Đăng bởi: Ngô Minh | 22.02.2017

Lắng trong khuya khoắt

Lắng trong khuya khoắt

 

Anh Vũ đã đi xa mấy năm rồi nhưng vườn tượng, ngôi nhà rường và một góc quê mà lần đầu tiên gặp gỡ tôi đã rất thích thú của Người Kinh Bắc tài hoa này vẫn còn đó. Sức lay động của cái không gian nghệ thuật đời thường – tâm linh ấy hoàn toàn không phải ở sự lạ lẫm hay đài các kiêu sa mà ngược lại vô cùng dân giã thân thuộc. Lối xóm quanh co dẫn tới ngôi nhà gỗ lợp ngói bé nhỏ nằm bên cạnh một đoạn tường chình đất cũ kỹ rêu phong còn sót lại, sau những bức tượng cao thấp nhấp nhô được làm bằng các chất liệu xi măng, thạch cao, đất sét, gỗ… Tượng Tiên Phật, thường dân, mãnh thú, vật nuôi quây quần bên nhau. Cảm hứng miền quê Kinh Bắc lúc sâu lắng, lúc thăng hoa trong các sáng tạo nghệ thuật của anh như tượng người quan họ, thôn nữ, bà và cháu… Và, có vẻ như cái không gian Kinh Bắc nghìn năm ấy lại thêm lần đọng lại trong thơ anh qua những rung động và tạo dựng hình tượng thi ca vừa chân mộc vừa nền nã.

Chìm đắm trong hoài niệm, thơ Anh Vũ thấp thoáng những bóng hình xưa. Những hình bóng thân thương mang mưa nắng sông Cầu sông Thương; giữa miền dân ca huê tình bậc nhất đất Việt họ cũng phải gánh gồng những thất bát mùa màng, những tàn khốc binh lửa, những lạnh lẽo của kiếp phận dân đen. Nhưng, ân tình chốn quê vẫn mãi mãi xanh tươi như cây cỏ, vẫn mãi mãi ấm nồng như than lửa làng thôn.

Trong những dấu yêu của tuổi thơ dành cho người máu mủ có lẽ không tình cảm nào vượt qua mối quan hệ bà – cháu. Anh Vũ đã có những câu thơ cảm động về bà trong trường ca Lòng chảo khác. Ở tập thơ Lòng tayanh cũng đã kịp phác dựng chân dung Bà bằng những cung nét thi ca:

Bà tôi đi tuốt lúa trau

lơm chơm gốc rạ đứng

          đau đồng nghèo

bốn bề gió đuổi heo heo

chừng như cái lạnh nó gieo tự lòng

chưa trông kịp thoáng lưng còng

bà tôi đã nhập với đồng bà ơi.

Cái đáng nói là tác giả đã vượt qua được sự miêu tả (tuy rất chính xác) kia để đạt tới một chiều sâu nhân bản cốt lõi khác:

Tôi như dúm tấm đầu nia

một ăn không hết bà chia cả làng

Tôi như bánh đúc bày sàng

mượn vôi nồng chút cũ càng bà tôi.

Mẹ. Không nghi ngờ gì nữa, đây là nguồn thơ tiềm tàng nhất của nhân loại. Cũng là miếng cơm ăn thường ngày nhưng cái vị ngọt bùi, đắng cay của nó dường như không thể không gắn với tâm thế của đời người. Đi đâu về đâu thì những ngọt bùi mẹ dành cho ta vẫn là đích thực nhất:

Chả có miếng cơm nào

đã ngọt còn thơm

như bát cơm mẹ xới

Con ăn ngoài thiên hạ

đắng bao nhiêu.

Có gì đó hơi cực đoan, không ăn nhập với thời hiện đại nhưng càng ngẫm nghĩ càng thấy đúng.

Mẹ. Dẫu mất hay còn vẫn là một phần sinh tồn của ta; người hiển hiện trong tâm trí, trong tình cảm, trong bấy nhiêu may rủi hệ lụy đời mình:

Có mẹ trong máu tôi

trong óc tôi suy nghĩ

cát bụi phần cuộc đời

mẹ cùng tôi chịu lụy.

Nét đẹp của mẹ, nỗi buồn của mẹ khúc xạ qua những giọt nước mắt đồng làng; cái tứ thơ ấy đâu phải dễ gì gặp được. Hình như nó bật ra từ nỗi nhớ thương day dứt không nhòe phai của lòng hiếu nghĩa tri ân:

Nước mắt mẹ

chảy xuống con

nhói đồng đêm

nước mắt thở

– Kìa đóm ơi…

Nén trong ngực

nỗi chồng con

sao mẹ đẹp

cả khi buồn 

– Kìa đóm ơi…

Đêm sao bay

đom đóm nở

đồng nước mắt

mẹ về đâu 

– Kìa đóm ơi…

Những giọt nước mắt đồng cũng chính là những giọt nước mắt chảy xuôi của mẹ, thủ pháp hoán dụ đã đặt đúng chỗ và có hiệu quả. Thơ Anh Vũ nhiều sự liên tưởng xưa – nay, cũng là tâm trạng thường có ở những người cao tuổi từng trải:

Này mái bếp tuổi thơ bồ hóng

          đu đưa đen kịt

tôi là rổ rá gác khói không mối mọt

          bao giờ

lại thoảng mùi cơm chín tới

          với lạc giã canh dưa

mẹ vẫn phần tôi củ khoai vùi

          nưng nức.

Có lẽ, rất ít nhà thơ không viết về kỷ niệm cuộc đời, nhưng để thơ không đi lan man và vượt lên sự sáo mòn thì đòi hỏi người cầm bút phải có sự chọn lựa hình ảnh đặc sắc và cách thể hiện mới mẻ. Phần nhiều, người làm thơ thấy kỷ niệm nào cũng đáng trân trọng, cũng đáng được thơ hóa nên bỏ đi thì rất tiếc, tuy nhiên thơ cũng như nhạc họa luôn yêu cầu sự chọn lựa tinh tế, tiêu biểu, vừa cụ thể vừa khái quát, vừa bé nhỏ vừa mênh mông. Anh Vũ khi viết về kỷ niệm có những bài, những câu mang đậm nét riêng. Bài Đêm mất điện là một ví dụ:

Rồi cũng được hôm mất điện

mà nhớ đang mùa còn trăng

rủ vợ ra sân nói chuyện

mặt kề dịu từng nếp nhăn

Là nhắc ngày đầu với nhau

khao khao chẳng đủ giọt dầu

lạt xạt rạ rơm sơ tán

dế gáy đêm vời vợi đâu

Cơ hồ chính con dế ấy

theo trăng chợt về đêm nay

lặng lặng phần đời nhìn lại

ran ri nỗi nỗi vơi đầy.

Trong thơ Anh Vũ ta gặp một tâm cõi vừa sâu lắng, vừa hồn nhiên. Sự sâu lắng trộn phần day dứt thường có ở những bài thơ viết về bà, mẹ và em. Em chính là tình yêu, cũng là một phần đáng đọc trong thơ người đã quá cố này.

Em của Anh Vũ đôi khi lẫn vào mùa trong khoảng không gian mơ hồ lãng đãng:

Thoáng thu hay thoáng em

mây màu gì cho thật…

Em của Anh Vũ cơ hồ như bóng rượu làng Vân:

Phải người ấy, cổ kiêu ba ngấn môi cắn chỉ, lẳng lặng cần cù, nửa khuya đăm đăm một bóng, thăm ngóng nỗi chìm bọt tăm mắt cua, nghe độ ngấu cơm thơm chum ủ, thầm hởi lòng mẻ rượu cất nay mai… Lìm lịm mắt gái làng Vân nước rượu trong veo trong vắt. Thương hiệu men tiến Kinh Bắc thuyền bến ngả nghiêng, tưởng vừa đó mấy nghìn năm chớp mắt, quan Lạc quan Lang ôm vò líu lưỡi.

Rượu làng Vân cũng là một phần văn hóa Kinh Bắc, là chất men làm nên sự đắm say của vùng đất cổ này. Thỉnh thoảng ta lại bắt gặp những so sánh bất ngờ của Anh Vũ Tôi làm sao quên được, đôi mắt em như vết khứa lưng lợn ống tiền. Hai vết khứa lăn tăn không đáy… Nhưng, tình yêu nào mà chẳng có giông bão giận hờn, thôi thì cứ cất lên như người quan họ đành lòng vậy cầm lòng vậy để được phen thổ lộ với người thương:

Thà em cứ giận cứ hờn

cứ giông cứ bão còn hơn ràu ràu

thôi đừng mưa phùn thấm lâu

mắt người vô vọng nhìn đau

          hơn đòn.

Chao ôi Anh Vũ, thương và dỗi cũng mang khí chất của người từng trải, giận bao nhiêu cũng là yêu bấy nhiêu thôi, mong muốn an lành vẫn bao trùm tất thảy:

Thôi cứ gọi cô đơn vào đối mặt

ta quên ta có lúc cũng hai người

thôi cứ gọi trống không vào

          nhúc nhắc

lưng lửng mãi

lưng lửng bao giờ nuốt trôi một ngày.

Thơ Anh Vũ có sự hồn nhiên thôn quê, hơi thở và nhịp điệu cuộc sống đồng bãi mùa màng phả vào không ít trong câu chữ của anh. Anh nhìn bầy chim sẻ bằng cái nhìn rất trẻ:

Lích tích lích tích… lại về với nhau từ bao giờ. Chào những hạt thóc có cánh, những hạt thóc biết bay, những bầy chim sẻ líu tíu ống tre đầu hồi tối ngày. Nhỏ nhoi thế, còn phiêu bạt bao năm ở đâu.

Chim sẻ chính là đồng quê, nhà quê, là phần dĩ vãng ríu rít với những ai sinh ra và lớn lên ở đây:

Sẻ đá, sẻ ngô, sẻ di, sẻ đồng… sẻ gì nữa cũng cháu con áo nâu của đất cũng tuổi thơ ngan ngát xập xòe.

Sự hồn nhiên thơ chính là hồn nhiên của cuộc sống thôn ổ, có lúc nó chính là cái thú ẩm thực dân giã đơn sơ:

Mùa thênh thoáng, rượu trắng lênh lênh đặc sản. Hôi hổi chất tươi chất sống, chất da xương đỏ săn mưa nắng. Nghe chân răng đầm đậm chất bùn quê.

Hồn nhiên cả trong tiếc nuối, thèm muốn tình xưa:

Chợt trở về vị chát chua dôn dốt, quả khế xanh chấm muối trắng mặn đằm. Hai miếng ngon ấy là anh là em. Ta trở lại tuổi thèm, níu nhau bịn rịn. Thôi mà, thêm miếng nữa chia tay…

Thơ, nào có nói gì những chuyện lớn lao to tát, có om sòm chi những ngôn từ bóng bảy cao siêu, có bí ẩn đánh đố ai đâu mà đọc lên vẫn rưng rưng xúc động. Có phải đấy cũng là xu hướng sáng tạo của Anh Vũ, cao hơn kỹ thuật, có trước kỹ thuật là nội lực tâm hồn, là những thầm thì hay gào thét riêng tư được giải mã bằng ngôn ngữ. Gửi một nữ họa sỹ Hải Phòng, anh tâm sự:

Đuổi mấy thứ kỹ thuật nguội ngắt

ra ngoài kia chơi

cho chị một mình 

nhỏ to một mình

Toan sa mạc

và màu dầu hăng hăng mùi cát

…Vẽ bao thứ vẫn gọi hồn tự họa

thèm nơi nào man mát tí hơi mưa.

Đã xa xôi một Anh Vũ hình hài, may thay, thơ vẫn còn lưu giữ được những giá trị nguồn cội, những êm ả của thôn mạc. Nhịp đời nơi ấy cứ từ từ trôi như tiết tấu, nhịp điệu thơ Anh Vũ, không xô bồ ào ạt mà nó cứlơ thơ chảy. Dẫu thế, nó vẫn buộc ta hình dung về một tâm hồn thật nhạy cảm với cảnh sắc, con người quê hương. Anh xưng tụng một ban mai yên bình:

Lắng trong khuya khoắt

mương máng về đồng

Trả vì sao lạc

về chốn hư không

Gọi con đom đóm

bay vào trong lòng

Ngồi trong sương sớm

nghe mình rạng đông.

Bài thơ viết rất bình dị nhưng lại phát sáng bởi hai câu kết. Có cần chi sự uốn éo cầu kỳ, thơ thoát ra tự nhiên, thật tự nhiên. Nhà thơ đăm đắm và lo lắng trước những đôi mắt đồng dao:

Những đứa trẻ hát đồng dao

          ruộng bùn

chỉ đôi mắt chả đứa nào chịu lấm.

Đấy là ngày xưa khi còn:

đêm mở cánh

từ đâu bay về họp bạn niềng niễng

          dế mèn

đêm cà cuống

hình như lòng tay lâm tâm

          giọt thơm…

Còn bây giờ:

Nghẹn lòng

trong veo trong veo mắt trẻ

giọt đồng dao đã giọt nào chịu lấm

          hay chưa.

Đi qua anh những mùa quê thương nhớ bồn chồn, những gió trăng mang buồn vui thế sự :

Hình như tháng xuân trăng

          cũng lạnh

tháng hạ chưa nhìn đã thấy thu

ngược tóc bấc dồn mây lại sóng

Lòng trôi vết thương nào kín miệng

đồng trôi lá lúa vệt trăng non.

Miền dân ca lúng liếng thêm lần tình tứ trong thơ Anh Vũ :

Thương nhau ứ hự tình bằng

phập phồng khuôn ngực la rằng vì tôi

đá còn chảy trời còn trôi

tình ta mua vé khứ hồi được không.

Không còn nữa bấy nhiêu dọc ngang tang bồng. Anh Vũ đã thành lãng đãng bóng hoàng hôn, trăng khuya, gió sớm. Một kiếp người qua, một gánh thơ ca hội họa đầy vơi còn ở lại. Trong khuya khoắt Hà Thành, tôi xào xạc nghe anh:

Đi

trong lòng tay

biển mây sóng núi

Sống

trong chớp mắt

áo cơm một đời

Yêu

trong tiền kiếp

hoa bao giờ tươi.

*

Hoa bao giờ tươi.

Một câu hỏi, một tiếc nuối hay một khát khao nơi góc quê lặng thầm mà Anh Vũ đã gửi lại cho đời?

 

Nguồn Văn nghệ số 7/2017

Advertisements

Chuyên mục

%d bloggers like this: