Đăng bởi: Ngô Minh | 05.02.2017

NGUY CƠ SAI LẠC CHỮ LÓT CỦA CÁC DÒNG HỌ VIỆT

NGUY CƠ SAI LẠC CHỮ LÓT CỦA CÁC DÒNG HỌ VIỆT

    Ngô Minh

         ban-ki-munÔng Bankimoon về VN nhận họ

 

Dòng họ người Việt gồm : các họ Việt thuần như Nguyễn, Ngô, Trần, Đinh, Hoàng, Lê, Lý, Triệu.v.v; họ Việt gốc Hoa: Khổng, Lưu, Trương, Mai, Lâm, Lữ, Nhan, Sử, Tăng, Trịnh, Vương, v.v. gốc Miên như Thạch, Sơn, Danh, Kim, Lâm…, gốc Chàm như Chế, Chiêm, v.v. gốc dân tộc thiểu số: Linh, Giáp, Ma, Ðèo, Kha, Diêu, Vi, Quách, Nông, Chữ, Ngân, Ông, Trà, Lang, Lục….Mỗi dòng họ đều có một chữ lót (tên đệm) truyền từ đời này sang đời khác, được ghi trong gia phả. Chữ lót đã được xử dụng từ thời lập quốc Tất cả đều có gốc có nguồn cả. Điều đang lo ngại là vào thời hội nhập hiện nay, tên đệm (chữ lót) của các dòng họ đang bị biến đổi, sai lạc rất nhiều. Thời gian trôi đi, sẽ đến lúc anh em cùng họ, thậm chí cùng nhánh trong một họ không còn nhận ra nhau! Hiện nay các dòng họ đang cố kết lại, xây nhà thờ họ, nhà thờ tổ, lập quỹ khuyến học để khuyến khích con cháu học giỏi. Vấn đề tìm lại chữ lót của các dòng họ Việt là một vấn đề đặt ra bức xúc. Ngày Xuân, xin bàn về chuyện thiêng liêng này.

Đa số dòng họ Việt, chữ lót thường được xử dụng nhất là “văn” và “thị” phân biệt nam nữ. Theo một số nhà ngữ học, “văn” và “thị” có nghĩa là “con trai của…”, “con gái của…”. Hoàng Thị, Trần Thị, Ngô Văn, Trần Văn, Lê Văn, Lý Văn, Lý Thị…Có dòng họ lại có cách đặt chữ lót quy ước sẵn cho nhiều thế hệ. Vì dụ bài thơ Đế hệ thị vua Minh Mạng quy định cho Triều Nguyễn: Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh/ Bảo Quý Định Long Trường/ Hiền Năng Kham  Kế Thuật / Thế Thụy  Quốc Gia  Xương (Từng chữ có nghĩa như sau : HƯỜNG: Oai hùng ; ƯNG: Nên danh, ; BỬU: Bối báu; VĨNH: Bền chí; BẢO: Ôm lòng; QUÝ: Cao sang; ĐỊNH: Tiên quyết ; LONG: rồng tiên ; TRƯỜNG: Vĩnh cửu; HIỀN: Tài đức, phúc ; NĂNG: Gương ; KHAM: Đảm đương; KẾ: Kế sách ; THUẬT: ghi chép ; THẾ: trường thọ ; THỤY: Ngọc quý ; QUỐC:  giang san ; GIA: Muôn nhà ; XƯƠNG: Phồn thịnh . Sau đế hệ thi là 10 bài phiên hệ thi mỗi bài cũng 4 câu, mỗi câu 5 chữ, thành 20 chữ. Sau khi đế hệ thi và phiên hệ thi được vua ban, các hệ con cháu đời này qua đời khác của triều Nguyễn cứ thế mà đặt chữ lót trước tên cho thống nhất.

Theo đế hệ thi, thì tên của các vua Nguyễn từ Minh Mạng trở lui là :  Nguyễn Phúc + chữ lót trong Đế hệ thi + tên . Ví dụ vua Thiệu Trị là Nguyễn Phúc Miên Tông, Tự Đức là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm; Dục Đức là Nguyễn Phúc Ưng Chấn; Hiệp Hòa tên là Nguyễn Phước Hường Dật; Kiến Phúc là Nguyễn Phước Ưng Ðăng ;Hàm Nghi là Nguyễn Phước Ưng Lịch ; Đồng Khánh tên là Nguyễn Phước Ưng Đường; Thành Thái là Nguyễn Phước Bửu Lân; Duy Tân là Nguyễn Phước Vĩnh San; Khải Định là Nguyễn Phước Bửu Đảo; Bảo Đại là Nguyễn PhướcVĩnh Thụy.

Ở Việt Nam có họ Dương Khuê (Hà Ðông) cũng phỏng theo cách này. Ông đã đặt một bài hệ thi gồm 16 chữ, mỗi thế hệ cứ dựa vào đó mà đặt tên lót Tự- Thiệu- Hồng- Vân…: Dương Tự Quán, Dương Tự Ðề ; Dương Thiệu Tống, Dương Thiệu Tước – Dương Hồng Tuân, Dương Hồng Phong , .v.v.Hay dòng họ Phan Huy ( Chi Hà Tây, chi Hà Tĩnh…) nhiều người đỗ đạt làm quan, kèm nhà bác học, từ Phan Huy Cận (1722 – 1789) , Phan Huy Ích (1750 – 1822) -, Phan Huy Ôn (1754 – 1786) , Phan Huy Thực (1778 – 1844) – Thượng thư bộ Lễ   Phan Huy Chú (1782- 1840) ; Phan Huy Vịnh (1800 – 1870) – Phan Huy Tùng – Tiến sĩ (1913), Phan Huy Quát (1911 – 1979) …đến ông Phan Huy Lê sinh năm 1934 – Giáo sư sử học, hiện là Chủ tich  Hội khoa học lịch sử Việt Nam từ năm 1990 đến nay .v.v. đều giữ chữ lót là Huy, không hề thay đổi. Dòng họ Tôn ở Thanh Chương ( Nghệ An, gốc ở Đức Thọ, Hà Tĩnh) rất coi trọng ý thức dòng tộc. Ông nội của cụ Tôn Quang Phiệt, là Tôn Đức Tiến đã quy định hệ thống tên lót để phân biệt hệ thứ trong họ tộc gồm: Đời cụ Tiến là Đức, tiếp theo là Huy, Quang, Gia, Tích, Thiên, Lương. Hết vòng đó laijquya lại từ đầu. Ở nước ta, nhiều dòng họ giữ được chữ lót từ đời này qua đời khác như thế. Hoàng tộc Nguyễn dù năm 1945 không còn vua nữa, nhưng 70 năm qua họ vẫn đặt tên con cháu theo Đế hệ thi phiên hệ thi được ban từ thời vua Minh Mạng, dù họ ở Việt Nam hay ở Mỹ, Anh, Pháp. Một số dòng họ như Lê Đình, Ngô Đình cũng giữ chữ lót “Đình” từ đời này qua đời khác.

Thời hiện đại đặt tên con người ta tìm chữ lót và tên cho “sang trọng” ,“oách”, “đẹp” , thể hiện theo  ý thích và cá tỉnh mỗi người. Vì thế, tên phụ nữ thường mất hẳn chữ lót “thị” và nhiều chữ lót khác được dùng như : ngọc, thanh, mỹ, thu, tuyết, mộng.v.v.Ví dự Nguyễn Thị Lan thành Nguyễn Mỹ Lan, Ngô Thị Vân thành Ngô Thánh Vân … không còn phân biệt đàn ông hay đàn bà. Rồi  chữ lót nam của mất dần chữ “văn”, người ta dùng  những chữ như minh, ngọc, thành, công, cao, huy, như, tường, anh, đức, sĩ, viết, quang,.v.v..làm chữ lót. Điều đáng ngại là những chữ lót như thế không có trong gia phả ông cha để lại. Ví dụ họ Ngô của người viết bài này, chữ lót là “Văn” ( họ Ngô có nhiều nhành, hệ như Ngô Văn, Ngô Đình, Ngô Thế, Ngô Quang, Ngô Viết…),. Nhưng đến thế hệ 4 anh em trai của tôi, chỉ ông anh đầu là con chữ lót văn (Ngô Văn Khương), còn ba người sau là Ngô Tấn Ninh, Ngô Minh Khôi Ngô Minh Phục. Thế là mất chữ lót gốc. Còn con trai của 4 anh em thì chữ lót cũng khác như Ngô Minh Thuyên, Ngô Minh Thuận, Ngô Minh Thành  Ngô Hải Tân, Ngô Hải Bình, Ngô Duy Hưng, Ngô Minh Hải…Họ bên vợ tôi là Nguyễn Viết, nhưng  trong khai sinh của bố vợ tôi tên là  Nguyễn Trọng Ngọ, chú là Nguyễn Thanh Huấn,,, Rồi thế hệ sau con bác là Nguyễn Hải Quyền,con ông Ngọ là Nguyễn Thanh Tuấn, Nguyễn Thanh Châu.v.v..Nhưng  khi tôi tham gia tảo ngày thanh minh chạp mả họ sau Tết, đọc bia trên mộ tổ, tôi mới biết  họ gốc là Nguyễn Viết. Xem trong gia phả cũng  là Nguyễn Viết. Thế là chữ lót đã bị đổi đến hai thế hệ con và cháu. Bên họ ngoại của vợ tôi cũng vậy. Họ gốc trong gia phả và khắc trên mộ tổ là Võ Duy, nhưng các thế hệ  lại đặt chữ lót riêng của mình như Võ Công Giai, Võ Thành Lập… Rồi đến thế hệ con lại đổi chữ lót khác nữa. Vài đời chữ lót gốc tổ tiên đều mất, nhiều nhánh họ xa nhau không thể phân biệt được. Không phải họ Ngô, Nguyễn, Võ mà nhiều họ khác thế hệ sau này không còn chung chữ lót nữa. Đó là sự sai lạc đáng báo động.

Làm thế nào để tìm về tên họ chữ lót đúng gốc của mình ? Ở làng Thượng Luật, xã Ngư Thủy, Quảng Bình quê tôi, có 8 nhánh họ Ngô Văn. Thế hệ từ 70 tuổi trở xuống, đa phần lấy tên đệm khác, nhiều nhất mà minh, sau đến quang, tấn, phú…Khi nhận ra sự sai lạc tên đệm so với gia phả, các nhành họ đều cố gắng trở về chữ lót gốc, bằng hai cách. Thứ nhất là trong sớ cúng được xướng lên trong các cuộc cúng mộ, cúng nhà mới, cúng đất, chạp họ.v.v.. đều ghi người cúng là Ngô Văn + tên, không ghi chữ lót thường dùng. Ví dụ trong sớ cúng, từ hàng chục năm nay, tên tôi là Ngô Văn Khôi, chứ không phải Ngô Minh Khôi. Làm như vậy để “ cha ông dưới âm phủ biết là con cháu mình” và nhắc con cháu phải ghi nhớ mình là Ngô Văn. Cách thứ hai là thêm chữ lót gốc vào trước chữ lót đệm khi làm khai sinh cho trẻ mới ra đời. Ví dụ con anh trai anh Ngô Tấn Ninh, đứa nào cugnx Ngô Minh, nhưng đứa  con út, anh lấy lại chữ lót Văn, thành  Ngô Văn Minh Ánh. Hay cháu trai nội của tôi là Ngô Văn Hải Minh . Tức Minh Ánh, Hải Minh đã biến thành cái tên ghép (tên hai từ). Có lẽ đây là cách làm tốt nhất để trở lại với tên đệm ( chữ lót) gốc mỗi dòng họ.

Để trở lại chữ lót gốc như gia phả dòng họ, thì người trưởng tộc, trưởng họ phải (theo nhiệm kỳ bầu) phải có những quy ước được  nhắc nhở thường xuyên trong toàn họ là dù đặt tên giì cũng phải có chữ tên đệm ( chữ lót) gốc của họ mình trong khi làm giấy sinh, đặt tên con. Có như thế mới mong tên họ không còn sai lạc trong các dòng họ Việt.

 

Advertisements

Categories

%d bloggers like this: