Đăng bởi: Ngô Minh | 11.02.2017

HAI LẦN ĐƯỢC GẶP ĐẠI TƯỚNG

  bia%20ngo%20minh

HAI LẦN ĐƯỢC GẶP ĐẠI TƯỚNG 

 

             Ngô Minh                                                                     

 

         giap

Đối với mỗi con dân Việt Nam trong suốt hơn 50 năm nay, hai tiếng gọi  thân thương “Đại tướng”, là chỉ để dành gọi riêng Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp. Con người kiệt xuất, văn võ song toàn ấy đã sống trọn một thế kỷ oai hùng của lịch sử dân tộc và Người đã cống hiến trọn vẹn tài năng của mình cho Nhân dân, Tổ Quốc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, dưới sự chỉ huy tài ba của Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, 30 năm trường kỳ kháng chiến, dân tộc ta đã đánh thắng hai đế quốc hùng mạnh của thế kỷ 20, thống nhất Tổ quốc. Ông là một nhà quân sự lỗi lạc, một nhà văn hoá lớn. Tên tuổi ông lẫy lừng thế giới. Ở Hoàng gia Anh, người ta đã bầu chọn ông là một trong số 10 vị tướng vĩ đại nhất mọi thời đại. Là một người lính, lại là một người con của quê hương Lệ Thuỷ, Quảng Bình, tôi rất tự hào về Đại tướng Tổng Tư lệnh của mình. May mắn hơn hàng triệu người lính khác, tôi đã gặp Đại tướng 2 lần. Nhân ngày  kỷ niệm chiến thắng  Điện Biên Phủ ( 7-5), tôi lại nhớ những kỷ niệm gặp Đại tướng như những vết son trong đời …

 

Năm 1994, Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ V họp tại Hội trường Ba Đình lịch sử. Đại tướng Võ Nguyên Giáp là khách mời. Sau phiên khai mạc, các nhà văn ra tiền sảnh hội trường trò chuyện. Tôi bô bô giọng Lệ Thủy, Quảng Bình hăng hái nói về vấn đề đàm đạo văn chương gì đấy, thì bỗng một bàn tay đặt lên vai tôi vỗ vỗ. Tôi quay lại và người tự nhiên run lên: ”Chao ôi, Đại tướng !”. Đại tướng hỏi :”Nhà văn ni có phải người Quảng Bình miềng không ?”. Tôi rối rít:” Dạ, cháu là người Lệ Thuỷ đây ạ ”. Rồi Đại tướng hỏi tiếp:”Trong Đại hội này có nhiều nhà văn người Quảng Bình không ?”. Tôi nói có gần  hai chục người. Đại tướng khen khá lắm, rồi cười bắt tay tôi bảo :”Anh đi gọi mấy nhà văn Quảng Bình đến đây chụp ảnh kỷ niệm, mình lâu quá chưa về thăm quê, nhớ nhà lắm…”.

 

Tôi vù chạy đi khắp hội trường Ba Đình, từ gác dưới lên gác trên, ra cả chỗ căn-tin sau hội trường, chỉ tìm được mấy nhà văn Hoàng Vũ Thuật, Hải Kỳ, Nguyễn Văn Dinh, Nguyễn Khắc Phê, Trần Công Tấn, … Còn các anh Xuân Hoàng, Thái Vũ, Lâm Thị Mỹ Dạ, Lê Thị Mây, Nguyễn Quang Lập.v.v.. không biết biến đi đâu mất. Có lẽ ra phố ngồi ở quán bia nào đó, hoặc dắt nhau đi chụp ảnh lưu niệm ở vườn hoa trước Lăng Bác.

 

Khoảng 10 phút sau tôi và mọi người mới đến, Đại tướng vẫn đứng chờ, nét mặt tươi cười hồn hậu. Mọi người vây quanh Đại tướng chụp ảnh. Đại tướng kéo tôi đến đứng bên cạnh. Có lẽ ông ưu ái tôi là người gặp đầu tiên, người có công đi tìm mọi người hay đại tướng thấy tôi trẻ nên thương. Tôi lúc đó đã 49 tuổi nhưng  gầy nhỏ nên nhìn như mới ngoài ba mươi . Bức ảnh do nhà thơ Trần Phương Trà, công tác ở Ban Văn nghệ, Đài tiếng nói Việt Nam, người Huế, chụp rất đẹp. Trong ảnh còn có thêm nhà văn Đỗ Kim Cuông, nhà thơ Trương Nam Hương…”đứng ghé”. Sau Đại hội anh Trần Phương Trà phóng to gửi cho mỗi người một bản. Đó là bức ảnh các nhà văn đồng hương đứng cạnh Đại tướng mà tôi thường xuyên treo ở bàn viết ngay trước mặt mình suốt mấy chục năm qua. Bức ảnh phóng to khung kính trên tường / Vị tướng tài ba bên những nhà thơ chiến sĩ / Là tài sản xin ngàn đời gửi lại / Cho cháu con tình đất ruột rà… ( NM)

 

Về bức ảnh này cũng có kỷ niệm sâu sắc lắm. Dạo đó, khoảng năm 1999, tôi là Trưởng Đại diện Báo Thương Mại ở miền Trung. Tôi  phát hiện ra một vụ chìm chiếc tàu 06 của Cảng Thuận An,Huế, do một công ty thương binh thuê đi buôn lậu hàng Trung Quốc, bị bão ở vùng biển Hải Nam. Tàu chìm làm mấy người chết, đồng thời mất tiêu luôn chiếc tàu trị giá tới 4 tỷ đồng của nhà nước và toàn bộ hàng hoá. Khi báo vừa phát hành, giám đốc công ty ấy đã cùng một băng vệ sĩ tìm đến nhà tôi doạ giết. Vào tới nhà, tất cả bọn họ dàn trận ra hai bên đứng dạng chân, tay lăm lăm khí cụ như sắp vào trận chiến. Người nhỏ con nhất trong đám, một chân gỗ hỏi tôi có phải Ngô Minh Khôi không. Tôi bảo phải. Ông ta liền dặn mạnh con dao găm xuống bàn, áp vào tôi chỉ trỏ, xưng mày tao và mắng té tát, tục tỉu vào mặt tôi là “đồ này”, “đồ kia”, “mày ăn tiền ai mà viết về tàu Thuận An!”, “mày phải đền tội”, “ông sẽ giết mày”…Vừa nói ông ta vừa thở hổn hển, như chính tôi đã gây ra tai họa đắm tàu kia. Tôi lúc đó mặc pizama, ngồi yên lặng. Thú thật tôi cũng lo sợ bọn họ làm càn. Còn vợ con tôi thì mặt cắt không còn hột máu, đứng sau lưng tôi run bần bật. Chờ cho ông ta nói cạn một hơi, tôi mơi từ tốn hỏi “dạ thưa, anh là ai, ở đâu?”. Ông ta bảo rằng “tao” là…, thương binh chống Mỹ, giám đốc Công ty… Dường như chữ “hai bảy tháng bảy” làm cho ông ta thêm sức mạnh để chửi bới, hét to hơn trước… Đợi ông ta nói xong tôi mới thủ thỉ rằng: “Trước khi nói chuyện với nhau tôi xin thông báo với anh rằng tôi cũng là một người lính từ chiến trường về. Chỉ khác anh là tôi không bị thương. Còn khí phách người lính thì tôi chắc cũng không khác anh! Hơn nữa bài báo của tôi không làm cho người chết, hàng mất, mất mát là do những người trên tàu gây ra!”. Nghe tôi nói cứng, giám đốc Giới không còn hét lên như trước. Lúc này vợ tôi dã lẻn sang nhà bên gọi máy kêu Công an phường rồi công an tỉnh nhưng không có ai trực, bèn gọi cho nhà thơ nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo, một người bạn thân thiết. Anh Tạo nghe phôn Ngô Minh đang bị tấn công tại nhà thì mặc nguyên quần áo ở nhà phóng xe tới. Bên ngoài cửa nhà tôi mấy chú công nhân trong khu tập thể nghe chuyện cũng kéo đến dàn hàng ngang. Sau đó, khi sự việc qua rồi mấy chú kể lại là lúc đó nếu bọn chúng có hành động gì nguy hiểm thì lập tức các chú sẽ can thiệp, việc đầu tiên là đâm thủng hết tất cả các lốp xe máy để giữ chân chúng. Nhưng là người lính, nên tôi bình tĩnh lại, ôn tồn hỏi ông thương binh làm sao biết nhà tôi, hỏi lý do làm sao tàu chìm, thiệt hại có lớn không, bây giờ xử lý  ra sao, tỉnh có ý kiến gì chưa?… Tôi cứ hỏi rỉ rả để kéo dài thời gian. Ông thương binh giám đốc bảo :” Ai thuê mày viết bài?”, “Mày phải cải chính, xin lỗi nếu không sẽ thế mạng !”…Tôi bình tĩnh bảo, tôi là người lính chiến trận bốn năm ròng vào tận Sài Gòn, chỉ khác anh là tôi không bị thương thôi. Anh là thương binh, nên đánh nhau tay đôi anh sẽ thua tôi. Nhưng Đại tướng Tổng Tư lệnh dạy tôi :”Quyết chiến trước kẻ thù, còn với đồng đội thì hết lòng bảo vệ. Đấy, anh thấy không , tôi được chụp ảnh đứng cạnh Đại tướng đấy !”.

 

Khi anh Tạo đến, và các chú trong khu tập thể đứng đầy cửa, giám đốc buôn lậu tỏ ra xuống giọng hơn. Anh ta kể rằng, trong những người mất tích trên tàu Thuận An 06 ấy có người anh trai của anh từ làng quê Thanh hóa vô Huế làm ăn. Ngay chuyến buôn hàng Trung Quốc đầu tiên, người anh ấy đã bị nạn mất tích cùng tàu Thuận An 06, bỏ lại vợ cùng 4 đứa con nhỏ ở quê. Giám đốc thương binh thổ lộ rằng, mình quá bức xúc xông đến đây để trả thù là vì đọc bài báo đúng vào ngày giỗ “ 50 ngày”anh trai mình! Tôi nói rằng tôi rất lấy làm tiếc, xin chia sẻ nỗi đau cùng gia đình anh!

 

Tay thương binh buôn lậu nhìn theo tay tôi chỉ, thấy tấm ảnh Đại tướng tươi cười đứng cùng tôi với các nhà văn. Có lẽ nhờ cái uy linh của Đại tướng mà ông ta bắt đầu hạ giọng, không gay gắt nữa, rút con dao găm lại, cho vào vỏ, rồi kể cho tôi nghe cái chết oan uổng của người anh trai mình trên con tàu ấy, vừa kể vừa khóc hu hu…

 

Lần thứ hai tôi được tới thăm nhà Đại tướng ở 30 – Hoàng Diệu, Hà Nội cả tiếng đồng hồ hẳn hoi. Đó là vào dịp Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ 7, tháng 4-2005. Lúc này Đại tướng đã 94 tuổi, nên anh em nhà văn người Quảng Bình ở khắp cả nước về dự Đại hội rủ nhau phải tìm cách đến  thăm gia đình Đại tướng. Vì Đại tướng vào tuổi đại thượng thọ rồi, sức khoẻ sẽ không còn như trước nữa. Chúng tôi biết hàng ngày Đại tướng phải tiếp rất nhiều đoàn khách quốc tế và trong nước. Muốn đến thăm phải đăng ký lịch từ trước qua Văn phòng Đại tướng. Chúng tôi đại hội có ba ngày, có đăng ký được cũng không thể ở để chờ được. Thế là nhà văn Nguyễn Thế Tường, gọi là “người nhà” vì anh làm báo ở Đồng Hới, quen nhiều người trong gia đình Đại tướng mỗi lần Đại tướng về thăm quê, đã nghĩ ra cách liên hệ điện thoại trực tiếp với con gái Đại tướng, Giáo sư tiến  sĩ Võ Thị Hồng Anh ( đã mất), rằng có đoàn nhà văn người Quảng Bình ra Hà Nội đại hội, muốn đến thăm Đại tướng, đề nghị can thiệp với Văn phòng cho đến thăm vào ngày cuối cùng của Đại hội Nhà văn, tức ngày 24/4/2005. Thế rồi anh em hồi hộp chờ. Cuối cùng chúng tôi đã được toại nguyện. GS-TS Võ Hồng Anh thông báo cho biết, gia đình Đại tướng sẽ tiếp chúng tôi tại phòng khách riêng của gia đình lúc 16 giờ.

 

Đại hội Nhà văn đến gần 15 giờ rưỡi vẫn chưa bế mạc. Mọi người còn háo hức nghe kết quả bầu cử Ban chấp hành, Chủ tịch Hội, nên chúng tôi quyết định “chuồn”. Xe của đoàn nhà văn Thừa Thiên Huế đi Đại hội chở chúng tôi đi. Đoàn Nhà văn người Quảng Bình chúng tôi gồm có : Ở Sài Gòn có  Trần Công Tấn ( thực ra anh Tấn người Quảng Trị, bộ đội chiến đấu ở Lào, sau khi hòa bình năm 1954, sống và viết ở Đồng Hới , Quảng Bình), Lưu Trọng Bình ( con nhà thơ Lưu Trọng Lư, nhà báo); ở Đồng Tháp có nhà thơ Thai Sắc; ở Đà Nẵng có  Bùi Quang Thanh (Thanh là người Hà Tĩnh, chụp ảnh, rất quen biết với gia đình Đại tướng, nên đề nghị được nhập đoàn), ở Huế có anh Nguyễn Khắc Phê, Vĩnh Nguyên và tôi; ở Quảng Bình có các nhà văn Hữu Phương, Nguyễn Thế Tường, Nguyễn Văn Dinh, Hoàng Vũ Thuật, Hải Kỳ, Hoàng Bình Trọng, Lý Hoài Xuân; ở Hà Nội có nhà thơ quân đội Nguyễn Hữu Quý, nhà thơ Trần Quang Đạo, Đỗ Hoàng… Chỉ tiếc là trong Đại hội có 4 nhà văn nữ quê Quảng Bình và lớn lên ở Quảng Bình là Lâm Thị Mỹ Dạ, Lý Hoài Thu, Lê Thị Mây  và Phi Tuyết Ba, hôm trước các chị cũng sốt sắng với kế họach đi thăm nhà Đại tướng lắm, nhưng đến giờ đi, các chị ngồi ở đâu trong hội trường đông đúc, không ai tìm được nên đành chịu.

 

Cuối xuân, con đường Hoàng Diệu với những biệt thự từ thời Pháp, rất yên tĩnh với những hàng cây cổ thụ cao lớn, xum xuê râm mát. Xe dừng lại trước chiếc cổng sắt số nhà 30. Một người lính trẻ ra mở cửa. Xuống xe tôi quan sát thấy một số anh bộ đội đang làm cỏ trong khu vườn rộng nhiều hoa, cây cảnh. Một người lính dắt chúng tôi lên phòng khách. Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng phu nhân- Giáo sư Sử học Đặng Bích Hà và trưởng nữ Võ Thị Hồng Anh từ phòng trong ra đón chúng tôi . Phòng khách kê một dãy tràng kỷ gỗ bóng theo mốt hiện đại, phía chính diện là một bộ tràng kỷ đặt ngang. Trên tường  chỗ chính giữa treo bức ảnh Bác Hồ đang ngồi đọc báo. Xung quang là các kệ sách, những bức ảnh, tượng, câu đối… là quà tặng của các đoàn .

 

Chúng tôi định  tiến tới bắt tay Đại tướng, nhưng Đại tướng chắp hai tay vào nhau lắc lắc. GS Hà giải thích rằng, làm như thế thay cho bắt tay tiện hơn. Tôi thoáng nghĩ có lẽ đây cũng là một cách đề phòng kẻ xấu rình rập , hãm hại. Tôi nhìn Đại tướng như một người anh Cả, một người Cha, một ông Tiên, một nhà Văn hoá lớn. Nét mặt Đại tướng vẫn hồng hào, mắt sáng nhanh nhẹn, giọng nói vẫn vang ấm.

 

Nhà văn Hữu Phương, Chủ tịch Hội Văn nghệ Quảng Bình đứng lên xoa xoa tay:” Kính thưa bác Đại tướng Võ Nguyên Giáp và phu nhân, đoàn nhà văn quê Quảng Bình chúng cháu…”. Đại tướng giơ tay ngắt lời :”Cứ nói là Đại tướng và cô Hà là được rồi, phải nói là chúng tôi, chứ đừng xưng chúng cháu “. Hữu Phương lấy lại bình tĩnh, đọc tiếp bài “đit cua” chuẩn bị sẵn và thay mặt anh em tặng Đại tướng một bó hoa  tươi thắm, rồi giới thiệu từng nhà văn với Đại tướng và phu nhân. Nhà văn Nguyễn Khắc Phê đứng lên thưa:” Em là Nguyễn Khắc Phê, quê ở Hương Sơn, Hà Tĩnh, hiện ở Huế…Có người thêm :” Là em trai Nguyễn Khắc Viện ạ”.Ánh mắt Đại tướng và cô Hà ánh lên sự chia sẻ khi nghe nói đến bác sĩ Nguyễn Khắc Viện. Nguyễn Khắc Phê nói tiếp:” Từ lâu em ngưỡng mộ anh. được biết  nay tuổi cao anh vẫn thường toạ thiền để giữ sức khoẻ. Em có chút quà Huế kính tặng anh. Nói rồi nhà văn lấy trong túi ra mấy xâu hạt sen Tịnh Tâm. Một món quà  bất ngờ. Tôi thấy Đại tướng chớp chớp mắt xúc động vì nhắc đến Huế thời học trò của mình,nhắc đến nơi ông cụ mình bị giặc Pháp giết…Nhà thơ Nguyễn Văn Dinh tặng Đại tướng tập thơ viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh do Đại tướng viết lời tựa.

 

Đại tướng nhìn mọi người một lượt rồi tươi cười hỏi, giọng rặt Lê Thuỷ: ” Sao không thấy o nữ nhà văn Quảng Bình mô cả ?”. Nhà thơ Hoàng Vũ Thuật thưa :”Thưa Đại tướng, nhiều nữ nhà văn quê Quảng Bình dự Đại hội lắm, nhưng họ ngồi họp giữa hội trường, bọn em không gọi được ạ”. Rồi Đại tướng hỏi chuyện Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ 7 có dân chủ không ? Tình hình văn nghệ tỉnh nhà như thế nào?. Đại tướng chăm chú lắng nghe nhà văn Hữu Phương  báo cáo, rồi dặn:” Phải đoàn kết, không đoàn kết thì không làm gì được hết. Quê hương mình nghèo, thời tiết khắc nghiệt, phải biết đoàn kết mới làm nên nghiệp lớn”. Cô Hà bưng ra một  hộp kẹo sôcôla. Đại tướng mời mọi người ăn kẹo. Thấy lâu không ai ăn, Đại tướng tự tay  cầm lên một viên kẹo bỏ vào miệng, rồi giục một cách rất chân tình:” Ăn đi chứ !”, tác phong y hệt một người lính trận. Thế là mọi người đều vui vẻ ăn kẹo.

 

Đột nhiên Đại tướng bỗng hứng lên bảo:” Ở đây ai làm thơ có thơ gì hay đọc  một bài cho mọi người nghe thơ Quảng Bình ta như thế nào?. Nhưng nhớ đọc bài ngăn ngắn thôi đấy nhé “. Hữu Phương mau miệng giới thiệu :” Thưa Đại tướng nhà thơ Ngô Minh, người Lệ Thuỷ, làm thơ hay lắm ạ”. Lúc đó tôi đang ngồi gần Đại tướng, nhưng ở hàng ghế dọc. Tôi đứng lên :” Thưa Đại tướng và cô Hà, tôi quê ở Ngư Thuỷ, nơi có Đại đội pháo binh nữ anh hùng, tôi xin đọc bài thơ “Đứa con của cát” viết về vùng cát anh hùng ấy“. Đại tướng giục: “ Hay lắm, đọc đi, đọc đi”. Giọt mồ hôi thấm mặn những đêm sâu / Mạ cùng xóm làng trồng rừng chống cát / Mạ cùng xóm làng đào hầm chống giặc / Bếp lửa mạ nhen thành ngọn hải đăng/ Mạ không dặn một lời sao con lớn lên / Đi mô cũng nhớ về làng cát/ Năm ở chiến trường nửa đêm nóng ruột / Biết gió mùa về cát buốt ngọn khoai…Tôi đọc xong thơ, Đại tướng là người vỗ tay tán thưởng đầu tiên. Trong đời làm thơ của tôi, bữa đọc thơ tại nhà Đại tướng Võ Nguyên Giáp là xúc động nhất, ấn tượng nhất. Tôi không ngờ một người lính quèn, quân hàm cao nhất là “thượng sĩ nhất”quân Giải phóng như tôi, lại có lúc được ngồi trước Đại tướng Tổng tư lệnh, đọc thơ cho Người nghe !

 

Anh em nhà văn đề nghị mỗi người dược chụp riêng với Đại tướng một  kiểu ảnh làm kỷ niệm. Nhưng  GS Đặng Bích Hà bảo:” Cứ chụp chung thế là được rồi. Đừng bắt Đại tướng đứng lên ngồi xuống nhiều lần”. Thế là chúng tôi thầm nháy nhau, cứ giữ nguyên “đội hình” như cũ, nhưng mỗi người cứ ngồi xuống bên Đại tướng, thay chỗ của nhà văn Hữu Phương, rồi Bùi Quang Thanh và Trần Công Tấn thay nhau bấm máy. Thế là mỗi người có một tấm ảnh ngồi bên Đại tướng.

 

Nghe nói các buổi tiếp khách của Đại tướng đều rất chặt chẽ về thời gian, thường thì không vượt quá thời gian qui định 5 đến 10 phút. Nhưng hôm nay, gia đình Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tiếp Đoàn nhà văn người Quảng Bình chúng tôi vô cùng cởi mở, không bị ràng buộc bởi thời gian. Từ  4 giờ chiều, mãi đến  gần 5 giờ hơn không khí vẫn rất sôi nổi, đầm ấm. Khi chia tay,chúng tôi yêu cầu Đại tướng chụp ảnh chung với anh em . Đại tướng đồng ý và bảo xuống sân. Từ phòng khách nhà Đại tướng, xuống sân nhà phải đi xuống gần 20 bậc tam cấp. Đại tướng lúc ấy 94 tuổi rồi, đi giày, bước hăm hở từng bước một. Anh em giơ tay đỡ để Đại tướng đi cho vững. Đại tướng bảo:” Không cần đỡ, mình đi được !”. Thế là cứ từng bước Đại tướng xuống đến bậc tam cấp cuối cùng đứng chụp ảnh lưu niệm với anh em, mà không phải vịn vào ai. Điều đó ám ảnh tâm trí tôi suốt mấy tháng trời từ sau ngày đến thăm Đại tướng cuối xuân 2005 ấy. Tôi không hiểu Đại tướng đã rèn luyện như thế nào để có một sức khỏe bền bỉ như thế. Và tôi mừng, nghĩa là Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyễn Giáp vẫn còn  sống lâu với dân tộc ta, nhân dân ta…

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Advertisements

Categories

%d bloggers like this: