Đăng bởi: Ngô Minh | 18.03.2017

VỤ THẢM SÁT GẠC MA 1988: Máy bay chiến thuật bay ra Gạc Ma sau ngày 14-3-1988

NHỮNG CHUYỆN CHƯA KỂ VỀ 14-3-1988 – KỲ 4:

Máy bay chiến thuật bay ra Gạc Ma sau ngày 14-3-1988

TTO – Khi quân Trung Quốc dùng vũ lực chiếm Gạc Ma ngày 14-3-1988, trong đất liền tại Tân Sơn Nhất – căn cứ của trung đoàn không quân vận tải 918 – chuyển sang trạng thái báo động chiến đấu cấp 1.

Máy bay chiến thuật bay ra Gạc Ma sau ngày 14-3-1988
Cựu phi công Đoàn Hồng Quân đã từng lái máy bay AN-26 bay chuyến đầu tiên ra Gạc Ma để chụp ảnh, giám sát tình hình – Ảnh: MY LĂNG

Trung đoàn 918 lập tức nhận lệnh điều hai máy bay vận tải chiến thuật An-26 cất cánh đi Phan Rang trực để sẵn sàng bay ra Trường Sa. Còn ở Tân Sơn Nhất, hai máy bay An-26 cũng trực sẵn sàng cất cánh.

10 chuyến bay khẩn

Ngày 16-3-1988, máy bay An-26 do phi đội trưởng phi đội 1 Đoàn Hồng Quân lái chính đã cất cánh từ căn cứ Tân Sơn Nhất ra Trường Sa trinh sát, chụp ảnh các tàu Trung Quốc, nắm tình hình đối phương tại khu vực đảo Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma.

Ngay từ sáng 14-3, tàu HQ604 và 605 đã bị bắn chìm. Ngoài đảo lúc này chỉ còn tàu HQ505 đã kịp ủi lên Cô Lin và trở thành công sự thép khẳng định chủ quyền. Nhiệm vụ của tổ bay không chỉ chụp các tàu Trung Quốc tại khu vực vừa xảy ra chiến sự mà còn chụp cả HQ505.

Chuyến bay đầu tiên của An-26 cất cánh ra Trường Sa sau ngày 14-3 do phi công Đoàn Hồng Quân thực hiện. Thượng tá Đoàn Hồng Quân (hiện đang ở huyện Bình Chánh, TP.HCM, nguyên tham mưu phó trung đoàn 918) khi đó là một trong những phi công giỏi của trung đoàn 918.

Thượng tá Quân cho biết từ Tân Sơn Nhất ra đảo hơn 400km, vì đảo Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma quá xa đất liền nên lúc đó một máy bay An-26 khác cũng cất cánh để làm nhiệm vụ bay chuyển tiếp trên không.

Máy bay này bay đến đoạn giữa quãng đường từ Tân Sơn Nhất ra đảo, làm cầu nối liên lạc giữa chiếc An-26 bay ra đảo làm nhiệm vụ với Sở chỉ huy ở đất liền.

Thượng tá Trần Xuân Đô, một trong những thành viên của tổ bay An-26 cất cánh ra khu vực Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma sau ngày 14-3-1988, kể:

“Lúc đi chúng tôi đã biết Trung Quốc vừa cướp đảo của mình. Bộ đội mình ngoài đảo báo về có nhiều tàu chiến Trung Quốc xung quanh đảo. An-26 ra trinh sát để xem có bao nhiêu tàu Trung Quốc, tàu ở vị trí nào so với đảo của mình… để cấp trên có phương án ứng phó. Trên yêu cầu phải quay được rõ số hiệu các tàu Trung Quốc”.

Những ngày khẩn cấp đó, máy bay An-26 của trung đoàn không quân 918 đã thực hiện 10 chuyến bay ra Trường Sa quan sát chụp ảnh, thông báo tình hình đối phương trên biển về sở chỉ huy, thả dù hàng…

Máy bay chiến thuật bay ra Gạc Ma sau ngày 14-3-1988
Tàu HQ505 lao lên ủi bãi, bảo vệ được Cô Lin. Ảnh chụp từ máy bay tháng 3-1988 – Ảnh: tư liệu

Quay rõ số hiệu tàu Trung Quốc

Thượng tá Nguyễn Văn Dương – nguyên chủ nhiệm bay trung đoàn 918 – cũng là một trong những phi công tham gia chuyến bay ra Trường Sa trong những ngày nóng bỏng đó, ông là một trong các phi công dày dạn kinh nghiệm của trung đoàn 918.

“Khi bay ra đó tôi là lái chính, còn anh Thao lái phụ. Khi giao nhiệm vụ, cấp trên yêu cầu bay qua các đảo trong đó có Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma đang có tàu, nhiệm vụ là vừa chụp ảnh vừa quan sát kỹ Gạc Ma.

Khoảng 9h sáng chúng tôi đã có mặt ở khu vực đảo Gạc Ma. Khi hạ thấp độ cao xuống 2.000m, thấy có tàu Trung Quốc cách đảo 1-2 hải lý.

Có mấy tàu đậu quanh đảo nhưng thấy rõ nhất một tàu Trung Quốc với cờ hiệu và 2-3 chiếc khác ở phía nam đảo Gạc Ma. Sau này về anh em phòng ảnh rửa hình nói rằng ảnh rất rõ nét, nhìn thấy hình tàu và cờ hiệu Trung Quốc”.

Từ đề nghị của Quân chủng hải quân, trong những chuyến bay đó mỗi tổ bay còn có thêm sĩ quan tác chiến hải quân đi cùng. Để đảm bảo an toàn, bay từ Tân Sơn Nhất ra Phan Rang nạp dầu rồi bay ra đảo. Khác với những chuyến bay ra Trường Sa chụp ảnh trước đó, trong chuyến bay này còn có thêm người quay phim.

Nhiệm vụ đó được giao cho phi công lái phụ đảm nhiệm. Thượng tá Trần Xuân Đô kể:

“Bay ở Cô Lin và Len Đao thì không có vấn đề gì. Nhưng lúc đó Gạc Ma đã bị quân Trung Quốc cướp rồi nên không thể bay gần và tổ bay phải tránh bay đè lên đảo. Dưới biển quân Trung Quốc tưởng mình uy hiếp sẽ bắn tên lửa lên ngay.

Chúng tôi bay chếch chếch bên hông đảo Gạc Ma. Khi cách Gạc Ma khoảng 2km, phi công hạ thấp độ cao xuống 1.000m. Khi bay vào vị trí gần đảo, tổ bay thông báo chuẩn bị chụp ảnh thì mới chụp được. Lái phụ Hiền chĩa máy quay qua cửa sổ quay ở góc 45 độ.

Tôi phụ trách chụp ảnh. Ở độ cao 1.000m, quan sát bằng mắt thường và ống nhòm, tôi nhìn thấy rõ mấy chiếc tàu cờ hiệu Trung Quốc ở xung quanh Gạc Ma. Những hình ảnh này sư đoàn đưa cho quân chủng để chuyển lên cho Bộ Tổng tham mưu”.

Thượng tá Trần Xuân Đô cho biết hằng ngày mỗi tổ bay một chuyến ra khu vực vừa xảy ra chiến sự để quay phim, chụp ảnh, trinh sát tình hình. Ông Đô tham gia ít nhất ba chuyến.

Sau đó, An-26 còn bay ra đảo thả quân tư trang cho bộ đội đang bám trụ giữ đảo Cô Lin trên con tàu HQ505 đã bị bắn cháy. Cựu chiến binh Võ Tá Du (thuyền phó chính trị, bí thư chi bộ tàu HQ505) kể:

“Sau 14-3 mấy ngày, máy bay An-26 của không quân bay ra đảo Sinh Tồn thả những gói hàng quân tư trang cho chúng tôi. Không có dù, máy bay phải thả hàng rơi xuống cách mép đảo 400 – 500m.

Chúng tôi bơi ra kéo vào. Quân nhu của đảo Sinh Tồn quản lý số quân tư trang này rồi phát lại cho anh em tàu. Lúc tàu bị Trung Quốc bắn, cháy hết, quần áo cũng không còn.

Trên người chỉ còn cái quần đùi. Chúng tôi trực giữ đảo Cô Lin không có chỗ ở, quần áo không có mặc nên trong bờ phải chuyển quân tư trang ra”.

Chụp ảnh quần đảo Trường Sa từ năm 1982

Cựu phi công Nguyễn Văn Dương cho biết:

“Không phải sau sự kiện 14-3-1988 chúng tôi mới bay ra Trường Sa. Từ năm 1982, An-26 đã bay ra quần đảo Trường Sa chụp ảnh các đảo và động viên bộ đội mình ngoài đó. Các đảo nổi khi đó hoang sơ lắm.

Thuyền chài thủy triều lên chỉ thấy một dải nước rộng xanh mướt, khi thủy triều xuống mới thấy bãi cạn nhô lên. Đảo Chữ Thập phần ngầm rất rộng. Hồi đó chỉ có Trường Sa và An Bang có cây cối, toàn cây tự nhiên chứ không do bộ đội trồng như sau này. Khi đến đảo nào, qua tần số anh em ở đảo nghe giọng của không quân vui lắm, cứ bảo các anh nói thêm với chúng em nữa đi.

Khi bay ngang qua các đảo, chúng tôi đều hạ thấp độ cao từ 4.200-4.500m xuống 100m, 200m tùy địa hình, để anh em được nhìn máy bay gần hơn. Thấy cờ đỏ sao vàng trên máy bay anh em rất mừng. Anh em từ trong lán chạy ra đứng vẫy tay, hò reo. Đối không ở đảo nói qua tần số:

“Các anh ơi, bay thêm một vòng nữa cho chúng em xem với. Lúc đó chúng tôi đã bay thường xuyên ra Trường Sa, có lúc tuần nào cũng bay, chỉ bay trên không cổ vũ tinh thần bộ đội chứ không có sân bay để hạ cánh xuống”.

_______________

Khi Len Đao bị bao vây, có một chiến đấu cơ từ sân bay Phan Rang cất cánh. Diễn biến cực kỳ căng thẳng.

 

“Đôi cánh ma thuật” xuất kích

TTO – Một tháng sau ngày 14-3-1988, với quyết tâm bảo vệ Len Đao, Hải quân VN đã cử một biệt đội cảm tử gồm 35 lính công binh và 7 người lính chiến đấu ra Trường Sa, bí mật đổ bộ lên đảo chìm Len Đao và cấp tốc làm nhà chòi để khẳng định chủ quyền.

“Đôi cánh ma thuật” xuất kích
Trên đảo Sinh Tồn ở quần đảo Trường Sa có chùa thờ 64 anh linh liệt sĩ hi sinh tại Gạc Ma ngày 14-3-1988. Bia tưởng niệm ghi tên, tuổi và quê quán của 64 liệt sĩ. Đảo Sinh Tồn gần Gạc Ma. Chiến sĩ và người dân trên đảo cũng như các đoàn công tác ở Sinh Tồn đều ghé viếng – Ảnh: N.T.U.

Giải vây cho biệt đội cảm tử

Ông Đinh Xuân Toại, khi đó là đại đội trưởng đơn vị C7 – D3 (Lữ đoàn công binh E83), nhớ lại: “Khi trời hửng sáng, chúng tôi bị 7 tàu chiến Trung Quốc lù lù tiến đến bao vây. Chúng tôi bảo nhau cứ mặc kệ. Không uy hiếp được mình, các tàu chiến Trung Quốc chĩa súng, pháo về phía chúng tôi, đứng đầy bên thành tàu, sẵn sàng chờ lệnh nổ súng. Tình hình lúc đó rất căng thẳng nhưng chúng tôi quyết không rời đảo, bảo nhau cứ việc mình mình làm”.

Cuộc chiến tâm lý cân não vô cùng căng thẳng diễn ra từ 7h sáng đến 11h trưa. Và bất ngờ, trên bầu trời, tiếng động cơ máy bay vọng lại, mỗi lúc một lớn dần. Nhìn lên trời, những người lính Hải quân Việt Nam trong biệt đội cảm tử nhìn thấy một chiếc máy bay rồi hai chiếc máy bay mỗi lúc một lại gần.

Máy bay lượn mấy vòng trên đầu, quanh khu vực đảo. Ông Toại kể: “Lúc đó các tàu Trung Quốc bắt đầu tản ra. Mấy ngày sau tàu Trung Quốc vẫn lảng vảng gần Len Đao nhưng không dám đến gần uy hiếp chúng tôi như trước. Chỉ trong 7 ngày chúng tôi đã làm xong chòi để bộ đội ở tạm giữ đảo, khẳng định chủ quyền”.

Những chiến đấu cơ Su-22M, vốn được mệnh danh là “đôi cánh ma thuật” của Trung đoàn không quân 923, xuất kích từ đất liền ra để giải vây cho biệt đội cảm tử đang làm nhà trên đảo Len Đao. Thời điểm đó, Su-22M là máy bay chiến đấu hiện đại nhất của Không quân Việt Nam.

Tự tính toán mà bay

Ngày đó, phi công Hán Văn Quảng là một trong những người lái Su-22M xuất kích ra Len Đao tháng 4-1988.

Đại tá Hán Văn Quảng cho biết: “Hôm đó quân chủng lệnh cho chúng tôi bay ra thực hiện nhiệm vụ chi viện cho Trường Sa. Quân chủng nói rõ bay qua đảo Len Đao để bộ đội mình thấy có không quân ra yểm trợ, vững vàng hơn. Lãnh đạo quân chủng căn dặn: chủ trương của ta là không khiêu khích, không mắc mưu khiêu khích nhưng nếu đối phương uy hiếp thì chiến đấu ngay. Máy bay đeo hai quả tên lửa. Có máy bay mang theo bom”.

Để thực hiện nhiệm vụ này, những phi công giỏi nhất của Trung đoàn 923 đã được chọn. Trung đoàn phó Hán Văn Quảng là một trong những phi công được chuyên gia Cuba huấn luyện bay biển từ năm 1970 khi đang lái tiêm kích Mig-17.

“Để có được một chiếc máy bay cất cánh ra đảo không hề đơn giản. Ra đó, trên trời dưới biển một màu xanh giống nhau rất khó phân biệt. Nếu sức khỏe không tốt, tiền đình không vững, phi công rất dễ bị cảm giác sai. Máy bay rơi xuống biển lúc nào không biết. Chưa kể ở Biển Đông thời điểm đó máy bay, tàu chiến của Mỹ hoạt động rất nhiều và tàu chiến Trung Quốc cũng lượn lờ. Máy bay Trung Quốc lúc đó chỉ ra đến Hoàng Sa nhưng tàu chiến của họ dưới biển có thể bắn tên lửa, bắn pháo lên” – đại tá Hán Văn Quảng cho biết.

Su-22M không có hệ thống radar dẫn đường như máy bay vận tải mà chỉ có đồng hồ tính toán để bay. Phi công phải tính trước ở nhà, kẻ đường đi. Su-22M lại không phải là máy bay có tầm bay xa. Radar dẫn đường của mặt đất chỉ hoạt động trong tầm 150 – 200km, trong khi đó Len Đao cách đất liền hơn 300km, vượt quá tầm hoạt động của radar.

Nghĩa là khi bay từ đất liền ra hơn 200km, không còn radar dẫn đường nữa, phi công phải tự tính toán mà bay. Để hỗ trợ cho máy bay làm nhiệm vụ, một máy bay Su-22M khác phải bay ra đảo Phú Quý để chỉ huy trên không, chuyển tiếp liên lạc giữa Su-22M ở ngoài đảo với sở chỉ huy.

Tiếp sức cho người trên đảo

Cựu phi công Vũ Xuân Cương cũng là một trong những phi công thực hiện nhiệm vụ bay ra Len Đao tháng 4-1988. Ông từng lái tiêm kích Mig-17 rồi học chuyển loại Su-22M, cũng là phi công thực hiện thành công chuyến bay ra đảo Trường Sa đầu tiên trên Su-22M trước khi chiến sự xảy ra. Đại tá Cương nói: “Phi công phải tính toán đường bay, độ cao, tốc độ như thế nào để tránh bị tên lửa Trung Quốc bắn”.

“Từ đất liền bay ra Len Đao chỉ khoảng 45 phút – đại tá Hán Văn Quảng nhớ lại – Ở độ cao khoảng 7.000m, tôi đã thấy Len Đao. Tôi cho máy bay hạ thấp độ cao xuống 4.000m và nhìn thấy có nhiều tàu gần xung quanh đảo. Theo thông tin tôi đã nắm khi được giao nhiệm vụ, đó là tàu chiến Trung Quốc vây hăm dọa bộ đội mình đang làm nhà trên đảo Len Đao. Tôi hạ thấp xuống độ cao 4.000m để tàu Trung Quốc nhìn thấy máy bay chiến đấu của Không quân Việt Nam”.

Cựu phi công Vũ Xuân Cương nhớ lại: “Các tàu Trung Quốc thấy máy bay của Không quân Việt Nam là túa ra hết. Trong ngày đó và những ngày sau nữa Su-22M bay ra nhiều đợt. Mỗi đợt đều đi biên đội hai chiếc. Khi ấy chúng ta đã có hẳn một trung đoàn Su-22M với 3 phi đội. Thời gian sau đó chúng tôi thường xuyên bay ra Trường Sa để ổn định tâm lý và niềm tin cho bộ đội mình ở ngoài đó giữ đảo”.

Nhờ “đôi cánh ma thuật” mà anh em ở Len Đao thêm an tâm giữ đảo trong những ngày khó khăn đó.

Bán kính chiến đấu hơn 500km

“Đôi cánh ma thuật” xuất kích
Máy bay Su-22M – Ảnh: Vũ Hải Hạ

Việc Su-22M xuất kích ra giải vây cho Len Đao sau chiến sự 14-3-1988 là câu chuyện không phải ai cũng biết, kể cả những người trong cuộc. “Sở dĩ gọi Su-22M là “đôi cánh ma thuật” vì thiết kế kiểu cánh cụp cánh xòe đặc biệt của nó.

Cánh máy bay có thể dang rộng ra hoặc áp sát vào thân máy bay. Việc thiết kế cánh này giúp máy bay bay tầm thấp với tốc độ cao hoặc đạt tốc độ cao vượt âm thanh ở trần bay lớn.

Khi cánh xòe hết cỡ thì lực nâng của cánh tăng lên cho phép máy bay có thể cất hạ cánh đường băng ngắn. Su-22M có thể đạt tốc độ tối đa lên đến 1.860 km/h, bán kính chiến đấu hơn 500km” – Anh hùng Lực lượng vũ trang Hán Văn Quảng, cựu phi công của Trung đoàn không quân 923, nói.

Advertisements

Categories

%d bloggers like this: