc vào Nam,  nhìn những quân dân miền Nam giơ 2 ngón tay chào nhau, vừa là biểu tượng victory  – chiến thắng, vừa là lời hẹn 2 năm sau sẽ đoàn tụ, ông Lê Duẩn đã khóc. Ông hiểu, sẽ không bao giờ có tổng tuyển cử, sẽ không bao giờ chỉ là 2 năm…Rồi đây đất nước sẽ còn bị chia cắt rất lâu vì Hiệp định Geneva năm đó.
Sau đó, khi chia tay Lê Đức Thọ ra Bắc tập kết, ông Lê Duẩn đã nói với người đồng chí của mình một câu rất nổi tiếng: “Anh ra nói với Bác, 20 năm nữa tôi mới được gặp Bác”.
Rất trùng hợp, 20 năm sau, đất nước thống nhất. Nhưng quan trọng hơn, đó là lần ông Lê Duẩn thực sự thấy thấm thía nhất về nỗi đau chứng kiến đất nước ông đã bị người anh em Trung Quốc phản bội. Năm 1972, trong một cuộc trò chuyện với Chu Ân Lai, nhắc lại về Hiệp định Geneva, ông Lê Duẩn đã  không ngần ngại lên án: “Năm đó, người Trung Quốc các anh đã bán đứng chúng tôi trên bàn đàm phán”.
Dù là năm 1954 hay năm 1972 hay sau này, dù là lúc đang lãnh đạo cách mạng miền Nam hay khi đã ra Bắc lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, kể cả khi đất nước đã thống nhất, chưa một phút giây nào, TBT Lê Duẩn quên bài học đó.

“Chúng ta không được phép sợ Trung Quốc”
Khi còn sống, TBT Lê Duẩn luôn cho rằng, hiểu Trung Quốc là chuyện sống còn của dân tộc Việt Nam, khi mà lịch sử địa lý, trớ trêu thay đã khiến ta mãi mãi phải là láng giềng của họ. Mà để hiểu người Trung Quốc nhất định phải hiểu được những đặc tính của dân tộc Việt Nam.
Đắm chìm vào trong dân tộc để hiểu cái ở ngoài dân tộc và giữ dân tộc là cách mà TBT Lê Duẩn đã làm khi ở cương vị người đứng đầu đất nước.
Trong suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, nhân danh việc chi viện, giúp đỡ chúng ta, rất nhiều lần Trung Quốc lồng ghép vào đó những toan tính riêng của họ. Có lần Trung Quốc đề nghị cho chúng ta 500 chiếc xe vào Trường Sơn với điều kiện kèm lái xe của họ. Nhưng TBT Lê Duẩn không nhận bất cứ một chiếc xe nào.
Có người trong Bộ Chính trị đề nghị “sao ông không nhận một vài chiếc cho người ta vui?”, nhưng TBT Lê Duẩn vẫn kiên quyết giữ lập trường của mình: “Chừng nào tôi còn ngồi đây, thì tôi không cho một kẻ nào nghĩ trong đầu rằng có thể cướp được đất nước Việt Nam này”.
Hẳn là  vì hiểu rõ dân tộc, mà ông đã không quên rằng, Trung Quốc từng mượn đường vào đánh Chiêm Thành thời nhà Trần, rồi từng lấy cớ vào giúp vua Lê Chiêu Thống để kéo quân vào Hà Nội. Như một nhà nghiên cứu về quan hệ Việt Nam với Trung Quốc đã từng nhận xét về ông: “Với TBT Lê Duẩn, cái gì nhịn được thì nhịn, nhưng ông tuyệt đối không bao giờ nhượng bộ những điều quá đáng, nguy hại cho an ninh quốc gia”.
Điều mà TBT Lê Duẩn vẫn thường cố gắng cắt nghĩa là tại sao Trung Quốc đô hộ Việt Nam 1.000 năm mà không đồng hóa được ta? Bởi 1.000 năm là quá dài, và người Trung Quốc chưa bao giờ giấu diếm tham vọng ấy suốt những thời kỳ họ cai trị Việt Nam. Trong lịch sử, nhiều dân tộc khác bị đồng hóa rất dễ dàng chỉ với vài trăm năm, nhưng sự khác biệt của người Việt Nam đã khiến dân tộc này thoát khỏi quy luật đáng sợ đó.
Có rất nhiều thứ người Trung Quốc cho là chân lý, nhưng người Việt Nam không chấp nhận. Người Trung Quốc dùng đạo Khổng để giáo dục người dân. Người Trung Quốc dạy: “Tại gia tòng phụ”, nhưng người Việt Nam nói: “Con hơn cha là nhà có phúc”. Người Trung Quốc nói “xuất giá tòng phu”, người Việt Nam lại cho rằng “Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn”.
Và ông Lê Duẩn luôn nhìn thấy, qua những khác biệt đó người Việt Nam vừa để dạy mình, vừa thể hiện sự phản kháng với tư tưởng đó, và sâu sa hơn là phản kháng sự đồng hóa mà người Trung Quốc cố tình áp đặt lên số phận của dân tộc Việt Nam. Sự phản kháng này nằm sâu trong mầm mống tồn tại của dân tộc, khiến sức mạnh đồng hóa của người Trung Quốc không đâm thủng được. Trung Quốc ngày đó bắt người phụ nữ bó chân, nhưng người Việt Nam không bao giờ đồng ý.  Với người Việt Nam, để sinh tồn thì bàn chân là phải vững chắc trên mảnh đất này. Đó là một nền tảng văn hóa vô cùng Việt Nam, tự thân người Việt Nam và nó đối chọi hoàn toàn với người Trung Quốc.
Dường như, khi hiểu được truyền thống ấy và sức mạnh phản kháng ấy của dân tộc, TBT Lê Duẩn đã luôn có tự tin khi đứng trước những nhà lãnh đạo Trung Quốc, đứng trước sức mạnh của người Trung Quốc, trong rất nhiều giai đoạn thăng trầm của mối quan hệ giữa hai nước.
Một lần, khi ra ngoài Bắc bàn về đấu tranh miền Nam, ông Lê Duẩn nói: “Thưa Bác, chúng ta muốn thắng Mỹ, có một điều rất quan trọng là chúng ta phải không được sợ Mỹ, nhưng cũng không được sợ Trung Quốc và không được sợ Liên Xô”.
Có người trong Bộ Chính trị phản đối ý kiến đó. Nhưng ông Nguyễn Chí Thanh đã đứng lên ủng hộ: “Thưa Bác, việc anh Ba nói vậy là vô cùng cần thiết và nhất định phải như vậy chúng ta mới thắng được”.
Cả Bộ Chính trị vỗ tay hoan hô ý kiến đó. Chỉ tiếc là đến giờ những văn bản họp Bộ Chính trị khi đó hầu như vẫn chưa được công bố, khiến những câu chuyện này không thực sự được biết rộng rãi trong dân chúng.
Điều khiến nhiều người suy nghĩ là những năm tháng đó, trong lúc khó khăn nhất, khi mà chúng ta đang dựa vào họ, thành bại của cuộc chiến tranh phụ thuộc một phần không nhỏ vào sự ủng hộ của họ, nhưng TBT Lê Duẩn vẫn biết cách giữ được vị thế của mình với những nhà lãnh đạo Trung Quốc.
Ông cũng rất khéo léo giữ được độc lập của đất nước mà vẫn khiến Trung Quốc duy trì sự ủng hộ với Việt Nam trong một giai đoạn dài. Cái ý thức “không sợ Trung Quốc” ấy có lẽ đã khiến TBT Lê Duẩn dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, cũng luôn ở thế ngang bằng với những lãnh đạo Trung Quốc như Chu Ân Lai, Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình. Nhưng cũng chính vì tư tưởng đó, TBT Lê Duẩn đã trở thành nhà lãnh đạo Việt Nam khiến Trung Quốc e dè, nếu không muốn nói là “gai mắt” nhất trong giai đoạn ấy.
Nhà thơ Việt Phương từng kể một câu chuyện: “khi Bác Hồ đang chữa bệnh ở Trung Quốc, TBT Lê Duẩn có chuyến thăm Trung Quốc và ở gần nơi Bác chữa bệnh. Bác Hồ lúc đó đã  bảo với ông Lê Duẩn: “Chú Ba đến ăn cơm với Bác. Chắc là họ chưa đến mức có ý định giết Bác. Bác đã rất nghi ngại việc TBT Lê Duẩn ở một mình có thể có những chuyện không hay và tìm cách giữ an toàn cho ông bằng mọi cách”.
Từ năm 1976, khi ta căng thẳng với Trung Quốc, mỗi lần sang Trung Quốc, khi những người lính cần vệ của TBT Lê Duẩn đưa dụng cụ đo phóng xạ vào phòng ông kiểm tra, bao giờ độ phóng xạ cũng ở mức kịch kim. Có người lính cận vệ đã đề nghị ông đổi phòng vào ban đêm một cách bí mật. 1 năm sau đó, người lính cận vệ đó bị ung thư máu qua đời, dù trước đó rất khỏe mạnh. Đó có thể chỉ là một sự trùng hợp, nhưng cũng có thể không…
2 tháng qua, khi Trung Quốc ngày càng tráo trở và ngang ngược ở biển Đông, với tham vọng bá quyền không giấu diếm, rất nhiều người dân Việt Nam nhớ về vị TBT mà lịch sử đã nhìn nhận là người có đường lối cứng rắn nhất với Trung Quốc.
Có lẽ ngày hôm nay, với vấn đề biển Đông, người Việt Nam chúng ta sẽ phải nhớ lại câu nói của cố TBT Lê Duẩn và bài học mà ông đã để lại: “Chúng ta, bằng bất cứ giá nào, cũng không được phép sợ Trung Quốc”.

(Theo Một Thế Giới)

 

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 08.07.2014

HOA Ở CỬA LÒ

 

HOA Ở CỬA LÒ

 

Tặng H

 

Ngàn dặm anh về Cửa Lò say

Hoa thơm môi mắt gọi đêm ngày

Thơ đọc cạn lòng chưa nói hết

Chút tình chưa chớm đã ngất ngây

 

Cửa Lò hoa sóng nở trắng trời

Hoa mưa hoa nắng nụ còn tươi

Đảo Ngư đảo Mắt như hoa biển

Một phút bên nhau dấu cát cười

 

Cửa Lò hai mảnh nghiêng trời đất

Sóng liếm thịt da biển dâng mời

Sốt sắng anh cùng hoa nâng chén

Rượu buồn rượu đắng rượu chia phôi

 

Mai về phố nghèo  không còn rượu

Tim anh thành bình cắm hoa em

Nõn nà cho tới trăm năm nữa

Hoa vẫn là  hoa Cửa Lò xinh

 

Cửa Lò 29-6-2014

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 07.07.2014

Nhà văn Tô Hoài qua đời

 

Nhà văn Tô Hoài qua đời

 

(TNO) Nhà văn Tô Hoài, tác giả của tác phẩm nổi tiếng Dế Mèn phiêu lưu ký đã qua đời vào sáng 6.7, hưởng thọ 94 tuổi.
 alt
Nhà văn Tô Hoài tại Đại hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội 2011 – Ảnh: Việt Chiến
Theo thông tin từ gia đình nhà văn Tô Hoài, cây đại thụ của văn học Việt Nam đã trút hơi thở cuối cùng tại nhà riêng ở khu tập thể Nghĩa Tân (Hà Nội), sau thời gian dài chống chọi với nhiều căn bệnh khác nhau.
Được biết, do tuổi cao, nhà văn Tô Hoài đã phải nhiều lần “vào ra” bệnh viện. Có lần, ông từng đùa: “Phải dành hết vài trang giấy A4 may ra mới ghi đủ số lần bác vào viện”. Năm 2009, ông từng một lần vượt qua khỏi tình trạng “thập tử nhất sinh” do bệnh hiểm nghèo.
Nhà văn Tô Hoài sinh năm 1920, tên khai sinh là Nguyễn Sen, quê nội ở huyện Thanh Oai, Hà Nội. Tuy nhiên ông lớn lên ở quê ngoại là làng Nghĩa Đô, huyện Từ Liêm, Hà Đông (nay thuộc quận Cầu Giấy, Hà Nội).
Ông đến với văn chương ở tuổi thanh niên, lấy bút danh là Tô Hoài, gắn với hai địa danh là sông Tô Lịch và phủ Hoài Đức.
Năm 1941, Tô Hoài sáng tác Dế Mèn phiêu lưu ký, trở thành tác phẩm văn học gắn liền với tuổi thơ của nhiều thế hệ thiếu nhi Việt Nam từ đó đến nay.
Bên cạnh đó, ông còn cống hiến cho nền văn học trong nước hàng trăm tác phẩm đáng quý, thuộc nhiều thể loại khác nhau: truyện ngắn, truyện dài kỳ, hồi ký, kịch bản phim, tiểu luận và kinh nghiệm sáng tác, nổi bật như Xóm giếng, Nhà nghèo, O chuột, Dế Mèn phiêu lưu ký, Núi Cứu quốc, Truyện Tây Bắc, Mười năm, Xuống làng, Vỡ tỉnh, Tào lường, Họ Giàng ở Phìn Sa, Miền Tây, Vợ chồng A Phủ, Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ
Nhà văn Tô Hoài được trao giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học – Nghệ thuật tại đợt đầu tiên vào năm 1996. Tác phẩm gần nhất của ông là Ba người khác, phát hành vào năm 2006.
Hiền Nhi – V.B
(Nguồn :thannienonline)

 

 

Được ưu đãi tột cùng, Formosa đầu tư gì tại Hà Tĩnh?

 TT – Mặc dù đề xuất thành lập khu kinh tế không được chấp nhận, Formosa Hà Tĩnh vẫn đang là dự án được hưởng các ưu đãi đụng trần pháp luật. Để được hưởng ưu đãi đặc biệt như vậy, cho đến nay Formosa đã triển khai đầu tư gì tại Hà Tĩnh? PV Tuổi Trẻ vào tìm hiểu tại “đại công trường” của dự án.

  

Hiện nay tại công trường dự án Formosa có khoảng 24.000 lao động, trong đó có 2.000 lao động nước ngoài, chủ yếu từ Đài Loan với 1.200 người và Trung Quốc khoảng 450 người – Ảnh: Hồng Quý

 

 

Lò gió nóng và lò cao đang được tích cực lắp đặt. Riêng lò cao số 1 này đã hoàn thành 71,5%, dự kiến đi vào sản xuất cho ra các sản phẩm thép vào cuối tháng 5-2015. Ảnh: Đình Dân

 

Với vốn đầu tư gần 10 tỉ USD, cho đến thời điểm này dự án Formosa đã giải ngân hơn 4 tỉ USD. Những thay đổi có thể dễ dàng nhận thấy, từ khu dân cư gần dự án cho đến trung tâm đại công trường này.

Nhà trọ cho lao động nước ngoài

 

Chế tạo và mua bán gang thép

Có 11 ngành nghề đăng ký kinh doanh, một số ngành nghề quan trọng như: chế tạo và mua bán gang thép; kinh doanh cảng; sản xuất ximăng; kinh doanh nhà máy nhiệt điện và nhà máy xử lý nước; xây dựng, lắp đặt, vận hành và kinh doanh nhà máy khí, bán các khí nén và các khí chất lỏng sử dụng trong công nghiệp như oxy, nitơ…; chế tạo, gia công, sản xuất, mua bán và xuất nhập khẩu các sản phẩm liên quan quá trình luyện than cốc, hắc ín, dầu thô nhẹ…

Ngành nghề cuối cùng trong danh mục hoạt động của Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh là kinh doanh bất động sản, quyền sử dụng đất thuộc chủ sở hữu, chủ sử dụng hoặc đi thuê (mã ngành 68100).

 

Từ ven quốc lộ 1A đi một đoạn ngắn, nhiều người có thể vào ngay khu vực bên ngoài của dự án Formosa. Những đoàn xe chở nguyên vật liệu, chở các kiện hàng khổng lồ nối đuôi nhau vào dự án.

Điều thay đổi lớn nhất kể từ khi có dự án này theo nhiều người dân địa phương đó là giá đất ở đây tăng vùn vụt và kèm theo là sự xuất hiện của các phòng trọ dành cho người nước ngoài. “Anh em bọn tôi và nhiều người dân ở Kỳ Anh đã bỏ tiền túi cũng như vay mượn khá nhiều để xây nhà trọ, mua xe chuyên chở phục vụ chuyên gia Trung Quốc và Đài Loan” – anh Hà, một người dân địa phương đang kiếm sống bằng những dịch vụ phục vụ người lao động ở công trường Formosa, cho hay.

Anh Hà cũng cho biết đất nơi đây giờ rất có giá. “Giờ dân ở đây có đất chẳng ai bán. Họ vay tiền xây nhà trọ đón chuyên gia và công nhân cho thuê rồi mở quán nhỏ ngay đó để bán hàng tạp hóa, ăn uống. Nhà nào gấp quá, cực chẳng đã phải bán thì cũng với giá tầm trên 250 triệu một mét dài” – anh Hà cho biết. Một mét dài tương đương 50m2. Tính ra mỗi mét vuông đất ở đây có giá khoảng 5 triệu đồng. Anh Hà cho hay mức này cao gấp nhiều lần so với trước năm 2008. Giá thuê phòng nghỉ khách sạn ở đây cao hơn hẳn giá thuê ngoài trung tâm thành phố Hà Tĩnh và ngang ngửa giá thuê khách sạn 2-3 sao tại TP.HCM.

Đi vào bên trong công trường an ninh được kiểm soát nhiều lớp nghiêm ngặt,  camera ghi hình, tất cả người ra vào đều phải có thẻ. Giữa cái nắng gần 40oC của trời hè miền Trung, hàng chục ngàn chuyên gia, công nhân từ nhiều nước đang gấp rút lắp đặt máy móc, xây dựng hạ tầng.

Gấp gáp trao đổi với chúng tôi qua điện thoại, ông Chu Xuân Phàm – trưởng đại diện của Formosa tại Hà Nội – nói: “Công việc hết sức vất vả. Bây giờ chỉ có làm và làm thôi, không thể nói gì hơn”.

Trong khi đó, theo ông Ngô Đình Vân – phó trưởng Ban quản lý các khu kinh tế tỉnh Hà Tĩnh, dự án đang được xây dựng rất nhanh theo tiến độ mà phía chủ đầu tư Đài Loan cam kết. “Đến nay theo con số từ phía ngành thuế báo lại dựa trên khoản thuế Formosa đóng vào ngân sách, họ đã giải ngân được 3,5 tỉ USD. Còn theo ước tính của chúng tôi, họ đã giải ngân hơn 4 tỉ USD vào Vũng Áng” – ông Vân khẳng định.

Từ số vốn giải ngân đó, đến nay theo đại diện Ban quản lý các khu kinh tế tỉnh Hà Tĩnh, khoảng 65% hạng mục của dự án đã hoàn thành. “Dự án có ba mảng chính là nhà máy nhiệt điện, cảng và tổ hợp gang thép. Tháng 9 này nhà máy nhiệt điện số 1 sẽ phát điện, công suất 150 MW và 11 cầu cảng đã xây xong, có cảng nước sâu đón tàu lớn ra vào. Về tổ hợp gang thép, các hạng mục quan trọng đều đã cơ bản hoàn thành” – ông Vân thông tin.

Trên cơ sở tiến độ xây dựng đó, ông Vân cho biết ông Vương Văn Uyên – chủ tịch Formosa – khẳng định trong năm 2015 sẽ ra mẻ thép đầu tiên.

Chuyên về sản phẩm thép

Ghi nhận thực tế trên công trường cho thấy đã có khá nhiều hạng mục của dự án đang trong giai đoạn hoàn thành. Với diện tích được cấp phép lên đến 2.025ha đất liền nên chúng tôi phải dùng xe máy di chuyển trong nhiều giờ mới có thể tiếp cận hết các khu vực khác nhau của đại công trường này. Từ quốc lộ 1A đi vào là tòa nhà văn phòng lớn đã hoàn thành, chỉ còn vài mảng sân đang lát đá ốp vỉa hè. Sát bên là tòa nhà khách lớn với rất nhiều phòng để phục vụ những đoàn khách số lượng lớn tới đây trong tương lai.

Ngay bên cạnh là các tòa nhà làm chỗ ở cho chuyên gia, được đánh dấu A, B, C, D. Các tòa nhà từ 5-10 tầng này được xây theo kiến trúc châu Âu. Tại khu vực nhà máy chế biến thép, các lò cao đã được lắp đặt đứng sừng sững. Chạy dọc các lò cao là những hệ thống khung thép từ nhà xưởng cán nóng, xưởng luyện cốc, lò vôi và các hệ thống đường dẫn cũng đang được đấu nối. Theo thuyết minh của Formosa, từ lò cao này sẽ cho ra các sản phẩm như phôi thép vuông, phôi dẹt, thép cuộn cán nóng, thép cuộn làm sạch và ngâm dầu, thép kiện cán nóng, băng thép cán nóng.

Để chuẩn bị cho mẻ thép đầu tiên sẽ ra lò vào tháng 5-2015, theo ông Vân, dự kiến trong giai đoạn một sẽ có 6.000 cán bộ công nhân vận hành nhà máy, trong đó 1.000 người từ Đài Loan sang. Số còn lại là lao động VN. Hiện tại phía Formosa đang tuyển lao động và tới thời điểm này đã tuyển được 4.000 người.

Theo giấy phép đầu tư dự án chia làm hai giai đoạn, giai đoạn một có công suất 7,5 triệu tấn/năm, giai đoạn hai 15 triệu tấn/năm và cảng Sơn Dương phục vụ nhà máy gang thép, với tổng vốn đầu tư gần 10 tỉ USD. Cơ cấu sản phẩm nhà máy liên hợp gang thép giai đoạn một với 7,5 triệu tấn gồm: phôi thép vuông 1,5 triệu tấn/năm, phôi dẹt 2,25 triệu tấn/năm, thép cuộn cán nóng 2 triệu tấn/năm, thép cuộn làm sạch và ngâm dầu 450.000 tấn/năm, thép kiện cán nóng 250.000 tấn/năm, băng thép cán nóng 1,05 triệu tấn/năm.

Ông Vân khẳng định hiện nay cơ cấu sở hữu vốn của dự án Formosa không thay đổi, các thông tin chủ đầu tư bán cổ phần cho Trung Quốc là không có thật. Đây là dự án do nhiều cổ đông người Đài Loan sáng lập. “So với bản đầu tiên các cổ đông không có gì thay đổi mà chỉ thay từ 7,9 tỉ lên 10 tỉ USD, đây là những yếu tố tính trượt giá, còn quy mô dự án không có gì thay đổi so với ban đầu. Giờ Formosa đang xin điều chỉnh công suất dự án lên 21,5 triệu tấn thép/năm, tức gấp ba lần so với công suất đăng ký ban đầu cả giai đoạn một và giai đoạn hai chỉ 15 triệu tấn/năm, tương ứng với 28 tỉ USD” – ông Vân cho biết.

Theo thuyết minh của phía Formosa, sản phẩm chủ chốt của họ sắp tới sẽ là các loại thép tấm để phục vụ làm khung sườn ôtô và họ muốn nhắm đến các trung tâm sản xuất ôtô lớn ở Thái Lan, Malaysia.

Nhập máy móc từ Đài Loan, Trung Quốc

Mặc dù Formosa tuyên bố sản phẩm chính của họ sẽ là thép tấm, với dây chuyền sản xuất hiện đại, nhưng theo ghi nhận máy móc thiết bị phục vụ cho dự án chủ yếu từ Trung Quốc. “Công ty chúng tôi nhận bốc dỡ hàng hóa ở cảng Sơn Dương. Hàng nhập về của Formosa phần lớn là hàng có xuất xứ Trung Quốc” – ông Paul Yeh, phó tổng giám đốc Công ty VietGlory đóng tại Kỳ Anh, cho biết.

Theo thông tin từ Chi cục Hải quan Vũng Áng, dự án Formosa bắt đầu nhập khẩu máy móc, thiết bị từ năm 2010. Các mặt hàng này phục vụ chủ yếu cho các dự án lò luyện thép, nhà máy nhiệt điện đang triển khai xây dựng. Trong đó trên 90% được nhập về từ Đài Loan và Trung Quốc, phần còn lại là từ nhiều quốc gia khác như Đức, Bỉ, Úc…

Điều khá bất ngờ là hàng hóa nhập khẩu của dự án Formosa đang được hưởng ưu đãi rất lớn như miễn thuế đối với các mặt hàng tạm nhập tái xuất, chưa kể Formosa là đối tượng đầu tư trong khu vực được ưu tiên nên tiếp tục được miễn thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng tạo tài sản cố định…

Tại khu vực làm thủ tục thông quan, nhân viên ra vào nhộn nhịp. Quan sát trên danh mục hàng nhập khẩu và hàng ngàn tờ khai hải quan trên hệ thống điện tử, có thể thấy máy móc linh kiện nhập khẩu vào dự án Formosa chủ yếu đến từ Đài Loan và Trung Quốc. Ngoài các cấu kiện lớn về máy móc, thiết bị thì cũng có những mặt hàng nhỏ lẻ như bulông, ốc vít để lắp ráp. “Hàng nhập khẩu đầu tư về làm tài sản cố định đối với các hạng mục chính trong dự án Formosa như lò cao, lò luyện, nhà máy thép tới trên 90% là từ Đài Loan, Trung Quốc” – một nhân viên hải quan tại đây cho biết.

ĐÌNH DÂN – HỒNG QUÝ – VĂN ĐỊNH

 

 

( Nguồn :tuoitreonline)

Đăng bởi: Ngô Minh | 06.07.2014

 

Sao lại đi học kẻ thù?

Nguyễn Trọng Vĩnh

 

Đọc bài dưới đây càng thấy con mắt nhìn của nhà ngoại giao kỳ cựu Nguyễn Trọng Vĩnh vẫn giữ được tinh bén như thuở còn đương chức. Cụ đã chỉ ra rất trúng tim đen của “đồng chí Tàu” muốn gấp rút đào tạo thêm vài nghìn tay sai bán nước để tiếp tay cho bước leo thang nguy hiểm trong hành động xâm lược của chúng – theo cách nói rất ý nhị của Cụ: “Họ sẽ giáo dục chính trị, văn hóa Trung Quốc cho [số người này] thấm nhuần tư tưởng và trách nhiệm làm “phiên thần” của “Đế chế Đại Hán tộc”” – mặc dù không một ai tỉnh táo trong 90 triệu con dân Việt không đinh ninh rằng loại người biết “đón bắt cơ hội” này trong hàng ngũ “Đảng ta”, những “chẫu chàng gặp mưa rào”, đến nay cũng đã có dư.

Đặc biệt, vị lão tướng còn nhìn sâu vào bụng dạ của kẻ đã quá nhanh nhảu hưởng ứng “chỉ thị” của tỉnh Quảng Đông, viết ngay công văn gửi các bộ ngành trong cả nước: “Người có “sáng kiến” chủ trương việc đi học này còn có ý tỏ cho “nước bạn” biết là thần phục họ, coi họ là bậc thầy trong công tác và kinh nghiệm hay để mong ông Tập qua đường dây nóng gợi ý với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề cử vào vị trí cao trước Đại hội Đảng Việt Nam khóa XII tới”? Trúng phóc Cụ ơi!

Cuối bài viết của mình, tác giả kết luận: “Trong khi Trung Quốc đang lấn chiếm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của ta, thái độ hung hăng bạo ngược, quyết tâm tiến chiếm biển, đảo của chúng ta và thóa mạ ta “đưa đứa con hoang đãng trở về nhà” mà Đảng, Chính phủ hoặc một nhóm nào đó lại làm những việc có tính chất “làm thân”, “cầu hòa” như nêu trên đây, thì thật là nhục nhã”.

Thưa cụ Vĩnh: chúng tôi thiển nghĩ, nếu các vị ấy cứ nuốt nhục mà làm thì đã đi một nhẽ. Nhưng họ lại coi đây là biểu hiện của liên minh “ý thức hệ”, liên minh giữa hai đảng cộng sản với nhau kia. Mà liên minh “ý thức hệ” thì trớ trêu thay… không liên quan gì đến việc đất nước đang bị lũ nhân danh “ý thức hệ” ở Bắc Kinh thực hiện dã tâm chiếm cướp. Đảng là đảng, cướp là cướp, mặc bọn chúng luôn phân thân từ đảng sang cướp song “Đảng ta” trước sau vẫn “giữ lòng chung thủy”, chỉ tiếp nhận ở chúng phần “đảng” mà thôi. Tài thật! “Biện chứng” đến thế là cùng! Nhưng một “lôgic” như thế theo chúng tôi, chắc chắn sẽ dẫn đến một hệ quả đương nhiên trong nhận thức; ấy là: “Đảng ta” giờ đây không chỉ đang mất hết tính chính danh mà cũng đang đánh mất cả cái tư thế chính nghĩa mà trước kia họ đã có. Đảng chẳng còn liên quan gì đến công cuộc chèo chống cho vận mệnh sinh tồn của dân tộc mà dân chúng khắp nước lâu nay đang sục sôi và nhiều thành phần ưu tú đang ra sức lên tiếng “gọi đàn”, bảo nhau vào cuộc. Thế có phải là “sự chuyển hóa giữa hai mặt đối lập” đang tự nó thực hiện đúng quy luật hay không?

Nói thế chắc Cụ cũng ngầm hiểu, việc yêu cầu ông Nguyễn Phú Trọng từ chức như dư luận vẫn râm ran mới đây có lẽ cũng không cần thiết nữa rồi, bởi lịch sử đã hội đủ yếu tố để xuất hiện những đòi hỏi cao hơn thế nhiều.

Hy vọng một thời gian nữa thực tiễn sẽ có câu trả lời để Cụ và chúng tôi cùng chứng nghiệm.

Nguyễn Huệ Chi

Được biết người ta mới cử một đoàn cán bộ cấp vụ sang Trung Quốc để học xây dựng Đảng và công tác cán bộ.

I. Những người được cử đi học được gì?

- Được một chuyến tham quan du lịch (bằng tiền nhà nước cũng tức là của dân đóng góp).

- Được nghe cán bộ Trung Quốc thuyết giảng cái gì Trung Quốc cũng hay cũng giỏi để mà thán phục.

- Được ăn cơm Tàu, được chiêu đãi nồng hậu, có quà cáp hoặc được thưởng thức gái Trung Quốc. Ăn cơm Trung Quốc thì phải nói hữu nghị với họ, biết ơn họ mặc dầu họ đang cướp biển, đảo của nước mình. Cũng có người trở thành thân Trung Quốc hoặc thành người của họ, về sẽ tuyên truyền cho họ.

Người có “sáng kiến” chủ trương việc đi học này còn có ý tỏ cho “nước bạn” biết là thần phục họ, coi họ là bậc thầy trong công tác và kinh nghiệm hay để mong ông Tập qua đường dây nóng gợi ý với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề cử vào vị trí cao trước Đại hội Đảng Việt Nam khóa XII tới.

II. Họ học được gì?

Cứ đem “Tuyển tập Hồ Chí Minh” ra học và dạy thì có đủ lời hay, ý đúng trong mọi công tác, kể cả công tác xây dựng Đảng và công tác cán bộ.

Hãy đọc lại các nghị quyết của Đảng Lao động và Đảng Cộng sản cũng đã thấy tiêu chuẩn “Cán bộ là đủ Đức, Tài; Đức là chủ yếu” được ghi nhiều lần rồi. Trong các nghị quyết và tài liệu cũng đã từng ghi “lựa chọn, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ phải là người có đạo đức và năng lực và được tín nhiệm”, vấn đề là có thực hiện đúng thế không, việc gì phải sang Trung Quốc về nói là học được những điều đó.

“Lựa chọn quần chúng ưu tú, được thử thách để kết nạp vào Đảng và Đảng viên phải tiên phong gương mẫu trong mọi việc” cũng đã có trong các chỉ thị, nghị quyết cả rồi, phải đâu đoàn cán bộ phải sang Trung Quốc mới học được đem về những điều tưởng là “mới” ấy!

Hơn nữa, cứ tổng kết từ Việt Nam ta cũng thiếu gì kinh nghiệm phong phú, cần gì phải đi học ai. Trong kháng chiến gian khó ác liệt có điều kiện thử thách thực tế nên phát triển Đảng cũng như tuyển chọn, đề bạt cán bộ đúng nhiều, có sai cũng rất ít. Trong hòa bình, chức quyền nhỏ nhất cũng phải là Đảng viên mới được giao nên nhiều người chẳng vì lý tưởng chẳng tiên phong gương mẫu cũng tìm mọi cách để được vào Đảng. Tiếp đến tham nhũng tràn lan “dột từ nóc” (Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh nói), rồi “mua quan bán chức”, ưu tiên “con ông cháu cha” nên Đảng suy thoái, người có thực tài, thực đức, cương trực thì gạt bỏ, một số có học hàm dễ kiếm bằng giả, cơ hội, vô tài, bất đức, nịnh bợ thì được trọng dụng.

Nghe đâu còn có chủ trương hai thành phố lớn Hà Nội và TP Hồ Chí Minh mỗi nơi sẽ gửi 100 cán bộ sang Trung Quốc để họ đào tạo. Nếu đúng thì đây là chủ trương “gửi trứng cho ác”!

Nhà cầm quyền Trung Quốc sẽ làm gì?

Trước hết họ đối xử nhiệt tình nồng hậu, họ sẽ “mua” và gài bẫy “mỹ nhân kế”, đây là nghề truyền thống của họ, họ đã thực hiện thành công ngay cả đối với những người lãnh đạo cao nhất của một số nước. Họ sẽ tuyên truyền cho 200 cán bộ đó: Trung Hoa là trung tâm của thiên hạ, sẽ là siêu cường lãnh đạo thế giới. Họ sẽ giáo dục chính trị, văn hóa Trung Quốc cho thấm nhuần tư tưởng và trách nhiệm làm “phiên thần” của “Đế chế Đại Hán tộc”.

III. Sao lại vào lúc nước sôi lửa bỏng đương diễn ra?

Trong khi Trung Quốc đang lấn chiếm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của ta, thái độ hung hăng bạo ngược, quyết tâm tiến chiếm biển, đảo của chúng ta và thóa mạ ta “đưa đứa con hoang đàng trở về nhà” mà Đảng, Chính phủ hoặc một nhóm nào đó lại làm những việc có tính chất “làm thân”, “cầu hòa” như nêu trên đây, thì thật là nhục nhã.

Kẻ xâm lược thì phải gọi là kẻ thù, không thể khác. Năm 1979, Tổng Bí thư Lê Duẩn nói thế lực bành trướng Trung Quốc là kẻ thù truyền kiếp của nhân dân ta, rất đúng.

Trong tình hình ác liệt, một mất, một còn như hiện nay mà gửi cán bộ cho nước thù đào tạo để làm thân thì thử hỏi trong họ còn có chút nào dòng máu Lạc Hồng và chút nào chí khí quật cường của dân tộc Việt Nam nữa không?

N. T. V.

Tác giả gửi BVN.

Xem thêm:

Đoàn cán bộ Ban Tổ chức Trung ương nghiên cứu về công tác xây dựng đảng tại Trung Quốc: xaydungdang.org.vn

( Nguồn : BVN)

 

 

 

 

LậpAnh Mỹ Vinh

 

 

 

BA NGƯỜI TÀI SINH RA TỪ TRƯỜNG “CẤP III BA ĐỒN” 
 LÊ QUANG VINH

   Nền giáo dục cả nước, có những ngôi trường phổ thông cấp huyện – vì những lý do nào đó, ít khi được tuyên truyền vì thế không nổi tiếng lắm trong dư luận. Tuy nhiên, theo bề dày đào tạo và cống hiến, đặc biệt lớp lớp các thế hệ học sinh những ngôi trường “không nổi tiếng lắm” đó; sau khi ra trường tiếp tục học lên, họ trưởng thành rồi ra đời tham gia chiến đấu trong chiến tranh cứu nước trước đây và lao động trong hòa bình sau này, nhiều “cựu học sinh” lại rất “nổi tiếng” bởi những cống hiến đặc biệt xuất sắc cho đất nước. Ngôi trường thực sự điển hình về sự độc đáo này chính là Trường Phổ thông Cấp III Quảng Trạch (tên dân gian là “Cấp 3 Ba Đồn”), tỉnh Quảng Bình trước đây – Tên mới bây giờ là Trường THPT số I Quảng Trạch. (Đọc tiếp…)

« Newer Posts - Older Posts »

Danh mục