Đăng bởi: Ngô Minh | 22.03.2017

Ảnh chụp từ những khoảnh khắc nghẹt thở

Ảnh chụp từ những khoảnh khắc nghẹt thở

 ( Bài viết do Nhà văn Trần Thùy Mai cung cấp)



Hình ảnh khai quật được đó là xương của một cặp đôi đã chết khoảng năm 800 TCN và họ đang hôn nhau.
hinh
                                                          anh1
Khoảnh khắc ngọn sóng lớn chồm lên bên cạnh bờ biển
hinh
                                                          anh2
Khu nhà ổ chuột của những người dân nghèo ở Iran
hinh
                                                          anh3
Cả một đám mây lớn chằng chịt tia sét ngang dọc
hinh
                                                          anh4
Khoảnh khắc tên lửa xuyên qua tầng mây
hinh
                                                          anh5
Cây dừa uốn một đường cong lớn như trò chơi cảm giác mạnh trên không trung.
hinh
                                                          anh6
Người lái thuyền liệu có biết phía dưới đang có một chú cá mập chuẩn bị nổi lên không?
hinh
                                                          anh7
Hình ảnh tuyệt đẹp của một phi hành gia khi xuyên qua tầng mây.
hinh
                                                          anh8
Chú cá voi vô tình đội cả chiếc tàu du lịch lên, hậu quả sau đó sẽ thế nào?
hinh
                                                          anh9
Khoảnh khắc máy bay hạ cánh xuống mặt biển
hinh
                                                          anh10
Phía dưới là vực thẳm, bạn thực sự không sợ rơi xuống sao?
hinh
                                                          anh11
Thạch nhũ tự nhiên, bạn có dám đi vào trong không?
hinh
                                                          anh12
Ngọn hải đăng vẫn đứng nguyên trong giông bão
hinh
                                                          anh13
Vòi rồng gặp cầu vồng
hinh
                                                          anh14
Thác nước trên bờ biển cao, bạn dám đứng sát lại xem không?
hinh
                                                          anh15
Hình ảnh con sóng lớn chồm lên đường quốc lộ
hinh
                                                          anh16
Khi núi lửa phun trào từ trong lòng núi tuyết
hinh
                                                          anh17
Hình ảnh người ngồi ở mép núi đua ra để ngắm cảnh
hinh
                                                          anh18
Hình ảnh các tầng mây trên ngọn núi Phú Sĩ, đây là hình ảnh thật không phải photoshop.
hinh
                                                          anh19
Bên cạnh khu nhà ở chính là một vực thẳm
hinh
                                                          anh20
Hình ảnh các dòng sông băng ở Greenland, băng đang tan chảy tràn ra ngoài.
hinh
                                                          anh21
Một chiếc máy bay bị chìm xuống đáy biển từ rất nhiều năm.
hinh
                                                          anh22
Tư thế này đảm bảo cô gái sẽ không bị rơi xuống sao?
hinh
                                                          anh23
Hình ảnh chiếc cây bị trúng sét
hinh
                                                          anh24
Làm xiếc bên bờ vực
hinh
                                                          anh25
Bất ngờ gặp được một đàn cá
hinh
                                                          anh26
Hình ảnh đàn cá đuối bơi cùng nhau
hinh
                                                          anh27
Hình ảnh ngọn sóng lớn cao hơn 10 mét
hinh
                                                          anh28
Trước thiên nhiên hùng vĩ, con người thật nhỏ bé và cuộc sống thật mong manh. Chẳng biết ngày mai sẽ ra sao, chúng ta hãy trân trọng những thời khắc của hiện tại, sống có ý nghĩa hơn, cho đi nhiều hơn, bao dung hơn. Đừng để thời gian qua đi vô nghĩa, để không bao giờ  hối hận khi thời gian không còn nữa.
Đăng bởi: Ngô Minh | 21.03.2017

40 NĂM EM – THƠ VỀ QUÊ VỢ

40 NĂM EM – THƠ VỀ QUÊ VỢ

 

Ngô Minh

BÊN CỘT MỐC SỐ 0

 

 Anh 100 ngày vượt Trường Sơn

Lại về Cột mốc số 0, khởi nguồn

Ơi Tân Kỳ, Lạt, Sông Con…

Cưới em trời đất Nghĩa Đồng thành quê

 

Một vòng Đất nước anh đi

Đạn bom, giặc giã…Bỗng về gặp em

Vòng định mệnh. Cột nhân duyên

Cùng em đi tận nhớ quên cõi này!

                          Lạt, hè      
(Đọc tiếp…)

Tuyên ngôn của một người làm thơ cựu chiến binh

(Rút từ facebook của Bùi Chí Vinh)

Quý vị muốn làm gì thì làm
Muốn mị dân muốn yêu nước muốn bán nước bằng mồm thây kệ
Tôi không thù người Tàu cũng chẳng ghét xứ Trung Hoa
Nhưng đứa nào xâm lược nước tôi là chết ngay tại chỗ

Quý vị cứ việc đi đêm cứ việc sửa lại bản đồ lịch sử
Cứ việc quên bẵng ải Nam Quan cho Nguyễn Trãi đội mồ
Nhưng đứa nào bứt của thân nhân tôi sợi tóc
Là tôi đập nát đầu chứ không đập bằng thơ

Quý vị cứ việc chơi gôn cứ việc sắm sửa phi cơ
Cứ đầu cơ địa ốc cứ kiếm tiền vi vút
Nhưng đứa nào bắt dân ngu cu đen thay quý vị ở tù
Là tôi đào mả ba đời quý vị lên trét cứt

Quý vị cứ chà đạp lên quyền làm người xuất sắc
Cứ hung hăng như Gaddafi trước khi rúc vô ống cống đê hèn
Quý vị cứ việc xem dân nghèo như rơm như rác
Nhưng lúc đường cùng đừng năn nỉ tôi nghen!

Quý vị cứ việc rửa tiền qua ngân hàng Thụy Sĩ cực êm
Cứ tậu nhà dưỡng lão ở Bắc Kinh, sắm điền trang ở Mỹ
Quý vị cứ thăng thiên cùng giá điện giá xăng
Bất chấp thôn nữ thiếu ăn phải bán thân làm đĩ

Quý vị phải như vậy mới là quý vị
Vô cảm vô lương vô đạo đức vô thần
Tôi rách rưới như một thằng thi sĩ
Nhưng hiểu thế nào là sức mạnh nhân dân!

Tháng 8-2012
BCV

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.03.2017

Người Nhật phát triển hán ngữ hiện đại

GS.TS. Hồ Sĩ Quý: Nhìn thấy nỗi đau thực của mình, con người sẽ hạnh phúc hơn thay vì giấu diếm để thêm lo lắng.

  •   HỒ SĨ QUÝ – VŨ VIẾT TUÂN
GS.TS. Hồ Sĩ Quý: Nhìn thấy nỗi đau thực của mình, con người sẽ hạnh phúc hơn thay vì giấu diếm để thêm lo lắng.

PV: Hôm nay, ngày 20/3 – ngày Quốc tế về Hạnh phúc, vậy theo ông, hạnh phúc trong con mắt người Việt chúng ta hiện nay như thế nào?

GS. TS Hồ Sĩ Quý: Do mới bắt tay vào nghiên cứu khoảng hai năm gần đây, nên tất cả những nghiên cứu đánh giá xem người VN suy nghĩ thế nào về hạnh phúc đến giờ vẫn chưa có kết quả cuối cùng. Vậy nên nói gì về hạnh phúc của người Việt hiện nay thì cơ bản vẫn là cảm tính. Có rất nhiều ý kiến khác nhau quanh việc quan niệm về hạnh phúc của người VN.

Không nhiều người đánh giá tích cực về mức độ hạnh phúc của người VN hiện nay. Những vấn đề nan giải diễn ra trong đời sống kinh tế – xã hội, những căng thẳng trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo, những tiêu cực hàng ngày trong đời sống, những bất hạnh cụ thể mà một số người đã trải qua… đã ảnh hưởng lớn đến quan niệm chung của người VN về hạnh phúc. Nhưng lại có nhiều tổ chức quốc tế đánh giá chỉ số hạnh phúc của người VN cao hoặc rất cao.

PV: Hạnh phúc của người Việt Nam theo đánh giá của các tổ chức quốc tế là cao hoặc rất cao?

GS.TS. Hồ Sĩ Quý:

Theo đánh giá của NEF (New Economics Foundation, Anh) về chỉ số hạnh phúc hành tinh – HPI (Happy Planet Index) thì 2006 VN đứng thứ 12 trên 178 nước, trên cả Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, Mỹ … Năm 2012 còn đứng thứ 2, năm 2016 đứng thứ 5 về chỉ số hạnh phúc so với các nước khác. Với Hiệp hội điều tra và nghiên cứu thị trường (Win/Gallup International) thuộc WB thì Việt Nam 2016 cũng là nước hạnh phúc thứ 4 trên thế giới với chỉ số hạnh phúc là 78%, chỉ sau Fiji, Trung Quốc và Philippines. Những đánh giá quá cao này không làm cho người Việt vui mừng, ngược lại còn gây hoài nghi, hoang mang.

Có lẽ hợp lý hơn cả là Báo cáo Hạnh phúc thế giới (World Happiness Report) của Sustainable Development Solutions Network thuộc LHQ phối hợp với các trường ĐH British Columbia, ĐH Columbia… thực hiện. Theo báo cáo này, năm 2015, Việt Nam đứng thứ 75 trên 157 nước. Năm 2016, Việt Nam đứng thứ 96. Hôm nay, ngày Quốc tế về hạnh phúc 20/3, WHR 2017 sẽ được công bố. Nhưng đến giờ này chúng tôi vẫn chưa có thông tin. Chúng ta chờ xem vị trí của VN năm nay sẽ ở mức nào trong bản đồ hạnh phúc thế giới.

Nói chung nhiều tổ chức quốc tế, do nhiều nguyên nhân, có thể đã đo đạc chỉ số hạnh phúc của VN không thật chính xác. Nhưng vẫn nên tham khảo.

Dư luận xã hội ở ta hiện nay thường nghĩ rằng chỉ số hạnh phúc của người Việt hiện thời kém hoặc rất kém. Với tôi thì tâm lý đó cũng có căn nguyên của nó. Rõ ràng hiện nay rất nhiều người không bằng lòng với thực tế đời sống (chỉ có số rất ít bằng lòng với cuộc sống của họ, chứ không phải với trật tự toàn xã hội), nhưng những người nghĩ mình bất hạnh có lẽ cũng không nhiều, chỉ là những trường hợp cụ thể.

Với đời sống kinh tế, ít người nghĩ rằng ngày mai sẽ tệ hơn hôm nay. Người ta không bằng lòng với hiện thực, chủ yếu là mong muốn, đáng ra phải tốt hơn. Nhìn chung, theo tôi, quan niệm của người Việt về hạnh phúc, ở tất cả các tầng lớp, kể cả người thành đạt và không thành đạt, người giàu và người nghèo… đều có cái nhìn tương đối thực tế. Nếu nói là thực dụng thì cũng chưa chắc đã sai. Khấn vái khắp nơi nhưng không quá tin vào thánh thần. Nhét tiền vào miệng tượng Phật, nhưng chỉ là tiền lẻ. Hiểu rõ giá trị tinh thần nhưng vẫn không quên kinh tế, tiền bạc. Háo danh nhưng vẫn chỉ coi danh là công cụ, là phương tiện, thậm chí cũng chỉ để làm vui vậy, chứ vẫn không lẫn danh với thực.

Vì vậy, có thể hiểu tại sao người ta lại hoài nghi những đánh giá quá cao về chỉ số hạnh phúc của VN. Người VN lo lắng không biết đến bao giờ mình mới bằng nước này, nước kia là chuyện có thật. Nhưng người VN nhìn nhận cuộc sống của mình tốt hơn quá khứ cũng là chuyện có thật. Hai sự thật này có trong đầu tất cả mọi người, nên tâm trạng về hạnh phúc lúc lạc quan lúc bi quan… thì cũng chẳng có gì đáng ngờ.

PV: Vậy theo ông, có giải pháp gì để Việt Nam chúng ta dần nâng cao chỉ số hạnh phúc?

GS.TS. Hồ Sĩ Quý:

Để trực tiếp nâng cao chỉ số hạnh phúc của người VN, ở tầm vĩ mô, giải pháp cần có nhất vào lúc này, theo tôi, là phải đẩy mạnh công khai, minh bạch và dân chủ trên tất cả các lĩnh vực, các mặt của đời sống xã hội.

Tôi nghĩ rằng tất cả những gì không thuộc bí mật quốc gia thì cần thiết phải công khai, minh bạch trước người dân, kể cả sự yếu kém về kinh tế, sự phụ thuộc về nguồn lực, tình trạng nợ công, mức độ bẩn của môi trường, những khó khăn về thực thi chủ quyền biển đảo, v.v… để toàn dân hiểu được tình hình, được góp ý, được tham dự cùng với các nhà quản lý.

Nếu tất cả những thuận lợi, khó khăn, thậm chí yếu kém… của đất nước được dân thấu hiểu một cách minh bạch, thì chắc chẳng cần giàu có như Singapore hay Nhật Bản người dân cũng thấy dễ chịu, hạnh phúc.

Công khai, minh bạch và dân chủ để toàn dân có thể nhìn nhận đúng thực trạng của đất nước hiện nay – điều ấy tốt cho xã hội, tốt cho công tác quản lý. Nhìn thấy nỗi đau thực của mình, con người sẽ hạnh phúc hơn thay vì giấu diếm để thêm lo lắng.

PV: Cám ơn ông!

GS.TS. Hồ Sĩ Quý:

Cám ơn, Gửi lời chúc tốt đẹp nhất tới bạn đọc nhân ngày Quốc tế về Hạnh phúc. Chúc mọi người, mọi nhà Hạnh phúc!

( Nguồn: VHNA)

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.03.2017

Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long thăm Việt Nam

Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long thăm Việt Nam

BBC

Một nhà quan sát bình luận với BBC rằng chuyến thăm của Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long chứng tỏ “Singapore rất chú trọng quan hệ với Việt Nam”.

Thủ tướng Lý Hiển LongBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionThủ tướng Lý Hiển Long gặp Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng trong chuyến thăm tháng 9/2013 tại Hà Nội

Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long sẽ có chuyến thăm Việt Nam bốn ngày ở Việt Nam từ ngày 21 đến 24/3.

Hôm 20/3, Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp từ Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (Iseas) ở Singapore nói với BBC: “Chuyến đi này đáng chú ý vì cuối tháng 9 sẽ diễn ra thượng nghị APEC ở Việt Nam, cho nên ông Lý Hiển Long sẽ đến Việt Nam hai lần trong năm nay.”

“Điều này cũng cho thấy Singapore rất chú trọng Việt Nam và quan hệ hợp tác với Việt Nam,” ông Hiệp nói thêm.

“Có một điểm đáng lưu ý ở đây là về tình hình tranh chấp ở Biển Đông, quan điểm của Việt Nam và Singapore ngày càng có nhiều điểm tương đồng. Đây có thể là mẫu số chung cho sự phát triển mối quan hệ song phương,” ông Hiệp bình luận.

Thủ tướng Lý Hiển Long vẫn muốn TPP không có Mỹ?

Quan hệ quốc tế: Singapore khác VN thế nào?

BBC hôm 20/3 đã tìm cách liên hệ với Đại sứ Việt Nam tại Singapore Nguyễn Tiến Minh nhưng không liên lạc được.

Nhưng ông Nguyễn Tiến Minh trước đó có nói với VietnamNet rằng chuyến thăm của ông Lý Hiển Long là để trao đổi những cơ hội mới về đầu tư kinh doanh giữa hai nước.

Đối tác quan trọng

Singapore là đối tác lớn thứ sáu của Việt Nam và thứ hai trong khối ASEAN.

Singapore cũng là nhà đầu tư lớn thứ ba ở Việt Nam, chỉ sau Nhật Bản và Nam Hàn, với tống giá trị đầu tư là 40 tỉ đôla.

“Trong chuyến thăm này, thủ tướng dự kiến sẽ có buổi nói chuyện với Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và các lãnh đạo Việt Nam để củng cố mối quan hệ hợp tác song phương,” Đại sứ Việt Nam nói thêm.

Ông cũng sẽ gặp gỡ cộng đồng doanh nghiệp Singapore tại thành phố Hồ Chí Minh.

Ông Lý Hiển Long qua thăm cùng đợt với lễ ra mắt sách Hồi Ký Lý Quang Diệu diễn ra ở Hà Nội ngày 23/3.

Thủ tướng quốc đảo sư tử đã từng thăm Việt Nam rất nhiều lần từ khi còn giữ chức vụ Phó Thủ tướng.

Chuyến thăm gần đây nhất của ông là vào tháng 9/2013, theo lời mời của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhân kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Singapore.

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.03.2017

NGẪU HỨNG DÂN CA XỨ NGHỆ

NGẪU HỨNG DÂN CA XỨ NGHỆ

Nhà thơ Vương Trọng

Ở nước ta, nhiều vùng quê có làn điệu dân ca riêng, nhưng có lẽ Quan họ Bắc Ninh và Dân ca Nghệ Tĩnh được nhiều người yêu thích nhất. Và khi hai làn điệu dân ca này trở thành Di sản Văn hóa phi vật thể của nhân loại thì đáp ứng nguyện vọng của số đông thính giả. Cái mạnh của Quan họ Bắc Ninh là trữ tình, duyên dáng…còn Dân ca Nghệ Tĩnh sâu lắng, đầy lòng thương cảm, nặng tình nặng nghĩa. Khi nói chuyện về Truyện Kiều, tôi thường lưu ý với bạn đọc rằng, một trong những yếu tố tạo nên thiên tài của Nguyễn Du là bản thân ông được giao hòa dòng máu của hai vùng văn hóa chứa hai làn điệu dân ca nổi tiếng của quê bố Nghệ Tĩnh và quê mẹ Bắc Ninh.Nhiều câu thơ viết như rút ruột của tác giả Truyện Kiều rất gần với chất thương cảm trong dân ca Nghệ Tĩnh : “ Thiếp từ ngộ biến đến giờ / Ong qua bướm lại đã thừa xấu xa/ Bấy chầy gió táp mưa sa / Mấy trăng cũng khuyết, mấy hoa cũng tàn…” . Hoặc: “Phận bèo bao quản nước sa/ Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh”…”Chất thương cảm” này không chỉ đối với đại thi hào Nguyễn Du, mà còn là thế mạnh của nhiều nhà thơ xứ Nghệ khác. Đấy là vì từ trong dòng máu, từ trong nôi, người dân Nghệ Tĩnh đã tiếp thu đặc trưng của làn điệu dân ca quê mình, phần nhiều thể hiện qua các câu Ví, Giặm. Về thể loại, các nhà thơ Xứ Nghệ ảnh hưởng nhiều ở thể Giặm, thơ năm chữ, và với nhiều nhà thơ vùng này, tác phẩm xuất sắc nhất của họ cũng được sáng tác theo thể này, như “Thăm lúa” của Trần Hữu Thung và “Đêm nay Bác không ngủ” của Minh Huệ. Mặc dù chưa có số liệu thống kê chính xác, nhưng theo cảm nhận của tôi, bên cạnh thể lục bát, các nhà thơ Xứ Nghệ là những người thích sáng tác thể thơ ngũ ngôn hơn các nhà thơ của vùng quê khác. Ngay như khi đã có tuyệt tác Truyện Kiều theo thể lục bát rồi, có người còn viết lại tác phẩm này bằng thơ ngũ ngôn, gọi là “Kiều Giặm”!
Nhân đây tôi muốn trở lại một vấn đề mà nhiều bạn đọc quan tâm là DẶM hay GIẶM, vì trong nhiều văn bản khác nhau, từ này thường được viết khác nhau như thế. Ta biết rằng, dân ca, xuất xứ là thể hát truyền khẩu từ người này qua người khác, khi chưa hề có văn bản. Sau đó người ta mới ghi lại để có văn bản, nghĩa là âm có trước, chữ có sau. Trong tiếng Việt hai phụ âm D và GI chỉ dùng để ghi một âm như nhau, vì vậy DẶM và GIẶM đều được cả. Tuy nhiên, tôi đồng ý với giáo sư Tô Ngọc Thanh, trong trường hợp này, ta nên chọn GIẶM, vì từ DẶM vốn đã có nghĩa là một đơn vị chiều dài rồi. Và trong hồ sơ tôn vinh của UNESCO, cũng được viết là VÍ, GIẶM, chúng ta nên dựa vào. Còn tại sao lại gọi là hát Giặm? Trong ngôn ngữ Nghệ Tĩnh, giặm là động từ mang ý nghĩa chèn vào, thêm vào chỗ trống, chỗ thưa. Khi ruộng lúa cấy xong bị cua cắn mất nhiều bụi, người ta phải cấy bổ sung vào, được gọi là “cấy giặm”. Trong hát giặm, lời gồm nhiều khổ thơ ngũ ngôn, mỗi khổ thường năm câu, trong đó câu thứ năm được nhắc lại nguyên xi hoặc thay vài từ của câu thứ tư, coi như câu thứ năm được giặm vào phần cuối của khổ thơ bốn câu. Đó là đặc trưng của hát giặm và trở thành tên gọi của làn điệu này.
Cũng như nhiều người con sinh ra, lớn lên ở Xứ Nghệ, bài dân ca đầu tiên tôi được nghe là bài “Phụ tử tình thâm”. Đây là một bài hát giặm, không ai rõ tác giả và có từ thời nào, nhưng hầu như bà mẹ nào cũng thuộc để ru con, lời ru là lời thủ thỉ tâm sự dạy con luôn phải nghĩ đến công lao, tình cảm bố mẹ để lớn lên tìm cách ăn ở , cư xử cho hợp đạo làm con:
Phụ tử tình thâm
Công thầy nghĩa mẹ
Con đừng tiếng tăm nặng nhẹ
Đừng tiếng tăm nặng lời
Đừng cả tiếng dài hơi
Nói mẹ cha sao nên
Cãi mẹ thầy sao phải…
Đặc điểm của bài hát ru này, dựa chính vào điệu giặm, nhưng không cứng nhắc thể thơ ngũ ngôn và câu giặm không nhất thiết phải nằm cuối mỗi khổ thơ. Nghĩa là trong dân gian, làm điệu giặm cũng đa dạng, phong phú lắm.
Nhưng dân ca không chỉ đến với trẻ thơ bằng lời ru của mẹ, của bà…nghĩa là có những lời ca không phải sinh ra dưới mái nhà, mà đến từ phía ngoài lũy tre. Làng tôi khá gần sông Lam, ngày còn bé tí, chưa đến tuổi cắp sách đến trường, có những đêm khuya thanh vắng chợt vọng về lời hát, mà sau này tôi mới biết đó là Ví đò đưa:
Đò anh xuôi, em có muốn xuôi không
Qua Đò Rồng anh đợi, tới Vực Cung anh chờ!
Đó là câu hò của chàng trai làm nghề đò dọc. Đò ngang là đò đưa khách qua sông, đò dọc là đò đưa khách dọc theo dòng sông, có khi đi dài từ Bến Thủy đến tận Con Cuông. Khi đò ngược sông, thợ đò phải chống nên rất khó hò dài hơi với làn ví như thế, vậy nên nghe tiếng hò này là người lớn ai cũng biết đò đang xuôi dòng. Những câu hò khuya khoắt như thế cứ xa dần, xa dần và đưa tôi chìm sâu vào giấc ngủ.
Có người nhận xét rằng, tính cách người Nghệ rất quyết liệt, không thích lưng chừng, đã làm điều gì thì làm đến tận cùng, đã nói thì nói sao cho thật hết ý mình, không giữ gìn, tránh né…Tính quyết liệt này đã có sẵn trong dân ca từ ngày xưa, không vùng nào có lời bộc bạch tình yêu quyết liệt như dân ca Xứ Nghệ:
Thương anh lắm, anh ơi
Nhớ anh lắm, anh ơi
Thương đáo để khúc nhôi
Nhớ ngao ngán, trần đời
Miếng cơm ăn chẳng được
Bưng nước uống nỏ trôi…
Cầm đũa thì đũa rớt
Cầm đọi thì đọi rơi
Ra trông đất ngó trời
Ra nhìn ngược nhìn xuôi
Bởi vì em thương anh vô kể
Thiếp nhớ chàng vô kể…
Hay:
Em thương anh cha mẹ nỏ ưng
Chặn em đi cửa trước, em lại vòng cửa sau…
Dù đập em chín chục, một trăm
Đập rồi em đứng dậy vẫn nhất tâm lấy chàng!
Mấy ai trong tình yêu, nhất là trong dân ca, có được những lời gan ruột như thế!
Người Nghệ sống giữa quê hương gần gũi với các làn điệu dân ca như cơm ăn, nước uống và khí trời, quen đến mức có khi dường như quên đi sự tồn tại của nó! Người Nghệ xa quê thì ngược lại, trong nỗi nhớ quê có nỗi nhớ dân ca. Một người Nghệ điển hình, đạt kỷ lục về số năm xa quê là Bác Hồ, những ngày bôn ba tìm đường cứu nước cũng như khi sống ở Thủ đô với cương vị Chủ tịch nước, Bác luôn nhớ quê hương. Những năm ở chiến khu Việt Bắc, nhớ nhà không thể về được, Bác bèn trồng hai cây bông bụt, thứ cây quen thuộc của nhà Bác ở Kim Liên, bên cạnh phòng làm việc, để ngoài giờ làm việc, nhất là những buổi chiều hôm, Bác ngồi một mình nhìn cây cho vơi nỗi nhớ nhà. Còn khi ở Thủ đô, nhiều khi nhớ quay quắt một làn điệu dân ca, Bác cho mời các ca sĩ của Xứ Nghệ ra hát ở Phủ Chủ tịch. Nữ nghệ sĩ Song Thao của đoàn văn công Nghệ An là người được nhiều lần hát phụ vụ Bác, chị kể rằng có khi đang hát, nhìn khuôn mặt Bác thấy những giọt lệ tụ đầy khóe mắt, làm cho mắt chị cũng rưng rưng. Cách đây trên bốn mười năm, khi nghe chuyện kể này, tôi đã viết bài thơ “Đêm nay Bác nghe dân ca Xứ Nghệ” mở đầu như sau:
Câu đò đưa khi ấy cất lên
Ngôi nhà quen bất chợt hóa con thuyền
Tán cây rậm trong vườn Chủ tịch
Những cánh buồm phút chốc bay lên…
Văn nghệ sĩ quê Nghệ sống ở Thủ đô, không ai không yêu dân ca quê mình, nhưng yêu được như nhà thơ Võ Văn Trực thì xem ra cũng hiếm. Bình thường mỗi ngày ông nghe dân ca Nghệ Tĩnh hai lần, trước giờ ngủ trưa và ngủ đêm. Nếu ngày quá bận không có điều kiện nghỉ trưa thì nhất thiết phải nghe trước giờ nghỉ đêm, vì nếu không được nghe thì trằn trọc không ngủ được. Ông có chiếc máy casset nhỏ đi đâu cũng mang theo. Tôi nhớ năm 2003, ông cùng Trần Đăng Khoa và tôi vào Đà Nẵng làm chung khảo cuộc thi thơ. Có một đêm giao lưu tận khuya mới về khách sạn, tôi và thần đồng Khoa lên giường ngủ ngay, còn ông cũng lên giường nhưng để mở casset! Không may cho ông, casset hết pin, ông nằm lặng yên một lúc lâu, không thể ngủ được, liền nhẹ nhàng ngồi dậy, rồi lặng lẽ mở cửa đi ra phố để mua pin. May cho ông còn cửa hàng mở cửa dù đã sau mười hai giờ đêm, ông thỏa mãn về nhà, lại nhẹ nhàng lên giường nằm xuống, cắm tai nghe và ngủ ngon lành!
Có người nhận xét rằng dân ca Nghệ Tĩnh làn điệu không phong phú như Quan họ Bắc Ninh. Không phải là người sành lĩnh vực này, tôi không biết nhận xét đó chính xác đến mức nào, nhưng với tôi, những làn điệu đã có, dân ca Xứ Nghệ đã chở được các cung bậc tình cảm của người Nghệ, đặc biệt để thể hiện nỗi nhớ niềm thương. Và theo thời gian, làn điệu dân ca Xứ Nghệ cũng phong phú thêm, trước hết là công của các nhà sưu tầm, và tiếp đến là người sáng tác. Nhà nghiên cứu Ninh Viết Giao, một người con Xứ Thanh, đã có nhiều thành tựu trong việc sưu tầm Dân ca Xứ Nghệ, đặc biệt về ngôn từ. Người sáng tác thêm làn điệu dân ca thành công nhất, có lẽ là ông Nguyễn Trung Phong, nguyên trưởng đoàn Văn công Nghệ An. Đó là điệu “Giận mà thương”. Rất tiếc là hơn nửa thế kỷ nay, chúng ta chưa thật công bằng trong việc ghi công ông, khi chỉ giới thiệu “Giận mà thương là dân ca Nghệ Tĩnh”. Giới thiệu như vậy không sai, nhưng không đủ. Sự thật bất cứ một làn điệu dân ca nào cũng do con người cụ thể sáng tác ra, rồi theo năm tháng được cộng đồng nâng cấp lên. Khi không biết được ai là tác giả thì chúng ta chỉ giới thiệu chung là dân ca. Còn điệu “Giận mà thương” thì khác. Năm 1958, miền Bắc thành lập các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp nên các phương tiện thông tin đại chúng có nhiều hình thức tuyên truyền cho việc này. Có lẽ sau đấy không lâu, Nguyễn Trung Phong sáng tác vở ca kịch “Khi ban đội vắng nhà”, phần lớn dùng các giai điệu dân ca đã có, nhưng riêng đoạn người vợ khuyên chồng không nên nhân khi ban đội vắng nhà, không ai giám sát, bỏ bê công việc của hợp tác mà lên Đô Lương (ngược lường) để đi buôn( thường là buôn chè) thì ông sáng tác ra một làn điệu hoàn toàn mới, trước đó chưa từng có:
Vì thương anh nên em bàn với mẹ
Phải ngăn anh không đi chuyến ngược Lường
Giận thì giận
Mà thương thì thương…
Vì không biết xuất phát từ nội dung của ca kịch này, nên có nhiều ca sĩ không hiểu “ngược lường” là gì, nên đã hát thành “ngược đường”. Còn nhạc sĩ Đỗ Nhuận cũng không biết làn điệu này “có chủ” nên ông mới sáng tác bài “ Trông cây lại nhớ đến người” mà hơn chín mươi phần trăm là giai điệu của Nguyễn Trung Phong!
Như vậy, Nguyễn Trung Phong là người sáng tác thêm giai điệu cho Dân ca Xứ Nghệ thành công nhất. Về sau, nhiều nhạc sĩ phát triển Dân ca Xứ Nghệ để sáng tác những ca khúc đương đại. Theo nhạc sĩ Huy Thục, nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên sử dụng chất liệu dân ca Xứ Nghệ khi sáng tác ca khúc là Nguyễn Tài Tuệ, với bài hát “Xa khơi”. Sau đó nhiều nhạc sĩ khác đã thành công trong công việc này như Trần Hoàn, Thuận Yến, An Thuyên…
Có công lớn trong việc đưa dân ca đến cộng đồng, về tập thể là các đoàn dân ca của Nghệ Tĩnh, về cá nhân thì tiêu biểu là các nghệ sĩ biểu diễn như Song Thao, Hồng Lựu, Tiến Dũng, Lệ Thanh, Hồng Năm, Xuân Năm…
Trong dịp UNESCO tôn vinh Dân ca Ví Giặm, tôi cũng đã có lời đề nghị hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh cần ghi công những người sáng tác cũng như biểu diễn dân ca, đặc biệt là tác giả điệu “Giận mà thương”.
Với tôi, một nhà thơ, có sáng tác được một số bài thơ thấm đẫm tình người, được bạn đọc thuộc lòng và tâm đắc, tôi biết rằng những bài thơ đó có nguồn cội sâu xa từ Dân ca Xứ Nghệ.

30.4.2016
VƯƠNG TRỌNG

Chỉ một cái chòi vịt 35m2 mọc lên không xin phép đã có tới 15 cơ quan ở TP.HCM tham gia, với 10 quyết định của các cơ quan có thẩm quyền đề nghị truy tố hình sự tội danh xây nhà trái phép. Nực cười thay, ngay giữa lòng Thủ đô Hà Nội – nơi tập trung các cơ quan đầu não của đất nước, người ta vẫn ngang nhiên xây dựng trái phép tòa cao ốc sừng sững lên tới 18 tầng bất chấp chính quyền sở tại nhiều lần lập biên bản vẫn không có dấu hiệu dừng lại. Đúng là ở Việt Nam, công lý chỉ như một diễn viên hài…

Cứ tưởng sai phạm của chủ đầu tư dự án 8B Lê Trực là ghê gớm ở Thủ đô, nào ngờ “đẳng cấp” của ông chủ FLC Trịnh Văn Quyết còn vượt xa hơn rất nhiều. Dự án FLC Garden City ở phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm (Hà Nội), do Công ty CP Đầu tư Địa ốc ALASKA, một thành viên của Tập đoàn FLC làm chủ đầu tư đã minh chứng cho điều đó.

Hiện dự án FLC Garden City (Đại Mỗ) mới được Sở Xây dựng Hà Nội cấp phép xây dựng đối với tòa nhà HH02. Nhưng chủ đầu tư lại cho thi công tòa nhà HH01 đến tầng 17, máy móc, công nhân hoạt động hết công suất, không có dấu hiệu ngừng nghỉ, còn tòa nhà HH02 được chủ đầu tư cho tạm “ngủ đông”.

Am hiểu về luật pháp, doanh nhân gốc luật đang chễm chệ thách thức các cơ quan chức năng Hà Nội bằng dự án xây dựng trái phép

Tòa nhà HH01 được phê duyệt là nhà ở xã hội, nhưng FLC đã cho mình cái quyền tự ý thay đổi mục đích sử dụng. Không những vậy FLC đã tự cho mình cái quyền được phép thi công đến 17 tầng mà không thèm đếm xỉa đến sự quản lý giám sát của chính quyền cấp sở tại. Khi thi công chưa xin cấp phép xây dựng của Sở Xây dựng Hà Nội. Với ý đồ đẩy các cấp chính quyền vào thế đã rồi, và đến lúc “tặc lưỡi” bỏ qua?

Theo đó, dự án được UBND huyện Từ Liêm (trước đây) phê duyệt, quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/500 tại Quyết định số 5979/QĐ-UBND ngày 06/07/2011 và UBND quận Nam Từ Liêm chấp thuận điều chỉnh phương án kiến trúc sơ bộ dự án tại Văn bản số 1537/UBND-QLĐT ngày 20/10/2015.

Dự án có quy mô 7,895 ha với tổng mức đầu tư là 3.500 tỷ đồng. Dự án này gồm khu nhà liền kề, biệt thự và chung cư cao tầng. Khi đó, để giảm thủ tục cho doanh nghiệp, khu nhà liền kề, biệt thự, theo quy định được miễn giấy phép xây dựng. Tuy nhiên, đối với khu nhà cao tầng phải có giấy phép xây dựng.

Tuy không có giấy phép xây dựng nhưng tòa nhà HH01 được Công ty Cổ phần Xây dựng Faros một thành viên khác của Tập đoàn FLC, nổi danh với cái tên rất kêu: “Ông vua tốc độ thi công lên sàn”, thi công rất nhanh.

Ngày 29/02/2016, Công ty Alaska đã gửi thông báo đến cơ quan chức năng về việc khởi công xây dựng công trình hạng mục thấp tầng và hạ tầng thuộc khu chức năng đô thị Đại Mỗ – giai đoạn 1. Trong thông báo ghi rõ giấy phép xây dựng: Công trình thuộc diện miễn phép xây dựng.

Tuy nhiên, đến ngày 07/3/2016, Đội Thanh tra xây dựng quận Nam Từ Liêm đã xuống kiểm tra, lập biên bản số 29/BB-VPHC về việc vi phạm hành chính và yêu cầu ngừng thi công xây dựng công trình vi phạm. Cụ thể, chủ đầu tư dự án đã có hành vi sai phạm là xây dựng không phép,đang thi công tầng hầm khu vực HH-01; Đang thi công khoan cọc nhồi đại trà khu vực HH-02.

Trước sai phạm trên, Đội Thanh tra xây dựng quận Nam Từ Liêm không những không cưỡng bức ngừng thi công mà còn “ưu ái” yêu cầu chủ đầu tư dự án hoàn thiện hồ sơ, giấy phép xây dựng của cấp có thẩm quyền trong thời hạn 24 giờ kể từ khi lập biên bản. (?!!!)

Ngày 08/07/2016, Đội Thanh tra xây dựng quận Nam Từ Liêm lại tiếp tục lập biên bản vi phạm hành chính và yêu cầu ngừng thi công công trình vi phạm số 132/BB-VPHC với hành vi tái vi phạm. Khi đó, khu HH01 đang thi công ở tầng số 9.

Biên bản xử lý vi phạm hành chính và yêu cầu ngừng thi công xây dựng công trình vi phạm do Đội Thanh tra xây dựng lập đối với Công ty Alaska.

Do công trình này tiếp tục được xây dựng nên ngày 3/10/2016, Đội Trật tự xây dựng quận Nam Từ Liêm đã lập biên bản số 196/BB-VPHC với hành vi tái vi phạm. Ngày 3/12/2016, Tổ công tác quản lý đất đai trật tự xây dựng phường Đại Mỗ đã lập biên bản khi công trình HH-01 thi công không phép ở tầng 16.

Tiếp đó, ngày 09/01/2017, UBND quận Nam Từ Liêm, UBND phường Đại Mỗ đã ra quyết định số 02/QĐ-TGTVVP về việc tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với Công ty AlasKa. Lý do tạm giữ là do công ty này không chấp hành những yêu cầu của UBND phường Đại Mỗ tại Quyết định số11/QĐ-UBND ngày 18/01/2016 của Chủ tịch UBND phường Đại Mỗ. Tang vật, phương tiện vi phạm hành chính tạm giữ gồm 03 xe cải tiến chở vật liệu xây dựng cũ đã qua sử dụng.

Được biết, trước đó phía Đội Thanh tra xây dựng quận Nam Từ Liêm đã phạt tổng cộng là 120 triệu đồng đối với chủ đầu tư. Trong đó, 80 triệu đồng là hành vi xây dựng không phép ở tòa HH-01, 40 triệu đồng đối với việc xây dựng tòa HH-02.

Ngày 20/02/2017, trao đổi với phóng viên, ông Chu Văn Đức, Đội trưởng Đội Thanh tra xây dựng quận Nam Từ Liêm cho hay: “Hiện nay chúng tôi đã chuyển toàn bộ hồ sơ về việc sai phạm của Công ty Alaska đến Sở Xây dựng rồi, mọi việc xử lý phải chờ cơ quan cấp trên”.

Như vậy, có thể thấy chủ đầu tư Dự án khu chức năng đô thị Đại Mỗ là Tập đoàn FLC, trực tiếp là Trịnh Văn Quyết, đã quá coi thường pháp luật, từ một dự án chưa được cấp giấy phép xây dựng nhưng đến nay đã cho xây lên đến 18 tầng việc này khiến không ít người dân vô cùng bức xúc và phẫn nộ. Chưa kể, bất chấp dự án không phép, FLC vẫn tự cho bản thân quyền hợp tác với các sàn bất động sản để rao bán căn hộ thương mại trái phép, coi thường pháp luật và khách hàng khi không thể đảm bảo cho người mua quyền sở hữu hợp pháp.

Phiếu thu cho thấy hoạt động mua bán, đặt cọc các căn hộ tại tòa nhà HH01 thuộc dự án FLC Garden City vẫn đang diễn ra, bất chấp việc tòa nhà này vẫn chưa được cấp phép xây dựng

Rồi đây, ai sẽ bảo vệ quyền lợi của các khách hàng mua nhà của FLC khi chính bản thân dự án đang tồn tại trái phép, gây chướng tai gai mắt người dân và chính quyền sở tại, có thể bị cưỡng chế đập bỏ bất cứ lúc nào? Nghe nói, dự án đang được rao bán rầm rộ trên các sàn giao dịch với hàng trăm căn nhà, giúp Trịnh Văn Quyết thu về hàng nghìn tỷ đồng? Nếu dự án bị cưỡng chế thu hồi, số phận những khoản tiền mua nhà của người dân có được hoàn trả hay cũng chỉ là giấy tờ mua bán thiếu căn cứ, tiền mất tật mang? Giá trị một căn nhà vài tỷ đồng đối với người đàn ông “vàng” này chỉ bé như cái móng tay, nhưng với người dân lao động thì đó là cả một gia tài dành dụm. Đạo đức kinh doanh của Tập đoàn FLC, cụ thể là Trịnh Văn Quyết, ở đâu?

Phía sau những buổi lễ động thổ, khởi công hoành tráng của những dự án nhiều tỷ đồng là chân dung một FLC coi thường luật pháp. Khi họ tự cho mình cái quyền thi công không cần giấy phép xây dựng, mặc cho các quyết định đình chỉ ban hành, FLC vẫn cho thi công lên tầng, nâng chiều cao công trình ngay trước mắt các cấp chính quyền sở tại và thành phố Hà Nội. Kỳ lạ thay mỗi quyết định đình chỉ thi công ban ra, là ngay lập tức FLC đáp lễ lại bằng việc tổ chức cho thi công rầm rộ công trình được nâng lên vài tầng.

Đại diện cho mối liên kết QUYỀN – TIỀN tại Thanh Hóa đang đẩy người dân vào cảnh khốn cùng. Việc này đang tái diễn tại Hà Nội?

Như vậy, sự thách thức và coi thường pháp luật của FLC Garden City hay nói đúng hơn là phong cách làm việc “bừa, ẩu” của Tập đoàn FLC thể hiện rất rõ. Bất chấp các cấp chính quyền ra quyết định đình chỉ thi công, xử phạt hành chính… yêu cầu khắc phục hậu quả, chấm dứt hành vi vi phạm và thực hiện đúng các quy định của Pháp luật nhưng Công ty cổ phần đầu tư Địa ốc Alaska thuộc Tập đoàn FLC vẫn bỏ ngoài tai, tự tung tụ tác, coi trời bằng vung, tự mình cho quyền đứng ngoài Pháp luật. Phải chăng tinh thần 8B Lê Trực đang được UBND quận Nam Từ Liêm bỏ qua với sai phạm của FLC? Hay một lần nữa, Trịnh Văn Quyết đang chứng minh quyền lực của mình ngay chính tại trung tâm đầu não của đất nước? Một Trịnh Văn Quyết tươi cười khoác vai Bí thư Thanh Hóa Trịnh Văn Chiến đã khiến người dân lạnh tóc gáy với những chiêu trò sau mối liên kết TIỀN – QUYỀN, đẩy người dân vào cảnh đường cùng. Nay mối liên hệ đó lại đang diễn ra ngay chính Thủ đô Hà Nội sao?

Thiên Anh

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.03.2017

VIẾT BÊN TỦ SÁCH GIA ĐÌNH

ĐỌC TẬP “BỐN MƯƠI NĂM EM”- THƠ TẶNG VỢ CỦA NGÔ MINH

VIẾT BÊN TỦ SÁCH GIA ĐÌNH

 

Gửi hai con trai

 

Khi ba già nua không còn nữa trên đời

Những cuốn sách vẫn còn trẻ lắm

Trẻ như biển như tiếng gà gọi sớm

Như câu ru và chuyện cổ mùa đông

Là người dẫn đường thông thái của thời gian

Sách sẽ thay ba cùng con kết bạn

Trang sách mở buồn vui câu chuyện

Triệu cuộc đời về dưới mái nhà ta

Thời ba lớn lao việc nước việc nhà

Bao đoàn tụ chia ly nước mắt

Máu mồ hôi đọng thành trang sách

Thành người dẫn đường lặng lẽ bên con

 

Mai sau con lớn khôn

Có thể những buồn vui sẽ khác

Những thư viện tí hon chứa triệu nghìn trang sách

Của thời con chưa ai biết bao giờ

 

Hẳn có nhiều người máy làm thơ

Làm tiểu thuyết đóng hòm xuất khẩu

Nhưng đắng ngọt tình yêu ướt đầm vạt áo

Đất nước muôn đời vẫn mới mẻ nghe con

 

Con hãy đi với người dẫn đường

Để đến chân trời tình yêu đích thực

Người dẫn đường trẻ trung thông thái nhất

Đêm đêm thầm nhắc tên con…

 

 

 

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.03.2017

Nguyễn Lưu đúng…

Nguyễn Lưu đúng…

Lưu Trọng Văn

Sài Gòn nắng, 1giờ 40 phút bay, Hà Nội phùn. Gã trở lại ngôi nhà cổ ba gian bên sông Hồng, sân đầy hoa bưởi rụng. Nhòm trên cây, trái thu trước cùng hoa xuân. Cuộc đời cứ vậy muôn vẻ. Đúng là thế nào? Trái rụng hết, rồi mới ra hoa vụ mới. Nhưng cây bưởi nhà gã không thích thế thì sao?

Đúng là thế nào?

Gã vào mạng ì xèo thiên hạ ném đá Nguyễn Lưu, nhà báo, nhà bình luận thể thao, nhạc sĩ, con trai của nhà khoa học Nguyễn Xiển. Gã nghĩ oan cho Nguyễn Lưu quá …

Hồi nhỏ gã nhớ, tại ngôi nhà của cha gã bên Văn Miếu, ông Nguyễn Xiển bạn cha gã thỉnh thoảng có ghé chơi. Ông lịch lãm, nhà khoa học chuyên về phán đoán và dự báo thời tiết đồng thời là lãnh tụ của Đảng xã hội tập hợp giới trí thức mà.

Mỗi lần ông đến mạ gã thường hỏi đùa, hôm nay nắng hay mưa để chọc ông thỉnh thoảng dự báo thời tiết nắng hóa mưa hoặc mưa hóa nắng thành chuyện tiếu lâm cho dân Hà Nội cười chơi.

Ông luôn cười hiền hậu và bảo: Với anh chị thi sĩ thì ngày nào mà không đẹp giời.

Đúng, thế nào là đúng?

Thôi vòng vo quá, gã xin toẹt, đúng hay trật ở đây là cái chuyện con ông Nguyễn Xiển bị dân mạng ném đá vì ủng hộ quyết liệt, ủng hộ chân thành cái việc dẹp bỏ những ca khúc có nhắc đến anh lính cộng hòa. Thế rồi dân mạng nhân tiện móc ra bài viết của con ông Nguyễn Xiển viết đập Phạm Duy te tua vì từng viết bài hát chống cộng.

Đã móc chuyện cũ thì gã cũng xin móc luôn, đó là ngay khi bài viết của Nguyễn Lưu in trên báo Đầu tư, gã có viết một bài phản kích lại bênh ông bạn già, nhạc sĩ tài năng mê phở và gái xinh, của gã. Lập tức gã nhận được hai cú điện thoại.

Một, của Nguyễn Lưu, ông thanh minh rằng ý của ông viết dựa theo ý của nhà văn Chu Lai và ý của nhiều nhạc sĩ tên tuổi bất bình chuyện tung hê quá mức Phạm Duy trong khi bao nhạc sĩ cách mạng tên tuổi khác chả ai tổ chức các sô diễn tôn vinh, chứ thực ra ông cũng rất mê một số bài hát của Phạm Duy.

Hai, của chính Phạm Duy. Ông nhạc sĩ bảo, cậu bênh tôi làm đếch gì? Nguyễn Lưu nó viết đúng đấy.

Gã hỏi, đúng là đúng thế nào ạ?

Tôi thích thằng ấy vì nó dám bảo vệ cái thể chế cộng sản mà nó thích, nó tin vào cái thể chế cộng sản mà nó coi nó và thể chế cộng sản ấy là một. Đó là một thái độ đường hoàng. Còn…

Còn sao ạ?

Nếu cậu có dịp gặp Nguyễn Lưu chỉ cho tôi nhắn một điều thôi…

10 năm trôi qua cái vèo, gã chưa có dịp nào được gặp Nguyễn Lưu để chuyển lời nhắn của nhạc sĩ Phạm Duy, thì hôm nay có sự kiện Nguyễn Lưu bị ném đá vì chống lại những ca khúc có dính đến lính cộng hòa chống cộng sản, chống lại cái gọi là “con đường em đi…” gã xin nhân tiện gửi lại lời nhắn của nhạc sĩ Phạm Duy:

Cậu Nguyễn Lưu à, cậu rất đúng khi cậu dũng cảm và kiên quyết bảo vệ cái thể chế mà cậu yêu thích chống lại bất cứ ai làm tổn hại đến cái thể chế ấy. Cậu có quyền đồng nhất cậu với thể chế ấy nhưng chỉ xin cậu đừng đồng nhất cậu và thể chế của cậu với dân tộc và đất nước.

Gã xin nói leo thêm:
Thế nào là đúng đây? Vẫn đúng nếu thể chế ấy được dân tộc và đất nước chọn đồng hành với mình. Và ngược lại vẫn đúng nếu thể chế ấy chọn dân tộc và đất nước chính là cái đích mà mình phụng sự.

Còn lại, thế nào là không đúng?
Hê gã không phải chuyên gia dự báo thời tiết…

Nguồn: https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=1818995701758992&id=100009457401127

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.03.2017

THỊ MẦU

THỊ MẦU

TRUYỆN NGẮN CỦA TRẦN CHIẾN

Cánh đồng làng Bùng Thượng đứng từ xa trông như một tổ ong lớn. Bầy ong đen, nâu, có chỗ cả đỏ, vàng và biêng biếc tím tụ lại nghìn nghịt quanh chỗ con chúa nằm, tức đình Trinh Liệt. Dễ cả ngàn vạn người, làng xã lân cận cũng kéo sang. Mùa gặt vừa xong. Những cánh ruộng lô nhô gốc rạ bị dày xéo bẩn thỉu.

Ảnh minh họa: Internet

Đám trẻ con được dịp nô thoả sức, lúc tụ ùn ùn, lúc tản tác lưa thưa. Có đứa dẫm cứt thối hoăng, chùi qua loa vào chân rạ rồi lại lăn vào cuộc chơi.

Cắc tùng tùng tà rà tùng tùng tùng

Cắc tùng tùng tà rà tùng tùng tùng!

Trống dẹp đám khua đến lần thứ mấy mươi, làm rúng động đám đông đang bắt đầu mỏi mệt vì đợi chờ, cuộc hành lễ  mới bắt đầu. Các bà tế nữ quan vuốt tóc mai xiêm áo, sửa lại vành khăn, mặt mũi nghiêm nghị. Cụ Nhận thọ nhất làng được dắt ra khỏi cơn gà gật, nhấp hớp nước sâm hãm cố ngồi cho ngay lưng. Con bé cháu ngoại sau lưng cụ chăm chú đấm khẽ vào vai, vào lưng bà, chốc chốc cười một mình. Chả là Thắm vừa xem ti vi, thấy mình giống thị nữ đấm lưng cho thái hậu. Thế thôi, còn đoạn lườm nguýt đứt đôi người chàng thị vệ thì chả biết.

Những ông đông xướng, tây xướng khăn xếp áo the, sau khi đằng hắng mãi, đã ngân nga:

– Khởi chinh cổ!

– Củ soát tế vật!

– Nghênh thần cúc cung bái!

Bẩy tám lệnh được xướng ra, lâu quá làm cụ Nhận lại li bi thiếp đi, thì chủ tế mới đến lượt. Xấp giấy ông cầm trong tay là bản văn quan trọng nhất của lễ hội, cần phải được bố cáo rõ ràng, to tát, cho thấu đến tai quần chúng, cả bọn trẻ đang nô như giặc ngoài kia. Giáo dục truyền thống mà! Bởi thế, èm èm một hồi vào micrô, ông mới mở nó ra.

“Bùng Thượng thôn, Bảo Chung xã, Lương Nhan huyện, Sơn Nam tỉnh, Việt Nam xã hội chủ nghĩa công hoà quốc. Nhằm ngày mười tháng mười tết Cơm mới năm Đinh Mão tức mười sáu tháng mười một năm hai nghìn không trăm… Được sự lãnh chỉ đạo của đảng uỷ, uỷ ban nhân dân, mặt trận Tổ quốc xã cùng sự phối kết hợp tham gia của các đoàn thể thanh niên, phụ lão, cựu chiến binh, nông dân tập thể. Bản chức hương xã cùng giai cấp nông dân Bùng Thượng dọn mình sạch sẽ, kính cẩn dâng hương…”

“Bà Chúa Chuối Buồng, tên nôm Thị Mầu, tức Ngọc Nga quận chúa, tức Chiêu Hương liệt nữ, sinh ra trong một gia đình bần cố nông nghèo túng, cả nhà đắp chung tấm chiếu, kiếm ăn rất chi lần hồi. Khi mẹ lâm bồn, bỗng nhiên thân cây chuối ngoài vườn oằn xuống, buồng quả to vụt lên đánh thốt, dậy mùi thơm ơi là thơm. Bèn được đoán định một tương lai nẩy nở, tốt nái, sinh mắn như gà, như hoa quả đơm bông. Bà gào to lắm, hễ không được mẹ nhét tấm vú vào mồm thì còn làm điếc tai cả tổng. Đến nỗi mà…”

Trong hậu cung, ban thờ thành hoàng bỗng rực lên. “Cháy…! Cháy…!”. Ông chấp sự hô líu lưỡi. Người đổ xô lại. Nhưng vầng sáng, như viên sét hòn lượn đi lượn lại, đã vụt qua lớp ngói dầy bay lên cao.

*

Trên đầu là khoảng xanh vời vợi, thăm thẳm, nhìn đắm con mắt. Dưới kia, bầy ong đông đúc lúc tăm tắp, lúc nhốn nhao theo lệnh trống chiêng. Và ta, bay lượn ở giữa, như con chim chiện cứ treo mình từ nghìn đời, hót mà chả ai lắng nghe. Ta là ai? Sinh ra lúc buồng chuối cựa mình chín tới thì đúng rồi. Nhưng những “quận chúa” với “liệt nữ” khó nghe quá. Thực tình ta muốn là cô bé Thị Mầu tóc đỏ đuôi gà đang  chắt chuyền nghển nghển trong đám đông chứ chả phải treo mình thế này.

Ngày ta sinh ra có tràng hoa cuốn cổ. “Con bé không đanh đá nhưng đa đoan”, thầy bói phán ta có tương lai gieo neo. Mẹ ta cù mì như củ khoai ngất đi. Còn bố, thỉnh thoảng có dòm vào giường cô hàng xóm, quay ra chỗ khác. Bên ấy vừa lọt lòng con Thị Kính, phận phải bị đổ oan tình.

*

Bài văn tế dừng lại, chẳng hiểu theo thể thức nào, nhưng chắc có phần để người đọc nghỉ lấy hơi. Trống chiêng rộn lên, đoàn tế nữ tiến hai lùi một cung kính. Thừa lúc ai nấy đều nghển cổ, Kễnh quỳ xuống chắp hai bàn tay xỉa rất mạnh vào đít thằng Cộ đứng đằng trước. Rất kinh hoàng, nó thấy tay mình ướt sũng, thối hoăng. Đám đông tán loạn.

Giọng đọc đã cất lên làm trật tự trở lại. “Vào thời Bà Chúa chào đời, Bùng Thượng là vùng đất bờ sôi ruộng mật. Hạt thóc lép vãi xuống cũng trỗ cờ đâm bông oằn thân lúa. Hẳn là vì hấp thụ được linh khí trời đất mà tuy chỉ ăn rặt hương hoa, Bà Chúa vẫn lớn nhanh như thổi. Mười bốn tuổi, mình mẩy vươn thẳng như dóng tre, chúm chím đôi chũm cau, da dẻ ngọt lịm như phù sa sông Bùng. Mười sáu thì nhất làng rồi…”

*

Mỗi khi ta ra giếng làng kín nước, đám đàn ông có vợ dán mắt vào bắp chân ta nâu hồng. Lũ trai tân thật ngộ, đứa hấp háy thảng thốt, đứa ngây ngây vào đám bèo ong. Chị Nhài con dâu ông lý Mùi bảo “xưa chị nhất làng, giờ thì em ăn đứt…”. Ta cười ngượng. Chị Nhài hai mốt, đã ba con mà môi ăn giầu cắn chỉ, răng đều tăm tắp, mắt sâu như lòng giếng. Nhưng chị buồn, ta biết, vì phải ông chồng cao to đen hôi vầy vợ như vần cối, chắc chẳng bao giờ được ôm ấp nâng niu. Và lũ em chồng. Sao mà những mũi xanh mắt ghèn tanh hôi. Sao mà những tám đứa. Mẹ chồng chị mềm oặt như manh giẻ, chùi chân còn phát khiếp. Dẫu sao, Nhài là chỗ mong ước của khối chúng chị em.

Ta với Thị Kính trèo lên cây cậy lấy nhựa phất diều. Cu Đán cầm lồng chim qua, bảo có đổi lấy diều. Ta bảo chả báu, chim trong lồng còn gì là quý, Kính tụt xuống ngắm mãi con sáo đá, “thương nhỉ thương nhỉ” mãi.

Đến thúc sưu, nhìn ta đập lúa ngoài sân, lý Mùi bảo:” Con gái lưng dài như chó liếm cối, lồn bằng lá tre, gả chồng đi thôi. Để ta nói với cụ đồ Phan sang hỏi. Có ưng không?”. Cha ta ấp úng: “Dạ, con đang tính chưa ra…”. Mẹ chạy vào: “Được chòi mâm son lại còn tính. Dạ, ông cứ đặt đâu chúng con ngồi yên không vẫy tai”. Ta giằng mạnh cái néo, quăng ôm lúa ra rõ xa.

Ông đồ họ Phan có con trai là Thiện Sĩ mặt trắng ẻo lả, tướng trói gà không chặt, suốt ngày nói chữ Thánh hiền. Đi giữa đàng thấy mảnh giấy bẩn có chữ  Nho, anh ta rửa tay, giũ áo kính cẩn nhặt lên đem đốt, bảo không để gót phàm phu xéo vào. Chúng ta đang cấy dưới ruộng ới “xuống đây với chúng em cậu ơi”, thì đăm chiêu rằng “tôi chả dám. Đang học để sang năm nữa đi trường Nam thi Hương. Các chị nghịch lắm, để mà rơi mất chữ à.”

Thiện Sĩ được nhà giao phận sự thi đỗ, làm quan cho vinh hiển. Chả biết có quyết chí? Vì ta thấy ngủ nhiều, thỉnh thoảng ho khan, da bủng, nói năng không giống kinh sách thì cũng đối tỷ những câu không đâu vào đâu, cứ như thằng ấm đầu. Ta thích nho sinh như Đức Trường hơn, chẳng chăm chỉ lắm nhưng mắt nghịch ơi là nghịch. Giá thử Trường chưa có vợ… Nhưng ta là gái, có thế đã làm được gì sất?

Dầu sao Tết năm ấy ta đã ăn sêu của nhà đồ Phan. Thiện Sĩ có thích ta? Chắc là có! Mơn mởn thế này mà.

Sao mà ta chẳng biết mình có thích cậu chàng một téo…

*

Chả hiểu tung toé đâu vào con gà mái già. Cậu trống choai theo sau lấy giọng bấy bớt hát đứt quãng, chạy vòng quanh rồi nhẩy lên rất khó khăn. Cảnh ấy làm đám tế bớt trang nghiêm. Ông com lê com táo trịnh trọng hấp háy với ông răng thuốc lào hoành tráng: “Mái già thế mà chê thanh niên, nhể”.

*

Ra giêng ta đi hội Sủi làng bên. Đang nô với chúng chị em thì gặp Thiện Sĩ tay cắp ô tay cầm quạt. Ai nấy tản ra làm cả hai lúng túng. Ta “chào cậu” rồi đứng yên, chỉ nghe tiếng phành phạch. Bỗng nhiên hỏi “cậu có thích chèo Trương Viên không?”. Thiện Sĩ rạp người vái lên sân trò rồi quay lại ấp úng: “Nôm na mách qué ta không rành. Còn chị sao sắn cao quần hổn hển làm vậy. Đức Khổng Tử dậy đàn bà con gái phải giữ lễ…”, mắt cụp xuống. Má ta đang rực cả lên, sao có cái giống không nhìn? Ta đứng ra bề chịu lời nhưng nghĩ  đến mục quang của Đức Trường, sao mà sáng, phát lộ bề bề.

Chèo Trương Viên vui ơi là vui, xong rồi thì buồn, làm ta cười rưng rức. Những hề mồi, hề gậy dẹp đám, những cu Sứt cu Khoèo, giá cuộc đời chỉ toàn thế; một ngày Tết kéo dài cho đến lúc người ta lụ khụ rồi nhắm mắt xuôi tay, vui thế mới vui…

*

Theo một thể lệ trong cuốn “Quy định về lễ hội” sở văn hoá mới phát ra, cuộc cúng tế chỉ bắt đầu ở đình Trinh Liệt, rồi dẫn rượu qua những nơi xẩy ra các sự kiện trọng đại trong đời Bà Chúa. Lếch thếch, nhem nhuốc theo cỗ kiệu rước bài vị, cả ngàn người lèn trên con đường ra cánh đồng Đơm. Chen chúc quá, đến nỗi có người rớt xuống sông tiêu. Số giẫm cứt trâu nhiều vô kể.

“Hiến Tông là một vì vua anh minh cao cả, thường vi hành trong dân gian để thị sát chúng sinh, xem chức sắc hương xã lãnh chỉ đạo thế nào. Nhằm ngày… ấy nọ, Ngài vi hành về Bùng, lập hành cung trên cánh đồng Đơm…”.

*

Ngày ấy nọ làm sao ta nhớ nổi. Chỉ biết lúc ấy đất trời đẹp vô tả. Ngoài đê sông tiêu, buồm nâu trôi lững thững. Những con bách thanh lắm điều tranh nhau đống cứt. Lúa trỗ thơm ngậy ngà đến rạo rực, đánh thức một cái gì rất khó nói. Ta vừa nhổ cỏ vừa đoán xem “nó” là cái gì, cái ta muốn màu hồng hay biêng biếc, mông chổng lên mà đầu phải gằm xuống, rất là không thích thế. Thì thầy lý Mùi dẫn một quan viên áo gấm thêu hoa thêu chữ tới, gọi cả bọn dưới ruộng lên.

– Ngài Ngự thích ăn chuối tiêu chín tới. – Vị quan viên cất giọng the thé – Nhà các chị ai có?

Ta mau mắn dẫn hai vị về nhà. Hiềm vì cây chuối mọc sát chuồng tiêu, thơm ngon đấy nhưng dễ uế tạp. Ông lý rất băn khoăn, nhưng vị quan viên gạt đi. “Trong cung có kén được hoa thơm quả ngọt mọc ở đâu đâu!”

Vậy là ta bươn bả bưng buồng chuối mười sáu nải, đúng bằng tuổi ta. Đồng Đơm rạp cờ phướn võng lọng, hương xã và các chú lệ tất bật căng lều dựng hành cung. Ta xăm xăm xông vào đám, thì vị quan viên “họ” lại, bảo xuống ao khoả chân lấm với lại vuốt lại đám tóc mai ướt rượt mồ hôi đi. Ta đặt buồng chuối xuống, dù khẽ khàng mà một quả buồng sau vẫn rụng, toả hương bồng bềnh.

Có con đỉa bám vào bắp chân. Đương chổng lên, đắp nước bọt vào miệng nó thì có tiếng thét: “Không được quay lại! Quỳ xuống!”. Ta luống cuống ngâm nửa người xuống làn nước trâu đầm, nghe nhồn nhột vài con nữa ở đùi, ở bụng. Mặt gằm sát nước, chỉ biết sau lưng có tiếng hia bước khe khẽ, dao mác thậm thịch. Một tẹo thì họ trở lui. Chả ai bảo sao, cơ mà ta phải ngâm chốc nhát nữa mới dám lên.

*

“Chính tại nơi đây, chỗ chúng ta đang dừng chân, tức cánh đồng Đơm, đã diễn ra cuộc trùng phùng với đấng quân vương. Bà Chúa được lâm hạnh…”

*

Buổi chiều ta đang đẽo chạc ổi cho em Tam thì họ đến. Truyền rằng: “Thị Mầu con Binh Lượng ra hành cung hầu hạ!”. Mẹ ta cuống lên bứt xơ mướp bảo cọ sạch chỗ nhựa cậy, xin phép cho cháu tắm gội tý chút ạ. Gì gì đều gạt đi, rằng không cần, nhà chị có phúc lắm mới được gọi vậy.

Ta tất tả đi. Mẹ khóc, không hiểu sao. Cha mặt cứ đuỗn ra, rít chín thôi thuốc lào ngã chổng kềnh. Nhác thấy sau búi tre đồ Phan và Thiện Sĩ, bố con đều nhàu nhĩ, thảng thốt. Ta không muốn. Hình như chả ai muốn. Nhưng nỗi sợ đã làm tất cả hoá đá.

Vị the thé bảo ta bước lại chỗ màn quây, bên trong có chum có gáo, bắt tắm rửa. Rồi lính khiêng đến thùng gỗ lớn kín đầy nước nóng, bỏ vào hương nhu, lá bưởi, xả nhánh, rễ hương bài, những thứ mẹ xông cho ta lúc nóng sốt. Trong buồng quây chỉ còn vị quan viên, ông bắt ta cởi hết xống áo bước vào ngâm. Thẹn đến chín người, mà ông ta như đứng trước thân cây xoan.

Truyền rằng Mầu ngươi được đức Thánh thượng chọn. Hãy làm Ngài vui lòng, ngâm nước thơm cho bớt mùi nông phu đi. Không được làm gì uế tạp cho xú khí khỏi vương vào da dẻ. Vì thế mà ta muốn đi tiểu đến chết mà chẳng dám. Nhưng tránh sao được vài giọt nhểu ra.

Một người đàn bà, có lẽ là cung nữ gì đấy, quấn ta lại bằng vuông lụa bạch mát ơi là mát, chỉ để hở mặt mũi. Ba người lính nâng ta bê sang một “căn phòng” khác, cũng chỉ bằng mùng quây lại, đặt nằm ngay xuống đất. Quay sang trái rồi sang phải, té ra là triền đê sông tiêu, chỗ ta hay cắt cỏ và nô nghịch, có khi lăn tròn từ mái xuống dệ. Bên trên, trời xanh ơi là xanh, chẳng gợn vảy mây. Ta khát khô cổ, chẳng dám kêu.

Rồi Đức Kim Thượng bước vào, bóc tấm vải bọc thân ta trần truồng, ngắm nghía giờ lâu mới ấp mặt hít hà. Tay ngài khô và lạnh, bộ râu lưa thưa quét trên da chẳng dễ chịu. Ngượng ngùng và sợ hãi, ta cứ nhắm nghiền mắt, cứng hết người. Mình rồng phủ lên người ta nhưng không đi vào, chỉ hít hà đám tóc rối, dụi trên cần cổ. Nhột nhạt không chịu nổi. Lủng lẳng giữa hai chân Ngài là đám bèo nhèo, mềm oặt. Được một khắc Ngài nhỏm dậy mặc lại long bào. Ta thu lu trong tấm lụa, gục đầu xuống gối chẳng dám nhìn.

– Cô là thôn nữ ở Bùng à? Da không mịn nhưng mình mẩy thơm lắm.

Đức Vua lẩm bẩm, không rõ là có nói với ta. Lấy hết can trường, ta ngẩng lên nhìn vào Ngài. “Bệ hạ có vừa lòng không ạ?”.

-Trẫm xong rồi. Nhà ngươi vẫn là trinh nữ.

*

“Bà Chúa đã đem thân thể trinh nguyên, hun đúc tú khí những hoa trái tươi ngon, bờ xôi ruộng mật, tiếng trống chèo rộn rã, mái rạ bốc khói chiều hôm của một nơi thôn ổ bình dị, của cả quê hương dâng lên trọn vẹn cho Đức Vua.  Trên đồng Đơm, chỗ triền đê này, long thể đã chấp nhận chúng, hun đúc lại, như một cuộc giao hoà giữa đất và trời, trên và dưới, âm và dương, lòng dân với ý thánh tôn cao cả. Nó cho thấy sự bình dị của ngôi sang, sự vươn tới thánh thiện của kẻ dưới…”

Giọng  chủ tế ngân nga. Ông trưởng ban văn hoá xã, người soạn bản văn đứng cách mấy bước gật gù: “Có thế chứ. Đọc có hồn lắm!”.

*

“Người vẫn là trinh nữ!”. Khỏi nói thì ta cũng dư biết điều ấy. Đức Ngài đã xốc xống áo, lấy lại vẻ cao vời bước ra khỏi buồng quây. Để lại cho ta một phận đàn bà (ta đã mất cái ấy rồi, trong mắt thiên hạ) với bao đa đoan, mình không còn là mình. Và là ai, thì chưa  biết.

Trong chung chiêng, ta không được ở lại căn nhà có mẹ hiền đảm, bố củ mỉ cù mì và lũ em hôi hám. Ta không được như chị Nhài, sang hai nhăm đã năm đứa. Căn buồng bà đẻ kín mít, tanh tưởi, có thúng tro để các thức bẩn thỉu dưới gậm giường, nhưng chị được an phận là mình, làm con gà mái sòn sòn đến hết trứng chứ chả chung chiêng như ta.

Làng Bùng, rồi cả tổng Diêu Canh xúm lại dựng ngôi nhà cho cô gái đã thọ lộc vua. Tre pheo, lợp lá gồi, nhưng nó thoáng rộng, có kiểu cách chứ không bí rị như nơi cha mẹ. Bộ trường kỉ tre, cái sập gụ, lồng chim trước hiên, thật là thích. Ta ăn trắng mặc trơn, có một người tớ gái sàn sàn tuổi luôn “tâu lệnh bà”, dằn dỗi mãi thì rằng làng bắt thế. Mãi mới chuyển sang “thưa cô” được, mà chỉ lúc hai đứa với nhau. Thiện Sĩ chả còn là gì. Cái hôm anh ta tuân lệnh chánh tổng viết đôi câu đối đem đến treo, ta nắm tay (chả gì ta cũng có hơi trai rồi) hỏi: “Cái việc của em với chàng thì sao?”. Sĩ rụt vội, mặt xanh xám nhìn quanh: “Phận ấy kể như không có. Coi là tôi mất phần sêu hai Tết”. Khinh khi anh chàng hèn hạ, ta chợt nhận thấy từ nay kinh khủng biết bao.

*

“Bà Chúa có lòng nhân từ, hay giúp giập người xung quanh. Trong khi chờ đức Hiến Tông cho kiệu về rước lên kinh, nàng chữa bệnh cho trẻ, dậy dân nghề canh cửi. Một dải ven sông tiêu mướt bờ dâu, cả tổng lách cách tiếng thoi đưa. Hiềm vì mình rồng ở xa quá…”

*

Từ nay ta là kẻ trên trong làng, hơn hẳn bà chánh vàng đeo đầy người. Lũ vợ đám lý trưởng, lý mua càng không là gì. Sang thế mà xa cách, trống toang toàng toàng. Có đứa trẻ sài đẹn, ta mài miếng quế thanh cho uống. Sang nhà Nhài gỡ đám tơ rối, hăng hái, cậm cụi kẻo phát điên. Đêm về nhà như cái lồng hổng thênh thang mỗi bóng mình. Ta chạy về chốn cũ, ngả người trên chiếc giường con gái, nó ngắn ngủn để không thể nằm ngửa. Cha mẹ  ra xua.

-Con lậy mẹ cho con về. Cám khoai mặc lòng, còn hơn nằm xuống lại nghĩ đến ma. Con còn con gái, chẳng nhẽ không được lấy chồng, hoa nguyệt rồi chửa đẻ nữa sao?

– Phỉ phui con ơi. Gì thì cũng đã rồi, không chữa được.

Chánh tổng, lý trưởng, cả đồ Phan đến, dõng dạc: “Cô nương đã là riêng của đức Kim Thượng, không thể tự nhiên như đám nụ cà hoa mướp ngoài kia nữa”. Ta lủi thủi về “nhà” theo chú dõng, mở lồng cho những sáo sậu vàng anh bay ra.

Nhà Thị Kính có đám hỷ. Anh chàng đã sêu Tết ta xống áo nghênh ngang đón cô ấy về. Chả hay đã quên ta hẳn…

*

“Bà Chúa là người đức hạnh, ở vậy đợi chờ, một lòng chỉ tưởng đến Quân Vương. Ngài Ngự ở xa, trăm công nghìn việc toàn đại sự, chưa đoái lại nơi thôn dã từng dừng chân, qua đêm trên cánh đồng Đơm. Đến bữa Bà Chúa xới hai lưng cơm, một dâng lên Ngài Ngự đang ở xa, một cho mình…”

*

Ăn không ngồi rồi rực mỡ, ta hệt mấy vợ lính vắng chồng, đêm đổ thóc ra xay, vần cối huỳnh huỵch, mồ hôi nhoẹt dải yếm mà không thể ngủ. Trời rét chết đám cải mới vãi mà phải ra ao trầm mình cho lũ bèo mơn man. Thân ta nóng ran khi nghĩ đến bàn tay người ấy mân mó đôi nhũ hoa, dù nó lạnh ngăn ngắt. Đức Vua không mạnh, điều ấy rõ, nhưng vẫn có hơi lạ khi phủ lên ta, mở ra một cõi  chưa từng trải, chỉ có thể bước vào chứ không quay lại được. Ta tưởng sang đôi tay Thiện Sỹ lóng ngóng treo câu đối hôm nào, chả biết nó có nóng. Trời đất ạ, ta không được quyền tơ tưởng nhục thể kia mà.

Trong tốp thợ đến dựng nhà ngang có Đức Trường, trượt thi hương nên vứt bút  lông sang cầm đục chạm. Chàng cởi trần cột nóc, không vai u thịt bắp mà mảnh mai, săn chắc. Lưng ấy chắc “đục” phải biết. Lúc Trường tra xong con xỏ, tụt xuống, ta bưng bát chè tươi lại,  sóng sánh: “Uống cho đỡ khát, bác phó”. Chàng uống tự dưng, mắt không cụp, trong khi ta bất giác rụt tay lại. Rồi vắt vẻo trên cây đà mà hát.

Bớ cây xoan đào

sao cứ đu đưa

có biết con chiện

đã mỏi cánh rồi

Mỏi cánh rồi thì phải bay thôi…

Ới làng nước ơi

có thấu chăng cái nỗi bay bay…

Ta trở vào, hình như sắc mặt có dậy, ngồi trong nghe tiếng gõ khoan nhặt mà đoán người đang làm gì. Làm gì chả biết. Có một lúc lại vén ống quần lá toạ dí vào gốc chuối. Bố láo bố toét đến thế là cùng!

Đêm, đang lọc xọc cài then thì có bàn tay chặn lại. Đức Trường lách vào, sừng sững nhìn. Đương khi mắt ta lảng tránh thì xấn lại ôm thin thít. Ta xây xẩm như phải cảm, trong đầu có đám rối không cho chống đỡ. Cho đến lúc Trường xìu xuống, hổn hển trên người ta, ta mới hết cả hồn. May, là con “thị nữ” đang tuổi ăn tuổi ngủ đã pho pho.

*

“Những đêm vò võ, ngày khắc khoải chờ mong không làm mòn lòng thuỷ chung. Bà Chúa một mực chỉ hướng về Chúa Thượng. Nàng thường dừng tay đưa thoi, nhủ con hầu rằng “ấy, Ngài đang rong ruổi trên mình ngựa, chả bình Chiêm thì cũng là dẹp động Mán thôi”.

*

Ôi chao là những run rẩy đợi chờ. Nghĩ đến là nóng ran. Gặp nhau là mê man rồ dại, điên cuồng ghì xiết. Mắt ta long lanh, môi khô ráo, má dậy rực rỡ đến nỗi con hầu ngạc nhiên: “Sao hôm nay chị nhuận sắc thế?”. Được cái là nó tốt giấc, chập tối đã díp mắt, ta bảo để bát đĩa đấy là lên giường không vẫy tai.

Đêm sau Trường đến muộn, khi đám dõng đã sát phạt trong điếm. Đẩy cánh cửa không cài then, chàng lách vào, đứng áp tường nhìn ta đăm đắm.

– Có chuyện gì ư? – Ta hỏi.

– Tôi chả ngờ cô nương vẫn còn trinh tiết.

– Em chỉ là của rơi của vãi của bề trên. Đức Kim Thượng có biết làm gì đâu. Có đâu như chàng. Em trọn vẹn là của chàng.

– Điều ấy làm tôi sợ. Bề nào tôi cũng đã có vợ, cô nương gì gì cũng vẫn là của cải của  Vua. Đức Ngài đã rờ đến thì không thể chạm vào như hút cái điếu chung.

Ta chan hoà nước mắt. Sự khai mở vừa dồi dào đã vụt tắt. Sao Trường không thể coi ta như con Thị Mầu hái đỗ bẻ ngô bình thường. Nhưng chàng đã đặt tay lên vai ta: “Thôi nào, đây nhớ đấy cả ngày, nước mắt mất cả vui”.

Sự thể còn hân hoan hơn hôm đầu. Ta đã dạn dĩ, chủ động hơn trong dâng hiến. Ta cũng kiếm tìm chàng, lắng nghe những đợt sóng của mình, biết chờ đợi, dâng nó lên đúng lúc. Ta đã là một đàn bà thành thục, tỏ rằng mọi bổn phận, đức hạnh đều chỉ là mớ rau con tép so với niềm vui này. Còn gì lớn hơn, trọn vẹn, thần thiêng hơn là đôi bên trọn vẹn trao gửi, dìu nhau đến tột đỉnh sung sướng, nó làm ta phải cố mà kìm lại tiếng rên dài. Mái nhà, con mèo cái ném tiếng tru vào đêm đen.

*

“Trong hàng xóm có bao nhiêu vợ lính vắng chồng là bấy nhiêu nhà được Bà Chúa đến thăm, nhủ rằng phải gìn giữ tấm thân trinh liệt. Bà Chúa là tấm gương cho cả tổng Diêu Canh, có 142 đàn bà đêm ngày tằm tơ canh cửi cho chồng đang chiến trận hay sôi kinh nấu sử tận kinh đô”.

*

Rồi ta tắt tháng, nôn khan. Chúm nhũ hoa thâm đen, đến kì không còn bẩn mình. Một đêm vuốt ve xuống dưới, Đức Trường ngẩn người thảng thốt. Chàng đã không còn hăng hái, hỏi chả bảo sao.

Mấy hôm không sang. Ta gọi lý trưởng bảo thay khung cửa, hình như tre ngâm dối mà chóng mọt. Đến đục đẽo là ông lão sáu mươi, bảo Trường đã bê vợ con làm ăn nơi xa, khéo đang kéo cưa lừa xẻ trên tận Hưng Hoá. Nghĩa là rừng xanh nước độc rồi…

Mình dưới lên lùm lùm. Làng mang đến những lá lẩu chết tiệt, bảo uống cho ra thai. Ta chẳng bỏ con. Nó chẳng những là máu thịt, mà còn là hồn cốt, kỉ niệm của những ngày đẹp nhất trong đời ta – mãi ta mới ngộ ra thế. Con của Trường ra đời sau những bẽ bàng, cô quạnh, nhưng thật xinh đẹp. Ta rờ rỡ vén yếm cho con bú, bầu vú thây lẩy, mọc gai gạo không còn gọn ghẽ, hề gì. Bảo làng rằng làm gì thì làm, ta tình cờ gặp bố nó trong buổi thăm vườn dâu. Gọt đầu bôi vôi lột quần áo dong đi khắp chạ, cứ việc!

Hương câm đồ điếc bàn mãi, mất ba chum rượu với lũ lỹ lòng lợn thịt chó, không nhất định được. Chả ai dám phạt quý cô nương đã được thọ ân sủng từ ngôi cao tót vời. Nhưng ta bị cướp mất con, đưa sang chùa. Ngực ta rừng rực tức, đêm tru như con chó cái. Con hầu cũ phải đòn vọt, đổi đi. Ngoài kia, người ta vuốt lại cho phẳng sự tình, yết với chúng dân là Bà Chúa đổ bệnh vì mong chờ Ngài Ngự lâu quá.

Được cái người nuôi con là tiểu Kính, bỏ lên chùa vì có chuyện gì đấy với nhà chồng.

*

“Bà Chúa bắt đầu nhận con nuôi. Năm đứa trẻ vô thừa nhận được đem về, tắm táp khỏi tanh hôi, vận áo mới. Căn nhà sơ sài đầu làng sáng bừng lên trong tiếng ầu ơ bi bô, mặt mũi bà mẹ rạng rỡ vì bận việc công đức”.

“ Chẳng bao lâu chúng lớn lên, bay nhẩy, giúp bao việc có ích cho đời. Nhưng đi đâu về đâu thì vẫn nhớ về tấm lòng bao dung…”.

*

Ta đã bẩn mình, người gọn ghẽ trở lại, dù da bụng có những vết rạn như sóng bể. Gái một con long lanh, ta làm tức mắt đám đàn ông trong làng. Thật tội nghiệp, họ hau háu vào gáy, vào lưng, bắp chân ta, nhưng trước mặt phải “tâu lệnh bà”, mắt mũi cụp xuống. Cũng có gã táo tợn chằm chằm như sắp nuốt sắp vồ nhưng chẳng dám tiến xa hơn. Bố bảo chẳng dám dùng chung với Vua.

Nghĩ càng giận và thương Đức Trường. Chàng thật táo gan ăn cắp phẩm oản trên ban thờ, đánh thức nơi thiêng liêng những điên cuồng rồ dại. Bỏ mà đi thật hèn hạ! Nhưng chàng phải bảo mạng sống chứ! Không sống còn đâu hưởng những hoạ phúc trên đời. Ở nơi xa, trong lán xẻ giữa rừng sâu, chàng còn nhớ những đêm tưng bừng. Ơ này, giọt máu của chàng đang trong tay Thị Kính, cô nàng an phận cũng chả được số mạng tha nào…

Giờ thì ta đẹp cho ai, óng ả, ròn nẩy cho chó đực nào? Hẳn chẳng phải cho quân vương, cái gã người chả ra ngợm bèo nhèo một dúm vô tích sự, cái thằng nghìn lần đáng chết khiến ta nhớ đến phải nghiến răng kèn kẹt. Chị Nhài đã đẻ đứa thứ bẩy, hôi như cú, vú thòng quá cạp quần, mà ta còn chẳng được bằng.

Thiện Sĩ lại sang, phết phẩy gì đó trên bức hoành, cụp mắt khi ta bước lại. “Chàng quên hẳn em rồi à?”, ta nắm tay mềm thượt trêu, Sĩ lúng túng giật ra rồi ù té chạy.

Giận đứa thư sinh mặt trắng. Muốn đấy, tiếc lắm mà chẳng dám nói ra. Ta lấy mai đào chỗ đất Sĩ đứng đổ chuồng trồ. “Choang!”. Thẳng tay ném cối đá xuống sân, kình lực mạnh khiến nó vỡ đôi. Ta khoẻ thế ư?

Ngoài kia gươm khua. Đám khố đỏ khố xanh ra trận. Hương dõng làng cũng đi sạch. Những căn nhà trống toang. Đàn bà đêm đêm ra ao ngâm. Thơ giết giặc của Thiện Sĩ  thật hào sảng.

*

“Giặc đến. Bà Chúa nấu cơm trộn muối vừng nắm lại, bọc lá chuối chia cho quân sĩ ra trận, như muốn gửi lòng mình đến nơi đức Quân Vương đang xông pha”.

*

Ta xuống tóc, bôi mặt, giận giầy cỏ xung vào một đội lính. Việc khiêng vác, lăn lê huỳnh huỵch có coi vào đâu, chỉ tội nằm chung với mấy chú trống choai ngửi mồ hôi và rắm rít.  Vui lắm, khi nghe câu  “da mịn nhỉ, đằng ấy là gái đố thoát khỏi tay tớ”. Ta lui lại kịp khi bàn tay vô tư kia định thộp vào ngực. Cậu bé ấy ỉa đống cứt đến là lực lưỡng, hay hát những câu bông lơn như Đức Trường.

Tướng quân họ Đỗ xuống bếp khi ta đang lúi húi bên vại cà. “Ta biết cậu là ai”, nói rồi dằn xuống mạnh tợn. Ta đẩy ra nhưng mắt sâu râu rậm cứ ập vào nhột nhạt không thể tả. Xong rồi người ấy xuống lệnh “tối tối lên hầu ta ở quân doanh”.

– Nhà ngươi không sợ chết ư?

– Chết vì đàn bà là sướng nhất! – Họ Đỗ vuốt râu – Đất nước này lịch sử do ở tay đàn bà cả.

– Thế còn lính tráng, những người mở mang biên cương?

– Mở mang xong chả biết làm gì cả.

– Còn kẻ sĩ với  những câu thơ để đời…

– Hạng ấy càng không đáng nói đến!

Được mươi đêm vui thú thì tong. Nhát gươm giặc xẻ tướng quân làm đôi, chỗ dưới bụng còn nằng nặng cứng cỏi. Ta quá sợ hãi không dám vào chỗ mai táng, nhìn xuống dưới hỏi liệu có ra thằng con rậm râu nữa…

Trên sức xuống,  rằng tên Mầu ở đội hoả đầu phải xuất ngũ về quê. Chia tay với những mộc mạc mến thương chân chất và những đôi chân quấn xà cạp mùi rất nặng. Chú lính vồ trượt ngực ta hôm nào trao cái cối trầu, dặn “của mẹ tôi đưa để ngửi hơi, cậu đem về hộ, sợ rằng cũng không sống được lâu”.

*

“Đồng Đơm để trống. Buồm ngoài sông tiêu xếp lại. Làng xóm toàn khăn tang, những tiếng hờ ai oán”.

*

Chùa làng chả còn tiếng  trẻ. Kính Tâm, đã lên sư bác, bảo “đã thành con Bụt rồi là lẫn vào bụi trần. Còn chút máu thịt của chị, chỉ cần biết nó còn đang yên lành trên đời là được rồi. Mà Mầu chả được cái tích sự gì cả, chỉ làm mọi sự rối tinh lên. Tôi đã khuyên Mầu an phận rồi kia mà”.

Gươm khua mãi, người ngựa đều đã mỏi. Quân sĩ máu me đầy mình lê bước qua làng, mặt mày không đau đớn thì cũng buồn  rượi. Trong những cơ đội lên thế chỗ có những gương mặt quá trẻ làm ta nao lòng. Khi thúng xôi, khi nong cà, ta tìm cách tiếp sức cho họ, để được mau trở về quê hương hoà bình. Giấc mơ hiền hoà yên ổn luôn xát muối vào lòng mỗi người dân. Cứ thế này thì bao giờ câu ca tiếng hát mới tỉnh tình tinh, những nhân tài bình tĩnh ngồi nghĩ việc lớn cho đời?

Có những chiến thương vào tá túc, được ta chạy thuốc, phục sức. Cậu lính cụt tới háng khóc rưng rức: “Chị ơi, đời đẹp vậy mà em ra vậy”. “Trẻ thì đây, chị cho biết sự đời”, ta nói sau hồi trầm ngâm. Chúng ta nhập vào nhau thật tự nhiên, không kiểu cách, như là để bù đắp những thất thiệt cho cả hai. Xong cậu bé roi rói tươi “giờ thì em chết được rồi”.

Một hai đận thế. Rồi thương binh không được dừng ở ngôi nhà tre gần đường cái quan nữa. Nhưng lính lên phía trước vẫn đi qua. Ta giao hoà với các cậu trẻ măng, mặt búng ra sữa được. Trẻ, khoẻ và vụng về trong ân ái, họ nâng niu ta lắm. Muốn thì chị cho, tiếc làm gì cái thuộc về người ta mà người ta không muốn giữ.

Những đêm hân hoan bi thảm. Chân cẳng chạy vội ngã dúi dụi trước nhà. Ấp a ấp úng, nhút nhát mà cuống quýt, vui không tả nổi. Xong rồi lại vội về với cơ đội kẻo mà lộ chuyện bị đấm đá đạp. Dầu vậy  họ không thể nín miệng. Giấc mơ về ngôi nhà có người đàn bà đẹp một mình ám ảnh cả đạo binh lên phương Bắc.

Làng họp, tất nhiên chỉ toàn hương chức. Hương câm, đồ điếc ai nói nấy nghe. Lý Mùi lẩy bẩy. Đồ Phan bình tĩnh tách bạch: “Bà Chúa đã quá mệt nhọc với việc chăm sóc quân sĩ, nên nghỉ ngơi cho nhàn hạ, kẻo mà Chúa Thượng trở về phải nhọc lòng trước nhan sắc tàn phai”.

Tiểu Kính Tâm đã hoá. Con ta lẫn vào đám trần gian. Đương khi đau đớn tơi bời, ta bị gọi ra trước đám kì mục kì nát chứng kiến cuộc khấn vọng. Rằng, chúng thần bất tài vô hạnh, cố giữ cho tổng một tấm gương trinh liệt mà không được. Tâu Đức Hiến Tông đang chạy giặc nơi xa, sức đã cùng, lực đã kiệt, chúng thần phải quả quyết một chọn lựa mạnh tợn, kẻo rồi mai này bị quở.

Còn chưa thủng thì bị ghì xuống, lột ra. Đồ Phan, chính là lão già đủ nho y lý số ấy, quết vào cửa mình ta thứ nhựa sền sệt, đâu như để trám thuyền. Chân đè tay ghì, những lực lưỡng không cho giãy giụa, đến khi nhựa khô hẳn. Ta không đi nhanh được nữa, mỗi bước cất lên đau đớn vô cùng.

– Đồ chó má các ngươi. Độc ác, tàn ngược quá quỷ dạ xoa!

Ta điên tiết gào lên, nghĩ đến cái của nợ nó cắt tất cả mọi sinh lực, vui thú, làm mình ra tàn tật. Đồ Phan kính cẩn:

– Cô nương sẽ quen dần. Tôi đã để một lỗ làm chỗ bài tiết.

– Cha con đẻ mẹ chúng mày. Ta mắc tội gì mà khiến bạo hành?

– Chúng tôi chỉ là con chó giữ của cho Chúa Thượng. Cô nương dùng hoang phí quá phải bít lại.

– Ta là đàn bà. Ta muốn sống như buồng chuối kia qua thì chát xanh thời chín tới chứ không phải cái thây đi lại nói năng.

– Chúng tôi đã nhiều lần khuyên ngăn, cô nương chẳng thủng. Phàm đã được thọ lộc của Chúa Thượng thì phải giữ lòng son, làm tấm gương sáng cho chúng dân soi vào.

– Chúa Thượng nào? Nó chỉ là con chó không có dái, trèo lên bụng ta còn lẩy bẩy.

Hương chức thất sắc xông lên bịt mồm ta, lấy chỉ buồm ra khâu, để lại một chỗ đổ nước cháo. Đẵn cành dâu rấp kín chỗ ta đứng, chúng quay vào đám lòng lợn tiết canh, lâu lâu nhảo ra ngó.

Canh giữ là mấy chú hương dõng, có dao mác nhưng chả oai hùng gì. Dù vậy thì ta cũng hết sức làm loạn. Máu đổ ra các cửa. Ngực đỏ bầm cương lên rỉ sữa máu. Dưới đùi chốc chốc một dòng âm ấm, nhặng bu vào mà ta không thấy tanh.

Sáng ra có tiếng năn nỉ “Lệnh bà không uống tí nước cháo thì chết chúng con”. Ta đứng lên chuệnh choạng ra cửa đình. Trước mặt là đống bãi tươi non, sáo sậu líu lo, những câu trai gái ve nhau, vạn vật trong cơn sinh nở bất diệt.

*

“Bà Chúa thăng khi mới hai mốt tuổi, sau một cơn bạo bệnh, hai ngày đêm không ăn gì, hớp cháo cầm hơi cũng bỏ.Đến lúc mê sảng chỉ một mực đòi gặp Chúa Thượng. Làng làm ma  nghiêm nghị, táng ở núi Sam, mối đùn mỗi ngày mỗi to”

“Văn biểu nhận tội trình lên kinh do họ Phan chấp bút, rằng đã không chăm sóc, yên ủi được người con gái đã được thọ ân sủng của Đức Vua, xin chịu mọi hình phạt. Im phăng phắc chờ. Rồi có tờ sức về miễn tội cho chức dịch, nhủ cần đem tấm gương trinh liệt, trung thành với Đức Ngài của Bà Chúa soi sáng cho dân theo”

“Bấy giờ đất nước đã yên hàn. Thanh bình trở lại. Làng kêu xin bộ Lễ, bộ Lễ trình lên ngôi cao vời. Đức Hiến Tông chả tiếc gì người con gái đã tận tuỵ vì mình, phong cho Bà Chúa Trinh Liệt tước Trung đẳng Linh thần”

“Suốt mươi năm làng quay đi quay lại, thấy chả còn ai dũng cảm hy sinh, chả ai đi xa học nghề truyền lại, mà rặt những loại nông phu chăm chỉ, thầy đồ ăn giỗ trẻ. Bèn cật sức kêu xin nữa, thì được phong Thượng đẳng Tối linh thần cho Bà Chúa, làng được thờ phụng làm thành hoàng, ghi rõ trong sổ bộ Lễ. Bấy giờ mới cậy sức dân đóng góp xây nên ngôi đình Trinh Liệt nguy nga tráng lệ như ngày nay”.

*

Phần lễ đến đây là hết. Hội dâng lên rùng rùng những trống chèo, lênh khênh đám cà kheo. Cộ muốn trả thù Kễnh,  tranh thủ lúc nó dướn lên xem  tụt quần  xuống đầu gối lộ con chim đã mọc năm xu thuốc lào.

Cụ Nhận mệt, sai Thắm đưa về. Ông di tích gọi nó vào lấy lộc, bảo ôm cam quýt với chuối với sung vào lậy tạ Bà Chúa. Trong hậu cung, Thắm thất kinh thấy pho tượng nhuốm máu toàn thân, giỏ cả vào chân nó.

2006

Con trai cố ký giả Đạm Phong: ‘Bố tôi làm cho CIA’

Ông Nguyễn Thanh Tú
Ông Nguyễn Thanh Tú (trái) và nhà báo Trần Nhật Phong trả lời phỏng vấn của BBC hôm 17/3/2017 từ Nam California, Hoa Kỳ.

Con trai của cố ký giả Đạm Phong, người bị sát hại ở Houston, Texas, Hoa Kỳ 35 năm trước nói với BBC cha ông từng làm việc cho CIA, Cục Tình báo Trung ương Mỹ, trong thời của chính thể Việt Nam Cộng Hòa.

Bình luận của đồng sáng lập ‘Mặt Trận’ về vụ K9 và cố Ký giả Đạm Phong

BBC phỏng vấn ông Nguyễn Thanh Tú

Câu hỏi về ‘Khủng bố ở Little Saigon’

Tại sao tôi phản đối Tom Hayden?

‘Khủng bố ở Little Saigon’ có giá trị không?

Nick Út, người chụp Kim Phúc, cô bé Napalm, sẽ về hưu

‘Tôi từng viết mà không được xuất bản’

‘Khủng bố ở Little Saigon’ tiết lộ gì?

“Bố tôi ngày xưa, thời Việt Nam Cộng Hòa, làm cho tình báo CIA, rồi qua bên đây (Hoa Kỳ)… nhưng tình bạn với những người CIA Mỹ ở bên đây, vẫn tiếp tục giữ tình bạn đó.”

Trước câu hỏi nếu đúng cố ký giả Đạm Phong là cựu nhân viên của cơ quan trên, thì ông có được bảo vệ hay không và như thế nào ở Mỹ, ông Nguyễn Thanh Tú giải thích thêm:

“Bố tôi làm việc cho CIA lúc thời Việt Nam Cộng Hòa, nhưng khi qua bên Mỹ không còn làm cho CIA nữa, nhưng vẫn giữ tình bạn của những người đồng nghiệp ngày xưa ở Mỹ.

“Còn chuyện tại sao không bảo vệ, chuyện đó không có, bởi vì lúc đó CIA biết những người giết bố tôi và đưa những cái tên đó cho FBI (Cục Điều tra Liên bang Mỹ).

“Cái người mà không bảo vệ không phải là CIA mà là FBI thì đúng hơn,” ông Tú đưa ra quan điểm riêng của ông.

Nhà báo Đỗ Thông MinhBản quyền hình ảnhPHUONG NGO
Nhà báo Đỗ Thông Minh bình luận với BBC hôm 19/3 về các thông tin mới mà ông Nguyễn Thanh Tú mới công bố với truyền thông về người cha của ông, cố Ký giả Đạm Phong.

Bình luận với BBC hôm 19/3 về một số ‘thông tin mới’ con trai Ký giả Đạm Phong loan bố mới đây với truyền thông tiếng Việt ở Nam California, từ Nhật Bản, nhà báo Đỗ Thông Minh, người tự giới thiệu với BBC là một trong ba thành viên sáng lập tổ chức Mặt Trận Quốc gia Thống nhất Giải phóng Việt Nam, nói:

“Trong cuộc họp báo mà anh Tú cho hay là sẽ có nhiều thông tin sau một thời gian dài anh ấy thu thập, mà những thông tin ‘mới’, nhưng mà những gì anh nói trong cuộc họp báo này, chúng tôi thấy nó liên quan một số tổ chức, một số cá nhân có thể đã từng liên quan trong quá khứ hoặc một vài cá nhân có những ý kiến không tán đồng lắm về cuốn phim ‘Terror in Little Saigon’.

“Tuy nhiên, mỗi điều anh đưa ra, mỗi điều anh đều nhắc tới, thì nói nửa chừng. Nửa chừng có nghĩa là sau đó chuyện đi về đâu, có một kết luận cụ thể nào thì không rõ,” ông Đỗ Thông Minh nhận xét.

Khi được hỏi liệu có thể biết ai là thủ phạm gây ra vụ sát hại cố Ký giả Đạm Phong 35 năm về trước, cựu thành viên sáng lập Mặt Trận Thống nhất Giải phóng Việt Nam, tiền thân của tổ chức Việt Tân, nói:

“Đây là một vấn đề rất khó, những người điều tra, kể cả ông cảnh sát, anh Thanh Tú, hoặc là anh AC Thompson (nhà sản xuất bộ phim ‘Terror in Little Saigon’) suốt một năm trời kể cả (ở) đất Mỹ và qua tận Thái Lan, kể cả phỏng vấn một số nhân vật Thái Lan v.v…, thì cũng đã không có kết luận, thì cá nhân chúng tôi, thứ nhất là đã rời Mặt Trận từ đầu năm 1985, và đồng thời K9, nếu là một ‘tổ chức ám sát’, tất cả những chuyện bí mật, thì chúng tôi, nói thật không thể trả lời được là ai là thủ phạm.

“Mặc dù ba nhân vật mà chúng tôi nói, có thể coi như là cái đích để có thể bị tấn công, đều là những người viết những bài luận thuyết đả kích Mặt Trận thời bấy giờ, thành ra ai cũng nghĩ rằng Mặt Trận đã làm việc đó, nhưng bây giờ điều mong muốn nhất là người ta đi tìm chứng cớ, thì vẫn chưa có ai đưa ra một chứng cớ cụ thể,” ông Đỗ Thông Minh nêu quan điểm riêng của mình.

Lý do họp báo

Cố ký giả Đạm PhongBản quyền hình ảnhNGUYEN ANH TU
Cố ký giả Đạm Phong (phải) từng là chủ biên của tờ báo ‘Tự Do’ trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt trên ba thập niên về trước.

Chia sẻ với BBC lý do vì sao có cuộc họp báo của ông Nguyễn Thanh Tú ở Nam California vào thời điểm sau một thời gian khá dài bộ phim ‘Nỗi kinh hoàng ở Little Sài Gòn’ (The terror in the Little Saigon) được công bố có liên quan tới cố ký giả Đam Phong, nhà báo Trần Nhật Phong, người hiện diện tại cuộc họp báo hôm thứ Sáu nói với BBC:

“Ngày 17/3, anh Tú có mặt tại California để mở ra một cuộc họp báo để tường trình với mọi người thứ nhất về mục tiêu của anh đi là tìm hiểu cái chết của cha anh, ai là người giết.

“Thứ hai, là thực hiện chí nguyện của cha anh là tiếp tục làm sao cho cộng đồng được khỏe mạnh, được trong sạch hơn và làm rõ hơn những chuyện ở trong quá khứ… và do đó anh đã có cuộc họp báo.

“Và điều thứ ba là anh cho biết tiến trình anh đi tìm công lý cho cha anh đã đến mức độ nào, đó là ý nghĩa của cuộc họp báo.”

Về phản ứng tại chỗ của giới truyền thông người Việt ở cuộc họp báo, nhà báo Trần Nhật Phong nói thêm:

“Theo ghi nhận của cá nhân tôi, tôi thấy là họ đến họ nghe nhiều hơn, họ nghe những thông tin mới từ phía anh Tú nhiều hơn.

“Đương nhiên cũng có một số nhà báo đặt câu hỏi liên quan đến tổ chức mà anh Tú trình bày…

“Và họ cũng đòi hỏi anh Tú cung cấp thêm những thông tin mà anh Tú cho rằng còn một số cơ quan truyền thông khác Việt ngữ ‘cũng có liên hệ’ tới tổ chức này’ và có người của tổ chức này hoặc cảm tình viên của tổ chức này, thì họ cũng đặt ra một số câu hỏi.

“Ở đây, tôi không muốn nói ra những tổ chức nào, trên diễn đàn của BBC do vấn đề pháp lý mà chúng ta cũng phải tôi trọng…,” nhà báo Trần Nhật Phong chia sẻ với BBC từ quan điểm riêng của ông.

Được biết, nhà báo Đạm Phong, tên đầy đủ là Nguyễn Đạm Phong từng là chủ biên của tờ báo Tự Do, một tờ báo địa phương trong cộng đồng người Việt Nam ở Mỹ gần bốn thập niên về trước. Ông bị sát hại năm 1982 tại nhà riêng ở Houston, Texas.

Ông Nguyễn Anh TúBản quyền hình ảnhFRONTLINE/PROPUBLICA
Ông Nguyễn Anh Tú xuất hiện trong bộ phim ‘Nỗi Kinh hoàng ở Little Saigon’

Vụ việc của ông đã được chính quyền Mỹ điều tra, tuy nhiên hồ sơ đã được khép lại mà theo phản ánh của truyền thông Mỹ là do ‘chưa đủ chứng cớ’ đối với các cơ quan, tổ chức nghi can.

Sự việc đã được làm nóng trở lại sau khi chương trình phóng sự điều tra Front Line và hãng truyền thông ProPublica công bố bộ phim ‘Nỗi kinh hoàng ở Little Sài Gòn’ sau hàng chục năm sự việc ‘lắng xuống’.

Mời quý vị bấm vào đường dẫn này để theo dõi cuộc trao đổi của BBC với ông Nguyễn Thanh Tú và nhà báo Trần Nhật Phong và bình luận của Nhà báo Đỗ Thông Minh, một trong những người tham gia sáng lập Mặt Trận Quốc gia Thống nhất Giải phóng VN về K9, cố Ký giả Đạm Phong và thông tin mới về ký giả này.

BBC cũng đang tìm cách liên hệ với một số tổ chức, cá nhân được nhắc tới trong cuộc trao đổi hôm 17/3, từ ý kiến riêng của các khách mời, với hy vọng có thể có thêm phản hồi, thông tin từ các cá nhân, tổ chức đó, phục vụ sự tham khảo của các khán, thính và độc giả và mở rộng đường dư luận.

Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, thực tế trong nhiều trường hợp không biết ai là “Nhà nước” thực sự, do đó dẫn đến các quan chức lạm quyền trong việc thu hồi đất, xâm hại quyền lợi của người dân rồi chuyển vào tay các nhóm lợi ích, khiến cả quyền lợi của người dân lẫn lợi ích quốc gia bị xâm hại. Hậu quả là trong một số trường hợp đất đai sẽ được chuyển từ người dân nghèo sang tay “các đại gia” với giá rất thấp. Đồng thời, “các đại gia” này lại bán đất ra với giá cao cho người dân. Không ít trường hợp đất đai bị thu hồi để rồi bỏ hoang, bởi những dự án “treo” không có điểm dừng, đi kèm là cái ‘mất’ của hàng ngàn người dân bị mất sinh kế, tạo nên nỗi bức xúc lớn cho xã hội. Đất đai là là ổ tham nhũng lớn nhất Việt Nam khi Nhà nước không có thiết chế kiểm soát và để thị trường nhà đất rơi vào tay các đại gia. Đó là cả một vấn nạn.

Năm 2016 được coi là năm nhiều triệu phú tiền đô la ở Việt Nam xuất đầu lộ diện.

Truyền thông trong nước tường thuật rằng trong năm qua, đã có nhiều tên tuổi mới sở hữu ngàn tỷ đồng.

Với sự phát triển nhanh chóng của thị trường chứng khoán Việt Nam trong những năm qua, những người giàu nhất Việt Nam chủ yếu là những đại gia của sàn chứng khoán. Theo công bố của Ủy Ban Chứng Khoán Nhà Nước (UBCKNN) trong năm qua, Việt Nam đã lọt vào Top 5 thị trường chứng khoán Đông Nam Á tăng trưởng cao nhất. VNMedia trích lời chủ tịch UBCKNN Vũ Bằng cho biết mức vốn hóa của thị trường chứng khoán Việt Nam đạt hơn 1.76 triệu tỉ đồng trong năm 2016, tương đương với 42% GDP.

Theo đánh giá của kinh tế gia Lê Đăng Doanh, “số tỷ phú Việt Nam gần đây đã xuất hiện đông đảo hơn và tất cả họ đều liên quan đến bất động sản.”

Nguyên viện trưởng viện Quản Lý Kinh Tế Trung Ương còn cho rằng nhiều người giàu lên nhanh nhờ vào chứng khoán bằng những cách thức rất “khôn ngoan.”

“Cách của họ là họ lập ra nhiều công ty sân sau của chứng khoán – nhiều công ty con. Các công ty đó lại phát hành chứng khoán rồi họ mua bán lẫn nhau – tức là công ty mẹ mua ở công ty con, công ty con mua ở công ty mẹ. Vì vậy số tài sản, số cổ phiếu mà họ sở hữu đã tăng lên một cách rất nhanh chóng và đó cũng là một mẹo để họ làm giàu nhanh.”

Top 10 người giàu nhất sàn chứng khoán Việt Nam năm 2016, theo báo Pháp Luật, có 4 đại gia lần đầu tiên được ghi tên trên danh sách tỷ phú đô la. Một nửa trong số những người này là những doanh nhân kinh doanh bất động sản và số còn lại trong ngành thép, bán lẻ, thủy sản, ô tô…

Nổi bật trong năm qua là sự thăng tiến của chủ tịch Hội Đồng Quản Trị tập đoàn FLC Trịnh Văn Quyết, chiếm lĩnh ngôi vị cao nhất trên sàn chứng khoán Việt Nam, đánh bật chủ tịch tập đoàn Vingroup Phạm Nhật Vượng ra khỏi vị trí này. Tổng tài sản thính theo trị giá cổ phiếu của ông Quyết, theo truyền thông trong nước, ước tính lên tới hơn 33.800 tỷ đồng. Với hàng loạt dự án bất động sản, tập đoàn FLC được xem là một trong số ít công ty kinh doanh đình đám nhất trên thị trường địa ốc tại Việt Nam.

Ông Phạm Nhật Vượng là tỷ phú đầu tiên của Việt Nam được tạp chí Forbes đưa vào danh sách những người giàu nhất thế giới khi có tổng tài sản trị giá 1,5 tỷ đô la vào năm 2013.

Tiến sỹ Doanh nhận định rằng “những tỷ phú Việt Nam là những người khôn ngoan trong việc vun đắp các mối quan hệ với giới quyền lực để chia sẻ “địa tô”, tức chênh lệch giá đất, khai thác khoáng sản, đốn gỗ phá rừng.” Ông Doanh nói:

“Họ làm giàu bằng bất động sản, tức là họ ăn chênh lệnh giá đất. Rồi họ được thuê với giá đất tương đối thuận tiện. Rồi họ đầu tư bất động sản và họ ăn lãi. Điều đó có liên quan đến việc đất đai là sở hữu toàn dân mà toàn dân không phải là pháp nhân. Và nhà nước thực hiện quyền người sử dụng và vì vậy cho nên bộ máy nhà nước có thể thu hồi đất của nông dân với một giá rất thấp rồi dùng quyền của mình biến đất đó trở thành đất xây dựng và trao lại cho người là nhà đầu tư và nhà đầu tư đó chắc sẽ phải có một động thái gì đó để làm vừa lòng phía chính quyền.”

Một người kinh doanh bất động sản đã có “bước nhảy ngoạn mục” trong năm qua để lọt vào Top 10 người giàu nhất trên sàn chứng khoán Việt là chủ tịch HĐQT kiêm tổng giám đốc Công ty Cổ phần Đầu Tư Dịch Vụ Tài Chính Hoàng Huy, ông Đỗ Hữu Hạ. Theo báo Pháp Luật, tổng tài sản chứng khoán của ông Hạ lên tới hơn 2.430 tỷ đồng.

Mặc dù một số tỷ phú mới nổi của Việt Nam được đánh giá là có góp phần đẩy mức tăng trường của thị trường chứng khoán và bất động sản ở Việt Nam, nhưng theo kinh tế gia Lê Đăng Doanh, “những tỷ phú mới giàu lên rất nhanh nhưng không có đóng góp gì vào công nghệ, “họ không có bằng sáng chế, phát minh”, và năng lực cạnh tranh quốc tế của họ “rất hạn chế.”

Ông Doanh cho rằng “họ là sản phẩm của thể chế hiện hành, của chủ nghia tư bản hoang dã”, “khác hẳn với Bill Gates hay Elon Musk.”

“So họ với Bill Gates, so họ với Elon Musk, thì rõ ràng Bill Gates là người có bản quyền có sáng chế và phần mềm Microsoft là một đóng góp rất quan trọng cho tiến bộ của xã hội. Còn Elon Musk, với ô tô Tesla và với nhiều dự án khác như SolarCity của anh ta thì cũng có những đóng góp rất là quan trọng. Đấy là 2 loại hình (giữa tỷ phú thế giới và tỷ phú Việt Nam) rất xa nhau và rất khác nhau.”

Theo tạp chí Forbes, Việt Nam quyết tâm trở thành một “con hổ kinh tế” mới của châu Á và Việt Nam đã trở thành nước có mức thu nhập trung bình với mức thu nhập bình quân đầu người ít nhất là 1.200 đô la Mỹ, theo Ngân Hàng Thế Giới.

Nhưng Tiến sĩ Lê Đăng Doanh lưu ý về mức chênh lệch giàu nghèo ở Việt Nam hiện rất cao và sẽ ngày càng tăng nếu không có thay đổi liên quan tới “bất động sản và quyền sở hữu đất đai” và không kiểm soát được “chế độ tư bản thân hữu.” Khoảng chênh lệch giàu nghèo quá lớn, theo ông Doanh, “sẽ dẫn đến những diễn biến rất phức tạp”.

Phạm Nhật Vượng (bên trái), Trịnh Văn Quyết và Bùi Thanh Nhơn (chụp từ trang CafeF.vn)

Mừng hay lo về tỷ phú bất động sản ở Việt Nam?

Các chuyên gia kinh tế, nhà báo bình luận với BBC về việc tỷ phú bất động sản chiếm một nửa top 10 người giàu nhất sàn chứng khoán Việt Nam năm 2016.

Truyền thông Việt Nam ghi nhận top 10 người sàn giàu nhất sàn chứng khoán năm 2016 có tổng tài sản khoảng 99.132 tỷ đồng, tăng gấp đôi so với mức 48.993 tỷ đồng của năm 2015.

Người giàu hoạt động trong lĩnh vực bất động sản áp đảo top 10 năm nay, khi chiếm một nửa danh sách, với tổng tài sản đạt 80.122 tỷ đồng, chiếm hơn 80% tổng tài sản top 10, theo VnEconomy.

Những tỷ phú bất động sản được nhắc đến trong top nêu trên là Trịnh Văn Quyết – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn FLC, Phạm Nhật Vượng – Chủ tịch Tập đoàn Vingroup, Bùi Thành Nhơn – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn Novaland… Trong đó, ông Trịnh Văn Quyết đã mua chuộc, cấu kết với các quan chức các tỉnh thành như Thanh Hóa, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Bình Định,… để thu hồi (thực ra là cướp) đất đai của nông dân để làm các dự án biệt thự sân golf.

Người dân Thanh Hóa phản đối thu hồi đất tại Sầm Sơn

‘Bất ổn’

Hôm 4/1, trả lời BBC từ TP Hồ Chí Minh, ông Mai Quốc Ấn, cựu phóng viên báo Sài Gòn Tiếp Thị, nói: “Hơn một thập kỷ qua có rất nhiều người giàu mới nổi tại Việt Nam nhờ bất động sản. Tuy nhiên, tôi nghĩ đó là sự giàu có thiếu bền vững nếu nhìn vào đa số.”

“Rất nhiều tỷ phú đã trắng tay khi bong bóng bất động sản vỡ và rất ít người trụ lại được và thành công.”

“Nhưng tựu trung, việc làm giàu nhờ bất động sản mà có yếu tố chênh lệch giá nhờ cơ chế thì tôi không đánh giá cao.”

“Lấy ví dụ việc người dân khởi kiện quyết định hành chính của Ủy ban Nhân dân tỉnh về việc lấy đất làm dự án nhà nước với mức giá đền bù nhà nước rồi giao đất ấy lại cho doanh nghiệp tư nhân.”

“Cuộc thương lượng đáng ra phải có giữa doanh nghiệp tư nhân và người dân bị lấy đất đã “biến mất”.

“Điều này gây tốn kém tiền bạc, thời gian khi người dân phải khiếu kiện đòi quyền lợi chính đáng. Thậm chí, nó có thể gây bất ổn xã hội kiểu như vụ nổ súng ở Đak Nông làm 3 người chết, nhiều người bị thương hồi tháng 10/2016.”

“Tôi rất mong Đảng và Chính phủ Việt Nam nhìn nhận vấn đề này và có các điều chỉnh phù hợp về Luật Đất đai.”

“Bản thân đất đai là một loại tài nguyên có hạn. Đổi đất lấy hạ tầng là một biện pháp đặng chẳng đừng. Ngân sách nên được tăng bởi các doanh nghiệp đầu tư sản xuất và tri thức.”

“Các lỗ hổng về Luật Đất đai cần phải được điều chỉnh bằng thực tế xã hội.”

“Việc tràn ngập chung cư ở các nội đô gây kẹt xe có thể điều chỉnh bằng cách yêu cầu doanh nghiệp đầu tư hạ tầng đi kèm như đường sá, cầu cống và phương tiện giao thông công cộng như là một điều khoản của hợp đồng.”

“Miếng bánh lợi nhuận của nhà đầu tư tư nhân cần phải được tính toán lại bởi họ có quá nhiều ưu đãi, lợi thế.”

“Thị trường bất động sản cần phải minh bạch và đúng giá trị thật của nó”, ông Ấn nói.

Hải Phòng: 800 hộ dân dựng lều phản đối việc thu hồi đất

‘Lỗi chính sách’

Hôm 4/1, từ Đại học Strasbourg, Pháp, Tiến sĩ Nguyễn Văn Phú, chuyên ngành kinh tế, nói với BBC: “Tôi nghĩ là ở Việt Nam nếu có các tập đoàn bất động sản lớn thì tốt thôi.”

“Đơn thuần đây là các hoạt động kinh doanh, nếu hợp pháp thì sẽ đóng góp nhiều cho kinh tế.”

“Tuy vậy, nếu các doanh nghiệp này quá lớn thì dẫn đến khả năng thị trường bị độc quyền sẽ không có lợi cho người tiêu dùng.”

“Do đó nhà nước phải có luật để kiểm soát. Việc để các doanh nghiệp lũng đoạn thị trường bất động sản thì trước tiên là lỗi chính sách.”

“Mà có lẽ lý do đầu tiên là vấn đề quyền sỡ hữu đất đai được quy định tại Việt Nam.”

“Và thứ nữa là luật về trưng thu đất đai cho các dự án kinh tế.”

“Giá cả đất đai khu bị trưng dụng không được ước tính theo cơ chế thị trường, nên các doanh nghiệp cấu kết với chính quyền (đây chính là ‘lợi ích nhóm’) sẽ hưởng lợi nhiều nhất. Người dân nhượng quyền sử dụng đất bị thiệt thòi nhiều nhất.”

“Việt Nam cần thay đổi luật đế các doanh nghiệp bất động sản không thể tận dụng chính sách để trục lợi.”

“Khi đó khu vực bất động sản sẽ đóng góp to lớn cho nền kinh tế, và cả cho vấn đề xã hội, ví dụ nhà ở cho người thu nhập thấp, chính sách tái định cư…”

Hàng trăm người dân tập phản đối thu hồi đất

‘Quan hệ thân hữu’

Cùng ngày, trao đổi cùng BBC, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho hay: “Trong khi các nước khác đều phát triển kinh tế trên nền tảng công nghiệp, Việt Nam lại để lợi ích bất động sản lấn át khu vực các ngành công nghiệp, dịch vụ khác.”

“Tình trạng này khiến mục tiêu trở thành một nước công nghiệp hóa năm 2020 không có cách nào đạt được.”

“Có thể thấy các doanh nghiệp bất động sản lớn tại Việt Nam đều phải có ‘quan hệ thân hữu’ thì mới tiếp cận được chính sách quy hoạch đất đai mà những doanh nghiệp bình thường rất khó tiếp cận.”

“Nhà nước còn giúp những người kinh doanh bất động sản thu hồi đất với giá thấp rồi sau đó bán lại cho khách hàng với giá cao gấp mấy trăm lần nên dễ hiểu tại sao họ kiếm lời rất nhanh và hình thành những tỷ phú, triệu phú trong lĩnh vực này.”

“Không thể phủ nhận các doanh nghiệp bất động sản có đóng góp nhất định, nhất là tại các khu vực đô thị trong bối cảnh Nhà nước chưa đáp ứng được nhu cầu về nhà ở của người dân.”

“Tuy vậy, tôi quan ngại hơn đến việc doanh nghiệp bất động sản đang hút hết nguồn lực xã hội, tạo ra môi trường kinh doanh không bình đẳng, khiến các ngành cốt lõi như công nghiệp, nông nghiệp thua thiệt và chững lại.”

“Do vậy mà cái ‘được’ của ngành bất động sản đi kèm cái ‘mất’ của hàng ngàn người dân bị mất sinh kế, tạo nên nỗi bức xúc lớn cho xã hội.”

“Hầu hết những vụ khiếu kiện đất đai đến nay đều là đất thu hồi để kinh doanh chứ không phải cho các công trình công cộng.”

“Đất đai cũng là ổ tham nhũng lớn nhất Việt Nam khi Nhà nước không có thiết chế kiểm soát và để thị trường nhà đất rơi vào tay các đại gia.”

“Đó là cả một vấn nạn”, bà Phạm Chi Lan nói

(Theo BBC, VOA)

“MÙA ĐÔNG” – BÀI THƠ HAY 
VÀ MỘT “SỰ CHƠI” ĐỘC ĐÁO
TRON
G THƠ…
Lê Quang Vinh
11 giờ 30’ – ngày 9/11/2016, tôi bất chợt đọc được bài thơ “MÙA ĐÔNG” của Lâm Thị Tú (trên FB “Lam Thi Tu”). 
Như mọi lần đọc “thơ FB”, có lẽ ai cũng thế, chỉ lướt qua rất nhanh; nhưng những con chữ trong bài thơ này dường như có “ma lực” (duyên thơ?), níu lòng tôi lại để rồi phấn chấn theo những dòng thơ rất giàu cảm xúc, từ câu đầu đến câu cuối.
Lâm Hồng Tú
MÙA ĐÔNG
Khi niềm tin thành mây khói 
Tôi đi như bóng vật vờ
Khi không còn gì để nói
Tôi về lặng lẽ câu thơ
Có chi phía trước đang chờ
Mặt trời nhập nhoà trên đó
Dòng sông nỗi buồn màu đỏ
Mây đen về phía cuối trời
Mịt mù bóng chiếc xa xôi
Con chim chiều tàn gãy cánh
Mùa đông mưa vùi gió lạnh
Nắng trời ngoảnh mặt quay lưng
Câu thơ dừng lại lưng chừng
Lưng chừng tiếng cười câu hát
Lưng chừng mùa đông lạnh ngắt
Lưng chừng tóc hãy còn xanh
Nỗi niềm xám xịt hao hanh
Mùa đông màu mây xoã tóc
Giọt lệ đọng màu khó nhọc
Rơi vào thăm thẳm mùa đông …
LHT
Ngay lập tức, tôi viết mấy lời post liền lên trên trang chính FB “Lam Thi Tu” (cho “đã”), chứ không ở phần “bình luận” (comment) thông thường phía dưới bài thơ, như mọi người.
Lê Quang Vinh‎ đến Lam Thi Tu
12 h • (9/11/2016):
“LQV vừa đọc cả hai phiên bản bài thơ “MÙA ĐÔNG” của bạn. Thật là một sự “chơi” độc đáo.
Trên thế giới FB, từ lâu đã bị “nghẽn mạch” do cái gọi là “thơ”; nhưng Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, lại có lần nói với LQV là: do cả triệu người “ngộ nhận”, nên cứ cho là “thơ” đó thôi. Vì thế LQV cũng ít khi đọc “thơ FB”. Thế mà giữa “biển thơ” ấy, gặp được một đôi áng thơ hay, thật là quý vô cùng.
Xin chúc mừng!”.
Hơn 6 giờ sau, (9 Tháng 11 – 2016 lúc 20h:36’), tác giả hồi tin:
Lam Thi Tu: “Thật cảm động khi đọc những lời khen của bạn. Có thể gọi đây là món quà cho tôi, tăng thêm sự khích lệ cho niềm đam mê của tôi.
Cám ơn bạn rất nhiều Lê Quang Vinh”.
Cùng “lời đẹp” của Người đẹp, tôi còn được nhận thêm một bông hồng trêm chùm lá tươi xanh xum xuê, cắm trong lọ thủy tinh nhỏ rất xinh xắn (hình ảnh gửi kèm theo comment trả lời của Lam Thi Tu).
Sau chưa đầy 10’ (9 Tháng 11 2016 lúc 20h:45′), tôi có comment đáp từ:
Lê Quang Vinh: “Bông hồng đẹp rứa, chỉ nên dành cho Lam Thi Tu thôi. Bạn có bao giờ vô FB “Lê Quang Vinh” chưa? Có lẽ chỉ “kết bạn” cho đông vui thế thôi, chứ khó mà có thời gian ghé qua hè? Khi nào rỗi rãi, ta gặp nhau nhé. Chúc thật khỏe, hạnh phúc…”.
***
Bài thơ dung lượng trung bình, tả “MÙA ĐÔNG”, nhưng thực ra là “tả” nỗi buồn của lòng người với bao nguyên cớ rất cụ thể mà… lại “không cụ thể” chút nào – “TRỪU TƯỢNG CÙNG CỰC” của thân phận con người, kiếp người và… “duyên lứa” (trắc trở), như muôn vàn cuộc tình trên thế gian. Bài thơ lại là “tiếng lòng” cực kỳ…”riêng tư”, như “chính ngay của tác giả”. Có lẽ thế. Nếu không, làm sao câu thơ, bài thơ, ý thơ đạt tới độ chuẩn xác và thâm sâu đến vậy?
Có thể thống kê ra được các loại “vật liệu” làm nên “MÙA ĐÔNG” Lam Thi Tu: “niềm tin”, “mây khói”, “bóng vật vờ”, “Mặt trời nhập nhoà”, “nỗi buồn màu đỏ”, “Mây đen về phía cuối trời”, “bóng chiếc xa xôi”, “Con chim chiều tàn gãy cánh”, “mưa vùi gió lạnh”, “Nắng trời ngoảnh mặt quay lưng”, “Câu thơ dừng lại lưng chừng / Lưng chừng tiếng cười câu hát / Lưng chừng mùa đông lạnh ngắt / Lưng chừng tóc hãy còn xanh”, “Nỗi niềm xám xịt hao hanh”, “Giọt lệ đọng màu khó nhọc”…
“Khi niềm tin thành mây khói” – Ngay câu “phá đề” của bài thơ, chúng ta “bị giáng” một đòn quay cuồng tại “điểm hẹn” đầu tiên rồi. “Niềm tin” là mỹ từ, tôn quý lắm…; thế mà thành ra “mây khói” thì nó đã nằm trong “đài hóa thân hoàn vũ” mất rồi. Một cặp từ đối lập triệt để, như “trắng” và “đen”, như “lửa” và “nước”… Câu thơ 6 chữ chắc chắn, đăng đối rất chuẩn xác. Hậu quả là “Tôi đi như bóng vật vờ”. Hình ảnh “bóng vật vờ”, đây đã là một “người điên” trong cuộc đời con người ta rồi. Khủng khiếp quá. Từ láy “vật vờ” được dùng khá đắt, gợi hình lắm; rất phù hợp với “bóng” của người “mất hồn” đi lang thang vô định mọi chân trời góc biển…
“Khi không còn gì để nói / Tôi về lặng lẽ câu thơ” – Câu thơ tài hoa. Hay. Tôi thực sự thán phục câu sau: “Tôi về lặng lẽ câu thơ”. Đây là motif “Chặt đôi câu thơ, bẻ đôi câu thơ”, trong “Ca dao em và tôi” của Nhạc sĩ An Thuyên. Nhờ tứ ấy mà bài hát lan tỏa, lôi cuốn bao người yêu nhạc. Ở đây (“MÙA ĐÔNG”), rõ ràng “câu thơ” trở nên như một con người, một lòng người…; cảm nhận được tất cả mọi mất mát vừa xẩy ra. Nhưng câu thơ phía trước “Khi không còn gì để nói”, thật ráo hoãnh, dứt khoát; ngỡ như “chẳng đau đớn gì” – Đó là nghệ thuật “nói giảm” nhằm dồn “trọng lực” (dung lượng cảm nhận nỗi đau) cho câu tiếp theo, như vừa phân tích.
Khổ thơ thứ 2, có 2 câu thơ cực kỳ chuyên nghiệp: “Mặt trời nhập nhoà trên đó / Dòng sông nỗi buồn màu đỏ”. Tôi nói “chuyên nghiệp” là biểu lộ sự thán phục của thi hứng Lam Thi Tu
Một nữ Bác sĩ, thời gian đâu để học hành “kỹ thuật sáng tác”, có lẽ cũng ít có điều kiện tiếp xúc các giáo trình về “lý luận văn học”; thế mà dùng những từ – ngữ khá điêu luyện, chẳng khác chi Thi sĩ “già rơ” (Thi sĩ Tài): “Mặt trời nhập nhoà”, “nỗi buồn màu đỏ” kéo dài như một “dòng sông máu”, thì quả là “tuyệt tác” (độ khéo trong câu thơ) khi tả tâm trạng “tình duyên đã chết” của con người ta trên đời.
Ai nhìn thẳng vào “mặt trời” được? Không ai cả, bởi sẽ bỏng mắt mất. Thế mà “mặt trời” trong câu thơ này lại “nhập nhoà”, chẳng còn ánh sáng nữa, hoặc là “rất yếu ớt” do lớp “mây” buồn đau phủ quá dày…
“Mịt mù bóng chiếc xa xôi
Con chim chiều tàn gãy cánh
Mùa đông mưa vùi gió lạnh
Nắng trời ngoảnh mặt quay lưng”
Khổ thơ này từ hơi thơ đến hình ảnh, cấu tứ vừa cổ kính, vừa nhẹ nhàng mà lại “rất mới”, do lối thơ 6 chữ thanh thoát, cộng hưởng mà mang lại.
“Mịt mù bóng chiếc xa xôi” là như trong “Chinh phụ ngân khúc” của Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm; “Con chim chiều tàn gãy cánh / Mùa đông mưa vùi gió lạnh” là “chất” của “Phong trào thơ mới – lãng mạn” (1930 – 1945); “Nắng trời ngoảnh mặt quay lưng” thì hiện đại vô cùng. Nó giống “câu thơ dịch” của Tây.
Những hình ảnh: “bóng chiếc xa xôi”, “Con chim chiều tàn gãy cánh”, “mưa vùi gió lạnh”… thật buồn nhưng rất “đắt” – Đúng theo quy luật tri giác (tâm lý) trong Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu / Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”… Đó cũng là những hình ảnh ví von rất chuẩn, giống tạng thơ Thi sĩ Ngô Minh: “… những biện pháp tu từ kiểu “ví von”, “ẩn dụ”, “nhân cách hóa”… nhưng hoàn toàn phi truyền thống (không “song đối” rõ ràng, mà “ẩn” (giấu) rất khéo, rất kín vế “được ví”, “được đối” – đa phần chủ thể là “người”; đến mức gần như… phi lý, siêu thực…); nên mức độ trừu tượng để tạo ra được đầy đủ các yếu tố “nội hàm” (bản chất của hình tượng thơ) cho một “biểu trưng” (khái quát hóa nội dung sâu xa, tột cùng cần chuyển tải), là vô cùng cao. Biện pháp này chỉ xuất hiện khi trái tim, trí não người nghệ sĩ đạt tới sự thăng hoa như “thần thánh” (khác thường trong nghệ thuật, ở nghệ sĩ “bình bình” không thể có): sáng tạo mà như vô thức (rất say, mà lại rất tỉnh – tâm hồn cực kỳ bay bổng, cùng bản lĩnh, kỹ năng sáng tác). Sự đặc biệt và hiếm hoi ấy, không phải nhà văn, nhà thơ (nói chung là nhà “nghệ sĩ”) nào cũng có, mà phụ thuộc gần như 100% tài năng, kiến thức, kinh nghiệm được tích tụ trong quá trình học tập và thực tiễn cuộc sống. Thế nhưng, nó luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro; như “con dao hai lưỡi”, không giỏi “xoay xở” (không tinh khôn) là câu thơ, bài thơ, tác phẩm văn học, bản nhạc, bức tượng… dễ bị tắc tị, sa vào “hũ nút” ngay.” (“TƯỢNG VÀNG DÂNG MẸ” QUA BÀI THƠ “NHỚ MẠ” CỦA NGÔ MINH” – Lê Quang Vinh).
“Câu thơ dừng lại lưng chừng
Lưng chừng tiếng cười câu hát
Lưng chừng mùa đông lạnh ngắt
Lưng chừng tóc hãy còn xanh”
Tác giả dùng chỉ một hình dung từ “lưng chừng” tới 4 lần ở cả 4 câu thơ. Thông thường, đây là “điều tối kỵ” trong thơ. Nhưng Lam Thi Tu rất “ranh khôn” (giỏi), khi dùng “hình dung từ trừu tượng” này để dẫn dụ những hình ảnh cụ thể, nên tứ thơ trở nên hợp lý và hay: “Câu thơ dừng lại”, “tiếng cười câu hát”, “mùa đông lạnh ngắt”, “tóc hãy còn xanh”.
Cái đặc biệt ở đây là cả một khổ thơ “chuyên trách” chỉ để “thống kê” sự vật (thường khô khan, giản đơn…), nhưng sức biểu cảm (trữ tình) lại rất là sâu đậm do nữ Bác sĩ chuyển sang hình ảnh tươi mới, trẻ trung, không chút u sầu nữa. Rõ ràng Lam Thi Tu dừng sự u uất, buồn đau “tình đoạn tuyệt” đúng lúc, đúng chỗ; khéo léo đến độ…”tinh xảo” của thơ rồi đấy.
“Nỗi niềm xám xịt hao hanh
Mùa đông màu mây xoã tóc
Giọt lệ đọng màu khó nhọc
Rơi vào thăm thẳm mùa đông …”
Đây là “khổ thơ kết”, gói lại những tâm trạng, nỗi buồn đau đã mở, đã giải bày. Đương nhiên, tác giả phải “nhấn lại” những gì mình vừa trút bỏ – nhưng nào “trút bỏ” được “sạch sành sanh” đâu? Khó lắm. Nó như “duyên phận” đó mà: “Nỗi niềm xám xịt hao hanh”, và như “Mùa đông màu mây xoã tóc / Giọt lệ đọng màu khó nhọc / Rơi vào thăm thẳm mùa đông …”.
Chữ “hao hanh” là hay. Sao người Quảng Bình (“Bọ Zin”) mà thấu hiểu để dùng rất khéo từ “rành Bắc” ni ở đây?
Có một cô giáo người miền Bắc chính cống (Ninh Giang – Hải Dương), còn khá phân vân về câu thơ “Nỗi niềm xám xịt hao hanh” này, đã viết cho tôi như sau:
“… Nhưng thường “nắng hanh” vào mùa thu chứ thầy. Mùa đông cũng có thể có “nắng hanh” nhưng thời tiết trong khổ thơ cuối bài không thế. Mà “Nỗi niềm xám xịt hao hanh” có được không ạ? Đã “xám xịt” là có hơi nước làm sao “hao hanh” được ạ? Em thấy chỗ này chưa hợp lí.
Em xin lỗi vì hơi nhiều chuyện thầy ạ. Chúc thầy buổi chiều vui vẻ và phát hiện nhiều bài thơ hay trên diễn đàn facebook.”.
(“Bùi Thị Loan” – đến Le VInh <vinhhoaninh@yahoo.com>)
Khổ thơ này có mấy cặp ví cũng tuyệt hay như khổ thơ thứ 2: 
“Mùa đông” – ” màu mây xoã tóc”; “Giọt lệ – “đọng màu khó nhọc” (đăng đối về hình ảnh lẫn ngữ nghĩa). Cái cụ thể, ví với cái ước lệ đến “phi lý” (siêu thực) là rất khó hợp lý, thế mà Lam Thi Tu thu xếp, dàn hòa được hết.
Nhân đây, xin trích thư của tôi trả lời cô giáo Bùi Bùi Thị Loan, giải đáp điều cô ấy nên ra như phần trích ở trên:
“Đọc thơ phải trăn trở thế mới học được của người ta nhiều thứ.
Trên FB, cả mấy tháng mới có được một bài như vậy.
Cô giáo Loan có thấy, mình khen “thơ FB” bao giờ chưa? 
Tác giả Lam Thi Tu này (mình không quen biết) đón nhận “lời khen” vô tư của mình với tâm thế “có hiểu biết về thơ”, nên mới biểu lộ sự hứng khởi như vậy. Do đó, phải khen – chê đúng. Khen – chê không đúng là làm hại người ta.
Khen – chê những bài thơ hay và không hay của các nhà thơ giỏi, chuyên nghiệp mà người ta chịu; bạn đọc thấy bài phê bình nâng được hiểu biết của họ lên thì mới nên… “khen – chê”. Không là họ coi mình như rác luôn.
Cô giáo đừng để ý đến những lời khen “vô thưởng vô phạt”. Ngay trong “lời khen” đã thấy sự thiếu hiểu biết thì vui gì – phải không?
Những nhà thơ như Nguyễn Trọng Tạo, Ngô Minh, Mai Văn Hoan và hàng trăm nhà thơ khác – hiện đang nổi tiếng và sung sức, mỗi năm người ta chỉ đưa ra công chúng một – hai bài thôi. Có thể họ cũng làm được nhiều hơn, nhưng để đạt được “thẩm mỹ thơ” cho công chúng, là ít vậy đấy. 
Trong khi các “nhà thơ FB”, ngày nào cũng có…”thơ”! Vì sao thế? Đa phần người ta…ngộ nhận. 
Nhưng đó là việc riêng của người ta, chỉ đăng trên trang cá nhân để mình và bạn bè đọc. Bạn bè thông thái thì người ta thấy cái được và chưa được; nhưng làm gì có các phản hồi “chê” đâu. Chỉ toàn tâng bốc ghê gớm. Đó là sự nguy hại đã liên tục làm hại các “nhà thơ FB”.
Nhân dịp Ngày nhà giáo VN 20/11, xin chức cô giáo cùng anh chị em giáo viên trong trường thật khỏe, hạnh phúc! – LQV”.
(Le VInh – Ðến Bui Loan 15 tháng 11 lúc 8:03 AM)
***
Như đã nói, “Bài thơ dung lượng trung bình”, chỉ 20 câu với vẻn vẹn có 120 từ ngữ, thế mà câu chuyện về “MÙA ĐÔNG” được chuyển tải, mở ra với biết bao số phận cá biệt; mà lại điển hình đến mức ngỡ như trong chúng ta, ai ai cũng đã từng – đang và sắp sửa “nếm trải” (đủ mọi mùi vị ngọt bùi, đắng chát “khổ tận trần ai” – có thể “chết người” được).
Tác giả khá cao tay, khi chọn thể thơ “6 chữ” thường rất khó thoát ý, không khéo sẽ dễ hụt hẫng; nhưng ưu thế là “đi thẳng” (trực tiếp) đến điều cần biểu đạt, khiến mạch thơ dứt khoát; tránh được “từ thừa” do phải “lựa vần” (gieo vần) trong câu thơ, khổ thơ. Đọc bài thơ, ta thấy “thi pháp” rất mới là thế. Các Thi sĩ chuyên nghiệp, cũng rất “kiêng kỵ” lối thơ này.
***
Lam Thi Tu còn độc đáo khi chuyển thể bài thơ “MÙA ĐÔNG” sang kiểu thơ “lục bát”. 
Thật thú vị.
Lúc này trên màn hình đã đã 23 giờ 15′ (19/3/2017) rồi. Xin hẹn bạn đọc sẽ gặp lại bài “MÙA ĐÔNG – LỤC BÁT” của Lam Thi Tu vào một dịp sau.
MÙA ĐÔNG 
(chuyển thể lục bát)
Niềm tin thành khói thành mây
Tôi đi như bóng như thây vật vờ
Còn chi mà nói mà chờ
Về thôi lặng lẽ câu thơ nhói lòng
Lạnh lùng cay đắng mùa đông
Nhập nhoà trên đó vừng hồng còn đâu
Dòng sông xanh hoá đỏ nâu
Mây đen phía trước phía sau cuối trời
Mịt mù bóng chiếc xa xôi
Bóng chim gãy cánh chiều rơi mảnh chiều
Mưa tuôn gió dập tiêu điều
Nắng trời ngoảnh mặt, ráng chiều quay lưng
Lời thơ dừng lại lưng chừng
Tiếng cười câu hát bỗng ngừng chơi vơi 
Mùa đông lạnh lẽo xám trời
Lưng chừng mái tóc nửa vời còn xanh
Nỗi niềm xám xịt hao hanh 
Áng mây xoã tóc dỗ dành cô đơn
Quay đi giấu giọt lệ hờn
Rơi vào thăm thẳm nỗi buồn mùa đông…
LHT
 
Hà nội, 23 giờ 51′ – ngày 19/3/2017
LQV.
( Tác giả gửi cho QTXM)
Đăng bởi: Ngô Minh | 19.03.2017

ĐỌC SÁCH “40 NĂM EM”- TẬP THƠ TẶNG VỢ CỦA NM

Ngô Minh

BÊN GIƯỜNG BỆNH CHA

                              Kính dâng cha Nguyễn Trọng Ngọ

 Cha nằm như xác thời gian

ăn bằng hồ bơm qua lỗ mũi

tiểu bằng ống ra toàn mùi thuốc tây

mạng sống tính từng ngày…

 

Cha ơi, 79 tuổi đời cách mạng

đèo núi rừng sâu giặc giã xem thường

mình đi Campuchia, con trai vào bộ đội

hồi hưu tay trắng, lại ruộng vườn

 

Mấy chục năm làm quan huyện chỉ biết lo dân

Nghĩa Đàn, Tân Kỳ đói no đồng đất

bây giờ dân thương đến thăm chật phòng bệnh viện

cha như vị Bồ Tát hiện hình

 

 Nhìn cha hôn mê lòng con đau buốt

phận người còn một chút lắt lay

con gái con trai con dâu cháu chắt

không làm sao gọi lại được nụ cười

 

Nhưng con tin cha là người sống mãi

bằng chữ TÂM để lại cho đời

bằng cốt cách không màng danh lợi

bằng cháu con biết sống làm người !

 

Cha như cõi vô minh trong sạch

giữa cõi đời ô nhiễm bủa vây…

 

Lạt-Huế,  28-6-2008

                           Con rể của cha

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.03.2017

Ý KIẾN VỀ CẤM CON ĐƯỜNG XƯA EM ĐI

Ý kiến ngắn trên FB

Nhà văn Phạm Ngọc Tiến

Ý KIẾN VỀ CẤM CON ĐƯỜNG XƯA EM ĐI

Nhẽ không nói gì về cái chuyện cấm mấy bài hát trong đó có bài “Con đường xưa em đi” nhưng hôm nay mạng lại dậy sóng khi ông nhạc sĩ Nguyễn Lưu trả lời phỏng vấn nói cụ thể con đường trong bài hát nên không thể không nói. Khá nhiều ý kiến phản ứng lại cách nghĩ của vị nhạc sĩ này. Tôi thấy mình cũng cần lên tiếng với tư cách một người lính tham gia chiến tranh. Xưa rồi các vị, cuộc chiến đã kết thúc 42 năm. Họ, những người lính Cộng hòa đã kết thúc sứ mạng và thân phận chiến cuộc của họ. Chúng tôi cũng thế. Chiến tranh đã lùi xa giờ chỉ còn là ký ức. Nếu có khơi gợi lại thì đó chỉ là những ký ức đủ mọi trạng thái nhưng tuyệt nhiên không còn thù hận. Thù hận gì nữa. Những người lính cộng hòa thua cuộc năm xưa giờ gia đình họ cũng đã dần lãng quên chính sự thua cuộc ấy. Họ nếu ở nước ngoài thì khi trở lại là những Việt kiều. Đừng khơi gợi thù hận nữa. Người Việt cần sự nắm tay nhau để dựng xây đất nước để chống ngoại bang xâm lược. Tôi thấy sự ấu trĩ tiểu khí của ông Nguyễn Lưu. Và cả sự cứng nhắc, tầm tư tưởng quá thấp của những vị ra lệnh cấm bài hát “con đường xưa em đi” này. Tôi chỉ thấy đây là một bản tình ca đẹp. Rất đẹp. Con đường nào ư, chính tôi là một người lính trong cuộc chiến cũng không bao giờ cần biết nó là con đường nào. Tin là bài hát sẽ sớm thoát khỏi bản án không đáng có này.

FB Phạm Ngọc Tiến

https://www.facebook.com/ngoctien.pham.37/posts/10209089457101191

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.03.2017

KINH DỊCH SOI SÁNG HÀNH TRÌNH VĂN CHƯƠNG

KINH DỊCH SOI SÁNG HÀNH TRÌNH VĂN CHƯƠNG

XUÂN CANG
Kinh Dịch là một tinh hoa trong văn hóa phương Đông. Nhà văn là một ánh lấp lánh trong đời sống cộng đồng. Văn chương là bản sao của hành trình số phận.

Nhà văn Xuân Cang

Nhà văn cũng như tất cả mọi người sinh ra trong một thời điểm nào đó (gồm năm, tháng, ngày, giờ sinh) đều mang trong mình một cấu trúc Kinh Dịch có tác động xuyên suốt cả đời người, nó quyết định những bước đường đời, ranh giới và biên độ hành lang đường đời, những cảm xúc tự nhiên, thiên hướng con người, những vinh thăng và hiểm họa con người sẽ có thể trải qua. Tại sao có sự ứng nghiệm lạ lùng như thế? Còn nhiều điều huyền bí chưa làm sáng tỏ được. Chỉ biết rằng cái giờ khắc con người ra đời là thời điểm con người tiếp cận với trời đất, với tiết khí, ánh sáng, ngày đêm, nóng lạnh, không gian, không khí, từ trường giao thoa trong một trường sinh học, tạo ra một thế giới tâm linh, một đời sống tâm hồn… Tất cả những yếu tố đó xâm nhập mạnh mẽ vào cơ thể người, cùng với yếu tố di truyền học, tạo nên thể chất người, khí chất người, tính cách người, và những tính chất này sẽ đi với con người và chi phối con người đến tận cùng cuộc đời theo một nhịp điệu có tính chu kì, chung cho cả vũ trụ, trái đất và con người. Người đời đã sáng tạo ra một danh từ dùng trên khắp thế giới để thể hiện khái niệm trên: số phận con người.

Trong thế giới văn chương, cấu trúc Kinh Dịch và hiện thực văn chương dành cho mỗi nhà văn có mấy điểm đồng nhất sau đây. Nhờ vào cấu trúc Kinh Dịch mà nhận ra dấu ấn hành trình và hành lang văn chương của từng nhà văn. Hành trình ở đây là những bước thăng trầm, thời kì thăng hoa, thời kì xuống cấp trong lịch trình sáng tạo. Hành lang ở đây là thiên bẩm, thiên hướng, bản sắc, diện mạo, khí chất, tài năng văn chương, xu hướng tìm tòi đề tài, chủ đề, sự gắn bó với mảng thiên nhiên, cuộc sống, những đặc điểm yêu ghét, những thói quen miêu tả… Tóm lại văn chương chính là bản sao hành trình số phận của nhà văn, một khái niệm có tính tổng kết, mang dấu ấn khám phá của người viết bài này. Dấu ấn đầu tiên của bản sao thiêng liêng đó là cấu trúc Kinh Dịch, gồm hai quẻ Dịch. Một quẻ gọi là Tiên thiên, là quẻ giời cho khởi nguồn từ năm tháng ngày giờ sinh, bao trùm lên một số năm của đời người gọi là tiền vận. Quẻ thứ hai gọi là Hậu thiên thuộc về hậu vận nhờ luật Phản phục mà tìm ra, quẻ này tích hợp những năm tháng “giời cho” với sự trải nghiệm thực tế trong cuộc sống nhân gian tạo nên những năm tháng còn lại của đời người. Sự liên kết chặt chẽ và hài hòa của hai quẻ này tạo nên một cấu trúc đời người, đối với nhà văn cũng chính là cấu trúc văn chương, soi sáng và phản ánh toàn diện hành trình và hành lang văn chương của mỗi người. (Ngoài hai quẻ chính còn hai quẻ phụ hỗ trợ, tiềm ẩn soi sáng thêm cho hai quẻ chính). Đối với các nhà văn có mệnh quẻ Cấn, tượng là Núi, những hình ảnh về núi hoặc gần gũi với núi thường hiện diện trong tác phẩm của họ. Nhà văn Nguyễn Tuân là một trường hợp nổi bật. Nguyễn Tuân có mệnh Thuần Cấn. Những tác phẩm Trên đỉnh non Tản, Cô Dó, Sông Đà… để lại dấu ấn đẹp trong danh mục tác phẩm của ông. Nhưng với Nguyễn Thị Minh Thái cũng được quẻ Thuần Cấn thì khác. Nghĩa của quẻ Cấn là “ngừng”. Lời quẻ Thuần Cấn có câu: Ngừng ở cái lưng (tĩnh như cái lưng) không thấy được thân mình, đi ở trước sân, không thấy có người, không có lỗi. Tượng Núi dường như chưa xuất hiện một lần trong các tác phẩm của chị, nhưng dấu ấn người Thuần Cấn vẫn cứ hiển hiện trong cảm xúc, cảm nhận của chị về cái đẹp, cái “chí thiện” trong nghệ thuật sân khấu. Ta hãy xem chị tả Thế Lữ trong vai “ông Ký Cóp” trong vở kịch cùng tên: “Thế Lữ quay lưng ra phía khán giả, dùng bàn tay và lưng diễn tả ông Ký Cóp đang nát óc suy nghĩ, cứu vãn một tình huống đã cùng đường, cụt ngõ. Cái lưng còng, dáng đổ nghiêng về phía trước, bất động. Hai bàn tay bắt chéo sau lưng. Những ngón tay co duỗi đuổi nhau, tính kế. Im lặng, căng thẳng. Các nhân vật khác ngồi im, như hóa đá, chờ đợi. Cả sân khấu chỉ còn cái lưng chết lặng và những ngón tay cử động, vẽ nên một cảnh suy nghĩ rất lung…”. Tô Hoài được quẻ Trạch Phong Đại Quá. Tượng quẻ là Đầm nước và Gió (cũng là Cây). Khí chất thiên nhiên thấm nhuần vào cảm xúc văn chương Tô Hoài là chính cái đầm nước mà ông tả trong Dế Mèn phiêu lưu kí cùng những dân cư của nó sống trên bờ và dưới nước, những dế choắt, dế trũi, cò, sếu, vạc, cốc, le le, sâm cầm, vịt trời, bồ nông, mòng két, những nhà trò, bọ muỗm, bọ ngựa, cào cào, châu chấu voi… Trong đó nhân vật Dế Mèn hiện lên với tính cách phi thường, “đại quá” (quá lớn). Không phải ngẫu nhiên mà các bậc cha mẹ đặt tên ông là Sen, Nguyễn Văn Sen, một loài cây mọc trong đầm. Ắt phải có gì xui khiến. Để rồi sau đấy ông lấy bút danh Tô Hoài, để nhớ dòng sông Tô, nhiều đoạn về sau đã thành đầm.

Dấu ấn thứ hai của cấu trúc Kinh Dịch nổi bật trong văn chương là tượng thiên nhiên trong các quẻ Dịch, gọi tắt là chữ Tượng. Người xưa đã mượn cái hữu hình là tượng thiên nhiên để làm sáng tỏ cái vô hình là khái niệm quẻ Dịch. Có 8 tượng thiên nhiên tiêu biểu được dùng cho 8 quẻ Dịch là Trời, Đất, Nước, Lửa, Núi, Sấm, Gió, Đầm (hồ), lại có 64 cấu trúc tượng thiên nhiên (ví dụ cấu trúc đất-trời, trời-đất, nước-lửa, lửa-nước). Mỗi tượng và cấu trúc tượng mang theo nghĩa lí, xu thế, bản sắc của từng mảng thiên nhiên và cuộc sống. Tượng và cấu trúc tượng thiên nhiên in dấu lên văn chương của nhà văn cho ta nhận ra cái bản sắc văn chương, thiên hướng văn chương, nguồn cảm xúc văn chương của mỗi người. Nhà thơ Trịnh Thanh Sơn có quẻ giời cho Lôi Thiên Đại Tráng. Tượng quẻ là Sấm ở trên trời. Thơ anh tự nhiên hướng về những khoảng không thiên nhiên, giông bão, sấm chớp, trời xanh. Ta đã sống hồn nhiên như cây cỏ/ Mặc bao nhiêu giông tố nát thân mình/ Một ngày kia về trong lòng đất/ Hóa thân thành muôn đọt non xanh (Tự bạch).  Em bảo thơ anh khúc khuỷu gồ ghề/ Chân đất đầu trần dưới đám mây tích điện/ Sấm sét bão giông rồi sẽ đến/ Mình biết trốn vào đâu (Lời cuối cho em). Thơ Trần Đăng Khoa nổi bật với quẻ tiên thiên (tiền vận) là Phong Địa Quán, quẻ hậu thiên là Địa Thiên Thái. Tượng thiên nhiên của quẻ là Gió, Đất và Trời. Thơ anh nhuần thấm những vẻ đẹp và những khí chất thiên nhiên đó. Tập thơ đầu cũng là tác phẩm hay nhất của anh cho đến nay mang tên Góc sân và khoảng trời. Góc sân chính là Đất. Còn cái bầu trời sau này sẽ trùm lên trong hậu vận của anh (quẻ Địa Thiên Thái) thì ở tuổi thơ mới hiện lên lấp lánh trăng sao và xanh biếc. Góc sân nho nhỏ mới xây/ Chiều chiều em đứng nơi này em trông/ Thấy trời xanh biếc mênh mông/ Cánh cò chớp trắng trên sông Kinh Thầy (Góc sân và khoảng trời). Mặt trời lặn xuống bờ ao/ Ngọn khói xanh lên lúng liếng/ Vườn sau gió chẳng đuổi nhau/ Lá vẫn bay vàng sân giếng/ Xóm ngoài nhà ai giã cốm/ Làn sương lam mỏng rung rinh/ Bạn nhỏ cưỡi trâu về ngõ/ Tự mình làm nên bức tranh (Khi mùa thu sang). Câu Tự mình làm nên bức tranh là câu thơ của định mệnh.

Một dấu ấn nữa cũng vô cùng quan thiết là chữ Thời trong sáng tác của nhà văn. Người xưa nói: toàn bộ Kinh Dịch suy cho cùng tóm lại chỉ một chữ Thời. Cấu trúc Kinh Dịch của mỗi người cho ta biết cái thời riêng của người ấy. Nhờ dấu ấn chữ Thời mà ta biết sứ mạng văn chương của nhà văn, sự hòa nhập hay xung khắc với cộng đồng, vai trò của văn chương trong thời thế chung. Có thời còn có vận. Vận là cái thời nhỏ trong cái thời lớn mang tên thời. Như thời Bĩ là thời bế tắc, không thông thuận, có 6 vận bĩ gắn với 6 hào quẻ Thiên Địa Bĩ. Hào 1 – bĩ về cơ hội; hào 2 – bĩ về thế lực; hào 3 – bĩ đến cùng cực; hào 4 – có cơ hội thoát bĩ; hào 5 – đến vận thoát bĩ; hào 6 – đánh đổ cái bĩ, bĩ sang thái. Có 64 thời lớn, 384 thời nhỏ, dấu ấn chữ Thời trong văn chương vô cùng phong phú. Nhờ chữ Thời còn biết quá trình sáng tác của nhà văn lúc lên lúc xuống, lúc thăng lúc trầm, thời điểm nào văn chương khởi sắc và ngược lại. Nhà văn Vũ Trọng Phụng sinh giờ Dần ngày 11-9 năm Nhâm Tý (20-10-1912). Mệnh giời cho ông là quẻ Lôi Thủy Giải, quẻ thứ 40 trong 64 quẻ Dịch. Chúng tôi gọi là Thời Lôi Thủy Giải. Lôi là Sấm, Thủy là Nước, nước ở trên trời nên Thủy ở đây là Mưa. Giải là giải trừ hoạn nạn, giải quyết, giải tỏa. Như vậy, người quẻ Giải có một sứ mạng to lớn trước hết là giải trừ những tệ gây ra hoạn nạn trong nhân dân, sửa đổi phong tục, tập quán cho nhân dân, cho đất nước yên lành. Vũ Trọng Phụng được quẻ Giải đã đẹp, còn được chủ mệnh là hào 2 quẻ Giải cũng rất đẹp: Săn được ba con cáo, được mũi tên vàng, giữ chính bền thì tốt. Ý nói sẽ giải quyết làm tan biến những tệ nạn trong xã hội (tượng là ba con cáo), bản thân sẽ đạt tới vinh quang (tượng là mũi tên vàng, màu vàng là màu sang trọng nhất trong các màu), nhưng phải bền bỉ giữ gìn cho chính đáng (gọi tắt là chính bền) thì mới tốt. Sự nghiệp văn chương Vũ Trọng Phụng là như thế. Không biết giời đất đã xui khiến ông thế nào, toàn bộ tác phẩm trong cuộc đời ngắn ngủi của ông (ông từ trần năm 27 tuổi, năm 1939) tập trung phát hiện, khám phá, lấy ngòi bút làm mũi tên, bắn phá vào những tệ nạn xã hội, những hiện tượng văn hóa suy đồi trong một thời văn minh Âu hóa tràn vào nước ta với vai trò đồng tiền là chúa tể. Đó là những tiểu thuyết Giông tố, Vỡ đê, Làm đĩ, Số đỏ và nhiều phóng sự nổi tiếng. Người mệnh Lôi Thủy Giải phát tiết anh hoa giải cứu cho đời là một đặc điểm văn chương Vũ Trọng Phụng dưới ánh sáng Kinh Dịch. Nhà văn đã giải cứu cho đời bằng cách nào? Bằng tiếng cười. Giải cứu và khoan dung, không diệt trừ sát hại mà chỉ gây cười, để tháo cởi, buông bỏ.

Con người là động vật có linh. Số mệnh là thuộc về trời đất, là bản thể giời cho. Khác với những người bình thường, nhà văn (và nghệ sĩ, và nhiều học giả) còn biết lấy sức mạnh tinh thần vận dụng vào thực tế sáng tác và thực tế cuộc đời, làm hơn lên, làm hay lên, đổi mới và khám phá vượt lên tất cả, tạo ra một năng lượng mới, một trời đất mới, những giá trị mới trong bầu trời văn chương của chính mình. Đó là hai chữ Thể, Dụng. Có Thể còn có Dụng. Nhà văn là một ánh lấp lánh trong đời sống cộng đồng. Trong đời sống văn chương, nhiều nhà văn trở thành những gương sáng trong cái hành trình Thể và Dụng. Nhà thơ Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến được quẻ giời cho là Thủy Phong Tỉnh. Tỉnh là Tĩnh (an tĩnh), Tỉnh còn là cái Giếng. Làng đổi giếng không đổi, Kinh Dịch khái quát một câu về đạo Giếng như thế. Người làng có thể đi lập nghiệp nơi khác nhưng giếng thì ở lại. Giếng ở lại với những kỉ niệm sinh sôi, từ thời niên thiếu đến tuổi già. Vì thế, người quẻ Tỉnh đặc biệt gắn bó với quê hương, với cái gì yên tĩnh sâu thẳm trong lòng. Nguyễn Khuyến là như thế. Năm Tân Mùi (1871) ông đỗ đầu thi Hội và thi Đình. Vua Tự Đức ban hai chữ Tam nguyên (vì trước đây đã đỗ đầu thi Hương ở Hà Nội), ban cờ biển. Năm 1884, trước nguy cơ đất nước rơi vào tay thực dân Pháp, Nguyễn Khuyến cáo quan trở về làng quê Yên Đổ. Một bước ngoặt quyết định làm nên một nhà thơ lớn của dân tộc. Giữa những thất bại của giới sĩ phu trên con đường cứu nước (nhiều người hi sinh, tuẫn tiết) và sự khuất phục của triều đình, Nguyễn Khuyến lựa chọn con đường riêng của mình: trở về vườn Bùi với thân phận làm dân, làm người bình thường, với cái thú quê: Năm nay cày cấy vẫn chân thua/ Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa. Với không gian mùa thu đẫm màu sắc Việt và man mác cái buồn mất nước: Ao thu lạnh lẽo nước trong veo/ Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo. Với cuộc thăm chùa trên núi: Chùa xưa ở lẫn cùng cây đá/ Sư cụ nằm chung với khói mây.

Cũng được quẻ giời cho Thủy Phong Tỉnh, nhà văn Phạm Duy Nghĩa, một cách tự nhiên, lựa chọn cho mình một lối đi riêng. Là người Kinh theo cha mẹ lập nghiệp trên miền núi Lào Cai, hai chữ thủy phong nhập vào anh. Thủy là Nước. Phong là Gió, cũng hiểu là Cây. Tượng quẻ bây giờ là nguồn nước lan thấm trong cây. Văn anh tả con người hòa nhập với rừng, cây, cỏ, hoa biến thành truyện ngắn đặc sắc Cơn mưa hoa mận trắng. Bản thân cái tên truyện là hình ảnh “trên cây có nước”, “nước trong lòng cây”. Quả thật nhìn bên ngoài cây, rất ít người cảm thấy cái nguồn nuôi sống cây, là dòng nước trong thân cây. Người Thủy Phong Tỉnh có cái nhìn tinh xảo về những bí ẩn bên trong ấy. Nên mới có cái truyện ngắn tả hai giáo viên cắm bản trên vùng cao, một nam một nữ nằm hai giường cách nhau một lối đi nhỏ, mà không một lần hai cơ thể quấn lấy nhau. Chỉ có “cơn mưa hoa mận trắng” mới kể lại cái bí ẩn bên trong của mỗi người một cách thuyết phục, để tác phẩm chiếm giải nhất trong một cuộc thi. Các truyện ngắn khác của Phạm Duy Nghĩa cũng thấm đẫm cái góc nhìn Thủy Phong Tỉnh ấy và tạo nên một phong cách riêng. Nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ được quẻ Thiên Địa Bĩ. Bĩ là bế tắc. Bĩ cũng là cái Thể của nhà văn, nhưng cái Dụng thì khác hẳn. Đọc những truyện ngắn như Mi-nu xinh đẹp, Hình bóng cuộc đời, Cát đợi, Còn lại một vầng trăng, Những đêm thắp sáng, Kí ức, ta sẽ thấy văn chương Nguyễn Thị Thu Huệ là tiếng nói, là niềm an ủi lớn cho những thân phận bĩ. Như thể giời đất trao cho nhà văn cái quẻ Thiên Địa Bĩ ấy là để gánh lấy sứ mạng đi sâu vào những thân phận bĩ, an ủi họ và vạch cho họ con đường thoát bĩ, đánh đổ cái bĩ, để cho bĩ cực thái lai.

Bốn điểm đồng nhất giữa số phận và hiện thực văn chương trên đây (văn chương bản sao của hành trình số phận, chữ Tượng, chữ Thời, chữ Thể và Dụng) cũng là bốn tiêu chí để nhận biết một tác phẩm của nhà văn dưới ánh sáng Kinh Dịch. Tác phẩm nào hội đủ bốn tiêu chí trên có thể gọi là tác phẩm mệnh mang tên nhà văn. Số phận hình thành từ lúc con người lọt lòng mẹ. Số phận chi phối từng đường đi nước bước của con người cho đến phút chót cuộc đời. Nhưng không phải nhà văn nào cũng biết số phận mình. Vậy mà tại sao số phận vẫn có tiếng nói của nó trên khắp các nẻo đường văn chương của một nhà văn? Là vì Văn tức là Người. Đời sống văn chương, nghệ thuật trước hết là đời sống tinh thần, đời sống tâm hồn của mỗi nhà văn (hay nghệ sĩ). Hơn ai hết họ rất nhạy cảm trước mỗi làn hơi thở của số phận. Có thể nói câu này mà không sợ quá lời: Tất cả các tác phẩm của một nhà văn đều mang dấu ấn của số phận, nói cách khác là dấu ấn của mệnh. Nhưng không phải tất cả các tác phẩm ấy đều được gọi là tác phẩm mệnh. Bởi, công bằng mà xem xét, có những tác phẩm chỉ mang dấu ấn nhạt nhòa, có chữ Tượng mà không có chữ Thời, hoặc có Thể mà không có Dụng, hoặc quá lạm dụng mà làm mờ mất cái bản thể. Nói một cách khoa học là không đủ tiêu chí cho một tác phẩm được gọi là tác phẩm mệnh. Và như vậy số lượng và tỉ lệ tác phẩm mệnh của mỗi nhà văn tùy thuộc vào từng người, đây cũng chính là một dấu ấn trên hành trình văn chương. Ngôi thứ trong chiếu làng văn là ở đây.
Nguồn: Văn nghệ Quân đội

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.03.2017

Giật mình sau…”Tháng ăn chơi”

Giật mình sau…”Tháng ăn chơi”

  •   TRANG ĐOAN

Tháng Giêng kết thúc.Sau một tháng “tất bật”, và có thể nói là “chạy sô” tham dự các lễ, lễ hội; từ đồng bằng, lên miền núi, xuống miền biển trên địa bàn tỉnh Nghệ An; không biết có mấy ai nhìn lại và nhận ra điều gì đó? Tất nhiên, tôi không nói đến những buổi họp tổng kết công tác tổ chức lễ hội, những buổi giao ban rút kinh nghiệm mà là một điều gì đó trong tư duy của mỗi người.Lẽ dĩ nhiên, đi hội thì bao giờ cũng vui và cả…mệt nữa.Mệt vì mật độ dày đặc các sự kiện và quãng đường di chuyển.Nhưng nếu là người có trách nhiệm với việc bảo tồn, phát huy những giá trị văn hoá thì chắc chắn sẽ phải có nhiều cảm xúc hơn thế.Với tôi, dù không tham dự hết tất thảy các sự kiện văn hoá, lễ, lễ hội diễn ra trong tháng Giêng trên địa bàn tỉnh nhưng khi nhìn lại cũng đủ khiến…giật mình. Giật mình không phải vì nuối tiếc một tháng ăn chơi, hội hè đã qua đi. Giật mình không phải bởi thời gian trôi nhanh thế mà giật mình bởi “những điều trông thấy”…

Chuyện lãng phí hay tốn kém thời gian, tiền bạc không phải là điều gì mới mẻ, lâu nay nó đã được nhắc tới nhiều, song lần nào đi, chứng kiến lễ, lễ hội tôi đều không khỏi giật mình. Người đi lễ sẵn sàng chịu chi không nhỏ để cầu an, cầu tài lộc đầu năm đã đành; các bên liên quan, tổ chức lễ, lễ hội cũng tốn kém. Đó là chi phí đi lại, tổ chức.Từ việc dựng sân khấu, âm thanh anh sáng đến chi phí cho các tiết mục biểu diễn. Đó là chi phí cho các đoàn đại biểu về tham dự.Những bữa cơm thịnh soạn, khách sạn hoành tráng cho hàng trăm đại biểu dự lễ khai mạc ngắn ngủi.Dù người ta có nói đó là kinh phí xã hội hoá, là của bên này bên kia bỏ ra đi chăng nữa thì rút cục cũng là tiền của của nhân dân. Trong khi đó, cái chi ấy nhân dân được hưởng bao nhiêu?Tiền ấycó chi vì dân? Hay sự hiện diện của đại biểu là niềm vinh hạnh của nhân dân?!

Điều thứ hai khiến tôi giật mình có lẽ là ở sự mê tín đến mù quáng của người dân hiện nay.Những ngày đầu năm, các đền, chùa đông nghẹt người.Đến đâu cũng thấy người ta thắp hương nghi ngút, sì sụp khấn vái, xin quẻ, xin xăm, cầu an, giải hạn. Người xếp hàng dài, chen lấn, xô đẩy nhau để xin cho được chút lộc mà không biết ý nghĩa, giá trị thực của nó. Tôi tự hỏi từ bao giờ người dân mình lại trở nên cả tin, mù quáng đến vậy?Đáng lẽ khi xã hội càng phát triển, thì đời sống càng văn minh, nhận thức của con người ngày một cao. Vậy mà thực tế hiện nay, người ta ít tìm hiểu kiến thức để nắm được tinh thần của các tôn giáo, tín ngưỡng, hiểu được lịch sử văn hoá của đền, chùa mình đến…Điều duy nhất họ quan tâm khi tới đây chỉ là cầu được cho mình, cho gia đình tài lộc, may mắn. Chính sự mù quáng, tư tưởng đó của người tham gia, một phần khiến cho tình trạng các lễ hội trở nên lộn xộn, biến tướng. Tuy nhiên có một câu hỏi đặt ra là: Vậy vai trò của các cơ quan quản lý văn hoá ở đâu?Liệu chúng ta có thực sự vô can?Phải chăng bởi xã hội đang thiếu vắng niềm tin? Phải chăng bởi con người đang ngày càng xuống cấp về đạo đức, vụ lợi hơn? Phải chăng chúng ta đã giáo dục, tuyên truyền không đúng hướng, chưa đến nơi đến chốn nên mới dẫn đến sự mù quáng và xu hướng ngày càng mê tín này?Chúng ta không thể chỉ đổ lỗi cho tư duy, nhận thức hay tâm nguyện của nhân dân.Người làm văn hoá phải có trách nhiệm hướng cho người dân đến những giá trị tốt đẹp, đến một môi trường văn hoá, văn minh.

Vậy mà thay vào đó, một số người tỏ ra đầy hân hoan khi đánh giá nhờ lễ hội, tâm linh mà du lịch đầu năm có xu hướng tăng so với năm ngoái. Các điểm đến như Đền Cờn, chùa Đại Tuệ, đền Hoàng Mười,… đông nghịt khách cả trong và ngoài tỉnh. Đó cũng là điều khiến tôi giật mình. Có thể thấy, xu hướng hiện nay, đầu năm người dân thường kéo đi hành hương, lễ chùa, đền cầu may nên các hãng lữ hành đã khai thác triệt để tour du lịch tâm linh. Chính tư duy làm du lịch chi phối mà chúng ta đã và sẽ tiếp tục sai phạm nếu không dừng lại để nhìn nhận vấn đề.Trong bài viết trước đây về du lịch tâm linh[1], tôi đã chỉ rõ khái niệm và bản chất của loại hình du lịch này nên xin không nhắc lại ở đây; chỉ muốn một lần nữa nhấn mạnh rằng: Về bản chất, Du lịch tâm linh (Spiritual tourism) thực chất là một loại hình du lịch văn hóa, lấy yếu tố tâm linh làm cơ sở và cũng là mục tiêu. Chúng ta không thể vì lợi nhuận mà tác động làm biến tướng, méo mó các giá trị văn hoá tâm linh.Nói cách khác, không nên lấy tâm linh để kinh doanh.Cách làm này chẳng khác gì lợi dụng lòng tin, sự mù quáng của người dân cả. Có thể thấy những lùm xùm trong dịp sau Tết tại Nghệ An đều xuất phát từ chính tư duy nóng vội khai thác cho du lịch. Những dòng người chen lấn, xô đẩy trong lễ phát “Thẻ ấn -Quang Trung linh từ” (ngày 01/02/2017); tắc đường dài hàng km trong lễ khai bút đầu Xuân tại chùa Đại Tuệ (05/02/2017), hay việc dâng bánh chưng 7 tạ lên mộ Hoàng Thị Loan, dâng bánh 5 tạ tại chùa Đại Tuệ,…đều đang minh chứng cho điều đó. Đáng buồn hơn, khi trả lời với báo chí, ông Hoàng Trung Châu, Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Nghệ An nói về việc dâng bánh chưng lên mộ bà Hoàng Thị Loan: “Mục đích thứ hai là từng bước tạo ra sản phẩm du lịch mới, du lịch tâm linh đầu năm để thu hút thêm khách du lịch về với quê Bác Hồ.”[2]Chắc chắn, việc tổ chức phát thẻ ấn tại Đền thờ Hoàng đế Quang Trung cũng xuất phát từ tư duy này. Điều đó khiến Nghệ An đã phải đối mặt với không ít phản ứng từ dư luận cả nước trong thời gian qua. Nếu chúng ta không lắng nghe để sớm thay đổi mà vẫn khăng khăng giữ suy nghĩ trên khi làm du lịch và văn hoá thì chắc chắn chúng ta sẽ còn chứng kiến nhiều sai phạm đáng buồn trong tương lai.

Điều giật mình sau cùng có lẽ chính là thái độ của một số cơ quan chức năng.Dường như họ còn thờ ơ, thiếu trách nhiệm. Trách nhiệm ở đây không phải là việc lo đón tiếp chu đáo, tổ chức thật hoành tráng các lễ, lễ hội diễn ra mà là trách nhiệm với di sản, với giá trị văn hoá và với nhân dân. Với hàng chục cơ quan báo chí trong tỉnh và trung ương thường trú tại địa phương, không tính đến những báo ít dám phản biện, thì đến nay đã có không biết bao nhiêu bài phản ánh về sự lãng phí, tốn kém, về cách làm chưa đúng, về những sai phạm liên quan song tình hình không thay đổi là mấy. Nếu không có niềm tin vào báo chí thì khi liên tục tham gia, kiểm tra các lễ, lễ hội trên địa bàn, chúng ta chắc hẳn cũng nhận thấy các giá trị văn hoá đang được khai thác không đúng cách; các lễ hội đang dần đánh mất đi bản sắc của nó bằng chính cách tổ chức của ta; hay chí ít cũng thấy mệt mỏi ra sao khi phải tổ chức chỉ để hoàn thành đầu công việc.

“Tháng ăn chơi” đã kết thúc nhưng mùa lễ hội sẽ vẫn còn rộn ràng trên xứ Nghệ. Chúng ta sẽ lại tham gia, quan sát và cả kiểm chứng điều tôi nói trên đây. Dẫu cho đến khi viết những dòng cuối của bài này, tôi vẫn không tin ý kiến của mình được lắng nghe, tiếp nhận một cách thiện chí nhưng tôi hy vọng nó sẽ để lại ở đâu đó, trong ai đó, dù nhỏ nhoi thôi, một chút giật mình.


[1] Du lịch tâm linh là gì?, VHNA số 306, phát hành ngày 10/12/2015.

[2]Ông Hoàng Trung Châu trả lời Phỏng vấn trong bài báo “Nghệ An sẽ không dâng bánh chưng 700kg Tết 2018”, http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/tin-moi-nghe-an-se-khong-dang-banh-chung-700kg-tet-2018-354869.html.

( Nguồn: VHNA)

Vụ Formosa : Ngư dân Nghệ An cũng muốn được đền bù

Vụ Formosa : Ngư dân Nghệ An cũng muốn được  đền bù

Người dân Việt Nam biểu tình phản đối nhà máy Formosa gây hiện tượng cá chết hàng loạt ở miền trung Việt Nam. Ảnh chụp tại Hà Nội, ngày 01/05/2016.REUTERS

 

Mặc dù chính quyền Việt Nam đã thông báo sẽ kỷ luật những quan chức chịu trách nhiệm trong vụ công ty Formosa Hà Tĩnh xả thải gây ô nhiểm biển khiến cá chết hàng loạt ở các tỉnh miền Trung vào tháng 4 năm ngoái, nhưng hồ sơ này tiếp tục gây xáo trộn ở một số địa phương, do ngư dân vẫn bất bình về chuyện đền bù thiệt hại cho họ.

Ngày 22/02/2017, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông báo sẽ xem xét, thi hành kỷ luật 11 quan chức bị coi là có những “sai phạm” trong vụ Formosa gây ô nhiễm. Bị xem là chịu trách nhiệm chính trong vụ này là ông Võ Kim Cự, nguyên chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh Hà Tĩnh. Trong số 11 quan chức bị kỷ luật, còn có một cựu bộ trưởng Môi trường, ông Nguyễn Minh Quang.

Hiện giờ chưa biết là các quan chức nói trên sẽ bị kỷ luật như thế nào, nhưng đây là lần đầu tiên chính quyền nêu rõ tên tuổi các quan chức chịu trách nhiệm về vụ Formosa, 11 tháng sau khi xảy ra vụ này.

Qua việc thông báo xem xét kỷ luật các quan chức nói trên, giới lãnh đạo Hà Nội hy vọng sẽ làm dịu phần nào nỗi bất bình của dư luận về vụ Formosa, thảm họa môi trường trầm trọng nhất từ trước đến nay ở Việt Nam. Chính bộ Môi trường Việt Nam đã nhìn nhận rằng phải mất ít nhất một thập niên nữa môi trường biển của những vùng bị ảnh hưởng mới có thể trở lại như trước.

Đây còn là một thảm họa về kinh tế vì nó ảnh hưởng đến đời sống của biết bao ngư dân các tỉnh miền Trung bị ô nhiễm biển. Công ty Formosa Hà Tĩnh đã buộc phải chấp nhận đền bù tổng cộng 500 triệu đôla. Thế nhưng, việc đền bù vẫn chưa được thỏa đáng đối với nhiều ngư dân và họ tiếp tục kiện công ty Formosa Hà Tĩnh.

Tháng 9 năm ngoái, ngư dân huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An đã nộp đơn kiện Formosa lên Tòa án Nhân dân Thị xã Kỳ Anh, nhưng tòa án này sau đó đã trả lại các đơn kiện, với lý do là những người “ khởi kiện không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh về những thiệt hại thực tế “ do vụ ô nhiễm Formosa.

Ngày 14/02 vừa qua, hàng trăm ngư dân giáo xứ Song Ngọc, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, dưới sự hướng dẫn của linh mục quản xứ Nguyễn Đình Thục, đã đi đến Tòa án Nhân dân Thị xã Kỳ Anh để nộp đơn kiện công ty Formosa một lần nữa. Nhưng trên đường đi, các ngư dân này đã bị công an tỉnh Nghệ An ngăn cản và đàn áp thô bạo. Hàng chục người dân đã bị công an đánh đập và bắt giữ. Văn phòng Tòa Giám mục Giáo phận Vinh ngày 20/02 vừa qua đã ra một thông báo lên án vụ đàn áp này là một sự “vi phạm nghiêm trọng quyền của con người, quyền công dân đã được Công ước Quốc tế, Hiến pháp và Pháp luật Việt Nam bảo vệ.”.

Cũng trong ngày 20/02/2017, tổ chức Ân xá Quốc tế đã ra một thông cáo kêu gọi có hành động khẩn cấp về vụ nói trên, yêu cầu chính quyền Việt Nam điều tra và đưa ra tòa những kẻ đã tấn công ngư dân khiếu kiện, yêu cầu chấm dứt sách nhiễu những người biểu tình ôn hòa, đồng thời tạo điều kiện cho ngư dân nộp đơn kiện Formosa.

Báo chí chính thức thì cho rằng chính giáo dân Quỳnh Lưu đi khiếu kiện đã bị kích động, xúi giục, gây mất trật tự công cộng, gây cản trở giao thông, thậm chí một số người, bị xem là “phần tử quá khích”, đã ném đá vào lực lượng an ninh, buộc họ phải giải tán đám đông, bắt tạm giũ một số người. Nhưng trả lời RFI Việt ngữ ngày 24/02 vừa qua, linh mục Nguyễn Đình Thục, quản xứ Song Ngọc, khẳng định là các ngư dân trên đường đi nộp đơn kiện đã di chuyển rất ôn hòa:

“ Việc làm của chúng tôi là đúng theo Hiến pháp và pháp luật. Chúng tôi đi kiện Formosa là vì họ đã xả thải và gây ô nhiễm biển nặng nề và điều đó gây thiệt hại cho những người dân ở đây, là những người làm nghề biển. Chúng tôi đã gởi đơn lên chính phủ đòi bồi thường cho chúng tôi sau khi chính phủ nhận 500 triệu đôla ( tiền đền bù của Formosa ).

Từ mấy tháng nay ,chúng tôi vẫn chờ, nhưng chính phủ không trả lời và chính phủ đã ra quyết định chỉ bồi thường cho 4 tỉnh từ Hà Tĩnh trở vào, còn Nghệ An thì không được bồi thường, cho nên người dân rất bức xúc và họ đi đòi sự công bằng.

Khi kiện thì chúng tôi phải đến thị xã Kỳ Anh để kiện, vì đó là do pháp luật quy định: nơi có thẩm quyền thụ lý vụ án phải là nơi mà tội phạm gây ra tội ác. Kỳ Anh chính là nơi mà Formosa ở đó và gây ra thảm họa. Bảo rằng chúng tôi đi đông người, đó cũng là vì pháp luật quy định điều đó, nghĩa là không được khiếu kiện tập thể, mà mỗi người phải viết đơn, 619 hộ gia đình viết đơn kiện thì phải có ít nhất 619 người đi nạp đơn kiện.

Chúng tôi đã thuê xe ôtô, nhưng công an đã ngăn chận bằng mọi cách, vừa dọa dẫm, vừa làm rất mạnh, thành ra chủ xe không thể nào đến với chúng tôi để đưa dân chúng tôi đi được. Vì không thuê được ôtô, nên chúng tôi phải đi xe máy. Một số người không có xe máy thì phải đi bộ. Chúng tôi đi rất là ôn hòa, không cản trở giao thông mà cũng không có một hành động bạo lực nào.”

Theo báo chí chính thức thì sau vụ này Phó chủ tịch tỉnh Nghệ An Lê Xuân Đại cho biết ban lãnh đạo tỉnh này sắp tới sẽ làm việc với Tòa Giám mục để vận động các chức sắc và giáo dân trong toàn Giáo phận “tin tưởng vào chủ trương giải quyết sự cố môi trường biển miền Trung của Đảng, Nhà nước”, không để tái diễn sự việc như vừa qua.

Phó chủ tịch Nghệ An cũng cam kết rằng lãnh đạo tỉnh Nghệ An sẵn sàng mời đại diện những người có đơn vào trụ sở tiếp công dân của UBND tỉnh để nộp đơn và bản thân ông “sẽ làm trung gian nhận đơn để trực tiếp gửi tới Tòa án Nhân dân thị xã Kỳ Anh, đồng thời theo dõi kết quả xử lý từ phía TAND thị xã Kỳ Anh để truyền tải tới cho công dân thông qua Tòa giám mục”.

Vấn đề là không biết đơn kiện của ngư dân có sẽ được thụ lý hay không và nếu được thụ lý thì tòa sẽ giải quyết ra sao. Ngư dân Song Ngọc vẫn không chấp nhận việc họ không được chính phủ chia tiền đền bù, vì tuy không nằm ở những vùng biển bị ô nhiễm nặng, họ vẫn bị thiệt hại lây, như giải thích của cha Nguyễn Đình Thục:

“ Ở Nghệ An, chúng tôi cũng thiệt hại nặng nề như những nơi khác là bởi vì khi người dân đánh bắt về thì hải sản không bán được. Trong một thời gian dài, hàng mấy tháng trời họ mất công ăn việc làm, phải bán đi những chiếc thuyền của họ, được mua với giá rất cao nhưng được bán với giá rẻ mạt. Những người còn giữ lại thuyền thì cũng không làm gì được, thì nghề nghiệp của họ bất ổn, không có thu nhập như trước đây nữa.

Ngoài những người đi đánh cá, những người làm những công việc liên quan, như buôn cá hay làm đá để ướp cá, may vá lưới và cả những người làm nghề muối, đều bị thiệt hại rất là nặng, cho nên họ đã đi kiện vì không nhận được sự bồi thường nào hết.

Cả một thời gian dài ngư dân Nghệ An không bán được cá. Bây giờ tuy bán được, nhưng rất khó khăn. Số người ăn cá biển bây giờ rất ít. Những người có điều kiện thì chẳng còn dám ăn cá biển, vì họ thừa biết là cá biển không an toàn, chẳng biết là cá đó được bắt ở vùng biển nào.

Chính phủ Việt Nam không quan tâm là cá đó bắt từ vùng nào và họ sẳn sàng cấp phép cho bán, thậm chí khuyến khích ngư dân trong vùng bị ô nhiễm biển đi đánh cá và cấp giấy chứng nhận cá sạch. Chính vì thái độ vô trách nhiệm như thế mà những người ở những nơi khác cũng bị vạ lây, tức là cá đánh bắt ở những nơi khác khi được đem đi bán thì người dân cũng nghi ngờ, không biết là cá này được bắt ở vùng biển không bị ô nhiễm, nên họ ngại, không dám mua về ăn.

Chúng tôi làm theo sự hướng dẫn của ban hỗ trợ các nạn nhân ô nhiễm biển, do giám mục giáo phận thành lập để hướng dẫn chúng tôi. Về mặt pháp lý, chúng tôi đang chờ sự hướng dẫn tiếp, nhưng người dân ở đây rất quyết tâm, vì cuộc sống của họ bất ổn và bây giờ họ cần đấu tranh để có sự công bằng. Điều mà họ mong muốn nhất đó là Formosa phải rời khỏi Việt Nam để trả lại cho họ môi trường biển trong sạch, lành mạnh, để cuộc sống và nghề nghiệp của họ được ổn định.”

 Như vậy là bên cạnh việc giải quyết những hậu quả về môi trường của vụ Formosa làm ô nhiễm biển, chính quyền Việt Nam đang phải đối đầu với sự bất bình của những ngư dân các vùng không bị ảnh hưởng trực tiếp, cũng muốn được đền bù vì những thiệt hại gián tiếp của thảm họa này.

Nick Út, người chụp Kim Phúc, cô bé Napalm, sẽ về hưu

BBC

Nick Út đứng cạnh bức ảnh Em bé Napalm tại triển lãm ảnh AP ở Hà NộiBản quyền hình ảnhAP
Nick Út đứng cạnh bức ảnh Em bé Napalm tại triển lãm ảnh AP ở Hà Nội

Nick Út, người từng là phóng viên chiến trường cho hãng AP tại Việt Nam vào những năm 1960, mà tên tuổi gắn liền với bức ảnh Em bé Napalm, sẽ về hưu vào cuối tháng Ba năm 2017 sau một sự nghiệp trải dài 51 năm.

Trả lời BBC Tiếng Việt, ông Nick Út cho biết, ở tuổi 65 và sau 51 năm làm việc cho hãng AP, ông thấy đã tới lúc cần nghỉ ngơi để làm các việc của gia đình (như trông cháu ngoại) và dành thời gian cho các hoạt động xã hội khác.

Tuy nhiên ông sẽ tiếp tục cầm máy như một cộng tác viên cho AP.

“Cô bé Napalm”

Nhớ lại những gì diễn ra vào ngày 8/6/1972, ông kể, buổi sáng hôm đó ông theo một cánh quân của sư đoàn 25 của miền Nam tới thị xã Trảng Bàng và hàng ngàn người bỏ chạy vì bom đạn từ cả hai phía.

Khi đó ông đã chụp được rất nhiều cảnh ném bom, rốc két, người dân bỏ chạy, bị thương, chết chóc và đang chuẩn bị về lại Sài Gòn gấp để gửi hình thì trên đường quốc lộ 1 chợt để ‎ý thấy một anh lính sư đoàn 25 thải một khối màu chỉ điểm ném bom nên ông quyết định chờ.

Vừa đúng lúc 4 chiếc phi cơ Mỹ ném bom Napalm xuống ngôi làng và ông nghĩ rằng không còn ai trong làng nữa vì người dân đã bỏ chạy hết rồi.Nick Út: Về hưu nhưng sẽ tiếp tục cầm máy

Khi khói tan dần thì thấy có nhiều người chạy ra, trong đó có Kim Phúc, ông bà của Kim Phúc cùng một số trẻ em khác, có em đã chết trên tay của ông bà các em.

Sau khi chụp bức ảnh, ông bỏ máy ảnh chạy tới giúp bé Phúc rồi đưa cô đi bệnh viện và cô đã được cứu sống. Năm đó ông 21 tuổi.

Ông nói bức ảnh này đã làm thay đổi không chỉ cuộc đời ông và cuộc đời Kim Phúc và góp phần làm thay đổi cái nhìn về cuộc chiến. Ông nói:

“Thực sự bức ảnh đó đã làm thay đổi rất nhiều. Khi làm việc tại Los Angeles, tôi cập những trong quân đội Mỹ từng chiến đấu tại Việt Nam.

“Họ nhìn bức hình Kim Phúc, họ ôm tôi, cám ơn và khóc. Họ nói họ được về Mỹ sớm và còn sống nhờ bức hình đó.

“Còn những người chưa từng chiến đấu tại Việt Nam, khi thấy bức hình đó, họ nói họ không muốn chết, tôi còn ở đây là nhờ bức hình đó,” ông nói.

Nick Út và Kim PhúcBản quyền hình ảnhREUTERS
nÔng Nick Út và Kim Phúc tiếp tục giữ liên lạc thường xuyên và thân thiết nhiều năm trời kể từ khi gặp lại lần đầu năm 1989.

Lần đầu tiên ông Nick Út gặp lại Kim Phúc là vào năm 1989 khi cô sang học tại Cuba và sau này Kim Phúc định cư tại Canada, hai người vẫn giữ liên lạc mật thiết và thường xuyên từ đó đến nay.

Theo bước anh trai

Bức ảnh nổi tiếng đó tuy vậy chỉ là một phần nhỏ những điều khủng khiếp của cuộc chiến mà ông đã từng chứng kiến. Ngay từ khi 15 tuổi ông thường anh trai cho xem những bức hình anh trai chụp cảnh chết chóc, cha mẹ mất con cái, làng mạc bị tàn phá do chiến tranh.

Là người con thứ 11 trong gia đình có 12 người con, ông ngưỡng mộ anh trai mình, ông Huỳnh Thanh Mỹ, người là phóng viên chiến trường cho hãng AP. Ông đã chứng kiến anh trai ông rất buồn khi hàng ngày phải chứng kiến nhiều cảnh chiến tranh, chết chóc.

“Anh Mỹ nói anh rất buồn khi hàng ngày phải chứng kiến nhiều cảnh chiến tranh, chết chóc và anh muốn tìm được một bức hình mang lại hòa bình, chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Anh nói anh muốn tôi trở thành phóng viên.

“Tôi nhớ kỷ niệm năm 1963, sau cuộc đảo chính ông Tổng thống Ngô Đình Diệm, tôi được theo anh phụ anh chụp ảnh quanh Dinh Gia Long. Năm 1965 anh mất ở Cần Thơ và cả ngàn phóng viên tới dự đám tang anh,” ông kể lại.

Nhiếp ảnh gia Đức Horst Faas (trái) và Nick Út, tại Sài Gòn ngày 28 tháng Tư năm 2005, ba mười năm sau khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc.Bản quyền hình ảnhHOANG DINH NAM
Nhiếp ảnh gia Đức Horst Faas (trái) và Nick Út, tại Sài Gòn ngày 28 tháng Tư năm 2005, ba mười năm sau khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc.

Tuy nhiên khi ông tới xin việc tại AP, Horst Faas, trưởng văn phòng AP ở Sài Gòn, một phóng viên chiến trường có tên tuổi từng hai lần đoạt giải Pulitzer, đã từ chối và bảo ông về đi học vì còn trẻ quá.

Nhưng sau nhiều tuần bị “quấy nhiễu”, cuối cùng Faas đã nhận ông vào làm ở phòng tối ngày 1/1/1966, với quy định nghiêm ngặt: Không được mang máy ảnh vào vùng chiến sự trong bất cứ hoàn cảnh nào. Năm đó ông 15 tuổi.

“Ông Horst Faas không muốn tôi ra chiến trường vì anh tôi đã mất ở đó và không muốn gia đình tôi mất một người thứ hai nữa. Nhưng ông đã không thể cấm tôi được vì tôi mê chụp hình. Và cuối cùng tôi bỏ phòng tối đi chụp ảnh chiến trường,” ông nhớ lại.

Năm 1968 ông bỏ phòng tối và trở thành phóng viên chiến trường sau một lần chiến sự xảy ra gần nhà và ông đã chụp được những bức ảnh có giá trị. Kể từ đó chàng thanh niên 17 tuổi đã có mặt ở rất nhiều chiến trường miền Nam và đã từng bị thương bốn lần trong thời gian cuộc chiến.

Thời kỳ hậu chiến

Tên thật là Huỳnh Công Út, nhưng ông được biết đến với cái tên Nick Út, tên do phóng viên chiến trường người Pháp Henri Huet đặt cho vì tên ông khó gọi với các đồng nghiệp người nước ngoài tại văn phòng.

Henri Huet qua đời tháng Giêng năm 1971 sau khi thay thế Nick Út lên chiếc phi cơ chở phóng viên đi đưa tin về cuộc chiến và chiếc phi cơ đã bị bắn rơi khi đang trên đường bay sang Hạ Lào.

“Vì thế tôi giữ cái tên Nick Út để cả đời tôi nhớ tới một người bạn thân,” ông nói.

Sau khi cuộc chiến kết thúc năm 1975, ông rời khỏi Việt Nam như hàng ngàn người Việt khác. Và sau đó ông được hãng AP cử đi làm việc tại Văn phòng của hãng ở Tokyo, Nhật Bản. Tại đây, ông gặp người sau này là vợ ông và hai người chuyển tới Los Angeles năm 1977 khi ông bắt đầu giai đoạn chuyên chụp Hollywood trong sự nghiệp nhiếp ảnh của mình.

Giai đoạn này người ta biết tới ông với những bức hình các nhân vật nổi tiếng như Michael Jackson đang nhảy trên nóc một chiếc xe hơi bên ngoài tòa án sau khi được tha bổng về các cáo giác tội sờ sẩm trẻ em.

Có lẽ bức ảnh nổi tiếng nhất trong số này là bức chụp Paris Hilton đầy nước mắt khi bị bỏ tù vì phạm luật lái xe. Bức ảnh được chụp ngày 8/6/2007, đúng 35 năm sau ngày ông chụp bức “Napalm Girl”.

« Newer Posts - Older Posts »

Chuyên mục