Đăng bởi: Ngô Minh | 13.12.2016

BA THẾ KỶ HÀ TIÊN ĐẤT VIỆT

img_8195

ĐỌC BỘ SÁCH “NGÔ MINH TÁC PHẨM”, TẬP 3:

BA THẾ KỶ HÀ TIÊN ĐẤT VIỆT

                                                            

 Ngô Minh

Lâu nay tôi chỉ lỏm bỏm biết Hà Tiên là vùng đất phên dậu phíaTây Nam Tổ Quốc chịu nhiều cuộc tấn công của ngoại quốc; hay qua thơ Đông Hồ: Mối sầu khôn dãi cùng trời đất / Chén rượu đành khuây với nước non. Tôi không ngờ đây là mảnh đất văn vật về với  Đại Việt đã 303 năm trước .

 

       dsc09138NM trước tượng Mạc Cửu 2008

   Vừa đến thị xã Hà Tiên, chúng tôi đã đi xe lôi đến thăm Nhà lưu niệm cố vợ chồng thi sĩ Đông Hồ- Mộng Tuyết, cặp uyên ương Hà Tiên, cùng nổi danh văn chương thơ phú một thời. Nhắc đến Đông Hồ -Mộng Tuyết lại nhớ sách “Hà Tiên thập cảnh”, ông bà giới thiệu 10 bài thơ vịnh 10 cảnh đẹp Hà Tiên của Mạc Thiên Tích để giới thiệu với khách du lịch thập phương. Đó là đảo Kim Dự, núi Bình San, Thạch Động, Châu Nham lạc lộ, thôn Lộc Trì ở Mũi Nai, Đông Hồ…Leo mấy chục bậc tam cấp lên Thạch Động mới cảm phục bàn tay ông Tạo khéo tạc nên bao hình thù kỳ bí. Thạch Động có hai đường “ lên trời”.  Con đường ven biển Hà Tiên biển xanh, cát trắng dẫn ta đến với những đảo đá với muôn vàn hình thù hấp dẫn. Trong đó có hòn Phụ Tử, mà không may mấy năm trước hòn Phụ bị đổ do nước biển xâm thực lâu đời.  Đi một đoạn lại nứt ra một cái hang, chui vào hóa ra là ngôi chùa trong hang núi gọi là Chùa Hang  thâm u khí lạnh…

 

Nhưng nói về Hà Tiên là phải  nói về Ba thế kỷ Hà Tiên đất Việt và Hội Tao đàn Chiêu Anh Các lừng danh mấy trăm năm trước. Vậy trước đó, Hà Tiên thuộc về nước nào ? Thuộc về hoang vu chưa khai phá. Thuộc về một nước Thủy Chân Lạp không ai đoái hoài. Thuộc về người Việt, người Khmer, người Ấn, người Hoa… trong nỗi buồn tha hương vọng cổ.  Nhưng đến Hà Tiên rồi bạn sẽ bị cuốn hút bởi những trang lịch sử mở cõi cam go của ông cha bao đời để  tạo nên dáng hình đất Việt hôm nay.

 

Trên đường vào thị xã Hà Tiên, tượng đài Mạc Cửu bằng đá cao 15 mét đã được dựng từ năm 2008, một tay tỳ vào đốc kiếm, tay kia cầm cuốn thư văn, mắt nhìn ra Biển Đông lộng gió. Ngắm tượng đài Mạc Cửu, tôi mường tượng về Hà Tiên hơn 300 năm trước…Mạc Cửu là người đã lập nên trấn Hà Tiên thuộc Đại Việt vào năm 1708. Việc dựng tượng Mạc Cửu ở thị xã Hà Tiên là một nét mới trong nhận thức lịch sử văn hóa của chính quyền địa phương. Mạc Cửu là người Hoa, có công khai khẩn mở đất Hà Tiên dâng cho Chúa Nguyễn Đằng Trong. Việc dựng tượng đài lớn của ông chứng tỏ sự đánh giá công bằng, đúng đắn của Nhà nước ta đối với những người có công với nước dù anh là người Việt, người Hoa, người Khơme…Đó là chân lý.  Trên núi Bình San, một trong 10 thập cảnh Hà Tiên, có lăng mộ của Cửu Ngọc hầu Tổng binh Hà Tiên Mạc Cửu. Lăng mộ ông nằm cao nhất, ngay trên đỉnh núi, được xây dựng theo phong cách mộ vua chúa xưa. Có hai tượng lính đứng hầu hai bên, có hai con nghê chầu trước mặt. Các thế hệ dòng dõi họ Mạc tiếp sau mộ nằm ở các tầng thấp dần. Người giới thiệu Lăng Mạc Cửu cho biết, về phía con trai, đến đời thứ bảy thì họ Mạc không còn nữa ( bảy đời có biệt hiệu: Kim Tử Công Hầu Bá Tử Nam) . Bây giờ chỉ có con cháu hậu duệ bên ngoại sinh sống ở khắp các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long, đến ngày giỗ Tổ thì kéo nhau về. Lăng mộ và đền thờ Mạc Cửu mở cửa  sôi động 24 trên 24 giờ. Phút giây nào cũng khói nhang nghi ngút…

 

Mở lại lịch sử ta thấy, trước khi Mạc Cửu lập trấn Hà Tiên, thì vùng Lục tỉnh và Định Tường gọi là Thủy Chân Lạp ( Đàng Thổ), khác với Tiền Chân Lạp là nước Cămpuchia hiện nay, gồm người Khmer, người Việt từ Thuận Hóa, Quảng Nam đã tới đây cùng làm nhà sàn, đánh cá, cấy lúa nước…sinh sống với người Ấn, người Đồ Bà ( Java) trong các điểm dân cư quần tụ thưa thớt ven biển, cửa sông. Còn phần lớn đất Chân Lạp mênh mông hoang vu rậm rạp. Theo sách “Trấn Hà Tiên và Tao đàn Chiêu Anh Các” của Hà Văn Thủy và một  số tư liệu khác, thì giữa thế kỷ XVII, người Mãn chiếm Trung Quốc, diệt nhà Minh, lập nên triều đình Mãn Thanh. Nhiều sĩ phu, tướng thần nhà Minh bỏ  nước ra đi. Thời kỳ này nhiều nhóm người Hoa đến Việt Nam ở Phố Hiến (Hưng Yên), Thanh Hà (Huế), Hội An, Bàn Lân, Biên Hòa, Mỹ Tho…

 

Trong dòng người Hoa chạy “giặc Mãn” đó, có Mạc Cửu. Mạc Cửu sinh năm 1655 ở huyện Hải Khang, phủ Lê Châu, Quảng Đông. Năm 1671, khi 17 tuổi ông đã cùng gia quyến lên thuyền vượt biển xuống phía Nam. Ông đã lưu lại ở đảo Java một thời gian rồi tới kinh đô Phnômpenh của Cămphuchia. Có lúc ông bị bắt, cùng bầu đoàn thê tử bị giam lỏng…Sau đó ông được vua Chân Lạp tin dùng. Nhờ thế Mạc Cửu đã xin vua Chân Lạp cho mình ra cai quản vùng đất Mang Khảm. Đây là một vùng đất hoang, không ai quản lý. Bằng tài nghệ của mình, Mạc Cửu đã biến vùng đất hoang sơ Mang Khảm thành  thương cảng buôn bán sầm uất, mở sòng bạc để thu thuế, khuyến khích tàu buôn nước ngoài vào buôn bán trao đổi hàng hóa tấp nập, nhất là những người  Hoa ngụ cư ở các nước lân bang.

 

Thời kỳ này, theo lệnh chúa Nguyễn, Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh cất quân đi kinh lý Chân Lạp mở mang bờ cõi theo thuật “Tằm ăn dâu”. Ông lập phủ Gia Định, huyện Phước Long, đặt Dinh Trấn Biên tại Biên Hòa, thành lập huyện Tân Bình (gồm đất Sài Gòn, Chợ Lớn, Long An).v.v..Nhưng biên giới Đại Việt mới đến giáp sông Tiền, vượt qua phần đất Mỹ Tho hiện nay chưa xa. Công lao mở cõi của Nguyễn Hữu Cảnh đối với nước Việt là rất lớn. Tiếc thay việc lớn chưa thành thì Lễ Thành hầu bị thổ huyết tạ thế lúc 51 tuổi ở Định Tường (Tiền Giang) . Vùng lục tỉnh mênh mông vẫn thuộc về Mạc Cửu, chưa phải của chúa Nguyễn. Lúc này, Mạc Cửu đã đổi tên Mang Khảm thành Hà Tiên, lập thành 7 xã trên một vòng cung 500 km quanh vịnh Xiêm La từ Kômpuông Som ( Chân Lạp) tới Cà Mau, trong đó có một phần lớn diện tích lục tỉnh ngày nay như Long Xuyên , Cần Thơ, Sóc Trăng,  Rạch Giá, Cà Mau…

 

Qua trải nghiệm mấy chục năm quan lệ lân bang, Mạc Cửu nhận ra đất Hà Tiên linh khí có thể dựng nên nghiệp lớn, nhưng phải đi với một vương triều mạnh mẽ, chính danh. Tháng 8-1708 ( Mậu Tý) tính chuyện muốn tồn tại  lâu dài thì không thể không  đi với Đại Việt, thế là Mạc Cửu cử  cận thần mang ngọc lụa đến thành Phú Xuân  dâng biểu xưng thần, xin được làm Hà Tiên trưởng. Chúa Nguyễn Phúc Chu, với sự mẫn cảm chính trị, tầm nhìn xa trông rộng đã rất vui mừng đón nhận vùng đất mới, như là tiểu quốc tự trị mới của Đại Việt, liền chấp nhận và đặt là Trấn Hà Tiên của Đại Việt và phong Mạc Cửu tước Cửu Ngọc Hầu, chức Tổng binh. Đó là sự thật. Do đó, việc một số thế lực ở Campuchia nhiều năm nay cho rằng Việt Nam chiếm đất của Campuchia là hoàn toàn không đúng.

 

Từ đó Mạc Cửu và 30 năm sau nối ngôi là con trai cả Mạc Thiên Tích ( từ năm 1736) đã xây dựng Hà Tiên thành một tiểu quốc trị của Đại Việt, có cảng khẩu quốc tế, có cung điện Phương Thành, có quân đội, đồn lũy Giang Thành, có đội thủy quân ứng chiến để bảo vệ thương thuyền qua lại cảng. Quân đội của họ Mạc thường xuyên tuần hành mặt biển nên chúa Nguyễn rất yên tâm về tình hình biên thùy phía Nam. Vua Mạc đội khăn, để tóc dài, mặc áo long bào theo phong tục nhà Minh. Kinh tế Hà Tiên phát triển trong gần 70 năm liền. Hà Tiên đón tàu buôn của Thuận, Quảng, Ma Lai, Xiêm, Đồ Bá, Trung Hoa, Nhật Bản… Hà Tiên thời Mạc Cửu cũng xây dựng đội thương thuyền buôn bán với các nước. Về nội trị,  Hà Tiên có Văn Miếu, thiết lập nghĩa học, trường dạy, thu hút thầy giỏi khắp bốn phương, dạy chữ Hán , chữ Nôm cho cả  con cháu dòng dõi họ Mạc lẫn con nhà nghèo.

 

Đặc biệt đến đời con Mạc Cửu, tức Mạc Thiên Tích văn chương thơ phú phát triển nổi bật, thu hút nhân tài thơ văn từ nhiều miền đất nước, cả  văn sĩ Trung Hoa tham gia xướng hóa làm cho danh tiếng Hà Tiên vượt ra ngoài bờ cõi An Nam…Trấn Hà Tiên lúc đó như là “thủ đô”, thủ phủ văn hóa, chính trị, quốc phòng của một vùng rộng lớn gần như phần lớn lục tỉnh Nam Kỳ, chứ không phải chỉ là thị xã Hà Tiên của tỉnh Kiên Giang hôm nay…Công lao mở cõi ấy của họ Mạc phải được tôn vinh ngàn đời…

 

Nhưng Trấn Hà Tiên tiền đồn Đại Việt cũng chịu nhiều cuộc tấn công của quân Xiêm và Chân Lạp và bọn cướp biển. 1848, 1767, 1769, 1770, 1771, cướp biển và quân Xiêm liên tục tấn công cướp phá Trấn Hà Tiên. Cuộc tấn công đánh chiếm Hà Tiên năm 1771 của vua Xiêm, Trịnh Quốc Anh 3 năm sau (773) mới rút về,  đã làm cho Hà Tiên trở nên tiêu điều, không khôi phục được nữa. Mạc Thiên Tích chạy lánh giặc không muốn trở về nữa.  Dưới chế độ diệt chủng Polpot ( Cămpuchia) , ngày 14-3-1978, chúng cũng đã cho  quân sang  tàn sát giết hại 130 người dân lành ở xã Mỹ Đức, Hà Tiên, ngay dưới chân Thạch Động. Bia căm thù ghi rành rành ngày tháng. Ngoài khơi Hà Tiên, Phú Quốc, Cà Mau  hiện nay vẫn còn nhiều toán cướp biển rập rình… Cho nên đất Hà Tiên muôn đời vẫn là đất phên dậu phía Nam không được xem thường. Những năm sau đó trung tâm thương mại của Đại Việt chuyển về  Sài Gòn –Gia định, từ đó Hà Tiên mất dần vị trí “thủ phủ”…

 

63 năm họ Mạc Trấn Hà Tiên đã lập nên một địa danh lịch sử sáng ngời nơi mảnh đất tận cùng Tổ Quốc…

 

Theo Hà Văn Thùy trong sách đã dẫn, người con văn võ song toàn của Mạc Cửu là Mạc Thiên Tích. Ông sinh năm 1706, tháng 3 Bính Tuất, con của bà vợ Việt của Mạc Cửu là Bùi Thị Lẫm, quê ở Đồng Môn, trấn Biên Hòa. Mạc Thiên Tích được học chữ Hoa, chữ Việt, được nghe người mẹ Việt hát ru, nên ngoài việc thay cha mưu lược quân cơ chèo lái giang sơn Hà Tiên  phát triển về kinh tế, chính trị, quân sự, ông còn đặc biệt giỏi thơ phú văn chương. Vào năm 1736, lúc 30 tuổi, Mạc Thiên Tích đã lập Tao đàn Chiêu Anh Các . Đây là Tao đàn đầu tiên ở miền Nam nước Việt và là Tao đàn thứ hai của đất nước, sau tao đàn Hồng Đức. Thơ tao đàn Chiêu Anh Các là tình yêu thắng cảnh nước non, tình người thôn dã . Đó là một sự kiện văn hóa lớn. Mạc Thiên Tích đã làm thơ xướng Vịnh 10 thắng cảnh Hà Tiên, in thành tập “ Hà Tiên thập cảnh vịnh”.  Đông Hồ giải nghĩa Hán : Kim Dự lan đào( tức hòn đảo vàng ngăn chặn sóng gió), Bình san diệp thúy( Dãy núi dựng như bức bình phong sắc xanh lớp lớp); Tiêu tự thần chung (Tiếng chuông buổi sáng), Giang Thành dạ cổ( Tiếng trống thành đêm); Thạch Động thôn vân( Động đá nuốt mây) ; Châu Lam lạc lộ ( Núi đá nơi cò đỗ); Đông Hồ ấn nguyệt ( Mặt hồ Đông như trăng đóng dấu) , Nam phổ trùng ba (Bãi Nam nước lặng), Lộc Trĩ thôn cư ( thôn trang ở Mũi Nai) , Lư khê ngư bạc ( Cảnh rạch vược thuyền ngư đỗ bến ) …Qua cách đặt tên danh thắng, ta đọc được tâm hồn thi sĩ đậm đặc của Mạc Thiên Tích . Mạc Thiên Tích vịnh bằng thơ chữ Hán rồi, lại làm thêm Hà Tiên Quốc âm thập cảnh vịnh bằng chữ Quốc ngữ song thất lục bát . Chứng tỏ thi sĩ quân vương này rất thạo tiếng Việt của mẹ mình…. Hãy đọc một đoạn bài vịnh đảo Kim Dự : Kim dự lan đào . Chữ Hán : Nhất đảo thôi ngôi diện bích liên / Hoàng lưu kỳ thắng tráng Hà Tiên / Ba đào thế tiệt đông Nam hải / Nhật nguyệt quang hồi thượng hạ thiên;  Bài Kim dự lan đào bằng Quốc âm lại có đến 34 câu ngâm song thất lục bát và một bài thơ bát cú : Kim dự này là núi chốt then / Xanh xanh dành trấn của Hà Tiên / Ngăn ngừa nước dữ không vùng vẫy/ Che chở dân lành khỏi ngả nghiêng… Trong  bài Đông Hồ ấn nguyệt, Mạc viết : Rộng đã sánh cùng trời bát ngát / Sâu còn so với biển mênh mang . Đó cũng là cái tâm ,cái chí. Đọc thơ thấy Mạc Thiên Tích là một ngòi bút lão luyện, tung tẩy chữ nghĩa ngang dọc. Sau đó, tập thơ Hà Tiên thập vịnh gửi đi khắp nơi và được 66 thi sĩ cả nước và cả Trung Quốc họa vần gửi về Hà Tiên và được in khắc. Tao Đàn Chiêu Anh Các do Mạc Thiên Tích chủ xướng đã xuất bản tới 7 tập sách chữ Hán và một tập thơ chữ Nôm 10 bài họa 10 cảnh Hà Tiên xen những khúc ngâm song thất lục bát dài 422 câu rất điêu luyện. Hoạt động văn chương như thế ngang tầm với một đô thị lớn hiện nay.

 

Nũ sĩ Mộng Tuyết (tên là Lâm Thái Úc (Út) ) trong bài ký “Đường vào Hà tiên” viết:” Không biết Thiên thai có hay không ?  Nếu có, thì Thiên Thai đẹp như thế nào ? Chứ Hà Tiên quyết là thiên thai của Út đó. Không trách gì nhà thơ Đông Hồ đã lấy một thắng cảnh Hà Tiên trong Hà Tiên thập Vịnh  là Đông Hồ Ấn Nguyệt để đặt bút danh thơ của mình. Và tài  thơ của ông đã không hổ với danh thơm quê nhà.

 

Mạc Thiên Tích viết  trong lời tựa tập thơ Hà tiên thập Vịnh :” Do đó biết núi sông nhờ được phong hóa của tiên quan mà thêm phần tráng lệ, lại được các danh sĩ phẩm bình đề mà thêm vẻ tinh tú. Thơ này chẳng những chỉ cho chốn ven biển thêm phần tươi đẹp, là cũng là một trang sử của Hà Tiên vậy…”.

Đó là tâm hồn, tấm lòng và ý chí hun đúc cho một  Hà Tiên nên danh sông núi ba thể kỷ và mãi mãi…

 

 

 

 

 

Advertisements

Chuyên mục

%d bloggers like this: