Đăng bởi: Ngô Minh | 24.06.2015

TRỞ LẠI CUỐN GIÁO TRÌNH CỦA TIẾN SĨ HOÀNG THỊ HUẾ ( bài 5 và kết thúc)

  Qua cuốn giáo trình của tiến sĩ Hoàng THị Huế, báo động với trình độ soạn giáo trình ở trường Đại học sư phạm Huế

 

   QTXM- Ngày 17/6/2015, chúng tôi cho in bài của Võ Văn Kha phê phán cuốn giáo trình văn học soạn cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm của cô giáo-tiến sĩ Hoàng Thị Huế, đến nay đã 8 ngày. Chúng tôi đã liên tục gửi đến bạn đọc bốn phương nhiều bài viết của các tác giả  phân tích, trao đổi, phân phán. Chỉ có một bài duy nhất của Lê Đức Quân là nói ngược lại, phản đối sự phê phán và đặt câu hỏi ” động cơ thực sự của Võ Văn Kha (?) ở đây là gì? Có phải là sự gài bẫy nham hiểm để báo tư thù không ?”. Kỳ này QTXM xin đăng tiếp bài viết của tác giả Nguyễn Phước Nhơn tiếp tục phân tích những yếu kém, bất cập của cuốn giáo trình và báo động về trình độ soạn giáo trình ở trường Đại học sư phạm Huế. Chúng tôi cũng nhận được nhiều comments của bạn đọc và nhiều điện thoại của độc giả phê phán cuốn giáo trình, kể cả điệnt hoại của một tờ báo muốn viết về việc này. Như thế là đã rõ. Giáo trình VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI GIAI ĐOẠN 1930-1945 của tiến sĩ Hoàng Thị Huế là cuốn giáo trình yếu kém nhiều mặt, từ câu chữ, nhận định đến lựa chọn tác giả, phương pháp biên soạn…Chúng tôi cho rằng giáo trình như thế không xứng đáng dùng để giảng dạy cho sinh viên đại học, những người sẽ trở thành thầy giáo sau này. Đề nghị ông Giám đốc Đại học Huế, ông Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Huế cùng Hội đồng khoa học của trường xem xét lại chất lượng cuốn giáo trình để khỏi làm ảnh hưởng đến chất lượng sinh viên ra trường. Nhận thấy mọi sự đã được sáng tỏ, QTXM xin dừng cuộc trao đổi ở đây. Các ý kiến  phê phán trao đổi tiếp tục đề nghị gửi về ông Hiệu trường Trường Đại học sư phạm Huế. NHÀTHƠ NGÔ MINH

  Nguyễn Phước Nhơn

Xem xong các bài viết trên Quà tặng xứ mưa tôi tìm đọc cuốn giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại giai đoạn 1930 – 1945 của tiến sĩ Hoàng Thị Huế, Nxb Đại học Huế năm 2015. Tôi nghĩ vị tiến sĩ này chẳng lệch lạc gì về tư tưởng như ông Võ Kha nói đâu, mà là sự kém cỏi, hạn hẹp về kiến thức. Chính trình độ kém dẫn đến việc biên soạn một cuốn giáo trình ngây ngô, nông cạn. Không hiểu sao một cuốn sách kém như vậy mà vẫn được xuất bản và vẫn được đem ra giảng dạy ở một trường đại học?
Cảm giác đầu tiên của tôi: đây là một cuốn sách cẩu thả, vội vàng. Những sai sót mà tác giả Võ Văn Kha chỉ ra là hoàn toàn chính xác. Tuy nhiên, những lỗi này không nghiêm trọng bằng những sai sót, phiến diện về nội dung của cuốn giáo trình này. Ở đây tôi không nói về tiểu tiết mà xin đưa ra những vấn đề trọng yếu:
– Quan điểm viết giáo trình thiển cận (lựa chọn tác giả tùy tiện, phiến diện).
– Phương pháp biên soạn máy móc, rập khuôn (chủ yếu lược kê lại tiêu mục ở phần kết luận).
– Nhầm lẫn giai đoạn lịch sử (giai đoạn 1930 – 145, nhưng phân tích Di chúc – 1969, tr. 243).
– Các tiêu mục lộn xộn, không logic, phi khoa học (không theo một tiêu chí nào cả.
– Lấy ý kiến của nhiều người khác nhưng không trích dẫn rõ ràng (đạo văn).
1. Trước hết nội dung hạn hẹp, phiến diện của cuốn sách này xuất phát từ quan điểm viết giáo trình rất thiển cận. Đối với bộ môn văn học sử điều quan trọng nhất là giúp sinh viên nắm bắt được đặc điểm, diện mạo, các thành tựu của từng giai đoạn văn học. Vậy mà vị tiến sĩ này đã lựa chọn tác giả, tác phẩm một cách rất tùy tiện. Tác giả cho rằng: “một số nhà thơ như Tố Hữu, Xuân Diệu, Huy Cận do sẽ đề cập đến trong phần văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 nên không đưa vào khảo sát “ (xem tr.6).
Quan niệm trên cho thấy người viết giáo trình không hiểu gì về văn học sử, không hiểu gì về phong cách nhà văn gắn với tiến trình vận động và phát triển của văn học. Cùng một nhà văn nhưng mỗi giai đoạn lịch sử có đặc điểm sáng tác khác nhau. Sáng tác của Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên giai đoạn 1930 – 1945 chắc chắn khác giai đoạn 1945 – 1975 về nội dung lẫn hình thức thể hiện.
Vì quan niệm thiển cận như vậy nên tác giả giáo trình đã lựa chọn các tác giả một cách tùy tiện. Tên của cuốn giáo trình là Văn học Việt Nam hiện đại giai đoạn 1930 – 1945, nhưng nội dung bên trong chỉ thiên về giải quyết các nhà văn hiện thực phê phán. Cả một giai đoạn phê bình rất phong phú, tác giả chỉ viết được một mục và mục này chưa tới 6 dòng (Xin xem tr.21). Trào lưu văn học cách mạng thiếu hẳn Tố Hữu – một đại biểu xuất sắc, có những đóng góp quan trọng để làm nên diện mạo của dòng văn học này. Trào lưu văn học lãng mạn: thiếu hẳn Tự lực văn đoàn, Phong trào Thơ mới.
2. Kiến thức nông cạn còn thể hiện ở chỗ: để chứng minh tính hiện đại của giai đoạn này, tác giả đã chọn Nguyễn Bính và phân tích dài dòng về nhà thơ này. Nói đến “tính hiện đại”, trước hết phải kể đến Xuân Diệu và nhóm Trường thơ loạn, với các gương mặt xuất sắc như Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê. Không ai phủ nhận vị trí của Nguyễn Bính giai đoạn 1930 – 1945, đặc biệt là “hồn thơ chân quê da diết”. Tuy nhiên, chọn Nguyễn Bính – một tác giả chủ yếu sử dụng thể thơ truyền thống (thể lục bát) để chứng minh “tính hiện đại” của giai đoạn này thì quả thực là “ngớ ngẩn”!
Với nội dung méo mó như trên, sinh viên sẽ có một cái nhìn phiến diện về quá trình hiện đại hóa của thơ ca Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945. Đây lại là giai đoạn văn học chiếm nội dung khá quan trọng trong chương trình Đại học và phổ thông trung học.
3. Giáo trình này bộc lộ một tư duy máy móc, đơn giản của người biên soạn. Phần mở đầu thì lược kê tác phẩm, kết luận thì lược kê các tiêu mục. Tôi chưa đọc một cuốn giáo trình nào về lĩnh vực văn học mà lại có kiểu soạn tệ hại như vậy. Việc giới thiệu tiểu sử và sự nghiệp của một tác giả là hết sức quan trọng, tuy nhiên không ai lại lược kê một cách máy móc, rập khuôn như vậy.
Có nhiều mục tác giả không giải quyết bất kỳ điều gì ngoài việc lược kê lại tác phẩm (Xin xem chương Nguyễn Hồng tr.119). Có những chương đã lược kê tác phẩm ở phần tiểu sử, phần sau lại lược kê thêm lần nữa (Xem chương Nguyễn Công Hoan tr.27 đã lược kê gần trọn một trang, nhưng tr. 57 lại lược kê tiếp). Người đọc có cảm giác như tác giả này cố gắng độn tư liệu vào để cuốn sách được dày trang thêm, không cần tính đến chất lượng của giáo trình.
Tất cả các phần kết luận đều lược kê lại các tiêu mục và chương nào cũng viết dạng như thế này: “Kết luận: Chương 3 trình bày những kiến thức cơ bản về tác giả Vũ Trọng Phụng: tiểu sử, sự nghiệp sáng tác, quan niệm nghệ thuật,… những đặc trưng nghệ thuật của thể loại phóng sự và tiểu thuyết hiện thực Vũ Trọng Phụng, phong cách nghệ thuật độc đáo của Vũ Trọng Phụng biểu hiện ở nhãn quan hiện thực và khuynh hướng khái quát, triết lý, trào phúng chi phối ở tất cả các phương diện, các cấp độ kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu” (tr.117). Tôi trích nguyên đoạn văn lủng củng này để bạn đọc thấy được “trình độ diễn đạt” của tác giả giáo trình.
Theo yêu cầu một cuốn giáo trình, kết luận của một chương phải trả lời được câu hỏi: những vấn đề giải quyết chương này nhằm để làm gì? Nó có ý nghĩa giáo dục, nhận thức gì cho sinh viên và bạn đọc nói chung? Thao tác lược kê rập khuôn này sẽ dẫn đến một hậu quả nguy hại: nhồi sọ cho sinh viên một lối tư duy máy móc vì lười biếng suy nghĩ.
Còn một số vấn đề khác ở cuốn giáo trình này cần phải bàn tới, tôi chưa kịp đề cập. Điều cần nói ở đây là: một cuốn giáo trình bao giờ cũng có Hội đồng biên tập. Chẳng lẽ Hội đồng chuyên môn lại thờ ờ, thả nổi, không có trách nhiệm gì trong chuyện này? Nếu vị tiến sĩ này mới tập tễnh viết lách thì phải tham khảo những đồng nghiệp đi trước chứ? Chẳng hạn anh Đại Vinh, anh Bửu Nam, chị Bích Hải, chị Hường… Tôi nghĩ, Ban chủ nhiệm Khoa văn, Ban lãnh đạo trường cần phải xem xét một cách nghiêm túc cuốn giáo trình này.

.Nguyễn Phước Nhơn commented on quick comments

Advertisements

Chuyên mục

%d bloggers like this: