Đăng bởi: Ngô Minh | 27.01.2017

TẾT TRÊN VAI MẠ

 

  TẾT TRÊN VAI MẠ  

 

         Ngô Minh

nm1 Bà Đào Thị Tam- Mạ NM

Cứ mỗi đận Tết về tôi lại nôn nao nhớ hình ảnh mạ tôi xưa suốt  mấy chục năm kẽo kẹt triêng gióng, gánh Tết trên vai.. Làng Thượng Luật quê tôi ở vùng cát biển nam Quảng Bình. Làng tôi đánh giặc thì giỏi lắm, có Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy anh hùng bắn cháy tàu chiến giặc những năm đánh Mỹ, nhưng làng tôi rất nghèo . Có câu hát nhại ca từ Hoàng Vân :‘ Quảng Bình khoai khoai toàn khoai”, hẳn là hát về làng tôi. Khi tôi bảy tuổi thì ba tôi mất. Chị đầu đi lấy chồng, bốn anh em tôi còn nhỏ. Thế là gia đình không thuyền lưới, không có người đi biển. Sau một thời gian phải cầm rổ đi xin từng con cá dọc biển bờ chang chang nắng gió, rồi đi mót từng củ khoai hà, mạ tôi quyết định  chuyển sang nghề chạy chợ. Mạ tôi phải tần tảo chạy chợ mấy chục năm liền kiếm gạo nuôi con. Hồi đó ở miền Bắc ngoài cửa hàng Mậu dịch và Hợp tác xã mua bán, không ai được mở cửa hàng tư, vì thế ‘của hàng’ của mạ là đôi  triêng gióng trên vai, không ai bắt phạt được.

 

Mạ buôn chè xanh, thơm (dứa), quả mận quân, mít xanh, mít chín… từ Chợ Huyện, quê ngoại Vĩnh Linh , gánh về làng biển đổi cá cho bà con trong làng. Cá ngừ, cá thu thì cắt miếng kho, các loại cá cơm, cá duội, cá nục…thì phơi làm cá khô hoặc làm mắm nêm, nước mắm…rồi gánh đi chợ Tréo, chợ Mai, chợ Hôm Trạm, Chợ Chè khắp huyện Lệ Thủy để bán. Từ làng tôi đi chợ Tréo gần 20 cây số, phải trèo động cát tới 6 cây số, gánh nặng phải đi 5 tiếng đồng hồ mới kịp giờ họp chợ.  Nên mạ phải dậy từ hai sáng, đến tối mịt mới về. Những ngày Mỹ ném bom miền Bắc, đoạn đường mạ tôi đi chợ ngày nào cũng có bom nổ. Mỗi lần nghe bom nổ đâu đó, anh em tôi lo thắt ruột. Bữa mô bán ế, mạ lại gánh cá, mắm lên chợ Hôm Trạm hay vào các làng ở Liên Thủy, Mỹ Thủy bán cho bằng hết mới về. Vì cuộc sống anh em tôi ở trên vai mạ nên khi mạ về mới có rau, cá, để ăn, có quần áo, sách vở để học. Nhiều bữa cả bốn anh em chờ tới tận mười giờ đêm mạ mới về…Ăn xong anh em tôi lăn ra ngủ, mạ lại  lui cui chuẩn bị cá mắm để sáng mai lên chợ… Khi anh em tôi thức dậy thì thấy nồi cơm, song cá mẹ kho để trên chạn bếp. Đó là thức ăn cho mấy đứa suốt ngày…

 

Vào mỗi dịp giáp Tết, từ đầu tháng Chạp âm lịch, mạ tôi chạy chợ liên tục, mồ hôi mồ kê nhễ nhại. Bốn anh em trai chúng tôi thường xuyên ra gốc dương cổ thụ đầu xóm đón mạ mỗi tối. Có lần tôi được đi  chợ Huyện ( tức chợ Hồ Xâ, Vĩnh Linh) vào ngày 26 Tết với mạ. Tôi lẽo đẽo đi bộ theo mạ vượt 26 cây số Truông Nhà Hồ đến chợ. Đến chợ tôi say mê chạy theo mấy ông bán tò he, gà đất, chó bột, chân vấp phải  hàng nồi đất, vỡ mất chiếc  nồi nấu cơm của họ, mạ phải đền . Mạ mắng tôi mà n ước mắt lưng tròng. Chỉ có tối Ba mươi Tết là mạ về sớm hơn. Nói là sớm cũng bốn năm giờ chiều. Về để làm cơm cúng tất niên, chuẩn bị bàn thờ đón Giao Thừa.  Mạ chợ về  trên vai một gánh Tết đầy…

 

Tết mạ tôi gánh đến cho người làm ruộng là những chai nước mắm ngon, gọi là nước mắm chắt, nước mắm nhĩ, tức là loại nước mắm cốt từ trong chượp chắt ra, nhĩ ra tự nhiên, ngon lắm. Rồi những con mắm mục, mắn trích thính thơm phức, những khúc cá ngừ, cá thu kho ngon lựng ; Tết mạ gánh về cho bà con làng biển Thượng Luật nghèo là bó chè xanh, quả thơm, quả mít chín, gạo nếp, rồi bao nhiêu thứ kẹo bánh cho trẻ con như : kẹo bi, kẹo bột đậu bọc giấy bóng xanh đỏ tím vàng,  kẹo cứt gà ( tên kẹo như thế vì kẹo nấu bằng đường thủ công  tẩm bột nâu, đen đen trăng trắng như viên cứt gà khô trên cát) ; rồi các thứ bánh để thờ trên bàn thờ ngày Tết như bánh in bọc giấy bóng xanh đỏ, bánh ít, rồi lá dong, lá chuối để bán cho các nhà gói bánh chưng bánh tét.

 

Tối ba mươi Tết mạ tôi ở nhà nấu xôi, chè, làm con gà giò luộc để nhờ thầy xem giò đoán vận hạn , nấu các món thịt xào, thịt phay, canh  bún riêu cua … làm mâm cơm cúng tất niên. Mạ vừa nấu cúng vừa bán  hàng Tết chịu nợ cho bà con nghèo, vì đến gần giao thừa rồi mà nhiều gia đình vẫn chưa kiếm được tiền sắm Tết. Anh em  tôi thì lo soạn bàn thờ, thắp nhang đèn. Cúng tất niên xong là mạ bắt đầu gói bánh chưng bánh tét. Tết nào mạ cũng nấu  một nồi lớn bánh chưng sôi sùng sục. Anh em chúng tôi được mẹ phân công đứa thì lau chùi các thứ lư đỉnh ấm chĩn trên bàn thờ, thay cát thờ mới , riêng tôi thì canh nồi bánh chưng, khi nào cạn nước thì thêm nước. Tôi trải chiếc chiếu rách bên nồi bánh , thắp cây đèn dầu nằm đọc sách , vừa canh nồi bánh vừa đợi giao thừa, rồi có Tết ngủ quên lúc nào không biết .

 

Còn mạ thì cặm cúi nấu xôi chè cúng Giao thừa, rồi làm các loại  bánh  như bánh nổ, bánh đúc, bánh ú.v.v.. để mai sớm gánh ra bán ở nơi làng tổ chức đánh đu, chơi Tết. Làng tôi hồi đó Tết nào cũng chơi luôn hai cây đu lớn.Hội đu là  nơi vui nhất trong mỗi cái Tết.  Từ rằm tháng Chạp, người ta đê kéo nhau vô các làng xã miền ruộng để chọn mua tre la ngà về dựng đu. Bắt đầu từ sớm mùng Một Tết, đông đảo thanh niên nam nữ trong làng đã chen nhau vào chơi đu.  Trẻ con chúng tôi thì  đứng xem vỗ tay tán thưởng mỗi khi có cặp chơi đu vút lên cao thẳng đứng. Mấy anh thanh niên cứ mỗi lần thấy các chị  đánh đu vút lên cao, hai ống quần lụa gió bay ngược xuống đùi là vỗ tay rần rần. Tết làng tôi còn có hội đua thuyền  nếu năm  biển lặng. Hơn chục chiếc thuyền đánh cá của các đội sản xuất được sơn lại như mới, rồi vẽ rồng bay phượng múa. Mỗi thuyền có 16 thanh niêm lực lưỡng cầm chèo. Có một ông già đầu bịt khăn đóng, ngồi trước mũi thuyền đánh sanh, hò dô rất nhịp nhàng. Cả làng đô xô ra bờ biển hò hét. Có người giơ nón lên cao, lội ra biển để  vẫy. Rồi trò ném vòng cổ chai, ném quả bóng bàn  vào giỏ do Đồng biên phòng tổ chức thu hút rất nhiều thiếu niên như tôi.

 

Chuyện Tết rất ấn tượng nữa thời bao cấp ở làng tôi là xem phim. Những ngày đó  ở Quảng Bình có Đội  chiếu bóng lưu động số 17 . Thường một năm vài lần Đội đem phim về chiếu ở xã tôi, họ thường về vào dịp trước Tết hoặc sau Tết vài năm bảy ngày. Đó là một ngày hội của làng. Các thôn Liêm Lấp, Liêm Vàng, Tây Thôn xa  17 cây số , trẻ con, người lớn cũng bới cơm ra làng Thượng  coi phim. Mỗi lần  phim về, làng phải cử 12 thành niên trai tráng vượt động cát lên Quốc lộ 1A, khiêng vác máy nổ, máy chiếu, màn ảnh về. Hai đêm chiếu  phim xong lại khiêng máy  lên trả. Khi phim về mạ tôi nấu cơm sớm để anh em tôi đi xem. Chúng tôi ra bãi từ khi chưa tắt mặt trời để giành chỗ ngồi trước. Ngồi mãi đến  gần  tám giờ tối  người ta mới loa “ Buổi chiếu bóng  xin phép được bắt đầu. Hôm nay Đội chiếu bóng lưu động số 17 sẽ phục vụ  bà con hai bộ phim thời sự và phim  truyện…”. Máy chạy rè rè . Màn ảnh sáng lên. Gió  biển lay cái màn  ảnh phần phật. Đứa nào cũng mừng rơn, ngóng cổ lên màn hình. Nhưng mở đầu buổi chiếu bao giờ Chủ tịch xã cũng phát biểu “huấn thị” bà con. Huấn thị là cái “mốt thời đại” của lãnh đạo thời đó. Họ nói như  đọc sách chính trị. Hồi đó  ông Hoài là chủ tịch. Ông mở đầu cuộc nói  bằng cái đằng hắng, rồi lên giọng:” Hôm nay tôi xin nói với bà con ba điểm cần quán triệt…Điểm thứ nhất là…”. Ông nói tới chục cái “điểm thứ nhất là…”, rồi sáu bảy lần “điểm thứ hai là..”, hết hơn tiếng đồng hồ. Tôi ngủ quên lúc nào không biết. Anh Ninh lay tôi dậy thì nghe ông đang nói “điểm cuối cùng…”. Tôi nghe đến mấy lần “Điểm cuối cùng” thì ngủ  luôn ở bãi chiếu phim cho đến sáng, anh lay cũng không dậy được nữa . Sáng dậy mới biết hôm qua mình đi coi phim. Bộ quần áo đẹp mẹ may mặc Tết thành nhàu bẩn. Hàng chục lần như thế. Không có lúc nào bọn trẻ chúng tôi thức đến khi có phim truyện cả. Sau này về quê gặp ông Hoài đã già, tôi nhắc lại  chuyện coi chiếu  phim, nghe ông phát  biểu. Ông cười khề khề :” Nghề chủ tịch xã là nghề nói mà, nghề nói mà…”

 

Sáng mùng một Tết, mạ tôi dọn mân  xôi chè và mấy thứ bánh cúng ông bà, cúng ba tôi , phát áo mới cho bốn anh em, dặn không được sang nhà họ đạp đất, lo trong năm có gì xui họ trách, rồi mạ triêng gióng gánh Tết lên vai…. Mạ đi “phục vụ Tết” cho bà con” tới chiều tối mùng Một mới về.

Mạ tôi là người nấu ăn giỏi nhất làng. Bởi thế mà  suốt mấy chục năm khi xã, hợp tác xã có liên hoan là mời mạ tôi đứng bếp. Các thầy giáo trong huyện về  Ngư Thủy dạy cấp 1, cấp 2 đều ở nhà tôi, có lẽ một phần vì nhà tôi có tủ sách lớn do ba tôi để lại, phần nữa là do mạ nấu ăn ngon. Mạ tôi làm bánh nổ bằng thóc nếp rang cho nổ bung, sảy vỏ rồi cho vào nấu với nước đường, thêm tí vani, tí bột đao, ép khuôn cắt thành từng vuông nhỏ, hoặc vắt tròn như quả mận. Ăn ngọt mà giòn rụm. Ngày Tết, trẻ con trong làng rất thích loại bánh này. Mạ còn nấu bánh đúc bằng gạo mùa mới gặt. Nấu cho nhuyễn, thêm gia vị tiêu hành rồi đổ ra cái mâm thau, đợi bánh nguôi, cắt thành từng miếng hình thoi, xếp vào thúng lót lá chuối, gánh đi bán. Bánh đúc chấm nước lèo ăn no vẫn thòm thèm..

 

Cuộc đời mạ tôi trầm luân vất vả. Nước mắt Mạ nhiều hơn nụ cười. Chỉ có đêm ba Mươi, sớm Mùng Một là có Tết ở nhà. Gọi là Tết nhưng phải  lo bao việc sáng đêm quần quật. Trong ký ức của tôi, Tết luôn luôn ở trên vai Mạ. Mạ sống mãi với Xuân với Tết

 

 

 

 

 

Advertisements

Categories

%d bloggers like this: