Đăng bởi: Ngô Minh | 09.03.2017

ĐỌC ” SỐNG THỜI BAO CẤP”:THƯƠNG NGHIỆP QUỐC DOANH LO TẾT

ĐỌC SÁCH ” SỐNG THỜI BAO CẤP” CỦA NGÔ MINH

THƯƠNG NGHIỆP QUỐC DOANH LO TẾT  

 Ngô Minh

      Thời bao cấp dài dằng dặc ấy, tổ chức ngành Thương nghiệp Quốc doanh cả nước (ở miền Bắc trước 1975 và cả nước rừ 1975- 1990) được hình thành để phục vụ phân phối hàng hóa theo tem phiếu đến các đối tượng được hưởng cũng ngày càng bành trướng, ngày càng chi tiết hơn. Nghĩa là ngành này chỉ phục vụ khoảng 5 triệu công chức, công nhân, 2 triệu bộ đội, công an và 3 triệu các đối tượng chính sách hưởng tem phiếu khác (chưa đến 15% dân số lúc đó). Còn lại 85% dân số thì tự túc tự cấp, mạnh ai nấy sống! Chỉ phục vụ khoảng 10 triệu người mà một bộ máy khổng lồ được hình thành với đủ các ban bệ, sở, công ty, cửa hàng, tổ chu mua, bán hàng…. Bộ Nội thương ( sau này là Bộ Thương Mại) có cả hơn chục vạn cán bộ chuyên viên, công nhân. Trực thuộc bộ còn có  hàng chục Tổng Công ty chuyên ngành như Tổng Công ty Thực phẩm, Tổng công ty vải sợi, Tổng công ty Bách hóa, Tổng Công ty rau quả, Tổng công công ty điện máy, mấy cái Tổng kho.v.v.. Thời chống Mỹ còn có  một công ty tổng hợp phục vụ cán bộ vùng giải phóng miền Nam gọi là Công ty Nam Thắng đóng đô ở Quảng Bình.  Bộ Thương Mai còn có hàng mấy chục viện, trường, trung tâm, báo, tạp chí, nhà khách.v.v. Ở tỉnh có Sở Thương Mại, dưới sở có Công ty công nghệ phẩm, Công Ty Thực phẩm nông sản, Công ty Vật liệu chất dốt, Công ty Kinh doanh Tông hợp, Tổng kho thực phẩm, Tổng kho công nghệ phẩm…  Ở Thừa Thiên Huế còn có thêm Công ty Thương nghiệp Việt Lào….Mỗi đơn vị Doanh nghiệp nhà nước ấy đều có  hàng chục Cửa hàng trực thuộc ở Huế và các huyện . Mỗi Công ty có tới ba bốn trăm cán bộ nhân viên. Tất cả bộ máy ấy đều để phục vụ cho việc thu mua, chế biến, bảo quản hàng hóa và tổ chức mạng lưới bán hàng cung cấp phân phối. Ví dụ Công ty Thực phẩm nông sản  Thừa Thiên Huế  thì có 7 cửa hàng, tổng kho và lò mổ ở thành phố Huế: Các Cửa hàng Thực phẩm nông sản ở 4 chợ :Tây Lộc, Đông Ba, An Cựu, Bến Ngự, lại có thêm Cửa hàng Cung cấp ( phục vụ sổ C trở lên) ở dường Phan Đình Phùng). Còn ở mỗi huyện có một cửa hàng : Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Hương Thủy, Phú Váng, Phú Lộc, Nam Đông, A Lưới. Các ngành khác như công nghệ phẩm, vật liệu chất đốt… đều được tổ chức  theo địa bàn hành chính như thế. Một thời, huyện được Tổng Bí thư Lê Duẩn coi là” pháo đài”, thì các cửa hàng thực phẩm, cồng nghệ phẩm, chất đốt…tập hợp lại thành Công ty Thương nghiệp huyện. Ngoài ra tham gia cung cấp thực phẩm còn có Bộ Lương Thực và các Tổng Công ty lương Thực, công ty lương thực tỉnh của  Sở lương thực.

 

Khi đất nước chuyển sang kinh tế thị trường, mua bán tự do thì dần dần tất cả các công ty lớn của tỉnh như công ty Công nghệ phẩm, thực phẩm nông sản, vật liệu chất đốt…và các công ty huyện đều bị xóa sổ, chỉ còn một vài công ty nhỏ theo cơ chế cổ phẩn còn hoạt động cầm chừng, như một công ty thương  mại tư nhân. Câu chuyện  phân phối cung cấp của hệ thông  ngành thương mại cả nước suốt mấy chục năm trời không thể kể hết trong cuốn sách nhỏ này được. Ở chương này tôi chỉ kể chuyện MẬU DỊCH QUỐC DOANH LO TẾT, là lúc việc phục vụ  căng thẳng nhất, hàng hóa huy động nhiều nhất, để người đọc hình dung cách thức phục vụ của  Thương nghiệp quốc doanh một thòi.

 

Đội ngũ cán bộ nhân viên ngành Thương nghiệp từ sau 1975 do đào tạo không kịp nên trong bán hàng có nhiều chuyện ngây ngô làm cho khách hàng rất phật lòng.  Có chuyện cười ra nước mắt. Ở Công ty Thực phẩm Nông sản Bình Trị Thiên chỗ vợ  tôi công tác, có anh Châu ( tôi đổi tên) , trưởng cửa hàng, chữ viết ngoáy hơn “chữ bác sĩ kê đơn thuốc”. Một thầy giáo nghèo đến xin hai chai rượu để giỗ bố, anh Châu viết phiếu rồi ký, đóng dấu. Thấy giáo ra cửa hàng thực phẩm Mai Thúc Loan Huế đưa cái “lệnh cấp hàng” cho cô mậu dịch viên. Năm phút sau, cô  mậu dịch viên đưa cho khách  hai ký lô rau muống. Thầy giáo ngớ người ra, mặt như mếu, phân bua :” Tôi xin mua rượu, chứ không phải rau “. Cô bán hàng liền đưa cái “lệnh bán hàng cung cấp” có chữ ký của Trưởng cửa hàng cho thầy giáo xem lại. Đúng là chữ “hai chai rượu” viết giống “ hai cân rau“ thật. Thế là người khách lại phải đưa đến Trưởng Cửa hàng để ông mở ngoặc đơn sửa lại. Lại có cô Hạnh viết lệnh của công ty cấp bán cho khách một lít nước mắm lại viết tắt thành:” 1l H2O mắm”. Chị bán hàng ở Cửa hàng Thực phẩm Bến Ngự là du kích ở rừng chiến khu về sau 1975, mới học hết lớp 4, chưa từng học hóa học, nên không biết ký hiệu H2O là gì. Vì ở cửa hàng lúc ấy không có loại mắm nào cả. Khách mua hàng thì bảo mình mua nước mắm. Nhưng lệnh cấp thì không có chữ “nước”. Thế là cãi nhau om sòm đến cả tiếng đồng hồ. Cuối cùng ông khách lại phải cầm tờ  lệnh cấp hàng đến văn phòng Công ty hỏi, mấy người mới nhìn nhau ôm bụng mà không dám cưới thành tiếng. Ở cửa hàng chất đốt bên Sông Hương, có ông lãnh đạo tỉnh về hưu tên là Vạn. Không biết vì con cháu đi vắng thế nào mà bữa đó ông đi mua củi. Theo thói quen hét ra lửa ở quan trường, ông ném cuốn sổ vào quầy  rồi lớn giộng với mậu dịch viên;” Vạn đây, bán cho bác ngay để bác về!”. Cô mậu dịch viên bán củi tròn xoe mắt nhìn ông khách.  Cô mậu dịch viện cười tủm tỉm, nhũn nhặn:” Bác ơi, phải xếp sổ, chứ không xếp hàng như mọi người thì TRIỆU cháu cũng chịu, huống chi VẠN !”.

***

                                                                    

          

              Không hiểu tại sao cứ mỗi dịp Tết về tôi lại nôn nao nhớ anh em trong ngành thương nghiệp đã từng lo Tết suốt mấy chục năm thời bao cấp. Thoát khỏi thời “trăm thứ thứ gì cũng phân” vô cùng khó chịu ấy là một cuộc giải thoát vĩ đại. Tôi cũng là người đã viết hàng trăm bài báo cỗ vũ cho công cuộc đổi mới đó. Nhưng công bằng mà nói, thời kỳ gian nan ấy, những “cán bộ mậu dịch quốc daonh” đã làm hết sức mình để năm nào cũng lo được cho hàng triệu gia đình cán bộ có một cái Tết đàng hoàng. Đó là cũng là chuyện vĩ đại không kém đánh giặc và không thể quên…Những cán bộ lãnh đạo Sở Thương Mai Bình Trị Thiên ( sau này là Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Quảng Bình) mà tôi gần gũi như Phan Đình Chi, Phan Bá Giàu, Hồ Thị Mỹ, Trần Hảo, Trịnh Đình Yên, Võ Hùng, Phan Tấn Thanh, rồi những  đồng chí trưởng phòng, chuyên viên giởi của Sở như Trần Cẩn, Nguyễn Văn Tuyến, Lê Thanh Hải, Nguyễn Trung Công, Hoàng Văn Loan… bây giờ người còn, người mất. Những giám đốc phó giám đốc công ty tỉnh, công ty huyện nhu Đỗ Thoan, Phan Tấn Thanh, Hoàng Ngọc Quy, Trần Minh Chất, Lê Khai, Trần Phù, Nguyễn Huệ, Hoàng Thị Tư, Bùi Thị My , Nguyễn Thị Đào, Định Như Hợi, Đinh Quang Nho .v.v.. bây giờ cũng người còn người mất. Người sống bây giờ đã U90 rồi! Tất cả họ đã lăn lộn hàng chục năm với không ít cái Tết ở thị thành cũng như chốn huyện lỵ quê nhà, mà mỗi cuộc đời họ là một câu chuyện dài cảm động…

 

Những cái Tết thời bao cấp mới xa cách đây hơn 20 năm thôi, còn đậm trong trí nhớ của nhiều người, nhưng đối với thế hệ, 8X, 9X thì  vô cùng lạ lùng khi nghe kể lại. Viết về cuộc sống thời bao cấp mà không kể chuyện Tết sẽ mất hết sự hấp dẫn và ý nghĩa câu chuyện. Tết là thời gian tập trung nhất, cao điểm nhất trong năm mà mậu dịch quốc doanh phải thể hiện mình. Chương này xin kể hầu các bạn đọc trẻ về những người lo Tết thời “tem phiếu” ấy. Không phải “ôn nghèo kể khổ”, mà đó thực sự là những ký ức đất nước một thời, những ký ức đã thành nếp văn hóa đặc trưng! Trong triễn lãm về “Cuộc sống người Hà Nội thời bao cấp” ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã nói ở trên có một gian trưng bày về hàng Tết. Đến đó các bạn sẽ được chứng kiến cảnh người xem nườm nượp. Ai cũng ngỡ ngàng và xúc động vì tìm lại được chính mình trong đó.

 

Đối với người Việt Nam, Tết Nguyên Đán là lễ trọng nhất trong năm. Người ta nói “đến Tết sẽ hiểu nhau” là nói lòng người đối với Trời Đất, với ông bà tiên tổ, đối với bà con chòm xóm đều được bộc lộ trong ba ngày Tết.  Bởi vậy mà Tết đến, nhà nào cũng cố sắm cái Tết cho thật tươm tất dù trong lúc hàng ngày phải nhai cơm độn bo bo, nước ruốc. Trên bàn thờ phải có chai rượu, lọ hoa, nải chuối, bánh chưng, bánh tét…. Đây không chỉ là món ăn mà là chuyện tâm linh, hồn vía Tết. Tết phải có đĩa bánh, mứt, kẹo để tiếp khách. Phải có cành mai, cành đào cắm trong nhà. Thời kỳ ấy tôi là cán bộ tổ chức của Công ty Thực phẩm, rồi Phòng Tổ chức cán bộ phụ trách thi đua- đào tạo, trợ lý của Giám đốc sở và Ban cán sự Đảng Sở Thương mại Bình Trị Thiên (cũ), nên các cuộc họp bàn chuyện Tết, những đợt “đi chỉ đạo Tết” tôi đều có mặt trên từng cây số. Lo Tết ở đây là lo cho mấy trăm ngàn hộ gia đình cán bộ, công nhân, bộ đội và người ăn theo họ trong đối tượng chính sách có tem phiếu, còn 80 % nhân dân lao động ở nông thôn, thành thị tất nhiên là họ tự lo Tết…Người dân lo Tết theo cách riêng của họ, trên thị trường “nước nổi bèo nổi”. Giá mua tăng thì giá bán cũng tăng, chẳng sợ gì cả. Cuối cùng ai cũng có cái Tết đàng hoàng như xưa nay vốn dĩ…Họ vốn là mẫu mực của một thị trường  tự do mà nước ta đang hướng tới. Chỉ có  người  ăn tem phiếu thời bao cấp mới như con nuôi, hay con của vợ bé, nhà nước phải lo ăn, lo mặc, lo chơi, lo Tết…

 

Những năm bao cấp, thực phẩm luôn luôn thiếu. Cán bộ thu mua của Thương nghiệp phải đi đến tận tận từng gia đình, nhòm vào tận chuồng lợn, ghi “lý lịch” từng con vào sổ để “quản lý”. Anh Phan Kế Bột, Trưởng cửa hàng thực phẩm Văn La ( Quảng Bình) 1982, trước một Hội nghị Thương Nghiệp toàn tỉnh ở Huế đã tuyên bố hùng hồn:” Muốn có thịt lo cho cán bộ, ngay từ bây giờ chúng ta phải quản lý con lợn  như công an quản lý hộ khẩu. Nghĩa là quản lý đến từng đầu lợn. Không cho chúng nó thoát “. Lúc đó cả hội trường ai cũng cười. Nhưng rõ ràng lo thực phẩm để cung cấp cho cán bộ và những người ăn theo là một áp lực lớn. Cán bộ thì ngày cảng tăng, người ăn theo cán bộ cũng ngày càng tăng vì biên chế luôn phình to ra. Trong lúc đó ngành chăn nuôi, trồng trọt ngày càng khó khăn. Ở Bình Trị Thiên lúc đó, sau một trận bão lũ, được Cơ quan nông lương Liên Hợp quốc ( FAO) viện trợ cho mấy trăm tấn thịt hộp, cá hộp. Đáng  lẽ số hàng thực phẩm này phải đưa về  những địa phương bị thiệt hại bão lụt nặng để cấp  cứu cho bà con. Nhưng do thực phẩm cung cấp bị thiếu nghiêm trong nên tỉnh đã quyết định đưa số đồ hộp này vào bán cung cấp theo tem phiếu cho cán bộ. Túng thì biến mà!

 

Tưởng thế là xong chuyện.Ai ngờ năm sau, FAO cử người về tận nơi kiểm tra kết quả của hàng viện trợ đối với cuộc sống của người dân vùng lũ. Thế là Ban lãnh đạo Sở Thương  nghiệp Bình Trị Thiên cuống cuồng họp mấy phiên  liền để tìm cách đối phó. Cuối cùng có một sáng kiến được coi là  khả dĩ. Đó là cử cán bộ đi về các gia đình nhặt lại thật nhiều các loại vỏ đồ hộp ấy rồi mang ra rải ở công trường Nam Thạch Hãn. Cứ vứt bừa bãi xung quanh lán công trường nơi mấy bếp ăn công nhân để đoàn FAO kiểm tra. May hồi đó cả tỉnh đang tập trung xây dựng công trình thủy lợi Nam Thạch Hãn ở huyện Triệu Phong, Hải Lăng. Đó cũng là vùng đói nghèo xơ xác. “Kế hoạch” được Công ty Thực phẩm tỉnh triển khai rất lẹ. Khi đoàn FAO về, người ta dẫn ra công trường Nam Thạch Hãn, thuyết trình rằng đây là công  trường xây dựng để đưa nước về tưới cho các cánh đồng, vừa chống lũ, vừa có nước cho hàng ngàn hec-ta lúa của các huyện. Thế là phái đoàn ngoại quốc vừa nghe vừa  gật gù, rối rít khen “very good ! very good”

 

 

Tem phiếu bảo đảm sự công bằng trong hoàn cảnh thiếu thốn. Trong cùng thứ hạng người thì không ai được sướng hơn ai. Chế độ tem phiếu này có những điều đặc biệt trong dịp Tết Nguyên Đán. Tết truyền thống người Việt là “Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ / Dây nêu tràng pháo bánh chưng xanh”.  Nên trước Tết cả quý, Lãnh đạo tỉnh sốt sắng về làm việc với lãnh đạo các ngành Thương Mại, Lương thực để tính toán khả năng khai thác nguồn hàng, cung cấp Tết được những thứ gì, khả năng dự trữ, tổ chức phân phối sao. Sau đó ngành Thương nghiệp tỉnh nào cũng đã vắt giò lên cổ mà chạy. Tết là thước đo chất lượng phục vụ” của cả năm. Đầu tiên là Ban cán sự Đảng, lãnh đạo ngành họp với công ty Thực phẩm, công ty Công Nghệ phẩm, Công ty chất đốt, Công ty Lương thực…để bàn chuyện Tết. Bàn cãi tóe khói. Hết phiên này đến phiên khác. Bàn thực sự như bàn việc nhà, chứ không phải nói suông về quan điểm, lập trường chung chung đâu. Câu hỏi được nêu lên gay gắt là: Tết năm nay loại hàng gì đủ, nguồn ở đâu? . Hàng gì thiếu, kiếm ở đâu cho có , không kiếm được thì có thứ hàng gì  thay thế ?.  Sau đó là phân công  cán bộ phụ trách từng “mũi công tác” như “mũi thịt lợn”, “mũi gạo nếp”; rồi “mũi đường”, trà thuốc, pháo ( hồi đó chưa cấm pháo), bánh kẹo, củi, lá dong gói bánh chưng, chuối để thờ .v.v… Với quyết tâm không được để có hộ nào không mua được “tiêu chuẩn” Tết.  Ví dụ mỗi khẩu phải có 0,5 kg thịt lợn, 0,3 kg gạo nếp, hai lạng đậu xanh, một cân bánh kẹo, năm lạng mứt, một phong pháo.v.v…rất chi tiết, không thế đùa được. Thống nhất rồi  mới tính toán và công bố “tiêu chuẩn Tết” năm nay có những thứ gì lên báo Đảng và dán ở văn phòng Công ty. Đã công bố công khai thì  người tiêu dùng có quyền đỏi hỏi, có quyền phán xét. Lo lắng lắm. Căng thẳng lắm.

 

Để có hàng cung cấp Tết, từ đầu quý 2, một bộ máy lớn hàng hai ba nghìn cán bộ nhân viên ngành thương nghiệp, lương thực tỉnh đã sốt vó vào cuộc. Mấy mặt hàng Tết không thể thiếu là: thịt lợn, gạo nếp, đậu xanh, chè gói, thuốc lá, rượu, nước mắm, hạt dưa, bánh kẹo, mứt gừng…rồi mì chính, hạt tiêu, củi, lá dong gói bánh, chuối nải để thờ.v.v.. Nghĩa là nhu cầu Tết xưa nay gồm những thứ gì đều tất tật được đưa vào kế hoạch cung cấp.

 

Ở của hàng lương thực, thực phẩm, những ngày giáp Tết thường đông nghịt những người xếp hàng, mà ở Hà Nội gọi là “đặt cục gạch”.  Ở Hà Nội thời đó, đi cửa hàng Mậu dịch mua hàng Tết như “đi chiến đấu”, cũng  phải xếp hàng, chen lấn, xô đẩy, có khi cả ngày mới mua được suất của mình. Phải đi từ bốn năm giờ sáng. Dù cô mậu dịch viên khuôn mặt đầy vẻ ban ơn, hách dịch, người mua vẫn  kiên nhẫn chịu đựng. Cô cắt tem phiếu, ghi sổ, thu tiền rồi gọi tên cộc lốc, trịch thượng ném hàng cho người mua. Thế nhưng vì một cái Tết gia đình, mọi người hàng mấy chục năm ròng đã quen chịu đựng, chẳng ai phản ứng gì. Ở Hà Nội và các thành phố lớn, người ta đóng tất cả các loại hàng Tết trong một cái túi nilông ( trừ thịt, gạo nếp, đậu xanh) in cành hoa đào hoặc hoa mai và dòng chữ “Chúc mừng năm mới”. Túi hàng Tết ai cũng như ai, đều có:  hộp mứt thập cẩm đựng trong cái hộp bìa thô kệch, mẫu mã xấu xí, mấy lạng măng, miến, bóng bì, ít mộc nhĩ, nấm hương, gói mì chính nho nhỏ, một túi hạt tiêu, bánh đa nem, gói chè Hồng Đào hoặc Thanh Hương, bao thuốc Điện Biên hoặc Trường Sơn bao bạc, một chai rượu cam, rượu chanh Hà Nội, một bánh pháo tép…Còn thịt, gạo nếp, đậu xanh… thì đến cửa hàng xếp hàng mua trực tiếp. Ở các tỉnh thì người có tem phiếu trực tiếp ra cửa hàng mua. Sau này học tập Hà Nội, cũng đóng thành túi “Hàng Tết” như vậy, nhưng ít thứ hơn và …xấu hơn!.

 

Tất cả thứ đó đối với từng hộ gia đình thì ít ỏi lắm, nhìn hàng mua về ai cũng thấy lễnh loãng, không vừa lòng vì con thiếu nhiều thứ.  Nhưng tính gộp chung cả tỉnh sẽ thành những con số khổng lồ. Thứ gì cũng lên đến hai ba trăm tấn, năm bảy chục tấn, hay vài chục vạn cái cả. Trong một cuộc họp lo Tết như thế, ông  Phan Đình Chi, Giám đốc Sở Thương mại quát :”Không lo đủ lợn Tết thì cán bộ cả ngành ta phải nộp lợn nuôi của gia đình mình vô cho đủ”. Những cán bộ thương nghiệp vất vả năm ấy bây giờ nhiều người không còn nữa. Nhưng hình ảnh gãi đầu vò tai vì lo lắng của các anh thì không thể quên. Hồi đó, cán bộ thu mua nào cũng về từng thôn xã để “kiểm kê đầu lợn” cho Tết. Họ ghi chép con lợn nuôi từ bao giờ, đến Tết thì được bao nhiêu ký. Rồi họp thôn, họp xã công bố công khai các hộ có lợn Tết, để họ không bán ra “thị trường tự do”. Bí thư Đảng ủy xã phải đứng lên quán triệt, dặn dò. Rồi công bố chế độ đối lưu ưu tiên hơn ngày thường. Những vải tốt, đạm urê, chăn màn.v.v..Hộ nào đăng ký  đối lưu thứ gì đều ghi vào sổ. Chặt chẽ thế mà không phải hộ nuôi lợn nào cũng  bán lợn cho nhà nước, chỉ khỏang 70% hộ “chấp hành” thôi, vì mậu dịch “mua như cướp”, không người nuôi lợn nào chịu thấu. Người ta nuôi con lợn sáu bảy tháng ròng mà giá thu mua một cân lợn hơi chỉ đồng sáu, hai đồng, chỉ bằng một phần ba giá bán cho thương lái. Hơn nữa, vào dịp Tết , người dân bao giờ cũng cần nhiều tiền mặt lấy ngay để lo Tết cho gia đình.

 

Anh Phan Tấn Thanh, một thời là giám đốc Công ty thực phẩm Bình Trị Thiên ( sau đó là Phó giám độc Sở Thượng Mại Bình Trị Thiên, rồi chuyên gia Cămpuchia), người gầy gò nhanh nhẹn, hiện đang sống ở Huế, bây giờ U90 rồi, đi bộ sáng nào tôi cũng gặp. Dịp Tết Bính Thân rồi, họp Hội cán bộ công ty Thực phẩm nông sản Huế, ông tham dự, vẫn khỏe lắm.  Gặp nhau là dừng lại nói chuyện lo Tết thời bao cấp. Vào dịp Tết là anh thức cả đêm để tính toán. Người  gầy rộc đi. Tính anh chi li, cụ thể.  Tôi là trợ lý, nên thức cùng anh. Thời bao cấp tem phiếu thực phẩm chia ra nhiều loại: A1, A, B, C, E… Ở tỉnh không có phiếu A1, A. Phiếu A chỉ có ở cửa hàng Tôn Đản, Hà Nội. Tỉnh chỉ có vài người hưởng phiếu B như Bí thư, chủ tịch tỉnh . Ở Huế có một người “dân” được hưởng phiếu thực phẩm loại B, đó là bà Từ Cung, mẹ vua Bảo Đại. Đến năm 1983 bà mới mất. Lượng thịt từng loại phiếu tôi đã kể ở  phần trên. Anh Phan Tấn Thanh mở sổ cái to tướng theo dõi từng huyện. Cái sổ ấy khổ lớn như giấy A3 bây giờ. Tôi thấy trong đó có từng cột ghi số lượng cán bộ, bội đội, người ăn theo, hưởng tem phiếu gì của từng huyện thị trong tỉnh. Cẩn thận lắm. Số liệu không chỉ năm ngoái, năm kia mà hàng chục năm về trước. Cuốn sổ cái của anh Phan Tấn Thanh xứng đáng được đưa vào bảo tàng kinh tế Việt nam. Tiếc là bây giờ không biết nó thất lạc đi đâu. Tôi nhớ trong sổ cái ấy, anh Thanh ghi rõ số lượng cán bộ công nhân viên và hưu trí cả tỉnh  lúc đó là 600.000 người, cộng thêm các “đối tượng ăn theo” như trẻ em, người già được hưởng tem phiếu gấp đôi gấp ba nữa, số người phải lo lên đến hơn 1,8 triệu. Bình quân các loại phiếu thực phẩm là 0,5 kg thịt một người trong tháng Tết, vị chi phải có  900 tấn thịt, công thêm nhu cầu quân đội và cầu giao tế của tỉnh, tổng số thịt lợn phải lo trong mỗi dịp Tết lên đến 1200 tấn. Một tạ lợn hơi khi mổ thu được 70 ký thịt, tính ra khối lượng lợn hơi là 1600 tấn. Muốn có 1600 tấn lợn hơi, phải thu mua và nuôi dự trữ cho được hơn 3000 con lợn trong một thời gian ngắn. Thật không dễ. Dự trữ thì phải có đủ cám lợn ăn, chuồng trại, người chăm sóc. Rất tốn kém. Nên các tổ thu mua phải đi về các làng xã, nằm cả tháng trời, anh em gọi đùa là “bám chuồng lợn như bộ đội bám địch”.  Gay go nhất là lúc mổ thịt. Vì lúc đó  hầu hết gia đình cán bộ không có tủ lạnh, mà Tết chỉ trong 3 ngày, nên không thể cung cấp thịt sớm trước cả tuần được. Họ thường mua thịt cũng như các loại hàng Tết vào những ngày 28 Tết trở đi.

 

Cho nên các công ty, cửa hàng thực phẩm, lương thực phải mở thêm hàng chục điểm “bán hàng Tết” để đưa hàng Tết đến mọi gia đình  đúng vào dịp Tết. Những đêm mổ thịt lợn Tết lãnh đạo Công ty Thực phẩm đều có mặt ờ Lò mổ. Các trưởng cửa hàng và anh em vận chuyển thức trắng đêm. 3 giờ sáng thịt lợn đã được chuyển về quầy bán lẻ…Có lần vào chiều 30 Tết tôi về Cửa hàng C ở đường Phan Đình Phùng, Huế, là nơi cũng cấp thực phẩm cho các đối tượng  phiếu C, D. Biết tôi ở phòng Tổ chức Công ty, mấy em mậu dịch viên như Liệu, Tiến, Lưu… dân Đông Hà, Đồng Hới bỗng òa khóc nức nở. Tôi hỏi sao khóc. Liệu ( bây giờ em là Trưởng phòng tố chức của Công ty Thương Mại Tổng hợp Quảng Trị) bảo :” Bọn em không được về ăn Tết với bố mẹ rồi, phải trực đến 10 giờ đêm 30…”. Tôi ngậm ngùi an ủi:” Nghề phục vụ phải  thế, rồi ra Tết về nghỉ dài hơn…”.Đó là gái mậu dịch viên chưa chồng. Còn có chồng con rồi, thì chồng phải thay vợ làm dưa món, muối  kiệu, hành, đi đánh bóng bộ tam sự, ngũ sự, mua cát bỏ bát nhang, đi xếp mua hàng mua hàng Tết ở các quầy hàng. Chiều 30 Tết phải nấu cúng tất niên, vì vợ về đến nhà tắm rửa xong là Giao thừa…Vợ tôi  phụ trách việc quản lý tem phiếu ở Công ty Thực phẩm nông sản, giờ nào cũng về các cửa hàng để nhận tem phiếu bán hàng do mậu dịch viên nộp, để họ có thì giờ phục vụ. Nên ngày Tết vất vả chẳng khác gì mậu dịch viên. Có cái Tết ở Huế trời mưa, tôi ở nhà vừa chăm hai con vừa lo chuẩn bị mấy món Tết. Tôi ra chợ Bến Ngự mua cà rốt, bí đao, hành, kiệu về để làm dưa món  theo cách mà vợ bày cho. Không có nắng phơi. Tôi nghĩ ra cách rải lên mâm nhôm  rồi đốt lửa bếp “để sấy”cho héo trước khi ngâm vào nước mắm. Vì mãi đọc sách, làm thơ ,viết bài, lửa cháy mạnh quá, các thứ  thái ra thứ thì cháy, cái thì chín nhừ. Tối về hai vợ chồng nhìn nhau vừa tức cười vừa buồn vì Tết  này sẽ không có  món dưa món. Thời đó không phải cái gì ngoài chợ cũng bán sẵn như bây giờ,

 

Ấy là chuyện những người lo thịt cho Tết. Ngoài thịt còn bao nhiêu thứ nữa như gạo nếp, kẹo, mứt, lá dong…Muốn có mỗi gia đình vài cân gạo nếp để gói bánh chưng, nấu xôi chè cúng ông bà trong  một cái Tết, ngành lương thực phải vô Đồng bằng Sông Cửu Long mua hàng trăm tấn gạo nếp. Kẹo, bánh, mứt , hạt dưa phải vô Sài Gòn mua, chuối thờ thì lên huyện miền núi A Lưới, Hướng Hóa hoặc vô tận Đồng Nai, Bình Phước, Khánh Hòa mới mua nhiều được. Thời đó cả nước dùng tiền mặt. Mỗi cái Tết Công ty Thực phẩm phải dùng xe chở một lúc ba bì tải tiền ( bốn, năm trăm triệu ) vô miền Nam mua hàng Tết về cung cấp cho cán bộ.

 

***

Riêng chuối nải để thờ, Huế cũng là câu chuyện đau đầu với các nhà quản lý. Xin nói kỹ về mặt hàng này một chút để người đọc hiểu thêm văn hóa Huế. Với các gia đình Huế, mặt hàng Tết quan trọng nhất là chuối thờ! Chuối để bày mâm ngũ quả ở bàn thờ tiên tổ. Mâm ngũ quả đẹp phải có nải chuối đặt ở phía dưới, từng trái chuối cong lên như vòng tay ôm gọn bốn thứ quả khác ở phía trên. Về tục thờ chuối thì người Huế giống người miền Bắc. Người miền Nam không bao giờ dùng chuối để thờ cúng bởi vì theo họ: “chuối” đọc trệch lại thành “chúi”, đầu năm mà thờ chuối thì cả năm không dám ngẩng mặt lên trời. Người Huế và người miền Bắc thì lại có quan điểm khác. Nải chuối như bàn tay hứng lấy những gì tinh túy nhất của trời đất. Ngày Tết, nhà nào cũng phải có nải chuối thờ ở bàn thờ ông, bà, cha mẹ, chuối Trang Bà, trang Bếp, chuối thờ ở góc Phật Di Lặc, rồi am thờ ngoài trời, trang thờ sân thượng. Rồi nải chuối để bày cỗ cúng Tất niên, chuối cúng tiễn ông Táo, chuối cúng giao thừa, chuối cúng sáng mùng Một, cúng đưa ông bà khi “bế mạc” Tết, v.v. Càng nhiều trang thờ, càng nhiều lễ cúng thì số  nải chuối thờ  phải mua càng nhiều.

Nghĩa là các gia đình Huế, ít nhất một cái Tết phải chuẩn  bị hơn chục nải chuối thờ, có gia đình mua cả hai ba buồng chuối ba bốn chục nải vẫn không đủ tbày biện bàn thờ. Nhà tôi là cán bộ, mà mỗi cái Tết vợ tôi cũng phải mua tới 10 nải cuối thờ. Huế 30 vạn dân, khoảng 6 vạn hộ, tính ra mỗi cái Tết tiêu thụ hết gần một triệu rưỡi nải chuối thờ. Đó là thị trường lý tưởng cho người trồng và buôn chuối thờ. Chuối thờ và chuối cúng Tết có đặc điểm là không thể bán sớm trước Tết hàng tuần được, mà nhà nào cũng đến 29, 30 Tết mới mua, để chuối thờ được lâu, không chín sớm quá. Nên người trồng chuối phải cho chuối trổ buồng làm sao đúng dịp giáp Tết, người buôn chuối phải tập kết chuối về các chợ đúng thời hạn, không tính toán giỏi là lỗ trằng tay.

Những năm trước đây, các chủ buôn đều nhập chuối từ những huyện vùng cao A Lưới, Nam Đông , Khe Sanh, Hướng Hóa (Quảng Trị) về Huế bán .Chuối vùng núi này nải chuối tốt, quả mập, giá lại rẻ. Nhưng chuối ở vùng này sản lượng không nhiều, phải mua thu gom từng gia đình vất vả. Chục năm lại đây, đa phần các nậu chuối đều phải nhập chuối từ các vựa chuối miền Nam. Họ vào tận Đồng Nai mua chuối thờ với khối lượng lớn do thời gian chuối trổ vào độ chín thu hoạch đồng nhất, dễ bảo quản. Đặc biệt là chuối móc Nha Trang. Đây là loại chuối dành riêng cho thờ cúng nên rất đắt khách. Lâu năm đã thành một công nghệ trồng chuối bán cho thờ cúng Tết, được tính toán lịch thời vụ, lịch trổ buồng , lịch chặt buồng…rất chi ly. Người buôn chuối muốn có chuối thờ tốt phải về tận nơi trồng, xem mặt rồi chọn từng buồng, đặc cọc trước, dự ước quảng đường vận chuyển, độ xốc nảy, thời gian bán thật tỷ mỉ, mới định ngày chặt chuối. Xe vận chuyển chuối phải có giá đỡ từng ngăn như vận chuyển trứng, để từng buồng chuối không chồng lên nhau. Chuối vận chuyển trần, không ủ rơm, lá khô để chuối không chín sớm. Rồi xe phải chạy ban đêm hoặc chạy vào ngày râm mát… Nghĩa là rất công phu.

 

Các chủ vựa chuối từ A Lưới, Khe Sanh, Nha Trang, Đồng Nai chở chuối về bán sỉ cho những người buôn ở Huế. Những người buôn này “bỏ mối” chuối cho những người bán lẻ ở các chợ. Những ngày giáp Tết, xe xích lô, xe lam kìn kìn chở chuối phóng về các chợ. Chợ nào cũng có một khu vực rộng dành riêng cho chuối. Ở chợ Bến Ngự gần nhà tôi, chuối được bày bán dọc bờ sông An Cựu trên lề đường Phan Đình Phùng có khi dài cả vài trăm mét. Dọc Quốc lộ 49 đoạn qua xã Phú Thượng, Huyện Phú Vang sát Tết năm nào cũng họp phiên chợ chuối lớn nhất địa bàn tỉnh Thừa Thiên – Huế, cung cấp chuối thờ cúng cho dịp Tết. Ngay từ sáng sớm, hàng trăm người  từ Huế, Thuận an, Dạ Lê.v.v..đã đổ xô về chợ chuối để chọn cho mình những nải chuối ưng ý nhất

 

Người Huế đi mua chuối thờ chọn lựa kỹ lắm. Chuối tiêu, chuối lùn người Huế không thờ cúng nên cũng chẳng ai bán trong dịp Tết. Chuối thờ Tết Huế phải là chuối cau, chuối mật móc, mật lá. Tốt nhất là chuối ngự, tức là loại chuối  ngày xưa các làng tiến vua. Chuối ngự có nhiều giống, người Huế hay mua thờ  giống chuối ngự cau. Giống chuối này quả nhỏ và đều, ăn ngọt và thơm. Khi chín có vỏ vàng xanh rất đẹp. Giống này được trồng nhiều ở các tỉnh Khu 4 cũ: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Vĩnh Linh. Dưới thời vua Tự Đức, giống chuối này cũng được cúng tiến lên vua nên cũng được gọi là chuối ngự tiến. Hai là chuối ngự mốc. Giống này trồng nhiều ở các vùng Thừa Thiên Huế, Quảng Trị để bán vào dịp Tết cho người ta thờ cúng.

 

Chuối thờ là không được chín, cũng không được xanh non quá. Quả chuối xanh, nhưng vừa tròn cạnh, không xây xát. Đắt hàng nhất những nải chuối nhiều quả xòe ra tượng trưng cho bàn tay Phật xòe để che chở cho chúng sinh ( gọi là chuối Phật thủ), nên mỗi độ Tết đến, ai cũng muốn trên bàn thờ có một nải Phật thủ như thế. Giá chuối thờ ngàyTết Huế đắt gấp năm, gấp mười ngày thường. Bình thường năm Tân Mão chỉ mười lăm, hai chục nghìn một nải, ngày Tết lên tám chín chục, một trăm ngàn một nải. Năm Bính Thân , lúc đặt nhất chuối thờ lên tới 150 ngàn đồng một nải. Có nải Phật thủ dáng đẹp người ta ra giá lến đến trăm rưỡi hai trăm ngàn. Mà đắt mấy cũng phải mua, vì không mua thì không có gì thờ Tết. Người Huế nói“Không có chuối thì bất thành Tết”, là vậy!

 

Người Huế thờ chuối nhiều thế, nên khi Tết xong “phải giải quyết hậu quả chuối” vất vả lắm. Chuối thờ xong, sau ngày cũng tiễn ông bà, chuối thờ được dọn xếp đầy hai ba thúng. Phần thì huy động con cháu ăn, rồi làm mứt chuối. Nhưng không ăn hết, có nắng thì làm chuối khô để dành. Nếu mua dầm lâu ngày, chuối chín rã, thì chỉ có đổ đi, không làm gì được. Tiếc ngẩn ngơ, nhưng Tết năm sau lại mua chuối thờ. Dân thương nghiệp quốc doanh lại lo chuối thờ bán cho cán bộ.

Thời bao cấp, có năm Sở Thương Mại nổi hứng thành tích, bắt công ty Thực phẩm nông sản phải mua chuối thờ về bán cho cán bộ công nhân viên và bà con ở Huế. Tiền mang đi cả trăm triệu đồng. Vào tận Đồng Nai mua chuối. Nhưng cán bộ đi mua chuối không có kinh nghiệm mua chuối thờ nên chuối tập kết về vị trí cứ chất chồng tất cả lên xe tải. Đi xa cả bảy tám trăm cây số, đường xấu  nên xe xóc nên chuối chở từ miền Nam ra bị xây xát, bầm vỏ, ba bốn xe tải  chuối thờ đành đổ đi, lỗ cả trăm triệu đồng. Tất nhiên chẳng có ai chịu  kỷ luật hay bồi thường cả, vì  của nhà nước, “cha chung không ai khóc” mà.

 

Một thời của ít, người nhiều, lo chuyện Tết cho hàng triệu miệng ăn vất vả như thế, nhưng thấy gia đình cán bộ, bộ đội ăn Tết đàng hoàng,  người cán bộ thương nghiệp thấy tự hào lắm.

 

Vâng, đó là những cái Tết không thể quên đối với  hàng triệu gia đình và đối với những người lo Tết…

 

 

 

 

Advertisements

Categories

%d bloggers like this: