Đăng bởi: Ngô Minh | 11.03.2017

LỐI TRẦN BAO NỖI XE TÀU NHIỄU NHƯƠNG

ĐỌC SÁCH ” SỐNG THỜI BAO CẤP” CỦA NGÔ MINH

LỐI TRẦN BAO NỖI XE TÀU NHIỄU NHƯƠNG

 Ngô Minh

 

           Có lần về Đồng Hới, dự đám tang người em gái của một người bạn, tôi  có một bài thơ tặng bạn, trong đó có câu: Thôi em về nẻo chiêm bao. Lối trần hết nỗi xe tàu nhiễu nhương. Quả thực xe tàu thời bao cấp có rất nhiều chuyện oái oăm mà bây giờ kể lại, nhất định các bạn trẻ không ai tin đó là sự thật. Tôi làm báo Thương Mại thường trú tại miền Trung, lại lấyvợ tận vùng núi Tân Kỳ, Nghệ An, nên đi lại trên đường miền Trung ,Tây Nguyên thường xuyên. Chỉ một đoạn đường từ Vinh vào Huế thôi, bây giờ xe đó Quang Dũng, Phong Phú ở Huế chỉ chạy  6 tiếng đồng hồ là tới, mà  những năm 1978- 1986 xe phải phải đi đến hai ngày hai đêm ròng. Xe chạy chậm vì đường vừa hẹp vừa xấu, đầy ổ gà ổ voi. Muốn tránh nhau một xe phải đi chậm lại, hoặc dừng lại. Mỗi lần qua phà Bến Thủy, Phà Sông Gianh hay Phà Quán Hàu xe phải đợi cả tiếng đồng hồ mới đến lượt lên phà. Khách phải xuống để xa ca lên phà. Quà phà xong xe chạy lên đường đợi khách lên hết mới khởi hành.

 

Có lần, vào năm 1982, tôi ra đưa đứa con trai đầu 5 tuổi , đang sống với ông bà ngoại ở Tân Kỳ, Nghệ An, về Huế. Thật là một chuyến xe bão táp, như tên một bộ phim. Chỉ 500 cây số thôi mà hai cha con phải hành trình gần một tuần lễ. Chờ một ngày, hai ngày ở bến xe Tân Kỳ không mua được vé.  Bí quá, tôi hỏi cậu em vợ có quen ai bên công an không. Vì thời bao cấp ấy, có bà con làm bên công an, thuế vụ dễ mua được vé. Có lần tôi ra quê làng biển Thượng Luật thăm mạ, rồi  lên Thị trấn huyện Lệ Thủy để mua vé xe đi Hà Nội. Nghe người ta bảo xe di Hà Nội chỉ có một chiếc 36 chỗ ngồi thôi, không quen biết  khó mua được vé lắm. Tối đó tôi đến nhà đứa em con chú là Ngô Minh Thọ, làm công an huyện. Sáng sớm Thọ đèo tôi ra bến xe. Nó mặc quần áo công an rồi mang theo cái xắc cốt .Tôi mở ra coi,chẳng có giấy tờ sổ sách gì trong ấy cả.  Tôi hỏi :”Chưa đến giờ làm việc chú mày mang theo cái xà cột mần chi”.  Thọ bảo: Không mang xà cột đám bán vé xe nó không sợ. Mình mang xà cột tức là mình đang thi hành công vụ”. Thế mà nó mua được vé cho tôi đi Hà Nội ngay sáng đó thật. Lại được ngồi ngay ghế đầu, ngay sau lưng lái xe”.

 

Tôi hỏi cậu em vợ: ” Cậu có quen ai bên Công an huyện không ?”. Cậu bảo:” Họ nhà mình có o Hoành làm bên công an huyện”. Thế  tôi đến tận nơi nhờ . O Hoành nhiệt tình lắm. O lại mang xà-cột dắt cha con chúng tôi ra bến xe Lạt mới mua được hai vé sau cùng. Xe chạy từ 7 giờ sáng , chỉ 100 cây số thôi mà tối mịt mới về đến Vinh. Phải chờ thêm hai ngày nữa , xếp hàng đợi, gần đến phiên mình thì  họ loa “Hết vé!”. Người Nghệ An thây đằm tính. Cô bén vé xe bảo vết vé là họ lặng lẽ ra về, không đấu tranh, kêu cứu. Bí quá phải nhờ cô em gái cùng học ở Trường Đại học Thương Mại ngày xưa là Nguyễn Thị Kim Yến, lúc đó là giám đốc ở Nhà khách tỉnh ủy mới mua được vé xe vô Huế. Xe đi 360 cây số mà phải đi hai ngày một đêm mới vô tới Huế. Xe vào tơi thị trấn Phò Trạch 10 giờ đêm, chỉ còn 30 cây số nữa thì đến Huế, thế mà phải ngủ lại vì xe “hết xăng”! Thật khủng khiếp.

 

Nhưng xếp hàng mua vé xe, hay đi xe  chậm như rùa, không ghê rợn bằng đi xe ô tô chạy bằng than đá. Thời đó nước ta bị Mỹ và thế giới cấm vận nghặt  nghèo, không nhập khẩu được xăng. Nhà nước phải cấm xe máy chạy trên đường. Chỉ có thành phố Hồ Chí Minh do ông Võ Văn Kiệt làm chủ tịch là không cấm xe máy mà phá rào cho ngành xăng dầu ra mua xăng ở ngoài hải phận quốc tế về để cung cấp. Còn tất cả các thành phố xe máy đều không có xăng để chạy. Hồi đó ai có chiếc xe đạp Phượng Hoàng của Trung Quốc đổi ngang một chiếc xe Hon đa 67 hay xe đam 78. Các ô tô khách, xe tải phải chuyển sang chạy bằng than đá, củi. Hồi đó báo chí đua nhau đưa tin biểu dương ca ngợi các xí nghiệp vận tải ô tô “cải tiến” xe chạy xăng thành xe chạy than, củi. Đúng là cái tiến lùi. Vợ chồng tôi và con trai đã đi một chuyến xe đò như thế từ Huế ra Vinh. Chiếc xe đèo thêm một cái lò than bằng gang to tướng cao khỏang mét rưỡi, đỏ rực phía sau, làm cả xe nóng như lò thiêu. Mùa thu mà ngồi trong xe mà mồ hôi mồ kê như tắm.  Khi xe chạy những cục xỉ than đỏ rực bắn ra đường văng tung tóe vào người đi bộ, đi xe đạp. Thỉnh thoảng xe phải dừng để thợ bỏ thêm than hoặc củi vào lò. Một lần đi xe chạy bằng than sợ đến hết đời.

 

Đó là chuyện đi ô tô. Đi tàu hỏa mới khủng khiếp. Những ngày học đại học ở Hà Nội ( 1968 -1972) , mỗi kỳ nghỉ hè ám ảnh nhất là chuyện sinh viên ra Ga Hàng Cỏ chen mua vé tàu. Trời đất ơi. Hàng chục trường đaị học nghỉ hè một lúc . Học sinh các tỉnh  từ Thanh Hóa vô đến Quảng Bình, Vĩnh Linh  hàng ngàn đứa , nên cứ đạp lên đầu nhau mà chen. Nhiều đứa mót tiểu, lại đang đứng giữa vòng vây chen chúc, không chui ra được để đi tiểu, đành “tè” ướt cả quần. Thức dậy từ sáng sớm, đạp xe ra Ga Hàng Cỏ xếp hàng, chen lấn mồ hôi mồ kê hai ba ngày vẫn chưa mua được vé. Không hiểu sao tàu Hà Nội -Vinh một ngày mấy chuyến, lại nhiều toa dài thế mà khi bán vé chỉ tiếng đồng hồ là hết. Cô bán vé hét qua loa điện :” Hết vé! Mai bán tiếp !”. Thế là mai lại chen lấn tiếp. Mua được vé tàu rồi, về đến Vinh lại ra bến xe mua vé xe đi Quảng Bình vì tàu chỉ đến Ga Vinh là ga cuối. Tàu không có đèn, kẻ ngồi người đứng chật ních toa chứ chẳng số ghế ghiếc gì cả. Chờ ở Vinh hai ngày nữa mới mua được vé xe về Đồng Hới. Nghĩa là một tháng nghỉ hè, mất một nửa thời gian để đi đường.  Mỗi lần chen mua vé tàu như thế, tôi bao giờ cũng yếu thế vì nhỏ con, lại thấp. Những đứa đứng sau, sải tay nó dài, nó với giơ tiền qua đầu mình , lại mua được vé trước mình. Nhiều đứa con gái chen mua vé bị bọn xấu sờ soạng , cứ kêu oai oái. Mua được cái vé ra cửa ga quần áo xộc xệch. đứng khóc rưng rức. Nhiều  đứa bị kẻ gian móc túi hết cả tiền đi đường. Chen mua xé tàu hỏa ở Ga Hàng Cỏ đúng là một hình phạt dành cho sinh viên thời bao cấp.

 

Tôi về lớp than vãn chuyện mua vé tàu với anh Phạm Đô Lương, cán bộ đi học, lớp phó lớp Thựa phẩm 4 mà tôi đã kể ở trên. Anh Lương bảo:” Sao  chú mày không bảo anh. Anh có đứa cháu làm ngoài Ga Hà Nội. Nó mua mấy vé cũng được”. Từ đó mấy năm đại học tôi đều nhờ anh Lương mua vé. Chẳng phải xếp hàng chen lấn gì. Cứ  ăn no ngủ kỹ, mai đến lớp anh đưa vé tàu cho.

 

Sau năm 1977, “tàu ta đã kéo còi qua cầu sông Bến Hải”. Nghĩa là đường sắt thống nhất Bắc-Nam đã thông tuyến. Nhưng đi tàu cũng khốn khổ không khác gì đi tàu Hà Nội –Vinh thời chiến tranh. Năm 1980, lúc đó thằng con trai đầu của tôi đã gần ba tuổi. Vợ chồng tôi quyết định  đưa cháu về “ra mắt” ông bà ngoại và các cậu ở xã Nghĩa Đồng, Tân Kỳ, Nghệ An. Từ Huế ra Nghĩa Đồng phải qua ba chặng tàu xe. Đi tàu ra Vinh, rồi mua vé xe về thị trấn Lạt, xong đạp xe đèo vợ con thêm 20 cây số nữa về Nghĩa Đồng. Tổng cộng  gần 500 cây số.  Tôi ra Ga Huế mua vè tàu đi Vinh. Thấy  người đông chật cứng. Phải xếp hàng cả ngày mới mua được hai tấm vè. Tàu đi đêm. Chẳng có đèn đóm gì. Khi tàu đến Ga Huế tôi bế con, cùng vợ chen lên toa ghi trên vé. Nhưng không chen được. Thằng bé bị người chen lấn, hoảng sợ khóc thét lên. Thế là tôi phải đưa mẹ con lên toa đen.Tức là toa chở than, hay xe đạp, hàng hóa. Tôi chưa kịp nhảy lên thì tàu đã chuyển bánh. Tôi phải đu níu vào một cửa toa mới lên được tàu .Trên tàu tối om. Bộ đội từ trong Nam ra mắc võng chằng chịt trên đầu người ngồi ghế. Tôi lần xuống toa đen tìm vợ con. Đi đến đầu gọi toáng lên đến đó. Hai vợ chồng cứ hét toáng “Tâm mô rồi”, “đây”, “Tâm mô rồi” “đây”…như là chơi trốn tìm. Thế rồi cũng gặp. Vợ chồng tôi trải áo mưa đặt con ngủ rồi tựa ngồi vào nhau gà gật. Có anh bộ đội đau bụng mà người đông quá, lại không biết nhà cầu chỗ mô đã ị ra trong quần thối hoăng toa đen. Có cơm mắn , muối mè mang theo mà không dám mở ra ăn. Con tàu đi cà rịt cà tang đêm hôm sau mới tới Vinh. Nghĩa là tàu chỉ đi chưa đầy hai chục cây số giờ. Có ga tàu dừng cả tiếng đồng hồ để tránh tàu ngược. Thật là một chuyến tàu kinh hãi. Tất nhiên là vợ chồng tôi không chỉ một lần đi tàu lửa Huế-Vinh, Vinh-Huế  mà năm nào cũng đi ra thăm ông bà như thế . Thời đổi mới, ngành đường sắt đã có nhiều cải tiến. Tàu chạy nhanh hơn, nhiều chuyến hơn. Nhưng mỗi khi nghe bài hát Tàu anh qua núi của Phan Lạc Hoa: Con tàu Việt Nam đi suốt bốn mừa vui / Qua đèo Hải Vân mây bay đỉnh núi.. tôi lại rùng mình nhớ những chuyến tàu Huế – Vinh thời bao cấp…

 

 

 

 

 

 

Advertisements

Chuyên mục

%d bloggers like this: