Đăng bởi: Ngô Minh | 28.10.2016

ĐẦU NGUỒN SÁNG SÔNG ĐÀ

img_8195

ĐỌC BỘ SÁCH ” NGÔ MINHTÁC PHẨM”, TẬP3   

ĐẦU NGUỒN SÁNG SÔNG ĐÀ  

 

   Ghi chép của Ngô Minh

 1.Hòa Bình là Đất Mường. Nói đến Hòa Bình là nhớ tới Dốc Cun nổi tiếng ác liệt trong kháng chống Pháp với những đoàn dân công thồ gạo đạn lên mặt trận Điện Biên . Nhắc đến Hòa Bình lại nhớ nhà thơ Quang Dũng : Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói / Mai Châu mùa em thơm nếp xôi. ( Tây Tiến). Nhắc đến Hòa Bình ai cũng nhớ ngay đến nước khoáng nổi tiếng Kim Bôi, nhớ vịt bầu Chợ Bến, nhớ bài hát Nụ cười sơn cước của nhạc sĩ Tố Hải sáng tác trong thời kỳ đầu kháng Pháp: Ai về sau dãy núi Kim Bôi / Nhắn rằng tim tôi chưa phai mờ / Hình dung một chiếc thắt lưng xanh / Một chiếc khăn màu trăng trắng / Một chiếc vòng sáng long lanh…

Nhưng có lẽ ấn tượng nhất đối với tôi khi đến Hòa Bình trong chuyến đi giao lưu với Hội Văn học nghệ thuật các tỉnh phía Bắc của Đoàn Văn nghệ sĩ Huế  vừa qua là Nhà máy thủy điện , nơi Đầu Nguồn Sáng Hòa Bình. Quả thực từ 20  năm nay, cả nước dùng ánh sáng Hòa Bình , đêm đêm ánh điện Sông Đà thắp sáng hàng chục triệu ngôi nhà,  tạo ra vô số công việc làm ăn trong công cuộc đổi mới của đất nước, nhưng hẳn còn rất nhiều người chưa biết nguồn sáng ấy đã ra đời như thế nào…Bởi thế mà khi đoàn chúng tôi được cô hướng dẫn viên du lịch Sông Đà dẫn đi trên đường hầm dẫn vào gian máy, đứng ngắm  tám tổ máy phát điện đồ sộ của Nhà máy Thủy điện Hòa Bình, vàng chói nằm dưới lòng núi sâu 153 thước, bao nhiêu xúc động trào dâng…Phải gọi đây là một công trình kỳ vỹ .

 

Đây là lần thứ  hai tôi được đến Thủy điện Hòa Bình. Lần thứ nhất vào cuối năm 1985, tôi là đại biểu dự Đại hội Nhà văn trẻ toàn quốc lần thứ 2. Sau đại hội một số nhà văn trẻ miền Trung và miền Nam được Công ty xây dựng Thủy điện Sông Đà mời lên tham quan công trường xây dựng Nhà máy thủy điện lớn nhất Đông Nam Á. Đoàn nhà văn trẻ chúng tôi lúc đó có các nhà văn mà đến hôm nay tên tuổi đã trở nên gần gũi với bạn đọc cả nước như Nguyễn Trọng Tín , Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Đức Thọ ( người Nghệ An, sống ở Đồng Nai, đã mất), rồi Dạ Ngân , Ngô Khắc Tài, Trần Thùy Mai, Tôn Nữ Thu Thủy, Nguyễn Đông Thức, Song Hảo.v.v..và một người trẻ đẹp làm thơ người dân tộc  ở Pleycu tên là Hồng Vân , do nhà thơ Hữu Thỉnh làm trưởng đoàn . Đoàn được ông Ngô Xuân Lộc, lúc đó là Tổng giám đốc Công ty xây dựng Thủy điện Sông Đà tiếp đón rất nồng nhiệt. Lúc đó nhà máy đã được khởi công được 6 năm ( bắt đầu từ ngày 6-11-1979), và đã tiến hành ngăn Sông Đà đợt 1 ( 1983) và đang khẩn trương chuẩn bị để mấy ngày nữa sẽ ngăn sông Đà đợt 2 ( 9-1-1986). Trên công trường lúc đó hàng vạn công nhân trẻ đang miệt mài lao động khoan núi, đắp đập, ngăn sông. Ai cũng biết những năm 85, 86 của thế kỷ trước, nền kinh tế nước ta ở trên bờ vực thẳm, nên cuộc sống của công nhân Thủy điện Sông Đà vô cùng vất vả, phải ăn bo bo, phải chịu cảnh không điện, phải ở những khu  lán tập thể tre nứa sơ sài. Nhưng nhìn gương mặt của họ ai cũng hồ hởi, nổ mìn khoan đá, xúc đất đá, đào đường hầm, lái xe cẩu, xe xúc, be ben chạy ầm ầm suốt đêm ngày. Cờ Tổ quốc được bay  phần phật trên mui xe, trên sườn núi… Sau này tôi mới biết thời kỳ cao điểm, trên công trường có trên 36.000 công nhân, kỹ sư làm việc, trong đó có 5.000 chiến sỹ quân đội thuộc Binh đoàn 12 và 750 chuyên gia Liên Xô . Thật là một đại công trường. Chúng tôi được chỉ huy công trường dẫn đi tham quan nơi khoan núi làm 8 cửa nhận nước, nơi đắp đập chặn dòng. Sông Đà là con sông dữ, đất đá đổ bao nhiêu cũng bị cuốn đi . Để ngăn sông Đà người ta phải đúc hàng chục ngàn khối bê tông lớn hình tháp, mỗi khối nặng gần 3 tấn, có móc phía trên, rồi cẩu thả xuống dòng nước, mới ngăn được sông . Một  khối bê tông ngăn sông như thế được đặt  trong  nhà truyền thống của Nhà máy. Trong khối bê tông ấy có chứa “bức thư thế kỷ” . Bức thư do nhà báo cố Thép Mới chấp bút và được lãnh đạo tối cao của hai nước Việt Nam- Liên Xô cùng ký gửi đến thế hệ 100 năm sau của Việt Nam, nghĩa là 90 năm nữa bức thư mới được mở !.

 

Dẫn chúng tôi đi tham quan công trường, ông Ngô Xuân Lộc tâm sự :”Các bạn là nhà văn trẻ, là nhà văn tương lai của đất nước. Các bạn đang ở trên một công trường trẻ. Chúng tôi gọi là “công trường trẻ” vì ở đây tất cả thợ khoan đá,  lái xe, lái máy xúc, thợ hàn, thợ nguội…đều hai mươi ba mươi, ba nhăm tuổi cả . Quá tuổi đó là phải lui về tuyến sau, như trong bóng đá vậy. Vì không trẻ thì không thể lái xe ben, xe xúc đi như băng trên sườn núi ở độ dốc nghiêng 15 đến 20 độ được. Sơ suất một chút là rơi xuống vực…Vâng, tuổi trẻ đang làm nên nguồn sáng cho Tổ Quốc”. Sự so sánh văn chương ấy làm tôi nhớ mãi đến bây giờ. Từ đó, tôi hình dung công việc xây dựng Nhà máy thủy điện Sông Đà khó khăn và gian nguy đến thế nào. Vì khi đó nước ta vừa ra khỏi cuộc chiến, nên trong chủ trương thiết kế xây nhà máy lớn này phải đảm bảo nhà máy tồn tại được trong điều kiện chiến tranh. Nghĩa là phải đưa nhà máy vào lòng núi . Tốn kém hơn và khó khăn hơn vạn lần so với xây dựng nhà máy thủy điện bây giờ. Đó là một thách thức lớn đối với đội ngũ kỹ sư và công nhân Việt Nam, cũng là một thách thức lớn về ngân sách tài chính đất nước lúc ấy. Chúng ta phải vay vốn của Liên Xô và trả dần về sau này.

 

Buổi tối hôm ấy, tại “chỉ huy sở” công trường, chúng tôi được thưởng thức rượu cần Hòa Bình. Uống rượu rồi nghe người đẹp Hồng Vân hát, đọc thơ, ai cũng bốc. Đêm đó, dù rượu đẫm người, tôi vẫn không sao ngủ được, hình như sông Đà đang hớp hồn tôi. Tôi phát hiện ra một tứ thơ đẹp : Người uống rượu cần đang vít cần rượu hút lửa vào lòng mình, còn ngoài kia núi cũng đang cúi xuống vít Sông – Đà – cần – rượu làm nên lửa sáng cho đời. Bài thơ “Cần rượu Sông Đà” tôi thức viết ngay đêm Sông Đà đầu tiên ấy, rồi chép vào sổ tay, cho đến ngày trở lại Hòa Bình lần này mới nhớ lại.  Núi dường như cũng thuộc dáng em / quỳ xuống vít Sông – Đà- cần- rượu / lòng đá thức muôn âm thanh kỳ diệu / sương vô tư sương bỗng rối qua cành / Đông tái tê mà mắt long lanh / ấy là đêm sông Đà thứ nhất / núi lơ lưởng đầu cánh tay cần trục / tôi lửng lơ đầu câu hát bạn bè…

 

  1. Sáng sớm, xe chúng tôi từ Cửa Lò, Nghệ An theo Quốc lộ 1A đến gần thị xã Ninh Bình thì rẽ lên hướng rừng Cúc Phương, đi Hòa Bình. Đường xấu , xe xóc, đến thị xã Hòa Bình thì đã 4 rưỡi chiều, ai cũng mệt lữ. Thế mà khi các anh Viên, chủ tịch hội ,anh Lượng, phó chủ tịch, nữ nhà thơ trẻ dân tộc Mường Tuyết Mai, chị Xuyến cùng các anh chị trong cơ quan Hội Văn nghệ Hòa Bình mời rượu thì  ai cũng hăng hái, phấn khích hẳn lên. Rượu Hòa Bình ngon và dịu. Mới bốn lượt cạn chén , Tuyết Mai đã ghé vào tai tôi thủ thỉ đọc thơ : “ Rượu em / Cất từ mắt lửa than…/ Rượu của lòng người ngồi trên đống lửa…/  Uống đi anh / Uống cho tay nắm tay bén lửa / Uống cho  mắt nhìn nhau nên sấm chớp đổ trời…”. Đúng rượu ấy phải sinh ra thơ ấy. Uống rượu xong chúng tôi đi bộ ra đập thủy điện . Đêm rằm, trăng soi đất Mường núi đồi nhấp nhô, hùng vĩ. Lần đầu tiên trong đời tôi được ngắm toàn cảnh Thủy điện Hòa Bình vào đêm trăng. Gió từ  Hồ thủy điện thổi mát rượi. Tuyết Mai bảo với tôi và họa sỹ Đặng Mậu Tựu : “Gió ở đây là gió tươi “! Gió tươi– đó là tính từ chỉ gió rất  hay, rất lạ mà lần đầu tiên tôi được nghe. Là giáo viên dạy Trường chính trị tỉnh  nên Mai bảo tôi :” Anh  muốn viết cái gì về Thủy Điện hòa Bình  để em cung cấp tài liệu cho” .Mai chỉ cho tôi đâu là Nhà điều hành và làm việc của Tổng Công ty Thủy Điện Sông Đà , đâu là cửa xả nước. Mai bảo hồ này có diện tích tới 200 km2, mực nước bình thường cao 115 mét, mực nước chết  là 80 mét .Người ta nuôi cá và tổ chức du lịch trên hồ. Hàng trăm ngọn núi thành đảo. Mùa  nước, nhìn hồ mênh mông,  có thể đi thuyền đến nhiều tỉnh vùng Tây Bắc. Lượng nước hàng năm của Sông Đà lên tới 58 tỷ mét khối, mà hồ chứa nước Hòa Bình có dung tích 9,45 tỷ khối, trong đó  nước để khai thác năng lượng là 5,65 tỷ khối. Như thế Thủy điện Hòa Bình mới khai thác được 10% lượng nước Sông Đà, nên Nhà nước sẽ xây tiếp thủy điện sông Đà ở Sơn La và Lai Châu. Vừa qua Nhà máy Thủy điện Sơn La đã khánh thành và đi vào khai thác…

 

Thi sĩ Bùi Thị Tuyết Mai cho biết, đập đất đá thủy điện Hòa Bình cao 128 mét, dài 743 mét, dày 70 mét. Dưới lõi đập  bằng đất sét là một màn chống thấm được tạo ra bằng bê tông khoan phun dày 30 mét. Công trình xã nước vận hành là đập bê tông cao 70 mét, rộng 106 mét, có 2 tầng: Tầng dưới có 12 cửa, tầng trên có 6 cửa. . Mai bảo tôi :” Anh Ngô Minh biết không, chúng mình đang đứng trên nóc Nhà máy thủy điện Hòa Bình đấy. Nghĩa là nhà máy ở sâu trong lòng núi, ngay dưới chân chúng ta. Nếu ở khắp nơi trong nước, khi bật điện lên, ai cũng biết  anh em mình đang uống gió tươi trên đập thủy điện, thì vui lắm nhỉ !” .Chao  ơi, nghĩ gì mà lãng mạn thế !. Tôi cúi xuống quan sát cửa  xả nước . Dòng nước  sôi sục phun bọt trắng xóa cuốn về xuôi. Trên bờ  hạ lưu phía thị xã Hòa Bình, trên con đường dẫn lên đập, có rất nhiều quán giải khát. Người ta trải những chiếc chiếu hoa rộng ra bờ sông Đà cho du khách ngồi vừa uống rượu cần vừa ngắm Thủy điện Hòa Bình trong đêm với từng dãy đèn vắt qua sườn núi. Đêm nay khách ở đây rất đông . Thật thi vị. Đêm đó, về nhà khách UBND tỉnh Hòa Bình, tôi không sao ngủ được. Tôi cứ nghĩ hoài về một tứ thơ từ ý gợi của Mai.  Uống nhiều rượu em mời, tôi như người lú lẫn:   lú hết xưa sau / sao anh cứ nhớ / trong thẳm sâu lòng núi tim mình / có nguồn điện Mường  / đêm nay phát sáng…

 

Đến Hòa Bình mà không vào lòng núi tham quan Nhà máy Thủy điện thì coi như chưa đến. Sáng hôm sau, Hội Văn nghệ tỉnh Hòa Bình đã liên hệ cho đoàn chúng tôi được vào tham quan nhà máy. Xe lại lên mặt đập chúng tôi đi tối qua để sang bên kia sông Đà, vòng vào khu quản lý của nhà máy. Ở đây có rất nhiều đoàn khách du lịch từ  khắp nơi trong nước đến tham quan . Ở cổng một gian hàng lưu niệm lớn bán đủ thứ đặc sản Mường như thổ cẩm, rượu cần, đĩa quảng cáo Thủy Điện Hòa Bình…. Tôi và nhà văn Hồng Nhu mua mỗi người một bộ áo thổ cẩm dệt cộc tay để mặc cho mát. Nhà văn Nguyễn Quang Hà , họa sĩ Đăng Mậu Tựu , nhà văn Hà Khánh Linh, nghệ sĩ nhiếp ảnh Phạm Văn Tý và Hữu Tư …ai cũng mua  mấy cái túi xách, ví đựng tiền nhỏ tí bằng thổ cẩm để tặng người thân làm kỷ niệm. Nghĩa là Thủy Điện Sông Đà đã trở thành một địa chỉ du lịch hấp dẫn . Người ta quy định không được chụp ảnh ở đường hầm vào gian máy và ở trong gian máy. Muốn chụp ảnh thì đã có thợ của Công ty Du lịch Sông Đà.

Đường hầm vào gian máy rộng như đường phố, cao tới 50 mét, được lắp hệ thống chiếu sáng rất hiện đại. Cô hướng dẫn viên cho biết con đường hầm này dài  hơn 200 mét , tường bê tông dày 0, 9 mét. Hầm máy là gian  rộng nhất. Ở đây có 8 tổ máy phát điện khổng lồ với công suất mỗi tổ máy là 240 MW (megawat ) được đặt ngầm trong núi . Mỗi rotor máy nặng tới 550 tấn, chuyển bằng tàu thủy từ Liên Xô sang, lại phải chuyển vào lắp đặt trong đường hầm nên vô vùng vất vả, nên thời gian lắp một tổ máy tới cả năm. Ngày 30-12-1989 vận hành tổ máy thứ nhất, đến khi vận hành tổ mấy thứ 2 phải mất 11 tháng nữa, từ  tổ máy thứ 2 đến tổ máy thứ 3 kéo dài đến  16 tháng.v.v.. Bởi thế  mà từ khi tổ máy thứ nhất phát điện hòa vào lưới điện quốc gia, đến ngày khánh thành tổ máy thứ 8 phải mất gần 6 năm.  Hầm máy có chiều dài  240 mét, cao 50,5 mét, rộng 19,5 mét. Ở trong hầm máy có một phòng điều khiển trung tâm do hai chuyên viên trực tiếp điều khiển bằng hệ thống camera hiện đại. Mỗi ngày luôn luôn có 100 kỹ sư và công nhân làm việc trong gian máy này trên tổng số gần 900 lao động của Nhà máy. Các chuyên viên  làm việc ở gian máy cho biết , từ khi khánh thành Tổ máy số 8 ( ngày 4-4-1994) đến nay, chưa bao giờ Nhà máy Thủy điện Hòa Bình chạy hết công suất 8 tổ máy, mà các tổ máy  đổi nhau vận hành. Bình thường chỉ chạy 4-5 tổ máy. Song song với gian máy  là đường hầm các gian máy biến áp một pha gồm 24 máy . Dưới chân đang đi  ở đường hầm vào gian máy, là một hệ thông tuy-nen đưa nước vào tuabin, mỗi tuynen dài 210 mét, đường kính 8 mét. Rồi nước từ các tổ máy thoát ra bằng hệ thống tuynen độc lập. Ngoài các tuynen dẫn nước còn có các tuy nen giao thông, tuynen thông gió, thông hơi. Tôi hiểu , toàn bộ Nhà máy thủy điện Hòa Bình được lắp đặt trong một hệ thống đường hầm nằm sâu trong lòng núi , nhiều tầng được xây dựng vô cùng kiên cố, có độ bền vĩnh cửu ,  phức tạp và chắc chắn hơn cả Hầm đường bộ Hải Vân !

 

Cô hướng dẫn viên cho biết, năm 1989 là năm đầu tiên Nhà máy Thủy điện Hòa Bình đã phát được 1 triệu Kwh điện. Thời kỳ Nhà máy phát điện cao nhất bắt đầu từ  năm 1995 cho đến nay, mỗi năm từ 7 đến 8,5 triệu Kwh. Ngày 27-5-1994 Trạm 500 KV đầu nguồn Hòa Bình bắt đầu cung cấp điện cho miền Trung và miền Nam. Mỗi năm cung chuyển lên đường dây  500 KV từ 1,5 đến  gần 3 triệu Kwh. Đến cuối tháng 2 năm 2005, Nhà máy đã sản xuất được 100 tỷ KWh điện  chiếm 18% trong cơ cấu sản lượng điện của Tổng Công ty Điện lực Việt Nam, trong đó có 18,8 tỷ KWh  chuyển tải vào miền Trung và miền Nam theo đường dây 500 KV. Những con số tuy khô khan nhưng nó nói lên một điều hệ trọng : Nguồn sáng Hòa Bình đang tỏa sáng  khắp  đất nước Việt Nam !

 

 

  1. Năm 1959, sông Đà bị lũ lớn. Bác Hồ lên thăm tỉnh Hòa Bình đã phải đi mãng để vượt sông . Đứng trên bè mãng năm ấy, Bác chỉ xuống dòng sông Đà lũ xiết nói với các đồng chí cán bộ cùng đi, đại ý: Chúng ta phải làm sao chinh phục sông Đà phục vụ đời sống nhân dân. Ý tưởng trong câu chuyện đó đã được các nhà điêu khắc dựng thành bức tượng Bác Hồ với Sông Đà. Bức tượng Bác bằng đá cao 18 mét đứng trên đồi cao chỉ tay xuống Nhà máy Thủy điện Hòa Bình là một biểu tượng đẹp ở đầu nguồn sáng Hòa Bình, mà du khách đến thăm quan ai cũng muốn chụp ảnh kỷ niệm. Nơi Bác đứng được nhân dân gọi là Đồi Ông Cụ . Bức tượng Bác Hồ cao lớn hàng ngày đứng trên bờ đập lộng gió nhìn toàn cảnh Nhà máy Thủy điện Hòa Bình làm cho không gian trở nên như đẹp hơn, hoành tráng hơn . Gần hai thập kỷ, không khí lao động sâng tạo kỹ vĩ  của Đại công trường Thuỷ điện Hòa Bnh đã vun đắp nên những nhà văn tài năng cho đất nước như Tạ Duy Anh, Trần Chinh Vũ.v.v..Họ là cán bộ công nhân thực thu của Thủy Điện Hòa Bình. Nguồn sáng Sông Đà đã thôi thúc họ đến với văn chương…

 

Suốt 18 năm xây dụng công trình thủy điện lớn nhất nước, rất nhiều công nhân, kỹ sư Việt Nam và chuyên gia Nga đã ngã xuống ở đầu Nguồn sáng Hòa Bình . Tất cả họ đều rất trẻ. Xin ví dụ một tên tuổi :  Nguyễn Thị Ngân sinh năm 1961, quê quán Đỗ Đông, Thanh Oai, Hà Tây  hy sinh ngày 25/4/1884, mất khi mới 23 tuổi ! Trên vùng núi  cao gần đập Thủy điện có một Đài tưởng niệm những người đã hy sinh trong quá trình xây dựng Công trình Thủy điện Hòa Bình. Đây là một địa chỉ thăm viếng cực kỳ xúc động . Đoàn văn nghệ sỹ Huế chúng tôi lặng lẽ thắp hương kính cẩn cắm lên sau từng tấm bia . 18 năm có tất cả 168 người hy sinh, trong đó có 11 chuyên gia Nga và 157 người Việt Nam. 11 người Nga đã được mang xác về Tổ Quốc theo nghi thức quốc tế.  Họ đào hầm xuyên núi bị đất lở sập hầm, họ ngăn sông bị cuốn trôi, họ nổ mìn phá đá bị  tai nạn, lái xe ben, xe cẩu bị đổ xe.v.v.. Rất nhiều cái chết dũng cảm và thương tâm. Nhiều người chết mất không tìm được xác. Đài tưởng niệm xây rất bề thế như ngọn  đuốc vút lên tầng không theo kiểu đài liệt sĩ. Có câu chuyện tâm linh vô cùng cảm động về người kiến trúc sư trẻ chỉ huy xây dựng công trình Đài tưởng niệm. Đó là anh Đậu Tiến Thọ, sinh năm 1959, quê ở Anh Sơn, Nghệ An, vừa mới tốt nghiệp Trường Đại học kiến trúc Hà Nội, ra trường được phân công lên Công trường Sông Đà. Anh nhận thiết kế công trình Đài tưởng niệm để tưởng nhớ và ghi công 167 chuyên gia, kỹ sư và công nhân đã hy sinh.Đây là tác phẩm kiến trúc đầu tay của anh. Phần ngoài công trình đã xây xong. Chỉ còn lại phần mộ chung tưởng niệm được gắn bia tên tuổi quê quán ngày sinh của 167 người. Không hiểu Thọ tính toán thế nào mà khi bia sắp gắn vào vòng tròn mộ lại thừa ra đúng một ô, nghĩa là 168. Thọ đùa vui :” Hay phần mộ này dành cho tôi !”. Đêm  đó anh về vẽ lại, tính toán lại để mai hướng dẫn công nhân gắn bia. Sáng mai, ngày 12/12/1994, ăn sáng xong , Thọ hăng hái đi xe máy lên công trình. Không ngờ một tai nạn giao thông đã cướp đi sinh mạng của người kiến trúc sư  mới 25 tuổi ấy. Anh ngã xuống trước ngày khánh thành Nhà máy Thủy điện Hòa Bình đúng 8 ngày . Thế là lời nói đùa của anh đã linh ứng. Anh đã trở thành người thứ 168 nằm lại đầu nguồn sáng Hòa Bình. Vâng, anh cùng 167 đồng đội của mình đã hóa thân thành ánh sáng đêm ngày cho Tổ Quốc!

 

Một ngày một đêm với Nguồn Sáng Hòa Bình là thời gian quá ít để có thể viết nên một cái gì. Những ghi chép lỗ mỗ của tôi như là những xúc cảm không thể kìm  được, mong gửi tới bạn đọc  mọi miền đất nước những thông tin đáng tự hào ở ngay ĐẦU NGUỒN SÁNG HÒA BÌNH .

 

Hòa Bình – Huế, Cuối Xuân

N.M

 

 

 

 

Advertisements

Chuyên mục

%d bloggers like this: