img_8195

ĐỌC BỘ SÁCH “NGÔ MINH TÁC PHẨM”, TẬP 5: 

“NHỚ MẠ”- NÉN NHANG THƠM THẢO CỦA “ĐỨA CON XỨ CÁT”

 

                                                                MẠNH LÊ

                                                            ( Tác giả đã mất)

 

            Nắng, mưa, gió, cát không chỉ là kí ức thiêng liêng của người quê Quảng Bình mà còn là nỗi ám ảnh của mọi người ở những vùng quê biển khác. Với Ngô Minh, ký ức về người mẹ làng Thượng Luật quê anh mang một vẻ đẹp riêng:

Nhớ mạ mỗi sớm mặt trời

                             Thơm như miếng trầu đỏ thắm.

Thời gian, không gian mở đầu và kết thúc bài thơ từ bình minh của một ngày cho đến cuối chiều. Có một đứa con xa mạ về quê tìm mạ, người mạ xưa đã mất. Từ một hình ảnh sinh động đã in hẳn trong ký ức nhà thơ về quê tìm mẹ, lần theo những dấu vết của quê hương còn lưu lại hình ảnh của mẹ đã bừng thức trong anh những tình cảm mà anh đã vùi sâu trong tâm khảm: (Đọc tiếp…)

So với Nhật Bản, điểm thua kém của khoa học Trung Quốc

  •   LỖ BẠCH
    ( ĐH Bắc Kinh, TQ)

Sau sự kiện nhà khoa học Nhật Bản Yoshinori Ohsumiđược giải Nobel Y học 2016, dường như có hiện tượng tranh luận trong học giới Trung Quốc, so sánh khoa học Trung Quốc và Nhật Bản. Từ góc nhìn văn hóa, Lỗ Bạch (鲁白, Lubai), giáo sư khoa học thần kinh nổi tiếng Trung Quốc thuộc Đại học Thanh Hoađã tìm câu trả lời cho câu hỏi: Tại sao trong những năm qua Nhật Bản vượt trội so với Trung Quốc về giải Nobel? Bài viết đăng trên trang“Giới trí thức” (知识分子, Zhishifenzi) do tác giả chủ biên.

Bàn về khoa học công nghệ chấn hưng đất nước người ta thường lấy nước Mỹ làm chuẩn, chú trọng thảo luận về chính sách, pháp lệnh, cơ chế, phương pháp của người Mỹ, vì Mỹ là nước phát triển khoa học công nghệ hàng đầu thế giới. Nhưng là một nước Tây phương điển hình, về bản chất người Mỹ có tinh thần thực chứng và theo đuổi chân lý mạnh mẽ, cộng thêm truyền thống thích khám phá, tìm tòi cái mới, vì thế việc nước Mỹ phát triển hùng cường là dễ hiểu. Ngoài ra, Mỹ là đất nước dân di cư, xã hội Mỹ rất dễđón nhận những nhân tài từ nơi khác đến.Đây là những nét khác biệt khá lớn với truyền thống và văn hóa Trung Quốc.

Vì thế, việc so sánh với Nhật Bản, nước láng giềng gần gũi về văn hóa và địa lý với Trung Quốc, mang nhiều ý nghĩa hơn. Tình cảm của người Trung Quốc đối với người Nhật Bản rất phức tạp, tuy hai dân tộc gần gũi về nhân chủng, thói quen sống, cách tư duy và văn hóa, nhưng Trung Quốc lại không muốn thẳng thắn nhìn nhận sự nổi lên của Nhật Bản. Cho dù từng bị Nhật Bản đánh bại nhưng dường như người Trung Quốc chưa dành sự tôn trọng đúng mức với Nhật Bản.

Trong những năm qua, khoa học công nghệ Nhật Bản có những tiến bộ nhảy vọt, liên tục giành giải Nobel, từ Vật lý, Hóa học, đến Y sinh học, (năm 2010 hai nhà khoa học Nhật được giải Nobel Hóa học; năm 2014 ba nhà khoa học Nhật giành Nobel Vật lý; Nobel Y học 2012 thuộc về nhà khoa học Anh và Nhật – ND), còn giải Nobel Y học năm nay cho giáo sư Yoshinori Ohsumi là người chỉ được học sau tiến sĩ vài năm ở Mỹ. Khoa học Nhật Bản giành giải Nobel không chỉ giúp người Nhật Bản thêm niềm kiêu hãnh về địa vị của họ trước thế giới, cũng góp phần thúc đẩy kinh tế Nhật Bản phát triển mạnh hơn.

Trung Quốc cần học kinh nghiệm, cách làm của Nhật Bản để phát triển khoa học giáo dục, chấn hưng đất nước. Tôi muốn nói về cách nhìn của mình theo vài phương diện sau:

1. Vai trò chủ đạo của nhà khoa học trongxây dựng quyết sách khoa họcquan trọng

Ví dụ, để đáp trả “Dự án đại não loài người” (Human Brain Project, HBP) của chính phủ Obama, Nhật Bản cho ra đời “Dự án não” của Nhật Bản (MIND). Cũng tương tự như chính phủ Mỹ, chính phủ Nhật Bản chỉ nói “phải làm” dự án khoa học não chứ không xác định “làm gì” hay “làm như thế nào”.

Điều này do tập thể các nhà khoa học lão luyện, sau quá trình lấy ý kiến của giới khoa học thần kinh, qua nhiều lần thảo luận rồi trình dự án cho chính phủ, từ đó biến kế hoạch thành hành động thực tế. Chính phủ chỉ có thể quyết định “làm và không làm”, không thể tùy tiện thay đổi “làm gì” và “làm như thế nào”. Trái lại, cơ quan quản lý khoa học của Trung Quốc thì vô cùng tích cực trong chuyện “làm gì” và “làm như thế nào”, thậm chí thường xảy ra tình trạng cách nghĩ của nhà quản lý khác với ý kiến của nhà khoa học, vì thế cho thay đổi hàng loạt nhà khoa học để thảo luận lại, đến khi nào phù hợp cách nghĩ của nhà quản lý.

Đối với chính sách khoa học công nghệ, bao gồm lĩnh vực và hướng nghiên cứu, kinh phí đầu tư, kết quả kỳ vọng như thế nào, chỉ có nhà khoa học mới hiểu rõ nhất, thế nhưng trong việc xây dựng và cải cách những chính sách khoa học quan trọng ở Trung Quốc, vai trò của nhà khoa học rất bị hạn chế.

Ở đây còn có vấn đề niềm tin vào nhau giữa nhà khoa học và giới chức nhà nước.

Có người chất vấn, nhiều nhà khoa học khi đề xuất kiến nghị thường nghĩ đến lợi ích của cá nhân hoặc đơn vị mình. Tư tưởng này là một thực tế ở Trung Quốc hiện nay, cũng có lý do của nó. Nhưng từ nhu cầu phát triển lâu dài, cần tham khảo kinh nghiệm của các nước có nền khoa học tiên tiến (như Mỹ, Nhật…), khi xây dựng chính sách khoa học công nghệ cần có “người trong nghề”, tức quyết định cần thuộc về nhà khoa học.

Một trong những cách làm hay là giao trọng trách cho “nhà khoa học chiến lược” (là người nắm được những tiến bộ hàng đầu của khoa học, có tiếng trên quốc tế và có tầm nhìn chiến lược, có lòng công tâm, uy tín, dám gánh vác trách nhiệm, có cái nhìn toàn cuộc). Nhà khoa học chiến lược là những người chí công vô tư, suy nghĩ và việc làm của họ dựa trên lợi ích chung, không vì tư lợi cá nhân.

Dĩ nhiên, tiến cử chỉ là bước đầu tiên trong công tác nhân tài, làm sao để nhân tài được tiến cử phát huy được khả năng mới quan trọng.

2. Đầu tư cho khoa học cơ bản

Chính sách hỗ trợ khoa học cơ bản của Nhật Bản từng có giai đoạn trục trặc, họ cũng từng giống như Trung Quốc hiện nay chỉ nóng vội lợi ích trước mắt, quá xem trọng nghiên cứu ứng dụng, chuyển hóa thành tựu khoa học công nghệ để trả công cho việc đầu tư… Sau này họ mới nhận ra không nên quá công lợi như thế. Có nhiều phát hiện khoa học quan trọng ban đầu không nhận ra được ý nghĩa ứng dụng gì, nhưng rồi sau đó mới thấy đó là phát hiện mang tính cách mạng. Hơn nữa, sự hùng mạnh của một quốc gia nằm ở mức độ tiên tiến về khoa học cơ bản, đó là tinh thần tìm tòi khoa học do thúc đẩy của lòng hiếu kỳ trí thức, là biểu hiện của văn minh loài người.

Chính phủ Nhật Bản đã dốc toàn lực đầu tư cho khoa học cơ bản. Từ thập niên 1960 – 1970, tổng chi phí cho nghiên cứu khoa học của Nhật Bản đã tăng khoảng 6 lần; đến thập niên 1980, chính phủ Nhật Bản đưa ra chính sách “kỹ thuật lập quốc”, chi kinh phí nghiên cứu khoa học lên đến 180 tỷ Yên; đến thập niên 1990, Nhật Bản phê chuẩn dự toán “Ủy ban Khoa học và Công nghệ” đột phá với số kinh phí đến 500 tỷ Yên. Vì sự đầu tư lâu dài này, giới khoa học Nhật Bản, đặc biệt là những nhà khoa học ưu tú có thể an tâm theo đuổi tìm tòi khám phá khoa học cơ bản, không phải canh cánh lo lắng đi xin kinh phí.

3. Chế độ và nền văn hóa thu hút “chất xám bên ngoài”

Với nguồn lực của Trung Quốc ngày nay, điều kiện cứng dành cho nghiên cứu khoa học không hề thua kém nước khác. Nhưng nhiều nhân tài khoa học được đào tạo ở các nước tiên tiến Âu Mỹ khi về nước lại cảm thấy “không hợp thủy thổ”, điều này liên quan nhiều đến “điều kiện mềm” của môi trường xã hội. Vì thế phải cố gắng nâng cấp “điều kiện mềm” để thu hút nhân tài nước ngoài về nước làm việc.

Mức độ quốc tế hóa của Nhật Bản rất cao, họ rất thân thiện (friendly) với người nước ngoài. Ví dụ như Viện Nghiên cứu Riken có nhiều nhà khoa học thuộc những chủng tộc khác nhau, họ được hỗ trợ rất tốt về cuộc sống và công việc. Những con người khác nhau về quốc tịch, chủng tộc, văn hóa nhưng có thể dễ dàng chung sống cùng, tương tác với nhau mạnh mẽ nên tạo ra những thành tựu nghiên cứu bất ngờ, đóng vai trò rất quan trọng cho tiến bộ khoa học. Nhà bình luận chính trị nổi tiếng Thomas Freedman đã tổng kết năm trụ cột quan trọng giúp nền kinh tế Mỹ không ngừng phát triển, một trong số đó là chính sách di dân của Mỹ, đặc biệt là đối với nhân tài khoa học công nghệ cao. Hiện nay chính sách thu hút nhân tài khoa học của Trung Quốc chỉ chú trọng kêu gọi người Trung Quốc về nước, rất hạn chế đối với nhân tài khác chủng tộc.

Sau khi thu hút nhân tài trở về phải quan tâm giúp họ nhanh chóng hội nhập vào môi trường xã hội một cách thuận lợi nhất, trong đó việc cơ bản nhất là đơn giản hóa các thủ tục phức tạp, tạo môi trường thông thoáng.

4. Tính chăm chỉ, nghiêm cẩn và kiên trì của người Nhật Bản

Nhiều người cho rằng, tính sáng tạo với những ý tưởng đột phá thường không phải điểm mạnh của giới nghiên cứu khoa học Nhật Bản. Họ không giàu trí tưởng tượng và sáng tạo, không giỏi sáng kiến hoặc khai phá lĩnh vực khoa học mới, giới khoa học Nhật Bản cũng không mạnh về tinh thần mạo hiểm và tinh thần phê phán. Thành tựu của khoa học Nhật Bản chủ yếu dựa vào tính nghiêm cẩn, chăm chỉvà kiên trì.

Thực tế chứng minh, những đức tính này cũng có thể giúp người ta làm được những công việc lớn lao tầm cỡ thế giới. Nhiêu Nghị (饶毅, Raoyi) [**] từng chỉ ra: “Tỷ lệ thành quảđột phá là rất thấp trong một quần thể người chỉ dựa vào tính cần cù, để có một lượng nhỏ thành quả đột phá với quần thể như vậy thì cần một số lượng người thật đông đảo tham gia vào.Theo quan điểm này, một người bình thường mà có thể đạt được giải Nobel nhờ lao động chăm chỉ cho thấy quốc gia này có rất nhiều người đang cần mẫn làm nghiên cứu khoa học, cho thấy hoạt động khoa học kỹ thuật của quốc gia này mang tính phổ biến”.

Tính chăm chỉ, nghiêm cẩn và kiên trì của người Nhật Bản có quan hệ rất lớn với truyền thống văn hóa và lịch sử của Nhật Bản. Dân tộc Nhật Bản thích theo đuổi sự hoàn mỹ, như chúng ta thường ví là tinh thần nghệ nhân. Chúng ta thường thấy nhiều người Nhật Bản bỏ cả đời để làm một việc, đưa công việc lên đến trình độ chí cao. Muốn chứng minh một hiện tượng hoặc nguyên lý khoa học cần phải làm lặp đi lặp lại nhiều lần, xem xét kỹ lưỡng bằng các phương pháp khác nhau. Với người Nhật, công bố một thành quả nghiên cứu cẩu thả, bị trùng lặp hoặc sai lầm là đáng hổ thẹn. Tác phong làm việc chăm chỉ, cẩn trọng và kiên trì là đặc điểm phổ biến của giới khoa học Nhật Bản. Ngược lại, đối với giới khoa học Trung Quốc ngày nay, tiêu chí thời thượng là “ngắn và nhanh”, nhiều thứ được công bố chỉ thực hiện trong vài tháng, cách làm mang tính công lợi này khiến nhiều thành quả công bố có độ tin cậy hạn chế, về lâu dài tác động rất tiêu cực với phát triển khoa học Trung Quốc.

Tôi biết nhiều nhà khoa học Nhật Bản không hoan nghênh cái gọi là “đi tắt đón đầu”, họ không tùy tiện vứt bỏ một đề tài, càng không tùy tiện thay đổi đề tài, điều này rất khác với Trung Quốc hiện nay. Vì thếnhà khoa học thần kinh nổi tiếng Nakanishi Shigetada chia sẻ với tôi, ông vô cùng thận trọng trong việc chọn đề tài. Theo quan sát của tôi, họ thường chọn những vấn đề rất khó, cần sự chuyên tâm và công phu. Khi làm nghiên cứu cũng đặc biệt trọng tinh thần kỷ luật, mỗi bước đi đều nghiêm cẩn làm theo trình tự và kiên trì trong thời gian lâu dài.

5. Thượng tôn văn hóa trung thực

Francis Fukuyama là học giả người Mỹ gốc Nhật, là tác giả cuốn “Sự cáo chung của lịch sử và con người cuối cùng” (The End of History and the Last Man) nổi tiếng thế giới. Trong cuốn sách “Niềm tin: Mỹ đức xã hội và sự thịnh vượng” (Trust:The Social Virtues and the Creation of Prosperity) ông chia xã hội loài người thành hai kiểu: một kiểu là “xã hội có độ trọng chữ tín cao”, tiêu biểu là Mỹ và Nhật Bản; một kiểu là “xã hội có độtrọng chữ tín thấp”, tiêu biểu là Trung Quốc và Ý.

Xã hội Nhật Bản là xã hội có độ trọng chữ tín cao, mang lại rất nhiều lợi ích đối với khoa học. Nghiên cứu khoa học là hoạt động sáng tạo, yêu cầu cơ bản nhất đối với khoa học chính là thành tín, không thể chấp nhận dù chỉ một chút gian dối. Trong khám phá khoa học cần tinh thần thực sự cầu thị, việc công bố kết quả khoa học cũng phải tôn trọng thực tế, không được khoa trương, mập mờ, cả hai trường hợp đều nguy hại cho khoa học.

Mối quan hệ giao lưu giữa các nhà khoa học cũng cần sự thành tín. Giới khoa học Nhật Bản rất có niềm tin vào nhau, vì thế họ hợp tác với nhau dễ dàng. Việc nghi ngờ, giấu diếm, hoặc nói dối là hiện tượng hiếm thấy. Môi trường như vậy giúp họ tránh được nhiều chuyện phức tạp, thúc đẩy hiệu quả cao trong nghiên cứu khoa học. Còn xã hội Trung Quốc là xã hội có độ trọng chữ tín quá thấp, hiện tượng giả dối, ăn cắp, phóng đại, cướp quyền tác giả diễn ra liên miên.

Xã hội Nhật Bản là xã hội trọng liêm sỉ, người giả dối phải trả giá nặng nề hơn nhiều so với các xã hội khác. Ví dụ, trong chuyện Haruko Obokata phát hiện tế bào toàn năng mới (tế bào STAP), sau khi tạp chí Nature của Anh đăng tải kết quả nghiên cứu (năm 2014) đã gây chấn động giới nghiên cứu tế bào quốc tế. Tuy nhiên sau đó có thông tin chỉ raHaruko Obokata gian dối trong nghiên cứu khiến toàn xã hội Nhật Bản lên tiếng chất vấn chữ tín của nhóm nghiên cứu, hệ quả là tất cả những học giả từng tham gia hợp tác phải chịu áp lực khủng khiếp của xã hội.

Có thế thấy, cảm thức về danh dự và liêm sỉ của người Nhật Bản rất mạnh mẽ. Sau khi Haruko Obokata đứng ra xin lỗi trước công chúng không bao lâu thì người thầy hướng dẫn Yoshiki Sasai đã tự sát để tạ tội. Ý thức về danh dự khiến ông Yoshiki Sasai cho rằng chỉ có cái chết mới rửa sạch được nỗi nhục. Một xã hội có ý thức về liêm sỉ cao độ như thế là tiền đề quan trọng hình thành môi trường nghiên cứu khoa học nghiêm cẩn và cầu thực. Còn bầu không khí khoa học Trung Quốc ngày nay đầy phù phiếm và nôn nóng. Nhiều người bất chấp thủ đoạn không công chính, miễn sao ai làm được thì kẻ đó là anh hùng. Nhưng về lâu dài, điều này là trở ngại nghiêm trọng cho không khí hợp tác và giao lưu học thuật ở Trung Quốc.

…..

Đoàn Đức Thanh (lược dịch)

 [*] Giáo sư Đại học Bắc Kinh, đồng chủ biên trang Giới trí thức.

( Nguồn: VHNA)

Thương tiếc Lý Tiến Dũng, thương tiếc một tài hoa

(Rút từ facebook của Ngô Thị Kim Cúc)

Có mặt ở nhà riêng của vợ chồng Lý Tiến Dũng – Nông Thanh Vân cùng với Đào Hồng Hạnh và con trai vào tối ngày 4 tháng 12, tôi vẫn còn nguyên nỗi bàng hoàng sửng sốt đến mức không thể khóc nổi. Ở đó, tôi nhìn thấy đông đủ các anh chị em của Dũng và Vân; con trai và con gái của hai em; và nhất là mẹ Dũng, người cũng vừa chịu tang chồng – giáo sư Lý Chánh Trung – vào tháng 3 vừa rồi. Trên gương mặt của tất cả mọi người là một nỗi chết lặng đầy chịu đựng, trước nỗi đau mà họ đã phải làm quen suốt một năm qua, khi bệnh của Dũng bắt đầu bộc phát.

Tôi không biết sớm chuyện buồn được giữ kín này. Gần đây, thỉnh thoảng đọc những stt của Vân trôi trên dòng thời gian, tôi cảm thấy có chuyện gì đó rất nặng nề đang chiếm tâm trí em, nhưng tôi không nghĩ đó lại là điều mà ít ai ngờ tới: mạng sống của Lý Tiến Dũng. Suốt thời gian ấy, Vân tất tả ngược xuôi lo thang thuốc cho chồng, kể cả chuyến đi Anh với hy vọng cuối sẽ tìm được cách để Dũng có thể đi tiếp cùng vợ con trong cõi sống đang đầy những hiểm nguy này. Vậy mà chiều ngày 4 tháng 12, Dũng đã lặng im, mãi mãi không tỉnh dậy sau khi hôn mê sâu…

Nhìn gương mặt như đã hóa đá của Vân, tôi cảm thấy mọi lời lẽ đều vô nghĩa. Tất cả bạn bè đều biết rất rõ tình yêu em dành cho chồng, một mối tình trọn vẹn, mê đắm và vô điều kiện. Nếu ngoài xã hội, Dũng có bao điều để nghĩ ngợi, buồn đau, căm giận, thì trong gia đình, Dũng là người chồng người cha hoàn toàn hạnh phúc, với người vợ đẹp giỏi giang và hai đứa con xinh đẹp thông minh đủ trai đủ gái.

Tôi không biết phải viết gì ngoài nỗi tiếc thương quá lớn về con người tài hoa Lý Tiến Dũng, em không chỉ là nhà báo đầy năng lực và dũng khí, em còn có một trái tim thổn thức của người nghệ sĩ, luôn đập chung với nhịp đập của hàng triệu người đang sống quanh mình…

Xin chép lại một đoạn về Lý Tiến Dũng trong bài viết về sự ra đi của giáo sư Lý Chánh Trung cha em:

“Vào đầu thập niên 1990, khi làm việc ở báo Tuổi Trẻ, đánh bạn với các bạn ở báo Phụ Nữ mà tòa soạn đối diện nhau, tôi được biết Lý Tiến Dũng con trai ông, chàng đại úy trẻ mới trở về từ chiến trường Kampuchia, đang bắt đầu “học việc” làm báo sau khi ra quân. Ấy là bởi anh đã “bật lại” một ông tướng trong cuộc họp sĩ quan ở quân khu 7, khi ông này nhắc tới cha anh như một người cần phải “cảnh giác”. Từ một phóng viên, Lý Tiến Dũng đã học “nhảy lớp” rất nhanh, rất giỏi, trở thành cây viết sắc sảo phụ trách mảng chính trị xã hội của báo Phụ Nữ. Khi tổng biên tập Thế Thanh “rời khỏi chức vụ”, phó tổng biên tập Minh Hiền chuyển về báo Đại Đoàn Kết, Lý Tiến Dũng cũng ra đi. Chính ở báo Đại Đoàn Kết, sau thời gian dài khẳng định bằng công việc rồi được giao trách nhiệm tổng biên tập, Lý Tiến Dũng một lần nữa lại làm điều mà không phải ai cũng dám. Anh đã cho đăng bức thư đại tướng Võ Nguyên Giáp góp ý kiến về việc phá bỏ hội trường Ba Đình để xây mới sau khi nhiều tờ báo đã từ chối không đăng. Cộng thêm một số việc rất “cả gan” đúng khí chất dân Sài Gòn, Lý Tiến Dũng cũng đã được “thôi giữ chức” tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết”.

Xin Nông Thanh Vân, hai cháu và gia đình hãy nguôi bớt nỗi đau, xin hãy góp tay làm điều gì đó để những gia đình khác không phải chịu đựng mất mát tổn thương từ hiểm họa quá đáng sợ này: căn bệnh ung thư đang treo lơ lửng trên đầu mỗi chúng ta.

Xin nguyện cầu cho Lý Tiến Dũng về gặp cha mình – Giáo sư Lý Chánh Trung và anh em mình – Lý Anh Dũng, Lý Trung Dũng, với nỗi bình yên có thật ở một cõi vĩnh hằng an lạc…

clip_image002

Đã “tử biệt” em rồi, người đồng nghiệp yêu quý của mọi người…

clip_image004

Gương mặt em, đầy trăn trở…

clip_image006

Và cũng đầy miệng cười con trẻ…

clip_image008

Dũng đang nghĩ gì?

clip_image010

Giữa rất đông đồng nghiệp: với Bùi Nguyễn Trường Kiên, Nguyễn Thế Thanh, Ba Kiem MaiNguyễn Ngọc Hải.

clip_image012

Với Bùi Nguyễn Trường Kiên, Nguyễn Thế ThanhBa Kiem Mai.

clip_image014

Hát với cựu tổng biên tập Thế Thanh trong khi Đỗ Ngọc Dona tác nghiệp

clip_image016

Hai chị em Minh Hiền – Tiến Dũng giờ lại gặp nhau rồi

Đăng bởi: Ngô Minh | 06.12.2016

NỮ PHÓNG VIÊN CHIẾN TRANH NGÀY ẤY…

NỮ PHÓNG VIÊN CHIẾN TRANH NGÀY ẤY…

MAI NAM THẮNG

 

Như Vanvn.net đã đưa tin, Thượng tá, nhà văn Nguyễn Thị Như Trang đã từ trần tại Hà Nội ngày 5-12-2016, hưởng thọ 77 tổi. Trước khi nghỉ hưu, chị là biên tập viên văn xuôi của tạp chí Văn nghệ Quân đội; là tác giả của 14 đầu sách bao gồm tiểu thuyết, truyện ngắn và bút ký. Chị đã từng giành Giải Nhì truyện ngắn báo Văn nghệ năm 1967; Giải Nhất kịch ngắn của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam năm 1994; Giải A bút ký của Bộ Tư lệnh Hải quân năm 1994; Giải thưởng Bộ Quốc phòng về văn học nghệ thuật 5 năm 1989-1994; Giải thưởng Nhà nước về VHNT năm 2012…

Thượng tá, nhà văn Nguyễn Thị Như Trang (1939-2016)

Với một người cầm bút thì khối lượng tác phẩm và “bộ sưu tập giải thưởng” như thế là là chứng chỉ của sự thành đạt. Vậy mà mới đây đến thăm chị, khi tôi nhắc lại nhận xét nêu trên, Nguyễn Thị Như Trang lại tâm sự rất thật lòng: “Viết văn xuôi là một công việc nhọc nhằn, người viết thì chẳng mấy lúc tự bằng lòng mình, nhưng đấy vẫn là một công việc vô cùng lý thú. Tuy nhiên, tôi không cho rằng công việc này là quá ư quan trọng. Nghề văn không thay đổi được xã hội, có chăng nó chỉ làm cho con người sống tốt đẹp hơn, cuộc sống có ý nghĩa hơn. Được thế đã là quý lắm rồi…”.

Cách nay 5 năm, tôi đến thăm chị tại nhà riêng của chị trên đường Phan Đình Phùng-Hà Nội. Khi tôi hào hứng kể về chuyến công tác mới đây của tôi đến một vị bộ đội đóng ở Quảng Ninh, được nghe một số cán bộ ở đấy khoe trước đây từng đón chị về thăm đơn vị, chị bỗng trầm ngâm: “Mấy chục năm làm tạp chí Văn nghệ Quân đội, cũng là công biệc làm báo, nhưng là làm “báo văn”. Cuộc đời tôi chỉ có hơn 3 năm làm báo thực sự, đó là thời kỳ tôi làm phóng viên báo Quân Bạch Đằng, bây giờ là báo Quân Khu Ba. Chỉ hơn 3 năm thôi, nhưng đó là một quãng thời gian đặc biệt quan trọng, khởi đầu sự nghiệp cầm bút của tôi…”.

Nguyễn Thị Như Trang (mặc áo măng tô) trò chuyện cùng đồng nghiệp năm 1995.

Và thế là dòng hồi ức về những ngày làm báo Quân Bạch Đằng được khơi mạch. Nguyễn Thị Như Trang hào hứng kể cho tôi nghe về giai đoạn “khởi đầu sự nghiệp cầm bút” với giọng nói đã hơi khó khăn do tuổi già và hậu quả của một lần bị tai nạn giao thông chấn thương sọ não…

Năm 1966, đang là học viên khóa 2 Trường bồi dưỡng viết văn Quảng Bá, Nguyễn Thị Như Trang được ông Mai Vui, Thư ký tòa soạn báo Quân Bạch Đằng lên tuyển về làm phóng viên bản báo. Lúc bấy giờ tòa soạn đã có các anh: Mai Vui, Đình Khản, Triệu Bôn, Kim Chuông và Lê Lựu. Xét về “giới tính” thì cả cơ quan chỉ mỗi Như Trang là nữ. Xét về “chức tước” thì mấy anh kia đều là sĩ quan, “lẹt đẹt” như Lê Lựu cũng là thượng sĩ chính qui, chỉ mỗi mình chị là công nhân viên thường phục, lương tháng ba mươi bảy đồng năm hào. Thế nhưng trong công việc làm báo thì cô phóng viên xinh đẹp 26 tuổi quyết không thua kém cánh sĩ quan mày râu. Bất kể nắng mưa, bất chấp bom đạn, hễ ở đâu có sự kiện là Nguyễn Thị Như Trang lại lóc cóc xe đạp bám gót hôm thì Lê Lựu, hôm thì Triệu Bôn, hôm thì… thân gái dặm trường vào tận cầu Hàm Rồng viết về trung đội nữ dân quân Yên Vực bắn rơi máy bay. Nhà báo Nguyễn Thị Như Trang là một trong những người đầu tiên viết về Ngô Thị Tuyển, người nữ dân quân Hàm Rồng đã vác những hòm đạn nặng gấp đôi trọng lượng cơ thể, chạy băng băng dưới làn mưa bom lên các trận địa phòng không…

Cuộc chiến đấu trên các đảo còn nguy hiểm và gian khổ gấp bội các trận địa trên đất liền, nhưng Nguyễn Thị Như Trang vẫn không quản ngại. Chị theo thuyền 12 mã lực ra với bộ đội đảo Hòn Mê ở Thanh Hóa. Chị vượt sóng gió cấp 6, cấp 7 trên những con tàu chỉ vài trăm tấn để ra với các chiến sĩ đang canh giữ đảo Bạch Long Vỹ. Nghe tin ở “đảo đèn” có ông đảo trưởng gan dạ, năng động… chị theo thuyền đánh cá ra Long Châu viết bài tuyên truyền góp phần xây dựng điển hình tiên tiến Lại Văn Sầm thành Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân…

Chao ơi những năm tháng làm báo Quân Bạch Đằng gian khổ, khó khăn, nguy hiểm… nhưng sao mà hào khởi và lãng mạn thế! Cơ quan chị 6 người thì có tới 3 ông say mê viết truyện và làm thơ là Mai Vui, Lê Lựu và Kim Chuông. Cái không khí văn chương ấy đã cuốn Nguyễn Thị Như Trang theo. Vừa viết báo, vừa say mê sáng tác. Truyện ngắn, truyện dài, bút ký… đăng báo nhà, báo bạn và báo trung ương. Năm 1967, truyện ngắn “Màu tím hoa mua” của chị đoạt Giải Nhất cuộc thi 2 năm 1966-1967 của báo Văn nghệ. Cho đến nay, giới chuyên môn vẫn cho rằng đó là một trong những cuộc thi văn chương sang trọng bậc nhất của tuần báo Văn Nghệ, với sự phát hiện một loạt những cây bút sau này trở thành những tác giả nổi tiếng, như: Phạm Tiến Duật, Lâm Thị Mỹ Dạ, Vương Trọng, Đỗ Chu, Lê Lựu, Nguyễn Thị Như Trang… Chính từ cuộc thi này mà sau đó Nguyễn Thị Như Trang được rút lên tạp chí Văn nghệ Quân đội, một “ngôi đền văn chương” trên phố nhà binh ở Hà Nội.

( Nguồn: vanvn.net)

Phó Tổng biên tập báo Thanh Niên bị thu thẻ nhà báo

BBC

  • Sản xuất nước mắmGETTY IMAGES
Thông tin sai sự thật về nước mắm có thạch tín đã ảnh hưởng đến nước mắm truyền thống

Phó TBT báo Thanh Niên Đặng Việt Hoa bị Bộ Thông tin Truyền thông thu thẻ nhà báo sau khi báo này bị phạt nặng vì “thông tin sai về nước mắm”.

Theo quyết định số 2184/QĐ-BTTTT được Bộ Trưởng Trương Minh Tuấn ký ngày 5/12, ông Đặng Việt Hoa (tên thật là Đặng Ngọc Hoa) bị thu thẻ nhà báo vì đã bị xử lý kỷ luật cảnh cáo.

Nguyên Ủy viên Ban Biên tập, Tổng thư ký tòa soạn Võ Văn Khối cũng bị thu thẻ nhà báo theo quyết định số 2185/QĐ-BTTTT ký cùng ngày.

Ông Khối trước đó đã bị xử lý kỷ luật cách chức.

Báo Thanh Niên hôm 21/11 cùng 49 cơ quan báo chí khác đã bị xử phạt hành chính trong vụ điều tra “các cơ quan báo chí đăng thông tin sai sự thật về việc nước mắm có hàm lượng thạch tín vượt ngưỡng quy định”.

Báo này bị phạt mức cao nhất là 200 triệu đồng.

Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam lúc đó nói Báo Thanh Niên, và sau đó là Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam (Vinastas), vào tháng 10 đã công bố thông tin “mập mờ” về tỷ lệ nhiễm thạch tín trong nước mắm, không giải thích loại nào là độc hại, loại nào là không độc hại.

Từ hai nguồn này, hàng chục cơ quan báo chí Việt Nam đã đăng “170 tin, bài công bố kết quả khảo sát có nội dung sai sự thật từ báo Thanh Niên và Vinastas”.

Báo Thanh Niên trước đó đã đăng lời cáo lỗi và gỡ bỏ 5 bài viết về nước mắm ra khỏi trang mạng của họ.

Đăng bởi: Ngô Minh | 06.12.2016

Li-fi 100 lần nhanh hơn Wi-Fi

Giáo sư Harald Haas từ Đại học Edinburgh đã phát minh ra một công nghệ truyền tin mới, “Li-Fi”:
 Li-fi 100 lần nhanh hơn Wi-Fi

 
 
100 fois plus rapide que le Wi-fi, le Li-fi
Giáo sư Harald Haas từ Đại học Edinburgh (Đại học Edinburgh) 


Từ các nhà hàng tới nhà ga, những mạng không dây Wi-Fi được lắp đặt khắp nơi trong thành phố. Với sự phổ biến ngày càng tăng của các trang web video, một số người muốn truy cập internet với tốc độ nhanh hơn nữa. Một trong những công nghệ này là “Li-fi”, cho phép truyền với tốc độ 100 lần nhanh hơn Wi-fi.


Li-Fi do Harald Haas, giáo sư tại Đại học Edinburgh, Vương quốc Anh, phát minh ra. Sự khác biệt lớn nhất so với mạng Wi-Fi sử dụng sóng vô tuyến điện không dây đó là Li-Fi sử dụng quang phổ điện từ của ánh sáng nhìn thấy được, có phổ tần số rộng hơn 10.000 lần sóng vô tuyến. Điều này cung cấp khả năng truyền tin với tốc độ cực cao với hiệu quả sử dụng điện tuyệt vời.


Nguyên tắc của nó tương tự như mã Morse. Ánh sáng đảm bảo truyền tin thay vì các tín hiệu kỹ thuật số. Với công nghệ này, ví dụ dùng ánh sáng của một bóng đèn LED với một tốc độ cao của nano giây (một nhấp nháy quá nhanh để có thể nhìn thấy bằng mắt thường), một lượng lớn dữ liệu có thể được truyền cực nhanh. Nó không có bất kỳ tác động nào lên cơ thể con người như sóng vô tuyến, chúng ta có thể nói rằng đây là một chuẩn truyền tin không dây an toàn.


Ánh sáng không thể xuyên qua các bức tường, do đó phạm vi của mạng bị hạn chế. Tuy nhiên điều đó cũng cung cấp một bảo mật cao hơn so với các tiêu chuẩn của truyền tin Wi-Fi thông thường Ưu điểm lớn nhất của Li-Fi là tốc độ của nó. 


Trong những năm gần đây, khi tốc độ mạng cáp quang đã đạt tới 100 Gbps (gigabyte) cho mỗi giây, thì Li-fi cho phép một tốc độ cực cao là 224 Gbps mỗi giây. Về lý thuyết, tốc độ tải về của Li-fi cho một bộ phim dài 2 tiếng 1.5GB sẽ là 18 giây.


Hãng Velmenni của Estonia đã bắt đầu cung cấp lắp đặt  công nghệ Li-Fi trong các môi trường khác nhau, và nó đã được chứng minh rất hữu dụng. Giám đốc điều hành công ty Deepak Solanki tuyên bố “hiện nay đang tiến hành thử nghiệm trong các cơ quan và các khu công nghiệp và văn phòng.”


Li-Fi nhanh hơn và rẻ hơn so với Wi-Fi. Việc sử dụng đèn LED cũng có lợi thế là điện năng thấp và thân thiện với môi trường hơn so với bóng đèn thông thường.
( Nguồn: Google)
Đăng bởi: Ngô Minh | 05.12.2016

ĐÃ ĐI VỚI NHÂN DÂN THÌ THƠ KHÔNG THỂ KHÁC

    ĐÃ ĐI VỚI NHÂN DÂN THÌ THƠ KHÔNG THỂ KHÁC

 (Tham luận không được đọc của Ngô Minh tại Đại hội Hội Nhà văn VIII, 2010)

ngo-minhNgôMinh

Đỗ Phủ là nhà thơ đời Đường, cùng với Lý Bạch được coi hai nhà thơ vĩ đại nhất Trung Quốc. Bản thân ông 15 năm cuối đời là người bần hàn, khốn khó, đói rách. Một lần Đỗ Phủ chạy giặc trên chiếc đò nhỏ trên sông Tương, nhịn đói đã 10 ngày. Sau đó chức sắc trong vùng biết tin, đem rượu thịt mời. Ông ăn uống no say rồi bị “thương thực”, lăn ra chết. Gọi là chết no, nhưng thực chất là chết đói. Vì thế thơ ông thấm đẫm nỗi đau của người dân cùng khổ. Nói về Đỗ Phủ, trong bài thơ “Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe” của Phùng Quán có khúc thơ rất thống thiết: Đã đi với nhân dân / Thì thơ không thể khác/ Dân máu lệ khốn cùng / Thơ chết áo đắp mặt… Tôi muốn nhân chuyện thơ Phùng Quán  viết về Đỗ Phủ để nói vài ý kiến ngắn về lối đi của nhà văn trên con đường văn chương thăm thẳm để có tác phẩm đích thực mà người đọc luôn mong đợi. Gần mực thì đen/Gần đèn thì sáng. Nhà văn đi với ai thì sẽ viết ra thứ văn chương đó. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 05.12.2016

Chao ôi là buồn

CHUYỆN GIÓA SƯ, TIẾN SĨ Ở vIỆT NAM:

Chao ôi là buồn

(Rút từ facebook của Đỗ Ngọc Thống)

Nhân một comment gần đây của GS Trần Đình Sử: “…Mày giáo sư thì tao cũng giáo sư”.

Tôi có dịp may và cũng không may là được/ phải tiếp xúc với nhiều người có học hàm, học vị. Có người giỏi thật, tôi cứ nghĩ mình học suốt đời không hết chữ ông ấy. Nhưng cũng có nhiều người không hiểu sao có được chức danh này. Rồi cứ lẩm nhẩm nhại theo câu thơ của Bảo Sinh:
Đêm nằm nghĩ mãi không ra
Tại sao tay ấy lại là giáo sư?


Thì đây, một ông có tên tuổi trong lĩnh vực giáo dục, luôn nghĩ mình giỏi, chẳng chịu tìm hiểu gì, cứ oang oang tuyên bố với báo chí: làm gì có dạy học dự án; cả Bộ Giáo dục có vài dự án lấy đâu ra cho học sinh cả nước tham gia. Té ra ông ấy hiểu dự án là phải có việc đầu tư hàng trăm triệu đô. Trong khi cái mà người ta đang bàn là dạy học dự án (project-based teaching), một phương pháp/ hình thức trong dạy học rất phổ biến ở các nước có nền giáo dục phát triển. Một ông GS khác khi phản biện luận án liên quan đến chương trình đánh giá học sinh quốc tế PISA; chẳng hỏi, chẳng xem và cũng chẳng đọc, phán một câu xanh rờn: Tại sao văn chương lại gắn với thứ bánh của Tây? Rồi mới mấy hôm trước một bà GS lịch sử cao giọng tuyên bố rất hùng hồn: “Chỉ những người làm lịch sử mới có tầm nhìn xa, trông rộng, hơn hẳn người làm khoa học tự nhiên…”. Một ông thứ trưởng cũng được gọi là GS, đã về hưu hơn chục năm rồi, nhưng rất hay lên tiếng phê phán giáo dục. Theo ông nhà trường hiện nay nhìn vào đâu cũng thấy hỏng, trình độ giáo viên yếu kém, đạo đức học sinh xuống cấp, tầm nhìn cán bộ quản lý hạn chế… Không hiểu sao khi còn đương chức không thấy ông ấy lên tiếng, bây giờ về hưu rồi toàn đổ lỗi cho người khác… Hình như ông ấy là GS Vật lý, nhưng tôi đã nghe nhiều người bảo: ông này cái gì cũng biết trừ vật lý…
Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du từng viết: “Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường”. Hóa ra câu ấy đúng cho rất nhiều lĩnh vực, chẳng cứ gì chữ trinh,“GS kia cũng có ba bảy đường”. Gặp các vị ấy rồi, thấy nản quá. Lại nghĩ đến comment của thầy Trần Đình Sử.
Chao ôi là buồn.

Đăng bởi: Ngô Minh | 05.12.2016

VĂN HÓA TÂM LINH TÀY TRONG VĂN CHƯƠNG Y PHƯƠNG

VĂN HÓA TÂM LINH TÀY TRONG VĂN CHƯƠNG Y PHƯƠNG

NGUYỄN HUY BỈNH
 Tín ngưỡng ma quỷ, thần linh ở người Tày vốn tồn tại và lưu truyền từ xa xưa. Hệ thống tín ngưỡng này có ảnh hưởng trực tiếp đến ý niệm, hành vi và ứng xử của người Tày một cách sâu sắc.

Nhà thơ Y Phương

Y Phương là người am tường văn hóa truyền thống của người Tày, ông đã vận dụng, truyền tải tất cả các hình thức văn hóa tâm linh này vào trong trang viết của mình một cách sinh động, gần gũi. Đặt vấn đề tìm hiểu tín ngưỡng ma quỷ và thần linh của người Tày trong văn chương của Y Phương, bài viết hướng đến làm rõ ý niệm và thực hành nghi lễ ma quỷ, thần linh vốn đã tồn tại từ bao đời nay trong văn hóa tâm linh của người Tày, trên cơ sở đó lý giải sự ám ảnh tín ngưỡng này trong các sáng tác của ông. Điều đó vừa bao hàm việc phục dựng tín ngưỡng ma quỷ, thần linh người Tày từ góc nhìn của dân tộc học, vừa làm rõ giá trị nghệ thuật trong sáng tác của Y Phương qua việc sử dụng yếu tố văn hóa này.

Trong thực tiễn, ở người Tày xuất hiện niềm tin vào ma quỷ, thần linh như là một hiện tượng, một tín điều phổ quát và bền vững. Theo nhà văn Y Phương thì hầu như ở người Tày ai ai cũng chỉ tin vào ma quái, thần thánh: một thế giới ma quái bao bọc lấy đời sống xã hội người Tày. Bất kể chỗ nào cũng có ma. Ma trong nhà. Ma ngoài sân. Ma rừng thiêng. Ma nước độc. Ma hòn đá. Ma vực sâu. Ma thuồng luồng. Ma gốc cây. Ma trẻ con. Ma hành khất. Ma bà lão. Thế giới ma ngự trị đời sống tinh thần, từ khi con người sinh ra đến lúc chết đi. Mọi rủi ro đến với con người, họ đều cho rằng ma làm. Ma bắt đứa trẻ kia bị ốm. Ma làm cho bà già kia phải chết. Ma đẩy anh kia xuống vực. Ma làm cho con bé năm tuổi người Nùng biết nói tiếng Kinh…Nghĩa là mọi sự diễn ra bất thường, đều có bàn tay điều khiển của ma. Vậy con ma là gì? Nó như thế nào? Chẳng một ai nhìn thấy. Ma là một thế lực đầy quyền uy. Đối với người trần mắt thịt, những gì trông thấy, kể cả hổ báo, người ta không sợ. Chỉ sợ ma![1]. Y Phương đã chỉ ra được một cách sống động niềm tin vào ma quỷ của người Tày, ma quỷ xuất hiện mọi lúc, mọi nơi và trong mọi sự vật hiện tượng trên thế gian này, thậm chí là trong cả giấc mơ, trạng thái tình cảm của con người. Có thể nói, đối với người Tày, ma quỷ đã thấm sâu vào trong não trạng của họ và tồn tại một cách vô thức – một dạng của vô thức tập thể.

Trong tín ngưỡng của người Tày, “phi” (tức “ma” theo nghĩa tiếng Việt) có nghĩa rất rộng, chỉ tất cả các thần thánh, ma quỷ có mặt trên trời dưới đất, dưới nước như: ma trời (Phi fạ), ma đất (Phi đin), ma rừng (Phi pá) ( Không phải Phi pá mà là Phi đông), ma núi cao rừng già (Phi slấn) (Slấn là thần linh chứ không phải ma), ma thuồng luồng (Phi Nguộc)  Phi ngưởc), những người chết bất đắc kỳ tử (Phi slương), ma thề nguyền (Phi mang), ma thiên lôi (Phi lòi), ma thành hoàng, ma thổ công, ma tổ tiên (Phi pẩu pú), ma người chết (Phi thai), ma người sống (Phi đíp)[2]… Trong tản văn của mình, Y Phương đã nói lên được hiện thực về tín ngưỡng ma quỷ. Ông đã chỉ ra niềm tin “vạn vật hữu linh” (mọi vật đều có linh hồn) của người Tày một cách sinh động, ông viết: “Kể cả anh, cả tôi, cả các bạn đông tây nam bắc, đều chưa một ai biết con ma hình thù nó như thế nào. Nhưng với người miền núi quê tôi, con ma có mặt hầu hết mọi nơi mọi chỗ. Từ lúc con người sinh ra, đến ngày về núi, vẫn bị con ma điều hành, chi phối. Mở mắt ra là có ma. Nhắm mắt vào ngủ cũng có ma chầu chực. Ngồi trong nhà hay ra ngoài rừng đều có ma đi theo sau lưng. Vì thế, người vùng cao chúng tôi không bao giờ dám quay lưng ngoảnh mặt”[3]. Như vậy, trong tâm thức người Tày, ma là loài không có hình thù, xuất hiện ở khắp trong không gian, trong nhà hay ngoài rừng. Trong suốt đời người, từ khi con người sinh ra cho đến khi chết đi ma đều hiển hiện. Ma tồn tại trong khi con người ta thức và cả khi con người ta ngủ… Điều đó cho thấy, ý niệm về ma quỷ đã thực sự ăn sâu trong hành vi và suy nghĩ của đồng bào dân tộc Tày.

Trong tản văn Y Phương, ông đã mô tả được không gian quỷ ma tồn tại và trú ngụ, đó là những nơi gần gũi như trên cơ thể con người và những nơi quen thuộc và gắn bó với người dân: “Người ta nói con ma nấp ở trong tóc. Trong xống áo. Trong xó bếp. Trong góc nhà. Ở đuôi sàn phơi thóc. Ở bên trong gốc cây sung cây ổi. Ở ngã ba ngã tư quốc lộ hay đường rừng. Nhất là ở những nơi nghĩa địa”. Thậm chí, ngay cả trong lá hoa của người xưa truyền lại rằng, ở đó có những con ma chuyên đi bắt vía người lười biếng. Ông cũng chỉ ra được một số đặc tính của ma quỷ trong ý thức của người Tày: “Chúng tụ tập thành làng thành tổng. Nhưng ma thường hay xuất hiện vào lúc ban đêm tối trời. Ma kỵ ánh sáng ban ngày và ngọn lửa đang rực cháy. Ma trú ngụ ở những vùng có nước xoáy và vực sâu. Ma ngủ không có tiếng kêu. Nhưng nó có bóng. Bóng của ma nhọp nhẹp lởn vởn. Nó in hình cái đầu hói lên vách nhà, lấp ló đằng sau cánh cửa[4].

“Phi” – ma có sức ám ảnh ghê gớm đến tâm lý của người Tày, mọi hành vi bất bình thường của con người và vạn vật xung quanh họ đều do “phi” gây ra. Y Phương mô tả lại quan niệm về sự chi phối của ma quỷ đối với trẻ con. Khi những đứa bé khó ngủ thì người ta cho rằng: “Nó nhìn thấy những con ma lạ hoắc. Con mặt đỏ. Con râu vàng. Con đầu trọc. Nên cứ nhắm mắt vào là thấy, làm nó sợ. Trẻ khóc suốt đêm là vì vậy. Mãi đến gần sáng nó mới hết khóc và thiếp dần vào giấc ngủ”[5]. Vì thế để đứa trẻ không bị sợ hãi ma thì người ta phải thực hành các  nghi thức ma thuật để đuổi ma đi. Họ khấn trời khấn phật, khấn mẹ Hoa và đặt những con dao đã yểm bùa xuống dưới chiếu ở bốn góc giường. Những con dao đó theo Y Phương thì nó vẫn còn mới tinh, được người ta làm từ thép già, chưa một lần dính máu. Những con dao nhọn này quay về bốn hướng để diệt bốn loại ma khác nhau, dao nhọn chĩa mũi về hướng đằng Đông vì nơi ấy loài ma có nước da màu xanh nước biển; dao quay mũi về đằng Tây vì nơi ấy ma quỷ có bộ mặt đỏ quạch; dao chĩa mũi nhọn về phía Nam vì nơi ấy có ma quỷ đầu bẹt xanh như đít nhái, giọng nói khàn khàn vịt đực; dao nhọn quay mũi về phía Bắc vì nơi ấy là nơi ở của ma quỷ có cặp mắt trắng dã, môi thâm xì. Họ tin rằng nếu làm như vậy sẽ chế ngự được các loài ma.

Không chỉ kể chung chung về các loài ma, Y Phương đã miêu tả cụ thể về một số ma, có những loại ma của người Tày mà ông nhắc đến rất hiếm khi nghe thấy ở các tộc người khác như ma xay thóc và ma gà. Ma xay thóc vốn là linh hồn của những đứa trẻ, chẳng may mà chết. Chúng nó đùa nghịch hơn thuở còn ở trên dương thế. Trời đất quay cuồng trong tiếng hét hú. Loài ma này có quyền lực ngang tựa ông trời, không biết sợ ai, chúng có quyền lực vô hình và vô hạn: “Ma xay thóc là lực lượng quyền uy trên cả ông giời. Nên ông giời buộc phải chào thua. Ông giời phải để dành riêng một khoảnh rừng phi eng làm nơi răn dạy loài người”[6]. Vì thế, những biểu hiện của thiên nhiên, mà người Tày tin là do trời tạo ra như hiện tượng mưa, gió, sấm, chớp thì họ cũng nghĩ ngay đến là do con ma xay thóc đã chọc giận trời: “Người làng tôi nói trên con ma là đến ông giời. Nghĩa là nó chỉ kém ông cao xanh có một bậc. Nay con ma dám trêu tức ông giời thế này là lụt to rồi. Quả nhiên trời mưa như trút. Mưa nghe như thác đổ. Làng xóm chìm trong mưa trắng xóa. Thóc lúa ngoài đồng chìm nghỉm trong nước trắng băng băng. Sấm chớp xé rách nát bươm cả bầu trời, mặt đất”[7]. Trong cộng đồng, người ta tin rằng, con người phải biết phục tùng ma, ma bảo gì thì phải nghe đấy, và đã làm người thì phải biết sợ con ma. Có thể nói, với người Tày, ý niệm về loài ma xay thóc – vốn là linh hồn của những đứa trẻ chết bất đắc kỳ tử đã có từ xa xưa, nó là minh chứng cho sự sợ hãi của con người trước hiện tượng của tự nhiên đã ăn sâu trong suy nghĩ và trong đời sống tâm linh của họ. Ma xay thóc còn có nghĩa tung hoành trời đất chẳng sợ ai, loài ma có quyền lực, có sức mạnh, có khả năng siêu phàm, nó có thể tác động đến trời đất, con người ở nhiều phương diện của cuộc sống. Loài ma này tồn tại phổ biến trong tâm trí của cộng đồng.

Một loại ma cũng rất đặc biệt tồn tại trong tâm thức của người Tày đó là ma gà, loài ma này còn có tên gọi khác nhau: “phi cáy”, “phi gjống” “phi phẳn”, “phi Phạm Nhan”, “phi đằm cằm”,… Theo quan niệm của người Tày thì những nhà có ma gà do từ ngày xưa truyền lại. Nghĩa là từ đời cụ, đời ông,… có ma thì đời con cháu, chết sau này cũng trở thành gia đình có “ma”[8]. Tín ngưỡng ma gà xuất hiện từ khi nào, mặt mũi nó ra sao thì không ai hay biết, người Tày chỉ biết là sinh ra và lớn lên là đã nghe nói có loài ma này, Y Phương viết: “Không những người làng tôi, mà cả vùng núi Việt Bắc, Tây Bắc, ai ai cũng đồn đại xung quanh chuyện con ma gà. Nó thổi từ tai người nọ sang tai người kia. Nó truyền từ miệng người này, nhả sang miệng người khác. Tin đồn loang nhanh như ao bèo tấm. Thực hư chả biết. Nhiều người ghê khiếp ma gà”. Họ khiếp sợ ma gà bởi nó có thể nhập vào người và tồn tại trong người đó, thậm chí nó còn di truyền từ đời này sang đời khác. Ma gà có sức mạnh ghê gớm, nó làm hại người, hại vật: “Người có ma gà, nhìn vào đâu cũng làm cho muôn vật bị thui chột. Lời nói của họ như nhựa cây sơn. Dính vào liền bị ngứa khắp người. Nó sẽ làm héo úa cây rau, thối cây hoa. Làm xanh máu. Làm teo cơ. Trong người khó ở. Trâu, bò, lợn, gà bỗng dưng biếng ăn…”. Những người chẳng may bị ma gà nhập vào thì bị điên, bị dại. Con ma gà biến người ấy đã biến những hành vi lời nói từ con người trở thành con vật. Do vậy, ma gà đã ám vào ai thì người ấy bị cả cộng đồng chối bỏ: “Ra đường không dám mở miệng chào ai. Vào làng, không dám chào trâu bò lợn gà. Không dám khen trẻ nhỏ. Không dám hỏi thăm người già. Khi đi làm đồng, hay lên rừng kiếm củi, lũi cũi đi một một mình. Không có ai bước chân đi cùng. Giữa đường, chẳng may gặp mưa to gió lớn, người có ma gà không dám đứng trú chân. Chỉ sợ người nào nhìn thấy. Người ấy liền réo tên vạch mặt, ông trời nghe tiếng. Ông trời lập tức sai thần sét đánh chết”[9]. Như vậy, người nào bị coi là có ma gà thì cả cuộc đời bị cô lập hoàn toàn, họ sống bi kịch khủng khiếp, họ luôn ở trong trạng thái tâm lý tự ti, sợ hãi. Sự tự ti và sợ hãi ấy ám lấy con người như một thứ vô hình luôn hiện hữu mọi lúc, mọi nơi. Nó trở thành nỗi ám ảnh kinh hoàng mà con người phải chịu đựng.

Trong thực tế, đối với những gia đình mang tiếng có ma gà, bà con hàng xóm thường không đến vay mượn hoặc lấy của cải nhà ấy. Vì họ cho rằng nếu vay mượn hoặc lấy của cải mà không trả đúng thời hạn thì con “ma” nhà ấy sẽ đến đòi nợ bằng cách “ma” nhập vào vía người sống, nhất là trẻ con mới sinh, người trong gia đình sẽ bị ốm yếu, rồi “ma” sẽ ăn gan,… Vì vậy, những nhà mang tiếng “có ma” trở thành nguy hiểm đối với bà con hàng xóm, mặc dầu họ không biết gì về ma thuật, không bao giờ có ý nghĩ làm hại người khác. Trái lại, họ hết sức tránh tiếng là người có ma[10]. Y Phương đã lý giải hiện tượng ma gà rất độc đáo, ông không tin đó là loài ma có thật, nó chỉ là loài ma do con người tưởng tượng ra, về sau nó biến tướng và trở thành mối nguy hại vô cùng lớn đối với con người, ông cho rằng, người ta để làm hại nhau thì họ vu cho người bị làm hại ấy là có ma gà: “những ai sủi tăm hơn người một chút, liền bị gán cho có ma gà. Khi không ưa ai, thiên hạ cũng quàng lên cổ người ta hai chữ ma gà. Ma gà như vòng kim cô ở nơi nhạt muối. Ở những người thiếu tình thương đồng loại. Cái sự ác tâm, làm thành lời đồn… Lời đồn đại ấy, vô tình làm cho nhiều gia đình lâm vào cảnh khốn đốn”[11]. Như vậy, ma gà vốn xuất phát từ tín ngưỡng dân gian, nó là hiện tượng văn hóa tâm linh độc đáo của người Tày, người Nùng. Về sau, hiện tượng này đã bị biến tướng, nó trở thành một vấn nạn lớn đối với con người trong cộng đồng.

Không chỉ mô tả về tín ngưỡng thờ cúng ma quỷ, Y Phương còn sử dụng hiện tượng văn hóa tâm linh này như một phương tiện nghệ thuật nhằm truyền tải trạng thái cảm xúc của mình đối với những đồng đội, người thân, người lính đã tử trận trong chiến tranh, trong Khúc mở: Khêu đèn lên soi tỏ nàng Trăng Y Phương mô tả: Đêm nay giữa trời trăng ngồi/ Tôi chợt thấy nước mắt trăng loác loác/ Tưới đẫm bao người/ Đang ngủ vùi trong đất/ Giờ đây/ Họ biến thành cây/ Thành cỏ/ Thành hoa/ Thành quả/ Thành hồ nước/ Thành cua/ Thành cá/ Thành khói mây/ Thành hơi thở cho chúng ta ngày nay… Tôi mời bạn/ Thư thư tôi kể/ Những chuyến hành hương kiếm tìm/ Linh hồn người lưu lạc[12]. Trong cảm nhận của Y Phương, những người chiến sĩ hy sinh, họ đang ngủ trong lòng đất, họ biến thành cỏ cây, hoa trái, hồ nước, khói mây,… họ trở thành nguồn sống cho con người thực tại; rồi những hồn ma ấy khi hiện lên, họ hóa thân làm đàn đom đóm, lân tinh: Từ đâu/ lập lòe/ Đàn đom đóm/ Như đám lân tinh/ Những hạt sáng bay bay/ Rồi lặng im/ Tắt phụt/ Tự dưng thấy đau đầu tức ngực/ Ù tai/ Này/ Những hồn ma/ Hát nữa đi/ Múa nữa đi/ Hát bừa phứa chơi chơi/ Múa bừa phứa chơi/ Chiến trường cần tiếng cười/ Chết đâu phải là hết[13]. Những đàn đom đóm, lân tinh với những vạt sáng tượng trưng cho hình ảnh của người đã chết còn lang thang không biết lối về, chưa tìm được quê hương làng bản của mình. Vì vậy, để tìm những hồn ma đó trở về, người ta thực hành những nghi lễ tìm kiếm theo các nghi thức truyền thống, trong Khúc ca: Hành trình kiếm tìm, Y Phương viết: Hồn vía các chàng trai binh nhất binh nhì hạ sỹ thiếu úy/ Bị nàng tiên áo hồng áo chàm áo tím áo nâu giữ lại/ Giữ lại để chơi con dê kéo cày…/ Hồn vía các chàng trai binh nhất binh nhì hạ sỹ/ thiếu úy còn bị ma núi/ Ma sông/ Ma đồng bằng/ Ma rừng thiêng giữ lại/ Giữ lại để thi phi ngựa bắn cung/ Thi đố vui lày cỏ/ Chia hai bên ném còn/ Ai ném trúng hồng tâm/ Sẽ được cưới nàng tiên áo hồng áo vàng áo nâu áo chàm/ Tùy chọn/ Nên hồn vía quên mọi đường về/ Hồn chưa về/ Người làng tôi buồn đau/ Lúc đầu chỉ bằng hạt vừng/ Về sau to mãi dần lên thành quê hương miền núi/ Họ thắp hương/ Cúng con gà giò mỏ đỏ lông vàng/ Bên mâm xôi trứng kiến/ Bói xem/ Đoán xem/ Hồn người nhà trú ngụ nơi đâu/ Rú…r..ú…r…ú…r…ú/ Cuốc xẻng bằng đất sét. Đất sét/ Se sẽ chạm vào người…[14]. Trong cách miêu tả của Y Phương, hồn vía những người lính hy sinh trong chiến tranh chưa trở về quê hương bản quán bởi họ còn bị những loài ma sông, ma núi, ma đồng bằng, ma rừng thiêng giữ lại cùng nhau vui đùa nên quên đường về, khiến cho người làng buồn đau, nỗi đau ban đầu bằng hạt vừng, về sau lớn lên thành quê hương miền núi. Vì thế, muốn linh hồn những người lính trở về, họ thực hành nghi lễ bằng cách chuẩn bị con gà, mâm xôi trứng kiến rồi bói xem hồn người nhà trú ngụ nơi đâu để mời gọi, để kiếm tìm.

Trong thế giới tâm linh của người Tày, ma quỷ là những linh hồn của người và của vật. Họ có niềm tin vạn vật đều có linh hồn – linh hồn tồn tại cả ở người, con vật, đồ vật và cây cối. Khi con người chết đi linh hồn và thể xác rời xa nhau, linh hồn người lang thang sẽ trở thành các loài ma: người Tày phân biệt hai loại ma, ma lành và ma dữ tức là phúc thần và hung thần. Đồng bào thờ ma lành ở trong nhà hay ở miếu thổ công, thành hoàng. Đối với loài ma dữ, đồng bào không thờ cúng. Nhưng khi thầy bói hay thầy cúng phát hiện ra con ma nào gây ra ốm đau, tai họa thì phải cúng con ma ấy, tùy từng loại ma to nhỏ mà liệu lễ vật,… Loại ma lành ban ơn ban phúc cho người trần, nhưng cũng trừng phạt người trần nếu làm trái ý hoặc lo việc cúng bái không chu đáo. Ngay cả ma tổ tiên cũng quấy rầy con cháu không kém các loại ma dữ, nếu không vừa ý. Muốn cho khỏi bệnh, muốn cho tai qua nạn khỏi lại phải cúng tế tạ tội[15]. Có thể nói, việc thờ cúng ma quỷ của người Tày nhằm chế ngự sự sợ hãi của con người trước những hiểm họa của cuộc sống như ốm đau, bệnh tật, chết chóc,…; mặt khác, họ thờ cúng ma quỷ còn cầu mong các lực lượng siêu nhiên này ban phúc lành cho người dân.

Bên cạnh việc mô tả lại ý niệm và thực hành nghi lễ ma quỷ của người Tày, trong sáng tác của Y Phương còn xuất hiện tín ngưỡng thần linh – một tín ngưỡng đã ăn sâu trong tâm thức cộng đồng người Tày. Trong vũ trụ luận người Tày, thế giới phân ba tầng tương ứng với ba mường, mường Trời, mường Đất và mường Nước. Ở mỗi mường ấy với một hệ thống thần linh riêng, khá đồ sộ[16]. Xuất phát từ ý niệm này cho nên trong đời sống tâm linh người Tày, họ thờ cúng nhiều vị thần linh khác nhau, đại diện cho thế giới ba tầng và những khát vọng của con người. Một hiện tượng tín ngưỡng được mọi gia đình đều quan tâm đó là tín ngưỡng thờ Mẹ Hoa – vị thần bảo hộ cho việc sinh nở. Nhà văn Y Phương viết về tín ngưỡng này như sau: “Từ khi các cháu bé lọt lòng mẹ, Ngọc Hoàng thượng đế đã cắt cử Hoa Vương Thánh Mẫu làm người trực tiếp chăm sóc, cai quản phần hồn các cháu. Người Tày gọi đó là mẻ bjooc mẻ woa – Mẹ Hoa. Bất kể trong nhà người Tày nào, dù định cư ở đâu, họ cũng đều lập bàn thờ Mẹ Hoa. Bàn thờ đặt vào nơi trang trọng nhất. Mùng một hôm rằm hoặc lễ tết, người nhà phải thắp hương cúng khấn. Mẹ Hoa không những là người cai quản mà còn phân phối chia đều con trai con gái cho từng nhà từng người. Ai hiếm muộn phải lập đàn chay cúng khẩn thỉnh cầu Mẹ Hoa. Mẹ cho đậu mới được đậu. Mẹ Hoa là người có một vị trí vô cùng quan trọng trong thế giới tâm linh của người Tày Nùng”[17]. Có thể nói, trong thực tiễn tín ngưỡng thờ Mẹ Hoa đã ăn sâu, bám chắc trong tâm lý và hành vi của người Tày hết sức sâu sắc. Tín ngưỡng này đã trở thành biểu tượng văn hóa của người Tày, nó đại diện cho khát vọng về một cuộc sống đông con nhiều cháu trong mỗi gia đình người Tày, mặt khác đó còn là niềm tin về một thế giới tâm linh đang bao bọc và chi phối đến con người nơi trần gian. Y Phương mô tả cụ thể về thực hành nghi lễ của người dân đối với Mẹ Hoa, Bố Trời như sau: Ngày đầy tháng con/ Đầy tháng mẹ/ Ba mâm hương bày ra/ Bảy mâm đèn đặt tới/ Cỗ bàn lao xao khói/ Liền đấy/ Bố Trời cưỡi ngựa hồng/ Mẹ Hoa cưỡi hạc trắng/ Đỗ xuống bờ sông/ Dàn nhạc khèn tấu lên/ Cờ phướn tung bay đón/ Mời bố Trời đặt tên/ Bố Trời cười khà khà/ Khẽ nháy sang mẹ Hoa/ Mẹ Hoa cầm quạt phất/ Bố Trời nói/ Con là một hạt đất/ Mẹ Hoa nói? Không? Con là một hạt người/ Hãy để người đặt tên[18]... Đối với người Tày, mường Trời là nơi ngự trị của các thần linh tối cao, đó là nơi trú ngụ của linh hồn con người sau khi chết. Mường Trời là nơi ngự trị của vua quan, thần phật có quyền năng quyết định mọi vấn đề sinh tử và số mệnh con người, ở đó bao gồm Ngọc Hoàng, Phật Bà Quan Âm, vua Hành Khiển, vua Số và Mẹ Hoa (Mẻ Bioóc/ Mẻ Va). Ngoài ra, ở mường Trời còn có tướng lĩnh dưới quyền Ngọc Hoàng, các nàng tiên, các loài quỷ thần có phép lạ[19]. Xuất phát từ ý niệm đó, Y Phương đã diễn đạt được hình ảnh Bố Trời cưỡi ngựa hồng, Mẹ Hoa cưỡi hạc trăng xuống trần gian gặp gỡ chia vui với gia đình và che chở đứa bé mới chào đời. Hình ảnh ấy hết sức gần gũi và mang đầy tính nhân văn, nhân ái đối với con người nơi trần gian.

Trong tâm thức của người Tày đã và đang tồn tại một hệ thống tín ngưỡng dân gian hết sức đồ sộ, đó là tín ngưỡng vật linh đa thần giáo. Xuất phát từ tín ngưỡng này của người Tày cho nên ý niệm ma quỷ, thần linh đã thực sự chi phối cuộc sống thường nhật của họ. Y Phương viết: “Làng tôi có đến ba bốn ngôi đền thờ Thổ Công xây bằng đá hộc. Mỗi xóm có một ngôi đền trấn giữ ma quỷ. Đằng sau và hai bên tả hữu ngôi đền có năm sáu cây cổ thụ, các vị đều thọ trên trăm năm tuổi. Nương theo tâm linh, những chòm cây cổ thụ, đó chính là hình ảnh các bậc tiền nhân. Các cụ ngôi chơi xơi rượu, đánh cờ”[20]. Trong cách miêu tả của Y Phương đã diễn tả niềm tin của con người vào việc sùng bái Thổ Công – vị thần linh trong làng luôn được người dân thờ ở ngôi đền xây bằng đá hộc; còn ở mỗi xóm lại thờ các thần trấn giữ ma quỷ; những chòm cây cổ thụ là nơi các bậc tiền nhân hiện về…Tất cả đã nói lên được niềm tin vào thế giới siêu nhiên, kỳ bí nhưng cũng rất gần gũi với cộng đồng cư dân ở nơi nhạt muối.

Như vậy, tín ngưỡng ma quỷ, thần linh của người Tày trong văn chương Y Phương hiện lên một cách cụ thể và thực chứng từ những điều mắt thấy tai nghe. Những yếu tố văn hóa tâm linh được Y Phương đề cập đến bao gồm ý niệm và thực hành nghi lễ về ma quỷ, thần linh vốn là những vấn đề cốt yếu của tín ngưỡng này. Do vậy, đọc văn chương Y Phương chúng ta có thể thấy được phần nào hiện trạng thờ cúng ma quỷ, thần linh – một hiện tượng văn hóa tâm linh hết sức đặc thù của người Tày. Có thể nói, mặc dù chưa thể phục dựng được toàn bộ diện mạo và bản chất của tín ngưỡng ma quỷ, thần linh của người Tày, nhưng bằng bút pháp nghệ thuật văn chương hấp dẫn, bằng vốn tri thức hiểu biết cặn kẽ của mình, Y Phương đã dẫn/đưa người đọc trở về quá khứ, trở về với văn hóa “gốc” của người Tày trong các trang viết đầy mê hoặc của ông. Chính vì vậy, đọc những sáng tác văn chương Y Phương, người đọc không chỉ thưởng thức giá trị thẩm mỹ mà loại hình nghệ thuật ngôn từ mang lại, mà ở đó còn chứa đựng những yếu tố văn hóa đặc thù của người Tày – tộc người mà Y Phương đã gắn bó suốt cả cuộc đời.

(“Nguồn: In trong cuốn Thế hệ nhà văn sau 1975 (kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia do Trường Đại học Văn hóa Hà Nội tổ chức ngày 18/4/2016), NXB Hội nhà văn, 2016)”)

Đăng bởi: Ngô Minh | 05.12.2016

Di sản

Di sản

  •   HOÀNG HỐNG MINH

fidel

Có những nhân vật trước khi ra đi đã nhắn lại được những điều thật sáng sủa, làm cho người đời phải phải suy ngẫm và thán phục.

Ông Lưu Bị thời Tam Quốc trước khi chết đã nhắn lại “chớ thy điu thin vì nh, mà bỏ thôi làm; chớ thy điu ác vì nh, mà cứ làm ba. ”

Ông Fidel Castro “mun tên tui và hình nh ca ông không được sử dng trong các cơ quan, đường ph, công viên và các công trình công cng sau khi ông qua đi; không xây dng các tượng đài và công trình tưởng nim ông” – AP dẫn lời chủ tịch Raul Castro. (http://vietnamnet.vn/vn/the-gioi/fi…) Điều đầu tiên mà chính quyền Cuba đã thực hiện được, là hoả thiêu thi hài ông Fidel Castro và không xây lăng tẩm cho ông.

Từ việc nhắn lại được, cho đến đám đông kế tục họ sau đó có làm được như thế không, cũng vô cùng chuyện.

Ở Cuba, đồng chí và nhân dân của fidel Casro đã tổ chức tang lễ ông rất đơn giản nhưng nghiêm trang và công bố những lời ông dặn.

Đây mới là việc đáng ngẫm, đáng bàn. Phải chăng đây là một di sản lớn của Fidel Castro.

(Nguồn: VHNA)

Đăng bởi: Ngô Minh | 05.12.2016

Biển Đông : Việt Nam thách thức Trung Quốc

Biển Đông : Việt Nam thách thức Trung Quốc

mediaẢnh vệ tinh chụp nhà để máy bay mà Việt Nam đang xây ở Trường Sa.@csis/amti

Với việc nâng cấp phi đạo duy nhất của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa và xây dựng các nhà để máy bay mới tại địa điểm này, Hà Nội đáp lại việc Trung Quốc trong thời gian qua đã ồ ạt xây dựng các cơ sở quân sự tại khu vực đang tranh chấp này ở Biển Đông.

Các hình ảnh vệ tinh do Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược (CSIS) công bố vào tuần trước cho thấy là Hà Nội đã mở rộng phi đạo và xây hai nhà chứa máy bay lớn trên một đảo của Trường Sa để có thể tiếp nhận những phi cơ mới của không quân Việt Nam, như máy bay giám sát biển PZL M28B và máy bay vận tải CASA C-295. Để mở rộng phi đạo, Việt Nam đã bồi đắp đảo cho lớn hơn, tương tự như việc Trung Quốc xây các đảo nhân tạo, tức bồi đắp các đá thành những đảo thật sự.

Thật ra thì quy mô của công trình mở rộng phi đạo của Việt Nam chẳng thấm vào đâu so với các công trình của Trung Quốc ở Trường Sa, vì các chiến đấu cơ phản lực chỉ có thể sử dụng một cách hạn chế phi đạo vừa được mở rộng. Nhưng theo ghi nhận của dự án Sáng Kiến Minh Bạch Hàng Hải Châu Á (AMTI), thuộc trung tâm CSIS, hành động nói trên cho thấy là ngay cả khi căng thẳng ngoại giao với Trung Quốc giảm bớt, Việt Nam vẫn tiếp tục hiện đại hóa quân đội và thắt chặt quan hệ an ninh với các nước Nhật, Mỹ, Ấn Độ, để chuẩn bị đối phó với những hành động khác của Trung Quốc trong tương lai nhằm áp đặt chủ quyền của họ ở Biển Đông.

Hãng tin Reuters tháng 8/2016 tiết lộ rằng Việt Nam đã bắt đầu triển khai các dàn tên lửa địa đối không ở quần đảo Trường Sa. Hà Nội đã không xác nhận thông tin này, nhưng theo nhận định của AMTI, hành động đó không có gì là đáng ngạc nhiên khi chúng ta thấy tiềm lực không quân rất mạnh mà Trung Quốc chẳng bao lâu nữa sẽ triển khai ở vùng Trường Sa.

Theo AMTI, Việt Nam có thể sử dụng phi đạo mở rộng và nhà để máy bay mới cho việc tuần tra khu vực Trường Sa. Cho dù tiềm lực quân sự của Việt Nam không thể so với của Trung Quốc, nhưng Hà Nội có vẻ quyết tâm nâng cao khả năng giám sát hoặc khả năng bảo vệ chủ quyền, nếu thông tin về việc triển khai tên lửa là đúng.

Hôm thứ sáu tuần trước, phát ngôn viên bộ Ngoại giao Trung Quốc đã yêu cầu Việt Nam ngưng xây dựng « trên lãnh thổ Trung Quốc », nhưng chắc là Hà Nội sẽ không làm theo yêu cầu này của Bắc Kinh.

Dầu sao thì với nguy cơ chiến tranh tái diễn với Trung Quốc do vấn đề Biển Đông, Việt Nam không có con đường nào khác hơn là phải tiếp tục hiện đại hóa quân sự, một mặt nâng cao khả năng sẳn sàng chiến đấu của quân đội, mặt khác đầu tư phát triển ngành công nghiệp quốc phòng, cùng với việc mua thêm vũ khí và thiết bị quân sự từ nhiều nguồn khác nhau.

Ý kiến: Thủ tướng Phúc có thể tạo nên sự khác biệt?

  • Vietnam Prime Minister Nguyen Xuan PhucImage copyrightSTR/AFP/GETTY
Image captionÔng Nguyễn Xuân Phúc nhậm chức Thủ tướng từ đầu tháng 4/2016

Kể từ khi chính thức tuyên thệ nhậm chức vào ngày 7/4/2016 tại Kỳ họp thứ nhất Khóa 14 Quốc hội, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã và đang tạo ra phong cách chỉ đạo điều hành quyết liệt, cụ thể, kịp thời với sự ‘đôn đốc’ của tổ công tác để tăng cường thực thi các nghị quyết, chỉ đạo của chính phủ.

Các nhà quan sát chính trị trong và ngoài nước quan tâm đang dõi theo những động thái của chính phủ, trước hết là người đứng đầu.

Nhiều tuyên bố, đặc biệt là quyết tâm xây dựng một chính phủ liêm chính, phục vụ, kiến tạo, đã tạo được ấn tượng mạnh về sự mạnh mẽ và khác biệt trong điều hành, những ‘chỉ đạo’ của thủ tướng đã và đang gây ấn tượng và thu hút được sự chú ý của công luận và người dân.

Trong một cuộc họp chính phủ ông có nói đại ý rằng từ trước đến nay ‘chúng ta bắn lên trời’ nhiều rồi, nghĩa là các hành động trước kia không cụ thể, không có địa chỉ.

Phải chăng những chỉ đạo liên tục của Thủ tướng là những hành động cụ thể, kịp thời và là minh chứng cho việc ‘lời nói đi đôi với việc làm’?

Sự chỉ đạo nổi bật của Thủ tướng, trước hết, về vụ việc quán cafe Xin chào, được xem là ‘sự chỉ đạo cụ thể đầu tiên’, sau khi ông nhậm chức nửa tháng.

Một người dân bình thường ở huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh, mở quán café Xin chào để làm ăn…và bị khởi tố hình sự. Báo chí phản ánh ‘dồn dập’, và, như nhiều báo, giật tít ngày 21/4/2016:

“Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã trực tiếp gọi điện cho Chủ tịch UBND TPHCM – ông Nguyễn Thành Phong – yêu cầu dừng ngay việc khởi tố vụ án hình sự chủ quán cà phê Xin Chào.”

Như đã biết, các cơ quan chức năng ‘làm rõ’ và ‘báo cáo’ Thủ tướng đây là vụ án ‘oan sai’… Kết quả là một số cán bộ, công an bị ‘xử lý’, trong đó có trưởng công an và phó viện trưởng Viện KSND huyện bị cách chức…

Đọc báo chẳng rõ người ta mừng vì một số lãnh đạo làm sai bị mất chức hay mừng là chủ quán café lại tiếp tục được làm ăn!

Gần đây nhất, trong cuộc họp Chính phủ ngày 28-29/11/2016 Thủ tướng đã có những chỉ đạo quyết liệt:

“Yêu cầu Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam kiểm tra việc chi phí để làm quà tặng (logo) tại Tập đoàn này; Yêu cầu Thanh tra CP kiểm tra vụ việc và không để cán bộ phát ngôn theo kiểu ‘xấu xa đậy lại’; Yêu cầu kiểm tra lại hiện tượng bổ nhiệm ở các bộ ngành khiến dư luận bức xúc trong thời gian vừa qua; Yêu cầu các địa phương không được về Hà Nội chúc tết, tặng quà cho Thủ tướng, các phó thủ tướng, bộ trưởng mà hãy dành thời gian chủ động tập trung chăm lo Tết cho nhân dân…”

‘Rào cản thể chế’

VietnamImage copyrightCHRIS JACKSON/GETTY IMAGES

Các chỉ đạo của Thủ tướng dường như càng ngày càng có ‘độ phức tạp’ lớn hơn, trong đó sự ‘nhảy cảm’ và khó khăn thực thi chính là ‘quy trình thể chế’.

Thủ tướng thẳng thắn nhận định rằng “còn khá phổ biến tình trạng ‘trên bảo, dưới không nghe'”, và “các cơ quan quản lý giải trình thực hiện ‘theo đúng quy trình’, nhưng vẫn gây bức xúc dư luận”.

Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Nội vụ làm việc ngay với Ban Tổ chức Trung ương rà soát lại các quy định về cán bộ để tránh tình trạng bổ nhiệm quá số lượng, người nhà… mà vẫn đúng quy trình.

Đặc biệt, Thủ tướng giao Bộ Nội vụ thực hiện ngay việc nghiên cứu, đề xuất thể chế về từ chức – một đề xuất được Quốc hội chấp nhận trong kỳ họp thứ 2 khóa 14 vừa diễn ra tại Hà Nội.

Sự quyết tâm của Thủ tướng đang vướng các rào cản thể chế. Có lẽ ông hiểu điều đó nên trước mỗi ‘chỉ đạo’ luôn nhấn mạnh rằng Chính phủ vì nhân dân và phục vụ nhân dân.

Như đã biết, vụ Trịnh Xuân Thanh (cán bộ cấp trung), ngay sau đó là Vũ Đình Duy đang bị điều tra về hành vi thiếu trách nhiệm làm thất thoát tài sản nhà nước hàng ngàn tỷ đồng, thì bỏ trốn ra nước ngoài trót lọt kiểu ‘con voi chui lọt lỗ kim’- như một đại biểu Quốc hội phát biểu.

Ông Vũ Huy Hoàng, cựu bộ trưởng Bộ Công thương, cấp trên của hai nhân vật nêu trên, bị Ủy ban Kiểm tra trung ương điều tra và có kết luận rằng các vi phạm, khuyết điểm của ông ta trong thời gian làm bộ trưởng đã gây hậu quả nghiêm trọng. Đảng đã tuyên bố cách chức Bí thư Ban cán sự đảng Bộ Công thương trong thời gian 2011 – 2016 đối với ông này ngày 2/11 vừa rồi.

Cách chức một cá nhân khi không còn chức, rõ ràng hình thức kỷ luật trên mang tính ‘biểu tượng’, ‘đạo đức’ hoặc ‘mang tính răn đe’, song chính vì vậy mà đã hơn một tháng nay, Quốc hội và Chính phủ vẫn không thể vận dụng được, thậm chí chưa sửa được quy trình thể chế hiện hành để phán xét và xử lý đúng ‘tội’ khi ông Hoàng đã nghỉ hưu.

‘Sự bất lực’

A Ho Chi Minh poster in HanoiImage copyrightHOANG DINH NAM/GETTY IMAGES

Người ta nói về ‘sự bất lực’ xuất phát từ ‘lỗi’ hệ thống.

Muốn kỷ luật một cán bộ lãnh đạo nào đó, trước hết đảng phải ‘có ý kiến chỉ đạo’, xử lý về đảng, sau mới đến chính quyền. Cơ chế này đang có vấn đề qua các vụ việc nêu trên.

Rõ ràng phải đổi mới đảng cầm quyền trước tiên.

Nguyên phó thủ tướng Vũ Khoan cho rằng một trong những đổi mới chính trị ở Việt Nam thời gian qua là đảng Cộng sản dần không can thiệp vào công việc của chính phủ, tuy nhiên thể chế nào để lấp vào khoảng trống quyền lực đó thì chưa được rõ.

Nhà nước Việt Nam hiện nay được tổ chức theo cấu trúc thứ bậc với quyền lực tập trung trong tay đảng Cộng sản nhằm thực thi luật lệ trong các lĩnh vực, đang thay đổi theo hướng pháp trị và chịu sức ép trước hội nhập quốc tế và nhu cầu xã hội dân sự về nghĩa vụ giải trình và chịu trách nhiệm chính trị, nơi mà chính phủ hành động phù hợp với thể chế kinh tế thị trường và phải có trách nhiệm trước nhân dân.

Nhà nước luôn có xu hướng tập trung quyền lực, còn thể chế pháp quyền và giải trình và chịu trách nhiệm chính trị thì lại đặt ra những hạn chế theo cách ngăn ngừa tha hóa quyền lực, và chính quyền cần phải được kiềm soát bởi pháp luật và chịu trách nhiệm giải trình trước nhân dân.

Điều này chưa được đặt ra cụ thể và thỏa đáng trong cải cách thể chính trị ở Việt Nam do ý thức hệ bảo thủ và quan niệm giáo điều về chủ nghĩa xã hội.

Mặt khác, Việt Nam không thể học theo kinh nghiệm của Trung Quốc mặc dù hai nước tương đồng về chế độ chính trị, về cách chống ‘quốc nạn’ tham nhũng.

Tham nhũng và quyền lực là cặp bài trùng. Trung Quốc chọn việc tập trung quyền lực cao hơn để chống tham nhũng, và sự tranh giành quyền lực là không tránh khỏi.

Vietnam Prime Minister Nguyen Xuan Phuc in Beijing, Nov 13, 2016Image copyrightLINTAO ZHANG/GETTY IMAGES
Image captionÔng Nguyễn Xuân Phúc gặp Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trong chuyến thăm Bắc Kinh hồi tháng 9/2016

Ở Trung Quốc chủ tịch Tập Cận Bình, được coi là ‘kiến trúc sư’ chiến dịch ‘đả hổ giệt ruồi’. Mới đây tại Hội nghị trung ương 6 khóa 18 đảng Cộng sản, cho biết trong 3 năm 2013-2016 của nhiệm kỳ đầu tiên cầm quyền của ông, hơn 1,01 triệu quan chức bị điều tra tham nhũng, trong đó có hàng nghìn cán bộ cao cấp, như Bạc Hy Lai, Chu Vĩnh Khang… bị kết tội.

Cũng trong Hội nghị trên chủ tịch Tập được đảng trao danh hiệu ‘lãnh đạo hạt nhân.’ Ông là nhân vật thứ ba có danh hiệu này sau Chủ tịch Mao và Đặng Tiểu Bình.

‘Danh hiệu’ nêu trên, lần đầu tiên được nhắc đến chính là Đặng Tiểu Bình, khi nói rằng ‘một nền lãnh đạo tập thể phải có một hạt nhân; không có hạt nhân thì không thể chế nào có thể đủ vững mạnh.’

Các nhà quan sát chính trị cho rằng đây là ‘biểu tượng quyền lực’, vì nó mở đường cho việc tháo dỡ dần những quy tắc và chuẩn mực bất thành văn của đảng Cộng sản vốn điều chỉnh hành vi của giới tinh hoa và quá trình chuyển giao lãnh đạo trong gần ba thập niên qua ở Trung Quốc.

Ở Việt Nam, liệu có cần quy hoạch hay bồi dưỡng ai đó trở thành ‘lãnh đạo hạt nhân’ trong quá trình chuyển giao tổng bí thư – chức vụ cao nhất của đảng Cộng sản sắp tới? Liệu có thể xoay chuyển tình hình ‘trên bảo dưới không nghe’?

Sự bất ổn kinh tế và xã hội trong thời gian qua đã xé rách những luật lệ với những quy trình hiện có, báo hiệu một thời kỳ khó dự đoán về sự thay đổi thể chế chính trị để vượt qua những khó khăn phía trước, đưa đất nước phát triển

Đảng Cộng sản Việt Nam liệu đã rút ra những bài học gì qua sự kiện ‘phê bình đồng chí X không thành tại Hội nghị trung ương 6 khóa 11 của Đảng Cộng sản’? Có lẽ không phải vấn đề cá nhân các lãnh đạo, giữa đảng và chính phủ, mà là vấn đề thể chế!

Trong bối cảnh ấy liệu Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc có tạo nên sự khác biệt so với người tiền nhiệm?

Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của PGS.TS Phạm Quý Thọ, khoa Nghiên cứu Chính sách Công, Học viện Chính sách và Phát triển.

  • fidel

    Không tượng đài, tên đường mang tên Fidel Castro

 (NLĐO) – Chủ tịch Cuba Raul Castro ngày 3-12 tuyên bố dự luật mới theo di nguyện của cố lãnh tụ Fidel Castro là sẽ không dùng tên này đặt cho đường phố, xây tượng đài, công viên…
 

Cố lãnh tụ Fidel Castro làm thế vì không muốn sùng bái cá nhân lan tỏa ở Cuba. Ông từng viết trong tự truyện: “Đàn ông và phụ nữ lãnh đạo đất nước này đều là con người, không phải thánh thần”.

Fidel Castro không muốn được tạc tượng, vinh danh bằng tên đường, công trình kiến trúc, công viên
Fidel Castro không muốn được tạc tượng, vinh danh bằng tên đường, công trình kiến trúc, công viên

Em trai ông là Raul Castro nhấn mạnh: “Cuba không có tên đường, tượng đài hoặc công viên được đặt tên Fidel Castro vì di nguyện của ông là không muốn tôn sùng cá nhân”. Dẫu không tạc tượng hay đặt tên đường nhưng cái tên Fidel được xem là tượng đài vững chắc trong trái tim người dân Cuba. Nhiều hoạt động tưởng niệm đã được tổ chức để tiễn biệt lãnh tụ tài hoa trong lòng họ.

“Với chúng tôi, ông ấy không bao giờ chết” – Maria de la Caridad, tham dự tưởng niệm lãnh tụ của mình, chia sẻ. Theo kế hoạch, tro cốt của lãnh tụ Fidel Castro sẽ được an táng ở nghĩa trang Ifigenia tại Santiago.

Di nguyện của lãnh tụ Fidel Castro dẫn đến hai luồng tranh luận trên mạng, một số ca ngợi ông khiêm nhường, tự trọng, một tư tưởng lớn. Tuy nhiên, số khác cho rằng các vĩ nhân, các nhà văn hóa lớn nên được tạc tượng, vinh danh để truyền cảm hứng tích cực cho thế hệ sau.

M.Khuê (Theo Telegraph)

lang-lon

THƯ GIÃN CHỦ NHẬT: NGƯỜI VIỆT MÌNH ĐẶT TÊN SEX LẮM!

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 04.12.2016

CHUYỆN “…NGƯỜI YÊU NƯỚC MÌNH ”

img_8195

ĐỌC BỘ SÁCH “NGÔ MINH TÁC PHẨM”, TẬP 2:

CHUYỆN “…NGƯỜI YÊU NƯỚC MÌNH ”

 Ngô Minh

 

mẹ tôi nuôi tôi mười mấy năm không lấy chồng

                             thương tôi nên ở góa nuôi tôi

                             … mẹ thương con nên cách trở sông đò

                             hàng gánh nặng phải qua cầu xuống dốc

                             đêm nào mẹ cũng khóc

                             đêm nào mẹ cũng khấn thầm

                             mong con khôn lớn cất mặt với đời…

 

Thế hệ thanh niên yêu thơ những năm chống Mỹ ở miền Bắc ai cũng xúc động khi đọc “Bài thơ của một người yêu nước mình”, “bài từ miền Nam gửi ra” của Trần Vàng Sao. Với tôi, bài thơ như viết cho hoàn cảnh  riêng của mình, có lẽ cũng là hoàn cảnh riêng của nhiều người Việt Nam trong thời binh đao tao loạn. Ba tôi bị giết oan khi tôi mới  bảy tuổi. Mạ tôi ở góa, đi mót khoai hà, đội nón mê đi ăn xin tôm cá dọc biển, rồi buôn thúng bán bưng chạy chợ suốt ba chục năm ròng nuôi năm đứa con khôn lớn nên người. Nên mỗi lần  đọc lại Bài thơ của người yêu nước mình của Trần Vàng Sao, tôi đều ứa nước mắt…. tôi yêu đất nước này xót xa… tôi yêu đất nước này cay đắng… tôi yêu đất nước này áo rách…tôi yêu đất nước này rau cháo… tôi yêu đất nước này lầm than… tôi yêu đất nước này chân thật… Cái điệp khúc “ tôi yêu đất nước này…” lúc cất lên như tiếng nấc, lúc chìm sâu như nỗi nghẹn ngào, khi nghe như tiếng vọng của tâm linh thăm thẳm. Thật may cho tôi, hơn 30 năm nay, ở Huế, nhiều lần cùng nâng chén, chuyện trò với nhà thơ mà mình ngưỡng mộ. Bùi Minh Quốc từ Đà Lạt về Huế, tôi lại chở về Vỹ Dạ thăm Trần Vàng Sao, Nguyễn Trọng Tạo vô Huế lại rủ tôi xuống Trần Vàng Sao, Nguyễn Quang Lập, Phạm Xuân Nguyên từ Hà Nội vào cũng rủ tôi mò xuống thăm Trần Vàng Sao… Tôi thấy ở nhà Lâm Thị Mỹ Dạ có loại rượu quê Tuy Lộc, Lệ Thuỷ cực ngon, tôi lại năn nỉ xin một chai nhỏ mang xuống cho Trần Vàng Sao…Nhiều lần tiếp xúc với nhà thơ nổi tiếng không biết Hội Nhà văn là gì này, tôi mới nghiệm ra một chân lý: Càng “yêu nước mình” Trần Sao càng khổ, càng bị hất ra ngoài rìa cuộc sống !… (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 04.12.2016

VẪN CÒN ĐÂY MỘT TPP KHÔNG CÓ MỸ

VẪN CÒN ĐÂY MỘT TPP KHÔNG CÓ MỸ

Theo đánh giá của các chuyên gia, nếu Hoa Kỳ rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), điều này tất yếu sẽ ảnh hưởng đến chiến lược xoay trục sang châu Á của Mỹ và có thể tạo cơ hội để Trung Quốc tăng cường vị thế đối với thương mại khu vực và toàn cầu.

 

Ngày 27/11/2016, phát biểu với truyền thông trong nước, nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan, vị lãnh đạo cấp cao của Việt Nam từng đặt chân vào Nhà Trắng để đàm phán và ký kết Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ trước đây (BTA), khẳng định: “TPP là một mắt xích quan trọng của quá trình tự do hóa thương mại toàn cầu. Với việc ông Trump đã chính thức tuyên bố sẽ rút khỏi TPP, quá trình tự do hóa toàn cầu ấy chịu một sức ép không nhỏ”. Cũng theo ông Vũ Khoan, giờ đây một số người lại nói có hay không có TPP cũng không vấn đề gì. Nếu nói như vậy, hãy đặt lại câu hỏi: Vậy thì anh vào TPP làm gì, cố công đàm phán bao nhiêu năm trời, thậm chí có rất nhiều kỳ vọng, nhiều dự đoán lạc quan để làm gì. Theo ông Vũ Khoan, nếu rồi đây, TPP không còn nữa, hay nó sẽ thay đổi đi, thì ta phải tính toán, thích nghi với tình hình đó. Từ khi ta tham gia WTO, ta đã dùng các thỏa thuận về tự do hóa mậu dịch để mở rộng thị trường, có thêm đầu tư, đồng thời cũng dùng nó để thúc đẩy quá trình đổi mới ở trong nước. Quá trình này sẽ tiếp tục với việc ta hội nhập quốc tế và tham gia nhiều Hiệp định Thương mại tự do (FTA) khác nhau, nhưng nó sẽ phải điều chỉnh trong trường hợp không có TPP.

 

Mọi chuyện không đơn giản

Ngày 28/11/2016, theo nhiều chuyên gia, việc Mỹ rút khỏi Hiệp định TPP sẽ mở đường cho Nga và Trung Quốc nắm vị trí chủ chốt trong khu vực Thái Bình Dương. Quyết định rời TPP của ông Trump đã khiến không ít nhà lãnh đạo các nước thành viên của hiệp định thất vọng. Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe bày tỏ lo ngại trước nguy cơ hiệp định bị tan vỡ và “TPP sẽ trở nên vô nghĩa nếu như không có Mỹ“. Trong khi đó, một số nhà lãnh đạo khác lại đưa ra hướng đi tương lai mới. Cuối tuần trước Tổng thống Peru Pablo Pedro Kuczynski đã chủ trì hội nghị APEC trong đó có tổng thống Obama, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cùng với một số nhà lãnh đạo các nước khu vực Mỹ La Tinh và Châu Á Thái Bình Dương. Một ngày sau hội nghị, khi hay tin tổng thống đắc cử Donald Trump tuyên bố Mỹ sẽ rút khỏi TPP, Tổng thống Kuczynski nhận định “Một hiệp định mới sẽ được thay thế cho TPP trong đó sẽ không có Mỹ tham gia. Thay vào đó Trung Quốc và Nga sẽ là hai nước thành viên chủ chốt trong hiệp định mới này“.

Sau 8 năm đàm phán, Hiệp định TPP đã được 12 quốc gia trên hai bờ Thái Bình Dương, từ những nước vừa và nhỏ như Việt Nam, Brunei, đến các quốc gia hùng mạnh như Hoa Kỳ, Nhật Bản, kí kết vào tháng 2/2016. Peru cũng nằm trong số các quốc gia đó. Tuy nhiên, giống như nhiều thành viên khác, TPP vẫn phải cần Quốc hội của nước này phê chuẩn. Ở Peru, không phải ai cũng có cùng quan điểm với Tổng thống Kuczynski. Tuần trước đã có một số cuộc biểu tình chống lại TPP diễn ra ở ngay trên đất nước Peru. Đối với những người phản đối TPP, tuyên bố của ông Trump được xem như “ánh bình minh” đang ló dạng phía chân trời. Trong suốt chiến dịch tranh cử của mình, ông Trump bền bỉ theo đuổi lập trường của mình. Đối với vị tổng thống vừa đắc cử, các thỏa thuận thương mại tự do, về mặt lý thuyết, là cái gì đó cao quý, nhưng trên thực tế, nó đã cướp đi rất nhiều việc làm của người dân Mỹ.

Thượng đỉnh Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC) ở Peru từ ngày 17—20/11/2016 đã quy tụ 21 nguyên thủ quốc gia và người đứng đầu chính phủ. Trong tuần lễ APEC ấy, việc tân Tổng thống Trump tái khẳng định sẽ xóa bỏ các thỏa thuận thương mại tự do đã trở thành chủ đề chính tại Hội nghị, dù ông Trump không có mặt. Các nguyên thủ dường như đều muốn truyền đạt thông điệp của họ tới người sẽ chính thức trở thành Tổng thống thứ 45 của Mỹ vào tháng 1/2017. Tổng thống nước chủ nhà Peru Kuczynski đã cảnh báo về những tác động tiêu cực có thể xảy ra nếu Mỹ có bất kỳ động thái nào nhằm ngăn chặn hàng nhập khẩu. Ngoài ra, ông vẫn tiếp tục lên tiếng ủng hộ TPP.

Việc Mỹ rút khỏi TPP đã vô tình tạo chỗ trống lớn trong khu vực xuyên Thái Bình Dương. Theo đánh giá của các chuyên gia, nếu Hoa Kỳ rút khỏi Hiệp định TPP, điều này tất yếu sẽ ảnh hưởng đến chiến lược xoay trục sang châu Á của Mỹ và có thể tạo cơ hội để Trung Quốc tăng cường vị thế đối với thương mại khu vực và toàn cầu. Trung Quốc đang đấy mạnh tiến trình hoàn thiện hiệp định mới có tên Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) trong đó bao gồm các nước thành viên thuộc hiệp định TPP như Úc và Nhật Bản. Nếu RCEP được ký kết thành công, vị thế của Trung Quốc trong khu vực sẽ mạnh hơn, nhất là đối với các nước Châu Á. Bên cạnh đó, Trung Quốc còn kêu gọi các nước Châu Mỹ La Tinh tham gia hiệp đinh RCEP nhằm giảm dần tầm ảnh hưởng của Mỹ đối với khu vực này- nơi được coi là “sân sau” của Mỹ. Trong những năm gần đây cả Trung Quốc và Nga đang đẩy mạnh đầu tư các nước Châu Mỹ La Tinh. Kể từ năm 2005, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc đã “bơm” 120 tỷ USD vào khu vực này. Năm 2008, Nga đã gửi quân đội đến một số quốc gia như Venezuela, Brazil và một số nước khác trong khi cắt giảm ký kết khai thác dầu ở Mexico.

 

Quốc tế vẫn chống bảo hộ

Hội nghị thượng đỉnh Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) vừa kết thúc tại thủ đô Lima của Peru có thể sẽ là một trong những hội nghị APEC nổi bật nhất trong lịch sử của thế kỷ 21, khi nó chứng kiến một sự chuyển dịch kịch tính đối với các xu hướng chủ đạo của nền kinh tế toàn cầu. Mỹ, quốc gia sở hữu nền kinh tế số một thế giới, đang trở thành tâm điểm của sự chỉ trích khi tuyên bố chung của hội nghị đã chỉ đích danh nước Mỹ như một điển hình của xu hướng bảo hộ thương mại sau khi Donald Trump đắc cử tổng thống. Trong khi đó, nền kinh tế số hai thế giới là Trung Quốc lại đang nổi lên như quốc gia ủng hộ mạnh mẽ nhất cho tự do thương mại toàn cầu. Chưa bao giờ vị thế của nước Mỹ, của nền kinh tế Mỹ lại trở nên suy yếu và bị nghi ngờ nhiều đến thế trong một hội nghị thượng đỉnh hàng đầu như APEC.

Có thể nói, những gì diễn ra tại hội nghị thượng đỉnh APEC tại Peru vừa qua là phản ứng quyết liệt và dữ dội nhất của các nền kinh tế hai bờ Thái Bình Dương trước kết quả bầu cử tổng thống Mỹ 2016, nơi ứng cử viên có xu hướng bảo hộ và phản đối tự do thương mại Donald Trump là người đắc cử. Lãnh đạo 21 nước thành viên APEC đã kết thúc hội nghị thượng đỉnh diễn ra hàng năm này với lời kêu gọi chống lại chủ nghĩa bảo hộ trong bối cảnh sự hoài nghi về tự do thương mại đang ngày càng gia tăng, mà điển hình là việc Donald Trump đắc cử tổng thống Mỹ. Nó được thể hiện rõ ở tuyên bố chung của các nước thành viên hội nghị: “Chúng tôi tái khẳng định cam kết sẽ mở cửa các thị trường nội địa của mình và chiến đấu chống lại tất cả các hình thức của chủ nghĩa bảo hộ”.

Tuyên bố chung này là đòn phản công của quốc tế đối với chiến thắng của ông Trump, khi nó đồng nghĩa với một thông điệp chung: Tất cả các nền kinh tế ở hai bờ Thái Bình Dương phản đối và không ủng hộ lập trường bảo hộ và chống lại tự do thương mại của vị tân tổng thống Mỹ. Bài phát biểu sau đó của tổng thống nước chủ nhà Peru Kuczynski càng làm nổi bật hơn vấn đề: “Chủ nghĩa bảo hộ trên thực tế là một sự phản ánh về tình trạng khó khăn mà các nền kinh tế đang gặp phải. Đây là một điều đáng lo ngại khi kết quả bầu cử tại một số nền kinh tế lớn nhất thế giới thời gian qua đã phản ánh xu hướng chống lại thương mại tự do”. Ông Kuczynski cho rằng, kết quả bầu cử tổng thống Mỹ 2016 và nước Anh bỏ phiếu Brexit rời khỏi EU theo xu hướng bảo hộ là một sự trái ngược với thực tế rằng hầu hết các nền kinh tế trên khắp thế giới đều đang chung tay hỗ trợ thúc đẩy thương mại toàn cầu để lấy lại sự thịnh vượng trước đây.

 

Quan hệ thương mại Mỹ – Việt

Sau khi hiệp định TPP được coi là “chết lâm sàng”, luật sư Sesto Vecchi của hãng luật quốc tế Russin & Vecchi trong một bài viết cho tờ The Hill có trụ sở ở Washington DC đã khuyến nghị, Mỹ nên tập trung vào một hiệp định thương mại song phương với Việt Nam với các điều khoản đã được thương lượng về cắt giảm thuế và bảo hộ lao động trong TPP. Ông Vecchi, với hơn 35 năm kinh nghiệm hành nghề luật, coi Việt Nam là một trường hợp đặc biệt để Mỹ xem xét trong bối cảnh Trung Quốc đang tìm cách theo đuổi một hiệp định thương mại khác với các nước trong khu vực để thay thế TPP. TPP là một trong 3 hiệp định thương mại và đầu tư lớn nhất mà Mỹ từng thương lượng trong kỷ nguyên hậu chiến tranh. Hiệp định này xóa bỏ 18.000 loại thuế đối với các mặt hàng và dịch vụ của Mỹ và do đó sẽ làm tăng lượng hàng xuất khẩu và đầu tư của Mỹ vào châu Á.

Theo lập luận của luật sư hàng đầu của hãng luật có nhiều văn phòng trên toàn cầu, Việt Nam là một thị trường phát triển nhanh nhất đối với hàng xuất khẩu của Mỹ. Năm 2015, lượng hàng xuất khẩu từ Mỹ sang Việt Nam có mức tăng 24%/năm với tổng doanh thu lên tới 7.1 tỷ đô la và với các các loại thuế bảo hộ được xóa bỏ, theo các điều kiện thương lượng trong TPP, thì con số này sẽ tăng gấp đôi vào năm 2020. Hơn thế nữa, Mỹ là thị trường lớn nhất cho hàng xuất khẩu của Việt Nam. Việt Nam xuất khẩu gần 16 tỷ đô la hàng may mặc và giày dép vào Mỹ năm 2015 với các nhãn hàng nổi tiếng của Mỹ như Nike, Ralph Lauren và Calvin Klein. Mặc dù phải chịu mức phí lớn hơn do tiêu chuẩn về môi trường và lao động cao hơn, như các điều kiện của TPP đã được thương thảo, nhưng các nhà xuất khẩu của Việt Nam sẽ có những lợi ích lớn khi được hưởng thuế suất thấp hơn vào Mỹ và gia tăng thị phần trên thị trường Mỹ.

Tuy nhiên, nhà nghiên cứu Trần Trường Thủy của Học viện Ngoại giao lại cho rằng với một hiệp định thương mại song phương như trên, Việt Nam sẽ không có nhiều lợi ích như Mỹ. Trên trang Twitter của mình, ông Thủy viết khi phản ứng về nhận định của luật sư Vecchi rằng: “Một TPP song phương sẽ làm thay đổi quan hệ thương mại Mỹ theo hướng là chỉ có lợi cho người Mỹ”. Còn trong bài viết của mình, luật sư Vecchi nói một hiệp định thương mại song phương sẽ làm thay đổi mối quan hệ thương mại Việt-Mỹ theo hướng sẽ có lợi cho cả 2 bên nhưng cũng có người bị thiệt thòi. Theo phân tích của ông, công nhân Mỹ sẽ là những người được hưởng lợi nhiều nhất, vì hàng nghìn việc làm với mức lương cao sẽ được tạo ra nhờ vào việc xuất khẩu của Mỹ sang Việt Nam trong tương lai và Việt Nam sẽ có được những tiêu chuẩn bảo vệ cao hơn cho môi trường và người lao động trong nước. Người bị thiệt thòi nhất, theo ông Vecchi là các nhà xuất khẩu Trung Quốc, vì họ sẽ mất đi thị phần và công việc do sự cạnh tranh tăng cao của Việt Nam./.
Nguồn Văn nghệ số 49/2016

Cuộc hội ngộ của hai kẻ cựu thù tại Paris năm 1895

  •   LÊ NGUYỄN tăng kích thước chữ
Vua Hàm Nghi những năm cuối đờiVua Hàm Nghi những năm cuối đời

Trong lịch sử gần 100 năm thuộc Pháp, vua Hàm Nghi là vị hoàng đế duy nhất đã rời bỏ kinh thành để mưu cuộc kháng chiến, với sự phò tá của những quan lại giàu lòng yêu nước như Tôn Thất Thuyết và hai con (Tôn Thất Đạm, Tôn Thất Thiệp), như Lê Trực, Nguyễn Phạm Tuân…, những con người luôn coi sự tồn vong của đất nước quan trọng hơn sự an nguy của gia đình mình.

***
Kể từ cái ngày được sử gọi là “thất thủ kinh thành” 5.7.1885 đến ngày cựu hoàng Hàm Nghi rơi vào tay giặc (2.11.1888), một thời khoảng hơn 3 năm đã trôi qua, lời hịch Cần vương đã khơi dậy những phong trào chống Pháp sôi nổi: Phan Đình Phùng ở Hà Tĩnh, Đinh Công Tráng ở Thanh Hóa, Cai Kinh, Hoàng Hoa Thám ở Lạng Giang và Yên Thế, Nguyễn Thiện Thuật ở Hưng Yên… Riêng vùng rừng núi Quảng Bình, cái “nôi” của phong trào Cần vương, có ba nhóm quân kháng chiến chống Pháp: một nhóm của Tôn Thất Đạm, được vua Hàm Nghi cử làm Khâm sai nên tướng sĩ vẫn quen gọi là Khâm Đạm, giữ nhiệm vụ chính là hậu cần cho quân kháng chiến trong vùng và hoạt động trong khu vực phía Bắc Quảng Bình, giáp với Hà Tĩnh để chiêu mộ thêm nghĩa sĩ. Gần nhà vua hơn, có hai nhóm kháng chiến chủ lực, một của Tá sự Nguyễn Phạm Tuân (được vua Hàm Nghi phong hàm Thượng thư) hoạt động trong phạm vi huyện Tuyên Hóa, một của Đề đốc Lê Trực, được người dân thời đó gọi một cách thân thiết là Đề Lê, hoạt động quanh khu vực làng Thanh Thủy, phủ Quảng Trạch là quê của ông (nay thuộc xã Tiến Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, nơi có mộ phần của ông).

Vua hàm Nghi khi mới bị Pháp bắt

 

Trong thời gian trước cuối năm 1886, hoạt động của nghĩa quân trong khu vực Quảng Bình-Hà Tĩnh là một mối bận tâm lớn của thực dân Pháp, họ phải nhờ sự giúp sức của hàng giáo sĩ Pháp tại địa phương, tiêu biểu là giáo sĩ Tortuyaux, một điềm chỉ viên rất đắc lực của Pháp. Cuối năm 1886, cuộc đối kháng Việt-Pháp tại Quảng Bình có những chuyển biến mới. Một sĩ quan Pháp là đại úy Mouteaux đã đưa quân ngược dòng sông Gianh (tên ghi trong các sử liệu cổ là Linh giang), thiết lập một đồn bót mới tại Minh Cầm, nằm phía trên làng Thanh Thủy, khống chế các đường liên lạc, tiếp tế của hai nhóm nghĩa quân Nguyễn Phạm Tuân và Lê Trực. Chiến thuật của Mouteaux quả đã gây khó khăn rất nhiều cho hai cánh quân trên. Ngày 8.4.1887, do sự phản bội của một thủ hạ, Nguyễn Phạm Tuân cùng binh sĩ thuộc quyền bị quân của đại úy Mouteaux tấn công bất thần tại làng Yên Hương, ông chỉ kịp quơ vội thanh gươm lệnh, chiếc tráp dựng ấn tín của vua Hàm Nghi cùng một số giấy tờ của viện Cơ Mật rồi tìm đường thoát chạy. Nhưng không kịp nữa, Nguyễn Phạm Tuân trúng một viên đạn của giặc vào mạng sườn và qua đời hơn một ngày sau. Mất chủ tướng, lực lượng của Nguyễn Phạm Tuân tan rả dần. Với Đề đốc Lê Trực, Mouteaux áp dụng một chiến thuật khác: dùng lời lẽ thuyết phục ông bãi binh. Thư qua thư lại nhiều lần giữa hai người, song cuối cùng Mouteaux vẫn không làm xoay chuyển được ý chí kiên quyết chống Pháp của Lê Trực. Dù sao lịch sử chống Pháp cũng ghi nhận một mối quan hệ thú vị giữa hai kẻ thù khác màu da, mỗi người có một trách nhiệm không thể nào dung hòa với nhau được, nhưng vẫn đối xử với nhau bằng sự lịch sự, hòa nhã và tôn trọng nhau bằng một thứ tình cảm phóng khoáng nhất. Về sau, trong những giấy tờ do Mouteaux để lại, người ta tìm thấy gần đầy đủ những bức thư trao đổi giữa ông ta và Đề đốc Lê Trực (L. Cadière – Quelques papiers du capitaine Mouteaux-Bulletin des Amis du Vieux Hue (BAVH) No 1-1-2/1944). Chúng giúp làm sáng tỏ nhiều điều trong cuộc kháng chiến chống Pháp của vua Hàm Nghi cùng tướng sĩ vào những năm 1886-1887 tại Quảng Bình.
Có thể đánh giá Mouteaux là sĩ quan Pháp đã gặt hái được nhiều thành công trong việc làm suy yếu khả năng đề kháng của các lực lượng nghĩa quân chống Pháp trong phạm vi Quảng Bình, cái nôi của phong trào Cần vương. Song bên cạnh niềm vui đó, ông ta vẫn còn ray rứt mãi về chuyện đã không thực hiện được mục tiêu tối hậu của chiến dịch tại Quảng Bình là bắt sống vua Hàm Nghi. Ngày 7.10.1887, Mouteaux rời đồn Minh Cầm, bàn giao công việc lại cho đại úy Troupel, lòng ray rứt mãi với hồi ức về một buổi sáng hành quân trong thời gian ông ta còn ở Quảng Bình. Đó là buổi sáng một ngày tháng 7.1887, Mouteaux dẫn quân từ đồn Minh Cầm lên Khe Ve, bao vây cả xóm Thằng Cuộc, rồi ngược dòng sông Rào Nậy (một chi nhánh của sông Gianh), tìm Trương Quang Ngọc, một trong những thủ hạ gần gủi nhất của vua Hàm Nghi có tin là đang ở xóm Chà Mạc. Trên đường đi, thuyền của Mouteaux chạy ngược dòng với thuyền do một người phụ nữ đứng tuổi chèo, trên thuyển có một thiếu niên độ 15-16 tuổi ăn mặc trông nghèo nàn nhưng áo quần sạch sẽ. Viên đại úy Pháp ra lệnh dừng chiếc thuyền đó lại và lục soát. Người phụ nữ chèo thuyền và người thiếu niên lộ vẻ bối rối, song vẫn tỏ ra thân thiện với toán lính Pháp. Mouteaux từng nghe kể rằng vua Hàm Nghi luôn mang theo mình một ống điếu hút thuốc bằng gỗ có khảm hoa văn nên ra lệnh lục soát kỹ nhưng không tìm thấy gì. Sợ rằng dây dưa lâu sẽ làm trễ nãi cuộc hành quân, ông ta cho thả thuyền đi. Nhưng khi tới Chà Mạc, Mouteaux gặp toán quân của thượng sĩ Bosché đã đến trước và biết rằng Trương Quang Ngọc vừa trốn khỏi nơi ở, bỏ lại tại nơi ở nào giáo mác, nỏ, tên độc, bàn đèn thuốc phiện…( L. Cadière sách dẫn trên, trang 81 và Ch. Gosselin – L’Empire d’Annam – Paris 1904, trang 295). Viên đại úy Pháp giật mình, linh cảm rằng ông ta vừa để thoát vua Hàm Nghi, tức chàng thiếu niên trên chiếc thuyền mà ông ta vừa cho lục soát.

Khi rời Minh Cầm, Mouteaux mang theo nỗi ám ảnh về chàng thiếu niên 15-16 tuổi mà ông ta đã gặp trong cuộc hành quân vào một ngày tháng 7. Không lâu sau ngày 2.11.1888, tức ngày thực dân Pháp bắt được vua Hàm Nghi tại một ngôi nhà nhỏ trên thượng nguồn sông Gianh, báo chí Pháp tại Paris in hình nhà vua được chụp lén trong thời gian bị áp giải từ Quảng Bình về cửa Thuận An, coi như đó là một thắng lợi quan trọng trong nỗ lực dập tắt các phong trào kháng chiến tại Việt Nam. Mouteaux đã có dịp nhìn xem bức ảnh nhà vua trên báo và không rõ do mối ám ảnh cũ hay từ một linh cảm xác thực, ông ta tin rằng chàng thiếu niên mình đã gặp trên sông dạo nào chính là vua Hàm Nghi.
Năm 1895 (Ch. Gosselin ghi là năm 1893), Mouteaux tình cờ được giới thiệu với cựu hoàng Hàm Nghi tại Câu Lạc Bộ Quân đội trên đại lộ Opéra của thành phố Paris (Pháp). Ông từ Alger sang thăm thủ đô nước Pháp. Hai kẻ cựu thù từng nghe nói về nhau từ lâu, nay mới gặp mặt. Mouteaux coi đấy là dịp may nghìn năm một thuở có thể giúp ông ta giải tỏa nỗi ám ảnh đã đeo đẳng trong hơn 7 năm trời. Cựu hoàng ngồi nghe ông ta kể lại chi tiết vụ “chạm trán” với chàng thiếu niên trên sông vào một buổi sáng tháng 7 năm 1887 bằng một thái độ chăm chú và nụ cười nhẹ nhàng, nhưng cuối cùng ông đã làm cho Mouteaux thất vọng khi tránh không trả lời thẳng vào câu hỏi ông có đúng là chàng thiếu niên đó không. Thái độ xử sự ấy không chỉ với riêng Mouteaux mà theo những người Pháp đã quen biết với cựu hoàng Hàm Nghi trong thời gian ông sống lưu đày ở Alger, ông luôn ít nói, đặc biệt không bao giờ nhắc lại hay trả lời những câu hỏi liên quan đến năm tháng trị vì và quảng thời gian hơn ba năm trời bôn ba trong vùng rừng núi Quảng Bình.

****
Tháng 11 năm 1904, cuộc sống lưu đày của cựu hoàng Hàm Nghi lật sang một trang mới. Ông cưới cô Marcelle Laloe, con gái ông chánh án tòa thượng thẩm Alger. Trong cảnh sống lưu đày, không chút hi vọng trở về quê hương, ông đã chấp nhận cuộc hôn nhân này như một định mệnh. Một trong những điều đáng quý nhất ở ông là trong suốt cuộc sống lưu đày 55 năm nơi xứ người (1889-1944), hầu như không bao giờ ông rời bỏ chiếc khăn đội đầu và bộ y phục thuần Việt. Vào giữa thập niên 1990, trong những dịp tiếp xúc với ông Nguyễn Phúc Vĩnh Cầu, con trai út cựu hoàng Thành Thái, sinh năm 1924 tại đảo Réunion, người viết bài này được nghe ông kể rằng vào khoảng năm 1935-1936, bữa nọ có một người khách phương xa ghé lại đảo Réunion tìm thăm cựu hoàng Thành Thái. Sau những giây phút bỡ ngỡ đầu tiên, người nhà mới được biết người khách lạ đó chính là cựu hoàng Hàm Nghi. Xét về vai vế trong hoàng tộc nhà Nguyễn, cựu hoàng Hàm Nghi (Ưng Lịch) ở vào hàng chú của cựu hoàng Thành Thái (Bửu Lân), hàng ông của cựu hoàng Duy Tân (Vĩnh San). Phút trùng phùng thật cảm động, vì cả ba cựu hoàng đều là những ông vua yêu nước đang sống cảnh lưu đày. Trong buổi gặp đó, cựu hoàng Thành Thái có ý muốn để cựu hoàng Duy Tân sang Alger sống cùng ông chú, song cựu hoàng Hàm Nghi ngần ngừ, không trả lời dứt khoát. Từ đó cho đến ngày ông nhắm mắt trên xứ người, quê hương vẫn là một hình ảnh luôn hiện diện trong trái tim ông; điều đó thể hiện trong cung cách ông giáo dục ba người con mang hai dòng máu Việt-Pháp: hai công chúa Như Mai, Như Lý và ông hoàng Minh Đức.

 

 

Nguồn:fb Lê Nguyễn

Đăng bởi: Ngô Minh | 04.12.2016

Lòng Dân

Lòng Dân

  •   KHÁNH LINH giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ

Gần cuối buổi Liên hoan gia đình văn hóa tiêu biểu của Phường, cô nhân viên vui vẻ đưa cho tôi 10 ngàn đồng kèm lời giải thích gửi chú tiền chế độ họp sáng nay. Thú thật là tôi hơi giật mình vì đã lâu lắm rồi tôi không biết đến chế độ hội họp như thế này.

May mà trước đó quan sát thấy bà con khối xóm ai cũng đón nhận tờ bạc nhỏ xíu và mỏng manh với thái độ rất trân trọng nên tôi không thể có thái độ gì khác.

Bây giờ nhớ lại, tôi vẫn thấy tự ngượng cho bản thân. Cái con người tôi đã quá nhiều lần tham dự các cuộc hội nghị long trọng của hàng tỉnh. Rồi đi họp báo, khai trương, động thổ … hoa hòe giăng mấy dãy, cờ đèn phủ rợp trời. Ra về được gửi cái túi quà trong đó kiểu gì cũng có vài bài báo quảng bá ring rang, ít hiện vật và cái phong bì. Riêng cái phong bì nhẩm ra có khi còn hơn cả chục, thậm chí cả trăm lần cái chế độ mà cô nhân viên phường đã gửi.

Tôi để ý thấy trong suốt buổi Liên hoan, bà con không nói những chuyện cao siêu, không GDP, CPI, không Tái cấu trúc, không Tập đoàn kinh tế gì hết. Họ nói những chuyện trong nhà họ và chuyện bên cạnh họ. Một công chức đã nghỉ hưu, cộng thu nhập của hai vợ chồng chưa đầy 5 triệu đồng nhưng nghĩ mình là đảng viên nên bấm bụng chắt chiu dàn mỏng số tiền để nuôi mẹ già và 2 con ăn học. Một doanh nhân lên báo cáo điển hình mà chân thật như lời tự thú vợ chồng nhờ khôn khéo vận dụng được cơ chế nhà nước nên có tiền làm từ thiện giúp người nghèo để thanh thoát nội tâm. Rồi mọi người đua nhau hát say sưa những bài ca ngợi Đảng, ca ngợi Bác Hồ và quê hương đất nước. Không khí thật hồn nhiên và trong sáng vô cùng.

Họ đều là những đại biểu nhận 10 ngàn đồng chế độ như tôi.

Tôi kể câu chuyện này với một số đồng nghiệp. Mấy đứa bảo tôi dở hơi, thời buổi này ai thừa công để ý tới chuyện vặt vãnh nơi đầu phố cuối ngõ vậy.

Tôi lại nghĩ điều khác, nghĩ về tấm lòng của người dân.

Sáng ra ngồi quán nước, gặp mấy bác cựu chiến binh đang đợi nhau đi thăm đồng đội. Câu chuyện lan man từ Triều Tiên và Ấn Độ phóng tên lửa rồi quay về xăng đã tăng giá, hàng trăm doanh nghiệp đang chết lâm sàng và mấy lâu nay Trung ương 4 có vẻ lại mất lửa Diên Hồng rồi. Mỗi người một câu, ồn ào, có lúc tranh luận lên như cao trào, căng lắm. Căng nhưng lại rất hòa đồng vì xem ra nỗi niềm ai cũng giống ai.

Thời nào cũng vậy, tấm lòng của người dân không có gì màu mè, nó bộc trực và rải dọc suốt cuộc sống thường ngày. Nếu chịu khó lắng nghe thì ở bất kỳ đâu cũng có thể bắt sóng được đủ tâm trạng và đủ sự suy tư của đủ loại thảo dân.

Trong đám bạn học cấp 3 dạo trước, nay chỉ mình tôi là có dính một tý vào ghế quan trường. Thỉnh thoảng gặp nhau mấy anh doanh nghiệp tư nhân là nổ mạnh nhất. Có đứa còn chỉ vào mặt tôi loại đảng viên có chức có quyền như mày mới thường có những suy nghĩ bẩn thỉu thôi, thảo dân họ đàng hoàng lắm, tốt lắm. Tôi cũng choáng luôn. Nhưng kể ra nó chửi thế cũng không oan. Ngẫm lại tôi thấy có lúc mình đúng là không được người lớn như đám bạn bè, bụng dạ cũng đầy những toan tính mờ ám về điều này chuyện nọ và tiền hậu cũng lắm khi bất nhất. Họp hành cứ nói liên miên về tu dưỡng đạo đức, rèn luyện phẩm chất… nhưng nói vậy mà có làm được vậy đâu. Nó giống như câu chuyện người Mông nóiCái Đảng ở trên cây (ý chỉ cái loa phát thanh) thì mình rất thích  nghe nhưng cái Đảng ở dưới đất (ý chỉ các đảng viên cụ thể) thì mình chưa theo được gì cả.

Bây giờ Đảng đang triển khai Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI). Tôi thấy cái sự lạ là không ai tổ chức nhưng người dân cũng đang tự làm Trung ương 4 theo tấm lòng của họ. Không tài liệu, không loa đài, không báo cáo viên mà họ cứ đau đáu những tâm sự lo cho Đảng khó mà chống được suy thoái, lo cho Đảng bị bộ phận không nhỏ thao túng lộng quyền. Tôi lại nhớ sáng hôm ngồi ở quán nước, bà chủ quán bỗng nhiên nẩy ra điều ước giá như Cụ Hồ mà sống lại thì loại tặc quan đó chắc chắn phải tìm lỗ nẻ mà chui. Rồi trở lại chuyện của Nghệ An, ông cựu Đại tá khen bài phát biểu của Bí thư Tỉnh ủy quán triệt Nghị quyết 4 rất hay nhưng vẫn xa xôi quá, chung chung quá. Lòng dân đang muốn làm Trung ương 4 là phải làm rất cụ thể. Không làm được nhiều thì cũng phải tập trung vào một số chuyện đã và đang gây ra những nghi hoặc trong dư luận nhân dân. Ví như chuyện nếu có quan chức nào lỡ làm sân sau cho một số dự án hoặc quan chức để vợ con đi vay cả hàng trăm tỷ kinh doanh bất động sản bị vỡ nợ thì cũng phải sớm có cơ chế mà chấn chỉnh. Nói thì nghe khó chịu là vậy nhưng người dân lại rất nhân từ và độ lượng, chỉ mong sau Trung ương 4 Đảng ta và cán bộ đảng viên được tốt hơn lên.

Sàng đi lọc lại, tôi nhận ra cái tấm lòng đầy trăn trở và cái khát vọng vô cùng chính đáng của người dân trước thời khắc khó khăn của Đảng và dân tộc.

Muôn đời lòng dân vẫn trong sáng thế. Và lòng dân càng sáng thì trách nhiệm của chúng ta càng phải nặng nề thêm để thảo dân một lần nữa có được chỗ mà vững tâm neo đậu niềm tin.at

Đăng bởi: Ngô Minh | 04.12.2016

Hà Nội và tiếng leng keng tầu điện xưa

Hà Nội và tiếng leng keng tầu điện xưa

Thu Hằng– RFI
Hà Nội và tiếng leng keng tầu điện xưa

Tầu điện trên phố Đinh Tiên Hoàng năm 1979.Flickr.com

Trong suốt nhiệm kỳ toàn quyền (1897-1902), Paul Doumer bỏ nhiều công sức để cải tiến cấu trúc thuộc địa và phát triển cơ sở hạ tầng tại Đông Dương. Dù bị chỉ trích vì cách quản lý độc đoán và sau này bị triệu về Pháp để giảm bớt căng thẳng với Anh Quốc trong tranh chấp biên giới tại Vân Nam (Trung Quốc), Paul Doumer đã khởi xướng hay cho hoàn thiện rất nhiều công trình quan trọng làm thay đổi cảnh quan Việt Nam.

Cũng trong giai đoạn này, Hà Nội trở mình mạnh mẽ để đóng vai trò trung tâm hành chính của Đông Dương. Cũng nhờ Paul Doumer, lúc đó là một trong số nhà quản lý của Tổng Công ty Điện lực (Compagnie général d’électricité, trước đó là Công ty Điện lực Normandie (Société normande d’électricité), do Pierre Azaria thành lập tại Pháp), nên Hà Nội trở thành đô thị đầu tiên tại châu Á có điện thắp sáng. Năm 1897, công suất cơ học của nhà máy điện là 300 mã lực được nâng lên thành 850 mã lực để đáp ứng nhu cầu sử dụng của người đặt mua và của thành phố.

Đây cũng là điều kiện tiên quyết để phát triển hệ thống xe điện nối trung tâm Hà Nội với các vùng lân cận. Chính quyền thuộc địa hy vọng phương tiện này đáp ứng được nhu cầu đi lại của dân cư mỗi ngày một đông. Hà Nội được mở rộng gấp 10 lần so với khu phố cũ và phát triển xứng tầm với một đô thị quan trọng cùng với hệ thống thoát nước, xe điện và nhiều công trình có quy mô lớn.

Theo cuốn Thành phố Hà Nội (Ville de Hanoi) do Chính phủ Đông Dương phát hành năm 1905 (Hanoi, Imprimerie G. Taupin et Cie, 1905), một công ty vô danh có vốn 2.750.000 franc đã nhận được hợp đồng nhượng quyền xây dựng và khai thác một hệ thống xe điện dài 12 km nối trung tâm Hà Nội và vùng ngoại ô. Hợp đồng được ký ngày 02/05/1899 giữa chính quyền bảo hộ Bắc Kỳ, thành phố Hà Nội cùng với các ông Courret, Krug và anh em nhà Durant.

Đến năm 1902, doanh nghiệp này thuộc quyền sở hữu của Công ty Điền địa Đông Dương (Société foncière de l’Indochine), trụ sở ở Paris, nhưng có chi nhánh kinh doanh và nhà máy sửa chữa đầu máy, đóng toa xe ở Thụy Khê (Hà Nội) từ năm 1901. Năm 1929, một lần nữa được đổi tên thành Công ty Xe điện Bắc Kỳ (Compagnie des Tramways du Tonkin) và trở thành Công ty Giao thông công cộng vùng Hà Nội (Transports en commun de la région de Hanoi) năm 1951 (L’Eveil économique de l’Indochine (Thức tỉnh kinh tế Đông Dương), 02/08/1931).

Tầu điện trên phố Hàng Đào năm 1940.Flickr.com

Trên dự án, thành phố Hà Nội có ba tuyến xe điện, xuất phát từ quảng trường Négrier (quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục ngày nay) với tổng chiều dài là 13.101,08 m, gồm: Tuyến A: Quảng trường Négrier (Bờ Hồ) – Bạch Mai (3.524,50 m) ; Tuyến B: Quảng trường Négrier – làng Giấy (5.433,67 m) ; Tuyến C: Quảng trường Négrier – Thái Hà Ấp (Kinh Lược) (4.131,91 m).

Trong cuốn hồi ký Tình hình xứ Đông Dương thuộc Pháp (Situation de l’Indochine française, Paris, Vuibert et Nony, Editeurs, 1905), toàn quyền Paul Doumer cho biết ngay năm 1900, công việc xây dựng nhà máy, lắp đặt đường ray và máy móc nhanh chóng được tiến hành và một phần hệ thống đã được khai thác. Hợp đồng cuối cùng được toàn quyền Đông Dương ký trước khi trở về Pháp là tuyến Bờ Hồ – Cầu Giấy (đường Sơn Tây, route de Sontay) vào tháng 11/1901.

Hợp đồng này nằm trong kế hoạch kéo dài thêm 8.100 m đường sắt, được thành phố Hà Nội lên kế hoạch vào năm 1905. Tuyến A được kéo dài từ Bạch Mai đến đường vành đai (route circulaire, ngã tư Đồng Lầm, nay là ngã tư Đại Cồ Việt-Lê Duẩn). Tuyến B được nối thêm từ Thụy Khuê lên chợ Bưởi. Tuyến C được kéo dài từ Thái Hà vào Hà Đông. Nhiệm vụ duy nhất của chính quyền là xây một cây cầu lớn bằng sắt bắc qua sông Nhuệ thay cho cây cầu gỗ cũ kĩ và không chịu được trọng tải của xe điện. Quá trình phôi thai đoạn kéo dài này mất tận 10 năm. Nhưng đến năm 1915, tuyến xe Hà Nội-Hà Đông vẫn nằm bên kia cầu mà không vào được trung tâm thị xã. Thay vì xây một cây cầu mới, Sở Công Chính lại chỉ cho gia cố bằng xi măng cây cầu cũ, thậm chí làm cả đường ray trên cầu.

Năm 1930, thành phố Hà Nội thông qua dự án xây một tuyến đường mới, dài khoảng 5.500 m, nối hai đầu đường Quan Lộ (Route Mandarine, một đoạn của đường Lê Duẩn ngày nay) từ ngã tư Đại Cồ Việt ngày này đến Yên Phụ, đi qua các phố Thiên Tân (rue Tientsin, nay là phố Hàng Gà) và Hàng Than. Như vậy, tính đến thời điểm này, Hà Nội có 5 tuyến tầu điện, với khoảng 27 km đường sắt, nối từ trung tâm Bờ Hồ với vùng ngoại ô : Bờ Hồ – Cầu Giấy, Bờ Hồ – Hà Đông, Bờ Hồ – Chợ Bưởi, Bờ Hồ – Chợ Mơ và một tuyến không qua Bờ Hồ là Yên Phụ – Bạch Mai.

Tầu điện, từ xa xỉ đến thân quen

Trong suốt 13 năm đầu khai thác, công ty luôn bị thua lỗ vì mua vé đi tầu điện vẫn là một điều xa xỉ với người dân nghèo. Họ thà đi bộ 2 km hơn là trả thêm 1 xu. Doanh thu từ xe điện chỉ tăng dần trong khoảng những năm 1920-1930, giữa hai cuộc Thế Chiến. Người dân dư giả hơn một chút và người nông dân sẵn sàng trả hai xu để tránh đi bộ 1 hoặc 2 km.

Thời Pháp thuộc, mỗi đoàn tầu chỉ có hai hoặc ba toa. Theo thống kê năm 1905, có 22 toa lái và 15 toa xe moóc. Xe điện hoạt động được nhờ một chiếc cần sắt dài, trên đầu có một cái ròng rọc để tiếp xúc với đường dây dẫn điện mắc ở phía trên song song với đường tầu. Thiết bị điện ở mỗi toa gồm hai động cơ lớn, mỗi chiếc có công suất 25 sức ngựa.

Đường sắt rộng một mét, giống hệ thống đường sắt Đông Dương. Mọi chi phí xây dựng và để tuyến đường đi vào hoạt động đều do nhà thầu chịu trách nhiệm. Hợp đồng nhượng quyền khai thác kéo dài 60 năm, sau đó sẽ thuộc về chính quyền thuộc địa, trừ thiết bị di động vẫn là tài sản của công ty. Chi phí và rủi ro trong quá trình khai thác hoàn toàn phụ thuộc vào nhà thầu, chính phủ không cấp bất kỳ khoản hỗ trợ nào.

Tầu điện và xe kéo, phố Hàng Bông (rue du Coton) và vườn hoa Cửa Nam (place Neyret), năm 1925.Flickr.com

Từ năm 1927, Công ty Tài Chính Pháp và Thuộc địa (Société financière française et coloniale, SFFC) của Octave Homberg sở hữu phần lớn cổ phiếu của Công ty Điền Địa, nhà thầu hệ thống xe điện Hà Nội, vì vậy vốn của công ty được tăng lên. Thương vụ này được công luận đánh giá cao vì cuối cùng, những toa tầu cũ từ gần 30 năm kêu ầm ĩ ngoài phố sẽ được tân trang và hiện đại hóa. Nhiều đường ray nhẹ được thay thế bằng đường ray nặng và các thiết bị cũ mòn được thay thế bằng thiết bị mới.

Theo tài liệu lưu trữ quốc gia Pháp về thế giới lao động (tại Roubaix, Pháp), năm 1951, vốn của Công ty Giao thông công cộng vùng Hà Nội (Transports en commun de la région de Hanoi) tăng lên thành 45,9 triệu franc và 114,7 triệu franc vào năm 1953. Đến ngày 01/06/1955, công ty ngừng hoạt động sau khi Pháp thất bại tại Đông Dương. Chính phủ nước Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam cam kết bồi thường cho công ty 300 triệu franc trong vòng 25 năm. Thế nhưng, ngay giữa năm 1959, các khoản nợ đã được thanh toán hết. Công ty Giao thông công cộng vùng Hà Nội giải thể vào năm 1962.

Từ năm 1968, tầu điện được phục hồi và phát triển để trở thành phương tiện công cộng quan trọng của thành phố phục vụ hơn 30 triệu lượt khách mỗi năm. Cho đến cuối những năm 1980, xe đạp và tầu điện vẫn là những phương tiện quen thuộc của người dân thủ đô.

Năm 1991, từ khi tuyến đường cuối cùng bị ngừng hoạt động, xe máy dần dần tràn ngập Hà Nội (chiếm 78% số lượng phương tiện giao thông) cùng với mức đô thị hóa và phát triển kinh tế xã hội cũng như dân số. “Hà Nội không vội được đâu” trở thành câu nói quen thuộc mỗi khi nhắc đến tình trạng tắc nghẽn giao thông.

Theo Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) tại Hà Nội, kể từ năm 2001, hệ thống xe buýt được tổ chức lại và được hy vọng là giải pháp thay thế cho phương tiện cá nhân, song vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu ngày càng tăng của giao thông nội đô. Trước tính cấp bách của tình trạng “khủng hoảng giao thông đô thị”, năm 2008, thành phố Hà Nội đã thông qua một kế hoạch chỉ đạo, trong đó dự kiến thiết lập một mạng lưới 5 tuyến tàu điện ngầm (dự kiến hoàn thành vào năm 2030). Cơ quan Phát triển Pháp tham gia tài trợ cho tuyến tầu điện ngầm số 3 từ ga Hà Nội đi Nhổn và được đánh giá là tuyến thí điểm.

Nhân chứng vụ bắt cóc đổi mạng tử tù Nguyễn Văn Trỗi

BBC

Nguyễn Văn Trỗi ra pháp trườngImage copyrightVNA
Image captionNguyễn Văn Trỗi bị xử bắn ngày 15/10/1964

Năm 1964, du kích cánh tả ở Caracas, Venezuela đã bắt cóc đại tá Michael Smolen, tùy viên quân sự Hoa Kỳ, nhằm đổi mạng tử tù Nguyễn Văn Trỗi.

Người chiến binh Việt Cộng này lúc đó đang chờ ngày bị tử hình vì đặt mìn mưu sát Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara trên cầu Công Lý ở Sài Gòn.

Phi vụ đổi người của du kích Caracas bất thành nhưng đã gây tiếng vang trong dư luận quốc tế lúc bấy giờ.

Mưu sát bất thành

Tháng 5/1964, biệt động nội thành Nguyễn Văn Trỗi nhận nhiệm vụ đặt mìn ở cầu Công Lý nhằm vào phái đoàn quân sự cao cấp của Chính phủ Hoa Kỳ do Bộ trưởng quốc phòng Robert McNamara dẫn đầu.

Nhiệm vụ này bại lộ, Nguyễn Văn Trỗi bị bắt tối 9/5/1964 và bị kết án tử hình.

Vụ ám sát McNamara qua báo chí đã đến với các thành viên phong trào cánh tả có cảm tình với Việt Cộng ở Mỹ Latin.

Nhân chứng vụ bắt cóc đổi mạng tử tù Nguyễn Văn Trỗi

Trong khi chờ đợi ngày ra pháp trường, du kích ở Caracas, Venezuela, thực hiện phi vụ bắt cóc đại tá Mỹ Michael Smolen nhằm đổi mạng cho Nguyễn Văn Trỗi vào hôm 9/10/1964.

Nhân chứng duy nhất của vụ bắt cóc đổi mạng năm 1964, Carlos Argenis Martínez Villalta, 72 tuổi, kể lại:

“Sự việc xảy ra vào buổi sáng ngày 9/10/1964. Một nhóm bốn người, trong có đồng chí David Salazar, đồng chí Carlos Rey Gómez và tôi lái xe đến phố Los Mangos và chờ bên ngoài khu căn hộ của nhân viên CIA cao cấp, đại tá Michael Smolen, tùy viên sứ quán Mỹ tại Venezuela.

Sáng đó ông ta đi làm muộn hơn thường lệ vì có ăn sáng với sếp của ông ta là Đại tá Henry Lee. Khoảng 8 giờ, thấy ông ta và Lee bước ra. Khi họ chuẩn bị lên xe thì xe của chúng tôi áp lại gần và tôi hô lớn: Đứng lại! Đây là giải phóng quân!

Henry Lee chạy mất nhưng chúng tôi đã bắt được Smolen, kéo lên xe của chúng tôi và chở đi.

Buộc phải thả

“Chúng tôi giữ ông ta ba ngày trong một căn hộ gần Đại lộ El Porvenir. Trên đường đi chúng tôi phải ngụy trang ông ta, cho đeo kính râm và đổi xe hơi ở Sabana Grande trước khi đến địa điểm cuối cùng.

Chúng tôi không tra tấn hay hành hạ gì ông ta. Chúng tôi cho ông ta ăn uống đầy đủ, chỉ khám người và có một nhóm canh gác ông ta. Chúng tôi nói với ông ta về cuộc chiến phi nghĩa của Hoa Kỳ ở Việt Nam, về các trận ném bom, về Nguyễn Văn Trỗi, tại sao chúng tôi lại thực hiện phi vụ này để đổi mạng ông ấy.

Phim 'Nguyễn Văn Trỗi' năm 1966Image copyrightXƯỞNG PHIM TRUYỆN HÀ NỘI
Image captionNguyễn Văn Trỗi đã đi vào nhiều tác phẩm nghệ thuật và tuyên truyền của miền Bắc

Sự kiện đã gây tiếng vang rất lớn, các báo đài đều nói về việc đại tá Mỹ bị bắt, dư luận rất nhiều. Thế nhưng có kẻ mật báo với cảnh sát về chúng tôi, chúng tôi bị truy lùng và buộc phải thả Smolen trước khi chúng tôi bị phát hiện. Chúng tôi chở ông ta bằng xe hơi và thả ông ta tại gần địa điểm mà chúng tôi bắt ông ta.”

Trong ba ngày, phe du kích Caracas không trực tiếp thương lượng được với chính phủ Hoa Kỳ về việc đổi mạng, nhưng thông tin về vụ bắt đại tá Michael Smolen, mà báo Mỹ nói là do “khủng bố Venezuela” thực hiện đã khiến việc tử hình Nguyễn Văn Trỗi tạm ngưng.

Đọc tin trên báo New York Times ngày 10/10/1964 ‘Khủng bố Venezuela bắt cóc đại tá Mỹ và đe dọa ông ta’

Tuy nhiên ngay sau khi du kích Venezuela, lúc đó còn hoạt động bí mật, buộc phải thả Smolen, chính quyền Sài Gòn đã mang Nguyễn Văn Trỗi ra pháp trường ngày 15/10/1964.

Năm đó biệt động viên này 19 tuổi và trước khi bị bắt mới lấy vợ được gần 20 ngày.

Sau đó hình tượng Nguyễn Văn Trỗi được sử dụng nhiều trong các tác phẩm nghệ thuật và tuyên truyền của miền Bắc.

Carlos Argenis Martínez Villalta nói: “Tôi rất buồn khi nghe tin Nguyễn Văn Trỗi bị tử hình, nhưng ông ấy không bao giờ chết. Ông ấy sống mãi. Người chiến đấu vì sự sống không bao giờ chết cả. Khi biết tin ông ấy vẫn bị xử tử, tôi rất đau đớn vì thực sự chúng tôi đã hy vọng là có thể thay đổi được tình hình.

Tất nhiên, nếu được làm lại tôi sẽ vẫn làm như vậy. Việc bắt cóc đại tá Mỹ là hành động đoàn kết với Việt Nam, với thế giới tiến bộ. Và để cứu mạng người muốn đặt bom giết McNamara. ”

« Newer Posts - Older Posts »

Danh mục