Đăng bởi: Ngô Minh | 02.02.2017

TẢN MẠN CHUYỆN “LÀM THƠ

img_8193

 ĐỌC BỘ SÁCH “NGÔ MINH TÁC PHẨM”, TẬP 4:

  TẢN MẠN CHUYỆN “LÀM THƠ”

 Ngô Minh

 

Có Hội Văn nghệ tỉnh nọ mời tôi tham gia một hội thảo về thơ với chủ đề “ Làm sao để có nhiều thơ hay”. Nghe  đề tài mà khiếp. Cả đời làm thơ ai cũng mong được thơ hay, nhưng  khó quá.

 

Bữa nay, người làm thơ đông như “quân Nguyên”. Cả nước ta mỗi năm có tới gần ngàn tập thơ được  xuất bản. Đó là chưa kể thơ in vi tính của nhóm “mở miệng”, nhóm A, nhóm B…Mỗi ngày trên hàng trăm tờ báo Trung ương, địa phương đều có in thơ, rồi thơ trên các websitte, blog, facebook…. Nhưng, tôi đọc thấy đa phần thơ ta cứ na ná giống nhau, vần vè dễ dãi, rậm lời mà thiếu ý. Người già 50 tuổi trở lên thì thơ trầm lắng, gan ruột, họ cho thơ trẻ thì chỉ có võ chữ mà “ít ruột” ; còn tuổi trẻ thì không ưa thơ già, vì họ cho rằng thơ đó là vần vè, thiếu “chữ”, như là soạn lời cho diệu hát dân ca đã có sắn. 

 

Theo tôi ý kiến nào cũng đúng. Thơ vần vè dễ dãi thật khó chịu. Không có những ý từ mới, cấu trức mới găm vào lòng người đọc. Đặc biệt là rất hiếm chữ mới ( tôi nhấn mạnh). Mà tứ, chữ là cái cốt của thơ. Có lẽ tất cả những yếu khuyết đó là do các nhà thơ “lười” lao động thơ . Có nhiều dịp chấm giải thưởng thơ của tạp chí Sông Hương, đọc đến hàng ngàn bài thơ của các tác giải trong nước gửi về, tôi thấy rất nhiều người làm thơ không chú trọng mấy đến lao động thơ. Vì thế mà tính chuyên nghiệp của đội ngũ nhà thơ của ta không cao. Đa số làm thơ theo kiểu ngẫu hứng, ra sao thì ra .

 

Vậy lao động thơ là gì ? Thơ bắt đầu tư cảm xúc. Những trực cảm tâm hồn mạnh mẽ và chính kiến của nhà thơ tạo nên vóc dáng thơ của mỗi người. Nhưng có cảm xúc rồi, mà không lao động cật lực thì không thể có thơ hay được! Thơ là cái nghiệp, không bao giờ là một nghề kiếm sống. Nhưng để có câu thơ hay, người làm thơ “phải đổ mồ sôi sôi nước mắt”, có khi thức trắng đêm mà không tìm được chữ ưng ý. Người Việt ta gọi “ làm thơ”. “ Làm” tức là lao động. Nghĩa là thơ không tự nhiên đến, mà phải làm, phải kiếm tìm rất vất vả !

 

Làm thơ có nhiều “công đoạn” lắm. Đầu tiên là xúc cảm. Đây là cái trời cho mỗi nhà thơ, gọi là thiên phú bẩm sinh. Muốn có nhiều xúc cảm phải đi nhiều, yêu nhiều, nghĩ nhiều . Nhà thơ càng giàu xúc cảm, tức là sự nhạy cảm càng mạnh thì thơ càng dồi dào.  Bắt gặp một hình ảnh trong cuộc sống, nhà thơ liên tưởng ngay đến một triết lý sống, hay một nỗi niềm nào đó, thế là tứ thơ hình thành. Xuân Diệu bảo “ tứ thơ như cái đinh ta đóng lên tường”, rồi trên cái đinh đó ta treo những thứ mà mình thích. Sau khi có tứ, phải tiếp tục tìm kiếm những hình ảnh khác trong cuộc sống mà mình từng trải để làm “vôi vữa” xây dựng nên hình tượng thơ, bài thơ. Các nhà thơ chuyên nghiệp trong đầu họ lúc nào cũng lưu giữ vài ba ý thơ, khi ý thơ đó “va chạm” với hình ảnh mới của cuộc sống, thì tứ thơ sẽ tượng hình, lúc đó người viết ra rất nhanh dồi dào  cảm hứng.

 

Nhưng có lẽ lao động, cấu trúc một bài thơ, câu thơ, chữ thơ mới là vất vả nhất. Thơ có hai phần: Hình thức và nội dung ( nói chữ là cách biểu cảmcái biểu cảm  ). Cả hai đều quan trọng ngang nhau, không thể xem nhẹ phần nào. Khuyết điểm dễ nhận thấy của nhiều tác giả thơ hiện nay( nhất là thơ ở các địa phương )là câu thơ không đạt đến độ nén, nên đơn nghĩa. Câu thơ đơn nghĩa đọc lên như câu văn  xuôi, thiếu lấp lánh, ẩn chứa . Thời kháng chiến chống Pháp, nhân dân lao động không được học hành, nên phải viết theo cách “ câu sau giải thích cho câu trước “ họ mới hiểu được. Nên các nhà thơ “phải diễn giải” thứ tự 1, 2, 3, 4… Quê hương anh nước mặn đồng chua/ Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá/ tôi với anh đôi người xa lạ...Bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu là bài thơ rất hay, tứ mạnh. Nhưng phải viết “diễn “ như thế người đọc là bộ đội kháng chiến mới hiểu, mới truyền bá được. Nếu bây giờ viết lại tứ thơ này, chắc nhà thơ Chính Hữu thế kỷ XXI sẽ viết khác, ngắn hơn, đa nghĩa hơn. Tất nhiên cái tứ “ đầu súng trăng treo “ vô cùng đắt giá thì không thể bỏ được .

 

Có một thời xã hội ta đả phá loại văn chương “biểu tượng hai mặt”. Người ta đòi hỏi câu thơ chỉ có một nghĩa duy nhất, rạch ròi, không ẩn ý, xiên xẹo . Quan niệm đó là phản văn chương. Văn chương thứ thiệt là càng đa sắc màu, đa âm, đa hình, đa nghĩa càng tốt, càng đạt hiệu quả truyền cảm cao! Bởi thế mà lớn thêm một tuổi, đọc lại Truyện Kiều của Nguyễn Du ta lại phát hiện ra những ý nghĩa mới trong từng câu chữ đã thuộc lòng từ lâu!

 

Bây giờ độc giả của thơ văn hóa rất cao, khoảng cách giữa câu thơ dòng trên và câu thơ tiếp theo không phải thứ tự 1,2,3… nữa, mà “ nhảy cóc” từ 1 đến 10, 20 họ vẫn hiểu. Tức là khoảng “lặng” giữa các câu thơ  mà nhà thơ dành cho người đọc có được độ tự do nghĩ ngợi càng rộng thì độ nén của thơ càng cao, thơ càng đa nghĩa. Hiện nay mà thơ cứ “diễn” nôm na thì bạn đọc sẽ chán thơ. Ông Chúc Bờ Sông ở ngoài đê Yên Phụ, Hà Nội là một người làm thơ độc đáo hiếm có. Thơ ông bài nào cũng chỉ có một hai câu, một hai chữ. Có bài chỉ có một chữ. Ví dụ bài thơ có tựa đề là Vợ chồng. Còn phần bài thơ chỉ có một chữ : Xong ! Độc giã sẽ tiếp nhận bài thơ theo tâm trạng riêng của mình, nên câu thơ sẽ có hàng ngàn nghĩa !. Nhà thơ Trần Dần cũng làm rất nhiều thơ ngắn, ông gọi là thơ mini. Ví dụ bài một câu :” Mưa rơi không cần phiên dịch”, bài hai câu :” Có những bầu trời khát người bay / Lại có người bay khát bầu trời...”. Nhà thơ Phùng Cung , một nhà thơ rất giỏi ‘’chữ quê’’, có nhiều bài thơ hai câu nghe lạnh xương sống. ví dụ bài  Bèo : Lênh đênh muôn dăm nước non / Lạc vào bể cạn vẫn còn lênh đênh ; hay bài  Khế : Này Em cây khế gãy rồi / Cái chua vẫn hỏi thăm người trồng cây. Nhà văn Văn Cầm Hải, trong bài thơ  Chị tôi có những câu thơ rất nén “ Chị / Bảo tàng / Mặt nạ đàn ông... . Đó là độ cô đặc của chữ thơ do lao động công phu mà thành. Thơ haiku, Tanka (Nhật Bản ) cũng là lại thơ cô đặc ấy.

 

Do khoảng cách giữa các câu thơ của các nhà thơ trẻ hiện nay rất xa, nên những người quen đọc loại thơ diễn dài dòng kêu là “khó hiểu”, đó là điều dễ hiểu! Nhiều nhà thơ thơ của họ dễ dãi tới mức chỉ cần viết hai câu là hết ý, thế mà họ giăng ra tới 4 khổ, 16 câu ! Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, thời còn ở Huế có lần đã nói :” Nhiều nhà thơ bây giờ làm thơ như đặt lời cho điệu dân ca đã có sẵn !”. Bây giờ thơ có vần hay không vần không quan trọng. Phải tung hết đội quân ngôn ngữ để bắt lấy tứ thơ, hình tượng thơ, sau đó nén ép cho câu chữ có sức nặng . Nhịp điệu câu thơ sẽ hình thành theo cảm xúc. Nếu phụ thuộc vào vần vè thì thơ như bị ép duyên, khó phóng khoáng . Ngay cả thơ lục bát bây giờ, cách ngắt nhịp của nhiều tác giả cũng phá lệ truyền thống 2-2-2 / 2- 4- 2, mà có khi 1- 3- 2 / 1-3-3- 1.v.v… Có người còn bẻ lục bát ra thành từng câu ngắn xuống dòng như “ bẻ bánh đa” để gây cảm xúc mới : Mình về / Làm lối cát khuya / Nghe ngờm ngợp gió / Nghe chia bước mình / Nỗi xa triều cuốn/  Nỗi gần / Hai  lăm tuổi biến / Khát vần tìm gieo / Em là ? Đau khổ buông neo ? Bốn mười  tuổi biển ? Gầy theo bóng thuyền / Mai rồi ? Đời cát vùi quên / Biển còn hột muối / Nhặt lên / Thưa rằng…(Vần cũ 2- NM)

 

Có một nguyên tắc làm thơ là phải kiệm lời, phải gạch bỏ hết những câu thừa, chữ thừa, như thế bài thơ, câu thơ mới tinh luyện. Nhà thơ Chế Lan Viên gọi làm thơ là luyện chữ. Phải luyện hàng tấn quặng chữ mới được một câu thơ ! Thơ súc tích mới “ ý tại ngôn ngoại” được ! Nhà thơ Nguyễn Khắc Thạch khi làm thơ gạch xóa bản thảo đến rách cả giấy, người khác nhìn vào không thể đọc được. Nên thơ ông súc tích, thâm trầm : Khoảng cô đơn còn rộng hơn mặt đất...Thậm chí, thơ bây giờ không cần chữ nữa ! Nhà thơ- dịch giả Dương Tường năm kia gửi vô Huế tặng tôi một tập thơ tên là “ Đàn” do Nhà xuất bản Trẻ ấn hành. Cả tập thơ trên 72 trang tuyệt nhiên không có một chữ nào, ngoài lời giới thiệu của Nhà Xuất bản, chỉ những hình ảnh và màu sắc, những ô cửa và những nốt nhạc do tác giả tự vẽ . Ông gọi là “ thơ ngoài lời”!

 

Thơ nước ta hiện nay đang có hai xu hướng : Một thiên về làm nghĩa, tức là làm nội dung thơ là chủ yếu . Xu hướng thứ hai  là làm chữ , tức là tìm chữ để cho thơ đa nghĩa hơn. Các nhà thơ chúng ta hiện nay đa phần là làm nghĩa, vì làm chữ thì khó hơn nhiều, lao động vất vả hơn nhiều. Nhà văn Trần Dần có lần bảo tôi:” Làm thơ là làm chữ . Con chữ nó đẻ ra nghĩa. Cái chưa biết là cái chữ. Nếu làm thơ mà làm nghĩa rồi mượn chữ để diễn đạt, thì nghĩa sẽ rất hẹp. Nguyễn Du là nhà thơ vừa giỏi làm nghĩa, nhưng cũng rất giỏi làm chữ . Ví dụ câu :” Trăm năm trong cõi người ta / Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau “ đó là câu thơ làm nghĩa. Còn câu thơ Mai sau dù có bao giờ… là làm chữ . Câu thơ toàn là hư tự ( tức là những từ không  mang nghĩa cụ thể ) mà lại đa nghĩa, đa cảm. Nhưng nếu ‘làm chữ’ trong thơ không giỏi sẽ biến thành hũ nút, tắc tị, hoặc khó hiểu. Nếu người làm thơ mà kết hợp được cả làm chữlàm nghĩa trong từng bài thơ, chắc chắn sẽ có thơ hay. Trong  lĩnh vực này tôi phục nhất là nhà thơ Phùng Cung. Đọc tập thơ ‘ Xem đêm’ của Phùng Cung ( NXB Văn hoá thông tin, 1995) , thể nói lần đầu tiên tôi được tiếp xúc với một loại “thơ quê- chữ quê” ấn tượng như thế. Nó vừa dân gian vừa bác học, vừa tâm can vừa chữ nghĩa. Áo cũ gối đầu / Đêm tỉnh giấc / Sao khuya dạt chân rêu / Lạnh biếc / Bầu buông chày ngọc/ Cõi Lam Kiều / Về bên góc sân con ( Góc  sân con); Đêm về khuya / Trăng ngả màu hoa lý / Tiếng gọi đò căng chỉ ngang sông ( Đò khuya ); Quất mãi nước sôi / Trà đau nát bã / Không đổi giọng Tân Cương ( Trà).v.v..Chao ôi là chữ ! Quất nước sôi , Bầu buông  chày ngọc, trăng màu hoa lý, tiếng gọi đò căng chỉ, trái gấc chín ngập ngừng, tiếng tù và bết gió, trời xanh cánh chấu,  nắng ngã tương, sáo diều hóc gió, mảnh trời da báo, mồ hôi xương, nắng bổ cau, con giun đất mạ vàng.v.v.…Rất nhiêù, rất nhiều, toàn chữ quen mà quá lạ. Người ta nói mồ hôi da chứ ai nói Mồ hôi xương ? Vậy mồ hôi xương là mồ hôi gì ? Có lẽ đó là những giọt mồ hôi cuối cùng của  con người  lao lực, bị vùi dưới đáy xã hội chẳng ai quan tâm. Rót nước vào ấm trà là “ quất nước sôi”, “quất “ chứ không phải “rót”. “Quất” là “đánh”. Đánh đến mức trà mới “đau nát bã”. Nhưng kỳ diệu là “không đổi giọng Tân Cương”, nghĩa là Trà vẫn là Trà Tân Cương chính hiệu. Phải chăng ông đang nói về đời mình ! Lao động thơ ghê gớm lắm mới chiết ra được những chữ quê hút hồn người như thế.

 

Biết dùng hư tự trong thơ là một nghệ thuật tăng sức gợi mở cho câu thơ. Học  theo lối này, trong vài thơ Vần cũ 2 , tôi có câu : …mai rồi / đời cát vùi quên / biển còn hột muối / nhặt lên / thưa rằng...”. Chữ thưa rằng ở đây là hư tự ! Những ngưòi làm thơ thành công hiện nay như Trần Hoàng Cương, Trần Quang Quý, Hoàng Hưng, Ly hoàng Ly, Thi Hoàng, Hoàng Vũ Thuật.v.v.. đều là người biết  kết hợp làm chữ và làm nghĩa !

 

Trong thơ, ngoài hư tự, phải biết tìm những từ giàu âm thanh, hình khối đặt vào những chỗ đắc địa sẽ tạo nên những câu thơ hay .Ví dụ: Nắng khóc òa trên nền gạch vỡ / Bom chém cành gốc gạo đứng chơ vơ…( Hoàng Nhuận Cầm) . Chữ khóc òa là chữ đắc địa. Hay bài thơ  Chợt thu II của Dương Tường: “ Chiều se sẽ hương / Vườn se sẽ sương / Đường se sẽ quạnh / Trời se sẽ lạnh / Người se sẽ buồn “ .Chữ se sẽ từ trạng từ biến thành động từ là chữ thần đã làm cho cả bài thơ sống dậy, tạo ra cảm giác thu buồn rợn ngợp thật sự! Các nhà thơ thường hay dùng một động từ để tác động vào những danh từ vô hình, tạo nên chiều sâu lung linh, mới mẻ, làm cho câu thơ “ nhòe mờ đi” . Nhà thơ Hải Kỳ ( Đồng Hới, đã mất) có nhiều câu thơ như thế . Ví dụ hai câu :” Tôi rơi vào cuối ngọn nồm / Em rơi vào cuối nỗi buồn của tôi . Sau động từ rơi  là cuối ngọn nồmcuối nỗi buồn là những cái mông lung, không xác định, những cái rơi như thế  tạo ra cấp độ cao hơn của cảm xúc trong tình cảm người đọc!

 

Trong lao động thơ còn rất nhiều thứ kỹ thuật như liên tưởng, ẩn dụ, tu từ , so sánh, ngắt nhịp, thơ bậc thang, điệp âm, điệp vần, âm bồi., kỹ thuật bằng trắc. v.v.. Thơ bậc thang như thơ Maiacốpki, Hữu Loan, Trần Mai Ninh… làm cho thơ có hình khối, diễn tả được sự trắc trở, khúc khuỷu đang chuyển động trong tình cảm. Để cho thơ có chiều sâu thâm thúy, người làm thơ phải có những câu thơ chiêm nghiệm, chiêm cảm. Ví dụ Hồng Nhu có  câu thơ rất hay: Mắt là mắt của người ta / Tôi đưa nhắm mở như là mắt tôi. Câu thơ tài hoa đau đớn ấy là sự chiêm nghiệm xót xa của “ hoàn cảnh” sáng tạo của nhà văn một thời ! Nhà thơ không có chính kiến mạnh, không có bản lĩnh sống, luôn luôn “ tự biên tập mình “, “ tự gọt chân cho vừa giày”, thì không bao giờ có được những câu thơ như thế !

 

Thơ là cái chí, cái tâm, cái tình bắt nguồn từ cảm xúc mạnh mẽ do va chạm giữa nhà thơ và cuộc sống. Nhưng nếu không có kỹ thuật ngôn từ, cấu trúc, thì nhà thơ không thể chuyển tải cảm xúc dạt dào của mình đến độc giả được ! Vì thế, ai không chú ý lao động cật lực trên từng con chữ, trên từng câu thơ thì sẽ không có những bài thơ ưng ý !

Advertisements

Chuyên mục

%d bloggers like this: