Đăng bởi: Ngô Minh | 03.03.2017

ĐỌC SÁCH ” SỐNG THỜI BAO CẤP”( nxb HỘI NHÀ VĂN, PHƯƠNG NAM IN VÀ PHÁT HÀNH 2016) : KÝ ỨC HỌC TRÒ

20161220_0647411

ĐỌC SÁCH ” SỐNG THỜI BAO CẤP”( nxb HỘI NHÀ VĂN, PHƯƠNG NAM IN VÀ PHÁT HÀNH 2016)

KÝ ỨC HỌC TRÒ

Ngô Minh

Sau hòa bình năm 1954, cả xã tôi chẳng có trường lớp gì cả. Cả làng mù chữ. Chỉ anh Ngô Văn Khương của tôi được ba tôi cho đi học văn hóa vùng tự do Dương Thủy cách nhà 8 cây số từ năm 1952. Mỗi sáng ôm sách vở đi tám cây số đến lớp. Anh tôi học hết lớp 4 thì bỏ học. Rứa mà được cho là người có học nhất làng. Người khai sinh ra “nền giáo dục” ở xã tôi là thấy Quảng Bá Hùng, người Hội an, Quảng Nam.  Thời bao cấp khổ lắm, học trò khổ thì đương nhiên rồi. Thầy giáo mà cũng khổ thì bà con thương lắm.

 

Trong đời học sinh của tôi từ vỡ lòng cho đến đại học, tôi đã học với rất nhiều thầy cô giáo. Nhưng những thầy cô giáo dạy giỏi, hết lòng vì học sinh, gây ấn tượng mạnh đối với tôi cho đến bây giờ chỉ đếm trên đầu ngón tay. Trong đó có thầy Quảng Bá Hùng, là người thầy đầu tiên của làng biển quê tôi. Thầy là thầy giáo đầu tiên khai sáng nền giáo dục ở xã Ngư Thủy, góc biển nam Quảng Bình. Học trò của thầy bây giờ đã bảy mươi bảy ba tuổi cả rồi, ai cũng cháu nội cháu ngoại cả rồi, thế mà ngồi với nhau ai cũng nhắc về thấy với một lòng ngưỡng mộ, biết ơn sâu sắc. Nhắc đến thầy, ai cũng say sưa kể những kỷ niệm xúc động . Năm 2012, gần ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11, anh Ngô Tấn Ninh, anh trai tôi bảo tôi :” Chú đưa anh đi một chuyến vô Hội An thăm thầy Hùng, kẻo thầy già rồi mà mình cũng đã bảy mươi rồi…”. Thế là chúng tôi đi Hội An  thăm thầy Quảng Bá Hùng…

 

Ba năm sau chiến thắng Điện Biên Phủ, tức là năm 1957, mà làng tôi vẫn không có trường học. Con em ngư dân đi làm biển đa phần mù chữ. Năm 1957, thầy Quảng Bá Hùng tốt nghiệp Trường Trung cấp Sư phạm Hải Dương xung phong vào Quảng Bình nhận công tác. Về vùng gió Lào cát trắng, vùng đất “ô châu ác địa” (Quảng Bình là đất Ô Châu. Ai đi đến đó quảy bầu về không) đã khổ rồi, thầy lại tình nguyện về xã biển góc nam tỉnh đang mù chữ để mở trường càng gian khổ gấp bội. Thầy kể, được Phòng giáo dục huyện thông tin là có thầy Hùng về mở trường, chủ tịch xã cùng bà con cô bác lên tận Động Cao đón. Nét mặt ai cũng hồ hởi. Hồi đó cả làng tôi không ai có xe đạp. Thầy nghèo, mới ra trường, cũng không có xe đạp, nên thầy phải cuốc bộ leo hai động cát cao từ làng Thượng Luật vào Quốc Lộ 1A 7 cây số, rồi lên huyện thêm 13 cây số nữa để họp, để nhận lương, để xin ý kiến ở Phòng giáo dục. Tháng nào cũng phải cuốc bộ ba bốn lần như vậy. Anh Ngô Tấn Ninh của tôi kể :” Mình có cháu nội ngoại rồi, mà thầy từ Hội An về làng, cả đám học trò già rít rít theo sau. Thầy gọi  giọng Quảng :” Ninh, Cường đâu, biểu !”. Thế là mấy đứa “Dạ” ran, rồi lon ton chạy lại thầy … như ngày xưa lớp 1, lớp 2”.

 

Về làng tôi, thầy Quảng Bá Hùng ở nhà của o (cô) ruột tôi tên là Ngô Thị Cọt. Cọt vì o là o út. O coi thầy như con. Làng tôi nghèo lăm, nhà nào cũng ăn khoai, sắn với mắm, cơm lưng bát chỉ dành cho trẻ nhỏ. O dượng cũng ăn khoai, nhưng bao giờ cũng dành cho thầy ngày bát cơm nhỏ với quả trứng hay con cá đối, giống như thằng Ngô Minh Tuân con trai đầu của mình, cũng là học trò lứa đầu tiên của thầy. Thầy không chịu ăn cơm, chỉ ăn khoai với sắn như o dượng. Thầy cùng với thầy Trần Đình Thôi, cũng một người Quảng Nam, cùng bà con cả tháng trời chặt gỗ dương, cắt cỏ rười ( một loại cỏ mọc trên cát, thân ống nhỏ, cao tới  hơn mét, ở trên đã kể ) đánh thành tranh để lợp trường. Bàn ghế thì chặt những cây gỗ dương to, xẻ ra đóng. Thầy Hùng mồ hôi mồ kê ướt đẫm nhưng lúc nào cũng cười rất tươi. Thầy hô bài chòi ( một hình thức văn nghệ dân gian quê thấy), thầy đánh bóng chuyền, đàn hát như nghệ sỹ. Thầy có cái đàn măng-đô-lin, buổi chiều nào cũng mang xuống biển ngồi đàn hát với học trò, làm cho làng biển heo hút quê tôi bỗng nhiên sôi động hơn.

 

Giờ dạy học đầu tiên của “Trường cấp 1 Ngư Thủy” ( hồi đó cấp 1 gồm  các lớp 1,2, 3, 4 theo hệ 10 năm của Liên Xô), thầy Hùng phải cầm tay từng học trò như Ngô Tấn Ninh, Ngô Phú Cường, Ngô Minh Tuân, Ngô Văn Chắc, Ngô Thanh Phơ, Nguyễn Ngọc Mạnh (2 anh Phơ, Mạnh bộ đội đã hy sinh ở chiến trường khu 5 trong chống Mỹ).v.v..viết từng nét chữ cái a, bờ, cờ, i tờ, tờ i ti…Lứa học trò được thầy Quảng Bá Hùng “khai sáng” đó là “thế hệ vàng” của làng tôi. Do nhà nghèo, không ai được học lên cấp 3, đại học,  nhưng ai cũng mê đọc sách, làm thơ, bàn luận văn chương sâu sắc, lại biết đàn sáo, và có hoa tay, trang trí đám cưới, cắt khẩu hiệu rất giỏi. Thầy bảo:”Cái chữ là nết người. Nên các em phải học viết chữ cho đẹp, đàng hoàng”. Thầy Hùng viết chữ rất đẹp, lại nắn nót cẩn thận. Vì thế mà thầy chỉ dạy ở Ngư Thủy 7 năm ( 1957- 1963), nét chữ của thầy đã truyền qua bao nhiêu thế hệ học trò làng biển, ai cũng viết chữ đẹp, bay bướm.  Đến các em học sinh hôm nay, vẫn viết giống nét chữ thầy Hùng 50 năm trước.

 

Thầy không chỉ dạy viết chữ đẹp, dạy văn, dạy toán, dạy sử, địa, mà  thầy còn đi biển đánh cá, kéo khuyếc với bà con ngư dân làng. Rồi thầy dẫn học trò đi trồng cây phi lao trên cát để chắn gió, để “có màu xanh mà nương tựa”. Năm 1960, xã tôi có ông Ngô Xuân Mốc được phong anh hùng lao động vì có thành tích trồng cây chắn cát. Thầy Hùng ra nhà anh hùng Mốc, xin cây phi lao giống, rồi thầy đào hố, chặt bổi, nhồi phân phân bò phân lợn bằng tay, học trò thì xách cây phi lao bỏ xuống hố. Dân làng tôi ai cũng tặc lưỡi khen:” Thầy Hùng cao ráo, đẹp trai, mà lao động không sọ bẩn”. Rừng dương thầy Hùng cùng học sinh trường cấp I Ngư Thủy cùng bà con trồng dạo đó, đến thời chống Mỹ đã thành gỗ cho C gái ( Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy anh hùng) làm trận địa, dân quân làng làm công sự chiến đấu, bà con làm hầm trú ẩn suốt chục năm ròng đánh Mỹ.

 

Cám động nhất là chuyện thầy Hùng đưa cây dừa về  trồng ở làng tôi. Hồi đó, một lần thầy Quảng Bá Hùng  đi dự hội nghị chiến sĩ thi đua của Ty giáo dục Quảng Bình ở Đồng Hới. Thấy người ta đang trồng hàng dừa kết nghĩa Bình- Trị- Thiên bên bờ sông Nhật Lệ, thầy liền liên hệ xin được 6 quả dừa giống đưa về làng Thượng Luật. Thầy hì hục khuân cõng dừa giống lên xe, rồi gùi vượt gần chục cây số Động Cao, Động Thấp đưa về làng tôi trồng . Thầy hì hục đào hố, xúc phân trồng dừa ở nhà o tôi 2 cây, ở nhà tôi  2 cây, 2 cây trồng ở trụ sở hợp tác. Từ đó làng tôi nhân giống “dừa thầy Hùng” lên, nhà nào cũng vài ba cây dừa. Hai cây dừa ở nhà tôi do thầy trồng đến giờ vẫn còn. Mạ tôi đã ở dưới bóng hai cây dừa đó 28 năm ròng . Tôi đã làm thơ về “Cây dừa vườn mạ” :

Vườn mạ bây giờ cát xóa

                             Chỉ còn cây dừa như dây neo kiên nhẫn nối biển bờ

                             Như dây diều mong manh thả lên trời

                                         những cánh lá rách bươm và chùm trái ngọt ..

                            … Mạ ơi

                             Vườn mạ tháng năm góc trời trắng xóa

                              Chỉ còn cây dừa như ngọn đuốc xanh….

Sau này tôi hỏi thầy, tại sao thầy xin giống cây gì cho nhẹ mà xin cây dừa giống để mang vác cho nặng ? Thầy bảo, “Làng phải có bóng mát mới thành làng. Hơn nữa thầy trồng dừa là bởi nhớ quê hương Hội An lắm. Mỗi lần ngắm dừa đỡ nhớ quê. Cây dừa cũng là kỷ niệm của thầy đối với làng Thượng Luật….Sau này thầy kể, hồi ấy thầy nhớ Hội An đến mức, có lúc trong đầu gợn lên ý nghĩ : hay mình ăn cắp một chiếc thuyền để chèo về quê, như khi ăn cắp thuyền chèo ra Bắc  năm nào…

 

Hồi làm phóng viên báo Thương Mại ở miền Trung, năm 1995, đi thực tế ở Hội An, tôi  hỏi chị Thu, giám đốc Công ty Du lịch Hội An :” Tôi có ông thầy người Hội An, tên là Quảng Bá Hùng, chị có biết ông ấy không ?”. Chị giám đốc cười :” Ông Quảng Bá Hùng thì dân Hội An ai mà không biết. Ông ấy hàng chục năm làm Phó chủ tịch UBND rồi Chủ tịch mặt trận thị xã, mới về hưu năm 1993…”. Thế là tôi được tạo điều kiện để được gặp thầy giáo của mình 30 năm trước. Gặp tôi thầy hỏi liên tục tên từng người già ở làng bây giờ ra răng, ai còn ai mất. Những Mệ Tuấn, ông Ngự, Mệ Thương, rồi anh Lẫn, anh Minh, anh Khương, anh Ngoãn…Thầy hỏi các cô học trò như Hòe, Mãi, chị Tùy ở xóm Trung. Ôi, sao mà thầy nhớ tên người làng tôi nhiều thế. Thầy nhớ cả tên “tục” của anh Cúc là “Côộc”. Rồi thầy hỏi  lứa học trò đầu  tiên thầy cầm tay tập viết chữ ấy có khỏe không ? Chắc là đi bộ đội cả, có ai bị thương không ? Thầy hỏi tới tấp, như là một đứa con xa làng lâu năm không về!

 

Gặp thầy tôi mới biết thời hai mươi tuổi, thầy hoạt động cách mạng bí mật ở Hội An, bị địch bắt. May nhờ có cơ sở giúp đỡ, trốn tù thoát ra được. Đó là năm 1955, thầy 22 tuổi. Chứ không phải thầy ra Bắc theo diện tập kết. Câu chuyện thầy trốn tù ra Bắc cũng ly kỳ lắm. Thầy và bảy người đồng chí trẻ cùng trốn tù ra,  bí mật chuẩn bị gạo mắm, rồi ăn cắp một chiếc thuyền của ngư dân ở Cửa Đại chèo ra biển khơi để ra Bắc. Chèo ra tận ngoài phao số 0 để tránh bị địch bắt lại. Có lần sóng lớn suýt đánh chìm thuyền, anh em buộc dây vào nhau thành một khối để có chết thì cùng chết. Lênh dênh  mười mấy ngày mới đến của sông Nhật Lệ, rồi tìm cách liên lạc với Ban Thống nhất Trung ương. Thầy ra Bắc một mình, gia đình vẫn ở lại xã Cẩm Thạnh, Hội An. Vì ra Bắc theo đường vượt biển, nên nhiều năm thầy bị tổ chức nghi ngờ. May mà thầy được nhà nước cho đi học Trung cấp sư phạm. Để đánh tan sự nghi kỵ, tốt nghiệp, thầy xung phong vào Quảng Bình dạy. Như vậy, thầy dạy học, làm quản lý giáo dục, công đoàn giáo dục ở  Lệ Thủy, Quảng Bình quê tôi từ năm 1957 đến năm đầu năm 1975, trong đó có 3 năm  đi học Quản lý giáo dục ở Hà Nội. Thầy làm hiệu trưởng ở làng tôi đến 7 năm  mà thầy chỉ chăm chú  dạy học sinh học tập, thể thao, ca hát… chẳng thấy thầy yêu cô gái nào. Năm 35 tuổi, lên dạy học ở xã Hoa Thủy, thầy mới lấy vợ . Vợ thầy là chị Nguyễn Thị Thanh Thúy, cũng là một giáo viên, hát rất hay làm thầy say mê. 3-1975, thầy đi B để tiếp quản và làm công tác quán lý giáo dục ở Quảng Nam-Đà Nẵng sau giải phóng…

 

Thầy Hùng là Người thầy đâu tiên, người thầy Quảng Nam khai sáng giáo dục Ngư Thủy quê tôi. Khi tôi ngồi viết cuốn sách này, thầy Quảng Bá Hùng đã 82 tuổi rồi, vẫn không nguôi với công tác khuyến học thành phố Hội An. Thầy có 4 người con, thì 3 người cũng làm nghề giáo viên như thầy, toàn giáo viên dạy giỏi. Tấm lòng thầy bây giờ thanh thản vì cả một đời chỉ làm việc tốt cho mọi người. Thi thoảng lại có một đứa học trò Lệ Thủy đi Nam về Bắc ghé Hội An thăm thầy ở 460 – đường Cửa Đại, làm thầy như trẻ ra. Thầy vẫn  hứa sẽ có một lần ra thăm quê vợ và về làng biển Thượng Luật thăm bà con và những lứa học trò xưa, thăm “cây dừa vườn mạ”. Khi tôi in xong bộ sách tuyển “Ngô Minh tác phẩm”, tôi gửi tặng thầy Quảng Bá Hùng một bộ. Nhận được sách thầy điện  cho tôi, giọng nghẹn ngào:” Học trò xưa của thầy giỏi lắm. cám ơn em đã nhớ đến thầy!”. Ôi, thầy ơi, thầy Quảng Bá Hùng làng Thượng Luật ai mà chẳng nhớ…Cái thời bao cấp đói kém ấy, thầy là một thần tượng của tuổi Ngư Thủy quê em…

 

 

***

 

Thời bao cấp khổ thế, nhưng trong giáo dục thấy dạy giỏi mà chúng tôi học cũng chăm chỉ, mà giỏi lắm. Năm 1962, tôi học lớp 5 trường làng, cuối năm được họn đi thi học sinh giỏi của tỉnh. Anh Ngô Tấn Ninh lúc đó học lớp 7 từ Vĩnh Linh chuyển ra, cũng được Tường chọn đi thi học sinh giỏi. Địa điểm thi ở Trường cấp 2 xã Tân Thủy, cách làn tôi 8 cây số ở miền nông. Hai anh em phải vượt động cát cao, đi bộ tiếng rưỡi đồng hồ mới tới chỗ thi. Đó là lần đầu tiên tôi ra khỏi làng, tiếp xúc với thiên hạ ngoài làng mình. Mạ tôi gói cho hai anh em một mo cơm không độn, coi như là thưởng. Nhưng hai anh em đến nơi thì trống đã điểm vào lớp, rồi mải mê lám bài, nên nộp bài xong đi về , trèo lên đến động cát cao mới ăn cơm! Năm tôi học lớp 7, cũng được Trường chọn đi thi học sinh giỏi toàn tỉnh, rồi được chọn vào đội tuyển thi học sinh giỏi toàn toàn quốc (tức toàn Miền  Bắc). Vì chiến tranh, nên cả huyện Lệ Thủy chỉ có hai dọc sinh đi thi là tôi và một cô bé ở trường Phong Thủy. Hai đứa được bố trí trong một phòng thi rộng thênh thang. Bài thi toán khó đến mức, các thầy được vào phòng thi tự do, mà không thầy nào bày cho học trò được bài toán nào cả. Tôi nhớ có đề toán như sau: Các công nhân khai thác gỗ của ngành lâm nghiệp có một công thức tính chu vi khối gỗ rất đơn giản, nhanh chóng ( họ cho công thức- tôi quên mất rồi). Em hãy chứng minh công thức ấy là gần đúng”. Tôi làm toát mồ hôi đến bốn tiếng đồng hồ mới xong bài này. Vì thi học sinh gỏi toàn quốc tổ chức tại huyện, nên quy định làm bài bốn tiếng, giám thị cho làm  đến lúc nào xong thì nộp. Thế mà hai đứa không đứa nào trúng giải cả. Nhưng  tôi cứ nhớ hoài, sau khi thi xong, được thầy Vương Công Tân, người Hoa Thủy, dạy toán và giáo viên chủ nhiệm tôi năm lớp bảy, dắt về quán ở chợ Tréo làm một bữa cháo bánh canh cá tràu (cá lóc) nhớ đời!

 

Năm 1965, tôi học xong lớp bảy trường làng, do kết quả điểm giỏi nên được chuyển thẳng lên cấp 3. Từ làng tôi lên Trường Cấp 3 Lệ Thủy sơ tán học ở làng Cổ Liễu, xã Liên Thủy gần hai chục cây số. Xã tôi có bốn đứa đi học cấp 3 là Ngô Văn Vựng , Nguyễn Quang Bạo , thằng Nguyễn Văn Xuân ở Tây Thôn và tôi. Mỗi lần đi học, Xuân phải bới cơm khoai ,mắm đi từ đêm hôm trước, ra làng Thượng ngủ để mai cùng đi. Vất lắm. Nên chỉ mới một học kỳ lớp Tam, Xuân tuyên bố :” Tau không gượng được rồi. Bỏ học mất thôi!” Rứa là nó bỏ học. Nó bỏ học cũng đúng thôi. Nó chỉ một mẹ một con. Nó điu học, mẹ nó già mần răng mà làm đủ khaoi gạo cá cho nó bới đi học! Thế là còn ba đứa đeo đẵng cho đến tốt nghiệp cấp ba năm 1968!

 

Đi học cấp 3 trên huyện, sáng sớm thứ hai phải đi từ hai ba giờ sáng. Chiều thứ bảy cứ nhấp nhổm về. Mắt thứ hai tai thứ bảy. Ở làng đi học quanh năm chân đất, không có dép. Mạ tôi bảo:” lên miền nông phải có dép, đất thịt mưa trơn trượt, bổ (ngã) chết. Hơn nữa đi chân đất họ cười cho”. Thời bao cấp ở làng tôi cửa hàng Hợp tác xã mua bán không bán dép. Đàn ông bàn bà gì cũng tự đục đẽo làm đôi dép bằng gỗ lấy từ sạp thuyền cũ, quai bằng dây chuối  xe lại để đi trên cát, vừa chống lún vừa chống nóng.  Anh Ninh đi kiếm hai miếng cao su là lốp xe ô tô cũ gì đó do bão sóng đánh vào bờ, cắt thành đôi dép cho tôi đi học. Quai dép thì đục lỗ xỏ bằng dây lưới. Thế mà đôi dép tự tạo ấy tôi đã mang suốt ba năm học cấp ba. Đến khi ra Hà Nội học đại học mới mua dép mới. Tôi nhớ mình ném đôi dép “quê” với cái nón cời ở thùng rác bên bờ hồ Hoàn Kiếm. Rồi  mấy đứa cùng làng đi đại học chụp ảnh kỷ niệm: tôi, Nguyễn Quang Bạo và mấy đứa khóa sau là Ngô Văn Sắng, Ngô Văn Khởi, Ngô Văn Cầm…Đó là lứa học sinh đậu đại học đầu tiên của làng tôi! Tôi vẫn giữ tấm ảnh ấy trong album ảnh kỷ niệm của mình.

 

Lên huyện học, một tuần mạ bới cho tôi 12 lon gạo và một ruột tượng khoai khô. 12 lon gạo tuần, tức tháng tôi bới 12 ký gạo đi học, chưa kể về ăn ở nhà ngày chủ nhật. Trong lúc đó tiêu chuẩn của tôi chỉ 9 ký. Thức ăn thì một lọ ruốc chưng, một bì cá khô, chai nước mắm. Tất cả áo quần sách vở gạo, khoai, mắm ruốc được gánh bằng một que gỗ dương khô to bằng cánh tay người lớn, dài khoảng mét rưỡi. Que dương này đến nơi chặt thành sáu khúc chẻ ra để làm củi đun trong sáu ngày. Mang vác chừng ấy gạo củi , áo quần sách vở đi bộ hai chục cây số mới đến trường. Nhiều bữa mưa lụt, nước lũ dâng ngập cả cánh đồng Lệ Thủy, mấy đứa phải bọc tất cả vào tấm ni-long rồi bơi ba bốn cây số từ Quốc lộ 1A đến nơi trọ. Có lần ba đứa tôi, Nguyễn Quang Bạo, Ngô Văn Vựng đi ngang cái cống giữa đồng, thì lũ lụt đã làm trôi mất tấm ván dùng để bắc đi lại qua cống. Đằng sau lưng chúng tôi có mấy em gái đi học xã Tân Thủy, Dương Thủy cũng sắp đến cống. Chúng tôi vội vàng bắc mấy que dương làm củi  sang cống, rồi rút que dương lại, làm đòn gánh như không có gì xả ra, lại đi tiếp. Các bạn Dương Thủy đi sau kêu ơi ới :” Cho chúng em qua với ơi các anh đeo hụ…ơi!”. Ý ( nói lái) các cô muốn nói xấu chúng tôi đi học mang cả hũ mắm theo. Tức lắm. Nhưng  cũng phải quay lại bắc cầu cho các bạn qua cống, vì sợ trễ giờ học của các bạn.

 

Một tháng mười hai ký gạo hấp thêm khoai nữa mà ăn bữa nào cũng thấy đói meo, giờ học cuối bụng cứ sôi sùng sục. Có lẽ do ăn ít đạm quá. Bữa ăn nào cũng cơm với ít mắm. Giữa buổi học bụng đã tóp lại, sôi réo. Đang tuổi lớn mà. Chúng tôi ở trọ trong nhà cụ Huấn, làm nghề đánh bắt cá trên sông, ở thôn Cổ Liễu. Hàng ngày tôi mượn niêu nhỏ của bà cụ già để nấu cơm. Cơm cụ thì trắng, thơm, bữa nào cũng còn dính trong niêu vài ba thìa. Tôi không rửa niêu mà đổ gạo vào nấu luôn để mong cho  bát cơm của mình đầy thêm.

 

Tôi nhớ cụ Huấn ở làng Cổ Liễu, xã Liên Thủy vì cụ là con người quắc thước, rất ngay thẳng và có nhiều câu nói rất hình ảnh. Có lần cụ vác sào và lưới từ dưới bến thuyền lên, trông thấy chúng tôi nấu ăn chụm củi nhiều, lửa to quá, cụ hét :” Răng lửa đỏ vang trời rứa bay !”. Có lần lụt về, cụ đi buộc đò dưới bến lên. Tôi hỏi lụt ra răng. Cụ khoát tay:” Chà, nước chảy xoắn tóc !”. Những hình tượng mà cụ Huân nói đó cứ ám ảnh tôi hoài và ảnh hưởng đến văn chương tôi sau này về cách dùng từ.

 

Buổi sáng chẳng ăn gì vì không đứa nào chịu thức dậy nấu cơm. Có lần nhà trường phân phối cho học sinh mỗi đứa hai lạng rưỡi đường kính. Chúng tôi bàn nhau nấu chè ăn một bữa cho đã. Thằng Vựng thèm đường quá bảo:” Thôi đưa ra pha nước uống đi rồi mai nấu cháo trắng ăn, vào trong bụng nó trộn nhau sẽ thành chè giống như người tù trong tiểu thuyết Vượt Côn Đảo nấu cơm sống để ăn vậy“. Có lý. Thế là ba thằng pha nước đường uống bằng hết. Có đêm thức đốt đèn dầu hỏa học đến khuya, đói quá phải uống nước lã thật no mới ngủ được.  Đói nên cứ mong  đến chiều thứ bảy để về với mạ.

 

Năm 1965, Mỹ bắt đầu cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc. Trục đường Quốc lô 1A dọc các xã Hồng Thủy, Thanh Thủ, Cam Thủy, Hưng Thủy của huyện Lệ THủy là nơi máy bay đánh phá ác liệt nhất. Tất cả các cây cầu chỉ mấy năm đều bị đánh sập. Máy bay mén bom cả ngày và đêm. Có lần  bọn chúng tôi đi học bị bom chặn, phái nấp trong bờ cát chui nhủi. Heetsd bom laijd di. Nguy hiểm lắm. Mạ tôi bảo:” Máy bay như ri, e nghỉ học  vài năm đã con…”. Nhưng tôi vẫn đi học trên con đường ấy mỗi tuần…

 

Tôi học hết năm lớp 9, niên khóa 1967- 1968, thì cả trường cấp ba Lệ Thuỷ được lệnh sơ tán ra huyện Tuyên Hoá để tránh máy bay Mỹ. Học trò được cấp tiền ăn và sổ gạo y như công nhân viên chức. Từ Lệ Thủy đến Tuyên Hoá gần 150 cây số, gần ngàn học sinh và các thầy phải  hành quân đi bộ vượt rừng, vượt suối, leo đèo, cũng đào bếp Hoàng Cầm y như bộ đội vượt Trường Sơn.  Chúng tôi đi theo đường núi có giao liên dẫn mất cả tuần mới đến Đồng Lê, thị trấn huyện Tuyên Hoá. Từ đây lên Ngư Hoá phải vượt qua đèo Mồng Gà. Một con đèo cao tới 1500 thước, mây phủ trắng đỉnh. Đứng trên đỉnh đèo  nhìn ra xa chỉ thấy mây trùng điệp như biển sóng. Lớp tôi leo đèo gần nửa ngày mới đến đỉnh. Chân rộp phòng, đau ê ẩm. Thế mà đứa nào cũng xúc cảm, làm thơ. Lúc đó tôi thấy mây ở dưới chân mình bồng bềnh như sóng biển, bỗng nhớ quê, nhớ mạ. Tôi nhớ  bài thơ lục bát tôi làm hôm đó có câu kết:

 

Nhớ quê con mượn vần thơ

                             Nhìn mây con dứng thẫn thờ- Biển ơi!

 Tôi học năm lớp 10 ( cuối cấp 3) ở Ngư Hoá bên sông Rào Trổ. Cả lớp con trai thì ở lán chung, còn con gái thì ở nhà dân. Không hiểu sao trẻ con ở đây lại gọi mẹ là chị, bố là anh. Tiêu chuẩn mỗi tháng 13 ký gạo, chỉ ăn hai chục ngày là hết vèo. Dường như thời bao cấp người ta lúc nào cũng nghĩ về cái ăn. Thế mà tuổi mười chín đôi mươi, chúng tôi vẫn biết để dành gạo, đi mò cua bắt cá ngoài Rào Trổ về nấu cháo cho những đứa ốm, còn mình thì đi hái rau tàu bay, đi lên rẫy mót sắn ăn thêm. Ngày chủ nhật, bọn con trai cả lớp rủ nhau đi bộ  hai chục cây số ra tận  Kỳ Lạc, Kỳ Sơn ( Kỳ Anh, Hà Tĩnh) để đi mua sắn. Vì đây gần đường 12A, đường 20, những trọng điểm đánh phasd của không quân Mỹ nên ngồi trong lớp học nhà hầm máy bay lúc nào cũng rầm rú trên đầu át cả tiếng giảng bài của thầy. Chúng bỏ bom đường 20 đèo Mụ Dạ dội về nghe gần lắm. Lán cũng  nhà hầm. Làm nhà hầm chúng tôi đào sâu xuống đất khoảng mét rưỡi, trên lợp lá cọ rừng. Tường nhà lại đào sâu vào thành những cái hàm ếch, đề phòng khi máy bay Mỹ thả bom.

 

Tiêu chuẩn gạo ít nên chúng tôi phải đi đi lấy măng rừng, hái rau tàu bay, rau dớn trên rẫy, dưới khe để cải thiện thêm. Đói mà vui. Nhiều kỷ niệm lắm. Mùa hạ nắng nóng, bọn con gái đều bị stress. Đứa nào cũng huơ tay múa chân, cười ha hả như bị điên vậy. Có đứa thấy thầy giáo đến thăm liền cười sằng sặc, giơ tay chỉ vào thầy:” Ha ha…Ta biết rồi. Ta biết rồi. Thầy đến để yêu ra. Ha ha ha” . Nóng quá, con Tuyên cởi phăng quần áo lao xuống sông Rào Trổ. May thằng Thanh Hà phát hiện ra, đuổi theo bồng lên, không thì chết đuối rồi. Sau vụ đó, bọn con trai phải phân công nhau túc trực cả chục ngày đêm liền, nếu không các em sẽ chạy xuống Rào Trổ trầm mình. Thương chúng nó quá. Thầy giáo dạy thể dục tên là Hải ( thầy đã mất), anh của bạn Nguyễn Thị Liên cùng lớp với tôi có súng hơi. Sáng nào thầy cũng đi săn gà rừng thật sớm. Thầy săn gà rùng rất thiện nghệ. Sáng nào cũng xách về ba bốn con. Tôi học cùng tổ với Liên và Hoa nên thường xuyện được ăn thịt gà rừng. Có bữa đi săn gà rừng về, thầy Hải gọi mấy đứa con trai lớp xách vô mấy con cho mấy đứa ốm nấu cháo bồi dưỡng. Đêm đó, trăng vùng núi mờ ảo, thằng Lê Quang Cảnh (người xã Sen Thuỷ, nơi có Bàu Sen cháo cá nổi tiếng trên đường thiên lý Bắc –Nam bây giờ) thức dậy đi tiểu giữa đêm, thấy con mang đang ăn cỏ triền đồi gần lán, nó vào lấy súng thể thao của lớp, bò trườn mai phục,  bắn được con mang . Thế  là cả lớp xẻ thịt chia về từng bếp ăn, liên hoan cả ngày vui như Tết. Học sinh thời bao cấp mà có miếng thịt trong bữa ăn là hiếm lắm!

 

Hồi đó ở miền Bắc, quan niệm về lý lịch nặng nề lắm. Ai có bố mẹ hoặc anh chị em đi vô Nam, hoặc làm lính cho Pháp, đi làm cho chính quyền thời Pháp…cũng liệt vào hạng “lý lịch xấu” không thể đi học, đi làm công chức nhà nước , ngay cả đi bộ đội. Tôi thuộc loại học sinh lý lịch rất xấu, vì là con địa chủ bị xứ bắn, nhưng được đi học đại học là nhờ thấy Ngô Mạnh Quát. Thầy Quát người Thừa Thiên tập kết, là bí thư chi bộ Trường Cấp 3 Lệ Thuỷ, dạy chính trị. Thầy biết lý lịch tôi như vậy là không đi thể đại học được. Nên đầu mùa tuyển sinh năm 1968,  thầy thay mặt Hội đồng tuyển sinh Trường đã cuốc bộ đi về hơn ba trăm rưỡi cây số từ chỗ Trường sơ tán ở Ngư Hoá, Tuyên Hoá về đến làng Thượng Luật, xã Ngư Thuỷ, góc biển  nam Quảng Bình quê tôi để thuyết phục Uỷ ban xã “ Cho em Ngô Minh Khôi đi đại học, vì nó là học sinh giỏi xuất xắc nhất trường cả văn và toán”. Để học trò được đi đại học trong nước, thầy phải nói với xã ký hồ sơ là “đồng ý cho đi học nước ngoài”! Sau này tôi nghe kể lại, lúc đó vì nể thầy Quát quá, ông Toàn, chủ tịch xã đã ký hồ sơ cho tôi đi đại học nước ngoài. Nhưng thầy rời xã là Ủy ban xã gửi công văn lên Ban tuyển sinh tỉnh “cho em Ngô Minh Khôi đi đại học trong nước”. Chỉ có thời bao cấp mới có người thầy yêu quý học trò, vì tương lai của sự nghiệp giáo dục một cách vô tư  như rứa. Chứ thầy giáo ”thời mở cửa” bây giờ chắc chắn không ai làm cái việc “không công” cho học sinh ấy. Phải có tiền, thậm chí nhiều tiền  thấy mới làm. Tôi ghi nhớ công ơn thầy suốt đời. Thầy Quát hơn 87 tuổi mới mất năm 2013. Nhà thầy ở bên Hồ Tĩnh Tâm, Huế. Mỗi dịp Ngày nhà giáo Việt nam 20-11 hàng năm, cựu học sinh cấp ba Lệ Thủy ở Huế  vẫn tổ chức tặng quà cho các thầy dạy mình đang ở Huế. Học hành thời bao cấp cực nhọc, gian nguy thế mà cái lớp 10 của tôi năm ấy  có tới bốn đứa sau này là nhà văn Việt Nam .Đó là Lâm Thị Mỹ Dạ, Hải Kỳ ( mất năm 2011), Đỗ Hoàng và tôi. còn hội viên Hội văn học nghệ thuật văn Quảng Bình còn có Lê Đình ty ( mất năm 2013 vì tai nam giao thông), Phạm Hữu Xướng, Trần Khởi…

 

 

                                                ***

 

Thấy tôi nhận được giấy báo đi đại học Thương Mại mạ tôi mừng lắm. Mạ vừa cười vừa khóc. Bà con họ hàng tôi cũng mừng, trưa chiều đều có người ghé nhà chơi, chúc mừng. Có lẽ họ nghĩ tôi đi đại học, tức cái dớp “con địa chủ” được xóa. Không mừng sao được khi đời mạ cực khổ, oan khuất, lại có con trai là một trong những người đi đại học đầu tiên của làng, của xã. Mừng nữa là con lại đi đại học thương mại, học ngành buôn bán ấy ra dễ kiếm tiền, làm giàu. Nhưng sau này mới hay, tôi học thương mại mà không biết gì về buôn bán, rồi đêm ngày lao theo chuyện thơ văn, báo chí, không mang về cho mạ được đồng nào….

 

Nhớ lại năm 1975, là một cử nhân tốt nghiệp Trường Đại học Thương nghiệp Hà Nội hẳn hoi, mà sáng 30-4, trên đường tiến vào Sài Gòn, tôi mới lần đầu tiên biết thế nào là quảng cáo! Dọc đường từ Xuân Lộc vào Biên Hòa, trên sa lộ Sài Gòn có trưng rất nhiều tấm biển  to tướng với đủ màu sắc lòe lọet. Lớn nhất và gây ấn tượng là tấm biển vẽ một gương mặt người da đen đang cười, khoe hàm răng trắng tinh, đều răm rắp với chữ Hynos to tổ bố.Tấm biển rộng hàng chục mét vuông, được dựng bằng khung sắt bê tông cao lớn giữa cánh đồng, đi xa hàng chục cây số vẫn thấy ! Tôi hỏi một chị du kích tên là Dịu dẫn đường ở Biên Hòa là họ vẽ cái gì thế. Chị nhìn tôi như thể người từ mặt trăng rơi xuống, rồi cười toáng lên:” Đó là quảng cáo hàng hóa. Họ quảng cáo loại thuốc đánh răng tên là Hynos ! Cả miền Nam này dùng loại thuốc đánh răng này đấy, chú ạ!” .

 

Để cho tôi đi đại học an toàn, mạ tôi thức đêm, lụi cụi xâu kim, may hai cái quần đùi mới, ở phía trong quần khâu hai cái túi nhỏ để đựng tiền. Mạ bảo:” Ra phố lớn kẻ cắp như rươi, không như làng mình mô!”. Mạ nhét ngàn đồng tiền Cụ Hồ vào trong cái túi nhỏ rồi khâu vào bên trong quần đùi cho tôi mặc. Ngàn đồng lúc ấy đủ mua một căn nhà rường lớn. Mạ dặn khi tắm thì lấy tiền ra, nhét vào cái quần có túi nhỏ ở trong. Lúc đó tôi không lo nghĩ về chuyện tiền mất gì cả. Có lẽ vì đang tuổi học trò, chưa biết kiếm được đồng tiền vất vả như thế nào, nên cứ vô tư quên hẳn chuyện có món tiền lớn mẹ bới cho. Đến khi ra tới trường Đại học mới nhớ.

 

Đoàn học sinh cấp ba Lệ Thủy được gọi vào Đại học Thương Mại Hà Nội có tôi, Nguyễn Văn Bạo và Nguyễn Thị Hoa, Nguyễn Thị Diệt, người Liên Thủy. Để ra Hà Nội học đại học, chúng tôi phải đi bộ 11 ngày mới ra đến Nam Đàn, Nghệ An. Thời bao cấp ở miền Bắc, người ta cấm tiệt các quán bán hàng dọc đường. Nên chúng tôi đi dọc đường suốt ngày không gặp quán bán quà bánh , nước nôi gì. Đói, khát cũng phải gắng đến làng mới xin được nước uống. Tư nhân buôn bán bị xếp vào loại tư lợi xấu xa, gọi là “bọn tiểu thương”. Đi cả ngày đường đói bụng, khát khô cổ, mãi đến tối mịt mới ghé nhà dân mượn nồi nấu cơm. Có lần đã tối, chúng tôi ghé vào một gia đình ở Nam Đàn, không nhớ xã gì. Cả  bốn đứa vô ý đặt ba lô ngồi ở ngay thềm nhà gian giữa. Thế là mượn nồi nấu cơm họ không cho. Mãi đến khi một cô gái trong nhà ( chắc là con dâu) đi ra nói với chúng tôi:” Gian giữa là gian thờ. Phụ nữ, con gái không ngồi ở đây được!”. Thế là Diệt và Hoa phải mang ba lô xuống chái bếp. Lúc đó mới mượn được nồi nấu cơm. Hiểu thêm một nét tập tục!

 

Mấy đứa mang ba lô cứ đi lang thang. Hỏi có xe ra Hà Nội không, người ta bảo phải lên Đô Lương mới có. Sáng mai lại đeo ba lô hành quân. Lên Đô Lương chờ một ngày không có xe, ăn tô phở “không người lái” nhạt phèo, chẳng mùi vị gì. Nguyễn Văn Bạo tức quá, đổ tất cả các chai tương ớt trên các bàn ra đất cho hả giận. Cả bốn đứa lại ôm bụng đói đi bộ về  ngã ba Yên Lý. Đang đi trong đêm bỗng có chiếc xe ca ghé sát bên, tay lơ xe quát :” Đi Hà nội không?”. Mừng quá. Một chuyến đi sóng gió. Bây giờ Hà Nội- Vinh xe chạy chỉ bốn tiếng đồng hồ. Mà hồi đó chúng tôi phải đi tới hai ngày. Khi đi mạ tôi mua cho con một chiếc nón lá Quy Hậu mới cứng, thế mà khi ra đến hồ Hoàn Kiếm, chiếc nón  toe tua thành  nón cời !

Advertisements

Categories

%d bloggers like this: