Đăng bởi: Ngô Minh | 02.03.2017

CHUYỆN LÀNG TÔI

20161220_0647411

ĐỌC SÁCH “SỐNG THỜI BAO CẤP”

( NXB HỘI NHÀ VĂN, PHƯƠNG NAM PHÁT HÀNH, 2016)

CHUYỆN LÀNG TÔI

 Ngô Minh

Thời bao cấp tác động đến đời sống chủ yếu đối với công nhân viên chức, người dân phố thị, còn đối với nông thôn, cuộc sống của nông dân, ngư dân tự túc tự cấp thì chỉ bị ảnh hưởng một phần. Có chăng là cuộc sống khốn khó chung. Đến nỗi lâu ngày mọi người cứ tưởng con người là phải sống như thế, không thể khác hơn. Làng tôi ( cả làng nội và làng ngoại) đều là làng biển, thời bao cấp ở có phần dễ thở hơn, nhưng cũng lắm chuyện đáng được kể lại.

 

Tôi sinh năm Kỷ Sửu (1949) nên sống trọn vẹn trong  thời bao cấp với bao nhiêu bui buồn, thiếu thốn và những bực bội, cáu gắt, ta thán. Trong gia đình nhiều lúc vợ chồng rầy nhau vì con thiếu sữa uống, thiếu áo mặc. Bạn đến nhà không có thức gì để đón. Cả mấy tháng ròng con người không được ăn miếng thịt. Đến đi toilet cũng là một cực hình.

 

Nhưng đó lại là những năm tháng con người sống vô tư trong sáng và thấm đẫm nghĩa tình. Bây giờ cứ mỗi lần nghe ai kêu:”Chao ôi, mần chi mà khốn nạn như thời bao cấp”, lòng tôi lại buồn và cứ nao nao nhớ. Với tôi, bao cấp cũng là một nét văn hóa của lịch sử một thời đất nước gian nan. Cái nét văn hóa đó đậm đến nỗi nó tạo nên nếp sống, nếp nghĩ của nhiều thế hệ người Việt, dù ti tiện, khổ hạnh nhưng cũng là văn hóa. Không thể quên được. Bởi vậy mà tôi muốn kể một loạt chuyện về thời bao cấp mà mình từng trải nghiệm để các bạn trẻ 7X, 8X, 9X, 10 X hôm nay biết được ông cha mình đã sống một thời hào hùng mà bi tráng như thế nào.

 

Làng biển Thượng Luật của tôi ở góc biển Nam Quảng Bình, giáp huyện Vĩnh Linh của tỉnh Quảng Trị, chỉ cách sông Hiền Lương 20 cây số. Thời Pháp, bản đồ gọi tên các làng ven biển này bao giờ cũng gắn với chữ “luật”: Thử Luật, Tùng Luật (Vĩnh Linh), Liêm Luật, Thượng Luật, Hòa Luật (Quảng Bình)…Liêm Luật, Thượng Luật và một phần Hòa Luật sau này được gọi là xã Ngư Thủy, miền quê đã sinh ra rất nhiều anh hùng. Anh hùng trồng phi lao trên cát Ngô Xuân Mốc; Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy (thường gọi là C gái, pháo tầm xa, nòng dài 105 ly) anh hùng, Trung đội dân quân thôn Tây Thôn, Đồn Biên phòng Ngư Thủy anh hùng. Đánh giặc thì giỏi thế. Mấy lần dân quân bắn rơi máy bay Mỹ. 5 lần C gái bắn cháy tàu chiến Mỹ làm cả nước nức lòng. Khi các em pháo thủ đánh trận xong, từ dưới hầm trú ẩn, cả làng xông  ra bãi cát, lau nước mắt cùng các em kéo pháo vào vị trí ẩn nấp. Cuộc sống ngày ấy gắn kết cộng đồng lắm. Dù sau đó lại về ăn khoai sắn thay cơm. Những ngày tháng ấy, không ai kêu khổ cả.

 

Nhưng làng tôi làm nghề biển thì kém lắm. Có lẽ vì là bãi ngang, thuyền bé, người lại nhát, không ra khơi xa được.  Dân làng tôi từ xa xưa đến nay làm hai nghề chính: đàn ông thì  đánh cá; đàn bà con gái thì đi bán cá và trồng khoai lang, sắn. Thời đổi mới sau này mới có thêm các nghề dịch vụ như bán tạp hóa, bán xi măng, gạch, nghề xây dựng , làm hồ nuôi tôm, cho thuê rạp đám cưới, đám ma, thụt bi-da.v.v…Điều lạ lùng là khoai trồng trên cát trắng trong như thủy tinh thế mà củ to và bột bở thơm lắm. Người ta trồng khoai rất công kỹ. Phải xới cát  thành vồng, cho các loại phân xanh gọi là “bổi” như lá dương liễu, lá cỏ hôi, hay rong biển dạt vào bờ, băm nhỏ ra, cho xuống, sau đó cho phân chuồng lên trên rồi mới dâm ngọn khoai. Một tháng sau lại tưới nước phân, nước tiểu. Cả làng nhà nào cũng có cái thùng chứa nước tiểu. Ai cũng phải tiểu vào đấy, dù đêm khuya rét mướt. Có chuyện vui. Có bà đi chợ Mai bảy tám cây số, buồn tiểu, vẫn cố nhịn để về tiểu vào cái thùng tiểu nhà mình, để mà tưới khoai. Nhịn lâu quá, không  nén được, tè ra cả quần. Thế là mất cả bãi nước tiểu, tiếc đứt ruột, lại phải giặt quần! Thời nhỏ, làng tôi có trồng một  giống khoai lang có tên là Tân Kỳ. Khao Tân Kỳ củ to dài, có cạnh, vỏ màu hồng sen, bột hơi vàng, ăn rất thơm, làm khao gieo rất ngọt, Sau này tôi lớn lên, lấy vợ chính quê hương đã sinh ra giôgns khoai ấy: Huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An! Mới hay còn người có nhiều dây mơ rễ má trong cuộc đời lắm…

 

Thời chưa có sổ gạo, cả làng tôi ít nhà có cơm ăn, nên mới có câu “ giêng hai khoai cá”. Người ta nhại câu ca từ của Hoàng Vân trong bài hát Quàng Bình quê ta ơi: Quảng bình, khoan khoan hò khoan thành Quảng Bình khoai khoai toàn khoai là vì thế. Nghĩa là cái ăn hàng ngày chỉ khoai và cá. Khoai lang được chế biến ra nhiều món tùy theo mùa. Mùa hạ thì khoai lang luộc, canh khoai lang, khoai lang nướng; mùa đông thì khoai khô nấu xéo, khoai  gieo nấu nhừ, rồi khoai gieo…Để có khoai khô, khoai gieo, mùa hạ thu hoạch khoai, nhà nào cũng phải thức đêm để thái khoai, sáng phơi ra ba bốn nong. Phơi bốn năm nắng khoai mới khô rồi đổ vào chum đây kín để dữ trữ. Khoai gieo thì chọn củ khoai ngon, to, dài, luộc lên rồi ngồi bóc vỏ, thái lát, phơi khô. Khoai gieo có thể làm lương khô cho các chuyến đi dài ngày, vì chỉ cần cho vào nước cho mền là ăn được, không cần nầu.

 

Từ nhiều đời nay, làng tôi quanh năm nghèo đói. Đa phần nhà ở như nhà tạm, không khác chị nhà chị Dậu trong tác phẩm Tắt Đèn của nhà văn Ngô Tất Tố. Cột dương gọt nham nhở, mái lợp hay phên che toàn bằng cỏ rười, một loại cỏ chỉ mọc ở những chỗ ẩm trên cát, hình ống nhỏ, cao khoảng hơn mét, bứt về kẹp thành tranh lợp nhà. Thứ cỏ rười ấy cũng đã vào thơ Phùng Quán mới oai chứ :

Cây cỏ rười chỉ mọc trên cát mặn

                             Nhà ngư dân cỏ lợp thay tranh

                             Bếp ngư dân cỏ cho lửa ấm

                             Khói cỏ rười mấy dặm biển còn thơm…

( Cây cỏ rười)

        Cỏ rười là cỏ lợp nhà, nên ai cũng bứt. Đến nỗi cỏ không lớn kịp nữa. Thời bao cấp ấy, làng tôi ít nhà lợp tranh, không có nhà nào lợp ngói cả. Nhà tôi là nhà gọi là giàu nhất làng, cũng chỉ là ngôi nhà rường ba gian hai chái lợp tranh. Để có tranh lợp nhà cũng không phải dễ. Tranh lợp nhà chỉ có ở vùng Vịnh Mốc, Vĩnh Linh, sát giới tuyến. Phải chạy thuyền buồm cả buổi sáng vào Vịnh Mốc mới mua được tranh về lợp nhà.\

 

      Nhà nào trong nhà cũng không có sàn  hay ván gì cả. Chỉ cát và cát và mấy chiếc giường ngủ ọp ẹp. Đêm đến, trẻ con, người lớn cả làng ai ngủ đâu cũng được. Ngủ trên sân cát, ngủ ngoài bãi biển, ngủ trên thuyền…Chỉ một manh chiếu rách khi đắp khi trải, nằm xuống là ngủ. Không biết từ bao giờ đàn ông làng tôi đi biển không mặc quần áo gì cả. Có lẽ vì nghèo quá nên mỗi người chỉ có một bộ quần áo dài để mặc khi đi chạp, giỗ, còn phải mặc quần đùi. Mùa đông rét thì lấy những tay lưới trũ cũ rách để đắp, chống rét. Con người nằm trong lưới không khác chi con cá.  Gọi là quần áo cho vui, chứ thực ra toàn loại quần áo cắt may từ vải buồn rách, hay vải diềm bâu dệt thủ công mua ở chợ, vá chằng, vá đụp . Ngư dân ra đến bờ sóng là cởi quần đùi ném vào thuyền để “cất nôốc”. Thuyền ở trên bãi cát, muốn ra biển  phải có cái đòn gỗ thật dài gọi là néo, dùng cái dây nài  buộc vào thuyền, rồi  mỗi bên ba, bốn người cởi truồng, ghé vai khiêng, vần xoay cho đến khi thuyền xuống bợc sóng, gọi là “cất nôốc”. Khi hàng người cất nôốc trần như nhộng ấy rướn lên đi theo nhịp hô  hai ba…này , thì một hàng “thằng nhỏ” phía dưới cũng đung đưa theo nhịp. Tức cười lắm. Cả ngày đi biển các bọ đều cởi truống như rứa cả. Vào đến bờ mới mặc quần, vì lúc đó có các cô các bà  quang gánh ra bờ gánh cá . Có nhiều ông già (người dân biển 50, 56, tuổi đã gọi là già) cứ vắt cái quần đùi trên vai với thằng cu lủng lẳng đi lên nhà . Không hổ ngươi, ngượng ngập gì. Cũng chẳng ai nhìn ngó, cười  cợt gì. Ở làng có ông Khê đi biển về lúc nào cũng cởi truồng, vắt quần đùi trên vai, vừa đi lên nhà vừa đằng hắng và huýt sáo. Ông Khê hắt xì hơi vang to đến cuối làng cũng nghe. Mỗi lần ông hắt xì hơi chục cái như thế là ba ngày sau gió mùa đông bắc sẽ về, biển động. Trăm lần như một. Bọn trẻ con chúng tôi chạy theo ông trêu đùa, lấy que đánh khăng cời vào “thằng nhỏ” của ông, ông cũng chẳng mắng mỏ gì, chỉ cười khanh khách “cha mày”, “cha mày”. Nhưng khi chị Duyên, một phụ nữ thịt da màu mỡ, nghịch ngợm nhất làng thủ sẵn đôi đũa cái, nhằm khi ông Khê đi biển về, chị đi ngang qua, giơ đũa gắp gắp cái của quý của ông, ông mới hô lớn : Coi chừng, nó thức dậy,  nó thức dậy!  Trẻ con làng tôi cũng chẳng khác gì ông Khê. Lên mười, mười một đi học lớp hai lớp ba rồi mà học xong là cởi tồng ngồng đi đánh khăng, bắt còng, bắt cáy dọc biển suốt ngày. Tóc đứa cũng vàng đỏ như tóc người Hàn Quốc. Đến nỗi mấy bà đi buôn bán với mạ tôi ở trong chợ Mai, Phù Chánh, Hưng Thủy ra làng tôi mua cá đã gọi tôi là “Thằng Khôi tóc đỏ”.

 

Cả làng tôi thời đó không ai làm hố xí cả. Ai buồn “ị” thì ra bãi cát, hay lội ra biển. Cát mênh mông, ghé vào đâu đó nơi gốc dương, gốc dứa dại là xong. Quận công không bằng ỉa đồng. Người ta bảo thế. Giải quyết “đầu ra” xong không cần lấp lại. Cứ để đấy. Cát là sự bao dung vô bờ bến. Tất cả đồ thải của con người đều thải ra trên cát. Chỉ vài ngày sau, cát đã tự xóa hết. Cái văn hóa “ ỉa bất” (tức bạ đâu ị đấy) kéo dài tới tận khi hết thời bao cấp, mới có vài ba nhà làm hố xí…Đến bây giờ thì nhiều gia ddinhfd trong làng đã có hố xí tự hoại, nhưng vẫn không ít gia đình, người ta vẫn điềm nhiên ngồi“ ỉa bất” trên cát giữa ban ngày!…

 

Làng tôi cứ sống lắt lay hàng trăm năm như thế cho đến một ngày vô hợp tác xã. Đó là đầu năm 1959. Một cuộc đổi đời. Ba hợp tác xã nghề cá xã Ngư Thủy hồi đó có tên rất oách, theo kiểu tuyên huấn: Hợp tác xã Tương Lai, Hợp tác xã Quyết Thắng, Hợp tác xã Phấn Đầu. Tên oách thế nhưng quanh đi quẩn lại chỉ có nghề bủa xăm ( lưới trũ), câu mực, lưới rê, rồi nghề giã ruốc ( khuyếc, ngoài Bắc gọi là con moi) ven bờ với loại thuyền nhỏ mà quê tôi gọi là . Dân biển mà chỉ ra khơi cách bờ khoảng năm bảy cây số là hết cỡ. Không dám đi khơi hơn vì sợ dông tố không chèo vô bờ kịp. Vì thế đánh bắt không được mấy cá lớn như cá thu, cá ngừ đại dương, cá chim, cá cờ….Quanh năm chỉ có cá cơm bạc, cơm than, cá nục, cá trích, cá ve, cá duội, rồi câu mực… là nhiều.

 

Nhà tôi từ trước khi chưa vô họp tác đã có 2 con thuyễn  bằng gỗ lớn do ba tôi mua để thuê bạn nghề đi bủa xăm ( lưới trũ), đi đánh cá rạn ngoài chà khơi ngoài hai chục sải nước . Có tới 20 bạn nghề cùng đi với ba tôi trên hai con thuyễn ấy. Ăn chia như sau: Sản phẩm (cá) đánh bắt được chia làm 3 phần : Thuyền lưới  một phần để còn đầu tư mua sắm ới, sửa chữa…, chủ một phần, còn bạn nghề chia nhau phần còn lại. Khi ba tôi trên năm mươi tuổi, ông khi đi biển nữa mà anh cả tôi là Ngô Văn Khương đi cùng bạn nghề. Còn ông thì suốt ngày đi dọc biển quăng chài bắt cá buôi, cá đối. Trong Cái Cách ruộng đất, ba tôi bị quy sai là địa chủ, ông bị Đội CCRĐ bắn oan ) sau đó đến Sửa sai sửa lại thành phần là Trung nông) . Nhà cửa  và hai con thuyền, ngư cụ  đó bị tịch thu, chia cho “người nghèo”. Nhưng người ngèo không có tiền để tu sửa, nên hai con thuyền lâu ngày bị nứt nẻ, rồi mục nát, xăm lưới tả tơi, vì ngư dân chưa học được cách “làm chủ tập thể”!

 

Khi vào Hợp tác xã, thì hai con thuyền của nhà tôi đó không còn nữa, người ta hè nhau phá lấy ván , làm củi. Tất cả thuyền nhỏ, lưới, câu các gia đình đều “vô hợp tác”. Cha chung không ai khóc. Sáng sớm, chủ nhiệm  Hợp tác xã đánh kẻng. Cái kẻng ấy khi thì cái may-ơ lốp ô tô, khi thì vỏ quả bom Mỹ. Nghe tiếng kẻng , xã viên lục tục xuống cởi trưồng “cất nôốc” ra biển. Cuộc sống con người răm rắp như một cái máy. Vô cảm và vô lo.

 

Điều hệ trọng nhất làm thay đổi chất lượng cuộc sống làng tôi là khi Chính phủ xếp ngư dân và diêm dân (dân làm muối) vào loại “tiểu thủ công nghiệp”, nên được cấp sổ gạo và tem phiếu vải. Đó là năm 1963. Ai là xã viên  hợp tác đều được cấp sổ gạo, phiếu vải loại N, 4 mét một năm. Thấy có gạo cả làng chen nhau xếp hàng nộp đơn vô hợp tác, chẳng phải vận động vận điếc gì. Đang không có gạo ăn, suốt ngày khoai khoai toàn khoai , tự dưng  mỗi lao động đi biển được 21 cân gạo, lao động phụ ở nhà 11 ký, trẻ con 9 ký một tháng thì  mừng như được vàng. Đó là một cuộc đổi đời ngoạn mục mà làng biển Thượng Luật quê tôi được bao cấp mang lại!

 

Thời ấy, gia đình nào cũng  bảy tám đứa con lít nhít, nên có nhà một tháng được mua tới một tạ gạo. Giá gạo lại rẻ như cho, bốn hào một ký. Cá đi biển về hai phần nhập cho nhà nước với giá bình quân cá to nhỏ từ  8 hào đến 1,2 đồng một ký. Tính ra một cá đổi được hai ba gạo. Đánh được nhiều cá hay ít cá, mặc. Chẳng cần bám biển tăng năng suất. Gạo cứ đến tháng là kìn kìn gánh về. Làm được cá, nhập cho Hợp tác phần lớn, số còn  bà con chia nhau đưa về chạy chợ hoặc muối làm mắm, phơi cá khô để ăn dần trong mùa đông. Đội sản xuất có 46 hộ thì chia 46 phần bằng nhau. Chia ngay trên bãi cát. Cá lẫn với cát. Nấu thì rửa, nhưng nhà nào cũng không rửa kỹ vì thiếu nước sinh hoạt, nên ăn nhai cát rào rạo, ê cả răng. Chia bơi chẳng có  phân loại A, B, C…gì. Loại cá to như thu, ngừ… phải cắt ra từng khứa nhỏ để chia mới công bằng. Những năm ấy, dân làng biển Thượng Luật của tôi “âm lịch” đến mức các thứ hải sản quý như đẻn ( rắn biển), ghẹ ( gọi là con vọ), hay cá khoai …nếu vướng vào lưới thì cho là xui, bắt  ném trả biển, không bao giờ ăn . Bây giờ thời  kinh tế du lịch, ở Hải Thành, Đồng Hới, một con đẻn dài một mét giá  300 ngàn đồng ! Cá khoai một thời tràn bào trong lộng, cạnh bờ, người ta xúc cả gánh, gánh lên đổ vào hố làm phân trồng khoai, hay bón cho cây dừa. Bây giờ, năm 2016, cá khoai giá 100 ngàn một ký, thèm cũng không mua được mà ăn!  Nghĩ mà tiếc !

 

Ở làng tôi lúc đó có Trạm thu mua hải sản của tỉnh. Họ xây hai dãy bể gồm bốn cái bể dài chia thành nhiều ngăn để muối cá làm chượp. Mỗi ngăn chứa được năm tấn cá. Cá ướp muối làm chượp. Đến khi chượp chín phức, mùi bay khắp làng,  thì thuyền hay ô tô của Công ty Thủy sản Quảng Bình ở Hải Thành, Đồng Hới ghé vào chở ra Đồng Hới để chế biến nước nắm. Cái bể ướp cá này xây bằng đá hộc kiên cố đến mức, Trạm Hải sản  giải tán hơn hai chục năm rồi, bây giờ nhiều người đêm hôm muốn đập phá bể để lấy gạch xây nhà mà đập không vỡ được. Có lẽ hồi đó không có tham nhũng trong xây dựng nên họ mới  xây chắc chắn đến vậy. Chứ như bây giờ nhà trường, trụ sở Ủy ban xã mới xây xong, lấy tay bấm nhẹ ,vữa cũng bung ra hết. Trạm hải sản ở ngay cạnh nhà tôi, nên anh Thuyên, anh Thuyết, anh In, anh Thành…,các cán bộ trạm hay nhờ mẹ tôi nấu cơm. Quen các anh  lần đầu tiên tôi biết những vật dụng sang trọng hồi đó như chiếc bút máy Trường Sơn, chiếc kính đeo mắt, đồng hồ polzot hay xe đạp Thống Nhất…Tôi đòi mạ mua cho. Mạ bảo: Ba thứ ấy con lớn lên đi làm nhà nước sẽ có, bây giờ con chưa dùng được. Các anh cán bộ nhà nước mà thân thiết với gia đình tôi đến mức mấy đứa con trai của anh Khương, anh Ninh  đều lấy tên các anh để đặt tên con như Thuyên, Thuyết, Thành…

 

Nhà tôi lúc đó anh Ngô Văn Khương, anh Ngô Tấn Ninh là lao động chính, mẹ là lao động phụ. Tôi và chú em út Ngô Minh Phục là trẻ con đi học, tổng cộng được 71 ký gạo. Cứ đầu tháng, cả làng quang gánh lũ lượt vượt hai động cát cao ngút trời là Động Thấp và Động Cao vào Cửa hàng Lương Thực Chợ Mai trên Quốc lộ I mua gạo. Gạo đưa về nhà đổ đầy chum, đầy thạp. Tôi đã đi mua gạo với mạ  hai ba lần. Gánh được  chưa tới hai chục ký mà vai cứ nhức đỏ lên, nhưng vui lắm. Vui vì đông người, nói cười hớn hở. Cả làng gánh gạo lên động cát cao, ngồi nghỉ nói cười xởi lởi. Thấy làng tôi được ăn gạo nhà nước, không còn lo đói , bà con nông dân làng nông nghiệp ở các xã bên đường Quốc lộ như Hưng Thủy Dương Thủy, Sen Thủy, Tân Thủy… ức lắm. họ viết thư phản đối lên huyện. Nhưng huyện làm gì được. Đây là chủ trương của Chính phủ. Đúng là họ làm ruộng cực nhọc thật. Mùa đông rét căm căm cũng phải lội xuống ruộng cấy cho kịp thời vụ, đỉa bu từng chùm dưới chân, trên háng. Rồi bón lót, bón thức, gặt đập, sàng sẩy, đổ mồ hôi sôi nước mắt mà đến mùa thu hoạch một ngày công chỉ mấy lạng thóc. Thấy dân biển không vất vả bằng mà có gạo ăn, họ ức là phải. Thời đó cái ăn là trời. Suốt ngày các bà mẹ bao giờ cũng ngay ngáy lo: Bữa sau có gì cho con ăn. Vì thế có sổ  gạo là một sự đổi đời!

 

Có gạo có vải, cuộc sống làng tôi nhờ đó mà khá hơn. Nhờ thế mà anh Chinh, một người dân Quảng Trị tập kết lấy vợ làng tôi mới mua cái máy may hành nghề may đo quần áo. Đó là cái may may đầu tiên của làng. Hôm anh Chinh cho người khiêng máy về, trẻ con tồng ngồng chạy theo xem như rồng rắn. Tôi quan sát và nghĩ mãi không  hiểu tại sao cái kim khâu cứ thụt lên thụt xuống thế mà nó xâu được chỉ và chạy thành đường may được. Làng tôi ít tiền, nên anh Chinh lấy công may ngoài tiền còn thay bằng khoai, sắn, gạo . Có người may bộ quần áo cho con đi học nợ tiền may hai ba năm chưa có trẻ.

 

Có sổ gạo, nhưng nhiều nhà không đủ tiền mua, hay do nhu cầu khác như giỗ chạp, cưới vợ cho con…cần kíp hơn phải gánh vô chợ Mai bán bớt gạo đi để trang trải, nên cuối tháng nhiều nhà cũng không đủ ăn. Riêng nhà tôi thì khấm khá vì mạ tôi chạy chợ. Thiếu vải may quần áo, mạ dắt anh em tôi vào dì Quế  ở làng Thử Luật, xã Vĩnh Thái, Vinh Linh để xin vải may quần áo. Làng của dì ruột tôi cũng là làng  biển, cũng đánh cá trồng khoai. Nhưng vì ở vùng giới tuyến Vĩnh Linh nên gia đình dì Quế được ưu tiên nhiều thứ, sướng hơn….

 

Làng tôi có gạo có vải nhà nước cấp, nhưng nhiều gia đình vẫn đói kém quanh năm. Các gia đình vẫn ở trong các ngôi nhà  lợp tranh, lợp cỏ rười, cột gỗ dương lụp xụp. Bữa cơm dọn ra chỉ nồi cơm độn sắn khoai với bát nước mắm. Gia đình nào khá hơn thì trẻ con mỗi bữa được lưng bát cơm không độn. Khai sắn là chủ yếu. Nhiều gia đình phải thiếu ăn chạy khắp làng vay gạo. Làng tôi là bãi ngang, chuyên làm biển lộng, gọi là đánh bắt vặt bằng các nghề như  xăm trũ, đi câu mực, đi  giạ ruốc . Thuyền ra biển chỉ vài ba cây số.  Có mấy năm, bà con ngư dân làng Lý Hòa ở Bố Trach, Quảng Bình vào làng tôi cắm trại đánh cá khơi. Họ mới bày cho cách cắm chà để đánh cá. Chà là cây tre cột vào rọ đá, dây thừng dài theo độ sâu của biển ( sâu 21 hay 22 sải nước) rồi  thả xuống biển, chung quanh buộc các loại lá như là dừa, rồi neo xuống biển để nhữ cá đến núp rồi bủa lưới xung quanh, mới đánh được loại cá mục, cá ngừ . Cây chà nổi trên mặt nước. Mỗi chủ chà có một nắm buộc làm ký hiệu trên nóc cây tre. Thuyền đi khơi bắt đầu từ  chiều hôm trước, chạy bằng buồm, đến sáng hôm sau mới đến chà. Đánh cá xong chạy về  bến vào chiều tối hôm sau. Khi mới mười lăm mười sau tuổi, tôi đã đi một chuyến khơi như thế. Suốt đêm ngày trên thuyền vẫn tỉnh táo, nhưng đến khi về đền nhà thì bay đầu say sóng nằm miên man ba ngày nôn ra mật xanh mật vàng. Dân quê tôi gọi là say đất ! Say đất mệt hơn say biển.

 

Gọi là đi khơi cho oai thực ra chỉ ra vùng biển sâu 20 sải nước, cách bờ khoảng 20 hải lý. Khi ngư dân Lý Hòa về quê họ, thì làng tôi cũng mất dần nghề bủa chà. Chỉ thiên về nghề lộng gần bờ. Đánh cá như thế nên không có năng suất, được chăng hay chớ. Có cả thì nhập cho Hợp tác, không có cũng chẳng sao. Nên đói vẫn hoàn đói!

***

 

   

         Quê ngoại tôi ở làng biển Thử Luật, xã Vĩnh Thái, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Sau này chính quyền mới đặt tên khác, dần dần sách vở không chép những tên làng rất hay và cổ xưa  như Thử Luật,Thượng Luật ấy nữa. Nhưng trong tâm khảm người dân truyền đời này qua đời khác, những tên làng ấy vẫn tồn tại. Làng nội tôi là Thượng Luật, đi vô làng ngoại Thử Luật chỉ hơn 20 cây số. Đi bộ dọc bờ biển bốn tiếng đồng hồ là tới. Mạ tôi họ Đào ( Đào Thị Tam), thời trẻ cùng bạn buôn bán với  bà Tố và các bà ở Vĩnh Tú, Vĩnh Nam…đi buôn chè xanh, thơm (dứa), mít…từ Vĩnh Linh ra vùng biển Lệ Thủy. Bán chè, mít…rồi mua cá, mắm, nước mắm trở lại bán ở chợ Hồ Xá. Ba tôi ( ông Ngô Văn Thắng) hồi đó mới có vợ. Năm 1934, bà vợ trước của ba tôi bị mất do bệnh sau khi sinh con đầu lòng mới được năm ngày. Những ngày bà vợ trước của ba tôi mất, mạ tôi đang ở trọ ở trong nhà để bàn hàng. Thương đứa bé mới sinh khóc nằng nặc, mạ tôi đã bồng ẵm, ru ngủ, rồi cho bú bằng sữa bò. Đó là chị Ngô Thị Vượng của tôi. Cảm kích trước tấm lòng của mạ tôi, ba tôi mời bà làm “vú nuôi” của chị Vượng.  Rồi ba tôi cưới  mạ tôi, sinh ra được bốn người con trai nữa đặt tên là Ngô Văn Thạnh, Ngô Văn Thường, Ngô Văn Cường, Ngô Văn Cần. Năm 1956, ba tôi biết mình  sắp bị hạn lớn nên lên xã xin đổi tên bốn anh em một lúc thành : Ngô Văn Khương, Ngô Văn Ninh, Ngô Văn Khôi, Ngô Văn Phục. Ba tôi bắt anh em tôi phải gọi mạ bằng “vú”, không gọi bằng “mạ” như lũ trẻ trong làng. Sau này ba mất nhiều năm , anh em tôi mới đổi “” thành mạ .

 

Trong tâm trí của tôi, mạ tôi là người thuộc ca dao, thuộc truyện thơ Nôm thuộc hàng vô địch. Mạ có thể hát ru cháu suốt ngày mà không hề lắp lại các câu ru. Mạ hát toàn ca dao Vĩnh Linh, Quảng Trị. Ru em em théc cho muồi/ Để mạ đi chợ mua cồi bắp rang…; Còn cha gót đỏ như son / Một mai cha chết, gót con đen sì;  Mẹ già ham việc tiếc công / Cầm duyên con lại thu đông mãn rồi; Trăng lên tới đó rồi tề /Nói chi thì nói, em về kẻo khuya ; Bướm vàng đậu đọt cau tơ/ Kiếm cái nơi mô nương tựa / Chơ răng cứ vất vơ rứa hoài; Ra đi bố mẹ ở nhà/ Gối nghiêng ai sửa, chén trà ai bưng…Tôi thuộc lòng và có thể chép hàng trăm câu ca dao mạ tôi đã hát như vây. Có lẽ tôi lớn lên hay làm thơ một phần là do thuộc nhiều ca dao xứ Quảng Trị mà mạ tôi hát…Hồi trẻ, ra làng Thượng Luật bán chè xanh, mạ tôi hay đi giã gạo và hát với đám trai gái trong làng. Có câu hát mạ hay hát: Rồi mùa toóc rạ rơm khô / Bậu về quê bậu biết nơi mô mà tìm…Hồi nhỏ. Trong tôi quê ngoại chính là mạ, chính là những câu ru ấy…

 

Thuở nhỏ, lúc 10, 12 tuổi, tôi hay được mạ cho đi theo vào chợ Hồ Xá. Mạ tôi triêng gióng gánh mắm, cá vào chợ bán, rồi mua chè xanh, thơm, dứa hấu, sắn …ra chợ Mai hay về làng biển bán. Mạ gánh hàng đi từ hai giờ sáng, đi đường quốc lộ, qua Bàu Sen (Sen Thủy), qua Truông Nhà Hồ dằng dặc, đến mặt trời lên hơn hai con sào mới vào đến chợ Hồ Xá. Bán xong, mua hàng rồi hai mẹ con về làng Thử Luật ở nhà dì Quế , dì ruột tôi nghỉ đêm, mai mới đi bộ dọc bờ biển ra nhà. Dì Quế tên là Đào Thị Thy, khi có con, xóm làng hay gọi theo tên con gái đầu. Những ngày đó, tôi chỉ gánh bằng que tre hai đâu hai trái dứa mà nghe nặng trĩu.

 

Họ Đào ngoại tôi ở làng Thử Luật bây giờ chỉ còn cháu bên ngoại, tức anh em tôi và mấy anh chị em con của dì, cùng với mấy chục đứa cháu .Cháu  ngoại họ Đào họ Ngô Văn chugns tôi và họ Nguyễn Hữu, bên chồng của dì như Ngueyenx Hữu Đình, Nguyễn Hữu Điền…Bên nội của ngoại chẳng còn ai. Có cậu út Đào Kiểm thì đi bộ đội hi sinh từ thời chống Pháp, bây giờ nằm ở nghĩa trang liệt sĩ xã Vĩnh Thái. Mười lăm năm trước, mộ chí bên ngoại lang bạt rải rác trong rú cát. Chạp mả năm này đắp lên, năm sau gió lại san bằng. Cái mộ  tổ họ Đào mà chỉ nhỏ xíu bằng chiếc nón. Bao năm chiến tranh, bom đạn, con cháu ly tán, không ai đắp bồi. Có mộ phải tìm cả ngày mới ra dấu. Phải lần theo que chừng cắm mà tìm. Mấy anh em tôi hè nhau góp tiền xây cái nghĩa trang. Tìm kiếm khắp rú trong rú ngoài chỉ được hơn mười lăm ngôi mộ trong họ, cất về , xây tường, xây mộ cho các cụ “nhà cửa” yên bề, thành một khu bên đường cái quan, gọi là”lăng” cho oai:

 tháng Chín ngôi rằm mộ mới

nghe trong lăng ngoại gọi tên mình

hàng dương non dâng ngọn lửa xanh

sôi trong tiếng reo hò trẻ nhỏ

người đi biển nằm chờ nồm trở

chờ trăng tà nước sinh

gối đầu lên bánh lái cột buồm

từng ngôi mộ góp chuyện làng chuyện nước

sờ tay nhau nửa đời khó nhọc

còn săn mồi da thịt ?

biển ơi…

(MIÊN MAN NGÀY TẢO MỘ BÊN NGOẠI)

 

Trong ký ức tuổi thơ của tôi, quê ngoại là một miền quê trú phú, cây trái tốt tươi, thơm phức bốn mùa. Đi chợ Hồ Xá với mạ, mạ kể cho tôi nghe sự nguy hiểm của Truông Nhà Hồ. Vì đoạn truông dài này, là những vùng rú rậm, nên thường có bọn cướp ẩn náu trong rừng xông ra, sợ lắm. Rồi mạ ca dao :” Thương em anh cũng muốn vô/ Sợ truông Nhà Hồ, sợ phá Tam Giang/ Phá Tam Giang ngày nay đã cạn/ Truông Nhà Hồ nội tán cấm nghiêm…”. Tôi nghe mạ kể cũng sợ lắm. May có hai mạ con bên nhau, đỡ sợ hơn. Nhưng tôi hỏi mạ “Sao gọi là Truông nhà Hồ”, sao gọi là “chợ Hồ Xá” thì mạ tôi không biết. Sau này tôi nghe bác sĩ Dương Đình Châu, một bác sĩ da liễu rất giỏi ở Huế, một  người từng du học ở Mỹ trước năm 1975, am tường chuyện Đông Tây Kim Cổ mới rõ sự tích những cái tên này.

 

Theo bác sĩ Dương Đình Châu, thì tên địa danh Hồ Xá, Truông Nhà Hồ có từ thời Hồ Quý Ly vào thế kỷ XV ( khoảng năm 1396-1400) . Khi Hồ Quý Ly không chống nổi giặc Minh xâm lược, phải bỏ tòa thành nhà Hồ ở Thanh Hóa mà chạy về phía Nam. Hồ Qúy Ly cùng con trai là Hồ Nguyên Trừng  bị quân Minh bắt ở Hà Tĩnh đưa về Tàu. Còn một toán quân của nhà Hồ chạy vào phía bắc sông Minh Linh (tức sông Hiền Lương ngày nay), họ lập làng rồi thành dân khai khẩn ở đây. Cái làng họ lập họ đặt tên làng Hồ, đẻ kỷ niệm một thời loạn theo nhà Hồ. Rồi có tên Xã Hồ. Sau này gọi lại là Hồ Xá. Còn Truông nhà Hồ là tên của lối chạy giặc nhọc nhằn, nguy khốn của lính nhà Hồ… Tôi thấy giả thuyết này rất có lý.  Điều này cũng cắt nghĩa vì sao các gia phả tộc họ ở vùng này thì tộc Hồ là một trong số ít những tộc họ thuộc bậc tiền hiền, rất đông đảo ở huyện Vĩnh Linh.

 

Giải nghĩa câu ca dao ấy, GS.TS Tôn Thất Bình (Huế) cũng cho rằng,  trước đây truông nhà Hồ là một vùng đất rộng bạt ngàn, cây cối um tùm, từng là sào huyệt của một băng cướp rất nguy hiểm, ai đi qua đó cũng thường bị chúng bắt bớ, giết chóc để cướp của đòi tiền mãi lộ. Thời bấy giờ có quan Nội tán triều Nguyễn, Nguyễn Khoa Đăng nổi tiếng thông minh. Biết được mối lo sợ của dân chúng, ông tìm cách đánh dẹp. Một hôm ông cho xe chở lúa và hàng hóa qua truông. Ông cho một người lính ngồi sẵn trong thùng xe chở lúa. Khi bị cướp, người lính ngồi trong thùng xe rải lúa ra dọc đường. Nhờ có dấu lúa rải này, ông đã lần ra sào huyệt của bọn cướp, quan quân tràn vào bắt gọn cả ổ. Từ đó truông nhà Hồ trở nên yên bình. Dẹp xong giặc truông nhà Hồ, quan Nội tán lại tìm cách trị sóng thần phá Tam Giang. Một mặt ông sai người lặn xuống phá, đào bới mở rộng cửa phá để trừ sóng dữ. Một mặt ông cho loan báo trong dân chúng là quan Nội tán sẽ cho quân dùng súng thần công bắn sóng thần trừ họa. Đến ngày đã định, Quan nội tán đem súng hướng ra phá, ra lệnh bắn. Ba tiếng súng ầm ầm vang lên, khói bốc mù mịt. Những người chứng kiến đều sợ hãi quỳ sụp xuống. Nhưng bỗng trên mặt phá, một luồng đỏ như máu từ từ loang ra. Quan Nội tán bảo với mọi người là sóng thần đã bị trúng đạn chết, từ nay không phải lo sợ nữa. Thực ra thì người của ông đã bí mật lặn xuống và rải phẩm đỏ cho tan dần trong nước. Nhưng truông nhà Hồ và Phá Tam Giang vẫn là nỗi sợ của nhiều người nhiều thời…

 

Vĩnh Linh, một huyện của tỉnh Quảng Trị ở bắc sông Hiền Lương , được Chính phủ Việt nam Dân chủ Cộng hòa xếp vào loại đặc khu, quan hệ với Trung ương như một tỉnh. Gọi là Đặc Khu Vĩnh Linh. Thời bao cấp, khi hai miền còn chia cắt, cuộc sống dân Vinh Linh no đủ lắm. Vì là “đầu cầu giới tuyến”, để thể hiện tính “ưu việt” của chế độ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, nên được nhà nước ưu tiên rất nhiều thứ. Dân có phiếu vải cung cấp người 5 mét một năm như cán bộ công nhân nhà nước. Được phân phối xe đạp theo giá “cung cấp”. Đồng ruộng lúc nào cũng máy cày đỏ chót chạy suốt ngày đêm. Từ đó cũng sinh ra chuyện vòi vĩnh Trâu đen ăn cỏ, trâu đỏ ăn gà. Tức là thợ lái máy cày luôn được Hợp tác xã đãi đằng, chăm sóc. Không đãi thì máy cày chạy chậm rì. Cả ngày không xong thửa ruộng. Loa phóng thanh được mắc đến từng thôn dọc sông Hiền Lương. Cứ mối lần đài giới thiệu nghệ sĩ Châu Loan ngâm thơ là dân làng  nào cũng náo nức tập trung đông nghịt sân kho hợp tác để nghe. Vì Châu Loan là người xã Vĩnh Giang ở ngay bờ bắc sông Hiền Lương. Bà có giọng ngâm thơ đầy ma lực, hay hơn hẳn em gái là Châu Phụng ở đài Sài Gòn. Ở Vĩnh Linh nhiều người có xe đạp Thống Nhất đi trên đường. Dì tôi bảo anh trai tôi :” Thằng Ninh vô dì ở mà đi học, dì mua xe đạp cho”. Thế là anh Ninh tôi vào Thử Luật ở để đi học cấp hai Hồ Xá ( từ lớp 5 đến lớp 7 hệ 10 hồi đó) . Nhưng anh Ninh chỉ ở nhà dì học được hai năm lại ra quê nội học, vì nhớ mạ!.

 

Mỗi lần vô ngoại, tôi cứ thắc mắc là không hiểu tại sao làng nội cũng cát trắng, làng ngoại cũng cát trắng tinh, mà khoai làng ngoại củ to hơn. Ăn một cũ là no. Tôi hỏi dì Quế. Dì quê bảo, ở đây khoai trồng nhiều phân, lại có cả phân đạm do nhà nước bán cung cấp nên khoai tốt. Hèn chi…

 

 

***

 

Hồi đó làng tôi không có cửa hàng Mậu dịch Quốc doanh, chỉ có Hợp tác xã Mua bán. Thằng cháu nội thân của tôi là Ngô Văn Quang (đã mất) nhiều năm làm kế toán trưởng của cái Hợp tác xã mua bán ấy. Nó không xơ múi được gì nhiều về kinh tế, nhưng tặng tựu với mấy em bán hàng để ra tới vài đứa con rơi. Vì đêm, người bán hàng phải ngủ lại để canh hàng,  Nhưng Hợp tác xã  làm ăn èo uột lắm. Có cái gì trên đưa về thì bán như vải, giấy học trò, xà phòng.v.v.. Hết thì lại ngồi chờ. Có thời gian “trên” phân về cho HTX Mua bán Ngư Thủy mấy chục két bia chai nhãn hiệu Hà Nội. Mỗi chai  năm hào. Ngư dân làng tôi cả đời chưa biết bia là gì, cũng mua uống thử. Nhưng ai uống vào cũng liền nhổ ra và kêu:” Nước gì mà chốt (chát) như nước sim ri ?”. Thế là Cửa hàng HTX Mua bán phải chở lên huyện trả lại cho Mậu dịch. Hàng hóa bà con cần thì nhiều thứ lặt vặt đếm không hết, cần mua HTX Mua bán lại không có. Thấy thế  là mạ tôi quyết định chạy chợ để kiếm tiền nuôi con. Thời đó, nhà nước không cho cá nhân mở cửa hàng tạp hóa, vì sợ “thành bọn tư sản thối nát”, chỉ được chạy chợ, tức là mở cửa hàng trai vai, trên đường…

 

Cuộc đời mạ tôi trầm luân vất vả. Nước mắt Mạ nhiều hơn nụ cười. Mạ tôi không biết chữ. Anh em tôi dạy mãi mạ mới biết ký chữ ký của mình. Nhưng mạ tôi đã cung cấp cho bà con làng tôi bao nhiêu niềm vui, hơn cả Hợp tác xã Mua bán. Mạ buôn bán thì giỏi lắm. Giỏi từ hồi trẻ là cô gái trẻ chuyên buôn bán đường dài Vĩnh Linh – Quảng Bình.  Tháng 3 ăm lịch năm 1956, ba tôi bị Đội Cải cách ruộng đất quy là địa chủ và bị giết. Mạ tôi khóc hết nước mắt. Bà bị bất ngờ vì ba mạ tôi từng nuôi cả trung đội bộ đội Việt Minh huyện hàng tháng trong nhà. Ba tôi bỏ tiền  mua hai khẩu móc-che (súng cối), súng trung liên cho dân quân xã Hưng Đạo đánh Pháp. Mạ tôi từng bỏ lựu đạn dưới gánh cá, gánh vào chợ Chè ở Hồng Thủy giả đi bán cá, để dân quân diệt thằng ác báo đồn trưởng đồn Hòa Luật. Thế mà lại bị “cách mạng” quy địa chủ, chồng bị giết. Địa chủ mà chỉ có hai chiếc thuyền và mấy vàng lưới trũ, mấy vàng câu và gian nhà rường lợp tranh ba gian hai chái. Giá trị không bằng cái xe máy tay ga bây giờ. Sau đó, thuyền lưới nhà tôi bị tịch thu chia cho bần cố nông, rồi thuyền trở thành củi mục, lưới thành tả rách từ bao giờ không ai biết nữa. Mạ tôi tiếc đứt ruột!

 

Sau khi gia đình được “sửa sai”, trả lại thành phần Trung ngư, nhưng không trả lại nhà cửa và các thứ tài sản bị Đội tích thu chia “quả thực” cho người nghèo cốt cán trong làng. Nhà tôi năm miệng ăn, mạ tôi thấy tình thế khó sống liền xin UBND xã mở một cái quán hàng nhỏ, nhưng chính quyền không cho. Thế là mạ tôi đành làm người ăn mày dọc biển. Hàng ngày mạ vác cái rổ con đi dọc bãi biển xin cá. Ngư dân có tập tục là các sản phẩm của biển làm được về không được ăn một mình, phải san sẻ cho những người ăn xin, vì đây là lộc biển. Nhờ thế mà mạ con tôi có cái ăn qua ngày, không chết đói. Nhưng đi ăn xin như thế thấy nhục quá, nên mạ tôi chuyển sang nghề chạy chợ. Chạy chợ là suốt ngày đôi quang gánh trên vai, không mở tửa hàng tư nhân, nên chính quyền không cấm.

 

Mạ tôi tất bật suốt ngày. Mạ buôn chè xanh, thơm (dứa), quả mận quân, mít xanh, mít chín… từ Chợ Huyện, quê ngoại Vĩnh Linh , gánh về làng biển đổi cá cho bà con trong làng. Cá ngừ, cá thu thì cắt miếng kho, các loại cá cơm, cá duội, cá nục…thì phơi làm cá khô hoặc làm mắm nêm, nước mắm…rồi gánh đi chợ Tréo, chợ Mai, chợ Hôm Trạm, Chợ Chè khắp huyện Lệ Thủy năm sáu chục cây số lội bộ để bán. Từ làng tôi đi chợ Tréo gần 20 cây số, phải trèo động cát tới 6 cây số, gánh nặng phải đi 5 tiếng đồng hồ mới kịp giờ họp chợ.  Nên mạ phải dậy từ hai sáng, đến tối mịt mới về. Về nhà lại bán muối, dầu hỏa thắp sáng, nến cúng… cho bà con trong làng. Vì thế mà cả làng tôi thiếu cái gì là đến “nhà mụ Vượng”, khuya mấy cũng mua được.

 

Mỗi dịp Tết mạ tôi gánh đến cho người làm ruộng miền nông những chai nước mắm ngon, gọi là nước mắm chắt, nước mắm nhĩ, tức là loại nước mắm cốt từ trong chượp chắt ra, nhĩ ra tự nhiên. Rồi những con mắm mục, mắm trích thính thơm phức, những khúc cá ngừ, cá thu kho ngon lựng. Tết mạ gánh về cho bà con làng biển Thượng Luật nghèo là bó chè xanh, quả thơm, quả mít chín, gạo nếp, rồi bao nhiêu thứ kẹo bánh cho trẻ con như : kẹo bi, kẹo bột đậu bọc giấy bóng xanh đỏ tím vàng, kẹo cứt gà ( tên kẹo như thế vì kẹo nấu bằng đường thủ công  tẩm bột nâu, đen đen trăng trắng như viên cứt gà khô trên cát) ; rồi các thứ bánh để thờ trên bàn thờ ngày Tết như bánh in bọc giấy bóng xanh đỏ, bánh ít, rồi lá dong, lá chuối để bán cho các nhà gói bánh chưng bánh tét. Cả làng thiếu cái gì thì đến “nhà mụ Vượng” ( tên mạ tôi là Đào Thị Tam, nhưng ở quê tôi gọi tên phụ nữ có chồng theo tên con đầu, chị đầu của tôi tên là Ngô Thị Vượng, lúc đó đã đi lấy chồng, ở nhà chồng)

 

Sáng mùng một Tết, Mạ tôi làm các loại bánh rồi gánh ra chỗ vui chơi Xuân bán cho thanh thiếu niên. Chứ của hàng Nhà nước đóng cửa, vì họ là Chủ nghĩa xã hội, kinh doanh buôn bán kiếm lời được cho là hành vi xấu xa. Mạ làm bánh nổ bằng thóc nếp rang cho nổ bung, sảy vỏ rồi cho vào nấu với nước đường, thêm tí vani, tí bột đao, ép khuôn cắt thành từng vuông nhỏ, hoặc vắt tròn như quả mận. Ăn ngọt mà giòn rụm.  Mạ còn nấu bánh đúc bằng gạo mùa mới gặt. Nấu cho nhuyễn, thêm gia vị tiêu hành rồi đổ ra cái mâm thau, đợi bánh nguôi, cắt thành từng miếng hình thoi, xếp vào thúng lót lá chuối, gánh đi bán. Bánh đúc chấm nước lèo ăn no vẫn thòm thèm..

 

Vì thế mà sau này đi chiến trường, sau 100 ngày hành quân đến Lộc Ninh, tôi thấy ở đây họ tự do mở cửa hàng buôn bán tư nhân, tôi thích lắm. Tôi viết trong thư gửi về cho mạ. May là anh Ninh còn giữ lá thư đến giờ: Dân Lộc Ninh toàn người di cư vào Nam hồi năm 1954. Họ tốt lắm. Họ rất niềm nở với quân giải phóng. Họ trồng cao su, trồng điều. Mạ biết không, quả điều rất giống  quả đào tiên đỏ mà mạ  đi chợ hay mua về cho con ăn, nhưng ở  đít của nó lồi ra một cái nhân to bằng ngón tay cái. Cái nhân đó người ta gọi là hạt điều, nướng ăn ngon bùi thơm hơn hạt đậu phộng. Lộc Ninh là vùng giải phóng, nơi đặt Cơ quan của Chính phủ Cách mạng Lâm Thời. Bọn con được phát tiền Sài Gòn, nên đứa mô thích chi thì ra quán mua. Ở đấy quán xá tư nhân  nhiều lắm, không phải như  ngoài mình chỉ có Mậu dịch Quốc doanh và Hợp tác xã mua bán, có tiền mun mua gì cũng khó. Con cứ ao ước khi mô ngoài miền Bắc buôn bán tư nhân được mở tự do như ở đây. Chắc đến ngày đó, nếu còn khoẻ mạ cũng mở một cửa hàng, để khỏi chạy chợ độ đường xa ngái. Mấy ngày ở đây con được ăn một thứ rất ngon mà mạ và các anh chưa từng biết, Đó là mì tôm. Mì hai tôm, mì ba tôm, đóng trong  các gói giấy xi măng tráng bóng. Nó giống như mì sợi được hấp chín với nước tôm thơm ngon lắm. Ăn sống cũng được không thì chỉ cần đổ  nước  sôi vào là  nở ra đầy bát. Một gói chỉ mấy đồng tiền Sài Gòn( Trích sách “ 100 ngày vượt Trường Sơn” )

   

         Thời bao cấp “đói kém cả làng” ấy, mấy anh em tôi nhờ có mạ đi buôn bán mà bữa ăn có cơm, có thịt, cá, có bún, bánh mướt để ăn, có kẹo cu đơ, kẹo “cứ gà”… để cho mấy đứa con hàng xóm. Đặc biệt là  nhờ mạ di chợ hay vô hiệu sách ở chợ Tréo, chợ Huyện mua sách về, mấy anh em tôi có sách để đọc. Tủ sách nhà tôi hồi đó có cả mấy ngàn cuốn sách. Trường học ở xã cũng không thế nhiều sách như thế! Có lẽ nhờ cái tủ sách ấy mà tôi lớn lên có kiến thức rộng hơn, sâu hơn các bạn cùng làng đi học để làm người viết văn, viết báo…

 

Những năm 1979- 1986, chế độ bao cấp lên đến cực điểm. Cả nước đói kém. Kho nhà nước trỗng rỗng. Không đủ lương thực để cung cấp nên chế độ sổ gạo của ngư dân bị cắt. Thế là làng tôi lại lâm vào cảnh đói kém, phải chạy ăn từng bữa…Chẳng biết làm gì để ra đồng tiền chi tiêu hàng ngày. Mùa xuân, mùa hạ còn ra biển kiếm ít tôm cá. Mùa thu, mùa đông biển động thì ngồi ở nhà. May mà có đổi mới, con mực con tôm trở thành hàng xuất khẩu, đắt như tôm tươi. Kể cả con sứa, con đẻn cũng bán được tiền. Người dân quê tôi bảo: “Ở  biển, cứ  ướt dái là có cái ăn”. Đi dọc bờ sóng một vòng cũng kiếm được con gì đó ăn được. Người ta chạy thuyền máy ra ngoài biển để tranh nhau mua hàng xuất khẩu. Đổi mới, chẳng cần sổ gạo, tem phiếu gì mà nhà nào cũng sống đàng hoàng. Nếu không thì…

 

  

Advertisements

Categories

%d bloggers like this: