Đăng bởi: Ngô Minh | 13.03.2017

CÓ GÌ KHÔNG ?

ĐỌC SÁCH ” SỐNG THỜI BAO CẤP” CỦA NGÔ MINH

CÓ GÌ KHÔNG ?

 Ngô Minh

 

Từ cổ chí kim, thời nào, nước nào cũng có chuyện tiêu cực, tham nhũng. Lịch sử nhân loại là như vậy. Việt Nam cũng không ngoại lệ. Vấn đề ở chỗ là  nhà nước có các biện pháp hữu hiệu để giảm bớt tham nhũng hay không mà thôi. Nếu chính sách của nhà nước mà tạo điều kiện cho tham nhũng phát triển, cổ vũ tham nhũng , đó là nỗi bất hạnh của dân tộc! Ngay những ngày trường kỳ kháng chiến chống Pháp căng thẳng, bộ đội ta đang thiếu lương ăn, áo mặc, thuốc chữa bệnh, cũng có người có chức quyền tham ô tiền của kháng chiến để sống phè phỡn. Điển hình là vụ án Trần Dụ Châu. Đại tá Trần Dụ Châu, Cục trưởng Cục Quân nhu có nhiệm vụ lo ăn, mặc, thuốc men cho quân đội. Bộ đội thì đói, thiếu lương ăn, sốt rét không có thuốc chữa, thế mà Trần Dụ Châu sống xa hoa lắm. Chúng ăn toàn thứ ngon, uống rượu Tây, đường sữa, sô-cô-la mua bằng tiền cách mạng từ Hà Nội mang ra…chiến khu. Năm 1950, Đại tá Trần Dụ Châu, Cục trưởng Cục Quân nhu bị Tòa án binh tối cao xét xử tử hình. Chánh án phiên tòa ấy là Thiếu tướng Chu Văn Tấn – Ủy viên Chính phủ. Công cáo viên Thiếu tướng Trần Tử Bình.… Sau khi xử xong, Trần Dụ Châu làm đơn lên Chủ tịch nước xin ân xá. Hồ Chủ tịch đã bác đơn xin giảm án . Đó là một quyết định của Cụ Hồ  rất được lòng dân..

 

Thời bao cấp từ năm 1954 đến 1975 ở miền Bắc, do hàng hóa thiếu thốn, nên tất nhiên càng không thiếu những vụ tham nhũng, ăn cắp. Nhưng vụ lớn như vụ Trần Dụ Châu thì không thấy báo chí nêu lên . Chỉ đến thời bao cấp  điển hình từ  1975- 1986 mới nổi lên vụ án Nguyễn Văn Mười Hai, huy động vốn tràn lan rồi chiếm dụng vốn , bị xử án 20 năm tù, 17 năm mới được ra tù. Ở Bình Trị Thiên có vụ án  Đinh Hồng Phước, giám đốc Công ty ô tô 3.v.v..Vụ án thì đếm được đầu ngón tay, nhưng dư âm qua văn, thơ ca dao hò vè thì tiêu cực có nhiều. Và chống tiêu cực cũng sôi nổi lắm. Cụ Hồ kêu gọi “ Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt” . Nhưng ở nông thôn người  đứng đầu thì làm ngược lại . Hãy đọc bài ca dao nói về Chủ nhiệm hợp tác xã thời bao cấp :

Một người làm việc bằng hai

                                  Để cho chủ nhiệm mua đài mua xe

                                  Một người làm việc bằng ba

                                  Để cho chủ nhiệm xây nhà xây sân…    

Tôi nhớ báo chí thời đó đã có thông tin là Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đọc những câu ca dao này trong một phiên họp Quốc hội và yêu cầu các địa phương kiểm tra.  Rồi những câu Trâu đen ăn cỏ. Trâu đỏ ăn gà hay Gà chạy trạm bơm, chó ôm cột điện. Phê phán cán bộ hợp tác xã nông nghiệp hối lộ người lái máy cày, máy kéo, hay ngược lại, dân máy kéo, thợ bơm, thợ điện khi đến phục vụ Hợp tác xã thường vòi ăn, vòi quàCòn cán bộ tham mưu cơ quan thì bị cười cợt rằng : Ăn nói lí nhí / Luôn luôn nhất trí / Thập thò xin chữ ký / Chức danh to: Trợ lý!

Thời bao cấp dễ thấy nhất là chuyện ăn cắp. Vì túng thiếu người ta hay nổi tính xấu  “tăng xin-giảm mua-tích cực cầm nhầm”.  Từ đó mà sinh những chiếc xe đạp ngoài khóa chính lại còn phải khóa thêm cái yên. Nhà văn Tô Hoài kể trong tác phẩm Cát bụi chân ai kể : “Ở một cửa hàng ăn rất sang hồi ấy, những chiếc đĩa đựng bánh ngọt phải bắt vít xuống mặt bàn”. Một sự thực nhiều người tuổi tôi còn nhớ: các quán mậu dịch giải khát (kể cả cà phê) loại tầm tầm cũng “thống nhất” đục một lỗ thủng các thìa nhôm để đánh dấu. Vì sao ư, đơn giản lắm, vì sợ ăn cắp.  Chính sách em học đã thông —  Chỉ vì túng thiếu xin ông ít nhiều.  Quả thật, càng ngày nạn ăn cắp càng phổ biến, dù chỉ là ăn cắp vặt. Ăn cắp bởi không có cách nào khác để sống. Và bởi nhiều ăn cắp quá nên ăn cắp không bị coi là việc xấu nữa.  Ở các phòng ở khách sạn hồi đó là các đôi dép  cho khách đi trong phòng đều bị cắt cụt đầu mũi hay cắt vẹt gót, vì đã có  những du khách đã mang luôn những đôi dép đó, hay nhét vào ba lô. Tật xấu của  khách trọ biến thành  thói xấu của các khách sạn. Cho đến bây giờ đã qua thập niên đầu của thế kỷ XXI  thói xấu này vẫn chưa bỏ được. Tương tự thói ăn cắp vặt là thói dối trá. Làm ít báo cáo nhiều. Làm xấu báo cáo tốt. Lâu ngày sự dối trá  thành một cách sống, một cách ứng xử của không ít người. Ở Liên Xô dưới thời Brezonhep, có những nông trường báo cáo sản lượng lúa mì được mùa, tăng cao gấp rưỡi năm trước. Nhưng thực ra nông trường đang mất mùa, thất thu nghiêm trọng. Báo cáo nông trường thành báo cáo của tỉnh ủy. Báo cáo  của tỉnh ủy thành báo cáo của Nhà nước.

 

Ở Trung Quốc thời “Đại nhảy vot” dưới thời Mao Trạch Đông, người ta cần có bằng chứng về tính ưu việt của công xã chứ! Bằng chứng dễ thuyết phục và dễ kiếm nhất là năng suất lương thực. Lập tức báo chí đăng không kịp “sản lượng vệ tinh” – ở nghĩa lên cao vút – ầm ầm vượt nhau. Bắp cải nặng một tạ ba, muốn xài thì phải lấy cưa mà kéo cưa lừa xẻ chứ dao nào chặt cho lại? Lợn một con đứng chật cả thùng xe cam nhông cỡ nhỡ. Một mẫu ruộng (bằng một phần ba mẫu Việt Nam) 500 tấn khoai. Lúa mì 60 tấn…Báo chí Trung Quốc còn đăng ảnh một tràn ruộng lúa chín với những đứa trẻ nô nhảy ở bên trên. Và Mao Chủ tịch liền nổ lệnh: Ta cho các người từ nay ăn hẳn năm bữa một ngày! Phóng viên Việt Nam Thông Tấn Xã đi tham quan đồng lúa kiêm “sân chơi trẻ con” về đến ngay trường cho rằng đó là trò bịp. Anh theo nhà báo nước ngoài tụt xuống thì ngỡ anh là đồng bào, người ta giữ anh lại sợ đông quá sập liếp độn ở bên dưới: Cắt lúa chín ở nơi khác về cắm chi chít lên trên”. Nói dối, báo cáo láo, chạy theo thành tích đã thành “mốt thời thượng” ở tất cả các nước Xã hội chủ nghĩa. Việc đó đã thành thâm căn cối đế rồi, trở thành bản chất rồi, không thể sửa!

 

Ở Việt nam cũng không khác gì. Học sinh học không ra gì năm nào cũng thi tốt nghiệp đỗ 99%. Có nhiều học sinh tiên tiến, học hết lớp 6 rồi mà không đọc được chữ…Bệnh chạy theo thành tích đã làm cho nền giáo dục Việt Nam trong mấy chục năm qua trở nên bệnh hoạn, không thực chất.

 

 

*     *

*

 

Vì dối trá, nên người ra hay ghen ghét nhau, nói xấu nhau.. Cùng tem phiếu như nhau, cùng khu tập thể anh có thịt xào nấu thơm phức hay gia đình anh có con gà, có khi mẹ ở quê gửi cho, nhưng không dám chọc tiết kêu toang toác, vì như vậy sẽ làm cho hàng xóm nghi ngờ: “Cái nhà đó gà ở ra đâu mà mổ thịt xài sang thế ?”. Ngỡ rằng nhà này: “đói ăn vụng túng làm càn”. Vì thế ở tập thể, nhà nào có con gà, cân thịt lợn bố mẹ ở quê cho, muốn xào nấu món ngon cũng phải đóng thật kín cửa. Nhiều nhà phải bảo con ra cổng gác, ai lạ vào cổng nhất quyết không cho. Từ nghi ngờ chuyển qua ghen tị. Cùng cảnh khổ với nhau, không lẽ gì có người hơn kẻ kém?. Vậy không ai được phép hơn mình. Cách gì cũng có thể làm, miễn là kéo được nhau xuống. Những người bị nghi ngờ nhiều nhất là người nắm tiền, nắm hàng, là những mậu dịch viện thương nghiệp. Dân gian có câu : Cán bộ cao ăn cung cấp – cán bộ thấp ăn chợ đen—Cán bộ quen ăn cổng hậu.

 

Nhưng tham nhũng là chuyện  nhức nhối có thật. Nhà thơ Phùng Quán năm 1956, trong một chuyến đi thực tế về Nam Định đã viết bài thơ “Chống tham ô lãng phí”. Bài thơ tự sự dài 76 câu như một tiếng thét đau đớn, một lời hiệu triệu chống tham ô, lãng phí lay động lòng người. Tôi đã đi qua/ Những xóm làng vùng Kiến An, Hồng Quảng/ Nước biển dâng cao ướp muối các cánh đồng/ Hai mùa rồi lúa không có một bông/ Phân người toàn vỏ khoái tím đỏ… “ Đó là thôn quê, còn giữa Hà Nội thì: Đường mùa đông nước nhọn tựa dao găm/ Chị em công nhân đổ thùng/ Run lẩy bẩy chui hầm xí thối/ Vác những thùng phân/ Thuê một vạn một thùng/ Mấy ai dám vác/ Các chị suốt đêm quần quật/ Sáng ngày vừa đủ nuôi con…

Trong lúc nhân dân đang buộc bụng, thắt lưng để sống, để dựng xây nước nhà,  một số cán bộ lại là “Những con chó sói quan liêu/ Nhe răng cắn rứt thịt da Cách mạng”:

Các đồng chí ơi

Tôi không nói quá

Về Nam Định mà xem

“Đài xem lễ” họ cao hứng dựng lên

Nửa chừng bỏ dở

Mười một triệu đồng dầm mưa giãi gió

Mồ hôi máu đỏ mốc rêu…

Tính thời giá 1956, số tiền 11 triệu đồng là vô cùng lớn, có thể hơn 111 tỷ hay 111 ngàn tỷ đồng hiện nay. Nhưng hồi đó vừa kết thúc chiến tranh, đất nước đang rất nghèo, thì 11 triệu đồng đó càng có giá trị gấp bội phần.“Còn bao tên chưa ai biết ai hay?/ Lớn, bé, nhỏ, to, cao, thấp, béo, gầy…/ Chúng nảy nòi sinh sôi như dòi bọ/ Khắp đất nước đâu đâu chẳng có!”. Đau đớn lắm. Xót xa lắm. Đây là bài thơ chống tham ô lãng phí đầu tiên của văn học cách mạng Việt Nam. Bài thơ Chống tham ô lãng phí, cùng với bài thơ Lời mẹ dặn của Phùng Quán thời đó bị một số người cực đoan cho là “chống cách mạng”. Thế là tác giả của nó bị đuổi khỏi Văn nghệ Quân đội, bị khai trừ khỏi Hội Nhà văn một năm ( nhưng mãi 30 năm sau mới phục hồi). Chống tiêu cực, tham nhũng thời nào cũng  khó như rứa đó !

 

Ngay cô công nhân trẻ mới lớn tên là Lý Phương Liên những năm 70 của thế kỷ XX trở thành sự kiện trong làng thơ Việt: Nổi tiếng ngay từ những bài thơ đầu tiên in trên báo Em mơ có một phiên tòa, Ca bình minh, Chim bằng… Trong bài thơ Trò chuyện với Thúy Kiều in trên báo Văn nghệ , Lý Phương Liên  đã viết rất thật về những hiện tượng tiêu cực trong xã hội bao cấp thời đó: Vẫn còn những cuộc đời như nàng Kiều chìm nổi/ Thời gian còn nửa ngày là đêm tối/ Còn đồng tiền đổi trắng thay đenTrong triển lãm “Hà Nội thời bao cấp” ở Bảo tàng Dân tộc năm 2006, người xem còn tìm thấy trong gian trưng bày bài thơ “Mùa xuân nhớ Bác” của nhà thơ Phạm Thị Xuân Khải, lúc đó là nữ sinh viên khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội . Bài thơ có tiêu đề phụ là :”Kính tặng đồng chí Lê Đức Thọ, tác giả bài thơ “Lẽ sống” và đồng chí Hồ Thiện Ngôn, tác giả bài thơ“Đọc thơ anh”. Bài thơ được đăng trang trọng trên số báo Tiền Phong kỷ niệm ngày thành lập Đoàn năm 1986 . Đây là  một dấu ấn nghệ thuật nữa thời kỳ bao cấp, một câu chuyện xúc động khác về những người cầm bút chống tiêu cục, tham nhũng, lên án những tệ nạn xã hội:

Lòng vẫn thầm mơ ước

                              Bác Hồ được sống đến hôm nay

                              Làm nắng mặt trời xua tan hết mây

                              Trừ những thói đời làm dân oán trách

                               Có mắt giả mù, có tai giả điếc

                               Thích nghe nịnh hót, ghét bỏ lời trung

                               Trấn áp đấu tranh, dập vùi khốn khổ

                               Cùng chí hướng sao bầy mưu chia rẽ?

                                Tham quyền cố vị Sợ trẻ hơn già

                                Quên mất lời người xưa:

                               “Con hơn cha là nhà có phúc”

                                Thời buổi này,

                                Không thiếu người xông pha thuở trước

                                 Nay say sưa trong cảnh giàu sang

                                 Thoái hóa, bê tha khi dân nước gian nan?.

Bài thơ như một “quả bom” nổ tung dư luận. Mọi người săn tìm, sao chép, chuyền tay nhau đọc.  Kể cả những lãnh đạo cao cấp như đại tướng Võ Nguyên Giáp, đồng chí Nguyễn Văn Linh , Võ Văn Kiệt cũng tìm đọc. Bài thơ tạo được tiếng vang lớn bởi những sự thật mà nó nhắc đến, dám đánh mạnh vào bức tường bảo thủ trì trệ đang kìm hãm đất nước đi lên.

 

Những bài thơ “ chống tiêu cực” như vậy bây giờ đọc lại thấy quá bình thường so với những bài vở thông tin về tham nhũng, căn cắp bị bắt, bị xử tù nhan nhãn trên báo chí hàng ngày. Nhưng thời ấy những tác giả như Phùng Quán, Lý Phương Liên, Phạm Thị Xuân Khải đã bị coi là “phạm húy”, bị khốn khổ một đời. Nhưng nhân dân ngày càng hiểu họ. Yêu quý học. Nhân dân và quan cách mạng suy nghĩ về tiêu cực khác nhau như thế đó!  20 năm sau , năm 2006, Nhà xuất bản Thông tấn ấn hành cuốn “Mùa xuân nhớ Bác – tự sự của tác giả” của Xuân Khải, cung cấp thêm thông tin giúp bạn đọc hiểu hơn về bối cảnh ra đời bài thơ và tâm tư, suy nghĩ của một thế hệ thanh niên trong giai đoạn đầy khó khăn của đất nước. Nhiều tư liệu liên quan đến bài thơ lần đầu tiên được công khai đến bạn đọc. Từ đó tác giả bài thơ “Mùa xuân nhớ Bác” đã được các đồng chí  Nguyễn Văn Linh lúc đó là Tổng Bí thư, Đại tướng Võ Nguyễn Giáp tiếp, sẻ chia, an ủi, động viên. Hai mươi năm sau, năm 2007, nhà thơ Phùng Quán cũng  đã được Chủ tịch nước tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật.

 

Thế mới biết thời bao cấp chống tiêu cực thật khó. Sau này, đổi mới chống tiêu cực, tham nhũng luôn được xã hội đồng tình. Quốc hội nước ta đã ban hành “Luật chống tham nhũng”. Chính phủ thành lập “Ban chống tham nhũng”. Nhưng tham nhũng, tiêu cực bây giờ vô cùng tinh vi, nó tìm cách kết cấu  bền chặt giữa quyền lực và tham nhũng, tạo nên những “lợi ích nhóm”. Nó nằm ngay trong chiều sâu của cơ chế xã hội, nên cũng rất khó chống.  Tham ô, tham những thường liên quan đến nghững người có chức có quyền như ông Trần Văn Truyền , Chánh thanh tra Chính phủ, trong lúc tại chwucs ông đã “kiếm “ cho mihjng  nhiều lô đất và 6 văn nhà!

 

 

Tôi làm ở ngành thương mại 13 năm ròng. Hồi đó thương nghiệp là ngành mà ai cũng cho là nếu vào được đó sẽ “kiếm chác” được nhiều thứ. Tôi làm  công việc ở phòng tổ chức cán bộ, phụ trách công tác đào tạo, tuyển sinh. Một công việc được nhiều người nể trọng và rất nhiều người muốn cậy nhờ. Tôi làm tham mưu trực tiếp tuyển gần ngàn học sinh đi học Trường Trung Cấp Thương mại Mại Đà Nẵng, Trường Thương nghiệp Bình Trị Thiên, đi học chuyên tu, tại chức ở Trường Đại học Thương Mại Hà Nội .Tôi phối hợp với Trường Đại học Thương Mại đào tạo cả một lớp học tại chức “Kinh tế kế hoạch thương mại” ở Huế. Tôi còn tổ chức quản lý, lên chương trình mời thầy, mời phiên dịch đào tạo một lớp 20 học sinh học nghề chế biến uống, phục vụ du lịch cho tỉnh Xavanakhet, Lào suốt sáu tháng ròng. Hồi đó tôi làm việc say mê cũng như làm thơ vậy. Thế mà một số anh em bạn bè thấy tôi làm tuyển sinh như thế cứ tưởng tôi lợi dụng công việc để “ăn” tiền người này người khác, chắc giàu lắm. Nhưng  khi họ đến nhà thì chẳng thấy bất cứ loại  đồ dùng nội thất nào có giá cả, mà lúc đó rất nhiều gia đình công chức đều có. Hai vợ chồng tôi đi chung cái xe đạp của vợ. Giường ngủ, bàn ghế thì của cơ quan cấp cho, đóng bằng thứ gỗ tạp rẻ tiền. Còn tôi phải đến năm 1986 mới đến phiên được phân phối xe đạp Thống Nhất. Nhưng đến năn 1986 thì Bộ Thương Mại bỏ chế độ phân phối xe đạp. Thế là năm sau phải mua  phụ tùng ra tiệm lắp một cái xe đạp “không phanh không chuông không gác đờ bu” để đi. Cũng có người đến hối lộ thật. Nhưng tôi không quen nhận những thứ “của thiên trả địa” đó. Một buổi tối tôi đi họp sở cơ quan về, vợ tôi bảo :” Có một bà trong Thành Nội đến gửi anh cái gì mềm mềm mà nặng lắm”. Tôi mở ra xem thì ra hai tấm vải rất xịn để may quần áo. Hôm sau, tôi dò trong danh sách địa chỉ của em mà mình đang tuyển sinh, đạp xe tới nhà gọi bà mẹ ra bảo:” Chị cầm nhận lại mấy thứ này, nếu không tôi sẽ gạch tên con chị”. Thế là bà ta run run nhận lại gói quà. Lại có ông giám đốc một công ty trong  ngành tên là ĐXL, mà tôi rất quen biết. Tôi đang tuyển sinh lớp mậu dịch viên bán hàng cho Trường Thương nghiệp của tỉnh. Sáng ấy, anh L mang đến cơ quan , đưa cho tôi cái hồ sơ  của con gái út của anh, Anh bảo :” Chú Khôi cho đứa con gái út của anh đi học mậu dịch viên đợt này với”. Tôi nhận hồ sơ, định đút vào học bàn như bao hồ sơ khác để chờ xét, nhưng cầm lên thấy nặng trịch. Tôi liền  mở ra xem. Trời ơi, có cọc tiền 50.000 đồng dày cộm dút vào hồ sơ ( hồi đó mới đổi tiền, chưa có tiền 100.000). Tôi đoán cọc tiền đó phải là hơn năm triệu đồng. Thế là tôi ngẩng lên, đỏ mặt. Anh L đã ra cửa. Tôi chạy theo gọi, giúi gói hồ sơ vào tay anh rồi nói lớn cho mọi người trong cơ quan cùng nghe: ”Anh L làm lại hồ sơ cho cháu, chứ thế này không được đâu !“. Nói xong, tôi quay ngoắt bước vô phòng làm việc . Nếu mà tôi lặng lặng nhận mấy triệu đồng ấy tất nhiên sẽ mua được cái xe máy xịn nhất thời đó.  Biết tính tôi ương ngạnh như thế nên không ai dám đưa hối lộ, quà cáp  gì. Những ngày đó, hết giờ ở cơ quan là tôi biến đi uống rượu nghê nga với cánh nhà thơ Hoàng Vũ Thuật, Hải Kỳ, Đỗ hoàng, Lê Đình Ty, Đỗ Văn Khoái… tận khuya mới về. Nên ai muốn gặp để nhờ cũng cũng chẳng bao giờ gặp ngoài giờ.

 

Biết tôi sống thế, vẫn có người gặp là hỏi:” Có kiếm được gì không?”,”Sao không mua nhà?, “Có ti vi chưa ?” Nhiều người hỏi quá tôi phải làm bài thơ in báo để trả lời :

Có gì không ?  ai đó hỏi tôi

                                  ( nhà cửa, ti vi, tủ bàn xoay xở)

                                   đi trước cái bắt tay lạnh giá

                                    câu hỏi trầm như là sự xót thương

 

                                    Có gì không? tôi nghe hỏi trên đường

                                    trong xí nghiệp, bên chén trà ướp sói

                                     người hỏi lớn cao chập chờn sau khói

                                    thuốc lá thơm giọng nói đàn anh.

 

                                    có gì không? Ngày tháng cứ trôi nhanh

                                    cuộc săn đuổi dẫm mòn trái đất

                                     khép cửa phòng riêng vợ mè nheo con trách

                                     – Một đời anh nào có gì không ?

 

                                    ừ nhỉ,  tôi như hạt cát trên đường

                                    đêm thức với sao ngày lang thang với gió

                                    hai tay trắng. Chỉ thơ là gọi có 

                                    viết bao nhiêu mang tặng hết cho đời .

 

                                    có gì ư ? Tôi chỉ có tôi đây

                                    áo quần  xuyềnh xoàng chỗ lành chỗ vá

                                    duy trái tim chưa một lần sắt đá

                                    trước mỗi  buồn vui đau khổ của con người

 

                                    có gì không ? Ai giàu có bằng tôi

                                    khi em đến trái tim lên tiếng hỏi !

 

Đối với anh em làm công việc phân phối hàng hóa ở cơ sỏ, những nghi ngờ tham nhũng, ăn cắp nhiều khi rất oan uổng. Tôi xin kể một chuyện xẩy ra ở Công ty Thực phẩm nông sản Bình Trị Thiên mà tôi được “mục sở thị” vì là người trong cuộc, vì vợ tôi làm công việc ấy. Trong câu chuyện này những người thu tiền, bán thực phẩm hoàn toàn có thể  tham nhũng số tiền hàng  rất lớn mà không một ai biết.  Nhưng họ đã không làm như vậy! Họ đã nộp lại cho nhà nước vì lương tâm họ ra lệnh như vậy!

 

Năm 1978- 1979, Quân Đoàn 2 thường gọi là Binh Đoàn Hương Giang đóng quân ở địa bàn Bình Trị Thiên, gồm hàng vạn quân chính quy của các sư đoàn, lữ đoàn, ăn thực phẩm theo chế độ tem phiếu tại tỉnh Bình Trị Thiên. Tháng 1-1979, Ban Hậu cần của Quân đoàn đã mang lệnh cấp thực phẩm gồm thịt, mì chính, đường, sữa.v.v..của Bộ Thương  mại đến Công ty Thực phẩm để mua hàng. Bộ phận  quản lý tem phiếu và thu tiền của Công ty Thực phẩm đã tính toán toàn bộ số lượng thực phẩm trong tháng . Chiều tan tầm, Hậu cần Quân đoàn đã trả tiền và cầm phiếu xuất kho mang về. Nhưng chưa kịp lấy hàng thì ngay đêm hôm đó, cả Quân đoàn được lệnh xuất kích bằng mấy bay trực thăng bay thẳng sang giúp nhân dân Cămpuchia đánh quân Pon-pot. Anh em cám bộ Phòng kế hoạch Nghiệp vụ của Công ty sáng hôm sau được tin báo là Quân đoàn 2 không đến lấy hàng . Cho đến khi chiến tranh biên giới phía bắc xẩy ra, thì Binh Đoàn Hương Giang  hành quân  ra bảo vệ Thủ đô những ngày chiến tranh biên giới phía Bắc, 2-1979. Nên họ không bao giờ  đến nhận số hàng ấy.

 

Nếu mà những người trực tiếp thanh toán cho Quân đoàn 2 của Công ty Thực phẩm Nông sản Bình Trị Thiên hồi đó mà tiêu cực thì họ có thể chia nhau số tiền và thực phẩm không lồ đó mà không ai hay biết. Vì tem phiếu đã nộp, tiền khách đã trả mà hàng lại chưa xuất. Lượng hàng giá trị lên tới hơm 400 triệu, mà chỉ mấy người biết. Nhưng không!  Họ đã nộp tiền vào thủ quỹ và báo cáo với Giám đốc Công ty hồi đó là anh Phan Tấn Thanh, số hàng thực phẩm ấy bộ đội chưa nhận để Giám đốc báo cáo lên Sở Thương Mại đưa vào cân đối theo kế hoạch cung cấp khác. Kể một chuyện như thế để nói rằng, không phải là cán bộ thương nghiệp thì ai cũng tiêu cực. Tiêu cực tham nhũng thời đó chỉ là số ít, rất ít. Tôi có ông  anh con cô con cậu tên là Ngô Văn Ngoãn, hồi ấy là Giám đốc Công ty Thủy Sản của tỉnh mấy năm liền. Hình như anh không biết tham những là gì. Vẫn ở ngôi nhà cấp bốn xập xị cho đến khi về hưu. Cũng chẳng nhậu nhẹt “trăm phầm trăm”,”zô zô” như bây giờ. Tết năm nào cũng như Tết nào, anh đều biếu vợ chồng tôi một chai nước mắm Phan Thiết mua bằng tiền túi của mình, gọi là “món quà thủy sản”, nghề nghiệp của anh. Hay các anh lãnh đạo ở Sở Thương Nghiệp Bình Trị Thiên thời bao cấp như anh Phan Bá Giàu, Trần Hùng, Trần Hảo, Trịnh Đình Yên, chị Hồ Thị Mỹ…đều ở nhà cấp bốn nhà nước phân phối cho. Rộng hơn, lại riêng biệt hơn phòng tập thể một chút thôi. Nhà rộng chỉ bằng nhà ở chung cư bây giờ, cho đến khi nghỉ hưu.

 

Những năm bao cấp,  nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ đưa con đi học Trường Viết văn Nguyễn Du ở Hà Nội. Hoàng Phủ Ngọc Tường ở nhà một mình ở chung cư Nguyễn Tường Tộ, tự nấu lấy ăn. Có lần Hoàng Phủ cầm tem phiếu ra “Quầy cung cấp” dành cho sổ C ở số 7- Phan Đình Phùng để mua thịt lợn. Anh bảo cô bán thịt bán luôn tiêu chuẩn cả quý để về nhờ người làm ruốc ăn dần, khỏi đi mua nhiều lần. Cô bán hàng đã cắt 3 ký tem phiếu, anh Tường đã trả tiền . Đang chờ cân thịt, thì có người bạn thân gọi sau lưng. Anh quay lại, biết tin có người bạn đang ốm nằm trên viện, thế là anh đạp xe đi thăm bạn, quên béng chuyện mua, nhận thịt. Sáng hôm sau anh ra Hà Nội họp gấp, rồi vô Sài Gòn, đi liên mạch đến hai tháng mới về. Khi tìm đến tem phiếu để mua thực phẩm, thì không thấy đâu. Anh ra “Quấy C” hỏi, may người bán hàng vẫn nhớ ông khách gầy gò có nốt ruồi to tướng dưới cằm, mua ba cân thịt đã trả tiền mà mấy tháng nay không biết biến đi đâu, chưa lấy hàng! Anh Tường cứ nhắc hoài kỷ niệm này để quả quyết rằng không phải người mậu dịch viên nào cũng gian lận, mà có rất nhiều người tốt . Sống ở trên đời phải tin con người chứ !

 

Hình như thời bao cấp khốn khó ấy, cán bộ công chức đều toàn tâm toàn ý với việc chung hơn. Như tôi đến khi về hưu vẫn không có mảnh đất cắm dùi, lương ba cọc ba đồng. Năm nào cũng ngồi ngóng nhà nước tăng lương. Không như cán bộ công chức bây giờ, lên bục giảng ai cũng  nói thao thao bất tuyệt về Chủ nghĩa, về đạo đức, nhưng làm việc gì thì “ăn” việc đó, làm nghề gì “ăn” nghề đó. Lương ba cọc ba đồng theo hệ số nhà nước nhưng ai cũng có xe hơi nhà lầu, có tiền gửi con đi học nước ngoài. Thời bao cấp, ít cán bộ chen việc  riêng vào việc chung hay lợi dựng việc chung , kéo ê-kíp hay cánh hẩu để mưu làm giàu theo kiểu “lợi ích nhóm” như bây giờ.

 

Đó cũng là nét văn hóa còn đọng lại, là cái đáng được kể, đáng được viết thành sách để con cháu mai sau nhớ cha ông mình đã sống một thời thật cam go, cực khổ mà lại đẹp trong sáng như thế.

 

 

 

Advertisements

Categories

%d bloggers like this: