Đăng bởi: Ngô Minh | 07.03.2017

MỘT YÊU ANH CÓ SEN-CÔ

ĐỌC SÁCH ” SỐNG THỜI BAO CẤP” CỦA NGÔ MINH ( tiếp)

MỘT YÊU ANH CÓ SEN-CÔ

 Ngô Minh

 Chuyện yêu đương cưới xin thời bao cấp n hiều chuyện vui lắm. Có lúc cười ra nước mắt. Những ngày đầu ở Sài Gòn hồi 30-4-1975, tôi đã từng trốn  đơn vị quân quản chạy đi xem đám cưới ở Sài Gòn năm 1975. Sang trọng, là lượt lắm. Ô tô đưa dâu hàng mấy chục chiếc, trang trí dây hoa xanh đỏ tím vàng lộng lẫy. Cô dâu mặc áo cưới  trắng muốt, lại phải có người nâng tà đằng sau. Cỗ cưới linh đình. Đám cưới sang trọng như thế tôi chưa từng thấy ở miền Bắc thời bao cấp.

 

Đám cưới thời bao cấp ở nông thôn ( mà có khi cả thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Vinh…) miền Bắc giản dị lắm, không  phức tạp, linh đình như ở Sài Gòn mà tôi thấy. Cái tiêu chí cổ động “đám cưới văn hóa” , đám cưới tập thể được tài trợ mà hiện nay Đoàn thanh niên đang kêu gọi thực hiện đây đó còn linh đình hơn ngày xưa nhiều. Trừ một vài đám cưới của con các nhà quyền quý ở Hà Nội, còn đa phần con em bình dân đều cưới xin như nhau. Thời đó cô dâu không có mái tóc bồng tỉa tót như hoàng hậu. Không có tà áo dài  tha thiết, thuê trang điểm cô dâu cả mấy triệu đồng như bây giờ. Sang trọng lắm cũng chỉ áo Hồng Kông trắng, quần phíp ( một loại vải lụa màu đen, mềm) mới cụt lủn . Cô dâu chẳng trang điểm hoa hòe hoa sói gì. Mà làm gì có son phấn mà bôi. Ngày thường thế nào thì ngày cưới thế đó. Lên Ủy ban xã đăng ký kết hôn là quan trọng nhất. Sau đó Ủy ban (hay tổ chức cơ quan ) cùng hai gia đình tổ chức một bữa tiệc nhỏ, đa phần là trà nước, thuốc. Sang  thì có thêm một bàn một đĩa kẹo, bánh.

 

Đám cưới ở nông thôn không có chế độ tiêu chuẩn cung cấp  gì cả. Nhà nào có tiền chơi sang lắm thì cũng vô chợ mua  thuốc lá Tam Đảo, Điện Biên, kẹo Hải Hà, không thì thuốc “bọ”. Tất cả các đám cưới đều có một típ trang hoàng chung. Trên phông màn vẽ đôi chimbồ  câu đang mớm mỏ nhau, cạnh đó là chữ đầu tên hai người lồng vào nhau trong khung hình trái tim màu đỏ. Trên cao là câu :” Vui duyên mới không quên nhiệm vụ” ( dù chẳng ai biết nhiệm vụ gì). Đi đưa dâu sang là xe đạp, hầu hết là đi bộ. Mở đầu đám cưới là Ủy ban xã phát hiểu cả tiếng đồng hồ, toàn chuyện “nam ba sẵn sàng, nữ ba đảm đang”; rồi Đoàn thanh niên, hai gia đình phát biểu . Đặc trưng nhất là hồi đó đám cưới nào cũng phải có đốt pháo Bình Đà. Sang thì loại pháo to, dài, xoàng cũng phải pháo bằng đầu đũa.  Người ta mê tín, nếu  cưới mà không có pháo là xui. Pháo để trừ tà, pháo để chúc phúc. Pháo đốt bị tắt nửa chừng là xui. Còn pháo nổ giòn giã từ đầu đến cuối là vợ chồng trăm năm hạnh phúc.

 

Thời bao cấp khó khăn ấy, yêu đương ở nhà quê quả thực là do trai trẻ định đoạt. Không như Hà Nội, Hải Phòng, cha mẹ luôn dạy cơn tiêu chuẩn chọn vợ. Có nhiều câu ca dao được truyền tụng trong đời sống, đọc lên nghe  thấy buồn, nhưng đó là sự thật:

Nghe cha nhớ kỹ điều này

                                Phải con ông “cốp”, xấu gầy cũng yêu

                                Ông cha cực khổ đã nhiều

                                Ô dù bám lấy, phải liều mới may…

Hay con gái chọn chồng theo kiểu “Mười yêu”:

                                Một yêu anh có Sen-ko

                                 Hai yêu anh có Pơ-giô cá vàng

                                 Ba yêu nhà cửa đàng hoàng

                                  Bốn yêu hộ khẩu rõ ràng thủ đô

                                 Năm yêu không có bà bô( tức mẹ chàng rể)

                                  Sáu yêu Văn Điển ông bô sắp về

                                 Bảy yêu anh vững tay nghề

                                  Tám yêu sớm tối đi về có nhau

                                 Chín yêu gạo trắng phau phau

                                  Mười yêu nhiều thịt ít rau hàng ngày…

 

         Yêu nhau mà mong người yêu sẽ lấy làm chồng phải không có mẹ, con bố thì sắp về Nghĩa trang Văn Điển thì đểu thật, bất nhân thật !  

 

 

 

                                                     *   *

                                                        *

 

Ấn tượng nhất đối với tôi thời đó là đám cưới ông anh trai Ngô Tấn Ninh của tôi ở làng biển Thượng Luật. Anh Ninh ở trong tổ 5 chàng trai trẻ chuyên đo đạc tọa độ, phương vị… cho C Gái (Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy) bắn tàu chiến Mỹ do đơn vị 360 bộ đội huyện cử về. Trong rất nhiều bài viết về C Gái trước đây và cả sau này, không ai biết về cái tổ trợ chiến đó cả, vì họ không phải là con gái. Cái tổ “trợ chiến” có 5 “đực rựa” ấy sau vài năm anh nào cũng cưới chị em C Gái làm vợ. Còn chị Gái, chị dâu tôi, là Trung đội trưởng chỉ huy một trong 4 khẩu pháo tầm xa nòng dài 105 ly của C Gái. Hai người yêu nhau mấy năm liền. Đến khi anh Ninh yêu cầu mẹ tôi cưới vợ cho anh, thì mẹ đang ở giai đoạn túng bấn do buôn bán không phát đạt. Thế mà đầu năm 1970, mẹ vẫn lo được đám cưới cho Ninh rất chỉnh chu, mà chỉ tốn có 19 đồng ! Đám cưới 19 đồng! Nói không ai tin nổi!

 

Kể chuyện này sẽ có nhiều nam nữ thành niên, 8X, 9X bây giờ không tin, có khi cho là phịa, nhưng đó là chuyện thật của gia đình tôi. Đám cưới chẳng có cỗ bàn tiệc tùng gì. Trang trí phông màn anh Ninh tự làm lấy. Phông là cánh buồn đi biển. Đám thanh mỗi người một tay căng lên. Anh Ninh là người có hoa tay hay đi trang trí cho các đám cưới trong làng. Mời khách chỉ có rượu, nước chè xanh và thuốc“bọ”. Rượu “quốc lủi” thì  bà con nội ngoại đi mừng cưới mỗi nhà xách đến một chai. Nước suối làng tôi  bắt nguồn từ động cát. Nước lọc qua mấy tầng cát trắng nên trong và ngọt lịm. Nước ấy mà nấu rượu thì ngon và sạch hết ý. Chè xanh thì bên ngoại tôi ở Vĩnh Linh gửi ra cho cả gánh. Mạ tôi chỉ mua một tút thuốc lá Tam Đảo loại thường có 4 đồng bạc để mời đám thanh niên, 5 đồng trầu cau ở Chợ Mai để têm mời các bà già  và phụ nữ . Năm đồng thời đó mua được cả rổ trầu cau. Còn lại mười đồng  mua thuốc bọ và giấy cuốn . Lá thuốc đưa về phơi héo rồi cuốn lại và xắt (thái), làng tôi gọi thứ thuốc đó là  thuốc xeng ( xanh). Chỉ chừng đó mà đám cưới rôm rả cả mấy tiếng đồng hồ. Chẳng có quay video, chụp ảnh như như bây giờ. Cô dâu chú rể mặc quân phục, đội mũ đeo sao như khi sinh hoạt đơn vị C gái. Hình như chỉ cần có rượu là vui. Trước lễ cưới mạ tôi làm con gà, đĩa xôi để cúng tiên tổ, mời  gia đình bên gái dự, chứ chẳng rước dâu rước rể gì. Quà mừng đám cưới không phải phong bao mà ai có gì mừng nấy. Người chai rượu, người chiếc khăn mùi xoa, cái vỏ gối  hay bộ quần áo trẻ con…Mở đầu đám cưới là Chủ tịch xã phát hiểu huấn thị cả tiếng đồng hồ. Ông bảo thanh niên nam nữ phải đặt Tổ Quốc trên hết. Nam ba sẵn sàng. Gái ba đảm đang. Các anh chị có biết ba sẵn sàng là gì không ? Ba đảm đang là gì không? Thế là ông giải thích tràng giang đại hải. Cánh thanh niên sốt rượu cứ nói chuyện ồn ào, đưa nào cũng muốn uống rượu và ca hát. Vui nhất là hát. Nam nữ thanh niên C gái, thanh niên xóm hát sôi nổi lắm. Đám cưới mà hát toàn bài hát chiến đấu theo nhịp quân hành, như Sẵn sàng bắn, Chiếc gậy Trường Sơn, Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân .v.v..hay bài Tranh tre mây lạt mau gửi về Ngư Thủy là bài hát của thầy Hoàng Đình Luyện, một nhạc sĩ ở  Phòng văn hóa huyện viết để cổ động bà con  toàn huyện đóng góp xây dựng lại nhà cửa cho đồng bào xã tôi vị máy bay Mỹ  bắn phá hủy diệt từ năm 1967. Đã bài hát chiến đấu lại thêm giọng còn trai biển nữa nên nghe như bão tố đang nổi. Một người hát cả đám cưới vỗ tay hát theo. Đám cưới đang vui hát  thì có kẻng báo động chiến đầu. Thế là chị em pháo thủ, cả cô dâu, chú rể đều bỏ hôn trường chạy ra trận địa. Đám cưới đơn giản, phập phù thế  thế mà gia đình anh chị  tôi bây giờ cũng con đàn cháu đống, hạnh phúc đề huề.

 

Sau năm 1975, tôi từ chiến trường Miền Đông Nam Bộ ra quân về lại Trường Đại học Thương Nghiệp rồi xin về công tác tại Công tyThực phẩm nông sản Bình Trị Thiên, Huế. Lương cử nhân chỉ  64 đồng tiền Cụ Hồ, đi làm việc phải đi bộ, ăn cơm tập thể nằm giường cá nhân. Nếu mà chọn chồng như các cô gái Thủ Đô : Một yêu anh có Sen-ko / Hai yêu anh có Pơ-giô cá vàng / Ba yêu nhà cửa đàng hoàng …thì chắc chắn tôi không thể lấy được vợ. Tôi cưới vợ là người cùng công ty tháng 4 năm 1977 ở Huế. May mà người yêu cũng là một cán bộ thương nghiệp tên là Ngueyenx Thị Minh Tâm. Em người Tân Kỳ, Nghệ An thật thà, xinh đẹp, học tốt nghiệp Trường Thương nghiệp Thanh Hóa,  đi B vào làm việc trong ngành thương nghiệp của Chính phủ Cách mạng Lâm thời ngày mới giải phóng ở Đông Hà, Quảng Trị. Năm 1976 nhập tỉnh Bình Trị Thiên em vào Huế. Hai đứa được cơ quan cử sang, cùng mấy người để giữ cơ sở Viền Đệ công ty mới mua. Ở chỗ Viên Đệ ấy có một  cái lầu vọng nguyệt rất đẹp. Đêm trăng nào chúng tôi cũng lên đó ngồi chơi. Rồi quen nhau. Là người đồng cảnh ngộ , đến với nhau vì tình yêu chân thật. Cái lầu thưởng trăng Viễn Đệ ấy bây giờ, sau gần 40 năm vẫn còn!

 

Huế trăm năm kinh đô Đại Việt nên đám cưới nghi lễ long trọng và phức tạp lắm. Muốn cưới phải đến chùa Phước Điền đăng ký giờ xin thầy Thượng tọa coi cho ngày giờ làm lễ bỏ trầu, lễ đính hôn (lễ hỏi), ngày cưới, giờ rước dâu (gọi là lên xe hoa) để xem năm sinh, giờ sinh, ngày sinh và mạng của hai người có hợp không. Ngày được chọn  để làm lễ hỏi hay lễ thành hôn, vu quy là ngày tốt mà thỏa mãn được sự xung khắc tuổi, mạng. Rồi phải sắm 105 quả cau, 105 miếng trầu cánh phượng, rồi 105 cặp nem chả, 2 đòn chả…Sắm hộp quả sơn son thếp vàng đựng cơi trầu, nậm rượu, cặp đèn nến. Rồi phải thuê xe đi hỏi, thuê xe rước râu, đặt cơm nhà hàng…Cô dâu phải ra tiệm thuê áo ưới, trang điểm, rồi người chụp ảnh, quay video…Khi đi hỏi hay xin rước dâu bên trai phải phục lạy bàn thờ tiên tổ bên gái. Rồi lễ vu quy bên gái, lễ thành hôn bên trai. Cô dâu phải may hoặc thuê áo cưới, ra phố  trang điểm.v.v.. Đã trang điểm rồi thì mót đái cũng cố nhịn. Bởi thế mà có chuyện người ta rước dâu từ Đà Nẵng ra Huế, phải vượt đèo Hải Vân, hơn hai tiếng đồng hồ chưa tới, nên cô dâu mót tiểu, võ bong đái  mà chết ngay trên xe hoa !

 

Nhưng Huế lúc đó đã sống trong bao cấp hai năm rồi. Chúng tôi là cán bộ công chức nhà nước, yêu nhau nhưng hai gia đình ở xa, cũng chẳng có tiền để cưới theo lối Huế, nên đành cưới giản dị theo “kiểu miền Bắc xã hội chủ nghĩa”. Chẳng đi bỏ sêu, dạm hỏi hay rước dâu gì cả. Quê vợ tôi ở Tân Kỳ, Nghệ An cách Huế tới 500 cây số, hồi đó xe tàu khó lắm, nên hai gia đình nội ngoại chẳng gặp nhau lần nào. Tôi chỉ viết lá thư gửi cho bố vợ tôi là ông Nguyễn Trọng Ngọ, lúc đó là Chủ tịch UBND huyện Tân Kỳ trình bày đôi nét về gia đình và bản thân mình, rồi xin phép bố mẹ cho hai đứa tổ chức đám cưới, do cơ quan tổ chức. Thư gửi đi rồi, tôi cứ  thấp thỏm lo ông không đồng ý mà bắt phải làm đủ thủ tục thông thường thì gay go. May ông cụ chủ tịch huyện lại có tư duy mới mẻ, không thuộc trường phái “bố mẹ đặt đâu con ngồi đấy”. Ông viết thư vào nói “chuyện trăm năm” của các con các con tự định đoạt . Bố mẹ đồng ý. Miễn sao là thương yêu, tôn trong nhau. Thế là cưới. Mời miệng anh em trong cơ quan, chứ chẳng in thiệp thiếc gì cả. Đám cưới tổ chức ngay ở hội trường cơ quan. Chẳng phải thuê mướn . Bên nhà gái chỉ có ông cậu ruột của vợ tên là Võ Công Giai, bên nhà trai thì  ở Lệ Thủy gần  nên vào hơn chục người.

 

May là đám cưới của tôi không có ông chủ tịch xã, nên đỡ nghe huấn thị hàng giờ như đám cưới anh Ninh ở làng. Nhưng vẫn có phông màn vẽ đôi bồ câu mớm cho nhau, hai chữ KT ( Khôi-Tâm) lồng nhau trong trái tim hồng và câu khẩu hiệu kinh điển“ Vui duyên mới không quên nhiệm vụ”, rồi Trăm năm hạnh phúc, do kỹ sư thương nghiệp Nguyễn Văn Bạo, người bạn học với tôi từ vở lòng đến đại học rồi lại cùng đơn vị công tác tôi đã kể trên kia trang trí. Tiêu chuẩn cung cấp  cho dám cưới hồi đó là chỉ 5 tút thuốc lá Tam Đảo, 10 gói trà loại hai, 5 cân kẹo Hải Hà. Có người như nhà báo Thanh Tùng muốn cưới vợ phải mua tích trữ hai năm liền mới đủ thuốc lá, trà, kẹo để làm đám cưới. Thuốc lá, trà, kẹo mua về bọc kín trong mấy lớp giấy bóng, hai năm sau bóc ra vẫn thơm. Đám cưới của tôi không có MC dẫn chương trình nói năng lưu loát như bây giờ. Tất cả tự biên tự diễn.

 

Ông Giám đốc Công ty Thực phẩm nông sản tên là Đỗ Thoan “quyết định” cử ông ông Nguyễn Trọng Hoành,  phó Trưởng phòng Tổ chức cán bộ Công ty làm chủ hôn. Ông Hoành nói năng xởi lởi, tếu táo nên ai cũng vui. Khách dự cưới toàn  anh em trong Công ty Thực phẩm nông sản. Hồi đó tôi chưa xuất hiện trong giới văn chương báo chí nên không ai biết. Đám cưới không có quay phim nhiếp ảnh gì cả. Sau khi cưới xong nhà báo Thái Sen, người Quảng Bình quen biết từ Hà Nội vào Huế công tác mới chụp cho hai vợ chồng tấm ảnh chung để kỷ niệm đám cưới. Lúc đó cô dâu mặc áo Hồng Kông (một loại áo cánh may theo kiểu Hồng Công), quần lụa. Cũng chẳng làm đầu, son phấn gì . Viết đến  đây tôi lại nhớ câu thơ nước ngoài hay và chí lý: “Em thế nào cứ thế mà đến / Chớ có loay hoay sửa soạn áo quấn”. Còn chú rể là tôi thì mặc bộ quần áo sơ-vin vẫn đi làm hàng ngày, chẳng com-le cà vạt, cũng chẳng thắt mơ, gắn hoa hồng gì. Thú thực lúc đó tôi không có tiền để may comlete. Hơn nữa tính tôi cũng không thích ăn mặc chải chuốt. Đơn giản thế mà tiệc cưới vui đáo để. Nhiều người đọc thơ, hát. Cả ông giám đốc Thoan già cũng ứng khẩu đọc thơ  vui :

                             Em cưới chồng rồi, anh cưới ai

                             Nhớ thương như pháo nổ inh tai

                             Rồi e tim vỡ thành muôn mảnh

                             Em cưới chồng rồi anh cưới ai.

Cả hôn trường cười bò ra vì những câu thơ tếu đúng chỗ. Cô dâu chú rể thì đi mời thuốc lá từng bàn. Mọi người hát. Lại những bài hát hừng hực không khí chiến đấu mà đám cưới nào cũng giống nhau. Bây giờ mà tổ chức cưới lại (theo kiểu đám  cưới bạc, đám cưới vàng) chắc phải cưới khác, tưng bừng hơn.

 

Đáng nhớ nhất là chuyện bạn bè mừng cưới. Quà mừng cưới bằng hiện vật chất đầy một bàn. Cơ quan thì mừng cái phích nước, cái mâm nhôm. Bạn bè thì mừng áo gối, quần áo trẻ em đủ cỡ, rồi song nấu cơm, ấm nấu nước. Rồi chậu giặt, chậu rửa mặt bằng nhôm Hải Phòng. Nhiều nhất là bộ ấm chén uống trà và loại song nhỏ có cán cầm để khuấy bột cho trẻ con ăn. Có tới hàng chục bộ ấm chén trà. Riêng song có cán  to nhỏ  hai vợ chồng tôi dùng mãi đến khi hai cháu học cấp ba rồi mà vẫn còn ! Tôi có cảm tưởng quà mừng cưới thời bao cấp bằng hiện vật cụ thể như thế tình cảm đậm đà hơn bằng đi phong bao bây giờ. Phong bao thì tiện hơn là vợ chồng mới cưới muốn mua thứ gì cần cho nhu cầu sống chung hay sinh con thì mua, tiện cho cả người biếu và người nhận, không bị động. Nhưng trong thâm tâm tôi luôn nghĩ, bạn bè khi ra phố chợ chọn mua bộ ấm chén, bộ quần áo trẻ con…là một lần họ nghĩ về hạnh phúc của bạn mình, dành sự lựa chọn để cho niềm mong mỏi cuộc sống vợ chồng của bạn, con của bạn tốt hơn. Động thái đó nó ấm áp tình người hơn việc bỏ tiền mừng vào chiếc phong bì, nhiều khi một cách vô cảm.

 

          Thời bao cấp, không hiểu tại sao những người tham mưu ở Bộ Thương nghiệp nghĩ ra ra đủ loại tem phiếu số mua hàng đến từng thứ nhỏ nhặt nhất như kim chỉ, thế mà họ quên không có tiêu chuẩn cung cấp cho đám cưới. Đáng lẽ mỗi đám cưới phải được bán với giá cung cấp một chiếc màn đôi, một chiếc giường đôi, rồi chăn, gối, nệm… chứ, là những thứ cốt yếu nhất để vợ chồng trẻ ra “ở riêng”. Chẳng có gì cả. Muốn mua màn đôi, chiếu, chăn phải  xin giấy giới thiệu của cơ quan, có công đoàn giới thiệu bên cạnh, kèm theo giấy đăng ký kết hôn đến Công ty Công nghệ phẩm tỉnh chầu chực xin mới được. Chúng tôi nghèo, lại không quen biết nên  rất ngại đi xin xỏ. Sau này công tác tại  Phòng Tổ chức cán bộ Sở Thương Mại Bình Trị Thiên  tôi đã dẫn nhiều người bạn thân đi xin mua các thứ thiếu yếu trên cho đám cưới của họ. Thế nào rồi họ cũng mua được thứ mình cần khi cưới vợ, nhưng nếu mà nghĩ ra tiêu chuẩn cung cấp từ đầu thì nhà nước chu đáo hơn, tình cảm hơn với người dân. Đơn giản  thế nhưng những người làm chính sách thời bao cấp ấy đã không nghĩ đến. Đó và sự thiếu văn hóa nhân văn cần thiết của chính sách. Âu cũng tại thời buổi người đông của khó.

 

Cưới nhau xong, công ty ngăn cho chúng tôi một cái phòng khoảng 15 mét vuông ngay trong văn phòng công ty để ở . Hồi đó cái gọi là “ khu tập thể” cơ quan, xí nghiệp là một dãy nhà cấp bốn, ngăn thành nhiều phòng, mỗi phòng chiều ngang khoảng 3,5 đến 4 mét, chiều sâu khoảng 7 mét . Chỉ có tường bao xung quang là xây gạch hoặc bơ-lô, lợp ngói. Còn vách ngăn giữa các phòng thì bằng cót ép hoặc bằng ván ép. Gia đình đông con cũng chỉ ngần ấy mét vuông. Gia đình vợ chồng ly dị thì ngăn đôi căn phòng ấy ra. Chồng ở ngoài, vợ ở trong. Vợ có người yêu mới đêm hôm đưa về ngủ chung, còn anh chồng thì  nằm phía ngoài trùm chăn thở dài. Những cảnh tượng oái oăm ấy thường xuyên xẩy ra ở các khu tập thể thời  bao cấp ở Hà Nội.

 

Nhắc đến khu tập thể, dù đang kể chuyện đám cưới, cũng xin dúng lại để kể chút xiu về khu tập thể một thời. Sống trong khu tập thể, hhổ nhất là đi cầu. Cả khu tập thể có khi 15 hay 20 gia đình chỉ có một cái hố xí bệt, một ngăn hoặc hai ngăn. Cứ sáng sớm hay chiều tôi là đông nhẹt người xếp hàng đi cầu. Ai đi cầu cũng xách một xô nước để xả. Người bị đau bụng đi lỏng có khi không chịu nổi phải ị ra cả quần. Tôi sống ở Khu Viễn Đệ, khu tập thể nhưng có nhà cầu của cơ quan rộng rãi. Còn  khi gia đình chuyển lên Khu tập thể 31- Phan Bội Châu, thì đugns là 20 gia đình chỉ có hai cái cầu bệt. Tôi đã nhiều lần chờ không  nổi phải chạy vào nhà mình ị vào bô trẻ con. Hình như những người  thiết kế nhà cửa thời bao cấp không hề quan tâm đến “đầu ra”. Tất cả mọi người, con gái con trai mới lớn, trẻ con, người già đều nhẵn mặt nhau ở cái nhà cầu tập thể nhơ nhớp và đông chật ấy hàng ngày.  Một ngày qua, cầu đầy, không ai dội, đau bụng vào ngồi cầu như ngồi trên đống cứt! Hôi hám nhơ nhớp không chịu nổi. Giờ nhớ lại vẫn  nổi da gà! Đúng là một thời cán bộ công chức nhà nước  sống khốn khổ như thế. Nhưng chẳng ai có ý kiến  đề xuất phản đối  gì!

 

Chỗ tôi ở là Khu Viễn Đệ ( 13-Phan Đình Phùng lúc đó), là khu nhà của ông Viễn Đệ, một tư sản dân tộc có bà vợ ba lúc ở Pháp là người phục vụ Bác Hồ khi bác sang Hội nghị Phôngtenblu năm 1946. Ông bán cho Công ty Thực phẩm nông sản với giá 20 triệu năm 1976. Khuôn viên khu nhà như một vườn hoa, rất đẹp. Tôi ở  căn phòng bên rìa của nhà tập thể . Cái vách ngăn bằng cót ép, nên ban đêm bên kia làm gì bên này đều “thấy“ dù  tắt đèn. Có lần tôi thức làm thơ tới  hơn một giờ sáng. Đưa trẻ nhà bên thức dậy la lớn :” Êu ơi, mẹ ở lổ ! Răng mẹ ở lổ” ( ở lỗ tức là cởi truồng). Chết cười .

 

Vợ chồng tôi khuân hai chiếc giường đơn công chức đến nhờ cậu ruột của vợ tên là Võ Công Giai ở Ủy ban Kế hoạch tỉnh Bình Trị Thiên  ghép thành cái giường đôi. Chúng tôi chỉ là phiếu E nên không có chế độ mua quạt máy. Mùa hè phải dùng quạt mo ở quê cho. Đến khi đẻ đứa con đầu, đi xin mãi mới được chiếc quạt cóc nội. Đêm nóng, bố mẹ dịch cái quạt nhỏ xíu  sang mình một tí là thằng cu  Ngô Hải Bình thức dậy la hét lên “quạt, quạt”. Phải suốt đêm thổi quạt vào đít nó nó mới ngủ. Cứ chịu nóng như thế đến ba bốn năm sau mới mua được chiếc quạt Hoa Sen 25 đồng. Chỗ ở của chúng tôi nằm cuối dãy nhà cấp bốn, nên bên cạnh còn có mấy chục mét vuông đất. Thế là vợ chồng tôi tranh thủ trồng bí, bầu, su su, trồng khoai lang lấy ngọn nấu canh, còn lấy thân để cho lợn ăn. Cứ chiều đi làm về là xắn quần móng lợn cuốc, tưới, xới, trỉa. Chỉ đám đất nhỏ thế mà rau, bầu bí, su su ăn không hết, vợ tôi mang đi cho các gia đình trong cơ quan. Mấy năm “tăng gia” như thế tôi đã trở thành người lao động chân tay thực thụ. Chúng tôi sinh hai đứa con trai ở đó. Mấy cháu sau này trở thành những kiến trúc sư giỏi giang ở Huế. Hồi đó hai vợ chồng chỉ có lương cơ bản, công thêm chút tiền nuôi lợn, chút tiền viết báo,cũng không trang trài được cuộc sống với nhiều như cầu phức tạp. 10 năm cưới nhau gia đình vẫn chỉ mới có cái quạt hao sen để quạt cho mấy cháu. Bài thơ Nhật lý Bấn Ngự kỷ niệm  10 năm, ngày cưới tôi viết hồi đó bây giờ đọc lại thầy buồn ngơ ngẩn:

 

thôi, buồn chi em

mười năm mình không mua nổi chiếc quạt Bông Sen (*)

bạn bầu đến trưa hè phẩy sách

gió ở đây thật nhiều !

 

 

con dốc nghiêng oằn đòn gánh

chị bán bánh canh đi chân đất

gánh nồi bánh sôi và bếp than hồng

tinh mơ vượt dốc sương

quệt mồ hôi tay áo

nghe chị ở đâu  tận nghẹo Giàng Xay, An Cựu

không ai biết tên chị

nhưng chị thuộc hết tên xóm mình

biết chiều cu Tân tí hành tí cay cũng lẫy

biết chiều o Bông bắt mức từng đồng để được rẻ hơn

ngặt tiền bánh canh sáng dành trẻ nhỏ

em ăn cơm nguội rang

tin nhau nhiều lần chị cho ăn nợ

một mình chị mà khách ăn cả xóm

cả xóm quây quanh buổi sáng bếp than hồng…

 

 

 

*    *

*

 

Nói chuyện yêu đương cưới xin tôi cứ nhớ mãi chuyện cái bao cao su thời bao cấp. Khi ra quân, vì lính tráng ít tiền nên để có quà cho bọn trẻ con ở  quê,  ở Sài Gòn tôi mua mấy gói bóng cao su thổi đủ màu. Hồi đó một túi bóng 100 cái chỉ mấy đồng tiền Giải phóng, lại kèm thêm dây chun để buộc. Ra chợ Bến Thành những ngày quân quản năm 1975- 1976 ấy, mua thứ gì bà con cũng bán một biếu một. Tôi hỏi chị bán hàng, mua một  biếu một thì lời vào chỗ nào ? Chị thật thà:” Đó là họ khuyến mại. Thực tế mua mười cái là họ tính tiền 20 cái rồi đấy !.Lại một mẹo bán hàng mà tôi chưa từng học ở Trường Đại học Thương Mại !

 

Tôi mang về làng Thượng Luật quê tôi, phân phát cho mỗi đứa trẻ trong làng hai cái bong bay. Chúng sung sướng thổi lên rồi buộc dây chạy khắp xóm. Khi ra Hà Nội tôi mang ra một gói bóng bay thổi bằng hơi ấy để biếu trẻ con các gia đình quen biết từ thời sinh viên. Ở Hà Nội lúc đó chưa có loại bóng bay thổi này. Vào nhà nào mọi người cũng khen bóng bay Sài Gòn thổi lên rất to, màu sắc đẹp. Các chị bạn bảo rằng, ở Hà Nội này trẻ con mê chơi loại bóng cao su khác. Ngộ lắm. Đó là  những chiếc bóng ca-pốt (bao cao su) mà những người có vợ có chồng dùng để sinh đẻ theo ý muốn hay tránh lây bệnh khi sinh hoạt tình dục. Bao ca-pốt này người ta bán ở một số hiệu thuốc có chỉ định, hay ở Cửa hàng Tôn Đản. Mua khó lắm, không phải ai cũng mua được. Nhưng rồi người  lớn mua về, dùng không hết, hoặc ngại không dùng, liền thổi lên to như quả bóng đá cho trẻ con chơi. Chúng treo loại bóng cao su màu sữa ấy ngay cửa ra vào các căn hộ tập thể. Rồi có nhà còn thổi ca-pốt  to lên, nhuộm màu ,vẽ râu, mắt mũi để trang trí ngày tết. Bóng treo tòng teng ở cành đào. Bọn trẻ chẳng đứa nào biết những quả bóng “sành điệu” kia vốn được dùng cho việc gì để mà ngượng. Còn người lớn thì không thèm ngượng. Vào thời mọi thứ đều khan hiếm, tờ giấy bạc lót bao thuốc lá còn quý như vàng (vì bao thuốc lá xịn mới có), được dùng làm đủ các vật trang trí cho sang nhà, cũng là một sáng tạo của con người trong thời  ngặt nghèo ấy.

 

Những ngày bao cấp ấy, đám cưới nào của cán bộ công chức cũng đều diễn ra như thế. Lùi xùi, đơn giản như số phận. Cho đến ngày đổi mới mở cửa đám cưới ở Huế mới trở lại thời vàng son của mình. Nhưng hình như những đám cưới nghèo, vợ chồng thường chung thủy, ít ly dị hơn những đám cưới sang trọng tổ chức ở các nhà hàng đắt tiền?. Tôi cảm nhận thế vì tôi đã đi dự mấy đám cưới ở các nhà hàng như Khách sạn Hương Giang,Century…sau này đều chia tay cả. Mỗi lần nhận được giấy mời  đi đám cưới ở các chỗ sang trọng đó, tôi rất ái ngại vì mình nghèo, không có  áo quần cho phù hợp. Tính tôi lại hay thích ngồi chỗ bụi. Nên đám nào thân thiết lắm mới phải đi, Nhưng khi thấy  bọn trẻ chia tay nhau thì buồn lắm…

 

 

 

Advertisements

Categories

%d bloggers like this: