Đăng bởi: Ngô Minh | 22.11.2016

NGƯỜI THẦY ĐẦU TIÊN

       NGƯỜI THẦY ĐẦU TIÊN

                                                                    Ngô Minh

           img_3913Thấy Quảng Bà Hùng và học trò cũ Ngô Tấn NInh( anh trai NM). Ảnh chụp 2012

Trong đời học sinh của tôi từ vỡ lòng cho đến đại học, tôi đã học với rất nhiều thầy cô giáo. Nhưng những thầy cô giáo dạy giỏi, hết lòng vì học sinh, gây ấn tượng mạnh đối với tôi cho đến bây giờ chỉ đếm trên đầu ngón tay. Trong đó có thầy Quảng Bá Hùng, là người thầy đầu tiên của làng biển quê tôi. Thầy là thầy giáo đầu tiên khai sáng nền giáo dục ở xã Ngư Thủy, góc biển nam Quảng Bình. Học trò của thầy bây giờ đã bảy mươi tuổi, ai cũng cháu nội cháu ngoại cả rồi, thế mà ngồi với nhau ai cũng nhắc về thấy với một lòng ngưỡng mộ, biết ơn sâu sắc. Nhắc đến thầy, ai cũng say sưa kể những kỷ niệm xúc động . Gần ngày Nhàg giáo Việt Nam 20/11, anh Ngô Tấn Ninh, anh trai tôi bảo tôi :” Chú đưa anh đi một chuyến vô Hội An thăm thầy Hùng, kẻo thầy già rồi mà mình cũng đã bảy mươi rồi…”. Thế là chúng tôi đi Hội An …

 

Ba năm sau chiến thắng Điện Biên Phủ, tức là năm 1957, mà làng tôi vẫn không có trường học. Con em ngư dân đi làm biển đa phần mù chữ. Năm 1957, thầy Quảng Bá Hùng tốt nghiệp Trường Trung cấp Sư phạm Hải Dương xung phong vào Quảng Bình nhận công tác. Về vùng gió Lào cát trắng, vùng đất “ô châu ác địa” đã khổ rồi, thầy lại tình nguyện về xã biển góc nam tỉnh đang mù chữ để mở trường càng gian khổ gấp bội. Thầy kể, được Phòng giáo dục huyện  thông tin là có thầy Hùng về mở trường, chủ tịch xã cùng bà con cô bác lên tận Động Cao đón. Nét mật ai cũng hồ hởi. Hồi đó cả làng tôi không ai có xe đạp. Thầy nghèo, mới ra trường, cũng không có xe đạp, nên thầy phải cuốc bộ leo hai động cát cao từ làng Thượng Luật vào Quốc Lộ 1A 7 cây số, rồi lên huyện thêm 13 cây số nữa để họp, để nhận lương, để xin ý kiến ở Phòng giáo dục. Tháng nào cũng phải cuốc bộ ba bốn lần như vậy. Anh Ngô Tấn Ninh của tôi kể :” Mình có cháu nội ngoại rồi, mà thầy từ Hội An về làng, cả đám học trò già rít rít theo sau. Thầy gọi  tiếng Quảng :” Ninh, Cường đâu, biểu !”. Thế là mấy đứa “Dạ” ran, rồi lon ton chạy lại thầy … như ngày xưa lớp 1, lớp 2”.

 

Về làng tôi, thầy Quảng Bá Hùng ở nhà của o (cô) ruột tôi tên là Ngô Thị Cọt. Cọt vì o là o út. O coi thầy như con. Làng tôi nghèo lăm, nhà nào cũng ăn khoai, sắn với mắm, cơm lưng bát chỉ dành cho trẻ nhỏ. O dượng cũng ăn khoai, nhưng bao giờ cũng dành cho thầy ngày bát cơm nhỏ với quả trứng hay con cá đối, giống như con trai đầu của mình. Thầy không chịu, chỉ ăn khoai với sắn như o dượng. Thầy cùng với thầy Trần Đình Thôi, cũng một người Quảng Nam, cùng bà con cả tháng trời chặt gỗ dương, cắt cỏ rười ( một loại cỏ mọc trên cát, thân ống nhỏ, cao tới  hơn mét) đánh thành tranh để lợp trường. Bàn ghế thì chặt những cây gỗ dương to, xẻ ra đóng. Thầy Hùng mồ hôi mồ kê ướt đẫm nhưng lúc nào cũng cười cũng đánh bóng chuyền, đàn hát như nghệ sỹ. Thầy có cái đàn măng-đô lin, buổi chiều nào cũng  mang xuống biển ngồi đàn hát với học trò. Giờ dạy học đầu tiên của “Trường cấp 1 Ngư Thủy” ( hồi đó cấp 1 gồm  các lớp 1,2, 3, 4 theo hệ 10 năm của Liên Xô), thầy Hùng phải cầm tay từng học trò như Ngô Tấn Ninh, Ngô Phú Cường, Ngô Minh Tuân, Ngô Văn Chắc, Ngô Thanh Phơ, Nguyễn Ngọc Mạnh (2 anh Phơ, Mạnh bộ đội đã hy sinh ở chiến trường khu 5 trong chống Mỹ).v.v..viết từng nét chữ cái a, bờ, cờ, i tờ, tờ i ti…Lứa học trò được thầy Quảng Bá Hùng “khai sáng” đó là “thế hệ vàng” của làng tôi. Do nhà nghèo, không ai được học lên cấp 3, đại học,  nhưng ai cũng mê đọc sách, làm thơ, bàn luận văn chương sâu sắc, lại biết đàn sáo, và có hoa tay, trang trí đám cưới, cắt khẩu hiệu rất giỏi. Thầy bảo:”Cái chữ là nết người. Nên các em phải học viết chữ cho đẹp, đàng hoàng”. Thầy Hùng viết chữ rất đẹp, lại nắm nót cẩn thận. Vì thế mà thầy chỉ dạy ở Ngư Thủy 7 năm ( 1957- 1963), nét chữ của thầy đã truyền qua bao nhiêu thế hệ học trò làng biển, ai cũng viết chữ đẹp, bay bướm.  Đến các em học sinh hôm nay, vẫn viết  giống nét chữ thầy Hùng 50 năm trước.

 

Thầy không chỉ dạy viết chữ đẹp, dạy văn, dạy toán, dạy sử, địa, mà  thầy còn đi biển đáng cá, kéo khuyếc  với bà con ngư dân làng. Rồi thầy dẫn học trò đi trồng cây phi lao trên cát để chắn gió, để “có màu xanh mà nương tựa”. Năm 1960, xã tôi có ông Ngô Xuân Mốc được phong anh hùng lao động vì có thành tích trồng cây chắn cát. Thầy Hùng ra nhà anh hùng Mốc, xin cây phi lao giống, rồi thầy đào hố, chặt bổi, nhồi phân phân bò phân lợn bằng tay, học trò thì xách cây phi lao bỏ xuống hố. Dân làng tôi ai cũng tặc lưỡi khen:” Thầy Hùng cao ráo, đẹp trai, mà lao động không sọ bẩn”. Rừng dương thầy Hùng cùng học sinh trường cấp I Ngư Thủy cùng bà con trồng dạo đó, đến thời chống Mỹ đã thành gỗ cho C gái ( Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy anh hùng) làm trận địa, dân quân làng làm công sự chiến đấu, bà con làm hầm trú ẩn suốt chục năm ròng.

 

Cám động nhất là chuyện thầy Hùng đưa cây dừa về  trồng ở làng tôi. Hồi đó một lần thầy Quảng Bá Hùng  đi dự hội nghị chiến sĩ thi đua của Ty giáo dục Quảng Bình ở Đồng Hới. Thấy người ta đang trồng hàng dừa kết nghĩa Bình- Trị- Thiên bên bờ sông Nhật Lệ, thầy liền liên hệ xin được 6 quả dừa giống đưa về làng Thượng Luật. Thầy hì hục khuân cõng dừa giống lên xe, rồi gùi vượt gần chục cây số Động Cao, Động Thấp đưa về làng trồng . Thầy hì hục đoa hố, xúc phân trồng dừa ở nhà o  tôi 2 cây, ở nhà tôi  2 cây, 2 cây trồng ở trụ sở hợp tác. Từ đó làng tôi nhà nào cũng vài ba cây dừa. Hai cây dừa ở nhà tôi do thầy trồng đến giờ vẫn còn. Mạ tôi đã ở dưới bóng hai cây dừa đó 28 năm ròng . Tôi đã làm thơ về “Cây dừa vườn mạ” : Vườn mạ bây giờ cát xóa/ Chỉ còn cây dừa như dây neo kiên nhẫn nối biển bờ / Như dây diều mong manh thả lên trời những cánh lá rách bươm và chùm trái ngọt ../ Mạ ơi / Vườn mạ tháng năm góc trời trắng xóa / Chỉ còn cây dừa như ngọn đuốc xanh…. Sau này tôi hỏi thầy, tại sao thầy xin giống cây gì cho nhẹ mà xin cây dừa giống để mang vác cho nặng ? Thầy bảo, “Làng phải có bóng mát mới thành làng. Hơn nữa thầy trồng dừa là bởi nhớ quê hương Hội An lắm. Mỗi lần ngắm dừa đỡ nhớ quê. Cây dừa cũng là kỷ niệm của thầy đối với làng Thượng Luật….Sau này thầy kể, hồi ấy thầy nhớ Hội An đến mức, có lúc trong đầu gợn lên ý nghĩ : hay mình ăn cắp một chiếc thuyền để chèo về quê, nhưng khi ăn cắp thuyền chèo ra Bắc  năm nào…

 

Hồi làm phóng viên báo Thương Mại ở miền Trung, năm 1995, đi thực tế ở Hội An, tôi  hỏi chị Thu giám đốc Công ty Du lịch Hội An :” Tôi có ông thầy người Hội An, tên là Quảng Bá Hùng, chị có biết ông ấy không ?”. Chị giám đốc cười :” Ông Quảng Bá Hùng thì dân Hội An ai mà không biết. Ông ấy hàng chục năm làm Phó chủ tịch UBND rồi Chủ tịch mặt trận thị xã, mới về hưu năm 1993…”. Thế là tôi được tạo điều kiện để được gặp thầy giáo của mình 30 năm trước. Gặp tôi thầy hỏi liên tục tên từng người già ở làng bây giờ ra răng, ai còn ai mất. Những Mệ Tuấn, ông Ngự, Mệ Thương, rồi anh Lẫn, anh Minh, anh Khương, anh Ngoãn…Thầy hỏi các cô học trò như Hòe, Mãi, chị Tùy ở xóm Trung. Ôi, sao mà thầy nhớ tên người làng tôi nhiều thế. Thầy nhớ cả tên “tục” của anh Cúc là “Côộc”. Rồi thầy hỏi  lứa học trò đâu  tiên thầy cầm tay tập viết chữ ấy có khỏe không ? Chắc là đi bộ đội cả, có ai bị thương không ? Thầy hỏi tới tấp, như là một đứa con xa làng lâu năm không về.

 

Gặp thầy tôi mới biết thời hai mươi tuổi, thầy hoạt động cách mạng bí mật ở Hội An, bị địch bắt. May nhờ có cơ sở giúp đỡ, trốn tù thoát ra được. Đó là năm 1955, thầy 22 tuổi. Chứ không phải thầy ra Bắc theo diện tập kết. Câu chuyện thầy trốn tù ra Bắc cũng ly kỳ lắm. Thầy và bảy người cùng trốn tù ra bí mật chuẩn bị gạo mắm, rồi ăn cắp một chiếc thuyền của ngư dân ở Cửa Đại chèo ra biển khơi để ra Bắc. Chèo ra tận ngoài phao số 0 để tránh bị địch bắt lại. Có lần sóng lớn suýt đánh chìm thuyền, anh em buộc dây vào nhau thành một khối để có chết thì cùng chết. Lênh dênh  mười mấy ngày mới đến của sông Nhật Lệ, rồi tìm cách liên lạc với Ban Thống nhất Trung ương. Thầy ra Bắc một mình, gia đình vẫn ở lại xã Cẩm Thạnh, Hội An. Vì ra Bắc theo đường vượt biển, nên nhiều năm thầy bị tổ chức nghi ngờ. May mà thầy được nhà nước cho đi học Trung cấp sư phạm. Để đánh tan sự nghi kỵ, tốt nghiệp, thầy xung phong vào Quảng Bình dạy. Như vậy, thầy dạy học, làm quản lý giáo dục, công đoàn giáo dục ở  Lệ Thủy, Quảng Bình quê tôi từ năm 1957 đến năm đầu năm 1975, trong đó có 3 năm  đi học Quản lý giáo dục ở Hà Nội. Thầy làm hiệu trưởng ở làng tôi đến 7 năm  mà thầy chỉ chăm chú  dạy học sinh học tập, thể thao, ca hát… chẳng thấy thầy yêu cô gái nào. Năm 35 tuổi, lên dạy học ở xã Hoa Thủy, thầy mới lấy vợ . Vợ thầy là chị Nguyễn Thị Thanh Thúy, cũng là một giáo viên, hát rất hay làm thầy say mê. 3-1975, thầy đi B để tiếp quản và làm công tác quán lý giáo dục ở Quảng Nam-Đà Nẵng sau giải phóng…

 

Người thầy đâu tiên, người thầy Quảng Nam khai sáng giáo dục Ngư Thủy quê tôi, thầy Quảng Bá Hùng nay đã 80 tuổi rồi, vẫn không nguôi với công tác khuyến học thành phố Hội An. Thầy có 4 người con, thì 3 người cũng làm nghề giáo viên như thầy, toàn giáo viên dạy giỏi. Tấm lòng thầy bây giờ thanh thản vì cả một đời chỉ làm việc tốt cho mọi người. Thi thoảng lại có một đứa học trò Lệ Thủy đi Nam về Bắc ghé Hội An thăm thầy ở 460 – đường Cửa Đại, làm thầy như trẻ ra. Thầy vẫn  hứa sẽ có một lần ra thăm quê vợ và về làng biển Thượng Luật thăm bà con và những lứa học trò xưa, thăm “cây dừa vườn mạ”.

 

 

 

 

 

Advertisements

Categories

%d bloggers like this: