Đăng bởi: Ngô Minh | 15.12.2016

NHỮNG SỰ LẠ TRONG LÀNG THƠ VIỆT

img_8195

ĐỌC BỘ SÁCH “NGÔ MINH TÁC PHẨM”, TẬP 4:

NHỮNG SỰ LẠ TRONG LÀNG THƠ VIỆT

Ngô Minh

          Rượu và hoa

Tôi vẫn hằng tin rằng thơ là rượu. Rượu thì từ cổ xưa đến giờ vẫn rượu ấy, men ấy. Say cho đến tận cõi chân tâm! Rượu Ta, rượu Tây vẫn là rượu ấy, khó nhầm! Tôi cũng hằng tin thơ là hoa. Như cây cỏ, mỗi hồn người khai nở một hương sắc riêng chẳng giống nhau bao giờ – Nhưng tất cả vẫn là hoa ấy, thơ ấy! Đã rượu thì có rượu nặng rượu nhẹ, có rượu gạo, rượu nho… Đã hoa tất có hoa dại, hoa lai giống, ghép cành. Lai giống ghép cành tạo ra hoa ấy, những bông hoa lớn hơn, hương sắc quyến rũ hơn. Nhưng vẫn là hoa ấy, cái đẹp vĩnh cửu ấy!

Cái sự rượu và hoa ấy thật tự nhiên. Thơ cũng vậy. Có thơ cổ, thơ mới, thơ Ta, thơ Tây, lại có thơ do lai giống mà thành. Đã là lai tạo tất có tốt có xấu, có thất bại, có thành công. Thơ Mới (1932 – 1945) là đứa con xinh đẹp, quyến rũ của sự lai tạo lớn giữa thi nhân Việt với nền thơ Pháp thế kỷ XIX. Thơ mới lên ngôi thống soái thi đàn Việt , ngoài cái mới, cái lạ, cái hay nhiều người đã bàn đã nói, nó còn chứng tỏ một điều thật hệ trọng ít người để ý : Có sự đồng điệu lớn trong hồn thơ Ta và thơ Tây! Ấy là sự gặp gỡ của Con -Người – Cá – Thể- Nhân – Loại!

Thơ Mới rồi cũng cũ đi, vì con người luôn luôn đi tìm chính mình ở phía trước. Ở phương Tây, ngay các nhà thơ Việt Nam vừa tiếp cận với nền thơ lãng mạn Pháp, thì có nhóm thơ đã từ bỏ loại thơ sụt sùi, sướt mướt này để tìm đến những cách tân trong thơ. Thơ họ dồn nén hơn, khách quan hơn, mạnh bạo và trần trụi hơn…

Sự đề xướng loại thơ không vần những năm 50 mà đại biểu là Nguyễn Đình Thi, Trần Dần, sự táo tợn và mạnh bạo trong ngôn từ và cấu trúc trong thơ Thanh Tâm Tuyền ở miền Nam những năm 60 đều gây dị ứng đối với nhiều người làm thơ, kể cả các nhà thơ tiền chiến mà trước đó trên chục năm họ là lớp tiên phong bảo vệ, hô hào đổi mới trong thơ. Cho đến tận hôm nay, nhiều nhà thơ, nhiều tập thơ có cách biểu hiện lạ hoặc mạnh bạo, trần trụi hoặc đi vào những khu vực mới của tâm trạng … đều bị nhiều người chê bác, bị “đánh” tới tấp . Một số tờ báo gọi loại thơ này  là “lai căng”, “thơ dịch”, “thơ bí hiểm”, “hũ nút”, thậm chí không ngại dùng đến các từ “ bệnh hoạn “,“dâm ô”, “thơ tục” … Sao chúng ta không bình tĩnh, công bằng, độ lượng hơn với những tìm tòi, thể nghiệm như thế ? Sự ra đời của Thơ Mới 60 năm trước không là bài học quý hay sao?!

 

                                        Một và tất cả

Đọc tuyển tập “Những gương mặt thơ mới” gồm 2 tập (NXB Thanh Niên, 1994) tôi chợt phát hiện ra một sự lạ lý thú. Hai tuyển tập với 1000 trang in thơ và phát biểu của 173 tác giả (chưa là Hội viên Hội nhà văn Việt Nam, nên mới gọi là gương mặt mới). Trong phần tự bạch hai phần ba số tác giả  (trên 100 người) cho rằng thơ hiện nay là “lạm phát”, “dở”, “thơ in báo nhiều nhưng không khác gì hàng nội hóa ế ẩm”. Có người ví “thơ hiện nay như “mì ăn liền”, “thơ thông tấn”, “thơ dỏm”. Thậm chí có một số tác giả trẻ chưa từng có tên trên thi đàn bao giờ, nay được tuyển vào tập thơ cũng lớn tiếng chê thơ hôm nay! Sau khi “phán xét” nền thơ chung, tất cả các “gương mặt thơ mới” ấy đều khẳng định rằng họ cố gắng để có được tiếng thơ “đích thực”. Có nghĩa là cái nền thơ thì dở, chỉ duy nhất họ là “chân thơ”, có nghĩa là “trừ họ ra”, tất cả đều xoàng cả !

 

Ôi , có được một hai tác giả thơ “đích thực”, “chân thơ” như thế thật là diễm phúc cho nền  thơ Việt Nam! Nhưng đọc cả trăm nhà thơ ai cũng lớn tiếng “chê” thơ chung và tự nhận mình là thơ đích thực ấy, tôi mới té ngửa ra rằng: Ở xứ ta tất cả các nhà thơ đều dở, trừ một người, đó là người đang “phán xét thơ”! Nhưng oái ăm thay, cả nhà thơ duy nhất đó lại bị 99 nhà thơ khác xếp vào loại thơ “dổm”! Có nghĩa rằng các nhà thơ Việt Nam ta tất cả đều “siêu thơ”, thật thơ và tất cả đều “thơ mì ăn liền”, “ế ẩm”. Tôi thực sự hoang mang khi sự lạ lùng buồn cười nói trên có cả trên những trang “thảo luận về thơ” trên báo Văn nghệ thời gian vừa qua. Nhà thơ nào cũng phán quyết, chê bai thơ hiện nay, trừ anh ta ra! Cái tương quan “một và tất cả” này xin các nhà thơ lý giải giùm cho! Biết tin ai đây!

 

Thơ và Giải thưởng

Nhìn lại phần thế kỷ 20 và thập niên rưỡi thế kỷ XXI đã qua chưa bao giờ ở nước ta lại nhiều cuộc thi thơ, nhiều giải thưởng thơ như vài chục năm lại đây. Báo Trung ương thi thơ, báo địa phương cũng thi thơ, báo Tiền Phong thi thơ, báo Phụ Nữ cũng thi thơ. Quân đội thi thơ, dân sự thi thơ, các ngành các giới thi thơ. Đã thi là có giải thưởng. Lại có loại giải thưởng định kỳ hàng năm, hàng năm năm như giải thưởng văn học Hội Nhà văn Việt Nam trao hàng năm; giải thưởng Văn học miền núi, giải thưởng Văn học thiếu nhi, “văn học công nhân”(!), “văn học công an” v..v… Năm rồi lại có giải thưởng của UBTƯ Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam trao cho các tác phẩm “xuất sắc”của các hội viên địa phương (!?). Trung ương có giải thưởng Văn học, các Tỉnh cũng có giải thưởng Văn học cấp Tỉnh .Ví dụ giải thưởng Văn học Hùng Vương của Vĩnh Phú, giải thưởng Văn học Cố Đô của Thừa Thiên – Huế , “Nguyễn Du” của Hà  Tĩnh, Hạ Long của Quảng Ninh ,”giải thưởng Lưu Trọng Lư “của Quảng Bình. “Giải thưởng Chế lan Viên” Quảng Trị.v..v… Có thể nói không ai thống kê hết các giải thưởng văn học nghệ thuật mấy năm qua. Như vậy thơ được thẩm định, được bình giá, được  xếp đặt ngôi thứ liên tục và các nhà thơ được giải cũng nhiều không kể xiết, có người giành được một lúc nhiều giải thưởng !

Ở địa phương nọ, tôi thấy trong mấy năm qua có chục anh chị làm thơ, lần lượt người nào cũng được giải thưởng không cuộc thi này thì cuộc chấm khác. Thế là cuối cùng thơ của ai cũng đương nhiên thuộc vào loại “thơ được giải” (tức thơ hay)! Nhìn rộng ra cả nước cũng vậy, trong chục năm qua có tới hai phần ba số hội viên thơ của Hội Nhà văn Việt Nam đã được lên ngôi do giành được các giải thưởng về thơ Trung ương, địa phương, các cấp, các ngành, các báo. Đương nhiên cuộc thi thơ nào cũng “rất” công tâm và “vì nghệ thuật”! Cũng cần nói thêm là nhiều loại giải thưởng văn học (trong đó có thơ) như thế cũng phát triển với kinh tế thị trường. Giá trị vật chất các giải thưởng thơ ngày càng “đậm đà” hơn. Từ  2 triệu, 5 triệu một giải nhất cách đây 3 năm nay đã lên tới 10, 15 triệu, 20, 30 triệu! Hàng tốt thì giá phải cao chứ! Như vậy là thơ ta đang phát triển. Cứ nhìn vào đội ngũ trùng điệp các nhà thơ nhận được giải thưởng của xứ ta ai dám bảo thơ không phát triển ?! Có nhiều nhà phê bình, nhà thơ hùng hồn tuyên bố, giải thưởng thơ chỉ cho vui thôi, chất lượng thơ mới là thực chất. Nhưng khi kê khai lý lịch sáng tác, hay viết chân dung nhà thơ, người ta đều thống kê đầy đủ các giải thưởng. Và coi đó là thước đo thời đại!

Ấy thế mà lạ lùng thay, nhà thơ, nhà phê bình nào cũng kêu ca, la ó về một nền thơ làng nhàng,  chỉ biết “ăn theo” trên các trang báo. Có điều gì bất ổn, chính xác  hơn là sai lạc ít nhất là một trong hai phía : Các nhà chấm giải và các nhà phê bình, phán xét thơ. Còn bản thân thơ thì cố nhiên nó vẫn thế, chưa có cuộc cách mạng thực sự nào từ Thơ Mới đến nay. Biết ai đúng ai sai mà phân xử đây? Năm nào Hội nhà văn cũng tgrao giải thưởng cho một hai taapjt hơ. Mấy năm nay các tập thơ được giải không được độc giả yêu thơ đồng tình. Quả thực là nó không hay. Tại sao như vậy ? Vif hội đồng thơ thiếu bao quát thơ cả nước. Chỉ biết thơ người gần mình, địa phương mình. Thẳng khác gì người mùi xem voi hay “ếch ngồi đáy giếng”.

Ai là “nhà thơ”?

“Nhà thơ” hiểu nghĩa của công việc là “người làm thơ” ( Từ điển Tiếng Việt Nhà xuất bản Khoa học xã hội năm 1977 định nghĩa nhà thơ “ là người chuyên sáng tạo văn có vần để biểu thị hoặc gợi mở tình cảm bằng âm thanh, nhịp điệu, hình tượng”), tức cũng như “nhà nông” là “người làm ruộng”, “nhà giáo” là “người dạy học”. Ấy là cách gọi tên theo công việc làm. Cái danh xưng “nhà nông” ấy không hề có các thứ bậc kèm theo như “nhà nông Trung ương”, “nhà nông địa phương”, “nhà nông trẻ”, “nhà nông già”… bao giờ cả! Nhà nông ít chữ nghĩa, nhưng họ lại hiểu rất đúng nghĩa chữ “nhà nông” của mình, còn các nhà văn thì sao? Xin thưa đây là sự lạ! Nhà thơ Việt Nam ta có thứ bậc hẳn hoi: “nhà thơ Trung ương”, “nhà thơ địa phương”, “nhà thơ  trẻ”, “những gương mặt  thơ mới”.v.v… Tất  cả đều được xếp ghế, xếp chiếu rất cẩn trọng như các loại cấp bậc nhà binh hay học hàm học vị trong khoa học. Do sự xếp ghế, xếp chiếu ấy mà “các nhà thơ Trung ương” có cách ăn nói, phán xét theo một thứ ngôn ngữ riêng phù hợp với “địa vị cao” của mình. Sự lạ ấy ai cũng biết từ rất nhiều năm nay nhưng ai cũng tuân thủ không có ý kiến khác.  Buồn hơn là không ai ngạc nhiên với điều đó cả !

Lạ lùng hơn nữa là có “một qui định không thành văn” nào đó, không hiểu xuất phát từ ông “quan thơ” nào, người ta chỉ gọi những người làm thơ là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam hiện nay là NHÀ THƠ, còn những người làm thơ khác đều không được gọi như thế , mà khi cần phải giới thiệu là “tác giả thơ”, hoặc“người làm thơ trẻ” ! Xin nêu một ví dụ sốt dẻo nhất. Trong tuyển tập 2 tập ngàn trang “Những gương mặt thơ mới” mà tôi có nhắc tới ở trên, Nhà xuất bản và người tuyển chọn đã xếp các nhà thơ có tên tuổi ở miền Nam (cũ) như Bùi Giáng, Nguyên Sa, Du Tử Lê, Tuệ Mai… vào “Những gương mặt thơ mới” tức là lớp thơ “đàn em”, mới phát hiện ra hay mới xuất hiện! Thực ra các ông Bùi Giáng, Nguyên Sa… đã là nhà thơ nổi tiếng trong những năm 60 của thế kỷ, khi mà nhiều nhà thơ Việt Nam (Tức Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) chưa biết thơ là gì . Thậm chí rất nhiều người đến nay cũng không thể sánh được với sự nổi tiếng của các nhà thơ “Miền Nam cũ” đó ! Tôi là một người làm thơ đi học và trưởng thành ở miền Bắc cũng thuộc được đôi bài của Bùi Giáng, Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền … từ mấy chục năm trước, sao lại gọi là “gương mặt Thơ mới”? Có phải các ông không là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam ? Lạ thật ! Lạ thật!

Thảo luận gì?

Có ai đó thống kê rằng, ở xứ ta mỗi ngày bình quân có hai tập thơ được ấn hành. Có nghĩa là mỗi  năm khiêm tốn cũng có tới 700 tập thơ. Đó là chưa kể thơ in trên năm trăm tờ báo giấy và tạp chí trong nước, thơ trên trang mạng, thơ của người Việt ở hải ngoại. Nhiều người gọi thời kỳ này là “Giai đoạn bùng nổ thơ  . Có người lại lo rằng “thơ bị lạm phát“, bị  xuống giá . Có người lại mừng : có “bó đũa ắt có cột cờ“! Người già trong làng thơ (hoặc đang có nguy cơ hết khả năng sáng tạo thơ) thì ca cẩm: thơ lớp trẻ thiếu vốn sống, thiếu chiều sâu và sự điềm đạm, thiên về xảo thuật chữ, ngoa ngôn! Lớp trẻ lại ngán lớp thơ già cứ giữ mãi điệu “ru em” vần vè ê a cũ, cứ như đặt lời mới cho làn điệu dân ca đã có sẵn từ ngàn năm! Thế là thảo luận, tranh luận. Thế là sừng sộ, đao búa chan chát. Cuộc chiến không có hồi kết trên các mặt báo.

Trong lúc đó một hiện tượng lạ xuất hiện trong thơ mấy năm gần đây lại rất ít nhà phê bình, chú ý phân tích. Đó là sự trở lại của Thơ tình “kiểu tiền chiến”. Buồn chán, ủ ê, đau khổ, tuyệt vọng, sướt mướt. Loại thơ tình (nam nữ) này chiếm hơn hai phần ba số thơ ấn hành hàng ngày.Những người đang yêu làm thơ tình đã đành, những người không có mảnh tình rách cũng làm thơ tình! Đến cả các nhà thơ già lớp chống Pháp, các nhà thơ “tiền chiến” bảy tám chục tuổi cũng trở lại với thơ tình! Phải chăng chúng ta đang ở xứ sở của tình yêu? Tôi không phản đối thơ tình. Nhiều thơ tình càng tốt chứ sao! Nhưng tôi thấy lạ là những bài thơ thể hiện thiên chức công dân của nhà thơ, những bài thơ chiến đấu cho sự công bằng xã hội, chia sẻ số phận đắng cay của người lao động  trước sự áp bức của  bất công và cường quyền  của quan tham, quan liêu, những bài thơ thế thái nhân tình… từng nở rộ trong những năm đầu ”đổi mới”, “mở cửa” bây giờ thấy thưa vắng, hiếm hoi dần đi. Vì sao vậy ? Có phải là các nhà thơ Việt Nam không tiếp cận được với xã hội thời kinh tế thị trường đang phân cực quyết liệt, nhiều nguy cơ mới đối với nhân phẩm và đạo lý đang xuất hiện và tác oai tác quái? Có phải các nhà thơ đã hèn kém đi, ích kỷ hơn, hay tại môi trường sáng tạo đã đổi khác? Xin mạo muội đặt một câu hỏi lớn ở đây để các nhà lý luận, phê bình, các nhà thơ cùng nhau thảo luận.

 

Hãy thảo luận điều gì làm cho thơ có ích với đời, với người, với chính sự bùng cháy kỳ diệu của thi ca Tự Do! …

Viết cho ngày sinh nhật thứ 45

                                                                  Huế, 10/9/1994

 Bài đã in trong sách “ Tác phẩm chọn lọc”

Nhà xuất bản Văn học , Hà Nội, tập 2- 1995

Advertisements

Categories

%d bloggers like this: