Đăng bởi: Ngô Minh | 12.03.2017

AI HỎI HAN CHI THẰNG MẶT THẬT

ĐỌC SÁCH ” SỐNG THỜI BAO CẤP” CỦA NGÔ MINH

AI HỎI HAN CHI THẰNG MẶT THẬT

 Ngô Minh

Chương này xin kể về văn nghệ sĩ thời bao cấp.  Kể về đời sống văn nghệ sĩ thời nào cũng phải bao gồm hai phần: Phần sáng tác, tác phẩm và phần cuộc sống đời thường. Cuốn sách này chủ trương kể chuyện cuộc sống đời thường, những âu lo miếng cơm manh áo của mọi người thời bao cấp, nên  chuyện về tác giả, tác phẩm là công việc của các nhà văn học sử.  

Thời bao cấp quản lý văn hóa, văn nghệ của nhà nước chặt chẽ lắm. Sự máy móc, cực đoan và có phần ấu trĩ của ngày đó đã khiến cho nhiều tác phẩm hay bị coi là có vấn đề. Nhiều tác phẩm rất hay bị cấm, bị thu hồi, xay bột như  tiểu thuyết Mở hầm của Nguyễn Dậu, Mùa hoa dẻ của Văn Linh, hay bài Bài thơ tình của người thủy thủ ( nhạc Hoàng Vân, lời thơ Hà Nhật)… vì bị quy vào “xét lại”… Khi tác phẩm  bị quy là có vấn đề thì tác giả của nó được công chúng nhìn với con mắt khác, nghi kỵ và thiếu thân thiện. Cũng có nhiều tác giả đã phải trả giá cả cuộc đời. Xin kể một chuyện nhỏ về nhà thơ Hà Nhật, thầy giáo dạy văn của tôi, Lâm Thị Mỹ Dạ, Hải Kỳ, Đỗ Hoàng, Lê Đình Ty… thời trường huyện Lệ Thủy để bạn đọc biết được cuộc sống của các nhà văn thời đó khổ sở như thế nào.

 

Sinh thời, nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi có lần kể cho tôi, hai nhà thơ Vương Trong và Hoàng Cát nghe một chuyện vui cười ra nước mắt. Thời dạy học ở Diễn Châu, có lần nhớ ngày mất của Đại thi hào Nguyễn Du, Hà Nhật cùng với một thầy giáo dạy văn cao to cùng trường đêm hôm tổ chức “tưởng niệm Nguyễn Du” ngay trong phòng ở của mình. Hai người đặt cuốn Truyện Kiều lên trên bàn, thắp hương, đốt nến khấn rồi thay nhau nói về tính nhân văn trong thơ Nguyễn Du. Hai thầy giáo say mê không biết ở ngoài khe cửa có người rình . Nghe xong anh chàng hốt hoảng đến ngay nhà ông lãnh đạo địa phương tố cáo là có hai người đêm hôm ca ngợi “nhân văn –giai phẩm”. Cái người gầy còm ( tức Hà Nhật) nói tới 18 lần “nhân văn”, còn người cao lớn nói  11 lần. Hồi ấy, cụm từ “nhân văn-giai phẩm” đồng nghĩa với  “phản động”. Mà dân quê thì không phân biệt được từ “nhân văn” sang trọng ấy  với vụ “nhân văn-giai phẩm”! Từ đó Hà Nhật bị “ghi vào sổ đen”. Hà Nhật có yêu một cô giáo quê ở Nghĩa Đàn, miền Tây Nghệ An, cách Diễn Châu khoảng 80 cây số,  nhưng  khi gia đinh nghe nói thầy giáo này có dính tới nhân văn giai phẩm, thì gia đình kiên quyết không gả. Chính người con gái ấy và mối tình bị từ chối đã “cho” Hà Nhật bài thơ tình nổi tiếng “ Bài thơ tình của người thuỷ thủ”.

 

Tôi thấy điều lạ lùng nhất là trong môi trường sáng tác vô cùng ngặt nghèo; lại thêm cuộc sống vật chất thời bao cấp cực kỳ túng thiếu, thế mà các nhà văn xứ ta vẫn không  bỏ bút, vẫn cặm cụi viết. Dường như thời bao cấp phù hợp với các văn nghệ sĩ hơn là thời kinh tế thị trường bây giờ. Hay chịu khổ chịu đói thời gian dài đã trở thành bản tính của nhà văn ( Nhất kiêng đừng lấy chồng thi sĩ / Nghèo lắm ư con bạc lắm con!-Nguyễn Bính)? Đa số nhà văn, nhà thơ, họa sĩ… đều là người ngất ngưỡng, ham chơi. Có chơi mới tìm ra tứ mới, chất liệu, hình ảnh mới để viết. Có ngao du mới biết được nhiều tính cách người. Có chơi ngòi bút mới phóng khoáng, tung tẩy. Chơi mà không lo chết đói chỉ có thời bao cấp mới có. Nhà nước đã có hàng trăm loại tem phiếu bao cái ăn cái mặc hàng ngày cho mọi người. Cho nên ở góc độ nào đó, các văn nghệ sĩ thời  bao cấp sướng hơn. Tác phẩm in ra theo kế hoạch phân phối cho hàng  cái ngàn thư viện khắp cả nước. Viết theo kế hoạch đề tài được trên chỉ đạo, in ấn theo kế hoạch tuyên truyền, không lo sách ế không bán được!

 

Nhà văn là cán bộ viết văn của Đảng. Anh là nhà thơ nhà nước/ Có việc làm ăn hẳn hoi ( Đỗ Hoàng). Thời bao cấp chỉ có những nhà văn “ngoài biên chế” mới “cơm áo không đùa với khách thơ”. Chứ thời kinh tế thị trường bây giờ, đa phần chẳng nhà văn nào sống được bằng tác phẩm của mình. Sách viết thật hay như Tô Hoài, Nguyễn Quanng Lập, Nguyễn Nhật Ánh, Nguyễn Bình Phương…, được độc giả săn tìm, nhà xuất bản hay nậu sách mới chịu bao in, trả nhuận bút theo phần trăm giá bìa. Chứ sách không bán chạy thì chẳng nậu nào màng tới. Các nhà văn phải đua nhau săn đề tài để viết kịch bản phim, phim tài liệu nghệ thuật cho truyền hình, cho các xưởng phim. Hồi đó Việt Nam chưa sản xuất được phim dài tập kiểu “Người giàu cũng khóc” của Brazin, Các nhà văn chỉ viết kịch bản phim một vài tập, kiếm được nhuận bút kịch bản vài triệu một tập, đưa cho vợ, vợ mừng hú. Rồi viết bài cho báo này báo khác để sống, để nuôi vợ con. Lâu ngày đa số các nhà văn sống bằng viết báo là chính. Văn chỉ để chơi.

 

Ngày đó nhà tôi ở Huế cứ  hai ba ngày mới có điện một ngày. Thỉnh thoảng có điện vài ngày rồi cắt luôn cả tuần. Hai vợ chồng nuôi lợn, trồng rau, bóc lạc của ngoại thương. Lương tháng lĩnh xong phải chia ra ba mươi ngày. Mỗi ngày chỉ chi tiêu chừng đó hoặc ít hơn chứ không được tiêu nhiều hơn, còn đề phòng đau ốm, giỗ chạp. Bữa cơm không có gì, cả tháng mới có đôi bữa có chút thịt bạc nhạc kho, chỉ vài gắp là hết. Thịt nạc dành cho con trẻ. Thế mà cũng luôn thầy đời màu hồng. Cũng có khi chỉ có lạc rang muối, cà muối, rau muống luộc…. Ăn thì như vậy tưởng sẽ thiếu chất, thiếu sức sống vậy mà không. Tôi lúc nào cũng thấy khoẻ, trẻ trung yêu đời lắm. Tôi thức làm thơ viết báo nhiều đêm đến ba bốn giờ sáng. Chợp mắt một tí, bảy giờ đã có mặt ở cơ quan. Trong  sổ tay của tôi còn ghi bài thơ viết năm 1980 rất lạc quan:

 

Ngày cơ quan việc nặng gọi tên

                            Về phòng riêng thức cùng thơ canh sáng

                             Ôi, tình yêu trẻ trung đôi cánh

                             Nhưng ngày thường hóa biển  giữa lòng anh

 

Có một mùa trung thu buồn. Vì Tết trung thu đúng vào dịp cuối tháng, lương cạn. Hồi đó trên các đường phố Huế hay bán các loại mặt nạ Tôn Ngô Không, Trư Bát Giới…theo phim Tây Du Ký của Tàu chiếu trên ti vi. Buổi chiều tôi đi làm về. Đạp xe trên đường Lê Lợi bên Sông Hương gặp người bán mặt nạ đen nhẻm. Anh bán mỗi cái mặt nạ 2 đồng. Trong túi tôi lúc đó chỉ có 3 đồng, nếu mua hai cái cho hai đứa con trai thì thiếu mất một đồng. Mà không đủ hai cái thì hai đứa trẻ sẽ giành nhau. Tôi năn nỉ mãi, nhưng nhất định ông không bán. Thế là tôi lẽo đẽo dắt xe đạp theo ông tới hoàng hôn, tận cuối thôn Vỹ Dạ. Lúc này trên vai ông chỉ còn một cái mặt nạ bị rách, ai cũng chê không mua, ông mới chịu bán cho tôi một đồng. Thế là tôi có hai cái mặt nạ cho hai đứa con chơi trung thu rồi. Sau khi bán cái mặt nạ cuối cùng cho tôi, thì không ai đi theo hỏi han gì người bán mặt nạ nữa. Ông thủi thủi  một mình trong hoàng hôn lợt. Câu chuyện  là thế, nhưng tôi lại nghĩ ra một tứ thơ nói một chuyện lớn của đời. Chuyện lớn của đời như thế nào thì tự mỗi người đọc tìm hiểu khi đọc bài thơ, tôi không nói ở đây. Đêm đó tôi thức tới bốn giờ sáng mới làm xong bài thơ “Người bán mặt nạ”:

 

Người bán mặt nạ quanh quẩn phố

Cùng trẻ con và lá rơi vàng

Những mặt khỉ, mặt heo, mặt chó…

Nhăn nhở cười đỏ xanh

 

Người bán mặt nạ gầy nhom áo vá

Người mua mặt nạ mặt khó đăm đăm

Những mặt khỉ mặt heo mặt chó

Vênh vang nhìn

 

A ha…nhịn rau nhịn mắm

Trung Thu con mẹ rằm đêm vui

Cho bõ tháng ngày bao gương mặt

Nhàu nát như chưa biết nụ cười

 

Người bán mặt nạ chiều trở về

Dắt bóng mình men hoàng hôn lợt

Mặt nạ bán hết con lại mình

Ai hỏi han chi thằng mặt thật !

 

Thì ra thơ không chỉ sinh ra ở chốn trăng hoa mây gió, mà thơ còn có ở ngay chỗ lo toan, túng thiếu của con người. Thời bao cấp tôi thấy các nhà thơ ở Huế đều sống  rất vô tư. Nhà thơ Xuân Hoàng thì gặp ai cũng đọc thơ. Ngồi đâu cũng đọc thơ. Đọc xong rồi véo vào đùi người nghe , bảo :” Có mới không ? Có mới không?”. Có lần  mấy cô hành chính Hội Văn nghệ tới nhà nhà thơ ở đường Hoàng Hoa Thám gần Sân vận động Huế để kê khai tem phiếu. Mấy cô bảo anh kê tên mấy đứa con để làm tem phiếu đầu năm. Anh gọi con bé Nhật Lệ  từ dưới bếp lên hỏi:” Mi tên chi hè ?”. Đối với Xuân Hoàng, ngay khi ở Đồng Hới, miền Nam chưa giải phóng, anh cũng không cảm thấy có thời bao cấp. Ăn cái gì qua bữa là xong. Tất cả là  do chị Nguyễn Thị Bình, từng là tỉnh ủy viên, Chủ tịch Hội phụ nữ tỉnh Bình Trị Thiên, lo lắng, tìm  tả. Đối với anh chỉ có thơ mới quan trọng.

 

Còn nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường thì suốt ngày “đi nói”. Anh không hề biết trong nhà có còn cái ăn hay không. Mỗi lần có bạn bè đến, bia rượu vào, hứng lên là anh bảo Dạ đi mua thêm rượu, thêm mồi, mà không hề biết trong ví tiền đi chợ đã cạn đến đồng cuối cùng. Những lúc ấy Mỹ Dạ cứ đi  ra đi vào như người mất hồn. Thật tội nghiệp. Tất cả nỗi lo cơm áo gạo tiền đều có Lâm Thị Mỹ Dạ quán xuyến. Năm 1979, cuối tháng 2, chiến tranh biên giới xảy ra. Đêm ông Tường say về nói với vợ :” Anh phải lên biên giới đây. Tổ quốc đang lâm nguy, mình không thể ngồi ở đây được.  Em chuẩn bị cho anh ít tiền!”. Trong nhà lúc đó đã cuối tháng, tiền lương gần hết, tiền dự trữ thì không còn đồng nào. Thế là Mỹ Dạ phải lặng lẽ lấy chiếc áo dài quý nhất may bằng vải nhiễu hồng rất đắt giá mà bà cụ mẹ anh Tường may tặng con dâu sau khi giải phóng miền Nam, khi hai vợ chồng từ Bắc về Huế, ra chợ Đông Ba bán. Tiền bán cái áo dài ấy đủ để  Hoàng Phủ đi biên giới một tuần, về viết được bút ký Rừng hồi nổi tiếng.

 

Thời đó chỉ có một số nhà văn “chân quê” như vợ chồng nhà văn Nguyễn Khắc Phê ở chưng cư Đống Đa là vất vả. Anh chị ngăn gian bếp để nuôi lợn,  lại rào cả ban công cửa sổ để nuôi gà. Hàng ngày hai vợ chồng ngoài công việc cơ quan, rỗi giờ nào là đi tìm mua thức ăn cho lợn, cho gà. May cả hai người đều khỏe mạng,không đau ốm gì. Nhà thơ Hải Bằng thì sống bằng đồng lương của anh bán sách ở Công ty phát hành sách và vẽ tranh, làm  nghệ thuật tạo hình bằng rễ cây biếu cho cơ quan này cơ quan khác, họ quý họ thưởng cho ít quà. Vợ chồng nhà thơ Đỗ Văn Khoái phải nuôi năm đứa con, nhọc nhằn lắm. Vợ thì làm công nhân nhà máy xi măng Long Thọ khói bụi  bết dày mái tóc dài. Khoái học ngành điêu khắc ở Đại học Mỹ thuật Huế từ trước năm 1975, đến năm 1979 mới tốt nghiệp. Nhưng vừa ra trường thì  gặp thời đói kém, nên những ngày đó, mặt anh luôn đăm chiêu, cơ hàn. Anh em văn nghệ Huế gọi vui Đỗ Văn Khoái là “ Đói Văn Khổ”, nói lái theo âm giọng Huế. Vì “cơm áo không đùa với khách thơ”, nên Khoái vừa sáng tác nghệ thuật, thơ, vừa phải tìm tòi sáng tạo ra một sản phẩm gọi là “Lò Khoái” để bán. Lò Khoái là lò bếp, đắp bằng đất sét, dùng đun củi tiết kiệm được một phần ba nhiên liệu, vì nó tập trung chất nóng dưới nồi, không tỏa ra xung quanh. Nên khách đặt hàng nhiều lắm. Khoái đắp lò quần quật suốt ngày  đến tận khuya mà không đủ lò để bán cho khách hàng. Tay chân đầu tóc quần áo bê bết đất sét. Cả thành phố Huế nấu ăn bằng lò Khoái. Trong những năm kiếm ăn vất vả ấy, gia đình tôi cũng mua hai cái “Lò Khoái” đun nấu rất tiện dụng, đỡ tốn tiền củi. Cho đến khi xin được chân làm họa sĩ trình bày báo Thừa Thiên Huế , Khoái mới hết làm lò.

 

Còn nhà văn Nguyễn Quang Lập lúc đó mới ở đơn vị bộ đội tên lửa ở Quảng Nam về Huế. Cơ quan Sở văn hóa phân cho Lập cái chỗ ở chỉ đủ kê cái giường ngủ. Bước vào nhà là phải lên giường. Lĩnh lương tháng xong là rủ bạn đi uống rượu suông nhấm với tí lạc rang, mà chúng tôi hay gọi theo cách của nhà thơ Thanh Thảo là “uống thuốc rầy”. Hết lương rồi thì chạy lên nhà Tường –Dạ hay nhà tôi  kiếm bát cơm nguội. Khổ cho Lập là nó lại ở ngay cạnh phòng của một cô gái xinh đẹp, trằng hồng, màu mỡ, má lúm đồng tiền, mắt long lanh, gái một con mà chồng đi xa. Bức vách ngăn hai phòng lại bằng cót. Hai bên đều đều có thể ghé mắt qua “cửa tò vò nhìn nhau”, thấy nhau hàng ngày. Gay thật!

 

May mà Lập lấy được cô Hồng ( Hồ Thị Hồng), cùng quê Quảng Trạch , đi lao động xuất khẩu ở Liên Xô về có  xích, líp, may ơ, may-xo…để bán, cuộc sống nó mới mở mắt hơn. Chứ đẹp trai, tài hoa lại khỏe mạnh như Lập mà ở bên cạnh cái cô xinh đẹp lúm đồng tiền ấy thêm thời gian nữa nhất định sinh chuyện…Nhà thơ –nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo vào Huế lấy vợ cuối thời bao cấp. Thế mà vợ chồng anh cũng “làm kinh tế” sôi nổi lắm. Hồi đó phong trào nuôi cá trê phi đang rầm rộ. Người ta quảng cáo rằng chỉ ba tháng nuôi cá đã lớn tới nửa ký một con. Thế là hai vợ chồng bàn nhau đầu tư mấy chỉ vàng xây một cái bể xi măng tới ba khối nước, rồi mua ngàn con cá trên phi giống về thả. Nguyễn Trọng Tạo bấm đốt ngón tay nếu nuôi ngàn con, ba tháng sau sẽ thu được một tấn rưỡi cá thịt ngon ơ. Không những có cá ăn thoái mái mà còn có thể bán thu hồi vốn. Ngày nào nhà thơ cũng cho cá ăn ba bốn lần. Một tháng rưỡi, Tạo câu mấy con trê lên coi. Đúng là lớn nhanh thật. Lúc thả nó chỉ bằng ngón tay út, mà giờ đã lớn đến gần hai lạng. Sướng quá. Thế là từ đó ngày nào Nguyễn Trọng Tạo cũng gọi Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Minh, Thanh Tú, Đặng Quang …mang rượu đến câu cá trê phi nướng làm đồ mồi. Câu nhiều quá đám cá không dám ngoi lên ăn mồi nữa, cứ nằm im trú ẩn dưới đáy bể. Vẫn câu. Vì ngày nào cũng uống, cũng cần mồi nhậu, mà ra chợ thì đồng lương không chịu thấu.

 

Đám cá sợ quá, ròn đi không chịu lớn nữa. Sau ba tháng, cá sợ không cắn câu nữa. Nguyễn Trọng Tạo tức quá, trổ lù xả nước để bắt nấu lẩu. Thế là mất số tiền gần cả cây vàng lúc đó để mua giống, xây bể, mua thức ăn, mà chỉ được vài chục bữa nhậu. Thế rồi cái bể nuôi cá trê phi ấy phải đập đi để giải phóng  khoảng sân nhà. Cô Võ Kim Thanh (vợ Tạo) một giáo viên dạy tâm  lý đông vật ở Đại học Nông Lâm Huế lại nghĩ ra “dịch vụ” bán cơm hến buổi sáng. Cũng sắm đủ đồ nghề như nồi nhôm, bếp củi, bát, ghế, bàn, lọ tương ớt, rồi gọi các mối họ mang hến, nước hến, rau sống, rồi  cơm, bún …đến để bán. Sân vườn  chỗ  nhà 2-Nguyễn Huệ ấy rộng nên có thể kê được nhiều bàn. Bữa khai trương, toàn anh em bạn bè văn nghệ đến ăn miễn phí. Mấy ngày sau cũng có dăm bảy người khách tới ăn. Nhưng khách quá ít không bù được số vốn bỏ ra. Thế là bỏ của chạy lấy người. Không hiểu cái đám song nồi, bát thìa, bán ghế sắm ra ấycô giáo Võ Kim Thanh đã nhượng lại cho ai?

 

Cái thời báo cấp ấy, đến trà cũng phải phải pha lại bã, vì không có trà mới. Có nhà thơ bạn tôi ở Quy Nhơn tên là Võ Ngọc Thọ ( con trai nhà nghiên cứu Võ Ngọc Liễn) có bài thơ “Hết trà” rất đắng chát :

Sáng nay hết trà

                               không dám súc bình

                               Uống nước trắng thì không chịu được

                               Thôi trà cũ cũng đủ dùng buổi sáng

                               Nhấm vị đời thấm tận hồn ta.

 

 

*      *

*

Tôi “ra quân” từ Sài Gòn ra lại trường cũ là Đại học Thương nghiệp ở Hà Nội rồi  xin vô Huế năm 1976. Năm 1978 được đi dự Đại hội văn nghệ Bình Trị Thiên lần thứ nhất. Sáng tôi đến hội trường của Đại học Huế bây giờ, số 3-Lê Lợi, thấy một người gầy, đeo kính cận, mặc bộ quần áo đen, đội chiếc mũ nồi lệch, ngồi ở chiếc bàn ở cửa ra vào để ghi danh sách hội viên để báo cơm và thu tem gạo. Những người ở các huyện đến đại hội hai ngày phải nộp ngày 4,5 lạng tem gạo, còn ăn ngủ thì ở Nhà khách tỉnh ( 2-Lê Lợi) được tỉnh bao. Anh em ở Huế thì về  ăn ngủ ở nhà. Anh Xuân Hoàng khoắc vai tôi bảo:” Người ngồi thu tem gạo ấy là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đó!”. Trời đất ơi, một nhạc sĩ nổi tiếng thế mà làm công việc hành chính bình dị thế ư ! Hồi chiến đấu ở Miền Đông Nam Bộ, trong rừng, anh em thanh niên từ Sài Gòn lên R (R là vùng căn cứ của Chính phủ Cách mạng Lâm thời, ở rừng Tây Ninh) anh nào cũng mê nhạc Trịnh Công Sơn, suốt ngày hát Diễm xưa, hạ trắng, Da Vàng, Rừng Xưa, Xuân Hồng, Nguồn Cội, Quỳnh Hương, Địa Đàng.v.v..Họ tập cho chúng tôi hát. Lâu nay tôi cứ nghĩ rằng nhạc sĩ họ Trịnh ở Sài Gòn, bây giờ mới hay anh ở Huế, ngồi ngay trước mặt tôi đây, sướng thật. Những năm bao cấp ở Huế, anh Trịnh Công Sơn sống bằng lương công chức và tiền thu nhập trước giải phóng. Ở Huế việc biểu diễn âm nhạc để lấy tiền ngay cả bây giờ vẫn chưa có, huống chi 30 năm trước. Nhìn nhạc sĩ Trịnh Công Sơn ngồi thu tem phiếu, tôi cứ nghĩ nhạc Trịnh mang nỗi tiếc nuối, ngậm ngùi da diết khi con người đã xa dần với thuở “nhân chi sơ”, “Ngày nay không còn bé, tôi quên sống thật thà, tôi đã không còn là, là hạnh phúc ngu ngơ…. Hay “Thằng bé xinh xinh ra đồng giữa ngọ, thả con diều nhỏ bay giữa mênh mông… Cánh diều trong nhạc Trịnh tan trong cội nguồn hay chính đó là giấc mơ được tái sinh trở lại của con người với cội nguồn uyên nguyên, cội nguồn minh triết của vũ trụ, của Đạo Trời.  Và bây giờ Trịnh Công Sơn đang trở thành đứa bé hồn nhiên , không chút ưu tư giữa thời bao cấp, xếp xếp từng mảnh tem phiếu gạo vào chiếc phong bì, bỏ vào cặp một cách cẩn thận….

Hồi đó cả nước đói, phải ăn bo bo, cứng như nhai đá. Nhưng không ăn không được. Mình như người đi trên sa mạc khát nước khô cổ bỗng gặp vũng nước trâu đằm. Nước bẩn cũng phải uống. Nên năm nào tỉnh cũng ra chỉ thị bắt các cơ quan cũng phải đi tăng gia chống đói. Chẳng có nhà kinh tế nào nghĩ ra cách làm gì mới để có nhiều gạo, nhiều thịt. Cơ quan kinh tế tỉnh ủy thời đó không làm được cái gì ngoài việc mỗi năm lại soạn ra một chỉ thị kêu gọi tăng gia sản xuất chống đói. Trí thức cũng phải tăng gia trồng khoai sắn. Tất cả các khoảng đất trống trong Hoàng Thành Huế hay các lăng vua đều biến thành nơi trồng khoai, sắn và chuồng nuôi lợn. Các lề đường ở Huế đều bị đào lên để trồng  khoai, đậu. Cả kinh thành Huế như một ruộng  khoai. Các văn nghệ sĩ nổi tiếng như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Thanh Hải, Nguyễn Khoa Điềm, Xuân Hoàng, Trịnh Công Sơn, Bửu Chỉ, Tô Nhuận Vĩ, Lâm Thị Mỹ Dạ, Hà Khánh Linh, Lê Thị Mây…đều phải xếp bút nghiên, vác dao cuốc đạp xe lên vỡ đất đất trồng sắn ở vùng đồi núi Bình Điền. Đạp xe tới 14 cây số chứ ít đâu. Cơ quan phải bới gạo, mắm, rau khoai đi để nấu ăn. Đất lại toàn sỏi đá. Nên  chiều về hai bàn tay anh nào cũng dộp phồng, ê ẩm. Tay cầm bút nay cầm cuốc mà. Thật là một cuộc “cách mạng lùi!”.

 

Thời đó nói là tăng gia chống đói nhưng vì không phải nông dân chuyên nghiệp nên một sào sắn chỉ thu hoạch được năm chục cân sắn củ nhỏ xíu bằng ngón chân cái, chia nhau mỗi người vài lạng. Cứ như chuyện đùa. Tính ra so với vốn liếng, ngày công bỏ ra, thì các “chiến dịch tăng gia” hàng năm đều lỗ tơi bời. Hình như tăng gia  không phải là làm kinh tế để chống đói, mà chủ yêu là để rèn luyện, “cải tạo lao động”, cải tạo tư tưởng theo hướng “cần lao” thì đúng hơn. Đó là chưa kể để các nhà thơ, nhạc sĩ, họa sĩ trong thời gian đó mà sáng tác thì xã hội sẽ có thêm những tác phẩm vô giá. Các suy nghĩ tiểu nông như thế đã làm cho xã hội bao cấp càng  khó khăn khốn đốn thêm. Bởi thế mà đói vẫn hoàn đói.

 

Các nhà văn thường rất ngây thơ với tem phiếu, nên thường xuyên dùng hàng kém phẩm mặc dù cũng tiêu chuẩn như ai. Nhà thơ Mai Văn Hoan đang giảng dạy Trường Cao đẳng Sư phạm ở Đồng Hới, Quảng Bình, được tỉnh điều vô Hế dạy bồi dưỡng học sinh giỏi văn của tỉnh ở Trường Quốc Học. Anh  mang theo hái đứa con đầu  để nuôi, còn hai đứa ở với mẹ nó ở huyện Bố Trạch. Tem phiếu của ba bố con  nhà thơ Mai Văn Hoan lúc đó một thời gian đưa cho nhà bếp của Trường cấp 3 Hai Bà Trưng đi mua hàng. Họ mua về rồi chia ra cho các giáo viên có tem. Mai Văn Hoan mải lên lớp dạy học, mải vui thơ phú với bạn bè. Anh lại là người giảng văn say sưa như lên đồng. Đến chiều về  phần thịt của mình chỉ còn ít bạc nhạc , xương sụn. Bố con quanh năm không có bữa nào ăn được miếng thịt cho ra thịt . Một lần Hoan lên nhà tôi chơi, kể chuyện ăn thịt  dai như dây cáp. Nguyễn Thị Minh Tâm vợ tôi lúc đó là cán bộ theo dõi tem phiếu của Công ty Thực phẩm Nông sản bảo với thầy Hoan:”Anh đưa tem phiếu cho em mua thực phẩm cho, rồi chiều về lên đây mà lấy”. Tất nhiên là Minh Tâm gửi cho các cô mậu dịch viên bán thịt ở Cửa hàng Thực phẩm Bến Ngự, họ chừa lại cho. Hồi đó, cán bộ tem phiếu, mậu dịch viên chỉ “tham nhũng “ được đến thế, chứ thịt tính lạng theo tem phiếu, không ăn cắp được. Từ đó  ba bố con Mai Văn Hoan mới được ăn miếng thịt đàng hoàng, thịt ra thịt.

 

Nhắc đến việc xếp hàng mua thực phẩm, tôi cứ nhớ hoài chuyện nhà văn Nguyễn Khắc Thứ. Nhà văn người Triệu Phong, Quảng Trị, từng có tác phẩm ký Trận Thanh Hương nổi tiếng được giải thưởng quốc gia viết trong kháng chiến chống Pháp. Ông sinh năm 1921, mất năm 1990 ở quê vợ Quảng Bình. Hồi bao cấp ông sống ở Huế một thời gian. Một buổi sáng, lúc đó đã hơn bảy giờ, vợ tôi đi kiểm tra tem phiếu ở Cửa hàng Thực phẩm Bến Ngự. Tới nơi, thấy một ông già gầy gò, tóc bạc phơ cứ đứng xẩn vẩn trước cửa hàng. Vợ tôi hỏi:” Bác tìm ai ?”. Nhà văn kể:” Tôi là Nguyễn Khắc Thứ, nhà văn, tôi xếp hàng mưa thịt từ ba giờ rưỡi sáng. Người đông quá. Đến phiên mình thì cô mậu dịch viên tuyên bố hết thịt. Khổ quá , trưa nay nhà tôi có giỗ…”. Nghe nói  nhà văn, lại đang cần thịt có giỗ, dù không quen biết ông, vợ tôi liền vô quầy hàng năn nỉ mấy cô mậu dịch viên:”Ai có để dành thịt cho ai thân quen thì san cho bác  đây năm lạng, người ta già mà xếp hàng từ khi 3 giờ rưỡi sáng!”. Thế là nhà văn mua được thịt. Trưa, vợ tôi về hỏi:” Anh có biết  bác nhà văn Nguyễn Khắc Thứ  không?”. Tôi bảo vợ  ông ấy người Bình Trị Thiên, viết bút ký Trận Thanh Hương nổi tiếng đấy!”

 

Thời bao cấp tôi ra Hà Nội thường được anh Phùng Quán chở đi thăm hoặc kể cho nghe về đời sống thiếu thốn của nhiều nhà văn, nhà thơ Thủ Đô. Các nhà thơ Hoàng Cầm, Lê Đạt đều phải mở cửa hàng ở tại gia để sống. Nhà thơ Hoàng Cầm của các bài thơ nổi tiếng Bên kia sông Đuống, Lá diêu bông, Quả vườn ổi… suốt ngày ngồi bán quán nước trước nhà. Ông già ngồi xem báo, đọc sách, bọn trẻ gọi “ Ông Cầm, cho đĩa lạc”. Thế là ông lọm khọm đứng lên đi bốc lạc ra đĩa, bưng đến bàn cho bọn khách choai choai.  Phùng Quán xót ruột hỏi:”  Cái quán nước này cho anh ngày bao nhiêu mà anh phải khổ sở thế ?” .Hoàng Cầm ngậm ngùi :” Em cứ coi như thi sĩ Hoàng Cầm đã chết rồi. Bây giờ chỉ còn mỗi ông chủ quán nước Hoàng Cầm thôi !” Còn nhà thơ Lê Đạt từ 1957 đã có một cửa hàng tạp hóa mang tên ông với số đăng ký là 4210. Ông  có hẳn một  bài thơ  dài  có tên là Cửa hàng Lê Đạt. Nhà văn Nguyễn Dậu, nổi tiếng với tiểu thuyết Mở hầm thì phải làm nghề cắt tóc bao nhiêu năm bên hồ Hoàn Kiếm để sống khi tác phẩm Mở hầm bị quy là “xét lại”. Phùng Quán kể rằng, nhà văn Ông Văn Tùng là nhà văn, nhà dịch giả tiếng Tầu cự phách của nước ta.Ông là người dịch Khổng Tử, Hàn Phi Tử…Thời bao cấp ông sống lăn lộn, vất vả lắm. Ông bỏ nghề dạy học vì chán và vì… mê sách. Thế là bỏ luôn cả lương, cả các thứ chế  độ tem phiếu, về mở quán sách để bán và cho thuê sách. Có khi ông bán sách tại ga Hàng Cỏ. Nhà văn Ông Văn Tùng nhỏ thó, đen đúa, đạp cái xe cà tàng thường đến các nhà xuất bản mua những cuốn sách bán chạy để về vừa đọc vừa cho thuê. Thế mà ông cũng sống được qua thời  bao cấp khốn khó.

 

Nguyễn Huy Thắng, con trai của cố nhà văn Nguyễn Huy Tưởng kể chuyện nhà thơ Quang Dũng thời bao cấp nghe rất cảm động. “…Bấy giờ còn đang thời bao cấp, thứ gì cũng khan hiếm, nhất là lương thực, thực phẩm lại càng thiếu. Bác Quang Dũng sang nhà chơi chỉ khuyên mẹ tôi nên nhai thật kỹ khi ăn. Nhai càng kỹ càng tốt, vừa đỡ hại dạ dày, vừa đỡ tốn cơm. Đã từ lâu bác áp dụng phương pháp này. Trước kia phải ăn ba bát, nay chỉ cần hai. Nghe nhà thơ nói nhai kỹ cho đỡ tốn cơm mà ứa nước mắt. Mẹ tôi hỏi lại bác dạo này thế nào. Bác cho biết vừa tìm ra một việc hay lắm. Nhà bác ở phố Bà Triệu, không xa công viên Thống Nhất là bao. Chiều chiều, bác và mấy con lại vào công viên, ngồi chơi hóng gió, cho bõ những lúc ở trong nhà chật chội, tù túng. Nhưng cái chính là sau đó quét lá đem về làm chất đốt. Công viên có nhiều cây, lá rụng nhiều, chiều nào mấy bố con cũng quét được hàng bao tải lá khô. Vừa vui vẻ, vừa được vận động chân tay, lại vừa được việc. Thỉnh thoảng cũng có anh bảo vệ nguyên tắc, gây khó dễ. Nhưng thường là họ bỏ qua cho. Vả lại, mình quét thế chỉ càng sạch công viên chứ sao. Từ hồi ấy đến giờ, nhà bác đỡ hẳn nạn thiếu chất đốt…”.

 

Còn nhà văn Phùng Quán thì dễ dàng vượt qua thời  bao cấp khó khăn ấy bằng hai nghề cơ bản: Viết truyện tranh in chui và câu cá trộm. Phùng Quán là nhà văn quân đội người Huế, anh em kết nghĩa với nhà văn già Thanh Tịnh. Rất nhiều cuốn sách Phùng Quán viết mang tển Thanh Tịnh , vì tên Phùng Quán bị cấm, không được in. Nhà văn Thanh Tịnh bảo :” Cho thằng Quán nó mượn cái tên để nó in sách ,kiếm tiền nuôi con!”. Đa số là Phùng Quán viết sách rồi nhờ người đứng tên,  hay bịa ra tên lung tung rồi đem đến cho người yêu là họa sĩ Hương Quân biên tập viên ở Nhà Xuất bản Văn hóa Dân tộc in ra để kiếm nhuận bút. Chỉ bác Thanh Tịnh là cho Phùng Quán mượn tên mà không lấy đồng thù lao nào. Có khi nhà thơ già con phải đi xich-lô đến nhà xuất bản để “họp cộng tác viên cuối năm” để cho Phùng Quán có tên viết sách. Cứ viết lời cho tập truyện tranh Phùng Quán được trả 50 đồng. Nên anh phải viết liên tục. Anh đã viết đến gần  trăm cái truyện tranh như vậy. Khi mượn tên người khác để in, họ có chứng minh thư đến Nhà xuất bản  nhận nhuận bút, họ chia cho anh Quán  một nửa. Có khi họ lấy luôn. Khi Phùng Quán “nhắc nhở”, họ vác đến cho cuộn giấy dầu lợp nhà, coi như nhuận bú sách. Buồn ngao ngán nhưng  không  dám  nói gì.

 

Nghề thứ hai là câu trộm cá Hồ Tây. Anh có một bến câu ở bên Nghi Tàm, chỗ vườn nhà bà mẹ nuôi Tưởng Dơi và bến ở phía sau Trường Chu Văn An, chỗ vợ chồng anh tá túc. Một đêm, nhất là những đêm mưa chuyển mùa, cá lên ăn nhiều, anh có thể câu được vài ba con cá chép, cá trắm cỏ, con nào cũng  một vài cân. Con thì ăn, con thì  đưa ra chợ Tân Long bán. Có lần Đội bảo vệ Thủy sản Hồ Tây bắt quả tang Phùng Quán đang câu cá. Họ tịch thu cần câu và mấy con cá vừa câu được. Phùng Quán năm nỉ mãi họ không chịu tha, Cuối cùng  nhà thơ phải đọc thơ “Lời mẹ dăn” và xưng danh  là Phùng Quán, rồi  chìa cái  huy hiệu Chiến sĩ Điện Biên ra cho họ xem. Anh em bảo vệ thủy sản Hồ Tây nghe tên Phùng Quán “nhân văn giai phẩm phản động” đã lâu, nay mới “mục sở thị” nên thông cảm lắm. Từ đó họ thấy nhà thơ câu cá cũng lờ đi. Cám động hơn nữa là trong đám tang Phùng Quán tháng 1 năm 1995, có một vòng hoa viếng rất trạng trọng của Đội bảo vệ Thủy sản Hồ Tây đó . Cái câu “ Cá trộm-văn chui- rượu chịu” là do anh Quán tự họa chân dung một thời của mình vừa đúng vừa xa xót.

 

Theo nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến trong bài báo dài kỳ “ Ký ức thời bao cấp” in trên báo Thanh niên, “thời bao cấp thiếu thốn, Phùng Quán thường đến nhà Cao Nhị ở phố Trần Quốc Toản chơi và uống rượu. Tất nhiên là uống suông vì nhà Cao Nhị đông con, hai vợ chồng chỉ trông vào đồng lương. Có lẽ vì thế mà hàng chục năm nhà ông Cao Nhị không có bếp, đun nấu ở ngoài sân. Gió to thì che tấm tôn, nắng thì đội nón còn mưa thì bê bếp mùn cưa chạy vào nhà. Rồi một hôm bà Cao Nhị cậy cục ai mua được cuộn giấy dầu và cây tre. Người đứng ra làm bếp cho nhà bạn là Phùng Quán. Ông tự đục mộng, chẻ lạt cho đến lợp mái. Đến trưa thì làm lễ cất nóc, ông ngồi trên mái, gió thổi tóc bồng bềnh trông như tráng sĩ đi trận về chờ vợ. Tất nhiên là cất nóc xong hai người ngồi uống rượu “. Khi cưới con gái Cao Nhị, Phùng Quán trân trọng đưa phong bì mừng con bạn. Bà Cao Nhị mở ra thì quà là một ô phiếu thịt 3 lạng. Hai ông bà dứt khoát không nhận vì biết rõ Phùng Quán khi đó rất khó khăn, làm thơ thì phải ký tên khác, phải câu cá “trộm” ở Hồ Tây và rượu thì uống chịu. Nhưng Phùng Quán không nghe bắt phải nhận…”

 

Nhà văn thời bao cấp mà tôi quen biết, thời bao cấp cực nhất có lẽ là nhà thơ Hoàng Cát. Hoàng Cát là nhà thơ đã từng là chiến binh quân giải phóng chiến đấu chiến  trường Thừa Thiên Huế khốc liệt nhưng năm đánh Mỹ. Và  anh đã để lại một bàn chân ở nới đây. Khi được xuất ngũ về hậu phương, Hoàng Cát đã vật lộn với  cuộc sống bao cấp của một người không có lương, không có tem phiếu cung cấp, chế độ thương binh bị xóa bỏ do một truyện ngắn Cây táo ông Lánh đăng trên báo Văn Nghệ. Các nhà phê bình lý luận suy diễn vu cho Hoàng Cát nói xấu lãnh đạo Tố Hữu, thế là thương binh bị cắt, không có việc làm, vợ chồng sinh còn mà không tiền,không gạo,  đói kém. Tôi xin trích lại đây một đoạn trong bài viết Hoàng Cát- trái tim tôi là một nấm mồ đã in trong tập 2, bộ sách tuyển Ngô Minh tác phẩm để bạn đọc hình dung rõ hơn về cuộc sống văn nghệ sĩ thời cấp lao lung như thế nào.

 

“Anh có câu thơ :Ta cảm ơn cái vỉa hè bụi bặm/ Đã nuôi ta năm tháng cơ hàn…(“Cám ơn vỉa hè”). Đọc những câu  thơ của Hoàng Cát trong tập thơ mới Cám ơn vỉa hè, bạn bè văn nghệ cả nước đều ứa nước mắt. Cảnh ngộ anh cơ cực quá, đau đớn quá. Ròng rã ba chục năm liền anh bị ném ra vỉa hè bụi bặm, không còn là một thương binh hạng nặng nữa. Những năm tháng ấy đã đọng thành thơ, một thứ thơ như máu tươi ròng ròng nóng hổi. Gia vị đời ta chính là Cay Đắng! / Cay đắng dạy ta thương xót Cuộc Đời này. Vâng, Cay Đắng cũng là  gia vị của miền Trung gian lao vất vả. Cay Đắng viết hoa. Có lúc anh ngồi thừ người: Nén hương này tôi thắp giỗ chân tôi… Sau vụ “Cây táo ông Lành”, một truyện ngắn thiếu nhi đăng trên báo Văn Nghệ bị quy oan là “nói xấu, đả kích” lãnh đạo là nhà thoe Tố Hữu ( sau này chính nhà thơ Tố Hữu cũng tâm sự, thốt lên:” Tôi không hề biết chuyện này!), Hoàng Cát không thể kiếm sống bằng nghề viết được nữa. Trợ cấp thương binh bị cắt, hai vợ chồng phải xoay xở, dựa lưng vào cái vỉa hè mà tồn tại. Người vợ ấy mang bao nhiêu thứ bệnh trong người, nhưng đã “Mình em nuôi cả chồng con – nuôi mình”. Vợ chồng anh phải làm tới 17 nghề kiếm ăn, ngoài nghề viết văn viết báo chui ký tên khác. Dán hộp đựng thuốc cho ngành dược, cuốn thuốc lá điếu rồi đi bỏ cho các quán nước; rang đậu phộng, bán nước chè, phong thuốc lào, làm bóng bì (món làm bằng da lợn, dùng cho món canh ngày Tết), làm nem chạo, nuôi gà thịt công nghiệp, úm gà con giống, nuôi chó ta, chó Nhật, nuôi chim vẹt cảnh, làm lồng chim, bán kem mút, nuôi lợn v.v… Vì thế sau này Hoàng Cát có những câu thơ đứt ruột: chén nước chè năm xu, gói thuốc lào hào bạc/ Cái kẹo vừng dỗ con nít đói cơm… /Ta cũng phải bán bán, mua mua/ Nhưng chưa bao giờ lừa lọc (“Cám ơn vỉa hè”). Dán hộp đựng thuốc cho Công ty Dược không dễ chút nào. Nhờ quen tay trong, và giám đốc cái xưởng ấy cũng là một thương binh cụt chân, tên là Thông, nên họ thương tình, họ mới cho nhận về mà dán. Hai vợ chồng Cát – Tâm nhiều đêm thức trắng để dán hàng mấy trăm cái hộp, kịp sáng mai đủ hàng trả theo hợp đồng. Gian phòng 12 mét vuông chất đầy hộp giấy, không còn chỗ mà nằm nữa. Đi lại trong nhà cũng phải lách nghiêng, trong lúc chị Tâm mang bầu đứa cơn đầu lòng cao vượt mặt ( đứa con gái ây sau này là Biên tập viên Hoàng thị Trang, nói tiếng Anh trên VTV4 trong nhiều năm). Sáng sớm ra, anh thương binh Hoàng Cát lại phải đeo chân giả vào, đạp xe đạp thồ đống hộp giấy cao ngất ngưởng trên phố đi nhập hàng, giống như người Nghệ đi bán nồi đất. Đến trưa mới có chút mì khô vào bụng. Làm bóng bì cũng phải thức khuya, dậy sớm đi lò mổ và chạy rông khắp hàng chục cái chợ ở Hà Nội để lấy da lợn, rồi rửa rồi cắt, rồi phơi, rồi cạo sạch lông. Cực nhọc nhất là khâu cạo thật sạch lông. Đứt tay, chảy máu là chuyện cơm bữa. Hoàng Cát cứ lê lết cái chân giả, cùng với người vợ bị bệnh bướu ba-dơ-đô biến chứng vào tim, cung cúc làm ngày này qua ngày khác… Mình khổ đã đành, con gái mới chục tuổi đầu cũng phải ngồi chợ bán hàng suốt ngày hè. Người có lương tâm, cứ nhìn cháu là rơi nước mắt. Con mười ba tuổi ngây thơ / Nghỉ hè ngồi chợ từ trưa tới chiều / Nắng ròng dội xuống nhà thiêu / Nón cời che mặt, chẳng lều chẳng phên / Bụi đường xe gió thốc lên/ Mà con vẫn phải ngồi yên bán hàng (“Tha cho ba”).

 

Cuộc bon chen kiếm ăn của gia đình Hoàng Cát nơi cái vỉa hè ấy không khác gì một trận chiến: Và như thế là cuộc đời trần thế / Là tong teo sinh kế trằn lưng / Là vỉa hè/ Bến xe, bãi chợ / Là chạy / Là xô / Là sợ hãi / Cuống cuồng… Vỉa hè khổ thế, nhưng vỉa hè là cứu cánh cuối cùng của cuộc đời anh thương binh nhà thơ Hoàng Cát: Ôi!… Cảm tạ cái vỉa hè yêu dấu! / Nếu không có Mi – ta đã chết đói lâu rồi / Hoặc có thể trở thành thành ăn cắp / Rồi vào tù đến mọt xác – Vỉa hè ơi!… (“Cám ơn vỉa hè”)

 

Theo nhà phê bình hội họa Thái Bá Vân, thì họa sĩ tài danh Bùi Xuân Phái thời bao cấp cũng khổ lắm. Trong lúc hầu hết các văn nghệ sĩ cả nước đều viết , vẽ, sáng tác nhạc theo chỉ đạo để phục vụ cuộc chiến đầu chung, thì ông  Phái lại vẽ theo phong cách riêng độc đáo của mình. Những bức vẽ tuyệt vời về phố cổ Hà Nội, về nghề hát chèo, về tĩnh vật mà người đời đã gọi kèm theo tên ông: “Phố Phái, Chèo Phái, Phái khỏa thân, Phái Xuân Hương, Phái tĩnh vật, Phái biển, trong thời bao cấp đều bị bỏ quên, “không có giá trị gì”. Cho mãi đến khi ông qua đời mới nổi tiếng, các laoij “tranh Phái” ấy mới có giá. Thời bao cấp, vì vẽ tự do,  ông không có phiếu cung cấp đề mua sơn, mua vải, mua cọ…Vì thế mà  nhiều lúc ông chỉ vẽ trang trên tấm toan nhỏ bằng lòng bàn tay, bằng hộp diêm,  vẽ trên chiếc phong bì, vỏ bao thuốc lá.., Thời ấy, những bức tranh Bùi Xuân Phải có giá chỉ bằng ly cà phê thôi” ( Theo Thu Tứ).

 

Một nhà thơ Hoàng Tộc Huế khốn khó trong thời bao cấp là Tôn Phong.  Nhà thơ Tôn Phong sinh năm 1930, người Huế, dòng Hoàng tộc Nguyễn (Tôn Thất). Ở miền Bắc ngày mới giải phòng họ Tôn Thất là họ vua chúa Triều Nguyễn “bán nước”, thuộc loại không được tin dùng, thậm chí còn bị nghi ngờ, Nên đa số  nhà văn, nhà thơ phải đổi họ hay chữ lót đi để không ai phát hiện ra. Vì dụ Nguyễn Phước Vĩnh Tôn, tức nhà thơ Hải Bằng, đổi thành Văn Tôn . Tôn Nữ Ngọc Trai đổi thành Nguyễn Thị Ngọc Trai, Tôn Thất Phong, thành Tôn Phong.v.v..Năm 18 tuổi, ông tham gia bộ đội Việt Minh  ở đơn vị 321 huyện đội Phú Lộc, Thừa Thiên Huế. Ông bị thương  trong lúc chiến đấu ngay tại quê hương mình.  Năm  1954, ông tập kết ra Bắc ở nông trường quân đội ở Thanh Hóa. Năm 1961, Tôn Phong và Phùng Quán gặp nhau. Hồi đó, sau vụ “ nhân văn”, Phùng Quán  đi lao động cải tạo tại Nông trường Thắng Lợi ở Thọ Xuân, Thanh Hóa . Phùng Quán ở đội 6 khai hoang, Tôn Phong ở đội canh nông Ngọc Anh. Gặp nhau hai người đồng hương, lại cùng lứa, nên thân nhau ngay. Sau đợt gặp Phùng Quán đó, Tôn Phong  bị tù  6 năm vì “truyền bá tư tưởng nhân văn giai phẩm”.  Ra tù anh mất hết biên chế, mất chế độ thương binh , hai bàn tay trắng , không đồng xu dính túi, một mình cuốc bộ 75 cây số lên Cẩm Thủy làm nghề tiều phu kiếm sống .Ở Cẩm Thủy, chàng Tôn Thất đa tình thông minh đẹp trai ấy phải lòng cô Dương Thị Tám, lúc đó là đảng viên, chủ nhiệm Hợp tác xã mua bán xã . Do  lấy một người từng đi tù vì “nhân văn”, chị Tám cũng bị mất đảng, mất chức chủ nhiệm Hợp tác xã .

 

Sau ngày giải phóng miền Nam năm 1975, nhờ liên lạc được với  người em gái ruột ở Nha Trang, vợ chồng Tôn Phong dắt 3 đứa con vô thành phố biển, với cái giấy thông hành duy nhất :” Tôn Phong – Người ra tù  cải tạo tốt” ! Cuộc mưu sinh khốn khó bắt đầu từ đó ! Ở Nha Trang được  mấy năm, Tôn Phong yêu đắm đuối ca sĩ Phạm Thị Ái Mỹ. Hai người thành vợ chồng. Chị Ái Mỹ cũng bắt đầu thức đêm bán chè chén với chồng và con chồng  ở ga  Nha Trang từ đó! Năm 1986, một “sự kiện” làm thay đổi cuộc sống của gia đình ông . Ấy là sự xuất hiện của người bạn thơ tri âm là nhà thơ Phùng Quán ở Nha Trang. Dạo đó Phùng Quán được anh Lê Quang Vịnh ( lúc đó là Bí thư huyện ủy Côn Đảo) mời tác giả tiêu thuyết Vượt Côn Đảo ra thăm đảo. Phùng Quán nhận lời, nhưng đi “ đọc thơ phục vụ nhân dân” mãi sáu tháng ròng mới tới được Nha Trang . Trong các cuộc đọc thơ bốc lửa của Phùng Quán , Tôn Phong cũng tham gia đọc những bài thơ của mình. Nhà thơ Tôn Phong xuất hiện trước công chúng Nha Trang từ đó . Sau đó ông làm nhiều thơ trữ tình đăng ở Tạp chí Nha Trang , báo Khánh Hòa , tạp chí Sông Hương …, rồi ông tham gia Hội văn nghệ Khánh Hòa.

 

Có thể nói, trong thời bao cấp, Tôn Phong là người tay trắng theo nghĩa đen của từ này.  Vâng, trắng đến tận cùng sự trắng! Trắng rợn cõi người! Thời bao cấp, tôi làm báo Thương Mại, trong một chuyến vô công tác ở Nha Trang, tình cờ được làm quen với ông. Câu chuyện của cuộc đời Tôn Phong như là định mệnh đối với người thơ giữa cõi đời đen bạc, cay nghiệt và phong trần lắm . Lúc đó gia đình ông như “ người ngoài cuộc đời”, không biên chế, không lương bổng, không việc làm, không chỗ nương thân … Chỗ ở thì xin che tạm mái tranh vào một góc hiên nhà một ông đại tá nghỉ hưu, vừa đủ chỗ kê cái giường đôi , anh gọi là “ lều”. Năm sau ông đại tá vì lý do gì đó không cho trú nhờ nữa, thì sang trú ở góc sân nhà người khác. Ông kể rằng, từ năm 1975 vào Nha Trang cho đến năm 1992, ông đã 13 lần che lều trú ở sân nhà người khác như thế . Mỗi lần mưa gió cả nhà ướt như chuột lội. Trên đầu ểnh ương dóng dã / Dưới chân rền rĩ dế kêu / Nằm trong xó tối căn lều / Cứ tưởng thân nình như đã… / Bỗng từ mái tranh mưa dột / gió lùa lạnh buốt sống lưng / dậy ngồi xo ro tựa cột / hóa ra sự sống chưa  dừng ( Viết vào đêm lều dột) . Có thời gian 3 tháng ròng không ai cho trú, cả nhà ông phải trải chiếu rách nằm ngủ ngay trên hè phố Nha Trang ! Có lần đang đêm tôi kiếm chai rượu gạo về để uống với ông cho vui. Nhưng ông bận đi “bán nước chè ( trà) chén” ngoài ga. Tôi phải nhét chai rượu vào chỗ lỗ tường nơi giường ngủ của vợ  chồng ông !

 

Ban ngày và nhiều  đêm trắng ông và ba đứa con  Tôn Khoan, Tôn Toại, con gái Tôn Nữ Minh Tuệ phải lên ga Nha Trang bán chè chén.  Mới giải phóng đưa con vào Nha Trang không có việc gì làm để kiếm sống, ông phải nghĩ ra nghề “bán chè chén” cho hành khách trên tàu hỏa. Anh sắm cho các con mỗi đứa một “bộ đồ nghề” gồm cái khay gỗ, mấy cái chén thủy tinh,  ấm trà, cái bếp quạt  than đun nước bằng sắt treo. Nhưng muốn bán được chè chén ở ga không phải dễ. Vào ga không có vé bảo vệ không cho vào, mua vé thì tiền đâu, nên đành phải chui lủi. Nhiều bữa đứa con gái chín tuổi của ông bị bảo vệ ga đánh đuổi :” Bán nước suốt ngày trời / may kiếm được bữa vơi / lỡ người ta bắt được / đánh đau quá cha ơi !”, rồi “ Ra ga người đánh đuổi / Về nhà sợ mẹ  la / dáng con đi lủi thủi / cha bưng mặt khóc òa “ .

Tôn Phong kể rằng, ngay cả ông, râu tóc bạc trắng cũng nhiều lần bị nhân viên ga mắng nhiếc thậm tệ. Vì miếng cơm manh áo, họ mắng mấy  mình cũng im lặng, nhịn nhục để kiếm dăm ba lon gạo nuôi con ! Nhưng vào được ga chưa phải là khổ, khổ nhất là khi chờ đợi tàu đến. Hồi đó một ngày có 6 chuyến tàu vào ga Nha Trang . Tức là chờ thật lâu mới đớn được một đòan tàu , nếu ngủ quên thì hết bán. Thế là con ngủ, cha thức ngồi nghĩ thơ. Ông toàn làm thơ như thế. Gạch xóa sữa chữa luôn ở trong đầu. Sau đó mới chép lại vào sổ tay. Vừa nghĩ được tứ thơ, tàu hú còi là thơ tan biến vào mây gió ! Có lần mãi nghĩ thơ, bảo vệ ga đến bên mà không hay biết, nên cha con ông bị phạt. Thế là đi toi tiền lời một ngày bán nước. May là hồi đó tàu đi chậm, lại dừng ở sân ga lâu, nên người uống chè chén trên tàu cũng như dưới sân ga nhiều. Một lần vào ga đưa người nhà lên tàu ra quê Quảng Trị, cố nhà thơ Triệu Phong gặp Tôn Phong và các con đang bán chè chén . Nhà thơ xúc động viết : Khuya khoắt sân ga / còi tàu khản đặc /  những tiếng rao hàng/ không còn lời đáp… Mưa nghiêng đèn vàng/ ông hát thơ mình / câu thơ bầm tím / quất vào giá băng. Bởi thế mà :

Uống rượu đọc thơ

                             mềm môi bạc tóc

                             đi giữa cõi người

                             khó hơn vượt thác !

 

Khi không bán chè chén ở ga thì cả mấy cha con đi nhặt chai bao bán cho mấy bà đồng nát. Túi nhỏ trắng trong / phập phồng ngực đất / Tôi cúi nhặt… Ngày ngày / tôi gom nhặt / chồng chất trắng trong / những ai đã vứt ( Trắng trong) . Thời kỳ đó, ngoài vài thân hữu, ở Nha Trang không ai biết có một nhà thơ tên là Tôn Phong. Ông âm thầm  làm nhiều thơ buồn về cuộc mưu sinh lận đận của gia đình mình. Làm xong chép vào sổ tay, mang theo bên người như một bảo vật.  Thơ ông khi thì kêu lên :“ Xin đừng đánh con tôi / đừng chửi già hiếp trẻ / miếng ăn chừ khó lắm...Khi thì ngẫm nghĩ  chua chát :

Vì người khô khát mới ra đây

                             Ấm lạnh nào ai nước nước này

                             Dưới đất kẻ kêu chân vắt cổ

                             Trên toa người gọi miệng liền tay… !   ( Bán nước)

 

 

***

 

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Trai ( tên thật là Tôn Nữ Ngọc Trai, người Hoàng tộc Nguyễn, Huế, anh em với chị Tôn Nữ Ngọc Toản ( vợ của tướng Cao Khánh Khánh, phó Tổng tham mưu trưởng QĐND Việt Nam) và Nguyễn Phúc Tương ( giáo sư Tương Lai). Chị Ngọc Trai sau năm 1954 về Hà Nội phải đổi lại là Nguyễn Thị Ngọc Trai vì sợ bị quy là con cháu họ Nguyễn phản động – nguyên Phó tổng biên tập tuần báo Văn Nghệ) kể rằng, thời tem phiếu xếp hàng ấy, chị vừa làm biên tập ở báo Văn Nghệ, vừa viết văn, viết phê bình văn học, lại còn phải thức đêm làm sữa đậu nành để bán để có thêm đồng vô đồng ra. Chị xuống tận Ninh Bình đặt họ làm  một cái cối xay bằng đá, xay tay. Rồi hàng ngày ra chợ Đồng Xuân mua đậu nành về ngâm. Hai ba giờ sáng thức dậy xay bột đậu nành rồi pha thành từng chai sữa đi bỏ mối cho các nhà xung quanh. Vì hồi đó buôn bán tư nhân bị cấm, nên các mối phải bán chui ở trong nhà. Sữa đậu này chị Trai làm ngon, nên người uống ngày ngày càng tăng và các mối cũng tìm đến mua ngày càng nhiều. Ở nhà mình, chị cũng bán sữa đậu nành. Sợ nên chẳng dám làm quán xá gì. Khách cứ lẳng lặng vô nhà mua chai sữa bỏ túi xách về nhà. Nhờ sản xuất bán chác chui lủi như thế mà thu nhập có tháng gấp đôi lượng công chức. Chị Ngọc Trai còn kể chuyện nhà triết học nổi tiếng thế giới của Việt Nam Trần Đức Thảo sang Liên Xô mua quạt tai voi về bán rất vui. Lần ấy, chồng chị Ngọc Trai cùng với nhà triết học Trần Đức Thảo tình cờ cùng đi một chuyến bay sang Liên Xô họp. Trước khi về, anh chồng chị Trai thì ngây ngô chẳng biết gì, vì cả đời đã có vợ lo. Còn nhà triết học thì không biết ai bày cho mà biết mua quạt tai voi mang về Hà Nội bán. Nghe nói bán quạt tai vơi lời lắm. Một vốn năm bảy lời. Có bao nhiêu tiền anh Trần Đức Thảo mua quạt tai voi hết. Đến khi đóng hàng lên máy bay thì vượt quá tiêu chuyển cho phép. Thế là phải bỏ ra. Nhà triết học phải  nhờ anh chồng chị Trai mang hộ về. Về đến Hà Nội bán hết hàng, nhà triết học còn nhờ người mang  tiền đến nhà chị Trai “trả thù lao” cho người mang hộ  hàng về ! Thật sòng phẳng và tử tế.

 

Nhắc đến nhà văn Ngọc Trai, không thể không nhắc đến chuyện đấu tranh nội bộ trong phân phối nhà ở ở cơ quan báo Văn Nghệ. Chuyện này được tiết lộ trong cuốn hồi ức Văn nghệ ký của nhà văn Trương Vĩnh Tuấn, cựu Phó tổng biên tập báo Văn Nghệ vừa mới hồi hưu năm 2010. Sau đây xin trích một đoạn về chuyện phân phối nhà ở. Tôi xin phép nhà văn Trương Vĩnh Tuấn và được anh cho trích một đoạn để bạn đọc biết thêm về cuộc sống anh em văn nghệ sĩ thời bao cấp gay go căng thẳng như thế nào.

 

 …” Nhà văn Ngọc Trai phó tổng nhận định trong buổi sơ kết một năm: Ban nhà thành lập, sau đó có  trường hợp không thảo luận xuất phát từ tiêu chuẩn, việc làm có phần thiếu công khai từ đầu nên cũng gây ra ồn ã trong cơ quan.

 

Bắt đầu từ nhà lý luận phê bình Thiếu Mai, mà Nguyên Ngọc từng dựa vào như một nữ tướng trong cuộc “ đại cách mạng “ của ông. Tốt nghiệp đại học văn khoa, bà bị cái bệnh hen dày vò đến khốn khổ, tiếp xúc lần đầu với bà người ta có cảm giác bà không màng gì về vật chất. Bà chỉ có công việc, tám giờ vàng ngọc bà ngồi với trang giấy ở góc phòng, bà ủng hộ Nguyên Ngọc hết lòng , bà đã tìm thấy chân trời. Ấy thế mà khi phân phối nhà bà mới giật mình, thì ra không phải như bà nghĩ, bà bị hất ra ngoài, lúc đầu bà tin vào tiêu chuẩn , bà tin vào sự công bằng .

 

Trong ba ngày bà viết ba tối hậu thư, đây là một việc làm hiếm thấy ở bà , một nhà lý luận thâm trầm. Lá thư đề ngày 17 tháng 6 năm 1988 :

Kính gửi đ/c Võ Văn Trực bí thư chi bộ báo Văn nghệ .

 Tôi ốm không đến gặp anh được, xin viết mấy chữ để trình bày tóm tắt vài ý kiến: nếu hội phân cho tôi 26m2 thì tôi không nhận, các đ/c cứ phân cho ai tùy các đồng chí . Tôi sẽ đưa ra công luận. ngay trong báo cũng đã có sự bất công với tôi .  Anh là bí thư chi bộ, là phụ trách tổ chức, vậy xin báo để anh biết, là tôi sẽ không thể đi đâu mà vẫn ở lại căn nhà 34 Hàng Bài trong sự dọa dẫm đe nẹt của chủ nhà . Tôi là người cần nhà số một, cũng là người có đủ tiêu chuẩn để xin nhà số một, nay lại phải chịu sự bất công, chỉ vì một ý kiến thiếu thiện chí . Nhân danh sự nhân ái vu vơ mà công lý phải thua, tôi sẽ không để yên cái sự bất công này .Xin báo để anh biết .

    Lá thư thứ hai được ghi ngày 22 tháng 6 năm 1988  k/g ban biên tập, đồng k/g đồng chí Nguyên Ngọc. … Chiều hôm qua anh Võ Văn Trực đến nhà tôi cho biết anh ấy nghe nói rằng bên hội có phương án chia cho tôi 2 căn hộ cộng lại 32m2 ở hai tầng khác nhau .

       Như vậy chủ nhà và hội đẩy tôi đến chỗ không thể chịu đựng được. Tôi có đủ cơ sở pháp lý về chế độ chính sách tiêu chuẩn để lấy một căn hộ khép kín 32m2.  Trong báo Văn nghệ không ai có yêu cầu cấp thiết đến mức sinh tử như tôi  nếu tính điểm về lương, năm công tác, năm về hôi, nhân khẩu, tuổi tác, sức khỏe lại là phụ nữ .

Tôi yêu cầu phân phối nhà cho tôi căn cứ trên cơ sở pháp lý về tiêu chuẩn .

Nguyên Ngọc viết thư cho Võ Văn Trực: Chị Thiếu Mai có trình bày với tôi một phương án mới, tôi thấy có thể hợp lý và để thoát ra khỏi tình hình bế tắc hiện nay .Quả là nan giải .

Phó tổng Ngọc Trai viết thư cho ban nhà cấp I và cấp II: Sau khi biết dự kiến phân nhà của ban thư ký,chị Oanh vợ anh Võ Văn Trực có gặp tôi và trình nguyện vọng như sau: – nếu phân cho anh Trực ở nhà cũ và thêm nhà Trân Ninh Hồ thì khó lòng anh Trực nhận được nhà , vả lại nhà Hồ có làm thêm, bây giờ đến ở phải giả thêm tiền cho Hồ chị không chạy được tiền. Công ty quản lý nhà đất sẽ không cho anh Trực nhận một lúc hai nhà như vậy cho anh Trực mà cũng như không. Nếu cho anh Trực thêm một căn hộ, gia đình xé lẻ ở hai nơi chị Oanh không quản lý được .

Vì vậy tôi xin phản ánh lại ý kiến của vợ anh Trực và nhắc lại ý kiến của tôi từ đầu, đề nghị phân cho anh Trực căn hộ 36m2 và anh Trực trả lại diện tích 24m2 để phân cho người khác .

Ngày 23 tháng 6 năm 1988, nhà văn Thiếu Mai gửi thư ngỏ tới nhà thơ Võ Văn Trực: Trong chuyện phân phối nhà lần này từ đầu đến cuối, tôi hoàn toàn ủng hộ anh, ngay cả giữa cuộc họp cơ quan, tôi đã lên tiếng bác lại những lời phát biểu không ủng hộ anh. Trong lúc cơ quan có khó khăn, chính anh với cương vị phó tổng biên tập , đã tự nguyện nhận nhà anh Hồ để nhường căn hộ 36m2 cho người khác , đó là một hành động tốt

Song, sau đó anh cùng gia đình tính toán thiệt hơn cuối cùng anh đã thay đổi ý kiến. Đó là việc của anh, song anh đã có những hành động không đẹp, và đặc biệt là thiếu trung thực, thiếu thiện chí đối với tôi, một người xưa nay anh vẫn xem là người bạn trung thực, trao đổi những vấn đề lớn nhỏ, chung cũng như riêng. Đối với tôi , đây là một đòn quá bất ngờ , ngoài sức tượng thông thường . và đây cũng là nỗi mất mát lớn nhất đối với tôi lúc này, nhưng thôi, điều đó không quan trọng , nhất là đối với anh .

 Anh là người tự nguyện lấy nhà anh Hồ, bây giờ anh thay đổi ý kiến . Anh muốn ở nhà mới, tùy anh. Song, chỉ còn một căn hộ 3 buồng, anh lại có ý định chiếm lấy, bắt tôi nhận 2 buồng 2 tầng với diện tích 30,5 m2 . Tôi có phải là người ngu đâu để anh muốn làm gì thì làm , theo ý kiến cá nhân và tham lam của bà vợ anh , tiện đây, xin hỏi, để bà Oanh đến nhà bà Trai và ông Xuân Thiều khóc lóc , không hiểu anh có thấy lòng tự trọng bị xúc phạm không.

Tôi vẫn ủng hộ ý kiến để anh nhận 36m2 song, tôi yêu cầu anh nghiên cứu một cách vô tư , khách quan cả trường hợp của anh và của tôi, để anh hiểu rằng , nếu anh 36 m2 thì nhất thiết tôi không thể ít hơn . Đây là điều tất nhiên như đinh đóng cột. Vậy anh hãy xử sự ra sao cho đúng với cương vị của người lãnh đạo,và đừng để tôi phải trình bày công khai ý kiến của mình .

Phải viết những dòng này, lòng tôi tan nát, những giọt nước mắt nhức buốt chảy từ trong tim và trên mắt , song buộc phải viết. Tình người, tình đồng chí là gì , trước lòng tham của con người.

 

Cãi vã nhau chán rồi cuối cùng cũng ổn, vì chính họ không ai khác phải tự dàn xếp với nhau để chia chiếc bánh này. Ngày 25 tháng 6 năm 1988 nhà văn Xuân Thiều, chánh văn phòng hội viết thư cho lãnh đạo báo: Anh Chính Hữu và tôi có trao đổi với nhau tối hôm qua. Ban thư ký sẽ có thể hoãn ra quyết định với báo để có thời gian anh chị em dàn xếp với nhau cho thật thỏa đáng . . . “…

 

***

 

 

Thế đấy! Nhà văn, nhà thơ, nhà triết học nổi tiếng thì cũng là con người, nên phải lo toan bao nhiêu cái mà con người hàng ngày phải lo. Nhưng có điều khác hơn là họ biết vượt lên tất cả sự lo toan thường nhật đó để viết văn, làm thơ. Tức là làm ra sản phẩm tinh thần cho toàn xã hội. Bởi thế thời đó có câu thơ dân gian về nhà văn rất cảm động:

 Bản thảo đặt trên rá gạo (vì không có bàn viết…).

Rá gạo đút dưới gầm giường

                      Đạm bạc bữa rau bữa cháo

                      Tấm lòng vẫn sáng như gương…

 

Advertisements

Categories

%d bloggers like this: