Đăng bởi: Ngô Minh | 25.03.2017

VỀ ĐÀ NẴNG THĂM “NGHĨA TRANG LIỆT SĨ QUỐC GIA” THỜI NGUYỄN

VỀ ĐÀ NẴNG THĂM “NGHĨA TRANG LIỆT SĨ QUỐC GIA” THỜI NGUYỄN

Đà Nẵng – thành phố năng động về kinh tế, hấp dẫn về du lịch, còn là một vùng đất của những dấu ấn lịch sử đặc biệt. Trên vùng đất này hiện đang tồn tại một nghĩa trang liệt sĩ xưa nhất của nước ta còn lại đến hôm nay.

Trong ký ức học trò, cái mốc lịch sử “1858” nhắc nhớ đến sự kiện phát đại bác đầu tiên của thực dân Pháp nã vào cảng Đà Nẵng, mở đầu cho hơn tám mươi năm đô hộ của chúng trên đất nước chúng ta. Nhưng cuộc kháng chiến dũng cảm của nhân dân xứ Quảng đẩy lùi kẻ thù ra khỏi bờ biển Đà Nẵng, dường như lại ít được nhắc đến. Bởi thế, là những người làm báo, chúng tôi đã cảm thấy rất có lỗi với lịch sử, khi đến Đà Nẵng một tháng sau dịp kỷ niệm 155 năm nhân dân Đà Nẵng tiến hành cuộc kháng chiến đánh bại cuộc tấn công quân sự của liên quân Pháp – Y Pha Nho (Tây Ban Nha), mới được biết rằng, mảnh đất này hiện đang tồn tại một trong hai nghĩa trang liệt sĩ quốc gia lâu đời nhất, nơi yên nghỉ vĩnh hằng của hàng nghìn người con nước Việt đã chiến đấu và hy sinh trong ngày đầu chống lại những kẻ ngoại xâm đến từ phương Tây xa xôi. Đó là Nghĩa trũng Hòa Vang.
Nghĩa trũng, theo Từ điển Hán – Việt, là nơi chôn cất những người làm việc nghĩa. Nhà báo Hồ Trung Tú, một nhà “Đà Nẵng học”, trong một bài viết của mình, đã gọi Nghĩa trũng Hòa Vang là nghĩa trang liệt sĩ quốc gia xưa nhất còn lại đến hôm nay. Nghĩa trũng Hòa Vang nằm ở phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ, cách trung tâm thành phố Đà Nẵng chừng 15 km.
Chúng tôi đã tìm tới nơi, để rồi sững sờ trước những gì mình nhìn thấy.
Giữa cái nắng ong ong tháng 10 miền Trung, trên một khu đất rộng lớn hàng nghìn mét vuông, trước mắt chúng tôi là trùng trùng lớp lớp những dãy mộ trắng toát, nằm thành hàng lối ngay ngắn. Đặc biệt, có những khuôn hình chữ nhật dài cả chục mét, hỏi ra chúng tôi mới biết đó là những ngôi mộ tập thể. Nơi đây, hiện đang yên nghỉ hơn 1300 (có tài liệu nói là 1500) nghĩa sĩ đã tham gia chống lại cuộc xâm lược đầu tiên của liên quân Pháp – Tây Ban Nha trong 2 năm 1858 – 1860.
Lịch sử Đà Nẵng còn ghi lại, ngày 1/9/1858, liên quân Pháp – Tây Ban Nha với lực lượng hùng hậu cùng tàu chiến và đại bác, đã nổ súng vào bán đảo Sơn Trà. Nhân dân Đà Nẵng, dưới sự lãnh đạo của triều đình Huế đã đồng loạt đứng lên chống lại giặc ngoại xâm. Với thành Điện Hải khá kiên cố cùng một hệ thống phòng thủ chiến lược được lập từ thời Gia Long, dưới sự tổng chỉ huy của vua Tự Đức từ kinh thành Huế, cùng các tướng lần lượt là Lê Đình Lý, Tống Phước Minh, Nguyễn Tri Phương, binh lính nhà Nguyễn cùng với người dân xứ Quảng đã đào hào, đắp chiến luỹ, tuy vũ khí thô sơ hơn kẻ thù gấp nhiều lần, nhưng đã chiến đấu vô cùng kiên cường để kìm chân kẻ thù, không cho chúng thực hiện kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh”.
Sau 19 tháng bị sa lầy ở Đà Nẵng, liên quân tan vỡ. Quân Tây Ban Nha rút lui, quân Pháp cuốn cờ rút khỏi Đà Nẵng, kéo vào đánh chiếm Sài Gòn, sau đó tấn công Huế, làm vỡ tuyến phòng thủ trên sông Hương, buộc triều đình nhà Nguyễn từng bước đầu hàng.
Sau khi cuộc chiến bảo vệ Đà Nẵng thắng lợi, triều đình nhà Nguyễn, xuất phát từ đạo lý dân tộc, đã chỉ đạo nhân dân và quan quân quy tập hài cốt của các nghĩa sĩ hy sinh được chôn rải rác ở các địa điểm xảy ra chiến trận, đem về Phước Ninh xây thành đắp mộ, gọi là Nghĩa trũng Phước Ninh. Với hơn 3000 hài cốt, Nghĩa trũng Phước Ninh trở nên quá tải, nhà Nguyễn lại mở thêm Nghĩa trũng Hòa Vang, quy tập khoảng 1300 hài cốt. Việc làm đại nghĩa này đã giúp lưu danh muôn thủa những người con xứ Quảng và các miền đã hy sinh vì nghĩa lớn trên đất này.

Nghĩa Trũng
Tiếc rằng, Nghĩa trũng Phước Ninh, do việc chính quyền xây dựng Nhà Thi đấu Nguyễn Tri Phương nên đã bị giải tỏa, hiện nay chỉ còn lại một tấm bia lớn ghi công ơn các anh hùng liệt sĩ. May còn Nghĩa trũng Hòa Vang. Di vật quý giá còn lại ở Nghĩa trũng Hòa Vang là một tấm bia và hai trụ đá bằng đá hoa cương. Tấm bia được đặt tại nhà bia, khắc trang trọng bốn đại tự “Hòa Vang Nghĩa Trũng”, cùng với năm dựng bia là “Tự Ðức Thập Cửu Niên”, tức là năm 1866. Hai trụ đá khắc đôi câu đối “Ân triêm khô cốt di truyền cổ / Trạch cập tàn hồn tái kiến kim” (Ơn vua thấm đến những bộ xương khô từ xưa còn lại, mưa móc ban cho những linh hồn vất vưởng được thấy lại hôm nay).
Phía sau nhà bia là “Chiến Sĩ đài”, cao chừng 3m bằng xi măng, hai bên có hai câu đối: “Tổ Quốc hữu linh giá ban chí sĩ anh hùng tương dữ dẫu hồng tiền dực hồ hậu/ Tiền dân dĩ viễn kim nhật sùng đài phong ngẫu do năng luận kỳ thế tư kỳ nhân” (Tổ quốc thiêng liêng với những chí sĩ anh hùng noi dấu đời trước rồi chắp cánh đời sau/ Người xưa xa rồi nay dựng tượng đài mà vẫn còn bàn đến đời của họ và nghĩ đến người thuở ấy). Sau “Chiến Sĩ đài” là các am thờ, hương án dùng cho việc cúng tế, được trang trí rất đẹp theo các họa tiết, hoa văn hình tứ linh thường thấy ở các khu mộ miền Trung.
Ở trung tâm Nghĩa trũng có ngôi mộ lớn, đề chữ “Tiền triều đại tướng công qúy mộ”, theo người dân địa phương thì đó là mộ của một vị tướng dưới quyền ông Nguyễn Tri Phương, tên là Nguyễn Ân. Cạnh đó, là phần mộ của hai vị tướng Nguyễn Thượng Chất và Nguyễn Việt Thứ được di dời từ Nghĩa trũng Phước Ninh về.
Nghĩa trũng Hòa Vang nằm trong một quần thể di tích văn hóa – lịch sử có diện tích 4.000m2, gồm các phế tích tháp Chăm, Miếu Bà, giếng cổ Chăm, và Nhà thờ tiền hiền làng Hóa Quê. Quần thể này cho thấy dấu ấn đậm nét của sự tiếp biến và giao lưu văn hóa Việt – Chăm qua các thời kỳ lịch sử, đã được công nhận là di tích văn hóa cấp quốc gia, được chăm sóc chu đáo. Vào ngày 16 tháng 3 âm lịch hàng năm, tại đây nhân dân địa phương tổ chức lễ tế vong linh nghĩa sĩ và tiền hiền.
Trong hành trình đến với nghĩa trang liệt sĩ quốc gia xưa cũ nhất, chúng tôi còn biết đến một địa điểm khác, có liên quan đặc biệt. Ở phía đầu kia của thành phố, trên bán đảo Sơn Trà, có một nghĩa địa đặc biệt, người dân gọi là nghĩa địa Y Pha Nho. Đó là nơi binh lính Pháp và Tây Ban Nha chôn cất những người lính của họ tử chiến cũng chính trong cuộc tấn công vào Đà Nẵng. Hơn 30 ngôi mộ dãi dầu mưa nắng suốt một thế kỷ rưỡi, là dấu vết còn lại của những chiến binh bỏ mạng nơi đất khách quê người trong cuộc chinh chiến phi nghĩa của những kẻ thực dân.
Thăm Nghĩa trũng Hòa Vang, cúi đầu dâng hương trước ngút ngàn nấm mộ không một dòng tên tuổi, trong lòng trào lên niềm thành kính sâu sắc. Vậy đó, trên đất nước này, qua bao nhiêu triều đại, có chiến thắng nào không trả giá bằng xương máu nhân dân? Nơi này, di hài các nghĩa sĩ đang nằm đó, hàng hàng lớp lớp, bình thản ngắm trời xanh mây trắng trên mảnh đất đã qua bao khói lửa binh đao, giờ đang đơm hoa kết trái hạnh phúc ngọt lành. Xin đừng ai lãng quên và bội bạc trước sự hy sinh của họ.

 

( Theo FB Nguyễn Thúy Quỳnh)

Advertisements

Chuyên mục

%d bloggers like this: