Đăng bởi: Ngô Minh | 13.03.2017

Nhà thơ QUÁCH TẤN viết về bài thơ “QUA ĐÈO NGANG” của Bà Huyện Thanh Quan

     Nhà thơ QUÁCH TẤN viết về bài thơ“QUA ĐÈO NGANG”  của Bà Huyện Thanh Quan

Nhà thơ Quách Tấn (1010-1992), quê thôn Trường Định, huyện Bình Khê (nay là xã Bình Hòa, huyện Tây Sơn) tỉnh Bình Định. Cụ là Nhà thơ nổi tiếng trong phong trào “Thơ mới” , đồng thời là một Nhà văn chuyên khảo về Thơ vào loại hàng đầu ở nước ta …về “Thơ toàn bích” , theo Quách Tấn thì đó là Thơ được liệt vào Ưu đẳng Thượng hạng phải là những bài thơ hình thức cũng như nội dung, không ai bắt bẻ được, là những bài thơ hay tuyệt đỉnh , tức là hoàn hảo như thơ KHÓC CHỒNG của Hồ Xuân Hương  (Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ơi…trong đó 2 câu “cặp luận” mà nhiều sách chép khác nhau :

Nắm xương dưới ván chau mày khóc

Hòn máu trên tay mỉm miệng cười

( cán cân tạo hóa rơi đâu mất ?

Miệng túi càn khôn thắt lại rồi ).

Với Phạm Thái (1777-1813) là bài “Đề Nghĩa Lư” với những câu kiệt xuất như :

– Cỏ biếc chẳng treo hồn Sở trướng

Trúc vàng thà điểm giọt Ngu cung.

– Dệt gấm Thanh Nê câu nhất tiếu

Thêu nền Thúy Ái chữ tam tùng.

Với Bà huyện Thanh Quan (khoảng 1821)thì  bài “Thăng long thành hoài cổ ” là hay tuyệt đỉnh nhưng chưa hẳn toàn bích :

Tạo hóa gây chi cuộc hí trường,

Đến nay thấm thoát mấy tinh sương.

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.

Đá vẫn (dẫu) trơ (bền / sờn)) gan cùng tuế nguyệt,

Nước còn cau mặt với tang thương.

Ngàn năm gương cũ soi kim cổ,

Cảnh đấy, người đây luống đoạn trường.

Theo Quách Tấn thì bài thơ chưa hoàn toàn là viên “khuê bích vô hà” vì có tì vết, một tí thôi ở nơi cặp trạng :

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương

“Bóng” đối với “hồn”, “tịch dương” đối “thu thảo” về mặt tự dạng thì thật chỉnh. Nhưng về mặt ý nghĩa thì nặng nhẹ không được cân…bởi : Hồn là hoạt tự, Bóng là tử tự. Đối nhau không được chỉnh là vì vậy đó . Nhưng đó là lối trách bị hiền giả của kẻ “cầu toàn” chứ bài Thơ đó vẫn giữ giá “liên thành” mà từ xưa đã ấn định… qua đó cũng chứng minh “làm được 1 bài thơ toàn bích thật thiên nan vạn nan”…và cũng để nhủ thầm cùng bạn đồng thanh nên rộng rãi khi tuyển Thi, bởi ngọc nào cũng thường có tỳ vết.

Thơ bà Huyện Thanh Quan  còn truyền lại, bài được phổ biến sâu rộng nhất là bài :

QUA ĐÈO NGANG

Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà,

Cỏ cấy chen lá, đá chen hoa.

Lom khom dưới núi, tiều vài chú,

Lác đác bên sông rợ (chợ) mấy nhà.

Nhớ nước đau lòng con Quốc Quốc,

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.

Dừng chân ngoảnh (đứng) lại : trời non nước,

Một mảnh tình riêng , ta với ta.

Các nhà Thi học đều khen là một bài thơ hay.

Phạm Quỳnh trong một số Nam Phong ra năm 1917 , phê bình : “Rằng hay thì thật là hay. Nhưng hay quá, khéo quá, phần nhân công nhiều mà về thiên nhiên ít, quả là một bức tranh cảnh vậy “.

Trong bài Quốc Văn Diễn Giảng ngày 2/3/1939, Tản Đà tiên sinh viết :

“Thơ bà Huyện Thanh Quan, bài QUA ĐÈO NGANG , 2 câu tam tứ chúng ta thường nghe rằng : “Lom khom dưới núi, tiều vái chú / Lác đác bên sông, chợ mấy nhà”. Mới đây tôi được nghe  một ông bạn thanh niên nói chuyện từng trông thấy một bản Chữ Nôm thời xưa chữ thứ 5 câu tứ (4) là chữ “rợ” chứ không phải “chợ”. Tôi hỏi nữa thời nói : Nguyên văn viết  chứ “Nhân đứng” bên chữ “Trợ” . Như thế thì RỢ thực phải, mà RỢ đối với chữ TIỀU  mới cân , chỉnh hơn. Nhân nghĩ lại từ xưa, tôi riêng chê thơ bà Thanh Quan , văn tả cảnh không được sát thực lắm. Nay nghe  câu chuyện của ông bạn nói đó, mà tấm lòng đối với người trước, khinh trọng có thay đổi.

Đọc mấy lời của Tản Đà tiên sinh, một túc nho đã từng qua lại Đèo Ngang là cụ Ngô Văn Nhượng ở Diên Khánh- Khánh Hòa nói rằng :

“Dọc Đèo Ngang, một bên là núi, một bên là biển, chớ không có chợ, cũng không có sông. Cặp trạng trong bài thơ tôi nghe truyền là :

Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác trên dông rợ mấy nhà.

Đứng về mặt thực cảnh thì câu “rợ mấy nhà” hơn câu “chợ mấy nhà”. Câu “trên dông rợ mấy nhà” hơn câu “bên sông chợ mấy nhà”. Song đứng về mặt văn chương , câu nào cũng không ổn đáng. Bởi vì vài chú tiều mà đảo trang thành “:tiều vài chú”  thì rất xuôi tai, còn “chợ mấy nhà” (ai lại nói nhà chợ bao giờ?) “mấy nhà rợ” thì nghe thật trái tai (cũng như mấy nhà người Thượng- dân tộc thiểu số xưa- nói kiểu nay cho là miệt thị “man di mọi rợ”) – NK xin bổ sung thêm là :trước 1945, ta vẫn thường dùng “lính mọi – thơ Tố Hữu, “Mọi Kon Tum” – Les Bahnar de Kontum,  cuốn về Dân Tộc học của Bác sĩ Nguyễn Kinh Chi.

Huống nữa đề bài QUA ĐÈO NGANG mà cặp trạng không có gì là Đèo Ngang cả.Những cảnh vật “tiều lom khom dưới núi”, “nhà lác đác bên sông” hay “rợ lác đác trên dông” …hễ nơi nào có nước, có non thì đều có, chớ có riêng gì Đèo Ngang ? Đã biết đây là Thơ tức cảnh, chỉ tả những gì chợt thấy trước mắt trong nhất thời , chớ không phải là Thơ tả cảnh hay vịnh cảnh mà phải nêu những cảnh đặc biệt  và thường tồn của nơi mình tả mình vịnh. Tuy vậy,những gì mình thấy cũng phải  mang một vài nét đặc biệt để khỏi lầm lẫn với những nơi khác. Chớ ở đây, muốn nói về con Đèo  nào khác thì chúng ta chỉ bỏ tên ĐÈO NGANG thay tên con Đèo ấy vào thì “bức tranh cảnh” của ông Phạm Quỳnh trở thành bức trướng, đã thêu sẵn ở ngoài phố mua về điền vào lạc khoản, ngày tháng và tên tuổi của người mua, là có được một món quà hỷ lạ hay vật phúng điếu phổ thông.

Được ca tụng nhất là cặp luận. Ca tụng cái khéo của sự chơi chữ “nhớ nước” đi với “Quốc Quốc”. “Thương nhà” đi với “gia gia”. Nhưng vì qua chú  tâm đến cái khéo mà không lưu ý  đến chỗ vụng là 2 chữ “mỏi miệng”. Nhớ nước thì đau lòng là phải , chớ thương nhà sao lại “mỏi miệng” ?. 2 chữ “mỏi miệng” vốn ngậm chứa ý nghĩa không tốt. 2 chữ đó thường dùng để tỏ lòng bất mãn vì lời nói tiếng kêu của mình không có hiệu quả, kêu không thấu, nói không ai nghe. Có gì đáng bất mãn trong việc “thương nhà ” đâu mà phải thốt ra 2 tiếng “mỏi miệng ” ?

Hai câu nhớ nước/ thương nhà không phải là 2 câu độc sáng. Ý vốn toát nơi bài thơ chữ Hán của Trần Danh Án (bậc tiến bối đời Lê Trịnh) là lúc theo vua Chiêu Thống chạy sang Tàu lần thư nhất : Chúa một nơi/ Tôi một nơi :

Giá cô tại giang nam

Đỗ quyên tại giang bắc

Giá cô minh gia gia

Đỗ quyên minh quốc quốc

Vi cầm do hữu quốc gia thanh

Cô thần đối thử tình vô cực.

Bài thơ Tràn Danh Án (có trước) lời tự nhiên bình dị, tình lại chân thiết, thật dễ rung động lòng người đọc người nghe. 2 câu của bà Thanh Quan bị những nét tiểu xảo không mấy tinh vi làm giảm sức truyền cảm.

Cho nên 2 câu luận cũng như 2 câu trạng bài QUA ĐÈO NGANG , không có gì đáng khen ngợi cho lắm.

Thật đáng tán dương 2 câu chuyển kết :

Dừng chân ngoảnh lại trời non nước

Một mảnh tình riêng ta với ta.

Cảnh bao la nơi Đèo Ngang và tình lẻ loi của người qua Đèo, gồm trọn vẹn trong 14 chữ  vừa điêu luyện vừa tự nhiên. Chính nhờ cặp chuyển kết mà bài QUA ĐÈO NGANG được bất hủ.

Đọc bài Qua Đèo Ngang, tôi có cảm giác đi lên ngọn đồi trơ trụi, khô khan,khi tới đỉnh chợt thấy vọng cảnh rộng rãi xanh tươi, lại được một ngọn gió hương phảng phất.

Nhưng các sách đã Xuất bản từ trước đến nay đều chép là “Dừng chân ĐỨNG lại” cho nên câu thơ đã bị chế diễu là “giờ tí canh ba” . Nay đưa “châu về Hợp Phố” thì câu thơ đã không có chữ vô dụng mà ý thơ lại gia tăng “Qua khỏi Đèo không nỡ dứt tình đi luôn mà phải “Dừng chân ngoảnh lại” .
—–

Làng Mọc Quan Nhân (quê Đặng Trần Côn) 2 giờ sáng 13/3/2017

nhân thức dậy đọc bài”Luận về chữ ĐỨNG…” của Lang Trương- Đà Nẵng…

NK xin chép lại 1 đoạn trong “Hứng phấn nâng hương” Thi Thoại của Thi hào Quách Tấn để các Bạn Thơ cùng đọc mà ngẫm nghĩ…cho vui.

Kính : NGUYỄN KHÔI (Nhà văn Hà Nội)

Advertisements

Categories

%d bloggers like this: