Đăng bởi: Ngô Minh | 16.10.2015

MAO TRẠCH ĐÔNG VÀ NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ ( tiếp theo và hết)

MAO TRẠCH ĐÔNG VÀ NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ ( tiếp theo và hết)

Kinh Phu Tử (Đài Loan)

29. Trương Dục Phượng được thăng chức

 

Từ năm 1972 đến năm 1975, Đảng Cộng sản Trung Quốc ờ vào hậu kì Cách mạng văn hóa, suốt bốn năm ròng, Mao Trạch Đông luôn ưu tư suy nghĩ, lúc tả lúc hữu, tinh thần trong tình trạng rối ren, khốn đốn. Mao không thể tung hoành dọc ngang, hô phong hoán vũ, thét ra khói nói ra lửa. Mao đã gần bát tuần, nói năng thều thào không còn rõ ràng, viết thì tay run. Mao tự nhận mình có cái “kiêu khí” của tuổi già cao quí. Lão già, lão già, Mao đúng là một lão già, tính cách nghịch ngợm như trẻ con: buổi sáng ngủ dậy không chịu rửa mặt súc miệng, không chịu đeo răng giả; buổi tối trước khi đi ngủ không chịu tắm táp, thay áo quần.

Trương Dục Phượng cứ phải nhẹ nhàng khuyên bảo, mặc cho Mao bộ đồ Tôn Trung Sơn màu ghi nhạt. Có lúc Mao còn không chịu ăn, không chịu uống thuốc, Trương Dục Phượng cũng phải ngon ngọt dỗ dành. Buổi tối Trương Dục Phượng cũng phải tháo hàm giả cho Mao, cởi áo quần, tắm rửa, lau người cho Mao, dìu Mao lên giường. Mao đòi Trương Dục Phượng cũng phải cởi bỏ áo quần, ngủ với nhau một lúc, ngoài chuyện xoa bóp sờ nắn còn nữa không làm được gì. Mao thường thức suốt đêm, mỗi đên đánh thức Trương Dục Phượng và các nhân viên phục vụ dậy ba, bốn lần. Trương Dục Phượng mệt nhoài, người đẫm một hôi. Những nhân viên khác còn có thể thay phiên nhau ngủ, không ai thay được Trương Dục Phượng. Cũng có lúc Trương Dục Phượng phát cáu, đỏ mặt nổi nóng. Hình như Mao rất thích nhìn Trương Dục Phượng phát cáu, những lúc ấy Mao chỉ cười. Mao lấy làm thích thú, thì ra con người dịu dàng như vậy mà cũng có lúc cáu gắt.

Thị lực của Mao giảm nhiều, lại không chịu đeo kính. Trong đời Mao rất ghét những ai deo kính, có thể Mao cho rằng đằng sau cái kính kia đang ẩn chứa một âm mưu nguy hiểm nào đó. Trong ấn tượng của Mao, những người đeo kính như Trần Độc Tú, Cù Thu Bạch, Lí Lập Tam, Vương Minh, Bác Cổ, Trương Quốc Đào, Trương Văn Thiên, Bành Đức Hoài, Lưu Thiếu Kì, Lâm Bưu, vân vân, đều không có kết thúc tốt đẹp. Bởi vậy, những người làm việc bên Mao có rất ít người đeo kính. Vì thị lực kém, để đọc được “Nhân dân nhật báo”, tạp chí “Hồng kì” đều in riêng cho Mao một bản chữ to. Nhưng văn bản, tài liệu cần được Mao bút phê cũng phảỉ in thành một bản chữ thật to. Những sách mà Mao thích đọc như “Toàn tập thơ Đường”, “Chú giải từ thời Tống”, thậm chí những tiểu thuyết như “Thủy hử”, “Hồng lâu mộng”, cũng đều im riêng cho Mao một bản chữ to. Đều phục vụ lãnh tụ vĩ đại, Trung ương Đảng không tiếc một khoản chi nào cho Mao. Mao còn thích ngổi hút thuốc lá, đọc sách hoặc suy tư trên bồn cầu trong nhà vệ sinh rộng rái sáng sủa. Thời gian Mao ngồi trên bồn cầu chiếm chừng một phần ba thời gian ngủ. Nói ra, bạn đọc khó tin, có lúc Mao ngồi ăn ngay trên bồn cầu. Cho đến nay, nhà vệ sinh trong biệt thự Phong Trạch Viên nơi ở của Mao trong Trung Nam Hải, trước bồn cầu vẫn còn cái ghế, trên cái ghế đó vẫn còn dặt một tập sách cao chừng vài gang tay, cuốn để trên cùng vẫn còn mở ra.

Sau năm 1973, Mao đọc sách in chữ to đã thấy khó khăn, liền yêu cầu một cô thư kí chuyên đọc cho Mao nghe. Trương Dục Phượng chăm sóc ăn, ngủ cho Mao đã đủ bận, hơn nữa giọng nói Hắc Long Giang của cô quá nặng. Văn phòng trung ương phải tuyển một diễn viên ngâm thơ nhiều năm trong đoàn văn công, có giọng đọc truyền cảm, đến đọc thơ, tiểu thuyết cho Mao nghe. Nhưng văn bản, báo cáo bí mật, của Trung ương do Trương Dục Phượng đọc.

Một hôm, Trương Dục Phượng vào phòng làm việc của Mao thấy cô diễn viên xinh đẹp kia trên người không một mảnh vải che thân, đang ngồi trong lòng Mao, vừa đùa nghịch với Mao, vừa đọc báo cho Mao nghe. Trong thời kì Cách mạng văn hóa, các tờ “Nhân dân nhật báo” “Giải phóng nhật báo” và tạp chí “Hồng kì” vẫn thường đăng xã luận, truyền đạt chỉ thị của Mao và của Trung ương. Trương Dục Phượng là con gái nhà công nhân đường sắt, không quen nhìn cảnh các cô văn công yêu điệu, liền hầm hầm nhìn cô kia, bực tức lắm, bị Mao trông thấy. Mao đánh chó dọa chủ, nổi cơn thịnh nộ:

– Tôi không cần cô nữa, cút đi! Cút đi cho ta!

Chưa bao giờ Mao nổi nóng với Trương Dục Phượng như vậy. Trương Dục Phượng đành nín nhịn, nước mặt lưng tròng lui về phòng mình. Về đến phòng, cô thu xếp vài bộ áo quần, đẩy chiếc xe đạp do văn phòng Trung ương cấp để dùng, rời bỏ biệt thự Phong Trạch Viên, đi khỏi Trung Nam Hải, mượn một căn phòng chín mét vuông của một cán bộ cao cấp người đồng hương ở tạm. Văn phòng Trung ương nắm bắt ngay được chỗ ở này của Trương Dục Phượng.

Không có Trương Dục Phượng, sinh hoạt của Mao bị đảo lộn. Cô phục vụ mới đến rất đẹp, nhưng không biết thói quen sinh hoạt của Mao. Không tìm thấy áo quần, văn bản, sách bút, thuốc lá của Mao để đâu. Suốt ba ngày Mao chán nản, không còn cách nào, đành gọi vợ là Giang Thanh đến:

– Bà giúp tôi việc này. Tôi mắng cô Phượng, cô ấy tức mình, bỏ đi rồi. Bà đi gọi giúp cô ấy về cho tôi. Cứ nói, tôi mời cô ấy về. Tôi hết tức giận rồi, cô ấy cũng hết tức giận rồi chứ?

Rất ít khi Gang Thanh được Mao nhờ làm một việc gì, bà ta đồng ý ngay. Bà ta lên chiếc xe “Hồng Kí”, đi đón Trương Dục Phượng về. Hoàng hậu chính danh xuất chinh đi đón thứ phi. Giang Thanh đón được Trương Dục Phượng về cho Mao.

– Từ nay mình đừng tức giận đuổi cô ấy đi nữa nhé!

Bà ta đã là một lãnh đạo Đảng và Nhà nước, không còn để ý đến những sinh hoạt nhỏ nhặt của Mao.

Mao thấy Trương Dục Phượng bĩu môi như vẫn còn bực mình, liền kéo cô ta vào lòng.

– Cô đúng là hậu duệ của Trương Phi, tính nóng nảy quá.

Trương Dục Phượng bật cười, rồi lại khóc.

Mao ôm cô thật chặt vào lòng.

– Hai chúng ta chẳng ai xa được ai. Tôi đã nói rồi, không ai thay thế được cô. Tôi có thể không có bà Giang Thanh, không có Đường Văn Sinh, không có Chương Hàm Chi, không có Lư Hoạch, nhưng không thể không có cô. Hãy nói thật xem nào, cô có nhớ tôi không?

Trương Dục Phượng lau nước mắt, nước mũi vào ngực Mao.

– Em chỉ sợ, chỉ sợ buổi tối Chủ tịch muốn uống nước mà không có ai lấy.

Sau cơn sóng gió nho nhỏ, theo chỉ thị của Mao, Văn phòng Trung ương đề bạt Trương Dục Phượng từ chức vụ Thư kí sinh hoạt lên chức Bí thư cơ yếu của Bộ Chính trị, được hưởng chế đô đãi ngộ cấp bộ trưởng, về danh chính ngôn thuận giúp Mao quản lí hồ sơ, văn bản tuyệt mật, giữ tiền nhuận bút tác phẩm của Mao. Rất nhiều “chỉ thị mới nhất của Mao” cũng do Trương Dục Phượng truyền đạt cho Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình và cả Bộ Chính trị trung ương Đảng. Như vậy, Trương Dục Phượng đã trở thành “phải tả”, cánh “phái hữu” hết sức kính nể, trở thành nhân vật quan trọng rất muốn lợi dụng.

*

30. Ái cơ cuối cùng của Bắc Kinh

*

Từ đầu tháng Tám năm 1958 đến ngày Chín, tháng Chín năm 1976, Trương Dục Phượng sống bên Mao mười tám năm một tháng. Tức là, từ mười tám tuổi đến ba mươi sáu tuổi, cô đã dâng hiến quãng đời đẹp nhất cho “lãnh tụ vĩ đại Mao Trạch Đông” suốt cả ngày và đêm, từ phòng làm việc đến phòng ngủ, từ tình cảm cho đến thân xác. Mao qua đời không lâu, báo chí Đài Loan đã đăng ảnh Trương Dục Phượng chụp chung với Mao, ngồi giữa là “hai mặt trời nhỏ”. Trương Dục Phượng trở thành nhân chứng quyền uy nhất trong đời sống chính trị đầy máu và sắt thép của Đại lục.

Trương Dục Phượng rất trung thành. Lúc Mao còn sống, cô ta trung thành với Mao. Mao chết, cô cố gắng trung thành với Trung ương Đảng.

Nhưng Trung ương Đảng không căn cứ sự thật cô đã suốt mười tám năm sống bên Mao để xác định vị trí hôn nhân. Trung ương Đảng có cái khó của Trung ương Đảng. Luật hôn nhân đã qui định rõ một vợ một chồng, làm thế nào để lãnh tụ vĩ đại lại có chế độ riêng một chồng nhiều vợ, hoặc một hậu nhiều phi? Vả lại, công nhận Trương Dục Phượng thì còn các “Dục Phượng” khác nữa thì sao? Không thể tạo tiền lệ. Sinh thời, Mao có máu thi nhân lãng tử, thích đi đây đi đó, người đẹp miền nam, mĩ nhân miền bắc nhiều vô kể, khác nào hoàng thượng, đế vương thời xưa? Thôi đi, thôi đi, vì uy tín lãnh tụ vĩ đại, lợi ích của toàn Đảng, những cô gái kia phải phục tùng lợi ích chung, phải giữ tuyệt đối bí mật cho Đảng, cho đất nước. Hơn nữa, hơn một tỉ thần dân không thể chấp nhận sự thật đó. Trong lễ viếng Mao, trong lễ truy điệu sau đó, Trương Dục Phượng không được đứng cùng với những người thân thuộc, họ hàng của Mao như: vợ là Giang Thanh, các con gái Lí Mẫn, Lí Nạp, con trai Mao Ngạn Thanh, con dâu Thiều Hoa, cháu trai Mao Tân Vũ; cô chỉ được đứng trong số hơn năm chục nhân viên y tế, nhân viên phục vụ Mao.

Trung ương Đảng nắm vững toàn cục, phân định rõ ràng. Trương Dục Phượng rất quan trọng đối với Trung ương, được coi là trọng điểm bảo vệ, quan trọng hơn cả báu vật quốc gia trong Cố Cung, là vật vô giá. Tại sao lại như vậy? Vì cô nắm giữ chìa khóa tủ bảo mật của Mao với ba tầng mật mã: năm chữ số theo chiều kim đồng hồ, bốn chữ số theo chiều ngược lại, rồi năm chữ số theo chiều kim đồng hồ.

Tủ bảo mật của Mao để những gì?

Có của riêng, có của chung. Có thể chia làm hai loại.

Đầu tiên là mười mấy cuốn sổ gửi tiền trong ngân hàng, số tiền này chủ yếu từ nguồn thu bốn “Tuyển tập Mao Trạch Đông”. Nói ra, xin bạn đừng giật mình: bốn cuốn “Mao tuyển”, tuyển tập theo chủ đề, tác phẩm chọn lọc, những lời dạy của Mao, tổng số còn nhiều hơn cả kinh thánh toàn thế giới, dự đoán thấp nhất có chừng bốn tỉ cuốn. Tuy nhuận bút ở Trung Quốc rất thấp, từ năm 1965 đến năm 1977 Trung Quốc xóa bỏ chế độ nhuận bút, riêng có Mao được hưởng nhuận bút. Số tiền nhuận bút của Mao là bao nhiêu, tin rằng Mao cũng không biết, ông ta cũng không có hứng thú biết số tiền nhuận bút của mình. Về kinh tế, cho đến khi chết Mao vẫn là kẻ tù mù. Trương Dục Phượng biết rõ con số đó, nhưng cô coi đó là khoản tiền thiêng liêng của Đảng và Nhà nước.

Sinh thời Mao không biết tiêu tiền, chỉ biết hưởng thụ. Ông cũng không cần tiêu tiền. Ăn ở, áo quần, đi lại, vui chơi … tất cả đều do nhân dân chu cấp. Ông ta không quên chế độ cung cấp, thứ gì cần là có, rất nhanh gọn. Về tiền nong, có lúc Mao vung tiền như đất, nhưng có lúc tiết kiệm chi li, mặc áo vá, nằm chiếu rách, tất nhiên ông ta nghĩ để sau này làm vật kỉ niệm, để trưng bày trong viện bảo tàng giáo dục thiên hạ.

Năm 1950, một người bạn học hồi còn ở Hồ Nam gửi thư muốn đến thăm Mao ở Bắc Kinh. Mao không quên bạn cũ, gửi cho bạn một lá thư ngắn: “Bắc Kinh như cái chợ, bạn đừng mất công đi xa, tôi gửi biếu bạn năm trăm đồng.”

Năm 1952, một người họ hàng xa tám cây sào với không tới ở Tương Đàm viết cho Mao một lá thư, nói ở nhà rất khó khăn. Mao không trả lời thư, chỉ dặn thư kí giử cho chính quyền xã sở tại bốn trăm đồng, nhờ chuyển cho người kia.

Có không ít thư loại đó gửi từ quê Tương Đàm, Hồ Nam đến Mao, lúc Mao mới vào ngồi trong cung điện, làm Chu Nguyên Chương, vẫn nhớ bạn ở quê. Mao nói với giọng Tương Đàm:

– Tôi đã lên thành phố làm quan rồi, vẫn nên giữ quan hệ với quê hương.

Năm 1960, Mao phát động “Đại nhảy vọt” và chống phái hữu, xảy ra trận đói khắp cả nước, các nơi người chết đói như rạ, Bắc Kinh cũng khan hiếm thực phẩm. Mao là kẻ gây ra nạn đó đó, nhưng lại không thiếu thứ gì. Mao cũng không quên Chương Sĩ Kiếm, người mà Mao tôn xưng là sư trưởng. Tháng nào Mao cũng mời Chương Sĩ Kiếm vào biệt thự Phong Trạch Viên trong Trung Nam Hải vui vẻ với nhau, ngoài ra còn cho Chương Sĩ Kiếm mỗi tháng một ngân phiếu một nghìn đồng. Khoản chi này kéo dài đến tận năm 1963 mới chấm dứt. Mao còn nhớ trả khoản nợ cũ: mùa Thu năm 1919, Mao định du học ở Pháp theo “Đoàn cần công kiệm học”. Nhưng khi đến Thượng Hải thì không còn tiền, mấy người bạn cùng quê Hồ Nam như Thái Hào Sâm, Hưởng Cảnh Dự, Lí Lập Tam, Hướng Thúc Vệ, Lí Duy Hán, vân vân, cùng gom tiền đi đường. Mao đến vay Chương Sĩ Kiếm, người đồng hương giàu có. Chương Sĩ Kiếm rất khảng khái, mở hầu bao, chi ra một tờ ngân phiếu trị giá hai vạn đồng Viên Thế Khải (1), để làm khoản tiền đi đường cho lớp con cháu đi du học. Vì có hai vạn đồng ấy mà vị nguên lão Quốc Dân đảng năm 1949 không đi Đài Loan, mà lên Bắc Kinh qui thuận triều đình mới. Đến năm 1960, Mao chuyển đổi hai vạn đông Viên Thế Khải sang Nhân dân tệ, có lãi suất hay không thì ta không cần biết.

Cuối những năm sáu mươi, đầu những năm bảy mươi, liên tiếp bị thiên tai, trong nước nội bộ liên miên đấu đá, kinh tế Đại lục suy thoái. Mao muốn làm lãnh tụ cách mạng thế giới, làm người đại diện cho thế giới thứ ba. Viện trợ cho cách mạng châu Á, châu Phi, châu Mĩ la tinh, trở thành nghĩa vụ quốc tế của thần dân cả nước. Mỗi lần Thủ tướng Chu Ân Lai đưa Mao

thông qua bản ghi các khoản viện trợ quốc tế, Mao thường thêm một số không vào sau mỗi khoản, một trăm năm mươi nghìn chữa thành một nghìn năm trăm, hai trăm nghìn thành hai mươi nghìn, ba trăm nghìn thành ba triệu, khiến cho Chu Ân Lai toát mồ hôi trán, thầm kêu khổ không ai thấu. Nhưng mỗi chữ “chỉ thị tối cao” của lãnh tụ vĩ đại cứ thế mà làm. Tháng Chín năm 1972, Trung Quốc chính thức khôi phục quan hệ ngoại giao với Nhật Bản, Thủ tướng Nhật Bản Tanaka dẫn đầu Đoàn đại biểu Chính phủ Nhật Bản thăm Trung Quốc, nghe nói đã chuẩn bị bốn mươi triệu để bồi thường chiến tranh, Chu Ân Lai báo cáo với Mao. Mao tỏ ra sốt ruột phẩy tay:

– Cần gì phải bồi thường chiến tranh? Người Nhật không xâm lược Trung Quốc, chúng ta đã để Tưởng Giới Thạch nhận từ lâu rồi, chúng ta đã nói với những người bạn trong Đảng Quang minh, Đảng Xã hội, là cộng sản chúng ta cảm ơn chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản.

Mùa Xuân năm 1972, tại huyện Bổ Điền, tỉnh Phúc Kiến có một giáo viên trung học tên là Lí Khánh Lâm, thời kì đầu cách mạng văn hóa đã đứng

__________

(1)Tiền của Tổng thống Viên Thế Khải phát hành – ND

lên chống lại phải đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, về sau phải đi theo con đường tư bản chủ nghĩa thắng thế, anh giáo viên này bị qui là “đầu trâu mặt ngựa”, bị phòng giáo dục đuổi việc, về lao động ở nông trường, cả nhà không có ăn. Anh này thông qua mối quan hệ đặc biệt, khó khăn lắm mới gửi được một bức thư lên đến tay Mao. Mao gửi thư trả lời: “Đồng chí Khánh Lâm, đã nhận được thư. Cả nước nhiều vấn đề như thế này lắm. Hãy chờ giải quyết chung. Gửi đồng chí hai trăm nhân dân tệ, tạm thời đong gạo cho gia đình.”

Mùa Xuân năm 1976, Mao nằm trên giường bệnh, bà Giang Thanh vừa khóc vừa kêu la, hỏi Mao lấy hai chục nghìn đồng. Mao cũng thương, phải chảy nước mắt. Trước kia, Giang Thanh lấy tiền để mua máy ảnh, thỉnh thoảng lại lấy của Mao bốn, năm nghìn, bị Mao mắng ‘chơi nhiều đâm hư”. Đây là lần cuối, nhưng lại lấy của Mao một khoản lớn nhất.

Ngoài những khoản tiền Mao tích góp, trong tủ bảo mật còn có những tài liệu tuyệt mật của Đảng và Nhà nước. Từ ngày Đảng nắm chính quyền đến nay, cán bộ từ cấp Bộ Chính trị viết kiểm điểm, thư cam kết, bản nhận tội, các bản xin tha tội, báo cáo mật đều có trong tủ này.

Những văn bản tuyệt mật ấy đúng là bảo bối, đại diện cho phẩm chất, nhân cách của các vị lãnh đạo. Đối với những người đã chết như Lưu Thiếu Kì, Chu Ân Lai, Khang Sinh thì không còn gì nguy hiểm nữa. Đối với những người còn sống, như Giang Thanh, Đặng Tiểu Bình, Bành Chân … sẽ là những sự đe dọa về mặt chính trị. Nói không quá, ai nắm được những tài liệu tuyệt mật đó sẽ là những sát thủ chính trị cho đến khi chết, sẽ là người có đại quyền không chế các nhân vật lớn trong Đảng, Chính quyền, quân đội.

Trương Dục Phượng bỗng chốc trỏ thành nhân vật vô cùng quan trọng của Đảng.

Người đầu tiên gây sự là Giang Thanh, vợ của Mao. Vì bà ta đã có âm mưu, ít nhất có hai tài liệu có thể gây tai họa cho bà ta nằm trong tủ bảo mật kia. Thứ nhất là bản kiểm điểm của bà ta viết hồi cuối năm 1974 gửi Chủ tịch Trung ương Đảng và Bộ chính trị, thanh minh bà ta không tổ chức “bè lũ bốn tên” không có trong “nhóm Thượng Hải”. Bản thứ hai, tháng Mười năm 1975, Khang Sinh (vị đại sư mà bà ta tôn kính suốt nửa cuộc đời) trước khi chết đã gửi cho Mao băng ghi âm cuộc nói chuyện giữa bà ta và gián điệp Quốc Dân đảng.

Giang Thanh, với danh nghĩa là vợ Mao, yêu cầu được thanh lí tài sản riêng của Mao, đòi lấy chìa khóa và mật mã tủ bảo mật. Tất nhiên, không phải bà ta chỉ cần hai tài liệu kia, cần hơn là những bí mật xấu xa của những đối thủ. Trương Dục Phượng nói với bà ta, tất cả những gì Mao để lại đều là tài sản quí báu của Đảng và Nhà nước, muốn thanh lí phải được phép của Chủ tịch Hoa Quốc Phong, có văn bản của Trung ương, Cục bảo mật cử người đến tiến hành thu gom. Giang Thanh nổi nóng, ngay cả một cô hầu không danh chính ngôn thuận mà cũng dám chống lại bà ta. Bà hận một nỗi không xông đến cho cô ta vài cái tát. Nhưng bà ta cố nhịn. Bà biết, sự việc này rất quan trọng, nếu tát chỉ có thể bõ tức, nhưng sự việc thì vẫn thế.

Giang Thanh lập tức gọi điện cho Chủ tịch Hoa Quốc Phong, yêu cầu Hoa Quốc Phong ra lệnh để Trương Dục Phượng giao lại chìa khóa và mật mã tủ bảo mật của chồng bà ta. Hoa Quôc Phong yêu cầu bà ta hãy bình tĩnh, để ho nói chuyện với Trương Dục Phượng. Vậy là Trương Dục Phượng sang một phòng khác nói chuyện qua điện thoại với Hoa. Trương Dục Phượng xụt xịt nói, không thể giao, trong tủ bảo mật ngoài tiền của Mao ra còn có hàng loạt bản kiểm điểm của các vị ủy viên Bộ Chính trị, có nhiều thư tố giác. Thời kì đầu Đại cách mạng văn hóa, các vị lãnh đạo trung ương phê phán, vạch khuyết điểm của nhau, ai cũng có sai lầm, nếu để lộ ra thì không còn thể thống nào nữa.

Hoa Quốc Phong gọi điện cho Giang Thanh, thông báo cho bà ta biết, tất cả những gì Mao để lại, gồm tiền nong và tài liệu sẽ do Cục Bảo mật Trung ương quản lí, bất cứ ai cũng không được đụng đến. Đó là kỉ luật của Đảng. Giang Thanh vô cùng tức giận, khóc lóc kêu gào qua điện thoại:

– Chủ tịch chết còn nằm đấy, vậy mà các người đối xử với người chết thế ư?

Giang Thanh khóc lóc một tiếng đồng hồ, không chịu đặt máy điện thoại xuống. Hoa hết lời khuyên nhủ bà ta, cuối cùng ông ta cũng nổi cơn điên, nói:

– Đồng chí Giang Thanh, Mao Chủ tịch là Chủ tịch của toàn Đảng, toàn dân, là lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản, không phải là chuyện riêng của gia đình đồng chí.

Chỉ ít lâu sau, sáng sớm ngày Sáu tháng Mười, Giang Thanh cùng những chiến hữu của mình – Vương Hồng Văn, Phó Chủ tịch Đảng; Trương Xuân Kiều; Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị; Diêu Văn Nguyên, Ủy viên Bộ Chính trị; Mao Viễn Tân, cháu của Mao, Chính ủy quân khu Thẩm Dương, vân vân, bị bộ đội Trung Nam Hải bắt giữ, tống giam, cách li để điều tra. Giang Thanh không còn đòi Trương Dục Phượng phải giao nộp chìa khóa và mật mã tủ bảo mật của Mao.

Nhưng, trong tủ bảo mật của Mao có nhiều tài liệu liên quan đến những bí mật của các vị nguyên lão trung ương, những tài liệu đe dọa sinh mệnh chính trị của các đại nhân vật như, Đặng Tiểu Bình, Trần Vân, Bành Chân, Lí Tiên Niệm, Dương Thượng Côn, Vương Chấn, Bạc Nhất Ba, những tài liệu tuyệt mật dẫn đến việc Hoa Quốc Phong bị hạ bệ sau đấy ít lâu, những hiểm họa chôn vùi Hồ Diệu Bang mười năm sau đấy. Đó là chuyện về sau.

Trung ương Đảng biết Trương Dục Phượng nắm được rất nhiều bí mật của Đảng, đợi cho cô trao chìa khóa và mật mã tủ bảo mật của Mao cho Cục bảo mật, cô bị đưa ra khỏi chức vụ Bí thư Cục Cơ yếu của Bộ Chính trị, cho cô hưởng chế độ thứ trưởng của Chính phủ. Ít lâu sau, do yêu cầu của công trác bảo mật, Trung ương lặng lẽ bố trí cho cô ở trong một căn biệt thự cách biệt với thế giới bên ngoài ở Thượng Hải, làm một “Hạ Tử Trân thứ hai”. Năm đó, Giang Thanh rất sợ phải làm một “Hạ Tử Trân thứ hai, bà ngồi vững trên cái ghế của chồng, chồng chết phải vào tù, vào nhà tù Tần Thành. Đúng là ma sai quỉ khiến, đến lượt Trương Dục Phượng, một cô gái Hắc Long Giang làm “Hạ Tử Trân thứ hai”.

Mùa Thu năm 1980, tòa xét xử “bè lũ bốn tên chống Đảng” gồm Vương Hồng Văn, Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên, Trương Dục Phượng được đưa về Bắc Kinh, vạch rõ những tội trạng của Giang Thanh và làm người làm chứng, xuất hiện trước tòa.

Lúc bấy giờ Trương Dục Phượng rất ngây thơ cho rằng, Giang Thanh bị kết tội sẽ không được làm vợ Mao, cô đề nghị với Trung ương Đảng cho cô và hai đứa con có cơ hội được chính danh ngôn thuận là vợ con của Mao. Cô gửi cho Trung ương ba lá thư, yêu cầu được người có trách nhiệm tiếp.

Hoa đào hữu ý, nước chảy vô tình. Lúc ấy, cái ghế Chủ tịch của Hoa Quôc Phong đang bị lung lay, đại quyền của Đảng, Chính quyền và quân đội đã lọt vào tay Đặng Tiểu Bình, Hồ Diệu Bang. Hồ Diệu Bang rất giỏi nói chuyện, tỏ ra đồng ý với số phận của Trương Dục Phượng và con. Vấn đề cuối cùng là bàn tay Đặng Tiểu Bình, Đặng nói:

– Loại người ấy rất nhiều. Chúng ta không thể tính hết Trương Dục Phượng này, Trương Dục Phượng khác, đừng làm chuyện tiền lệ. Đồng chí Quách Mạt Nhược sau khi chết cũng có rất nhiều cô gái đưa con đến yêu cầu này nọ. Tất cả đều không chấp nhận.

Con đường thoát thân của Trương Dục Phượng đã bị Đặng Tiểu Bình chặn lại. Hồ Diệu Bang còn có chút tình cảm, cảm thấy phải nói chuyện, làm công tác tư tưởng cho Trương Dục Phượng. Cố gắng nối lại hôn nhân của Trương Dục Phượng với người chồng cũ, làm một người bình thường. Cô mới bốn mươi tuổi, bản thân có tội tình gì đâu? Ấy là Mao cần cô trong mười tám năm trời.

Người thay mặt Hồ Diệu Bang nói chuyện với Trương Dục Phượng là Phùng Văn Lâm, Chánh văn phòng Trung ương Đảng. Phùng Văn Lâm xuất thân là một trí thức, là thượng cấp cũ của Hồ Diệu Bang, sau năm 1949 là Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản, Hồ Diệu Bang là Bí thư thứ hai. Về sau ông này được điều về làm Bí thư thành phố Thiên Tân, Hồ Diệu Bang mới có cơ hội lên Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn. Mấy chục năm qua, quan hệ hai người vẫn rất thân thiết. Năm 1981, trong Hội nghị lần thứ Mười một, Ban chấp hành trung ương khóa Sáu, Hồ Diệu Bang làm Chủ tịch Đảng thay thế Hoa Quốc Phong (Ít lâu sau, Đảng xóa bỏ chế độ Chủ tịch, Hồ Diệu Bang làm Tổng bí thư), liền điều bạn cũ là Phùng Văn Lâm về làm Chánh văn phòng Trung ương.

Phùng Văn Lâm gặp và nói chuyện riêng với Trương Dục Phượng, nhưng lại động lòng thương hoa tiếc nguyệt. Năm ấy Trương Dục Phượng mới bốn mươi, có nước da trắng, đôi mắt to và sáng, vẫn còn hương sắc, ngon lành lắm. Cô gái vùng Mẫu Đơn Giang sống với Mao qua tuổi trung niên. Còn Mao từ tuổi trung niên đến những năm cuối đời, thưởng ngoạn không biết bao nhiêu là quốc sắc thiên hương, hưởng không biết bao nhiêu cá nước chim trời. Trẻ có, trung niên có, người miền Bắc có, người miền Nam có, phần lớn chỉ vui thú một vài đêm, chỉ có Trương Dục Phượng kéo dài suốt mười tám năm trời, Mao không bỏ, không chán. Chắc chắn trên người cô có sức hấp dẫn đặc biệt nào đấy.

Thời trai trẻ, Phùng Văn Lâm là một tài tử phong lưu, lúc này không kìm nén nổi cái cuồng nhiệt thời trẻ. Trong lúc Trương Dục Phượng nước mắt đầm đìa, không nơi nương tựa, cái vẻ đáng thương xúc động lòng người, thổ lộ nỗi khổ đau của lòng mình với Phùng Văn Lâm. Phùng Văn Lâm đang là đại diện của Trung ương Đảng, chú ý đến sức hấp dẫn đặc biệt trên con người Trương Dục Phượng đã làm cho Mao suốt bao nhiêu năm không chán, không ghét, chắc hắn phải là vô cùng vô tận lắm.

Trương Dục Phượng vẫn khóc lóc. Phùng Văn Lâm đồng ý ra sức giúp đỡ cô, để cô và những đứa con được hưởng quyền lợi hợp pháp, đồng thời nói với cô, tất cả đều do Trung ương quyết định. Chắc chắn Trung ương sẽ thực sự cầu thị, tôn trọng sự thật khách quan. Thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất kiểm nghiệm chân lí, hai đứa trẻ là máu thịt của Mao. Tất nhiên, Trung ương có cái khó của Trung ương. Trước hết, Trung ương phải xét đến đại cục, xét đến các nhân tố bảo đảm đoàn kết chung. Sự việc phải chia ra từng bước để giải quyết, đầu tiên điều Trương Dục Phượng về Bắc Kinh, sắp xếp cho cô được hưởng tiêu chuẩn cấp thứ trưởng về mặt chính trị và sinh hoạt, như vậy có được không? Văn phòng đứng ra bố trí để cô được ở trong một căn hộ cấp thứ trưởng, như vậy có được không? Đừng khóc nữa, đừng khóc nữa, khóc làm người khác phải thương tâm.

Trương Dục Phượng con người tao nhã, khiến ông Chanh văn phòng Trung ương cảm kích vô cùng. Ông đã gặp được một con người tốt. Sống trong Trung Nam Hải gần hai chục năm trời, Trương Dục Phượng biết Chánh văn phòng Trung ương quyền lực to đến mức nào, bản thân là một cô gái yếu đuối, nay gặp được người tốt, không biết lấy gì đền đáp. Mao chết, Trương Dục Phượng không còn tiếp xúc với người đàn ông nào khác. Bởi vạy, trong quá trình nói chuyện, bất giác Phùng Văn Lâm nắm lấy tay Trương Dục Phượng, cô không rụt lại; Phùng Văn Lâm giúp cô lau nước mắt, cô cũng để yên; những ngón tay của Phùng Văn Lâm lùa vào tóc Trương Dục Phượng, cô cũng không né tránh. Rồi Phùng Văn Lâm ôm lấy cô, cô như vừa đẩy ra vừa không. Người đúng là loài động vật dễ động tình, mà Trương Dục Phượng lại như bức thành bỏ ngỏ không người canh giữ.

Sau đấy, Phùng Văn Lâm thỏa mãn lòng hiếu kì, chơi ngay với ái cơ đáng yêu của lãnh tụ vĩ đại suốt nhiều năm trời, ông ta rất ân hận. Ông biết mình đã gây nên họa lớn, đụng đến tiên hoàng ái cơ mà bản thân tuyệt đối không nên đụng đến.

Trương Dục Phượng vào ở một chiêu đãi sở nhỏ của văn phòng Trung ương, chờ đợi suốt ba tháng trời. Phùng Văn Lâm không dám lộ mặt. Bắt đầu chỉ gọi điện thoại cho nhau, về sau điện thoại cũng không gọi. Trương Dục Phượng không biết rằng mình đã bị lừa dối. Trong Trung Nam Hải cũng có những kẻ đểu cáng. Cô rất tực giận, gửi cho Ban Kiểm tra – kỉ luật trung ương một bức thư tố cáo, chỉ đích danh, phản ánh việc Phùng Văn Lâm lợi dụng lúc nói chuyện đã làm trò đồi bại.

Đó là một sự việc không lớn không bé, nhưng cũng lớn cũng bé, dở khóc dở cười. Ở góc độ lớn, sự việc liên quan đến thể diện, uy tín của Trung ương; nhìn từ góc độ nhỏ, chỉ là tác phong sinh hoạt của cá nhân Phùng Văn Lâm. Ủy ban kiểm tra – kỉ luật Trung ương biết quan hệ giữa Phùng Văn Lâm và Tổng bí thư Hồ Diệu Bang. Họ chuyển lá thư của Trương Dục Phượng cho Hồ Diệu Bang xử lí. Hồ Diệu Bang đọc thư, tức giận suốt nửa ngày không nói một lời. Cái nhà ông Phùng Văn Lâm này thật không ra sao, gây nên chuyện rắc rối khó xử, khiến cho Hồ Diệu Bang không biết phải làm thế nào. Nếu chuyện đến tai Đặng Tiểu Bình, Trần Vân, biết phải ăn nói thế nào? Có người đã tố cáo, từ ngày Hồ Diệu Bang lên làm Tổng bí thư đã đề bạt, trọng dụng nhiều người của Trung ương Đoàn. Chuyện lớn thành chuyện nhỏ. Xưa nay Hồ Diệu Bang làm việc rất thoải mái, giải quyết dứt khoát. Trước tiên phải đình chỉ chức vụ Chanh văn phòng Trung ương của Phùng Văn Lâm, tránh đòn của mọi người. Ông bắt Phùng Văn Lâm phải làm kiểm điểm, nhận lỗi.

– Anh Lâm, anh đã giúp tôi trong công việc. Anh có chuyện gì với phụ nữ không? Việc gì cứ phai đụng đến cô Trương Dục Phượng? Đó là người của Mao để lại, là quí phi, vậy mà anh dám đụng đến? Anh có nghĩ chuyện sẽ phiền phức đến mức nào không?

Phùng Văn Lâm mất chức Chánh văn phòng Trung ương. Được sự giúp đỡ của Hồ Diệu Bang, ông ta được điều về làm Phó hiệu trưởng Trưởng Đảng cao cấp, qua đời sau đó ít lâu, hưởng thọ sáu mươi chín tuổi.

Hồi ấy, trong Trung Nam Hải truyền nhau câu chuyện cười: hồn Mao rất thiêng, ai đụng đến tấm thân ngọc ngà của Trương Dục Phượng, chắc chắn sẽ sớm đi gặp cụ Marx.

Trung ương Đảng vì lợi ích chung, vì đại cục chính trị, không trao chính danh cho Trương Dục Phượng và những đứa nhỏ. Trương Dục Phượng được ở trong một tòa nhà công vụ cao cấp kín cổng cao tường, sống cách biệt với thế giới, không lo gì đến chuyện ăn mặc, là một vật hi sinh cho chế độ phong kiến đương đại, làm vật tùy táng sống của Mao Trạch Đông.

Rất mong Trương Dục Phượng là ái cơ cuối cùng của Bắc Kinh.

Tháng Mười, năm 1989

Advertisements

Chuyên mục

%d bloggers like this: