Đăng bởi: Ngô Minh | 22.07.2013

SÁCH “QUÊ QUÁN CỦA THƠ” CỦA NGÔ MINH(4)

SÁCH “QUÊ QUÁN CỦA THƠ” (4)

NGÔ MINH

PHẦN 2: QUÊ QUÁN CỦA THƠ

CHUYỆN THẦY HÀ NHẬT LÀM THƠ

Đá sỏi trên đường (*) là tập thơ đầu tay của nhà thơ – thầy giáo Hà Nhật, khi thầy đã U80. Tại sao một nhà thơ có tiếng từ những năm 60 của thế kỷ XX, đến nay mới in tập thơ đầu tay ? Câu chuyện Hà Nhật làm thơ dài lắm. Tính từ bài thơ đầu tiên Đêm mưa Vĩ Giạ viết năm 1953 in ở đầu tập, đến bài thơ Dưới chân núi Rùa viết năm 2009 cuối sách , là 56 năm. Năm mươi sáu năm để có một tập thơ 51 bài, quả là bất quý hồ đa. Đọc Sỏi đá trên đường ta thấy thơ như sự cô đặc của tâm tình, tâm cảm. Xin lướt qua thời gian: học ở Huế: Trên đồi sim/ Ánh dương chìm/ Chiều tàn lịm/ Tàn cả trong tim / …Tiếc tình xưa tan vỡ / Như những cánh sim bay (Trên đồi sim, An Cựu, 1954). 22 tuổi, sinh viên , đang yêu ở Hà Nội năm 1958 :
Sao lại yêu cả tên đường phố
Thấy cuộc đời ai ai cũng vui
Không biết vì sao vô cớ mỉm cười
Nói chuyện với cả cầu thang gác ( Khắp nơi )
Và đây là thơ tình viết ở giữa biển Đông năm 1961, 25 tuổi :
Nếu ở cuối trời có đảo chân trân
Hay ở đảo xa có nụ hoa thần tìm ra hạnh phúc
Hay có người gái đẹp
Môi hồng như san hô
Cũng không thể khiến anh xa được em yêu

Nhưng hỡi em
Nếu có người trai chưa từng qua bão tố
Chưa từng qua thử thách gian lao
Lẽ nào có thể xứng với tình em?
( Bài thơ tình của người thủy thủ)
Còn đây là thơ lúc đã quá thất tuần, ngồi “bên em” dưới chân núi Mu Rùa ở Phú Lộc, Huế 7-2009: Anh ngồi bên em dưới chân núi Rùa / suốt cả buổi chiều/ để thấy mình không bằng được núi/ / Nghìn năm mây trắng bay trên núi Rùa / Nghìn năm múi Rùa hồn nhiên và lẳng lơ / Anh cả một đời tính toan và sợ hãi/ …

Đọc mấy khúc thơ Hà Nhật qua thời gian trong Đá sỏi trên đường, bạn đọc sẽ thấy nhà thơ ở tuổi nào cũng tài hoa, sâu sắc lắm. Hà Nhật vẫn cái nòi tình ấy, chứa chan và mới mẻ, đam mê và tinh tế. Ngoài những bài thơ nồng ấm về Mẹ , Hát mừng đất nước, Đêm Quảng Bình nghe dân ca, Thị xã Hoa hồng, thơ tặng bạn, tặng con…, đa phần thơ trong Đá sỏi trên đường đều là thơ tình như tro ủ lửa.

Thơ tình của Hà Nhật hoàn toàn khác về chất so với loại thơ tình thời tiền chiến. Thơ tình tiền chiến buồn đẫm lệ. Còn Hà Nhật thì mạnh bạo, cứng cỏi như bài Bài thơ tình của người thủy thủ: Em đừng hỏi. Vì sao anh ra đi . Cũng đừng hỏi. Chân trời xa có gì kêu gọi… Sự dấn thân của chàng trai trẻ giữa trùng khơi để chứng minh sức mạnh của tình yêu thật cao cả và hết mình. Cuối trời có đảo trân chân/ hay ở biển xa có nụ hoa thần tìm ra hạnh phúc/ Hay có người con gái đẹp môi hồng như san hô
Cũng không thể
khiến anh xa được em yêu
Yêu em như thế, nhưng anh phải ra đi vựơt biển khơi, vì nếu “ chàng trai chưa từng qua bão tố/ Chưa từng vượt qua nhiều thử thách gian lao / Lẽ nào xứng với tình em ?”. Không so sánh mà so sánh.
*
* *
Để có Sỏi đá trên đường, thầy Hà Nhật đã thực hiện một chuyến đi cả tháng trời về thăm quê, thăm lại những nơi xưa mình sống, làm thơ và dạy học như Đồng Hới, Huế, Lệ Thuỷ, Diễn Châu, Nghĩa Đàn ( Nghệ An) …Đến đâu, thầy cũng được các thế hệ học trò, người yêu thơ tiếp đón nồng nhiệt. Và điều lạ lùng là gặp bất cứ ai, từ người bạn gái già, đến học trò bây giờ quan chức, thầy cũng hỏi nhỏ:“Em còn giữ được bài thơ nào của thầy không?”. Thầy bảo, thầy làm thơ từ năm 1953, vô Huế học Trường Khải Định (Trường Quốc Học bây giờ), rồi những năm sinh viên ở Hà Nội, tính ra có đến hàng mấy trăm bài thơ, thế mà bây giờ trong tay chỉ giữ có vài chục bài. Buồn thật. Hồi đó thầy không nghĩ đến chuyện lưu thơ, in thơ thành tập. Thơ làm xong là đọc cho mọi người nghe rồi tặng người đẹp. Tặng được thơ coi như thoả lòng, không trông mong gì hơn. Hơn nữa làm thơ tình thời đó được coi là “lối sống tiểu tư sản”,v.v… nên gần như phải “làm thơ chui”, “đọc thơ chui” cho nhau nghe bên chiếu rượu. Bây giờ muốn in một tập thơ để kỷ niệm cuộc đời, phải đi cả ngàn cây số để tìm lại…Thơ Hà Nhật là thơ tình, không được phổ biến, lại là thơ không vần, thế mà ai cũng nhớ, cũng thuộc. Thơ ấy không lưu trữ trong thư viện quốc gia mà lưu trong tâm khảm người đọc .

Hà Nhật là bút danh của thầy giáo dạy văn nổi tiếng Lương Duy Cán. Ở Đồng Hới, Lệ Thuỷ có câu ngạn ngữ nói về hai thầy giáo dạy giỏi: “Văn Cán – Toán Trình”. Lứa học sinh cấp 3 Lệ Thuỷ yêu thơ khóa 1964-1968 của chúng tôi như: Lâm Thị Mỹ Dạ, Hải Kỳ, Lê Đình Ty, Ngô Minh, Trần Khởi, Nguyễn Minh Hoàng .v.v..đã được học với cả hai thầy giáo ấy. Thầy Cán dạy văn giỏi và làm thơ hay nên rất nhiều thế hệ học sinh thuộc thơ thầy. Thơ Hà Nhật khảm vào trí nhớ độc giả miền Trung bao thế hệ. Có người thuộc mấy bài, một bài, có người chỉ thuộc một khổ thơ hay ý thơ. Họ ngồi với thầy bên chén rượu, đọc lên, rồi chắp nối lại từ trí nhớ, thành bài thơ hoàn chỉnh. Nhờ đó mà thầy đã “sưu tầm” lại được thêm mấy chục bài thơ đã thất lạc. Có lẽ rất ít nhà thơ “có bảng hiệu” ở nước ta có được cái ân huệ “sưu tầm thơ mình trong công chúng” như Hà Nhật. Đó chính là sức sống lâu bền của thơ và nhà thơ trong trời đất!

Cũng có nhiều bài thơ thầy không sưu tầm được vì không gặp tri âm. Sau khi nhận được tập Sỏi đá trên đường thầy Hà Nhật gửi biếu, nhà văn già Xuân Đài từ Sài Gòn đã gọi điện réo lên với tôi :” Thằng Hà Nhật còn có mấy bài thơ hay, mình đọc từ thời ở Hà Nội năm 1958, mình còn nhớ lỏm bỏm đôi câu, mà răng không chộ trong tập ni hè ?”. Còn nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi trong bài “ Một thời viết thơ tình” kể về Hà Nhật hồi sinh viên ở Hà Nội rất chân tình : “…Chúng tôi dại dột rủ nhau in chung một tập thơ tình ở một nhà xuất bản tư nhân có tên là “Tre xanh” do ông Nguyễn Hoàng Quân chủ trương. Tập thơ mỏng dính, gần hai chục bài. Nâng niu tập thơ trên tay, tôi mừng khôn xiết nhưng sau đó cảm giác xấu hổ không xóa đi được vì thấy thơ bạn tài hoa, bay bướm hơn thơ mình, mình không đáng đứng cạnh !” . Trong bài viết, nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi cũng dẫn từ trí nhớ nhiều đoạn thơ của Hà Nhật mà mình thuộc lúc còn là sinh viên, như : Lúc bấy giờ em đọc lại thơ anh / Em hỏi bâng khuâng: / Có phải chăng mình / Chính là người trong thơ ca ngợi / Người trong thơ đến giờ vẫn chỉ là hai mươi tuổi / Và đến giờ nhan sắc vẫn chưa phai ..( Trong thơ anh); hay : …muốn dùng thư thay lời / thư nào cho hết nổi/ Khi những ngày xa xôi / Cứ thay nhau tiếp nối…( Khó nói ).v.v… Nhưng tiếc là những bài thơ đó không có trong Sỏi đá trên đường, vì khi Hà Nhật quyết định in thơ, Xuân Đài không hay biết, còn bạn thơ tri kỷ Nguyễn Bùi Vợi đã qua đời mấy năm rồi .

Thơ Hà Nhật bị thất tán nhiều cũng do thi sĩ rất thích xê dịch, tính lãng tử. Ai rủ đi là đi ngay. Đi thâu đêm thâu ngày. Có chén rượu , có người đẹp thì đọc thơ suốt đêm. Vì thích lãng du, thích xê dịch, nên sau năm 1972, một nửa Quảng Trị được giải phóng, Hà Nhật đạp xe ngay vào Đông Hà, rồi cùng ông bạn thơ đồng niên Hoàng Phủ Ngọc Tường ngao du mấy ngày đêm miên man trên đất Quảng Trị còn nóng bỏng lửa bom. Hai người đi thắp nhang cho các ngôi mộ họ Hoàng ở xã Triệu Ái nắng nung bốc lửa, rồi dắt nhau vào các làng quê mới được giải phóng thăm bà con. Có bữa suýt đói meo vì “bệnh sĩ”. Bà con hỏi ăn chưa để nấu cơm, thì bảo “ăn rồi”. May mà bà con Quảng Trị chân chất cứ nấu và “ép” hai nhà thơ ăn cho bằng được! Bởi thế mà chuyến đi “tìm thơ”, gặp lại Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hà Nhật đã có thơ tặng bạn rưng rưng: Hãy cạn ly đi Tường ơi / Không uống được vào môi / Thì nhấp bằng mắt vậy / Để ta nhớ một thời sôi nổi / Ngang dọc hai ta một dải đất gió Lào (“Uống rượu với Tường”).

Sau 30-4- 1975, máu lãng du lại thôi thúc Hà Nhật tìm về phương Nam Chuyến “Hành phương Nam” ấy thầy về dạy học ở Phan Rang, Phan Thiết một thời gian, may gặp cô giáo trẻ Thanh Phương mới có bến để neo đậu lòng mình. Rồi chị dắt anh vào Sài Gòn làm giảng viên Trường Cao đẳng Sư phạm. Dạy học kiếm sống, nhưng cuộc đời thầy luôn luôn gắn với thơ. Thầy viết sách bình giảng thơ cho Nhà xuất bản Giáo dục, làm người bình thơ cho chương trình văn nghệ của Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh,…

Nhưng thôi . 51 bài trong Đá sỏi dọc đường cũng đáng “đồng tiền bát gạo”rồi. Còn những câu thơ của Hà Nhật không sưu tầm được, nó vẫn ở đâu đó trong lòng bạn đọc với thương hiệu sống mãi: Hà – Nhật- Thơ.
*
* *
Những năm 60 của thế kỷ trước, thơ không vần ở nước ta mới chỉ là những sáng tác thể nghiệm của một vài tác giả chốn thị thành. Ngay ở Hà Nội, nhà thơ có thế lực Nguyễn Đình Thi làm thơ không vần cũng bị phản đối quyết liệt. Theo thi sĩ Hoàng Cầm trong hồi ức“Nguyễn Đình Thi trong tôi- Nguyễn Đình Thi ngoài tôi”: “Một sáng đầu năm 1956, anh Thi đến Nhà xuất bản Văn nghệ đưa cho tôi đọc tập thơ Người chiến sĩ tập hợp những bài anh sáng tác từ những ngày tháng đầu tiên của cuộc kháng chiến, và anh Thi yêu cầu tôi cho ấn hành ngay, càng sớm càng tốt. Tôi đọc xong, rất thú vị vì vẫn còn nguyên những bài thơ thể tự do mà lúc bấy giờ các anh Lê Đạt, Nguyễn Đình Thi đặt thành một luận đề để tranh luận là thơ không vần rồi hứng lấy thất bại. Bấy giờ (1956) mà in được những bài thơ cách tân ấy thì thật có lợi cho phong trào thơ và chỉ ít lâu nữa là có thể sánh vai bình đẳng với nền thơ các nước phương Tây”. Nhưng sau đó do sức ép của “cấp trên”, nhà văn Nguyễn Đình Thi phải xin lại bản thảo, sửa chữa tập thơ Người chiến sĩ thành những bài thơ theo vần truyền thống, rồi đưa lại của Nhà xuất bản. Thế là Hoàng Cầm, lúc đó là Phó giám đốc Nhà xuất bản Văn nghệ quyết định: “một là in bản ban đầu ( thơ tự do), nếu anh Thi không chịu, thì không in nữa “.

Đó là ở Hà Nội thủ đô. Còn ở các tỉnh lẻ được xem là vương quốc của bảo thủ trong thơ. Những năm 1958 – 1975, nhà thơ Xuân Hoàng phụ trách Hội Văn nghệ Quảng Bình, ai muốn in thơ phải viết có vần mới được in Tạp chí của Hội. Ấy thế mà những bài thơ không vần của Hà Nhật viết ở Đồng Hới, nơi “tỉnh lẻ của tỉnh lẻ”, lại nhuần nhuyễn, lung linh như những viên ngọc, ai cũng thích. Mới hay, thơ phải từ trái tim đến với trái tim . Miền quê nghèo khó đầy gió cát Quảng Bình đã sinh ra những nhà thơ trứ danh Thơ Mới, cả hiện đại và siêu thực như Hàn Mạc Tử, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Xuân Sanh … từng một thời đi tiên phong trong làng thơ Việt Nam.

Thơ Hà Nhật ý tứ sâu sắc, ngôn ngữ mới mẻ, nên có ảnh hưởng đến nhiều thế hệ thơ trẻ. Hà Nhật lãng đãng thơ, lãng đãng em, không hề biết làm thơ phải lưu giữ để in thành tập, một tập rồi hai tập, để xin vào Hội Nhà văn Việt Nam, để đi họp, đi hội thảo, đi trại sáng tác, để được xét giải thưởng… Nghĩa là Hà Nhật không hề biết có một thứ hành chính ấy trong làng thơ. Nhưng nhắc đến thơ Hà Nhật, trăm nhà thơ đều yêu mến, nể trọng. Bởi thơ Hà Nhật vừa đam mê nồng cháy, vừa trí tuệ, chất chứa. Quê cũ nghèo không lúa không khoai / Chỉ có trời xanh và muối mặn (Muối). Gặp nhau bây giờ / Táo trong vườn rụng hết / Thôi đừng nhắc nữa / Cho lòng đau / Nghe em (Táo). Tình anh như muối kia / Mặn mòi và lặng lẽ / Muối trăm đời vẫn thế / Tình anh không có màu (Tình muối). Ngay những bài thơ làm trong năm 2007, viết về Mỵ Châu khi đến đền thờ An Dương Vương ở Nghệ An, Hà Nhật vẫn giữ được sự chất chứa ấy: Đền Cuông – cuông bay hết / Về chi nữa em ơi / Cha già còn ngoảnh mặt / Mong gì đời sửa sai ! (Đền Cuông)… Hay : Anh bơ vơ giữa cuộc đời phù du / Chỉ có em thôi / Chỉ có em là thật… ( Bão số 2, 2007).

Sau Hiệp định Genève, Hà Nhật từ Trường Khải Định, Huế ra Hà Nội học tiếp Đệ nhị và đỗ Tú tài Toán năm 1956. Học giỏi toán nhưng lại xin thi vào sư phạm Văn. Hồi sinh viên học Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nhật thường chơi thân thơ phú với các nhà thơ, nhà văn cùng trang lứa như Phùng Quán, Nguyễn Bùi Vợi, Vân Long, Băng Sơn, Thúc Hà … Đó là thế hệ nhà thơ cách tân, mới mẻ. Nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi vẫn thường nhắc đến anh bạn thơ Hà Nhật dân Quảng Bình gầy đen, nhưng rất thông minh, nhạy cảm và đa tình. Từ năm 1956, khi mới chưa đầy 20 tuổi, Hà Nhật đã có những bài thơ “Đợi đò”, “Mưa Huế” rất sắc sảo. Trong bài “Mưa Huế”, hình bóng những cô gái Huế rất đẹp: Dáng gầy như cỏ cây quê mẹ / Giếng tình thăm thẳm mắt không vơi…”. Hà Nhật còn hăng hái làm thơ gửi đăng báo Đất Mới, một kiểu báo Nhân văn của sinh viên thời ấy. Rồi hay la cà gần gũi với lớp đàn anh như Nguyễn Bính, Trần Dần, Lê Đạt, Quang Dũng, Nguyễn Đình, Trinh Đường và cả Bùi Xuân Phái nữa… Nên khi vụ Nhân văn–Giai phẩm xảy ra, tuy không “dính”, nhưng sinh viên Lương Duy Cán cũng bị ghi vào sổ đen. Vì thế năm 1959, tốt nghiệp Khoa Văn Đại học Sư phạm vào thời đó hiếm lắm, nhưng Hà Nhật không được bố trí dạy cấp 3, lại bị “phát vãng” về dạy cấp 2 ở Diễn Châu, Nghệ An ba năm liền.

Sinh thời, Nguyễn Bùi Vợi có lần kể cho nhà thơ Vương Trọng, Hoàng Cát và tôi nghe một chuyện vui cười ra nước mắt về Hà Nhật. Thời dạy học ở Nghệ An, có lần tưởng nhớ ngày mất của thi hào Nguyễn Du, Hà Nhật cùng với một thầy giáo dạy văn cao to cùng trường đêm hôm tổ chức “tưởng niệm Nguyễn Du” ngay trong phòng ở của mình. Hai người thắp hương, đốt nến khấn rồi thay nhau nói về tính nhân văn trong thơ Nguyễn Du. Hai thầy giáo say mê không biết ở ngoài cửa có người rình. Rình nghe xong anh ta hốt hoảng đến ngay nhà ông lãnh đạo địa phương tố cáo là có hai người đêm hôm ca ngợi “nhân văn –giai phẩm”. Cái người gầy còm (tức Hà Nhật) nói tới 18 lần “nhân văn”, còn người cao lớn nói 11 lần “nhân văn”. Vì hồi ấy, hai từ “nhân văn-giai phẩm” đồng nghĩa với phản động. Mà dân quê thì không phân biệt được từ “nhân văn” sang trọng ấy với vụ “nhân văn-giai phẩm”! Từ đó Hà Nhật bị “ghi vào sổ đen” một cách oan uổng. Hà Nhật có yêu một cô giáo quê ở Nghĩa Đàn, miền Tây Nghệ An, nhưng khi gia đình nghe nói thầy giáo này có dính tới nhân văn giai phẩm, thì kiên quyết không gả. Chính người con gái này là người đã “cho” Hà Nhật bài thơ tình nổi tiếng Bài thơ tình của người thuỷ thủ.

Thầy kể rằng, hồi năm 1962, vì buồn tình, nhân mấy ngày nghỉ, có mấy người ngư dân đi vận chuyển hàng hoá trên biển rủ thầy đi về quê bằng thuyền với họ. Từ Nghệ An vào Đồng Hới đi đường bộ thời đó cũng chỉ ngày rưỡi, đi đường biển thì lâu hơn. Nhưng tính thầy thích ngao du, chuộng lạ. Thế là thầy lênh đênh trên biển với ngư dân ba ngày ba đêm ròng. Say sóng ngất ngưỡng, nôn ra mật xanh mật vàng, nhưng đổi lại thầy làm được hai bài thơ tình của người thuỷ thủ rất hay. Bài đầu có tứ rất “độc”:
Em hỏi tôi nước biển màu gì?
Tôi người thuỷ thủ từng lênh đênh năm tháng
Tôi sẽ nói cùng em
Nước biển dịu dàng, bí mật và cuồng nộ
Cũng như màu đôi mắt của em

Song dẫu thế nào tôi cũng sẽ đến bên em
Và tôi sẽ làm cho đôi mắt em xao động
Như gió ngày ngày đưa sóng về trên biển lặng

Bài sau là “Bài thơ tình của người thuỷ thủ” nổi tiếng, ai cũng thuộc. Khi làm xong “Bài thơ tình của người thuỷ thủ”, thầy sợ không ký tên Hà Nhật mà ký tên là Mai Liêm, gửi báo ở Hà Nội, lấy địa chỉ liên lạc của một người chị bà con bên mẹ là Chiến đang học ở Trường Cấp 3 Đồng Hới (sau này thành vợ nhà thơ Hải Bằng). Khi báo đăng bài thơ, nhạc sĩ Hoàng Vân phổ nhạc đoạn 2, nhưng không đề “phổ thơ Mai Liêm”. Bài hát “Tình ca người thuỷ thủ” lập tức được công chúng thanh niên cả nước đón nhận nồng nhiệt. Đến hôm nay, trên radio, tivi, nhiều ca sĩ vẫn hát “Tình ca người thuỷ thủ”…Cái bút danh Mai Liêm ấy thầy còn ký ở rất nhiều bài thơ khác. Những năm 1960 ấy, hàng loạt các tác phẩm văn học đầy chất sống, cuốn hút người đọc đã bị các nhà phê bình văn học “đánh” kịch liệt và xếp vào tội “xét lại” như các tiểu thuyết Mùa hoa dẻ, Nhãn đầu mùa, Mở hầm v.v Bài thơ, bài hát “Tình ca người thuỷ thủ” cũng bị phê phán là “lãng mạn tiểu tư sản”, “xét lại”. Có người còn chất vấn “Đi tìm gì, tìm ai ngoài khơi xa kia?”. Những ngày tháng đó, Hà Nhật cảm thấy cô đơn da diết. Tôi có một câu thơ chết đuối dưới dòng sông / Tôi lãng quên suốt một thời trai trẻ (Nói với dòng sông). Bài thơ này thầy cũng quên không đưa vào tập Đá sỏi trên đường!
*
* *
Năm 1964, thầy Hà Nhật về dạy ở cấp 3 Lệ Thuỷ, cũng là năm chúng tôi vào học cấp 3. Thầy Hà Nhật và thầy giáo trẻ Phan Ngọc Thu đã truyền cho lớp chúng tôi một không khí yêu thơ, làm thơ rừng rực từ đấy. Những tiết học đầu tiên của năm lớp 8 trường huyện, học sơ tán dưới nhà hầm nửa chìm nửa nổi ở thôn Đông Liễu, xã Liên Thuỷ ấy, chúng tôi đã nghe thầy đọc những bài thơ tình nồng cháy của mình. Rồi thầy dạy cho chúng tôi bài hát Hoàng Vân phổ thơ thầy, dù lúc đó bài hát bị cấm phổ biến. Hồi đó cả lớp tôi làm thơ. Cái lớp 8C cấp 3 Lệ Thuỷ của chúng tôi ấy đến bây giờ có hàng chục người làm thơ. Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo có bài viết trên báo nhan đề Một lớp – 2 thầy – 5 thi sĩ, hay nhà văn Hoàng Minh Tường viết Ngũ kỳ thi nhân Lệ Thủy là viết về thầy trò chúng tôi ngày ấy. Bây giờ thầy 77 tuổi, trò đứa nào cũng 64, 66 cả rồi, mà gặp nhau là đọc thơ suốt đêm. Anh bạn Nguyễn Minh Hoàng của tôi cũng học lớp 8C ấy, Hoàng học giỏi tự nhiên, sang Hungary học về chế biến cao su, về nước làm Giám đốc Công ty cao su quốc doanh một thời gian dài ở Sài Gòn. Năm nào Hoàng ra Huế giỗ chạp cũng gặp nhau, không thấy hắn nói gì đến thơ phú. Năm ngoái bỗng dưng lại “đổ” ra làm thơ. Toàn thơ về vũ trụ, hạt cơ bản, rất tinh tế. Nhà xuất bản Trẻ đã in 2 tập thơ Vũ trụ huyền diệu và Lục bát một câu dày dặn của Nguyễn Minh Hoàng. Tất cả đều khởi nguồn từ thầy Hà Nhật hơn 40 năm trước! Ngẫm ra, mỗi nhà thơ đều có số phận riêng , có sức trường tồn riêng và có sỏi đá riêng của mình trên con đường thơ thăm thẳm…

Huế, tháng 7-2012
—————
(*) Đá sỏi trên đường, thơ Hà Nhật , NXB Hội Nhà văn, 12-2011

ĐÀO PHƯƠNG- HỒN TƯỢNG, THƠ ĐỜI

 Đào Phương là một trong những nhà điêu khắc hàng đầu ở Nghệ An và miền Trung. Con người lãng tử, đa tài, đa tình và đa đoan này không chỉ nặn tượng mà còn vẽ tranh, làm thơ, chụp ảnh… Thứ gì anh cũng để lại những dấu ấn không thể quên trong lòng người xem, người đọc. Rồi anh bỏ cõi người ra đi ở tuổi 65, để lại bao nhiêu tiếc thương cho gia đình, bè bạn. Sau Tết Kỷ Sửu, nhà thơ Nguyễn Văn Hùng ở Vinh gửi vào Huế cho tôi cuốn sách“Đào Phương-Thơ và bạn” do nhóm bạn Nguyễn Quốc Anh, Nguyễn Duy Năng…gom nhặt, biên soạn, in ấn chuẩn bị cho giỗ đầu của anh Phương vào ngày 28-3. Cầm cuốn sách trên tay tôi thẫn thờ nhớ… Rồi đêm lần ra công viên bên bờ Sông Hương trước trường Đại học Sư Phạm Huế ngồi trầm ngâm trước bức tượng “Đợi” bằng đá trắng của Đào Phương . Bức tượng trong sương đêm mờ ảo lung linh như hồn người. Bỗng tôi thấy bức tượng cựa mình và tiếng anh Phương đọc thơ vọng lên, lan truyền trên sóng : Màu hoa lặng nở hương thầm lặng / Nở thành tâm đến héo cũng thành tâm…Vâng, đến héo cũng thành tâm, giống như tấm lòng Đào Phương vậy !

Tôi quen anh từ cuối những năm 80 của thế kỷ trước. Lần đó tôi đi làm báo ở Vinh, ghé thăm anh Thạch Quỳ. Thạch Quỳ bảo:” Ngô Minh đi với mình đến thăm Đào Phương, tay này hay lắm. Hắn từng tâm sự: “Mình muốn làm một cái gì đó, và phải làm một cái gì đó để người ta biết rằng, xứ Nghệ chúng ta vẫn có các tác phẩm điêu khắc!” Và hắn đã làm…”. Đến nhà Đào Phương ở C3- Khu Quang Trung, tôi thấy trong nhà, ngoài sân bày đầy phác thảo tượng, phù điêu bằng đất, thạch cao, gỗ, trên tường treo đầy tranh. Cái sân nhà anh như một vườn tượng. Có rất nhiều bạn bè đang uống rượu, nói cười rổn rảng, trong đó có một nhà thơ mặt mũi râu ria như ông Tây mà tôi vừa biết là Phan Hồng Khánh. Mâm rượu chỉ có đĩa lạc rang, điếu thuốc lào dựng trong cái xô tôn chuyền nhau và chai rượu nút lá chuối. Nghe Thạch Quỳ giới thiệu, anh Đào Phương đứng dậy kéo tôi ngồi xuống chiếu rồi giới thiệu chị Hồng, vợ anh đang tươi cười ngồi ở góc phòng quan sát từng người bạn nhậu. Hình như chị cũng vẽ tranh. Anh em văn nghệ sĩ Nghệ An thường hay ghé nhà Đào Phương vì Đào Phương là người rất quý bạn, lại là nơi thuốc lào Diễn Châu “miễn phí”, rượu Can Lộc “cả hụ”( chữ Đào Phương). Hai gian nhà nhỏ của anh ở Khu Quang Trung là một bảo tàng mỹ thuật. Đó là phòng triễn lãm mỹ thuật tư nhân đầu tiên ở Vinh. Có cuộc triễn lãm anh phải thuê cả nhà hàng xóm kế bên mới trưng bày hết tác phẩm bạn bè. Cách làm của Đào Phương đã làm cho ngành điêu khắc, hội họa của Nghệ An sôi động hẳn lên , có chất hẳn lên, không còn là vùng đất “nghèo tượng” nữa !

Từ bữa đó, mỗi khi đến Vinh tôi đều ghé thăm, ngồi chạm ly cùng anh, đọc cho nhau nghe vài bài thơ mới. Gặp nhau, tôi hỏi thăm sức khỏe hay tình hình sáng tác, anh bao giờ cũng vừa nói vừa cười, tay vân vê điếu thuốc lào cho vào nỏ điếu :” cũng ải ải”. Ải ải tiếng Nghệ có nghĩa là thường thường, hay chưa ra gì. Nhưng rồi anh lại giới thiệu với tôi những bức tượng mới như Soi gương (gỗ), Hát văn ( bê tông), Khất thực ( đất nung), Hề gậy (gỗ), Vọng phu (gỗ).v.v..Tất nhiên nhiều thứ anh chỉ còn trong album ảnh, vì tác phẩm đã nằm nơi trưng bày nơi này chỗ khác. Tôi thấy nhiều tượng của anh đẫm chất dân gian, lại được thể hiện rất tinh tế, hiện đại. Anh kể, anh nghiên cứu nghệ thuật đục chạm ở các đền chùa, tranh dân gian Đông Hồ, Hàng Trống…kỹ lắm. Và anh thổi vào cái hình hài dân gian truyền thống đó một hồn cốt mới, sâu thẳm. Ví dụ tượng Hề gậy là một chú tễu hiện đại, rất thần. Hay tượng Soi gương ám ảnh người xem bằng sự kín đáo, e ấp mà quyến rũ của người con gái Việt Nam. Đào Phương gầy hốc hác nhưng săn như gỗ lũa. Có lẽ do suốt ngày cưa, đục, đẽo, khuân vác. Anh kể, đi đâu thấy cây gỗ mít dân họ chặt, thế nào cũng hỏi xin hoặc mua cho được một khúc, rồi hì hục khuân về để có cái mà đục đẽo.

Năm 1978, Đào Phương được Hội Mỹ thuật Việt Nam chọn cử đi sáng tác điêu khắc ở Ucraina ; năm 2002 tham gia Trại Điêu khắc Quốc tế Việt Nam-Huế lần thứ III cùng 38 nhà điêu khắc đến từ 18 quốc gia trên thế giới. Ở Ucraina, anh tham gia đắp tượng cát bên bờ biển Iurmala, Ban Tích. Ở những trại điêu khắc tầm cỡ ấy, Đào Phương đã thể hiện được nét tài hoa, độc đáo của mình, nên được đánh giá rất cao. Anh đã tạo nên được tác phẩm để đời như tượng Đợi ở Huế. Cho đến khi từ giã cõi trần, Đào Phương đã gửi lại cho đời hơn 200 tác phẩm điêu khắc gây ấn tượng mạnh đối với người xem. Ngoài mảng tượng đài, tượng công viên lớn ngoài trời thể hiện sự nhạy cảm, tầm nhìn chính trị xã hội như nhóm tượng “Bác Hồ với tuổi trẻ” tại công viên Nguyễn Tất Thành-Vinh, nhóm tượng ở Bảo tàng Quỳ Châu, tượng Phan Bội Châu, tượng Hải Thượng Lãn Ông, tượng đài Khởi nghĩa Đội Cung.., anh còn tạc hàng trăm tượng bài trí salon với đề tài cuộc sống dân gian rất thú vị. Tượng Đào Phương đã giành được nhiều giải thưởng lớn trong nước như tượng “Cắt tóc”( gỗ) đoạt Huy chương Vàng triễn lãm mỹ thuật toàn quốc 1980-1985. Tượng ” Đôi bạn” (Thạch cao) đoạt giải nhì trong triển lãm 10 năm điêu khắc Việt Nam 1973- 1983 và nhiều giải thưởng Trung ương và địa phương khác.

Nhưng nói về Đào Phương không thể không nói về thơ và bạn. Nó đời lắm. Gan ruột lắm. Anh là người thích xê dịch, ngao du, anh thèm đi như thèm rượu, anh làm quen với nhiều người đẹp, rồi ngất ngưỡng thơ tặng, ngất ngưỡng những phác thảo chân dung. Năm 1960, mới 26 tuổi, chàng trai đất Hương Sơn, Hà Tĩnh vừa tốt nghiệp Trường Trung cấp Mỹ thuật đã rủ bạn cùng ngao du lên miền trung du Phú Thọ đến 4 năm ròng. Năm 1964 của thế kỷ XX anh đã có thơ tặng bạn Nguyễn Thọ : Ghế đá mát lạnh / Hai thằng cô đơn/ Ôm nhau cho vợi ngày buồn….Mày bảo: Nói to cho đỡ buồn / Tao bảo: Tốt hơn là im lặng / Vườn hoa yên ắng / Người người còn lo về chiến tranh / Ta thì lo đất lạ dữ, lành…Những năm đó mà viết thơ đời như thế là ghê lắm. Khoảng hơn 10 năm cuối đời , anh sống cô đơn, trống vắng, nên càng cần bạn, cần thơ hơn. Thơ Đào Phương cô đọng với nhiều trăn trở, suy tư. Có lúc trần như phác thảo tượng đài : Một chấm hoa đỏ bất ngờ/ Thức dậy cả thời hoang phế. Có lúc chiêm cảm như tiên tri, sâu thẳm nỗi đời : Thời gian cháy rụi mỗi chiều / Ngày rơi về thời xa vắng/ Đâu là mong manh, đâu là sâu nặng / Mặt trời- giọt máu rơi / Hắt tàn tro, kết lại những con người. Thơ ấy là thơ đời, chắt lọc và tri âm lắm lắm. Nhà thơ Thạch Quỳ nhận xét rất đúng : Đào Phương luôn “tìm kiếm phương thức biểu hiện mới cho ngôn ngữ trong ý nghĩa đa chiều của thơ ca hiện đại”. Anh để lại cho đời hai tập thơ Đêm vườn tượng và Tiễn chiều là hai tập thơ hay. Ngoài ra sau khi anh mất, bạn bè còn sưu tầm in thêm 59 bài trong tập “Đào Phương-Thơ và bạn”. Chỉ chừng ấy thôi, Đào Phương đã thể hiện phẩm chất của một thi sĩ tài hoa, chuyên nghiệp. Ngoài tượng và thơ, anh còn là một nghệ sĩ nghiếp ảnh. Năm 2002, sáng tác ở Huế, anh đến nhà khoe tôi bộ ảnh mấy chục tấm chụp những vân, thớ đá trên nguồn giống y chang những bức phù điêu nam nữ khỏa thân rất đẹp, rất ngộ. Phải có con mắt nhìn và sự mẫn cảm của một nhà điêu khắc-thi sĩ mới phát hiện ra những dáng đá rất đời ấy. Anh bảo :” Đó là đá nguyên khối, không ai có thể can thiệp để tạo dáng. Hóa ra thiên nhiên cũng lãng mạn lắm”. Có rất nhiều bài thơ cảm khái của bạn bè khi xem bộ ảnh phồn thực đá ấy: Đá vô vi thầm thĩ chuyện người / Đời buồn nhiều săn dáng đá mà nguôi… ( Nguyễn Văn Hùng); Dẫu chỉ xem một lần / Nghe hơi thở rân rân thịt đá / Trong ấy có lửa…( Võ Khánh Cừ). Không biết sau khi anh ra đi, ai đang lưu giữ bộ ảnh có một không hai ấy ? Mất đi thì tiếc lắm.

Đặc biệt, Đào Phương có rất nhiều thơ hay viết về bạn : Khách khứa chi nệ lời mời / Bây giờ chiếu chật về ngồi trong nhau/ Tri âm cái nghĩa bạn bầu / Cầu thơ tơ nhện bắc cầu âm dương. Viếng bạn Phan Hồng Khánh, anh viết : Thế rồi cõng bóng – Mày đi / Sau lưng còn lại là gì, mày ơi ! Thơ đau đớn như thế bởi anh sống hết lòng vì bạn. Anh luôn thuỷ chung, san sẻ với bạn bè khi gặp khốn khó. Nhờ thế mà Đào Phương đã tạo nên bức tượng chân dung nhà thơ Biển Hồ rất có hồn. Bạn thơ Phan Hồng Khánh mất chưa mãn tang, Đào Phương đã kiếm tìm thơ di cảo của bạn, lo biên soạn, chạy tiền, chạy nhà in để in tập thơ riêng cho Phan Hồng Khánh, điều mà khi sống Khánh luôn ao ước. Ở Vinh, Đào Phương chơi cật ruột với nhà thơ Trần Hữu Thung, Biển Hồ, Phan Hồng Khánh, Tiêu Cao Sơn, Thạch Quỳ.v.v. Thì bây giờ anh đã cùng với 4 người trong số đó rủ nhau rời cõi tạm. Theo Văn Hoành, lúc sống anh đã tạc một bức tượng “Bayon “ 3 mặt bằng đất thó gồm Đào Phương, Phan Hồng Khánh, Tiêu Cao Sơn. Bức tượng chưa kịp nung thì cả ba đều đã là người thiên cổ ! Ở Trại điêu khắc Quốc tế Huế một tháng, anh cũng kết thân với các nhà điêu khắc Lào, Cămpuchia, Nhật Bản…Ở công viên bên Sông Hương nơi anh đục tượng, “đồ nghề” của anh ngoài các thứ búa, đục, cưa đá, mài.v.v.. của ngành điêu khắc, bao giờ cũng thêm điếu thuốc lào và nậm rượu Chuồn Huế. Các đồng nghiệp điêu khắc nước ngoài thường lui tới cùng anh nâng chén ngay ở chân dựng đang dang dở. Trong bữa tiệc chia tay tổ chức tại nhà chị Đào Thị Hợi, em gái anh, ngày đó, tôi thấy anh và nhà điêu khắc Lào Boun Than Sommani chạm ly, nói chuyện với nhau vô cùng tâm đắc. Dường như không có bạn bè anh không sống nổi. Bởi thế mà khi đang sống hay lúc anh nằm xuống, thơ và bài của bạn bè viết về anh có thể in thành tập sách dày. Các nhà thơ nhà văn Hải Bằng, Nguyễn Lương Ngọc, Biển Hồ, Lê Thái Sơn, Nguyễn Thị Phước, Nguyễn Quốc Anh, Thạch Quỳ, Nguyễn Văn Hùng.v.v.. đều có thơ và bài viết rất tâm huyết về anh.Có người viết đến hai ba bài.

Đào Phương tài hoa, tinh tế như thế mà cuộc đời anh lại rất cô đơn thầm lặng. Đang có nhà rộng rãi, khách bạn đông đúc, công việc ngon lành ở Vinh, thì chị Hồng thi đậu Đại học Mỹ thuật Hà Nội. Vợ chồng lại bàn nhau bán nhà ở C3-Quang Trung để ra Hà Nội để cho hai đứa con có điều kiện học hành. Số tiền bán nhà chỉ mua được căn hộ hơn 20 mét vuông ở tầng 4 khu chung cư Kim Liên. Vợ đi làm, con đi học, thế là anh ngồi bó gối ở nhà. Không có bạn bè để thở, không có mảnh đất ruột rà để cảm, tính anh lại thích sống tự do, không muốn gò bó vào bốn bức tường chật hẹp. Hơn nữa anh nhớ quê , nhớ cha mẹ. Anh muốn về để phụng dưỡng cha mẹ. Thế là anh trở lại Vinh. Chia tay anh, chị Hồng vẫn ở vậy nuôi con đến bây giờ. Hai đứa con của anh chị nay đã trưởng thành. Đứa đầu đang làm tiến sĩ bên Pháp, đã lấy vợ Việt đẻ con ở bên ấy. Đứa thứ hai đi học kỹ sư xây dựng Ucraina về nước, hiện đang ở với mẹ. Anh trở về Nghệ An, Hội Văn nghệ liền bố trí cho anh căn hộ nhỏ ở tầng trệt, chân cầu thang. Mỗi lần tôi ra Vinh, đến Hội Văn nghệ là ùa vào với anh trong căn phòng đó để uống cốc rượu quê, nghe anh đọc những bài thơ mới, hay khoe tấm ảnh những người đẹp mà anh chụp được. Đó là căn hộ luôn luôn có ba ổ khóa. Vì anh hay đi nên anh móc ba chiếc khóa để bạn bè thân có thể mở mà vào. Rất nhiều người vì yêu mến Đào Phương đã phải ráng đợi: Đố ai vào nhà Đào Phương / Thấy chùm ba khóa chớ dương mắt nhìn / Yên lòng mà đợi trước thềm / Thế nào cũng được nửa đêm …Phương về (Quốc Anh). Suốt những năm tháng đó căn phòng Đào Phương luôn luôn nồng nặc mùi rượu và khói thuốc lào. Uống nhiều, say nhiều, lại cơm bụi thất thường bữa đực bữa cái, trong lúc tượng- thơ hút hết tinh lực, cơ thể anh suy nhược dần… Sau này, tỉnh phân cho lô đất, không có tiền làm nhà, anh bán đi, làm được một cái nhà thờ ông bà tiên tổ ở quê, còn lại làm được cái nhà nhỏ ở Vinh. Nhưng mới ở được 9 tháng thì anh đi…

Thế là anh đã về với cỏ một năm rồi. Ở cõi vĩnh hằng ấy chắc không có chuyện buồn như nơi trần thế, nên lòng anh yên tĩnh hơn. Quê hương Sơn Hà, Hương Sơn, Hà Tĩnh núi rừng che chở đùm bọc anh. Còn những hồn tượng- thơ đời anh để lại chính là chân dung anh tạc vào năm tháng, tạc vào lòng bạn bè, người thân, tạc vào thế giới cái đẹp vĩnh hằng….


Chuyên mục

Tạo trang giống vầy với WordPress.com
Hãy bắt đầu