Đăng bởi: Ngô Minh | 23.07.2016

Cà phê Dinh Độc Lập.

 Cà phê Dinh Độc Lập.
“Chỉ sau khi:
Cái cây cuối cùng bị đốn xuống,
Dòng sông cuối cùng khô hạn
Con vật cuối cùng bị đánh bắt,
Thì chúng ta mới biết được rằng tiền không thể ăn được.”
(Lời của một thổ dân da đỏ).
*************************************************************************
Câu nói “thấm thía” trên là câu slogan trong các biển hiệu được đặt trang trọng nhiều chỗ công cộng ở Singapore, nơi ông Lý Quang Diệu (Thủ tướng đầu tiên của Singapore) đã từng mơ ước năm 1960: “Hy vọng là một lúc nào đó Singapore sẽ phát triển được như Sài Gòn.” Và sau 56 năm, câu “cuộc đời không như là mơ” đã ứng nghiệm với lời ông cũng như bao con người khác từng cảm thán khi… cuộc đời không như là mơ !
Sự phát triển của Singapore đến thời điểm đó chưa bao giờ có thể so sánh được với Sài Gòn. Làm sao bằng được khi so một Hòn Ngọc Viễn Ðông với một đất nước nghèo khó, bé nhỏ vừa thành lập?  Bây giờ thì càng không thể so sánh một Con Rồng Châu Á, thu hút vốn đầu tư, nhân tài bậc nhất với một thành phố vừa mất tên, vừa bị mất vô số thứ khác, trong đó có cả người tài, và lòng tin nữa !.
Cách đây 2 năm, khi tận mắt nhìn những hàng cây cổ thụ ở khu Trung tâm Sài Gòn bị xẻ thịt, những dòng người hối hả tràn vào Thương Xá Tax ngày thanh lý cuối cùng trước khi tòa nhà lộng lẫy này bị đóng cửa, những tiểu thương và những thị dân ngậm ngùi lau nước mắt, những tấm hình share khắp nơi trên mạng xã hội, đa số kèm theo đó là:  sự phẫn nộ, bất lực khi nhìn một phần ký ức, một phần cuộc sống bị xóa nhòa dần mà không làm gì được nữa. Tôi đã tấm tức khóc, và “hận cả thế giới” suốt nhiều ngày liền. (Trong cái rủi có cái may, sau lần đó trình độ thơ văn của dân Sài Gòn cũng cải thiện rõ rệt). Thế nhưng vừa rồi, cách đây vài tuần thôi, khi hàng chục, trăm cây cổ thụ ở con đường đẹp nhất nhì Sài Gòn – đường Tôn Ðức Thắng – bị chặt bỏ và dời đi. Tôi chả thèm đến ngó, không có một tia cảm xúc “thương vay khóc mướn” như vô số lần mình đã trải qua rồi. Khi đọc những dòng tin tức về sự kiện này thì giật mình nhìn lại và hiểu ra, lòng tin của bản thân đã mất rồi. Không phải lòng tin với bất cứ ai, mà là lòng tin đối với chính mình. Tôi không tin tôi sẽ có thể buồn mãi được, vì mỗi ngày Sài Gòn đều bị mang ra cắt xén để chánh thức trở thành một thành phố họ Hồ thật sự trong mắt những người coi đó là sứ mệnh. Rồi cũng có khi ngồi một mình tự hỏi điều đó đủ gọi là bi kịch hay chưa? Khi chính nơi tôi sinh ra, và lớn lên không hề an bình như đã được dạy và học hành. Miền Trung biển chết, Miền Tây ruộng chết, Cao Nguyên rừng chết, Ðồng Bằng người chết. Ngay cả Sài Gòn, nơi được xem là an toàn nhất cũng đang chết dần chết mòn… Cùng chung cơ thể, có lẽ nào tay chân mắt mũi bị nạn hết mà khúc ruột vẫn an toàn?
Thị dân dù đắm chìm trong dòng đời bon chen hối hả, nhưng chưa bao giờ lơ là thời cuộc. Ai ai cũng mang trong sâu thẳm một chữ buồn. Rồi chẳng biết làm gì hơn mà đi khắp nơi, tìm cho mình một chỗ trú an toàn, có thể ngồi đó mà ôn lại một Sài Gòn, mà họ chưa từng thấy, kể cho nhau nghe chuyện “người Sài Gòn” như là… thần thoại dưới những tàn cây xưa cũ. Chỗ đó là Dinh Ðộc Lập !
H_nh 4

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.07.2016

13 điều đáng đọc hỏi từ người Nhật

13 điều đáng đọc hỏi từ người Nhật

BỐN “CHUYỆN LẠ” Ở ĐẤT NƯỚC NHẬT BẢN- Thật đáng để suy ngẫm

Một dân tộc từ trẻ nhỏ là mầm non của đất n��ớc được dạy dỗ hết sức chu đáo như vậy thì dân tộc Nhật làm sao THUA được Ba Tàu mà Ba Tàu dương oai diệu võ với Nhật trên biển Hoa Đông.
IMG_4035.JPG
1./ Trung thực
Ở Nhật, bạn khó có cơ hội bắt taxi để đi một cuốc đường dài. Vì sao? Các bác tài sẽ tự chở bạn thẳng đến nhà ga tàu điện ngầm, kèm lời hướng dẫn ��Hãy đi tàu điện ngầm cho rẻ”.
Sự trung thực của người Nhật, in đậm nét ở những “Mini shop không người bán” tại Osaka. Nhiều vùng ở Nhật không có nông dân. Ban ngày họ vẫn đến công sở, ngoài giờ làm họ trồng trọt thêm. Sau khi thu hoạch, họ đóng gói sản phẩm, dán giá và để thùng tiền bên cạnh. Người mua cứ theo giá niêm yết mà tự bỏ tiền vào thùng. Cuối ngày, trên đường đi làm về, họ ghé đem thùng tiền về nhà. Nhẹ nhàng và đơn giản. Các con đường mua sắm, các đại siêu thị ở Hokkaido, Sapporo hay Osaka… cũng không nơi nào bạn phải gửi giỏ/túi xách.
Quầy thanh toán cũng không đặt ngay cổng ra vào. Người Nhật tự hào khẳng định động từ “ăn cắp vặt” gần như đã biến mất trong từ điển. Nếu bạn đến Nhật, toàn bộ các cửa hàng sẽ tự động trừ thuế, giảm 5 – 10% khi biết bạn là khách nước ngoài.
IMG_4046.JPG
2./ “No noise” – Không ồn
Nguyên tắc không gây tiếng ồn được áp dụng triệt để tại Nhật. Tất cả đường cao tốc đều phải xây dựng hàng rào cách âm, để nhà dân không bị ảnh hưởng bởi xe lưu thông trên đường. Osaka bỏ ra 18 tỷ USD xây hẳn 1 hòn đảo nhân tạo để làm sân bay rộng hơn 500ha ngay trên biển. Lý do đơn giản chỉ vì “người dân không chịu nổi tiếng ồn khi máy bay lên xuống”.
IMG_4031.JPG
Tại các cửa hàng mua sắm, dù đang vào mùa khuyến mãi, cũng không một cửa hàng nào được đặt máy phát ra tiếng. Tuyệt đối không được bật nhạc làm ồn sang cửa hàng bên cạnh. Muốn quảng cáo và thu hút thì cách duy nhất là thuê một nhân viên dùng loa tay, quảng cáo với từng khách.
3./ Nhân bản
Vì sao trên những cánh đồng ở Nhật luôn còn một góc nguyên, không thu hoạch? Không ai bảo ai, những nông dân Nhật không bao giờ gặt hái toàn bộ nông sản mà họ luôn để phần 5-10% sản lượng cho các loài chim, thú trong tự nhiên.
IMG_4052.JPG
4./ Bình đẳng
Mọi đứa trẻ đều được dạy về sự bình đẳng. Để không có tình trạng phân biệt giàu nghèo ngay từ nhỏ, mọi trẻ em đều được khuyến khích đi bộ đến trường.
IMG_4055.JPG
Nếu nhà xa thì xe đưa đón của trường là chọn lựa duy nhất. Các trường không chấp nhận cho phụ huynh đưa con đến lớp bằng xe hơi.
IMG_4056.JPG
Cách dạy con “ứng xử” và “yêu mến” thức ăn của người Nhật khiến nhiều người sửng sốt và ngưỡng mộ. Ngay từ nhỏ trẻ em được dạy cách ăn uống lịch sự, các phần ăn buffet không bao giờ bị bỏ phí, cách ăn uống sạch sẽ gọn gàng cũng được đề cao.
IMG_4057.JPG
Việc mặc đồng phục vest đen từ người quét đường đến tất cả nhân viên, quan chức cho thấy một nước Nhật không khoảng cách. Những ngày tuyết phủ trắng nước Nhật, từ trên cao nhìn xuống, những công dân Nhật như những chấm đen nhỏ di chuyển nhanh trên đường. Tất cả họ là một nước Nhật chung ý chí, chung tinh thần lao động.
Văn hóa xếp hàng thấm đẫm vào nếp sinh hoạt hàng ngày của người Nhật. Không có bất cứ sự ưu tiên. Sẽ không có gì ngạc nhiên nếu một ngày bạn thấy người xếp hàng ngay sau lưng mình chính là vị Thủ tướng.
IMG_4058.JPG
Trong thảm họa, hay trong bão tuyết người ta vẫn kiên nhẫn xếp hàng và không có chuyện chen lấn
Thomas Edison từng dạy: “Tất cả mọi thứ sẽ đến với người biết hối hả trong khi chờ đợi”. Chính yếu tố con người đã giúp Nhật B��n làm lại từ đầu và phát triển nhanh chóng để trở nên cường thịnh như ngày hôm nay. Không có cảnh la lối, tranh giành. Mọi người đều bình tĩnh, trật tự, trước và sau khi động đất xảy ra. Người dân vẫn kiên nhẫn xếp hàng chờ đến lượt lên xe buýt (lúc này, xe buýt là phương tiện công cộng duy nhất còn có thể hoạt động), kiên nhẫn xếp hàng chờ gọi điện thoại công cộng (vì hệ thống thông tin di động bị tắc nghẽn hoàn toàn), lương thực thực phẩm trở nên khan hiếm, thế nhưng không hề có tình trạng đẩy giá bán hay đầu cơ, găm hàng để trục lợi, các nạn nhân đều có thể tìm thấy sự giúp đỡ từ cộng đồng xung quanh mình.
Người Nhật ��ứng xếp hàng theo một cách mà không một nơi nào trên trái đất này có thể sánh được. Họ làm cho việc xếp hàng trở nên dễ chịu với tâm niệm rằng có một điều gì đó rất đáng để chờ đợi ở phía trước mà thực tế thì có khi không phải luôn luôn như họ nghĩ. Trong quan niệm của người Nhật thì một sự kiện mà không phải xếp hàng để xem thì rất đáng ngờ. Không xếp hàng có nghĩa là có điều gì đó không tốt, không có đám đông có nghĩa là giá trị thấp.
IMG_4034.JPG
Đối với một vài người Nhật khác thì xếp hàng là một cơ hội để họ gần gũi người thân và nói những câu chuyện không bao dứt. Họ biến việc xếp hàng thành một kỷ niệm đáng nhớ. Anh Nakajima phát biểu ” Bạn đến đây với gia đình và bạn bè. Bạn đứng với họ trong một khoảng thời gian dài. Và sau đó bạn sẽ nói hãy nhớ về ngày hôm nay chúng ta đã cùng nhau đợi chờ ở hội chợ dưới cái năng của mùa hè”
Và còn một lý do nữa là người Nhật rất thích tìm hiểu về văn hóa của các nước. Sự thú vị của văn hóa nước ngoài đã biến việc phải xếp hàng chờ đợi trở nên hấp dẫn. Cô M. Tanaka, một giáo viên đại học nói rằng: “Trong suy nghĩ của ngư��i Nhật, cơ hội được tìm hiểu những nền văn hóa mới là điều hấp dẫn không thể cưỡng lại được”.
Qua những hình ảnh trên mong mọi người có cái nhìn thật đúng đắn về chuyện xếp hàng và nâng cao nhận thức về hành vi, trách nhiệm của bản thân.
IMG_4037.JPG
Ngay cả đứng trên thang máy họ cũng đứng gọn sang 1 phía để những người vội có khoảng trống
Ở Nhật, nội trợ là một nghề. Hàng tháng chính phủ tự trích lương của chồng đóng thuế cho vợ. Do đó, người phụ nữ ở nhà làm nội trợ nhưng vẫn được hưởng các chế độ y như một người đi làm. Về già, vẫn hưởng đầy đủ lương hưu. Độc đáo hơn nữa là nhiều công ty áp dụng chính sách, lương của chồng sẽ vào thẳng tài khoản của vợ. Vai trò của người phụ nữ trong gia đình vì thế luôn được đề cao, tôn trọng.
Trên đây là những đức tính thật đáng ngưỡng mộ của người Nhật. Mình thật sự ngỡ ngàng bởi những thông tin rất thú vị . Mình không có ý “sính ngoại” nhưng thực lòng thấy Việt Nam phải còn học hỏi rất nhiều.
Trong bức ảnh người Việt chen lấn đổi mũ bảo hiểm như trong loạn lạc so với cảnh người Nhật xếp hàng trong thảm họa như trong bình yên mà không khỏi chạnh lòng. Tự bản thân mình sẽ rút ra được bài học văn minh và ý chí của người Nhật.
IMG_4033.JPG
IMG_4051.JPG
IMG_4038.JPG
IMG_4032.JPG
Posted by Việt Anh
            

( Nguồn: Google)

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.07.2016

Thừa “Tiến sĩ”, thiếu “Kẻ sĩ”!

Tiếng nói nhà văn:

Thừa “Tiến sĩ”, thiếu “Kẻ sĩ”!

Nhà thơ Đỗ Trung Lai

Đó là vấn đề mà nhà báo Nguyễn Hồng Lam (báo CAND) nêu ra trên tờ báo của mình.

 

Nguyễn Hồng Lam kể: Một nhà báo giỏi, có nhiều năm kinh nghiệm, buổi sáng được mời giảng dạy tại khoa báo chí của một trường đại học, buổi tối lại âm thầm ôm vở theo học tại chức ở chính cái nơi mà buổi sáng ông vừa giảng dạy! Sở dĩ như vậy là vì, ông chưa có bằng cử nhân báo chí! Thiếu nó, ông không thể thăng tiến về chức vụ, học vị, học hàm trong làng báo được, dù rất được đồng nghiệp và bạn đọc, kể cả trí thức, rất quý phục.

Thế là, về “trình độ thực”, ông là thầy nhưng về “trình độ hình thức”, ông là trò! Thật trớ trêu! Nhưng câu hỏi lớn đặt ra ở đây, không phải là, nhà báo kia có phải “kẻ sĩ” hay không mà là, ai đã đẩy ông đến chỗ phải làm như vậy? Trả lời câu hỏi này, cũng trớ trêu thay, viết cả trăm trang cũng được, mà không cần viết chữ nào, cũng được!

Rồi nhà báo trẻ này kể tiếp, anh chưa hề thấy bất kỳ một TS nào từ chối bằng cấp của mình khi thấy cả mình lẫn nó đều chưa xứng đáng và, anh đã “gặp vô số TS, cả GS và PGS nữa, nhưng đọng lại chỉ là nỗi băn khoăn: Cái gì đã cho họ tư cách riêng để có thể bàn về khoa học? Bởi điều kiện cần đầu tiên là “trình độ khoa học”, thì họ đã không có rồi!”

Cuối cùng, cái mà tôi trọng nhất ở nhà báo trẻ này là ở chỗ anh bảo: Nói thế, có lẽ nhiều TS sẽ nhún vai vì tôi đang “tự giễu nhại bằng cấp như bất kỳ một kẻ không bằng cấp nào khác”, nhưng “không sao cả”, vì “nói khác đi thì tôi e không thể!”. Chỉ có “kẻ sĩ” thật, mới dám chấp nhận đương đầu với những “phản biện của phản biện”, một cách cay đắng và hài hước như vậy!

*

Nhưng may quá! Nhà báo trẻ Nguyễn Hồng Lam không đơn độc, không thiếu bằng chứng.

– Ông Hà Văn Thịnh, giảng viên khoa Sử trường Đại học Huế, viết: Cái cách “đăng bài cho nhau” (trên các tạp chí khoa học xã hội- những khoa học mà ông “tương đối hiểu biết”), “đăng vì tình cảm và quan hệ”, “đăng mà chỉ có người có bài được đăng đọc”, “thực chất đang biến khoa học (XH) thành trò đùa dai bọt bèo”! Nhưng, ấy thế mà, tất cả các bài được đăng kiểu ấy lại “đương nhiên được tính điểm để xét phong tiếp học hàm”!

Tại sao chất lượng bài vở khoa học lại bị đánh giá thấp như thế? Ông Thịnh viết tiếp: “Rất nhiều bằng TS đều có xuất phát điểm là các đề tài ThS cũ, thày giáo cũ, kíp xét duyệt cũ”…. Rồi ông bảo: “Đó là chưa nói, đa số các chuyên đề đào tạo ThS chỉ là nâng cao “gọi là”- thực chất là thay tên, đổi họ cho những gì đã được giảng dạy thời … đại học”!

Hóa ra, trước hết người ta đã “mở toang cánh cửa” ngôi nhà ThS cho các cử nhân ùa vào, sau đó lại “mở toang cánh cửa” vào ngôi nhà TS cho các ThS/cử nhân ấy ùa vào lần nữa!

Thế thì, từ “trớ trêu” ở đây, có còn ôm hết nội dung hài hước của thực tiễn không?

Chính vì vậy, ông Thịnh cho biết: “Nước ta có hàng vạn TS, PGS, GS mà mỗi năm, số bài nghiên cứu được đăng tải trên các chuyên san uy tín quốc tế chỉ đếm trên đầu ngón tay”!

Cuối cùng, ông Thịnh nói giúp mọi người: “…Để cho nhiều TS thật khỏi phải ngơ ngác, đỏ mặt khi được xếp đứng bên các TS không được thật lắm, thì nhất thiết phải đổi thay!”.

– PGS.TS Trần Lê Hoa Tranh, Phó trưởng khoa Ngữ văn, Đại học Khoa học Xã hội TP. Hồ Chí Minh, dù dè dặt hơn, cũng viết: “Việc đào tạo ồ ạt TS như của một viện nào đó, không phải là thiểu số”, và “… Nói chung là, xã hội cần một cuộc cải tổ thật sự, từ gốc, gấp lắm rồi!” v.v…

*

Thêm vào, chỉ cần tham khảo vài tư liệu:

 – Cả nước ta hiện có hơn 24.000 TS.

– Có một viện khoa học nọ đào tạo 700 TS trong hai năm, bình quân ra, mỗi ngày, ở viện này “nở” ra một TS!

– Nhà báo Nguyễn Hồng Lam viết: “… chỉ sau một đêm, một trường cao đẳng, thậm chí là một trường trung cấp nghề ở địa phương, cũng có thể được nâng cấp, lột xác thành trường đại học!”.

Thế là, đã đâm cái lao “nâng cấp/ phổ cập đại học” thì phải theo cái lao ấy mà “đào tạo ồ ạt” ThS và TS rồi phong PGS/GS, đang là thực tiễn to tướng ở ta. Còn thực tiễn ấy có cần cho khoa học thật hay không? Có ai “đỏ mặt” vì nó hay không? Thì kệ đám “kẻ sĩ”! 

Đỗ Trung Lai Nguồn Văn nghệ số 30/2016

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.07.2016

CHỊU HẾT NỔI RỒI, FORMOSA!

  • CHỊU HẾT NỔI RỒI, FORMOSA!

Báo NLĐ- Cứ tưởng mọi hành vi sai phạm của Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa đã dừng lại sau khi doanh nghiệp này nhận tội đầu độc biển miền Trung khiến cá chết hàng loạt, nào ngờ họ hết làm sai dưới biển lại làm bậy trên bờ.

 

Ngày 15-7, người ta thấy bóng dáng của “Vedan thứ hai” thông qua hình ảnh một ống xả ngầm được Formosa lén đặt, nối từ bên trong nhà máy ra ngoài mương thoát lũ của phường Kỳ Phương, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh và bị buộc phải đào lên, cắt bỏ. Formosa nói đó là ống xả nước thải sinh hoạt nhưng rõ ràng là không ai tin. Nếu có là nước thải sinh hoạt đi nữa thì cũng phải xin cấp phép về môi trường, đủ tiêu chuẩn các chỉ số hóa – lý rồi mới được đấu nối và xả vào hệ thống chung. Mà nước thải sinh hoạt thì sao lại xả lén, giờ sao phải gỡ lên? Hành vi của Formosa quả thật mờ ám, cần phải làm rõ chứ không chỉ buộc cắt ống rồi thôi.

Đáng chú ý, đường ống ngầm đặt lén này là do người dân phát hiện, trình báo lực lượng chức năng chứ không phải do cơ quan tài nguyên – môi trường (TN-MT) của địa phương phanh phui. Chẳng muốn nghĩ đến tình huống xấu này nhưng không thể không đặt vấn đề: Có khi nào cơ quan TN-MT sở tại “bật đèn xanh” cho Formosa làm bậy?

Nghi vấn như thế bởi xâu chuỗi hàng loạt vụ việc, thấy sự tắc trách của các cơ quan TN-MT tỉnh Hà Tĩnh mang tính hệ thống. Nghiêm trọng nhất là chuyện súc xả của Formosa như đã công bố hôm 30-6. Rồi vụ Công ty Môi trường đô thị thị xã Kỳ Anh ký hợp đồng xử lý 267,83 tấn chất thải cho Formosa nhưng đem vào chôn trong trang trại của ông giám đốc công ty này. Và mới nhất, tày trời hơn, theo báo cáo ngày 15-7 của Sở TN-MT tỉnh Hà Tĩnh, từ tháng 8-2015 đến nay, Công ty Môi trường đô thị thị xã Kỳ Anh đã ký hợp đồng với Công ty TNHH Môi trường Phú Hà đưa về Phú Thọ xử lý đến 145,5 tấn chất thải nguy hại của Formosa (Sở TN-MT tỉnh Phú Thọ cùng ngày bảo số chất thải đó là… thùng phuy?!).


Số chất thải của Formosa được chở đến tập kết tại trang trại của giám đốc Công ty Môi trường đô thị ở Hà Tĩnh

Số chất thải của Formosa được chở đến tập kết tại trang trại của giám đốc Công ty Môi trường đô thị ở Hà Tĩnh

Những cái sai của Công ty Môi trường đô thị thị xã Kỳ Anh đã rõ: thiếu chức năng xử lý chất thải công nghiệp thông thường và chất thải nguy hại nhưng vẫn tiếp nhận, vận chuyển, xử lý. Còn Formosa, theo Sở TN-MT tỉnh Hà Tĩnh, thì vừa sai vừa coi thường pháp luật: Ký hợp đồng vận chuyển, xử lý bùn thải với đơn vị không có chức năng xử lý bùn thải; không giám sát hoạt động xử lý bùn thải tại hiện trường, vì thế mà bên được thuê muốn đưa chất thải đi đâu thì đưa… Vậy mà, cũng trong ngày 15-7, Formosa có văn bản gửi các cơ quan chức năng chối bỏ mọi trách nhiệm về vụ việc này.

Là đơn vị chuyên trách về môi trường mà còn làm sai pháp luật về môi trường thì đừng hy vọng họ công tâm, minh bạch; đừng hỏi vì sao không thấy bóng dáng các cơ quan TN-MT tỉnh Hà Tĩnh ngay từ đầu mà chỉ thấy chạy theo giải quyết phần ngọn. Mà mọi chuyện diễn ra giữa thanh thiên bạch nhật chứ có bí mật, tinh vi gì đâu!

Chịu hết nổi rồi, không thể khoan thứ nữa. Những hành vi kể trên đều đã có dấu hiệu hình sự. Các cá nhân, đơn vị tàn sát môi trường phải trả giá đích đáng!

Dương Quang

(Đọc tiếp…)

Ảnh chụp hộ chiếu ghi rõ Quốc tịch Malta của bà Nguyễn Thị Nguyệt Hường, được cấp ngày 22/6/2016 do Văn phòng Hộ chiếu Malta cấp. (Nguồn: FB Tuyen Nguyen Chung)

Ảnh chụp hộ chiếu ghi rõ Quốc tịch Malta của bà Nguyễn Thị Nguyệt Hường, được cấp ngày 22/6/2016 do Văn phòng Hộ chiếu Malta cấp. (Nguồn: FB Tuyen Nguyen Chung)

“Có cung ắt có cầu”, Chương trình Nhà đầu tư cá nhân (MIIP) được Malta lập ra để thu hút nguồn tiền từ nước ngoài, vừa mang lại lợi ích kinh tế cho Malta, vừa đáp ứng nhu cầu hợp thức hóa, cất giấu tài sản ở Malta của các tay tài phiệt, đi kèm với các khoản tiền nộp và cam kết đóng góp tài chính khổng lồ dài hạn. Để thực hiện chương trình này, từ tháng 02/2014, đảo quốc Malta đã cho phép hoạt động mua bán quốc tịch, hiểu nôm na có tiền là có quốc tịch.

Hiện trên mạng xã hội đang lan truyền các hình ảnh hộ chiếu của bà Hường và gia đình mang quốc tịch Malta gây bức xúc cộng đồng mạng. Các hộ chiếu đều ghi rõ tên tuổi, số hộ chiếu và thời gian do Văn phòng Hộ chiếu Malta cấp cho bà Hường và gia đình.

13781877_287304188291056_6981225061071940937_n

Ảnh chụp hộ chiếu ghi rõ Quốc tịch Malta của chồng bà Nguyệt Hường – ông Trần Anh Tuấn được cấp ngày 22/6/2016 bởi Văn phòng Hộ chiếu Malta. (Nguồn: FB Tuyen Nguyen Chung)

13737518_287304191624389_2808824053124960864_o

Ảnh chụp hộ chiếu ghi rõ Quốc tịch Malta của con trai bà Hường – Trần Anh Đức, được cấp ngày 22/6/2016 bởi Văn phòng Hộ chiếu Malta. (Nguồn: FB Tuyen Nguyen Chung)

Theo tiết lộ của một số nguồn tin đáng tin cậy, bà Hường đã chi hàng chục triệu EURO để nhập quốc tịch cho các thành viên gia đình, thành lập công ty tại Malta, mua bất động sản, trái phiếu và chuẩn bị các khoản đầu tư khổng lồ (thực chất là tiền bẩn) vào quốc đảo này.

Đáng lưu ý, theo quy định của Malta, bà Hường phải cư trú liên tục 12 tháng ở quốc đảo này trước khi nhập quốc tịch. Với thời lượng cư trú tại Malta dài như thế, không hiểu thời gian đâu để bà Hường có mặt tại Quốc hội để bảo vệ quyền lợi của những cử tri đã bầu chọn bà? Trong khi, người dân còn đang phải sống trong cảnh đói khổ, lam lũ với bao nhiêu bức xức cần bảo vệ và giải quyết, thì bà Nguyệt Hường (đại diện tiếng nói của cử tri) lại lo đem tiền của tẩu tán ra nước ngoài, thề trung thành tuyệt đối với nhân dân và nhà nước Malta!. Phải chăng tư cách ĐBQH chỉ là công cụ, là “vỏ bọc hoàn hảo” để bà hưởng quyền miễn trừ truy cứu trách nhiệm, trục lợi cá nhân?

Ngoài việc vi phạm luật pháp Việt Nam (Điều 4, Luật Quốc tịch), hành động của bà Hường còn đặt ra câu hỏi lớn về số tài sản khổng lồ rót vào Malta hình thành từ đâu? Hay đây là những thủ đoạn hợp pháp hóa các “khoản tiền bẩn” (rửa tiền) mà bà đã vơ vét của nhân dân Việt Nam, nay cố tẩu tán ra nước ngoài, tránh bị phát hiện và xử lý pháp luật, như trường hợp cựu ĐBQH Châu Thị Thu Nga?

Đề nghị các cơ quan chức năng nhanh chóng vào cuộc điều tra những hoạt động mờ ám cũng như nguồn gốc số tài sản khổng lồ của bà Hường và gia đình.

Nguồn: FB Tuyen Nguyen Chung

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.07.2016

Luật cho quan, luật cho dân?

Luật cho quan, luật cho dân?

authorNguyễn Tường 

(Dân Việt) Diễn biến ở nhiều vụ tố tụng, găm vào dư luận một cảm giác rằng các cơ quan tư pháp rất nhiệt tình truy bức dân và nhiệt tình gỡ tội cho cán bộ.

Trong vòng vài ngày, hai thanh niên lãnh án tù giam vì cướp bánh mì, cùng lúc lãnh đạo Vinaconex được miễn tố và 45 vị cán bộ ngân hàng gây thất thoát 9.000 tỷ đồng  “ung dung” ra tòa. Giữa những ý kiến trái chiều, dư luận nghiêng hơn về nỗi hoang mang về một cái “lệ” cao hơn luật: Luật cho quan khác luật cho dân.

Câu chuyện hai thanh niên 18 tuổi tên Tuấn và Tân cướp giật ổ bánh mì cùng vài thứ lặt vặt, tổng giá trị 45 nghìn đồng, bị TAND quận Thủ Đức, TP.HCM tuyên án lần lượt 10 tháng và 8 tháng 20 ngày tù, xin không nhắc lại. Cùng thời điểm, sai phạm tại Vinaconex không bị khởi tố, cũng không cần phải nhắc lại. Điều đáng nói nhất là sự tương phản cực lớn khiến dư luận phản ứng gay gắt. Thậm chí, phần đông ý kiến đều cho rằng có sự thiên lệch quá lớn về mặt tố tụng giữa các vụ việc, mà xuất phát điểm lại do địa vị xã hội.

 luat cho quan, luat cho dan? hinh anh 1

Hai thanh niên đã bị tuyên án tù vì hành vi cướp bánh mì, đậu phộng tổng giá trị 45.000 đồng.

Sự thiên lệch rõ ràng ở chỗ, hai thanh niên giật ổ bánh mì vì đói bị bắt ngay lập tức còn 5 quan chức Vinaconex là tác giả của 18 lần vỡ đường ống nước Sông Đà không bị khởi tố. Lý lẽ của HĐXX “hai tên cướp” bánh mì là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Đây là phần thiếu thuyết phục nhất bởi vì rõ ràng Tuấn và Tân không sử dụng bạo lực, không hung khí hoặc khống chế. Nguy hiểm (nếu có) sẽ xảy đến với chủ tiệm bánh mì, bản thân người này cũng đã làm đơn xin giảm tội cho các bị cáo. Và chắc rằng, trong bản án đanh thép của TAND quận Thủ Đức, đã bỏ qua yếu tố nhân văn nhất là cơn đói bụng cộng với tính bốc đồng của tuổi trẻ, khi nhận thức pháp luật còn non kém. Và một trong hai, phạm tội lần đầu.

Thế còn Vinaconex? Một sai phạm lặp lại tới 18 lần vẫn được cho là “vi phạm lần đầu” để miễn khởi tố, không thể thuyết phục được dư luận. Và rõ ràng, yếu tố gây nguy hiểm cho xã hội trong vụ việc này, lớn hơn gấp vạn lần vụ ổ bánh mì. Quan điểm của nhiều luật sư, chuyên gia tư pháp cũng chỉ rõ,hành vi của lãnh đạo Vinaconex có thể bị truy tố ở khung hình phạt 8 đến 20 năm tù. Nhưng họ vẫn bình an vô sự, được miễn tố vì “khai báo thành khẩn, hợp tác làm rõ bản chất vụ án, có nhân thân tốt, có nhiều đóng góp cho ngành xây dựng”. Càng vô lý hơn, đây là những điểm không nằm trong quy định được miễn truy tố, quy định trong Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tương tự như các vụ án trước đây. Khi hai người đàn ông ở Kontum phải vào tù vì bắt một con vịt thì một bí thư huyện ủy ở Cao Bằng lái ô tô đâm chết 3 người vẫn được hưởng án treo. Khi ông chủ quán Xin Chào và người dựng lều vịt suýt mang thân phận những người tù thì những cán bộ “tác giả” của vụ án oan Huỳnh Văn Nén vẫn ung dung giữa cuộc đời, mặc cho tiếng kêu bi thương của một con người 17 năm cay đắng, oan trái trong tù.

Sự thiên lệch vượt ra khuôn khổ của các bản án, thành những cái lệ vô hình rất nguy hiểm. Ví dụ như người tù thế kỷ Huỳnh Văn Nén từng được yêu cầu phải trình…hóa đơn chi phí trong những ngày đi kêu oan. Trong khi ở thái cực khác, Dương Chí Dũng phạm tội tày đình vẫn được ăn lương đều đặn trong 2 năm… ngồi tù.

Diễn biến ở nhiều vụ tố tụng, găm vào dư luận một cảm giác rằng các cơ quan tư pháp rất nhiệt tình truy bức dân và nhiệt tình gỡ tội cho cán bộ. Cùng một thân phận bị cáo, nhưng hai thanh niên cướp bánh mì chống đói ngơ ngác, rúm ró còn 45 cán bộ ngân hàng bình thản, trâng tráo, sắc lạnh trước vành móng ngựa. Một loạt đại án khác, cán bộ đến tòa còn vui vẻ, cười tươi như trẩy hội. Đó không phải là tâm thế của kẻ bị trừng phạt, mà nó gợn lên một sự thỏa hiệp, một vòng bảo vệ vô hình nào đó.

Sự tương phản giữa vụ án ổ bánh mì, Vinaconex hoặc 9.000 tỷ khiến dư luận day dứt rằng luôn có tính thân phận xã hội trong mỗi vụ án. Những vụ tố tụng theo chiều tương phản như vậy, cho dù dân có tin hay không tin, thì hiện thực vẫn cứ tồn tại hiện tượng “một bản án cho quan và một bản án cho dân”. Điều này phá vỡ nguyên tắc lõi của pháp luật là công bằng và bình đẳng. Mất đi giá trị cốt lõi đó, pháp luật sẽ trở nên vô dụng trong việc duy trì trật tự xã hội.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.07.2016

DANH HIỆU THI ĐUA, TRANG SỨC DỔM

IMG_0214

DANH HIỆU THI ĐUA, TRANG SỨC  DỔM

 Ngô Minh

 QTXM: Chuyện ông Trịnh Xuân Thanh làm Chủ tịch HĐQT công ty Xây lắp dầu khí  3 năm liền chạy được 2 tấm huân chương và một danh hiệu Anh hùng thời đổi mới, rồi thua lỗ 3.000 tỷ đã được báo chí phanh phui. Việc này ở nước ta phổ biến. Nhân việc này  QTXM xin in lại bài DANH HIỆU THI ĐUA, TRANG SỨC  DỔM để mọi người cùng chia sẻ tình trạng “thi đua- thua đi” hiện nay

*****

, TrNam.nét,   Trên Vietnam Nét có bài viết ” Có nên bỏ thi đua?”. tôi rất đồng tình với ý kiến bỏ thi đua.. Vì từ lâu rồi tôi ghét cay ghét đắng chuyện thi đua ở xứ mình, vì thi đua là “chạy, mua thành tích”, nó như một thứ trang sức dởm. Tác giả Đinh Việt Bình viết rất đúng rằng :”Tại nhiều quốc gia trên thế giới, không hề thấy phong trào thi đua, không hề thấy khẩu hiệu “Ra sức…”, “Quyết tâm phấn đấu…” nhưng cái gì của họ cũng tốt, trong đó có sản phẩm đại học. Riêng về giáo dục đại học thì ngay cả các nước trong khối ASEAN cũng đã bỏ xa Việt Nam. Từ lâu, người Việt mình đâu đâu cũng nghe: “Người người thi đua, ngành ngành thi đua”. Và luôn được quán triệt: ” Thi đua là yêu nước, yêu nước phải thi đua”… Nhưng mà….Chỉ trong ngành giáo dục, nơi tôi gắn cả cuộc đời, được chứng kiến nhiều phong trào thi đua, như phong trào thi đua Hai tốt – Dạy tốt, Học tốt… Rồi bỗng dưng một ngày đẹp trời cách đây không xa lại được quán triệt: ” Nói không với bệnh thành tích“. Bệnh! Đã là bệnh thì…nguy rồi. Nói không là điều rất nên. Nhưng mà đâu lại vào đấy”.  Tác giả Đinh Việt Bình chỉ ra một số dẫn chứng trong ngành giáo dục để chứng minh rằng: Thành tích, danh hiệu thi đua là cái không thực chất !

 

Vậy thi đua mang lại gì cho sự phát triển của nước Việt Nam mới ? Xin thưa: Không mang lại cái gì cả, chỉ mang lại bệnh thành tích ngày càng trầm trọng mà thôi. Và sự dối trá đã lên đến độ hơn cả chú cuội. Từ đó ảnh hưởng rất lớn đến việc giáo dục con trẻ, vì chúng sẽ  bị nhiễm  thói dối trá từ bé. Vì thế dân gian mới có rất nhiều câu ca dao về chuyện thi đua rất  sâu sắc :” Thi đua ta quyết tiến lên hàng đầu. Hàng đầu rồi tiến đi đâu. Đi đâu không biết hàng đầu tiến lên”, hay :” Thôi, tôi không dám anh hùng, anh hùng là những thằng khùng thằng điên”,v.v..

 

Từng làm tuyên huấn, báo chí trong quân đội nhiều năm ở chiến trường B2, tôi hiểu rằng, muốn có “anh hùng”, “chiến sĩ thi đua”, “dũng sĩ diệt Mỹ”.v.v..thì phải “xây dựng”. Thành tích một thì “xít” lên 10 để cho “kêu”, để cho trên duyệt và để…tung lên dư luận, để kích động, động viên chiến sĩ xông vào cái chết ! Đơn vị này có “anh hùng”,”dũng sĩ”, thì đơn vị kia cũng phải có. “Con gà tức nhau tiếng gáy” mà. Thể là phải đi tìm cho ra “cốt cán” để xây dựng “điển hình tiên tiến”. Bên Sông Sài Gòn năm 1973, có anh bộ đội tên là Đặng Văn Minh, quê Hải Dương, mang súng B40. Trong trận đánh cứ điểm , anh ta bắn cháy một chiếc xe  tăng địch. Chính trị viên tiểu đoàn quyết định báo cáo thành tích của Minh lên Trung Đoàn để xin thưởng “Huân chương chiến công”, “Dũng sĩ diệt xe tăng”. Tôi lúc đó là “nhà báo của sư đoàn”, được phân công về viết về gương chiến sĩ chiến đấu dũng cảm cho “Bản tin Sư đoàn”. Tôi đạp xe một mình vượt trăm cây số đường rừng về tận đại đội của Minh. Gặp Minh, tôi hỏi theo sách vở : “khi gặp địch , anh đã xác định tư tưởng quyết chiến như thế nào ?” . Minh cầm tay tôi khóc và van xin :” Anh ơi, anh tha cho em. Anh đừng viết về em. Em lạy anh. Anh mà viết, in lên báo, mẹ em ở ngoài Bắc mà đọc được thì khóc hết nước mắt. Mẹ em hay đọc báo Quân Đội nhân dân lắm. Em chẳng quyết bắn gì đâu. Em định trốn vào bụi. Nhưng chiếc xe tăng nó cứ càn về phía em. Em sợ nó nghiến nát mình. Em hoảng hồn, đành nhắm mắt bóp cò. Thế là nó cháy. Anh đừng viết anh nhé. Em sợ lắm, mẹ em mà đọc được…”

 

Nghe Minh vừa khóc vừa kể, tôi cũng khóc theo. Tất nhiên là tôi không viết về gương chiến đấu đó. Nhưng Minh vẫn được phong tặng nhiều thứ danh hiệu lắm…. Tôi nghe nhiều người kể, mẹ Suốt anh hùng chèo đò trên sông Nhật Lệ xưa cũng thế thôi. Bộ đội và người dân qua đò. Chuyện thường nhật. Bữa đó máy bay Mỹ lao tới bắn con đò. Không chèo cũng chết, mà chèo cũng chết. Thôi thì liều. Mẹ cắn răng chèo đưa khách sang sông. Mặt tái mét. Thế là Mẹ được tôn vinh anh hùng đã chèo đò trong bom đạn đưa bộ đội sang sông…

 

Không chỉ thêm thành tích cho kêu mà còn bịa ra, dựng khống lên các anh hùng , như chuyện bịa ra anh hùng đuốc sống Lê Văn Tám tẩm xăng đốt mình cháy rực rồi lao vào kho xăng giặc Pháp, như nhà sử học Trần Huy Liệu đã tự thú. Hay là anh hùng Nguyễn Văn Bé cũng không có thật trong thực tế chiến trường.v.v..

 

Chuyện “thi đua” thời đổi mới bây giờ càng cười ra nước mắt. Tất cả các doanh nghiệp nhà nước được tuyên dương anh hùng, giám đốc của nó dều được anh hùng theo. Nhiều giám đốc “anh hùng” , mà nhờ tham nhũng nên giàu sụ. Thế là được cả tiếng, được cả miếng. Không có người đi vượt biên gửi về, ông giám đốc cũng chi hàng mấy chục tỷ để xây dựng một khu lăng tẩm của ông bà tiên tổ, làm thiên hạ lác mắt. Tôi có anh bạn vong niên làm giám đốc một khách sạn nhà nước. Những năm sắp hưu trí, tôi thấy anh mời tôi đến dự đón huân chương liên tục. Năm trước Huân chương  lao động hạng Ba, năm sau lại đón hạng hai. Hai năm sau cơ quan anh lại rầm rộ  tổ chức cuộc đón Huân chương Lao động hạng Nhất. Cả cơ quan thi đua tỉnh ăn uống no say, vỗ tay rôm rốp. Cờ xí rợp sân khách sạn. Tôi rỉ rả hỏi anh :” Mần răng mà được Huân chương liên tục rứa ?”. Anh cười :” Có chi mô. Chạy là được tất. Chạy gan trời cũng được, chứ Huân chương là cái đinh gì !” Rồi anh kể chuyện chạy Huân chương , nghe vui lắm. Đầu tiên là Công ty tự làm một bản thành tích. Xong, mời mấy anh chuyên viên bên Ban thi đưa tỉnh về góp ý. Mấy anh góp ý nên thêm cái này, thêm cái kia…cho nổi bật. Xong ,chiêu đãi, rồi mỗi người được cái phòng bì mang về. Sau khi thành tích được Ban thi đưa tỉnh trình lãnh đạo tỉnh ký, lại liên hoan , lại phong bì đậm. Sau đó bao lộ phí cho anh chuyên viên thi đưa tỉnh đi cùng cán bộ khách sạn ra Hà Nội, đến nộp hồ sơ cho Ban thi đua Trung ương. Chỉ cần mời bữa nhậu ở nhà hàng kín đáo, phòng bì dày hơn tí, danh sách thi đua sẽ được trình lên chủ tịch nước duyệt. Chủ tịch nước thì chỉ biết ký, làm sao mà qua mặt Ban thi đưa Trung ương được ? Ba lần chạy là  được Huân chương Lao động ba hạng ba, nhì, nhất liền. Tất nhiên đơn vị được huân chương thì  giám đốc cũng được huân chương. Dễ ợt.  Thi đua biến tướng đến mức, một nhà văn ở Huế tâm sự với tôi :” Trong danh sách  đề nghị lên chủ tịch nước tặng giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật , khoa học kỹ thuật năm 2012 rồi, không ít người là lãnh đạo các vụ ở Bộ này, bộ khác, chẳng có mấy thành tích chuyên môn “. Thì họ dại gì mà không “chạy”. Có cái “Giải thưởng Nhà nước” cũng như bỏ tiền ra mua cái bằng tiến sĩ ấy mà, tắt cả đều là trang sức cả thôi, mà là trang sức dởm mới buồn.

 

Có ông bí thư tỉnh ủy tỉnh nọ, được làm “vua một tỉnh “  hai khóa liền sướng rồi, lại là Trung ương ủy viên, nghĩa là chức tước sang trọng ngất trời rồi, lại giàu có, nhà cửa tòa ngang dãy dọc, mỗi ngày có một tiểu đội người chuyên chăm sóc  sửa sang vườn tược, cây cảnh, sửa chữa nhà trên nhà dưới . Bí thư hàng đêm xách súng cùng đám tùy tùng lên xe Zép đi lên núi săn, Có lần ông bí thư trong đêm bắn phải trâu của đồng bào dân tộc, tỉnh phải lấy tiền ngân sách ( tức tiền thuế của dân)  ra mua trâu bồi thường cho dân bản, nếu không thị sẽ bị dân xử theo luật lệ của bản làng, tức luật rừng “ thân đổi trâu”. Cugnx có ông  Bí thư tỉnh ủy đang sống đế vương tỉnh lẻ, bí thư bỗng dưng thích có được cái danh hiệu anh hùng. Đó là chuyện ông Hồ Xuân Mãn “anh hùng”. Đây là vụ điển hình nhất của  danh hiệu thi đua dởm. Ông Hồ Xuân Mãn, 2 nhiệm kỳ Ủy viên Trung ương Đảng, 2 nhiệm kỳ Bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên Huế (2000-2010). Trong Đại hội thi đua yêu nước tỉnh Thừa Thiên – Huế lần thứ ba vào ngày 21.8.2010, ông Hồ Xuân Mãn được trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân.. Đây là vinh dự lớn không chỉ của ông Mãn mà đối với toàn thể nhân dân Cố đô Huế.  Nhưng các cựu chiến binh huyện Phong Điền (quê ông Mãn) cùng chiến đấu với ông Mãn ngày xưa phát hiện ra ông Mãn gian dối, khai láo, không chịu được đã làm đơn tố cào gửi lên Trung ương: “Trong 17 thành tích mà ông Mãn khai để được anh hùng chỉ đúng có 2. Nhưng 1 trong 2 thành tích ấy đúng lại gây hậu quả xấu. Và 15 thành tích còn lại đều là bịa đặt, gian dối”.  Ngày 2.1.2014, đoàn công tác Ủy ban Kiểm tra (UBKT) Trung ương (T.Ư) Đảng có buổi làm việc thông báo kết luận với nội dung: Ban thi đua – khen thưởng T.Ư báo cáo các cơ quan chức năng Nhà nước có thẩm quyền xem xét hủy bỏ quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng và thu hồi hiện vật, tiền thưởng của ông Mãn; đồng thời UBKT T.Ư chỉ đạo các cơ quan liên quan kiểm điểm làm rõ trách nhiệm và xử lý theo quy định đối với các tổ chức, cá nhân có liên quan đã để xảy ra các vi phạm, khuyết điểm trong việc xét đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng cho ông Mãn. Theo kết luận của UBKT T.Ư, 17 thành tích mà ông Mãn khai chỉ đúng có hai. Tuy nhiên, một trong hai thành tích lại gây hậu quả xấu, đó là diệt giặc nhưng làm tổn hại đến cách mạng, nhân dân địa phương.   Như vậy, 15 thành tích còn lại ông Mãn khai đều là bịa đặt, gian dối như: đã tự tổ chức đơn vị đánh gần 100 trận, diệt 150 tên Mỹ – Ngụy, phá hủy 1 máy bay, 37 xe quân sự (1969-1975); dẫn đường cho Quân đoàn 2 giải phóng Huế và truy quét ngụy quân, ngụy quyền… Thành tích “láo” đồng nghĩa với những tặng thưởng cũng được nghi vấn là giả mạo: 33 lần được tặng Dũng sĩ diệt Mỹ; Chiến sĩ thi đua; các Huân chương Chiến công, Giải phóng; Kháng chiến các hạng…

 

       Kết quả trên gây chấn động dư luận, nhưng không làm mọi người bất ngờ bởi chuyện danh hiệu Anh hùng của ông Mãn đã bị nghi ngờ và tố cáo từ lâu. Gần 20 cựu chiến binh, cán bộ hưu trí là những “nhân chứng sống”, những đồng đội, có người là chỉ huy của ông Mãn tố cáo ông cựu bí thư khai man, bịa đặt, cướp công đồng đội để được phong tặng danh hiệu Anh hùng.  Một anh hùng dỏm bị tước danh hiệu, gây chấn động đất cố đô và cả nước!.

 

Tôi đã từng nghiên cứu tài liệu, gặp gỡ những chiến sĩ tàu không số Q125 Hải Quân Việt Nam ba tháng liền để viết  tập ký sự “Cổ tích tàu không số”. Thành tích chiến đấu vượt đại dương hiểm nguy vô vàn của các chiến sĩ tàu không số đều gấp trăm ngàn lần ông Bí thư tỉnh nọ hay ông hai lần Ủy viên Trung ương Đảng Hồ Xuân Mãn. Nhưng đơn vị tàu không số cả ngàn  chiến sĩ , vượt đại dương tới 14 năm ròng chở vũ khí vào tận Cà Mau, thế mà 50 năm qua, chỉ 14 thuyền trưởng và thủy thủ được tuyên dương anh hùng. Vì sao vậy ? Vì họ đã hy sinh, không ai “chay danh hiệu cho”. Vì sao vậy ? Vì họ bây giờ là người lao động nghèo khổ ở thôn quê , không có tiền để “chạy danh hiệu” như ông bí thư tỉnh ủy. Ngẫm chuyện mà buồn thúi ruột.

 

Cuộc đời viết văn, làm báo của tôi có hai kỷ niệm về danh hiệu thi đua buồn nhức nhối. Một lần, năm 2000, tôi đã về tận xã Quảng Công, huyện Quảng Điền bên kia phá Tam giang để lấy tư liệu viết bài “Ông tổ nghề nuôi tôm trên Phá Tam Giang” Phan Thế Phương . Bài báo được in trên báo An ninh thế giới. Sau đó, tôi nghe các anh bên Sở Thủy sản tỉnh Thừa Thiên Huế ( nơi anh Phương làm việc trước đây) kể rằng, sau khi bài báo được đăng, Chủ tịch nước đã đọc được bài báo, thấy anh Phương anh hùng quá, nên điện sang hỏi Ban thi đưa Trung ương :” Anh Phan Thế Phương này  thành tích lớn thế , được phong anh hùng chưa ?”. Thế là Ban thi đua Trung ương điện vào  hỏi Ban Thi đưa tỉnh :” Sao ông Phan Thế Phương lăn lộn cùng dân nuôi tôm giỏi thế mà không có bản thành tích đề nghị phong tặng Anh hùng?…”. Ban Thi đua tỉnh mới trả lời:” Bản thành tích anh Phương chúng tôi đã gửi cách đây mấy năm rồi…”, Thôi thì làm lại hồ sơ. Nhờ thế , anh Phan Thế Phương mới được phong danh hiệu anh hùng năm 2002. Nếu không chắc anh không bao giờ được phong anh hùng, vì anh mất rồi, vợ con lại nghèo, không có người “chạy giúp”.

 

Chuyện thứ hai là trường hợp anh Lại Đăng Thiện ở xã Nghĩa Bình, huyện Tân Kỳ, Nghệ An. Anh Thiện đi bộ đội năm 1965, khi mới 18 tuổi. Anh ở tiểu đoàn công binh Quân khu 4, đã 2 lần được truy điệu sống để lái ca nô kích nổ bom từ trường, thông đường đưa bộ đội và súng đạn qua sông suốt địa bàn Quân khu 4. Bản thân anh đã kích nổ hàng ngàn quả thủy lôi, bị thương tật. Anh đã được làm hồ sơ để tuyên dương anh hùng, đã có thông báo “sắp công bố”. Rồi bỗng dưng vì một lý do vớ vẩn , ai đó vu lên rằng ở làng anh là con địa chủ, thế là người ta dừng lại . Chẳng cần về làng kiểm tra. Mà gia đình anh thì nghèo rớt mùng tơi. Thế là khi hết chiến tranh, anh Thiện được ra quân, Không có lương bổng gì, phụ cấp thương binh cũng không . Anh xin đi học y tá. Học xong anh về xã đỡ đẻ cho 400 cháu bé ra đời. Khi buồn nghĩ đến  chuyện cũ anh lại lại thơ nhớ đồng đội. Đến nay anh đã xuất bản được một tập thơ. Một tập nữa đang xin giấy phép. Tôi viết bài báo về anh có tựa đề là “ Người anh hùng chưa được tuyên dương” in báo Văn Nghệ. Tôi còng viết bài thơ Uống với Lại Đăng Thiện :


 
rót thêm chén nữa hỡi chiều
đò Rô hổn hển như diều đứt dây
sông Con sấp ngửa vơi đầy
say nhau tìm tận góc này nhân gian

ừ, thêm chén nữa, cười khan
đã truy điệu sống chưa tàn cuộc chơi 
đỡ trăm em bé ra đời
trắng tay trắng mắt trắng trời … còn thơ
 
rót thêm chén nữa, ơ hờ
non non nước nước bao giờ cho khuây
bao nhiêu đồng đội vùi thây
mình may còn sống trắng tay, vẫn là…

ừ thêm chén nữa, a ha
sang hèn chi cõi ta bà ẩm ương
mốt mai còn mấy đoạn trường
đắng cay là chén vô thường.
Thiện ơi…

 

Năm 2009, tôi cắt bài báo đó, cùng bức thư tâm huyết, gửi ra Ban thi đua Trung ương, kính đề nghị Ban “thử một lần cử người đi về cơ sở, trực tiếp thẩm tra, lập hồ sơ phong anh hùng cho anh Lại văn Thiện”. Nhưng khoảng tháng sau, tôi nhận được thông báo của Ban thi đua Trung ương “đã chuyển thư của anh về đơn vị cũ của anh Thiện ở Quân Khu Bốn”. Thế là từ đó đến nay người anh hùng đích thực đó chẳng ai ngó ngàng gì. Buồn thế đó, thi đua ơi là thi đua !

 

Cho nên, theo tôi đừng nên biến danh hiệu thi đưa thành thứ trang sức dởm. Nên bỏ việc phát động thi đua. Bỏ hết bộ máy thi đua từ trung ương đến địa phương. Vì đó đã trở thành chỗ “xin-cho” danh hiệu. Chỉ giữ lại vài  người  làm chuyên viên ở Văn phòng Chủ tịch nước , để khi nào có những  công dân, sinh viên có thành tích đột xuất, nổi bật, được cả nước biết đến thì viết bằng khen tặng trực tiếp, như khen cho giáo sư toán Ngô Bảo Châu, như nghệ sĩ  dương cầm Đăng Thái Sơn vậy.

 

Các nước Mỹ, Anh…và nhiều nước trên thế giới họ đều làm thế cả.

 

 

 

 

Đọc lại “La Sơn Phu Tử” của Hoàng Xuân Hãn

  • Cao Huy Thuần
  • GS  CAO HUY THUẦN
 Bác Hãn – xin được gọi như vậy như đã gọi lúc Bác sinh thời – viết lời Tựa cho tác phẩm “La Sơn Phu tử” vào tháng 5 năm 1945, ba tháng trước Cách Mạng Tháng Tám, lúc mà Bác là nhân vật chủ chốt được vua Bảo Đại mời vào Huế để cùng với một số trí thức danh tiếng khác bàn việc thành lập Chính phủ Trần Trọng Kim, chấm dứt chế độ thuộc địa Pháp. Trong thời gian ấy, quân đội Nhật vẫn nắm giữ thực quyền nhưng tuyên bố ủng hộ Việt Nam độc lập, thống nhất. Pháp chưa đi hẳn, Nhật còn ở lại, chiến tranh giữa phe Đồng Minh và Nhật đã sắp đến hồi ngã ngũ, tương lai Việt Nam chưa biết trôi về đâu, nền độc lập vừa tuyên bố chỉ mới có giá trị trên lý thuyết. Tuy vậy, ai mà không thấy hừng lên một chân trời sáng sau 80 năm mịt mù nô lệ?

Vua Bảo Đại nói gì với bác Hãn và với ông Trần Trọng Kim khi hội kiến? Câu nói mà bác Hãn ghi nhớ nhất là: “Từ trước đến giờ, các anh muốn nước Việt Nam độc lập, bây giờ có cơ hội thì lại chối, mình không chịu độc lập, thế rồi sau này nói thế nào?” (1). Theo bác Hãn, câu nói ấy đã thuyết phục được ông Trần Trọng Kim. Bác Hãn thì khỏi cần phải thuyết phục, chính Bác đã tích cực nhận lãnh trách nhiệm đề cử người vào chính phủ đầu tiên trước tháng Tám.

Tóm tắt tình thế là như vậy để hiểu tâm trạng của Bác khi Bác hạ một câu kín đáo xót xa trong bài Tựa: “Vả bây giờ, nước ta đương qua một thời kỳ biến, nền độc lập mới xây. Từ hồi Pháp thuộc, đến lúc thoát ly, có nên xuất, xử thế nào, cũng có lắm người nghị luận. Họa chăng gương Phu tử sẽ đủ cho người soi”.

Soi ai? Soi Bác. Soi cái gì? Soi lẽ xuất xử. Tại sao? Vì dư luận phân tán. Dư luận thời trước đã phân tán trên thái độ xuất xử của Phu tử. Dư luận thời nay còn có thể phân tán hơn trên thái độ xuất xử của Bác. Và duyên cớ sâu xa gì khiến cho dư luận phân tán? Tính chính đáng của quyền lực đương thời. “Nền độc lập” mà Bác nói ở trên là độc lập khi Nhật chưa đi. Đây là sợi chỉ đỏ nối kết hai trường hợp: của nhân vật trong sách và nhân vật viết sách. Nói một cách khác, bác Hãn mượn sử để bày tỏ nỗi lòng. Một nỗi lòng u uẩn không khuây.

Về nỗi lòng của nhân vật Nguyễn Thiếp, bác Hãn đã phân tích tường tận. Chúng tôi ngày nay chỉ xin trình bày thêm chút ít ý kiến thô thiển, hạn chế vào cái sợi chỉ đỏ vừa nói ở trên. Tôi nghĩ: La Sơn Phu tử là khổ nhân của ba áp lực. Áp lực thứ nhất là chứng bệnh vĩ cuồng, nói nôm là điên. Dù bệnh có khi dài vài tháng, có khi ngắn vài ngày, một chứng bệnh tái đi tái lại từ trẻ không thể không ảnh hưởng đến tâm lý hành động, muốn xông ra với đời hay muốn rút lui về núi. Trong những cái cớ mà Phu tử viện ra để từ chối lời mời tha thiết của Nguyễn Huệ, thân không an lạc không phải là chuyện vẽ vời. Nhưng cớ ấy cũng chỉ là nhỏ thôi.

Áp lực thứ hai là thời thế. Chưa bao giờ lịch sử Việt Nam rối bời đến thế. Trịnh Nguyễn phân tranh, đất nước chia hai, rối bời lãnh thổ đã đành. Chiến tranh, bắt lính, sưu dịch, mất mùa, đói khổ, loạn lạc nổi lên khắp nơi, xã hội bất an, triều đình bất lực, kẻ sĩ bó tay, cả miền Bắc quyền lực rối tung, dân tình than oán. Nếu Phu tử ra làm quan, chẳng lẽ tham gia đàn áp dân? Vậy thì học để làm gì, đi thi để làm gì? Kinh bang tế thế, chắc là Phu tử không có cái chí ấy. Chắc cũng không có cái tài ấy. Nếu Phu tử có cái chí, cái tài ấy, còn hào kiệt nào hơn Nguyễn Huệ để vẫy vùng phỉ chí nam nhi? Lượng sức mình mà không xuất, cớ ấy cũng không phải là bịa đặt ra. Nghĩ cho cùng, thời loạn mà gặp được anh hùng, như Nguyễn Trãi gặp Lê Lợi, kẻ sĩ nào có chí lớn mà không mơ ước? Rồng nào không mơ ước bay lên với mây? Nhưng Nguyễn Huệ không phải là Lê Lợi mà Nguyễn Thiếp cũng không hẳn có “con mắt tinh đời” để “anh hùng đoán giữa trần ai mới già” như Kiều đoán Từ Hải khi vừa liếc mắt. Trong con mắt Nguyễn Thiếp khi nhận được thư đầu, Nguyễn Huệ chỉ là anh phiên bang thuộc người nước ngoài. Tại đâu cái nhìn của bậc danh sĩ ấy có phần hạn chế? Tại vì cái áp lực thứ ba, và đây mới chính là mấu chốt của vấn đề.

Áp lực thứ ba ấy là ý thức hệ Khổng giáo, mà đặc biệt ở đây là tính chính đáng – légitimité trong tiếng Pháp – nguyên tắc mà sách vở chính trị ngày nay dùng để cắt nghĩa tại sao mọi người đều chấp nhận, như một sự thực hiển nhiên, quyền hành nằm trong tay ai đó, một người, một gia đình, một tập thể, một đảng… Với chính thể quân chủ, tính chính đáng ở Việt Nam hồi đó nằm trong tay vua Lê. Nhưng tính chính đáng ấy với quyền lực hồi đó không đi đôi với nhau vì thực quyền nằm trong tay chúa Trịnh. Vua Lê có triều đình, chúa Trịnh cũng có triều đình, mà là triều đình thật. Vua Lê lập thái tử, chúa Trịnh cũng lập thế tử, cha truyền con nối, đúng nguyên tắc. Ý thức hệ Khổng giáo cắt nghĩa nguồn gốc của quyền hành là thiên mệnh. Ai biết ý Trời lúc đó là muốn cái gì, chẳng lẽ là muốn một ông vua cứ việc lung lay nằm trong tay của một ông chúa cứ việc kềm kẹp? Lại như một nguyên tắc cứng nhắc, đạo đức Khổng giáo in vào đầu sĩ tử phương châm “trung thần bất sự nhị quân”. Nghĩa là, trên thực tế, sĩ tử Bắc Hà cứ việc khóc lóc với một ông vua bất lực, và ông ấy càng bất lực lại càng được thương. Một mặt các vị cứ khóc với vua, một mặt cứ cong lưng với chúa. Nguyễn Thiếp khóc vua, nhưng Nguyễn Thiếp không phục chúa, thế thì Nguyễn Thiếp chỉ có một con đường thôi là làm người hiền ở ẩn. Đạo đức Khổng giáo về xuất xử cho phép và hoan nghênh.

Đọc ba bức thư gửi đi của Nguyễn Huệ và thư phúc đáp của Nguyễn Thiếp, người đọc ngày nay có thể chảy nước mắt cho lịch sử bi đát của nước ta hồi đó: Nguyễn Huệ đề niên hiệu là Thái Đức, Nguyễn Thiếp đề niên hiệu là Cảnh Hưng. Nguyễn Thiếp gọi miền Nam của sông Gianh là “quý quốc”, là nước khác, không phải nước tôi. Ý Trời trong đầu Nguyễn Huệ đã đổi khác. Ý Trời trong đầu Nguyễn Thiếp vẫn chặt cứng bê tông dù lịch sử sắp sang trang. Và lịch sử hoành tráng sang trang! Trang mới mở ra với Bắc Bình Vương tung quân ra Bắc, diệt Trịnh, chấm dứt hai trăm năm khống chế vua của con cháu Trịnh Kiểm, hai trăm năm cái mặt trời chính đáng của nhà Lê cứ lặn dần, hai trăm năm sĩ tử Bắc Hà bất lực trong hoàng hôn của một chế độ chính trị không biết thay đổi, hai trăm năm cùng chung nhau bám chặt vào một cái đầu “Tử viết”, không đặt dù một dấu hỏi về cái lẽ thiên mệnh đã hết bùa chú trong tay nhà Lê. Hai trăm năm! Nghĩ lại mà rùng mình. Hai trăm năm đằng đẵng ngâm mãi một bài học. Dù kính bái Phu tử đến đâu đi nữa, người đời nay vẫn phải lạy Phu tử để nói một câu vô lễ: vậy mà Phu tử đem bài học ấy ra dạy lại cho Bắc Bình Vương:

“Họ Trịnh tiếm quyền đã hai trăm năm. Tướng quân đánh một trận mà dứt được, lấy đất đai mà trả lại cho nhà Lê. Như thế, ai nói là không phải anh hùng. Nếu nhân người nguy, lợi dụng tai họa người, nếu trước vì nghĩa mà sau vì lợi, thế là gian hùng”.

Bác Hãn khen câu nói. Tôi hiểu, vì Bác là nhà Nho, đại Nho. Nhưng chúng tôi, hậu sinh của Phu tử ở thế kỷ 21 này, chúng tôi không thể nhìn lịch sử như Phu tử nhìn. Chúng tôi không thể quan niệm chữ “đức” một cách cứng nhắc trong bối cảnh đặc biệt ấy. Khổng Tử dạy phải lấy đức để trị nước. Ngài dạy thế không sai. Nhưng, thưa Ngài, nước chúng tôi hồi đó quá loạn, loạn triền miên, loạn đã hai trăm năm, loạn từ trong dân, loạn trong triều đình, loạn cả trong thâm cung bí sử, Ngài nghĩ rằng Nguyễn Huệ vẫy gươm để trả đất cho cái vua Lê bất lực ấy thì nước chúng tôi sẽ yên chăng? Ngài nghĩ rằng một bậc anh hùng như Nguyễn Huệ có thể lui cui làm cái công việc trả đất như một anh tướng quèn chí không cao hơn cái chân vịt? Ngài nghĩ con rồng ấy có thể yên phận làm con dun? Nguyễn Huệ có bao giờ phất cờ “phù Lê diệt Trịnh” giả dối đâu mà sợ mang tiếng gian hùng trong lương tâm? Lịch sử của nước chúng tôi có lúc hưng lúc vong, lúc vong là vì không biết cách chấm dứt một chế độ suy thoái, không biết cách thay đổi từ chế độ này qua chế độ khác, khư khư bám riết vào cái tính chính đáng mà Ngài dạy, dù nó đã hết sinh khí, phản tiến hóa. Với Nguyễn Huệ, nước chúng tôi có cái cơ may thắp lên rạng đông sau hai trăm năm nhấp nhem một chế độ lụi tàn như đèn hết bấc. Có cái đức nào lớn hơn, hợp hơn với dân tộc chúng tôi như cái vận may hai trăm năm một thuở ấy?

Sau câu dạy ấy của Phu tử, gia phả chép: “Huệ sợ”. Chắc chắn gia phả chép đúng sự thật: Huệ sợ. Nhưng sợ cái gì? Sợ một câu nói đúng đạo đức? Sợ lương tâm? Đâu phải thế! Sợ cái mà Nguyễn Huệ đang sợ: chiếm đất không khó, chiếm lòng người mới khó. Nhất là chiếm một cái lòng bo bo dán vào quá khứ, một cái văn hóa không biết mở ra với tương lai, một thổ âm chưa quen với cái giọng Bình Định Tây Sơn khó nghe của một miến Nam đã quá lâu năm biền biệt. Như là một chính trị gia lão luyện, Nguyễn Huệ cần một đại túc nho để làm cái việc mà sách vở chính trị ngày nay gọi là chính đáng hóa (légitimation) nghĩa là xây dựng và củng cố tính chính đáng chưa có ở Bắc Hà. Thời cuộc đã giúp Nguyễn Thiếp giải quyết nhanh cái mối tơ vò trong đầu ông khi Lê Chiêu Thống đã chạy dài và Tôn Sĩ Nghị quỳ gối dâng lên Nguyễn Huệ cái mâm vàng “chính đáng” cùng với một đoàn tùy tùng hai mươi vạn tướng hổ binh hùng. Đống Đa chấm dứt nhà Lê. Thư từ trao đổi không còn vướng vít Cảnh Hưng niên hiệu.

Trở về lại với bác Hãn của chúng tôi, bác Hãn mà chúng tôi đã có cái may mắn gần gũi. Bác soi gương Phu tử và Bác thấy Bác trong đó. Bác thấy ba cái áp lực mà Phu tử đã là khổ nhân. Bác thấy Bác cũng đã nếm mùi ba cái khổ đó.

Áp lực thứ nhất: tất nhiên Bác không có chứng cuồng vĩ. Nhưng nếu đừng hiểu nghĩa đen mà chỉ nói đùa với nghĩa bóng thôi, thì người nào khác thường chẳng có chút gì đó “điên điên” dưới mắt thiên hạ? Cái chút “điên” ấy tạo ra cái duyên, cái đẹp, cái hấp dẫn, cái đặc biệt của một cá tính. Chính bác Hãn, trong bài Tựa lần thứ hai, viết rằng La Sơn Phu tử là một “cá nhân đặc biệt”, một “cá tính đặc biệt”. Chắc Bác cũng vậy. Nói rộng ra thêm, và nới rộng Hà Tĩnh của Bác ra thành Nghệ Tĩnh, hình như đó là cá tính đặc thù mà người đời thường xưng tụng dưới danh hiệu “ông đồ Nghệ”. Một khi “ông đồ Nghệ” đã khí phách rút lui ở ẩn, đã xử, đừng hòng ai kéo được ông ra khỏi núi. Tuế nguyệt cứ xoay, đá vẫn trơ gan với thời cuộc.

Thời cuộc là áp lực thứ hai. Bác Hãn nhấn mạnh câu nói của vua Bảo Đại: các anh nói độc lập, vậy mà khi độc lập đến, các anh không nắm lấy sao? Cho nên Bác nắm. Thế là Bác xuất. Nhưng thời cuộc vượt qua Bác nhanh quá, miệng lưỡi người đương thời chế diễu cái “độc lập bánh vẽ”. Từ trên ban xuống, độc lập ấy bị cuốn phăng trong khí thế hừng hực dâng lên từ một phong trào cách mạng có căn cứ địa, có quần chúng, có lãnh đạo, có gươm dáo, có cả cờ với sao nữa: Bác có con đường nào khác đâu ngoài theo hoặc là xử? Bác xử. Nhầm một bước vào chính trị, Bác không bước một bước thứ hai. Suốt đời. Thậm chí, Bác không bao giờ về nước nữa từ khi rời Hà Nội năm 1951. “Ông đồ Nghệ” tự giận mình chăng? Giận một người thông minh xuất chúng mà để cho chính trị nó lừa quá dễ dàng? Nhưng, thưa Bác, chính trị là nghề của lừa, Bác giận làm gì? Bác cứ sống với chúng cháu như một người trí thức, Bác nghiên cứu, Bác viết sách, ấy là tiên trong đời. Nhưng đâu có phải bác cháu chúng ta không biết nhìn thời cuộc, không biết ông Trời đang ngã cái bóng thiên mệnh về đâu?

Tính chính đáng: ấy là áp lực thứ ba. Ngày trước, Bác có thỉnh thoảng cộng tác với tờ Thanh Nghị mà khuynh hướng chính trị là “Độc Lập và Dân chủ”, có thêm chút đuôi “xã hội”. Thanh Nghị phải chăng giữ vai trò tạo “chất men văn hóa” cho Cách Mạng tháng Tám? Chủ nhiệm tờ tạp chí có tiếng ấy ở Hà Nội, luật sư Vũ Đình Hòe, xác minh rằng nhóm của ông không có ý thức như vậy. Nhưng, ông viết tiếp, theo lời kể của một người khác, “đó chính là ý kiến của Hoàng Xuân Hãn”. Nghĩa là bác Hãn nghĩ rằng trong nhóm Thanh Nghị không phải ai cũng một dòng chính kiến như mình. Mà quả thật vậy, đầu tháng 7 năm 1945, nhiều vị trong Thanh Nghị họp nhau tại Hà Nội “để xác định dứt khoát: theo ai?” Bác Vũ Đình Hòe cho biết như vậy và kể tiếp với một chữ nhưng: “nhưng không thuyết phục nổi nhau. Thế là, tuy vẫn quyến luyến và tin cậy lòng yêu nước của nhau, họ chia tay, người vô Huế, kẻ lên chiến khu”. Bác Hòe lên chiến khu. Phan Anh vô Huế. Nhưng ông Trời nghiêng về ai thì tất cả đều thấy như nhau. Cho nên bác Hãn di chúc với bạn đồng hành: “Trước lúc từ giã Phan Anh, tôi dặn các sự đã bàn: tôi sẽ đồng tình từ chức và khuyên những người cách mạng sẵn sàng lập chính phủ mới”.

Giống như Nguyễn Thiếp với Quang Trung, bác Hãn chung thủy với cái tính chính đáng mới mà lịch sử đã trao cho Tháng Tám. Nhưng cũng giống như Nguyễn Thiếp, Bác chọn cái đường lối xin tạm gọi là… thứ ba. Thứ ba giữa xuất thứ thiệt và xử thứ thiệt. Ấy là đường lối mà Nguyễn Thiếp đã đề nghị với Nguyễn Huệ trong thư phúc đáp thứ hai, sau khi “xin được ở yên cho trọn vẹn”. Để làm gì?: “Để ngày khác đứng ngoài mà làm một người cố vấn dự bị, thế mới phải hơn”. Đã cố vấn mà còn dự bị! Bác Hãn cũng có lần làm cố vấn như thế, mà hơn cả dự bị: Bác tham gia phái đoàn của chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa dự Hội nghị Đà Lạt tháng 4 năm 1946. Nhưng chỉ lần ấy thôi. Sau đó, thỉnh thoảng Bác cũng có đóng góp ý kiến, nhưng cũng chẳng bao nhiêu, đóng góp cái lòng thiết tha yêu nước thì đúng hơn.

Chính cái đường lối “thứ ba” ấy đã châm mồi cho bao nhiêu dư luận, tất nhiên là từ hai phía. Phe thủ cựu thì chê Nguyễn Thiếp đã xuất. Phe hiện đại thì chê Nguyễn Thiếp đã xử. Phe địch phe ta, hai phe đều xơi ta cả. Tất nhiên là thế thôi. Nếu Phu tử sống ở thời đại này, chắc cụ đã nghe mòn tai cái cụm từ “đi giữa hai lằn đạn”. Có người vì dại dột mà đi. Có người ung dung. Bác Hãn khen Phu tử “ung dung” mà đi, mà đứng, như cột cầu giữa hai dòng nước xoáy. Cũng khen cụ không kém, bác Vũ Đình Hòe, nguyên bộ trưởng tư pháp, dịu một chút giọng, xuống một bémol, nhận định cụ “xuất ít thành công” mà “xử, ở ẩn lâu, quá lâu”, “ra giúp đời quá nhanh, quá ít”. Bác Hòe nhận định như vậy là chung cho cả hai, cả Phu tử và bác Hãn.

Về Nguyễn Thiếp, đúng là ít thành công khi xuất. Tựu trung, đóng góp được Nguyễn Huệ khen ngất trời là chỉ một câu. Câu nói phải đánh nhanh để thắng gọn khi quân Thanh vừa chiếm Thăng Long. Nhưng cái chiến lược thần tốc ấy, Nguyễn Huệ đã tính sẵn trong đầu khi cất quân từ Phú Xuân. Dù sao, nói trúng ý nhau cũng là tri kỷ rồi. Ngoài câu nói ấy, sự nghiệp xuất của Phu tử đúng là chẳng bao nhiêu. Nhưng, xét công của Phu tử, đâu phải chỉ tính mấy cái việc hữu hình. Nguyễn Huệ đâu có chủ yếu chờ đợi ở bậc danh nho ấy việc chấm thi hay dịch kinh. Chủ yếu là cái việc vô hình mà Nguyễn Huệ lo canh cánh bên lòng: chính đáng hóa một giấc mộng đế vương, một triều đại mới, một trang sử mới.

Dù Phu tử rút lên núi, có hề chi! Tấm lòng của Nguyễn Huệ chiếu sáng đến Thăng Long. Ba lần gửi thư, tự tay chấp bút thư nữa, rồi chiếu, rồi gặp, ba lần gặp trước khi vua tôi trùng phùng tại kinh đô mới, chế độ mới, cái gương cầu hiền thiết tha có một không hai ấy trong lịch sử, cái gương ấy, chẳng lẽ Nguyễn Huệ chỉ muốn cho Phu tử soi riêng một mình? Chẳng lẽ Nguyễn Huệ không nhắm đến trí thức Bắc Hà? Chẳng lẽ thời đó không biết vận tốc của tiếng đồn? Chẳng lẽ ngày nay chúng ta không nghĩ: chiến dịch đánh vào lòng người càng mạnh khi lòng thành của Nguyễn Huệ càng lớn?

Nếu Phu tử sống ở thời nay, chắc cụ học thêm được một chữ nữa: chữ “vận”. Ấy là “trí thức vận”. Ấy là “trí vận”. Nói như vậy không phải để hạ giá đạo đức hành động của Nguyễn Huệ xuống hàng mánh lới chính trị. Bởi vì, dù là chiến thuật chính trị đi nữa, Nguyễn Huệ, người thực hiện chiến thuật, đã làm sáng rực một nhân cách anh hùng, cây gươm biết hạ mình trước cây bút, viết lên một trang sử đẹp như tiểu thuyết, đẹp như huyền sử. Nguyễn Thiếp được bác Hãn xưng tụng bởi vì Nguyễn Huệ quá đẹp. Nhưng chính vì Nguyễn Huệ quá đẹp mà nhân vật Nguyễn Thiếp không khỏi bị người đời nay có chút phiền trách, dù là trách yêu. Rất khéo, bác Vũ Đình Hòe trách Phu tử, dù gì đi nữa, cũng “phần nào cố chấp”. Rồi rất khéo, và rất thân tình, bác Hòe nhẹ nhàng đặt câu hỏi: “tôi nghĩ có lẽ học giả Hoàng Xuân Hãn cũng thế chăng?”

Về Nguyễn Thiếp, cố chấp thì chắc là có rồi, nhưng cố chấp mà vẫn đẹp, vẫn sáng rực một nhân cách để trí thức ngày nay nhìn đó mà cư xử trong mối quan hệ với quyền lực. Một cung cách, một mẫu mực trí thức vượt thời gian: ung dung, thẳng thắn, khiêm tốn, không hề khuất phục.

Còn bác Hãn cố chấp hay không, chúng tôi, trí thức ngày nay, nghĩ rằng chừng nào ước mơ của nhóm Thanh Nghị ngày xưa, “Độc Lập và Dân chủ” chưa thực hiện được trọn vẹn cả hai vế, chừng đó chúng tôi không dám trách Bác là cố chấp.

 

——————————-

Chú thích:

(1) Trả lời phỏng vấn đài RFI (Thụy Khê thực hiện) I. Những cuộc tiếp xúc khó quên, trong: La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, Tập I. Nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội, 1998.

(2) Vũ Đình Hòe: Hoàng Xuân Hãn, La Sơn Phu Tử và nhóm Thanh Nghị, trong: La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn. Tất cả những trích dẫn sau đó đều cùng một xuất xứ.

 

Nguồn:viet studies.ìnfo

 

 

 

ĐÃ CÓ SÁCH TRUNG QUỐC KHẲNG ĐỊNH… HOÀNG SA, TRƯỜNG SA LÀ CỦA VIỆT NAM !!!

VIỆT STAR MEDIA: “LỊCH SỬ GHI LẠI…”

– Phát hiện cuốn sách cổ của nhà Thanh, in đời vua Quang Tự (1875-1909) khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông là của Việt Nam.

Trong quá trình điền dã tại các địa phương trên địa bàn tỉnh Thái Bình, tại gia đình anh Phan Văn Luyện (xã Vũ Chính, Thành phố Thái Bình) chúng tôi đã tiếp cận được cuốn sách cổ, in vào đời Vua Đức Tông (Tải Điềm) – nhà Thanh (niên hiệu Quang Tự, 1875-1909). Sách in thạch bản (in đá) bằng chữ Hán).
Anh Luyện đã vui vẻ trao quyển sách này cho chúng tôi sở hữu và nghiên cứu với hi vọng có thêm những cứ liệu để công bố trước công luận và làm bằng chứng để khẳng định chủ quyền biển, đảo Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam.
Cuốn sách này có tên “Danh hoàn Chí lược” (Sách ghi chép về địa lý Thế giới), có khổ 20cm x 14,5cm, người giám định sách là hai tiên sinh Bích Tinh Tuyền và Lưu Ngọc Ba. Sách do Nhà xuất bản Hòe Lý Đường in.

unnamed (2)Ở trang 2 của sách ghi: “Quang Tự Mậu Tuất Mạnh Thu” (Tháng 7, năm Mậu Tuất, niên hiệu Quang Tự, triều vua Đức Tông (Tải Điềm -1898). Cũng ngay ở trang 2 ghi: Thượng Hải Thư Cục Đại Ấn (Thư cục Thượng Hải được cho quyền in sách này). Bộ sách này được biên soạn vào năm thứ 28 (Kỷ Dậu, 1849), niên hiệu Đạo Quang, triều vua Thanh Tuyên Tông (Mân Ninh, 1821-1851).
Ở trang 3, 4 và trang 5 của sách có ghi bài tựa của Lưu Vận Kha, soạn vào năm Kỷ Dậu (1849), mùa hạ tháng 4 – triều vua Thanh Tuyên Tông, niên hiệu Đạo Quang. Bài tựa thứ 2 cũng viết vào năm Đạo Quang thứ 28, triều vua Thanh Tuyên Tông, do Bành Uẩn Chương soạn. Bộ sách này từ khi soạn (vào năm 1849, thời vua Thanh Tuyên Tông) phải mất 49 năm sau mới được in (vào năm 1898), triều vua Đức Tông (Nhà Thanh) – niên hiệu Quang Tự.
Bộ sách gồm nhiều tập. Chúng tôi chỉ chú tâm tới các tập 3, 4, 5 (vì 3 tập này đóng gộp thành 1 quyển) và có ghi các đảo thuộc chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.
Sách Danh hoàn chí lược. Dòng chữ nhỏ bên phải ghi người giám định Bích Tinh Tuyền, Lưu Ngọc Ba. Dòng chữ nhỏ bên trái ghi Hòe Lý Đường Bản

unnamed (9)Dòng chữ bên phải ghi Quang tự Mậu tuất Mạnh Thu. Dòng thứ hai bên trái ghi Thượng Hải thư cục đại ấn
Nội dung của sách chủ yếu tóm lược vị trí địa lý, lịch sử… của các nước trên thế giới. Sách còn vẽ bản đồ của các nước trên thế giới: từ Trung Quốc, Nhật Bản, Indonesia … cho đến Ả Rập.
Đặc biệt, ở trang 24, 25 của tập sách này có in tấm bản đồ Trung Quốc, mang tên “Hoàng Thanh nhất thống dư địa toàn đồ” (Bản đồ toàn quốc thống nhất đời nhà Thanh). Trên bản đồ này đều có vẽ các nước có chung đường biên giới với Trung Quốc, như: Việt Nam, Mông Cổ, Ấn Độ, Triều Tiên…
Đáng chú ý, ở phần biển đảo, Trung quốc chỉ vẽ đảo Quỳnh Châu (tức đảo Hải Nam), Đảo Đài Loan (của Trung Quốc)… sau đó ghi chú là biển nhưng không hề vẽ và ghi chú đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc Trung Quốc. (Bản đồ thứ 1, có ghi chú: Hoàng Thanh Nhất thống dư địa toàn đồ).

unnamed (6)Bản đồ của nhà Thanh không có đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà chỉ ghi đảo Quỳnh Châu (Hải Nam) và đảo Đài Loan
Đặc biệt hơn nữa, ở tấm bản đồ in tại trang 40, 41 của cuốn sách này thì bên cạnh việc vẽ bản đồ đường biển Trung Quốc lại có vẽ eo biển Quảng Nam (và ghi rõ là Nam Việt – tức Việt Nam). Bên cạnh eo biển Quảng Nam, bản đồ này còn vẽ đảo Thất Châu Dương – biển Thất Châu (cả khu vực biển đảo Trường Sa, Hoàng Sa – Vạn lý Trường Sa. Nếu theo bản đồ Trung Quốc thì Hoàng Sa, Trường Sa là thuộc biển Thất Châu Dương – một cách gọi tên khác mà người Trung Quốc xưa thường dùng và ghi chú trên bản đồ để chỉ khu vực biển đảo Trường Sa, Hoàng Sa của Việt Nam (không có ghi khu vực biển Thất Châu Dương này thuộc địa giới của Trung Quốc).
Bản đồ đã chú thích trong đó có Trường Sa, Hoàng Sa thuộc địa phận biển Việt Nam
Ở tấm bản đồ trang 55 và 56 – chủ yếu vẽ về biển, đảo và các nước giáp Trung Quốc: biển Ấn Độ Dương (Trung Quốc gọi là Tiểu Tây Dương) và có cả ghi chú về Ấn Độ Dương. Trên bản đồ này còn cho biết về biển và đảo Trường Sa của Việt Nam giáp với đảo Quỳnh Châu (Hải Nam – thuộc Quảng Châu, Trung Quốc). Vẽ cả hình tượng bãi đá ở quần đảo Trường Sa. Trên bản đồ này còn vẽ khu vực biển đảo Quảng Nam: Trong đó vẽ và ghi Thất Châu Dương (Hoàng Sa, Trường Sa), vẽ cả cửa biển Lộc Nại của Quảng Nam và vẽ đảo Côn Lôn của Việt Nam.

unnamed (8)Bản đồ Hoàng Thanh nhất thống dư địa toàn đồ (chưa chú thích)
Đáng chú ý ở trang 88, 89 giúp cho người đọc hiểu về luồng lạch, hướng gió và các bãi đá ngầm ở trên các đảo Trường Sa, Hoàng Sa và phương hướng, độ dài (tính theo cách tính canh giờ của người xưa) đi trên biển để tới được các nước khác nếu xuất phát từ cửa biển: đảo Trường Sa của Việt Nam.
Phần phiên âm của sách được nhà Hán học Nguyễn Tiến Đoàn dịch như sau: “…Sách Hải quốc văn kiến lục có nói: Vùng Nam Dương (biển phía nam) là nơi thuyền buôn của vùng Mân Việt thường đến. Đường biển nơi đây nhiều chỗ nguy hiểm. Người chỉ huy thuyền đi qua biển này cần phải cẩn thận. Nguy hiểm nhất là nơi có hòn đảo Áo Khí. Thủy trình đi khoảng 7 canh giờ từ đảo Áo Khí đến đảo Lạc Tế. Đảo này nhỏ mà bằng phẳng. Ven đảo có nhiều đá ngầm ngổn ngang, thuyền không đến được; thu hút không khí, dòng chảy ở bốn phía. Trên đảo có nhiều cây cỏ mọc cao hơn một trượng, có núi Đông Sư Tượng, nếu muốn đến thì phải theo dòng nước mà đi. Không thể đi ngược lên phía Bắc vì nhiều doi cát nổi chìm, dài khoảng 200 dặm. Đi lên phía bắc thì có đảo và trên đảo có núi Sa Mã Kỳ. Hai ngọn núi này đối mặt vào nhau (ngọn núi Sa Mã Kỳ và Đông Sư Tượng).

unnamed (3)Toàn trang chữ Hán (đã dịch trong bài viết)
Theo đường thủy trình trên biển là phải đi bốn canh giờ mới tới địa đầu Sa Mã Kỳ, lại có những doi cát liên tục ở phía nam đến Việt hải (biển Việt) gọi là Trường Sa đầu (địa đầu Trường Sa). Cứ đi về phía nam thì lại thấy nhiều doi cát nổi lên, theo đó mà đi thì đến Vạn Lý Trường Sa. Phía nam Trường Sa có nhiều bãi đá ngầm lởm chởm, đi tiếp là đến biển Thất Châu, gọi là Thiên Lý Thạch Đường. Đây là đất nguy hiểm của vùng Nam Dương, hay có gió bão lớn ở ngoài biển, thuyền đi biển đậu ở ngoài này thường gặp bão gió. Có những thuyền đi lạc đường mà gặp phải nơi đó thì rất nguy hiểm. Một cửa Trường Sa nằm ở phía tây bắc cùng với đảo Nam Áo. Ở phía tây nam là đảo Đại Tinh (Biển bình lặng¬) tạo thành thế chân vạc ở cửa nam bắc, ước rộng phải đi chừng khoảng ngũ canh (đơn vị đo lường thời cổ thường tính theo giờ). Thuyền buôn của người Việt thường đậu ở đó; phía Nam là đảo Lã Tống (Lucson – Philipin), Văn Lai, Tô Lập. Thuyền buôn thường qua mấy nước đó để trao đổi buôn bán, khi xuất phát đều từ cửa Trường Sa mà đi. Nếu gặp gió bắc thì lấy chuẩn từ đảo Nam Áo. Gặp gió Nam, lấy đảo Đại Tinh làm chuẩn để tới Giang Tô, Triết Giang, Phúc Kiến (Quảng Đông). Nếu đi về phía Nam của Nam Dương phải đi từ cửa Sa Mã Kỳ (Đài Loan) đến các nước ở Lữ Tống (Philipin), giáp phía Tây Dương. Muốn đến Chiết Giang, Mân Việt… Nhật Bản phải đi theo hướng phía Tây biển Thất Châu, Côn Lôn rồi đến Vạn Lý Trường Sa ngoại (ngoài Vạn lý Trường Sa), qua cửa biển đảo Sa Mã Kỳ – đi theo đường thẳng dây cung mới an toàn. Từ Trung Quốc mà đến nước Indonesia phải đi phía ngoài Vạn lý Trường Sa. Nơi đây biển mờ mịt, không lấy gì làm chuẩn được cho nên muốn đi phải theo những doi cát ở biển Việt rồi mới đến Thất Châu Dương và từ đó đi tới Indonesia; Vùng biển này nước mênh mông nên giới hạn cũng mênh mông…”. (Trích sách “Danh hoàn Chí lược”).

unnamed (5)Bản đồ chưa chú thích trong đó có ghi eo biển Quảng Nam và đảo Thất Châu Dương cùng bản đồ Việt Nam
Bản đồ đã chú thích trong đó có ghi eo biển Quảng Nam và đảo Thất Châu Dương cùng bản đồ Việt Nam
Thông qua tư liệu đã nêu ở cuốn sách này, giúp chúng ta có thêm những bằng chứng quý giá để góp phần khẳng định ngay từ thời nhà Thanh, các bản đồ của Trung Quốc đã vẽ các đảo trên vùng biển của họ chỉ có đảo Hải Nam, Đài Loan là gần với khu vực biển Việt Nam. Điều đó khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa (biển Thất Châu Dương, theo tên gọi trên bản đồ Trung Quốc thời nhà Thanh) là thuộc chủ quyền biển đảo của Việt Nam.

unnamed (1)

Nhà Hán học Nguyễn Tiến Đoàn dịch sách Danh hoàn Chí lược

(source from DuyTracAuOanh’s Blog)

Phan Nguyên Luân… tổng hợp/thực hiện

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.07.2016

Thư gởi các nghị sĩ khóa XIV

Thư gởi các nghị sĩ khóa XIV

IMG_8449Ông Nguyễn Khắc Mai- NM

Nguyễn Khắc Mai, người già ở Ô Đồng Lầm Thăng Long

Trước ngưỡng của phiên họp đầu tiên, khóa XIV Quốc hội, xin gởi tới các quý Nghị sĩ lời chào trân trọng.

Chúng tôi nhận thức rằng mở đầu khóa họp đã có những dấu hiệu “sái”, báo hiệu khóa này không bình thường. Này nhé, khóa trước họ đã áp đặt một việc đã rồi cho quý vị, họ đã chọn sẵn cho quý vị một chính quyền mới và được thử thách ngay bằng một sự cố nghiêm trọng, mà một nguyên nhân là sự phi trách nhiệm của những đồng nghiệp khóa trước của quý vị. Sự cố Formosa khiến cho một dải biển miền Trung chết, và nó sẽ như lưỡi gươm ”Damocles” treo trên đầu Đất Nước ít ra là trong 70 năm tới. Người Dân nhận thấy giàn chính quyền ấy lúng túng và yếu kém rõ rệt trong việc xử lý vụ thử thách đầu tiên này. Như vậy quý vị sẽ hết sức bối rối – chấp nhận hay không chấp nhận?! Liệu quý vị có đủ tâm và đủ tầm để đánh giá, gia cố và thay đổi? Trong cái giàn ấy đã có người từng gian dối thi cử, có người khai tuổi trước sau bất nhất, mà ngay cả thi tuyển công chức cũng phải cân nhắc kỹ lưỡng, huống chi lại là công cử vào những chức vụ chính khách cao cấp. Ngay đồng nghiệp của quý vị dẫu đã trúng cử, nhưng chưa kịp ngồi vào hội trường đã phải bị bãi nhiệm. Và cái khóa của quý vị đang thừa hưởng sự thiếu năng lực và trách nhiệm của Ủy ban bầu cử và của cái cấp trên của nó. Việc Uỷ ban bầu cử chỉ đạo gạt bỏ những người tự ứng cử, mà theo dư luận, họ có nhân thân và nhân cách khả kính. Như vậy, rồi ra chất lượng sự phán quyết của quý vị dễ trở thành độc diễn vì đã không có được tiếng nói phản biện đúng nghĩa và có chất lượng.

Không dùng danh xưng “đại biểu Quốc hội” mà dùng một tên gọi khác để ngầm thể hiện một mong ước, một sự trọng thị, và cũng để đặt ra một yêu cầu cao cho quý vị. Chúng tôi gọi quý vị là Nghị sĩ. Tên gọi này có hai chữ – nghị và sĩ! Nghị là để nghị luận, tranh biện rồi ra phán quyết ở nghị trường. Mọi người trông chờ những phẩm chất và việc làm nghị sĩ của quý vị. Vì thế quý vị nhất thiết không được làm nghị gật. Những đồng nghiệp khóa trước của quý vị, nhiều người đang tái nhiệm, ít ra đã có hai hành xử “nghị gật” rất đáng chê trách. Một là khi bỏ phiếu về việc có nhập Hà Tây vào Hà Nội, lúc đầu họ lắc, rồi sau đó lại gật. Thật không thể hiểu được, cái lắc là có suy nghĩ độc lập, còn cái gật thì đã là “con rối” rồi chăng? Thứ hai là thảm họa Formosa. Những ông bà nghị gật của khóa trước đã không dám giám sát, đã không hề thể hiện rõ cái phẩm chất là thành viên của cơ quan Nhà nước quyền lực cao nhất. Vì thế, nếu các vị thật sự là nghị sĩ, các vị hãy bỏ ra ngoài mọi chức danh, chức tước khác, dẫu là tổng bí thư, chủ tịch nước, giám đốc hay tướng tá. Hãy làm nhiệm vụ một nghị sĩ xứng đáng. Cái Quốc hội của ta nó thể hiện tính lưỡng phân rất rõ, mà nhiều quý vị chắc cũng biết loài lưỡng thê là loài lạc hậu nhất trong hệ sinh vật. Ở nghị trường các vị phải quả quyết làm người đại diện cho dân cho nước, bởi các quý vị đến được nghị trường không phải do một nghị quyết nào đó của đảng, mà là phiếu bầu của cử tri! Đem lập trường tính đảng vào Quốc hội mà không làm tốt thiên chức quốc hội của mình, các vị sẽ có tội lỗi to lớn với dân với nước với dân tộc. Kể cả ông Tổng bí thư, khi đã là nghị sĩ, ông phải là người đại diện của cả dân tộc, có đến 40 triệu dân là tín đồ tôn giáo, họ đâu có theo Mác Lênin, có hàng triệu, triệu người không cộng sản. Còn nếu vị nghị sĩ này khư khư lập trường cộng sản mà không chấp nhận những lập trường dân tộc, dân chủ khác thì phải kiến tạo một kiểu quốc hội mới, khi đó Quốc hội mới thật có chính danh.

Với chữ sĩ, các vị phải vươn lên làm người có trí, có tâm và có tầm tư duy chiến lược. Cố nhiên phải học, ngày nay để có thể học, phải từ bỏ tư duy hủ lậu, người ta gọi tư duy hủ lậu xưa là hủ nho, còn nay là hủ mác (tiếp nhận tư duy Mác Lênin rất thối nát – hủ lậu có nghĩa là thối nát!). Phải học từ thất bại, và nhanh chóng đứng lên, làm lại. Phẩm chất này lãnh đạo của ta rất kém, vì thế nó áp đặt một phong cách rất tồi tệ, là làm cho trì trệ và tắc tị kéo dài. Ở các nước văn minh, mỗi kỳ quốc hội (khoảng 5 năm) là một chu kỳ điều chỉnh, sửa chữa, đổi thay, và làm xã hội tiến tới. Ở trong nền văn minh hiện đại, cái học chính trị luôn đến từ chế độ đại nghị, đa nguyên, phải chấp nhận và có năng lực tranh biện với người khác mình, chứ không phải một mình một chợ. Khi chưa có một Quốc hội đa nguyên, một quốc hội đúng nghĩa, mỗi nghị sĩ phải gắng làm cho mình trở thành một nhân cách có bản lĩnh riêng biệt, khiến cho mình là chính mình, không ăn theo, không làm con rối để tự nguyện được giật dây. Các vị dẫu khoác chiếc áo đồng phục cho chức vụ nghị sĩ, nhưng không bao giờ được đồng phục hóa nhân cách của mình.

Chưa bao giờ cái thiên chức nghị sĩ lại cần thiết đến như vậy! Vì ý thức được điều đó, trong thư gửi cho Bộ Chính trị khóa XI khi chuẩn bị cuộc bầu cử QH khóa XIV này, tôi đã tha thiết đề nghị đưa ra ý tưởng: ”Quốc hội này là quốc hội chấn hưng đất nước, có năng lực loại bỏ những “hư hỏng, cũ kỹ”, sai lầm, khuyết tật của giai đoạn vừa qua, thực hiện có hiệu quả cải cách thể chế, điều chỉnh mô hình tăng trưởng và phát triển, chấn chỉnh chính sách đối nội, xây dụng nền chính trị dân chủ đa nguyên, đoàn kết và phát huy mọi lực lượng chính trị, xã hội, hóa giải hận thù do cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn mà di chứng vẫn rất nặng nề… Nó có quyền tiếp nhận những điều đúng của cương lĩnh, và có quyền bác bỏ những sai lầm và mơ hồ của cương lĩnh, điều chỉnh hữu hiệu đường lối đối ngoại, ưu tiên cho những quyết sách nhằm thoát khỏi sự lệ thuộc đại Hán, bá quyền đế quốc mang màu sắc Trung Hoa cộng sản, thực hiện có hiệu quả việc tăng cường các quan hệ chiến lược với khu vực và quốc tế. Nhằm tạo ra một nội lực mới để xây dựng, phát triển và bảo vệ Đất nước, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền biên cương và hải đảo, kiến tạo một thời kỳ mới: Hòa bình – Thống nhất – Độc lập – Dân quyền – Dung hợp – Phục hưng và Phát triển”.

Từ một vài biện luận nêu trên, chúng tôi tha thiết đề nghị:

Một. – Xét lại phương thức hoạt động của Quốc hội. Từ xưa chưa hề có một nghị sĩ nào cùng một nhóm, và cùng chuyên gia dự thảo được một dự luật. Nghị sĩ mà không trình được một dự luật đó là mô hình quốc hội kiểu Xô viết rất lạc hậu. Vì đó là rập theo tư duy lạc hậu của Lênin rằng: Công, nông sau giờ lao động, buông cày và buông búa thì đến “Duma” để hoạt động chính trị. Vì thế nó bất chấp tính chuyên nghiệp của quốc hội, và phó mặc cho sự thao túng của quyền lực. Đó là một điều xảo trá (mà chính Các-mác cũng từng tiên đoán). Hãy cố gắng làm cho những phán quyết của Quốc hội có hiệu lực bằng những dự luật để điều tiết những vấn đề nảy sinh trong những lĩnh vực đối nội và đối ngoại.

Hai. – Quyền lực chính trị của xã hội ta đang rối loạn, nó tạo ra tình trạng vô chính phủ mà các vị gọi là “trên bảo dưới không nghe”. Đây không chỉ phản ảnh trạng thái già nua, mà là xã hội có bệnh lý. Nhiều cán bộ đảng vô tư thoải mái ra những lệnh hành chính của chính quyền. Đây là trạng thái xưa cũ của phong kiến lạc hậu, thế mà vẫn được dung dưỡng trong xã hội hiện đại. Các mệnh lệnh hành chính chỉ được do ba cơ quan Lập pháp, Hành pháp, và Tư pháp ra lệnh bằng văn bản pháp lý. Cách chức người, đuổi việc, bắt người nhiều trường hợp rất tùy tiện. Đặc biệt gần đây, cả cơ quan tuyên huấn, báo hình báo nói báo chữ đều có quyền quy chụp những tội danh như “phản động”, ”chống đối chế độ”… cho bất cứ ai!

Phải làm rõ trách nhiệmquyền hạn. Dư luận cho rằng Quốc hội đã không làm tròn trách nhiệm và quyền hạn của mình. Vụ Formosa chỉ là sự việc dễ thấy.

Ba là. Phải thành lập một Ủy ban độc lập của Quốc hội về sự cố Formosa. Tiến hành điều tra và kết luận về những vấn đề như:

– Quy trình thẩm định dự án, quá trình quản lý dự án, sai lầm, sơ suất, thiếu sót như thế nào, những kẻ chịu trách nhiệm ở TƯ phía đảng và chính phủ, ở địa phương, tỉnh ủy, ủy ban, những nghành liên quan trực tiếp… Cả phía quốc hội.

– Những kết luận điều tra về thảm họa môi trường biển, các loại độc tố, ngoài nguyên nhân trực tiếp do những nhà thầu phụ là pháp nhân Trung Quốc, còn có những tác nhân nào khác? (Bởi kết luận của Bộ trưởng Tài nguyên Môi trường cũng khẳng định 50% cá chết do Formosa, vậy 50% còn lại là do đâu?!)

– Kết luận về những thiệt hại do Formosa gây ra:

. Thiệt hại về môi trường biển, quy thành giá trị cho đến khi được tẩy rửa trả lại cơ bản nguyên trạng.

. Thiệt hại về kinh tế biển và những ngành liên quan.

. Thiệt hại về dân sinh, sinh mạng và sức khỏe của cư dân các làng ven biển. Trước mắt phải bắt Formosa chi trả khoản tiền khám, xét nghiệm độc tố và cho tiến hành ngay việc này.

– Về pháp lý, hiện có hai loại ý kiến. Một của phía đảng và chính phủ dường như muốn xử phạt hành chính và cho tồn tại (như vẫn làm), có cam kết có tăng cường quản lý. Hai là dừng ngay Formosa và chuyển đổi mô hình và mục tiêu kinh tế.

– Quốc hội phải vào cuộc, đưa vụ này công khai minh bạch, khởi kiện ra tòa án hình sự. Chiếu cố những gì, thông cảm những gì cũng phải trên cơ sở một án quyết rõ ràng, công bằng, hợp lý.

Nếu Quốc hội đơn giản, tùy tiện bỏ qua vụ này, Quốc hội sẽ đứng trước sự phán xét của lương tâm, của niềm tin của nhân dân, của lịch sử, rằng một quốc hội vô cảm, vô minh trước thảm họa của Dân của Nước, dửng dưng trước nỗi đau của hàng triệu đồng bào.

Bốn là. Không được bỏ qua cơ hội “phán quyết thế kỷ của Tòa trọng tài quốc tế PCA về Biển Đông”. Phán quyết này rất có lợi cho Việt Nam trong việc bảo vệ quyền lợi của mình đối với Hoàng Sa và Trường Sa, đối với hành nghề của ngư dân ta trên biển. Phải nghiên cứu để có một dự luật điều chỉnh thái độ và ứng xử cần thiết của chính phủ và nhân dân ta. Nghiên cứu kỹ và tuyên truyền rộng rãi cho nhân dân về những kết luận của tòa trọng tài quốc tế. Chỉ định những giải pháp chiến lược và chiến thuật nhăm mở rộng thế đối ngoại, hạn chế thấp nhất tác hại do phía Trung Quốc gây ra, tăng cường nội lực an ninh, quốc phòng, bảo đảm thực thi dân chủ, dân quyền, phát huy sự cố kết sức mạnh của dân tộc, ở trong nước và ngoài nước, hoan nghênh nhân dân đã nhạy cảm trước hiểm họa mất chủ quyền biển đảo, đã có hành động yêu nước ôn hòa, bình tĩnh, tăng cường cho sức mạnh dư luận lên án hành động sai trái của Trung Quốc và cảnh giác cho nhà cầm quyền.

Năm. – Tuy vấn đề nêu ra cuối cùng, nhưng lại có tác dụng hàng đầu. Đây là vấn đề của mọi vấn đề. Nếu giải quyết tốt thì như dân gian nói, “đầu xuôi, đuôi lọt”, hoặc như Kinh Dịch nói là “nguyên hanh, lợi trinh”. Đó là vấn đề trách nhiệm và quyền hạn của BCH TƯ đảng. Đây là nguyên văn lời khẳng định của Hội nghị TW 3 vừa qua. BCH TƯ có trách nhiệm và quyền hạn (đang rất vô biên đối với đảng), trong nội bộ của đảng là dĩ nhiên. Nhưng thông báo nói rõ trách nhiệm, quyền hạn ấy đối với Đất nước, với Nhà nước và cả với xã hội! Từ trước đến nay chưa hề có một đạo luật nào quy định về những gì là nội dung, là khuôn khổ cũng như hình thức thể hiện cái trách nhiệm và quyền hạn ấy. Quốc hội phải có một đạo luật cho đảng cộng sản hoạt động. Rồi sẽ mở đường cho sự “phấn đấu hợp tác và đoàn kết với các đảng dân chủ dân tộc trong từng quốc gia” (như Tuyên ngôn CS, thánh kinh bị chà đạp). Và Quốc hội sẽ cótrách nhiệm và quyền hạn gì đối với hoạt động của đảng nói chung và công tác của BCH TƯ nói riêng. Ví dụ nếu quốc hội không có một dự luật nào nói về những ký kết của các Tổng bí thư các đảng với nhau, liệu đấy có tính pháp lý đến đâu, những tuyên bố công thức “ba không” (mà đang được điều chỉnh là ba không, một có) có thật hợp lý? Những vấn đề tương tự Quốc hội có quyền điều chỉnh thế nào…? Chúng ta nêu cao pháp quyền đặc biệt lại là pháp quyền XHCN. Đừng để hiểu nhầm rằng pháp quyền XHCN là vô thiên, vô pháp, đảng có thể tùy nghi hoạt động không cần pháp lý.

Có thể đây là nguyên nhân hàng đầu của sự rối loạn quyền lực, và dây chuyền là mọi rối loạn giá trị đang xảy ra từ ngót thế kỷ nay trên đất nước ta chăng? Quốc hội hãy quan tâm vấn đề này, không nên chần chờ, thụ động.

Mấy lời thô thiển gởi chào các Nghị sĩ nhân phiên họp đầu tiên của khóa XIV, cũng là tâm huyết gởi gắm tới Quốc hội của một công dân già. (Xin đừng như tên bí thư Đà Nẵng mắng dân ”già rồi, biết gì mà góp ý!”).

Kính chúc quý vị vạn an.

Hà nội ngày 19-7-2016.

N.K.M.

( Nguồn: Google)

Svetlana Alexievich: Người Nga không chịu đựng nổi tự do

Kerstin Holm

Phạm Kỳ Đăng dịch

NobelSvetlana Alexievich

Nữ văn sĩ ngưỡng mộ nghị lực của người Ukraine và sự thông thái của bà Angela Merkel, nhưng bà cũng phấn chấn vì người Bạch Nga không bị lũ đầu sỏ chính trị cướp bóc một cách trắng trợn. Một cuộc trò chuyện với nữ nhà văn mang giải thưởng Nobel Svetlana Alexievich (1).

Svetlana Alexievich sống trong một căn hộ chật hẹp tầng tám của một tòa nhà khổng lồ nằm tại trung tâm của thủ đô Bạch Nga. Từ cửa số nhìn ra người ta có một cảnh quan rất đẹp hướng tới hồ của dòng sông Swilslatsch đã tan băng. Trời mưa tuyết. Nữ tác gia mặc một chiếc áo len đan màu nâu sẫm và choàng ra ngoài một chiếc áo gi-lê dạ cứng cáp đan mẫu hình xanh lục. Bà nói bà bị cảm lạnh, đưa giày đi trong nhà cho người đến thăm và tiếp khách bằng bánh và cà phê trong bếp.

Là người nhận giải Nobel văn chương, người ta sống ra sao, thưa bà Svetlana Alexandrovna?

– Bây giờ ở nước Nga tôi có tác động như đạo quân thứ năm. Tờ báo văn học Literaturnaja gaseta gọi tôi là „đồ đệ của Bandera“(2), bởi vì tôi ủng hộ đường lối cải cách của Ukraine. Tổng thống Aliaksandr Lukašenka đã chúc mừng tôi, tuy nhiên trước kỳ bầu cử tổng thống. Sau khi ông được tái cử, ông tuyên bố rằng tôi đã ném thứ nhơ bẩn vào đất nước. Từ Nga chỉ có một thư chúc mừng của Sergej Naryschkin, chủ tịch nghị viện Duma. Không có gì từ Putin. Nước Nga có một quan hệ không lành mạnh đối với giải thưởng Nobel, đã luôn là thế với Ivan Bunin (3) và cũng như vậy với Joseph Brodsky (4).

Nhưng nữ ký giả Nga Julia Latynina, một người phê phán Putin gay gắt, cũng cho rằng, quyết định của hội đồng Nobel tặng giải cho bà cũng phát xuất từ một khẩu vị đặc „châu Âu“. Và nghĩa là bởi trong những cuốn sách của bà những nghiệm trải chiến tranh và tai họa kỹ thuật thường xuyên được trình bày từ giác độ của con người hoàn toàn bé nhỏ. Chưa bao giờ lo-gic và hệ lụy của những sự kiện trọng đại lọt vào tầm nhìn cả. Latynina quả quyết, hiểu cái lo-gic này hoặc là đơn giản chất vấn về nó, hầu như là vô đạo đức đối với người Âu châu hôm nay.

– Văn chương Nga luôn cấp tiếng nói cho những người thấp cổ bé họng. Chúng tôi đều đi ra từ „Chiếc áo bành tô“ của Gogol (5). Đơn giản nước Nga quá lớn, vì thế thường xuyên đưa ra những tư tưởng siêu việt trong việc biến con người thành đối tượng, nô dịch nó và nướng các cá thể thành một thể chất tập thể. Tôi phanh phui cái thể chất tập thể này ra và nghiên cứu những bộ phận đơn lẻ của nó.

Khi tôi đi dạo trong trung tâm thành phố Minsk, tôi vào cuộc trò chuyện với hai người phụ nữ. Họ cho rằng, sách của bà „bôi đen“. Văn chương trước hết đưa ánh sáng vào cuộc đời mới phải.

(Cười)- Nhiều người nghĩ rằng, văn chương cần trang điểm. Nếu như văn chương chỉ ra các vết thương, thì cũng ở đó có lời hiệu triệu hành động để thay đổi đi chút gì đó. Cái này thì khó chịu đây. Tôi đã nói với một tờ báo rằng, chúng ta cần những sự cải cách. Thế mà Lukašenka lại nói với một tờ báo khác, những cải cách là hoàn toàn thừa.

Cả hai nữ công dân làm nghề y, tức là không phải hoàn toàn vô học, tỏ ra hết sức trung thành với thể chế và tự hào rằng là phụ nữ, tại Minsk vào ban đêm, người ta có thể một mình tung tăng đi lại.

– Quả tình ở đây – cũng như ở Nga – dân chủ không có được số đông. Người ta phải thừa nhận rằng ít nhiều Lukašenka đã tuân thủ hợp đồng với nhân dân. Ông ta đã trợ giúp các tổ hợp nông nghiệp, những nhà máy nông phẩm của nhà nước, mặc dù việc này đối với ông không dễ. Ở đất nước chúng tôi có tham nhũng và kinh tế thân hữu chia lợi. Tuy nhiên tại Bạch Nga, nhân dân không bị cướp bóc trắng trợn như tại nước Nga, mà cũng tương tự thế ở Ukraine, nơi đồng ruộng bỏ hoang và nền nông nghiệp nằm chết gí dưới đất.

Tại nước Nga xúc xích, sản phẩm sữa, các loại bia từ Belarus rất được trọng vọng!

-Thực thế đó, khác với hàng Nga chứa nhiều chất phụ gia và kích thích khoái khẩu, thực phẩm của chúng tôi tuyệt hảo và nguyên vẻ tự nhiên, do được nhà nước kiểm soát. Tổng thống cùng cậu con trai ông có quan hệ gắn bó đã ra mắt giúp gặt hái „Bulba“, là khoai tây trong tiếng Bạch Nga.

Thỉnh thoảng người Nga gọi Bạch Nga một cách vui nhộn đáng yêu là „Bulbonien“ (lũ khoai tây).

– Người Bạch Nga là một tộc người nông dân, không bao giờ họ đánh mất mối liên hệ với chu kỳ của tự nhiên. Họ không hung dữ như người Matxcơva. Trong đám đông nếu có một người giận dữ, người khác xúm vào dỗ dành anh ta. Thay vào đó, khác với người Ukraine yêu tự do, họ cũng có vẻ thiếu sáng kiến hơn. Tôi tin vào người Ukraine, họ cương nghị, không dễ bề áp bức. Ở đó tôi đã trông thấy con mắt rực cháy của những người trẻ tuổi. Ở đất nước tôi người ta nói một cách đặc thù: hãy ráng chịu lấy tổng thống của chúng ta là hơn, ông ấy không còn trẻ nửa, cái chính là chúng ta không có cảnh Maidan!

Nhưng mà hôm nay người ta có thể mua được sách của bà tại Bạch Nga mà?

– Vâng, có một ấn bản 5 cuốn sách đẹp được nhà xuất bản Matxcơva Wremja phát hành. Đáng tiếc chỉ có bản dịch ra tiếng Bạch Nga trong dạng Samizdat. Hơn nữa sách của tôi sẽ tiếp tục không được bàn tới ở nhà trường như trước thời ông Lukašenka.

Bà có gốc gác Ukraine và Bạch Nga, nhưng mà lại viết bằng tiếng Nga.

– Tôi có ba ngôi nhà sinh thành: thành phố Đông Ukraine Ivanovo-Frankovsk, nơi mẹ tôi có nguồn cội và tôi sinh ra; ngôi làng Bạch Nga, nơi tôi lớn lên; và nền văn hóa Nga nuôi dưỡng tôi và tôi trở thành một phần của nó. Cha tôi, một người cộng sản đến Ivanovo-Frankovsk với tư cách là kẻ chiếm đóng phục vụ nhà nước Xô Viết bị căm ghét tại đây. Trong những năm 40, ở đó về nguyên tắc người ta không bán thứ gì cho người Nga. Chính vì thế khi còn là cô bé nhỏ tôi suýt bị chết đói. Vì thế cha tôi đi tới một tu viện và nói với bà tu viện trưởng. „Tôi là kẻ thù của nhà bà“, ông nói, “nhưng mà tôi có một cháu bé nhỏ chết vì đói khát“. Bà tu viện trưởng trả lời:“ Mi biến ngay đi, đừng để ta phải nhìn thấy mi nữa, nhưng để vợ mi đến đây!“ Mỗi ngày các bà sơ cho mẹ tôi sữa dê. Thứ đó đã cứu sống tôi.

Hôm nay nhiều khách qua đường đi vào nhà thờ Chính thống giáo nằm cạnh tòa nhà bà ở, để cầu nguyện hoặc thắp nến.

– Vâng, người ta đi vào nhà thờ, nhưng mà nhà thờ cũng hoàn toàn không có vẻ hung dữ và cuồng khích của Matxcơva. Ở đất nước chúng tôi cũng không có chủ nghĩa bài Mỹ của người Nga, tương tự như vậy là sự thù địch của người Nga đối với Liên minh châu Âu. Lukašenka cũng đã không ban bố những đạo luật khủng khiếp chống người đồng tính luyến ái như Putin…

Trong khi rất nhiều người đồng tính luyến ái ngồi trong nghị viện Duma và trong chính phủ…

…và cả trong Tòa thượng phụ Matxcơva! Tôi không có thể nói rằng phần đông người Bạch Nga hào hứng về những thú nhận đồng tính luyến ái công khai, nhưng mà họ coi đó là một câu chuyện riêng tư.

Hôm nay người ta có thể hàm ý rằng, nhà thờ Chính thống giáo Nga đã chiếm lĩnh được khẩu ngữ của lãnh tụ cách mạng Lê nin: “Càng tệ, càng hay“.

Trong thực tiễn, vị Trưởng lão Wsevolod Tschaplin chuyên trách về quan hệ công chúng tại Tòa thượng phụ Matxcơva có vẻ như mãn nguyện về tình trạng thê thảm của nền kinh tế Nga. Hay sao, rằng những năm tháng béo bở đã qua rồi, ông nói, điều này tốt cho người Nga. Đối với những người như Tschaplin, khổ đau là nhiệm vụ chính của con người, là công việc thực thụ của họ. Nhưng mà cả Alexander Solschenizyn(6) tin rằng, khổ đau sẽ được đền bù và dẫn tới tự do. Điều này làm tôi khác ông ấy.

Cuộc hôn nhân giữa Nga và Bạch Nga đi sâu vào khủng hoảng ra sao?

– Bạch Nga phụ thuộc vào Nga, vào những khoản cho vay đáng tiếc sẽ không theo kiểu đầu tư mà theo chu trình bị ăn cho kỳ hết. Từ khi Nga xâm lược Đông Ukraine và bán đảo Crimea thấy trước hết ở những người trẻ thuộc sắc tộc thiểu số, thì người Bạch Nga và cả tiếng Bạch Nga và phục trang dân tộc Bạch Nga ngày càng trở thành mốt. Gần đây người ta cũng cảm thấy mình bị đe dọa bởi đất nước hàng xóm và họ giữ khoảng cách với nó.

Bên cạnh tòa nhà bà ở có một salon xe limousine sang trọng hiệu Bentley. Đó có phải là điểm đối cực của khủng hoảng?

– Hiển nhiên thế, salon tồn tại mới từ một năm nay, nó được khai trương khi kinh tế suy sụp. Ngày hôm nay nhiều chủ kinh doanh ngồi trong nhà tù Bạch Nga, hãng của họ đánh thức sự thèm khát của ban lãnh đạo nhà nước. Một trường hợp nổi tiếng là xí nghiệp sản xuất sô-cô-la „Kommunarka“, Lukašenka giật về tay, viện cớ xí nghiệp có nguy cơ rơi vào tay người nước ngoài.

Ngày hôm nay bà cũng nhìn thấy ở Ukraine một nước Nga tốt hơn chăng, bởi vì là nước Nga không đế quốc?

– Vâng, người Nga nhận được tự do và muốn quay trở lại chế độ nô lệ. Họ yêu Putin, bởi vì đất nước của họ bây giờ cứ cho là được kính nể và sợ hãi. Đáng tiếc rằng khác với giới tinh hoa Ba Lan, giới tinh hoa Nga đã không có một kế hoạch gì cho một sự khởi đầu sau chế độ cộng sản. Tự do của Nga thuần túy chỉ là điều tán dóc, giới tinh hoa Nga chỉ có thể ăn cắp.

Có thể những chính trị gia và cố vấn phương Tây cũng đã không đóng một vai trò lúc nào cũng rất chi là vinh hạnh?

– Phương Tây đã muốn dàn xếp những vấn đề an ninh của mình. Nước Nga không phát triển được văn hóa chính trị. Thay vì hiệp ước và đạo luật tiếp tục vẫn cứ là những Ponjatia (những khái niệm về danh dự của giang hồ) vô thể thức, những thỏa thuận cá nhân giữa những kẻ mạnh tiếp tục có hiệu lực. Lấy ví dụ điều hứa đã được phương Tây trao cho: NATO sẽ không bành trướng sang phía Đông. Những người có quyền ra quyết định phát biểu, uống nhậu cùng với nhau, và Gorbatchev ngụ ý rằng, vấn đề là ở chỗ đó. Về chuyện này ở phương Tây không có thứ gì có hiệu lực khi không có một hiệp ước đúng thể thức.

Châu Âu ngày hôm nay tìm cách tự vệ trước những tín đồ Hồi giáo cực đoan bắt cóc con tin và sẵn sàng cho nổ tung thân xác. Bà đã từng gặp phải những người này trong những năm 70 rồi.

– Vâng, tại Afghanistan, nơi tôi tìm tư liệu cho cuốn sách „Những cậu bé chì“ của tôi. Dạo đó gây ấn tượng cho tôi là một cậu bé Afghanistan giải thích cho tôi rằng chết không là điều tồi tệ, rằng ngay sau đó cậu ta lên thiên đàng. Cậu ấy coi việc giết chết những tù binh của cậu cũng tương tự như thế, nếu như giả sử họ hàng của những người này không mang một bao tải bột tới nhằm chuộc lại tự do cho họ. Trung Đông là một chút gì rất riêng biệt.

Trung Đông ngày hôm nay cũng ở châu Âu.

– Tôi nhận ra điều đó trong những năm 2000, khi tôi sống ba năm tại Paris. Hay hơn thế, người ta tránh xa nhiều khu phố Ả Rập, khác với những khu người Trung Quốc và khu người Việt Nam tôi hay lui tới và là nơi tôi có được đồ ăn ngon.

Bà cảm nhận vụ đánh bom khủng bố Paris như thế nào?

– Những kẻ khủng bố mang súng AK đã có thể lọt vào nhà hát Bataclan cho thấy, lực lượng an ninh không nêu cao cảnh giác. Bọn khủng bố muốn biến chúng ta thành một phần của màn kịch được dàn dựng. Trên các video hành quyết, đồ tể luôn vóc cao lớn vận đồ đen, nạn nhân mặc đồ mầu đỏ và nhỏ bé hơn nhiều. Nhưng mà khi sau này những vị trưởng giáo đạo Hồi hát bài Marseillaise trước nhà hát Bataclan, cái đó cũng là một động thái đóng kịch rõ rệt.

Hôm nay bà nữ thủ tướng Merkel bị phê phán, bởi vì bà ấy muốn đón nhận người tỵ nạn không hạn chế.

– Tôi đánh giá bà Angela Merkel là một người đàn bà thông thái, vĩ đại, một nhân vật thực thụ của thời đại. Bây giờ nhiều người Nga la ó, rằng châu Âu sẽ sụp đổ bởi người di cư. Nhiều người trong số họ bản thân vốn là người nhập cư sống tại nước Đức. Nhưng mà thuộc về nước Đức cũng gồm cả những khu phố người Thổ Nhỹ Kỳ và rất nhiều cặp đôi pha trộn. Tôi thấy, người Đức bình thản nhìn nhận điều đó. Tôi tin tưởng rằng, nước Đức sẽ khắc phục khủng hoảng và „tiêu hóa“ được những dòng người tỵ nạn này.

30.11.2015.

© Phạm Kỳ Đăng dịch từ tiếng Đức

Nguồn: Frankfurter Allgemeine Zeitung

Về nữ tác giả bài viết:

Kerstin Holm, sinh năm 1958, học Nghiên cứu âm nhạc, Ngữ văn Roman, Slav, và Đức tại Hamburg, Muynich và Vienna. Bà là biên tập viên chuyên mục feuilleton của tờ FAZ.

(1) Svetlana Alexandrovna Alexievich (sinh năm 1948): Nhà văn Bạch Nga viết bằng tiếng Nga, nhận giải Nobel văn chương năm 2015.

(2) Stepan Andrijovitsch Bandera (1909-1959): Chính khách dân tộc chủ nghĩa người Ukraine. Ngày hôm nay ở vùng phía Đông Ukraine, nhưng cả ở Ba Lan, Nga, Israel, Bandera được xem như kẻ đầu hàng và tay chân phát xít, và tội phạm chiến tranh. Ở vùng phía Tây Ukraine Bandera được xem như anh hùng dân tộc.

(3) Ivan Alexejevitsch Bunin (1870-1953): Nhà văn, nhà thơ và dịch giả Nga, nhận giải Nobel văn chương năm 1933.

(4) Joseph Brodsky (1940-1996): Nhà thơ Nga, như Iwan Bunin nhận giải Nobel văn chương năm 1987 trong lưu vong.

(5) Nikolai Wassiljevitsch Gogol (1809-1852): văn hào Nga gốc Ukraine, tác phẩm được nói tới là Chiếc áo khoác.

(6) Alexander Issajevitsch Solschenizyn (1918-2008): Nhà văn, nhà viết kịch người Nga, tác giả của Quần đảo ngục tù. Nhận giải Nobel văn chương năm 1970

 

TIỀM ẨN Ý CHÍ VIỆT – TRĂNG ĐẾN RẰM TRĂNG TRÒN.

 

Văn Chinh

Nhà văn Đinh Văn Chinh


Chàng trai du học sinh chứng minh Trường sa của VN khiến cả nước Trung quốc nghiêng mình thán phục
Trong nội bộ Trung quốc bắt đầu có sự phân tán rất mạnh, sau khi Chàng trai du học sinh đưa ra công trình nghiên cứu, chứng minh Hoàng sa và Trường Sa là của Việt Nam. Rất nhiều bản đồ cổ của chính nước Trung Hoa chỉ ra rằng. Cực Nam của họ chỉ đến đảo Hải Nam. Đó là điều không thể chối cãi. PV Đô thị- hut ham cau binh duong lược dịch

Có tới trên 50 bản đồ Hoàng sa và 170 bản đồ cổ Trung quốc, cùng 4 bộ sách Atlas được chàng trai sưu tầm. Và công trình nghiên cứu của anh được công bố tại DH Yale cuối tuần qua. Chàng trai nghiên cứu sinh Trần Thắng đã làm cho bất cứ ai tham gia hội thảo phải thán phục. Trong đó có rất nhiều giáo sư, tiến sĩ đến từ Trung quốc đại lục phải ngả mũ. Đây được coi là nguồn tư liệu từ chính trong đất nước Trung Hoa. Khi mà Thắng cất công sang tận Trung Hoa để sưu tầm từ 2010. Được biết cha ruột của Thắng rước công tác tại đội xe hut ham cau binh duong. Ông đã có gắng tạo điều kiện cho con mình ra ngoài thế giới.
Trong đó có đến 3/4 là bản đồ cổ của Trung quốc, và 1/4 bản đồ do Phương Tây và Việt nam vẽ gần đây, từ năm 1618 đến 1859. Rất nhiều bản đồ cổ xưa nhất của Trung quốc, có tính liên tục, hệ thống suốt hàng ngàn năm trước và sau công nguyên. Đều chỉ ra rằng điểm cực Nam của Trung quốc dừng lại đảo Hải Nam. Chỉ duy nhất bắt đầu từ năm 1946 chính quyền Tưởng Giới Thạch mới vẽ ra định nghĩa vùng biển 11 đoạn, sau đó dần dần chuyển thành 9 đoạn. Điều đặc biệt hơn nữa, Chính nhà nước Trung quốc vào năm 1933, cũng đã phát hành lãnh thổ chỉ đến đảo Hải Nam.
Nhưng vì thấy bên Tưởng Giới Thạch vẽ cả vùng biển tiếp dưới. Do vậy không để mất mặt trước chính quyền Tưởng. Chính quyền Trung Hoa đại lục đã cho thu hồi hết và ra lại bản đồ mới. Nhưng họ vô tình không thể thu hồi hết những gì mình đã phát hành, có đóng dấu chính quyền.
Các nhà nghiên cứu Trung quốc cũng phải công nhận sự thật. Và trong nội bộ Trung quốc đại lục bắt đầu có dấu hiệu không rõ ràng. Chỉ vì một vài nét bút vẽ thêm vào bản đồ của Tưởng, đã khiến cho chính Quyền Trung quốc đại lục bây giờ phải đối phó với hầu hết các nước xung quanh. Theo công trình nghiên cứu, khi đi sâu vào hồi ký của Tưởng, hoàn toàn có thể nhận ra rằng. Tưởng cảm nhận được tương lại, và yếu thế trong việc đối phó với Công sản do Mao trạch Đông đứng đầu. Ông ta liền suy nghĩ mưu kế lâu dài. Sẽ chuyển hết quân tinh nhuệ của mình ra ngoài đảo Đài Loan.
Nhưng không quên để lại 11 nét bút bằng bút mực. Để tạo cho chính quyền Mao phải giải quyết vụ việc với các nước láng giềng, thay vì chăm chăm đối đầu với mình. Chính mưu kế (thâm độc , hèn hạ – mượn gió bẻ măng) và 11 nét bút nguệch ngoạc của chính quyền Tưởng. Mà giờ đây, toàn hệ thống chính quyền cộng sản Trung quốc phải căng mình đối phó. Họ không thể từ bỏ, vì họ đã chót cố đấm ăn xôi. Giờ bỏ, thì chắc chắn dân chúng sẽ lật đổ chính quyền. Còn nếu họ cố gắng chiếm, thì giờ đây họ phải đối mặt thách thức không chỉ là các nước láng giềng, mà còn rất nhiều nước lớn trên thế giới như Mỹ, Nhật… và đặc biệt là dự luận và cộng đồng thế giới.
Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia người Australia nghiên cứu các vấn đề về Biển Đông, cũng phải thốt lên rằng :
Người Việt thật quá tài năng!
Niềm tự hào của nước Việt trên đất Mỹ…
Thật đáng ngưỡng mộ!
Ông cũng nhận xét bộ sưu tập của chàng trai Trần Thắng sẽ chỉ ra điểm mẫu thuẫn lớn trong tuyên bố “chủ quyền không thể tranh cãi” đối với 2 quần đảo Hoàng sa và Trường sa.
Trao đổi với PV Đô thị – rut ham cau, anh Thắng cho biết. Hiện công trình nghiên cứu sẽ được anh dịch sang nhiều thứ tiếng, để truyền bá rộng rãi đến mọi người dân trên thế giới, nếu muốn tìm hiểu. Và đặc biệt là người dân tại chính Trung quốc đại lục, đang khá phân vân trước ngã tư đường. Khi mà họ đang bị chính quyền Cộng sản trung quốc che đậy và dẫn dắt thông tin.
“Việt Nam đã và đang được các học giả quốc tế đấu tranh bảo vệ lợi ích trên Biển Ðông. Chính phủ nước Việt Nam nên lập quỹ về Biển Ðông, giúp điều kiện phát triển thông tin về Biển Ðông. Từ ngân sách này, chúng ta có thể dịch sách, các công trình nghiên cứu, phim tài liệu và tài liệu về Biển Ðông sang tiếng Anh và tiếng Trung Quốc”, ông Thắng nói và cho rằng quỹ Biển Ðông cũng sẽ hỗ trợ cho các công trình nghiên cứu Biển Ðông. 
Bình Cao – PV Đô thị – lược dịch.(Nguồn : www.moitruongdothi.com

( THeo FB Đinh Văn Chinh)

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.07.2016

HÃY THA CHO HAI CHỮ “NHÂN DÂN”

HÃY THA CHO HAI CHỮ “NHÂN DÂN”

 

ngo minh

 Ngô Minh

 

          Gần đây, thành phố Đà Nẵng đã coc văn bản đề nghị thay cụm từ “Chủ tịch ủy ban nhân dân” thành “Thị trưởng”. Ví dụ gọi là : Thị trưởng Đà Nẵng, Thị trưởng Huế, thị trưởng Hà Nội.v.v… Thị trưởng là cá nhân chịu trách nhiệm. Còn Chủ tịch Ủy ban nhân dân thì tập thể lấn át, chủ tịch phải làm theo ý kiến tập thể, nghĩa là cha chung không ai khóc.  Mới đây khi thảo luận về việc thực thị Hiến pháp 1992, UBND Thành phố Hồ Chí Minh đã đề xuất không gọi là Ủy ban nhân dân … , mà gọi là Ủy ban hành chính…Hôm trước, xem ti vi, tôi thấy thông tin, Viện kiểm sát  nhân dân tối cao đề nghị đổi tên thành Viện công tố…. (Đọc tiếp…)

Cá chết

THƯ NGỎ

Hà Nội, ngày 18 tháng 7 năm 2016

Kính gửi:

Quốc hội khoá 14 của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Đồng kính gửi quý vị:

– Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam,

– Trần Đại Quang, Chủ tịch nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam,

– Nguyễn Xuân Phúc, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam,

– Nguyễn Thị Kim Ngân, Chủ tịch Quốc hội khoá 14

Xin thưa,

I

Vì những thảm hoạ môi trường đã, đang xảy ra và những hệ luỵ đang uy hiếp sự tồn vong của đất nước, tôi là công dân Nguyễn Trung, xin trân trọng đề nghị Quốc hội khoá 14 tiến hành trưng cầu ý dân cho ba vấn đề sau đây:

1. Đóng cửa và xoá bỏ khu công nghiệp Vũng Áng Formosa đang tồn tại và hoạt động theo giấy phép hiện hành.

2. Chuyển cảng biển Sơn Dương với tính chất là một bộ phận cấu thành của khu công nghiệp Vũng Áng Formosa thành cảng biển BT (Build and Transfer – xây dựng và chuyển giao) của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, do chủ thể Khu công nghiệp Vũng Áng Formosa xây dựng và chuyển giao cho phía Việt Nam theo luật pháp của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam dành cho thể thức “xây dựng & chuyển giao (BT)”.

3. Quốc hội khoá 14 ra lời kêu gọi nhân dân đứng lên đoàn kết bảo vệ môi trường: Toàn dân dốc sức cứu môi trường bị xâm hại như cứu hoả cho đất nước, đồng thời nỗ lực bảo vệ, tôn tạo môi trường hiện còn gìn giữ được; cùng nhau hậu thuẫn, thúc đẩy và giám sát trong cả nước việc thực thi pháp luật và các chủ trương chính sách đã ban hành liên quan đến bảo vệ môi trường; tham gia sửa đổi hệ thống luật pháp và các chủ trương chính sách hiện hành liên quan đến nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong tình hình mới của đất nước; tranh thủ mọi sự giúp đỡ có thể của cộng đồng thế giới cho việc cứu và bảo vệ môi trường của đất nước.

II

Xin được kiến giải như sau cho ba việc cần phải làm đã nêu trên:

1. Về đóng cửa khu công nghiệp Vũng Áng Formosa

Xem xét mọi mặt những sự việc đã xảy ra và các hệ luỵ trong thực tiễn nước ta từ nhiều năm nay, gần đây nhất là tình trạng bế tắc và những gánh nặng nhiều mặt ngày càng lớn đất nước đang phải chịu đựng do việc khai thác bauxite Tây Nguyên; đánh giá sự lũng đoạn nham hiểm từ bên ngoài và tình trạng yếu kém chưa từng có do tha hoá tệ hại của hệ thống chính trị và quản trị quốc gia, lại trong bối cảnh đất nước đang cùng một lúc phải đối phó với nhiều khó khăn chồng chất – từ tình trạng đất nước đang bên miệng hố chiến tranh của khu vực và nguy cơ bị xâm lược, đến biết bao nhiêu thách thức kinh tế – chính trị – văn hoá – xã hội dồn dập.., cá nhân tôi thấy phải đóng cửa ngay khu công nghiệp Vũng Áng Formosa.

Đây là giải pháp vô cùng cấp bách, đỡ tổn thất nhất và bớt đau đớn nhất cho đất nước, ngõ hầu mở được lối thoát cho quốc gia ra khỏi tình thế nguy hiểm hiện nay. Thực tế đang cho thấy: Ung nhọt Vũng Áng Formosa còn tồn tại thêm một ngày, đất nước sẽ thối vỡ thêm một ngày.

Cần dứt khoát cấm việc sản xuất thép tại đây, vì các lý do:

(a) công nghệ sản xuất thép Formosa đem về Vũng Áng lạc hậu và gây ô nhiễm nặng rất khó xử lý, lại thêm sự quản lý và giám sát từ phía nước ta có quá nhiều yếu kém và lỗ hổng,

(b) từ hàng chục năm nay cung đã vượt cầu khiến thị trường thép trên thế giới hầu như đóng băng, mặt khác quy mô sản xuất thép của Vũng Áng Formosa quá lớn và những ưu đãi ngoại lệ đến khó hiểu nó được hưởng có thể đè bẹp công nghiệp thép hiện có trong nước ta,

(c) toàn bộ khu công nghiệp Vũng Áng Formosa hiện nay hàm chứa và đang phát sinh quá nhiều hiểm hoạ mọi mặt – bao gồm cả lĩnh vực an ninh quốc phòng – vượt tầm xử lý hiện nay của nước ta,

(d) sự tồn tại của Vũng Áng Formosa đẩy nước ta lún sâu vào tình trạng là bãi thải công nghiệp cho nước ngoài, gia tăng sự lệ thuộc kinh tế – chính trị của đất nước, tạo điều kiện cho bên ngoài lũng đoạn ngày càng sâu vào nội tình nước ta…

Để giảm thiểu tổn thất cho phía nước ta cũng như cho bên đầu tư nước ngoài, sau khi quyết định đóng cửa khu công nghiệp Vũng Áng Formosa, có thể đàm phán cấp phép mới cho khu kinh tế này theo đúng pháp luật hiện hành và thuận chiều với con đường phát triển của nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại như đã ghi trong Hiến pháp 2013 – bao gồm cả những vấn đề liên quan đến bảo vệ môi trường–, kiên quyết loại bỏ các ưu đãi vượt, phá luật hoặc xâm hại chủ quyền và an ninh quốc gia.

2. Về việc chuyển cảng Sơn Dương của khu công nghiệp Vũng Áng Formosa thành cảng biển BT của Việt Nam

Các đặc quyền khu công nghiệp Vũng Áng Formosa được hưởng, cách vận hành của nó mang tính loại trừ hoặc vô hiệu hoá sự quản lý và quyền giám sát của nước chủ nhà, cùng với thời hạn thuê đất 70 năm và những hình thức lũng đoạn khác đã xảy ra, về nhiều mặt khu công nghiệp Vũng Áng Formosa đậm nét của một vùng đất tô nhượng ngay trên vị trí chiến lược của nước ta.

Thực tế địa kinh tế và địa chính trị hiện nay của nước ta và trong khu vực không cho phép nước ta chấp nhận thực trạng này, nhất là đất nước ta đang ở trong tình trạng bên miệng hố chiến tranh của khu vực và cùng một lúc đang phải đối phó với nhiều thách thức hiểm nghèo từ nhiều phía.

Trong bối cảnh như vậy, không thể chấp nhận có một cảng nước sâu có tính chất chiến lược của đất nước và trong khu vực Biển Đông là cảng Sơn Dương lại nằm trọn trong tay nước ngoài – cụ thể ở đây là Khu công nghiệp Vũng Áng Formosa – với các thành phần tham gia có không ít nghi vấn.

Nhất thiết phải khắc phục ngay thực trạng đất nước trên thực tế đang “bị thọc sườn” như vậy, bằng việc chuyển đổi ngay cảng Sơn Dương với tính chất là cảng riêng của khu công nghiệp Vũng Áng Formosa thành cảng Sơn Dương “BT”, do nhà nước Việt Nam trực tiếp vận hành với các thể thức “BT” của luật pháp Việt Nam dành cho nhà đầu tư nước ngoài.

3. Về việc Quốc hội khoá 14 kêu gọi nhân dân cả nước đứng lên bảo vệ môi trường

Do những nguyên nhân chủ quan của trình độ phát triển, chế độ chính trị và con người, những nguyên nhân của tự nhiên, nhìn chung tình trạng ô nhiễm và huỷ hoại môi trường ở nước ta có thể nói đang ở mức báo động. Biến đổi khí hậu như đang diễn ra càng làm cho tình hình thêm quyết liệt.

Tuy nhiên cần nhấn mạnh tệ nạn tham nhũng và những hệ luỵ, các hành động ăn cắp và ăn cướp tài nguyên quốc gia, cung cách làm ăn “bóc ngắn cắn dài”, “kẻ ăn ốc người đổ vỏ”, sự bất cập của hệ thống chuyên môn và quản trị quốc gia, cùng với thực trạng chưa tạo ra được sự quan tâm đúng mức của từng người dân cho bảo vệ môi trường đang là những nguyên nhân trầm trọng nhất.

Đất nước đứng trước tình hình môi trường bị ô nhiễm hay phá huỷ đang gây ra những tổn thất ngày càng khó khắc phục, thậm chí đang kìm hãm hoặc kéo lùi sự phát triển của đất nước, mang lại ngày càng nhiều khó khăn và bất hạnh cho nhân dân, an ninh và tiền đồ phát triển của quốc gia bị uy hiếp.

Đặc biệt thảm hoạ Formosa trên vùng biển Miền Trung đang gây ra nhiều hậu quả rất nghiêm trọng và lâu dài chưa lường hết được về các mặt bảo vệ môi trường sống, kinh tế nói chung và kinh tế biển nói riêng, bảo vệ biển đảo quốc gia, an ninh quốc phòng; quy mô vùng biển bị huỷ hoại quá lớn chưa có lý giải thuyết phục. Cần phải công khai minh bạch cho cả nước biết rõ toàn bộ tình hình của thảm hoạ này, phương hướng và các bước đi khắc phục để huy động sự tham gia của cả nước, tranh thủ sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế.

Đã đến lúc Quốc hội khoá 14 cần kêu gọi toàn thể nhân dân đứng lên cứu môi trường bị xâm hại như cứu hoả cho cả nước, chung tay bảo vệ và tôn tạo môi trường còn gìn giữ được. Quốc hội quyết định ngay việc dứt khoát nghiêm cấm mọi hành vi trấn áp tinh thần và nỗ lực của nhân dân đứng lên bảo vệ môi trường.

Tình hình đã đến lúc phải coi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong giai đoạn và hoàn cảnh cụ thể hiện nay của đất nước bắt đầu từ cứu môi trường bị xâm hại như cứu hoả cho cả nước, kêu gọi toàn dân dốc toàn lực và ý chí cho gìn giữ và bảo vệ môi trường để đẩy mạnh đất nước phát triển.

Điều này chẳng những đúng với đòi hỏi khắc phục thảm hoạ môi trường đang xảy ra trên phần lớn biển Miền Trung, đúng với đấu tranh chặn đứng nạn ăn cắp và ăn cướp tài nguyên quốc gia, đúng với tạo áp lực bảo vệ và thực thi pháp luật – kỷ cương quốc gia nói chung và nhiệm vụ bảo vệ môi trường nói riêng, đúng với những đòi hỏi bảo vệ sức khoẻ và hạnh phúc của nhân dân, xây dựng văn hoá của nếp sống văn minh, đúng với đòi hỏi thực hiện và nâng cao vai trò là chủ đất nước của nhân dân… Có một nhân dân đoàn kết và làm chủ đất nước như thế, Việt Nam là bất khả xâm phạm và sẽ có tất cả!

Tôi chỉ lo hiểu biết của mình không nói lên hết được những điều cần nói ở đây. Song tôi hoàn toàn tin rằng trong hoàn cảnh hiện nay của đất nước, vận động cả nước đứng lên cứu môi trường bị xâm hại như cứu hoả, ra sức bảo vệ và tôn tạo môi trường còn gìn giữ được sẽ là bước đi đầu tiên mở ra con đường đổi đời đất nước và từng người dân.

III

Tôi hình dung được cái giá đất nước phải trả rất lớn và cả nước phải nỗ lực rất gian khổ trên các phương diện kinh tế, chính trị, pháp lý, đối ngoại… cho việc thực hiện ba việc phải làm đã trình bày trên (phần I). Sẽ là vô cùng đau đớn, song tôi cả quyết đấy là con đường “rẻ nhất” (với nghĩa đỡ tổn thất nhất) và là duy nhất mở ra cho đất nước lối thoát khỏi những nguy hiểm nhiều bề hiện nay, nhờ đó nước ta giảm được tụt hậu, và đồng thời có thể tạo ra thế và lực chuyển sang một giai đoạn phát triển mới.

Ba việc cực khó và vô cùng quan trọng này đòi hỏi cả nước phải hy sinh phấn đấu rất lớn, chính vì thế cần tổ chức trưng cầu ý dân để được dân chấp thuận và để cả nước một lòng một chí quyết tâm thực hiện. Cả nước sẽ sát cánh cùng với Quốc hội và Chính phủ phát huy trí tuệ, nghị lực và mọi nguồn lực để tìm ra cách thực hiện – đúng với tinh thần ngàn đời nay của đất nước:Thuận mọi bề không dân đành chịu, khó triệu bề dân liệu cũng xong!

Thiết nghĩ, trong bối cảnh hiện tại của đất nước ta và khu vực, lựa chọn ba việc phải làm như trình bày trên sẽ dấy lên một tinh thần Việt Nam mà đất nước lúc này nhất thiết phải có, để có thể đứng vững trên Biển Đông đầy sóng gió, và để làm được nghĩa vụ của mình vì hoà bình, hợp tác và phát triển đối với cộng đồng khu vực và quốc tế.

Quyết định trưng cầu ý dân về tiến hành ba việc trọng đại này, Quốc hội khóa 14 hiển nhiên sẽ khai phá được cho chính mình con đường nương tựa vào nhân dân để xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân phù hợp với những đòi hỏi mới của đất nước trong bối cảnh của khu vực và thế giới hôm nay.

Thư ngỏ này tôi đồng gửi đến Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trần Đại Quang, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân với mong mỏi quý vị, với tính cách là những đại diện cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam trong hệ thống chính trị của đất nước, sẽ làm cho Đảng của mình trở thành động lực quyết định của cả nước trong việc thực hiện ba việc phải làm đầy thách thức và khó khăn gian khổ này.

Tôi khát khao được bộc bạch với nhân dân cả nước ba việc hệ trọng phải làm nêu trong thư ngỏ này. Vì vậy, tôi kính mong Quốc hội khoá 14 trả lời kiến nghị của tôi cũng dưới hình thức thư ngỏ để bạch hoá với cả nước ý kiến của Quốc hội.

Trân trọng,

Nguyễn Trung

(nguyên trợ lý cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt)

Đọc Thư Ngỏ của ông Nguyễn Trung gửi Quốc hội nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Việt Nam, chúng tôi đồng tâm nhất trí với nội dung của Thư Ngỏ. Để biểu tỏ sự đồng tâm nhất trí ấy, chúng tôi cùng ký tên dưới đây:

1. Tương Lai, nguyên thành viên Tổ Tư vấn Võ Văn Kiệt, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học Việt Nam

2. Đào Công Tiến, nguyên Hiệu trưởng Đại học kinh tế TPHCM

3. Huỳnh Tấn Mẫm, nguyên Chủ tịch Tổng Hội sinh viên Sài Gòn trước 1975, nguyên Tổng Biên Tập Báo Thanh Niên, hiện là Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Tổ Quốc TP. Hồ Chí Minh

4. Huỳnh Kim Báu, nguyên Tổng Thư ký Hội Trí thức Yêu nước TPHCM

5. Lê Công Giàu, nguyên Phó Bí thư Thành đoàn TP HCM, nguyên Phó Tổng Giám đốc Saigontourist

6. Nguyễn Văn Ly (Tư Kết), nguyên Thư ký của Bí thư Thành ủy TP HCM Mai Chí Thọ

7. Nguyễn Đình Đầu, Nhà nghiên cứu TP.HCM

8. Phaolô Nguyễn Thái Hợp, Giám mục Giáo phận Vinh

9. GB Huỳnh Công Minh, Linh mục Tổng Giáo phận Sài Gòn

10. Võ Văn Thôn, nguyên Giám đốc Sở Tư pháp TP HCM

11. Hoàng Dũng, PGS TS, TP HCM

12. Bùi Tiến An, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên Chuyên viên Ban Dân vận Thành ủy TP HCM

13. Tô Lê Sơn, kỹ sư, CLB Lê Hiếu Đằng, TP HCM

14. Hoàng Hưng, nhà thơ, nhà báo, nguyên Trưởng ban Văn hoá Văn nghệ báo Lao Động, TP HCM

15. Kha Lương Ngãi, nguyên Phó Tổng biên tập báo Sài Gòn giải phóng, TP HCM

16. JM Lê Quốc Thăng, Linh mục Tổng Giáo phận Sài Gòn

17. Nguyễn Quốc Thái, nhà báo, TP HCM

18. Nguyễn Trung Dân, nhà báo, TP HCM

19. Hạ Đình Nguyên, cựu tù chính trị Côn Đảo, TP HCM

20. Cao Lập, cựu tù chính trị Côn Đảo, TP HCM

21. Hà Quang Vinh, nguyên PCT UBND huyện Bình Chánh, TP HCM

22. Lê Đăng Doanh, TS, Thành viên Ủy ban Chính sách Phát triển của Liên Hiệp Quốc, Hà Nội

23. Nguyễn Quang A, TS Khoa học Điện tử Viễn thông, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển IDS, nguyên Chủ tịch Hội Tin học Việt Nam, Hà Nội

24. Phạm Gia Minh, TS, Hà Nội

25. Nguyễn Thị Ngọc Toản, cựu chiến binh, Đại tá, Giáo sư Bác sĩ, Hà Nội

26. Nguyễn Thị Ngọc Trai, nhà văn, nhà báo, nguyên Phó Tổng Biên tập Báo Văn Nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam, Hà Nội

27. Tô Nhuận Vỹ, nhà văn, Huế

28. Nguyễn Thế Hùng, GS TS, Đà Nẵng

‘Tại sao chỉ hư cấu mới làm nên văn chương?’

Nguyên Ngọcnhà văn Nguyên Ngọc

 Nguyên Ngọc cho rằng Viện Hàn lâm Thụy Điển làm cuộc cách mạng khi trao Nobel Văn chương cho Svetlana Alexievich, bởi họ đánh đổ thành kiến “chỉ văn học hư cấu mới giá trị”.

Gần 20 năm trước khi Svetlana Alexievich (nhà báo, nhà văn người Belarus) dành giải Nobel Văn chương năm 2015, Nguyên Ngọc đã biết và dịch tác phẩm của bà ra tiếng Việt.

Không chỉ là nhịp cầu đưa Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ đến với bạn đọc Việt, Nguyên Ngọc với con mắt của một nhà văn có cái nhìn sâu hơn về ý nghĩa, giá trị của tác phẩm. (Đọc tiếp…)

Tại sao Hàn Quốc phát triển rực rỡ còn Việt Nam thì không?

Năm 2004, Việt Nam cho chiếu bộ phim “Thời đại anh hùng” trong đó có đoạn, Tổng thống Park Chung-hee đã khóc vì thấy dân khổ quá. Ông tuyên bố sau 10 năm nữa sẽ có nhiều nước trên thế giới phải đến làm thuê cho Hàn Quốc, và sự thật đã đến với họ trong đó có Việt Nam.

Thập niên 60, Hàn Quốc là 1 trong những nước nghèo đói nhất châu Á. Năm 1968, người Hàn quyết định thay đổi giáo dục bằng cách bê nguyên sách giáo khoa của người Nhật về dịch sang tiếng Hàn để giảng dạy, ngoại trừ các môn xã hội như địa lý, lịch sử và văn học. Lúc đó cũng có nhiều người chỉ trích rằng, Hàn Quốc lẽ nào lại không tự soạn được một bộ sách giáo khoa, đây cũng bởi tính sĩ diện của họ rất cao.

Hàn QuốcPhố ở Hàn Quốc

Nhưng chính phủ vẫn quyết tâm thực hiện, vì để có được chương trình giáo dục đó, người Nhật đã mất cả trăm năm cải biên cách đào tạo phương Tây sao cho phù hợp với đặc trưng của châu Á, bắt đầu từ thời Minh Trị Thiên Hoàng. Để rút ngắn thời gian, Hàn Quốc chẳng có cách nào ngoài việc lấy kinh nghiệm của người khác, và để dành thời gian và công sức lo việc khác nữa. Vì Hàn Quốc muốn trở thành một bản sao mới của Nhật, nền kinh tế dựa trên lòng tự hào dân tộc, tính kỷ luật và đạo đức của toàn thể xã hội.

Đúng 20 năm sau, năm 1988, Hàn Quốc đăng cai Olympic Seoul, cả thế giới không ai tin vào mắt mình khi thấy kỳ tích bên bờ sông Hàn. Ô tô, xe máy, dệt nhuộm, hoá chất, đóng tàu, điện tử, bánh kẹo… bên Nhật có cái gì thì bên này có cái đó mặc dù dù dân số chỉ bằng 1/3. Không ai biết trong 20 năm đó, cả dân tộc Hàn đã nắm chặt tay với quyết tâm thoát nghèo như thế nào, chỉ biết rằng trên tivi lúc đó chỉ có vẻn vẹn 2 chương trình là “dạy làm người” và “dạy làm ăn”; từ cái văn minh nhỏ xíu như nụ cười của một nhân viên bán hàng cho đến cách quản lý chi phí của một quán cà phê, cách tạo dựng một nhà máy.

Từ một dân tộc “xin việc”, tức các doanh nghiệp nước ngoài đến đặt nhà máy tại Hàn và thuê lao động tại đây, Hàn Quốc bắt đầu khan hiếm lao động và trở thành dân tộc đi “cho việc”, mà người xếp hàng “xin việc” lúc bấy giờ lại là người Trung Quốc, Thái Lan, Philippines. Hàn Quốc đã thành công trong việc tiếp nối Nhật Bản thành dân tộc đi “cho việc” người khác.

Năm 1988, pháo hoa thắp sáng 2 bờ sông Hàn, người Hàn Quốc ôm nhau cười trong nước mắt, hơn 100 quốc gia giàu có nhất trên thế giới miễn visa cho họ. Hàn Quốc giờ đây đã bước chân vào nhóm 24 quốc gia thịnh vượng nhất loài người. Nhưng thách thức mới lại xuất hiện, vì bây giờ không phải là Nhật Bản nữa, mà là Hồng Kông và Singapore, 2 cực hút nam châm của cả châu Á về tài chính, thương mại và giải trí.

Phim Hồng Kông tràn ngập thị trường và không có đối thủ. Ngay lập tức người Hàn tuyển chọn ra 2.000 sinh viên ưu tú nhất, cử sang Holywood, điên cuồng học hành, từ đạo diễn, diễn viên, phục trang đạo cụ… 4 năm sau tốt nghiệp, (năm 1992), những bộ phim đầu tay như: Cảm xúc, Mối tình đầu, Hoa cúc vàng,…với một thế hệ diễn viên đẹp từng milimet đã chinh phục được hàng triệu con tim.

Ngành làm phim đã phối hợp khéo léo với ngành thời trang, mỹ phẩm và hàng tiêu dùng để xâm nhập vào các thị trường. Đại sứ quán Hàn Quốc tại các nước có nhiệm vụ dịch thuật ra tiếng địa phương và tặng không cho các đài truyền hình, tạo ra làn sóng Hanluy nổi tiếng. Người Nhật điên cuồng, người Trung Quốc điên đảo, các nước Đông Nam Á thì chỉ biết ụ pa ơi, ụ pa hỡi. Phim Hồng Kông bị đá văng ra khỏi thị trường cho thuê băng đĩa.

Vào năm 1988, ngoài 2.000 người đi Holywood để xây dựng công nghiệp điện ảnh thì cũng có ngần ấy người được cử sang Milan và Paris để học thời trang, mỹ phẩm. Các tập đoàn như xe Kia, Samsung, Hyundai còn thuê cả ê-kip thiết kế của các hãng xe Đức như Mercedes, BMW làm việc cho họ, với tham vọng xuất khẩu xe sang Mỹ và châu Âu. Muốn bán cho Tây thì bao bì nhãn mác phải có óc thẩm mỹ của Tây, chứ kiểu “tròn tròn xinh xinh” của dân châu Á, người Tây không thích, không bán được. Có những năm mẫu xe của

Hyundai bán chạy nhất ở Bắc Mỹ và châu Âu. Người Mỹ bắt đầu nhìn người Hàn với ánh mắt khác, ngưỡng mộ, ngạc nhiên và thích thú.

Ngoài ra, người Hàn cũng cử những sinh viên giỏi toán nhất nước theo học ngành tài chính ở các trường đại học lớn của Mỹ, với tham vọng Seoul sẽ thành một London, New York. Các quỹ đầu tư ra đời và họ tự tìm kiếm các nhà máy mới khởi nghiệp be bé để rót tiền vào, tham gia vào quản trị. Hộ không hề chỉ trích, chỉ góp sức góp trí để xây dựng. Một người Hàn giàu có là cả dân tộc Hàn giàu có.

Hệ thống bán lẻ Lotte phải có nghĩa vụ mang hàng hoá Hàn đi khắp nơi. Ông lớn Samsung bắt đầu tuyển dụng những sinh viên giỏi nhất châu Á để cho học bổng thạc sĩ miễn phí với điều kiện tốt nghiệp xong phải mấy năm phục vụ cho họ. Họ gom trí tuệ của cả châu Á để chinh phục thị trường điện thoại thông minh và máy tính bảng, cạnh tranh đối đầu với Apple, đối đầu với cả một tập thể trí tuệ thung lũng Silicone, cứ như Airbus của châu Âu cạnh tranh với Boeing vậy.

7+

Người Hàn Quốc, dù dân thường hay sếp lớn, tất tần tật mọi thứ họ dùng phải là “Made in Korea”, dù vào thập niên bảy mươi sản phẩm vô cùng kém cỏi và xấu xí. Nhưng nếu người tiêu dùng không ủng hộ sản phẩm nhem nhuốc của thời khởi nghiệp, thì doanh nghiệp còn tồn tại đâu mà có sản phẩm tinh xảo sau này?

Tony nhớ lần đi Hàn đầu tiên, mùa thu năm 2005, bà chị ở Việt Nam cẩn thận ghi tên mấy nhãn hiệu mỹ phẩm ưa thích của chị ấy rồi nhắn mình mua giùm. Ở cửa hàng mỹ phẩm, cô bán hàng mặc bộ váy veston đen, chạy như bay lấy hết sản phẩm này đến sản phẩm khác cho Tony xem, đều là của Hàn cả. Do tiếng Anh không nói tốt nên cô cứ giải thích bằng tiếng Hàn đến lúc giọng khàn đặc. Đến lúc Tony lấy tay chỉ hộp phấn Lancom, thì cô thất vọng oà khóc. Cô khóc vì cô đã không thành công khi tình yêu nước của cô không thuyết phục được khách hàng. Tony nhìn cô ấy sững sờ, lẽ nào chỉ là 1 cô gái bán hàng bình thường mà có lòng yêu đất nước mãnh liệt thế sao? Tony thôi bèn mua mấy hộp mỹ phẩm của Hàn, dù chẳng biết có tốt không, vì kính phục quá. Lúc Tony bước ra khỏi cửa hàng, ngoái lại vẫn thấy cổ gập đầu cung kính.

Ngoài phố, gió bắt đầu lạnh, từng tốp học sinh chạy tập thể dục rầm rập trên vỉa hè, những chiếc áo khoác thêu cờ quốc gia ở sau lưng. Và Tony biết, sau lưng của mỗi công dân luôn là tổ quốc.

Tony Buổi Sáng

( Nguồn: Google)

 

Bài phát biểu của Tổng bí thư Lê Duẩn về Trung Quốc năm 1979

 QTXM: CŨNG LÀ TỔNG BÍ THƯ ĐẢNG CỘNG SẢN CẢ, VỀ THỜI GIAN CŨNG CHƯA XA XÔI GÌ, SAO ÔNG LÊ DUẨN LẠI KIÊN QUYẾT, RẠCH RÒI VỚI BỌN BÀNH TRƯỚNG TRUNG QUỐC, KẺ THÙ TRUYỀN KIẾP CỦA VIỆT NAM ĐẾN VẬY, MÀ CÁC TBT ĐẢNG TIẾP THEO SAU NÀY LẠI “BẠN 16 VÀNG”, “4 TỐT” HỮU HẢO ĐỂ LÀM KHỔ DÂN VẬY? MỜI CÁC  HỌC GIẢ GIẢI THÍCH GIÙM!

Lê DuẩnCụ Hồ và ông Lê Duẩn

Chúng ta không muốn hận thù dân tộc. Tôi lặp lại: tôi nói điều này bởi vì tôi chưa bao giờ cảm thấy căm thù Trung Quốc. Tôi không cảm thấy như thế. Đó là họ đánh chúng ta.

Nguồn: Thư viện Quân đội Nhân dân, Hà Nội

Tài liệu do Christopher Goscha có được và dịch cho CWIHP

Ngọc Thu, dịch từ: Wilson Center

Nói chung, sau khi chúng ta đánh bại Mỹ, không đế quốc nào dám đánh chúng ta nữa. Chỉ có những người nghĩ rằng họ vẫn có thể đánh chúng ta và dám đánh chúng ta là những kẻ phản động Trung Quốc. Nhưng người dân Trung Quốc hoàn toàn không muốn thế. Tôi không biết những kẻ phản động Trung Quốc này sẽ tiếp tục tồn tại thêm bao lâu nữa. Tuy nhiên, miễn là họ tồn tại, thì họ sẽ tấn công chúng ta như họ vừa thực hiện (nghĩa là đầu năm 1979). (Đọc tiếp…)

NGƯỜI TRUNG QUỐC BỊ TRỌNG TÀI QUỐC TẾ PHÁN QUYẾT “ĐUỔI KHỎI” BIỂN ĐÔNG, LIỀN CHƠI TRÒ BẨN THỈU 

Một nhà hàng ở Bắc Kinh đã gây sốc khi treo bảng cấm chó và miễn tiếp công dân đến từ các quốc gia có liên quan trong cuộc tranh chấp lãnh hải với Trung Quốc, làm dấy lên 1 làn sóng phẫn nộ đối với dân Việt Nam và Philippines.

Nhà hàng Snacks ở Bắc Kinh, gần khu vực Tử Cấm Thành – 1 địa điểm du lịch nổi tiếng của quốc gia, đã treo bảng ngay tại cửa ra vào với nội dung: “Quán ăn này không tiếp nhận người Nhật, Philippines, Việt Nam và chó”.

Bức ảnh này đã nhanh chóng gây nên 1 cuộc tranh cãi quyết liệt tại các diễn đàn người Việt, trên báo và các trang web Philippine vào ngày thứ 4.

Tấm bảng kỳ thị tai nhà hàng

Tấm bảng kỳ thị tai nhà hàng

Báo Tuổi Trẻ của Việt Nam cũng viết 1 câu chuyện về tình trạng tương tự trước đây, khiến cư dân mạng vô cùng tức giận. Nhiều người cho rằng đây là 1 ví dụ điển hình về việc người Trung Quốc coi trọng chủ nghĩa dân tộc cực đoan và cần được lên án.

Một độc giả người Việt – Sỹ Văn đã bình luận câu chuyện trên trang web của báo Tuổi Trẻ: “Đây không phải là tinh thần yêu nước, đây là sự ngu ngốc cực đoan”.

Tấm bảng gây sốc của nhà hàng đã làm xuất hiện hàng ngàn bài viết trên trang mạng xã hội Việt Nam và nhiều bài báo nhận xét, chống đối.

Quán không tiếp nhận người Việt, người Philippine, người Nhật và chó

Quán không tiếp nhận người Việt, người Philippine, người Nhật và chó

Người dùng Facebook – Chung Pham chia sẻ: “Chủ nhà hàng rõ ràng là đã bị tẩy não bởi chính phủ nước họ”.

Người dùng Facebook – Andrea Wanderer chia sẻ: “Suy nghĩ của người Trung Quốc sớm muộn cũng làm huỷ hoại cả 1 thế hệ tương lai”.

Người dân Philippines cũng vô cùng tức giận với tấm bảng tại nhà hàng.

Nhà báo Veronica Pedrosa chia sẻ trên Tweet rằng: “Nạn phân biệt chủng tộc đã xảy ra ngay tại nhà hàng Bắc Kinh”.

Người dùng Facebook – Rey Garcia nói: “Người Trung Quốc ăn tất cả mọi thứ, thậm chí là móng tay và chính thai nhi của họ”.

Canh thai nhi - Món ăn kinh dị của một bộ phận đại gia Trung quốc để tăng khả năng giường chiếu.

Canh thai nhi – Món ăn kinh dị của một bộ phận đại gia Trung quốc để tăng khả năng giường chiếu.

Việt Nam và Philippines đang bị cấm vận trong thời gian dài với Trung Quốc tại các đảo ở Biển Đông. Song song đó, Trung Quốc và Nhật Bản đang có tranh chấp gây gắt với các đảo ở phía đông Trung Quốc.

Việc sử dụng những từ ngữ “cay nghiệt” trên tấm bảng khiến ta nhớ lại thời kỳ thuộc địa của Trung Quốc khi Anh cấm sự xâm nhập của Trung Quốc. “Cấm chó và Trung Quốc” được treo bên ngoài công viên Thượng Hải khi các cường quốc phương Tây xâm chiếm và điều hành Trung Quốc.

Tấm bảng treo tại nhà hàng vẫn đang dấy lên nhiều mối tranh cãi. Ông Wang – chủ nhà hàng chia sẻ với AFP rằng: “Đây là suy nghĩ và hành động của riêng mình tôi, không có chính quyền nào can thiệp vào điều này cả”.

( Nguồn: Google)

TRung Quốc ở khắp nơi

TRUNG QUỐC ĐÃ DÀN TRẬN XONG TRÊN ĐẤT VIỆT NAM?

Ngô Minh

Bằng con đường đầu tư, bằng mua đất rừng phía Bắc 350.000 ha 50 năm; đầu tư bo-xite Tây Nguyên; đầu tư Formosa ở Đèo Ngang; mua đất dọc biển khắp các tỉnh rồi xây dựng những khu nhà chiếm hết đường ra biển;chiếm đảo Hoàng Sa, 6 đảo ở Trường Sa…của Việt Nam, đến nay hầu như TQ đã đứng chân trên những vị trí chiến lược cốt tử nhất ở VN như yếu huyết Miền Trung, Tây Nguyên, biên giới phía Bắc…Rồi Phố Tàu mọc lên ở hầu hết đô thị VN… Chúng đang xây dựng những căn cứ quân sự ở Hoàng Sa, Trường Sa… để dàn trận cho việc độc chiếm Biển Đông! Than ôi, nước tôi sẽ không còn đường ra biển; sẽ trở lại “nghìn năm nô lệ giặc Tàu.”(TCS) chăng?. Ai sẽ là người chặn đứng cuộc xâm lăng này?

Nhà thơ PHẠM NGỌC CẢNH về nơi ba con sông chảy đến

Lê Thành Nghị

Phạm Ngọc Cảnh sinh năm Tuất (1934) ngay bên bờ con sông Cụt, giữa những ngày mưa lụt chưa từng thấy trước đó. Mang mệnh hỏa, lọt lòng mẹ cạnh dòng sông giữa mùa thủy cường, ông trời khéo chọn một trường hợp để thử thách ý chí của con người chăng?

Nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh (ảnh VNQĐ)

  1. Sông Cụt, như tên gọi của nó, chỉ là một khúc sông nhỏ, bắt nguồn từ ngay trong lòng thị xã Hà Tĩnh (tôi muốn dùng từ thị xã thay cho thành phố), ngay mép chợ Tỉnh, chảy lững lờ loanh quanh qua con phố nhỏ có cái cầu nhỏ mang tên Cầu Sở Rượu, tiếp theo một con phố nhỏ khác có chiếc cầu nhỏ khác mang tên Cầu Mương, trước khi hòa vào sông Phủ. Nói đến núi Nài và sông Phủ thì dân thị xã không ai không biết, nhưng sông Cụt thì không phải ai cũng biết. Từ sông Cụt thẳng hướng đông nam đến núi Nài rồi nhằm hướng tây qua sông Phủ, làm thành cái tam giác mỗi cạnh cách nhau dăm ba cây số, vậy nhưng khoảnh đất nhỏ hẹp này đã sinh ra những tên tuổi Nguyễn Phan Chánh, Văn Linh, Cẩm Lai và Phạm Ngọc Cảnh.
  2. Phạm Ngọc Cảnh sinh năm Tuất (1934) ngay bên bờ con sông Cụt, giữa những ngày mưa lụt chưa từng thấy trước đó. Mang mệnh hỏa, lọt lòng mẹ cạnh dòng sông giữa mùa thủy cường, ông trời khéo chọn một trường hợp để thử thách ý chí của con người chăng?

Ngỡ như mẹ muốn con là Sơn Tinh/ Năm ấy lụt(Năm Tuất mẹ sinh con). Từ con sông nhỏ này, mười ba tuổi Phạm Ngọc Cảnh xa nhà gia nhập Vệ quốc đoàn, bắt đầu cuộc đời binh nghiệp, rồi cuộc đời của một chiến sĩ văn nghệ với những chuyến đi mút mùa không hạn định. Mẹ dìu con đi men qua cầu sông Cụt/ Rồi một đời hun hút trông theo (Năm Tuất mẹ sinh con).

Mẹ và khúc sông này, rộng ra là mảnh đất miền Trung gió Lào cát bỏng này, chiếm một góc lớn trong tâm hồn Phạm Ngọc Cảnh, sâu trong vô thức, đầy trong ý thức và luôn trong trực giác. Mắt quen nhìn rừng rực nắng miền Trung (Những sân ga, những chuyến tàu). Quê hương Hà Tĩnh với cái nghèo đeo đẳng, cái nắng héo tàn, cái cơ cực muôn đời, và cả cái tình sâu nghĩa nặng làm thành một chữ thương không phải miền quê nào cũng có được, đã ngân nga trong tâm hồn biết bao thi nhân, nhạc sĩ. Chữ thương ấy là ngọn nguồn của khát vọng sáng tạo, ngọn nguồn của trữ tình trong câu chữ, lãng mạn trong tâm hồn, lắng sâu trong tình cảm, như thể càng khó khăn càng phải rắn rỏi để lập thân, càng phải bay bổng để vượt thoát, càng phải thương yêu để xử sự. Phạm Ngọc Cảnh cũng bắt đầu nơi chữ thương ấy.Biết thương sâu/ Chiều cũ trốn xa rồi/ Nhặt tuổi thơ mình thoảng mờ sương trôi (Chiều). Tổ tôn bầm cháy lưng trần/ Lum khum dáng cuốc mờ chân núi Nài/ Vại cà mặn thấm nương khoai/ Nuôi nhau đủ tiếng thở dài mà đi (Lục bát trước nhà thờ họ Phạm).

Quê hương, đất đai tổ tiên không quên ai bao giờ, cho dù suốt một đời đi hun hút ấy, đôi khi con người ta vẫn thường lơ đãng. Cái tội của con là ít về bên nội/ Sớm mai này cha lặn lội đường ra/ Tàu vừa dừng xanh bóng nắng sân ga (Cha ra Hà Nội thăm con). Cái vùng đất đai nắng nôi ấy cứ trở đi trở lại trong thơ Phạm Ngọc Cảnh như một vết cắt không lành qua thời gian. Cát hằn nguyên nếp cam go/ Nắng vô tư cũng tròn vo nỗi niềm/ Vết da chém lỉa đôi miền/ Miền Trung ơi thịt da liền vẫn đau (Tản mạn miền Trung). Phạm Ngọc Cảnh tâm sự: “Như cả đời tôi lấy cái cầu bé nhỏ gọi là cầu Mương bắc qua sông Cụt làm vật chuẩn, làm cột mốc để dù có nới rộng bán kính lãng du tận đến đâu vẫn túc trực một tâm thức để hướng về” (Phạm Ngọc Cảnh, Tác phẩm tuyển chọn, Nxb Hội Nhà văn, 2015, tr.276). Ân nghĩa ấy cho Phạm Ngọc Cảnh đôi mắt của linh cảm, đồng cảm trong nhận mặt đồng hương. Em không phải Thạch Hà/ Em cũng là Can Lộc/ Đi đến chóp cuối cùng của Trường Sơn anh vẫn gặp/ Mặt trận mở trăm nhánh đường nghìn nghịt người vào ra anh vẫn gặp/ Nét riêng này quê hương (Nét riêng).

2. Số phận gắn cuộc đời và sự sáng tạo của Phạm Ngọc Cảnh với sông Đuống. Mọi buồn vui, hạnh phúc và đau khổ, sự sống bắt đầu sinh sôi và cái kết thúc tịch diệt đều gắn với con sông này. Đây là khoảng thời gian anh từ Đoàn văn công Tổng cục Chính trị về Tạp chí Văn nghệ Quân đội, là giai đoạn thực hành chữ nghĩa (trả nghĩa) với những gì anh đã nhận từ cuộc đời. Tôi mang phận kiếp con tằm/ Ăn xanh màu lá khuya nằm nhả thơ. Ở cạnh sông Đuống có ngôi nhà nhỏ trong khu tập thể cơ quan Nhà máy gỗ Cầu Đuống, che anh gần cả một đời người. Nhà đầu hồi một gian, nhìn ra mấy thửa ruộng đủ để lắng nhịp hải hà vẫn đi qua màu sắc của đám lúa tưởng như giơ tay là với được. Xa kia là sông Đuống lấp lánh trôi. Đêm nằm, xa là sóng vỗ óc ách bờ sông Đuống, gần là tiếng lá lúa khẽ cọ vào nhau rì rào. Cái xa là tiếng gọi đi, cái gần là tiếng gọi về. Cái gần gọi về với hạnh phúc giản dị trong ngôi nhà có ngọn lửa ấm, cái xa là để nối với những rộng dài các con sông khác, những chân trời thi ca. Tháng năm này giỗ mẹ, tháng chạp này giỗ cha/ Này lật ải đồng gần, bừa ngấu đồng xa/ Quét sân phơi trang bùn gieo mạ/…Này bơi thuyền sang sông/ Về bên ngoại vay sắn khô ăn độn/ Này ngăn nắp từng đồng tiêu pha/ Như chiến tranh không xáo trộn được/ Ngọn lửa bao đời ấp ủ bếp nghèo ta (Cô Tấm trong nhà).

Biết có cô Tấm đảm đang trong nhà, từ góc nhỏ con sông này, Phạm Ngọc Cảnh như loài chim di cư, coi đây như cõi tạm, như chỗ dừng chân bất chợt, như trạm giao liên những ngày chiến tranh. Anh về làm rể thầy thương/ Mười năm, những chín năm thường đi xa (Con rể làng Bưởi). Phạm thi sĩ lấy sông Đuống làm tọa độ, làm điểm tựa để rong chơi, lãng du gần như trọn một kiếp người. Gần hết đời thấp thỏm dọc rừng hoang (Đêm nay mình ngủ cuối Phong Châu). Phạm Ngọc Cảnh đi đến tận ngọn nguồn sông từ Na Mèo, sang Viêng Xay, đến Sầm Nưa, tận chóp núi khuất như Lũng Cú, Bản Phiệt, Mường Lò. Và bám trụ Huế, Quảng Trị những ngày chiến tranh ác liệt. “Cả đời người, đặt bàn chân lên mặt đất mà bước đi. Cao thì trèo. Lên đến bản Mèo trên Lũng Cú Hà Giang. Xa như dốc cầu tàu ngoài Côn Đảo.

Nhưng dấu bước tôi đi, dày nhất, đậm nhất là ở Quảng Trị này” (Tác phẩm tuyển chọn, sđd, tr.207). Anh ngang dọc như không giữa bom đạn. Mỗi bước ta đi xoay chiều gió nắng/ Dốc Miếu, La Văng, An Lỗ, Sịa, Niêm Phò/ …Bên bờ sóng Tam Giang rào rạt cát Phong Chương/ Sóng bước cùng ta vào Huế đó (Đêm xuân Huế đỏ cờ bay). Phạm Ngọc Cảnh sớm ở Sầm Nưa chiều về Pakxế (Lăm vông); vừa ở Ba Lòng hôm trước đã lại có mặt ở Phong Lai hôm sau; vừa qua sông Pơlin xanh như mắt Kan Lịch tuần trước lại về thăm bà mạ ở làng Cùa vùng sâu tuần này; vừa ở Ấm Vách, A Sầu tháng trước đã lại vượt thác Đa Krông tháng này. Ngày vượt suối băng rừng đến các mặt trận, đêm cặm cụi viết. Câu thơ bới bới đào đào trắng tinh bùn đất (Cây với người). Với bút danh Vũ Ngàn Chi, sau những ngày bám địa bàn đất lửa với ngọn bút ta cài trước cửa tim (Điềm ơi), anh có tập thơ Đêm Quảng Trị (Nxb Giải phóng, 1972) từ miền Nam gửi ra tươi tắn cảm xúc, nóng hổi hơi thở chiến trận. Kể từ đó, cần mẫn như một nhà nông thạo ruộng đồng, cứ vài ba năm sau hàng chục chuyến đi về, anh lại gom in một tập và lần lượt hơn mười tập thơ, văn xuôi và hàng trăm lời bình phim tài liệu ra đời: Ngọn lửa dòng sông (1976),Xamaki (1981), Lối vào phía Bắc (1982), Trăng sau rằm (1985), Đất hai vùng (1986), Miền hương lặng (1993), Nhặt lá (1996), Khúc rong chơi (2000), Góc núi xôn xao (1999), Cát trinh nguyên (2003), Bút kí (2006)…

Thơ Phạm Ngọc Cảnh là kí ức tinh thần của những ngày tháng chiến tranh cực kì gian khổ nhưng rất đỗi hào hùng. Mở đầu bằng tập thơ Gió vào trận bão (Nxb Văn học, 1967, in chung với Ngô Văn Phú và Hoài Anh). Phần thơ của Phạm Ngọc Cảnh có tên Hành quân như bắt đầu bằng một chuyến đi lớn, chuyến đi của những sư đoàn. Phạm Ngọc Cảnh trình diện một giọng thơ rất hào sảng, cái hào sảng đặc trưng như đang trên những đại lộ với những tình cảm lớn của thời đại không thể khác của thơ ca và âm nhạc thời ấy. Hành quân, hành quân/ Trùng điệp những sư đoàn/ Đi lên phía Bắc/ Tràn về hướng Nam/ …Này đây/ Doi cát Cửu Long xanh/ Sư đoàn châu thổ/ Giữa bãi sú rừng tràm/ Vụt đứng dậy sư đoàn Nam Bộ/ Sư đoàn Tây Nguyên/ Từ hầm chông, bẫy đá, cung tên/ Này đây cực Nam Phan Rang, Phan Thiết… Và anh khẳng định: Lại có một ngày/ Mọi cửa ô Sài Gòn hớn hở/ Như Hà Nội mười năm trước đây/ Ba mươi sáu đường hoa tung sóng đỏ (Sư đoàn). Hà Nội mười năm trước và Sài Gòn mười năm sau đó, chiều dài một cuộc chiến mà những lứa tuổi, sớm là Phạm Ngọc Cảnh, Ngô Văn Phú, Lê Anh Xuân, Thu Bồn…, muộn là những Hoàng Nhuận Cầm, Vũ Đình Văn… phải đương đầu.
Thơ Phạm Ngọc Cảnh tràn ngập không khí chiến trận. Chớp ngầm trong mây giăng/ Mưa tháng bảy rập rình ngoài Cốc – muộn/ Đêm cao điểm/ Vòng vây ta ép mỏng/ Rót vào giấc ngủ quân thù/ …Đồng chí ta lật nắp hầm nổ súng/ Trước giờ ngã xuống/ …Tiếng thét cả sư đoàn ép mỏng thời gian/ Mỗi đường đạn xoáy vòng cao điểm (Nhật kí 935). Một lớp học em ta rung trong tầm đại bác/ Gọi lòng ta vót nhọn mũi lê đâm/ …Đêm Quảng Trị dắt ta vào trận đánh (Đêm Quảng Trị). Xốc lại đội hình/ Hàm răng nghiến chặt/ Sáu viên đạn lao đi (Chuyện không bao giờ dứt ở tiểu đội)… Súng đạn thay cho lời nói: Điều muốn nói nằm trong bụng súng (Điềm ơi); thay cho ý nghĩ: Nghĩ về tương lai đã có súng/ Những gì xốn xang, những gì lắng đọng/ Trang trải mặt chiến hào (Giấc ngủ), Phủi bụi áo ra đi mắt ngầm lửa giận/ Đêm trên sông Pơlin (Sông Pơlin rất xanh)…

Thơ Phạm Ngọc Cảnh cũng thấm thía nỗi buồn thế sự những năm đất nước hòa bình nhưng gian lao. Chiến tranh gối chiến tranh. Đường chia ba nhánh ngầm đau/ Dồn ba hút gió vò nhàu mép sông/ Gót chân chú lính biên phòng/ Giẫm lên vết hận bềnh bồng dưới mưa/ Bao nhiêu máu nhuộm cho vừa/ Ngàn lau cúi mặt bóng thưa hồn về (Ngàn lau bản Phiệt). Đôi đũa chúng ta cầm/ Gắp được cả tháng ngày cay đắng/ Cả tháng ngày gian nan (Anh ấy sẽ sang chơi). Đối mặt với những khát khao là cái đói nghèo/ Trộn giữa bát cơm đơm, nằm trong áo mặc/ Ẩn náu suốt đời ta đánh giặc/ Bây giờ nó rập rình theo (Đêm nằm võng bạt). Lãng du và đa tình hình như là cách thế để Phạm Ngọc Cảnh vượt thoát cái “đau nỗi người”. Mưa nắng nhuộm mòn tóc râu (Buổi sáng). Rong chơi chín khúc mà đau nỗi người (Khúc rong chơi). Đã rình rập giữa hai ta/ Một tầng khí vặn phong ba dữ dằn (Dự báo thời tiết). Nước mắt lặng thầm đêm cuối chạp(Cháu nội II). Nhưng khi gió thổi lắm điều/ Tôi buồn hết cả ba chiều không gian (Lục bát cho mình). Khi thương khi giận/ Khi đuổi khi mời/ Khi cơn cớ thất thường thác đổ/ Khi nước mắt đắng vào huyệt mộ/ Bát canh nghèo/ Em nuôi (Lá đắng nuôi chồng)…

3. Trong bút kí Sông Mã và tôi, Phạm Ngọc Cảnh viết: “Không có con sông Việt nào mà tôi chưa từng qua” (Tác phẩm tuyển chọn, sđd, tr.215). Nhưng sông Mã là con sông nhiều lần anh đi qua và dừng lại. Nắng gió bờ Nam Ngạn đã níu chân lãng du. Cảm ơn gió trời thổi mãi tóc em/ Mùi hương dẫn dắt không bao giờ lạc/ …Cảm ơn em yêu đã gọi anh về/ Cảm ơn chén nước đầu tiên… rửa sạch quãng dài quên lãng (Em xa, em xa).
Người đàn bà ấy trước vì mê thơ Phạm Ngọc Cảnh, sau vì thương anh khó nhọc mà nguyện gắn bó và chia sẻ với anh những năm cô đơn cuối đời và làm thành một khúc vĩ thanh của bản hòa tấu khi dòng sông ra đến cửa biển. Phạm Ngọc Cảnh về đây lúc tuổi đã cao, sông cũng đã đến khúc hiền hòa. Anh đã có thể an nhàn sau suốt gần tám mươi năm một cuộc đời sôi nổi. Nhưng với một kẻ lãng du lấy xê dịch làm niềm vui sống ở đời thì hình như khó dứt hẳn những dư ba còn đâu đó xa thẳm. Những im lặng trong anh còn ngún lửa (Em xa). Vậy là hình như vẫn chưa đến hồi yên tĩnh, vẫn còn đó những lo âu của một tâm hồn đa cảm, đa sự, đa nghĩ.Nụ hôn cuối ngày gặp gỡ/ Con đường là bão giông/ Em gói kĩ một thời thiếu nữ vào tấm áo mỏng/ Lội qua chỗ cuối cùng ướt ngập (Em xa, em xa, em xa). Vẫn còn đó những cô đơn của một kiếp làm thi sĩ, nhất là đến tuổi bệnh tật, ốm đau. Mùa đông tận ngoài sông xa/ Gió và cát thổi đêm mờ lạnh/ Sóng cũng hoang vu/ Bờ cây anh trút lá/ Vầng trăng bỏ anh vầng trăng đi rồi(Còn gì cho nhau). Dầu sao, sự bù đắp cho những tháng ngày cuối cùng kia cũng đã làm anh có lúc vui và trẻ lại. Yêu em như gió hát sau vườn (Em xa, em xa, em xa).

4. Những ngày cuối cùng, như con từ quy nhớ nhà, anh muốn được trở về sông Đuống và ra đi, chuyến đi dài nhất của đời mình, tại đó. Đến đưa tiễn anh một buổi sáng tháng mười, gió từ sông Đuống thổi đến se lạnh, trời như cũng dâng một màu xám chì buồn thương. Bàn chân từng ngang dọc khắp thế gian giờ đã đến lúc dừng lại, nghỉ ngơi thanh thản. Nhưng anh còn có một tâm nguyện khác, sẽ được về yên nghỉ tại nghĩa trang núi Nài, sông Phủ. Xin thần tổ gọi con về/ Lắng cùng sông Phủ le the bóng chiều (Trước nhà thờ họ Phạm). Đến lúc đó là xong vòng đi của một hạt bụi, hạt bụi một đời đam mê lãng du và cần lao sáng tạo.
Từ sông Cụt trở về sông Cụt, nhưng đây chắc chắn là nơi ba con sông chảy đến. Nơi trở về hạnh phúc

(Nguồn: Văn nghệ Quân đội)

 

« Newer Posts - Older Posts »

Danh mục