Đăng bởi: Ngô Minh | 10.03.2017

NGÔI NHÀ VƯỜN HUẾ GIÁ BẰNG PHẦN MƯỜI QUẢ BẮP LUỘC

 ĐỌC SÁCH “SỐNG THỜI BAO CẤP” CỦA NGÔ MINH

NGÔI NHÀ VƯỜN HUẾ GIÁ BẰNG PHẦN MƯỜI QUẢ BẮP LUỘC

 Ngô Minh

 

           Anh Trần Văn Lư

Câu chuyện ngôi nhà vườn Huế giá chỉ bằng một phần mười quả bắp luộc là có thật 100% mà như bịa, như đùa. Đó là chuyện của vợ chồng anh Trần Văn Lư và chị Nguyễn Thị Thảo, chỗ quen thân của vợ chồng tôi. Anh Lư là người  Huế tập kết ra Quảng Bình hồi năm 1954. Anh làm trong ngành thương nghiệp. Khi giải phóng miền Nam năm 1975 anh là Trưởng phòng Thương nghiệp huyện Bố Trạch, Quảng Bình. Anh với tôi là chỗ tâan quen. Vì thời anh làm Hiệu trưởng Trường Thương Nghiệp Bình Trị Thiên, thì tôi là cán bộ theo dõi đào tạo, tuyển sinh của Sở. Sau đó anh làm Giám đốc Khách sạn 2-Lê Lợi Huế, rồi nghỉ hưu. Hồi bao cấp, anh chị có ngôi nhà xây kiên cố ở Đồng Hới. Sau năm 1975, về lại quê hương, anh chị bán ngôi nhà được 3.000 đồng. Anh chị tính sẽ vô Huế mua cái nhà để ở. Với số tiền đó ở Huế lúc mới giải phóng có thể mua được một ngôi biệt đẹp có hàng trăm mét vuông vườn. Nhưng khi vô Huế thì ngôi nhà bố mẹ ngày xưa ở đường Đoàn Hữu Trưng vẫn còn và ông bà vẫn khỏe và đang ở đấy. Ông bà bảo “vợ chồng thằng Lư phải ở với ông bà”. Thế là anh Lư đem 3000 đồng gửi vào ngân hàng. Anh ngây thơ tin rằng khi cần  mua tài sản gì lớn, thì rút tiền đó để mua. Ngân hàng nhà nước làm sao mà quỵt tiền mình được ?!. Không phải chỉ anh Trần Văn Lư tin thế, mà đa phần người dân đều tin thế. Vì các phương tiện truyền thông của Đảng và nhà nước  ngày nào cũng nói “Nước ta là nước Xã hội chủ nghĩa. Mọi hoạt động của Nhà nước đều xuất phát từ mực tiêu do dân, vì dân, vì sự công bằng, dân chủ và văn minh”. Nói đi nói lịa suốt cả chục năm nên ai cũng tin là thế!

Ai ngờ cuộc cải cách giá – lương – tiền năm 1985 đã làm anh Lư mất sạch số vốn liếng tích cóp được ở Quảng Bình 20 năm ròng. Tháng 9 năm 1985, để củng cố mãi lực của đồng tiền đang ngày càng mất giá, Chính phủ đã quyết định đổi tiền. 10 đồng tiền cũ ăn một đồng tiền mới. Mỗi gia đình chỉ được phép đổi với số lượng tối đa là 2.000 đồng tiền mới. Số tiền vượt con số trên thì phải nộp vào trương mục ngân hàng, Nhà nước sẽ xét sau. Quy định này đã xóa sổ vốn tích cóp trong nhiều năm của nhiều người một cách oan uổng. Nộp vào trương mục nhà nước tức là không phải của mình nữa rồi, vì mọi sự do Nhà nước định đoạt.

      Anh Trần Văn Lư và tác giả

Các nhà hoạch định chính sách cuaer Việt Nam lúc đó đã sai lầm khi lý lẽ rằng bằng cách đổi tiền với hối xuất 10 đồng tiền cũ ăn một đồn tiền mới, giá trị của đồng tiền sẽ tăng gấp 10 lần. Nhưng không phải thế. Việc đổi tiền đã  gây ra cảnh khan hiếm tiền tệ trong lưu thông thị trường.  Không có tiền, nhiều nhà máy, xí nghiệp phải trả lương cho công nhân bằng sản phẩm. Ví dụ sản xuất vải thì trả lương bằng vải,  nhà máy sản xuất đường kính thì trả lương bằng đường, nhà máy gạch thì trả lương bằng gạch.v.v..Công nhân lĩnh các thứ hàng đó về  rồi đưa ra chợ bán, được bao nhiêu tiền mặc. Nhưng làm sao mà bán được giá như  doanh nghiệp tính ? Thị trường dư thừa, giá cao quá, người mua không mua nổi,  thế là đành bán giá thấp hơn giá tính lương, chịu lỗ.

Hồi đó những người viết báo, làm thơ như tôi có măng-đa ( giáy mời lihnx tiền) ra bưu điện lĩnh không có tiền, phải chầu chực có khi cả tuần mới lấy được năm bảy đồng nhuận bút. Theo con số thống kê, để trả lương, nhà nước lại phải in thêm tiền với khối lượng gấp đôi  bình thường (1,38 lần so với trước) nên hậu quả là vật giá lại tăng mạnh. Sang năm 1986 thì mức lạm phát lên đến 774,7% , làm cho nền kinh tế kiệt quệ, đứng bên bờ vực thẳm. Nền kinh tế quốc gia “tụt dốc theo chiều rơi thẳng đứng” (chữ của ông Tố Hữu, phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng lúc bấy giờ). Chỉ số giá bán lẻ của thị trường xã hội năm 1986 tăng 587,2% so với năm 1985. Do đồng tiền mất giá, người ta quay sang lấy vàng làm bản vị, khiến giá vàng tăng vọt, còn nhanh hơn cả tăng giá hàng hóa. Riêng các mặt hàng nông sản, so sánh vật giá năm 1986 với năm 1976 thì tăng 2000%… Thời “Giá ơi chờ lương với” đó trong dân gian xuất hiện nhiều câu nhại ca dao tếu lắm :

Giá ơi thương lấy Lương cùng

                       Tuy rằng khác loại vẫn chung là“Tiền”….

 

                       Gió đưa cái Giá lên trời,

                       cho Lương ở lại chịu đời đắng cay

 

Lạm phát là con ngựa bất kham. Mà nhà nước ta mấy chục năm qua chỉ quản lý theo kế hoạch, chưa từng kinh qua quản lý giá-lương-tiền. Nên khi đã “bút sa” lỡ tay ký lệnh đổi tiền thì con ngựa lạm phát sẽ lồng lên, không ghìm cương được. Để chống lạm phát, lãnh đạo nhà nước lại nghĩ ra một chính sách kinh tế còn bất cập, khốn khó cho dân chúng hơn nữa. Đó là cấm vận chuyển hàng hóa từ tỉnh này sang tỉnh khác. Gọi là ngăn sông cấm chợ rất phản động, trái với xu hướng thế giới. Tức là cổ vũ hình thức sản xuất “tự cung tự cấp”, đàn áp, cấm đoán buôn bán theo thị trường.  Những năm đó, ở miền Nam lúa gạo vẫn dư thừa, nhưng không vận chuyển ra Bắc được vì 38 tỉnh tỉnh nào cũng có một vài “trạm kiểm soát liên tỉnh”, tính ra từ Nam ra Bắc có hơn 80 trạm kiểm soát như thế. Đó là ngăn sông cấm chợ. Người ở nhà quê đưa vài cân thịt heo hay vài con gà lên cho con ở thành phố cũng bị trạm ngăn lại và tịch thu. Nhưng chuyện oái oăm đó càng làm cho kinh tế nước nhà trở nên bế tắc, bi thảm. Mãi đến năm 1987, ông Võ Văn Kiệt ( lúc đó là Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng- tức phó Thủ tướng) ký quyết định bãi bỏ ngăn sông cấm chợ, mới giải tỏa được phần nào. Chúng ta hay nói Đại hội Đảng lần thứ VI ( 1986) là Đại hội đổi mới. Thực ra không phải. Đến năm 1988, tình trạng ngăn sông cấm chợ vẫn xảy ra, người dân vẫn không được tự do buôn bán trên thị trường. Buôn bán vẫn được coi là  trái với Chủ nghãi xã hội, gây mần mống tư bản chủ nghĩa, cần phải ngăn chăn! Mãi đến năm 1990, công cuộc đổi mới mới thực sự bắt đầu

Đó là chuyện buồn của đất nước một thời. Còn với anh Trần Văn Lư, sau vụ đổi tiền, 3000 đồng thành 300 đồng, tức là từ mấy trăm cây vàng boognx chốc tài sản chỉ còn bằng mấy chỉ vàng!  Vợ chồng anh suýt xoa tiếc rẻ, đêm nằm tự xỉ vả mình làm trong ngành thương nghiệp mà ngu, không nhạy cảm thị trường. Đau quá đi chứ! Tiếc quá đi chứ!. Tự dưng mất một lúc hàng mấy trăm cây vàng, ai mà không tiếc. Giá mà lúc mới vô Huế, anh chị mua cái nhà vườn thì bây giờ có cả mấy trăm cây vàng lời, chứ không chỉ 3000 đồng. Chán quá, anh cũng chẳng thèm đến ngân hàng rút 300 đồng tiền mới ấy về nữa. Thế là chỉ mấy năm sau, do lạm phát tăng vọt, 300 đồng ấy không mua nổi bát bún bò giò heo Huế. Cho đến cuối thập niên đầu của thế kỷ XXI này ( 2010), nó chỉ bằng  một phần mười giá một quả bắp luộc ngon bán ở cổng chợ Bến Ngự ! Một quả bắp giá 3000 đồng, còn số tiền của anh Lư trong ngân hàng chỉ 300 đồng! Than ôi, một đời công cốc!

 

Sự đời thật khôi hài hết chỗ nói. Không ai học hết chữ ngờ. Bây giờ, mỗi lần đến nhà thăm anh. Nhắc lại chuyện 300 đồng không mua nổi trái bắp luộc, anh Lư cười ngậm ngùi:” Thôi thì, coi như gia đình mình bị bom ném hư nhà trong chiến tranh vậy thôi, Ngô Minh ạ. Còn bao nhiêu nhiêu gia đình chưa tìm được hài cốt chồng con hy sinh trên chiến trường thời đạn lửa, họ còn đau đớn hơn mình vạn lần…”. Anh nói rồi  đăm đăm nhìn ra xa chân trời, khẽ thở dài chép miếng. Thương quá anh Lư , chị Thảo ơi!…

 

Ngày cả thời bắt đầu chuyển động ”đổi mới” ( 1988- 1990), nhiều cán bộ cũng mất hết vốn liếng vì “ huy động vốn”, mà điển hình là vụ “nước hoa Thanh Hương” của Nguyễn Văn Mười Hai. Lãi suất huy động vốn có khi lên tới 15%, trong khi lãi suất ngân hàng chỉ dưới 9-7%. Số tiền Nguyễn Văn Mười Hai huy động từ 160.000 người, với số tiền154,7 tỷ đồng. Trong số người gửi tiền cho Nguyễn Văn Mười Hai có nhiều sĩ quan quân đội hưu trí, dốc hết vốn liếng gửi để kiếm lời, ai ngờ mất hết. Có người mất số tiền nhiều gấp hàng chục lần anh Trần Văn Lư, phải tụ tập nhau ra Trung ương kiến nghị xử lý.

 

Thời bao cấp cán bộ công chức đã khổ vì thiếu thốn đủ bề còn phải khổ thêm vì mua trái phiếu. “Trái phiếu xây dựng Tổ Quốc” được tuyên truyền rầm rộ không khác gì tuyên truyền đi đánh giặc cứu nước ngày trước.. Trái phiếu được giao chỉ tiêu về từng cơ quan, đơn vị. Ai cũng phải mua vì người ta trừ vào lương tháng. Ai cũng phai mua vì công đoàn, đảng, đoàn thanh niên cộng sản đưa vào chi tiêu đánh giá bình bầu chất lượng đảng viên, đoàn viên; đưa vào chỉ tiêu bình xét lương, nâng cấp nâng bậc, đề bạt… Thậm chí đó là cơ sở để đánh giá lập trường tư tưởng, lòng trung thành với chế độ… Tất cả sự ràng buộc sinh mệnh chihns trị đó bắt buộc mỗi người dân dù không muốn, cũng phải bấm bụng mua trái phiếu Chính phủ! Trái  phiếu mệnh giá 5 đồng, 10 đồng, trong lúc lương tôi lúc ấy là 64 đồng, lương vợ là 56 đồng mà phải mua mỗi người  2 tấm trái phiếu, tháng sau lại mua nữa. Chihns xác lag không hpair mua mà họ ghi sắn tên mình, phát về!  Mua trái phiếu thời gian 5 năm, 10 năm, lãi suất mấy phần trăm một năm. Vợ chống tôi cầm một nắm trái phiếu cất vào tủ khóa lại. 5 năm sau đến Kho bạc nhà nước lĩnh tiền. Nhưng vì  lạm phát, giá tiêu dùng tăng liên tục, nên 10 đồng lúc đầu mua được cả con lợn giống, 5 năm sau cả vốn lẫn lời không mua được bát phở. Khai thác lòng yêu nước của nhân dân bằng chính sách sai lầm như thế thật đáng chê trách, nó làm suy giảm trầm trọng lòng tin vào nhà nước và chế độ xã hội.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Advertisements

Chuyên mục

%d bloggers like this: