Đăng bởi: Ngô Minh | 16.10.2014

CƯỚI ĐÊM – CHÙM THƠ PHAN ĐÌNH tIẾN

Nhà thơ Phan Đình Tiến

QTXM- Bạn đọc thân mến. Nhà điêu khắc Phan Đình Tiến hiện là Chủ tịch Hội VHNT Quảng Bình. Anh đã có tượng đặt ở nhiều thành phố lớn ở nước ta như Huế, Vũng Tàu, TP Hồ Chí Minh, Đá Lạt, Đồng Hới…và nhận được rất nhiều giải thưởng cao của ở Trung ương và địa phương.  Ngoài điêu khắc,Phan Đình Tiến  là một nhà thơ hiện đại và độc đáo. Anh đã được giải thưởng thơ Tạp chí Sông Hương. QTXM xin giới thiệu chùm thơ của nhà điêu khắc Phan Đình Tiến để bạn đọc thưởng thức

 

CƯỚI ĐÊM

 Cưới đêm ta uống rượu nồng

Cạn ly duyên thắm vợ chồng từ nay

Yêu đêm cho bõ ghét ngày

Khát khao tình ái tháng đầy rụng rơi

Đã đi hơn nữa kiếp người

Mà ta vẫn cứ thằng tôi lạc loài

Đêm này đêm hỡi đêm ơi

Ngày kia ghẻ lạnh còn tôi với mình

Động phòng với bóng đêm xinh

Nghe chừng con sóng dập dình biển xa

Lời đêm thủ thỉ mặn mà

Mắt đêm nghiêng ánh trăng ngà tái tê

Ôm đêm trong cõi đê mê

Gối mây trinh tiết dầm dề sương tơ

Ái ân với bóng đêm mơ

Thương tôi thân xác bơ vơ lỡ làng

Khổ đau một kiếp đa mang

Tháng năm

tất tưởi

bẽ bàng

đêm ơi./. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 15.10.2014

 

Văn Việt:Thơ chân dung”, chính xác là “thơ hý họa chân dung”, không phải điều mới mẻ của thơ Việt Nam và thế giới. Những bài thơ bất hủ của Nguyễn Khuyến, Tú Xương phác hoạ một cách thần tình những nhân vật cùng thời, đã vượt khỏi phạm vi “thơ hài, thơ biếm” như cách “phân loại” máy móc của một số nhà phê bình, mà thấm đượm chất trữ tình, nhiều khi như những tiếng cười nhẹ thân ái mà đượm buồn… 100 bài thơ “chân dung” của Xuân Sách gần đây là một kho hý hoạ đặc sắc, từ ác đến vui, đủ cung bậc.

Nhà văn Phạm Lưu Vũ gửi đến Văn Việt 12 bài “thơ chân dung” sau đây của các bạn văn chương của mình, chắc là muốn nối tiếp truyền thống ấy trong thơ Việt. Xin giới thiệu với bạn đọc.

VỊNH NHÂN VẬT CHÍ

1- TRẦN NINH HỒ

Chàng thuở trẻ vốn từng làm lính

Máu văn chương nên dính nghiệp thơ

Xuất thân Kinh Bắc, Sen Hồ

Sông Cầu chảy giữa nhấp nhô xóm làng

Dáng thanh thanh rõ ràng chum vại

Thước năm mươi đo vội đo vàng

Cứ gì mồm rộng mới sang

Cứ gì thon thả mới hàng mĩ nhân

Khi chinh chiến gieo vần bom đạn

Lúc thanh bình bè bạn thí thân

Ninh Hồ từ ấy thành nhân

Vốn dòng Ích Tắc họ Trần ngày xưa

Chí làm người dư thừa can đảm

Bén duyên nhau nói nhảm cũng hay

Những là tháng tháng ngày ngày

Lừa con, lừa vợ, Đông, Tây tít mù

Vạ mồm miệng kẻ trù người ghét

Đã bảo tàng mà suýt vẫn toi

Thế rồi chơi để mà chơi

Câu thơ để khóc để cười cho ai

Cần gì nữa một hai giải… rút

Đã gọi chùa không Bụt vẫn thiêng

Ghế đời trao quá chung chiêng

Ghế nhà mình vững như kiềng ba chân

Thì tiếc gì mấy lần hưng phế

Cõi nhân gian tử tế? Còn lâu!

Thế rồi ngồi tót đâu đâu

Để xem thiên hạ bắt đầu… với nhau. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 15.10.2014

Ban Tuyên giáo TW phổ biến tài liệu Hội nghị Thành Đô

Theo RFA, Bangkok

Tập tài liệu về Hội nghị Thành Đô do ban Tuyên giáo Trung ương đã được biên soạn và phân phát đến các đảng viên, cán bộ trong các cơ sở đảng

 

Tập tài liệu về Hội nghị Thành Đô do ban Tuyên giáo Trung ương đã được biên soạn và phân phát đến các đảng viên, cán bộ trong các cơ sở đảng
alt RFA files photo

Một tài liệu được nói là do Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam biên soạn về Cuộc gặp cấp cao tại Thành Đô năm 1990 mà nhiều người quan tâm trong nước gọi là Thỏa thuận Thành Đô đang được lưu hành xuống cơ sở đảng. Động thái này được thực hiện sau khi có một số kêu gọi của chính những vị cao cấp trong Đảng cũng như người quan tâm phải bạch hóa thỏa thuận đó.
Những điều được Ban Tuyên giáo nêu ra trong tài liệu có đáp ứng được yêu cầu của những người từng có kiến nghị về việc này hay chưa? Gia Minh trình bày.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 14.10.2014

CÙNG ĐÔNG HÀ ĐI NGƯỢC ĐÁM ĐÔNG

Thi sĩ Đông Hà   

     CÙNG ĐÔNG HÀ ĐI NGƯỢC ĐÁM ĐÔNG

      Ngô Minh

  Nhà thơ Đông Hà vừa tặng tôi tập thơ mới của chị có cái tên là lạ “Đi ngược đám đông “. Sao không đi cùng mà lại đi ngược đám đông ? Đi ngược đám đông nghĩa là đi một mình, ngồi một mình, một mình lặng lẽ tâm thức ?. Trong đề từ đầu sách, nhà thơ viết :”Mượn tinh thần chữ của Trịnh Công Sơn trong Phúc âm buồn tôi viết đi ngược đám đông.”. Phúc âm buồn của Trịnh là một bài hát về phận người cô độc và bất lực, yêu thương và đau khổ :

Còn bao lâu cho thân thôi lưu đày chốn đây
Còn bao lâu cho thiên thu xuống trên thân này
Còn bao lâu cho mây đen tan trên hồn người
Còn bao lâu tôi xa em xa anh xa tôi
(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 14.10.2014

Ai yêu Trung Quốc?

Ai yêu Trung Quốc?

  •   Ian Buruma

Hàng vạn người đã “chiếm đóng” những con đường ngập tràn hơi cay của khu vực Trung tâm Hong Kong để chiến đấu cho những quyền dân chủ của họ. Nhiều người hơn nữa sẽ sớm gia nhập với họ. Mặc dù một vài người kinh doanh và chủ ngân hàng cảm thấy khó chịu bởi sự gián đoạn công việc, nhưng những người biểu tình đã đúng khi phản kháng.

Chính quyền Trung Quốc đã hứa hẹn với những người dân Hong Kong rằng họ có thể tự do bầu chọn Trưởng Đặc khu vào năm 2017. Nhưng, với điều kiện rằng các ứng viên phải được rà soát bởi một ủy ban thân Trung Quốc được bổ nhiệm bởi chính quyền trung ương, việc bầu chọn của công dân sẽ không còn có nhiều ý nghĩa. Chỉ có những người “yêu Trung Quốc” – tức yêu Đảng Cộng Sản Trung Quốc – mới được tranh cử.

Người ta có thể dễ dàng hiểu được tại sao các nhà lãnh đạo Trung Quốc lại bị phong trào phản kháng ở Hong Kong làm cho cảm thấy bối rối. Suy cho cùng thì khi Hong Kong còn là một thuộc địa của Anh, người Anh đã chỉ định các vị toàn quyền mà chẳng có ai phản kháng cả đấy thôi.

Thực tế, thỏa thuận mà những người dân thuộc địa Hong Kong chấp nhận – gạt chính trị sang một bên để đổi lấy cơ hội theo đuổi sự thịnh vượng vật chất trong một môi trường an toàn và trật tự – không khác là mấy so với thỏa thuận (với chính quyền Bắc Kinh) mà những tầng lớp có giáo dục ở Trung Quốc ngày nay chấp nhận. Trước đây, một quan điểm thông thường của các công chức chính quyền thực dân, thương gia, và các nhà ngoại giao là người Trung Quốc không thực sự hứng thú với chính trị chút nào; tất cả những thứ họ quan tâm chỉ là tiền.

Bất cứ ai có những kiến thức cơ bản nhất về lịch sử Trung Quốc sẽ thấy rằng quan điểm này hoàn toàn sai. Nhưng, trong một thời gian dài, nó dường như đã đúng ở Hong Kong. Tuy nhiên, có một sự khác biệt đáng kể giữa Hong Kong dưới sự cai trị của Anh Quốc và Hong Kong thuộc Trung Quốc ngày nay. Trước đây, Hong Kong không phải là một vùng đất dân chủ, nhưng nó đã có một nền báo chí tương đối tự do, một chính quyền tương đối trung thực và một hệ thống tư pháp độc lập – tất cả được ủng hộ bởi một chính quyền dân chủ ở London.

Đối với phần lớn công dân Hong Kong, triển vọng của việc bị chuyển giao từ một một cường quốc thực dân này sang một cường quốc thực dân khác vào năm 1997 chưa bao giờ là một triển vọng hoàn toàn vui vẻ. Nhưng thứ thật sự tiếp sức cho chính trị ở Hong Kong là cuộc đàn áp quảng trường Thiên An Mônở Bắc Kinh và ở các thành phố khác trong năm 1989. Những cuộc biểu tình khổng lồ đã diễn ra ở Hong Kong để phản đối cuộc thảm sát, và các lễ tưởng niệm có quy mô lớn về sự kiện đó được tổ chức vào tháng 6 hàng năm. Điều này đã giúp duy trì một ký ức vốn bị kìm nén và lãng quên ở những nơi khác thuộc Trung Quốc.

Không chỉ sự giận dữ từ lý do nhân đạo đã kích động rất nhiều người Hong Kong hành động trong năm 1989. Họ đã nhận ra rằng dưới sự cai trị trong tương lai của Trung Quốc, chỉ có nền dân chủ chân chính mới có thể giữ vững các thể chế vốn giúp bảo vệ các quyền tự do ở Hong Kong. Nếu không có tiếng nói đáng kể nào về cách mà họ sẽ bị cai trị, cuộc đời của những người dân Hong Kong sẽ bị phó mặc cho những nhà lãnh đạo Trung Quốc.

Từ quan điểm của những nhà cai trị ở Bắc Kinh, điều này thật sai trái. Họ coi những yêu sách về dân chủ của người Hong Kong là những nỗ lực sai lầm để bắt chước nền chính trị phương Tây, hoặc thậm chí giống như là một dạng hoài cổ về thời kỳ đế quốc chủ nghĩa của Anh. Dù theo cách nghĩ nào đi nữa, kế hoạch của những người biểu tình luôn bị coi là “chống lại Trung Quốc”.

Theo cách nhìn nhận của những nhà cai trị Trung Quốc, chỉ có sự lãnh đạo vững chắc từ trung ương và quyền lực tối cao không bị thách thức của họ mới có thể tạo ra những điều kiện cần thiết để nước Trung Quốc giàu mạnh trỗi dậy. Dân chủ, trong quan điểm của họ, sẽ dẫn tới sự hỗn loạn; tự do tư tưởng sẽ gây ra sự nhiễu loạn của người dân; và sự chỉ trích của công chúng về Đảng có khuynh hướng dẫn đến sự sụp đổ chính quyền.

Theo nghĩa này, Bắc kinh nhìn chung theo tư duy truyền thống (giống các triều đại phong kiến trước đây – NBT). Nhưng, mặc dù chính quyền Trung Quốc luôn luôn độc tài, nó chưa bao giờ tham những tràn lan như hiện nay. Và nền chính trị Trung Quốc cũng chưa bao giờ vô luật pháp như vậy.

Theo truyền thống, Trung Quốc đã có những thiết chế – các liên kết dòng họ, các cộng đồng tôn giáo, các nhóm thương nhân, vv… – mang tính tự trị tương đối. Sự cai trị của hoàng đế có thể rất độc đoan, nhưng vẫn có những khoảng trống lớn cho sự độc lập bên ngoài kiểm soát của trung ương. Theo nghĩa này, Hong Kong có lẽ mang tính truyền thống hơn so với các phần còn lại của Trung Quốc, dĩ nhiền là loại trừ Đài Loan.

Ngày nay, quyền uy chính trị tối cao đã đặt Đảng Cộng sản lên trên luật pháp, điều này đã khuyến khích tham nhũng trong các quan chức của Đảng, cả ở cấp địa phương và trung ương. Sự kiểm soát nghiêm khắc đối với tôn giáo, học thuật, nghệ thuật và báo chí đã kiềm chế sự phổ biến các thông tin cần thiết và các tư tưởng sáng tạo. Sự thiếu vắng một hệ thống tư pháp độc lập đã làm suy yếu nền pháp quyền. Những điều này không có lợi ích gì cho sự phát triển tương lai cả.

Khi Hong Kong được chính thức trao trả về Trung Quốc 17 năm trước, một số người lạc quan nghĩ rằng mức độ tự do lớn hơn ở vùng đất thuộc địa này sẽ giúp thúc đẩy cải cách ở các phần còn lại của Trung Quốc. Hình mẫu về bộ máy quan chức trong sạch và những người thẩm phán công tâm sẽ giúp đẩy mạnh pháp quyền trên toàn bộ đất nước. Một số người khác, với cùng lý do đấy, coi Hong Kong như con ngựa thành Troy nguy hiểm có thể làm xói mòn nghiêm trọng trật tự cộng sản.

Đến nay, không có bất kỳ bằng chứng nào cho thấy những người biểu tình ở khu vực Trung tâm Hong Kong có bất kỳ tham vọng nào trong việc làm suy yếu, chứ đừng nói đến lật đổ chính quyền ở Bắc Kinh. Họ chỉ thực sự chú tâm vào việc đứng lên bảo vệ quyền lợi của họ ở Hong Kong, và cơ hội mà họ sẽ thành công dường như rất mong manh. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình rất nóng lòng để thể hiện sự cứng rắn của ông ta. Thỏa hiệp sẽ thể hiện sự yếu đuối. Mục tiêu của ông ta là khiến Hong Kong giống với những phần còn lại của Trung Quốc, hơn là một cái gì đó khác biệt.

Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều lý do để tin rằng Trung Quốc sẽ được hưởng lợi lớn từ con đường ngược lại. Ít tham nhũng hơn, sự tin tưởng vào pháp luật nhiều hơn, sự tự do tư tưởng lớn hơn sẽ làm cho Trung Quốc thêm vững chắc, thêm sáng tạo và thịnh vượng hơn.

Trong ngắn hạn, điều này có thể chưa xảy ra, nhưng những người thực sự “yêu Trung Quốc” sẽ dễ dàng được tìm thấy trên những con phố của Hong Kong hơn là ở những khu nhà chính phủ kín cổng cao tường ở Bắc Kinh.

………………………..

Ian Buruma là giáo sư về dân chủ, quyền con người và báo chí ở trường Đại học Bard. Ông là tác giải của rất nhiều đầu sách, bao gồm: Murder in Amsterdam: The Death of Theo Van Gogh and the Limits of Tolerance [Án mạng ở Amsterdam: Cái chết của Theo Van Gogh và Những giới hạn của Sự khoan dung], và gần đây nhất, Year Zero: A History of 1945 [Năm zero: Lịch sử 1945].

Biên dịch: Lê Khánh Toàn

Bản gốc tiếng Anh: Project Syndicate

Nguồn: http://nghiencuuquocte.net

 

Huyên Trân Công Chúa

Giải ảo lịch sử và Cảm quan lịch sử về chuyện Huyền Trân công chúa

Nguyễn Đức Toàn

Thời gian gần đây, tôi làm công việc khác không được gần gũi với nghiên cứu sách vở cho lắm. Thì giờ đọc cũng ít đi. May nhờ Facebook, bạn bè chia sẻ được đọc ké bài của tác giả Nguyên Khôi: Giải ảo lịch sử về Huyền Trân công chúa. Đăng trên Tia sáng[1]. Bài viết khá lý thú, hấp dẫn đưa ra những chứng cứ và phân tích lịch sử chủ quan của Tác giả về những vấn đề liên quan đến Công chúa Huyền Trân, được Ngô Sĩ Liên chép trong Đại Việt sử ký toàn thư (Toàn thư). Bài viết cụ thể đưa ra 3 luận điểm:

1. không có chuyện Huyền Trân bị hỏa thiêu, vì thế cũng không có chuyện giải cứu Huyền Trân như Toàn thư đã viết;

2. Giả thuyết Huyền Trân đầu độc Chế Mân không có cơ sở, không có chuyện nhóm Trần Khắc Chung phải lập mưu cướp công chúa về Đại Việt. Toàn thư đã chép đoạn này trên một truyền bản tin đồn hoặc huyền thoại thất thiệt (fakelore) vào đời sau. Câu chuyện đó chỉ có ý nghĩa đối với những sáng tác văn học mà hầu như lại rất có hại đối với lịch sử và sử học;

3. Mối quan hệ Huyền Trân- Khắc Chung có thể có mà cũng có thể không. 

Nhưng thẳng thắn theo cảm quan của tôi, tôi chỉ ủng hộ 1/4 của luận điểm thứ 2 mà thôi. Đó là Không có cơ sở về giả thuyết Huyền Trân đầu độc Chế Mân. Vì không có sự chuẩn bị về tư liệu, nên tôi xin căn cứ theo những gì Tác giả Nguyên Khôi nêu trong bài để trình bày lại cảm quan của tôi. Dẫn dụ lòng vòng xin các bạn thông cảm. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 13.10.2014

NỘI LỰC VĂN HÓA- SỨC MẠNH CỦA DOANH NHÂN

      NỘI LỰC VĂN HÓA- SỨC MẠNH CỦA DOANH NHÂN

  Ngô Minh

       Thời bao cấp, ở nước ta mọi người rất kỵ chữ “buôn bán”. Hàng ngày người ta hay mắng nhau :” Đồ con buôn !” Hành vi buôn bán được xã hội bao cấp xếp vào diện “ phi văn hóa” !   Đó là tâm lý tiểu nông trong xã hội tự cấp, tự túc, người ta không hiểu rằng doanh nhân chính là những nhà văn hóa trên thương trường! Trên góc độ các thương gia, văn hóa kinh doanh bao giờ cũng tồn tại hai mặt :Hướng ngoại và hướng nội . Hướng nội là nội lực của các doanh nhân dựa vào cái mỏ vốn liếng văn hóa dân tộc để tạo ra sức mạnh hội nhập của chính mình ! Nội lực văn hóa đó quyết định trình độ, thế đứng của doanh nhân khi hướng ngoại, làm sao vừa mang lại lợi nhuận cao, vừa nâng cao dân trí trong nước. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 12.10.2014

Thảo luận trực tuyến về sách ‘Đèn Cù’

Tác giải Trần Đĩnh

Thảo luận trực tuyến về sách ‘Đèn Cù’

  • QTXM : Từ mạng, đặc biệt là Việt Nam thư quán, sách Đèn cù của tác giả Trần Đĩnh đã được in ra hàng vạn bản ở Việt  Nam. Nhiều người say mê đọc. Cũng có người tỉnh táo đặt vấn đề  về sự thật về sự kiện và các nhân vật mà tác giả kể trong cuốn sách đạt độ chuẩn xác như thế nào? Mời bạn đọc xem cuộc tọa đàm trực tuyền của BBC về vấn đè này.

Ông Hoàng Hưng cho rằng Trần Đĩnh nói những sự thật mà tác giả biết và cho đó là sự thật.

‘Đèn Cù’ là một cuốn sách có vị trí ‘quan trọng nhất’ trong một giai đoạn lịch sử, theo một khách mời tham gia cuộc tọa đàm trực tuyến giữa BBC với các khách mời về cuốn tự truyện của tác giả Trần Đĩnh hôm 09/10/2014.

Trao đổi với tọa đàm của BBC hôm thứ Năm ( http://bit.ly/1v6CmDn), nhà thơ Hoàng Hưng từ Sài Gòn nói về tính ‘xác thực’, ‘chân thực’ với sự thực lịch sử của cuốn sách đang thu hút sự chú ý của dư luận Việt Nam trong và ngoài nước:

Ông nói: “Về việc tác giả nói sự thật hay không, tôi nghĩ tác giả cũng đã nói rồi, tác giả nói những sự thật mà tác giả biết, và tác giả cho đó là sự thật và tác giả không bịa đặt.”

“Những sự thật này nó chính xác như thế nào về mặt lịch sử thì cái này không bàn, bởi vì tác giả… khi mà bàn những chuyện này, nghe ý kiến của người nọ, người kia nói rằng là sai lịch sử, hay bịa đặt ấy, thì tác giả nói rằng là “thì ai chỉ cho tôi bịa đặt”.

“Tác giả nói ngay gần đây có một bức thư của bà (Bảy) Vân, vợ của [cố Tổng bí thư Đảng CSVN] ông Lê Duẩn đưa ra để tố cáo Võ Nguyên Giáp, thì những ý của bà Vân đưa ra như thế thì cái nào là đúng, cái nào là không đúng, cũng rất là khó, cái đó thuộc về vấn đề lịch sử xác minh.

Về việc tác giả nói sự thật hay không, tôi nghĩ tác giả cũng đã nói rồi, tác giả nói những sự thật mà tác giả biết, và tác giả cho đó là sự thật và tác giả không bịa đặt

Nhà thơ Hoàng Hưng

“Thế còn khi tác giả viết ra thì tác giả đều tin tất cả những chuyện đó là sự thật, có thể là qua kể lại, có thể là mắt mình được chứng kiến, hoặc có thể là qua những hiểu biết của tác giả. Cho nên tôi cho rằng… vấn đề sự thực lịch sử thì chúng ta phải nhìn như thế.”

Từ Hà Nội, nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên nói với cuộc thảo luận ( http://bit.ly/10PcizT) về bản chất của cuốn sách:

Ông nói: “Cuốn Đèn Cù của nhà báo Trần Đĩnh, mà chúng ta biết vị trí của ông Trần Đĩnh là từ rất sớm đã vào làm ở báo Đảng, báo Sự Thật, sau này là báo Nhân Dân, để được ở kề cận Tổng Bí thư Trường Chinh và có thể có những tiếp xúc với những cán bộ cấp cao và có những nguồn tin có thể tin cậy…

“Tôi có nói tác giả là người có thẩm quyền để nói ra những điều mình biết và những điều mà ông nói ra có thể khiến người ta tin được vì được nói ra bởi một người có thẩm quyền, chứ không phải là quyền uy.”

‘Sai sót, nhầm lẫn?’

Ông Phạm Xuân Nguyên tin rằng Đèn Cù nói lên sự thật từ một người viết ‘có thẩm quyền’.

Khi được hỏi liệu cuốn sách có ‘khả tín’ hay không khi có một số ý kiến cho rằng “Đèn Cù” có thể có một số ‘nhầm lẫn’ về sự kiện, nhân vật hay dữ kiện lịch sử, nhà phê bình nói:

“Còn khi mà có những sai khác, thì bản thân ông cũng đã xác định là ở đây ông kể “chuyện tôi”. “Truyện tôi” tức là được lọc qua ký ức, được lọc qua những trí nhớ và có thể những câu chuyện của bạn bè.”

Và ông Nguyên đưa ra so sánh giữa ‘Đèn Cù’ với ‘Bên Thắng Cuộc’ một cuốn sách khác được xuất bản trên mạng của nhà báo, blogger Huy Đức:

“Nếu đòi hỏi một cách khách quan, ví dụ chúng ta đặt cuốn ‘Đèn Cù’ (so sánh) bên cạnh cuốn ‘Bên Thắng Cuộc’, thì tác giả Huy Đức có thể lại làm công việc của một nhà báo, nhà khảo cứu và có thể có những ghi chép, những số liệu có thể đối chiếu.

“Còn như của Đèn Cù của anh Trần Đĩnh, thì anh chỉ bàn những cái nhớ lại bằng hồi ức của mình mà vừa rồi tôi có đọc một bài của nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn, thì anh cũng có nói phải có một phụ lục, một ‘Index’ để chỉ ra những nhân vật, những sự kiện trong này mà có chú thích, thì được thêm một cuốn phụ lục ấy nữa, thì đó là công cuộc của nhà khảo cứu.

Còn khi mà có những sai khác, thì bản thân ông cũng đã xác định là ở đây ông kể “chuyện tôi”. “Truyện tôi” tức là được lọc quy ký ức, được lọc qua những trí nhớ và có thể những câu chuyện của bạn bè

Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên

“Còn cuốn ‘Đèn Cù’ là cuốn ‘Truyện tôi’, tức là chuyện đời được phản ánh qua trí nhớ, qua ký ức, qua hồi tưởng của nhà báo Trần Đĩnh.”

Từ Paris, nhà báo tự do Mỹ Dung cho rằng những cuốn sách như Đèn Cù hoặc nhiều cuốn khác từng được xuất bản bằng tiếng Việt ở bên ngoài Việt Nam, trong đó có các cuốn như ‘Bên Thắng Cuộc’ của Huy Đức, hay ‘Trần Đức Thảo – những lời trăn trối’ của Tri Vũ – Phan Ngọc Khuê, vẫn là một chủ đề được nhiều bạn đọc người Việt ở hải ngoại nói chung, ở nước Pháp nói riêng, đón đọc.

Cây viết nữ nói: “Tất cả những cuốn sách vừa mới nêu đều có chung một đặc điểm, cho dù nó được thể hiện dưới một hình thức nào, văn học, tự truyện, hồi ký, nghiên cứu lịch sử v.v…, nó đều có một đặc điểm chung là đó đều là những cái nhìn rất độc lập, không bị chi phối bởi hệ tư tưởng chính trị nào, bởi thế lực nào, của người viết về giai đoạn lịch sử nào đó mà họ quan tâm, để mà họ viết ra thành sách.

“Cho nên tất cả những cuốn sách đó dĩ nhiên sẽ được rất nhiều bạn đọc trong cũng như ngoài nước, là bạn đọc Việt Nam, đọc tiếng Việt, trong và ngoài nước, nếu có quan tâm đến lịch sử Việt Nam, đều rất muốn có để mà đọc.

Nhà báo Mỹ Dung cho rằng các cuốn sách như Đèn Cù có thể thu hút được bạn đọc ngoại quốc.

“Đọc để tìm hiểu xem cùng một sự kiện lịch sử đó, thì những góc nhìn độc lập đó họ nhìn nhận những sự kiện lịch sử như thế nào.”

‘Được đón đọc’

Theo nữ nhà báo này, nếu được dịch từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài mà ở đây là tiếng Pháp, nhiều cuốn sách như Đèn Cù cũng có thể sẽ được bạn đọc ngoại quốc ‘đón đọc nồng nhiệt’ như với các tác phẩm của nữ văn sỹ Dương Thu Hương.

Mỹ Dung nói: “Còn nếu hỏi là người Pháp đọc lịch sử Việt Nam bằng những cách kể chuyện khác nhau như thế, thì rất tiếc cho tới nay chỉ có tất cả những tác phẩm của bà Dương Thu Hương là được dịch ra tiếng Pháp”.

“Còn những cuốn khác… không có tiếng Pháp, nên tôi không biết người Pháp sẽ đón nhận như thế nào”.

“Riêng về cuốn sách của bà Dương Thu Hương, đến nay, bà viết về lịch sử Việt Nam, tuy rằng với giọng văn là tiểu thuyết đi nữa, nhưng vẫn được người Pháp, độc giả Pháp tiếp nhận rất là nhiều và người ta rất hoan nghênh.

Theo cảm nhận chủ quan của tôi, thì những cuốn sách được nêu, nếu được dịch ra tiếng Pháp và được giới thiệu ra với bạn đọc Pháp, thì chắc chắn sẽ được bạn đọc Pháp đón nhận một cách nồng nhiệt không kém

Nhà báo tự do Mỹ Dung

“Và theo cảm nhận chủ quan của tôi, thì những cuốn sách được nêu, nếu được dịch ra tiếng Pháp và được giới thiệu ra với bạn đọc Pháp, thì chắc chắn sẽ được bạn đọc Pháp đón nhận một cách nồng nhiệt không kém.”

‘Tự vấn thành công’

Từ London, nhà báo Nguyễn Giang, Trưởng Ban Việt ngữ của BBC nêu quan điểm:

“Nếu nói về mặt văn học, nhiều nhân vật được mô tả rất sinh động, sống trong những bối cảnh đó, thế nhưng nếu nói đây là những chứng cứ, hay chứng liệu lịch sử, thì tôi thấy rất khó bàn ở chỗ là ngày tháng nào, gặp nhau ở đâu, ai nói gì, những cái đấy chúng ta không biết và chúng ta hoàn toàn tin tưởng là tác giả viết theo đúng những gì mà ông ấy nêu ra,

“Nhưng mà đây không phải là một cuốn sách khảo cứu cho nên giá trị văn chương nhiều hơn, tôi nghĩ, là giá trị mà chúng ta gọi là tư liệu lịch sử.”

Nguyễn Giang cho rằng Trần Đĩnh đã thành công khi ‘tự vấn’ về thân phận đất nước.

Vẫn theo nhà báo Nguyễn Giang, tác giả Trần Đĩnh đã đạt được sự thành công nhất định qua tác phẩm ở một khía cạnh được gọi là ‘tự vấn’ về thân phận đất nước, dân tộc, đặc biệt bắt đầu từ cuộc tiếp xúc bước ngoặt giữa Việt Minh, chính quyền của họ với chủ nghĩa Mao.

Nguyễn Giang nói: “Ông Trần Đĩnh đã rất thành công trong việc ông ấy tự vấn, ông ấy tự phản tỉnh, ông ấy tự đặt câu hỏi tại sao dân tộc của chúng ta lại có cuộc tiếp xúc rất lớn với chủ nghĩa Mao giai đoạn Việt Minh, để rồi có một hệ thống như thế và bắt đầu đi tiếp một cuộc chiến nữa.”

Vẫn theo Nguyễn Giang, cuộc chiến Việt Nam vẫn ‘tiếp tục’ được các giới và dư luận quốc tế biết đến, và do đó rất có thể sẽ tiếp tục xuất hiện trong tương lai các cuốn sách như Đèn Cù của Trần Đĩnh.

Người ta vẫn tiếp tục viết về cuộc chiến này ở trên thế giới bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, đủ những thứ tiếng khác nhau, người Trung Quốc người ta cũng vẫn đang viết, thì người Việt Nam tại sao lại không thể viết ở trong nước và xuất bản trong nước bình thường được

Nguyễn Giang, Trưởng ban BBC Việt ngữ

“Người ta vẫn tiếp tục viết về cuộc chiến này ở trên thế giới bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, đủ những thứ tiếng khác nhau, người Trung Quốc người ta cũng vẫn đang viết, thì người Việt Nam tại sao lại không thể viết ở trong nước và xuất bản trong nước bình thường được,” Nguyễn Giang đặt vấn đề.

Cuộc hội luận được phát trực tuyến trên kênh Google Hangout và YouTube của BBC Việt ngữ từ lúc 19h30 – 20h00 giờ Việt Nam hôm thứ Năm, 09/10/2014 với khách mời là nhà phê bình văn học, các nhà báo và người viết tự do từ Việt Nam và hải ngoại.

Các quý vị có thể theo dõi toàn bộ cuộc thảo luận tại đường dẫn sau đây http://bit.ly/10PcizT hoặc trên trang nhà của chúng tôi ở địa chỉ bbcvietnamese.com

Các ý kiến về cuốn sách, xin vui lòng gửi cho chúng tôi về địa chỉ vietnamese@bbc.co.uk.

 

 

NGUYỄN NGUYÊN BẢY thông báo về dự án Sách Thơ Bạn Thơ,5.

 

1. Thể theo đề nghị của đông đảo bạn đọc đề  nghị không thực hiện Dự án bộ sách Văn Thơ Dọc Chọn như đã thông báo vì không quy tập được bài vở và bạn đọc chỉ muốn tham gia thằng vào hai bộ sách Văn Bạn Văn và Thơ Bạn Thơ. Do vậy, chương trình bộ sách Văn chương đoc chọn không tiếp tục thực hiện.

2. Bô sách Văn bạn Văn, đã xuất bản tập hai, đang thực hiện tập 3. Kính mời cộng tác.

 
3. Bộ sách Thơ Bạn Thơ đang in tập 4, là hoàn tất dư án bộ sách Thơ Bạn Thơ xuân/Hạ/Thu/Đông, bốn tập đúng theo chương trình đã công bố. Nay do không thực hiện bô sách Văn chương đọc chọn, nên Thơ Bạn Thơ sẽ tiếp tục thực hiện phần hai của dự án với 4 tập THƠ BẠN THƠ 5-8. 
Bô sách TBT,5 này tuân thủ như trình tự của bộ sách Thơ Bạn Thơ Xuân/Hạ/Thu/ Đông trên cả hai phương diện nội dung/hình thức và in ấn phát hành. Nhấn mạnh lại một vài chi tiết:
+ Sách không tham gia thị trường. Người làm sách và người tham gia làm sách trên tinh thần tự nguyện, không có bất kỳ một ràng buộc,đòi hỏi nào về tài chính/quà cáp đóng góp, nhuận bút trả bằng sách biếu, bài tự gửi hoặc được BT chọn đọc, được thông báo công khai, đúng pháp luật xuất bản trước khi in ấn phát hành, miễn thị phi tranh tụng.
+ Các bạn thơ đã tham gia sách TBT 1-4, đều có thể gửi bài tham gia TBT 5-8, vì đây là dự án phần 2, độc lập với phần 1, mục dích chung, tìm kiếm những áng thơ hay của Thi đàn Việt.
+ Bộ sách TBT 5-8 sẽ thêm phụ đề, đã được BBT gợi ý đề xuất, và đã xin ý kiến của nhiều ban đọc quan tâm, nay trên thông báo này, tâm thành chờ mong góp ý của các bạn thơ và ban đọc cho chọn lựa sau cùng. Các tiêu đề đã được gợi ý:

THƠ BẠN THƠ              THƠ BẠN THƠ           THƠ BẠN THƠ           THƠ BẠN THƠ

Hoa Cỏ Thời Tôi             Mây Gió Thời Tôi      Thi Khúc Thời Tôi     Hoa trái thời tôi
 
4. Trang blog VandanBNN là địa chỉ liên lạc/ trao đổi bài vở .
Các hộp thư: nguyenbaybnn@yahoo.com.vn
nguyennguyenbay@gmail.com
Di động: 0989722051.

5. Sách Thơ Bạn Thơ 5, bắt đầu thực hiện từ 10.10.1914.

Kính báo và trận trọng kính mời tham gia sách TBT,5

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 11.10.2014

Độ-Quảng-Nguyên-Ngọc

Nhà văn Nguyên Ngọc

Độ-Quảng-Nguyên-Ngọc

Mai Anh Tuấn

 Tiêu đề bài viết này được tôi vỡ lẽ lựa chọn sau khi, một cách chầm chậm, đọc hết những tiểu luận của ông in trong Nguyên Ngọc – Tác phẩm1 và nhất là, khi nhận ra ông có một cảm hứng thật đặc biệt với mảnh đất quê hương: xứ Quảng Nam. Theo cách hiểu của ông, “Quảng” nghĩa là “mở rộng” và từ đó, tạo nên phẩm chất rất riêng của vùng đất và con người nơi đây: luôn bước tới, ở tiền tuyến, không ngại đứng đầu sóng ngọn gió.

Tôi muốn dùng lại chữ “Quảng” này để trỏ một đặc tính gần như xuyên suốt và cô đặc thành năng lượng làm nên sức bền bỉ khó bì kịp trong tư duy cũng như cách biểu đạt tư duy của Nguyên Ngọc: luôn va đến độ rộng nhất định, rồi ngay ở tình thế buộc phải co rút các điểm nhấn, bao giờ nó cũng lộ ra một sự mở, tiềm năng mở những chiều kích suy ngẫm, những điểm khả thủ cho các hành động nhận thức tiếp theo, thường là trở lại để không ngừng trực diện, mạnh mẽ và riết ráo hơn. Chữ “độ”, đương nhiên, tôi có được thật dễ dàng, theo cảm nhận riêng tư đầy vui thích, từ Độ không của lối viết, công trình luận thuyết nức danh của nhà khoa học xã hội nhân văn Pháp, Roland Barthes, mà Nguyên Ngọc là dịch giả. Dù biết những người bạn, đồng nghiệp yêu mến, kính trọng ông đã hình dung Nguyên Ngọc vẫn trên đường xa2, thật nồng ấm và ít nhiều chân xác, nhưng tôi không khỏi băn khoăn, rằng, hình như những tiểu luận, bài viết của ông, với phổ quan sát, biện giải rất rộng, vẫn đang được dùng chỉ để thi thoảng phụ trợ cho vẻ đẹp dấn thân của ông, ở những nơi ông xuất hiện, phát biểu, đề đạt… Chưa mấy ai thật sự dừng lại kĩ lưỡng, dù đây chưa hẳn là công việc tức thì, ở trên đường xa mà Nguyên Ngọc đang có, đang đi ấy, để có thể dẫn nhập ông một cách rõ rệt. Tôi nghĩ mình càng không đủ khả năng làm được điều đó và sẽ thật mạo hiểm nếu trưng ra ở bài viết ngắn này vài lời lẽ khái lược mà đã tạm yên lòng về Nguyên Ngọc, một hiện tượng đa văn bản thực sự hiếm gặp trong thế hệ của ông.

Nguyên Ngọc trụ vững trên một căn nền quan trọng: ông có tư liệu và trải nghiệm của một chứng nhân, đã can dự vào nhiều giai đoạn phức tạp của lịch sử, xã hội, và đồng thời, có tri thức để biết cách sử dụng bản thân cho những lí lẽ, việc làm mang ý nghĩa nhất. 

Nguyên Ngọc, đối với phần lớn chúng tôi, những người học hành qua loa ở quê nhà, dường như đã kết thúc ở Nguyễn Trung Thành, tác giả của Rừng xà nu vốn từng là niềm hưng phấn dễ chịu mỗi kì thi cử. Mà không chừng  ngay cả bây giờ, khi sách giáo khoa và giáo trình vẫn là “kinh thánh” ở bục giảng phổ thông, thì Nguyễn Trung Thành cùng lắm được thêm thông tin chức Tổng biên tập Văn nghệ, tờ báo có được giai đoạn đáng nhớ bậc nhất khi ông về cầm trịch. Những bài viết của ông tiếc thay, như nhiều tiếng nói đáng lắng nghe khác, đã/vẫn chưa lan rộng đến quảng đại độc giả, ít nhất là độc giả trẻ như tôi. Cơn cớ của thực tế ấy, theo tôi, nằm ở chỗ, tuy thường xuyên phát ngôn và chọn sự hiển thị chính kiến trước nhiều vấn đề cấp thiết làm cách thức xác định danh tính, nhưng tiếng nói Nguyên Ngọc thường hay vấp phải một lực cản ở xã hội ưa thuận chiều: chúng đều quá thẳng thắn và sắc bén; chúng không nửa vời dù ngắn gọn; đặc biệt, chúng có một thái độ rạch ròi biết mình muốn gì và sau cùng, cơ bản thống nhất trong các nấc thang cảm xúc và giọng điệu. Và phải nói ngay từ đầu, đọc Nguyên Ngọc tức gần như chạm đến bảng nhiệt kế không lấy gì làm dịu nhẹ.
Nhìn vào hệ thống tiểu luận, với mức độ đậm nhạt ở các bàn định, có thể thấy Nguyên Ngọc chủ yếu đặt ngòi bút trở đi trở lại trên ba địa hạt: đau đáu với không gian tộc người Tây Nguyên; tinh nhạy bắt các đỉnh sóng văn học nghệ thuật; và gần đây hơn, điểm vào các huyệt bất ổn của văn hóa, giáo dục. Trong ba địa hạt ấy, ta lại thấy ông triển khai khá cụ thể: với Tây Nguyên, chủ yếu về rừng, và các thực thể văn hóa đang có nguy cơ mai một, thậm chí, đang bị biến dạng bởi những can thiệp thô bạo từ những chính sách thiếu hiểu biết; với văn học nghệ thuật là lật ngược các vấn đề, các điểm bị đông cứng trong nhận thức và thực tế, rồi tiến đến những tri kiến riêng có khả năng ứng dụng cao; với văn hóa, giáo dục là phúc thẩm những giá trị, phản biện những sai lầm và sau khi quyết liệt với điều đó, thường háo hức trước những tín hiệu đẹp. Để không bị chới với giữa các chiều kích tưởng như tõe ra nhiều hướng ấy, Nguyên Ngọc trụ vững trên một căn nền quan trọng: ông có tư liệu và trải nghiệm của một chứng nhân, đã can dự vào nhiều giai đoạn phức tạp của lịch sử, xã hội, và đồng thời, có tri thức để biết cách sử dụng bản thân cho những lí lẽ, việc làm mang ý nghĩa nhất.
Hãy lấy những tư kiến của ông về Tây Nguyên làm ví dụ trước hết. Cho dù không phải là nhà dân tộc học, Nguyên Ngọc vẫn khiến vùng đất này trở nên thật sáng rõ trong cách mô tả của ông và nhất là, cách phát hiện vấn đề rất sâu sắc: 1/ Rừng là một thứ không-thời gian bao trùm toàn bộ con người Tây Nguyên, do đó, người Tây Nguyên không du canh du cư – một thứ nhận định hời hợt, mà là luân canh, phương pháp canh tác thích hợp trên đất dốc (T.2, tr.17). Bởi rừng là tâm linh, là cội nguồn văn hóa nên theo ông, không cứ giao rừng cho nhà nước quản lí là đúng, vì như ông thấy ở đồng bào Cơ Tu, Cà Dong, họ giữ rừng tuyệt vời, “hơn đứt các nông trường, lâm trường, kiểm lâm” (T.2, tr.156); 2/ Làng là đơn vị cơ bản và duy nhất trong xã hội Tây Nguyên. Ngay cả thời điểm hiện tại, tinh thần cộng đồng làng lâu đời ấy vẫn có thể giữ được tính độc đáo và thu hút được sức mạnh riêng. Vì thế, chuyện già làng, hội đồng già làng ở Tây Nguyên, theo Nguyên Ngọc, “không hề là chuyện ngẫu nhiên, cũng không phải là chuyện ta muốn hay không, mà là một thực tế lịch sử có căn nguyên sâu xa và còn hết sức sống động” (T.2, tr.164). Cùng với thiết chế già làng, ở Tây Nguyên, cách thức tổ chức xã hội mang tính chất cổ xưa vẫn còn đậm, trong đó có hệ thống thần linh. Sẽ không có gì phá vỡ được hệ thống này trừ khi, Nguyên Ngọc cảnh báo, “là những tấn công ngu dốt, thiển cận và thô bạo” (T2, tr.143). Nhưng “ngu dốt, thiển cận và thô bạo” có lẽ đang dần trở thành một đặc điểm của nhiều phương sách, bất chấp yêu cầu phải tôn trọng thực tế lịch sử như là bài học đắt giá nhất. 3/ Một biểu hiện của đặc điểm đó, dưới lời lẽ đôi khi giễu nhại của Nguyên Ngọc, là sự xuất hiện cái gọi là “nhà rông văn hóa” ở bản làng. “Nhà rông là cái không ai có thể đem cho được” – Nguyên Ngọc khẳng định, “Nhà nước tuyệt đối không thể đem cho làng một cái nhà rông được” (T2, tr.645). Bởi vì nhà rông là sản phẩm văn hóa, một sản phẩm văn hóa đích thực thì bao giờ cũng phải được sinh ra từ chính trong đời sống tinh thần tự nhiên của cộng đồng. Thấu hiểu “niềm vui sống” của người dân Tây Nguyên, Nguyên Ngọc đã tự phản tỉnh những chủ trương phi căn cứ, những việc làm tỏ ra vỗ về đời sống sắc dân thiểu số nhưng thực tế lại phản tác dụng, biến những tiêu chuẩn sống đáng ngưỡng mộ thành hiện trạng sống méo mó, dị dạng. Tây Nguyên trong câu chữ Nguyên Ngọc không đơn thuần là địa danh mà là không gian thiêng, nơi ông chọn để đọc hiểu quá khứ cũng như để bình giá hiện tại, và cũng là nơi ông lên tiếng bảo vệ, chiêu tuyết cho bằng được những hằng số bất khả diễn dịch nhầm lẫn thuộc về địa-văn hóa nơi này. Sau Nguyên Ngọc, Tây Nguyên trong tiếng Việt có thể còn đầy lên bởi nhiều tiếng nói tri thức bản địa khác, nhưng hẳn sẽ không dễ tìm được một giọng điệu cứng cỏi dám chỉ thẳng vào những thực tế bất thường.

Nguyên Ngọc đã tự phản tỉnh những chủ trương phi căn cứ, những việc làm tỏ ra vỗ về đời sống sắc dân thiểu số nhưng thực tế lại phản tác dụng, biến những tiêu chuẩn sống đáng ngưỡng mộ thành hiện trạng sống méo mó, dị dạng.

Nhiều người coi Nguyên Ngọc của năm 1979 như là một trong số ít cá nhân bắt đầu khai hỏa tấn công vào những nhược điểm của văn học cách mạng. Nhưng Nguyên Ngọc khi chấp bút Đề cương đề dẫn thảo luận ở Hội nghị đảng viên bàn về sáng tác văn học vào tháng 6/1979 lúc đó chưa phải là Nguyên Ngọc của cao trào đổi mới văn học, khi ông điều hành tờ Văn nghệ, và càng chưa phải Nguyên Ngọc ngay sau đó, khi ông rời tờ báo này để dấn thân vào các hoạt động văn hóa, xã hội trong tư cách trí thức độc lập. Tất nhiên sợi dây xuyên suốt ở đây vẫn là ý thức dám tiến tới, băng qua những chần chừ và níu kéo. Một Nguyên Ngọc của “chiến thắng” còn bị chất vấn bởi chính con người này thời “hậu chiến thắng”: “Vấn đề không chỉ đơn thuần là độc lập, vấn đề là trên cơ sở độc lập đó phải phát triển, phát triển dân tộc. Tìm một con đường phát triển, và tìm một cách phát triển cho dân tộc, trong thế giới biết bao hấp dẫn mà cũng xiết bao khó khăn này” (T2, tr.610). Cho nên, ngay lúc tiến trình đổi mới văn học, từ sau 1991, như Nguyên Ngọc nhận ra, bỗng chững lại rõ ràng thì ông vẫn không bị mắc kẹt, mà liên tục tìm kiếm và cung cấp những cái mới khác, bộc lộ cái mới của bản thân trên những lựa chọn có chủ đích. Nguyên Ngọc thời hậu-đổi mới là Nguyên Ngọc dịch giả, là một công đoạn chữ nghĩa khác hẳn gốc gác người sáng tác trước đây. Các khoảng trống tri thức văn chương không chỉ của Nguyên Ngọc mà còn của một thời kì co cụm góc nhìn, đã được chính Nguyên Ngọc bổ sung thông qua dịch thuật, từ Jean-Paul Sartre, Roland Barthes, đến Milan Kundera. Tôi nghĩ nhận xét của TS. Nguyễn Thị Từ Huy cho rằng các bản dịch của Nguyên Ngọc có tính ứng dụng là chuẩn xác3. Không thể kể hết những công trình, bài viết, đặc biệt trong các nghiên cứu văn chương mang tính hàn lâm, đã trích dẫn Độ không của lối viết hay Nghệ thuật tiểu thuyết kể từ khi hai bản dịch này ra đời.  Cho tới giờ, mức độ “ứng dụng” như thế đối với những công trình lí thuyết du nhập từ nước ngoài, theo quan sát của tôi, là không quá nhiều và nếu so với thực tế “ăn ngay” một cách tức thì những hệ tư tưởng được coi là ngoại quốc khác thì quá trình tiếp nhận R. Barthes hay M. Kundera chủ yếu diễn ra trong sự háo hức của việc tự kiểm chứng4. Nói như vậy vì chính Nguyên Ngọc, sau khi dịch những cuốn sách thấy cần, đã lên tiếng về việc cần khôi phục một nền dịch thuật lành mạnh, “cần kiên quyết và kiên trì cải thiện thị hiếu của người đọc đã bị vô số sách dịch tạp nham lâu nay mài mòn và làm suy thoái” (T2, tr.328). Từ văn học, Nguyên Ngọc chuyển sang dịch dân tộc học, trước nhất và bề thế nhất, là dân tộc học Tây Nguyên: Bộ ba công trình của Jacques Dournes (Mảnh đất huyền ảo, 2003; Rừng, Đàn bà, Điên loạn, 2006; Pötao, một lý thuyết về quyền lực ở người Jörai Đông Dương, 2013); công trình của Anna De Hautecloque Howe (Người Ê-đê: một xã hội mẫu quyền, dịch cùng Phùng Ngọc Cửu, 2004);… Các dịch phẩm này, đôi khi đính kèm với lời giới thiệu của ông, thể hiện rõ cảm hứng “một cuộc gặp gỡ” giữa những con người hiếu tri, xuyên qua nhiều lớp văn bản để chuyển tới cộng đồng sự thông hiểu lẫn nhau như một ứng xử văn hóa trong thời đại đa văn hóa.

Nhìn vào đường xa mà Nguyên Ngọc đi qua, có thể thấy ông đã lần lượt giã từ vai trò nhà văn-chiến sĩ, nhà văn-bí thư Đảng đoàn, nhà văn-tổng biên tập…, nghĩa là những vai trò được nhấn mạnh bằng yếu tố chính thống, nhà nước hóa, để xác lập mình trong vai trò trí thức độc lập trong xã hội dân sự.

Nguyên Ngọc có một lòng yêu mến, liên tài đặc biệt đối với những con người tài năng quá cỡ, hoặc nhiệt tâm, hoặc được coi là khí phách, và ông không ngần ngại diễn đạt về họ bằng những mĩ từ, những tổ hợp tính từ khái quát cao. Thậm chí, đôi lúc ông cũng không ngần ngại kích lên một tấm gương trở nên lớn và sáng hơn bản thân nó vốn có. Hãy nhìn vào những thân danh cao mà tần số xuất hiện trong các bài viết cho thấy ông chưa hề cạn suy ngẫm về họ: nhiều nhất về Phan Châu Trinh, thâm tình với Nguyễn Khải, trân trọng bao gồm cả lăng-xê Nguyễn Ngọc Tư, đồng cảm sâu sắc với Milan Kundera, ngưỡng mộ “loại hình sống” Condominas, kĩ lưỡng với Jacques Dournes, hào hứng với Francois Jullien… Trong những bài viết đó, Nguyên Ngọc trước sau vẫn duy trì một quan điểm đánh giá không thoái lui, một độ tư duy gần để đọc thấu và đọc đúng về đối tượng và vấn đề. Cảm tưởng ông đã nhận được ở đấy những vốn xã hội ở ngoài nhà nước, phi nhà nước, để không đơn điệu và khô cằn cho sự hình dung của ông về con đường phát triển của dân tộc mà ông thường canh cánh. Chỉ riêng điều đó, ông đã tự khác, tự lật hẳn qua một vị thế mới.
Vậy thì, nhìn thế nào về mẫu người Nguyên Ngọc? Gọi ông là “con đẻ của cách mạng”5 thì sẽ trả lời thế nào nếu phải nhìn lại trong suốt mấy thập niên cả dân tộc tiến hành cách mạng, rất nhiều thế hệ đã ra đi và trở về như Nguyên Ngọc, đã được chính giai đoạn ấy dìu dắt và tôi luyện, rút cuộc, có bao nhiêu “con đẻ của cách mạng” đủ khả năng và bản lĩnh xác lập mình trong vai trò trí thức xã hội dân sự? Nhìn vào đường xa mà Nguyên Ngọc đi qua, có thể thấy ông đã lần lượt giã từ vai trò nhà văn-chiến sĩ, nhà văn-bí thư Đảng đoàn, nhà văn-Tổng biên tập…, nghĩa là những vai trò được nhấn mạnh bằng yếu tố chính thống, nhà nước hóa. Không kịp giã từ các vai trò này, người bạn thân của ông, nhà văn Nguyễn Khải, từng phải đi tìm cái tôi đã mất trong im lặng. Còn Nguyên Ngọc, ông kịp và đang thể hiện mình là trí thức độc lập trong xã hội dân sự, dù là dân sự mới ló dạng. Tôi nghĩ, đã là một trí thức thì bất luận là “con đẻ” của ngữ cảnh nào, họ vẫn trưởng thành như một cá nhân độc lập và hành trạng của họ là mẫu hình để xã hội lắng nghe, hướng tới.

1 NXB Hội Nhà văn, 2009, gồm ba tập. Tập 1 gồm những sáng tác (Tiểu thuyết, Truyện ngắn, và kí); Tập 2 gồm những tiểu luận, bài viết về nhiều chủ đề khác nhau; và Tập 3 tập hợp những công trình dịch thuật của Nguyên Ngọc. Các trích dẫn trong bài, nếu không có chú thích gì khác, đều lấy từ tài liệu này.
2 Nhiều tác giả (2012), Nguyên Ngọc vẫn trên đường xa, NXB Tri thức & Trung tâm Văn hóa – Ngôn ngữ Đông Tây, H.
3 Xem bài “Những dịch phẩm của tự do” của Nguyễn Thị Từ Huy trong sách Nguyên Ngọc vẫn trên đường xa.
4 Một đánh giá về dịch thuật của Nguyên Ngọc, xin xem Phùng Ngọc Kiên (2014), “Bàn về hiệu ứng đọc lí thuyết phê bình nước ngoài – trường hợp bản dịch “Độ không của lối viết”, tạp chí Nghiên cứu văn học, s.7, tr.54-65.
5 Xem bài “Nhà văn Nguyên Ngọc, con đẻ của cách mạng” của Trung Trung Đỉnh in trong tập 3, tr.487-500.

Nguồn://tiasang.com.vn/Default.aspx?

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 10.10.2014

PHAN VŨ VỚI EM ƠI, HÀ NỘI PHỐ…

Nhà thơ Phan Vũ và con gái

                    PHAN VŨ VỚI EM ƠI, HÀ NỘI PHỐ

        Ngô Minh

         Mỗi khi nhớ bẹn bè Hà Nội, hay khi xem tranh phố của Bùi Xuân Phái, trong tôi lại vang lên âm điệu da diết của những bài hát , bài thơ về Hà Nội: Hà Nội mùa thu cây cơm nguội vàng/ Cây bàng lá đỏ/ Nằm kề bên nhau/ phố xưa nhà cổ mái ngói thâm nâu…( Trịnh Công Sơn), hay Hà Nội ơi, nguồn mộng mơ dày như cỏ mùa xuân/ Mỗi khi tôi thấy mình xơ xác/ Tôi lại về đánh cắp/ Dẫu một chút bóng đêm trên đường phố Khâm Thiên ( Thanh Tùng). Đặc biệt là giai điệu Em ơi Hà Nội phố / Ta còn em mùi hoàng lan/ Còn em hoa sữa ...( Phú Quang- Phan Vũ).

            Những giai điệu, những ca từ như xoáy vào lòng người, day dứt, ngân vang… Có lẽ rất nhiều người thuộc bài hát này nhưng ít biết nó xuất xứ từ bài thơ Em ơi, Hà Nội phố, là một trong những bài thơ hay nhất viết về Hà Nội và là bài thơ hay nhất, tâm huyết nhất trong cuộc đời sáng tác của thi sĩ, họa sĩ, kịch sĩ -đạo diễn sân khấu Phan Vũ. Bài thơ là một trường ca dài tới 24 đoạn với 272 câu thơ như những trang nhật ký tâm hồn Hà Nội. Nhà thơ Phan Vũ viết trường ca này vào mùa đông 1972, khi máy bay Mỹ, cả máy bay B52 đang điên cuồng bắn phá Hà Nội trong trận chiến Điện Biên Phủ trên không năm ấy. Nhà thơ kể rằng, những ngày đó tôi và họa sĩ Bùi Xuân Phái rủ nhau đi lang thang trong đêm. Ông vẽ phố, còn tôi nghĩ về phố. Tôi viết bài thơ ấy trong khoảng 10 ngày. Nhà tôi ở phố Hàng Bún. Chiến tranh, người ta đi vắng hết. Bom đạn, cây cối, nhà cửa đổ nát… (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 10.10.2014

THOÁT TRUNG HAY THOÁT HỆ TƯ TƯỞNG?

Nhà thơ Mai Văn Hoan

THOÁT TRUNG HAY THOÁT HỆ TƯ TƯỞNG?

  Nhà văn Mai Văn Hoan

 Gần đây, nhân chuyện Dàn khoan, nhiều người tính đến chuyện làm sao để thoát

Trung. Ảnh hưởng và sự chi phối của Trung Quốc đối với nước ta từ trước đến nay là chuyện không phải bàn. Theo tôi thì sự ảnh hưởng và chịu sự chi phối ấy có nguyên nhân sâu xa là ý thức hệ tư tưởng. Nếu thoát được ý thức hệ tư tưởng, không những ta có thể thoát Trung mà còn đưa nước ta xích lại gần với cộng đồng quốc tế và công cuộc xây dựng đất nước sẽ tiến triển tốt đẹp hơn.

   Điều mà tôi hết sức ngạc nhiên là hầu như ai cũng nhận thấy cái tiền đồ tiến mạnh, tiến vững chắc lên XHCN để “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu” là không tưởng, là không bao giờ có, là thứ bánh vẽ… mà sao chúng ta cứ tin tưởng một cách mù quáng? Cái luận điểm: Giai cấp công nhân là giai cấp tiên phong lãnh đạo cách mạng hoàn toàn xa lạ đối với nước ta một nước mà cho đến nay nông nghiệp vẫn chiếm đa phần, một nước mà ngay từ khi cách mạng manh nha toàn thấy các bậc trí thức như Nguyễn Ái Quốc, Lê Hồng Phong, Trần Phú, Võ Nguyên Giáp… lãnh đạo cách mạng chứ chẳng thấy bóng dáng một anh công nhân nào cả. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 09.10.2014

THƠ VỀ HÀ NỘI

                                   THƠ VỀ HÀ NỘI

                    Ngô Minh   

                                      HÀ NỘI MÙA ĐÔNG

Tặng Thanh Hương

 đường dài bươc tỉnh bước say

mùa đông Hà Nội chiều nay anh về

mắt ơi long lanh điều gì

buốt tê là tiếng thầm thì bên em

 

thơ Lầu Ngắm Sóng cầm lên

tóc vương như sợi rét mềm buộc nhau

một lời thưa với mai sau

chút tình đơn lẻ cũng giàu ngày đông

 

rồi mai chết giữa má hồng

lúm đồng tiền ạ se lòng phố xưa…

 

co ro đường sấu nhớ mùa

sông Hồng đắp áo nằm mơ dáng Kiều

hương  se gió ngọt xiêu xiêu

cành đông Hà Nội trắng điều nhớ nhung

 

lạy trời anh được về cùng

phố Hương thường trú mùa đông đời mình… (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 09.10.2014

TẠ VŨ CỤNG CHÉN CÙNG TRĂNG

Nhà thơ Tạ Vũ ( Foto NM năm 2010)

QTXM- Tin buồn – Nhà thơ Tạ Vũ sinh năm 1935, mất lúc 4 giờ sáng ngày 8-10-2014, hưởng thọ 80 tuổi. Tang lễ tổ chức từ 7 giờ đến 9 giờ ngày 10-10-2014, tại Nhà tang lễ bệnh viện Thanh Nhàn, hỏa táng tại Đài hóa thân hoàn vũ Hà Nội. Ngô Minh xin gửi tới nhà thơ Nguyễn Thị Điều và gia quyến lời chia buồn sâu sắc và cầu mong nhà thơ Tạ Vũ siêu thoát vào cõi Vĩnh Hằng.

Mời các bạn  đọc bài viết của Ngô Minh về nhà thơ Tạ Vũ, em kết nghĩa của nhà thơ Phùng Quán

 

                         TẠ VŨ CỤNG CHÉN CÙNG TRĂNG

                                                           Ngô Minh

          Tôi gặp nhà thơ Tạ Vũ và nâng chén với anh nhiều lần. Gặp trong các đại hội nhà văn. Gặp ở Chòi ngắm sóng Phùng Quán bên hồ Tây. Gặp ở Huế. Anh Phùng Quán cũng kể cho tôi nghe nhiều ký ức thú vị về đứa em kết nghĩa Tạ Vũ… Tôi nghe nhiều nhà văn Hà Nội than phiền, Tạ Vũ sống buông thả, thiếu nền nếp. Nhưng với tôi anh là một thi sĩ đích thực từ trong máu thịt. Sống hết hết lòng với cuộc đời, với thơ. Tôi rất kính trọng chất lãng tử, ngất ngưỡng trực cảm ấy. Xin kể vài kỷ niệm về anh nhân anh sắp lên đại lão 80. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 08.10.2014

THÔNG BÁO VỀ SÁCH THƠ BẠN THƠ 4

THÔNG BÁO VỀ SÁCH THƠ BẠN THƠ 4

THÔNG BÁO VỀ SÁCH THƠ BẠN THƠ 4
Bộ sách Thơ Bạn Thơ (Xuân/Hạ/Thu/Đông) bốn tập, đã đọc chọn/biên tập hoàn tất tập cuối cùng, Thơ Bạn Thơ 4. Dưới đây là danh sách 10 tác giả đã mất và 80 tác giả đương thời, tham gia sách TBT4. Thông báo này đăng trang 1, blog VandanBNN, kéo dài 10 ngày, để các tác giả tham gia sách, các biên tập thiện nguyện, và bạn đọc xa gần quan tâm tới bộ sách TBT, đóng góp ý kiến, thay đồi sửa chữa bài vở, hủy cộng tác, hoặc bất kỳ khiếu nại nào khác.

MỤC LỤC
Lời Thưa/ 5
A. 99 câu thơ/ 6
B. Thơ Người Thơ đã mất/ 20
1. Phùng Khắc Bắc / 21
2. Hoàng Cầm/ 23
3. Quang Dũng/ 33
4. Tú Mỡ – Hồ Trọng Hiếu / 39
5. Vĩnh Mai /  43
6. Huỳnh Văn Nghệ/ 45
7. Đào Phương/ 46
8. Bế Kiến Quốc/ 47
9/ Thái Ngọc San/ 50
10/ Lưu Quang Vũ / 54
C. Thơ Người Thơ đương thời/ 59
1. Nguyễn Nguyên Bảy/ 62
2. Dã Phong Bình/ 73
3. Trần Bương/ 76
4. Nguyễn Lâm Cẩn/ 77
5. Phan Minh Châu/ 80
  6. Đức Doanh/ 83
7/ Thạch Đà / 85
8. Ngô Bảo Đài/ 87
9. Hoàng Tấn Đạt/ 94
10/ Dương Xuân Định/ 97
11. P.N.Thường Đoan/ 99
12. Trịnh Hoài Giang/ 101
13. Nguyễn Ngọc Hạnh/ 102
14. Tôn Nữ Ngọc Hoa/ 106
15/ Nguyễn Trọng Hoan/ 110
16. Đỗ Hoàng/ 113
17. Thi Hoàng/ 116
18. Phùng Văn Khai/ 122
19. Phan Hồng Khánh/ 126
20. Đỗ Văn Khoái/ 129
21. Đỗ Trọng Khơi/ 132
22. Ngọc Khương/ 135
23. Bùi Nguyễn Trường Kiên/ 137
24. Nguyễn Ngọc Kiên/ 137
25. Văn Lạc/ 141
26. Trúc Linh Lan/ 143
27. Vũ Thúy Lan/ 149
28. Tường Linh/ 151
29. Nguyễn Đăng Luận/ 152
30. Lý Hữu Lương/ 154
31. Ma Joan/ 157
32. Nguyễn Xuân Nha/ 159
33. Thế Nhân/ 163
34. Nguyễn Anh Nông/ 165
35. Phăng Xi Păng/ 168
36. Tôn Phong/ 171
37. Diễm Phúc/ 174
38. Hồ Phi Phục/ 176
39. Hữu Phước/ 178
40. Tạ Phương/ 182
41. Trần Huy Minh Phượng/ 183
42. Võ Quê/ 186
43. Nguyễn Bắc Sơn/ 190
44. Đào Thái Sơn/ 191
45. Nguyễn Thiên Sơn/ 194
46. Nguyễn Xuân Sùng/ 198
47. Nguyễn Ngọc Tân/ 201
48. Trần Gia Thái/ 203
49. Cao Ngọc Thắng/ 207
50. Phạm Thị Phương Thảo/ 210

51. Hoàng Tháp/ 212
52. Hạ Tháp/ 214
53. Lại Đăng Thiên/ 216
54. Đăng Văn Thơm/ 219
55. Hà Diệp Thu/ 221
56. Phạm Việt Thư/ 224
57. Trần Quốc Thực/ 228
58. Đinh Thường/ 229
59. Ngàn Thương/ 230
60. Trần Văn Thuyên/ 232

61. Phạm Dạ Thủy/ 233
62. Lê Hưng Tiến/ 236
63. Từ Nguyên Tĩnh/ 239
64. Dạ Tịnh/ 244
65. Lê Quang Trạng/ 246
66. Đông Trình/ 249
67. Nguyễn Ngọc Trìu/ 253
68. Hoàng Bình Trọng/ 256
69/ Huy Trụ/ 259
70. Phạm Công Trứ/ 261
71. Ngô Thế Trường/ 264
72. Nguyễn Ngọc Tư/ 267
73. Hoàng Anh Tuấn/ 271
74. Trương Công Tưởng/ 274
75. Trương Đình Tuyển/ 277
76. Nguyễn Đăng Việt/ 278
77/ Châu La Việt/ 281
78/ Huy Vọng/ 285
79/ Phan Vũ / 287
 
Trong đó có 23 tác giả Ngô Minh chọn : Phùng Khắc Bắc, Hoàng Cầm, Quang Dũng, Vĩnh mai, Đào Phương, Thái Ngọc San, Đức Doanh, Nguyễn Ngọc Hạnh, Tôn Nữ Ngọc Hoa, Phan Hồng Khánh, Đỗ Văn Khoái, Tôn Phong, Hồ Phi Phục, Võ Quê, Hạ Tháp, Lại Đăng Thiện, Phạm Việt Thư, Phạm Dạ THủy, Lê Hưng Tiến, Trương Đình Tuyển, Huy Trụ, Hoàng Bình Trọng, Nguyễn Đăng Việt
 
Mọi liên lạc xin gọi trực tiếp nnb: 0989722051 
hoặc email: nguyennguyenbay@gmail.com
vandanbnn kính báo

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 08.10.2014

Giai thoại về Stalin

 

Giai thoại về Stalin

  •   Borev

Lời người dịch: Giới đại học Việt Nam nhiều người biết ông Borev , tác giả cuốn Mĩ học (Bản dịch tiếng Việt của Hoàng Xuân Nhị), nhưng không mấy ai biết ông này từng bỏ 20 năm trời để sưu tầm tiếu lâm về Stalin. Năm 1990, ông cho xuất bản cuốn sách dày tại Nxb “Nhà văn xô viết” (lúc ấy Liên Xô chưa đổ), có nhan đềlà : “Stalin truyền kì” (Борев Ю.Б.-Сталиниада – Москва: Советский писатель, 1990 – с.408)…

La Khắc Hòa dịch

1.

- Cả một trung đội canh giữ ai thế kia?

- Canh người đàn bà ở Gori

- Bà ấy phạm tội gì?

- Tội sinh ra một người nổi tiếng từng làm nhiều điều ác với dân chúng

- Thế thì sao phải canh bà ấy?

- Để đừng đẻ ra thêm một tên khác như thế nữa!

2.

Stalin đến thăm Lenin đang nghỉ dưỡng trên núi

- Này anh bạn, tôi ốm quá, chắc chết mất thôi.

- Thế thì trao chính quyền lại cho tôi.

- Tôi sợ nhân dân không theo anh

- Một phần nhân dân sẽ theo tôi, ai không đi theo tôi, sẽ theo anh thôi!

3.

Stalin hỏi Radek:

- Cậu sáng tác tiếu lâm đấy à?

- Vâng, tôi sáng tác đấy.

- Kể tôi nghe một tiếu lâm thật ngắn xem nào.

- Đây ạ: Stalin là Tổng bí thư.

4.

Dự án xây tượng đài Pushkin nhân một trăm năm ngày mất. Giải Ba – Pushkin đọc trước tác của Stalin.  Giải Nhì – Stalin đọc trước tác của Pushkin. Giải nhất – Stalin đọc trước tác của Stalin.

5.

Stalin: – Này, đồng chí Pushkin, nói thật xem, đồng chí cần gì nào? Cái gì chúng tôi cũng điều phối được. Có lẽ, bút lông ngỗng chăng? Giấy à? Hay điều kiện xuất bản? Cái gì cũng sẽ làm được.

Pushkin: – Cảm ơn đồng chí Stalin, tôi có đủ rồi. Chỉ cần kiểm duyệt đừng quấy rầy tôi thôi.

Stalin: – Tôi sẽ là cán bộ kiểm duyệt của đồng chí.

Pushkin: – Tuyệt quá. Một trăm năm trước tôi đã có kinh nghiệm giống thế rồi. Lấy cảm hứng từ cuộc gặp này, tôi đi sáng tác đây.

Stalin: – Thế thì đi nhé, đồng chí Pushkin, đồng chí cứ làm việc đi. Chúc đồng chí gặt nhiều thành công trong sáng tạo.

Pushkin đi ra. Stalin liền quay điện thoại: – A lô! Đồng chí Beria đấy à? Báo ngay cho đồng chí Dantes: đồng chí Pushkin vừa ra khỏi văn phòng của tôi đấy nhé.

6.

Stalin gọi phôn Cho Beria:

- Này, Lavrenti, cái tẩu mất mất rồi. Một vụ phá hoại đấy. Điều tra ngay đi nhé.

- Sẽ làm ngay, thưa đồng chí Stalin.

Một tuần sau.

- Thưa đồng chí Stalin, xin phép được báo cáo, đã tiến hành điều tra vụ mất tẩu hút thuốc của đồng chí.  Đã phát hiện một vụ âm mưu lật đổ. Bắt 400 người. 389 người đã khai nhận tham gia hoạt động phá hoại, đã định tôi và xửa bắn hết rồi.

- Lavrenti, đừng hấp tấp thế. Tôi tìm thấy tẩu hút thuốc rồi.

( Nguồn : VHNA)

 

 

GS Nguyễn Khắc Khai (hhải)

Tiếp quản Thủ Đô 10-10-1954 và lời hứa của Hồ Chí Minh.

Nguyễn Khắc Mai.

Sau khi có Hiệp Định Geneve, tháng bảy năm 1954, từ Việt Bắc Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bức thư gởi đồng bào, mục đích là để chuẩn bị tinh thần cho đồng bào, để tuyên truyền về những chính sách của Việt Minh (HCM Toàn tập-NXB ST 1987.T7 tr4).

Trong bức thư ấy có câu: ”Chúng ta phải ra sức thực hiện những cải cách xã hội, để nâng cao đời sống của nhân dân, thực hiện dân chủ thật sự.” (mấy chữ thực hiện dân chủ thật sự trong sách còn được in nghiêng!)

Trước hết, nói cuộc cải cách ruộng đất long trời lỡ đất. Gần đây chúng ta thấy tái hiện cuộc cải cách này qua một cuộc triễn lãm nửa vời và rồi phải nhanh chóng đóng cửa. Quả thật cuộc cải cách này rất long trời, vì nó đã đạt được những kết quả như sau: Hai triệu hộ nông dân miền Bắc đã được chia ruộng, tưởng như là đã thực hiện xong khẩu hiệu cách mạng “người cày có ruộng”. Mặc dù năm 1958 tại một cuộc chỉnh huấn giáo dục toàn miền bắc, Hồ Chí Minh gọi một hiệu trưởng ở hội nghị hỏi : Xã chú đã CCRĐ chưa – Thưa đã – Thế thì trong xã có mấy địa chủ, có mấy nông dân – Thưa, xã có 9 địa chủ và 8 ngàn nông dân. Cụ Hồ liền kết luận: Trước đây ruộng đất thuộc về 9 tư hữu. Bây giờ là của 8 ngàn tư hữu.Thế thì có phải là cộng sản không? (HCM toàn tập.XBST 1987 t.7, tr497). Tuy nhiên nông dân chỉ được sở hữu chỉ trong mấy năm. Từ 1959, khi xóa bỏ HP 1946, rồi đến HP 1980, nhà nước đã “quốc hữu hóa” ruộng đất. Người ta cho rằng nông dân được cấp đất một lần, nhưng lại hai lần bị tước đoạt “quyền có ruộng” .Sau đó đã có những cuộc cải cách gì, đời sống nhân dân được nâng cao ra sao và dân chủ có thật sự hay không.

Về kinh tế, cuộc cải cách này đã xóa bỏ đi lực lượng sản xuất nông nghiệp giỏi nhất lúc bấy giờ, từ trung nông cho đên phú nông, địa chủ. Nó tạo ra khủng hoảng nông nghiệp triền miên và chỉ tạm chấm dứt sau này khi khoán hộ vào cuối thập niên 80, đến mức nó đã tạo ra nạn đói và cả nước phải cắp rá đi xin từ bột mì, bo bo cho đến cả rau muống khô.

Như thế cuộc cải cách này không đạt được mục đích “nâng cao đời sống” như HCM đã hứa hẹn.

Còn về di họa của “dân chủ”, của xã hội, thì một trạng thái xã hội của “luật rừng” tùy tiện, đã tạo nên nếp gấp trong não trạng cầm quyền ở VN. Một nền tư pháp hậu cải cách ruộng đất đến nay vẫn hoang sơ, sự vô thiên, vô pháp vẫn còn ngự trị. Khác trước là luật pháp trong tay “Đội” cho nên nhất đội nhì trời. Bây giờ luật vẫn là trong tay “nhà nước” – kẻ cầm quyền, chứ chưa phải là luật đã thật sự dân chủ như HCM hứa hẹn!

Về văn hóa và đạo đức xã hội thì cuộc cải cách này đã để lại vết thương, nhìn bề ngoài tưởng như sẹo đã liền. Thật sự những di chứng và chấn thương xã hội thì còn kéo dài.

Cuộc cải cách thứ hai, mà khi còn sống cụ đã lãnh đạo và tiến hành cũng “to lớn, vĩ đại” là cuộc Cải tạo công thương để thực hiện công tư hợp doanh, xóa bỏ bóc lột tư bản chủ nghĩa, nhằm “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Chủ nghĩa xã hội”. Cuộc cải cách này còn tiếp diễn sau khi cụ đã mất vào những năm cuối thập kỷ 70 ở vùng các đô thị miền Nam. Cả cuộc sống và cả dân chủ đều không đạt. Người ta đã đập tan lực lượng những người có vốn, biết và giỏi giữ vốn và phát triển vốn. Cái vốn lớn của dân tộc là cái gen kinh doanh bị vùi dập không chút thương tiếc. Đội ngũ công thương gia ở miền Nam đã từng tạo ra bạn hàng quốc tế. Ngày nay ta gọi là đối tác, bị phá vỡ. Nay đang vất vả khôn cùng để tái lập! Cái lực lượng quý báu để giữ đồng vốn (tư bản), để phát triển vốn, kiếm tìm bạn hàng để làm ăn buôn bán, hình thành và xây dựng năng lực kinh doanh… của dân tộc đã bị “đập tan” không chút xót xa. Thời kỳ tiến hành cải cách kinh tế để tiến nhanh, tiến mạnh lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện quốc doanh hóa triệt đễ, khiến đã làm tiêu hao vốn của nhà nước, năng lực kinh doanh của xã hội tiêu mòn, mà trình độ sản xuất luôn lạc hậu. Đến nỗi ngày nay khi hợp tác với Hàn Quốc thì chiếc đinh ốc quy chuẩn dẫu có làm ra được nhưng giá thành quá cao nên cũng thành vô tích sự. Để đỗ lỗi cho “cải cách“ như thế, giới “trí thức” của nhà nước đã tìm được một khái niệm để đánh tráo, gọi là cơ chế bao cấp! Mọi chuyện hư hỏng đổ cho thằng bao cấp thế là yên chuyện. Sau một thời kỳ khủng hoảng kéo dài khiến hàng hóa tiêu dùng không có, xuất khẩu ỳ ạch,ngân sách thu không đủ chi… đã buộc phải “đổi mới”, nghĩa là im lặng thừa nhận sự thất bại của cải cách. ”Đổi mới”, nói cho có văn vẻ, thực chất là trở lại với những cái cũ mà hợp lý có ích, có lợi.

Nhiều cuộc cải cách ở tầm quốc gia như cải cách hành chính, cải cách giáo dục cũng được tiến hành không đến nơi đến chốn. Như cải cách hành chính chỉ làm nửa vời, dừng lại ở cái gọi là cải cách thủ tục hành chính.Nên mấy chục năm nền hành chính vẫn là “hành dân là chính”, tham nhũng tràn lan không cách gì ngăn ngừa được. Cải cách giáo dục thì cuộc trước thất bại, cuộc này không dám dùng chữ cải cách nữa, mà phải gọi là đổi mới toàn diện, triệt để, hệ thống…

Trong câu nói của cụ Hồ có ba nội dung đi với nhau – Một là cải cách – Hai là đời sống – Ba là dân chủ thật sự. Cải cách không đúng nghĩa, đúng tầm, không có tư duy chiến lược,mà chỉ có những tư tưởng giáo điều biệt phái đã lỗi thời, không có con người tâm huyết,không có phương thức dân chủ,không phù hợp tiến trình thời đại, sẽ chỉ là sự “bôi bác”, mà như Các Mác từng dùng một thành ngữ la tinh để chỉ: cacatum non es pictum (cái bôi bác thì không phải bức tranh).

Cụ Hồ nói khá hay, trong câu kêu gọi trên – Phải cải cách – Phải nâng cao đời sống (vật chất, văn hóa, tinh thần, đạo đức, lối sống, quyền dân, quyền con người…) – Phải dân chủ thật sự. Nhưng sáu mươi năm cho ta kết luận rằng nếu không có thể chế chính trị, kinh tế hợp lý, văn minh, tiến bộ, và dân chủ, không thể thực hiện mà không bôi bác cái công thức của cụ Hồ ,cả lời hứa của cụ với đồng bào Thủ đô 60 năm trước.

N.K.M.

Nguồn : BVN

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 07.10.2014

THANH THIÊN BẠCH NHẬT RÕ RÀNG CHO COI

THANH THIÊN BẠCH NHẬT RÕ RÀNG CHO COI

Tương Lai

QTXM – Cách đây nhiều năm, nhà báo Thanh Tùng gửi cho QTXM bài viết này. Một bài viết khá hay sau vụ việc ông quan to nhất tỉnh Thừa Thiên Huế bị cô tiếp viên nhà hàng giáng cho cát tát trước “ba quân thiên hạ”. Rất tiếc là thời điểm đó bài viết đã không được đăng trên tờ Tiền phong.Nay xin đăng lại để bạn đọc cùng tham khảo và chia sẻ vì nó không bao giờ cũ.

Liên tục ba tờ báo đưa tin khiến người đọc không sao kìm được sự phẫn nộ. Cô tiếp viên ở một cửa hàng nọ đã dạy cho “ông quan to nhất tỉnh”* bài học đích đáng bằng một cái tát như trời giáng vào má trái giữa “thanh thiên bạch nhật rõ ràng cho coi” ngay trước mắt của tất cả mọi người, trong đó có nhiều cô giáo đến liên hoan nhân ngày kỷ niệm 20.10. (Đọc tiếp…)

Mối tình Xuân Diệu (1916-1985) & Bạch Diệp(1929-2013) [qua di cảo thơ]

  •   Phạm Trọng Chánh

 Nữ đạo diễn Bạch Diệp vừa qua đời ngày 17-6-2013 sau một thời gian dài trị liệu bệnh ung thư, bà hưởng thọ 85 tuổi, là một nữđạo diễn thế hệ đầu tiên Việt Nam với phim đầu tiên Trần Quốc Toản ra quân và hai phim truyện Ngày lễ thánh và Huyền  thoại mẹ do diễn viên danh tiếng Trà Giang đóng vai chính đều được giải thưởng Bông Sen Bạc. Bà còn là dạo diễn nhiều phim nổi tiếng  khác như Người về đồng cói, Câu chuyện làng dừa, Người chưa biết nói, Ai giận ai thương.. bà có tên trong Bách Khoa Toàn Thư Điện Ảnh Liên Xô và  năm 2008 kỷ niệm 55 ngày Điện Ảnh Việt Nam bà là một trong 11 nghệ sĩ điện ảnh đương đại được tôn vinh.

Nhưng bà được mọi người biết đến hơn nữa vì bà là người thơ, là vợ của « Hoàng Tử Thi Ca Việt Nam » mối tình duy nhất có cưới hỏi nhưng chỉ được sáu tháng, hai người chia tay, để lại cho Xuân Diệu những bài thơ, bi thương, cay đắng, đau khổ vô cùng.

 

Những năm gần đây bà có tiết lộ trên báo chí những nguyên nhân đổ vỡ của mối tình ấy và sau đó có những bài báo xúc phạm nặng nề đến danh dự nhà thơ Xuân Diệu và cả nhà thơ Huy Cận. Là người được nhà thơ Xuân Diệu ký thác di cảo tâm sự, tôi chờ đợi đến ngày bà Bạch Diệp qua đời 33 năm sau ngày Xuân Diệu qua đời, để mở lại những trang thơ di cảo Xuân Diệu. Xuân Diệu nói gì về mối tình mình, những trang thơ di cảo của ông là một lời biện minh sáng tỏ. Điều gì màông cho rằng như :  chiếc dao cắm giữa lòng, ai cắm chiếc dao giữa lòng ông ?. Điều gì màông cho rằng : người màông yêu thương nhất lại là kẻ tàn sát nhất, không nới tay như cầm gươm sắt, chẳng mũi lòng khi nghe tiếng khóc của ta ? Những bài thơ nào đã phản bác lại lời kể bà Bạch Diệp ?

Ai là người sinh ra trên cõi đời, được toàn vẹn, đạo hạnh, không tội lỗi hãy ném viên đá đầu tiên ?   Nhà thơ để lại cho đời những áng thơ tuyệt tác, chúng ta yêu thơ, chúng ta bàn về tác phẩm bằng trí não, bằng thi hứng, bằng sáng tạo nhà thơđã để lại cho đời . Chúng ta biết ơn nhà thơđã để lại cho đời những bài thơ tuyệt tác. Xuân Diệu là một nhà thơ lớn, sáng tác riêng về thơ tình 600 bài  ông bao trùm mọi góc cạnh của tình yêu, tùy theo sở thích mỗi người : người đang nhớ nhung cóthể thấy lòng mình những bài thơ tuyệt tác về tương tư, người đang xa cách có thể thấy hàng chục bài thơ nói về xa cách, người yêu âm nhạc có thể thấy Xuân Diệu là một nhạc sĩ  đầy rung cảm, người yêu hoa có thể thấy thơ Xuân Diệu đầy sắc màu của hoa… Chớ nên như người mù sờ voi,  chỉ có chủ tâm sờđuôi voi  , hí hửng khi sờ vào cái « đuôi voi », thậm chí sờ vào phân voi.. xem  như một khám phá mới.

Nếu Thúy Kiều từ những ngày còn thơ, đã phổ vào đời mình Cung đàn bạc mệnh, thì Xuân Diệu từ những ngày còn thơđã phổ vào đời mình Vần thơ ly biệt : Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt, khu vườn xưa nay đoạn tuyệt dấu hài. Hay Hoa nở để mà tàn. Trăng tròn để mà khuyết, Bèo hợp để chia tan. Người gần để ly biệt. Lạ lùng thay Xuân Diệu chưa yêu đã nói đến biệt ly như một định mệnh, để rồi bao nhiêu người yêu như mây như gió thoáng qua đời mình rồi cũng ly biệt.

Ai là giai nhân ? : « Mê nàng bao nhiêu người làm thơ », các chàng thư sinh thi sĩ một thời phải « đứng ngẩn trông vời áo tiểu thơ ».« Em là gái bên song cửa, anh là mây bốn phương trời, anh theo cánh gió chơi vơi, em vẫn ngồi bên nhung lụa ».và nhiều bài thơ khác mang sắc màu hoa cúc… Giai nhân  được tả bằng những câu thơđẹp nhất thế kỷ : «  Vằng vặc muôn thu nét tuyệt vời . » Tôi có thời gian ở hơn 10 năm bên Công Viên Montsouris Paris, cạnh nhà bà,  là người sưu tập tác phẩm bà và có chân trong Hội bạn nhàđiêu khắc và tôi đã từng có dịp đưa các thi nhân từ trong nước sang thăm lại người xưa, người ấy làĐiêu khắc gia Điềm Phùng Thị nhủ danh Phùng thị Cúc. Nay bà còn để lại một Viện Bảo Tàng Điêu Khắc tại Huế và hơn 40 tượng đài khắp nước Pháp.

Tuổi thơấu, tâm hồn Xuân Diệu bị tổn thương vì hai cuộc chia ly : Cuộc chia ly người mẹ sinh ra mình ở Bình Định để về Hà Tĩnh với bà cả, nhà thơ không yêu mến, mẹ ruột đến thăm chỉ nhìn con từ xa. Sau 1954 bà mẹ thương con vượt sông Bến Hải ra sống với Xuân Diệu bà sống đến năm 1962. Cuộc chia ly thứ hai với chị Bốn Nhữ, người bảo bọc chăm sóc nhà thơ từ thuở chào đời, khi còn bé chị phải đi xuống Dã, nhà thơ chạy theo khóc sợ chịđi lấy chồng bỏ em, sau năm 1975 nhà thơ mới trở vềđi Plây Cu thăm chị. Hai biến cố quan trọng ấy đãảnh hưởng đến tinh thần Xuân Diệu. Từđó cuộc chia ly nào  cũng để lại trong lòng nhà thơ một xúc cảm đau đớn, ngày chia tay với Xuân Diệu sau một tháng ở Paris năm 1981, tôi đã cảm nhận điều đó. Trong thư gửi tôi ông viết : Nhất Uyên ơi, XD có một sự xúc cảm lệch, mỗi tình cảm đều có thể trở thành một đau đớn cho XD. Ta nhớ nhau mãi mãi (Thư XD gửi Nhất Uyên ngày 30-9-1981)

Đạo Diễn Bạch Diệp tên thật là Nguyễn Thanh Tâm sinh năm 1929 tại Hà Nội. Lên 6 tuổi học trường Saint Dominique tại Hải Phòng. Năm 1941 gia đình dọn sang Hải Dương, tham gia Tổng Khởi nghĩa phụ trách Hội Phụ Nữ Cứu Quốc, hoạt động Tỉnh Hội và trong thường vụ Liên Khu III. Từ sau năm 1955 chuyển về làm báo Nhân Dân. Năm 1956 Tổng Biên Tập Hoàng Tùng mai mối bà cùng nhà thơ Xuân Diệu lúc đó bà 27 tuổi và Xuân Diệu đã 40 tuổi. Tháng 4 năm 1958 hai người kết hôn tại cơ quan, nhà văn Đặng Thái Mai,  Viện Trưởng Viện Văn Học làm chủ hôn, nhưng vì lý do nào đó lại không làm giấy tờ.. Tháng 10-1958 bà Bạch Diệp dứt khoát chia tay Xuân Diệu về lại nhà cha mẹ. Hai người cùng khóc .

Năm 1958 bà học khóa  Đạo Diễn do Bộ Văn Hóa Thông Tin dưới sự hướng dẫn của chuyên gia Liên Xô tốt nghiệp năm 1963, bà về làm hãng Phim Truyện Việt Nam. Tác phẩm đầu tay Trần Quyốc Toản ra quân được giải Bông Sen Bạc, trong Liên Hoan phim Việt Nam. Bà thực hiện nhiều phim giá trị.

Năm 1975 bà kết hôn cùng ông Nguyễn Đức Tường, nhưng không con cái, 15 năm sau ông mất.

Bà về hưu năm 1992, năm 1997 được phong danh hiệu Nghệ sĩ Nhân Dân.

Có nhiều nguyên nhân gây nên sự đỗ vỡ cho tình yêu, Xuân Diệu  sống cùng mẹ tầng dưới, nhà thơ Huy Cận sống tầng trên, vợ là Xuân Như em cùng mẹ khác cha Xuân Diệu.  Bạch Diệp là một phụ nữ bản lãnh, những người làm việc cùng đạo diễn Bạch Diệp, đều công nhận bà là người thích sự hoàn hảo, bà thích chủ động trong phim trườngđiều khiển bao nhiêu diễn viên, nhân viên,  sáng tạo và thực hiện kịch bản, bà khắc khe trong công việc làm cho hoàn hảo, cũng như trong đời sống, Xuân Diệu tìm đến một người yêu là một nàng thơ dịu dàng, cho ông một nguồn thi hứng, hai người gặp nhau : hai bản lĩnh khác nhau,  đến trong cái không khí chật chội  thời Hà Nội  thiếu thốn sau chiến tranh, Bạch Diệp đến trong gia đình ở chung với bà mẹ Xuân Diệu, không có một không gian riêng cho đôi tình nhân,  một tình bạn đã hiện diện giữa Xuân Diệu và Huy Cận, cả hai gia đình đều đỗ vỡ.  Đằng sau một nhà văn lớn, cần thiết một phụ nữđảm đương tất cả mọi công việc, hiểu chồng và hiểu mọi công việc của chồng chia sẽ cùng chồng trong niềm vui sáng tạo.  Xuân Diệu không có cái may mắn của Giáo Sư Hoàng Xuân Hãn, tôi có những dịp hè về dã thự Cam Tuyền, sống bên cạnh gia đình Bác Hãn, càng kính phục Bác Hãn bao nhiêu thì càng kính phục Bác gái bấy nhiêu, bác gái  là một dược sĩ Tây học đầu tiên của Việt Nam, bác đảm đang mọi việc từ sinh sống gia đình, bếp núc, miếng ăn giấc ngủ cho chồng  đến từng trang bản thảo của chồng bác quí hơn cả vàng, cả chuyện đất nước  nhà thuốc Tây của bác gái tại Hà Nội,  là nơi cung cấp thuốc men cho kháng chiến. Suốt đời ở Paris  bác  Hãn cũng dành hết thì giờ làm công việc nghiên cứu di sản văn học Hán Nôm Việt Nam..  Bác gái  hiểu chồng, khi chồng đầu tư cả công sức vào việc trí tuệ , nghiên cứu, những hoạt động tình dục có phần giảm sút.. Với  Xuân Diệu chúng ta không nên bàn đến chuyện riêng tư cá nhân, mà chỉ nên nói đến thi ca. Bạch Diệp không phải là người sinh ra để làm nàng thơ, mà để trở thành đạo diễn đểđiều khiển những « nàng thơ »  như nghệ sĩưu tú Trà Giang trong tác phẩm của mình.

Bạch Diệp đã để lạicho Xuân Diệu một nguồn cảm hứng vô tận. Năm 2011 tôi có gửi tặng bà quyển Tự Điển Tình yêu Xuân Diệu, qua đạo diễn Lê Hồng Chương, Giám Đốc  Trung Tâm Văn Hóa Việt Nam tại Paris,  có lẽ là những ngày cuối đời bà đã đọc được toàn bộ những bài thơ Xuân Diệu viết cho bà, những bài thơ hạnh phúc  và những bài thơ cay đắng. : Mai sau dù có bao giờ , em ngồi đọc lại chùm thơ đắng này. Có ai trên trái dất này, Yêu em sâu thẳm như ngày anh yêu. Sau cuộc tình Xuân Diệu nhớ lại chuyện cũ và làm thơ tình, hàng trăm bài thơ tình Xuân Diệu viết cho Bạch Diệp trong di cảo thơ Xuân Diệu. Chúng ta hãy đọc  vài  bài thơ tình Xuân Diệu viết cho Bạch Diệp :

THƯƠNG MẾN ĐẦU TIÊN

Đêm thanh trời đất lắng nghiêng tai

Em khẽ bên anh nói một lời.

« Em mấy đêm rồi không ngủ được

Bởi vì em nghĩ đến anh thôi. »

 

Tình yêu là buổi tiệc muôn ngon

Là suối trong xanh tắm mát hồn

Là gió trên buồm căng phất phới,

Là mây thương mến ấp đầu non.

 

Nhưng xa hơn cả mọi chân trời

Hạnh phúc đưa ta đến tuyệt vời,

Là lúc trời tình chao sát cánh

Hồn ta như thể én bay đôi.

 

Em ơi !  đẹp nhất khi con suối

Mới phát nguyên ra được nửa vời,

Thương mến đầu tiên em chẳng ngủ

Cũng vì em nghĩđến anh thôi.

 

 HÃY CÒN CHƯA GIẢI HẾT THƯƠNG YÊU

Hãy còn chưa giải hết thương yêu

Còn để trong tim thương mến nhiều!

Thư gửi đã không mang nhớ nỗi,

Lúc gần chẳng nói được bao nhiêu.

 

Lắm lúc xa em bỗng giật mình,

Tháng ngày như ngoạm tuổi xuân xanh,

Biết bao sự sống em tung tỏa,

Cho gió mây mà chẳng có anh.

 

Thu đến như hao lá bớt dày,

Nắng vàng thôi lại gió heo may

Rét vang sang gió mùa đông bắc,

Anh xót thương em tự bấy chày.

 

Muốn nói yêu em đến ruột rà,

Nói sao cho đủ , xót đôi ta,

Đời còn ai kẻ thương anh đó,

Chỉ có em mà em lại xa.

Bài thơ Anh đi công tác tả cảnh Xuân Diệu đi công tác một tuần xa, dặn dò Bạch Diệp ở nhà với bà má Xuân Diệu, năm đó Bạch Diệp học trường Điện Ảnh tại Hà Nội do chuyên gia Liên Xô dạy:

ANH ĐI CÔNG TÁC

Anh đi công tác một tuần xa,

Anh dặn em khi trở lại nhà.

Chớ thấy vắng anh mà ủ dột,

Phòng chung đừng thấy rộng thêm ra;

 

Em hãy cùng ăn cơm với má,

Hãy ra vườn  thăm cây dạ hương,

Cây ấy đợt này hoa lại nở,

Anh đã nhờ nói hộ tình thương.

 

Sách đặt trên bàn em mở xem,

Mắt anh đêm vẫn đậu bên đèn,

Đèn bàn khi bật lên em thấy

Anh nhớ em ngồi viết ban đêm…

 

Áo anh còn đứt mấy khuy, xin

Em nhẹ nhàng tay đính hộ giùm.

Thứ bảy, người đưa hoa lại đến,

Cắm bình, em hãy ngắm đi em.

 

Ít thức ăn khô anh sắp sẵn,

Vào trường em hãy nhớ mang theo

Chẳng nề quá mặn hay hơi nhạt,

San sẽ cho nhau dẫu ít nhiều.

 

Suốt một tuần qua làm việc mệt,

Em về nhà, hôm nghỉ cho vui

Ra đi anh đã hôn nơi cổng

Đặng đón em yêu cả ngọt bùi.

 Thơ Xuân Diệu có rất nhiều bài thơ viết về hoa. Theo bà Bạch Diệp: “Ông giống tôi một điểm, rất thích hoa, nên trong phòng luôn luôn có hoa tươi, thường thì là hoa hồng vàng.” Ta thửđọc bài Hoa ngọc trâm bài thơ viết đêm tân hôn.

   Xuân Diệu có bốn tập di cảo Mai , Lan, Cúc, Trúc. Xuân Diệu còn  đặt tên cho tập thơ Trúc là Bức Tượng, tên một bài thơ. Xuân Diệu làm thơ như có cảm tưởng mình là một nhàđiêu khắc: Từ thuở yêu em ngay sau buổi đầu tiên. Anh đã tạc hình ảnh em trên nền trời thương nhớ.

BỨC TƯỢNG

Em đến thăm anh trên đôi dép cao su

Em đã vào nhà, mà anh còn thấy bóng em in trên trời rộng

“Khuôn mặt nhìn nghiêng dáng mũi cao

Bấy lâu trong nhớ đẹp làm sao ! “

 

Anh đã gặp em ở một bến đò

Thương nhớ bao la trên dòng sông vắng.

Phong cảnh đã vào chiều trời hiu hiu nắng

Cây đôi bờ đứng lặng, nặng hồn xa..

 

Anh đã gặp em ở chân ngọn núi xanh

Núi sẫm biếc như mùa thu đọng lại.

Trong thung lũng hoang sơ, ngô lay cờ  – rộng rãi.

Phấn ngô còn đượm mãi hồn ta.

 

Anh đã gặp em bên bờ biển sóng xao

Phi lao rì rào hồn trao cho gió.

Bờ cát mịn dạt dào sóng vỗ

Niềm ân tình vạn thuở chẳng hề vơi.

 

Anh đã gặp em dưới một trời sao

Và đôi mắt em in vào vũ trụ.

Anh ngợp giữa muôn vàn tinh tú.

Đêm mơ màng thơm hương áo của em.

 

Từ lúc yêu em ngay sau buổi đầu tiên

Anh về đã tạc hình ảnh em trên nền trời thương nhớ.

Ở đâu có nhớ thương, anh đã đặt tượng em vào đó

Nên bây giờ anh nhớ đã gặp em.

 

Em đến thăm anh trên đôi dép cao su

Em đã vào nhà, mà anh còn thấy bóng em in trên trời rộng,

In giữa đêm trường, in vào giấc mộng;

Vì thế mà anh lồng lộng yêu em.

Bài thơ Đổi trao,  đặt cho ta  nghi vấn về những tiết lộ bà Bạch Diệp, không có chuyện gì xảy ra  trong 6 tháng sống chung giữa hai người.

ĐổI TRAO

Đêm qua mới thật là đêm

Tình như biển cả, nghĩa thêm sông dài,

Đôi ta đã hóa một người,

Bốn trời con mắt, một nơi tâm hồn.

 

Hai ta đã đổi trao hồn,

Đổi trao thân, vẫn hãy còn đổi trao

Những gì đẹp nhất thanh cao

Chứa chan bến mắt, nghẹn ngào bờ tim.

 

Tìm nhau mãi giữa bầu đêm

Ngôi sao anh với sao em mỉm cười

Đổi trao ánh mắt qua trời,

Đôi bông hoa đỏ giữa vời vô biên.

Hàng trăm bài thơ Xuân Diệu viết cho Bạch Diệp, khó mà tóm lược hết tình yêu Xuân Diệu cho Bạch Diệp trong một vài trang giấy, mỗi hành động, mỗi việc làm Bạch Diệp cho Xuân Diệu đều thành thơ. Cơm áo không đùa với khách thơ, từng trái cam, trái táo, chiếc kẹo, cái bánh, con cá, bữa ăn, cái quạt, cái áo, cái chén.. bao nhiêu cánh hoa người yêu tặng cũng thành thơ. Chỉ một mục Tình Hoa thôi, Xuân Diệu viết đến 18 bài thơ về hoa tặng người yêu và người yêu tặng..  Xuân Diệu là người tinh tế đểý từng chi tiết, từng điều nhỏ nhặt, đừng tưởng Xuân Diệu ru với gió và vơ vẫn cùng mây, tách rời thực tế, mà tất cả thực tếđã thành thơ trong thơ Xuân Diệu.. Tôi sẽ trở lại trong từng đề mục.  Ngược lại với Sử thi Iliade chỉ tả cuộc chiến thành Troie trong 42 ngày nhưng  qua đó là mười năm chiến cuộc. Sáu tháng cuộc tình Xuân Diệu – Bạch Diệp trở thành đề tài thơông viết 30 năm. Tôi phải mất 3 năm để sắp xếp lại viết thành tựđiển.

Đã lâu rồi Xuân Diệu đã chết, người thi sĩ đã chết, như con chim ứa máu hót khúc ca cuối cùng, như con chim bồ nông rút ruột rút gan cho con ăn, người thi sĩ rút tinh huyết, trải lòng mình cho đời để dọn cho người đời bữa tiệc trần thế. Người thi sĩ tự hiến tế trái tim mình thành bánh cho đời, máu mình thành rượu cho đời, xin mời mọi người trong đạo ThơTìnhăn no uống cạn bữa tiệc biệt ly cuối cùng. «  Người thi sĩ đã vào làng mây khói. Ở không đâu và ở khắp mọi nơi. Như tiếng vọng trong sương sa dắng dỏi, Máu vu vơ theo giữa trái tim đời. » Và khi mỗi cặp người yêu đương đang tình tự nhau, có gió qua người làm động má thơ ngây. Và nghe như : «  Rằng có ai, người thơ ở đâu đây ?  »  Người thơở dưới trăng sao, ở bãi vắng, in dấu chân mờ trên cát trắng, người thơ trong tiếng chim, tiếng suối, giữa ngàn lau.

 Trong Di cảo Xuân Diệu  đã viết những bài thơ Di chúc để lại cho Bạch Diệp :  Khi nào em đã yêu anh : Khi ta đã ngọt bùi, đắng cay anh kể./Anh sẽ không trả thù, mà chỉ để yêu thêm.

  DI CHÚC

Tôi nhận cái này từđã lâu

Bây giờ nó tới dẫu hơi mau

Đã không tránh khỏi thì tôi tiếp

Một cách đau thương, nhưng ngẩng đầu.

 

Ai  có thích cái gìđi mãi mãi

Vô trong cái cõi chẳng mô tê

Một khi cập bến vào vô tận

Thì đến vô biên chẳng trở về.

 

Tuy vậy tôi đã sống hết mình

Suốt đời không một phút coi khinh

Tôi coi trọng nhất khi  làm việc

Họa có thua khi sống với tình.

 

Cái quả cam này đà vất hết

Hiến cho non nước, hiến đời thân

Tuy không biết đến bao giờ kiệt

Nhưng dẫu sao thì cũng phải dừng.

 

Hãy để cho tôi được giả từ

Vẩy chào cõi thực để vào hư.

Trong hơi thở chót dâng trời đất,

Cũng vẫn si tình đến ngất ngư.

EM VÀ VŨ TRỤ

Giờđây vũ trụđã nhập vào em

Em là nỗi nhớ thương vẫn tràn đầy trong nhạc,

Em là niềm êm dịu, đời đời ta khép mắt đêm

Em là hạt cườm trong cổ những con chim hót.

 

KHI EM ĐÃ YÊU ANH

Có một ngày mai đó

Khi em đã yêu anh

Anh sẽ kể hết tâm tình,

Anh sẽ kể em nghe bao khổđau anh đã trải chịu.

Anh sẽ không trả thù, mà chỉ càng cảm tạ em yêu.

Thế nào là mỗi phút của anh từ sau khi hai ta quen biết,

Thế nào là hai con mắt mở, nhớ mong chong giữa trái tim;

Em cũng chưa biết hết thế nào là em,

Em được yêu mến như thế nào ở trên trái đất,

Anh thui thủi cứ nằm gai nếm mật,

Còn em là nước sôi lửa bỏng của lòng anh.

…….

Ôi em à !

Mẹ thương con không thể lấy thước màđo,

Đã gọi là tình yêu, tất nó phải là như thế.

Khi ta đã ngọt bùi, đắng cay anh sẽ kể,

Anh sẽ không trả thù, mà chỉ để yêu thêm.

Đó là những bài thơ cuối cùng Xuân Diệu viết cho Bạch Diệp, nữ đạo diễn vừa qua đời ngày 17-6-2013. Xuân Diệu đã qua đời năm 1985, nhưng thơ ông vẫn còn trong trái tim mỗi người Việt Nam khi yêu nhau. Hỏi em từ độ yêu tôi, tình ta còn đọng thơ người trong tim./.

( Nguồn: VHNA), QTXM trích

 

 

Một người phản đối phong trào Occupy Central (trái) giằng chướng ngại vật từ tay phe biểu tình đòi dân chủ tại quận Mong Kok. Ảnh: Reuters.

TRÊN 10 TRIỆU NGƯỜI HONGKONG THAM GIA BIỂU TÌNH ĐÒI DÂN CHỦ

GẦN NHƯ TOÀN DÂN HONGKONG HƯỞNG ỨNG CÓ CẢ NHỮNG CẢNH SÁT HONGKONG BỎ NHIỆM SỞ VÀ TỪ CHỨC ĐỂ THAM GIA CÙNG VỚI ĐỒNG BÀO CỦA HỌ .Trường học, ngân hàng ở Hồng Kông đóng cửa

HONGKONG-BAODONG4

Người biểu tình đòi dân chủ tại Hồng Kông vẫn tiếp tục phong tỏa nhiều tuyến đường, giao thông bị gián đoạn trong khi trường học và ngân hàng tại khu trung tâm phải đóng cửa.

South China Morning Post dẫn nguồn từ những người tổ chức biểu tình tại Admiralty (nằm giáp quận Trung Tây về phía đông) cho biết cảnh sát yêu cầu đoàn người trả lại đường phố cho những người cần đi làm vào sáng thứ hai 29.9.

Tuy nhiên những người biểu tình từ chối, cho biết chỉ bắt đầu thương lượng khi gặp được người có thẩm quyền cao hơn. South China Morning Post cũng cho biết những người đi làm ngang qua khu vực biểu tình đã giơ tay chào và cổ cũ đoàn người biểu tình.

Tại khu Mong Kok ở Cửu Long, đoàn người biểu tình đã ngủ dậy và bắt đầu hát những ca khúc bằng tiếng Quảng Đông của nhóm nhạc rock Beyond.

Reuters cho biết một vài tiếng trước khi Hồng Kông bước vào giờ cao điểm giao thông, rất nhiều tuyến đường dẫn đến khu trung tâm tài chính vẫn bị phong tỏa, trong khi người biểu tình từ chối lời yêu cầu “rút lui” của cảnh sát.

Trong khi đó, Văn phòng Giáo dục Hồng Kông vừa thông báo các trường học tại quận Wan Chai (Loan Tử) và Trung Tây ở trung tâm Hồng Kông sẽ đóng cửa do giao thông bị gián đoạn, theo BBC.

Ủy ban tiền tệ Hồng Kông vừa ban hành kế hoạch khẩn cấp nhằm giúp thị trường tài chính tại thành phố này hoạt động thông suốt. Theo đó, đến sáng 29.9 đã có 17 ngân hàng đóng cửa 29 chi nhánh của họ thuộc những khu vực bị ảnh hưởng. Các chi nhánh sẽ bị đóng đến khi có thông báo tiếp theo, theo South China Morning Post.

Nhân viên làm việc tại các trụ sở công quyền ở khu Admiralty cũng được khuyến cáo kiểm tra tình hình giao thông, và chỉ nên đến làm nếu điều kiện cho phép, South China Morning Post đưa tin.

Sở Giao thông Hồng Kông thông báo nhiều tuyến đường tại Admiralty, Wan Chai, Causeway Bay và Mong Kok vẫn bị phong tỏa. Hơn 200 tuyến xe buýt bị ảnh hưởng, điều chỉnh hoặc gián đoạn.

Trước đó, rạng sáng 29.9, những người biểu tình đòi dân chủ ở Hồng Kông vẫn tiếp tục những cuộc biểu tình, bất chấp cảnh sát dùng hơi cay và dùi cui trấn áp họ.

Hàng ngàn người biểu tình vẫn còn bao vây quanh tòa nhà chính quyền Hồng Kông, mặc cho thủ lĩnh sinh viên, thủ lĩnh biểu tình đòi dân chủ gọi rút lui vì lo ngại cảnh sát dùng đạn cao su, theo Reuters.

Truyền thông địa phương cho biết đoàn người biểu tình lan rộng từ quận Central (quận trung tâm của Hồng Kông), sang Causeway Bay và dọc theo cảng đến Mong Kok, khiến cho chính quyền Hồng Kông khó kiềm chế người biểu tình. Ước có đến 80.000 người tham gia biểu tình.

Một số vụ ẩu đả đã xảy ra khi cảnh sát đã dùng hơi cay và dùi cui để trấn áp người biểu tình. Cảnh sát Hồng Kông bác bỏ thông tin họ bắn đạn cao su.

“Nếu hôm nay tôi không đứng lên, tôi sẽ thù hận chính bản thân mình trong tương lai”, ông Edward Yeung (55 tuổi), một tài xế taxi tham gia biểu tình dòi dân chủ, nói.

“Chúng tôi sẽ đấu tranh đến cùng… chúng tôi sẽ không bao giờ bỏ cuộc”, Peter Poon, một thanh niên trong độ tuổi 20 tham gia biểu tình, cho biết.

Một số công ty và trường học ở trung tâm Hồng Kông phải đóng cửa, một số khác kêu gọi nhân viên làm việc tại nhà. Úc và Ý ra lệnh cảnh báo công dân nước tránh xa các khu vực biểu tình.

Bắc Kinh (Trung Quốc) hồi tháng 8 đã từ chối yêu cầu được phép tự chọn đặc khu trưởng vào năm 2017 của người dân Hồng Kông và chỉ cho phép cư dân đặc khu này chọn lựa trong số các ứng viên mà Bắc Kinh đã định sẵn.

Điều này đã dẫn đến phong trào biểu tình đòi dân chủ bùng phát trên toàn Hồng Kông, được biến đến với tên Occupy Central with Love and Peace (tạm dịch Chiếm lấy khu trung tâm với Tình yêu và Hòa bình hay gọi tắt là Occupy Central). Và sinh viên, học sinh cũng tham gia biểu tình đòi dân chủ.

Đến nay cảnh sát đã bắt giữ 78 người, bao gồm Joshua Wong (17 tuổi), thủ lĩnh nhóm sinh viên biểu tình dòi dân chủ ở Hồng Kông. Wong được thả vào tối 28.9 và tuyên bố sẽ tiếp tục biểu tình, theo Reuters.

« Newer Posts - Older Posts »

Danh mục