Đăng bởi: Ngô Minh | 18.01.2015

16 CHỮ VÀNG CỦA CỤ NGUYỄN KHẮC NIÊM

Cụ Nguyễn Khắc Niêm

16 CHỮ VÀNG CỦA CỤ NGUYỄN KHẮC NIÊM

         Ngô Minh

 

QTXM- cả nước ta đang vào mùa đại hội đảng các cấp. QTXM xin in lại 16 chữ vàng ( TỨ TÔN CHÂM) của Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niêm, mong được góp chút suy tư vào việc chọn lựa người hiền tài,những người biết “tôn tộc”, “tôn tài” cho đất nước được nhờ.

 

Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm hai lần Phủ doãn Thừa Thiên là một nhân vật đặc biệt. Cụ Niêm sinh năm 1889 ( Kỷ Sửu), quê làng Gôi Vị, nay là xã Sơn Hòa, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Cụ mất năm 1954 trong CCRĐ. Năm 1907, cụ thi đậu đệ nhị giáp tiến sĩ ( gọi là Hoàng Giáp. Thi đình do vua chủ khảo, chọn ra Hoàng Giáp, Thám hoa, Bảng nhỡn, Trạng nguyên), khoa thi đình năm Đinh Mùi tại Huế, khi 18 tuổi.

Đó là học vị cao nhất thời đó mà cụ đã đỗ đạt lúc còn rất trẻ. Cụ Cao Xuân Dục (1843- 1923), một vị đại khoa, đại quan triều Nguyễn, học giả, nhà văn hóa, nhà văn Việt Nam đã nhận xét về Hoàng Giáp Nguyễn Quân ( Khắc Niêm) :” Người có đức thì lời văn thuần nhất, người có học vấn thì tri thức toàn diện, người có lý lẽ minh bạch thì sách luận khúc chiết. Ở Nguyễn Quân hội đủ tất cả những điều trên. Văn là người. Gọi Nguyễn Quân ( Khắc Niêm) là một trang thiếu  niên anh tuấn cũng đáng mà gọi là một bậc lão thành cũng không phải là không xứng”. Cụ Hoàng Hương Sơn đã nhận nhiều trọng trách quan trọng trong triều đình Huế: Tư nghiệp Quốc Tử giám, Tham tri Bộ Hình, Tuần vũ Khánh Hòa, hai lần Phủ doãn Thừa Thiên, Bố chánh Nghệ An. Tháng 8-1941 ông giữ chức quyền Tổng đốc Thanh Hóa. Đến 2-1942, cụ xin nghỉ hưu về quê bốc thuộc chữa bệnh cho người nghèo. Chủ tịch Ủy ban nghiên cứu cải lương hương ước ở Huế.v.v..Cụ có tên trong bia tiến sĩ Văn Miếu Huế. 

Cụ Hoàng Nguyễn Khắc Niêm có 2 đời vợ, sinh được 15 người con, người nào cũng hay chữ và đi theo cách mạng, làm nhiều việc tốt cho đời. Trong đó có những người nổi tiếng như nhà văn hóa lớn Nguyễn Khắc Viện, con trai đầu; Nguyễn Khắc Dương, giáo sư thần học, Nguyễn Khắc Phi, giáo sư ngành văn học Trung Quốc.v.v..Nhà văn Nguyễn Khắc Phê là con thứ 13 của cụ Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niêm. Nhà văn Nguyễn Đắc Xuân viết : Cụ ở “những vị trí có thể hái ra tiền, nhưng Cụ luôn giữ được phẩm chất đạo đức, sống cuộc đời thanh bần, đạm bạc,… có ý muốn duy tân…”

 

 

 

          Trong di sản Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niêm để lại cho hậu thế giá trị nhất là “16 CHỮ VÀNG”, gọi là TỨ “TÔN” CHÂM :

                                    Tôn tộc đại quy

                                     Tôn lộc đại nguy

                                     Tôn tài đại thịnh

                                     Tôn nịnh đại suy

     Nhà nghiên cứu văn hóa Trần Đại Vinh ở Huế dịch :

                                   Tôn trọng nòi giống ắt đại hòa hợp

                                   Tôn trọng bổng lộc, ắt đại nguy nan

                                   Tôn trọng tài năng ắt đại phồn thịnh

                                   Tôn trọng siểm nịnh ắt đại suy vong

        Theo sách “ Cụ Hoàng Hương Sơn Nguyễn Khắc Niêm”, sau khi Cụ thi đỗ đại khoa, trong cuộc gặp gỡ với các tiến sĩ tân khoa, vua Thành Thái (vị Hoàng đế thứ 10 của nhà Nguyễn, tại vị từ 1889 đến 1907. Do chống Pháp nên ông, cùng với các vua Hàm Nghi và Duy Tân , bị thực dân Pháp đi đày tại ngoại quốc), đề nghị mỗi vị hãy góp kế sách để phục hưng quốc gia. Kế sách của cụ Nghè Niêm được cô đúc trong  bốn câu trên. Thế mới biết vị vua trẻ Thành Thái đã biết dùng trí thức như thế nào.  Càng hiểu thêm bản lĩnh Cụ Nguyễn Khắc Niêm, trước vua đã nói thẳng thắn những lời thông thái của mình, dù có thể  dễ bị xem là “khinh khi”. Con cháu cụ đã đặt cho bốn câu trên là “Tứ tôn châm”. Châm là răn. Bốn điều răn. Tôn là tôn trọng. Chỉ có  16 chữ thôi : 4 chữ TÔN, 4 chữ ĐẠI, 8 chữ còn lại đối nhau : TỘC, LỘC, TÀI, NỊNH đối với QUY, NGUY, THỊNH, SUY- là thành một châm ngôn ứng  xử của vua, của người lãnh đạo đất nước mọi thời đại, có thể phân tích giảng giải thành cả tập sách dày.

             Đây là phương châm “trị quốc”của bất cứ triều đại tiến bộ nào. Tôn tộc đại quy– là đề cao sự đoàn kết dân tộc. Tôn tộc tức mọi người phải quy về một mối là đặt Dân tộc, Tổ Quốc, nòi giống lên trên hết. Có được sự đồng lòng đó thì nhất định làm được mọi việc, chiến thắng mọi kẻ thù. Lịch sử dân tộc ta dã chứng minh hùng hồn chân lý mà Cụ Hoàng Hương Sơn đã nêu lên. Tôn lộc đại nguy– ý của Cụ Hoàng không phải xem thường sự phát triển đất nước giàu có, vì dân giàu nước nước mới mạnh , mà “tôn lộc” ở đây là nói người làm quan mà đặt lợi lộc của mình, “lợi ích nhóm“ mình lên trên lợi ích dân tộc , lợi ích cộng đồng , thì đó là lúc nguy nan đang đến với đất nước. Vì lúc đó lẽ công bằng bị vi phạm, tham nhũng hoành hành, bè phái, phe nhóm  trong chính quyền sinh sôi  nảy nở .  Tôn tài đại thịnh – vì  “hiền tài là nguyên khí của quốc gia- Đó là một chân lý vĩnh hằng. Coi thường trí thức, gạt tầng lớp trí thức ra ngoài hành trình của đất nước, nhất định đất nước suy vong. Trí thức thường là những người có cá tính, không phải loại người “gọi dạ, bảo vâng”, lại là những người hay nêu ý kiến phản biện ( không biết phản biện không phải là trí thức ), nên hay làm cho lãnh đạo ghét. Người lãnh đạo giỏi là người biết trọng tài năng, tập hợp nhân tài phục vụ quốc gia, lúc đó đất nưóc mới vững mạnh lên được. Tôn nịnh đại suy – cũng là một chân lý lịch sử. Ở triều đình nào cũng có vô số người nịnh hót. Người lãnh đạo đa phần lại thích nghe bọn xum xoe nịnh bợ, biến phải thành trái, biến người tốt thành người xấu. Vì vậy người  lãnh đạo phải là người đủ cương trực, đủ trình độ, đủ nhạy cảm mới nhận ra kẻ nịnh để lánh xa, người trung để gần gũi.

             Cụ Nguyễn Khắc Niêm chỉ nêu phương châm phục hưng đất nước 16 chữ thôi, nhưng đó là mười sáu chữ được đức bằng vàng ròng và mãi tươi ròng tính thời sự

 

ĐỌC THÊM :

//

  TỨ TÔN CHÂM

   (Tóm lược bài viết của Trà Sơn Phạm Quang Ái, Sở VH, TT, DL Hà Tĩnh)

Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (1889-1954) là một đại thần triều Nguyễn, nguyên Thượng thư Bộ Lễ, Phủ doãn Thừa Thiên, Tổng đốc Thanh Hóa. Ông sinh năm 1889 tại làng Gôi Vị, nay là xã Sơn Hòa, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Từ nhỏ, Nguyễn Khắc Niêm đã thông minh tuấn tú hơn người. Năm 1906, mới 17 tuổi, ông thi đậu cử nhân, trường thi Nghệ An. Năm 1907, ở tuổi 18, ông thi đậu đệ nhị giáp tiến sĩ (Hoàng giáp), khoa thi đình Đinh Mùi, tại Huế. Có thể nói, Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm là một trong số rất ít người đậu đại khoa thời phong kiến khi ở cái tuổi còn rất trẻ như thế.

Khi thi đỗ đại khoa, được cùng các vị tiến sĩ đồng khoa triều kiến vua Thành Thái, nhà vua đề nghị mỗi vị tân khoa tiến sĩ hãy góp kế sách để phục hưng quốc gia, Nguyễn Khắc Niêm đã đọc 4 câu như  sau:

Tôn tộc đại quy

Tôn lộc đại nguy

Tôn tài đại thịnh

Tôn nịnh đại suy”

Dịch nghĩa:

“Đề cao nòi giống ắt đại hòa hợp

Coi trọng bổng lộc ắt đại nguy nan

Tôn trọng tài năng, ắt đại phồn thịnh

Ưa thích xiểm nịnh, ắt đại suy vong”

Phân tích của tác giả:

-Trước hết, chủ trương “tôn tộc” (đề cao tộc họ) là để “đại quy” (quy tụ về một mối lớn) của Nguyễn Khắc Niêm thực chất là chủ trương đại đoàn kết dân tộc. Chữ tộc trong câu nói của Nguyễn Khắc Niêm có nghĩa là giống loài, là cả một cộng đồng quần cư chứ không phải là chỉ các dòng họ trong cộng đồng. Có thể nói, cái sự “đại quy”, sự quy tụ lớn này, chính là sự đoàn kết trong nội bộ cộng đồng dân tộc, sự đồng thuận trong xã hội. Đó là tiền đề quan trọng nhất để đảm bảo thắng lợi cho mọi cuộc cuộc vận động xã hội từ xưa đến nay.

– “Tôn lộc”… ắt là “đại nguy”. Bởi, nếu chỉ biết coi trọng bổng lộc, coi trọng những thu nhập bất chính của các cá nhân hoặc phe nhóm thì lấy đâu ra công bằng, dân chủ, công khai? Không nên có thái độ coi thường lợi ích vật chất, nhưng nếu chỉ biết coi trọng lợi ích một cách thái quá (tôn lộc), thì cái nguy cơ làm rối loạn, suy yếu đối với cộng đồng dân tộc sẽ lớn hơn rất nhiều.

– “Tôn tài” ắt là  “đại thịnh”! Bởi “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Tuy nhiên, “tôn tài” cũng có năm bảy đường, năm bảy kiểu. Một mặt, “người tài” là những người vừa có tài đức, nghĩa khí hơn người nhưng mặt khác, họ cũng là những người rất có cá tính, rất nhạy cảm, rất tự trọng.

Người tài thực sự không thể chỉ có lấy lợi mà mời họ được, cũng không lấy quyền lực mà uy hiếp họ phải theo mình. Họ là những người “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” (Giàu sang không cám dỗ được, nghèo hèn không làm thay đổi ý chí, uy quyền không khuất phục được).

Tôn tài không chỉ ngưỡng vọng, đề cao người tài mà cái quan trọng nhất vẫn là phải biết dùng họ đúng tầm mức, sở trường.

– “Tôn nịnh” ắt là “đại suy”. Đó là một chân lý lịch sử phổ biến hầu hết ở mọi cộng đồng dân tộc. Bài học lịch sử thì rõ ràng như vậy, nhưng hầu như triều đại nào cũng mắc phải, cũng phải trả giá rất đắt. Sở dĩ như vậy là vì tâm lý con người ta thường là “thích nghe nịnh hót, ghét bỏ lời trung”, càng là những người có quyền thế thì tâm lý này lại càng đậm nét. Chỉ có những người có học thức, có văn hoá cao, biết suy nghiệm sâu sắc việc đời xưa nay, biết tu trì lý tưởng cao cả thì mới hòng tránh khỏi hoạ nịnh thần. Ngày nay, người ta nói nhiều tới văn hoá chính trị; có lẽ, việc lánh xa kẻ nịnh, biết gần người trung sẽ là tiêu chí văn hoá quan trọng nhất của người cầm quyền.

Trò đời, khi cái tích cực, cái thiện, cái tốt không được phát huy thì cái tiêu cực, cái ác, cái xấu có đất nảy nở. Cũng vậy, khi người tài không được trọng dụng thì ắt là bọn xiểm nịnh được thời ngóc đầu dậy như rắn. Những kẻ này chỉ có một cái tài là làm vừa lòng người cầm quyền, dắt dẫn người cầm quyền vào con đường ăn chơi sa đoạ để lợi dụng. Lịch sử các dân tộc cổ kim, đông tây có quá nhiều tấm gương tày liếp cho vấn đề này.

* TÓM LẠI: Càng suy ngẫm càng thấm thía tính chân lý, tính hiện đại của bốn câu châm ngôn nói trên. Có người đã khái quát đây là “Tứ tôn châm” (Lời răn về bốn cái sự tôn). Trong hoàn cảnh xã hội hiện nay, vận vào đâu cũng thấy “Tứ tôn châm” đều đúng. Để thấy hết giá trị của “Tứ tôn châm”, chúng tôi xin nêu nhận định của ông Cam Ly: “Cụ Nguyễn Khắc Niêm chỉ với 16 chữ đã diễn đạt một cách súc tích sự minh triết Việt Nam… Mười sáu chữ vàng của cụ Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niêm nay vẫn còn nguyên giá trị, ý nghĩa giáo dục nhân sinh sâu sắc và lay động tâm can tất thảy những ai vì sự trường tồn của dân tộc”.

Advertisements

Categories

%d bloggers like this: