Đăng bởi: Ngô Minh | 25.11.2016

HUYỀN BÍ MYANMAR

HUYỀN BÍ MYANMAR

Đào Minh Hiệp
 ĐẤT NƯỚC CHÙA VÀNG. Trong số các nước Đông Nam Á, có lẽ Myanmar là miền đất ít được người Việt Nam biết đến nhất. Những năm trước, dưới thời của chính phủ quân sự, bị phong tỏa kinh tế, cấm vận nên các mối quan hệ với thế giới bên ngoài, nhất là về thương mại, du lịch không phát triển.

Chỉ mãi đến năm 2011, một cựu tướng lĩnh quân đội được bầu làm tổng thống dân sự và tiến hành hàng loạt cải cách dân chủ, trong đó có việc trả tự do cho các tù nhân chính trị, đã mở cánh cửa cho Myanmar bước lên con đường hội nhập. Từ đó, nhiều nước đã dỡ bỏ cấm vận, các nhà đầu tư bắt đầu đến đây tìm kiếm cơ hội làm ăn.

Ấn tượng đầu tiên khi đặt chân lên đất Myanmar là không khí thanh bình, yên tĩnh và thân thiện trong nhịp sống có thể nói là “chậm” với cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Trên đường phố, công viên, chùa chiền, khách sạn nhà hàng, điểm tham quan du lịch… không nghe tiếng còi ô tô, tiếng la hét, chửi rủa, cãi cọ, không thấy người ăn xin, và dĩ nhiên cũng không gặp cảnh đánh lộn hay tai nạn giao thông, còn chim bồ câu thì mặc sức bay lượn và kiếm mồi bên con người. Cậu hướng dẫn viên, một người đã có thâm niên rong ruổi trên đất nước Chùa Vàng này, bảo, Phật giáo có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tinh thần và văn hóa của người dân Myanmar. Bật tivi lên thấy có khoảng 20 kênh truyền hình cáp, thì có tới 3 kênh chuyên đề về Phật giáo. ở Myanmar, khoảng 90% dân số theo đạo Phật, còn lại là đạo Thiên chúa, đạo Hồi, đạo Hindu, đạo Do Thái… Đạo Phật ở Myanmar theo dòng Theravada, tức là Phật giáo Nguyên thủy-Tiểu thừa. Cả nước Myanmar có khoảng 12-13 ngàn ngôi chùa và tất cả đều được mạ vàng hay sơn son thếp vàng. Chính vì vậy mà người ta gọi Myanmar là đất nước Chùa Vàng, và du khách đến đây chủ yếu là để vãn cảnh chùa hoặc đi cầu nguyện, nhiều người Việt cũng sang đây tu hành. Hàng ngày, buổi sáng các sư thầy mặc quần áo nâu hoặc vàng, sư cô thì mặc áo hồng đi khất thực và phải đi theo đoàn trên bốn người gọi là tăng đoàn, đồ ăn hay tiền xin được phải dành một phần cho người nghèo, nếu dùng không hết thì để hôm sau, nhưng từ 12 giờ trưa đến sáng hôm sau, các sư không được ăn gì nữa, chỉ uống nước. Myanmar có hai ngôi chùa rất nổi tiếng về sự linh thiêng và độc đáo, thu hút không chỉ người hành hương mà rất nhiều du khách, đó là chùa Kyaikhtiyo và chùa Shwedagon.

Chùa Kyaikhtiyo (còn gọi là Golden Rock- chùa Đá Vàng) nằm cách thủ đô Yangon gần 200km, được xây trên đỉnh một tảng đá to hình quả trứng trên đỉnh núi Kyaikhtiyo vào thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni còn sống, tức là trên 2.500 năm, là một trong những di tích rất nổi tiếng của Myanmar và được xếp vào một trong số rất ít những kiệt tác của thiên nhiên. Chuyện kể rằng, ngày xưa có hai vị hoàng tử rời bỏ cuộc sống xa hoa nơi cung điện lên núi Kyaikhtiyo đi tu. Một lần họ tình cờ nhặt được hai quả trứng, mang về nở thành hai đứa trẻ khôi ngô tuấn tú và trở thành con nuôi của họ. Khi vua cha băng hà, triều đình mời hoàng tử anh về cung kế ngôi, nhưng người anh từ chối và nhường ngôi báu cho con nuôi. Để ghi nhận tấm lòng mộ đạo của hai hoàng tử, Đức Phật ban cho mỗi người một sợi tóc. Hoàng tử anh luôn giữ sợi tóc trên đầu mình, và trước khi qua đời, ngài giao lại xá lợi của Đức Phật cho người sau với điều kiện sợi tóc phải được cất giữ trên đỉnh một tảng đá to nằm trên đỉnh núi như nó đã từng nằm trên đầu ngài. Vậy là sợi tóc của Đức Phật được cất giữ trong ngôi chùa nhỏ xây trên đỉnh tảng đá to như ngôi nhà hai tầng nằm cheo leo trên đỉnh núi Kyaikhtiyo. Người ta bảo, chính nhờ sợi tóc của Đức Phật, mà trải qua hàng ngàn năm, với bao trận động đất mà tảng đá vẫn nằm yên bên mép vực, không bao giờ rơi xuống. Ngày nay, toàn bộ tảng đá và ngôi chùa nhỏ bên trên được mạ một lớp vàng nên có tên là chùa Đá Vàng. Ấy là theo truyền thuyết, còn với cái nhìn của nhà địa chất như tôi, rất có thể tảng đá và ngọn núi vốn là một khối đá đồng nhất, nhưng trải qua hàng ngàn năm bị mưa gió làm cho phong hóa, bào mòn nên có hình dạng như ngày nay. Tuy nhiên, dù là lý do gì thì công trình này vẫn là một tuyệt tác vĩ đại và bí hiểm của thiên nhiên.

Nói về chùa Đá Vàng mà không đề cập đến con đường lên tới đỉnh núi thì sẽ là một thiếu sót lớn. Nhà văn Nga Aleksei Tolstoi có cuốn tiểu thuyết “Con đường đau khổ” viết rất hay về quá trình nhận thức bản thân, còn con đường lên núi Kyaikhtiyo cũng thuộc loại “đau khổ”, nhưng theo một cách khác. Từ chân núi, hành khách được đưa lên những chiếc xe bán tải, không mui. Với độ cao hơn một ngàn mét so với mực nước biển, chặng đường gần 15km liên tiếp các khúc cua cùi chỏ dựng đứng, vậy mà các bác tài cứ nhấn ga lao vun vút vì nếu để mất trớn, dừng xe hay tuột dốc thì trôi xuống vực là điều không tránh khỏi. Các du khách ngồi trên ghế băng phải giữ chặt tay nắm để không bị ngã hay văng ra khỏi thành xe. Suốt chặng đường, hầu như mọi người đều phải phơi nắng vì muốn đội mũ phải có dây buộc chặt dưới cằm. Nếu có cáp treo thì sẽ rút ngắn được rất nhiều thời gian (chạy xe khoảng một giờ) và du khách sẽ có dịp chiêm ngưỡng phong cảnh hai bên, nhưng có thể người ta cố ý làm vậy là để cho du khách cảm nhận được nỗi gian truân khi đến với cửa Phật. Cùng ngồi trên những chiếc xe tải đó, nhưng người hành hương Myanmar được chở miễn phí, còn du khách phải trả tiền. Vốn là dân địa chất, từng ngồi trên các loại xe chạy từ mũi Cà Mau tới Điện Biên, Sa Pa, rẽ ngang rẽ dọc trên các ngọn đèo cao thấp, nhưng tôi chưa gặp con đèo nào tạo cảm giác mạnh như thế, đúng là một trải nghiệm vô cùng thú vị. Lên tới đỉnh núi, bước xuống xe, thơ thẩn trên sân chùa rộng mênh mông như cái sân vận động Olimpic,  ngắm cảnh mặt trời lặn sau khối đá vàng cùng với hàng trăm tín đồ hành hương tới đây, thức với họ một đêm để nghe họ rì rầm cầu nguyện và cùng đón ánh bình minh ló dạng, tôi có cảm giác như mình được siêu thoát, rũ bỏ mọi bụi trần, tâm hồn trở nên thanh thản. Vợ chụp cho một pô ảnh, xem xong, bảo, sao bữa nay trông mặt anh hiền khô à.

Trên chùa có bán nhiều đồ tế lễ, có cả những miếng vàng lá dát mỏng. Hàng đoàn người bưng các khay đồ ăn, đồ vàng mã vào khu cúng viếng, cầu nguyện và dán những tấm vàng lá bằng bàn tay lên tảng đá như một cách cúng dường. Chỉ sau một đêm, toàn bộ phần dưới của tảng đá dán kín vàng lá trông như một lớp vảy vàng. Ngắm nhìn hàng đoàn người lặn lội từ khắp nơi đến đây thành kính cầu nguyện, tôi tự hỏi, có biết bao nhiêu nguyện vọng, ước muốn mà người đời muốn giãi bày với Đức Phật để mong tìm được sự bằng an trong lòng?

Chùa Shwedagon (hay còn gọi là chùa Vàng) ở thủ đô Yangon, xây trên đồi Singuttara cao 105m, được coi là ngôi chùa linh thiêng nhất, là Trái tim của Phật giáo Myanmar vì ở đây lưu giữ 4 báu vật thiêng liêng đối với các tín đồ Phật giáo. Đó là 8 sợi tóc của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, cây gậy của Đức Phật Câu Lưu Tôn, cái lọc nước của Đức Phật Câu Na Hàm và một mảnh áo của Đức Phật Ca Diếp. Ngôi tháp (stupa) là nơi cất giữ các xá lợi đó cao tới 98m, được dát 90 tấn vàng bao phủ toàn bộ từ chân tới đỉnh, ở phần hình vương miện được nạm 5448 viên kim cương và 2317 viên hồng ngọc, còn ở đỉnh tháp gắn một viên kim cương 76 carat (15g). Ngoài tháp chính ra, còn có hàng trăm ngôi tháp khác cũng được mạ vàng để tiến hành các nghi lễ tôn giáo. Điều quan trọng là tất cả số vàng bạc, đá quý để trang trí cho hàng vạn ngôi chùa tháp ở Myanmar đều do các tín đồ đóng góp.

Ở Myanmar, ngày sinh không tính theo tháng mà theo tuần, và mỗi ngày trong tuần đều có một ông Phật hộ mệnh cho người sinh vào ngày đó, riêng ngày thứ tư có hai Phật, một cho sáng và một cho chiều. Ngày sinh có ý nghĩa rất quan trọng đến đời sống của người Myanmar, nên ai cũng phải biết ngày sinh của mình, và dựa vào đó để chọn vợ gả chồng, dựng xây nhà cửa, tìm đối tác làm ăn, buôn bán. Trên chùa Vàng có tám điện thờ các ông Phật với nhiều kiểu dáng khác nhau, cùng với tám con vật cầm tinh cho những ngày đó. Chủ nhật là con vật nửa người nửa chim, thứ Hai là con cọp, thứ Ba là sư tử, thứ Tư, buổi sáng là voi có ngà, buổi chiều là voi không ngà, thứ Năm là chuột, thứ Sáu là chuột lang, thứ Bảy là rồng. Xung quanh các điện thờ, người xếp hàng đông nghịt để vào cầu nguyện, rồi múc nước tưới lên tượng Phật và linh vật bên dưới để cho dòng nước cuốn đi mọi nỗi lo âu phiền muộn và những bất an trong cuộc sống. Tôi cũng dừng lại bên tượng Phật phù hộ cho ngày sinh của mình là thứ Sáu, cũng muốn vào cầu nguyện nhưng ngẫm lại, ở cái tuổi xế bóng như mình còn ham hố gì nữa mà cầu với xin, nên chỉ đứng ngoài cúi đầu lạy Phật mấy cái.

CHUYỆN ĐỜI VÀ CHUYỆN ĐẠO

Cũng giống như các nước theo đạo Phật khác ở Đông Nam Á, người dân Myanmar rất mộ đạo và tôn kính các nhà sư. Trong cuộc đời mỗi người đàn ông đều phải đi tu một lần, chí ít là để lấy vợ, xin việc làm, báo hiếu với cha mẹ và rèn luyện tính cách. Có thể tu vài tuần, vài tháng hay vài năm, có thể tu thành nhiều đợt (dạng như học tại chức), nếu thành tâm sẽ nhanh đắc đạo. Ở trong chùa hay ngoài phố, du khách có thể chụp ảnh với các nhà sư nhưng phải được sự đồng ý và không được chạm tay vào người, vào áo các sư, nhất là phụ nữ. Tất cả các sân chùa đều được lát đá bóng loáng, và mọi người, kể cả sư sãi đều phải đi chân trần, giày dép gởi ngoài cổng hoặc cầm trên tay. Chùa ở đây chỉ để tiến hành các nghi lễ tôn giáo, còn các sư sãi thì ở trong thiền viện. Mỗi ngày có hàng trăm tín đồ từ khắp nơi hành hương đến chùa để chiêm bái, cầu nguyện, và có thể ăn nghỉ trên sân chùa nhiều ngày, nhưng không gian trên chùa lúc nào cũng tĩnh lặng, sạch sẽ, đơn giản là du khách có thể ngồi bệt xuống, ngả người ra và ngủ một giấc ngon lành cùng với các tín đồ. Chỉ có một bất tiện duy nhất là giữa trưa hè, nếu du khách đứng lâu trên sàn đá để ngắm cảnh hay chụp ảnh thì sẽ bị nóng bàn chân, nhưng các nhà chùa đã có cách xử lý là trải các tấm thảm nhựa thành lối đi cho đỡ nóng. Hôm vào chùa Phật nằm, lúc ra cổng, tôi tìm mãi không thấy dép của mình đâu. Đang loay hoay không biết phải làm gì thì một người đàn ông Myanmar đứng cạnh liền giơ tay chỉ chỏ, thấy tôi không hiểu, anh ta nắm tay tôi kéo đi đâu đó, đến nơi tôi nhận ra xe của đoàn mình và thấy ngay đôi dép của mình. Hóa ra các chùa đều nằm trên đồi cao và có bốn cổng rất giống nhau, còn tôi đã xuống nhầm cổng. Tôi quay lại định cám ơn người đàn ông, thì chẳng thấy anh ta đâu cả.

Người theo đạo Phật ở Myanmar không ăn chay, nhưng khi mua thực phẩm chỉ mua thịt cá đã xẻ thịt hoặc đã chết để không mang tội sát sinh, còn nếu phải làm thịt súc vật thì phải cầu nguyện cho linh hồn con vật được siêu thoát. Theo lời cậu hướng dẫn viên, Myanmar có mấy món đặc sản, đó là món bún cá, trà sữa hoàng gia và gỏi trà Laphét. Trong ba món này thì tôi đã dùng món bún cá và trà sữa. Cá được lọc lấy thịt, ướp tẩm với các thứ gia vị rồi nấu thành nước súp, khi ăn chan vào tô bún cùng với rau bắp chuối hay rau sống, nói chung là khá ngon, hợp với khẩu vị người Việt. Còn trà sữa hoàng gia Myanmar thì nổi tiếng đến mức, ra chợ chỉ thấy du khách đổ xô đi mua trà sữa, đóng thành thùng chở theo máy bay. Món này được sản xuất trên dây chuyền công nghệ hiện đại, đóng thành từng gói nhỏ pha vừa đủ một ly, có mùi vị rất đặc trưng, vừa có mùi thơm, béo của sữa, vừa có hương của trà rất dễ chịu. Riêng món gỏi trà Laphét, làm từ lá trà, muối chua cho đến khi lên men như ta muối dưa cải, cậu hướng dẫn viên khuyên không nên thử vì không hợp khẩu vị.

Chiếc váy dân tộc (sarong) của Myanmar, tiếng địa phương là Longyi, là một trong ba nét văn hóa đặc trưng của dân tộc là váy, kem và trầu. Chiếc váy may rất đơn giản, chỉ nối hai mép tấm vải thành cái ống thế là xong, khi mặc quấn chặt vào bụng, phần vải dư ra thì đàn ông cuộn thành một cục như nắm tay trước bụng, còn đàn bà thì nhét ra hai bên hông rất gọn, chẳng cần dây nhợ hay khuy nút mà vẫn chắc. Váy của đàn ông thường sẫm màu, kẻ caro, còn đàn bà thì nhiều hoa văn và màu sắc sặc sỡ hơn. Điều thú vị là váy Longyi được mặc với tất các các loại áo khác nhau, cả nam lẫn nữ, từ sơ mi cho tới áo thun, áo cánh, áo vest, áo khoác… và sử dụng trong tất cả mọi hoạt động của đời sống thường nhật như lễ hội, đi học, đi làm (kể cả trong công sở hay trên đồng ruộng), đi xe máy, xe đạp, ô tô, thậm chí đá bóng hay chạy nhảy mà vẫn không tuột. Ngoài chức năng che phần dưới cơ thể ra, chiếc Longyi còn nhiều công dụng khác như để địu con, quấn lên đầu để đội đồ đạc, mang xách các vật nặng…

Đi trên đường phố Yangon, ngoài chiếc váy Longyi ra, người nước ngoài còn hay để ý đến những vệt trăng trắng trên mặt của nhiều người, bất kể tuổi tác, giàu nghèo hay nam nữ. Đó chính là một loại kem dưỡng da cổ truyền của người Myanmar được chế biến từ vỏ cây Thanakha, vừa có tác dụng chống nắng, chống mụn nhọt, bảo vệ da, lại làm trắng da nên được phụ nữ Myanmar rất ưa chuộng. Ngoài ra, kem Thanakha còn là dấu hiệu thể hiện đẳng cấp sành điệu trong trang điểm. Với người bình dân thì chỉ đơn giản là mấy vệt trắng trên má, trên trán, còn với các cô gái thì có thể là hình hoa văn rất cầu kỳ, là hình chiếc lá với các đường gân, hay là những đường tròn đồng tâm… Hiện nay, người ta đã sản xuất đại trà loại kem này bán trong các cửa hàng, nhưng phụ nữ thường tự mình chế biến để sử dụng. Chỉ cần mua cây Thanakha được cưa thành từng khúc 20-30cm và miếng đá mài chuyên dụng bán đầy ở cửa hàng, rồi mài vỏ cây thành bột mịn, pha với nước, bôi lên mặt, thế là xong! Vợ tôi định mua miếng đá mài và mấy khúc cây, tôi oải quá nên cô ấy mua mấy lọ kem Thanakha chế biến sẵn để làm quà cho con gái.

Tục ăn trầu của người Myanmar cũng giống như Việt Nam, có điều khác là ở ta chỉ có phụ nữ và người già là hay ăn trầu, còn ở đây, đàn ông ăn trầu nhiều hơn phụ nữ. Chẳng nói đâu xa, ngay trên xe chúng tôi, bác tài cũng nhai trầu bỏm bẻm, còn trên đường phố thì rất nhiều đàn ông miệng đỏ lòm vì nhai trầu. Ở những nơi công cộng, ngoài thùng rác ra còn có thêm cái thùng nữa để dân chúng nhổ bã trầu.

Hôm đầu tiên khi vừa lên xe buýt, mọi người rất ngạc nhiên khi thấy xe tay lái nghịch nhưng vẫn chạy bên phải đường. Hỏi ra mới biết, xe tay lái nghịch là hàng viện trợ hoặc nhập khẩu từ Vương quốc Anh, và người Myanmar cứ để nguyên tay lái nghịch chạy chung với các xe tay lái thuận. Vốn là một nước thuộc địa của đế quốc Anh từ 1824 cho tới năm 1948, nên trong đời sống xã hội Myanmar còn để lại nhiều dấu ấn của văn hóa Anh, nhất là trong giáo dục, kiến trúc, tôn giáo. Tiếng Anh được sử dụng khá phổ biến, đối với các công chức nhà nước, phải nói tiếng Anh mới được nhận vào làm việc. Giáo dục phổ thông ở Myanmar cũng có hai hệ: Dân lập (cấp 1) và công lập (từ cấp 2 trở lên). Người Myanmar có tục chỉ thờ Phật ở nhà chứ không thờ ông bà cha mẹ, đám cưới tổ chức đơn giản, chỉ đãi bà con hai họ, người chết thì hỏa táng, còn con cú mèo thì tượng trưng cho sự may mắn.

Về kinh tế, Myanmar mới mở cửa được vài năm nay nên nhìn chung vẫn còn nghèo. 6 giờ sáng tôi bước ra ban công khách sạn ở ngay trung tâm Yangon mà đường phố vẫn tĩnh lặng, thi thoảng mới có chiếc xe chạy qua, 9 giờ các cửa hàng, siêu thị, chợ mới bắt đầu hoạt động, nhưng 8 giờ tối thì cả thành phố đã đóng cửa đi ngủ hết. Điều dễ nhận thấy nhất là những chiếc xe ô tô cũ nát chạy nườm nượp trên phố, còn xe máy ở Yangon đã cấm hơn chục năm nay. Hàng hóa trong các siêu thị, chợ cũng rất nghèo nàn, chủ yếu là hàng Thái Lan, Trung Quốc, có cả hàng Việt Nam nữa, và du khách đông nhất cũng từ Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Malaysia… chủ yếu là đi viếng chùa. Nông nghiệp Myanmar kém phát triển, năng suất, chất lượng không cao, nhưng theo lời cậu hướng dẫn viên, bù lại là nông sản sạch vì không dùng thuốc trừ sâu và chất kích thích. Công nghiệp, dịch vụ cũng mới bắt đầu thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, mà Hoàng Anh Gia Lai là một trong số những người tiên phong, vừa khánh thành tổ hợp dịch vụ nhà hàng khách sạn 5 sao được xây theo tiêu chuẩn của Vương quốc Anh theo yêu cầu của chính quyền địa phương.

Hiện tại, Myanmar gợi cho người ta liên tưởng đến nhịp sống bình lặng của Việt Nam những năm tám mươi của thế kỷ trước. Nhưng những biến đổi sâu sắc về chính trị những năm gần đây, nhất là từ khi ông Htin Kyaw, đồng minh thân cận của bà Aung San Suu Kyi – một lãnh tụ đấu tranh vì dân chủ – được bầu làm tổng thống dân sự đầu tiên của Myanmar vào tháng 3/2016 sau gần 50 năm dưới sự cai trị của quân đội, chắc chắn sẽ đưa đất nước Chùa Vàng này nhanh chóng tiến rất xa trên con đường hội nhập.

Nguồn Văn nghệ 


Danh mục

%d bloggers like this: