Đăng bởi: Ngô Minh | 27.10.2016

NGÀY XUÂN NÓI CHUYỆN ĐẶT TÊN CON

ngo-minh

NGÀY XUÂN NÓI CHUYỆN ĐẶT TÊN CON

                                                                 Ngô Minh

            Tên người là cái mã của số phận, nó đi theo con người suốt đời. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến tương lai về sau.  Dân ta xưa đa phần người làm nông, ít được học nên ít chữ, thường đặt tên con theo cảm tính, nôm na. Tên con có 2 loại:  “tên đẻ” gọi ở nhà, thường thì Cu, Đái, Tý, Miêu, Khỉ, Chó, Ốc, hỉm… nghĩa là cái tên động vật, hay tên vật quý của người, tên thật xấu để ma quỷ khởi “quở”. Còn tên trong giấy khai sinh tức tên ghi ở sổ Bộ lại khác, đàng hoàng hơn.  Tên Đa phần con trai chữ lót là Văn: Ngô văn, Đỗ Văn, Nguyễn Văn, Trần Văn. Hoàng Văn, Lại Văn.v.v..Còn tên thì Hùng, Dũng, Kiên, Cường, Vọng, Thiện, Phúc, Lộc, Thọ, Nhân, Nghĩa…. Nghĩa là những chữ đẹp, thể hiện sự mong mỏi cứng cáp, dugnx cảm, tình nghĩa, tài lộc sau này. Còn con gái đa phần chữ lót là Thị : Ngô Thị, Trần Thị, Hoàng Thị, Nguyễn Thị.v.v..  Còn tên thì tên các loại hoa, quả, tên mùa như Hồng, Đào, Sen, Hoa, Hường, Mai, Thu, Xuân, Hạ, Bưởi, Cam, Chanh, Điệp, Nguyệt,v.v.. Có người  tên khai sinh của con mà đặt rất  khó gọi và “xấu”: như Cùn, Tiu, Trụt, Phai, Tàn, Tản…Rồi đến  ngày lớn lên đi làm việc lại phải ra xã phường xin cải lại tên cho “tử tế” hơn. Có người đặt tên con theo tên sông hồ, núi non, hoa quả, cây cỏ (Tùng, Bách, Mai, Trúc, Lan, Hòe, Quế,…), màu sắc, chim chóc hoặc cầm thú (Long, Lân, Quy, Phượng, Loan, Yến,…), bốn mùa (Xuân, Hạ, Thu, Ðông), tên theo tháng, năm mà đứa tgrer sinh ra (Tí, Sửu, Dần. Mão, Mẹo, Thìn, Tỵ,…), ngọc quý (Pha, Châu, Ngọc, Quỳnh,…), tên thuộc về loại kim (Cương, Chung, Liệu,…), loại đá (Thạch, Bích, Thạc, Nha, Sa, …), phúc đức, phẩm hạnh hoặc hình dung tốt đẹp (Phúc, Lộc, Khang, Ninh, Thạnh, Vĩnh, Trường…). Người có học, biết chữ Nôm, chữ Hàn thì đặt tên kép cho con  (song văn thanh) như : Hào-Kiệt, Tuấn-Kiệt, Anh-Hùng, Anh Dũng, Kỷ-Cương, An-Khang, Chi-Lan, Diễm-Kiều, Ðoan-Trang, Tinh-Hoa, v.v..  

 

Người ta cũng lấy địa danh, chổ ở, nơi sanh để đặt tên. Nhà báo già 93 tuổi Nguyễn Xuyến cạnh nhà tôi có thời ký dài ở Nghệ An. Tên 5 đứa con của ông đều lấy tên các địa danh ở Nghệ An nơi vợ chồng  ông ở và sinh con, như: Lưu ( Quỳnh Lưu ), Sơn ( Anh Sơn), Đàn ( Nghĩa Đàn), Bình ( Nghĩa Bình, Tân Kỳ), Thủy ( Bến Thủy). Có người lại đặt tên con theo năm sinh . Như Quý Sửu, Văn Thìn, Tân Dậu.v.v..Đặt tên kiểu này rất chính xác về tử vi, vì năm sinh cũng là phận người. Cũng có người đặt tên con theo âm vần đầu như ông chú của tôi đặt tên các con là Phòng, Phành, Phờ, Phiện…, nghe buồn cười. Hay có người đặt tên các con mình là Vân, Vũ, Vi, Văn, Vấn… chẳng có mấy ý nghĩa. Các cụ xưa khi đặt tên con chú ý nhất là không được trùng tên ông bà, tiên tố vì như thế là phạm thượng ( gọi là phạm húy). Hay không đặt các tên to tát như Hoàng Đế, Thiên Thần, Nhật Hoàng, Ngọc Hoàng…hay kỵ đặt tên trùng với tên những ông vua hay lãnh tụ nổi tiếng, sợ bị quở . Tôi đứa cháu bên ngoại tên là Ngọc Hoàng, bị chết trẻ, không biết có phải do đặt tên của TRời hay không! Sau đây xin kể một số trường hợp đặt tên con có hàm ý sâu xa, ý nghĩa, hay ngược lại.

 

Ông Nguyễn Văn Toản, bố nhà thơ Hàn Mặc Tử là một công chức thời Pháp, ông làm quan tại Quảng Bình, Huế. Ông có 5 người con, đặt tên là Nhân, Nghĩa, Lễ , Trí, Tín. Đó là quan niệm và phương châm sống của ông mong truyền đến các con . Nguyễn Trọng Trí tức nhà thơ danh tiếng Hàn Mặc Tử, đứa con thứ tư.  Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng / Chị ấy năm nay còn gánh thóc/ Dọc bờ sông trắng nắng chang chang ( Mùa Xuân Chín). Lòng trí.. là chơi chữ, vừa là bụng da, tâm hồn, vừa là “lòng của Trí”. Theo Nho giáo, Ngũ thường thì Nhân là tình người, nhân đạo; Nghĩa: hiếu thảo ; Lễ : lễ phép, lịch sự; Trí :  trí tuệ , hiểu biết ;  Tín : giữ lời hứa, chữ tín. 5 chữ mà ông Toản đặt, chữ TRÍ đã ứng vào Hàn Mặc Tử, nhà thơ hiện đại nổi tiếng nhất nước ta thế kỷ XX.

 

Tôi có anh bạn vong niên tên là Hà Chí Nguyện, một con mọt sách, mê thơ, là giáo viên dạy văn  Trường Cấp 3 Lệ Thủy đã mất, rất mê tài năng và thơ văn Ức Trai Nguyễn Trãi. Mê đến mức, khi lấy vợ , sinh đứa con đầu lòng, Hà Chí Nguyện đã khắc một câu lên trần nhà, nguyện dùng để đặt tên cho tất cả những đứa con của mình .Và thầy giáo Nguyện có 8 người con, tên được ghi vào giấy khai sinh  : Tấm, Lòng, Ức, Trai, Sáng , Như, Sao, Khuê. Còn  anh con cô cậu với tôi là Ngô Văn Toản, 94 tuổi, ở làng Thượng Luật, hiện vẫn rất minh mẫn. Anh lấy vợ năm 1947, chị tên là Phòng. Đến khi có con gái đầu thì Việt Minh đang giai đoạn phòng ngự để chuẩn bị phản công lại quân Pháp. Nên anh Toản đã lấy kế hoạch hành động của cách mạng nêu ra hồi đó là Phòng Ngự Cầm Cự Tổng Phản Công,  đặt tên cho con của mình sẽ sinh ra, bắt đầu từ chữ Ngự, với mong ước cách mạng từng bước thắng lợi. Đã có 3 đứa con sinh ra tên là Ngự- Cầm – Cự ( Cầm đi bộ đội hy sinh ở chiến trường miền Nam, Cự con gái, bị bom chết ở làng) . Năm 1954, chiến dịch Điện Biên Phủ, đứa con trai mới sinh anh đặt tên là Tổng. Sau Điện Biên Phủ, hòa bình lập lại, anh sinh thêm đứa con trai nữa, cái tên Phản Công không còn thích hợp, anh liền đặt tên cháu là Tỉnh. Nghĩa là câu khẩu hiệu 7 chữ, anh mới thực hiện được 5, vì cách mạng  thắng lợi nhanh quá.

 

Cách đặt tên con theo ước nguyện đó còn có anh Hoàng Xuân Vượng, người đã ngồi cũng phòng làm việc với tôi ở Phòng Tổ Chức cán bộ Sở Thương Mại Bình Trị Thiên ( cũ) 13 năm ròng, cũng đặt tên con là : Hòa – Bình- Thống- Nhât-  Nam- Bắc. Vì anh Vượng và vợ là chị Đỗ Thị Dụy ( cả hai anh chị đã mất) đều là người huyện Hải Lăng, Quảng Trị tập kết ra Bắc 1954 ở Thanh Hóa, làm ở nghành Thương Nghiệp. Cái mong ước thống nhất Nam Bắc để về quê hương đó anh thực hiện gần trọn vẹn với 5 đứa con Hòa, Bình, Thống , Nhất, Nam. Còn cái tên Bắc chưa thực hiện được vì ông bà đã già, không còn sinh nở  được nữa. Phải gần 20 năm kiên trì lấy tên con để thực hiện khát vọng của mình.

 

Về việc đặt tên người thân để gửi gắm niềm tin của mình tài nhất  là Cụ Hồ . Cụ Hồ thời chống Pháp ở Việt Bắc đã hai lần đặt lại tên cho cán bộ phục vụ mình bằng những cái tên rất ý nghĩa. Tám cán bộ, chiến sĩ đầu tiên được Bác Hồ đặt tên là Trường-Kỳ-Kháng-Chiến-Nhất-Định-Thắng-Lợi . Trường (Võ Trường), tên thật là Võ Chương, quê ở TP Huế. Kỳ (Vũ Kỳ), tên thật là Vũ Long Chuẩn, quê ở Hà Đông. Ông làm Thư ký giúp việc Bác Hồ từ 8/1945 đến năm 1949 và từ năm 1957 đến khi Bác mất.  Kháng (Hoàng Hữu Kháng), quê Thái Bình, tên thật là Nguyễn Văn Cao. Chiến (Tạ Quang Chiến), tên là Nguyễn Hữu Văn, sau 8/1945 được phục vụ Bác Hồ, đến năm 1957. Nhất (Hồ Văn Nhất), dân tộc Tày, quê Cao Bằng, tên thật là Hoàng Văn Phúc, bảo vệ Bác từ tháng 5/1945, khi Bác về Tân Trào; Định (Võ Viết Định), tên thật là Chu Phương Vương, quê Cao Bằng; Thắng (Nguyễn Quang Chí ), tức Nguyễn Văn Huy.;  Lợi (Trần Lợi), là Trần Đình, dân tộc Nùng, quê ở tỉnh Cao Bằng , bảo vệ Bác từ năm 1945 đến năm 1950 ;

Tám chiến sĩ bảo vệ  Bác, được Bác đặt tên khác là : Trung-Dũng-Đồng-Tâm-Kiên-Quyết-Cần-Kiệm : Trung, là Nguyễn Văn Mộc;   Dũng, là Nguyễn Văn Dong, quê ở tỉnh Hưng Yên, cả hai đều là cán bộ Đội công tác của Trung ương xây dựng căn cứ địa Việt Bắc ; Đồng, là Hoàng Văn Tý, là Việt kiều được gặp Bác Hồ ở Thái Lan khi Người hoạt động tại đây; Tâm, là Lê Văn Chánh, quê ở Sài Gòn, là bác sĩ quân y từng hoạt động trên chiến trường Lào trước khi được cử về làm bác sĩ riêng chăm sóc sức khỏe Bác Hồ. Kiên là Nguyễn Văn Nga; Quyết, là Nguyễn Văn Phúc, là hai chiến sĩ vệ quốc đoàn cùng được điều động một đợt về bảo vệ Bấc Hồ từ năm 1947 đến năm 1951. Cần, tức Lê Văn Nhương, quê Nghi Lộc, Nghệ An ; Kiệm, tức Lê Nhạ, quê Hà Tĩnh, đều là người giỏi nghề mộc, được điều động về làm nhiệm vụ xây dựng nhà ở cho Bác Hồ ở Việt Bắc.

 

Giáo sư Nguyễn Lân nổi tiếng, từng dạy Trường Khải Định Huế  thời Pháp thì lấy tên mình đặt chữ lót cho con, với mong muốn coi noi theo sự học của cha, tên con thì hướng tới sự khỏe mạnh, bền vững. Và đứng như  GS Nguyễn Lân mong ước, người con nào cũng  là giáo sư- tiến sĩ : Nguyễn Lân Cường ,Nguyễn Lân Dũng , Nguyễn Lân Tuất,  Nguyễn Lân Hùng, Nguyễn Lân Tráng, Nguyễn Lân Việt, Nguyễn Lân Trung .

 

Ông bố tôi cũng hai lần đặt tên con, đều là những câu châm ngôn. Tôi có 4 anh em trai, cách nhau 5 tuổi, sinh từ năm 1939 đến 1954. Lúc đầu ông đặt là Thạnh- Thường- Cường- Cần ( Ngô Văn Thạnh, Ngô Văn Thường, Ngô Văn Cường, Ngô Văn Cần). Bốn chữ đó có nghĩa là gia đình cường thịnh là nhờ lao động cần cù mà nên. Năm 1956, bố tôi biết mình sắp có hạn lớn, ông lên xã xin đổi tên một lúc bốn đứa con thành:  Khương – Ninh- Khôi- Phục , tôi là Khôi, Ngô Văn Khôi, con thứ ba.  Nghĩa là hai anh đầu phải vững vàng, kiên nhẫn ( Khương Ninh), để hai em sau khôi phục danh dự gia đình. Tôi đặt tên hai đứa con trai là Ngô Hải Tân, Ngô Hải Bình  lại  theo địa danh nội ngoại các cháu. Bình Tân là tên địa danh tỉnh Quảng Bình từ thời chúa Nguyễn. Cái tên Bình Tân, Tân Bình ấy theo người đi mở cõi Phương Nam, còn lưu dấu đến bây giờ  thành tên của các quận ở Thành phố Hồ Chí Minh : Như : Bình Tân, Bình Thạnh, Tân Bình… Bình là Quảng Bình, Tân là Tân Kỳ, một huyện ở Nghệ An, quê ngoại các cháu, còn chữ lót Hải tức là biển. Đặt tên con như thế là hoài niệm về quê hương xứ sở,  nhưng cũng có mong ước : Bình Tân là bình yên và mới mẻ .

 

        Bữa nay các ông bố bà mẹ trẻ đặt tên con thường 4 chữ theo nguyên tắc: Họ bố- họ mẹ- chữ đệm – tên con . Ví dụ Võ Hoàng Trúc Anh, Trần Nguyễn Phương Văn.v.v..Theo các nhà nhiên cứu, đặt tên như thế phải biết nguyên tắc:  số lẻ là dương, số chẵn là âm. Vì thế, nên đặt tên 3 chữ ( họ- chữ lót- tên) cho con trai, tên 4 chữ dành để đặt cho con gái thì thích hợp hơn. Và tên con mà toàn vần trắc thì cuộc đời sau này sẽ khổ. Ví dụ có gia đình ở xã tôi đặt tên cho 5 người con là Bỉnh- Bấu- Bạo- Bợm – Bốn. Thực tế cuộc đời chị em nhà này hay bất trắc, không suôn sẻ, có người bị họa nữa. Bây giờ sinh đẻ có kế hoạch nên mỗi cặp vợ chồng chỉ có hai đứa con, nên không thể đặt tên con theo những câu dài nữa, mà chủ yếu là tìm tên hay, cùng với chữ lót  để tạo nên ý nghĩa  cho cả cuộc đời.

 

Ngày Tết  kể vài chuyện về đặt tên con, tên người thân như thế để biết rằng, đặt tên là đặt “mã số” cho một đời người, nó vận vào số mệnh, nên phải hết sức cẩn trọng.

 

 

Advertisements

Categories

%d bloggers like this: