Đăng bởi: Ngô Minh | 13.08.2014

NGUYỄN HỮU ĐANG: MỘT BI KỊCH LỚN

NGUYỄN HỮU ĐANG: MỘT BI KỊCH LỚN

Nhân kỷ niệm 101 năm ngày sinh Nguyễn Hữu Đang (15/8/1913-15/8/2014):

 Lê Thọ Bình
Đang nắm giữ những chức vụ và đảm nhiệm những công việc rất quan trọng của chính quyền: Thứ trưởng Bộ Tuyên truyền, Thứ trưởng Bộ Thanh niên, được giao nhiệm vụ tổ chức ngày Lễ Độc lập (2-9), ông như con đại bàng đang bay cao. Nhưng rồi cái tư tưởng phóng khoáng, tự do của một chú đại bàng “hoang dã” muốn đưa đồng loại của mình tới khoảng trời bay nhày tự do đã khiến ông rơi từ “trời cao” xuống vực thẳm, để lại cho nhân gian những câu chuyện thật đau lòng bằng một vụ án văn chương mà người ta gọi là “Nhân văn giai phẩm”.
Vâng, ông là Nguyễn Hữu Đang, người được coi là “Lãnh tụ tinh thần” của “Nhân văn Giai phẩm”.

Hành trình bài bút ký

Lần đầu tiên tôi gặp Nguyễn Hữu Đang là mùa hè năm 1993, khi ông vừa lên Hà Nội cư trú sau gần 20 năm bị quản thúc thúc tại Thái Bình, quê ông.
Hôm ấy tôi đang làm việc ở Văn phòng cơ quan thì một cụ già vận chiếc quần bộ đội bạc phếch, áo sơ mi cộc tay trắng đã ố vàng bỏ ngoài quần, đi dép cao su 3 quai,đầu đội chiếc mũ lá tềnh toàng. Tôi đã nghĩ “Lại cụ nông dân đi kiện về đất đai” và chào ông. Ông cởi chiếc mũ lá. Đầu trọc lốc. Ông không chào, cũng chẳng đáp lời tôi, hỏi cộc lốc: “Các ông có biết tôi là ai không?”. Tôi lắc đầu. Ông nhăn mặt: “Tôi là Nguyễn Hữu Đang vừa ở tù 15 năm và quản thúc 20 năm đây!”. Tôi hết sức ngạc nhiên. Không, phải nói là sửng sốt thì đúng hơn. Nguyễn Hữu Đang, Lãnh tụ tinh thần của “Nhân văn giai phẩm” đây sao!
Thú thực, ban đầu tôi không thực sự ấn tượng vì cách nói chuyện theo kiểu không đầu không cuối của ông. Đầu hơi cúi gằm. Thỉnh thoảng lại lấm lét ngước mắt lên nhìn người nghe. Tuy nhiên, ông lại có chất giọng hào sảng, âm thanh rất vang.Cuối buổi trò chuyện ông rút trong chiếc bị cói ra tập bản thảo bút ký 15 trang giấy viết tay kể về “Tổ chức Ngày Lễ Độc lập năm 1945”. Nét chữ của ông nắn nót, tròn, đều tăm tắp. Tôi cảm ơn ông và hứa sẽ tìm cách đăng cho ông.
Tôi đã kỳ công biên tập ngắn gọn lại thành một bài viết 1.500 chữ và gửi cho báo Tuổi trẻ Chủ nhật (Nay là Tuổi trẻ cuối tuần) để đăng nhân dịp Quốc khánh, 2-9. Tuổi trẻ trả lời không đăng được. Tôi đã gửi đi tới cả chục báo, tạp chí như Đại đoàn kết, Lao động, Phụ nữ TP.HCM, Tạp chí Thế giới mới, Kiến thức ngày nay… nhưng tiếc rằng không báo nào “dám đăng”.
Đó là điều mà tôi đã tiên liệu trước: Ai dám đăng bài viết mà tác giả của nó là “Lãnh tụ tinh thần” của Nhóm”Nhân văn giai phẩm”. Tuy nghĩ là vậy, nhưng tôi vẫn hy vọng vào lòng quả cảm của một Tổng biên tập nào đó, vì thực ra ngay từ năm 1989 ông đã được “phục hồi”, năm 1990 đã được trả lương hưu và năm 1993 đã được về sống tại Thủ đô.

Tôi như người “mắc nợ” với ông, mặc dù khi đưa tập bản thảo cho tôi ông đã bảo: “May ra có Tuổi trẻ dám đăng”. Sau đấy năm nào cũng vậy,cứ đến dịp Quốc khánh tôi lại gửi đến một vài báo khác nhau. Và vẫn câu trả lời: “Không đăng được”. Tôi luôn nặng trĩu trong lòng và vì “món nợ” ấy mà đã nhiều năm liền không dám tìm gặp ông.
6 năm sau, năm 1999, tôi về làm việc tại Báo Nông thông ngày nay. Vì là người được chị Mai Nhung, Tổng biên tập giao nhiệm vụ Tòa soạn, biên tập, duyệt đăng bài, nên tôi đã bê nguyên xi bản thảo ông Đang viết đăng 4 kỳ ở chân trang. Sau khi báo phát hành nhận được rất nhiều lời khen ngợi. Thậm chí ông Vũ Duy Thông, lúc ấy là Vụ trưởng báo chí Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương) biểu dương. Thì ra lâu nay toàn sợ bóng sợ gió cả.
Phần vì bận nhiều công việc, phần không tìm được ra nhà ông Nguyễn Hữu Đang, nên tôi đã không chuyển nhuận bút bài báo cho ông được.Mãi tới năm 2004 tôi mới tìm ra được căn hộ ông ở tít mãi tận Nghĩa Đô (quận Cầu Giấy, Hà Nội) lúc ấy còn rất hoang vắng.Như vậy là sau 6 năm, kể từ khi ông đưa cho tôi, bài Bút ký mới được đăng và sau 5 năm nữa món nhuận bút mới được chuyển đến tay ông.

Ở căn hộ khu tập thể Nghĩa Đô

Sau nhiều lần tìm kiếm rồi cuối cùng chúng tôi cũng tìm ra nơi ông ở. Tôi và nhà báo Lương Thị Bích Ngọc chui qua cầu thang ẩm ướt, tối mò, lên tầng 2 dãy nhà Tập thể Bột mì (Nghĩa Đô) gõ cửa nhà ông. Chừng 5 phút sau ông Đang ra mở cửa.Căn phòng nhỏ, bộn bề, đặc mùi ẩm mốc.Ông đã bước sang tuổi 90, cơm nước phải nhờ đến một người cháu tới giúp, song những hoạt động trí tuệ thì ai có thể thay thế được cho con người vốn có tinh thần độc lập từ xưa- kể từ khi ông bị thực dân Pháp bắt tra tấn và suýt đưa ra tòa lúc còn là vị thành niên?
Ngồi ở chiếc bàn nhỏ vừa để ăn vừa để đọc sách của ông, nhìn quanh trên tường và trên bàn có nhiều tấm ảnh chân dung chắc chắn là rất thân thiết với ông; và đập ngay vào mắt chúng tôi là tấm ảnh lịch sử: Lễ đài Ba Đình 2-9-1945 được cho vào khung ảnh cẩn thận kê ngay ngắn trên một chiếc vỏ hộp bánh quy. Chiếc bàn kê sát giá sách để chiếc điện thoại bàn lấm bụi, chiếc kính lúp, cái đèn pin, mấy cục pin con thỏ để lăn lóc.
Cuộc đời có thể tước đoạt của ông nhiều thứ song không thể tước đi quyền tự hào là người đã được chủ tịch Hồ Chí Minh trao cho trọng trách tổ chức ngày lễ Độc Lập ở Ba Đình, và tới năm 1947, ông vẫn còn được coi là nhân vật quan trọng nhất nhì bên cạnh chủ tịch Hồ Chí Minh.Mái đầu húi cua bạc cháy tựa nương cằn miền núi sau trận cháy rừng giờ không còn ngẩng cao kiêu hãnh mà hơi cúi gằm bởi năm tháng, nhưng cái vóc dáng cồng kềnh và chắc chắn của ông vẫn cho thấy một nghị lực sống được nén lại, và đôi lúc ánh mắt ông vô tình vẫn lóe lên những luồng ánh sáng trí tuệ.
Nhìn ông, ai có thể tin rằng: Sau mười lăm năm tù đầy, ở tuổi 63, ông đã từng phải sống nhờ vào côn trùng và cóc- nhái- chuột- rắn trong suốt hơn mười lăm năm vất vưởng bên lề xã hội ở một làng quê Thái Bình… Trải qua quá nhiều nỗi đớn đau thử thách, và ở giai đoạn cuối cuộc đời vẫn phải lo tránh cạm bẫy, ông phải tự giữ gìn và giữ cho cả người đang đối thoại với mình mà bằng trực giác ông biết là lòng lành, song dường như ông vẫn không bị mất đi sự sắc sảo pha chút hóm hỉnh.
Thấy mấy cuốn sách,vài ba tờ báo vứt lỏng chỏng trên bàn, trên giường,tôi hỏi ông: “Lâu nay bác vẫn nhận được sách báo đều chứ ạ?”. Ông không nói gì, chập chạp, run rẩy đứng dây khỏi giường, chậm rãi bước tới cái giá sách nhỏ ở góc nhà lục tìm cái gì đó. Nhìn dáng ông đi liêu xiêu, mảng lưng hở qua chiếc áo bở tã đến thê thảm. Ông lúi húi bên giá sách cạnh tấm ảnh đen trắng Dostoievski chợt nhòe đi. Bên dưới tấm ảnh văn hào Nga được nhiều thế hệ độc giả Việt yêu quý là chiếc tủ lạnh cũ. Bất giác tôi đứng lên, bước tới chiếc tủ lạnh, tự động mở ra: cả hai ngăn trên và dưới đều trống rỗng! Ông Đang không hề để ý tới việc khách mở tủ lạnh và quan sát đồ dùng sinh hoạt trong phòng ông. Ông rời giá sách trên tay cầm theo cuốn sách dày cộp. Ông giở bìa cuốn từ điển Bách khoa“Le petit Larousse” in năm 2.000 ra, chỉ tay vào trang đầu tiên có chữ nắn nót của ông: “Mất từ tr. 865 đến tr. 968″. Rồi ông vội vã mở cuốn sách ra để chứng minh điều mình đã thông báo. Tôi hỏi ông: “100 trang sách đã bị xé. Ai đã xé những trang này hỡ bác?”. Ông thở dài: “Còn ai vào đây nữa!”. Ông nói nhỏ dường như chỉ để cho mình ông nghe:“Những người có trách nhiệm kiểm soát trước khi chuyển nó đến cho tôi. Còn những mục gì ư? Chỉ là những thứ mà theo người ta, sẽ đầu độc một lão già vô hại là tôi!”.
Câu cuối ông nói ra vừa có gì diễu cợt lại vừa đượm nước mắt. Một công trình văn hóa hoàn hảo, một trong những biểu tượng của trí tuệ nhân loại bị phá hoại bởi những người quen thói bao cấp tư tưởng, quen hăng hái săn sóc tâm hồn và tri thức cho người khác- kể cả với những người đương nhiên là bậc thầy về văn hóa của họ! Thực là một tấn bi hài kịch không đáng có, vậy mà đã nó diễn ra thường xuyên như thứ một tập quán ghê sợ!

Nguyễn Hữu Đang: ông là ai?

Nguyễn Hữu Đang sinh ngày 15/8/1913 tại làng Trà Vy, huyện Vũ Tiên, tỉnh Thái Bình. Theo bản “Tóm tắt quá trình hoạt động xã hội của Nguyễn Hữu Đang” do chính tay ông viết thì năm mười sáu tuổi, ông tham gia Học sinh hội (tổ chức thuộc Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội, rồi Đông dương Cộng sản đảng), làm tổ trưởng Hội này. Ngay từ năm 1929 Nguyễn Hữu Đang đã là đối tượng được kết nạp vào đảng. Cuối năm 1930, ông bị bắt, bị tra tấn và bị giam 2 tháng rưỡi tại nhà lao thị xã Thái Bình. Mùa hè năm 1931, bị đưa ra toà, nhưng vì tuổi vị thành niên (trên giấy tờ, ông rút tuổi, khai sinh năm 1916), cho nên chỉ bị quản thúc tại quê nhà. Từ 1932 đến 1936, Nguyễn Hữu Đang theo học trường sư phạm Hà Nội.
Năm 1937-1939 ông tham gia Mặt trận dân chủ Đông Dương. Biên tập các báo của Mặt trận như Thời báo (cùng Trần Huy Liệu, Nguyễn Đức Kính), Ngày mới (cùng Nguyễn Đức Chính, Nguyễn Đức Kính) và các báo của Đảng Cộng sản như Tin tức (cùng Trần Huy Liệu, Phan Bôi), Đời nay (cùng Đặng Xuân Khu tức Trường Chinh, Trần Huy Liệu)
Từ 1938 đến 1945, Nguyễn Hữu Đang hoạt động trong Hội Truyền bá Quốc ngữ, ở các vị trí: Uỷ viên ban trị sự Trung ương, Huấn luyện viên Trung ương, trưởng ban dạy học, Trưởng Ban Cổ động, Phó trưởng Ban Liên lạc các chi nhánh tỉnh.
Năm 1943 Nguyễn Hữu Đang gia nhập Đảng Cộng sản Đông dương, bắt đầu liên lạc mật thiết với Tổng bí thư Trường Chinh và thành ủy Hà Nội, nhưng vẫn chưa được chính thức kết nạp vào Đảng.
Năm 1943-46 ông Tham gia sáng lập và lãnh đạo Hội Văn hoá cứu quốc, tiếp tục hoạt động chống nạn mù chữ. Mùa thu năm 1944 bị Pháp bắt ở Hà Nội và bị giam một tháng tại Nam Định. Được ra, lại tiếp tục hoạt động cách mạng.
Tháng 8-1945 ông tham dự đại hội Tân Trào, được bầu vào Ủy ban giải phóng dân tộc. Tham gia Chính phủ lâm thời mở rộng, được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ truyên truyền. Đồng thời cũng trong năm đó ông được Hồ Chí Minh cử làm Trưởng Ban Tổ chức Ngày Lễ tuyên bố độc lập 2-9-1945.
Từ tháng 10-1945 đến tháng 12-1946 ông giữ các chức vụ Thứ trưởng Bộ Thanh niên, Chủ tịch Ủỷ ban vận động Mặt trận văn hoá. Tổ chức Hội nghị văn hoá toàn quốc lần thứ nhất tại Hà Nội.
Từ tháng 12-1946 đến tháng 3-1948 ông làm Trưởng Ban Tuyên truyền xung phong trung ương.
Năm 1947, ông chính thức được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương.
Từ tháng 4-1948, đến tháng 4-49, ông phụ trách báo Toàn dân kháng chiến, cơ quan trung ương của Mặt Trận Liên Việt.
Từ tháng 7-1949 đến tháng 10-1954 Nguyễn Hữu Đang làm Trưởng ban Thanh tra Nha bình dân học vụ. Từ tháng 11-1954 đến tháng 4- 1958 ông tổ chức và biên tập báo Văn Nghệ. Cuối năm 1956 đầu năm 1957 Nguyễn Hữu Đang tổ chức, lãnh đạo và biên tập báo Nhân Văn, giúp đỡ tập san Giai Phẩm.

Phong trào “Nhân Văn giai phẩm”

Nguyễn Hữu Đang chính thức tham gia hoạt động phong trào Nhân Văn Giai Phẩm từ tháng 9-1956, với sự ra đời của báo Nhân Văn số 1 (20-9-1956). Báo Nhân văn ra được 5 số và đến số thứ 6 chưa kịp phát hành đã bị đình bản (tháng 12-1956).
Trong thời gian tổ chức và tham gia phong trào “Nhân văn giai phẩm”, Nguyễn Hữu Đang tổ chức lớp học tập dân chủ 18 ngày (từ ngày 8-8 đến 26-8-1956) và trong ngày cuối cùng, ông đã đọc một bài tham luận “nảy lửa” chỉ trích những sai lầm trong công tác lãnh đạo văn nghệ. Trương Tửu đánh giá bài tham luận của Nguyễn Hữu Đang là”sự việc thực là cụ thể, lời lẽ thực là tha thiết”. Hoàng Cầm cho rằng tinh thần nêu những thắc mắc, có từ kháng chiến, tích tụ lại và bùng nổ lên trong lớp học này.
Nhà văn Lê Đạt sau này kể lại: “Trong cuộc học tập này, anh em phê phán văn nghệ rất nhiều, trong đó nổi bật lên vai trò của anh Nguyễn Hữu Ðang. Lúc đó Ðang có nói một câu với Nguyễn Ðình Thi (Nguyễn Ðình Thi lúc ấy là một trong những người chịu trách nhiệm tờ Văn Nghệ-VN) rằng: “Thế nào tao cũng ra một tờ báo, tờ báo chưa biết tên là gì, tao thì không làm được nhưng để cho bọn Giai Phẩm Mùa Xuân nó làm”.
Còn Nguyễn Huy Tưởng ghi lại không khí lớp học 18 ngày, trong nhật ký của mình như sau: “Nguyễn Hữu Đang nổi lên. Tiếc rằng kéo anh ta về văn nghệ để làm rầy rà mình. Chính người chửi mình nhất là Nguyễn Hữu Đang”.Những bực mình và dằn vặt của Nguyễn Huy Tưởng, càng làm rõ tấm lòng và nhân cách của ông: Mặc dù không đồng ý với Nguyễn Hữu Đang, bị Đang chỉ trích nặng nề, nhưng sau này, ông là người duy nhất trong ban lãnh đạo văn nghệ đã đứng ra bênh vực Nhân Văn, như Lê Đạt từng thuật lại và ông cũng ghi trong nhật ký: “đã phản ảnh lên Trường Chinh về vụ Nhân Văn, nhưng vô hiệu”.
Về phía buộc tội, Nguyễn Hữu Đang được coi là lãnh tụ, “đầu sỏ”. Mạnh Phú Tư viết: “Người ta không thấy tên tuổi Nguyễn Hữu Đang trên những số đầu báo Nhân Văn, nhưng chính hắn là linh hồn của tờ báo.Thông qua tờ báo Nhân Văn, hắn đã trở thành một thứ lãnh tụ của một bọn người cơ hội, có âm mưu chính trị… “.
Thực vậy, là người làm chính trị, Nguyễn Hữu Đang, với tài tổ chức và hùng biện trong lớp học 18 ngày, ông đã chiếm được lòng tin của giới trí thức và văn nghệ sĩ cấp tiến. Ông nắm lấy cơ hội, đứng ra tổ chức “Nhân Văn Giai Phẩm” với những người bạn cùng chí hướng từ trong kháng chiến như Trương Tửu, Trần Thiều Bảo, Lê Đạt, Hoàng Cầm… chủ trương tạp chí “Giai phẩm mùa xuân”.
Tuy không có nhiều bài ký tên thật, nhưng dấu ấn của Nguyễn Hữu Đang trên báo Nhân Văn là hết sức đậm nét bằng hàng loạt bài phỏng vấn các tên tuổi lớn như Nguyễn Mạnh Tường, Đào Duy Anh, Trần Đức Thảo, Đặng Văn Ngữ về vấn đề dân chủ.
Sau này Nguyễn Hữu Đang nói: “Thực chất phong trào “Nhân Văn Giai Phẩm”, nếu đứng về mặt chính trị, thì đó là một cuộc đấu tranh của một số người trí thức, văn nghệ sĩ và một số đảng viên về chính trị nữa, là chống, không phải chống đảng cộng sản, mà là chống chủ nghĩa Staline và chủ nghĩa Mao. Sự thâm nhập của chủ nghĩa Statline và chủ nghĩa Mao đưa đến nhiều hiện tượng cực quyền toàn trị. Nó gay gắt ghê lắm! Chúng ta đã phạm sai lầm trong Cải cách ruộng đất, rồi thì Chỉnh huấn, Chấn chỉnh tổ chức, Ðăng ký hộ khẩu v.v… Tất cả những chính sách quá tả đó là đều từ phương Bắc xâm nhập vào Việt Nam”.
Tháng 4-1958 Nguyễn Hữu Đang bị bắt. Ngày 19-1-1960, ông bị đưa ra toà cùng với Thụy An, Trần Thiếu Bảo, Phan Tại, và Lê Nguyên Chí.
Sau này Nguyễn Hữu Đang nhớ lại: “Ở trước tòa án thì tôi nhận mấy điểm như thế này: (1).Tôi có phạm kỷ luật của Ðảng và của nhà nước về phương diện tuyên truyền. (2).Trong việc làm của tôi, cũng có những vụ sai sót. Anh em cũng như tôi thôi, thế nhưng tôi gánh trách nhiệm nặng hơn. (2). Ðộng cơ thì nhất định là tốt: Chúng tôi chỉ vì dân, vì nước mà tin rằng việc mình làm có ích nước lợi dân cho nên làm thôi.
Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội đã tuyên: Nguyễn Hữu Đang và Thụy An: 15 năm phạt giam và 5 năm mất quyền công dân sau khi ra tù; Minh Đức: 10 năm phạt giam và 5 năm mất quyền công dân; Phan Tại: 6 năm phạt giam và 3 năm mất quyền công dân; Lê Nguyên Chí: 5 năm phạt giam và 3 năm mất quyền công dân.
Sau này có lần Nguyễn Hứu Đang nói: “Ra tòa tôi nhận hết, chứ tôi không bào chữa, không cãi cọ gì nhiều cả. Thậm chí là sau khi bị kết án 15 năm tù tôi cũng không có ký chống án gì cả. Từ bấy giờ đến nay tôi cũng không viết một cái đơn nào để thanh minh, phân trần, xin xỏ, khoan hồng hay là nọ kia. Không! Cái việc đó không!

Có thật là Nguyễn Hữu Đang tìm cách trốn vào Nam?

Thông tin thời bấy giờ và cả sau này nữa đều cho rằng Nguyễn Hữu Đang bị bắt khi ông đang trên đường trốn vào Nam. Tuy nhiên sự thật có phải như vậy không? Chúng ta hãy nghe chính Nguyễn Hữu Đang sau này kể lại: “Tôi muốn ra nước ngoài, chứ không phải vào Nam, nhưng tôi đã đặt điều kiện: Nếu các anh giúp tôi đi ra một nước khác, tôi chấp nhận, nhưng vào Nam thì tôi từ chối, vì như thế hàm chứa cái ý phản bội, chạy sang phe địch, phe thù. Đó là một sự nhục nhã. Vào Nam? – Để làm gì chứ? Vào Nam làm gì với Ngô Đình Diệm? Nhưng tôi thực sự muốn ra nước ngoài- tôi đã nói thẳng với Trường Chinh trong một cuộc gặp giữa ông ấy và tôi. Câu hỏi thứ nhất mà Trường Chinh vừa cười vừa đặt ra cho tôi là: “Hả, sao kia, anh đã tuyên bố với các đồng chí rằng anh muốn ra nước ngoài, vì không khí trong nước nghẹt thở quá. Vậy là anh muốn ra nước ngoài, nhưng đến một nước trong phe xã hội chủ nghĩa hay phe đế quốc, anh nói tôi nghe”. Ông ta cười. Lúc đó tôi vừa cười vừa trả lời: “Tôi rất muốn ra nước ngoài, một nước trong phe xã hội chủ nghĩa nếu điều kiện cho phép. Nhưng nếu vì những khó khăn buộc tôi phải đến một nước theo chế độ tư bản, tôi có thể chấp nhận. Bằng chứng là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cư trú ở Pháp, và ông đã giữ được lòng yêu nước và tinh thần cách mạng, và tôi có thể làm như ông ấy. Tôi nghĩ rằng tôi có thể làm như Nguyễn Ái Quốc. Nguyễn Ái Quốc là một nhà cách mạng, tôi cũng là nhà cách mạng. Nguyễn Ái Quốc là một người cộng sản, tôi cũng là cộng sản. Nguyễn Ái Quốc có lòng dũng cảm, tôi cũng có lòng dũng cảm. Tôi không sợ cư trú dài hay ngắn hơn trong một nước tư bản”. Thế là người ta đã sửa soạn… Người bạn đã khuyên tôi nên ra nước ngoài đã nhận lời giúp tôi đến được một nước khác. Anh ấy đã hứa, nhưng chuyến đi đã không được thực hiện. Vậy là tôi lỡ một dịp đi đến một nước khác. Nhưng để tô vẽ bản cáo trạng, người ta đã đưa vào câu tôi muốn vào Nam. Khi đó tôi trả lời toà án: “Không, tôi không muốn vào Nam; tôi muốn đi ra nước ngoài”. Và người ta hỏi tôi: “Nhưng ở nước ngoài anh sẽ làm gì?”- “Đấu tranh cho thống nhất, thống nhất hai miền; ở nước ngoài tôi sẽ tiếp tục đấu tranh thực hiện thống nhất đất nước, thống nhất hai miền Bắc Nam”. Nghe lời tuyên bố ấy, cử toạ… phiên toà bao gồm những người ủng hộ chính phủ, quần chúng của Đảng, đảng viên, những cán bộ của nhiều tổ chức và hoạt động khác nhau đều phản nhân văn, họ phá lên cười nhạo cái ý định đấu tranh cho thống nhất đất nước của tôi. Trong chuyến đi rời đất nước ra nước ngoài, tôi muốn thăm Ấn Độ và Nam Tư của Tito, tôi tin ở Nehru và Tito. Tôi rất muốn gặp họ và xin họ lời khuyên để đấu tranh cho nước Việt Nam bị chia cắt, để Việt Nam được thống nhất và độc lập. Tôi muốn gặp Tito và Nehru…”.
Sau này, khi ra tù, Nguyễn Hữu Đang cho biết: “ Khi Hiệp nghị Paris trả lại tự do cho tôi, tôi đã viết thư cho gia đình – người ta cho phép tôi viết thư cho gia đình để báo tin tôi được trả tự do. Lúc ấy cả gia đình tôi kinh ngạc, cả gia đình tôi hoàn toàn sửng sốt: “Ôi, kìa, anh Đang còn sống, thế mà chúng ta cứ tưởng anh đã chết lâu rồi”.

Mối tình bi thương

Sẽ là không vẹn toàn nếu nói về cuộc đời đầy bi kịch của Nguyễn Hữu Đang mà không nhắc tới mối tình đầy lãng mạn, nhưng cũng không kém phần bi thương của ông.
Ngày Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Hữu Đang 32 tuổi. Ở cái tuổi “tam thập nhi lập”, lẽ thường đã phải yên bề gia thất, nhưng ông vẫn độc thân sau những năm tháng mải mê với những công việc xã hội.
Trong đống bản thảo mà Nguyễn Hữu Đang để lại có một bản mà giấy đã ngã màu vàng, gần như đã bắt đầu mục nát, không hiểu ông viết vào thời gian nào, ông đã kể lại mối tình đầu với một thiếu nữ Hà Nội tên là Huyền Nhiên: “Năm ấy mới 19 tuổi là con một gia đình thương nghiệp trung lưu sống theo nền nếp cổ truyền, chưa học hết bậc thành chung, phong cách thùy mị… không thích đua đòi”.
Ông viết: “Đối với tôi lúc ấy, sắc đẹp là tất cả, biết bấy nhiêu về Nhiên đã là thừa. Không cần biết gì về Nhiên mới đúng. Có ai lại ngớ ngẩn chỉ chú ý đến tài năng, đạo đức, học vấn, gia sản, lý lịch Hằng Nga, Tiên nữ bao giờ?… Theo lòng mình, tôi kính trọng Huyền Nhiên tới mức yêu nhau nửa năm trời tôi chưa từng dám chạm vào thân thể Huyền Nhiên, dù chỉ cầm tay cũng đã coi là xúc phạm, còn nói chi đến ôm hôn”… Hồi ức còn viết rất nhiều, bằng những lời lẽ mà chỉ đọc vẫn nhận ra tình cảm rất nồng nàn của người viết sau nửa thế kỷ đầy những truân chuyên.
Cuối cùng, vị Thứ trưởng Bộ Thanh niên cũng quyết định phải thổ lộ với người mình yêu bằng việc tặng cho Huyền Nhiên tiên nữ một chiếc vòng tay bằng bạc như một giao ước kết hôn. Nàng đã đặt chiếc vòng cầu hôn vào hộp, nói những lời cam kết là sẽ yêu chàng suốt đời, sẽ đến lúc thành hôn, sẽ chung sống với nhau trọn đời… Người đẹp chỉ có một yêu cầu: “Em chỉ ước ao được đến gặp cụ Hồ, được đứng gần cụ. Mà anh thì đến chỗ cụ luôn, anh cho em đến chỗ cụ Hồ một lần, chỉ một lần thôi”.
Tuy công việc khiến vị Thứ trưởng Thanh niên có cơ hội gặp Cụ Hồ, nhưng ông cũng e ngại vì không muốn lẫn lộn việc công tư. Nhưng tình yêu đã giúp ông thực hiện được một cách mỹ mãn ý nguyện của người mình yêu.
Có một nhà tư sản yêu nước ở tỉnh Bắc Giang tên là Ngô Tiến Cảnh mà ông từng quen biết trong thời kỳ tham gia chống thất học, lúc bấy giờ đang làm chủ tịch cuộc vận động “Mùa đông binh sĩ”. Cuộc vận động này từng được cụ Hồ phát động nhằm cung cấp trang phục cho lực lượng vũ trang cách mạng mới thành lập còn nhiều thiếu thốn. Cuộc vận động đã làm được 1 vạn chiếc áo trấn thủ. Ông Cảnh muốn được gặp cụ Hồ để báo cáo tình hình và trao tặng tượng trưng tấm áo cho Người.
Nhà tư sản nhờ ông Nguyễn Hữu Đang đề đạt và cụ Hồ tỏ lòng sẵn sàng tiếp một đoàn đại biểu “Mùa đông binh sĩ”. Ông Đang bàn với ông Cảnh những nghi thức của buổi tiếp, để thêm phần trang trọng khi tặng áo cho Hồ Chủ tịch sẽ có một thiếu nữ bưng một cái khay trên đó đặt tấm áo được trao. Ông Đang hứa sẽ tìm người giúp ông Cảnh làm công việc này và đương nhiên người đó chính là cô thiếu nữ Hà thành đang mong ước được gặp cụ Hồ. Nhất cử lưỡng tiện.
Cuộc gặp được Nguyễn Hữu Đang kể lại trong bản thảo hồi ký của minhfnhw sau: “Tới ngày giờ hẹn, tôi dùng xe hơi đưa Nhiên đến trụ sở “Mùa đông binh sĩ” rồi đến Bắc Bộ phủ. Cụ Hồ ra phòng khách lớn tiếp đoàn đại biểu trong đó có cả Huyền Nhiên đứng cạnh ông Cảnh, tay bưng sẵn chiếc khay trên đó có một chiếc áo trấn thủ. Ông Cảnh nói đến câu “xin kính biếu Chủ tịch tấm áo trấn thủ đầu tiên may được” thì Nhiên bước nhanh đến sát cụ Hồ, khay nâng ngang mặt cung kính. Cụ cầm áo xem xét kỹ, khen “tốt lắm!”, rồi đưa cho Vũ Đình Huỳnh giữ. Cụ nói chuyện với đoàn đại biểu có vẻ tự nhiên, cởi mở. Rồi như thường lệ, cụ không quên cử chỉ quan tâm đến người con gái vừa dâng áo, hãy còn cầm khay đứng đó. Cụ đặt bàn tay lên đầu Nhiên vỗ vỗ nhẹ mái tóc, nói dịu dàng: “Cháu mang đến cho Bác áo chống rét, quà quý của Ủy ban Mùa đông binh sĩ, Bác cảm ơn cháu. Cháu sẽ rủ các bạn của cháu cùng với cháu giúp các chiến sĩ bộ đội nhiều hơn giúp Bác, đem lại cho họ những món quà tỏ tình thương yêu của đồng bào. Cháu làm được không?”. Tất cả mọi người có mặt đều đổ dồn sự chú ý vào Nhiên và chờ cô đáp lại. Phần vì cảm động quá, phần vì chẳng biết trả lời thế nào, Nhiên e lệ cúi mặt nói yếu ớt tiếng run run như sắp khóc “vâng”. Cụ cười độ lượng, khuyên nhủ ngọt ngào: “Phụ nữ thời cách mạng phải mạnh bạo. Có mạnh bạo mới đấu tranh được”…
Ít lâu sau, chiến tranh bùng nổ. Người thiếu nữ đã đính hôn của Nguyễn Hữu Đang phải theo gia đình tản cư khỏi Hà Nội. Năm 1948, quân Pháp đánh rộng ra các tỉnh xung quanh, càn quét liên miên hai bên các trục đường giao thông lớn. Gia đình Nhiên không chịu nổi gian khổ phải trở về Hà Nội. Không thể một mình ở lại vùng tự do, Nhiên đành theo gia đình. Từ đấy tôi không còn dịp nào gặp lại Nhiên”…
Chiến tranh, rồi cuộc kháng chiến 9 năm, khiến cuộc hôn nhân không thành và hai người sống cách xa nhau, nhưng lời hẹn ước thì không ai đơn sai. Ngày kháng chiến thành công trở về với thủ đô giải phóng, cuộc sống bề bộn cùng những bi kịch của đời ông, nên tiếc rằng mối tình duy nhất của ông đã trở thành dang dở.
Sau này Nguyễn Hữu Đang không kể thêm về cuộc đời tiếp theo của người bạn gái nhưng cho đến cuối đời, mối tình ấy vẫn là một ký ức đẹp nhất của cuộc đời ông.
Năm 2007 ông qua đời ở tuổi 93, mang xuống tuyền đài tất cả những vinh quang, cay đắng, hạnh phúc và khổ đau.

Trường Sa
Tháng 4 năm 2014

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 13.08.2014

Người Việt đang rất xấu

Người Việt đang rất xấu

PGS-TS Huỳnh Văn Sơn
(Phó chủ tịch Hội Tâm lý học xã hội VN)

 Trong vài năm trở lại đây số lượng người VN đi du lịch nước ngoài mỗi năm một tăng nhanh, nhất là những ‘mùa’ du lịch như hè, Giáng sinh – tết Tây, tết ta… Và cũng từ đây, trong mắt của người nước ngoài, nhiều hình ảnh không hay của người VN đã xuất hiện và ngày càng rõ nét.

Một thói xấu thường thấy: tiểu tiện nơi công cộng

Điều này không những tạo nên sự trăn trở của những người bản xứ – nơi mà người Việt đến tham quan mà còn trở thành mối bận lòng của nhiều người có trách nhiệm với văn hóa Việt hôm nay.

“Xin mời ăn bao nhiêu lấy bấy nhiêu”

Hè năm ngoái, khi đi du lịch Thái Lan, vào một nhà hàng ăn buffet, tôi ngạc nhiên khi nhìn thấy cái biển ghi chữ tiếng Việt: “Xin mời ăn bao nhiêu lấy bấy nhiêu. Nếu ăn không hết sẽ phạt từ 200 baht đến 500 baht. Xin cảm ơn!”.

Chuyện ăn uống này đã thành câu chuyện buồn của khách du lịch Việt không chỉ ở Thái Lan mà còn cả ở Singapore. Tại Singapore, biển ghi bằng tiếng Việt (và chỉ có duy nhất tiếng Việt): “Lấy vừa đủ ăn”. Quả thật, phải vào tận nơi mới biết tại sao người ta phải trưng những cái biển đấy. Nhà hàng đông khách, ai ai cũng xếp hàng đợi đến lượt mình lấy đồ ăn. Bỗng dưng một cặp đôi người Việt từ đâu ùa tới chen ngang. Những người xung quanh chỉ biết lắc đầu cười. Hai người này lấy những năm, sáu con hàu, trong khi người phục vụ bàn đang tách từng con hàu một cho khách. Vào một nhà hàng khác thì lại gặp một anh người Việt ăn tham, bê mấy đĩa đồ ăn đầy bự về bàn, cứ như kiểu không lấy thì sợ ai “hốt” hết, ăn không hết rồi bỏ bê luôn.

 

Có thể nhìn nhận đây đã trở thành một thói quen xấu của người VN. Một thói xấu gần như khó sửa. Người Việt bất chấp cái bụng của mình có thể ăn được bao nhiêu, mà ăn bằng “mắt”, lấy cho sướng tay, kể cả những món ăn lạ, không hợp khẩu vị, và để trên bàn ngồi ngắm nhìn như thành tích, rồi bỏ đi, trong ánh mắt vừa khó chịu vừa kinh ngạc của những người xung quanh. Lý giải cho điều này thật nhiều chuyện phải bàn. Thói quen? Sự nhận thức lệch pha về khả năng ước lượng? Hay sự sang trọng tức thời? Hoặc một yếu tố nào khác?

Những tiếng xấu về ứng xử thiếu văn hóa của người VN ngày càng lan truyền mạnh mẽ. Sự thụt lùi về văn hóa đang trở thành một nạn lớn đối với thế hệ trẻ của đất nước. Đầu tiên chỉ là sự thiếu tôn trọng cá nhân nhưng sau đó sẽ thành sự thiếu tôn trọng, phân biệt đối xử cho quốc thể

“Đi vệ sinh nhớ dội nước”

Thêm một lần choáng nữa ở nhà vệ sinh khi tôi bắt gặp cái biển to tướng, đánh máy bằng tiếng Việt hẳn hoi “đi vệ sinh nhớ dội nước” được gắn trên một nhà hàng đồi cát trên đất Thái. Vẫn đáng chú ý là chỉ có mỗi tiếng Việt mà không có ngôn ngữ khác.

Chuyện đi vệ sinh cũng là chuyện tế nhị, và với du khách người Việt thì phải luôn có sự nhắc nhở “giữ vệ sinh chung”, như nhắc trẻ mẫu giáo, nhưng cũng chỉ là “nước đổ lá khoai”. Họ cứ thẳng tiến “vào”, và đi “ra” tự nhiên, để người đến sau phải nhăn mặt bởi những gì người đi trước để lại. Đã có những chuyện cười ra nước mắt ở châu Âu, du khách Việt bị nhốt trong toilet, bởi muốn cửa mở ra thì phải có động tác giật nước xả.

Còn chuyện xả rác bừa bãi thì nhiều vô kể. Hay gặp nhất là ở sân bay. Có lần tôi đang ở sân bay Đài Loan, vì thời tiết xấu nên bị hoãn chuyến bay lại 2 giờ. Sân bay đông người không đủ chỗ ngồi, rất nhiều người nước ngoài phải đứng. Thế mà một đoàn người Việt, toàn những người trẻ 8X, 9X lôi báo ra trải dưới sàn ngồi, lôi bài ra đánh reo hò ầm ĩ. Đến khi đứng dậy thì báo mỗi chỗ một mảnh, mặc đấy cho nhân viên sân bay dọn dẹp. Đúng hôm ấy, chủ đề tôi chia sẻ lại là: bản sắc văn hóa và mối quan hệ với hành vi ứng xử.

Bài nói làm tôi ngậm ngùi lâu không hẳn chỉ vì sự cảm xúc quá lên khi trình bày về văn hóa người Việt mà đó là những gì thuộc về lòng tự trọng.

“Sorry, turn back please”

Tôi ít khi nói về những gì mình trải qua nếu mình có điều kiện hơn những cá nhân khác dù chỉ là một nhóm. Nhưng kinh nghiệm học tập tại Singapore từ những năm sau đại học khoảng 1999 – 2000 đến những cơ hội tập huấn về tư vấn ở một vài quốc gia như: Philippines, Malaysia hay xa hơn là Đan Mạch thì chuyện ứng xử đặc thù của người Việt vẫn là sự trăn trở tất bật trong suy nghĩ mỗi khi tình cờ gặp đồng hương xa xứ. Vừa mừng, vừa lo vì không biết mình có phải nhạy cảm quá đáng… Hay chuẩn bị gặp một tình huống đặc biệt nào đó trong cuộc sống từ người đồng hương ấy.

Dép trong nhà vệ sinh công cộng cũng bị lấy cắp

Có lần tôi lang thang ở Singapore và tình cờ gặp một sinh viên rất trẻ được một giải thưởng công nghệ. Vốn đang nghiên cứu về nghệ thuật nói trước công chúng, tôi sẵn sàng nhận lời mời để tham gia buổi nhận thưởng của bạn ấy cách trung tâm TP 3 km. Cùng lên chuyến xe taxi do một tài xế người gốc Malaysia lái. Anh ta từ chối thẳng thắn, không chịu chở cả tôi và cậu sinh viên ấy khi hai lần đề nghị cài dây an toàn nhưng chàng trai cứ giả vờ không nghe thấy. Tôi hỏi cậu ta không nghe rõ à. Cậu bảo: Nghe chứ, nhưng bên mình có cần cài đâu. Đi có chút xíu cài chi cho mệt. Không chở thì đi xe khác…

Có lần tôi lang thang ở Disneyland từ sáng sớm đến khuya chỉ để làm một thao tác khá đơn giản. Vốn khi học sau đại học ngành quản trị hành vi trong tổ chức, tôi muốn xem xét hành vi giám sát thương mại ở các khu vui chơi. Chọn Disneyland làm điểm đến, tôi kiên nhẫn chờ đợi, quan sát.

Mọi sự cứ lặng lẽ trôi nếu như không có cảnh nao lòng và buốt dạ. Một du khách bị tống cổ ra khỏi vị trí cuối cùng khi chuẩn bị được dạo chơi để hàn huyên cùng chị hằng. Người phụ trách giám sát trưng ra bằng chứng là một hình ảnh. Ban đầu, vị khách ấy đứng sau khoảng 8 người khách Tây và 4 trẻ em trong nước (có lẽ là người Hồng Kông hay Trung Quốc). Nhưng hình ảnh ghi nhận từ camera cho thấy anh ta đã len lỏi hai lần để tiến hơn 12 bậc để được lên sớm. Hành vi ấy được thực hiện bằng cách khều người phía trước để ra hiệu tìm người quen, nhưng rồi khi đến vị trí mới, anh ấy lại “sorry” để tiếp tục thực hiện. Và người cuối cùng tìm được cũng không phải người quen.

“Sorry, turn back please”. Câu hỏi “Anh đến từ VN?” cất lên bởi giọng lơ lớ của cô nhân viên giám sát làm tôi điếng người. Cái đau như vọng từ tiềm thức về hành vi công cộng bị xem thường hay sự xem thường chính mình của người Việt? (Còn tiếp)

Và một chuyện xấu nữa có thể kể đến là việc đi mua sắm. Người Việt đi du lịch và mua sắm nhưng gần như không có nhiều kiến thức về hàng hóa. Do đó khi mua sắm, nhiều người đã trở thành “trưởng giả học làm sang”, mua sắm vô tội vạ, đua nhau mua theo kiểu “anh có gì ả có đó”, khi mua, lấy hàng chọn hàng vứt bừa bãi lộn xộn, bới tung cả lô hàng… chưa kể chuyện “rình” để ăn cắp vặt.

Tháng 6.2013, một bức ảnh chụp biển cảnh cáo hành vi ăn cắp vặt có in tiếng Việt (dưới là dòng chữ dịch sang tiếng Nhật) gây xôn xao. Tấm biển cảnh cáo có nội dung: “Ăn cắp vặt là phạm tội. Nếu ăn cắp vặt thì bị phạt tù dưới 10 năm. Ngay khi phát hiện ăn cắp vặt thì chúng tôi sẽ thông báo cho cảnh sát ngay lập tức”.

Tiếng xấu ngày càng lan truyền mạnh mẽ

Tất nhiên không thể đánh đồng tất cả người VN đều mang những “tật” trên, nhưng đó cũng là một bộ phận không nhỏ. Và trong mắt không ít người ngoại quốc, nhiều trường hợp khách du lịch VN đã trở thành “con sâu làm rầu nồi canh”. Những tiếng xấu về ứng xử thiếu văn hóa của người VN ngày càng lan truyền mạnh mẽ. Sự thụt lùi về văn hóa đang trở thành một tệ nạn lớn đối với thế hệ trẻ của đất nước. Đầu tiên chỉ là sự thiếu tôn trọng cá nhân nhưng sau đó sẽ thành sự thiếu tôn trọng, phân biệt đối xử cho quốc thể. Thử hỏi, với những tiếng xấu về văn hóa đó, làm sao thế hệ trẻ có đủ tự tin để hòa nhập và phát triển đất nước?

Tính cách có một phần yếu tố di truyền, song một phần lớn khác là do ảnh hưởng của sự giáo dục (trong gia đình, nhà trường) và môi trường xã hội tác động đến. Do đó, tính cách ấy không thể bất biến được. Muốn thay đổi tính cách, con người cần phải đặt trong môi trường nhất định. Nếu như trong một cộng đồng, một xã hội được thắt chặt kỷ cương, đạo đức xã hội, pháp luật nghiêm minh, người thực thi pháp luật không nể nang bất cứ ai, tạo ra xã hội thực sự dân chủ, minh bạch thông tin thì những thói xấu như tham ăn, háo danh, sĩ diện, tùy tiện… sẽ khó có đất mà tồn tại.

Ngoài ra, xã hội cần có sự tuyên truyền mạnh mẽ về việc chống lại các thói quen xấu đã, đang và có xu hướng được hình thành. Bản thân mỗi cha mẹ cần là một tấm gương sáng để con cái noi theo. Nhà trường cần chú trọng khâu rèn luyện đạo đức, nếp sống, thói quen cho trẻ. Bên cạnh dạy kiến thức, nhà trường và gia đình cần dạy dỗ nhiều hơn về văn hóa giao tiếp và ứng xử. Có như vậy mới góp phần đưa văn hóa VN trở thành một điểm sáng trong mắt bạn bè thế giới.

(Đọc tiếp…)

Ông Đặng Văn ViệtĐVV đang nhảy đầm

“PHÉP” SỐNG THỌ CỦA “CON HÙM XÁM ĐƯỜNG SỐ 4”

Nhà văn Nguyễn Khắc Phê

“Con Hùm Xám Đường số 4” là một trong rất nhiều “danh hiệu” mà người đời phong tặng cho “người lính già” Đặng Văn Việt (ĐVV), sau chiến dịch biên giới Cao-Bắc-Lạng (1950). Hồi đó, ĐVV là Trung đoàn trưởng trung đoàn 174 – một trong các trung đoàn chính quy đầu tiên của quân đội nhân dân Việt Nam, đã làm giặc Pháp kinh hồn không chỉ trên đường số 4; ông đã chỉ huy đánh thắng trên trăm trận, nên ông cũng có danh hiệu là “Nã Phá Luân nhỏ”, đối thủ gọi ông là “Un Général, un Maréchal sans étoile” (Một đại tướng, một Nguyên soái không sao); đồng đội thì gọi ông là “Anh hùng dân phong”… Có chuyện “không sao” và “dân phong” vì ông “vướng lí lịch”, nên đã phải sớm chuyển ngành sang Bộ Thủy sản, rồi Bộ Xây dựng.

 

(Đọc tiếp…)

Chống Trung Quốc xâm lược

Lại bàn về cái Gốc : Việt Nam chọn đồng minh chiến lược mới

Vũ Duy Phú

Hiện nay trong nhân dân đang nảy sinh những ý kiến mâu thuẫn nhau về nhiều vấn đề quốc tế, trong đó rõ nhất là “Chọn đồng minh chiến lược số 1”… Chẳng cần úp mở làm gì, hiện nay, rõ ràng VN đang đứng trước sức ép trong nước và thế giới về sự lựa chọn Mỹ hay Trung Quốc làm Đồng minh quan trọng nhất của mình.

Đặt vấn đề

1/ TQ đã từng là đồng minh chiến lược của VN suốt mấy chục năm vừa qua, khi mục tiêu quốc gia của VN và TQ trùng hợp với nhau. Hơn thế VN và TQ còn dựa vào nhau và tận tình giúp đỡ nhau thực hiện mục tiêu (việc VN giúp trở lại TQ – tạo bàn đạp chiến lược cho TQ – thì hầu như chỉ có những nhà chiến lược của các nước mới thấy rõ và đã ghi nhận). Nhưng nay, khi mục tiêu của TQ đã khác mục tiêu của VN (TQ muốn gấp rút trỗi dậy để thế chân Mỹ trong thế kỷ XXI ), thì VN lại ngẫu nhiên, trên quan điểm của TQ, trở thành “vật cản” tự nhiên của TQ trên đường đi của họ. Vì vậy, trên thực tế hành động, TQ đã đối xử với VN không khác một kẻ thù. Chính đó là cái khó cho VN, vì thực chất bây giờ là cần/phải từ bỏ quan hệ đồng minh chiến lược vốn có với TQ, để chống đỡ lại một TQ đang tự thể hiện như là kẻ thù của mình. Do vậy VN cần chọn thêm một đồng minh chiến lược mới cho giai đoạn cách mạng hiện nay.

 

2/ Mỹ đã từng là kẻ thù lớn nhất của VN suốt mấy chục năm qua cho đến năm 1975. Nhưng sau khi Mỹ đã nhận ra sai lầm chiến lược do nhầm lẫn tệ hại ngay từ năm 1945 đối với bản chất của Chính phủ VNDCCH, nên Mỹ đã có thái độ tích cực tham gia khắc phục những hậu quả sai lầm tại VN, và đặc biệt từ năm 2013, Mỹ đã bắt tay với VN trong quan hệ “đối tác hợp tác toàn diện”, đang ủng hộ và hỗ trợ VN chống lại bành trướng bá quyền Đại Hán/TQ. Vì vậy, hiện nay, Mỹ rất xứng đáng để VN chọn mời làm đồng minh chiến lược với mình, ngoài những đồng minh rất quan trọng đã có.

Như trên đã nói, trong thế giới phẳng ngày nay, nếu lãnh đạo một nước cần một sự lựa chọn lớn mà sai lầm, không chỉ bị nhân dân phê phán, chống đối, mà còn bị nhân dân thế giới chê cười và không đồng tình ủng hộ. Vì vậy, chọn đồng minh chiến lược số một là một bài toán rất lớn cho người lãnh đạo và cho đất nước. Rõ ràng, vừa qua VN đã từng chọn TQ là đồng minh chiến lược. Vậy nay giới lãnh đạo TQ tự biến mình thành kẻ thù của VN, thì có nghĩa tự họ đã vứt bỏ cái mác đồng minh chiến lược ấy đi. Còn Mỹ, bằng hành động và các quyết định cấp nhà nước của mình, thực tế là đã quên đi thời gian nhầm lẫn đen tối trước đây để bắt tay xây dựng mối quan hệ mới tốt đẹp với VN. Bản chất vấn đề đã sáng tỏ như vậy, thì nếu VN có luyến tiếc cái cũ hay sợ hãi cái mới cũng chẳng giúp ích gì, mà lại còn bị chê cười là kỳ dị, lú lẫn hay tránh né một sự thật!

Tình thế hiện nay bắt buộc VN phải nghiêm chỉnh xem xét tìm một đồng minh chiến lược số 1 mới để có chỗ dựa trong cuộc chiến đấu lâu dài xây dựng và bảo vệ đất nước trong thế kỷ XXI.

Để khách quan, tin tưởng quyết định của mình là đúng, và để nhân dân TQ (láng giềng hữu nghị) cũng phải thừa nhận sự thật và không thể phản đối, sau đây chúng tôi xin đưa ra một phương án (chủ quan, sơ bộ) so sánh lại cho cẩn thận ngay giữa TQ (đồng minh chiến lược số 1 cũ) với Mỹ (đồng minh chiến lược số 1 mới đang được đưa ra lựa chọn) không chỉ ở thời điểm hiện tại, mà tính đến cả những diễn biến trong tương lai ngắn hạn và trung hạn nữa.

I. Bàn về tiêu chuẩn chung

Rõ ràng cạnh tranh phát triển là một đặc điểm bẩm sinh. Mà cạnh tranh để chiếm ngôi “Đứng đầu thế giới” giữa các nước có tiềm năng là không thể tránh khỏi và gay go nhất. Tất nhiên chúng ta lựa chọn các đồng minh chiến lược, nhất là đồng minh chiến lược số một – tuy không phải là yếu tố bất biến – phải là sự lựa chọn giữa những nước đang đứng hàng đầu thế giới và đang ủng hộ chúng ta phù hợp quan điểm và lợi ích của đất nước chúng ta. Nhưng trước đó, để không mơ hồ, nhầm lẫn, và khách quan, chúng ta hãy xem xét vấn đề này theo một hệ tiêu chí chung của toàn cộng đồng Nhân loại.

Tiêu chí để lựa chọn đồng minh chiến lược văn minh theo lẽ đương nhiên là:

1. Thể chế chính trị, mô hình phát triển tiên tiến nhất, hay tiên tiến hơn;

2. Sức mạnh kinh tế, quân sự, văn hóa xã hội… ưu việt hơn;

3. Thái độ chính trị và các mặt quan trọng khác của họ đối với nước đang tìm chọn phải là tốt hơn. Đây có lẽ là điều quan trọng nhất;

4. Thái độ của thế giới, của khu vực đối với nước được lựa chọn là tốt hơn;

5. Ảnh hưởng của những yếu tố gắn bó quan hệ truyền thống, lịch sử giữa 2 bên.

Điều cần lưu ý ngay là, các tiêu chuẩn trên chủ yếu được đánh giá tại thời điểm hiện nay.Vì vậy, rất cần thêm điểm phân tích thứ 6:

6. Sự thay đổi trong tương lai gần và trung hạn các tiêu chí nói trên của từng nước được đưa ra lựa chọn.

II. Đi vào cụ thể

Về tiêu chuẩn 1 và 2: Đến thời điểm hiện nay 2014, thì chính TQ cũng phải thừa nhận rằng, về tổng thể, Mỹ đang vượt trội hơn TQ. Vì vậy, thế giới và chính TQ mới gọi Mỹ là siêu cường đứng đầu thế giới, thừa nhận thế giới còn đang “độc cực”, còn TQ mới đang phấn đấu “mở hết tốc lực” để đuổi kịp, và tự gọi mình là “nước đứng đầu thế giới tiềm năng” (xem trong “Giấc mộng Trung Hoa” của chính TQ). Vậy nếu chỉ xét điểm 1 và điểm 2, cộng với thái độ cụ thể rất rõ rệt không cần bàn cãi về vấn đề thời sự Biển Đông của TQ đối với nước ta hiện nay (TQ thì chèn ép, xâm lược, dã man tàn bạo), còn Mỹ, và thế giới thì bênh vực, ủng hộ VN (nội dung thời sự quan trọng của điểm 3 và 4), nên nếu chúng ta không chọn Hoa Kỳ là đồng minh chiến lược số một, trong khi Mỹ đã sẵn sàng, để đối phó lại với TQ thì thế giới và nhân dân nước ta có thể coi đó là một điều kỳ lạ, hay kỳ dị!

Có lẽ điều kỳ lạ đó được giải thích như sau: Để chọn đồng minh chiến lược số 1, ta không nên chỉ dựa vào tình thế hiện tại. Vấn đề Biển Đông như vậy mà bị xem chỉ là một “đụng chạm nhỏ” (!), mà cần xét kỹ cả những yếu tố quan hệ lịch sử nữa (điểm 5, đã nói ngắn gọn trong phần mở đầu) và chiều hướng chuyển biến toàn cục trong tương lai ngắn hạn và trung hạn (điểm 6).

 Vì vậy, sau đây, để hoàn toàn an tâm, tôi sẽ phân tích ngắn gọn toàn diện lịch sử và triển vọng diễn biến phát triển (về điểm 6), của Trung Quốc và Mỹ trong tương lai:

Về so sánh cụ thể mạnh hay yếu và diễn biến sắp tới của 2 nước ứng viên

2.1. Hoa Kỳ

- Về tiêu chuẩn thể chế chính trị: Thể chế chính trị của Mỹ là thể chế mà tại thế kỷ XXI này mọi quốc gia trên thế giới đang hướng tới, đó là “Nhà nước pháp quyền tam quyền phân lập, Thị trường tự do hướng tới thị trường xã hội và Xã hội dân sự hiện đại” (dẫn đầu xu thế tất yếu trung hạn: Toàn cầu hóa TBCN). Bởi thế ngay từ khi Mỹ ra Tuyên ngôn lập nước, Các Mác đã viết: “Hoa Kỳ là nơi đầu tiên sản sinh ra tư tưởng của nước cộng hòa dân chủ vĩ đại”, Mác coi “Tuyên ngôn độc lập” năm 1776 của Hoa Kỳ là “Tuyên ngôn nhân quyền đầu tiên của Nhân loại”. Mác cũng đánh giá rất cao “Tuyên ngôn giải phóng” nô lệ của Mỹ năm 1863, vì vậy ông đã “thay mặt Quốc tế Cộng sản I phát đi lời chúc mừng đầy nhiệt huyết”. Còn Tôn Trung Sơn sau khi quan sát nghiên cứu kỹ tình hình nước Mỹ, đã ca ngợi: “Mỹ là nước văn minh tiên tiến, là nước cộng hòa đầu tiên trên thế giới”, ông đã khuyến khích người TQ học tập Mỹ, trước hết là học tập tinh thần cách mạng và xây dựng đất nước của Mỹ. Còn Mao Trạch Đông thì “quyết tâm đuổi kịp và vượt Mỹ trong vòng 15 – 20 năm”. Hồ Chí Minh ngay từ 1945 đã vận dụng mô hình chính trị của Hoa Kỳ. Hiện nay những chính khách tầm cỡ của giới tư bản Mỹ đã nhận định: Hoa Kỳ hiện nay đã chuyển từ CNTB đế quốc sang CNTB dân chủ. Còn chính giới Trung Quốc hiện nay thì nhận định rằng: “Hoa Kỳ đã tự do dân chủ một nửa, là tự do dân chủ đối với trong nước, còn vẫn là bá quyền đối với nước ngoài”, vả lại, Mỹ mới chỉ có “dân chủ theo chiều ngang” (xem giải thích tại phụ lục (*)). Như vậy có thể kết luận: Về mặt thể chế, chưa có nước nào được các chính khách lớn trên thế giới đánh giá cao như vậy. Tuy nhiên: Cái sai lớn nhất của Mỹ là: a) đã để hình thành các “tập đoàn kinh tế” toàn cầu không có cơ chế kiểm soát hữu hiệu và ngăn chặn độc quyền ngay từ đầu. Các tập đoàn này đã biến thành “Siêu quyền lực” điều khiển cả Chính phủ Mỹ và Thế giới; b) Thái độ ứng xử với thế giới rất chủ quan, tự mãn kiêu căng; nhiều khi lợi dụng thực hiện chức năng sen đầm thế giới để trục lợi quốc gia và các tập đoàn…; c) Khi bị nhân dân thế giới chống lại, đã có thời kỳ thi hành chính sách phản động: “Không theo ta là kẻ thù”, gây chiến tranh bảo vệ quyền lợi quốc gia và đồng minh với rất nhiều nước; d) Nhầm lẫn trong chủ trương chống “CSVN” (tưởng rằng Hồ Chí Minh tuân theo đường lối QTCS III), đó là sai lầm chiến lược trong chiến tranh ở VN.

Với tất cả những thành công to lớn từ khi lập nước và những thất bại nặng nề đã trải qua tại nửa sau thế kỷ XX, nước Mỹ đã đủ thông minh – và đủ tiềm lực – để bắt đầu “Tìm lại giấc mơ cũ”. Từ cuối thế kỷ XX, Mỹ đang chuyển dần từ “Chủ nghĩa tư bản đế quốc” sang “Chủ nghĩa tư bản Dân chủ” mà Obama là đại diện (theo sự chứng minh của John Perkins, một chính trị gia nổi tiếng của Mỹ). Mỹ cũng đã nhận thấy sai lầm ở VN và đang tự giác đền bù lại sai lầm của mình, đã quyết định coi VN là “đối tác hợp tác toàn diện”.

- Về các nội dung kinh tế, KHCN, quân sự, văn hóa, xã hội dân sự…: hầu như nước Mỹ đều đứng đầu bảng, hoặc vẫn vào tốp đầu, ví dụ về thu nhập bình quân đầu người của Mỹ còn kém một số nước. Chính vì vậy Mỹ mới được thừa nhận rộng rãi là siêu cường hùng mạnh nhất thế giới.

Vậy tại sao Mỹ lại có được vị trí như vậy? Cái lòng tham phổ quát toàn cầu nó đóng góp vào thành tựu này của Mỹ như thế nào?

Quả thật, với lòng tham vốn có của con người và sự dũng cảm vượt đại dương sang kiếm sống tại lục địa Hoa Kỳ của những người Châu Âu đầu tiên đã dựng nên nước Mỹ hơn 200 năm trước đây. Bản thân cái tên “Hợp chúng quốc Hoa Kỳ” đã nói lên rằng, nước này không có gì trong quá khứ để tự hào, luyến tiếc, và cũng chẳng phải là nô lệ của một cái gì xấu xa trước đó, hay một lịch sử dân tộc “hàng mấy ngàn năm” trì trệ. Vì vậy, khi những công dân Mỹ đầu tiên (mang theo mình những trí thức khai sáng của Châu Âu là chính, nơi vừa rũ bỏ thành công chủ nghĩa phong kiến tập quyền mất dân chủ tự do, đang bắt đầu xây dựng chủ nghĩa tư bản với những đặc điểm cơ bản như chúng ta đã thấy: Nhà nước pháp quyền, thị trường tự do và xã hội dân sự) họ sang mảnh đất hoang sơ này để được hoàn toàn tự do dân chủ bình đẳng cạnh tranh lao động kiếm sống. Và để hòa bình, yên ổn làm ăn, họ đã tự mình xây dựng một thể chế tổ chức quản lý đất nước, đấu tranh “thống nhất giang sơn’ và chống xâm lược. Mô hình của Châu Âu Tư bản chủ nghĩa đã được người dân Mỹ tham khảo và nhanh chóng được họ cải tiến tốt hơn cho chính nước họ. Trong quá trình phát triển TBCN, Tư bản Mỹ, với “lòng tham của con người” và với hoàn cảnh thuận lợi – tự mình làm chủ – như đã nói, nước Mỹ đã nhanh chóng trở nên hùng cường, đủ “khôn” để bành trướng ra thế giới. Nhưng tại sao họ không đi chiếm thuộc địa, mở mang bờ cõi, xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải của các nước xung quanh? Bởi lẽ họ có đủ thông minh: a) Vì họ tôn trọng bản đồ thế giới đã hình thành, và học được bài học thất bại của các nước TBCN thực dân đi trước; b) Vì với KHKT tiên tiến nhất thế giới, với những sản phẩm chất lượng, tinh xảo hàng đầu, Mỹ nhận thấy rằng, cứ thuyết phục các nước “mở cửa” thị trường thì Mỹ sẽ thống lĩnh được kinh tế thế giới không cần chiến tranh (cái ý ấy là đặc sệt “cá nhân chủ nghĩa”, khôn ngoan, nhưng là tiên tiến cho đến tận ngày hôm nay). Mỹ đã cố gắng đứng ra làm “Sen đầm” giữ trật tự thế giới để cùng cạnh tranh trong hòa bình, yên tâm rằng, chừng nào KHCN và sản phẩm công nghệ cao của Mỹ vấn đứng đầu thế giới. Thái độ chống CNCS gay gắt cũng chính là vì Mỹ sợ cái đường lối đưa công nông (nghèo khó, ít học) lên lãnh đạo, xóa bỏ thị trường tự do thì nó sẽ chặn đứng, thậm chí tiêu diệt cái chủ trương tự do dân chủ cạnh tranh thị trường theo tài trí sáng tạo của mọi công dân; c) Vì một điều may mắn: đất Mỹ đã đủ rộng cho khoảng 2-300 triệu dân.

Tất cả những cái xấu xa cũ đã thúc ép, và tất cả những cái tốt đẹp vốn có đang tạo ra khả năng để Hoa Kỳ có thể chuyển dần từ CNTB đế quốc, về CNTB Dân chủ, cơ hồ có thể tìm lại giấc mơ cũ trong các bản Tuyên ngôn nổi tiếng của nước Mỹ. Mỹ rất xứng đáng là đồng minh chiến lược số 1 của VN.

 

2.2. Trung Quốc

Khác hẳn với Mỹ, nếu đem hệ thống thang bậc tiến hóa abc của thế giới ra áp vào TQ, thì hầu như TQ đang đứng ở bậc trung bình về hầu hết các nội dung, trừ tổng lực kinh tế đứng thứ hai (của 1,3 tỷ dân, trong khi Mỹ chỉ có trên 300 triệu dân), chinh phục vũ trụ và số lượng trang bị quân sự là đạt được hàng thứ ba, thứ tư thế giới. Trung quốc có lịch sử chí ít cũng đến 3, 4 ngàn năm. “Hiện nay tại TQ đang nổi lên trạng thái tâm lý rất cực đoan đang thịnh hành ở nước này liên quan đến cái gọi là tính ưu việt về chủng tộc của Trung Quốc, chủ nghĩa quân phiệt, và trường phái lý luận coi ý chí chính trị đóng vai trò quyết định tối hậu của nước này” (Theo TTX VN). Tâm lý ấy đang động viên Trung Quốc “chạy hết tốc lực” để trở thành “quốc gia số một” hay “cường quốc đứng đầu thế giới” thay thế Mỹ. Nhưng vì cái gì, để cho ai, thì các nhà lý luận chiến lược của TQ chưa trả lời được rõ ràng. Một số chuyên gia TQ nói rằng, “để TQ làm mẫu, tạo mô hình tân tiến “dẫn dắt” thế giới” (!).

Trên cơ sở nào xuất hiện tư duy nôn nóng, vội vã độc đáo ấy? Đây là truyền thống thông minh, sáng tạo, tiên tiến đặc sắc; hay ý muốn chủ quan siêu hình, lập dị, ảo tưởng; là sự bừng tỉnh của một số người TQ tiên phong đã từng đi tham quan khảo sát ở các nước phương Tây; hoặc đơn giản chỉ là biểu hiện của lòng tham không đáy, muốn có sức mạnh để lặp lại những sai lầm của CN thực dân đế quốc hay phát xít trước đây?

Sau đây là điểm qua mấy nguyên nhân:

1. TQ là nước lớn nhất cả về dân số lẫn đất đai và lịch sử văn hóa lâu đời. Vậy thì TQ hèn kém gì mà không đặt cho mình mục tiêu trở thành một nước đứng đầu thế giới? (**)

2. Trung quốc đã từng là cường quốc kinh tế thế giới. Đã từng có nền văn minh Trung Hoa nổi tiếng “nhân đạo và hòa bình” (!) thời Trung Đại, đã phát minh ra giấy, thuốc súng, la bàn, đã tự sáng tạo ra chữ viết và các triết giáo nổi tiếng như Đạo Lão, Đạo Khổng; TQ có định hướng thể chế tân tiến (XHCN đặc sắc TQ), có mô hình hiện đại là “Dân chủ theo chiều dọc” (xem phụ lục), có sức mạnh của “Trung Quốc vương đạo” không bao giờ phai lạt… Vậy TQ có quyền “lập chí” đứng đầu thế giới!

Nhưng TQ đã cố bỏ qua cái Gốc: Vì lý do gì TQ đã từng có vị trí đứng đầu thế giới phong kiến, nhưng sau đó đã để mất tư thế đó, thậm chí đã trở thành “một nước nghèo yếu nhất thế giới để cho các nước tư bản phương Tây sâu xé suốt gần một thế kỷ”, như Tôn Trung Sơn đã từng nói? Đó là vì: a) Trung Quốc đã chìm sâu vào Chủ nghĩa phong kiến, đã hoàn thiện, chăm chút, tô điểm, nâng cấp cái chủ nghĩa “Trung quân Vương đạo” này đến mức tinh xảo, ưu việt nhất trong “Thế giới phong kiến” toàn cầu. Nếu Chủ nghĩa phong kiến trên thế giới có những đặc điểm gì cản trở sự tiến hóa văn minh, thì chủ nghĩa phong kiến của TQ luôn thuộc loại đứng đầu. Người TQ vẫn tự hào về nền văn hóa cổ kính của mình, đặc biệt cái đỉnh cao của nó là Đạo Khổng, chuyên dạy người ta phải sống có nhân nghĩa, đạo đức (đó là cái tốt), nhưng thực chất trước hết là để hết lòng trung thành với nhà vua (Chủ nghĩa Trung quân) (mâu thuẫn với nhân nghĩa, đạo đức); b) Các vua chúa phong kiến rất ghét tư duy Dân chủ, độc lập, sáng tạo, sự tự do, thậm chí ghét đến mức rất nhiều triều đại cho quân lính tịch thu đốt hết sách vở, bắt giết cả trí thức có ý vươn ra ngoài quy chế lễ giáo phong kiến, nhất là tại các “thuộc quốc” để triệt tiêu sự nổi dậy. Bởi họ coi những thứ đó là rất nguy hiểm cho chế độ vương đạo, cho ngai vàng của họ; c) Nói về cái bệnh phổ quát của con người là bệnh tham lam, thì có lẽ TQ là tập hợp chứa chấp một số nhóm người tham lam nhất thế giới. Không ai dám bịa: Chính những nhóm người này là hạt nhân cực kỳ lợi hại, nguy hiểm của Chủ nghĩa bành chướng bá quyền phong kiến cực đoan Trung Hoa. Do lòng tham vô độ, nhưng thay vì nghiên cứu sáng tạo KHCN, làm ra sản phẩm mới, thì họ lại không ngừng nghỉ “sáng tác” ra mọi mục tiêu và mưu mẹo xảo trá dã man thâm độc để “mở mang” bờ cõi, xâm chiếm đất đai, đồng hóa các dân tộc khác chung quanh, không để cho người ta sống hòa bình, yên ổn. Đó là nguyên nhân dẫn đến kết quả không ngờ: Từ một vùng đất rộng lớn, trên đó cư trú trên hai chục quốc gia độc lập (như kiểu các quốc gia độc lập Châu Âu tồn tại cho đến hiện nay), họ đã đánh chiếm bằng cả quân sự lẫn mưu mẹo, rồi bằng mọi cách đồng hóa bên bị thua để các nước thua không thể đòi tách ra độc lập trở lại như cũ được nữa (Dấu vết của cái dã tâm xâm chiếm đồng hóa này vẫn còn chưa kịp hoàn thành đến giờ này, đó là các vùng Tân Cương, Tây Tạng và Nội Mông…)(***); g) Chính vì Chủ nghĩa trung quân được điêu luyện trên đất TQ, nên nó đã triệt tiêu đến tệ hại mọi ý chí vươn lên sáng tạo và cạnh tranh phát triển KHCN, sản xuất sản phẩm cao cấp hiện đại, đời sống văn hóa và thể chế chính trị phi phong kiến…, làm cho đất nước Trung Hoa ngày càng tụt hậu so với thế giới hiện đại như Tôn Trung Sơn đã nhận xét (người đã rất nhiều lần tìm đường sang phương Tây quan sát, học hỏi).

Bây giờ một số giới TQ với đầu óc dân tộc rất cao, có chí hướng lớn, có tầm nhìn rất “chiến lược”… đã gợi dậy tinh thần xô vanh nước lớn của Nhân dân TQ để thực hiện ý đồ chính trị của mình (“nước mà đứng đầu, thì dân sẽ rất có lợi”). Tôn Trung Sơn đã từng nói: “Người TQ phải làm nên những kỳ tích vĩ đại nhất của Nhân loại” (!), “Phải xây dựng TQ trở thành quốc gia “4 nhất’: Mạnh nhất thế giới, giàu nhất thế giới, nền chính trị tốt nhất thế giới, dân chúng hạnh phúc nhất thế giới”. Những tư tưởng đó thật vĩ đại, thật đặc sắc. Và Tôn Trung Sơn cũng đã nói: “Thế giới phải hòa bình, thế giới phải đại đồng. Mong muốn người TQ sẽ đảm bảo hạnh phúc lớn nhất cho nhân loại, làm nên kỳ tích lớn nhất cho nhân loại, không chỉ mang lại lợi ích cho một dân tộc, một quốc gia, mà là cho toàn thể nhân loại”. Giải pháp của Tôn Trung Sơn đưa ra là theo bước chân của Hoa Kỳ.

Vậy tại sao bây giờ TQ đi ngược lại 180 độ những lời chỉ giáo của lãnh tụ của mình, phải “tăng tốc tận lực” bóc lột nhân dân TQ, phải dùng biện pháp bành trướng bá quyền ra chung quanh, chà đạp lên luật pháp quốc tế và quyền lợi các nước khác để thực hiện mục tiêu phát triển thành một “nước lớn đứng đầu” thế giới?

Có rất nhiều lý do khác nhau:

1. Về chính trị. Tôn Trung Sơn đã dạy: Muốn phát triển, TQ phải thực thi Tam quyền phân lập (Lập pháp, tư pháp, hành pháp) như các nước phương Tây, thậm chí cần sáng tạo thêm, thực hiện “Ngũ quyền phân lập”, tức phải thêm “hai quyền phân lập” nữa, là thêm chế độ chất vấn và thi cử (như chất vấn quốc hội, tranh cử nghị sĩ và tổng thống). Tôn Trung Sơn còn nói: “Nếu TQ có thể đi theo con đường cách mạng của Mỹ, thì kết quả tương lai đương nhiên sẽ tốt đẹp hơn Mỹ”. Nói tóm lại, đáng lẽ là phải Tự do dân chủ đa nguyên như phương Tây, và hơn phương Tây. Nhưng Mao Trạch Đông và phe phái của Mao cầm quyền thì lại rất nôn nóng, tôn sùng, học theo nhà độc tài Stalin và lãnh chúa khát máu Tần Thủy Hoàng… để thực hiện ý đồ không lành mạnh “chạy cho thật nhanh” để soán ngôi cường quốc chủ trì thế giới nhằm trục lợi! Vậy bao giờ TQ mới “dẫn dắt” được thế giới về chính trị, về mô hình phát triển?

2. Về kinh tế. Để phát triển trỗi dậy, đương nhiên phải tự chăm sóc nội lực và quan hệ tốt với thị trường quốc tế. Nhưng với phương châm nóng vội “chạy cho thật nhanh” thì TQ không thể theo mô hình dân chủ cạnh tranh bình đẳng tự nhiên như các nước, vì cái này đòi hỏi thời gian dài. Vì thế TQ đã dùng mọi mưu ma chước quỷ dụ dỗ các nước phương Tây, sau khi Mỹ thua tại VN nên gặp nhiều khó khăn, để họ sẵn sàng giúp biến TQ thành “công xưởng của thế giới” để TQ tự bóc lột mấy trăm triệu nhân dân nước mình, thông qua thu hút đầu tư, công nghệ và giải quyết thị trường bên ngoài. Việc TQ coi thường luật pháp quốc tế và các quan hệ láng giềng, đã hung hăng bành trướng bá quyền ra các nơi chung quanh không cần dấu diếm như đang thấy, chính là nằm trong chiến lược “chạy thật nhanh” để chiếm “vị trí đứng đầu thế giới” nói trên. Sự nôn nóng, ăn xổi đó đã dẫn đến tác hại mà chính một chuyên gia TQ đã cho biết: “Nền kinh tế TQ có 16 cái “tử huyệt”, nếu phương Tây mà “trừng phạt” vào đấy, thì kinh tế TQ có thể gục ngay sau vài tháng”. Vậy bao giờ TQ mới ở vị trí “Dẫn dắt” thế giới về kinh tế như họ muốn ?

3. Về KHCN và kỹ thuật quân sự. Sự lạc hậu về KHCN và KT quân sự của TQ có nguyên nhân sâu xa từ chế độ tập quyền phong kiến, như đã nói (nên mới bị các nước phương Tây và Nhật “bắt nạt”). Vì việc tự lực nâng trình độ KHCN và kỹ thuật QS lên không thể nhanh, cho nên TQ đã có cực nhiều sáng kiến “sao chép” mọi lĩnh vực KHCN của thế giới, đã khôn khéo lôi kéo được các chuyên gia KHCN và KT quân sự LX chạy sang, đồng thời cũng huy động được các trí thức chuyên gia TQ học tại các nước phương Tây trở về. Tình báo thu thập thông tin KHCN và KT QS của TQ cũng phát triển rất mạnh. Một chân lý: Khi đã ngang bằng, mà muốn vượt lên, thì phải bằng chính trí tuệ và sức lực của mình. Nhưng chính các chuyên gia chiến lược KHCN, Kỹ thuật quân sự của TQ cũng mới chỉ hy vọng rằng: TQ sẽ sớm bỏ qua vị trí thứ ba trong lĩnh vực sức mạnh này. Vậy bao giờ TQ mới “dẫn dắt” được thế giới về những mặt KHCN và KT quân sự ?

Tóm lại, cái mối lo và đáng ngại nhất của thế giới đối với TQ thực chất là sự hung hăng và ý chí nóng vội “chạy thật nhanh”. Cái đáng gờm thứ hai là sự tàn bạo mưu mô sảo quyệt dã man của TQ, không chỉ đối với bên ngoài, mà họ dám làm đối với ngay trong nước họ, để diệt những ý tưởng chống đối sự mất dân chủ và bất chính. Nhưng 2 cái đó chỉ là sức mạnh đe dọa tạm thời, không cơ bản, chỉ có thể hữu hiệu cho những mục tiêu cụ thể trước mắt. Trước đây, TQ chê Mỹ và phương Tây là Cường đạo dã man, còn TQ sẽ là Cường đạo văn minh. Nhưng nay, thực tế đang diễn ra là đã đảo ngược lại. Điều đó không có gì khó hiểu: TQ đi sau phương Tây khoảng một thế kỷ. Họ không thể không trải qua những bước tiến hóa theo trật tự quy luật, nhưng vì nôn nóng, để rút thật ngắn, họ buộc phải tìm cách nhảy cóc bằng “cơ bắp” và thủ đoạn gian dối.

Mặc dù TQ đã có thời đứng hàng đầu thế giới, nhưng nên nhớ, đó là hàng đầu trong thể chế và văn minh phong kiến. Nên thực tế không thể chối cãi là TQ hiện nay đang giống nhiều nước phương Tây trước thế chiến một và thế chiến hai. Vì vậy, trong khi Mỹ đã chuyển sang CNTB Dân chủ, thì Tàu mới bắt đầu đi vào giai đoạn Tiền TBCN, để rồi sau đó sang nửa đầu thế kỷ XXI này mới “định hướng” đạt đến giai đoạn CNTB đế quốc như Mỹ tại nửa sau của thế kỷ XX vừa qua. Chính Mao Trạch Đông, sau khi thất bại nặng nề trong “Đại nhẩy vọt” đã điều chỉnh thời gian cần để TQ vượt Mỹ từ 15 – 20 năm lên 50 – 100 năm. Còn Đặng Tiểu Bình thì nêu thời gian để TQ tiến lên vượt trước Mỹ, đứng đầu thế giới là “nửa sau của thế kỷ XXI”. Chúng tôi, căn cứ sự tiến hóa văn minh của Nhân Loại, thấy rằng, mỗi thế kỷ tiếp sau, các thế hệ CON NGƯỜI mới sinh ra lại có bao điều mới mẻ, tiến bộ thông minh hơn các thế hệ trước, do đó nếu Bồ Đào Nha chỉ giữ được vị chí “đứng đầu thế giới” gần 1 thế kỷ, Hà Lan giữ được “cường quốc đứng đầu” trên 1 thế kỷ, nước Anh đứng đầu thế giới khoảng 2 thế kỷ, thì Mỹ có thể đủ thông minh, tài trí để giữ được vị trí đứng đầu thế giới khoảng từ 2 đến 2,5 thế kỷ. Còn TQ, vì bắt đầu tham gia vào cuộc đua quá chậm, không đi từ CNTB Dân chủ hàng ngang, mà từ “CNTB đặc sắc Dân chủ hàng dọc”. Điều đó bắt buộc TQ phải đi từ giai đoạn, về thực chất, là “Tiền TBCN” (ít nhất vài chục năm như đang tiếp tục diễn ra trong nước), sau đó mới “tiến” lên CNTB đế quốc (nửa thế kỷ nữa), rồi sau nhiều thất bại (như TB phương Tây trước đây) mới tỉnh ngộ để tham gia phấn đấu tiến tới CNTB Dân chủ (dự kiến 1 thế kỷ). Hiện nay, 2014, đối với trong nước, thì TQ vẫn đang ở giai đoạn Tiền TBCN, đối với ngoài nước thì TQ đã bắt đầu “nhảy cóc” đi vào giai đoạn CNTB đế quốc. Có kết quả lệch pha như vậy, chính là do “ý chí vươn lên đuổi kịp và vượt” ghê gớm của giới cầm quyền, bắt đầu từ Mao Trạch Đông. Theo quy luật thế giới, TQ cần trải qua một số thất bại mang tính quyết định, cái đó tuỳ tình hình lực lượng các bên trên thế giới, sau đó – theo đúng quy luật – có thể TQ mới bước vào giai đoạn CNTB Dân chủ như Mỹ hiện nay được. Nên nhớ: Thất bại của “Đại nhảy vọt” 1958 của Mao Trạch Đông chưa phải là thất bại của CNTB đế quốc Trung Quốc, mà mới là thất bại của “ảo tưởng” công xã nhân dân trong giai đoạn hướng theo chế độ XHCN.

Lịch sử trỗi dậy của những nước lớn không phải ở dân số đông, diện tích rộng, mà là ở chí hướng, ở sức mạnh trí tuệ, trình độ văn hóa xã hội của nhân dân, và tầm nhìn nhân bản của lãnh đạo nước họ. Một khi chí hướng đã bị đặt sai lệch, trí tuệ không đầy đủ, đạo đức lại yếu kém, thậm chi điên rồ, dã man… thì chẳng được chính nhân dân nước mình ủng hộ, nói gì có sức mạnh thật sự để sớm vươn lên thành “nước lớn vĩ đại”, có mô hình “dấn dắt” để được chúng ta tự nguyện chọn làm “Đồng minh chiến lược”.

Tuy nhiên, cần thấy trên đây chỉ là đạo lý nghiêm chỉnh, là tư duy của những người có thần kinh bình thường. Còn TQ là một nước lớn sát ngay biên giới và biển đảo với VN, từ ngàn xưa đã nhiều lần xâm chiếm VN, nay rất muốn chi phối, bắt VN thành thuộc quốc, phên dậu cho họ, dắt mũi được lãnh đạo VN nhiều năm dài, nên VN không thể không tính đến, không thể không đề phòng tình hình bất trắc đối với một TQ “đồng chí” dởm như vậy, khi họ bị VN gạt ra khỏi “vị trí” vẫn muốn có của họ. Để khắc phục sự lo lắng, băn khoăn, dẫn đến lưỡng lự, mâu thuẫn nội bộ, bỏ lỡ cơ hội mà chính TQ và Thế giới đã mở ra cho VN nắm lấy, thì chúng ta cần trước hết phải dũng cảm thuyết phục, loan báo được cho toàn dân, toàn đảng và bạn bè thế giới biết về bản chất cái Gốc của vấn đề như đã trình bày ở trên.

Cuối cùng, nếu có lo rằng, liệu Mỹ có duy trì lâu dài được vai trò “đứng đầu thế giới”, thì đó là một tư duy chiến lược nghiêm chỉnh, nhưng cái đó không chỉ phụ thuộc chính vào nước Mỹ. Nếu TQ chẳng hạn, sau này sẽ vươn lên đạt tiêu chuẩn, chúng ta sẽ lại đem ra xem xét và điều chỉnh sự lựa chọn đồng minh chiến lược số 1 của mình. Cái khó cho VN trong việc hoán đổi đồng minh chiến lược hiện nay là TQ thì không muốn VN từ bỏ đồng minh số một với TQ, để TQ có thể tiếp tục thực hiện Dân chủ chiều dọc tới VN (như Dương Kiết Trì vừa mới thực hiện, sang chỉ thị cho lãnh đạo VN nhưng không dám công khai cho nhân dân biết), còn VN thì cần dũng cảm thực thi Dân chủ chiều ngang đầy đủ để nhân dân Mỹ cho phép chính phủ Mỹ nhận VN là đồng minh chiến lược. Vì vậy, đây chính là cái Gốc cực kỳ quan trọng hàng đầu trong quan hệ quốc tế đối với sự nghiệp bảo vệ đất nước chính nghĩa của VN, mà chúng ta phải nắm được. 

Tóm lại, chúng ta vẫn chân thành hữu nghị với nhân dân TQ, chúc họ sẽ sớm đạt danh hiệu mà họ mong muốn là “Quốc gia hàng đầu” và tham gia “dẫn dắt thế giới”, nhưng tại giai đoạn này, nhân dân ta cần cương quyết, cố gắng, dứt điểm tiếp nhận thời cơ trăm năm có một và những tư vấn chân tình của bạn bè quốc tế để chọn một đồng minh chiến lược số 1 của mình, đó là Hoa Kỳ – nước đứng đầu CNTB Dân chủ, đương kim siêu cường thế giới.

Mặt khác, cũng rất mong muốn thế giới sẽ từ bỏ “Mô hình” độc cực một siêu cường đứng đầu, phấn đấu để toàn cầu trở nên đa cực nhiều siêu cường, từ đó thế giới sẽ có thể tồn tại cân bằng trong hòa bình dân chủ và văn minh.

Hà Nội, ngày 28 tháng 7, năm 2014

V.D.P.

Chú thích: Đây là phương án sơ bộ (dự thảo) về “chọn Đồng minh”. Nếu ai có thời gian và quan tâm, xin đưa ra phương án “chọn Đồng minh” tốt hơn để nhân dân và chính quyền tham khảo, chắc chắn sẽ được mọi người hoan nghênh.

 

Phụ lục

(*) Xin giải thích rõ, đi từ hình ảnh cực đoan để diễn tả:

Dân chủ theo chiều ngang điển hình đầu tiên là dân chủ tại một cái chợ thời xã hội hoang sơ, Dân làm chủ thật sự, nhưng tự phát, thiếu kỷ cương, đôi khi hỗn loạn. Bây giờ Dân chủ chiều ngang đã tiến tới Dân làm chủ có tổ chức, cạnh tranh đa nguyên, đa đảng, nhà nước pháp quyền, thị trường tự do có kiểm soát và xã hội dân sự lành mạnh.

Dân chủ theo chiều dọc từ trên xuống, điển hình nhất là chế độ tù trưởng, lãnh chúa, vua quan đứng đầu, vương triều chỉ đạo, có tham khảo ý kiến một số thần dân. Sau đó nâng cao bằng học thuyết Khổng Tử, Đến bây giờ là độc đảng toàn trị, có “bầu bán dân chủ” dưới sự “lãnh đạo liên tục của một đảng “sáng suốt” độc quyền duy nhất”.

Thực ra hiện nay, thể chế dân chủ tự do đa nguyên phương Tây là đã có kết hợp nhuần nhuyễn Dân chủ chiều dọc với Dân chủ chiều ngang rồi. Cụ thể là, Dân chủ chiều ngang dùng để toàn dân lựa chọn Thể chế, Hiến pháp, và lựa chọn tự do công bằng một đảng cầm quyền vừa ý nhất theo nhiệm kỳ, sau khi Dân đã dân chủ chiều ngang lập ra Hiến pháp và chọn ra một đảng cầm quyền rồi, thì đảng đó được quyền thực hiện Dân chủ chiều dọc theo quyền lực tập trung trong phạm vị một hoặc hai nhiệm kỳ. Nếu nhân dân thấy chưa ổn ở chỗ nào thì lại thực hiện Dân chủ chiều ngang để tìm cách sửa chỗ đó, tức là sửa Hiến pháp, hay thay đổi, lật đổ thủ lĩnh đảng đang cầm quyền.

Hiện nay, chính nhân dân TQ, và Đảng CSTQ cũng rất băn khoăn, dao động về cái khái niệm thể chế CNXH hay CNTB. Người ta nói, Trung quốc đang là “đầu Ngô, mình Sở”. Có nghĩa đầu thì vẫn muốn tự gọi là, hay phấn đấu để đi theo (định hướng) XHCN đặc sắc TQ “Dân chủ chiều dọc”, nhưng mình và chân tay thì đã hoạt động theo cái thể chế TBCN rồi, cụ thể nhất là TQ đang thuyết phục các nước tư bản “công nhận TQ có cơ chế thị trường đầy đủ”; Xã hội dân sự thì đã phát triển tràn lan “khắp hang cùng ngõ hẻm” và “chiếm lĩnh không gian mạng” rồi (hai cái thứ mà CN Mác – Lê “kỵ” nhất, ghét nhất). Còn Mỹ thì, nói ngắn gọn là: Sau nhiều thất bại nặng nề do tư tưởng đế quốc mới phát sinh, với thái độ huênh hoang, ngạo mạn, chủ quan do địa vị “siêu cường độc cực” trên thế giới mang lại, nay, sau nhiều lần thất bại, và trước sự giác ngộ và áp lực của toàn dân và thế giới, nước Mỹ đã và đang chuyển từ CNTB đế quốc trở về CNTB dân chủ đúng như “Tuyên ngôn lập nước” và Hiến pháp Dân chủ của Mỹ bắt đầu từ nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Obama (như “Tìm lại giấc mơ Mỹ”). Như vậy, để khách quan, và để dùng đúng cái chuẩn khái quát nhất của phát triển, tức là nhận dạng cho đúng cái tương lai “sẽ” đến của thể chế chính trị, cái mà các nước đang quan tâm so sánh rõ nhất trong cạnh tranh là “Mô hình phát triển”. Chúng ta nên đem “Mô hình phát triển” của Mỹ và “Mô hình phát triển” của Trung Quốc hiện nay và cách thức họ đang triển khai đã trình bày ở trên ra để xem xét là tiện nhất.

(**) Nếu so sánh với Bồ Đào Nha khi trỗi dậy trở thành “nước lớn” ở thế kỷ 16, đất đai chỉ có 92 ngàn km2, với dân số hơn 1 triệu người. Hà Lan nước nhỏ làm nên nghiệp lớn, đứng đầu thế giới ở thế kỷ 17, khi dân số Hà Lan chỉ có 1,7 triệu người. Sau đó đến nước Anh, một đảo quốc không lớn, dân số mấy chục triệu người, vậy mà cũng đứng đầu thế giới suốt 2 thế kỷ. Nước Mỹ có diện tích và dân số vừa phải, mới lập quốc vài trăm năm, nhưng họ đã trở thành một đất nước vĩ đại của thế kỷ XX.

(***) Matteo Ricci, một nhà nghiên cứu phương Tây đã lục lọi trong tàng thư của TQ và ghi chép lại: “Trước kia TQ chỉ là một nước nhỏ”, nằm quanh khu vực Bắc Kinh hiện nay, với Vạn lý trường thành để bảo vệ phía Tây chỉ cách Bắc Kinh mấy chục cây số. “Khi đó, phía đông TQ có 3 nước, phía tây có 53 nước, phía nam có 55 nước, phía Bắc có 3 nước, vị chi là 114 nước”. Vậy nếu quả thật TQ là một nước tồn tại hòa bình có văn hóa, thì tại sao đến bây giờ chung quanh TQ lại còn lại chỉ có 8-9 nước như đang thấy? Không phải ngẫu nhiên Bà Mac Kell đã tặng Ông Tập Cận Bình một tấm bản đồ cổ, trong đó TQ chưa có đất Nội Mông, Tân Cương, Tây Tạng, Hải Nam và Đài Loan…, đương nhiên càng chưa có Hoàng Sa và Trường Sa.

(Nguồn :BVN)

 

 

Dịch Ebola: Lời tiên tri khủng khiếp của bà lão mù Vanga đã linh nghiệm?

 


Những tiên đoán đúng khiến loài người giật mình

- Tàu ngầm Krusk của Nga chìm vào năm 2000
Đúng 20 năm trước khi thảm kịch xảy ra, vào năm 1980, Vanga đã tiên tri rằng: “Cuối thế kỷ này, vào tháng 8/1999 hoặc 2000, Kursk sẽ chìm dưới nước, và cả thế giới sẽ than khóc vì nó”. Ngày đó, không một ai quan tâm đến lời tiên tri buồn cười này. Nhưng rồi người ta mới biết rằng Kursk bà nói không phải là về thành phố mang tên Kursk.


Tàu ngầm Krusk của Nga được Vanga đoán trước sẽ chìm vào năm 2000
Vào đúng tháng 8 năm 2000, tàu ngầm nguyên tử Kurst của Nga (đặt theo tên của thành phố Kurst) đã gặp nạn và 118 thủy thủ trên tàu không còn cơ hội sống sót. Cả thế giới nói chung và nước Nga nói riêng vô cùng đau buồn trước sự tổn thất lớn không lấy gì bù đắp lại được này.

– Sự hồi sinh của nước Nga

Hình ảnh Dịch Ebola: Lời tiên tri khủng khiếp của bà lão mù Vanga đã linh nghiệm? số 3
Nước Nga hồi sinh sau thảm hoạ tàu ngầm

Năm 1988 khi tiên tri về nước Nga, bà Vanga vẽ một vòng tròn lớn trong lòng bàn tay và nói: “Nga sẽ một lần nữa trở thành đế chế vĩ đại, chỗ dựa tinh thần cho toàn thế giới. Tuy nhiên phải đợi rất lâu khi con số 8 xuất hiện và có những ký kết về Trái đất”. Và trên thực tế, nếu nước Nga trở thành cường quốc lớn mạnh và tham gia nhóm G7 đến biến nó thành G8 thì họ sẽ có tác động tới tiến trình chiến tranh và hòa bình thế giới
- Khủng bố toà tháp đôi của Mỹ 11/9/2001
Lời tiên đoán năm 1989: “Đáng sợ! Đáng sợ! Những anh em sinh đôi của Mỹ sẽ ngã xuống sau khi bị những con chim sắt tấn công. Những con sói sẽ gầm rú trong lùm cây và máu của những người vô tội sẽ chảy” dường như đã được ứng nghiệm với sự kiện tòa tháp đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới (New York) đổ sập bởi vụ tấn công khủng bố ngày 11/9/2001.

Toà tháp đôi của Mỹ bị khủng bố vào ngày 11/9 theo như lời tiên tri của bà Vanga

Tháp đôi cũng có nghĩa khác là “sinh đôi” (Twins) hay còn gọi là anh em. Những kẻ khủng bố đã khống chế toàn bộ hành khách trên máy bay – “những con chim sắt” – và lao vào tòa tháp. Lùm cây trong tiếng Anh có nghĩa là “bush” nên ở đây có thể cũng ám chỉ đến tên của vị Tổng thống đương nhiệm của G. Bush.
- Thảm hoạ động đất, sóng thần ở Nhật Bản năm 2011
Và gần đây nhất là sự “hiện thực hoá” về thảm hoạ động đất, sóng thần tại Nhật Bản vào ngày  11/3/2011.
Thảm họa thiên tai quá lớn, quá đột ngột và việc người dân Nhật “không kịp trở tay” ấy một lần nữa gây xôn xao thế giới khi có thông tin cho rằng, nó đã được dự đoán trước bởi một nữ tiên tri mù có tên Vanga. Người ta bắt đầu tìm kiếm lại những lời tiên đoán ấy và vô cùng kinh ngạc trước mức độ chính xác của nó.

Hình ảnh Dịch Ebola: Lời tiên tri khủng khiếp của bà lão mù Vanga đã linh nghiệm? số 5

Thảm hoạ động đất, sống thần xảy ra ở Nhật Bản năm 2011

“Do những trận mưa phóng xạ nên ở Bắc Bán cầu cả động vật lẫn thực vật đều sẽ bị tuyệt diệt vào tháng 3 năm 2011”. Chỉ riêng mốc thời gian được nhắc đến trong lời tiên đoán cũng khiến cho không ít người phải giật mình.
Thời điểm tháng 3 kinh hoàng của lịch sử Nhật Bản đã được đề cập đến. Không những vậy, hai chữ “phóng xạ” cũng khiến người ta nghĩ ngay đến thảm họa phóng xạ mà những vụ rò rỉ của nhà máy điện nguyên tử của Nhật Bản đang khiến nước Nhật lo lắng.
 Nhiều tiên đoán…trật lất
- Chiến tranh thế giới thứ III năm 2010
Bà cho rằng, xung đột vũ trang tại Nam Ossetia và trong thế giới của người Hindu, những vụ mưu sát các nhà lãnh đạo và nguyên thủ quốc gia sẽ dẫn tới bùng nổ Chiến tranh thế giới III vào năm 2010 và kết thúc vào năm 2014. Theo bà, Ngày tận thế là kết quả do Cuộc Chiến tranh thế giới III dẫn đến thảm họa chiến tranh hạt nhân trên phạm vi toàn cầu, sự diệt vong của loài người và toàn bộ sự sống trên Trái đất. Thế nhưng, bây giờ đã là năm 2012 và thực tế đã chứng minh không hề có cuộc chiến tranh nào trên quy mô toàn cầu như vậy cả.

Theo Vanga, năm 2010, chiến tranh thế giới thứ III sẽ xảy ra

Tuy nhiên, người ta cũng khá quan tâm tới những lời tiên tri này của bà bởi với tình hình thế giới bất ổn như ngày nay: chiến tranh dầu mỏ, hạt nhân, vũ khí sinh học…; nguy cơ bùng nổ một cuộc chiến quy mô lớn đến như vậy được bà đặt ra không phải là không có cơ sở.
- Dịch Ebola sẽ huỷ diệt loài người vào năm 2014?
Trước khi qua đời, nữ tiên tri lỗi lạc này cũng đã tiên đoán, đến năm 2014 “đa số người dân sẽ bị mụn nhọt, ung thư da và những chứng bệnh khác về da” do hậu quả của chiến tranh Thế giới thứ III.

alt


Lời dự đoán này khiến nhiều người nghĩ rằng dịch bệnh Ebola đang hoành hành ở Tây Phi gây nên cái chết của gần 1000 người hiện nay chính là ứng nghiệm lời tiên tri này.
Tuy nhiên, trên thực tế, dịch bệnh Ebola do virus Ebola gây ra và hoàn toàn không bắt nguồn từ chiến tranh hóa học như lời dự đoán của nhà tiên tri lỗi lạc này.


(Theo Tin Mới)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 10.08.2014

Nguyễn Quang Lập kể ‘Chuyện nhà quê’

Nguyễn Quang Lập kể ‘Chuyện nhà quê’

Bạch Tiên

Giọng điệu châm biếm, hài hước và phong cách “khẩu văn” – viết như nói – giúp Nguyễn Quang Lập rút ngắn khoảng cách giữa độc giả và tác giả.

Tên sách: Chuyện nhà quê
Tác giả: Nguyễn Quang Lập
NXB Hội Nhà văn

“Chuyện nhà quê” là tập truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Quang Lập.

Qua những trang viết trong Chuyện nhà quê, ông phơi bày tật xấu của các nhân vật một cách không thương tiếc. Lối viết “khẩu văn” đặc trưng của bọ Lập có thể khiến người đọc lần đầu tiên tiếp xúc những tác phẩm của ông có đôi chút choáng ngợp với những suy nghĩ về con người, cuộc sống được bộc lộ một cách rất thành thật và hồn nhiên, chẳng hề ngượng ngùng hay cố gắng hoa mỹ.

'Bìa sách Chuyện nhà quê

Bìa sách “Chuyện nhà quê”.

Chẳng hạn như ở truyện ngắn Anh hờ hờ, tác giả dám đưa cả bản thân mình và những tên tuổi khác vào làm nhân vật như: Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Khải… Cả câu chuyện là để phê phán thói hư vinh, xem trọng danh vọng hơn bản chất nghệ thuật của anh Hờ Hờ. Tác giả can đảm tự phê phán thói xấu của chính mình qua một chi tiết trong truyện: khi biết ai về nhà anh Hờ Hờ cũng được đãi cỗ linh đình, ông cũng mong muốn được anh Hờ Hờ mời về nhà và khi có cơ hội đó, ông đã nhận ngay lập tức. Tinh thần tự phê phán đó khiến người đọc phần nào nhớ đến Trung Trung Đỉnh vì ông cũng nhiều lần tự phê phán bản thân qua những truyện ngắn có nhân vật chính như đang đại diện cho chính bản thân mình.

Trang viết của Nguyễn Quang Lập cũng không thể thiếu chất hài hước, trào phúng. Đọc hết một truyện ngắn của ông, thường người ta tìm thấy sự châm biếm ẩn sau cuối mỗi câu chuyện. Như trong Ký ức năm hào, ở đầu truyện, có thể người đọc sẽ chỉ nghĩ đây là hồi ức dễ thương, có phần hài hước của một cậu bé về lần đầu tiên khi cậu kiếm được năm hào và nâng niu nó như thế nào. Cậu có phần tự mãn về bản thân mình khiến chúng ta chưa thấy rõ sự tự châm biếm mỉa mai, nỗi buồn của cậu. Chỉ đến tận cùng, câu chuyện mới đột ngột chuyển hướng. Tiêu biểu cho kiểu cấu trúc này là những truyện như: Thằng sứt môi, Chuyện tình anh cu Đom…

Chuyện nhà quê còn là mảng hồi ức khó quên của một người con khi nhớ về nơi chôn nhau cắt rốn. Làng phố trong văn của bọ Lập có sự kết hợp giữa cái bần cùng, chất phác của làng với cái ồn ào, xô bồ của phố. Sự nhạy cảm vốn có của một nhà văn nhiều kinh nghiệm sống giúp Nguyễn Quang Lập viết nên những trang viết rất đời. Ông trăn trở trong từng câu chuyện và nhân vật thể hiện cái nhìn thương cảm trước những tha hóa, đổi thay của con người, của thời cuộc. 

Nguồn: http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/sach/diem-sach/nguyen-quang-lap-ke-chuyen-nha-que-3018194.html

Đăng bởi: Ngô Minh | 09.08.2014

Khốn khổ nước tôi

Khốn khổ nước tôi

altKhalilGibran

” …Khốn khổ nước tôi
Mê tín thì vô hạn
Tôn giáo thì nông cạn…

Tác giả mấy câu thơ vừa dẫn ở trên là Khalil Gibran, thi sĩ xứ Liban (Lebanon)- ông cũng là người viết câu thơ bất hủ:

Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương…

 

(Wake at dawn with winged heart
and give thanks for another day of loving…)

Chưa hết, câu nói trứ danh của Tổng thống Mỹ, J.F. Kennedy:

“Đừng hỏi nước Mỹ đã làm gì cho bạn mà hãy hỏi bạn đã làm gì cho nước Mỹ” cũng xuất phát từ ý một bài thơ của Khalil Gibran, nhưng có lẻ bài thơ Pity the Nation dưới đây mới kinh khủng về sức tiên tri của nó, không chỉ ở đất nước ông mà nhiều xứ sở khác.

Pity the Nation -
(Khalil Gibran)

“Pity the nation that is full of beliefs and empty of religion.
Pity the nation that wears a cloth it does not weave
and eats a bread it does not harvest.

Pity the nation that acclaims the bully as hero,
and that deems the glittering conqueror bountiful.

Pity a nation that despises a passion in its dream,
yet submits in its awakening.

Pity the nation that raises not its voice
save when it walks in a funeral,
boasts not except among its ruins,
and will rebel not save when its neck is laid
between the sword and the block.

Pity the nation whose statesman is a fox,
whose philosopher is a juggler,
and whose art is the art of patching and mimicking

Pity the nation that welcomes its new ruler with trumpeting,
and farewells him with hooting,
only to welcome another with trumpeting again.

Pity the nation whose sages are dumb with years
and whose strongmen are yet in the cradle.

Pity the nation divided into fragments,
each fragment deeming itself a nation.”

(The Garden of the Prophet – 1934)
***

Bản dịch:

Khốn khổ nước tôi
Mê tín thì vô hạn
Tôn giáo thì nông cạn

Khốn khổ nước tôi
Mặc áo mình không dệt
Ăn gạo mình không trồng
Uống rượu mình không làm

Khốn khổ nước tôi
Ca ngợi côn đồ là anh hùng
Gọi kẻ xâm lăng là bạn vàng

Khốn khổ nước tôi
Trong mơ thì ghét cay ghét đắng
Tỉnh dậy lại đầu hàng

Khốn khổ nước tôi
Chỉ dám nói năng khi đưa tang
Chỉ dám khoe khoang di sản hoang tàn
Chỉ dám phản kháng khi đầu sắp lìa khỏi cổ

Khốn khổ nước tôi
Chính khách xảo quyệt như chó sói
Triết gia tung hứng chữ làm xiếc
Nghệ thuật bắt chước chắp và vá

Khốn khổ nước tôi
Kèn loa tưng bừng rước kẻ cai trị mới
Rồi tống cổ chúng bằng la hét phản đối
Rồi lại tưng bừng kèn loa đón kẻ cai trị khác

Khốn khổ nước tôi
Vĩ nhân càng nhiều tuổi càng lú
Thánh nhân chờ mãi chưa ra đời

Khốn khổ nước tôi
Cứ chia năm xẻ bảy chơi
Phe nào cũng xưng mình là nước

 

( Nguồn : Nhà văn TrầnThùy Mai cung cấp)

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 08.08.2014

GIẢI CỨU KẺ THÙ

GIẢI CỨU KẺ THÙ

Trích kịch của Phạm Dũng

 Kịch nước mình, chỉ thấy anh bộ đội Giải phóng tha cho anh bộ đội Cộng hòa. Chiến tranh mà, sao lại chỉ một chiều như thế? Tôi viết một vở ngược lại.

 CẢNH 1 – HANG ĐÁ

 Việt bước ra, nằm vật ra thở. Tiếng quát một người đàn ông vang lên.

 Đàn ông:    Đứng dậy!

 Việt giật bắn người. Theo quán tính anh cầm Khẩu súng Ak lên. Âm thanh một loạt đạn vang lên. Việt hốt hoảng vội bỏ Khẩu súng xuống đất. Tiếng người đàn ông vẫn vọng ra.

 Đàn ông:    Ném súng đi!

 Việt vội vàng ném súng ra xa. Hội ra.

 Hội:            Tên gì?

Việt:           Nam!

Hội:            Đơn vị nào?  (ném ra một sợi dây dù) Buộc chân lại đi!

 Việt ngồi xuống lấy dây dù buộc hai chân của mình lại.

 Hội:            Buộc thắt nút! Đ. má! Tao bắn chết mẹ mày bây giờ. Láu cá! Có gì ăn không?

 Việt buộc chặt lại, rồi đưa ra một cục lương khô. Hội bẻ một miếng đưa cho Việt, ra hiệu ăn. Việt ăn.

 Việt:           Tôi Khát quá! Anh có nước không?

 Hội lấy bi đông đưa cho Việt.

 Hội:            Một ngụm thôi!

 Việt uống một ngụm rồi trả lại. Hội ngồi ăn lương khô ngấu nghiến.

Hội:            (bất chợt) Nam!

 Việt không có phản ứng gì.

 Hội:            Đ.má! Tên gì?

Việt:           (nói nhỏ) Việt!

Hội:            Tao tên Hội. Đằng nào thì lát nữa mày cũng chết, nói dối làm mẹ gì. Hả? Mày lấy hết đồ trong túi ra.

Việt lục túi lấy hết những thứ trong người ra.

 Hội:            Sách gì thế?

Việt:           Truyện Kiều!

Hội:            Mày cũng mê Truyện Kiều nhỉ?

Việt:           Tôi bói Kiều.

Hội:            Còn ảnh ai kia? Người yêu mày phải không?

Việt:           Cô ấy là người yêu… mối tình đầu…

Hội:            Mày ngủ với nó chưa?

 Hội nhếch mép cười.

 Hội:Thô thiển quá hả? Hồi còn là sinh viên văn khoa tao đã bụp 3 con, vẫn còn thua khối thằng. 

Việt:           Rồi anh có hạnh phúc không?

Hội:            Mày làm tao cáu, tao sẽ giết mày sớm hơn. Quê mày ở đâu?

Việt:           Tôi ở Quảng Ngãi.

Hội:            Huyện nào? Xã nào?

Việt:           Huyện Mộ Đức. Xã Đức Nhuận.

Hội:            Sao nói giọng Bắc?

Việt:           Tôi là dân tập kết.

Hội:            Tao dân Ninh Bình. Nhà ở ngay Phát Diệm. Mày đến đó chưa?

Việt:           Nhà thờ ở đó rất lớn. Có tượng Đức Mẹ, đôi mắt lúc nào cũng khóc.

Hội:            Vậy là khi  má tao dắt tao vào Nam thì má mày ẵm mày ra Bắc.(cười) Hồi đó, ông Hồ Chí Minh mà chọn miền Nam thì tao với mày sẽ không phải di chuyển gì cả. Đúng không? (quát) Đúng không?

Việt:           Đúng!

Hội:            Nói cho cùng đây là một cuộc chiến tranh chó đẻ.

Việt:           Người Mỹ đã xâm lược Việt Nam.

Hội:            Hừ! Bọn cộng sản nhồi sọ mày thế hả? Bọn mày có Liên Xô đứng đằng sau. Bọn tao có Hoa Kỳ. Huề!

Việt:           Không giống nhau.

 Hội điên tiết chĩa súng vào Việt.

 Hội:            Mày quỳ xuống và hô “Trần Anh Hội muôn năm!”. Mau!

Việt:           Anh học văn mà sao lại muốn làm nhục người Khác?!

Hội:            Tao bảo quỳ xuống!

 Việt định quỳ thì Hội đạp Việt ngã lăn ra đất.

 Hội:            Nếu không có cuộc chiến tranh chết tiệt này thì chắc tao với mày đã trở thành bạn thân. (cầm ảnh cô gái lên, cười) Và có khi thành tình địch cũng nên. (cầm cuốn Truyện Kiều lên) Mày có biết Nguyễn Du viết.(đọc thơ)

Mụ già hoặc có điều gì,

Liều công mất một buổi quỳ mà thôi.

(ngừng đọc)

Nghĩa là gì không?

Việt:           Tôi không hiểu lắm. Quỳ chắc… cũng có nghĩa là quỳ lạy chứ gì?

Hội:            Hồi tốt nghiệp tao đã làm luận văn về Kiều. Đề tài là từ láy trong Truyện Kiều. Mày có biết từ láy là gì không?

Việt:           Là… là… thí dụ lấp lánh, xênh xang, mênh mông…

Hội:            Có thể tao sẽ tha chết cho mày? Quỳ trong trường hợp này không phải là quỳ gối như lúc nãy tao bắt mày quỳ đâu. Đây, mày nghe đây.

(đọc)

Tình cờ chẳng hẹn mà nên

Mạt cưa, mướp đắng, đôi bên một phường.

Chung lưng mở một ngôi hàng,

Quanh năm buôn phấn, bán hương đã lề.

(ngừng đọc)

Câu này diễn nôm có nghĩa là hai người này cùng chung vốn làm nghề buôn phấn, bán hương. Quan hệ giữa Mã Giám Sinh và tú bà là quan hệ ngang hàng nên Mã Giám Sinh có lợi dụng cơ hội, lấy đi trinh tiết của Kiều thì anh ta cũng không đến nỗi phải quỳ trước tú bà. Quỳ ở đây là chơi kiểu quỳ. Mày hiểu chưa?

Việt:           Tôi… không hiểu.

Hội:            Mày học lớp mấy mà đi lính?

Việt:           Lớp 10.

Hội:            Lớp 10?

Việt:           Ở miền Bắc hết lớp 10 là vào đại học.

Hội:            À thế thì tương đương với lớp 12 trong này. Mày không hiểu là phải. Thế tao hỏi cái câu.

(đọc)

Nước vỏ lựu, máu mào gà

Mượn màu chiêu tập lại là còn nguyên.

Mập mờ đánh lận con đen,

Bao nhiêu cũng bấy nhiêu tiền, mất chi?

(ngừng đọc)

Nghĩa là gì?

Việt:           Nghĩa là tú bà dạy cho Thúy Kiều dùng nước vỏ lựu và máu của mào con gà bôi vào tấm vải trải giường để lừa khách làng chơi là mình còn trinh.

Hội:            Rất nhiều người hiểu như thế. Thực ra tao hỏi mày, kiểu lừa ấy làm sao qua mặt được bọn đi chơi gái? Nghĩa của nó thế này. Trong nước vỏ lựu, có một chất gì đó có thể làm da thịt săn lại. Bọn gái điếm ngày xưa dùng thứ nước đó bôi vào âm đạo. Để Khách làng chơi tưởng là chúng mới vào nghề.

Việt:           Quả là giờ tôi mới hiểu. Anh học văn có khác. Anh Hội… tôi muốn hỏi anh… nói cho cùng… anh giết tôi có lợi gì cho anh?

Hội:            Mày nói thêm một câu tương tự, tao bắn mày ngay lập tức. Đừng làm tao mất hứng.

 Việt liếc Hội. Hội gườm gườm nhìn Việt.

 Hội:            Định cướp súng hả? Mày đánh giá tao quá thấp đấy!

Việt:           Tôi muốn đi tiểu.

Hội:            Đi đi!

 Việt nhảy lò cò ra một góc quay lưng đái.

 Hội:            Mày có thuộc bài thơ nào đọc lên nghe cho vui?

Việt:           Tôi có làm được một số bài.

Hội:            Đọc nghe thử?

Việt:           Bài thơ này có tên là “Đừng nói lời yêu nhé” tôi viết để tặng người yêu tôi. 

(đọc)

Đừng nói lời yêu nhé,

Chỉ mãi hoài vậy thôi.

Đừng đốt ta thành lửa,

Mà tro than suốt đời.

 

Cứ đi bên đời nhau,

Như sương và như khói.

Không một lần cầm tay.

Không một lần gian dối.

 

Một ngày nào hấp hối,

Ta nhớ người xiết bao

Giật mình ta tự hỏi,

Thật hay là chiêm bao?

 Hội:            Cũng được đấy!

Việt:           Anh chắc cũng có làm thơ?

Hội:            Tao từng giật giải nhất về thơ ở trường đại học văn khoa, mày tin không? Bài này có tên là “Em, đồ chó!” Sao? Nghe đã thấy hấp dẫn rồi chứ hả? Nghệ thuật trước tiên phải lạ. Có hàng triệu bài thơ rồi, thêm một bài thơ giống như những bài đã có thì thêm làm mẹ gì?

(đọc)

Em, đồ chó!

Hẹn mà không đến.

 Em, đồ chó!

Yêu hay là không?

Cứ chập chờn như ngọn nến trước gió

 

Em, đồ chó!

Ta muốn lồng lên như sói

Tru những tiếng tru man dại Khát thèm

Hoan ca của loài cầm thú

 

Em, đồ chó!

Ta hộc lên.

 

Em, đồ chó!

 Việt:           Thơ anh… kỳ kỳ. Tôi nhớ có một nhà thơ đã viết “Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé. Để lòng buồn tôi dạo gót quanh sân…”.

Hội:            Tao thế. Nó hẹn mà không đến, tao chửi. Còn mày? Mày yêu nó, mày muốn lên giường với nó chết mẹ, thế mà mày lại “Không một lần cầm tay” với lại “Đừng nói lời yêu nhé”?! Thế có phải là đạo đức giả không?

Việt:           Đó là cảm giác thật của tôi.

Hội:            Tao không hiểu. Tao khác! Yêu con nào là tao muốn ăn thịt con đó.

Việt:           Như vậy là anh chưa từng yêu.

 Hội cười to. Việt cười theo.

 Hội:            Mày không cần nịnh. Trời sáng là tao bắn mày. Hát một bài đi! Biết đâu… tao sẽ đổi ý… Biết hát chứ?

Việt:           Tôi… hát được…

Hội:            Hát đi!

Việt:           (hát) Khi cất lên tiếng ca gửi về người yêu phương xa. Ta át tiếng gió mưa thét gào cuộn dâng phong ba. Em ơi…

 

Việt hát xong.

 

Hội:            Mày hát hay lắm! Có biết bài “Bèo dạt mây trôi” không?

Việt:           (hát) Bèo dạt mây trôi chốn xa xôi, em ơi anh vẫn đợi í a bèo dạt…

 

Hội hát theo. Hai người hát say sưa. Hai người hát xong. Việt nói với Hội.

 

Việt:           Anh Hội, anh tha cho tôi đi. (rưng rưng) Tôi còn má già và một cô em gái… Tôi mới 23 tuổi… (bật khóc) Tôi xin anh…

Hội:            (đứng bật dậy) Mày im đi! Lính tráng gì thế?

 Việt câm bặt.

 Hội:            Mẹ kiếp! Cái cuộc chiến tranh quái quỷ này… (chồm lên, nhìn vào mắt Việt) Nếu đổi lại, mày có giết tao không?

 Việt lắc đầu.

 Hội:            Chưa chắc!

Việt:           Thà là chúng ta không đọc thơ và hát cho nhau nghe… Anh lại còn giải thích cho tôi truyện Kiều.

Hội:            Câm! Mày cố làm tao mềm lòng. Đừng hòng! (chua chát) Mẹ kiếp! Tao biết cuộc chiến này chúng mày cuối cùng rồi cũng sẽ thắng. Chúng mày có chính nghĩa. Chúng mày có lý tưởng, lại được Nga Xô, Trung Cộng giúp đỡ. Nhưng về chế độ xã hội mà chúng mày đang theo đuổi thì chúng mày sai. Tổng thống Truman từng nói chế độ cộng sản trước sau gì cũng tan rã vì nó sai trong hệ thống cấu trúc của nó.

Việt:           Anh Hội, anh tha cho tôi, biết đâu sau này…

Hội:            Mày sẽ bắt được tao? Sẽ không có ngày đó đâu!

Việt:           Anh Hội, trên cổ anh có đeo thánh giá. Chúa Giesu có nói gì đó, đại ý là… nếu người ta tát mình một bên má thì hãy đưa má còn lại cho người ta tát…

Hội:            Chúa Giesu lúc này nói với tao, chiến tranh là chiến tranh. Mày có biết bói Kiều không?

Việt:           Hôm nay tôi đã bói… cho một người đồng đội…

Hội:            Bói sao?

Việt:           Tôi… chỉ nói đùa là cô ấy sẽ chết…

Hội:            Rồi sao?

Việt:           Một trái bom… và cô ấy… đã chết!

Hội:            Ha! Ha! Ha! Vậy là mày có năng lực siêu phàm. Tốt! Thế hôm nay mày đã bói cho mày chưa?

Việt:           …

Hội:            Bây giờ mày bói đi… Mày định kháng chỉ sao?

Việt:           Tôi… được rồi. (giở Kiều ra nhìn)

Hội:            Làm sao mà cái mặt mày dại ra thế kia, hả?

Việt:           Tôi… tôi… giở được đúng chỗ ban sáng…

Hội:            Đọc lên đi! Mà thôi. Mày bói trúng như vậy thì mày là thiên tài rồi. Các thầy bói không bói được cho bản thân. Mày hơn họ. Lát nữa tao sẽ giúp mày. Ê! Mày thử đoán xem, tại sao tao lại chưa giết mày?

Việt:           Sự thú vị của con mèo vờn con chuột.

Hội:            Đúng thế! Trong phim Tom và Jerry, lúc nào con chuột cũng thắng.

Việt:           Tom và Jerry là cái gì?

Hội:            À, mày không biết. Chúng mày không chiếu phim đó mà. Tom và Jerry là phim hoạt hình trẻ con. Nó kể chuyện con mèo và con chuột đấu trí với nhau.

Việt:           À… ngoài đó có chiếu một bộ phim tương tự, nói về con chó sói và con thỏ.

Hội:            Và con thỏ lúc nào cũng thắng, đúng không?

Việt:           Đúng!

Hội:            Thế đấy… những tác phẩm nghệ thuật luôn ve vuốt con người. Mày có công nhận ngoài đời con sói bao giờ cũng ăn thịt con thỏ không? Và bây giờ, định mệnh đã cho tao là con sói, mày là con thỏ… Ha! Ha! Ha!

Việt:           Đằng nào tôi cũng chết, anh bắn tôi ngay đi. Cứ như thế này…

Hội:            Mày đừng vờ vĩnh nữa. Con người ai cũng tham sống sợ chết. Mày có đọc “Tình yêu cuộc sống” của Jaclondon không?

Việt:           Có!

Hội:            Đấy!… Có một con người và một con chó… đói khát… Cả hai rơi vào trạng thái mà cái chết e chính là một ân huệ. Thế mà cả người và chó đều muốn sống. Con chó cắn được vào tay con gười. Con người cắn được vào thịt con chó… cả hai cùng cố sức… cố sức. Cuối cùng con người đã mạnh hơn và uống được máu con vật mà sống… Tao với mày bây giờ cũng đâu có khác gì…

Việt:           Anh bắn tôi ngay đi!

Hội:            Được. Là mày muốn chết đấy nhé.

 Hội giương súng lên. Việt nhắm mắt.

 Hội:            Mở mắt ra!

 Hội bắn một phát, trúng chân của Việt.

 Hội:            Hôm nay mày bói mày phải chết. Tao tha mạng cho mày… Tao chính là đức chúa trời của mày… Ha ! Ha ! Ha!

 Việt thét lên đau đớn và ôm chân lăn lộn trên đất. Hội uống thêm một ngụm nước, để cái bi đông và miếng lương khô cuối cùng lại. Hội bước đi vài bước. Nghĩ thế nào Hội quay lại lấy cuốn truyện Kiều đút vào người.

Tất cả tối sầm.

 (Hết cảnh 1)

 Ghi chú: Phần sau, sau giải phóng, anh Hội bị bắt oan, và anh Việt đi “giải cứu” cho anh Hội. Rồi họ thành bạn thân – như mơ ước của tôi.

Vở này, tất nhiên không (hoặc chưa) được dựng. Hi Hi…

Phạm Dũng

( Tác giả gửi cho QTXM)

 

Sắc Dục Của Hoàng Đế Mao Trạch Đông


Tác giả: Thuỵ My – RFI
 

LND : Tác phẩm « Tình dục, dối trá và chính trị » – Những kẻ bị ám ảnh đang lãnh đạo chúng ta – của tác giả Pierre Lunel, nhà xuất bản L’Archipel, Paris 2012 – gồm có ba phần. Phần đầu « Các nhà độc tài » viết về Stalin, Mussolini, Mao Trạch Đông và Bokassa. Phần hai về các lãnh đạo ở Mỹ : Kennedy, Bill Clinton, Arnold Schwarzennegger, và phần thứ ba dành cho châu Âu : Mitterand, Giscard d’Estaing, Berlusconi, Chirac, DSK.
 
Pierre Lunel là cựu hiệu trưởng trường đại học Paris 8, tác giả nhiều đầu sách tiểu sử và biên khảo sử học. 
 
Thụy My xin giới thiệu một phần chương sách « Mao Trạch Đông và hàng ngàn thê thiếp » trong tác phẩm trên, đã tạm lược bỏ 8 trang đầu nói về những người vợ của Mao là Dương Khai Tuệ (Yang Kaihui), Hạ Tử Trân (He Zizhen), Giang Thanh (Jiang Qing).
 
 
…Mao có tính cách giản đơn của các tên tuổi lớn. Đa số thời gian, ông xử lý các vấn đề của Trung Quốc trên chiếc giường gỗ rộng mênh mông mà ông vẫn mang theo khi di chuyển, hay bên cạnh hồ bơi riêng. Ông ta có thể không mặc quần áo suốt nhiều ngày.
 
bia-private_life_of_chaiman_mao
 
Mao rất thích các hồ bơi và những món ăn mỡ màng, ngập trong dầu béo ngậy. Ông ta không bao giờ đánh răng, chỉ súc miệng với nước trà. Mao không bao giờ tắm, mà vệ sinh thân thể bằng cách bắt những người tình một đêm dùng khăn nóng chà lên người mình. Bị chứng mất ngủ, ông có thể thức trắng nhiều đêm, và các cán bộ của ông phải chuẩn bị tinh thần để bị triệu đến lúc hai, ba giờ sáng. Làm việc với Mao thì cứ phải khỏe như vâm.
 
Suốt ngày hầu như ông ta lững thững chỉ với chiếc áo choàng tắm khoác hờ trên người, để lộ bờ vai lực lưỡng và chiếc bụng to tướng. Mao có nước da trắng đẹp, khuôn mặt đầy đặn luôn nở nụ cười, mái tóc đen dày.
 
Mao vẫn giữ thói quen nông dân. Khi phải mặc đồ, ông ta tròng vào bộ quần áo cũ mèm và đôi giày cà tàng. Bộ trang phục « kiểu Mao Trạch Đông » nổi tiếng và những đôi giày bóng lộn được dành cho những dịp long trọng. Chính trong cái bộ dạng kỳ khôi đó mà Mao đã lãnh đạo đất nước Trung Quốc.
 
Khi không có việc gì buộc phải ngồi dậy, ông ta nằm ườn trên chiếc giường gỗ « khủng », kích thước to gấp đôi một chiếc giường đôi thông thường. Người khách nào có óc quan sát có thể để ý thấy cái góc giường mà Mao dựa lưng cao hơn khoảng mười phân. Nếu có ai liều lĩnh đặt câu hỏi, sẽ được nghiêm chỉnh trả lời là đóng cao hơn để tránh cho khi ngủ mê không bị té xuống giường. Nhưng thật ra chỉ là nhảm nhí – gờ giường đóng cao theo yêu cầu của Mao để cho những trận bão tình ái được thuận tiện.
 
Mao « tán » các con mồi qua những buổi tối khiêu vũ, đây là một điều đặc biệt. Nhảy đầm đã bị Cách mạng cấm vì cho là lối sống suy đồi, và tất cả các sàn khiêu vũ đều bị chính thức đóng cửa. Thế nhưng Mao hàng tuần vẫn tổ chức những đêm khiêu vũ, tại sảnh Xuân Liên rộng mênh mông, không xa căn hộ của Mao là mấy.
 
Khi Mao vừa tới nơi khiêu vũ, là hàng chục thiếu nữ liền bổ nhào đến, năn nỉ ông nhảy với mình một bản. Mao nhảy một cách nặng nề, nhưng điều đó có nghĩa lý gì đối với các cô gái muốn được thần tượng chú ý bằng mọi giá. Các cô được những người thân cận của Mao tuyển lựa từ các đội văn công, theo tiêu chuẩn có ngoại hình đẹp và trung thành về mặt chính trị.
 
Mao nhanh chóng cho đặt một trong những chiếc giường size « khủng » của ông ta trong một căn phòng giáp với phòng khiêu vũ. Sau khi nhảy được vài ba bản, đại đế Mao tỏ ý muốn nghỉ ngơi, nắm lấy tay một trong những cô gái hơ hớ tuổi xuân này và đưa vào phòng. Ông ta chỉ ra khỏi phòng chừng hai tiếng đồng hồ sau đó, đa phần là với vẻ hài lòng vì đã được cô gái phục vụ tận tình.
 
Mao luôn bị ám ảnh với ý nghĩ một ngày nào đó sẽ bị mất đi khả năng tình dục. Khi các bác sĩ báo cho biết là ông ta đã trở nên vô sinh, Mao trả lời một cách xúc động :
 
- Thế là tôi đã thành hoạn quan rồi à !
 
Các bác sĩ phải hết lời trấn an, nói rằng tuy « tinh binh » của Mao không bình thường, nhưng không hề ảnh hưởng gì đến năng lực tình dục cũng như ham muốn.
 
Thực ra Mao chẳng hề quan tâm đến việc vô sinh, nhưng sợ hãi khi nghĩ đến khả năng bị bất lực, nhất là khi ông ta mang nặng trong đầu ám ảnh là năng lực làm tình sẽ chấm dứt vào tuổi sáu mươi. Đến tuổi này, ông ta có đôi khi bị trục trặc, nên thường cho tiêm truyền chất bột nhung hươu, mà tương truyền theo đông y là món thuốc cường dương đại bổ. Nhưng thấy nhung hươu không giúp giải quyết được vấn đề, Mao bèn ngưng sử dụng và quay lại với tây y – nói chung, ông ta không tin tưởng vào đông y.
 
Mao muốn được lưu danh theo truyền thống các hoàng đế Trung Quốc, đặc biệt là một vị theo truyền thuyết đã trở nên trường sinh bất tử nhờ quan hệ với một ngàn thiếu nữ đồng trinh. Ông ta hy vọng theo gót được vị tổ sư này. Không tin mấy vào năng lực tự nhiên, Mao say mê thu thập tất cả những tin tức từ phương tây hay những nơi khác, loan báo việc phát hiện các loại dược liệu giúp hoạt động tình dục cho đến chín mươi tuổi.
 
Trong khi chờ đợi thần dược ra đời, Mao nhồi nhét vào người đủ loại nhân sâm và đưa lên giường một số lượng đáng nể các cô thiếu nữ. Dù sao thì ông ta vẫn cho rằng đi ngủ và tắm rửa là lãng phí thời gian.
 
Nếu làm tình là thú tiêu khiển hàng đầu đối với Mao, thì ngược lại ông ta không yêu mến ai cả. Mao không có khả năng yêu thương lẫn cảm tình. Cũng có thể do ông ta đã chứng kiến quá nhiều thảm kịch và cái chết trong đời. Người vợ thứ hai, Dương Khai Tuệ bị Quốc dân đảng xử bắn, cũng như hai người em trai của ông. Nhiều người con của Mao đã chết trong cuộc Trường Chinh. Tất cả những bi kịch này làm Mao Trạch Đông trở nên sắt đá.
 
Trong thâm tâm, Mao hài lòng đã sống sót được qua nhiều nghịch cảnh, mà theo ông ta đó là dấu hiệu cho thấy mình sẽ trường thọ. Ông đã chứng tỏ trái tim sắt thép qua tất cả những hành động trong đời sống thường ngày, theo gương những hoàng đế Trung Hoa tồi tệ nhất. Chẳng hạn như Trụ vương đời nhà Thương, vị hôn quân thích trưng bày cái xác bị tùng xẻo của các nạn nhân, đổ đầy rượu vào hồ bơi, có hàng ngàn nàng hầu vây quanh. Hoặc Tùy Dạng Đế (Sui Yangdi), một trong những bạo chúa tệ hại nhất trong lịch sử Trung Hoa, đã bắt những cô gái trẻ đẹp phải kéo thuyền rồng đi ngược gió bằng những dải lụa.
 
Một bằng chứng cho sự tàn bạo của Mao Trạch Đông, lịch sử đặc biệt ghi nhận câu trả lời của ông ta trước Nehru :
 
- Chúng tôi chẳng việc gì phải sợ bom nguyên tử cả. Nếu ai tấn công tôi bằng bom nguyên tử, thì tôi có thể trả đũa tương tự. Mười triệu hay hai chục triệu người chết cũng chẳng ăn nhằm gì đối với chúng tôi !
 
Nehru không phải từ bi hỉ xả gì, nhưng cũng phải dựng tóc gáy khi nghe câu nói của Mao coi mạng người như ngóe.
 
Không một điều gì có thể làm Mao xúc động. Trong chiến dịch Đại nhảy vọt, nhiều triệu người dân nông thôn đã chết đói, nhưng ông ta vẫn ăn ngon ngủ yên. Ngay cả đối với người thân trong gia đình cũng thế. Chỉ cần kể ra đây thái độ đối với chính người con trai lớn của Mao.
 
Mao Ngạn Anh (Mao An Ying) tử nạn ngày 25/11/1950, trong cuộc chiến tranh Triều Tiên đã làm cho khoảng 400 ngàn người Trung Quốc thiệt mạng. Ngạn Anh đã lấy vợ trước đó một năm và vợ anh, Lưu Tư Tề (Liu Xi Qi), từ vài năm qua vẫn được xem như là con gái nuôi của Mao Trạch Đông. Ông ta thích cô đến nỗi tỏ ra vô cùng giận dữ khi nghe tin Ngạn Anh và Tư Tề đính hôn. Sự thực đằng sau cơn thịnh nộ này là: Lưu Tư Tề hết sức xinh đẹp, và Mao ghen với người con trai sẽ được ngủ với cô. Ông ta cản trở việc tổ chức đám cưới với những cái cớ kỳ lạ, chẳng hạn như phải chờ đến lúc tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc ngày 01/10/1949…Khi nghe tin con trai mình tử thương, Mao phát biểu câu này thay cho lời ai điếu :
 
- Đã là chiến tranh làm sao không có người chết cho được ?
 
Ông ta không tỏ ra buồn phiền một chút nào, không hề nhỏ một giọt nước mắt. Tư Tề suốt một thời gian dài vẫn không hay biết về cái chết của chồng, và cuối cùng khi cô chất vấn Mao Trạch Đông về vấn đề này, ông ta trả lời là Ngạn Anh đã chết. Lưu Tư Tề kề cận cha chồng gần như hàng ngày trong suốt hai năm rưỡi trời, nhưng chưa bao giờ thấy Mao tỏ vẻ u sầu. Thậm chí ông ta còn nói đùa với cô về Ngạn Anh, như là con trai vẫn còn sống…
 
Kể từ năm 1958, trong cơn say Đại nhảy vọt, Mao trở nên ít kín đáo hơn trong cuộc sống riêng tư. Cho đến nỗi nhiều người đều biết về cách sống xa hoa, phóng đãng của ông ta, về những tòa biệt thự nằm rải rác khắp đất nước Trung Quốc, và về việc cung cấp gái đẹp mà chính Mao gọi là « tuyển lựa cung phi ». Các nữ nghệ sĩ trẻ của các đội văn công tham gia các buổi dạ vũ, cạnh tranh với nhau để làm đẹp lòng Mao, và kết thúc bằng việc qua đêm với ông ta. Các cô ganh tị lẫn nhau, cô nào được Mao nắm tay dẫn vào phòng ngủ trở thành mục tiêu bị các cô khác thù ghét.
 
Một hôm – và đây là lần duy nhất trong đời – Giang Thanh đã làm ầm ĩ lên với Mao. Ông ta phản ứng bằng cách cấp tốc ra khỏi phòng. Giang Thanh nhanh chóng hối hận vì cơn nóng giận này, và gởi đến Mao lời xin lỗi. Ông ta chỉ nhún vai. Có nghĩa lý gì, vài cô hầu thiếp dành cho con người quyền lực nhất, nhà sáng lập nước Trung Hoa cộng sản ?
 
Từ đó Mao hoàn toàn yên ổn, không hề bị bà vợ chua ngoa chỉ trích. Ông ta cũng không còn giấu diếm việc đi lại thường xuyên với các cô gần như là gái gọi hạng sang. Thỉnh thoảng lại có một trong số những cô gái này, nhờ quyến rũ hơn, đã được nâng cấp : thay vì là người tình một đêm, được ân sủng trở thành quý phi.
 
Người đầu tiên giành được vị trí ưu tiên này là một nữ nhân viên trẻ của Cơ mật viện – một cô gái tuyệt đẹp có làn da trắng như tuyết, đôi mắt sáng và cặp chân mày xinh như vẽ. Cô ta không thèm giấu diếm gì với Giang Thanh, và còn tìm cách làm thân với bà. Giang Thanh, được nịnh hót và vẫn còn áy náy vì mới đây đã nổi nóng với Mao, vui vẻ chấp nhận sự hiện diện của cô ta. Bà tự hứa với chính mình là sẽ không gây sự với chồng vì chuyện các cô bồ của ông ta nữa.
 
Những người thân tín của Mao luôn tìm cách làm vui lòng ông ta. Ban đầu mỗi tuần chỉ có một đêm dạ vũ, nhưng sau đó họ nhanh chóng thấy rằng để chiều lòng chủ tịch thì như thế chưa đủ. Thế là từ một buổi dạ vũ trở thành hai buổi mỗi tuần, có nghĩa là số cung phi dành cho Mao phải tăng gấp đôi. Tất cả các đoàn văn công đều phải đóng góp vào. Sự chăm sóc này không phải là quá đáng, vì chủ tịch càng cao tuổi thì ham muốn tình dục lại tăng lên. Năm đó Mao đã 67 tuổi.
 
Khi phải nhận lãnh những ngón đòn chính trị và bực tức trước những lãnh đạo cao cấp khác của Đảng, Mao nằm lì suốt nhiều ngày và chỉ ra khỏi giường để dự dạ vũ. Ông ta thường xuyên nhảy nhót cho đến hai giờ sáng, rồi sang phòng bên cạnh « nghỉ ngơi » với các « đối tác ». Không một tiếng động nào lọt ra khỏi căn phòng có cánh cửa bọc vải dày. Những cô gái được chọn lựa không hề phàn nàn, mà hoàn toàn ngược lại.
 
Chưa bao giờ, ngay cả trong những giấc mơ điên rồ nhất, các cô có thể tưởng tượng ra có ngày lại được phục vụ cho thú vui nhục cảm của vị thượng đế được hàng trăm triệu người tôn sùng. Rất ít người từ chối đề nghị của chúa tể Trung Quốc. Có thể chỉ có vài cô y tá hay phụ nữ hơi cứng tuổi. Cô y tá nào từ chối thì đó là vì đạo đức nghề nghiệp không cho phép lẫn lộn vai trò, còn phụ nữ lớn tuổi thì do mắc cỡ khi phải gia nhập hậu cung gồm toàn các thiếu nữ tuổi xuân hơ hớ. Còn tất cả những cô gái khác đều phát cuồng vì Mao, và sẵn sàng thỏa mãn những đòi hỏi dù có quá quắt của ông ta.
 
Hầu hết là những cô gái rất nghèo khó. Chẳng hạn cô Lưu từng đi ăn xin trên đường phố cùng với mẹ, cô Chu là trẻ mồ côi. Thường thì cha mẹ các cô này, đã qua đời, được xem là « liệt sĩ cách mạng ». Nhiều cô không được học hành gì cả, và trở thành diễn viên múa nhờ có Đảng. Các đoàn văn công đầy dẫy những thiếu nữ loại này, được tuyển mộ nhờ ngoại hình chuẩn, để giúp người của các cán bộ cao cấp trong Đảng giải trí.
 
Các cô được lên giường với Mao là « hàng tuyển trong số hàng tuyển », cho dù chỉ vài tiếng đồng hồ. Điều này chỉ có thể hiểu được nếu chúng ta nhớ lại nạn thần thánh hóa Mao Trạch Đông. Sự xuất hiện của Mao trong những dịp lễ lạc trang trọng, oai vệ như một bức tượng đại đế tại quảng trường Thiên An Môn, là một kỷ niệm không thể quên đối với mỗi người tham dự. Chưa nói đến những người được đặc ân có một không hai là bắt tay với Mao, họ không rửa ráy trong nhiều tuần lễ để giữ trên người loại « nước thánh ». Có thể nói, Mao gần như một huyền thoại, và còn được yêu mến và kính trọng hơn cả các đại đế Trung Hoa.
 
Làm thế nào trong điều kiện đó, các cô gái trẻ dốt nát lại không cảm thấy hãnh diện khi được vinh dự ngủ vài tiếng đồng hồ bên cạnh vị thánh sống ? Việc này cũng như một lễ hiến tế tối thượng, và các cô sẵn sàng làm tất cả để xứng đáng với niềm vinh hạnh lớn lao như thế. Tất cả những cô gái này đều chưa chồng, vừa mới tròn hai mươi, hai mươi hai tuổi, và một khi đã bị Mao chán chê thì cũng phải đợi đến khi chủ tịch cho phép mới được lập gia đình.
 
Đôi khi Mao cũng ngạc nhiên vì các cô gái không coi ông ta là một người đàn ông, mà như Thượng đế. Điều ấy làm Mao bật cười, nhưng cái chính không phải ở đó. Các thiếu nữ này phải chứng tỏ họ xứng đáng với ham muốn của Mao, vốn chừng như không giảm sút đi với thời gian.
 
Gần đến tuổi bảy mươi, Mao có vẻ đã nói lời vĩnh biệt với chứng bất lực mà trước kia vẫn làm ông ta khiếp sợ mỗi khi nghĩ đến nguy cơ này. Trở thành tín đồ nhiệt thành của các phương pháp làm tình theo tinh thần Lão giáo, xem hành vi tình dục là nghi lễ phù hợp với luật âm dương của trời đất để trường thọ, Mao cần những thiếu nữ có đủ điều kiện tham gia và tỏ ra xuất sắc trong lãnh vực này.
 
Từ đó, chiếc giường size « khủng » của Mao đón tiếp có thể đến một tá cô gái cùng một lúc. Thực tế, quan niệm Lão Tử chỉ là cái cớ cho tính dâm dục tự nhiên của ông ta. Những điều mà các người tình một đêm này cho là hạ cấp đối với những người đàn ông khác, thì với Mao lại được coi là tuyệt vời, và các cô tự hào kể lại những kỳ tích của Mao.
 
Các cô gái không ngần ngại học hỏi kỹ năng làm tình để đáp ứng được những đòi hỏi trớ trêu của ông ta, vì thật là tệ hại nếu không phục vụ được ngang tầm. Cô nàng đó sẽ bị loại ngay lập tức, trong khi có hàng tá cô gái khác đang chầu chực ngoài cổng. Một trong số các cô, một hôm đã ngây ngất thổ lộ :
 
- Tất cả những gì ông ấy làm hết sức tuyệt vời, đê mê !
 
Ở tuổi bảy mươi, Mao vẫn cảm thấy cường tráng, mà ông ta cho rằng đó là nhờ hoạt động tình dục có thể sánh vai với Sardanapale (một vị vua thời cổ đại chỉ thích khoái lạc – ND).Mao thích làm tình hơn tất cả mọi thứ trên đời, cũng như các cô gái trẻ xinh xắn, đặc biệt là các trinh nữ.
 
Người ta đưa các cô đến phục vụ cho Mao như là thức ăn hàng ngày, tuyển lựa dựa theo các tiêu chuẩn cụ thể : phải thật đẹp và xuất thân từ thành phần vô sản. Mao chúa ghét những phụ nữ tinh tế, học thức và ở lứa tuổi chín chắn. Những cô gái trúng tuyển choáng ngợp trước vinh dự này.
 
Người cầm lái vĩ đại thực sự là một con sư tử trong lãnh vực tình dục. Cho đến lúc chết, cuộc sống riêng tư của Mao là một loạt những cuộc truy hoan. Đó là thú vui duy nhất của ông ta, và Mao tiêu thụ một số lượng thiếu nữ không thể đếm xuể.
 
Sự ham mê sắc dục của Mao không chỉ giới hạn ở những cô gái trẻ. Ông ta cũng thích các thanh niên đẹp trai lực lưỡng, như đa số các nam nhân viên phục vụ vẫn thường xuyên phải đấm bóp cho ông dễ ngủ. Mao đòi hỏi các chàng thanh niên này phải xoa bóp cả bộ phận sinh dục của ông ta nữa. Và cũng không ít trường hợp khi đã được làm nóng, Mao lại vuốt ve bộ phận kín của chàng trai. Đây không hẳn là khuynh hướng đồng tính luyến ái, nhưng đúng ra là một nhu cầu tình dục mãnh liệt dưới mọi dạng thức.
 
Đương nhiên không phải là đơn giản khi để cho bằng ấy thiếu nữ có ngoại hình hoàn hảo sống cùng một mái nhà với các chàng trai đẹp « lung linh ». Đội ngũ cận vệ gồm đủ loại người, trừ các hoạn quan, và họ không ngần ngại buông lời trêu hoa ghẹo nguyệt với các cô gái tuổi đôi mươi này. Nhưng hãy coi chừng cơn thịnh nộ của vị chúa tể…Mao không ưa người khác đi săn trên lãnh địa của mình, và đã có nhiều người học được bài học đắt giá.
 
Có vài ba lần Mao say đắm tài năng của một trong số các tì thiếp cho đến nỗi không cho cô ta kết hôn, khi cô phải lòng một anh chàng đẹp trai. Thế là nhiều nhân chứng đã phải chứng kiến những vụ cãi cọ chẳng khác ngoài chợ. Một cô ái phi khác thì dần dà có ảnh hưởng lớn đến mức cô ta tự cho phép mắng Mao sa sả. Nhưng cô này làm tình rất nghệ thuật cho nên Mao bỏ qua tất cả. Hơn nữa cô ta còn giới thiệu với Mao một lô một lốc các người đẹp trong gia đình mình, cô sau lại còn đẹp hơn cô trước.
 
Vào thời kỳ đó, cuộc sống tình dục của Mao Trạch Đông gần như trở thành quan hệ gia đình. Ông ta nhanh chóng sủng ái một trong các cô em của cô bồ đương nhiệm, và cô này đương nhiên bị hất cẳng. Cô em đã có chồng, nhưng điều này có can hệ gì…Một buổi tối, Mao mời cả gia đình đến ăn tiệc. Lúc đến món tráng miệng, ông ta bất thần nảy sinh ham muốn. Mao yêu cầu anh chồng đi nơi khác để có thể « chăm sóc » cô vợ. Đương nhiên là người chồng chẳng dám hé miệng, thậm chí còn cho rằng việc vợ mình được Mao chọn lựa là một sự ưu ái. Mao ưa thích các phụ nữ trong gia đình này cho đến nỗi ông ta có thể ngủ cả với người mẹ nếu bà còn sống…
 
**
 
Thời gian càng trôi đi, các người tình của Mao càng trở nên ngạo mạn. Hãy còn vô tư lúc mới gặp gỡ, chỉ cần được vời đến nhiều đêm trên giường của Mao là những người đẹp này bỗng trở thành những cô ả đanh đá. Đa số vô học, nên các cô nhanh chóng trở nên kiêu căng. Những người đẹp này ngu ngơ cho đến mức khi bị lây nhiễm căn bệnh hoa liễu, vốn không có lý do gì mà không ập đến chốn thanh lâu này, các cô còn tỏ ra hãnh diện vì được Mao Trạch Đông lây bệnh cho. Những thiếu nữ này xem đó là một niềm vinh hạnh, và nhất là, đây là bằng cớ chứng tỏ mình đã được ngủ với Mao.
 
Khi phải chữa trị cho nhân vật là nguồn gây lây lan bệnh, thì lại là chuyện khác vì Mao không bị ảnh hưởng gì, cho rằng đây là điều vô bổ. Các bác sĩ cảnh báo nguy cơ :
 
- Thưa chủ tịch, điều gì sẽ xảy ra nếu đến lượt phu nhân Giang Thanh của ngài cũng bị lây bệnh ?
 
Mao cười lớn :
 
- Điều đó chẳng bao giờ xảy đến đâu ! Tôi không quan hệ tình dục với bà ấy từ đời nảo đời nào rồi…Tôi bảo với bà ấy là tôi già quá rồi, không thể làm tình được nữa.
 
Nguy cơ lây truyền bệnh hoa liễu lại càng cao hơn vì Mao không bao giờ tắm rửa. Kể cả rửa « cái ấy ». Ông ta cười hô hố :
 
- Tôi rửa nó trong cơ thể phụ nữ rồi !
 
Hậu quả là Mao Trạch Đông mang trong người vi trùng hoa liễu cho đến cuối đời, và tiếp tục lây nhiễm căn bệnh cho hàng mấy trăm thiếu nữ…

 

 

  Tiến trình Trung Quốc lần chiếm đất của Việt Nam

Thật ra, người Việt đã bị Tàu cướp đất dài dài trong tiến trình lịch sử, bắt đầu từ thời mới lập quốc cho đến ngày nay, do đó người Việt phải tiến dần xuống phía Nam. Tuy nhiên, cha ông chúng ta cũng đã chiếm đất của Lâm Ấp, Chiêm Thành và Chân Lạp để lập thành một nước mới.

Trong bài này chúng tôi chỉ nói về tiến trình bị mất đất trong lịch sử.

BÀI HỌC LỊCH SỬ?
Trong bài Tựa của bộ “Việt Nam Sử Lược”, cụ Trần Trọng Kim (1882 – 1953) có than phiền:

“Sử mình đã không hay, mà người mình lại không mấy người biết sử. Là vì cách học tập của mình làm cho người mình không có thể biết được sử của mình”.

Bài Tựa này được viết vào năm 1919, khi bộ “Việt Nam Sử Lược” lần đầu tiên được xuất bản, nhưng đến nay vẫn còn đúng. Không những thế, một số “sử gia” đời nay khi viết sử, thường không dựa theo chính sử như cụ Trần Trọng Kim, mà chỉ ghi lại những phần mình thích, bỏ đi những phần bị coi là mất “khí thế” hay không oai hùng, biến hoá nhiều đoạn và thêm huyền thoại vào làm cho sử không còn là thực sử nữa! Một vài thí dụ cụ thể:
(1) Khi viết về vua Lê Lợi đánh thắng giặc Minh, các “sử gia” ta chỉ ghi lại “Bình Ngô Đại Cáo” và giấu đi tờ biểu thê thảm mà Lê Lợi dưng lên vua Minh xin phong vương. Trong vụ Nguyễn Huệ đánh thắng quân Thanh, các “sử gia” ta cũng chỉ ghi lại “Hịch Đánh Trịnh” của Nguyễn Hữu Chỉnh và “Hịch Gọi Đò” của Nguyễn Huệ, còn tờ biểu được Nguyễn Huệ dưng lên vua Thanh năn nỉ xin ban sắc phong được coi như không có. Họ cho rằng những tở biểu đó làm mất “khí thế” nên phải loại ra khỏi sử, không nên cho con cháu đọc.
(2) Thiền sư Lê Mạnh Thát đã sửa lại sử, cho rằng không có chuyện Bắc Thuộc lần thứ nhất và Mã Viện đem quân đánh hai Bà Trưng. Trái lại, các đời vua Hùng Vương đã kéo dài ra đến sau Công Nguyên, tức đến khi Phật giáo được truyền vào đất Việt! Việc sửa sử này nhắm mục tiêu chứng minh: “Phật giáo là dân tộc” vì đã du nhập vào Việt Nam từ đời Hùng Vương!
Pháp nạn kinh hoàng (gần như làm cỏ) mà Nguyễn Huệ đã gây ra cho Phật Giáo để có phương tiện tiến đánh quân Thanh, không được ai ghi lại một vài dòng, kể cả các “sử gia” Phật Giáo! Họ chỉ nói đến “Pháp nạn” dưới thời Ngô Đình Diệm!
(3) Tàu xây Ải Nam Quan như thế nào và các diễn biến về sau ra sao, đã được ghi rất tỉ mỉ trong chính sử của Tàu cũng như của ta. Công Ước Thiên Tân ngày 9.6.1885 giữa Pháp và Trung Hoa và các văn kiện đính theo đã gọi Ải Nam Quan là “Porte de Chine” (cửa của Trung Hoa) và vẽ nó nằm trên đất Trung Hoa.

Bây giờ người Việt ở trong cũng như ngoài nước, gần như nhà nào cũng xem phim Đại Hàn, trong đó có nhiều phim lịch sử, chẳng hạn như Thời Đại Anh Hùng, Những Ngày Đen Tối, Jumong, Bài Ca Sơ Đông, Đại Hiệp Sĩ, v.v. Qua các bộ phim này, chúng ta thấy người Đại Hàn đã diễn tả rất trung thực lịch sử của họ: thời kỳ nào cường, thời kỳ nào nhược, những sự rối loại trong cung đình, những thủ đoạn gian ác áp chế dân lành của các quan lại phong kiến, những phương thức mà cha ông họ đã dùng để chống ngoại xâm… Nhờ diễn tả lịch sử một cách trung thực như vậy, người Đại Hàn ngày nay đã rút được kinh nghiệm lịch sử để xây dựng một đất nước Đại Hàn tốt đẹp hơn. Trái lại, sử của người Việt đã bị hai bên đối nghịch biến chế theo sở thích và theo nhu cầu chính trị, làm sao có thể dựa vào đó để rút kinh nghiệm của cha ông được?

NƯỚC TA KHỞI TỪ BÊN TÀU?
Theo truyền thuyết và dã sử, thời kỳ Hồng Bàng bắt đầu từ năm 2879 trước Tây lịch, thuộc niên đại vua Kinh Dương Vương, với quốc hiệu Xích Quỷ. Địa bàn của Việt Nam dưới thời Kinh Dương Vương nằm ở tận bên Tàu, rất rộng lớn: Phía bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ Nam), phía đông là Đông Hải, phía tây là Ba Thục (Tứ Xuyên), và phía nam tới nước Hồ Tôn (Chiêm Thành).
Nước Chiêm Thành lúc đó nằm ở đâu? Bộ “Phương Đình Dư Địa Chí” của Nguyễn Văn Siêu đã ghi lại như sau:

“Chiêm Thành: phiá đông giáp bể, phía Tây đến Vân Nam, phía nam giáp Chân Lạp, phía bắc liền Annam, phía đông bắc đến Quảng Đông…”

Thật ra, phải đến thế kỷ thứ 13, nước ta mới có quan viết sử, nên những điều xẩy ra trước đó đều được chép lại theo tục truyền, không biết đúng được bao nhiêu phần trăm. Nhưng chắc chắn người Việt ngày xưa ở tận bên Tàu, sau đó trụt dần xuống phía nam. Tại sao như vậy? Cụ Trần Trọng Kim giải thích:

“Người nòi gióng Việt Nam ta mỗi ngày một nẩy nở ra nhiều, mà ở phía bắc đã có nước Tàu cường thịnh, phía tây thì lắm núi nhiều rừng, đường đi lại không tiện, cho nên mới theo bờ biển lấn xuống phía nam, đánh Lâm Ấp, dứt Chiêm Thành, chiếm đất Chân Lạp, mở ra bờ cỏi bây giờ.”

Đây là kiểu “Dùi đánh đục thì đục đánh săng (gỗ)” hay “Cá lớn nuốt cá bé”.

ĐỒNG TRỤ NẰM Ở ĐÂU?
Nước ta có ranh giới đầu tiên với nước Tàu là do Mã Viện ấn định. Lịch sử kể lại rằng dưới thời Đông Hán, năm 41 sau Tây lịch, vua Quang Vũ của Tàu sai Mã Viện làm Phục Ba Tướng Quân, sang đánh Trưng Vương, đem đất Giao Chỉ về lại cho nhà Hán (Thiền sư Lê Mạnh Thát nói chuyện này không có!). Mã Viện dời phủ trị về Mê Linh và dựng cây đồng trụ ở chỗ phân địa giới, khắc sáu chữ: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt”. Nghĩa là cây đồng trụ gãy thì người Giao Chỉ mất. Người Giao Chỉ đi qua dưới chân cột đồng ấy cứ lấy đá bồi đắp lên mãi thành gò đống cao, vì sợ cột đồng ấy bị đổ gãy.
Nhưng cột đồng này đã được dựng ở đâu?
Theo “Lĩnh Ngoại Đại Đáp” của Tàu (đời Đường) và “An Nam Chí Lược” của Lê Tắc, cột này được dựng ở Khâm Châu, trong vùng hang động Cổ Sâm.
Khâm Châu là một châu của Tàu nằm sát biên giới với Giao Chỉ, còn Cổ Sâm là một động của ta nằm sát biên giới Tàu.
Sách “Vân Đài Loại Ngữ” của Lê Quế Đường (tức Lê Qúy Đôn) có ghi: “Giữa đỉnh núi Phân Mao ở Khâm Châu có cột đồng to độ hai thuớc. Có lẽ đây là Mã Tống dựng lên.”
Núi Phân Mao (Phân Mao lĩnh) ở đâu?
Sách “Dư Địa Chí” của Nguyễn Trãi viết:

“Vân Cừ, Kim Tiêu, Phân Mao ở về Yên Bang (sau tránh húy đổi làm Yên Quảng). Vân Cừ là tên sông, tên khác của sông Bạch Đằng, Tiền Ngô Vương bắt Hoằng Tháo, Hưng Đạo Vương bắt Ô Mã Nhi đều ở đây. Phân Mao là tên núi, Kim Tiêu là cột đồng. Ở phía Tây lộ Hải Đông 300 dặm có đèo Phân Mao, ở nửa đèo có cột đồng của Mã Viện dựng, lớn chừng ba thước.”

(Dư Địa Chí, Nguyễn Trãi toàn tập, bản dịch của NXB KHXH – Hà Nội, tr. 202)
Sách “Gia Khánh Trùng Tu Nhất Thống Chí” của Nhà Thanh cho biết: Núi Phân Mao ở phía Tây Khâm Châu (nay là đất tỉnh Quảng Đông). Năm Tuyên Đức thứ 2 (1427) thời Minh, núi ấy thuộc vào châu Tân An của Giao Chỉ. Đến năm Gia Tĩnh thứ 21 (1542) Mạc Đăng Dung hàng, mới thuộc về nước Tàu.
Đồng trụ nếu to 2 thước ta (theo Lê Qúy Đôn) hay 3 thước ta (theo Nguyễn Trải) thì cũng rất lớn. Mỗi thước ta bằng 0,425 mét. Như vậy 2 thước là 0,850 mét và 3 thước là 1,275 mét.
Về sau, cả người Tàu lẫn người Việt đều không biết rõ đồng trụ nói trên nằm ở đâu. Sách “Khâm Định Việt Sử Thương Giám Cương Mục” có cho biết năm 1272, nhà Nguyên đã sai Ngột Lương sang Việt Nam hỏi giới mốc đồng trụ ngày trước ở đâu. Vua Trần Thánh Tôn đã sai viên phái Lê Kính Phu đi hội đồng khám xét. Lê Kính Phu tâu với Nhà Nguyên: “Chỗ cột đồng do Mã Viện dựng lên lâu ngày bị chìm lấp, nay không thể biết ở chỗ nào được”. Việc đó sau cũng thôi. (Quyển VII, tr. 219).
Thật ra, Mã Viện không phải chỉ dựng một đồng trụ ở Cổ Sơn. Ông đã mở mang bờ cỏi của nhà Hán, dựng lên một đồng trụ ở Đèo Ngang (giữa Hà Tĩnh và Quảng Bình) và hai đồng trụ ở Bình Định. “Phương Đình Dư Địa Chí” của Nguyễn Văn Siêu cho biết: Sách Tần Thư Điạ Lý Chí ghi: Ở quận Nhật Nam có cột đồng từ đời Hán dựng làm địa giới. Sách Lâm Ấp Ký chép: Phía tây quận Nhật Nam có nước Tây Đồ Di, Mã Viện qua đất này dựng hai cột đồng nêu bờ cỏi nhà Hán.
Quận Nhật Nam lúc đó gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định ngày nay (có tài liệu cho là đến tận cửa Đại Lãnh, Phú Yên). Vùng này là bắc Chiêm Thành.
Nhìn lại, nếu đồng trụ do Mã Viện dựng để phân ranh giới Việt – Trung mà còn thì nó cũng đã nằm trên đất Tàu, vì năm 1540 Mạc Đăng Dung đã giao vùng đất Cổ Sơn, nơi có đồng trụ, cho Trung Hoa rồi.

MẤT ĐẤT DƯỚI THỜI PHONG KIẾN
Nhiều người tưởng rằng, trong lịch sử, cha ông chúng ta luôn kiên cường dựng nước và giữ nước, không để mất một tấc đất nào. Thực tế không phải như vậy. Ngoài việc bỏ Hồ Nam, Quảng Đông và Quảng Tây chạy xuống Bắc Việt hiện nay, cha ông chúng ta còn phải chịu bị mất đất rất nhiều lần.
Mặc dầu Mã Viện đã dựng đồng trụ ở Phân Mao để đáng dấu ranh giới giữa Giao Chỉ và nước Tàu, những việc phân định ranh giới giữa hai nước không dễ dàng vì biên giới rất rộng lớn. Mỗi lần có tranh chấp, vua hay quan Tàu đều giàng quyền quyết định phần nào thuộc Tàu và phần nào thuộc ta.. Thí dụï năm 1442, nhà Minh gởi dụ cho vua Lê Thái Tông, nói rằng Chiêm Lãnh và Như Tích là thuộc Châu Khâm của Trung Quốc, do Hoàng Khoan cai quản, nên phải trả lại cho Trung Quốc. Năm 1547, Đô Đốc Mã của nhà Thanh gởi thư cho Chúa Trịnh và nói: “Từ Sa Châu trở ra ngoài đến Phân Mao – Đồng Trụ là đất của quý quốc cày cấy chăn nuôi từ lâu, cho về An Nam”.
Ngoài chuyện tranh chấp về vùng biên giới, các vua và quan Tàu luôn tìm cách chiếm thêm đất của nước ta. Tạm bỏ qua “một ngàn năm đô hộ giặc Tàu” đi, chúng ta thấy từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ thứ 18, dưới các triều đại của Trung Quốc từ Tống, Nguyên, Minh đến Thanh đều đem quân xâm lấn Đại Việt. Nhà Tống xâm chiếm 2 lần, nhà Nguyên 3 lần, nhà Minh và nhà Thanh mỗi vương triều một lần. Ngoài những cuộc xâm chiếm đại quy mô như thế, các triều đại Trung Quốc cũng thường tìm cách cướp đất của người Việt ở vùng biên giới. Sau đây là một số thí dụ cụ thể:
1.- Mất hai động Vật Ác và Vật Dương.
Dưới thời nhà Tống, Quách Quỳ đã chiếm 4 châu và một huyện của Đại Việt là Quảng Nguyên, Quang Lang, Tô Mậu, Môn, và Thuận châu. Sau đó, năm 1057 Nùng Tôn Đàn nộp động Vật Ác và năm 1064 Nùng Trí Hội nộp thêm động Vật. Dương. Vua Lý Nhân Tông phái sứ qua thương lượng nhiều lần, vua Tống chỉ chịu trả cho 4 châu và một huyện, nhưng không trả hai động Vật Ác và Vật Dương.
2.- Mất 59 thôn ở Cổ Lâu
Năm 1401, khi Hồ Hán Thương được Hồ Quý Ly nhường ngôi, đã sai sứ sang xin vua nhà Minh phong vương. Vua Thánh Tổ nhà Minh nghe tin ở An Nam đang có chuyện lộn xộn nên cho điều tra và biết được Hồ Quý Ly đã cướp ngôi nhà Trần. Nhà Minh muốn nhân cơ hội này đem quân sang chiếm nước An Nam, lấy lý do là để hạch tội Hồ Quý Ly. Khởi đầu, vào năm 1405 nhà Minh sai sứ sang đòi lại đất Lộc châu, tức Lộc Bình thuộc tỉnh Lạng Sơn ngày nay, viện lý do đất này trước đây thuộc châu Tự Minh của tỉnh Quảng Tây. Lúc đầu Hồ Quý Ly không chịu, nhưng thấy áp lực của nhà Minh quá nặng nên Hồ đã sai quan hành khiển là Hoàng Hối Khanh đến dàn xếp. Hoàng Hối Khanh quyết định cắt 59 thôn ở Cổ Lâu nhường cho Tàu. Hồ Quý Ly thấy cắt nhiều quá, có mắng Hoàng Hối Khanh. Tuy đã nhún nhường như thế, nhà Minh vẫn không chịu, đem binh qua chiếm nước ta.
3.- Mạc Đăng Dung giao hai châu và 4 động cho Tàu
Theo cuốn “Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí” của Phan Huy Chú, năm 1540 khi Mạc Đăng Dung đầu hàng nhà Minh, đã trao trả 2 châu và 4 động cho nhà Minh. Hai châu là Như Tích và Chiêm Lãng, và 4 động là Tê Phù, Kim Lạc, Cổ Sâm và Liêu Cát. Các lãnh thổ này được sát nhập vào châu Khâm của Tàu. Nhưng Mạc Đăng Dung không được nhà Minh phong vương mà chỉ phong làm Đô Thống Sứ.
4.- Mất 13 châu và 3 động.
Năm 1684, thổ quan huyện Khai Hóa của tỉnh Vân Nam đem quân chiếm ba động Vị Xuyên, Bảo Lạc và Thủy Vĩ thuộc tỉnh Tuyên Hưng của ta. Chúa Trịnh Thuận Đức cho sứ qua đòi lại nhưng nhà Thanh không trả.
Năm 1698 thổ quan tỉnh Vân Nam lại chiếm thêm ba động Ngưu Dương, Hồ Điệp và Phổ Viên thuộc tỉnh Tuyên Quang. Sứ thần Nguyễn Đăng Đạo đến Trung Quốc xin vua Khang Hy trả lại, nhưng vua từ chối. Chúa Trịnh Bính lại phái sứ khác qua nhà Thanh xin xem lại vụ này, nhưng quan Tuần Phủ Quảng Tây không cho đi. Từ đó, ba động này kể như mất luôn.
Năm 1781, dưới thời Tây Sơn do Nguyễn Nhạc lãnh đạo, Hoàng Công Thư đã đem 10 châu của nước Việt nộp cho Tổng Đốc tỉnh Vân Nam. Triều đình ta gởi thư yêu cầu Tổng Đốc Vân Nam xét lại biên giới. Tổng Đốc Vân Nam trả lại thư và nói rằng biên giới tự nhiên không cần vạch lại.
Trên đây là một số vụ mất đất điển hình trong thời phong kiến.

MẤT ĐẤT DƯỚI THỜI XHCN
Có thể nói, nếu không có Pháp xâm chiếm và đô hộ nước ta, khó mà ấn định được đường ranh giới hợp lý và khoa học trên bộ và trên biển giữa Việt Nam và Trung Hoa.
Sau nhiều lần thương lượng rất gay cấn, kể cả dùng sức mạnh quân sự, ngày 9.6.1885 nhà cầm quyền Pháp và Trung Hoa đã ký Công Ước Thiên Tân về biên giới Việt – Trung được gọi là “Hiệp Ước Hòa Bình, Hữu Nghị và Thương Mại” (Traité de Paix, d’Amitié, et de Commerce). Công ước này đã được bổ túc do công ước ngày 26.6.1887 và công ước ngày 20.6.1895.
Mặc dầu có những hiệp ước ấn định ranh giới một cách rõ ràng nói trên, kể từ năm 1954, sau khi Pháp rút khỏi miền Bắc, Trung Quốc bắt đầu xâm phạm biên giới Việt Nam. Những vụ xâm phạm này đã được nhà cầm quyền Hà Nội ghi rõ trong tập “Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc”, do nhà xuất bản Sự Thật của Hà Nội xuất bản năm 1979, sau khi Trung Quốc đem quân “dạy cho Việt Nam một bài học.” Trong “Lời Nhà Xuất Bản”, nhà xuất bản Sự Thật nói rõ đây là toàn bộ “Bị vong lục của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc nhà cầm quyền Trung Quốc gây khiêu khích, xâm lăng lãnh thổ Việt Nam ở vùng biên giới”.
Vì tập sách khá dài, chúng tôi chỉ ghi lại những điểm chính. Trong phần “Tình hình Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam từ năm 1954 đến nay”, nhà cầm quyền Hà Nội cho biết thủ đoạn lấn chiếm đất của Trung Quốc như sau:
(1) Từ xâm canh, xâm cư, đến xâm chiếm đất (tr. 8).
(2) Lợi dụng việc xây dựng các công trình hữa nghị để đẩy lùi biên giới sâu vào lãnh thổ Việt Nam (tr. 10).
(3) Đơn phương xây dựng các công trình ở biên giới lấn sang đất Việt Nam (tr. 11).
(4) Từ mượn đất của Việt Nam đến biến thành lãnh thổ của Trung Quốc (tr. 12).
(5) Lợi dụng việc vẽ bản đồ giúp Việt Nam để chuyển dịch đường biên giới, điển hình là đã sửa ký hiệu ở khu vực thác Bản Giốc (mốc 53), nơi chúng định chiếm một phần thác Bản Giốc và cồn Pò Thông (tr.14)…
Sau đây là một số trích đoạn được trích dẫn:
1.- Từ xâm canh, xâm cư đến xâm chiếm đất.
Tài liệu cho biết:

“Lợi dụng đặc điểm là núi sông hai nước ở nhiều nơi liền một dải, nhân dân hai bên biên giới vốn có quan hệ họ hàng, dân tộc, phía Trung Quốc đã đưa dân họ vào những vùng lãnh thổ Việt Nam để làm ruộng, làm nương rồi định cư những người dân đó ở luôn chỗ có ruộng nương, cuối cùng nhà cầm quyền Trung Quốc ngang ngược coi những khu vực đó là lãnh thổ Trung Quốc.”

Một thí dụ cụ thể: Từ năm 1956 phía Trung Quốc tìm cách nắm số dân Trung Quốc sang làm ăn ở Trình Tường bằng cách cung cấp cho họ các loại tem phiếu mua đường, vải và nhiều hàng khác, đưa họ vào công xã Đồng Tâm thuộc huyện Đông Hưng, khu tự trị Choang-Quảng Tây. (tr. 8 và 9)
2.- Lợi dụng việc xây dựng các công trình hữu nghị để đẩy lùi biên giới sâu vào lãnh thổ Việt Nam.
“Năm 1955, tại khu vực Hữu Nghị Quan, khi giúp Việt Nam khôi phục đoạn đường sắt từ biên giới Việt-Trung đến Yên Viên gần Hà Nội, lợi dụng lòng tin của Việt Nam, phía Trung Quốc đã đặt điểm nối ray đường sắt Việt Trung sâu trong lãnh thổ Việt Nam trên 300m so với đường biên giới lịch sử, coi điểm nối ray là điểm mà đường biên giới giữa hai nước đi qua. Ngày 31 tháng 12 năm 1974, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà đã đề nghị Chính phủ hai nước giao cho ngành đường sắt hai bên điều chỉnh lại điểm nối ray cho phù hợp với đường biên giới lịch sử nhưng họ một mực khước từ bằng cách hẹn đến khi hai bên bàn toàn bộ vấn đề biên giới thì sẽ xem xét…” (tr.10)
3.- Đơn phương xây dựng các công trình ở biên giới lấn sang đất Việt Nam.
“Trên đoạn biên giới đất liền cũng như ở các đoạn biên giới đi theo sông suối, tại nhiều nơi, phía Trung Quốc đã tự tiện mở rộng xây dựng các công trình để từng bước xâm lấn đất.
“Tại khu vực mốc 53 (xã Đàm Thuỷ, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) trên sông Quy Thuận có thác Bản Giốc, từ lâu là của Việt Nam và chính quyền Bắc Kinh cũng đã công nhận sự thật đó. Ngày 20.2.1970 phía Trung Quốc đã huy động trên 2.000 người kể cả lực lượng vũ trang lập thành hàng rào bố phòng dày đặc bao quanh toàn bộ khu vực thác Bản Giốc thuộc lãnh thổ Việt Nam, cho công nhân cấp tốc xây dựng một đập kiên cố bằng bê tông cốt sắt ngang qua nhánh sông biên giới, làm việc đã rồi, xâm phạm lãnh thổ Việt Nam trên sông và ở cồn Pò Thoong, và ngang nhiên nhận cồn này là của Trung Quốc… (tr.11 và 12).
Trên đây chỉ là một vài thí dụ cụ thể. Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này sau.

LỆNH PHẢI GIỮ ĐẤT
Năm 1473 khi Lê Duy Cảnh, Thái bảo kiến dương bá, đi trấn giữ ở vùng biên giới giáp với tỉnh Quảng Tây, vua Lê Thánh Tông đã trao cho ông một sắc dụ, trong đó viết:

“Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vứt bỏ, ngươi nên cố cãi, chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe, còn có thể sai quan sang xứ Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di.”

Lữ Giang
Theo Sách Hiếm
( Nguồn : Nguyennguyenbay…)

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 06.08.2014

TIẾNG SÚNG

TIẾNG SÚNG

Truyện ngắn Phạm Dũng

Hắn kiểm tra lại đạn. Những viên đạn ánh màu đồng, sáng bóng. Tốt! Vài tiếng nữa súng sẽ nổ và cả nước, không, cả nhân loại sẽ sôi lên vì một cuộc tự sát vô tiền khoáng hậu, một cuộc tự sát giữa một đại hội nhà văn của một nước có chín mươi triệu dân.

Mình sẽ nổ súng! Nhất định mình sẽ nổ súng. Sống lâu hơn hay nhanh hơn mội vài năm hay một vài chục năm thì có gì khác nhau? Đảng cần cần phải có một sự cảnh báo. Tiếng súng! Tiếng súng sẽ là một cảnh báo mạnh mẽ.

Hắn lật áo lên, gài súng vào cặp quần.

-      Anh đi nghe!

-      Ừ, anh đi!… Kìa cái cổ áo! – Vợ hắn bước tới chỉnh lại cái cổ áo cho hắn.

-      Cảm ơn em!

Hắn ôm vợ. Tự dưng hắn thấy người vợ hắn có mùi bếp núc.

-      Em… có mùi bếp… thơm thật.

-      Anh nói lạ, em nội trợ suốt ngày phải có mùi bếp chứ! (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 05.08.2014

THƯ NGỎ GỬI BẠN TRẺ VIỆT NAM

Nhà văn Nguyễn Khắc Phục

THƯ NGỎ GỬI BẠN TRẺ VIỆT NAM

Nguyễn Khắc Phục

Sự kiện nhà cầm quyền Trung Quốc trắng trợn tuyên bố đầu tư 40 tỉ USD thăm dò biển Đông trên thềm lục địa của Việt Nam đã làm dấy lên sự phẫn nộ của người dân Việt Nam cả trong nước lẫn ngoài nước. Mặc dầu bị đàn áp và bịt miệng, nhà văn Nguyễn Khắc Phục ở Hà Nội đã lên tiếng cảnh báo nguy cơ mất nước bởi bọn bành trướng Trung Quốc trong lá thư ngỏ gửi bạn đọc trẻ Việt Nam…”. THư viết từ năm 2008 mà nóng hổi như mới viết hôm qua !

Nhật Tuấn

 

Hà Nội ngày 8 tháng 12 năm 2008

Tôi tên là Nguyễn Khắc Phục, hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam, đã về hưu và tiếp tục sáng tác tại Hà Nội. Cách đây đúng một năm (ngày 08.12.2007), trước những hành vi sai trái, nguy hiểm của nhà cầm quyền Trung Quốc đe dọa chủ quyền, an ninh lãnh thổ nước ta, tôi đã phải viết một bức thư ngỏ gửi các nhà văn Trung Quốc. Một năm sau, những diễn biến nói trên mỗi lúc một thêm nghiêm trọng, nhà cầm quyền Bắc Kinh càng có nhiều hành động không thể chấp nhận được, đưa ra những đòi hỏi cực kì vô lý, đi ngược lại mọi chuẩn mực công pháp quốc tế, đạo lý khi tuyên bố chủ quyền đối với vùng biển có diện tích khoảng 75% Biển Đông. Tham vọng bất chính, bất hợp pháp của họ không dừng lại ở việc xâm chiếm phi pháp Hoàng Sa, đe dọa Trường Sa mà còn tiếp tục những mưu toan ngang ngược, trắng trợn đòi chiếm luôn cả vùng Tư Chính – Vũng Mây và bồn trũng Nam Côn Sơn của Việt Nam vốn nằm cách đảo Hải Nam của Trung Quốc 1000 km, bất chấp chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam đối với vùng biển này đã được luật quốc tế và các bên liên quan công nhận (xin tham khảo thêm tư liệu ở TUANVIETNAM ngày 8.12.2008, “Chủ quyền Việt Nam ở vùng Nam Côn Sơn, Tư Chính, Vũng Mây” của Dương Danh Huy – Lê Minh Phiếu).

 

(Đọc tiếp…)

XÓT TIỀN DÂN CHO NHỮNG CHUYẾN ĐI NƯỚC NGOÀI VÔ BỔ 

 
 
Đào Tuấn/ TVN
Chi phí tiền tỷ ra đi theo các chuyến công cán. Ảnh minh họa
Trong nước cũng thế, ngoài nước cũng vậy. Trung ương cũng nhiều, địa phương cũng lắm. Hóa ra, chuyện lãng phí, chuyện trùng lắp là chuyện của… “chúng ta”.
 Những con số “tế nhị”

 

 

 

Ngày 3/10/2013, bản tin trên một tờ báo điện tử dẫn lời chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh nói: “Tôi vừa từ nước ngoài về, Đại sứ Việt Nam tại Liên Bang Nga Phạm Xuân Sơn cho biết bình quân một năm đón tiếp từ 200- 220 đoàn công tác từ Việt Nam sang, có đoàn tới 60 người”. Nhưng cũng chỉ rất nhanh sau đó, câu trên đã được sửa lại thành “một Đại sứ cho biết…”.

 

 
Có thể, số đoàn vẫn chỉ là 200-220, nhưng rõ ràng “Một Đại sứ”, khác với “Đại sứ Phạm Xuân Sơn”. Có thể, vì những con số là tế nhị nhạy cảm cũng không biết chừng.
Giá cho một cặp vé khứ hồi đi Moscow rẻ nhất là 17 triệu VNĐ, hạng thương gia lên tới 52 triệu. Không khó để tự những người nông dân tính ra một năm như thế, họ phải làm ra bao nhiêu thóc chỉ để phục vụ cho các đoàn công tác nước ngoài.
Huống chi “đoàn” không phải lúc nào cũng 60 người, nhưng chắc chắn không đoàn nào là 1 người. Huống chi Nga chỉ là một trong khoảng 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Huống chi, cũng theo đại sứ Phạm Xuân Sơn kể, lãnh đạo tổng cục Du lịch từng sang tổ chức hội thảo quốc tế bằng cách đưa cho đại sứ quán mấy cuốn băng video, mấy tờ bướm quảng cáo, vài cuốn sách hướng dẫn du lịch nhỏ xíu rồi cùng với đoàn cán bộ chuyên môn… “đi đâu đó”.
Vậy thì có bao nhiêu “tấn thóc” đi đâu đó ra nước ngoài mỗi năm?
3.780 đoàn năm 2012 và 3.200 đoàn năm 2013. Đây là con số mà Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh chính thức công bố.
Phải dừng lại để nhấn mạnh rằng, có lẽ đây là lần đầu tiên những thống kê chính thức về chuyện công cán nước ngoài được công khai trước nhân dân. Dù về nguyên tắc, trước nay chẳng ai quy định đó là tế nhị hay nhạy cảm cả.
 Và những con số đó được Phó Thủ tướng nhắc tới kèm theo một lời than “Nhiều nước bạn phản hồi, có nhiều vấn đề vừa trả lời đoàn này, một thời gian ngắn sau lại có đoàn khác sang hỏi câu tương tự. Điều này gây nên sự lãng phí tiền của đất nước”.  
 
Còn người nói cho lòng dân hai chữ “quá trời” thì chính là Thủ tướng. “Tôi nghe báo cáo có nước bạn thấy đoàn Việt Nam đến người ta sợ. Các đồng chí phải xem lại cái này, đi quá trời thế này, dù có giảm nhưng còn tới 3.200 đoàn như vậy là rất lớn”- ông nói.
“Lớn” ở đây không chỉ là nhiều, mà còn là những phí tổn khổng lồ. Cho dù về lý thuyết, chuyến công cán nào cũng đều được thuyết minh là cần thiết, là hiệu quả.
Chuyện của… “chúng ta”
Tình trạng công tác trong nước cũng tệ không kém. Chủ tịch An Giang kèm theo việc “kêu trời” trước con số 70 đoàn vào công tác mỗi năm đã nêu kỷ lục có đoàn ở tới… 3 tháng, đã mở ngoặc liệt kê thêm bao nhiêu khoản chi phí. Từ tiền vé máy bay, tiền ăn ở, tiền khách sạn… Trong khi, dù không “hỏi câu tương tự”, nhưng cũng là thanh kiểm tra những vấn đề trùng lắp.
Nhưng nói cho cùng, các địa phương cũng chẳng phải chỉ là nạn nhân. Tháng 11 năm ngoái, Chủ tịch Quảng Bình than thở trên Tiền phong trước tình trạng có lúc ông phải “bù đầu” cáng đáng công việc cho 3 vị phó chủ tịch cùng lúc đi công tác nước ngoài. Trong 10 tháng của năm, một tỉnh nghèo như Quảng Bình mà có đến 98 đoàn đi công tác nước ngoài.
Trong nước cũng thế, ngoài nước cũng vậy. Trung ương cũng nhiều, địa phương cũng lắm. Hóa ra, chuyện lãng phí, chuyện trùng lắp là chuyện của… “chúng ta”.
Cần nhắc lại rằng năm nào Chính phủ cũng yêu cầu hạn chế công tác nước ngoài. Năm nào Bộ tài chính cũng yêu cầu chỉ đi trong trường hợp cần thiết. Cũng khối địa phương có trát rành rành hai chữ hạn chế, nhưng xem ra, các bộ ngành địa phương vẫn còn nặng nề lắm với tư tưởng “làng Vũ Đại”: Hạn chế là hạn chế ai đó, chắc trừ mình ra.
Nhớ hồi tháng 9, tại Thái Lan, khi bàn về dự án ngân sách, chuyện công du “nhiều thứ 3 trên thế giới” của thủ tướng nước này đã được đưa ra mổ xẻ, kèm thêm con số chi phí 9,4 triệu USD. 52 chuyến công du. Chi phí 9,4 triệu USD. Trong khi thống kê thương mại cho thấy đất nước đang thâm hụt 18 tỷ USD.
Người dân Thái Lan, với tư cách những người đóng thuế, ít nhất cũng có số liệu cụ thể về chi phí và hiệu quả để tự mình đánh giá.
“Bây giờ phải hết sức cân nhắc đoàn đi, yêu cầu đi, số lượng người đi… phải hết sức chặt chẽ. Tôi đề nghị đồng chí Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh rà soát lại, để có cách kiểm soát và báo cáo Ban Bí thư về vấn đề này”- Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói.
Có lẽ, muốn tránh lãng phí từ những chuyến công du thì ngoài việc thẳng thắn về con số các đoàn công cán nước ngoài, Chính phủ nên có một bản bạch hóa những chuyến công cán cho từng bộ ngành, từng địa phương.
Để ít nhất khi ký công lệnh cho cán bộ đi nước ngoài, các vị thủ trưởng đáng kính của chúng ta có thể ước lượng ngay được số tiền mà người dân của mình phải “vắt mồ hôi quy xăng” cho những chuyến đi đắt đỏ đó.
( Đầu đề của QTXM)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 04.08.2014

THẰNG CẦM CẶC

 

THẰNG CẦM CẶC

Truyện ngắn của  PHẠM DŨNG

Ở nước Sảng thời Ngũ quốc phân tranh, có một người có cái tên rất kinh dị đó là thằng cầm cặc. Sở dĩ hắn có cái tên này là do vua nước Sảng có một thói quen vô cùng bệnh hoạn là khi ngủ với các cung tần mỹ nữ phải có nó cầm cái thứ đó thì nhà vua mới hoàn thành mỹ mãn công việc. Vì sao thì thật khó lý giải.

Lúc đó nước Sảng bí bét nhất trong 5 nước. Nào là quan lại tham nhũng, kiêu binh ức hiếp dân lành, hoạn quan lũng đoạn triều chính. Tóm lại người càng có tài, có tâm thì càng sống lay lắt, khổ sở.

Thằng cầm cặc là đứa có tâm. Nhiều lần, nhân khi vua đang lên đỉnh, nó góp ý cho nhà vua cần phải làm thế này thế khác. Nhưng nhà vua không nghe: “Ổn định là điều căn bản của một nước! Có ổn định ta với nhà ngươi mới được như thế này chứ!?”

Thời gian trôi qua, thằng cầm cặc hồi mới vào cung, cằm nhẵn thín giờ đã có một chòm râu dài cả tấc. “Cứ thế này mãi thì mình chẳng làm được gì cho dân cho nước a?”. Nghĩ thế, nó xin từ quan.

-      Ờ, mày về đi, cũng già mẹ nó rồi, hử?

Vua nói rồi ban cho nó vô khối vàng bạc gấm vóc cùng một tấm bảng sắc phong có dòng chữ tự tay vua viết:

“Đây là một người cầm cặc vĩ đại!”.

Thế là thằng cầm cặc về.

Nhưng từ ngày nó ra đi, không có ai cầm cái đó thì vua lại chẳng thể nào hành sự được. Vua cho rất nhiều người thay nó làm việc ấy nhưng đứa thì bàn tay nhẽo nhèo, đứa thì tay cứng quèo, đã thế lại chẳng có sự phối hợp nhịp nhàng. Thật chẳng ra làm sao cả.

Vua tức tốc cho triệu hồi thằng cầm cặc đến.

Thằng cầm cặc yêu cầu phải cho nó làm tể tướng, với quyền lực tuyệt đối thì nó mới chịu trở lại cung.

-      Ừ, tể tướng thì tể tướng, cứ làm đi rồi biết!

Và, thằng cầm cặc ra làm tể tướng.

Thời gian trôi đi, năm này qua năm khác, đất nước vẫn ngày càng lụn bại, dân lành vẫn ngày càng sống ngắc ngoải hơn.

Một hôm nhà vua gọi nó vào, hỏi:

-      Trẫm đã cho khanh muốn làm gì thì làm, sao không thấy khanh làm gì vậy?

-      Dạ, thần cầm cặc quen rồi… nên giờ dù có cho thần tự tung tự tác thần vẫn chẳng thể tự mình làm gì sất.

-      Đấy khanh thấy không, làm vua đâu có dễ!

Nói rồi nhà vua kéo nó theo vào hậu cung. Nhà vua mới tuyển được một tài nhân cực kỳ hấp dẫn.

Thằng cầm cặc lại… cầm cặc.

Thằng cầm cặc tự an ủi rằng giúp nhà vua lên đỉnh thì cũng coi như đã làm được một việc có ích cho muôn dân. Nhờ vậy từ sau khi quay lại với công việc cũ, nó không còn bị lương tâm cắn rứt nữa.

( Tác giả giửu chio QTXM)

Đăng bởi: Ngô Minh | 03.08.2014

Văn Cao, tiếng hát

Văn Cao, tiếng hát

  •   Đặng Tiến

Nhạc sỹ Văn Cao Nhạc sỹ Văn Cao

Thiên Thai Trương Chi là hai ca khúc nổi tiếng từ nửa thế kỷ trước, cấu trúc trên hai truyền thuyết được lưu hành lâu đời. Thiên Thai là chuyện Lưu Nguyễn lạc vào cõi bồng lai, Trương Chi kể lại niềm đau đớn của chàng ngư dân có tiếng hát hay, tuyệt vọng vì tình:  ai cũng hiểu như thế và hiểu đúng. Gần đây, Phạm Duy có phát triển thêm ý nghĩa của hai bài hát, trong một loạt bài rất hay đăng trên Văn Học (California), số 16 và 17 tháng 10, 11 năm 1987, mà Hợp Lưu đăng kèm trong số này.

Nay chúng tôi muốn đưa một lối nhìn khác về hai nhạc phẩm, không phải để đi tìm cái độc đáo, lập dị, mà để đưa Thiên ThaiTrương Chi vào toàn bộ sự nghiệp thơ – nhạc – họa của Văn Cao, như một đồng bộ thống nhất: hai bài hát đó, chúng tôi xem như là tuyên ngôn nghệ thuật của Văn Cao – những nguyên tắc thẩm mỹ được đưa ra từ thuở hai mươi, sẽ chung thủy với Văn Cao đến tuổi xế chiều.

Thiên Thai mở ra bằng một tiếng hát:

Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng…

Bồng lai, ở đây, chỉ là tiếng hát: Thiên Thai là lịch sử một tiếng hát, một tác phẩm nghệ thuật lừng danh và vô danh. Tiếng hát, không à ơi trên võng, không tỉ tê bên gối, không ê a dưới ánh đèm màu, không rè rè qua máy phát thanh, và vang lừng trên sóng, vượt tới vũ trụ và lấn át vũ trụ. Tiếng hát át tiếng sóng là một âm thanh tự thức đè lên một âm thanh vô thức. Tiếng ai hát… ai hát?  Ta không biết và không cần biết. Một tác phẩm nghệ thuật, khi lìa tác giả, không còn cần tác giả, như đứa con khi trưởng thành không còn cần mẹ như trước:  chúng ta yêu Truyện Kiều mà không cần biết Nguyễn Du. Biết, dĩ nhiên, «thì cũng tốt thôi»nhưng không phải là điều chính yếu trong nghệ thuật. Cái sai lầm của cô Mỵ Nương là đã muốn đồng hóa tiếng hát với người hát:  «Anh Trương Chi. Người thì thậm xấu hát thì thậm hay… Hồ nghe tiếng hát thì thương… Hồ trông thấy bóng anh chàng thì chê»như lời ca dao quê Văn Cao mà Nguyên Hồng và sau này Phạm Duy, có kể lại. Mà không cứ gì một cô bé lầu Tây sai lầm, mà cả nền văn nghệ hiện thực xã hội chủ nghĩa (đã) sai lầm, khi đánh giá những bài hát nói Nguyễn Công Trứ qua Nguyễn Công Trứ, đánh giá tiểu thuyết Nhất Linh qua con người Nhất Linh – mà lại đánh giá sai.

«Thiên Thail à gì?  là cả một thiên thu trong tiếng đàn chơi vơi». Sự đối lập, hay song lập giữa vĩnh viễn và mong manh, giữa những định hình và những chơi vơi, là thế giới nghệ thuật. Nụ cười mong manh trở thành miên viễn trong bức họa La Joconde. Cái không gian như cái giây tơ, bước đi sẽ đứt động hờ sẽ tiêu trong buổi chiều Xuân Diệu – hay buổi chiều Nguyễn Du, bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha, những ánh sáng mong manh ấy, là cả một thiên thu.

Một mặt, nghệ thuật là tiếng « đàn xui ai quên đời dương thếnhớ quê chiều nào xa khơi… chắc không đường về tiên nữ ơi», tách rời khỏi thực tế: nghệ thuật là một thế giới riêng, với những quy luật riêng, bảo vệ và phát huy bản năng sáng tạo, độc lập với hiện thực. Mặc khác, nghệ thuật cần bám rễ vào thực tại để phát triển, và phả sắc, nhả hương về lại trần gian. Nói giản dị hơn: nghệ thuật cần thực tại để nảy sinh và cần quần chúng để trưởng thành và tồn tại, nghệ thuật là ánh trăng thanh mơ tan thành suối trần gian. Nghệ thuật là một mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn qua một lần, là những cánh hoa trong một bức tranh tuyệt mỹ, không nở không tàn, nhưng chỉ sống thực khi gặp cái nhìn của người xem: sóng mắt con người đánh thức cành hoa trong hội họa, và trong ánh mắt đó, nó sẽ nở sẽ tàn như mọi thứ hoa trần thế ; và chỉ có phút bừng sống đó, cành hoa nghệ thuật mới đạt tới đời sống thực và có khả năng trở thành một cành hoa lý tưởng. Trong khi chờ đợi, cành hoa huệ của Tô Ngọc Vân, cành hoa cúc của Lê Phổ… vẫn là những hoa xuân chưa gặp bướm trần gian.

Người nghệ sĩ khi cầm cây cọ ngòi bút tên tay đều biết rằng ái ân thiên tiên, em ngờ phút mê cuồng có một lần – một lần thôi, nếu có. Và có thể cái phút mê cuồng ấy không đến:  phút linh cầu mãi không về như lời thơ Hồ Dzếnh. Hoặc đến không phải nơi phải lúc. Phút mê cuồng ấy linh thiêng, tuyệt đối, là động cơ sâu xa của sáng tạo mà mỗi nghệ sĩ, mỗi xã hội đều có nhiệm vụ bảo vệ, vì nó chỉ có một lần. Và khi khai triển chuyển phút có một lần thành cả một thiên thu, người nghệ sĩ lại phải tỉnh táo:  trước cái phút mê cuồng đó để chuẩn bị, và sau đó, để hoàn tất. Lúc tỉnh táo, trước và sau đó, anh là người thợ, phải có dụng cụ, có tay nghề. Anh đừng cả tiếng khinh thường thợ thơ, thợ vẽ:  không có người thơ trong tay, anh suốt đời chỉ nghệch ngoạc, hoặc rung đùi đợi vợ con hầu rượu hoặc lạc rang, và chửi đời «không có trình độ».

Thiên Thailà luồng điện hai chiều: người trần thế mê hạnh phúc bồng lai trong khi những tiên cô khao khát «khúc tình duyên»trần thế. Lưu Nguyễn khi ở Thiên Thai đã «quên trần hoàn», khi về trần, muốn tìm lại cõi tiên thì Đào nguyên nơi nao? . Nghệ thuật cũng vậy. Nghệ thuật là cuộc đời muốn hóa thân thành màu sắc, âm thanh; mà cũng là những âm sắc khô cứng muốn trở lại làm hoa làm lá. Nghệ thuật là đóa hoa mong chín mọng thành trái đầu mùa, mà cũng là quả cây chín muộn, nhung nhớ cánh bướm hoang đường từ một mùa xuân xa vắng. Là những lối đi trùng với lối về, nghệ thuật là cõi hẹn hò ngang trái. Mỗi ngang trái là một chung thủy và hạnh phúc của sáng tạo nảy sinh từ sự thủy chung đó. Nghệ sĩ cùng bầy tiên đàn ca bao năm, không còn nhớ đường về; anh sống với nghệ thuật cũng vậy: trước giá vẽ, anh chỉ biết vui với cây cọ và màu sắc, mà không cần nhớ cuộc sống, không nên thêm vào một bó hoa hồng để tranh dễ bán, không nên bớt đi một đóa sen cho hợp với đường lối, lập trường. Anh vẽ cuộc sống, nghĩa là vẽ cuộc sống trong anh; dù là vẽ cái ly trước mặt, anh vẫn vẽ ra hàng ngàn cái ly chứng kiến đời anh, bằng một cái ly trong tâm tưởng. Tĩnh vật trước mặt chỉ là cái cớ, làm trung gian giữa tác giả và người xem tranh. Những mối tình lớn không cần trung gian. Những họa phẩm lớn không cần đề tài. Nhưng ngược lại, khi rời khỏi giá vẽ, trở lại đời sống bình thường của xã hội, thì anh lại phải sống bình thường, đau cái đau của con người, vui cái vui của vợ con, buồn nỗi buồn của dân tộc. Nguyễn Du không lăn lóc suốt đời thì không thốt lên được tiếng đoạn trường. Nguyễn Khuyến không lo sốt vó vì lụt lội mất mùa, phần thuế quan thu, phần trả nợ thì không viết nổi câu nước trong veo. Nói vậy để trả lời những người hỏi Văn Cao: Sao tài hoa xuất chúng mà đi lãnh việc trong ban khủng bố?  Sao lại không? Chẳng lẽ là tài hoa, anh lãnh phần làm nhạc quốc ca thôi, còn việc bẩn thỉu thì để người khác làm thay?  Hỏi như thế thì khác gì trách Nguyễn Công Trứ cầm quân dẹp loạn, hay trách André Malraux chỉ huy lữ đoàn thép Alsace Lorraine? Văn Cao có câu thơ thật hay:

Cuộc đời ôm tôi như trong một cái bình

Một tiếng vang vang cả lòng cả đáy

Văn Cao là vậy, luôn luôn là vậy, một tiếng vang vang cả lòng cả đáy, dội về biển lớn, vang lừng trên sóng.

Thiên Thailà cõi vô thủy vô chung, không có thời gian. Mà không có thời gian thì không có Âm Nhạc. Lô gíc. Không có khúc nghê thường. Gió hát trầm tiếng ca, tiếng phách ròn lắng xa là nghệ thuật, là trần gian, là ý thức của hủy thể. Âm ba thoáng rung cánh đào rơi trong mộtmùa đào dòng ngày tháng chưa tàn qua một lần. Nghệ thuật đã là rụng chiếc lá đầu tiên xuống Đào Nguyên. Nghệ thuật là cố gắng của con người vượt qua khỏi vật thể, tội lỗi và cái chết trong trần thế và đã đưa những khái niệm ấy vào Thiên Thai qua Đào Nguyên Hành của Vương Duy hay chuyện Lưu Thần, Nguyễn Triệu trong thơ Tào Đường mà Văn Cao có chịu ảnh hưởng như anh đã ghi nhận (1944). Nhưng Lưu Nguyễn chỉ là nhân vật, nên đã thong dong trở về trần. Còn Trương Chi là người hát, có thể là tác giả những bài hát, nên phải trả một cái giá đắt hơn.

 

TRƯƠNG CHI

Có nhiều huyền thoại Trương Chi. Tình sử Trung Quốc kể chuyện một cô gái mê tiếng hát một người lái buôn rồi chết, tim hóa đá, cho đến khi người đàn ông trở lại, nhỏ một giọt nước mắt, khối tình mới tan. Theo truyền thuyết Việt Nam, người đàn ông là một người thuyền chài, có tiếng hát hay, nhưng bị chê nghèo (hoặc xấu); nhân vật nữ là cô Mỵ Nương. Có thuyết cho là nàng chết, thuyết khác cho chàng chết, tim hóa gỗ bạch đàn hay ngọc đá. Văn Cao nhấn mạnh hai chủ đề nhạc và giai cấp, và chuyện chấm dứt ở cái chết của Trương Chi, chỉ còn lại tiếng hát nức nở bên sông. Không có chuyện trái tim và nước mắt, Phạm Duy, trong Khối Tình Trương Chi (1945) kể lại truyền thuyết từ đầu đến cuối. Hai bản nhạc đồng thời với nhau và Phạm Duy đã có lần giải thích rất hay tác phẩm bạn mình (báo Văn Học, đã dẫn).

Bài hát Trương Chi mở đầu cho một thế giới sơ khai: Một chiều mưa trăng nước chưa thành thơ, một thế giới chưa có nghệ thuật, chưa có sáng tạo ; sau đó không gian mới rung thành tơ: con người đã phát triển được bản năng thẩm mỹ, bằng cách tiếp thu một cách tiêu cực vẽ đẹp của vũ trụ, rồi dần dần sáng tạo ra nghệ thuật, ôi tiếng cầm ca thu tới bao giờ. Con người trước tiên tiếp xúc với vũ trụ để tự vệ và sản xuất, nhờ có nghệ thuật, họ đã bằng những rung cảm mới, ngoài phạm vi nhu cầu tồn tại. Tương quan giữa tiếng cầm ca và thu tới bao giờ là tương quan giữa bản năng thẩm mỹ, bản năng sáng tạo và cái đẹp của thiên nhiên. Thiên nhiên thì vẫn vậy thôi, hay chuyển hóa rất chậm và rất ít, theo chu kỳ, nhưng ý thức thẩm mỹ của con người ngày càng phát triển nhanh, càng tiếng bộ, trở thành phức tạp, tinh tế. Cho đến một lúc nào đó, con người bỗng thấy lòng chiều bơ vơ lúc thu vừa sang… Buổi chiều. Mùa thu. Niềm bơ vơ:  chúng ta đã đến những chủ đề cổ điển của văn thơ thế giới, từ nhiều nguồn văn minh khác nhau. Con người chủng tộc, văn hóa khác nhau có thể cùng rung cảm như nhau, vì cái đẹp khách quan bàng bạc dưới ánh sáng hài hòa của vũ trụ và cái đẹp chủ quan ấp ủ trong bản năng thẩm mỹ của con người, bản chất gần nhau. Từ đó, nghệ thuật là mớ vốn chung cho toàn thể nhân loại, nó phải có tham vọng đáp ứng lại nhu cầu thẩm mỹ của con người – dĩ nhiên là qua lăng kính ngôn ngữ, văn hóa của từng dân tộc một. Sáng tạo nghệ thuật làm vũ trụ và con người càng ngày càng giàu có thêm. Buổi chiều, cũng như buổi sáng, buổi trưa, không đẹp, không xấu:  buổi chiều là giờ an nghỉ, phút chia tay, một ánh trầm tư, một thoáng u hoài trước cảnh vật phai màu nhạt sắc. Buổi chiều, một thoáng bơ vơ, trở thành một tình cảm văn nghệ. Có nghĩa gì đâu một buổi chiều (Xuân Diệu).

Nhưng theo đà tiến hóa, nghệ thuật – và con người nữa, cách ly ra khỏi thiên nhiên, độc lập và có khi đối lập thiên nhiên, công phá thiên nhiên. Nghệ thuật ngày một ngày hai trở thành một hoạt động chuyên nghiệp có quy chế trong xã hội. Ngày nay, ai thích lời chim hót ríu rít tiếng oanh ca không nhất thiết phải thích âm nhạc; ai yêu phong cảnh sông Lô bến sóng vàng từng nhà mờ biếc chìm một màu khói thu, người ấy không nhất thiết phải yêu hội họa.

Nhưng nghệ thuật, cụ thể là âm nhạc, hội họa và văn thơ khơi sâu ý thức về cái đẹp, gọi là mỹ cảm trong con người, giúp con người yêu thêm, yêu sâu sắc hơn ngôn ngữ và những âm sắc thiên nhiên. Không phải tự nhiên mà con người nghe suối hát theo đôi chim quyên hay ngoài song mưa rơi trên bao cung đàn… còn nghe như ai nức nở và than… trầm vút tiếng gió mưa… cùng với tiếng nước róc rách ai có buồn chăng… Trong trường ca Những Người Trên Cửa Biển, Văn Cao nói rõ hơn:

Có người không biết trăng là đẹp

Bỗng nhiên chiều đứng ngắm trăng lên

Nghe như ai hát trong lòng…

Có người quên hàng chục năm dĩ vãng

Chợt nhớ ra tất cả những ước mơ

Của những ngày niên thiếu

(Lá, tr. 72)

nhờ một câu thơ, một khúc nhạc. Nghệ thuật là bội số của cuộc đời, nhân cuộc đời thành hàng vạn giấc mơ, từ đó, Văn Cao đã có thể khẳng định những bức tranh tăng dân số chúng ta. Và anh giải thích:

Bao tình yêu khát khao hy vọng

Gửi từng cuộc đời nhỏ bé

Từng thế giới con con

Với tôi tất cả

Đều rộng lớn vô cùng

vì những nhỏ bé con con ấy lớn lên trong nghệ thuật, đều trở thành cái vung tay hùng tráng của người gieo – (le geste auguste du semeur).

Nhưng cái đẹp trong nghệ thuật không phải lúc nào cũng lung linh ánh trăng, long lanh tiếng suối, lóng lánh hơi mưa, nó có thể lem nhem than khói:

Nhạc đang biến thành sự thực quanh ta

Tôi càng yêu hơn

Những cuộc đời sau bức tường xám xa lem nhem than khói

Những lá thuyền chen chúc nép bên nhau

Qua chiếc lưới phới thấp thoáng bóng người

Cả đến cuộc đời những con hà lóng lánh

(, tr.  71)

Tác dụng của nghệ thuật thật lớn lao trong cuộc sống của loài người. Cô Mỵ Nương vốn ở lầu Tây, con quan Thừa Tướng ngày ngày cấm cung trong ca dao làm sao có tầm hiểu biết như thế.

Tây hiên Mỵ Nương khi nghe tiếng ngân hò khoan

Mơ bóng con đò trôi

Giai nhân cười nép trăng lả lơi

Lả lơi bên trời

Sai lầm của cô gái lầu Tây là đã mơ người hát qua lời hát, mơ tác giả qua tác phẩm, sau đó muốn chiếm hữu tác giả – nghĩa là chiếm hữu toàn bộ tác phẩm lẫn nguồn sáng tạo cho riêng một mình – rồi lại chê nhặt chê khoan. Cô là hiện thân của hệ thống chính trị cưỡng đoạt văn nghệ từ xưa đến nay. Đường Minh Hoàng yêu chuộng Lý Bạch, Louis nâng đỡ Molière, bất quá là để mua vui như Lê Thánh Tông dùng nhạc Lương Đăng; còn chế độ chuyên chính vô sản, từ Staline đến nay, chiếm đoạt nghệ thuật ra sao thì chúng ta không cần dài lời. Trong bài hát, Văn Cao phớt qua hình ảnh Mỵ Nương, chút nhan sắc của cô bé dậy thì này không đáng cho chúng ta dừng mắt lại lâu, như lời chàng Nguyễn Huy Thiệp chịu khó quan sát, những cô gái mới lớn hết sức đức hạnh và trong trắng lại lén lút đi đọc những chuyện nhảm nhí. Người anh hùng của các thiếu nữ hoa niên là một gã Đông Juăng nào đó (Sông Hương, số 42, 1990). Điều này, dĩ nhiên là không làm vinh dự cho anh Trương Chi, anh chỉ trách ai khinh nghèo quên nhau. Quên nhau là thôi, là hơn. Trương Chi dừng chèo là Văn Cao dừng chuyện. Không cần gì mà phải tim hóa đá để đòi nợ nước mắt. Vì không ngọc đá nào quý bằng trái tim con người, trái tim biết yêu, biết nhớ, trái tim ngừng đập là tan với cỏ cây. Trái tim Trương Chi, trái tim Văn Cao không có gì sánh được. Còn món nợ kia? Ở đời, một anh «phủi»nợ, thì hết vấn đề. Hai là anh nhận nợ, thì không bao giờ anh trả hết: chết đi, chết kiểu gì đi nữa, thì anh cũng chỉ mới thoát nợ chứ chưa phải là trả nợ. Lẩn thẩn mà Văn Cao đòi nợ thì phiền lắm: cả nước nợ anh một bản quốc ca, mỗi chúng ta còn nợ anh một vài bản nhạc tình, cả mấy cô tiên trên Thiên Thai cũng còn nợ Văn Cao trái đào thơm. Năm nay bảy mươi tuổi, Văn Cao đã ăn được trái đào thơm nào đâu?  Còn quả đắng, thì suốt một đời, anh phải ăn nhiều lắm. Văn Cao là chú đạo đồng dâng mật ngọt cho bữa tiệc trần gian rồi suốt đời phải ăn trái đắng.

Trái tim Trương Chi thì đã tan rã. Nhưng tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung. Đây là định mệnh của tác phẩm nghệ thuật, là ý nghĩa đặc biệt của nhạc phẩm Trương Chi, chứ không phải là chuyện tình lẩn thẩn. Phải hiểu như thế mới bắt được mạch thơ Văn Cao

Đêm nay dòng sông Thương dâng cao

Mà ai hát dưới trăng ngà

Ngồi đây ta gõ ván thuyền

Ta ca trái đất còn riêng ta

Ta ở đây không phải là cá nhân Trương Chi, cũng không phải là Văn Cao, mà là Con Người, Nhân Loại sáng tạo ngôn ngữ, rồi sáng tạo nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật, văn minh, văn hóa để làm chủ trái đất còn riêng ta. Con người gõ ván thuyền mà ca, giữa cảnh trăng nước sông Thương đó, đẹp hơn cả hình ảnh Trang Sinh khi vỗ bồn mà hát. Hát rằng:  ta có trời đất làm quan quách, nhật nguyệt làm ngọc bích, tinh tú làm ngọc châu, vạn vật làm lễ tống… Mà còn thêm chi cho lắm việc (Liệt Ngự Khấu, Ngoại Thiên). Bối cảnh có khác nhau, nhưng nội dung chính yếu của chuyện gõ thuyền, gõ chậu mà ca không khác nhau: con người tự thức, làm chủ thể của ý thức và ngoại vật. Tự thức ở Trang Tử là tư tưởng lớn lao của ông, tự thức của Văn Cao là nghệ thuật của mình, là tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng, mà cũng là tiếng sóng. Tiếng sóng Kêu khát suốt ngày đêm – Suốt ngày đêm kêu khát. Nghệ thuật phải là những làn môi. Những làn môi nóng bỏng căng mình chờ đợi:

Nước ngọt của dòng sông

Bao giờ đổ đầy lòng biển

(Câu khép trường ca Những Người Trên Cửa Biển)

( Trích theo Vanhoanghean )

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 02.08.2014

THỰC CHẤT TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Nhà thơ Từ Quốc Hoài

(QTXM). Bạn đọc thân mến. Nhà thơ Từ Quốc Hoài , đảng viên cộng sản, Hội viên Hội Nhà văn  Việt Nam vừa có bài viết rất sâu sắc và chính xác về những vấn đề nóng hổi của ĐẤT NƯỚC có tựa đề : Tháo bỏ ách tắc để giữ lấy độc lập và chấn hưng đất nước . Chúng tôi xin in lại phần II là phần “Thực chất Tư tưởng Hồ Chí Minh. Gần chục năm nay Đảng cộng sản VN phát động “học tập và làm theo tư tưởng và đạo đức Hồ Chí MInh”. Trên nói, tỉnh nói, huyện nói, xã hói, nhưng liệu có bao nhiêu người biết  thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là gì ? Chúng ta hãy đọc Từ Quôc Hoài để biết chúng tga đang làm theo cái gì ?

THỰC CHẤT TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Từ Quốc Hoài

Hồ Chí Minh, người khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là bậc vĩ nhân, anh hùng dân tộc. Người là linh hồn cuộc chiến đấu trường kỳ, khốc liệt và vẻ vang của dân tộc, lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Được khích lệ bởi cuộc chiến tranh giải phóng hào hùng của nhân dân Việt Nam, phong trào đấu tranh của nhân dân khắp năm châu vì hòa bình, tiến bộ xã hội, chống ách nô dịch, thuộc địa… bùng lên mạnh mẽ. Kết cục là sự cáo chung của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ lẫn kiểu mới trên phạm vi toàn thế giới. Có thể nói thế kỷ hai mươi là thế kỷ đấu tranh giải phóng dân tộc.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 02.08.2014

LẦN THEO BÀI “NGÃ BA HẠC PHÚ”

 

LẦN THEO BÀI “NGÃ BA HẠC PHÚ”

 NGUYỄN HƯNG HẢI

Có những quá khứ làm mê ngủ bao đời người. Nhưng cũng lại có những  kỷ niệm, dù là kỷ niệm đắng cay, làm người ta tỉnh thức ? Quốc Tử Giám hôm nay còn lại những văn bia, khi vang vọng những  dòng tên đã thuộc về phía khác. Hình như trong giữa hội tao đàn của các bậc  đàn anh, Nguyễn Bá Lân đang khiêm tốn ngồi kia cùng nâng chén với Lê Quý Đôn bác học – thông gia.  Để có cuộc gặp gỡ này, thế kỷ 18 đã phải viết sử bằng máu và nước mắt cùng với bao khôn dại lỡ lầm của cả vua, chúa, quan, quân; hình như có cả tiếng kêu van trời đất của muôn dân và danh nhân nữa. Nguyễn Bá Lân đang hãnh diện ngẩng cao đầu ngâm ngợi phú Nôm, phú Hán hay lầm lũi ở con hẻm nào của 36 cái phố phường, từng nhầy nhụa và nhớp  nháp trong quá khứ? 

 

  Ngỡ như mâu thuẫn. Ngỡ như chẳng còn gì để nói. May sao còn có chuyến đò qua ngã ba sông, có một khoảnh khắc say giữa dòng đời luôn phải tỉnh. Và Nguyễn Bá Lân đã vật vã để hồi sinh; bỏ tấm mạng che nhiễu điều nhung lụa, chạy vội về phía có những đàn cá anh vũ đang nô đùa nơi xoáy sóng.  Nội lực bừng lên, bốc hỏa, hóa thân vào “Ngã ba Hạc Phú”, làm bà đỡ  cho một Nguyễn Bá Lân – Tiến sĩ sống cùng trời đất đến ngày hôm nay? Viên mãn một cuộc đời đã làm rạng danh cho cả dòng họ Nguyễn Bá vốn  nhiều “kinh bang tế thế”; trải từ Kinh Bắc xa xôi; qua vùng Cổ Đô (trấn Sơn Tây) đến trung du Phú Thọ bây giờ. Tất cả những gì mà Nguyễn Bá Lân gieo, gặt trong lịch sử đã thực sự trở thành điểm tựa và niềm tin cho những sự an minh, hãnh diện và hình như có cả nỗi kinh hoàng tỏa sáng nữa.

 

Được thừa hưởng một truyền thống giáo dục của gia đình có cội rễ sâu xa  là văn hóa, lớn lên trong sự dắt dìu nghiêm khắc và dân chủ có định hướng của người cha – người thầy Nguyễn Công Hoàn với sự khuyến khích liên tục về sự  tranh đua, thi thố văn chương nên Nguyễn Bá Lân sớm có trong tiềm thức khát  vọng kiếm tìm và xác lập những chân giá trị. Lịch sử của thời đại ấy lại có nhiều  đối chứng cho ông kiểm nghiệm, suy ngẫm nên vào những lúc tưởng đã cạn kiệt  niềm hy vọng, ông vẫn nguyên một giá trị đích thực cả về đạo và đời.  Trớ trêu thay, ông sinh ra không phải chỉ để làm quan; chuyên tâm chăm chú cho mỗi một việc: điều binh khiển tướng. Tài năng đã chắp cánh cho ông.

 Nhưng hình như đến lúc làm quan trong triều rồi, ông mới chợt vỡ ra rằng: cũng  chẳng để làm gì, nếu như không “lập công, lập đức và lập ngôn”. Chính vì vậy mà ngồi trên bạc vàng, gấm vóc, được thừa hưởng nhiều ân huệ của triều đình, ông vẫn luôn hướng về phía nhân dân, vẫn dứng về phe nước mắt. Dường như ông linh cảm được trước mọi biến thiên của lịch sử, kiếp người. Ở ông còn có một sợi dây tình cảm nào đấy, rất mật thiết và cũng có rất nhiều cung bậc rung  lên từ phía khốn cùng. Ông nghe được và ông đau khổ. Cũng bởi vậy, suốt cuộc đời làm quan ông đã phải cùng một lúc chịu lực đè từ trên xuống và sự thúc giục từ dưới lên? Trong sự giằng níu không phải lúc nào cũng tự do quẫy đạp được, ông đã biết bỏ qua cái nhỏ để làm nghiệp lớn. Sự lựa chọn bằng tài năng ấy của ông, phần nào đã đắp bù cho những sự thiếu hụt hết sức cơ bản và trầm trọng về văn hóa của cái thời vua Lê – chúa Trịnh đã vào hồi “mạt vận” ? Cũng có thể  đấy còn là chủ định của ông muốn được tận mắt chính kiến cái “ngõ sau” của  chế độ phong kiến Việt Nam trong cái thế kỷ đầy nhiễu nhương, ung nhọt, hình  như có cả ròi bọ nữa?

  Đắp trong chăn ấy, ngoài nỗi ấm lãnh do cảm giác, ông cũng đã biết  trước, đã nhận thấy trong thơm tho giả tạo, mùi khê và khét của thể chế bị đốt  liên tục bằng ngọn lửa oán hờn của muôn kiếp dân đen, đang ngùn ngụt cháy ở  khắp nơi. Và đã nhiều lần, ông vùng dậy, chạy ra ngoài đêm đen trong ớn lạnh, mở to đôi mắt, dõi về vô định, mong gặp, dù chỉ là le lói một vì sao ? Bất lực trở vào, hình như ông đã lên cơn sốt vì hơi lạnh từ thanh bảo  kiếm ? Có một thứ “virút” đầy ma lực sinh ra từ thể chế đã nhiễm vào ông chăng? Liệu có cách nào chữa chạy và trừ khử được không? Đó là nỗi dằn vặt  không thể tâm sự cùng ai ! Nhưng cũng nhờ có niềm trắc ẩn ấy, ông tránh được  những cú “ra đòn” của lòng đố kỵ, nhỏ nhen và tăm tối ?

  Cũng vì biết sống ít hơn tài năng có thật ông được dân quý, vua trọng. Cả những kẻ đối nghịch cũng phải kiềng nể. Cốt lõi là đây chăng? Giữa hoàn cảnh éo le, giữa bốn bề xu nịnh, nếu không biết sống thế ông giữ sao được bản ngã  của một trí thức phong kiến thanh liêm, chính trực. Sống trong cái thời đảo điên, tao loạn ấy, tài lắm, họa nhiều. May sao ông  đã làm văn chương, ký thác và gửi gắm được về sau tâm trạng mình, thái độ  sống của mình qua mong manh chữ nghĩa. Và ông đã tồn tại chính danh một nhà  văn hóa, một trong bốn đại tài của nước Nam thuở đó.

  Ông đã đi lại tới mòn chân nơi cửa phủ, thuộc đến từng ngọn cỏ lá cây  ven bờ hồ Hoàn Kiếm, hiểu đến tường tận cốt cách người Thăng Long và Thăng Long ngàn năm văn vật. Vậy mà có lúc, hình như do buồn phiền, lơ đễnh không muốn dây vào những điều nên tránh mà ông suýt nữa bị liên lụy, phiền toái ? Đã làm quan thì phải biết phụng sự lợi ích của triều đình. Nhưng ông ghê  sợ cái lợi ích ấy, vì ông không phải là một cuồng tín, ngoan đạo đến mức mù  quáng trước thối rữa của một thể chế quen coi máu và nước mắt của nhân dân là  vật tế thần, là đồ trang sức ?

  Đôi lần do bắt buộc của lịch sử, ông phải đứng ra bênh vực triều đình – Lương tâm ông đã không thể nào yên ổn – Và như để sửa chữa những sai lầm  ấy, ông đã biết vận dụng những cơ may để khoan sức cho dân? Vì ông khôn khéo, vì ông thực tài, nên nhiều việc triều đình dù biết mà  vẫn không làm gì nổi ông ? Trong phủ chúa, thời đó, sau lưng cũng có lắm kẻ  gièm pha nhưng đứng trước ông họ vẫn phải thừa nhận: Còn Nguyễn Bá Lân  còn chính trực của triều chính và mẫn tiệp của “trung quân ái quốc”? Đó cũng là  lí do để ông không phải uốn ba tấc lưỡi trước khi nói câu gì.

  Ý thức được về mình nên ngay từ trong hoang tàn, trong rệu rã, đểu giả, ông biết nhen nhóm lên đạo lý, dẫn dắt nhiều vùng tư tưởng tối tăm của đám quần thần ra tắm sáng. Và ông đã tự cháy, tự đốt lên năng lượng của thế thái nhân tình cho nhiều bấu víu xung quanh, góp phần củng cố trong vơi vớt về uy tín của một thời ngán ngẩm. Và ông đã đứng vững bằng chính đôi chân tưởng  chừng như rất chông chênh của mình.  Trong tê tái nỗi niềm, dường như có lúc ông đã muốn phó thác cuộc đời  cho trò chơi số phận, buông câu ở một góc ao nhiều bọt bèo nào đó. Nhưng vì là  trí thức, là chỗ dựa cuối cùng của niềm tin nên ông không thể nào trốn chạy.

  Có thể nói, nhắc đến ông là làm thức dậy những tháng năm không bình thường của lịch sử. Trong những sự đảo lộn liên tục các giá trị mà chế độ phong  kiến định hình, thì Nguyễn Bá Lân là một trong những bền vững hiếm và quý  đến độ có thể coi như một chút vàng ròng của lịch sử.

 

Chao ôi ! Cái con người sinh ra đã như là một điềm báo về mọi sự tốt  lành, vậy mà cũng lận đận, lênh đênh. Cũng chấp chới thấp thỏm suốt cả cuộc  đời ăn bổng lộc triều chính. Nghe theo triều chính – Và lựa thời để không bị  triều chính coi như một mặt hàng trao đổi.  Có thể ông cũng đã rơi nước mắt khi được vu Lê Hiển Tông ban yến ở Lễ  Bộ Đường. Lúc được Thượng thư Bộ lễ cài trâm, ban mũ áo cân đai, ông đã kịp  ngẫm ngợi điều gì về những ngày làm quan trong triều sau đó? Để rồi lại phải  nuốt nước mắt đi ngược về phía những mũi tên của nông dân. Để rồi lại phải vờ  ốm, cáo lui; vờ nghễnh ngãng mới giữ được mình, mới không vương bẩn sang  người khác.

  Sống trong cái thế kỷ thê lương ngập những chuyện đau buồn ấy, đến như  Nguyễn Bá Lân cũng còn phải trốn mình vào nghiệp chướng, coi văn chương  như một sự giải thoát.  Và như vậy “Ngã ba Hạc phú” không đơn thuần là “tức cảnh sinh tình”  mà ở đây phải hiểu như là giãi bày của tâm trạng được quy nạp gửi gắm qua một  tâm sự lớn của một tâm thế lớn. Không phải ngẫu nhiên Tiến sĩ, thượng sư  Nguyễn Bá Lân lại viết “xinh thay ngã ba Hạc, lạ thay ngã ba Hạc”, để rồi ngay  sau đó lại đẩy tới một đối chứng “dưới hợp một dòng” mà “trên chia ba ngác”.  Thiên nhiên khéo vẽ vời, hay “dưới” và “trên” có điều gì khuất tất ? Làm quan  và làm dân là như thế chăng? Trong linh cảm chia tan “ngóc ngách khôn đo  rộng hẹp”, Nguyễn Bá Lân không chỉ thiên về tả đâu, mà dường như bằng cái  nhìn của một đạo sĩ ông đã chỉ ra giữa “lênh lang dễ biết nông sâu” đúng cái chỗ  “huyệt kim qui chênh hẻm đá gồng ghềnh” ? Để rồi đứng giữa “vũ trụ mơ màng, càn khôn xếch xác” ông lại phải dằn lòng nhớ về Hoài Bão – Tiên Du của phủ  Từ Sơn, vùng Kinh Bắc ấy. Tổ tiên ông ở đấy. Ở đấy là hi vọng. Cũng có thể sẽ  là thất vọng nếu như ông vướng bụi kinh thành để thanh danh nhiễm bẩn. Trong không khí lịch sử của cái thời “móc gieo ngọn cỏ mọc dầy dầy, đá  giãi hơi xương vàng xua xúa” hình như chúng ta còn nghe được từ Quốc Tử Giám văn bia tiếng con vàng oanh vọng lại, nhắn nhủ rằng “dải đất Đoài  Phương, cõi trời Nam Quốc; trên xô nguồn, nguồn chảy vẩn vơ; dưới ngấm  nước, nước xuôi tuồn tuột” cùng những tiếng nấc của thời gian còn kẽo kẹt ở nơi “ba góc bờ tre vắng vắng” ở “một chòm bãi cỏ phơi phơi”. Đã vỡ ra trong ông điều gì khi Đà giang, Lô giang và Thao giang nhập  vào làm một.

 

Đất Cổ Đô phong khí có nét trầm buồn và điềm tĩnh như Cố đô Huế, có gì  như không nhất quán với ông chăng? Hình như Cổ Đô đã vỡ ra từ ông những mảnh sắc và bỏng trong sự va đập  khôn lường của thể chế và cơ chế.  Vỡ ra từ ông cả sự truyền miệng về một quá khứ xuất thân đầy bất trắc vì  mọi sự thiên di; về một cái bướu cứng – rất cứng ở trên đầu.  Có thể là hào quang đã đắp nên ông. Nhưng chắc chắn không có sự vay  mượn nào. Cũng còn có thể là do tư chất và bản ngã của một dòng tộc lớn thích  thi thố và chịu chơi đã làm nên ông và văn chương của ông.

 

Phải chăng, Thượng thư, Tiến sĩ Nguyễn Bá Lân chính là câu trả lời của  dòng họ Nguyễn Bá trước mọi triều chính, ở giữa nơi trời đất. Hình như trong  thăm thẳm nỗi niềm Nguyễn Bá Lân còn là nơi triều đình luôn kính nể, hãnh  diện và cũng đầy ngờ vực.  Như thế càng thêm chứng tỏ một nhân cách lớn của một tài năng lớn từng  chói sáng trong lịch sử, từng có ở đương thời một lần kêu oan cho Lê Quý Đôn  bác học; một lần không bị bạc vàng mua chuộc lúc Đặng Thị Huệ muốn chối bỏ  Trịnh Khải để lập Trịnh Cán lên ngôi chúa. Tấm lòng trong sáng ấy của Nguyễn Bá Lân cũng là sự minh triết trước lịch sử. Tiếc rằng, tất cả những gì chúng ta  được biết đến ngày hôm nay còn quá ít. Ngay cuốn “Cổ Đô gia phả” của dòng  họ Nguyễn Bá cũng còn phải thừa nhận sự ghi chép quá sơ sài về một “thời kỳ  cả mấy trăm thái bình thì ít, rối ren thì nhiều”. Và khi xem vào gia phả, chúng ta  lại như “lần mò trong đêm tối, cầu mong một đốm lửa nhỏ để soi đường, cho dù  đó chỉ là một con đom đóm”.

 

Nguyễn Bá Lân – con người đầy khát vọng chấp chính và khả năng chấp  chính – ông Tổ của dòng họ Nguyễn Bá, miền Cổ Đô, Tiên Sơn (thuộc trấn Sơn  Tây và vùng Kinh Bắc) có lẽ đang ngước mắt lên nhìn chúng ta mỉm cười. Rằng, rất có thể con cháu hôm nay chưa hiểu gì về ông cả. Vâng, xin kính cẩn  thưa với Tiến sĩ, Thượng thư: Bây giờ đã là thập niên thứ 2 của thế kỷ 21. Biết  đâu chẳng có sự trùng lặp nào của lịch sử? Và vua chúa nào rồi cũng đều băng  hà cả. Duy chỉ có Nguyễn Bá Lân thì còn mãi trong trời đất, trong ngưỡng vọng  của cuộc đời, trong chói sáng của một nền văn hiến – không chỉ với một bài  “Ngã ba Hạc phú” nổi tiếng.

( Tác giả gửi bài cho QTXM)

 ————–

 

Ngã ba Hạc phú

Nguyễn Bá Lân

Vui thay! Ngã ba Hạc ; vui thay! Ngã ba Hạc.
Dưới họp một dòng ; trên chia ba ngác.
Ngóc-ngách khôn đo rộng hẹp, dòng biếc lẫn dòng đào[2] ; lênh-lang dễ biết sâu nông, nước đen[3] pha nước bạc.
Nhớ xưa: Vũ trụ mơ màng , càn khôn xếch-xác.
Vua Bàn-cổ[4]khai lò tạo-hóa, hồng-mông[5] đà phơi-phới hơi xuân ; họ Hữu-Ngu[6] khơi mạch sơn-hà, cương-giới vẫn rành-rành dấu tạc.
Vậy có: Nắm đất Đoài-phương[7] ; cạnh giời Nam -quốc.
Ba góc bờ chia vành – vạnh, huyệt kim-qui[8] hẻm đá rộng hông-hênh ; hai bên cỏ mọc lâm-dâm, hang anh-vũ[9] giữa dòng sâu huếch-hoác.
Mọi thú mọi vui ; một chiều một khác.
Lơ-thơ đầu ông Lã[10]thả cần ; trần-trụi mặc Chử-đồng[11]ngâm nước.
Bè khách-thương bạ[12] bến, cắm neo quỳ gối lắc cày xuôi[13] ; thuyền ngư – phủ thuận dòng, giương nách khom lưng chèo tếch ngược[14].
Dùi điểm thùng thùng trống gọi, cửa tuần-ty[15] rộn-rã khách chen vai; chày đâm văng-vẳng chuông đưa, nền Phật-tự[16] lao-xao người rén bước.
Khác gì : Những chốn Tiêu Tương[17] ; đồ Tranh thủy mặc[18].
Trên lọ phải vén quần vua Tống[19], ra sức anh uy; dưới cũng vui vỗ bụng giời Nghiêu[20], dắng ca canh tạc[21].
Ta nay : Qua miền Tam – đái[22], dứt dải sông lô; thấy Ngã ba Hạc vui thay, làm chơi một đạc[23].
Ai hữu tình ngắm lại mà coi, kể làm cực nhân – sinh chi khoái-lạc.

   

 Chú thích

  1. Ngã ba Hạc : chỗ hợp – lưu của ba ngọn sông là sông Đà ( hoặc sông Bờ ), sông Lô ( hoặc sông Tuyên ) và sông Nhị-Hà, ở giáp huyện Bạch-Hạc ( nay thuộc tỉnh Vĩnh-Yên )
  2. Dòng biếc lẫn dòng đào : dòng biếc là sông Lô nước trong xanh; dòng đào là sông Nhị nước đỏ
  3. Nước đen : nước sông Đà đen
  4. Bàn-cổ 盤 古 : theo thần-thoại của Tàu, họ Bàn-cổ phân ra trời đất tự đấy mới có thế-giới và vạn-vật
  5. Hồng-mông 洪 蒙 : mênh-mông mờ-mịt ; đây là nói về vũ-trụ lúc mới khởi thủy
  6. Hữu-Ngu 有 虞 : họ của vua Thuấn (2042-1989). Vua Thuấn sai ông Vũ trị thủy và định cương giới chín châu trong nước Tàu
  7. Đoài-phương : phương tây. Huyện Bạch-hạc trước thuộc về Sơn – Tây
  8. Kim-qui : con rùa vàng. Tục truyền ở sông Hạc có con rùa vàng ở trong hang đá
  9. Anh-vũ : tên một thứ cá, thịt ngon, ở sông Hạc có nhiều
  10. Ông Lã : tức là Lã Thượng 呂 尚 : hoặc Khương Tử – Nha 姜 子 牙 ( còn gọi là Thái-công Vọng 太 公 望 : hoặc Sư-thượng-phụ 師 尚 父 ) một bậc hiền-thần đời nhà Chu. Cuối đời nhà Thương, về đời vua Trụ, ông ẩn cư ở Bàn-Khê 磻 溪 ( thuộc tỉnh Thiểm-tây ); một hôm ông ngồi câu cá trên bờ sông Vị, vua Chu Văn-vương đi săn gặp, đón ông về dùng. Sau giúp vua Chu Vũ-vương ( con Văn-vương ) đánh vua Trụ, lập nên cơ-nghiệp nhà Chu
  11. Chử đồng : tức là Chử đồng – tử 禇 童 子. Theo sách Lĩnh nam trích quái, vua Hùng-vương thứ ba có người con gái là nàng Tiên-Dong một lần đi chơi thuyền trên sông Nhị – hà, ghé vào bến làng Chử-xá ( nay thuộc huyện Văn-giang, tỉnh Bắc – ninh ), lên trên bãi cát tắm, không ngờ gặp Chử đồng-tử trần-trụi (vì quá nghèo không có khố đóng )đang nép mình trong cát; nàng cho là duyên trời xui khiến, bèn lấy Chử đồng-tử. Sau vua cha giận. Sai quan quân đến bắt, thì cả hai vợ chồng hóa phép bay lên trời
  12. Bạ : đến gần
  13. Cắm neo quỳ gối lắc cày xuôi : tả việc nhà thuyền neo thuyền cho chặt theo xuôi dòng nước
  14. Giương nách khom lưng chèo tếch ngược: tả việc chèo thuyền ngược dòng sông
  15. Tuần-ty 巡 司 : sở của Chánh-phủ lập ra để đánh thuế các hàng-hóa của người buôn-bán
  16. Phật tự 佛 寺 : chùa thờ Phật
  17. Tiêu, Tương 瀟 湘: sông Tiêu và sông Tương hợp-lưu với nhau ở địa-phận tỉnh Hồ-nam bên Tàu
  18. Thủy mặc 水 墨 (nước và mực): lối vẽ không dùng đến các màu, chỉ dùng mực hòa với nước
  19. Vén quần vua Tống: theo câu trong Tống sử: «Kiến dân cơ hàn, tắc kiển thường nhu túc dĩ cứu chi 見 民 饑 寒 ,則 褰 裳 濡 足 以 救 之». (Thấy dân đói rét thì xắn quần ngâm chân xuống nước để cứu lấy) câu ấy khen vua Tống Thái-Tổ thấy dân đói thì phát chẩn cũng như người thấy người khác sắp chết đuối thì xắn quần lội xuống nước mà cứu
  20. Vỗ bụng giời Nghiêu : đời vua Nghiêu (một bậc thánh-quân về đời thượng-cổ nước Tàu) có ông Lão vỗ bụng mà hát để ngợi khen cái cảnh thái-bình
  21. Canh tạc : đây nhắc đến hai câu trong bài hát của ông lão đời vua Nghiêu nói trên. Canh điền nhi thực, tạc tỉnh nhi ẩm 耕 田 而 食 ,鑿 井 而 飲 (Cày ruộng mà ăn, đào giếng mà uống)
  22. Tam đái : tên phủ về đời Hậu Lê thuộc Sơn tây, gồm có sáu Huyện: Phù-ninh (nay thuộc Phú-Thọ), Bạch-Hạc, Lập-thạch, Yên-lạc (nay thuộc Vĩnh-yên), Yên-lãng (nay thuộc Phúc-yên), Tân-phong (nay là Quảng-oai, thuộc Sơn-tây)
  23. Đạc: đây tức là một bài

 

 

GS Ngô Bảo Châu: Chúng ta làm ngược với thế giới – Giáo dục – Tuổi Trẻ Online//

Về giáo dục Đại học ở Việt Nam:

GS Ngô Bảo Châu: Chúng ta làm ngược với thế giới

TT – “Đánh giá một cách khách quan thì học sinh tốt nghiệp THPT của ta không đến nỗi quá tệ so với trình độ học sinh các nước khác, nhưng người tốt nghiệp ĐH của ta tương đối đuối so với người tốt nghiệp ĐH nước ngoài. Đuối cả về kiến thức lẫn tác phong làm việc”.

Ảnh: Nguyễn Khánh

“Nhìn chung, tinh thần “hợp tác” hiện nay của các trường ĐH trong nước mới chỉ dừng ở mức độ “khai thác” các nhà khoa học Việt kiều hơn là thể hiện sự hợp tác với họ”

GS NGÔ BẢO CHÂGS Ngô Bảo Châu nhận định như vậy trước thềm hội thảo “Cải cách giáo dục đại học” do nhóm Đối thoại giáo dục mà ông là người chủ trì phối hợp với một số đơn vị trong và ngoài nước tổ chức tại TP.HCM hôm nay (31-7) và ngày 1-8. Trao đổi với Tuổi Trẻ, GS Ngô Bảo Châu khẳng định: “Vấn đề của giáo dục VN là giáo dục ĐH chứ không phải ở giáo dục phổ thông. Tất nhiên phổ thông cũng có vô vàn vấn đề và những ai liên quan đều có cảm giác bất an. Nhưng đứng trên tầm quốc gia mà nhìn nhận thì giáo dục ĐH mới là mảng cần nhiều sự thay đổi hơn”Là người được hội thảo chỉ định nghiên cứu về mảng nhân sự ĐH, GS Ngô Bảo Châu đã trăn trở nhiều về công tác tuyển dụng nhân sự trẻ trong các trường ĐH hiện nay. GS Châu nói: “Hiển nhiên ai cũng thấy nan giải nhất là lương của giảng viên, cán bộ ĐH (trong hệ thống lương công chức nói chung). Mức độ lương không tương ứng với mức độ cống hiến và vị trí xã hội của họ. Tất nhiên hiện tại có nhiều biện pháp khác nhau để khắc phục, chẳng hạn như có thêm thu nhập từ việc làm các đề tài nghiên cứu được bổ sung vào lương, nhưng đó chỉ là những giải pháp tình thế”.

Những cuộc hôn nhân cận huyết thống

Giải pháp mà tôi đề xuất có thể động chạm vào quyền lợi của một số người, nhưng tôi nghĩ hoàn toàn có thể làm được, đó là đưa ra quy định thống nhất trong cả nước một quy trình tuyển chọn cán bộ trẻ, có website chung để thông báo việc này. Chẳng hạn cần phải quy định ngày nào phải nộp hồ sơ, ngày nào tuyển chọn trong cả nước, ngày nào các trường phải có quyết định…

 

* Giáo sư có thể nói cụ thể hơn được không, về quy trình tuyển dụng nhân sự?

- Trong quá trình nghiên cứu vấn đề nhân sự của ĐH, chẳng cần phải quá giỏi giang gì tôi cũng nhận ra ngay một điều là cách mà chúng ta làm trái ngược với quy trình tuyển chọn giảng viên của bất kỳ trường ĐH nào trên thế giới. Ví dụ, phương thức mà các trường ĐH VN thực hiện để xây dựng nhân sự cho mình là tạo nguồn tại chỗ. Thật ra một số trường của ta có vẻ cũng đang làm khá hiệu quả việc này, nhưng trên bình diện quốc gia thì đó là một cách rất dở. Các trường ĐH của ta thường chọn những sinh viên giỏi nhất để bồi dưỡng, đào tạo họ trở thành cán bộ cho chính trường mình. Trong khi đó trên thế giới hầu hết các ĐH đều có chính sách không tuyển sinh viên do mình đào tạo.

* Phải chăng họ khuyến khích một người làm khoa học phải được trải nghiệm trong các môi trường khoa học khác nhau?

- Họ khuyến khích như vậy và họ có hệ thống để việc luân chuyển cán bộ từ trường nọ sang trường kia rất đơn giản. Khi một cán bộ trẻ có sự bất hòa với thầy giáo – tức thủ trưởng của mình, hoặc một người trẻ có hoài bão, muốn xây dựng môi trường làm việc mới cho mình hoặc đơn giản chỉ để thoát ra khỏi cái bóng của thầy, họ có nhiều lựa chọn nhờ hệ thống thông tin công khai sẵn có trên các trang mạng. Còn ở nước ta, để chuyển nơi công tác mỗi cán bộ khoa học trẻ phải dựa vào mối quan hệ của các cá nhân, vì thông tin bị bưng bít. Nhờ quen biết ông này ông kia ở trường này trường kia, rốt cuộc họ cũng chuyển được đến nơi mới nhưng đó không phải là sự lựa chọn tối ưu.

* Có thể so sánh việc các trường ĐH tự tạo nguồn từ chính sinh viên của mình giống như những cuộc hôn nhân cận huyết thống?

- Chính xác. Vì thế mà hầu hết các ngành khoa học của chúng ta đang đi xuống. Tức là học trò không có điều kiện để giỏi hơn thầy. Học trò của học trò còn tệ hơn nữa.

ĐH phải tự chủ

* Chính phủ mới thông qua việc thành lập ĐH Việt – Nhật, trước đó là các ĐH Fulbright (thông qua chủ trương), ĐH Việt – Đức, ĐH Việt – Pháp… Vậy các trường VN sẽ phải thay đổi thế nào trong cuộc cạnh tranh này với các trường quốc tế đang dần thâm nhập vào VN?

- Đây là một cơ hội để giáo dục ĐH trong nước phát triển. Con đường tiến bộ cho ĐH VN chính là có sự tự chủ, những trường nào có khả năng, có tham vọng phát triển tốt hơn thì họ có cơ hội để làm chuyện lớn mạnh. Tôi không nghĩ những trường quốc tế mà bạn nêu ra đều sẽ là những trường tốt. Cũng có trường tốt, có trường không tốt. Nhưng sự xuất hiện của những yếu tố mới sẽ khích lệ, thôi thúc các trường còn lại nỗ lực để tồn tại và đi theo xu hướng mới.

Để làm chủ được cơ hội này, không còn cách nào khác là các trường phải thể hiện mạnh mẽ sự tự chủ. Đây không phải khái niệm suông. Trong tự chủ có tự chủ về tuyển sinh, tự chủ về đội ngũ, về giảng dạy và nghiên cứu, về tài chính, về chương trình học… Vấn đề nữa trong tự chủ là xác định ai là người làm chủ? Đương nhiên là ông hiệu trưởng. Vấn đề khá quan trọng là ông ấy được đánh giá như thế nào? Đây là điều cần được xem xét trong quản trị ĐH. Hội thảo của chúng tôi sẽ có một báo cáo khá kỹ về vấn đề này. Ở đây tôi chỉ muốn nói muốn cho một trường ĐH có những hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học tốt hơn thì ông hiệu trưởng phải được đánh giá trên thành tích tuyển chọn, xây dựng đội ngũ cán bộ của ông ấy. Nếu đánh giá trên những tiêu chuẩn khác, kiểu như ông ấy kéo về được bao nhiêu đề tài hay bao nhiêu tiền đầu tư… thì chắc chắn không đưa đến kết quả như mong muốn.

* Từ trước đến nay có nhiều hội thảo được tổ chức ở VN nhưng cuối cùng cũng chưa giải quyết được vấn đề gì. Chủ trì hội thảo này, GS có đặt nhiều kỳ vọng?

- Để đầu tư vào việc này, ít nhất về thời gian, chắc chắn phải có một sự kỳ vọng nhất định. Nó là công sức, thời gian không chỉ của tôi mà của nhiều người khác nhau. Mặt khác, tôi cũng không phải là người quá viển vông, cho rằng chỉ sau một hội thảo thì thay đổi cục diện bộ mặt ĐH VN. Nhưng có những căn cứ để khiến tôi nghĩ hội thảo này có tác dụng gì đó, ít nhất là trong nhận thức cả về phía những người làm chính sách lẫn những người trong giới ĐH, và cả trong dư luận.

Thứ nhất, đây là thời điểm tốt khi mà Đảng và Nhà nước đưa ra chính sách chung về cải cách cơ bản toàn diện giáo dục. Vấn đề cải cách ĐH đã bắt đầu nhưng chưa được đào sâu, thế thì đây là thời điểm hợp lý cho những ai không tham gia việc hoạch định chính sách có thể có ý kiến, có thể đào xới vấn đề mà không lo ngại là động chạm tới những cái đã được quyết định.

Thứ hai, điều khiến chúng tôi tin tưởng hơn về cái mình làm sẽ không hoàn toàn mất thời gian là chúng tôi đề cập từng vấn đề nhỏ, cụ thể tưởng như khá hiển nhiên vậy mà lâu nay hầu như không mấy ai nhắc đến. Chẳng hạn vấn đề nhân sự ĐH như tôi nói ở trên. Tôi không phải là chuyên gia nghiên cứu lâu năm về tổ chức ĐH nhưng chỉ chịu khó nghĩ một lúc thì chúng ta thấy nhiều cái bất hợp lý. Những cái bất hợp lý đó không phải là những cái không thể giải quyết được. Đúng là có những cái không thể giải quyết được ngay nên chúng tôi ưu tiên hướng sự bàn thảo về những vấn đề có thể giải quyết được.

LÊ ANH HOA thực hiện

Thiếu tinh thần hợp tác

Tôi muốn lấy một ví dụ để cho thấy có những vấn đề thật sự khó khăn trong việc này. Đó là trường hợp của một GS người Pháp. Ông là người nổi tiếng, chính ông đã đào tạo những người sau này tìm ra hạt Higgs. Khi về hưu ông ấy quyết định về VN làm việc, có lẽ vì bạn đời của ông ấy là người VN. Ông ấy không cần bất kỳ sự đài thọ nào, bởi chỉ cần sống bằng lương hưu của chính mình ông ấy đã thấy đủ.

Ông về làm việc cho một trường ĐH nhưng rồi nảy sinh nhiều mâu thuẫn khiến ông không thể làm việc tiếp. Cái họ cần nhất là sự tôn trọng thì họ không cảm nhận được. Những người không đòi hỏi gì về vật chất mà mình lại không hợp tác được thì rõ ràng có vấn đề, mà chuyện đó lại xảy ra ở một trường ĐH không phải tệ nhất của VN.

( Nguồn : tuoitreonline)

 

 

 

 

Đã khi nào thực sự dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra việc nước?

Vĩnh Nguyên (Chi Hội Nhà văn Việt Nam tại Huế)

Cái đề trên, nguyên văn có trong các văn kiện, nghị quyết của nhà nước, chính phủ cùng các ban, ngành để phổ biến đến người dân là: “Nhà nước là của dân, do dân, vì dân; dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra”. Nội dung thể hiện một nhà nước dân chủ, minh bạch, nhưng thực hiện được nó là khó lắm. Để khỏi dài dòng, người viết bài này chỉ lấy khúc sau. Cái tít bài là ở vế sau.

- Xin trả lời là chưa. Điều “Dân làm” là thâm căn muôn thuở. Đã là dân thì chỉ biết làm thôi. Còn việc “Dân biết”, nếu người dân biết được đôi điều về thế sự của đất nước thì, đâu dễ được bàn và dễ kiểm tra ai?

 

Nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An sau khi rời vũ đài chính trị có khởi trên công luận: Việt Nam lỗi tại Hệ thống. Bây giờ thì dùng cụm từ Ý thức hệ. Âu cũng từ Hệ thống mà ra.

Cựu Thủ tướng Singapore, ông Lý Quang Diệu nói: ”Lãnh đạo Việt Nam bị ý thức hệ kìm hãm”. Bị ý thức hệ kìm hãm như thế nào? Thì “Vừng ơi hãy mở cửa ra!” Nó đã mở ra và sáng tỏ từ Hiệp định đình chiến Genève Thụy sĩ (1954). Đã lâu rồi, nhiều người nhớ, người khác quên, thì vừa rồi, ngày 18.7.2014 Việt Nam kỷ niệm trọng thể 60 năm Hiệp định ấy (21.7.1954 – 18.7.2014), người dân Việt Nam có dịp ôn lại.

Nội dung Hiệp định là gì? Là Bãi bỏ quyền cai trị của người Pháp, công nhận quyền độc lập của ba quốc gia Việt, Miên, Lào. Một Hiệp định lịch sử. Các nước trịnh trọng ký bản tuyên bố chung khẳng định các bên tham gia Hội nghị cam kết và thừa nhận về nguyên tắc độc lập, thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Căm pu chia. Các bên tham gia ký Hiệp định là Pháp, Anh, Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam, Lào và Căm pu chia. Việt Nam do Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn. Trưởng đoàn Trung Quốc là Thủ tướng Chu Ân Lai. Dù trong văn bản đã nói đến độc lập - thống nhất - chủ quyền - toàn vẹn lãnh thổ, nhưng trước khi ký, các nước lớn đã khôn khéo “sắp xếp” trong đó có Pháp và Trung Quốc. Triều Tiên đã bị chia cắt hai miền Nam – Bắc Triều nên Chu Ân Lai lấy mẫu mực Triều Tiên” áp đặt vào Việt Nam, cho rằng, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa đủ sức để theo đuổi chiến thắng hoàn toàn.

Trung Quốc một bên đã ký Hiệp định, nhưng Trung Quốc đã nhanh chóng lật lọng.

Ngày 4.9.1958 Trung Quốc đưa ra một bản tuyên bố: Hải phận Trung Quốc rộng 12 hải lý. Tất cả phi cơ, thuyền bè không được phép của Trung Quốc thì không được xâm phạm vào không và hải phận của Trung Quốc.

Ngày 10.9.1958 trong thư phúc đáp gửi Chu Ân Lai (nay còn gọi công hàm Phạm Văn Đồng), Phạm Văn Đồng đã làm một việc vi hiến là ký tán thành bản tuyên bố 4.9.1958 ấy. Thư phúc đáp từ chữ “Thưa đồng chí Tổng lý…” đến chữ ký Phạm Văn Đồng là 127 chữ. Nguyên văn như sau: “Thưa đồng chí Tổng lý. Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4.9.1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trên mặt bể. Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng. Phạm Văn Đồng”.

Vin vào cớ ấy, năm 1974, Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm Hoàng Sa của Việt Nam. Mao Trạch Đông là người quyết định đánh (theo tài liệu của nhà nghiên cứu Dương Danh Dy).

Năm 1978 Trung Quốc đã đi con đường Tư bản chủ nghĩa qua tuyên bố của Đặng Tiểu Bình“Mèo trắng mèo đen không quan trọng, miễn là bắt được chuột”. Với tuyên bố ấy, để, “Dạy cho Việt Nam một bài học”, bước sang năm 1979, chính Đặng Tiểu Bình thúc 60 vạn quân tinh nhuệ đánh năm tỉnh biên giới Bắc Việt Nam.

Năm 1988 Trung Quốc tiếp dùng vũ lực đánh chiếm đảo Gạc Ma và 6 đảo đá khác thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Đại hội ĐCSTQ lần thứ 18 (11.2012), khánh tiết trên lễ đài là 10 lá cờ Trung Quốc (mỗi bên 5 lá châu lại), không có ảnh Mác – Lênin – Mao Trạch Đông. Rõ ràng Trung Quốc đã đi con đường Tư bản chủ nghĩa; “Trung Quốc xây dựng CNXH theo màu sắc của Trung Quốc” là tuyên ngôn ẩm ờ, ngụy trang để lừa mỵ nhân dân Việt Nam và cả thế giới.

Công hàm Phạm Văn Đồng (1958) là cái cớ thứ nhất, sơ đồ nghiên cứu Biển Đông của Quốc dân đảng, thời Tưởng Giới Thạch (1947) là cái cớ thứ hai để Trung Quốc giờ tự vẽ lại Đường lưỡi bò 9 đoạn rồi 10 đoạn đến công bố bản đồ khổ dọc để độc chiếm trọn cả Biển Đông theo Luật rừng của Trung Quốc, không cần tuân theo luật pháp Quốc tế và trắng trợn, liều lĩnh hạ đặt giàn khoan HD 981 vào thềm nhà của Việt Nam 75 ngày (2.5 đến 16.7.2014), Trung Quốc dùng tàu lớn đã đâm hỏng 19 tàu kiểm ngư của Việt Nam, húc chìm tàu đánh cá ngư dân Đà Nẵng, bắt 13 ngư dân Quảng Bình và Đà Nẵng về Trung Quốc (đến ngày 17.7 mới thả cho về). Trung Quốc đã bộc lộ là kẻ xâm lược, tàn bạo! Tập đoàn bành trướng Đại Hán Trung Quốc đâu còn là “Bốn phương vô sản” nữa, họ đang trên đường chủ nghĩa Tư bản tài chính để thành chủ nghĩa Đế quốc, chủ nghĩa phát xít là mộng cai trị thế giới mà chính họ đã tự đề cao “Giấc mộng Trung Hoa” thì sao ta còn theo họ để xây dựng chủ nghĩa… cái gì? Có phải đây là lỗi Ý thức hệ?

Hiệp định Paris 1954 đến nay nhân dân Việt Nam đã rõ. Công hàm Phạm Văn Đồng 127 chữ nay dân đã biết. Thế còn Hội nghị Thành Đô (1990) nói về những gì giữa Việt Nam và Trung Quốc? Hiệp ước Việt-Trung về vịnh Bắc Bộ (30.12.năm 2000) nói về những vấn đề gì mà sau đó, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Công Phụng đã thú nhận rằng: so với Hiệp ước Pháp-Hoa (1897), phía Việt Nam mất hơn 10.000 km2.

Tại Bắc Kinh, ngày 21.6.2013 Việt Nam và Trung Quốc đã tuyên bố chung những điều khoản gì người dân đâu được biết mà chỉ nghe tuyên truyền 4 tốt và 16 chữ vàng, đến nỗi, người dân vì quá ngứa tai mà đặt đồng dao rất thông minh để nhại lại “thập lục kim tự” kia: Láng giềng khốn nạn, cướp đất toàn diện, cướp biển lâu dài, thôn tính tương lai!

Ngày 21.6.2013 hai bên tuyên bố chung những gì ở Bắc Kinh mà ngày 21.6. 2014 Ủy viên quốc vụ Dương Khiết Trì sang Việt Nam khi về nước đã đọc thông điệp cứng rắn “Bốn không được” áp đặt cho Việt Nam, đến nỗi vị tướng 95 tuổi Nguyễn Trọng Vĩnh phải viết thư tay (ngày 15.7 bốn trang) gửi đến Bộ Chính trị. Ông phân tích nội dung về “4 không được” và tức giận bởi lời lẽ ngạo mạn của vị khách họ Dương này. Thư của vị Tướng già chắc nịch như đinh đóng cột ở cuối rằng: “Trong cuộc đấu tranh, chúng ta chỉ còn có một thứ vũ khí khả dĩ chặn hành động xâm lược của Trung Quốc là Kiện.”

Bởi kiện là giải pháp văn minh, tiến bộ nhất của thời đại. Ta chủ trương hòa bình, thì bởi vì hòa bình mà buộc ta phải kiện là giải pháp tốt nhất để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ dân tộc!

Hết Trung ương đến địa phương, người dân chẳng biết nhà nước, chính phủ ký kết những gì với Trung Quốc mà ông Hồ Xuân Hoa, Bí thư tỉnh Quảng Đông sang Hà Nội (4.2014) khi về Quảng Đông đã gửi (chỉ thị) cho Bộ Ngoại giao Việt Nam “16 việc phải làm”. Ai cũng hiểu “đây là việc làm vượt thẩm quyền của một tỉnh”, thì tại sao Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hồ Xuân Sơn lại chấp hành ông tỉnh Quảng Đông ký công văn gửi đến các ban, ngành thực hiện 16 điều không mấy tốt đẹp lại rất tai hại cho phía Việt Nam!? (Công văn số 1832/BNG-ĐBA ngày 3.6.2014).

Đã đến lúc người dân Việt Nam khẩn cầu nhà nước, chính phủ công bố nội dung Hội nghị Thành Đô (1990), Hiệp ước về Vịnh Bắc Bộ (2000), Tuyên bố chung ở Bắc Kinh (2013) cho nhân dân cả nước được biết nội dung của nó. Một dân tộc kiên cường, trước họa ngoại xâm thì nhân dân phải biết “địch-ta”. Trước hết là phải biết từng chữ, từng lời, từng mưu mô xảo quyệt của đối phương. Từng phút từng giây, mọi lúc mọi nơi không ngừng nâng cao cảnh giác với chúng. Nhưng phải cho dân biết thì dân mới bàn (dẫu trong phạm vi nào đó của họ) những kế sách hay để giúp nước. Và nhà nước phải biết nghe dân. Chính dân mới làm nên lịch sử. Nhưng trước hết phải tháo bỏ Ý thức hệ. Bởi sai lầm là từ nó. Nhân dân thế giới sẽ giúp Việt Nam bởi ta chính nghĩa. Nhưng khi ta chưa xóa bỏ Ý thức hệ thì cớ gì người ta giúp mình? Bàn cờ đã đi ngửa rồi kia mà!

Dân ta giờ đã hiểu nhiều và thông minh lắm. Nhiều người chưa có vi tính, chưa cài intenet thì đã có con, cháu của họ cập nhật hàng ngày. Cứ mở Google rồi đánh: Danh sách cán bộ nhà nước tham nhũng… thì sẽ có danh sách ấy. Chẳng biết các vị có chức có quyền bằng cách nào mà có được hàng chục, hàng trăm triệu đôla?

Nước ta có trên 20 triệu người theo các tôn giáo khác nhau. Nhiều nhất là Phật giáo. Kinh điển pháp độ chúng sinh rất hay: Tất thảy hãy vì chúng sinh. Các vị Bồ Tát phải biết quên mình đi mà rốt ráo không hề biết mệt nhọc độ giúp chúng sinh khi gặp cơn hoạn nạn… Chúng ta đang làm cuộc cách mạng “Dân giàu Nước mạnh” cũng vậy. Đã một thời gian dài Trung ương hô hào chung chung “cho đảng viên làm giàu” là sai rồi! Đảng viên là số ít. Đảng viên có chức có quyền lại càng ít hơn. Mà số làm giàu bất chính thường là những đảng viên có chức quyền. Lý ra là nên hô: Cho nhân dân làm giàu! Bởi trong dân đã có đảng rồi. Ai sinh ra đều phải làm dân trước. Vào đảng (cộng sản chẳng hạn) là phải có thời gian? Hô hào cho đảng viên làm giàu là cố ý giành lợi quyền cho cá nhân hoặc lợi ích nhóm. Trải qua hai cuộc chiến để được thống nhất nước nhà là phải xương chất thành núi, máu đổ thành sông của biết bao đồng bào, chiến sĩ. Các vị lên nắm quyền cứ tưởng tài nguyên thiên nhiên, đất đai, biển đảo… như là một chiến lợi phẩm khổng lồ rồi hô hào chung chung để ai được chức to thì hưởng lợi nhiều hơn. Các vị sai rồi! Chính vì cái lợi riêng ấy đẫn đến đất nước lụn bại. Dân không còn tin các vị đủ tư cách và trình độ để lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện nữa. Và, người dân đã nói thẳng thừng: bởi chiếc ghế, bởi quá tham ăn, các vị đã mắc mưu Trung Quốc.

Tài năng và đức độ như Đức Phật mà còn phải biết học chúng sinh, mới hình thành nhiều ngôi chùa Phật Học. Hơn 700 năm trước, Phật Hoàng Trần Nhân Tông đã từng di chúc cho dân tộc Việt Nam: “… Các ngươi chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường, làm một nẻo… Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn… Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: Một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không được để lọt vào tay kẻ khác. Ta muốn lời nhắn nhủ này như một di chúc cho con cháu muôn đời sau”.

Mới 40 năm mà ta đã mất Hoàng Sa, Gạc Ma, mất 2/3 thác Bản Giốc, mất Ải Nam Quan, mất bãi Tục Lãm, mất các cao điểm chiến lược Hà Giang, Lão Sơn… Các vị ký tá những gì với họ mà đến giờ vẫn còn ém nhẹm chưa cho dân được rõ? Nếu chiếu theo di chúc của Nhà Vua Trần Nhân Tông thì tội để mất đất vào tay kẻ khác lớn biết chừng nào. Giá như trước đây các vị nghe công dân Đại tướng Võ Nguyên Giáp bằng ba bức thư góp ý là dừng ngay dự án bauxite cao nguyên, nghe Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên góp ý không nên nhượng bán (có thời hạn) rừng đầu nguồn thì đỡ đi biết mấy. Nay vị Tướng già rất có trình độ và mưu lược trong chiến tranh vệ quốc viết thư tay đến Bộ Chính trị với vũ khí Kiện là hợp thời đại, thế giới sẽ ủng hộ Việt Nam, và nhân dân Việt Nam sẽ theo chiều hướng đổi mới, khoa học, văn minh của nhân dân thế giới. “Ai sống ở đâu 50 năm thì nơi ấy thuộc sở hữu chủ quyền của họ”. Đó là luật pháp Quốc tế. Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa của ta đã hơn 40 năm. Cái giàn khoan HD 981 là cái cớ tuyệt vời! GS Tương Lai “Cám ơn cái giàn khoan” là bởi chính Trung Quốc đã phơi bày dã tâm tàn ác của kẻ xâm lược! Thì ta đi kiện là ta vừa có thế lại vừa đúng lúc thế giới đang ủng hộ chúng ta. Nếu ta không kiện mà tiếp tục nhân nhượng và càng nhân nhượng thì Trung Quốc càng lấn tới, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh nói với thực dân Pháp trước đây. Một ví dụ khẩn thiết: ông Phan Công Chánh, giảng dạy ở San Jose State University, Hoa Kỳ góp ý cho Việt Nam 8 chữ vàng là: “Tây Tiến – Đông Kết – Bắc Hẹn – Nam Hòa” (bbc ngày 29.7.2014) là rất có lý. Các vị lãnh đạo nên tham khảo sự góp ý này. Còn người dân chúng tôi sẽ nghiêng về vị Tướng già Nguyễn Trọng Vĩnh hơn là sự bảo thủ, trì trệ, lừng khừng mất cơ hội tạo đà cho lũ xâm lăng lấn át, giày xéo đất nước này! Đảng, nhà nước cần dứt khoát và mau chóng lựa chọn!

Huế, 30.7.2014

V. N.

(Tác giả gửi cho QTXM. Tư liệu văn phong của tác giả)

 

 

 

 

Huyền bí Phong Nha – Kẻ Bàng –  Những người có duyên với hang động

 

Năm 1997, GS-TSKH Nguyễn Quang Mỹ đã đọc một báo cáo gây sửng sốt giới khoa học về Phong Nha – Kẻ Bàng. Và nếu không có ông Howard Limbert cùng đoàn thám hiểm thì VN không thể giới thiệu được những hình ảnh về hang động của mình với thế giới. 

 

 Huyền bí Phong Nha - Kẻ Bàng - Kỳ 4: Những người có duyên với hang động 1
Howard Limbert cùng vợ – bác sĩ Debbie – Ảnh: DLQB

 

GS-TSKH Nguyễn Quang Mỹ và Howard Limbert thật sự có duyên với hang động Quảng Bình. Nhờ vậy, năm 2003 UNESCO đã tôn vinh hang động Phong Nha – Kẻ Bàng là di sản thiên nhiên thế giới.  

 

 

Vợ chồng “ham chơi”

“Duyên trời định” đã đưa ông Howard Limbert cùng vợ là bác sĩ Debbie Limbert và các thành viên trong đoàn tới VN từ năm 1990. 24 năm, ông tiến hành gần 20 cuộc thám sát hang động thuộc hệ thống núi đá vôi Kẻ Bàng.

Howard kể, từ năm 15 tuổi, ông đã bắt đầu với những chuyến thám hiểm ở Anh và các nước châu Âu. Howard từng là trưởng đoàn từ những năm 1980 thám hiểm Mexico và mang đến nhiều kết quả vang dội.

Cưới nhau đến nay gần 35 năm, cùng niềm đam mê, cùng ưa đến nơi chưa ai từng đến, mà vợ chồng ông thường đùa là vì “ham chơi”, vì sự hấp dẫn của những dãy núi đá vôi châu Á mà họ đã ra khỏi nước Anh. Năm 1990, hai vợ chồng lên kế hoạch, kiên trì tìm kiếm sự chấp thuận của các nước châu Á. Và như một cơ duyên, khi nhận được thư phúc đáp từ Khoa Địa lý – Địa chất Trường đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội thì cái duyên ấy gắn với khu vực Phong Nha – Kẻ Bàng.

 
 
Huyền bí Phong Nha - Kẻ Bàng - Kỳ 4: Những người có duyên với hang động 2
Ảnh: Bùi Tuấn

GS-TSKH-Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Quang Mỹ (ảnh), nguyên Trưởng khoa Địa lý Trường đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội, nguyên Chủ tịch Hội Hang động VN qua đời ngày 25.2.2014. Ông ra đi nhưng dự cảm của ông đã thành hiện thực. Rất nhiều người trên thế giới đã biết đến Phong Nha – Kẻ Bàng, một tài nguyên vô giá mà ông góp phần không nhỏ trong việc khám phá.

 

Từ năm 1990, khi lần đầu tiên họ cùng 9 thành viên trong đoàn thám hiểm đặt chân tới đây, cả xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch (Quảng Bình) ai cũng biết vợ chồng “ông Tây” này.

Ông khẳng định mình đã đặt chân tới 90% hang động tại nước Anh, nhưng cũng thừa nhận mới chỉ chinh phục được 10% hang động ở quần thể Phong Nha – Kẻ Bàng. Bà Debbie Limbert chia sẻ: “Nhờ James Cameron sản xuất phim Sanctum (2011) về một nhóm khám phá hang động mà các hãng thông tấn như BBC, NHK, đặc biệt là Hội Địa lý Mỹ (National Geographic) bắt đầu để ý tới hang động VN nhiều hơn. Cơn sốt khám phá hang động khiến họ gửi các đoàn làm phim, nhiếp ảnh gia đến các hang động mới phát hiện của VN như Sơn Đoòng, với sự hỗ trợ và dẫn đường của đoàn Howard Limbert. Những hình ảnh kỳ bí và tuyệt đẹp trong hang động nhờ hiệu ứng 3D đã kích thích trái tim và cái đầu ưa mạo hiểm, làm loạn nhịp những ai ưa vẻ đẹp thiên nhiên và làm nghẹt thở những người có máu phiêu lưu”.

Howard và Debbie luôn nói về những người đã giúp mình thực hiện thành công những chuyến khám phá hang động ở Phong Nha – Kẻ Bàng. Đó là chính quyền luôn tạo điều kiện thuận lợi và người dân địa phương trong vai trò người dẫn đường. Các kết quả thám hiểm và nghiên cứu hang động của ông Howard Limbert đã được sử dụng để xây dựng hồ sơ di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha – Kẻ Bàng mà chúng ta đã biết. 

Tâm huyết của người con với quê hương

GS-TSKH Nguyễn Quang Mỹ quê ở Ba Đồn, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Ông học đại học và bảo vệ xuất sắc luận án TSKH tại ĐH Tổng hợp Lomonosov (Liên Xô cũ).

Nhiều người biết hai nhà văn đều là em ruột của ông là Nguyễn Quang Lập và Nguyễn Quang Vinh nhưng mãi đến năm 1990, khi công bố kết quả đợt thám sát Phong Nha đầu tiên, nhiều người mới biết ông là người Quảng Bình. Với tư cách là Chủ tịch Hội Hang động VN, người tham gia cùng đoàn thám hiểm Hội Địa lý hang động Hoàng gia Anh, ông đã có nhiều chuyến trực tiếp tham gia thám hiểm mà sau này ông kể lại với “những kỷ niệm rùng mình”.

Năm 2001, cuốn sách Kỳ quan hang động Việt Nam bằng hai ngôn ngữ Việt – Anh do Nguyễn Quang Mỹ và Howard Limbert chủ biên cùng sự đóng góp của 15 nhà khoa học VN, 40 nhà khoa học thuộc Hội Hang động Hoàng gia Anh đã ra mắt công chúng trong nước và quốc tế. Đó là kết quả 10 năm khảo sát công phu hang động tiêu biểu của VN trong giai đoạn đó. Dù cho rằng đây chỉ là một phần rất nhỏ chân dung của hang động Phong Nha – Kẻ Bàng nhưng thực sự nó đã mở ra một giai đoạn mới.

Hơn 40 năm làm thầy, GS Nguyễn Quang Mỹ đã đào tạo hàng nghìn sinh viên, trong đó nhiều người đã trở thành TS, chuyên gia địa lý, địa chất, hang động. Nhưng sự đóng góp của ông không chỉ ở đó. Người trong nghề tôn vinh ông là “ông vua hang động” bởi cuộc đời ông gắn liền với hành trình khám phá.

Ông từng tâm sự: “Dưới lòng đất đá là một hệ thống hằng hà tài nguyên đến nay chưa được biết đến. Tiềm năng vô giá sẽ được khám phá. Rồi đây người trong nước, quốc tế sẽ chiêm ngưỡng vẻ đẹp tiềm ẩn, một thế giới lung linh choáng ngợp dưới lòng đất VN”.

Trương Quang Nam – Vũ Nguyễn

(Nguồn :thanhnienonline)

 

 

 

 

 

« Newer Posts - Older Posts »

Danh mục