Đăng bởi: Ngô Minh | 20.04.2015

THI SĨ HÀ NHẬT ĐẾN HUẾ

THI SĨ HÀ NHẬT ĐẾN HUẾ

 Ngô Minh

 

Ngô Minh đau ốm nằm một chỗ từ trước Tết Ất Mùi cho đến tuần rồi mới đỡ, đi lại được trong nhà ngoài sân, thì thi sĩ Hà Nhật và chị Phương đến thăm. Hai vợ chồng từ Sài Gòn ra Đồng Hới cúng mộ ông bà tiên tổ ở Tuyên Hóa, Bảo Ninh (Đồng Hới) cả tuần liền, bây giờ mới vào Huế. Vào Huế Hà Nhật trọ ở nhà nghỉ Gia Đạt, đường Trần Thúc Nhẫn cạnh chợ Bến Ngự, rất gần nhà Ngô Minh, nên thầy dẫn vợ đi bộ đến thăm Ngô Minh.Xúc động lắm !

 

Thi sĩ Hà Nhật- Lương Duy Cán là thầy giáo dạy văn rất giỏi ở Lệ Thủy, Đồng Hới. Ở Quảng Bình có câu châm ngôn “Văn Cán- Toán Trình” xưng tụng hai thầy giáo dạy văn và toán giỏi ở Đồng Hới, Lê Thủy là Lương Duy Cán và Đoàn Trình. Ngô Minh vinh hạnh vào cấp 3 được học với cả hai thầy Cán, Trình. Thầy Cán (Hà Nhật) được điều lên Lệ Thủy dạy Ngô Minh, Lâm Thị Mỹ Dạ, Đỗ Hoàng, Hải Kỳ, Lê Đình Ty, Nguyễn Minh Hoàng… ở cấp 3 Lê Thủy. Cả một lớp làm thơ từ đó. Sau đó thầy về lại Đồng Hới. Vì thế ở Huế rất nhiều học trò của thầy. Nhiều học trò của thầy bây giờ là hiệu trưởng các trường Đại học ở Huế, đa phần là giáo viên đã nghỉ hưu. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.04.2015

VĂN TẾ CHIẾN SĨ GẠC MA

Trận chiến Gạc Ma

 VĂN TẾ CHIẾN SĨ GẠC MA

TRANG HẠNH
(Khoa tim mạch BV Đa Khoa Bắc Ninh)

Than ôi!
Biển bốn hướng sóng dậy hờn căm,
Trời tám phương mây giăng u uất.
Chẳng sao ngăn niềm đau đớn tột cùng,
Khó xóa hết nỗi hờn căm chất ngất!

Nhớ linh xưa,
Lớn lên bằng củ sắn củ khoai;
Trưởng thành trong lời ca lời hát.
Thấm nhuần đạo đức, ươm ước mơ cố gắng tôi rèn,
Chẳng ngại gian truân, nuôi hoài bảo chuyên cần học tập.
Giữ gìn đất nước, biết quê hương từ tiếng mẹ ru,
Yêu mến non sông, thương tổ quốc từ câu cha hát.
Bóng trăng đáy nước, quan họ ơi tình nặng mạn thuyền,
Lưng ngựa câu then, khăn piêu vẫy rừng vang tiếng nhạc.
Đờn ca tài tử bồi hồi,
Câu hát xẩm xoang ngây ngất.
Rộn rã tiếng cồng chiêng tây nguyên,
Réo rắc điệu khèn môi tây bắc.
Ngẩn ngơ điệu múa chiếu  chèo,
Bằng hoàng câu hò  phường vải.

Thế mà,
Rung rinh đá đảo, tự dưng bị trận cuồng phong
Bình lặng dòng sâu, bỗng nhiên nổi cơn bão táp!
Quân bành trướng, ỷ binh nhiều tướng mạnh, ngang nhiên cướp đất bắt người,
Lũ ma vương, cậy súng lớn đạn to, vô cớ hiếp tàu cắt cáp.
Cậy quân đông lấy thịt đè người,
Ỷ thế mạnh xua quân chiếm đất.
Uốn miệng lưỡi, cứ ngỡ bạn hiền,
Nhe nanh vuốt dè đâu quỷ dữ!
Thò tay quỷ  mà vẽ lưỡi bò,
Lòi mặt nạ té ra  kẻ cướp!
Tàu cá khoang không tấc sắt, để chúng tự tiện cầm tù,
Ngư dân phơi tấm lưng trần, mặc chúng thẳng tay đánh đập.
Làm vợ khóc chồng ruột héo gan bầm,
Để con nhớ cha lòng đau dạ thắt.

Nhưng chúng đã lầm! bởi nhân dân ta:
Thừa dũng cảm, nữ nhi là Bà Triệu, bà Trưng,
Đủ trí mưu, trai tráng là Quang Trung,  Thường Kiệt.
Yêu hòa bình, nhưng gươm Lê Lợi lưỡi vẫn sáng ngời,
Chuộng tự do, nhưng cọc Bạch Đằng  đầu luôn nhọn hoắt!

Bừng khí thế, trăm thiếu niên trương cờ sáu chữ: “… báo hoàng ân” *
Sục hờn căm, ngàn dũng sĩ thích tay một lời thề sát thát!

Gươm so gươm, gươm lóe ngợp trời,
Súng đọ súng, súng vang dậy đất!
Bạch Đằng xác địch nổi lênh bênh,
Đống Đa thây thù cao chất ngất!

Nay Chiến sĩ Gạc Ma,
Ăn chung mâm, ngủ chung chiếu, chuyện riêng tư cũng cùng kể nhau nghe,
Trùm chung chăn, mơ chung giấc, thư thầm kín đều chuyền tay nhau đọc!
Khác cha mẹ mà giống hệt ruột rà,
Không họ hàng mà y như máu thịt!

Khen thay!
Vì nhân dân, quản chi gối đất màn sương,
Vì đất nước nào sá gì mưa nam gió bắc.
Giống kiên cường, lại tiếp kiên cường,
Máu bất khuất, vẫn luôn bất khuất!
Hẹn với lòng một nhục một vinh,
Thề với giặc một còn một mất!

Thương ôi!
Cũng vì nước mạnh dân no,
Nào kể xương tan thịt nát!
Nguyễn Văn Lanh, bụng trúng lê tay vẫn giương thẳng tay cờ,
Trần Văn Phương, tay ôm ngực còn thét : “ Không cho mất đảo!” **
Máu ai loang cả mạn tàu!
Máu ai hòa theo nước biển!
Bởi dòng máu Đại Việt đỏ mãi ngàn năm,
Nên non nước Lạc Hồng nối liền một dải.
Dù giọt nước Biển Đông, con cháu cũng phải giữ gìn,
Dù hòn sỏi Gạc Ma, chiến sĩ quyết không để mất!

Xót thay!
Nam nhi hề, vai khoác chiến y,
Chiến sĩ hề, ai về đầu bạc?
Chuyện nhục vinh thì cứ luận bàn,
Đường sinh tử có ai không thác?
Luận anh hùng ai kể bại thành,
Xét chí khí nên coi cao thấp.

Hôm nay,
Thắp nén tâm hương ,
Tưởng người tiết liệt.
Gương hiếu trung mãi mãi  chẳng phai mờ,
Máu hào kiệt ngàn đời không đổi sắc.
Hiếu với dân chẳng quản máu xương rơi,
Trung với nước đâu chờ bia đá tạc!

Ô hô! Có linh xin hưởng!

——-

Chú thích:
* Trần Quốc Toản thêu lên cờ 6 chữ “ Phá cường địch, báo hoàng ân”** Trần Văn Phương trước khi hy sinh đã thét lớn: “ Thà hy sinh, không để mất đảo”

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.04.2015

Lên Kongtum với chị Điềm

Nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị

Lên Kongtum với chị Điềm

  Mai Khắc Ứng

( Bài gửi từ Canada)

Hạ tuần tháng Tư năm 1995, chị Điềm từ Paris về đến Sài Gòn vài ngày thì gọi điện thoại ra Huế rủ tôi lên Kontum. Tôi nhận lời. Hai chị em hẹn gặp nhau tại Plêi-Ku vào ngày 29 tháng Tư bằng chuyến bay buổi sáng từ Tân Sơn Nhất và từ Đà Nẵng. Máy bay Sài Gòn hạ cánh trước. Tôi lên sau. Theo lời nhắn của chị Điềm để lại tại sân bay, tôi tìm về Khách sạn Plêi­Ku ở đường Lê Lợi. Đến nơi đã thấy Kiến trúc sư Nguyễn Trọng Huấn đang chờ ở phòng tiếp tân. Kontum và Plêi­Ku từng là tuổi thơ của chị Điềm từ 63 năm về trước khi cụ thân sinh của chị làm Quản đạo (coi như Tỉnh trưởng) thưở Tây Nguyên còn hoang sơ chưa thuần. Cũng là vận may. Sở Văn Hóa Thông Tin Gia Lai vừa sắm được xe con cho Giám đốc. Anh Vũ Ngọc Bình mới nhận xe vài ba ngày sẵn sàng cho chúng tôi sử dụng. Vậy là “nguyệt tận” tháng Tư bốn chị em “bò” lên Kontum. Kontum thật nhiều khẩu hiệu lại lắm gập ghềnh. Tình trạng “nhà không số, phố không tên…” đang khá phổ biến. (Đọc tiếp…)

Ảnh: CSIS Asian Maritime Transparency Initiative / DigitalGlobe

Đường băng mới của Trung Quốc ở Biển Đông gần như hoàn thành

Tác giả: Isaac Stone Fish Keith Johnson

Người dịch: Huỳnh Phan

Ảnh vệ tinh mới cho thấy, việc Trung Quốc (TQ) xây dựng đường băng trên các đảo tranh chấp tiến triển xa hơn mọi người nghĩ trước đây.

TQ gần hoàn tất việc xây dựng đường băng trên một chỏm đất nhỏ ở Biển Đông, nâng cao khả năng triển khai sức mạnh trong khu vực từ vùng biển tranh chấp và nâng cao hơn nữa phần được mất trong một cuộc thách thức ngày càng căng thẳng giữa Bắc Kinh với các nước láng giềng và Hoa Kỳ.

Ảnh vệ tinh mới cung cấp cho Foreign Policy cho thấy, những tiến bộ trong việc xây dựng một dải mặt đường trên Đá Chữ Thập. Đá này nằm gần cuối phía nam của vùng biển tranh chấp trên Biển Đông, cách Philippines vài trăm dặm. Đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa, một quần đảo mà TQ, Philippines, Malaysia, Việt Nam, Đài Loan và Brunei đòi chủ quyền toàn bộ hoặc một phần. Các ảnh, trong đó ảnh gần đây nhất vào ngày 11 tháng 4, cho thấy, khoảng 3.000 feet (tương đương 914 m) đường băng đã hoàn thành trong các sắc màu xanh lá cây, xanh dương và xám.

Các ảnh này do Asia Maritime Transparency Initiative (AMTI), một chi nhánh nghiên cứu thuộc nhóm chuyên gia cố vấn ở Washington của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) cung cấp.

“Khả năng bất kỳ loại máy bay nào đều có thể đáp xuống được trên rạn đá này, cải thiện đáng kể khả năng tuần tra khu vực và thực thi các yêu sách của TQ trên Biển Đông”, Giám đốc AMTI Mira Rapp-Hooper nói.

Trò xây dựng rạn đá của TQ, bao gồm nạo vét lớn để biến các rạn san hô thành đảo nhân tạo, đã được báo chí, bao gồm cả Foreign Policy, tường thuật hồi tháng 2. Ngày 16 tháng 4, tờ New York Times và các báo khác đã đăng các ảnh về việc xây dựng của TQ trên Đá Chữ Thập, chụp hồi cuối tháng 3 cho thấy, đường băng đồn đại lâu nay đang hình thành. Các ảnh vào tháng 4 do Foreign Policy thu được cho thấy, thậm chí nhiều công trình hơn đã được thực hiện trên rạn đá này, kể cả việc mở rộng sân bay.

TQ đòi chủ quyền phần lớn Biển Đông, vùng biểnn quan trọng về mặt chiến lược. Đó là một khu vực rộng 1,4 triệu dặm vuông thuộc Thái Bình Dương, phía Bắc tiếp giáp với TQ, còn phía Đông, phía Tây và phía Nam tiếp giáp một số nước Đông Nam Á. Các quan chức hàng đầu của Mỹ, kể cả Tổng thống Barack Obama và lãnh đạo cấp cao hải quân gần đây đã lên tiếng báo động về thái độ hung hăng của TQ trong khu vực, đặc biệt là những nỗ lực bồi tạo các rạn đá đã trở nên nổi bật trong vòng sáu tháng qua. Hồi đầu tháng này, TT Obama chỉ trích việc TQ rõ ràng sử dụng “kích cỡ và cơ bắp để buộc các nước vào vị trí lệ thuộc”. Đô đốc Harry Harris Jr., chỉ huy Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ, lên án “trường thành cát” của TQ trong một bài phát biểu hồi cuối tháng 3 tại Úc.

Trong tháng 11, các ảnh do hãng phân tích IHS Jane công bố cho thấy rằng, Bắc Kinh đã bồi tạo nên một đảo lên Đá Chữ Thập đủ lớn để phục vụ một đường băng dài khoảng 10.000 feet (tương đương 3048 m). Những ảnh mới mà AMTI mua từ công ty vệ tinh thương mại DigitalGlobe, cho thấy, việc xây dựng đường băng đã thực sự bắt đầu.

Ảnh ngày 14 tháng 2 cho thấy, các dấu mốc cho một đường băng trên cát, nhưng chưa có mặt đường. Vào giữa tháng 3, mặt đường tráng đã dài ra 958 feet (tương đương 292 m) và tổng chiều dài đường băng là 1.525 feet (tương đương 465 m). Đến ngày 11 tháng 4, có thể nhìn thấy đường băng, sân đỗ, và nhiều cấu trúc phục vụ khác. “Có khả năng là đường băng sẽ hoàn thành sớm”, Rapp-Hooper nói.

Đô Đốc Samuel Locklear, người đứng đầu Bộ Tư Lệnh Thái Bình Dương, nói trong buổi điều trần trước Quốc hội ngày 15 tháng 4 rằng các hoạt động lấn biển “hung hăng” của TQ, gồm khả năng có một sân bay mới, sẽ nâng cao khả năng quân sự của Bắc Kinh trong khu vực. Ông cũng cảnh báo khả năng TQ sẽ tuyên bố một khu vực nhận diện phòng không trên Biển Đông. Hồi tháng 11 năm 2013, TQ tuyên bố thành lập một khu vực nhận diện phòng không trên Biển Hoa Đông, làm tăng căng thẳng giữa TQ, Nhật Bản, và Hoa Kỳ, một đồng minh thân cận của Nhật Bản. Như nhiều học giả TQ và các quan chức quân đội về hưu gợi ra, việc tuyên bố một vùng [nhận diện phòng không] bên trên Biển Đông có thể làm tăng căng thẳng với Hoa Kỳ hơn nữa. Và đường băng sẽ góp vào chuyện đó.

“Nó mở rộng khả năng hoạt động của họ trong Biển Đông, bao gồm cả giám sát khu vực và có khả năng từ chối truy cập đối với những nước khác”, một quan chức cao cấp trong chính quyền Obama gần đây đã nói với Foreign Policy.

Xây đường băng trên Đá Chữ Thập không là việc làm lần đầu của TQ trong khu vực này. Trung Quốc đã có một sân bay ít được sử dụng trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa, một quần đảo nhỏ ở Biển Đông, hoàn thành vào năm 1990. Tuy nhiên, nó có thể có tiềm năng rất quan trọng trong việc củng cố chiến lược cơ bản của TQ, giữ Hải quân Mỹ càng cách xa bờ biển TQ càng tốt nhờ vào một hỗn hợp máy bay trên đất, tàu ngầm và đội pháo tên lửa diệt tàu.

Đóng quân trên Đảo Chữ Thập và quan trọng là có thêm một đường băng đa dụng sẽ mở rộng tầm hoạt động quân sự tiềm năng của TQ: Đường băng dài 10.000 feet (3.048 m) đủ sức đáp ứng gần như tất cả các loại máy bay trong quân đội TQ.

TQ không phải là nước đầu tiên xây đường băng trên quần đảo Trường Sa – trên thực tế, ngoại trừ nước Brunei nhỏ bé, TQ là nước cuối cùng trong các bên tranh chấp làm điều này. Đài Loan, Việt Nam, Malaysia và Philippines đều có đường băng trên quần đảo Trường Sa, dù khác nhau rất lớn về kích thước và mức độ phức tạp, tất cả đều có vẻ ít đáng kể hơn nhiều so với đường băng của TQ.

Isaac Kardon, một học giả thuộc Viện Luật Mỹ-Á, Đại học Luật New York (NYU Law), đang nghiên cứu về vấn đề Biển Đông nói: “Việc xây dựng khả năng nhằm phô trương sức mạnh đang diễn ra. Vấn đề chỉ là TQ đang xây dựng nhiều hơn bất cứ nước nào khác”. Sở ngoại vụ tỉnh Hải Nam, tỉnh quản lý Đá Chữ Thập, đã không trả lời đề nghị bình luận, còn Hải Quân TQ thì không liên hệ được.

Philippines đã lớn tiếng kêu gọi sự hậu thuẫn nhiều hơn từ các quốc gia khác, đặc biệt là Hoa Kỳ, trong việc đối đầu với điều mà họ xem là sự gây hấn của TQ ở Biển Đông. Tuần này Indonesia cho biết họ muốn có thêm các cuộc tập trận huấn luyện với Hải Quân Mỹ trong các khu vực ở Biển Đông gần nơi TQ tuyên bố chủ quyền.

Báo chí TQ đã không hề né tránh việc đăng tải dự án xây dựng trên Đá Chữ Thập, hoặc sự phát triển đảo. Cuối tháng 3, một bài báo trên các trang web tin tức iFeng của TQ tường thuật rằng, lính trên Đá Chữ Thập – mà TQ gọi là Yongshu (Vĩnh Thử) – bây giờ có thể truy cập mạng 4G, do vậy lính đóng quân trên đảo có thể “chia sẻ những phong cảnh đẹp”. Báo Tài Chính Quốc Tế của của TQ ước tính rằng TQ đã chi khoảng $12 tỉ cho việc xây dựng các phần nhân tạo của Đá Chữ Thập, chưa kể các cấu trúc trên đảo.

Trong khi Bộ Ngoại giao TQ nói rằng các đảo này sẽ được sử dụng cho các mục đích quốc phòng không xác định, họ đã tìm cách hạ thấp những tác động quân sự của các hoạt động đó. Đầu tháng 4, một người phát ngôn Bộ Ngoại giao TQ nói rằng việc bồi đắp thêm các rạn san hô nhằm làm cho việc tiến hành các hoạt động đáp ứng thiên tai, chẳng hạn như các chuyến bay tìm kiếm, cứu hộ và ứng phó với giông bão, dễ dàng hơn.

Tuy nhiên, nhiều nhà phân tích hoài nghi. “Đó không phải là công việc nhân đạo nhằm tạo thêm sự cơ động cho việc cứu trợ nhân đạo. Đó là một cách triển khai vành đai phòng thủ – chấm hết”, Said Bryan McGrath, Phó giám đốc Trung tâm American Seapower thuộc Viện Hudson.

Ông nói rằng nó có thể giúp TQ triển khai máy bay, tên lửa đất-đối-đất, tên lửa đạn đạo chống tàu, và các hệ thống phòng thủ trên không “Trong khi làm như vậy, họ giữ cho kỵ binh — tức Hải quân Mỹ — thậm chí ở cách xa hơn là khi chỉ đơn giản triển khai vành đai phòng thủ đó từ đại lục”, McGrath nói.

Chắc chắn một số nhà phân tích Mỹ thấy các hoạt động bồi đắp đất của TQ không đe dọa nhiều. M. Taylor Fravel, một chuyên gia về tranh chấp biển châu Á tại Viện Công Nghệ Massachusetts (MIT), nghi vấn liệu các sân bay cô lập không có lớp các cấu trúc phục vụ đầy đủ như các cơ sở tiếp tế nhiên liệu và bảo trì sẽ làm được gì nhiều để làm tăng tầm hoạt động quân sự của TQ. Ông nói, chúng vẫn sẽ mong manh đối với bất kỳ cuộc tấn công nào của Mỹ. Hơn nữa, chúng cũng mong manh trước thời tiết.

“Một cơn bão lớn có thể cuốn đi hết tất cả”, Rapp-Hooper đồng ý.

Cuộc đấu khẩu về 10.000 feet (3.034 m) bê tông trên Đá Chữ Thập nhấn mạnh mức độ mà các đường băng đang và từ lâu được dùng cho việc triển khai sức mạnh trong những khoảng cách rộng lớn của Thái Bình Dương. Trong Thế chiến II, việc Nhật Bản xây dựng một sân bay trên đảo Guadalcanal đã khiến Thủy Quân Lục Chiến Mỹ tung ra cuộc tập kích đầu tiên trên đất liền trong Chiến Tranh Thái Bình Dương. Tương tự như vậy, nhu cầu về các sân bay áp chế phần lớn chiến lược nhảy cóc (island-hopping) lên các đảo trung tâm Thái Bình Dương của Đô Đốc Chester Nimitz qua việc tóm lấy các bệ phóng ở chuỗi đảo Marshalls, Marianas và cuối cùng là Ryukyu để có thể giành ưu thế trên không ở khu vực, lẫn việc ném bom tầm xa vào các đảo chính của Nhật. Ngay cả ở châu Âu, các sân bay ở các vị trí chiến lược cách xa nhau như Iceland, Azores, và Malta đã đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc chiến chống tàu ngầm của Đức và tấn công các tuyến đường tiếp liệu của Phe Trục. Gần đây hơn, Diego Garcia ở giữa Ấn Độ Dương đã là một căn cứ quan trọng cho các cuộc không kích tầm xa của Mỹ ở Trung Đông.

Trớ trêu thay, mặc dù qua nhiều thập kỷ tiến bộ trong công nghệ quân sự, sân bay vẫn còn quan trọng như từ trước tới nay, vì máy bay phản lực ngày nay có tầm hoạt động tương đối ngắn, Đảo Hải Nam của TQ và Quần Đảo Trường Sa cách nhau gần 600 dặm, không quân TQ sẽ phải hoạt động ở mức giới hạn cuối cùng trong bất kỳ cuộc đối đầu nào trong khu vực.

Nhưng xây dựng một đường băng trên Đá Chữ Thập về cơ bản cho Bắc Kinh một tàu sân bay không thể chìm, nằm sẵn ở trung tâm Biển Đông. Theo cách đó, vành đai phòng thủ của TQ được đẩy xa bờ biển gần 600 dặm sẽ khiến cho các nhóm tấn công tàu sân bay Hải Quân Mỹ với các máy bay tầm ngắn khó can thiệp hơn nhiều mà không sợ mất đi một con tàu nhiều tỉ đô la.

Nguồn:Foreign Policy

 

Bìa 3 tập NGÔ MINH TÁC PHẨM 1,3,5 do nhà thơ Nguyễn Trong Tạo vẽ

 VỀ BỘ SÁCH ”NGÔ MINH TÁC PHẨM”

 NGÔ MINH

   Bạn đọc và bạn bè văn nghệ sĩ cả nước thân mến.

         Vì có nhiều  bạn bè điện thoại, nhắn tin hỏi thăm, nên Ngô Minh xin thông báo về bộ sách tuyển NGÔ MINH TÁC PHẨM như sau :

         Năm nay (2015) Ngô Minh 67 tuổi.Từ cuối năm 2014 đến nay, tôi đau yếu liên miên: Đau khớp, gút sưng hai chân không đi được từ trong Tết đến nay. Đau loét dạ dày, chảy máu ngầm, phải nằm viện 2 lần, thiếu máu, suy dinh dưỡng phải truyền tới 4 đơn vị máu ( 1 lít). Bây giờ tôi đi lại vẫn khó khăn. Khi nói, tiếng vẫn ra đằng tai. Tôi nhận thấy sức khỏe mình giảm sút, không biết có sống tới 70 tuổi không. Nên tôi đã tự đọc chọn, biên tập một bộ tuyển tập của mình có tên là NGÔ MINH TÁC PHẨM ( vì sợ chữ “TUYỂN” xui). Đây coi như là bộ sách khép lại quá trình sáng tác Văn học hơn 40 năm của mình.Nhà thơ Hoàng Cát làm tuyển khi 68 tuổi.Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ làm tuyển khi 60 tuổi. Nên tuổi Ngô Minh tổng kết quá trình sáng tác cũng là bình thường. Thơ văn Ngô Minh là những trang viết thật lòng, thật đời, thật xúc cảm, nên được nhiều bạn đọc yêu mến. Nay chọn lọc lại chắc chất lượng sẽ cao hơn. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.04.2015

NHỮNG CÂU THƠ TÀI HOA CỦA NGÔ MINH

NHỮNG CÂU THƠ TÀI HOA CỦA NGÔ MINH

Nguyễn Vũ Tiềm

Trong tuyển NGHÌN CÂU THƠ TÀI HOA VIỆT NAM dày 887 trang, do nhà thơ Nguyễn Vũ Tiền sưu tầm- tuyển-dịch ( NXB Văn học, năm 2000) có in 1000 câu thơ tài hoa của 886 tác giả có tên và vô danh. Những câu thơ rất hay này được người tuyển xắp xếp thành những mục như thơ về cha-mẹ, tình yêu.v.v.., trong đó Ngô Minh được chọn 7 câu thơ tài hoa. Xin giới thiệu để bạnd dọc cugnf chia sẻ

Câu 15.51:

Trắng như tờ lịch vừa rơi
Ngày không em giấy không lời khát khao
May đời còn có chiêm bao
Cho hoa diệp liễu thơm vào trông không
( Sang trang ) (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.04.2015

LỊCH SỬ VÀ LÃNH TỤ

Ông Nguyễn Minh Nhị,cựu chủ tịch tỉnh An Giang

LỊCH SỬ VÀ LÃNH TỤ

Nguyễn Minh Nhị

Nhân đọc bài của TS Tô Văn Trường về chủ đề Đại hội Đảng khóa 12 sắp tới mà anh gửi riêng tham khảo, tôi như được gợi mở suy nghĩ trên tinh thần trách nhiệm về việc Đảng và vận nước.

Lịch sử là con đường không thẳng. Có ai ngờ 40 năm nước nhà độc lập, thống nhất mà con đường đi lên hạnh phúc không thẳng tắp, “rộng thênh thang” như ta tưởng. Và mỗi lần vượt qua khúc quanh hoặc để “nắn dòng” chảy đòi hỏi phải có con người lịch sử. Chỉ có con người lịch sử mới chuyển dòng lịch sử một cách lành tính. Đó là trường hợp ông Trường Chinh.

Những gì tôi đọc, nghe đều cho rằng ông từng có khuyết điểm trong Cải cách ruộng đất và cứng rắn trong chủ trương xây dựng Hợp tác xã ở Miền Bắc (1958), và trên cả nước sau khi hai miền thống nhất cho đến năm 1986. Nhưng khi Tổng Bí thư Lê Duẩn qua đời, lịch sử trao gánh nặng cho Ông: Cứu Đảng – cứu chế độ, cứu dân. Ông Đổi mới! Chỉ có ông dám thông qua Báo cáo chính trị phê phán sai lầm của Chủ nghĩa xã hội giáo điều, quan liêu, bao cấp mà thành trì Liên Xô đang lung lay sụp đổ.

Nhờ có tư duy nhạy bén, biết lắng nghe hơi thở của cuộc sống, có uy tín cao trong Đảng , ông đã dũng cảm vượt lên chính mình, trực tiếp chỉ đạo viết lại Văn kiện Đại hội Đảng VI theo tinh thần Đổi mới. Sau mười năm báo cấp (1976-1986), nền kinh tế Kế hoạch hóa Việt Nam đang tuột dốc thảm hại, ông dám “bẻ góc” cho nó vọt lên thì chính ông là người làm nên lịch sử.

 Khi bàn về tính công minh của lịch sử Engels đã nói đại ý như sau Khi nhận định một nhân vật lịch sử thì phải chú ý những gì người ta làm được, còn những thiếu sót là những hạn chế của điều kiện lịch sử“. Người ta thường tranh luận “Thời thế tạo anh hùng hay anh hùng tạo ra thời thế”? Có thể ở trong trường hợp của Trường Chinh cả hai yếu tố nêu trên đều đúng. Lịch sử và người dân luôn nhớ về ông như tấm gương sáng thể hiện rõ bản lĩnh và vai trò của lãnh tụ.

 

“Đổi mới” đang đuối tầm!.

Con tàu Cách mạng Việt Nam chạy qua cung đường thời gian 30 năm xem ra năng lượng “Đổi mới” đã cạn. Nó đang chạy với tốc độ quán tính giai đoạn cuối của đà “Đổi mới” và năng lượng của FDI từ chính sách thu hút đầu tư nước ngoài. Từ 5 năm nay các chỉ số hài lòng của người dân với bộ máy hành chính, hay nói cho công bằng, là cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng và các dịch vụ hành chính – sự nghiệp như: nhà đất, hộ tịch hộ khẩu, y tế, giáo dục…của Chính phủ, theo điều tra của cơ quan LHQ và các cơ quan Chính phủ, mới công bố vẫn không cải thiện được bao nhiêu. Công nhân đình công mà không thấy bóng Công đoàn. Nông dân khiếu kiện đất đai thì không thấy mặt Hội của mình đứng ra hướng dẫn, chỉ đạo. Phụ nữ bị bạo hành gia đình thì thường là nhờ công an can thiệp chớ vai trò Hội của chị em bặt tăm. Tệ “chạy”, đường ai nấy biết, nếu mở miệng phải trưng “bằng chứng” thì có nước đi tù, vì Thanh tra, Kiểm tra “chưa có cơ sở kết luận” v.v….

Về cơ cấu kinh tế, nếu nhìn từ xuất khẩu thì theo Tổng cục Thống kê năm 2014, tổng kim ngạch của cả nền kinh tế là 150 tỷ US, trong đó doanh nghiệp FDI chiếm hơn 2/3 (101 tỷ = 67% kể cả dầu thô), nếu không tính các Liên doanh xuất khẩu dầu thô thì cũng còn là 94 tỷ = 63%. Trong FDI, riêng Samsung xuất khẩu khoảng 24 tỷ. Như vậy là kinh tế nội địa tham gia xuất khẩu chỉ chiếm khoảng hơn 30% = khoảng 50 tỷ nhưng trong đó hàng nông – lâm – thủy – hải sản chiếm 20,5 tỷ.

Huyện Tịnh Biên ( tỉnh An Giang, Anh hùng Kháng chiến), qua ba cuộc chiến tranh liên tiếp, xã nào cũng được tuyên dương Anh hùng, riêng xã Nhơn Hưng bản quán của tôi đến ba lần Anh hùng. Đó là niềm kiêu hãnh. Nhờ Đổi mới mà bộ mặt Bảy Núi – An Giang (điện, đường, trường, trạm, nước sạch…) đổi thay rõ nét. Đó là niềm tự hào. Nhưng sự so sánh “hôm nay hơn hôm qua”, “bây giờ khác xa hơn 30 năm trước” theo lối tư duy cũ xưa là không thể nhìn ra hiện thực xã hội đòi hỏi nên thường bị tụt hậu mà không hay. Đó là vấn đề công ăn việc làm và thu nhập của từng nhà rõ ràng là không bền vững.

Nói đến đây tôi vô cùng biết ơn ông Lý Quang Diệu với khu công nghiệp Singapore – Bình Dương và các anh Sáu Phong (Bí thư) anh Út Phương (Chủ tịch) tỉnh Bình Dương đã tiên phong khai mở con đường cho dân nghèo quê tôi có thêm công ăn việc làm. Nhiều nhà, thậm chí cả xóm đi hết lên đó. Tôi từng sợ doanh nghiệp FDI sẽ làm doanh nghiệp nội địa của ta “liệt kháng”. Nhưng nay thì như phân tách cơ cấu kim ngạch xuất khẩu vừa nói, nếu không có FDI thì kinh tế ta sẽ “liệt cần”! Hiệp định TPP sẽ là một cơ hội lịch sử chăng?

Năm 2016 Đại hội Đảng lần thứ 12. Chu kỳ thời gian có sự trùng hợp ngẫu nhiên với Đại hội lần thứ 6 năm 1986! Yêu cầu 1986 là Đổi mới để thoát sụp đổ còn lần này tất yếu là tìm nguồn năng lượng mới hay nói nôm na là phải có “đầu kéo” mới để không bị đùn toa. Nói đùn toa nghe thì nhẹ nhưng nó cũng sẽ lật toa và hậu quả cũng không khác gì sụp đổ.

Nhớ khi xưa vận nước Đại Cồ Việt đang bên bờ vực: Nội bộ triều Đinh lục đục, giặc Tống lăm le xâm lược nước ta. Nếu không phải Thái hậu Dương Vân Nga thì không ai cứu được nước và chặn được giặc ngoại xâm. Bà đã vượt lên chính vai Thái hậu uy quyền của mình và vượt lên cả Triều đình họ Đinh mà cứu nước. Chỉ có bà mới làm được. Con bà là Đinh Toàn chính danh sẽ là Vua nhưng không làm được, các đại thần nhất là các Hoàng thân càng không làm được, vì họ xem cái họ Đinh là lớn hơn trăm họ. Uy và quyền của bà lúc bấy giờ lớn hơn cả họ Đinh mà bà còn đặt nó dưới trăm họ thì nước sao không mạnh, giặc nào không thua!

Lý Công Uẩn dời đô vì Đại La có thế “Rồng cuộn hổ ngồi” như ngài ra chiếu, nhưng cũng có người bình luận: còn là vì ngài muốn tránh xa cái họa phe nhóm, dư đảng của các đại thần Đinh, Lê xâu xé triều chính, để nhà vua rảnh tay lo chống giặc phương Bắc và xây dựng Đại Việt. Vả lại một kinh đô Hoa Lư chỉ rộng đủ chứa một bậc Sứ quân thì làm sao thỏa sức vẫy vùng của một bậc Đế vương mà câu chuyện truyền tụng dân gian là thuở còn là chú tiểu ở chùa có lần bị nhà chùa phạt trói cột Ông đã từng than: “Đêm nằm chẳng dám ngay chân thẳng/ Sợ nỗi Sơn hà Xã tắc nghiêng”!

Việt Nam đang trước ngã ba đường hội nhập quốc tế. Nói ngã ba là để hình dung giữa các nước lớn, các loại thị trường, các đối tác và đối thủ…để chọn lựa cách đi chớ không có tư duy nhìn đâu cũng ngã ba, ngã bảy hoặc cạm bẩy hay nhìn lối mòn nào cũng ra đại lộ để cặm cuị đi và nhìn đâu cũng thấy kẻ thù để giận. Mà giận thường mất khôn thì làm sao cạnh tranh nổi với người ta. Nói thế không có nghĩa Việt Nam hết kẻ thù thì ngây thơ quá. Không phải vậy. Vì “tấm huân chương còn có bề trái” thì không có đối tác nào mà không có khả năng là đối thủ – kẻ thù. Thậm chí kẻ thù có thể đang lù lù ngồi kế bên ta đó. Do đó chúng ta phải bình tĩnh , sáng suốt để tránh các thế lực thù địch bên ngoài “chuyển vế” ngược, làm cho trong nhà ganh tị, thù hận nhau thì ta như tự sát!

  Lời kết

Tôi vừa được Tỉnh ủy truyền đạt: Hội nghị TW 10 mới rồi khẳng định: “Đảng lấy quốc gia dân tộc làm đầu” và “Dân là gốc” chớ không phải “Lấy dân làm gốc”. Đại hội Đảng lần thứ 12 sẽ lấy chủ đề này làm trọng tâm thì chính là tín hiệu Đảng dám vượt lên chính mình, vượt xa Đại hội 6 “lấy dân làm gốc” để đưa con thuyền Tổ quốc vượt qua khúc quanh lịch sử hiện nay. Cơ hội không đến hai lần. Lịch sử tạo ra lãnh tụ. Lãnh tụ làm nên lịch sử. Tôi tin vậy!

N.M.N.

( Nguồn BVN)

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.04.2015

Văn Cao tiếng hát

Văn Cao
(Ký họa của Trịnh Công Sơn, 1992) 

Đặng Tiến 

  Thiên Thai Trương Chi của Văn Cao là hai ca khúc nổi tiếng từ nửa thế kỷ nay, cấu trúc trên hai truyền thuyết được lưu hành lâu đời. Thiên Thai là chuyện Lưu Nguyễn lạc vào cõi bồng lai, Trương Chi kể lại niềm đau đớn của chàng ngư dân có tiếng hát hay, tuyệt vọng vì tình: ai cũng hiểu như thế và hiểu đúng. Gần đây Phạm Duy có phát triển thêm ý nghĩa của hai bài hát, trong một loạt bài rất hay đăng trên Văn Học (California), số 16&17 (tháng 10&11.1987) [đăng lại trên Hợp Lưu số 8].

 Nay chúng tôi muốn đưa một lối nhìn khác về hai nhạc phẩm, không phải để đi tìm cái độc đáo, lập dị, mà để đưa Thiên Thai Trương Chi vào toàn bộ sự nghiệp thơ-nhạc-hoạ của Văn Cao, như một đồng bộ thống nhất: hai bài hát đó, chúng tôi xem như là tuyên ngôn nghệ thuật của Văn Cao – những nguyên tắc thẩm mỹ đưa ra từ thuở hai mươi, sẽ chung thuỷ với Văn Cao đến tuổi xế chiều.

Thiên Thai mở ra bằng một tiếng hát:

Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng…

Bồng Lai, ở đây, chỉ là tiếng hát: Thiên Thai là lịch sử một tiếng hát, một tác phẩm nghệ thuật lừng danh và vô danh. Tiếng hát, không à ơi trên võng, không tỉ tê bên gối, không ê a dưới ánh đèn màu, không rè rè qua máy phát thanh, mà vang lừng trên sóng, vượt tới vũ trụ và lấn át vũ trụ. Tiếng hát át tiếng sóng là một âm thanh tự thức đè lên những âm thanh vô thức. Tiếng ai hát… ai hát? Ta không biết và không cần biết. Một tác phẩm nghệ thuật, khi lìa tác giả, không còn cần tác giả, như đứa con khi trưởng thành không còn cần mẹ như trước. Chúng ta yêu Truyện Kiều mà không cần liên hệ với Nguyễn Du. Liên hệ, dĩ nhiên, “thì cũng tốt thôi” nhưng không phải là điều chính yếu trong nghệ thuật. Cái sai lầm của cô Mỵ Nương là đã muốn đồng hoá tiếng hát với người hát: “Hồ nghe tiếng hát thì thương… Hồ trông thấy bóng anh chàng thì chê…” như lời ca dao có kể lại. Không cứ gì một cô bé lầu Tây sai lầm, mà cả nền văn nghệ hiện thực xã hội chủ nghĩa (đã) sai lầm, khi đánh giá những bài hát nói của Nguyễn Công Trứ qua Nguyễn Công Trứ, đánh giá tiểu thuyết Nhất Linh qua con người Nhất Linh – mà lại đánh giá sai.

Thiên Thai là gì? là “cả một thiên thu trong tiếng đàn chơi vơi”. Sự đối lập, hay song lập, giữa vĩnh viễn và mong manh, giữa những định hình và những chơi vơi, là thế giới nghệ thuật. Nụ cười mong manh trở thành miên viễn trong bức hoạ La Joconde. Không gian như có dây tơ trong buổi chiều Xuân Diệu – hay bóng chiều Nguyễn Du, thướt tha bên cầu tơ liễu, là những ánh sáng mong manh ấy, là cả một thiên thu.

Một mặt, nghệ thuật là tiếng đàn vui ai quên đời dương thế…, tách rời khỏi thực tế; nghệ thuật là một thế giới riêng, với những quy luật riêng, bảo vệ và phát huy bản năng sáng tạo độc lập với hiện thực. Mặt khác, nghệ thuật cần bám rễ vào thực tại để phát triển, và phả sắc, nhả hương về lại trần gian. Nói giản dị hơn: nghệ thuật cần thực tại để nảy sinh và cần quần chúng để trưởng thành, nghệ thuật là ánh trăng thanh mơ tan thành suối trần gian. Nghệ thuật là một mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn qua một lần, là những cánh hoa trong một bức tranh tuyệt mỹ, không nở không tàn, nhưng chỉ sống thực khi gặp cái nhìn của người xem; sóng mắt con người đánh thức cành hoa trong hội hoạ, và trong ánh mắt đó, nó sẽ nở sẽ tàn như mọi thứ hoa trần thế; và chỉ có giờ phút bừng sống đó, cành hoa nghệ thuật mới đạt tới đời sống thực và có khả năng trở thành một cành hoa lý tưởng. Trong khi chờ đợi, cành hoa huệ của Tô Ngọc Vân, cành hoa cúc của Lê Phổ… vẫn còn là những hoa xuân chưa gặp bướm trần gian.

Người nghệ sĩ khi cầm cây cọ, ngòi bút trên tay vẫn biết rằng phút mê cuồng có một lần và chỉ một lần thôi, nếu có. Và có thể phút mê cuồng ấy không đến: phút linh cầu mãi không về như lời thơ Hồ Dzếnh. Hoặc đến không phải nơi phải lúc. Phút mê cuồng ấy linh thiêng, tuyệt đối, là động cơ cuối cùng của sáng tạo mà mỗi nghệ sĩ, mỗi xã hội đều có nhiệm vụ bảo vệ vì nó chỉ có một lần. Khi khai triển, chuyển phút có một lần thành cả một thiên thu, người nghệ sĩ lại phải tỉnh táo: trước để chuẩn bị, và sau đó, để hoàn tất. Lúc tỉnh táo, trước và sau đó, anh là người thợ, phải có dụng cụ, có tay nghề. Anh đừng cả tiếng khinh thường thợ thơ, thợ vẽ: không có người thợ trong tay, anh suốt đời chỉ nguệch ngoạc, hoặc rung đùi đợi vợ con hầu rượu và lạc rang, và khinh đời “không có trình độ”.

Thiên Thai là luồng điện hai chiều: người trần gian mơ hạnh phúc bồng lai trong khi những tiên cô khao khát “ khúc tình duyên” trần thế. Lưu Nguyễn khi ở Thiên Thai đã “ quên đời dương thế”, khi về trần, muốn tìm lại cõi tiên thì Đào Nguyên nơi nao? Nghệ thuật cũng vậy. Nghệ thuật là cuộc đời hoá thân thành màu sắc, âm thanh; mà cũng là những âm sắc khô cứng muốn trở lại làm hoa làm lá. Nghệ thuật là đoá hoa mong chín mọng thành trái đầu mùa, mà cũng là quả cây chín muộn, nhung nhớ cánh bướm hoang đường từ một mùa xuân xa vắng. Là những lối đi trùng với lối về, nghệ thuật là cõi hẹn hò ngang trái. Mỗi ngang trái là một chung thuỷ và hạnh phúc của sáng tạo nảy sinh từ sự thuỷ chung đó. Nghệ sĩ cùng bầy tiên đàn ca bao năm, không còn nhớ đường về; anh sống với nghệ thuật cũng vậy: trước giá vẽ, anh chỉ biết vui với cây cọ và màu sắc, mà không cần nhớ cuộc sống, không chịu thêm vào một bó hoa hồng để tranh dễ bán, không chịu bớt đi một đoá hoa sen cho hợp đường lối, lập trường. Anh vẽ cuộc sống, nghĩa là vẽ cuộc sống trong anh; dù vẽ cái ly trước mặt, anh vẫn vẽ ra hàng ngàn cái ly đã chứng kiến đời anh, bằng một cái ly trong tâm tưởng. Tĩnh vật trước mặt chỉ là cái cớ, làm trung gian giữa tác giả và người xem tranh. Những mối tình lớn không cần trung gian. Những hoạ phẩm lớn không cần đề tài. Nhưng ngược lại, khi rời khỏi giá vẽ, trở lại đời sống bình thường của xã hội, thì anh lại phải sống bình thường, đau cái đau của con người, vui cái vui của vợ con, buồn nỗi buồn của dân tộc. Nguyễn Du không lăn lóc suốt đời thì không thốt lên được tiếng đoạn trường. Nguyễn Khuyến không lo sốt vó vì vụ lụt lội mất mùa, phần thuế quan thu, phần trả nợ thì không thể viết nổi câu nước trong veo. Nói vậy để trả lời những người hỏi Văn Cao: Sao tài hoa xuất chúng mà đi lãnh việc trong ban khủng bố? Sao lại không? Chẳng lẽ là tài hoa, anh lãnh phần làm nhạc quốc ca thôi, còn việc tầm thường thì để người khác làm thay? Hỏi như thế thì khác gì trách Nguyễn Công Trứ cầm quân dẹp loạn, hay trách André Malraux chỉ huy lữ đoàn thép Alsace Lorraine?

Thiên Thai là cõi vô thuỷ vô chung, không có thời gian. Mà không có thời gian thì không có âm Nhạc. Lôgíc. Không có khúc nghê thường. Gió hát trầm tiếng ca, tiếng phách ròn lắng xa là nghệ thuật, là trần gian, là ý thức của huỷ thể. Âm ba thoáng rung cánh đào rơi trong một mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn qua một lần. Nghệ thuật đã làm rụng chiếc lá đầu tiên xuống Đào Nguyên. Nghệ thuật là cố gắng của con người vượt qua khỏi vật thể, tội lỗi và cái chết trong trần thế, là tiếng hát vang lừng trên sóng sau cơn bão.

Trương Chi

Có nhiều huyền thoại Trương Chi. Tình sử Trung Quốc kể chuyện một cô gái mê tiếng hát của một người lái buôn rồi chết, tim hoá đá, cho đến khi người đàn ông trở lại, nhỏ một giọt nước mắt, khối tình mới tan. Theo truyền thuyết Việt Nam, người đàn ông là một người thuyền chài, có tiếng hát hay, nhưng bị chê nghèo (hoặc xấu); nhân vật nữ là cô Mỵ Nương. Có thuyết cho là nàng chết, thuyết khác cho chàng chết, tim hoá gỗ bạch đàn hay ngọc đá. Văn Cao nhấn mạnh hai chủ đề nhạc và giai cấp, và chuyện chấm dứt ở cái chết của Trương Chi, chỉ còn lại tiếng hát nức nở trên sông. Không có chuyện trái tim và nước mắt. Phạm Duy, trong Khối tình Trương Chi (1945), kể lại truyền thuyết từ đầu đến cuối. Hai bản nhạc đồng thời với nhau và Phạm Duy đã có lần giải thích rất hay tác phẩm bạn mình (báo Văn Học, đã dẫn).

Bài hát Trương Chi mở đầu trong một thế giới sơ khai: Một chiều xưa trăng nước chưa thành thơ, một thế giới chưa có nghệ thuật, chưa có sáng tạo; sau đó không gian mới rung thành tơ: con người đã phát triển được bản năng thẩm mỹ, bằng cách tiếp thu một cách tiêu cực vẻ đẹp của vũ trụ, rồi dần dần sáng tạo ra nghệ thuật, ôi tiếng cầm ca thu tới bao giờ. Con người trước tiên tiếp xúc với vũ trụ để tự vệ và sản xuất. Nhờ có nghệ thuật, họ đã giao tiếp với ngoại giới bằng những rung cảm mới, ngoài phạm vi nhu cầu tồn tại. Tương quan giữa tiếng cầm ca thu tới bao giờ là tương quan giữa bản năng thẩm mỹ, bản năng sáng tạo và cái đẹp của thiên nhiên. Thiên nhiên thì vẫn vậy thôi, hay chuyển hoá rất chậm và rất ít theo chu kỳ, nhưng ý thức thẩm mỹ của con người càng ngày càng phát triển nhanh, càng tiến bộ trở thành phức tạp, tinh tế. Cho đến một lúc nào đó, con người bỗng thấy lòng chiều bơ vơ lúc thu vừa sang… Buổi chiều. Mùa thu. Niềm bơ vơ: chúng ta đã đến những chủ đề cổ điển của văn thơ thế giới, từ nhiều nguồn văn minh khác nhau. Con người chủng tộc, văn hoá khác nhau có thể cùng rung cảm như nhau, vì cái đẹp khách quan bàng bạc dưới ánh sáng hài hoà của vũ trụ và cái đẹp chủ quan ấp ủ trong bản năng thẩm mỹ của con người, bản chất gần nhau. Từ đó, nghệ thuật là mớ vốn chung cho toàn thể nhân loại, nó phải có tham vọng đáp ứng lại nhu cầu thẩm mỹ của con người – dĩ nhiên là qua lăng kính ngôn ngữ, văn hoá của từng dân tộc một. Sáng tạo nghệ thuật làm vũ trụ và con người càng ngày càng giàu có thêm. Buổi chiều, cũng như buổi sáng, buổi trưa, không đẹp, không xấu: buổi chiều là giờ an nghỉ, phút chia tay, một ánh trầm tư, một thoáng u hoài trước cảnh vật phai màu nhạt sắc. Buổi chiều, một thoáng bơ vơ, trở thành một tình cảm văn nghệ.

Nhưng theo đà tiến hoá, nghệ thuật – và con người nữa – cách ly ra khỏi thiên nhiên, độc lập và có khi đối lập với thiên nhiên. Nghệ thuật ngày một ngày hai trở thành một hoạt động chuyên nghiệp có qui chế trong xã hội. Ngày nay, ai thích lời chim ríu rít tiếng oanh ca không nhất thiết phải thích âm nhạc; ai yêu phong cảnh sông Lô bến sóng vàng từng nhà mờ biếc chìm một màu khói thu, người ấy không nhất thiết phải yêu hội hoạ.

Nhưng nghệ thuật, cụ thể là âm nhạc, hội hoạ và văn thơ khơi sâu ý thức về cái đẹp trong con người, giúp con người yêu thêm, yêu sâu sắc hơn ngôn ngữ và những âm sắc thiên nhiên. Không phải tự nhiên mà con người nghe suối hát theo đôi chim quyên hay ngoài song mưa rơi trên bao cung đàn… Trong trường ca Những người trên cửa biển, Văn Cao nói rõ hơn:

Có người không biết trăng là đẹp
Bỗng nhiên chiều đứng ngắm trăng lên
Nghe như ai hát trong lòng…

Có người quên hàng chục năm dĩ vãng
Chợt nhớ ra tất cả nhữ ng ước mơ
Của những ngày niên thiếu

(, tr. 72)

Như một câu thơ, một khúc nhạc. Nghệ thuật là bội số của cuộc đời nhân cuộc đời thành ngàn vạn giấc mơ, từ đó, Văn Cao đã có thể khẳng định những bức tranh tăng dân số chúng ta. Và anh giải thích:

Bao tình yêu khát khao hy vọng
Gửi từng cuộc đời nhỏ bé
Từng thế giới con con
Với tôi tất cả
Đều rộng lớn vô cùng

Vì những nhỏ bé con con ấy lớn lên trong nghệ thuật, đều trở thành cái vung tay hùng tráng của người gieo (le geste auguste du semeur).

Nhưng cái đẹp trong nghệ thuật không phải lúc nào cũng lung linh ánh trăng, long lanh tiếng suối, lóng lánh hơi mưa, nó có thể lem nhem than khói:

Nhạc đang biến thành sự thực quanh ta
Tôi càng yêu hơn
Những cuộc đời sau bức tường xám xa
lem nhem than khói
Những lá thuyền chen chúc nép bên nhau
Qua chiếc lưới phơi thấp thoáng bóng người
Cả đến cuộc đời những con hà lóng lánh

(, tr. 71)

Tác dụng của nghệ thuật thật lớn lao trong cuộc sống của loài người. Cô Mỵ Nương vốn ở lầu Tây, con quan Thừa tướng ngày ngày cấm cung trong ca dao làm sao có tầm hiểu biết như thế.

Tây hiên Mỵ Nương khi nghe tiếng ngân hò khoan
Mơ bóng con đò trôi
Giai nhân cười nép trăng sáng lả lơi
Lả lơi bên trời

Sai lầm của cô gái lầu Tây là đã mơ người hát qua lời hát, mơ tác giả qua tác phẩm, sau đó lại muốn chiếm hữu tác giả – nghĩa là chiếm hữu toàn bộ tác phẩm lẫn nguồn sáng tạo cho riêng một mình – rồi lại chê nhặt chê khoan. Cô là hiện thân của những hệ thống chính trị cưỡng đoạt văn nghệ từ xưa đến nay. Đường Minh Hoàng chuộng Lý Bạch, Louis XIV nâng đỡ Molière, bất quá là để mua vui như Lê Thái Tôn dùng nhạc Lương Đăng; còn chế độ chuyên chính vô sản, từ Staline đến nay, chiếm đoạt văn nghệ ra sao, thì chúng ta không cần dài lời. Trong bài hát, Văn Cao phớt qua hình ảnh Mỵ Nương, chút nhan sắc của cô bé dậy thì này không đáng cho anh dừng mắt lại lâu, anh chỉ trách ai khinh nghèo quên nhau. Quên nhau là thôi, là hơn. Trương Chi dừng chèo là Văn Cao dừng chuyện. Không cần gì tim phải hoá đá để đòi nợ nước mắt. Vả lại không ngọc đá nào quý bằng trái tim con người, trái tim biết yêu, biết nhớ, trái tim khi ngừng đập là tan rã với cỏ cây. Trái tim Trương Chi, trái tim Văn Cao không có gì sánh được. Còn món nợ kia? Ở đời, một là anh phủi nợ, thì hết vấn đề. Hai là anh nhận nợ, thì không bao giờ anh trả hết: chết đi, chết kiểu gì đi nữa, thì anh cũng chỉ mới thoát nợ chứ chưa phải là trả nợ. Lẩn thẩn mà Văn Cao đòi nợ thì phiền lắm: cả nước nợ anh một bản quốc ca, mỗi chúng ta còn nợ anh một điệu nhạc tình, cả mấy cô tiên trên Thiên Thai vẫn còn nợ Văn Cao trái đào thơm. Năm nay bảy mươi tuổi, Văn Cao đã ăn được trái đào thơm nào đâu? Còn quả đắng, thì suốt một đời, anh phải ăn nhiều lắm. Văn Cao là chú đạo đồng dâng mật ngọt cho bữa tiệc trần gian rồi suốt đời phải ăn trái đắng.

Trái tim Trương Chi thì đã tan rã. Nhưng tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung… Đây là định mệnh của tác phẩm nghệ thuật, là ý nghĩa đặc biệt của nhạc phẩm Trương Chi, chứ không phải là chuyện tình lẩn thẩn. Phải hiểu như thế mới bắt được mạch thơ Văn Cao:

Đêm nay dòng sông Thương dâng cao
Mà ai hát dưới trăng ngà
Ngồi đây ta gõ ván thuyền
Ta ca trái đất còn riêng ta

Ta ở đây không phải là cá nhân Trương Chi, cũng không phải là Văn Cao, mà là Con Người, Nhân Loại sáng tạo ngôn ngữ, rồi sáng tạo nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật, văn minh, để làm chủ trái đất còn riêng ta. Con người gõ ván thuyền mà ca, giữa cảnh trăng nước sông Thương, đẹp hơn cả hình ảnh Trang Sinh khi vỗ bồn mà hát. Hát rằng: Ta có trời đất làm quan quách, nhật nguyệt làm ngọc bích, tinh tú làm ngọc châu, vạn vật làm lẽ sống… Mà còn thêm chi cho lắm việc (Liệt ngự khấu, Ngoại Thiên). Bối cảnh có khác nhau, nhưng nội dung chính yếu của chuyện gõ thuyền, gõ chậu mà ca không khác nhau: Con Người tự thức, làm chủ thể của ý thức và ngoại vật. Tự thức ở Trang Tử là tư tưởng lớn lao của ông, tự thức của Văn Cao là nghệ thuật của mình, là tiếng hát vang lừng trên sóng, mà cũng là tiếng sóng. Tiếng sóng Kêu khát suốt ngày đêmSuốt ngày đêm kêu khát. Nghệ thuật phải là những làn môi. Những làn môi nóng bỏng căng mình chờ đợi:

Nước ngọt của dòng sông
Bao giờ đổ đầy lòng biển

(Câu khép trường ca Những người trên cửa biển).

Đ.T. 

 ( Nguồn: vanviet)

 

Nhà thơ Việt Phương

NGƯỜI LÀM THƠ CHẤN ĐỘNG MỘT THỜI Ở PHỦ THỦ TƯỚNG

Nhà văn Dương Kỳ Anh
“Mở đài địch như mở toang cánh cửa”, “Ta nhất quyết đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sỹ/ Hình như đấy là niềm tin, ý chí và tự hào/ Mường tượng rằng trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ/ Sự ngây thơ đẹp tuyệt vời và ngờ nghệch làm sao”, “Ta đã thấy những chỗ lõm lồi trên mặt trăng sao/ Những vệt bùn trên tận đỉnh chín tầng cao”… Những câu thơ từng gây chấn động dư luận một thời mà bây giờ tôi mới biết nó được trích từ bài thơ “Cuộc đời yêu như vợ của ta ơi”, một trong những bài trong tập thơ “Cửa mở” của nhà thơ Việt Phương do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1970. Vào những năm 70 mà viết những câu thơ như thế, tôi khâm phục ông vô cùng.


 

Chuyện ít biết về tác giả ‘Cửa mở’ gây chấn động một thời
 
Hôm kỷ niệm 50 năm thành lập Hội Nhà văn Việt Nam tại Cung Văn hóa Hữu Nghị, tan buổi, tôi đứng chờ xe taxi để về nhà thì gặp nhà thơ Việt Phương. Ông bảo: “Dương Kỳ Anh ơi, lên đây cùng về với mình”. Buổi đầu, tôi cứ tưởng xe cơ quan đón ông, nhưng khi tôi lên xe ôtô mới biết đó là xe riêng của con trai ông. Thấy phong thái con trai ông lễ phép, thân tình và cởi mở, tự nhiên tôi muốn đến thăm gia đình ông, gia đình của một nhà thơ từng gây chấn động dư luận với tập thơ “Cửa mở”.
 
Nhà thơ Việt Phương họ Trần, Trần Việt Phương, tên thực của ông là Trần Quang Huy. Năm ông 17 tuổi, tham gia hoạt động bí mật chống thực dân Pháp, bị bắt, bị giam với một người bạn tù cũng xấp xỉ tuổi ông. Hai người ở hai xà lim nhưng cũng thường trao đổi với nhau. Lúc đó ông có bí danh là Việt Phương và người bạn tù lại lấy tên ông là Trần Quang Huy làm bí danh. Sau này, người bạn tù đó trở thành Bộ trưởng Trần Quang Huy (tên thực là Vũ Đắc Huề).
Việt Phương có hai người con trai là Trần Trung Thực sinh năm 1956 và Trần Quang Huy sinh năm 1960. Là ông lấy tên khai sinh của mình đặt tên cho con. Ông kể rằng, trong hộ khẩu của ông có hai tên Trần Quang Huy nên dạo còn bao cấp, mỗi lần đi mua gạo mua dầu… người ta vặn hỏi ông, ông nói vui rằng nhà tôi có Trần Quang Huy 3 lít dầu và Trần Quang Huy 1/5 lít dầu (người lớn được mua 3 lít, trẻ con 1/5 lít).
Nhà thơ Việt Phương sinh năm 1928, đậu tú tài thời Pháp thuộc. Ông là trợ lý của Thủ tướng Phạm Văn Đồng mấy chục năm. Đã ở tuổi 87 mà trông ông như mới ngoài 70. Ông kể nhiều chuyện vui và hài hước. Những chuyện về văn chương, gia đình, những chuyện ít ai biết về số phận những tập thơ của ông.
Vợ ông, bà Trần Tú Lan năm nay 81 tuổi, từng là cô giáo với nhiều học trò nổi tiếng như Dương Trung Quốc, Chu Hảo… Bà kể chuyện con trai đầu của ông bà là Trần Trung Thực nhiều lần được ăn cơm cùng Bác Hồ: “Có lần, Bác gắp cho cháu Thực một miếng táo, nó cứ nhìn miếng táo để trong bát… Chắc thấy lạ vì Bác Hồ thường ăn táo sau khi đã hấp chín… Bác cũng hay cho cháu Thực sách để đọc. Một lần cháu Thực cầm cuốn sách lên thưa với Bác là cuốn này cháu đã đọc rồi ạ. Bác bảo: Cháu thật thà thế là tốt. Rồi Bác đi tìm cuốn sách khác đưa cho Thực…”. Về sau Thực học chuyên toán, được giải nhì kỳ thi học sinh giỏi thành phố Hà Nội. Bây giờ Trần Trung Thực là Vụ trưởng, làm việc ở Bộ Công Thương sau nhiều năm làm tham tán công sứ ở cộng đồng châu Âu (tại Bỉ). Nhà thơ Việt Phương đã có ba cháu nội, cháu đích tôn của ông mang tên ông là Trần Việt Phương, năm nay 31 tuổi, tốt nghiệp thạc sỹ tại Anh quốc.
“Mở đài địch như mở toang cánh cửa”, “Ta nhất quyết đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sỹ/ Hình như đấy là niềm tin, ý chí và tự hào/ Mường tượng rằng trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ/ Sự ngây thơ đẹp tuyệt vời và ngờ nghệch làm sao”, “Ta đã thấy những chỗ lõm lồi trên mặt trăng sao/ Những vệt bùn trên tận đỉnh chín tầng cao”… Những câu thơ từng gây chấn động dư luận một thời mà bây giờ tôi mới biết nó được trích từ bài thơ “Cuộc đời yêu như vợ của ta ơi”, một trong những bài trong tập thơ “Cửa mở” của nhà thơ Việt Phương do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1970. Vào những năm 70 mà viết những câu thơ như thế, tôi khâm phục ông vô cùng. Thời đó tôi còn là sinh viên khoa văn của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, chúng tôi chỉ đọc thầm cho nhau nghe, người này truyền qua người khác chứ thực tình tôi chưa nhìn thấy tập thơ “Cửa mở” bao giờ.
Tôi hỏi ông rằng, dạo đó người ta đồn thổi nhiều chuyện như ông bị cách chức, các con ông cũng bị “vạ lây”… có đúng không? Ông cười, lắc đầu “Không có chuyện đó đâu”. Ông nói, tập “Cửa mở” năm đó in 5.200 bản, chỉ trong vài tuần là hết: “Anh Huy Cận bảo tôi chỉ còn vài chục cuốn người ta giữ lại thôi”. Rất nhiều người khen, cũng nhiều người phê phán, có một nhà thơ là cán bộ cao cấp nói trong một cuộc họp: “Phủ Thủ tướng có một kẻ điên làm thơ”. Vợ ông, bà Trần tú Lan khẳng định “Các con chúng tôi không làm sao cả”. Rồi bà kể: “Tôi có đến gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Thủ tướng tưởng tôi đến có chuyện gì đó liên quan tới các con vì ông biết tôi rất chăm con. Tôi nói: Thưa chú, cháu đến vì tập thơ “Cửa mở”. Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói: “Phương có đem cho mình xem đâu”. Tôi bảo: Tập thơ “Cửa mở” hay đấy chứ ạ. Thủ tướng Phạm Văn Đồng bảo tôi: “Thơ Phương thì Tú Lan khen hay là phải rồi”.
Nhà thơ Việt Phương đưa cho tôi bản thảo một bài thơ của ông, có chữ viết tay của nhà thơ Tố Hữu chữa hai câu thơ của ông: “Nhưng tôi không chịu” – Ông nói. Nhiều lần, ông đưa một số bài thơ mới làm cho các đồng chí Trường Chinh, Tố Hữu đọc. “Các anh ấy góp ý rất chân tình. Có lần Bác Hồ còn sửa thơ cho tôi” – Ông kể . Trong lúc vợ ông đang lục tìm những tấm ảnh của các con lúc còn bé, nhà thơ Việt Phương đến giá sách lấy 3 tập thơ tặng tôi, trong đó có tập “Cửa mở” cũng do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2009. Tập thơ “Cửa mở” tái bản y nguyên bản in đầu tiên, nhà thơ Việt Phương cho biết. Hai tập thơ còn lại đều là những bài thơ mà nhà thơ Việt Phương sáng tác trong nhiều năm gần đây. Tập thơ “Nắng” và tập “Lan” (Lấy tên vợ ông làm tên tập thơ) đều in năm 2013, một sức làm việc đáng kính nể.
“Đời đang đón đợi để đong đầy”, tôi đang đọc câu thơ của ông in ngoài bìa tập thơ “Nắng” thì có tiếng chuông điện thoại. Cậu con trai thứ hai Trần Quang Huy hiện đang là Phó Tổng giám đốc Ngân hàng (MHB), người đã lái xe đón ông hôm tôi đi nhờ, gọi điện về nói sẽ đưa xe ôtô đến đón bố mẹ đi viếng Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Phòng khách ở tầng một căn biệt thự bốn tầng trên đường Trần Quang Diệu bày nhiều thứ có vẻ như là đồ cổ mà theo nhà thơ Việt Phương là do cậu con trai thứ hai Trần Quang Huy mang về. Ông không dùng điện thoại di động, nên vừa tiếp khách, ông vừa xin lỗi để đi nghe điện thoại, chiếc điện thoại cố định đặt ở góc phòng.
Vợ ông, bà Trần Tú Lan kể rằng, chính bà đã bắt thăm và thật may mắn chọn được mảnh đất để xây nhà ở vị trí này, một vị trí có thể nói là đắc địa vì có hai mặt đường lớn: “Hôm ấy, cơ quan tổ chức bắt thăm, có mấy chục người, mấy chục mẩu giấy gấp làm tư, tôi nhìn thấy một mẩu giấy như đang vẫy vẫy tôi, có lẽ do luồng gió từ quạt trần làm mẩu giấy lất phất như vậy. Tôi thấy lạ và hay hay nên nhặt lên, ai ngờ lại chọn được vị trí đẹp nhất”. Nhà thơ Việt Phương gật đầu xác nhận: “Đúng thế đấy… xây ngôi nhà này do một tay nhà tôi lo liệu”.
Ông cầm một tệp đĩa nhạc đưa cho tôi và nói: Lúc cháu Thực chưa đầy năm, ông thường để cháu nằm trên giường, bên cạnh là chiếc máy hát (máy quay đĩa) do Thủ tướng Phạm Văn Đồng tặng. Ông bật máy quay, cho con nằm nghe nhạc. Những bản nhạc du dương, êm dịu của Beethoven. Ông nói, ông rất thích nhạc sĩ thiên tài này. “Mỗi lần tôi bật máy nghe nhạc là cháu Thực và sau này là cháu Huy nằm yên trên giường nghe rất chăm chú. Có lẽ vì thế mà sau này, khi các con tôi trưởng thành, chúng cũng yêu thích âm nhạc như tôi. Tôi nghĩ, nghệ thuật giúp cho con người sống nhân văn hơn” – Ông bảo vậy.
Trò chuyện với ông, tôi không những biết nhiều cái lạ trong thơ mà còn thấy ông có nhiều cái lạ trong cuộc sống hằng ngày. Ông kể, lúc con ông bắt đầu tập nói, những buổi chiều tối, ông để con ngồi trên chiếc ghế mây buộc sau xe, lọc cọc đạp xe lên bờ đê sông Hồng. Để xe xuống vệ cỏ bờ đê, ông bế con trên tay nhìn Sông Hồng cuộn chảy rồi bắt đầu dậy con tập nói. Ông chỉ đám mây bay là là trên mặt sông và nói “mây”, con ông cũng bập bẹ “mây”. Ông chỉ tay xuống mặt nước Sông Hồng nói “nước”, thằng bé cũng bập bẹ “nước”. Cứ như vậy, ông chỉ lên bầu trời, chỉ dãy núi phía xa xa, chỉ đàn chim đang bay, chỉ con sóng đang lượn, bông hoa đang nở, cây lúa đang ngậm đòng… “Vợ chồng tôi muốn các con sau này lớn lên hiểu được mọi thứ trên đời cụ thể nhất, chân thật nhất” – Ông nói.
Làm trợ lý cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng mấy chục năm, nhà thơ Việt Phương đã đi nhiều nơi trên thế giới. Ấy vậy mà vợ ông bà Trần Tú Lan lại chưa bao giờ đi nước ngoài. Tôi ngạc nhiên thực sự, mới hỏi bà vì sao? Có phải vì bà sợ đi máy bay? Hay có lý do nào khác? Bà nói đã từng được cử đi học ở Nga, bà cũng rất thích đi nhưng lúc đó các con bà còn nhỏ, nên bà đã nhường suất đi học nước ngoài cho người khác. Ở đời, được cái này phải biết hy sinh cái khác… Ngay cả sau này, khi cháu Thực làm tham tán công sứ ở nhiều nước châu Âu, cháu cũng rất muốn mẹ đi một vài chuyến du lịch nước ngoài… Mình nuôi con, rồi nuôi cháu, phải hiểu được quy luật bù trừ. Nếu mình cái gì cũng được hưởng thì sau này phần đâu cho con cháu?! Bây giờ, các con tôi, rồi các cháu được đi học nước ngoài, công tác ở nhiều nước, được đi đây đi đó là tôi mãn nguyện, là như tôi đã được đi nước ngoài rồi”. Tôi thấy bà rất vui khi nói điều này. Tôi bỗng nhớ hai câu thơ của nhà thơ Việt Phương mà tôi vừa đọc trong tập “Lan”: “Một thời cửa mở cho tất cả; Từ trong đại họa hóa bình yên”. Thế đấy!
( Nguồn: trannhuong.net)

 

Người Bàu Thôn vẫn lưu giữ “mộ vọng” cụ Nguyễn Du ở Huế?

  TRẦN VIẾT ĐIỀN

Một số nhà nghiên cứu đã chú tâm tìm kiếm nơi an táng đại thi hào Nguyễn Du ở Huế, sau khi ông qua đời vào ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn (16/9/1820).

Mộ Nguyễn Du ở Hà Tĩnh – Ảnh: internet

Dẫu biết gia đình đại thi hào đã dời mộ cụ về cố hương từ năm 1824 nhưng giới nghiên cứu vẫn có niềm mong là làm sao tìm được dấu tích ngôi mộ cũ của đại thi hào ở Huế. Gần 200 năm, một ngôi mộ đã dời, việc tìm kiếm quả là “mò kim đáy biển”. Tuy nhiên vẫn hy vọng (dù mong manh) rằng người xưa, trong đó có người thân của cụ, lúc bấy giờ đang làm quan ở Huế, các bạn đồng liêu quý mến cụ,… sẽ giữ lại ngôi mộ không còn cốt của cụ, lấp đất làm “mộ vọng”, làm nơi đến thắp hương để tưởng niệm người xưa. Với chiều hướng ấy, chúng tôi xin góp phần với các nhà nghiên cứu để tìm mộ cũ của đại thi hào Nguyễn Du ở Huế. Để tìm kiếm trước hết chúng tôi tổng quan vấn đề, rút ra những thông tin đáng tin cậy nhất, dựa vào chúng để tiến hành khảo sát điền dã, tìm cơ sở để hình thành giả thuyết.

TỔNG QUAN

Phần tổng quan chúng tôi chia hai nhóm tác giả, một chỉ dựa vào ghi chép hoặc truyền ức của họ Nguyễn Tiên Điền, một có khảo sát điền dã để tìm địa danh Bầu Đá, xã An Ninh (Thượng, Hạ).

Nhóm I

Các tác giả nhóm này không khảo sát thực địa ở Huế, dựa vào truyền ức trong gia tộc cụ Nguyễn Du ở Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh để viết về nơi an táng đầu tiên cụ Nguyễn Du ở Huế.

Đinh Sỹ Hồng, Ban quản lý khu di tích Nguyễn Du, năm 2011, viết bài: “Lăng mộ Đại thi hào Nguyễn Du”, có thông báo: “Ban đầu, mộ được chôn tại cánh đồng Bàu Đá, xã An Ninh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Đám tang cụ lặng lẽ không có nhiều người đi đưa. Nhà vua Minh Mạng biết tin ban cho tên “Thụy” và gửi phẩm vật phúng viếng. Các quan trong triều cũng gửi phẩm vật và câu đối phúng điếu”.

Phạm Trọng Chánh trong bài “Đọc sách “Nguyễn Du trên đường gió bụi” của Hoàng Khôi”, nguồn Văn hóa Nghệ An thứ bảy, 09/11/2013, viết Niên biểu Nguyễn Du, có đoạn: “1820. Gia Long mất, Minh Mệnh lên ngôi cử Nguyễn Du làm Chánh sứ đi báo tang và xin thụ phong; Chưa kịp đi thì bị bệnh dịch mất ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn tức ngày 16/9/1820. Ngô Thời Vị làm Chánh sứ thay thế. Thi hài Nguyễn Du được an táng đồng Bàu Đá, xã An Ninh, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên. Năm 1824 con là Nguyễn Ngũ cải táng đưa về làng Tiên Điền”.

Vân Huyến trong bài “Thân thế và sự nghiệp đại thi hào Nguyễn Du” viết: “Năm 1820, Nguyễn Du được cử đi sứ Trung Quốc nhưng chưa kịp lên đường thì lâm bệnh, mất tại kinh thành Huế, thọ 56 tuổi. Thi hài Người được an táng tại cánh đồng Bàu Đá xã An Ninh (nay là An Hòa) huyện Quảng Điền tỉnh Thừa Thiên Huế”.

Nhóm II:

Trên báo Văn hóa Phật giáo số 131 ngày 16/6/2011, nhà nghiên cứu Hồ Đắc Duy công bố bài viết: “Đi tìm nơi an táng của thi hào Nguyễn Du tại Huế”. Tác giả đã về quê hương đại thi hào tìm thư tịch cần thiết, nắm thông tin cụ Nguyễn Du “được an táng tại cánh đồng Bàu Đá xã An Ninh”, về Huế khảo sát điền dã, nhờ các nhà địa lý phong thủy cổ tác nghiệp độc lập, sử dụng Google Map, Google Earth,… đã đi đến kết luận mộ cũ Nguyễn Du là tiền thân của ngôi mộ Thượng thư Bộ công Hoàng Hữu Thường, ở tọa độ 160 27! 41!!, 1070 321 8.6611, thuộc Bầu Sắn (tác giả lại gọi là Bầu Đá), làng An Ninh (thượng), phía tả sông Bạch Yến.

Nhằm trao đổi với nhà nghiên cứu Hồ Đắc Duy, trong bài “Cụ Nguyễn Du được an táng tại Bàu Đá hay Bàu Sắn?”(Tạp chí Văn hóa Phật giáo số 135 (15/08/2011)), tác giả Lê Trường Quỳnh góp ý về sự nhầm lẫn một số địa danh mà nhà nghiên cứu Hồ Đắc Duy có nêu trong bài viết, tác giả bác bỏ vị trí mộ cũ của Nguyễn Du là tiền thân mộ Thượng thư Bộ công Hoàng Hữu Thường, ở cánh đồng Bầu Sắn (chứ không phải Bầu Đá) ở Lựu Bảo, thay vào đó tác giả cho rằng “Cụ Nguyễn Du có thể được an táng lần đầu tiên ở cánh đồng Bàu Đá (Bàu Thạch) làng An Ninh Thượng, Hương Long, thành phố Huế, nơi này hiện không còn dấu tích gì”. Vị trí này sau đồi Hà Khê và phía hữu sông Bạch Yến. Tuy nhiên cả hai ông Hồ Đắc Duy và Lê Trường Quỳnh đều thừa nhận thông tin: “Mộ cũ của cụ Nguyễn Du ở cánh đồng Bàu Đá, An Ninh, kinh thành Phú Xuân”.

Nhà thơ Mai Văn Hoan rất tha thiết tìm kiếm nơi ở, nơi an táng của cụ Nguyễn Du ở Huế. Trong bài “Đi tìm dấu tích Nguyễn Du ở Huế”, đăng ở Tuổi trẻ cuối tuần, 13/07/2011, tác giả dựa vào sự kiện chắt nội của cụ Nguyễn Du là cụ Nghè Mai, có quan hệ với ngài Tuần Chi, chủ nhân nhà vườn nổi tiếng An Hiên, đã mang cây hồng tiến từ quê hương Nguyễn Du vào trồng ở vườn An Hiên nên Mai Văn Hoan có ý nghĩ cụ Nguyễn Du từng ngụ trong hoặc gần vườn An Hiên, khi mất táng ở nghĩa trang xã An Ninh. Mai Văn Hoan viết: “Nguyễn Du được an táng tại nghĩa trang xã An Ninh (tức làng An Ninh Thượng và An Ninh Hạ, thuộc phường Hương Long, thành phố Huế bây giờ). Bốn năm sau (1824), con cháu mới cải táng về Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Nghĩa trang xã An Ninh cách không xa vườn An Hiên”.

Nhà nghiên cứu Lê Quang Thái trong bài “Truyện Kiều đã được viết tại Phú Xuân – Huế”, đăng trên Tạp chí Sông Hương số 297, tháng 11/2013, viết: “Thúy Kiều truyện, tên gọi ban đầu được đổi tên mới Đoạn Trường Tân Thanh (Tiếng nói mới nghe ra như đứt ruột) sau khi Nguyễn Du đã bị bệnh dịch tả và mất tại nhà riêng ở phường Vạn Xuân, Huế và qua đời vào ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn (16/9/1820), niên hiệu Minh Mạng năm thứ nhất. An táng tại rú Bàu Đá, phía sau ngoài vườn chùa cổ của làng Lựu Bảo được Võ vương Nguyễn Phúc Khoát ban tặng Quốc tự năm 1747”.

Thân Trọng Tuấn trên web www.art2all.net/ tho/tho viết bài “An Ninh Thượng Hạ” có viết: “Cụ qua đời sau vài ngày mắc bệnh, chôn tại An Ninh Thượng. Năm sau (1821), mới dời về quê là làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Chưa có thể truy biết đích xác là Nguyễn Du được tạm thời mai táng ở đâu, chỉ suy luận rằng, “kẻ trú” qua đời ở An Ninh Thượng thì phải tạm an táng ở An Ninh Thượng, tức là ở Rú Vi, chứ chắc gì được đưa qua chôn ở làng khác vì “phép vua thua lệ làng”, kiêng cữ đủ điều cho dù Nguyễn Du đang giữ chức Lễ bộ Hữu Tham tri, nhất là trong khi nạn dịch tả hoành hành, người bị bệnh chết chôn không kịp! Phía dưới ngã ba Lưu Bảo (tiếng địa phương là Lựu Bảo, Lũ Bảo), ngày xưa có cây cầu gỗ cũng gọi là cầu Bạch Yến thông qua vùng Rú Vi sau lưng Văn Thánh bị mưa lụt trôi mất nhiều lần, xây đi cất lại tốn công tốn của. Bên tê Rú Vi của xứ Đại Thành lăng mộ từng hàng. Nghĩa địa của An Ninh Thượng nằm trong phần đồi phía sau đền Văn Thánh, trường Quốc Tử Giám và chùa Thiên Mụ.”

alt
Đường phân giới Hậu Thôn Kim Long với An Ninh Hạ

THẢO LUẬN ĐỂ RÚT THÔNG TIN ĐÁNG TIN CẬY

Các tác giả nhóm II rõ ràng dựa vào thông tin của nhóm I, ấy là “Cụ Nguyễn Du đã được táng ở cánh đồng Bàu Đá, xã An Ninh, Quảng Điền”. Thông tin này do ghi chép hoặc truyền ức trong gia quyến cụ qua nhiều đời, nên có chỗ “tam sao thất bản”. Thật vậy có hai xã An Ninh, An Ninh Thượng và An Ninh Hạ (tính từ thế kỷ 18, 19). Hai xã An Ninh Thượng, thuộc tổng An Ninh huyện Hương Trà chứ không thể là huyện Quảng Điền. Một vọng tộc có nhiều người khoa bảng, một số làm quan ở Phú Xuân thời Tây Sơn, triều Nguyễn Gia Long thì không thể nhầm lẫn những xã huyện sát gần Kinh thành Phú Xuân. Có khả năng cụm từ “Quảng Điền” trong văn cảnh (người xưa ghi) là ý nói ruộng Bàu Đá thuộc cánh đồng rộng làng An Ninh (sau này gọi là cánh đồng rộng làng An Hòa). Cánh đồng rộng này thực ra gồm đất ruộng cồn bãi của nhiều làng như làng An Ninh thượng, làng An Ninh hạ, Hậu Thôn (Bàu Thôn) làng Kim Long, làng Trúc Lâm, làng An Vân, thậm chí cũng có của làng Thế Lại, làng Phú Xuân… Sở dĩ có tình hình ấy là vì do cần “giải tỏa đền bù” 8 làng khi triều Gia Long đã tiến hành để xây dựng phòng thành Huế. Vậy “quảng điền” ở đây phải ghép “An Ninh quảng điền” (cánh đồng rộng An Ninh) chứ không phải làng An Ninh thuộc huyện Quảng Điền.

Cụ Nguyễn Du mất do bệnh dịch, tuổi 56, nên chắc chắn trước đó cụ chưa phải lo sanh phần. Lại thêm cụ là đại thần tước hầu, Cần chánh điện đại học sĩ, có chiếu vua chuẩn bị đi sứ, là chú ruột của cung tần Nguyễn Thị Uyên (vợ vua Gia Long), có em, cháu cũng là quan triều đình,… khi qua đời lại được vua Minh Mạng ưu ái, cấp lụa tiền để làm đám tang, cho nên trong lúc “gấp rút” lo việc mai táng thì có khả năng triều đình cấp đất công ở làng An Ninh để an táng cụ. Nếu táng ở nghĩa trang của làng An Ninh như Rú Vi, hay Bàu Đá (lớn) thì có điều bất cập; phía làng An Ninh rất ngại “vong vị” không phải người làng, huống gì bị bệnh dịch! Còn phía gia đình người quá cố thuộc vọng tộc, lại bên ngoại vua nên không để “người thân” khi qua đời lại mang tiếng “ăn đậu ở nhờ”. Thế thì khả năng vua Minh Mạng cấp đất công, thuộc loại cát địa, để táng cụ Nguyễn Du là cao nhất. Đại Nam thực lục chính biên chép: “Canh Thìn, năm Minh Mệnh thứ 1 [1820], mùa thu… Vua dụ bầy tôi rằng: “Gần đây lệ khí lan tràn từ Gia Định trở ra đến Quảng Bình nhiều người ốm chết, trẫm nghe thấy rất lấy làm thương……

Hữu tham tri Bộ Lễ là Nguyễn Du chết. Du là người Nghệ An rộng học giỏi thơ, càng giỏi về quốc ngữ. Nhưng là người nhút nhát, mỗi khi ra mắt vua thì sợ sệt không hay nói gì… Đến bây giờ có mệnh sai sang nước Thanh, chưa đi thì chết. Vua [Minh Mệnh] thương tiếc, cho 20 lạng bạc, 1 cây gấm Tống. Khi đưa tang về lại cho thêm 300 quan tiền” (sdd, đệ nhị kỷ, q.4, tr.83).

Ghi chép trong gia phả họ Nguyễn Tiên Điền rằng năm 1824 khi con trai Nguyễn Ngũ vào kinh đô có làm đơn xin phép cải táng mộ thân phụ, điều ấy chứng tỏ khả năng cụ Nguyễn Du được táng ở ruộng Bàu Đá thuộc loại ruộng đất công, được bảo vệ đàng hoàng. Và với sự ưu ái của vua Minh Mạng, đồng liêu, nên dẫu mộ đã dời, con cháu cũng như dân sở tại sẽ biến thành mộ vọng, để có nơi tưởng nhớ một vị đại quan tài hoa nhưng bạc mệnh, tác giả “Đoạn trường tân thanh” viết bằng chữ nôm… Cả trăm năm mà cụ nghè Nguyễn Mai (đỗ tiến sĩ nhưng không ra làm quan), vẫn giao du với ngài Tuần Chi, chứng tỏ Nguyễn Mai chắc có viếng “mộ vọng” ông cố của minh khi mỗi lần vào kinh đô Huế.

Khảo sát điền dã ở An Ninh Thượng, An Ninh Hạ

Ngày 28/3/2014 gặp ông Mai Khắc Chính, 54 tuổi, chắt nội của cụ Mai Khắc Đôn, ở Hậu Thôn (hay Bàu Thôn) làng Kim Long. Cụ Mai Khắc Đôn là thầy học và là nhạc gia của vua Duy Tân. Theo ông Mai Khắc Chính, sinh thời ông cố Mai Khắc Đôn có mua đoạn mãi khoảng 5 mẫu ruộng “của nhà vua”, thuộc Bàu Đá của An Ninh Hạ. Giữa Hậu Thôn với đám ruộng Bàu Đá làng An Ninh Hạ có đường phân giới, dân sở tại nói trại là đường Giái. Ông Mai Khắc Chính cho biết thân phụ ông là Mai Khắc Lưu, cùng nhiều vị cao niên cho rằng giữa ruộng Bàu Đá có dấu tích mộ dời của ngài Du Đức hầu, tức Nguyễn Du, hiện nay vô chủ. Chúng tôi cùng với ông Mai Khắc Chính khảo sát ngay dấu tích ấy.

alt
Một sắc phong của ngài Mai Khắc Đôn

Ngôi mộ lớn hình chữ nhật, rộng 13m, dài 17m, uynh xây bằng đất có ốp đá nhưng chỉ còn một đoạn trước mộ, chỉ còn uynh đất do bị sạt lở hoặc do bị gỡ đá ốp. Mộ xây gạch đắp hai mái bằng vữa cổ, trên liếp chữ nhật 1,2x3m. Hướng ngôi mộ lớn này tọa tốn hướng càn (tọa đông-nam, hướng tây- bắc, nghiêng bắc 45 0). Quan sát kỹ thấy đầu bia đá Thanh, chúng tôi dùng bay nhẹ tay gỡ lớp đất bám vào mặt bia, dòng chính giữa khắc bằng chữ Hán 前 朝 貴 人 諡 鍴 靚 阮 有 族 之寢 (Tiền Triều Quý nhân thụy Đoan Tịnh Nguyễn Hữu tộc chi tẩm). Tra cứu Nguyễn Phúc Tộc thế phổ có chép bà Quý Nhân, vợ vua Minh Mạng, chính là chủ nhân ngôi mộ này như sau: “Nguyễn Thị Trường 阮 氏 長 Quý nhân. Bà húy Nguyễn Thị Trường, người Phong Điền, Thừa Thiên, là con gái của Cẩm Y Vệ Hiệu úy Nguyễn Hữu Trạc. Năm sinh và mất không rõ. Khi mất bà được ban thụy Đoan Tịnh.

alt alt
Mộ và bia của Q.N Nguyễn Thị Trường Mặt bia mộ bà Q.N Nguyễn Thị Trường

Bà sinh được 3 Hoàng tử và 1 Hoàng nữ.

Hoàng tử: Nguyễn Phúc Miên Thần [1817 – 1878], Nguyễn Phúc Miên Cung [1824 – 1849], Nguyễn Phúc Miên Gia [1825 – 1875], Hoàng nữ: Nguyễn Phúc Đoan Trinh [1821 – 1899].”.

alt
Ảnh chụp vệ tinh mộ vọng cụ Nguyễn Du và mộ bà Quý nhân Nguyễn Thị Trường (vợ vua Minh Mạng)

Ngôi mộ nhỏ hơn, cách ngôi mộ lớn 3m, phía trái ngôi mộ bà Quý nhân Nguyễn Thị Trường, và chỉ còn nền đất, không nấm, không bia, bình đồ chữ nhật 4,5mx7,5m, hướng mộ tọa cấn hướng khôn (tọa đông-bắc, hướng tây-nam, nghiêng nam 45 0). Về mặt địa lý phong thủy cổ thì ngôi mộ nhỏ được đặt rất đúng. Tả long là dải đất có Hậu Thôn, An Ninh Hạ, An Ninh Thượng. Hữu Hổ là Cồn Môn, hậu chẩm là Cồn Kê, Cồn Ma Lại, minh đường là những mẫu ruộng xưa của ngài Mai Khắc Đôn. Sự hiện hữu ngôi mộ bà quý nhân Nguyễn Thị Trường gần mộ cũ nói trên, chứng tỏ ruộng Bàu Đá An Ninh Hạ là đất công. Mộ nhỏ hơn đã cải táng nhưng khi có ngôi mộ mới của hoàng tộc, người xưa không “triệt bỏ” thì chứng tỏ mộ cũ của một nhân vật quan trọng vậy. Như vậy, ngôi mộ nhỏ chính là mộ vọng của ngài Du Đức Hầu, tức mộ cũ của cụ Nguyễn Du theo như truyền ngôn trong dòng họ Mai Khắc ở Kim Long.

alt
Toàn cảnh mộ vọng cụ Nguyễn Du (dựng ở mộ đã cải táng)

Xóm Bàu ở làng Hạ, đã có nhà thờ ngài Mai Khắc Đôn, sư phụ và nhạc gia của vua Duy Tân, lại thêm sự kiện ngài Mai Khắc Đôn khi mua 5 mẫu đất, nguyên gốc là đất công, được cấp cho một vị hoàng thân triều Nguyễn, đã giữ nguyên ngôi mộ vọng của cụ Nguyễn Du và mộ của Quý nhân Nguyễn Thị Trường (vợ vua Minh Mạng) là một việc làm đáng trân trọng… Hơn nữa bà Quí nhân Nguyễn Thị Trường (vợ vua Minh Mạng) được táng vào cuộc đất có mộ vọng của cụ Nguyễn Du, chứng tỏ gia đình cụ Nguyễn Du đã chọn huyệt đất tốt với sự hỗ trợ của hoàng tộc triều Nguyễn.

Rất mong các cơ quan chức năng và các nhà nghiên cứu quan tâm kiểm chứng giả thuyết của chúng tôi, xác nhận mộ vọng của Nguyễn Du ở cánh đồng Bàu Đá, gần Hậu Thôn Kim Long. Nếu giả thuyết của chúng tôi được xác nhận thì Huế có thêm một di tích độc đáo, nơi tưởng niệm Nguyễn Du những ngày làm quan ở Huế của người Huế xưa và nay vậy.

Huế 17/11/2014
T.V.Đ

( Nguồn: Tạp chí Sông Hương 17/4/2015)

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.04.2015

THƠ TỪ SÂM

THƠ TỪ SÂM

 Sắt và gỗ

            Từ Sâm –Khôi Lê

mẹ tôi một đời câu liêm

như ách vào cổ

mặt úp bùn khăn mỏ quạ

để lại cho con lưỡi liềm

hoang  phế  trên đồng khô

chỉ  là  sắt và gỗ

 

bố tôi một đời cùng khổ

còng lưng với búa

bị ghè nát chân

đề lại cho con

búa rời cán nằm yên một chỗ

chỉ là sắt và gỗ

 

tôi  chạy theo  gió chướng

về phố phường tìm nơi trú chân

tôi lạc vào cõi âm?

kẻ  sang giàu người lầm than

kẻ  khiêng búa người  vác câu liêm

như  thánh giá

nha trang tháng 4 năm 2015 (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.04.2015

Thưa các đồng chí chưa bị lộ!

Thưa các đồng chí chưa bị lộ!

  Tiểu phẩm của Nguyễn Hoàng Linh

  Thưa các đồng chí, những người đã trót nhúng tay vào chàm như tôi! Kể từ khi tôi phải đứng trước vành móng ngựa, không ngày nào là tôi không nghĩ đến các đồng chí. Tôi cứ ngẫm mãi tại sao mình phải dấn thân vào chốn lao tù như thế này mà các đồng chí lại không? Tại sao nhiều đồng chí “ăn” đậm hơn tôi rất nhiều lần, không những không dính đòn  mà còn có cơ hội ăn đậm hơn nữa? Tại sao cùng là những kẻ ngày ngày đua nhau cấu véo tài sản của dân chúng mà lại  có  cảnh “người ngoài cười nụ người trong khóc thầm”? Đau lắm! (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.04.2015

ĐỈNH CAO CỦA SỰ SỢ HÃI

Dân Tuy Phong  biểu tình dựng vật cản chặn Quốc lộ 1A 2 ngày phản đối nhà máy điện làm ô nhiễm.

ĐỈNH CAO CỦA SỰ SỢ HÃI

Huy Đức

Nếu có một cơ hội để đối thoại, người dân Tuy Phong, chắc chắn, sẽ không lựa chọn giải pháp cứng rắn như họ đang làm. Những nông dân hôm qua còn chân chất, hiền lành, có thể sẽ bị bắt.

Những nông dân chất phác đó có thể đã phải cân nhắc, họ chấp nhận rủi ro vì không thể tiếp tục hít thở bụi than.

Tương lai họ sẽ ra sao nếu thân mình thì tù tội trong khi con quái vật khổng lồ đó vẫn ngày ngày phun xỉ than vào phổi của con em họ.

Tại sao nhà thầu Trung Quốc có thể đưa công nghệ luyện thép lò đứng đến Vũng Áng, đưa nhiệt điện đốt than tới Tuy Phong? Chúng ta rất khó nói ra câu trả lời mà ai cũng nghĩ trong đầu. Nhưng nếu người dân có đại diện thực sự của họ, các tổ chức môi trường có thể dễ dàng hình thành, những công nghệ đã bị xua đuổi ở các nước phát triển đó chắc chắn khi đến Việt Nam đã bị chặn từ khi bắt đầu dự án.

Chế độ có muốn nông dân biểu tình cắt đứt tuyến giao thông huyết mạch không? Không. Chế độ có muốn công nhân đình công không? Không. Vậy sao chế độ không đặt câu hỏi: Tại sao dưa ế, những tiếng nói đầu tiên tìm lối thoát giúp nông dân Quảng Ngãi không phải là Hội Nông dân? Tại sao khi cảm thấy Điều 60, Luật Bảo hiểm xã hội chi trả tiền bảo hiểm không công bằng, 90 nghìn công nhân Pou Yuen phải đình công thay vì tìm tiếng nói từ Tổng Liên đoàn lao động?

Nếu muốn “ổn định chính trị” đừng chi những khoản ngân sách khổng lồ cho những đoàn thể chỉ biết làm cái loa rè cho chế độ. Nếu muốn quy trình ban hành chính sách tránh được những quy định kích hoạt những cuộc đình công khổng lồ như Điều 60 Luật Bảo hiểm thì hãy để công nhân lập ra những hội đoàn nói tiếng nói của họ thay vì chỉ bịt tai, bưng mắt chính quyền. Nếu muốn những nông dân chất phác hiền lành không có một ngày tự nhiên vác gậy gộc ra chặn đường thì hãy để cho họ có một hội nông dân của họ.

Di sản lớn nhất mà loài người nhận được từ chế độ Cộng sản là sự sợ hãi. Dân chúng thì sợ từ anh dân phòng cho tới công an, quan tòa. Chính quyền thì sợ nhau và sợ dân.

Đỉnh cao của sự sợ hãi đối với những người trong tay không có gì sẽ là sự khuất phục hoàn toàn nhưng cũng có thể là sự liều lĩnh khó lường. Đỉnh cao của sự sợ hãi của những kẻ cầm quyền hoặc là bỏ chạy hoặc trở nên vô cùng tàn bạo.

Hãy để cho dân thiết lập các kênh đối thoại để trước hết giải thoát sự sợ hãi cho chế độ.

H. Đ.

Nguồn: FB Truong Huy San

 

 
So sánh tốc độ phát triển GDP per capita của Hàn Quốc và Việt Nam trong khoảng thời gian 28 năm sau chiến tranh, từ lúc số liệu thống kê được ghi nhận. Hàn Quốc (từ 1960 đến 1988) và Việt Nam (từ 1985 đến 2013).

BỐN MƯƠI NĂM SAU CUỘC CHIẾN VIỆT NAM BÀI HỌC ĐẠI HÀN DÂN QUỐC

QTXM- Đọc để biết tại sao Việt Nam sau 40 năm vẫn là nước nghèo đói, chậm phát triển. Làm sao để đất nước sánh ngang với các cường quốc năm châu ? Một câu hỏi lớn không người đáp/ Bốn mươi năm rồi mặt vẫn chau! ( bắt chước Huy Cận)

Trần Thạnh, PhD

Thấm thoát đã 40 năm kể từ ngày cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc. Khoảng thời gian dài đó dường như không đủ để hàn gắn lòng người ly tán. Tệ hại hơn, khoảng thời gian đủ dài cho bất cứ một đất nước bình thường nào cũng có thể vươn lên, lại phải chứng kiến một nước Việt Nam vẫn chìm đắm trong lạc hậu.

Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (The World Bank)[1] thu nhập bình quân đầu người (GDP per capita) của Việt Nam vào năm 2013 là 1910 Mỹ kim, xếp Việt Nam vào hạng thứ 123 trong số 169 nước trên thế giới có số liệu thu thập. Trong khi đó thu nhập trung bình của các quốc gia được liệt vào hạng trung bình thấp (lower middle income) của thế giới là 2043 Mỹ kim, và thu nhập trung bình của tất cả các quốc gia trên thế giới là 10610 Mỹ kim .

Đại Hàn Dân Quốc (Daehan Minguk, 大韓民國, Republic of Korea, trong bài này sẽ gọi tắt là Hàn Quốc) là một đất nước trong khu vực, có lịch sử và văn hoá gần giống với Việt Nam. Về phương diện địa chính trị, Hàn Quốc nằm ở một vị thế không khác Việt Nam, nếu không nói là có phần bất lợi hơn: phía bắc và tây của bán đảo Triều Tiên là Trung Quốc, phía đông là Nhật Bản. Trong lịch sử, cả hai nước này đã từng nhiều lần xâm chiếm bán đảo Triều Tiên.

Sau cuộc chiến tàn phá đất nước từ năm 1950 đến 1953, Hàn Quốc trải qua một thời kỳ nghèo khó, là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới. Nhưng hiện nay đất nước này đã trở thành một trong những quốc gia có nền kinh tế hàng đầu của thế giới. “Kỳ tích Hán giang” (Miracle of the Han River) là điều khiến cả thế giới ngạc nhiên và khâm phục. Vào thời điểm 40 năm sau khi cuộc chiến Hàn Quốc kết thúc, nghĩa là vào năm 1993, thu nhập bình quân đầu người của Hàn Quốc là 8869 Mỹ kim theo giá trị tiền tệ thời bấy giờ. Thu nhập trung bình của tất cả các nước vào lúc đó là 4653 Mỹ kim, trong khi trung bình của khối các nước có thu nhập cao nhưng không thuộc các nước phát triển (high income non-OECD countries) là 5477 Mỹ kim.[2]

Những con số trích dẫn bên trên là bằng chứng rõ ràng về sự thất bại của nhà cầm quyền Việt Nam trong 40 năm xây dựng đất nước trong thời bình (ngoại trừ một số năm chiến tranh cục bộ ở biên giới phía bắc và tây nam). Đã có những bài viết so sánh sự phát triển của Hàn Quốc và Việt Nam sau chiến tranh.[3] Bài viết này nhằm tìm hiểu sơ lược lịch sử đất nước Hàn Quốc, thu thập các dữ kiện góp phần trả lời hai câu hỏi:

1. Vì sao Hàn Quốc phát triển nhanh như vậy?

  1. Các nước đang phát triển có thể học được bài học gì từ Hàn Quốc?

Sơ lược lịch sử Hàn Quốc đến năm 1953

Hàn Quốc, Đại Hàn, Cao Ly, Triều Tiên là các tên gọi khác nhau của đất nước nằm trên một bán đảo nơi miền viễn đông của Á châu. Vương triều đầu tiên trên bán đảo này là Cổ Triều Tiên (Gojoseon, 古朝鮮) được thành lập từ hơn 2000 năm trước Công Nguyên. Trải qua một thời gian dài phân chia và chiến tranh, vương triều Cao Ly (Goryeo, 高麗) được thành lập năm 918. Goryeo hay Cao Ly là nguồn gốc của tên tiếng Anh “Korea” dành cho bán đảo Triều Tiên.[4] Tên của vương triều cũng được dùng làm tên của vương quốc.

Năm 1392, tướng Lý Thành Quế (Yi Seong-gye[5], 李成桂) lật đổ triều đại Cao Ly để thành lập vương triều Triều Tiên (Joseon, 朝鮮) hầu gợi lại triều đại cũ Cổ Triều Tiên. Đây là triều đại lâu dài và thịnh vượng nhất của đất nước này với sự phát triển đáng kể về văn học, nghệ thuật, kiến trúc, khoa học, giáo dục.[6] Trong triều đại này, Khổng giáo được coi là hệ tư tưởng chính thay thế cho ảnh hưởng thống trị của Phật giáo được phát triển mạnh dưới triều đại Cao Ly. Năm 1897 Triều Tiên được đổi thành Đại Hàn Đế Quốc (Daehan Jeguk,大韓帝國, Korean Empire), từ đó có tên Đại Hàn hay Hàn Quốc.

  Từ năm 1910 đến năm 1945, Hàn Quốc là thuộc địa của Nhật Bản. Ngày 1 tháng 3 năm 1919, cuộc biểu tình ôn hoà khắp bán đảo Triều Tiên đòi độc lập bị Nhật Bản đàn áp dã man. Sau biến cố này, Chính phủ Lâm thời Cộng hoà Triều Tiên được thành lập tại Thượng Hải, lãnh đạo cuộc kháng chiến chống lại sự cai trị của Nhật.

 Sau khi Nhật Bản đầu hàng phe Đồng minh, bán đảo Triều Tiên bị chia đôi, phía bắc vĩ tuyến 38 do Liên Xô quản lý, và phía nam do Hoa Kỳ kiểm soát. Tháng 11 năm 1947, Đại Hội đồng Liên hiệp quốc (LHQ) ra quyết nghị tổ chức tổng tuyển cử tại Hàn Quốc, dưới sự giám sát của LHQ. Vì Liên Xô từ chối sự giám sát này trên vùng đất phía bắc vĩ tuyến 38, việc bầu cử chỉ được tổ chức ở phía nam vào ngày 10 tháng 5 năm 1948. Đại Hàn Dân Quốc được thành lập với Tổng thống dân cử đầu tiên Lý Thừa Vãn (Rhee Syngman[7]). Một chế độ cộng sản do Liên Xô ủng hộ được thiết lập ở phía bắc, đó là nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Democratic People’s Republic of Korea), dưới sự lãnh đạo của Kim Nhật Thành (Kim Il-sung).[8]

Ngày 25 tháng 6 năm 1950 quân đội bắc Triều Tiên bất ngờ tấn công Hàn Quốc. Cuộc chiến kéo theo sự tham gia của lực lượng LHQ (do Hoa Kỳ lãnh đạo) để bảo vệ Hàn Quốc. Quân đội Trung Cộng chiến đấu trực tiếp bên cạnh quân đội bắc Triều Tiên, với sự ủng hộ của Liên Xô. Sau 3 năm 1 tháng, cuộc chiến kết thúc ngày 27 tháng 7 năm 1953. Hai bên trở lại với vĩ tuyến 38 chia đôi đất nước. Các bên tham chiến đưa ra con số tử vong khác nhau, nhưng điều không thể chối cãi là hằng triệu binh lính và thường dân cả hai bên thiệt mạng. Đất nước bị tàn phá thảm khốc.

  Những năm sau chiến tranh

Trong thời gian bị Nhật đô hộ (từ 1910 đến 1945), nền kinh tế của cả bán đảo Triều Tiên lệ thuộc hoàn toàn vào Nhật Bản, từ vốn liếng đến kỹ thuật và quản lý. Việc chia đôi đất nước mang lại hậu quả tai hại cho miền nam (Hàn Quốc). Trong khi dân số của Nam Hàn là 15,6 triệu người và của Bắc Hàn là 7,9 triệu (theo thống kê năm 1940) thì 92% nguồn sản xuất điện là từ các nhà máy ở miền bắc (do Nhật xây dựng trong thời gian chiếm đóng). Đa số các nguồn tài nguyên, các nhà máy kỹ nghệ nặng và hoá chất cũng nằm ở phía bắc.[9] Làn sóng di cư từ bắc vào nam[10] và việc hồi hương của những kiều dân Triều Tiên sống trên đất Nhật là nguyên nhân của nạn khan hiếm thực phẩm trầm trọng.

Thiệt hại gây ra bởi chiến tranh (nhà cửa, cơ sở vật chất, sản xuất, vân vân) lên đến 3 tỉ Mỹ kim, tương đương với GNP của cả hai năm 1952 và 1953. Hàn Quốc lúc đó là một trong những nước nghèo nhất thế giới, với thu nhập bình quân đầu người (GNP per capita) vào năm 1953 là 67 Mỹ kim.[11]

Thiệt hại về tinh thần trầm trọng không kém thiệt hại vật chất. Ước tính có khoảng gần 6 triệu người (khoảng 20% dân số vào thời điểm đó) thất lạc thân nhân. Vài thập niên sau, có vẻ như “Kỳ tích Hán giang” chữa lành bề mặt vết thương của cuộc chiến, nhưng vết thương trong tâm hồn vẫn dai dẳng, cho đến ngày hôm nay. Ngày 30 tháng 6 năm 1983 hầu như cả nước Đại Hàn rơi lệ khi Đài KBS phát sóng trực tiếp chương trình đoàn tụ với thân nhân bị thất lạc trong chiến tranh. Vượt ngoài dự kiến của Đài KBS, chương trình ban đầu được dự định phát hình 1 buổi phải kéo dài 138 buổi, với hơn 100.000 người ghi tên xin tìm kiếm thân nhân. Trong số đó, chỉ hơn 10.000 người tìm lại được người thân, vì nhiều lý do trong đó có lý do là sự cứng rắn vô lý của chính phủ Bắc Triều Tiên.[12]

Người dân Hàn Quốc phải tạm quên nỗi đau tinh thần để lo phát triển đất nước. Vì mối đe doạ của Bắc Triều Tiên, Chính phủ Lý Thừa Vãn tập trung phát triển quân đội hơn là phát triển kinh tế. Tham nhũng khiến chính quyền gặp sự phản kháng mạnh mẽ từ người dân, nhất là từ giới sinh viên. Ngày 25 tháng 4 năm 1960, trước áp lực của dân chúng, Tổng thống Lý Thừa Vãn rời chức vụ và sống lưu vong. Chính phủ dân chủ do Tổng thống Doãn Phổ Thiện (Yun Bo-seon) và Thủ tướng Trương Mẫn (Chang Myon) không ổn định được tình hình. Ngày 16 tháng 5 năm 1961, Thiếu tướng Phác Chánh Hi (Park Chung-hee, 1917 – 1979) cầm đầu cuộc đảo chánh quân sự lật đổ chính phủ Doãn Phổ Thiện.

Phác Chánh Hi nắm quyền lãnh đạo Hàn Quốc trong suốt 18 năm, từ 1961 đến khi Ông bị giám đốc Cục Tình Báo Trung Ương Hàn Quốc Kim Tái Khuê (Kim Jae-gyu) ám sát chết ngày 26 tháng 10 năm 1979. Trong lịch sử Hàn Quốc có lẽ thời gian cầm quyền của Phác Chánh Hi là đề tài gây tranh cãi nhiều nhất đối với công luận Hàn Quốc, với các chính trị gia, và các nhà nghiên cứu trong lẫn ngoài nước. Tuy cứng rắn và được xem như một nhà lãnh đạo độc tài, Ông đã giúp thay đổi Hàn Quốc, đưa đất nước này từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở thành một cường quốc công nghiệp.

Sáng kiến và cải cách

Sự thành công về kinh tế của Hàn Quốc gắn liền với vai trò của Tổng Thống Phác Chánh Hi. Khác với Lý Thừa Vãn, Phác Chánh Hi chủ trương xây dựng một nền kinh tế vững mạnh để làm cơ sở cho việc phát triển quân đội, kiến tạo một đất nước hùng cường, có thể đối đầu với phe cộng sản Bắc Triều Tiên. Cần nhắc lại, vào đầu thập niên 1960 Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên hơn hẳn Đại Hàn Dân Quốc về sản xuất công nghiệp, tài nguyên thiên nhiên, và ổn định chính trị. Quyết định kiến tạo kinh tế vững mạnh để củng cố quốc phòng có lẽ là bài học mà Phác Chánh Hi học được từ Nhật Bản trong thời gian ông phục vụ trong quân đội Nhật ở Mãn Châu.

Việc xác định một thể chế đúng đắn với đường lối công nghiệp hoá hợp lý là tiền đề cho sự thành công của Hàn Quốc. Thêm vào đó là vai trò của giáo dục để tạo ra một đội ngũ lao động thích hợp cho sự phát triển kinh tế. Hơn nữa trách nhiệm xã hội của công dân được hình thành qua giáo dục. Chính phủ đóng vai trò điều tiết một nền kinh tế vĩ mô ổn định, tỉ lệ lạm phát thấp, chi tiêu công hợp lý, đầu tư vào phát triển nhân lực.[13]

Để tạo nguồn vốn ban đầu quan trọng cho sự phát triển kinh tế, Phác Chánh Hi đã đưa ra hai quyết định quan trọng, bất chấp sự mạo hiểm về chính trị. Đó là quyết định bình thường hoá quan hệ với Nhật Bản và gửi quân đội tham chiến bên cạnh quân đội Đồng minh tại Nam Việt Nam.[14] Theo Donald Gregg, Đại sứ Hoa Kỳ tại Hàn Quốc từ năm 1989 đến năm 1993, việc bình thường hoá quan hệ với Nhật Bản vào năm 1965 mang đến cho Hàn Quốc 800 triệu Mỹ kim tiền viện trợ kinh tế, và việc gửi quân tham chiến tại Nam Việt Nam mang lại cho Hàn Quốc nguồn ngoại tệ lớn nhất lúc đó. Nguồn vốn ban đầu này giúp thay đổi tình hình kinh tế của đất nước; trong khoảng thời gian cầm quyền của Phác Chánh Hi thu nhập bình quân đầu người tăng lên gấp hơn 10 lần.[15]

Một quyết định quan trọng khác của Phác Chánh Hi là việc thúc đẩy công nghiệp hoá đất nước theo hướng xuất khẩu (export-oriented industrialisation, EOI). Theo kế hoạch này Hàn Quốc chấp nhận nhập khẩu những mặt hàng mà họ không thể sản xuất với giá thành rẻ hơn giá nhập khẩu. Thay vào đó họ tập trung phát triển những ngành công nghiệp có lợi thế so sánh (comparative advantage) để xuất khẩu mang ngoại tệ về cho đất nước.

Trái ngược với đường hướng phát triển kinh tế này, nhiều nước đang phát triển áp dụng chính sách công nghiệp hoá để thay thế nhập khẩu (import substitution industrialisation, ISI). Việt Nam trong nhiều năm sau năm 1975 áp dụng chính sách ISI, với những kế hoạch 5 năm công nghiệp hoá đất nước, với chủ trương tự lập, tự cung, tự cấp, bên cạnh những sai lầm khác, khiến nền kinh tế cả nước kiệt quệ.

Thật ra Phác Chánh Hi không loại trừ hẳn chính sách ISI mà Ông xem EOI và ISI là hai chính sách bổ sung nhau. Những dự án ISI nhằm hướng tới xuất khẩu cũng được khuyến khích.[16] Việc khuyến khích thành lập các tập đoàn (âm tiếng Hàn: chaebol, chữ Hán: 財閥, Hán Việt: tài phiệt) như tập đoàn LG, Hyundai, Samsung, Lotte, vân vân, cũng nằm trong sự bảo trợ của nhà nước theo hướng phát triển xuất khẩu.

Về phương diện xã hội để đối phó với sự lạc hậu của vùng thôn quê và giúp nâng cao cuộc sống người nông dân, Phác Chánh Hi phát động phong trào Saemaul Undong (Tân Hương Vận động, 新運動, hay phong trào Nông thôn mới, New Village Movement). Cần nhắc lại là cho đến năm 1970, vẫn còn 80% người dân nông thôn phải sống trong nhà mái lá, không có điện thắp sáng mà phải dùng đèn dầu.

Mục tiêu của phong trào Saemaul Undong là khuyến khích người nông dân tự giúp mình, hợp tác giúp đỡ nhau để phát triển nông thôn, với sự tài trợ của nhà nước. Về tinh thần, phong trào cổ động việc phát huy mối quan hệ thân thiện với láng giềng, phát huy truyền thống của dân tộc dựa trên lòng hiếu thảo và nâng cao ý thức cộng đồng. Phong trào đề cao ba phẩm chất chính, đó là sự cần cù, tự lựchợp tác.

 

Sự thành công của phong trào Saemaul Undong nhanh hơn sự mong đợi. Đến năm 1974, thu nhập ở nông thôn đã cao hơn ở thành thị; đến năm 1977, 98% các xã đã có thể độc lập về kinh tế.[17]

Phát triển kinh tế song song với phát triển giáo dục

Các nhà lãnh đạo Hàn Quốc nhận thức rõ vai trò của giáo dục trong việc phát triển đất nước. Trong bài diễn văn tại Đại hội Toán thế giới 2014 (International Congress of Mathematicians ICM 2014) tổ chức tại Seoul vào tháng 8 năm 2014, Tiến sĩ Chung KunMo (cựu Bộ trưởng Khoa học và Kỹ thuật Hàn Quốc) nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục, khoa học và kỹ thuật cùng với vai trò trụ cột của toán học trong việc phát triển kinh tế.[18]

Theo Tiến sĩ Chung KunMo, trong nhiều thập niên, Chính phủ đã nỗ lực trong việc gửi sinh viên sang học tập ở các nước tiên tiến (chủ yếu là Hoa Kỳ), đồng thời đẩy mạnh việc chiêu gọi các nhà khoa học, các giáo sư đại học gốc Hàn trở về giúp xây dựng đất nước. Điển hình là vào năm 1971, đích thân ông đã mời 50 trong số 260 giáo sư gốc Hàn tại Hoa Kỳ trở về giảng dạy tại viện KAIST (Korean Advanced Institute of Science and Technology) khi viện này được thành lập.

Sự đầu tư đúng mức này đã đưa KAIST lên vị trí một trong những trường đại học hàng đầu của thế giới. Theo bảng xếp hạng các trường đại học trên thế giới của Times Higher Education, năm 2014 KAIST đứng ở hạng 52 (http://www.timeshighereducation.co.uk).

Sự phát triển của nền toán học Hàn Quốc cũng là điều đáng nhắc đến ở đây. Hàn Quốc chính thức gia nhập Hiệp hội Toán học Quốc tế (International Mathematical Union, IMU) vào năm 1981, ban đầu thuộc nhóm 1. Đến năm 1993 được nâng lên nhóm 2, và đến năm 2007 được đặc cách lên nhóm 4, điều chưa từng xảy ra trong lịch sử của IMU.[19], [20]

Theo Giáo sư Martin Groetschel (Thư ký Ban chấp hành IMU nhiệm kỳ 2011 – 2014), vào năm 1981 các nhà toán học Hàn Quốc chỉ có 3 công trình toán học đăng trên các tạp chí toán quốc tế. Tuy nhiên, hiện nay Hàn Quốc xếp hàng thứ 12 trên thế giới về tổng số công trình đóng góp.[21]

Một sự phát triển ngoạn mục khác cần nói đến là trong hai thập niên 1970 và 1980 nhiều nhà toán học Hàn Quốc phải nhờ vào sự giúp đỡ của thế giới để tham dự Đại hội Toán thế giới ICM (được tổ chức 4 năm một lần), nhưng đến năm 2014 Hàn Quốc đã tổ chức thành công ICM tại thủ đô Seoul với 5193 người tham dự, đến từ 122 nước. Người khai mạc ICM 2014 là Tổng thống Phác Cận Huệ (Park Geun-hye), ái nữ của cố Tổng thống Phác Chánh Hi.

Đáng nói thêm là với lòng biết ơn sự giúp đỡ của thế giới trước đây đối với nền toán học Hàn Quốc, quốc gia này đã tài trợ cho 1000 nhà toán học ở các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) đến tham dự ICM 2014. Họ hãnh diện đặt tên cho chương trình này là NANUM, tiếng Hàn có nghĩa là “sự chia sẻ tử tế và vô điều kiện”. [22]

Việc giáo dục không những chú trọng kiến thức khoa học, kỹ thuật, mà cả giáo dục tinh thần, truyền thống hiếu thảo, tinh thần yêu nước.[23] Việc tìm hiểu lịch sử đất nước được chú trọng ngay từ bậc tiểu học. Vào ngày cuối tuần tại các bảo tàng viện, hình ảnh các nhóm học sinh tiểu học thăm viếng và thảo luận gây sự chú ý cho du khách (xem Hình 4).

 Phát huy dân chủ

Phác Chánh Hi cai trị Hàn Quốc bằng một chính sách độc tài, dẹp bỏ đối lập để có sự ổn định cho phát triển kinh tế. Có rất nhiều ý kiến chỉ trích đường lối cai trị độc tài đó, nhưng cũng có ý kiến đồng tình. Tiến sĩ William Overholt, chuyên gia về quan hệ Á Châu của Hoa Kỳ, người từng là trưởng nhóm đặc nhiệm về chính sách Á Châu của chính phủ Jimmy Carter năm 1976, có nhận định như sau. Sự thành công về kinh tế và thể chế của Phác Chánh Hi đã cứu Hàn Quốc khỏi sự xâm lăng của Bắc Triều Tiên. Nếu Hàn Quốc vẫn duy trì một chế độ dân chủ kém khả năng, như dưới thời chính phủ Doãn Phổ Thiện, thì Hàn Quốc đã là mục tiêu hấp dẫn cho Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên.[24]

Khi nỗi sợ hãi về chiến tranh và nghèo đói không còn nữa, khi tầng lớp trung lưu có học thức đã trở thành nền tảng cho một nền dân chủ ổn định, thì những giá trị dân chủ và nhân quyền trở nên yếu tố quyết định về phương diện chính trị. Thể chế đã được thiết lập trong hai thập niên 1960 và 1970 xem ra không còn hợp thời. Sau cái chết của Phác Chánh Hi, Hàn Quốc đã dần dần chuyển biến lên một mức độ cao hơn về quản lý kinh tế và chính trị.

Theo tường trình của tổ chức The Economist Intelligence Unit, vào năm 2012 chỉ số dân chủ (democracy index) của Hàn Quốc là 8,13 điểm, xếp Hàn Quốc ở vị trí thứ 20 trong số 167 nước. Na Uy dẫn đầu với chỉ số 9,93, Việt Nam ở hàng thứ 144 với chỉ số 2,89, và Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên ở cuối bảng với chỉ số 1,08.[25]

Kết luận

Hàn Quốc và Việt Nam là hai quốc gia có hoàn cảnh khá tương đồng. Sự phát triển của Hàn Quốc và sự lạc hậu của Việt Nam rõ ràng là hệ quả tất yếu của việc chọn lựa đường hướng xây dựng đất nước sai lầm của nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay, và sự khôn ngoan của các lãnh đạo Hàn Quốc.

Không thể tách rời sự thành công của Hàn Quốc với vai trò và đóng góp của Tổng thống Phác Chánh Hi. Ngay cả những người chống đối Ông cũng không thể phủ nhận những đóng góp đó. Điều quan trọng là, tuy là một nhà lãnh đạo độc tài, Ông đã đặt lợi ích của quốc gia lên trên hết. Việc chọn lựa thể chế và đường lối đúng đắn (với chính sách EOI), khơi dậy ý thức trách nhiệm với cộng đồng và xã hội (qua phong trào Saemaul Undong) cùng với giáo dục truyền thống đã giúp đưa Hàn Quốc từ một quốc gia nghèo đói nhất thế giới trở nên một cường quốc công nghiệp trong thời gian kỷ lục.

Thành công của Hàn Quốc là “ước mơ và hy vọng cho các quốc gia khởi hành muộn”, đó là lời kết luận trong ngày bế mạc ICM 2014.

Phụ lục: Những con số biết nói

Các đồ thị dưới đây cho thấy sự phát triển vượt bực về kinh tế của Hàn Quốc, dựa vào thu nhập bình quân đầu người (GDP per capita) theo World Bank.

World Bank có số liệu của Hàn Quốc từ năm 1960 đến năm 2013, và của Việt Nam từ năm 1985 đến năm 2013. Hình 5 so sánh sự phát triển trong vòng 28 năm sau chiến tranh của hai quốc gia, đối với Hàn Quốc là từ 1960 đến 1988, trong khi đối với Việt Nam là từ năm 1985 đến 2013.

Các hình từ 6 đến 9 so sánh sự phát triển của Hàn Quốc và Việt Nam với các nước cùng nhóm. Đặc biệt Hình 7 cho thấy GDP per capita của Hàn Quốc ngày càng vượt trội so với trung bình của thế giới, trong khi Hình 9 cho thấy Việt Nam ngày càng thua sút thế giới.

Những con số biết nói này bác bỏ lập luận cho rằng kinh tế Việt Nam vẫn đang phát triển, khi so với quá khứ. Sự so sánh hợp lý phải bao gồm cả việc so sánh với các nước khác, ít nhất là với các nước có cùng một hoàn cảnh địa lý và lịch sử phát triển.

( Có một số biểu đồ so sánh phát triển của Hàn Quốc nhưng không hiện hình được- thông cảm ( QTXM)

Chú thích:

[1] Nguồn: http://www.databank.worldbank.org, truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2014.

2 Nguồn: như trên.

3 Xem: Phạm Quang Tuấn, “Việt Nam và Hàn Quốc: So sánh hai quá trình công nghệ hoá” trên trang mạng Bauxite Việt Nam (http://www.bauxitevn.net) ngày 08.10.2014.

4 Nguồn: Korea.net – Gateway to Korea.

5 Họ Yi, Ri, hay Rhee của người Triều Tiên là họ Lý, khác với họ Yi của người Trung Hoa 易 là họ Dịch. Tưởng cũng nên nhắc lại, Hoàng tử Lý Long Tường của triều đại nhà Lý Việt Nam, do phải trốn tránh sự tàn sát của Trần Thủ Độ và nhà Trần, đã đưa gia nhân và đoàn tuỳ tùng khoảng 6000 người sang lánh nạn tại bán đảo Triều Tiên vào năm 1226, triều đại Cao Ly. Từ đó phát sinh một dòng họ Lý tại Triều Tiên.

6Nguồn: Wikipedia dưới tiêu đề Joseon (tiếng Anh) và Nhà Triều Tiên (tiếng Việt).

7 Xem ghi chú 5. Nhiều tài liệu trên internet hiện nay đưa tin khi Tổng thống Lý Thừa Vãn sang thăm VNCH vào năm 1958, Ông cho Tổng thống Ngô Đình Diệm biết Ông thuộc dòng dõi họ Lý của Việt Nam. Tuy chưa được kiểm chứng, có nhiều ý kiến cho là Ông là con cháu đời thứ 25 của Lý Long Tường. Nhưng cũng có tài liệu cho là Ông thuộc dòng dõi của Hoàng tử Lý Dương Côn (con nuôi của Vua Lý Nhân Tông), người đã lánh nạn sang Cao Ly 76 năm trước Hoàng tử Lý Long Tường để tránh bị sát hại trong việc tranh giành ngôi vua.

8 Nguồn: Korea.net – Gateway to Korea.

9 Xem “Economic Growth in South Korea Since World War II” trong phần tài liệu tham khảo.

10Theo số liệu của Korea Foundation, trong đặc san “Koreana – A Quartely on Korean Culture & Arts” số phát hành tháng 8 năm 2014 (www.koreana.org.kr) trong khoảng thời gian từ năm 1945 đến 1953 có khoảng 1,5 triệu người di cư từ bắc vào nam. Xem bài “60 Years After the Korean War” trong số đặc san này.

1[1] Theo David I. Steinberg, 1989, “The Republic of Korea: Economic Transformation and Social Change”, Westview Press, Boulder Colorado.

[1]2 Như ghi chú 10. Xem bài “Wartime Trauma Etched Deeply in the Korean Heart”.

[1]3 Niels Hermes, New explanations of the economic success of East Asia: Lessons for developing and Eastern European countries, 1997, CDS Research Report No. 3.

[1]4 The Park Chung Hee Era: The Transformation of South Korea, 2011, Harvard University Press.

15 Donald Gregg, “Park Chung Hee”, Time, August 23rd, 1999.

16 Như chú thích 14.

17 Korea Saemaul Undong Center (http://www.english.saemaul.com).

18 Chung KunMo “Mathematics, a fundamental pillar of Korean economic development”, www.icm2014.org.

19 Korean Mathematical Society (http://www.kms.or.kr).

20 IMU (International Mathematical Union) chia các nước thành viên thành từng nhóm, từ nhóm 1 (thấp nhất) đến nhóm 5 (nhóm các nước có nền toán học phát triển cao nhất như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản, …). Nước Úc thuộc nhóm 4, đồng hạng với Hàn Quốc, trong khi Việt Nam vẫn còn ở nhóm 1. (Nguồn: http://www.mathunion.org).

21 ICM 2014 www.icm2014.org, nghe bài thuyết trình của Gs Groetschel trong lễ khai mạc.

22 ICM 2014 www.icm2014.org.

23 Một bạn đồng nghiệp Hàn Quốc cùng làm việc tại Sydney với tác giả bài viết này đã trở về phục vụ đất nước vào giữa thập niên 1990, lúc đang xảy ra căng thẳng về chính trị và quân sự giữa hai miền Nam – Bắc. Anh đã khẳng khái nói “Tôi trở về, nếu cần tôi sẽ chiến đấu để bảo vệ đất nước tôi”. Hiện anh là giáo sư tại một trường đại học Hàn Quốc.

24William H. Overholt, “Park Chung Hee’s International Legacy”, 2011.

25 Democracy Index 2012 – Democracy at a Standstill, A Report from the Economist Intelligence Unit (http://pages.eiu.com/rs/eiu2/images/Democracy-Index-2012.pdf).

Sách tham khảo

1. C.R. Frank Jr., K.S. Kim, L.E. Westphal, Economic Growth in South Korea since World War II, in Foreign Trade Regimes and Economic Development: South Korea (eds: C.R. Frank Jr., K.S. Kim, L.E. Westphal), 1975, NBER.

  1. B.K. Kim, E. F. Vogel, The Park Chung Hee Era: The Transformation of South Korea, 2011, Harvard University Press, Cambridge.

Sydney ngày 14 tháng 1 năm 2015

T.T.

[25] Democracy Index 2012 – Democracy at a Standstill, A Report from the Economist Intelligence Unit (http://pages.eiu.com/rs/eiu2/images/Democracy-Index-2012.pdf).

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.04.2015

Học người xưa cách đối diện với thị phi

Học người xưa cách đối diện với thị phi

 Câu chuyện thứ nhất:


Trong một buổi nhàn hạ, vua Đường Thái Tông hỏi chuyện vị quan cận thần là Hứa Kính Tôn rằng:
– Trẫm thấy khanh phẩm cách cũng không phải là phường sơ bạc. Sao lại có nhiều tiếng thị phi chê ghét như thế?
Hứa Kính Tôn trả lời:
– Tâu bệ hạ. Mưa mùa Xuân tầm tã như dầu, người nông phu mừng cho ruộng đất được thấm nhuần, kẻ bộ hành lại ghét vì đường đi trơn trợt. Trăng mùa thu sáng vằng vặc như gương treo trên bầu trời đêm, hàng thi nhân vui mừng gặp dịp thưởng du ngâm vịnh, nhưng bọn đạo chích lại ghét vì ánh trăng quá sáng tỏ. Trời đất kia vốn vô tư không thiên vị, mà cơn nắng mưa thời tiết vẫn bị thế gian trách hận ghét thương.
Còn hạ thần đâu phải một người vẹn toàn thì làm sao tránh khỏi tiếng chê bai chỉ trích.Cho nên ngu thần trộm nghĩ, đối với tiếng thị phi trong thế gian nên bình tâm suy xét, đừng nên vội tin nghe. Vua tin nghe lời thị phi thì quan thần bị hại. Cha mẹ tin nghe lời thị phi thì con cái bị ruồng bỏ. Vợ chồng tin nghe lời thị phi thì gia đình ly tán. Tiếng thị phi của thế gian nọc độc còn hơn rắn rết, bén hơn gươm đao, giết người không thấy máu.

Câu chuyện thứ hai:

 

 


 

Một lần, Phật đi giáo hóa ở vùng có nhiều người tu theo Bà La Môn giáo. Các tu sĩ Bà La Môn thấy đệ tử của mình đi theo Phật nhiều quá, nên ra đón đường Phật mà mắng chửi. Phật vẫn đi thong thả, họ đi theo sau không tiếc lời rủa xả. Thấy Phật thản nhiên làm thinh, họ tức giận, chặn Phật lại hỏi:
– Ngài có điếc không?
– Ta không điếc.
– Ngài không điếc sao không nghe tôi chửi?
– Này tín đồ Bà La Môn, nếu nhà ông có đám tiệc, thân nhân tới dự, mãn tiệc họ ra về, ông lấy quà tặng họ không nhận thì quà đấy về tay ai?
– Quà ấy về tôi chứ ai.
– Cũng vậy, ông chửi ta, ta không nhận thì thôi.


 

Trong kinh Phật viết rằng, khi người ác mắng chửi người thiện, người thiện không nhận thì người ác giống như người ngửa mặt lên trời phun nước bọt, nước bọt không tới trời mà rời xuống ngay mặt người phun. Có thọ nhận mới dính mắc đau khổ, không thọ nhận thì an vui hạnh phúc. Thế nên từ nay về sau nếu có nghe thấy ai đó nói lời không tốt về mình, chớ có thọ nhận thì sẽ được an vui.Theo Phật giáo, khẩu nghiệp là một trong những nghiệp nặng nề nhất mà một người có thể tạo ra. Vết thương bạn gây ra trên thân thể người khác còn có ngày lành nhưng vết thương gây ra bởi lời nói thì chẳng biết ngày nào mới lành lại được.

Vì vậy hãy cẩn trọng với lời nói của mình, đừng gây ra thị phi vì vô ý thức, cũng đừng trách móc người khác chỉ vì lỗi lầm của họ bởi: “Every saint has a past, every sinner has a future”, nghĩa là “Vị thánh nào cũng có một quá khứ, và tội đồ nào cũng có một tương lai”.

Nguồn: giadinhonline- vandannnb)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.04.2015

THƠ BÁC ƯNG MÁI Ở CANADA

Thi sĩ Ưng Mái

THƠ BÁC ƯNG MÁI Ở CANADA

Anh Minh ơi!

Đương thời ông chep của tôi thương hay ví von: “Súng không sợ điếc”. Quả là như thế!. Đã là súng cần chi sợ điếc.Kẻ nhàn hạ này từng theo voi ăn bả mía đã quen “súng không sợ điếc”. Xin được múa rìu.

Tự – Tử

Tự vấn không còn. Tự trọng tiêu.

Tự tung, tự tác. Tự nhiên liều.

Tự ti nhường chỗ. Tự tư lấn.

Tự ý làm càn. Tự phụ kiêu.

Tự đắc vô bờ. Tự động vơ.

Tự hào quá lố. Tự dưng trơ.

Tự phô công trạng. Tự do cướp.

Tự thú hay hơn. Tự tử chờ.

      Ưng Mái (Mai Khắc Ứng)

Đăng bởi: Ngô Minh | 16.04.2015

VỀ HIỀN LƯƠNG GẶP CÂU HÁT CŨ

Cầu Hiền Lương

VỀ HIỀN LƯƠNG GẶP CÂU HÁT CŨ

 Ngô Minh 

 ước gì sông rộng tày gang

mênh mang trong nắng Hiền Lương câu hò

ru con ai hát dưới đò

hay em phơi lúa bên bờ gọi ai

 

rộng tày gang dòng sông ơi

và cầu đã bắc lâu rồi người qua

sao còn câu hát thiết tha

xui lòng tôi cứ như là nhớ mong

 

ước gì sông rộng tày gang

gió Cồn Tiên cứ thổi sang bên này

cái mùi đất đỏ gây gây

trong tôi như lửa những ngày hành quân

nhớ đêm đợi lệnh vượt sông

giặc lùng mưa lạnh nóng lòng dế ran

lời ru bỗng nghẹn cuối làng

ước gì sông rộng tày gang, ước gì ?

 

bắc cầu câu hát tôi đi

qua bao vách đá rừng khuya lũ tràn

chao ơi, sông rộng tày gang

mà Đất nước mấy mươi năm dãi dầu

cách chia bạc trắng mái đầu

khóc oà cha vịn vai cầu ngày vui

và bao bè bạn xa rồi

tấc gang câu hát biển trời đạn bom

 

chiều nay trở lại Hiền Lương

nghe câu hát cũ chạnh thương nắng vàng

ôi, điều ước nhớ non mang

ẩn trong câu hát quá giang ngày thường

Đăng bởi: Ngô Minh | 16.04.2015

Một quan niệm rất sai về tiếng Việt

Một quan niệm rất sai về tiếng Việt

  •   Hữu Đạt

Báo Văn nghệ số 16 (năm 2014) có bài “Tiếng Việt chưa có chuẩn” của tác giả Phạm Thuận Thành. Đây là một bài viết có nhiều lập luận  thiếu cơ sở khoa học, hơn nữa, về tư tưởng còn bộc lộ một thái độ coi thường tiếng Việt, có tác động không tốt đến tầng lớp thanh thiếu niên. Vì vậy, với thái độ thẳng thắn, chúng tôi thấy cần trao đổi với tác giả bài viết một số vấn đề đáng chú ý sau đây.

Thứ nhất, bài viết này có những sai lầm cơ bản trong nhận thức. Đó là sự nhầm lẫn trong việc nhận biết giữa cái toàn thể và cái bộ phận ( trong triết học còn gọi là quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giữa cái khái quát và cái cụ thể), giữa hiện tượng và bản chất. Từ đó nêu ra những nhận định hồ đồ, vội vã. Tuy chỉ là một phát biểu mang tính cảm tính, thiếu khách quan khoa học, nhưng nó lại gây ra hoang mang không ít cho học sinh, sinh viên. Từ sự hoang mang này, học sinh sẽ  có thái độ coi thường không nghiêm túc trong việc học tập và rèn luyện tiếng Việt. Hơn nữa nó còn tác động không nhỏ tới một bộ phận giáo viên, nhất là giáo viên tiểu học.

Chúng ta đều biết, ngôn ngữ là sản phẩm của một loại vật chất đặc biệt, đó là bộ óc con người. “ Ngôn ngữ cũng cổ xưa như ý thức vậy. Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng. Ngôn ngữ tồn tại cho người khách và cho chính bản thân tôi” ( Các Mác). Nói đến ngôn ngữ chính là nói đến tư duy của  một cộng đồng người nhất định. Vì vậy, ta mới có các khái niệm: Tiếng Việt, tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Hán…Đây là cách gọi tắt của các cụm từ : Ngôn ngữ của người/dân tộc Việt”, “Ngôn ngữ của người/dân tộc Nga”… Mặc dù khác nhau, nhưng ngôn ngữ nào cũng có cái chuẩn riêng của mình. Không có chuẩn, ngôn ngữ sẽ là một hệ thống rối loạn, không thể giao tiếp được. Nói một cách khác, không có chuẩn thì khi nói hay viết, người ta không thể hiểu được nhau. Hơn nữa, nhờ có chuẩn và sự bảo lưu được chuẩn mà các thế hệ sau mới hiểu được các thông tin của các thế hệ trước để lại. Thử hỏi tiếng Việt không có chuẩn thì làm sao đến thế kỷ thứ XXI, người Việt vẫn đọc và hiểu được Hồng Đức quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, Truyện Kiểu của Nguyễn Du…? Không có chuẩn thì ngôn ngữ không thể trường tồn. Dân tộc Việt hàng ngàn năm bị đô hộ của phong kiến phương Bắc, gần trăm năm bị nô lệ bởi thực dân, nhưng không bị đồng hóa hay bị tiêu diệt bởi chính sách xâm lược của ngoại bang (coi rẻ tiếng Việt, bắt dân ta phải dùng chữ Hán và chữ Pháp làm văn tự chính thống) chính nhờ có sự đấu tranh sống còn để bảo lưu cái chuẩn của tiếng nói dân tộc. Như vậy, nói tới chuẩn ngôn ngữ là ta nói tới tính qui ước của cộng đồng và tính hành chính của bộ máy quản lý Nhà nước. Chuẩn ngôn ngữ không do một cá nhân hay một nhóm người qui định mà do một cộng đồng ngôn ngữ rộng lớn- tức cộng đồng dân tộc và những qui định mang tính chế ước của Nhà nước quản lý nó qui định. Nếu những qui ước của cộng đồng và qui định của Nhà nước ngược nhau thì nó kìm hãm không cho ngôn ngữ phát triển. Ngược lại, nếu có sự phù hợp thì ngôn ngữ lại có cơ hội tiến triển và ngày càng đạt được chuẩn mực cao. Trước năm 1945, do tiếng Việt bị chính quyền thực dân coi rẻ, cho nên khi giành được độc lập rồi nhiều người bị ảnh hưởng nền giáo dục Pháp đã còn cho rằng tiếng Việt không thể giảng dạy ở bậc đại học. Nhưng sự thực là chính quyền cách mạng, sau tháng Tám, tiếng Việt đã được đưa vào giảng dạy ở mọi cấp học. Ngày nay, tiếng Việt không những chỉ được dùng ở bậc đại học mà còn được dùng ở bậc cao hơn để đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ. Tôn vinh tiếng Việt, đưa vị trí của tiếng Việt từ địa vị thứ yếu (bị trị) sang địa vị chính thống, độc tôn chính là ý thức bảo vệ văn hóa, tư duy của người Việt, cái làm nên bản sắc của dân tộc Việt Nam.

Tác giả Phạm Thuận Thành rất sai lầm khi coi tiếng Việt chưa có chuẩn, lại càng sai lầm hơn nữa khi coi một số hiện tượng tùy tiện trong sử dụng ngôn ngữ là cách tân. Tác giả này viết “ Trong ngôn ngữ mạng, giới trẻ đang có xu hướng dùng chữ cái w thay cho phụ âm qu, chữ cái j thay cho phụ âm ch… là sự cách tân rất đáng chú ý”. Chúng tôi rất lấy làm lạ trước cách lập luận của tác giả. Bởi về mặt khoa học, ai cũng biết đó là những hiện tượng ngôn ngữ chỉ có thể được xếp vào thứ “tiếng lóng” của một số ít người trong lớp trẻ (không phải tất cả thanh niên VN đều dùng như vậy). Nó không thể đại diện cho hệ thống ngôn ngữ của một cộng đồng. Hơn nữa, tác giả lớn tiếng để đả phá cái gọi là “tiếng Việt không có chuẩn” nhưng những tri thức tối thiểu về ngôn ngữ học tác giả lại tỏ ra không hiểu gì. Vậy làm sao có thể thuyết phục người đọc ? Chẳng hạn, trong tiếng Việt không có cái gọi là “phụ âm qu” như tác giả quan niệm. Đó là một tổ hợp gồm phụ âm [ k ] kết hợp với bán nguyên [ w ] (còn gọi là âm đệm [ w]). Chính vì thiếu những tri thức cần thiết nên tác giả kêu lên “ Dựa vào chuẩn nào để nói người khác”lệc chuẩn đây””? Xin thưa, khi chúng ta chưa chính thức có luật về ngôn ngữ thì vẫn có rất nhiều cơ sở cho phép  ta có thể dựa vào để xem xét về chuẩn. Chẳng hạn, dựa vào qui định, nghị định của các cơ quan có thẩm quyền với chức năng đại diện cho Nhà nước về lĩnh vực mà mình quản lý. Ví dụ, qui định về cách viết chính tả, cách phiên âm từ, thuật ngữ tiếng nước ngoai của UBKHXH Việt Nam trước đây (đã có nhiều văn bản) và của Viện Hàn lâm KHXH ngày nay. Cũng có thể dựa vào các bộ Từ điển tiếng Việt do Nhà nước đứng ra tổ chức biên soạn và ấn hành. Ngoài ra, còn có thể dựa vào các tài liệu được sử dụng chính thống trong giáo dục. Chẳng hạn, có thể dựa vào sách dạy tiếng Việt hiện đã được Nhà nước ban hành ( tức sách giáo khoa)…Có lẽ vì thiếu những hiểu biết này mà tác giả bài viết trên đã nhầm lẫn coi những hiện tượng tùy tiện về sử dụng ngôn ngữ là các hiện tượng cách tân và cổ súy cho nó. Nhận định này có tác dụng rất tai hại đối với việc giáo dục tiếng mẹ đẻ cho tầng lớp thanh thiếu niên hiện nay.

Thực ra, cách nói “chuẩn ngôn ngữ” là cách nói chung chung. Trên thực tế, chuẩn ngôn ngữ là cái được thể hiện trên nhiều bình diện cụ thể. Chính vì thế, trong cuốn “Phong cách học tiếng Việt hiện đại”(*), chuẩn ngôn ngữ được bàn đến từ nhiều bình diện: Chuẩn ngữ pháp, chuẩn ngữ âm, chuẩn từ vựng, chuẩn phong cách. Cơ sở đê xác định chuẩn là những qui tắc cơ bản của tiếng Việt, trong đó cần phải xem xét cả mối quan hệ giữa tiếng toàn dân (ngôn ngữ phổ thông) và tiếng địa phương ( phương ngữ). Ví dụ, ta có cặp từ chính phủ/chánh phủ thì “chánh phủ” được coi là tiếng địa phương, còn “chính phủ” được coi là tiếng toàn dân và là chuẩn ( được dùng chính thức trong các văn bản hành chính, ngoại giao…mang tính quốc gia). Với cặp vào/vô thì “vào” được coi là chuẩn. Về cách viết, nếu viết “nghành giáo dục” sẽ là lệch chuẩn, là sai vì âm [ng ] trong tiếng Việt được thể hiện dưới 2 dạng chứ viết là: ng, ngh tùy theo nó kết hợp với âm nào sau nó. Nếu nó kết hợp với các nguyên âm dòng sau và nguyên âm dòng giữa ( a, u, ơ) thì phải viết là ng: nga, ngành, ngả, ngu, ngư, ngô, ngơ, ngớ…. Nếu nó kết hợp với các nguyên âm dòng trước  (i,e,ê) thì phải viết là ngh: nghe, nghi, nghỉ, nghê ( ngô nghê); nếu viết là ngi, ngỉ, nge phải coi là lệch chuẩn, là sai.

Tương tự như vậy, âm [ k ] trong tiếng Việt được thể hiện bằng 2 chữ cái là c và k. Nếu sau nó là nguyên âm dòng sau hay dòng giữa thì dứt khoát phải viết là c: ca, có, cốc, cưng ( viết: ka, kó, kốc là sai, là lệch chuẩn)…; nếu sau nó là nguyên âm dòng trước phải viết là k: kỷ, kiệt, kẻ, kế, kể ( viết: cỉ,ciệt, cẻ, cể là sai là lệc chuẩn)…  Vì sao lại như vậy? Vì đó là qui ước của những nguời sáng lập ra chữ Quốc ngữ – một thứ văn tự dùng chữ cái La tinh để ghi âm tiếng Việt. Đó là thứ văn tự đã được Chính phủ, Quốc hội nước Việt Nam Dân chú Công hòa chọn làm văn tự chính thống của quốc gia ngay từ khi thành lập và được toàn dân ủng hộ. Đây chính là cơ sở pháp lý mà tác giả Phạm Thuận Thành không nhận ra. Chính vì thế, tác giả mới hồ đồ cho rằng “lấy J thay cho ch, z thay cho tr…” là sự cách tân. Trái lại, cần coi đây là hiện tượng lệch chuẩn vì nó chỉ là thứ tiếng lóng do một bộ phân thanh thiếu niên tạo ra. Nó không thể đại diện cho một cộng đồng ngôn ngữ, cũng không thể thay thế cho hệ thống chữ viết được thừa nhận chính thống về mặt Nhà nước.

Đành rằng, trong hệ thống chữ Quốc ngữ không khỏi có chỗ bất hợp lý, nhưng việc cải tiến chữ Quốc ngữ là một câu chuyện lớn lao và lâu dài. Muốn cải tiến nó phải nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc nếu không cải tiến sẽ trở thành thụt lùi. Bởi tiếng Việt là ngôn ngữ rất phong phú, đa dạng về cách phát âm nên không phải ngẫu nhiên, hệ thống chữ cái La tinh là một hệ thống chữ cái khá hoàn chỉnh, được nhiều ngôn ngữ Âu châu sử dụng (tiếng Anh, Pháp, Đức) nhưng khi dùng là văn tự ghi âm tiếng Việt, các nhà sáng lập phải tạo thêm các dấu phụ để ghi lại cách phát âm mang tính đặc trưng của người Việt. Thế cho nên, tuy cùng dùng hệ chữ cái La tinh để ghi âm, nhưng chỉ trong tiếng Việt mới có các nguyên âm mang dấu mũ. Bài học vui dạy viết cho trẻ có câu: O tròn như quả trứng gà, ô thì đội mũ ơ thì thêm râu…được sáng tạo để ghi dấu nét đặc trưng đó.

Mấy điều vừa nói ở trên là nói về chuẩn chính tả. Còn chuẩn ngữ âm thì sao? Một câu chuyện mất khá nhiều giấy bút trên báo mạng trong năm trước là câu chuyện lẫn lộn n / l. Tại sao có nhiều vị quan chức khi xuất hiên trên truyền hình, khi diễn thuyết người nghe-xem phải phì cười? Vì họ có những cách phát âm lệch chuẩn lẽ ra không nên có với cương vị công tác của mình. Ví dụ, “làng tôi có rất nhiều nhà cao tầng” thì lại phát âm thành “nàng tôi có rất nhiều nhà cao tầng”; “ Nó nói lắm lại hay lẫn lộn” lại phát âm thành “ ló nói nắm nại hay ní nuận”…

Trong sử dụng từ vựng, sự lệch chuẩn cũng không kém phần phong phú. Ở một số địa phương người nông dân thường nói “ Con tôi mới được lên chú ý rồi” trong khi cần phải nói “Con tôi mới được lên thiếu úy rồi”, Hoặc nói: “ Nó bàng quang lắm” thay vì phải nói “Nó bàng quan lắm”…

Nói đến chuẩn ngữ pháp hay chuẩn phong cách cũng còn vô vàn những ví dụ sinh động khác.

Có thể nói hiện tượng lệch chuẩn là hiện tượng làm vẩn đục ngôn ngữ và là hiện tượng rất cần được khắc phục, Tuy nhiên, hiện tượng lệch chuẩn cũng rất đa dạng và có nhiều nguyên nhân khác nhau. Có những hiện tượng lệch chuẩn là do thói quen phát âm của tiếng địa phương, biệt ngữ hay thổ ngữ. Có những cách phát âm phổ biến trong một vùng phương ngữ rộng lớn như tiếng Nghệ Tĩnh  chẳng hạn, có thể vẫn được coi là những nét bản sắc miền vùng. Nó có thể được sử dụng rộng rãi trong các hoạt động giao tiếp khẩu ngữ, thậm chí được dùng trên đài phát thanh truyền hình địa phương nhưng không được dùng làm ngôn ngữ chuẩn trên phương tiện truyền thông quốc gia. Những hiện tượng lệch chuẩn do cá nhân hay một nhóm người tự đặt ra ( gọi là tiếng lóng) vẫn có thể được dùng giao tiếp trong phạm vi hẹp và được dùng trong sáng tác văn học với ý nghĩa là một phong cách chức năng, nhưng nó không bao được coi là chuẩn trong giao tiếp chính thức. Điều này không hề hạn chế đến khả năng sáng tạo của cá nhân hay nhóm người trong quá trình sáng tạo. Vì rằng, chuẩn không phải là cái bất biến, không biến đổi. Trái lại, chuẩn là cái mang tính thời đại và có tính khả biến cao. Nhưng chuẩn chỉ chấp nhận những gì là thực sự sáng tạo, hợp qui luật và phù hợp với tâm thức của người bản ngữ và được cộng đồng ghi nhận. Cách dùng ngôn ngữ của Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nhiều trường hợp chính là sự sáng tạo để tạo ra chuẩn mới cho tiếng Việt.

Từ trước đến nay, có nhiều bài viết bàn về tiếng Việt, về từ vay mượn tiếng nước ngoài ( nhất là tiếng Hán), về chuẩn đã làm cho ngôn ngữ của ta rối rắm thêm vì: một là họ không hiểu rõ bản chất của ngôn ngữ cũng như qui luật vận hành, tiếp xúc của ngôn ngữ; hai là, có  không ít người có nhầm lẫn tai hại là đồng nhất ngôn ngữ với văn tự, hoặc đồng nhất ngôn ngữ với cách phát âm. Những sự nhầm lẫn này dẫn đến nhiều suy lý sai và hiểu không đúng về bản chất cũng như tính năng động của tiếng Việt./.

——————————

(*) Xem thêm, Hữu Đạt “ Phong cách học tiếng Việt hiện đại”, Nxb GD VN, 2009

( Nguồn: VHNA)

 

Tinh thần phản tỉnh trong tản văn của Nguyễn Quang Lập

 

Nguyễn Trọng Bình

QTXM- Bài viết rất hay. Rất đáng đọc.Riêng chuyện “Nhà văn như Thị Nở” tôi nghĩ có lẽ nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên muốn nhà văn là người nấu cho cuộc đờidđang điên đảo, lwuu manh một bát cháo hành chăng ?

 

1.

Thời điểm này mà nhắc đến tên Nguyễn Quang Lập e là rất “dễ” trở thành người “nổi tiếng” theo cái kiểu “bất đắc dĩ” và vô cùng lãng xẹt?! Thế mới biết, ở cái xứ này “giang hồ thì hiểm ác, lòng người thì khó lường, chữ nghĩa, văn chương thì khó… viết”. Nói chung là nghĩ và làm cái gì cũng khó, đặc biệt là làm người đàng hoàng và tử tế lại càng khó hơn nữa!

Nhưng chẳng lẽ vì ngại khó mà người ta lại từ chối cái quyền được/phải làm người tử tế và đàng hoàng của mình? Thôi thì, bắt chước cụ Nguyễn Du “cũng liều nhắm mắt đưa chân/để xem con tạo xoay vần đến đâu!”

 2.

Nếu tôi nhớ không lầm thì có lần (khi còn là “chủ sở hữu hợp pháp” cái “bờ lốc, bờ leo” quechoa nổi tiếng) Nguyễn Quang Lập cho rằng, người viết tản văn hay nhất nước Việt hiện nay có lẽ là nhạc sĩ Tuấn Khanh (trẻ). Với nhận định này phải nói rằng, Nguyễn Quang Lập quả là một nhà văn “đàn anh” có đôi mắt tinh tường cùng“tấm lòng biệt nhỡn liên tài”!

Quả đúng như vậy, hiện nay, ngoài tư cách nhạc sĩ, Tuấn Khanh còn viết nhiều tản văn rất hay. Tuy vậy, nếu như ở Tuấn Khanh là khả năng “tổng hợp” những vấn đề thời sự nóng hổi của đất nước sau đó “tung hứng” bằng những con chữ lung linh và đầy ám ảnh thì tản văn của Nguyễn Quang Lập là chiều sâu của tinh thần nhân bản và tự phản tỉnh của một người từng trải.

Cái tính “hoạt khẩu” để gây cười (như ai đó đã nhận định) tuy cũng là thế mạnh nhưng thật ra, theo tôi đó chỉ là “phần nổi” trong tản văn Nguyễn Quang Lập mà thôi. Thật ra, nghiêm túc mà nói, Nguyễn Quang Lập cũng rất “già đời” khi cố tình hoạt khẩu như thế để gây cười và “lôi” người đọc thâm nhập vào đường dây của những câu chuyện mà ông kể. Hơn nữa, hoạt khẩu như vậy sẽ không làm cho người trong cuộc “nổi khùng” hoặc là “nghỉ chơi” với ông (trường hợp những tản văn viết những bạn bè, người quen của ông). Tuy vậy, điều quan trọng nhất vẫn là thái độ và sự chân tình tự phản tỉnh về tất cả các vấn đề đời sống; về tất cả cái gì thuộc về con người nhằm đấu tranh cho cái “lương tâm của xã hội, của thời đại” hôm nay trước nguy bị chó tha đi mất.

Có thể thấy, ngay từ những năm đầu đổi mới, ở Nguyễn Quang Lập đã bắt đầu nhen nhóm và “thai nghén” cái tinh thần này. Khi ấy, chỉ qua tiêu đề của quyển tiểu thuyết “Những mảnh đời đen trắng”, Nguyễn Quang Lập đã bộc lộ sự “hoài nghi” của mình về thời cuộc và con người Việt Nam lúc ấy. Càng về sau, ý thức này càng bộ lộ rõ hơn qua hàng loạt tản văn viết về đề tài “chuyện nhà quê” hay những miền “ký ức vụn” trong ông. Và mới đây nhất, cái tinh thần này ông được cẩn thận “gói” vào tiếng… “đánh rắm” trong bài thơ có nhan đề “Một ngày”:

“… Khó ngủ quá
Chổng mông đánh rắm một phát chơi
Rắm xong rồi lại ngửi
Ngẩn ngơ ngồi dậy ngẩn ngơ cười.”

 

 Phải chăng, cuộc đời ô trọc này nó buộc ông phải tỏ thái độ bằng cách “đánh rắm một phát chơi”? Mà thật ra là “đánh rắm” vô mặt bọn “trí thức giả cầy”hay chính xác hơn là bọn “lưu manh giả danh trí thức” thời nay. Nhưng oái oăm thay, cuộc đời oan nghiệt quá nên ông chợt nhận ra, mình “đánh rắm” xong có khi chính mình là người trước tiên phải “ngửi” chứ không phải ai khác? Thế mới đau! Vì vậy, mới có chuyện“ngẩn ngơ ngồi dậy ngẩn ngơ cười”? Một tiếng cười ít nhiều nói lên sự bất lực của con người trước sự thô bạo và hiểm ác của cuộc đời – một sự phản tỉnh thành thật của con tim khi nghĩ về những giới hạn của bản ngã trước muôn vàn sự giả dối, trắng – đen! Vậy thì có nên tiếp tục “đấu” với cuộc đời ô trọc và bọn“lưu manh giả danh trí thức” kia nữa không? Nhà văn chân chính đương nhiên là sẽ “chơi” tiếp! Tôi nghĩ vậy!

3.

Bàn về văn chương Nguyễn Quang Lập không thể không đề cập đến một vấn đề mà theo tôi, đa phần các nhà văn Việt hôm nay có lẽ, sẽ phải ghen tị với ông. Ghen tị vì lẽ, họ không có hoặc cũng từng có như ông nhưng vì chủ quan, không cẩn thận và nhất là thiếu bản lĩnh nên đã đánh mất lúc nào không hay. Là vấn đề gì? Xin thưa: đó là những “LỜI MẸ DẶN” mà nhà thơ Phùng Quán đã nói cách đây mấy mươi năm.

Thật ra, quan điểm và cách nói về chuyện “yêu ghét phải rõ ràng” trong bài thơ này của nhà thơ Phùng Quán tuy là hay nhưng với tôi nó không đặc sắc bằng cái tiêu đề “LỜI MẸ DẶN” nếu nhìn ở phương diện văn hóa và ý nghĩa mang triết học của nó. “LỜI MẸ DẶN” ở đây không đơn giản là lời của một người mẹ cụ thể, là mẫu thân của nhà thơ nữa mà nó còn mang một ý nghĩa biểu tượng rất độc đáo! Có lẽ, bất cứ người mẹ nào trên thế giới (chứ không riêng gì bà mẹ ở VN) đều có chung một ước nguyện và niềm mong mỏi là con mình lớn lên sẽ thành tài và nên người. Vì vậy, có lẽ tất cả mọi bà MẸ trên quả đất này đều răn dạy những đứa con của mình khi lớn lên điều quan trọng nhất là PHẢI SỐNG cho ĐÀNG HOÀNG VÀ TỬ TẾ?

Vì thế, thật hạnh phúc cho ai trong đời luôn nhớ và lúc nào cũng giữ gìn cẩn thận những “LỜI MẸ DẶN”. Dĩ nhiên cũng thật bất hạnh cho những ai vì lý do nào đó đã đánh mất những “LỜI MẸ DẶN” vốn rất THIÊNG LIÊNG này!

Đặc biệt, với những người cầm bút viết văn nhằm “tưới mát” và làm “lành mạnh hóa tâm hồn” con người thì càng phải cẩn trọng hơn nữa, nếu không đó sẽ là thảm họa cho xã hội!

Đến đây, chợt nhớ đến cách nói của nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên khi ông so sánh tư cách nhà văn với nhân vật“Thị Nở” – người đàn bà “dở hơi” trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao. Không hiểu sao, dù rất quý và kính trọng nhà phê bình nhưng bản thân tôi lại không thể đồng cảm với cách so sánh “Nhà văn như Thị Nở” như thế này. Hình như có gì đó hơi “giật gân” và “thiêng liêng hóa” mối tình Thị Nở – Chí Phèo trong truyện ngắn này thì phải?

Cần nhớ rằng, xây dựng nhân vật Thị Nở ý đồ chủ yếu của Nam Cao là nhằm nhấn mạnh đến bi kịch nghiệt ngã của Chí. Tức là, ở cái làng Vũ Đại không người nào chịu giao tiếp, không ai chịu “chơi” với Chí. Thậm chí đến ngay cả mụ đàn bà xấu “ma chê quỷ hờn” kia, có ai ngờ cuối cùng cũng “ngoai ngoái cái mông đít” bỏ Chí mà đi. Đồng ý là trước đó, tình yêu của Thị Nở tuy có giúp Chí thức tỉnh và nhận ra hắn còn là một con người nhưng cũng chính Thị chứ không ai khác vì cái sự “dở hơi” của mình đã vô tình triệt tiêu con đường quay về nẻo chính của Chí. Nam Cao viết:

“Thị chống tay vào háng, vênh vênh cái mặt và tớn cái môi vĩ đại lên trút vào mặt hắn tất cả những lời của bà cô. Hắn nghĩ ngợi một tí rồi hình như hiểu. Hắn bổng nhiên ngẩn người. Thoáng một cái, hắn lại như hít hít thấy cái hơi cháo hành. Hắn cứ ngồi ngẩn mặt không nói gì. Thị trút giận xong rồi. Cái mũi đỏ dị xuống rồi bạnh ra. Thị hả hê lắm. Thị ngoai ngoái cái mông đít đi ra về. Hắn sửng sốt đứng lên gọi lại! Ai mà thèm lại!”

Có thể nói chính vì sự “dở hơi” này của Thị Nở mới có câu nói bất hủ của Chí ở cuối tác phẩm: “tao muốn làm người lương thiện nhưng ai cho tao lương thiện?”

Nói cách khác, đành rằng, Thị Nở đã từng yêu đắm say nhờ đó đã đánh thức tính người trong Chí nhưng thử hỏi nếu trong sâu thẳm bản chất của Chí không phải là lương thiện thì chắc gì tình yêu của Thị sẽ trở thành chất xúc tác cho “phản ứng” giết kẻ thù là Bá Kiến xảy ra? Hơn nữa, trong chuyện này, vấn đề mà nhà văn Nam Cao muốn nói là, Chí Phèo tuy là “đứa không cha không mẹ” nhưng với câu nói “ai cho tao lương thiện” ở cuối tác phẩm cho chúng ta thấy cách hành xử của Chí “đẹp” và chững chạc hơn gấp ngàn lần những kẻ có cha có mẹ và được cha mẹ dạy dỗ đàng hoàng! Điều này rất phù hợp với việc Nam Cao đề cập ở đầu tác phẩm, bản chất của Chí tuy là “đứa không cha không mẹ” không ai dạy bảo nhưng hắn sống rất thật thà, đến nỗi bị bà vợ Ba của Bá kiến mắng mỏ về sự thật thà ấy lúc mụ kêu Chí lên “bóp chân” và “bóp lên trên”.

Vì vậy, theo tôi nếu so sánh Nhà văn với một người “dở hơi” như Thị Nở e là không hợp lẽ cho lắm. Như thế thì tội cho những nhà văn nhất là những nhà văn chân chính quá! Nhà văn trước hết, phải là người tự ý thức về bản thân mình, là người phải biết tự thức tỉnh lương tâm mình trước khi muốn thức tỉnh người khác! Nhà văn ở phương diện nào đó nên giống như Chí Phèo hay anh Hộ trong Đời thừa thì có lẽ dễ chấp nhận hơn chăng?

Từ đây, trở lại vấn đề của Nguyễn Quang Lập, có thể nói ẩn sau những “câu chuyện đời vớ vẩn”, ẩn sau sự hoạt khẩu gây cười là một cái nhìn rất sâu sắc nhằm cảnh báo về những nhầm lẫn, ấu trĩ, tệ hại, xấu xa, đê tiện… của con người trong cuộc sống.Thậm chí, như đã nói, Nguyễn Quang Lập còn mang cả bạn bè và ngay bản thân mình ra để “trăn qua trở lại” xem coi có xứng đáng với chức phận của người cầm bút viết văn hay không (nhất là trong xã hội ngày nay)? Ở chỗ này, ta thấy Nguyễn Quang Lập rất tinh tế và cũng gần với Nam Cao ở chỗ dám tự sỉ vả mình (kiểu nhân vật Hộ trong tác phẩm Đời thừa đã khóc và tự mắng mình là “thằng khốn nạn” vì đã viết ra thứ văn chương rẻ tiền, nhạt như nước ốc, đầu độc tâm hồn con người).

Viết văn được như vậy, theo tôi phải là người có tâm hồn trong sáng và luôn hướng về điều thiện; là người hết lòng phụng sự cuộc sống, phụng sự con người bằng tất cả sự chân thành trong sự phản tỉnh cao độ. Từ đây, trong cái nhìn so sánh với vô số những người cầm bút viết văn hôm nay, phải chăng Nguyễn Quang Lập là nhà văn may mắn vẫn còn giữ được một “thứ vũ khí sắc bén” bên mình (như tôi đã đề cập ở trên): những “LỜI MẸ DẶN”?

4.

Trong “Bút pháp của ham muốn” nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy trong khi bàn về trường hợp thơ của Chế Lan Viên, có đặt ra vấn đề: “phải chăng mặt nạ cũng là một bản chất của người nghệ sĩ?”. Tôi cho rằng, đây là nhận định rất hay! Quả đúng như vậy, nhà văn – người nghệ sĩ trong xã hội hiện đại” (nhất là ở những xã hội con người bị bao cấp về tư tưởng) có khi phải thường xuyên đeo “mặt nạ” để “ngụy trang”. Đây không hẳn là cách sống hai mặt hay muôn mặt mà có lẽ, trước hết là do “thời thế thế thời phải thế”. Và người nghệ sĩ trong xã hội hiện đại như Chế Lan Viên nói, đôi khi cũng giống như cái “tháp Bayon bốn mặt” trong đó buộc phải “ngụy trang” một mặt để sống vì vậy đã vô tình làm “đau ba mặt kia trong cõi ẩn hình”!

Tuy vậy, vấn đề là làm sao để nhận ra nhà văn chân chính, làm sao để nhận ra người nào đang đeo “mặt nạ” và ngụy trang dưới những con chữ nhưng không nhằm mục đích lừa dối con người, lừa dối cuộc đời? Theo tôi, trong chuyện này chúng ta nhất định cần phải bàn đến vấn đề nhà văn đó có phải và đồng thời là một trí thức thứ thiệt hay không? Hay thật ra chỉ là bọn “lưu manh trí thức” – những kẻ chỉ coi văn chương và dùng văn chương như một thứ công cụ không hơn không kém nhằm phục vụ cho thói háo danh và những lợi ích nhất thời, tầm thường của riêng họ? Nói cách khác, ở đây, có lẽ chúng ta phải trở về ở về với quan điểm của M.Gorki: “văn học là nhân học” để nhìn nhận và xem xét thôi!

Trong cái nhìn này, trong cảm nhận của riêng tôi, tuy Nguyễn Quang Lập vẫn chưa thể sánh ngang với trường hợp Vũ Trọng Phụng hay Nam Cao nhưng phải khẳng định ông là một nhà văn, một nghệ sĩ, một trí thức đúng nghĩa trong thời đại ngày nay. Điều này thể hiện rất rõ không chỉ qua cái nhìn tự phản tỉnh của ông trong tản văn mà còn qua sự “hăng máu” khi ông quyết định dấn thân và chuyển sang làm một nhà báo chơi “bờ lốc, bờ leo” trong thời đại kỹ thuật số. Và hậu quả là, như chúng ta đã biết cái “bờ lốc bờ leo” ấy đã làm cho ông khốn đốn! Nhiều người (trong đó có tôi) buồn và đau xót cho ông về chuyện này nhưng có lẽ với ông – một trí thức bản lĩnh và chân chính có khi đó lại là “cơ hội” (dù không mong đợi) để trải nghiệm nhằm phục vụ cho việc viết văn của mình cũng không chừng!?

Chúng ta – những kẻ tầm thường và hèn nhát thường hay có nhiều mối lo và sợ sệt không đâu. Hoặc không thì lại có tâm lý muốn đeo mặt nạ của những nhà văn chân chính để rồi huênh hoang nói những lời nước thải vu vơ và sáo rỗng!

Trời ạ! Lắm khi nhìn lại mà thấy xấu hổ vô cùng!

Cần Thơ, 14/4/2015

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 15.04.2015

CÁC “TAI NẠN” VĂN CHƯƠNG ĐƯƠNG ĐẠI

Nhà văn Bảo Ninh

CÁC “TAI NẠN” VĂN CHƯƠNG ĐƯƠNG ĐẠI

QTXM- Tiểu thuyết “Nỗi bồn chiến tranh” của nhà văn Bảo Ninh là một trong ít cuốn sách viết về chiến tranh hay nhất, được bạn đọc trong nước và thế giới ca ngợi. THế mà có thời cuốn sách bị “đánh” tơi bời.Lạ lùng là người đánh ‘Nỗi buồn chiến tranh” lại chính là các nhà văn.  Mới hay nhà văn cũng không biết  giá trị sách hay như thế nào. QTXM xin trích in lại bài viết in trên Văn Việt để bạn đọc hiểu”Nỗi buồn nhân thế”.

Văn Việt: Trong lịch sử Việt Nam, không hiếm những “tai nạn văn chương” lớn nhỏ, từ bài thơ “phản nghịch” của con trai cả đại thần Nguyễn Văn Thành thời Gia Long khiến cha con tác giả mất mạng đến vụ mới nhất là “luận văn thạc sĩ Nhã Thuyên” với hậu quả “nhẹ” hơn nhiều (tác giả bị tước bằng, đuổi việc; người hướng dẫn bị cho về hưu). Hồ sơ “Các tai nạn văn chương đương đại” của Văn Việt xin hệ thống lại những vụ tiêu biểu trong khoảng 60 năm lại đây, mở đầu là vụ tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” những năm đầu thập kỷ 1990, rồi đi ngược thời gian đến sau vụ “Nhân văn-Giai phẩm” (hồ sơ vụ án lịch sử này đã được nhiều công trình tổng kết nên xin phép không nhắc lại nữa). Lịch sử không nên và không thể bị quên. Những ai cố tình quên hoặc bất chấp các bài học lịch sử thì không thể làm được việc gì tử tế trong hiện tại, còn những việc không tử tế thì dù mưu gian kế hiểm hay tàn trắng bạo trợn cũng sẽ thất bại, đặc biệt trong lĩnh vực văn chương nghệ thuật, các sản phẩm tinh thần cao cấp của con người. (Đọc tiếp…)

« Newer Posts - Older Posts »

Danh mục