Đăng bởi: Ngô Minh | 01.04.2017

NGÔ MINH VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC

NGÔ MINH VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC

 

Ngô Minh Tên thật là Ngô Minh Khôi ( tên gốc họ dùng để ghi sớ cúng là Ngô Văn Khôi) , sinh 10-9-1949 ( Kỷ Sửu) Quê quán : Làng Thượng Luật, xã Ngư Thủy Trung , huyện Lệ Thủy , tỉnh Quảng Bình. Chỗ ở hiện nay : 11/73- Phan Bội Châu, TP Huế.

Email : ngominhnt@gmail.com.  ĐT : 0985756355

Blog:  ngominh.wordpress.com

Bố : Ngô Văn Thắng ( 1903 – 1956); Bị quy sai địa chủ và bị bấn trong CCRĐ. Mẹ : Đào Thị Tam ( 1910 – 1983)

 

  • Tốt nghiệp Đại học Thương nghiệp Hà Nội ( 9-1972)

Đi bộ đội ngày 25-9-1972; vào miền Đông Nam Bộ  4-1973 , Ban Chính trị Trung đoàn 141, Sư đoàn 7 . Quân hàm : Trung sĩ nhất . Viết báo, làm bản tin Ba Vì của Trung  Đoàn từ 1973- 1976

Huy chương Chống Mỹ cứu nước Hạng Nhất. Huy hiệu Tham gia Chiến dịch Hồ Chí Mịnh 1975. Kỷ niệm chương Vì sự nghiệp báo chí Việt Nam ( 2009)

– Đảng viên Đảng Nhân dân cách mạng Miền Nam ( kết nạp tại mặt trận Xuân Lộc trong Chiến dịch Hồ Chí Minh ngày 25-4-1975).Huy hiệu 30 năm tuổi đảng(2006)

– Vào Hội Nhà văn Việt Nam năm 1987 ; Hội Nhà báo Việt Nam 1989; Hội nhà văn THừa Thiên Huế 1980, Hội Nhà báo Thừa Thiên Huế 1989. Phóng viên báo Thương Mại tại miền Trung  từ 1989 -2004;  9- 2005, nghỉ hưu.

 

Đã từng giữ các công việc ;

– Làm báo ở Ban chính trị E14, F7, Miền Đông Nam Bộ ( 1973- 1976)

– Cán bộ Tổ chức, Thi đua, Đào tạo, Sở Thương mại Bình Trị Thiên 1977-1989 )

– Trưởng Đại diện báo Thương Mai tại miền Trung ( 1989 – 2005)

– Uỷ viên BCH Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Thừa Thiên Huế các  khoá 9 (2000- 2005), 10 (2005-2010)

– Uỷ viên Hội đồng Nghệ thuật VHNT Thừa Thiên Huế khoá 9

– Ủy viên BCH Hội Nhà báo Thừa Thiên Huế khoá 11 ( 1996-2001), khoá 12 ( 2001-2005)

 

 

 

16 TẬP THƠ:

Phía nắng lên (1985); Chiếc lá biết đi (thơ thiếu nhi, in chung, 1987); Chân dung tự hoạ (1989); Nước mắt của đá (1991); Chân sóng (1995) ; Quà tặng xứ mưa (1996); Đứa con của cát ( 1998); Nắng mặn (thơ thiếu nhi, 2001); Phù sa biển (2001); Huyền thoại Cửa Tùng (2004); Lệ Thuỷ mút mùa ( 2005); Thơ tặng (2007), Gọi lá (2008 ); Ký tự biển (2013), tái bản 2015; 99 vần cũ (2016); 40 năm em ( 2017)

 

Góp mặt trong gần 20 tuyển tập thơ: Tuyển tập Văn học Thiếu nhi (NXB Văn học, 1995); Tổng tập Nhà  văn Quân đội ( tập2);Tuyển tập ngàn năm thơ trữ tình (1010-2004); Tuyển tập Ngàn năm thương nhớ ( thơ về Hà Nội từ 1010 – 2010); Tuyển tập Ngàn năm thơ tứ tuyệt Việt Nam (NXB Văn hóa dân tộc, 1997); Tuyển tập Thơ hay Việt Nam (NXB Văn hóa-Thông tin, 2006; Tuyển tập thơ Thầy giáo và Nhà trường (NXBGiáo dục,1999);  Tuyển tập Thơ văn xuôi (NXB Văn học, 1997); Tuyển tập Hai thập kỷ thơ Huế (NXB Văn học, 1995); 700 năm thơ Huế (NXB Thuận Hóa, 2008); Tuyển tập Lục bát Việt Nam (2 thế kỷ), NXB Văn học, 1994; Tuyển tập thơ Việt Nam 1975-2000, NXB Hội Nhà văn 2001; Thơ tình Việt Nam thế kỷ 20, NXB Thanh Niên -2000; Nghìn câu thơ tài hoa, NXB Văn học, 2000; Tuyển tập 30 năm Văn học Thừa Thiên Huế (NXB Thuận Hóa, 2008); Nhà văn Việt Nam hiện đại Quảng Bình …Ngoài ra còn có thơ trong các tuyển tập thơ Bình Định, Gia Lai, thơ Đà Lạt…

 

17 TẬP VĂN XUÔI, TIỂU LUẬN-PHÊ BÌNH, SƯU TẦM BIÊN SOẠN:

Văn hoá kinh doanh thời đổi mới (2000) ; Chuyện làm ăn thời hội nhập (   2002); Nhớ Phùng Quán (NXB Trẻ, 2003); Chuyện làng thơ (NXB Lao Động, 2004); Ăn chơi xứ Huế (2002), Đất Thiêng ( 2005); Phùng Quán- Ba phút sự thật ( tổ chức bản thảo, giới thiệu, 2006) ; Chuyện tử tù Lê Quang Vịnh, (ký sự, Văn nghệ 2007), NXB Lao Động tái bản năm 2012); Phùng Quán còn đây ( suu tầm , biên soạn cùng chị Vũ Bội Trâm, Văn Nghệ, 2007) ; Hồn quê trầm tích (2010); Cổ tích tàu không số (NXB Hội Nhà văn, 2011); Tướng Giáp trong tôi (Thuận Hóa, 2013); Quê quán của thơ (Thuận Hóa, 2013); Không thể khác (2016); Trung Hoa tạp lục (2016); Sống thời bao cấp (NXB Hội nhà văn, 2016); * Năm 1995, NXB Hội Nhà văn ấn hành bộ sách “NGÔ MINH TÁC PHẨM” 5 tập ( thơ- chân dung- ký- tiểu luận – mọi người viết về NM)  , 2100 trang

 

Sắp in :

  • Trường Sơn- 100 ngày và một đời ( tự truyện)
  • Cõi em ( Tập thơ tình)

 

 

  • Giải thưởng văn học :

Giải thưởng Trung ương Đoàn – Hội Nhà Văn 1982; Giải thưởng Văn học Bình Trị Thiên lần 1 (1982), lần 2 (1987); 2 lần Giải thưởng Uỷ ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội  VHNT Việt Nam: 1996 tập thơ Chân Sóng, năm 2004 tập thơ Huyền thoại Cửa Tùng. Giải thưởng VHNT Cố Đô (TTH) lần1 (1989) tập thơ Chân dung tự hoạ; lần 2 (1999) tập thơ Chân sóng , lần 3 ( 2003)- tập thơ Phù sa biển.; lần thứ4: Tập thơ Huyền thoại Cửa Tùng.(2009)

Được tặng thưởng thơ hay  báo Nhân Dân 1978 (bài thơ Nón bài thơ và Hương đất cao Nguyên); Văn Nghệ Quân đội năm 1985 ( bài Ba mươi sáu dây đàn), Thơ hay 5 năm Tạp chí Sông Hương ( chùm thơ: Tìm tôi tìm Huế , Người bán mặt nạ, Miên man đêm Đồng Hới ).v.v.

– Giải thưởng cuộc thi sáng tác thơ ĐÂY BIỂN VIỆT NAM với bài thơ Nghe trẻ hát ở Trường Sa, 3-2012, do báo VietNamNet và Hội Nhà văn tổ chức.

 

 

 

 

Advertisements

Chuyên mục

%d bloggers like this: