NHÀ VĂN NGÔ THỊ LIM CÚC TRẢ LỜI PHỎNG VẤN VỀ ĐẠI HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM LẦN 9 

  *Thưa bà, bà vui lòng cho biết đã tham gia Hội Nhà Văn Việt Nam năm nào? Và những hoạt động thường niên của hội này diễn ra như thế nào?

-Tôi vào Hội Nhà văn Việt Nam năm 1983, sau khi tốt nghiệp khóa I Trường Viết văn Nguyễn Du- Hà Nội 1982. Mối liên hệ giữa hội và tôi là tôi nhận được các loại báo biếu: Văn Nghệ, tạp chí Thơ, tạp chí Văn và tạp chí Văn học Nước ngoài theo định kỳ. Mỗi năm, tôi nhận thư Hội yêu cầu đề xuất những tác phẩm (của tất cả hội viên) mà mình cho rằng có thể đưa vào xét giải thưởng. Các trại sáng tác tổ chức không định kỳ, hội viên có thể ghi tên tham dự. Có các khu  nhà sáng tác (ở Hà Nội, Nha Trang, Đà Lạt…) để hội viên có thể đến đấy ngồi viết (nếu có kế hoạch) và sẽ được tài trợ một số tiền gọi là đầu tư sáng tác. Tôi chưa tham gia các hoạt động này bao giờ.

*Những hoạt động của Hội Nhà Văn Việt Nam trong quá trình bà đang là hội viên tạo ra những tương tác nào trong sáng tác của bà?

-Với tôi, điều đó không nhiều. Từ khi vào Hội đến nay, tôi chỉ ngồi ở nhà sáng tác Đại Lải- Hà Nội một lần và một mình trong một tuần (không phải dự trại đông người, có tài trợ) vào năm 1983, để viết mấy truyện ngắn.

Làm việc ở các nhật báo chính trị xã hội (Tuổi Trẻ, Thanh Niên) rất bận rộn, tôi ít có thời gian để tham gia thường xuyên các hoạt động hội như những nhà văn ở các hội văn nghệ địa phương. Hầu hết sáng tác của tôi được viết một cách riêng rẽ, cá nhân. Do công việc ở báo (biên tập viên văn học), tôi luôn đọc nhiều (cả bản thảo và sách in) nên nắm rõ chuyện viết lách và tác phẩm của các nhà văn, thường xuyên có sự kết nối với từng người. Song việc này lại không liên quan đến hội.

 

*Hiện tại, vẫn có rất nhiều cây bút ở các Chi hội Văn Học nghệ thuật tỉnh vẫn đang cố gắng in nhiều tác phẩm để đủ chuẩn thành hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam. Bà nghĩ gì về khuynh hướng nỗ lực tham gia Hội Nhà Văn Việt Nam của số đông các cây bút này?

-Phải hiểu rằng Hội Nhà văn Việt Nam là tổ chức duy nhất “cấp thẻ chuyên nghiệp” cho các nhà văn. Những cây bút ở các địa phương luôn “phấn đấu” để đạt tiêu chuẩn đươc xét kết nạp: có hai đầu sách in (trên lý thuyết là sách “đạt chất lượng”) và được 2 hội viên cũ giới thiệu. Danh hiệu Hội viên Hội Nhà văn VN như một sự “cầu chứng tại tòa” để người viết cảm thấy mình đã trở thành nhà văn chuyên nghiệp ở-cấp-quốc-gia. Từng có người sau khi vào Hội Nhà văn VN đã nhanh chóng đề nghị những ai chưa phải hội viên thì không được dùng danh xưng “nhà văn” mà chỉ được phép xưng là “cây bút” (sic). Dẫu có vẻ khó khăn trầm trọng thế nhưng vẫn có những  hội viên mà các đồng nghiệp không hề biết họ từ đâu mà xuất hiện.

 

*Theo bà, đâu là sức hút đích thực của một hội nhà văn đối với giới cầm bút?

-Tôi cho rằng một hội nhà văn đích thực phải là nơi khiến các nhà văn cảm thấy tin cậy và hứng khởi để có thể tháo tung năng lượng sáng tạo của mình mà không lo bị kiềm chế hay kiểm duyệt. Nó sẽ gồm những đồng nghiệp cầm bút biết chia sẻ khó khăn của nhau và biết tôn vinh những tài năng thực sự như lẽ công bằng phải vậy. Nó giúp cho nhà văn yên tâm viết lách nhờ những tương tác hoàn toàn vô vị lợi và thực sự có trách nhiệm.

 

*Với trải nghiệm lâu năm của một nhà văn là hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam, bà cảm thấy những hoạt động cũng như cơ chế của hội này có tạo ra được sinh quyển sáng tạo để từ đó nhà văn có thể tự do phóng bút theo dòng cảm xúc đương đại?

-Quá nhiều sự việc đã và đang xảy ra cho thấy không có điều đó. Lãnh đạo Hội Nhà văn VN đương nhiệm đang muốn xác quyết chỉ mình là tổ chức duy nhất có quyền hoạt động nghề văn và không ai được “cạnh tranh” thế độc quyền này . Liệu có thể xem đây là cách làm đúng đắn của một hội nghề nghiệp, nơi tập hợp những người cầm bút?

 

*Khi quyết định từ bỏ một thực thể nào đó đã gắn kết lâu năm với mình, đương nhiên người từ bỏ sẽ có những đắn đo và suy tư nào đó, từ bỏ Hội Nhà Văn cũng vậy, bà có những đắn đo và suy tư gì?

-Đã từ lâu, những hoạt động thường xuyên của hội cứ ngày một trở nên “có vấn đề” hơn. Không phải chỉ hội viên phản ứng mà báo chí (chính thống) cũng như các trang mạng đều đã nhiều lần đề cập. Hiện tượng Hoàng Quang Thuận, việc kết nạp hội viên mới, việc trao giải tùy tiện… khiến nhiều hội viên ngán ngẩm. Có người lên tiếng, cũng có người im lặng. Nhiều người đã lẳng lặng từ bỏ sinh hoạt hội mà không nói rõ lý do.

Khi xảy ra việc lãnh đạo Hội Nhà văn VN công khai kêu gọi gạch tên những đồng nghiệp trong Ban Vận động Văn Đoàn Độc Lập, họ đã bộc lộ rõ ý định “thanh trừng”, không cho phép các nhà văn này có mặt trong đại hội, để mình trở thành kẻ phát ngôn độc quyền, duy nhất vể mọi chuyện. Với những đồng nghiệp như thế thì còn phải đắn đo, băn khoăn gì nữa…

*Cấu trúc và cơ chế hoạt động của Hội Nhà Văn Việt Nam hiện tại, theo bà, có những bất cập nào và tính hợp lý của nó nằm ở đâu?

-Xã hội đã có rất nhiều thay đổi. Công chúng giờ đây rất thông thái, am hiểu tỏ tường mọi chuyện đang xảy ra qua vô số thông tin hằng ngày trên mạng. Nhiều độc giả giỏi hơn các nhà văn, không dễ dàng bắt họ phải “thưởng thức” những thực đơn độc quyền mà Hội Nhà văn VN dọn ra cho họ. Chẳng rõ lãnh đạo Hội Nhà văn VN có biết điều này hay không…

*Bà có tham gia Văn Đoàn Độc Lập? Bà có nhận xét nào về Văn Đoàn Độc Lập?

-Tôi tham gia Ban Vận động Văn Đoàn Độc lập một cách bình thường, bởi tôi tán thành và chia sẻ các quan niệm về nghề văn với những người cùng đứng tên: Vì một nền văn học Việt Nam tự do, nhân bản.

Điều khác biệt đáng kể của Ban vận động Văn Đoàn Độc Lập so với Hội Nhà văn VN là các thành viên phải tự bỏ tiền túi ra để hoạt động chứ không nhận tài trợ từ bất cứ đâu. Đó là điều kiện tiên quyết/căn bản để không bị lệ thuộc.

*Với tư cách là một nhà văn thuộc lớp gạo cội trong giới cầm bút Việt Nam, bà có dự đoán nào về tương lai văn học Việt Nam (kể cả chính thống và phi chính thống) trong những năm tới?

-Tôi xin được từ chối danh từ “nhà văn gạo cội” trong câu hỏi. Theo hiểu biết của tôi, cho dù đang có vô vàn khó khăn, vẫn đang xuất hiện thêm những nhà văn mới và những tác phẩm mới giá trị. Những nhà văn này không tự cấm đoán mình dù trong nội dung hay hình thức tạo nên tác phẩm. Họ sẽ là lớp đầu tạo bước chuyển cho văn học Việt Nam tương lai.

Nguồn: http://www.nguoi-viet.com/

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.05.2015

THƠ VỀ CAMPUCHIA

Nhà thơ Vĩnh Nguyên

THƠ VỀ CAMPUCHIA 

 Vĩnh Nguyên

 CAMPUCHIA – CÂU HỎI CÒN ĐỂ NGỎ

 Đất ruộng Campuchia bằng phẳng

Người dân Campuchia hiền lành

93% theo đạo Phật

Họ tiếp nối tu nghiệp trong 4 ngàn ngôi chùa

Cớ chi Pôn Pôt nổi lên cường quyền diệt chủng

Pôn Pôt quê Kompongcham, dân Kompongcham càng bị giết nhiều hơn

Pôn Pôt có điên không?

 

Chế độ Pôn Pôt từ năm 1975 đến năm 1979

Cụ  thể hơn: ba năm, tám tháng, hai mươi ngày

Hai triệu người chết bị đập đầu

Pôn Pôt tâng công với ai?

 

Người dân Campuchia nổi giận bung lông nhím – lá cây thốt nốt

Bốn mươi triệu cây thốt nốt – bốn mươi triệu bộ lông nhím vẫn không chống nổi

thuổng, cuốc và báng súng

Đập đầu!

 

Ba năm, tám tháng, hai mươi ngày

Hai triệu người bị giết

Mỗi ngày một ngàn bốn trăm người chết

Năm mươi tám giây – một người dân bị đập đầu (*)

 

Pôn Pôt chết – đất nước Campuchia hòa bình

Trước phiên tòa, phe lũ Pôn Pôt cúi gằm mặt

Hai triệu chiếc đầu lâu há hốc ngẩng lên trời

Ba năm, tám tháng, hai mươi ngày

Năm mươi tám giây – một người dân Campuchia bị giết

Pôn Pôt – nhân danh ai?

Siêm Riệp, 10/04/2015

—————

(*) Lời Kim Dara hướng dẫn du lịch người Campuchia nói tiếng Việt (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.05.2015

CHÙM THƠ NGÔ MINH- KÝ HỌA HÈ

Hoa bàng vuông

 CHÙM THƠ NGÔ MINH

  TIẾNG VE ĐÊM

 em em em em em em em…

oi bức tiếng ve tung chăn tung gối

ra rả ve tìm thao thao ve gọi ?

 

em em em em em em em…

tiếng ve màu trắng tiếng ve màu tro

nôn nao tiếng ve khát mùa rượu đói

 

 em em em em em em em…

chớm hè còn nhớ hay lập xuân quên

lên chốn thông xanh về nơi bếp lẩu

bao nhiêu bên nhau chẳng thành yêu dấu…?

 

em em em em em em em…

rồi lo rồi nhớ rồi hóa ve sầu

ong ong tên gọi mà người thấy đâu ?

                               Huế, 19-4-1999

KÝ HỌA HÈ

 phượng rơi về đất

ve ve lên cành

 

ve ve gọi lửa

phượng bầm gót chân

 

cành khô con chuồn đậu

như giọt thời gian quên…

 

        10.6.1993

NHỊP VE

 không dưng

mà nhánh phương gầy

bởi ve ve

réo

bởi ngày

thèm đêm

 

ve sầu

nhàu phía không em

đỏ bầm lối phượng

nhớ quên

hai bờ

 

bập bùng ve

lửa trong tro

bây giờ

mà ngỡ

bao giờ

râm ran…

Nhà thơ Hữu Thỉnh

NHÀ THƠ HỮU THỈNH TRẢ LỜI VỀ VIỆC MỘT SỐ HỘI VIÊN RA HỘI

Lương Ngọc An ( thực hiện)

 VanVN.Net – Trong những ngày vừa qua, trên một số trang mạng xã hội và từ cá nhân một số nhà văn xuất hiện nhiều thông tin về một số hội viên Hội Nhà văn Việt Nam tuyên bố rút tên ra khỏi Hội. Có người trình bày lý do cặn kẽ, có người chỉ tuyên bố chung chung. Có người chỉ rút tên khỏi Hội Nhà văn Việt Nam, có người lại xin rút khỏi tất cả các tổ chức hội đoàn mà mình đang tham gia…

Để bạn đọc có cái nhìn toàn diện và khách quan hơn về vấn đề này, Tuần báo Văn nghệ đã có cuộc trao đổi với Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam. Đây cũng có thể xem là quan điểm chính thức của Hội Nhà văn Việt Nam đối với những tuyên bố của một số hội viên trong thời gian qua (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.05.2015

Ngẫu hứng Trần Tiến 27 – SÀI GÒN TRONG TÔI

SÀI GÒN TRONG TÔI

Là nụ cười hảo hán và dáng đi nghiêng nghiêng của anh Cầu, nhạc sỹ Phạm Trọng Cầu, trái chôm chôm biết hát của hội nhạc thành phố. Là anh Sơn, nhạc sỹ Trịnh Công Sơn, người ốm nhưng bước chân khoan thai quí tộc,vai gày nhưng ngực vươn như kiếm khách. Nghe ai kể chuyện gì cũng “Tội rứa. Chi mà tội rứa…”

Là sân 81 Trần Quốc Thảo dưới những tán cây hoa đại, suốt đêm vang tiếng cười, tiếng hát, giọng ngâm hào sảng và tiếng cụng ly của văn nghệ giang hồ tứ chiếng. Vài đĩa đậu phộng, vài khô cá khoai và can bia hơi là đủ thơ, đủ nhạc. Ở đây tôi chưa bao giờ nghe họ nói xấu về một người vắng mặt. Quanh ly bia, ai cũng là bạn, ai cũng là nghệ sỹ.

Sài Gòn trong tôi

 Cho đến hôm nay gần bốn mươi năm, đi hoài chưa biết hết phố, hết hẻm. Có một người thiếu phụ tôi yêu, đến giờ vẫn không hiểu, nàng có yêu tôi không. Có lẽ đến chết, tôi cũng không đi hết những khúc quanh bí ẩn của nàng. Như phố, như phường, hẻm hóc nơi đây.

Sài Gòn là Sỹ Thanh, ca sỹ đã khuất xa vì rượu. Chẳng có ai hát bài “Những đôi mắt mang hình viên đạn” và “Điệp khúc tình yêu” của tôi hay hơn thế. Anh lúc đó chỉ là một chàng trai đón chào quân giải phóng, không biết gì về cách mạng.

Là Thanh Lan, người chuyên hát nhạc Pháp nổi tiếng và đẹp như một quí bà Pa-ri-diên. Nàng hát tất cả những bài ca cách mạng hay hơn những người sinh ra trong nôi cách mạng mà tôi biết. Chả hiểu vì sao… Nhiều lắm, những ca sỹ ở đây hát, ít nhất là hay hơn tôi, một người tốt nghiệp đại học Thanh nhạc ngoài Hà Nội.

Sài gòn trong tôi

Ngoài chợ vỉa hè, tôi kiếm được nhiều cuốn sách thay đổi đời mình, và một chiếc quần bò, mặc đẹp đến mức… chưa bao giờ tôi đẹp trai thế.Thấy tôi không mang đủ tiền cô bán bảo lúc nào có thì mang đến. Cho đến giờ, tôi không thể tìm được người bán để trả tiền. Chợ “chồm hổm” như cơn mưa phương nam, chợt đến, chợt bay đi. Tôi mắc nợ em, mắc nợ Sài Gòn.

Sài Gòn chẳng bao giờ hỏi tôi là ai, làm nghề gì. Cần là giúp, thích là mời vô nhậu, ghét sự trả ơn. Thấy đúng là chở che, như các bà mẹ chợ Bàn Cờ che giấu cách mạng. Thấy ghét, thì chính các chị lên phường, chỉ tay mắng người mình chở che làm điều thất đức với nhân dân.Thành phố của những người lao động năng nổ, làm thì hết mình, nhậu thì hết gaz. Thẳng thắn, bộc trực, bất khuất như chiến binh Cần Giuộc. Thương nước, thương người như Đồ Chiểu. Lãng mạn như câu hò ngàn năm với tiếng đàn kìm, man mác buồn trên sông …

Sài Gòn không thơ mộng như quê tôi, Hà Nội. Nhưng có gì đó tôi có thể ở đây mà không thấy cô đơn.Thậm chí đôi khi, còn hạnh phúc.

( Nguồn: VV)

 

Thượng nghị sĩ Mỹ: Cứ tiến vào 12 hải lý, Trung Quốc không dám làm gì đâu

  Hồng Thủy

  (GDVN) – Trung Quốc sẽ ít có khả năng phản ứng khi Mỹ tuần tra quân sự trong khu vực này so với những nỗ lực tương tự của các nước láng giềng Đông Nam Á.

Tờ Financial Times ngày 20/5 đưa tin, kế hoạch tuần tra quân sự trong phạm vi 12 hải lý xung quanh các đảo nhân tạo Trung Quốc xây dựng (bất hợp pháp) ở Trường Sa (thuộc chủ quyền Việt Nam) của Lầu Năm Góc được một Thượng nghị sĩ hàng đầu của đảng Dân chủ ủng hộ hết mình. Ben Cardin, Thượng nghị sĩ trong Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ cho rằng thực hiện tuần tra trong phạm vi 12 hải lý sẽ là một bước tiến tích cực.

Ông cho rằng Trung Quốc sẽ ít có khả năng phản ứng khi Mỹ tuần tra quân sự trong khu vực này so với những nỗ lực tương tự của các nước láng giềng Đông Nam Á: “Những gì đang làm là ngăn chặn một sự kiện hoặc một hành động khiêu khích từ Trung Quốc. Nếu một trong những quốc gia Trung Quốc tranh chấp lãnh thổ tuần tra, có nhiều khả năng Bắc Kinh sẽ có hành động. Nhưng nếu đó là Hoa Kỳ, tôi nghĩ rằng ít có khả năng họ dám hành động”.

“Tôi cho rằng thực sự ít có gì gọi là khiêu khích khi Hoa Kỳ nâng cao lá cờ của mình. Tôi không nghĩ Trung Quốc muốn tạo ra một vấn đề với Hoa Kỳ”, ông Cardin cho biết tại một sự kiện ở Christian Sience Monitor. Tuần trước trong phiên điều trần tại Ủy ban Đối ngoại Thượng viện, Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Daniel Russel thúc giục ông Cardin không bỏ về sau khi vị Thượng nghị sĩ này phàn nàn: “Chúng tôi thực sự không thấy bất kỳ phản ứng nào với những kiểu hành động khiêu khích ngoài việc ra thông cáo báo chí”.

“Và tôi nghĩ rằng chúng tôi muốn làm nhiều hơn nữa. Chúng tôi muốn đồng minh của chúng ta biết rằng chúng ta đứng về phía họ rất nhiều để chống lại các hành động khiêu khích”, ông Cardin nói với Russel. Tổng thống Obama quyết định xoay trục chiến lược sang châu Á năm 2012, triển khai tỉ lệ hải quân lớn ở Thái Bình Dương để giúp chống lại sự bành trướng của Trung Quốc. Tuy nhiên nhiều nước trong khu vực, đặc biệt là Philippines vẫn phàn nàn Mỹ nói nhiều hơn làm.

Các nhà phê bình chỉ ra rằng, tháng 4/2012 khi Trung Quốc cưỡng chiếm quyền kiểm soát bãi cạn Scarborough từ Philippines dẫn đến một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng trong khu vực nhưng Mỹ đã không phái bất kỳ tàu hải quân nào đến khu vực này. Mỹ lo sợ leo thang căng thẳng với Trung Quốc. Nhưng một số chuyên gia cho rằng động thái này báo hiệu cho Bắc Kinh thấy nó cứng rắn hơn cũng sẽ không vấp phải một thách thức nào.

Mỹ và Trung Quốc đã cố gắng công khai xoa dịu một số căng thẳng vào cuối tuần qua khi Ngoại trưởng John Kerry đến Bắc Kinh. Nhưng Vương Nghị, người đồng nhiệm Trung Quốc nhấn mạnh cái gọi là “quyết tâm sắt đá” của Bắc Kinh trong bảo vệ yêu sách chủ quyền (vô lý, phi pháp) của họ. Biển Đông cũng đã đi vào cuộc chạy đua bầu cử Tổng thống Mỹ. Marco Rubio, Thượng nghị sĩ Mỹ gốc Cuba ra tranh cử Tổng thống, tuần trước nói rằng Mỹ cần có lập trường cứng rắn hơn với Trung Quốc, bao gồm vấn đề Biển Đông.

Theo phản ánh của Reuters ngày 20/5, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Antony Blinken phát biểu tại một hội nghị ở Jakarta: Hoạt động bồi lấp xây dựng (bất hợp pháp) của Trung Quốc ở Biển Đông đang phá hoại tự do và ổn định, có nguy cơ kích động căng thẳng, thậm chí có thể dẫn đến xung đột. Khi Trung Quốc tìm cách đòi chủ quyền và vẽ lại biên giới trên biển, nó đang làm xói mòn lòng tin trong khu vực, làm xói mòn niềm tin của các nhà đầu tư.

“Hành vi của họ đe dọa thiết lập một tiền lệ mới, trong đó các nước lớn có thể tự do đe dọa những nước nhỏ hơn và kích động căng thẳng, bất ổn, thậm chí có thể dẫn đến xung đột”, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ quan ngại. Tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông đang là một trong những điểm nóng nguy hiểm nhất châu Á, gây ra rủi ro có thể dẫn đến xung đột, đối đầu giữa các quốc gia có yêu sách ở vùng biển này

( Nguồn: GDVN)

Tàu chiến TQ

Trung Quốc bất ngờ bị Cuba “dội gáo nước lạnh”

 Tham vọng thọc vào “sân sau” Mỹ của Trung Quốc đã bị dội nước lạnh khi Cuba cấm cửa chiến hạm Trung Quốc triển khai tại nước mình.

Cuba nói thẳng

Ngày 20/5, tờ Yomiuri Shimbun (Nhật Bản) đưa tin cho biết, Cuba quyết định từ chối thỏa thuận đã ký kết với Trung Quốc hồi cuối năm 2014 về việc triển khai các tàu của Hải quân Trung Quốc ở nước mình.

Cụ thể, việc Cuba đưa ra quyết định trên là nhờ “tiến bộ lớn đã đạt được trong việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ” thúc đẩy Cuba đến bước đi này.

Tờ Yomiuri Shimbun lưu ý rằng từ năm 2012, phía Cuba đã chủ động đề xuất Trung Quốc đặt các tàu của họ trong vùng biển Caribbe cũng như tiến hành các cuộc tập trận chung. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.05.2015

Thế giới quanh tôi

Cờ Can ada với biểu tượng lá phong

 Thế giới quanh tôi

 Mai Khắc Ứng

( Bài gửi từ Canada)

Sáng ngày 22 tháng 4 năm 2014 sau khi đo huyết áp, điện tâm đồ, lấy máu xét nghiệm, tôi được chuyển lên phòng D5. Phòng này có 4 giường dành cho bệnh nhân, ngăn bởi 4 tấm rèm vải hình chữ L góc tù gần giống 4 cánh cung. Giường dành cho tôi đặt về phía cửa sổ.

Trời Montreal tháng 4 năm 2014 cao xanh vời vợi. Tôi thích thú được ngự tại vị trí này. Nhìn da trời tinh anh. Nhìn những làn mây trắng chầm chậm trôi rồi nhìn lên đỉnh núi Mont­Royal với tòa Thánh đường Saint­Joseph trầm mặc lòng tôi tự nhiên xốn xang.

Tôi là một Phật tử, quy y tại chùa Thiên Mụ, thành phố Huế (Việt Nam) với Pháp danh Nguyên Quang. Thượng tọa Thích Trí Tựu, Giám tự ngôi danh lam này làm lễ quy y cho tôi tại điện Đại Hùng, nơi an tọa ba pho tượng quá khứ, hiện tại, vị lai của Đức Phật xong, nói rằng số tôi đã sáng. Pháp danh Nguyên Quang là nguồn sáng. Bạch Thầy, tôi lễ phép thưa, Thầy cố ý chọn cho con hay đến lượt theo tuần tự. Ngẫu nhiên mới quý. Thầy Giám tự trả lời. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.05.2015

TUÂN NGUYỄN, KẺ MƠ MỘNG

Nhà văn Tuân Nguyễn

Một nhà văn không vào hội:

TUÂN NGUYỄN, KẺ MƠ MỘNG

 Hà Nhật

Vào bệnh viện Chợ Rẫy thăm Tuân rồi đưa Tuân đến nghĩa địa Gò Dưa bên Thủ Đức, cúng “mở cửa mả” cho Tuân, những chuyện ấy dồn dập xảy ra cứ như là không có thật. Buổi chiều ấy, ngồi nói chuyện với Cao Xuân Hạo về Tuân Nguyễn, Hạo buông một câu nghe mà lạnh người :

– Tuân Nguyễn sinh ra ở đời là để đóng cái vai trò này : khi có ai đó muốn kêu lên “trời ơi, sao mà tôi khổ thế ?”, thì nhìn vào Tuân Nguyễn, sẽ thấy mình chưa phải là người khổ.

Tôi tình cờ mà quen rồi trở thành bạn thân của Tuân Nguyễn. Ấy là vào tháng 8 năm 1959, tôi phải dự một cuộc chỉnh huấn một tháng, gồm tất cả giáo viên cấp 2 và cấp 3 toàn miền Bắc, cùng tất cả sinh viên sư phạm mới tốt nghiệp. Nơi họp là trường Bổ túc công nông đóng tại Giáp Bát, cách phía nam Hà Nội mấy cây số. Ai đã từng dự những cuộc chỉnh huấn trong 2 cái năm 1958, 1959, nhất là những ai là văn nghệ sĩ và sinh viên văn khoa, thì chắc mãi mãi chẳng bao giờ có thể quên. May mắn là mỗi buổi chiều, ăn cơm xong, chưa đến giờ học tập hay kiểm thảo buổi tối, chúng tôi có được chút thời gian để trò chuyện mà không phải lên gân góp ý hay kiểm điểm lẫn nhau. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.05.2015

TRƯỚC TƯỢNG THẦN VỆ NỮ

TRƯỚC TƯỢNG THẦN VỆ NỮ

 Ngô Minh

hỡi sự khuyết tật tuyệt mỹ

bao đời trên ngôi báu trị vì

con người dẫu bay đến ngoài vô tận

vẫn chẳng hiểu gì về cành ngọc đã mất đi

 

ở tư thế nào hỡi hai cánh ngà kia ?

cái đẹp không lời lặng im vĩnh cửu

cái đẹp  không cần che dấu

nỗi buồn đau trên cơ thể trắng trinh (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.05.2015

NHỮNG GIAI THOẠI VỀ HỒ CHÍ MINH

Chủ tịch Hồ Chí Minh

NGUYỄN TRỌNG TẠO: Câu chuyện “giai thoại dòng họ cụ Hồ” này tôi đã nghe Giáo sư Trần Quốc Vượng nói hồi tôi làm học trò của ông, và cũng nghe nói một lần đến Mỹ ông đã kể chuyện này nên bị “đì” một thời gian. Nhà văn Sơn Tùng viết nhiều sách về cụ Hồ cũng nói chuyện này, nhưng cũng chỉ là nói chuyện hoặc viết thành bài rồi lưu truyền. Ở nước ngoài, người ta in chuyện này vào sách cũng đã lâu. Nhưng ở Việt Nam thì chuyện này chỉ lưu truyền không chính thức. Gần đây, lần đầu tiên tôi thấy một Website của Nhà nước công bố chuyện này, đó là Website của huyện Nam Đàn quê cụ Hồ: http://www.namdan.gov.vn/ . Đó là câu chuyện cụ Hồ mang họ Hồ (Quỳnh Đôi) chứ không phải họ Nguyễn Sinh (Kim Liên). Vì thế mới có chuyện ông Nguyễn Sinh Hùng (hồi còn làm Bộ trưởng Tài chính) và ông Hồ Xuân Hùng (hồi còn làm Chủ tịch Nghệ An) đã “bí mật” đưa mộ bà nội của cụ Hồ là bà Hà Thị Hy lên núi Động Tranh trên dãy Đại Huệ gần Lăng mộ mẹ cụ Hồ là bà Hoàng Thị Loan. Tôi nghe Hồ Xuân Hùng kể chuyện xây mộ bà Hà Thị Hy, và khi cùng đến thắp hương cho bà, Hồ Xuân Hùng đã nói với Nguyễn Sinh Hùng: “Tôi mới là cháu thật của Bác Hồ”…

Nay thì trong Gia phả họ Hồ, đã thấy ghi tên Chủ tịch Hồ Chí Minh.

NHỮNG GIAI THOẠI VỀ HỒ CHÍ MINH

TRẦN QUỐC VƯỢNG

“… câu chuyện tôi sắp kể dưới đây thì chưa từng ai viết. Chỉ là lời truyền miệng dân gian… phạm vi lan truyền và số người biết câu chuyện này phải nói là hạn hẹp. Vì người ta SỢ.

… Đến đây tôi sẽ khép (lại) bài kể lể đã khá dài dòng của mình bằng câu chuyện một người tuy có tên tưổi nhưng không lấy gì làm nổi tiếng lắm, hay đúng hơn cả là đã trở nên có tên tuổi nhờ gắn bó máu thịt với một người có tên tuổi (nhưng từ đầu đến cuối câu chuyện của tôi đều nói về các nhà Nho, các vị thái học sinh, tiến sĩ, bảng nhãn hay là phó bảng cả).

Đó là câu chuyện về cụ thân sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc hay Nguyễn Sinh Huy.

Phó bảng là một học vị dưới tiến sĩ, chĩ mới xuất hiện ở Việt Nam từ đời vua Minh Mạng nhà Nguyễn (1830-31).

Trong một lá đơn bằng tiếng Pháp gởi Bộ Thuộc địa Pháp, Nguyễn Tất Thành (sau là Hồ Chí Minh) đã khéo dịch tên học vị của phụ thân mình là sous docteur [1] như ngày nay ta gọi là phó tiến sĩ.

Quê hương cụ, là làng Kim Liên, tên Nôm là làng Sen huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An. Nhưng đậu phó bảng rồi cụ đã làm Thừa biện Bộ Lễ ở Huế rồi Tri huyện Bình Khê (Bình Định). Rồi bỏ quan (hay bị mất chức quan), cụ phiêu dạt về Sài Gòn, ngồi bắt mạch kê đơn ở tiệm thuốc bắc Hoa kiều, để có chút cơm rượu… Lại phiêu lãng nữa, tới miền Tây Nam bộ, và cuối cùng mất ở Cao Lãnh (Sa Đéc, nay thuộc tỉnh Đồng Tháp). Mộ cụ phó bảng được xây lại cuối năm 1954 sau sự kiện Genève tạm thời chia đôi đất nước Việt Nam.

Người ta làm như thế vì cụ Hồ. Cũng như mộ bà Hoàng Thị Loan vợ cụ phó bảng và là thân mẫu Hồ Chí Minh mới được dời xây lại vài năm nay ở Nam Đàn, Nghệ An. Người ta làm thế cũng vì cụ Hồ. Hai ngôi mộ này, cũng như bản thân Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh giữa lòng Ba Đình, Hà Nội, đều hiện hữu ngoài ý thức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông Hồ vốn được xem là người giản dị, khiêm nhường…

Cũng đã có dăm cuốn sách nói về gia thế cụ Hồ Chí Minh, nhưng câu chuyện tôi sắp kể dưới đây thì chưa từng ai viết.

Chỉ là lời truyền miệng dân gian, ở Kim Liên, Nam Đàn, ở một số người gốc Nghệ hiện sống tại Hà Nội và nhiều nơi khác trên mảnh đất Việt Nam. Nếu trong Folklore, có hiện tượng mà các nhà nghiên cứu gọi là lan truyền thì từ lâu câu chuyện này cũng đã lan truyền từ làng Kim Liên ra khắp huyện Nam Đàn rồi khắp tỉnh Nghệ Anh rồi rộng ra hơn nữa … Nhưng phạm vi lan truyền và số người biết câu chuyện này phải nói là hạn hẹp. Vì người ta SỢ.

Sợ động chạm đến cụ Hồ. Một cái sợ vô nghĩa nhưng người ta cứ gán cho nó cái ý nghĩa chính trị giả tạo. Vì như bà Trịnh Khắc Niệm viết trong cuốn truyện bằng tiếng Anh Life and Death in Shanghai, [2] đã được dịch ra tiếng Việt: Ở xã hội xã hội chủ nghĩa, cuộc đời của các lãnh tụ cộng sản được coi là “bí mật quốc gia”.

Nhưng đây không phải là chuyện cụ Hồ, tuy cũng có dính dáng đến cụ Hồ. Mà vì đây là chuyện cụ thân sinh ra cụ Hồ, cụ Nguyễn Sinh Huy, mà cũng là chuyện truyền miệng thôi, nghĩa là thuộc phạm trù giai thoại, Folklore, chứ không thuộc phạm trù lịch sử, như tôi đã nói từ đầu bài này.

Người dân Kim Liên đồn rằng Nguyễn Sinh Huy không phải là thuộc dòng máu mủ của dòng họ Nguyễn Sinh làng này. Mà là con của một người khác: ông đồ nho, cử nhân Hồ Sĩ Tạo.

Cử nhân Hồ Sĩ Tạo thuộc dòng họ Hồ nổi tiếng ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An (đây là quê gốc của Hồ Quý Ly, nhân vật lịch sử cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, đây cũng là quê gốc của anh em Tây Sơn thế kỷ XVIII, vốn họ Hồ ở xứ Nghệ, đây cũng là quê hương Hoàng Văn Hoan, người đồng chí thân cận một thời của cụ Hồ Chí Minh, được cụ Hồ giao phụ trách công tác đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thời kháng chiến chống Pháp và là Đại sứ Việt Nam đầu tiên ở Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, hiện sống lưu vong ở Trung Hoa, có viết một tài liệu về lịch sử làng Quỳnh Đôi, quê ông. Bà vợ nhà văn lớn Đặng Thai Mai, người một thời làm Bộ trưởng Giáo dục trong chính phủ của cụ Hồ 45-46 rồi làm Viện trưởng Viện trưởng Viện Văn học, là Hồ Thị Loan, cũng thuộc dòng họ Hồ này ở làng Quỳnh Đôi). Khoảng đầu những năm 60 của thế kỷ trước (thế kỷ XIX) cử nhân Hồ Sĩ Tạo có thời gian ngồi dạy học ở một nhà họ Hà, người làng Sài, cùng một xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, với làng Sen (Kim Liên). Đó là một nhà nghệ nhân dân gian, trong nhà có “phường hát ả đào”.

Nhà họ Hà có cô con gái tên là Hà Thị Hy, tài hoa, nhan sắc, đàn ngọt, hát hay, múa khéo, đặc biệt là múa đèn (đội đèn trên đầu, để đèn trên hai cánh tay, vừa hát vừa múa mà dầu trong đĩa không sánh ra ngoài) nên người làng thường gọi là cô Đèn. Người ta thường bảo: má hồng thì mệnh bạc. Như Đặng Trần Côn viết mở đầu khúc ngâm chinh phụ: “Hồng nhan đa truân” (Gái má hồng nhiều nỗi truân chuyên). Hay như Nguyễn Du than thở giùm người đẹp tài hoa trong truyện Kiều: “Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”, “Rằng hồng nhan tự thuở xưa, Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu”).

Và ở thời ấy, dưới chế độ quân chủ nho giáo, lấy tứ dân (Sĩ, Nông, Công, Thương) làm gốc, người ta vẫn xem thường nghề ca xướng và con nhà ca xướng (“xướng ca vô loài”).

Cô Đèn, Hà Thị Hy tài hoa nhan sắc là thế mà rồi ba mươi tuổi vẫn chưa lấy được chồng. Mà trong nhà thì lại luôn có bậc văn nhân: ông cử Hồ Sĩ Tạo. “Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén” là lẽ thường theo tâm lý dân gian, huống chi là giữa văn nhân – tài tử – giai nhân. “Trai tài ggái sắc” mà! Và cô Hà Thị Hy bỗng dưng “không chồng mà chửa”. Mà ông cử Tạo thì đã có vợ, có con rồi! Lệ làng ngày trước phạt vạ rất nặng nề, sỉ nhục hạng gái “chửa hoang”, hạng “gian phu dâm phụ”. Để tránh nỗi nhục cho con gái mình và cho cả ông cử Tạo đang làm “thầy đồ” được hết sức kính trọng trong nhà mình, họ Hà phải bù đầu suy tính…

Lúc bấy giờ ở làng Sen cùng xã có ông Nguyễn Sinh Nhậm, dân cày, tuổi cao mà góa vợ (bà vợ trước đã có một con trai là Nguyễn Sinh Thuyết, và người con trai này cũng đã có vợ).

Nhà họ Hà bèn cho gọi ông Nguyễn Sinh Nhậm đến điều đình, “cho không” cô Hy làm vợ kế ông này, như một người con gái xướng ca, quá lứa, lỡ thì, lấy ông già góa vợ, mong ém nhém việc cô gái đã “to bụng”.

Công việc rồi cũng xong. Cô Hy ôm bụng về nhà chồng, có cưới có cheo cẩn thận. Việc phạt vạ của làng không thể xảy ra. Nhưng cô gái tài hoa nhan sắc thì bao đêm khóc thầm vì bẽ bàng, hờn duyên tủi phận. Và ông lão nông dốt nát tuy được không cô gái đẹp nhưng cũng buồn vì đâu có đẹp đôi, lại cắn răng chịu đựng cái tiếng ăn “của thừa”, “người ăn ốc (ông cử Tạo), kẻ đổ vỏ (cụ lão nông Nhậm)”. “Miệng tiếng thế gian xì xầm”, ai mà bịt miệng nổi dân làng. Mà trước hết là lời “nói ra, nói vào”, lời chì chiết của nàng dâu vợ anh Thuyết, vốn nổi tiếng ngoa ngoắt, lắm điều. Ông Nhậm đành cho con trai và vợ anh ta ra ở riêng, và mình ở riêng với bà vợ kế.

Chỉ ít tháng sau, bà vợ kế này đã sinh nở một mụn con trai, được ông đặt tên là Nguyễn Sinh Sắc, lấy họ ông mặc dù ông biết rõ hơn ai hết đó không phải là con ông, con nhà họ Nguyễn Sinh này. Nàng dâu ông càng “tiếng bấc, tiếng chì” hơn trước, vì ngoài việc bố chồng “rước của tội, của nợ”, “lấy đĩ làm vợ” thì nay còn nỗi lo”: Người con trai này – được ông nhận làm con, lớn lên sẽ được quyền chia xẻ cái gia tài vốn cũng chẳng nhiều nhặn gì của một gia đình nông phu thôn dã. Việc ấy xảy ra vào năm Quý Hợi, đời vua Tự Đức thứ 16 (1863).

Vì trọng tuổi, lại vì lo phiền, vài năm sau cụ Nhậm qua đời và cũng chỉ ít lâu sau đó, bà Hy cũng mất. Nguyễn Sinh Sắc trở thành đứa trẻ mồ côi. Lên bốn, về ở với người anh gọi là “cùng cha khác mẹ” mà thật ra là “khác cả cha lẫn mẹ”, cùng với bà chị dâu ngoa ngoắt, khó tính, lúc nào cũng chỉ muốn tống cổ cái thằng “em hờ” của chồng này đi cho “rảnh nợ”.

Không cần nói, ta cũng hiểu Nguyễn Sinh Sắc khổ tâm về tinh thần, khổ cực về vật chất như thế nào trong cái cảnh nhà Nguyễn Sinh như vậy. Ta cảm thấy vô cùng thương xót một đứa trẻ mồ côi sớm chịu cảnh ngang trái của cuộc đời. Bên ngoại thì ông bà đều đã mất, họ Hà chẳng còn ai chịu cưu mang đứa trẻ có số kiếp hẩm hiu này.

May có ông tú đồ nho Hoàng Xuân Đường, người làng Chùa (Hoàng Trù) gần đó, xót thương đứa trẻ, dù sao cũng là hòn máu rơi của một nhà nho khác, lại có vẻ sáng dạ, nên đã đón về làm con nuôi, cho ăn học. Và đến khi Nguyễn Sinh Sắc 18 tuổi, ông bà đồ họ Hoàng lại gả cho cô con gái đầu lòng, Hoàng Thị Loan, mới 13 tuổi đầu, cho làm vợ, lại làm cho căn nhà tranh ba gian ở ngay làng Chùa, để vợ chồng Nguyễn Sinh Sắc ăn ở riêng.

Ta dễ hiểu vì sao Nguyễn Sinh Sắc gắn bó với họ hàng làng quê bên vợ, làng Chùa, hơn là với làng Sơn “quê nội”, quê cha “hờ”. Con cái ông, từ người con gái đầu Nguyễn Thị Thanh, qua người con trai đầu Nguyễn Sinh Khiêm (tục gọi là ông cả Đạt) đến người con trai thứ Nguyễn Sinh Côn (hay Nguyễn Tất Thành, sau này là Nguyễn Ái Quốc rồi Hồ Chí Minh) đều được sinh ra và bước đầu lớn lên ở làng Chùa bên quê mẹ hay là quê ngoại. Khi cụ Tú Hoàng (Hoàng Xuân Đường) mất, vợ chồng con cái Nguyễn Sinh Sắc lại về ăn ở chung với bà đồ Hoàng. Các cháu đều quấn quít quanh bà ngoại.

Qua giỗ đầu cụ Tú Hoàng, Nguyễn Sinh Sắc đi thi Hương khoa Giáp Ngọ và đậu cử nhân (1894). Ông được nhận ruộng “học điền”, ruộng công của làng Chùa chia cho những người có học (nhằm khuyến khích việc học) để học thêm – chứ không phải nhận ruộng học của làng Sen. Khoa thi Hội Ất Mùi (1895), ông thi trượt.

Nhờ sự vận động gửi gấm của ông Hồ Sĩ Tạo, người cha thực của Nguyễn Sinh Sắc, với các quan lại đồng liêu quen biết ở triều đình Huế, Nguyễn Sinh Sắc được coi như ấm sinh, để được nhận vào học Quốc Tử Giám ở kinh đô. (Ai cũng biết: để được nhận vào học Quốc Tử Giám và làm giám sinh phải là con cháu của những gia đình có thế lực, gọi là “danh gia tử đệ”. Nếu không có sự can thiệp của ông Hồ Sĩ Tạo là bậc khoa bảng cao quan thì làm sao Nguyễn Sinh Sắc được nhận? Thế là dù sao Hồ Sĩ Tạo vẫn còn có một “cử chỉ đẹp” với đứa con mà mình không dám nhận). Nguyễn Sinh Sắc, đổi tên là Nguyễn Sinh Huy, đem vợ và hai con trai vào Huế và đi học Quốc Tử Giám. Khoa thi Hội Mậu Tuất (1898), ông lại trượt.

Ngày 22 tháng Chạp năm Canh Tý (10-2-1901) bà Hoàng Thị Loan ốm mất ở kinh đô Huế, sau khi sinh đứa con trai út (đứa con trai này ít ngày sau cũng chết). Nguyễn Sinh Côn (Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh ngày sau) trở thành con trai út.

Nguyễn Sinh Huy đem hai con trai về làng Chùa gửi mẹ vợ nuôi nấng chăm sóc giùm rồi trở vào Kinh thi Hội. Khoa Tân Sửu (1901) này, ông đậu phó bảng và được “vinh quy bái tổ” về làng. Theo thể thức triều đình, lễ vinh quy này phải diễn ra ở quê nội, dù là quê nội danh nghĩa, tức là làng Sen – Kim Liên. Hội đồng hương lý và dân xã đã dựng nhà tranh năm gian (chứ không phải nhà ngói) trên một khoảnh đất vườn làng Sen, để đón quan phó bảng tân khoa Nguyễn Sinh Huy về làng.

Thế là buộc lòng ông phải về “quê nội”. Ông cũng đón hai con trai về ở cùng ông. Lần đầu tiên Nguyễn Sinh Côn (Hồ Chí Minh ngày sau) về ở quê nội nhưng thân ông, lòng ông vẫn hướng về quê ngoại là cái gì “đích thực” và gắn bó với tuổi thơ ông. Ông phó bảng có đến thăm cụ Hồ Sĩ Tạo.

Nhưng gia đình ông phó bảng cùng hai con trai cũng không ở lâu tại Kim Liên. Chưa đầy ba năm! Sau khi mẹ vợ mất, ông vào kinh đô nhận chức quan (1904) ở Bộ Lễ, đem theo hai con trai vô Huế học. Năm 1907, ông bị đổi đi Tri huyện Bình Khê … Rồi sau khi bỏ quan (hay mất quan), khoảng 1910, ông phiêu bạt vô Sài Gòn rồi Lục tỉnh Nam Kỳ. Không bao giờ ông về làng Sen trở lại nữa…

Ở làng Sen sau này, chỉ có bà Thanh và ông Cả Đạt (Khiêm), cả hai đều không lập gia đình riêng.

Người ta bảo lúc sau, khi cụ Hồ Sĩ Tạo đã qua đời, năm nào bà Thanh cũng qua Quỳnh Đôi góp giỗ cụ Hồ Sĩ Tạo. Thế nghĩa là cái “bí mật” về cội nguồn của cụ phó bảng Huy, trong số các con cụ, ít nhất có bà con gái đầu biết. Người ta bảo: ông Cả Đạt cũng biết, tuy không bao giờ ông sang Quỳnh Đôi nhận họ.

Còn Nguyễn Sinh Côn – Nguyễn Tất Thành – có biết không? Từ khoảng 11 đến 14 tuổi, ông ở làng Sen, có nhẽ nào không ai nói cho ông biết? Hay là trước đó nữa, khi ông ở làng Chùa quê ngoại gần gặn làng Sen! Hay là sau đó nữa chả lẽ không khi nào cụ phó bảng Huy hay bà Thanh hay ông Cả Đạt lại không kể với ông về “bí mật” của gốc tích thân phụ mình?

Không có chứng cớ gì về việc ông Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – biết hay không biết chuyện này… Sau này, khi hoạt động cách mạng, ông còn mang nhiều tên khác nữa. Nhưng đến đầu thập kỷ 40 của thế kỷ này, thì người ta thấy ông mang tên Hồ Chí Minh.

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, khi tên tuổi Hồ Chí Minh trở thành công khai thì cũng bắt đầu từ đó dân gian Việt Nam, từ trí thức đến người dân quê, lại âm thầm bàn tán: vì sao Nguyễn Ái Quốc lại đổi tên là Hồ Chí Minh? Và tên này cụ giữ mãi cho tới khi “về với Các Mác, Lê-nin” năm 1969.

Cuộc đời thực của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh – còn quá nhiều dấu hỏi chứ phải đâu riêng gì một cái tên! Và biết làm sao được khi cụ Hồ, tôi nói lại một lần nữa theo cảm thức của người Ấn Độ, đã trở thành “huyền thoại”. Huyền thoại Hồ Chí Minh được hình thành trong vô thức dân gian mà Carl Gustav Jung gọi là vô thức tập thể. Nhưng nó cũng có phần được hình thành một cách hữu thức, bởi một số cán bộ gần gụi cụ Hồ. Nghĩa là một phần cuộc đời cụ Hồ đã được huyền thoại hóa.

Ngay sau Cách mạng tháng Tám, người ta còn in cả cuốn sách (mỏng thôi) về sấm Trạng Trình có những câu vận vào cụ Hồ và sự nghiệp Cách mạng tháng Tám. Và sấm Trạng Trình vẫn được vận vào cụ Hồ còn lâu về sau nữa, ở miền Nam Việt Nam và hiện nay ở một số người Việt lưu vong, dù là với hậu ý không ưa gì cụ Hồ… Nhưng đó lại không phải là chủ đề của bài viết này.

Trở lại với cái tên Hồ Chí Minh, lời truyền miệng dân gian bảo rằng: Nguyễn Ái Quốc sau cùng đã lấy lại họ Hồ vì cụ biết ông nội đích thực của mình là cụ Hồ Sĩ Tạo, chứ không phải cụ Nguyễn Sinh Nhậm.

Và dân làng Sen cũng bảo: Thì cứ xem, lần đầu tiên về thăm quê hương, sau cách mạng, sau mấy chục năm xa quê (15-6-1957), từ thị xã Vinh, tỉnh lỵ Nghệ An, cụ Hồ đã về làng Chùa trước, rồi sau mới sang làng Sen “quê nội”! [3]

Riêng tôi nghĩ, thì cũng phải thôi. Vì như ở trên ta đã thấy, cả một thời thơ ấu của cụ Hồ là gắn bó với quê ngoại làng Chùa, nơi cụ sinh ra và bước đầu lớn lên. Chứ đâu phải làng Sen, là nơi cụ chỉ ở có vài năm, lại là khi đã bắt đầu khôn lớn?

Tôi không muốn có bất cứ kết luận “khoa học” gì về bài viết này. Vì nó không phải là một luận văn khoa học. Đây chỉ là việc ghi lại một số lời truyền miệng dân gian về nỗi bất hạnh hay là cái khổ tâm, hay là cái “mặc cảm” của một số nhà trí thức Nho gia từ đầu thế kỷ XIV (Trương Hán Siêu, Chu Văn An) đến đầu thế kỷ XX (Nguyễn Sinh Huy) đối với làng quê. [4]

Còn viết lách, thì bao giờ chẳng là chuyện: “Thư bất tận ngôn, ngôn bất tận ý”. (Viết không [bao giờ] hết lời nói, Lời nói không [bao giờ] hết ý!).

(trích: Trong cõi. Nxb Trăm Hoa, California, 1993, tr. 252-259)

 

Nhà văn Lại Nguyên Ân

VÀI NÉT VỀ KHÔNG KHÍ VĂN ĐÀN NƯỚC TA HIỆN TẠI

Lại Nguyên Ân trả lời phỏng vấn

 
Văn đàn nhiều chuyển động, Hội vẫn quá phụ thuộc vào cấp trên
(Không khí văn đàn Việt Nam gần đây qua một số ghi nhận của nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân)

RFI : Xin ông cho biết một số nét về không khí văn học tại Việt Nam trong thời gian gần đây, đặc biệt là vai trò của Hội Nhà văn Việt Nam đối với vấn đề tự do sáng tác.

Lại Nguyên Ân : Sáng tác trong nước hiện nay ngày càng trở nên đa dạng hơn, và rốt cuộc thì văn học, nói chính xác hơn là sách văn học, cũng đã trở thành một thị trường (nhiều loại hình khác như nghệ thuật tạo hình, ca nhạc đã trở thành thị trường sớm hơn, ngay đầu thời đổi mới, đầu những năm 1990s; văn chương thì muộn hơn, và cũng chỉ hình thành thị trường ở một số thể tài sách in chứ không phải toàn bộ văn học). Công chúng bây giờ là một thế hệ khác, có những quan tâm và thị hiếu khác trước; đối với công chúng bây giờ, ngay các tác phẩm có giá trị của những tên tuổi lớn của văn học thời 1930-45 cũng không hấp dẫn họ bao nhiêu, nói gì đến những tác phẩm thời chiến mà nay chỉ còn được in mới trong các bộ tuyển làm bằng ngân sách bao cấp, làm xong chỉ để biếu tặng. Tất nhiên cũng có chuyện “thị hiếu lệch lạc” − theo một số người quan sát nào đó, − và đó là chỗ cho những cây bút đầu cơ kiếm tiền. Nhưng nên thừa nhận: phải có tài mới chinh phục được công chúng; kiếm tiền từ việc người ta mua sách của mình không phải là việc dễ (nạn in sách lậu hay đánh cắp bản quyền là câu chuyện rất nan giải cần được bàn thêm vào dịp khác – Lại Nguyên Ân). Chung quy là chỉ những người thực sự có tài mới nổi lên được; văn học đang trở lại tình trạng đó là sáng tác của những cá nhân. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.05.2015

HỒ CHÍ MINH, NHỮNG NGÀY SINH VÀ 1 LÁ SỐ TỬ VI

HỒ CHÍ MINH, NHỮNG NGÀY SINH VÀ 1 LÁ SỐ TỬ VI

NGUYỄN THÀNH

Sắp đến 19/5 lại thấy báo chí, truyền hình bắt đầu “nhớ về Bác”.  Xét lại thì thấy mình chưa viết một bài nào về ông cụ bởi bất cứ bài nào viết về ông cụ dù là bất cứ ai viết và viết kiểu thì gì ở dưới cũng có rất nhiều tranh cãi thậm chí cắn xé lẫn nhau. Mình không thích viết ra để người ta tranh cãi nên vẫn chưa viết. Hôm nay thử viết một bài về cụ theo cách tiếp cận mới “ít tranh cãi” mà lại gắn với “sự kiện” xem sao. 

Ngày 19/5 cách đây 74 năm một tổ chức tên không hề lạ là Việt Minh đã ra đời tại Pác Bó Cao Bằng, song cho đến nay chẳng mấy ai chú ý tới cái ngày thành lập tổ chức này, tuy vậy không phải vì thế mà ngày  19/5 bị lãng quên mà nó đã trở nên quá quen thuộc với người Việt Nam với ý nghĩa là ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh.  Liệu rằng đây có phải là một sự  trùng hợp ngẫu nhiên của lịch sử giống như ngày mất của ông trùng với ngày quốc khánh?  Khi nói về cái ngẫu nhiên thường người ta bỏ qua luôn lý do xuất hiện của nó vì đơn giản nó xảy ra một cách “không cố ý” tuy nhiên lịch sử lại chưa đầy những hành động có chủ ý của con người. Và một trong những chủ ý như thế của Hồ Chí Minh đã tạo ra một “ngày sinh nhân tạo” cho  mình.

Sinh nhật chính trị 

Sẽ là không ngoa chút nào  khi nói ngày sinh nhật 19/5 của chủ tịch Hồ Chí Minh là là  sinh nhật chính trị vì nó tạo ra hoàn toàn vì mục đích chính trị.

Bây giờ chúng ta quay về thời điểm lịch sử xung quanh tháng 5/1946.Vào ngày  6/3/1946 Hồ Chí Minh cùng Jean Sainteny đã ký kết hiệp định sơ bộ Pháp-Việt. Theo đó Pháp thừa nhận Việt Nam là một quốc gia tự do (état libre), có chính phủ riêng, nghị viện riêng và tài chính riêng trong Liên Bang Đông Dương  và trong khối  Liên Hiệp Pháp. Việt Nam sẵn sàng tiếp đón quân đội Pháp đến thay thế quân đội Trung Hoa Dân Quốc để giải giáp quân đội Nhật . Hiệp định này được xem là một nước cờ chính trị của cả hai bên nhằm mưu đồ lợi ích riêng. Chính vì thế mà nó bị các đảng phái khác ra sức công kích dữ dội xem nó là “Hiệp ước bán nước” khiến ông Hồ phải đứng ra thề trước quốc dân đồng bào trong một cuộc mit tinh ở Nhà hát lớn: “Hồ Chí Minh không bán nước!”  Những diễn biến này đặt ông trước những tình thế nhạy cảm tiếp theo.

Sau Hiệp định Sơ bộ, quân Pháp bắt đầu vào miền Bắc và sớm gây sự. Quân Tưởng rút dần nhưng chậm. Cao ủy Pháp D’Argenlieu đề nghị gặp Hồ Chí Minh trên Vịnh Hạ Long. Cuộc gặp gỡ đi đến các thỏa thuận: Mở cuộc đàm phán trù bị ở Đà Lạt. Khi trù bị kết thúc sẽ mở đàm phán chính thức ở Paris. Phía Pháp đồng ý mời một đoàn đại biểu Quốc hội Việt Nam sang thăm Pháp. Cùng dịp này, Chính phủ Pháp mời Hồ Chí Minh sang thăm Pháp với danh nghĩa thượng khách của nước Pháp. Đây là cơ hội lớn để đề cao vị thế của Việt Nam, tranh thủ dư luận Pháp, tranh thủ đấu tranh về vấn đề Việt Nam trực tiếp với Chính phủ Pháp, tránh giáp mặt với thực dân Pháp ở Đông Dương.

Trong lúc Hồ Chí Minh  chuẩn bị chuyến đi thì Cao ủy  Pháp D’Argenlieu, mở cuộc kinh lý khu vực phía bắc vĩ tuyến 16 từ ngày 14/5/1946.  D’Argenlieu đến Vientiane ngày 17/5/1946, đến Hà Nội  chiều ngày 18/5/1946. Trên danh nghĩa, D’Argenlieu là cao uỷ, đại diện chính phủ Pháp tại Đông Dương. Việt Nam là một quốc gia trong Liên Bang Đông Dương nên theo nghi thức ngoại giao, để đón tiếp cao ủy, phía  Việt Nam phải treo quốc kỳ trong ba ngày để đón D’Argenlieu.  Dư luận trong  nước thì vẫn còn đang sôi sục vì Pháp đã chiếm lại Nam Bộ, quả này mà dân thấy treo cờ ra với lý do chào đón “toàn quyền”  thì thể nào “bọn  phản động” cũng  có cớ sẽ làm rùm beng lên công kích chính phủ Việt Minh bán nước cho mà xem :D. Đúng là một bài toán khó cho ông Hồ và các đồng chí của mình.

Quân đội Pháp thì muốn tổ chức lễ đón D’Argenlieu thật long trọng để phô trương thanh thế và khẳng định sự quay trở lại của Pháp. Họ mời  Hồ Chí Minh tới dự vào ngày 19/5/1946. Ngày 18 sau khi nhận được giấy mời ông Hồ liền cử bộ trưởng Phan Anh tới dự và sau đó yêu cầu thư ký Vũ Đình Huỳnh mời các lãnh đạo trong chính phủ và các đoàn thể tới Bắc Bộ Phủ dự lễ sinh nhật mình vào ngày hôm sau. Theo Hồi ký  “Tháng tám cờ bay” của Vũ Đình Huỳnh có đoạn:

“Khi tôi báo tin về ngày sinh của Bác, mọi người cằn nhằn sao nước đến chân mới nhảy. Anh Trường Chinh nói rằng tôi đã biết ngày sinh của Bác mà không nói trước. Tôi thưa lại: Bác vừa bảo thì tôi đến đây ngay”.

Chi tiết này  cho thấy ngày sinh nhật đùng một cái được đẻ ra này chắc đến 100% là sinh nhật giả. Vì đâu mà ông Hồ lại sinh khéo thế  đúng vào dịp có “việc phải xử lý”.Hôm sau, cả Hà Nội bừng lên màu cờ, biểu ngữ chúc mừng sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tối 19/5, lễ mừng chính thức được tổ chức trọng thể tại Bắc Bộ Phủ. Không khí tưng bừng, quan khách tấp nập. Các đoàn thiếu nhi gõ trống ca vang trong phủ. Trong không khí rộn ràng đó, Cao ủy D’Argenlieu và Ủy viên Cộng hòa Sainteny mang hoa đến “chúc mừng sinh nhật Hồ chủ tịch”.

Hiệu quả của  việc lựa chọn ngày sinh cho mình của Hồ Chí Minh đã giúp ông đi một nước cờ ngoại giao có ý nghĩa cả về mặt đối nội và đối ngoại.  Đối với dân chúng ông đã tìm được một lý do để treo cờ “đón giặc Pháp” là để mừng thọ “cha già dân tộc”, tạo thêm hậu thuẫn cho bản thân và Việt Minh, đo được sự ủng hộ của dân chúng đối với mình, cũng như kiềng mặt các đảng phái đối lập. Đối với các đồng chí là cơ hội biểu dương lực lượng chào mừng ngày thành lập Việt Minh.  Còn đối với Pháp ông đã đảo ngược thế cờ, đổi vị thế chủ và khách với phía Pháp, tránh không đến dự buổi lễ phía Pháp tổ chức mà lại kéo hai đại diện chính của nước Pháp đến chào mình,  nói theo kiểu vẫn thấy trong phim Trung Quốc là “hạ thấp oai phong của địch nâng cao uy  thế của ta”, tạo bước đệm tốt cho chuyến thăm của ông sang Pháp sắp tới.  Nói chung là một mũi tên trúng nhiều con chim và từ sau sự kiện đó thì ngày 19/5 được chính thức hóa trở thành ngày sinh Hồ Chí Minh.

Tự vẽ rồng

Từ những dữ kiện trên có đủ kết luận là ngày 19/5 thực tế là một ngày sinh nhật chính trị, vậy còn những dữ kiện nào khác về ngày sinh Hồ Chí Minh đã được biết tới trong các hồ sơ lưu trữ?

 

Căn cứ theo lá thư Nguyễn Tất Thành tại Marseille ngày 15/9/1911 gửi tổng thống Pháp để xin vào học trường thuộc địa tại Paris  lấy từ cuốn  Ho Chi Minh: A Life của William J.Duiker  thì phía dưới lá thư ký: Nguyễn Tất Thành, Sinh tại Vinh, 1892 con trai ông Nguyễn Sinh Huy (tiến sĩ văn chương) sinh viên tiếng Pháp và Trung Quốc. 

Theo Jacques Dalloz trong cuốn ” Les Vietnamiens dans la Franc-Maçonnerie coloniale ” ( Người Việt trong hội tam điểm thuộc địa ) thì trong đơn xin vào Hội Tam Điểm (Franc-Maçonnerie) vào đầu năm 1922, Hồ Chí Minh, lúc đó có tên là Nguyễn Ái Quốc, ghi trong phiếu cá nhân rằng ông sinh ngày 15/2/1895.  

Trong tờ khai của ông tại Đại sứ quán Liên Xô ở Berlin, vào tháng 6 năm 1923, thì ngày sinh là 15/2/1895 ( trùng với ngày khai ở trên ).  

Hộ chiếu Tổng lãnh sự quán Trung Hoa tại Singapore cấp ngày 28/4/1930 cho Tống Văn Sơ ghi năm sinh là 1899.

Còn theo sử gia  Daniel Hémery, dựa theo các nguồn của kho lưu trữ của chính phủ Pháp có một tờ khai tại sở cảnh sát Paris năm 1902, Hồ Chí Minh lại  khai là sinh ngày 15/01/1894.

Cũng theo ông này thì có một nguồn tin khác nữa là khai sinh của Hồ Chí Minh được những người làm chứng ở Kim Liên xác nhận đã được cơ quan mật thám xác lập năm 1931 (tức khoảng 40 năm sau) thì chỉ ra ngày sinh của Nguyễn Sinh Cung vào tháng 03 năm Thành Thái thứ 6, tức khoảng tháng 04 năm 1894.

Trong cuốn truyện “những mẩu chuyện về cuộc đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch” dưới bút danh Trần Dân Tiên ông Hồ đã nêu ra một triết lý:

Một nhà họa sĩ vẽ giỏi không bao giờ vẽ nguyên cả một con rồng, mà vẽ con rồng khi ẩn, khi hiện giữa những đám mây”.

 Có lẽ ông đã sử dụng nguyên lý này để chỉ đạo các hành động của mình nên đã chủ động tạo ra rất nhiều đám mây xung quanh bản thân mình cả trong điều kiện phải lẩn tránh sự theo dõi chú ý của kẻ thù cũng như xây dựng hình ảnh vị lãnh tụ tối cao trong dân chúng. Qua sự sai khác giữa các thông tin trong các hồ sơ mà ông tự khai cho thấy từ khi còn rất sớm ông đã có ý thức “bảo mật thông tin” của một “điệp viên” khá rõ rệt.

Dữ liệu mà một điệp viên tự khai thì độ tin cậy không thể cao vì mục đích của thông tin đó tự thân nó không phải cung cấp sự thật. Vì thế muốn biết ngày sinh thực của Hồ Chí Minh thì giải pháp tốt nhất là tìm kiếm gián tiếp qua thông tin của những người thân cận với ông.

Dữ liệu từ những ký ức

Khi nghiên cứu lịch sử ngoài các hồ sơ lưu trữ, các tư liệu được giải mật thì các cuốn hồi ký cũng là một nguồn tư liệu hết sức quan trọng. Trong số các cuốn hồi ký hot thì gần đây nhất là “Đèn cù” của Trần Đĩnh cũng có nhắc đến chi tiết về năm sinh của Hồ Chí Minh:

“Tháng 3, Tố Hữu triệu tập mấy người lập nhóm viết tiểu sử Hồ Chí Minh với danh nghĩa Ban nghiên cứu lịch sử đảng. Gồm Tố Hữu, Phạm Bình (Ban nghiên cứu lịch sử đảng), Nguyễn Huy Tưởng, Hoài Thanh và tôi. Hai nhà văn vào tận quê Cụ sưu tầm tài liệu. Phạm Bình cung cấp tài liệu. Tôi viết. Cố nhiên cũng sưu tầm cả tài liệu. Hai nhà văn trở ra với nhiều điều giật gân. Cụ sinh năm 1891! Cụ Khiêm, anh trai Cụ nói thế, có bằng chứng hẳn hoi trong gia đình và họ hàng. Báo cáo với Cụ thì Cụ nói của người ta thế nào thì cứ để thế không sửa gì hết. Hai nhà văn và tôi bảo nhau: Bác muốn dân dễ nhớ nên lấy tròn 1890″.

Điểm lưu ý trong đoạn trên là Trần Đĩnh khẳng định “có bằng chứng hẳn hoi trong gia đình và họ hàng” vậy bằng chứng đó là gì? Chúng ta có thể tìm thấy một sự tương thích về mặt nội dung trong thông tin của Trần Đĩnh và thông  tin từ một người họ hàng  của Hồ Chí Minh là nhà văn Sơn Tùng.

Trong ký lục về buổi nói chuyện của Sơn Tùng ngày 27/4/2001 tại Trường Cán bộ Quản lý Giáo dục Đào tạo có đoạn:

” Thế kỷ 19, Bác Hồ sinh ra năm 1891, tôi nói đây là nói nghiên cứu từ gốc. Bây giờ nói Bác sinh năm 1890, nhưng tôi nghiên cứu tử vi của Bác thì Bác sinh năm 1891. Bác đi làm cách mạng, Bác khai 1890, nhiều người chúng ta khi đi học, đi hoạt động cũng khai bớt hoặc thêm tuổi như thế. Bác sinh năm 1891. 1895 Bác vào Huế, tuổi ta là 5 tuổi, tuổi bắt đầu có trí nhớ, tuổi mà người ta dễ nhớ nhất là tuổi này, tuổi lên 5 đến lên 10. Bác 5 tuổi đi theo cha mẹ vào Huế khi ông Nguyễn Sinh Khiêm đưa cho tôi cuốn “Tất Đạt tự ngôn” là tháng 6-1950. Sau đó ít tháng thì cụ qua đời. Trong “Tất Đạt tự ngôn” thì cụ có ghi ba bài thơ về thời niên thiếu của em trai mình, tức Bác Hồ.”

Ông Sơn Tùng có nhắc đến cả tử vi của Hồ Chí Minh như vậy thì ngoài chi tiết về năm sinh 1891 thì ông chắc chắn còn biết cả ngày tháng thâm chí là giờ sinh ( không biết thì không thể lập được là số tử vi ). Lá số tử vi này do ai lập? Ngay trong đoạn sau của bài nói chuyện trên cũng có đề cập thêm một lần nữa về lá số tử vi của Hồ Chí Minh qua lời kể của ông cả Khiêm trực tiếp kể cho ông ( Sơn Tùng) nghe:

“Lúc đến chân Đèo Ngang, đường lúc đó có đoạn sát với biển, không như đường ô tô bây giờ. Đến chân Đèo Ngang, có bãi cỏ rất bằng, mẹ bác mới đặt gánh xuống, cha bác xếp ô lại bảo: chỗ này phằng phiu, nghỉ lại đây ăn cơm nắm, để rồi leo đèo, Bác ngồi xuống thì ôm bàn chân rộp, còn chú Thành thì nhảy chơi, mới hỏi cha:

 -Thưa cha, cái gì ở trên kia mà đỏ, lại ngoằn ngèo như rứa? Cha bác nói:

 Đó là con đường mòn vắt qua đèo, tí nữa ta phải đi leo trèo lên đó, lên cái đường mòn đó.

 Thế rồi chú Thành mới ứng khẩu luôn một bài thơ. Sau này bác ghi lại trong cuốn sách “Tất Đại tự ngôn” này:

 “Núi cõng con đường mòn

Cha thì cõng theo con

Núi nằm ì một chỗ

Cha đi cúi lom khom

Đường bám lì lưng núi

Con tập chạy lon ton

Cha siêng hơn hòn núi

Con đường lười hơn con”

Nói về văn, thơ, tôi là anh thanh niên năm 1950 tiếp xúc với bài thơ này trong cuốn “Tất Đại tự ngôn” của người anh ruột Bác Hồ viết lúc 5 tuổi thì tôi hơi sững sờ. Ông Khiêm nói tiếp:

 Lúc đó, cha bác mới mở cái ví vải lấy lá số tử vi của con ra xem, bác mới biết cha đã lấy tử vi cho các con. Cha bác nói với mẹ:

 Với thiên tư này, thằng bé sẽ khó nuôi, có lẽ, quan Đào Tấn với ông ngoại đã nói như thế không nhầm.

Như  vậy là ông Nguyễn Sinh Sắc đã lập là số tử vi cho cậu con trai của mình. Điều này cũng không có gì là khó hiểu bởi Nguyễn Sinh Sắc vốn là bậc túc nho, nói đến Nho là nói đến “Tứ thư, ngũ kinh”, trong mấy sách này “Dịch quán quần kinh chi thủ” đứng đầu bảng là Kinh Dịch vốn là cha đẻ của mệnh lý học. Từ cái gốc Dịch thì tỏa ra là các môn lý số khác như Tử vi, Thái Ất, Phong Thủy etc.., tầng lớp sĩ phu có danh vọng hồi xưa có lẽ ông nào cũng thông thạo Nho, Y, Lý,  Số cả. Cái tên chữ “Tất Thành” ông đặt cho con trai phải chăng là đã ước đoán được con đường của cậu con trai mình qua sơ đồ mệnh lý “Đa gian truân, hựu tất thành”?

Theo Thiếu Lăng Quân ( tên thật là Nguyễn Tài Tư , còn có một tên khác là Hồ Chí Trung  cũng là họ hàng gọi  Hồ Chí Minh  bằng bác, tác giả của “Ba mươi năm mong đợi Bác về tập hồi ký 400 trang viết tay chưa xuất bản”) kể về  vế lá số Tử Vi của cậu bé Nguyễn Sinh Cung là:

“Cụ Nguyễn Sinh Sắc có lấy lá số Tử Vi ngay và  cụ Sắc cũng có đưa lá số này ra để giải đoán với các bạn bè như cụ Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý”.

Sau này ông Khiêm cải táng mộ cho mẹ là bà Hoàng Thị Loan về núi Đại Huệ, người biết về Phong Thủy sẽ luận ra viễn án của ngôi mộ bà Loan là dãy núi Hồng Lĩnh như một đàn ngựa đang rong ruổi,  minh đường là dòng sông Lam vắt qua, tiền án là ngọn rú Dầu, phân tích này chứng tỏ là ông Khiêm cũng được truyền lại các kiến thức Phong Thủy từ cha mình và các bậc tiên nho khác.

Tư duy dịch lý phương đông

Là một người có gốc cựu học vững vàng Hồ Chí Minh có lẽ còn giỏi dịch lý hơn cha và anh trai mình. “Dĩ bất biến ứng vạn biến”  là câu nói khá nổi tiếng mà ông dặn dò một nhà nho khác là Huỳnh Thúc Kháng trước khi lên đường sang Pháp dự Hội nghị Fontainebleau đã khắc họa sâu sắc nguyên lý dịch học “Bất dịch, Biến dịch và Giản dịch”. Ông cũng đã vận dụng điều này qua những phát biểu khác nhau, có nhiều cái bất biến được ông khẳng định như:

“Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn núi có thể mòn nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi”.

“Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng quyết phải giành cho được độc lập”.

“Không có gì quý hơn độc lập tự do”. 

Rõ ràng là với ông những khái niệm “Tự do, Độc lập, Thống nhất” ở trong ông là những khái niệm bất di bất dịch, trong khi đó ông lại khá sức uyển chuyển ( biến dịch ) trong sách lược chính trị ngoại giao cũng như cách ứng xử. Vì đã đi khắp nơi, uống cả mực Tàu và mực Tây nên trong số đồ nghề ông sử dụng có đầy đủ các thể loại Anh, Pháp, Mỹ, Nga, Hoa và ông cũng không đề cao duy nhất một loại mực nào.  Ông thường làm những điều tưởng chừng như rất nghịch lý nhưng đem lại hiệu quả khá cao:

Dùng chủ nghĩa cộng sản làm phần mềm để xây dựng và tập hợp lực lượng nhưng lại customize nó bằng cách viết ra một cương lĩnh mang màu sắc dân tộc chủ nghĩa khi  thành lập Đảng  cộng sản Đông Dương khiến ông bị các đồng chí của mình là Hà Huy Tập, Trần Phú phê phán gay gắt là “chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh” kéo theo việc ông bị mất ảnh hưởng trong đảng của mình thời gian sau đó. Tuy nhiên sau này nhờ vào đường lối dân tộc và bộ máy tổ chức kiểu cộng sản mà ông giành được mục tiêu của mình còn những người đã từng phê phán ông thì đều đi vào con đường thất bại và chết sớm.

Ông  trích dẫn Tuyên ngôn độc lập Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền dân quyền Pháp vào Tuyên ngôn độc lập Việt Nam  chứ không phải lời nói nào đó của Marx hay Lenine. Theo hồi ký “Con rồng An Nam” thì Hồ Chí Minh  nói với Bảo Đại là ông cho mấy lời đó vào để “làm đẹp lòng người Pháp và người Mỹ” , ông cũng có lần đề nghị Bảo Đại phục vị còn  ông sẽ đứng sau làm thủ tướng với lý do mà ông thổ lộ với Bảo Đại là  người Pháp, người Mỹ họ không tin ông vì “họ  thấy tôi quá đỏ” ông sẵn sàng lùi lại sau để phương Tây thấy chính phủ của ông “bớt đỏ đi” . Trước khi chết Bảo Đại còn trả lời nhà sử học Frédéric Mitterand  ( cháu của Tổng thống François Mitterand )  trong một cuộc phỏng vấn trực tiếp được phát trên truyền hình Pháp nhiều lần  trong đó có đoạn:

Bảo Đại: “Vâng, xin đừng quên rằng cụ Hồ xuất thân từ một gia đình quan lại. Và cụ đã đối xử với tôi như tôi còn làm vua. Cụ cấm những người xung quanh cụ gọi tôi bằng đồng chí, bằng những tên gọi của giai cấp vô sản, và luôn luôn gọi tôi là Hoàng thượng”

Gửi thư cho cả 2 ông trùm của 2 phe thù địch là Truman và Stalin đề nghị công nhận độc lập của Việt Nam.

Hợp tác với sĩ quan OSS của Mỹ và sau này là đi dây với cả Liên Xô và Trung Quốc .

Về đối nội thì ông không thể hợp những người “đồng chí cộng sản” Trotskyist khác đường lối như Tạ Thu Thâu nhưng lại sẵn sàng sử dụng cựu đảng viên Quốc dân đảng như Nguyễn Bình làm tư lệnh thống nhất các lực lượng vũ trang miền Nam.

Trong buổi phỏng vấn ngày 25/6/1946, Hồ Chí Minh đã trả lời đảng viên Xã hội Daniel Guérin về cái chết của Tạ Thu Thâu như sau: Ce fut un patriote et nous le pleurons… Mais tous ceux qui ne suivent pas la ligne tracée par moi seront brisés. Tạ Thu Thâu  là một nhà ái quốc, chúng tôi đau buồn khi hay tin ông mất… Nhưng tất cả những ai không theo con đường tôi đã vạch đều sẽ bị tiêu diệt ).

Trong “Tứ trụ triều đình”: Giáp, Duẩn, Đồng, Chinh thì hai người có vẻ thân thiết với ông hơn là Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng đều là người của “Tân Việt cách mạng đảng” trước rồi thành đảng viên CS sau chứ không phải đi theo CS ngay từ đầu như các ông Trường Chinh và Lê Duẩn.

Ông có thể một phát phong ngay cho một anh giáo Võ Nguyên Giáp hàm đại tướng tổng tư lệnh trong khi sẵn sàng bỏ qua không cần dùng một anh “thừa tướng” đã từng trải qua “Vạn lý trường chinh” như  Nguyễn Sơn. Ông cũng đặt tên lại cho ông Võ-Nguyên Giáp là Văn, phải chẳng đó chính là vì ông muốn nhắc nhở vị tướng của mình một nguyên lý của Dịch là “Trong văn có võ, trong võ có văn”, “trong quân sự có chính trị, trong chính trị có quân sự” và kẻ cầm quân không hiểu đạo lý này sẽ không thể thành tướng tài được.

Tất cả những việc ông làm đều cho thấy ông là người thực dụng không câu nệ hình thức, cái gì cũng có thể sử dụng được cốt sao được việc, cốt sao đạt được những mục tiêu bất biến của mình, và qua mỗi hành động đó đều có một nguyên lý nhất quán xuyên suốt mà ông cố gắng vận dụng và thực hành đó là ” dung thông những cái trái khoáy, đối lập nhau, khai thác những sự đối lập đó  theo khía cạnh có lợi nhất trên toàn cục thay vì độc tôn một mặt nào đó, loại bỏ cái còn lại”.

Người  ta có thể lý giải cho những hành đông này của ông bắt nguồn từ phép biện chứng của chủ nghĩa Marx vì chính Engels đã từng nói “Everthing exists in pair”  (mọi thứ tồn tại ở thế lưỡng trị) tuy nhiên theo tôi có lẽ nó bắt nguồn từ lối tư duy  “lưỡng tại song hành” đẻ ra từ học thuyết âm dương thì đúng hơn, bởi phép biện chứng của Marx không nhấn mạnh rằng các mặt đối lập có chứa đựng các yếu tố của của mặt đối lập kia như học thuyết âm dương “Trong âm có dương và trong dương có âm” dù nó có đề cập đến việc chuyển hóa lẫn nhau giữa các mặt đối lập.

Những dẫn chứng hơi dài dòng vừa rồi của tôi là để chứng minh một niềm tin là Hồ Chí Minh là người am tường dịch lý một cách sâu sắc và có vận dụng dịch học vào công việc của mình. Điều này chưa từng đề cập đến trong các tài liệu nghiên cứu về ông do giới sử học trong và ngoài nước tiến hành, có lẽ bởi với hệ thống  lý luận XHCN thì dịch lý là sản phẩm  của chế độ phong kiến nên không thể đưa nó vào tài liệu nghiên cứu chính thống, còn với giới nghiên cứu phương Tây thì “học thuật của phương Đông”  không phải là thứ được đánh giá cao.

Nếu không thừa nhận điều này thì sẽ khá khó khăn trong việc lý giải tại sao Hồ Chí Minh có khả năng tiên đoán trước một số điều ( vốn đã được kiểm chứng bằng dữ liệu chính xác ) . Ở đây tôi xin trích ra một đoạn trong hồi ký của Nguyễn Đăng Mạnh, một cuốn hồi ký cũng từng gây xôn xao văn đàn và xã hội cả ảo lẫn thực.

Một bí ẩn nữa là vì sao Hồ Chí Minh đoán rất chính xác mấy thời điểm lịch sử quan trọng: năm 1945, chấm dứt Đại chiến Thế giới thứ hai và Cách mạng tháng Tám thành công; năm 1954 chiến thắng giặc Pháp (đoán từ năm 1950); năm 1975 chiến thắng giặc Mỹ (đoán năm 1960).

Theo Trần Quốc Vượng, vì ông có tử vi.Năm 1943, khi Hồ Chí Minh viết câu kết bài “Diễn ca lịch sử nước ta”: “Bốn nhăm sự nghiệp hoàn thành”, thì ở Hội nghị Téhéran, thủ lĩnh ba siêu cường trong phe Đồng Minh là Stalin, Churchill, Roosevelt đoán, chiến tranh chấm dứt năm1946.Không lẽ gì Hồ Chí Minh ở Việt Bắc, với một cái đài bán dẫn rất thô sơ, lại đoán thời cuộc thế giới chính xác hơn ba tay trực tiếp chỉ đạo cuộc chiến tranh chống phát-xít với những thông tin phong phú, cập nhật và những dữ kiện đầy đủ. Mà ba tay này đâu có dốt nát gì!

Trần Quốc Vượng kết luận: cụ Hồ có tử vi. Vượng cũng là tay rất sành sỏi tử vi. Anh nói, ở Thư viện Quốc gia có cuốn Tử vi phú đoán của Lê Quý Đôn đã dịch. Vượng đến mượn. Cô thủ thư nói sách không còn. Bố Trần Quốc Vượng có quen cụ Xước là giám đốc thư viện, Vượng đến hỏi, cụ Xước nói: Ông Hoàng Minh Giám đến lấy cho cụ Hồ đọc rồi. Sách đang ở chỗ cụ Hồ.

Anh Từ Sơn có tặng tôi tập Di bút của Hoài Thanh (bản đánh máy lúc chưa xuất bản thành sách). Trong đó có đoạn viết: “Năm 1945, khi quân Tưởng đã kéo vào dày đặc ở miền Bắc và quân Pháp đã bắt đầu đánh phá ở miền Nam, anh Tố Hữu có dịp được gặp Bác. Anh thưa với Bác:

‘Thưa cụ, một bên thì Tây, một bên thì Tàu, bên nào đáng sợ hơn?’

‘Tây cũng không đáng sợ. Tàu cũng không đáng sợ. Đáng sợ nhất là các chú.’ Ông Hồ trả lời như vậy”.

Ngẫm ra đây cũng là một tiên đoán thiên tài của Hồ Chí Minh. Ngày nay Pháp, Mỹ đều rút hết rồi. Đất nước nếu còn khốn khổ thì đúng là do “các chú”.

Chi tiết nói về khả năng tiên đoán tương lai của Hồ Chí Minh không phải chỉ một mình Nguyễn Đăng Mạnh nhắc đến mà nó được nhiều người khác từng tiếp xúc với ông nhắc lại nhiều lần trên các phương tiện thông tin chính thống, chỉ có thông tin về việc ông Hồ Nghiên cứu tử vi là lần thông tin mới .Dù rằng “môn dự đoán dựa trên dịch học” chưa được xác lập là một môn khoa học thực sự  bởi cái mã nguồn  của nó vẫn chưa được mở để trở thành open source mọi  người cùng nghiên cứu nhưng có một thực tế là công chúng vẫn đã và đang thừa nhận năng lực này ở một số  nhân vật lịch sử  được tôn xưng là “Thượng thông thiên văn, hạ tường địa lý, trung tri nhân sự, huyền cơ  tham tạo hóa” như Thiệu Ung ở Trung Quốc và Nguyễn Bình Khiêm ở Việt Nam.  Khác với Thiệu Ung chuyên tâm vào học thuật, chú trọng soạn thảo  các trước tác dịch học, Nguyễn Bỉnh Khiêm không để lại trước tác dịch học nào cả ( có một số tác phẩm để được cho là của cụ nhưng chưa có bằng chứng xác thực, có thể người đời sau tạo ra mượn danh cụ để lấy uy ) nhưng ông lại được xem là người đã sắp xếp thế các thế lực chính trị tạo nên cục diện lịch sử Việt Nam thế kỷ 16 qua việc “chỉ dẫn” cho các tập đoàn  Lê, Mạc, Trịnh, Nguyễn. Cũng có những ví dụ khác về những “trí thức cổ trang” có bản lĩnh  “Chọc trời khuấy nước, khuynh đảo thiên hạ” là “bậc thầy của đế vương” từng dùng cái năng lực “thần cơ diệu toán” của mình can dự một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào lịch sử lập nên các triều đại kéo dài mấy trăm năm như  Trương Lương, Gia Cát Lượng, Lưu Bá Ôn mà học thuật của mấy đồng chí này không gì khác ngoài mấy món “Âm dương dịch lý, ngũ hành vật luận”.

Bất kể ai xuất phát từ quan điểm chính trị nào mà nói mọi người đều phải thừa nhận rằng Hồ Chí Minh cũng là một nhân vật “hùng tài đại lược” có tầm ảnh hưởng  toàn cầu, căn cứ vào những hệ quả mà ông tạo ra đối với lịch sử ( tôi không nói về việc nó là tiêu cực hay tích cực, cái này tùy quan điểm lập trường của các phe phái  theo các xu hướng chính trị khác nhau, tôi chỉ nói về mức độ sâu và rộng của ảnh hưởng đó )  thì bản lĩnh của ông so với các nhân vật đã nêu cũng không kém chút nào, thì không có gì là phi lý nếu cho rằng bản lĩnh ấy một phần bắt nguồn từ học vấn về dịch lý cũng như năng lực thực hành nó của ông.

Quay trở lại với chủ đề về ngày sinh,  tôi  đồng tình với kết luận của Giáo sư Trần Quốc Vượng qua lời kể của Nguyễn Đăng Mạnh,  vì như tôi như đã dẫn chứng ở trên, tôi tin rằng  Hồ Chí Minh có  căn bản dịch lý vững vàng và theo logic đó ông cũng  không am hiểu tư vi,  tất nhiên ông là người biết rõ về ngày tháng năm sinh của mình, chỉ có điều ông không muốn người khác biết.  Song không phải là không ai biết thông tin đó. Ngoài những người trong gia đình ông Hồ thì trong giới nghiên cứu tử vi lý số Việt Nam nhiều người có biết những thông tin này. 

Giai thoại và thực tế

Có một lần tôi đọc được đâu đó trên một trong các diễn đàn lý số mà người viết ( có lẽ đã cao tuổi và đang sống ở hải ngoại ) kể được cụ Ba La ( người được xem là vua tử vi rất nổi tiếng ở Sài Gòn trước 1975 lấy tên làng Ba La ( Hà Ðông ) làm tên hiệu, không ai biết được tên tuổi thật của cụ, vốn là sĩ phu thế hệ Cần Vương, Duy Tân sau khi thất bại  chạy sang Tàu cụ Ba La sau lại về ngồi xem số ở chợ Hà Đông trước 1954 ) trực tiếp thuật  lại là:

“Nhà tôi có vườn rộng, các ông ấy  ông Võ -Nguyễn Giáp  và ông Nguyễn – Hồ Chí Minh  vẫn tới chơi xem số “,  ” các ông ấy xuất thân ở miền đất xấu, gặp nhiều tai ương, chẳng được lâu, đất Việt ta thời xưa từ Thanh Hóa trở ra đất rộng sông dài, dựng nghiệp lâu dài được, miền Nghệ Tĩnh đất hẹp, bốc lên rồi tắt rất nhanh, chẳng quá hai ba giáp”.

Dữ kiện  bỏ qua phán đoán của cụ Ba La thì có thể củng cố thêm khả năng Hồ Chí Minh có nghiên cứu tử vi  của chính mình để ứng dụng nó vào sự nghiệp của mình là rất cao và có lẽ ông đã khá thành công trong việc này.

Một lá tử vi  mẫu trong sách

Vậy rốt cuộc thì Hồ Chí Minh sinh ngày nào và lá số tử vi của ông ra sao?

Trong cuốn “Tử Vi Đẩu Số Tân Biên” của một nhân vật tên tuổi trong làng tử vi là Vân Đằng Thái Thứ Lang ở phần phụ lục có 4 lá số mẫu dành cho những người nghiên cứu học cách lập đoán trong đó có 2 lá số làm cho người ta chú ý bởi cách ám chỉ của tác giả. Dù không nói trắng ra nhưng những thông tin mà tác giả đưa ra dường như khẳng định 100% rằng đó là lá số của Bảo Đại và Hồ Chí Minh.  Thái Thứ Lang vốn là người cùng quê Nam Đàn với Hồ Chí Minh và cha của ông còn được cho là bạn của Nguyễn Sinh Sắc nên đó là lý do mà những người đọc sách này tin tưởng rằng nguồn tin của ông là chân thực. Ngoài ra còn một lý do nữa mà người ta tin vào thông tin của Thái Thứ Lang vì ông này là nhà sư, người xuất gia thì sẽ không phạm giới luật vọng ngôn, tức là ông sẽ nói những thông tin mà ông nghĩ trong đầu là đúng chứ không bịa đặt ( dù có thể điều ông ấy nghĩ chưa chắc đã đúng :D ) . Đây là là số của Hồ Chí Minh do tôi chụp lại từ cuốn sách xuất bản năm 1956 tại Sài Gòn này.

Theo những thông tin trên đó thì Hồ Chí Minh sinh vào giờ Mão ngày 6/6 (Âm Lịch ) năm Tân Mão ( 1891).

Lá số này có một số điểm khá tương hợp với  miêu tả của Thiếu Lăng Quân về băn khoăn của các ông Nguyễn Sinh Sắc, Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý khi  họ luận đoan lá số của Nguyễn Sinh Cung rằng họ đều thừa nhận đây là lá số Tử Vi của một con người không bình thường,  song các ông không lý giải được vì sao với một con người an thủ Mệnh, Tài, Quan là các chính tinh: Tử, Phủ, Vũ, Tướng, Liêm, Phá… như vậy mà Cung Điền trạch lại Vô chính diệu.

Thực tế sau này đã cho thấy  cho thấy Hồ Chí Minh uy quyền bao trùm thiên hạ mà trong tay lại không có tài sản gì, cung Điền Sản rất mờ nhạt thì có thể giải thích được băn khoăn ở trên.

Luận đoán thêm một chút là thấy cung Thiên Di có phá quân thủ tọa đắc địa có vẻ ứng với cuộc đời suốt đời làm chuyện canh cải, bôn ba khắp năm châu bốn biển đầy sóng gió của ông Hồ nhưng ông đều vượt qua được.

Khả năng vượt khó của ông cũng thể hiện trong sự nghiệp chính trị của mình. Nếu  xem xét toàn bộ thế tam hợp của 3 cung: Mệnh, Tài, Quan  thì cái thế tam hợp này là thế lấn lướt tình thế.

 

Thế tam hợp trong Tử vi có 4 thế: Thế bình thuận, an hòa, Thế đối nghịch ; Thế bị lấn át và Thế lấn lướt ( hoàn cảnh ). Từ lý “Quan phương thập dụ” ( mười nguyên tắc căn bản khi luận đoán lá số tử vi ) mà xét thì lá số này có bản phương  “Do nội tự cường” ( Mạnh từ bên trong, lực từ gốc rễ mà ra ) là thế của người bản lĩnh rất cao cường  luôn chủ động lấn lướt  mọi hoàn cảnh, tức là không phụ thuộc hoàn cảnh để nó khuất phục  mà còn có khả năng áp đặt hoàn cảnh…Ở trên có mấy ví dụ về cách ông Hồ ứng biến với tình thế hay nhìn thấy trước được cục diện chiến tranh.

Kết

Song đối với Tử vi mà nói thì cùng một lá số nhưng mỗi ông luận một kiểu tùy vào trình độ, nhất là luận về mấy ông làm chính trị thì yếu tố tình cảm yêu ghét, sùng bái hận thù các kiểu lại chi phối rất nhiều, và có nhiều cách luận giải khác thì lại chỉ ra những điểm không tương thích với vận mệnh của ông Hồ.  Cá nhân tôi thì tuy không khẳng định 100% nhưng đánh giá rằng thông tin về ngày sinh của chủ tịch Hồ Chí Minh là 6/6 âm lịch 1891 có độ chân thực với xác suất khá cao.

Dù vậy nếu có được thêm các dữ kiện đầy đủ hơn để có câu trả lời chính xác hơn nữa thì càng tốt, bởi tìm kiếm sự thật là nhu cầu vốn có của con người, thông tin về một nhân vật lịch sử có tầm ảnh hưởng toàn cầu như Hồ Chính Minh không đơn giản chỉ là ngày giờ ông đến với thế giới này mà nó còn liên quan đến rất nhiều sự kiện lịch sử khác trước đây và sau này nữa.

Chính vì lý do đó nên hôm nay tôi  viết bài này với mong muốn cung cấp thêm một số thông tin vốn dĩ chưa được hoặc ít được nhắc tới về Hồ Chí Minh xem như một thao tác xử lý hình ảnh “xóa mờ, khử nhiễu” bức  chân dung của ông để những ai có cùng mối quan tâm có thể thảo luận. Hy vọng các bạn yêu thích nghiên cứu lịch sử hay lý số dịch học và tử vi sẽ cung cấp thêm cho tôi một số thông tin khác mà các bạn có, chẳng hạn như lá số được cho là của Hồ Chí Minh mà 2 ông Sơn Tùng và Thiếu Lăng Quân đang giữ. Tôi đã tìm thông tin liên lạc của họ trên mạng nhưng không tìm được để hỏi trực tiếp.

 

P/S: Đối với các bạn chưa tìm hiểu về dịch học và tử vi, các bạn có thể bỏ qua các các đoạn dẫn giải của tôi về các nội dung này, không cần focus nhiều vào chúng bởi các bộ môn này được xếp vào loại huyền học chứ không phải khoa học, nó có cách tư duy và phương pháp luận hoàn toàn khác với phương pháp luận của khoa học hiện đại.  Dưới con mắt của khoa học còn rất nhiều điều về các môn huyền học chưa được làm sáng tỏ. Dù sao với đại đa số mọi người mà nói thì chúng ta chỉ nên tin vào những thứ mà mình đã hiểu rõ và lấy nó làm căn cứ cho nhận thức của mình. Đối với cái ta chưa hiểu hãy xem nó có giá trị tham khảo. Ở đây là giá trị tham khảo hữu ích mà nó mang lại là có một logic dẫn đến dữ kiện về ngày sinh thực sự của Hồ Chí Minh, đó có thể là mối quan tâm chung của nhiều người ./.

( Nguồn: nhathonguyentrongtao…)

 

Nhà văn Nguyễn Đắc Xuân

Một vài khía cạnh trong cuộc đời cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tâm thức một người cầm bút xứ Huế

  Nhà văn Nguyễn Đắc Xuân trả lời phỏng vấn của nhà thơ Từ Quốc Hoài

Nhân sinh nhật lần thư 125 của Chủ tịch Hồ Chí Minh,nhà thơ Từ Quốc Hoài và nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân đã có cuộc trao đổi thẳng thắn về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh. Sau đây là nội dung cuộc trao đổi.

1. Từ Quốc Hoài.- Là nhà nghiên cứu đã dành nhiều công  sức tìm hiểu về Hồ Chí Minh, ông đánh giá thế nào vai trò của Hồ  Chí Minh trong công cuộc giành độc lập cho dân tộc? (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.05.2015

Chế Lan Viên với ba bài thơ “sám hối”

Chế Lan Viên với ba bài thơ “sám hối”

 

     QTXM-   Trong thơ Di cảo Chế Lan Viên có 3 bài thơ rất hay. Đó là các bài :“Ai ? Tôi!”  –  “Bánh vẽ”  và “Trừ đi”… Có người bảo đây là  những sự trở trăn, lật trái lại mặt sau của cuộc đời. Nói đúng hơn đây là ba bài thơ sám hối của một nhà thơ đã ngộ ra sớm hơn nhà văn Nguyễn Khải ”đi tìm lại cái tôi đã mất”,đến mười năm. Tại sao nhà thơ cách mạng nổi tiếng họ Chế phải “nhìn lại”, “sám hối?”Xin bạn đọc, nhất là các nhà quản lý văn nghệ hãy đọc ba bài thơ và tự bình luận, tự trả lời câu hỏi!

AI? TÔI?

 

Mậu Thân 2.000 người xuống đồng bằng
Chỉ một đêm, còn sống có 30
Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2.000 người đó?
Tôi! Tôi – người viết những câu thơ cổ võ
Ca tụng người không tiếc mạng mình trong mọi cuộc xung phong
Một trong ba mươi người kia ở mặt trận về sau mười năm
Ngồi bán quán bên đường nuôi đàn con nhỏ
Quán treo huân chương đầy, mọi cỡ
Chả huân chương nào nuôi được người lính cũ!
Ai chịu trách nhiệm vậy?
Lại chính là tôi!
Người lính cần một câu thơ giải đáp về đời
Tôi ú ớ
Người ấy nhắc những câu thơ tôi làm người ấy xung phong
Mà tôi xấu hổ
Tôi chưa có câu thơ nào hôm nay
Giúp người ấy nuôi đàn con nhỏ
Giữa buồn tủi chua cay vẫn có thể cười
1987 (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.05.2015

THƯỜNG KHI RẤT BẤT NGỜ, TA ĐỌC MỘT CÂU HAY

Nhà vănNguyên Ngọc
THƯỜNG KHI RẤT BẤT NGỜ, TA ĐỌC MỘT CÂU HAY
thanh thảo

Kẻ nào thực sự quên mình trong cuộc sống thì lại được cuộc sống trả lại cho tất cả” (Nguyên Ngọc).

Tôi đọc câu này trong… Bản Đề dẫn được đọc trong hội nghị… đảng viên của Hội nhà văn Việt Nam do nhà văn Nguyên Ngọc chấp bút. Hội nghị này diễn ra tháng 3 năm 1979 tại Hà Nội. Thời điểm ấy tôi cũng được coi là nhà văn, nhưng không được họp và nghe trực tiếp Bản Đề dẫn, do tôi… không phải đảng viên. Hóa ra, là đảng viên có lợi thật! Chả trách, mãi 36 năm “sự kiện Đề dẫn” tôi mới được đọc tài liệu này, một tài liệu mà chính tác giả của nó là nhà văn Nguyên Ngọc cũng phải thú nhận, là “Đọc lại rất hay, nhưng cũng rất buồn cười, nhiều chỗ hồi ấy mình còn cứng quá chừng!” (trích thư Nguyên Ngọc gửi Lại Nguyên Ân)[i]. “Cứng” như thế mà còn bị phê phán, còn bị đánh cho tơi tả, nữa là “mềm” như tôi hồi ấy. Thú thật là cũng có lúc tôi rất hăng hái, nhưng sao không ‘cứng” được, mà nó cứ… mềm mềm. Trách gì không được vào Đảng. Còn nhớ, lúc bấy giờ mấy anh em chúng tôi còn đang ở Trại sáng tác quân khu Năm, đóng trụ sở tại số 10 Lý Tự Trọng – Đà Nẵng. Tôi hoàn toàn không biết gì về cuộc “Hội nghị đảng viên” này. Cả về Bản Đề dẫn, mặc dù nổi tiếng như thế nhưng tôi cũng chưa từng được đọc. Một thời gian sau hội nghị, tôi chỉ được nghe tin vỉa hè, không mấy chính xác về Bản Đề dẫn này. Hồi đó, chúng tôi nghe là thủ trưởng của chúng tôi – nhà văn Nguyễn Chí Trung – ban đầu có tham gia tích cực vào việc hình thành văn bản này, thậm chí tôi còn nghe là Bản Đề dẫn do ông Trung chấp bút, ông Ngọc chỉ “định hướng tư tưởng”. (Đọc tiếp…)

Bảy lý do Trung Quốc sẽ phát động một cuộc chiến từ nay tới 2017

David Archibald 

Đâu là những nguyên nhân chính có thể dẫn đến một cuộc chiến do Trung Quốc phát động? Nhật Bản và Mỹ cần chuẩn bị những gì để đối phó nếu như kịch bản này xảy ra?

 1. Tính chính danh của Đảng cộng sản Trung Quốc

Tính chính danh của Đảng Cộng sản Trung Quốc dựa trên cơ sở sự cải thiện liên tục về các điều kiện sống của phần lớn người dân Trung Quốc. Trong trường hợp không có sự cải thiện về kinh tế, một số lý do khác phải được đưa ra nhằm làm cho người dân tập hợp xung quanh sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Điều này có thể giải thích cho việc bất ngờ xây dựng các căn cứ tại quần đảo Trường Sa bắt đầu vào tháng 10/2014.

Nợ công của Trung Quốc đã tăng từ 7.000 tỷ USD vào năm 2007 lên 28.000 tỷ USD vào năm 2014. Đây là khoản nợ của một nền kinh tế có GDP 10.000 tỷ USD/năm. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong vòng 7 năm qua chỉ đơn giản là được xây dựng dựa trên tài trợ của các khoản nợ. Nền kinh tế thực sự của Trung Quốc nhỏ hơn nhiều.

Chính phủ Trung Quốc nhiều khả năng thấy được nền kinh tế của mình đang thu hẹp và nhận ra rằng việc phát hành thêm nợ sẽ không có ảnh hưởng lên việc duy trì hoạt động kinh tế. Vì vậy, việc xây dựng các căn cứ đã được đẩy nhanh nhằm cho phép lựa chọn phát động chiến tranh của họ. Đây là vấn đề sống còn đối với giới tinh hoa lãnh đạo đảng. Họ đang đặt cược tất cả vào điều này. Nếu canh bạc này không phát huy tác dụng thì sau đó nhiều khả năng sẽ có một sự thay đổi chế độ khá hỗn loạn.

2. Vết thương chưa lành

Nhật Bản đã đối xử với Trung Quốc như dân tộc nhược tiểu trong thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai. Trước đó, Nhật Bản bắt đầu xử tệ với Trung Quốc bằng cách tấn công nước này vào năm 1895, không lâu sau khi Nhật Bản bắt đầu tiến hành công nghiệp hóa. Tiếp theo đó là 21 yêu cầu của Nhật Bản đối với Trung Quốc vào năm 1915. Chính quyền Quốc Dân Đảng ở Trung Quốc bắt đầu xác định ngày Quốc nhục vào những năm 1920. Tiếp theo đó là sự kiện Mãn Châu (Mukden Incident) vào năm 1931 và Trung Quốc bắt đầu tham gia Chiến tranh thế giới thứ hai năm 1937.

Trong suốt thời kỳ nghèo khó của những năm tháng dưới chế độ Mao Trạch Đông, người Nhật Bản đã được tha thứ (về những hành động của họ trong Chiến tranh thế giới thứ hai). Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình là những con người thực dụng. Hai người đã nói rằng Nhật Bản không thể bị trừng phạt mãi mãi. Sự thịnh vượng của Trung Quốc gần đây đã cho phép xu hướng bài Nhật sống lại như một hình thức tôn giáo của nhà nước. Ngày Quốc nhục một lần nữa được xác định là ngày 18/9. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã chỉ đạo truyền hình quốc gia nêu bật chủ đề về cuộc xâm lược của Nhật Bản. Ngày nay, 70% thời lượng “giờ vàng” của truyền hình Trung Quốc là các bộ phim về Chiến tranh thế giới thứ hai. Có ít nhất 100 bảo tàng ở Trung Quốc được dành để trưng bày kỷ vật về sự xâm lược của Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ hai.

Chế độ tại Trung Quốc đang tạo ra và duy trì tình cảm chống Nhật nhằm cho mình một lựa chọn để đi đến chiến tranh.

3. Được công nhận như là cường quốc số một

Trung Quốc là một dân tộc đầy tự hào. Người dân Trung Quốc thực sự phẫn nộ với thực tế rằng Mỹ được coi là quốc gia số một trên hành tinh. Trung Quốc cũng nhận ra rằng để được công nhận là số một, họ phải đánh bại quốc gia số một hiện tại trên chiến trường. Đây là lý do tại sao Trung Quốc sẽ không chỉ từng bước leo thang gây hấn. Nước này cần một cuộc chiến vì lý do tâm lý của riêng mình.

Điều này có nghĩa rằng Trung Quốc sẽ tấn công Mỹ vào cùng thời điểm mà nước này tấn công Nhật Bản. Do các cuộc tấn công bất ngờ nhiều khả năng thành công hơn nên cuộc tấn công của Trung Quốc sẽ là một cuộc tấn công bất ngờ vào các căn cứ của Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương, có lẽ còn xa hơn thế. Cuộc tấn công này nhiều khả năng sẽ bao gồm các cuộc tấn công mạng vào hệ thống tiện ích và thông tin liên lạc của Mỹ.

Trung Quốc đã cơ cấu lực lượng vũ trang của mình để có khả năng đáp ứng một cuộc chiến tranh ngắn, cường độ cao. So với bất kỳ quốc gia nào trên hành tinh này, Trung Quốc có thể là nước có sự chuẩn bị kỹ lưỡng nhất cho chiến tranh. Nước này có dự trữ ngũ cốc đảm bảo tiêu dùng trong một năm và thậm chí có cả dự trữ thịt lợn chiến lược. Trung Quốc vừa lấp đầy dự trữ dầu mỏ chiến lược của mình với trữ lượng khoảng 700 triệu thùng dầu.

Cuộc chiến tranh của Trung Quốc không liên quan gì đến việc đảm bảo các nguồn tài nguyên hay duy trì an toàn cho các tuyến đường thương mại của họ. Một số nhà phân tích phương Tây đã đưa ra các quan điểm đó nhằm giải thích cho những gì mà Trung Quốc đang làm. Bản thân người Trung Quốc đã không đưa ra lời bào chữa nào. Đối với Trung Quốc, sự toàn vẹn lãnh thổ là trên hết. Điều đó là thiêng liêng và không phải là với lý do thương mại tầm thường.

4. Làm bẽ mặt các nước láng giềng

Tầm quan trọng của quần đảo Trường Sa và yêu sách “đường chín đoạn” của Trung Quốc là nó phân chia châu Á.

Trung Quốc tuyên bố rằng toàn bộ vùng biển nằm trong yêu sách của Trung Quốc là lãnh thổ Trung Quốc mà không phải chỉ là những hòn đảo. Khi Trung Quốc tìm cách thực thi tuyên bố đó, các tàu buôn và máy bay nước ngoài sẽ phải xin phép để đi qua vùng biển này. Các tàu chiến và máy bay quân sự không phải của Trung Quốc sẽ không được phép đi vào vùng biển này. Yêu sách của Trung Quốc mở rộng xuống tới 4 độ Nam, gần như tới đường xích đạo.

Quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất sẽ là Việt Nam, nước sẽ bị bao bọc trong vòng 80 km của đường bờ biển của mình. Nhật Bản nhận ra rằng các tàu thuyền của mình từ châu Âu và Trung Đông sẽ phải đi xa hơn về hướng Đông trước khi chỉ hướng Bắc qua Indonesia và Đông Philippines. Singapore sẽ bị ảnh hưởng xấu do thương mại qua nước này sẽ không còn.

Nhật Bản sẽ trở nên tương đối bị cô lập do máy bay của mình sẽ phải hướng xuống qua Philippines tới gần xích đạo trước khi bay về phía Tây.

Trung Quốc xếp hạng các quốc gia trên thế giới trên phương diện sức mạnh tổng hợp quốc gia, điều mà người Trung Quốc xem là sức mạnh để gây áp lực. Đây là sự kết hợp của sức mạnh quân sự, sức mạnh kinh tế và sự gắn kết xã hội. Khi nó được thực thi, yêu sách “đường chín đoạn” của Trung Quốc sẽ gây rất nhiều áp lực lên các nước láng giềng của nước này.

5. Cửa sổ chiến lược

Các chiến lược gia Trung Quốc nhìn thấy một cửa sổ cơ hội chiến lược cho Trung Quốc vào đầu thế kỷ 21, mặc dù họ không công khai chỉ ra cơ sở của quan điểm đó. Tuy nhiên, chúng ta có thể làm rõ điều này. Thứ nhất, quan niệm chiến tranh là không thể tránh khỏi có ý nghĩa rất quan trọng để chiến thắng các trận chiến. Trong bối cảnh Trung Quốc được coi là có một nền kinh tế mạnh, đang tăng trưởng thì quan niệm về sự bất khả kháng này dẫn đến các cuộc phiêu lưu quân sự của Trung Quốc. Với nhận thức đó, Trung Quốc phải tấn công trước khi nền kinh tế của nước này thu hẹp do vỡ bong bóng bất động sản. Điều này giải thích sự gấp rút hiện nay của Trung Quốc trong việc xây dựng các căn cứ tại quần đảo Trường Sa.

Một vấn đề khác đặt ra với Trung Quốc là sự hung hăng và gia tăng chi tiêu quân sự đã làm cho các nước láng giềng của Trung Quốc phải tái vũ trang và thiết lập các liên minh. Sẽ là tốt hơn cho Trung Quốc nếu tấn công trước khi các nước láng giềng của mình vũ trang ngày càng lớn hơn.

Một khía cạnh cân nhắc khác là chu kỳ bầu cử tổng thống Mỹ. Tổng thống Obama được xem là một tổng thống yếu và Trung Quốc nhiều khả năng sẽ tấn công trước khi nước Mỹ có tổng thống mới. Chủ nghĩa thu hồi lãnh thổ đã mất của Trung Quốc và nhận thức về cuộc chiến sắp tới với Trung Quốc vẫn còn khá phổ biến trong giới quân sự Mỹ. Tổng thống Obama đã gây ra một số tranh cãi khi có một số chính sách không nhất quán dẫn đến hỗ trợ Trung Quốc. Trong khi một nền kinh tế mạnh là cần thiết để chống lại Trung Quốc thì chính quyền của ông Obama đang làm hết sức mình để bóp nghẹt nền kinh tế Mỹ với các quy định về cắt giảm lượng khí thải CO2.

Tổng thống Obama đã trải qua thời thơ ấu ở Indonesia và có thể đã chứng kiến rất nhiều thái độ bài Hoa (người Trung Quốc đã và đang là các thương gia và chủ tiệm thành công hơn) trong chính những năm tháng đầu đời. Cũng giống như thời thơ ấu của Valerie Jarrett ở Iran, điều này sẽ ảnh hưởng đến chính sách của ông.

6. Bệnh tự kỷ nước lớn

Đây là một thuật ngữ được tạo ra bởi chiến lược gia Edward Luttwak để mô tả một thực tế rằng Trung Quốc dường như không quan tâm gì về tác động của các hành động của mình đối với các nước láng giềng. Trung Quốc tự coi mình là trung tâm của thế giới và hoàn toàn nhìn qua lăng kính lợi ích của riêng mình. Điều này dẫn đến hệ quả thực tế là Trung Quốc không thể chấp nhận được khả năng của những điều không diễn ra theo cách mà nước này muốn. Luttwak cũng cho rằng người Trung Quốc phóng đại tư duy chiến lược của riêng mình.

7. Chủ tịch Tập Cận Bình

Mặc dù việc chuẩn bị cho cuộc chiến này đã được bắt đầu vào những năm 1980, song sự hung hăng gia tăng gần đây được thực hiện dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Tập Cận Bình, người được coi là Thái tử đảng trong những năm đầu sự nghiệp, đã bị ấn tượng bởi cách cuộc chiến tranh với Việt Nam năm 1979 đã được sử dụng để củng cố quyền lực trong Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc. Chủ tịch Tập Cận Bình đã tập trung được nhiều quyền lực hơn bất kỳ nhà lãnh đạo Trung Quốc nào kể từ thời Đặng Tiểu Bình. Ông đang sử dụng chiến dịch chống tham nhũng để thanh trừng đối thủ chính trị. Được biết các nhà lãnh đạo Trung Quốc sẽ chỉ cầm quyền trong vòng mười năm trước khi rời chính trường. Chỉ trong hai năm trên cương vị Chủ tịch nước, những người ủng hộ Tập Cận Bình đã làm dấy lên khả năng phục hồi vị trí chủ tịch đảng (từng bị bãi bỏ bởi Đặng Tiểu Bình nhằm không để tái hiện một Mao Trạch Đông khác) nhằm giúp Tập Cận Bình có thể tiếp tục cầm quyền từ vị trí đó. Chủ tịch Tập Cận Bình đã trải qua một thời kỳ khắc nghiệt làm cho ông trở nên cứng rắn qua những sự từng trải trong cuộc sống. Ở tuổi 15, ông được gửi đến sống và làm việc với nông dân tại một vùng quê khô cằn sỏi đá sau khi cha của ông bị thanh trừng. Ông sống trong một cái hang. Người chị của ông đã tự vẫn trước sức ép của lực lượng Hồng vệ binh.

Nhật Bản

Nhật Bản nhận thấy rằng cuộc chiến tranh này đang được đẩy về phía mình và nước này đang tiếp cận nó với sự tiên lượng trước. Nhật Bản coi cuộc chiến này là không thể tránh khỏi, mặc dù gần đây Thủ tướng Abe đã diễn ra yêu cầu gặp Chủ tịch Tập Cận Bình ở Indonesia. Cuộc gặp đã diễn ra căng thẳng do Chủ tịch Tập Cận Bình muốn hàng chục nghìn người dân đất nước của Thủ tướng Abe phải trả giá. Thủ tướng Abe đã phát biểu trước lưỡng viện Quốc hội Mỹ như là một phần của nỗ lực của ông nhằm đảm bảo rằng Mỹ và Nhật Bản sát cánh đối phó và đẩy lùi cuộc tấn công của Trung Quốc.

Mỹ

Mỹ tin rằng một trật tự thế giới dựa trên luật lệ cần phải được duy trì vì an ninh và thịnh vượng toàn cầu, trong đó có thịnh vượng của riêng Mỹ, vì điều đó dựa phần lớn vào thương mại thế giới. Vì vậy đối với Mỹ, cuộc chiến này sẽ xoay quanh việc duy trì sự tiếp cận đối với các lợi ích chung toàn cầu. Quân đội Mỹ đã không cập nhật cho công chúng nước này về tất cả sự chuẩn bị của Trung Quốc đối với chiến tranh, có lẽ bởi vì họ không muốn bị coi là làm leo thang căng thẳng. Tuy nhiên, quân đội Mỹ không còn nghi ngờ rằng Trung Quốc sẽ bắt đầu một cuộc chiến. Vấn đề chưa rõ chỉ là thời điểm.

Sự hung hăng của Trung Quốc hóa ra lại là may mắn đối với Hải quân Mỹ, một lực lượng trước đó đã thiếu một mối đe dọa đáng tin cậy và phải đối mặt với sự cắt giảm liên tục. Hiện có một xu hướng nhấn mạnh đến tính hiệu quả của các hệ thống vũ khí của đối phương. Người Trung Quốc có thể đã đọc được các báo cáo của Hải quân Mỹ về các hệ thống vũ khí của họ, điều có thể đã làm họ càng củng cố quyết tâm hơn nữa.

Cuộc chiến này sẽ được thực hiện như thế nào

Sẽ có hai chiến trường chính: Biển Hoa Đông ở phía Bắc của Đài Loan và Biển Đông ở phía Tây của Philippines.

Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Senkaku (lần cuối cùng bị Nhật Bản chiếm đóng khoảng 100 năm trước đây) và toàn bộ chuỗi Ryuku từ quần đảo Yaeyama ở cực Nam tới đảo Okinawa ở phía Bắc. Nếu Trung Quốc chiếm được quần đảo Senkaku, nước này cũng đồng thời có thể nắm giữ được quần đảo Yaeyama. Để đạt được điều đó, Trung Quốc đang xây dựng một căn cứ quân sự tại quần đảo Nam Kỷ cách quần đảo Senkaku khoảng 300 km về phía Tây. Căn cứ này có thể tiếp nhiên liệu với 10 đường bay cho trực thăng cất cánh. Điều này cho thấy cuộc tấn công khởi đầu sẽ do trực thăng thực hiện bay vượt trên các tàu tuần duyên của Nhật Bản xung quanh quần đảo Senkaku.

Trung Quốc có một hạm đội tàu đánh cá khá lớn và tàu buôn với sức vận chuyển lên tới 70 triệu tấn. Nước này đã sử dụng đội tàu đánh cá của mình để quấy rối lực lượng Cảnh sát biển Nhật Bản xung quanh quần đảo Senkaku và tới tận phía Đông quần đảo Osagawa, trong đó có đảo Iwo Jima. Điều này cho thấy các tàu đánh cá có thể được sử dụng để đổ bộ các lực lượng đặc nhiệm của Trung Quốc nhằm tấn công các căn cứ của Nhật Bản trên một phạm vi rộng, điều được coi là hậu phương vững chắc cho tiền tuyến. Những lực lượng này sẽ được sử dụng như vật hiến tế để gây ra tình trạng lộn xộn tối đa nhằm làm nhụt chí lực lượng quốc phòng Nhật Bản. Ở phía Bắc, cách thức của Trung Quốc sẽ là chiếm giữ và cầm cự chống lại sự phản công của Nhật Bản và Mỹ.

Tại Biển Đông, Trung Quốc đang xây dựng 7 pháo đài khổng lồ và một đường băng. Các pháo đài được thiết kế với tháp pháo phòng không đứng ở các góc nhằm giúp mỗi tháp pháo đều có phạm vi hỏa lực ít nhất là 270 độ. Các pháo đài dường như được thiết kế nhằm tấn công trừng phạt với cường độ lớn và cầm cự cho tới khi chúng được giải vây. Trung Quốc sẽ thắng nếu vẫn giữ được các pháo đài này cho tới thời điểm cuối cuộc chiến.

Trung Quốc nhiều khả năng sẽ bắt đầu cuộc chiến ở phía Nam với các cuộc tấn công nhằm vào các căn cứ của các nước khác trong quần đảo Trường Sa cũng như các căn cứ của Mỹ tại khu vực về phía Đông tới tận đảo Guam. Một cuộc chiến kéo dài sẽ có hại cho Trung Quốc do trên tuyến đường tiếp vận từ đảo Hải Nam tới quần đảo Trường Sa, tàu thuyền và máy bay rất dễ bị tấn công. Việt Nam đã và đang nâng cấp hệ thống radar của mình và nước này hy vọng tất cả các nước tham chiến không phải Trung Quốc sẽ chia sẻ thông tin mục tiêu. Hệ thống kiểm soát và cảnh báo sớm (AWACS) của Mỹ tại Philippines sẽ có thể theo dõi các mục tiêu Trung Quốc được trao đổi từ phía Việt Nam. Singapore nhiều khả năng sẽ vận hành các máy bay F-15 của mình ngoài khơi vịnh Cam Ranh. Máy bay Trung Quốc sẽ ở vào cuối tầm bay khi tới được quần đảo Trường Sa.

Lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ đã nâng số lượng các căn cứ tại Philippines với mục đích gia tăng sức mạnh tấn công nhằm đánh bật Trung Quốc khỏi các pháo đài mới xây dựng của họ. Một số hệ thống vũ khí của Mỹ như tàu USS Zumwalt có thể sẽ phải được triển khai để đạt được mục tiêu này.

Trong bức tranh lớn hơn, Nhật Bản và Trung Quốc sẽ cố gắng để phong tỏa nhau, chủ yếu là bằng lực lượng tàu ngầm của mỗi nước. Hải quân Nhật Bản có chất lượng cao hơn Trung Quốc và rất nhiều khả năng sẽ giành chiến thắng trong cuộc chiến phong tỏa lẫn nhau này.

Ngành công nghiệp trên toàn châu Á sẽ bị ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc chiến này. Đặc biệt, ngành công nghiệp Trung Quốc nhiều khả năng sẽ bị đình trệ nhanh chóng, điều mà cuối cùng sẽ dẫn đến bất ổn xã hội. Cuộc chiến càng kéo dài thì vị thế tương đối của Trung Quốc sẽ càng tồi tệ. Thịt sẽ biến mất khỏi khẩu phần ăn của người Trung Quốc. Đậu tương không bán được sẽ chất đống trong các kho của Mỹ.

Việc loại bỏ các căn cứ của Trung Quốc tại quần đảo Trường Sa sẽ cho phép một giải pháp hòa bình dành cho bất cứ ai cuối cùng cầm quyền ở Trung Quốc. Đây sẽ là một trong những cuộc chiến tranh vô nghĩa, ngu ngốc và hủy diệt nhất trong lịch sử, song đó là những gì đang đến.

David Archibald thuộc Viện Chính trị Thế giới (IWP) tại thủ đô Washington. Bài viết được đăng trên American Thinker.

Văn Cường (gt)

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/quan-h-quc-t/4894-bay-ly-do-trung-quoc-se-phat-dong-mot-cuoc-chien-tu-nay-toi-2017

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.05.2015

Tự do ngôn luận và đức tin tôn giáo

Bìa TC CHARLIE HEBDO Pháp

Tự do ngôn luận và đức tin tôn giáo

Phan Thành Đạt

QTXM: Một bài viết rất hay, giúp người đọc hiểu thêm để ứng xử tốt hơn trong việc bảo vệ tự do của con người và đức tin tôn giáo.

  Tự do ngôn luận và tự do về tư tưởng là những quyền con người cơ bản được Hiến pháp, Tuyên ngôn về quyền con người năm 1948 và Công ước châu Âu về quyền con người năm 1950 bảo vệ. Nhà luật học Jean Rivero phân chia quyền con người thành ba loại: Quyền tự nhiên, quyền tham gia vào các hoạt động chính trị xã hội, quyền được hưởng từ các chính sách của Nhà nước nhằm chăm lo cho con người. Quyền con người thuộc thế hệ thứ nhất là những quyền tự nhiên nếu thiếu chúng, tự do, hạnh phúc của con người sẽ không được đảm bảo. Quyền được sống, tự do đi lại, tự do ngôn luận, tự do tôn giáo là các quyền cơ bản thuộc thế hệ thứ nhất. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.05.2015

Nhân loại trong tay ta

Tranh Picaso

Nhân loại trong tay ta

 Trần Mạnh Ngôn

Giữa thập kỷ sáu mươi của thế kỷ XX, Hội đồng Tương trợ Kinh tế (CEB) của phe Xã hội Chủ nghĩa có một cuộc họp quan trọng được tổ chức tại Beclin, thủ đô nước Cộng Hoà Dân Chủ Đức. Ta thường gọi rút gọn là Đông Đức. Vì là Hội đồng Tương trợ Kinh tế nên chủ yếu bàn về kinh tế. Tính ưu việt của nền kinh tế chỉ huy bao cấp thì đã rõ không cần tranh cãi nữa. Không ưu việt thì làm sao mà đánh bại được phát xít Đức. Đến như một anh đế quốc to như Mỹ cũng phải sợ không dám đến gần. Liên xô đảm đương sứ mạng lịch sử : “tiêu diệt chủ nghĩa phát xít Đức Ý Nhật cứu nhân loại khỏi nạn diệt vong” ­ sử ta dạy thế. Đánh bại được phát xít Đức thì không có điều gì không làm được. Năm đó Việt Nam chưa phải là thành viên chính thức nên được chiếu cố tham dự với tư cách quan sát viên. Một đoàn chuyên gia thượng thặng tháp tùng vị Bộ trưởng không bộ quản lý Phủ Thủ tướng tham dự hội nghị này. Với tư cách quan sát viên phái đoàn ta chỉ nghe mà không nói. Không nói hóa hay. Ê pô xi là cái “đinh” của hội nghị này. Người phe ta bàn sôi nổi lắm. Ê pô xi là chất kết nối cực kỳ vững chắc, cực kỳ nhanh chóng, tiện lợi. Nó có thể thay bu loong, đinh tán nối các giầm cầu bằng sắt thép, nối cá bệ phóng vệ tinh lên quỹ đạo, nối các bộ phận cơ yếu của phi thuyền. Ê pô xi không chỉ là chất keo gắn kết quan trọng của công cuộc xây dựng mà đã trở thành vật liệu chiến lược cho an ninh quốc phòng. Phe tư bản đang ráo riết tìm kiếm. Chúng nó tập trung toàn nhà khoa học đầu ngành ra sức phát minh sáng chế mà chưa đâu vào đâu. Phải mất vài ba thập kỷ nữa thậm chí hết thế kỷ XX chưa chắc đã có. Trong tình hình hiện nay ai làm chủ ê pô xi là người đó làm chủ nhân loại. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.05.2015

Ngẫu hứng Trần Tiến 25:Trần Hiếu, anh tôi

NSND Trần Hiếu

Ngẫu hứng Trần Tiến 25

 Trần Hiếu, anh tôi

Nhạc sĩ Trần Tiến

Khán giả hâm mộhay lẫn giữa tôi và anh tôi, càng tuổi xế chiều hai anh em càng giống nhau. Thực ra nếu anh ấy không hứng lên, để râu chơi, giống em cho vui thì đâu đến nỗi. Suốt ngày chúng tôi phải trả lời ai là Trần Tiến, ai là Trần Hiếu. Tôi nhỏ hơn cả giáp, mà họ vẫn lẫn lộn. Hóa ra mình già thế ư,vừa cay cú, vừa mệt lại buồn cười. Nhớ ngày cách đây cũng đến 40 năm,tôi đang diễn ở rạp Đống Đa Hà Nội, một đêm diễn nhớ đời vì mình mới vào nghề, ra sân khấu hát có hai bài mà phải đi ra, đi vào sáu lần trong tiếng vỗ tay “bis” cổ vũ, dưới khán giả có người lên sân khấu nói vào micro, mời anh Trần Tiến xuống phân giải dùm cuộc đánh lộn của hai cậu bé bơm xe. Tôi xuống thì một cậu bé mếu máo hỏi “anh là Trần Hiếu hay Trần Tiến”, “anh là Tiến, thì sao?” “thế là em mất một ngày bơm xe rồi” “ thôi anh bù cho, đừng khóc nữa. Bận sau đừng dại cá cược nhé, Trần gì thì kệ cha nó, em bơm xe, cứ nhớ mặc quần là được rồi”.

Ngày nhỏ, anh Hiếu là thần tượng của tôi. Anh chống sào nhảy qua những hố cát lớn ngoài bến sông Hồng như Tặc-giăng, tôi cũng bắt chước, một lần bị trẹo chân. Về nhà anh bị bố dần cho một trận. Anh nhảy xuống bơi qua sông, tôi cũng nhảy theo. Sức yếu nên tôi bị sóng cuốn xuống gầm bè nứa dài ngoẵng, may có một đụn cỏ đáy sông cứu thoát. Anh khoái làm cái việc dị hóa ngoài đồng, hương lúa thơm ngào ngạt. Tôi cũng sung sướng làm theo,có lẽ đó là một khám phá lãng mạn nhất thuở ấu thơ anh tặng tôi . Vậy mà khi anh theo nghề hát, nổi tiếng khắp miền Bắc, bảo tôi đừng học sáng tác, theo anh đi hát dễ nổi tiếng hơn. Thì tôi lại không theo anh, đó là lần đầu tiên tôi chống lại anh, ngọn núi sừng sững chắn ngang con đường đời của tôi.

 Anh và chị Thúy Huyền , vợ mới cưới của anh sống mơ mộng như cặp tình nhân thường thấy trên phim Liên xô ngày đó. Về nhà, cứ lên cầu thang là ô ố luyện thanh rất hồn nhiên. Hàng xóm phàn nàn, mẹ mắng. Thế là anh chị bỏ vào sống trong khu tập thể trường nhạc. Anh Trần Hiếu, chị Thúy Huyền và anh Qúi Dương là những người thầy dạy hát đầu tiên của nhạc viện Hà Nội, ngày ấy gọi là trường nhạc Ô chợ Dừa. Nơi đây là cái nôi của bao nhiêu ca nhạc sỹ tài danh ngày đó, mà bây giờ ít người vượt qua được giá trị nghệ thuật của họ. Nói chính xác hơn, thế hệ chúng tôi ngưỡng mộ họ một cách thành kính, hơn bây giờ fan hâm mộ ca sỹ thời thượng nhiều.

Giọng anh Hiếu không dễ chấp nhận bằng giọng anh Qúy Dương. Trời cho anh Dương một vẻ đàn ông quý tộc sang trọng và một giọng hát ngọt ngào quyến rũ bao nhiêu, thì lại cho anh tôi một chất giọng trầm thô (mà chỉ người trong nghề mới biết là quí hiếm) và một vẻ ngoài giống võ sĩ hơn là ca sỹ. Thế mà hai anh ấy thay nhau cháy sáng sân khấu ngày đó, mỗi người một vẻ và hình như họ thân nhau lắm. Tôi nhớ không lầm thì, lứa ca sỹ mang hơi thở nền thanh nhạc hiện đại ở Việt Nam hồi đó, ngoài bậc thầy lớn tuổi đời và tuổi nghề như Quốc Hương, Mai Khanh là đến hai chàng ca sỹ học trong nước, trẻ trung , sáng tạo và đầy tâm hồn: Qúi Dương – Trần Hiếu. Tiếp theo là một loạt ca sỹ học từ các nước trở về ồ ạt, gây náo động nhà hát và làn sóng phát thanh ngày đó, như Trung Kiên, Quang Hưng, Lô Thanh, Gia Khánh… đều là những giọng ca đáng nể, bọn trẻ chúng tôi thi nhau tìm kiếm nơi các anh hát, mắt sáng lên hóng hớt, sung sướng nuốt từng câu hát.

Các anh ấy đều là bậc trí thức trong âm nhạc, ngoài việc được chuyên gia nước ngoài đào tạo bài bản, còn là sự cố gắng tự học ghê gớm để áp dụng phương pháp hát opera vào ca khúc Việt, mày mò từng bước khi âm nhạc xứ ta còn quá thô sơ, lạc hậu. Họ là những người đặt viên gạch đầu tiên xây dựng nền móng thanh nhạc chính thống Việt Nam. Trần Hiếu, Qúi Dương, Ngọc Dậu là những ca sỹ đóng vai chính trong những vở opera đầu tiên của Việt Nam: Epgheni Oneghin, Cô Sao…Cho đến nay cũng chẳng còn vở nào để chúng ta được biết đến.

Anh Hiếu nhà tôi giỏi bốn năm ngoại ngữ, học võ, học vẽ, học văn như điên. Thi vào Đại học toàn đỗ thủ khoa, vậy mà bỏ đi theo nghề mẹ mắng là “xướng ca vô loài”. Sau này anh nổi tiếng, có chút tiền góp vào đỡ đần mẹ nuôi các em nhỏ, trong đó có tôi. Mẹ đỡ hờn giận hơn, nhưng chẳng bao giờ cười. Mẹ lấy bố tôi vì bố tôi hát hay, nhảy claquette giỏi, nhưng trước hết là một nhà giáo đáng kính, một quí ông trường Tây, vì mẹ là tiểu thư con nhà giàu có tiếng Hà thành. Cái thời ấy nó vậy.

Lần đi biểu diễn mấy tháng trời ở Châu Mỹ về, các em xúm đông xúm đỏ nghe anh trai kể chuyện, anh hứng lên hát mấy bài diễn thành công bên đó. Bài “Con voi” làm mẹ cười rung bụng. Lần đầu tiên thằng con “xướng ca vô loài” giải được lời nguyền của mẹ, lấy làm sướng lắm, máu lên chơi luôn bài “Cuba kes linda”. Các em gái trố mắt thán phục vì ông anh được Mỹ nuôi, bụng béo, mông cong, nhảy “samba” cực chuẩn và hát tiếng Latin thì thôi rồi, đúng nghề của chàng. Mẹ chỉ buột miệng “cha nào con nấy ” rồi ngồi khóc, các chị phải xúm vào an ủi dỗ dành, ba mươi năm bố mất, là ba mươi năm mẹ ngồi khóc một mình .

Có lần anh kể bố mình và bác Giáp (Võ Nguyên Giáp ) học cùng trường, chuyên đá cầu với nhau, rất thân thiết. Bác rủ bố lên chiến khu, bố không đi vì đẻ tám đứa con lận, bố là hiệu trưởng Hàng Than ngày đó suốt ngày nói chuyện yêu nước với học sinh bị bọn Tây ghét lắm. Chuyện này tôi không được kiểm chứng vì hai cụ đã mất. Nhưng chuyện anh đánh nhau với Nguyễn Cao Kỳ thì có. Họ học chung trường Chu Văn An. Kỳ hay bắt nạt học sinh lớp dưới, bạn bè cử anh đến đánh nhau với Kỳ. Sau này Tướng Cao Kỳ về thăm quê, vì ông ta thích nhạc tôi do Hà Trần hát bên Mỹ, nên tôi có dịp hỏi ông. Tướng Kỳ chỉ cười cười bảo, hồi đó mình khoái đánh nhau thật, nhưng không nhớ có đụng Trần Hiếu không. Ông này to con lắm, lại giỏi quyền Anh nữa.

Anh tôi không cao lắm nhưng cái lưng to bè giống mẹ, khỏe vô địch. Nhà hát mỗi lần chuyển đàn piano là phải đợi có anh, một mình một đầu thay sức bốn người. Thần tượng của anh là anh hùng Samson nào đó thời ấy. Đại loại là một anh chàng có sức mạnh vô địch, vai u, thịt bắp kiểu phim hành động Mỹ bây giờ, chống lại bất công, bênh vực người nghèo, được người đẹp ngưỡng mộ đem lòng xi mê, đại loại vậy.

Cái hình anh vẽ Samson rất đẹp, choán nguyên bức tường cao 5m ngoài sân ngôi nhà cổ của chúng tôi ở phố Ngõ Gạch. Bố đặt tên anh Trần Trung Hiếu, đứa con thứ hai trong nhà thế mà như số phận. Bố mất sớm, chỉ có anh gánh vác thay bố bên mẹ nuôi chín miệng ăn ngày tản cư, loạn lạc 1947. Mẹ kể: Anh gánh hai thúng muối to đùng vượt qua bốt đồn Tây về được vùng tự do, bán đi mua gạo nuôi cả nhà. Phố Ngõ Gạch ngày đó, các bà tiểu thương đói hàng, lại phải gọi Thằng Hiếu con bà Đốc học về Hải Phòng vùng tạm chiếm, xì xồ tiếng Tây để mua xi măng về cứu cả phố.

Vậy thôi, mà trong anh có một phần dũng cảm thì lại có thêm ba phần… ngốc. Cái thời ấy, thanh niên Hà Thành trí thức đầy mình, quyết tử cho tổ quốc quyết sinh, ôm bom ba càng lao vào xe tăng Pháp dũng cảm là thế, mà khi Thủ đô giải phóng xong,cái lứa các anh đều ngốc giống nhau. Chỉ biết ăn cơm nhà,vác tù và hàng tổng, cụ thể là vác đàn accordeon đi hát chùa khắp nơi. Cuộc sống gia đình rớt xuống tận đáy của đói nghèo, họ cũng chẳng biết làm gì cứu vãn. Họ không có khả năng tự nuôi sống mình cho đến tận bây giờ. Họ khinh thường tiền bạc,chức tước,danh vọng. Cách mạng lấy nhà, họ tự nguyện hiến dâng. Lớn lên có vợ con không có chỗ ở, vui vẻ về ở khu tập thể văn công, nhà lá dột nát. Suốt ngày các chàng trai của chế độ mới lang thang ngoài phố, ngoài các câu lạc bộ thành đoàn, hát những bài ca lãng mạn Nga. Anh Hiếu còn mắng tôi, sao cứ đi kéo xe ba gác ngoài sông kiếm sống, mà không tham gia thanh niên tình nguyện, lên xây dựng nông trường như bài hát xô viết “Nông trường ơi, đắm say mênh mông trong lòng ta, lớn lên như bao nhiêu lời ca…”. Nhà nghèo, mẹ muốn bán chè xanh trước cửa kiếm vài ba xu mua gạo, anh cũng không bằng lòng, sợ mất danh giá nghệ sỹ của nhân dân. Nghĩ lại thấy anh mình ba phần ngốc, chỉ một phần dũng cảm, còn lại là. . . cuồng tín.

May mà không nghe lời người anh hùng của cả nhà.

Anh chẳng biết gì về cuộc sống xung quanh ngoài việc luyện thanh, dạy học và hát phục vụ nhân dân.

“Hiếu mặc quần thủng đít” là cái tên thời ấy bạn bè trêu anh. Trừ bộ quần áo diễn lúc nào cũng được giặt ủi phẳng phiu, một đôi giày diễn bóng lộn và cây đàn được lên giây chính xác. Còn lại là cuộc sống rách rưới, bụi đời như người lính. Nơi nào cần tiếng hát là có anh. Từ nơi có ba anh lính xạ thủ cheo leo trên nóc cầu Long Biên, đối mặt với hàng chục phản lực Mỹ ném bom, anh cũng tới làm… người thứ tư, không phải để bắn, mà để. . . hát.

Công trường, nông trường, chiến trường, biên giới, hải đảo, sân khấu hợp tác xã, sân khấu trường đại học, sân khấu khắp ngũ châu, lục địa đều có mặt Trần Hiếu. Anh đi hát cho chính sách ngoại giao của cụ Hồ. Hát cho nhân dân anh yêu quí với đồng lương đói rách. Ai cũng yêu anh vì “Chú voi con ở bản Đôn”, “anh quân bưu vui tính”. Báo Nga ca ngợi anh “Hò kéo thuyền trên sông Vonga” hát hay hơn đại danh ca Saliapin nước họ. Đồng nghiệp thì phục anh khúc tự sự “Con quỉ Mefistopheles”, ngoài Trần Hiếu không ai hát nổi khúc opera kinh điển này.

Chắc chắn lúc đó anh đã quên cô con gái Trần Thu Hà bé bỏng, giọng như mèo kêu ở nhà, mẹ mất sớm không ai dạy dỗ chăm sóc. Anh chỉ biết có hát. Hát có lẽ là hạnh phúc duy nhất của anh. Thế giới của anh là tiểu thuyết, phim ảnh , và những giai điệu,lời ca đẹp. Ngoài ra không còn gì nữa. Chỉ đến khi an ninh đến sờ gáy vì bài hát thời xét lại “Người Nga không muốn chiến tranh” anh mới giật mình. Mới đây thần chết suýt lôi anh đi, anh mới giật mình. Samson khỏe như thế rồi cũng ngã bệnh, kiếm cầm không nổi. Lương của anh họ bớt xén, danh hiệu Nghệ sỹ nhân dân họ lờ đi, mãi sau này, không thể không trao, họ mới “thí” cho. Anh tôi không biết nịnh, không biết làm hồ sơ xin xỏ, chức giáo sư cũng vuột khỏi tay vì không có tiền. Số tiền cuối cùng còn lại trong sổ tiết kiệm, anh lo thuốc cứu vợ lâm bệnh nặng. Vợ mất là trắng tay.

Bây giờ anh mới chợt hiểu, ngoài Tổ quốc, nhân dân và sự nghiệp âm nhạc cách mạng , anh còn có hai con, còn có mộ chị Huyền, mộ bố mẹ ngoài cánh đồng quê nhà. Còn có các em gái ruột thịt, fan cuồng của anh, tóc đã bạc trắng, bệnh tật đầy mình, còn có thằng em Trần Tiến xa cách mấy chục năm trời,vẫn trực bên giường bệnh anh. Giây phút yếu đuối nhất, cận kề cái chết, lần đầu tôi thấy anh khóc: “Tiến ơi,nhà giờ chỉ còn hai anh em”. Bây giờ anh mới giật mình và chợt hiểu vào cái tuổi 80 với vài giọt nước mắt đắng cay muộn màng, chảy dài. Dù sao, cũng chẳng ai trách anh. Anh chẳng có lỗi gì ngoài việc Trời bắt anh là kẻ lãng mạn cuối cùng của thế kỷ trước.

Anh vẫn còn trong trái tim ngàn triệu con người đi cùng đường với anh, thế kỷ mộng mơ ấy.

Nhân dân yêu anh vì anh ngốc, cả lứa các anh những nghệ sỹ hồn nhiên và ngốc, suốt đời chỉ có âm nhạc và một trái tim nhỏ nhoi, vắt hết giọt máu cuối cùng tặng nhân dân. Nhân dân đi theo quan tài của những người yêu họ. Nhạc sỹ Trịnh công Sơn, ca sỹ Qúi Dương, bạn anh và nhiều, nhiều người như thế. Những dòng người tiễn biệt dài vô tận như tiếng tơ lòng của các anh: day dứt,dai dẳng. Không nỡ chia lìa cõi thế gian đẹp đẽ này.

…. .

Anh vẫn là anh hùng Samson của cả nhà, là đứa con hiếu thảo của mẹ.

Là người trung với nước đúng như bố đặt tên anh: Trần Trung Hiếu,

Nghệ sỹ nhân dân Trần Hiếu, anh tôi.

Vũng tàu 6-11-14

T.T.

Trần Trung Hiếu (nghệ danh Trần Hiếu). Sinh 1936 tại Hà Nội. Quê quán Hà Tây. Tốt nghiệp đại học thanh nhạc năm 1959 tại Nhạc viên Hà Nội. Nghiên cứu sinh tại Bungary năm 1981 bằng tương đương Thạc sỹ Âm nhạc.

Giảng viên khoa Thanh nhạc Nhạc viện Hà Nội, nhạc viện TP. Hồ chí Minh 1959 đến 2014.

Ca sỹ chính Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam 1959-2000.

Nhà nước trao tặng Danh hiệu nghệ sỹ nhân dân đợt 3 năm 198.

Những ca khúc trình bày được nhân dân yêu thích: “Con voi” (sáng tác: Nguyễn Xuân Khoát và Đỗ Nhuận). “Anh quân bưu vui tính” (sáng tác: Đàm Thanh). “Chú voi con ở bản Đôn” (sáng tác: Phạm Tuyên) .

Vai chính trong vở opera “Epgheni Oneghin” từ tác phẩm Thơ Puskin. Opera “Cô Sao” và “Núi rừng lên tiếng” tác phẩm Đỗ Nhuận.

 

« Newer Posts - Older Posts »

Danh mục