Đăng bởi: Ngô Minh | 21.10.2016

CHUYỆN ÍT NGƯỜI BIẾT TRÊN NHỮNG CON TÀU KHÔNG SỐ

 CHUYỆN ÍT NGƯỜI BIẾT TRÊN NHỮNG CON TÀU KHÔNG SỐ             

Ngô Minh

 

tau-khong-so-may-bay-my-chup

Những con tàu không số  Đường Hồ Chí Minh trên biển trong cuộc kháng chiến chống  Mỹ là một huyền thoại lạ lùng, đẹp như cổ tích. Sau đây xin kể vài chuyện hy hữu xảy ra trong các cuộc hành trình nguy nan của các con tàu không số :

Ở TRUNG ƯƠNG TÔI CHỈ BIẾT ANH LÊ DUẨN”

Sau  vụ chiếc thuyền buồn đâu tiên của “Tập đoàn đánh cá sông Gianh” xuất  phát từ Quảng Bình Tết Canh Tý ( 1960) chở 5 tấn vũ khi vào Hòn Chuối đèo Hải Vân không thành công ,Trung ương  rút ra bài học là không thể đi bằng thuyền buồm. Trong lúc chưa có lục lượng để vận tải trên biển  vào Nam thật hợp lý, Đại tướng Võ Nguyên Giáp , bí thư Quân ủy Trung ương điện cho Trung ương Cục Miền Nam chỉ đạo các Khu ủy Khu 8, Khu 9 khẩn trương tổ chức lực lượng, bến bãi và phương tiện ra Bắc nhận vũ khí . Các tỉnh Bến Tre , Cà Mau , Bà Rịa đều  tổ chức các đội thuyền  giả đánh cá để vượt biển ra Bắc.   Đội thuyền Cà Mau gồm 8 người do Bông Văn Dĩa  làm thuyền trưởng. Bông Văn Dĩa anh hùng quân đội, sinh năm 1905, quê ở Rạch Gốc, Tân An, Ngọc Hiển Cà Mau. Anh là một  chiến sĩ trung kiên và giàu kinh nghiệm đi biển.. Đêm 1/8/1961, thuyền của Bông Văn Dĩa rời  bến rạch Cá Mòi ( Mũi Cà Mau) ra Bắc. Chiều  7/8, thuyền của Bông Văn Dĩa vào cửa sông Nhật Lệ ( Quảng Bình) gần Đồn Công an vũ trang. Nghi là tàu biệt kích địch nên  8 người và con thuyền bị công an giữ. Thuyền trường Dĩa nói với đồn trưởng công an :” Anh em trong Nam ra đây theo chỉ thị của Trung ương. Nhờ các đồng chí báo cáo Trung ương biết. Còn về thủ tục thì các đồng chí cứ thi hành theo nguyên tắc”. Mấy tiếng sau, Trưởng ty công an Quảng Bình là Tám Bội , quê Bến Tre tập kết , đến gặp anh Dĩa  hỏi :” Vậy trong  Trung ương anh biết ai ?”. Bông Văn Dĩa trả lời :” Ở Trung ương tôi chỉ biết anh Lê Duẩn”. May lúc này này, đồng chí Lê Duẩn đang làm việc tại Quảng Bình, biết tin có những người con của mảnh đất tận cùng Tổ Quốc vượt biển ra , nên đồng chí đã đồng ý  gặp. Bông Văn Dĩa đã từng biết đồng chí Lê Duẩn trong những ngày khổ sai ở Côn Đảo.  Nay gặp nhau cả hai dều  rất cảm động, ôm nhau trào nước mắt.. Bông Văn Dĩa báo cáo với  đồng chí Lê Duẩn tình hình miền Nam và nêu yêu cầu của Khu ủy “ Xin Trung ương  chi viện thật nhiều súng đạn để trang bị cho bộ đội”.. Đồng chí Lê Duẩn cười :” Cứ yên tâm. Trung ương sẽ giải quyết. Bây giờ các anh ở tạm đây ít hôm rồi  sẽ có xe đón về Hà Nội”.

 

                THỦY THỦ TÀU KHÔNG SỐ ĂN TIÊU CHUẨN NÀO ?

         Ông Vĩnh Mẫn, cựu Trưởng Ban tuyên giáo D125 , đoàn tàu không số xưa nay về hưu ở  bên Đập Đá, bên dòng sông Hương kể chi tôi nghe về tiêu chuyển ăn của chiến sĩ tàu không số . Ban đầu đơn vị thấy anh em đi vào chốn hiểm nguy như là người cảm tử quân nên mức ăn bao nhiêu cũng đồng ý. Nhưng cấp trên  buộc phải báo cáo cụ thể. Thế là Cục Hậu cần Hải Quân cử người đi theo tàu ra biển để xác định  mức ăn cho thủy thủ. Khi tàu ra khơi, ai cũng say sóng nghiêng ngả, chẳng ăn uống được gì, chỉ ăn rau muống sống để chống say. Anh hùng Phan Vinh , người đưa tàu 235 vào Hòn Hèo, Khánh Hòa chiến đấu chống giặc và hy sinh oanh liệt, tên anh được đặt cho một hòn đảo  ở Trường Sa , sinh thời kể với  ông Vĩnh Mẫn :” Anh biết không , đi trên biển đông ít khi sóng yên biển lặng, đa phần là sóng  dữ. Nếu sóng mà  từ cấp 6, cấp 7 là  hai phần ba thủy thủ bị say sóng  phải nằm. Nhiều anh em buồn tiêu mà không đứng dậy được. Lúc đó em  chẳng ăn gì, chỉ nhai rau muống  sống . Sau chuyến “đi thưc tế “đó , hậu cần quyết định  cho các chiến sĩ tàu không số ăn thoải mái, trên mức tiểu táo ( tiểu táo là mức ăn của sĩ quan cấp cao).

                   NẤU MỘT NỒI CHÁO HẾT  5 TIẾNG ĐỒNG HỒ

Ngày 26/9/1963, chiếc tàu gỗ chở 18 tấn vũ khí từ Đồ Sơn vào   bến Sông Ray, Lộc An ( Bà Rịa) do thuyền trưởng Lê Văn Một chỉ huy. Thuyền trưởng Lê Văn Một kể :” Qua vĩ tuyền 17 thì bị  sóng gió cấp 6, cấp 7. Ai cũng bị say sóng, trừ máy trưởng  Năm Sao, chính trị viên Đặng Văn Thanh và thủy thủ Thắng Rô. Tàu lắc đến nỗi, anh em thủy thủ phải  hai người đứng giữ hai quai chảo , giữ cho chảo ở trên bếp lửa mấy tiếng để nấu cơm, vì sóng lắc, không giữ thì chảo văng ra biển. Khi nấu cháo, tàu lắc quá, nồi cháo sánh ra ngoài cả , từ đó anh em có kinh nghiệm nấu cháo phải cho màn vào nồi cháo để cháo đỡ sánh ra ngoài. Nấu 5 tiếng đồng hồ mới  chín được nồi cháo….”

 

 

 

DÂN CÁ GỖ

 

              Trong dân gian người ta  gọi dân xứ Nghệ là “dân cá gỗ”. Người  xứ Nghệ ham học nhưng nghèo, ra Hà Nội học, thấy học xong người ta ăn cá, người Nghê liền đẽo một con cá bằng gỗ, rồi đến bữa ăn  rót nước nắm vào cá gỗ. Ăn cơm với nước nắm, còn cá gỗ ăn xong lại lau đi, lần sau bày ra ăn. Dân xứ khác đi ngang qua thấy người Nghệ cũng bữa nào cũng có cá ăn, không  dám coi thường người Nghệ .

 

Tưởng câu chuyện đó là chuyện của các sĩ tử xứ Nghệ xưa, không ngờ khi đi tàu không số các thủy thủ cũng phải dùng cá gỗ, mực gỗ.  Trên tàu có lưới, câu, và có cả cá…gỗ ! Để nghi trang địch, giữ bí mật cho con tàu hành trình , anh em thủy thủ đẽo từng con cá gỗ lớn , con mực ống lớn và nhuộm mầu rất giống cá khô , mực khô mang theo trên tàu. Để khi tàu hay máy bay trinh sát địch  nhòm tới thì  phơi cá gỗ , mực gỗ đó ra bong tàu để chúng tin là tàu đánh cá. Đêm lại cất cá gỗ vào khoang. Nên dân tàu không số cũng có thể gọi là “dân cá gỗ”.

 

 

                          ĐẶNG VĂN THANH LẦN ĐẦU

                       GẶP ĐẠI TƯỚNG TỔNG TƯ LỆNH

               Nhắc đến chính trị viên tàu không số anh hùng  LLVT Đặng Văn Thanh , lại nhớ chuyện lần đầu tiên anh ra Bắc gặp Đại tướng rất cảm động. Thanh quê ở Thuận Nam, Ninh Thuận. Năm 1954, Thanh không tập kết mà được phân công “ nằm vùng”. Một hôm Khu ủy khu 6 gọi lên bảo ra Bắc học. Khu ủy giao cho cái phòng bì, bảo  :” Nếu gặp bất trắc, dù hy sinh cũng phải thủ tiêu phong bì trước khu ngã xuống. Ra đến Hà Nội chỉ được giao phong bì này cho một người, đó là Đại tướng Võ Nguyễn Giáp”. Thanh vượt Trường Sơn gần 8 tháng mới ra đến Hà Nội. Một hôm, có người đưa xe đến đón Thanh  đến phố Lý Nam Đế . Căn phòng mở, một người dáng chắc đậm, quần ka-ki, áo lụa ba túi bước vào. Người sĩ quan giới thiệu;” Báo cáo thủ trưởng đây là đồng chí Đặng Văn Thanh vừa ở Khu 6 ra”, rồi anh  quay  lại  phía anh Thanh  :” Đây là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đồng chí Thanh chào Đại tướng đi”.

          Thanh sững sờ, hai mắt nhòe lệ. Đại tướng bước lại bắt tay và ôm hai vai Thanh. Thanh đưa cho Đại tướng chiếc phong bì vẫn giữ trong người gần năm trời, thưa :” Anh Hiền ở Khu 6 dặn chỉ được đưa phong bì này cho Đại tướng.”. Sau khi Thanh kể chuyện và báo cáo  tình hình ven  biển từ Khánh Hòa vào Mũi Đèn ( Phan Thiết), người sĩ quan trải lên bàn tấm bản đồ lớn rồi nói :

–         Đây, đồng chí Thanh chỉ rõ từng chỗ trên bản đồ.

Thanh lắp bắp đỏ mặt không nói được gì. Cuối cùng quay sang Đại tướng , Thanh ấp úng nói :

–         Báo cáo …Đại tướng. Em…không biết chũ.

Căn phòng bỗng lặng đi. Đại tướng cũng lặng đi hồi lâu, rồi nói với người sĩ quan :”- Anh em trong ấy cực vậy đó. Đêm hôm đó, đại tướng thức tới khuya trò chuyện, thăm hỏi nghe Thanh kể lại cuộc đời mồ côi của mình đến một giờ sáng. Chia tay, Đại tướng nói : “Bây giờ đồng chí có hai nhiệm vụ tôi giao, phải làm cho kỳ  được. Một là  chữa bệnh, bồi dưỡng cho thật khỏe. Hai là phải đi học. Học chữ và học chuyên môn. Khi nào hoàn thành nhiệm vụ báo cáo cho tôi biết “.

         Sau này, Đặng Văn Thanh trở thành một thuyền trưởng, một chính trị viên giỏi của đoàn tàu không số, được phong anh hùng quân đội, anh đã mất  ở Cà Ná.

                             CẢI DẠNG MẶT ĐỂ TIẾP TỤC

                      CHỈ HUY TÀU CHỞ VŨ KHÍ TRÊN BIỂN

                  Tư Mau (tức Phan Văn Nhờ) , một chiến sĩ cách mạng kiên cường và mưu trí, gan cóc tía,  người có nhiều kinh nghiệm đi biển và có những sáng tạo hết sức táo bạo. Anh  nguyên là Đoàn trường  Đoàn vận tải  962 của Quân khu 9.  Năm 1972, địch  kiểm soát biển Đông quá chặt, Tư Mau đã nghĩ ra cách  thành lập Công ty vận chuyển công khai trên biển, gọi là Công ty Việt Long (tức D731). Công ty mua 5 chiếc thuyền SG66, SG67, SG158, SG159 để làm nhiệm vụ vận chuyển vũ khí và mua thêm 3 thuyền vận tải VT235, VT254 và 2674KG để đi làm kinh tế kết hợp nghi trang che mắt địch. Công ty còn mướn  thợ đóng  2 chiếc tàu ở Biên Hòa trọng tải 120 tấn, 500 mã lực có gắn máy lạnh. Công ty có 10 cái kho cất giấu  vũ khí , hàng hóa ở ngay Sài Gòn .Từ đầu năm 1972 đến cuối năm 1973, Đoàn 371 đã thực hiện 37 chuyến ra Bắc, chở 600 tấn vũ khí, hàng hóa, thuốc chữa bệnh vào chiến trường Nam Bộ an toàn, bí mật.

           Sau  vụ phản bội của tên Ba Tam ( tức Nguyễn Văn Rớt, một cán bộ của văn phòng công ty), Công ty Việt Long bị tổn thất nặng nề. 100 cán bộ và công nhân bị bắt, văn phòng  ở Sài Gòn  và một số thuyền bị địch tịch thu. May thuyền vẫn còn lại  5 chiếc, trong đó 4 chiếc đang ở miền Bắc với 23 người, trong đó có 3 đồng chí cán bộ chỉ huy  là Tư Mau, Mười Thượng, Mười Khanh, một thuyền ở Bến Hố không bị lộ, lực lượng ở các bến vẫn còn đầy đủ. Lúc này Tư Mau đang ở miền Bắc. Quân khu 9 điện cho biết, bọn phản bội đã chỉ cho địch nhận dạng về Tư Mau. Vì thế Tư Mau  đề nghị được đi cải dạng mặt.  Tư Mau phải đi phẩu thuật chỉnh hình ở Bệnh viện 108. Phải mổ chân mày từ cong, dài, làm cho thẳng và ngắn lại. Mũi bạnh ra, miệng cũng rộng ra. Một hôm , khi vết mổ đã lành, xe con bí mật chở  Tư Mau về gặp đồng chí Lê Đức Anh ở Bộ tổng tham mưu. Tư Mau hỏi :” Xong rồi đây. Anh  coi, tôi có khác không ?”. Ông Lê Đức Anh lắc đầu :” Mình vẫn nhận ra mà ! Chưa được đâu ?. Thế là lại vào 108. Cắt sườn non độn cho mũi cao lên. Bứng hết  cả da đầu, xoay ngược mái tóc từ trước ra sau. Đốt má cho  đầy tàn hương. Phải đốt cả đầu ngón tay để làm cho dấu vân tay khác đi.. Lần này về Bộ tổng tham mưu, ông Lê Đức Anh không nhận được nữa. Tư Mau phải về Nam bằng đường Trường Sơn… Một thời gian sau ở Sài Gòn xuất hiện một nhà tư sản mới, chủ vựa cá Sáu Thuận. Và những đoàn thuyền hợp pháp lại ra Bắc chở vũ khí vào cho Quân khu 9 cho đến năm 1975…

Advertisements

Categories

%d bloggers like this: