Đăng bởi: Ngô Minh | 22.08.2015

TRANG THƠ PHÁI ĐẸP-THƠ LƯU LY

Nhà thơ Lưu Ly

 TRANG THƠ PHÁI ĐẸP-THƠ LƯU LY

 QTXM: Nhà thơ Lưu Ly , hội viên Hội Nhà văn VN tên thật là Trần Thị Vân Dung. Chị là giảng viên văn học của Trường Cao đẳng Sư phạm Thừa Thiên Huế. Lưu Ly chủ yếu làn thơ tình. Thơ chị nồng đượm, không chú trọng cách tân chữ nghĩa, câu trúc, nhưng dễ cảm.TRANG THƠ PHÁI ĐẸP kỳ này xin giới thiệu chùm thơ của Lưu Ly.Mời bạn đọc chia sẻ

 

Lưu Ly

Không đề.

 

Em lật tháng ngày tìm bóng dáng anh

Thoa son lên môi tìm nụ hôn ngày trước

Thời gian như vết trượt

Ôm em vào lòng đi hoang

 

Em lật tháng năm tìm ánh mắt mơ màng

Ánh mắt đã giết chết em

vào một ngày xa lạ

Nơi linh hồn tượng đá

Một tình yêu tội lỗi dịu dàng! (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.08.2015

Hát quốc ca sẽ bị thu phí tác quyền?

Hát quốc ca sẽ bị thu phí tác quyền?

  • BBC tiếng Việt 3 giờ trước (20 giờ 00′ ngày 21/8/2015)

‘Hát quốc ca tại trường học thì không bị thu phí tác quyền’

Việc Trung tâm Bảo vệ Quyền tác giả Âm nhạc Việt Nam yêu cầu thu phí tiền tác quyền ca khúc ‘Tiến quân ca’ gây những tranh cãi.

Bài hát này đã trở thành quốc ca của Việt Nam từ năm 1946 cho đến nay nhưng chưa ai nghĩ rằng mình sẽ phải trả tiền khi hát nó.

Hôm 20/8, báo Thanh Niên đưa tin:

“Trung tâm Bảo vệ Quyền tác giả Âm nhạc Việt Nam yêu cầu thu phí tiền tác quyền bài hát này tại các chương trình nghệ thuật (ngay cả các chương trình nghệ thuật mang tính chính trị, không bán vé), chương trình biểu diễn của các đoàn nghệ thuật phục vụ bà con ở vùng sâu, vùng xa, các chương trình hội nghị, kỷ niệm (có thể xem xét tùy theo tính chất của chương trình), xuất hiện trong các tác phẩm điện ảnh (phim truyện, phim tài liệu)…

Trung tâm Bảo vệ Quyền tác giả Âm nhạc chỉ ‘không thu phí tác quyền trong một số trường hợp, chẳng hạn như học sinh hát quốc ca khi chào cờ vào mỗi sáng thứ hai hằng tuần’, báo Thanh Niên viết.

Cùng ngày, báo Tuổi Trẻ dẫn lời ông Văn Thao, con trai nhạc sĩ Văn Cao cho biết, “bà Nghiêm Thúy Băng, vợ nhạc sĩ Văn Cao, đã từng có thư gửi Bộ Văn hóa – Thể thao & Du lịch, ngỏ lời được hiến tặng ca khúc “Tiến quân ca”. (Đọc tiếp…)

Vụ “Tuần tra biển khống, rút ruột nhà nước”: Sĩ quan trong danh sách “xử lý nghiêm” trúng cử Bí thư Đảng ủy

Lao Động

Tàu của Bộ đội biên phòng Quảng Trị nằm yên tại cảng nhưng lập hồ khống tuần tra biển để rút ruột nhà nước hàng tỉ đồng

Như Lao Động đã thông tin, sau loạt bài về Bộ đội biên phòng (BĐBP) tỉnh Quảng Trị lập hồ sơ tuần tra biển khống để rút ruột nhà nước nhiều tỉ đồng trong các năm 2013, 2014, Bộ Tư lệnh BĐBP đã có kết luận khẳng định sai phạm trước hết thuộc về Chỉ huy trưởng và Chính ủy BĐBP Quảng Trị là đại tá Nguyễn Trọng Tiềng và đại tá Nguyễn Đức Khánh.

Đồng thời, Bộ Tư lệnh BĐBP cũng công bố danh sách 6 sĩ quan liên quan sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định sau khi có kết quả kiểm tra, xử lý của Tỉnh ủy Quảng Trị, trong đó đứng đầu danh sách là Chỉ huy trưởng và Chính ủy có tên trên.

Tuy nhiên, cho đến ngày 19.8, Tỉnh ủy Quảng Trị vẫn chưa có kết luận kiểm tra và hình thức xử lý đối với tập thể, cá nhân sai phạm tại Đảng ủy BĐBP tỉnh. Trong khi đó, tại đại hội Đảng bộ BĐBP tỉnh Quảng Trị vừa kết thúc, ông Nguyễn Đức Khánh- đại tá, Chính ủy đã được bầu giữ chức vụ Bí thư Đảng ủy, Chính ủy BĐBP tỉnh Quảng Trị nhiệm kỳ 2015 – 2020.

Về vụ “tuần tra biển khống, rút ruột nhà nước hàng tỉ đồng”, ngày 14.7.2015, Viện Kiểm sát quân sự Trung ương đã có công văn chỉ đạo số 62/VKS-P1 yêu cầu Viện Kiểm sát quân sự BĐBP và Bộ Tư lệnh BĐBP kiểm tra vụ việc do Báo Lao Động nêu và báo cáo bằng văn bản để Viện Kiểm sát quân sự Trung ương có cơ sở báo cáo Ban Chỉ đạo phòng chống tham nhũng Trung ương.

Thực hiện chỉ đạo này, ngày 16.7.2015, Viện Kiểm sát quân sự BĐBP đã phát công văn số 34 VKS-B1 “về việc yêu cầu báo cáo vụ việc có dấu hiệu tội phạm xảy ra tại đơn vị theo báo Lao Động nêu”, yêu cầu Bộ Chỉ huy BĐBP Quảng Trị tiến hành kiểm tra và báo cáo bằng văn bản nội dung sự việc và kết quả giải quyết.

( Nguồn: Lao động)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.08.2015

Kiểm soát quyền lực bằng cách nào?

Ông Vũ Ngọc Hoàng: “Tôi đã phát biểu trên báo Tuổi Trẻ nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Đảng 3/2 năm nay rằng, Việt Nam cần phải có nghị quyết và cơ chế về kiểm soát quyền lực”. Ảnh: Lê Anh Dũng

Kiểm soát quyền lực bằng cách nào?

Tiếp tục cuộc trò chuyện với Tuần Việt Nam, ông Vũ Ngọc Hoàng cho rằng, phương thức lãnh đạo của Đảng thì đến nay vẫn cơ bản giống như mấy chục năm trước, cơ bản là thế, chưa có đổi mới.

LTS:Tuần Việt Nam xin giới thiệu kì cuối của tọa đàm 30 năm đổi mới: Nhìn từ áp lực thể chế với sự tham gia của ông Vũ Ngọc Hoàng, Phó Trưởng ban thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương và ông Mai Liêm Trực, Nguyên Thứ trưởng thường trực Bộ Bưu chính-Viễn thông.

Nhà báo Lan Anh: Nhiều người cho rằng vấn đề Việt Nam đang bị vấp là ở chỗ thể chế. Vậy chúng ta nên hiểu thể chế ở đây thế nào cho đúng?

Ông Vũ Ngọc Hoàng: Bản thân nội hàm thể chế về mặt khoa học còn nhiều ý kiến lắm, nhưng theo tôi, thể chế là một bộ phận của cơ chế nói chung, mà bộ phận ấy liên quan đến quyền lực. Nếu hiểu theo cách này thì cơ chế nói chung rộng hơn thể chế.

 

Với góc nhìn như vậy, theo tôi, việc lớn nhất của chúng ta hiện nay là vấn đề kiểm soát quyền lực. Tôi đã nói rồi, quốc gia nào mà thả lỏng quyền lực, không kiểm soát được quyền lực thì nhất định sẽ dẫn đến tha hóa, tham nhũng, “lợi ích nhóm”. Tôi đã phát biểu trên báo Tuổi Trẻ nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Đảng 3/2 năm nay rằng, Việt Nam cần phải có nghị quyết và cơ chế về kiểm soát quyền lực.

Lâu nay Đảng đã có nhiều nghị quyết về xây dựng Đảng, nhìn chung đều đúng cả, không có gì sai, và cũng tích cực thực hiện, vậy mà suy thoái vẫn không dừng, thậm chí còn tăng hơn. Vì sao vậy? Phải chăng còn thiếu điều quan trọng nhất là cơ chế kiểm soát quyền lực và các cơ chế đảm bảo dân chủ thực sự. Phải kiểm soát quyền lực bằng quyền lực nhà nước; bằng cơ chế dân chủ, quyền tham chính của nhân dân; bằng công luận, sự công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình, điều trần.

 

Nhân dân ủy quyền cho Nhà nước việc gì – đến đâu, còn việc gì phải trưng cầu dân ý, các luật cho phép Chính phủ và các cơ quan Nhà nước khác đến đâu, chống lạm quyền bằng cách nào, giám sát chéo và dân giám sát thế nào… Rồi kể cả các tổ chức của Đảng, quyền đến đâu, chịu trách nhiệm pháp lý thế nào, ai kiểm soát quyền lực của các cơ quan Đảng, có ý kiến một số đảng viên đề nghị phải có Ủy ban giám sát của Đảng do Đại hội bầu ra cũng là việc rất nên bàn.

Khi bàn về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng thì cũng có nghĩa là bàn một phần quan trọng về đổi mới chính trị. Phương thức lãnh đạo của Đảng mặc dù nghị quyết đã nói nhiều lần về việc phải đổi mới nhưng cho đến nay vẫn cơ bản như mấy chục năm trước.

Cần phải đổi mới một cách căn bản, có cơ sở khoa học, theo hướng thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng và trong xã hội; công khai, minh bạch; lấy thuyết phục, đối thoại làm chính (thay cho áp đặt); thực hiện đầy đủ các quyền tự do, quyền con người mà Hiến pháp đã định. Trong đó, có quyền tự do tư tưởng và quyền thể hiện chính kiến của các công dân, nhằm đáp ứng tốt nhất cho yêu cầu phát triển lành mạnh, bền vững của đất nước và dân tộc Việt Nam.

Nhà báo Lan Anh: Cuối năm ngoái, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh được mời đến nói chuyện về các vấn đề kinh tế ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Thính giả là các lãnh đạo của hầu hết các tỉnh, thành phố. Tại đó, nhiều người hỏi Bộ trưởng Bùi Quang Vinh, thế nào là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ông đáp: “Chúng ta cứ nghiên cứu mô hình đó, mà mãi có tìm ra đâu. Làm gì có cái thứ đó mà đi tìm”. Các ông suy nghĩ thế nào về thực tế này?

Ông Vũ Ngọc Hoàng: Thế giới hiện nay có nhiều cách gọi, cách phân chia kinh tế thị trường, kể cả những năm gần đây có nói kinh tế thị trường hiện đại, kinh tế thị trường hội nhập…, nhưng phổ biến nhất có hai loại là kinh tế thị trường tự do và kinh tế thị trường xã hội.

Theo cách hiểu của tôi, kinh tế thị trường tự do khi tiến bộ lên, hoàn thiện hơn, có quản lý và điều tiết của nhà nước vì mục tiêu xã hội, thì thành kinh tế thị trường xã hội. Và người ta thường nói gọn, nói tắt là kinh tế thị trường. “Kinh tế thị trường” là cách gọi đã được quốc tế hóa rồi.

Trung Quốc đưa ra khái niệm kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Việt Nam thì kinh tế thị trường định hướng XHCN. Việt Nam nêu vấn đề “mềm” hơn Trung Quốc. Nhưng mấy chục năm rồi kể cả Trung Quốc và Việt Nam vẫn chưa làm rõ xong đặc điểm của nền kinh tế ấy. Tức là đã đặt tên trước khi làm rõ nội hàm. Có thể có lý do chính trị lúc ấy, thời điểm đặt tên gọi ấy.

Tôi cho rằng, không nên mất quá nhiều thời gian để tranh cãi về từ ngữ, và tên gọi, mà tốt nhất là làm rõ nội hàm đi, rồi chính nội hàm sẽ quy định tên gọi. Khi bàn về nội hàm của khái niệm khoa học, đừng nhầm lẫn giữa khái niệm khoa học với quan điểm chính trị. Hiện nay nước ta đang đề nghị các nước công nhận Việt Nam có nền “kinh tế thị trường” đó thôi, gọn vậy thôi, kể cả khi đoàn của Tổng Bí thư ta đi làm việc với Hoa Kỳ cũng thống nhất cách gọi như vậy.

  Tôi không nghe trực tiếp anh Bùi Quang Vinh nói nên không bình luận. Riêng tôi thì nghĩ rằng, định hướng đất nước trong tương lai sẽ tiến đến mục tiêu XHCN thì cứ định hướng, việc đó vẫn đúng (với cách hiểu XHCN phải thật sự tốt đẹp, chứ không phải hô khẩu hiệu, không lạm dụng danh từ ấy; quan niệm về XHCN phải với tinh thần rất đổi mới; đổi mới căn bản so với cách hiểu cũ kỹ, lạc hậu ngày xưa). Còn kinh tế thị trường thì cứ phải là kinh tế thị trường, hoàn toàn, đến cùng, không nửa vời, không biến tướng, tất nhiên có vai trò nhất định của nhà nước, và cũng có thể nói gọn “kinh tế thị trường”, như cách nói mà Đảng và nước ta đang yêu cầu thế giới công nhận là đủ rồi.

Mặt khác, khoa học cứ tiếp tục nghiên cứu về loại hình kinh tế thị trường, sáng tạo, tìm tòi cái mới. Cái mới là cái mà trước đó chưa có. Chưa có không đồng nghĩa với không có. Nhưng phải có đủ cơ sở khoa học, không thể ý muốn chủ quan, áp đặt và phải có cách tiếp cận đúng thì mới có thể tìm ra cái mới. Bằng tư duy cũ không tìm ra cái mới được.

Theo suy nghĩ của tôi, không thể tìm thấy kinh tế thị trường XHCN theo cách tiếp cận là nó phải khác căn bản so với kinh tế thị trường ở các nước tư bản. Mà ngược lại, nó phải kế thừa tối đa các giá trị phổ quát, lâu bền của kinh tế thị trường đang có ở các nước TBCN và phát triển lên, hoàn thiện hơn.

Kinh tế thị trường là giá trị chung của nhân loại chứ không phải chỉ của TBCN. Mà ngay cả tư bản thì cũng là sản phẩm của nhân loại. Và khi CNTB phát triển ở trình độ cao thì tự nó từng bước đang và sẽ tạo ra các yếu tố XHCN, tức là nó không còn nguyên là nó, mà đang dần dần trở thành cái khác, cái mới, tiến bộ hơn. CNTB hiện đại ngày nay đã khác rất xa so với thời kỳ C. Mác sống và viết Tư bản luận – một tác phẩm rất hay mà tôi chưa thấy ai vượt qua ông.

Tôi sẽ trở lại và xin được trao đổi tiếp vấn đề kinh tế thị trường trong CNXH và kinh tế thị trường trong CNTB trong một dịp khác.

Ông Mai Liêm Trực: Tôi hoàn toàn chia sẻ về quan điểm của Bộ trưởng Bùi Quang Vinh là không nên đi tìm cái không có. Nếu cứ khư khư giữ lấy cái không có, đi tìm cái không có thì mỗi người hiểu một cách, không thể đi đến đồng thuận để tìm được cơ chế kinh tế phù hợp.

Chúng ta đã tham gia một số Hiệp định thương mại và đang trong quá trình đàm phán TPP cũng như một số đối tác thương mại khác. Chúng ta muốn các nước công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường thì phải thì phải theo những tiêu chí phổ quát của kinh tế thị trường.

Chúng ta có thể cần một lộ trình nhất định cho một số lĩnh vực cụ thể đó là nước đi sau nhưng đã đi sau thì phải khẩn trương để tiến tới hoàn toàn phù hợp với luật chơi toàn cầu.

Ngành viễn thông là một ví dụ về sự mạnh dạn hội nhập quốc tế thành công. Viễn thông là một lĩnh vực rất nhạy cảm khi đàm phán Hiệp định thương mại Việt Mỹ và gia nhập WTO vì lo sợ an ninh thông tin và nước ngoài vào nắm hết khi mở cửa thị trường viễn thông nhưng sau BTA 15 năm nay, Việt Nam vẫn giữ vững thị trường trong nước và từng bước thành công ở thị trường nước ngoài nhờ chính sách đi thẳng vào công nghệ hiện đại. Đặc biệt là xoá độc quyền doanh nghiệp, mở cửa cạnh tranh thị trường nước ngoài để giá cước giảm và chất lượng dịch vụ tăng lên.

30 năm đổi mới chúng ta có nhiều thành công, nhiều tiến bộ vượt bậc khi so sánh với chính mình, nhưng nếu so với nhiều nước cùng hoàn cảnh phát triển thì vẫn kém xa. Nếu chúng ta cứ say sưa, thoả mãn với thành tích đã qua, lừng khừng không dám bứt phá thì sẽ tiếp tục mất đi cơ hội quý báu và nước ta sẽ tụt hậu xa hơn.

Tôi rất đồng cảm với câu nói của anh Nguyễn Mạnh Hùng – TGĐ Viettel đại ý, phải dám quên đi thành công của 10 năm trước thì ta mới bước ra thế giới được.

Nhà báo Lan Anh:Trong bối cảnh hiện nay để có thể đổi mới cơ chế, đổi mới thể chế thành công như người dân đang mong mỏi, những người lãnh đạo cần phải làm những gì, cần phải thay đổi những gì?

Ông Vũ Ngọc Hoàng: Chúng ta phải đổi mới căn bản, đổi mới toàn diện, đồng bộ, bắt đầu từ tư duy, tiếp theo là chiến lược phát triển, cơ chế, thể chế, chính sách và công tác cán bộ,…Lâu nay chúng ta đã nói phải phát triển bền vững đất nước. Đúng rồi, nhưng có lẽ chưa đủ.

Theo tôi, cái quan trọng trước nhất phải nghĩ đến là làm thế nào để phát triển dân tộc Việt Nam, trở thành một dân tộc giỏi, có đẳng cấp cao, đứng ở một tầm cao mới, có trí tuệ và năng lực cao để làm cho quốc gia cường thịnh và đủ sức bảo vệ vững chắc toàn vẹn Tổ quốc trong mọi tình huống.

Sự nghiệp phát triển Việt Nam có hàng vạn công việc phải làm; đồ sộ, khổng lồ, không một ban lãnh đạo nào có thể giải quyết được mọi việc, mà chỉ có toàn dân, một cộng đồng dân tộc mạnh mới giải quyết được. Có những con người phát triển thì sẽ có tất cả. Chính họ chứ không ai khác sẽ giải quyết có hiệu quả hàng vạn công việc kia.

Trước nhất và quan trọng nhất là phát triển con người Việt Nam. Đồng thời, cần phải có một chiến lược phát triển rõ ràng và hiệu quả, trong đó xác định rõ các ngành, lĩnh vực và sản phẩm ưu tiên (ví dụ như du lịch; nông nghiệp công nghệ cao; công nghiệp phần mền và công nghệ thông tin…), trên cơ sở đó mà tái cơ cấu nền kinh tế về mặt cơ cấu ngành.

Cần tính kỹ lại chiến lược năng lượng, hết sức tiết kiệm điện, ta lãng phí còn nhiều; chọn các ngành công nghiệp dùng điện ít (nếu “cả nước” làm công nghiệp phần mềm thì chỉ bằng vài nhà máy công nghiệp nặng); phát triển các nguồn năng lượng sạch (nước ta có nhiều nắng, nhiều gió và đang có các nghiên cứu khoa học về các nguồn năng lượng mới…), không ô nhiễm môi trường, không có phóng xạ kể cả khi gặp sự cố nghiêm trọng. Việc này liên quan đến sinh mạng và sự tồn vong của dân tộc.

 

alt

“Đổi mới căn bản” là cụm từ đúng và cần thiết để diễn đạt việc cần thiết phải làm cho đất nước trong giai đoạn tới đây. Ảnh minh họa

Một trong những yêu cầu cấp bách hiện nay là phải kiến tạo cho được động lực tăng trưởng mới của giai đoạn phát triển mới, phát triển theo chiều sâu, khi những động lực tăng trưởng được tạo ra trong chặng đường 30 năm Đổi mới vừa qua đang dần hết tác dụng.

Tôi biết có những ý kiến sẽ không đồng tình khi tôi dùng cụm từ “đổi mới căn bản” vì sợ rằng, làm như vậy sẽ mất ổn định, rối lên. Nhưng tôi vẫn cho rằng đây là cụm từ đúng và cần thiết để diễn đạt việc cần thiết phải làm cho đất nước trong giai đoạn tới đây. Tôi hiểu giá trị của sự ổn định, phải ổn định mới phát triển được. Phát triển là mục đích, ổn định là điều kiện.

Phải đổi mới để phát triển. Phát triển mới có ổn định lâu dài. Không phải cứ đổi mới căn bản thì mất ổn định. Ngược lại, không chịu đổi mới thì đến một lúc sẽ mất ổn định lớn hơn. Có cách làm đúng thì sẽ tốt. Dù đổi mới căn bản thì vẫn phải có bước đi, có lộ trình phù hợp. Phải mạnh dạn mới hy vọng kết quả lớn, giải quyết được tình hình.

Liên Xô sụp đổ là bài học lớn cho chúng ta. Vì sao thành trì cách mạng đó lại có thể sụp đổ nhanh đến thế ? Cái gọi là ổn định trước đó chỉ là sự ổn định bề mặt, giả tạo chứ không phải sự ổn định bản chất, vững chắc.

Suốt mấy mươi năm Liên Xô ổn định kiểu vậy, khi có quyền lực nhiều cái có thể vượt qua được, tưởng như thế là tốt, là xong rồi, nhưng nó lại tích tụ chồng chất mâu thuẫn bên trong, giống như nhìn thấy cây cối trên mặt đất vẫn bình yên, nhưng không thấy sự rạn nứt dần dần trong nền móng, để đến một ngày nó đổ ào đến mức khó hiểu.

Do vậy, từ thực tiễn và khoa học mà nói, cần phải đổi mới một cách căn bản, từ gốc rễ mới tạo dựng được sự ổn định lâu dài và phát triển vượt lên.

Lâu nay Đảng và Nhà nước luôn khẳng định là nhân dân làm chủ; quyền lực là của dân. Điều này quá đúng! Và chỉ khi người dân thực sự có quyền lực, thực sự làm chủ, cộng với cơ chế kiểm soát quyền lực bằng quyền lực Nhà nước, thì khi đó mới có thể kiểm soát được quyền lực.

Xưa nay, rất ít khi những người có quyền lực lại tự giới hạn hoặc từ bỏ quyền lực của chính mình; ngược lại luôn muốn tăng thêm, không muốn ai kiểm soát mình. Hy vọng những người lãnh đạo chân chính và trách nhiệm cao với quốc gia, dân tộc của Đảng và Nhà nước ta sẽ giải quyết tốt vấn đề này.

Việc cần làm trước nhất hiện nay là phải tập trung đổi mới tư duy, đổi mới công tác tư tưởng, đổi mới cơ chế lựa chọn cán bộ và khẩn trương ban hành các cơ chế kiểm soát quyền lực, chống tham nhũng, “lợi ích nhóm”.

Ông Mai Liêm Trực: Sự nghiệp đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng từ năm 1986 thực chất và chủ yếu là đổi mới thể chế kinh tế, chuyển sang cơ chế thị trường và chúng ta đã vượt qua được khủng hoảng, có nhiều thành công về mặt kinh tế.

Chúng ta chắc chắn phải tiếp tục đổi mới thể chế kinh tế như tôi đã nói ở trên nhưng sự chững lại của tăng trưởng kinh tế và tiêu cực xã hội đòi hỏi phải đổi mới cơ bản, mạnh mẽ cơ chế quản lý nhà nước pháp quyền.

Đất nước ta đang đứng trước thời cơ của công cuộc đổi mới lần thứ hai đòi hỏi sự dũng cảm và dấn thân của lãnh đạo như một số vị lãnh đạo đáng kính đã làm cuộc đổi mới gần 30 năm trước.

Thời nào cũng vậy, đặc biệt là những lúc khó khan, khủng hoảng thì cán bộ đóng vai trò quyết định. Do đó, cần thay đổi mạnh mẽ cơ chế chọn lựa và bổ nhiệm cán bộ. Cần có sự chọn lọc rộng rãi để tìm ra được những cán bộ có tâm và có tài quản trị đất nước, phụng sự tổ quốc nhân dân.

Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/254919/kiem-soat-quyen-luc-bang-cach-nao-.html

 

  

 

 

 

Thư Trần Trọng Kimgửi Hoàng Xuân Hãn năm 1947 bàn về Việt Minh

Nguyễn Đức Toàn (Viện Nghiên cứu Hán Nôm) (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.08.2015

HẬU CHUYỆN KỂ NĂM 2000- KỲ 29

 

 HẬU CHUYỆN KỂ NĂM 2000

(Thời biến đổi gien)

 Kỳ 29

Hồi tưởng không bao giờ hết. Mong ước không bao giờ ngừng. Cho nên thật bất ngờ làm sao khi nhận được điện thoại của Đoàn Duy Trọng:

– Anh có muốn vào thăm lại Trần Phú không?

Tôi như không tin ở tai mình:

– Em nói gì?

Tôi chưa một lần thổ lộ khao khát ấy của tôi với Trọng. Nên chưa hiểu ngay điều Trọng nói.

– Vào thăm lại trại giam Trần Phú ấy.

Tôi reo lên:

– Bao giờ?

– Bây giờ, anh chuẩn bị đi ngay với em.

Niềm vui quá lớn. Tất cả sắp trở thành hiện thực. Khao khát bấy lâu nay!

Trọng là con trai ông Đoàn Duy Thành, nguyên bí thư thành ủy Hải Phòng, phó thủ tướng chính phủ. Cả hai đều là bạn đọc của tôi. Tôi và Trọng nói với nhau nhiều chuyện nhưng chưa bao giờ tôi thổ lộ cùng anh nguyện vọng thăm lại các nhà tù. Tuy nhiên anh vẫn hiểu.

Tôi vội thay quần áo, xuống nhà, bước ra hè phố với bao niềm vui và hồi hộp. Trọng đã ngồi trong ô tô đậu ngay trước ngõ. Đang dở nói điện thoại, anh chỉ gật đầu chào tôi. Khi tôi lên xe, anh bảo:

– Em vừa nói chuyện với tay giám thị. Nó không ở Trần Phú nữa mà đã sang bên Gốc Thị rồi. Ta sang Gốc Thị anh nhé.

Tôi hơi hẫng. Đã tưởng mình được vào Trần Phú, gặp lại cái lối đi nhỏ từ khu 175 sang khu 176, gặp lại Bê Dê — Buồng D —, gặp lại những bể nước khổng lồ cho tù sáng ra làm vệ sinh, giặt giũ, và cái sân rợp bóng lá bàng. Cái sân hồi còn bị giam ở xà lim 175 tôi đã đu người lên dóng song sắt bẻ một nan chớp cửa thông hơi, nhìn xuống sân thấy anh tù động kinh mà tôi đã viết trong Chuyện kể năm 2000. Ở sân này còn một chuyện nữa tôi chưa viết nhưng nó đã làm tôi buồn không biết bao nhiêu. Cái sân hôm ấy khác hẳn những hôm khác: Gỗ, cầu bào, phoi bào, mùn cưa đã được dọn sạch. Sân trại vắng vẻ im lặng. Không có tiếng cưa đục, tiếng tù vừa làm việc vừa nói chuyện. Một biểu hiện khác thường. Rồi nguyên nhân của sự bất thường ấy đã xuất hiện: Một tốp gần chục ông công an mặc sắc phục đang từ sân xê rom bước ra. Đi đầu là ông đại uý chánh giám thị và một người mặc thường phục. Tôi không tin ở mắt mình: Nhà văn G, vị khách được đón tiếp long trọng đang đi chậm bước ở hàng đầu song song với ông đại uý, nhìn bên nọ, ngó bên kia, trong khi ông chánh giám thị đang nói và giơ tay chỉ trỏ như một hướng dẫn viên du lịch, theo sau là những ông quản giáo. Tôi hiểu nỗi xúc động của nhà văn G. Anh đang bước vào một địa hạt bí mật, một địa hạt thiêng liêng: Giam giữ và cải tạo con người. Nơi đây những người xấu xa, nguy hại cho sự nghiệp cách mạng đang trở thành những người tốt. Tôi cũng đã từng tin như vậy: Tôi đã viết trong một bản tự khai khi mới bị bắt vào Trần Phú về tính ưu việt, nhân đạo của chế độ: Đến con cái bọn bóc lột, chúng ta cũng giúp đỡ, cải tạo họ để họ trở thành những người tốt như chúng ta (!!!)

Cánh tay đu vào dóng sắt mỏi rời, nhưng không thể tụt xuống. Tôi muốn nhìn nét mặt trang trọng cao cả của đoàn người đi ngoài sân kia, nhất là vẻ xúc động của anh G. Xem cho kỹ, nghe cho kỹ rồi về viết nhé. Một Bài Ca Sư Phạm, một Những Ngọn Cờ Trên Tháp ([1]) đang đợi anh viết ra, Makarenko của Việt Nam ạ. G. là người tôi quen khi tôi còn làm ở Hà Nội. Anh có một tập tiểu thuyết mỏng in từ cuối những năm 50, được nhiều người đọc, trở thành nổi tiếng, và càng nổi tiếng hơn khi có người kiện anh, nói rằng chính anh ta mới là tác giả. Chẳng biết ai đúng ai sai, nhưng sau đó anh chuyển về Hải Phòng. Từ ấy không thấy anh viết lách gì nữa. Mà chuyên đi nói chuyện, giới thiệu các “sáng tác” người thực việc thực. Anh đã đi nhiều nơi tại Hải Phòng đăng đàn diễn thuyết về tập Người Gác Đèn Biển viết về anh hùng lao động Phùng Văn Bằng của tôi. Với tác phong cẩn thận chu đáo, anh đến báo Hải Phòng gặp tôi, đưa tập đề cương cho tôi xem, cả một thếp giấy với những dàn ý, những bối cảnh, những chủ đề từng đoạn, những phát triển bài viết của tôi, để tôi góp ý, còn tôi thì xấu hổ đỏ mặt lên vì thứ văn chương tổ đội của mình lại được một người bạn hơn tuổi coi trọng và làm việc với mình cẩn thận đến thế:

– Bác ơi. Tôi hoàn toàn tín nhiệm bác. Bác cứ theo ý bác mà làm…

Những bước chân chậm rãi, nét mặt trang nghiêm như đang bước trên một hành tinh khác của G. tiến gần tới xà lim của tôi. Tôi vội buông tay, tụt xuống. Từ dưới nhìn lên, họ có thể thấy tôi qua nan chớp bị bẻ.

Tôi nằm xuống ván lim. Rã rời. Thế đấy. Người sống chết với văn chương thì bị nhốt xà lim. Người không viết được, người làm chỉ điểm thì được đón tiếp long trọng như những vị khách quý. Ngay lúc ấy tôi đã nghĩ anh bạn G. làm chỉ điểm mà cách gọi nhẹ hơn là “đặc tình.” Khi bắt tôi, không khí khủng bố ở Hà Nội, Hải Phòng đã lên tới cao điểm. Văn nghệ sĩ là một lũ đáng ngờ. Phải đặc biệt cảnh giác và theo dõi chặt chẽ.

Thế nhưng G. lại được đón tiếp rất trọng thị. Được đến những nơi không ai có thể đến. Sự quản chế những tù nhân chưa thành án là rất ngặt nghèo, không thể vượt quá qui định, vượt qua nguyên tắc nếu không có một sự đối xử đặc biệt nào đó. Khi đi Gốc Thị với Đoàn Duy Trọng, tôi càng tin việc anh G. được tới Trần Phú không thể là chuyện bình thường của một nhà văn đi thực tế.

Trọng lái xe đưa tôi sang trại Gốc Thị, Kiến An. Đại tá chánh giám thị trại tạm giam Hải Phòng đang ngồi với một người khách Việt kiều chờ chúng tôi ở “nhà thuỷ tạ” ngay cổng trại. Ông còn rất trẻ, trạc tuổi con lớn tôi nhưng đã mang hàm đại tá. Trên xe, Trọng đã nói với tôi cái cách anh giới thiệu tôi và anh đã thực hiện đúng như vậy:

– Giới thiệu với bác: Đây là anh T. chánh giám thị trại giam Hải Phòng. Giới thiệu với anh T. Đây là ông bác tôi mới ở quê ra.

Chúng tôi ngồi trên sàn nhà làm ngay trên mặt hồ. Trên đầu tôi, chung quanh tôi toàn phong lan là phong lan. Hàng trăm bông phong lan từ chỗ chúng tôi ngồi chạy ra phía đầu hồ nước. Những chùm hoa phong lan như những đàn bướm nối nhau nằm im lặng ngủ trong tán lá. Và những cây lộc vừng cổ thụ quý hiếm, mốt ăn chơi thời thượng, được đưa thẳng từ rừng già về đã bén rễ, đâm chồi, tỏa tán lá xanh non. Bên cạnh chúng tôi là ao cá mênh mông. Cá đớp ngay bên cạnh, cá đớp dưới sàn. Cá nổi trên mặt nước uốn lượn. Tôi khen cơ ngơi đẹp như tranh của ông giám thị mà bụng nghĩ: Không biết bao nhiêu mồ hôi của cánh phạm đã đổ để có được cảnh tiên này. Ông giám thị tươi cười:

– Tất cả những thứ này là mới có mấy năm nay thôi bác ạ, từ khi cháu về làm giám thị.

Ông kể lai lịch từng cây cổ thụ, lai lịch từng khu phong lan một cách đầy hào hứng. Ông gọi tên một người. Một anh tù bước tới đem bia đến. Nhìn dáng vẻ sợ sệt, đôi mắt luôn cụp xuống, không dám nhìn ai của anh, tôi không thể không nghĩ đến thân phận mình ngày trước và cảm thấy ngượng trước sự khúm núm của anh. Nhưng sau đó lại nghĩ ngay: Anh bạn này trúng số độc đắc. Phải là con nhà. Hoặc phải rất nhiều đạn mới được làm công việc thơm như thế này. Được là tù tự giác. Được bán tự do. Không phải đi lao động theo toán. Không phải làm công việc nặng nhọc.Và chắc chắn no!

Trọng giúp tôi, đề nghị với ông giám thị cho phép “ông bác” anh được vào trong trại tham quan. Anh làm ra bộ ngây thơ: Ông bác tôi từ lúc bước chân lên xe tới đây chỉ ao ước được vào tham quan trong trại một tí…

Ông T. ôn tồn giải thích cho tôi và Trọng nghe nguyên tắc tuyệt đối không cho người không có trách nhiệm vào khu giam giữ phạm nhân. Và nói với chúng tôi về những gì bên trong bốn bức tường quây kín cả một khu mênh mông kia mà lâu ngày tôi chỉ còn nhớ là phòng giam nào cũng có tivi…

Tôi nói:

– Trại Gốc Thị, trước đây cứ nghe nói trại Gốc Thị Kiến An, hôm nay tôi mới được thấy.

Ông giám thị chỉ ra một gốc cây ở giữa sân được xây quây chung quanh vuông vắn, có đặt nhiều bát hương:

– Gọi là trại Gốc Thị vì ngoài cổng trại có cây thị bác ạ. Gốc nó còn đấy.

Câu chuyện đang dở dang thì có mấy phụ nữ đến, trong đó có một người đã tới nhà tôi.

– Cháu chào bác ạ.

Chị N. người có công việc giao dịch với Hải Yến con gái tôi cách nay hai chục năm khi Hải Yến còn công tác ở Hải Phòng, con dâu một người bạn của vợ tôi. Cứ nghe cung cách N. nói chuyện với ông giám thị thì biết rằng họ rất thân nhau. Thật lạ. Sao N. lại quen biết cả những người trong cơ quan chuyên chính, không dính dáng gì đến việc làm kinh tế của mình như ông T. nhỉ. Mà lại thân mật thế. Có cái gì chung giữa họ đâu? Hay có cái chung mà mình không biết? Có vẻ như N. thuộc loại có thể quen và thân với bất kỳ ai cần thân quen. Có một số người như vậy. Quen được với tất cả.

Tôi xin phép chủ nhân đứng dậy đi tham quan phía ngoài trại giam và được ông vui vẻ đồng ý. Vẫn chỉ là những bức tường cao vút, và những bốt gác nhô lên ở những góc trại, vẫn là cánh cổng sắt khép chặt mà tôi cố nhìn vào bên trong nhưng chỉ thấy những bức tường im lặng. Tôi tần ngần nhìn ngắm gốc cây thị được xây gạch quây tròn xung quanh, bên trên xếp kín bát hương, những chứng nhân của biết bao đau khổ chia lìa, chết chóc.

Bỗng một hồi kẻng vang lên. Tiếng kẻng trong vắt ngân nga quen thuộc. Tôi hiểu ngay đó là kẻng gì. Đã tan tầm. Buổi lao động khổ sai đã chấm dứt. Tiếng kẻng đã bao lần giữa rừng sâu rã rời cả phần xác lẫn phần hồn, tôi chờ đợi nó cất lên. Để tự động viên đã vượt qua được một ngày. Và chuẩn bị đón một đêm, chuẩn bị vượt qua một đêm. Cho dù một ngày đêm qua đi chẳng có ý nghĩa gì với bọn tù tập trung cải tạo không án chúng tôi. Cũng giống khi viết văn trước đây, mong viết kín một tờ pơ-luya dù nó mỏng dính chẳng có mấy ý nghĩa đối với một quyển tiểu thuyết, nhưng nhiều tờ pơ-luya xếp lên nhau sẽ có một chiều dầy, chiều dầy ấy động viên tôi; trong tù, bọn án cao su chúng tôi cũng tự động viên: nhiều ngày đêm sẽ thành một chục ngày, nhiều chục ngày sẽ thành một trăm ngày, nhiều trăm ngày sẽ thành một nghìn ngày, nhiều nghìn ngày có thể sẽ thành một điều để các ông ấy bỗng nhiên nghĩ tới mình: Ờ cái thằng ấy tù cũng lâu rồi nhỉ…

Hôm nay tôi không chờ nữa, đã quên rồi tiếng kẻng bám vào cuộc đời ấy. Nhưng nghe tiếng kẻng tôi nhớ lại và chờ đợi. Nhìn về phía cổng trại giam chờ đợi. Và tôi đã thấy. Từ lối đi phía bên phải cổng trại, khuất sau một hàng cây, một toán người xuất hiện. Tất cả mặc quần áo kẻ sọc. Nền kinh tế của ta đã khá lên rồi! Không như chúng tôi ngày xưa nữa. Tù được mặc quần áo sọc, loại pyjama cổ điển([2]). Một đám tôi ngày trước hết giờ lao động được về trại. Không biết họ làm gì. Đi lao động ngoài trại chắc là chăn nuôi trồng trọt gì đấy thôi. Thì ra dáng đi của người tù thời nào, ở đâu cũng giống nhau. Họ đi hệt chúng tôi đi non nửa thế kỷ trước. Kéo lê từng bước như kéo lê cuộc sống. Lẽ ra họ phải phấn khởi mới đúng chứ. Tù Gốc Thị, tù Trần Phú là trúng số rồi! Gạo trắng nước trong. Không phải đến những nơi khỉ ho cò gáy, rừng thiêng nước độc. Nhà thường xuyên tiếp tế. Hẳn phải mất khá đạn mới được tù ở đây.

Tôi trở về “nhà thuỷ tạ” và nhận ở ông giám thị một thái độ khác hẳn. Không còn vẻ lịch sự tôn trọng của một người tiếp đón ông bác của bạn mình, anh của phó thủ tướng nữa. Vẫn ngồi nguyên một chỗ, ông khinh khỉnh nhìn tôi một lượt từ đầu đến chân. Một cái nhìn giễu cợt kéo dài không che giấu, đắc thắng vì đã lật tẩy được chân tướng một kẻ bịp bợm. Cái nhìn của người thợ săn nhìn con mồi thoát khỏi tay mình, nhởn nhơ ngoài tầm súng. Rồi nhếch mép cười với một vẻ rất bề trên, nụ cười của ông chánh giám thị nhìn một kẻ từng phạm pháp, từng bị đi tù, khoảng cách giữa hai người là vời vợi nghìn trùng:

– Bùi Ngọc Tấn…

Và gật gù:

Chuyện kể năm 2000.

Rồi:

– Từng trải đấy.

Ngừng một lát, lại tiếp:

– Nhưng phải thay đổi tư duy đi.

Tôi hiểu rằng mình đã bị lộ chân tướng. “Lộ Miêu và Duy Liên” như chúng tôi vẫn nói với nhau khi còn ở báo Tiền Phong, một cách gọi phim Romeo và Juliet thời mới tiếp quản. Tôi đã trở về với vị trí của tôi, trong cái nấc thang cuối cùng của xã hội. Một phó người. Hơn thế, một phó người man trá. Biết đã đặt Trọng vào một tình thế khó xử, tôi không dám nhìn sang anh nữa. Ông đại tá giám thị trẻ nhắc đi nhắc lại một cách rất bề trên câu: Thay đổi tư duy đi. Tôi cảm thấy mình bị xúc phạm nhưng cố giữ im lặng. Đây không phải là lúc dành cho một cuộc đối thoại giữa tôi và chính quyền, giữa một kẻ bị bắt oan bị đày ải suốt đời với một người chuyên nghề chuyên chính, nhốt giam người. Thay đổi tư duy nghĩa là thay đổi cái gì? Nếu nội dung tư duy tôi phải thay đổi là nơi ban giám thị nhà giam làm việc và tiếp khách giờ đây đầy hoa phong lan và phạm nhân được mặc quần áo kẻ sọc thì đúng nhưng đấy chỉ là sự thay đổi bề ngoài. Còn bên trong nó? Rộng hơn nữa là việc thực thi luật pháp, việc thi hành án. Gần nửa thế kỷ đã qua kể từ ngày tôi bị bắt, sinh hoạt nhà tù nhất định khác trước hiểu theo cả hai nghĩa xấu hơn và tốt hơn, nhưng tôi tin chắc rằng nhà tù hôm nay vẫn là nơi giam cầm đầy đoạ làm cho con người khiếp sợ với bao điều khủng khiếp mà ai bước vào đó vĩnh viễn không thoát khỏi nó. Vẫn còn đó nguyên vẹn nỗi đau khổ của người bị mất tự do một cách oan ức. Vẫn còn đó và còn nhiều hơn trước sự bất bình đẳng trước pháp luật, sức mạnh của đồng tiền trong xét xử, giam cầm, vẫn còn đó sự bất công tàn bạo trong việc quất lên đời người những ngọn rồi sắt chuyên chính của chế độ độc trị… Nhưng điều làm tôi thấy bị xúc phạm không hẳn là nội dung câu nói của ông — Ai mà chẳng phải đổi mới trong suy nghĩ để bắt kịp cuộc sống. Mà nằm trong cách nói đầy tự tin rằng mình đã thay đổi tận gốc chế độ nhà tù, nhất là giọng nói rất mệnh lệnh, rất quản giáo, rất giám thị của ông ta. Nhưng thôi, không cãi nhau ở đây. Mình là khách, lại còn Trọng nữa. Hẳn là cái chị N. có đến nhà tôi vài lần đang bia bọt cười nói trước mặt tôi đã nói với ông giám thị về tôi.

Ngay lúc ấy tôi chỉ muốn lên xe ra về nhưng còn Trọng. Và kìa thức ăn đã được đưa lên. Những anh tù phục vụ cúi đầu thu cái nhìn không quá phạm vi bàn chân mình. Rượu, bia đã được rót. Chúng tôi chạm cốc. Những người quanh bàn tiệc nhìn tôi như nhìn một kẻ lừa đảo đã bị vạch mặt. Tôi có cảm giác mình đã ngồi nhầm chỗ mà vì lý do nào đấy, ông chánh giám thị rộng lượng bao dung. Còn cái cô N. cùng đám phụ nữ bạn của ông giám thị thì vẫn chuốc bia nhau rất sành điệu. Một lần nữa tôi ngạc nhiên và bất ngờ trước sự giao tiếp rộng của họ. Bởi con gái tôi không có đứa nào như vậy.

Khi lên xe ra về, rõ ràng chúng tôi đã thoát được một tình thế lố bịch. Trọng bảo:

– Lúc bác đi quanh sân Gốc Thị thì cái cô quen bác cùng với tay T. đi về phía đầu ao cá, rồi lại trở lại. Chứ khi em ngồi ở đấy không thấy ai nói gì về bác cả.

Cuộc đi thăm Trần Phú thất bại, hay nói cho đúng hơn, chỉ đạt số phần trăm kết quả rất ít.

Nhưng chuyến đi thăm trại Q. thì vượt mong đợi. Tất cả là nhờ cô Vũ Thị Hải, người đại uý công an đã đến thăm tôi lần đầu tiên khi Chuyện kể năm 2000 vừa bị thu hồi tiêu huỷ cùng với hai quả dứa, một túi cam và cứ ân hận mãi là bà bán hàng hết dứa nên không mua được mười quả dứa cho tôi — để đúng với số lượng dứa tôi đã tạt trong tiểu thuyết.

Sau khi thăm tôi lần ấy, cô đại uý công an thường lui tới nhà tôi, vợ chồng tôi coi cô như một người em gái. Hải sinh năm 1969, bằng tuổi cậu con trai út của tôi, sinh khi tôi đã vào tù. Hải thân với tôi, gọi vợ chồng tôi bằng anh chị và khi thấy mọi người ngạc nhiên, Hải cười: “Anh Tấn hỏi mình mẹ em bao nhiêu tuổi, mình trả lời mẹ em kém anh ba tuổi.” Rồi cười vang.

Tôi rất quý Hải. Cô đã ra khỏi ngành công an, về làm phóng viên báo Văn Nghệ Trẻ rồi phóng viên báo Nông Thôn Ngày Nay và là sát thủ của các quan tham, những chuyên gia “ăn đất.” Vụ tham ô đất Đồ Sơn bị phanh phui từng làm xôn xao dư luận của cả nước có đóng góp rất lớn của Vũ Thị Hải. Không chỉ vụ đất Đồ Sơn, còn vụ đất Kiến An, rồi vụ đất Quán Nam… Đất — cũng như chữ — vốn dĩ không biết nói. Đất chỉ ngậm máu, ngậm mồ hôi, đón nhận xương thịt tổ tiên cha ông chúng ta đã mở mang, khai phá. Đất thấm máu và nhận thịt xương các liệt sĩ đã giữ từng tấc đất của cha ông. Đất đời đời im lặng, và đã có biết bao quan tham mọi nơi mọi chỗ, mọi cấp mọi ngành luôn mồm ăn đất và luôn mồm rao giảng về sự thiêng liêng của Đất, về truyền thống, về mồ hôi xương máu thấm đẫm từng xăng-ti-mét đất đai Tổ Quốc. Năm 2005 Vũ Thị Hải là nhà báo nổi tiếng nhất trong năm và được chương trình Người Đương Thời của truyền hình Việt Nam mời lên ghi và phát hình. Hàng triệu khán giả, những người chỉ đọc chị, nghe nói đến chị đã được trực tiếp nhìn chị và nghe chị trên màn ảnh nhỏ.

Tôi đã nhiều lần “khai báo” với Hải:

– Làm sao về được những nơi anh đã lang thang nhỉ? Trước khi chết thế nào anh cũng phải tìm cách trở lại những nơi ấy.

Hải hứa sẽ giúp tôi và đã thực hiện lời hứa đó.

Cuối năm 2006, một người bạn đã cho Hải mượn một chiếc xe bốn chỗ kể cả lái xe và ba chúng tôi, nghĩa là tôi, Hải và nhà thơ Vũ Thị Huyền lên đường đến trại Hoành Bồ — trại QN trong tiểu thuyết. Chúng tôi thẳng tiến về hướng Đông Bắc và dừng xe dọc đường, ăn sáng, uống cà phê đá Huyền mang theo. Tôi chỉ nhớ được một địa danh để hỏi thăm đường: Trại Đồng Vải. Vì trại đặt tại xã Đồng Vải nên còn có tên gọi như vậy.

Trên đường tới Đồng Vải có một cái tên quan trọng khác: Trới. Hình như đây là huyện lỵ của Hoành Bồ. Tôi đã nghe vợ tôi nhiều lần nhắc tới địa danh này trong những lần “hồi ký cách mạng” về những chuyến lên thăm tôi. Và tôi cũng đã một lần từ Đồng Vải đến Trới, khi chúng tôi đi gánh than trong rừng đổ lên ô tô để chở về trại. Vậy là xe chúng tôi cứ bon bon tới Trới, một địa danh khá phổ cập.

Chẳng biết cái thị trấn Trới thời tôi đi tù như thế nào nhưng bây giờ nó đã được ngói hoá, bê tông hoá, có nhà nghỉ, có khách sạn, có quán ka ra ô kê, có nhiều biển quảng cáo và nhiều xe máy, xe ô tô đi lại trên đường nhựa. Một chiếc cầu bê tông bắc ngang qua sông Trới, một dòng sông nhỏ trôi xuôi.

Nơi đây xưa kia là bến đò vợ tôi phải vượt qua mỗi lần lên trại thăm tôi. Vác chiếc xe đạp poóc-ba-ga nặng trĩu đồ tiếp tế, lội qua bãi phù sa vì nước ròng, con thuyền đỗ ghếch lên mép nước mãi xa, vợ tôi dưới bãi, ông lái đò trên thuyền cúi đỡ chiếc xe đạp lệch một bên vai nàng khi ấy mới ba mươi tuổi, đặt nằm trong lòng thuyền, rồi sau đó nắm chặt tay vợ tôi để vợ tôi đu lên, bàn chân bết phù sa trơn loạng choạng trượt trên ván thuyền. Sang bờ bên kia. Lại lội lại vác.

Mặt trời chiều đã khuất sau rừng. Trời tối dần.

Ông lái đò biết vợ tôi đang đến chốn nào, động viên: “Đạp nhanh không tối đấy.

Tôi chưa đi đò Trới. Chưa vượt qua sông Trới. Cái hôm đi gánh than ấy, chúng tôi được ra bờ sông Trới rửa mặt mũi chân tay. Dòng sông vẫn như hôm nay nhưng ngày ấy với chúng tôi là bao la, là mênh mông, là vô tận. Trời. Chiều. Mây. Gió. Nước. Suốt một ngày cuốc, xúc, gánh trong rừng âm u không một gợn gió, làm việc thở ra mang tai, gánh than kéo mình xuống dốc phăng phăng, thấy gốc cây bị chém vát nhọn, vẫn cứ quăng chân vào, không tránh được. Mồ hôi. Muỗi đói. Ruồi vàng… Thế rồi là dòng sông mênh mông. Khoảng không cao rộng trời xanh choáng váng. Nhìn xuôi dòng típ tắp chân trời. Lội trên phù sa xoai xoải. Cho nước ngập đến gối, cho sóng ôm lấy bắp chân, cho sóng vỗ quanh đùi. Cho ngón chân bấm xuống, tận hưởng cảm giác mình ngâm trong nước mát, mình mọc lên từ bùn đất phù sa.

Chưa hết. Trên đường về trại, một đồi sim ương ương bất ngờ hiện ra. Tất cả lao vào. Vặt. Nhai. Nuốt. Vừa vặt vừa kêu: “Vàng bò!” Khắp đồi vang lên những tiếng hò reo phấn khởi “vàng bò!” Đúng là sim chưa chín, mới vàng bò.

… Xe qua cầu và dừng lại. Để tôi đứng trên cầu chụp ảnh. Chụp ảnh nơi xa nhất tôi đã đi tới trong những ngày lao lý, nơi vợ tôi đã vượt qua trong những chuyến tiếp tế cho tôi. Hải, Huyền cùng chụp ảnh với tôi. Kỷ niệm của tôi cũng là kỷ niệm của hai em.

Xe lại đi. Đường nhựa mới làm rộng và phẳng.

Thỉnh thoảng lại dừng hỏi những quán bên đường.

Tất cả đều trả lời: Trại Đồng Vải vẫn còn. Thật mừng. Tôi chỉ lo người ta đã chuyển trại để xây dựng khu kinh tế.

Cách đây ba năm đã một lần tôi tưởng được gặp lại trại Đồng Vải. Một người bạn đã lái xe ô tô định đưa tôi về đó. Tôi đã đứng bên này cầu nhìn sang bên kia cầu Trới.

Đang là mùa mưa.

Bên kia cầu là bùn lầy, một con lạc đà sa xuống đó cũng biến mất tăm theo cách nói của Chingiz Ajmatov([3]). Hôm nay một con đường nhựa mới mở với bốn làn đường xe chạy. Tôi đã trông thấy rừng. Rừng “nhấp nhô uyển chuyển giăng hàng” gói trong lòng nó biết bao nỗi niềm, bao tâm sự. Rừng vĩ đại im lặng không đe doạ tôi nữa mà đang chờ gặp lại tôi để chuyện cùng tôi. Rừng che bộ đội rừng vây quân thù([4]).

Rừng đã che tôi suốt tuổi thiếu niên, tuổi trưởng thành thời chín năm chống Pháp và rừng đã vây tôi sau đó, khi tôi mới ngoài ba mươi tuổi, thời gian sung sức nhất, thời gian đam mê sống, mỗi giọt máu trong người đều căng tràn tình yêu lứa đôi, tình yêu cuộc sống và lòng quyết tâm thực hiện mơ ước của đời mình.

Nhưng tôi vẫn chưa nhận ra rừng của tôi.

Rừng để sống và rừng để chết của tôi!

Gần bốn mươi năm trước, lần đầu tiên từ Trần Phú về đây trên một thùng xe vải bạt che kín, nào nhìn thấy gì đâu bốn chung quanh. Chỉ có bụi đất đỏ cuộn lên phía sau xe, bám vào quần áo đầu tóc, mặt mũi. Và khi tới trại, nhận buồng, đặt nội vụ xong tôi được quẩy đôi thùng làm bằng gỗ thông ngược ra ngoài trại, xuống suối gánh nước về cho anh em rửa mặt. Thật là một đặc ân. Sau một chuyến đi dài, được ngâm chân dưới suối, rửa sạch chân tay, vốc nước suối mát lạnh lên cổ lên mặt đầy bụi mới dễ chịu làm sao. Nhưng khi gánh trên vai hai thùng nước leo ngược dốc trại, loạng choạng run bắn, nhiều lúc muốn khuỵu xuống. Ngơ ngác tự hỏi vì sao, hai thùng nước này mình vẫn gánh chạy băng băng mà không biết một năm rưỡi xà lim đã làm cơ bắp gân cốt nhão ra rồi.

Ngồi trên thùng xe phủ vải bạt không nhìn thấy chung quanh nhưng chắc chắn có một con đường đất đỏ, hai bên là cỏ may ngay dưới bánh xe lăn. Hôm gánh than gần Trới tôi đã đi và về trên con đường ấy. Khi được di lý về Trần Phú, tưởng sẽ được tha, ngồi ở thùng xe com măng ca Romania đít vuông, lại nhìn thấy những hàng cỏ may ven đường. Giờ đây tất cả là đường nhựa. Con đường nhựa này chạy đến đâu? Không thể nào từ trại tới Trới lại xa như thế. Hỏi. Dừng xe lại hỏi. Hỏi những người phá đá, xây đá ven đường. Hỏi ô tô công an biển số Hà Nội đi ngược chiều. Cuối cùng tìm thấy lối rẽ. Một lối rẽ nhỏ, bình thường ít ai để ý. Lộ ra con đường rất hẹp. Rải đá. Có hai vệt nhẵn dành cho người đi và xe lăn bánh. Hai bên là cỏ may. Đúng con đường mình vẫn nghĩ về nó. Nhưng sao không thấy núi đá bên trái, nơi toán lò vôi vẫn làm việc. Dòng suối sâu bên phải có lẽ là đây. Sao suối nhỏ thế, lòng suối sâu và cạn thế? Đúng rồi! Đúng là mình đang trở lại chốn xưa rồi! Dưới lòng con suối cạn vắng vẻ và bẩn thỉu bỗng hiện ra hơn chục người đàn ông đang trần truồng tắm. Chỉ có thể là một toán hết thời gian lao động, tắm rửa trước khi về trại. Chỉ “chúng tôi” mới tắm ở con suối cạn tới đáy này, mới trần truồng chen chúc ở một nơi hoang vắng như vậy.

Tôi reo lên, chỉ tay xuống suối:

– Ta đây rồi!!

Và bảo hai cô bạn:

– Chính hắn đấy. Các em đừng ló mặt ra. Bọn hắn trông thấy, lên đuổi là không thoát được đâu.

Nói vậy. Để tự trấn tĩnh mình. Mong ước của tôi đang thành sự thật. Bao nhiêu kỷ niệm ập đến đè lên tôi. Tôi vừa nhận ra vừa không nhận ra mảnh đất đã đầy đoạ tôi. Tất cả như một nơi hoang dại. Không có dấu vết của sự sống. Không còn ngọn núi đá bên này suối, nơi toán lò vôi vẫn xô thùng búa làm việc. Tôi bỗng nhớ đến Nguyên còn rất trẻ, tập trung hình sự, toán lò vôi, bị tai nạn khi nổ mìn phá đá hỏng một bên mắt, con mắt bị lép khiến khuôn mặt anh trông mới kỳ dị làm sao. Rồi nghĩ đến Lỷ Xìn Cắm, khi trên xe đưa mắt tìm cái nghĩa địa tù bên suối. Không còn. Nói chung chẳng còn gì cả. Cả nhà gặp mặt, nhà hạnh phúc, nơi tôi đã được gặp vợ 24 tiếng. Dòng suối cũng sâu thế này. Hai vợ chồng tôi kẻ trước người sau, lần từng bậc xuống suối, rửa rau vo gạo. Được nhìn người vợ nhỏ bé, hiền thục và đau khổ của mình chuẩn bị bữa cơm, rồi nhặt nhạnh củi nhóm lửa trong bếp, giữa rừng già, ngồi sát bên nhau, ôm nhau nghe lửa reo, chờ cơm chín, rau sôi…

Hạnh phúc đơn sơ làm sao, mong manh làm sao và đau đớn biết bao!

Xe đỗ ở cuối “con đường cỏ may Cạnh đó là chiếc cầu bê tông gẫy. Nối với “con đường cỏ may” là con đường mòn ven suối quanh co khuất sau rừng.

Tôi đã nhận ra! Tôi đã nhận ra tất cả! Dù đổi thay, dù đã gần bốn mươi năm, tôi đã nhận ra tất cả. Đúng. Đất này là đất của tôi. Trên đất này tôi đã từng chết trong khi sống. Chúng tôi xuống xe. Tôi bảo Hải, Huyền:

– Chính xác đây rồi các em ạ.

Tôi đứng nhìn bao quát bốn chung quanh và khẳng định lại một lần nữa điều mình đã khẳng định. Nhưng tất cả đều như nhỏ lại. Núi thấp hơn, rừng bớt thâm u hơn. Suối không còn là suối mà chỉ là rãnh nước đầy rêu. Chúng tôi đi làm qua cái cầu xi măng này, một cái cầu xi măng cốt thép mà đổ gục xuống suối, thế đấy. Chẳng cái gì chịu được thời gian. Sáng sáng chúng tôi vẫn qua chiếc cầu này để đi làm. Vậy là vườn rau nơi toán tăng gia chúng tôi suốt ngày lê la nhổ cỏ, gánh nước tưới ngay bên tay trái tôi. Tôi quay ngoắt lại tìm những luống rau đã thấm bao mồ hôi của tôi. Và hoàn toàn thất vọng, Những nơi trước đây là những luống rau muống được tưới ướt đẫm chạy sóng hàng hay mênh mông rau cải chớm trổ hoa chỉ còn là một khu đất hoang cỏ mọc rậm rịt cằn cỗi.

Ngược theo dòng suối này lên sẽ có một chỗ ngoặt. Ở đó có những tảng đá cuội lớn bắc ngang suối dẫn tới vườn trong, nơi tôi được làm chân coi vườn khi di lí về Trần Phú để được tha, nhưng rồi lại từ Trần Phú trở lại trại để rồi sống tới đáy tuyệt vọng của một kiếp người. Và con đường mòn từ một hẻm rừng xiên chênh chếch vào con đường xe chúng tôi vừa đi qua đã có một đàn bướm vàng bay, im lặng bay mất hút trong tán lá…

Tôi giảng cho hai cô bạn gái về “lý lịch” những mảnh đất chung quanh tôi, về con suối dưới chân cầu, nơi chúng tôi vẫn tắm giặt trước khi về trại. Thật không ngờ nước cạn chưa đến mắt cá chân thế này mà chúng tôi vẫn tắm được.

Bên kia cầu là sân cơ quan. Nhà mới xây to đẹp hơn, đàng hoàng hơn. Chúng tôi đi qua chiếc cầu gỗ mới bắc. Hải với vẻ tháo vát của một phóng viên xông xáo năng động, bước tới một buồng làm việc cửa mở rồi quay ra vẫy tôi và Vũ Thị Huyền. Đó là phòng làm việc của ông thượng tá phó giám thị. Lời đề nghị được thăm và làm việc của Vũ Thị Hải vấp ngay phải những nguyên tắc không thể đảo ngược mà ông thượng tá đưa ra. Nhưng Hải vẫn không hề tỏ ra bối rối:

– Em biết rồi. Tức là phải được sự đồng ý trực tiếp của anh…cục trưởng C26 chứ gì. Chúng em cũng không có ý định làm việc ngay hôm nay. Chẳng qua là chúng em đi qua đây và vào liên hệ với anh trước thôi.

Hải giải thích về sự thông thạo của mình: “Em ở báo An Ninh Hải Phòng mãi mà. Anh cho em xin số điện thoại để chuyến sau em ra thì gọi điện báo trước…”

Trong khi Hải ghi số điện thoại của ông giám thị, tôi nói vui:

– Cố lên Hải ạ. Đừng để sểnh mất mẻ này nhé. Con cá này to đấy.

Ông thượng tá hiểu rằng tôi đang nói đến chuyện tình duyên của Hải. Tất cả cùng cười. Không khí đã có vẻ thân mật, chan hoà. Khi Hải ngỏ ý được đi tham quan bên ngoài trại, ông giám thị ngần ngừ một thoáng rồi thân dẫn chúng tôi đi. Thế là tôi được bước những bước trên khu tử địa của tôi.

Cái sân khu cơ quan vẫn như trước và tôi nhận ngay ra nó khi nhìn thấy dẫy nhà làm việc cũ ở phía sau sát sườn núi. Vậy là “trại giam của tôi” ở phía bên kia, trên lưng chừng ngọn núi trước mặt kia. Nhưng sao không thấy nó? Tôi rất muốn đi về phía ấy, nhưng ông giám thị dẫn chúng tôi đi ngược dòng suối mà bên kia suối là con đường vào trại chúng tôi vừa đi qua. Tôi biết những gì đã tồn tại ở phía bên ấy, chỗ nào đã từng là nhà gặp mặt, nhà hạnh phúc, chỗ nào đặt máy phát điện. Và mãi tôi mới hiểu ra nơi ngổn ngang nguyên vật liệu xây dựng, đá hộc, sắt thép chúng tôi đang đặt chân lên đây là khu làm việc của các toán quản chế: mộc, rèn, may ngày trước. Giăng, Giả Phỉ, Dũng cốc, Dũng chầy, Minh ba đen, Tuất ba tai… ngày ngày tới đúng mảnh đất này.

Một cổng trại to lớn và một nhà tù với tường đá cao vút hiện ra trước mắt chúng tôi. Chúng tôi đi theo ông giám thị vào khu vực sẽ là trại giam. Một công trình đang xây dựng dở dang. Đã hoàn thành một khu buồng giam, có hàng rào sắt vây quanh và trên mảnh sân nhỏ phía trong hàng rào sắt tôi thấy một đám tù nhân đang ngồi gục đầu phơi nắng.

Chúng tôi xin phép chụp bức ảnh kỷ niệm ở cửa tam quan và được ông đồng ý. Rồi chúng tôi mời ông chụp ảnh với chúng tôi. Hải nói với ông:

– Anh đã ở đây hai mươi năm rồi cơ à? Em chia buồn với anh phải chịu “án chung thân”.

Tất cả cười. Đó là một sự chia xẻ với ông, với việc đã hai mươi năm ông sống tại chốn rừng sâu heo hút này và không biết còn ở đến bao giờ. Nhiều “ông quản giáo” trẻ cũng đã nhận ra Vũ Thị Hải. Họ bảo Hải:

– Em nhận ra chị rồi. Trên tivi. Trong chương trình Người Đương Thời.

Điều đó tạo thêm thuận lợi cho chúng tôi. Với lại chỉ có nơi chúng tôi vừa đến — một trại giam đang trong giai đoạn xây dựng và đã có một số ít tù nhân — là quan trọng. Còn tất cả là một con suối cạn, những cánh rừng vây quanh, và con đường độc đạo, không một bóng người, cả quản giáo lẫn tù nhân, chẳng có gì phải giữ gìn, cảnh giác. Chúng tôi đi chậm hay đi nhanh, ông giám thị cũng chỉ đứng một chỗ nhìn theo. — Tôi xin được nói ngay ở đây rằng ông thượng tá phó giám thị không có một lỗi nhỏ nào trong việc để chúng tôi đi men theo bờ suối và những khu đất hoang trong trại. Hơn nữa chúng tôi có đủ giấy tờ. Không có chuyện mất cảnh giác ở ông thượng tá.

Đã tới chỗ ngoẹo suối, nơi lòng suối rộng ra, sâu hơn, cầu rửa của nhà bếp, nơi mỗi năm một lần buộc lũ trâu già chờ giết thịt đón Tết. Suối cạn, rêu xanh, chiếc cầu gỗ bắc ngang suối để chúng tôi đi về không còn nữa, thay vào đó là một con đường đá vắt ngang như một cái đập nhỏ. Đúng là trại giam chúng tôi ở lưng chừng ngọn núi trước mặt rồi. Nhưng chỉ còn một chòi gác nhô lên rất cao vượt trên tán lá rừng là cái mốc để tôi định vị. Mà rừng ở đây cũng như tất cả rừng vây quanh không còn là rừng đại ngàn nguyên sinh uy nghiêm tuổi tác rêu phong ẩm ướt chằng chịt dây leo gai góc hăm doạ nữa. Rừng trồng. Một mầu xanh dịu của những cây keo đã trưởng thành đều tăm tăm. Đã biến mất hoàn toàn những tán rừng xanh thẫm của cành lá cổ thụ vươn lên, nhoai ra chen nhau nhấp nhô trên nền trời. Mấy chục năm qua người ta đã đủ thời gian để triệt hạ cả một dải rừng Đông Bắc. Nhưng tôi vẫn nhận ra cái dốc cao sau trại, cái dốc cao nhất, cái dốc cuối cùng trên đường gánh phân từ nhà bò trở về, một bên là vực sâu, một bên là hàng rào trại giam cao vút, tiếng chân lên dốc chạy gằn từ gót dội lên mang tai, mồ hôi dính áo, Lê Bá Di đã hào phóng tặng tôi một bãi phân trâu ở lưng chừng dốc bên kia.

Cái hàng rào vĩ đại quanh trại cũng không để lại dấu vết, cái hàng rào làm bằng những thân cây trồng ken sít nhau. Cũng phải thôi.

Gần nửa thế kỷ rồi còn gì. Bao nhiêu thời gian. Bao nhiêu mưa nắng… Lớp tù ngày ấy đến bây giờ còn sống những ai. Minh Ba đen. Hỉn Sán. Cắm Xìn. Voòng Kỷ Mình, Chí Lồng Sếnh, Tằng Sình Quay, Voòng Sình Hắm… Cái nhà kho. Mảnh sân vôi trước cửa kho nung nóng không kém chảo rang, chiều tháng Sáu hầm hập, mồ hôi từ cằm từ lông mày rỏ xuống sân, khô ngay. Tôi và Voòng Kỷ Mình ngồi xổm nhặt những hột lạc rơi vãi cho vào lọ. Kỷ Mình bảo tôi:

– Đi tập trung cải tạo khó lắm a Tấn à…

Có lẽ cái đám ấy chết gần hết rồi. Trừ Giả Phỉ, Minh Ba Đen là kém tuổi, bọn tập trung chính trị ([5]) đều hơn tuổi mình, chắc chẳng còn sống bao nhiêu. Ngay cả đám trẻ nữa. Như Đỗ Lương, như Giăng. Cũng đã chết rồi. Người chết trên biển khi vượt biên. Người chết khi ngồi ô tô đi chơi Đà Lạt… Chả biết đâu mà lường. Mình còn sống đến bây giờ là lãi rồi.

Đến được đây một lần. Toại nguyện.

Hải bảo tôi:

– Anh cúi xuống như là rửa tay ở chỗ nhà bếp làm thịt trâu đi. Để em chụp ảnh.

– Anh nhìn về phía vườn – trong để em chụp.

Tôi làm theo mọi “mệnh lệnh” của Hải rồi đứng lặng nhìn trời nhìn đất, nhìn rừng, nhìn suối. Bốn mươi năm. Cảnh xưa không còn, người xưa không còn. Một nỗi buồn dâng lên trong tôi. Những gì tôi ghi xương khắc cốt và quan trọng đến thế đối với cuộc đời tôi chỉ còn trong suy nghĩ. Thời gian đã xoá đi tất cả. Không như mình vẫn đến với nó đêm đêm.

Có lẽ tôi là người duy nhất trong số cả ngàn anh em tù ngày ấy hôm nay trở lại chốn này. Ngoài tôi, có ai biết cái nơi đã từng ngấm đắng cay đau đớn vào máu thịt mình, vào từng tích tắc đời mình thay đổi thế này không. Biến mất rồi rừng của tôi, buồng giam của tôi, trại tù của tôi, những bạn tù, những ông quản giáo, những ông giám thị của tôi. Biến mất rồi nơi xẩy ra cuộc chết của tôi và cuộc chết của biết bao người. Không một dấu vết còn lại để những người sống hôm nay biết và nhớ lấy. Gió vẫn thổi. Trời vẫn mây. Rừng vẫn xanh. Nhưng trời, mây, gió, rừng đều đã đổi thay, hơn nữa rừng gió trời mây đều không ký ức. Thời gian sẽ nuốt chửng tất cả. Những tốt đẹp và những thối nát. Những chân thành và giả dối lừa mị. Những tiếng cười đắng cay. Những hy vọng và tuyệt vọng. Thời gian đã nuốt nhiều người trong số chúng tôi và sẽ nuốt tất cả vào cái dạ dầy không đáy của nó. Mà cuộc sống của chúng tôi đáng được mọi người biết đến. Nó cần được lưu giữ trong ký ức cộng đồng như bao điều cần được lưu giữ trong ký ức dân tộc!

Thật may. Tôi cũng còn vớt vát được chút ít. Rất ít. Trong Chuyện kể năm 2000. Và mấy cái truyện ngắn. Nếu không có những trang giấy mỏng manh ấy, tất cả sẽ mất tăm. Hy vọng nó sẽ là một cái bong bóng nhỏ cùng với nhiều bong bóng khác nổi lên trên mặt hồ tĩnh lặng của ký ức dân tộc về một thời mọi người đều có thể bị biến đổi gien. Đứng bên cạnh tôi, Vũ Thị Hải khe khẽ.

– Em sẽ đưa anh lên Vĩnh Quang. Nhưng phải đợi đến mùa xuân…

Tôi nắm tay Hải thay lời cảm ơn.

Vĩnh Quang, một trại nữa đang chờ tôi trở lại.

*

Tám mươi tuổi, đường đời đã đến điểm cuối rồi.

Nhiều bạn hỏi tôi sao không làm tuyển tập.

Tôi có in nhiều đâu mà làm tuyển tập?

Năm quyển tiểu thuyết thì ba quyển bị tịch thu khi còn là bản thảo, một quyển bị cấm, chỉ có một quyển được in và phát hành bình thường.

Hai tập hồi ký đã gộp lại thành một rồi.

Mấy chục cái truyện ngắn đã tinh tuyển thành một tập Người Chăn Kiến chỉ 200 trang in thưa chữ, thưa dòng.

Ít ỏi, mỏng manh. Chẳng đáng kể gì.

Hơn thế, khối tuyển tập chẳng có ai mua. Nên sợ.

Với lại lấy đâu ra tiền?

Nhưng tuyển tập là sự tổng kết một đời văn cũng không thể bỏ qua. Thôi thì lấy mấy câu đánh giá của bạn đọc làm tổng kết.

Bùi Ngọc Tấn là một trong những gương mặt quan trọng nhất của văn xuôi hiện đại Việt Nam.

— Nguyễn Vĩnh Nguyên – Báo Sài Gòn Tiếp Thị

Ở thành phố Hồ Chí Minh người ta nói Hải Phòng có hai đặc sản là ếch và Bùi Ngọc Tấn.

— Thúy Nga – Báo Tuổi Trẻ

Văn chương Bùi Ngọc Tấn rất đẹp, theo lối khiêm nhường, và hẳn ông dùng sức mạnh của cái ngôn từ đặc sắc đó cho tính chân thực (một phẩm chất đòi hỏi hầu hết năng lực ngôn ngữ của mỗi nhà văn) để viết cho được điều ông tự yêu cầu chính mình ở đây khi viết về bè bạn: “Tôi muốn có bóng dáng thời đại chúng tôi đã sống trong những trang viết của tôi…”

— Nguyễn Chí Hoan

Một nhà văn của nhiều nhà văn

– Thể Thao Văn Hóa

Tôi tìm được chữ để định tính ông bạn của cô rồi:

Ông ta sáng ngời! Ông ấy biết nhập thân lột tả không chỉ một người tù (điều đó đối với ông ta không khó) mà cả một người gác tù, một gái điếm, một con chó.

Tôi có cảm giác ông ấy luôn tìm kiếm phần tốt đẹp nhất trong mỗi chúng ta…

— Thư Jean Claude Renoux, một bạn đọc Pháp

gửi họa sĩ Vũ Thị Quỳnh Hương

về tập truyện ngắn Une Vie De Chien, nxb Aube

Với lời văn đẹp đầy chất thơ, Bùi Ngọc Tấn đưa ta đến nơi mà chúng ta chưa bao giờ đến. Sau khi gấp lại tập sách, chúng ta đã thay đổi. Và cũng trở nên tốt hơn.

— Lời giới thiệu

Biển và Chim Bói Cá

bản tiếng Pháp – Nxb. Aube

Chuyện kể năm 2000 là một cuốn truyện mà người đọc không thể kể lại được, không tóm tắt được, thậm chí không trích dẫn được bởi vì nói về tự do thì có trăm nghìn cảnh sống đều làm người ta phải đau đớn về sự mất tự do như một bộ quần áo, một đôi guốc, một cái điếu cày, một nhánh rau thơm, một lời chửi rủa, mắng mỏ đều có thể mang ý vị của tự do hoặc nỗi uất nghẹn của mất tự do. Cho nên muốn thuật lại, thì chỉ có cách chép lại toàn bộ cuốn sách… Nhiều nơi, nhiều người có ý kiến là phải đem cuốn tiểu thuyết này đi ứng cử giải Nobel văn học. Tôi thấy không phải là không có lý…

— Trần Độ

Vợ em bảo em mua một bộ Chuyện kể năm 2000 gói kỹ cất trong tủ để sau này con em lớn lên đọc.

— Trần Đình Nam

trưởng phòng Văn Nghệ

nhà xuất bản Kim Đồng

Em cứ đọc (Chuyện kể năm 2000) là khóc. Cả nhà em phục nhất anh viết về nỗi đau nhưng vẫn tràn đầy một tấm lòng.

— Phạm Kim Dung

phóng viên báo Nhân Dân

Em có nhu cầu đọc hàng ngày. Lâu lâu không có quyển sách nào hay mới xuất bản, em lại lấy Chuyện kể năm 2000 ra đọc. Quyển tiểu thuyết của anh có cái thích là giở bất kỳ đoạn nào ra đọc cũng được.

— Trường Giang, phóng viên

báo Sài Gòn Giải Phóng

Đọc anh, em thay đổi nhận thức.

— Kỹ sư Quang, Vietnam Game

“Tôi cô đơn như một ngọn cờ. Trên đỉnh núi hoang vu đời tôi. Tôi vinh quang như một ngọn cờ. Trên đỉnh dốc gian nan đời tôi. Ngọn cờ khát khao. Ngọn cờ bão giông…”

— Lời một bài ca của Trần Tiến

do Trần Tiến hát tặng tôi

● Bây giờ người ta nói “bị bắt” là “chăn kiến” đấy chú ạ. Dân ngồi hàng nước toàn nói thế thôi. Thằng ấy thằng nọ chăn kiến rồi!

— Trần Đức Trí, nguyên tổng giám đốc

công ty Baikal

Tấn là người được chọn

— Đạo diễn Đào Trọng Khánh

Vân vân và vân vân….

Càng về già, thời gian càng trôi nhanh hơn.

Cô phóng viên Vũ Thị Hải vẫn sẵn sàng đưa tôi đến Vĩnh Quang, giúp tôi thực hiện ước mơ. Nhưng tôi biết tôi sẽ không bao giờ đến được Vĩnh Quang nữa. Trở lại Đồng Vải là đã đủ. Cũng đến thế mà thôi. Cũng là nhìn lại nơi đẫm tim óc, đẫm thần kinh máu huyết mình đã thành xa lạ. Bao nhiêu năm tháng rồi, hẳn không còn chiếc lán ở bìa rừng thời gian B52 rải thảm, nơi chúng tôi đã nghe Đỗ Lương chơi clarinette bằng mồm. Cũng không còn khu rừng có cây cổ thụ bốc cháy đỏ hồng, gió mùa đông bắc bóc đi từng mảng than tung lên cuộn xuống. Không còn Kiều Duy Vĩnh ngồi thiền, không còn Cân ngồi lần tràng hạt đối thoại trước Chúa. Và nhất là không còn Nguyễn Văn Phổ băm băm xới xới trong nắng hè oi bức, trên đường về trại chiếc gáo tôn hoa đầy nước luôn thõng một bên tay.

Tám mươi tuổi, nhiều điều không còn quan trọng nữa: Như chứng mất ngủ. Như sự mong đọc một tác phẩm ngang tầm thời đại, đậm đà bản sắc dân tộc. Đã delete ao ước một lần thấy công lý thực thi. Và cũng xóa luôn nỗi thèm muốn được nói thật, sống thật giữa những người nói thật, sống thật.

Còn câu của dân do dân vì dân từng ức chế thần kinh thì đã biến được thành một câu hài dù cố mấy cũng không nặn ra được nửa nụ cười.

— Ngã Sáu Hải Phòng, 12-2013

Năm có 13 cơn bão.

Năm kỷ niệm 45 năm bị bắt.

40 năm ra tù.

Xem lại lần cuối 9-2014

khi trong người có một khối u.

(Hết)

B.N.T.

([1]) Những tác phẩm của Makarenko, Liên Xô cũ, viết về công cuộc cải tạo thanh thiếu niên hư hỏng.

(2)Thời tôi còn ở xà lim Trần Phú, chỉ có Độ và những tù tử hình mới có quần áo sọc. Ngày xử án, Độ phải cho mượn bộ cánh ấy, “trong xà lim Độ đánh độc một cái quần đùi, ngồi như một con cóc cụ.

(3) Nhà văn Liên Xô cũ.

(4) Thơ Tố Hữu.

(5) Phần lớn là những người đi lính và làm việc cho Pháp.

(Xem tiếp kỳ sau)

 Bùi Ngọc Tấn

 

 

Giáo sư Võ Tòng Xuân: Một mùa tuyển sinh không tiền khoáng hậu

Tuyển sinh đại học, cao đẳng 2015 sẽ đi vào lịch sử giáo dục Việt Nam như là một cơn hãi hùng không những đối với thí sinh và phụ huynh ăn ngủ không yên, tốn bạc triệu đi tới đi lui xem kết quả tạm thời và chờ đợi rút hồ sơ…, mà còn đối với Hội đồng tuyển sinh của các trường cao đẳng và đại học phải làm việc không nghỉ.

VTC

GS.TS Võ Tòng Xuân

GS Võ Tòng Xuân hiến kế đổi mới tuyển sinh đại học, cao đẳng

Giáo sư Võ Tòng Xuân đã chia sẻ quan điểm sâu sắc về những bất ổn của mùa tuyển sinh đại học, cao đẳng 2015.

Chưa bao giờ có cuộc tuyển sinh lạ lùng nhất không thể tìm thấy nơi nào trên quả địa cầu này ngoài Việt Nam.

Tuyển sinh đại học, cao đẳng 2015 sẽ đi vào lịch sử giáo dục Việt Nam như là một cơn hãi hùng không những đối với thí sinh và phụ huynh ăn ngủ không yên, tốn bạc triệu đi tới đi lui xem kết quả tạm thời và chờ đợi rút hồ sơ…, mà còn đối với Hội đồng tuyển sinh của các trường cao đẳng và đại học phải làm việc không nghỉ.

 

Nhưng người ngồi không yên nhất có lẽ là Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo, vì đây là nguồn gốc của tất cả khó khăn.

Đây là hậu quả của cách quản lý tập trung quá cao độ, bất cứ một quyết định nào cũng phải do Cục này chấp thuận, không cho trường có chút sáng kiến nào.

Sự thay đổi cách tuyển sinh đại học, cao đẳng theo “ba chung” là một việc rất cần thiết mà xã hội mong muốn từ nhiều năm nay.

Sau cùng nhờ quyết định sáng suốt của Phó Thủ Tướng Vũ Đức Đam mà Bộ Giáo dục và Đào tạo phải đổi mới, soạn quy chế cho tuyển sinh đại học, cao đẳng 2015.

Theo đề nghị của nhiều chuyên gia giáo dục, sự đổi mới nằm trong mong muốn của Đại Hội Đảng Toàn quốc suốt trong ba nhiệm kỳ IX, X và XI, cần được cụ thể hóa theo một lộ trình rất lôgic nhưng đơn giản.

Khâu thứ nhất là tổ chức tốt nghiệp phổ thông: không nên tổ chức quá rườm rà, căng thẳng, tốn kém mà cuối cùng kết quả phần đông học sinh đậu tỉ lệ quá cao một cách rất vô lý, thay vào đó các trường THPT chỉ nên xét học bạ của từng học sinh, nếu không có môn nào rớt trong suốt thời gian học phổ thông thì cho họ Giấy Chứng Nhận Tốt Nghiệp THPT.

Không tốn kém bao nhiêu mà kết quả tương đương với tổ chức thi THPT Quốc Gia quá tốn kém về kinh phí và sức người tham gia như vừa qua.

Khâu thứ hai là xét tuyển vào đại học, cao đẳng: Mỗi học sinh đã có Giấy Chứng Nhận Tốt Nghiệp THPT phải có thêm một Giấy Chứng Nhận Đủ Trình Độ Vào ĐHCĐ do một Trung Tâm Khảo Thí cấp.

Trung Tâm Khảo Thí được Bộ Giáo dục và Đào tạo thành lập tại các cụm tỉnh khắp nước (có thể đặt tại một trường đại học của vùng).

Các Trung Tâm Khảo Thí này sẽ tổ chức thi lấy Giấy Chứng Nhận Đủ Trình Độ Vào ĐHCĐ mỗi năm 2 lần, dùng đề thi trắc nghiệm là chính, lấy từ bộ đề của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Mỗi thí sinh đến Trung Tâm gần nhà mình nhất đăng ký xin thi lấy Chứng Chỉ A, B, C, D… tùy ngành học mà họ hằng mơ ước.

Thí sinh có thể yêu cầu bao nhiêu bảng kết quả điểm thi thì đóng tiền bấy nhiêu, tùy họ muốn nộp đơn vào bao nhiêu trường để xin vào học.

Tâm lý của phụ huynh và thí sinh là muốn nộp đơn cho nhiều trường cùng có ngành học lý tưởng của họ, xác suất vào được một trường sẽ lớn hơn chỉ được nộp ở một trường.

Khâu thứ ba là nhập học: Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định một ngày nhập học cho tất cả thí sinh được nhà trường thông báo trúng tuyển. Đến ngày này, thí sinh nào không vào học theo Giấy Báo Trúng Tuyển của trường này thì cũng có nghĩa là thí sinh này đã chọn trường khác rồi.

Các thí sinh ảo sẽ bị loại ra một cách rõ ràng khỏi danh sách trúng tuyển đợt 1 này. Các trường không có đủ thí sinh trúng tuyển đợt 1, sẽ lấy tiếp những thí sinh có điểm thấp hơn kế tiếp, hoặc tuyển mới đợt 2.

Lộ trình đơn giản, rõ ràng như thế dễ thực hiện, không tốn thời gian và tiền của của phụ huynh và thí sinh.

Lộ trình này không cần những tập trung quyền hành quá đáng vào Cục Khảo Thí như quản lý điểm thi của từng thí sinh, buộc thí sinh chỉ nộp đơn vào trường theo NV1 và bắt phải chọn 4 ngành học khác nhau trong trường đó.

Điều này triệt tiêu ước mơ ngành học lý tưởng của thí sinh (đáng lẽ là cho thí sinh nộp đơn vào 4 trường có cùng ngành lý tưởng, thì nay Bộ lại bắt nộp vào 1 trường và phải chọn 4 ngành trong trường đó không hoàn toàn theo lý tưởng).

Đây là một quy chế rất sai lầm, phản khoa học, làm hại tương lai của thanh niên ta. Việc quản lý điểm thi của tất cả các thí sinh toàn quốc cũng là một sai lầm quá lớn.

Cục Khảo Thí sợ điểm bị lộ, phải sử dụng phần mềm của Bộ để giữ đến nỗi bị nghẽn mạch ngay trong mấy phút đầu; một thí sinh muốn rút đơn ra cũng quá khó khăn vì dữ liệu của mình chưa được xóa.

Tội nghiệp vô cùng cho các gia đình ở tỉnh lẻ đưa con vào TP.HCM hoặc Hà Nội, đi đi về về nhiều lần vẫn thấp thỏm, lo rút đơn mà không được.

Sự hỗn loạn này đã khiến Bộ phải ra thông báo chỉ thị thường xuyên, vì các trường không ai dám vi phạm quy chế, dù quy chế không hợp lý, hành hạ người dân.

Cuộc xét tuyển đại học, cao đẳng 2015 ở NV1 kéo dài gần 20 ngày mà chưa biết kết quả ra sao, cả xã hội đều lo sợ, phập phồng.

Cũng nên nói thêm một vô lý khác của Cục Khảo Thí là tuyên bố cho các trường nào muốn hưởng quy chế xét tuyển theo học bạ thì phải đăng ký để Bộ cho phép tuyển như thế.

Do đó nhiều trường “chạy” được sự đồng ý của Bộ, đã mạnh dạn quảng cáo trên báo chí: “Tại sao bạn phải lo lắng học thi THPT Quốc Gia làm gì? Hãy nộp đơn vào trường XYZ chỉ cần xét học bạ của bạn mà thôi.”

Nhưng rồi thì quyết định đó không áp dụng được vì quy chế mới là thí sinh phải có bằng THPT!

Chúng ta rất mong những nghịch lý trong quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng 2015 sẽ được thay thế bằng cách làm lôgic hơn để trong các năm tới học sinh Việt Nam và phụ huynh không trải qua một trận kinh hoàng như năm nay.

 

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình chụp ảnh với các sĩ quan quân đội tại Bắc Kinh. (Ảnh chụp từ trang web của Xinhua).

Trung Quốc thăng tướng cho 4 sĩ quan chống Việt Nam

   VOA Tiếng Việt 

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình mới thăng cấp thượng tướng cho 10 sĩ quan cấp cao của nước này, và 4 nhân vật trong số đó từng tham gia vào việc hoạch định các chiến dịch quân sự chống Việt Nam. Giới quan sát trong nước cho rằng Hà Nội cần phải lưu ý đề phòng việc thăng hàm này.
4 sĩ quan này là ông Lưu Việt Quân, 60 tuổi, người đứng đầu quân khu Lan Châu thuộc tỉnh Cam Túc; ông Triệu Tông Kỳ, 60 tuổi, người đứng đầu quân khu Tể Nam, tỉnh San Đông; ông Lí Tác Thành, 61 tuổi, người đứng đầu quân khu Thành Đô thuộc tỉnh Tứ Xuyên và ông Vương Ninh, 60 tuổi, người đứng đầu lực lượng cảnh sát vũ trang.
Việc phong tướng này diễn ra trong bối cảnh quân đội Trung Quốc đánh dấu 88 năm ngày thành lập, củng cố vị thế lực lượng quân sự lớn nhất trên thế giới.

Nhận định về đợt thăng cấp này, ông Dương Danh Dy, cựu quan chức ngoại giao hiện nghiên cứu về quan hệ Việt-Trung, nói:

“Quân đội Trung Quốc mấy chục năm nay không có chiến tranh rồi. Cho nên bây giờ Trung Quốc rất cần những anh có thực tế chiến đấu, đề bạt những anh đã kinh qua thực tế chiến đấu, đặc biệt là với Việt Nam. Những thằng mà đã chiến đấu với Việt Nam thì ít nhất là nó cũng hiểu quân đội mình hơn. Nó hiểu mình hơn những thằng khác. Đề bạt 4 thằng chống Việt Nam, chứng tỏ nó [Trung Quốc] coi trọng chuyện chiến đấu với Việt Nam sắp tới. Nó nhằm vào cuộc chiến đấu với Việt Nam. Đấy là điều mà Việt Nam phải chú ý”.

Đích thân ông Tập Cận Bình, người đồng thời là Chủ tịch Quân ủy Trung ương của Trung Quốc, tham gia buổi lễ phong tướng cho 10 sĩ quan cao cấp.

Báo chí Việt Nam cũng đưa tin về đợt thăng tướng tập thể này, nhưng không nhắc tới mối liên hệ giữa 4 trong số các tướng lĩnh này với cuộc xung đột với Việt Nam.

Tiến sỹ Nguyễn Nhã, người cũng nghiên cứu về quan hệ Việt – Trung, cho rằng việc phong tướng của quốc gia láng giềng của Việt Nam cho thấy một “chiến lược” nhất định. Ông Nhã nói:

“4/10 vị tướng mới đây, trong đó có những người họ cho là có công chống Việt Nam thì như vậy thể hiện chiến lược của họ rồi. Rất rõ rồi, chứ không còn mơ hồ gì nữa. Họ vẫn cho rằng là đối với Việt Nam thì phải xử, phải phát triển vấn đề quân sự, trong đó có vấn đề phong tướng. Đó cũng là hình thức để dằn mặt Việt Nam”.

Giới quan sát cho rằng động thái của Trung Quốc cho thấy rằng Việt Nam vẫn nằm trong tầm ngắm của Bắc Kinh, nhất là khi quan hệ giữa hai nước láng giềng vấp phải nhiều sóng gió thời gian qua.

Tán đồng ý kiến của ông Nhã, nhà nghiên cứu Dương Danh Dy cho rằng việc Việt Nam hiện nay là “đối tượng tác chiến của quân đội Trung Quốc là điều rõ ràng”. Ông nói:

“Đối với Nga hay Ấn Độ, nó [Trung Quốc] cũng có thể nghiên cứu. Nhưng trước mắt mũi nhọn của nó [Trung Quốc] là chĩa vào Việt Nam vì những chuyện như biển Đông, biên giới trên bộ hay nhiều chuyện khác nữa. Lúc nào có thể gây chuyện với Việt Nam là nó gây chuyện. Chiến tranh biên giới, lúc nào Trung Quốc muốn là cũng có thể gây chuyện với Việt Nam được. Còn với Ấn Độ, với Nga, với nước lớn, Trung Quốc phải tính toán.”

Trong tổ chức quân đội Trung Quốc hiện nay, thượng tướng là cấp hàm cao nhất. Ngoại trừ tướng Trương Sĩ Ba (63 tuổi), Hiệu trưởng Đại học Quốc phòng, 7 thượng tướng còn lại đều có tuổi đời nhỏ hơn ông Tập (62 tuổi). Hai người còn lại có cùng tuổi đời với Chủ tịch Trung Quốc.

Mới đây, tin cho hay, Trung Quốc đã yêu cầu Brazil giúp phát triển một chương trình chiến tranh du kích cho Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Hoa (PLA), Đại tá Alcimar Marques de Araujo Martins, chỉ huy Trung tâm Huấn luyện Chiến tranh Du kích Brazil cho biết:

Ông Alcimar cho tờ Janes’s Defence Weekly biết như vậy hôm 10/8. Theo tạp chí về quốc phòng này, PLA cảm thấy cần phải tăng cường khả năng mở chiến tranh du kích vì có đường biên giới dài, nhiều cây cối với các nước láng giềng như Việt Nam và Ấn Độ, hai quốc gia hiện có tranh chấp lãnh thổ với Bắc Kinh.

Đại tá Alcimar Marques de Araujo Martins được trích lời nói: “Họ đã yêu cầu chúng tôi cử người sang huấn luyện phát triển chương trình chiến tranh du kích ở Trung Quốc”.

Tuy nhiên, quan chức quân sự này không nói rõ là Bắc Kinh đã yêu cầu bao nhiêu người cố vấn và khi nào thì chương trình sẽ bắt đầu.
Trung tâm huấn luyện chiến tranh du kích của Brazil đã huấn luyện gần 6.000 binh sĩ, trong đó có 500 người nước ngoài, kể từ khi được thành lập năm 1965.

Dù chưa có con số thống kê cụ thể, chiến tranh biên giới Việt-Trung năm 1979 đã làm hàng chục nghìn binh sĩ ở cả hai phía bỏ mạng.

Quan hệ Việt Nam và Trung Quốc thời gian qua trở nên căng thẳng vì các hành động lấn lướt của Bắc Kinh ở biển Đông.

Mới đây, báo Kommersant có trụ sở ở Moscow cho rằng “quân đội Việt Nam đang chuẩn bị các lực lượng đặc biệt để có thể tấn công các cơ sở Trung Quốc trong khu vực”.

Bài báo viết rằng cũng như các cuộc diễn tập quân sự đã được quân đội Việt Nam tiến hành từ năm 2004 đã cho thấy, máy bay chiến đấu SU-22 của Không quân Việt Nam sẽ được dùng để phát động cuộc tấn công đầu tiên chống các mục tiêu trên biển bằng tên lửa không đối địa AS-10.
Các chiến đấu cơ này có thể tấn công các tàu hải quân Trung Quốc từ độ cao 2.500 tới 3.000 mét.

Việt Nam chưa lên tiếng thừa nhận hay phản đối các thông tin mà tờ báo của Nga nêu ra.

Nguồn: http://www.voatiengviet.com/content/trung-quoc-thang-tuong-cho-bon-si-quan-chong-vietnam/2922300.html

 

alt

Nhà thơ Hữu Thỉnh trao giải thưởng cho Nguyễn Ngọc Phú cuộc thi ĐÂY BIỂN VIỆT NAM

Nguyễn Ngọc Phú

  CON ĐƯỜNG THỨC

(Trường ca)    

(Kính tặng cán bộ, chiến sỹ đoàn tàu không số)

 QTXM: Bạn đọc thân mến. Nhà thơ Nguyễn Ngọc Phú, hiện là TBT Tạp chí Hồng Lĩnh thuộc Hội VHNT Hà Tĩnh là nhà thơ của biển. Sinh ra ở biển.Lớn lên từ biển. Thơ về biển của Nguyễn Ngọc Phú mặn mòi vị biển. Cuộc thi sáng tác về biển đảo năm 2012 có tên ĐÂY BIỂN VIỆT NAM do Hội nhà văn và báo VietnamNet tổ chức, Nguyễn Ngọc Phú được giải 2 với bài thơ TỔ QUỐC TA BA NGÀN CÂY SỐ BIỂN ( Cuộc đó NM được giả 3 với bài thơ NGHE TRẺ HÁT Ở TRƯỜNG SA). Cuộc thi thơ của làng Chùa (Hà Đông) năm 2014 Nguyễn Ngọc Phú  được giải nhất cũng với một trường ca về biển. Hôm nay, QTXM xin gới thiệu với bạn đọc trích đoạn trường ca CON ĐƯỜNG THỨC viết về đoàn tàu không số trong chiến tranh chống Mỹ với 396 câu thơ máu thịt, cuốn hút.Trường ca được giải 2 ( giải thưởng 50 triệu đồng)cuộc vận động sáng tác về đề tài Giao thông vận tải do Bộ GTVT và Hội Nhà văn tổ chức, vừa mới được trao giải. Mời bạn đọc cùng thưởng thức

***

Bạn ơi!

Sau bốn mươi năm thống nhất

Sau bốn mươi năm nước nhà không còn chia cắt

Không còn chia cắt đất đai

Không còn chia cắt lòng người

Không còn Cầu Hiền Lương gãy nhịp

Không còn gãy nhịp   câu hò… (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.08.2015

THĂM THẲM LỜI QUÊ

THĂM THẲM LỜI QUÊ

  Ngô Minh

Không hiểu sao tháng rồi tôi liên tục đọc những trang viết đầy những lời quê gan ruột. Nhà văn Nguyễn Đặng Mừng, người Triệu Phong, Quảng Trị sống ở Sài Gòn ra Huế tặng tôi tập truyện ngắn Bóng chiều hôm (NXB Hội Nhà văn,2009), viết đặc tiếng quê mùa Quảng Trị: miềng, tui, eng, ả, toóc, rạ, chạc, dợ, mô, tê, cươi, tréc keng, răng, rứa…Mừng kể chuyện đời thằng Thỉ, đời chị Mịn, đời chú Gàn, đời chú Rìu… bằng cái tiếng quê ấy, đọc mà rưng rưng. Câu chuyện nào cũng thảng thốt cái tình quê dân dã rất cuốn hút. Tôi là dân nửa Quảng Bình, nửa Quảng trị. Mạ tôi người làng biển Thử Luật, Vĩnh Thái, Vĩnh Linh, nên đọc cái lời quê ấy thật đã, nghe thăm thẳm chuyện đời. Người quê Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế nói giống nhau, cũng những từ chân quê ấy, chỉ khác là Quảng Bình, Quảng Trị nói giọng nặng lơn, còn Thừa Thiên thì lại thêm cái đuôi ng sau các từ như ăng, mầng…Mạ tôi ngày xưa thuộc nhiều ca dao tục ngữ lắm. Mạ có thể ru cháu suốt ngày bằng ca dao mà không lặp lại: Rồi mùa toóc rạ rơm khô /Bậu về quê bậu biết nơi mô mà tìm…Ru em em théc cho muồi/ Để mạ đi chợ mua vôi ăn trầu… (Đọc tiếp…)

Kim Trọng – Nhân vật văn chương vĩ đại của Nguyễn Du

Đinh Bá Anh

“Văn chương là tấc lòng gửi tới thiên thu vậy.”

(Lưu Hiệp)

Hồi bé tôi đọc Kiều và nhân vật tôi thích nhất là Vương Thúy Kiều – vì nàng đẹp và tài hoa. Tôi cũng tin vào sự diễn giải của các thầy cô giáo hồi đó, rằng Kiều là nhân vật được Nguyễn Du kí gửi nhiều tâm sự nhất, rằng Nguyễn Du đã mượn cuộc đời nàng để nói lên nỗi lòng của ông về thời thế, nhân tình. Nhưng theo thời gian, tôi tự hỏi, sao lại là Thúy Kiều? Tại sao một trí thức như Nguyễn Du lại tìm thấy hóa thân của mình trong một cô gái mười lăm tuổi? Đã đành mĩ nhân dậy thì là niềm cảm hứng khó diễn tả của không ít nhà văn nam – chuyện này vốn không có gì lạ và mới – nhưng các nàng thường chỉ là đối tượng gây cảm hứng, là căn cớ của nỗi niềm, chứ không phải hóa thân của họ. Cũng như Eva là đối tượng gây cảm hứng và gieo tội lỗi cho Adam, nhưng Adam mới là hóa thân của Thượng đế; Gretchen là đối tượng gây cảm hứng cho Faust, nhưng Faust mới là hóa thân của Goethe; Lolita là đối tượng gây cảm hứng cho Humbert Humbert, nhưng Humbert Humbert mới là hóa thân của Nabokov; Lâm Đại Ngọc là nỗi đam mê không bao giờ với tới được của Giả Bảo Ngọc, nhưng chính Giả Bảo Ngọc mới là người được Tào Tuyết Cần kí gửi tâm sự. Qui luật tâm lí vốn phổ biến như vậy, cớ gì Nguyễn Du lại ngược đời hơn các vị kia, lại tìm thấy hóa thân của mình trong Thúy Kiều chứ không phải trong một nhân vật nam nào khác?

Trong Đoạn trường tân thanh có một nhân vật gây cảm giác mờ nhạt, ít được phân tích, và chưa bao giờ được đánh giá đúng, đó là nhân vật nam chính: Kim Trọng. Nhưng theo thời gian, càng ngày tôi càng nhận ra rằng, không phải Thúy Kiều, mà Kim Trọng mới là nhân vật văn chương “ruột” của Nguyễn Du. Kim Trọng mới là nhân vật khó xây dựng nhất, được dụng công nhiều nhất, và những trường đoạn có Kim Trọng mới là những trường đoạn trừu tượng, sâu thẳm, đau đớn và bí ẩn nhất trong Đoạn trường tân thanh.

Kì thực, Kim Trọng là một nhân vật không thể nắm bắt. Xét về tính cách, ông không có nét gì nổi bật. Ông không ác như Mã Giám Sinh, không đểu như Sở Khanh, không đa tình như Thúc Sinh, không anh hùng như Từ Hải, không gian hùng như Hồ Tôn Hiến. Tất cả các nhân vật kia đều có một nét gì đó khác thường, trong khi Kim Trọng lại bình thường. Miêu tả cái khác thường thực ra không khó, và quả thực, một văn tài như Nguyễn Du chỉ cần phẩy vài nét là ra Sở Khanh hay Từ Hải. Do vậy, khen Nguyễn Du tài khi miêu tả Sở Khanh hay Từ Hải, Tú bà hay Hoạn thư, thì tuy đúng, nhưng tài thế chưa phải tài lớn. Cái tài lớn nhất của Nguyễn Du là tài miêu tả Kim Trọng.

Kim Trọng là nhân vật phức tạp nhất.Trong Truyện Kiều, có ba nhân vật là nho sinh: Vương Quan, Thúc Sinh và Kim Trọng, trong đó Vương Quan là một nhân vật phụ, chỉ có vai trò làm nền, còn Thúc Sinh là một anh chủ cửa hàng, ăn chơi, nhu nhược; duy có Kim Trọng được kể là người trí thức. Ông là người duy nhất đọc nhiều sách, có học vấn và văn bằng cao, vượt lên tất cả các nhân vật khác về tầm vóc, trí tuệ. Tất cả các nhân vật khác đều chỉ là những con rối giản đơn, mỗi con được lập trình để múa vài động tác đơn điệu theo tính cách thô sơ của chúng, trong khi Kim Trọng thì khác: ông là một con người, đầy mâu thuẫn, phức tạp. Chúng ta đều dễ dàng hình dung ra khuôn mặt của Mã Giám Sinh hay Từ Hải – một tên tội phạm mày râu nhẵn nhụi, một người anh hùng hàm én mày ngài – nhưng chúng ta không bao giờ có thể hình dung ra khuôn mặt Kim Trọng.

Thế nhưng đoạn thơ miêu tả Kim Trọng lại là đoạn thơ miêu tả nhân vật dài nhất trong Truyện Kiều. Chúng ta hãy cùng đọc một lần, thật chậm rãi:

Dùng dằng nửa ở nửa về,
Nhạc vàng đâu đã tiếng nghe gần gần.
Trông chừng thấy một văn nhân
Lỏng buông tay khấu bước lần dặm băng.
Đề huề lưng túi gió trăng,
Sau chân theo một vài thằng con con.
Tuyết in sắc ngựa câu giòn,
Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời,
Nẻo xa mới tỏ mặt người,
Khách đà xuống ngựa tới nơi tự tình.
Hài văn lần bước dặm xanh,
Một vùng như thể cây quỳnh cành dao.
Chàng Vương quen mặt ra chào,
Hai kiều e lệ nép vào dưới hoa.
Nguyên người quanh quất đâu xa,
Họ Kim tên Trọng vốn nhà trâm anh.
Nền phú hậu bậc tài danh,
Văn chương nết đất thông minh tính trời.
Phong tư tài mạo tót vời,
Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa.

Người quốc sắc kẻ thiên tài,
Tình trong như đã mặt ngoài còn e.

Chúng ta thấy gì? Một đoạn thơ lê thê, không có câu nào gây ấn tượng? Kim Trọng được miêu tả từ xa đến gần. Từ tay, lưng, chân, áo, giày. Từ cưỡi ngựa, xuống ngựa, đi, đứng. Không có nhân vật nào trong Truyện Kiều được dành cho một đoạn miêu tả dài đến thế, mà rốt cuộc người đọc vẫn thấy bối rối, vẫn không thể hình dung ra khuôn mặt, tính cách nhân vật. Chúng ta có cảm nhận về sự sáo rỗng? Dường như là có. Có cái gì đó cứ bị đẩy vống lên, phóng to ra: nhà trâm anh, nền phú hậu, bậc tài danh, văn chương nết đất, thông minh tính trời, tài mạo tót vời, phong nhã, hào hoa, thiên tài… nhưng ta vẫn thấy thiếu một cái gì đó, thiếu một nét mày, một sắc mặt, một cái gì đó có thực để ta tin được. Chúng ta có cảm nhận được sự châm biếm kín đáo trong đoạn thơ đó không? Dường như cũng có. Những câu chữ như “đề huề lưng túi gió trăng”, “nguyên người quanh quất đâu xa”, “phong tư tài mạo tót vời”, “gặp tuần đố lá thỏa lòng tìm hoa”… dường như không đơn nghĩa. Đó là một cảm nhận gây khó chịu, vì thực ra – khác hẳn ở những đoạn miêu tả các nhân vật khác – ta không thể xác quyết được thâm ý của Nguyễn Du. Ta không thể biết chắc chắn Nguyễn Du muốn nói gì.

Nhưng bây giờ, ta hãy thử đọc Kim Trọng trong một tinh thần mới. Ta hãy không nhìn Kim Trọng như một nhân vật chính diện cổ điển, một chính nhân quân tử đơn thuần nữa. Ta hãy nhìn ôngnhư một con người – theo nghĩa hiện đại, và ta hãy thử diễn giải đoạn thơ trong tinh thần mới đó.

Ta sẽ thấy, đoạn thơ trên là một trong những đoạn thơ đầy ẩn ý kín đáo. Nó bắt đầu bằng một trạng thái “trông chừng”, một trạng thái lưỡng lự, một trạng thái không rõ ràng, một trạng thái thiếu xác quyết. Đó là trạng thái căn bản của Kim Trọng, và đó cũng là trạng thái căn bản của con người. Kim Trọng có phải một người xấu không? Dĩ nhiên là không. (Nếu Kim Trọng là người xấu thì việc miêu tả ông đã rất dễ.) Nhưng Kim Trọng có phải một người tốt không? Đó là câu hỏi để ngỏ. Đoạn thơ có gì đó sao sáo, mai mỉa, nhưng dường như lại không phải thế, bởi nếu Nguyễn Du miêu tả bằng một nét nào đó để người đọc nhận ra ngay là ông có ý châm biếm, thì Kim Trọng sẽ bị tiếp nhận như một nhân vật phản diện – mà thế thì lộ liễu quá, và hiển nhiên đó không phải dụng ý của Nguyễn Du.

Kim Trọng vẫn là nhân vật chính diện. Ông không xấu. Ông không làm gì sai. Tất cả những gì ông làm đều hợp lí, đều phải đạo. Bí mật lớn nhất của ông – đây trước hết là cái tài dựng chuyện của Thanh Tâm Tài Nhân, mà Nguyễn Du hẳn phải nhận ra –  là ông luôn được đặt vào những tình huống không phải hành động. Tất cả các nhân vật khác đều bị xô đẩy đến những hoàn cảnh buộc phải đưa ra quyết định, buộc phải hành động, buộc phải chấp nhận sự phán xét đạo đức: xấu tốt, hay dở, đúng sai, phải trái. Thúy Kiều buộc phải bán mình để có tiền cứu cha. Nàng chấp nhận hi sinh hạnh phúc cá nhân để giữ đạo hiếu, điều mà theo nàng là một việc phải làm, và hành động của nàng được xã hội phán xét là hợp đạo lí. Mã Giám Sinh, Sở Khanh là những kẻ sống bằng nghề buôn người, lừa đảo, họ làm việc theo hợp đồng của Tú bà, họ chấp nhận bị phán xét là kẻ xấu. Thúc Sinh đa tình mà sợ vợ, nên khi phải lựa chọn đã chấp nhận giữ vợ, phụ tình, cũng là một lựa chọn tai tiếng. Từ Hải anh hùng, một phút sa cơ mà phải chết đứng vì hận. Hồ Tôn Hiến gian hùng, phút say rượu có chút mềm lòng trước nhan sắc của Kiều, nhưng tỉnh dậy đã mau chóng sửa chữa. Tất cả họ đều là những con người hành động, bị xô đẩy đến hành động, và phải chấp nhận cái giá (đạo lí) của hành động. Riêng Kim Trọng thì không. Ông nằm ngoài các biến cố. Khi Kiều phải bán mình chuộc cha thì ông đang ở quê chịu tang – một lí do hết sức chính đáng, không ai trách ông được. Nhưng cứ giả sử lúc đó ông ở đó, thì ông có thể làm gì? Thanh Tâm Tài Nhân đã có câu trả lời rất rõ ràng, tôi sẽ phân tích kĩ ở bên dưới. Nhưng Nguyễn Du thì dứt khoát không cho chúng ta câu trả lời. Chúng ta chỉ biết, theo một cách kì lạ nào đó, Kim Trọng luôn tránh được những tình huống khó xử, những tình huống có thể khiến ông mất mặt. Danh dự của ông không bao giờ bị thách thức. Kim Trọng có hèn không? Chúng ta có cảm giác là ônghèn, nhưng bằng chứng đâu? Ông hèn khi nào? Không khi nào cả. Ông luôn hành động hợp đạo lí, tùy thời, tùy cảnh. Khi trở lại, biết Kiều phải bán mình, ông cũng đau khổ (Tỉnh ra lại khóc, khóc rồi lại mê) – thì đó cũng là một biểu hiện tình cảm bình thường. Rồi ông đi tìm Thúy Kiều khắp nơi – cũng là một hành động bình thường. Và khi không tìm được Kiều, mà đã đến tuổi lấy vợ, nghe mọi người khuyên nên lấy Thúy Vân, ông cũng thấy thế là hợp lí. (Đương nhiên! Không lẽ ông sống độc thân, và để Thúy Vân – vốn được Kiều ủy thác mối tâm duyên – trở thành bà cô già?). Rồi khi đỗ đạt, làm quan, đúng lúc quân phản loạn (Từ Hải) bị dẹp, trời yên, biển lặng, tìm lại được Thúy Kiều, ông cũng vì tình mà muốn nối lại duyên cũ, song khi thấy Kiều gạt đi thì ông cũng thấy thế là phải. Có thể thấy, Kim Trọng không bao giờ hành động tự thân, hành động theo một chủ định có sẵn, mà luôn hành động theo tình huống, tùy phản ứng của người khác mà nương theo, thấy sự việc có vẻ hợp lí thì thôi, chứ không cố đẩy sự việc theo một hướng nào đó. Như vậy, thực tế là ông không hành động.

Những nét miêu tả trên đây về Kim Trọng là những nét thô sơ. Nó mang lại cảm nhận rằng Kim Trọng là một nhân vật tự thân nhu nhược, vừa yếu về tính cách, vừa không có tài cán gì. Nhưng nếu chỉ có vậy thôi thì Kim Trọng có khác gì các nhân vật thô sơ khác như Sở Khanh hay Từ Hải, cũng chỉ là những tính cách nghèo nàn, đơn điệu, chứ sao lại là một nhân vật văn chương lớn được? Kim Trọng của Nguyễn Du, dĩ nhiên, không đơn giản như vậy. Nếu Thúy Kiều là con người của bản năng, con người dấn thân, con người trải nghiệm và cất lên tiếng nói từ những trải nghiệm của mình, thì Kim Trọng – một đối trọng của Thúy Kiều – là con người của lí trí, con người khách quan, con người quan sát và bình luận. Đó là vị trí của Kim Trọng trong Đoạn trường tân thanh, vị trí của người trí thức trong xã hội tôn sùng quyền lực, một vị trí dễ gây cảm giác nhẫn nhục, nhưng vẫn là một vị trí mà những phân tích bên dưới sẽ chỉ ra rằng theo Nguyễn Du là tuyệt đối cần thiết, để xã hội không bị rơi về trạng thái mọi rợ. Vị trí của Kim Trọng trong Đoạn trường tân thanh chính là vị trí của nho sĩ Nguyễn Du trong xã hội đương thời, và đó là lí do tôi nói rằng, Kim Trọng mới là hóa thân của Nguyễn Du, là nhân vật được ông trao gửi những tâm sự thầm kín nhất.

Kim Trọng của Nguyễn Du trong Đoạn trường tân thanh được thể hiện ở hai bình diện. Thứ nhất là ở bình diện nhân chứng, bình diện người quan sát. Trái với Kiều, bản thân Kim Trọng không phải tự mình trải qua những biến cố đau khổ, nhưng ông là người phải chứng kiến, nhìn thấy, nghe thấy. Người trải nghiệm nỗi khổ thì khổ, đã đành, nhưng người phải chứng kiến người thân yêu chịu khổ mà không làm gì được thì sao? Đối với Nguyễn Du, câu trả lời dứt khoát như sau:

Nỗi nàng tai nạn đã đầy,
Nỗi chàng Kim Trọng bấy chầy mới thương.

Vì sao lại “mới thương”? Vì phải về Liêu Dương chịu tang chú, hay vì phải chia tay người yêu? Tất nhiên là không, mấy việc đó thì có gì mà đáng thương. Mà bởi vì trông thấy nỗi đau của người khác.

Đó là hai câu thơ không có ẩn ý, hai câu thơ đơn nghĩa, nhưng vẫn là hai câu thơ kì lạ bởi tính quyết đoán của nó: Kim Trọng đáng thương hơn! (Đến đây, chúng ta hãy nhớ lại câu thơ thứ tư trong Truyện Kiều: “Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.” –  Đau lòng vì trông thấy nỗi khổ.)

Để làm rõ chủ ý của Nguyễn Du trong việc biến Kim Trọng trở thành con người quan sát, con người đứng bên ngoài sự kiện, ta cần một nghiên cứu so sánh văn bản giữa Kim Trọng của Thanh Tâm Tài Nhân với Kim Trọng của Nguyễn Du, bởi nhận định mà không căn cứ trên văn bản thì chỉ là nhận định võ đoán. Tuy nhiên, việc đưa một phân tích văn bản chi tiết vào đây sẽ làm phá vỡ bố cục bài viết, nên tôi chỉ giới hạn ở những nhận định tổng quát và chứng minh bằng vài ví dụ.

Đọc đối chiếu Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, ta thấy rằng, về cơ bản, Nguyễn Du bám sát cốt truyện gốc. Dĩ nhiên ông có lược đi, rút gọn hoặc thay đổi những chi tiết. Việc tìm kiểu kĩ các chi tiết bị thay đổi này có thể cho chúng ta có một hình dung xác thực hơn về sáng tạo của Nguyễn Du. Chính ở điểm này, tôi có thể nói rằng,trong khi ở các nhân vật khác, việc chỉnh sửa chi tiết không làm thay đổi bản chất nhân vật, thì riêng ở Kim Trọng, Nguyễn Du đã tạo ra một nhân vật khác về chất so với nhân vật của Tài Nhân.

Trong Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Kim Trọng được khắc họa như một chính diện quân tử, một Kim Thiên Lí tự tin, mạnh mẽ, thậm chí còn có đôi nét macho. Ông là đại diện cho lớp người được tôn trọng nhất trong xã hội Nho giáo, những người không chỉ tự tin rằng mình nắm giữ lương tri và tri thức, mà đồng thời còn luôn sẵn dũng khí và sức mạnh để “thế thiên hành đạo”. Kim Trọng của Tài Nhân luôn biết mình muốn gì, và luôn chủ động hành động để đạt được mục đích. Thế nhưng trong Đoạn Trường tân thanh của Nguyễn Du, tất cả những nét mạnh mẽ, quyết đoán đó của Kim Trọng đều bị tước đi, thay vào đó là những phản ứng tình huống, bị động. Kim Trọngcủa Tài Nhân được miêu tả với những nét khá cụ thể: một người học trò con nhà giàu họ Kim tên Trọng, tự là Thiên Lí, sinh ra trạng mạo giống Phan An, văn tài ngang Tử Kiến, tổi trạc đôi mươi,…”, và khi lần đầu gặp Thúy Kiều và Thúy Vân, thấy hai nàng đều xinh đẹp, Kim Trọng đã thề với lòng: “…Mình mà không được hai nàng này làm vợ thì suốt đời sẽ chẳng lấy ai.” (Ngay khi gặp lần đầu, Kim Trọng đã muốn lấy cả hai nàng làm vợ! – một ý muốn đầy nam tính và không sai trái theo đạo đức Nho giáo.) Sau những ngày dài mơ tưởng, đến khi gặp Thúy Kiều lần hai, vừa hấp tấp chui qua lỗ hổng để sang nhà nàng, Kim Trọng đã vội “bước lại ôm chầm lấy Thúy Kiều” (chi tiết này bị Nguyễn Du cắt bỏ). Tất cả những chi tiết, tuy có suồng sã, nhưng mạnh mẽ trong hành động của Kim Trọng đều bị Nguyễn Du chủ ý tước đi, thay vào đó là những cử chỉ, lời nói cao nhã, khiêm cung, yếm thế. Kim Trọng của Tài Nhân không chỉ là người có dung mạo đẹp, kiến thức thâm hậu (“trạng mạo giống Phan An, văn tài ngang Tử Kiến”), mà còn là người cưỡi ngựa, đeo kiếm. Chi tiết Kim Trọng dùng “thiết như ý” luôn mang sẵn bên người để khoét tường sang nhà Thúy Kiều, một chi tiết tuy nhỏ nhưng cũng đủ làm nên chân dung “văn võ” của Kim Trọng, cũng bị Nguyễn Du cắt bỏ.

Ở trên tôi đã đặt ra câu hỏi, giả sử Kim Trọng có mặt lúc Thúy Kiều gặp gia biến thì ông có thể làm gì? Tài Nhân đã có câu trả lời rõ ràng và mạnh mẽ trong một đoạn dài ở hồi thứ tư (trong số 20 hồi) của Kim Vân Kiều Truyện, nhưng cả đoạn nàyđã bị Nguyễn Du bỏ hẳn. Đó là đoạn đêm trước Kiều chuẩn bị kí giấy bán mình, nàng đã nằm mơ thấy Kim Trọng hiện ra cứu nàng. Trong giấc mơ đó, Kim Trọng mang phong thái của một vị cứu tinh quả cảm. Nghe kể chuyện gia đình Kiều gặp nạn, chàng nói: số tiền ba trăm lạng tôi xin xuất hộ, không việc gì phải theo đi với người phương xa”. Rồi,“nói xong, lấy ngay số bạc đặt lên bàn”. Quả là phong độ của một trang thiếu hiệp con nhà giàu! Ngay sau đó, vẫn trong giấc mơ, Kim Kiều “làm lễ thành hôn,… đưa vào động phòng”.

Tôi xin trích ra đây một đoạn khá dài những gì xảy ra sau đó:

“… Bỗng thấy người xem mặt ấy [người của Mã Giám Sinh] chỉ huy bọn hung đồ xông vào tận phòng bắt Thúy Kiều đem đi. Phía sau Kim Trọng đem người đuổi theo. Người ấy đẩy Thúy Kiều lên lưng ngựa, rồi giơ roi hét lớn. Ngựa chạy như bay, dần dần không thấy bóng người. Thúy Kiều bụng bảo dạ: ‘Ngựa chạy thế này, chàng Kim đuổi sao kịp. Ta phải nắm lấy một vật gì, nhảy xuống đợi chàng‘. Liền giơ tay túm lấy một cành cây, giữ chặt không buông. Con ngựa thoát ra chạy miết. Thúy Kiều vừa toan nhảy, nhưng nhìn xuống, thì dưới đất không phải chỗ đất bằng, mà là một hố lửa rất lớn, khói bốc ùn ùn, lửa bay ngùn ngụt, lửa bốc lên cháy cả thân cây. Thúy Kiều sợ hãi, mất cả hồn vía. Bỗng trên cây có một khối lửa to bằng cái đầu, nhằm thẳng mặt Thúy Kiều văng vào. Thúy Kiều hét lên một tiếng lớn: ‘Tôi chết cháy mất thôi!‘ Giật mình tỉnh dậy, thì là một giấc mộng. Chỉ thấy một ngọn đèn hiu hắt, nước mắt chảy quanh, chẳng thấy Kim Trọng đâu cả, chỉ có Thúy Vân nằm bên mình…”.

Ta phải đặt ra câu hỏi: Tại sao Nguyễn Du cắt đi cả một đoạn văn dài đó? Cắt đi cả một giấc mơ trong số những giấc mơ quan trọng của Thúy Kiều? Nếu xem xét kĩ, ta thấy đây là một việc cự kì bất thường. Ta biết Nguyễn Du đã lược hai đoạn dài trong Kim Vân Kiều Truyện, là đoạn Tú bà dạy Kiều nghệ thuật lầu xanh và đoạn Kiều báo ân báo oán; rồi đoạn Thúy Kiều mặc cả bán thân, hay một số đoạn dài dòng khác cũng bị ông lược đi. Ta hiểu tại sao ông làm thế. Nhưng ở những đoạn đó, Nguyễn Du cũng chỉ lược, rồi tóm tắt lại trong một hai câu, chứ không bỏ hẳn, bởi nếu bỏ hẳn thì câu chuyện sẽ bị đứt đoạn. Vậy tại sao Nguyễn Du lại cắt đi hẳn một đoạn dài miêu tả giấc mơ của Thúy Kiều, trong đó nàng mong Kim Trọng hiện ra cứu mình? Xét về mạch diễn biến tâm lí thì điều này lại càng bất thường. Ngay cả trong những bộ phim tâm lí xuất sắc hôm nay thì cảnh người gặp nạn, khi đến bước đường cùng, không biết bấu víu vào đâu, mơ thấy cứu tinh hiện ra vẫn thường được đạo diễn sử dụng, và vẫn luôn gây được hiệu ứng cho người xem. Trong Kim Vân Kiều Truyện cũng có nhiều giấc mơ, ví như những giấc mơ Thúy Kiều gặp Đạm Tiên hay Giác Duyên. Giấc mơ Kiều gặp Kim Trọng cũng rất có ý, một mặt, nó vừa phản ánh tâm lí của một cô gái gặp bước hoạn nạn, mong người yêu hiện ra cứu mình, mặt khác, do giấc mơ bị dập tắt phũ phàng, nó khiến Kiều càng thêm tin vào định mệnh rằng kiếp này nàng không thể sống được với Kim Trọng. Một chi tiết quan trọng hơn nữa trong giấc mơ đó là cảnh hai người “làm lễ thành hôn,… động phòng”, đây thậm chí có thể coi là một chi tiết chìa khóa trong câu chuyện. Ta hiểu rằng, cái quan trọng nhất đối với Thúy Kiều sau chữ hiếu là chữ trinh, bởi vậy, Tài Nhân đã cho nàng cơ hội trao chữ trinh cho Kim Trọng. Cho dù việc trao gửi đó chỉ diễn ra trong giấc mơ, nhưng ta phải hiểu rằng, đối với Thúy Kiều thì nó là “thật”. Cái chữ trinh – giá trị nhân phẩm cao nhất, biểu tượng ẩn dụ cho tâm hồn nàng, nàng đã trao cho Kim Trọng rồi, giờ chỉ còn cái xác phàm, nàng có thể phó mặc cho Mã Giám Sinh. Việc Nguyễn Du cắt hẳn đoạn văn này của Thanh Tâm Tài Nhân, ngoài việc khiến tác phẩm bị đứt đoạn (mất đi một chi tiết có tính mắt xích tâm lý quan trọng bậc nhất: lí do khiến Kiều cảm thấy được an ủi cho quyết định bán mình), nó còn tạo ra một cáo trạng (gián tiếp) cho sự bất tài vô dụng của Kim Trọng. Đây cũng là một đoạn văn kịch tính, miêu tả một cảnh chia li đau đớn trong mộng mà Nguyễn Du hoàn toàn có thể dùng văn tài của mình để viết ra vài chục câu thơ diễm lệ. Nhưng, bất chấp các lí do đó, tại sao Nguyễn Du làm vậy? Ta chỉ có thể giải thích rằng, nó nằm trong cả một chiến lược: Tước bỏ hoàn toàn khả năng hành động của Kim Trọng, ngay cả trong giấc mơ của Thúy Kiều!

Thay vào đó, ông đẩy màn mở đầu cho đoạn đời lưu lạc của Thúy Kiều đến độ khốc liệt trong hai câu thơ có tính bước ngoặt trong tác phẩm:

“Đùng đùng gió giục mây vần,
Một xe trong cõi hồng trần như bay.”

Ta phải đọc kĩ Thanh Tâm Tài Nhân mới hiểu được tại sao Nguyễn Du lại có hai câu thơ đó. Theo diễn biến câu chuyện thì đó là hai câu thơ tương ứng với cảnh Thúy Kiều chia tay gia đình, cùng Mã Giám Sinh khởi hành về Lâm Thanh (thực ra là Lâm Tri), một cảnh ở cuối hồi bảy, đầu hồi tám trong Kim Vân Kiều Truyện. Đoạn này tôi cũng xin trích dẫn dài một chút:

“… Cha con Chung Sự kiếu từ về trước. Còn gia đình họ Vương lại theo tiễn thêm một đoạn đường nữa đến tận mười dặm trường đình. Hai bên quấn quít không nỡ rời nhau. Mã Quy nói: – Trời đã muộn rồi, các người về đi thôi! Gái xuất giá, theo mãi làm gì như thế.

Vương Viên ngoại nói: – Ông Mã ơi! Tiểu nữ đây hoàn toàn trông cậy ông chiếu cố. Ái ngại cho em nó xa lìa cha mẹ, tứ cố vô thân, sao cho được thân yên cảnh thuận, thì già này sống chết ngậm vành kết cỏ, sẽ không bao giờ dám quên đức lớn.

Nói đến chỗ thương tâm, bất giác lệ tuôn như xối. Mã Quy thấy họ quyến luyến mãi, sợ xảy ra việc biến gì, nên phải vội vàng phát thệ: – Nếu Mã tôi khinh rẻ con gái ông bà, thề sẽ bị cướp phanh thây xẻ xác. Hôm nay khởi hành, nên để cho tôi đi đường được thuận lợi, đừng có trở ngại.

Thúy Kiều nói: – Cha mẹ và em về đi thôi!

Bọn Vương Viên ngoại chẳng biết làm thế nào, đành phải nín khóc yên ủi mấy lời, rồi chia tay từ biệt. [Xin xem tiếp hồi sau phân giải.]

Lại nói, vợ chồng cha con Vương Viên ngoại đứng sững trông theo hồi lâu, mãi đến khi không còn thấy hút đâu nữa, mới khóc một chập, rồi bất đắc dĩ phải cùng nhau quay về.

Mã Quy từ biệt vợ chồng Vương Viên ngoại rồi, liền bảo bọn phu xe đi mau. Dọc đường đói ăn khát uống, đêm ngủ ngày đi, chừng mấy bữa đã tới địa giới Lâm Thanh…”

Đoạn văn đó đi vào thơ Nguyễn Du như sau:

Vài tuần chưa cạn chén khuyên,
Mái ngoài nghỉ đã giục liền ruổi xe.
Xót con lòng nặng chề chề,
Trước yên ông đã nằn nì thấp cao:
Chút thân yếu liễu thơ đào,
Dớp nhà đến nỗi dấn vào tôi ngươi
Từ đây góc bể bên trời,
Nắng mưa thui thủi quê người một thân,
Nghìn tầm nhờ bóng tùng quân,
Tuyết sương che chở cho thân cát đằng.
Cạn lời khách mới thưa rằng:
Buộc chân thôi cũng xích thằng nhiệm trao.
Mai sau dầu đến thế nào,
Kìa gương nhật nguyệt nọ dao quỷ thần!
Đùng đùng gió giục mây vần,
Một xe trong cõi hồng trần như bay.
Trông vời gạt lệ chia tay,
Góc trời thăm thẳm ngày ngày đăm đăm.

Trong đoạn thơ trên, Nguyễn Du đã bám sát diễn biến câu chuyện (và bám sát ý) của Thanh Tâm Tài Nhân, nhưng hai câu thơ “Đùng đùng gió giục mây vần / Một xe trong cõi hồng trần như bay” lại được ông lấy ý từ đoạn văn bị cắt bỏ ở hồi bốn của bản gốc! Nghĩa là ở đây đã có một sự hoán chuyển rất tinh vi: Cảnh chia li đau đớn, khốc liệt, cảnh đẩy Kiều (xét ở bình diện tâm lí) vào chốn đoạn trường, vốn đã diễn ra ở hồi bốn trong giấc mơ mà Kiều bị giằng ra khỏi tay Kim Trọng trong đêm động phòng, đã được Nguyễn Du đẩy xa đến hồi bảy. Điều này củng cố thêm nhận định rằng, Nguyễn Du đã không hề coi nhẹ đoạn văn ông cắt bỏ trong bản gốc (ngược lại, ông đã có ấn tượng mạnh), mà nó nằm trong một chiến lược kép: Vừa tước bỏ sự hiện diện lẫn khả năng hành động của Kim Trọng (dù chỉ trong giấy mơ của Kiều), vừa tạo hiệu ứng khốc liệt cho bước đoạn trường của Kiều, bước đoạn trường mà Kim Trọng không có mặt, nhưng sẽ trông thấy (qua những lời kể sau này).

Như vậy tôi đã chỉ ra rằng, để xây dựng Kim Trọng như một nhân vật quan sát (trông thấy), Nguyễn Du đã triệt để tước bỏ các khả năng can thiệp vào sự kiện (tức các biến cố trong cuộc đời của Kiều). Bây giờ chúng ta hãy xem xét Kim Trọng ở bình diện thứ hai: bình diện người lắng nghe, cảm nhận và suy tư.

Quả thực, ở bình diện này, Nguyễn Du đã có sự dụng công lớn. Điều này được thể hiện trước hết trong bố cục của Đoạn trường tân thanh. Tác phẩm gốc của Thanh Tâm Tài Nhân có tổng cộng 20 hồi, thì 3 hồi đầu kể chuyện gia thế và chuyện Kim Kiều gặp gỡ; sau đó, từ hồi thứ 4 đến hồi 19 kể chuyện gia biến và lưu lạc; chuyện Kim Kiều đoàn tụ chỉ được tóm gọn trong chương 20. Tỷ lệ như vậy là 3 – 16 – 1. Thế nhưng trong Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du, có 3254 câu, thì tỷ lệ đó như sau: 572 –2168 – 514. Xin xem bảng so sánh:

alt

Như vậy chúng ta thấy rằng, Nguyễn Du đã mở rộng phần “Đoàn tụ” lên một dung lượng gần như tương đương với phần đầu. Tổng cộng phần thứ nhất và phần thứ ba, trong đó có sự xuất hiện, hoặc báo hiệu sự xuất hiện, của Kim Trọng, chiếm tới hơn 1/3 dung lượng tác phẩm! Đặc biệt đoạn cuối (514 câu thơ) có thể được đọc như “câu chuyện của Kim Trọng”, cho thấy sự dụng công đặc biệt của Nguyễn Du dành cho nhân vật này.

Trong Đoạn trường tân thanh, Kim Trọng là người được nghe người khác kể chuyện nhiều nhất. Khi mới gặp Kiều, ông được nghe nàng tâm sự về những lo âu mơ hồ, được nàng gảy cho nghe khúc “Bạc mệnh”, ông đã cảm nhận được những nỗi bất hạnh treo lơ lửng. Toàn bộ phần cuối của tác phẩm là câu chuyện Kim Trọng nghe kể về cuộc đời của Thúy Kiều. Ông nghe, cảm nhận và suy tư. Suy tư về người khác. Ông là nhân vật duy nhất trong tác phẩm có khả năng đó. Tất cả các nhân vật khác đều tính toán và hành động cho mình, kể cả Thúy Kiều. Đúng là Thúy Kiều đã bán mình chuộc cha, và đó dĩ nhiên là một hành động đạo lí, hi sinh bản thân vì người khác. Nhưng Kiều không suy tư về cảm giác và tâm hồn người khác. Kiều chỉ bận tâm tới cảm giác và tâm hồn của mình, bật ra tiếng nói từ bên trong mình. Nhiều nhà nghiên cứu lâu nay đều cho rằng tiếng nói của Kiều là giọng thứ hai của Nguyễn Du, bên cạnh giọng trần thuật và bình luận (triết lí) của tác giả. Theo tôi, tiếng nói của Kiều vẫn chỉ là tiếng nói của nhân vật, nảy sinh từ tình huống và điểm nhìn của nhân vật, dù ở đó có nhiều câu có tính triết lí về nhân tình. Giọng thứ hai của Nguyễn Du không phải là giọng Thúy Kiều, mà là giọng Kim Trọng. Thúy Kiều chỉ cất lên tiếng nói thương thân, còn Kim Trọng và Nguyễn Du mới cất lên tiếng nói thương người, một tiếng nói từ bên ngoài và bên trên, và thương người mới là điểm tối cao trong triết lí nhân đạo của Nguyễn Du.

Nếu ta xem Đoạn trường tân thanh như một canh bạc, trong đó ba tay chơi lớn là Kim Thiên Lí, Thúc Kì Tâm và Từ Minh Sơn đều đặt cược vào Thúy Kiều, ta sẽ thấy rằng, mỗi tay chơi đều nhận được phần thưởng đúng với cái giá mà y bỏ ra. Thúc Sinh đắm đuối nhan sắc, được Kiều như tình nhân. Từ Hải nhìn Kiều như một người đàn bà, được Kiều như phu nhân. Kim Trọng nhìn Kiều như một nhân cách, được Kiều như tri kỉ.

Tất cả những mẫu gốc Kim Trọng, Thúc Sinh, Từ Hải như tôi vừa chỉ ra vốn đã có sẵn trong tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân, làm nên khung triết lí của tác phẩm. Đây là điều mà chúng ta, dù muốn ca ngợi Nguyễn Du đến đâu, cũng không thể phủ nhận. Phải nói dứt khoát rằng, Thanh Tâm Tài Nhân đã tạo ra cái khuôn rất đẹp cho Nguyễn Du, mà nếu thiếu cái khuôn ấy, Nguyễn Du đã không thể viết ra được Truyện Kiều. Tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân không phải là một tiểu thuyết lớn, thậm chí chỉ dừng ở hạng xoàng, nhưng nó lại có một cốt truyện hay. Nguyễn Du đã nhận ra điều đó và đã vuốt nhọn các chi tiết để từng nhân vật có thể nảy nở tới hạn trong cái khung dự phóng của Tài Nhân. Riêng đối với nhân vật Kim Trọng, Nguyễn Du đã có sáng tạo lớn và gần như đã tạo ra một nhân vật khác về chất. Kim Trọng của Nguyễn Du không dừng lại như một công tử con nhà gia thế, đôi chỗ khá giống các nhân vật thiếu gia trong các câu chuyện kiếm hiệp, mà có những nét như Giả Bảo Ngọc trong Hồng Lâu Mộng – một nhân vật phức tạp, bất lực trước hành động nhưng lại cảm nhận được những rung động nhỏ nhất và những nỗi đau lớn nhất của xã hội và những người xung quanh.

Bây giờ, nếu chúng ta nhìn nhân vật Kim Trọng trong tinh thần mới, chúng ta sẽ thấy những đoạn thơ có Kim Trọng, đặc biệt rất nhiều câu thơ trong phần cuối của Truyện Kiều, thường phức tạp, ảo diệu và có một chất lượng triết lí rất sâu. Đây là một đoạn:

“Nỗi nàng nhớ đến bao giờ,
Tuôn châu đòi trận vò tơ trăm vòng.
Có khi vắng vẻ thư phòng,
Đốt lò hương giở phím đồng ngày xưa.
Bẽ bài rủ rỉ tiếng tơ,
Trầm bay nhạt khói gió đưa lay rèm.
Dường như bên nóc bên thềm,
Tiếng Kiều đồng vọng bóng xiêm mơ màng,
Bởi lòng tạc đá ghi vàng,
Tưởng nàng nên lại thấy nàng về đây.”

Phạm Công Thiện trong cuốn Nguyễn Du, đại thi hào dân tộc đã có một đoạn phân tích thú vị về ngôn ngữ và cơ chế hồi tưởng trong đoạn thơ này. Ông lưu ý chúng ta về những từ như “nhớ”, “tiếng”, “vọng”, “bóng”, “mơ”, “tạc”, “ghi”, “tưởng”, “thấy”… để chỉ ra Nguyễn Du đã sâu sắc (và đi trước!) triết học hiện sinh hiện đại như thế nào. Thật tiếc tôi không còn sách ở đây để trích dẫn, nhưng tôi cũng không cố tìm để phục vụ bài viết này, vì cuốn sách của ông đề cập tới vấn đề khác. Song việc một người có tâm hồn thơ lớn như Phạm Công Thiện chọn nhiều câu trong phần “Kim Kiều đoàn tụ”để phân tích, những câu thơ mà ông cho rằng hay nhất trong Truyện Kiều, đã khiến tôi đặc biệt thích thú, vì nó củng cố giả thuyết của tôi về việc Nguyễn Du đã dành cho Kim Trọng một vị thế đặc biệt: vị thế của một nho sĩ suy tư.

Trong bài viết này, tôi đã cố gắng đưa ra hai luận điểm sau, xin tóm tắt lại:

·         Không phải Thúy Kiều, mà Kim Trọng mới là hóa thân của Nguyễn Du, là giọng thứ hai của tác giả Nguyễn Du trong tác phẩm Đoạn trường tân thanh.

·         Kim Trọng được Nguyễn Du dụng công xây dựng thành một nhân vật trung tính, khác với nhân vật Kim Thiên Lí của Thanh Tâm Tài Nhân. Ở đây, Nguyễn Du một mặt không thể không dành cho hóa thân của mình một sự châm biếm kín đáo (khi ông soi số phận nhân vật vào cuộc đời bất lực của chính mình); mặt khác, ông lại cấp cho nhân vật một chiều sâu nhân bản cao hơn tất cả các nhân vật khác. Ở mặt này, Nguyễn Du không thể không cảm thấy ngán ngẩm cho bản thân; nhưng ở mặt khác, ông lại có niềm tin của người trí thức. Ông không thể bẻ gãy bạo quyền; đối với cái ác, ông bất lực; nhưng ông thấu hiểu và đề cao nhân phẩm.

Trong tinh thần đó, tôi xin dành phần cuối bài này để phân tích chữ Trinh và chữ Tâm trong tác phẩm của Nguyễn Du. Cả hai chữ gây tranh cãi này đều cần được xem xét thấu đáo trong tương quan Kim – Kiều như là hai đại diện cho hai giá trị này.

Về chữ Trinh, trong phần “Kim Kiều đoàn tụ”, khi Kim Trọng ngỏ ý muốn cùng Kiều thành thân, Kiều nói:

“Chữ Trinh còn một chút này,

Chẳng cầm cho vững, lại giày cho tan!”

Và Kim Trọng giải thích:

“Thương nhau sinh tử đã liều,

Gặp nhau còn chút bấy nhiêu là tình,

Chừng xuân tơ liễu còn xanh,

Nghĩ rằng chưa thoát khỏi vành ái ân.

Gương trong chẳng chút bụi trần,

Một lời quyết hẳn muôn phần kính thêm!

Bấy lâu đáy biển mò kim,

Là nhiều vàng đá, phải tìm trăng hoa.

Ai ngờ lại hợp một nhà,

Lọ là chăn gối, mới ra sắt cầm!”

Như vậy chúng ta phải hiểu rằng, chữ Trinh ở đây có ý nghĩa rất rộng lớn. Nó đương nhiên không thể được hiểu theo nghĩa hẹp hòi và thô thiển như là cái trinh tiết của phụ nữ. Nó chính là Phẩm giá (nhân phẩm). Chỉ khi chúng ta hiểu chữ Trinh như là Phẩm giá, chúng ta mới hiểu tại sao khi đã trải qua mọi biến cố, Thúy Kiều vẫn còn đủ tự tin để nói rằng: “Chữ Trinh còn một chút này”. Sau cuộc đoạn trường, một người nhờ trải nghiệm, một người nhờ lắng nghe và suy tư, cả Kim Trọng và Thúy Kiều đều đi đến nhận thức cao như nhau về phẩm giá. Đối với Kim Trọng thì phẩm giá của Thúy Kiều là bất khả phá hủy (“Gương trong chẳng chút bụi trần”), nhưng dù sao ông vẫn không thể xác quyết về con người tình cảm, con người bằng xương bằng thịt của nàng (“Chừng xuân tơ liễu còn xanh / Nghĩ rằng chưa thoát khỏi vành ái ân”), nhưng khi nghe Kiều nói (“Chữ Trinh còn một chút này”), ông lập tức nhận ra rằng, hóa ra từ lâu – nhờ trải nghiệm – nàng không những chỉ dừng ở mức nhận thức, mà còn chứng thực được phẩm giá.

Đến đây chúng ta hãy nhớ lại hai câu thơ trong đoạn Kim Trọng chia tay Thúy Kiều để về quê chịu tang khi mối tình giữa hai người vừa chớm nở:

“Dùng dằng một bước một xa,
Một lời trân trọng châu sa mấy hàng.”                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                         

Trong Đoạn trường tân thanh, Thúy Kiều có ba cuộc chia tay với ba người đàn ông mà nàng có tình cảm: chia tay Kim Trọng khi chàng về quê chịu tang, chia tay Thúc Sinh khi chàng về với Hoạn thư, chia tay Từ Hải khi chàng ra trận. Khi chia tay Thúc Sinh, Thúy Kiều căn dặn đủ điều về việc chàng phải sớm trình bày với Hoạn thư để Kiều được có danh phận; khi chia tay Từ Hải, nàng nói muốn được đi theo chồng, vì “phận gái chữ tòng”. Cả hai cuộc chia tay này đều diễn ra ở bình diện lợi ích và giao tiếp, trong khi cuộc chia tay với Kim Trọng lại diễn ra ở bình diện đối thoại nhân phẩm. Người này nhìn sâu vào và lắng nghe nhân phẩm của người kia, và chúng ta hãy xem Nguyễn Du dùng từ: một lời trân trọng. Hai người yêu nhau chia tay mà dùng từ “trân trọng” kể cũng khách sáo, nhưng nếu ta hiểu đối tượng được nói đến ở đây là nhân phẩm, ta sẽ thấy đó là hai từ đắt giá. Trong suốt câu chuyện, Thúy Kiều luôn mang nặng cảm giác “mang nợ” hay “mang ơn” Kim Trọng, dù trên thực tế, Kim Trọng đã không làm gì (không thể làm gì) cho Thúy Kiều. Đấy chính là cái ơn nợ về phẩm giá. Bởi vậy sau mười lăm năm lưu lạc, khi nghe Kim Trọng xác nhận: “Bấy lâu đáy biển mò kim / Là nhiều vàng đá, phải tìm trăng hoa“, Thúy Kiều đã đáp lại bằng cách “Nghe lời sửa áo cài trâm / Khấu đầu lạy tạ cao thâm nghìn trùng“. Nên nhớ khi Thúc Sinh cứu Kiều ra khỏi lầu xanh, hay khi Từ Hải giúp kiều báo ân báo oán, nàng cũng chỉ dừng lại ở mức nói lời cảm tạ. Vậy Kim Trọng làm gì mà Thúy Kiều phải đáp lại bằng cái lễ lớn như thế? Là bởi vì ngay từ đầu và mãi mãi, Kim Trọng đã luôn nhận ra và trân trọng giá trị lớn nhất của nàng: phẩm giá. (Ở đây xin lưu ý: chúng ta phải hiểu những ước lệ trong ứng xử  – chữ Lễ – của giới tinh hoa nho giáo thì mới hiểu những hành động như “sửa áo cài trâm”, “khấu đầu lạy tạ” là cách người ta biểu lộ lòng tri ân to lớn theo một nghi thức trang trọng tương xứng).

Còn về chữ Tâm, Nguyễn Du viết:

“Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài.”

Đương nhiên ở đây chúng ta phải hiểu chữ Tâm là “coi trọng việc thiện, mong muốn việc thiện”, còn chữ Tài là “khả năng làm việc thiện”. Mặc dù câu thơ, xét về hình thức, dễ cho cảm nhận Nguyễn Du coi trọng chữ Tâm và coi khinh chữ Tài, nhưng chúng ta cũng không nên hiểu hẹp hòi như vậy. Có lẽ chỉ nên hiểu Tâm là gốc, đánh mất chữ Tâm thì chữ Tài sẽ không đứng được.

( Trích)

Nguồn:http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/kim-trong-nhan-vat-van-chuong-vi-dai-cua-nguyen-du

 

“Lý giải thế nào về những kẻ tàn độc?”

  … nguyên nhân là bởi “yếu tố non kém, khập khiễng trong giáo dục, sự tha hoá của một số quan chức tham nhũng là tấm gương gần gũi và thực tế nhất mà bọn trẻ sẽ thấy mỗi khi bước chân ra khỏi nhà. Cùng với đó là tình trạng thiếu việc làm, kinh tế bị hụt hẩng, đói nghèo…”

Dân Trí

Bùi Hoàng Tám

(Minh họa: Ngọc Diệp)

(Dân trí) – Một loạt các vụ tàn sát dã man nhiều người một lúc đã khiến cả xã hội đều phải thốt lên: Điều gì đang xảy ra trên đất nước này? Và câu trả lời có lẽ cũng là của hầu hết mọi người: Không thể nào hiểu nổi!

Cách đây mấy năm, vụ án Nguyễn Đức Nghĩa, một gã sinh viên đang tâm sát hại người yêu rồi cắt ra từng mảnh đem vứt ở nhiều nơi đã khiến dư luận lúc đó bàng hoàng. Người ta không thể giải thích nổi tại sao một kẻ có học, tức là có hiểu biết lại có thể hành động tàn độc, phi nhân tính như vậy thì chỉ một thời gian sau, xuất hiện một kẻ sát nhân có lẽ còn tàn độc hơn cả Nguyễn Đức Nghĩa, đó là sát nhân Lê Văn Luyện.

Gã vị thành niên này đã đang tâm giết hại cả một gia đình. Sự tàn độc của gã “nổi tiếng” đến mức ở thời điểm này (7g ngày 17/8) chỉ cần đánh ba chữ “lê văn luyện” trên google đã thấy xuất hiện 881.000 kết quả trong vòng 0,44 giây.

Ngỡ rằng sự tàn độc của những kẻ “khát máu” như Nguyễn Đức Nghĩa, Lê Văn Luyện đã đến đỉnh điểm thì chỉ trong vòng hơn một tháng (2/7- 12/8), cả nước đã xảy ra 3 vụ án mà những kẻ sát nhân tàn độc nhiều khi còn hơn cả lũ Nghĩa, Luyện. Chúng đều đã đang tâm giết hại gần hết (trừ một cháu bé trong vụ Bình Phước) tất cả mọi người trong một gia đình.

Khởi đầu là vụ tàn sát gia đình anh Lô Văn Thọ ở bản Phồng, xã Tam Hợp, Tương Dương (Nghệ An) vào ngày 2/7 khiến 4 người tử vong trong đó có cả một em bé trai mới vừa 1 tuổi.

Dư luận chưa kịp nguôi ngoai thì 5 ngày sau (ngày 7/7) lại xảy ra một vụ thảm sát kinh hoàng ở Bình Phước. Những kẻ sát nhân tàn độc đã lạnh lùng giết tất cả 6 người gồm cả trẻ em trong một gia đình cùng một hình thức: đâm chết và cắt cổ.

Thế nhưng chưa dừng lại ở đó, hơn một tháng sau, ngày 12/8, lại một vụ sát hại cả gia đình 4 người ở vùng núi cao heo hút thôn 16, xã Lâm Giang, Văn Yên, Yên Bái khiến dư luận lại một lần nữa sững sờ. Lần này cũng có một em trai 2 tuổi mà theo lời khai của nghi can, là để “phòng sau này không bị trả thù”.

Điều đáng nói là nếu vụ Lê Văn Luyện động cơ là cướp của giết người, vụ án ở Bình Phước vì tình thì với hai vụ án gần đây, những vụ tàn sát lại bắt nguồn từ những lý do “lãng xẹt”. Đó là chỉ vì hái mấy quả chanh mà không xin phép hay cãi cọ nhau về cái bờ nương nước.

Như vậy không kể hai vụ án Nguyễn Đức Nghĩa và Lê Văn Luyện trước đây, chỉ trong vòng 40 ngày (2/7-12/8), ở cả ba miền của đất nước đã xảy ra 3 vụ án mạng nghiêm trọng, cướp đi sinh mạng 14 người của 3 gia đình trong đó có cả các em thơ từ 1 – 2 tuổi đến 15 tuổi.

Những hành động tàn độc này đang gây sự lo ngại trong dư luận. Tại sao lại có những kẻ tàn độc đến thế? Đã có nhiều lý giải khác nhau.

Trên Dân trí, PGS.TS Dương Tuyết Miên “đổ lỗi” cho “gia đình buông lỏng, không được giáo dục đến nơi đến chốn, dẫn đến thích chơi bời lêu lổng, thích sống bầy đàn, chạy theo các giá trị ảo, lười biếng và du nhập nhiều loại văn hoá phẩm độc hại”.

Song, bạn đọc Hoàng Tường cho rằng ý kiến của bà Miên quá xưa cũ, không thực tế mà cho rằng nguyên nhân là bởi “yếu tố non kém, khập khiễng trong giáo dục, sự tha hoá của một số quan chức tham nhũng là tấm gương gần gũi và thực tế nhất mà bọn trẻ sẽ thấy mỗi khi bước chân ra khỏi nhà. Cùng với đó là tình trạng thiếu việc làm, kinh tế bị hụt hẩng, đói nghèo. . .

Yếu tố gia đình rất quan trọng để hình thành một nhân cách. Vậy thì những cô chiêu, cậu ấm, con cái các quan chức từng nổi đình đám trong vô vàn phi vụ ăn chơi, quậy phá, phung phí, trác táng, vi phạp pháp luật… xuất thân từ đâu? Có cần thẩm tra tư cách bố mẹ của họ không vậy? Chừng ấy lý do và sự đổ lỗi theo cách suy diễn tối giản của bà thì điều nào nguy cơ cao hơn. Căn nguyên, bản chất sự việc ở đâu vậy?”.

Về cơ bản, mình đồng tình với ý kiến bạn Hoàng Tường và không hiểu nổi điều gì đang xảy ra trên đất nước này?

(Nguồn: Dân TRí)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.08.2015

CHÚNG TÔI MUA CHUYỆN KỂ NĂM 2000 NHƯ THẾ NÀO?

CHÚNG TÔI MUA CHUYỆN KỂ NĂM 2000 NHƯ THẾ NÀO?

Ngô Minh

Dịp ra Hà Nội dự Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ 6 tháng 4 năm 2000 tôi quyết tâm lùng mua cho được bộ tiểu thuyết Chuyện kể năm 2000 của nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Trong Tết, nhà thơ- nhà vẽ bìa sách Nguyễn Trọng Tạo vô ăn Tết Huế đã khoe với tôi cái bìa sách Chuyện kể năm 2000 do anh vẽ. Tạo bảo:” Đây là cái bìa sách mình thích nhất trong tất cả  bìa sách mình vẽ cho bạn bè!”. Tôi hỏi cuốn tiểu thuyết ấy có hay không?.Tạo khẳng định:” Hay lắm. Lạ lắm.Thật lắm. Thật là tiêu chuẩn đàu tiên của cái sự hay…”. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.08.2015

BÊN DÒNG CHÂU NGUYÊN

BÊN DÒNG CHÂU NGUYÊN

     Truyện ngắn Trác Diễm

 Bị bào mòn bởi nắng mưa và rêu phong phủ kín, những phiến đá nằm dọc theo lối đi trông như những tấm chăn phai màu cũ kĩ . Ngôi nhà của nhà điêu khắc nổi tiếng nằm ở đó như một trầm tích bị lãng quên trong một con hẻm nhỏ rậm rì cỏ dại.“Nhà của nhà điêu khắc đó…” Những người dân sinh sống và buôn bán ở đây luôn nói về ông với vẻ đầy kính trọng. (Đọc tiếp…)

HẬU CHUYỆN KỂ NĂM 2000 (Thời biến đổi gien)

  Kỳ 27

  Bùi Ngọc Tấn

Vẫn không dứt ám ảnh về những gì người ta đang giăng bẫy, tôi lên Hà Nội từ ngày mồng 9 để gặp gỡ các bạn, trao đổi bàn bạc. Tôi đưa cho Lê Bầu bản sao bức thư viết tay gửi Hữu Thỉnh, bản nháp bức thư sau khi đi Trung Quốc về tôi sẽ gửi Nguyễn Khoa Điềm hay Nông Đức Mạnh. Rồi tôi gọi điện cho Trần Thị Trường, người bạn mới quen nhưng đã hoàn toàn tin tưởng và quý mến.

Buổi tối, Trường đến nhà Dương Tường, gặp tôi ở đó. Chỉ có hai chúng tôi ngồi dưới phòng tranh của Mai Gallery và cũng là phòng khách. Vừa bắt đầu câu chuyện, từ phía sân ngoài cửa sổ đã có tiếng người:

– Anh Tấn mới lên đấy à.

Tôi nhìn ra. Trung Sơn, một chuyên viên điện ảnh, người tôi quen từ ngày làm báo Tiền Phong. Và một giọng nói khác:

– May quá. Gặp tác giả Chuyện Kể Năm 2000 ở đây. Tôi lại đang cầm tập sách của anh. Xin anh một chữ ký làm kỷ niệm. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.08.2015

HẬU CHUYỆN KỂ NĂM 2000- KỲ 28

HẬU CHUYỆN KỂ NĂM 2000

(Thời biến đổi gien)

  Kỳ 28

    Bùi Ngọc Tấn

Tất cả chỉ có vậy. Chẳng thấy gì vĩ đại thiêng liêng như người ta vẫn nghĩ, vẫn nói về nhưng ki-lô-mét số không, những địa đầu. Chẳng thấy kết thúc một cái gì và mở ra một cái gì. Chỉ là thanh bình nối tiếp thanh bình, tin cậy nối tiếp tin cậy, một an lạc bao trùm không gian trong suốt của Châu Âu. Kamal nói:

– Đây là xứ Flandre.

Lại một bất ngờ nữa. Nghe Kamal giảng, tôi mới biết Bỉ cũng có xứ Flandre. Xứ Flandre thuộc Pháp và xứ Flandre thuộc Bỉ. Flandre. Địa danh này, những con đường này đã nằm trong một quyển tiểu thuyết đoạt giải Nobel. Claude Simon. Những con đường xứ Flandre. Dương Tường dịch. Giá có Dương Tường ở đây cùng tham gia cuộc du hành…

  Lille là một địa bàn rất tốt để từ đó chúng tôi đi “thám hiểm” Bỉ, Hà Lan. Trong mười ngày ở Lille, tôi đã đi qua những con đường xứ Flandre, những ngọn đồi xứ Flandre nhiều lần. Đó là những nhánh rẽ từ những đại xa lộ vào các ngọn đồi mà nhìn từ xa ta cứ nghĩ là những khu rừng. Chỉ đến khi tới gần mới thấy đó là đường phố, những ngôi nhà, những biệt thự, những quảng trường, những cửa hiệu, những nhà thờ, và khi ô tô lên tới đỉnh dốc, mở cửa bước ra nhìn những phố xuôi dốc đổ xuống ngoại vi, thấy cánh đồng, thấy núi, thấy những đàn bò khoang im lặng gặm cỏ, những lùm cây đổ bóng sẫm đen trên đồng cỏ tưới đẫm nắng vàng. Cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa tôi với xứ Flandre là xứ Flandre thuộc Bỉ. Ngay trong buổi chiều chúng tôi tới Lille và gặp Kamal. Kéo chúng tôi vào một cửa hàng, ngồi uống mỗi người một chai bia Bỉ, Kamal bảo chúng tôi đứng lên ra xe ô tô:

– Gần đây có cửa hàng bán sườn nướng ngon lắm.

Xe lại lăn bánh trên con đường nhựa, xuống một sườn đồi thoai thoải, lượn quanh co trên một cánh đồng nhỏ và lại leo dốc. Một restaurant khác trên đỉnh một ngọn đồi. Khoảng đất rộng phía sau nhà hàng đậu kín ô tô. Chúng tôi xuống xe đi qua một mảnh sân hẹp. Nhà hàng thấp và cũ kỹ. Mái lợp đá đen. Tường để nguyên gạch mộc. Dính vào tường là hai cái vô lăng tầu thuỷ bằng gỗ, một cái to một cái nhỏ, gợi những cuộc viễn du của những mạch lô hoặc dấu vết của những “Viking đầu quấn lá sồi. Những thùng gỗ to xếp cạnh tường, những thùng rượu vang mà bên trong hẳn là rỗng, không có rượu, chỉ để tăng thêm không khí ẩm thực trước khi khách bước vào trong nhà ngồi trước bàn ăn gọi món. Ngay cửa nhà hàng là một chiếc xe bò với những bánh xe bằng gỗ lớn, chiếc xe hẳn chưa một lần lăn bánh đường trường, trong xe chất đầy những khúc gỗ tròn cưa cắt bằng nhau, chờ bổ cho vào lò, nhưng chắc chắn sẽ chẳng bao giờ được nhận một nhát rìu, chúng có mặt chỉ để gợi một không khí cổ xưa.

Trong nhà đã kín thực khách. Toàn người châu Âu. Những trai thanh gái lịch, những ông bà đứng tuổi và có tuổi im lặng ăn, im lặng uống. Lần đầu tiên bước vào một cửa hàng ăn châu Âu, tôi, một kẻ quê mùa từ một đất nước châu Á xa xôi nghèo nàn lạc hậu, không khỏi mất tự tin, nhất là khi mấy người quay ra nhìn chúng tôi bước qua khuôn cửa. Cái mặc cảm về thân phận, về chiều cao đến với tôi trong từng bước đi. Cám ơn Malika. Cô gái tóc vàng đã khoác tay tôi. Như hai bố con lững thững nhàn nhã sau một ngày làm việc mệt nhọc tìm nơi thư giãn. Dương Thụ, Kamal đi sau. Chúng tôi tìm được một bàn còn trống ngay cạnh chiếc lò sưởi bằng gang không biết có từ thế kỷ nào, đã lâu rồi không được dùng đến. Trong khi chờ thức ăn, chúng tôi uống bia và quan sát cửa hàng phía bên trong. Để dễ hiểu, ta gọi nó là một căn nhà cấp 4, có năm gian. Tất cả đều đen, mầu đen của khói bếp, của năm tháng. Những quá giang, những rui mè, những ngói lợp đều đen. Những thanh dầm gỗ, những trụ gỗ dựng dọc tường giữa những hàng gạch xây với những thớ to khô két thành từng rãnh sâu, uốn lượn cong vặn cứng như thép, không phải được cưa cắt mà như được xé đôi ra bằng cánh tay của những người khổng lồ như ta tách đôi một khúc tre. Nó còn nguyên tạo hình khi vẫn là cây là cành, rễ còn bám sâu vào đất, cành lá còn reo vui đón gió. Tường xây gạch mộc. Gạch và những mạch vữa đều một mầu đen. Trên tường, treo rải rác những đôi giầy bằng gỗ sơn trắng, một mầu trắng cũ kỹ, và bên trong những chiếc giầy, những ngọn đèn hình nến yếu ớt toả sáng. Tất cả bàn ăn đều bằng gỗ sồi mà tuổi của nó phải nhiều chục năm có thể hàng trăm năm, cũng một mầu nâu sẫm. Một ngọn nến nhỏ được đưa đến bàn của chúng tôi.

Hãy kín đáo nhìn mọi người ăn. Khi đặt chân tới Châu Âu tôi đã chú ý nhìn những nét mặt người, những dáng người đi. Và bây giờ tôi quan sát những người ngồi ăn. Không một lời nói to. Những tiếng đặt thìa nĩa cũng rất khẽ. Không một tiếng động gì tỏ ra có người đang say, lại càng không có những tiếng hét vang dzô dzô mỗi khi chạm cốc. Không có những khuôn mặt phừng phừng bóng nhẫy vì ăn, vì uống, không có những bộ mặt tự mãn hoặc tự tin quá mức, cũng chẳng một ai quên rằng mình đang ăn uống giữa những người khác cũng đang ăn uống.([1]) Chỉ có những nét mặt vui tươi, những tiếng rì rầm và những nụ cười. Tôi làm một cuộc tường thuật tại chỗ với Dương Thụ:

– Cứ ngồi yên. Đừng quay lại. Cô gái ngồi ở bàn sau lưng Thụ đã ăn hết dẻ sườn lợn nướng thứ ba hay thứ tư gì đó. Một cô gái còn rất trẻ xinh đẹp, tóc vàng nhưng không vàng bằng tóc Malika đâu. Cô ta chăm chú ăn, gặm tỉ mẩn từng chút thịt trên dẻ sườn, đặt dẻ sườn đã hết thịt xuống đĩa. Chưa. Chưa uống rượu. Còn đang mút ngón tay. Mút rất cẩn thận từng ngón tay một. Vẫn chưa uống. Lấy khăn lau những vết đen trên miệng. Bây giờ mới uống. Bia chứ không phải rượu. Và vặn một dẻ sườn nướng nữa rồi.

Tôi cứ thuyết minh như vậy. Malika không hiểu gì, nhưng thấy Kamal cười chị cũng cười. Cô gái tóc vàng nhạt ngồi sau lưng Dương Thụ còn rất trẻ, trẻ đến nỗi tôi tưởng cô đi ăn cùng bố mẹ. Chỉ đến cuối bữa, khi tất cả đứng lên chuẩn bị ra về, tôi mới biết mình nhầm. Toàn những thanh niên nam nữ trạc tuổi cô.

Những ngày ở Lille, nhờ sự quan tâm và lòng tốt tuyệt vời của Kamal, tôi và Dương Thụ đã sống những ngày thật sung sướng, vô tư, cùng nhau khám phá thế giới, trêu chòng nhau khi tắm biển Hà Lan, uống vang trắng dưới gốc một cây saule hay nhâm nhi cốc bia Leffe vàng óng, thứ bia Kamal nói là nồng nàn quá, rồi cùng nhau chụp ảnh trước chiếc cối xay gió trên một ngọn đồi.

Tôi đặc biệt yêu thành phố nhỏ Brugge nước Bỉ. Một thành phố với những con kênh ngang dọc. Móng những ngôi nhà, những dẫy phố, những biệt thự, lâu đài ngâm trong dòng nước, với những mảnh sân nhỏ, những bậc xây xuống bến, những hàng cây soi bóng, những con chim trắng, những con sâm cầm đen thả mình im lặng gà gà ngủ. Brugge mà theo Dương Thụ vừa rời Ý cách đây ít lâu, là một Venise thu nhỏ, êm đềm. Mỗi ngoẹo phố là một bất ngờ dành cho bạn. Giống như đang trên thuyền giữa vịnh Hạ Long. Không thể hình dung được những gì chờ ta mỗi khi rẽ ngoặt. Chính ở Brugge, tới một quảng trường trước cửa nhà thờ, chúng tôi đã gặp một ban nhạc nhẹ đồng quê. Có violon, cello, contrebasse, clarinette, piano, lại cả phong cầm, gợi một không khí rất Trung Âu thế kỷ trước. Ba cô gái trang phục cổ điển áo hoa liền váy, cùng các nhạc công complet cravate, thứ y phục quen thuộc, gần gũi. Không pop, không rok. Những làn điệu dân ca Trung Âu đậm âm hưởng nhạc chiều xê-rê-nat từ ba chất giọng soprano, mezzo, alto cùng với giọng baryton của người kéo phong cầm, khiến tôi tưởng mình đang sống trong một câu chuyện viết về nông thôn Romania nào đó như Những Người Chân Đất, Giếng Nước Cội Dương từng làm chúng tôi một thuở say mê và mãi mãi say mê. Thụ khe khẽ:

– Đúng là Châu Âu cổ xưa. Nhạc trăm năm. Chơi trên đường phố trăm năm, quảng trường trăm năm. Cây trăm năm. Y phục ngày xưa. Váy dài ngày xưa. Sơ mi áo vét ngày xưa. Thỉnh thoảng lại một cỗ xe ngựa ngày xưa đi ngang qua nữa…

Sau khi đặt tiền vào chiếc mũ để ngửa, chúng tôi tiếp tục công cuộc thám hiểm Brugge. Khi vượt qua chiếc cầu uốn cong bắc ngang một con kênh ăm ắp nước lặng tờ giữa những dẫy phố cổ, nhìn trời hoàng hôn thẫm dần, bóng tối đang len vào những cành sồi già trĩu nặng thời gian, trĩu nặng trọng lượng của chính mình ngả trên mặt kênh, Dương Thụ đã khóc. Anh không tin là người ta có thể được sống đẹp như vậy, anh không tin anh và tôi lại có thể có trong đời mình giờ phút đẹp như vậy, được làm người kiểu như vậy. Anh như nói với chính mình:

– Không phải thiên đường mà còn hơn thế. Không phải trên trời. Mà ngay trên mặt đất, ngay trong cuộc sống. Vẫn mơ ước một cuộc sống êm đềm, thanh bình, một quan hệ người với người thật tốt đẹp thì bỗng nhiên có ngay trước mặt mình, chung quanh mình. Mình được nhìn thấy, được sống, được hít thở trong nó. Dù chỉ là khoảnh khắc.

Chiều hôm sau Dương Thụ và tôi được Kamal đưa đi thăm một ngọn đồi xứ Flandre khác. Thị trấn ẩn trong rừng cây. Trên đỉnh đồi, giữa những tán lá là những cửa hàng, những khách sạn, những biệt thự và một nhà thờ nhỏ. Chúng tôi bước vào nhà thờ. Không có ai ngoài một bà già đang lúi húi dọn dẹp dưới tượng Chúa phía trong cùng và rất nhiều ngọn nến nhỏ im lặng cháy trong chiếc khay đặt trên bàn ở một góc khuất ngay cửa ra vào. Bà già bước về phía chúng tôi, nhẹ nhàng không một tiếng động, thì thào:

– Bonjour. Bonjour.— Xin chào. Xin chào.

Chúng tôi cũng thì thào đáp lại. Rồi chúng tôi bước ra, ngồi xuống chiếc ghế dựa bên lề đường. Dưới kia sườn đồi thoai thoải. Đàn bò khoang trắng đen vẫn thấy in hình trên những hộp sữa, gặm cỏ. Rừng đổ bóng thẫm xuống vạt cỏ xanh non. Tiếng nhạc nhà thờ vọng đến. Êm đềm, thanh bình đến thế là cùng. Như một chốn Bồng Lai. Dương Thụ rơm rớm. Anh nói với tôi:

– Em đang được thanh lọc.

Ngồi trên chiếc ghế gỗ sồi đặt ven đường, nghe gió thu Châu Âu chạm vào mái tóc, tôi hiểu được những nét mặt người, những dáng người đi này đã được hình thành như thế nào rồi. Đó là bao nhiêu năm người ta đã sống như chúng tôi mới được sống mấy ngày. Trừ mấy năm đại chiến thứ 2 mà tác dụng càng làm cho con người thêm yêu quý hoà bình. Sang Châu Âu, điều dễ nhận thấy nhất với những du khách như tôi, đập vào mắt ngay tức thì, là những nét mặt người và những dáng người đi.

Sau này về Paris, gặp Vũ Thư Hiên, tôi đã nói với Hiên nhận xét ấy:

– Trông những người bên này đi thích thật. Sải những bước dài, có mục đích, tự tin chứ không phải lang thang nổi trôi vô định. Thoăn thoắt, thoăn thoắt, dáng đi của người làm chủ cuộc đời, làm chủ số phận. Còn nét mặt họ mới tuyệt làm sao! Không một chút lo âu. Ở bên nhà, chúng tao vừa đi vừa nghĩ mưu. Ai cũng vừa đi vừa nghĩ mưu, không trừ một ai, từ tỷ phú cho đến những người khố rách áo ôm, từ ủy viên Bộ Chính Trị cho đến người đạp xích lô.

Hiên rất thích sự so sánh của tôi. Anh kể cho tôi nghe chuyện anh và các em gái anh mới ở Việt Nam sang đi du lịch nước Áo. Tới một quảng trường ở Vienne, thấy người ta cho chim ăn, mấy anh em Hiên cũng lấy bánh bẻ vụn trong lòng bàn tay chìa ra mời chim. Chim đến mổ bánh trong lòng bàn tay tất cả những du khách châu Âu, có một vài con đến mổ bánh trong lòng bàn tay Vũ Thư Hiên, mổ mấy mổ rồi đi. Còn những cô em mới ở Việt Nam sang, không một con chim nào bén mảng.

Chúng tôi kể những chuyện này cho nhau nghe khi anh ghi hình tôi trong buổi đến thăm lâu đài một vị hoàng đế nước Phổ. Tôi muốn lại gần con thiên nga một chút. Nó đã từ hồ nước lên bờ, trắng muốt, kiêu kỳ giương mắt nhìn tôi. Nhưng tôi tiến một bước, nó lại lùi một bước, giữ nguyên khoảng cách an toàn. Hiên bảo:

– Mày gọi nó đi.

– Gọi thế nào?

– Thiên nga ơi. Tiết canh! Tiết canh!

Chúng tôi cười lăn. Cũng phải kể một tối ở Berlin, chúng tôi đi chơi, về nhà Hoà, em gái Hiên, tại một chung cư.

Ngay chân cầu thang, gặp một ông già người Đức, dắt theo một con chó to lớn. Trông thấy chúng tôi, nó sủa, miệng há, răng trắng nhởn, nhả ra từng tiếng sủa và đớp từng miếng không khí. Người Đức tầng trên rất nhanh dắt con chó bước lên. Chúng tôi lên thang.

Cửa buồng Hoà đã mở. Hoà đang ngồi chờ chúng tôi. Hiên hỏi:

– Sao em biết bọn anh về mà mở cửa sẵn?

Hoà vô tư nhất đời:

– Nghe tiếng chó sủa là em biết. Con chó này chỉ sủa người Việt Nam mình thôi. Không sủa người Đức.

Chúng tôi cười và thè lưỡi nhìn nhau.

Chả lẽ lại thế thật ư? Vì sao?

Chỉ đến khi gặp một bạn đọc ở Úc tại Hải Phòng tôi mới đỡ buồn. Có thế chứ. Mà chắc là như thế nếu không thì sầu đời quá. Trong lúc chuyện vui, nghe tôi kể lại câu chuyện khó tin ấy, người bạn đọc Việt kiều Úc reo lên:

– Tôi hiểu rồi. Đến bây giờ tôi mới hiểu. Ở Úc, chúng tôi nuôi một con béc giê, người Việt Nam đến không sao, còn người Úc đến là sủa liền. Nó quen nhìn người mình, không quen nhìn người Úc, giống như con chó ở Đức quen nhìn người Đức, không quen nhìn người Việt.

*

Ở Lille 10 ngày, chia tay Dương Thụ về Paris, bắt đầu hơn một tháng cùng Vũ Thư Hiên lang thang mấy nước Châu Âu. Thật không ngờ hai chúng tôi lại có được những ngày bên nhau trên những ngả đường Châu Âu mà dù có giầu tưởng tượng mấy cũng không dám nghĩ tới. Chúng tôi, những kẻ khao khát tự do không mong ước gì hơn là nhân dân có một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, người với người là bạn. Chúng tôi, những người xa lạ với chính trị, cả đời chỉ mong viết được một điều gì đó về nhân dân, về đất nước và cả hai đã bị tống vào tù không xét xử. Chúng tôi, hai thằng bạn lẽ ra đã được tha nhưng cùng vì không nhận tội, cùng nói rằng bắt mình là vi phạm pháp luật nên đã chịu thêm mỗi thằng hai năm tù nữa. Tổng cộng: Tôi 5 năm. Vũ Thư Hiên 9 năm. Hai thằng bạn của một thời mộng mị, hai thằng tù phiêu bạt, hai ông già 70 tuổi, sau khi đã nếm đủ mọi cay đắng đang ngồi bên nhau trên xe ô tô của một người không họ hàng thân thích nhưng biết bao yêu quý xót thương, lang thang trên những nẻo đường đẹp như mơ của một Châu Âu thống nhất, bỗng sống lại thời trai trẻ tưởng đã chết hẳn rồi, cùng cất tiếng hát, những bài hát bật dậy từ đâu đó thẳm sâu ký ức. Chúng tôi những con chim nhốt trong lồng bịt kín, đang tung bay trên bầu trời bao la. Cái ý thức về tự do của chúng tôi càng được nhân lên khi chung quanh chúng tôi là đất nước tự do của những người tự do!

Sang Châu Âu tôi thêm một lần cảm nhận hạnh phúc của một nhà văn. Cái đêm từ biệt Lille, cùng Kamal về Paris để sáng hôm sau gặp Vũ Thư Hiên, tôi chia tay Dương Thụ và Kamal. Chiếc xe đón tôi có cả chị Hồng Ngọc, vợ anh Hoàng Minh Chính, mới từ Ý sang. Chúng tôi đến một ngôi biệt thự ngoại ô. Một bữa tiệc đã được tổ chức với khá đông trí thức Việt kiều đang chờ chúng tôi. Và khi tiệc tùng kết thúc, tôi, Vũ Thư Hiên cùng chị Hồng Ngọc đi thăm Paris. Hiên chụp rất nhiều ảnh chị Hồng Ngọc và tôi. Một bức ảnh chị Hồng Ngọc đứng trên cầu bắc qua sông Seine được Hiên đặt tên là “Nát một đời hoa.” Cười đấy nhưng đúng là nát một đời hoa. Tan nát đời một phụ nữ thủy chung nhan sắc.

Rồi chúng tôi ghé vào một hiệu thuốc nhỏ. Đứng sau quầy hàng là hai thiếu phụ người Việt.

Vừa trông thấy tôi, một người dáng chừng là chủ Pharmacie — và tôi đã không nhầm — kêu lên:

– Anh Bùi Ngọc Tấn!

Rồi chạy ra ôm lấy tôi. Chị đã nhận ra tôi, không cần ai giới thiệu. Đó là Nguyễn Thanh Hằng, một thiếu phụ mảnh mai, xinh đẹp, vợ anh Trần Ngọc Sơn, những người sẽ cho tôi ăn ở tại nhà và làm guide phần lớn thời gian tôi lưu lại Pháp.

Đến đâu tôi cũng được đón tiếp như những người thân, những người ruột thịt. Ông Vũ Quốc Phan đối xử với tôi như một người em, dắt tôi đi ăn cơm Việt, và nói cùng tôi bao nhiêu chuyện về thời thơ ấu, về những ngày ở Nam Định rồi Hải Phòng với Nguyên Hồng, về quãng đời lính thợ của ông. Ông lấy từ trong tủ ra những quyển sách Nguyên Hồng gửi tặng ông. Tôi hiểu mình đang được hưởng một may mắn mà số phận sắp đặt: Gặp một nhân chứng của lịch sử và văn học. Vũ Thư Hiên giúp tôi chụp lại bức ảnh Nguyên Hồng với ông Vũ Quốc Phan khi hoàn thành Bỉ Vỏ và bức ảnh Nguyên Hồng bóc từ thẻ nhà báo tặng ông Phan khi mất chức chủ bút tuần báo Văn, một tờ báo mà báo Nhân Dân nhận xét: Trước chữ Văn ta thấy chữ Nhân ló ra. Cẩn thận hơn, Hiên còn chụp cả dòng chữ viết sau tấm ảnh. Chỉ với hai bức ảnh này, tôi nghĩ mình đã lập công lớn đối với văn học.([2])

Khi chân tôi bị đau vì dãn tĩnh mạch, có tới bốn chị bác sĩ, dược sĩ chăm chú theo dõi với nét mặt đăm chiêu. Các chị muốn tiến hành phẫu thuật cho tôi, nhưng tôi bảo: “Tôi sang đây là để đi chơi chứ không phải để nằm viện.” Chị Nguyễn Thanh Hằng đã đo các chỉ số của bàn chân, bắp chân, ống chân tôi để đặt dệt cho tôi hai đôi bít tất chữa bệnh, giá tới gần một trăm Euro.

Biết tôi đang có mặt ở Nuremberg, nhiều bạn đọc đã vượt ba, bốn trăm ki-lô-mét để đến gặp tôi, mặc dù có người phải vào bệnh viện thay băng, một vết thương ngang ống đồng, khiến tôi lo lắng:

– Nhỡ nhiễm trùng thì làm sao em?

Anh bạn cười xoà:

– Anh yên tâm. Bên này không dễ nhiễm trùng như ở Việt Nam đâu.

Có nhiều người Việt Nam khác thường mà Vũ Thư Hiên gọi là Nam Hải dị nhân. Chẳng hạn như anh Kiểm ở Munchen — Munich. Anh bỏ tiền túi in Chuyện kể năm 2000 và phát không cho mọi người.

Hôm đến thăm anh Kiểm, sau khi chào chị vợ người Đức của anh, tôi đề nghị anh cho tôi xem “nhà in” của anh. Anh vui vẻ dắt tôi xuống tầng hầm. Mỗi hộ trong chung cư đều được chia một ô nhỏ trong tầng hầm. Đó là một thứ buồng kho. Trong phần hầm rất hẹp ấy, anh Kiểm có đủ máy in, máy đóng sách, máy xén giấy, toàn những máy hiện đại nhỏ xíu. Ở Việt Nam mà chứa những thứ này trong nhà, lĩnh vài cái bọp là cầm chắc. Chính trong tầng hầm này tôi nhớ đến tiếng cười giòn vang của Lê Bầu khi anh kể chuyện người công an hộ tịch đến nhà, nhờ anh cái máy chữ, đánh máy một đơn từ gì đó:

– “Ông ơi! Ông cứ gõ đủ các chữ đi. Tôi biết thừa, ông lấy đặc điểm máy chữ của tôi đúng không nào? Ông cứ nói thẳng ra như thế cho vui!” Tao bảo nó thế mày ạ! Nó không cải chính mà chỉ cười.

Ở Munchen có một Nam Hải dị nhân khác. Đó là Bùi Hồng Mạnh. Anh là kỹ sư hoá, tốt nghiệp ở Cộng Hoà Dân Chủ Đức, đã mấy lần sang Đức và lần này thì trở thành công dân Cộng Hoà Liên Bang Đức. Anh có một việc làm rất thú vị: Phiên dịch cho toà án. Mỗi giờ của anh thu nhập cả trăm Euro. Thế nhưng anh bỏ tất cả công việc, lái xe đưa tôi đi chơi ngang dọc nước Đức. Không chỉ nước Đức, còn sang cả Áo, để tôi được đặt chân tới ngôi nhà của Mozart và chụp ảnh trước tượng nhạc sĩ vĩ đại.

Rồi tôi sang Mỹ theo lời mời của trung tâm William Joiner Center, đại học Massachusett. Đầu năm đi Mỹ, cuối năm đi Nga. Người mời tôi tới Nga là Bùi Lan Hương, một phụ nữ Nga gốc Việt. Là chủ một doanh nghiệp kinh doanh trên địa bàn nhiều nước, Bùi Lan Hương đã ngừng mọi công việc ba tuần lễ, lo mọi kinh phí và thủ tục từ xin visa, lấy vé máy bay và đưa tôi đi thăm nước Nga, một nước Nga đang bước vào rực rỡ thu vàng. Cảm động làm sao khi Hương nói:

– Đọc chú, cháu vừa quý vừa thương chú, thương dân mình. Đọc chú, cháu thấy chú rất yêu nước Nga, yêu văn học Nga. Cháu ao ước được đón chú sang bên này, để chú tận mắt thấy nước Nga, chú cháu mình sẽ cùng đi thăm các bảo tàng, những cung điện, những nhà thờ, những rừng Nga… Cháu cứ nghĩ làm thế nào để mời được chú sang nhỉ? Không có địa chỉ, không biết điện thoại, không biết i-meo, chỉ có mỗi thông tin là chú ở Hải Phòng. Thế rồi mọi sự như trời sắp đặt. Cháu gặp một người quen chú có mọi thông tin về chú…

Thì ra ở đâu cũng có những Nam Hải dị nhân, Nga cũng như Đức, như Pháp, Mỹ và cả Việt Nam, những người yêu công lý, yêu lẽ phải, đau nỗi đau của người khác. Dù khiêm tốn đến đâu tôi cũng phải nói tôi rất tự hào được một bạn đọc quý mến mình đến thế. Lại thêm tự hào khi biết tôi đến Nga, nhiều bạn đọc từ Ba Lan đã làm thủ tục bay sang Nga để gặp tôi nhưng vì không xin được thị thực nhập cảnh nên chỉ một mình Lê Diễn Đức tới được. Anh có ý định mời tôi sang Ba Lan nhưng chân tôi bị đau, đến cửa bảo tàng Hermitaje mà không thể vào bên trong, đành chỉ ngồi ngoài chụp ảnh.

*

….Trong tôi giờ đây ngân nga những tên người tên đất. Tên những người bạn của tôi ở khắp bốn phương. Và tên những con đường, những thành phố, những Paris, Berlin, Thành Đô, Brugge, Amsterdam, Boston, New York, California, Peterburg, Mạc Tư Khoa …, những đất nước tôi đã đặt chân tới, những nơi tôi được bạn đọc đón nhận như những người anh em.

Đôi mắt tôi không còn bó gọn trong cái ô chữ nhật 12 inch của cái ti vi đen trắng, nghe và nhìn một cô ca sĩ hát rồi khi bất chợt thấy cô đi ngang qua, giật mình như thấy một ngôi sao rơi trước mặt.

Tưởng như thế là đã thỏa mãn, là được hưởng sự ưu đãi của số phận, không còn ao ước gì hơn, nhưng vẫn còn một khao khát âm ỉ, dai dẳng, vẫn còn những nơi tôi ước ao được đến. Đúng hơn, được một lần trở lại. Nhất là những đêm của tuổi già trằn trọc, những đêm chờ trời sáng, những đêm làm tổng kết cuộc đời. Một thèm muốn, một khát khao như thèm muốn khát khao được trở lại mảnh sân, góc vườn thời thơ ấu: Ao ước được trở lại những trại giam, những nhà tù tôi đã sống. Ao ước lại một lần bước qua cổng sắt đóng mở nặng nề trại giam Trần Phú, tiếng bản lề rít lên như tiếng cuộc đời bị kẹp nát, được nhìn lại dẫy xà lim biệt giam Trần Phú, nơi tôi nếm những phút giây tù ngục đầu tiên, được nhìn thấy cánh rừng già âm u hăm doạ và những rặng núi đá lởm chởm Hoành Bồ, hay đến với những thung lũng vùng đất đồi trại Vĩnh Quang — những trại 75, trại Q. trại V. trong tiểu thuyết — băm băm xới xới những luống sắn lá héo nẫu mềm rũ như luộc trong nắng hè, thứ nắng hè làm chúng tôi cũng rũ xuống như lá sắn.

Khi viết Chuyện kể năm 2000, tôi khao khát được trở lại đó chỉ với mục đích sống lại cảm xúc, sống lại hồi ức, sống lại chi tiết. Để tất cả ập vào tôi, chàm vào tôi, nhuộm lại tôi, để những gì tôi đã quên, đã “vãi rơi đi” lại trở về với tôi.

Giờ đây không phải thế. Nó như một thứ bản năng. Những nơi ấy là một phần cuộc đời mình, đã góp phần hình thành mình cả về xương thịt lẫn tâm hồn, không thể thiếu, không thể tách rời. Càng về già, càng đến gần cái kết thúc tất yếu càng mong được một lần trở lại. Những nơi đã ninh nhừ quãng thời gian đẹp nhất, sung sức nhất, chín nhất của đời, một quãng thời gian để sống và thời gian để chết của tôi. Không phải quê hương, nhưng là một cõi, cõi mình trải qua một kiếp. Khi ta ở đất chỉ là đất ở. Khi ta đi đất bỗng hoá tâm hồn.([3]) Đất ấy cũng hóa tâm hồn hay sao mà cứ bám theo tôi, gọi tôi, rủ tôi gặp lại? Tâm hồn của những người bạn tù đã sống, đã chết, những Lỷ Xìn Cắm, Phạm Văn Giăng, Đỗ Lương, Hỉn Sán rồi già Hải, già Đô, hai ông già khiến tôi có một nhân vật văn học khó quên… Đất ấy cũng mang tiếng rì rầm của những buổi ngày xưa vọng nói về,([4]) của những năm tháng tra tấn mà mình nguyền rủa và giờ đây mới mong được sống lại làm sao, vì dù thế nào cũng vẫn là tuổi trẻ của mình, đất mình bị đầy đọa, càng bị dày xéo quằn quại dưới gót sắt chuyên chính càng bùng lên khát vọng sống khát vọng tự do, đất luyện ngục định hình con người mình, cuộc đời mình, không chỉ thế, còn định hình cuộc đời vợ con mình nữa. Đất bắt rễ vào cuộc sống, vào thân thể, vào từng tế bào thần kinh từ đời nọ sang đời kia gọi là số phận.

Trong cuộc tìm lại thời gian đã mất của tuổi già, tôi không thể không nhớ đến các nhà tù. Những nơi ấy thường xuyên trở về như một ám ảnh tuyệt vọng: Làm thế nào để gặp lại nó lần nữa? Mỗi lần duyệt lại bản tổng kết cuộc đời, trong số biết bao hình ảnh, kỷ niệm, không bao giờ thiếu vắng những nhà tù như không bao giờ thiếu vắng những ngày thơ ấu. Những ngày thơ ấu không thể gặp lại nữa. Nhưng nhà tù, có thể gặp lại lắm chứ. Nó ở ngay đây thôi. Ngay Hải Phòng thôi. Đi dọc sông Lấp nay là hồ Tam Bạc là thấy . Tường đá cao vút. Dây thép gai chạy điện. Tôi bị nhốt ở một xà lim gần bệnh viện Việt – Tiệp. Bên này đường bên kia đường. Mùi xào nấu bếp bệnh viện không chỉ thơm nhức mũi, nhức dạ dầy mà còn nhức tim nữa. Nó nhắc tôi cuộc sống, gia đình, vợ con bố mẹ. Buổi sáng mở cửa xà lim khu biệt giam 76 đi đổ bô, nhìn những hạt mưa phơi phới rắc bụi trên những tầu lá chuối, những khóm cải cúc ven tường đọng thành những giọt tròn trong suốt lung linh, hiểu rằng xuân vẫn sang, lại sang, đang sang, xuân năm nay tươi và còn tươi mãi mãi mà ta đang chết dần dần.([5]) Buổi gọi đi lấy cung, bước qua đầu hồi khu biệt giam 76, chợt thấy một cây chanh nhỏ trổ những bông hoa xòe cánh trắng, những nụ hoa tím nhỏ, khựng lại như nhận một nhát dao giữa ngực. Đã hơn bốn mươi năm, hôm nay viết lại, nhận thêm nhát dao nữa. Ngày bất chợt gặp cây chanh nở hoa mùa xuân xà lim đầu tiên ấy, bố mẹ còn sống, lụi cụi trong vườn, dưới gốc chanh mong con về. Hôm nay biến mất rồi, mảnh vườn, gốc chanh, bố mẹ…

Khao khát làm sao vào được sân xê-rom, nơi có 5 (?) cánh cửa dẫn tới 5 (?) nhánh xà lim. Nơi vẫn qua mỗi sáng để đi đổ bô và mỗi tháng một lần ra nhận đồ tiếp tế. Mang túi đồ tiếp tế vào xà lim, lần giở gói vừng, gói thuốc lào, gói bích quy, mấy chiếc bánh mì mà nghĩ đến bàn tay vợ đã đặt vào những món quà này, những mối dây buộc này và đây là bao nhiêu dành dụm, bao nhiêu xót thương của bố mẹ, các anh chị, vợ con…

B.N.T.

([1]) Để đạt được những điều tốt đẹp trong ăn uống nơi công cộng này ở nước ta tôi dám chắc phải nhiều thế kỷ nữa.

(2) Xem Nguyên Hồng ở ParisViết Về Bè Bạn, Bùi Ngọc Tấn.

(3)Thơ Chế Lan Viên.

(4)Thơ Nguyễn Đình Thi.

(Xem tiếp kỳ sau)

([5])Tùy bút Phạm Văn Hạnh.

Nguồn:vv)

 

Tượng đài về Hamlet của William Shakespeare 

KIẾN TRÚC DÔ THỊ:

 ĐỘC ĐÁO THẾ GIỚI TƯỢNG ĐÀI THỦ ĐÔ LONDON

Nhà báo Lê Quang Vinh ( Hà Nội)

(Xây dựng)Gần đây, dư luận xôn xao quanh thông tin Hội đồng Nhân dân tỉnh Sơn La ra Nghị quyết thông qua “Đề án xây dựng tượng đài Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Tây Bắc” có tổng đầu tư 1.400 tỷ đồng (tại buổi họp báo chiều 5/8/2015 ở Hà Nội, đại diện tỉnh Sơn La khẳng định lại: “Riêng hạng mục tượng đài Bác Hồ là khoảng 200 tỷ đồng”). Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch hiện cũng đang lấy ý kiến cho “Dự thảo Quyết định phê duyệt quy hoạch hệ thống tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đến năm 2030”. Theo đó, hệ thống tượng đài sẽ được ưu tiên xây dựng tại 14 tỉnh – thành(1).  (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.08.2015

Cái nhìn tự sự đa chiều trong Truyện Kiều

Cái nhìn tự sự đa chiều trong Truyện Kiều

Trần Đình Sử

Tự sự không chỉ giản đơn là kể chuyện mà còn truyền cho người nghe, nguời đọc cảm giác được chứng kiến, được nhìn ngắm sự việc và con người, vì thế điểm nhìn tự sự có ý nghĩa rất quan trọng. Bất cứ tự sự nào cũng đều có người kể chuyện mang điểm nhìn đến cho người đọc. Truyện Kiều là một truyện thơ, một tác phẩm tự sự, thế nhưng lâu nay các nhà nghiên cứu ít bỏ công nghiên cứu đặc sắc của nó từ phương diện điểm nhìn. Nói đến tác phẩm này thì người ta tóm tắt truyện theo chương mục, so sánh thêm bớt giữa truyện Tàu và Đoạn trường tân thanh. Xem cách tả cảnh, tả tình, miêu tả tâm lí, khắc hoạ nhân vật sao cho giống, cho hệt, cách sử dụng từ ngữ khéo léo, tài tình, xem đó như là những yếu tố riêng biệt. Điều đó là cần thiết, song nghệ thuật là thế giới điểm nhìn được kể ra một cách toàn vẹn. Người kể chuyện và điểm nhìn trần thuật trong truyện cũng ít được xem xét. Đó là vì lí thuyết điểm nhìn mới có ở phương Tây trong khoảng từ những năm 20 đến 70 thế kỉ XX. Tuy nhiên tự sự học phương Tây thiên về phân tích điểm nhìn người kể và điểm nhìn nhân vật có tính kĩ thuật, nhưng cần nhìn nhận điểm nhìn trong văn bản tự sự theo một quan điểm rộng rãi hơn. Theo Thi pháp học kết cấu của Boris Uspenski thì điểm nhìn tự sự còn bao gồm điểm nhìn tư tưởng hệ, điểm nhìn không gian, thời gian, điểm nhìn tâm lí, điểm nhìn ngôn ngữ. Theo chúng tôi, cần xem xét điểm nhìn thể loại, bởi mỗi thể loại có một kiểu điểm nhìn riêng. Ví như tự sự sân khấu chỉ cho người xem nhìn thấy một phía, là phía người ngồi xem, không được xem từ phía cánh gà. Truyện Phật thoại, truyện giáo huấn chỉ được nhìn theo đối lập thiện ác, kẻ ác dù ác thế nào đều có thể “phóng hạ đồ đao, lập địa thành Phật” (buông dao sát sinh lập tức thành Phật), nhưng không thể có chuyện ngược lại, người đã thành phật lại làm chuyện sát sinh. Tam quốc diễn nghĩa cũng chỉ có chuyện trung vua nhất quán, không có điểm nhìn ngược lại. Điêu Thuyền chỉ biết hi sinh cho liên hoàn kế của Vương Tư đồ, không có mảy may suy nghĩ riêng tư.

Xét về mặt này Truyện Kiều là một tác phẩm tự sự đặc biệt, tự sự đa điểm nhìn hay điểm nhìn nhiều chiều. Mới nhìn thì có vẻ mâu thuẫn, những xem kĩ thì lại thống nhất rất tinh vi. Truyện Kiều trước hết là một tác phẩm truyện thơ Nôm, sáng tác trên cơ sở một tiểu thuyết văn xuôi chương hồi của Trung Quốc, cho nên trước hết nó mang trong mình vừa con mắt thơ của truyện thơ, vừa con mắt văn xuôi đậm chất tiểu thuyết. Thứ hai, Truyện Kiều vừa mang quan điểm đạo đức quan phương trung hiếu tiết nghĩa, vừa mang quan điểm của người dân bị chà đạp và khao khát muốn tháo cũi sổ lồng cho nên chứa đựng nhiều mâu thuẫn mới lạ, sảng khoái. Thứ ba, Truyện Kiều mang tư duy tu từ của lối sáng tác theo câu chữ, hình ảnh có sẵn, vừa mang tư duy có tính cá thể hiện đại tươi mới. Thứ tư, Truyện Kiều vừa tao nhã, quý phái vừa thế tục, suồng sã. Truyền Kiều vừa kết tinh tinh hoa tiếng Việt dân dã, trữ tình, vừa bao gồm tinh hoa ngữ liệu Hán với rất nhiều điển cố thơ văn cổ điển. Thứ năm, Truyện Kiều vừa có quan điểm nho gia, vừa có Phật gia, Đạo gia. Chính nhiều điểm nhìn trái chiều phối xen đã làm cho thế giới tác phẩm đa nghĩa, đa chiều, thẩm mĩ phong phú thỏa mãn những cách cảm thụ và diễn giải khác nhau.

1. Theo cặp điểm nhìn thứ nhất ta thấy, Truyện Kiều vừa giống tiểu thuyết mà nó dùng làm lam bản, lại vừa không giống, bởi vì nó là một truyện thơ. Và vì nó là truyện thơ cho nên nó đã tích hợp cả một truyền thống thi ca rất phong phú, vừa có ở trong kho tàng thi ca Trung Quốc, vừa có trong kho tàng thi ca và ngôn ngữ Việt Nam. Mới nhìn thoáng qua, hầu như các chi tiết, sự kiện Truyện Kiều đều đã có sẵn, vay mượn từ tiểu thuyết của tác giả Trung Hoa. Nhưng nhìn kĩ, thì tất cả các sự kiện chi tiết ấy đã được nhìn từ nhãn quan thi ca. Chân dung nhân vật chính là những chân dung thi ca, khác hẳn chân dung văn xuôi của Thanh Tâm Tài nhân. Cô Kiều thì: Làn thu thủy, nét xuân sơn, Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh. Còn Kim Trọng: Tuyết in sắc ngựa câu giòn, Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời, những hình ảnh rất đẹp, không có chút gì văn xuôi và cũng không có trong nguyên tác. Cuộc gặp mặt đầu tiên, rồi phong cảnh buổi chơi xuân, nỗi buồn vẩn vơ của mối tình chớm đậu thấm vào trong cảnh. Từ đó về sau, các cảnh nhớ nhà, cảnh ngắm trăng, cảnh đi sớm, cảnh ngồi một mình, cảnh tiễn biệt, niềm vui tái ngộ, tất tật đều có hơi hướng thi ca từ trong truyền thống thơ Đường, điều mà nguyên tác không thể có được. Cái cảnh đi trốn cùng Sở Khanh cũng đầy chất thơ: Đêm thu khắc lậu canh tàn, Gió cây trút lá trăng ngàn ngậm gương. Lối mòn cỏ lợt màu sương, Lòng quê đi một bước đường một đau. Cảnh chia tay Thúc Sinh: Người lên ngựa, kẻ chia bào, Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san. Cái nhìn trong cách xưng hô cũng rất thơ. Đối với Kiều, Kim Trọng người kể chủ yếu là xưng chàng, nàng, cách xưng hô dành cho nhân vật con nhà gia thế đồng thời rất gần gũi về mặt tâm tình. Tương ứng với cách xưng hô này là cách gọi tên Kiều một cách thân mật, mà không gọi là Thúy Kiều như trong nguyên tác. Chỉ Tam hợp đạo cô, một kẻ nắm vận mệnh Kiều, đứng rất xa nàngmới gọi nàng bằng Thuý Kiều. Cái nhìn thơ mộng này là điều mà một số nhà nghiên cứu trước đây và nhà nghiên cứu Trung Quốc chưa từng nhận thấy rõ. Nhưng Truyện Kiều không chỉ là thơ, mà còn là tiểu thuyết. Ở đây có cảnh vu oan, bắt người tra tấn, cảnh cướp phá, cảnh bán người, cảnh đánh đập bắt tiếp khách, cảnh báo ân báo oán với những chi tiết cụ thể. Có cử chỉ vờ vịt của Mã, Sở, của Bạc Hạnh, cảnh đánh ghen hiểm ác. Nhưng tự sự cũng rất thơ, không hề văn xuôi, bởi vì đăng đối hô ứng, thi vị. Nó rất nhanh gọn và nhip nhàng. Ví dụ việc Kiều nhân cha mẹ và hai em đi sinh nhật mà sang với Kim Trọng. Chỉ sáu câu mà kể đủ: Nhà lan thanh vắng một mình, Gẫm cơ hội ngộ đã đành hôm nay. Thì trân thức thức sẵn bày. Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mái tường. Cách hoa sẽ dặng tiếng vàng, Dưới hoa đã thấy có chàng đứng trông. Hay như cảnh Kiều tự tử ở lầu xanh lần thứ nhất. Khi mụ Tú đánh đập, Kiều liền: Thôi thì thôi có tiếc gì, Sẵn dao tay áo tức thì dở ra. Sợ gan nát ngọc liều hoa, Mụ còn trông mặt, nàng đà quá tay. Thương ôi tài sắc bậc này, Một dao oan nghiệt dứt dây phong trần. Nỗi oan vỡ lỡ xa gần, Trong nhà người chật một lần như nen. Nàng thì bằn bặt giấc tiên, Mụ thì cầm cập mắt nhìn hồn bay. Chỉ có 10 dòng mà sự lí rõ ràng, kịch tính sắc nét, lại có chút hóm hỉnh, mỉa mai của văn xuôi. Ở đây cái nhìn thơ và văn xuôi đan bện trong ngôn ngữ kể chuyện chứ không phải truyện kể văn xuôi xen lẫn với thơ của các nhân vật như một phép cộng giản đơn như trong nguyên tác và các truyện truyền kì khác. Cách kể bằng thơ cũng gọn gàng, nhịp nhàng rất thú vị. Chẳng hạn cảnh Kiều thấy Kim lần đầu: Chàng Vương quen mặt ra chào, Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa. Hoặc cảnh Kim Kiều tình tự, bỗng nghe người nhà về thì Vội vàng lá rụng hoa rơi, Chàng về viện sách, nàng dời lầu trang. Một lối kể chuyện gãy gọn chỉ có trong truyện thơ của Nguyễn Du và đem lại một nghệ thuật bậc thầy khó ai sánh được.

2. Truyện Kiều kể về chuyện một người phải bán mình làm nghề gái đĩ và một tướng cướp chống lại triều đình cuối cùng bị giết, nhưng cách nhìn của người kể rất đặc biệt. Hầu như mỗi sự kiện đều có song song hai điểm nhìn khác nhau. Khác với các truyện giáo huấn, truyện cổ tích, truyện diễn nghĩa con người chỉ nhìn một chiều theo đánh giá chính diện, phản diện, theo quan điểm tác giả, trong Truyện Kiều có cái nhìn nhiều chiều. Về việc bán mình, có cái nhìn từ phía luân lí đạo đức: Làm con trước phải đền ơn sinh thành, nhưng từ góc độ cá nhân thì nổi lên sự không đành lòng: Ôi Kim lang, hỡi Kim lang, Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây. Chuyện cậy em thay lời vừa muốn vừa không muốn: Duyên này thì giữ, vật này của chung. Chi tiết này là của Nguyễn Du. Đối với chữ trinh khi thì Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu, khi thì Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường. Khi thì không cần trinh tiết nữa: Biết thân đến bước lạc loài, Nhị đào thà bẻ cho người tình chung. Chi tiết này cũng của Nguyễn Du, không có trong nguyên tác. Đối với việc đi tu cửa Phật, có quan điểm tin vào phép Phật nhiệm màu: Cho hay giọt nước cành dương, Lửa lòng tưới tắt mọi đường trần duyên. Nhưng từ quan điểm cá nhân thì đi tu là một sự hủy hoại tuổi xanh: Đã đem mình bỏ am mây; Đã tu, tu trót, qua thì, thì thôi. Đi tu là một sự bất đắc dĩ. Đây là điểm nhìn của cô Kiều của Nguyễn Du, không có trong nguyên tác. Khi có điều kiện Kiều liền báo ân và báo oán, nhiều kẻ chết thê thảm, khác xa lí tưởng nhà Phật vốn là giới sát. Đến cuối truyện nhà Kiều lập am và Kiều dầu dèn chờ Giác Duyên chứ không hẳn là nàng tu phật, vì nàng đâu có xuất gia, nàng về danh nghĩa vẫn đang là vợ chính thức mới cưới của Kim Trọng. Như thế là đối với mỗi sự kiện đều có những cách hiểu khác nhau. Đối với Hồ Tôn Hiến lúc đầu giới thiệu rất trang trọng: Có quan Tổng đốc trọng thần, nhưng liền đó lại thấy con người tráo trở: Lễ nghi dàn trước, bác đồng phục sau. Lại có cái nhìn phát hiện ra y là kẻ tầm thường: Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình. Những điểm nhìn khác nhau vẽ ra những con người lập thể, đa diện. Phức tạp hơn hết là cái nhìn đối với nhân vật Từ Hải. Theo quan điểm quan phương thì Từ là một tướng cướp, là giặc, nhưng chỉ có họ Đô là xưng Từ là giặc, còn người kể chuyện ngay từ đầu đã gọi Từ là khách biên đình, là anh hùng, cho đến khi Từ đã chết, trước mặt Hồ Tôn Hiến Kiều vẫn nói: Rằng Từ là đấng anh hùng, Dọc ngang trời đất, vẫy vùng bể khơi. Khi khóc than chuẩn bị gieo mình xuống sông Tiền Đường Kiều đều gọi Từ là Từ Công, giống như khi trước gọi Hồ Tôn Hiến là Hồ Công. Đối với việc khuyên Từ Hải hàng, cũng có nhiều quan điểm. Khi thì gọi đó là “việc nước”, theo quan điểm quan phương, khi thì thấy đó là sự “giết chồng”, khi thì thấy là “có công”, khi lại thấy là có tội: Nghĩ mình công ít tội nhiều. Nhưng nghĩ kĩ thì thấy hành động của Kiều là nhẹ dạ: Nàng thì thật dạ tin người, Lễ nhiều nói ngọt, nghe lời dễ xiêu. Tức là nàng bị lừa. Điểm nhìn của Nguyễn Du, không có trong nguyên tác. Đối với ông Trời, quan điểm định mệnh của Nguyễn Du là rất rõ và nhất quán, tuy vậy cũng có lúc cho rằng Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều. Trời của Nguyễn Du không đồng nhất với Thiên của Nho giáo, vốn là một “thiên lí” siêu hình, mà là một kẻ biết xúc động với với hiếu tâm của Kiều, sẵn sàng nghiêm trị bọn bạc ác tinh ma. Đối với bọn Tú, Mã, Sở thì tội của chúng là do chúng tự chuốc lấy, chứ không phải tại trời. Trước đây các nhà phê bình Mác xít Việt Nam thường có thói quen duy vật là chỉ thừa nhận những tư tưởng tiến bộ của nhà văn, còn những tư tưởng lễ giáo hay định mệnh thì coi là những hạn chế. Thực ra nếu thừa nhận nhãn quan định mệnh, tư duy lễ giáo là tất yếu lịch sử của nhà thơ, thì sẽ thấy nhà thơ của chúng ta đã vượt lên trói buộc của thời đại để có những nhận thức mới phù hợp với quan điểm nhân văn.

3. Xem chân dung Thuý Kiều, Thúy Vân, Kim Trọng, Từ Hải ai cũng thấy đó là các chân dung có sẵn đâu đó trong văn học trung đại, không mang chút cá tính cụ thể nào. Những mai cốt cách, tuyết tinh thần, làn thu thủy nét xuân sơn, hoa cười ngọc thốt đoan trang… đều là những sáo ngữ. Ngay hình ảnh được nhiều người ca tụng Rõ ràng trong ngọc trắng ngà thì cũng là sáo ngữ, nói chung người con gái nào mà không như thế. Có thể nói đó là điểm nhìn tu từ học cổ điển, miêu tả theo lối ước lệ có sẵn. Nhưng nếu dựa vào đó để chê Truyện Kiều thiếu cá tính, thiếu ý thức cá nhân thì lại nhầm to. Nguyễn Du có một điểm nhìn trái ngược với quan điểm tu từ ấy khi miêu tả nhân vật, đó là miêu tả nhân vật từ bên trong, từ điểm nhìn nội tại có tính cá thể cao độ. Tôi đã có nhận xét rằng, trong Truyện Kiều, con người bên trong cụ thể cảm tính hơn con người bên ngoài, lời nói bên trong cụ thể hơn lời nói bên ngoài, phong cảnh bên ngoài có xu hướng nội tâm hóa. Thế giới nội tâm của Truyện Kiều là rất cụ thể, không lặp lại. Cảm xúc của Kiều khi gặp chàng Kim, cảm xúc khi phải bán mình, tình cảm lúc cậy em thay lời, cảm xúc khi buộc phải tiếp khách, cảm xúc khi phải chuyện trò với chàng Thúc chỉ biết hưởng thụ thân thể nàng. Toàn bộ thế giới tâm tình của nhân vật ai đã đọc đều không thể cho là ước lệ, đó là con người này, là một cá tính không lặp lại. Ở đây không còn là quan điểm tu từ của chủ nghĩa truyền thống, mà đã là quan điểm văn học theo kiểu cá nhân luận cận hiện đại. Không chỉ một mình Kiều như thế mà các nhân vật khác như Kim Trọng, Thúc Sinh, Từ Hải, kể cả nhân vật Mã Giám Sinh, mụ Tú Bà cũng đều có một cuộc sống riêng bên trong cái vẻ bề ngoài khuôn sáo mà chỉ có dòng ngôn ngữ nội tâm, độc thoại nội tâm thì mới miêu tả ra được. Ngay phong cảnh, sự việc đều hiện ra qua cảm thụ của con người. Hãy nhìn kĩ cách tả cảnh trong truyện sẽ thấy cảnh không phải là tĩnh tại, được đưa ra như là có sẵn, mà là xuất hiện dần dần theo bước chân, con mắt của nhân vật. Chẳng hạn, Bước lần theo ngọn tiểu khê, Nhìn xem phong cảnh có bề thanh thanh. Nao nao dòng nước uốn quanh, Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang. Sự vật hiện ra qua sự phỏng đoán của nhân vật, ví dụ: Bóng hồng nhác thấy nẻo xa; Trông chừng thấy một văn nhân; Thưa hồng rậm lục đã chừng xuân qua… Miêu tả hay trần thuật cái gì cũng lấy sự cảm nhận của con người làm trung tâm. Đây chính là giá trị đỉnh cao của tác phẩm về phương diện chủ nghĩa nhân đạo, nhân văn trên phương diện nghệ thuật.

4. Truyện Kiều kế thừa quan điểm chữ Thân trong Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm, nhìn con người qua quan điểm hình nhi hạ của than thể vật chất. Nếu lấy cuối thế kỉ XVII đầu thế kỉ XVIII là dấu mốc chia văn học Việt Nam trung đại làm hai giai đoạn thì ta thấy từ thế kỉ XVII về trước con người trong văn học chỉ được quan tâm từ hình nhi thượng, tức là con người sống theo đạo lí, nhìn người theo đạo lí. Còn văn học từ thế kỉ XVIII trở đi lại nhìn người chủ yếu theo hình nhi hạ, tức là nhìn người theo tấm thân. Thân đây là thân thể, cái phần vật chất sẽ bị thời gian tàn phá, sẽ có thể mua bán, có thể bị giày xéo, hư nát, khổ đau. Thân là tồn tại duy nhất một lần, rất cá nhân, cá thể. Truyện Kiều là tác phẩm tự sự theo điểm nhìn chữ Thân. Những người hiểu nhân vật qua chữ tài, sắc, chữ tình, chữ hạnh đều không hiểu gì Truyện Kiều. Những người bám vào câu “tài mệnh tương đố” cũng không hiểu được Truyện Kiều. Bởi Truyện Kiều là tác phẩm kể về một Tấm thân quằn quại vũng lầy, Thân lươn bao quản lấm đầu, kể nỗi đau của Tấm lòng trinh bạch từ nay cũng chừa, Xót thân chìm nổi đau lòng hợp tan. Truyện Kiều là sự phát triển sâu sắc nhất của dòng văn học chữ Thân trong văn học Việt Nam thế kỉ XVIII. Nguyễn Du đã nâng tư tưởng tài mệnh tương đố lên thân mệnh tương đố rất sâu sắc.

5. Truyện Kiều cũng tự sự theo quan điểm chữ Tâm. Chữ Tâm khiến nàng thương khóc Đạm Tiên, nể lời Kim Trọng, chữ Tâm khiến nàng bán mình chuộc cha, cậy em thay lời, chữ Tâm khiến nàng chịu nhẫn nhục, không buông thả theo lối tà dâm, khiến nàng khuyên Từ Hải hàng, lại chết theo Từ Hải. Trong truyện của Thanh Tâm tài nhân thì khi hầu rượu Hồ Tôn Hiến, Kiều liếc mắt đưa tình, lung lạc hắn, khác với Kiều Nguyễn Du. Nhìn theo chữ Tâm để kết truyện có thể nói Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài. Từ điểm này nhìn lại đoạn tả chị em Thuý Kiều, nhất là Kiều: Thông minh vốn sẵn tính trời, Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca ngâm, Cung thương làu bậc ngũ âm, Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương, Khúc nhà tay lựa nên chương, Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân, Phong lưu rất mực hồng quần thì thấy điểm nhìn lời kể có phần tung hô, quảng cáo theo lối cậy tài, thị tài thái quá, tương phản với câu Có tài mà cậy chi tài sau này. Đó là phục bút để cho người nhẹ dạ tưởng Nguyễn Du chỉ ca ngợi tài Kiều, mà không thấy nhà thơ đã dùng lời lẽ khác thường. Nhưng cái cảnh xem tài đàn là cái lầm người bấy nay thì thật khó hiểu. Cái tài bị ghét một cách oan uổng lại là điểm nhìn mâu thuẫn về thế giới quan thật.

6. Truyện Kiều là truyện kể vừa tao nhã, quý phái vừa là thế tục, vừa nhã vừa tục. Nói quý phái tao nhã khi miêu tả nhân vât với những đường nét cao sang như mai cốt cách, tuyết tinh thần, Kiều xuất hiện khi nào cũng có mùi hương quyến rũ, một điều mà nguyên tác không có. Trang phục nhân vật, hoàn cảnh xung quanh đều sang trọng, như Giải là hương lộn, bình gương bóng lồng, Một vùng như thể cây quỳnh cành dao, thật là tao nhã quý phái rất mực. Theo nguyên tác Trung Hoa thì gia đình họ Vương chỉ là viên ngoại, thường thường bực trung, Kiều không phải là tiểu thư khuê các, không có a hoàn theo hầu, nhưng nếu miêu tả theo quan điểm đó thì tác phẩm thiếu đi cái đẹp sang trọng tao nhã, không hợp với cái gu quý tộc vốn có của tác giả Nguyễn Du. Nhưng mặt khác Truyện Kiều nguyên là sản phẩm của dòng tiểu thuyết ra đời trên nền tảng thị hiếu thị dân, phong khí thế tục rất thịnh, kể những chuyện đời thường, có trộm ngọc cắp hương, có yếu tố sắc dục, có tình tiết mưu lừa, các kế sách mua gái nhà lành, lừa ép tiếp khách, đánh úp kẻ xin hàng. Nguyễn Du rõ ràng đã tước bỏ đi rất nhiều các mưu mẹo lọc lừa, các chi tiết gây hấp dẫn, nhưng tính chất thông tục của cuốn truyện vẫn không thay đổi. Bởi vẫn còn chuyện bán mình chuộc cha, bị lừa bán cho lầu xanh, bị đánh ghen, lại vào lầu xanh lần hai, làm vợ tướng giặc, bị ép gả cho thổ tù, nhục nhã phải gieo mình tự tận. Đó là một số phận đời thường mà ai cũng hiểu được, ai cũng quan tâm. Những khi nhục nhã ê chề, thanh lâu hai lượt thanh y hai lần, Kiều không còn gì là sang trọng, quý phái nữa, mà chỉ còn là con người đau khổ nhục nhã nói chung, đại diện cho bao thân phận phụ nữ bị dập vùi. Đó là truyện thông tục, bình dân, ai cũng hiểu. Đặc biệt Truyện Kiều tự sự từ chữ Thân, tức là thân thể, cái phần đau đớn, dễ bị mua bán, hành hạ, hủy hoại của kiếp người, cái phần sung sướng và đau khổ. Trong dòng văn học chữ Thân của Việt Nam nảy sinh từ thế kỉ XVIII với Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm, Truyện Kiều đã đi xa nhất, thể hiện một cái thân phổ quát nhất, do đó tác phẩm vừa là văn học đại chúng vừa là văn học tinh hoa cao cấp.

7. Gắn với tính chất cao nhã Truyện Kiều có một hệ thống ngôn ngữ chi tiết rất đẹp, với những thềm hoa, lệ hoa, trướng gấm, buồng thêu, tiếng vàng, giọt ngọc, con người thì mặt hoa, ngọc thốt, nhạc vàng, hài văn, đầy tính trang sức rất cao quý, tao nhã. Cũng với đó là các điển cố cầu lam, chương đài, chim xanh, Trang Chu mộng bướm, Đỗ Quyên khóc máu, hồn mai, giấc hòe, kim mã ngọc đường, tác phẩm như một đồ vật quý khảm vàng bạc châu ngọc rất quý giá. Nhưng mặt khác Truyện Kiều dày đặc những lời kể rất Việt Nam: Đau đớn thay phận đàn bà, Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung; Vui là vui gượng kẻo là, Ai tri âm đó mặn mà với ai; Người yêu ta xấu với người, Yêu nhau mà lại bằng mười phụ nhau, đọc lên hết sức gần gũi. Đặc biệt ngôn ngữ nhân vật trong truyện đều có tính chất cá thể hóa cao độ. Lời kể, lời tả, đều rất dung dị, thiết tha, đau đớn, thấm vào gan ruột người đọc.

Truyện Kiều là một tác phẩm tự sự đa chiều, nhiều giọng, nhiều điểm nhìn. Một mặt là những điểm nhìn có sẵn của truyền thống tự sự trung đại. Đó là điểm nhìn tu từ học, điểm nhìn tiểu thuyết chương hồi, điểm nhìn lễ giáo, quan phương. Nhưng mặt khác Nguyễn Du đã đem vào những điểm nhìn mới lạ, điểm nhìn thi ca, điểm nhìn cá nhân, cá thể thế tục của nhân vật, điểm nhìn nhân văn, điểm nhìn thân thể, điểm nhìn nội tâm, điểm nhìn tao nhã và điểm nhìn thông tục đời thường. Các điểm nhìn mới đó đã làm mới câu chuyện, làm mới hình thức và nội dung tác phẩm, biến một tác phẩm thường thường bậc trung thành một kiệt tác tầm cỡ thế giới.

Nguồn: https://trandinhsu. wordpress. com/2015/08/07/cai-nhin-tu-su-nhieu-chieu-trong-truyen-kieu/

 

NỒI BÚN, NỀN GIÁO DỤC VÀ MỚ BÒNG BONG CẢI CÁCH !

Có vị suốt ngày lo đi nhắc nhở bọn đế quốc nó âm mưu phá ta, thủ đoạn thâm độc, diễn biến này kia… thế mà cả ba đứa con của ổng đều cho qua cái xứ đầy âm mưu thủ đoạn đó học hành, ta nói ổng thiệt là không có trái tim mà! … Haizza, tạo lập nên một hệ thống giáo dục mà con cái mình rứt ruột sanh ra lại đưa cho thế lực thù địch giáo dục, chứ không dùng tới nền giáo dục nước nhà, thảo nào mà nền giáo dục nước nhà cứ như mớ bòng bong, tùm lum tà la tóa lọa khôn lường và hậu quả thì ai chịu biết zồi đấy!”

 FB Lê Đức Dục

 

Kỳ thi 2 trong 1 (tú tài và đại học) đã xong,chưa kịp vui thì việc xét tuyển đang là mớ bòng bong cho thí sinh lẫn nhà trường, thầy Văn Như Cương thì khẳng định kỳ thi này “đã thất bại hoàn toàn”.

Một sản phẩm của nền giáo dục, liên quan đến tương lai hàng triệu người mà sao có thể “ba lơn” như thế này? Phó thủ tướng Vũ Đức Đam phát biểu rằng “ Thực ra vấn đề này đã được nêu ra nhưng Bộ khẳng định đã lường được và yên tâm.Tuy nhiên thực tế cho thấy Bộ chưa lường được hết và chưa thể yên tâm”.

Đúng là thí sinh sau kỳ thi lại phải “chơi chứng khoán” với màn xét tuyển ! Nền giáo dục nước nhà bao nhiêu năm muốn đổi mới mà cứ mỗi lần đổi mới là con dân xứ Việt lại lên máu theo, từ chuyện chữ viết thẳng đơ thay cho nét kéo hồi những năm 80 của thế kỷ 20 đến sửa sách giáo khoa, thay đổi cách thức thi tuyển, rồi “ba không ba có”, nên đến năm thứ 15 của thế kỷ 21 vẫn loay hoay.

Nghĩ về hệ thống giáo dục nước nhà bổng dưng tôi nhớ tới quán bún đầu hẻm nhà mình. Quán bún của bà chị to béo vật vã, không ngon lắm, khách cũng thập loại chúng sinh, từ đi xe Audi tới bán vé số..Nhưng cái hay là tôi luôn thấy cả nhà chị ăn sáng bằng nồi bún nhà mình, cả chồng cả vợ, con gái, con rể, cháu ngoại…đều ăn sáng ở quán chứ không đi ăn lung tung.

Sản phẩm mình làm ra và mình dám ăn, ăn miệt mài ngày này qua ngày khác, nghĩa là có thể họ bằng lòng với cái của mình!

Nếu so với nền giáo dục nước ta thì chắc các nhà hoạch định chiến lược giáo dục thua xa bà bán bún này!

Bởi, nếu coi hệ thống giáo dục nước nhà là sản phẩm của các quý ngài quan chức ở các Bộ, Viện, ….thì chả thấy vị nào dùng sản phẩm của các vị khi mà con cái của các ông bà đều cho du học ở xứ người (hầu hết là ở các nước tư bản, đế quốc!)

Sản phẩm hệ thống giáo dục do mình kiến tạo mà mình không (dám) xài, mình đẩy con đi tỵ nạn giáo dục ở xứ người thì rõ ràng các ngài không bằng bà bán bún hẻm em, bởi nấu bún ra cả nhà bà cùng ăn luôn!

Đấy là chưa nói các vị rất liều mạng! Rất không có trái tim! Tình thương với con cái là vô biên, vô điều kiện, không gì sánh bằng, thế mà các vị lại đẩy con mình cho kẻ thù của chính mình dạy dỗ và đào tạo thì quá liều, liều quá!

Có vị suốt ngày lo đi nhắc nhở bọn đế quốc nó âm mưu phá ta, thủ đoạn thâm độc, diễn biến này kia…thế mà cả ba đứa con của ổng đều cho qua cái xứ đầy âm mưu thủ đoạn đó học hành, ta nói ổng thiệt là không có trái tim mà! (à còn chiện lấy tiền đâu để đẩy con cái đi học ở xứ thù địch lại là một chuyện đau đầu khác đối với nhân dân)

Haizza, tạo lập nên một hệ thống giáo dục mà con cái mình rứt ruột sanh ra lại đưa cho thế lực thù địch giáo dục, chứ không dùng tới nền giáo dục nước nhà, thảo nào mà nền giáo dục nước nhà cứ như mớ bòng bong, tùm lum tà la tóa lọa khôn lường và hậu quả thì ai chịu biết zồi đấy!

iem thật!

( Nguồn: FB Lê Đức Dục)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 16.08.2015

THƯ GIẢN CUỐI TUẦN- TƯỢNG ĐÀI SỰ SỐNG

THƯ GIẢN CUỐI TUẦN- TƯỢNG ĐÀI SỰ SỐNG

QTXM: Các bạn thân mến. Linga và Yuni là hai biểu tượng của phồn thực nhân loại. Tượng đài của quý đàn ông là tượng đài phồn thực, tượng đài  sự sống.Thật ý nghĩa, thật thú vị. Ở Bỉ, người ta dưng tượng thằng cu đái trên quảng trường lớn. Từ chim của Cu Đái, một dòng nước suốt ngày tuôn ra. Đó là nguồn mạch sự sống. Ở Việt Nam có Linga ở Trà Kiệu to lớn, cao hơn người. Ở Mỹ, người ta dựng tượng của quý đàn ông cho mọi người đến ngắm, đến chụp ảnh. Ở Nhật ,người ta đúc tượng của quý đàn ông  để rước trong một lễ hội lớn : Lễ hội rước của quý đàn ông. Của quý phồn thực ấy đã biến thành kem để mút, linga đã thành nơi để chị em sờ lấy phước, thành chỗ vui chơi. THƯ GIAN CUỐI TUẦN kỳ này xin giới thiệu mấy cái tượng dài phồn thực ấy. (Đọc tiếp…)

« Newer Posts - Older Posts »

Danh mục