Đăng bởi: Ngô Minh | 17.03.2017

NHỮNG CHUYỆN CHƯA KỂ VỀ 14-3-1988 – KỲ 2: Bơi 1.500m cắm cờ Tổ quốc

Cựu chiến binh Bùi Văn Thanh – thành viên trong nhóm bơi vào đảo Cô Lin cắm cờ và tiêu rạng sáng 14-3-1988 trước khi cuộc thảm sát Trường Sa diễn ra – hồi ức về những thời khắc bi tráng – Ảnh: My Lăng

Tàu vận tải đổ bộ HQ505 còn có tên gọi là Dương Vận Hạm Vũng Tàu. Trước khi bị tàu chiến Trung Quốc bắn cháy, chỉ vài tiếng trước khi cuộc thảm sát Gạc Ma ngày 14-3-1988 xảy ra, một nhóm chiến sĩ của tàu 505 đã bí mật bơi vào đảo kịp cắm cờ và cắm tiêu khẳng định chủ quyền trên bãi cạn Cô Lin.

Đêm căng thẳng

Trước đó, khoảng 2h sáng 14-3, nhận thấy những hành động khiêu khích đầy nguy hiểm của tàu chiến Trung Quốc, chỉ huy tàu 505 đã hội ý và nhận định: đến sáng 14-3 quân Trung Quốc sẽ điều động lực lượng đến gây xung đột đánh chiếm đảo.

Thuyền trưởng Vũ Huy Lễ điện báo cáo khẩn cấp về Sở chỉ huy quân chủng xin chỉ thị. Ngay sau đó, 505 nhận được bức điện của Tư lệnh Giáp Văn Cương: Cắm cờ cắm tiêu, lao tàu lên chiếm đảo!

Ban chỉ huy tàu đã lựa chọn những thủy thủ bơi giỏi nhất, có kinh nghiệm nhất cử đi trong nhóm cắm cờ.

“4h30 sáng 14-3-1988 chúng tôi đã dậy, tập trung nhận nhiệm vụ bơi vào đảo cắm cờ, cắm tiêu” – hạ sĩ Bùi Văn Thanh, chiến sĩ ngành cơ điện tàu HQ505 hiện đang sống ở Hải Phòng, nhớ lại.

Ông kể: “Cả đêm 13-3 cho đến khuya, tình hình vô cùng căng thẳng. Từ chiều 13-3, tàu chiến Trung Quốc cứ thả trôi về phía mình, khi đến gần nó lại nổ máy chạy ra. Nó muốn thử xem mình có sợ, có bỏ chạy không. Tàu neo cách đảo gần 1 hải lý.

Đêm xuống, tàu chiến bao vây mình. Nó cứ đưa tàu đến cạnh, dùng loa phóng thanh đuổi mình đi, dọa không đi sẽ dùng vũ lực. Rồi nó quay pháo chĩa hết về tàu mình. Cả đêm nó xua đuổi, khiêu khích, đe dọa, tra tấn bằng loa. Mình cứ neo đấy, phòng thủ.

Phải nói là chỉ huy tàu rất bình tĩnh, bản lĩnh. Các anh nói anh em không được mắc mưu khiêu khích, không được đáp trả, về vị trí sẵn sàng làm nhiệm vụ.

Tàu mình là tàu vận tải, làm gì có vũ khí chiến đấu, chỉ có vũ khí tự vệ. Trên tàu chỉ có 6 khẩu pháo 40 li là loại pháo tự vệ không phải pháo tấn công. Mỗi người chỉ có một khẩu AK là loại súng bộ binh tự vệ, không bắn tàu nó được”.

5h40 sáng 14-3-1988, đại úy Võ Tá Du (bí thư chi bộ, thuyền phó chính trị) chỉ huy một nhóm gồm 12 cán bộ, chiến sĩ lao xuống biển, bơi vượt qua 1.500m vào đảo để cắm cờ và tiêu.

“Cô Lin là đảo chìm nên lúc đó chưa nhìn thấy đảo, cứ nhằm hướng có sóng trắng tung lên mà bơi vào. Hôm đó biển rất êm.

Bộ đội mình chỉ mặc quần đùi, nối nhau bơi vào đảo. Người này bơi cách người kia 1m, san sát nhau. Có lúc gặp nước ngược, nước quẩn thì hơi nguy hiểm. Cách đảo khoảng 500m, biển sâu lắm, 40-50m. Nhưng anh em toàn dân bơi lội giỏi nên xử lý tốt.

Chúng tôi vừa bơi vừa mang theo hàng trăm ký vật tư như cuốc, thuổng, 5-6 cái xà beng… trên một cái phao bè. Xà beng nặng lắm. Mỗi cái 15-20kg rồi. Phao bè không có chân vịt, chỉ có dây bám xung quanh. Anh em vừa bơi vừa đẩy.

Khi vào đến mép đảo thì cầm dây vừa lội vừa kéo phao bè vào đảo. Vất vả nhất là lúc gần vào đảo. Nước biển gặp bãi san hô bị cản lại, tạo thành sóng rất mạnh. Anh em cứ bị sóng đẩy ra rồi lại rút vào. Vật lộn mãi một lúc mới tập kết được vật tư lên đảo” – hạ sĩ Bùi Văn Thanh kể.

Chân tay ứa máu

“Chạm chân xuống nền san hô là bộ đội nhanh chóng triển khai nhiệm vụ ngay. Anh em chia thành hai tổ. Mỗi tổ đi một hướng. Đảo Cô Lin dài khoảng 10km, rộng 5km. Một tổ cắm cờ phía bắc đảo, một tổ cắm cờ phía nam đảo.

Tôi trong nhóm đi phía bắc đảo do thuyền phó chính trị Võ Tá Du chỉ huy. Còn phía nam do thượng úy Nguyễn Huy Cường – thuyền phó hậu cần – chỉ huy.

Trong nhóm có thiếu úy Phạm Xuân Điệp, trưởng ngành hàng hải. Anh Điệp bây giờ là phó tư lệnh – tham mưu trưởng hải quân” – ông Lê Tiến Dũng (lúc đó là trung sĩ, tiểu đội phó ngành cơ điện) nói.

Khi đó thủy triều đang lên. Đảo ngập dưới nước. Nước dâng lên ngang ngực. Để có thể cắm cọc tiêu, cắm cờ trên nền san hô, bộ đội từ sĩ quan chỉ huy đến chiến sĩ phải lặn xuống biển dùng xà beng bẩy từng tảng đá san hô. Rồi 2-3 người xúm vào khiêng tảng san hô lên, chất thành nền.

Lớp trên là san hô non, rất mềm nhưng khi đào xuống khoảng 50cm thì san hô cứng như đá ong. Xà beng bập xuống trúng lớp đá san hô cứng bị dội bật lên khiến bàn tay gân guốc của đàn ông cũng cảm thấy đau rát.

Thời gian không cho phép chậm trễ, phía xa các tàu chiến Trung Quốc đang tiến đến bao vây HQ505. Bộ đội phải dùng hết sức bẩy đá san hô để nhanh chóng cắm cọc tiêu và cờ Tổ quốc.

Một người được giao nhiệm vụ giữ cọc, 4-5 người thay nhau lặn, bẩy đá san hô khiêng lên chất thành đế nền san hô cao tới 1m, rộng 2m.

Mỗi tổ sáu người cật lực ngụp lặn, đào đắp trong khoảng 70 phút mới tạo xong nền san hô. Không có ximăng, bộ đội phải làm nền bằng san hô thật cao, thật chắc.

Nếu không sóng sẽ đánh đổ cọc tiêu, đổ cờ ngay. Cọc tiêu bằng gỗ xà cừ, đường kính 15cm, cao 5m. Bộ đội dùng dây thép cột cờ Tổ quốc vào cọc.

“Chúng tôi làm rất nhanh, không ai để ý cho đến khi làm xong mới thấy tay tóe máu. Chân cũng bị san hô cứa ngang cứa dọc. Có người đi giày vải, có người chỉ đi dép rọ. San hô sắc nhọn cứa chân tay tứa máu” – ông Đào Tất Hồng (52 tuổi, hiện đang sống ở Vũng Tàu), một trong những thành viên của tổ cắm cờ ở phía nam đảo Cô Lin, cho biết.

*** Error ***

Các thành viên trong nhóm bơi vào đảo Cô Lin cắm cờ và tiêu trong buổi gặp mặt truyền thống ngày 12-3-2017 tại TP.HCM. Chuẩn đô đốc Phạm Xuân Điệp, phó tư lệnh – tham mưu trưởng hải quân (thứ hai từ trái) – Ảnh: My Lăng

Tiếng súng vang lên

Đến 7h, chỉ trong chưa tới hai tiếng hai tổ đã kịp đào đắp nền san hô, cắm cờ và tiêu khẳng định chủ quyền Tổ quốc tại phía bắc và phía nam đảo Cô Lin trước khi trận chiến không cân sức nổ ra.

“Lúc này chúng tôi mới thấy mệt, thấy đói. Lúc đi anh em đã ăn gì đâu” – cựu chiến binh Bùi Văn Thanh nói.

Cựu chiến binh Đào Tất Hồng kể: “Hơn 7h thì chúng tôi về đến tàu. Tôi đang ở phòng anh Du, mới cắn một miếng lương khô thì nghe một tràng súng nổ rất lớn. Nghe tiếng súng nổ, tôi biết nó bắn 604 rồi.

Bên phía Gạc Ma chỗ tàu HQ604 neo đậu có rất nhiều tàu chiến Trung Quốc vòng trong vòng ngoài, vòng trước vòng sau. Toàn tàu pháo, tàu tên lửa, tàu lôi…

Nhìn ra cửa sổ thấy cột khói cuồn cuộn bốc lên từ tàu HQ604. 604 cháy rồi từ từ chìm xuống. 604 là tàu vận tải loại nhỏ, chỉ có một khoang nên khi bị trúng đạn pháo là chìm rất nhanh. Anh em bên đó không thể kịp chống chìm cho tàu. Bên tàu tôi báo động chiến đấu ngay.

Chúng tôi lao vào các vị trí chiến đấu. Khi tàu 604 chìm, ba tàu hộ vệ tên lửa Trung Quốc ở ba hướng quay sang bắn tàu chúng tôi. Phát đầu tiên nó bắn ngay vô buồng thuyền trưởng nhưng lúc đó anh Lễ (thuyền trưởng Vũ Huy Lễ – PV) đang ở đài chỉ huy.

Sau đó anh Lễ chạy sang buồng thông tin, chỉ kịp điện báo về bờ “604 bị chìm. 505 bị tấn công” thì buồng thông tin trúng ngay quả đạn thứ hai. Hệ thống liên lạc của 505 bị tê liệt và hoàn toàn mất liên lạc với Bộ chỉ huy Vùng 4 ngay lập tức”.

————

Trong thời khắc sục sôi ấy, có một cuốn nhật ký ra đời. Cuốn nhật ký của lửa và máu.

Viết nhật ký trong lửa đạn

TTO – Có một quyển nhật ký ghi chép lại toàn bộ diễn biến của trận chiến không cân sức giữa các tàu chiến hiện đại của quân Trung Quốc với tàu vận tải chở công binh đi làm nhà của Hải quân Việt Nam ngày 14-3-1988.
Viết nhật ký trong lửa đạn
Ảnh: L.Đ.Dục

Lá cờ trong tấm hình là của tàu HQ505 làm nhiệm vụ ủi bãi Cô Lin trong cuộc chiến bảo vệ đảo sáng 14-3-1988 được các chiến sĩ giữ gìn đến nay. Sau một thời gian được sử dụng như một “công sự thép”, khi Cô Lin được lính công binh xây dựng công sự, con tàu đã được kéo ra khỏi đảo và lai dắt về đất liền, tuy nhiên do quá nhiều thương tích chiến trận, trên đường lai dắt HQ505 về đất liền tàu đã bị chìm và không thể trục vớt được.

L.Đ.DỤC

Quyển nhật ký đã ố vàng, rách mép, ghi chép lại diễn biến từ góc nhìn của tàu HQ505 tại đảo Cô Lin, gần đảo Gạc Ma hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Hải quân Việt Nam.

Cập nhật từng giây phút

Những thông tin trên bìa quyển nhật ký cho biết người viết là thuyền phó tàu HQ505 – đại úy Võ Tá Du.

29 năm sau sự kiện 14-3-1988, nhìn lại những bản chụp quyển nhật ký này, ông Võ Tá Du không giấu nổi sự bất ngờ và xúc động khi “gặp lại” những nét chữ viết rất vội, nhiều chữ viết tắt của mình giữa khói lửa, pháo đạn, giữa lằn ranh của sự sống và cái chết quá mong manh.

“Tôi đã viết nó ngay khi Trung Quốc nổ súng bắn tàu 604” – ông Võ Tá Du nói. Theo quy định, nhật ký chiến đấu sẽ do cán bộ quân sự viết. Vì sao thuyền phó chính trị, bí thư chi bộ lại viết nhật ký?

“Đúng ra trưởng ngành hàng hải hoặc thuyền phó 1 là người viết nhật ký này. Nhưng khi đó anh Phạm Xuân Điệp – trưởng ngành hàng hải – đang trong cabin chỉ huy lái tay, lái điện và tay chuông của hai máy chính.

Đại úy Trần Anh Tư, thuyền phó 1, đang phụ trách chỉ huy tổ anh em ở phía mũi và phải 
sẵn sàng thay thế thuyền trưởng trong tình huống 
thuyền trưởng hi sinh. Tôi được thuyền trưởng Vũ Huy 
Lễ phân công viết nhật ký”.

Ông Du nói theo quy định của quân chủng hải quân, trong chiến đấu phải cập nhật thông tin chi tiết về tất cả diễn tiến, tình huống của trận đánh… từng giây, từng 
phút, từng giờ. Nhật ký trận đánh phải được cập nhật 
liên tục không được đứt quãng, phải trung thực, chính xác, đầy đủ.

Đạn bắn đỏ rực

“Lúc đó có rất nhiều tình huống ngặt nghèo dồn dập xảy ra: lái điện, lái sự cố bị hỏng, hầm máy nước tràn vào, đường ống dẫn khí đến bộ ly hợp hai máy chính bị vỡ, chân vịt không quay… Phải nói rằng anh em lúc đó rất dũng cảm và bình tĩnh.

Tiểu đội máy chính của ngành cơ điện là lực lượng có vai trò quyết định đã xử lý thành công hệ thống đường ống dẫn khí vào bộ ly hợp, tạo điều kiện tiên quyết cho thuyền trưởng lao tàu lên đảo và mới giữ được Cô Lin” – cựu chiến binh Võ Tá Du nhớ lại.

Để giữ được sự bình tĩnh đó cho bộ đội, thuyền phó chính trị, bí thư chi bộ Võ Tá Du là người băng mình vượt qua lửa đạn, liên tục chạy đến các vị trí để trấn an, động viên bộ đội, xốc lại tinh thần cho anh em.

“Đạn bay vèo vèo nổ chát chúa, khói bay mù mịt, sắt thép còn chảy thành nước mà anh Du cứ chạy từ đầu tàu đến cuối tàu, từ cabin chỉ huy xuống hầm máy, đến các vị trí… động viên bộ đội.

Tôi còn nhớ giữa điểm lặng của các đợt bắn phá, anh Du đọc lá thư cũng của Tư lệnh Giáp Văn Cương gửi ra làm tinh thần bộ đội phấn chấn, quyết tâm hơn. Anh Du rất bình tĩnh, quyết đoán và xông xáo làm bộ đội nhìn vào đó cũng vững vàng hơn” – cựu chiến binh Đào Tất Hồng, chiến sĩ pháo tàu 505, kể.

Ông Du cho biết bức thư đó được tàu 604 mang ra trước thời điểm 14-3 mấy ngày. Thuyền phó chính trị 1 Võ Tá Du đã trực tiếp sang tàu 604 nhận về.

“Khi ba tàu khu trục của TQ ở ba hướng bắn vào 505, tôi đã nghĩ nếu phải chết, mình phải là người chết đầu tiên – ông Võ Tá Du nói – Vì thuyền phó chính trị, bí thư chi bộ là điểm tựa tinh thần cho cấp ủy, cho tất cả bộ đội mà mình không kiên cường, không dũng cảm, không gương mẫu thì không thể là điểm tựa tinh thần cho cả con tàu được.

Con tàu dài 100m. Đây vốn là tàu đổ bộ chở xe tăng nên trên mặt boong có hàng trăm cái cọc để chằng buộc xe tăng. Vậy mà đạn bắn nát tung tóe hết, sắt thép chảy thành nước.

Đạn bắn như mưa, bắn xé lửa như thế, vượt ngang qua đầu, bắn ngay bên cạnh, ù rách cả màng nhĩ…, tôi cứ từ cabin đài chỉ huy chạy lên chạy xuống các vị trí chiến đấu truyền đạt mệnh lệnh của thuyền trưởng, động viên bộ đội, nắm tình hình anh em…

Rồi thì đài chỉ huy, buồng thông tin cũng bị bắn cháy ngùn ngụt. Toàn bộ hành lang mạn phải dài 100m cháy đỏ rực. Máy trưởng Nguyễn Đại Thắng bị thương ở trán, máu chảy ướt đỏ mặt. Trưởng ngành thông tin Nguyễn Duy Hòa bị thương ở tay và đùi. Chiến sĩ thông tin Nguyễn Quốc Văn cũng bị thương… Vậy mà không hiểu sao tôi vẫn không hề hấn gì”.

Sau tiếng súng

Những trang sau của quyển nhật ký có những trang viết khi đại tá Võ Tá Du về đảo Sinh Tồn Lớn.

“Chiều 15-3-1988, chiến sĩ tàu 505 rút về đảo Sinh Tồn Lớn cách đó 18km, cử một tổ ở lại giữ Cô Lin. Cờ và tiêu trên đảo vẫn còn. Trước khi đi chúng tôi thay cờ cũ trên đảo bằng cờ mới.

Lá cờ mới còn đeo băng tang thủ tướng Phạm Hùng mất ngày 10-3-1988. Chiều ở đảo Sinh Tồn Lớn, ăn uống xong tôi ra bờ đảo nhìn về hướng Cô Lin, Gạc Ma, Len Đao hồi tưởng tất cả những gì đã xảy ra trong mấy ngày hôm qua” – ông Du nói.

Sau vụ thảm sát đó, đồng đội không ai về nữa. Khi xuồng cứu hộ của 505 đi sang Gạc Ma cứu vớt những người còn sống và cả liệt sĩ về, tàu Trung Quốc kéo đến hăm dọa.

“Cấp ủy chỉ huy tàu cho bộ đội lui về phía sau tàu hết, chỉ có anh Lễ, anh Thắng và tôi ra mép đảo đón xuồng. Tôi nhìn xuống xuồng không thấy anh Trừ, không thấy Thắng đâu. 604 chỉ thấy còn anh Quý báo vụ.

Trong xuồng, máu và nước ngập đỏ. Anh Trần Văn Phương đã hi sinh trên đảo. Còn anh Nguyễn Văn Lanh bị nó đâm lê xuyên từ trước ra sau, nằm thoi thóp trong xuồng. Nhìn cảnh tượng đó, tôi đau đớn lắm…” – ông Du nói.

Và ông kể trong niềm xúc động đang trào: “Sau này về lữ đoàn 125 tôi mới biết tàu 604 còn có một người nữa sống sót, tên Thấn. Anh Thấn kể lúc tàu bắt đầu chìm xuống, khi nhảy xuống biển, quay lại sau thấy thuyền phó chính trị Thắng vẫn cố gắng dùng B40 bắn trả nhưng tàu Trung Quốc cách mình hàng chục kilômet, đạn B40 không tới nơi được.

Cho đến khi tàu chìm hẳn, quay lại chỉ còn thấy mũ cối của Thắng nổi trên mặt biển… Thắng bị thương nhưng cậu ấy không rời tàu, những giây cuối cùng vẫn cầm súng chiến đấu dù biết không thể nào bắn tới tàu Trung Quốc được…”.

Viết nhật ký trong lửa đạn
Cuốn nhật ký của dại úy Võ Tá Du – Ảnh: My Lăng

Trong cuốn nhật ký có một số bài thơ về tình yêu, quê hương được ông Võ Tá Du viết khi đã về đảo Sinh Tồn Lớn, trong đó có bài thơ với lời đề tặng “Kính tặng cán bộ chiến sĩ tàu HQ505, 605, 604”:

“Chúng tôi rất yêu

Những con đường không qua đèo qua núi

Những con đường mà sau mỗi vết đi

Chỉ để lại một màu xanh bình dị

Là quê hương đất nước thân yêu

Là nghĩa tình của đất liền hải đảo

Chúng tôi đi mặc cho sóng lòng, gió bão

Áo màu xanh chuyển sang màu tro

Nắng gắt, đêm ngày quản gì vất vả

Bốc gỗ, thép, ximăng… xây điểm tựa tiền tiêu

Tay chai sạn, niềm tin lớn hơn nhiều

Tất cả là đây, ôi một khoảng đời

Ở nơi anh qua mới tuổi hai mươi

Tuổi của ước mơ, của muôn ngàn hi vọng

Của nụ cười và niềm tin cháy bỏng

Tương lai đi qua trong một phút sống còn

Ta chợt hiểu những ngày đã sống…”.

Để có được ảnh chụp ba chiếc tàu của Hải quân HQ604, 605 và 505 bị bắn chìm và cháy, có một nhiệm vụ đặc biệt được tiến hành.

(Theo Tuổi Trẻ)

Advertisements

Chuyên mục

%d bloggers like this: