Đăng bởi: Ngô Minh | 06.03.2017

BẮT CỞI TRẦN PHẢI CỞI TRẦN

ĐỌC SÁCH ” SỐNG THỜI BAO CẤP” CỦA NGÔ MINH

BẮT CỞI TRẦN PHẢI CỞI TRẦN

 Ngô Minh

                      

         20161220_0647411

Thủ đô Hà Nội lúc nào cũng là hình ảnh đặc trưng của cả nước. Cái gì cả nước có thì Hà Nội đều có. Có nhiều cái Thủ Đô có mà cả nước không có.  Dân Hà Nội chính là những người xoay xở giỏi nhất trong thời bao cấp. Dường như cái gì họ cũng không chịu thua số phận. Bát cơm, manh áo giờ đã không còn là mối bận tâm của người Hà Thành nổi tiếng hào hoa phong nhã nữa. Cái thời mà người ta chỉ dám mơ những giấc mơ nhỏ bé: bưng bát cơm trắng dẻo, cắn miếng giò ngập răng …dường như là câu chuyện của cổ tích từ một thời xa lắm.. Nhưng chưa xa đâu. Với tôi nó mới hôm qua đây thôi. Thời bao cấp tôi sống bốn năm sinh viên ở Hà Nội, là công dân Hà Nội. Tôi quen nhiều gia đình bạn bè ở Thủ Đô nên có nhiều ký ức thời bao cấp ở Hà Nội lắm.

Gia đình thằng Thuân, bạn sinh viên Đại học Thương Nghiệp của tôi ở phố Khâm Thiên có bốn người, hai ông bà và  hai người con lớn tồng ngồng mà chỉ ở trong một căn phòng 9 mét vuông mấy chục năm ròng. Phải làm thêm cái gác xép bằng gỗ mới đủ chỗ ngủ. Học bài ở nhà thì ngồi ngay trên giường. Thế mà anh em nhà Thuận ai cũng  tốt nghiệp đại học, người anh lớn là tiến sĩ bảo vệ ở nước ngoài. Ông bố thằng Thuận bảo, muốn có nhà rộng hơn phải lên chức. Cứ lên một chức thì sẽ được đổi nhà, được phân nhà mới rộng hơn. Bây giờ, sang thế kỷ XXI đã 15 năm rồi, chế độ lên chức thay nhà này ở Hà Nội vẫn còn. Từ  Nghệ sĩ ưu tú được phong lên Nghệ sĩ nhân dân như nhà thơ Lê Huy Quang lập tức được đổi nhà rộng hơn. Anh Quang kể với tôi như vậy. Ở Hà Nội thời bao cấp có ba khu chung cư đầu tiên là  khu Nguyễn Công Trứ và khu Kim Liên. Sau đó có thêm tiểu khu Trung Tự được xây dựng khoảng những năm 1970. Ở khu Trung Tự cán bộ trung cấp sổ C mới được phân một căn hộ có 2 phòng với diện tích 4 – 5 m2/người, gồm 2 loại: 24m2 và 28 m2 (cả khu phụ bếp, nhà xí, nhà tắm) gọi là căn hộ “khép kín”. Thằng Thuận dắt tôi đến  thăm nhà bạn hắn ở khu Trung Tự. Gia đình cả hai ông bà sổ C, có 7 nhân khẩu (bà ngoại, vợ chồng và 4 người con đang là sinh viên). Năm 1975, được Nhà nước cấp cho căn hộ chung cư 28m2 . Đến năm 1982, hai người con của ông bà lập gia đình, có con cùng ở chung trong căn hộ đó. Thế là căn hộ chỉ 28 m2 mà bốn thế hệ cộng sinh (gọi là Tứ đại đồng đường). Tiếng  trẻ con cười khóc i oe suốt ngày. Phục nhất là chật thế mà họ còn chăn nuôi lợn, gà, chim cút… trong khu công trình phụ. Mùi phân lợn thối um nhà. Mình ngồi tí chút đã không chịu nổi, rứa mà họ vẫn chịu dựng được năm nay qua năm khác..Diện tích đó chỉ bằng  một phần ba hay một phần tư  diện tích các căn hộ chung cư như Linh Đàm hiện nay. Còn “binh nhì” như ông bố Thuận thì chỉ thế này thôi. Ở chật như thế nên đêm khuya ai nhúc nhích trở mình đều nghe tiếng cả. Có lẽ vì thế mà dù hồi đó chưa có chuyện “sinh đẻ có kế hoạch”, đa phần các gia đình Hà Nội chỉ một đến 2 người con.

Vòi nước chung cả tổ dân phố ở đầu xóm, cả ngày đêm lúc nào cũng có người đứng xếp hàng chờ lấy nước. Nước thì chảy ri rỉ như trêu ngươi. Hứng được một xô hai chục lít là mất cả tiếng đồng hồ. Tôi không hiểu phòng chật như thế, nước hiếm như thế thằng Thuận và cả nhà nó tắm ở đâu và tắm lúc nào, mà thấy người nào cũng sạch sẽ, thơm tho thế. Nhà văn Phùng Quán, cô giáo Vũ Bội Trâm thành vợ chồng rồi nhưng không có nhà để ở chung. Chị Vũ Thị Bội Trâm ở nhà bố mẹ ở số 3- Hàng Cân. Từ năm 1962- 1981, chị sinh nở và nuôi hai đứa con tại nhà bố mẹ. Anh thì phải đi lao động cải tạo khắp các nông trường, công trường ở Thái Bình, Thanh Hóa, Việt Trì.v.v.., khi về Hà Nội thì ở nhà bà mẹ nuôi Tưởng Dơi bên Nghi Tàm. Điều lạ lùng là bà mẹ Tưởng Giơi chỉ biết  đứa con nuôi Phùng Quán là người Huế, không có ai bà con ở Hà Nội, nghèo đói, nên bà thương như con đẻ. Chứ bà không hề biết đó là nhà văn Phùng Quán, một “tội đồ” trong nhóm “Nhân văn Giai phẩm”. Nhà văn hàng ngày giúp bà mẹ nuôi gánh hàng lên đê Yên Phụ để bà ngồi bán, rồi về nhà viết văn, chẻ củi, thổi cơm. Đêm thì đi câu cá trộm ở Hồ Tây. Tiền bán cá, tiền “văn chui” phần lớn Phùng Quán dành đưa cho vợ nuôi con, còn mình thì ăn cơm bụi và uống rượu nợ với bạn bè. Năm 1981, chị Vũ Bội Trâm mới được Sở giáo dục Hà Nội và Trường Chu Văn An phân cho một góc xép , nguyên là cái xưởng trường phía Hồ Tây làm nhà ở cho gia đình. Nghĩa là sau 20 năm lấy vợ, nhà văn Phùng Quán mới có một căn “xép” để vợ chồng ở chung. Cái góc xép ấy là chỗ gá tạm đằng sau bức tường của trường. Cỡ 35 mét vuông, nhưng có không gian, có đường đi lối lại, có đất trồng rau, nên cũng đàng hoàng hơn các hộ số C ở chung cư. Sau này anh Phùng Quán tự đục đẽo làm thêm cái gác quay ra Hồ Tây, anh gọi là “chòi ngắm sóng” khỏang 6 mét vuông nữa. Năm nào tôi cũng từ Huế ra tá túc, uống rượu, đọc sách, ngủ trên cái chòi đó cả tuần.

 

Ở chỗ anh Phùng Quán, cả khu mấy chục gia đình chỉ có một vòi nước. Anh tự bắt một đường nhánh ống nước riêng vào cổng. Vòi nước mở suốt ngày đêm vẫn không bao giờ đầy cái thùng tô nô nhỏ. Được cái là không phải xếp hàng. Dân Hà Nội thời đó có thói quen cứ đến ngày chủ nhật, con cái đi học, đi làm tập trung về đầy đủ, các gia đình Hà Nội bao giờ cũng tổ chức bữa “ăn tươi”. Ăn tươi gia đình thời đó có khi thua bữa ăn thường bây giờ. Chỉ có thêm đĩa thịt xào với hành tây, mà hành tây nhiều hơn thịt; đĩa đậu phụ rán chấm mắm tôm, rau sống, mấy cái  bánh đa và can bia hơi. Nhưng đó là bữa ăn rất quan trọng đối với  mỗi gia đình Hà Nội, để tụ họp, cố kết con cháu. Muốn có bữa ăn tươi phải lo dự trữ tem phiếu mua thịt, cá, đậu phụ, rau từ đầu tuần. Một bữa ăn tươi có khi mất nửa tháng thực phẩm tem phiếu. Có tem phiếu rồi phải phân công nhau thức dậy thật sớm đạp xe đi xếp hàng mua thực phẩm, mua dầu đun bếp. Hồi đó nhà nào có bếp dầu là thuộc loại sang trọng lắm. Đa số nhà đun củi. Ở phố mà đun củi bồ hóng ám lên trần nhà loang lổ như tranh siêu thực.

Ở Hà Nội những năm sáu mươi, tám mươi thế kỷ trước, hình tượng nổi bật nhất là xếp hàng. Mua bất cứ gì cũng phải xếp hàng. Bây giờ cứ hình dung đến cảnh xếp hàng nhiều bà nội trợ còn nổi da gà. Xếp hàng căng thẳng nhất là mua gạo và thực phẩm. Đứng mỏi rời chân có khi cả buổi, cả ngày mới đến phiên mình. Có khi đến phiên mình thì cô mậu dịch viên hét lên:” Hết thịt!”. Thế là tiu nghỉu ra về.  Rồi chen lấn, xô đẩy, rồi cãi vã nhau khi một người đến sau tự nhiên chen ngang. Lâu ngày lối chen ngang ấy bị phản đối dữ quá cũng đỡ dần. Xếp hàng buổi đầu khó chịu lắm, trở bên nào cũng chạm người, đôi chân mỏi nhừ mà chưa đến lượt. Ớn nhất là mùi mồ hôi. Phải đứng bên cạnh người mồ hôi nách thì ôi thôi rồi… Nhưng xếp hàng ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác lâu ngày thành quen. Cho đến đầu năm 2015 này, có nhiều quán phở như phở Thìn, phở Bát Đàn người ăn cũng xếp hàng dài vòng vèo cả dãy phố rất kiên nhẫn và nghiêm chỉnh. Xếp hàng đã trở thành một nếp sống, một nét văn hóa đẹp, văn minh của thủ đô . Tôi đã từng cùng thằng Thuận đi xếp hàng mua thịt, mua dầu, mau gạo, mua vé tàu hỏa, xếp hàng lấy nước.v.v…nhiều lần. Người thì xếp cục gạch có ghi số nhà hay tên người, có người đưa con nhỏ đứng xếp thay mẹ, cũng được mọi người tôn trọng như người lớn đứng xếp. Vì mẹ bận xếp hàng mua thứ khác ở cửa hàng khác, nên đến phiên đứa bé lại phải lùi cho người sau lên. Đến khi mẹ nhớ ra con thì trời đã tối mịt. Con trẻ khóc hết nước mắt, lại  không có mẹ nên không mua được hàng. Thế là công toi. Từ đó xuất hiện nghề xếp hàng thuê…Những người không có nghề nghiệp gì, để kiếm sống họ xếp hàng thuê cho nhiều gia đình một lúc, rồi ăn thù lao một lần xếp năm hào một đồng Thế là xếp hàng cũng thành một nghề, mỗi ngày cũng kiếm được vài chục đồng. Tính ra lương tháng hơn cán bộ nhà nước.Thôi thì đủ kiểu.

Với đa phần người nội trợ Hà Nội không bao giờ quên những trải nghiệm nhọc nhằn thời bao cấp. Một bà tên Cúc, 65 tuổi ở Cầu Giấy, kể với tôi khi tôi được anh Phùng Quán chở xe đạp về thăm nhà nhà thơ Trúc Cương. Bà bảo, hồi cưới, chồng bà lúc đó là cán bộ trẻ, gia đình nghèo, nên ông tự tay vót hàng trăm que tre, tự tay bện thành chiếc chiếu cưới. Chạy vạy mãi, ông mới ra cửa hàng mậu dịch mua được mấy lạng thịt. Ngày cưới, bạn bè đến chúc mừng, cỗ bàn chủ yếu là nước chè, ít bánh kẹo. Quà cưới hồi đó đâu có phong bì mừng. Toàn chậu nhôm, chậu men, bát đĩa, phích nước, nồi niêu xoong chảo, ấm chén…Cưới nhau xong, chồng công tác xa, một mình vợ với đàn con nheo nhóc ở nhà. Nhìn thấy một cái xe chở rau muống qua đầu ngõ thì chạy xô đến xếp hàng vòng trong vòng ngoài, chìa ra cái sổ loại E mua được 2 cân thì sung sướng. “Nhà nào lúc đó có đồng hồ con gà, có quạt con cóc đã được coi là trung lưu. Có xe đạp, có đài được coi như đại gia bây giờ. Niềm vui thời ấy giản dị lắm, sờ cái lốp xe không xuống hơi, hôm nào may mắn mua được ít thịt tươi… thế là vui như tết”.. Mỗi lần đến kỳ đong gạo mới vui làm sao: Nhà nhà xếp hàng, người người chen chúc. Có gia đình dậy từ 3, 4 giờ sáng cử người ra xếp, thậm chí xếp bằng cả những cục gạch.Có khi xếp được sổ rồi, nhìn thấy một chồng cao ngất ngưởng, cứ thấp thỏm lo mất sổ. Nếu chẳng may bị mất sổ gạo, tháng đó phải chạy ngược chạy xuôi để lo tạm cấp, trước khi làm được sổ mới… Chính vì thế, với tất cả những gia đình hồi đó, sổ gạo còn quý hơn vàng “. Từ đó mới có thành ngữ :” Cái mặt như mất sổ gạo”. Nghĩa là cái mắt thất thần, tái xám như đang có chuyện gì nghiêm trọng lắm !

 

*     *

*

Tem phiếu thì nhiều loại lắm, không ai nhớ hết. Đó là một ma trận. Chúng tôi học đại học thương mại mà không được học tí gì về các loại tem phiếu. Nên ù ù cạc cạc lắm.  Ừ mà lạ thật. Cái trường Đại học dạy mua bán, trong lúc ngoài đời mua bằng tem phiếu mà chẳng dạy sinh viên lấy một giờ. Chúng tôi suốt ngày học chính trị : Kinh tế chính trị, triết học Mác-lê nin, chủ nghĩa xã hộ khoa học, lích sử Đảng, kinh  tế thương mại xã hội chủ nghĩa .v.v.. và v.v..Chứ chẳng học về mẹo mực kinh  doanh, ma-ket-tinh gì cả, quảng cáo, dự toán… gì cả.

Tem phiếu nhiều thứ quá nên có lần nhà văn  Phùng Quán đùa với chị Bội Trâm:” Em phải ăn cho khỏe để sống lâu, chứ em mà chết trước thì anh không biết thứ tem phiếu nào là mua cái gì. Rồi bố con chết đói mất thôi!”. Thế mà anh đi trước chị Trâm thật. Bố thằng Thuận đưa cho tôi xem một tập dày tem phiếu, sổ mua hàng gia đình được bọc kỹ trong cái bao da, cất ở két sắt, vì tem phiếu là là tiền, là sự sống của cả gia đình. Nhiều thứ không đếm hết. Ông bảo:” Bà nó mà đi vắng nhà một vài tháng là gay go, vì không biết thứ tem phiếu nào thì mua ở cửa hàng nào!” Nhưng tem phiếu là tiền, nên phải cất kỹ trong tủ có khóa. Tôi xin kể lòng thòng đôi chút về “ma trận” tem phiếu để bạn đọc trẻ hôm nay hình dung thời bao cấp ấy nhà nước lo ăn lo mặc lo ở đến tận mỗi người dân phức tạp như thế nào. Phải nói những chuyện gia ngồi ở văn phòng Bộ nội thương, nghĩ ra đủ loại tem phiếu, bìa, sổ mua hàng, phân chia chi ly từng hạng bậc thời đó thật thông thái. Chế độ cung cấp bằng tem phiếu ấy mới đảm bảo công bằng xã hội, mới huy động được lương thực thực phẩm để phục vụ bộ đội ở chiến trường. Người đông của ít, nếu không phân chia như thế xã hội sẽ loạn lạc ngay.

Về thực phẩm có phiếu thịt, phiếu đường, tem mì chính, tem bìa đậu phụ, bìa mua cá, rồi  bìa  mua nước mắm, xì dầu, rau .v.v…Sổ gạo cấp cho từng đối tượng, loại 24 ký,15 ký, 13 ký, 11 ký, 9 ký…24 ký là tiêu chuẩn quân đội hoặc lao động nặng nhọc như thợ lò. 15 ký là công nhân. Còn cán bộ công chức thì 13 ký. 11 ký, 9 ký là trẻ con. Có sổ rồi còn kèm theo tem mua lương thực lưu động loại  5 ký, một ký, 225 gam, 50 gam, 25 gam để cấp cho người đi công tác, đi họp, đi mua bánh mì. Đến họp các cuộc hội nghị người ta không thu tiền mà thu tem gạo, mỗi bữa ăn thu 225 gam . Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường lần đầu tiên ra Hà Nội họp năm 1973, khi đó anh là giám đốc Sở Văn hóa Quảng Trị mới giải phóng. Sáng sớm anh ra phố chơi, thấy người ta xếp hàng mua bánh mì anh cũng xếp. Xếp hơn tiếng đồng hồ, đến phiên mình, anh giơ tờ tiền một đồng ra. Cô bán hàng gắt:” Tem đâu ?”. Nhà văn mới ở miền Nam ra, không hiểu tem là gì. Bỗng anh nhớ ra, mở cái ví lấy ra con tem thư đưa cho cô bán bánh mì. Cô mậu dịch viên cười nắc nẻ, nhìn nhà văn đứng mặt đệc ra như  nhìn người  trên trời rơi xuống :” Đó là tem thư bố ơi, phải là tem lương thực cơ. Không có tem mời bố tránh mau ra cho người khác mua“. Thế là Hoàng Phủ tiu nghỉu lủi mất.THời mới sát nhập ba tỉnh Bình – Trị – Thiên, giới văn nghệ tổ chwucs Đại hội Văn nghệ Bình Trị Thiên lần thứ nhất. Nhạc sĩ  thiên tài Trịnh Công Sơn lucvs đó là cán bộ Văn phòng Hội được cử làm một việc rất quan trong: Thu tem phiếu  các hội viên ở xa về để báo cơm cho họ! Tem gạo quan trọng thế đấy!

 

Nên nhớ rằng lương thực không chi là gạo mà còn  ngô, mì, khoai sắn, bo bo. Để dân an tâm khi Cửa hàng Lương thực bán ngô thay gạo, các báo của nhà nước in bài của các nhà dinh dưỡng học phân tích (theo định hướng) ngô nhiều chất bổ, chất đạm hơn gạo. Không biết sự thật thế nào, nhưng đọc báo, người đang mua ngô thay gạo cũng yên tâm đôi phần. Có nghĩa là cả một bộ máy các nhà khoa học và nhà báo đều được huy động để cổ vũ, bảo vệ chế độ cung cấp của nhà nước!

 

Thiết yếu cho sự sống con người sau gạo là vải. Phiếu vải cung cấp cho cán bộ công chức nhà nước mỗi người 5 mét /năm, nhân dân 4 mét /năm. Phiếu 5 mét gọi là “phiếu cung cấp”, còn phiếu 4 mét gọi là phiếu thường! Nghĩa là chỉ đủ may một bộ quần áo dài và chiếc quần đùi. Phiếu cung cấp 5 mét được mua vải tốt hơn, giá rẻ hơn. Tấm phiếu vải “cung cấp” 5 mét có 16 ô, có 2 ô 1 mét, 3 ô nửa mét, 5 ô  0,5 mét , 4 ô 0,1 mét, 2 ô 0,05 mét. Phiếu vải  4 mét có 14 ô phiếu, cũng được phân ra chi tiết 1 mét, 50 phân, 30, 20,10, 5 phân. Phiếu vải nào cũng có thêm mấy ô phụ đánh số A,B,C,D  để mua màn , chăn bông, hay vải màn để vệ sinh trong “những ngày” phụ nữ. Chi ly lắm. Nên thời đó người ra  nhại Kiều để đùa vui , nhưng thật chính xác :

Bắt cởi trần phải cởi trần

                          Cho may ô mới được phần may ô .

 

Phiếu mua phụ tùng xe đạp chia ra từng ô: lốp, săm, phanh, pô tăng , vành, chắn bùn, chắn xích, bàn đạp, mayơ trước, mayơ sau, đùi đĩa ,yên, nồi trục…lại có thêm 4 ô dự phòng đề phòng khi hư đột xuất. Tem phiếu, sổ mua hàng lại phân ra nhiều loại, nhiều cấp như A1, A, B, C, D, E, N, I,TR1, TR2. Cán bộ nhà nước đa phần là phiếu E: vải cung cấp 5 mét một năm, gạo 13 ký một tháng, thịt 0,5 ký một tháng. Nhân dân thì phiếu N, vải 4 mét, thịt ba lạng…TR là tem phiếu trẻ em, chia ra TR1, TR2 để phân biệt độ tuổi, thịt 3 lạng. I là tem phiếu công nhân. Ngoài phiếu thịt còn có tem thịt cơ động ghi rõ từng loại 1 ký, 0,5 ký, 0,1 ký…dành cho người hay đi công tác. Khi cửa hàng thực phẩm thiếu thịt thì người ta bán trứng hay đậu phụ thay thịt. 20 quả trứng vịt thì cắt ô phiếu 1kg thịt .Có khi hai cân đậu phụ thay năm lạng thịt. Bán thứ gì thì người mua thứ ấy, không  ai dám không mua hay chê bơi, cãi cọ gì. Tất cả mua bán đều răm rắp theo sự chỉ huy của cô mậu dịch viên.  Nên thời đó con nhà ai mà được làm mậu dịch viên của hàng cung cấp lương thực, thực phẩm, công nghệ phẩm là oách lắm, có giá lắm!

 

Tem phiếu loại đặc biệt A1 dành cho cán bộ cao cấp từ Uỷ viên Bộ Chính trị và Phó Thủ tướng trở lên. Loại A dành cho Bộ trưởng và Uỷ viên Trung ương, loại B dành cho thứ trưởng, bí thư, chủ tịch tỉnh;  loại C dành cho cán bộ trung cấp  như giám đốc Sở, vụ phó.v.v..thấp nhất là N dành cho nhân dân. Công nhân viên lao động bình thường một tháng được 0,4 kg thịt, 0,5 kg cá, 0,35 kg đường, 0,5 lít nước mắm…Công nhân  làm nghề độc hại như sơn cầu, sơn tàu, đổ hầm cầu.v.v.. mỗi tháng được 1,2 kg thịt, bằng  bốn lần phó thường dân.  Cán bộ cao cấp hưởng phiếu A1, A được một tháng 6 ký thịt , gấp 20 lần dân thường. Hạng tem phiếu A1, A có cửa hàng phục vụ riêng tại phố Tôn Đản. Dân Hà Nội quen gọi là Cửa hàng Tôn Đản. Mỗi cán bộ cao cấp ở Trung ương mỗi buổi sáng được chế độ cung cấp sữa tươi, có người đưa tận nhà. Tiêu chuẩn của Ủy viên Bộ Chính trị được người 5 lít. Cán bộ trung cấp mua hàng tại các cửa hàng riêng ở  phố Nhà Thờ, Vân Hồ, Đặng Dung và Kim Liên. Theo Huy Đức “chế độ dinh dưỡng cao cấp cho cán bộ cao cấp khác với những cán bộ bình thường cho nên trong nhiều gia đình, chồng ăn “tiểu táo” do đầu bếp của Văn phòng Trung ương nấu, trong khi vợ con phải tự nấu, ăn với nhau theo chế độ “đại táo” (bình thường). Cán bộ cao cấp” bị kỷ luật” là lập tức bị cắt hết chế độ sữa tươi buổi sáng, chế độ thuốc lá, rồi tem phiếu thịt, gạo, củi trở lại  người dân bình thường.

Chế độ phân phối ở miền Bắc bắt đầu từ năm  1954-1955, ngay sau chiến thắng Điện Biên Phủ.  Sách Kinh tế Việt nam 1945-2000 cho biết, ở Hà Nội năm 1956, các đại lý diêm được “nâng mức bán lẻ từ một đến năm bao”, tức là mỗi người được mua năm bao sau một lần xếp hàng.  Đầu 1955, sinh đẻ được cấp 5 mét vải diềm bâu khổ 70mm, 30 kg gạo. Văn phòng phí cơ quan: 1,5 thếp giấy kẻ ngang/tháng / người, 10 người / tờ báo Nhân dân, một tờ Cứu quốc. Báo chí mà phân phối thì sướng thật, chẳng càn lo viết bài hay, chẳng cần lo bán báo!.  Quạt điện chỉ cấp cho các vị từ cấp Thường vụ Ban thường trực Quốc Hội, Bộ, Thứ trưởng, các chuyên gia nước ngoài, các đoàn ngoại giao. Những tiêu chuẩn vải gạo sinh đẻ sau này có giảm đi : Gạo 8 kg, vải tả lót 4 mét. Dùng đài (radio) phải có giấy phép đăng ký, rồi lại có sổ để  mua pin nghe đài. Có anh chồng làm ở Bộ ngoại giao, đi công tác nước ngoài  thời gian dài, phải  ra cửa hàng  sang tên giấy mua pin, ở nhà vợ mới được  mua pin nghe đài theo giá cung cấp ! Thời đó tiêu chuẩn thịt phiếu E, N mỗi lần mua được ít quá, nên đa số gia đình mua mỡ để xào nấu, chỉ trẻ con mới được ăn tí thịt. Đến xào bằng mỡ cũng phải đắn đo suy nghĩ. Thế mới có câu ca dao xa xót:

 

Hôm nay mồng tám tháng ba

                             Chị em phụ nữ đi ra đi vào

                             Hai tay hai củ xu hào

                             Miệng luôn  lẩm bẩm: Nên xào hay kho ?

 

Để có đủ hàng cung cấp cho các loại phiếu A1, A, Ban tài chính quản trị Trung ương còn thành lập những trại sản xuất thực phẩm siêu sạch cung cấp cho cửa hàng Tôn Đản theo kiểu tự cung tự cấp.  Đó là một cách làm hay, khỏi gây tai tiếng trong nhân dân. Một trại ở Văn Giang (Ninh Giang, Hải Dương). Một trại ở Gia Lâm. Tôi xin lược trích mấy đoạn trong bài viết của nhà báo Dương Đình Tường để bạn đọc biết, Trung ương cũng đã phải lo “tự cứu mình” trong thời gạo châu củi quế ấy như thế nào. “… Ông Nguyễn Đình Phi năm nay đã 84 tuổi vốn là cán bộ ở Quảng Ngãi tập kết ra Bắc năm 1955 đến năm 1959 được điều về Văn Giang trong biên chế của Tập đoàn sản xuất miền Nam, kể :”…Ban đầu Tập đoàn sản xuất miền Nam được thành lập với mục đích tự làm nuôi lấy nhau, sau đó nhận nhiệm vụ cung cấp nguồn thực phẩm cho trung ương. Trại ở trong một diện rộng có vành đai hào sâu 2 đến 3 mét , rộng 4 đến 5 mét, ngập nước bao quanh. Trong trại, hàng loạt những tổ nuôi lợn, tổ nuôi cá, tổ nuôi ong, tổ nuôi gà, tổ nuôi chim câu, tổ làm tương, tổ sản xuất nước mắm, tổ trồng rau…. Giống lợn nuôi ở Tập đoàn vẫn là giống phổ biến trong dân nhưng chế độ ăn cao cấp hơn, toàn bằng cám mịn, lấy ở các nhà máy xay ở huyện Yên Mỹ, Hải Phòng. Ngoài cám, lợn còn được bồi bổ bằng… sữa phế phẩm, sữa quá đát dành cho người. Người ta còn đào vô số ao, thả bèo làm rau nuôi lợn. Một loại men đặc biệt được Viện Thú y cung ứng về chưng cất, cấp cho các tổ chăn nuôi dùng ủ men cám ngô, cám gạo.  Lợn ăn men đó trơn lông, đỏ da. Có thể nói đây là một công nghệ, trình độ vượt bậc so với cách nuôi lợn của dân chúng thời đó…. Ngày nào mổ lợn, cửa hàng Tôn Đản, Hà Nội lại điện về thông báo cho trại. Cứ theo lịch trình đã sắp sẵn, họ cho người đánh ô tô về lấy hàng. Lúc thì mổ tại chỗ lúc chở lợn sống đi. Ngoài lợn, trại còn sản xuất gà, cá, chim câu. Gà thịt cứ 8 lạng đến 1,2 kg là xuất. Chim câu được đem đi lúc mới ra ràng. Có những căn nhà chuyên nuôi chim với vô vàn chuồng lớn, chuồng nhỏ…”

 

Còn Trại sản xuất nông nghiệp Gia Lâm , tồn tại mãi đến cuối những năm 80 của thế kỷ trước, diện tích sản xuất rộng tới 103 ha. Trại có nhiệm vụ sản xuất lương thực, thực phẩm sạch với yêu cầu an toàn cực cao. Mười hai tháng trong năm trại đều có đủ các loại rau từ muống, ngót, su hào, bắp, lơ, hành, cà tím đến nếp cái hoa vàng, lúa tám, đậu xanh, đậu tương…Yêu cầu chung khi trồng trọt không được sử dụng phân tươi và tưới bằng nguồn nước sạch. Thuốc trừ sâu phải dùng loại ít độc hại nhất. Chuối tiêu, đu đủ, cà chua trại sản xuất không dùng hóa chất để dấm mà cứ để chín tự nhiên….”.

 

Ngoài tem phiếu vải, thịt, cá nước mắm, phụ tùng xe đạp…còn có tem phiếu mua than, củi, dầu hỏa. Mỗi tỉnh có hẳn một Công ty vật liệu chất đốt lo việc này. Cô mậu dịch viên bán củi cũng hách dịch không kém dì cô bán vải, bán thịt. Ở Huế có câu chuyện vui, ngày đó chủ nhật, ông phó chủ tịch tỉnh mới ra cửa hàng chất đốt mua củi thay vợ. Người mua xếp hàng đông lắm. Ông cậy thế quyền hành đưa sổ mua củi vào bảo cô mậu dịch viên :” Anh là phó chủ tịch tỉnh, bán cho anh trước để còn đi công tác”. Cô mậu dịch viên ngẩng lên nhìn ông phó chủ tịch, rồi hét :” Không trưởng phó gì đây hết, xếp hàng!”. Thế là ông  phó chủ tích hét ra lửa của tỉnh phải lủi thủi xếp hàng. Đến gần trưa, nghe tiếng mậu dịch viên hét:” Nguyễn Hưng!”. Ông vội vàng “Dạ”. Rồi chen vào lấy sổ và hóa đơn ra bãi nhận củi ! Nhiều người hôm ấy biết ông, họ không nhịn được cười!

Thời bao cấp, con gái Hà Nội cô nào làm các nghề như mậu dịch viên bán lương thực, thực phẩm, bách hóa rất đắt giá, luôn được các anh dòm ngó. Nhất là những chàng trai làm trong các cơ quan quyền lực như công an, tổ chức cán bộ.  Đó là những “hot girl ” thời đại. Vì người nội bộ nên họ luôn được mua gạo tốt, không độn ngô, hay mua thịt thì được thịt mông, sấn, thịt thăn tươi ngon. Mậu dịch viên bán hàng bách hóa dễ mua được những hàng hoá như vải vóc, phích nước, xoong, nồi loại tốt hơn….Nhưng chỉ mua được hàng tốt, hàng ngon, tươi hơn người khác, hoặc người thân, bạn bè nhờ cậy để mua hàng tốt, mua sớm , hoặc có thể cân đong già hơn chút đỉnh, chứ không thể mua nhiều hơn tiêu chuẩn được,vì tất cả đều xuất kho và kết toán theo định lượng tem phiếu. Không thể ăn cắp được. Tuy nhiên do hàng hoá luôn khan hiếm nên để mua được theo tiêu chuẩn là vô cùng khó khăn, khách hàng luôn thắc mắc, đòi hỏi công bằng về chất lượng, cân đo phải đúng…từ đó nhiều cô mậu dịch viên sinh ra cáu gắt, cửa quyền.

Bởi thế mà ở thành phố Vinh một sáng nọ trên cổng một cửa hàng có dán câu đối: Phân  thì như cứt. Cứt gì cũng phân. Câu đối rất chuẩn và rất thâm nho. Nó ngắn gọn mà phản ánh đầy đủ sự khốn khổ của một thời.

 

Làm nghề mậu dịch viên bán thực phẩm, bách hóa ai cũng tưởng nhàn sướng, Thực ra thì không phải. Cô nào cũng đứng quầy bán hàng cả ngày. Tối về lại ăn cơm xong, ru con ngủ , rồi phải thức để dán tem phiếu cân đối. Tem phiếu cắt ô nào dán riêng theo từng loại ô, vào một tấm giấy bao xi măng cắt vuông theo quy định. Một ô tem phiếu chỉ bé tí bằng một căng-ti-mét-vuông, bảo quản không cẩn thận là nó bay mất. Có cô mậu dịch viên ở Huế có con dại, trưa chiều về nhà, vất túi xách , lao vào nấu ăn, nuôi lợn, con nó  lục túi nghịch chơi, thế là tem phiếu theo quạt điện bay tứ tưng khắp nhà. Vừa khóc vừa nhặt. Có khi tới nửa đêm mới dán xong tem phiếu để ngày mai nộp cho cửa hàng mới đi ngủ. Khi nộp, cửa hàng kiểm tra thấy thiếu ô nào phải đền bù ô đó. Đền bù, đã mất tiền, mất tem phiếu gia đình của mình rồi, còn bị chi đoàn, công đoàn kiểm điểm trách nhiệm, mất thi đua bốn tốt hay “mậu dịch viên giỏi”. Thế là khóc lên khóc xuống. Chặt chẽ lắm. Không tơ lơ mơ được.

 

Nhắc đến chuyện phân như cứt, tôi nhớ thời bao cấp ở Huế, tôi có kỷ niệm nhớ đời. Đó là việc đi xin giấy tờ mua tiêu chuẩn sinh đẻ. Khi vợ sinh đứa con thứ hai,tức là cháu Ngô Hải Tân. Để mua được tiêu chuẩn sinh đẻ,  tôi đã mất mấy ngày để chạy nhiều thứ giấy tờ khác nhau. Đầu tiên là xin giấy chứng sinh ở Bệnh viện. Tiếp đó, đi xin thêm mấy cái giấy giới thiệu của cơ quan của vợ gửi cho Phòng Lương thực Thành  phố để họ duyệt. Sau đó kèm theo sổ hộ khẩu gia đình, đem ra cửa hàng để mua tiêu chuẩn 8 ký gạo rồi vải theo tiêu chuẩn “sinh đẻ”. Giấy giới thiệu mua gạo cơ quan vợ tôi gửi Phòng Lương Thực thành phố Huế. Tôi cầm mới giấy tờ ra cửa Của hàng lương thực Bến Ngự (đường Phan Bội Châu) để mua. Bà Trưởng Cửa hàng đeo kính lão, lạnh lùng liếc qua cái giấy giới thiệu rồi cáu kỉnh quát:” Sao không gửi Cửa hàng mà lại gửi Phòng lương thực. Không bán. Lạc địa chỉ! Anh về làm  lại giấy tờ”. Nét mặt bà trưởng của hàng khinh khỉnh. Tính tôi nóng. Lại rất ghét sự xin xỏ. Hơn nữa tôi nghĩ Phòng là cấp trên trực tiếp của Cửa hàng, gửi cho Phòng cũng không sai gì. Thế là tôi bực bội lên quát lại :” Phòng là bố đẻ của Cửa hàng, sao lại bắt bẻ thế! Tôi đếch cần bà !”.Vừa nói tôi vừa vò xé hết mớ giấy tờ, ném vào mặt bà Trưởng cửa hàng Lương thực Bến Ngự rồi bỏ ra về trước sự ngạc nhiên của bao nhiêu khách hàng. Bà trưởng của hàng cũng nhìn tôi như nhìn một người từ mặt trăng tới, mặt tái mét!

 

Có người nói với theo :” Phải làm thế cho nó bớt hách dịch”. Dù mất tiêu chuẩn 8 ký gạo sinh nở của vợ, tiếc đứt ruột, lại là người trong ngành thương mại, nhưng tôi không thể chịu nổi thái độ bán hàng như thế. Tôi không biết bà Trưởng cửa hàng cửa quyền ấy nghĩ gì, chứ riêng tôi, tôi thấy hành xử của mình là đúng. Phải loại bỏ bọn hách dịch ,cửa quyền ra khỏi bộ máy thương nghiệp. Từ đó tôi vô cùng căm ghét thói xấu đó trong nghành thương mại. Trong đời làm nghề viết báo của mình, tôi đã viết hàng trăm bài báo đả phá chuyện này. Tôi bực bội dắt xe đạp ra phố Phan Bội Châu. Có một người đàn ông trạc 50 tuổi, chạy theo bá vai tôi bảo :” Tôi nghe chú mắng con mụ đó thấy hả dạ lắm. Nhưng chú cứ ứng xử như thế thì khó sống trong xã hội hiện nay lắm. Thôi người ta bảo gì thì mình làm theo, không thì khổ đấy!”. Bữa sáng ấy, tôi về nhà, vợ tôi hỏi gạo đâu. Tôi kể lại chuyện xé giấy mua gạo , chửi bà trưởng cửa hàng, vợ tôi khóc bảo :” Anh làm như thế chỉ tổ đói con”. Nói rồi nàng vừa ôm lấy đứa con chưa đầy tháng tuổi vừa khóc to hơn.

Nhưng rồi đêm tôi nghĩ lại bà Trưởng của hàng Lương thực Bến Ngự ấy cũng là một nạn nhân của một phương thức quản lý xã hội quan liêu, tạo nên một lối sống phi nhân tính. Tôi thấy xã hội bây giờ muốn giàu có phải là những con người mưu mẹo, khéo xoay xở, biết chui lách qua qui định và luật pháp, ngoài mặt thì có vẻ tuân thủ chế độ, nhưng trong đầu thì chẳng sợ cái gì, chẳng nghe ai, chỉ tin vào tài tháo vát của mình. Cơ chế ấy dễ sinh ra những người bất mãn, tuy không dám phản kháng, trăn trở mà không dám nói ra, cứ ấm ức, dồn nén đến mức phải văng một câu tục cho nó hả! Phản ảnh cái sự ấm ức không nể phục ấy là những hành động bất tuân luật lệ vụn vặt, nói năng thô lỗ, chửi chó, mắng mèo, “ba que, xỏ lá”, đểu cáng. Ở Hà Nội vào của hàng Mậu dịch, nghe đối đáp của một cô bán hàng với ông khách mà đau xót:

– Chỉ có vậy thôi, mua thì mua, không mua thì cút!

– Mày đuổi ông cút thì ông đéo mua

– Mày về mà “đ …” mẹ mầy ấy!

– …

Nói đến tem phiếu, nhà văn Bùi Ngọc Tấn ở Hải Phòng, trong tác phẩm Hậu chuyện kể  kể năm 2000, đã kể chuyện vợ ông “láu cá” không đi kê khai tăng tuổi con  để hưởng phiếu N là để tuổi nhỏ phiếu TR để mua được toàn gạo. “Ngày ấy, vợ tôi rất “mưu mô, láu cá” trong chuyện tem phiếu. Nhà hai vợ chồng, bốn đứa con, sáu người nhưng có tới bốn phiếu N — phiếu Nhân Dân. Cái gì có chữ nhân dân cũng hay: Đại Học Nhân Dân, Chiến Tranh Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, Công An Nhân Dân, Toà Án Nhân Dân, Viện Kiểm Sát Nhân Dân, Hội Đồng Nhân Dân, Uỷ Ban Nhân Dân, báo Nhân Dân — đến hôm nay thêm cả Nghệ Sĩ Nhân Dân, Nhà Giáo Nhân Dân… — đều rất tuyệt vời. Chỉ có cái Phiếu Nhân Dân là khốn nạn! Phiếu Nhân Dân được mua ít nhất trong các loại tem phiếu, chưa kể nhiều khi hàng không có, còn bị cắt tiêu chuẩn. Bởi vậy khi cháu Bùi Quang Dũng — đứa con sinh khi tôi đã vào tù — lên 7 tuổi từ lâu, đã được đổi phiếu Nhân Dân, tiêu chuẩn gạo tăng từ 6 kí lên 9 kí một tháng, nhưng vợ tôi làm như quên, như không biết đến điều ấy, không đi đổi phiếu mà cứ xử dụng cái phiếu TR, phiếu Trẻ Em, cho đến hết năm, làm tem phiếu mới, không thể giả đò “quên” được nữa. Bởi vì phiếu N, Nhân Dân, 9 kí gạo nhưng chỉ được đong một phần ba — còn lại là 6 kí độn — có nghĩa là chỉ được mua 3 kí, mất đi 3 kí gạo mà cháu mới bước sang tuổi thứ 7, chẳng thể nào nhá được ngô được sắn, nhai được bo bo! Chưa kể đường từ 5 lạng xuống còn 1 lạng và thịt cũng từ 3 lạng chỉ còn 1 lạng. Ngay những tiêu chuẩn tối thiểu này nhiều khi cũng bị nợ và rồi…xù nợ! Do đó vợ tôi cũng như các bà mẹ khác đều làm như không nhớ con mình đã bước sang tuổi thứ 7, lùi lại cái ngày con nhận phiếu N, lùi lại cái ngày “tiễn con lên Nhân Dân” ấy. Và bà mẹ nào cũng thấy mình đã gỡ gạc được tí chút, tận hưởng niềm vui nho nhỏ trong sự khốn cùng….”

Vì kế hoạch hóa tập trung, sinh quan liêu bao cấp, từ đó mà sinh thói cửa quyền, hách dịch, lời lẽ khó nghe như thế. Chứ thời đổi mới tự do ra chợ muốn mua gạo ngon là có gạo ngon, thịt ngon là có thịt ngon, Mà lại được mời chào, được quyền chọn lựa, không bị cáu gắt. Ôi, chỉ một bước thay đổi thôi, mà con người trở nên con người hơn!

 

 

 

 

*    *

*

 

Một đặc trưng nữa của Hà Nội thời bao cấp sau năm 1975 là phong trào buôn hàng từ các nước  Liên Xô, Đông Âu, Trung Quốc về ra chợ trời bán  kiếm lời. Đói đầu gối phải bò. Thời đó đi ra nước ngoài khó lắm. Chỉ có dân Hà Nội làm quan trong các ngành ngoại giao, các vụ đối ngoại của các bộ, hay những người đi theo các “xếp”, mới được ra nước ngoài. Còn người dân thì đừng mơ tưởng đến. Bởi vậy mới có bài vè dân gian lưu truyền rất vui nói chuyện đi nước ngoài thành chuyện “thụt ra thụt vào” :

Trăm năm trong cõi người ta

                                   Ai ai cũng muốn thụt ra thụt vào

                                   Lạc hậu như cái nước Lào

                                   Người ta cũng biết thụt vào thụt ra

                                   Văn minh như  thể nước Nga

                                   Người ta cũng cứ thụt ra thụt vào…

                                   Nước Nam là nước Nam nào

                                   Mà cứ cấm tiệt thụt vào thụt ra

 

Thời đó thủy thủ tàu viễn dương, sinh viên du học có lý lịch ba đời cách mạng, cán bộ sứ quán Việt Nam tại nước ngoài, người được đi xuất ngoại theo chế độ họp hành, hội thảo … Những người đó đi việc nước thì ít mà việc buôn bán lậu thì nhiều.Thậm chí thời ông Nguyễn Văn Linh làm Tổng bí thư Đảng với “Những việc cần làm ngay”, “Nói và làm” đã quyết định kiểm tra việc buôn hàng lậu của đoàn cán bộ đi họp quốc tế về sân bay Gia Lâm. Mới tóa họa ra tất cả đều  buôn lậu thuốc lá, nước hoa, trong đó có cả các Đại biểu quốc hội, lãnh đạo các bộ “có thẻ miễn trừ”. Va ly ông bà nào cũng đựng dầy thuốc lá Ấn Độ. Ra được nước ngoài ai cùng tranh thủ mua hàng về để bán kiếm lời. Nhiều gia đình nhờ buôn hàng ngoại mà giàu có lên. Vải, thuốc tây, bàn là, mayxo đun nước, phụ tùng xe đạp, ấm đun nước, quần bò, áo gió, áo phông..v.v.. đều là những thứ “một vốn chục lời”.

 

Chuyện đi nước ngoài tranh thủ buôn bán lây cả sang giới văn nghệ sĩ vốn là những người “coi thường giàu sang phú quý”. Có lần tôi ra Hà Nội ghé thăm một anh bạn nhà thơ. Vừa gặp tôi anh hỏi ngay:” Tớ sắp đi Liên Xô dự Ngày thơ Puskin tại quê hương ông .Theo cậu thì mình nên mua hàng gì sang đó bán có lời ? “. Tôi ngây thơ bảo :”Anh làm vài bài thơ về Puskin, nhờ người dịch ra tiếng Nga, tập đọc thơ bằng tiếng Nga cho lưu loát, rồi sang đó đọc, họ trả nhuận bút còn hơn cả tiền lời đưa hàng sang bán”. Anh bạn cười mắng ngay :” Đồ ngu, nghèo là phải, cậu dân Thương nghiệp mà đếch biết buôn bán…”. Thời đó có bài thơ dài truyền khẩu trong dân gian kể chuyện “Bố dặn con” ở nước ngoài mua hàng gì lời nhiều nhất, rất chi tiết:

Cả nhà mừng lắm con ơi

                             Thùng hàng mới nhận bán hời lắm nghe

                             Niken đẩy được chục “que”

                             Vòng bi thắng đậm hơn xe rất nhiều

                             Điều hòa lãi chẳng bao nhiêu

                             May mà trong ruột khá nhiều thuốc tây

                             Biết không chục kiện ê – may

                              Tính ra chí ít năm “cây” có thừa

                             Xô tôn đã dặn đừng mua

                            Tại sao mày cứ đóng bừa vào đây?

                           Thùng sau lưu ý thuốc tây

                           Đồ nhôm nghỉ khỏe chớ dây làm gì

                            Lanh-cô, E-ríc, Ăm-pi…

                             Kháng sinh tổng hợp thứ gì cũng chơi….

            Lại có bức thư khác, cũng gửi con đi học  ở các nước Đông Âu , bày cho con cách mua hàng gì về bán cho lời, cũng  mùi mẫm và “sành nghề” lắm :

                                  Bên này gái gú thì đông

                                  Theo cha nên đánh cả vòng tránh thai

                                  Quần zin mác giả “li-vai”

                                  Hay mì chính Thái với đài Hồng công?

                                  Bây giờ đang giữa mùa Đông

                                  Con xem loại tất xù lông thế nào?

                                   Áo ren các kiểu ra sao

                                   Áo thêu chắc đã đi vào sử xanh…

                                  Có về qua Mạc tư khoa

                                   Quạt tai voi nhớ táng ba cái vào

                                   Cái biếu mẹ, cái phần tao

                                   Còn một cái khách ra vào quạt chơi  

                                   Quê nhà đói lắm con ơi…

Các ông bố say hàng, say tiền đến độ không biết con sang bên Tây học trường nào, năm thứ mấy rồi, học hành đỗ đạt ra sao. Đến cuối thư, phần tái bút mới hỏi  :

À quên tao hỏi điều này

                                 Chẳng hay sức khỏe của mày ra sao

                                 Học năm thứ mấy? Trường nào?

 

Cuộc trưng bày rất độc đáo có tên Cuộc sống Hà Nội thời bao cấp tháng 6-2006 ở Bảo tàng Dân tộc học đông nghịt người xem, phải kéo dài đến 6 tháng. Mới hay chỉ mới qua 20 năm thôi, những hiện vật thời bao cấp đã trở thành cổ vật hấp hẫn. Ở đó người ta treo cả đoạn đồng dao về thời hàng hóa thiếu thốn ở Hà Nội : Nhất gạo nhì rau – Tam dầu tứ muối – Thịt thì đuôi đuối  — Cá biển mất mùa – Đậu phụ chua chua – Nước chấm nhạt thếch — Mì chính có đếch – Vải sợi chưa về — Săm lốp thiếu ghê – Cái gì cũng thiếu. Ban tổ chức cuộc trưng bày đã phục dựng một cửa hàng lương thực cũ ở lối vào không gian trưng bày, phía trên là câu nói quen thuộc : “Mặt buồn như mất sổ gạo”. Cuộc trưng bày Cuộc sống Hà Nội thời bao cấp ấy đầy tâm cảm và rất nhân văn.  Tôi thực sự xúc động, muốn gặp để cám ơn người có sáng kiến cuộc trưng bày đó.

 

Thơ viết thời bao cấp cũng mang đầy đủ tâm trạng ,yêu thương cõi trần hệ lụy. Bài thơ Vợ ốm là sự tự thú hay “kiểm điểm” rất chân thành của nhà thơ Nguyễn Duy thời bao cấp :

     … Cha con chúa Chổm loanh quanh

     Anh như nguyên thủ tanh bành quốc gia

     Việc thiên việc địa việc nhà

     Một mình anh vãi cả ba linh hồn…

Trong thơ Nguyễn Hoàng Sơn còn in dấu một thứ dụng cụ nổi tiếng ở Hà Nội một thời, đã thành biểu trưng thời bao cấp. Đó là chiếc cạp lồng thường gắn trên ghi-đông xe đạp của cán bộ công chức mỗi sáng đi làm. Người Hà Nội sống với chiếc cạp-lồng ấy dễ đến 30 năm, làm sao mà quên được. Bây giờ cặp lồng để mua cháo sáng cho trẻ con bằng in-nox, chứ hồi đó chỉ có cạp-lồng bằng nhôm Hải Phòng bé tí, rét rỉ vẫn dùng. Trong chiếc cạp lồng đó thường chỉ có ít cơm độn với ngô, thêm ít gắp bắp cải xào sơ sịa :

Tiễn em buổi sáng đi làm

                                       Nón quên anh nhắc , chiếc làn anh đưa

                                       Tần ngần một thoáng dây dưa

                                       Trao em chiếc cặp lồng trưa quá nghèo. 

 

Tìm hiểu thời bao cấp là dịp lớp trẻ hiểu thêm cha ông đã sống một thời cam go như thế nào để mà so sánh, mà thương, mà tin đời hơn. Để đánh giặc, xã hội cần phải kết lại thành một khối rắn chắc, mà muốn thế, cần ghép mọi người vào tổ chức chặt chẽ. Việc phân phối theo kiểu bao cấp chỉ là kết quả của một quá trình lớn lao hơn: Tất cả những gì thuộc về con người phải được quản lý. Không có chế độ bao cấp, kế hoạch hóa, cung cấp tem phiếu 20 năm ở miền Bắc thì làm sao thực hiện được khẩu hiệu: Tất cả cho tiền tuyến. Thóc không thiếu một cân – quân không thiếu một người. Nhưng nghĩ lại cũng kinh lắm! Tôi đi bộ đội vào miền Nam thấy cái gì họ cũng buôn bán thoải mái. Tháng 4-1975, vào Sài Gòn tôi thấy Sài Gòn đúng là “Hòn ngọc Viễn Đông”. Thời ấy người Thái Lan, người Malaixia đi Sài Gòn như bây giờ mình đi Mỹ. Đèn cao ấp sáng trắng màu ban ngày, phố xá toàn người đi xe con, xe máy. Trong đó Hà Nội ngọn đèn phố tròn đỏ như nắm đấm. Cả thành phố đi xe đạp. Ai có chiếc xe máy Tiệp Khắc Babetta, hay xe Mins của Liên Xô là đại gia rồi đấy! Cuộc sống xã hội miền Bắc như là thời sơ khai của thế giới. Ra quân, tôi mang mấy tút thuốc lá cô-táp ra Hà Nội mới bạn bè. Mấy đứa bạn lần đầu tiên hút thuốc lá ngoại cứ xuýt xoa:” Thơm lắm. Ngọn lắm. Nhưng có thuốc phiện trong này không ?”.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Advertisements

Categories

%d bloggers like this: