Tiến sĩ Phạm Đăng Khánh.
Tiến sĩ Phạm Đăng Khánh.

Chàng lao công gốc Việt trở thành khoa học gia không gian vũ trụ của Mỹ

Tiến sĩ Phạm Đăng Khánh.

Trà Mi-VOA

Một thanh niên làm lao công cho các cửa hàng trong những khu mua sắm khi sang Mỹ tỵ nạn trở thành một nhà khoa học không gian vũ trụ của Trung tâm Thí nghiệm Nghiên cứu Không quân Hoa Kỳ sau 25 năm miệt mài vượt khó vươn lên.

Đó là câu chuyện thành công của Tiến sĩ Phạm Đăng Khánh, cháu nội đích tôn của sử gia nổi tiếng Phạm Văn Sơn và là cháu ngoại của nhà thơ lừng danh một thời Bàng Bá Lân.

Đến Mỹ năm 1991 theo diện HO vì bố mẹ là cựu tù nhân chính trị từng làm việc cho chính phủ Mỹ trước năm 1975, chàng thanh niên 19 tuổi quyết tâm theo đuổi ‘giấc mơ Mỹ’, phấn đấu tiến thân bằng con đường học vấn. (Đọc tiếp…)

THƯ GIÃN CUỐI TUẦN

Sự dữ dội trong tranh khỏa thân thời Phục Hưng

Mỹ thuật Phục Hưng là một trong những đỉnh cao của lịch sử mỹ thuật. Thời đó, những họa sỹ thiên tài đã đưa ra cái nhìn hoàn toàn mới mẻ về tiêu chuẩn thẩm mỹ, theo đó, họ tôn sùng vẻ đẹp tự nhiên của cơ thể con người.

Ở thời kỳ này, những truyền thuyết, thần thoại Hy Lạp – La Mã bắt đầu sống dậy và trở thành suối nguồn sáng tạo cho các tác phẩm hội họa. Để phản ánh sự yếu đuối, mỏng manh của con người, các họa sĩ Phục Hưng thường để nhân vật trong tranh lộ nguyên phần xác.

Đối với nghệ thuật Phục Hưng, khỏa thân bỗng trở thành tâm điểm của sáng tạo nghệ thuật, gợi nhớ về một thuở con người sống rất “thiên nhiên”.

Danh họa người Ý Michelangelo (1475-1564)

Sự dữ dội trong tranh khỏa thân thời Phục Hưng
Bức “Leda and the Swan” (Leda và thiên nga) vẽ năm 1530, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia, London, Anh.

Khi đã ngoài 50 tuổi, Michelangelo công khai mình đồng tính. Ông dũng cảm viết những bài thơ tình dành tặng một thanh niên quý tộc đẹp trai. Ở thời đó, người ta có thể bị thiêu chết vì đồng tính. Trong bức tranh này, nàng Leda của ông có khuôn mặt khá… nam tính.

Danh họa người Ý Leonardo da Vinci (1452-1519)

Sự dữ dội trong tranh khỏa thân thời Phục Hưng
Bức “Leda and the Swan” (Leda và thiên nga) vẽ năm 1515-1520, trưng bày tại Triển lãm Uffizi, Florence, Ý.

Leonardo cho rằng phản ánh dục vọng là sứ mệnh vĩ đại của nghệ thuật. Ông từng viết: “Mỹ thuật siêu đẳng hơn thi ca bởi nếu thi ca chỉ có thể miêu tả tình yêu thì mỹ thuật khắc họa tình yêu. Người họa sĩ châm lên ngọn lửa khao khát trong người xem”.

Sự dữ dội trong tranh khỏa thân thời Phục Hưng
Bức “Saint John the Baptist” (Thánh John làm lễ rửa tội) vẽ năm 1513-1516, trưng bày tại Bảo tàng Louvre, Paris, Pháp.

Đương thời Leonardo từng hai lần bị bắt vì tội “tằng tịu” với người đồng giới. Tuy vậy, ông chưa bao giờ bị kết án bởi những người tình của ông đều xuất thân quý tộc. Trong bức tranh này, người ta tin rằng Leonardo đang khắc họa một người tình của mình.

Danh họa người Ý Raphael (1483-1520)

Bức “The Fornarina” (Nàng Fornarina) vẽ năm 1518, trưng bày tại lâu đài Palazzo Barberini, Rome, Ý.
Bức “The Fornarina” (Nàng Fornarina) vẽ năm 1518, trưng bày tại lâu đài Palazzo Barberini, Rome, Ý.

Trong bức họa là người tình của Raphael – nàng Fornarina. Chính vì vẻ đẹp này mà ông đã sớm qua đời ở tuổi 37 vì một lần “quá sức”.

Danh họa người Hà Lan Rembrandt (1606-1669)

Bức “The Fornarina” (Nàng Fornarina) vẽ năm 1518, trưng bày tại lâu đài Palazzo Barberini, Rome, Ý.
Bức “Portrait of Hendrickje Stoffels” (Chân dung Hendrickje Stoffels) vẽ năm 1654-1656, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia, London, Anh.

Khi Rembrandt thực hiện bức tranh này, người tình của ông cũng đồng thời là nhân vật nữ trong tranh đang gặp rắc rối với nhà thờ vì bị kết án là một “phụ nữ dễ dãi”. Nàng Hendrickje chuyển về sống với Rembrandt dù họ không kết hôn. Bức tranh này đã thể hiện tình yêu sâu sắc mà Rembrandt dành cho người tình, nó lột tả cả vẻ đẹp nhan sắc và nội tâm của nàng.

Bức “The Fornarina” (Nàng Fornarina) vẽ năm 1518, trưng bày tại lâu đài Palazzo Barberini, Rome, Ý.
Bức “A woman bathing in a stream” (Người phụ nữ tắm suối) vẽ năm 1654, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia, London, Anh.

Lại một bức tranh khác mà Rembrandt vẽ nàng Hendrickje Stoffels. Nàng trở thành người tình của ông sau khi vợ của Rembrandt qua đời. Ông không thể kết hôn với Hendrickje, bởi việc kết hôn này sẽ tước quyền thừa kế tài sản từ vợ ông. Kinh tế của Rembrandt khá bấp bênh và ông không thể từ bỏ quyền thừa kế. Sau này, Rembrandt vẫn bị phá sản vì ông đầu tư quá nhiều vào trang phục cho người mẫu cũng như sưu tầm quá nhiều tranh.

Danh họa người Ý Agnolo Bronzino (1503-1572)

Bức “The Fornarina” (Nàng Fornarina) vẽ năm 1518, trưng bày tại lâu đài Palazzo Barberini, Rome, Ý.
Bức “An Allegory with Venus and Cupid” (Biểu tượng thần Vệ Nữ và thần Tình Yêu) vẽ năm 1545, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia, London, Anh.

Bronzino là người đồng tính. Đương thời, ông chung sống với người bạn đời làm nghề sản xuất binh khí. Khi người tình qua đời, Bronzino đã lãnh trách nhiệm chăm sóc cho gia đình của người đàn ông kia.

Tranh của Bronzino nhấn mạnh vẻ đẹp hình thể và những khoái lạc của con người. Bức họa trên là món quà mà tòa án tối cao của Cộng hòa Florence tặng nhà vua Pháp. Tác phẩm này đã truyền cảm hứng và sự mạnh dạn cho nhiều họa sĩ Pháp sáng tạo nên những tác phẩm đậm màu dục vọng.

Danh họa người Ý Tiziano Vecelli (1490-1576)

Bức “The Fornarina” (Nàng Fornarina) vẽ năm 1518, trưng bày tại lâu đài Palazzo Barberini, Rome, Ý.
Bức “The Venus of Urbino” (Vệ Nữ của tỉnh Urbino) vẽ năm 1536-1538, trưng bày tại Triển lãm Uffizi, Florence, Ý.

Một người bạn của họa sĩ Tiziano từng viết một lá thư tay, trong đó đề cập tới tình hình sức khỏe của Tiziano như sau: “Sức khỏe của Tiziano tốt nhưng đôi khi rơi vào trạng thái kiệt sức vì sau khi thực hiện những bức tranh tuyệt đẹp về phụ nữ, Tiziano thường “yêu” luôn mẫu”. Điều này đã lý giải tại sao những bức tranh của Tiziano luôn chân thực, sống động và thể hiện khát khao mạnh mẽ đối với cái đẹp.

Bức “Danae” (Nàng Danae) vẽ năm 1544 – 1545, trưng bày tại Bảo tàng Capodimonte, Naples, Ý.
Bức “Danae” (Nàng Danae) vẽ năm 1544 – 1545, trưng bày tại Bảo tàng Capodimonte, Naples, Ý.

Nàng Danae của thần thoại Hy Lạp đang ngẩng đầu lên nhìn thần Dớt đến tự tình với cô trong hình dáng một cơn mưa vàng.

Bức “Danae” (Nàng Danae) vẽ năm 1544 – 1545, trưng bày tại Bảo tàng Capodimonte, Naples, Ý.
Bức “Diana and Actaeon” (Diana và Actaeon) vẽ năm 1556 – 1559, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia, London, Anh.

Bức tranh kể lại một truyền thuyết Hy Lạp: tráng sĩ Actaeon đi săn trên núi, tình cờ nhìn thấy nữ thần Diana tắm. Actaeon liền bị Diana biến thành một con hươu. Chàng bị chính đàn chó săn của mình xẻ thịt. Đó là cái giá phải trả cho thói tò mò, mạo phạm tới thần linh của Actaeon.

Bức “Danae” (Nàng Danae) vẽ năm 1544 – 1545, trưng bày tại Bảo tàng Capodimonte, Naples, Ý.
Bức “Saint Mary Magdalene” (Thánh Mary Magdalene) vẽ năm 1535, trưng bày tại Triển lãm Palatina, cung điện Pitti, Florence, Ý.

Danh họa người Ý Palma Vecchio (1480-1528)

Bức “Danae” (Nàng Danae) vẽ năm 1544 – 1545, trưng bày tại Bảo tàng Capodimonte, Naples, Ý.
Bức “A Blonde Woman” (Một phụ nữ tóc vàng) vẽ năm 1520, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia, London, Anh.

Bức chân dung khắc họa một gái điếm ở Venice. Dấu hiệu để nhận biết những cô gái này là trên tay họ luôn cầm một bó hoa. Đặc điểm này sinh ra từ một truyền thuyết La Mã, theo đó gái điếm được bảo vệ bởi nữ thần Cây cỏ.

Danh họa người Ý Antonio Correggio (1489-1534)

Bức “Danae” (Nàng Danae) vẽ năm 1544 – 1545, trưng bày tại Bảo tàng Capodimonte, Naples, Ý.
Bức “Jupiter and Io” (Thần Dớt và nàng Io) vẽ năm 1539, trưng bày tại Bảo tàng Kunsthistorisches, Vienna, Áo.

Các họa sĩ Phục Hưng đặc biệt thích khắc họa chuyện yêu đương của thần Dớt. Trong các truyện thần thoại cổ xưa, thần Dớt thường ngụy trang, biến hóa khôn lường để có thể tự tình với phụ nữ mà không bị vợ ngài – nữ thần Hera phát hiện ra. Khi ở bên nàng Io, ngài hóa thành sương mù.

Danh họa người Đức Lucas Cranach (1472-1553)

Bức “Danae” (Nàng Danae) vẽ năm 1544 – 1545, trưng bày tại Bảo tàng Capodimonte, Naples, Ý.
Bức “Cupid Complaining to Venus” (Thần Tình Yêu làm nũng thần Vệ Nữ) vẽ năm 1525, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia, London, Anh.

Thần Vệ Nữ trong tranh Lucas Cranach rất thanh mảnh – một “chuẩn đẹp” khá mới so với quan niệm đương thời.

 

 

Danh họa người Ý Sandro Botticelli (1445-1510)Bức “Danae” (Nàng Danae) vẽ năm 1544 – 1545, trưng bày tại Bảo tàng Capodimonte, Naples, Ý.
Bức “Venus and Mars” (Thần Vệ Nữ và thần Chiến Tranh) vẽ năm 1485, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia, London, Anh.

Vẻ đẹp của thần Vệ Nữ đã ru ngủ thần Chiến Tranh. Sắc đẹp có thể khiến mọi sức mạnh dù tàn bạo nhất phải ngã gục. Vì vậy, người ta thường nói cái đẹp cứu thế giới.

Danh họa người Hà Lan Gerrit van Honthorst (1592-1656)

Bức “Saint Sebastian” (Thánh Sebastian) vẽ năm 1623, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia, London, Anh.
Bức “Saint Sebastian” (Thánh Sebastian) vẽ năm 1623, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia, London, Anh.

Bức tranh kể lại chuyện Thánh Sebastian bị bắn chết vì đi theo đạo Thiên Chúa. Trong tác phẩm này, Honthorst thể hiện rõ nét phong cách của mình: sự đối lập mạnh mẽ giữa ánh sáng và bóng tối.

Danh họa người Ý Guido Reni (1575-1642)

Bức “Saint Sebastian” (Thánh Sebastian) vẽ năm 1623, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia, London, Anh.
Bức “Saint Sebastian” (Thánh Sebastian) vẽ năm 1620-1630, trưng bày tại Triển lãm Dulwich, London, Anh.

Các nhà phê bình mỹ thuật rất giỏi “bắt mạch” đời sống tình cảm của họa sĩ qua tranh. Đối với trường hợp của Honthorst và Reni, họ cùng thực hiện hai bức tranh về Thánh Sebastian. Các nhà phê bình nhận định rằng, ở cả hai tác phẩm, họ đều thấy sự khao khát mạnh mẽ của họa sĩ đối với chính nhân vật mà họ tạo nên.

Anh em họa sĩ người Ý Antonio và Piero del Pollaiolo

Bức “Saint Sebastian” (Thánh Sebastian) vẽ năm 1623, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia, London, Anh.
Bức “The Martyrdom of Saint Sebastian” (Hành quyết Thánh Sebastian) vẽ năm 1475, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia, London, Anh.

Thời Phục Hưng, người ta thường gọi những người đồng tính là “Florenzer” (Người ở thành Florence, Ý). Có từ lóng này là bởi các họa sĩ phương Tây đương thời thích tới Florence sống. Rất nhiều người trong số họ đồng tính khiến chính quyền thành phố quyết định thành lập một ban chuyên trách, phát hiện, xử lý những người đàn ông đồng tính. Bức tranh này đã ngầm phản ánh nỗi lo sợ của các họa sĩ trước sự khắc nghiệt của luật pháp đương thời.

Danh họa người Ý Giorgione Castelfranco (1477-1510)

Bức “Laura” (Nàng Laura) vẽ năm 1506, trưng bày tại Bảo tàng Kunsthistorisches, Vienna, Áo.
Bức “Laura” (Nàng Laura) vẽ năm 1506, trưng bày tại Bảo tàng Kunsthistorisches, Vienna, Áo.

Giorgione đương thời nổi tiếng là họa sĩ đào hoa, đẹp trai. Ông chơi đàn luýt rất hay và thường lấy món tài lẻ này để quyến rũ phụ nữ. Ông chinh phục được những người đẹp nổi tiếng ở Venice và thường thuyết phục họ làm mẫu cho các bức vẽ của mình. Đây là một trong những người tình của ông.

Bức “The Tempest” (Giông tố) vẽ năm 1505-1508, trưng bày tại Triển lãm Accademia, Florence, Ý.
Bức “The Tempest” (Giông tố) vẽ năm 1505-1508, trưng bày tại Triển lãm Accademia, Florence, Ý.

Venice là thành phố của tình yêu và sự nghiệt ngã. Những cô gái điếm hết thời có cuộc sống hết sức bi đát.

Danh họa người Pháp Francois Clouet (1510-1572)

Bức “The Tempest” (Giông tố) vẽ năm 1505-1508, trưng bày tại Triển lãm Accademia, Florence, Ý.
Bức “A Lady in her Bath” (Quý bà đang tắm) vẽ năm 1571, trưng bày tại Triển lãm Mỹ thuật Quốc gia, Washington DC, Mỹ.

Những quý bà thượng lưu ở Pháp đương thời có “mốt” vẽ tranh chân dung khỏa thân. Người phụ nữ trong tranh là Diane de Poitiers, người tình của vua Henry II của Pháp. Khi nhà vua lên ngôi năm 27 tuổi, Diane đã 48 tuổi nhưng bà vẫn có vẻ đẹp vô song.

Danh họa người Đức Peter Paul Rubens (1577-1640)

Bức “The Tempest” (Giông tố) vẽ năm 1505-1508, trưng bày tại Triển lãm Accademia, Florence, Ý.
Bức “The Little Fur” (Chiếc áo lông) vẽ năm 1630, trưng bày tại Bảo tàng Kunsthistorisches, Vienna, Áo.

Bức chân dung khắc họa nàng Helena Fourment – vợ của Rubens. Họ kết hôn vào năm 1630 khi Helena 16 và Rubens 53 tuổi.

Danh họa người Ý Paris Bordone (1500-1571)

Bức “The Tempest” (Giông tố) vẽ năm 1505-1508, trưng bày tại Triển lãm Accademia, Florence, Ý.
Bức “Venetian Women at their Toilet” (Những cô gái Venice điểm trang) vẽ năm 1545, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia Scotland, Edinburgh, Anh.

Tại Venice ở thế kỷ 16 có tới 20.000 gái điếm. Trong tranh là hai cô gái đang thay đồ và trang điểm, người phụ nữ đội khăn xanh là một mụ tú bà.

Danh họa người Ý Tintoretto (1518-1594)

Bức “The Tempest” (Giông tố) vẽ năm 1505-1508, trưng bày tại Triển lãm Accademia, Florence, Ý.
Bức “Leda and the Swan” (Leda và thiên nga) vẽ năm 1555, trưng bày tại Triển lãm Uffizi, Florence, Ý.

( nGUỒN: iNTERNET)

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 27.06.2015

TRANG THƠ NGƯỜI ĐẸP-Chùm thơ Minh Đan

Minh Đan

TRANG THƠ NGƯỜI ĐẸP-Chùm thơ Minh Đan

Em coi thường bọn đàn ông

QTXM- Minh Đan quê Bình Định, tự gọi mình là Lọ Lem đất võ.Thơ Minh Đan thảng thốt mà cứng cỏi, như tình tình của chị…

 MINH ĐAN

 SÀI GÒN MƯA
Nhổ nắng đi rồi
Sài Gòn chỉ còn những buổi chiều ươn ướt
Con đường quen tên dỗi hờn 
Bế thốc tiếng cười di trú

Cầm mưa 
Nghĩ về đứa trẻ 
Tiếng khóc thành sông, tiếng gào thành sấm
Lụt ở đáy lòng
Công viên Lê Văn Tám chật một chỗ nằm
Em trải đời vui bên thảm cỏ
Sũng ướt nụ cười
Sũng ướt hi vọng
Sũng ướt vầng trăng mùa hạ
Sự ấm bỗng thành điều khao khát lớn 

Cầm tập thơ thơm tay
Nghĩ về đồng xu lẻ
Ước mỗi câu chữ mua được ổ bánh mì cầm hơi
Dỗ dành em phút đói lòng, khát nước
Ước mỗi bản thảo gói được nắm xôi niềm tin của ngày mai
Thả vào ngón tay em hạt đơm nóng hổi 

Cầm mọi thứ trên đời
Sợ hãi nhiều hơn khát vọng
Tôi cầm lòng mình đi qua bão, sóng thần bằng câu thơ lóng ngóng:
“Sài Gòn thật như chiêm bao?” (Đọc tiếp…)

NM& nhà văn Võ Thị Xuân Hà ĐH 8

Nhân đại hội nhà văn lần thư IX  ( 7-2015)

Đại hội nhà văn IV cuối 1989:Phái vui tươi và phái hằm hằm.

VƯƠNG TRÍ NHÀN/ vtn blog

 ( Ghi chép của một nhà văn Việt Nam ở Liên Xô tên Ph.)

  Moskova đầu năm 89

  18/5

 Định xin phép sứ quán về Hà Nội dự Đại Hội nhà văn, rồi lại không xin nữa. Lúc đau quá, tôi nghĩ cái Hội nhà văn ấy, bây giờ gợi ra hình ảnh một đống đổ nát, ở đó, có những thứ người ta đáng còn dùng được mà đã vứt đi, và toàn bộ thì không ra hình thù gì nữa. (Đọc tiếp…)

 TIN KHẨN:Trung Quốc đưa trứng gà giả có nhiễm HIV vào Việt Nam?

 

 

 

Hãy lên tiếng ..vì bạn và cộng đồng người Việt chúng ta
Trung Quốc đang đưa vaò VN một loại trứng gà giả được làm bằng cao su bên trong chứa HIV Dương Tính .và số trứng này đang tràn vaò miền Bắc nước ta rất nhanh chóng.
Với những điểm đầy nghi vấn như: “Trứng không có mùi tanh. Đầu lòng đỏ có sợi xoắn, giống như là đầu màng nilon bọc lòng đỏ được xoắn lại. Để lâu bên ngoài sẽ xuất hiện đỉa.
Hãy ” Chia sẻ ” bài viết này và Tag những người thân,bạn bè của bạn vào, để mọi người thấy hết được sự tàn ác của Trung Quốc.
Sẽ giúp cho người thân Bạn bè của bạn biết mà phòng tránh đấy. 1 click thôi,3s nhưg bạn cứu được khá nhjều người.

( Nguồn: Nhà văn TNV cung cấp qua Email)

QTXM-Quý vị đọc và suy nghĩ xem, nếu việc này xẩy ra tại VN, người phụ nữ kia sẽ bị buộc vào tội gì? Vì ở VN, không có tội “khiếm nhã”!
 

  TỔNG THÔNG OBAMA KHIẾN NGƯỜI PHỤ NỮ PHÁ BĨNH PHẢI CÂM LẶNG

Tổng thống Obama nói rằng hành động của người phụ nữ là ‘khiếm nhã’ rồi yêu cầu an ninh đưa bà ra khỏi phòng.

   Tổng thống Mỹ Barack Obama thường phớt lờ những người cố tình làm gián đoạn các cuộc xuất hiện trước công chúng của ông, nhưng trong buổi tiếp tân ở Nhà Trắng hôm qua, ông đã “bật lại”. (Đọc tiếp…)

TỰ DO THÔNG TIN: NỀN TẢNG CHO MỘT XÃ HỘI MINH BẠCH

Thái Thanh ghi

Thông tin đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống bởi nó liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người dân trong mọi lĩnh vực. Thông tin đồng thời cũng là “ô-xi của nền dân chủ”, như khẳng định của Chiến dịch Toàn cầu về Quyền tự do ngôn luận. Tự do thông tin – bao gồm tự do tìm kiếm, lưu giữ, truyền đạt và sử dụng thông tin dưới mọi hình thức – được coi là một trong những quyền cơ bản của con người. (Đọc tiếp…)

 NÓI THÊM VỀ CUỐN GIÁO TRÌNH CỦA TIẾN SĨ HOÀNG THỊ HUẾ

Ngô Minh

Bạn đọc thân mến.  Ngày 24/6, QTXM đã công bố ngừng việc trao đổi về cuốn giáo trình VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI GIAI ĐOẠN 1930-1945 của cô giáo-tiến sĩ Hoàng Thị Huế ở Đại học Sư phạm Huế, vì mọi sự đã sáng tỏ. Nhưng hiện có quá nhiều bạn đọc quan tâm, thắc mắc.Nên NgôMinh xin nói thêm đôi lời. Trong comment của mình, bạn Nguyễn Văn Tính thắc mắc:” Sao nhà thơ Ngô Minh dừng lại chuyện bàn luận he? Chuyện giáo trình ở một trường đại học quan trọng như vậy mà? Quà mưa xứ Huế ( xin lỗi QUÀ TẶNG XỨ MUA chứ không phải QUÀ MƯA XỨ HUẾ-NM) phải để cho mọi người đưa ra ý kiến chớ?”. Thiết nghĩ mọi việc đã rõ như ban ngày, in các bài trao đổi nữa sẽ lặp lại. Vấn đề là Ông Hiệu trưởng Đại học Sư phạm Huế sẽ xử lý như thế nào về cuốn giáo trình này, cho hủy hay bắt sữa chữa lại cho hoàn chỉnh, mà thôi. (Đọc tiếp…)

Khảo sát: Người Việt Nam ngả mạnh về Mỹ, quay lưng với Trung Quốc

VOA Tiếng Việt

Một cuộc khảo sát toàn cầu mới cho thấy người Việt Nam tiếp tục có quan điểm rất tích cực về hình ảnh và vai trò của Mỹ trên thế giới, trong khi thái độ tiêu cực về Trung Quốc ít thay đổi và thậm chí xấu đi.

Trung tâm Nghiên cứu Pew hôm thứ Ba công bố báo cáo về cuộc khảo sát quan điểm toàn cầu về Mỹ, Trung Quốc, sự cân bằng quyền lực quốc tế, và một số vấn đề chính yếu ở châu Á. Cuộc khảo sát được thực hiện thông qua 45.435 cuộc phỏng vấn trực tiếp hoặc qua điện thoại ở 40 quốc gia từ cuối tháng 3 tới cuối tháng 5 năm nay. 1000 người Việt Nam được Pew phỏng vấn trực tiếp.
Thiện cảm với Mỹ
78 phần trăm người Việt Nam được khảo sát cho biết họ có cái nhìn tích cực về nước Mỹ, tăng hai điểm phần trăm so với năm 2014, trong khi chỉ có 13 phần trăm nói điều ngược lại. Quan điểm này tương đồng với đa số những nước mà Pew khảo sát, cho thấy Mỹ được quốc tế nhìn nhận với thái độ phần lớn là tích cực, 69 phần trăm.
Đại bộ phận giới trẻ Việt Nam có thiện cảm với Mỹ với 88 phần trăm những người trong độ tuổi từ 18-29 cho biết như vậy. Với nhóm tuổi 30-49 thì tỉ lệ này là 77 phần trăm và 64 phần trăm cho thế hệ từ 50 tuổi trở lên. Việt Nam là nước có cách biệt thế hệ lớn thứ hai trong tất cả những nước được khảo sát về quan điểm tích cực đối với Mỹ. Nước đứng đầu là Trung Quốc.
Ngoài ra, phần đông người Việt Nam cho rằng Mỹ là nước tôn trọng những quyền tự do cá nhân (79 phần trăm), bày tỏ sự tin tưởng cao đối với Tổng thống Barack Obama về những vấn đề quốc tế (71 phần trăm), và ủng hộ cuộc chiến chống Nhà nước Hồi giáo do Mỹ lãnh đạo (55 phần trăm).
Dư luận thế giới không đồng tình với những phương pháp thẩm vấn mà Mỹ sử dụng đối với những nghi phạm khủng bố sau những vụ tấn công ngày 11 tháng 9 năm 2001 bị nhiều người coi là tra tấn. Dù vậy 43 phần trăm người Việt Nam cho rằng những phương pháp này là hợp lý so với 36 phần trăm có quan điểm ngược lại.
Nói ‘không’ với Trung Quốc
Trung Quốc nhìn chung nhận được đánh giá tích cực từ cộng đồng quốc tế, tuy nhiên Nhật Bản và Việt Nam là hai nước nổi bật trong cuộc khảo sát vì có quan điểm rất tiêu cực về Trung Quốc với tỉ lệ lần lượt là 89 và 74 phần trăm. 19 phần trăm người Việt Nam có quan điểm tích cực về Trung Quốc, cao hơn năm ngoái 3 điểm phần trăm.
Tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc và các nước láng giềng ở Biển Đông Trung Hoa và Biển Đông, và những hành động quyết liệt của nước này nhằm khẳng định chủ quyền, dường như là một trong những nguyên nhân dẫn tới quan điểm tiêu cực này. Đáng lưu ý là 54 phần trăm người Philippines, nước cũng vướng vào tranh chấp lãnh hải căng thẳng với Trung Quốc, có quan điểm tích cực về Trung Quốc so với 43 phần trăm tiêu cực.
Việt Nam, Nhật Bản, Philippines là ba nước thể hiện mạnh mẽ nhất quan điểm Trung Quốc sẽ không bao giờ thay thế Mỹ trong vai trò siêu cường thế giới. 50 phần trăm người Việt Nam nói rằng hiện giờ Mỹ mới là cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới trong khi chỉ có 14 phần trăm nói đó là Trung Quốc.
Trung Quốc bị đánh giá kém về vấn đề nhân quyền với nhìn nhận tiêu cực nhất đến từ các nước phương Tây, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia. 53 phần trăm người Việt Nam có cùng quan điểm này.
Đồng lòng về TPP
Chiến lược chuyển trọng tâm về châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ nhận được sự quan tâm rất lớn của các nước trong khu vực với hai cột trụ chính yếu là thỏa thuận thương mại tự do Quan hệ Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) với 11 nước và những cam kết quân sự của Mỹ với các đồng minh ở châu Á.
Việt Nam dẫn đầu 12 nước đối tác TPP về tỉ lệ ủng hộ với 89 phần trăm người được khảo sát nói rằng thỏa thuận thương mại này là điều tốt, và chỉ có 2 phần trăm cho rằng không tốt. Khảo sát của Pew cho thấy tuyệt đại đa số (95 phần trăm) thanh niên Việt Nam từ 18 tới 29 tuổi ủng hộ đất nước gia nhập TPP trong khi tỉ lệ ủng hộ ở hai nhóm tuổi còn lại cũng rất cao, 86 và 87 phần trăm. 69 phần trăm người Việt Nam đề cao thắt chặt quan hệ kinh tế với Mỹ trong khi với Trung Quốc là 18 phần trăm và 4 phần trăm với cả hai nước.
Về quan hệ với Trung Quốc, gần ba phần tư người Việt Nam cho rằng cứng rắn với Trung Quốc về tranh chấp lãnh thổ quan trọng hơn là có mối quan hệ kinh tế mạnh mẽ với nước này (17 phần trăm). Đây có thể là lý do quan trọng giải thích vì sao tới 71 phần trăm người Việt Nam hoan nghênh Mỹ tập trung nguồn lực quân sự về khu vực châu Á.
Xem chi tiết kết quả cuộc khảo sát của Pew tại đây.

 

Mỹ yêu cầu Việt Nam giảm bớt lệ thuộc vào nguyên liệu từ TQ

alt

Công nhân dệt may tại nhà máy may mặc ở Gia Hưng, tỉnh Chiết Giang.

Tin liên hệ

altBáo cáo mới cho thấy người Việt Nam có quan điểm rất tích cực về Mỹ và mong muốn thắt chặt quan hệ với nước này thay vì Trung Quốc 
24.06.2015
Nhằm mục đích nâng đỡ các nhà xuất khẩu của Mỹ, Hoa Kỳ yêu cầu các nước gia nhập khu vực thương mại Thái Bình Dương hãy giảm thiểu hàng hoá nhập khẩu từ Trung Quốc.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 25.06.2015

NM và nhà thơ Nguyễn Ngọc Phú ở ĐH 8

ĐẠI HỘI NHÀ VĂN VUI ĐÁO ĐỂ

Ngô Minh

 Mỗi kì Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam đều để lại những kỉ niệm khó quên.  Tôi là nhà văn đã dự liên tục nhiều kỳ đại hội Hội Nhà Văn Việt Nam (4, 5, 6, 7,8). Đại hội 9 diễn ra từ ngày 9- 11/7/2015, đã có giấy mời. Như thế tôi đã dự 6 ĐH nhà văn. Nhiều chuyện vui lắm. Đối với tôi, ấn tượng nhất là Đại hội IV họp 6 ngày, từ 26/10 đến ngày 1/11/1989 tại Hội trường Ba Đình. Tôi đã ghi tốc ký đầy một cuốn sổ tay đầy. Dự kiến sẽ viết một cuốn sách, nhưng chưa viết được. Trong Đại hội này các nhà văn đã bàn nhiều chuyện rất nghiêm túc như:  không nên có một phương pháp sáng tác duy nhất, tự do sáng tạo, đổi mới văn chương, nghị quyết 05 của Bộ Chính trị về Văn hoá văn nghệ, về việc đổi mới của báo Văn Nghệ , tạp chí Sông Hương. Đại hội bầu trực tiếp Tổng thư ký Hội, quy định một người không giữ chức Tổng thư ký quá hai nhiệm kỳ, thông qua điều lệ mới v.v…Đại hội sôi nổi và căng thẳng giữa  2 phe “cấp tiến” và “bảo thủ” . Nhiều người Hà Nội đến trước Hội trường Ba Đình “biểu tình”, chờ các nhà văn nghỉ giải lao để gửi kiến nghị lên trên. Các bác xích lô Hà Nội thấy tôi đi bộ, đeo phù hiệu ĐH là mời ngồi lên xe về nhà khách Chu Văn An không lấy tiền vì nhà văn đổi mới…Nhân Đại hội Nhà văn IX sắp họp, tôi muốn kể những chuyện rất lạ, rất vui mà chỉ có Đại hội Nhà văn mới có. (Đọc tiếp…)

NM ở Vạn lý Trường thành

Trung Quốc dám làm những điều loài người không dám!

Hà Văn Thịnh

Những hành động càn rỡ, ngang ngược của nhà cầm quyền Trung Quốc (TQ) trong mấy tháng gần đây ở Biển Đông – xây dựng trái phép những công trình kiên cố quy mô lớn trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam, đã và đang đe dọa, thách thức nghiêm trọng nền độc lập của dân tộc Việt Nam! Rất cần phải cảnh báo rằng kinh nghiệm lịch sử cho thấy nhà cầm quyền TQ có “truyền thống” dám làm tất cả những gì người khác không dám. Không ý thức rõ vấn đề này, cứ để cho người TQ làm cái sự đã rồi thì tất cả đều đã muộn…
Để duy trì quyền lực, các hoàng đế TQ dám làm những điều mà không một người nào ở bất kỳ dân tộc nào, bất kể thời điểm nào có thể “nghĩ” ra. Sử ký Tư Mã Thiên cho biết tướng Tần là Bạch Khởi, theo lệnh của Tần Doanh Chính (tức tần Thủy Hoàng sau này) chôn sống một lúc 40 vạn hàng binh nước Triệu năm 228 tr.CN!

Đàn áp những người chống đối thì từ cổ chí kim không hiếm, thế nhưng, dùng xe tăng để nghiến nát sinh viên – cháu con của chính họ, thì chỉ có TQ là độc nhất vô nhị trên trái đất này.
“Đầu tư” cả cái thai trong bụng để sau này làm vua như cách Lã Bất Vi đã làm là chuyện không thể tìm ra cái tương tự trong sử sách nhân loại…
Kiên nhẫn khác thường là một trong những đặc tính nổi bật của TQ. Họ dám bỏ ra gần 100 năm để đục núi đá, làm nên pho tượng Phật ngồi cao gần 100m trên núi Nga Mi; dám bỏ ra gần 500 năm để xây Vạn Lý Trường Thành (VLTT)…. Tại sao không nghĩ rằng họ có thể bỏ ra 50 năm hay 100 năm để dần dần, từng chút một, gặm mòn, lấn chiếm hết đảo này đến đảo khác ở Biển Đông?
Bất chấp tốn kém về người và của, miễn… xong việc, là đặc tính thứ hai. Các nhà sử học ước tính, để xây VLTT, không ít hơn vài triệu người đã bỏ mạng. Để xây Di Hòa Viên, Từ Hy Thái Hậu “cho qua” toàn bộ kinh phí lẽ ra dành cho phát triển một hạm đội, miễn là bà ta được vui thú cuối đời. Không ít chuyên gia trên thế giới tính rằng chỉ riêng việc vận chuyển vật liệu để xây các công trình trên các đảo Gạc Ma, Huy Gơ (thuộc Trường Sa, Việt Nam) đã tốn nhiều tỷ USD. Hai đảo này nằm giữa Trường Sa: khỏi phải bàn về âm mưu dài lâu, nham hiểm của cách xây để cướp.
Dám làm mọi sự không tưởng nhưng vẫn làm được là đặc tính thứ ba. Từ thời cổ đại, Hán Vũ Đế (140-87 tr.CN) đã “mơ” giấc mơ kiềm chế… người Việt bằng cách ra lệnh cấm bán gia súc, gia cầm giống cái cho người Giao Chỉ(!?). Nói như thế để thấy ‘giấc mơ’ đè ép người Việt của chủ nghĩa Đại Hán đã có ít nhất từ 2.100 năm trước!
Gần đây nhất, chúng ta thấy TQ dám thành lập cái gọi là ‘thành phố Tam Sa”, trắng trợn gộp hai quần đảo của Việt Nam vào Đông Sa. Chưa có nước nào trên thế giới thành lập một thành phố mà nơi đầu đến chỗ cuối cách nhau cả ngàn cây số(!) Và, họ đang xây những tòa nhà cao đến 8 tầng để chứng minh rằng đó là thành phố?…
Không từ bất kỳ thủ đoạn nào, dẫu tàn ác, phi nhân, theo nguyên tắc “cứu cánh biện minh cho phương tiện” là đặc tính thứ tư.
Trên thế giới, không hiếm những chính quyền đàn áp dã man người dân nhưng dùng xe tăng để nghiến nát sinh viên như TQ đã làm là điều không ai dám! Cũng tương tự như thế, việc các triều đại “hy sinh” hàng triệu mạng sống để xây một công trình là điều chưa hề xảy ra trong lịch sử. VLTT là dẫn chứng điển hình.
Việc dẫu nhỏ, nhưng nếu cần để phô trương quyền lực thì TQ vẫn làm, là đặc tính thứ năm.
Ở Tử Cấm Thành có những tảng đá nguyên khối dài 11m, rộng 3,8 m (mà người viết bài này đã đo bằng thước dây), dày nghe đâu là 1m nặng hơn 200 tấn(!) để làm “lối đi” của hoàng đế Trung Hoa, được khai thác cách Bắc Kinh hàng chục km. Vua chẳng bao giờ đi trên tảng đá đó vì nó chạm hình rồng, đi là tai nạn.
Thế nhưng, TQ sẵn sàng đào một con kênh dài hàng chục km, dẫn nước vào, chờ mùa đông đóng băng để “chở” những tảng đá đó về bằng cách kéo trượt trên băng. Nói như thế để thấy rằng đừng nghĩ việc nhỏ, phi thực tế nhưng có ý nghĩa chính trị, đối ngoại xâu sa thì TQ vẫn làm…
Những khái quát trên đây chỉ mới là phần nổi dễ thấy của một tảng băng. Còn rất nhiều những sự kiện, những bài học chua xót mà loài người phải luôn cảnh giác từ nguy cơ Đại Hán. Một trong những bài học điển hình nhất là bài học về Nhà Thanh – người Mãn. Lúc đầu, Mãn Thanh định Mãn hóa người Hán nhưng về sau, họ đã tự Hán hóa một cách thụ động vì không thể thoát được những thủ đoạn tinh vi của người Hán. Đến nay, trong số hàng triệu người gốc Mãn, chỉ còn vài trăm người nói tiếng Mãn là “tấm gương” nhãn tiền về nguy cơ Hán hóa đối với bất kỳ dân tộc nào chịu ảnh hưởng trực tiếp và bị chi phối bởi TQ…
Chế Lan Viên đã có vần thơ rất hay: Hãy cảnh giác em ơi cảnh giác/ Nửa cái hôn phải tỉnh thức ngó quân thù… Thiết nghĩ, lời cảnh báo vẫn còn nguyên giá trị cho đến tận bây giờ…
Huế, 21.5.2015
H.V.T.

 

 

VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC VĨNH BIỆT GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ

  QTXM vô cùng xúc động và kính tiếc báo tin:

Giáo sư Tiến sĩ
TRẦN VĂN KHÊ
sinh 1921
Nguyên Giáo sư Đại học Sorbonne Paris,
Nguyên Giám đốc nghiên cứu (Directeur de recherche) Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp.Thành viên danh dự Hội đồng Quốc tế Âm nhạc (Unesco). Viện sĩ thông tấn Hàn Lâm viện châu Âu Khoa học, Văn chương, Nghệ thuật.
Đã từ trần hồi 020h55 ngày 24/06/2015 (tức ngày 09/05 Ất Mùi) tại bệnh viện nhân dân Gia Định (TP. Hồ Chí Minh) Hưởng thọ 94 tuổi.

TIỂU SỬ GS TRẦN VĂN KHÊ

Trần Văn Khê sinh ngày 24 tháng 7 năm Tân Dậu (1921) tại làng Đông Hòa, tổng Thuận Bình, tỉnh Mỹ Tho (nay là huyện Châu Thành, Tiền Giang) trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ, nên từ nhỏ ông đã làm quen với nhạc cổ truyền. Năm lên 6 tuổi ông đã được cô (Ba Viện) và cậu (Năm Khương) dạy đàn kìm, đàn cò, đàn tranh[2], biết đàn những bản dễ như “Lưu Thuỷ”, “Bình Bán vắn”, “Kim Tiền”, “Long Hổ Hội”. Ông nội ông là Trần Quang Diệm (Năm Diệm), cha ông là Trần Quang Chiêu (Bảy Triều), cô là Trần Ngọc Viện (tức Ba Viện, người đã sáng lập gánh cải lương Đồng Nữ ban), đều là những nghệ nhân âm nhạc cổ truyền nổi tiếng. Cụ cố ngoại ông là tướng quân Nguyễn Tri Phương. Ông ngoại ông là Nguyễn Tri Túc, cũng say mê âm nhạc, có ba người con đều theo nghiệp đờn ca[3]. Một trong số đó Nguyễn Tri Khương, thầy dạy nhạc và nhà soạn tuồng cải lương nổi tiếng. Riêng mẹ ông là Nguyễn Thị Dành (Tám Dành), sớm tham gia cách mạng, gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930 và bị thương rồi mất trong năm đó[4]. Cha ông vì thương nhớ vợ nên qua đời năm 1931. Ông có một người anh họ ngoại (con ông Nguyễn Tri Lạc) là nhạc sĩ Nguyễn Mỹ Ca[4].

 

Mồ côi từ rất sớm, mẹ mất năm 9 tuổi, cha mất năm 10 tuổi, nên ông cùng với hai em là Trần Văn Trạch (về sau là một ca sĩ nổi tiếng, có biệt danh Quái kiệt), Trần Ngọc Sương được cô Ba Viện nuôi nấng. Cô Ba Viện rất thương, cho anh em ông đi học võ, học đàn kìm.

Năm 10 tuổi, Trần Văn Khê đậu tiểu học, sang Tam Bình, Vĩnh Long nhờ người cô thứ năm nuôi. Đến đây Trần Văn Khê được học chữ Hán với nhà thơ Thượng Tân Thị. Trong kỳ sơ học năm 1934 tại Vĩnh Long được đậu sơ học có phần Hán Văn. Cả tỉnh chỉ có Trần Văn Khê và Nguyễn Trọng Danh được đậu bằng chữ Hán.

Năm 1934, ông vào trường Trung học Trương Vĩnh Ký, được cấp học bổng. Học rất giỏi, năm 1938 ông được phần thưởng là một chuyến du lịch từ Sài Gòn đến Hà Nội, ghé qua Phan Thiết, Đà Nẵng, Nha Trang, Huế. Nhờ đậu tú tài phần nhất năm 1940, thủ khoa phần nhì năm 1941, ông được đô đốc Jean Decoux thưởng cho đi viếng cả nước Campuchiaxem Chùa Vàng, Chùa Bạc tại Nam Vang, viếng Đế Thiên Đế Thích. Khi về Việt Nam, nhờ thầy Phạm Thiều giới thiệu, ông được Đông Hồ tiếp đãi, dẫn đi chơi trong một tuần.

Thời gian này, ông cùng Lưu Hữu Phước, Võ Văn Quan lập dàn nhạc của trường, và dàn nhạc của học sinh trong câu lạc bộ học sinh mang tên là Scola Club của hội SAMIPIC. Ông là người chỉ huy hai dàn nhạc đó.

Năm 1942, Trần Văn Khê ra Hà Nội học y khoa. Tại đây, cùng với Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Phan Huỳnh Tấng (nay đổi thành Phạm Hữu Tùng), Nguyễn Thành Nguyên, hoạt động trong khuôn khổ của Tổng hội Sinh viên. Do thể hiện một trình độ cảm nhạc xuất sắc, ông được cử làm nhạc trưởng của giàn nhạc trường, nhân giới thiệu những bài hát của Lưu Hữu Phước. Ông còn tham gia phong trào “Truyền bá quốc ngữ” trong ban của GS Hoàng Xuân Hãn, “Truyền bá vệ sinh” của các sinh viên trường Thuốc, và cùng các bạn Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng tổ chức những chuyến “đi Hội đền Hùng“, và đi viếng sông Bạch Đằng, Ải Chi Lăng, đền Hai Bà.

Năm 1943, ông cưới bà Nguyễn Thị Sương, và sau đó có nhiều sự kiện làm Trần Văn Khê phải xin thôi học để trở về miền Nam. Con trai ông là Trần Quang Hải, sinh năm 1944, sau này cũng là một nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc Việt Nam danh tiếng. Sau Cách Mạng Tháng Tám, ông tham gia kháng chiến một thời gian rồi về vùng Pháp kiểm soát cuối năm 1946.

Ông sang Pháp du học từ năm 1949. Hè năm 1951, ông thi đậu vào trường Chính trị Khoa giao dịch quốc tế. Cho đến năm 1958, ông theo học khoa nhạc học và chuẩn bị luận án tiến sĩ dưới sự chỉ đạo của các Giáo sư Jacques Chailley, Emile Gaspardone và André Schaeffner. Tháng 6 năm 1958, ông đậu Tiến sĩ Văn khoa (môn Nhạc học) của Đại học Sorbonne. Từ năm 1963, ông dạy trong Trung tâm Nghiên cứu nhạc Đông phương, dưới sự bảo trợ của Viện Nhạc học Paris (Institut de Musicologie de Paris). Ông là thành viên của Viện Khoa học Pháp, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm châu Âu về Khoa học, Văn chương và Nghệ thuật cũng như nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế khác; là Chủ tịch Hội đồng Khoa học của Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc bằng phương pháp đối chiếu của Đức (International Institute for Comparative Music Studies)[5].

Sau 50 năm nghiên cứu và giảng dạy ở Pháp, nay ông trở về sinh sống và tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc tại Việt Nam. Ông cũng là người đã hiến tặng cho Thành phố Hồ Chí Minh 420 kiện hiện vật quý, trong đó có nhiều loại nhạc cụ dân tộc và tài liệu âm nhạc.

Sau một thời gian bị bệnh, ông qua đời vào khoảng hai giờ sáng ngày 24 tháng 6 năm 2015 tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định, Thành phố Hồ Chí Minh.

 

Tàu sân bay Mỹ vào biển Đông

Thế giới ủng hộ chính sách của Mỹ ở Châu Á và Trung Đông

Một cuộc thăm dò mới cho thấy đa số dân chúng trên thế giới ủng hộ sự dịch chuyển quân sự của Mỹ sang Á Châu và chiến dịch quân sự do Mỹ lãnh đạo để chống lại Nhà nước Hồi giáo, hai nỗ lực hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Tòa Bạch Ốc.

Theo Trung tâm Nghiên cứu Pew, kết quả thăm dò ý kiến công chúng ở 40 quốc gia cho thấy sự đánh giá tổng quát đối với nước Mỹ tiếp tục có tính chất tích cực. 69% dân chúng thế giới bày tỏ quan điểm tích cực đối với nước Mỹ. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.06.2015

Mùi hiện sinh trong thơ Hoàng Vũ Thuật

Nhà thơ Hoàng Vũ Thuật

Mùi hiện sinh trong thơ Hoàng Vũ Thuật

TS. TRẦN HOÀI ANH

  QTXM- Theo TS Trần Hoài Anh, ” Với tập thơ Mùi, Hoàng Vũ Thuật là một trong không nhiều nhà thơ đã mang đến cho thơ ca hiện đại Việt Nam một cách nhìn khác về cuộc đời. Đó là một cái nhìn hiện thực như nó vốn có chứ không phải như nó phải có…”. Xin giới thiệu cùng bạn đọc bài viết rất hay, rất  đáng giá về thơ Hoàng Vũ Thuật hiện nay

  1. Không hiểu vô tình hay sự lựa chọn có ý thức, Hoàng Vũ Thuật mở đầu tập thơ Mùi(1) của mình với bài thơ “Chiếc ghế bỏ trống” viết tặng bạn anh, nhà viết kịch, với những câu thơ đong đầy ưu tư mà khi đọc lên và ngẫm ngợi ta không khỏi cảm thấy se sắt cõi lòng trước lẽ biến dịch của cuộc đời.

                                  rồi nắng tắt

                                  nặng trĩu đêm dày

                                  sóng bận rộn cuộc tình muôn thuở

                                  ngôi sao vụt sáng nỗi thèm khát

                                  anh nghe cuộc đời cựa quậy

                                  chỗ chiếc ghế bỏ trống.

                                                     (Chiếc ghế bỏ trống)

2. Đời vốn là sân khấu với những biến dịch khôn lường của thế sự. Ý tưởng này không mới, thậm chí cũ mòn. Song, cái mới ở đây là cách nhìn cuộc đời với những biến dịch đầy bi hài chỉ diễn ra “quẩn quanh” bên một “chiếc ghế bỏ trống”. Và cũng từ “chiếc ghế bỏ trống” này, những phận người nổi trôi, bồng bềnh, chìm đắm trong cõi u minh của lợi danh, lừa gạt, tị hiềm, giả dối, phi nhân… cứ thế mà “cựa quậy”, mà bày ra một cách “trần trụi” giữa cuộc đời. Và cứ thế, cuốn con người vào những bến mê của sự huyễn hoặc, của bi kịch phận người mà chủ nghĩa hiện sinh gọi đó là sự vong thân, sự tha hóa bản thể trong kiếp lưu đày của thân phận trước một thế giới đầy những buồn nôn… Và đây chính là mùi hiện sinh, một cảm thức chủ đạo tan chảy trong thơ Hoàng Vũ Thuật, cái mùi mà bằng sự cảm nhận tinh tế của một thi nhân luôn khắc khoải trước số phận con người, anh đã nhìn thấy sự “lây nhiễm” của nó đối với nhân tính, khi con người ngày càng tha hóa khủng khiếp trước quyền lực, dục vọng, tiền tài…

Mùi…

                    có thể viêm nhiễm sau cuộc giải phẫu

                    có thể mới ra đời đã biến mất

                    có thể từ trời cao đổ xuống từ dưới đất trồi lên

                     ….

                    mùi mưa mùi nắng mùi gió mùi cáu bẩn

                     mùi nguyên trinh

                    mùi kiệt quệ mùi phục sinh mùi mùa

                    mùi của mùi.

(Mùi)

Vì vậy, trong tận cùng tâm cảm, anh đau với nỗi đau của đồng loại khi con người bị cuốn vào vòng xoáy của thế sự đảo điên. Và câu hỏi nhà thơ tự vấn chính mình cũng là tự vấn tha nhân.

sao loài người

                           mê ngủ

                           hoài thai cùng đảo điên

                                      (Ngày mới)

Và những đảo điên của thế sự đã làm vỡ nát tâm hồn vốn rất dễ bị tổn thương của thi nhân khi anh nhận ra quá nhiều điều bất an của cuộc sống đang từng phút, giây hiển hiện như những hố thẳm chôn vùi nhân phẩm con người, đẩy con người vào những bi kịch có tên và không tên, được sơn phết bằng những mỹ từ “nằm ngoài chân lý” với những mớ “lý luận huyễn hoặc”, hoàn toàn xa lạ với những giá trị nhân bản của loài người.

 

                              tôi nhai nhạt nhẽo cuốn sách ngược nội dung

                              thuộc làu mỹ từ nằm ngoài chân lý

                              chữ nghĩa nhảy dây rười rượi màu son

                                                            (Hai ngày không tôi)

Không những thế, mùi hiện sinh trong thơ Hoàng Vũ Thuật còn thể hiện trong nhiều bài thơ nói về nỗi khổ đau phận người như sự ám ảnh của một tâm thức hiện sinh mà anh đã trải nghiệm từ “những điều trông thấy” trước nỗi “đau đớn lòng”. Và sự nghiệm sinh này là nhân tố giúp anh chuyển hóa hệ hình tư duy nghệ thuật thơ của mình, dũng cảm bứt phá, vượt thoát khỏi lối tư duy thơ ca minh họa để vươn đến chân trời mới, hệ hình mới với ý thức sáng tạo mới. Phải chăng, đây cũng là một giá trị cần được ghi nhận trong sự vận động của tư duy thơ Hoàng Vũ Thuật ở một số bài thơ gần đây mà tập thơ Mùi là một minh chứng. Bởi, với một nhà thơ “lớp trước” như anh, việc từ bỏ cái “ao tù” của tư duy thơ chật hẹp để vươn ra “biển lớn” là điều không dễ dàng, nếu nhà thơ không có ý thức tự lột xác mình. Chính điều này đã đưa anh đến với cảm thức hiện sinh, một cảm thức mang tính nhân văn sâu sắc, bởi nó luôn quan tâm đến số phận con người, với nỗi cô đơn bản thể, với sự mong manh, hư ảo của kiếp nhân sinh. Và với một trái tim “không ngủ yên”, trước đau thương của nhân quần, Hoàng Vũ Thuật đã thể hiện cảm thức hiện sinh trong thơ thật cảm động mà khi đọc lên ta không khỏi thấy lòng quặn thắt, đớn đau.

                                     những cánh tay chọc thủng gạch ngói

                                     những chiếc nón vẫy mưa

                                     những tiếng kêu đứt đoạn

                                     những hốc mắt đói nhìn

                                     mỏi mòn đêm tối

                                     kiệt quệ rạng ngày

                                       …

                                    mẹ thắp hương chờ

                                    những đứa con không trở lại

                                    những đứa con khát sữa gào lên khuya khoắt

                                    sạp giường lạnh tanh

                                    đôi vòng tay trơ rỗng

                                    sách vở trộn bùn đất

                                    rơm rạ trộn thây người

                                                  (Lá cứ hồn nhiên)

Vâng! “Lá cứ hồn nhiên”… Song, chẳng lẽ con người lại cứ mãi hồn nhiên trước nỗi đau của đồng loại!? Đó là những câu hỏi xuyên thủng lịch sử mà Hoàng Vũ Thuật đặt ra trong thơ. Bởi suy cho cùng, giá trị cao quí của thơ ca hay lịch sử không phải là sự biện minh cho một chủ thuyết nào chính là giá trị nhân văn, là sự quan tâm đến từng số phận con người được thể hiện trong đó.

                                      đôi khi ngoái về trái đất nhìn

                                      thác máu xối xả

                                      biển đen ngòm hoại tử

                                      những bóng câm lặng vật vờ 

                                      những vở tuồng chính trường châu lục

                                      những chém giết kinh hoàng 

                                      những trận động đất kép

                                                          (Hai ngày không tôi)

Đã một thời, thơ không chạm đến niềm đau, nỗi buồn. Thậm chí, những điều này bị xem như một cấm kỵ. Nhưng, nếu thơ không nói đến nỗi đau phận người vốn là căn tính của bản thể thì thơ có hoàn thành sứ mệnh của mình với thiên chức là sứ giả của cái đẹp để cứu rỗi con người hay không!?. Và như vậy, liệu thơ có còn cần cho con người, khi nó chỉ là những lời tụng ca sáo rỗng, vô nghĩa, cổ xúy cho những thứ ngụy tín hoàn toàn xa lạ với con người!? Hoàng Vũ Thuật ý thức rất rõ điều này nên mùi hiện sinh trong thơ anh thấm đẫm chất nhân bản sâu sắc là vì thế.

       đôi khi tôi nhớ ngày mẹ tôi ra trường đấu 

                               dượng tôi vỡ sọ sau loạt đạn người thân

                               anh tôi ngả xuống

                               chẳng kịp nhắn tin

                               chú tôi kháng chiến

                               một đi không trở lại 

                               thằng bạn họ Hoàng buồn bã

                                 ngày ngày

                               cúi lạy cô đơn

                                         (Hai ngày không tôi)

Và từ nỗi đau phận người, mùi hiện sinh trong thơ Hoàng Vũ Thuật còn biểu hiện ở nỗi cô đơn thận phận, ở khát vọng tự do trong các bài thơ: Chiếc ghế bỏ trống, Trước nhà thờ Đức Bà Pari, Trở về, Tự do, Buồn ơi, Bài thơ chưa viết… Ở những bài thơ này, nỗi cô đơn phận người luôn dày vò tâm cảm anh, cứa vào lòng anh những vết thương rỉ máu mà sự thấu cảm trước nỗi “cô độc” của Quasimodo, một “kỳ nhân” nhưng không “kỳ tâm” trong tiểu thuyết Nhà thờ Đức Bà Paris nỗi tiếng của Victor Hugo không khỏi làm ta nhói lòng.

                                  hai mươi tám vị tông đồ ngự trên tường cao

                                hai mươi tám cánh thiên thần

                                trắng muốt

                                tôi là thằng gù Quasimođo

                                đơn độc

                                kéo hồi chuông

                                hỡi những hồn oan bé nhỏ bây giờ nơi đâu.

                                                   (Trước nhà thờ Đức Bà Paris)

Hay sự thổn thức của niềm cô đơn bản thể hiển lộ qua cảm thức rỗng không ở các bài thơ: Hai ngày không tôi, Nàng biến đi trong gió, Rỗng... Và tận cùng của nỗi cô đơn là: cuộc chơi trốn tìm / tôi bắt được nàng / nhưng chỉ là cái bóng vô hình cái bóng chẳng nói / cái bóng đầy tôi /cái bóng của những khoảng trống / trong suốt (Nàng biến đi trong gió) Để rồi: đắng cay chồng hạnh phúc / con đường mới xuyên qua cuộc đời em lặng lẽ (Rỗng)

Song hành với nỗi cô đơn là nỗi khao khát tự do bản thể, một khát khao mà nhân loại luôn ngưỡng vọng. Và điều này được Hoàng Vũ Thuật nói đến trong thơ như một tuyên ngôn sống của anh và thế hệ anh mà một thời không được, hoặc không dám nói đến, dù chỉ trong thơ: hôm nay ngày cuối / bắt đầu một kiếp khác / tự do / ăn tự do ngủ tự do nói tự do làm tự do sống tư do (Người)

Tôi muốn chia sẻ cùng bạn đọc cái cảm thức tự do mà theo Hoàng Vũ Thuật là :“thông điệp của mọi thông điệp”. Và bài thơ Tự do, theo tôi là một tượng đài thiêng liêng của khát vọng tự do bản thể dựng lên bằng sự trải nghiệm cả một đời người qua bao đắng cay của thế cuộc mà thi nhân muốn gởi đến chúng ta.

                          tự do như chữ viết có mắt có chân

                         bay lên xuyên tường rào xuyên núi xuyên đất

                         đến và đi không biên giới

                           tự do vang trong ngôi nhà ấm áp tiếng cười trẻ thơ

                         nước từ chỗ cao xuống thấp

                         khát cần uống đói cần ăn

                          …

                        tự do thông điệp của mọi thông điệp

                        giản dị chân thành cuộc gặp không định trước

                        người nằm xuống tự do đứng lên.

                                                            (Tự do)

Nhận thức về tự do bản thể cũng là nhận thức được qui luật biến dịch của đời sống nên những suy niệm về sự hư ảo của kiếp người cũng là một phương diện thể hiện mùi hiện sinh trong thơ Hoàng Vũ Thuật ở các bài thơ: Viết cho một người bạn vừa treo cổ, Trà đạo, Không không phải, Ánh chớp, Nước, Lý giải... Cát bụi rồi cũng sẽ trở về cùng cát bụi. Không có cái gì trên đời này là miên viễn. Nếu ai đó tin rằng ở cõi trần còn có cái gì là vĩnh hằng thì chỉ là những ý nghĩ điên rồ huyễn hoặc của một thứ tư duy hoang tưởng. Ta hãy nghe Hoàng Vũ Thuật chia sẻ điều ấy trong thơ:

                  cái sống không mang nổi ý nghĩa thì cái sống chỉ là sợi dây

                  đánh đu cùng cái chết

                  anh đánh đu tất thảy mọi thứ trên đời

                   và

                  mọi thứ

                  không bao giờ thật cả.

                                    (Viết cho một người bạn vừa treo cổ)

Vâng! Mọi thứ “không bao giờ thật cả”!? Có những điều hôm nay là chân lý nhưng ngày mai lại là ngụy chân lý. Sự hoài nghi, phải chăng cũng là điều cần thiết cho cuộc sống mà nếu không có đủ độ chín của tư duy và chiều sâu tâm hồn, thi nhân không thể đặt ra trong thơ mình những tâm tưởng mang tính phản biện sâu sắc đến thế? Tôi rất thú vị với ý thức phản biện trong thơ Hoàng Vũ Thuật. Chính sự “lật trở” của một tư duy thơ luôn vận động đã làm nên một giá trị khác của thơ anh đó là tính triết luận. Và chính chất triết luận làm cho mùi hiện sinh trong thơ Hoàng Vũ Thuật có hương vị riêng, đầy quyến rũ. Ta hãy nghe anh lý giải về cái không “có thật” ở cuộc đời bằng cái nhìn thấm đẫm màu sắc hiện sinh qua sự chuyển dịch của hiện hữu:

                                          đám mây

                                      dạt vào khoảng không rồi tan biến

                                      để lại giọt nước trên mặt hồ

                                      sinh tử.

                                      bong bóng bước trong sương giá

                                      tin rằng

                                      vũ trụ trong lòng tay

                                      sự tàn lụi tín ngưỡng

(Lý giải)

Và chính vì sự dịch chuyển vô thường của hiện hữu, nên nhiều khi con người không lý giải nổi về sự hiện hữu của chính mình. Trong cái nhìn của triết học hiện sinh mọi hiện hữu đều phi lý và đây cũng là một phẩm tính của mùi hiện sinh trong thơ Hoàng Vũ Thuật qua những câu hỏi đầy trăn trở. Về đâu /dòng sông ngang qua đời / ta /không bọt / về đâu những con sóng vỗ chân cầu /đừng nói nữa / chiếc hộp trà đêm đêm /đối diện /dấu đi /thi thể ngàn năm / trôi / sóng truyền kiếp / chiều nay / dạt phía chân cầu. (Trà đạo) Và : Tôi phải làm gì / với sợi dây thời gian / căng chặt quanh người / đè nặng hơi thở cơn mê vòm ngực / trước đường biên / hữu hạn (Không không phải)

3. Để trả lời câu hỏi thơ là gì, mỗi nhà thơ có cách lý giải riêng. Và cách lý giải của Hoàng Vũ Thuật ở đây chính là cảm thức hiện sinh được thể hiện trong thơ anh với những dằn vặt, ưu lo trước số phận con người, là sự hoài nghi trước những phi lý đến buồn nôn của hữu thể. Thơ Hoàng Vũ Thuật, vì vậy, là thơ có Tính Người, một giá trị mà mọi nhà thơ chân chính đều hướng đến. Và nếu nói như Apollinaire: “Nhà thơ là kẻ tìm ra được hứng thú mới, dẫu hứng thú đó khó chịu đựng. Có thể thành nhà thơ ở mọi lĩnh vực: Miễn là thích phiêu lưu và đi khám phá” (2) thì Hoàng Vũ Thuật là nhà thơ như thế. Bởi, thi nhân đã không ngừng khám phá cuộc sống, khám phá chính mình để sáng tạo và chính điều này là căn cước cho sự tồn sinh của thơ anh trong cuộc đời cũng như trong tâm thức người tiếp nhận. Vì nói như Pierre Reverdy: “Thơ không ở trong cuộc đời, cũng chẳng ở trong sự vật – Thơ chính là cách sử dụng sự vật và cuộc đời, cùng là cái gì anh mang thêm vào cuộc đời và sự vật.” (3)

Với tập thơ Mùi, Hoàng Vũ Thuật là một trong không nhiều nhà thơ đã mang đến cho thơ ca hiện đại Việt Nam một cách nhìn khác về cuộc đời. Đó là một cái nhìn hiện thực như nó vốn có chứ không phải như nó phải có. Và đây là khởi nguyên để tạo nên cái mùi hiện sinh đầy nhân bản, một giá trị cần được khẳng định trong thơ Hoàng Vũ Thuật và thơ ca dân tộc hôm nay và mai sau…

Xóm Đình An Nhơn, Gò Vấp, tháng Giêng, Ất Mùi

Sài Gòn, 12.3.2015

 

Chú thích:

(1) Tập thơ Mùi của Hoàng Vũ Thuật, Nxb. Hội Nhà văn, H, 2014)

 (2), (3) Trần Hoài Anh, Thơ – Quan niệm và Cảm nhận, Nxb. Thanh niên, H, 2010, tr. 269, tr.270, tr.271

  Qua cuốn giáo trình của tiến sĩ Hoàng THị Huế, báo động với trình độ soạn giáo trình ở trường Đại học sư phạm Huế

 

   QTXM- Ngày 17/6/2015, chúng tôi cho in bài của Võ Văn Kha phê phán cuốn giáo trình văn học soạn cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm của cô giáo-tiến sĩ Hoàng Thị Huế, đến nay đã 8 ngày. Chúng tôi đã liên tục gửi đến bạn đọc bốn phương nhiều bài viết của các tác giả  phân tích, trao đổi, phân phán. Chỉ có một bài duy nhất của Lê Đức Quân là nói ngược lại, phản đối sự phê phán và đặt câu hỏi ” động cơ thực sự của Võ Văn Kha (?) ở đây là gì? Có phải là sự gài bẫy nham hiểm để báo tư thù không ?”. Kỳ này QTXM xin đăng tiếp bài viết của tác giả Nguyễn Phước Nhơn tiếp tục phân tích những yếu kém, bất cập của cuốn giáo trình và báo động về trình độ soạn giáo trình ở trường Đại học sư phạm Huế. Chúng tôi cũng nhận được nhiều comments của bạn đọc và nhiều điện thoại của độc giả phê phán cuốn giáo trình, kể cả điệnt hoại của một tờ báo muốn viết về việc này. Như thế là đã rõ. Giáo trình VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI GIAI ĐOẠN 1930-1945 của tiến sĩ Hoàng Thị Huế là cuốn giáo trình yếu kém nhiều mặt, từ câu chữ, nhận định đến lựa chọn tác giả, phương pháp biên soạn…Chúng tôi cho rằng giáo trình như thế không xứng đáng dùng để giảng dạy cho sinh viên đại học, những người sẽ trở thành thầy giáo sau này. Đề nghị ông Giám đốc Đại học Huế, ông Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Huế cùng Hội đồng khoa học của trường xem xét lại chất lượng cuốn giáo trình để khỏi làm ảnh hưởng đến chất lượng sinh viên ra trường. Nhận thấy mọi sự đã được sáng tỏ, QTXM xin dừng cuộc trao đổi ở đây. Các ý kiến  phê phán trao đổi tiếp tục đề nghị gửi về ông Hiệu trường Trường Đại học sư phạm Huế. NHÀTHƠ NGÔ MINH

  Nguyễn Phước Nhơn

Xem xong các bài viết trên Quà tặng xứ mưa tôi tìm đọc cuốn giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại giai đoạn 1930 – 1945 của tiến sĩ Hoàng Thị Huế, Nxb Đại học Huế năm 2015. Tôi nghĩ vị tiến sĩ này chẳng lệch lạc gì về tư tưởng như ông Võ Kha nói đâu, mà là sự kém cỏi, hạn hẹp về kiến thức. Chính trình độ kém dẫn đến việc biên soạn một cuốn giáo trình ngây ngô, nông cạn. Không hiểu sao một cuốn sách kém như vậy mà vẫn được xuất bản và vẫn được đem ra giảng dạy ở một trường đại học?
Cảm giác đầu tiên của tôi: đây là một cuốn sách cẩu thả, vội vàng. Những sai sót mà tác giả Võ Văn Kha chỉ ra là hoàn toàn chính xác. Tuy nhiên, những lỗi này không nghiêm trọng bằng những sai sót, phiến diện về nội dung của cuốn giáo trình này. Ở đây tôi không nói về tiểu tiết mà xin đưa ra những vấn đề trọng yếu:
– Quan điểm viết giáo trình thiển cận (lựa chọn tác giả tùy tiện, phiến diện).
– Phương pháp biên soạn máy móc, rập khuôn (chủ yếu lược kê lại tiêu mục ở phần kết luận).
– Nhầm lẫn giai đoạn lịch sử (giai đoạn 1930 – 145, nhưng phân tích Di chúc – 1969, tr. 243).
– Các tiêu mục lộn xộn, không logic, phi khoa học (không theo một tiêu chí nào cả.
– Lấy ý kiến của nhiều người khác nhưng không trích dẫn rõ ràng (đạo văn).
1. Trước hết nội dung hạn hẹp, phiến diện của cuốn sách này xuất phát từ quan điểm viết giáo trình rất thiển cận. Đối với bộ môn văn học sử điều quan trọng nhất là giúp sinh viên nắm bắt được đặc điểm, diện mạo, các thành tựu của từng giai đoạn văn học. Vậy mà vị tiến sĩ này đã lựa chọn tác giả, tác phẩm một cách rất tùy tiện. Tác giả cho rằng: “một số nhà thơ như Tố Hữu, Xuân Diệu, Huy Cận do sẽ đề cập đến trong phần văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 nên không đưa vào khảo sát “ (xem tr.6).
Quan niệm trên cho thấy người viết giáo trình không hiểu gì về văn học sử, không hiểu gì về phong cách nhà văn gắn với tiến trình vận động và phát triển của văn học. Cùng một nhà văn nhưng mỗi giai đoạn lịch sử có đặc điểm sáng tác khác nhau. Sáng tác của Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên giai đoạn 1930 – 1945 chắc chắn khác giai đoạn 1945 – 1975 về nội dung lẫn hình thức thể hiện.
Vì quan niệm thiển cận như vậy nên tác giả giáo trình đã lựa chọn các tác giả một cách tùy tiện. Tên của cuốn giáo trình là Văn học Việt Nam hiện đại giai đoạn 1930 – 1945, nhưng nội dung bên trong chỉ thiên về giải quyết các nhà văn hiện thực phê phán. Cả một giai đoạn phê bình rất phong phú, tác giả chỉ viết được một mục và mục này chưa tới 6 dòng (Xin xem tr.21). Trào lưu văn học cách mạng thiếu hẳn Tố Hữu – một đại biểu xuất sắc, có những đóng góp quan trọng để làm nên diện mạo của dòng văn học này. Trào lưu văn học lãng mạn: thiếu hẳn Tự lực văn đoàn, Phong trào Thơ mới.
2. Kiến thức nông cạn còn thể hiện ở chỗ: để chứng minh tính hiện đại của giai đoạn này, tác giả đã chọn Nguyễn Bính và phân tích dài dòng về nhà thơ này. Nói đến “tính hiện đại”, trước hết phải kể đến Xuân Diệu và nhóm Trường thơ loạn, với các gương mặt xuất sắc như Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê. Không ai phủ nhận vị trí của Nguyễn Bính giai đoạn 1930 – 1945, đặc biệt là “hồn thơ chân quê da diết”. Tuy nhiên, chọn Nguyễn Bính – một tác giả chủ yếu sử dụng thể thơ truyền thống (thể lục bát) để chứng minh “tính hiện đại” của giai đoạn này thì quả thực là “ngớ ngẩn”!
Với nội dung méo mó như trên, sinh viên sẽ có một cái nhìn phiến diện về quá trình hiện đại hóa của thơ ca Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945. Đây lại là giai đoạn văn học chiếm nội dung khá quan trọng trong chương trình Đại học và phổ thông trung học.
3. Giáo trình này bộc lộ một tư duy máy móc, đơn giản của người biên soạn. Phần mở đầu thì lược kê tác phẩm, kết luận thì lược kê các tiêu mục. Tôi chưa đọc một cuốn giáo trình nào về lĩnh vực văn học mà lại có kiểu soạn tệ hại như vậy. Việc giới thiệu tiểu sử và sự nghiệp của một tác giả là hết sức quan trọng, tuy nhiên không ai lại lược kê một cách máy móc, rập khuôn như vậy.
Có nhiều mục tác giả không giải quyết bất kỳ điều gì ngoài việc lược kê lại tác phẩm (Xin xem chương Nguyễn Hồng tr.119). Có những chương đã lược kê tác phẩm ở phần tiểu sử, phần sau lại lược kê thêm lần nữa (Xem chương Nguyễn Công Hoan tr.27 đã lược kê gần trọn một trang, nhưng tr. 57 lại lược kê tiếp). Người đọc có cảm giác như tác giả này cố gắng độn tư liệu vào để cuốn sách được dày trang thêm, không cần tính đến chất lượng của giáo trình.
Tất cả các phần kết luận đều lược kê lại các tiêu mục và chương nào cũng viết dạng như thế này: “Kết luận: Chương 3 trình bày những kiến thức cơ bản về tác giả Vũ Trọng Phụng: tiểu sử, sự nghiệp sáng tác, quan niệm nghệ thuật,… những đặc trưng nghệ thuật của thể loại phóng sự và tiểu thuyết hiện thực Vũ Trọng Phụng, phong cách nghệ thuật độc đáo của Vũ Trọng Phụng biểu hiện ở nhãn quan hiện thực và khuynh hướng khái quát, triết lý, trào phúng chi phối ở tất cả các phương diện, các cấp độ kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu” (tr.117). Tôi trích nguyên đoạn văn lủng củng này để bạn đọc thấy được “trình độ diễn đạt” của tác giả giáo trình.
Theo yêu cầu một cuốn giáo trình, kết luận của một chương phải trả lời được câu hỏi: những vấn đề giải quyết chương này nhằm để làm gì? Nó có ý nghĩa giáo dục, nhận thức gì cho sinh viên và bạn đọc nói chung? Thao tác lược kê rập khuôn này sẽ dẫn đến một hậu quả nguy hại: nhồi sọ cho sinh viên một lối tư duy máy móc vì lười biếng suy nghĩ.
Còn một số vấn đề khác ở cuốn giáo trình này cần phải bàn tới, tôi chưa kịp đề cập. Điều cần nói ở đây là: một cuốn giáo trình bao giờ cũng có Hội đồng biên tập. Chẳng lẽ Hội đồng chuyên môn lại thờ ờ, thả nổi, không có trách nhiệm gì trong chuyện này? Nếu vị tiến sĩ này mới tập tễnh viết lách thì phải tham khảo những đồng nghiệp đi trước chứ? Chẳng hạn anh Đại Vinh, anh Bửu Nam, chị Bích Hải, chị Hường… Tôi nghĩ, Ban chủ nhiệm Khoa văn, Ban lãnh đạo trường cần phải xem xét một cách nghiêm túc cuốn giáo trình này.

.Nguyễn Phước Nhơn commented on quick comments

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.06.2015

Nhát chém đầu đời

Nhà thơ Đỗ Hoàng

Nhát chém đầu đời

QTXM- Nhà thơ Đỗ Hoàng (tên thật Đỗ Hữu Lời) là bạn học cùng lớp với Ngô Minh ở Trường Cấp 3 Lệ Thủy,Quảng Bình. Anh làm thơ từ hồi học sinh lớp 8, tự học tiếng Trung Quốc làm được thơ chữ Hán, đã dịch Kim vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân ra hơn 6000 câu lục bát Việt rất hay, xuất bản thành sách Kiều Thơ. Đỗ Hoàng đang viết loạt chuyện gọi là Chuyện nhặt in trên blog của anh ( dohoang.vnweblogs.com). Chuyện Nhát chém đầu đời là một chuyện trong số đó, nhà thơ viết về những ngày tốt nghiệp cấp 3 ở nơi sơ tán rất buồn, liên quan đến nhiều anh em bạn bè, trong đó có Ngô Minh. QTXM xin giới thiệu với bạn đọc.

Đỗ Hoàng

Chết dần dần, chết từ từ, chết từ từ, chết từng phần, chết từng phần, chết dần dần…giống như xử tội tùng xẻo thời trung cổ bên Tàu và sập đầm lầy bên Nga
Điều đó rất đúng với thảm cảnh của tôi năm học lớp 10, niên khóa 1967- 1968, thế kỷ trước ở trường cấp 3 Lệ Thủy A – Tuyên Hóa, Quảng Bình, nhất là những ngày đợi chờ cắt giấy hộ khẩu chuyển về bản quán lao động cải tạo!. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.06.2015

Bên ngoài trời còn có trời

GS Tương Lai

Bên ngoài trời còn có trời

GS Tương Lai

Đây là mượn ý câu của Lý Giác, sứ Tàu đời nhà Tống, “thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu” tạm dịch là ngoài trời còn có trời, đừng có coi thường. Viên sứ Tàu sống ở thế kỷ thứ X này xem ra hiểu biết hơn, có viễn kiến hơn ngài ngoại trưởng họ Vương thế kỷ XXI (không hiểu có phải hậu duệ của Tổng binh Vương Thông thế kỷ XV đời nhà Minh bị nghĩa quân Lê Lợi đánh cho tơi tả để Nguyễn Trãi viết trong Bình Ngô đại cáo: “ra đến biển chưa thôi trống ngực, về đến Tàu còn toát mồ hôi”) dám tuyên bố liều mạng và xấc xược rằng: việc xây đắp các đảo nhân tạo, trong đó có Gạc Ma vừa cướp của Việt Nam, là xây trên sân nhà chúng nó. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.06.2015

ĐẠI HỘI NHÀ VĂN NGÂM KHÚC

Nguyễn Duy và Ngô Minh6/2015 ở Huế

 ĐẠI HỘI NHÀ VĂN NGÂM KHÚC

Nhà thơ Nguyễn Duy

QTXM: ĐH lần thứ 4 HNVVN (1989) là một ĐH lịch sử chẳng những kéo dài 11 ngày mà còn đầy ắp không khí thảo luận văn chương, tư tưởng sang trọng và kịch tính.Đại hội chia làm 2 phái :”Phái vui tươi” và phải hắm hằm”. ĐH quyết định Tổng thư ký ( bây giữ là chủ tịch) chỉ 2 nhiệm kỳ, ĐH trực tiếp bầu tổng thư ký…Nhân mùa đại hội sẽ  diễn ra từ 8-11/7/2015, QTXM xin giới thiệu lại Ngâm khúc này của nhà thơ Nguyễn Duy viết từ ĐH 4. Tiếc rằng nhà thơ Nguyễn Duy đã ra khỏi Hội nên chắc không thể có ngâm khúc ĐH lần 9 nữa

Thuở trời đất lên cơn đại hội
dân làng văn lắm nỗi truân chuyên
xanh kia thăm thẳm tầng trên
vì ai xa cách cho nên nỗi này

Trống Hà Thành lung lay bóng nguyệt
sương Ba Đình mờ mịt thức mây
mấy lần nghị quyết trao tay
đêm đêm bàn bạc định ngày khai trương

Phút khởi sự hội trường ngơ ngác
bác Đông Hoài giảng Mác – Lê Nin
nhà văn phải có niềm tin
đổi mới dân chủ lại thêm kết đoàn

(Đọc tiếp…)

”Những người có duyên nợ với “Về Kinh Bắc

Hoàng Cầm kể (HH ghi)

1/ Cô “Cần Thơ”:

Cần Thơ là ai? Tôi quan hệ thế nào với cô?

Nguyên tôi có người bạn ở trong Sài Gòn là anh Nguyễn Bùi Chấn, anh ruột cô Nguyễn Thị Bắc là hoa khôi tỉnh Bắc Giang – tôi định nhờ cô Bắc diễn vở kịch Kiều Loan rút cuộc là không thành mà thành một người tình của tôi. Nguyễn Bùi Chấn là bạn học cũ của tôi suốt từ năm đồng ấu cho đến năm lớp nhất ở tỉnh Bắc Giang. Năm 1979, anh có viết thư cho tôi đại ý là: Ở bên Pháp có một nữ bác sĩ còn ít tuổi hâm mộ thơ của anh, tên cô ấy là Bùi Thị Cần Thơ, vậy thì nhận được thư này anh làm ơn cho tôi biết ngay là anh có vui lòng quan hệ với một người như thế không? Cô ấy cũng nói anh thích có cái quà gì hoặc anh thích bất cứ cái gì, cô ấy sẽ gửi tặng anh. Vốn tính tôi khi thấy có một độc giả yêu thích thơ mình như thế, nhất lại là nữ, thì tôi sốt sắng ngay.

Thế là tôi viết thư cho ông Nguyễn Bùi Chấn là tôi sẵn sàng quan hệ với độc giả ở xa; còn về quà, thì hiện nay ở Hà Nội việc mua kháng sinh và những cái thuốc tốt của nước ngoài thật là khó khăn, vậy nếu cô ấy là bác sĩ thì tôi muốn cô ấy tặng tôi một ít thuốc nhưng thuốc chính là kháng sinh, tóm lại là tất cả các loại kháng sinh về bệnh đường ruột, đường hô hấp, đường tiết niệu v.v. để cho gia đình dùng. Độ hai tháng thì tôi nhận được giấy báo của bưu điện Hà Nội ra nhận gói hàng ở phố Lê Thạch. Họ đưa cho tôi một tờ giấy để khai, khai cả tên người gửi, tôi để trống chỗ ấy. Khi đưa tờ giấy khai thì cô ở bưu điện có vẻ hống hách lắm, bảo “Bác không đề tên người gửi vào đây thì chúng tôi biết thế nào mà phát”. Tôi cũng đâm cáu, tôi nói hơi to: “Xin nói với chị rằng tôi là Hoàng Cầm, một người làm thơ rất nhiều độc giả ở khắp nơi trên thế giới này, người ta có thể biết tôi, thế thì người nào đó gửi quà cho tôi, tôi chịu, không biết tên được, chị chỉ việc tìm người gửi cho tôi thôi chứ bây giờ chị hạch tôi như thế thì thôi tôi chả cần phải lĩnh đâu tôi đi về đây”. Lúc bấy giờ có lẽ cô bưu điện thấy như thế là quá đáng, cô bảo “Không, không cháu nói thế thôi, bác đứng lại để cháu tìm”. Xong rồi cô tìm ra gói hàng đó thì cô đọc tên người gửi và hướng dẫn tôi ghi vào bản khai: người gửi là Bùi Thị Cần Thơ ở thành phố Troie bên Pháp. Tôi lĩnh được một cái gói hàng vuông vắn bằng cáctông đúng 1kg, mở ra toàn là thuốc, đúng như lời tôi yêu cầu trong thư gửi anh Nguyễn Bùi Chấn, các thứ thuốc kháng sinh, trong nam gọi là trụ sinh, toàn thứ thuốc tốt cả, bên cạnh đó là một lô thuốc bổ cực kỳ đắt tiền ví dụ H500,… Thuốc bổ thì tôi không muốn dùng mặc dù tiêm vào thì cũng tốt thôi, nhưng mà trong hoàn cảnh gia đình tôi không có đủ tiền sinh hoạt hằng ngày, mà khi lĩnh thuốc ngay ở bưu điện đã có những anh đi buôn thuốc theo về tận nhà xin mua. Gói hàng đó có 1kg thôi và không có cái thư nào gài vào đấy cả, nhưng cô Cần Thơ viết ở phía trong cái bìa. Cô viết khéo lắm, cứ thỉnh thoảng viết về thuốc thì cô gài cái ý ngoài, đại ý là: bên này em là bác sĩ một ngày chỉ làm việc ở bệnh viện nửa ngày thôi, còn nửa ngày nghỉ, em đọc thơ anh rất nhiều, nhưng mà em rất mong có những bài thơ mới của anh về quê hương đất nước, thơ chưa in cũng được, anh gởi cho em ít bài vì bên này cần những cái đó lắm.

Tôi có ông bạn hay nói đùa làm ở bệnh viện Việt Đức, ông bảo: tên bà là Cần Thơ tức là bà đang cần cái thơ của anh. Lại còn họ Bùi? Bùi Thị Cần Thơ! Tôi nghĩ ngay chưa chắc đó là tên thật nhưng cô ấy lấy họ Bùi chắc cũng là một cách đối phó với chính quyền hay gây những khó khăn trong quan hệ xã hội, lấy họ Bùi để người ta có thể nghĩ là em gái hay họ hàng gì với ông Bùi Hoàng Cầm. Sau đó độ 1, 2 ngày thôi thì tôi viết được ngay một bài thơ, lâu rồi tôi quên mất đầu đề, những câu đầu như thế này “Một áng hương em gói lỏng xuân, Từ đâu bỡ ngỡ cánh thiên thần”. Bài thơ cũng dài tất cả 8, 9 đoạn mỗi đoạn 4 câu. Tôi gửi thư ngay theo địa chỉ đề ở trong hộp quà, ở cách Paris về phía Đông Nam khoảng 100 km. Thế là từ đấy trở đi quan hệ với cô Cần Thơ này càng ngày càng xiết chặt và tôi luôn luôn gửi thư, cứ độ một tháng có một cái thư, gửi cái nào thì tôi đều nhận được một bưu thiếp thôi chứ không phải là thư, cô ấy trả lời bằng bưu thiếp để cho tôi dễ nhận – cô ấy biết nếu gửi thư thì có thể là thư đề địa chỉ Hoàng Cầm sẽ bị kiểm duyệt. Cách đến 3 năm sau thì có lần cô gửi một cái thư tay qua một người bạn đem đến tận nơi, cùng với 100 đô biếu tôi. Thư ấy rất dài, cô kể tỉ mỉ việc cô ấy làm, cô ấy mới nói ra là cô có khuynh hướng theo Phật. Có một lần cô ấy đi xuống phía Nam nước Pháp để nghiên cứu về bệnh trẻ em, cô đến đấy và gặp trên lưng chừng một quả đồi có một ngôi chùa người ta tụng kinh, làm lễ Phật, người ta ngồi thiền, và cô ấy thấy rất cảm động và say mê, cho nên cô ấy có khuynh hướng không làm bác sĩ nữa mà đi hẳn vào con đường tu hành.

Trong đời tôi chưa hề có độc giả nào giúp đỡ tôi đều đặn đến như thế, suốt từ năm 1979 đến nay, lúc tôi bị bắt thì bên ấy cô cũng biết tin ngay và cô gửi cho bà Yến 100 đô, đó là người đầu tiên gửi tặng tiền tôi khi tôi ở trong tù, và từ năm tôi ở tù và sau khi ra tù thì cứ mỗi một năm thế nào cô cũng gửi cho tôi đến hai lần quà và tiền, càng về sau thì tiền gửi dễ dàng hơn; trước kia gởi bằng quà, bằng thuốc, lúc đầu chỉ 1kg sau dần dần cô gửi tới 5kg.

Qua những cái thư cô viết cho tôi, đầy nhân hậu, và cũng đầy triết lý, dần dần tôi mới hiểu Bùi Thị Cần Thơ là tên giả trong nhiều tên giả lắm, tên thực của cô là Cao Ngọc Thu. Làm việc thiện từ khi 16, 17 tuổi, hoạt động ở Sài Gòn, cô Ngọc Thu học ở đại học Vạn Hạnh, sau làm đệ tử của một vị tu sĩ nổi tiếng thế giới là Thích Nhất Hạnh. Thầy Thích Nhất Hạnh chỉ vì những hoạt động xã hội và từ thiện đã bị chính phủ Diệm trục xuất. Cô Ngọc Thu sang Pháp theo sư phụ và từ đấy không về nước nữa. Từ năm 1985 cô đã cắt tóc đi tu và bỏ làm bệnh viện nhà nước Pháp nhưng vẫn đem cái hiểu biết y học đi chữa bệnh cho người Việt Nam ở miền Nam nước Pháp. Thầy Thích Nhất Hạnh lập ra một làng Việt Nam, đầu tiên gọi là Village des Roses nhưng gần đây thì gọi là Village des Pruniers vì trồng nhiều cây mận, tức là làng Mai, tập trung các đệ tử tu thiền theo pháp môn của mình. Từ ngày thống nhất đất nước đến bây giờ, cô Cao Ngọc Thu (đến nay thì tôi biết pháp danh của cô là Chân Không) có viết cho tôi một cái thư hơi cay đắng: “Hiện nay em đang ở Mã Lai, đi theo thầy để giảng đạo ở đấy, em biết rằng bây giờ em chỉ còn cách tổ quốc 200km mà vẫn xa xôi, tưởng như không bao giờ quay lại tổ quốc được”. Có lần trong thư cô ấy kể cho tôi câu chuyện cô đi quyên tiền khắp thế giới để cứu các em nhỏ là nạn nhân của chiến tranh hoặc là tàn tật, mồ côi, bố mẹ chết trong chiến tranh, hoặc là gia đình tan tác. Có một nghịch lý là chính phủ Nguyễn Văn Thiệu cho rằng thầy Nhất Hạnh và cô ấy đi theo cộng sản, còn ở ngoài Bắc thì lại cho họ là tay sai của C.I.A, thế thì buồn cười lắm. Trong thực tế tôi thấy là thầy Thích Nhất Hạnh viết nhiều sách, toàn sách về đạo, triết học, dân tộc, các cách tu luyện, làm thế nào để con người yêu thương lẫn nhau, làm thế nào để tâm hồn con người luôn luôn trong sáng v.v… toàn là những việc tốt cả. Còn cô Ngọc Thu-Chân Không thì tôi thấy là một người độc giả yêu tác giả đến mức như thế suốt từ 1979 đến nay gần 20 năm trời luôn luôn ủng hộ tiền nong, với những bức thư đầy tình nghĩa và luôn luôn nói đến tâm hồn con người làm thế nào cho cao quí, chính đó là nguồn cảm hứng của tôi, thì đó là người tôi phải biết ơn suốt đời.

2/ Nam Dao Nguyễn Mạnh Hùng:

Lần đầu tiên tôi gặp Nguyễn Mạnh Hùng là năm 1979, do anh Dương Tường đưa đến nhà. Anh là tiến sĩ kinh tế dạy đại học Montreal, Canada, anh lấy vợ người Canada con ông thứ trưởng một bộ gì đó (tôi quên rồi). Anh là con người rất yêu nước, trong suốt cuộc chiến tranh anh theo dõi tin tức của Việt Nam, nhất là anh em văn nghệ sĩ mà anh yêu mến. Khi giải phóng miền Nam thì anh có đặt vấn đề về hẳn Việt Nam để phục vụ nhân dân Việt Nam. Việc không thành vì người vợ không chịu, đó cũng là một trong những lý do dẫn đến hai người ly hôn. Năm 1978 anh về nước lần đầu, trong thời gian đó anh quan sát, nghiên cứu tình hình kinh tế và viết ra mấy đề án cải tiến đưa cho ông Phạm Văn Đồng xem, ông Phạm văn Đồng quí đến mức ra lệnh cho cấp dưới từ nay trở đi anh Nguyễn Mạnh Hùng từ Canada về không cần phải xin giấy nhập cảnh nữa. Thế là anh thường xuyên đi đi về về.

Ngay lần gặp đầu tiên, anh khoe đã thuộc một số bài thơ cũ của tôi như là bài ‘Bên kia sông Đuống’, vài bài trong tập “Tiếng hát quan họ” đã in từ trước. Từ đấy anh hay đến tôi. Lúc anh sắp đi thì anh có đưa nhà thơ Nguyễn Duy đến thăm tôi, anh đem đến tặng tôi chai rượu Johnnie Walker và một áo sơ mi còn ở trong túi nilon rất đẹp. Ba anh em cùng uống rượu và nói chuyện thơ. Nguyễn Duy bảo “Ôi giời ơi! Kinh Bắc của anh thì chữ nghĩa nó ma quái lắm”. Nguyễn Mạnh Hùng thì bảo “Em thích nhất là bài gì có câu ‘Lớn lên em đừng tìm mẹ phía cơn mưa’, câu thơ nó vang động trong em, vang động cả một tình cảm quê hương”.

Gặp nhau nhiều lần, tôi thấy anh Nguyễn Mạnh Hùng quả là một người bạn đồng cảm đáng tin cậy. Nên tôi nhờ anh mang hộ một băng cassette sang Pháp cho cô Cần Thơ. Tôi có ngâm vào đấy độ 9, 10 bài thơ, trong đó có bài ‘Bên kia sông Đuống’ mà chính cô Cần Thơ đã có văn bản rồi, nhưng đặc biệt có những bài mà cô chưa có, một số bài trong tập “Về Kinh Bắc” ví dụ ‘Lá Diêu Bông’, ‘Quả vườn ổi’, ‘Về với ta’… Cái băng cả hai mặt 90 phút, tôi thu cái băng đó ở nhà hoạ sĩ Hoàng Lập Ngôn, hôm đó có mấy người bạn đến nghe và xem tôi thu, có cậu Ngô Đăng Tuất làm ở nghe nhìn trung ương, cậu ấy đánh guitar rất giỏi rất hay, cậu đệm cho tôi 90 phút, tôi đã sang lại một băng để ở nhà còn một băng gửi Nguyễn Mạnh Hùng mang đi. Nguyễn Mạnh Hùng nhận lời, lần ấy là năm 1981. Đến đầu năm 1982 Hùng lại về, lần này ở lâu trong nước độ 3, 4 tháng. Trong thời gian ấy anh yêu một cô làm việc ở điện ảnh, có tổ chức cưới ngay ở nhà hàng Phú Gia, nhưng anh xin lỗi không mời tôi vì trong đám cưới đó có nhiều quan khách lắm. Sau đó thì Nguyễn Mạnh Hùng có mời tôi với vợ tôi đến một cửa hàng ăn bình thường ở phố Chả cá.

Lần này Nguyễn Mạnh Hùng xin tôi tuyển chọn cho anh một số tác phẩm của tôi, Trần Dần, Lê Đạt, Văn Cao, Đặng Đình Hưng. Đến khi tôi cho anh xem tập “Về Kinh Bắc” thì anh mê quá, nhất định xin tôi toàn bộ tập thơ đó. Lúc bấy giờ chưa có photocopy, chỉ có đánh máy mà đánh máy vừa lâu vừa tốn tiền, thế nên tôi ngồi tôi chép ra cho anh. Anh mang vào Sài Gòn để chuẩn bị trở về Canada thì tôi bị bắt. Dương Tường nghe tin Hoàng Cầm bị bắt một cái là lập tức bảo Nguyễn Mạnh Hùng “Tất cả cái gì của Hoàng Cầm thì giao lại cho Dương Tường”, thế là Dương Tường gửi anh Cao Xuân Hạo tập “Về Kinh Bắc”, anh giữ kín và thỏa thuận với anh Cao Xuân Hạo cũng giữ kín không nói cho ai biết là anh Nguyễn Mạnh Hùng có gửi tập “Về Kinh Bắc” ở đây. Quả nhiên anh Nguyễn Mạnh Hùng ra sân bay Tân Sơn Nhất về Canada thì bị khám kỹ lắm, sau này anh có kể chuyện là họ bắt cởi hết quần áo ra, chỉ mặc cái quần đùi để cho họ khám xem có tài liệu gì của Hoàng Cầm trong người không. Từ đấy anh hầu như không được phép về Việt Nam nữa, mãi đến năm 1987 tức là 5 năm sau anh mới được về, lúc ấy thì tôi đã được phục hồi.

3/ Hoàng Hưng:

Cũng năm 1982, Hoàng Hưng, một nhà thơ trẻ từ Sài Gòn ra, đến thăm tôi và bảo: “Em ra Hà Nội chỉ độ một tuần nữa thì em về Sài Gòn, vậy anh làm thế nào anh chép cho em toàn bộ tập “Về Kinh Bắc”. Ở trong ấy em có sinh hoạt với nhóm anh em trẻ làm thơ, họ muốn có tập “Về Kinh Bắc” của anh để nghiên cứu bởi vì cứ nghe đồn hoặc là thuộc vài câu vài bài thích lắm mà tam sao thất bản cả, anh chịu khó chép giúp em”. (Trước kia tôi đã chép cho Hoàng Hưng ba bài: ‘Tam cúc’, ‘Diêu bông’, ‘Vườn ổi’). Tôi còn chần chừ thì ông Minh Đức Trần Thiếu Bảo đến bảo là “Hoàng Hưng bảo nó xin anh tập Về Kinh Bắc thì anh cho nó đi! Tôi có bảo cậu ấy bồi dưỡng cho anh, giờ anh nghỉ bán rượu để chép thì anh làm gì có tiền mà chi tiêu”. Ông Minh Đức mua giúp Hoàng Hưng 200 tờ giấy trắng đẹp lắm, mỗi một hôm bán rượu đến độ rỗi rãi vắng khách thì tôi mới ngồi chép, thường thường về đêm, khoảng 10h30 tôi lại chép độ 1 tiếng đồng hồ trước khi đi ngủ. Thành ra độ 10 ngày tôi mới chép xong. Khi tôi giao cho Hoàng Hưng tập “Về Kinh Bắc” tại nhà ông Trần Thiếu Bảo – lúc ấy nhà ông cũng mới mở quán ăn uống – thì Hoàng Hưng lại sẵn có một bìa do anh Văn Cao trình bày và bốn tranh phụ bản của Bùi Xuân Phái, có ba cái tôi thích lắm bởi vì anh Bùi Xuân Phái đã đọc “Về Kinh Bắc” rồi và anh đã từng vẽ phụ bản cho tôi chép một tập mà tôi cho cà phê Lâm. Chính cái bản cho cà phê Lâm có một hôm tôi đã mượn về, vì có mấy anh bạn uống rượu cứ đòi xem, họ uống suốt từ 9h sáng cho đến chiều, ngồi uống rồi đọc tập “Về Kinh Bắc”. Đến chiều hôm ấy tôi không tìm thấy lại tập thơ nữa. Tập ấy là tập tôi chép rất đẹp, cũng có bốn phụ bản của Bùi Xuân Phái cũng rất đẹp, anh vẽ những cảnh hội Kinh Bắc, hai cô con gái quan họ, một chân dung của tôi, thành ra anh Lâm giữ như là của gia bảo…

Mấy ngày sau khi giao bản chép tay “Về Kinh Bắc” cho Hoàng Hưng thì tôi bị bắt (ngày 20/8/1982). Đêm đầu tiên vào Hoả Lò, tôi mới được mấy người tù cũ cho biết ngày 18/8 Hoàng Hưng cũng bị bắt vào đây, ở đúng buồng này. Hôm sau có lúc tôi thoáng thấy anh đi cung ngang qua sân nhà giam… Sau tôi được biết Hoàng Hưng bị giam tù 39 tháng vì tập “Về Kinh Bắc” và những bài thơ anh ta làm từ trước, chép trong sổ tay để ở nhà. Mãi sau Đổi mới, tôi mới gặp lại anh ở Sài Gòn.

4/ Những người toan tính xuất bản Về Kinh Bắc:

Sau ngày “Đổi mới”, tôi và anh em Nhân Văn-Giai Phẩm đã được phục hồi, nhà thơ Xuân Quỳnh là người đầu tiên sốt sắng xuất bản “Về Kinh Bắc”. Xuân Quỳnh làm thơ rất hay, tôi coi cô như con gái, cô rất thân với con gái tôi là Hoàng Yến. Xuân Quỳnh đã đọc tập thơ này từ lâu rồi khoảng năm 1974, 1975 gì đó, tôi cho cô mượn đến một tháng trời, cả hai vợ chồng Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh đều rất thích. Xuân Quỳnh đến tận nhà tôi bảo là “Chú à, cháu là biên tập ở nhà xuất bản Tác Phẩm Mới, chú để cháu in tập Về Kinh Bắc”. Lúc bấy giờ tôi giữ ý, tôi bảo đừng lấy tên “Về Kinh Bắc”, người ta vẫn còn săn nó ghê lắm, người ta còn thành kiến ghê lắm, tên tập thơ “Về Kinh Bắc” quá nổi nên công an người ta không thích, nếu cô có in thì in thêm bài “Bên kia sông Đuống”, lấy tên tập thơ là “Bên kia sông Đuống” thì được. Cô Xuân Quỳnh bảo “Thôi được rồi chú cứ để mặc cháu, miễn chú đồng ý là được rồi, cháu đấu tranh thế nào để tập thơ nó phải ra đời không thể giữ kín mãi được, phải để cho độc giả người ta đọc”. Thế rồi cô ấy biên tập xong, cô làm bản nhận định đưa cho giám đốc là anh Vũ Tú Nam, anh Vũ Tú Nam cũng đã ký vào rồi và chuẩn bị in rồi thì đùng một cái có bốn ông công an đến nhà xuất bản Tác Phẩm Mới yêu cầu không được in tập thơ này. Đã xảy ra một cuộc cãi lộn rất lớn giữa Xuân Quỳnh và anh Vũ Tú Nam, sau này Xuân Quỳnh có thuật lại cho tôi biết. Vũ Tú Nam nói với Xuân Quỳnh rằng “Ở trên (ý nói lãnh đạo, nói chung bao giờ cũng dùng chữ “ở trên”) người ta không đồng ý tôi in cái tập này đâu thì thôi Xuân Quỳnh xoá nó đi không in nữa”, thì Xuân Quỳnh bảo “Các anh buồn cười nhỉ, chính anh đã ký vào bản nhận định của tôi rồi, ký vào rồi là đồng ý đi in rồi, tại sao bây giờ anh lại rút ra, sao anh hèn đến như thế, anh cũng làm thơ anh cũng viết văn, anh xem cái tập thơ này nó xấu ở chỗ nào? nó làm hại dân tộc làm hại tổ quốc ở chỗ nào, anh đã đồng ý rồi bây giờ anh thấy công an đến anh sợ anh lại đòi hủy đi, thế là thế nào tôi không hiểu, tôi không hiểu được thái độ của anh… Thôi được rồi, anh không in tôi in, bởi vì anh đã ký vào đây rồi, tôi vẫn còn giữ cái bản ấy đây, tôi đem in, nếu nhà xuất bản không bỏ vốn tôi sẽ tìm cách bỏ vốn tôi in”. Vũ Tú Nam sợ quá nói gần như van như lạy: “Thôi, Xuân Quỳnh nghĩ đến anh một tí, anh là phụ trách, giám đốc thì tất nhiên về mặt chính trị, về mặt pháp luật thì phải chịu trách nhiệm”, thế thì Xuân Quỳnh bảo “Tôi chỉ có thể nhân nhượng cho anh là vẫn in mà đổi tên, không lấy “Về Kinh Bắc” nữa mà có thể lấy “Bên kia sông Đuống” bởi vì “Bên kia sông Đuống” là bài thơ tốt trong kháng chiến chống Pháp ai cũng biết rồi, nhưng ở bên trong thì vẫn in đầy đủ các bài của tập “Về Kinh Bắc”. Tôi chỉ nhân nhượng anh về điều đó thôi còn nếu không thì tôi vẫn cứ đem in đây này”. Tôi nghe câu chuyện đó thì tôi bảo “Thôi Xuân Quỳnh à, Xuân Quỳnh cũng nên thôi và nếu có in thì nên chọn một nửa thôi, một nửa số bài trong “Về Kinh Bắc” là những bài nổi tiếng, đổi tên đi và thêm vào đấy một số bài mới hoặc thêm những bài trong kháng chiến chống Pháp ví dụ bài ‘Giữ lấy tuổi trẻ’, bài ‘Đêm liên hoan’ hay là bài ‘Tâm sự đêm giao thừa’ hay bài ‘Bên kia sông Đuống’, đấy là những bài đã được khẳng định trong kháng chiến chống Pháp, lẫn lộn vào đấy như thế cho nó nhẹ bớt Về Kinh Bắc đi”. Xuân Quỳnh cự lại tôi “Khổ quá chú bị ở tù rồi bây giờ chú đâm ra nhát quá, cháu cứ in thì đã làm gì, chả làm sao cả, bây giờ ai đem ra tranh luận tập thơ này xem nó xấu ở chỗ nào thì cháu có thể đảm bảo với chú cháu sẽ đánh bại mọi ý kiến nào đả phá nó”.

Còn dằng dai như thế thì ở trong Huế, anh Nguyễn Trọng Tạo cùng với anh Hoàng Phủ Ngọc Tường, lúc bấy giờ anh Hoàng Phủ Ngọc Tường là chủ tịch Hội Văn nghệ Thừa Thiên Huế còn anh Trọng Tạo là biên tập của Nhà xuất bản Thuận Hóa của Huế, hai anh có ý định in tập “Về Kinh Bắc” nhưng cũng vui lòng lấy tên là “Bên kia sông Đuống” hoặc “Thơ Hoàng Cầm” thế thôi. Các anh chuẩn bị đến mức là xong ở nhà in rồi, chuẩn bị giấy má, tiền công in và anh Trọng Tạo định in một vạn rưỡi cuốn vào năm 1988. Nhưng một hôm tôi đang ngồi giặt ở máy nước trước cửa trông thông thống ra ngoài đường thì thấy ca sĩ Ngọc Bảo vẫy vẫy tôi một cách rất vội vã, anh vẫy tôi ra chứ anh không vào. Tôi chạy ra xem anh bảo cái gì, thì anh ghé vào tai tôi nói thầm “Này cậu in tập thơ gì ở Huế phải không? Cậu đánh điện cho nó bảo thôi đi chớ nếu không tay Nhạ (phòng an ninh chính trị Sở Công an Hà Nội) nó bắt cậu lại ngay lập tức, bởi cậu có cái lệnh tạm tha thôi lúc nào nó bắt lại cậu cũng được, ở tù thì khổ lắm, tôi thương cậu tôi biết chuyện đó tôi mách cậu đấy, nên bảo nó hoãn đi, đừng in vội thì cậu thoát nếu không thì nó ra cái lệnh bắt nữa thì khổ cậu lắm”. Thế là tôi đâm sợ, đâm hoảng thật vì ở tù thì chả có ai thích cả, muốn quyết tâm gì, muốn khí phách gì chăng nữa chứ ở tù thì cũng khổ lắm, tôi thì vốn nhát cái chuyện đó, lúc nào người ta bắt tôi chả được, tôi là con giun con dế họ dẫm mãi cũng chết, tôi chưa muốn chết, chả tội gì mà đâm đầu vào đấy làm gì, nó có giá trị thì để 50 năm nữa in vẫn cứ được. Tôi nghĩ như thế nên tôi đánh điện vào cho anh Hoàng Phủ Ngọc Tường yêu cầu hoãn không thời hạn việc ấn hành tập thơ của tôi, dưới bức điện ký tên Hoàng Cầm. Sau này anh Trọng Tạo mới kể lại chuyện với tôi là “Nhận được cái điện ấy thì anh Hoàng Phủ Ngọc Tường đang phân vân, Trọng Tạo bảo ‘Tôi đã chuẩn bị đầy đủ rồi cả tranh bìa rồi, việc in, giấy má, hợp đồng là xong hết cả rồi, chỉ có việc đánh máy và đưa đi in thôi, còn có cái gì nữa đâu, cứ in bừa đi, cái ông Hoàng Cầm hay nhát lắm, chắc có ai dọa ông ấy sợ”. Anh Hoàng Phủ Ngọc Tường thì chín chắn hơn, anh bảo “Không, giá ai đánh điện thì tôi cứ làm nhưng đây chính anh Hoàng Cầm đánh điện, anh ký tên hẳn hoi ở dưới, nếu tôi làm nhỡ ra anh ấy có bị làm sao thì có phải tôi đẩy anh ấy vào chỗ chết không”.

Rồi đến Nhà Xuất bản Văn học cũng lại thế. Lúc bấy giờ còn anh Lý Hải Châu làm giám đốc, anh Lý Hải Châu cũng định in ít bài “Về Kinh Bắc” độ 5, 3 bài thôi còn thì in những bài thơ cũ của tôi hoặc những bài thơ mới làm, cuối cùng anh Lý Hải Châu cũng bị công an đến yêu cầu, anh Lý Hải Châu cũng tranh luận với họ một lúc, nhưng sau đó anh Lý Hải Châu bảo với tôi rằng “Trong lúc an ninh người ta đang làm căng thẳng thì tôi không nên đẩy thêm căng thẳng làm gì, mà đẩy thêm thì chỉ khổ cho anh thôi. Thế thì thôi anh cứ hoãn cũng được, lúc nào tình hình khá lên, dân chủ mở ra một chút nữa, đổi mới này nó khá lên một chút nữa ta in thì chả làm sao cả, tác phẩm hay thì lúc nào in cũng được”.

Người thứ tư muốn in “Về Kinh Bắc” là anh Sinh trưởng ban biên tập Nhà xuất bản Phụ nữ, anh muốn in những bài nổi tiếng như bài ‘Diêu Bông’, ‘Tam Cúc’ trong một tập thơ của tôi nhưng chỉ đề là ‘Thơ Hoàng Cầm’ thôi, thế là lập tức công an đến, rồi ông Quang Phòng Tổng cục phó Anh ninh viết cái thư cho anh Sinh “Anh Hoàng Cầm có thể in tất cả những bài thơ mới của anh nhất là những bài thơ tình anh mới viết, riêng tập “Về Kinh Bắc” thì còn phải chờ một thời gian nữa, yêu cầu nhà xuất bản Phụ nữ không in bất cứ một bài nào trong tập Về Kinh Bắc cả”.

Đang trong tình cảnh chán nản như thế, thì một hôm tôi mang một tập thơ toàn những bài thơ tình, cả thơ cũ lẫn thơ mới làm, đến anh Quang Huy tức là Nhà xuất bản Văn hóa, tôi đề ở ngoài là “Mưa Thuận Thành”, tôi cũng không yêu cầu gì với anh Quang Huy là in hay không in, tôi chỉ nói “Tôi có một tập thơ toàn những thơ tình mới cả đây tôi đưa anh đọc”. Quang Huy mới bảo “Ôi giời ơi! Thơ tình của anh để tôi xuất bản, tôi sẵn sàng xuất bản ngay anh không cần bỏ vốn ra, thơ của anh tôi bán được”. Thế là anh Quang Huy tự nhận lấy việc in tập thơ “Mưa Thuận Thành” không có một bài nào trong tập “Về Kinh Bắc” cả. Nhưng rồi anh Quang Huy lại bảo “Nếu in “Mưa Thuận Thành” thì anh phải cho mấy bài đã nổi tiếng đã đăng báo rồi như ‘Diêu Bông’, ‘Tam Cúc’, ‘Về với ta’, ‘Tắm đêm’… có độ 7, 8 bài anh đã in báo, có bài đã đăng hai lần rồi, chẳng có dư luận xấu nào đối với anh cả, anh nên cho thêm vào để tập thơ có giá trị, nếu chỉ có “Mưa Thuận Thành” không thì chưa chắc người ta đã thích mua đâu”. Tôi bảo “Ôi giời tập “Về Kinh Bắc” thì công an người ta đã ra chỉ thị tuyệt đối không có nhà xuất bản nào được in dù là một bài ở trong tập ‘Về Kinh Bắc’”. Quang Huy bảo “Thôi được rồi anh cứ mặc tôi, nếu cần đấu tranh thì tôi đấu tranh, anh đừng phải quan tâm gì cả anh cứ thay cho tôi 8 bài, 8 bài nào mà anh thấy kém nhất trong tập “Mưa Thuận Thành” anh thay bằng những bài “Về Kinh Bắc” đã đăng báo rồi, tôi dựa vào chuyện đã đăng báo rồi tôi sẽ đấu tranh được”. Quả nhiên là khi bản thảo tập “Mưa Thuận Thành” đã đến tay anh Quang Huy thì lại có 4, 5 cán bộ công an trên tổng cục xuống yêu cầu nhà xuất bản cho mượn cái bản thảo rồi cho xem những bản đã đánh máy vi tính, thế thì anh Quang Huy nói lại rất mềm dẻo nhưng cũng rất cứng, anh bảo “Thưa các đồng chí cái này nó đã vào kế hoạch xuất bản của tôi rồi, đã vào kế hoạch thì tôi không thể thay quyển khác vào đây, nếu các anh mượn thì tôi cũng vui lòng đưa các đồng chí xem, chỉ có một điều là những bài chúng tôi chọn của anh Hoàng Cầm ở đây có một số bài hình như có trong tập “Về Kinh Bắc” đấy, nhưng toàn là những bài đã đăng báo từ ngày đổi mới đến giờ, có bài đã đăng 2, 3 lần, chúng tôi thấy cũng không có vấn đề, độc giả vẫn hoan nghênh, cũng không có ý kiến nào phản đối những bài thơ đó cả, vậy thì các đồng chí nên xem xét để chúng tôi in cho nó nhanh cho nó kịp, các đồng chí mượn thì xin các đồng chí trả đúng thời hạn”.

Không biết bên công an nghĩ thế nào, nhưng rồi cuối cùng tập “Mưa Thuận Thành” cũng ra trót lọt, ra được 8 bài trong “Về Kinh Bắc” toàn là bài hay. Tập “Mưa Thuận Thành” tôi không biết bên trong anh Quang Huy in bao nhiêu nhưng đề bên ngoài 1000 bản, có 15 ngày thì bán hết.

Vậy là từ sau ngày tôi bị kỷ luật, nói cách khác, tính từ quyển cuối cùng in ở Nhà xuất bản Văn Học năm 1956 cho đến năm 1989 tức là sau 33 năm tôi mới trở lại việc ấn hành một tập thơ. Dư luận quanh tập “Mưa Thuận Thành” đang sôi nổi thì lại có việc nhạc sĩ Trần Tiến dựa theo ý thơ ‘Lá Diêu Bông’ sáng tác ra bài ‘Sao em nỡ vội lấy chồng’. Bài hát của Trần Tiến rất là nổi, đó là bài hát dung dị dễ thuộc, dễ nhớ, mang nhiều tính chất dân giã, thành ra cả năm 1990, 1991, rồi cả năm 1992, 1993 nữa, thậm chí tôi nghe cả xẩm ngoài đường, xẩm chợ Hôm, chợ Hàng Bè hát bài ấy.

Đến năm 1994 thì Nhà xuất bản Văn Học của anh Lữ Huy Nguyên được một anh cán bộ an ninh trên Trung ương xuống nói rằng “thôi bắt đầu từ bây giờ tập thơ “Về Kinh Bắc” được mở ra rồi, tức là cái chỉ thị cấm in đã hủy bỏ”. Thế là khoảng tháng 7 tháng 8 năm 1994, “Về Kinh Bắc” chính thức ra mắt tại NXB Văn Học.

( Nguồn: vanviet)

 

« Newer Posts - Older Posts »

Danh mục