Đăng bởi: Ngô Minh | 01.03.2017

CHIẾC XE ĐẠP CỦA ANH CHÓC VÀ NGƯ PHỦ TRUNG QUỐC

 20161220_0647411

SÁCH “SỐNG THỜI BAO CẤP” CỦA NGÔ MINH                 

CHIẾC XE ĐẠP CỦA ANH CHÓC VÀ NGƯ PHỦ TRUNG QUỐC

 Ngô Minh

 

Ở làng Thượng Luật của tôi thời bao cấp có nhiều chuyện vui lắm. Vui nhất là chuyện anh Chóc tập xe đạp và xem chiếu bóng lưu động, Nhât slaf chuyện tàu đánh cá của ngư dân Trung Quốc bị dạt vào bờ biển làng tôi…

 

Nói đến xe đạp, tôi nhớ mãi hình ảnh ông anh tên Chóc lấy chị Hổ con bác ruột tôi. Anh Chóc là Chủ tịch xã. Hồi đó chủ tịch xã Ngư Thủy mỗi lần đi họp ở Ủy ban nhân dân huyện Lệ Thủy phải mang xác-cốt đi bộ 20 cây số vượt hai động cát cao lên Thượng Phong. Phải dậy từ hai giờ sáng, đi bộ đến 7 giờ mới kịp vào họp. Họp xong, lại lốc thốc đi bộ về 20 cây số nữa. Cực lắm. Thương cán bộ, Thương nghiệp huyện ưu tiên cấp cho anh Chóc chiếc xe đạp Thống Nhất. Hồi đó, chiếc xe đạp thống nhất là cả một gia tài. Anh Ngô Văn Ngoãn là anh con cô con cậu với tôi. Năm nay (2016) anh 82 tuổi. Hồi năm 1967, anh là cán bộ thủy sản ở Hải Phòng. Anh cũng được cung cấp một chiếc xe đạp Thống Nhất với giá 190 ngàn đồng (lương công chức hồi đó, ví dụ cán sự 3 là 64 đồng, tốt nghiệp trung cấp ra trường, được biên chế chính thức là 56 đồng/ tháng). Nghĩa là giá xe đạp cao gấp 3 lần tháng lương cán sự 3. Nhưng chiếc xe cung cấp chỉ có khung, lốp, xích ,líp, phanh, bàn đạp. Không có Phóc-pa-ga, gác-dơ-bu, chắn xích. Muốn có phải thêm vài ba chục ngàn đồng nữa, cửa hàng sẽ lắp thêm hoàn thiện cho. Như vậy giá chiếc xe đạp Thống nhất lên tới 220.000 đồng. Anh Ngoãn được đi du học ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, anh bán lại cho người khác chiếc xe được 800.000 đồng. Chừng ấy tiền có thể dựng được cái nhà rường cột gõ ba gian hai chái lợp ngói ở làng tôi. Đúng là một gia tài!

 

Nhưng anh Ngoãn là cán bộ thoát ly quê hương, Còn anh Chóc là người có xe đạp đầu tiên của làng cát Thượng Luật. Cấp không, tiền Huyện trả, chứ không phải được mua. Vì giá xe đạp Thống Nhất hồi đó hơn 200 đồng một chiếc, bằng 5 tháng lương cán bộ mới vào biên chế nhà nước. Anh  chị tôi làm sao có chừng ấy tiền tiền để mua. Cầm cái  phiếu cấp xe đạp mới, anh Chóc mừng hết lớn luôn.

 

Anh đi lên huyện để nhận xe đến bốn ngày mới về. Đầu tiên là đến cửa hàng Công nghệ phẩm Chợ Tréo trình giấy phân phối xong, nhận xe, rồi dắt xe sang Công an huyện đăng ký xin cấp biển số xe. Xe đạp hồi bao cấp phải đăng ký biển số như ô tô, không  đăng ký sẽ không được lưu hành. Vì chưa bao giờ đi xe nên anh Chóc đi đâu cũng phải dắt như thế. Mà dắt cũng khó vì ống chân hay bị bàn đạp đập vào đau điếng.  Biển số xe đạp thời bao cấp 15cm x 7 cmsoosin chữ ký hiệu địa phương ví dụ Quảng Bình thì  in QB, rồi số thứ tự xe. Người ta thường gắn đăng ký ở dằng ngang khung xe nam hoặc sau yên ngồi  xe đạp nữ. Thời bao cấp cả máy chữ, máy thu thanh (gọi là đài)  đều  phải đăng  ký và được cấp giấy phép mới được sử dụng. Những thứ đó ai không đăng ký sẽ bị tích thu vì dễ dẫn đến phản động. Mà thời đó người dân làm gì có máy đánh chữ. Nên tất cả các văn bản đánh máy bằng giấy pơ-luya đều được coi là của chính quyền, không cần biết có dấu đỏ hay không. Làng tôi thời đó không bao giờ có những thứ đó.

 

Đăng ký xe, gắn biển số xong, anh Chóc phải  dắt xe hai chục cây số từ Mũi Viết qua đường Quốc lộ 1A, đến Thanh Thủy, rồi Hưng Thủy, mới vượt Động Cao , Động Thấp ( tên của hai dãy núi cát ) về làng biển. Vì anh chưa bao giờ tập đi xe đạp. Làng tôi thời ấy chỉ có cát, chưa có đường cấp phối hay đường nhựa như bây giờ để tập xe. Đường cấp phối ở quê tôi được làm từ thời đánh Mỹ cho C gái kéo pháo. Có cái xe để trong nhà , khách tới ngắm cũng oai ra phết. Hai tháng sau, anh Chóc quyết định tập đi xe đạp.

 

Để mọi người khỏi thấy, đêm trăng mờ mờ, anh Chóc dắt xe xuống bãi sóng, chờ thủy triều xuống mới tập xe trên cát ướt. Bãi cát ướt ấy cứng chặt không khác gì đường nhựa. Mấy đứa con reo hò đẩy phía sau. Anh vừa đạp được mấy vòng thì chiếc xe như con ngựa bất kham lao vùn vụt  ra bợc sóng. Cả người cả xe ướt như chuột lụt. Đêm nhưng vẫn có đông người đứng xem. Khi thấy Chủ tịch xã ngã sóng  soài, họ vỗ tay rần rần làm anh xấu hổ. Từ đó anh không tập xe ở  bãi biển nữa. Anh nghĩ ra một cách tập xe mới. Anh lấy dây thừng treo hai đầu chiếc xe lên xà ngang nhà, rồi trèo lên tập đạp và bẻ tay lái trên không trung giống y chang đang đi trên đường vậy, trông quyết tâm lắm. Cứ ngày hai lần sáng, chiều anh trèo lên tập đạp xe hơn tiếng đồng hồ mới nghỉ. Đạp xe treo như được mười lăm ngày, anh tin tưởng là mình đã đi được xe đạp. Ngày ấy, có giấy huyện triệu tập họp. Anh vác xe bảy cây số đường cát vào Chợ Mai, định đạp xe thủng thẳng dọc Quốc lộ 1A lên huyện. Nhưng, anh vừa dấn bàn đạp trèo lên, chưa kịp đạp cái nào, chiếc xe đã lao như tên bắn xuống ruộng. Cả người cả xe ngập trong bùn nhoe nhoét. Anh tức quá, văng tục “đ.mạ”, rồi không thèm họp nữa, vác xe về treo lên xà nhà như cũ, không bao giờ màng tới nữa. Chiếc xe đó khi máy bay Mỹ  ném bom xăng, bom bi đốt làng tôi để trả thù cho tàu chiến của chúng  bị C Gái bắn cháy, bị thiêu cùng với ngôi nhà của anh chị. Âu cũng là một kỷ niệm nhớ đời. Mỗi lần nhớ lại chuyện tập xe của anh Chóc, tôi lại  cười tủm tỉm một mình.

 

Chuyện rất ấn tượng nữa thời bao cấp ở làng tôi là xem phim. Những ngày đó ở Quảng Bình có Đội chiếu bóng lưu động số 17. Thường một năm vài lần Đội đem phim về chiếu ở xã tôi. Đó là một ngày hội của làng. Các thôn Liêm Lấp, Liêm Vàng, Tây Thôn xa 17, 18 cây số, trẻ con, người lớn cũng bới cơm ra trung tâm xã, tức làng Thượng coi phim. Mỗi lần phim về, Hợp tác xã phải cử 12 thành niên trai tráng vượt 7 cây số động cát lên Quốc lộ 1A, khiêng vác máy nổ, máy chiếu, màn ảnh về. Hai đêm chiếu phim xong lại khiêng máy vượt Động Cao, Động Thấp lên trả cho chiếc ô tô đang chờ ở đó đẻ họ chở đoàn chiếu phim đi chỗ khác. Đoàn chiếu phim về, xã phải làm cơm cho họ ăn. Ngày xưa chẳng có tiệc tùng bia bọt gì, chỉ con gà, xị rượu quê là ổn!

 

Mỗi khi phim về mạ tôi nấu cơm sớm để anh em tôi đi xem. Chúng tôi ra bãi từ khi chưa tắt mặt trời để giành chỗ ngồi trước. Ngồi mãi đến gần tám giờ tối người ta mới loa “ Buổi chiếu bóng xin phép được bắt đầu. Hôm nay Đội chiếu bóng lưu động số 17 sẽ phục vụ bà con hai bộ phim thời sự và phim  truyện…”. Máy chạy rè rè. Màn ảnh sáng lên. Gió  biển lay cái màn  ảnh phần phật như lá cờ đang kêu gọi. Đứa nào cũng mừng rơn, ngóng cổ lên màn hình. Nhưng mở đầu buổi chiếu bao giờ ông Chủ tịch xã cũng phát biểu “huấn thị” bà con. Huấn thị là cái “mốt thời đại” của lãnh đạo thời đó. Họ nói như đọc thuộc lòng sách chính trị, y như ông lãnh đạo huyện, lãnh đạo tỉnh nói với họ. Hồi đó ông Hoài là chủ tịch. Ông mở đầu cuộc nói  bằng cái đằng hắng, rồi lên giọng:” Hôm nay tôi xin nói với bà con ba điểm cần quán triệt…Điểm thứ nhất là…”. Ông nói tới chục cái “điểm thứ nhất là…”, rồi sáu bảy lần “điểm thứ hai là..”, hết hơn tiếng đồng hồ. Tôi ngủ quên lúc nào không biết. Anh Ninh lay tôi dậy thì nghe ông đang nói “điểm cuối cùng…”. Tôi nghe đến mấy lần “Điểm cuối cùng” thì ngủ luôn ở bãi chiếu phim cho đến sáng, anh lay cũng không dậy được nữa. Sáng dậy mới biết hôm qua mình đi coi phim. Hàng chục lần như thế. Không có lúc nào bọn trẻ chúng tôi thức đến khi có phim truyện cả. Sau này về quê gặp ông Hoài đã già, tôi nhắc lại chuyện coi chiếu phim, nghe ông phát biểu “huấn thị”. Ông cười khề khề :” Nghề chủ tịch xã là nghề nói mà, nghề nói mà…”

 

***

 

Kể chuyện thời bao cấp ở làng mà không kể chuyện các “đồng chí ngư dân” Quảng Đông, Trung Quốc đã ăn cơm, uống nước làng tôi thì uổng lắm. Hồi tôi lên lớp 9 (tức lớp 11 hệ 12 bây giờ) làng tôi xảy ra một chuyện rất hy hữu. Đó là mùa đông năm 1967. Tôi đang học lớp 9  ở Trường cấp 3 của huyện, chủ nhật về nhà với mạ. Ngày đó, lần đầu tiên tôi thấy người Trung Quốc. Đang đêm, đài quan sát của dân xã phát hiện ra một chiếc tàu lớn đang tiến dân vào vùng biển làng tôi. Biển đang mùa động. Sóng to lắm. Mấy trung đội dân quân xã Ngư Thủy được lệnh báo động thức sẵn sàng chiến đấu suốt đêm. Vì đài quan sát tưởng là tàu chiến Sài Gòn từ miền Nam ra hay tàu Mỹ từ biển Đông vào khiêu khích. Vì làng tôi chỉ cách cảng Cửa Việt 30 cây số, ở đó tàu chiến của Mỹ và quân đội Sài Gòn rất nhiều loại tàu hiện đại. Đại đội pháo nữ pháo binh Ngư Thủy cũng hướng bốn khẩu súng 85 ly nòng dài vào con tàu lạ, đã đo đạc xác định tọa độ, phương vị rất cẩn thẩn… Tất cả  sẵn sàng nổ súng. Nếu mà  nổ súng thì chiếc tàu  tàu tan tành ngay.

 

Nhưng thấy dáng con tàu vật vờ trên sóng như đang trôi, không có vẻ gì là sắp đánh nhau cả, chị Ngô Thị The, Đại đội  trưởng C gái bàn với chính trị viên Ngô Thị Thản chờ đợi, chưa ra lệnh nổ súng. Trời sáng dần. Con tàu trôi vào gần bờ hơn, rồi mắc cạn. Người trên tàu lố nhố. Từ trên tàu họ ném xuống một chiếc thuyền nan nhỏ với hai người chèo vào bờ. Đại đội trưởng dân quân xã lúc đó là anh Nguyễn Văn Thược từ hầm quan sát cử hai dân quân mang súng AK xuống bờ sóng gặp họ. Hơn ba chục người cứ giơ hai tay lên trời như thể đầu hàng. Rồi họ hoa tay múa chân nói tiếng xì lồ xì lào, chẳng ai nghe được gì cả. Mọi người đoán chắc là người Trung Quốc hoặc Đài Loan gì đó. Vì phim Trung Quốc chiếu ở làng cũng nói những thứ tiếng như thế. Thế là mấy anh dân quân đi gọi ông Ngô Văn Toản, ông anh con cô con cậu với tôi và ba đứa học sinh cấp 3 là Tôi, Nguyễn Văn Bạo, Ngô Văn Vựng  đang học tiếng Trung ở Cấp 3 Lệ Thủy vào chỗ con tàu mắc cạn để “đối thoại”. May ngày đó là chủ nhật, chúng tôi về nhà. Bác Toản thì viết thứ chữ Hán cũ họ chẳng hiểu gì cả. Mấy đứa tôi mới học tiếng Trung, họ nói mình chẳng nghe được gì, nhưng có câu họ nói  họ là người Trung Quốc, Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thì chúng tôi nghe được ( Ửa sư chung cứa rấn, Trung hóa rấn mín cung hứa quớ)  Chúng tôi đề nghị xã lên Trường cấp 3 mời thầy Ngữ , người Hà Nội, dạy tiếng Trung Quốc về, thấy sẽ nói chuyện được với họ. Hôm sau thầy Ngữ đạp xe về. Thầy bảo họ có 37 người, trong đó 36 người là ngư phủ tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, một người là giáo viên dạy tư tưởng Mao Trạch Đông của tàu. Ngư phủ Quảng Đông  không biết tiếng Bắc Kinh, họ nói tiếng quan thoại của họ. Chỉ ông thấy giáo dạy tư tưởng Mao trên tàu mới  biết tiếng Bắc Kinh. Ông nói chuyện với thầy Ngữ.

 

Trời đất ơi, trong tâm trí tôi lúc đó, Trung Quốc là nước giàu có và rất vĩ đại. Cán bộ xã nói chuyện với dân hay nhắc “ Liên Xô ,Trung Quốc là hai người anh vĩ đại của phe Xã hội chủ nghĩa  luôn luôn vì đứa em Việt Nam…”. Tôi lúc đó đã từng đọc Tây Du Ký, Hồng Lâu Mộng, Thủy hử, Rừng thẳm tuyết dày…đọc thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ…nên yêu văn học Trung Quốc lắm. Thế mà tất cả ngư phủ Trung Quốc ấy trước mắt tôi đều gầy nhom và đen nhẻm, y như người suy dinh dưỡng. Trừ anh giáo viên Tư tưởng Mao Trạch Đông mặc quần áo ít mảnh vá hơn, còn tất cả ngư dân trên tàu không có lấy một bộ quần áo nào lành lặn. Mỗi người hai bộ vá chằng vá đụp. Cứ như là áo quần họ may từ giẻ rách vậy. So với họ, ngư dân làng Thượng Luật của tôi tươm tất hơn nhiều. Sau khi biết nơi tàu họ dạt vào là đất thuộc về Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người nào cũng  rút trong túi ngực áo ra, giơ cao cuốn “Mao tuyển” bìa đỏ chót, nhỏ bằng bàn tay, giấy láng cóng. Nghe thầy Ngữ nói, người Trung Quốc khi đọc Mao tuyển, nhảy xuống biển không cần phao cũng nổi, không chết bao giờ. Nhưng trước mắt tôi, hình ảnh cuốn Mao tuyển đỏ chói sang trọng và những tấm thân tàn đói rách của họ sao mà phản cảm. Tôi bỗng nhiên thương những người ngư phủ ấy. Nghe nói sau đó họ được xã đưa lên huyện. Huyện Lệ Thủy may cho họ người hai bộ quần áo đàng hoàng rồi  đưa xe chở ra tỉnh để trả họ về nước bằng con đường ngoại giao. Còn con tàu mắc cạn thì nằm lại đó, bị cát biển lấp lần. Sau này hình thành một xóm dân ở đó, gọi là Xóm Tàu.

Sau này, thấy cảnh Trung Quốc xua 60.000 quân rầm rộ tấn công  sáu tỉnh biên giới phía Bắc nước ta, đốt phá, giết người man rợ, rồi chiếm quần đảo Hoàng Sa, chiếm đảo Gạc Ma ở Trường Sa của ta, nhớ lại việc bà con dân làng Thượng Luật  mình đối đãi tử tế với  ngư phủ Trung Quốc mà ức! Từ một nước anh em trong “Phe Xã hội chủ nghĩa”, Trung Quốc đã trở thành kẻ thù của người Việt Nam. Thông tin như dân Quảng Nam, Quảng Ngài đi đánh bắt xa bờ ở ngư trường truyền thống Hoàng Sa bị tàu Trung Quốc đâm chìm, người bị giết, tài sản bị bọn cướp tịch thu… ngày càng nhiều.  Bây giờ, đêm đêm dân quân làng tôi phân công nhau lại  thức canh gác biển, đề phòng bọn Tàu xâm nhập…

 

 

 

 

Advertisements

Categories

%d bloggers like this: