Đăng bởi: Ngô Minh | 08.03.2017

THỜI THẾ THẾ THỜI THỜI PHẢI THẾ

ĐỌC SÁCH “SỐNG THỜI BAO CẤP” CỦA NGÔ MINH:

THỜI THẾ THẾ THỜI THỜI PHẢI THẾ

 Ngô Minh

          Bao cấp là thời kỳ gian khó với cơ chế kế hoạch hóa, tập trung quan liêu không thích hợp, tạo ra sự đói kém cả về vật chất lẫn tinh thần cho xã hội, đặc biệt là gia đoạn từ 1975 đến  1986. Đây là thời kỳ được gọi là điển hình nhất của thời bao cấp ở nước ta. Cả một bộ máy duy ý chí, thích gì thì làm, không cần tính đến hiệu quả kinh tế và xã hội. Xin kể hầu bạn đọc vài ba chuyện duy ý chí một cách quái đản như vậy.

Xã hội khan hiếm hàng hóa đến mức, có một vị lãnh đạo nhà nước vào thăm tỉnh Bình Trị Thiên. Lãnh đạo tỉnh lúc đó đưa lãnh đạo Trung ương đi thăm các vùng trong tỉnh. Ra đến phá Hạc Hải của huyện Lệ Ninh ( hai huyện Lệ Thủy và Quảng Ninh nhập lại để ”làm ăn lớn”, một thời gian sau này lại tách ra), lãnh đạo tỉnh bốc đồng huyên thuyên rằng, nơi đây sắp tới có thể trồng hàng ngàn hec-ta cói, rồi dệt chiều không thua gì Thái Bình, Ninh Bình. Thế là trong kế hoạch phân phối hàng hóa năm sau, Bộ Thương Mại không  phân bổ kế hoạch cung cấp chiếu cho Bình Trị Thiên nữa, vì “đã tự sản xuất được” ! Lãnh đạo Sở Thương nghiệp đã kéo cả bầu đoàn thê tử ra Hà Nội cả một tuần lễ để  thuyết phục Vụ Kế hoạch của Bộ phân phối chiếu cói cho Bình Trị Thiên, chứ  chưa thể tự sản  xuất được. Đúng là cách làm việc tập trung quan liêu duy ý chí. Lại có năm lãnh đạo tỉnh (Bình Trị Thiên) bốc lên quyết định triển khai “dự án nhà máy 3.000 cọc sợi” để dệt vải giống như Nhà máy Dệt Nam Định ở vùng Kim Long, thượng nguồn sông Hương. “Để tiến tới tự túc vải mặc cho tỉnh”. May mà có  mấy  ông là Kiến trúc sư, nhà văn hóa , dẫn đầu là Kiến trức sư Nguyễn Trọng Huấn phản đổi kịch liệt, tỉnh mới không làm, không thì cả Quần thể Di sản văn hóa thế giới và Sông Hương sẽ bị ô nhiễm không cứu vãn được.

Tư duy kinh tế kiểu tiểu nông bao cấp như thế không phải bây giờ đã hết. Một giai đoạn sau năm 1985- 1986, nghĩa là trước đêm đổi mới, các tỉnh đưa nhau làm nhà máy bia, nhà máy xi măng lò đứng, nhà máy thuốc lá, nhà máy sắn vo viên.v.v.. Tất cả các thứ nhà máy “sản phẩm của duy ý chí” ấy bây giờ đã thành quá vãng đau buồn. Ở Bình Trị Thiên, anh Phan Đình Chi, Trưởng ty Thương nghiệp ( đã mất) là người đề xuất dự án trồng thuốc là lá để tiến tới xây dựng nhà máy thuốc là “của tỉnh”. Anh bống nhiên hỏi tôi:

– Ngô Minh Khôi có học về thuốc lá không?

Tôi bảo:”

– Thưa anh, ở Trường Đại học Thương Mại, em học kinh doanh ngành thực phẩm mà, Có học cả thuốc là, bia rượu….

Nét mawtgsj anh bống rạng rỡ. Anh đứng lên vào phóng trong bê ra một thẩu rượu thuốc mã tiền ( rượu uống để tăng sinh lực đàn ông), rốt một ly cho tôi, rồi cười phán:

– Uống đi! Mình lệnh cho ông phải nghiên cứu viết một cuốn sách về cây thuốc lá. Chúng ta sẽ xây một nhà máy thuốc lá của tỉnh !

Thế là tôi bất đầu suu tầm tài liệu, xem lại giáo trình ở trường hồi đi học, để viết một cuốn sách “Cây thuốc lá”, in thành sách để làm tài liệu cho các địa phương trồng thuốc lá theo lệnh của Giám đốc Sở – Bí thư Ban cán sự Đảng Sở Thương Mại Phan Đình Chi. Tôi và anh Đinh Quý Xướng (đã mất) được phân công trực tiếp viết cuốn sách này. Ở Đaị học Thương Mại tôi có học hơn trăm tiết về mặt hàng thuốc lá, nhưng chẳng biết kỹ thuật trồng như thế nào. Nên phải đi ra Phong Điền, Quảng Điền tìm hiểu bà con nông dân trồng thuốc là tới mấy tuần liền. Ang Chi say “cây thuốc lá” đến mức, tối nào anh cũng đạp xe lên Viễn Đệ , nơi gia đình tôi đang ở, ngồi  thức đêm để coi tôi viết. Anh pha cà phê sữa cho tôi uống. Lại mang cả thẩu rượu bổ có ngâm mã tiền đến nhà mời tôi. Những lúc ấy tôi thấy mình quan trọng thật! Tôi viết được trang nào anh đọc duyệt ngay để sáng hôm sau đưa cho người đánh máy. Thế mà một tháng xong cuốn sách cây thuốc lá gần 100 trang. Nhà xuất bản Thuận Hóa in cả ngàn bản. Sách được phát xuống tận hộ sản xuất  ở Phong Điền, Quảng Điền.

Và hai năm sau, tỉnh Bình Trị Thiên xây cái nhà máy thuốc lá lớn. Nhưng sản xuất được ba năm thì thua lỗ không chịu được, phải dẹp. Bây giờ khuôn viên đó là Trường Đảng Nguyễn Chí Thanh, rồi phân hiệu Trường Nguyễn Ái Quốc tại miền Trung trên đường Phan Bội Châu, Huế. Nghĩa là tôi cũng đã hăng hái tham gia vào sự điên rồi duy ý chí thời bao cấp đó một cách u mê, tự nguyện. Đủ thứ nhà máy thời bao cấp ấy một thời gian  bị vứt bỏ nhưng không thanh lý được. Đó là nhà máy thuốc lá, nhà máy sắn vo viên, nhà máy xi măng lò đứng, nhà máy bia…Những phát kiến duy ý chí mang tính tiểu nông ấy đã tiêu tốn không biết bao nhiêu ngân sách nhà nước mà chẳng ai bị kỷ luật hay truy cứu trách nhiệm hình sự! Nếu tính cho chi ly, nạn kế hoạch hóa, đầu tư duy ý chí ấy đã tiêu tốn số tiền ngân sách hàng trăm ngàn tỷ đồng. Nếu số tiền ấy đầu tư mua sắm hàng tiêu dùng thì cuộc sống nhân dân đỡ khổ biết bao nhiêu. Nhưng đó là nói chuyện nhà nước. Còn dân gian thì bao giờ cũng có cách sống với phương châm “Thời thế thế thời thời phải thế…”

*      *

*

Trong cái xã hội cung cấp phân phối đến từng mặt hàng, đến từng con người ấy, không ai có quyền lựa chọn trong thụ hưởng cuộc sống vật chất. Nhưng cái khó ló cái khôn. Trong cái đói kém ngặt nghèo đó, có rất nhiều những câu chuyện cảm động về sự năng động, sức sáng tạo vô biên của người dân nhằm thoát ra khỏi sự túng quẫn. Mọi người luôn xoay xở và tìm đủ mọi cách để làm sao tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống theo khả năng và hoàn cảnh của mình. Ở nông thôn thì có “ruộng 5%”, rồi “khoán chui”. Ruộng 5% mà đưa lại thu nhập cho bà con hơn cả mênh mông cánh đồng hợp tác. Trên mảnh ruộng 5%, người nông dân làm tới ba bốn vụ, hai vụ lúa một vụ màu, rồi  trồng rau đậu, đủ thứ. Còn ruộng hợp tác thì chẳng ai màng đến, nên thu nhập hợp tác xã chỉ hai lạng thóc một công. Nghĩa là một tháng làm đủ 30 ngày, chỉ được 6 cân thóc, tức 4 cân gao. Ăn gì mà sống? Ở đô thị thì xuất hiện hàng trăm loại “nghề” mới . Lương thiện có,  liều lĩnh có, đã ra đời trong những năm tháng ấy, mà bây giờ kể lại sẽ làm nhiều bạn trẻ ngạc nhiên, không thể tưởng tượng nổi…

Không thể kể hết các nghề sinh ra thởi bao cấp. Muôn hình vạn trạng. Đó là các nghề ít vốn, dễ làm, có hiệu quả. Làm nghề này một thời gian không có kết quả lại nhảy sang nghề khác. Con người xoay như chong chóng. Tôi thử nhẩm đếm mà không sao đếm hết. Đầu tiên là những nghề “ hậu chiến tranh” . Từ cái  nghề  đi kiếm vải bao bột bột mì, vải bao cát lấy ở các cứ điểm quân sự của Mỹ để may quần đùi, tấm đắp bán cho nhà nghèo các làng quê. Đến nghề lấy cắp các tấm nhôm lát đường băng sân bay ở các căn cứ quân sự của Mỹ như Đà Nẵng, Chu Lai…rồi đúc song nấu ăn các cỡ, chậu rửa mặt, mâm nhôm bán ra thị trường. Tôi có đứa em vợ, quân quản ở Đà Nẵng sau chiến tranh đã mua một chồng song nhôm, mâm  nhôm đưa ra Huế biếu anh chị để nấu ăn và nấu cám lợn.  Đến nghề vô cùng nguy hiểm là rà sắt phế liệu. Một thời sắt phế liệu là mặt hàng xuất khẩu “chủ lực” của các tỉnh miền Trung, sau mới đến lạc. Ở trên Quộc lộ 1A, xuất hiện rất nhiều điểm thu mua phế liệu chiến tranh. Phế liệu đã trở thành nguồn sống của hàng triệu người. Cả công ty nhà nước và người dân đều lao vào mua phế liệu, khai thác sắt phế liệu.

 

Thời đó, nguyên liệu cho các nhà máy cán thép ngày càng đắt đỏ. Nên các nước trong khối Comicom phe Xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu nhập rất nhiều sắt phế liệu từ Việt Nam. Hơn nữa sắt phế liệu rất rẻ, luyện ra thành thép giá thành sẽ thấp hơn. Anh Phan Đình Chi, giám đốc Sở Thương Mại Bình Trị Thiên đã nói ở trên có lần đã dẫn một đoàn tùy tùng vào Đà Nẵng  đàm phán mấy ngày mới ký được cái hợp đồng xuất khẩu 5000 tấn sắt phế liệu cho một công ty nước ngoài.  Ký được hợp đồng, anh Chi mừng không ngủ được. Tôi thấy anh cứ đốt thuốc lá đi đi lại lại dọc hành lang khách sạn. Rồi  lấy sổ sách ra ước tính phân chỉ tiêu “sắt vụn” cho từng huyện để tổ chức thu mua. Anh bảo nếu vụ này hoàn thành cũng kiếm được nửa triệu đô-la! Nửa triệu đô tức bằng một phần tư thu ngân sách của tinh lúc đó!. Lớn lắm chứ! Nghề này phát triển rầm rộ ở các  tỉnh có nhiều bom mìn Mỹ rải trong chiến tranh như Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Công Tum, Gia Lai…. Người ta sắm cái máy rà gắn  nam châm tự tạo, có cái cần dài, đi đến đâu thì rà đến đó. Có sắt dưới đất là máy hú báo động liên tục. Thế là cuốc thuổng hì hục đào bới. Có khi cuốc phải bom, mìn nổ bất ngờ, không lường trước được. Đã có không ít người tử nạn. Ở Khe Sanh, Quảng Trị có gia đình chết cả nhà vì người chồng đưa mấy quả đạn 105 ly về nhà đục để lấy thuốc nổ làm mìn ném cá. Chẳng may chạm phải ngòi nổ. Thế mà cái nghề chết tiệt ấy cho đến nay vẫn còn. Đi xe đò ngang qua Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam ta vẫn thấy những trạm thu mua chất đầy phế liệu chiến tranh  ở dọc đường. Không ai thống kế hết số người chết vì rà sắt phế liệu làm bom mìn nổ sau chiến tranh. Nhưng chắc chắn phải là con số vạn, hoặc hơn, nhiều nhất ở miền Trung. Đúng là một “cuộc chiến tranh sau chiến tranh”. Đau thương và tàn khốc do chiến tranh vẫn tiếp tục xảy ra đối với người quê tôi!

 

Buồn cười nhất là có nhà văn trẻ quê bên sông Gianh tự viết một kịch bản phim về quê mình, rồi liều mạng mời cả xưởng phim ngoài Hà Nội dắt theo một đoàn các em chân dài, mắt xanh mỏ đỏ từ Hà Nội về huyện để đóng phim. Cả huyện nhìn các em diễn viên đi trên đường mà lác cả mắt. Thiếu tiền nuôi phim,  nhà văn liền gợi ý với  huyện sẽ xin Bộ Thương Mại quota ( tức kế hoạch nhà nước) xuất 500 tấn sắt phế liệu, với điều kiện huyện phải ứng trước 100 triệu đồng để “chạy quota”. Lãnh đạo huyện thấy dàn diễn viên điện ảnh hùng hậu về đó, rồi sẽ có bộ phim về huyện nhà, lại được dịp tăng kim ngạch xuất khẩu, vì kim ngạch xuất khẩu đang chưa đạt kế hoạch . Ứng trăm triệu mà được  quota 500 tấn sắt thì hời quá!. Thế mà ưng ngay. Tiền ứng chi cho phim hết rồi mà quota sắt vụn thì không xin được. Thế là nhà biên kịch phim bị ra tòa với tội “lừa đảo”. Tòa án huyện xử anh ba năm tù. Rõ là tình ngay nhưng lý gian. Thật khổ thân nhà đạo diễn trẻ mới chạm vào nghề đã mang lấy vạ!

 

Ở Huế và nhiều thành phố phía nam có nghề sản xuất “bia khổ”. Cũng gọi là bia, cũng gắn những nhãn hiệu lẫy lừng như Con Cọp, Chương Dương, Vạn Hạnh.v.v.. Cũng đóng chai 0,5 lít, có sục khí để mở nút chai là bọt trào ra như bia thật. Nhưng đây là bia làm bằng cồn pha với nước lên men rượu loãng, không lên men bia như ở nhà máy bia Huda. Người uống bia này thường nhức đầu và không đi tiểu được, nên mới gọi là “bia khổ”. Có nhà thơ vườn sống bằng nghề làm bia khổ đã tự bạch :

                             Một gánh lọ chai ráng quẫy dìa

                             Hỏi chi bán đó: Dạ rằng bia

                             Chương Dương đặc chế rầy vài giọt

                             Con cọp gia công cồn mấy thìa

                              Gồng gánh gióng đòn vai cải tạo

                              Lổ lời, thua được vợ con chia…

                             Nghĩ mình gian ác toan nghề khác

                              Sợ đám lưu linh ghét bỏ rìa.

 

Nhà văn Nguyễn Quang Lập, ngày còn ở Huế là một đệ tử bia khổ, kể : “…hầu như ngày nào Lập cũng kéo anh em bạn bè lên Trường Đảng uống bia khổ. Bia khổ là loại bia hơi đóng chai, mùi khăn khẳn, hôi hôi, nồng nồng, ai không quen chỉ nhấp vào một ngụm là oẹ liền. Uống say thì nhức đầu kinh khủng khiếp. Được cái giá cực rẻ, mỗi chai có 600 đồng. Hồi đó bia Huda chai ba ngàn sáu, bia này chỉ có 600 đồng, vẫn biết là bia dởm, rất độc hại nhưng dân nhậu nghèo như tụi mình không ai chê, chiều nào cũng nhậu nhẹt say sưa…”, cốt là cho đã cái ghiền! Tôi cũng nhiều lần uống và say cái thứ  bia  kinh dị ấy. Bây giờ nghĩ lại mà kinh.

 

Các nghề đơn giản hơn thì có nhiều: Nghề bơm mực bút bi. Bút bi bây giờ viết hết mực thì vứt. Chứ hồi bao cấp, ai có bút bi thì sang lắm, oai lắm. Viết bi hết mực thì đưa cái ruột ra vỉa hè có ông thợ bơm mực cho. Bơm đi bơm lại nhiều lần, khi nào cái đầu bi bị hỏng mới thôi.  Rồi bơm quẹt ga. Hồi đó ai có cái bật lửa ga là oai phong lẫm liệt. Rút cái bật lửa  xanh vàng tím đỏ ở túi ra, ấn một cái là lửa lè ra cho bạn bè châm thuốc. Xong đút vào túi với bộ mắt mãn nguyện! Sau này nói biết ở nước ngoài thứ đó quẹt ga, bút bi, hay đồng hồ điện tử…người ta bán cân, một cân có mấy chục “đô”. Nhưng vì bao cấp, đất nước bế quan tỏa cảng “cấm thụt ra thụt vào”, nên bọn buôn lậu nó nhập vào cái gì là lạ,là dắt thứ đó! Cấm cái quẹt ga, đi nơi khác, lại rút trong túi ra, quẹt xòe cái, lửa phụt xanh lè, rồi giơ lên châm thuốc cho người này người khác. Ai cũng  nhìn theo thèm thuồng. Nên hết ga thì bơm lại chứ mua cái mới thì đắt lắm.

 

Tiếp đến là nghề làm bếp lò đun trấu, đun củi ít tốn nhiên liệu; nghề chạy xe đạp ôm (xe đạp, xe máy) chở khách. Nghề này khởi từ đội ngũ công chức hành chính, quân nhân, giáo viên dạy các môn xã hội của Chính quyền Sài Gòn, sau năm 1975 không được chính quyền mới sử dụng, nên thất nghiệp. Họ phải xoay xở để kiếm cơm nuôi vợ con. Bởi thế  mà có một ông giáo dạy văn ở Hà Nội vào Huế đi xe ôm tìm nhà bà con. Nghe anh xe thồ đen nhẻm bình vanh vách những bài thơ về Huế của Hàn Mạc Tử, Văn Cao, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Bính… thì phục sát đất. Mới hỏi anh trước làm nghề gì. Anh ta chỉ cười. Thế mà cái nghề “xe ôm” ( ở Nghệ An hay ngoài Bắc gọi là xe lai) ấy tồn tại đến hôm nay, lại lan ra tất cả các độ thị trong cả nước. Dân xe ôm có tổ có đoàn của họ rất chặt chẽ riêng từng địa bàn. Anh ở khu phố này mà lớ sớ tới khu khác đón khách là coi chừng bị ăn củ đậu. Có lần vợ tôi đi viện trông cháu. Khi hai bà cháu ra viện, tôi thuê một anh xe xich lô  trong xóm ở đường Phan Bội Châu nơi tôi ở đến bệnh viện đón bà cháu. Đến nơi, tổ xích lô nơi đó kiên quyết không cho xe nơi khác chở người ốm ở địa bàn của họ. Tôi đánh trả cho ông xích lô mình gọi mấy chục đồng, rồi thuể xách lô ở bệnh viên chơ người ốm về.

 

Tiếp là nghề đánh máy chữ thuê; nghề làm than tổ ong rất thịnh hành ở Hà Nội. Do chất đốt khan hiếm khiến người ta phải mua than cám, độn thêm mùn cưa hay trấu, đất , rồi trộn với bùn non cho dẻo và dễ dính, xong vắt thành từng cục hoặc đóng thành từng bánh hình tròn có lỗ như tổ ong bán cho các bà nội trợ đun bếp. Bếp đun than tổ ong cháy đều, nấu hết bữa ăn mới tàn một cụ than, nên các bà nội trợ có điều kiện để làm các việc phụ khác. Ở phố thì có nghề trở xích xe đạp, xích xe máy; nghề in lụa, nghề bổ củi thuê. Ở ga xe lửa, bến xe ô tô thì có nghề tẩm quất; ở bưu điện có nghề viết thư thuê gửi cho thân nhân định cư ở nước ngoài. Nghề này phát triển ở các bưu điện của các thành phố lớn. Ở Bưu điện Huế có một người đàn ông trạc 50, ngồi suốt ngày viết thư thuê. Anh viết thư thuê bằng cả tiếng nước ngoài như Anh, Pháp. Ở Bưu điện Trung tâm Sài Gòn chục năm trước đây cũng có một ông già viết thư thuê. Ông biết 5 thứ tiếng, nên rất nhiều người thuê. Làm suốt ngày không hết việc. Cho đến nay, tuy đã có Internet, email phổ biển đến tận làng quê, ông già viết thư thuê ấy vẫn tồn tại. Đó là những công chức cũ của chế độ trước không được nhà nước sử dụng. Mỗi lá thư vài ba chục ngàn đồng, ngày kiếm dăm bảy lá thư cũng đủ sống.

 

Lại có nghề may vải vụn thành áo gối, xe vải vụn thành dây. Vải vụn ở các hiệu may được người ta gom lại, cắt thành hình vuông hoặc hình thoi, rồi đêm đêm thức khuya đạp máy khâu thành từng tấm lớn để máy vỏ gối, vỏ chăn. Cũng vải vụn ấy cắt nhỏ thành từng sợi dài rồi xe lại theo kiểu thắt dây. Dây này được “gia công” tiếp thành cái võng, thảm chùi chân, giỏ đựng hàng rất đẹp, bền. Ngay cả cuộn phim cũ , không dùng nữa ở các xưởng làm phim thải ra, cũng được người ta mua về chế biến thành những chiếc làn xách tay đi chợ rất xinh xắn. Nghề này phát triển nhiều ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh. Rồi nghề nấu rượu,  nghề cuốn thuốc lá điếu, bán thuốc lá…Một cái que như chiếc đũa, chẻ ra một đoạn, gắn tờ giấy vào sẽ thành dựng cụ cuốn thuốc là điếu. Người ta mua thuốc thái mịn, và giấy ở ngoài chợ về, đặt tờ giấy vào khuôn, cho ít thuốc lá sợi vào, bôi tí hồ rồi cuốn lại, thành điếu thuốc. Cuốn xong lấy kéo cắt hai đầu cho bằng. Cuốn thuốc kiểu ấy nhanh lắm, Mỗi ngày có thể cuốn được hàng ngàn điếu.

 

Lại có một nghề không thiện cảm mấy nhưng chấp nhận được là nghề “phe”,”cò” : Phe sổ gạo, phe tem phiếu, phe vé tàu, xe,…Nghĩa là bằng cách nào đó, như quan hệ với người bán hàng nhà nước bằng tỉ lệ ăn chia, người ta mua được các thứ có người cần bán rồi bán lại ăn chệnh lệch giá. Nghề này phất cho tới hôm nay. Phát triển nhất là phe vé tàu hỏa ở các ga tàu, hay vé bóng đá ở các trận đấu hấp dẫn. Ở các ga tàu vào dịp Tết, nhân viên ga bảo hết vé, nhưng ngoài sân ga các con phe vẫn bán đều đều với giá gấp rưỡi, gấp đôi giá ghi trong vé. Các ga Tàu hỏa ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh hay các tỉnh tìm mọi cách để chống nạn “phe vé” nhưng cho đến  đầu năm 2016 này vẫn không chống được. Ngay năm 2014 thôi, giải bóng đá vô địch U19 Đông Nam Á diễn ra ở sân Mỹ Đình, vé xem trận đấu có đội U19 Việt Nam cao nhất là 150 ngàn đồng, thế mà con ghe bán lên tới 2 triệu đồng một cặp! Có trận đấu ở sân Mỹ Đình của đội tuyển Việt Nam, vé 250.000 đồng hạng nhất, phe vé bán thành 3,5 đến 4 triệu đồng một cắp. Một vốn mười lời!.

 

Về các nghề sinh ta thời bao cấp, sinh thời nhà thơ Chế Lan Viên hay đọc cho bạn bè nghe bài thơ tứ tuyệt mà nhà văn Nguyễn Khải hay đọc về các nghề mới xuất hiện trên vỉa hè Hà Nội thời bao cấp, không  hiểu là thơ  của  thi sĩ hay thơ dân gian :

Dán áo ni lon rách

                                            Bơm mực ruột bút bi

                                            Gia công quy, gai, xốp

                                             Lộn cổ áo  sơ mi

Đọc thơ mới thấy các nhà thơ, nhà văn không phải lúc nào cũng “đóng cửa phòng văn hì hục viết”. Nhà thơ Phương Xích lô ở Huế thời bao cấp có bài thơ tặng người bạn thất nghiệp ra phố ngồi bán thuốc lá rất xúc động :

                              Thất nghiệp về đây ngồi bán thuốc

                              Một gốc cây, một góc phố, một góc đời

                               Mày ngồi giữa hai chiều xuôi ngược

                              Giữa bao chiều sương khói buồn vui.

 

    ***

 

Nhiều nghề thời bao cấp ấy đến nay vẫn còn thịnh hành như xe ôm, ngoài Bắc gọi là xe lai, hay ghề “phe”, “ cò”. Trong đó phổ biến nhất, nhiều kỷ niệm nhất là nghề nuôi lợn. có rất nhiều câu tổng kết “công cuộc nuôi lợn” vĩ đại ấy như ngạn ngữ, khi nghe ai cũng chạnh lòng nhớ:” Chồng ốm không lo bằng lợn ốm”, hay nhất là câu “người Việt gốc heo”. Giờ lùi lại mấy chục năm, càng ngẫm câu ngạn ngữ thời  bao cấp càng thấy thấm thía. Hồi đó, có lần tôi hỏi một anh bạn từ Sài Gòn ra:” Nhà bác có nuôi heo không ?”. Anh cười ha hả :” Tôi nuôi heo bao giờ! Heo nó nuôi tôi đấy chứ”. Nghề nuôi heo phát triển rầm rộ trong cán bộ công chức cả nước. Nhiều gia đình nguồn thu từ nuôi heo gấp nhiều lần lương. Nhưng thời đó, nuôi được lợn rồi không  phải bán là được tiền mặt ngay. Nhà nước mua lợn và trả bằng hàng đối lưu. Một chục cân lợn hơi thì được bao nhiêu vải, bao nhiêu đạm urê bón ruộng… Mà phải đợi đến năm sáu tháng sau mới có hàng thanh toán. Rồi các bà nuôi lợn lại phải mang các thứ ấy ra chợ bán mới cầm đưọc tiền về. Sổ sách giấy tờ cách rách lắm!

 

Thời bao cấp ấy, cán bộ mà mang hàng hóa ra “chợ đen” bán, nếu bị  phát hiện ra sẽ bị kiểm điểm về quan điểm chính trị, lập trường tư tưởng. Bị quy là tiếp “tay cho chủ nghĩa tư bản” ! Cho nên ở chỗ tôi ở có anh Tư người Quảng Bình, được  phân chiếc lốp xe đạp Thống Nhất, anh muốn  bán đi để  lấy tiền làm việc khác cần hơn, thế mà chần chừ cả ruần không dám đi bán. Bí quá đêm đó anh phải lén lút nhảy rào ra đường đi bắt mối rồi lén lút ban đêm bọc kín hàng trong áo mưa nín thở ra khỏi khu tập thể. Rứa mà không  khỏi có người trong cơ quan biết báo cáo với chị bộ. Thế là họp kiểm điểm phiên này phiên khác. Rằng anh là đảng viên cán bộ thương nghiệp quốc doanh mà tiếp tay cho cho tư thương, tiếp tay cho chủ nghĩa tư bản phát triển. Bí thư chi bộ nói cả ngày ,chẳng ai hé răng một lời. Thời ấy ai mà bị quy “tiếp tay cho chủ nghĩa tư bản”, “”chống chủ nghĩa xã hội” là nặng lắm, không ngóc đầu lên được.

Từ năm 1979 đến 1986, vợ tôi mỗi năm xuất chuồng hai con lợn thịt. NguyễnThị Minh Tâm lo toan đời sống gia đình nên gầy như que củi. Chính lợn đã cứu gia đình tôi đang túng quẫn với đồng lương nhà nước, cho đến khi có tiền để mua cho con con búp bê, cái quạt điện, hay mua cái máy chữ để viết báo, làm thơ. Như chương trước đã kể, cạnh phòng ở của tôi ở Khu Viễn Đệ đường Phan Đình Phùng Huế (Văn phòng Công ty Thực phẩm nông sản cũ) có một vạt đất trống. Thế là hai vợ chồng hết giờ cơ quan là chổng mông cuốc đất trồng rau khoai, môn, trồng  bầu, bí… và cả hoa nữa. Rau khoai hái ngọn non nấu canh, còn thân và lá băm cho lợn ăn. Nhà tôi gần bếp ăn tập thể cơ quan nên vợ tôi thường xuyên gửi các chị nhà  bếp hai cái xô để đựng nước vo gạo và thức ăn thừa. Chờ cho bếp tập thể ăn xong là xuống bếp xách xô về nấu chín, trộn rau khoai cho lợn ăn. Xứ Huế mưa là lụt. Chỗ tôi ở do lâu ngày hệ thống thoát nước đã cũ nên cứ mưa xuống là ngập. Khi lụt ngập chuồng heo, lo heo chết, vợ chồng phải khênh chiếc bàn cơ quan cho mượn với mấy cái ghế và lột cả tấm cửa chính ra kê để kê cho lợn nằm, cho lợn khỏi bị ngập . Vì lợn là “thủ trưởng” nên tất cả vì lợn. Bố vợ tôi, ông Nguyễn Trọng Ngọ đã kể ở trên đi làn chuyền gia bên Cămpuchia hai năm, về có ít thuốc phiện mang về để dự phòng đau ốm. Ông  gửi cho con gái tí chút bằng hai hạt ngô, dặn khi cảm ốm nặng thì xỉa một tí mà uống. Bố con tôi nhiều lần ốm, nhưng vợ chỉ mua thuốc ở cửa hàng dược. Thế mà khi con lợn 70 ký sắp xuất chuồng ốm bỏ ăn, vợ tôi lo quá phải gảy tí  phiện, nhúng vào nước cám  đổ nó uống. Uống xong một tiếng sau là nó khỏe, đòi cám liền. Thứ thuốc phiện ấy hiệu nghiệm thiệt. Không có chút thuốc phiện ấy, lợn mà đi toi thì nhà tôi mất cả vài ba tháng lương công chức, đó là khoản tiền rất lớn. Vâng, khi “con lợn đã được nâng lên ngang tầm thời đại” thì tắt cả vì lợn là điều dễ hiểu ! Và trong bối cảnh đó, vị thế của con người dần thấp xuống…

Nhiều người nuôi heo nên ở Huế sinh ra một nghề làm ăn rất phát đạt: Vớt rong trên sông Hương về bán cho người nuôi lợn. Phong trào khai thác rong bán cho người nuôi lợn sôi nổi giống như khai thác cát sạn bây giờ vậy. Rong sông Hương không còn đẹp thơ mộng như thơ Phùng Quán Cái cổ trần như rong dưới đáy song Hương nữa, mà đã biến thành một mặt hàng đầu bảng trong cơn đói khát túng thiếu của con người. Những người dân làm nghề chài lưới trên sông, trên đầm phá, bỏ nghề đánh cá, chuyển sang vớt rong. Từ tinh mơ họ chạy thuyền lên đầu nguồn Sông Hương chỗ Ngã ba Bảng Lảng để vớt rong. Từ ngàn năm nay chưa ai vớt rong dưới sông để làm gì cả. Nên nguồn rong dường như vô tận. Trưa đầy thuyền thì chở về đổ cho các nơi bán rong gần chợ Đông Ba, An Cựu, Bến Ngự. Ở bến sông Bến ngự có một chỗ bán rong, khách đông tấp nập suốt ngày.  Mua hai đồng rong là đôi lợn ăn được một ngày. Rong được băm nhỏ, trộn với cám hay hèm rượu, có mùi hơi tanh lợn rất thích. Tôi nhớ lần đầu tiên gần Tết năm 1979, vợ tôi xuất chuồng bán cho cán bộ thu mua của của hàng con lợn 75 ký, theo thời giá lúc đó được số tiền thu được gần gấp  đôi lương tháng hai vợ chồng cộng lại. Vợ tôi sung sướng lắm, chưa bao giờ nhà tôi lại có một số tiền lớn như thế. Lấy nhau ba bốn năm mà hai vợ chồng chỉ có một chiếc xe đạp vợ tôi mua ở Đông Hà từ năm 1973 khi đi B vào làm công chức của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam Việt Nam. Nay nhờ heo mà chúng tôi có tiền để mua thêm chiếc xe đạp nữa. Trong bài thơ Nhật ký Bến Ngự, kỷ niệm 10 năm này cưới vợ, tôi có đoạn trong đó có hình ảnh đứa trẻ bán rong heo này:

khi yêu điều chi cũng thành dễ nhớ

có khi mô anh nghĩ mình sẽ dừng lại một nơi ?

mới đó mà cây phượng già bên cầu đã mười lần thắp lửa

mới đó mà đứa trẻ bán rong heo

thành chàng trai mũ phớt quần bò…

 

mười năm mười năm ơi

mỗi chiều tan tầm em lội quanh chợ cá

cái ăn mắt hơn đồng tiền

đồng tiền mắt hơn kiếp người khốn khổ

 

Chuyện cán bộ công chức nuôi lợn ở Sài Gòn Hà Nội hay Huế thời bao cấp có thể viết cả ngàn trang hồi ức. Toàn chuyện oái oăm cười ra nước mắt. Có một lần buổi sáng đi làm, tôi đóng cửa chuồng lợn không kỹ, lợn vào buồng ngủ phá phách, ỉa đái hết cả ra nhà. Lại phải nhờ anh em cơ quan đuổi bắt lợn vào chuồng. Bực thì có bực nhưng sợ nhất “thủ trưởng” lợn ốm. Khi  lợn bỏ ăn, vợ tôi đi làm không yên. Chốc  chốc lại về áp tay vào đầu lợn xem còn nóng không, như rờ trán con trẻ khi nó sốt vậy.

 

Vĩ đại nhất là cán bộ nuôi lợn ở chung cư cao tầng. Ở Huế, thời bao cấp có khu chung cư Đống Đa năm tầng vừa xây sau giải  phóng, cấp cho gia đình cán bộ. Người có máu mặt, sổ C mới được phân phối nhà ở đó.  Hộ tầng trệt thì có đất làm chuồng lợn bên ngoài. Còn các hộ tầng trên thì phải ngăn gian bếp lại một phần để nuôi lợn. Phân, nước tiểu lợn không biết chuyển đi đâu đành tống vào đường ống thoát nước. Phân theo đường cống thoát ra sông Hương không biết bao nhiêu mà kể. Thế mà các làng quê phía hạ nguồn ngày nào cũng tắm, giặt, ăn uống bằng thứ nước sông Hương ô nhiễm ấy. Thảm họa hơn nữa là do chất lượng xây dựng thấp, ống nước khu chung cư thường bị nứt, bục, thế là các hộ tầng dưới trưa đi làm về kinh hoàng khi thấy nước phân lợn tràn vào lênh láng trong nhà. Bạn thử tượng tượng căn phòng mấy chục mét vuông chung cư của mình bỗng dâng ngập đầy phân lợn. Bao nhiêu áo quấn, thực phẩm, sách vở đều ngập trong đó! Chỉ tưởng tượng thôi đã ớn sườn. Thế mà đây là sự thật. Sự thực khốn khó của thời bao cấp. Đứng nhìn muốn khóc. Lau chùi rồi cả tuần vẫn còn mùi hôi thối ngấm vào quần áo, chăn màn. Thế là sinh cãi nhau. Nhưng ai cũng được lợn nuôi cơ mà. Đành chép miệng Thời thế thế thời thời phải thế . Đúng là Người Việt gốc heo, một câu  nói vui đặc trưng thời đó. Vì thời có nhiều người Việt vượt biên trở thành người Mỹ gốc Việt, trở về  nước thành Việt Kiều yêu nước !

 

Một buổi sáng , đến thăm nhà nhà thơ Vĩnh Nguyên ở Khu chung cư Đống Đa,  tôi chứng kiến ba bốn  người đang vất vả khênh một con lợn to đùng từ  tầng 5 xuống cầu thang để bán cho cán bộ thu mua, mới cảm thấy hết sự lạ lùng của cuộc sống và sức chịu đựng của con người…Nuôi heo khu chung cư khổ cực hơn nhiều so với nuôi heo dưới đất. Còn có loại nuôi heo “vĩ đại” hơn là nuôi heo dưới đò. Ở xóm đò Bến Ngự khi chưa giải tỏa, nhà nào cũng nuôi lợn trên đò. Cả nhà vợ chồng con cái ăn ngủ  bảy tám người với vài con lợn ở trên một con đò nhỏ chật chội ấy. Tài thật. Có lần tôi chứng kiến dân đò khênh con lợn cả tạ từ dưới đò lên để bán. Lúc đó chỉ biết ngửa mặt lên trời mà ca: Người ơi, con người vĩ đại hơn Thượng Đế!

 

Hồi đó tôi cũng làm thơ, viết báo, in bài ở nhiều báo. Năm 1986, nghĩa là “đêm trước đổi mới”, tôi có viết bài “ Thương nghiệp quốc doanh-Kinh doanh hay phục vụ” in đặc kín cả trang báo Nhân Dân ký tên Phan Bá Giàu ( lúc ấy anh Giàu là giám đốc Sở thương mại Bình Trị Thiên ) để cổ vũ cho việc đổi mới kinh doanh, hướng đến nền kinh tế thị trường. Nhưng nhuận bút rẻ như bèo, một bài thơ được năm ba đồng, bài báo bảy tám đồng, tiền thu về khổng đủ uống rượu suông với bạn bè. Tất cả đều nhờ vào sự lam lũ nuôi lợn, trồng  rau của vợ. Sau nghề nuôi lợn là nghề bóc lạc. Hồi đó Nhà nước xuất khẩu lạc cho Liên Xô và các nước Đông Âu để trả nợ vay trong chiến tranh. Lạc là mặt hàng “chiến lược”. Nên các địa phương trồng nhiều lạc đời sống nhân dân rất đỡ. Trong cuốn Kinh tế Việt Nam 1945-2000 có in một cái lệnh của Nhà nước:”  Không có thị trường tự do về buôn bán cũng như về trao đổi các mặt hàng kể trên, cụ thể như lạc chỉ để lại vừa đủ làm giống cho vụ sau tính toán cho sát…”. Tất cả cho xuất khẩu. Bóc lạc trở thành nghề làm thêm ngoài giờ của hầu hết các gia đình cán bộ. Mọi người đến kho của ngoại thương xuất trình giấy tờ, nhận lạc vỏ về bóc rồi đem lạc nhân đến nhập theo tỷ lệ phần trăm quy định. Bóc được một cân lạc nhân được trả mấy hào. Còn vỏ lạc thì được quyền đun bếp. Nhà thơ Mai Văn Hoan, dạy chuyên văn ở trường Quốc học, đưa hai con nhỏ từ quê Thanh Trạch, Bố Trạch vào nuôi để đỡ đần cho vợ , cũng  đi nhận lạc về ba cha con cùng bóc đến tận khuya, con ngủ rồi mới soạn bài để mai lên lớp. Nhà thơ Lê Thị Mây quen một người bạn trai có hai đứa con lớn, cũng bóc lạc cả đêm với con bạn. Vợ chồng tôi bóc lạc  nhiều tháng trời. Tôi ngồi đau cả sống lưng đến tận nửa đêm, nhưng thấy vợ còn say sưa bóc, nên mình đi ngủ cũng không đành. Lúc đầu lấy tay bấm cho quả lạc vỡ ra . Bóc được vài đêm tay đau không bấm được nữa. Vợ tôi sáng kiến lấy cái dùi khẻ nhẹ cho quả lạc vỡ, rất dễ bóc. Về sau, muốn năng suất cao người bóc lạc nghĩ ra cách dùng hai thành tre buộc vào nhau, ở giữa chèn cái que thành cái bấm,  thế là dùng tay bấm bấm, quả lạt vỡ đôi, rất nhanh.

 

Thời  bao cấp tất cả cán bộ công chức xoay trần ra để vật lộn với cuộc  mưu sinh gian khó. Cuộc sống vất vả đã làm cho con người trở nên ti tiện, dối trá , không từ cả chuyện léng phéng ăn cắp một cái gì đó cho riêng mình. Sinh viên thì ăn cắp thìa của cửa hàng ăn uống Quốc doanh. Ông ở quê thì đi đào trộm khoai của hợp tác xã, thậm chí khoai giống cũng đào trộm. Lại còn khen là khoai ngon, bùi, thơm. Ông ở Hà Nội, thì đi ra cửa hàng mậu dịch bán rau xanh để ăn cắp củ cải , su hào về muối ăn dần. Ông thì chuyên nghiệp hơn làm miếng sắt tây cắt vát nhọn rồi cuốn lại thành cái công cụ ăn trộm gạo. Đợi rình ở cửa hàng bán gạo, hay xe chở gạo chờ nhập kho, lúc người ta sơ sểnh là thúc cái ống nhọn đấy vào bao tải gạo, gạo chảy ra hứng vào túi vải đeo bên hông, xong rút ra , phủ áo xuống là vô tư lượn về. Rồi ông đi làm công nhân nhà máy cao su thì ăn cắp mủ, ông làm thợ sơn thì cho sơn vào cà mèn cơm xách về, ông làm cơ khí cuốn dây thép quanh bụng để về nhà gia công làm đinh để bán. Làm công trường xây dựng thì ăn cắp xi măng, sắt thép, ván cốt-pha…Hóa ra các ông công chức đạo mạo hồi trước, thời bao cấp cũng đi ”chợ búa” như mình cả..

Nói về các anh bộ đội phục viên, dân gian có câu ca dao rất cụ thể. Đọc nghe buồn nẫu ruột:

Đầu đường đại tá bơm xe

                           Giữa đường thượng tá bán chè  đậu đe

                           Trung  tá đi bán  cà – re

                           Thiếu tá  thì bận…  thổi kèn đám ma,

                           Đại úy chăn vịt đuổi gà,

                           Trung úy ở nhà bám đít con trâu

                           Còn thằng thiếu úy đi đâu

                           Ba – lô lộn ngược buôn tàu bắc  nam. 

Trong túng quẫn ai cũng tìm cách để kiếm sống.  Nấu cám lợn thì phải đun bằng than tổ ong vì đun củi rất đắt. Vợ chồng tôi đã nhiều lần chen lấn, xô đẩy nhau vào kho nhà máy  xay xát gạo ở An Cựu để xúc trấu về đun bếp vì củi cung cấp không đủ đun. Mồ hôi mồ kê, tóc tai  bám đầy bụi cám. Lấy  được mấy bao trấu mừng như nhặt được tiền trên đường. Cứ để nguyên quần áo tóc tai đầy bụi trấu nghênh ngang đạp xe về nhà. Về lại ngồi giần sàng suốt đêm để kiếm thêm ít cám nuôi lợn. Cuộc vật lộn ấy âm thầm, dai dẳng và quyết liệt trong từng gia đình. Con người phải gồng hết mình lên vì sự tồn vong!

 

Kỷ niệm vui nhất của tôi là chiếc ti-vi hóa giá. Năm 1985, Sở thương Mại  loại bỏ một số trang thiết bị nội thất mà cơ quan cũ thời Chính quyền Sài Gòn mua từ trước năm 1975. Đồ cũ nên hóa  giá rất rẻ.  Anh em cơ quan tổ chức bắt thăm . Ai trúng cái gì thì được mua cái đó. Thời đó cán bộ đều nghèo, nên mua được thứ gì rẻ cũng tốt. Nhiều người không chịu nhường nhịn nhau, nên tốt nhất là bắt thăm. Ngay như chế độ săm lốp xe đạp mỗi năm phân phối một lần. Cả Phòng nghiệp vụ của cơ quan tôi có 10 người, toàn cán bộ có tuổi, rất đihnx đạc, mà chỉ có hai bộ săm lốp. Phòng Tổ chức của tôi còn biết nhường nhau, chứ phòng Nghiệp vụ kế hoạch họ nhất định không chịu nhau. Cuối cùng phải đưa ra chợ đen bán lấy tiền về chia nhau. Khốn khó làm cho con người trở nên bủn xỉn. Thiệt tai tiếng. Đợt bắt thăm hóa giá đồ cũ ấy, tôi bắt được chiếc ti-vi Sonny đen trằng 14 inch giá chỉ 24 đồng (lương tôi lúc đó là 64 đồng).Mừng lắm. Cả đời tôi chưa hề có chiếc ti-vi. Vợ con tôi cũng chỉ được xem ti-vi  tập thể ở cơ quan. Thằng  cu lớn tên là Ngô Hải Bình mới hai tuổi xem ti-vi cứ chạy ra sau xem cái cô phát thành viên ngồi  ở đâu mà hiện lên hình. Xem sau không có ai ngồi, nó lại chạy ra phía màn hình ngó nghiêng rồi lại chạy ra sau xem. Bây giờ cả nhà có cái ti-vi để xem thì còn gì bằng. Mà cả xóm 31-Phan Bội Châu khu tập thể thương nghiệp 14 gia đình mà chỉ nhà tôi có ti-vi. Thế là cứ 7 giờ tối, giờ phát sóng ti vi, là trẻ con kéo đến chật cả phòng ngoài. Vợ tôi phải trải chiếu cho các cháu ngồi . Người lớn đến thì mang ghế đến ngồi hai ba hàng ngoài cửa sổ. Thời đó hai tối mới có điện một tối. Có khi cả tuần chỉ có điện một tối. Ngày có điện, căn phòng  59 mét vuông của vợ chồng tôi người xem ti-vi đông tới khuya. Trẻ con xem phim ngủ la liệt. Mà cái ti-vi cũng khốn khổ. Màn hình đã nhỏ, lại nháy lên nháy xuống. Đầu người trong màn hình thì nhọn hoắt, khi thì phình ra  to lè phè. Có khi ti-vi bỗng dưng tắt ngúm, tôi lại phải vỗ vỗ đập đập thật mạnh vào vỏ như cách mà nhà văn A-zit Nê xin kể chuyện người Thổ Nhĩ Kỳ sửa máy móc, nó mới sáng lại. Thế mà cái ti-vi hóa giá đó phục vụ cả xóm tập thể tới ba năm ròng. Đến khi vợ tôi mua cái ti-vi Son ny19 inch mới nhờ tiền bán lợn, tôi mới gửi ra Đồng Hới tặng anh làm bạn thơ thân thiết là nhà thơ Lê Đình Ty. Cả cái xóm Cộn, Đồng Sơn ấy hồi đó của Lê Đình Ty cũng không ai có ti-vi . Nên  đêm nào cũng kéo nhau đến nhà Ty xem ti-vi chật cả nhà. Họ cứ suýt xoa:” Bạn bè thế mới là bạn bè. Tặng nhau cả cái ti-vi !”. Nhưng gia đình Ty xem  được vài năm thì cái ti –vi đen trắng ấy không lên hình được nữa. Có lẽ nó già lão quá rồi. Tội nghiệp!

 

Kể chuyện người dân bươn chãi, vượt qua vòng kim cô eo hẹp để kiếm sống, làm giàu thời bao cấp, phải kể ông “Vua Lốp” ở Hà Nội. Câu chuyện làm ăn phải vô tù ba lần của con người thông minh và quyết chí này vô cùng trần ai và cảm động. Dựa trên tư liệu của nhà văn Trần Huy Quang và nhà báo Huy Đức, tôi xin kể tóm lược ở đây hành trình của ông “Vua lốp” để bạn đọc hiểu được sự khốn cùng của người lao động muốn vượt lên thời cuộc cái thời bao cấp ấy. Tên thật của ông là Nguyễn Văn Chẩn, là một nông dân huyện Nga Sơn, Thanh Hóa, là người đương đại có tiếng vì tài năng và sự tháo vát, nhiều lần gây dựng nên một tài sản lớn từ hai bàn tay trắng, nhưng cuộc đời gặp phải nhiều oan trái, tù tội, một “bi kịch lớn”. Ông chỉ mất tổng cộng chừng chục năm trời để gây dựng nên sự nghiệp, nhưng lại mất tới gần hai mươi năm để đi kiện đòi lại tài sản của mình bị tịch thu và đòi lại công lý cho mình.

 

“Vua lốp” là danh xưng là gọi theo tên của một bút ký nổi tiếng in trên báo Văn Nghệ thời Tổng biên tập Nguyên Ngọc (1985) của nhả văn Trần Huy Quang. Năm 1954, ông Nguyễn Văn Chấn ra Hà Nội, xin vào làm ở “nghành công nghiệp” bóc vỏ xe ô tô cũ cắt ra làm dép. Sau một năm ông Chấn phất lên. Ông bị coi là “tư sản mói” đi ngược đường lối kinh tế của nhà nước, chống lại chủ nghĩa xã hội, bị kiểm tra, toàn bộ tài sản bị tích biên, ông bị đưa đi cải tạo. Được thả về, ông lại chuyển sang nghề sản xuất bút máy. Tình cờ con ông hư bút, nhưng sản phẩm này chỉ bán cung cấp, ông phải mua bút cho con ở chợ trời với giá cắt cổ. Ông về tháo cây bút ra nghiên cứu và thấy mình sẽ làm được. Thế là ông chuyển sang sản xuất “bút máy” . Bút của ông kiểu dáng và chất lượng như bút Trường Sơn nhưng lại bán “tự do” với giá rất rẻ. Ông Chấn lại phất lên, nhưng lại bị “Tài chính quận Hoàn Kiếm” kiểm tra, tịch thu toàn bộ công cụ, đồ nghề, sản phẩm, nguyên liệu. Chính quyền cương quyết chặn tất cả các mầm mống phát sinh tư hữu. Chủ nghĩa xã hội là sản xuất theo kế hoạch của nhà nước, không ai được làm riêng. Sản suất buôn bán tư nhân là mần mống của  “chế độ tư bản giáy chết”, nên phải diệt cho bằng sạch!

Ông Chấn bỏ nghề làm bút, chuyển sang nghề đắp vỏ xe đạp, xe thồ bí mật và lại nhanh chóng giàu có. Tháng 4- 1960, ông bị công an quận Ba Đình khám nhà, tịch thu toàn bộ mô tơ, khuôn, vài tạ dép đứt quai, cao su và hàng ngàn chi tiết sản xuất. Ông bị bắt với tội danh “tàng trữ và đầu cơ hàng hóa trái phép”, tòa án Hà Nội xử 30 tháng tù giam. Mãi tới năm 1972, kháng án của ông mới được xử phúc thẩm ,chỉ bị tội “đầu cơ”, “bị cảnh cáo và nộp phạt 100 đồng”. Thế mà ông đã qua 18 tháng ở nhà tù Hỏa Lò, 12 tháng ở trại tù Yên Bái.

 

Sau khi ở nhà tù Yên bái ttở về ông Chấn xin vào làm ở Công ty vệ sinh Hà Nội và buổi tối thì nhận săm của Nhà máy cao su Sao Vàng về nối để kiếm thêm tiền nuôi vợ con. Nhưng, ông nhận ra nhựa vá xăm lốp “quốc doanh” chưa vá đã bong, máu nghề nghiệp nổi lên, ông mày mò pha chế và tìm ra một loại nhựa tốt hơn. Thế là ông sản xuất nhựa vá xăm lốp, rồi lại phất lên vì người mua xếp hàng rồng rắn trước xưởng nhựa của ông. Tháng 1- 1974 ông bị bắt, ngồi tù 3 tháng. Ra tù ở tuổi 50. Sau 5 năm bán chè chén, năm 1979, ông quay lại với nghề làm xỏ xe với kỹ thuật cao hơn. Năm 1980, ông Chấn cho xuất xưởng những chiếc vỏ xe thồ có thể chạy 3 năm, trong khi vỏ xe cùng loại của nhà máy cao su Sao Vàng chỉ chạy được chưa đầy 6 tháng là hỏng. Sản phẩm của ông được trao Huy Chương Đồng tại Hội chợ Giảng Vỏ. Từ đây ông mang tên “Vua lốp”. Ông giàu lên, chính quyền lại ghét. Đầu tháng 7-1983, ông Chấn bị kiểm tra. Và trong suốt ba ngày trời, ông và con ông phải thao tác cho các quan chức quy trình làm lốp “từ phế liệu”. Không tìm ra lỗi để bắt, chính quyền Hà Nội đành buộc ông tội” Tự sản xuất”, làm rối loạn nền kinh tế, “phá hoại kế hoạch nhà nước”.

 

Ông Chấn lại giàu lên, ông xây nhà hai tầng. Ngày 27-8-1983, Hà Nội bỗng nhiên ban hành chỉ thì miệng “Z-30” quy tất cả những người có nhà hai tầng vào trọng tội “tham ô”, “ăn cắp” , phải đập bỏ “vì đây là sản phẩm tham nhũng”. Sáng ấy, lực lượng liên ngành gồm quân đội, công an, viện kiểm sát, ủy ban đã phong tỏa nhà và xưởng sản xuất của Vua Lốp, đồng thời ra lệnh bắt giam ông Chấn. Đã có kinh nghiệm từ ba lần trước, lần này ông Chấn bỏ trốn chui lủi ở các tỉnh như Thái Bình, Hải Phòng, Hà Bắc….Gần một năm sau, khi vợ con khởi kiện, ông mới lặng lẽ trở về. Những tháng ngày ấy, gia đình ông Chấn phải ra phố Sơn Tây căng lều trên vỉa hè sống tạm. Mãi tới ngày 21-12-1985, Viện Kiểm sát nhân dân Tối cáo mới ra lệnh đình chỉ điều tra, thừa nhận Vua Lốp vô tội và yêu cầu Hà Nội trả lại tài sản cho gia đình ông. Sáu năm sau, chủ tịch Hà Nội Lê Ất Hợi mới ký công văn số 4071 trả lại tài sản cho ông Chấn. Căn nhà ông ở ngõ 135- phố Đội Cấn có khuôn viên rộng 917 mét vuông , sau 7 năm kê biên bị lấn chiếm chỉ còn 200 mét vuông…

 

Câu chuyện Vua Lốp Nguyễn Văn Chấn là một mẫu mực về mâu thuẫn giữa cơ chế kế hoạch hoa tập trung quan liêu bao cấp với tinh thần không chịu bó tay, luôn sáng tạo của người lao động. Những cái mới trong làm ăn kinh daonh của tư nhân đều bị dập tắt, tài năng bị  băt tù. Đó là để “bảo vệ chủ nghãi xã hội!”. Ôi “thời thế thế thời thời phải thế…”

 

Advertisements

Chuyên mục

%d bloggers like this: