Đăng bởi: Ngô Minh | 20.02.2017

CÓ MỘT TRIẾT LÝ ẨM THỰC HUẾ

 CÓ MỘT TRIẾT LÝ ẨM THỰC HUẾ

 

                                                                 Ngô Minh

 

         sach-2

Huế trải hơn 350 năm lịch sử là thủ phủ Chúa Nguyễn Đằng Trong và Kinh Đô nước Việt triều Nguyễn, nhân dân lao động cả nước đã tạo nên Di sản văn hóa thế giới . Một trong những đặc trưng nổi bật của văn hóa Huế  là văn hóa ẩm thực. Món ngon xứ Huế là món ngon Chăm xưa kết hợp với món ngon Việt , món ngon dân gian Huế và món ngon cả nước do giao lưu , hòa quyện với linh khí đất Thuận Hóa mà thành. Văn hóa ẩm thực Huế có một cội nguồn triết lý riêng để mãi trường tồn với thời gian.

Vì thế món ăn Huế, cách ăn Huế trở nên nổi tiếng đến mức định hình như một chuẩn mực, một phong cách. Có tới 1300 món ăn xứ Huế. Cuốn sách dạy nấu ăn của bà Hoàng Thị Kim Cúc ở Vĩ Dạ , người khơi nguồn cho bài thơ nổi tiếng Đây thôn Vĩ Dạ của thi sĩ họ Hàn  , đã giới thiệu công phu 60 thực đơn bốn mùa với  600 món ăn “’nấu theo lối Huế’’ (125 món ăn chay, 300 món ăn mặn, 175 thứ chè, cháo dưa mắm…) . Âu cũng dễ giải thích, bởi Huế là nơi Phủ Chúa, Cung Vua, nơi hàng mấy trăm năm qui tụ tinh hoa khắp mọi miền đất nước . Món quê mùa dân dã lại theo người đẹp, người tài, người sành điệu xâm nhập  cung vua phủ chúa, rồi được dọn lên bàn yến tiệc , thành quốc túy quốc hồn … Nhiều lần Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường kể với tôi rằng, chính bà Từ Cung , mẹ vua Bảo Đại, xuất thân là cô gái bán cháo bò xinh đẹp ở làng Mỹ Lợi , Phú Lộc đã được vua Khải Định đưa vào cung và trở thành một bà phi trong triều . Hay ông Trần Mao một đầu bếp giỏi trong cung Nguyễn , cũng là một người xuất thân ở làng quê Phú Lộc .Ông nấu cho vua ăn, nhưng về đến nhà ông là “quan triều” về làng , ông lại ăn các món do làng và vợ nấu ! Khi làng cần ,ông lại bày cho cách nấu các món “ cơm vua” Món yến tiệc cung đình vượt “ Tử cấm thành” về các làng quê, thành ra món chung của mọi người. Dần dà theo thời gian , các món ngon được định hình, lưu truyền và nâng cao thành nét Huế riêng không thể lẫn . Triết lí ẩm thực Huế là  một thực thể văn hóa , hòa quyện với tính cách con người và đặc điểm phong thủy đất Kinh Đô trăm năm mà thành.

 

Triết lý ẩm thực Huế lấy CON NGƯỜI  làm trung tâm . Con người sáng tạo ra  các món ăn để phục vụ cuộc sống của mình, làm cho đời sống ngày càng văn hóa hơn . Ngược lại văn hóa ẩm thực phải phục vụ con người, làm cho con người ngày càng văn minh, mạnh khỏe cả về tâm hồn và thể chất. Cho nên nấu ăn là sáng tạo nghệ thuật, ăn uống là thưởng thức nghệ thuật .Ngay từ “ăn” các Mệ Huế ngày xưa gọi là “ thời”. “ Mời Mệ thời cơm”. Chữ “ thời” nghe rất sang trọng, lại gần gũi hơn chữ “ xơi” ở miền Bắc. Từ hơn trăm ngăm trước, bà Trương Thị Bích, con dâu của thi sĩ Tùng Thiện Vương Miên Thẩm , trong Lời thưa đầu  sách Thực phổ bách thiên đã quan niệm  rất chí lý rằng :“ nấu nêm vừa miệng là ngon”, “ đồ ăn không phải hễ cá thịt thì ngon, mà dưa rau thì dở; chi ngon cũng được mà chi dở cũng được; ngon dở nơi tay mình; chớ có tại gì nơi rau thịt…”, “ Biết nấu ăn mới biết đi chợ, mà có biết đi chợ mới biết nấu ăn ; thịt theo chợ mà cá theo mùa, tính đã mới mua, mua vừa kho nấu…” .Tức là món ăn nào thỏa mãn nhu cầu thưởng thức của con người nhất thì được gọi là ngon, là sang.

 

Nổi bật nhất trong một mâm cơm Huế , dù là bữa cơm cung đình mà ta hay gọi là’’Cơm vua’’, hay bữa cơm bình dân trong mỗi gia đình, là tính hài hòa . Món ngon Huế  không chỉ ăn bằng miệng ,mà trước hết phải thích nhìn bằng mắt, mũi ngửi thấy thơm, cảm giác thấy thèm , tai nghe những âm thanh quyến rũ , tức là ăn bằng ngũ quan ! Hài hòa về màu sắc, hương vị, hài hòa về âm – dương, nóng – lạnh,  hài hòa trong bố cục chén, đũa, bát, dĩa . Vâng, hài hòa như tự nhiên, thiên nhiên. Một đĩa rau sống Huế chứa đựng cả một thế giới chan hòa màu sắc. Trong cái nền xanh đơm đầy sự sống ấy , nổi lên những ngôi sao vàng màu khế, miếng cà chua như mặt trời rực rỡ, màu ngà vàng của lát vả thái hình nửa vành trăng khuyết, điểm những lát chuối sứ màu trắng nõn, tròn xoe…Bạn có thể gắp trăng sao rực rỡ ấy cùng với thịt (heo) ba chỉ luộc kẹp với tôm chua nổi tiếng – một miếng ngon ấy thôi cũng có đủ chua, cay, mặn , ngọt, chát, béo, bùi hòa quyện thành sự thích thú khoái cảm nhớ đời. Đối với người Huế, trong một mâm cơm, hay theo từng mùa, các món ăn phải đảm bảo đủ yếu tố âm (mát) , dương (nóng) . Mùa nóng thì tăng cường các món ăn tính âm, mùa lạnh thì ngược lại cho cân bằng hàn nhiệt cơ thể. Ăn uống theo mùa là nguyên tắc lớn trong triết lý ẩm thực Huế . Xuân, hạ, thu, đông mùa nào cũng có thực đơn riêng, ngon mà rẻ. Ví dụ thịt vịt mát nên ăn vào mùa hè khí hậu nóng, thịt ga ấm, thịt heo nóng thì thường ăn vào mùa đông. Cá tràu, lươn … hàn nên phải dùng ném để chế ngự ; vịt, ốc, hến .. .mát nên phải dùng gừng .Vị cay là cực dương nên phải điều hòa bằng vị chua là cực âm..

 

Các loại bánh Huế thường được làm nhỏ và mỏng. Dọn ra mâm người ăn bao giờ cũng có cảm giác sẽ ăn hết , tức là món ăn không áp đảo, chế ngự con người. Đó là nghệ thuật, là triết lý hài hòa của ẩm thực Huế.  Ngay đến việc sử dụng bát đĩa đơm bày các món ăn, hay đũa bát để ăn cơm người Huế cũng sử dụng nguyên tắc hài hòa. Bát đựng thức ăn, đĩa đựng món ăn dù sang, đẹp cũng không to quá, không ‘’lấn’’ thức ăn. Bát ăn cơm cho khách không được to hơn bát bày trong mâm. Người Huế thường dọn cơm tiệc hay tiếp khách bằng loại chén kiểu (chén xưa, nhỏ). Món ăn như thế, bát đĩa như thế nên người ngồi ăn cũng thật tự nhiên. Không cảm thấy bị cách bức , gò bó – ăn uống tự nhiên mà lịch sự, từ tốn. Trong cách ăn, người Huế thường ăn nhẩn nha, nhấp nháp. Ăn bún, ăn phở người Huế xưa chỉ dùng đũa, không dùng vừa đũa vừa thìa vừa khều vừa múc như người Sài Gòn, Hà Nội. Khi ăn họ thường hồn nhiên bưng bát bún lên để húp, và. Ăn trứng vịt lộn người Huế cầm tay bóc đầu vỏ trứng rồi đưa lên miệng hút nước, sau đó bóc tiếp vỏ rồi cắn ăn , không dùng cốc để đựng trứng , thìa để múc như người Hà Nội, Sài Gòn. Cách ăn của người Huế thể hiện  quan niệm miếng ngon ở đời phải được tiếp xúc trực tiếp, không qua trung gian, cách biệt chăng ?! Trong Đặc san Đồng Khánh , Châu Nhật Nam viết về món ăn và chỗ ngồi ăn của Huế xưa rất lý thú :” Bánh đúc, bánh bèo phải ngồi chõng. Cháo môn, chè nếp ngồi bàn độc. Khoai nướng phải ngồi cạnh bếp trấu hoặc duới đụn rơm. Chè hột sen ngồi tràng kỷ, chè hột sen bọc nhãn phải ngồi sấp gụ..”.

 

Một nét hài hòa cần được nhấn mạnh trong ẩm thực Huế là ăn uống phải hài hòa với thiên nhiên, phong cảnh. Người Huế thường thích dọn bữa trong vườn. Thời bao cấp ,tôi làm chuyên viên ở Sở Thương mại Bình Trị Thiên ( cũ), một lần tiếp khách bạn Lào và các quan chức Bộ Thương mại , anh Phan Đình Chi, giám đốc Sở , một người Huế lịch lãm và từng trải, giao cho Công ty Thực phẩm “ đăng cai” tiệc. Giữa chiều , anh xuống kiểm tra , thấy anh em dọn bàn tiệc trong phòng hội trường, trong lúc đó, vườn nhà Viễn Đệ , nơi công ty đóng là một vườn cảnh tuyệt vời với hàng trăm giống hoa quý, có hồ bán nguyệt, có lầu thưởng trăng , có cả mấy cây hoa hoàng lan đang mùa nở hoa thơm ngát. Thế là ông Chi quyết định dọn tiệc ra vườn . Sau bữa tiệc, những người khách cứ xuýt xoa khen hoài, vì họ vừa ăn vừa được ngắm hoa ,ngắm bồng lai tiên cảnh . Ở Huế hiện nay, có rất nhiều nhà vườn đẹp đang được sử dụng để làm quán phục vụ ẩm thực cho người sành điệu . Tịnh Gia Viên là một vườn hoa cảnh quý phái gồm hàng trăm loại xương rồng, hàng trăm loài hoa trái được trồng tỉa tót trong vườn, trong chậu kiểng rất độc đáo. Ngang mắt hoa khoe sắc, bên tai chim hót.  Giữa cảnh trí như vậy, con người lại được ngồi nhâm nhi thưởng thức các món Huế thì không có gì đắc đạo bằng ! Ẩm thực Huế hài hòa là thế . Hài hòa là bản chất của Cái Đẹp vậy!

 

Các món ăn Huế nổi tiếng như cơm hến, bún bò giò heo, nem Huế, tôm chua – thịt luộc hay các lọai bánh khoái Thượng Tứ, bánh nậm, bánh bèo v.v…đều thể hiện một triết lý sống người Huế : Nghèo mà sang ! Nói cách khác triết lý ẩm thực Huế là nghệ thuật làm cho các thực phẩm bình dân hàng ngày trở thành những món ăn nổi tiếng , quyến rũ du khách bốn phương ! Có lẽ trên thế giới chưa có nơi nào các món ăn nổi tiếng được ghi trong sách du lịch quốc tế lại rẻ như ở Huế : Theo giá ở thời điểm đầu thế kỷ 21, khi tác giả viết bài này , cơm hến một bát hai nghìn rưỡi ,bánh bèo , bánh nậm một đĩa hai đến ba nghìn, bánh khoái Thượng Tứ một suất 5 nghìn ( nếu tính ra tiền “đô” thì chỉ từ 0,15 đến 0, 3 USD ) . Như món cơm hến nguyên liệu toàn loại rẻ tiền, không còn là món điểm tâm của ngườ bình dân nữa mà khách du lịch sang trọng bất cứ người nước nào đều tìm ăn! Bí quyết ở đâu? Xin thưa ở bàn tay tài hoa của người Phụ nữ Huế, và ở sự hữu hiệu của triết lý ẩm thực ‘’nghèo mà sang’’ , không phải ăn để no béo, mà ăn để thưởng thức sự tinh túy của trời đất cây cỏ, một triết lý văn hóa ăn rất Việt Nam.

 

Triết lý ẩm thực Huế còn thể hiện ở tính hướng thiện, hướng về tâm linh trong các món ăn. Như trên đã nói trong một mâm cơm Huế luôn có món mát, món ‘’âm tính’’ cân bằng với món nóng , món dương. Các món ăn có nguồn gốc thực vật cân bằng với động vật. Ấy là tính hướng thiện, hướng tâm trong văn hóa ẩm thực Huế. Thể hiện sâu sắc nhất đặc điểm này là cơm chay. Cơm chay xuất phát từ nhà chùa. Nhưng hiện nay ,ba phần tư người Huế  ăn chay, cả những người không đi chùa cũng ăn chay . Không trường chay thì ăn chay tháng hai lần. Người Huế cho rằng người ăn chay lành tính, điềm đạm . Cho nên ai cũng muốn ăn chay để dưỡng tâm tính !

 

Với người Huế, nấu món ăn là để thể hiện sự đam mê nghệ thuật nấu ăn cũng như người Huế đam mê thơ vậy. Nghệ thuật là’’sự chơi’’ ở đời. Chơi nấu ăn ở Huế  có lẽ là ’’sự chơi’’ hơn cả! Rau giá, quả vả, bắp chuối, mít xanh cũng ’’chơi’’ thành món ăn có hạng! Đến muối, vâng, muối thật, người Huế cũng chơi thành bữa ’’Cơm muối’’ sang trọng với hàng chục món khác nhau. Với quan niệm “ăn” trước hết là “ ăn bằng mắt” , nên người phụ nữ Huế rất dụng công trong việc tạo hình các món ăn một cách nghệ thuật, tạo nên sự truyền cảm mạnh mẽ mỗi khi ngồi vào bàn tiệc. Một đĩa rau sống được bày biện với nhiều loại rau có màu sắc khác nhau trông giống như một đĩa hoa! Món gà tần rút xương được nhồi theo hình voi, hình thỏ, hình rùa… rất sống động . Đĩa bánh nậm – chả tôm bày lên bàn tiệc được trang trí thêm nhưng trái ớt, cây hành, cà rốt cắt được tỉa thành những cánh hoa cúc, hoa đồng tiền, những lát chả tôm hình thoi màu hồng ở trên mặt có điểm thêm những nốt trứng vàng rồi xếp thành hình hoa cánh sao, ở giữa là quả cà chua tỉa thành đóa hồng , trông rất “ngon mắt” . Chả tôm dọn ra đĩa được xếp thành hình con tôm, bánh phất sau khi chế biến xong bày trên đĩa theo hình rẽ quạt, chả phụng được chế biến và bày lên đĩa thành hình con chim phụng ( phượng) y như thật.v.v.. Tất cả những “tác phẩm” tạo hình đó đều được hình thành do cảm hứng của người đầu bếp, không có sách vở nào dạy hết được ! Sách Thực phổ bách thiên có bài Tổng luận mở đầu rất chí lý:

Có khi cá thịt có khi rau

                                                Nấu nướng chiên xào phải đủ màu…

 

Người phụ nữ Huế nấu ăn rất kỹ, nhưng khi hò mái nhì đối đáp trên sông Hương thì họ lại hò rất tếu rằng :

                              ” Sáng mai ăn một bụng cơm no,

                                      Xách cái rổ đi chợ bến đò ,

                                      Mua chín cái trách, xách chín cái lò,

                                      Đem về :

                                                Cái kho canh ngò ,

                                                Cái kho canh cải,

                                                Cái nấu nải chuối xanh ,

                                                Cái nấu canh rau má,

                                                Cái nấu cá chim chim,

                                                Cái kho rim thịt vịt ,

                                                Cái kho thịt con gà,

                                                Cái kho cà, đu đủ ,

                                                Cái kho củ môn tây.

                                      Trời chiều bóng xế trăng xây,

                                      Ham chơi lê lựu, bỏ chín cái trách này quên nêm

Ây là hò lên cái lòng mình đối với nghề “ đầu bếp”, nói cái tình mình với Cái Đẹp , chứ “ ham chơi lê lựu” làm sao mà nhớ được việc mua trách, lò rồi nguyên liệu, gia vị để nấu chín món dân gian rành rẽ ngon lành thế được! Vâng, chơi cũng là một nét của triết lý ẩm thực Huế !

                                               

Món ăn Huế mới nhìn thì rất giản dị nhưng ăn thì ngon đến thấm thía   rồi đi xa lại nhớ, lại thèm. Hình như món Huế  có một hương vị gì đó quyến rũ như giai nhân , nó “ gây nghiện”, như ma lực cuốn hút đối với người ăn mà có lẽ còn ít ’” nhà Huế học’’ lưu tâm nghiên cưú.

( Rút từ sách ĂN CHƠI XỨ HUẾ, Ngô Minh, NXBTH, 2000)

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.02.2017

Lời giới thiệu sách “Vua Gia Long & người Pháp”

Nguyên Ngọc

image (2)

Cuốn sách này [*] là nỗ lực của nhà nghiên cứu Thụy Khuê nhằm làm một công việc quan trọng, đòi hỏi công phu lớn và một sự phân tích chặt chẽ, sáng suốt, cả mới mẻ và dũng cảm nữa: điều tra (lại) một cách thẳng thắn, như chính lời chị nói, mối quan hệ giữa Pháp và Việt Nam trong thời cận đại, khi nước Pháp đang sốt ruột đi tìm một chỗ đứng xứng đáng cho đại đế chế của nó ở phương Đông, còn Việt Nam thì phải đối phó với nguy cơ chưa từng có đến từ một đối thủ mới hoàn toàn xa lạ, lại trong điều kiện chính trị, xã hội, kinh tế và cả văn hóa cũng phức tạp như chưa từng có. Mối quan hệ đó liên quan đến vô số người không chỉ có thân thế, tính cách, địa vị và hành tung khác nhau mà còn xuất phát và chịu sự chi phối của vô số động cơ hết sức khác nhau. Trong đó nổi bật lên nhân vật có lẽ cũng vào loại kỳ lạ nhất trong lịch sử Việt Nam xét về cuộc đời chìm nổi hiếm có, tài năng, số phận ly kỳ và sự nghiệp của ông: Nguyễn Ánh – Gia Long. Và nhân vật thứ hai: những người Pháp gọi là đến “giúp ông” trong sự nghiệp ấy. Xoay chung quanh họ là hàng trăm, hàng nghìn khuôn mặt cũng vô cùng đa dạng và phức tạp, tác động đến họ và đến nhau, ảnh hưởng không nhỏ đến dòng chảy quanh co của sự việc.

Thụy Khuê nói “điều tra” (và chúng tôi xin phép thêm trong ngoặc đơn “lại”; chị còn nói rõ “một cách thẳng thắn”, bởi vì khi bắt tay vào công việc này, thì chị đứng trước một khối mênh mông mà chị gọi rất hay là “huyễn sử”. Xin chú ý “huyễn” chứ không phải “huyền”. Bởi có cái gọi là huyền sử, lịch sử được thể hiện một cách mờ ảo, như huyền thoại, lịch sử được che giấu dưới hình thức mờ ảo của huyền thoại. Và ta biết, từ huyền thoại trong một chừng mực nào đó và với sự thận trọng cần thiết, có thể lần ra ít nhất một số nét bóng dáng của lịch sử. Ở đây là chuyện khác, là huyễn sử, tức nói thẳng ra: lịch sử bịa đặt. Và là bịa đặt mênh mông, lớp lang và thâm hiểm. Vì sao và để làm gì? Như ai cũng biết, lịch sử bao giờ cũng được viết bởi kẻ chiến thắng. Bởi vì người ta vất vả chiến thắng rồi không phải chỉ để mà “chơi”, mà là để sử dụng nó cho công cuộc thống trị tiếp theo của họ. Và còn để thanh minh về mọi thứ họ đã làm bất chấp tất cả để đạt được chiến thắng ấy.

Có điều lạ, là ba trăm năm sau, khi kẻ chiến thắng và huyễn hoặc xưa đã bị đánh bật ra ngoài cuộc rồi, huyễn sử do họ tạo nên lại vẫn đang được sử dụng. Vì cái điều được gọi là lợi ích của ý thức hệ. Thật lạ và thật nghịch lý, khi lợi ích đó, nhằm cho phù hợp cho nó, lại khiến người ta không thoát được đầu óc nô lệ, một mực chỉ tin và dùng huyễn sử được bịa theo quan điểm thực dân, không ai thậm chí nghĩ đến việc đối chiếu chúng ít ra với bộ chính sự biên niên của triều Nguyễn về bốn triều Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, để thử nghe tiếng nói của chính người trong cuộc mà soi lại, cố gắng tìm ra khuôn mặt thật của tiền nhân trong một giai đoạn có ý nghĩa bước ngoặt của số phận dân tộc.

Thụy Khuê nói: “Việc làm của chúng tôi với Gia Long chỉ là bước đầu dò dẫm, khám phá và cố gắng tìm kiếm một số sự kiện chúng ta tưởng như thế mà sự thật không phải như thế. Những gì còn lại là cả một không gian và thời gian lịch sử mênh mông trước mắt chúng ta, chưa hề được khám phá và tháo gỡ để hiểu đâu là sự thực…”

Nỗ lực tìm cho ra đúng sự thật.

Bởi vì chỉ học đúng từ sự thật của lịch sử được “giải huyễn” khỏi mọi xuyên tạc và bịa đặt, của bên kia hay bên này, ngày trước và bây giờ, mới giúp được ta ứng phó với thách thức mới hôm nay.

Chúng ta trân trọng cám ơn nhà nghiên cứu Thụy Khuê vì bước mở đầu, cũng là mở đường, quan trọng này của chị.

25-11-2016

N. N.


[*] Saigon Books và NXB Hồng Đức 2017

Tiếp tục đề nghị xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh cho hai tác giả Xuân Quỳnh và Thu Bồn

 Ngày 17/2, ông Nguyễn Thái Bình- người phát ngôn của Bộ VHTT&DL cho biết Bộ trưởng Bộ VHTT&DL Nguyễn Ngọc Thiện, Chủ tịch Hội đồng cấp Nhà nước xét tặng “Giải thưởng Hồ Chí Minh”, “Giải thưởng Nhà nước” về văn học nghệ thuật năm 2016 đã ký Tờ trình số 31/T.Tr-HĐGT đề nghị tiếp tục xét tặng “Giải thưởng Hồ Chí Minh” về văn học, nghệ thuật năm 2016 đối với hai cố tác giả là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh và Hà Đức Trọng (Thu Bồn).

Tại tờ trình Bộ VHTT&DL kính báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, trình Chủ tịch nước xét tặng “Giải thưởng Hồ Chí Minh” về văn học, nghệ thuật cho 2 cố tác giả Nguyễn Thị Xuân Quỳnh và Hà Đức Trọng (Thu Bồn) có hồ sơ đủ điều kiện và tỷ lệ phiếu bầu đồng ý từ 90% trở lên của tổng số thành viên Hội đồng cấp Nhà nước, tuy thiếu Giải thưởng theo quy định tại Khoản 3 Điều 9 Nghị định số 90/2014/NĐ-CP của Chính phủ; nhưng các tác phẩm này được Hội đồng đánh giá có giá trị rất cao về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật; Có tác dụng to lớn phục vụ sự nghiệp cách mạng, ảnh hưởng rộng lớn và lâu dài trong đời sống xã hội, tác dụng giáo dục và định hướng thẩm mỹ cao cho thanh, thiếu niên; góp phần quan trọng vào việc thay đổi nhận thức của nhân dân trong sự nghiệp phát triển văn học, nghệ thuật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.  Kính trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, trình Chủ tịch nước xét tặng “Giải thưởng Hồ Chí Minh” về văn học, nghệ thuật cho 2 tác giả nêu trên.

Trước đó, nữ thi sĩ Xuân Quỳnh và Thu Bồn không có tên trong danh sách được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh hồi trung tuần tháng 1 vừa qua.  Người phát ngôn Bộ VHTT&DL cũng cho biết thêm, dự kiến lễ trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước trong lĩnh vực Văn học – Nghệ thuật sẽ được tổ chức vào 11/3, tại Hà Nội.

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.02.2017

Thủ Thiêm và di sản kiến trúc tôn giáo

Thủ Thiêm và di sản kiến trúc tôn giáo

MTGBản quyền hình ảnhNGUYỄN VĨNH NGUYÊN
Tu viện dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm đang đứng trước nguy cơ bị đập bỏ

Đứng từ bến Bạch Đằng, quận 1, TP.HCM ngày nay nhìn sang bên kia sông Sài Gòn, vẫn còn có thể thấy tiền cảnh ngôi nhà thờ nhỏ xinh, có tháp chuông thấp và dãy nhà ngói cổ kính của Hội dòng Mến Thánh Giá gợi cảm giác yên bình. Nhưng kỳ thực, số phận của quần thể kiến trúc tôn giáo có tuổi đời một thế kỷ rưỡi này bị đe dọa từ khi đồ án xây dựng Thủ Thiêm được nhà chức trách phê duyệt.

Sẽ bị san bằng?

Những tuyến đường mới đã được ủi thông, những công trình mới được đổ móng trên khu vực bãi bồi Thủ Thiêm, vùng vệ tinh chiến lược của Sài Gòn, nơi mà lòng đất đầm lầy còn ôm trong mình nhiều di chỉ các xưởng đóng tàu thời nhà Nguyễn và phế tích cảng Bến Nghé, kiến trúc cảng thị cổ cư dân xóm Tàu Ô năm xưa.

Báo Thanh Niên thuật lại quá trình làm đường và xây móng của khu đô thị mới Thủ Thiêm theo kiểu coi rẻ di sản: “Hàng trăm các loại hình cọc gỗ, mảnh thuyền, trong đó đáng chú ý là hệ thống cọc gỗ có chiều dài 3-4 m, đường kính thân khoảng 40-50 cm được vót đầu nhọn mang dáng dấp của những cọc gỗ chiến trận Bạch Đằng hiện đang trưng bày trong Bảo tàng Lịch sử – TP.HCM. Đây có thể là những cọc gỗ được sử dụng trong các trận thủy chiến thời chúa Nguyễn đánh Chân Lạp và là chiến trận của Tây Sơn đánh nhau với Nguyễn Ánh – Gia Long. Hay những thân cây gỗ đường kính 50 cm, dài 5-6 m, trên một đầu có lỗ mộng đục hình chữ nhật như những cây cột cái của kiến trúc cổ, có dấu tích của những căn nhà cổ dọc bến sông, cùng với đó là nhiều dãy cọc gỗ đóng gia cố hệ thống bến xưa của Bến Nghé có cấu tạo theo hàng dọc chạy dài hàng chục mét cũng đã phát lộ”.

Và cũng để giải phóng mặt bằng, một cuộc quật mồ trên danh nghĩa “khảo cổ” rất chóng vánh đã diễn ra tại Lăng Thành Hoàng An Khánh, thuộc khuôn viên Đình An Khánh vào tháng 4-2014 do Trung tâm bảo tồn di tích TP.HCM phối hợp với Bảo tàng Lịch sử và Khoa Giải phẫu – Trường đại học Y Dược TP.HCM tiến hành. Di cốt của một vị thành hoàng, mà giới chuyên môn cho rằng có thể đó là một vị tướng quân triều Nguyễn đã có công khai hoang lập ấp, trấn giữ những đồn lũy và xưởng tàu thời đầu thực dân dọc cánh tả sông Bến Nghé đã được quật lên, phân tích và báo cáo kết quả đúng thủ tục và quy trình.

Như đã nói, cuộc khảo cổ đình An Khánh thực ra chỉ là một hình thức ngụy trang cho việc quật mồ vị thành hoàng này mang đi hoàn táng nơi khác, nên diễn ra rất chóng vánh, vội vàng. Một vài thông tin khảo cổ được ném ra công luận thiếu trách nhiệm và sự tường tận, thuyết phục; nên không tránh khỏi sự bất kính đối với tiền nhân.

Lịch sử, hồ sơ khoa học của vị tiền nhân có công đức với vùng đất tiếp tục rơi vào bóng tối không âm không vọng cho những công trình hãnh tiến mọc lên.

Tiếp sau đó là vụ cưỡng chế chùa Liên Trì, dãy trường nam (của các cha cố tổ chức từ thời Pháp) bên cánh trái nhà thờ Thủ Thiêm đã diễn ra một cách vô cảm, bất chấp phản ứng của những tín đồ và các tu sĩ.

Đến nhà thờ Thủ Thiêm

Trước tết Nguyên Đán, những thánh lễ ở nhà thờ giáo xứ Thủ Thiêm vẫn diễn ra bình thường. Trong các thánh lễ, cha xứ cũng không nhắc đến chuyện số phận của ngôi nhà thờ này. Nhưng có một không khí âm ỉ lan rộng trong lòng giáo dân và các vị tu sĩ ở đây. Trước đó, trên Facebook lan truyền một thông điệp của Tổng lãnh sự quán Canada tại TP.HCM, đặt ra câu hỏi (nhưng cũng là trả lời): “Bạn nghĩ có nên phá hủy một di sản còn lâu đời hơn cả Canada?”. Tổng lãnh sự quán Canada tại TP.HCM nêu lập luận và truy vấn: “Theo kế hoạch phát triển khu đô thị mới Thủ Thiêm tại quận 2, chính quyền TP Hồ Chí Minh có dự định phá dỡ Tu viện Dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm và nhà thờ Thủ Thiêm để nhường chỗ cho khu đô thị mới. Tu viện được thành lập tại Thủ Thiêm vào năm 1840, nghĩa là đã ở đó được 177 năm (trong khi Canada vừa bước sang tuổi 150 năm nay). Bạn nghĩ thế nào nếu chúng ta hòa nhập những công trình mang tính lịch sử như thế này vào các khu đô thị mới thay vì phá dỡ chúng?”

MTGBản quyền hình ảnhNGUYỄN VĨNH NGUYÊN
Image captionNhà thờ Thủ Thiêm nhìn về trung tâm TP.HCM

Một lần nữa, sau vụ đại sứ quán Phần Lan lên tiếng bảo tồn một số hạng mục nội thất của Thương xá Tax, thì tổ chức ngoại giao nước ngoài đặt tại TP.HCM quyết liệt lên tiếng bảo vệ những di sản Sài Gòn xưa.

Nhưng trong một cơn lên đồng đập phá từ não trạng phát triển đầy bệnh hoạn thì những cuộc đấu tranh trên cùng sức ép dư luận, giới chuyên môn không làm thay đổi được gì. Thậm chí, đã có những vụ việc can thiệp di sản mà báo chí chính thống bị chỉ đạo lờ đi, không được nhắc đến.

Số phận những dãy nhà Hội dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm cùng ngôi nhà thờ đã là nhân chứng, biểu tượng một thế kỷ rưỡi về đời sống thanh bình ở một vùng dân cư bên sông, giáp với quận trung tâm Sài Gòn chưa biết sẽ về đâu. Nhìn cái cách di dời Lăng Thành Hoàng An Khánh, chùa Liên Trì hay khu trường nam không gớm tay, thì nhiều người cho rằng, chuyện san bằng một công trình kiến trúc tâm linh hơn một thế kỷ thì không khó tránh khỏi.

Đô thị vô hồn, nhân bản vô tính

Mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển là vấn đề muôn thuở, ở nhiều quốc gia, nhiều thành phố, không riêng gì Việt Nam. Nhưng sự khác nhau nằm ở chỗ trình độ xử lý và tầm nhìn phát triển, trang bị hiểu biết nhân văn của chính quyền, giới quy hoạch và giới đầu tư mỗi nơi mỗi khác. Ở đâu chính quyền, nhà quy hoạch và giới đầu tư hãnh tiến, trọc phú, thiển cận, lạm quyền và tư lợi thì ở đó mâu thuẫn trên trở nên gay gắt một mất một còn (và mất, bao giờ cũng là di sản, bởi di sản, nói cho cùng, không sinh ra nhiều tiền cho bằng các trung tâm thương mại hiện đại). Nhưng ở đâu có sự tiến hóa, văn minh trong phát triển đô thị nhân văn, tôn trọng tiếng nói công luận và giới chuyên gia thì không những hóa giải được sự mâu thuẫn kể trên, mà còn kiến tạo được không gian đô thị bền vững, theo nghĩa, vừa sinh ra sự sung túc vật chất, vừa đảm bảo giàu có về yếu tố tinh thần cho cư dân, cho sắc vóc đô thị tương lai.

Nói đâu xa, nhìn qua Phú Mỹ Hưng, một đô thị kiểu mẫu ra đời trước Thủ Thiêm khoảng 20 năm để thấy bài học của những đô thị nhân bản vô tính là gì. Trên đồ án quy hoạch, Phú Mỹ Hưng hiện đại như những khu đô thị thời toàn cầu hóa mà ta có thể gặp ở Singapore, Thượng Hải, Đài Loan… Nhưng, Phú Mỹ Hưng ngay từ đầu không quy hoạch không gian tôn giáo cho cư dân, nên trong gần 20 năm qua, cư dân ở đô thị kiểu mẫu này đã phải đến những vùng lân cận để lễ chùa, đi lễ nhà thờ mỗi chủ nhật. Lâu dần, giáo dân đông, nhưng không có điều kiện lập nên giáo xứ, những người công giáo đã tìm cách thiết lập một nhà nguyện nhỏ nằm trong một trường học mầm non (Mỹ Phước) để lễ lạc cuối tuần. Những người tín đồ Tin Lành Hàn Quốc sang đây sinh sống, làm việc cũng lấy văn phòng công ty làm nhà thờ để tập trung sinh hoạt tôn giáo tạm bợ. Sự mở mang nhiều không gian thương mại xa xỉ nhưng thiếu vắng không gian tâm linh khiến những cư dân tưởng đủ đầy sung túc trở nên nghèo nàn trong sinh hoạt tinh thần. Phú Mỹ Hưng đã tốn rất nhiều chi phí cho việc đầu tư phục dựng không gian sinh hoạt mang tính bản địa như chợ phiên, đường hoa xuân… để người dân gắn bó với hồn nơi chốn.

MTGBản quyền hình ảnhNGUYỄN VĨNH NGUYÊN
Image captionHội dòng Mến Thánh Gía Thủ Thiêm có tuổi đời hơn một thế kỷ rưỡi

Từ đó cho thấy không phải là việc cứ bứng mô hình bất cứ một đô thị nhân bản vô tính rồi đặt vào đâu cũng được, mà cần có tầm nhìn sâu hơn về lịch sử, nhân văn, giá trị văn hóa bản địa.

Phú Mỹ Hưng lẽ ra là bài học để Thủ Thiêm rút kinh nghiệm trước khi quá muộn. Nhưng có vẻ như chính quyền, những nhà quy hoạch và giới đầu tư đô thị này đã không chịu thấy (cho dù việc rút kinh nghiệm ở Thủ Thiêm có vẻ như rất dễ dàng- những di tích như đình, nhà thờ có bề dày lịch sử đã sẵn, chỉ cần biết bảo tồn, không cần phải xây mới!).

Lạ lùng thay, bên cạnh ý định “giải phóng mặt bằng” các công trình di sản tôn giáo, văn hóa dân gian thì bản quy hoạch đô thị mới Thủ Thiêm cũng không có một công trình sinh hoạt tâm linh, tôn giáo nào cho cư dân cả.

Trở lại câu chuyện nhà thờ Thủ Thiêm và Hội dòng Mến Thánh Giá. Khi tôi ngồi viết những dòng này, thì có tin chính quyền thông báo cho xe đến kéo đổ ngôi trường nữ bên cánh phải nhà thờ (trước 1975 có tên là trường Trung học thánh Anna; sau 1975 chính quyền mượn cơ sở xây dựng làm trường Tiểu học Thủ Thiêm) thuộc phần đất của Hội dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm.

Tiếng kèn ma quái lại rúc lên trên phần đất tôn nghiêm bên những đầm lầy, lau sậy và những building đang lên móng, hiện thực hóa những bản quy hoạch đô thị vô hồn và vô tri.

Nói thêm, nhà thờ Thủ Thiêm có khoảng trên 2.000 phần tro cốt của giáo dân nhiều đời. Cuối năm rồi, khi hay tin nhà thờ sẽ bị giải tỏa, nhiều Việt kiều đã về nước xin rước di cốt người thân mang đi nơi khác, số còn lại chưa biết sẽ ra sao. Người sống phấp phỏng cùng người đã khuất.

Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả, là người đang sống ở TP.HCM.

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.02.2017

“Hô khoan… xin mời tất cả xố con”

“Hô khoan… xin mời tất cả xố con”

(SGGP)

Đấy là một điệu hò trong 9 mái hò khoan ở Quảng Bình. Bất cứ ở đâu có câu hò vang lên, nơi đó sẽ có hát hò dân ca. Về vùng sông nước Lệ Thủy, ngay những đứa trẻ tiểu học đã biết sanh phách, đàn nhị… và hát hò đối đáp các điệu giã gạo, đưa linh… Thú vị hơn, điệu hò bản địa ấy đã bát ngát vang xa diễn xướng tận trời Tây.

“Bảo tàng” hò khoan cổ

Lệ Thủy (Quảng Bình) được ví là vùng đất của gạo trắng nước trong bởi sông Kiến Giang và phá Hạc Hải. Con người dung dị hiền từ, điệu hò khoan dung dưỡng cuộc đời mỗi người lớn lên ở vùng đất này. Nhà giáo hưu trí Trần Văn Khởi (70 tuổi, ở thị trấn Kiến Giang) cho biết: “Hò khoan Quảng Bình diễn xướng tại các làng quê từ xa xưa, ngày nay đã đóng đinh thành hò khoan Lệ Thủy, bởi người ở đây hát hò khoan nhiều nhất, diễn ra trong mỗi gia đình. Cho nên, Lệ Thủy như bảo tàng sống của hò khoan xứ Quảng Bình – mà nhiều làng xã đã mai một đi. Bất cứ ai muốn biết hò khoan Quảng Bình thì địa chỉ ưu tiên nhất là Lệ Thủy, nơi này còn nhiều tấm lòng yêu vô cùng vô tận điệu hò mà nhạc sĩ Hoàng Vân đã đưa vào bài Quảng Bình quê ta ơi.

Cụ bà Đỗ Thị Hồng Minh (80 tuổi, ở Liên Thủy) là minh chứng hò khoan trở thành mạch nguồn và nhân cách sống từ nhỏ. 12 tuổi, thời làng quê không ánh điện, người ta đưa cối giã gạo ra bên bờ sông dưới ánh trăng, cụ theo phụ việc. Giã gạo ngày xưa khi ấy cứ thế hát hò. “Ngày xưa ít học, chữ nghĩa không có nhưng theo anh em, ba mẹ đi giã gạo thì hò khoan thấm dần, thấm dần mà lớn lên”, cụ Minh vừa nói vừa hát: Lệ Thủy gạo trắng trong/ Ai về Lệ Thủy thong dong con người…, rồi cụ xướng lên điệu cổ thuộc làu từ thời con gái: Thiếp xa chàng đêm mơ ngày tưởng/ Như ngọn gió nồm vất vưởng mùng vi/ Vì ai con hạc nọ lại phải xa quy/ Thôi em vuốt lá gan chịu chữ từ bi cho thấu trời/ Đã xa nhau thì xa cho mất/ Đã gần thì cho thành thất thành gia/ Đừng như con bướm nọ với hoa/ Lâu lâu đáo tới, dạ ta thêm buồn…

Hò khoan ở Lệ Thủy có đến 9 mái được tục truyền tên cổ từ xưa, gồm mái chè, mái nện, mái xắp, mái ba, mái ruổi, mái nhì, hò khơi, hò nậu xăm, hò lỉa trâu. “Hô khoan xin mời tất cả xố con” được cụ Trần Khởi giải thích từ “xố con” có nghĩa mời bà con cùng hò lên để động viên cho người hò chính có cảm hứng hát tiếp, nó cũng là cách truyền sức trong việc sáng tạo ra câu hò trong cuộc sống lao động, giao duyên từ vùng biển đến đồng bằng, trung du và miền núi. Đã ghé Lệ Thủy, nhất định phải nghe những điệu giao duyên hay khó tả. Nghệ nhân Nguyễn Thị Lý và nhóm của chị có 21 thành viên trong câu lạc bộ hò khoan địa phương, đây là câu lạc bộ tốt nhất trong trình diễn bởi chất giọng, sự cuốn hút, cách luyến láy truyền cảm hứng để người nghe cùng “hố khoan”.

Hò khoan Lệ Thủy trong một lần biểu diễn ở Bắc Ninh. Ảnh: TRẦN KHỞI

Người hát hò khoan ở Lệ Thủy còn xướng lên những câu rất hiếm gặp trong kho tàng dân ca ba miền: Con chim phụng hoàng bay ngang giữa chợ/ Nó hỏi chàng rằng đã có vợ hay chưa/ Hay là ôm duyên dạo miền sơn thủy/ Đi sớm về trưa một mình/ Con chim phụng hoàng bay qua hòn núi bạc/ Con cá ngư ông vọng nước ngoài khơi/ Tình thương đây đó đò ơi/ Long vân gặp bạn còn chờ bạn sang. Họ cứ hò qua hụi lại, xố con rồi xố lên theo điệu “khoan ơi hố khoan ơi là hố” đến đoạn cao trào: Gái xuân đi chợ Hạ mua con cá thu về chợ hãy còn đông/ Anh nói với em rằng em đã có chồng/ Tức mình em đổ cá xuống sông em về. Nghe vậy nam lại lên tiếng: Thầy mẹ bên nhà nói em đã có chốn xe dây/ Nay em tức mình đổ cá, đổ cá rứa hỏi mẹ thầy ăn chi?

Lạ nhất, hát cổ mà có những câu đắt như thế này: Gặp chàng đây nỉ năn trò chuyện/ Kẻo mấy lâu nay hiền viễn xôi xa/ Kể từ ngày sa lời hẹn, đêm thiếp nằm không ngủ/ Ngày cứ thiết tha với mối tình/ Là hỡi thiếp ơi lời chào cao hơn mâm cỗ/ Chàng gặp được thiếp như giữa chỗ vàng chôn/ Chứ có may đâu mà con trai lành lại gặp gái khôn/ Là như con cá gáy nằm giữa ao môn hóa rồng.

Toàn huyện phổ cập hò khoan

Ngày nay về Lệ Thủy, đi đâu cũng được nghe hò khoan, nó khác với ví dặm, quan họ Bắc Ninh hay vọng cổ miền Nam, đang lo lắng khó tìm đội ngũ kế cận sau này.

Hò khoan ở Lệ Thủy đã được phổ cập không chỉ ở vùng đồng bằng, miền biển mà ngay như người Vân Kiều vẫn hát được hò khoan một cách thuần thục. Ấy là bắt đầu từ một chiến lược bảo tồn từ cách đây 6 năm. Những nghệ nhân cao tuổi, những người tâm huyết với hò khoan đã đề đạt nguyện vọng đưa hò khoan vào giảng dạy trong trường học. Lãnh đạo huyện, HĐND huyện biểu quyết thông qua. Một chương trình dài hơi được hình thành. Phòng Giáo dục – Đào tạo huyện đã triển khai môn học dân ca dân vũ hò khoan từ bậc mầm non đến hết cấp 3, tạo ra một huyện rộng lớn phổ cập hết các làn điệu hò khoan trong hàng ngàn hàng vạn học sinh.

Ông Hoàng Đại Hữu, Chủ tịch Hội Văn hóa nghệ thuật huyện, đánh giá: “Hò khoan đã được tiếp sức để bám sâu vào cội rễ lòng người, đặc biệt là thế hệ trẻ. Nay làng nào cũng có câu lạc bộ hò khoan, hoạt động rất tốt. Bọn trẻ học trong trường, cuối tuần được truyền dạy bởi người già, chúng rất thích hò khoan vì chúng sinh ra và lớn lên ở đây, biết cách để bảo tồn hò khoan theo cách sống động nhất”. Từ đó mà con em Lệ Thủy, như chị Nguyễn Thị Phong Thủy vào Huế làm ở Đoàn Nghệ thuật cung đình Huế, hát hò khoan có tiếng cũng mang ca từ diễn xướng này đến các rạp diễn ở châu Âu như Pháp, Bỉ, Hungari… và được đón nhận nhiệt tình.

Các nhà nghiên cứu ở Viện Âm nhạc Việt Nam, các chuyên gia văn nghệ dân gian ở Hà Nội đang làm hồ sơ đệ trình hò khoan Quảng Bình lên UNESCO công nhận di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Nhà nghiên cứu ca dao dân ca Nguyễn Hùng Vĩ nói: “Trong một lần tôi được trò chuyện với GS-TS Trần Quang Hải, con trai cố GS-TS Trần Văn Khê, ông có nói rằng nếu như chỉ riêng một điệu Dạ cổ hoài lang được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể nhân loại thì đến hò khoan Lệ Thủy, chỉ điệu hò “mái xắp” cũng sẽ làm nên được điều kỳ điệu đó”.

Hò khoan Lệ Thủy đã vậy, hò khoan Quảng Bình còn bát ngát vang xa.

MINH PHONG

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.02.2017

Hộ khẩu đã hết thời của nó

Hộ khẩu đã hết thời của nó

 LÊ THANH PHONG ( Lao Động)

“Tại sao mại dâm, trộm cướp, ma túy vào đây các anh không quản lý hộ khẩu, không yêu cầu hộ khẩu mà những chuyên gia giỏi lại bắt hộ khẩu là sao?”, đó là vấn đề Bí thư Đinh La Thăng đưa ra tranh luận tại buổi làm việc với Sở Khoa học và Công nghệ TPHCM ngày 17.2.

Tranh luận được đặt ra là vì Sở Khoa học và Công nghệ đề cập đến việc tuyển dụng nhân sự phải có hộ khẩu TPHCM. Đến thời buổi này rồi mà vẫn còn tư duy lạc hậu như vậy thì ai cũng phải bức xúc, cái vòng kim cô hộ khẩu còn làm khổ dân đến bao giờ đây?

Thời của thế giới phẳng, thế giới cong; thời của hội nhập, của toàn cầu hóa được nói ra rả trên báo đài; thời của công dân toàn cầu với những người không phân biệt quốc gia, sắc tộc có thể xách túi đi làm việc xuyên lục địa, vậy mà TPHCM tuyển dụng con người vào cơ quan nhà nước làm việc thì đòi phải có hộ khẩu tại địa phương, thế thì nói đến văn minh và hội nhập sao được. Ông Nguyễn Việt Dũng – Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TPHCM – đề nghị bỏ quy định về hộ khẩu trong tuyển dụng công chức, người lao động là hoàn toàn phù hợp. Đến bây giờ mới đưa ra đề nghị này là quá muộn, nhưng muộn còn hơn không.

Bí thư Đinh La Thăng đưa ra ví dụ về các loại tệ nạn xã hội để nhấn mạnh rằng, hãy siết chặt quản lý cái đáng siết, còn thu hút nhân tài cần phải mở rộng cửa. Thời nay, các cơ quan nhà nước có một cuộc cạnh tranh nguồn nhân lực gay gắt với các đơn vị, tổ chức phi nhà nước. Người có thực tài không cần chạy chọt, họ có nhiều nơi để thi thố tài năng mà không cầm bám vào chiếc ghế công chức và quan chức. Doanh nghiệp tư nhân và các tổ chức khác sử dụng người có năng lực và chuyên môn cao, vậy thì nguồn nhân lực chất lượng thấp hơn lọt vào cửa nhà nước.

Đó là lý do tại sao doanh nghiệp nhà nước không cạnh tranh lại với doanh nghiệp tư nhân, đó cũng là lý do tại sao các sản phẩm quản lý của chính quyền một số nơi không theo kịp yêu cầu của người dân và doanh nghiệp, chính sách chạy theo sau những thay đổi của chính đời sống xã hội.

Bỏ ngay hộ khẩu trong tuyển dụng công chức viên chức, và tiến tới loại bỏ hoàn toàn quy định hộ khẩu. Người dân đã quá phiền hà vì hộ khẩu, người dân không muốn có sự tồn tại của hộ khẩu, người dân mong muốn có một hình thức quản lý công dân văn minh và hiệu quả.

Hộ khẩu đã hết thời của nó.

 Báo Lao Động

“Tại sao mại dâm, trộm cướp, ma túy vào đây các anh không quản lý hộ khẩu, không yêu cầu hộ khẩu mà những chuyên gia giỏi lại bắt hộ khẩu là sao?”, đó là vấn đề Bí thư Đinh La Thăng đưa ra tranh luận tại buổi làm việc với Sở Khoa học và Công nghệ TPHCM ngày 17.2.

Tranh luận được đặt ra là vì Sở Khoa học và Công nghệ đề cập đến việc tuyển dụng nhân sự phải có hộ khẩu TPHCM. Đến thời buổi này rồi mà vẫn còn tư duy lạc hậu như vậy thì ai cũng phải bức xúc, cái vòng kim cô hộ khẩu còn làm khổ dân đến bao giờ đây?

Thời của thế giới phẳng, thế giới cong; thời của hội nhập, của toàn cầu hóa được nói ra rả trên báo đài; thời của công dân toàn cầu với những người không phân biệt quốc gia, sắc tộc có thể xách túi đi làm việc xuyên lục địa, vậy mà TPHCM tuyển dụng con người vào cơ quan nhà nước làm việc thì đòi phải có hộ khẩu tại địa phương, thế thì nói đến văn minh và hội nhập sao được. Ông Nguyễn Việt Dũng – Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TPHCM – đề nghị bỏ quy định về hộ khẩu trong tuyển dụng công chức, người lao động là hoàn toàn phù hợp. Đến bây giờ mới đưa ra đề nghị này là quá muộn, nhưng muộn còn hơn không.

Bí thư Đinh La Thăng đưa ra ví dụ về các loại tệ nạn xã hội để nhấn mạnh rằng, hãy siết chặt quản lý cái đáng siết, còn thu hút nhân tài cần phải mở rộng cửa. Thời nay, các cơ quan nhà nước có một cuộc cạnh tranh nguồn nhân lực gay gắt với các đơn vị, tổ chức phi nhà nước. Người có thực tài không cần chạy chọt, họ có nhiều nơi để thi thố tài năng mà không cầm bám vào chiếc ghế công chức và quan chức. Doanh nghiệp tư nhân và các tổ chức khác sử dụng người có năng lực và chuyên môn cao, vậy thì nguồn nhân lực chất lượng thấp hơn lọt vào cửa nhà nước.

Đó là lý do tại sao doanh nghiệp nhà nước không cạnh tranh lại với doanh nghiệp tư nhân, đó cũng là lý do tại sao các sản phẩm quản lý của chính quyền một số nơi không theo kịp yêu cầu của người dân và doanh nghiệp, chính sách chạy theo sau những thay đổi của chính đời sống xã hội.

Bỏ ngay hộ khẩu trong tuyển dụng công chức viên chức, và tiến tới loại bỏ hoàn toàn quy định hộ khẩu. Người dân đã quá phiền hà vì hộ khẩu, người dân không muốn có sự tồn tại của hộ khẩu, người dân mong muốn có một hình thức quản lý công dân văn minh và hiệu quả.

Hộ khẩu đã hết thời của nó.

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.02.2017

LỜI MẸ DẶN, TUYÊN NGÔN CỦA NGƯỜI CẦM BÚT

img_8193

ĐỌC BỘ SÁCH “NGÔ MINH TÁC PHẨM”, TẬP 4:

LỜI MẸ DẶN, TUYÊN NGÔN CỦA NGƯỜI CẦM BÚT

 

 Ngô Minh

          pq11 Bài thơ “Chống tham ô lãng phí “ trong Giai phẩm mùa Thu số I (9-1956 ) của Phùng Quán được những nguời cực đoan thời đó đánh giá là một bài thơ “nói xấu chế độ”, “chống đảng”, là “phản động”. Sau nhiều lần học tập, viết bản tự kiểm điểm, bị “đấu tố” gay gắt , Phùng Quán có nguy cơ bị khai trừ ra khỏi Hội Nhà văn, bị đưa ra khỏi biên chế Tạp chí Văn nghệ Quân đội, nơi anh đã dấn thân theo Vệ Quốc đoàn từ tuổi thiếu niên, rồi phải đi “lao động cải tạo” nhiều năm. Thực tế gần một năm sau, tức đến năm 1958 những hình thức kỷ luật này mới được thi hành, nhưng lúc đó ai cũng đã biết trước bản án dành cho “bọn nhân văn”. Đối với người miền Nam xa quê hương , thân cô thế cô giữa phố phường Hà Nội như Phùng Quán, nguy cơ bị kỷ luật như thế là rất đáng sợ. Bị coi là “phản động”, ai cũng tìm cách xa lánh, lại bị tách khỏi môi trường lính quen thuộc, xa đồng chí, bạn bè dễ làm người thanh niên trẻ tuổi dễ trở nên hoang mang tuyệt vọng , dễ dẫn đến bệnh tâm thần hoặc tìm đến cái chết.

 

Nhưng Phùng Quán thì không. Anh vẫn sống và sáng tác hay hơn, quyết liệt hơn. Sau khi báo Nhân Văn-Giai phẩm bị đình bản, năm 1957, Nhà nước cho phép Hội Văn nghệ xuất bản tuần báo Văn do nhà văn Nguyễn Công Hoan làm chủ bút với mục đích chấn chỉnh lại tình hình văn nghệ lúc ấy.  Phùng Quán đã xuất hiện trên báo Văn số 21, ra ngày 27-9-1957 với bài thơ Lời mẹ dặn gây xôn xao dư luận. Lập tức bài thơ được nhiều người chép, thuộc như là một tuyên ngôn sống, tuyên ngôn cầm bút của văn nghệ sĩ . Nhưng bài thơ một lần nữa lại làm cho Phùng Quán lâm vào tai tương nặng hơn.

 

Lời mẹ dặn là bài thơ tự sự rất dễ hiểu, dễ thuộc, không có gì mới lạ về cấu trúc, ngôn ngữ thơ,  không có gì là “biểu tượng hai mặt” cả. (“Biểu tượng hai mặt” là cụm từ mà thời đó hay dùng để những tác phẩm văn học “có vấn đề”, thực ra văn chương càng đa nghĩa mới hay). Nhưng Lời mẹ dặn lại chứa đựng một tư tưởng nhân văn cực kỳ lớn lao, thể hiện bản lĩnh cao cường của tác giả trước cuộc đời. Vì thế nó đã trở thành một “kiệt tác” thơ Việt thế kỷ XX. Mở đầu bài thơ, nhà thơ kể chuyện tỉ tê rất văn xuôi như không có gì đáng chú ý : “Tôi mồ côi cha  năm hai tuổi/ Mẹ tôi thương tôi không lấy chồng…/ Ngày ấy tôi mới lên năm/ Có lần tôi nói dối mẹ/ Hôm sau tưởng phải ăn đòn /

                                         Nhưng không mẹ tôi chỉ buồn

                                         Ôm tôi hôn lên mái tóc…

Con ơi…trước khi nhắm mắt

                                         Cha con dặn con suốt đời

                                         Phải làm một người chân thật

Đến đây thì  tư tưởng bài thơ bắt đầu xuất hiện. “Mẹ ơi chân thật là gì ?”- Đúng là câu hỏi rất ngây thơ của một đứa trẻ lên năm, nhưng lại là một câu hỏi lớn, rất khó trả lời đối với không ít người lớn giữa trường đời  đen bạc . “Chân thật”, bản tính hồn nhiên của con người đang bị méo mó, mai một, biến dạng dần đi do mọi người phải tìm cách bon chen, nịnh hót, nói dối, lừa lọc để tồn tại hoặc để được vinh thân phì gia. Thậm chí có người đã không chân thật rồi, lại còn ghét những người chân thật. Tục ngữ ta có câu “Nói thật mất lòng”. Đó là thực tế vô cùng trớ trêu của con người. Nhớ lời mẹ dặn, từ nhỏ, người lớn hỏi Phùng Quán:” Bé ơi, bé yêu ai nhất ? – Bé yêu những người chân thật. Từ chỗ phải làm người chân thật đến  thái độ “yêu những người chân thật” là đi từ mình đến xã hội rộng lớn.

Mẹ tôi hôn lên đôi mắt

                                           Con ơi một người chân thật

                                           Thấy vui muốn cười cứ cười

                                           Thấy buồn muốn khóc là khóc

Câu giải thích bước đầu  của người mẹ cho con vô cũng dễ hiểu. Thấy vui muốn cười là cười- thấy buồn muốn khóc là khóc. Nhưng đó là một chân lý sâu xa, một phương ngôn sống. Vì con người từ khi lọt lòng mẹ là thế, đó là bản tính tự nhiên không thể khác được. Nhưng chân lý giản đơn ấy làm nhiều người  ngạc nhiên tán thưởng, bởi vì đã từ lâu trong xã hội ta con người luôn sống ngược lại với ý  nghĩ của mình, không dám nói thật ý nghĩ của mình. Có khi vui mà dối lòng không cười được. Khi buồn lại nén lòng mà cười để mong làm vui lòng người khác. Sống dối lòng như thế con người dần dà bị biến thành một kẻ dối trá ! Một người dối trá. Trăm người dối trá. Triệu người dối trá. Một xã hội người dối trá !

 

Sau cười khóc hồn nhiên là đến chuyện yêu ghét, một cấp độ cao hơn của thái độ và nhận thức, ứng xử của con người trong cộng đồng:

Yêu ai cứ bảo là yêu

                                                 Ghét ai cứ bảo là ghét.

 

          Nhắc đến nhà thơ Phùng Quán là người ta nhớ ngay đến “Yêu ai cứ bảo là yêu- Ghét ai cứ bảo là ghét”. Hai câu đó đã thành biểu tượng tinh thần, ý chí của anh. Yêu ghét rạch ròi là thái độ sống của người quân tử, của kẻ sĩ ở đời. Thái độ dứt khoát thể hiện ở động từ “ cứ bảo”. Cứ bảo là nói ngay, nói không cần đắn đo, suy tính.

 

Nhưng sự đời không phải bao giờ cũng “ Yêu ai cứ bảo là yêu- Ghét ai cứ bảo là ghét” được, mà có rất nhiều sức ép buộc con người phải nói khác ý mình đi, dối trá, biến mình thành tôi tớ, “nói theo nói leo” làm lợi cho những người có thế lực có tiền bạc. Vấn đề là anh có đủ dũng khí để yêu là nói yêu, ghét là nói ghét hay không. Đoạn thơ sau đây là một cung bậc cao hơn, có thể gọi là thái độ bất khuất, không chịu luồn cúi của tác giả trước những thế lực cường quyền:

Yêu ai cứ bảo là yêu

                                                  Ghét ai cứ bảo là ghét

Dù ai ngon ngọt nuông chiều

                                                  Cũng không nói yêu thành ghét

                                                  Dù ai cầm dao doạ giết

                                                  Cũng không nói ghét thành yêu

 

Đây là đoạn thơ hay nhất trong bài thơ, đã thành chân lý vĩnh  hằng trong lòng người yêu thơ Việt Nam từ 50 năm qua, đọc lên nghe như kinh nguyện. Nói yêu thành ghét- nói ghét thành yêu chính là bản chất của những kẻ cơ hội, tâm địa xấu xa, hèn yếu. Chỉ cần kẻ xấu “ngon ngọt nuông chiều”, hứa hẹn tiền tài địa vị hoặc “cầm dao doạ giết” là ngoan ngoan nói và làm theo chúng. Lịch sử Việt Nam đã có nhiều danh nhân vĩ đại nêu tấm gương trung nghĩa, không khuất phục trước cường quyền như Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Quốc Toản, Cao Bá Quát, Lê Lợi, Trương Định, Vua Hàm Nghi.v.v..cùng hàng ngàn chiến sĩ kiên trung trong các nhà tù hay trên  các pháp trường của thực dân đế quốc trong hai cuộc kháng chiến…Chỉ mấy câu thơ của Lý Thường Kiệt  trước quân nhà Tống phương Bắc cách đây gần 1000 năm thôi, cũng đủ nói lên ý chí chí đó của người quân tử nước Nam : Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư / Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm / Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư . Ngược lại, nhiều việc nói theo người cầm quyền, làm theo ý đồ ngoại bang đã gây ra nhiều thảm hoạ đau thương cho nhân dân, đất nước. Từ chỗ sợ sệt, người ta trở nên hèn nhát. Một thời xứ ta sinh ra không ít “trí thức hèn”, “nhà văn hèn”. Những “Đại nhân hèn” ấy chỉ cần chìa ra trước mặt một ít bổng lộc, một tí chức tước quèn thôi đã không dám mở miệng nói chính kiến của mình, dù biết cấp trên nói sai, làm sai, vẫn ngoan ngoãn vâng lời. Cứ như thế ở xứ ta  đã đào tạo ra nhiều thế hệ “người hèn” ”gọi : dạ, bảo: vâng”, không còn tính độc lập suy nghĩ của người quân tử.

 

Từ chuyện “chân thật”, “khóc cười”,“yêu ghét”, nhà thơ đã đưa người đọc đến bản lĩnh người cầm bút. Đây là mục tiêu cuối cùng mà bài thơ muốn đạt tới:

Năm nay tôi hai mươi lăm tuổi

                                                   Đứa bé mồ côi thành nhà văn

                                                   Nhưng lời mẹ dăn thuở lên năm

                                                   Vẫn nguyên vẹn màu son chói đỏ

                                                    Người làm xiếc đi trên dây rất khó

                                                    Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn

                                                    Đi trọn đời trên con đường chân thật

 

Đoạn thơ này chứng tỏ Phùng Quán nhận thức rất rõ một điều : Vì làm nhà văn chân thật là rất khó, nên đã có không ít nhà văn không đi trọn đời trên con đường chân thật. Trước sức ép của cường quyền, nhiều nhà văn đã  cam tâm “bẻ cong ngòi bút”, phục vụ cho những mục đích xấu xa. Ca ngợi cái xấu, đả kích cái tốt. Nhà thơ Xuân Sách đã vẽ rất chính xác chân dung méo mó, khốn khổ của hàng trăm nhà văn Việt Nam một thời qua tập thơ Chân dung nhà văn, vì lý do này lý do khác,  đã không đi trọn đời trên con đường chân thật!

 

Còn Phùng Quán thì tuyên chiến với thói nịnh bợ, giả dối:

Tôi muốn làm nhà thơ chân thật

                                               Chân thật trọn đời

                                                Đường mật công danh không làm ngọt lưỡi tôi

                                                Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã

                                                Bút giấy tôi ai cướp giật đi

                                               Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.

 

Bài thơ lớp lang, đầy triết lý “sống thật, yêu thật, nói thật, viết thật”, thật đến tận cùng. Đoạn kết bài thơ là một tuyên ngôn sống, tuyên ngôn thơ. Mới 25 tuổi đời mà viết như thế là bản lĩnh, tiết tháo lắm lắm. Điều đáng khâm phục hơn là Phùng Quán suốt cuộc đời mình cho đến khi “nằm dài dưới đáy huyệt” đã sống như thế, viết như thế. Năm 1984, gần 30 năm, khi về thăm quê nội Huế, trong tiểu thuyết tình 13 chương bằng thơ “Trăng Hoàng Cung” , Phùng Quán một lần nữa nhắc lại tuyên ngôn này trong bài thơ “Tôi thích viết trên giấy có kẻ dòng” :

Là nhà văn

                                                    Tôi yêu tha thiết

                                                     Sự ngay thẳng tột cùng

                                                    Ngày thẳng thuỷ chung

                                                    Của mỗi dòng chữ viết

 

50 năm qua, bài thơ “Lời mẹ dặn” đã trở thành tài sản tâm hồn của bao thế hệ thanh niên Việt Nam ở cả hai miền Nam Bắc. Hồi tôi  sưu tầm tài liệu để biên soạn cuốn “ Nhớ Phùng Quán”( NXB Trẻ, 2002), nhạc sỹ Phạm Duy ở nước ngoài đã gửi bản nhạc phổ bài thơ Lời mẹ dặn của Phùng Quán in trong tập“Tập nhạc Phạm Duy”(NXB Hồng Lĩnh USA, 1994) về cho nhà văn Nguyễn Đắc Xuân, nhờ chuyển cho chị Vũ Thị Bội Trâm với lời đề tặng “Kính tặng gia đình Phùng Quán”. Tôi đã coppy một bản để in vào sách,  Nhưng bài hát này không nằm trong quy định các bài hát của Phạm Duy được hát của Bộ Văn hoá thông tin lúc đó, nên thôi. Mới đây, Trung tâm Văn hoá doanh nhân và  Nhà xuất bản giáo dục đã tổ chức bình chọn 100 bài thơ Việt hay nhất thế kỷ XX. Tuy việc bình chọn thiếu chuẩn mực, có nhiều ý kiến không đồng tình với cách chọn và nhiều  tác giả thơ,  nhiều bài thơ được chọn không xứng đáng là thơ hay, chứ chưa nói “ hay nhất thế kỷ”. Nhà thơ Bằng Việt cho rằng chỉ 50% bài thơ là hay, còn  nhà thơ Trần Mạnh Hảo thì nói” đó là tập thơ” 30 bài thơ hay và 70 bài thơ dở của thế kỷ XX”. Nhưng việc chọn bài thơ Lời mẹ dặn của Phùng Quán là một trong những “bài thơ Việt hay nhất thế kỷ XX”, theo tôi là hoàn toàn chính xác.

 

Thế nhưng, khi bài thơ ra đời, đã có nhiều nhà phê bình cho là bài thơ “mang biểu tượng hai mặt”, với ý đồ xấu. Ô hay, văn chương càng đa nghĩa càng hay, sao chỉ mới “hai mặt” đã  kêu.  Trong bài “Vạch thêm những hoạt động đen tối của một số kẻ cầm đầu trong nhóm Nhân văn-Giai phẩm” của Từ Bích Hoàng in trên Văn nghệ Quân đội số 5 (5/1958) có đoạn:” Phùng Quán làm bài thơ Lời mẹ dặn , Trần Dần, Văn Cao kéo Quán đi khao chả cá. Văn Cao khen :” Phùng Quán viết khá, không đánh vào hiện tượng mà đả thẳng vào bản chất. Những sáng tác kiểu hai mặt như thế nhan nhản ra đời…”. Có tờ báo lớn còn in hẳn bài thơ “ Lời mẹ dăn- Thật hay không ?” ký tên Trúc Chi  dài 112 câu, chửi bới , nhiếc móc thậm tệ tác giả Lời mẹ dặn . Xin trích mấy đoạn  ngắn:

…Nó ghét chỗ thầy hiền bạn tốt

                                         Nó yêu nơi gái điếm cao bồi

                                         Ghét những người đáng yêu của thiên hạ

                                         Yêu những người đáng ghét của muôn người,

                                         Quen học thói gà đồng mèo mả

                                         Hoá ra thân chó mái chim mồi

                                         ….

                                         Theo lẽ thường: thì sét đánh không ngã

                                         Chắc trên đầu có cột thu lôi

                                         Nếm đường mật lưỡi không biết ngọt

                                         Chắc ăn tham vị giác hỏng rồi

                                         Nghề bút giấy đã làm không trọn

                                         Dùng dao khắc đá cũng  xoàng thôi !…

 

Tác giả  bài thơ “ Lời mẹ dặn- Thật hay không ?” dùng lời lẽ côn đồ, hàng tôm hàng cá, nhưng lại không hiểu những ý nghĩa, triết lý nhân văn cao sâu của những ý thơ Phùng Quán. Phùng Quán viết rằng yêu ai, ghét ai phải nói cho thật lòng, sống cho thật lòng. Nhưng Trúc Chi lại thuyết phải nên yêu ai, nên ghét ai. Hay những câu thơ Đường mật công danh không làm ngọt lưỡi tôi / Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã / Bút giấy tôi ai cướp giật đi / Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá là hình ảnh biểu tượng, nghĩa bóng, Trúc Chi lại hiểu theo nghĩa tục, nên lên giọng mỉa mai. Vì thế bài thơ Lời mẹ dặn, cùng với bài Chống tham ô lãng phí là hai bài thơ làm cho tác giả của nó trở thành một tên trong bộ “bộ tứ” nhân văn giai phẩm, bị “đánh” tơi bời, phải “30 năm cá chịu, văn chui, rượu nợ”

 

Sinh thời, nhà văn Phùng Quán kể với tôi rằng, khi đọc bài thơ Lời mẹ dặn – Thật hay không? trên đăng trên một báo lớn, anh  vừa buồn cười và tức giận. Anh quyết tâm tìm cho ra Trúc Chi là ai để “đối thoại trực tiếp” cho ra lẽ. Vì không thể hiểu nội dung bài thơ Lời mẹ dặn một cách thô thiển như thế được. Ở Hải Phòng có nhà văn Trúc Chi quê Phú Yên, nhỏ hơn Phùng Quán ba tuổi, là nhà văn miền Nam tập kết.Trúc Chi rất thân với Phùng Quán. Nhiều anh em bạn bè cho rằng, có thể Trúc Chi đã “phản bạn” để “xưng công”(!?). Phùng Quán buồn lắm. Anh quyết định cầm tờ báo Nhân Dân có in bài thơ “Lời mẹ dăn- Thật hay không?” nhảy tàu hoả xuống Hải Phòng tìm đến nhà Trúc Chi. Gặp nhau, nhà văn Trúc Chi rất mừng rỡ, nhưng khi Phùng Quán cho xem tờ báo thì Trúc Chi ngớ ra :” Lời mẹ dặn là bài thơ rất hay, mình thuộc lòng. Mình là người đàng hoàng, làm sao lại có thể viết bài thơ chửi bới tệ hại đối với cậu như thế được !”.

 

Mãi đến năm 1989, có người gửi cho Phùng Quán tập thơ “Một đôi vần” của ông quan lớn Hoàng Văn Hoan, do Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc Việt Bắc ấn hành, trong đó có bài thơ “ Lời mẹ dặn- Thật hay không?”. Nhà văn Xuân Đài, bạn chí thân của anh Phùng Quán trong suốt 30 năm bị biếm của đời anh, hiện đang sống và viết ở Thành phố Hồ Chí Minh xác nhận việc này là chính xác. Nhưng khi đó thì Hoàng Văn Hoan đã “tị nạn chính trị” tại Trung Quốc (rồi sau này chết chôn ở bên đó).

 

Mỗi bài thơ đều có số phận của nó. Lời mẹ dặn, là  một tuyệt tác thơ của dân tộc, dù bị chửi bới, vùi dập, nó vẫn sống mãi với thời gian, sống mãi trong lòng người yêu thơ. Yêu ai cứ bảo là yêu. Ghét ai cứ bảo là ghét. Dù ai cầm dao doạ giết…Cũng không nói ghét thành yêu…Giấy bút tôi ai cướp giật đi / Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá. Năm 2010, xây dựng lăng mộ anh chị Phùng Quán- Bội Trâm, chúng tôi đã khắc trích đoạn bài thơ Lời mẹ dặn lên đá granit nặng  tám người khênh, đặt trước mộ như lời nguyền của nhà thơ !

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.02.2017

Ông Lê Kiên Thành nói về cha và ngày 17/2/1979

Ông Lê Kiên Thành nói về cha và ngày 17/2/1979

Sáng 17 tháng 2 năm 1979, khi chúng ta vừa mới ra khỏi cuộc kháng chiến chống Mỹ, súng đã bất ngờ nổ đỏ dọc một rẻo đất hẹp ở biên giới phía bắc. Nhà cầm quyền Trung Quốc muốn chúng ta cảm nhận được sức nặng của một tỷ người đến cỡ nào. Trước sự ngoan cường của người Việt Nam, 3 tuần sau họ đã phải rút quân về nước.

 

Thiếu tướng Lê Mã Lương có nhận định rằng sau 1975, Tổng bí thư Lê Duẩn là người đầu tiên khẳng định Trung Quốc sẽ đánh Việt Nam, trong khi đó, nhiều tướng tá vẫn tin rằng khả năng này ít xảy ra. Sự nhận thức về khả năng xảy ra một cuộc chiến tranh của ông Lê Duẩn bắt đầu từ thời điểm nào, thưa ông?

Ông Lê Kiên Thành: Đấy là thời điểm xa hơn đấy rất nhiều, chắc từ những năm đầu thập niên 1960. Trong một chuyến đi thăm Trung Quốc, trong cuộc tiếp Mao Trạch Đông hỏi Việt Nam có bao nhiêu dân, ông Lê Duẩn trả lời là 30 triệu. Sau đó, Mao Trạch Đông hỏi về dân số của Lào, Campuchia, Thái Lan. Khi đó, Mao Trạch Đông nói “Thế thì ít quá, tôi sẽ dẫn 400 triệu bần nông xuống làm cách mạng ở Đông Nam Á”. Hồi đó dân số Trung Quốc vào khoảng 700 triệu.

Sau này có lúc Trung Quốc muốn đưa 200 xe ô tô tải giúp chúng ta chở hàng vào miền Nam với điều kiện lái xe là người Trung Quốc. Ông Ba kiên quyết không nhận cái xe nào. Giữa cuộc họp, ông đập bàn nói rằng thà không có còn hơn đưa sinh mệnh của đất nước vào sự nguy hiểm.

Thực ra, trong suốt cả cuộc kháng chiến, Trung Quốc ủng hộ mình bao nhiêu thì họ cũng luôn nghĩ về lợi ích của họ bấy nhiêu. Thế nhưng thiếu sự ủng hộ của họ, chúng ta cũng không chiến thắng được.

Ông Lê Kiên Thành nói về cha và ngày 17/2/1979
Ông Lê Kiên Thành (Ảnh do tác giả cung cấp)

Liệu có phải sự cảnh giác từ rất sớm đó góp phần khiến ông Lê Duẩn bị đánh giá là quá quyết liệt trong mối quan hệ với Trung Quốc thời kỳ sau 1975?

Ông Lê Kiên Thành: Ông ấy quyết liệt đủ đến độ để họ không thể hiện dã tâm từ đầu. Nhưng cũng ít đến độ họ vẫn phải tiếp tục ủng hộ mình. Nhiều người nói là vì ông găng quá nên xảy ra cuộc chiến. Nhưng tôi nghĩ điều đó sai.

Nếu nhìn về lịch sử từ xưa đến nay sẽ rõ. Cho nên đừng mơ hồ chuyện đó.

Có một hình ảnh rất hay là bầy sư tử khi ngủ, nó luôn quay về phía mà nó nghĩ là có kẻ thù mạnh hơn. Sư tử là kẻ mạnh nhất trong khu rừng mà còn cảnh giác đến độ như vậy huống hồ chúng ta.

Năm 1979, đất nước chúng ta vừa ra khỏi cuộc chiến tranh có 4 năm. Với chúng ta bây giờ bốn năm là một khoảnh khắc. Còn đối với một dân tộc vừa đi ra khỏi một cuộc chiến tranh hàng chục năm, trên người đầy vết thương, đầy tang tóc…bốn năm đó thực sự đáng giá.

Thế nhưng, súng đã nổ trên một rẻo đất hẹp ở biên giới phía Bắc. Trong tất cả lịch sử chiến tranh của đất nước chưa bao giờ có chuyện như thế. Nước Mỹ mang 500.000 ngàn quân nhưng phải trải qua một thời gian rất dài, trong một không gian rất rộng gồm cả miền Nam.

Nhà cầm quyền Trung Quốc muốn chúng ta cảm nhận được sức nặng của một tỷ người đến cỡ nào. Nhưng chúng ta đã chứng tỏ cho họ thấy điều đó là vô nghĩa. Từ biên giới vào có mười mấy cây số nhưng 1 tháng sau họ mới đặt chân được vào thành phố Lạng Sơn. Đó là điều ngay cả người Trung Quốc cũng không nghĩ tới.

Sau này, tướng tá Trung Quốc đều nói với phương Tây rằng họ không tưởng tượng được tổn thất có thể khủng khiếp như thế. Hồi đó, chúng ta chỉ có một sư đoàn đóng ở biên giới, còn lại là dân quân, tự vệ, bộ đội địa phương. Trong khi đó Trung Quốc sử dụng tới 600.000 quân, tức là 60 sư đoàn.

Ông Lê Kiên Thành nói về cha và ngày 17/2/1979
Hình ảnh thị xã Cao Bằng bị quân Trung Quốc bắn phá tan hoang do nhiếp ảnh gia Trần Mạnh Thường ghi lại. Ảnh tư liệu.

Một số tài liệu nói rằng, trong cả hai chuyến thăm Trung Quốc trên cương vị Tổng bí thư năm 1975 và 1977, ông Lê Duẩn đều rút ngắn thời gian và không tổ chức tiệc đáp lễ như truyền thống?

Ông Lê Kiên Thành: Đó là thông tin sai, tất cả những chuyến thăm ấy đều trọn vẹn.

Thật ra đến năm 1976 hoặc trước đó, ông có gặp Đặng Tiểu Bình và hai người vẫn nói chuyện với nhau vẫn rất tình cảm. Chính Đặng Tiểu Bình là người nêu vấn đề là chuyện mấy hòn đảo đừng nói của ai vội, đấy là vấn đề lịch sử mà chúng ta đều phải bình tĩnh nhìn nhận.

Đặng Tiểu Bình với ông Ba có những mối quan hệ cá nhân rất khăng khít. Sau này, khi Đặng Tiểu Bình bị cách mạng văn hoá vùi dập, mỗi lần đi thăm Trung Quốc, ông vẫn tìm cách liên lạc với Đặng Tiểu Bình.

Cho nên, chuyện năm 1979 đối với ông Ba là một sự phản bội cá nhân của tình cảm giữa hai người bạn.

Giai đoạn 1978, ông Đặng Tiểu Bình đi thăm nhiều nước và tuyên bố sẽ dạy cho Việt Nam một bài học. Khi đó, ông Lê Duẩn nghĩ gì?

Ông Lê Kiên Thành: Về mặt cá nhân thì tôi không rõ, nhưng hai con người đó cũng là hai con người có trách nhiệm với hai Tổ quốc. Chắc là họ cũng chỉ nghĩ nhiều về Tổ quốc hơn là nghĩ về cá nhân. Đặng Tiểu Bình sẽ nghĩ là làm thế nào cho Trung Quốc tốt nhất và ông Lê Duẩn sẽ nghĩ làm thế nào cho Việt Nam tốt nhất. Đối với những con người ở vị trí đó, cái cá nhân như chúng ta vẫn nói là thứ gì đó rất khác.

Nhưng tôi thấy một lần ông đọc báo Nhân Dân và khi thấy vẽ tranh biếm hoạ đả kích Đặng Tiểu Bình thì ông ấy nhăn mặt nói: “Ba không bao giờ muốn người ta đả kích nhằm vào cá nhân như vậy”. Cái đó một phần vì ông là bạn của Đặng Tiểu Bình.

Từ 1977, những văn kiện gửi cho quân khu Quảng Châu nhấn mạnh tinh thần phải chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh. Tại sao đến thời điểm đó, vẫn có rất ít người dự đoán được thời điểm Trung Quốc tấn công Việt Nam?

Ông Lê Kiên Thành: Trước chiến tranh nổ ra, có mời thư ký của ông Nguyễn Duy Trinh đến nói chuyện với cán bộ về tình hình và các khả năng. Ông nói hết tình hình, khả năng như nào, logic thì nó sẽ thế nào.

Vậy, những động thái từ phía Việt Nam để chuẩn bị cho một cuộc chiến ở phía Bắc thực ra đã bắt đầu từ thời điểm nào?

Ông Lê Kiên Thành: Có lẽ từ khi chúng ta giúp Campuchia tiêu diệt chế độ Polpot. Chúng ta vẫn nghĩ rằng chiến tranh nếu nổ ra chắc vẫn còn xa. Còn gần đến cỡ đó thì ít người nghĩ đến thật.

Chỉ hai tuần sau Tết, ngày  17/2, Trung Quốc bất ngờ nổ súng trên toàn tuyến biên giới phía Bắc?

Ông Lê Kiên Thành: Thật ra, ngày đó là ngày cưới của tôi. Tối hôm đó tôi cưới thì sáng Trung Quốc nổ súng đánh biên giới. Tối hôm đó vẫn rất bình thường. Sau này, có người nói sao đánh nhau lại còn cưới. Nhưng họ không hiểu rằng trong cuộc kháng chiến, có rất nhiều đám cưới trên chiến hào, trong hầm trú bom.

Bởi vì, cuộc kháng chiến của mình dài quá, nhiều trẻ em sinh ra trong tiếng bom nổ. Nếu chúng ta không tạo ra được cuộc sống bình thường trong cuộc chiến đấu này, chúng ta không thể duy trì cuộc chiến tranh dài đến thế.

Đấy cũng là lý do để sau này tôi muốn con tôi cháu tôi nhớ rằng cha mẹ, ông bà đã làm đám cưới trong một ngày trên biên giới phía bắc, tiếng súng của sự dã man và phản bội đã vang lên.

Tổng bí thư Lê Duẩn có tham dự đám cưới của con trai mình không?

Ông Lê Kiên Thành: Có chứ. Có cả ông Trường Chinh và nhiều thành viên Bộ Chính trị. Lãnh đạo đơn vị tôi cũng có mặt ở đó. Họ căng thẳng lắm khi nghe Trung Quốc đánh trên toàn tuyến. Nhưng khi đến đám cưới mọi người nói chuyện bình thường, nét mặt các ông lãnh đạo bình thường. Ở các ông già toát lên một sự tự tin ghê gớm.

Ừ thì cuộc chiến xảy ra sớm nhưng là điều mình nghĩ từ 10-20 năm. Thực tế đã xảy ra như thế. Một tháng sau người Trung Quốc mới đặt chân đến thị xã Lạng Sơn, cách biên giới có 12 km. Nếu đi bình thường chỉ mất 20 phút nhưng Trung Quốc với từng ấy quân lính, từng ấy xe tăng thì một tháng sau mới chiếm được thị xã nhỏ bé của mình. Đừng nghĩ sẽ đi đâu xa.

Ông Lê Kiên Thành nói về cha và ngày 17/2/1979
Xác xe tăng Trung Quốc bị bắn gục tại bản Sẩy (Hòa An, Cao Bằng). Ảnh tư liệu.

Sau khi Trung Quốc rút, ông Lê Duẩn là người quyết định không truy kích. Quyết định đó được đưa ra như thế nào?

Ông Lê Kiên Thành: Thực ra cái mình muốn nhất là Trung Quốc không đánh. Nhưng điều đó lại xảy ra rồi. Giết thêm 1-2 vạn quân nữa thì không có ý nghĩa, chỉ thêm nhiều người Trung Quốc căm thù người mình.

Cũng chính ông Lê Duẩn khi miền Nam giải phóng, có người đã xin xử bắn một số người kẻ ác phía hàng ngũ Việt Nam cộng hoà, ông không đồng ý. Những người ấy ác thật, họ mổ bụng, họ tra tấn đồng chí của mình thật. Trong chiến tranh, người ta có thể chấp nhận cái chết, nhưng trong hoà bình thì lại không thể chấp nhận được.

Còn ý kiến cho rằng Trung Quốc phát động cuộc chiến tranh biên giới là để thử khả năng phòng ngự của Việt Nam và khả năng Liên Xô sẽ giúp đỡ Việt Nam như thế nào?

Ông Lê Kiên Thành: Tôi không nghĩ Trung Quốc thử. Hiệp định Việt Nam ký với Liên Xô diễn ra là sau 17/2. Người Việt Nam đều hiểu chúng ta trông đợi nhất vào chính chúng ta thôi, khó có thể trông đợi người nào khác.

Tôi cũng không nghĩ Trung Quốc đánh để thử Liên Xô, vì đó là một trò chơi quá đắt tiền, quá mạo hiểm và quá dã man. Họ có những mưu đồ khác. Sâu xa nếu mà được là phải rút được quân Việt Nam ra khỏi Campuchia để cứu Pol Pot, nhưng điều đó không thực hiện được. Thứ hai là Trung Quốc muốn chứng tỏ điều Trung Quốc làm được mà Mỹ không làm được. Cuối cùng thì Trung Quốc cũng không làm được.

Ông Lê Duẩn có lường được rằng cuộc chiến tranh biên giới sẽ kéo dài đến 10 năm sau mới kết thúc không?

Ông Lê Kiên Thành: Ngay cả bây giờ, Trung Quốc vẫn muốn người Việt Nam không thích ông Lê Duẩn chỉ vì một vấn đề là ông ấy đại diện cho một ý chí của những người muốn cảnh giác với Trung Quốc.

Tôi lên biên giới, vào Mục Nam Quan (sau này đổi thành Hữu Nghị Quan), họ treo ảnh các lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc, trừ ông Lê Duẩn. Và tôi lại cảm thấy tự hào kinh khủng vì có một người ba hay thật, người mà đến khi chết vẫn nghĩ giữ nguyên vẹn đất nước Việt Nam này, không mua bán, không mặc cả. Nếu là anh em thì hoà thuận, còn không thì chết chúng tôi cũng giữ đất nước này.

Quốc Việtthực hiện

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.02.2017

Vài nhời trao đổi với con trai ông Lê Duẩn

Vài nhời trao đổi với con trai ông Lê Duẩn

luu-trong-van(Rút từ facebook của Lưu Trọng Văn)

Gã quý trọng tâm huyết và cả những tư duy cấp tiến của ông Lê Kiên Thành con trai của ông Lê Duẩn về hiện trạng và tương lai đất nước.

Gã quen biết nhiều con của các ông là lãnh đạo cấp cao nhất của đất nước một thời, rất buồn là đa số họ co vòi, hoặc lo làm ăn, hoặc bo bo yên phận với những gì đã có, hoặc bảo thủ bởi những vòng kim cô mà các phụ huynh để lại như một truyền thống, duy Lê Kiên Thành khác. Ông nồng nhiệt quan tâm vận nước và thẳng thắn lên tiếng đấu tranh với những gì trì kéo dân tộc, hăng hái đóng góp ý kiến cho con đường phát triển của dân tộc.

Tuy vậy cái khó của ông Thành là ông chưa dám nhìn thẳng vào sự thật của đất nước có căn nguyên cả từ thời cha ông là vua ngự trị đất nước này.

Gần đây ông Thành trả lời trên Tuần Việt Nam về những gì ông biết qua cha ông về sự kiện ngày 17 tháng Hai năm 1979 tạo nên một làn sóng không nhỏ trong dư luận nước nhà.

Điều rõ nhất là qua bài trả lời phỏng vấn, gã và người đọc tin tưởng ông Thành luôn đứng về phía dân tộc chứ không hề bao che, núp bóng những thế lực nào đó để biện minh cho kẻ thù dân tộc. Gã và người đọc tin rằng ông Lê Duẩn luôn đứng về dân tộc để chống lại bọn ngoại xâm.

Tuy vậy, có một sự thật khác, còn một sự thật khác mà vì là bổn phận người con kính yêu cha nên ông Thành không thể và có thể cả không đủ nhận thức để đánh giá đầy đủ vai trò của cha ông đối với vận nước, và con đường đi của đất nước.

Đó là ,nếu ông Thành cho rằng cha ông biết rất rõ âm mưu của Mao và Đặng Tiểu Bình từ trước cả năm 1975 sẽ tìm mọi cách thôn tính Việt Nam như trả lời của ông Thành trên báo thì tại sao, cha ông không hề có phương án chuẩn bị tốt nhất cho đất nước?

Chắc chưa ai quên ông Lê Duẩn đã tuyên bố hào hứng thế nào khi đất nước thống nhất 1975: Vĩnh viễn từ nay đất nước ta sạch bóng quân thù.

Nếu ông Lê Duẩn như ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu có tầm nhìn chiến lược về Trung Cộng ngay từ năm 1954, lo sợ VN sẽ bị Trung Cộng thôn tính, thì tại sao ông lại vội vã khẳng định “vĩnh viễn không còn kẻ thù” như thế?

Nếu ông Lê Duẩn có ý thức chiến lược về kẻ thù tiềm ẩn và nguy cơ bị xâm chiếm qua bài học năm 1974 Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa và năm 1972 Trung Quốc bắt tay với Mỹ bán rẻ VN vì lợi ích của Trung Quốc thì ông có chịu coi Đặng Tiểu Bình là người bạn thân thiết chí cốt của mình không để rồi sau này ông ngỡ ngàng về cái gọi là sự phản bội tình bạn ấy?

Liệu ông Lê Duẩn có dám cao ngạo cộng sản, cao ngạo kẻ chiến thắng để đưa đất nước vào cảnh bị cô lập trên thế giới, để dân tộc VN bị chia rẽ, hàng trăm ngàn người của chế độ cũ bị tù đày, ruồng bỏ, hàng ngàn trí thức của dân tộc, những tinh hoa làm nòng cốt cho sức mạnh dân tộc bị đẩy ra biển, vượt biên không?

Hơn ai hết là người kế thừa ông Hồ Chí Minh, ông Lê Duẩn thừa biết dân tộc đoàn kết mới có sức mạnh.

Ông Lê Duẩn là người am hiểu lịch sử Dân tộc,hơn ai hết ông biết nước mạnh về kinh tế, chính trị, đoàn kết thì không kẻ nào có thể xâm chiếm được.

Lòng dân thì tan hoang vậy.
Kinh tế thì ông Lê Duẩn kiên định và duy ý chí theo chủ thuyết “làm chủ tập thể và kinh tế tập trung bao cấp” phá bỏ mọi quy luật thị trường đã dẫn đến nghèo đói, sức dân, lực nước kiệt quệ mà di hại của nó còn đến tận bây giờ.

Sự thật phải là sự thật.
Gã tin cha của ông Thành là người yêu nước.
Nhưng gã không tin cha ông Thành là người sáng suốt và có tầm nhìn chiến lược, toàn diện về vận nước về kẻ thù và về con đường đi của đất nước.

Vì không sáng suốt nên mới chủ quan trước những cảnh báo về quân xâm lược, mới bị động hầu như không hay biết sẽ có 600.000 quân Trung Quốc tràn qua nước ta vào sớm 17.2.1979.

Đó là chưa kể có vấn đề khó hiểu về nhân tâm khi chính cái tối 17.2.1979, lúc nước sôi lửa bỏng như thế, khi mà hàng ngàn chiến sĩ, người dân bị Trung Quốc giết hại dã man, khi lãnh thổ thiêng liêng của Tổ Quốc bị dày xéo bởi quân xâm lược thì hầu hết lãnh đạo cao nhất của đất nước cùng ông Lê Duẩn tổng tư lệnh tối cao vẫn đến dự đám cưới của ông Thành, con trai ông Duẩn. Và, theo tường thuật của ông Thành thì các vị vẫn nói cười bình thường như chiến tranh chưa hề xảy ra.

Những người cha, người mẹ, người con, người vợ của những người bị quân xâm lược thảm sát sẽ nghĩ sao khi người thân và quê hương của họ chìm trong máu lửa thì những vị lãnh đạo có trách nhiệm cao nhất với đất nước vẫn dành thời gian cho một cuộc vui của con lãnh tụ?

Gã nghĩ lịch sử đã đến lúc cần lên án hành động thiếu nhân văn và trách nhiệm này.

Có thể đêm ấy có đám cưới của một người lính, rồi ngày mai người lính ra trận.Và có thể người lính sau đêm tân hôn vĩnh viễn không trở về.
Nhân dân vẫn chia vui cùng người lính ấy.

Ông Thành cũng là người lính lúc ấy.
Nhưng ông Thành còn là con của tổng tư lệnh. Hành động phải đạo nhất là chính ông Thành quyết định hoãn đám cưới ngày vui của mình để cha mình, tổng tư lệnh tập trung vào việc chỉ huy chiến trận trong lúc đất nước trong tình thế nguy nan này.

Nếu người con không sẵn sàng hoãn đám cưới thì chính người cha tổng tư lệnh phải đề nghị con hoãn đám cưới vì lúc này tình hình đất nước chưa cho phép.

Còn không thì, cứ đám cưới thật đơn giản người cha cùng dàn lãnh đạo tới có lời chúc mừng trong mấy phút rồi rút về vị trí chỉ huy của mình.

Nhưng sự thực qua lời kể của ông Thành thì đám cưới của ông không diễn ra theo kịch bản như gã vừa nêu.

Tiếc rằng sau 38 năm chính ông Thành cũng không nhận ra lỗ hổng nhân tâm này.

Câu chuyện ông Thành kể về sự kiện ngày 17.2.1979 theo gã vẫn nóng hổi bài học cho những ai đang cầm quyền và cho cả những nhà viết sử.

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.02.2017

NGUYỄN BÍNH – NHÀ THƠ HIỆN ĐẠI

NGUYỄN BÍNH – NHÀ THƠ HIỆN ĐẠI

Tiểu luận của Trần Mạnh Hảo – ( Nhân kỷ niệm 30 năm ngày mất của nhà thơ Nguyễn Bính 20-1-1996)

Nhân một buổi hội thảo thơ 1932-1945, một độc giả hỏi : “ Nếu cần phải chọn một câu thơ hay nhất để đại diện cho Thơ Mới ( thơ tiền chiến) , ông sẽ chọn câu thơ của ai ?”. Không do dự, tôi trả lời : “ Tôi xin chọn câu lục bát : “ Anh đi đấy, anh về đâu / Cánh buồm nâu cánh buồm nâu cánh buồm !” của Nguyễn Bính”. Lại hỏi : “nếu phải chọn một bài cho nền thơ ấy, ông chọn bài nào ?”. Trả lời : “ Tôi chọn bài Tống biệt hành của Thâm Tâm”. Lại hỏi : “nếu phải chọn một tập hay nhất của nền thơ ấy, ông chọn tập nào?” . Trả lời : “Tôi chọn tập “ Lửa thiêng” của nhà thơ quê Hà Tĩnh Huy Cận”. Lại hỏi : “nếu phải chọn một đời thơ tiêu biểu nhất của nền thơ ấy, ông chọn ai ?”. Tôi trả lời : “ Tôi chọn Nguyễn Bính !”.

Vâng, Nguyễn Bính, nhà thơ bị giời đầy : “ Mình tôi giời bắt làm thi sĩ !” Câu thơ ông viết từ những năm đầu của thập kỷ 40 đã vận vào ông : “Chung lưng làm một chuyến đi đầy”. Thậm chí ông còn nhắc con gái sau này : “Nhất kiêng đừng lấy chồng thi sĩ / Nghèo lắm con ơi bạc lắm con”.

Có lẽ, trong thơ tiền chiến, Hàn Mặc tử và Nguyễn Bính là hai nhà thơ có số phận ít được vận may chiếu cố. Hàn Mặc tử bị trăng hành. Còn Nguyễn Bính bị con bướm Trang Chu hành tới bến. Nếu Thế Lữ được biểu tượng thơ là con hổ, Lưu Trọng Lư là con nai, Chế Lan Viên là con ma Hời, Xuân Diệu là con chim ngứa cổ hót chơi…thì con bướm là biểu tượng cho thơ Nguyễn Bính :

“ Có ai điên dại như tôi nhỉ
Nuôi bướm làm con để nhớ người”

Hay :

“ Hồn trinh còn ở trần gian
Nhập về bướm trắng mà sang bên này”…

Trong thơ ông, bươm bướm bay nhiều quá, rượu và hoa nhiều quá, nhiều quá những cô gái đẹp chưa chồng. Nhưng bướm đã bay đi, rượu đã nhạt, hoa đã tàn, trinh nữ đã theo chồng hoặc đã chết, chỉ còn mình nhà thơ ngồi lại với phũ phàng và điên đảo :

“Mưa chiều nắng sớm người ta bảo
Cả đến ông giời cũng đổi thay” ( Giời mưa ở Huế)

Tháng chạp năm Nhâm Ngọ 1942, khi mới 24 tuổi, Nguyễn Bính đã viết được những câu thơ hay đến kinh hãi về nỗi buồn, nỗi cô đơn của kẻ lạc loài, của nỗi oán hận suồng sã phải thất tình thay cho con ong cái bướm :

“Uống say cười vỡ ba căn gác
Ném cái chung tình xuống đáy sông” ( Xuân tha hương)

Cùng “cái chung tình” ấy, nhà thơ hầu như đã ném tuổi trẻ mình xuống đáy sông của định mệnh, theo kiểu Thúy Kiều ném 15 năm lưu lạc xuống đáy Tiền Đường .

Nguyễn Bính mồ côi mẹ từ tấm bé. Ta hiểu vì sao nỗi bơ vơ ám ảnh suốt đời ông. Ta hiểu ngay từ lúc mới 13 tuổi, làm bài thơ đầu, ông đã thèm yêu, thèm sống, thèm khát ràng buộc với tất cả và chia tay tất cả. Ông đã vịn vào chuồn chuồn bươm bướm tập đi như vịn chính vào niềm hư vô của kiếp người. Theo Hoài Thanh, Nguyễn Bính chưa hề được đến trường ! ( Giống văn hào M. Goocki của Nga ?). Ông tự học theo người cha và người cậu. Thầy của ông là chim muông cỏ rả làng Thiện Vịnh xa xôi. Tuy nhiên, mọi thứ nào thay thế được mẹ ông.

Nguyễn Bính mồ côi mẹ nên đã mồ côi cả đất trời. Hình như ông đã lớn lên bằng cảm giác của Trần Tử Ngang – người đi dọc thơ Đường : “ Tiền bất kiến cổ nhân / Hậu bất kiến lai giả …( Trước không thấy người trước / Sau chẳng thấy người sau). Cảm giác ngồi một mình bơ vơ trên trái đất của Trần tiên sinh xưa không chỉ được Nguyễn Bính chia xẻ, mà đã thành phận số đời ông. Năm 1937, khi mới 19 tuổi, nhà thơ đã viết một bài thơ tuyệt vời “ Những bóng người trên sân ga” với tận cùng cô đơn kiếp người hay đến mức không còn có thể hay hơn nữa :

“ Chân bước hững hờ theo bóng lẻ
Một mình làm cả cuộc phân ly”

Câu thơ viết ra gần 60 năm rồi, đã sống và chết theo bao lớp người, theo bao trang giấy, qua bao nhiêu trào lưu hiện thực siêu thực, hiện sinh rồi cấu trúc, có vần với không vần, lạ thay, chưa có một ai nói về nỗi cô đơn kiếp người hay bằng câu thơ này của thần thơ Nguyễn Bính ? Hóa ra, cái hình ảnh giản dị và xúc động tận cùng kia, cái dáng người một mình đưa tiễn bóng mình kia, cho đến muôn đời vẫn cứ còn mới mãi, thấm thía và rung cảm mãi.

Nguyễn Bính với cảm quan thiên phú, một trực giác của thảo mộc chim muông, đã biết cách tiễn mình đi vào thi ca bằng lối đi của con bướm dưới gốc hòe Trang tử ! Cái dáng “Chân bước hững hờ theo bóng lẻ” kia không biết mình đang tiễn bóng hay bóng đang tiễn mình ? Với triết học bản thể, câu thơ “ một mình làm cả cuộc phân ly” không chỉ là biểu tượng sinh động, kỳ vĩ, mà còn là một khơi gợi, một phát hiện tâm linh trong hình trình nhập thể nhân loại. Chúng tôi tin rằng, câu thơ này của Nguyễn Bính còn theo ta tới cuối cuộc đời, đến nơi ta chia ly chính bản thân mình để vào vô tận.Viết được những câu thơ có thể sánh với bất cứ thơ Tây Tầu nào hay nhất, ai bảo thơ Nguyễn Bính không hiện đại ?

Thế mà từ năm 1941, năm ra đời cuốn “Thi nhân Việt Nam”của Hoài Thanh, đã có khá nhiều bài viết, nhiều khảo luận về thơ, khi nói về Nguyễn Bính, đều ăn theo lối kết luận phiến diện của Hoài Thanh Hoài Chân cho Nguyễn Bính là thơ nhà quê, chân quê, đồng quê, quê mùa…

Nói về Nguyễn Bính theo trường phái Hoài Thanh mới chỉ nhìn nhà thơ ở phần nổi, phần xác chữ nghĩa mà chưa đủ tầm đi sâu vào hồn thơ rất cổ điển, lại rất hiện đại của Nguyễn Bính làng Thiện Vịnh, huyện Vụ Bản, Nam Định kia ( huyện Vụ Bản còn là quê hương của một thiên tài thi nhạc khác đồng thời với Nguyễn Bính là Văn Cao)

Nguyễn Bính đi tận cùng dân tộc để thành hiện đại : thơ ông phần xác còn mang nâu sồng ca dao nhưng phần hồn đã vươn tới cõi hiện đại vô cùng nhân loại vậy ! Chúng tôi không muốn nói đến “chủ nghĩa hiện đại” phương Tây mà Việt Nam hầu như không có, nên không coi tính hiện đại của thơ chỉ lụy vào con chữ, vào cái bí hiểm cung quăng không thể hiểu, vào cái siêu thực nằm ngoài cảm nhận, mà chỉ đánh giá thơ qua cái sự hay, sự xúc cảm của nó, của nghĩa bóng thơ luôn cất cánh từ nghĩa đen như những câu thơ hay của thi hào Nguyễn Bính mà thôi !

Cho nên, với chúng tôi, hiện đại hay không hiện đại cốt ở hồn thơ, ở nỗi cảm nỗi hay của nó mà thôi. Những câu ca dao và thơ cổ hay nhất của văn học cha ông ta ai bảo không hiện đại nào ? “Gió đưa cây cải về trời / Rau răm ở lại chịu lời đắng cay” của ca dao hiện đại quá đi chứ ? “ Có thì có tự mảy may / Không thì cả thế gian này cũng không” của thơ Lý Trần hiện đại quá đi chứ ? “ Cái quay búng sẵn trên trời / Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm” của Ôn Như hầu hiện đại quá đi chứ ? “ Bắt phong trần phải phong trần / Cho thanh cao mới được phần thanh cao” của Nguyễn Du hiện đại quá đi chứ ? “ Hoa thì hay héo cỏ thường tươi” của Nguyễn Trãi hiện đại quá đi chứ ? “ Hồn cô cát bụi kinh thành / Đa đoan vó ngựa chung tình bánh xe” của Nguyễn Bính hiện đại quá đi chứ ?

Hầu hết thơ Nguyễn Bính dưới cái vỏ chân quê giản dị hiền lành như ca dao, nhưng giấu ẩn sức nghĩ, sức cảm, sức gợi vô cùng tận, hiện đại vì nó hay ở mọi lúc mọi thời. Viết về cái đẹp của sự trống vắng, gợi ra, vẽ ra được cái vẻ tôn giáo của hư vô tồn tại ngay trong lòng cái hữu hạn, phỏng có nhà thơ tiền chiến qua mặt được câu thơ này của Nguyễn Bính :

“Giếng thơi mưa ngập nước tràn
Ba gian đầy cả ba gian nắng chiều”

Nỗi trống vắng vô chủ của ba gian nhà trong câu thơ, đã được xúc cảm đẩy từ cái cụ thể thành cái vô biên : nỗi trống vắng và vô chủ của đất trời. Mượn nỗi hoang vu bé mọn của nắng chiều trong căn nhà nhỏ để tả nỗi hoang vu vũ trụ, cũng là nỗi hoang vu muôn thuở hồn người, lục bát Nguyễn Bính hiện đại lắm ru !
Khi Nguyễn Bính tả nỗi cô đơn đến rêu mốc bí mật của kinh thành Huế, cũng để nói vế vẻ huy hoàng tàn phai, hay chính là hồn suông thi nhân mượn cả hoàng thành mà hiu quạnh :

“Thâm u một giải hoàng thành
Đình suông con én không đành bay đi” ( Vài nét Huế)

Con én tân thời không nỡ bỏ cái hoang phế hoàng thành bay đi hay chính là cái níu kéo của hiện tại với quá khứ ? Cái chấm én mọc lên như một cái mầm, cái chồi của lẻ loi, khiến vẻ tàn phai càng tàn phai hơn nữa. Ngoảnh lại cố đô, con én thi ca mà Nguyễn Bính đính lên từ độ ấy, vẫn không đành đoạn bay đi, như thể loài chim thơ ấy vẫn còn là tình nhân bao thời đại đã đi qua !

Trí tuệ thơ Nguyễn Bính là trí tuệ sương mù, của hoa bướm của lửng lơ mây khói. Chất sang trọng hàn lâm giấu trong lục bát nâu sồng Nguyễn Bính như hồn sen giấu trong bùn, ghé mắt vào ta sẽ thấy hoa sen :

“ Hồn anh như hoa cỏ may
Một chiều cả gió bám đầy áo em”

“ Buồng hương bóng bóng mình mình
Gió hiu hiu hắt qua mành mành hoa”

Bên cạnh những bài lục bát nổi tiếng : “Tương tư”, “Lỡ bước sang ngang”, “Người hàng xóm”…ông còn những bài lục bát hiện đại khác : “”Lửa đò”, “ Vũng nước”, “ Qua nhà” và “Thời trước”…
Khi đánh giá thơ tiền chiến nói chung và Nguyễn Bính nói chung, người ta đã thừa nhận sự vượt trội của thơ lục bát Nguyễn Bính nhưng chưa thấy trong thể thơ bảy tám chữ, Nguyễn Bính cũng chẳng kém cạnh bất cứ thi nhân hàng đầu nào cùng thời với ông.Trong thể loại mượn cảnh tả tình, Nguyễn Bính đã có bài thơ vào hàng tuyệt tác là bài “Xuân về” có thể đứng ngang hàng với các bài hay nhất của Hàn Mặc tử và Huy Cận. Về thể hành, bài thơ “Hành phương Nam” của ông không hề hổ thẹn đứng bên cạnh bài tuyệt bút “Tống biệt hành” của Thâm Tâm. Viết về đất thần kinh xứ Huế, xưa nay chưa thấy bài nào hay bằng bài “Xóm Ngự viên” của Nguyễn Bính ? Ông đã làm sống lại thời vang bóng bằng câu thơ hay đến ma quái :

“ Sớm đào, trưa lý, đêm hồng phấn
Tuyết Hạnh, Sương Quỳnh, máu Đỗ Quyên”
Hai câu này có thể ngang với câu vi diệu của Xuân Diệu :

“Vì nghe nương tử trong câu hát
Đã chết đêm rằm theo nước xanh” ( Nguyệt Cầm)

Hãy đọc lại hồn thơ bi hùng ngang trời lệch đất Nguyễn Bính như “ Giời mưa ở Huế”, “Xuân tha hương”, “Oan nghiệt”…ta thả mình vào nỗi quằn quại như mất cả hình hài, đau thương dữ dội và đồng bóng, để chia xẻ với nỗi vong thân, vong quốc của lớp thanh niên trước 1945. Những bài thơ “ Cô hái mơ”, “Trường huyện”, “ Hoa và rượu”…là những bài thơ đẹp nhất thơ tiền chiến của Nguyễn Bính. Đâu đây ta nghe có hơi Huy Cận trong hồn thơ “ một trời quan tái” Nguyễn Bính :

“ Chênh vênh bóng ngả sầu lau lách
Chiều ngái hương rừng lối nhạt son”

Cái hơi Đường thi từ Huy Cận đi lạc vào Nguyễn Bính rất sang trọng, quý phái : “ Áo bào nguyệt bạch ngựa kim ô” hay đấy, siêu đấy nhưng không phải mạch chính của thơ ông. Cái hơi, cái hồn, cái vía Nguyễn Bính là ở những câu thơ rất Việt rất hay như :

“ Một con diều giấy không ăn gió
Õng ẹo chao mình xuống vệ đê”

Có hàng trăm người viết về tơ liễu từ thơ Đường đến Nguyễn Du, nhưng chưa ai hay bằng Nguyễn Bính tả liễu :

“Chiều về chầm chậm trong hiu quạnh
Tơ liễu theo nhau chảy xuống hồ”

Chỉ bằng từ “chảy”, Nguyễn Bính không chỉ hiện đại hóa thơ mình, ông còn làm mới cả hồn tơ liễu nghìn năm. Nguyễn Bính làm thơ rất bản năng, thậm chí như vô thức. Số lượng câu thơ hay của ông nhiều hơn bất cứ nhà thơ tiền chiến nào khác. Những câu thơ bất ngờ, hiện đại tới cùng này ai bảo Nguyễn Bính không mới :

“ Ở đây vô số những trời xanh”

Lối viết này Tây hơn cả Tây !

Hoặc quá ngạc nhiên khi ta đọc :

“ Xe ngựa chiều nay ngập thị thành
Chiều nay nàng bắt được trời xanh”

Hay :

“ Giời mờ ngao ngán một loài mây”

Xin lỗi, nếu ai trích được một câu của trường phái “tân con cóc” “ tân siêu thực” của Việt Nam hay ngang những câu này của Nguyễn Bính, tôi xin thưởng ba vạn chín nghìn con kiến,một trăm con voi !

Trong dòng thơ tiền chiến, chúng tôi bao giờ cũng biết cách tôn kính Thế Lữ, ngả mũ trước Xuân Diệu, thán phục Huy Cận, kinh ngạc trước Hàn Mặc tử, mơ mộng sầu thương cùng Lưu Trọng Lư, Hồ Dếnh…Nhưng chúng tôi bao giờ cũng dành cho Nguyễn Bính trọn niềm yêu mến, không chỉ là tấm lòng hậu sinh với bậc tiền bối, mà còn vì tình yêu của độc giả mấy chục năm trời với thơ ông.

Chỉ tính gần chục năm lại đây ( năm 1995khi
tác giả viết bài này) theo thống kê tạm thời của một số nhà xuất bản, thơ Nguyễn Bính đã in và phát hành tới số kỷ lục hàng triệu bản. Qua bao thăng trầm, Nguyễn Bính vẫn là nhà thơ số một được độc giả Việt Nam hâm mộ nhất sau Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Trãi).

Ba mươi năm đã qua kể từ năm Nguyễn Bính mầt buổi trưa ngày 30 tết ấy, có lẽ hình ảnh đọng lại trong mắt thi hào Nguyễn Bính là vườm thuốc nam nhà ông Tân Thanh hay một loài mây, hay loài bướm trắng nào vừa chìm xuống đáy ao trước khi ông bụng không hạt cơm ngã xuống trong hôn mê và trong cơn đói vĩnh cửu ? Chỉ biết rằng thi ca ông đã thành vị thuốc nam chữa lành nỗi đau và niềm hư vô kiếp người.

Ông không tìm lối xuyên tường đưa thơ Việt vào hiện đại như ai đó. Thơ ông thẩm thấu qua trời sương khói, qua hồn ca dao, qua Truyện Kiều đưa nâu sồng lục bát quê hương vào hiện đại. Xin đọc lại một câu thơ Nguyễn Bính :

“ Xót xa một buổi soi gương cũ
Thấy lệch bao nhiêu mặt chữ điền”

Ôi những mắt chữ điền bị thời gian xô lệch muôn năm cũ, xin về đây soi lại chiếc gương thi ca hiện đại muôn sau Nguyễn Bính.,.

( Nguồn: vanvn.net)

5 NGƯỜI QUẢNG BÌNH CHỐNG NHAU, LÀM KHUYNH ĐẢO CHÍNH TRƯỜNG VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

khac-thai

TS Nguyễn Khắc Thái

Điều lạ là bất cứ thời kỳ lịch sử nào cũng đều có người Quảng Bình tham gia và làm khuynh đảo chính trường (tôi đã có bài viết về điều này đăng trong tập sách Danh nhân Quảng Bình), nhưng đặc biệt là thời hiện đại, có 5 hào kiệt đứng ở 5 chiến tuyến, chống nhau, làm khuynh đảo chính trường hiện đại.
1. Võ Nguyên Giáp, quê Lệ Thuỷ, đại tướng, Tổng tư lệnh quân đội nhân dân Việt Nam, phe Cộng sản.
2. Ngô Đình Diệm, quê Lệ Thuỷ, tổng thống Việt Nam cộng hoà, phe chống Cộng.
Ông Giáp và ông Diệm cùng quê nhưng chống nhau quyết liệt ngay từ ngày đầu tham gia chính trường cho đến khi qua đời.
3. Thiền sư Thích Trí Quang, quê Đức Ninh, người đứng đầu phong trào Phật giáo chống chính quyền Ngô Đình Diệm và cũng chính là ngòi nổ để dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền này từ cuộc đảo chính của phái quân sự do Dương Văn Minh đứng đầu năm 1963.
4. Linh mục, giáo sư sử học Nguyễn Phương, quê ở Hoà Ninh, nhà sử học danh tiếng, người một thời biện minh cho chính quyền Ngô Đình Diệm nhưng cũng là người viết nhiều công trình sử học nổi tiếng ủng hộ sự hiện diện của Mỹ ở Đông Dương thời Pháp thuộc và thời Việt Nam Cộng hoà. Như vậy, ông vừa ủng hộ chính quyền Ngô Đình Diệm vừa có xu hướng thân Mỹ, chính là chính quyền bật đèn xanh lật đổ Ngô Đình Diệm. Hiện Thích Trí Quang đã rất yếu, theo phái tịnh khẩu, ở chùa Từ Đàm.
Về sử học, sử gia Nguyễn Phương có rất nhiều công trình nổi tiếng thế giới, trong đó có bộ sách cơ bản là “Phương pháp sử học”. Năm 1975, ngào vượt biên trên một chiếc thuyền nhỏ, may mắn sống sót và định cư ở Mỹ, là giáo sư của nhiều Trường đại học danh tiếng thế giới.
5. Tướng Đỗ Mậu (thực ra ông chỉ đại tá nhưng vị thế trong hàng tướng lĩnh VNCH, quê ở Quảng Thuận. Lúc đầu tham gia chính trường, ông có xu hướng theo Cộng sản, sau đó chuyển sang theo Pháp. Vào miền Nam ông phụ sự đắc lực cho chính quyền Ngô Đình Diệm nhưng sau đó lại tham gia phái đảo chính của Dương Văn Minh lật đổ Ngô Đình Diệm. Sau năm 1975 ông định cư ở Mỹ và viết hồi ký nổi tiếng “Việt Nam quê hương máu lửa” được nhà xuất bản Công an nhân dân tái bản (có lược bớt so với bản gốc). Trong cuốn sách này, ông dành chương đầu viết rất hay về quê hương Quảng Bình với tiêu đề “Quảng Bình quê hương định mệnh”. Ông là nhà chính trị sắc sảo và là học giả uyên thâm. Trong cuốn sách hồi ký, ông phân tích sâu sắc Nguyên nhân sụp đổ của chính quyền Việt Nam Cộng Hoà mà theo ông, Nguyên nhân chính là tham nhũng dẫn đến chia bè kéo cánh và sụp đổ. He he, tham nhũng và bè cánh sẽ có kết cục như thế.
Khoảng năm 2000 ông có về thăm quê, nghỉ ở khách sạn Phương Đông, khi đó mình đang viết bộ địa chí Quảng Bình nên muốn đến trình ông góp ý nhưng bên công an khuyên là không nên.

Rứa đó, ai cũng nổi tiếng, cũng là anh hùng hào kiệt nhưng người thì cộng sản, người kia thì ngược lại, chống cộng, người này Phật giáo, người kia lại theo Thiên chúa giáo.
Cả 4 người đều chống nhau cả trên quan điểm lẫn hành động.
Không biết ngày nay người Quảng Bình có thế không. Mình nghĩ là có.

( FB Khắc Thái)

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.02.2017

Thân phận một trí thức canh tân

Thân phận một trí thức canh tân

 MINH PHƯƠNG 

, Gia đình ông Ngô Đình Khải. Ảnh: TL

Phòng Khánh tiết trường Quốc Học Huế những năm 1956-1958 từng treo hai tấm biển gỗ sơn son, khắc bản dịch tiếng Việt chỉ dụ vua Thành Thái, Nghị định Toàn quyền Đông Dương về việc thành lập trường. Sau đó vì nhiều lý do, nó trôi nổi trên thị trường cổ vật.

Nhân kỷ niệm 120 năm Quốc Học (1896-2016), đã có những lời đề nghị được gửi tới người có trách nhiệm, những mong nó được trở về chốn cũ, nhưng đáng tiếc không được đáp từ. Khoảng lặng đó giúp chúng tôi lần giở những dòng tư liệu cũ, chợt giật mình trước thân phận một trí thức canh tân yêu nước đầu thế kỷ XX.Trong cuộc tiếp xúc văn hóa, văn minh Đông – Tây ở Huế từ nửa sau thế kỷ XIX, sau nhiều căng thẳng binh biến, vấn đề canh tân đất nước đã được cả triều đình Đại Nam lẫn phía Pháp rất quan tâm. Để giảm sốc sau những động thái vũ lực tang thương, hai bên đã có nhiều giải pháp thăng bằng, hướng tới canh tân xứ sở, nhất là từ văn hóa và giáo dục. Tinh hoa Hán học truyền thống kết hợp Tây học đã đem lại cho văn hóa Việt Nam sức sống mới, góp phần đưa đất nước hội nhập với thế giới hiện đại.

Vấn đề then chốt chính là ở tư tưởng và tinh thần yêu nước của vua Thành Thái khi biết chọn chỗ dựa phù hợp cho sứ mệnh canh tân nước nhà, đặc biệt là đội ngũ quan lại trí thức Tây học thuở ban sơ như Nguyễn Hữu Độ, Ngô Đình Khả, Nguyễn Hữu Bài… Nhờ đó mới xúc tiến mở trường Quốc Học (nam sinh) và Đồng Khánh (nữ sinh) – giáo dục phổ thông; rồi Trường Kỹ nghệ thực hành, Trường Canh Nông – đào tạo ngành nghề chuyên nghiệp…

Ngày 17 tháng 9 năm Thành Thái thứ 8 (23.10.1896), nhà vua ban dụ mở trường Quốc Học, nhấn mạnh tinh thần giáo dục quốc gia trong bối cảnh xã hội mới cần chú trọng sự liên tục, hài hòa giữa Cựu học và Tân học với nhiều bộ môn khác nhau, của nhiều nước để mở rộng quan hệ bang giao quốc tế. Sự học do vậy hướng đến việc nắm bắt kiến thức và hoàn thiện kỹ năng xử lý hiệu quả công việc hành chính, điều hành đất nước. (Công báo Đông Dương, số 11, phần 2, tr. 1453-1458). Ngoài việc duy trì nền tảng sâu rộng, uyên thâm của Cựu học, môi trường giáo dục cần cập nhật, tiếp thu văn minh phương Tây để bổ sung sự mất cân đối đó.

Trường Trung học Quốc gia – Quốc Học được thành lập tại Huế, giảng dạy chủ yếu bằng tiếng Pháp, chữ Hán. Hiệu trưởng do Hội đồng Cơ mật chuẩn thuận, Khâm sứ đề nghị và Toàn quyền bổ nhiệm, được trực tiếp liên hệ với Khâm sứ, Hội đồng Cơ mật và các Bộ. Triều đình Huế chịu chi phí nhân sự và xây dựng: tòa nhà chính, các lớp học, nhà ở, lương bổng, bồi dưỡng nhân sự, trợ cấp học sinh.

Điểm đặc biệt ở đây là vai trò tiên phong quan trọng của nhân vật lịch sử Ngô Đình Khả, vị Hiệu trưởng đầu tiên của Quốc Học và là người Việt duy nhất đảm đương trọng trách này trong giai đoạn 1896-1945. Văn bản số 908 ngày 6.11.1896 của Khâm sứ Trung kỳ gửi Toàn quyền Đông Dương cho biết sau khi có ý kiến chuẩn thuận của Hội đồng Phụ chính về chức danh Hiệu trưởng Quốc Học, quan Khâm sứ vinh dự giới thiệu ông Ngô Đình Khả, 40 tuổi, thông ngôn chính, một người có uy tín xứng đáng, với tư cách mẫu mực và kiến thức sâu rộng, tư duy vững chãi. Ông từng là thông ngôn cho Tổng trú sứ và được ông P.Rheinart đánh giá cao, luôn được Khâm sứ Trung kỳ tin tưởng. Bước vào hoạn lộ, ông được triều đình Huế phong Thái Thường Tự Khanh, hàm chánh tam phẩm… nên hội đủ tư cách, trí tuệ để đảm đương trọng trách điều hành một ngôi trường tân tiến đương thời, và “không thể có sự lựa chọn nào tốt đẹp hơn”.

Công trình được xây dựng và chính ông Khả được giao trọng trách tổ chức việc giảng dạy, trở thành Hiệu Trưởng đầu tiên (BAVH, 1942, tập III, Nxb Thuận Hóa, 2015, tr. 493-510). Không chỉ có vậy, khi làm quan Nam triều, duy nhất ông dám chống lại người Pháp khi vua Thành Thái bị bức hại và dân gian Huế đến nay vẫn lưu truyền câu ca: “đày vua không Khả…”.

Trong bối cảnh vỡ ra của xã hội truyền thống Việt Nam, cuộc đụng độ rồi giao lưu, tiếp xúc văn hóa, văn minh Đông – Tây diễn ra tất yếu trên nhiều lĩnh vực, khía cạnh đời sống xã hội. Ở đó, giáo dục đào tạo được coi là một vấn đề đặc biệt quan trọng gắn liền khát vọng, xu hướng canh tân từ triều đình Huế và nhu cầu xây dựng, phát triển xứ Đông Dương của người Pháp, mà Quốc Học, có thể coi là trường hợp điển hình. Phát huy tối đa sở trường, giảm thiểu sở đoản từ trong di sản truyền thống, kế thừa tinh hoa văn minh phương Tây phù hợp, để canh tân đất nước từ giáo dục đào tạo, là sứ mệnh, đặc điểm then chốt, bài học lịch sử cốt yếu từ Quốc Học.

Điểm đáng tiếc trong chu kỳ trăm năm, từ thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX, quá trình tiếp xúc văn minh phương Tây diễn ra mạnh mẽ nhưng đội ngũ quan lại trí thức chưa đủ mạnh, trở thành đa số để chuyển hóa trọn vẹn cuộc canh tân. Đầu thế kỷ XX, dư chấn của cuộc cách mạng phản đế phản phong đã gạt bỏ nhiều truyền thống dân tộc. Tính chính thống, ở nhiều trường hợp, càng làm nổi bật điều đó. Đài Chiến sỹ trận vong ở Huế là sản phẩm của một thời “thực dân”, lại chưa được công nhận là di tích nên bị bỏ qua, xem nhẹ. Nhân vật trí thức Tây học, vị hiệu trưởng Quốc Học đầu tiên, người Việt duy nhất từ năm 1896-1945, vị quan yêu nước Ngô Đình Khả và lăng mộ của ông vẫn ít được biết đến, nằm lặng lẽ, lạnh lẽo ở đồi Phủ Cam.

Lịch sử Việt Nam nổi bật tính bao dung, hòa hợp, giúp xóa bỏ trở lực, hòa giải mọi ngăn cách cho khát vọng thái hòa từ sức mạnh cố kết lòng người, bồi bổ phong khí quốc gia. Nhìn nhận phiến diện, bỏ qua nhiều trang sử quan trọng với công – tội phân minh, rõ ràng là hiện nay, chúng ta đang rất cần một thái độ ứng xử khoa học, nhân văn phù hợp, mới có thể phát triển.

( Nguồn: Lao Động)
Đăng bởi: Ngô Minh | 19.02.2017

Vì sao VN in sách ca ngợi Đặng Tiểu Bình?

Vì sao VN in sách ca ngợi Đặng Tiểu Bình?

Bản quyền hình ảnhREUTERS
Đặng Tiểu Bình (thứ hai, từ trái) là lãnh tụ của thời kỳ đổi mới thời kỳ hậu Mao của TQ, năm 1979 ông đã chỉ đạo mở một cuộc chiến để ‘dạy cho VN một bài học’.

Dư luận cả nước Việt Nam mới đây xôn xao về cuốn sách do Nhà xuất bản Lao Động ấn hành năm 2015, nhan đề “Đặng Tiểu Bình – một trí tuệ siêu việt.”

Tò mò, tôi tìm đọc và ngã ngửa bởi thấy thật hổ thẹn cho sự kém cỏi, u mê của mình: Cuốn sách thảm họa ấy thực ra là tái bản.

Cuốn tôi có trên tay do Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin in từ năm… 2003(!), dày 600 trang, giá 60.000 đồng. Các tác giả là Lưu Cường Luân, Uông Đại Lý; dịch giả là Tạ Ngọc Ái, Nguyễn Viết Chi.

Thế mới biết cái gọi là sự “quan tâm” đối với vận nước, nỗi nhà của trí thức thời nay (trong đó có tôi) đáng thất vọng đến mức nào…

Trước hết, phải ghi nhận rằng Đặng Tiểu Bình là một trong những nhân vật chính trị nổi bật của nửa sau thế kỷ XX, công lao và tài năng của ông ta “rất đáng được ca ngợi” – dĩ nhiên, khi kẻ dịch, kẻ cho in đều là người… Trung Quốc.

Vì tài năng của Đặng không phải là mục đích phân tích của bài viết này nên tôi sẽ nhìn nhận dưới góc độ của một độc giả – về cái tinh thần cốt lõi: ca ngợi kẻ thù của dân tộc, kẻ đã gây ra cuộc chiến tranh Biên giới năm 1979 và cũng là kẻ đã ra lệnh cho quân xâm lược tấn công, xâm chiếm Gạc Ma, thuộc Trường Sa năm 1988 – chủ quyền đương nhiên của Việt Nam là vì mục đích gì để, từ đó, thử xem việc nói tài năng của Đặng là “siêu việt” có thỏa đáng hay không?

Thú nhận bàng hoàng

Điều phải thú nhận đầu tiên đó là sự bàng hoàng: Một người đọc với ý định phê phán như tôi, cũng là một người có 40 năm giảng dạy lịch sử Trung Quốc mà vẫn bị cuốn hút, không ít khi bị đánh lừa bởi cách viết, cách dẫn chuyện thì, đối với những người “đọc cho biết, cho vui”, mức độ gây hại của nó sẽ ghê gớm đến mức nào!

Thứ nhất, tư tưởng xuyên suốt của cuốn sách ngoài chuyện tài năng của Đặng ra thì đó là ca ngợi hết lời về tài năng, bản lĩnh, sự không thể thay thế được, không có nó là không thể được của đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ). Nói như thế để thấy đã hiện ra đâu đó từ đường chân trời những giả định mịt mù của những người in sách: Họ bất chấp tất cả sự thật, bất chấp cái chết của hàng vạn con dân nước Việt do Đặng gây ra; chỉ cần bảo vệ một điều duy nhất, đó chính là sự ổn định trên cương vị lãnh đạo của ĐCSTQ…

Bất chấp những sai lầm khủng khiếp do Mao và ĐCSTQ làm chết cả 100 triệu người (tr. 483), các tác giả liên tục nhắc đi nhắc lại lời Đặng là sống chết gì cũng phải bảo vệ ĐCSTQ, rằng “mấu chốt là ở Đảng, ở người, ở lớp kế tục” (tr.484), rằng “…không được vứt bỏ Mác, không vứt bỏ Lê Nin, cũng không vứt bỏ Mao Trạch Đông, cụ tổ không được vứt đi nhé!” (tr.168).

Bản quyền hình ảnhGETTY
Image captionPháo binh của phía Việt Nam trong cuộc chiến biên giới 17/2/1979 đối phó với quân Trung Quốc.

Thứ hai, cuốn sách đã đạt đến mức thượng thừa của những kẻ có tài ngoa ngôn đến mức không còn sợ thị phi, không quan tâm đến sự thật lịch sử khi liên tiếp cố tình phạm các sai lầm logic để “chứng minh” tài Đặng là tuyệt luân, chấp cả hàng tỷ người trong thời ông ta sống.

Người viết khẳng định Đặng là người “… đã vượt lên trên tất cả các nhà kinh tế học phương Tây, với tinh thần sáng tạo và tính quyết đoán đáng kinh ngạc…” (tr 295, chúng tôi nhấn mạnh – HVT).

Người viết sàm ngôn và lú lẫn đến mức: Để ca ngợi Đặng, coi cái chết của 8.000 bộ đội Trung Quốc (tr. 483) trong chiến dịch Hoài Hải (1948) chỉ là tổn thất không đáng kể(!) so với việc tổ chức vượt sông cho cả “trăm ngàn hùng binh” chỉ nhằm đảm bảo cho chiến dịch thắng lợi(?) Thế mới biết mạng người dân đen trong tay nhào nặn của đảng cộng sản Trung Quốc e chưa bằng cỏ rác…

Thứ ba, Đặng – y chang đảng cộng sản Trung Quốc, tìm mọi cách để bôi đen lịch sử miễn là có lợi cho đảng để cầm quyền vững chắc. Đặng thừa nhận Mao có 27 năm cống hiến (1949-1976) cho nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, trong đó 7 năm đầu thành công, 10 năm tiếp theo 5 năm có công, 5 năm có tội; 10 năm tiếp nữa thì “không tính” (tội lỗi ngập tràn) nhưng không được phanh phui ra:

“Không nên viết quá về những sai lầm của Mao Trạch Đông. Nếu không, như thế thì sẽ bôi đen Mao Trạch Đông, đồng thời bôi đen cả Đảng và Nhà nước…” (tr.433). Đọc đến đây, ai cũng hiểu vì sao khoa học lịch sử trong một nhà nước cộng sản còn tệ hơn cả một tuồng hề.

Đặng đã biển lận khi trơ tráo cho rằng mặc dù tội nhiều, công lắm như thế nhưng Mao vẫn là người… siêu phàm: “Đồng chí Mao Trạch Đông phạm sai lầm, đó là một nhà cách mạng vĩ đại phạm sai lầm, là một người Mác-xít vĩ đại mắc sai lầm” (tr.435).

Tham quyền hay vì dân?

Thứ tư, các tác giả biện minh cho việc Đặng tham quyền cố vị khi “lui dần từng bước quyền lực” là vì… nhân dân(!); cố bào chưa bằng mọi giá cái chuyện dẫu đã về hưu vẫn còn đi thị sát, chỉ đạo miền Nam năm 1992, khi đã… 88 tuổi!

Những ngôn từ có cánh của loài hoa dại dọc đường tàu tha hồ bay bay đuổi theo con tàu bảo thủ, trì trệ cứ cố tăng tốc như để giễu cợt người đọc: Sau mỗi bước rút lui của ông thì sự nghiệp do ông sáng tạo lại tiến thêm một bước. Trí tuệ thật uyên thâm, chất nghệ thuật thật tuyệt diệu (tr. 490). Nói vậy rồi, chỉ trong 2 trang sau đó, những người viết lại tự mâu thuẫn rằng “Năm 1985, Đặng Tiểu Bình từ chức Phó Thủ tướng Quốc Vụ viện, và tiết lộ năm 1985 sẽ chỉ làm cố vấn “ (tr. 492).

Dối trá không có giới hạn hình như là nguyên tắc của cuốn sách này: Tại sao lại “quên” cái chuyện phải đến ngày 9.11.1989, sau khi thảm sát xong hàng ngàn sinh viên Trung Quốc ở Quảng trường Thiên An Môn, Đặng mới chính thức rời khỏi chức vụ Chủ tịch Quân ủy Trung ương?

Thứ năm, Đặng có thực tài trong biến hóa ngôn từ, biến cả cái của người ta thành của mình. Các tác giả đã khẳng định rằng, theo Đặng, cái thứ chủ nghĩa Mác của tất cả những người khác chỉ là “chủ nghĩa Mác trong khe núi” (tr. 123); còn Đặng, cái mà ông có, là “chủ nghĩa Mác chân chính”(?)

Bản quyền hình ảnhOTHER
Image captionSử gia Hà Văn Thịnh nêu 9 điểm phê phán cuốn sách ‘Đặng Tiểu Bình – một trí tuệ siêu việt’ mới tái bản ở Việt Nam.

Làm sao lý giải rằng đó là “chân chính” trong khi xây dựng, hướng tới “chủ nghĩa đại đồng” lại phát động chiến tranh xâm lược Nước Việt Nam XHCN năm 1979, rồi 9 năm sau lại đánh chiếm Gạc Ma, bắn chết 64 chiến sĩ công binh Việt Nam không được lệnh nổ súng? Làm sao “chân chính” khi đàn áp biểu tình năm 1989 bằng cái cách ngay cả Hitler cũng không dám (chỉ có cộng sản dám) là dùng xe tăng nghiền nát hàng trăm sinh viên trẻ trung, trong trắng?…

Thứ sau, có thể là vô ý, nhưng các tác giả đã cho người đọc biết rõ bộ mặt thật của những người cộng sản Trung Quốc khi đã làm “lóe lên” những tia sáng ít ỏi, hiếm hoi của sự thật; theo tôi, đây là cái TỐT đáng kể. Ở trang 390, các tác giả khẳng định rằng chủ ngĩa bè phái (lợi ích nhóm) dường như là thuộc tính của công sản: “trong nhiều đơn vị, không cầm quyền theo tính đảng mà là theo tính bè phái”.

Ghê gớm hơn, ở trang 483, cuốn sách cho người đọc biết rõ chuyện: Chỉ để chống lại một bí thư tỉnh ủy, “người ta” có thể làm chết vài vạn người: “Năm 1968, vụ án do Khang Sinh tạo ra nhằm chống lại Bí thư tỉnh ủy Vân Nam Triệu Kiến Dân làm chết 16.000 người, trong khi năm 1948, Đặng chỉ huy “trăm vạn hùng binh” vượt sông Hoài chỉ thương vong có… 8.000 (tr. 483). Tiếp đó, là chuyện Trần Bá Đạt chỉ vì… “nghi” đảng bộ Khu Ký Đông có liên hệ với Quốc dân đảng, mà tổng cộng 84.000 người đã bị bức hại, trong đó có 2.955 người chết chỉ nhằm mục đích… “trị loạn cứu ổn”?

Trời hỡi trời là câu người viết bài này phải thốt lên khi nghĩ, bàn về chuyện “cứu ổn định” cho chế độ cộng sản có thể làm tán gia bại sản, làm chết hàng vạn con người…

Biến hóa hay siêu việt?

Thứ bảy, cuốn sách của người viết cho người đọc biết rõ trong ba luận điểm nổi tiếng của Đặng được người đời truyền tụng là luận thuyết không tranh luận, luận thuyết mò đá qua sông, luận thuyết mèo trắng mèo đen thì có đến 2/3 là tư tưởng, ý nghĩ, hành động của Lưu Bá Thừa (tr. 507). Tài năng của Đặng so với Lưu chỉ bằng 1/3; 2/3 là biến hóa thì làm sao có thể gọi là siêu việt?

Đặng có thực tài đến cỡ siêu quần không khi cả ba lần lên – xuống, vào – ra Trung Nam Hải của ông ta đều có sự tài trợ của Chu Ân Lai? ( từ tr. 495 đến tr. 507)

Người xưa nói “quân tử cậy mình mà thành” nhưng Đặng thì đã biết cách lợi dụng người mà thành. Ca ngợi đó là trí tuệ siêu việt thì chẳng khác chi tiếp nối bước đi của Trạng Quỳnh vẽ 10 con vật sau 3 tiếng trống…

Tiếp theo, thứ tám, đọc cuốn sách này mới biết chuyện lan truyền trên mạng xây dựng CNXH đến cuối thế kỷ này có khi vẫn “chưa biết được” có thành công hay không, có xuất xứ từ Đặng nói. Chính Đặng đã khẳng định là xây dựng CNXH phải mất vài trăm năm: “Đường lối cơ bản (xây dựng CNXH) phải theo đuổi hàng trăm năm, không được dao động…” (tr. 357).

Cũng biết thêm rằng lời ‘đồn” về việc cho rằng Mao từng coi trí thức chỉ là cục phân là có thật. Các tác giả cuốn sách đã khẳng định điều này – chỉ có điều không hiểu nổi là vì sao những người dịch lại chuyển ngữ thành “sự thối tha”: “Mao Trạch Đông rõ ràng có cách nhìn không đúng với giới trí thức, những phần tử trí thức thành ‘thối tha’” (tr. 361)…

Sử gia Hà Văn ThịnhBản quyền hình ảnhFB HA VAN THINH
Image captionÔng Hà Văn Thịnh cho rằng Việt Nam không nên ‘vui mừng’ khi mà từ năm 2003 cuốn sách mà ông phê phán đã ‘thao túng’ hàng vạn người dân Việt.

Thứ chín và cũng là cuối cùng, những người dịch chắc hẳn nằm trong đội ngũ đặc thù vì họ phiên âm tên người nước ngoài một cách quái đản mà chỉ có trong nội bộ mới hiểu được. Ví dụ, Ngoại trưởng Mỹ Zbignew. Brzezinsky (1977-1981) thì được phiên âm là Brêzinsky 9tr. 71), TS H. Kissinger, ngoại trưởng Mỹ (1971-1974) thì được phiên âm là Kítxingiơ (tr. 63).

Chỉ có những người vừa ta đây “tân tiến” lại vô cùng bảo thủ mới có thể có cách phiên âm kì quặc thế. Thật tiếc là Nhà xuất bản không dám sửa?…

Có một lời bình trong cuốn sách chắc là phù hợp khi dẫn ra để kết thúc bài viết này: “…nếu bức tượng đồng Đặng Tiểu Bình có lý trí, hẳn cũng sẽ mỉm cười hài lòng” (tr 287).

Đặng sẽ sung sướng vô cùng ở nơi suối vàng khi biết Việt nam cho in cuốn sách, tái bản nhiều lần để ca ngợi kẻ đã CHÂM ngòi lửa chiến tranh, thôn tính dần đất nước Việt Nam.

Trong lịch sử loài người ít khi gặp những kẻ tội đồ trơ lì và ngạo ngược đến thế. Cách đây vài ngày, tôi có đọc được những sự tán tụng rằng đã có “lệnh miệng” cho thu hồi cuốn sách trên in năm 2015? Vui mừng cái nỗi gì khi từ năm 2003, cuốn sách độc hại này đã thao túng hàng vạn người dân Việt?

Thành thật xin lỗi mọi người vì lẽ: Tuy mang danh dạy sử mà chỉ biết đến sự thật trụi trần, dơ dáy này sau những… 13 năm(!)…

Bài viết thể hiện văn phong và phản ánh quan điểm riêng của tác giả, một nhà nghiên cứu và giảng dạy sử học từng có nhiều năm làm việc tại Khoa Lịch sử, Đại học Khoa học, Đại học Huế, Việt Nam.

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.02.2017

Tìm lại mình qua “Vần cũ”

img_8193

ĐỌC BỘ SÁCH “NGÔ MINH TÁC PHẨM”, TẬP 4:

Đến với bài thơ hay :

KHÁNH CHI

Tìm lại mình qua “Vần cũ”

 

Vần cũ

         Ngô Minh

 

Ta về

đêm cỏ kiếm tìm

non tây khuyết chén

đàn chìm nốt sương

 

uống đi

mấy kiếp đoạn trường

rượu suông nhấm với

tình suông ơ hờ

 

nát nhàu

vần cũ tờ thơ

trăng theo phù phiếm

gió chờ phù vân

 

uống đi

nghe vỡ tiếng đàn

nghe ta nằm với

muôn vàn

nín câm…

 

 LỜI BÌNH : (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.02.2017

TRANG THƠ PHÁI ĐẸP- THƠ HOÀNG VIỆT HẰNG

 

TRANG THƠ TỰ CHỌN CỦA NHÀ THƠ HOÀNG VIỆT HẰNG

Nhà thơ Hoàng Việt Hằng quê Hà Nội, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Các Giải thưởng văn học: 5 tập thơ: Những dấu lặng, Một mình khâu những lặng im, Vệt trăng và cánh cửa, Xóa đi và không xóa, Trăng vàng ngồi vớt trăng vàng được trao giải thưởng của Tổng liên đoàn lao động, Hội nhà văn Hà Nội, Liên hiệp các Hội VHNT VN, Hội liên hiệp VHNT Hà Nội ; Tặng thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam cho tiểu thuyết Một bàn tay thì đầy và Hội Nhà văn Hà Nội cho tập truyện ngắn Những lời chưa nói hết

Nhà thơ Hoàng Việt Hằng

THƠ HOÀNG VIỆT HẰNG

 

Trăng vàng ngồi vớt trăng vàng

 

vớt tôi lên vớt lên nào

phận như trăng khuyết tiêu dao cuối trời

nhìn giàn thiêu mỗi mảnh đời

thiêu thời gian sống thành người thiên thu

kìa ai phơi  áo xanh lơ

áo người trồng cải bây giờ đi đâu

mảnh đời áo. vợ người giầu

lấy chồng, lấy để mua sầu và sang

nuôi con chồng cũ. con đàn

lên giàn thiêu vẫn mơ màng gặp con

sông Hằng sông giấu héo hon

mà sao lẻ bóng lối mòn nước trong

gió đông thổi dạt chăn  bông

kẻ không chăn đắp nhảy trong đêm tàn.

tiêu thời gian tích tắc vàng

tro tàn thì vẫn tro tàn qua  sông

về nơi vợ phải cưới chồng

trên gầm sông dưới gầm sông mà về.

dịu dàng đem thả bến mê

dịu dàng NGƯỜI chẳng não nề kêu than

thuyền không người lỡ đò ngang

trăng vàng ngồi vớt trăng vàng vớt tôi.

 

Xòe bàn tay bấm ngón tay

 

hình như anh mới về nhà

vừa nâng ngang mặt chén trà vừa pha

bóng người lướt vệt cỏ hoa

chiêm  bao lỗi hẹn ngày  xa chưa về

thoắt mà biền biệt thu đi

mười năm có lẻ nẻo quê  sương mờ

bao lần em đếm bơ vơ

con thì nhỏ dại, nhà xơ xác nhà

em ngồi vớt bóng trăng già

nuôi con với  muối  xát qua nỗi buồn

mười năm không khóc. tủi hờn

chỉ mong không ngã  đường trơn mấy lần

gói vào vạt áo âm thầm

nỗi niềm hiu hắt chờ trăng anh về

hẹn gì với những đam mê

mà em bùa ngải viết  thuê lần hồi

kiếp này duyên  nợ trả rồi

xòe  tay em dám tung trời tiêu dao

tiêu ưu phiền  bấc đèn hao

ưu phiền đáo hạn thành cao nỗi buồn

sớm mai  khoác áo ngày thường

xòe bàn tay gặp con đường em đi.

 

Chùa Hang trong núi Lăng Tiêu

 

chùa Hang trong núi Lăng Tiêu

muốn đi hết phải một chiều mùa đông

học im lặng của con sông

học nguời đốn củi cành cong buông rìu

ngước nhìn dòng chữ phủ rêu

tiếng chim vẫn vọng đìu hiu nơi  này

hình như thớ đá nào đây

có người hay chữ ngủ say lâu ngày

hồn thì lẩn quất trên mây

chờ ta ở núi non này. chờ ta

năm nào cũng có người qua

núi Lăng Tiêu với sông Đà nuớc trong

để làm bạn với đá ong

để cười để khóc trong lòng biết thôi

nỗi buồn riêng của đời người

chẳng san sẻ chẳng chia phôi dễ dàng

xin làm lữ khách đa mang

thỉnh chuông một lậy chùa Hang không người…

 

Đối mặt với cánh cửa

 

một  ngày

chỉ có một ngày thôi

em nhìn thấy kim đồng hồ chết.

kim đồng hồ

sao lại chết

hay là em đã chết đi một phút

trong một ngày mệt mỏi chẳng ước ao

một lá vàng đậu tít ở cây cao

con vẫn hát nghêu ngao nơi  bậc cửa

bức tranh đẹp chẳng muốn nhìn thêm nữa

bản nhạc xanh êm dịu cũng quên rồi

em chỉ muốn ngồi một mình vậy thôi

với nỗi buồn khi chết rồi vẫn nhớ

ngày ngày em đối mặt với cánh cửa

với ấm lạnh trong tay với kim phút kim giờ

nhưng mà mẹ ơi con đói rồi

con ở đây con chờ

tiếng con gọi chạm vào giây cót

và thời gian phút chết lăn đi…

 

Lên Ngọa Vân

 

đi chậm thì leo đến non trưa

ngẩng nhìn cây tùng cổ rồi mơ

sớm nay leo núi qua hồ biếc

thấy trúc  che vàng một lối xưa

ngũ sắc ríu ran từ lau sậy

sư Tiến thổi cơm nuôi rắn ngày

đá cứ tịch u rồi thẫm lại

cho  chiều muộn lắm. vắng chân mây

nâu sồng đơn lẻ quen sương khói

ước cái chi chi hở đất trời?

nếu được xin NGƯỜI cho chữ tĩnh

thỉnh chuông rời rợi bóng một đời

làm đến Vua rồi còn giũ bụi

vịn đến non cao bạn với trời.

 

Ngược sông Mã

 

ngược dòng sông Mã mùa đông

nước sông trong nước sông trong nao lòng

hình như bờ đá rêu phong

để chân em dẫm mà không nói gì

này hoa lau nói gì đi

cô đơn bên núi, mấy khi giãi bầy?

chỉ toàn thấy lá khô bay

mùa hoa dổi tím còn đầy mặt sông

vượt ghềnh lũ xoáy gió giông

chân em lội ngược nước trong thầm thì

rẽ suối Mùn  hái quế chi

hoa lau vẫn thả bùa mê đôi bờ

xin rừng núi cứ hoang vu

để hoang vu

lại hoang vu tìm về …

 

Thác

xuống thác Voi dốc đứng

mỗi bước mỗi bước rêu

nước chín tầng trượt dốc

không ngừng nhìn tôi reo

 

đến thác tìm thấy rêu

rêu thật xanh thác trắng

có mỏng mảnh vệt trăng

hắt lên ngày cuối tháng

 

tôi một ngày xuống vực

lên đỉnh thác dễ gì?

dù đã vượt thác Thí

thác Khe Vằn Bình Liêu

 

lội thác Bà  hùng vĩ

sang Lào trèo Khoang Xi

năm tháng của chuyến đi

chọn hướng nào có thác

 

tôi ký  gửi mất mát

nhờ dòng thác xóa đi

 

tôi ký gửi nước mắt

nửa cuộc tình chia ly

 

dù cuộc đời sống gửi

ký thác xong… thác về.

 

Xóa đi và không xóa

 

giấy bút nào xóa đi cho được

một tên người một địa chỉ email

chỉ cần nhấn delete thì  xóa mãi

nhưng trái tim trong  ngực đang cãi

xóa đi người tử tế  dễ đâu

có thể là anh đang mỉm cười

ở góc chùa xa xa thành phố

tịnh vắng  lắm trời ơi tịnh vắng

chỉ nghe tiếng lá khô gõ cửa ngôi chùa

họa hoằn lắm người phương xa thắp lửa

trên đèn dầu cũ kỹ cuối chiều mưa

một bông trứng gà nở khuất ở phía trong

tìm bới mãi mới thấy hoa trắng xóa

ta thắp đèn cho hoa đừng quạnh qủa

bóng sư thầy xiêu vẹo cuối tam quan

có thể xóa đi lòng tốt của nhân gian

ai  đó sống suốt đời vì người khác

đã  tàn tro mà thời gian không tro tàn

 

trong hồn ta mỗi khi buồn hoang vắng

người ấy dắt ta đi về phía có trăng

 

Bài thơ tình bỏ sót

sau trận ốm chẳng bấu víu vào đâu

đuổi được con thạch sùng

đánh rơi  chồng  bản thảo

bỗng một bài thơ tình bỏ sót

anh viết từ đêm trăng

còn sáng  rỡ cho em

một lời ru nghẹn ngào

em không biết

một hạnh phúc bầm dập ngủ quên

anh đã  từng che chắn rét cho em

giấy úa vàng

mực tím  nhạt nhòa  xem

 

em trắng tay rồi

cuộc tình đã chết.

 

thơ nhắc lại một lời ru  chìm

con thạch sùng vẫn tắc lưỡi dưới đèn.

 

Phan Xi Păng  đỉnh núi

 

chân núi đang mùa hạ

vai núi đã sang thu

ngực núi đầy gió mùa

ù ù đỉnh gió hú

 

có một ngôi chùa cũ

ngói ta chìm trong sương

 

có bao thứ vô thường

khép hờ ngoài cánh cửa

 

không chinh phục ai cả

chỉ  nhìn ngang mây trôi

cúc áo xinh trước ngực

cùng ta lần rong chơi

 

vượt qua mình đâu dễ

trong  giông gió tái tê

biển người đông thế kia

cả khi chen lên núi

 

nhiều lần chân đi tới

tìm ý nghĩ đang trôi…

xuống biển rồi lên núi

cùng cúc áo buồn vui…

 

 

Em đã đốt thơ tình anh tặng

 

đúng là em đã đốt hết thơ tình

anh tặng em tuổi hai mươi trăng vỡ

những bài thơ nhìn tàn tro nín thở

thuộc đôi dòng lục bát giấu ngăn tim.

em không giữ bài thơ tình trong  tủ

Othello chồng em yêu dữ dội hơn nhiều

đành đốt đi

người cũ cũng như rêu

anh trượt khỏi đêm trăng

sang ngày khác.

em cũng như rêu không cho mình phận bạc

đã trăng vàng . vằng vặc ướp mưa thu

không hiện vật

không bảo tàng lưu giữ

em chẳng có gì

cả câu thơ cũ

ngoài mưa phùn gió bấc đem theo…

( Nguồn: vanvn.net)

SÚNG & HOA ĐÀO (Chiến sự 17-2-1979 qua lời kể của những nhân chứng đặc biệt)

(Rút từ facebook của Huy Đức)

image

Trên đường từ Thanh Hóa ra, sau một cuộc điện thoại, nhà thơ Nguyễn Duy quyết định, “Mai đi Lạng Sơn”; rồi từ đó, ông cứ nói một mình, “Chẳng còn dịp nào nữa đâu. Chẳng còn dịp nào nữa đâu”.

Người ở đầu dây bên kia, người khiến Nguyễn Duy đưa ra quyết định đó là Hoàng Thị Tú: một trong bốn “tự vệ” giáo viên của trường Đông Kinh Phố; là “Em, hoa đào muộn”; là một trong những “thường dân” cuối cùng cùng nhà thơ Nguyễn Duy rút khỏi Lạng Sơn vào ngày 24-2-1979.

Từ 1990, chị Tú định cư ở Mascova và vừa trở về thăm nhà. Nguyễn Duy gọi thêm hai cuộc điện thoại cho thầy Trương Hùng Anh và thầy Bạch Tiến Hạnh. Hai người đã nghỉ hưu, rất may, đang có mặt ở Lạng Sơn. Sáng 15-2-2017, khi gặp lại nhau ở Lạng Sơn, cả bốn người lần lượt ôm nhau, lặng đi. Trong cái đêm 23-2-1979, khi giặc Trung Quốc đã tới Tam Lung, khi tiếng pháo vẫn liên tục dội về từ Chóp Chài, khi Lạng Sơn sắp mất, họ thức trắng đêm với nhau trong thị xã.

Ngày 17-2-1979, ngay sau khi đài tiếng nói Việt Nam loan tin, “Trung Quốc đã nổ súng xâm lược nước ta trên toàn tuyến Biên giới”, báo Văn Nghệ lập ngay một tổ “phóng viên chiến trường” gồm 5 người, cả 5 vốn xuất thân từ lính, kể cả lái xe Đào Ngọc Chi. Nguyễn Duy vừa cùng gia đình từ Thanh Hóa ra Hà Nội chờ máy bay về lại Sài Gòn được bổ sung vào tổ. Năm ấy, ông 32 tuổi, vừa từ cuộc chiến Campuchia trở về.

Nguyễn Duy nhớ lại: “Chiếc Command car Rumani tòng tọc của chúng tôi hòa vào đoàn xe chở lính lên phía Bắc. Tối 18-2, tới thị trấn Đồng Mỏ, nhà ga đặc kín thương binh và đồng bào chạy giặc. Đường số Một tắc nghẽn… Đêm ấy, chúng tôi ngủ ở chợ Đồng Mỏ cùng với đồng bào. Tôi và Phạm Tiến Duật nằm chung cái bạt võng, trước vỉa hè nhà bưu điện. Anh Hoài An ngủ trên xe với Đào Ngọc Chi. Anh Hồng Phi cùng với Đỗ Chu leo lên cái bàn bán thịt trong lều chợ không có mái. Tiếng đại pháo từ Lạng Sơn vọng về ùng ình suốt đêm…”

Họ lên tới Lạng Sơn vào ngày 19-2: “Thị xã vắng ngắt. Trời se lạnh. Hoa đào phai thấp thoáng trong sương mù. Đại pháo đội sang từ phía Bằng Tường, tiếng đạn rít veo véo, tiếng nổ lộng óc. Xe chúng tôi băng qua cầu Kỳ Lừa, lao về hướng Đồng Đăng”.

Trung đoàn An Lão đang chặn giặc ở nam Đồng Đăng. Một chiến sĩ liên lạc của trung đoàn dẫn các nhà báo lên thẳng đó. “Ga Tam Lung hiện ra trước mặt. Chiếc xe hồng thập tự của bệnh viện Lạng Sơn vừa bị bắn lật, nữ bác sĩ Thủy tử thương. Tiếp theo, chiếc xe của xưởng phim quân đội trúng đạn, chiến sĩ Như Đạt, quay phim, hy sinh tại chỗ. Cối 81 của địch nhằm vào xe chúng tôi. Nhanh như cắt, Đào Ngọc Chi quặt xe vào con đường rẽ. Quân Trung Quốc từ các cao điểm gần đó nã cối theo tới tấp…”

Hầm chỉ huy trung đoàn An Lão nằm trên sườn cao điểm 417. Vừa gặp, anh Biền, chính ủy trung đoàn đã đề nghị: “Các nhà văn trở về Lạng Sơn ngay cho. Chiến sự đang ác liệt, đơn vị không thể bảo đảm an toàn cho các anh được…”. Các nhà văn, nhà thơ đưa mắt nhìn nhau. Đỗ Chu nói, “Tôi viết về chiến lược chứ không phải chiến thuật”. Phạm Tiến Duật “đồng ý với anh Đỗ Chu”. Hai người quay lại Lạng Sơn.

Hồng Phi nói với Chính ủy trung đoàn An Lão, “Chúng tôi đều con nhà lính, quen thuộc súng đạn cả. Chúng tôi sẽ ở đây theo dõi các trận đánh, và nếu có thể, xin các anh phát vũ khí…”

Chính ủy Biền, nói vắn tắt về tình hình chiến sự. Đêm ấy, trung đoàn An Lão đổi quân ở cao điểm 611, lấy lại được đồi Chậu Cảnh. Căng thẳng quá, sáng 20-2, Nguyễn Duy và Hồng Phi cho lái xe Đào Ngọc Chi xuống nhà khách Giao tế Lạng Sơn, nơi Đỗ Chu và Phạm Tiến Duật đang trú đóng.

Cuối giờ sáng 20-2, Nguyễn Duy lên chốt 417, Trung đoàn cho Tuyến, liên lạc dẫn đường. Tuyến dặn, “Đoạn này ta gài đầy mìn. Anh phải đi sau em 10m, để nhỡ mìn có nổ thì anh cũng không sao”. Gần trưa lên tới chốt, Nguyễn Duy nhanh nhảu cầm máy ảnh nhảy ra khỏi công sự chụp khẩu đội 12,7ly. Những người lính hét lên rồi kéo giật anh xuống hầm. Chỉ trong chưa đầy một phút, cối địch từ tứ phía bắn sang. Hai mảnh đạn cối văng xuống hầm, cắm ngay bên cạnh.

Giặc bắt đầu tổ chức tái chiếm 611. Nguyễn Duy viết: “Từ đỉnh đồi 417, dùng ống nhòm quan sát, thấy quân địch bò lên, đen kín cả sườn đồi, có súng cối và pháo tầm gần yểm trợ. Trên chốt, quân ta chỉ có chưa đầy ba chục chiến sĩ, đêm trước trung đoàn An Lão vừa bàn giao trận địa cho quân địa phương. Đúng giữa trưa thì giặc chiếm được ngọn đồi, chúng dồn hàng đống xác chết lại rải lên từng lớp xăng đặc đựng trong bình vải sơn, và đốt. Trời im ắng, cái im ắng ghê rợn sau trận đánh. Không một gợn gió. Ngọn lửa đốt xác đỏ lòm. Từ đỉnh cao 611, cột khói dựng thẳng đứng lên trời, tỏa ra thành hình cái nấm khổng lồ, đen kịt giữa bầu trời trắng bạc”(Văn Nghệ 2-1983).

Chiều muộn, Tuyến dẫn Nguyễn Duy trở lại sở chỉ huy Trung đoàn. Đêm ấy giặc lấy lại đồi Chậu Cảnh. Sáng 21-2-1979, trung đoàn An Lão được lệnh rút khỏi Tam Lung. Chính ủy Bên nói, “Các anh phải về thôi”. Nấn ná đến trưa, Hồng Phi và Nguyễn Duy vẫn phải men theo đường sắt. Họ lầm lũi bước giữa rải rác xác người và xác trâu, bò.

Trên đường từ Quán Hồ về thị xã, khoảng 6km, họ gặp 4 người lính xơ xác chui từ trong rừng ra. “Bọn em vừa lên thay quân ở 611 thì Tàu đánh lên. Như kiến. Anh em hy sinh hết chỉ còn mấy thằng em, hết đạn phải vất súng lăn xuống núi”. Trong số 4 người lính có một người đứng tuổi, đeo khẩu CKC không còn đạn. Anh nói, “Khẩu này theo tôi từ hơn 10 năm trước khi đánh nhau với quân Park Chunghee ở Bình Định. Không bỏ được”.

Nguyễn Duy và Hồng Phi vét túi còn mấy gói thuốc đưa hết cho họ rồi tiếp tục đi. Không chỉ có 4 người lính ở 611, thầy giáo Bạch Tiến Hạnh nhớ lại, “Thỉnh thoảng lại có những tốp bộ đội ta ngồi khóc hu hu, uất ức; quân giặc tràn lên như kiến mà súng không còn đạn”.

Năm ấy gần như toàn bộ quân chủ lực được dồn hết sang Campuchia. Quân đoàn II chỉ ra tới Bắc Giang, Quân đoàn III chỉ ra tới Thái Nguyên khi giặc Trung Quốc đã rút về bên kia Biên giới. Lực lượng tại chỗ thì bất ngờ. Chị Hoàng Thị Tú nói, “Dù xung đột đã ngấm ngầm xảy ra trước đó. Chúng tôi từng lên Đồng Đăng coi những cuộc chọi nhau bằng đá (vì cấm nổ súng) của cả hai bên. Chiều hôm trước Lạng Sơn vẫn sinh hoạt bình thường, Vậy mà, tờ mờ sáng đã chiến tranh. Chúng tôi được giao ở lại bảo vệ trường, được phát một khẩu K44, 10 viên đạn khi chưa được ai chỉ cho cách sử dụng”.

Nguyễn Duy và Hồng Phi qua cầu Kỳ Lừa thì gặp một thanh niên đi xe Mobylette, anh dẫn hai người về nhà khách giao tế, nơi 3 người còn lại của đoàn đang chờ.

Họ ở lại ba đêm. Ngay trong đêm 21-2-1979, Nguyễn Duy hoàn thành trang thơ Chiến tranh Biên giới cho tuần báo Văn Nghệ. Ông nhớ lại, “Chúng tôi không ngủ, trong nhà khách còn mấy két rượu táo. Chúng tôi uống và vào hang Phai Vệ đọc thơ. Người thanh niên đi xe Mobylette (Hắc Mô Đia, người Tây Nguyên, theo vợ là một cô giáo học chung trường sư phạm về Lạng Sơn) cũng đang dạy ở trường Đông Kinh Phố. Các nhà văn, nhà thơ gặp “tổ tự vệ trường”.

Thầy giáo Bạch Tiến Hạnh nói, “Tôi dạy văn sử, thật không ngờ trong tình huống như vậy, chúng tôi gặp được những người mà mình ngưỡng mộ”. Trong sổ tay của thầy Hạnh vẫn còn giữ bản tốc ký bài thơ ngắn làm tại mặt trận của Nguyễn Duy: ĐÊM Ở CHỐT 417, Thâm lũng, Tam lung… chìm nghỉm trong đen/ Bất chợt lại xanh lè đạn nổ/ Lửa đốt lòng ta những đêm không ngủ/ Là ánh đèn đã tắt dưới làng dân [Lạng Sơn, 22-2-1979].

“Ánh đèn đã tắt dưới làng dân…”

Thầy Hạnh nói, “Mặc dù nhà thơ Phạm Tiến Duật vẫn chép vào sổ tay của tôi bài Ý NGHĨ TRƯỚC TRẬN ĐẦU ĐÁNH THẮNG, với các câu thơ: “Đồng đội ơi, các anh đánh rất tài/ Nếu chúng chưa thật kinh hoàng, hãy cho thêm trận nữa/ Đến bằng lửa, chúng phải đi bằng lửa/ Lần này đến ống đồng chúng cũng chẳng kịp chui”; Nhưng, ông vẫn thừa nhận là ‘vội’, và nhấn mạnh, bài thơ được ông viết đêm 17, 18-2-1979 khi đang ở Hà Nội, khi chưa chứng kiến những gì diễn ra trên mặt trận Lạng Sơn” (đây hình như là bài thơ duy nhất của Phạm Tiến Duật về 17-2).

Do thiếu sự chuẩn bị, và do quân giặc quá đông, mặc dù những người lính và dân quân tự vệ đã chiến đấu vô cùng anh dũng, theo thầy Hạnh, “dùng từ chính xác là chạy chứ không phải rút”.

Khi vừa LÊN MẶT TRẬN, Nguyễn Duy đã thừa nhận: “Quân giặc tràn qua đèo Hữu Nghị/ Đồng Đăng thất thủ rồi/ pháo Bằng Tường dội sang xối xả/ dằng dặc dòng người sơ tán đổ về xuôi…” Ông nhìn thấy trong dòng người đấy, “Hiển hiện những ngày xưa loạn lạc/ Biên ải xưa giặc giã mới tràn vào/ Những gương mặt nghìn năm đanh sắt lại/ Máu lửa ngỡ cũ rồi mà vẫn mới/ Vẫn mới cả nón mê cả áo vá chân trần…” Đặc biệt là những đôi “Mắt trẻ con cứ tròn thao láo/ Như hòn sỏi ném theo đoàn quân đi”. Sáng 15-2-2017, khi đọc lại bài thơ này, Nguyễn Duy khóc, “Nó oán trách, nó giận hờn, phỉ báng (chúng ta) lắm”.

Năm 1979 ở Lạng Sơn hoa đào nở muộn, nào bạch, nào phai… nở rộ vô tư, vô tư như những thầy cô trong “tổ tự vệ” của trường Đông Kinh Phố. Năm ấy họ chỉ mới 23 tuổi. “Chúng tôi hoàn toàn không biết điều gì đang chờ mình”, thầy giáo Trương Hùng Anh nói.

Đêm 23-2-1979, ngoài “tổ tự vệ” còn có tổ công an vũ trang bảo vệ cơ quan Tỉnh ủy, nghỉ đổi ca. Nguyễn Duy, Phạm Tiến Duật chép thơ tặng, các chiến sỹ công an vũ trang của đoàn Thanh Xuyên ghi những dòng lưu bút thiết tha. Đêm, trưởng đoàn Thanh Xuyên cho biết, “Trung Quốc đã tràn qua Tam Lung, yêu cầu các nhà báo và các thầy cô giáo rút lui”. Thầy Hùng Anh kể, “Tổ tự vệ” đòi ở lại, Trưởng đoàn Thanh Xuyên quát, “Chúng mày nghĩ, với 10 viên đạn và khẩu K44 này chúng mày có thể làm được gì à, chưa kể không biết có mấy viên đạn lép. Đừng liều lĩnh một cách ngu ngốc”.

Thầy Hùng Anh nói, “Nếu không có nhóm anh Nguyễn Duy thì chúng tôi sẽ không đến chỗ khu Giao tế, không gặp các chiến sỹ công an vũ trang đoàn Thanh Xuyên và không được nhóm anh Duy thuyết phục thêm, có thể chúng tôi đã ở lại. Khi đó chúng tôi chỉ là những thanh niên”. Thầy Hạnh nói thêm, “Sau này nhớ lại, nghĩ, nhỡ khi đó mình chết, mọi người sẽ nghĩ mình là gì, một chiến sỹ tự vệ hay một kẻ quay lại hôi của. Tất cả đều có thể. Nhưng, chỉ nghĩ đến chuyện giặc nó sắp đến nhà mà phải bỏ chạy thì đau lắm”.

Sáng hôm sau, 24-2, mọi người quyết định rút. Người phụ trách nhà khách nói, “Còn nhiều thuốc, nhiều chè lắm các anh ạ”. Nhưng theo Nguyễn Duy, họ chỉ lấy một ít, dành chiếc command car để chở đào. Những cây đào trong khu giao tế đã sống hàng trăm tuổi bắt đầu bị chặt. Nguyễn Duy rất tiếc. Cô giáo Hoàng Thị Tú khóc, ngăn lại. Đỗ Chu nói, “Mảnh đất này sắp mất còn tiếc gì mấy cành đào”.

Hoàng Thị Tú là con gái Bí thư Tỉnh ủy Hoàng Trường Minh. Cô đã không về Đồng Mỏ sơ tán ngay trong sáng 17-2 cùng gia đình, cùng với những người dân thị xã. Cô chốt giữ trường và “chốt lại” mãi trong DẠ HƯƠNG: “Sẽ rất nhớ dáng người vừa thoáng gặp/ Chiều Lạng Sơn súng nổ rụng hoa đào/ Những giọt máu của vườn cây vung vãi/ Trường sơ tán rồi, cô giáo còn chốt lại/ Khẩu súng thép chéo lưng con gái/ Ôi tấm lưng kia ngỡ sinh ra để mà mềm mại…” [Nguyễn Duy, Lạng Sơn 22-2-1979].

Khi Nguyễn Duy đã về đến Hà Nội, Dạ Hương đã được đăng lên báo Văn Nghệ, cô giáo Hoàng Thị Tú còn có một hành động vô cùng bồng bột và quả cảm.

Chị Tú nhớ lại, “Khi ngồi trên xe quay về Đồng Mỏ, dù thị xã Lạng Sơn gần như không một bóng người, tôi vẫn luôn tự vấn, luôn có cảm giác như là mình đang bỏ chạy”. Gặp gia đình rồi mới chợt nhớ, toàn bộ hồ sơ của nhà trường, đặc biệt là học bạ, được “tổ tự vệ” mang vào giấu trong hang Phai Vệ vẫn còn đó. “Tôi chỉ nghĩ đơn giản, khi các em quay lại trường mà hồ sơ học bạ không còn thì sao. Tôi nhờ mấy người nhưng không ai đồng ý cùng quay trở lại. Chỉ có anh Chu, lái xe của ba tôi, sẵn sàng cùng đi. Hai anh em chạy chiếc xe Volga đen quay lại Lạng Sơn khi chiều bắt đầu xuống, không biết đó là một hành động cực kỳ nguy hiểm; pháo bắn đuổi theo xe ngay sau khi chúng tôi quay về, qua khỏi cầu Kỳ Cùng”. Toàn bộ hồ sơ, học bạ của trường Đông Kinh Phố đã được cô giáo Tú đem về Đồng Mỏ. Mấy ngày sau đó giặc cho nổ bộc phá phá hang Phai Vệ.

Ngày 6-3-1979, Trung Quốc tuyên bố rút quân.

Công thự mà gia đình Tú ở trong khu Tỉnh ủy bị bộc phá giật sập. Thầy Bạch Tiến Hạnh kể, “Khi chúng tôi về lại thị xã, vẫn còn nhìn thấy bộc phá gài trong hàng loạt ngôi nhà, lính Trung Quốc rút đi mà chưa kịp giật nổ”. Thầy Trương Hùng Anh nói, “Quân Trung Quốc biết từng địa chỉ trong thị xã này, tất cả nhà cán bộ đều bị giật sập, tất cả các cột điện đều bị cho nổ bằng bộc phá”.

Tháng 7-1979, nhà thơ Nguyễn Duy quay lại Lạng Sơn. Đường lên Lạng Sơn lúc đó không còn bị bỏ ngỏ như thời 17-2. Nhiều công sự đã được lập với những cái tên như “phòng tuyến sông Như Nguyệt; phòng tuyến sông Cầu…”

Ở Lạng Sơn, ông kể: “Tôi ngơ ngẩn trước cảnh đổ nát. Cả vườn đào cũng bị đánh bằng thuốc nổ, không còn một nhánh, những cục nhựa đào đông lại nơi gốc đào cụt trông như những cục máu bầm chưa khô. Các khu nhà sang trọng chỉ còn là cái đống gạch vụn. Vô vàn mảnh thủy tinh ruột phích nước rải lấp lánh dưới mặt đất. Vòm hang đá núi Phai vệ sập hẳn, có lẽ quân giặc đã phải dùng ít nhất là mười tấn thuốc nổ. Động Tam Thanh nổi tiếng bao đời nay cũng đen ngòm khói thuốc bộc phá, một cái hố rộng hoác, khét lẹt choán hết cả lòng động… Phố nhà, vườn tược, cỏ hoa cho đến cả hang động đều chung một số phận thảm sát”.

Lúc này, Nguyễn Duy chia tay Lạng Sơn, chia tay “tổ tự vệ”, chia tay cô giáo Tú không còn nhẹ nhàng như một thoáng dạ hương. Ông đã “gửi lại đây cái buồn vô cớ “. Còn cô giáo Tú thì “đưa tiễn” ông với “bước chân (vẫn) gìn giữ lắm/ hạt mưa dùng dằng ngọn cỏ ven đê” [Nguyễn Duy thú nhận, chỉ vì đây là một trạng thái “không rành mạch”; chỉ vì sông Kỳ Cùng thì không có đê mà bài thơ của ông được chính ông đổi thành Sông Thao dù “nỗi nhớ bâng quơ” mà ông mang về là từ sông Kỳ Cùng].

Năm 1985, Nguyễn Duy sang Mascova ba tuần theo lời mời của Hội Nhà văn Liên Xô. Ở Nội Bài khi vừa lên máy bay thì gặp Tú đã ngồi trong đó, cô cũng được đưa sang Puskin tập huấn về tiếng Nga…

Năm 1989, Nguyễn Duy ra Hà Nội đúng dịp kỷ niệm 10 năm chiến tranh Biên giới, tình cờ gặp, Tú nói, “Lạng Sơn mời chúng ta về, anh đã ra đây thì đi cùng nhé”. Rồi Tú lo xoay vé, 10 giờ đêm, cô tìm tới nhà em gái Nguyễn Duy ở khu tập thể Điện Lực, nói, 3 giờ sáng phải có mặt ở bến xe Gia Lâm.

Nguyễn Duy nhớ lại, trên xe hai người ngồi thu lu, dưới gầm là đồng, là chì… trên nóc xe là mèo, là lợn giống… Đường lên Lạng Sơn không còn nghe danh những phòng tuyến hào hùng, xe chạy qua những Phố Tráng, những Mủng, Mẹt… bắt đầu bị làm luật. “Lần đầu tiên tôi nghe từ làm luật”, Nguyễn Duy nhớ lại.

Cuộc chiến Biên giới kéo dài gần 10 năm, ở những khu vực như “Bình Độ 400…” của Lạng Sơn hay Vị Xuyên của Hà Giang, chiến sự xảy ra trong giai đoạn 1984-1987 là vô cùng khốc liệt.

Lúc ấy, chiến tranh cũng chưa phải là hoàn toàn kết thúc, nhưng Lạng Sơn, bên cạnh những đống gạch nát bắt đầu xuất hiện quán xá. Nông thổ sản, phế liệu được bán sang Trung Quốc, bia Vạn Lực được gùi về. Ở chợ Kỳ Lừa, cửu vạn Việt Nam, ngồi bên cửu vạn Trung Quốc cùng say túy lúy. “Giá như không có chiến tranh”, Nguyễn Duy viết: “Chợ trời bán bán buôn buôn tít mù/ Ta đầy một bị ưu tư/ Giá như cũng bán được như bán hàng/ Trớ trêu nỗi Hữu Nghị Quan/ Giá như máu chẳng luênh loang mặt đèo/ A. Q. túm tóc Chí Phèo/ Để hai bác lính nhà nghèo cùng thua…”

“Ta về thăm chiến trường xưa/ em – hoa đào muộn Kỳ Lừa mùa xuân/ gió đi để lạnh mưa dầm/ người đi để buốt dấu chân trên đường…” Hai người lang thang suốt hai ngày ở Lạng Sơn. “Tổ tự vệ” lúc đó còn có Bình. Trừ tổ cảnh vệ đoàn Thanh Xuyên, những người có mặt ở Lạng Sơn trong cái đêm 23-2-1979 về sau đều trở thành thân thiết.

Riêng Nguyễn Duy thì không thể nào nguôi nỗi lòng Tô Thị: “Giá như đừng biết ngày xưa làm gì/ Giá như đá chả vô tri/ Để ta hỏi lối trở về thiên nhiên/ Giá như ta chớ gặp em/ Để không mắc nợ cái duyên Kỳ Cùng/ Giá như em đã có chồng/ Để bòng bong khỏi rối lòng người dưng”.

Lạng Sơn 1989 là cuộc hội ngộ “sau cùng” của hai người. Năm 1990, Hoàng Thị Tú sang Liên Xô làm nghiên cứu sinh. Năm 1993, chị lấy chồng.

“Chẳng còn dịp nào nữa đâu. Chẳng còn dịp nào nữa đâu”. Tối khuya, về tới Hà Nội, chị, giờ đã bước qua tuổi 60, “đưa tiễn” anh vẫn với “bước chân gìn giữ lắm”. Trước đó, khi chị đòi trả tiền cơm, anh nói to, “Tú ơi, đừng trả, hôm nay em là khách của bọn anh”; chị trả lời rất khẽ, “Em biết, em lúc nào cũng là khách”.

PS: Ý NGHĨ TRƯỚC TRẬN ĐẦU ĐÁNH THẮNG: I. Tội ác chúng nghìn xưa ta những muốn quyên đi/ Nhưng giặc Tàu ngày nào lại hiện hình dáng cũ/ Sự độc ác và hợm hĩnh cổ truyền/ Đã dẫn xác đến đây nhờ ta đắp mộ/ II. Chút danh dự cuối cùng cũng tự vùi chôn/ Máu Đại Hán hồi này lại lên cơ huyết áp/ Ta đập nát bọn bá quyền xâm lược/ Cũng một phần vì hoa Biên giới mai sau/ III. Đồng đội ơi, các anh đánh rất tài/ Nếu chúng chưa thật kinh hoàng, hãy cho thêm trận nữa/ Đến bằng lửa, chúng phải đi bằng lửa/ Lần này đến ống đồng chúng cũng chẳng kịp chui [Phạm Tiến Duật, Hà Nội đêm 17, 18-2-1979. Kỷ niệm những ngày chung sống với các bạn ở lại thị xã Lạng Sơn trong tầm pháp bắn].

YẾU TỐ VÔ THỨC TRONG MỘT VÀI TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

NGUYỄN ĐỨC TOÀN
Yếu tố vô thức đã mở ra con đường lí tưởng dẫn vào địa hạt văn chương nhằm khám phá những gì thầm kín, bí ẩn nhất của bản thể người. Việc lựa chọn đưa vô thức vào sáng tác cũng đã tạo động lực thúc đẩy nhà văn đương đại tìm đến sự đổi mới bút pháp.

Phân tâm học ra đời đã chứng minh “cái tôi không phải là chủ nhân trong ngôi nhà của chính nó”, bởi lẽ, một bộ phận đáng kể những hành vi của con người thoát khỏi sự canh chừng của ý thức. Phạm trù vô thức gắn bó hơn cả với tên tuổi của vị bác sĩ người Áo, Sigmund Freud, thủy tổ của phân tâm học (psychoanalysis). Ông cho rằng, quá trình sáng tạo của nghệ sĩ cũng như cơ chế của một giấc mơ, chúng đều chứa đựng những miền tưởng tượng nhằm giải tỏa những ẩn ức, thỏa mãn những xung năng.

Sau 1986, sự đổi thay trong đời sống xã hội, bầu không khí đổi mới, “cởi trói” trong đời sống văn học, sự giao lưu văn hóa, văn học, việc tiếp xúc với các lí thuyết văn học hiện đại trên thế giới… đã dẫn đến hiện tượng đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người và nhu cầu cách tân lối viết của các nhà văn Việt Nam. Từ đây, vô thức trở thành đối tượng khám phá và phương tiện kiến tạo tác phẩm một cách tự giác trong nhiều tác phẩm của họ.

Tiểu thuyết Việt Nam đương đại xuất hiện kiểu không – thời gian của cõi vô thức – nơi chập chờn kí ức, bất định suy tư, hoang hoải giấc mơ… Kiên (Nỗi buồn chiến tranh – Bảo Ninh) luôn sống với những kỉ niệm, từ quãng đời bình yên rực rỡ bên Phương cho đến những tháng ngày trải nghiệm chiến tranh. Hoa, Khánh (Người sông Mê – Châu Diên) cũng không ngừng trở về với quá khứ, thậm chí trở về với những tiền kiếp xa xưa. Ở thế giới tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương, quãng đời tuổi thơ của Hoàn, những ngày ở thành cổ Quảng Trị của Thắng (Người đi vắng), mối tình với Kim của Khẩn (Ngồi)… đều là những miền ám ảnh của nhân vật. Khi nhà văn sử dụng kĩ thuật dòng ý thức, các sự kiện trong tác phẩm thường dàn trải, không có thắt nút, cao trào, mở nút; chúng chỉ là cái cớ, còn dòng ý thức, nhận thức, chiêm nghiệm của nhân vật hoặc của người kể chuyện mới là nội dung cơ bản. Kiên (Nỗi buồn chiến tranh) chìm sâu trong những cơn mơ, những hồi tưởng về quá khứ, một quá khứ đau thương và ngọt ngào. Cũng tạo dựng những suy tư đứt nối theo kí ức nhân vật nhưng tác giả Người sông Mê lại sử dụng yếu tố huyền ảo để làm cơ sở cho dòng nội cảm ở nhân vật được chảy trôi miên man, nửa mê nửa tỉnh cả khi họ còn sống hay đã chết. Dòng hồi ức ngẫu nhiên, tùy tiện cũng làm nên chân dung nhân vật chính trong các tiểu thuyết gần đây của Đoàn Minh Phượng. An Mi (Và khi tro bụi) luôn hiện diện qua những dòng độc thoại nội tâm đầy rối bời, mâu thuẫn. Chuỗi hồi ức, ảo giác, tưởng tượng đan xen, hòa quyện vào nhau làm cho ta có cảm giác cô lạc vào mê cung của những kỉ niệm, liên tưởng đứt đoạn, đổi hướng đang chảy miên man không thể sắp xếp được. Hồi ức về người chồng quá cố, về người cha nuôi, về những bức tường đá lạnh tuổi thơ, về những nốt nhạc, về chiến tranh… dường như cùng lúc sống lại với hiện tại đổ nát của An Mi. Những hồi tưởng bất định và bất tận như thế đã hé mở một hiện tại trống rỗng, đầy u ám của một người phụ nữ tuyệt vọng, không lối thoát. Ngoài những dòng hồi ức tự bạch, trong Và khi tro bụi ta còn bắt gặp những giấc mơ của An Mi – một dạng đặc biệt của hồi ức. Trong mơ, những cảm xúc, ấn tượng từ tầng sâu vô thức trở nên rõ nét. Anita hiện về trong giấc mơ của An Mi là một gương mặt mờ nhòe nhưng có lời nói, cử chỉ, hành động và có cả tâm trạng. Qua cuộc nói chuyện với linh hồn Anita, An Mi có thể thấy được sự cô độc, lạc loài, vô vọng của người đàn bà xấu số bị bỏ rơi, bị lãng quên. Giấc mơ ấy khiến cô chợt nhận ra thân phận của mình, cô khóc thương cho Anita cũng là khóc thương cho chính mình. Hồi ức về người cha nuôi là những kỉ niệm ngọt ngào xen lẫn cay đắng cũng giống như một giấc mơ lạ lùng… Tất cả không đem đến cho người đọc một hiện thực đáng tin nào hết nhưng dẫn dụ họ cùng suy ngẫm về ý nghĩa cuộc sống, về cái lạ lùng, đa đoan của thân phận người.
Như vậy, việc thâm nhập vào cõi vô thức đã mở ra con đường để các nhà văn lách sâu hơn nữa ngòi bút của mình vào đời sống bên trong của nhân vật, tìm thấy ở đó những trạng thái, những diễn biến tâm lí chứa đựng nhiều mâu thuẫn. Nhân vật được giản lược những yếu tố liên quan đến tiểu sử, nhân dạng, hành động nhưng được làm “dày hóa” về phương diện tinh thần, nhờ đó mà hình tượng con người hiện lên đa chiều, gần bản chất người hơn. Nhân vật trong tiểu thuyết đương đại có hiện tượng nhiều con người cùng tồn tại như những mảnh, những phiến đoạn vừa mâu thuẫn, vừa bổ sung cho nhau. Dù cùng được xây dựng như những con người phức hợp, đa bình diện, được khám phá ở góc độ tâm linh, vô thức nhưng các nhân vật này không hề trùng lặp mà vẫn có sắc diện riêng. Thí dụ, nhân vật Kiên (Nỗi buồn chiến tranh) hiện thân là một người lính được nhìn nhận ở bình diện đời tư, được quan tâm ở bi kịch cá nhân với những vết thương tinh thần không thể lành miệng, và để làm nổi bật điều đó, Bảo Ninh để Kiên tự thể hiện mình qua dòng hồi ức nhiều đứt gãy, xáo trộn. Các nhân vật Khánh, Hoa trong tiểu thuyết của Châu Diên lại được xây dựng là những con người trẻ tuổi có đời sống tinh thần lành mạnh, khỏe khoắn, tuy vậy, họ cũng rơi vào tình trạng nhớ quên lẫn lộn khi tác giả để họ sống với nhiều kiếp qua việc sử dụng yếu tố siêu nhiên huyền ảo. Nhân vật của Nguyễn Bình Phương cũng mang bi kịch tinh thần như Kiên, cũng hiện lên trong nhập nhòa thực – ảo như nhân vật của Châu Diên nhưng họ sống gần với bản năng, chất chứa nhiều dục vọng và mang những tính cách “phân rã”, không xác định. Những đổi mới trong nghệ thuật xây dựng nhân vật ở các tiểu thuyết kể trên là hình thức phù hợp nhất để đưa đến cho người đọc những cảm quan mới về văn chương, và gần gũi hơn nữa là về cuộc sống, về con người.

Ngôn ngữ được coi là “yếu tố thứ nhất của văn học”. Với sự khám phá vào cõi vô thức, một mặt các nhà văn cố gắng tìm tới những hình thức ngôn từ phù hợp nhất nhằm biểu hiện được tầng sâu trong tâm lí con người, mặt khác cũng phải thấy rằng có những khi, từ ngữ hoặc câu văn bất chợt ùa tới theo dòng trôi của cảm xúc, tư tưởng nơi chủ thể sáng tạo. Nỗi buồn chiến tranh đem đến cho người đọc một áng văn đẹp, đậm chất trữ tình được tổ chức một cách khá tự do, không tuân theo logic, trật tự thông thường. Với một lối viết như buông lỏng mà chặt chẽ, Người sông Mê lại gây chú ý nhiều hơn ở kiểu câu liệt kê bất tận và kiểu diễn đạt nước đôi. Ở Thoạt kì thủy, những từ ngữ quen thuộc khi miêu tả về trăng không được lặp lại, thay vào đó là những hình dung rất lạ nhuốm màu kì quái, bí hiểm nhưng cũng đậm chất thơ. Cũng với cách thức triển khai lớp ngôn từ đứt nối, nhà văn đã khai thác và sử dụng thành công ngôn ngữ độc thoại ở dạng thức đặc biệt của nó, đó là chuỗi lời câm. Trong chuỗi lời câm, tác giả cũng sử dụng rất nhiều từ tượng thanh tượng hình, diễn tả những trạng thái khá đa dạng và có phần siêu thực, phi lí ở một kiểu nhân vật tàn khuyết về tâm lí. Mật độ các cuộc thoại trong Người sông Mê xuất hiện dày hơn. Sự không ăn khớp trong các cuộc thoại của Hoa và Khánh là do họ lẫn lộn giữa các kiếp sống. Đang nói với Hoa, Khánh lại gọi tên Hương, một tiền kiếp của Hoa. Đang là lời Khánh kể với Hoa về bố của Khánh lại lẫn sang lời kể của chính bố Khánh với Hoa. Đây là một thủ pháp để tác giả chuyển mạch truyện và trao điểm nhìn cho những nhân vật khác nhau để họ tự kể về đời mình. Những cuộc thoại trên mang hình thức là ngôn ngữ đối thoại nhưng thực chất nó là biến thể đặc biệt của độc thoại nội tâm. Khi xây dựng những đoạn đối thoại này, các nhà văn đã tô đậm cái ngẫu nhiên, tính bất quy tắc của đời sống, và nhất là đã diễn tả được những trạng thái tinh thần chứa đựng nhiều ám ảnh, ẩn ức khiến cho lời nói phát ra không đi theo logic thông thường. “Khoảng trắng” giữa các dòng thoại, vì vậy, cũng là khoảng trống trong tâm hồn con người.

Sự khám phá yếu tố vô thức không chỉ cho phép các nhà văn tìm tòi những hình thức ngôn từ phù hợp để diễn tả, dẫn đến việc sáng tạo những tổ hợp ngôn từ mới hay việc triển khai lớp ngôn từ có nhiều đứt nối mà còn thúc đẩy họ tìm đến những cách hành văn độc đáo. Xuất hiện khá nhiều trong tiểu thuyết đương đại là những câu văn không đi theo cú pháp truyền thống, hoặc những câu văn cực ngắn, hoặc câu văn rất dài. Kiểu câu văn ngắn vừa là kết quả của việc đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ của bạn đọc thời hiện đại với quỹ thời gian hạn hẹp trong sự tương thích với dung lượng thường là không dài của một tác phẩm, mặt khác, nó cũng là sản phẩm của việc cố gắng diễn tả chiều sâu vô thức. Nó phù hợp với việc thể hiện trạng thái tâm hồn luôn có sự xê dịch với những ý nghĩ, những cảm xúc đến bất chợt, có khi là lộn xộn, rối rắm. Trong dòng hồi ức đau khổ và liên tục đứt gãy, xáo trộn của Kiên (Nỗi buồn chiến tranh), những kỉ niệm, cảm xúc luôn luôn là một sự chảy trôi bất tận với những ngã rẽ bất chợt, không đầu không cuối. Việc chen vào những câu văn ngắn giữa điệp trùng những câu văn dài có tác dụng đặc tả được vết thương tâm hồn nơi Kiên. Châu Diên cũng sử dụng khá nhiều câu văn ngắn trong Người sông Mê và kiểu câu này thường gắn với nhân vật Khánh với những suy tưởng khi còn sống và cả khi đã chết. Không giống như Bảo Ninh viết câu văn ngắn với tính từ chỉ cảm giác và không có chủ ngữ đi kèm, câu văn ngắn của Châu Diên thường vẫn hiện diện đầy đủ cả thành phần chủ ngữ và vị ngữ xen kẽ với những câu khuyết thiếu một thành phần ngữ pháp. Câu văn ngắn khiến cho mạch văn trở nên gấp gáp. Kiểu câu này xuất hiện với mật độ đậm đặc trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương và trở thành một nét phong cách ngôn ngữ của tác giả. Ở nhiều tác phẩm của nhà văn này, hầu hết các câu chỉ có một mệnh đề, một thông báo, trong đó loại câu không có chủ ngữ chiếm ưu thế. Trong Thoạt kì thủy, kiểu câu này chiếm vị trí chủ đạo. Mỗi câu là một thực thể độc lập, mối quan hệ giữa các câu văn đứng cạnh nhau lỏng lẻo khiến cho mạch văn xô lệch, diễn tả một khung cảnh hỗn mang với những con người chìm sâu trong đời sống bản năng dục vọng tăm tối. Đặc biệt, câu văn trong những chuỗi lời câm của Tính bao giờ cũng ngắn và sắp xếp lộn xộn, phản ánh rất chính xác cái rối loạn, cái phi logic trong tâm lí người điên.

Bên cạnh dạng câu văn ngắn đang khá thịnh hành trong lối viết hiện nay lại có những câu văn rất dài như đã nói. Đây vừa là một sự “cố tình của bút pháp”, vừa là sản phẩm của những khoảnh khắc người nghệ sĩ ngôn từ buông lơi lí trí để ngọn bút siêu thăng vào miền vô thức. Những câu văn kéo dài miên man diễn tả dòng ý thức trôi nổi bất định của nhân vật và cũng là sự thả nổi cảm xúc nơi nhà văn. Bảo Ninh đã viết Nỗi buồn chiến tranh bằng niềm yêu thương, đau khổ, nhớ nhung, day dứt từ chính những trải nghiệm đời mình. Câu văn trong tác phẩm luôn đong đầy cảm xúc, chứa chan nỗi niềm, chảy đều đều, lặng lẽ giống như nỗi buồn dằng dặc của nhân vật chính. Có những câu văn trập trùng hình ảnh, các hình ảnh có vẻ ngẫu nhiên tùy tiện, nhảy cóc không theo một trật tự nào và cũng không biết khi nào dừng lại. Dường như Bảo Ninh đã bỏ quên cấu trúc ngữ pháp thông thường để câu văn trở thành những lớp sóng ngôn từ lột tả dòng kí ức miên man, lột tả tiếng nói của vô thức.

Có thể thấy rằng, khi khám phá vào thế giới tâm hồn con người, trong đó vô thức là một bình diện được chú ý khai thác, các nhà văn đã cố gắng tìm ra những hình thức nghệ thuật phù hợp nhất để khắc họa trên trang sách của mình những “tấm phim âm bản” của mỗi cá thể người. Những nỗ lực ấy góp phần củng cố niềm tin của độc giả về sức sống của tiểu thuyết hôm nay và vai trò của nhà văn trong việc khơi mở những vùng hiện thực mới.
Nguồn: Văn nghệ Quân đội

Chiến lược lấn chiếm lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam của Trung Quốc: Thời điểm hành động và thông điệp

  •   HẠ MAI

Trung Quốc là quốc gia nhiều tham vọng; trong đó, tham vọng về mở rộng ảnh hưởng, mở rộng địa bàn hoạt động, mở rộng cương vực sinh tồn, lãnh thổ, đất đai là một trong những trục có tính xuyên suốt, nhất quán từ lịch sử tới hiện tại. Áp lực dân số và “ước mơ Trung Hoa” – “ước mơ” trỗi dậy một cách nhanh chóng, trở thành siêu cường có khả năng chi phối thế giới càng củng cố, thúc đẩy Trung Quốc thực hiện chiến lược “lấn dần”, “chèn ép”, tranh đoạt đất đai, sông biển của láng giềng, nhất là của các nước láng giềng nhỏ và yếu hơn.

1. Ngược dòng sự kiện

Là quốc gia thích “gây hấn”, thường xuyên “gây hấn” để đạt mục tiêu và mang lại lợi ích một cách tối đa nhất; đồng thời, cũng là quốc gia từng lâu đời cọ sát, đang tham gia giải quyết nhiều vấn đề trên chính trường quốc tế, Trung Quốc có kinh nghiệm lão luyện chuẩn bị, chọn và thúc đẩy thời điểm quyết định hành động. Có nhiều cách thức trong lựa chọn thời điểm bắt đầu của Trung Quốc, song cách phổ biến, cổ truyền và cũng hữu hiệu nhất vẫn là lựa khi quốc gia – đối tượng trong tình thế có những bất ổn nội bộ, gặp rắc rối hoặc có vị thế yếu trên trường quốc tế. Đó là lúc “trong không ấm, ngoài không êm” và nếu quốc gia bị Trung Quốc “nhòm ngó” có những quyết định đương đầu mạnh mẽ, dứt khoát, thì tác dụng, hiệu quả cũng bị hạn chế đáng kể – trong điều kiện đó, Trung Quốc đã kịp thời và nhanh chóng chớp lấy thời cơ thực hiện mục tiêu định sẵn.

Xâm lấn, đánh chiếm lãnh thổ các nước láng giềng, Trung Quốc không chỉ tính toán thời điểm hành động, mà còn tính toán kỹ càng mục tiêu hành động. Trung Quốc luôn hướng tới những mục tiêu kép, có nghĩa là bỏ “vốn” ít, song làm sao “lãi” lớn nhất – một hành động, nhiều mục đích, nhiều thông điệp.

Minh chứng cho nhận định trên, có thể dẫn dụ những vụ việc điển hình trong lịch sử Trung Quốc xâm lấn lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam.

Trước tiên là sự kiện Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa vào tháng 1-1974. Bối cảnh lúc đó nhìn tổng thể như sau: Từ tháng 2-1972, quan hệ Trung – Mỹ được cải thiện một bước đáng kể sau chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Mỹ R. Nicxon – một chuyến thăm như R.Nicxon hoan hỉ nhận xét: “Đây là một tuần lễ làm thay đổi thế giới”[1]; “hai nước chúng ta đã nắm tương lai của thế giới trong lòng bàn tay”[2]. Tháng 1-1973, Hiệp định Paris lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, Mỹ rút quân khỏi Việt Nam, theo đó, Hạm đội 7 rút khỏi khu vực quần đảo Hoàng Sa. Sau khi Mỹ rút, Việt Nam Cộng hòa gặp phải những khó khăn về kinh tế, quân sự và lúng túng trước những lục đục nội bộ, trước các phong trào phản chiến, trước các phong trào đấu tranh chính trị; đồng thời, phải căng mình chống đỡ các cuộc tiến công của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Về phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hiệp định Paris mở ra cơ hội thống nhất đất nước, miền Bắc Việt Nam dốc toàn lực chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công “một ngày bằng 20 năm”. Cũng từ năm 1973, Philippines tăng cường sự hiện diện ở khu vực Trường Sa, chính quyền Sài Gòn có những động thái tích cực trong xác định chủ quyền và khai thác tài nguyên, nếu không hành động, sau này việc chiếm đóng Hoàng Sa sẽ khó khăn thêm. Phân tích tình hình, Trung Quốc nhận thấy đây là cơ hội tốt để thực hiện quyết tâm độc chiếm quần đảo này. Đúng như Trung Quốc định liệu, khi hải chiến Hoàng Sa xảy ra, vì đang cần tranh thủ sự ủng hộ của Trung Quốc đối với công cuộc giải phóng miền Nam; đồng thời, bị trói buộc bởi “vòng kim cô” ý thức hệ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không lên tiếng (chỉ có Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra tuyên bố). Vừa cải thiện quan hệ với Trung Quốc, không mấy thiết tha với chính quyền Sài Gòn, hy vọng “sự kiện Hoàng Sa” trở thành “khúc xương” trong quan hệ giữa hai quốc gia cộng sản, Mỹ đã im lặng. Cuối cùng, chỉ còn Việt Nam Cộng hòa lên tiếng phản đối và đề nghị các quốcgia đồng minh đưa vấn đề Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa ra Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, song kết quả nhận được là hạn chế. Tiến hành cuộc đột kích đẫm máu, Trung Quốc không chỉ chiếm trọn quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, mà còn mở rộng cương vực hoạt động, khẳng định với các nước Đông Nam Á chiến lược hướng ra biển Đông với mục tiêu bất biến là trở thành một đế chế biển rộng lớn.

Năm 1979, sau một thời gian dài chuẩn bị, Trung Quốc đưa 60 vạn quân cùng với gần 800 xe bọc thép, xe tăng, trọng pháo và máy bay các loại đồng loạt tấn công 6 tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam. Vào thời điểm đó, tình hình kinh tế – xã hội Việt Nam đang gặp những khó khăn to lớn: Năm 1979, tổng sản phẩm xã hội, thu nhập quốc dân đều giảm[3]; thiếu lương thực gay gắt[4]; lạm phát diễn ra nghiêm trọng; thu chi ngân sách phải dựa vào vay và viện trợ nước ngoài, lòng tin của nhân dân đối với chế độ giảm sút, tâm trạng xã hội căng thẳng, nao núng. Cùng lúc, Việt Nam bị “sa lầy” tại Campuchia, vừa phải đối đầu với tàn quân Polpot, vừa gánh đỡ đất nước Campuchia sau thảm họa diệt chủng. “Vấn đề Campuchia” khiến Việt Nam cô đơn, lẻ loi hơn bao giờ hết trong quan hệ đối ngoại. Các nước lên án Việt Nam “xâm lược”, rút quan hệ, bao vây, cấm vận; thậm chínhững quốc gia trước đây là đồng minh, bạn bè cũng nhìn Việt Nam với con mắt nghi ngại, lạnh nhạt. Trong tình hình bất lợi đối với Việt Nam, Trung Quốc tiến hành chiến tranh xâm lược mà không cần nguyên do/nguyên cớ (trong khi năm 1964, Mỹ phải viện sự kiện Vịnh Bắc Bộ mới có thể đưa quân vào Việt Nam), tuyên bố “dạy cho Việt Nam một bài học”, viết nên “quyền” hành xử bất chấp luật lệ. Sau khi rút quân (5-3-1979), tuyên bố không tham vọng dù “chỉ một tấc đất của Việt Nam”, song trên thực tế, Trung Quốc đã chiếm giữ một số điểm cao có ưu thế quân sự, lấn sâu vào lãnh thổ Việt Nam. Tấn công Việt Nam, Trung Quốc không chỉ muốn đất đai và răn đe, làm suy yếu Việt Nam, mà còn nhằm nâng cao uy tín nước lớn, tuyên bốvới các quốc gia láng giềng, nhất là ở khu vực Đông Nam Á về khả năng, quyết tâm ngăn chặn ảnh hưởng, tham vọng của Việt Nam và Liên Xô. Trung Quốc còn sử dụng cuộc chiến tranh chống Việt Nam để giải quyết một số vấn đề nội bộ, phục vụ cho việc Đặng Tiểu Bình củng cố quyền lực sau khi trở lại “võ đài” chính trị chưa bao lâu.

Tháng 3-1988, Trung Quốc có hành động quyết liệt hơn, gây ra cuộc hải chiến đẫm máu gần cụm đảo Sinh Tồn (quần đảo Trường Sa) –“cuộc đụng độ hải quân trầm trọng nhất ở khu vực Trường Sa kể từ khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai”[5], khiến 3 tàu vận tải của Việt Nam bị bắn chìm, 20 người hy sinh và 74 người bị mất tích. Đây là thời điểm được Trung Quốc tính toán, cân nhắc kỹ lưỡng, vì Việt Nam vẫn chưa giải quyết dứt điểm “vấn đề Campuchia”, chưa thoát khỏi bao vây, cô lập, chưa gia nhập ASEAN, trong khi đang phải bận tâm với những khó khăn kinh tế – xã hội. Ngoài ra, Việt Nam vừa tiến hành đổi mới (1986), các nhà đầu tư nước ngoài có mặt ở Việt Nam còn ít ỏi; do vậy, khi xảy ra “tình huống có vấn đề”, sẽ không đánh động đến nhiều quốc gia. Cuối thập niên 80 (XX), nội bộ Trung Quốc diễn ra tranh chấp quyền lực giữa các phe phái, trong đó phái quân sự và chủ trương làm mạnh ở biển Đông đang thắng thế; do vậy, ngoài mục tiêu đặt chân lên quần đảo Trường Sa – điều mà Trung Quốc mơ đã từ lâu, đẩy mạnh hoạt động xâm lấn trên biển Đông, Trung Quốc còn muốn giải quyết những mâu thuẫn quyền lực trong nước; đồng thời, tuyên cáo “quyền sở hữu” đối với quần đảo, chứng minh “thực lực” bảo vệ chủ quyền trên biển, mở rộng khu vực hoạt động của tàu thuyền Hải quân Trung Quốc phủ khắp các đảo đá ngầm Việt Nam. Trung Quốc còn đặt mục tiêu “cố tình khiêu khích Việt Nam vào một cuộc chiến để xua đuổi các nhà đầu tư khỏi Việt Nam và ngăn cản mức tăng trưởng kinh tế cạnh tranh của Việt Nam”[6]. Lưu ý thêm rằng, năm 1987 – một năm trước khi Trung Quốc gây ra hải chiến Hoàng Sa, Việt Nam thông qua Luật đầu tư nước ngoài –bộ luật được các nhà đầu tư trên thế giới đón nhận và đánh giá là thông thoáng, có sức hấp dẫn. Qua một thời gian thực hiện, đã thu hút được tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào một số ngành và vùng kinh tế, đạt được những kết quả bước đầu đáng khích lệ- điều đó cũng đồng thời báo trước khả năng chuyển dòng của dòng vốn đầu tư vào Trung Quốc chảy đến một đất nước Việt Nam đang đổi mới và cởi mở hơn.

2- Câu chuyện giàn khoan Hải Dương 981

Ngày 2-5-2004, Trung Quốc ngang nhiên đưa giàn khoan Hải Dương 981 (HD- 981) vào hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, cách bờ biển Việt Nam khoảng 120 hải lý, cách đảo Lý Sơn 119 hải lý (221km) và cách phía nam đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa  của Việt Nam khoảng 18 hải lý. Trung Quốc liều lĩnh tiến thêm một bước trong việc hiện thực hóa đường lưỡi bò cũng như chiến lược khai thác dầu khí, ngày càng coi thường dư luận và luật pháp quốc tế, phô trương sức mạnh trên biển Đông. Hành động ngang ngược này của Trung Quốc diễn ra không lâu sau chuyến công du đến châu Á của Tổng thống Mỹ Barack Obama – chuyến thăm có mục đích tái khẳng định chính sách xoay trục an ninh và nhấn mạnh bảo đảm cam kết với các đồng minh trước sự hung hăng, lấn lướt của Trung Quốc tại khu vực này; tuy nhiên, trong chuyến thăm của Tổng thống Mỹ, Việt Nam không phải là điểm đến. Do vậy, Trung Quốc tính rằng khi Trung Quốc hành động, Mỹ sẽ không có phản ứng quyết liệt.

Xung quanh việc đối đầu Nga – Mỹở Ukraine, Nga ra sức tranh thủ sự ủng hộ của Trung Quốc. Kết quả là suốt tiến trình sự kiện, Bắc Kinh có thái độ khá trung dung và đã “tặng” V.Putin một tấm phiếu trắng trong cuộc họp của Đại hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc thông qua Nghị quyết về Crimea (15-3-2014). Trong điều kiện Mỹ và các nước phương Tây gia tăng lệnh cấm vận trừng phạt đối với Nga, hợp tác với Trung Quốc sẽ là một cứu cánh quan trọng, còn Trung Quốc cũng từ đó mà thu hái nhiều quyền lợi. “Mắc nợ”, đang đặt nhiều hy vọng và rất có thể sẽ xích lại gần Trung Quốc hơn nữa, liên kết kiềm chế Mỹ, chắc chắn, khi Trung Quốc “hành sự” ở biển Đông, nước Nga sẽ không lên tiếng hoặc nếu có lên tiếng thì cũng ở mức độ cầm chừng. Một điều không kém quan trọng là cách thức, mức độ phản ứng của Mỹ trước “cú đòn phủ đầu hung hăng” của V. Putin ở Crimea càng củng cố ảo vọng của Trung Quốc tại biển Đông với tính toán tái lập một kịch bản tương tự.

Quan hệ của Việt Nam với các nước ASEAN – theo như các tuyên bố, thì khá chặt chẽ; tuy nhiên, thực tế đã chứng minh ngược lại. Những lần Trung Quốc chèn ép Việt Nam trên biển Đông, thái độ của các nước ASEAN là thờ ơ và thiếu tương trợ. Các nước ASEAN đã không lên tiếng phản đối trước những sự kiện Trung Quốc giam cầm ngư dân Việt Nam đánh cá tại khu vực Hoàng Sa, gây áp lực lên tập đoàn dầu khí Ấn Độ ONGC Videsh để họ rút khỏi Lô 127 và 128, phá hoại thiết bị địa chấn các tàu khảo sát Việt Nam….Do có những lợi ích khác nhau đối với Trung Quốc và biển Đông, nên quan điểm, lập trường các nước ASEAN đối với tranh chấp tại khu vực này là không thống nhất, có phần chia rẽ[7]. Liên kết lỏng lẻo giữa các nước Đông Nam Á khiến Trung Quốc yên tâm và bình thản với “thẻ bài” HD- 981, biết trước rằng sẽ không có những hành động thực tế mạnh mẽ từ ASEAN.

Trung Quốc trái phép đưa giàn khoan HD -981 vào thềm lục địa Việt Nam đúng lúc Nhà nước Việt Nam đang rầm rộ kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ – chiến thắng có phần đóng góp của Trung Quốc. Trong dịp này, các đoàn viếng thăm Trung – Việt qua lại thường xuyên hơn, trên các báo chí và các diễn đàn chính thống Việt Nam đăng tải không ít những bài báo, bài phát biểu ca ngợi Trung Quốc, ca ngợi “tình hữu nghị Việt – Trung”. Những chi tiết tưởng chừng như nhỏ nhặt, song trong các giới hạn nhất định, lại có tác dụng hạn chế phản ứng của Việt Nam. Sau những cái bắt tay hữu hảo, sau những lời ca tụng, xướng vinh nồng thắm, Việt Nam có thể sẽ khó mở lời hơn khi phản đối, chần chừ khi phản kháng.

Ở thời điểm hiện tại, Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều vấn đề nội tại do tình hình kinh tế – xã hội sa sút, khủng hoảng, các cuộc khiếu kiện của người dân mất đất nổ ra ở nhiều nơi, tệ nạn tham nhũng trầm trọng, một bộ phận nhân dân thờ ơ với Nhà nước… Sự thiếu quyết đoán, nhân nhượng của chính quyền trước các tham vọng lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam của Trung Quốc trong nhiều năm qua vô hình trung trở thành yếu tố củng cố thêm quyết tâm hành động của Trung Quốc.

Tháng 11-2013, Đảng cộng sản Trung Quốc tổ chức Hội nghị Trung ương lần thứ 3 (khóa XVIII), nỗ lực cải cách theo chiều sâu, nhằm đưa Trung Quốc bước vào một khởi đầu mới trong quá trình phát triển – quá trình hoàn thiệnphát triển chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc, thực hiện “giấc mơ Trung Hoa”[8] phục hưng dân tộc. Về xã hội, để trấn an dư luận, Đảng cộng sản Trung Quốc nới lỏng chính sách một con, giảm án tử hình, xóa bỏ chế độ “lao cải”[9], tăng cường giám sát và kỷ luật đối với bộ máy chính trị, năng cao năng lực bộ máy hành chính công, nghiêm trị tham nhũng… Tuy nhiên, trong lĩnh vựcchính trị, vẫn chưa nhìn thấy những thay đổi mong đợi, nhằm hiện đại hóa đời sống chính trị một cách mạnh mẽ; do vậy, Trung Quốc vẫn đang phải đối diện với một cuộc “khủng hoảng tín nhiệm xã hội”[10].Theo thống kê của các nhà xã hội học Trung Quốc, mỗi ngày tại đất nước này “diễn ra khoảng 500 các vụ bạo loạn, phản kháng tập thể và đình công, tăng gấp bốn lần so với một thập kỷ trước”[11]. Dù chính quyền đã buộc phải nhượng bộ một số cuộc biểu tình – tranh chấp đất đai ở làng Ô Khảm (Quảng Đông), những cuộc đấu tranh liên quan đến môi trường ở Đại Liên (Liêu Ninh), Thập Phương (Tứ Xuyên) và Khải Đông (Giang Tô)…, song tình hình vẫn tiếp tục nóng lên từng ngày. Sự kiện Tân Cương, Tây Tạng, những vụ nổ bom, cuộc đấu đá phe cánh, nội bộ gay gắt từng ngày dù “con hổ Chu Vĩnh Khang”[12] đang đứng trước đoạn đầu đài, “vết thương” Thiên An Môn 25 năm chưa trám miệng… phản ánh mâu thuẫn, bất ổn và bất lực của hệ thống chính trị. Khi bạo lực của chính quyền không thể chống đỡ được khủng hoảng, “những người lãnh đạo thế hệ thứ năm của Trung Quốc bắt đầu lo lắng cho tương lai của Đảng cộng sản”[13]. Để giải quyết những lo lắng đó, trong điều kiện thay đổi cán cân quyền lực giữa Đảng cộng sản và xã hội Trung Quốc diễn ra “theo chiều hướng Đảng mất dần sự tín nhiệm và quyền kiểm soát, còn xã hội thì đang tích thêm sinh lực và sự tự tin”[14], lãnh đạo Trung Quốc hướng sự chú ý trong nước ra bên ngoài, đánh lạc hướng dư luận, tìm đến “giải pháp biển Đông”, nhằm tạo ra một đợt thủy triều dâng cao của chủ nghĩa dân tộc được sử dụng như một chất kết dính xã hội.Không phải ngẫu nhiên mà thời gian gần đây, trên các báo, tạp chí Trung Quốc  như Nghiên cứu Đông Nam Á, Nghiên cứu châu Á – Thái Bình Dương, tạp chí Quốc phòng, báo Giải phóng quân, Nhân dân Nhật báo…  đăng tải số lượng lớn các bài viết về chủ đề biển Đông. Các tít cổ xúy tinh thần dân tộc và kích động cực đoan được giật theo cách châm ngòi lửa: Các quốc gia xung quanh khai thác các nguồn dầu lửa ở Nam Sa của chúng ta như thế nào?“; “Kẻ nào đang xâm lược các vùng biển của chúng ta?”; “Trung Quốc không cho phép chà đạp lên chủ quyền lãnh thổ của mình!”; “Trung Quốc không thể để mất một tấc đất thiêng”…. Nhiều bài báo chĩa mũi nhọn vào Việt Nam, mô tả Việt Nam như một đối thủ hiếu chiến “đang thèm khát lãnh hải”, “cố gắng cướp đoạt toàn bộ tài nguyên của Trung Quốc bằng sức mạnh” (?!).Mới đây, truyền hình Nhà nước Trung Quốc đã phát sóng một bộ phim tài liệu dài tám tập ca ngợi lực lượng tuần duyên và ngư chính trong việc bảo vệ “chủ quyền và tài nguyên của Trung Quốc” trên biển Đông. Cảnh tàu Việt Nam “ngăn cản” tàu thăm dò của Trung Quốc một cách “điên cuồng” đã gây một ấn tượng mạnh. Bộ phim cũng tung hô lòng dũng cảm của Hải quân Trung Quốc khi mô tả “sự đối đầu không nao núng” và cuộc chiến đấu oanh liệt với đội tàu có vũ trang lớn hơn gấp nhiều lần của Việt Nam. Bằng cớ mới nhất là ngày 6-7-2014, khi sự kiện giàn khoan HD -981 đang ở vào điểm nóng rẫy, truyền hình Trung ương Trung Quốc đã bước tới đỉnh cao của sự man trá bằng một màn diễn gay cấn và lâm ly: Việt Nam câu kết với Mỹ, ASEAN, hung hăng gây hấn, tấn công tàu Trung Quốc, chiếm biển, trong khi Trung Quốc “nỗ lực” kêu gọi đàm phán song không được đáp từ (?!). Báo chí Trung Quốc tiếp tục đẩy chiến dịch “hâm nóng” tinh thần Đại Hán tiến thêm một bước dài bằng những tin, bài, phóng sự lật ngược sự kiện và khét lẹt mùi khói súng[15]. Màn “ảo thuật” truyền thông quả thực đã phát huy tác dụng – một bộ phận người dân Trung Quốc (nhất là khu vực dân trí thấp) đã tin vào những gì mà Nhà nước toàn trị bày ra trước mắt họ, nhồi nhét vào đầu óc họ. Bằng cách đó,Trung Quốc xoay chủ nghĩa dân tộc về phía biển Đông như là một phương thức để tái khẳng định vị thế, làm dịu dòng nham thạch phun trào từ “núi lửa phản kháng và hàn gắn rạn nứt xã hội. Rất có thể, giàn khoan HD- 981 là khởi đầu của cao trào đó.

Ngoài việc chọn thời điểm để đạt mục tiêu một cách an toàn và thuận lợi nhất, đưa giàn khoan HD -981 vào vùng biển Việt Nam, Trung Quốc còn muốn một chuyển tải một vài thông điệp quốc tế quan trọng.

Sau khi Tổng thống Barack Obama đặt chân đến Manila, ngày 28-4-2014, Mỹ và Philippines đã ký kết một Thỏa thuận quân sự (trong 10 năm) cho phép Mỹ tiếp cận với các căn cứ của Philippines, thúc đẩy an ninh khu vực. Điểm đặc biệt là sau khi ký kết,Thỏa thuận sẽ được Chính phủ Philippines ban hành với tư cách là một văn kiện hành pháp, cho phép có hiệu lực ngay, mà không cần phải thông qua thủ tục phê chuẩn tại Quốc hội. Trong bối cảnh tranh chấp lãnh hải ở biển Đông đang hết sức căng thẳng, Thỏa thuận này là bước quan trọng trong chiến lược “xoay trục” qua châu Á của Washington, biến Philippines trở thành một trụ cột quan trọng tại Đông Nam Á, tạo điều kiện cho Mỹ tăng cường sự hiện diện và tham gia vào các vấn đề của an ninh khu vực. Điều đó cũng nói lên rằng, trong các tranh chấp, đụng độ ở biển Đông, Trung Quốc sẽ không chỉ phải đối mặt với khả năng bị cô lập lớn hơn, mà còn phải tính toán đến những phản ứng quyết liệt của các quốc gia tranh chấp khi có Mỹ đứng đằng sau lưng. Do vậy, “sự kiện giàn khoan HD -981” còn mang đậm động cơ chính trị, một mặt, nhắn nhủ, đe dọa các nước có tranh chấp, vướng mắc với Trung Quốc ở biển Đông (đặc biệt là Philippinesvà Việt Nam) không ngả sang và thắt chặt quan hệ với Mỹ; mặt khác, thử phản ứng của Barack Obama, thách thức chiến lược xoay trục của Washington. Cần nói thêm rằng, sau cuộc lỗi hẹn tháng 10-2013, ngày 23-4-2014,  Tổng thống Barack Obama đến châu Á và liên minh Mỹ – Nhật tiếp tục được củng cố bằng những cam kết ủng hộ đất nước “Mặt trời mọc” trong tranh chấp quần đảo Senkaku/Điếu Ngư với Trung Quốc trên biển Hoa Đông. Dựa vào những cam kết đó, Nhật Bản hoàn toàn có thể định ra và thực hiện những đối sách cứng rắn chống lại các sức ép từ Trung Quốc đối với  vấn đề Senkaku/Điếu Ngư trong khi đẩy mạnh hợp tác với Ấn Độ, nhằm “bảo vệ các vùng chung toàn cầu”, hạn chế “chiến lược cơ bắp” và ngăn chặn, phá vỡ “chuỗi ngọc trai”[16] của Bắc Kinh. Từ trong lịch sử cho đến hiện tại, Nhật Bản luôn là “cái gai” trong mắt Trung Quốc, là nỗi hổ thẹn muốn quên xen lẫn uất hận canh cánh bên lòng Trung Hoa Thiên triều[17]. Với sức mạnh kinh tế, quân sự và quan hệ đồng minh với Mỹ, Nhật Bản không chỉ cạnh tranh trực diện với Trung Quốc, mà bắt đầu có chính sách kiềm chế, hạ thấp ảnh hưởng của Trung Quốc từ xa – trong khu vực Đông Nam Á và ở châu Phi[18]. Với ngần đó “oán thù” Trung – Nhật, “nắn gân”, thách thức “kẻ đứng sau” đất nước hoa Anh đào là điều cần thiết lúc này. Ngoài ra, Trung Quốc đủ thông minh để nhận thấy là theo lý thuyết “trung tâm – ngoại vi”, chiến lược trọng tâm của Mỹ là ở châu Âu – nơi được mệnh danh là “trái táo bất hòa” giữa hai cường quốc Nga – Mỹ trước đây và cả hiện tại. Đặc biệt, “thùng thuốc súng” Ukraine” và nguy cơ “lật cánh” trật tự địa – chính trị châu Âu càng khiến Mỹ khó lòng buông lỏng khu vực này; và như thế, chiến lược “xoay trục” có thể chỉ là một kết nối mang tính biểu tượng hơn là hiện thực – đó chính là điều mà Trung Quốc mong và chờ đợi.

Quan hệ Trung Quốc – Ấn Độ vốn là mối quan hệ rắc rối, phức tạp, “rất mong manh, rất dễ tổn thương và rất khó hàn gắn”, phủ bóng bởi cuộc chiến tranh biên giới năm 1962 và tà áo choàng Đức Đạt lai Lạt ma Tây Tạng. Những thập kỷ gần đây, Trung – Ấn có một số va chạm trên biển và Ấn Độ có thái độ cũng như phản ứng khá kiên quyết trước những lấn lướt của Trung Quốc. Ấn Độ đẩy mạnh hợp tác với các quốc gia trong khu vực có biên giới biển, với một số đối thủ của Trung Quốc (đặc biệt là một số quốc gia Đông Nam Á và Nhật Bản), gia tăng sức mạnh, kiềm chế Bắc Kinh. Việc công ty dầu khí Ấn Độ OLV ký kết với Việt Nam dự án thăm dò dầu khí ở hai lô 127 và 128- nơi mà Trung Quốc cho rằng “nằm bên trong hải giới truyền thống” của mình, khiến Trung Quốc không chỉ thấy bất an, mà còn coi đó như một sự thách thức. Khai thác hai lô 127, 128 là cách thức Ấn Độ can dự gián tiếp vào cuộc tranh cãi trên biển Đông và ngầm phản đối thái độ bá quyền của Trung Quốc. Nếu Ấn Độ khai thác dầu khí thành công có nghĩa là Việt Nam không chỉ có thêm đồng minh trong xung đột, đối đầu trên biển Đông, mà còn ấn định chủ quyền tại vùng tranh chấp, khi việc khai thác tài nguyên diễn ra êm thấm là một hình thức xác định cũng như khẳng định chủ quyền trên vùng biển đó. “Con bài” giàn khoan HD- 981 của Trung Quốc chính là một động thái gây áp lực và răn đe Ấn Độ. Nếu Việt Nam thất bại trong việc “đuổi” giàn khoan HD- 981, chắc chắc Trung Quốc sẽ bước tiếp, sẽ có những hành động hung hăng hơn, những yêu sách quyết liệt hơn, để các quốc gia đối tác của Việt Nam, nhất là Ấn Độ, phải rút khỏi biển Đông, nhường không gian tài nguyên mầu mỡ này cho Trung Quốc độc chiếm. Lúc đó, Việt Nam đã khó lại còn khó khăn hơn, trở nên yếu thế và đơn thương độc mã trước những đòi hỏi chủ quyền phi lý của một Trung Quốc ngược ngạo vùng vẫy trong “cơn khát” tài nguyên.

3- Thấy gì từ lịch sử và hiện tại?

Qua khảo cứu, phân tích những vụ việc điển hình xảy ra trong quá trình Trung Quốc thực hiện chiến lược xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải của Việt Nam, có thể thấy ngay rằng, đó là chiến lược nhất quán, ăn sâu vào máu thịt, vào não trạng của những thế hệ lãnh đạo Trung Quốc. Nó giống như một căn bệnh mãn tính, không thể chữa trị mang tên “bành trướng”, “bá quyền” âm ỉ trong cơ thể Trung Quốc. Chiến lược ấy của Trung Quốc được tính toán cẩn trọng, kỹ lưỡng, nhằm nuốt dần đất đai, sông biển Việt Nam. Chiến lược ấy cũng còn nhằm bào mòn sức mạnh nội ngoại lực, hút dần dinh dưỡng, làm cho Việt Nam rối loạn, yếu dần và chia rẽ. Một dân tộc chia rẽ là một dân tộc yếu – đó là nguyên lý. Từ yếu đến đớn hèn chỉ còn một bước ngắn. Khi đã đớn hèn khó tránh khỏi hòa tan.

Có lịch sử lâu đời 5.000 năm, tự hào là trung tâm văn minh Đông Á không ai sánh kịp, song điều đáng sợ là ở chỗ, những nhà lãnh đạo Trung Quốc lại đem niềm kiêu hãnh ấy nuôi giấc mộng khôi phục “địa vị ưu việt” bằng những phương thức cực đoan, quá khích, nhằm xóa đi cái quá khứ một “thế kỷ nhục nhã” bạc nhược, tổn thương, u tối và mất tự chủ.

Lịch sử đã vô tình, trớ trêu, thậm chí khắc nghiệt đặt dải đất hình chữ S bên cạnh một người láng giềng phương Bắc to lớn, rắc rối và tham vọng. Láng giềng không thể chọn lựa, Trung Quốc luôn tồn tại ở đó, bất trắc, khó lường, nguy hiểm. “Sự kiện giàn khoan HD- 981” là câu trả lời đầy đủ nhất, trung thực nhất, rõ ràng nhất về “phương châm 16 chữ vàng”, “tinh thần bốn tốt” và áp lực “Hán hóa” – một câu chuyện có thật, thường trực và chưa có hồi kết thúc.

Hiện diện ở biển Đông bằng vũ lực, trong “cơn mê sảng” quyền lực, trong “cơn thèm khát” lãnh hải, Trung Quốc đang bước tới sai lầmkhó gỡ, đang hủy hoại lòng tin, uy tín quốc tế và sự tôn trọng của các quốc gia xung quanh. Hành xử hung hăng theo kiểu côn đồ trên biển Đông, Trung Quốc không những khiến các đối thủ của mình sợ hãi, trái lại, hiện ra như một quốc gia đầy hiểm họa, ưa thích ức hiếp,tôn sùng các nguyên tắc ứng xử thời trung cổ, viết nên luật lệ của riêng mình trong một thế giới khi mọi quốc gia đang nỗ lực đi về phía văn minh.

Trung Quốc đang chơi một trò chơi nguy hiểm, đang biến “giấc mơ Trung Hoa” thành “cơn ác mộng Trung Hoa”. Có thể, nếu các quốc gia liên quan không có những hành động quyết liệt, không gom tụ lại, Trung Quốc sẽ thắng thế. Nhưng dù có thắng thế, dù có trỗi dậy, dù “giấc mơ Trung Hoa” có sớm thành hiện thực, song trong mắt nhân loại, trong mắt những quốc gia tử tế, trong thứ bậc thế giới, Trung Quốc mãi mãi chỉ là quốc gia dưới ngưỡng văn minh


[1]Marvin Kalb- Barnard Karbl: Đột phá khẩu Trung Quốc, Hội nghị cấp cao 1972, Tập 2, Viện Thông tin Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1979, tr. 67.

[2]Sđd, tr. 68.

[3]Trong kế hoạch 1976 – 1980, bình quân một năm tổng sản phẩm xã hội chỉ tăng 1,4 %, thu nhập quốc dân tăng 0,4 % (kế hoạch là 13-14%). Kết thúc kế hoạch 5 năm (1980), tất cả 15 chỉ tiêu chủ yếu đều không đạt, thậm chí một số sản phẩm công nghiệp và nông nghiệp quan trọng bình quân đầu người không giữ được mức của năm 1976. Hiệu quả của nền kinh tế rất thấp, tốc độ tăng không tương xứng với mức đầu tư xây dựng cơ bản; giá trị tài sản cố định tăng chỉ bằng 46,8 % tổng mức đầu tư xây dựng cơ bản; hiệu quả hoạt động của hệ thống cơ sở vật chất thấp, chỉ huy động được trên dưới 50 % công suất.

[4]Năm 1980, Nhà nước phải nhập 1,576 triệu tấn lương thực. Ngân sách thiếu hụt lớn, giá cả tăng hàng năm 20%, nhập khẩu nhiều gấp 4-5 lần xuất khẩu.

[5]Quần đảo Trường Sa: Liệu có còn thích hợp khi tranh cãi về vấn đề chủ quyền, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý quốc tế, Bản dịch, Lưu tại Thư viện Quân đội, tr.5.

[6]Valencia.M.J, Vandyke.J.M, Ludwig.N.A: Chia sẻ tài nguyên ở biển Nam Trung Hoa, Bản dịch, Lưu tại Thư viện Ban Biên giới Chính phủ, tr.70.

[7]Lào, Thái Lan và Myanmar không có lợi ích trực tiếp ở biển Đông; Campuchia có quan hệ kinh tế – chính trị gắn bó với Trung Quốc; Malaysia, Brunei tuy có yêu sách, không bị Trung Quốc đe dọa trực tiếp trên biển, có quan hệ gần gũi với Trung Quốc; Singapore và Indonesia đứng trung lập.

[8]Ngày 8-4-213, nội hàm “giấc mơ Trung Hoa” được Tập Cận Bình giải thích rõ trong phát biểu khai mạcDiễn đàn châu Á Bác Ngao (BFA) như sau: Vào giữa thế kỷ XXI, Trung Quốc sẽ trở thành một quốc gia xã hội chủ nghĩa hiện đại, thịnh vượng, hùng mạnh, dân chủ, văn hóa tiên tiến, hòa hợp và giấc mơ Trung Hoa, cụ thể là sự phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa sẽ thành hiện thực.

[9]Hệ thống trại cải tạo lao động ra đời từ năm 1957 để giam giữ những người phạm các tội danh không nghiêm trọng như trộm cắp, gây rối trật tự, mại dâm, sử dụng ma túy, giam giữ những người bất đồng chính kiến. Hệ thống này này tồn tại nhiều điều bất hợp lý nguy hiểm như chính quyền địa phương và công an có quyền ra lệnh giam giữ mà không cần ra tòa xét xử. Tuy nhiên, người ta cũng cho rằng,giới lãnh đạo Trung Quốc vẫn có thể tiếp tục sử dụng hệ thống lao cải với tên gọi khác, hoặc thậm chí không cần đặt tên cho hệ thống này.

[10]“Khủng hoảng tín nhiệm xã hội” có nghĩa là “chính quyền của dân” không nhận được sự tín nhiệm của người dân, trên thực tế người dân không còn coi chính quyền là người đại diện cho mình. Nói cách khác, đối với một bộ phận quần chúng nhân dân, chính quyền không còn đồng hành với họ, không thể hiện được ý chí của họ. Một cuộc khủng hoảng tín nhiệm xã hội sẽ gây ra sự nhiễu loạn về tư tưởng, gây mất niềm tin của dân chúng vào hệ tư tưởng hiện hành của xã hội.

[11]Minxin Pei: China’s Troubled Bourbons, Project Syndicate, 31-10-2012.

[12]Ngày 22-1-2013, trong buổi nói chuyện tại Ủy ban kỷ luật Trung ương Đảng, Tập Cận Bình đã nói đến chuyện “bắt hổ, diệt ruồi” và theo một logic có tính truyền thống, người ta liên tưởng tới chống tham nhũng tại Trung Quốc chủ yếu là “diệt ruồi”, còn “đánh hổ” thường mang dáng dấp của cuộc xâu xé quyền lực thượng tầng. Vụ Bạc Lai Hy và Chu Vĩnh Khang là những điển hình của các cuộc tranh giành quyền lực cấp cao.

[13]Minxin Pei: China’s Troubled Bourbons.

[14]Ibid.

[15]Các báo đài Trung Quốc đưa tin Việt Nam phái 6 tàu đâm vào tàu Trung Quốc khi giàn khoan HD-981 neo tại “lãnh hải Trung Quốc”, thông báo rằng, từ ngày 2 đến ngày 8-5-2014, 36 tàu thuyền võ trang Việt Nam đã liên tục tấn công và đâm vào tàu Trung Quốc 171 lần; ngoài ra, Việt Nam còn thả chướng ngại vật, lưới… nhằm gây cản trở hành hải.

[16]Thuật ngữ “chuỗi ngọc trai” là tên một kế hoạch triển khai an ninh hàng hải – quân sự của Trung Quốc xuất hiện lần đầu tiên trong báo cáo mật mang tên “Tương lai của năng lượng châu Á” được Mỹ đưa ra vào năm 2005. “Chuỗi ngọc trai” chỉ các căn cứ quân sự, cảng biển của Trung Quốc nằm rải rác như những hạt ngọc trai, chạy theo tuyến đường hàng hải trên biển bắt đầu từ đảo Hải Nam qua biển Đông, qua eo biển Malacca, sang Ấn Độ Dương… đến tận châu Phi (Somali) và vùng vịnh Persian, đặc biệt là các nước dọc vùng biển Ấn Độ Dương như Pakistan, Sri Lanka, Sudan…. giúp Trung Quốc bành trướng trên mọi hướng biển.

[17]Trong cuộc chiến tranh Trung – Nhật lần thức nhất (1894-1895), Nhật đánh bại Trung Hoa. Hiệp ước Shimonoseki đã buộc Trung Hoa nhường nhiều phần của Mãn Châu và đảo Đài Loan cho Nhật Bản, Hiệp ước cũng thiết lập quyền tối cao của Nhật Bản tại Trung Hoa trong 50 năm sau. Trong chiến tranh Trung – Nhật (1937-1945), Trung Quốc đã không thể thắng Nhật Bản trên lục địa châu Á. Người Nhật đã có mặt tại Trung Quốc , cướp đoạt và góp phần chia xẻ Trung Quốc thành tô nhượng, nhượng địa.

[18]Nhật tích cực xuất khẩu, viện trợ và giúp đỡ các quốc gia Đông Nam Á, xây dựng quan hệ chính trị tốt đẹp với Myanmar (thông qua chiến lược dịch chuyển đầu tư từ Trung Quốc sang và xóa nợ cho nước này, “đánh tập hậu” sân sau của Trung Quốc), nhằm bao vây, cô lập Trung Quốc. Nhật viện trợ nhiều tỷ USD cho các nước châu Phi dưới danh nghĩa “bảo đảm an ninh và chống khủng bố tại các nước châu Phi”, nhưng thực chất phục vụ mục tiêu xây dựng quan hệ chính trị, đẩy bật Trung Quốc ra khỏi nơi cung cấp dầu mỏ rất quan trọng cho nền kinh tế phát triển quá nóng của Trung Quốc.

( Nguồn: Văn hóa Nghệ An)

CUỘC CHUYỂN QUÂN THẦN TỐC THÁNG 2-1979

 Tháo ghế Boeing 707 và đường băng thắp đèn dầu

TTO – “Trong lịch sử hàng không dân dụng thế giới, tôi chưa đọc thấy một tài liệu nào nói dùng máy bay dân dụng để chở quân và cả vũ khí. Vậy mà lúc đó chiếc Boeing 707 không chỉ chở quân mà còn chở cả súng ống, đạn dược”.

Kỳ 2: Tháo ghế Boeing 707 và đường băng thắp đèn dầu
Ông Huỳnh Minh Bon bây giờ – Ảnh: My Lăng
Tôi bay nhanh lắm. Bay liên tục chỉ gần một tuần là xong nhiệm vụ. Lúc đó chuyển quân gấp mà. Tôi nói bay được là bay, dù mệt cũng bay
Ông Huỳnh Minh Bon

Ông Huỳnh Minh Bon (85 tuổi, cựu cơ trưởng – phi công của Đoàn bay 919, thuộc Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam) nói.

Tháo ghế Boeing 707

Boeing 707 thuộc dòng máy bay phản lực chở khách đầu tiên được sản xuất tại Mỹ, là máy bay chở khách lớn nhất lúc bấy giờ với sức chứa 181 hành khách, tốc độ 966km/h.

Năm 1979, Việt Nam chỉ có duy nhất một máy bay Boeing. Và người có thể lái Boeing lúc đó chỉ có duy nhất phi công Huỳnh Minh Bon – người của chế độ Sài Gòn được trưng dụng làm việc cho ngành hàng không Việt Nam lúc đó.

Trước năm 1975, ông Huỳnh Minh Bon là phi công của Công ty Hàng không Việt Nam (Air Vietnam).

“Mấy anh lãnh đạo gặp tôi và nói: tình hình bây giờ nếu chỉ chở quân bằng An-12, C-119, C-130… thì không kịp. Boeing là máy bay chở được nhiều khách nhất lúc đó. Họ hỏi tôi có thể dùng Boeing chở quân không. Tôi nói được.

Lúc đó thiếu tướng Trần Mạnh, đang là phó tổng cục trưởng Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam, hỏi tôi: anh có thể chở được cả vũ khí không vì tới nơi là chúng tôi phải chiến đấu ngay chứ không thể chờ 2-3 ngày, một tuần lễ sau mới có vũ khí chiến đấu.

Khi tôi học ở nước ngoài, vũ khí và chất nổ nghiêm cấm đưa lên máy bay dân dụng.

Tôi biết nhiệm vụ này rất nguy hiểm nhưng đất nước đang cần mình. Tôi trả lời: Tôi làm được! Trước khi về, anh Trần Mạnh dặn tôi: Đây là nhiệm vụ tuyệt mật, không nói cho người thứ hai, kể cả vợ con” – ông Bon kể.

Bình thường Boeing 707 có sức chở gần 200 người. “Tôi nghĩ phải làm sao chở được thật nhiều quân nhưng vẫn đảm bảo an toàn. Tôi đề xuất dỡ bỏ một lượng ghế trên máy bay. Tôi phải trực tiếp chỉ đạo cách tháo ghế. Chỉ tháo ở những vị trí được phép để đảm bảo độ cân bằng cho máy bay” – ông Bon nói.

Khoảng 50 ghế ở phần phía trước, khoang giữa và sau đuôi máy bay được tháo rời. Toàn bộ số ghế tháo rời được mang ra khỏi máy bay.

Những khoảng trống không có ghế được đan bởi những sợi dây. Bộ đội ngồi bệt dưới nền, đấu lưng vào nhau. Còn cột dây là để khi máy bay đi vào vùng thời tiết xấu, bị rung xóc, nghiêng ngả, bộ đội bám vào dây không bị dịch chuyển gây mất an toàn.

Nhờ sáng kiến này của phi công Huỳnh Minh Bon, mỗi chuyến chiếc Boeing 707 đã chở được 300 người của Quân đoàn 2. Phần nguy hiểm nhất là số lượng vũ khí mang lên máy bay. Đạn dược, súng ống đựng trong những thùng rất lớn. Nhân viên mặt đất phải cột dây lại cho thùng dính với ghế để không bị dịch chuyển.

“Các thùng vũ khí không để tập trung một chỗ mà rải rác khắp máy bay, hạn chế va chạm khi rung xóc vì có nguy cơ cháy nổ và thương vong rất cao” – cựu cơ trưởng chuyến bay đặc biệt cho biết.

Ông kể: “Bộ đội mang theo súng đạn, balô xếp thành từng phân đội, lên máy bay trong vài chục phút là tôi cất cánh được ngay”.

Lúc đó, Boeing 707 chỉ có duy nhất một tổ bay. Và cơ trưởng luôn luôn là ông Bon. Một ngày phi công Huỳnh Minh Bon cất cánh hai chuyến từ Tân Sơn Nhất ra Hà Nội.

Thắp đèn dầu ở đường băng

Nếu như các máy bay An-12 của Liên Xô hay C-119, C-130… bay ban ngày thì Boeing 707 lại chủ yếu bay ban đêm. Sau chuyến bay ngày đầu tiên Huỳnh Minh Bon đề xuất bay đêm.

Ông giải thích: “Tôi thấy ban ngày mình bay nhiều quá, cường độ bay rất lớn. Trong khi ban đêm lại không có chuyến nào. Nếu tận dụng khoảng trống ban đêm để chuyển quân thì sẽ nhanh hơn nhưng cái khó là sân bay của ta không sẵn sàng để bay đêm vì đường băng ở Tân Sơn Nhất và Nội Bài lúc đó không có đèn chạy dọc đường băng như bây giờ.

Tôi đề nghị đốt đèn dầu dọc đường băng, đường lăn và bến đậu nhưng đèn phải đảm bảo được độ sáng. Đèn không to quá cũng không nhỏ quá. Kiểu đèn tôi đề xuất phải chứa được 3 lít dầu chứ không cháy nhanh, mau hết dầu. Mà loại đèn đó thì không sản xuất sẵn, phải làm riêng.

Chỉ trong thời gian rất ngắn, các anh ấy đã đáp ứng được loại đèn dầu như yêu cầu. Khi nào thấy còn 15 phút nữa cất cánh, tôi báo “tôi sắp cất cánh” thì ở dưới đường băng mấy ảnh mới thắp đèn dầu.

Đèn để hạ cánh thì khác một chút. Lúc đó có một số xe tải của Liên Xô đèn rất sáng. Tôi đề nghị cần 10 xe tải Liên Xô. Khi chuẩn bị hạ cánh, ôtô phải bật đèn ngay đầu đường băng”.

Chuyến bay đêm đầu tiên của Boeing 707 cất cánh 
lúc 9h tối. Phi hành đoàn có 1-2 lái phụ đi cùng, trong 
đó có một người là phi công quân sự hàm đại tá.

Lúc 
đó Boeing 707 chỉ hạ cánh ở sân bay Nội Bài vì có 
đường băng dài hơn 3.000m. Sân bay Gia Lâm quá nhỏ, đường băng không đủ dài để Boeing cất hạ cánh.

Ông 
Bon nhớ lại: “Chuyến bay đêm đầu tiên mọi người rất lo lắng, nhất là anh Trần Mạnh. Anh ấy nói: Tôi ủng hộ anh bay đêm nhưng nếu anh bay không thành công tôi sẽ 
gặp khó khăn lớn”.

Trên thực tế, một số cựu phi công quân sự tham gia bay chở quân thời điểm cuối tháng 2, đầu tháng 3-1979 cho biết lúc đó mới tiếp thu máy bay nên trình độ của phi công chưa thể bay đêm.

Chuyến bay đêm đầu tiên của Boeing 707 hạ cánh thành công ở sân bay Nội Bài, xóa tan những lo lắng và hoài nghi của nhiều người về khả năng của phi công Huỳnh Minh Bon.

“Tôi bay nhanh lắm. Bay liên tục chỉ gần một tuần là xong nhiệm vụ. Lúc đó chuyển quân gấp mà. Tôi nói bay được là bay, dù mệt cũng bay” – ông Bon kể.

Lái máy bay từ thời Pháp và tới năm 1975 ông Bon có 25 năm kinh nghiệm lái máy bay dân dụng. Khi đất nước thống nhất, ông được mời tiếp tục làm việc, vừa bay vừa đào tạo phi công cho cách mạng.

Ông Bon kể: “Ngày 30-4-1975, tôi đang lái Boeing 707 chở khách chặng Sài Gòn – Hong Kong – Tokyo. Lúc dừng ở Hong Kong thì nghe tin Sài Gòn giải phóng. Lúc đó có nhiều hãng nước ngoài mời tôi ở lại bay cho họ nhưng tôi từ chối. Tôi muốn về nước. Gia đình, vợ con tôi ở Việt Nam. Đó là quê hương tôi. Tôi không đi vì tôi yêu Việt Nam”.

Kỳ 2: Tháo ghế Boeing 707 và đường băng thắp đèn dầu
Bộ đội xếp hàng chờ lên máy bay dân dụng ra Bắc chi viện cho chiến trường biên giới năm 1979 – Ảnh tư liệu

Ngoài Boeing 707, một số máy bay dân dụng khác cũng được huy động cho cuộc chuyển quân khẩn cấp bằng đường hàng không. Ông Huỳnh Minh Phương, 70 tuổi, hiện sống ở Hà Nội, là người đã lái máy bay TU-134 chở bộ đội từ sân bay Phnom Penh về sân bay Tân Sơn Nhất. TU-134 cũng được tháo ghế để có thể chở 100 quân thay vì 80 người như bình thường.

Một số người ‘bị câu lưu’ vì tưởng niệm 17/2

BBC

17/2Bản quyền hình ảnhFACEBOOK HUY TRAN
Nghệ sĩ Kim Chi bị đưa ra khỏi nơi tưởng niệm ở TP. Hồ Chí Minh sáng 17/2

Khoảng một chục người, trong đó có các nhà hoạt động và văn nghệ sỹ, cáo buộc đã bị câu lưu trong lễ tưởng niệm cuộc chiến biên giới Việt – Trung 17/2/1979 tại Hà Nội và TP. HCM.

Bên cạnh đó là cáo buộc xảy ra tình trạng phá đám, bắt cóc người trái pháp luật, phá rối những người đi tưởng niệm.

Hình ảnh và clip chia sẻ trên mạng xã hội cho thấy nữ diễn viên Kim Chi cùng những người khác bị các lực lượng mặc đồng phục đẩy ra khỏi nơi làm lễ tưởng niệm ở TP. Hồ Chí Minh.

Còn ở Hà Nội, có ghi nhận nhà chức trách dùng loa phóng thanh để kêu gọi đám đông giải tán.

Ngày 17/2 đánh dấu 38 năm Chiến tranh biên giới Việt – Trung.

 

Cuộc chiến đẫm máu diễn ra vào tháng 2/1979 khi Đặng Tiểu Bình cho quân đánh sáu tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam.

Cuộc chiến kéo dài chỉ ba tuần nhưng hàng chục nghìn người thiệt mạng.

‘Xót xa’

Hôm 17/2, trả lời BBC từ TP. Hồ Chí Minh, diễn viên Kim Chi, người từng từ chối bằng khen của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng năm 2013, cho hay bà cùng nhà thơ Hoàng Hưng, Phan Đắc Lữ và một số dân oan “mới xuất hiện tại khu vực tượng đài Trần Hưng Đạo, bến Bạch Đằng, quận 1 thì bị tống lên xe đưa về trụ sở Công an quận Bình Tân”.

“Nhưng sau hơn một giờ, họ để chúng tôi đi về mà không ngăn cản.”

“Chúng tôi xác định đã dấn thân thì việc bị hăm dọa, bắt bớ là chuyện bình thường. Bản thân tôi khi còn ở Hà Nội đã từng bị câu lưu nhiều lần”, bà nói.

“Chỉ có điều, tôi xót xa vì người của chính quyền hèn với giặc, ác với dân.”

17/2Bản quyền hình ảnhFACEBOOK THANH PHAM
Buổi lễ tưởng niệm ngày 17/2 tại Khu tượng đài Lý Thái Tổ, Hồ Gươm, Hà Nội

“Bằng cách ngăn người đi tưởng niệm, họ đã chà đạp quá khứ và vô ơn với những người đã ngã xuống.”

“Liên tục mấy năm qua, Đảng, nhà nước Việt Nam sợ Trung Quốc nên đã cho đục bỏ các bia tưởng niệm, ngăn chặn mọi sự tưởng niệm bằng đủ mọi cách.”

“Đó là hành động của những kẻ bán nước, cam tâm làm nô lệ. Chúng ta nhất định phải chống lại hành động đê hèn đó”.

BBC không liên hệ được một số người ở Hà Nội được tin là cũng bị câu lưu trong sự kiện này.

Đến 17:39 hôm 17/2, các nhà hoạt động tại Hà Nội thông báo họ đang có mặt tại công an phường Thịnh Quang, Đống Đa, để đòi trả tự do cho nhà hoạt động Nguyễn Lân Thắng, người đang bị câu lưu.

Cùng ngày, AP dẫn lời ông Phùng Thế Dũng, người tham dự buổi tưởng niệm tại tượng đài Lý Thái Tổ: “Tôi cảm động vì nhiều người đến đây thắp hương tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ đã hy sinh để bảo vệ biên giới tổ quốc.”

“Tuy vậy, tôi có cảm xúc lẫn lộn vì nhà chức trách cho thấy họ muốn hạn chế việc tưởng niệm sự kiện này ở nơi công cộng.”

Chính quyền không có hoạt động chính thức đánh dấu sự kiện này, nhưng khác với mọi năm, một số báo như VnExpress, Thanh Niên… đăng bài tưởng nhớ Chiến tranh biên giới Việt – Trung trên trang nhất và viết rằng “đây là dấu mốc không thể lãng quên”.

Bình luận về động thái này với BBC từ Hội An, nhà báo Trung Bảo nói: “Việc chính quyền mở rộng cho báo chí đưa tin về sự kiện 17/2 là chỉ dấu tốt.”

“Cho dù có thể không cởi mở hết nhưng cũng đáng mừng, nhất là trong bối cảnh sách giáo khoa môn lịch sử thì thông tin về cuộc chiến Việt – Trung hãy còn hạn hẹp, người dân muốn biết thêm thì chỉ còn cách tự tìm hiểu trên mạng.”

“Chí ít thì năm nay, báo chí chính thống cũng cung cấp được những thông tin cần thiết về sự kiện đó, dù còn ít ỏi.”

“Tôi cũng mong là tiếp đó, chính quyền cần có ứng xử phù hợp hơn với những người tham gia các hoạt động dân sự như tưởng niệm người hy sinh trong cuộc chiến Việt – Trung.”

“Vì rõ ràng những người này chỉ muốn bày tỏ lòng yêu nước trong một ngày quan trọng trong lịch sử Việt Nam mà thôi.”

« Newer Posts - Older Posts »

Danh mục