Đăng bởi: Ngô Minh | 23.09.2016

Biên bản Hội đàm Thành Đô viết gì?

Biên bản Hội đàm Thành Đô viết gì?

  •   NGÔ HƯNG ĐƯỜNG (TRUNG QUỐC)

thanh-doHình ảnh HNTĐ

Cuộc gặp gỡ nội bộ lãnh đạo cấp cao Trung Quốc và Việt Nam tiến hành lặng lẽ tại Thành Đô thuộc tỉnh Tứ Xuyên trong hai ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990. Tham gia cuộc gặp nội bộ này phía Trung Quốc có Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc đương nhiệm Giang Trạch Dân và Thủ tướng Quốc Vụ Viện đương nhiệm Lý Bằng; phía Việt Nam có Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười và Cố vấn Trung ương ĐCSVN Phạm Văn Đồng. Đây là cuộc gặp đầu tiên giữa các nhà lãnh đạo chủ yếu của hai đảng, hai nước sau thời gian gián đoạn 13 năm.

Hồi đó tôi đang làm Trưởng Phòng Nghiên cứu của Ban Liên lạc đối ngoại Trung ương ĐCSTQ, có tham gia cuộc gặp nói trên với tư cách cán bộ tùy tòng.

Lời nhắn miệng của Đặng Tiểu Bình

Tháng 7 năm 1986, Tổng Bí thư ĐCSVN Lê Duẩn qua đời. Tháng 12, tại Đại hội ĐCSVN lần thứ VI, Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư TƯ ĐCSVN. Những năm 60, trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ Nguyễn Văn Linh là thành viên Cục Miền Nam của ĐCSVN, có thái độ hữu hảo với Trung Quốc, từng nhiều lần đến thăm Trung Quốc. Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình đều từng hội kiến với Nguyễn Văn Linh. Sau khi được bầu làm Tổng Bí thư TƯ ĐCSVN, ông đã đã tích cực đẩy mạnh thực thi đường lối mới của cách mạng Việt Nam và bắt tay cải thiện mối quan hệ với Trung Quốc.

Trong thời gian từ cuối 1988 đến đầu 1989, phía Việt Nam trước sau đã ba lần ngỏ ý mong muốn cải thiện mối quan hệ Việt-Trung. Tháng 10/1989, Đặng Tiểu Bình hội kiến với Cay-xỏn Phôm-vi-hản [Kaysone Phomvihane] Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Lào, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng Lào.

Lý Gia Trung [1] hồi đó là Trưởng phòng Đông Dương thuộc Vụ Châu Á Bộ Ngoại giao từng tham dự cuộc hội kiến này và làm nhiệm vụ ghi chép, có tiết lộ rằng Chủ tịch Cay-xỏn đã chuyển [tới Đặng Tiểu Bình] lời thăm hỏi của Nguyễn Văn Linh, nói Việt Nam nay đã có nhận thức mới đối với tình hình Trung Quốc, thái độ đối với Trung Quốc đã có thay đổi, mong muốn Trung Quốc có thể mời ông thăm Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình cũng đề nghị Cay-xỏn chuyển lời thăm hỏi tới Nguyễn Văn Linh.

Đặng Tiểu Bình nói: Việt Nam đề xuất muốn bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, chúng tôi hoan nghênh. Tôi quen đồng chí Nguyễn Văn Linh từ lâu. Tôi mong muốn đồng chí ấy quả quyết giải quyết dứt điểm vấn đề Campuchia. Tôi hiện nay tuổi đã cao, sắp nghỉ hưu. Mong sao trước khi tôi nghỉ hưu hoặc không lâu sau khi nghỉ hưu thì vấn đề Campuchia có thể đã được giải quyết, mối quan hệ Trung Quốc-Việt Nam được khôi phục bình thường; như vậy sẽ chấm dứt được một nỗi băn khoăn của tôi. Đặng Tiểu Bình nhấn mạnh hy vọng Việt Nam rút sạch sành sanh, rút triệt để quân đội ra khỏi Campuchia, thực hiện khối liên hợp 4 bên do Sihanouk đứng đầu (4 bên, tức chính quyền Heng Samrin do Việt Nam ủng hộ, và 3 phái chống lại: Mặt trận Đoàn kết dân tộc giành độc lập, trung lập, hòa bình và hợp tác Campuchia; Kampuchea Dân chủ do Khieu Samphon là đại diện, Mặt trận Giải phóng dân tộc nhân dân Cao-miên với đại diện là Son Sann), chỉ có làm được điều đó thì mới kết thúc quá khứ, khôi phục mối quan hệ Trung-Việt.

Tháng 6/1990, Nguyễn Văn Linh hội kiến Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Trương Đức Duy. Ông nói tình hình quốc tế hiện nay đang biến đổi mạnh, tình hình Đông Âu diễn biến rất phức tạp, tình hình Liên Xô cũng rất nghiêm trọng. Hai nước Việt Nam, Trung Quốc là láng giếng XHCN, ông hy vọng sớm đến Bắc Kinh hội kiến với các đông chí lãnh đạo TƯ ĐCSTQ, thực hiện việc bình thường hóa quan hệ Việt-Trung trong những năm tháng ông còn trên đời.

Ngày 27/8, tại Liên Hợp Quốc, 5 nước thường trực Hội đồng Bảo an đạt được sự nhất trí về việc giải quyết toàn diện vấn đề  Campuchia và quyết định ngày 10/9 sẽ  triệu tập một cuộc họp thảo luận thông qua 5 văn kiện về việc giải quyết toàn diện mặt chính trị vấn đề  Campuchia. Nội dung chính của các văn kiện đó là 4 bên Campuchia liên hợp cùng tổ chức cơ quan quyền lực lâm thời của Campuchia — Hội đồng Tối cao Toàn quốc Campuchia [SNC, Supreme National Council]. Đây là một bước quan trọng và một tiến triển có tính đột phá trong việc giải quyết chính trị vấn đề Campuchia, cũng là thành quả quan trọng mà cộng đồng quốc tế giành được trong 12 năm tìm kiếm biện pháp giải quyết hòa bình vấn đề Campuchia.

Trong tình hình như vậy, Chính phủ Trung Quốc quyết định mời các nhà lãnh đạo ĐCSVN tới thăm Trung Quốc để tiến hành trao đổi ý kiến.

Theo chỉ thị từ trong nước và sau khi được Ban Đối ngoại TƯ ĐCSVN thu xếp, chiều ngày 29/8, Đại sứ Trương Đức Duy gặp mặt Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười, thay mặt Giang Trạch Dân và Lý Bằng mời hai ông cùng ông Phạm Văn Đồng đến Trung Quốc thăm nội bộ vào thời gian từ ngày 3 đến ngày 4 tháng 9. Đại sứ còn thông báo, do Đại hội Thể thao châu Á [Á Vận hội, ASIAD] sắp được tổ chức tại Bắc Kinh nên để tiện giữ bí mật, địa điểm hội đàm sẽ thu xếp tại Thành Đô thuộc tỉnh Tứ Xuyên. Phía Việt Nam rất vui mừng tiếp nhận lời mời.

Điểm mấu chốt của cuộc đàm phán: “+1” hay không

Ngày 31/8, tôi được Phó Trưởng ban Ban Liên lạc Đối ngoại TƯ ĐCSTQ Chu Thiện Khanh gọi tới gặp riêng. Ông báo cho tôi biết 3 ngày sau tôi sẽ đi theo Giang Trạch Dân và Lý Bằng đến Thành Đô tham gia cuộc gặp gỡ nội bộ Trung Quốc-Việt Nam, và yêu cầu tôi gấp rút viết một tài liệu về tình hình phong trào cộng sản quốc tế, sự biến đổi tình hình ở Đông Âu và Liên Xô, tình hình đảng ta khôi phục quan hệ với các đảng cộng sản từng cắt quan hệ trong cuộc luận chiến Trung-Xô, để chuẩn bị trình lãnh đạo trung ương đọc. Ông dặn tôi phải nghiêm ngặt giữ bí mật, không được nói việc này dù là với đồng sự hoặc người nhà. Tôi bỏ ra một ngày khẩn trương viết xong tài liệu nói trên và đưa in nộp lên trên.

Ngày 2/9, Giang Trạch Dân và Lý Bằng mỗi người đáp một chuyên cơ cất cánh từ sân bay Tây Giao Bắc Kinh. Nhân viên tùy tòng cũng chia làm hai tốp đi theo. Tốp đi theo Giang Trạch Dân gồm: Phó Chánh Văn phòng TƯ ĐCSTQ Tăng Khánh Hồng, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Tề Hoài Viễn, Phó trưởng ban Ban Liên lạc Đối ngoại TƯ ĐCSTQ Chu Thiện Khanh. Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Từ Đôn Tín và một số người khác đi theo Lý Bằng, trong đó có tôi.

Chuyên cơ của Lý Bằng cất cánh lúc 3 giờ rưỡi chiều., khoảng 6 giờ đến Thành Đô. Chuyên cơ Giang Trạch Dân cũng đến nơi vào 6 giờ rưỡi.

Chúng tôi trọ tại nhà khách Kim Ngưu ở ngoại thành. Đây là một nhà khách nằm trong khu vườn cây, yên tĩnh mà đơn giản. Hội đàm và tiệc chiêu đãi sẽ làm tại tòa nhà chính số 1 ở chính giữa, khách và chủ sẽ trọ tại biệt thự ở hai bên tòa nhà này.

Tối hôm ấy, Giang Trạch Dân và Lý Bằng trao đổi với nhau về phương châm hội đàm. Tăng Khánh Hồng triệu tập các cán bộ tùy tòng của Văn phòng TƯ Đảng, Ban Liên lạc đối ngoại TƯ Đảng, và Bộ Ngoại giao bàn bạc tại chỗ  việc thu xếp chương trình làm việc và lễ nghi đón tiếp trong hai ngày tới, kể cả các chi tiết như bố trí khách và chủ ra vào đi riêng theo cửa nào, ai vào trước, ai vào sau. Tôi có tham gia cuộc bàn bạc này.

11 giờ sáng ngảy 3/9, chuyên cơ Việt Nam hạ cánh xuống sân bay chuyên dụng ở Nam Ninh. Đây là chuyến máy bay hàng không dân dụng Việt Nam đầu tiên bay đến Trung Quốc trong 12 năm nay. Phái đoàn Việt Nam gồm mười mấy người. Ngoài Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng ra, cán bộ chủ yếu đi theo gồm: Chánh Văn phòng TƯ Đảng CSVN Hồng Hà, Trưởng ban Đối ngoại TƯ ĐCSVN Hoàng Bích Sơn và Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Đinh Nho Liêm. Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Trương Đức Duy cũng đi cùng.

Tề Hoài Viễn, Chu Thiện Khanh, Từ Đôn Tín ra sân bay đón tiếp đoàn Việt Nam. Sau đó khách và chủ cùng đáp chuyên cơ của phía Trung Quốc bay về Thành Đô.

Hai giờ chiều, đoàn Nguyễn Văn Linh tới nhà khách Kim Ngưu. Giang Trạch Dân và Lý Bằng đón khách tại bên ngoài cửa vào tòa nhà chính số 1. Cuộc hội đàm bắt đầu vào khoảng hơn 4 giờ. Phòng họp rộng hơn 200 mét vuông bố trí đơn giản, chính giữa kê chiếc bàn dài, hai đoàn ngồi ở hai bên. Hội đàm tiến hành tổng cộng trong khoảng hơn ba tiếng đồng hồ.

Hồi đó Việt Nam đã rút quân khỏi Campuchia, những vấn đề chưa giải quyết chủ yếu liên quan tới hai mặt: đánh giá và hành xử như thế nào đối với 5 văn kiện của 5 nước thường trực Hội đồng Bảo An LHQ về việc giải quyết vấn đề Campuchia, và vấn đề thành viên của Hội đồng Tối cao toàn quốc Campuchia. Vấn đề của hai mặt đó có liên quan với nhau. Hai phía Trung Quốc và Việt Nam có những điểm đồng thuận, cũng có những điểm bất đồng. Ý kiến bất đồng chủ yếu có hai điểm.

Trước hết, nên đối xử ra sao với 5 văn kiện nói trên. Phía Việt Nam muốn trình bày ý “hoan nghênh”. Lý Bằng nói: Hoàng thân Sihanouk và Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc, Liên Xô đều tỏ ý ủng hộ 5 văn kiện này, vì thế nên dùng “tán thành”. Sau thảo luận, phía Việt Nam biểu thị đồng ý [với phía TQ], nhưng yêu cầu thêm từ “khung”, phía Trung Quốc cũng đồng ý.

Bất đồng lớn hơn là ở chỗ hạn mức số người của 4 bên trong Hội đồng Tối cao toàn quốc Campuchia. Phía Việt Nam đồng ý “6 (phái Heng Samrin) + 2 (phái Sihanouk) + 2 (phái Khieu Samphon) + 2 (phái Son Sann)” Phía Trung Quốc đề xuất phương án “6 + 2 + 2 + 2 + 2 + 1”; trong đó “1” là Sihanouk, cho rằng Sihanouk là Chủ tịch Hội đồng Tối cao, nên có quyền lực tương ứng. [2]

Phía Việt Nam cảm thấy phương án của Trung Quốc rất khó được phía Phnom Penh tiếp nhận. Cuộc đàm phán trong ngày thứ nhất chưa đạt được đồng thuận về vấn đề này.

Đạt được “Biên bản hội đàm”

Hội đàm kéo dài một mạch đến 8 giờ tối. Đến 8 giờ rưỡi, buổi chiêu đãi mới bắt đầu. Trên bàn tiệc, Giang Trạch Dân và Lý Bằng tiếp tục trao đổi với Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười về những vấn đề chưa đạt đồng thuận.

Sau khi kết thúc buổi chiêu đãi, các cán bộ tùy tòng chính của hai bên tổ chức thành nhóm dự thảo biên bản hội đàm, họp bàn ngay trong đêm hôm ấy. Nhóm này phía Trung Quốc do Tăng Khánh Hồng phụ trách, phía Việt Nam do Hồng Hà phụ trách. Cuộc hội đàm [?] tiến hành cho tới đêm khuya.

Tôi cũng tham gia cuộc họp bàn của nhóm dự thảo biên bản. Nhiệm vụ chính của tôi là sẵn sàng bất cứ lúc nào khi cần là có thể báo cáo cho Giang Trạch Dân và Lý Bằng biết tình hình thảo luận của nhóm, sau đó truyền đạt lại ý kiến của hai vị ấy tới các cán bộ Trung Quốc trong nhóm dự thảo.

Cuộc thảo luận rất gian khổ, bàn bạc từng chữ từng câu. Có một tranh chấp chính là sau khi hai bên Trung-Việt đạt được sự nhất trí ý kiến về vấn đề Campuchia, những ý kiến đó sẽ chuyển lại cho các bên liên quan của Campuchia như thế nào. Qua bàn bạc lâu dài, hai bên đồng ý trình bày là “bằng sự cố gắng của mỗi bên”, “thúc đẩy” các bên Campuchia đạt được thỏa thuận về việc thành lập Hội đồng Tối cao toàn quốc.

Sáng ngày 4/9, lãnh đạo hai bên tiến hành cuộc hội đàm lần thứ hai.

Sau khi đi vào nội dung chính, hai bên tiếp tục bàn vấn đề thành phần nhân sự của Hội đồng Tối cao. Nguyễn Văn Linh bỗng dưng nêu ra một vấn đề:  Hội đồng Tối cao sẽ tuân theo nguyên tắc làm việc như thế nào, là nguyên tắc điều hòa nhất trí hay nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số?

Giang Trạch Dân khôn khéo trả lời câu hỏi này. Ông nói, nếu 4 bên đã đều đồng ý thành lập Hội đồng Tối cao thì họ nên xuất phát từ đại cục lợi ích dân tộc, thực sự thực hiện hòa giải dân tộc. Dưới tiền đề đó, phía Trung Quốc “có thể đồng ý” Hội đồng Tối cao làm việc theo nguyên tắc hiệp thương nhất trí.

Phạm Văn Đồng đồng ý với ý kiến của Giang Trạch Dân.

Sau khi giải quyết xong các vấn đề chủ yếu, việc còn lại là quyết định cuối cùng “Biên bản hội đàm [nguyên văn Hội đàm kỷ yếu]”.

Về  vấn đề Hội đồng Tối cao Campuchia, Biên bản hội đàm viết: Hai bên cho rằng, việc sớm thành lập Hội đồng Tối cao Campuchia là bước then chốt để giải quyết chính trị vấn đề Campuchia. Hội đồng này nên tuân theo nguyên tắc bất cứ phái nào cũng không được chiếm địa vị chi phối, cũng không loại trừ bất cứ phái nào, [Hội đồng này] do 4  bên Campuchia tổ chức nên. Việc để Hoàng thân Sihanouk làm Chủ tịch [Hội đồng] là thích nghi. Hai bên đồng ý sẽ thông báo cho các bên Campuchia và sẽ làm việc với họ, cố gắng sớm nhất dựa theo phương thức 6+2+2+2+1 thành lập Hội đồng Tối cao và [Hội đồng này] sẽ làm việc căn cứ theo nguyên tắc hiệp thương nhất trí.

Về vấn đề bình thường hóa quan hệ Trung Quốc-Việt Nam, Biên bản chỉ ra: Hai bên đã trao đổi ý kiến về vấn đề sớm khôi phục mối quan hệ hai đảng, hai nước, đồng ý cùng với việc giải quyết chính trị vấn đề Campuchia một cách toàn diện, công bằng và hợp lý, sẽ từng bước cải thiện quan hệ hai đảng, hai nước, tiến tới thực hiện bình thường hóa. Trong đó hai chữ “hai đảng” được thêm vào là căn cứ theo kiến nghị của Phạm Văn Đồng.

Hai bên còn trao đổi ý kiến về các biện pháp cụ thể để từng bước cải thiện quan hệ, nội dung gồm có: 1) Hai bên áp dụng biện pháp giảm lực lượng quân đội ở biên giới, tránh tất cả các hoạt động đối địch; 2) Đình chỉ mọi tuyên truyền đối địch với đối phương; 3) Tăng cường sự đi lại của dân chúng; 4) Khôi phục trật tự bình thường trong buôn bán ở vùng biên giới [biên mậu]; 5) Lãnh đạo cấp cao hai nước tiến hành tiếp xúc và thăm lẫn nhau.

Bắt đầu tiến trình bình thường hóa quan hệ

Hai giờ rưỡi chiều, hai bên Trung Quốc-Việt Nam làm lễ ký kết [Biên bản Hội đàm] tại tòa nhà chính số 1. Phía Trung Quốc đề nghị để Giang Trạch Dân, Lý Bằng và Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười thay mặt đảng và chính phủ nước mình ký kết. Phía Việt Nam đồng ý.

Ngay tại lễ ký kết, Giang Trạch Dân dẫn câu thơ thất luật của Lỗ Tấn [3] để tặng các đồng chí Việt Nam: “Độ tận kiếp ba huynh đệ tại, tương phùng nhất tiếu mẫn ân cừu” [tạm dịch: Qua kiếp nạn, anh em còn đó. Gặp nhau cười, hết sạch ơn thù]. Hội trường vang lên tiếng vỗ tay.

Tối hôm ấy, Nguyễn Văn Linh cũng xúc động viết 4 câu thơ [4]: “Huynh đệ chi giao số đại truyền, oán hận khoảnh khắc hóa vân yên, tái tương phùng thời tiếu nhan khai, thiên tải tình nghị hựu trùng kiến.” [dịch ý:  Tình anh em truyền bao đời, trong khoảnh khắc mọi oán hận tan thành mây khói, khi gặp nhau nở nụ cười, xây đắp lại tình hữu nghị muôn đời].

Trong tháng đó, bốn bên Campuchia gặp nhau tại Jakarta [Indonesia], thành lập Hội đồng Tối cao toàn quốc Campuchia, tuyên bố các bên Campuchia đều tiếp thụ các văn kiện do 5 nước thường trực Hội đồng Bảo an LHQ thông qua và dùng các văn kiện đó làm cơ sở để giải quyết chính trị vấn đề Campuchia.

Ngày 29/6/1991, Đại hội lần thứ VII Đảng CSVN bế mạc, Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư, Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng làm Cố vấn. Tinh thần cơ bản chung của Đại hội là: Việt Nam ở vào giai đoạn đầu [sơ cấp]  của CNXH, phát triển sức sản xuất là nhiệm vụ trung tâm, đồng thời tiếp tục chấp hành đường lối cải cách đổi mới mở cửa do Đại hội VI đề ra, chủ trương hợp tác hữu nghị với các nước.

Buổi chiều ngày thứ hai sau khi Đại hội bế mạc, Lý Bằng hội kiến đại biểu đặc biệt của Trung ương ĐCSVN Lê Đức Anh và Hồng Hà. Hai bên đồng ý tổ chức sớm nhất cuộc gặp gỡ cấp cao Trung Quốc-Việt Nam.

Ngày 5/11, tân Tổng Bí thư TƯ ĐCSVN Đỗ Mười và tân Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao đảng và chính phủ Việt Nam chính thức thăm Trung Quốc.

Hai nước ra công báo chung, tuyên bố sẽ phát triển mối quan hệ hữu nghị láng giềng trên cơ sở 5 nguyên tắc chung sống hòa bình, và dựa trên cơ sở 4 nguyên tắc về mối quan hệ đảng “Độc lập tự chủ, hoàn toàn bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp công việc nội bộ của nhau” khôi phục mối quan hệ bình thường giữa hai đảng Trung Quốc-Việt Nam..

Giang Trạch Dân phát biểu: Sau khi mối quan hệ giữa hai nước trải qua một đoạn đường quanh co, các nhà lãnh đạo hai nước Trung Quốc-Việt Nam hôm nay có thể ngồi lại cùng nhau tiến hành cuộc gặp cấp cao là việc có ý nghĩa quan trọng. Ông nói, đây là một lần gặp gỡ kết thúc quá khứ, mở ra tương lai, đánh dấu sự bình thường hóa mối quan hệ giữa hai nước.

 

Ghi chú của người dịch:

* Nguyên văn đầu đề là: Sự thật về cuộc gặp nội bộ Trung Quốc-Việt Nam tại Thành Đô.    Bài đăng trên tuần san Trung Quốc Tân Văn ngày 1/8/2015. Ngô Hưng Đường吴兴唐từ 1960 công tác lần lượt tại Vụ Một thuộc Ban Liên lạc đối ngoại TƯ ĐCSTQ, Viện Nghiên cứu Liên Xô-Đông Âu, Đại sứ quán TQ tại CHLB Đức, từng làm Trưởng phòng Nghiên cứu BLLĐN, Cục trưởng Cục Thông tin và người phát ngôn của BLLĐN. Sau 1993 là Tổng Thư ký Hội Giao lưu quốc tế TQ. Hiện là giáo sư thỉnh giảng của Học viện Quan hệ quốc tế ĐH Nhân dân Bắc Kinh, Cố vấn Hội Phong trào cộng sản quốc tế TQ. Từng viết hơn 200 bài báo.

[1] Lý Gia Trung 李家忠 (1936-), biết tiếng Pháp, tiếng Việt, từng có 40 năm tiếp xúc với Việt Nam, 18 năm làm việc ở VN, làm Bí thư thứ hai, Tham tán chính trị, 12/1995-7/2000 là Đại sứ TQ tại VN, từng viết nhiều bài báo và sách về VN, Hồ Chí Minh.

[2] Theo Lý Gia Trung (xem http://nghiencuuquocte.org/2014/11/07/noi-tinh-cuoc-gap-lanh-dao-trung-viet-tai-thanh-do/) : Phía TQ đưa phương án SNC gồm Sihanouk là Chủ tịch, ngoài ra phái Heng Samrin có 6 người, 3 phái chống đối (Khmer Đỏ, Ranaridh, Son Sann) mỗi phái 2. Nguyễn Văn Linh tán thành. Đỗ Mười nói phương án này khó được phái Heng Samrin tiếp thu. Phạm Văn Đồng nói phương án của TQ không công bằng, không hợp lý. Nhưng cuối cùng phía VN vẫn chấp nhận.  Qua hai bài của Lý Gia Trung và Ngô Hưng Đường, có thể thấy trong hội đàm Thành Đô, phía VN tập trung vào vấn đề khôi phục quan hệ TQ-VN, còn TQ tập trung vào việc giải quyết vấn đề CPC.

[3] Giang Trạch Dân lại nói câu thơ này là của nhà thơ Giang Vĩnh (1681-1762), người cùng quê với GTD. Có lẽ Lỗ Tấn đã mượn câu thơ này để đưa vào bài thơ “Đề Tam Nghĩa tháp” ông làm năm 1933 khi đến thăm tháp Tam Nghĩa. Phó Viện trưởng Viện Khoa học xã hội Quảng Tây Cố Tiểu Tùng cũng nói như GTD.

[4] Chưa rõ ông Linh viết mấy câu thơ này bằng chữ Hán hay chữ Quốc ngữ rồi được dịch ra tiếng TQ.

Nguồn:

吴兴唐: 中越成都内部会晤真相

《中国新闻周刊》2015-08-01

Nguyễn Hải Hoành dịch và ghi chú

( Nguồn: VHNA)

CHUYỆN BUỒN VUI VỀ CÁC “ĐỒNG CHÍ BỊ LỘ”

Nhà văn Nguyễn Khắc Phê

 

Cái nhan đề này có “nguồn gốc” từ một giai thoại: Tại một cuộc họp nào đó – sau khi nghe báo cáo vụ án ông X. bà Y. nào đó bấy lâu vẫn được ngồi ghế long trọng, được bầu “4 tốt” vừa lộ mặt là một tên tham nhũng không gớm tay – một đảng viên lão thành mở đầu ý kiến của mình rằng: “Thưa các đồng chí chưa bị lộ…”

Tức thì, cách nói độc đáo này khiến người dự họp cười tung tóe; nhưng niềm vui không trọn vì đồng chí lão thành đã rơm rớm nước mắt: “Phải nói như thế là đau lắm! Vì chứng tỏ là chúng ta đang dung dưỡng, che giấu những kẻ sâu mọt…”
Đồng chí lão thành này không nói ẩu. Chúng ta đều đã biết nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang từng nói là có cả “một bầy sâu”!…
Cứ coi như đó là chuyện “quá khứ”; đáng buồn là trong những ngày này, sau rất nhiều những hội nghị long trọng được “đánh giá cao” với nhiều cờ hoa và danh hiệu cao quý, “bầy sâu” ấy, “các đồng chí chưa bị lộ” ấy bỗng kéo nhau xuất hiện liên tục khiến cả xã hội ngao ngán nhưng cũng …buồn cười!
Sẽ có người hỏi: Sao ông đã “buồn” còn “cười” được. Buồn thì rõ quá rồi, vì nhiều đồng chí của chúng ta được cất nhắc, bố trí “đúng quy trình” bỗng nhiên hư đốn, bị khiển trách và không chừng phải tù tội. Cuộc chiến đấu thì còn dài, rất dài lâu, có khi cả thế kỷ nữa chưa đến đích mà quân số hao hụt thế thì nguy. Tuy vậy, vẫn phải cười … vì “ngộ quá” phải không các bạn. Ai đời sếp làm cơ quan “môi trường đô thị” mà lại rước chất thải độc hại về trang trại của mình! Hải quan, biên phòng nơi rừng cấm lại “thoải mái” mở “cửa” cho lâm tặc chất gỗ quý cạnh nhà! v…v… Rồi nhà máy này, xí nghiệp kia lỗ tiền tỷ hoặc tốn tiền tỷ đầu tư vẫn đắp chiếu, nhưng không ai hề hấn gì thì quả là tự do thoải mái nhất thế giới!
Xin miễn nêu tên cụ thể vì tất cả đang bày ra trên các mặt báo, các kênh truyền hình, phát thanh của Đảng và Nhà nước (chứ không phải của “thế lực thù địch” nào cả!). Mặt khác, họ chưa bị kết án, tức chưa phải tội nhân; và biết đâu, bằng một “phép mầu” nào đó, bằng một cách “chạy” nào đó, họ sẽ thoát tội, được “hạ cánh an toàn” hoặc thậm chí được “cơ cấu” vào một chỗ ngồi béo bở nào đó, rồi lại được trúng cử với số phiếu rất cao như họ đã làm từ trước. Mặt khác, nhắc tên bọn họ rồi xếp vào danh sách “bầy sâu” đang tàn phá đất nước, người viết bỗng có chút áy náy khi nghĩ đến con cháu, anh em, họ hàng của họ hẳn sẽ xấu hổ, thất vọng mỗi khi mở tờ báo, bật ti vi thấy cái… mặt thân thiết bấy lâu mình ngưỡng mộ hóa ra… Nói điều này cũng là một cách nhắc nhở những kẻ sắp biến thành “sâu”, hãy dừng lại khi chưa quá muộn. Có thể họ không sợ bị tù (vì vào tù vẫn có “đệ tử” vòng ngoài lo lót để được chăm sóc tử tế, rồi sẽ mau chóng được giảm án về với vợ con) và có thể họ cũng không biết xấu hổ; chính vì thế, nhắc họ nghĩ đến danh dự những người thân sẽ như là một biện pháp hỗ trợ có tính nhân văn, ngăn ngừa tình trạng “người biến thành sâu”!

(Có lẽ nên “mở ngoặc” nói thêm: Tất nhiên, “các đồng chí bị lộ” nói trên không bao gồm tên đạo chích chuyên mở khóa phòng các vị lãnh đạo ở Quảng Bình, Hà Tĩnh vừa mới bị xử 8 năm tù. Nhắc chuyện “ngoại đề” này vì chẳng hiểu hắn đánh hơi giỏi thế nào mà hai lần “ghé thăm” phòng đồng chí Bí thư một tỉnh đang rất nổi tiếng để rồi phải nhảy lầu khi bị lộ nên mới bị bắt!)
Tên trộm bị lộ thì chỉ vợ con hắn buồn; còn các “đồng chí bị lộ” hơi bị… nhiều trong những ngày vừa qua thì rõ ràng là cả “tổ chức”, cả hệ thống chính trị buồn phiền phải xem xét, đánh giá lại mọi thứ. Dân gian chẳng đã có câu “rút dây động rừng” là gì! Đâu chỉ mình anh ta bị “bêu dương” mà bao nhiêu mối quan hệ, bao nhiêu là ban bệ, hội đoàn đều phải được soi xét tận nơi. Chẳng phải là Ban Thanh tra, Ban Kiểm tra cấp nhỏ đến cấp lớn, nghe tin “các đồng chí bị lộ” khắp nơi, đã phải lập đoàn nhỏ đoàn to khẩn cấp kéo đi xác minh đó sao?…

Tuy vậy, về sự kiện các “đồng chí bị lộ” , không ít người lại cho là chuyện vui vì nó chứng tỏ bộ máy khổng lồ với rất nhiều lần tuyên bố quyết liệt chống tham nhũng, lần này sẽ ra tay thực sự. Và như vậy, bộ máy của Đảng và Nhà nước sẽ trong sạch như mong ước của toàn dân. Ở đây, lại xin dẫn một giai thoại, nên coi như chuyện vui. Khi hay tin một “đồng chí bị lộ” bị khai trừ, bị đuổi khỏi cơ quan, các “phó thường dân” lập tức lên tiếng: “Ê! Không được! Nhân dân chúng tôi trong sạch, đâu phải là hố rác để chứa chấp những thứ đó!” Chỉ là giai thoại thôi; mà “hết quan hoàn dân” – lộ hay không cũng thế. Lòng dân luôn khoan dung và quần chúng biết trọng danh dự, thì cũng đáng để vui cười chứ? Nhất là giữa cuộc sống ăn gì cũng lo bị nhiễm độc, ra đường thì lo đụng xe, đến công sở thì sợ gặp phải … sâu – tức là “các đồng chí chưa bị lộ” đó!

( Nguồn: trannhuong.com)

Đề án ngoại ngữ gần 9.400 tỷ sau 8 năm làm được những gì

QTXM: BỘ GIÁO DỤC HÃY TRẢ LỜI CÂU HỎI ĐỀ ÁN 9.400 TỶ  DẠY NGOẠI NGỮ ẤY KẾT QUẢ TỚI ĐÂU? HỌC SINH TỪ LỚP 3 ĐẾN LỚP 12 SAU KHI HỌC MẤY % ẸM NÓI Và\À VIẾT THẠO TIẾNG ANH? SAU ĐÓ MỚI NÓI TỚI DẠY TIẾNG TRUNG, TIẾNG NGA. BGIAOS DỤC LÀ DẠY TRI THỨC, KỸ NĂNG SỐNG ĐỂ CÁC EM LỚN LÊN PHÙ HỢP VỚI  THẾ GIỚI THỜI HỘI NHẬP. BỘ GIÁO DỤC KHÔNG PHẢI LÀ BỘ NGOẠI GIAO MÀ ĐI THEO NƯỚC NÀO THÌ DAY TIẾNG NƯỚC ĐÓ!

Đi chặng đường dài tốn hàng nghìn tỷ đồng, nhưng khi phụ huynh hỏi “Con tôi học ngoại ngữ vậy có dùng được không?”, nhiều cán bộ quản lý phải né tránh.

Đề án Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020 (gọi tắt là Đề án) được phê duyệt năm 2008. Mục tiêu là đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong các trường, để “đến năm 2020, đa số thanh niên Việt Nam tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng và đại học có đủ năng lực ngoại ngữ sử dụng độc lập, tự tin giao tiếp, học tập, làm việc trong môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ, đa văn hóa, biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam”.

Đề án có tổng kinh phí gần 9.400 tỷ đồng, trong đó giai đoạn 2008-2010 là 1.000 tỷ đồng, giai đoạn 2011-2015 gần 4.400 tỷ đồng, giai đoạn 2016-2020 khoảng 4.000 tỷ đồng. Nhưng sau 8 năm thực hiện, đến nay Đề án làm được những gì?

de-an-ngoai-ngu-gan-9400-ty-sau-8-nam-lam-duoc-nhung-gi

Nhiều địa phương còn thiếu trầm trọng giáo viên dạy tiếng Anh chứ chưa nói đến giáo viên bản ngữ. Ảnh: Ngọc Thành.

Mục tiêu lớn nhưng đích đến còn xa vời

Trọng tâm của Đề án là giai đoạn 2016-2020 với nhiệm vụ triển khai chương trình ngoại ngữ 10 năm trên cả nước, từ lớp 3 đến lớp 12; tăng cường tiếng Anh trong tất cả trường nghề, cao đẳng và đại học. Đến nay, đề án tiêu tốn khoản tiền khá lớn nhưng chưa đạt được kết quả mong muốn.

Năm 2016, cả nước có khoảng 1,6 triệu học sinh lớp 3, 4, 5 trong tổng số gần 7,8 triệu học sinh được học tiếng Anh 4 tiết/tuần, chiếm khoảng 20%. Số còn lại tiếp cận với tiếng Anh với thời lượng 2 tiết/tuần. So với mục tiêu 100% học sinh lớp 3 được học chương trình tiếng Anh 10 năm thì đích đến vẫn còn xa. Đội ngũ giáo viên thiếu trầm trọng là khó khăn lớn nhất, cấp THCS hiện chỉ có hơn 33% đạt chuẩn và cấp THPT hơn 26%.

Số giáo viên đạt chuẩn của nhiều địa phương còn thấp hơn nhiều. Như Cao Bằng hiện chỉ có 86 giáo viên tiếng Anh trong khi có 275 trường. Nhiều tỉnh khác rơi vào hoàn cảnh tương tự, như Hà Giang, Bắc Kạn, Lào Cai, Sơn La, Hòa Bình, Hà Tĩnh, Kon Tum, Khánh Hòa…

Đánh giá hiệu quả giai đoạn vừa qua, Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Phùng Xuân Nhạ cho rằng chất lượng đề án còn thấp, đặc biệt là tiếng Anh, thể hiện rõ trong kỳ thi THPT quốc gia. Giai đoạn mới cần thực hiện việc dạy và học cho chuẩn hơn. “Dạy và học ngoại ngữ mà chưa chuẩn thì thà không dạy còn hơn”, ông nói.

Đội ngũ giáo viên “chuẩn mà chưa chuẩn”

Nhìn lại chặng đường 8 năm triển khai, nhiều tỉnh thành có số giáo viên “đạt chuẩn” nhưng năng lực thực tế ra sao thì lại là câu hỏi lớn. Tại hội nghị triển khai đề án giai đoạn 2016-2020 do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức ngày 17/9, trong kế hoạch giai đoạn mới không có dòng nào đề cập đến những thành quả đạt được cũng như hạn chế của những năm 2008-2015.

Lãnh đạo nhiều sở giáo dục thẳng thắn chỉ ra bất cập trong công tác bồi dưỡng, tập huấn giáo viên để đạt chuẩn. Ông Nguyễn Minh Trí, Phó giám đốc Sở Giáo dục Quảng Ngãi cho biết, tỉnh này hiện có 80% giáo viên tiếng Anh đạt chuẩn, nhưng qua khảo sát năng lực chuyên môn thì thấy còn rất yếu ở tất cả kỹ năng. Việc đạt chuẩn có phản ánh đúng thực chất hay không là câu hỏi lớn nên các cấp quản lý thường nói với nhau “Đạt chuẩn nhưng chưa chuẩn”.

“Vậy nên khi phụ huynh hỏi Con tôi học ngoại ngữ vậy có dùng được không, tưởng dễ mà thật khó trả lời và rất nhiều cán bộ đào tạo phải né tránh”, ông kể.

de-an-ngoai-ngu-gan-9400-ty-sau-8-nam-lam-duoc-nhung-gi-1

Lãnh đạo nhiều Sở Giáo dục cho rằng điều kiện vùng miền khác nhau nên khi triển khai đề án không thể “dàn hàng ngang mà tiến”. Ảnh: Ngọc Thành.

Ông Trí đánh giá, trong việc bồi dưỡng giáo viên các đơn vị chưa thật sự chủ động vào cuộc. Đa số giáo viên, đơn vị trường phổ thông và cả phòng giáo dục đều có tâm lý ỷ lại, trông chờ vào lớp bồi dưỡng do Sở và Bộ tổ chức. Đề án đặt mục tiêu đến năm 2025 toàn bộ giáo viên đạt chuẩn có phù hợp với thực tế và khoa học hay không là vấn đề phải bàn kỹ.

TS Đỗ Tuấn Minh, Hiệu trưởng Đại học Ngoại ngữ (Đại học Quốc gia Hà Nội), cho rằng việc bồi dưỡng giáo viên ngoại ngữ được ưu tiên số 1, nhưng phải quanh năm, không thể chỉ diễn ra vào dịp hè và mang tính chất thời vụ. Hiện nay, việc bồi dưỡng còn ngắn, chỉ được tổ chức một lần cho đến khi giáo viên đạt chuẩn là kết thúc. Đôi khi, các cơ sở chỉ làm cho xong mà thiếu đi những hoạt động sau bồi dưỡng để giáo viên áp dụng.

Giám đốc Sở Giáo dục Hải Phòng Vũ Văn Trà đánh giá, việc học tiếng Anh hiện nay vẫn loay hoay ở hai kỹ năng là đọc, viết và chủ yếu phục vụ cho mục đích thi chứ chưa thực sự ứng dụng cao trong thực tiễn. Nhiều người bằng nọ, chứng chỉ kia nhưng đi dự hội thảo, tiếp xúc với người nước ngoài không dám nói. Việc đánh giá năng lực học sinh cũng mới dừng lại ở kỳ thi THPT quốc gia. Theo ông Trà, dạy tiếng Anh phải theo phương châm “Dạy đến đâu, dùng được đến đấy”.

Hiện, chưa có khảo sát cụ thể về năng lực người học, song thạc sĩ Nguyễn Thị Kim Phượng, Phó trưởng khoa Ngoại ngữ, Đại học Tây Nguyên cho biết, ngoài lớp học thì môi trường thực hành ngoại ngữ của sinh viên ở đây hầu như không có. Trong số sinh viên còn nợ học phần tốt nghiệp thì tới 79% không đạt chuẩn đầu ra về ngoại ngữ. “Con số trên nói được rất nhiều về năng lực người học ở cấp học hiện tại”, bà nói.

Theo bà Phượng, hiện khu vực Tây Nguyên rất thiếu giáo viên chuyên ngữ, chuyên ngành. Gần 40 năm qua, trường mới có một giảng viên ngoại ngữ là tình nguyện viên nước ngoài và mới kết thúc chương trình làm việc 9 tháng tại trường. Chưa kể, chương trình đào tạo giáo viên phổ thông đều chưa được xây dựng và triển khai. Tiếng Anh vẫn là môn tự chọn trong thi tốt nghiệp dẫn đến tỷ lệ học sinh chọn thi rất thấp.

Đề án giai đoạn 2016-2020 đưa lộ trình đạt chuẩn đối với giáo viên tiếng Anh các cấp học phổ thông quy định theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam. Năm 2016 là 45% giáo viên tiểu học, 55% giáo viên trung học cơ sở, 65% giáo viên THPT. Từ năm 2017-2019, tỷ lệ đạt chuẩn mỗi năm tăng thêm 10% đối với giáo viên các bậc học. Mục tiêu năm 2020 đạt chuẩn 100% giáo viên các bậc học. Đối với giảng viên đại học, cao đẳng, đề án đưa ra lộ trình năm 2018 phải đạt chuẩn 100%.

Đặc biệt, trong lộ trình triển khai dạy và học ngoại ngữ mới trong các cơ sở giáo dục phổ thông, Bộ Giáo dục đưa ra mục tiêu thí điểm dạy tiếng Nga, tiếng Trung, tiếng Nhật như ngoại ngữ 1 và tiếng Pháp, tiếng Hàn, tiếng Đức như ngoại ngữ 2. Nhiều ý kiến băn khoăn “Dạy tiếng Anh còn chưa tốt thì đưa thêm các ngoại ngữ khác vào chương trình liệu có ổn?”.

Lãnh đạo địa phương cho rằng, điều kiện mỗi vùng miền khác nhau, nếu cứ “dàn hàng ngang mà tiến” như trước thì đề án sẽ gặp khó khăn và đề xuất Bộ nên định hướng dạy và học ngoại ngữ phù hợp với điều kiện vùng miền, mở rộng khung, chuẩn quy định để tăng sự lựa chọn cho các tỉnh thành.

6 nhiệm vụ của Đề án dạy và học ngoại ngữ giai đoạn 2016-2020:

– Nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ theo chương trình 7 năm hiện hành (từ lớp 6 đến hết lớp 12); triển khai chương trình tiếng Anh mới của giáo dục phổ thông, đến năm học 2020-2021, 100% học sinh lớp 3 tiểu học, 70% học sinh 6 THCS và 60% học sinh lớp 10 THPT được học chương trình mới (10 năm). Đến năm 2025, phổ cập tiếng Anh trong trường phổ thông các cấp.

– Tăng cường môn ngoại ngữ đối với giáo dục nghề nghiệp. Đến năm 2020, 60% học sinh trường trung cấp, 100% sinh viên trường cao đẳng và tới năm 2025 có 90% học sinh trường trung cấp đạt trình độ bậc 3 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc Việt Nam và có thể sử dụng tiếng Anh trong việc làm.

– Nâng cao ngoại ngữ trường chuyên và không chuyên. Đến năm 2018-2019, 100% các đại học triển khai đào tạo chương trình tiếng Anh tăng cường; 100% sinh viên chuyên ngữ tốt nghiệp đạt chuẩn (bậc 5 theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam). Đến năm 2020 70% sinh viên không chuyên ngữ và đến năm 2025, 100% sinh viên không chuyên ngữ đạt chuẩn đầu ra khi tốt nghiệp (bậc 3).

– Đổi mới dạy, học ngoại ngữ trong các cơ sở giáo dục thường xuyên, đến năm 2020, 50% người học đạt chuẩn đầu ra; đến năm 2025, 100% người học đạt chuẩn đầu ra theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam.

– Nâng cao ngoại ngữ cho nguồn nhân lực, đội ngũ cán bộ, viên chức trong các cơ quan nhà nước. Phấn đấu vào năm 2020: 40% cán bộ, công chức, viên chức nói chung có trình độ ngoại ngữ bậc 2 và 20% có trình độ bậc 3. Đến năm 2025, đạt tỷ lệ tương ứng là 60% và 40% .

– Tiếp tục dạy và học các ngoại ngữ khác ngoài tiếng Anh như ngoại ngữ 1 và triển khai thí điểm việc dạy và học ngoại ngữ 2 trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Hoàng Phương

(Nguồn: VNXSPRESS)

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.09.2016

NGƯỜI ĐƯA CHỮ VÀO TÂM HỒN BÈ BẠN

NGƯỜI ĐƯA CHỮ VÀO TÂM HỒN BÈ BẠN

 

dong-ha

ĐÔNG HÀ

 

Thời nay, làm thơ để tự xưng là nhà thơ nghe rất dễ. Nhưng làm thơ để được người đời gọi là nhà thơ lại rất khó. Nhịp sống hiện đại thay đổi khiến con người ta cấp tập hơn, vội vã hơn và cũng nhiều trầm luân hơn nên mỗi khi ngột ngạt, họ lại có xu hướng quay về với thơ ca như một cách giải tỏa nỗi niềm. Người vụng chữ thì đọc thơ người khác, người khéo chữ thì làm chữ ra thơ cho chính mình. Viết cho chính mình dẫu sao cũng dễ dàng hơn, nhưng một khi để chạm đến được trái tim người đọc, để người đọc thấy được chính họ trong những câu thơ, thì không dễ dàng gì.

Vậy mà Ngô Minh đã làm được điều đó, và ông đã được gọi là nhà thơ. Ông là nhà thơ đã đưa được chữ của mình vào tâm hồn bè bạn và người đọc.

Nhà thơ Ngô Minh tên thật là Ngô Minh Khôi, quê làng Thượng Luật, xã Ngư Thủy,huyện Lệ Thủy, Quảng Bình. Lớn lên từ mảnh đất cát gió quê nhà, ông có nhiều kỷ niệm gắn bó thời thơ ấu ở đấy với những nỗi niềm khắc khoải của một đứa trẻ sớm chứng kiến gia cảnh riêng đầy bi kịch. Cha bị xử oan sai trong cuộc cải cách ruộng đất, mẹ một mình gồng gánh tần tảo nuôi đoàn con ăn học nên người. Những năm tháng đó đã khắc ghi trong ông những ám ảnh về thân phận, về cuộc đời. Lớn lên ông tham gia giai đoạn cuối cuộc chiến tranh, cùng đơn vị hành quân vào cửa ngõ Sài gòn giải phóng quê hương. Giai đoạn này trở thành một đoạn đời đáng ghi nhớ trong cuộc đời ông. Sau đó, ông làm báo, sự lăn lộn gắn bó với nghề báo đã giúp ông có cái nhìn trực diện, thẳng thắn với cuộc đời.

Hàng ngàn trang viết đã ra đời dưới cái nhìn sắc sảo của một nhà báo. Bên cạnh đó, hàng ngàn câu thơ vẫn sống mỗi ngày trong tâm hồn ông, vẫn cựa quậy theo nhịp đập trái tim ông để đi đến với bạn đọc. Vì vậy, trong 28 đầu sách đủ thể loại từ truyện ký đến phóng sự, tiểu luận phê bình thì thơ chiếm đến 14 tập.

IMG_8193

Cuối năm 2015, nhà thơ Ngô Minh khiến bạn bè bất ngờ khi ông hoàn tất bản thảo và cho xuất bản bộ sách “Ngô Minh tác phẩm” với 2100 trang gồm 5 tập; tập 1: Thơ; tập 2: Chân dung; tập 3: Ký & Phóng sự; tập 4: Tiểu luận phê bình; tập 5: Phê bình văn chương Ngô Minh. Với một người viết hơn bốn mươi năm cầm bút, để chọn lựa ra một bộ sách như vậy không chỉ là sự bền bỉ cần cù làm việc mà còn là sự dứt khoát với chính bản thân mình. Biết bỏ những cái không đáng có, biết đóng lại những năm tháng sau này trong cuộc đời mình, đó là điều không dễ dàng gì. Nhưng Ngô Minh đã làm và làm xong. Trong lời thưa đầu sách, nhà thơ nói: “Bốn mươi năm qua tôi viết ngày viết đêm, say mê, cuồng nộ. Làm thơ, viết chân dung văn nghệ sỹ, tiểu luận và phê bình thơ, viết truyện ký, viết cả bút ký về ẩm thực Huế, nhưng cơ bản là tâm tình, hồn cốt của tôi đều ở trong thơ. Tôi đã xuất bản 14 tập thơ trữ tình và hơn 14 tập truyện ký, phóng sự, tiểu luận phê bình, sưu tầm biên soạn, nay tuyển chọn lại trong 5 tập là món quà gửi đến độc giả, là sự tổng kết một thời dấn thân sôi nổi”.

Bạn bè quen với một hình ảnh Ngô Minh “cười sần sật” (chữ dùng của nhà văn Nguyễn Quang Lập),  một Ngô Minh la đà với bạn từ sáng đến trưa từ trưa đến tối, một Ngô Minh tận tình với việc nhà người khác như việc nhà mình, một Ngô Minh sôi nổi hứng khởi đọc thơ không biết mệt trong những cuộc thơ… nên khi được cầm bộ sách trên tay, nhiều người ngơ ngác. Làm “tuyển” cho mình cũng là lúc tuyên bố gác kiếm, với một người viết vừa tròn 67 tuổi như vậy có sớm quá chăng? Ông bộc bạch: “Tôi nghĩ mình bây giờ U70 rồi. Những gì trẻ trung, tinh túy đã rút ra hết rồi. Nếu còn sáng tác được cũng chỉ cầm chừng, câu giờ. Họa may có “sự biến đổi gen” nào đấy, tôi mới viết khác đi, mới hay hơn. Nhưng điều đó chắc khó xảy ra. Phải tự biết mình là ai, đứng đâu trong làng văn, tôi nghĩ vậy”. Người cầm bút thường bị ám thị văn mình vợ người, mấy ai biết vị trí của mình trong làng văn mà chọn điểm dừng như thế.

Tôi đọc thơ Ngô Minh từ những ngày đầu bước chân vào đại học, những câu thơ tình của ông đã trở thành lời hay ý đẹp cho tâm hồn tươi trẻ thời ấy. Bài thơ Hoa hồng mưa với những câu thơ đẹp lạ lùng đã ám ảnh tôi về câu chuyện tình nhuốm màu huyền thoại:

ta về Bến Ngự mưa sa

thức cùng tí tách chuyện ba bông hồng

người mưa qua phố mưa buồn

gặp nàng tiên tặng đóa hồng cầm tay

hoa cười lúm nắng gọi say

mắt môi như rượu rót đầy hồn mưa

rồi theo về tận cổng chùa

tóc mưa thăm thẳm gót mưa bềnh bồng

xứ mưa mưa ngập cõi lòng

nàng cùng ba ngọn lửa hồng vút bay…

hoa hồng ơi hoa hồng gai

chuyện tình một đóa trên tay người cầm !

 

Nghe một địa danh đẹp, ai cũng muốn đi. Đến một nơi chốn đẹp, ai cũng đôi phần luyến lưu về nó. Nhưng để làm được những vần thơ ở lại cùng địa danh đó, thì hẳn phải là người có một tấm lòng thơ. Bến Ngự của Huế cũng vậy. Chỉ một cái tên nhưng gợi nhớ bao hình ảnh, vừa mang tính khí khái tráng ca của tư chất người chí sĩ yêu nước họ Phan, vừa vấn vương trong một thoáng đường tơ của nhà thơ họ Lưu, lại vừa uyển chuyển mơ hồ trong tiếng nhạc liêu trai của chàng nhạc sĩ tài hoa Dương Thiệu Tước. Vậy, làm người đến sau, ắt hẳn những cây bút hậu thế sẽ lúng túng đến dường bao khi muốn chạm vào địa danh vừa quen thuộc vừa hấp dẫn bởi vẻ đẹp của trầm tích văn hóa qua tháng năm ửng dậy như thế. Và nhà thơ Ngô Minh đã chọn một góc nhìn khéo léo để viết về Bến Ngự, về Huế của riêng ông qua bài thơ Hoa hồng mưa này.

Nhưng sau này, tiếp xúc nhiều với ông, đọc kỹ hơn thơ ông, tôi nhận ra, điều khiến thơ Ngô Minh ở lại với người đọc không phải chỉ ở những câu thơ tình mà đó là những vần thơ về cuộc đời, về thế sự. Ngô Minh làm thơ nhiều, nhưng nhiều nhất và ám ảnh nhất vẫn là những câu thơ về quê hương, về làng Thượng Luật của ông. Kí ức về một thời khốn khó, cực khổ luôn hiện lên qua những câu thơ buồn khắc khoải. Trong bài thơ Nhớ mạ, ông như trẻ nhỏ ngồi lại hiên nhà, chờ ngóng bước chân của người mẹ tần tảo với nắng mưa. Nhưng nhớ mạ, chờ mạ, để rồi khi mạ mất đi, ông thốt lên: “con về giã cối trầu cay/ như giã buồn đau cô quạnh” thì tình cảm ấy quá sức sâu nồng, day dứt trong cuộc đời của đứa con nhạy cảm một mình trong cuộc sống mồ côi.

Người ta làm thơ để than thở nỗi niềm, nhà thơ Ngô Minh đôi lúc cũng mượn câu thơ để thở than cho nhẹ nỗi. Như khi đi trên tàu ra Côn Đảo vào tháng 4/2014, ông viết: “Sống sao khó quá người ơi/ Ra đường sợ nạn, nói chơi sợ phiền” (Lênh đênh) thì quả thật đáng rùng mình. Phải trải nghiệm lắm, trần ai lắm, thị phi lắm, tai bay vạ gió lắm…người viết mới thốt lên như vậy. Tính Ngô Minh hiền lành, với bạn bè, con cháu bao giờ cũng cười hềnh hệch, rượu vào thì say tít mù, cười sần sật nghiêng ngả cả đường về. Bạn gần đến nhà trải chiếu rượu thâu đêm. Bạn xa đến nhà cũng trải chiếu rượu suốt tháng. Ngôi nhà nhỏ xíu trên dốc Bến Ngự đón tiếp bao tao nhân mặc khách. Thời còn sống, mỗi lần vào Huế nhà thơ Phùng Quán lại đóng đô ở đó. Bạn thơ từ xa về mặc nhiên xem đó là nơi tá túc. Ngay cả những nhà thơ ở Huế như Mai Văn Hoan, Nguyễn Trọng Tạo…cũng thường tụ tập lại đó trong những đêm thơ đêm rượu bất tận không có điểm dừng, chỉ khi nào say thì lăn ra ngủ, tỉnh lại kéo nhau lang thang xuống phố cho hết cơn say thơ  mới chịu về. Vậy mà cũng có lúc nhà thơ phải thốt lên sống sao khó quá, nghe sao cay đắng chát chua ngậm ngùi.

Nhưng vượt qua tất cả, bằng cái nhìn hồn nhiên của một tâm hồn nhạy cảm, Ngô Minh vẫn tha thiết sống với đời, với chữ nghĩa văn chương. Trải qua những cơn đau của mình, ông lại càng gắn bó với con chữ hơn. Ông viết báo, viết tiểu luận phê bình, viết ký sự… và hơn cả, vẫn làm thơ, vẫn chơi với bạn nồng nàn như thuở còn hai mươi tuổi. Ngôi nhà nhỏ 11/73- Phan Bội Châu dưới dốc Bến Ngự dẫu đã được làm lại, cao rộng hơn, vẫn không

đủ chỗ chứa cho mỗi lần họp bạn. Người vợ hiền nhỏ nhắn năm xưa giờ tóc đã điểm bạc, tay bồng cháu tay vẫn sắp đặt mâm rượu cho chồng tiếp bạn nồng hậu như xưa. Nhìn ngắm cảnh này, tôi lại nhớ câu thơ hôm nào ông viết : “Cay đắng trong veo, nồng nàn cũng trong veo/ Trong veo câu thơ thương người biết khóc”. Cuộc sống luôn có nhiều bất trắc, con người phải chịu sự va đập của nó. Nhưng cái tâm trong veo sẽ giúp họ nhìn đời hồn hậu hơn. Tất nhiên, cũng sẽ sống đẹp hơn nhờ sự hồn hậu từ tâm đó.

Đặc biệt, cõi thơ Ngô Minh luôn dành sự nâng niu trân trọng cho mảnh đất Thượng Luật của ông. Những câu thơ chan chứa tình đã nuôi nấng tâm hồn ông để ông có được một Ngô Minh-thơ hôm nay luôn là đề tài day trở trong ý niệm sáng tác.

Như tôi

Đứa con của cát

Mắt quen mở ngang tầm gió sắc

Để nhận trong mắt biển một chân trời

Kết tinh thành hạt muối của hồn tôi.

Quê hương trong thơ ông là con đò, là bụi cát, là con đường dưới hàng dương quen thuộc, là nơi “mạ bọc tôi trong vạt áo đẫm mồ hôi/ và dính đầy bụi cát/ đôi dép mạ đi là manh ván hẹp/ từ sạp thuyền đi biển của cha”. Tất cả hiện lên giản dị đơn sơ đến mộc mạc. Nên đừng tìm trong thơ ông những mỹ từ. Cái đẹp thơ ông hiện lên ở cái tình hồn hậu bằng câu chữ rất thật, đơn giản và quê mùa. Nhưng cũng chính cái quê mùa ấy đã làm nên hồn thơ Ngô Minh. Cũng chính bằng cái quê mùa ấy, Ngô Minh đã đưa được thơ mình đến với người đọc.

Như khi cư xử với bè bạn, với người đời, ông cũng đem cái tình thật thà ra để sống. Vì vậy những khi hoạn nạn ốm đau, những khi chật vật cơm áo, nhà thơ đã được nhận từ bè bạn biết bao ân tình. Bởi đã từng có lúc, ông sống tận tụy với bạn mình, đúng như trong bài Thơ tiễn bạn đi học trường Nguyễn Du:

Cạn túi mươi đồng cạn cốc tiễn nhau

Cay đắng trong veo nồng nàn cũng trong veo…

Thôi bạn đi

Con tàu thơ không có ga dừng!

Mượn ý thơ ông, tôi mong rằng với nhà thơ Ngô Minh, con tàu thơ cũng không có ga dừng, cho dù thơ phù phiếm bọt bèo như cách nói của ông, thì cũng đã từng chở biết bao tình nghĩa trong cuộc sống để bạn bè sống đẹp với nhau. Mà thời nay, sống đẹp với nhau, hay nói như Trịnh Công Sơn, là sống tử tế với nhau không dễ. Nhưng từ con chữ, từ văn chương, từ trang viết, nhà thơ Ngô Minh đã đem tấm lòng tốt ra đãi bạn bè, để từ đó có những câu chuyện tình bạn, tình đời nồng hậu thì có nghĩa nhà thơ đã làm được điều có ý nghĩa lớn trong cuộc đời mình. Âu đó cũng là một cách sống đẹp.

 

                                                                                   Huế, 5/1/2016

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.09.2016

NHỮNG KÝ ỨC KHÔNG THỂ NÀO QUÊN

NHỮNG KÝ ỨC KHÔNG THỂ NÀO QUÊN

ANH NGỌC
Nhận được lời mời của Ban biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội viết bài cho dịp kỉ niệm 60 năm ngày thành lập Tạp chí, tôi nghĩ khá lung.

Nhà thơ Anh Ngọc

Tôi đã sống và làm việc dưới mái nhà số 4 Lý Nam Đế từ tháng 9 năm 1979 đến tận ngày về hưu, tháng 3 năm 2008, tính chi li là hai mươi tám năm rưỡi, chiếm trọn tuổi trung niên và tuổi “cận già”… Có biết bao nhiêu chuyện buồn vui, bao nhiêu kỉ niệm khó quên… nhưng biết rằng trong một bài báo nhỏ, khó lòng tham lam, nên tôi thử chọn để nhớ lại mấy kỉ niệm thuộc loại trung tính, tức là nửa buồn nửa vui, hoặc trong vui có buồn, trong buồn có vui…

Kỉ niệm đầu tiên bắt đầu vào mùa hè năm 1967, mười hai năm trước khi tôi gia nhập gia đình nhà số 4. Còn nhớ, lúc đang dạy tại một trường trung cấp ở Thanh Hóa, nhân dự trại sáng tác văn học của tỉnh, tôi xin đi thực tế ở trận địa Hàm Rồng mấy tuần để lấy tư liệu sáng tác. Câu chuyện này tôi đã kể mấy lần, xin không nói lại nữa, chỉ xin kể lại đoạn cuối như vầy: Với tình yêu và sự cảm phục các chiến sĩ pháo cao xạ bảo vệ cầu Hàm Rồng đóng trận địa trên cao điểm 54, tức đồi Ba Cây Thông, ở ngay bờ nam cầu Hàm Rồng, tôi đã sáng tác bài thơ nhan đề là Cao điểm. Cả bài thơ đầy khí thế anh hùng và lạc quan, nhưng từ quan sát trực giác và nâng lên khái quát về cái lõi của hiện tượng, tôi đã kết bài thơ bằng bốn câu:
Vậy mà sau những giờ chiến đấu
Trận địa xa nhìn như bãi đất
vỡ hoang
Những nòng pháo ghếch nghiêng
như cán cuốc
Đang dở buổi gieo trồng trên
cao điểm của thời gian

Các bạn đồng nghiệp ở Thanh Hóa đã in bài này vào tờ tập san văn nghệ của tỉnh, còn in trong cả một cuốn sách nhỏ chọn lọc toàn thơ về Hàm Rồng và lấy tên bài thơ của tôi đặt nhan đề cho cuốn sách. Chưa kịp vui thì hay tin “trên tỉnh” phê phán bốn câu thơ trên là “hạ thấp, tầm thường hóa hình ảnh oai hùng của Hàm Rồng” và yêu cầu loại bỏ bài thơ thì mới cho hai ấn phẩm trên phát hành! Lúc ấy tôi đã ra Bắc và nhận được tin buồn của anh em nhắn ra, cũng ngán ngẩm. Nhưng may thay, cùng lúc gửi cho Thanh Hóa, tôi cũng gửi bài này cho Tạp chí Văn nghệ Quân đội và gần như cùng lúc đó, tôi nhận được thư nhà thơ Xuân Sách báo tin bài thơ sẽ in trên tạp chí và đừng gửi chỗ khác nữa. Còn hơn cả phép màu, vài hôm sau các bạn Thanh Hóa tin ra là nhờ Văn nghệ Quân đội, Tạp chí của lực lượng vũ trang nhân dân, Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam đã in trọn vẹn bài thơ này nên các “bố” Thanh Hóa đành gật cho phát hành…

Kỉ niệm thứ hai liên quan đến nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh và người nhạc sĩ tôi vô cùng hâm mộ: Trịnh Công Sơn. Còn nhớ, một hôm anh Cảnh gọi điện cho tôi, bảo đang ngồi tổng duyệt một chương trình biểu diễn tập thể ở sân Mỹ Đình (anh Cảnh vốn là chuyên gia viết kịch bản và lời thuyết minh cho các sự kiện kiểu này). Anh Cảnh nói đang có người phàn nàn với mình rằng tại sao trong đội ngũ văn nghệ sĩ quân đội lại có tay ca ngợi Trịnh Công Sơn thế không biết. Tôi liền hỏi: “Thế anh trả lời ông ta ra sao?”. Anh Cảnh đáp: “Tớ nói với ông ta là… là… là… “tôi cũng y như thế đấy””… Và phá lên cười.  Tôi cũng không nhịn được, ôm điện thoại mà cười. Sống ở đời mà gặp được những sự đồng thanh, đồng khí như thế há lại chẳng sướng lắm sao! Giờ anh Phạm Ngọc Cảnh đã về giời rồi. Cầu chúc anh linh của anh thanh thản phiêu du trên cõi vĩnh hằng và tiếp tục cười trên đó!

Ngay từ cuộc họp đầu tiên vào hàng “màn chào hỏi” ở Văn nghệ Quân đội, trong khí thế “tiền đổi mới” khá nóng bỏng lúc ấy, tôi đã phát biểu khá táo tợn về sự phải thay đổi trong cách viết, hứng lên tôi còn đọc cả một đoạn trích trong trường ca Điệp khúc vô danh mình đang viết, đoạn về cải cách ruộng đất. Sau khi tôi nói, có nhà văn không đồng tình nhưng có nhà văn tỏ ra quý tôi từ đấy. Một hôm, nhà văn Nguyễn Minh Châu vào phòng tôi chơi và kể rằng có người lên tiếng về bài thơ Thơ mùa xuân đọc lại giữa mùa thu của tôi, cho rằng là tôi sao lại viết lách toàn giọng buồn bã, tiêu cực thế nhỉ. Anh Châu kể chính anh ấy đã phải thanh minh cho tôi bằng cách đưa cho mọi người xem dòng chú thích ở dưới bài thơ – “QYV 103 ngày…”, đoạn bảo: “Nó làm khi nằm viện thì buồn là đương nhiên rồi!”. Lí lẽ thuyết phục thế ai bắt bẻ được! Không có anh, chắc bài thơ của tôi đã bị trên gác lại. Giờ anh Châu cũng đã về giời lâu lắm rồi! Cầu chúc anh linh anh thanh thản phiêu du trên cõi vĩnh hằng!

Lại nhớ vào khoảng cuối năm 2006, nước ta có tổ chức hội nghị thượng đỉnh APEC. Nhà văn Khuất Quang Thụy, khi đó là Phó Tổng biên tập, đặt hàng tôi viết một bài thuộc loại cao đàm khoát luận về công cuộc hội nhập của nước ta. Tôi nhận lời và viết ngay. Thế là bài già kí, non tùy bút có nhan đề Trong đại gia đình nhân loại ra đời, đăng số Tết của tạp chí phát hành đầu năm 2007. Cả cơ quan chẳng thấy ai nói gì, cả khen lẫn chê. Nhưng chỉ ít lâu sau, một hôm anh Thụy tìm đưa cho tôi cái thư dày cộp của một độc giả có ý kiến không đồng tình về bài viết của tôi. Anh Thụy cười bảo, chính một thủ trưởng Tổng cục Chính trị đưa cái thư này cho anh ấy kèm theo lời nhận xét “Viết thế này thì chết con người ta rồi còn gì” và cụ ấy tịnh không nói gì thêm. Chỉ riêng động tác của thủ trưởng Tổng cục Chính trị trao thư cho thủ trưởng Tạp chí và thủ trưởng Tạp chí lại trao thư cho tôi để đọc cho vui đã là một thái độ thông cảm không lời với tôi rồi… Tôi vô cùng cám ơn về điều đó và về nhà mở thư ra đọc càng cám ơn bội phần, vì nếu ở một cơ quan nào đó, chỉ cần e sợ ý kiến của dư luận, là các đồng chí phụ trách ít ra cũng nhắc nhở hoặc phê bình một người viết như tôi.

Qua một vài kỉ niệm nhỏ liên quan đến những “tai nạn” nghề nghiệp ở trên, thiết nghĩ cũng chẳng cần nói gì thêm để cho bạn đọc hiểu lí do vì sao tôi yêu Tạp chí Văn nghệ Quân đội – “Hội Nhà văn thứ hai” của bao nhiêu nhà văn nước Việt – đến thế nào rồi chứ!

(Nguồn: Tạp chí VNQĐ)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.09.2016

Có một sự thật khác ở Cà Ná

Có một sự thật khác ở Cà Ná

 

Mai Quốc Ấn
Có một sự thật khác đã diễn ra tại Cà Ná, Phước Diêm – nơi dự kiến triển khai dự án thép Hoa Sen Cà Ná.
Văn bản số 981 về việc thông tin tuyên truyền về dự án thép Hoa Sen Cà Ná của Sở Thông tin truyền thông Ninh Thuận ra ngày 15.9.2016. Đây là văn bản nhằm “để góp phần tạo sự đồng thuận của nhân dân địa phương đối với việc triển khai dự án Khu liên hợp thép Hoa Sen Cà Ná trong thời gian tới”.
Tuy nhiên, có một sự thật khác đã diễn ra tại Cà Ná, Phước Diêm- nơi dự kiến triển khai dự án thép Hoa Sen Cà Ná.
Dân phản đối thép, chính quyền làm ngơ
Phóng viên đã đến gặp người dân tại hai xã Cà Ná, Phước Diêm thuộc huyện Thuận Nam, Ninh Thuận để xem họ có đồng thuận với dự án thép Hoa Sen Cà Ná hay không. Đáp án là có, nhưng…
h1
Chợ cá Cà Ná vẫn còn hoạt động nhưng vẫn còn đó nỗi lo về dự án thép. Ảnh: báo DV
“Chỉ có những người ăn không ngồi rồi mới mong dự án thép để có tiền đền bù đất. Đất ở đây từ khi có dự án làm muối thì đâu trồng được cây cối nên đâu làm được gì. Những người đó sung sướng thì chúng tôi đau khổ. Chúng tôi sống bằng nghề biển nên mong các ngành các cấp đừng cho tập đoàn Hoa Sen về làm thép ở đây!”- Bà Nguyễn Thị Răng, một phụ nữ sống tại thôn Lạc Nghiệp, xã Cà Ná cho biết.
Người dân nơi đây cũng nói rằng cha mẹ họ đã dạy con qua nhiều đời nay. “Có cá mới sống, không cá là chết!”
Bà Phạm Thị Mùi ở thôn Lạc Tân 2, xã Phước Diêm nói bà xem các tác hại của Formosa và rất lo lắng khi nghe tin tập đoàn Hoa Sen làm thép. Bà nói: “Chúng tôi chọn cá, chọn nước chứ không chọn thép. Dân chúng tôi không muốn thép! Chúng tôi cầu mong chính phủ để cho chúng tôi có cá để đánh bắt, để trả nợ ngân hàng (vay đóng tàu-PV), cho con cháu chúng tôi được sống yên ổn.”
Nhiều người dân Phước Diêm, Cà Ná cho biết việc phản đối làm dự án thép Cà Ná là việc chắn chắn họ sẽ làm. Vào năm 2008, khi dự án thép Vinashin- Lion (cũng dự định đặt tại Phước Diêm) thì người dân cũng đã rầm rộ phản đối.
Và có một điều rất kỳ lạ là người dân hai xã Cà Ná, Phước Diêm- nơi mà cả tập đoàn Hoa Sen và tỉnh Ninh Thuận đang dự kiến làm dự án thép lại chẳng nhận được thông tin gì. Khoảng 30 người dân mà phóng viên gặp đều khẳng định chính quyền xã không thông báo gì cho họ dù dân hai xã đã ba lần kéo lên trụ sở để thắc mắc. Dân muốn lên huyện Thuận Nam hay vào Phan Rang để hỏi UBND tỉnh nhưng xã không cho.
“Cá!”
Ngư dân Nguyễn Dắn, ngư dân lâu năm tại địa phương nói: “Tôi mong chính quyền Ninh Thuận và Chính phủ phải cứng rắn với dự án thép. Nơi đây chỉ có nắng và gió để làm muối, đến mùa khô hạn thì nước không đủ cho bà con dùng và cứu hạn thì tại sao lại ưu tiên nước cho dự án thép? Tôi phản đối dự án thép vì không chỉ cho bản thân mình, cho bà con Cà Ná, Phước Diêm mà còn cho đời con, đời cháu chúng tôi!”
Đại diện gia đình có truyền thống làm nước mắm 50 năm, ông Lê Lâm dẫn phóng viên đến xem xưởng nước mắm đang đóng cửa của mình. Xưởng phủ một lớp bụi dày, các hầm ủ mắm cạn trơ, máng nhện đóng đầy khắp nơi. “Từ năm 2010 đến nay kiếm cá cơm, cá nục khó hơn rất nhiều, giá cá làm nước mắm tăng cao quá sức chịu đựng của tôi. Nay nếu thêm tập đoàn Hoa Sen về làm thép thì tôi nghĩ chỉ còn có cách ăn muối mà sống.”- ông Lê Lâm nói.
Ông Huỳnh Hùng Dũng, một chủ ghe nhiều đời đi biển thì cho rằng đời sống của người dân nơi đây gắn bó, sinh tồn cùng với biển. Ông Dũng nói chính ông cũng đã nghe về câu chuyện Formosa nên không mong có dự án thép nào xuất hiện tại quê hương mình.
Để kiểm chứng lần nữa, phóng viên đã đến cảng cá Cà Ná khi nơi này đang tấp nập thuyền ghe chuyển cá vào bờ và hỏi rất nhiều người có mặt tại đó cùng một câu: “Vậy cuối cùng bà con chọn cá hay chọn thép?”.
Tất cả đều đáp lớn: “Cá!”
( THeo Dân Việt)

LIỆU TẬP CẬN BÌNH CÓ DÁM CHUYỂN SANG CHẾ ĐỘ TỔNG THỐNG HAY KHÔNG?

Tự Minh


Tập Bình

Từ đầu năm nay có nhiều phân tích về việc ông Tập Cận Bình có giải tán chế độ Ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) và chuyển sang chế độ tổng thống hay không. Các nhà chuyên môn về thể chế trong đảng cũng nói về chế độ tổng thống.

Tuy nhiên, nếu thực hiện chế độ tổng thống thì sẽ đụng chạm đến nền tảng cơ sở của chế độ độc đảng của ĐCSTQ. Trong khi phe cánh của cựu lãnh đạo Giang Trạch Dân vốn ăn bám rất nhiều vào quyền lực của đảng, đã liên tục thể hiện lập trường phản đối việc này.
Tháng 5 năm nay, khi phát biểu tại Trường Đảng Trung ương của ĐCSTQ, nhân vật thứ 3 trong đảng thuộc phe ông Giang Trạch Dân là Thường ủy viên Bộ Chính trị Trương Đức Giang đã có bài phát biểu, trực tiếp phản đối việc tiến hành chế độ tổng thống. Đồng thời, nhân vật cùng phe, đứng thứ 5 trong đảng là Thường ủy viên Lưu Vân Sơn, cũng thắt chặt kiểm soát truyền thông và ngôn luận bàn về chế độ tổng thống, thể hiện thái độ chống lại ông Tập Cận Bình.

Chuyên gia thể chế trong đảng bàn về chế độ tổng thống

Tháng 3 năm nay, trong một buổi hội kiến với phóng viên, giáo sư Học viện Hành chính Quốc gia Uông Ngọc Khải lần đầu tiên bàn về việc Trung Quốc nên thay đổi từ “chế độ chủ tịch quốc gia” sang “chế độ tổng thống”. Vì hiện nay Trung Quốc đang thực thi chế độ độc đảng, hoàn toàn không gần gũi với chế độ tổng thống nên cần phải thay đổi toàn diện chế độ chính trị.
Sau đó vào tháng 7, ông Uông Ngọc Khải lại một lần nữa bàn về chế độ tổng thống. Lần này, thậm chí còn nói rằng: “Trước khi chuyển sang chế độ tổng thống, cần thiết phải kết thúc chế độ ủy ban thường vụ”.
Phát ngôn của ông Uông Ngọc Khải ngay lập tức được báo chí Trung Quốc, Hồng Kông và hải ngoại đăng tải. Xét theo thông lệ ở Trung Quốc, nếu không có sự cho phép của ông Tập Cận Bình thì những phát ngôn của ông Uông Ngọc Khải không thể được truyền thông một cách công khai như vậy. Do đó, có khả năng rất cao ông Tập Cận Bình đã cho phép ông Uông Ngọc khải nói về “chế độ tổng thống”.

Hội nghị Bắc Đới Hà thảo luận về việc phế bỏ chế độ ủy ban thường vụ?

Hội nghị Bắc Đới Hà của các nhân vật lãnh đạo của ĐCSTQ họp mỗi năm một lần vào tháng 7 hoặc 8. Tháng 5 năm nay, trước khi hội nghị diễn ra, tạp chí Asian Week có trụ sở tại Hồng Kông đưa tin, Hội nghị Bắc Đới Hà năm nay sẽ thảo luận 3 vấn đề: (1) Phế bỏ chế độ ủy ban thường vụ, (2) Luật ‘7 lên 8 xuống’ (trong kỳ đại hội đảng, thường ủy viên 67 trở xuống được giữ lại, 68 trở lên sẽ phải thôi nhiệm), (3) nhân sự cho thế hệ kế cận của ĐCSTQ.
Có phân tích cho rằng, nếu ông Tập Cận Bình có thể bố trí đủ nhân sự thân cận sau Hội nghị Bắc Đới Hà, thì vào phiên thứ 6 Đại hội Đảng Toàn quốc mùa thu năm nay, hay Đại hội 19 sẽ diễn ra vào năm sau, ông Tập sẽ đưa ra “một quyết định có tính bất ngờ”.
Đe dọa sử dụng Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc để ‘bẻ nanh’ Tập Cận Bình
Ngày 23/5, Thường ủy viên Trương Đức Giang, tại Trường Đảng Trung ương của ĐCSTQ, khi bàn về Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc đã nói “Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc có khả năng giám sát Chủ tịch quốc gia”, thể hiện thái độ kiềm tỏa ông Tập Cận Bình.
Mặc dù để thực hiện “chế độ dân chủ” là không thể thiếu Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc, nhưng ông Trương Đức Giang đã thể hiện rõ ý đồ lợi dụng việc vẫn còn một lượng lớn nhân sự trong đảng thuộc phe cánh của ông Giang Trạch Dân, để mượn Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc mà soán quyền lãnh đạo của ông Tập Cận Bình. Tờ Động Hướng của Hồng Kông đã phân tích việc này trong số báo tháng 6/2016.
Việc phe cánh của ông Giang Trạch Dân trực tiếp khiêu chiến với ông Tập Cận Bình về vấn đề chế độ tổng thống bắt đầu từ tháng 9/2014 đến nay. Khi đó, cấp dưới của ông Trương Đức Giang là Lý Chân Minh đã nói: “Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc có thể bãi miễn chức chủ tịch quốc gia”. Đây là phát ngôn khiêu chiến trực tiếp đối với ông Tập Cận Bình.

Tập Cận Bình dùng truyền thông để trả đòn

Truyền thông nhà nước Trung Quốc, tờ “Nhân Dân Nhật Báo” số ngày 16/6 năm nay đăng bài viết “Lịch sử hình thành chủ yếu của trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc”. Theo bài viết, từ năm 1934 đến năm 1956, trong 22 năm, không có Ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị mà Bí thư Trung ương Đảng giữ quyền chỉ đạo. Bài viết này muốn nói rằng chế độ ủy ban thường vụ là không cần thiết. Đây là đòn phản kích của phe ông Tập Cận Bình với các phát ngôn của ông Trương Đức Giang.

Phe Giang Trạch Dân kiểm soát ngôn luận

Ngày 13/7, tạp chí của viện nghiên cứu nghệ thuật Trung Quốc “Viêm Hoàng Xuân Thu” bị tước quyền quản lý bởi nhân vật số 5 trong ĐCSTQ, Thường ủy viên Lưu Vân Sơn (thuộc phe Giang). Tờ tạp chí này được biết đến là một tạp chí chuyên đăng các tin dự báo phân tích định hướng tương lai, trước kia vào các thời điểm nhạy cảm của chính trị Trung Quốc đã từng đăng các bài ủng hộ ông Hồ Diệu Bang, Triệu Tử Dương v.v. Theo một người nắm nhiều thông tin về giới lãnh đạo Trung Quốc cho biết, ông Lưu Vân Sơn sử dụng Tổng cục Quản lý Truyền thông và Xuất bản Quốc gia để ép giám đốc và tổng biên tập của tạp chí này từ chức, sau đó thay thế người của chính quyền Trung Quốc vào. Ý đồ của ông ta là xiết chặt các ngôn luận có khả năng bàn về các vấn đề “nhạy cảm” để chuẩn bị chống đối với ông Tập Cận Bình.
Ngày 18 và 19 tháng 7 năm nay, tại nhiều tỉnh thành ở Trung Quốc đồng loạt xuất hiện nhiều sự kiện “quần chúng ái quốc” một cách dồn dập. Các sự kiện này lẽ ra là do quần chúng yêu nước nhiệt tình tự phát, tuy nhiên sau đó cộng đồng mạng tiết lộ sự thật về những người dẫn đầu, tổ chức các sự kiện này, các trí thức hải ngoại cũng bình luận về sự bất bình thường như sau:
• Bình luận viên cao cấp của Viện khoa học xã hội Trung Quốc, Chu Kiến Đông trên blog kêu gọi toàn dân ngày thứ 7 và Chủ Nhật tẩy chay KFC. Về sau, trên mạng lộ ra việc ông Chu Kiến Đông nhận được chỉ đạo của Đoàn Thanh niên Cộng sản Trung Quốc và Bộ Tuyên truyền.
• Phúc Kiến Nhật Báo đăng bài kêu gọi chống Mỹ.
• Ngày 18/7, giám đốc một xí nghiệp tại Hàng Châu, Chiết Giang là Trương Vân Long, đăng một bài “thông tri ái quốc”. Thông tri này được truyền đi hơn 10.000 lần, số lượng đọc hơn 1 triệu lượt. Thông tri này xuất hiện đúng lúc, như đổ thêm dầu vào lửa cho các hoạt động chống Mỹ.
• Chiều ngày 18/7, cục Công an và cục Giao thông huyện Tứ Dương tỉnh Giang Tô đã tổ chức cuộc tuần hành chống Mỹ và chống Nhật. Đội cảnh sát giao thông đã đặc biệt hướng dẫn lộ tuyến của cuộc tuần hành, cũng như cho người giả trang xen lẫn vào quần chúng để chỉ huy cuộc tuần hành thị huy.
Nhà bình luận chính trị Trung Quốc là Lưu Cang ở hải ngoại nhận định, việc có thể đồng thời khống chế truyền thông và chính quyền để tiến hành hàng loạt sự kiện diễu hành thị huy nhắm vào cùng một đối tượng tại nhiều nơi, nhất định cần có bàn tay chỉ đạo phối hợp. Người có khả năng như vậy, không ai khác ngoài ông Lưu Vân Sơn.
Mục đích của ông ta là dùng dư luận để gây sức ép lên các tiến trình hành động của phe ông Tập Cận Bình, ở mức độ nhỏ có thể làm trì hoãn các kế hoạch cải cách của Tập, bùng phát lên có thể tận dụng để “đảo chính”.

Phe Tập Cận Bình cũng sử dụng truyền thông để phản kích

Ngày 23/6, “Thời Báo Học Tập” của hệ thống Trường Đảng Trung ương ĐCSTQ có đăng bài “Thời đại của Tập Cận Bình” trong đó có viết một câu làm người ta đặc biệt lưu ý: “Lần này chính là lần đại cải cách quyết định vận mệnh của Trung Quốc”. Bài viết có nói rõ, chính quyền ông Tập Cận Bình “có quyết tâm cải cách rất lớn, quy mô rộng khắp, trong lịch sử nhân loại có thể nói là chưa từng thấy”, sẽ cải cách liên quan đến 60 phương diện nhiệm vụ khác nhau, 336 đầu mục chính sách cần cải cách, bao quát các phạm vi từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội cho đến sinh thái, quốc phòng v.v.
Phó thủ tướng Trung Quốc Lưu Diên Đông khi đến thăm Mỹ, cũng giới thiệu về kế hoạch cải cách rộng khắp này.
Ngoại giới từng nhận định, “đại cải cách quyết định vận mệnh của Trung Quốc” có khả năng bao gồm cả việc phế bỏ chế độ Ủy ban Thường vụ, thành lập chế độ tổng thống.

Tâm điểm trong cuộc chiến giữa Giang Trạch Dân và Tập Cận Bình.

Trong bối cảnh trận chiến quyền lực giữa phe Giang Trạch Dân và chính quyền Tập Cận Bình vẫn đang căng thẳng, nổi lên một vấn đề có khả năng quyết định kết quả của cuộc chiến này. Suốt từ năm 1999 đến nay, những người tu Pháp Luân Công tại Trung Quốc vẫn bị bức hại theo nhiều phương thức khác nhau như cưỡng ép lao động cải tạo, kết án tù giam phi pháp, tra tấn về thể chất và tinh thần v.v. Đặc biệt, vấn đề mổ cướp nội tạng, trong đó phần lớn nạn nhân là những người tu Pháp Luân Công, gần đây đã bị cộng đồng quốc tế đặc biệt quan tâm và yêu cầu gấp rút tiến hành điều tra. Tháng 6 năm nay, Hạ Viện Mỹ đã đưa ra Nghị quyết số 343 lên án việc Trung Quốc mổ cướp nội tạng. Vấn đề này cũng được nghị viện châu Âu đặc biệt quan tâm. Suốt từ tháng 4, vấn đề mổ cướp nội tạng diễn ra tại Trung Quốc đã được đưa ra thảo luận. Đến ngày 12/9, Nghị viện châu Âu chính thức đưa ra Tuyên bố số 48 yêu cầu Trung Quốc dừng ngay việc mổ cướp nội tạng và cho phép tiến hành điều tra độc lập.
Đối với vấn đề bức hại Pháp Luân Công, ông Tập Cận Bình vẫn không có phát ngôn nào thể hiện lập trường, không tuyên bố sẽ ngừng bức hại, tuy nhiên cũng không thể hiện ý định tích cực bức hại. Sau khi nhậm chức Chủ tịch Trung Quốc, chính quyền Tập Cận Bình đã bãi bỏ chế độ lao động cải tạo, vốn là một cơ cấu thường xuyên được sử dụng để bức hại người tu Pháp Luân Công. Sau đó, bắt giam nhân vật thuộc phe Giang, Thứ trưởng Bộ Công An Lý Đông Sinh, người có vai trò quan trọng trong việc thiết lập hệ thống chính sách bức hại Pháp Luân Công. Tháng 4, trong một cuộc họp cấp cao trong ĐCSTQ, ông Tập Cận Bình đã phát biểu, nhấn mạnh vào “tự do tín ngưỡng tôn giáo”, thể hiện ý định sẽ giải quyết các vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng đang còn tồn tại.
Tuy nhiên, theo thống kê của trang Minh Huệ, số lượng các trường hợp bị bức hại như bị bắt giam, bị tuyên án phi pháp, bị tra tấn v.v. không có dấu hiệu suy giảm. Các nhà điều tra độc lập cũng đưa ra nhiều phân tích cho thấy việc mổ cướp nội tạng cũng không hề có dấu hiệu ngừng lại, chỉ trở nên càng lúc càng tinh xảo hơn trong việc che giấu.
Ngoại giới nhìn nhận, nếu ông Tập Cận Bình tập hợp đủ lực lượng ủng hộ rồi sử dụng tội “diệt chủng” và “phản nhân loại” để truy cứu ông Giang Trạch Dân và những người có liên quan, có thể trận chiến sẽ hoàn toàn kết thúc. Hiện nay, số người ký tên khởi kiện ông Giang Trạch Dân về các tội này lên Tòa án Tối cao Trung Quốc đã lên đến khoảng 1,5 triệu người.

Chuyên gia nhận định về các cách thức chuyển sang chế độ tổng thống

Trong chương trình “Bình luận thời sự” của Đài tiếng nói Hoa Kỳ VOA, học giả Trung Quốc đang sinh sống tại Mỹ, Ngô Tổ Lai đưa ra một hướng giải quyết để quá độ ôn hòa chính trị Trung Quốc, một cách thức đặc thù nhưng hợp pháp và khả thi. Đó là thông qua danh nghĩa Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc, giải tán ĐCSTQ. Ông nhận định, ông Tập Cận Bình có khả năng đang cân nhắc việc sau khi hết hai nhiệm kỳ giữ chức Tổng Bí thư sẽ chuyển sang giữ chức Chủ tịch Ủy ban Thường vụ của Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc, đồng thời sẽ đem quân quyền giao cho Đại hội Đại biểu Nhân dân. Nếu làm như vậy thì quân đội và quốc gia sẽ thực sự thuộc về nhân dân, và có khả năng giải tán ĐCSTQ một cách hợp pháp.
Trong một lần trả lời phỏng vấn cho một tờ báo hải ngoại, con trai của Thượng tướng lão thành La Thụy Khanh, La Vũ cũng nhận định ông Tập Cận Bình sẽ phát triển theo hướng dân chủ, thay thế chế độ ủy ban thường vụ để tiến hành bầu cử trong ĐCSTQ hoặc bầu cử toàn quốc. ông La Vũ nhận định, vào mùa thu năm sau, tại Đại hội 19, trừ ông Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường, 5 người khác trong Bộ Chính trị sẽ phải thoái vị, như vậy những người có khả năng gây cản trở quá trình cải cách của ông Tập Cận Bình đều sẽ bị rút xuống. Ông La Vũ khẳng định:“Tôi nghĩ rằng chế độ tổng thống là con đường duy nhất của ông Tập Cận Bình, không có lựa chọn khác. Trực tiếp gọi là chế độ tổng thống hay không cũng vậy. Thực chất chính là chế độ tổng thống. Đây cũng là việc từ bỏ khái niệm đảng phái và tuyên bố: Tôi chính là tổng thống của nhân dân.”
Tự Minh
(nguồn: trithucvn.net – theo FB Van Chinh Đinh)

Rùng mình với “chiến tích” nuôi bồ nhí của hàng loạt quan chức TQ

Diệp Anh 

Đất nước láng giềng mà chúng tôi đang nhắc đến chính là Trung Quốc. Có lẽ không ở đâu, dâm quan và tham quan lại nhiều như ở quốc gia này.

Bằng chứng là thỉnh thoảng báo chí Trung Quốc lại có một bài đăng tải, phản ánh sự thật trần trụi, không thể chối cãi của các “quan ông ngã ngựa” – nhóm đối tượng được kết luận là 100% nhận hối lộ và 95% có dính líu đến gái gú.

Sở hữu 140 bồ nhí, “chén” cả mẹ lẫn con gái

Người đầu tiên trong danh sách dài hàng chục tham quan bị truyền thông phanh phui việc nuôi bồ nhí sau khi “ngã ngựa” là Từ Kỳ Huy – người từng giữ trức vụ Giám đốc sở Xây dựng tỉnh Giang Tô, Trung Quốc.

Với số lượng bồ nhí lên đến hơn 140 người, Từ hoàn toàn đủ tư cách để ghi tên mình vào sách kỷ lục thế giới Guiness về hạng mục quan chức “vừa tham vừa dâm”.

Được biết, khi ông ta trong người “không được khỏe”, phải vào bệnh viện hạng sang để truyền dịch, dù một tay bên trái không thể cử động vì đang đặt kim truyền nhưng tay còn lại vẫn đủ khả năng… mở hết cúc áo của nữ y tá xinh đẹp có tên Vương Tú Lệ.

Rùng mình với chiến tích nuôi bồ nhí của hàng loạt quan chức TQ - Ảnh 1.

Từ Kỳ Huy và hai mẹ con Vương Tú Lệ.

Sau khi trở thành tình nhân của Từ Kỳ Huy, Vương đề nghị Từ sắp xếp công việc giúp cô con gái chuẩn bị tốt nghiệp đại học, đồng thời sẵn sàng dâng cả con gái đến trước “miệng hổ”.

Về sau, cô gái đáng thương này trong một năm phải đến bệnh viện phá thai đến 2 lần vì gã đàn ông là bồ của cả hai mẹ con.

Điều khiến người ta “dựng tóc gáy” là, kẻ hoang dâm vô độ như Từ Kỳ Huy không những không che giấu sự vô sỉ của mình mà thậm chí hắn còn lấy đó làm tự hào.

Sau một lần uống rượu, Từ không chỉ huênh hoang trước mặt đám đông rằng mình “bắn một mũi tên trúng hai đích” mà còn hoan hỉ so sánh kỹ năng trên giường của cả hai mẹ con Vương Tú Lệ.

“Săn” gái còn trinh để tăng cường tuổi thọ

Sau Từ là Ngô Thiên Hỷ – nguyên phó chủ nhiệm chính hiệp huyện Bình, tỉnh Hà Nam. Ông ta cũng từng là đại biểu quốc hội Trung Quốc khóa 9.

Theo truyền thông Trung Quốc, nhân vật này sở hữu nguồn tài sản lên đến hàng trăm triệu NDT, được xem là một nhân vật có thể hô mưa gọi gió tại địa phương.

Rùng mình với chiến tích nuôi bồ nhí của hàng loạt quan chức TQ - Ảnh 2.

Một cô bồ nhí của tham quan Trung Quốc.

Mặc dù có đầu óc làm ăn song đây là một kẻ vô đạo đức, có thú vui dâm đãng “săn lùng gái trinh” để giúp hắn… tăng cường tuổi thọ.

Được biết, dâm quan này có một tay chân chuyên chỉ điểm, tìm kiếm “nguồn hàng” cho hắn. Ước tính phải có đến 100 cô gái trẻ đã trở thành “con mồi” trong tay Ngô.

“Bạ đâu xơi đấy”, 107 phụ nữ trở thành “mồi ngon trước miệng hổ”

Trương Nhân Giang – Bí thư thành ủy Thành phố Thiên Môn, tỉnh Hà Bắc cũng không thua kém Ngô Thiên Hỷ. Không chỉ nuôi bồ trong thời gian dài, nhân vật tai to mặt lớn này thậm chí còn “ăn tạp”, bạ đâu “xơi đấy”, bất kể là đi công tác, vi hành đến bất cứ đâu.

Rùng mình với chiến tích nuôi bồ nhí của hàng loạt quan chức TQ - Ảnh 3.

Với dâm quan “ăn tạp” này, thậm chí là gái gọi ông ta cũng “xơi”.

Nguyên tắc “hành sự” của Trương là sai khiến nhân viên của mình “lượn vài vòng quanh phố phường, thấy chỗ nào ‘ngon’ thì đưa hắn đến”.

Từ năm 1989 đến tháng 7/2001 – trước khi bị ngã ngựa, Trương Nhân Giang đã quan hệ xác thịt với 107 phụ nữ, chưa tính đến “chính thất phu nhân”.

Qua tay dâm quan, công việc sẽ được bố trí đâu vào đấy

Từng giữ chức vụ Cục trưởng cục phát thanh truyền hình Trùng Khánh, Trương Tiểu Xuyên không chỉ ham cờ bạc mà còn phong lưu khét tiếng.

Có người từng tố cáo, ngoài số lượng phụ nữ lên đến hơn 30 người trong nội bộ hệ thống phát thành truyền hình từng qua tay Trương, ông ta còn có quan hệ nam nữ bất chính với hàng chục phụ nữ khác bên ngoài, tổng số lượng lên đến con số 70.

Rùng mình với chiến tích nuôi bồ nhí của hàng loạt quan chức TQ - Ảnh 4.

Phàm là bồ nhí của các “quan ông”, cô nào cũng xinh xắn.

Hầu hết những người từng “phục vụ” Trương đều được ông ta cất nhắc lên các vị trí trọng yếu trong ngành. Thậm chí có người không liên quan gì đến ngành truyền hình, vốn chỉ là một y tá cũng được nhân vật này điều lên làm chủ nhiệm phòng văn nghệ của đài truyền hình.

Nuôi đến cả “bà năm”

Đặng Bảo Câu – chủ nhiệm quỹ tín dụng Sa Tỉnh, thành phố Thâm Quyến trong chưa đầy 3 năm đã lạm dụng công quỹ lên đến 230 triệu NDT (tương đương khoảng 800 tỉ đồng).

Không chỉ nuôi “bà hai”, vị quan “không lớn lắm” này còn nuôi cả “bà ba”, “bà tư”, “bà năm”. Được biết số tiền mà Đặng dùng để bao “bà hai” lên đến 3 triệu NDT (tương đương hơn 10 tỉ đồng).

Đãi ngộ dành cho “bà ba”, “bà tư” cũng không kém và tất nhiên, họ chẳng dại gì mà không “tiêu xả láng” số tiền bòn được từ túi của tham quan.

Rùng mình với chiến tích nuôi bồ nhí của hàng loạt quan chức TQ - Ảnh 5.

Chiều bồ nhí hết cỡ.

Cho đến khi Đặng Bảo Câu gặp gỡ “bà năm” Tiểu Thanh, ông ta đã đốt hơn 18 triệu NDT cho cô bồ trẻ trong vòng 800 ngày liên tiếp. Trung bình mỗi ngày số tiền Đặng chi cho Tiểu Thanh là 23.000 NDT (tương đương gần 80 triệu đồng).

Trên đây mới chỉ là vài nhân vật được chúng tôi nhặt ra trong danh sách 100 dâm, tham quan “tiếng xấu để đời” do trang báo mạng Tây Lục (Trung Quốc) thống kê.

Dẫu biết bồ bịch, nuôi tình nhân là chuyện không còn lạ lẫm trong giới quan chức Trung Quốc nhưng trác táng như những “quan ông” nói trên, thật nằm ngoài sự tưởng tượng của dư luận.

( Nguồn: Google)

Những căn nhà sinh thái được xây dựng lấy ý tưởng hoặc dựa vào thiên nhiên, khiến nhiều người phải bất ngờ khi nhìn thấy

 
Nhà hàng Đá (Rock Restaurant) tại Zanzibar (Tanzania) là một trong những nhà hàng nổi tiếng nhất không phải chỉ với thức ăn, phong cảnh thiên nhiên mà còn vị trí độc lạ. Được xây dựng ngay trên 1 tảng đá, nhà hàng chỉ đón khách từ đất liền vào khi thủy triều lên.
 
Nhà Hobbit tại Matamata, New Zealand rất nổi tiếng với người hâm mộ bộ phim “Chúa tể của những chiếc nhẫn”. Nơi này cũng trở thành một điểm du lịch độc đáo.
 
Nhà mái vòm tại Pháp (Dome House)
 
Được sự ủy thác của gia đình nhà leo núi quá cố Luca Vuerich, kiến trúc sư Giovanni Pesamosca đã thiết kế căn nhà gỗ mang tên Luca Vuerich trên đỉnh núi Foronon del Buinz cao hơn 2.500 mét. Căn nhà hoàn toàn miễn phí cho khách vãng lai, nhưng rất hiếm khi có người gõ cửa bước vào.
 
Nhà của đá (House of Stone) nằm tại Fafe, Bồ Đào Nha. Căn nhà được xây dựng từ bốn tảng đá lớn. Dù bề ngoài có vẻ thô sơ, mộc mạc nhưng bên trong nhà lại rất đủ tiện nghi. Ngôi nhà 2 tầng này được xây dựng vào năm 1974.
 
Kiến trúc sư Robert Harvey Oshatz đã tạo ra một tác phẩm nghệ thuật tuyệt vời với ngôi nhà gỗ cây tại Portland, Oregon. Thiết kế ấn tượng này phải mất 7 năm mới xây dựng xong và được hoàn thành vào 2004. Theo KTS, phải đi dạo hết căn nhà mới thấy được sự phức tạp của thiết kế và sự gắn kết của nó với thiên nhiên.
 
Khách sạn Rogner Bad Blumau tại Styria, Áo được Friedensreich Hundertwasser thiết kế. Bản thân khách sạn là một tác phẩm nghệ thuật với mục đích phát triển môi trường sinh thái. Có hàng nghìn cây xanh được gieo trồng và chăm sóc tại khách sạn.
 
Làng Kandovan tại Iran được xây dựng trên những vách đá, hang, tàn tích của núi lửa. Hình thù kỳ dị của những vách đá do chính dung nham mài mòn và người dân nơi đây đã biến nó thành những căn nhà độc đáo.
 
Lấy cảm hứng từ cuốn tiểu thuyết “The Hobbit”, Simon Dale đã xây dựng một ngôi nhà giống thật ở ngoài đời mang tên Hobbit tại Wales. Dù trông nhỏ nhắn nhưng ngôi nhà rất tiện nghi và mang không khí kỳ diệu.
 
Cave House tại Troyes, Pháp trước đây là một mỏ khai thác đá vôi. Người chủ đã khéo léo dựng lên một ngôi nhà tiện nghi và trồng thêm rất nhiều cây ở xung quanh để cải thiện môi trường.
 
Clay Huts tại Arizona là một trong những loại nhà truyền thống rất đặc trưng. Nhà được dựng bằng các thanh gỗ, đắp đất xung quanh và chỉ có 1 cửa ra vào.
 
Nhà có mái làm bằng cỏ tại Ba Lan. Chính mái cỏ này làm giảm nhiệt độ trong nhà từ 30-40%, đóng vai trò như một điều hòa không khí tự nhiên.
 
Ngôi nhà gần mặt nước tại Blagaj và dựa vào vách đá thẳng đứng là một ngôi nhà tuyệt vời, gắn liền với thiên nhiên.
 
Cave Dwellings tại Cappadocia, Thổ Nhĩ Kỳ. Các căn nhà được xây trong cách tảng đá và đào hầm ngầm phía dưới như một cách để người dân nơi đây lẩn trốn kẻ địch trong các cuộc chiến ngày xưa. Hiện tại, vẫn còn có rất nhiều người sống trong các căn nhà bằng đá này.
 
Nhà cây tại Hokuto, Nhật Bản được xây dựng bởi Terunobu Fujimori. Ngôi nhà là nơi tuyệt vời để uống trà và ngắm hoa anh đào tại Nhật Bản./.
( Nguồn: Google)
Đăng bởi: Ngô Minh | 21.09.2016

IMG_8193

ĐỌC BỘ SÁCH ” NGÔ MINH TÁC PHẨM”, TẬP 3:

NGHĨA ĐỊA HOẠN QUAN

 Ngô Minh

 

Về, Huế, đi theo đường lên lăng Tự Đức,  đến làng Dương Xuân, là gặp chùa “ Từ Hiếu”. Đây là một địa chỉ du lịch hấp dẫn của Huế. Ngôi chùa cổ kính này do nhà sư Nhật Định xây dựng 126 năm trước. Chùa nổi tiếng vì ở đây có khu  Nghĩa địa hoạn quan! (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.09.2016

Tản mạn về một ấm trà

Tản mạn về một ấm trà

clip_image002

 

Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

Những buổi ngày xưa vọng nói về,

Hai câu thơ này của Nguyễn Đình Thi có sức lay động dữ dội trong tôi mỗi khi ngồi một mình giữa đêm thanh vắng, nhìn lên bầu trời sao. Nhìn lên trời, song lại nghe rì rầm tiếng đất! Mảnh đất đẫm máu và nước mắt vẫn đang tiếp tục thấm đẫm mồ hôi lam lũ của cả dân tộc đang nhọc nhằn tìm lối thoát khỏi cái bể trầm luân oan nghiệt của một lũ vô lương phản bội xương máu của đồng chí đồng đội, phản bội sự nghiệp ông cha. Sức lay động ấy lớn lao, thẳm sâu trong mênh mông.

Để rồi trong cái thẳm sâu mênh mông đó, tôi riêng dành cho mình một tiếng rì rầm nhỏ nhẹ hơn, lặng lẽ hơn và cũng bé nhỏ hơn nhiều đang lan tỏa trong tâm hồn tôi. Tiếng rì rầm của mẹ tôi những buổi ngày xưa vọng nói về cho riêng tôi. Với tôi, tiếng rì rầm ấy cũng chính là tiếng của quê hương, đất nước như giọt nước mát thanh lọc tâm hồn đang trĩu nặng bởi những uế tạp nhiễu nhương của thời cuộc. Đêm nay, dù trời nhiều mây vầng trăng vẫn không bị che khuất, vì vậy tiếng rì rầm của đêm trung thu năm nao vọng nói về nhắc tôi về một kỷ niệm về mẹ tôi mà tôi đã hẹn trong “Mênh mông thế sự 43” sẽ kể lại.

Ngày 15.9.2016

Rằm Trung Thu Quý Mùi

Tương Lai

clip_image004Phải viết về chuyện uống trà. “Phải”, vì không sao từ chối được khẩn cầu của một người đã dành hết tâm nguyện cho chuyện trà, không viết không được. Thế rồi cứ loay hoay mãi vì tự biết về sự nông cạn của mình trên lĩnh vực tao nhã này.

Tao nhã”, vâng, đúng vậy. Đấy là lời Nguyễn Tuân trong “Ấm trà trong sương sớm” đã in đậm vào ký ức tôi về “Vang bóng một thời”. “Chỉ có người tao nhã, cùng một thanh khí, mới có thể cùng nhau ngồi bên một ấm trà”. Bởi lẽ “trong ấm trà pha ngon, người ta nhận thấy có một mùi thơ và một vị triết lý”. Đây là điều khơi gợi nguồn mạch trong suy tư mà ngòi bút tài hoa của nhà văn gợi lên. Trong mông lung cảm nhận, cái “vị triết lý” ấy lại gợi nhớ một hoài niệm. “Tôi nhớ một ngày thu đã xa” không phải của “sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội” với “những phố dài xao xác hơi may, người ra đi đầu không ngoảnh lại, sau lưng thềm nắng lá rơi đầy” mà nhớ về một ấm trà với mẹ tôi trong một đêm Trung thu tại một làng quê ở Hà Bắc, nơi mẹ tôi sơ tán tránh bom Mỹ ném vào Hà Nội.

Vào buổi ấy, kiếm được ấm trà ngon cũng là chuyện chẳng dễ. Nhưng không hiểu do đâu mẹ tôi có được một gói “Hồng Đào” còn bọc kín trong giấy thiếc, bên ngoài lại vẫn còn nguyên bao bì nhãn hiệu. Nếu tôi nhớ không nhầm thì bao bì “Hồng Đào” có màu phơn phớt hồng với con chữ màu đỏ thắm chỉ đứng sau “Thanh Hương” có màu xanh nhạt nổi lên con chữ màu xanh đậm được phân phối theo diện “bao cấp”.

Mẹ tôi gói bọc rất kỹ để giữ được hương trà không nhiễm phải tạp chất trong ba lô hành lý sơ tán. Sau đó tôi mới biết là mẹ tôi xếp cùng với chiếc ấm trà chèn kỹ trong cái hộp các tông nhỏ. (Chiếc ấm đẹp nhưng không phải là ấm quý kiểu “Thứ nhất Thế Đức gan gà/ Thứ nhì Lưu Bội, thứ ba Mạnh Thần” gì, nhưng với tôi thì vô giá. Vì đó là chiếc ấm của một học trò cũ đem biếu tôi làm kỷ niệm trước khi đi B. Trong lòng tôi vẫn day dứt một lần đến nghĩa trang Quảng Trị để thắp một nén hương cho người học trò yêu quý của tôi). Tôi sợ trẻ con nghịch vỡ trong căn phòng 9m2 nén chặt mấy người nên đem gửi mẹ tôi vì biết bà quý chiếc ấm một thì quý tấm lòng thấy trò tôi mười.

Với bà, uống trà không chỉ là do khát.

Và thế là chuyện ấm trà đêm Trung thu cách nay khoảng bốn mươi năm ở nhà bà cụ Binh xóm Đồng Cao, Hiệp Hoà mà tôi kể lại đây. Tết Trung thu cho bọn trẻ với mấy quả bưởi, quả hồng ngâm thì xin miễn trong câu chuyện ấm trà này. Hôm ây, bà dặn tôi khoảng sau 10g đêm thì sang với bà. Tôi ở cùng xóm nhưng cách một ngõ. Đợi cho bọn trẻ và mấy bà cháu nhà cụ Binh tắt đèn đi ngủ, mẹ tôi mới bảo tôi kéo chiếc ba lô trong sát góc đầu chiếc giường tre bà nằm đưa ra sân. Đặt trên bậc thềm, dưới ánh trăng, bà kéo ra một hộp các tông hình chữ nhật dài quãng hơn gang tay bọc kín trong chiếc chăn dù anh tôi gửi tặng bà từ chiến trường. Bà bảo tôi bấm đèn pin xuống bếp, khơi to ngọn lửa cho ấm nước bà đã đặt sẵn, cho sôi lên rồi rót vào chiếc phích nước đặt bên bậc thềm. Gói trà Hồng Đào được bóc ra, nhưng vẫn bao trong giấy thiếc đặt trên hai cuốn sách dày. Chiếc ấm cũng được đặt trên một cuốn sách cạnh cái phích.

Lúc ấy, bà mới nói: “Lần kỵ Thầy (tức là ngày giỗ cha tôi, trong gia đình vẫn gọi cụ thân sinh là “Thầy”), con không về được mà mẹ cũng chỉ một mình ra vái giữa trời cúng Thầy vì không muốn ồn ào nơi sơ tán đang chộn rộn. Nay thì thế cũng là yên yên ở đây, nhà cụ Binh lại là nhà phúc hậu, nghèo nhưng sạch sẽ, mẹ muốn đêm nay mở gói trà ngon vẫn để dành để cúng Thầy. Mẹ đã quét và lau sạch sẽ trên nóc bể nước mưa, con chỉ đặt lên chiếc đĩa quả bưởi mẹ đã để sẵn kia, vừa là “mâm quả phẩm” vừa làm “bát hương” để cắm ba nén cho Thầy. Lòng thành, thế là đủ con ạ”.

Bể nước mưa nhà bà cụ Binh đặt dưới gốc hai cây cau trồng ngay ngắn trước sân nhà, có hai bẹ lá cau buộc ngang lưng thân cây để dẫn nước mưa vào bể. Bà bảo tôi lấy ba chiếc chén gốm nhỏ mượn của chủ nhà đặt lên mặt bể nước mưa. Đêm thanh vắng, tĩnh lặng mẹ tôi mở một góc giấy thiếc, nghiêng gói từ tốn trút đủ trà vào chiếc ấm rồi trang trọng rót vào ba chiếc chén gốm đã xỉn màu song bên trong đã được đánh sạch đủ óng lên màu hồng đào loang loáng. Bà bảo châm ngọn nến đặt sau đĩa bưởi, để ánh nến không hắt vào nhà.

Đốt ba nén hương cắm vào quả bưởi. Thành kính đứng chắp tay trước ba chén trà đang toả khói, mẹ tôi lầm rầm khấn, tôi chỉ đứng cạnh, đắm mình trong suy tưởng. Liệu có đúng “trong ấm trà pha ngon, người ta nhận thấy có một mùi thơ và một vị triết lý”? Trong hoài niệm về ấm trà mẹ tôi pha để cúng cha tôi vào một đêm trăng rằm tháng Tám ở một vùng quê hẻo lánh trong những ngày sơ tán tránh bom Mỹ, tôi chỉ xốn xang nghĩ về chiều sâu thẳm trong tâm tình kín lặng của một người phụ nữ Huế dành cho người đã mất qua một chén trà đạm bạc của sự thanh khiết. Ở đó, như mẹ tôi dạy “lòng thành, thế là đủ con ạ”.

Vâng lòng thành. Ở đây tuyệt đối không có hơi hướng của sức huyễn hoặc “hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình” trong câu thơ Nguyễn Du. Tuyệt đối không. Cái chất “trần thế” trong nỗi nhớ của “sầu đong càng lắc càng đầy” không có ở đây, vì tôi bao nhiêu tuổi thì cha tôi cũng mất ngần nấy năm rồi. Thậm chí cũng không là “trần gian” như trong lời thơ cũng huyễn hoặc không kém của Trịnh Công Sơn “tôi là ai mà còn trần gian thế”. Mẹ tôi là con người “trần gian” giữa cuộc “trần thế”, nhưng trong tâm hồn bà ẩn kín một triết lý nhân sinh vượt khỏi “mùi tục luỵ lưỡi tê tân khổ” mà bà từng gánh chịu để sống trong cái triết lý vô ngôn đó.

Ở đây dường như chỉ có cái tâm thành kính trầm mặc, mượn chén trà để truyền đạt một thông điệp đến người đã khuất và cũng để nhắc nhở con trai mình đừng vì cái chất “vô thần” mà phôi pha đi đời sống tâm linh mà bà đã giữ kín trong lòng. Chính cái đó là điểm tựa cho cả cuộc đời bà đã âm thầm hiến tặng cho sự nghiệp của các con mình. Càng suy ngẫm về những điều đãtrải, tôi càng nghiệm ra rằng, cái mẹ tôi giữ kín trong lòng mới là cái mạnh nhất, cũng là cái đẹp nhất trong tâm hồn người mẹ từng là cái phao níu kéo chúng tôi lại trước những cạm bẫy để không chìm vào đó. “Phúc đức tại mẫu”, tôi cảm nhận được câu châm ngôn đó bằng mồ hôi và nước mắt trên con đường đời của chính mình. Và hoài niệm về hương trà mẹ tôi pha để cúng cha tôi quyện với hương trầm của nén nhang hoà vào mùi hương cau thoang thoảng của một đêm trăng rằm thanh vắng nơi làng quê kia là nỗi nhớ khôn nguôi về những người đã khuất.

Lan man, tôi nhớ lại hương vị chén trà mà sư cụ chùa Quốc Ân ban cho dạo tôi còn bé tí. Chẳng hiểu có thật chính xác không khi tôi nghĩ rằng, cái thiện được hình thành, nuôi dưỡng và đọng lại trong tâm hồn tôi tự buổi ấu thơ cho đến tận hôm nay, chính là mùi trầm hương trong chùa Quốc Ân tôi hít thở vào những dịp theo Mẹ tôi lên chùa và rồi hôm nay tôi bỗng nghĩ là chắc còn từ hương thơm của chén trà mà sư cụ ban cho. Phải nói ngay rằng, tôi không mấy mặn mà với những buổi thuyết pháp của các vị chân tu và là học giả uyên bác về đạo Phật, về triết lý Phật giáo mà tôi đã được nghe, được dự hoặc từ những tác phẩm nổi tiếng của họ mà tôi đã nghiền ngẫm sau này. Đơn giản chỉ vì những điều ấy tuy tôi rất trân trọng và dành nhiều thời gian suy ngẫm nhưng sao vẫn chưa hấp dẫn và thuyết phục tôi.

Có thể do sự hời hợt và kém hiểu biết, thiếu kiến thức của chính bản thân mình cũng nên. Nhưng đúng là những cái đó không có ý nghĩa bao nhiêu so với hơi ấm từ bàn tay gầy guộc cùng với ánh mắt hiền từ của sư cụ trụ trì, với dáng vẻ khẳng khiu của một cây trúc trăm tuổi đậm vẻ tiên phong đạo cốt ngày nào vừa nắm tay tôi, vừa bảo Mẹ tôi “cho cháu ngồi xuống và thụ lộc Phật đi để rồi biết làm điều lành”.

Bàn tay ấy, ánh mắt ấy, giọng nói của vị sư già ấy từng truyền vào tôi dòng suối trong vắt của tri thức tuổi thơ đủ sức cảm nhận về điều lành mà tôi hiểu là cái thiện. Rất cụ thể và cũng hết sức dễ hiểu. Cho đến tận hôm nay, trong cổ họng tôi như vẫn còn đọng lại vị thơm của chén trà, vị bùi của nắm xôi sư cụ cho “thụ lộc” ngày ấy. Bao năm trôi qua, vào tuổi tám mươi, trong đáy sâu ký ức vẫn thoang thoảng mùi hương trầm thơm ngát toả khắp toà nhà thờ Phật và ánh mắt hiền từ, bàn tay gầy guộc trìu mến của vị sư già trụ trì chùa Quốc Ân.

Đã là hoài niệm thì sao khỏi đánh thức cảm hứng bảng lảng của vị hoài cổ để tìm lại cái “thanh khí” mà Nguyễn Tuân gợi lên về chuyện uống trà. Vẻ u tịch của cảnh chùa Quốc Ân hiện lên mờ mờ ảo ảo, khiến tôi phải đắm mình vào câu chữ Nguyễn Tuân trong “Những chiếc ấm đất” của “Vang bóng một thời” mô tả chuyện xin nước giếng chùa Đồi Mai về pha trà để làm sống động cái nét bảng lảng trong hoài niệm về ngôi chùa tuổi thơ của tôi. Chỉ với nước giếng chùa đây thì cái người để hết cơ nghiệp vào chén trà kia mới chịu pha cho mình và đãi bạn cùng thanh khí một ấm trà ngon. “[…] vái chào nhà sư. Trên con đường đất cát khô, nồi nước tròng trành theo bước chân mau của người đầy tớ già đánh rỏ xuống mặt đường những hình sao ướt và thẫm màu. Những hình sao ướt nối nhau trên một quãng đường dài như lối đi của loài bò sát. Ví buổi trưa hè này là một đêm bóng trăng dãi, và ví chùa Đồi Mai là một cửa non đào thì những giọt sao kia có đủ cái thi vị một cuộc đánh dấu con đường về của khách tục trở lại trần”.

Vậy thì cái “thi vị” kia, cái thi vị một cuộc đánh dấu con đường về của khách tục trở lại trần đã làm nên thi vị của ấm trà, hay là chính cái hương vị trà qua bàn tay có hồn phách của người pha gửi vào, làm nên cái thi vị của người khách tục trở lại trần. Cái người đa đoan trong việc uống trà ấy chẳng phải đã thoát tục khi vẫn đang đắm mình trong cõi trần thế của hỉ nộ ái ố đó sao?

Nhà văn tài hoa họ Nguyễn từng qua lời sư cụ chùa Đồi Mai mà chuyển tải điều ấy: “Ông cụ Sáu này, nếu không đam mê cái phong vị trà tàu, đam mê đến nhiều khi lầm lỗi, nếu ông ta bỏ được thì cũng thành một ông sư tại gia. Danh và lợi ông không màng. Phá gần hết cơ nghiệp ông cha để lại, ông ta thực đã coi cái phú quý nhỡn tiền không bằng một ấm trà tàu.[] Phật dạy rằng hễ muốn là khổ. Biết đâu trong bốn đại dương nước mắt chúng sinh của thế giới ba nghìn, sau đây lại chẳng có một phần to nước mắt của một ông già năng lên chùa nhà xin nước ngọt về để uống trà tàu. Mô Phật”.

Tôi không nghĩ vậy khi hiểu về chén trà của mẹ tôi pha đặt trên mặt bể nước mưa giữa hai cây cau trước sân ở nơi quê người trong “một đêm bóng trăng dãi” để cúng cha tôi vào ngày Trung thu cách đây ngót nửa thế kỷ. Khỏi phải nói rằng người biết thưởng trà cũng hay lấy nước mưa để pha. Nghĩ về bể nước mưa nhà cụ Binh, sao tôi cứ mông lung nhớ lại cái giếng chùa Quốc Ân sâu thăm thẳm mà vị sư bác đã cẩn thận níu cổ áo tôi khi tôi cố cúi nhìn xuống, để rồi liên tưởng đến giếng chùa Đồi Mai trong “Vang bóng một thời” cũng hao hao cùng đường nét.

Mẹ tôi đã quy y tại chùa Quốc Ân. Ròng rã một phần tư thế kỷ “đi kháng chiến”, năm 1975 bà về lại Huế và lên viếng chùa. Sư cụ đã viên tịch, cảnh sắc hình như không còn như xưa, ấy là tôi cảm nhận như thế. Nhưng với mẹ tôi “lòng thành, thế là đủ con ạ”. Bà cũng chẳng là người “tu tại gia”. Triết lý Phật ủ kín trong tâm hồn bà. Thì chẳng phải “Hà sa cảnh thị bồ đề đạo/ Nghĩ hướng Bồ đề cách vạn tầm” đó sao? Nhà thơ Nguyễn Duy dịch rất hay “Toàn là cảnh Phật quanh ta. Nhọc công tìm kiếm lại xa vô cùng”. Bài thơ thiền của Kiều Trí Huyễn thế kỷ XI ấy Nguyễn Duy phóng to in trên giấy bản tặng tôi được trang trọng treo giữa phòng khách.

Tần ngần rời bàn phím máy tính đến đứng trước bài thơ để tìm ý tứ biểu đạt sao cho thấu cái vị triết lý trong chén trà ngát hương vào cái đêm u tịch dưới bóng trăng hai mẹ con tôi dâng lên người đã khuất. Và rồi ký ức gọi dậy ký ức, nối kết những hình ảnh ẩn hiện trên dòng suy tưởng về những chén trà, hương trà tôi có dịp thưởng thức đang trầm tích trong hoài niệm. Trong đó có chén trà tôi được một vị sư Nhật Bản mời đối ẩm trong dịp tôi đến viếng cảnh ngôi chùa cổ Nhật ở Kyoto cách nay cũng đã mười lăm năm.

Không đủ tri thức và sự trải nghiệm về trà đạo của người Nhật để nói về một nét văn hoá quá độc đáo này, tôi chỉ nói về một liên tưởng. Vị sư người Nhật Bản có dáng dấp của một trí thức đã dành cho tôi sự tiếp đón thân tình, ấm cúng. Khi người phiên dịch tiếng Nhật tế nhị bước ra khỏi bàn trà trong cuộc đối ẩm khách chủ, nhà sư sử dụng tiêng Anh khá thành thạo, khả dĩ để tôi có thể hiểu được điều ông muốn nói. Thú thật là tôi chưa biết thưởng thức vị trà Nhật, nhưng cũng thật kỳ lạ sao vào lúc ấy, trong tôi trào lên nỗi nhớ mẹ tôi khi nâng chén trà lên miệng.

Duyên do là trước đó, tôi có nói là mẹ tôi cũng là người thích uống trà, nhưng tôi đặc biệt chú ý là cách mẹ tôi pha trà để đặt lên ban thờ trong dịp giỗ tết. Nhà sư Nhật tỏ ra hết sức chú ý và không giấu vẻ ngạc nhiên. Ông ngỏ ý muốn gửi biếu mẹ tôi một gói trà Nhật. Tôi xúc động lặng lẽ từ chối vì mẹ tôi đã mất. Nếu không, thì đây là một ân huệ đối với bà.

Chính lúc đó, tôi nghĩ đến chén trà mẹ tôi kín đáo, lặng lẽ chuẩn bị để rồi dưới ánh trăng của một đêm trung thu tĩnh mịch bát ngát hương cau, mẹ tôi thành kính pha ấm trà tưởng nhớ người đã khuất. Bà đã mất để không được nhận lĩnh một món quà sứ điệp mà nhà sư Nhật Bản thân tình gửi đến.

Thế rồi gần đây, khi tuổi đã cao, đêm khó ngủ, tôi thường thức dậy rất sớm. Trong hương thơm ấm trà vừa pha trong buổi sớm tĩnh lặng, ngước nhìn lên hai bức hình thầy mẹ tôi trầm mặc trên tường, tôi lại nghĩ đến chén trà mẹ tôi cúng thầy tôi vào đêm trăng u tịch năm nao.

clip_image006

Mùa Vu Lan

( Nguồn: Google)

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.09.2016

Trái tim cộng sản hay người nghệ sĩ?

Trái tim cộng sản hay người nghệ sĩ?

BBC

Viết về Trịnh Công Sơn thấy dễ mà khó. Dễ là những gì đã thể hiện trong tác phẩm âm nhạc ông tưởng chừng đã nói hết. Tình yêu, thân phận con người, màu da, chiến tranh.

Nhưng khó thi thoảng vẫn có những bài viết đặt lại vấn đề này, nọ về tư cách con người của ông. Có bài gây sóng gió dữ dội vì chính người viết lại là bạn bè thân thiết một thời của ông nên càng như đổ lửa thêm dầu vào dư luận.

Trong hạn hẹp của bài viết nhỏ này tôi muốn nhấn mạnh vào những tư liệu mới mà tôi vừa tìm thấy được trong thư viện của gia đình tôi.

Qua đó cung cấp thêm một cái nhìn vào con người và tính cách Trịnh Công Sơn. Cũng có thể chủ quan nhưng ít ra từ những nhân chứng còn sống góp thêm một cái nhìn vào người nhạc sĩ vĩ đại này.

Trịnh Công Sơn, giác ngộ cách mạng

Trịnh Công Sơn có phải là một người cộng sản? Câu hỏi này đặt ra có người cho rằng rất phản cảm. Tuy nhiên, có nhiều sự việc liên quan đến con người, tác phẩm và cuộc đời của ông dấp dính đến ranh giới này.

Sự việc đáng tranh cãi nhất chính là Trịnh Công Sơn từng viết một lá thư gửi thi sĩ Ngô Kha được nhiều người biết dưới cái tên “Lá thư gửi cho người đang ở trong tù hay đã bị thủ tiêu”. Bản gốc của lá thư hiện vẫn còn lưu trữ ở gia đình dịch giả Bửu Ý tại Huế. Người công bố lá thư này đầu tiên trong sinh hoạt văn học nghệ thuật trong nước là nhà thơ Lê Minh Quốc trong cuốn “Trịnh Công Sơn rơi lệ ru người” (Nxb. Phụ Nữ 2001).

Sau đó lá thư tiếp tục xuất hiện trên báo Thơ, phụ san báo Văn Nghệ của Hội Nhà Văn Việt Nam số ra ngày 12.6.2004 do nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo thực hiện. Sự kiện này tiếp tục bùng nổ trên báo Thanh Niên (số 178 ra ngày 26.6.2004) khi nhà thơ Thái Ngọc San, một người bạn thân của Trịnh Công Sơn đặt lại vấn đề “Thư của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn gửi nhà thơ Ngô Kha in trên báo Thơ thực hay giả?”

Một số câu hỏi của bài báo đặt ra như vào thời gian bức thư ra đời (1974) là lúc nhà thơ Ngô Kha đã bị thủ tiêu làm sao ông có thể nhận thư của Trịnh Công Sơn?

Trịnh Công Sơn

Không cần tinh ý lắm, người mê nhạc Trịnh có thể nhận thấy bức thư của Trịnh Công Sơn mang nhiều cụm từ chính trị rất xa lạ với khối ngôn ngữ triết lý đậm đặc, giàu hình ảnh thơ mộng và tuyệt đẹp của ông trải dài qua âm nhạc. Thậm chí có những tổ chức ngôn ngữ quái đản của người làm chính trị thứ thiệt như các từ “tiêu diệt tự do tư tưởng”, “tập thể nhân dân”, “vấn đề tổ chức cơ cấu”… còn xuất hiện trong bức thư.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân đã đặt câu hỏi “ trong hoàn cảnh nào mà Trịnh Công Sơn “giác ngộ cách mạng” đến như thế?” Từ những băn khoăn này, ông Xuân đã tìm được nhà báo Nguyễn Quốc Thái, người lo biên tập và in số tập san Đứng Dậy, quay ronéo, phát hành dịp giáng sinh 1974. Đây cũng là điểm xuất phát đầu tiên của lá thư gửi Ngô Kha của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

Cũng trong số báo nói trên, còn in tuyên cáo của các giáo sư, văn nghệ sĩ Huế về việc bắt giữ Ngô Kha năm 1972. Đặc biệt còn có “Lá thư đòi con” của bà Cao Thị Uẩn, mẹ của Ngô Kha viết ngày 25.12.1974 gửi Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa và nhiều bài viết khác. Nhà báo Nguyễn Quốc Thái còn cho ông Xuân biết, muốn biết hoàn cảnh nào Trịnh Công Sơn viết lá thư gửi Ngô Kha nên hỏi hỏi ông Lê Khắc Cầm.

Lê Khắc Cầm, một cơ sở trí thức nòng cốt của Thành ủy Huế, trả lời nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân về việc lá thư của Trịnh Công Sơn như sau:

“Sau hiệp định Paris 27.1.1973 ra đời ít lâu thì anh Ngô Kha bị bắt đưa đi mất tích. Một số anh em trí thức sợ lộ cũng thoát ly.Số cơ sở còn lại phải “ẩn mình” hoặc chuyển vùng. Phong trào đấu tranh ở đô thị bị lắng xuống. Tính đến cuối năm 1974 anh Ngô Kha đã bị bắt gần 20 tháng mà không được tin tức gì. Tôi bàn với Trịnh Công Sơn và Trần Viết Ngạc tìm cách tập hợp các “thành phần thứ ba” đấu tranh đòi trả tự do cho Ngô Kha, gây lại không khí đấu tranh,”

“Ý kiến của tôi được các bạn đồng tình. Những người chủ trương tập san Đứng Dậy ở Sài Gòn ủng hộ Huế thực hiện một tập san đặc biệt với chủ đề đòi trả tự do cho Ngô Kha. Chúng tôi chia nhau viết. Trịnh Công Sơn viết “Lá thư gửi cho người đang ở trong tù hay đã bị thủ tiêu” và dự thảo “Tuyên cáo của các giáo sư văn nghệ sĩ Huế về việc bắt giữ Ngô Kha”. Tuyên cáo này tập hợp được gần 50 chữ ký của các vị “thành phần thứ ba”. Người ký đầu tiên là họa sĩ Vĩnh Phối, thứ hai họa sĩ Đinh Cường, thứ ba nhà văn Bửu Ý. Người cuối cùng là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn…”.

Tôi hỏi tiếp: Như thế Trịnh Công Sơn cùng với anh chủ trương và thực hiện nội dung số tập san đặc biệt về cuộc đấu tranh đòi trả tự do cho Ngô Kha. Vậy Trịnh Công Sơn có phải cơ sở cách mạng không?

Lê Khắc Cầm đáp: “Điều đó rất khó nói. Nhưng anh Sơn biết tôi là cơ sở của Thành ủy. Làm việc với tôi có nghĩa là làm việc với cách mạng”.

Nội dung cuộc trao đổi này đã được ông Nguyễn Đắc Xuân công bố trên tạp chí Sông Hương.

Suýt bị thủ tiêu

Trong thư viện gia đình tôi có một tư liệu minh chứng cho “điều rất khó nói” của ông Lê Khắc Cầm, một cơ sở của thành ủy Huế và là người giác ngộ, hay theo dõi Trịnh Công Sơn ngày đó. Tư liệu này gần như đi ngược lại hoàn toàn những gì Trịnh Công Sơn từng viết trong lá thư gửi thi sĩ Ngô Kha. Bức thư gửi Ngô Kha ông bị buộc ép viết hay viết theo chỉ đạo thì chỉ những người trong cuộc mới biết rõ. Nhưng những gì được chứng minh sau đó thì đã hoàn toàn ngược lại.


Image captionThư mời buổi nói chuyện ngày 25/10/1974 (Tư liệu gia đình nhà thơ Nguyễn Hữu Hồng Minh)

Ngày 25.10.1974, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất, Tỉnh giáo hội Quảng Nam có tổ chức một buổi nói chuyện mời hai diễn giả chính là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và cha tôi, nhà thơ Đông Trình tại chùa Pháp Bảo Hội An. Đây là buổi theo thư mời Đại đức Thích Long Trí, Phó ban Nội vụ Văn phòng chùa Pháp Bảo ghi rất rõ là “sinh hoạt văn nghệ theo tinh thần hòa giải dân tộc” và ban tổ chức “chịu trách nhiệm về mọi trở ngại có thể xảy đến cho quý đạo hữu tại địa phương”.

Những tình tiết trích dẫn trong thư mời như trên, cho thấy “tình thế” rất nóng và rất căng thẳng của buổi nói chuyện. Đây là thời điểm khá nhạy cảm. Người nghệ sĩ cần bày tỏ thẳng thắn chính kiến của mình trước thời cuộc, nêu cao tinh thần đấu tranh ý chí cách mạng. Nói cách khác, buổi nói chuyện đã được những người cộng sản lợi dụng và dàn dựng. Và họ mượn uy tín của các nghệ sĩ để đấu tranh theo chiêu bài “hòa giải dân tộc”.

Trước đó, tất nhiên cũng đã có ý kiến chỉ đạo và theo dõi biết thái độ của Trịnh Công Sơn đặc biệt qua lá thư gửi Ngô Kha bừng bừng khí thế cách mạng.

Cha tôi, nhà thơ Đông Trình và Trịnh Công Sơn gần như hai phong cách sáng tạo khác biệt.

Khi Trịnh viết “Đại bác đêm đêm dội về thành phố. Người phu quét đường dừng chổi lắng nghe” thì ông viết “Lót ổ cho đại bác”. Quan điểm của ông là “Hãy bắn thẳng vào tôi đây”. Đêm đó ông đã đọc các bài thơ “Hoa đã hướng dương”, “Hành ca cho một tương lai đã nhìn rõ mặt”, “Vì những người chết không nhắm mắt”, “Đường thơm chân đất”, “Gửi người em gái bên kia cầu sông Vệ”, “Một lần là trăm năm”… tin tưởng vào một ngày giải phóng và thống nhất đất nước không còn xa.

Ai cũng nghĩ Trịnh Công Sơn cũng sẽ như vậy! Nhưng không! Thật bất ngờ ra trước công chúng, Trịnh Công Sơn đã bộc lộ hoàn toàn là một con người khác. Ông đã hát những ca khúc phản chiến chung chung. Hoàn toàn không chịu theo chỉ đạo như các bài “Người con gái Việt Nam da vàng”, “Hát trên những xác người”, “Ra đồng giữa ngọ”, “Đại bác ru đêm”…

Những bài hát không bộc lộ rõ chính kiến giữa “ta” và “địch”. Giữa “chính nghĩa” và “phi nhân”… Ông phát biểu cái chết ở chiến tuyến nào cũng mất mát và đau thương cả. Chết là chết. Không có biên giới và hoa hồng nào cho cái chết. Chiến tranh cần được chấm dứt để con người bớt đau khổ.

Việc xuất hiện với những bài hát “vô tổ chức”, “thiếu định hướng” như trên của ông đã gây bất lợi cho chương trình. Cha tôi cho biết, vấn đề càng nặng nề hơn khi tối hôm đó, khi nghe anh em tranh đấu phản đối Trịnh Công Sơn đòi ra Huế ngay lập tức. Ông còn bày tỏ nhiều ý kiến cá nhân như không cho rằng sự xuất hiện của người Cộng sản có nghĩa “toàn dân miền Nam yêu quý”.

Và ông phản đối nhạc sĩ Tôn Thất Lập dịp đó đang đi qua các nước Xã hội chủ nghĩa ở châu Âu quảng bá hình ảnh Việt Nam Cộng Sản. Ông nói:

“Nếu nói rằng mọi người dân Việt đều thích cộng sản thì không đúng! Nhưng họ yêu chuộng tự do và hòa bình là điều chắc chắn!”.

Câu chuyện của ông đã trở thành vấn đề căng thẳng tới mức đã bị đặt lên bàn cân:

“Phải khử ngay, thằng này không thể dùng được!”

Người được giao thực hiện mật vụ này tên là Dũng. Và đã có kế hoạch thủ tiêu ông trong đêm trên đường ra Huế khi đi qua đèo Hải Vân. Tuy nhiên, sau đó theo sự sắp đặt từ trước của thầy Long Trí và ban tổ chức đã cam kết “chịu trách nhiệm về mọi trở ngại có thể xảy đến cho quý đạo hữu tại địa phương” kế hoạch này đã dừng lại.

Tối đó Trịnh Công Sơn ở lại Hội An và sáng hôm sau an toàn ra Huế. Nếu trong đêm đó ông đi thì không biết việc gì sẽ xảy ra.

Viết câu chuyện này theo trí nhớ và cách kể của cha tôi, tôi muốn ghi lại một cách trung thực một câu chuyện về người nhạc sĩ thiên tài. Gần như với sáng tạo, ông chối bỏ mọi sự áp đặt và định hướng thậm chí luôn luôn tìm cách chống lại nó. Nhiều nghệ sĩ vẫn bị các nhà chính trị lợi dụng một cách hồn nhiên.

Và họ cũng thật hồn nhiên như thế khi tiếp cận nỗi đau của con người, sự bối rối của tình yêu trước các thử thách và hiểm họa. Vì thế tác phẩm của họ có ngọn lửa bất tử khi tâm hồn họ gặp tâm hồn nhân loại.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả Nguyễn Hữu Hồng Minh, hiện sống tại Sài Gòn.

 

Thiếu tướng Trần Thế Quân: Interpol có kênh riêng để bắt Trịnh Xuân Thanh

Tiến Anh

Thiếu tướng Trần Thế Quân. Nguồn ảnh báo Tiền Phong

Thiếu tướng Trần Thế Quân cho biết: “Việt Nam đã có hợp tác với hơn 100 nước về ký hiệp định tương trợ về tư pháp. Trước khi phát lệnh truy nã, Việt Nam có thông qua Tổ chức Cảnh sát quốc tế – Interpol và nhờ họ truy bắt Trịnh Xuân Thanh

 Liên quan đến việc Bộ Công an ra quyết định số 19/C46-P12 truy nã toàn quốc và truy nã quốc tế đối với bị can Trịnh Xuân Thanh, PV Infonet đã có cuộc trao đổi với Thiếu tướng Trần Thế Quân – Phó cục trưởng Cục Pháp chế và cải cách hành chính tư pháp – Bộ Công an để hiểu rõ hơn việc cơ quan chức năng Việt Nam có thông qua Tổ chức Cảnh sát quốc tế – Interpol, để bắt bị can này hay không?

Thiếu tướng Trần Thế Quân cho biết: “Đến lúc này, Việt Nam đã có hợp tác với hơn 100 nước về ký hiệp định tương trợ về tư pháp.

Trước khi phát lệnh truy nã Việt Nam có thông qua Tổ chức Cảnh sát quốc tế – Interpol và nhờ họ truy bắt Trịnh Xuân Thanh”.

Thiếu tướng Trần Thế Quân: Interpol có kênh riêng để bắt Trịnh Xuân Thanh - Ảnh 1.

Ông Trịnh Xuân Thanh (giữa) khi còn công tác ở Hậu Giang.

Chính vì vậy, Thiếu tướng Trần Thế Quân khẳng định: “Nếu Trịnh Xuân Thanh đang lẩn trốn ở những nước mà chúng ta chưa ký hiệp định tương trợ về tư pháp vẫn có thể bắt được người này bằng nhiều hình thức khác nhau.

Tức là không có nghĩa Trịnh Xuân Thanh trốn ở những nước mà Việt Nam chưa ký hiệp định tương trợ về tư pháp là không thể bắt được.

Việc bắt bị can Trịnh Xuân Thanh ở những nước chưa ký hiệp định tương trợ về tư pháp vẫn có thể bắt được”.

“Mặc dù Việt Nam và một số nước chưa kí kết hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự riêng với nhau, nhưng 2 quốc gia vẫn có thể áp dụng các điều ước quốc tế liên quan mà cả 2 quốc gia là thành viên.

Vấn đề dẫn độ tội phạm có thể được thực hiện theo thỏa thuận giữa 2 chính phủ, trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái với pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế”, Thiếu tướng Trần Thế Quân nói.

Khi được hỏi giả sử Trịnh Xuân Thanh đang lẩn trốn ở Mỹ, Đức, Canada… hoặc một số quốc gia khác mà phía Việt Nam chưa kí kết hiệp định tương trợ về tư pháp và hình sự thì việc bắt giữ, dẫn độ sẽ như thế nào, Thiếu tướng Trần Thế Quân nói: “Như tôi đã nói, việc bắt giữ này là có đi, có lại nhưng cũng gặp một số khó khăn.

Tuy nhiên, không phải hoàn toàn bế tắc với việc bắt giữ Trịnh Xuân Thanh.

Những nước mà chúng ta chưa ký hiệp định tương trợ về tư pháp thì sẽ vận dụng quan hệ ngoại giao giữa hai nước, bàn bạc, thương lượng cụ thể.

Việc làm này sẽ khó khăn hơn rất nhiều vì trong thực tế, nhiều quốc gia cũng không dễ dàng dẫn độ được tội phạm”.

Trả lời câu hỏi của PV Infonet về việc, tại sao Việt Nam đã thông qua Tổ chức Cảnh sát quốc tế – Interpol và nhờ họ bắt Trịnh Xuân Thanh rồi nhưng vì lý do gì mà đến lúc này, trên trang web của Tổ chức Cảnh sát quốc tế – Interpol vẫn chưa đăng tải thông tin truy nã quốc tế với bị can Trịnh Xuân Thanh? Thiếu tướng Trần Thế Quân chia sẻ: “Đó là việc của họ, tôi chưa nắm được. Tuy nhiên, Tổ chức Cảnh sát quốc tế – Interpol, họ có kênh riêng của họ để bắt Trịnh Xuân Thanh”.

( Nguồn: Google)

BT Tỉnh Ủy Thanh Hóa và bồ nhí : Tại sao con trai cả của ông Trịnh Văn Chiến lại … nổi loạn?

Ông nói mình làm gì lại đi cặp bồ bịch với hotgirl Trần Quỳnh Anh, vậy tại sao con trai ông đang làm việc tại Sở Kế hoạch và Đầu tư lại « nổi loạn », chán nản, có những lần uống rượu say đã tiết lộ ra hết những việc mà bố mình đã và đang đối xử tệ bạc, phản bội lại vợ con như vậy? Và sau khi bài báo đăng tải và được dư luận chú ý, vậy tại sao fb Quynhanhtran của cô Trần Quỳnh Anh vào lúc 22g đêm ngày 17/9 lại đóng lại.
Ông Chiến xem cháu bé trai này con của Trần Quỳnh Anh có giống ông như 2 giọt nước hay không mà còn già mồm cãi lấy được ?
Thưa ông Chiến: Ông không có bồ nhí tại sao con trai ông lại nổi loạn?
Trả lời báo chí chiều tối hôm 18/9, ông Trịnh Văn Chiến, Bí thư tỉnh ủy Thanh Hóa nói về khối tài sản kếch xù của Trưởng phòng nhà và Bất động sản Sở Xây dựng Trần Quỳnh Anh – người được cho là “bồ nhí” và chuyện 2 người có con riêng mà ông đã bác bỏ thẳng thừng, cho đó là chuyện bịa đặt vô căn cứ. Vậy tại sao con trai cả của ông, hiện đang công tác tại Sở Kế hoạch và Đầu tư lại … nổi loạn?
Vì sao con trai nổi loạn ?
Thưa ông Trịnh Văn Chiến. Việc ông và cô Trần Quỳnh Anh, Trưởng phòng nhà và Bất động sản Sở xây dựng bồ bịch với nhau thì dư luận cán bộ, đảng viên trong tỉnh Thanh Hóa đã xì xào, bàn tán và biết « tỏng tong » từ vài năm nay chứ không phải bây giờ mới bịa đặt cho ông đâu nhé. Ông nói mình làm gì lại đi cặp bồ bịch với hotgirl Trần Quỳnh Anh, vậy tại sao con trai ông đang làm việc tại Sở Kế hoạch và Đầu tư lại « nổi loạn », chán nản, có những lần uống rượu say đã tiết lộ ra hết những việc mà bố mình đã và đang đối xử tệ bạc, phản bội lại vợ con như vậy ?
Hiện nay, ông nói đã chỉ đạo công an vào cuộc làm rõ về những thông tin mà báo chí, mạng xã hội đã đăng tải về đời tư của ông. Ông có làm được không ? Ông có dám đối diện với sự thật là mình và cháu bé trai – con của Trần Quỳnh Anh sẽ đi công khai lấy mẫu máu để xét nghiệm ADN để công bố cho thiên hạ biết là mình vô cùng trong sạch, tôn trọng chế độ một vợ, một chồng hay không ?
Sau khi bài báo đăng tải và được dư luận chú vậy tại sao fb Quynhanhtran của cô Trần Quỳnh Anh vào lúc 22g đêm ngày 17/9 lại đóng lại. Chứng tỏ chuyện ông và cô Quỳnh Anh là có thật. Nhiều bí mật về ông và ô ta có rất nhiều trong fb. Nếu không thì « cây ngay thì sợ gì chết đứng », vội vàng đi phải đóng fb là thế nào thưa ngài Bí thư Trịnh Văn Chiến?
Tiền đâu ông Chiến cho gái ?
Theo những tài liệu thu thập được, việc làm đầu tiên của ông Trịnh Văn Chiến sau khi bỏ ra số tiền 60 tỷ đồng để chạy lên chức Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa năm 2010 là: « Ban hành các Văn bản để thu hồi lại toàn bộ quỹ đất đai đô thị trên địa bàn TP Thanh Hóa và các mỏ trên toàn tỉnh Thanh Hóa về UBND tỉnh quản lý ». Vì ông thừa biết, muốn làm giàu nhanh chóng thì chỉ có đất đai, mỏ… là siêu lợi nhuận để vơ vét.
Khi hàng chục ngàn hét ta đất đô thị, hàng nghìn mỏ đất đá, quặng sắt đã thu về tay mình, ông đã thực hiện các bước tiếp theo là quy hoạch lại thành các dự án bất động sản và cố tình chỉ định cho các DN sân sau – không cần đấu giá để chia lô bán nền cho dân giá lên đến hàng chục triệu đồng/m2. Trong khi chỉ nộp thuế với cái giá « quá bèo » khiến cho ngân sách thất thu mỗi dự án hàng trăm tỷ đồng.
Chân dung Hot girl Trần Quỳnh Anh – vợ bé của Bí thư tỉnh Thanh Hóa Trịnh Văn Chiến với cuộc sống xa hoa.
Dẫn chứng cụ thể là Dự án Khu thương mại dịch vụ và dân cư B-TM1 thuộc Khu đô thị mới Đông Hương; 34 Ngô Từ, TP.Thanh Hóa… Đây là những dự án đã có mặt bằng tương đối “sạch”, thay vì UBND tỉnh Thanh Hóa phải tổ chức đấu thầu giá đất để lựa chọn nhà đầu tư có năng lực, thu tiền sử dụng đất về tối đa cho ngân sách thì ông Chiến đã ủy quyền cho cấp dưới ký ban hành các Quyết định tự lựa chọn nhà đầu tư và ấn định một giá đất rất ưu ái vào năm 2013, khi đó ông là Chủ tịch UBND tỉnh.
Với dự án Khu thương mại dịch vụ và dân cư B-TM1 thuộc Khu đô thị mới Đông Hương – khu đất vàng, diện tích hơn 29.000m2 mà ngân sách nhà nước chỉ thu về 29 tỷ đồng tiền thuế. Trong khi DN mà ông chỉ định đã bán cho dân giá dao động từ 20-30 triệu đồng/m2. Như vậy ngân sách đã thất thu hàng trăm tỷ đồng từ dự án này là quá rõ.
Dự án 34 Ngô Từ, TP Thanh Hóa ông cũng làm điều tương tự. Tổng Công ty Anh Phát – một doanh nghiệp sân sau của ông và ông Nguyễn Văn Lợi, nguyên Chủ tịch UBND, Bí thư tỉnh ủy thanh Hóa. Đáng lẽ ra sau khi cho chuyển đổi mục đích sử dụng đất, ông phải chỉ đạo cho đấu giá công khai để thu tiền tối đa về cho ngân sách. Ngược lại, ông cho doanh nghiệp phân lô bán nền 139 lô đất từ năm 2013 và ưu ái kéo dài thời gian hoàn thành nghĩa vụ thuế cho nhà nước và mãi đến cuối năm 2015 mới tính giá đất cho doanh nghiệp, với cái giá thấp bèo là 3,3 triệu/m2. Trong khi DN bán hết 139 lô cho dân từ năm 2013 với giá từ 12-18 triệu/m2.
Nói đến các DN sân sau, ông thao túng, ưu ái, kí tá cho Tổng Công ty Anh Phát (DN dính dáng đến 62 tỷ đồng tiền của Công ty xây lắp dầu khí PVC Thanh Hóa mà công đang điều tra liên quan đến Trịnh Xuân Thanh) hàng nghìn héc ta đất mặt bằng, hàng chục mỏ đất đá trong KKT Nghi Sơn. Ông cũng trực tiếp thò tay vào can thiệp để ép buộc các nhà thầu nước ngoài thi công dự án Lọc hóa dầu thuê lại với giá cắt cổ. Ông chỉ đạo cho Ban Quản lí KKT Nghi Sơn ban hành văn bản gửi đến các nhà thầu với nội dung : Trong KKT Nghi Sơn và Thanh Hóa, Nghệ An thì chỉ có DN Anh Phát mới có đủ năng lực về tài chính, phương tiện máy móc, mỏ đất đá, mặt bằng… để đáp ứng các điều kiện của nhà đầu tư. Việc làm này của ông đã gây ra sự cạnh tranh không lành mạnh, độc quyền, độc đoán khiến cho dự án Lọc hóa dầu chậm tiến độ đến nay còn chưa thể đưa vào vận hành, thiệt hại về vật chất cho các bên liên quan lên đến hàng trăm triệu USD.
Ông xem ngư dân Sầm Sơn bức xúc tụ tập đòi bãi biển, bờ biển, bến thuyền là do ông hay ai gây ra ?
Dân Sầm Sơn than ai, oán ai, thưa ông Chiến ?
Sự kiện hàng nghìn người dân, ngư dân Sầm Sơn tổ chức biểu tỉnh để đòi lại bãi biển- bến thuyền neo đậu bám biển mưu sinh chắc ông là người hiểu hơn ai hết là tại sao dân lại bức xúc thế ?
Từ ngày ông rước tên « hán gian » Trịnh Văn Quyết FLC – họ hàng của mình về Thanh Hóa đầu tư 5,5 nghìn tỷ đồng để đổi mới Sầm Sơn, nhân dân đã đồng thuận nhượng lại nhà cửa, ruộng vườn cho dự án mà ông khởi xướng. Nhưng ông lại được đằng chân lân đằng đầu, vì đồng tiền hàng triệu, chục triệu USD nhận của Trịnh Văn Quyết nên ông đã bất chấp luật lệ, đạo đức, nhân phẩm, tư cách của người công dân Việt Nam, một đảng viên ĐCS, một lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa – ông lợi dụng Thường trực tỉnh ủy ban hành văn bản nhằm ăn cướp nốt vài km bờ biển Sầm Sơn còn lại, biến danh thắng này, các bến thuyền neo đậu của ngư dân thành của ông và của FLC thu lợi bất chính. Cái đoạn đường mà ngân sách tỉnh bỏ ra hơn trăm tỉ đồng trong khu vực FLC đã minh chứng rõ ông cãi được sao.
Tại sao tiền của nhà nước, thuế của dân mà FLC lại có thể đàng hoàng và ngang nhiên chiếm dụng và không cho dân đi lại, thu 80 nghìn đồng/xe ô tô qua lại, ông có lên tiếng bảo vệ cho dân, cho đất nước không. Riêng về tuyến đường tiền ngân sách đầu tư này FLC đã thối lại cho ông gần trăm tỷ ông biết chứ ?
Nếu như lãnh đạo Trung ương không gọi điện chỉ đạo ông ra gặp dân, liệu ông có còn tính mạng để mà thụ hưởng những đồng tiền dơ bẩn kia không, để bồ bịch với Trần Quỳnh Anh hay không ?
Thời gian gần đây ông nhất quyết chỉ đạo cưỡng ép 12 hộ dân Sầm Sơn không chịu di dời nhà cửa, chỉ vì giá đền bù 1,5 triệu/m2 vuông đất thổ cư, trong khi đó FLC đã quy hoạch nhà cửa của họ thành biệt thự chia lô bán với giá 40-50 triệu/m2 thì dân ai chịu đựng được, thưa ông Chiến. Dân Sầm Sơn than ông, oán ông đã cướp đi nhà cửa, ruộng vườn và thậm chí là nghề nghiệp bám biển mưu sinh chắc ông lại đổ tội cho người khác nữa chứ ?
Vơ vét kinh tế, thao túng chính trị
Một thành viên của Ban Tổ chức Trung ương quê Thanh Hóa cho biết, trong khóa Chủ tịch UBND (từ 2010 -2015), ông Trịnh Văn Chiến đã bỏ túi từ 2.000-2.500 tỷ đồng.
Có thể thống kê rõ nhất là Thanh Hóa mỗi năm được Trung ương rót về dòng tiền thời gian này từ 13-16.000 tỷ đồng để bù chi (ngân sách thu của Thanh Hóa giao động từ 3000-4000 tỷ/năm. Chi cho toàn tỉnh là 20-21.000 tỷ đồng/năm). Số tiền khổng lồ thì thông qua HĐND tỉnh, chủ tài khoản là Chủ tịch UBND tỉnh sẽ phân chia cho các đơn vị, ban ngành… Và theo Luật bất thành văn ông Chiến cũng được lại quả từ 5-7%.
Và kiếm nhất trong khóa Chủ tịch UBND tỉnh giai đoạn 2010-2015 của ông Chiến là « phù phép » từ hàng trăm ha đất đô thị, đất vàng bằng một « giá bèo » tư túi hàng nghìn tỷ đồng.
Từ khi chuyển sang Bí thư tỉnh ủy, ông Chiến còn thao túng cả bên UBND tỉnh, nhận hối lộ hàng trăm tỉ đồng từ việc sắp xếp nhân sự. Riêng ông Trịnh Hữu Hùng, vừa mới lên chức Giám đốc Sở Y tế đã tiết lộ là 2 lần đến nhà ông Chiến chạy chức đã mất chẵn 1 triệu USD.
Thậm chí Ngô Văn Tuấn cho dù đã có « bùa » hộ mệnh Trần Quỳnh Anh cũng phải chi cho ngài Bí thư Trịnh Văn Chiến số tiền là 40 tỷ đồng để leo lên PCT UBND tỉnh Thanh Hóa.
Trên cương vị Bí thư, ông đã can thiệp quá sâu vào công việc của chính quyền. Việc làm này của ông đã đi ngược lại chính hành động và lời nói của ông trong cuộc họp HĐND tỉnh vài năm trước đây. Trước hàng trăm đại biểu, trước ống kính truyền hình Thanh Hóa truyền hình trực tiếp cho gần 4 triệu đồng bào trong tỉnh, ông lúc đó là Chủ tịch UBND tỉnh đã cãi tay đôi với Bí thư tỉnh ủy Mai Văn Ninh là ông Ninh đã can thiệp thô bạo vào công việc của chính quyền khiến cả xứ Thanh ngao ngán.
Hơn một năm ngồi ghề bí thư tỉnh ủy ông xem ông đã thao túng những gì tại Thanh Hóa. Ông thích ai nịnh bợ, nhiều tiền thì cho lên chức, kẻ nào biết điều và ngoan thực hiện chỉ đạo của ông thì được yên vị ghế ngồi. Ông Trịnh Huy Triều, bí thư Thị xã Sầm Sơn bị kỷ luật là do ai. Trong đợt bầu cử vừa qua, ông cố tình đưa đưa Chủ tịch UBND tỉnh xuống đơn vị bầu cử Sầm Sơn nhằm đánh trượt HĐND và đương nhiên là cho « rớt » chức Chủ tịch UBND tỉnh để dễ bề đưa Ngô Văn Tuấn lên thay thế ông biết chứ ? Ông thao túng DN sân sau là Tổng Cty Anh Phát làm gì trong KKT Nghi Sơn để môi trường đầu tư, kinh doanh của Thanh Hóa bị báo chí chính thống mô tả là « trên dải thảm, dưới dải đinh » ?
Những việc ông làm đã phá nát một xứ Thanh anh hùng và bất khuất khiến cho lãnh đạo Trung ương, Tứ trụ triều đình ai cũng biết việc ông làm và thực tế không một lãnh đạo nào còn dám vào thăm Thanh Hóa để cho một tên « độc tài, tàn bạo » như ông đón tiếp nữa hay không ?

(TTHNO sẽ tiếp tục cập nhật phần III)

Trịnh Văn Duy

Bài của tác giả gửi tới TTHN Oline

 

MỜI ĐỌC THÊM:

Bí thư Thanh Hoá bác bỏ thông tin có bồ nhí

Ông Trịnh Văn Chiến khẳng định thông tin trên mạng xã hội về “tài sản của bồ nhí Bí thư Thanh Hóa” là bịa đặt.

Liên quan tới những thông tin đang lan trên mạng xã hội về khối tài sản kếch xù của người được cho là “bồ nhí” của ông Chiến và chuyện 2 người có con riêng, Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa Trịnh Văn Chiến đã thẳng thừng bác bỏ.

Trao đổi với phóng viên, ông cho rằng, thông tin trên mạng xã hội nhắm đến nhiều người, chứ không chỉ riêng cá nhân ông.

“Đó toàn là thông tin bịa đặt, bôi nhọ cán bộ và tỉnh đã giao cơ quan chức năng vào cuộc. Tỉnh ủy cũng đã có chỉ đạo xử lý việc ấy”, ông nói.

Bi thu Thanh Hoa bac bo thong tin co bo nhi hinh anh 1
Bí thư Thanh Hóa Trịnh Văn Chiến

Ông Chiến cũng cho biết thêm, ngoài sự vào cuộc của Công an tỉnh Thanh Hoá, ông đã đề nghị cả Bộ Công an vào cuộc.

Trước đó, trên nhiều trang mạng xã hội, blog lan truyền bài viết kèm hình ảnh nói về mối quan hệ “bồ nhí” giữa Bí thư Tỉnh uỷ Thanh Hoá Trịnh Văn Chiến và một nữ trưởng phòng của Sở Xây dựng.

Bài viết cho rằng nữ cán bộ này sở hữu nhiều ô tô hạng sang, bất động sản ở Thanh Hoá và Hà Nội có giá trị ước tính lên tới hàng chục tỷ đồng.

Chính phủ “kiến tạo phát triển” và phép thử Hoa Sen

Nguyễn Quang Đồng (*)
Chia sẻ:

Bài toán kinh tế của Hoa Sen cần đặt được trong bối cảnh phát triển chung của toàn vùng – đặc biệt là xét trên tương quan thế mạnh du lịch biển của vùng này. Trong ảnh: Dây chuyền sản xuất tôn của Hoa Sen. Ảnh: UYÊN VIỄN

(TBKTSG) – Vụ việc tập đoàn Hoa Sen đề xuất kế hoạch xây dựng tổ hợp sản xuất thép ở Cà Ná, Ninh Thuận – ngay giữa thời điểm mà sự cố môi trường gây ra bởi dự án thép của Công ty Formosa ở Hà Tĩnh vẫn còn chưa được giải quyết xong – đã trở thành tâm điểm của dư luận.

Chính phủ và những câu hỏi từ Hoa Sen

Trong khi người dân và nhiều chuyên gia bày tỏ quan ngại về rủi ro môi trường, chính quyền Ninh Thuận lại thể hiện sự ủng hộ dành cho Hoa Sen, thông qua việc đề xuất một loạt ưu đãi cho dự án này. “Bóng” giờ đang nằm trong chân Chính phủ. Nhưng trước khi đưa ra quyết định cuối cùng cho số phận dự án, một loạt vấn đề Chính phủ cần cân nhắc.

Thứ nhất là hiệu quả kinh tế và khả năng tạo việc làm. Một tiêu chí đúng đắn mà Chính phủ đưa ra cho việc đánh giá các dự án gần đây là số lượng việc làm mà dự án tạo ra. Với dự án này, Hoa Sen hứa hẹn rằng khi hoàn thành sẽ tạo ra 45.000 lao động cho địa phương. Xét từ góc độ tỉnh Ninh Thuận, đó là một con số hấp dẫn. Nhưng Chính phủ, với tư cách phục vụ lợi ích quốc gia, còn cần nhìn cả khả năng tạo việc làm của cả ngành và mức độ lan tỏa của ngành ra toàn nền kinh tế, chứ không phải là một dự án riêng biệt. Ở khía cạnh này, các nghiên cứu kinh tế đều cho thấy rằng thép không phải là ngành tạo ra ảnh hưởng lan tỏa cao đến nền kinh tế và việc làm. Do vậy, thay vì dùng ưu đãi từ nguồn lực công (cụ thể ở đây là ưu đãi thông qua đất đai, nước, điện được trợ giá) cho Hoa Sen nói riêng, và ngành thép nói chung, liệu có nên dùng ưu đãi cho các ngành sản xuất khác có thể tạo ra nhiều việc làm hơn là ngành thép?

Thứ hai là những hứa hẹn về khoản thuế Hoa Sen có thể đóng góp cho ngân sách địa phương. Cần phải có những tính toán kỹ lưỡng hơn về lập luận này. Bởi ngay chính Hoa Sen tiết lộ, mục tiêu lâu dài của dự án là xuất khẩu thép chứ không chỉ là giới hạn trong thị trường trong nước. Với một loạt ưu đãi rất lớn từ phía Nhà nước liên quan đến các yếu tố đầu vào ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm như nói trên, cần phải xem xét đến khả năng Hoa Sen có bị kiện bán chống phá giá khi xuất khẩu không. Sản phẩm thép Trung Quốc đang bị kiện chống bán phá giá ở nhiều nước. Nếu Hoa Sen rơi vào hoàn cảnh tương tự, khả năng lợi nhuận, cũng như rủi ro thua lỗ của Hoa Sen thế nào? Bởi nếu không có lợi nhuận thì lấy đâu ra tiền để Hoa Sen đóng thuế thu nhập doanh nghiệp! Vì thế, khả năng về lâu dài Hoa Sen có thể góp phần tăng nguồn thu từ thuế cho địa phương vẫn cần được tính toán kỹ lưỡng hơn.

Thứ ba, bài toán kinh tế của Hoa Sen cần đặt được trong bối cảnh phát triển chung của toàn vùng – đặc biệt là xét trên tương quan thế mạnh du lịch biển của vùng này. Chi phí và lợi ích giữa làm thép và du lịch cần được tính toán tổng thể, không chỉ riêng cho Ninh Thuận mà cần xem xét cả Khánh Hòa và Bình Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu.

Thứ tư là yếu tố công khai minh bạch trong việc thu hút và ưu đãi đầu tư. Chính phủ mới đã tuyên bố rất rõ ràng và nhất quán về việc xây dựng môi trường kinh doanh công bằng và minh bạch. Vì vậy, dù có chấp thuận hay không chấp thuận dự án của Hoa Sen, quá trình đánh giá và phê duyệt dự án này cần được thông tin đầy đủ và minh bạch đến người dân và doanh nghiệp khác. Cần nêu rõ được vì lý do gì Hoa Sen được chọn? Có sự cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp khác không, hay Hoa Sen là nhà đầu tư duy nhất? Chuyện các doanh nghiệp lớn “bắt tay”, thậm chí là “đi đêm” với các cơ quan quyết định chính sách – hay “chủ nghĩa thân hữu” như cách gọi của giới chuyên gia – đang là vấn nạn nhức nhối của nước ta. Do đó, nếu không minh bạch trong câu chuyện Hoa Sen – niềm tin vào Chính phủ mới có nguy cơ tiếp tục bị xói mòn.

Qua cách Chính phủ xử lý bài toán Hoa Sen, người dân và doanh nghiệp sẽ có cơ hội kiểm chứng trên thực tế việc thực thi các tuyên bố và cam kết cải cách mà Chính phủ đã nhiều lần đưa ra.

Và cuối cùng, cũng là vấn đề quan trọng nhất: quan ngại về vấn đề môi trường, không chỉ cho riêng Ninh Thuận mà là toàn bộ khu vực Nam Trung bộ. Vấn đề này, có lẽ không cần phân tích thêm, bởi bài học từ dự án thép của Công ty Formosa tại Hà Tĩnh với toàn bộ khu vực Bắc Trung bộ đã quá rõ ràng. Chuyên gia Vũ Quang Việt đưa ra một phân tích đáng chú ý: nếu đưa chi phí về môi trường vào dự án thì hầu như các doanh nghiệp thép khó có lãi. Còn nếu doanh nghiệp thép có lãi chắc chắn môi trường bị hủy hoại(1). Nếu chọn làm thép theo cách hy sinh môi trường, chỉ Hoa Sen có lãi, và tỉnh Ninh Thuận có “thành tích” – còn chi phí cao hơn nhiều, sẽ chia và đổ lên đầu toàn bộ người dân, nhất là người dân trong khu vực dự án.

Hoa Sen và mục tiêu phát triển bền vững của Chính phủ

Vượt ra ngoài những vấn đề kỹ thuật nêu trên, Hoa Sen thực sự là một phép thử với Chính phủ mới. Bởi qua cách Chính phủ xử lý bài toán Hoa Sen, người dân và doanh nghiệp sẽ có cơ hội kiểm chứng trên thực tế việc thực thi các tuyên bố và cam kết cải cách mà Chính phủ đã nhiều lần đưa ra.

Xét từ góc độ chính quyền địa phương, việc Ninh Thuận đề xuất những ưu đãi lớn dành cho Hoa Sen là có thể hiểu được. Sức “cám dỗ” của lời hứa hẹn về hàng chục ngàn việc làm, hàng chục ngàn tỉ đồng thu ngân sách, con số tăng trưởng GDP vùng cao hơn hàng chục tỉnh bạn thật khó mà cưỡng lại, nhất là với một tỉnh nghèo như Ninh Thuận – điều cũng từng xảy ra với Hà Tĩnh trong câu chuyện Formosa. Nhưng đứng ở góc độ quốc gia, Chính phủ cần dũng cảm nói không với GDP “bẩn” – đúng như cam kết “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng” của Thủ tướng.

Cá nhân tôi cho rằng, Chính phủ, ngay từ những ngày đầu nhiệm kỳ đã lựa chọn đúng đắn – cải cách môi trường kinh doanh và phát triển khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước. Môi trường kinh doanh thông thoáng và minh bạch là yếu tố quan trọng hàng đầu để phát triển doanh nghiệp và nâng cao sức cạnh tranh cho nền kinh tế, chứ không phải là những ưu đãi về đất đai, vốn, hay tài nguyên. Nói không với những “dự án tỉ đô” đầy cám dỗ và cũng đầy rủi ro ô nhiễm đồng nghĩa với việc chấp nhận GDP sẽ tụt giảm trong ngắn hạn. Nhưng lợi ích mang lại bởi sự lớn mạnh của khu vực doanh nghiệp, bởi phát triển bền vững sẽ lớn lao hơn nhiều trong dài hạn.

Tôi tin rằng, người dân và doanh nghiệp chắc chắn đủ sáng suốt để ủng hộ Chính phủ lùi một bước trong cái gọi là “thành tích tăng trưởng” để tiến những bước dài hơn trên con đường phát triển bền vững về sau.

(*) Chuyên gia chính sách công độc lập

(1) http://www.thesaigontimes.vn/149047/Thi-truong-thep-va-Formosa.html

Cần sự giám sát của người dân và các chuyên gia độc lập

Trên góc độ lý thuyết, việc một doanh nghiệp đầu tư phát triển một dự án nào đó hoàn toàn thuộc về quyền chủ động của doanh nghiệp đó. Một khi doanh nghiệp đã quyết định bỏ tiền ra đầu tư thì người lao động, người tiêu dùng, và Nhà nước là những chủ thể được hưởng lợi đầu tiên. Người lao động sẽ có thêm việc làm, người tiêu dùng sẽ có thêm nhà cung cấp mới, và Nhà nước thu được thêm tiền thuế. Còn doanh nghiệp thì có thể thu được lợi nhuận nếu tính toán ban đầu là đúng đắn.

Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích trên thì mọi dự án đều có thể gây ra những ảnh hưởng ngoại hiện tiêu cực cho những người xung quanh như phát thải gây ô nhiễm môi trường. Những gì vừa xảy ra tại dự án sản xuất thép của Công ty Formosa ở Hà Tĩnh là một ví dụ minh họa rõ nét cho việc này.

Về mặt nguyên tắc, chủ dự án sẽ cần phải đàm phán, thương lượng với tất cả các chủ thể xung quanh về những nguy cơ ô nhiễm môi trường có thể xảy ra. Nếu các bên thấy rằng mức đền bù cho việc gây ô nhiễm ở mức độ nào đó là chấp nhận được thì sẽ đồng ý để cho chủ dự án xây dựng.

Quy hoạch chỉ có ý nghĩa tương đối trong việc định hướng đầu tư, phát triển trong tương lai. Nó không phải là một cái khung cứng nhắc – không thể điều chỉnh, thay đổi.

Dự án thép ở Cà Ná, Ninh Thuận mà tập đoàn Hoa Sen đề nghị xây dựng rơi vào trường hợp này. Trước đó, dự án thép này không có trong quy hoạch (hoặc chính xác hơn là đã được bỏ ra khỏi quy hoạch trước đó nữa), nhưng với đề xuất của tập đoàn Hoa Sen, nó đã được cân nhắc đưa trở lại quy hoạch. Vấn đề còn lại, do vậy, sẽ là liệu các bên liên quan có thể chấp nhận được lợi ích và chi phí mà dự án này có thể mang lại hoặc gây ra cho mình hay không.

Với các dự án có khả năng gây ảnh hưởng đến môi trường trên diện rộng thì Chính phủ hoặc chính quyền địa phương sẽ đứng ra làm đại diện cho người dân để thương lượng về đền bù và các cam kết về mức độ gây ô nhiễm môi trường ở dưới một ngưỡng chấp nhận được. Nhà nước cũng chính là bên sẽ đứng ra để giám sát mức độ tuân thủ cam kết của chủ dự án.

Đa số người dân và các doanh nghiệp nhỏ (bị ảnh hưởng) thường có ít hiểu biết về các tác động môi trường của một dự án nào đó. Vì lẽ đó, sự tham gia của đại diện trực tiếp của người dân và các chuyên gia độc lập là cần thiết để tìm hiểu và xem xét các đánh giá các tác động môi trường mà chủ dự án thực hiện và vai trò đại diện của Nhà nước trong việc thương lượng với chủ dự án có thỏa đáng hay chưa. Tùy từng quy mô và mức độ ảnh hưởng, đại diện của người dân có thể ở cấp xã, huyện, tỉnh hoặc Quốc hội đứng ra để bảo vệ quyền lợi cho mình.

Đinh Tuấn Minh

( Nguồn: KTSG online)

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.09.2016

CỒN HẾN ƠI, CƠM HẾN

ĐỌC BỘ SÁCH ” NGÔ MINH TÁC PHẨM”, TẬP 3:

   CỒN HẾN ƠI, CƠM HẾN

 Ngô Minh

 

IMG_8193

Trong hơn nghìn món ăn nấu theo lối Huế, có một món quà sáng mà từ vua quan cho tới dân đen, từ khách Tây bụng phệ, mắt xanh mũi lõ, cho đến thằng Ta gầy nhom, tất tất ai cũng mê. Đó là cơm hến. Ra quán cơm hến một bữa lại muốn bữa thứ hai. Nghe thoảng mùi cơm hến ai đang no cũng thèm da diết. Tôi có anh bạn tiến sĩ Nguyễn Bích Đạt, từ Hà Nội vào Huế dạy “cua” đại học. Buổi sáng đầu tiên, tôi đưa anh đi giới thiệu món cơm hến mà mình thường tự hào ca ngợi. Anh ăn cay kém, nên vừa ăn vừa xúyt xoa, nước mắt mồ hôi chảy ròng ròng. Tôi phải động viên xin lỗi bạn, sợ bạn hiểu không đúng hay về thiện chí của mình. Không ngờ anh bạn tôi ăn xong, mồ hôi đang rỏ vào cả bát cơm hến, mà mắt lại lấp lánh nụ cười khoái chí. Ăn xong tô thứ nhất, anh lớn tiếng gọi tô nữa! Và mấy buổi sáng sau, bạn tôi bỏ cơm nhà khách, ra quán cơm hến Bà Cam ở đường Trương Định. Thế là bạn tôi đã ‘’nghiện‘’cơm hến rồi đấy ! Và vốn là người yêu thơ, bạn tôi vui vẻ:’’ Bây giờ mình mới hiểu câu thơ của Tố Hữu ‘’bát cơm hến cũng ngọt ngào lòng ta ‘’. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.09.2016

Công tác cán bộ – nhân nào quả nấy

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.09.2016

VĂN TRẺ-“ỒN ÀO VÀ LẶNG LẼ”…

VĂN TRẺ-“ỒN ÀO VÀ LẶNG LẼ”…

hoang-dang-khoa

HOÀNG ĐĂNG KHOA

Đến hẹn lại lên, hội nghị Những người viết văn trẻ toàn quốc do Ban Nhà văn trẻ – Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức 5 năm một lần lại sắp sửa diễn ra tại Hà Nội. Đây thực sự là một ngày hội được các cây bút trẻ trên mọi miền đất nước đón đợi với tâm thế hứng khởi, háo hức.

Văn trẻ mùa này vắng những ồn ào

Những người viết văn trẻ, đúng như danh xưng của họ, nhiều táo bạo, dũng cảm trong tìm tòi, thể nghiệm, quyết liệt trong “đi tìm mặt” nhưng cũng nhiều “nổi loạn”, và cả không ít “phá bĩnh”. Lấy Hội nghị Những người viết văn trẻ lần thứ VII tổ chức tại Hội An năm 2006 để so chiếu chẳng hạn, thì Hội nghị Những người viết văn trẻ lần thứ IX sẽ được tổ chức tại Hà Nội vào đầu quý IV năm 2016 này đội ngũ đại biểu tham dự chắc hẳn sẽ “hiền lành” hơn về cá tính, “trầm lặng” hơn về tiếng tăm. Hội nghị VII quy tụ những gương mặt “đình đám” (có trường hợp được bồi trợ thêm bởi những “sự vụ”, yếu tố ngoài văn chương) như Nguyễn Ngọc Tư với Cánh đồng bất tận, Đỗ Hoàng Diệu với Bóng đè, Đỗ Bích Thúy với Tiếng đàn môi sau bờ rào đá, Vi Thùy Linh với Khát, Đồng tử, Phan Huyền Thư với Nằm nghiêng,Rỗng ngực, Ly Hoàng Ly với Lô lô, Nguyễn Vĩnh Tiến với thơ – nhạc, rồi các tên tuổi xuất thân từ các hội bút nức tiếng trước đó như Hương đầu mùa trên báo Hoa học trò, Vòm me xanh trên báo Mực tím, rồi nhóm Ngựa Trời vớiDự báo phi thời tiết bừng bừng tinh thần “nổi loạn”… Đành rằng, người đọc đủ tỉnh táo, thông minh để nhận diện đâu là văn chương đích thực, và thời gian đủ sức, đủ nhanh để thải loại những gì là phi/phản văn chương, tuy nhiên, thiết nghĩ, một ít “ồn ào” đôi khi cũng có tác dụng khuấy động đời sống văn học, thu hút nhiều hơn sự chú ý của công chúng về phía văn chương, khi mà các loại hình giải trí nghe nhìn đang bành trướng không gian văn hóa đương đại. Những hiện tượng có khả năng gây tạo chú ý theo kiểu này kiểu kia như thơ của nhóm Mở Miệng, tiểu thuyết dịchXin lỗi, em chỉ là con đĩ của Trang Hạ, tiểu thuyết tự truyện Người tình New York của Hà Kin, tiểu thuyết Sợi xích của Lê Kiều Như, tập thơ Anh ngủ thêm đi anh/ Em phải dậy lấy chồng của Nồng Nàn Phố… thời gian này đột nhiên đi vắng, chưa “tái xuất”. Văn học mạng, sau kỳ cao trào với nhiều ồn ào thì lúc này đang đi vào thoái trào, trầm lắng.

Một ít ồn ào nếu có trong không gian văn trẻ hiện nay là thuộc về dòng văn học của các tác giả còn rất trẻ như Anh Khang, Hamlet Trương, Phan Ý Yên… với nhiều ấn phẩm có số lượng phát hành từ vài chục ngàn đến hàng trăm ngàn bản. Người thì cho đây là “văn học thị trường”, “văn học thời trang” chỉ thỏa mãn nhu cầu giải trí nhất thời, chỉ là sản phẩm “cận văn học”, người thì bảo những ấn phẩm ấy phải có cái gì, phải như thế nào hơn thế thì mới được giới trẻ đón nhận như thế, chứ có phải cứ muốn là được đâu…

Như vậy, nhìn một cách tổng quan, có thể nói, hiếm khi văn trẻ lại chuyển động trong một mùa có vẻ bình lặng như mùa đang diễn ra này.

“Lặng lẽ viết là cách thể hiện ồn ào nhất”

Phát biểu này của nhà văn trẻ Văn Thành Lê xem ra không chỉ đúng với riêng trường hợp của anh mà còn đúng với cả một thế hệ văn chương mới, thế hệ  8x, 9x – những cây bút được định danh là “trẻ”, xét về độ tuổi.

Về văn xuôi, đó là Nguyễn Thị Kim Hòa (Ninh Thuận) – quán quân cuộc thi truyện ngắn tạp chí Văn nghệ quân đội2013-2014, giải nhất cuộc vận động sáng tác văn học thiếu nhi 2013-2015 thuộc Dự án Hỗ trợ văn học thiếu nhi Việt Nam – Đan Mạch do Nxb Kim Đồng phối hợp với Hội Nhà văn Đan Mạch tổ chức, đã xuất bản 6 đầu sách, mà gần đây đáng chú ý là tập truyện ngắn Đỉnh khói; là Nhật Phi (Hà Nội) – quán quân cuộc thi Văn học tuổi 20 lần V (2014) với truyện dài Người ngủ thuê. Ngoài ra là Đinh Phương, Dương Giao Linh (Quảng Ninh), Lê Minh Nhựt (Cà Mau), Cao Nguyệt Nguyên, Linh Lê, Lý A Kiều, Nguyễn Văn Toan, Nguyệt Chu, Hương Thị, Chu Thùy Anh, Dương Hằng, Nguyễn Văn Học (Hà Nội), An Khang, Hamlet Trương, Phan Ý Yên, Hồng Sakura, Tiểu Quyên, Văn Thành Lê, Vũ Văn Song Toàn, Lưu Quang Minh (Tp. Hồ Chí Minh), Nhụy Nguyên, Lê Minh Phong, Lê Vũ Trường Giang, Meggie Phạm (Huế), Trác Diễm (Quảng Bình), Chu Thị Minh Huệ (Hà Giang), Kiều Duy Khánh (Sơn La), Chu Thanh Hương, Nguyễn Luân (Lạng Sơn), Vũ Thị Huyền Trang (Phú Thọ), Hoàng Công Danh (Quảng Trị), Trần Quỳnh Nga (Hà Tĩnh), Trịnh Sơn (Bà Rịa – Vũng Tàu), Nông Quốc Lập (Cao Bằng)… – những cây bút giàu nội lực, đang dần định hình phong cách, nhiều người trong số này cũng đã được vinh danh tại những cuộc so tài văn chương danh giá, sang trọng.

Có một nghịch lý khá thú vị là, những người viết văn trẻ đang thực hành nghề nghiệp trong thời đại được định danh là thời của fastfood, cái đọc, cái viết theo đó cũng hướng đến tiêu chí nhanh và tiện, nhưng hiện tại, những cây bút truyện ngắn đã thành danh như Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Đình Tú, Nguyễn Ngọc Tư, Phong Điệp, Phan Hồn Nhiên… thì rẽ sang hướng tiểu thuyết, những cây bút truyện ngắn mới nổi lên như Tống Ngọc Hân, Đinh Phương… cũng nhanh chóng bập vào tiểu thuyết, những tác giả rất trẻ như Meggie Phạm, Trác Diễm… thì chọn trình làng những tác phẩm đầu tay cũng là tiểu thuyết. Phải chăng, vì những cái viết ngắn đến lượt lại không đủ thỏa mãn bộ phận người đọc tinh hoa muốn được phiêu lưu dài hơi trong sự đọc, sự nghĩ, sự thưởng ngoạn thẩm mĩ? Hay vì những người viết văn trẻ muốn tìm đến tiểu thuyết để vừa thử sức, vừa bung trỗ, khẳng định sức vóc văn chương của chính mình?

Về lý luận – phê bình, văn đàn đang chứng kiến sự trình hiện ấn tượng của một lực lượng phê bình trẻ đông-và-mạnh (chứ không phải mỏng-và-yếu như một mặc định cửa miệng của những người quan liêu không đọc, không quan sát, chỉ biết hoặc phán bừa, hoặc nói theo người khác). Có thể nói được rằng, văn chương đang đi vào thời của phê bình trẻ, bởi vài năm trở lại đây, giới chuyên môn nói riêng, người yêu văn chương nói chung thích thú trước sức trỗi dậy của ý thức và trình độ phê bình khi những công trình phê bình của các tác giả trẻ liên tục được công bố. Đó là Đoàn Ánh Dương với Không gian văn học đương đại, Đoàn Minh Tâm với Văn học trẻ như tôi hình dungVăn chương nhìn từ Nhà số 4, Nguyễn Thanh Tâm và Ngô Hương Giang với Mai Văn Phấn và hành trình thơ vào cõi khác, Nguyễn Thanh Tâm với Loại hình Thơ mới Việt Nam (1932-1945), Ngô Hương Giang với Chân lý và hư cấu, Nguyễn Mạnh Tiến với Những đỉnh núi du ca – một lối tìm về cá tính H’mông, Phan Tuấn Anh với Gabriel García Márquez và nỗi cô đơn huyền thoại, Hoàng Cẩm Giang với Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI – cấu trúc và khuynh hướng, Nguyễn Đức Toàn với Văn xuôi Việt Nam đương đại – hiện tượng và bút pháp… Ngoài ra là những tiếng nói phê bình trẻ khác đang dần khẳng định năng lực chuyên môn, uy tín nghề nghiệp như Trần Ngọc Hiếu, Mai Anh Tuấn, Trần Thiện Khanh, Đỗ Thị Hường (Hà Nội), Trần Việt Phương (Hòa Bình), Nguyễn Nhật Huy (Thái Nguyên), Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Văn Thuấn, Thái Phan Vàng Anh (Huế), Nguyễn Văn Huy (Đà Nẵng), Hồ Tấn Nguyên Minh (Phú Yên), Hoàng Phong Tuấn, Hồ Khánh Vân (Tp. Hồ Chí Minh)… Họ là những người được đào tạo bài bản, đa phần đã nhận học vị tiến sĩ văn học.

Về dịch thuật, đó là những gương mặt ấn tượng đủ cơ sở để giới chuyên môn cũng như bạn đọc nói chung tin tưởng vào một “phiên đổi gác” dịch thuật sắp sửa, như Nham Hoa, Minh Thương, Cao Việt Dũng, Thiên Thai, Nguyễn Huy Hoàng, Trần Ngọc Hiếu, Thiên Lương, Lê Nguyên Long, Nguyễn Đào Nguyên, Phạm Phương Chi, Trần Trọng Dương, Trần Quang Đức, Trần Nhật Mỹ, Lê Nguyễn Lê, Hoàng Anh, Đoàn Hương Giang, Hoàng Phương Thúy, Ngô Hà Thu, Lương Việt Dũng (Hà Nội), Nguyễn Vũ Hưng, Hoàng Phong Tuấn, Hoàng Long (Tp. Hồ Chí Minh)…

Về thơ, mặc dù trầm lắng hơn nhưng cũng không khó để điểm danh những cây bút đang làm nên diện mạo của thơ trẻ như Phạm Vân Anh, Lữ Thị Mai, Đoàn Văn Mật, Nguyễn Quang Hưng, Lý Hữu Lương, Đào Quốc Minh, Nguyễn Thị Kim Nhung, Du Nguyên, Lương Đình Khoa, Viễn Hải (Hà Nội), Nguyễn Phong Việt, Trần Võ Thành Văn, Từ Hồng Sơn, Kai Hoàng (Tp. Hồ Chí Minh), Nguyễn Minh Cường (Bắc Ninh), Phạm Văn Vũ (Thái Nguyên), Ngô Thị Thanh Vân, Lê Vi Thủy (Gia Lai), Lương Kim Phương, Trần Ngọc Mỹ (Hải Phòng), Nguyễn Hồng (Nghệ An), Hoàng Chiến Thắng, Phùng Thị Hương Ly (Bắc Kạn), Hoàng Anh Tuấn (Lào Cai), Võ Mạnh Hảo (Long An), Lê Hòa (Lâm Đồng), Nguyễn Đức Phú Thọ, Lê Quang Trạng (An Giang), Ngô Thị Thục Trang (Quảng Nam), Kiều Mai Ly (Ninh Thuận)… Họ đang điềm tĩnh đi giữa lằn ranh của truyền thống và hiện đại. Họ biết lắng lọc để chỉ học hỏi, tiếp thu những yếu tố tích cực nơi những thực hành cách tân thơ nhiều khi ồn ào, thái quá của những người đi trước.

Hãy cùng tin tưởng và hy vọng

Đành rằng không có hội nghị Những người viết văn trẻ thì những cây bút trẻ vẫn cứ viết theo đam mê, bằng nội lực của riêng mình. Tuy nhiên, không thể phủ nhận vai trò, khả năng “tạo cú hích”, “tiếp lửa” đối với những người viết văn trẻ của 8 kì hội nghị đã lần lượt diễn ra. Không nên đặt quá nhiều kì vọng vào những “thể loại” hội nghị hội thảo, nhưng chắc hẳn hội nghị Những người viết văn trẻ toàn quốc lần thứ IX sẽ là không gian tinh thần rộng mở cho những người viết văn trẻ cả nước quy tụ, gặp gỡ, giao lưu, là dịp để điểm danh, biểu dương lực lượng, xốc lại đội ngũ, là cơ hội để cùng nhìn lại và nhìn về phía trước. Mong rằng tại đây, các cây bút trẻ mạnh dạn cất lên tiếng nói của họ, khát vọng của họ về văn chương, cuộc sống và con người.

Không chiến thuật, chiêu trò gây “sốc”, từ chối những chủ ý gây tạo ồn ào bên ngoài trang viết, những người viết văn trẻ đang lặng lẽ cần mẫn gieo cấy trên cánh đồng chữ nghĩa. Với sự lựa chọn tâm thế văn chương này, văn trẻ đang đi những bước điềm tĩnh nhưng chắc chắn, không vấp váp, sa ngã, không chệch đường, lạc đường. Đây là cơ sở để chúng ta tin tưởng và hy vọng vào một mùa văn chương mới.

( Nguồn: vanvn.net)

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.09.2016

Việt Nam trong thế cờ địa – chính trị mới

Việt Nam trong thế cờ địa – chính trị mới

  •   ĐINH HOÀNG THẮNG

Sau một phần tư thế kỷ từ khi Liên bang Xô-viết tan rã, giờ đây, tình thế chung chiêng như chuông treo chỉ mành liệu có lặp lại? Hàng loạt sự kiện trong mùa hè này cho thấy, trật tự khu vực và thế giới đều đang chuyển động khá mạnh. Một số quốc gia điều chỉnh các ưu tiên đối ngoại. Sát nách Việt Nam, chính sách của lân bang cũng khó dự đoán, không loại trừ những lối rẽ bất ngờ. Việt Nam đối phó ra sao trước những đợt sóng ngầm? Câu hỏi ngày càng trở nên thời sự sau Hội nghị ngoại giao diễn ra tại Hà Nội từ 22—26/8/2016.

“Ở bên ngoài, môi trường chiến lược của nước ta đã và đang nổi lên nhiều thách thức chưa từng có, tác động trực tiếp đến các lợi ích an ninh và phát triển.”[1] Người đứng đầu ngành ngoại giao Việt Nam tuyên bố như thế tại Hội nghị nói trên, hai năm tổ chức một lần. Hãy khoan xét đến những sự kiện như xu thế Brexit ở châu Âu, hay mùa bầu cử của Mỹ bên kia đại dương và làn sóng khủng bố của IS đang bao phủ toàn cầu. Tuy nhiên, ngày nay, khoảng cách xa gần của các sự kiện đâu còn là vấn đề có thể ru ngủ chúng ta. Nhưng hãy chú ý đến những tin tức đang “thúc vào mạng sườn”. Trung Quốc và nước Nga của “Đại đế Putin” lần đầu tiên chính thức tuyên bố sẽ tập trận chung trên Biển Đông từ 9—12/9. Cuộc tập trận mang tên “Liên hợp trên biển 2016” (Joint Sea 2016) nhằm chiếm lại một số đảo trong khu vực Biển Đông (đảo nào? từ Việt Nam hay Philippines?). Còn khả năng xung đột Trung – Mỹ thì sao? Theo một tuyên bố từ Nhà Trắng, tình hình căng thẳng leo thang do những tranh chấp ở Biển Đông giữa Trung Quốc với một số nước láng giềng sẽ là một chủ đề chính trong cuộc hội đàm giữa Tổng thống Obama và Chủ tịch Tập Cận Bình bên lề hội nghị thượng đỉnh Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi (G20) vào ngày 3/9 tới. Trước đó, một Hội nghị do RMIT (Úc) và Học viện Công nghệ Massachusetts (Mỹ) tổ chức tại Melbourne, quy tụ nhiều chuyên gia hàng đầu thế giới đã thảo luận về một cuộc chiến không thể tránh khỏi giữa Trung Quốc với Mỹ. “Đây là vấn đề về quyền lực”, Giáo sư Siracussa thuật lại: “Lầu Năm Góc đang chuẩn bị theo hướng để đối phó với Trung Quốc. Biển Đông vì thế trở thành điểm nóng có thể bùng phát chiến tranh”. Về phần mình, Bắc Kinh cũng sẵn một kế hoạch quân sự tổng thể, trong đó có cả hoạt động bồi đắp đảo và ngăn cản quân đội Mỹ, vị giáo sư RMIT cho biết.

Căng thẳng tứ bề 

Tuần qua, quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia đột nhiên trở nên bất thường. Có nhiều dấu hiệu cho thấy, vấn đề biên giới giữa hai nước sẽ nóng lên… Giới đối lập tại Phnom Penh liên tục tung ra luận điệu xuyên tạc chính quyền đương nhiệm “nhượng đất cho Việt Nam”. Các cuộc xung đột giữa dân chúng hai bên biên giới ngày càng nhiều và mức độ càng lúc càng nghiêm trọng… Chính phủ Hun Sen vừa loan báo đã gửi công hàm cho Hà Nội để phản đối việc xây dựng một đồn biên phòng (trên đất Việt Nam) tại khu vực giáp với huyện O’yadaw, thuộc tỉnh Ratanakkiri. Tuần qua, Thủ tướng Hun Sen tuyên bố Campuchia sẽ mở một tuyến đường quanh khu vực giáp biên giới Việt Nam[2]. Tại hội nghị diễn ra ngày 22/8/2016, Thủ tướng Hun Sen yêu cầu chính quyền các tỉnh nằm dọc biên giới  với Việt Nam tổ chức di dân đến cư trú ở khu vực cận biên, coi đó là cách tốt nhất để bảo vệ lãnh thổ của đất nước chùa Tháp. Cũng trong tuần qua, ông Va Kim Hong, Chủ tịch Ủy ban biên giới tiếp tục phản đối điều mà ông này dựng lên là “Việt Nam xâm phạm chủ quyền của Campuchia”. Trong một trả lời phỏng vấn, Chủ tịch Viện Nghiên cứu Chiến lược Vannarith Chheang cũng nhận định, quan hệ giữa Campuchia và Việt Nam đang đối diện với nhiều thách thức. Sở dĩ chính quyền cứng rắn một cách khác thường như vậy là vì Samdech Hun Sen muốn tiếp tục làm thủ tướng thêm một nhiệm kỳ nữa (nhiệm kỳ thứ năm). Từ nay đến tháng 7/2018, thời điểm diễn ra cuộc tổng tuyển cử, ông Hun Sen muốn chứng tỏ với dân chúng rằng ông ta là người duy nhất có thể bảo vệ chủ quyền của Campuchia[3].

Trong khi đó, từ đầu hè này Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị tuyên bố Trung Quốc đã đạt được đồng thuận với Campuchia và Lào trong vấn đề Biển Đông. Theo đó, hai nước không phản đối những đòi hỏi của Bắc Kinh ở vùng biển này[4]. Hãng thông tấn nhà nước Trung Quốc còn nói rằng các nước này đều thống nhất, “tranh chấp lãnh thổ không phải là vấn đề giữa Trung Quốc và khối ASEAN”. Báo Đảng của Trung Quốc trong một bình luận ngày 31/8 đã đi xa tới mức vứt hẳn cả cái “lá nho” vốn được dùng để che đậy: “Hun Sen và Campuchia có thể giữ vững lập trường (ủng hộ Trung Quốc), hiển nhiên không phải vì các bên đều bỏ tiền mua chuộc, nhưng Bắc Kinh đã trả giá cao nhất (!)”[5].Và cũng hiếm khi nào Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào lại được dư luận chú ý nhiều như trong dịp này. Trên cương vị Chủ tịch luân phiên Hiệp Hội các nước Đông Nam Á, Lào tổ chức thượng đỉnh ASEAN lần thứ 28 (từ 6—8/9/2016) với sự tham gia của lãnh đạo nhiều nước, đặc biệt là sự có mặt của Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama. Đối với chủ nhân Nhà Trắng, thượng đỉnh Vientiane 2016 là cơ hội để tiếp tục thúc đẩy chính sách “xoay trục” của Washington. Tuy nhiên, đã có dấu hiệu cho thấy Lào đang giữ khoảng cách với Trung Quốc: tại hai cuộc họp ASEAN gần đây, khác với phái đoàn Campuchia, đại diện của Vientiane đã dè dặt hơn trong việc bênh vực Bắc Kinh về hồ sơ Biển Đông. Nhưng do quá sốt ruột muốn trở thành “bình ắc quy của khu vực Đông Nam Á”, Vientiane đã có kế hoạch xây dựng khoảng 70 đập thủy điện trên cả dòng chính lẫn dòng nhánh của sông Mekong. Đây sẽ là một căng thẳng mới. Năm 2011, Lào đã xây dựng đập Xayaburi. Trong dự án này, Lào đã “phớt lờ” các nghĩa vụ quy định trong luật pháp quốc tế, cũng như của chính quốc gia này về việc phải thực hiện những đánh giá đầy đủ liên quan đến tác động môi trường sinh thái, cũng như tác động đối với các vấn đề kinh tế – xã hội tại khu vực hạ lưu. Giống như đập Xayaburi, đập Don Sahong đang được tiến hành xây dựng cũng không có sự đánh giá môi trường thích hợp và bỏ qua khâu tham vấn các nước trong khu vực.

Nhưng có lẽ tin được quan tâm nhiều nhất là cuộc tập trận hồi đầu tháng 8 trên biển Hoa Đông của quân đội Trung Quốc (PLAN), nhằm tăng cường sức mạnh tấn công, mức độ chính xác và vận tốc của hải quân trong điều kiện bị áp chế điện tử[6]. Đây là cuộc tập dượt của PLAN nhằm đối phó với nguy cơ nổ ra chiến tranh với Mỹ trên Biển Đông và Hoa Đông. Một biểu hiện khác của việc Trung Quốc chuẩn bị cho cuộc chiến tranh loại ấy là Bắc Kinh đang tích cực xây dựng các hệ thống radar ở hầu hết các đảo nhân tạo mà nước này bồi đắp trái phép suốt thời gian qua. “Chiến tranh điện tử có thể diễn ra rất bất ngờ, ác liệt và nhanh chóng…” là cách miêu tả về một cuộc xung đột tương lai. Theo Tổ chức sáng kiến minh bạch hàng hải châu Á (AMTI) thì một loạt các hệ thống radar đã được bố trí trên 7 bãi đá của Việt Nam mà Trung Quốc chiếm đóng trái phép, đó là Châu Viên, Chữ Thập, Ga Ven, Vành Khăn, Gạc Ma, Tư Nghĩa và Su Bi. Trạm radar ở đá Chữ Thập và đá Su Bi sẽ được sử dụng để điều hướng các máy bay hoạt động trên các sân bay xây dựng trái phép tại các bãi đá ở đây. Khi kết hợp, chúng cho phép mở rộng tầm kiểm soát Khu vực nhận dạng phòng không (ADIZ) cũng như tăng cường khả năng tác chiến điện tử của PLA trên một vùng rộng lớn ở Biển Đông.

Vượt cơn sóng dữ

Tại Hội nghị ngoại giao Việt Nam lần thứ 29 (từ 22—26/8), Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nêu lên một số vấn đề mấu chốt đối với ngoại giao, trong đó ưu tiên hàng đầu là xác lập một tư duy chiến lược cho ngành ngoại giao khi chuyển sang thời kỳ mới. Thủ tướng cũng đòi hỏi Việt Nam phải xây dựng một nền ngoại giao “kiến tạo”. Nhưng chưa rõ trong Chương trình hành động cụ thể sau Hội nghị, nền ngoại giao “kiến tạo” ấy bao gồm những nội hàm gì và trong hoạt động thực tiễn từ nay, đặc biệt trong các động thái sắp tới, Việt Nam có những chủ trương nào khác trước? Người ngoài khó nắm bắt được những điều này, không chỉ vì sự “kín cổng cao tường” của ngành ngoại giao, như Thủ tướng Phúc đã đề cập, mà thực sự để có được một đột phá nào đó trong hoạt động đối ngoại hiện nay là vấn đề không đơn giản. Vị thế của Việt Nam trong những chuyển động địa – chính trị ở khu vực hiện nay là một tập hợp các trạng thái vừa hợp tác, vừa tranh chấp, trong một số tranh chấp ẩn chứa nhiều mầm mống xung đột. Vấn đề độc lập dân tộc từ nay chỉ có thể được phát huy nếu nó gắn với tiến trình hội nhập quốc tế toàn diện. Thủ tướng cũng nêu lên yêu cầu phải cân bằng được lợi ích của các nước lớn. Nhưng thách thức đối với Việt Nam chính là sự đối kháng về địa – chính trị giữa các nước lớn ngày càng tập trung trên Biển Đông, mà năng lực của Việt Nam để cân bằng lợi ích các cường quốc trên hồ sơ Biển Đông lại khá hạn chế. Những nổi cộm trong quan hệ của Việt Nam với thế giới đòi hỏi phải thay đổi nhận thức và tư duy đối ngoại mới hy vọng tìm được giải pháp căn cơ cho từng loại vấn đề.

Sau chuyến viếng thăm Việt Nam trong mùa hè vừa qua của Tổng thống Barack Obama, quan hệ giữa Hà Nội và Washington có phần “im ắng” hơn so với cao trào hồi ông Obama đến Việt Nam. […]. Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) là chủ trương lớn của Hoa Kỳ nhưng dường như “sự đình đám” của Hiệp định này ở Việt Nam, trái với những sốt sắng trước đây, Hà Nội hiện tỏ thái độ thận trọng hơn. Hiệp định được dự tính trình Quốc hội vào tháng 5, nhưng sau đó lùi đến tháng 7 và cuối cùng, giờ đây dời đến tận cuối năm 2016 này. Có những quan ngại từ phía Mỹ cho rằng, nếu quá trình phê duyệt kéo dài, nhiều nhà đầu tư Trung Quốc có thể lợi dụng thời gian đội lốt các công ty đa quốc gia nào đó để nhảy vào Việt Nam cắm chân sẵn, trước khi Quốc hội phê duyệt TPP (?). […].

Cuối cùng, hãy xem lại làn sóng bỏ nước ra đi trong hơn hai năm vừa rồi của một số người Việt. Từ 1990 đến 2015 có trên 2 triệu rưỡi người Việt di cư ra nước ngoài. Những “phi cơ nhân” hiện đại có thể được chia thành ba nhóm: Một là giới trí thức và sinh viên, hai là các doanh nhân thành đạt, ba là gia đình các quan chức (thường là tham nhũng). Họ ra đi do nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính thường do cảm giác bất an[7]. Đại biểu Quốc hội Trương Trọng Nghĩa bức xúc: “Tại sao trí thức giỏi không về nước làm việc, doanh nhân giỏi muốn bỏ nước ra đi? Tại sao cán bộ về hưu hay đương chức tìm cách cho con cháu mình ra định cư ở nước ngoài?” Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan bình luận: “Ai cũng định cư ở nước ngoài cả thì đất nước này lấy ai xây dựng đây? Tôi cho rằng nhân tố cảm thấy kém an toàn là nhân tố chính khiến người Việt rời khỏi Việt Nam”. Bà Lan lý giải: “Khi họ có khoản thu nhập không đàng hoàng thì họ có tâm lý nơm nớp sợ bị lộ nên phải tranh thủ khi còn cơ hội, còn quyền lực thì cho con ra nước ngoài…” Theo số liệu của Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR), trong quý I/2015, lượng tiền của người Việt gửi ra nước ngoài đã tăng đột biến lên đến 7,3 tỷ USD. Trong vòng 5 năm (2008—2013) , số tiền từ Việt Nam đã chuyển ra nước ngoài là 33 tỷ USD. Theo hồ sơ Panama, 92 tỷ USD đã được chuyển phi pháp ra khỏi Việt Nam (riêng năm 2015 là hơn 9 tỷ). Đó là những con số quá lớn, trong bối cảnh ngân sách nhà nước thâm hụt quá nhiều do bội chi ngân sách.

*

Trong thế cờ địa – chính trị của đất nước hiện nay cũng cần nói đến những khó khăn nội tại. Có lẽ con đường từ bao tử đến nghĩa địa của người Việt giờ đây không phải là ngắn mà là cực ngắn, do thảm họa cá biển chết hàng loạt và ô nhiễm môi trường nghiêm trọng khắp cả nước. Kế đến là những xung năng trong xã hội hiện đại đang tạo ra biết bao “chuyển động Brao-nơ” khó dự kiến và khó kiểm soátmà vụ nổ súng ở yên bai là một ví dụ. Môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và đặc biệt là hiệu ứng của các chuyển động quốc tế đang đặt ra những thách thức nghiêm trọng đối với công cuộc đổi mới khởi xướng từ 30 năm nay. Bàn cờ khu vực và thế giới ngày nay là một ma trận (matrix), trong đó, mỗi quân cờ đều có một “tọa độ địa – chính trị” riêng. Là một trong các bên tham gia cuộc cờ, giờ đây, Việt Nam chọn thế cờ nào để phát huy tối đa lợi thế và giảm thiểu rủi ro khi tổ hợp các “tọa độ” giữa các quân cờ? Rõ ràng nỗ lực “muốn làm bạn với tất cả các nước” đã không phải lúc nào cũng mang lại những kết quả đón đợi. Phương Tây hay phương Đông chỗ này đều suy nghĩ như nhau: “Lúc hoạn nạn mới rõ bạn hay bè” (A Friend in Need is a Friend Indeed).  Trong chiến tranh Lạnh gay gắt, Singapore vẫn có giao thương tốt với ta. Trong kiến quốc và bảo vệ chủ quyền hiện nay, Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Ốtxtrâylia và châu Âu… đã và đang giữ vai trò không thể thay thế. Ở đây, dù là “đối tác chiến lược” hay“đối tác toàn diện”thì phải thực sự là bạn chí cốt. Chí cốt nghĩa là “của tin gọi một chút này” cũng phải “ghi”, là thực sự tôn trọng lợi ích lâu dài của nhau. Nếu không sẽ là “gửi trứng cho ác”…

 

( Nguồn: VHNA)

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.09.2016

Nhà văn Nguyên Ngọc: “Giá chúng ta giữ Tây Nguyên như một Bhutan”

Đức Tâm
 
Nhà văn Nguyên Ngọc (ngồi giữa) chụp hình lưu niệm cùng cô trò trường THPT Nguyễn Hữu Huân – Thủ Đức – những người quý mến ông qua tác phẩm Rừng Xà Nu – Ảnh: ĐT

 

(TBKTSG Online) – Sáng ngày 17-9, nhà văn Nguyên Ngọc có buổi nói chuyện cùng các bạn trẻ TPHCM về Tây Nguyên, mảnh đất mà ông đã gắn bó hơn nửa cuộc đời. Câu chuyện nói về Tây Nguyên nhưng cũng đặt ra nhiều vấn đề xã hội đáng quan tâm trong bối cảnh hôm nay. TBKTSG Online lược ghi.

Tôi lên Tây Nguyên lần đầu năm 1950 và đến nay đã trải qua 66 năm gắn bó với mảnh đất này. Nơi đây không chỉ cứu sống và nuôi dưỡng tôi qua hai cuộc kháng chiến mà còn dạy tôi nhiều điều về minh triết trong cuộc sống.

Tây Nguyên rất đặc biệt, nhưng cũng rất đáng lo. Tôi mong mọi người hãy nghĩ, hãy đến Tây Nguyên và làm gì đó để cứu mảnh đất này.

Nói đến Tây Nguyên là nói đến rừng và làng. UNESCO đã rất tinh tế nhận ra khi công nhận di sản văn hóa thế giới của Tây Nguyên, không phải là cồng chiêng, cũng không phải là âm nhạc cồng chiêng, mà là không gian văn hóa cồng chiêng, tức không gian làng, với rừng của làng. Rừng và làng chính là không gian văn hóa của Tây Nguyên. Không còn hai yêu tố này, sẽ không còn văn hóa Tây Nguyên, hoặc nếu có, cũng không còn là văn hóa thật.

Thế nhưng vấn đề quan trọng nhất hiện nay ở Tây Nguyên là sự đổ vỡ của các làng và rừng thì bị tàn phá.

Rừng tự nhiên đến nay đã không còn nữa. Một số bị thay thế bởi cây công nghiệp như cà phê, cao su. Người ta gọi những mảnh đất rộng trồng cao su là rừng cao su. Nhưng nói đến rừng là nói đến tính đa tầng, độ che phủ; là nói đến yếu tố giữ nước. Cao su, rễ cọc, không giữ nước được nên hiểu theo nghĩa tự nhiên, cao su không được gọi là rừng. Rừng tạp mất đi, độ che phủ không còn và rồi Tây Nguyên sẽ mọc lên những rừng gai thấp lúp xúp. Chúng ta sẽ để lại cho con cháu những rừng gai lúp xúp? Chúng ta có muốn như vậy không?

Để khôi phục rừng Tây Nguyên, chúng ta phải trồng lại rừng, tạo rừng đa tạp. Có người hỏi tôi mất bao lâu? Tôi cho rằng chúng ta phải thực hiện trong 100 năm. Gì mà nhiều vậy? Thử nghĩ xem, 41 năm qua, mình đã khai thác rừng cạn kiệt mà. Giờ phải kiên trì trồng lại, cắn răng mà làm và 100 năm là không nhiều. Nếu không có rừng thì không còn Tây Nguyên đâu.

Chúng ta cần phải cứu Tây Nguyên. Đây là một tấm gương về nông nghiệp sinh thái, phụng dưỡng đất đai. Tôi bảo người Tây Nguyên là những nông dân Mansanobu Fukuoka. Họ làm nông nghiệp giống hệt như người cha đẻ của “Cuộc cách mạng một cọng rơm”, không hóa chất, không thuốc trừ sâu với phương pháp chọc tỉa. Người chồng đi trước, dùng cây gậy chọc xuống đất, người vợ theo sau, tỉa hạt rồi dùng chân lấp đất lại. Họ rất tin đất đủ sức mạnh nuôi cây trồng. Họ không làm lười đất bằng phân bón.

Trước đây, dân số Tây Nguyên không nhiều. Với đất nước, họ là dân tộc thiểu số nhưng trên mảnh đất Tây Nguyên, họ chính là đa số tuyệt đối. Mỗi gia đình có 10-20 rẫy. Mỗi rẫy họ trồng 3-4 năm, đất bạc màu thì chuyển qua rẫy khác. Lúc đầu chúng tôi gọi là luân canh, nhưng luân canh dễ gây hiểu nhầm rằng trồng cây này rồi chuyển sang cây khác. Do vậy, sau, chúng tôi gọi là luân khoảnh. Lưu ý, họ luân khoảnh chứ không du canh du cư như ta từng nghĩ.

Trong tư duy người Tây Nguyên, đất chính là rừng và rừng chính là đất. Đất rẫy là khoảnh đất mà con người ở đây mượn của rừng, làm rẫy, rồi trả lại cho rừng. Rừng mạnh lắm, sẽ lấn lại ngay. Người Kinh thấy rừng là gỗ, còn người dân tộc thấy rừng là Mẹ, là cội nguồn sự sống, là tôn trọng, là phụng dưỡng. Đây cũng chính là bài học tôn trọng tự nhiên và sống khiêm nhường giữa trời đất.

Sau năm 1975, chúng ta thực hiện một cuộc đại di dân và dân số Tây Nguyên tăng gấp 5,5 lần, đến nay người Kinh chiếm 80% dân số tại đây và người dân tộc, từ tuyệt đại đa số, trở thành thiểu số trên chính mảnh đất xưa nay họ sinh sống. Đi kèm với di dân là chính sách quốc hữu hóa đất đai. Người dân tộc mất đất, trước họ có 10-20 rẫy, nay còn một, làm một thời gian, bạc màu, đâu còn đất để luân khoảnh, họ bán rẻ lại cho người Kinh, thậm chí cho không qua một cuộc rượu. Người dân tộc mất đất, bị đẩy sâu vào rừng, rồi sinh ra phá rừng và bắt đầu du canh du cư. Cấu trúc làng xã bị phá vỡ. Rừng bị tàn phá.

Các tộc người Tây Nguyên cũng rất văn minh. Với họ, loạn luân được xem là tội nặng nhất vì làm ô uế tinh thần của làng. Họ đặt tinh thần cao hơn vật chất trong đời sống của họ. Như vậy không văn minh sao?

Họ có một nền văn minh rất đặc biệt mà người Kinh nên tôn trọng, học tập. Ngay từ năm 1937, hai anh em Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi, qua tác phẩm Mọi Kontum đã viết,“Người Bahnar có những điều tốt hơn hơn chúng ta rất nhiều”.

Xin nói qua từ mọi. Lâu nay chúng ta hiểu sai từ mọi và càng sai khi dùng từ mọi rợ theo nghĩa khinh miệt để chỉ các tộc người Tây Nguyên.

Thật ra, từ mọi vốn ban đầu không hề có ý nghĩa xấu. Nó bắt nguồn từ từ tơmoi trong tiếng Bahnar, có nghĩa là khách đến thăm nhà mình; hoặc khách mời từ một làng khác đến; hoặc kẻ thù hoặc người ngoại quốc theo từ điển Bahnar – Pháp của Guilleminet. Những người phương Tây đầu tiên lên Tây Nguyên là các linh mục Thiên chúa giáo. Họ đến được vùng người Bahnar ở Kon Tum, lập xứ đạo Kon Tum, là xứ đạo Thiên chúa giáo đầu tiên tại đây, đến nay vẫn là xứ đạo Thiên chúa lớn nhất và quan trọng nhất ở Tây Nguyên. Bấy giờ những người Bahanr Kon Tum đến gặp các nhà truyền giáo thường xưng là tơmoi, là khách. Các nhà truyền giáo lại hiểu rằng đấy là họ tự giới thiệu tên tộc người của họ. Về sau dần dần tiền tố bị rớt đi, còn lại moi, moi nghiễm nhiên trở thành tên gọi người bản địa. Người Pháp gọi là moi, người Việt gọi là mọi, hoàn toàn là một danh xưng.

Nói tiếp chuyện văn minh. Tôi lấy ví dụ về nghệ thuật. Trong nghệ thuật Tây Nguyên, tượng nhà mồ Tây Nguyên là những tác phẩm đẹp tuyệt vời. Họ làm rồi bỏ hoang và để mưa gió tàn phá.

Tôi từng thấy một bức tượng gỗ tuyệt đẹp. Hỏi dò thì biết một thanh niên kia làm. Trong chờ bữa rượu, tôi hỏi chàng thanh niên đó xem ở nhà còn bức tượng tương tự nào không. Đột nhiên anh ta nổi giận: “Nói tầm bậy”. Và những thanh niên trong xung quanh cũng bày tỏ thái độ như vậy.

Sau, tôi được anh Núp, một người bạn của tôi ở Tây Nguyên giải thích rằng với họ, làm nghệ thuật không phải để ngắm hay để bán mà làm vì có cái gì đó thôi thúc trong lòng, cần làm để bày tỏ lòng ngưỡng mộ với thần linh. Họ thăng hoa trong quá trình làm ra tác phẩm chứ không phải lúc tác phẩm hoàn thành.

Tôi chia sẻ điều này với một người bạn học nghệ thuật ở Frankfurt – Đức và cô rất ngạc nhiên bởi nó giống như quan điểm của nghệ thuật đương đại, tức nghệ thuật là con đường chứ không phải đích đến. Cô bạn lên Tây Nguyên khám phá rồi mời vị giáo sư của mình bên Đức sang. Vị giáo sư sang xong rồi lại dẫn cả lớp của ông ấy sang.

Sau năm 1975, giá như chúng ta dũng cảm giữ Tây Nguyên như một Bhutan thì thật tốt. Chúng ta sẽ có một tấm gương để học cách sống sao cho có hạnh phúc, sống thế nào để khiêm nhường với trời đất.

Ngày xưa người nông dân không dám làm điều ác, họ sợ thất đức. Ngày ngay, xã hội không còn khái niệm về thất đức nữa. Người nông dân, những người bình thường nhất, đã không còn sợ cái ác, không còn sợ làm điều ác. Và đây là điều đáng sợ nhất. Con người, ở giữa đất trời, sống vô thần và không biết đến trời đất thì nguy hiểm quá.

Nay tôi đã 84 tuổi, tính tuổi ta thì 85. Những năm cuối đời, tôi sẽ viết để kể với mọi người về một nền văn minh ở Tây Nguyên, rằng chúng ta có một nền văn minh như thế. Tôi sẵn lòng đi chia sẻ để nói tất cả mọi điều về Tây Nguyên. Tôi  mong khơi gợi trong các bạn lòng ham muốn hiểu về Tây Nguyên và tìm được người kế tục để sau cùng có thể cùng chung sức cứu được Tây Nguyên.

( Nguồn: TBKTSG)

« Newer Posts - Older Posts »

Danh mục