Đăng bởi: Ngô Minh | 21.03.2015

Những hoa hậu từng vướng vào vòng lao l

Những hoa hậu từng vướng vào vòng lao lý

Danh hiệu Hoa hậu luôn gắn với những ý niệm đẹp đẽ, tuy vậy, cũng có những Hoa hậu đã không thể giữ mình để rồi vướng vào vòng lao lý.Gần đây một số “hóa hậu” Việt bị bắt giam. Trên thế giới cũng không ít hoa hậu dính vài tội ác phải ào tù. Tư liệu sau QTXM lấy trên VietNamNet và Dân trí phục vụ bạn đọc.

Hoa hậu người việt tại Nga năm 2007 Trương Hồ Phương Nga vừa bị bắt khẩn cấp vì bị tố cáo lừa đảo 16 tỷ

// //

Trương Hồ Phương Nga, Mỹ Xuân, Bùi Nguyễn Thị Trâm, Trương Thị Tuyết Nga

Mới đây, hoa hậu người việt tại Nga năm 2007 Trương Hồ Phương Nga vừa bị bắt khẩn cấp vì bị tố cáo lừa đảo 16 tỷ. Theo thông tin từ cơ quan điều tra, Phương Nga có quen với một doanh nhân ở Quận 7, TP.HCM. Trong thời gian đó, cô tự nhận mình có mối quan hệ trong ngành bất động sản, mua được nhiều nhà giá rẻ để bán lại kiếm lời nên có rủ người đàn ông này hùn vốn làm ăn. Sau nhiều lần đưa tiền cho nữ hoa hậu nhưng không nhận được nhà còn nữ hoa hậu thì viện mọi lý do để né tránh, người đàn ông đã tố cáo lên cơ quan điều tra. Tổng số tiền Phương Nga nhận từ người doanh nhân này lên đến hơn 16 tỷ. Trưa 19/3, cô và đồng phạm đã bị bắt tại căn hộ chung cư ở TP.HCM.

Trương Hồ Phương Nga, Mỹ Xuân, Bùi Nguyễn Thị Trâm, Trương Thị Tuyết Nga

Trương Hồ Phương Nga từng đoạt giải cao nhất trong cuộc thi hoa hậu người Việt tại Liên Bang Nga vào năm 2007. Sau cuộc thi tại Nga, Hoa hậu Phương Nga đã lọt top 5 thí sinh đại diện cộng đồng người Việt tại Nga đi Ukraina để tham gia cuộc thi Hoa hậu người Việt tại khu vực SNG. Có lối sống khá kín tiếng nên những thông tin về cô trên mạng không nhiều. Được biết, hiện cô đảm nhận nhiều công việc khác nhau như diễn viên, MC, người mẫu, kinh doanh… Sở hữu nhan sắc thanh tao nên cô được nhiều hãng mời làm gương mặt đại diện.

Mỹ Xuân đi tù vì cầm đầu đường dây bán dâm

Trương Hồ Phương Nga, Mỹ Xuân, Bùi Nguyễn Thị Trâm, Trương Thị Tuyết Nga

Hoa hậu Nam Mê Kông từng phải đối diện với bản án tù từ 3-10 năm vì tổ chức đường dây mại dâm cao cấp. Dựa vào mối quan hệ trong nghề với các mẫu nữ và nhiều người trong giới đại gia, nữ hoa hậu giới thiệu cho những người mẫu nữ này đi bán dâm với giá hàng nghìn USD. Vụ việc đã làm xôn xao dư luận trong khoảng thời gian scandal bùng nổ và khiến nhiều người có cái nhìn thiếu thiện cảm về nghề nghiệp được coi là làm đẹp cho xã hội này. Hiện tại, nữ hoa hậu đã tự do vì thời hạn tù đã hết. Tuy nhiên vừa ra tù, cô lại dính đến scandal lộ ảnh nóng khi quay video ca nhạc của một nam ca sĩ. Những bức ảnh lộ những điểm nhạy cảm được phát tán khiến scandal bán dâm của cô ngày nào được đào xới lại.

 

Trương Hồ Phương Nga, Mỹ Xuân, Bùi Nguyễn Thị Trâm, Trương Thị Tuyết Nga

Bên cạnh danh hiệu Quý bà thành đạt năm 2009, bà Nga cũng từng giảnh ngôi vị Á Hậu tại cuộc thi Hoa hậu Phu nhân Việt Nam toàn cầu 2012 tại Mỹ. Bà cũng là Tổng giám đốc công ty TNHH Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vũ Anh, Giám đốc công ty TNHH Đầu tư xây dựng Vũ Lan.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.03.2015

RA LỆNH CHẶT MÙA THU

RA LỆNH CHẶT MÙA THU

 Trần Mạnh Hảo

(Theo tin các tờ báo chính thống, chính quyền Hà Nội đang hạ lệnh tàn sát 6.700 cây xanh trong thành phố, không biết để làm gì, nghe nói để nhập mấy loài cây phương Bắc về trồng cho đồng bộ …?)

RA LỆNH CHẶT MÙA THU

Không còn cây sẽ không còn Hà Nội
Sẽ không còn lãng mạn nhạc và thơ
Có chính quyền nào tàn sát cây đến vậy ?
Hủy diệt cây để thực hiện mưu đồ…

Sương mù tháng ba để tang cây Hà Nội
Sao nỡ nào treo cổ cả trời xanh
Vì trời cũng mang màu xanh cây có tội
Hà Nội đau đứt ruột mỗi thân cành

Đừng chặt mùa thu gió heo may sẽ chết
Mất vàng mười Hà Nội hết vàng rơi
Chẳng còn cây che trời giông sấm sét
Hà Nội sôi thành chảo lửa nung trời

Xin cứ việc chặt mùa thu cách mạng
Chặt bóng râm hết chỗ trẻ con chơi
Cứ việc bê tông hóa cả chính quyền, cả đảng
Chặt cây xanh thà chặt trụi hồn người…

Các cuộc chiến tranh còn thương cây Hà Nội
Và bão bùng không tàn sát cây xanh
Hãy cứu lấy những đường cây vô tội
Hà Nội nghìn năm đang bị phá tan tành…

Sài Gòn ngày 19-3-2015

Nguồn: FB T.M.H.

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.03.2015

PHẢN ĐỐI VIỆC ĐỐN HẠ CÂY XANH Ở HÀ NỘI

GS Ngô Bảo Châu, GS Nguyễn Lân Dũng, NSH Dương Trung Quốc

PHẢN ĐỐI VIỆC ĐỐN HẠ CÂY XANH Ở HÀ NỘI

QTXM- Cây xanh đô thị là môi trường sống, là cảnh quan, là biểu tượng sinh thái, là văn hóa… sao bỗng dưng lại đốn hạ ồ ạt đến xót lòng dân cả nước đến vậy? Tôi không ở Hà Nội, tôi ở Huế, nơi người ta giữ từng chiếc lá xanh. Tôi phản đối việc đốn hạ cây xanh ồ ạt ở Hà Nội. Tôi cho đó là sự tàn phá môi trường Thủ Đô, cần phải chấm dứt ngay. Sau đây QTXM xin đăng tải một số ý kiến của trí thức về việc làm vô lý này. NGÔ MINH

GS Ngô Bảo Châu bất ngờ đặt câu hỏi rất khó về việc chặt cây ở Hà Nội

 1. Duy tu bảo trì cây, chặt cây mục ruỗng đề phòng nguy hiểm mùa mưa bão Câu hỏi:
 1a. Tại sao từ trước đến nay công ty công viên cây xanh vẫn thực hiện duy tu bảo trì mà không cần chiến dịch chặt cây?
 1b. Tại sao nhiều cây cao, thẳng khoẻ mạnh cũng bị chặt?
 1c. Có ở đâu, nơi nào, khi nào người ta duy tu bảo trì cây xanh bằng cách chặt cây hàng loạt hay không?
 
2. Cây trồng không đồng bộ, chặt đi trồng lại đồng bộ để đảm bảo mỹ quan thành phố

Câu hỏi:
2a. Nhiều khu phố, nhà Hà nội xây cất thiếu quy hoạch, phản mỹ quan, liệu có cần ủi đi xây lại không?
2b. Biển quảng cáo kích thước không đồng bộ, có cái khổng lồ, có cái mới treo trồng lên cái cũ, sao không có chiến dịch chế tài, gỡ hết đi cho đỡ nhem nhuốc bộ mặt thành phố?
2c. Cây mới trồng lại bao giờ mới lớn? Để chờ một có một hàng cây đồng bộ thẳng hàng, tổn thất cho dân là gì, có xứng đáng không?
2d. Nếu mỹ quan phố phường là việc quan trọng, thì việc chặt cây trồng cây mới có phải là việc cần ưu tiên hay không? Cây xanh có phải là cái làm xấu nhất bộ mặt thành phố không?

3.  Chặt cây để mở đường, xây dựng cơ sở hạ tầng

Câu hỏi:
3a. Phát triển thành phố đã có quy hoạch, tại sao bỗng dưng lại phải có chiến dịch chặt cây?
3b. Ngoài việc xây đường tàu, cải thiện giao thông công cộng ở Hà nội, mà theo tôi là một lý do hoàn toàn hợp lý để chặt cây, những quy hoạch khác là gì, có hợp lý không?
3c. Trong trường hợp có quy hoạch hạ tầng lợi ích công cộng là lý do hợp lý để chặt cây, quy hoạch đã có tiến độ chưa, có cần chặt cây ngay bây giờ không? Có cần chặt cây nhiều nơi và đồng loạt không?
Ngay sau khi những câu hỏi của GS Ngô Bảo Châu được đăng tải, nhiều người đã bày tỏ sự đồng cảm, thậm chí có người còn bổ sung thêm cả những câu hỏi của mình.
Một người có nickname Hải Đỗ viết: “Bổ sung thêm câu hỏi của GS. Trong 120.000 cây hiện có của Hà Nội thì đã có sự phân loại cây theo các tiêu chí đánh giá khác nhau chưa và 6.700 cây đang có kế hoạch thay đổi đó có nằm trong sự phân loại đó hay không?”.
Nickname Hank Tran thẳng thắn: “Chúng tôi chỉ cần hỏi lại, dự toán kinh phí chặt ngần ấy cây là bao nhiêu, rồi kinh phí trồng thay thế, duy tu bảo trì (chưa kể tái trồng 1 tỷ lệ nhất định cây được phép chết đúng quy trình) là bao nhiêu?”.

 

Nhà sử học Dương Trung Quốc: UBND TP Hà Nội cần minh bạch hóa kế hoạch đốn hạ 6.700 cây xanh

 

Liên quan đến việc đốn hạ 6.700 cây xanh, chia sẻ với phóng viên báo Ngày Nay Online, ĐBQH, nhà sử học Dương Trung Quốc cho rằng, UBND TP Hà Nội và các cơ quan chức năng cần minh bạch hoá kế hoạch nói trên để tránh gây hoang mang trong dư luận.

 

Thưa ông, mới đây UBND TP Hà Nội đã thông qua kế hoạch đốn hạ 6.700 cây xanh trên 190 tuyến phố nội thành Hà Nội khiến người dân vô cùng hoang mang và tạo ra một làn sóng sư luận rất mạnh mẽ, ông đánh giá như thế nào về điều này?

 

Thời gian gần đây, theo sự phê duyệt của UBND TP Hà Nội, nhiều hàng cây xanh cổ thụ bị chặt hạ trên các tuyến phố nội thành khiến người dân vô cùng lo lắng, tôi nghĩ điều này là hoàn toàn hợp lý. Vì bản thân những người thuộc thế hệ chúng tôi vẫn luôn tự hào Hà Nội là một “Thủ đô Xanh”. Vì vậy khi các hàng cây cổ thụ bị chặt hạ, tâm lý chung của người dân là nuối tiếc, lo lắng. Như tất cả mọi người đều biết, cây xanh có ý nghĩa vô cùng quan trọng với môi trường sinh thái và cuộc sống hàng ngày của người dân. Để trồng được một hàng cây xanh vấn đề không chỉ là tiền bạc mà còn là thời gian. Một hàng cây cổ thụ, có thể cần đến vài chục năm để trưởng thành vì vậy việc chặt hạ (kể cả thay thế) là cần phải cân nhắc rất kỹ xem việc làm này có chính đáng hay không, có cần thiết hay không. Và theo tôi khi chặt hạ một số lượng lớn cây xanh như thế thì phải hết sức quan tâm đến việc ảnh hưởng của môi trường sinh thái.
Có lẽ chính vì sự lo lắng đến việc ảnh hưởng môi trường sinh thái mà cư dân TP Hà Nội nói riêng vô cùng hoang mang thậm chí bất bình khi đại diện cơ quan có thẩm quyền cho biết việc đốn hạ này không cần thông qua ý kiến của người dân. Theo ông việc không thông qua ý kiến dân có thật sự hợp lý không? Theo tôi, việc trả lời như vậy là không hợp lý. Việc chặt hạ hàng nghìn cây xanh ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của người dân, vì vậy UBND TP Hà Nội và các cơ quan chức năng cần có câu trả lời thích đáng cho những phản hồi của người dân. Đó là nguyên nhân, lý do chặt hạ 6.700 cây xanh, kế hoạch chặt hạ và thay thế nếu có. Có như vậy người dân mới có thể yên tâm với chính sách này. Đồng thời theo tôi, các cơ quan có thẩm quyền cần lắng nghe ý kiến các chuyên gia các nhà khoa học về việc đốn hạ số lượng lớn cây xanh như trên. Kể cả việc đốn hạ được trồng mới (thay thế) cũng phải có cơ sở khoa học, hợp lý chứ không phải thực hiện ồ ạt theo kiểu đến một tuyến phố và đốn hạ toàn bộ cây xanh. Theo tôi nếu lý do hợp lý, chính đáng và dựa trên cơ sở khoa học thì người dân cũng cảm thấy yên tâm và ủng hộ.
 

GS Nguyễn Lân Dũng: Sai lầm khi chọn cây gỗ Vàng Tâm thay thế 6.700 cây xanh bị đốn hạ

 
Lan Chinh 
 

Để đưa ra những ý kiến đa chiều xung quanh việc đốn hạ 6.700 cây xanh trên 190 tuyến phố nội thành Hà Nội, phóng viên báo điện tử Ngày Nay Online đã có cuộc trao đổi với Chủ tịch Hội các ngành Sinh học Việt Nam, Nhà giáo nhân dân, GS Nguyễn Lân Dũng. Ông cho biết, theo ông việc đốn hạ số lượng rất lớn các cây xanh cần có sự lắng nghe ý kiến của các chuyên gia và sự thông qua của Quốc hội.

   

Thông tin 6.700 cây xanh bị đốn hạ trên 190 tuyến phố nội thành Hà Nội đang khiến cho dư luận hết sức quan tâm, với tư cách Chủ tịch Hội các ngành Sinh vật học Việt Nam, ý kiến của ông như thế nào?
Ngay sau khi thông tin UBND TP Hà Nội thông qua việc đốn hạ 6.700 cây xanh trên 190 tuyến phố nội thành Hà Nội, tôi cảm thấy rất lo lắng bởi trong đó có những hàng cây đã hàng trăm năm tuổi. Bởi theo tôi vẻ đẹp tiềm ẩn của thủ đô Hà Nội không nằm ở những nhà cao tầng, những công trình đồ sộ mà chính ở những hàng cây cổ thụ rợp bóng những cung đường. Đã đi qua rất nhiều nước trên thế giới từ Pháp, Thái Lan, Nhật Bản… tôi nhận thấy không có thành phố nào sở hữu những hàng cây xanh cổ thụ lớn và đẹp như ở Thủ đô Hà Nội. Có thể nói niềm tự hào lớn nhất của Thủ đô Hà Nội chính là cây xanh. Hà Nội là Thủ đô, là di sản vô giá của đất nước, thì những hàng cây xanh cũng là tài sản quốc gia không thể nào tuỳ tiện đưa ra những phương án đốn hạ một số lượng lớn và trên diện rộng như vậy. Với những lý do như ảnh hưởng đến quá trình thi công các công trình giao thông, tránh gãy đổ trong dịp mưa bão… tôi thấy khá vô lý. Chúng ta có rất nhiều các chuyên gia và nhiều phương án để tránh việc phải đốn hạ lượng lớn cây cổ thụ như vậy. Và nếu có phương án như thế thì chúng ta phải cố gắng hết sức để tuân thủ những phương án tránh ảnh hưởng đến cảnh quan của Thủ đô Hà Nội. Nếu có cây bị gãy đổ vì bão thì ta chỉ nên trồng thay thế cây đó chứ không phải là triệt hạ hàng loạt cây các tuyến đường nội thành. Nhiều ý kiến cho rằng việc đốn hạ hàng loạt các cây sẽ phá vỡ rất nhiều cảnh quan của Thủ đô Hà Nội, ông nghĩ sao về điều này?
Hơn thế nữa, theo tôi, việc đốn hạ này phá vỡ phần lớn cảnh quan của Thủ đô, làm thay đổi diện mạo của Hà Nội trong nhiều thập kỷ nên có ý nghĩa rất quan trọng. Điều này cần có ý kiến của các cơ quan cấp cao, thậm chí là Quốc hội, kế hoạch đốn hạ này diễn ra tại Hà Nội – Thủ đô của quốc gia, chứ không phải một thành phố nào khác. Việc này cần thêm các Bộ, Ban, ngành đưa ra ý kiến để tìm phương án tối ưu”. 

 

Lựa chọn cây gỗ Vàng tâm, một loại gỗ rất quý để thay thế các cây cổ thụ, theo ông đã hợp lý chưa?

Đồng thời trong kế hoạch này có một điểm tôi thấy khá vô lý là việc lựa chọn cây gỗ Vàng Tâm để thay là hoàn toàn không hợp lý. Bởi cây gỗ Vàng Tâm là cây gỗ rất quý có giá trị tương đương với cây sưa, giá trị cao thường mọc ở rừng sâu trong độ cao khoảng 100 – 700m. Cây gỗ nói trên ưa đất chua và lớn rất chậm đòi hỏi độ cao và không khí lạnh mới có thể phát triển. Hơn thế nữa, với loại cây gỗ quý này, chúng ta sẽ mất thêm rất nhiều công sức để bảo vệ khi cây đã trưởng thành tránh trường hợp bị “đốn trộm”. Với tất cả những lý do như vậy việc lựa chọn cây gỗ Vàng Tâm để trồng làm cây xanh lấy bóng mát là lựa chọn không hề hợp lý mà theo tôi lựa chọn này chưa được thông qua ý kiến của các chuyên gia

(Nguồn: VANDAN NNB)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.03.2015

THƠ MÙI BÙN ĐẤT

Nhà thơ Huỳnh Thúy Kiều

THƠ MÙI BÙN ĐẤT

( Đọc tập thơ KIỀU MÂY của Huỳnh Thúy Kiều, NXB Văn học, 2008 )

           Ngô Minh

         

 Ngắm tập thơ Kiều Mây của Huỳnh Thúy Kiều từ miền châu thổ Cà Mau gửi tặng, tôi cứ thẫn thờ. Sao lại Kiều Mây ? Cái tựa sách nghe nó như tên một vở cải lương! Nhưng khi đọc đi đọc lại 36 bài thơ , tôi mới nhận ra cái tên sách ấy có lý. Kiều Mây là sự bay bổng, là cõi tâm linh của Huỳnh Thúy Kiều. “ Nghiêng vạt gió hứng ánh trăng từ đỉnh trời rơi xuống… Thu vào mây bóng kinh thành buốt nụ sao hoa…”; “ Nước mắt sững sờ rơi choáng váng bờ hoang tưởng…”; “ Trăng ngoái đầu say tấm chăn mây”; “ Lẻ bạn tình nước mắt chảy trăng non” … Những câu thơ tôi nhặt  ngẫu hứng ở các bài trong tập thơ  nói lên cái chất Kiều Mây la đà ấy… (Đọc tiếp…)

Biểu đồ 1Biểu đồ 2 phân tích chi tiết chi tiêu của VP đảng CSVN.

Đọc dự toán ngân sách 2014: Chi phí cho đảng cao hơn cho 2 đại học quốc gia!

  Nguyễn Văn Tuấn

 

Ở VN người đóng thuế (kể cả tôi) phải “cõng” đến 3 hệ thống quan quyền: Nhà nước, Quốc hội, và đảng. Câu hỏi đặt ra là tình hình ngân sách dành cho 3 bộ máy này ra sao. Trên trang nhà của Bộ Tài chính có công bố “Dự toán chi ngân sách trung ương của từng bộ, cơ quan trung ương” cho năm 2014 (1,2). Báo cáo này có khá nhiều số liệu rất thú vị và có thể trả lời một phần cho câu hỏi trên. Ở đây, tôi chỉ đọc vài số liệu quan trọng để trước là làm tư liệu, sau là chia sẻ thông tin. (Có vài thông tin vì cách dùng chữ mù mờ, nên tôi để dấu hỏi).

Điều ngạc nhiên chi tiêu cho văn phòng trung ương đảng là cao nhất trong 4 văn phòng (Chính phủ, Chủ tịch Nước, Quốc hội, đảng). Số liệu năm 2014 cho thấy văn phòng (VP) trung ương đảng CSVN có dự toán (?) là 1973 tỉ đồng (tương đương 98.6 triệu USD). Con số này cao gấp 10 lần dự toán cho VP Chủ tịch Nước (chỉ 195.9 tỉ đồng). Sau VP đảng, hai cơ quan cũng “ngốn” khá nhiều tiền là VP Chính phủ (1290 tỉ đồng) và VP Quốc hội. Có thể xem Biểu đồ 1 để thấy sự khác biệt giữa các văn phòng.

Một số bộ / ngành cũng ngốn khá nhiều tiền là:

Viện kiểm sát: 3004 tỉ đồng

Toà án tối cao: 2850.3 tỉ

Bộ Ngoại giao: 2459.4 tỉ

Bộ Giao thông vận tải: 11912.1 tỉ

Bộ Y tế: 7682.6 tỉ

Bộ Giáo dục & đào tạo: 5905 tỉ

Bộ Thương binh xã hội: 34174.3 tỉ.

Có một số ban tôi không rõ là gì nên viết y như báo cáo. Trong các ban trực thuộc trung ương đảng, có 3 ban ngốn nhiều tiền nhất: Cục quản trị A (186.9 tỉ đồng), Cục QTTV (~112 tỉ đồng), và Ban Tuyên giáo (109.4 tỉ đồng). Ngạc nhiên là nhật báo Nhân Dân thậm chí có ngân sách còn cao hơn cả Ban Nội chính! Hội đồng lí luận (?) cũng ngốn tiền ngân sách gần 31 tỉ đồng năm 2014!

Hai đại học quốc gia HCM và HN cũng có ngân sách từ Chính phủ. Theo báo cáo 2014, ĐHQGHCM có dự toán là 833 tỉ đồng, cao hơn chút so với ĐHQGHN (709 tỉ đồng). Nhưng đó là tổng chi, trong đó chi thường xuyên thì ĐHQGHN (548 tỉ đồng) cao hơn ĐHQGHCM (400 tỉ đồng). Trong khi đó chỉ riêng Viện KHCN mà ngốn 877 tỉ đồng, cao hơn Viện KHXH (397.6 tỉ đồng).

Như vậy, dự toán cho VP trung ương đảng cao hơn cả 2 đại học quốc gia cộng lại!

( Nguồn: Blog nguyễn văn Tuấn)

Nhà văn Nguyễn Khắc Phê xuống đường phản đối TQ năm 2014 ở Huế

Từ “Gạc-ma 14/4/1988” đến những “Đảo bành trướng” ở Trường Sa 2015

Nguyễn Khắc Phê

Chúng ta vừa có những động thái tích cực tưởng niệm 64 chiến sĩ hải quân đã hy sinh ở Gạc-ma 27 năm trước; điều đó thật cần thiết nhất là lúc Trung Quốc vẫn ngang nhiên xây đắp những “Đảo bành trướng” ở Trường Sa. Về hành động phi pháp này, trước hết, xin nhắc, sau khi đọc bài báo đăng ngày 9/6/2014 của của một vị quan chức cấp cao, có câu: “Rút giàn khoan. Đó là đại hồng phúc của hai dân tộc…”, tôi đã gửi thư cho Tổng biên tập một tờ báo lớn, đề nghị dư luận cần tỉnh táo với “tư duy” nói trên, kẻo rồi khi Trung Quốc rút giàn khoan, chúng ta sẽ vỗ tay hoan hô “đại hồng phúc” mà thực chất là chào mừng Trung Quốc đã hoàn thành một bước đi ngoạn mục trong việc làm chủ Biển Đông, trong khi họ có thể đã xây xong sân bay và bến cảng ở Gạc Ma, một bước đi nguy hiểm hơn nhiều so với vụ HD981…

Một lão già ở tỉnh lẻ, gần như “ếch ngồi đáy giếng”, từ gần 1 năm trước đã nhận ra điều đó thì hẳn là những vị có trách nhiệm lớn với sự an nguy của Tổ Quốc càng hiểu rõ ý đồ thâm hiểm của lũ bành trướng trong việc mở rộng và kiên cố hóa các vùng đảo ở Trường Sa mà họ xâm chiếm của Việt Nam, cũng như mối đe dọa vô cùng to lớn đối với mọi hoạt động trên vùng biển vả trên cả đất liền của chúng ta; đó là chưa  nói đến hành động của họ thực chất là sự xâm lược, vì Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định “Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam”. (Đọc tiếp…)

Ông Nguyễn Bá Thanh

QTXM: Về cái chết của ông Nguyễn Bá Thanh trong dư luận xã hội có nhiều ý kiến khác nhau, những ý kiến cực đoan tạo nên những nghi vấn  vô lý. Thấy bài viết sau đây của TK Trần lập luận có lý,có tình, chúng tôi xin tải về đây để bạn đọc cùng chia sẻ.

ĐỂ CHẤM DỨT MỘT NGHI VẤN VỀ NGUYỄN BÁ THANH

TK Tran

 

Ông Nguyễn Bá Thanh đã mất hơn một tháng nay. Đối với người bình thường thì chết là hết. Hãy để người mất yên giấc ngàn thu. Hãy để gia đình họ nguôi ngoai nỗi nhớ niềm đau.

Nhưng ông Bá Thanh không phải là thường dân. Ông là người của xã hội, của công chúng. Ông đã là một cán bộ lãnh đạo hạng cao nhất nước thì cái chết của ông không thể bị dễ dàng quên đi, nhất là khi vẫn còn nghi vấn về sự mờ ám trong nguyên nhân gây ra cái chết của ông.

Chết bởi phóng xạ hay không? Có một vụ đầu độc bằng phóng xạ hay không?

Trước khi ông chết, thì câu hỏi này còn bỏ ngỏ như một bài toán chưa có đáp số (1) Song sau khi ông chết thì lại có một số hình ảnh chụp đám tang, có một số thông tin chung quanh đám tang đã hé lộ một số dữ kiện để thẩm đinh là có hay không có một vụ nhiễm độc phóng xạ?

Vì sao trong đám tang của ông tất cả mọi người, kể cả gia quyến và những cán bộ lãnh đạo cao nhất nước, không một ai dùng bất cứ một trang phục hay phương tiện bảo hộ chống phóng xạ nào?

Khi bài viết “Vấn đề đầu độc bằng phóng xạ và cái chết của ông Nguyễn Bá Thanh” (1) được phổ biến trên mạng, thì có ý kiến phản biện rằng, không nhất thiết là phải có yếu tố Trung Quốc, không nhất thiết là phải dùng Polonium để đầu độc, mà việc đầu độc có thể xẩy ra ở Việt Nam bằng những thanh Uranium có thể tìm mua được.

Quả là như vậy. Đã có lúc ở Việt Nam rộ lên những vụ buôn lậu Uranium có nguồn từ miền Nam. Năm 1975 người Mỹ đã đem theo Uranium khi họ rút khỏi Việt Nam, nhưng tới năm 1983 người Nga lại đem tới Việt Nam phóng xạ Uranium235 để khởi động lại lò nguyên tử Đà Lạt (2). Sau đó, quãng 1986 trở đi, đã xẩy ra những vụ buôn lậu phóng xạ, mà kẻ mua là những “người lạ” trả giá cao ngất ngưởng cho những thanh Uranium này, mà người bán tưởng chỉ là một kim loại đặc biệt gọi là những thanh “đồng lửa”. Đáng nói là từ kẻ buôn lậu cho tới Công An truy bắt buôn lậu đều phần lớn không biết “đồng lửa” chính là Uranium phóng xạ nguy hiểm. Năm 2013 Việt Nam chuyển giao lại Nga 16 kg “Uranium giầu” cuối cùng (2), có thể dùng làm bom nguyên tử, theo thỏa thuận với tổ chức nguyên tử quốc tế (IAEA). Song cũng không thể loại trừ khả năng là ở đâu đó còn chôn dấu vài thanh “đồng lửa” này.

Dùng Uranium để đầu độc thì có 2 phương cách: hoặc để một số lượng lớn Uranium gần nạn nhân, ví dụ ở phòng ngủ, trong một thời gian dài, hoặc là lừa nạn nhân, cho một lượng rất nhỏ vào thức ăn thức uống để đưa trực tiếp phóng xạ vào cơ thể nạn nhân.

Nếu dùng phương án thứ nhất, thì đây là một vụ đầu độc tập thể bởi vì phóng xạ Uranium235 phát ra tia xạ gamma có hiệu năng dữ dội, đi rất xa, hàng cây số, xuyên qua cơ thể, nhà cửa bình thường sẽ làm những người chung quanh nạn nhân cũng bị nhiễm xạ theo. Ở trường hợp ông Bá Thanh, thì chỉ có ông bị bệnh mà thôi. Không hề nghe nói tới hàng chục hàng trăm người quanh ông cũng bị „rối loạn tủy xương“. Nghĩa là đầu độc kiểu này khó lòng đã xẩy ra.

Nếu ông Thanh đã ăn uống phải phóng xạ Uranium thì cả thân thể ông đã trở thành nguồn phóng xạ, phát tán tia gamma ra chung quanh, ngay cả sau khi ông đã chết. Thế nhưng quan sát các hình ảnh chụp đám tang ông, chỉ thấy quan tài của ông là bằng gỗ bình thường,mặc dù chạm trổ cầu kỳ đắt tiền. Không có bề dầy hàng chuc cm của quan tài bằng chì, cần thiết phải có để ngăn tia phóng xạ gamma của Uranium (quan tài kẽm không ngăn được hiệu quả tia phóng xạ này). Đã vậy, quan tài còn được để ngỏ, không được đóng nắp lại, lúc quàn ở nhà riêng (3). Không thấy ai đứng chung quanh mặc trang phục gì đặc biệt ngăn chống phóng xạ.

Giả thuyết đầu độc bằng Uranium có thể được xem là không có cơ sở.

Nếu ông bị nhiễm độc Polonium 210: Bác sĩ nào cho phép ông Nguyễn Bá Cảnh, con trai ông, được ngồi lâu cạnh ông và thoa bóp chân ông, trong thời gian ông trị bệnh ở Mỹ? Cơ quan y tế nào cho phép cô Hoài An, con gái ông được ngồi ôm đầu ông, hôn ông ở nhà riêng khi ông mới mất?

Phóng xạ Polonium210 phát ra tia alpha. Khác với tia gamma của Uranium, tia alpha chỉ có hiệu năng trong vòng vài cm ở ngoài không khí. Tia alpha chỉ phát huy sự độc hại khi nó vào bên trong cơ thể. Một phần Polonium210 sẽ theo đường bài tiết: phân, nước tiểu, mồ hôi, nước mắt, nước mũi ra ngoài cơ thể , từ đó có thể gây nhiễm xạ cho người chung quanh. Việc va chạm trực tiếp vào bệnh nhân sẽ có nguy cơ bị lây nhiễm xạ, cần phải tránh. Nhất là đối với những người không trực tiếp chạy chữa, săn sóc bệnh nhân.

Trong vụ đầu độc bằng Polonium210 năm 2006 làm chết điệp viên Litwinenko, bà bác sĩ Nathaniel Cary phụ trách mổ xác điệp viên này đã nói tới vụ khám nghiệm một tử thi nguy hiểm nhất thế giới (the most dangerous post mortem in the world) mà bà phải phụ trách. Bà đã phải mặc 2 lớp áo choàng và dùng những găng tay bảo hộ khi tiếp cận với xác Litwinenko… (theo TheTimes London 28.01.2015)(4)

Không thể coi thường sự độc hại của phóng xạ Polonium 210. Thế nhưng gia đình ông Bá Thanh đã quan tâm hay không quan tâm tới vấn đề phóng xạ như thế nào?

Khi ông Thanh chết, con trai Nguyễn Bá Cảnh viết điếu văn khóc cha, đăng trên trang mạng DanangPlus Net. Ngoài những lời bày tỏ sư đau đớn của một người con mất cha, ông Cảnh nhắc tới những kỷ niệm của ông với ông Bá Thanh, trong đó đáng chú ý là chi tiết:

“con nhớ mấy tháng trước, khi ba đang điều trị ở nước ngoài…. Con ngồi rất gần xoa chân cho ba, mắt rưng rưng….” (5)

Ông Cảnh đã được ngồi cạnh cha, trực tiếp tiếp xúc với da thịt và xoa bóp chân của cha ông. Câu hỏi đặt ra ở đây là: nếu ông Thanh đã bị nhiễm xạ Polonium210 thì bác sĩ nào cho phép ông Cảnh làm như vậy?

Lại nữa. Ngày 13 tháng 2 ông Thanh được xe cứu thương đưa từ bệnh viện về nhà riêng. Khoảng 13 giờ, gia đình ông rút ống thở máy ra khỏi cơ thể ông. Và sau đó ông mất.

Trong trường hợp có nhiễm xạ Polonium210 thì tất cả các chất dịch trong cơ thể, bao gồm cả đờm, nước trong phổi đều chứa phóng xạ. Việc rút ống thở như vậy, đặc biệt là do người không chuyên môn y tế, có thể làm tung tóe chất phóng xạ ra ngoài, ảnh hưởng tới người chung quanh. Bác sĩ nào đã cho phép gia đình làm như vậy, nếu ông Thanh đã bị nhiễm phóng xạ Polonium?

Báo Thanh niên (6) thuật lại giây phút cuối cùng của ông Thanh:

“Lúc ông Thanh được đưa về nhà, thấy ông nằm thở rất khó khăn. Con cái ông Thanh ở xung quanh ông từng giờ, từng phút. Con gái ông Thanh khóc nhiều, liên tục ôm mặt cha hôn ông và gọi cha làm ai cũng ứa nước mắt….“

Tình cảm của người con đối với người cha như vậy là chân thành, rất đáng quí trọng. Song cô Hoài An có nghĩ tới việc cô có thể bị nhiễm xạ lây khi cô ôm mặt cha và hôn ông?

Hoặc là cô Hoài An , ông Cảnh và cả gia đình biết rõ là ông Bá Thanh không bị nhiễm xạ?

oOo

Việc cố gắng phân tích, lý giải những yếu tố khách quan nhằm góp phần tìm hiểu nguyên nhân căn bệnh của ông Bá Thanh không phải là vì những quan tâm riêng đối với cá nhân ông Thanh hay với gia đình của ông. Cố gắng này nhằm đáp ứng phần nào nhu cầu chính đáng của công luận, của người dân, là muốn được tiếp cận sự thật về mọi vấn đề đất nước, khi mà sự thật, trong thể chế hiện hành, đã trở thành một điều quý hiếm, khi mà mọi thông tin quan trọng đều bị bưng bít triệt để.

Việc tìm hiểu cặn kẽ nguyên nhân bệnh của ông Thanh cũng là vì mối quan tâm tới vấn đề lạm dụng phương tiện truyền thông, không phải nhằm mục đích thông tin khách quan, mà nhằm tung hỏa mù, sử dụng những chiêu thức hư hư thực thực, lẫn lộn sự thực và bịa đặt để cố ý lèo lái công luận đi theo hướng có chủ đích riêng. Cố gắng lý giải căn bệnh của ông cũng là để vạch ra những thủ đoạn gớm ghê của những phe phái tranh dành quyền lực, đấu đá lẫn nhau, mặc dù cùng hội cùng thuyền, cùng trong một đảng độc quyền chi phối đất nước.

Trong trường hơp Nguyễn Bá Thanh, khi những người thực sự quan tâm tới vận mệnh đất nước không để bị cảm tính lôi cuốn, bình tâm nhận định vấn đề thì sẽ không bị lợi dụng, không bị vô tình trở thành công cụ cho mưu tính của một nhóm lợi ích nào đó.

TKT

____

Tài liệu tham khảo:
(1) https://anhbasam.wordpress.com/2015/02/14/3394-van-de-dau-doc-bang-phong-xa-va-cai-chet-cua-ong-nguyen-ba-thanh-1953-2015/
(2) http://www.rfa.org/vietnamese/vietnamnews/vn-sen-uranu-t-russia-070320130
(3) http://soha.vn/xa-hoi/hang-van-nguoi-tien-ong-nguyen-ba-thanh-ve-noi-an-nghi-cuoi-cung-20150218084355123.htm
(4) http://www.thetimes.co.uk/tto/news/uk/crime/article4337219.ece
(5) http://danangplus.net/2015/02/buot-long-voi-loi-khoc-cha-cua-con-trai-ong-nguyen-ba-thanh.html

(6) http://thanhnien.com.vn/chinh-tri-xa-hoi/ong-thanh-ra-di-giua-nguoi-than-va-ba-con-chom-xom-533944.html

( Nguồn: Internet)

 

Các nhà văn Việt Nam, Mỹ, Cu Ba…viết thư gửi Tổng thống Mỹ và Chủ tịch Cuba: Im lặng lúc này là tội lỗi

 
(Thethaovanhoa.vn) – “Chúng tôi, tán thành và khuyến khích phá bỏ các rào cản, cùng việc mở cửa hướng tới sự hợp tác và trao đổi văn hóa giữa mọi dân tộc” là một câu trong bức thư đứng tên các tác giả như Nguyễn Quang Thiều, Lương Tử Đức, Nguyễn Bá Chung.

Thư đề ngày 7/3 năm nay, người nhận là Tổng thống Mỹ Barack Obama và Chủ tịch Cuba Raúl Castro. Ý tưởng viết thư là của một nhóm nhà thơ, nhà văn Việt Nam, Cuba, Mỹ và Colombia tham dự Liên hoan thơ Châu Á – Thái Bình Dương và Hội nghị quảng bá văn học Việt Nam vừa qua.
Họ viết thư bằng 3 thứ tiếng Việt, Anh và Tây Ban Nha để gửi lên 2 vị nguyên thủ của 2 quốc gia nhằm kêu gọi Chính quyền Mỹ nhanh chóng bình thường hóa quan hệ với Cuba. Khi hoàn thành, họ kêu gọi các nhà thơ, nhà văn khác ký ủng hộ bức thư bằng cách trả lời qua thư điện tử. Theo nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, sau một ngày gửi thư đi, đã có gần 100 nhà thơ Việt Nam và thế giới ký ủng hộ.
Thethaovanhoa.vn trao đổi với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều về bức thư này.

* Ý tưởng về bức thư có từ đâu, thưa ông?
- Tôi có những người bạn lâu năm là các nhà thơ Cuba, Mỹ và Colombia. Sau các sự kiện văn học ở Việt Nam vừa qua, tôi đã kết nối họ lại với nhau bởi một lý do rất đặc biệt: họ đang là công dân của những nước có quan hệ băng giá trong nhiều năm nay như Mỹ và Cuba.


Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, một trong những người khởi xướng và đứng ra kêu gọi ký tên cho bức thư
 

(Đọc tiếp…)

Tác phẩm Gôm 9 của Lê Bá Đảng

Đã tìm được đối tượng ăn cắp tác phẩm của họa sĩ Lê Bá Đảng

Ngày 17/3, tin từ Công an TP Huế cho biết đã tìm được đối tượng ăn cắp tác phẩm nghệ thuật của cố họa sĩ Lê Bá Đảng. Mục đích của người này lấy tác phẩm là do quá… yêu thích cố họa sĩ Lê Bá Đảng.

Đại Dương

Theo đó, người lấy tác phẩm là ông T.N.T (54 tuổi, trú đường Bùi Thị Xuân, TP Huế). Theo nhà văn Tô Nhuận Vỹ thì người này còn có bút danh Pan Xi Păng, một nhà báo tự do. Do camera tại trung tâm nghệ thuật Lê Bá Đảng đã ghi lại toàn bộ quá trình lấy cắp của ông T., dựa vào một số người quen thân với ông T. (do ông T. cũng quen biết trong giới văn nghệ sĩ) nhận diện, nên công an đã tìm ra nhanh chóng, mời ông T. lên làm việc.

  Nhờ vào camera ghi lại, thời điểm ông T. lấy cắp tác phẩm nghệ thuật là vào hơn 9h ngày 14/3

    Tại cơ quan công an, ông T. đã thừa nhận hành vi của mình là sai, nhưng vì quá yêu thích, đam mê các tác phẩm của cố họa sĩ Lê Bá Đảng nên đã tới trung tâm vào sáng 14/3, thừa lúc ít người rồi lấy tác phẩm Gốm 9. Trao đổi qua điện thoại với PV, ông T. cũng thừa nhận điều trên và mong mọi người bỏ qua cho ông vì hành động nông nổi nói trên.

  Hiện tác phẩm trên đã được công an thu hồi, chuẩn bị đưa về lại cho bảo tàng. Gốm 9 (làm bằng gốm nung làng cổ Phước Tích – Huế, cao 28cm, rộng 19cm, xuất xứ từ Pháp) là 1 trong 9 tác phẩm thuộc chùm tác phẩm gốm do họa sĩ Lê Bá Đảng làm ra đang có tại trung tâm nghệ thuật Lê Bá Đảng cùng với gần 400 tác phẩm tranh, sắp đặt, gỗ… khác. 

    Trước đó, vào ngày 14/3, khi nhiều cán bộ, nhân viên của trung tâm nghệ thuật Lê Bá Đảng đi dâng hương tưởng niệm ở lễ truy điệu họa sĩ Lê Bá Đảng do dòng họ Lê Bá tại làng Bích La Đông (xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong, Quảng Trị) tổ chức, do vắng người nên trung tâm đã bị mất cắp tác phẩm nghệ thuật Gốm 9.

  Tác phẩm nghệ thuật Gốm 9 đã được thu hồi

 ( Nguồn: Dân trí)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.03.2015

BẠN ĐỌC ƠI, TÔI YÊU BẠN, VÀ TÔI SỢ BẠN

BẠN ĐỌC ƠI, TÔI YÊU BẠN, VÀ TÔI SỢ BẠN

Nhà thơ NGUYỄN TRỌNG TẠO

NGUYỄN TRỌNG TẠO

(Tham luận đọc tại Liên hoan văn học ASEAN lần thứ 2 – Indonesia: Chủ nghĩa tiêu dùng với tác phẩm văn học)

“Không có sách thì không có tri thức”, “Nhà văn là giáo sư của tâm hồn”. Những câu nói ấy luôn luôn là chân lý.

Chúng ta là những nhà văn, học giả, nghệ sĩ, và cả những người thưởng thức văn học nghệ thuật đến với Liên hoan văn học ASEAN lần thứ 2 tại đất nước Indonesia giàu đẹp và có truyền thống văn hóa tỏa sáng lâu đời, tôi nghĩ rằng, chúng ta vô cùng biết ơn những sáng tạo tinh thần của nhau, và biết ơn những người thưởng thức nó, bởi người thưởng thức cũng chính là người sáng tạo thứ 2, sau những sáng tạo ban đầu của Nhà văn. 

Là một Nhà thơ từ Việt Nam đến đây, tôi muốn nói rằng, tôi vô cùng quan tâm đến độc giả văn học: tôi yêu độc giả của tôi, và tôi cũng rất sợ độc giả của tôi. Và đó cũng là điều tôi muốn nói trong cuộc thảo luận về “Chủ nghĩa tiêu dùng với tác phẩm văn học” này.

  1. Nỗi sợ đóng đinh vào “chủ nghĩa tiêu dùng”.

Có thể các bạn đã biết, Việt Nam chúng tôi có 64 nhà xuất bản sách, mỗi năm xuất bản gần 20.000 đầu sách với hàng trăm triệu bản sách. Nhưng sách văn học chỉ chiếm 10%, trong đó sách dịch của nước ngoài chiếm quá nửa. Và phần lớn độc giả bị rơi vào cái bẫy của chủ nghĩa tiêu dùng, mà chúng tôi gọi là “văn học thị trường” hay “văn học giải trí”, loại sách này ở Trung Quốc còn gọi mỉa mai là “văn học giấy vệ sinh”. Tôi không nghĩ đó là câu chuyện riêng của nước tôi, mà đó cũng là câu chuyện của những quốc gia khác. Đó là một vấn nạn trong văn hóa đọc, làm đau đầu các nhà văn luôn coi “Văn chương là ngôi đền thiêng”.

Tôi sợ những độc giả theo chủ nghĩa tiêu dùng khi họ tạo ra một làn sóng thị hiếu thấp, vì làn sóng ấy có thể đánh bại các nhà văn chân chính, đẩy các nhà văn chân chính vào chân tường trong cuộc chiến thị trường không cân sức.

Tuy nhiên, nhìn một phía nào đó cũng thấy “văn học thị trường” hay “văn học giải trí” cũng có phần tốt, nó làm cho văn học trở nên đa dạng và phong phú, nó đáp ứng nhu cầu giải trí của tầng lớp độc giả số đông là bình dân. Nhưng nó chỉ tạo ra diện rộng của văn học chứ không thể làm đỉnh của văn học.

Nhìn từ một phía khác, “văn học thị trường” hay “văn học giải trí” cũng tạo ra áp lực lớn cho nhà văn, anh phải chạy theo nó, hay anh phải thoát khỏi nó để sáng tạo ra những giá trị văn học thực sự mang tư tưởng thời đại và có sức sống lâu dài. Thực tế ở Việt Nam cũng đã có một số nhà xuất bản và nhà văn chạy theo thị hiếu tiêu dùng để kiếm tiền, một số đông tác giả khác không thành danh thì tự bỏ tiền ra in tác phẩm để kiếm tìm cảm giác “tự sướng”, và họ cũng ném vào thị trường văn học khá nhiều rác, khiến độc giả càng trở nên loạn chuẩn.

Nhà văn chân chính, phải hóa giải những nỗi sợ đó để tự vượt lên chính mình trong sáng tạo, nghĩa là nhà văn phải trung thành với tư tưởng nghệ thuật của mình, và văn chương của anh ngày càng phải hấp dẫn hơn, với hy vọng cải tạo, và giải thoát thị hiếu của tầng lớp độc giả đang đóng đinh vào “chủ nghĩa tiêu dùng”.

Biết vậy, nhưng các bạn biết không, tôi vẫn rất sợ những độc giả như thế.

  1. Tôi yêu độc giả – người sáng tạo thứ 2

Sợ, nhưng tôi luôn yêu độc giả của tôi. Dù họ chưa gặp tôi bao giờ, nhưng họ đã đọc tôi. Dù họ thích một câu thơ của tôi, một bài thơ của tôi, thậm chí họ không thích thơ tôi… nhưng họ đã đọc tôi. Hạnh phúc của Nhà văn là tác phẩm của mình có người đọc. Và mỗi người đọc lại có những ứng xử rất riêng với tác phẩm và tác giả của nó. Người khen và người chê, và có người im lặng. Người gặp tác giả nhờ giải thích một câu chưa hiểu hết. Người giảng giải cho tác giả sự thích thú của họ khiến tác giả bất ngờ. Người lại viết cả bài viết dài phân tích nội dung, phong cách nghệ thuật của tác giả. Vân vân và vân vân… Những người đọc như thế làm cho tác giả biết mình đang tồn tại, đang sống, đang được chia sẻ với chung quanh.

Có người nói rằng, “thi sĩ là người phá vỡ các thói quen của chúng ta”. Và tôi muốn nói thêm, độc giả có thể làm thay đổi sức sáng tạo của nhà văn. Đó là những độc giả luôn chờ đợi những tác phẩm mới của anh. Sự chờ đợi của độc giả, đặc biệt là độc giả tâm đắc, nó kích thích sự sáng tạo của nhà văn, khiến nhà văn không hài long với những gì đã có. Sự khó tính của độc giả cũng khiến nhà văn phá vỡ tính bảo thủ để vươn tới sự mới mẻ phía trước. Nhà văn sẽ thấy rõ hơn bao giờ hết trách nhiệm, thiên chức của mình trước nghiệp văn, trước độc giả và thời đại.

Có một câu chuyện làm tôi cảm động và nhớ mãi, đó là lần tôi công bố trên internet về một tuyển tập “Thơ và Trường ca” vừa xuất bản, thì có một độc giả người Việt Nam ở Ba Lan gửi 500 USD để mua 1 cuốn mà giá bìa chỉ 5 USD. Tôi muốn tặng thêm mấy cuốn nữa cho anh, nhưng anh không đồng ý. Đó là cuốn sách cao giá nhất trong cuộc đời sáng tác của tôi. Tôi hiểu, người độc giả ấy muốn chia sẻ để tỏ lòng yêu quý văn chương.

Mỗi nhà văn đều có những kỷ niệm khó quên với độc giả của mình. Có vui và có buồn. Nhưng điều nhạt nhẽo nhất là không vui cũng không buồn. Đó là thái độ dửng dưng của người đọc trước những sáng tạo của nhà văn. Thi sĩ Heinrich Heine cảm nhận thật sâu sắc về điều đó khi ông viết bài thơ đại ý thế này:

Người làm cuộc đời tôi
Khổ đau hơn cái chết
Là người không yêu tôi,
Và cũng không hề ghét.

Người đọc bài thơ đó, mỗi người một tâm trạng, một hoàn cảnh khác nhau, họ sẽ hiểu bài thơ như Heine đã yêu đơn phương, và có khi họ còn hiểu xa hơn thế nữa, đó là sự cay đắng trong xã hội vô tình. Chính vì vậy mà họ – bạn đọc – là người sáng tạo thứ 2 của bài thơ.

Nhà văn luôn cám ơn độc giả, vì nhờ họ mà tác phẩm của mình không nằm nguyên trên trang giấy.

 3. Tin hay không tin?

Dù những con sóng của chủ nghĩa tiêu dùng đang ào ạt xô bờ văn học, nhưng rồi cũng đến ngày nó sẽ êm đềm hơn. Bạn có tin điều đó sẽ xảy ra không?

Theo tôi, vấn đề quan trọng là nhà văn có tin những điều mình viết ra là sự thật, là nhân văn, là hấp dẫn người đọc và dẫn dắt tâm hồn, tư tưởng của họ hay không. Đó là điều không dễ dàng.

Tôi cũng đã nhiều lần nghiền ngẫm về điều đó. Tin hay không tin? Và tôi đã viết nó thành bài thơ “Tin thì tin không tin thì thôi”. Tôi xin đọc bài thơ này thay cho lời kết thúc bài phát biểu của mình:

 

TIN THÌ TIN KHÔNG TIN THÌ THÔI

bốn lăm bậc thời gian dốc ngược
tôi đã vượt qua
em cách một sợi tơ
tôi đã không qua được

tin thì tin không tin thì thôi

tôi đã tới hang động yến sào tôi đã thèm ăn yến
vậy mà chưa được nếm bao giờ
hàng quốc cấm
nghe nói từ xưa làm vua sướng lắm
mà đôi khi tôi cũng sợ làm vua

tin thì tin không tin thì thôi

có anh hề đã nói với tôi
– đời thằng hề buồn lắm anh ơi
và tôi đã khóc

tin thì tin không tin thì thôi

nhưng tôi người cầm bút, than ôi
không thể không tin gì mà viết.

tin thì tin không tin thì thôi!

                                         1991

BELIEVE OR DON’T BELIEVE IT´S ALRIGHT

forty-five steps of time upside down
I have overcome
you are just a fine line of silk away
I have not overcome

believe or don’t believe its alright

I have come to the bird’s cave, I have longed to eat the bird’s nest
but I have not tasted
the national forbidden food
I have heard from old time it’s great to be king
but sometimes I am afraid to be king

believe or don’t believe its alright

there is a clown who told me
– a clown’s life is so sad, my brother
and I have cried

believe or don’t believe its alright

but me, a writer, oh dear
I can’t write without belief.

Believe or don’t believe its alright!

                                                 1991

 ( Nguồn: nhathonguyentrongtao…)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.03.2015

VĂN CAO VÀ CON ĐÒ HUẾ

VĂN CAO VÀ CON ĐÒ HUẾ

 Ngô Minh

  Huế là người đẹp muôn thuở của thi ca. Chỉ riêng hình ảnh cô ca sĩ  ca Huế trên sông Hương cũng đã có không biết bao nhiêu bài thơ hay. Tố Hữu có bài thơ “Tiếng hát sông Hương”, Xuân Diệu có “Nguyệt Cầm”, “ Lời kỹ nữ”, Thế Lữ có “ Nghe đàn nguyệt”,v.v.. Bài thơ “ Một đêm đàn lạnh trên sông Huế” của nhạc sĩ – nhà thơ – họa sĩ tài danh Văn Cao là một trong những bài thơ đặc sắc viết về Huế và ca Huế trên sông Hương.

   Bài thơ đưa ta lạc vào thế giới của vẻ đẹp thanh tao nơi bồng lai tiên cảnh.Trên con đò như tình yêu bồng bềnh trôi trên dòng sông thời gian vĩnh hằng, có đôi trai gái say sưa đàn hát bên nhau. Chàng trai dạo đàn cô gái hát , tiếng đàn hát như tiếng tơ đồng tri âm tri kỷ của Bá Nha Tử Kỳ. Nẩy nẩy tơ đồng nhịp nhịp đôi / Lòng nâng ngòn ngọt lại đầu môi / Này em hát khúc tương tư nhé / ngân khẽ em ơi nhẹ nhẹ lời . Đây là lúc cảm xúc đang ngập hồn chàng chàng nhạc sĩ. Anh nghe hồn mình cũng đang “nẩy nẩy .. nhịp đôi” . Một tình cảm mới đang nẩy chồi,bén lửa, đang âm ỉ : Này em hát khúc tương tư nhé!. Đề nghị hát nhưng lại sợ tiếng hát làm xao động, làm bay mất, tan biến mất cái cảm giác tình yêu ngọt ngào đang dâng lên ngòn ngọt đầu môi, nên chàng phải vội vàng đề nghị “ ngâm khẽ em ơi nhẹ nhẹ lời..”. Đoạn thơ đã nói rất tinh tế, rất hay tâm trạng của chàng nhạc sĩ si tình xứ Bắc trước người ca nữ xinh đẹp và phong cảnh nên thơ xứ Huế.

            Nhạc sỹ Văn Cao sinh năm 1923 ở Hải Phòng, mất ngày 10/7/1995 .Tuổi trẻ của ông theo học Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương, tự học âm nhạc, sáng tác nhạc và viết văn làm thơ từ rất sớm. Năm 1940, lúc chưa tới tuổi hai mươi ông  có chuyến đi vào Huế. Chuyến đi đã để lại dấu vết sâu đậm trong các sáng tác quan trọng của đời ông .Bài thơ “ Một đêm đàn lạnh trên sông Huế” ông sáng tác vào dịp này. Ngoài bài thơ ông viết bản nhạc “ Sông Hương”.Cả những bài hát nổi tiếng, đỉnh cao trong dòng nhạc lãng mạn Việt Nam như Thiên Thai Suối mơ, Trương Chi.. viết trong những năm từ 1941 đến 1943 của ông có nguồn gốc cảm hứng từ thành quách,sông nước con người Huế trong đợt đi quan trọng ấy.Sinh thời vào năm 1986, trong một lá thư gửi cho Tạp chí Sông Hương ở Huế ông tâm sự:” Huế là nguồn sáng tạo của tôi trong những năm 40. Thơ và nhạc là điều tôi tìm nguồn từ ấy. Có lẽ lịch sử và cảnh vật của Cố Đô có những điều gây cảm xúc cho sáng tạo. Đối với nơi đó người ta phải suy nghĩ nhiều không về lịch sử mà về một nền văn hóa. Những người Huế sống tự hào và đầy sáng tạo. Có lẽ sự sáng tạo của người dân Huế đã giúp tôi làm được âm nhạc và thơ”. Mùa xuân1987, Huế lại được đón Văn Cao. Ông được các nhà thơ Huế mời xuống đò nghe lại “ Một đêm đàn lạnh trên sông Huế”, xuống làng Chuồn uống rượu đêm trên thuyền đánh cá với ngư dân Phá Tam Giang . Và ông đã có thơ, vẫn một thứ thi pháp Văn Cao ám ảnh, diệu nghệ :

                                      Tôi níu lấy mảnh lưới

                                       Lưới là cái cuối cùng

                                       Đang hắt tôi xuống biển

          Thơ Văn Cao xuất hiện sau nhạc, nhưng thơ cũng mang lại cho ông những thành công không kém nhạc và họa. Thơ Văn Cao, cũng như lời ca trong các bản nhạc của ông thường rất lạ về chữ, về tứ. Cảm về Quy Nhơn, ông viết :” Trời xanh rơi vài giọt Tháp Chàm”! Viết về cái còn lại của Thời gian, ông kết rất ấn tượng bằng chất liệu của hội họa :” Riêng những câu thơ / còn xanh / Riêng những bài hát / còn xanh / Và đôi mắt em / như hai giếng nước.”. Trong bài thơ “Một đêm đàn lạnh trên sông Huế ”, ngay cả cách chọn vị trí chủ thể thẩm mỹ trong bài thơ của ông cũng khác các nhà thơ  đương thời. Tất cả các bài thơ viết con đò trên sông Hương về ca Huế, đàn Huế, tác giả đều ở vị trí người quan sát, nhìn và cảm về Huế như Người kỹ nữ, Nguyệt cầm của Xuân Diệu, Tiếng hát Sông Hương của Tố Hữu.v.v… Với Đêm đàn lạnh trên sông Huế , vị trí chủ thể thẩm mỹ là nhà thơ chính là người trong cuộc, người tham gia làm nên tiếng đàn Huế, cái đẹp Huế: Như Tử Kỳ nghe nhạc Bá Nha / Em nghe anh dạo khúc thu xa .. cùng với Giọng hát sầu chi phấn nữ ơi / Từng canh trời điểm một sao rơi / Trăng tà trăng lặn hiu hiu gió / Ánh lửa chài xa thấp thoáng trôi..  Cuộc đàn hát quên thời gian cho đến lúc Tay nhấn tơ chùng đã ngấm sương.. Dòng Tiêu Kim thủy gà xao xác..(Tiêu Kim thủy là một tên gọi khác của Sông Hương ).Tức là đàn hát cho đến khi trời sắp sáng, cho đến lúc Em cạn lời thôi anh dứt nhạc . Là người trong cuộc mới thốt lên một nhịp thơ lạ với câu thơ gợi hỏi hai lần : Sao đàn u hoài gì mùa thu? Sao đàn u hoài gì mùa thu. Ở đây chính tác giả đã nhận ra tiếng đàn của mình đã khác đi, mềm đi nhưng không lý giải được điều sâu kín gì đã biến tiếng đàn thành nỗi u hoài mùa thu day dứt!

            Khi lòng đã mềm đi, tiếng đàn đã mềm đi, khi hai tâm hồn đã tri âm ,đồng vọng thì đêm vàng cũng trở nên lạc lõng. Để đến lúc chia tay, mới biết đau nhói nỗi biệt ly: Em cạn lời thôi anh dứt nhạc / Biệt ly đôi phách ngó đàn tranh / Một đêm đàn lạnh trên sông Huế / Ôi nhớ nhung hoài vạt áo xanh. Đây là cao trào của bài thơ. Thì ra bài thơ không chủ ý tả tiếng đàn, đêm đàn mà sâu xa hơn nói về một tình yêu ngấm sương với đủ các cung bậc của nó, mà cuối cùng là nỗi nhớ mang theo suốt đời: Ôi nhớ nhung hoài vạt áo xanh

            Tại sao lại là “một đêm đàn lạnh” mà không phải là” một đêm đàn “trên sông Huế? Chữ “ lạnh” nói lên điều gì ? Chữ lạnh là tâm trạng của nhà thơ sau đêm đàn. Một đêm đàn đầy xúc động và giao cảm, đầy tri âm và đồng vọng. Đêm đàn đã thấm vào nhau. Nhưng rồi phải chia ly, mỗi người đều mang lạnh trong lòng.” Lạnh” đây là sự trống trải của nhớ nhung cao độ , là cái lạnh của tình yêu nồng cháy. Đó cũng chính là cái tứ mạnh và bền vững của bài thơ. Văn Cao là người Hải Phòng mới vào Huế lần đầu, nhưng thơ ông đã nồng nàn từ ngữ, âm điệu Huế, hồn Huế  !

            Đã gần 60 năm kể từ khi ra được viết ra, bài thơ “Một đêm đàn lạnh trên sông Huế” vẫn mang hơi ấm của cuộc sống hôm nay. Bài thơ gợi lên nhiều điều trong cảm xúc, cấu tứ và kỹ thuật ngôn từ. Con đò Huế,cô gái Huế ,ngón đàn ca Huế vẫn còn đó, đêm đêm lại cất lên bồng bềnh luyến láy  làm say lòng du khách.  Những đêm thấm đẫm văn hóa Huế ấy người yêu thơ lại nhớ đến nhà thơ tài, nhạc sĩ tài danh Văn Cao, trong hồn lại vang lên những câu thơ tha thiết :

                                Em cạn lời thôi anh dứt nhạc

                              Biệt ly đôi phách ngó đàn tranh

                             Một đêm đàn lạnh trên sông Huế

                             Ôi nhớ nhung hoài vạt áo xanh…

Đăng bởi: Ngô Minh | 16.03.2015

Về một cách tiếp cận mới Truyện Kiều (1)

Về một cách tiếp cận mới Truyện Kiều (1)

ĐỖ LAI THÚY

Trong một vài năm gần đây, nhiều nhà phê bình và nghiên cứu văn học đã có những cố gắng đáng kể để thoát ra khỏi tình trạng tiếp cận văn học một cách xã hội học có phần dung tục, hướng đến cách tiếp cận mới xuất phát từ đặc trưng của chính bản thân văn học. Một trong nhiều đường hướng nghiên cứu có triển vọng đó là phong cách học.

Ảnh: internet

Cuốn Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều của Phan Ngọc là công trình chuyên khảo đầu tiên ở ta vận dụng phong cách học một cách có hệ thống để nghiên cứu phong cách của một tác giả qua một tác phẩm tất nhiên không phải đến Phan Ngọc thì phong cách tác giả mới được nghiên cứu, nhưng những công trình trước ông thường chỉ dựa vào cái định đề nổi tiếng của G.Buy-phông(2): phong cách là con người (Le style, c‘est l‘homme), tuy hết sức đúng đắn nhưng vì quá khái quát, nên khi vận dụng vào giải quyết những trường hợp cụ thể thì thường dẫn đến tình trạng chung chung hoặc tùy tiện. Vốn là một nhà ngôn ngữ học, Phan Ngọc đã nhạy bén tiếp thu được những thành tựu mới mẻ nhất của bộ môn phong cách học hiện đại của ngôn ngữ học thế giới để nghiên cứu phong cách Nguyễn Du. Quan niệm về phong cách của ông nhờ thế có lý luận, có cơ sở khách quan của ngôn ngữ, lại được cụ thể hóa bằng hệ thống các thao tác và sự vận hành chúng, phong cách theo ông, là một cấu trúc hữu cơ của tất cả các kiểu lựa chọn tiêu biểu hình thành một cách lịch sử, và chứa đựng một giá trị lịch sử có thể cho phép ta nhận diện một thời đại một thể loại, một tác phẩm hay một tác giả. (tr.22), và phong cách học là khoa học khảo sát các kiểu lựa chọn và giá trị biểu cảm của các kiểu lựa chọn ấy. (tr.15)

Quan niệm phong cách là kiểu lựa chọn cho phép tác giả đối lập một cách triệt để cái đã được Nguyễn Du lựa chọn trong Truyện Kiều với những cái ông không lựa chọn (cái chuẩn của thời đại, cái mà những người sống trước ông, cùng ông đã chọn để tìm ra giá trị nghệ thuật của nó.

Đối lập lớn nhất mà Phan Ngọc thực hiện trong công trình của ông là sự đối lập Truyện Kiều với truyền thống văn học Trung Quốc thông qua sự so sánh tác phẩm của Nguyễn Du với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Bằng cách chỉ ra những ứng xử nghệ thuật riêng của Nguyễn Du, ông đã chứng minh được một cách khoa học rằng Truyện Kiều không phải là một bản dịch ra thơ một tác phẩm văn xuôi của Trung Quốc mà là một sáng tạo độc đáo của văn học Việt Nam và của cá nhân Nguyễn Du. Đọc những trang phân tích chí lý của ông, chúng ta không còn thấy tiếc là một thiên tài như Tố Như mà không đưa được vào tác phẩm của mình bóng dáng một cây tre để cho có tính chất dân tộc, như một nhà thơ có tiếng trước đây đã than phiền(!).

Thiên tài Nguyễn Du đã cải biến câu chuyện tình và khổ nhàm chán thành câu chuyện của tài và mệnh vốn giàu chất triết lý và đang trở thành một kinh nghiệm nhân sinh sâu sắc của thời đại ông. Viết Truyện Kiều, Nguyễn Du đã phải chống lại cả cái áp lực của truyền thống tiểu thuyết chương hồi thiên về mưu mô và hành động với lối kết cấu xâu chuỗi những yếu tố độc lập để tạo ra một hướng đi mới: tiểu thuyết tâm lý với phương pháp phân tích tâm lý tàn nhẫn. Truyện Kiều, nhờ thế, đã trở thành một cuốn sách của một nghìn tâm trạng có sức mê hoặc lòng người. Và cũng nhờ thế mà toàn bộ hệ thống thi pháp Truyện Kiều cũng rẽ sang một nẻo khác, mới mẻ hơn chẳng những so với tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc mà cả với truyền thống truyện thơ nôm Việt Nam với bố cục của kịch, phương pháp tự sự không khách quan chủ nghĩa, nhân vật ngồi một mình… và sự xuất hiện của các phạm trù văn học mới như ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ nhân vật, ngôn ngữ thiên nhiên…

Đối lập lớn thứ hai của Phan Ngọc là so sánh Truyện Kiều với các truyện thơ và ngâm khúc của thời đại ông để chỉ rõ thêm cái bước đổi mới mà Nguyễn Du đã làm được trong nghệ thuật của mình. Đó là xu hướng dân chủ hóa trong nội dung tư tưởng, trong thể thơ, trong ngôn ngữ của Truyện Kiều. Xuất thân trong một gia đình quý tộc nòi, được đào luyện trong dòng văn chương bác học từ tấm bé, Nguyễn Du đủ sức viết lên những câu thơ kinh người với lối kiến trúc đối xứng, điêu khắc kỳ khu kiểu Cung oán ngâm khúc. Nhưng ông đã từ bỏ con đường đó để đến với tiếng nói của những người trồng dâu và trồng gai, để viết lên Truyện Kiều. Phan Ngọc đã gọi một cách rất đúng ứng xử đó của Nguyễn Du là hành động của con cá chép nhả bỏ viên ngọc quý để sức vượt vũ môn hóa rồng. Tuy vậy, con rồng đó vẫn mang bộ da có vảy cá chép, bởi vì “các nghệ sĩ thời quân chủ chỉ múa có một tay, một tay họ bị buộc chặt vào truyền thống (tr. 266). Có hiểu được sự trói buộc của thời đại như vậy chúng ta mới thấy hết được cái thống nhất trong sự mâu thuẫn của nghệ thuật Nguyễn Du: Chỗ này thì ước lệ, cổ điển, chỗ kia thì sinh động, hiện thực… Nhưng điều đáng nói là trên cái vũ đài chật hẹp đó, Nguyễn Du đã múa rất đẹp, và nhiều vũ điệu của ông đã đi trước thời đại, vượt thời gian.

Không dừng lại ở chỗ chỉ ra phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, Phan Ngọc còn tiến thêm một bước nữa là lý giải nó bằng những cơ sở kinh tế – xã hội và lịch sử văn hóa của thời đại bấy giờ. Nhân tố cơ bản, theo ông, là sự xuất hiện của tầng lớp thương nhân phong kiến trên cơ sở phát triển nội, ngoại thương thời Trịnh – Nguyễn. Đồng tiền thương nghiệp đã dần dà phá vỡ các khuôn mẫu nho giáo và tư tưởng công xã nông thôn để tạo nên một quan niệm sống mới – lối sống thị dân, và con người tài tử trở thành nhân vật trung tâm của thời đại thay thế cho kiểu người quân tử của thời đại trước. Bằng những tri thức sâu rộng có tính chất liên ngành, bằng một ngôn ngữ sôi nổi, đầy hứng khởi, lập luận sắc bén, Phan Ngọc đã thuyết phục được bạn đọc ở nhiều luận điểm.

Tuy nhiên, đọc Tìm hiểu… bạn đọc luôn rơi vào thế lưỡng đối gay gắt. Một mặt, bị thuyết phục bởi những khám phá mới mẻ, những ý tưởng lóe sáng của tác giả, mặt khác, “lý trí lành mạnh” của bạn luôn phản ứng chống lại những cực đoan máy móc mà tần số xuất hiện của chúng đậm đến nỗi tạo ra cái có thể gọi là “phong cách Phan Ngọc”. Giải phẫu cái cực đoan máy móc đó, của Phan Ngọc chúng tôi thấy nguyên nhân của nó, một mặt, chủ yếu ở những vấn đề có tính chất học thuật chưa được giải quyết sai lầm, mặt khác, phần nào ở cá tính của nhà nghiên cứu.

Lý thuyết về phong cách do Phan Ngọc trình bày là dựa trên cơ sở của ngôn ngữ học hiện đại. Đó chính là phong cách của ngôn ngữ văn học. Vậy mà ông đã vận dụng nó như là phong cách văn học, phong cách nghệ thuật, thậm chí cả phong cách đời sống là những lĩnh vực rõ ràng khác biệt nhau mà chưa giải quyết được về mặt lý luận tại sao lại có thể “vượt biên” như vậy được, tại sao lại có thể “mổ trâu bằng dao giết gà” như vậy được, phải chăng ngôn ngữ văn học, nghệ thuật đồng nhất với nhau ở bản chất ký hiệu hay tính hệ thống của chúng? chính vì sự “bỏ trắng” đó mà việc sử dụng phong cách học của Phan Ngọc chỉ đặc biệt thành công, hoàn chỉnh ở những chương có liên quan đến ngôn ngữ học như Ngôn ngữ Truyện Kiều, Câu thơ Truyện Kiều, Ngữ pháp Nguyễn Du hoặc ở nhưng chương phân tích về phương pháp tự sự, đặc điểm thể loại và bố cục của Truyện Kiều. Còn ở những chương bàn về tư tưởng hoặc nhận thức luận Truyện Kiều thì phong cách học tỏ ra lúng túng, gò ép hay sa vào máy móc cực đoan. Ví như phong cách học buộc Phan Ngọc phải chứng minh bằng được tư tưởng tài mệnh tương đối do bản thân Nguyễn Du sáng tạo ra thì thao tác lựa chọn đó mới có giá trị. Thế là tác giả phải lao vào chứng minh một điều không thể chứng minh được đó, đơn giản chỉ vì ông không tài nào dù thời gian đọc hết được thiên kinh vạn quyển sách cổ Trung Quốc và kinh Phật để cả quyết rằng Nguyễn Du không hề vay mượn tư tưởng này ở đâu cả. Thực ra trong giao lưu văn hóa, chuyện vay mượn tư tưởng là bình thường. Điều quan trọng là biến được một tư tưởng vay mượn, mòn sáo thành tư tưởng máu thịt ấm nồng hơi thở của bản thân mình và thời đại mình. Nguyễn Du đã làm được như vậy, và, với ý nghĩa đó, tài mệnh tương đối là tư tưởng của ông. Nếu cứ cố chấp mà chứng minh như vậy, e rằng trong khi chống chủ nghĩa Châu Âu trung tâm, Trung Quốc trung tâm lại sa vào tư tưởng Việt Nam trung tâm, thậm chí “Nguyễn Du trung tâm”. Hoặc nói Truyện Kiều là cuốn sách của ngàn tâm trạng thì rất hay, nhưng tiến thêm một bước nữa để khái quát văn học Việt Nam là văn học tâm trạng đối lập với văn học Trung Quốc và Ấn Độ là những nền văn học của những hình tượng kỳ vỹ thì cần phải thận trọng hơn. Tóm lại, khi áp dụng phong cách học vào văn học, một khi không đủ các dữ kiện khách quan, tác giả phải cầu viện đến các suy đoán chủ quan, đôi khi cả các uy tín chính trị, thì dẫn đến cực đoan, máy móc.

Cơ sở của thao tác luận của Phan Ngọc là ở chỗ ông coi quá trình sáng tạo văn học như là một quá trình sản xuất vật chất. Từ đó ông phân giải quá trình sáng tạo ra thành những thao tác lựa chọn giản đơn để nghiên cứu. Điều đó không có gì là sai lầm, nếu ông không đồng nhất hai quá trình đó với nhau. Làm như vậy, Phan Ngọc đã phá vỡ đặc trưng của văn học, đồng nhất sản phẩm sản xuất vật chất là thứ sản phẩm hàng loạt, phi cá tính với tác phẩm văn học là sản phẩm có tính chất duy nhất, in đậm dấu ấn của chủ thể sáng tạo, xét cho cùng, như vậy là vô hình dung Phan Ngọc đã phủ nhuận luôn cả lý do tồn tại của chính công trình của ông: tìm hiểu phong cách tác giả – chủ thể sáng tạo.

Cũng cần phải nói rõ là nhà phong cách học có quyền căn cứ vào tác phẩm như là kết quả cuối cùng của một quá trình sáng tạo để phân giải nó ra thành các thao tác lựa chọn nhằm hiểu sâu giá trị nghệ thuật của tác phẩm, nhưng trong thực tế sáng tác thì nhà văn tiến hành lựa chọn (tức sáng tác) chủ yếu bằng trực giác nghệ thuật chứ không kinh qua chuỗi lựa chọn duy lý như nhà nghiên cứu đã phân tích. Bởi thế nên tác phẩm văn học mới truyền được cho bạn đọc một sự tiếp nhận tức thì và trọn vẹn, và đồng thời không phải ai học được các thao tác nghệ thuật cũng tạo ra được tác phẩm nghệ thuật. Nếu gạt bỏ trực giác thì nghệ thuật khác gì thủ công, viết một tác phẩm văn học khác gì giải một bài toán. Đòi viết một thứ lịch sử văn học như lịch sử khoa học tự nhiên, tức là giai đoạn sau tiến bộ hơn giai đoạn trước, nhà thơ sau Nguyễn Du phải hơn Nguyễn Du, Phan Ngọc chẳng những đã máy móc coi văn học như khoa học mà còn cưỡng lại thực tế lịch sử của chính văn học.

Sau cùng, những cực đoan máy móc của Phan Ngọc, một mặt, do bản thân phương pháp nghiên cứu cứ phải quy tác phẩm vào một sơ đồ ít nhiều tiên nghiệm, mặt khác, do bản tính con người của tác giả. Người đọc có cảm tưởng rằng con người nghiên cứu trong Phan Ngọc đôi khi bị lấn át bởi con người tư tưởng trong ông, mà nhà tư tưởng thì vốn dĩ thích đẩy các ý tưởng, các suy nghĩ đến tận cùng và thể hiện chúng ra bằng các hình thái gây ấn tượng nhất. Cho nên, mặc dù có phương pháp khách quan, mong muốn khách quan, Phan Ngọc vẫn luôn luôn vi phạm cái bước duy nhất từ khách quan sang chủ quan. Nhiều chỗ tác giả đang phân tích rất khách quan thì bỗng như lạc ở đâu vào những câu bình luận rất chủ quan không ăn nhập gì với tình thế lô gích của lập luận. Như đang nói về hệ thống thi pháp của thơ mới thuộc phạm trù ý hệ tư sản tiến bộ hơn thơ luật thuộc phạm trù ý thức hệ phong kiến thì tác giả bỗng chen vào một bình luận không đâu “chính điều đó mới là cái cơ bản, cái đẩy họ tức là các nhà thơ mới) đến với cách mạng một cách khá thoải mái” (tr. 218). Thế là ông đã lẫn lộn văn học với chính trị. Vì thị hiếu thẩm mỹ và chính kiến chính trị không phải bao giờ cũng song hành với nhau. Hoặc đương phân tích rất hay về bố cục theo dạng kịch của Truyện Kiều thì ông lại hạ một câu rất cực đoan “Loài người vẫn tìm thấy ở đây (tức ở kịch) vô số những lời giải đáp cho vô số trường hợp trong cuộc đời của họ, tính tư tưởng của nó (tức của kịch) cao hơn hẳn mọi thể loại khác” (tr.183).

Những câu bình luận chủ quan, nhưng triết luận ngoại đề, những khái quát non… như vậy của Phan Ngọc, dẫu sao, cũng đã tạo nên một phần đặc sắc của cuốn sách. Nó đặt ra nhiều vấn đề rất đáng được bàn bạc, thảo luận như cá tính nhà phê bình nên thể hiện như thế nào trong công trình nghiên cứu, đâu là sự tiếp giáp giữa phê bình và sáng tác, nghiên cứu văn học cổ gắn với những nhu cầu bức xúc của thời đại như thế nào… Tuy nhiên, trong một công trình mà tác giả lấy tính khách quan làm mục đính như Tìm hiểu… thì đó là một khuyết điểm đáng phải nêu ra.

Tóm lại, Tìm hiểu… với tính cách là một cuốn sách mở đường cho một hướng tiếp cận văn học mới đã có nhiều đóng góp hết sức quý báu, nhiều gợi ý sâu xa, còn những nhược điểm của nó thì lại thuộc vào loại nhược điểm tạo ra được những phản đề thách đố sự suy nghĩ của người đọc. Dĩ nhiên khác với thưởng thức một tác phẩm văn học, đọc một công trình nghiên cứu mà bị buộc phải làm một “đồng sáng tạo” như vậy thì quá mệt, nhưng một khi lật lại được những phản đề đó thì bạn đọc bỗng thấy mình hiểu sâu sắc hơn vấn đề tác giả đang đề cập đến, năng lực tư duy của bạn được nâng cao hơn, sự khó nhọc được đền bù…

5.1987
Đ.L.T

——————
(1) Phan Ngọc – Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều – Khoa học xã hội, 11.1985
(2) G. Buy-phông (1707-1788), nhà văn, nhà tự nhiên học, người Pháp tác giả công trình “Luận về phong cách” nổi tiếng.

( Nguồn: TC SH)

 

 MUỐN ĐỔI MỚI THƠ

 

GS Tương Lai

Bài phát biểu của giáo sư Tương Lai tại lễ tưởng niệm Gạc Ma 14.3.15

Thưa các anh chị, các bạn,

Tôi vốn không định phát biểu mà nhường vinh dự thực hiện nghĩa vụ công dân hôm nay cho một anh chị khác. Nhưng, các bạn đã quyết định trao cho tôi vinh dự thực hiện nghĩa vụ công dân trong lễ tưởng niệm các chiến sĩ đã hy sinh tại Gạc Ma ngày 14.3.1988 tôi xin mạo muội thay mặt cho những người yêu nước có mặt hôm nay nói lên lòng biết ơn vô hạn với 64 liệt sĩ đã anh dũng hy sinh tại Gạc Ma, chống lại bọn Trung Quốc xâm lược.

  Máu của các anh đã nhuộm đỏ nước Biển Đông, dù ai đó có muốn làm mờ nhạt đi cũng không sao che được hình ảnh liệt sĩ Trần Văn Phương quyết giữ chặt cờ Tổ quốc, đã tự quấn lá cờ quanh thân mình, ưỡn ngực ra trước họng súng của kẻ thù đang nã đạn vào mình và đồng đội. Hình ảnh của chỉ huy tàu HQ 604 Vũ Huy Trừ, Lữ đoàn phó Trần Văn Thông, chỉ huy tàu Vũ Huy Lễ, người ra lệnh cho đồng đội lao thẳng lên bãi cát đảo Colin quyết hy sinh giữ đảo. Máu các anh đã loang trên Biển Đông. Máu người đâu phải là nước lã, máu các anh đã hòa vào nước biển, vỗ vào bờ biển Việt Nam, vỗ vào trái tim của mỗi người Việt Nam yêu nước.

Ai dám ngăn cản nhịp đập của trái tim yêu nước của các liệt sĩ đang hòa cùng nhịp đập của những trái tim Việt Nam? Vì thế chúng ta có mặt ở đây hôm nay. Cũng dịp này, hôm qua tại Khánh Hòa đã tổ chức lễ đặt viên đá đầu tiên xây đài tưởng niệm “Những người đã ngã xuống phía chân trời” để đời đời ghi nhớ những người con thân yêu của Tổ quốc đã hy sinh vì chủ quyền thiêng liêng của tổ quốc.

Những người đứng lại ở phía chân trời” đang nhắn nhủ, nhắc nhở chúng ta: kẻ thù đang thực hiện “chiến lược đảo nhân tạo” với lời tuyên bố ngạo ngược và trắng trợn của Vương Nghị, bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc: những công trình xây dựng của chúng là xây trên sân nhà chúng, không ai có quyền can thiệp. Đây là một thách thức mới đối với ‎ý chí Việt Nam, với truyền thống tự tôn dân tộc, phẫn nộ với chiến lược Biển Đông của Trung Quốc.

Xin nhắc ngài ngoại trưởng họ Vương, không hiểu ngài có phải là hậu duệ của Vương Thông, viên tướng chỉ huy quân xâm lược nhà Minh thế kỷ XV đã bị đánh cho tan tác kinh hồn bạc vía không? Dù có hay không cũng xin mời ngài nghe những lời Nguyễn Trãi trong “Đại Cáo Bình Ngô“: “Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển chưa thôi trống ngực. Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến Tàu còn đổ mồ hôi. Nó đã sợ chết cầu hòa, ngỏ lòng thu phục; ta muốn toàn quân là cốt, cả nước nghỉ ngơi“. Điều ấy nói lên rằng, hòa hiếu, hòa bình luôn là mong muốn của ông cha ta suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước.

Nhưng ngoại giao hòa hiếu không thể thực hiện nếu không có khí phách của tinh thần bất khuất như sứ thần Đỗ Khắc Chung đã trả lời viên tướng Ô Mã Nhi khi y hạch sách về hai chữ “Sát Thát” được khắc trên cánh tay tướng sĩ Việt Nam: “vì lòng trung phẫn mà họ tự thích chữ lên cánh tay, vua của tôi không biết việc đó. Tôi là trung thần, sao không có” nói đoạn, vén áo chìa cánh tay có hai chữ Sát Thát cho Ô Mã Nhi xem. Viên tướng xâm lược sau đó nói với tả hữu rằng “không nhục mệnh vua, chúng nó còn người giỏi, người tài, ta chưa dễ mưu tính được“, rồi sai người đuổi theo bắt để giết đi nhưng không kịp.

Để thấy rằng suốt mấy nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, ông cha ta có thừa kinh nghiệm đối phó với kẻ thù vì hiểu rất rõ chúng. Rõ ràng là một quá khứ gần và một quá khứ xa đang dồn dập tái hiện và hòa quyện vào trong thời điểm hiện tại của chúng ta. Quá khứ xa là tôi nói về cuộc chiến đấu của ông cha ta ở thế kỷ XIII, XV. Quá khứ gần là trận chiến ở Gạc Ma ở Trường Sa năm 1988 và trước đó là hải chiến Hoàng Sa năm 1974, tiếp theo là các cuộc chiến đấu đẫm máu chống quân xâm lược Trung Quốc trên nhiều trận tuyến.

Biển Đông đang dậy sóng. Chúng ta không thể nào ngồi yên, vì thế hôm nay chúng ta quy tụ lại ở đây. Để làm gì? Chỉ có một mục tiêu: Giương cao ngọn cờ yêu nước chống kẻ thù xâm lược, hỗ trợ cho những ai đang cùng chúng ta kiên quyết đấu tranh vạch trần mọi thủ đoạn của kẻ thù xâm lược.

Tôi nghĩ rằng, lòng yêu nước có nhiều cách biểu hiện, tuy nhiên, bao giờ chúng ta cũng lựa chọn con đường ôn hòa, con đường thuyết phục. Chính nghĩa nhất định thắng phi nghĩa, vì thế, thuyết phục để làm chuyển biến những đầu óc đang còn lú lẫn, ngu muội cả tin vào những lời đường mật của kẻ thù. Chỉ ra rằng không thể mơ hồ khi mà những toan tính của kẻ thù xâm lược đang rất trắng trợn chẳng hạn như “chiến lược đảo nhân tạo” của chúng. Không chỉ đe dọa chủ quyền lãnh thổ mà trước hết là buộc Việt Nam phải khuất phục để chúng thực hiện mưu đồ độc chiếm Biển Đông. Vì vậy, chúng ta ở đây phải hết sức cảnh giác và chúng ta kêu gọi mọi người phải cảnh giác với hành động mới của Trung Quốc ở Biển Đông.

Chính vì thế, Đài “Tưởng niệm những người đứng lại phía chân trời” phải thực hiện sứ mệnh cảnh giác đó. Cũng vì vậy, chúng hoan nghênh phát biểu của Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao Động Việt Nam tại buổi lễ nói trên: “Đây là công trình tưởng niệm của toàn dân tộc“. Cả dân tộc nhớ đến những người đã ngã xuống ở Gạc Ma tại Trường Sa, đã hy sinh trong trận hải chiến Hoàng Sa và trên Biển Đông để rồi đây còn phải đối phó với những âm mưu, thủ đoạn mới của kẻ thù. Tất cả những điều đó đòi hỏi chúng ta phải kết làm một, gắn bó với nhau vì một tiêu chống kẻ thù xâm lược. Đó là mục tiêu cao cả nhất vào lúc này, phải biết gạt bỏ những khác biệt đẻ hướng vào mục tiêu chung đó.

Nhân hôm nay, tôi kêu gọi mỗi chúng ta sẽ tham gia vào việc góp đá xây dựng tượng đài tưởng niệm ấy, và tôi xin thực hiện ngay phần đóng góp nhỏ nhoi của mình thêm một viên đá ấy.

Đề nghị bà con, anh chị em chúng ta để một phút mặc niệm những chiến sĩ đã hy sinh ở Trường Sa, ở Hoàng Sa, những người đã ngã xuống ở phía chân trời, máu của họ đã nhuộm đỏ Biện Đông. Phút mặc niệm bắt đầu.

Xin cám ơn.

 

Từ hải chiến Hoàng Sa (1974), Trường Sa (1988) đến căng thẳng ở Biển Đông hiện nay – Đôi điều về chiến lược biển của Trung Quốc và ứng phó của Việt Nam

  •   Hồ Khang

 

Hải chiến Hoàng Sa 1974 Hải chiến Hoàng Sa 1974

Nhìn từ lịch sử tới hiện tại, một điều dễ nhận thấy rằng, Trung Quốc luôn theo đuổi một chính sách nhất quán: Trỗi dậy, vươn lên trở thành một nước có địa vị thống trị thế giới. Trên con đường tiến tới tới “giấc mơ hoang”, Biển Đôngluôn chiếm giữ một vị trí quan trọng,không đơn thuần là công cụ, mà còn là yếu tố khẳng định giá trị, sức mạnh Trung Quốc – yếu tố nhận dạng quốc gia.Trung Quốc đặt mục tiêu sở hữu bằng được các quyền lợi sống còn của Biển Đông, nhằm mở rộng”không gian sinh tồn”, cương vực hoạt động, tạo thêm sức mạnh trong cán cân quyền lực ở châu Á – Thái Bình Dương và giải quyết các vấn đề liên quan đến nguồn lực trước sức ép phát triển.

1-Nhìn lại lịch sử

Việc tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Trung Quốc đối với Việt Nam có lịch sử từ trước khi Việt Nam – Trung Quốc đặt quan hệ ngoại giao chính thức. Năm 1909, Trung Quốc bắt đầu có tranh chấp quần đảo Hoàng Sa; năm 1930 tiến đến tranh chấp quần đảo Trường Sa.

Từ thế kỷ XVII, Triều đình phong kiến Việt Nam đã làm chủ hai quần đảo đó và cho đến đầu thế kỷ XX, không có bất kỳ nước nào tranh chấp chủ quyền tại đây. Đầu năm 1907, Nhật Bản chiếm Đông Sa (Pratas) khiến cho các nhà cầm quyền miền Nam Trung Quốc quan tâm đến các đảo trên biển Đông. Năm 1921, Chính quyền miền Nam Trung Quốc ra quyết định sát nhập quần đảo Hoàng Sa (mà họ gọi là Tây Sa) vào đảo Hải Nam. Từ đó có sự tranh chấp giữa Trung Quốc và Pháp về chủ quyền trên quần đảo Trường Sa. Năm 1935, lần đầu tiên Trung Quốc chính thức công bố một bản đồ coi cả 4 quần đảo trên biển Đông của là của Trung Quốc.

Đến năm 1939, Hoàng Sa và Trường Sa bị biến thành căn cứ hải quân của Nhật trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Lợi dụng tình hình thực dân Pháp rút khỏi Đông Dương và Việt Nam chưa tiếp quản hai quần đảo, năm 1956, CHND Trung Hoa cho quân đội ra chiếm đóng nhóm phía Đông quần đảo Hoàng Sa; Đài Loan cho quân đội ra chiếm đảo Ba Bình trên quần đảo Trường Sa.

Sau Hiệp định Geneva 1954, Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền, vĩ tuyến 17 là ranh giới quân sự tạm thời. Theo vị trí địa lý, các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều nằm dưới vĩ tuyến 17, do đó, các đảo này thuộc chủ quyền và sự quản lý hành chính của Chính quyền Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Ngày 13-7-1961, Chính quyền Nam Việt Nam ký Sắc lệnh số 174-NV, đặt quần đảo Hoàng Sa thuộc quản hạt hành chính tỉnh Quảng Nam (thay tỉnh Thừa Thiên). Ngày 13-7-1971, Ngoại trưởng Chính quyền Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên bố rằng, từ lâu đời, quần đảo Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam. Ngày 15-7-1971, Bộ Ngoại giao Chính quyền Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra thông cáo tái xác nhận chủ quyền chính đáng trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 6-9-1973, Tổng trưởng Nội vụ Chính quyền Cộng hòa miền Nam Việt Nam ký Nghị định số 420/BNV/HCĐP/26 sáp nhập một số đảo của quần đảo Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy (Đồng Nai).

Từ năm 1973, Philippines tăng cường sự hiện diện ở khu vực Trường Sa, cònChính quyền Cộng hòa miền Nam Việt Nam cũngcó những động thái tích cực trong xác định chủ quyền và khai thác tài nguyên. Trong khi đó, tháng 1-1973, Hiệp định Paris lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, Mỹ rút quân khỏimiền NamViệt Nam để lại một “khoảng trống quyền lực. Chớp thời cơ, tháng 1-1974, Trung Quốc cho lực lượng ra chiếm đóng và cắm cờ tại các đảo. Để bảo vệ chủ quyền, Chính quyền Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã có những động thái kiên quyết (yêu cầu Trung Quốc dừng các hoạt động phi pháp, họp báo phản đối, điều quân nhổ bỏ cờ Trung Quốc trên các đảo của Việt Nam, cho quân đội chiếm lại các đảo….). Cuộc chiến Hoàng sa đã diễn ra hết sức quyết liệt, Trung Quốc quyết tâm tận dụng cơ hội nhằm tạo chỗ đứng vững chắc hơn ở Biển Đông, cuộc chiến này như mô tả của Tân Hoa Xã (2009), do đích thân Mao Trạch Đông phê chuẩn, còn Chu Ân Lai và Diệp Kiếm Anh trực tiếp chỉ đạo. Huy động lực lượng áp đảo, kích động tinh thần tử chiến, cuối cùng Trung Quốc đã chiếm nốt phần còn lại quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, đặt chân vào bờ cõi của Việt Nam.

Sau đó một thời gian ngắn (từ tháng 6-1974), Bắc Kinh tiếp tục lấn tới trong những yêu sách về Biển Đông: Đòi phần lãnh thổ kéo dài trong vòng 20 dặm dọc theo hầu hết toàn bộ bờ biển Việt Nam cho tới bờ biển Xa-oắc của Malaixia.  Tháng 4-1983, Trung Quốc đặt lại tên cho các đảo, đá, bãi cạn thuộc quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và sát nhập hai quần đảo vào địa phận Hải Nam (Trung Quốc).

Tháng 3-1988, Trung Quốc có hành động quyết liệt hơn, gây ra cuộc hải chiến đẫm máugần cụm đảo Sinh Tồn (quần đảo Trường Sa), tấn công các đảo Gạc Ma, đá ngầm Cô Lin, Len Đao. Trung Quốc hạ lệnh bắn thẳng vào những chiến sĩ Việt Nam đang hòa bình xây dựng đảoGạc Ma. Từ ngày 14 đến ngày 16-3-1988, lực lượng Hải quân Việt Nam anh dũng trụ bám, quyết bảo vệ lãnh hải, chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Với lực lượng hùng hậu hơn hẳn, ngày 16-3-1988, Trung Quốc cưỡng chiếm Gạc Ma và chiếm đóng đến tận ngày hôm nay. Việt Nam giữ vững bãi đá ngầm Cô Lin. Trung Quốc đã bắn cháy, đánh chìm ba tàu của Việt Nam, 64chiến sĩ hy sinh, 11chiến sĩkhác bị thương, bắt giữ9 chiến sĩ khác (sau đã trao trả cho Việt Nam).

Ngay trong ngày 14-3-1988, Bộ Ngoại giao Việt Nam ra Tuyên bố, nêu rõ: “Sáng ngày 14-3-1988, các tàu chiến của Trung Quốc đang hoạt động trái phép ở vùng biển quần đảo Hoàng Sa đã ngang nhiên nổ súng vào hai tàu vận tải của Việt Nam đang hoạt động bình thường ở bãi đá ngầm Gạc Ma thuộc khu đảo Sinh Tồn. Tàu của ta đã buộc phải nổ súng để tự vệ. Trong khi đó họ lại đổi trắng thay đen vu cáo tàu của Việt Nam khiêu khích vũ trang tàu chiến của Trung Quốc”[1]. Thay mặt nhân dân và Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ Ngoại giao “kiên quyết lên án hành động khiêu khích quân sự của nhà cầm quyền Trung Quốc. Chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam một lần nữa khẳng định chủ quyển của mình đối với quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa”[2]; đồng thời yêu cầu “nhà cầm quyền Trung Quốc phải chấm dứt ngay các hành động khiêu khích quân sự, rút ngay các tàu chiến của họ ra khỏi vùng biển thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam”[3].Ngày 15-3-1988, Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi công hàm phản đối Trung Quốc, “nghiêm khắc lên án những hành động sai trái của phía Trung Quốc…”. Các tờ báo của Việt Nam như Nhân dân, Quân đội nhân dân, Lao động, Tuần tin Thanh niên… đồng loạt lên tiếng. Quốc tế lập tức có phản ứng đối với việc Trung Quốc đánh chiếm và chiếm đóng trái phép biển đảo của Việt Nam. Hãng tin Pháp AFP, áo Thụy Điển Xvenxca Đac-blađet, hời báo Ấn Độ, đài tiếng nói Hoa Kỳ…đều có bài, tin tức về vụ việc.

Tuy nhiên, bất chấp dư luận, Trung Quốc tiếp tục hành động. Tháng 4-1988, khi quân đội Việt Nam đang tiến hành xây dựng trên bãi đá Len Đao, với ý đồ lặp lại kịch bản Gạc Ma, Trung Quốc đưa bảy tàu chiến và nhiều xuồng nhỏ bao vây uy hiếp, hòng cưỡng chiếm thêm bãi đá này. Được chuẩn bị kỹ để đối phó với tình huống, 7 máy bay chiến đấu của Việt Nam lập tức cất cánh, hỗ trợ các chiến sĩ hoàn thành nhiệm vụ xây dựng đánh dấu chủ quyền trên bãi đá. Tàu chiến của Trung Quốc hoảng sợ tản ra và không dám nổ súng, Việt Nam hoàn thành nhiệm vụ, kết thúc xây dựng trên  bãi đá Len Đao.

Sau sự kiện 14-3-1988, Chính phủ Việt Nam đã nhiều lần gửi công hàm phản đối đến Bắc Kinh (Công hàm ngày 17 và 23, 26 tháng 3-1988), đề nghị Trung Quốc cử đại diện đàm phán, thương lượng để giải quyết những bất đồng liên quan đến quần đảo Trường Sa, cũng như những vấn đề tranh chấp khác về biên giới và quần đảo Hoàng Sa; đề nghị Trung Quốc trong khi chờ giải quyết tranh chấp, hai bên không dùng vũ lực và tránh mọi đụng độ để tình hình không phát triển xấu thêm. Việt Nam cũng thông báo cho Liên Hợp Quốc về tình hình này, tuy nhiên, phía Trung Quốc khước từ thương lượng, giữ quan điểm về “chủ quyền không thể tranh cãi” của mình đối với quần đảo Trường Sa (Nam Sa).

Nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải, Ngày 17- 10 -1988, Đảng cộng sản Việt Nam ra Nghị quyết 19/NQ-TƯ Về việc bảo vệ khu vực bãi ngầm trong thềm lục địa phía Nam; ngày 5-7-1989, Thủ tướng chính phủ ra chỉ thị số 180UT về việc xây dựng cụm dịch vụ kinh tế – khoa học – kỹ thuật thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xác định lại chủ quyền Việt Nam đối với khu vực thềm lục địa khu vực này. Từ năm 1989, Hải quân Việt Nam củng cố lực lượng, tuần tra, canh gác, xây dựng đánh dấu chủ quyền trên các đảo, bãi đá Trường sa.

2-Trung Quốc leo thang ở Biển Đông và hệ lụy

Chiếm một số đảo và bãi đá của Việt Nam năm 1988, Trung Quốc  chính thức đặt chân vào Trường sa – điều mà trước đó Trung Quốc luôn nhắm tới và quyết tâm thực hiện bằng được. Tuy nhiên, bấy nhiêu đó chưa là đủ với Trung Quốc,vị trí địa- kinh tế, địa quân sự và địa- chính trị vô cùng quan trọng của Hoàng Sa, Trường Sa và quá khứ 7 lần bị xâm lăng từ biển cũng như tham vọng lãnh thổ lãnh hải vốn ăn sâu trong máu thịt Trung Hoa khiến Trung Quốc không ngừng gia tăng leo thang trên Biển Đông.

Để thực hiện mục tiêu, Trung Quốc sử dụng nhiều chiến thuật khác nhau như “vết dầu loang”, “tằm thực”, “cắt lát salami”, “bóc cải”…, lấn dần từng bước theo kiểu “gặm nhấm Biển Đông”, tránh tạo ra các bất ổn phá vỡ mối quan hệ với ASEAN và tránh thúc đẩy Mỹ quay trở lại khu vực. Cùng với thời gian, các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông ngày càng quyết liệt hơn, nhất là từ thập niên 90 (XX) đến thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI – thời kỳ Trung Quốc coi là then chốt, dịp may lịch sử để giải quyết “cơn khát” lãnh hải. Cùng với sức mạnh tổng hợp tăng lên nhanh chóng khiến khoảng cách về kinh tế, quân sự, quốc phòng trong tương quan với Mỹ dần thu hẹp, Trung Quốc ngày càng “tự tin” hơn trong các động thái leo thang có tính toán ở Biển Đông, chuyển từ “giấu mình chờ thời” sang cạnh tranh trực diện, lợi dụng mọi cơ hội để thay đổi luật chơi. Từ năm 2009, Trung Quốc khẳng định yêu sách đường lưỡi bò, tăng cường các hoạt động trấn áp các quốc gia khác, khảo sát địa chấn, khoan tìm dầu khí trong các khu vực nước sâu ở lãnh hải và thềm lục địa của các quốc gia láng giềng. Nguy hiểm hơn, Trung Quốc cắt cáp tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam, buộc tàu thăm dò của Philipin phải rút ra khỏi Bãi Cỏ rong (Reed Bank), công khai mời thầu các lô dầu khí nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, áp đặt các lệnh cấm đánh bắt cá ở Biển Đông vào mùa đánh bắt cao điểm, kéo dài lệnh cấm đánh bắt. Trung Quốc nã súng vào một số thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam trong vùng biển gần Trường Sa, dùng  tàu ngư chính và tuần duyên đánh chìm các tàu cá, bắt giữ, đòi tiền chuộc nhiều tầu cá của Việt Nam, buộc các ngư dân ký vào các biên bản thừa nhận vi phạm chủ quyền của Trung Quốc… Trung Quốc không lớn tiếng xác định chủ quyền lãnh hải, lãnh thổ như trước đây mà ra tay trước để tạo nên thực tế không thể đảo ngược về lãnh thổ, lãnh hải; đồng thời, đẩy mạnh các biện pháp nhằm kiểm soát thực tế các vùng biển mà Trung Quốc yếu sách chủ quyền theo hướng chính thức. Bước đi “kịch tính” gần đây nhất là Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoanHYSY 981 trong vùng đặc quyền kinh tế, vùng thềm lục địa của Việt Nam, xây cất đảo nhân tạo, mở rộng phạm vi hoạt động.

Hành động hạ đặt giàn khoan của Trung Quốc không đơn giản như Trung Quốc tuyên bố mà nằm trong tính toán, lộ trình chiến lược lâu dài trong kế hoạch độc chiếm Biển Đông. Trung Quốc luôn nhất quán trong mục đích kiểm soát khai thác dầu mỏ, quản lý giao thương hàng hải, tàu thuyền qua lại và chiếm ưu thế địa chính trị trong khu vực. Việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan tại khu vực này sẽ là tiền đề để mở rộng hạ đặt giàn khoan ở các khu vực khác trong phạm vi “đường lưỡi bò”, tiến tới hiện thực hóa yêu sách chủ quyền đối với Biển Đông, tạo căn cứ “pháp lý” và “quản lý thực tế” đối với Hoàng Sa, củng cố lập luận “Hoàng Sa không có tranh chấp”, phá vỡ nguyên trạng Biển Đông”, tạo đột phá trong việc thăm dò, khai thác dầu khí tại các vùng biển có tranh chấp.

Bên cạnh đó, “sự kiện giàn khoan HYSY-981” còn mang đậm động cơ chính trị, một mặt, nhắn nhủ, đe dọa các nước có tranh chấp, vướng mắc với Trung Quốc ở biển Đông (đặc biệt là Philippinesvà Việt Nam) không ngả sang và thắt chặt quan hệ với Mỹ; mặt khác, thử phản ứng của Barack Obama, thách thức chiến lược “xoay trục” sang châu Á của Washington (biểu hiện tập trung qua Thỏa thuậnquân sự ký kết ngày 28-4-2014 với Philippines).

Đưa giàn khoan vào vùng thềm lục địa của Việt Nam, Trung Quốc đồng thời thực hiện chiến thuật “giương Đông, kích Tây”. Hạ đặt giàn khoan giá trị hơn 1 tỷ USD cùng hơn một trăm tàu các loại bảo vệ và hộ tống với chi phí lên đến gần 1.5 tỷ USD/ngày, tập trung sự chú ý ồn ã của dư luận vào sự kiện chính, ở đằng sau, Trung Quốc tiến hành một chiến dịch xây dựng quy mô lớn trên 6 đảo nhân tạo trong vùng quần đảo Trường Sa, mở rộng diện tích, phát triển các cơ sở hậu cần, đường băng dã chiến. Đến khi dư luận hiểu ra và thức tỉnh thì Trung Quốc một việc đã rồi, tiếp tục xúc tiến nốt những việc bên rìa còn lại và hoàn thành mục tiêu chính.

Hệ lụy những bước leo thang của Trung Quốc trên Biển Đông là vô cùng to lớn không chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với nhiều nước khác trong khu vực cũng như hòa bình, ổn định ở Đông Nam Á và châu Á – Thái Bình Dương.Sau xung đột ngày 14-3-1988, khu vực hoạt động của tàu thuyền Hải quân Trung Quốc được mở rộng, thậm chí có thể phủ khắp các đảo đá ngầm lân cận củaViệt Nam. Tháng 5-1988, tờ Nhật báoQuân đội nhân dân - tiếng nói chính thức của quân đội Trung Quốc đã có bài viết, trong đó tuyên bố: “Hiện nay Hải quân Trung Quốc có thể bảo vệ lãnh hải gần bờ Trung Quốc, cả chủ quyền trên quần đảo Trường Sa và biển khơi xa lục địa hàng trăm hải lý”. Trung Quốc ngầm tuyên bố lực lượng Hải quân có thực lực bảo vệ biên giới trên biển và hải đảo, cho dù quần đảo Nam Sa cách đại lục Trung Quốc tương đối xa.

Các lấn chiếm của Trung Quốc trên biển Đông không những sẽ hạn chế khả năng, triển vọng kinh tế của Việt Nam, mà còn làm cho Việt Nam rất dễ bị sức ép của Trung Quốc về phương diện quân sự. Xây dựng các đảo nhân tạo và căn cứ quân sự ở Trường Sa (Gạc Ma và Chữ Thập), Trung Quốc nhằm kết nối với căn cứ hải quân Du Lâm (Hải Nam) và Tam Sa (Hoàng Sa) mà tính theo đường chim bay căn cứ Du Lâm chỉ cách đặc khu kinh tế Vũng Áng hơn 350km (nơi có hơn 7.000 công nhân Trung Quốc làm việc); đồng thời chiếu đến dự án Đèo Hải Vân tạo ra một gọng kìm chiến lược khống chế và chia cắt 2 miền Bắc, hình thành một tam giác quân sự cả từ hướng biển và đất liền hết sức nguy hiểm.

Nhìn chung, Trung Quốc đang tiến tới áp đặt một vùng chiến lược độc quyền, kiểm soát khu vực, đặt toàn bộ vùng biển Đông và tất cả các đảo ở đó dưới tầm mắt của mình, mở rộng tuyến phòng thủ chiến lược tới cực Nam biển Đông, lách lưỡi dao vào bên sườn Việt Nam, khống chế Việt Nam từ hướng biển.

3- Chính sách “xoay trục” của Mỹ và tác động đối với Việt Nam

Sự trỗi dậy hung hăng của Trung Quốc đang đe dọa đến hòa bình, ổn định của khu vực,thế giới, đe dọa trực tiếp đến an ninh các đồng minh của Mỹ và tự do hàng hải cũng như việc sử dụng hợp pháp các vùng biển và vùng trời ở Châu Á – Thái Bình Dương. Mặc dù, Mỹkhông có yêu sách chủ quyền ở Biển Đông nhưng có lợi ích trong tự do hàng hải và sử dụng hợp pháp vùng biển, vùng trời ở Châu Á – Thái Bình Dương. Mỹ quan niệm rằng, tự do hàng hải và sử dụng hợp pháp vùng biển, vùng trời không phải là thứ mà quốc gia này có thể ban phát hoặc không ban phát cho quốc gia khác và nỗ lực đơn phương nhằm làm thay đổi nguyên trạng bằng vũ lực cũng như vi phạm Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) là thách thức trực tiếp đối với uy tín của Mỹ với tư cách là chiếc neo an ninh hoặc vị thế người đảm bảo an ninh khu vực. Vì thế, hiện Mỹ đã quyết định tái cân bằng lực lượng toàn cầu theo hướng ưu tiên khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, sử dụng tranh chấp Biển Đông như một công cụ để ngăn chặn sự trỗi dậy “không hòa bình” của Trung Quốc.

Trong thời gian tới, thay vì cân bằng tỉ lệ lực lượng hải quân 50-50 giữa Đại Tây Dương và Thái Bình Dương như hiện nay, Mỹ sẽ điều chuyển tới khu vực Thái Bình Dương 60% năng lực hải quân của mình. Mỹ đang tích cực củng cố quan hệ với các đồng minh trong khu vực, chuyển từ chính sách trung lập” sang “điều phối và can dự” trong các vấn đề liên quan đến Biển Đông. Mỹ đã lần lượt thông qua Nghị quyết 412 (7-2014), Nghị quyết H.Res-714 (12-2014) về Biển Đông và Biển Hoa Đông, trong đó có nêu đích danh vụ việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan HYSY 981 – đó làsự ủng hộ mạnh mẽ đối với Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống Trung Quốc xâm lấn trên biển.

Bên cạnh đó, một số nước lớn khác cũng quan tâm đến việc giải quyết vấn đề Biển Đông, điều này tạo ra một tập hợp lực lượng mới khiến Trung Quốc e ngại và không thể không quan tâm và suy tính để điều chỉnh hành động, thái độ cho thích hợp. Cần nói thêm rằng, can dự vào Châu Á – Thái Bình Dương, Đông và Đông Nam Á, Mỹ và các nước lớn khác không hình thành nên thế kiểm soát các vùng biển bằng biện pháp quân sự. Trong bối cảnh các siêu cường không quan niệm tăng ngân sách quốc phòng là tối ưu và tính toán kiểm soát Biển Đông, kiềm chế Trung Quốc sao cho“ít tốn kém” nhất; đồng thời vẫn đảm bảo ổn định của khu vực, Mỹ  nhắm tới mục tiêu quản lý các vụ việc bằng pháp luật, thúc đẩy quá trình đấu tranh hoặc thực thi pháp lý giữa các nước liên quan đến tranh chấp. Nhìn chung, Mỹ ủng hộ việc sử dụng các công cụ pháp lý quốc tế và luôn nhấn mạnh các yêu sách trên biển cần xuất phát từ các thực thể trên đất liền theo UNCLOS.

Sự can dự ngày càng tăng của Mỹ vào tranh chấp Biển Đông ở một chừng mực nhất định phù hợp với lợi ích chiến lược của Việt Nam trong đối phó với Trung Quốc. Là một nước nhỏ, tiềm lực hạn chế hơn Trung Quốc về mọi mặt, Việt Nam có lợi ích trong việc quốc tế hóa giải quyết các tranh chấp, lôi kéo càng nhiều càng tốt sự chú ý quốc tế đối với những leo thang của Trung Quốc trên Biển Đông. Vị trí địa – chính trị, địa – quân sự của Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc và khu vực khiến cho vai trò, vị thế của Việt Nam được nâng lên trong các tính toán chiến lược của Mỹ tại châu Á – Thái Bình Dương và Đông Nam Á.Sự quan tâm lớn hơn của Mỹ đối với Việt Nam cũng như sự phát triển ấn tượng của quan hệ Việt – Mỹ thời gian qua chính là kết quả những chuyển biến trong chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc và khu vực.

Bên cạnh đó, sự điều chỉnh chiến lược toàn cầu của Mỹ, việc Mỹ gia tăng can dự vào tranh chấp Biển Đông cũng mang lại cho Việt Nam một số rủi ro nhất định. Với tư cách là một nước láng giềng của Trung Quốc và là một bên tham gia tranh chấp Biển Đông, Việt Nam buộc phải xem xét lại chính sách đối ngoại cân bằng quan hệ và chính sách ngoại giao “ba không” trong điều kiện ràng buộc ý thức hệ vẫn còn đang khá chặt chẽ và những ân oán quá khứ chưa hoàn toàn nguôi ngoai. Ngoài ra, Trung Quốc chắc chắn sẽ không ngồi yên khi Mỹ tìm cách củng cố quan hệ với các nước nhắm vào việc bao vây, kiềm chế Trung Quốc. Với đặc điểm núi biển liền nhau như môi với răng, có mối quan hệ không thể chia cắt về địa dư, khi muốn răn đe,gây sức ép, Trung Quốc không thiếu lý do và điều kiện thực hiện: Chống phá Việt Nam từ bên trong, bao vây Việt Nam từ nhiều hướng (từ Trung Quốc, từ Lào, từ Campuchia…).Rất có thể Việt Nam sẽ rơi vào thế kẹt giữa hai nước lớn và bị luôn cuốn vào một hình thái chiến tranh không mong muốn, bị vạ lây bởi sự đối đầu giữa hai cường quốc. Tóm lại, sự can dự của Mỹ và các nước lớn mang lại cho Việt Nam những thuận lợi lẫn thách thức mới trong việc xử lý tranh chấp Biển Đông cũng như giải quyết quan hệ với các nước lớn, các nước láng giềng và khu vực. Tuy nhiên, phải khẳng định rằng, thuận lợi lớn hơn thách thức.

4- Một vài khuyến nghị

Từ khi CHND Trung Hoa ra đời (1949), đã có ba lần Trung Quốc ra quân lớn đánh Việt Nam: Chiếm quần đảo Hoàng Sa (1974), tấn công toàn tuyến biên giới phía Bắc (1979) và Trường Sa 1988. Nhìn lại lịch sử những lần Trung Quốc tấn công, xâm lược hoặc gây hấn đối với Việt Nam (và không loại trừ đối với cả những quốc gia khác), có thể nhận thấy rằng, Trung Quốc thường hành động khi ít nhất hội tụ đủ những yếu tố sau đây:

Thứ nhất, chọn khiquốc gia – đối tượng trong tình thế có những khó khăn bên trong,  gặp rắc rối hoặc có vị thế yếu trên trường quốc tế, “trong không ấm, ngoài không êm”. Do đó, quốc gia bị Trung Quốc “nhòm ngó” khó có thể chống đỡ, đáp trả hoặc nếu có những quyết định đương đầu mạnh mẽ, dứt khoát, thì tác dụng, hiệu quả cũng bị hạn chế đáng kể – trong điều kiện đó, Trung Quốc đã kịp thời và nhanh chóng chớp lấy thời cơ thực hiện mục tiêu định sẵn.

Thứ hai,các phản ứng và dư luận quốc tế trước hành động của Trung Quốc chỉ có thể ở mức thấp nhất hoặc xuất hiện khoảng trống quyền lực trong khu vực. Trung Quốc đã phân hóa được quốc gia – đối tượng với các nước khác, trung lập hóa những nước lớn hoặc khối nước – đó là lúc tương quan lực lượng thay đổi theo hướng có lợi nhất cho Trung Quốc, khiến Trung Quốc có thể hành động mà chịu ít rủi ro, thiệt hại nhất song vẫn có thể đạt mục tiêu đã định và đạt ở mức cao nhất.

Thứ ba, Trung Quốc đang gặp những bất ổn nội bộ (về phát triển kinh tế, về mâu thuẫn quyền lực, về giải quyết vấn đề xã hội…). Trong tình hình đó,  lãnh đạo Trung Quốc muốn hướng sự chú ý trong nước ra bên ngoài, đánh lạc hướng dư luận hoặc khơi dậy tinh thần dân tộc, sử dụng nó như một chất kết dính xã hội, như một phương thức xoa dịu, giải quyết một cách hình thực những vấn đề nội tại.

Như vậy, nhìn vào những yếu tố nêu trên cộng với phân tích yếu tố mở nước truyền thống, tham vọng mở rộng ảnh hưởng, mở rộng địa bàn hoạt động, mở rộng cương vực sinh tồn, lãnh thổ, đất đai vốn là một nét đặc trưng có tính xuyên suốt, nhất quán của Trung Quốc từ lịch sử tới hiện tại, có thể kết luận rằng, chiến lược “lấn dần”, “chèn ép”, tranh đoạt đất đai, sông biển của láng giềng, nhất là của các nước láng giềng nhỏ và yếu hơn là bất biến. Đặc biệt, khi tuyên bố về “giấc mộng Trung Hoa”, Tập Cận Bình cũng đồng thời kêu gọi xây dựng một quốc gia hùng mạnh với một quân đội hùng mạnh khiến người ta không khỏi không hình dung về sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, sô vanh nước lớn.

Tồn tại bên cạnh một láng giềng khổng lồ, có sức mạnh thống trị trong lịch sử thực sự là một áp lực cho Việt Nam. Đối với Việt Nam, Trung Quốc là một thực tế, là một câu chuyện “không bao giờ kết thúc”.Có tham vọng lãnh thổ, lãnh hải, song trong tình hình hiện nay, Trung Quốc cố gắng tránh những cuộc chiến tranh hay xung đột “hao người, tốn của” có thể lôi kéo sự tham dự của nhiều nước, nhất là những nước đối thủ mạnh của Trung Quốc. Để nuốt dần đất đai, sông biển Việt Nam, Trung Quốc tích cực sử dụng “quyền lực mềm” bào mòn sức mạnh bên trong và bên ngoài giống như hút dần dinh dưỡng, làm cho Việt Nam rối loạn, chia rẽ và yếu dần. Trong khi luôn cảnh giác với những khả năng gây va chạm, xung đột vũ trang, Việt Nam còn cần phải cẩn trọng gấp nhiều lần trước sự phụ thuộc quá sâu về kinh tế vào Trung Quốc, trước việc Trung Quốc trúng thầu tới 90% các công trình điện, khai khoáng, dầu khí, luyện kim, hóa chất… củacác dự án kinh tế Việt Nam trọng điểm, hoặc dự án thượng nguồn, liên quan mật thiết tới tài nguyên quốc gia và an ninh năng lượng (90% các công trình trúng thầu, tạicác địa bàn xung yếu về quốc phòng – an ninh  như Quảng Ninh, Vũng Áng, Cửa Việt,Tây Nguyên…),trước việcngười lao động Trung Quốc sang Việt Nam lập làng, thâm nhập sâu, thậm chí lấy vợ, sinh con, đồng hóa dân tộc… Trong tương quan giữa Việt Nam và Trung Quốc với các chỉ số so sánh quá cách biệt, mà sức nặng nghiêng về phía Trung Quốc, nếu cú đấm đằng trước đã là hết sức khó khăn để chống đỡ, thì cú đánh đằng sau lưng hoặc thọc ngang mạng sườn còn khủng khiếp hơn nhiều.

Hoạt động của Trung Quốc thời gian qua cho thấy áp lực dân số và “ước mơ Trung Hoa” – “ước mơ” trỗi dậy một cách nhanh chóng, trở thành siêu cường có khả năng chi phối thế giới đang thúc đẩy Trung Quốc thực hiện chiến lược lấn át láng giềng, chiếm trọn Biển Đông. Nhìn tổng quá, đối với Việt Nam, Trung Quốc đang sử dụng “chiến lược hai gọng kìm”- khống chế Việt Nam cả từ trên bộ, cả từ hướng biển.

Trong điều kiện bất ổn ở Biển Đông không ngừng leo thang dưới bàn tay đạo diễn của Trung Quốc, Việt Nam đang phải đối diện với những thách thức to lớn,đầy nguy cơ kể từ sau khi kết thúc chiến tranh (1975). Một lần nữa, dân tộc Việt Nam lại phải đối diện với ý đồ xâm lăng rõ rệt, trắng trợn của Trung Quốc trong một cuộc chiến không cân sức trong tình thế khá đơn độc. Việt Nam đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng kép không chỉ trên những thách thức kinh tế (khi nền kinh tế bị lệ thuộc quá nhiều và quá sâu vào Trung Quốc), mà còn ở vị thế tại khu vực (khi Trung Quốc thò bàn tay vào công việc các nước láng giềng của Việt Nam, vào quan hệ Việt Nam với láng giềng) và trong những đe dọa chủ quyền, lãnh thổ, lãnh hải. Đây là một giai đoạn lịch sử hết sức nhạy cảm, nếu Việt Nam không có chiến lược, đối sách phù hợp, rất có thể sẽ để lại những tác động bất lợi đối với tiền đồ dân tộc.

Để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải, bảo vệ từng tấc đất thấm máu cha ông, thấm máu những anh hùng liệt sĩ, Việt Nam quyết không lùi bước, lùi bước, đớn hèn là có tội với tiền nhân, có tội với lịch sử.Để có thể vượt qua khúc quanh của lịch sử, việc giải quyết tốt hai mặt đối nội, đối ngoại là yêu cầu sống còn nhằm quy tụ tối đa sức mạnh nội lực, quốc tế, tạo ra sức mạnh tổng hợp cần và đủ để Trung Quốc hiểu rằng không thể dễ dàng hành xử theo lối bất chấp và tự viết nên luật lệ của mình.

Về đối nội, cần ra sức xây dựng, củng cố đồng thuận xã hội,không ngừng xây dựng thực lực đất nước. Lợi ích quốc gia dân tộc được đảm bảo ở mức độ nào, tùythuộc vào đất nước mạnh hay yếu; thành công hay hạn chế trong quan hệ giữa các quốc gia phụ thuộc chủ yếu vào thực lực mỗi nước. Thực lực của một quốc gia tất nhiên phải được hiểu là sức mạnh tổng hợp cả về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật và công nghệ, địa vị, ảnh hưởng quốc tế…. Câu chuyện đầu tiên, trước mắt cấp thiết cần phải làm ngay là thực hiện đoàn kết dân tộc một cách chân thành ở cả trong và ngoài nước không phân biệt chính kiến, ý thức hệ, địa vị, thành phần, giai cấp… – Đó là yếu tố cốt lõi làm nên sức mạnh cất cánh của đất nước. Sự gắn kết bền chặt giữa người Việt với người Việt tạo ra sức mạnh bất khả chiến bại – sức mạnh của tinh thần dân tộc, ý chí dân tộc. Đây cũng là cơ hội để hòa hợp, hòa giải dân tộc, khép lại quá khứ, gạt bỏ hận thù, thành kiến, xóa đi vết sẹo chiến tranh 40 năm nay chưa kịp lên da non. Không có lý gì khi hai cựu thù Việt – Mỹ đã có thể ngồi cùng bàn đối thoại mà đồng bào “máu đỏ, da vàng” cùng chung một đất nước lại không thể nối vòng tay lớn để cùng chấn hưng quốc gia? Cũng muốn nói thêm rằng, điều đó phụ thuộc một phần không nhỏ vào chính sách hòa giải dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Về đối ngoại, Việt Nam phải thay đổi căn bản tư duy về quan hệ quốc tế, xem lại chính sách đối ngoại “ba không”. Chính sách “xoay trục” của Mỹ và sự quan tâm của nhiều nước trên thế giới đối với vấn đề Biển Đông đang tạo ra những thuận lợi nhất định cho Việt Nam. Việt Nam nhất định phải nắm lấy cơ hội, chuyển hóa tranh chấp của mình với Trung Quốc theo chiều hướng có lợi nhất, hóa giải các tác động tiêu cực.Việt Nam cần có cách tiếp cận mới trong việc thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ mọi mặt, kể cả quan hệ quân sự với Mỹ để đối phó với sự đe dọa từ phương Bắc. Cần bước qua những mắc mớ quá khứ và gạt bỏ cơn ám ảnh “diễn biến hòa bình” để nhìn thấy ở Mỹ một đối tác có chung lợi ích cùng ngăn cản một Trung Quốc đang trong“cơn khát” đất, khát lãnh hải và mê sảng quyền lực. Không chỉ có vậy, Việt Nam cũng cần có tư duy mới về bạn – thù, cần nhận thức rõ rằng, nền tảng của mọi mối quan hệ quốc tế đương đại là lợi ích, chỉ có lợi ích là vĩnh viễn,vì thế, Việt Nam cần nhìn nhận chính xác các mục tiêu, hoạt động của các nước Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, Nga, Mỹ trong khu vực và trong giải quyết vấn đề Biển Đông, không để tư duy bạn – thù cứng nhắc, nỗi lo sợ “diễn biến hòa bình” cản trở những quyết định tỉnh táo.

Việt Nam cần chủ động tạo nên cục diện các nước lớncó lợi ích kinh tế và an ninh ngày càng gia tăng, quấn bện trong quan hệ với Việt Nam,gắn lợi ích, gắn các chính sách của Việt Nam vào các hoạt động kinh tế và chính trị của mạng lưới khu vực rộng lớn. Việc việc đan xen lợi ích và chính sách như thế, một cuộc tấn công Việt Nam cũng sẽ bị coi như sự xâm phạm lợi ích của các nước khác. Ứng phó với Trung Quốc là cả một nghệ thuật, trong cương có nhu, trong nhu có cương, uyển chuyển giữa đối đầu – đối thoại và không loại trừ chính sách liên minh, tuyệt đối không đồng nghĩa liên minh với bè phái, với mất tự chủ hoặc mất độc lập; đồng thời, ghi nhớ rằng, liên minh không phải để tạo ra một tập hợp lực lượng chống Trung Quốc, mà để tự bảo vệ mình, ngăn ngừa Trung Quốc một cách chính đáng và hiệu quả.

Một cách tổng quát, một Việt Nam lớn mạnh, dân chủ, phát triển, coi tham nhũng và thiếu nhân quyền là kẻ thù, có sự ủng hộ, hậu thuẫn to lớn của quốc tế chắc chắn sẽ trở thành một pháo đài vững chắc kháng cự mọi thách thức, chép ép, đe dọa từ Trung Quốc.


[1]Tuyên bố của Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam, Báo Nhân dân, 15-3-1988.

[2]Như trên.

[3]Như trên.

( Nguồn; vanhoangheAN…)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 14.03.2015

TRƯỜNG SƠN-THƠ

Ngô Minh

TRƯỜNG SƠN

 con đi xa

lửa cười mạ khóc

nước mắt già rắn niềm cát đúc

âm thầm rơi giọt sương khuya

mạ ru con lớn khôn

mà biển chẳng ru được một giờ mạ ngủ

năm canh mọt nghiến kèo nhà

 

anh đi xa

em ngại soi gương

tờ lịch rơi mỗi ngày như tóc rụng

thư gửi đi không tin là đến

gặp mắt ai nhìn cũng bùng cháy nhớ mong

gió nồm gió nồm đập chi hoài cửa liếp

suốt mười năm em dễ chạnh chòng

 

suốt mười năm ta lên Trường Sơn

mạ và em đã chờ ta như thế

bạn bè ơi đạn bom đèo núi

một thời trai mấy lớp lá rừng

sao lúc trở về ta mới hiểu Trường Sơn

 

Trường Sơn

ấm áp bên vai mỗi ngày nương tựa

ta ngước lên tìm lại tuổi mình

trong dằng dặc thời gian bồi đắp

mãi cao vời bóng mạ, tình em

 

một Trường Sơn suốt đời không đi hết

vẫn nghiêng về trên trang viết đêm đêm

Tàu chiến TQ bắn vào tàu chiến ta ở Gạc Ma 1988

QTXM-Hôm nay ngày 14-3, là ngày mà năm 1988, chúng ta mất đảo Gạc Ma. Nỗi đau đó không thể nguôi ngoai. Điều đau đớn nhất là mất GạcMa không phải vì bộ đội ta yếu hay ít mà bộ đội ta đủ sức mạnh để đánh trả bọn xâm lược Đại Hán, vì những người lính ấy vừa qua khỏi cuộc chiến hơn 10 năm, đủ  ý chí và kinh nghiệm để diệt giặc. Nhưng họ đã tghanhf bia để cho bọn giặc Tàu ngắm bắn mà không được chống trẻ, chỉ vì lệnh từ đất liền”không được nổ súng!”.Bài viết sau đây giúp bạn đọc tìm hiểu ai đã ra cái lệnh phản quốc ấy. QTXM chỉ thông tin, không bình luận.

Ai ra lệnh không được nổ súng trong trận Gạc Ma?

Mặc Lâm

 Tàu chiến Trung Quốc trực xạ bắn vào tàu vận tải công binh của Việt Nam khiến 64 chiến sĩ Hải quân VN đã hy sinh cùng với lệnh không được nổ súng…

Mỗi năm vào ngày 14 tháng Ba, hình ảnh cuộc tàn sát 64 bộ đội công binh Quân đội Nhân dân Việt Nam lại ám ảnh gia đình họ và người có quan tâm. Những cái chết này là một sự kiện lịch sử cần phải làm rõ ai là thủ phạm trực tiếp, trói tay bộ đội bằng chính sách kềm chế trước đội quân hung hãn Trung Quốc.

Lệnh không được nổ súng

Từ đầu năm 1988 Trung Quốc đã có những hành động lấn chiếm các đảo đá thuộc quần đảo Trường Sa bằng cách đưa hai chiến hạm thị uy chung quanh khu vực. Trước hành động khiêu khích công khai ấy Việt Nam đã khởi động chiến dịch có tên Chủ quyền 88 viết tắt là CQ-88 bằng cách gửi bộ đội công binh mang vật liệu xây dựng tới nhóm đảo Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma để xây dựng các cơ sở tại đây nhằm khẳng định sự có mặt của Việt Nam trên nhóm đảo quan trọng này.

Tuy biết trước sự hiếu chiến và quyết tâm chiếm đảo của Trung Quốc nhưng bộ đội công binh Việt Nam lại không được trang bị vũ khí và quan trọng hơn nữa họ được lệnh không được bắn trả lính Trung Quốc. Chỉ một vài bộ đội trên tàu mang vũ khí cá nhân và nhóm bộ đội tiến vào cắm cờ trên đảo Gạc Ma đã tay không đối diện với giặc. Anh Nguyễn Văn Thống một người sống sót trong khi tiến vào Gạc Ma xác nhận với Đài Á Châu tự do lệnh không được nổ súng này:

-Bên mình lúc ra đi là quán triệt không được nổ súng bất kỳ giá nào cũng không được nổ súng.

Thượng tá Hoàng Hoan, Chỉ huy phó Chính trị trung đoàn công binh 83 kể lại với báo chí cái chết của trung úy Trần Văn Phương người đầu tiên ôm cờ bị lính Trung Quốc bắn chết trước mặt đồng đội. Thượng tá Hoan xác nhận đây là hành động kềm chế trước sự hung hãn của lính Trung Quốc:

Bên mình lúc ra đi là quán triệt không được nổ súng bất kỳ giá nào cũng không được nổ súng

Anh Nguyễn Văn Thống

-Sau một thời gian giằng co nhau quyết liệt và xảy ra việc Phương bị thương và sau chết tại đảo và Lanh thì bị thương nằm gục xuống rồi thì anh em cùng với nhau đối với bọn Trung Quốc đó, cuối cùng thì bọn nó nhanh chóng rút lui ra. Nhưng mà nó có cái chuyện, tức là nó nổ súng trước còn ta thì có thái độ kềm chế chủ yếu là mềm dẻo để giải quyết đúng đắn khẳng định rõ chủ quyền Việt Nam, tôi đã ở đây rồi! Thế nhưng phía Trung Quốc vẫn cứ nổ súng vào cán bộ chiến sĩ của xây dựng và đi giữ đảo.

Câu chuyện của 27 năm về trước vẫn nằm im trong những trang sử của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Lời kể của những bộ đội công binh không đủ sức thuyết phục dư luận cho đến khi chính một vị tướng chính thức lên tiếng về việc này. Ông là thiếu tướng Lê Mã Lương, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, từng giữ chức Giám đốc Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam nói trước cuộc tọa đàm kỷ niệm cuộc chiến Gạc Ma do Trung tâm Minh triết tổ chức vào năm ngoái, Tướng Lê Mã Lương cho biết:

-Nó có một câu chuyện như thế này: Có đồng chí lãnh đạo cấp cao ra lệnh bộ đội ta không được nổ súng nếu như đánh chiếm cái đảo Gạc Ma hay bất kỳ đảo nào ở Trường Sa. Không được nổ súng! Và sau này nó có một câu chuyện và nó đã được ghi vào tài liệu mà ta đã rõ rồi là khi trong một cuộc họp của Bộ Chính trị, đồng chí Nguyễn Cơ Thạch đập bàn và nói là ai ra lệnh cho bộ đội không được nổ súng?

Những người lính hy sinh đầu tiên ấy cộng thêm con số bộ đội bị quân Trung Quốc sát hại nâng lên 64 người là một vết thương lớn cho người lính bất cứ quân đội nào khi họ không được cầm súng chống lại quân thù, tướng Lê Mã Lương chia sẻ:

Ngài Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hồi bấy giờ là ngài Lê Đức Anh đã ra cái lệnh như vậy mà anh Lê Mã Lương đã tường thuật trong hội thảo tưởng niệm Gạc Ma của chính Trung tâm Minh Triết tổ chức ở Khách sạn Công đoàn năm ngoái, thì bây giờ ta phải công khai cái này.

Ông Nguyễn Khắc Mai

-Trong lịch sử của Hải quân Nhân dân Việt Nam chưa có trận nào mà hải quân ta chỉ có mấy phút thôi chúng ta chết đến hơn nửa đại đội. Không có chuyện lịch sử Hải quân, lịch sử của các đơn vị chiến đấu bộ binh chỉ trong mấy phút mà tiêu như thế, trừ bom, nó bỏ trúng đội hình đang hành quân hoặc là nó thả trúng đội hình đang đóng quân còn trong đánh nhau ta cũng trong thế chủ động thì không có chuyện đó. Cho nên đó là cái nỗi đau mà nỗi đau này nó âm ỉ và nó sẽ đi với người lính cho tới khi kết thúc sứ mệnh trên cái đất này.

TS Nguyễn Văn Khải người tham dự buổi hội thảo cho biết nhận xét của ông về việc tướng Lương công khai điều mà Bộ quốc phòng Quân đội Nhân dân Việt Nam giấu kín sau sự cố Gạc Ma:

-Câu đó của Lê Mã Lương là hoàn toàn đúng bởi vì những năm 80 tôi là TS Thiếu tá và có anh họ là Lê Ngọc Hiền là Thứ trưởng Quốc phòng, Lê Trọng Tấn là Tổng Tham mưu trưởng quân đội cho nên những chuyện này chúng tôi biết cả.

Bộ trưởng Quốc phòng, Lê Đức Anh

Ông Nguyễn Khắc Mai giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Văn hoá Minh Triết cho biết vai trò của ông Lê Đức Anh lúc ấy là Bộ trưởng Quốc phòng, người được xem là đã ra lệnh cho bộ đội không được nổ súng:

-Ngài Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hồi bấy giờ là ngài Lê Đức Anh đã ra cái lệnh như vậy mà anh Lê Mã Lương đã tường thuật trong hội thảo tưởng niệm Gạc Ma của chính Trung tâm Minh Triết tổ chức ở Khách sạn Công đoàn năm ngoái, thì bây giờ ta phải công khai cái này.

Một Bộ trưởng Quốc phòng thấy giặc nó xâm lấn bờ cõi của mình mà ra lệnh không được chống lại, đứng im như thế cuốn cờ lên người mình để cho nó nã súng nó bắn!

Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, một nhà ngoại giao kỳ cựu, am hiểu sâu sắc vấn đề Trung Quốc đánh giá quyết định không nổ súng của Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh:

-Tôi cho rằng lúc bấy giờ ông Lê Đức Anh được đưa lên làm Bộ trưởng Quốc phòng mà làm cái việc như thế là một việc phản quốc. Ra lệnh không được bắn lại để cho Trung Quốc nó giết chiến sĩ của mình như là bia sống thì tôi cho đó là một hành động phản động, phản quốc.

Ông Lê Đức Anh là cai đồn điền cao su của một người tình báo của Pháp chứ ông ta không phải tham gia cách mạng lâu dài gì đâu. Chẳng qua ông ấy khai man lý lịch rồi thì được lòng ông Lê Đức Thọ, ông Lê Đức Thọ cứ đưa ông ấy lên vù vù trở thành Bộ trưởng Quốc phòng, sau này thành chủ tịch nước. Cái điều đó những người biết chuyện như tôi lấy làm đau lòng lắm và cho là một nỗi nhục của đất nước.

Cho đến hôm nay 64 người anh hùng liệt sĩ ở Gạc Ma đấy nhiều người xác vẫn còn nằm dưới biển và cái ông Nông Đức Mạnh nguyên Tổng bí thư lại trả lời rằng thôi cứ để yên như thế! Đáng lẽ anh phải… tìm cách vớt và đưa thân xác của các liệt sĩ ấy về quê mẹ thì anh lại để im…

Ông Nguyễn Khắc Mai

Sau khi bị tàn sát, thi thể những người lính tay không súng ống ấy không phải đều được về nhà mà một số rất lớn đã trôi dạt khắp vùng biển quê hương bởi Bộ Quốc phòng Việt Nam không có một một cố gắng nào mang họ về đất liền như tất cả mọi quân đội khác trên thế giới phải làm. Ông Nguyễn Khắc Mai nhận xét:

(…)

Tại sao cứ im lặng? chỉ cho mấy cái anh cấp người phát ngôn Bộ Ngoại giao nói tới nói lui một điệp khúc nhàm chán vô cùng và bọn Trung Quốc nó không thèm đếm xỉa gì tới, nó coi đấy là cái chuyện tào lao thì đấy là cái đau, đấy là cái nhục về Gạc Ma.

Ngày 14 tháng Ba mỗi năm không những là ngày giỗ chung của 64 gia đình liệt sĩ nhưng còn là ngày mà lịch sử Việt Nam sẽ phải làm rõ ai là thủ phạm chính trong cuộc tàn sát này. Mặc dù nó được phóng lớn lên thành cuộc chiến Gạc Ma nhưng người trong cuộc biết rõ đó là một cuộc chiến mà bên bị hại không được nổ súng.

M.L.

Nguồn: http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/who-ord-no-fir-in-garma-03122015052720.html

THỬ TÌM MANH MỐI GIỮA “BÀI THƠ ĐỒNG CHÍ CỦA TÔI” CỦA VĂN CAO VÀ CUỘC HÀNH HÌNH CỤ NGHÈ CƠ THỜI CCRĐ?

                                         Trần Lê Hạnh An
 Miền Bắc những năm sau đại họa CCRĐ, lại tiếp đến “Nhân văn giai phẩm”. Văn Cao, Hoàng Cầm là những văn nghệ sĩ có dính ít nhiều đến vụ án này; nhưng rất may cho Văn Cao là không bị bắt giam như Hoàng Cầm. Một lớp văn nghệ sĩ trẻ như Nhà văn Văn Linh (tên thật Trần Ngọc Linh,  sinh ngày 1/1/930 tại phường Đại Nai, thị xã Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh) viết tiểu thuyết “Mùa hoa dẻ” (được NXB Thanh niên ấn hành năm 1957) bị đánh tơi bời trên báo chí CM. Đó là một tác phẩm hiếm hoi ở thập niên 1950 viết về một chuyện tình thời chiến với những xúc cảm hồn nhiên, chân thật mà rất đỗi nồng nàn, say đắm. Nhà thơ Phan Xuân Hạt, viết bài thơ “Hạnh phúc khôn tròn” (1962), bị quy kết “có vấn đề về tư tưởng”, “hữu khuynh”…Trong hoàn cảnh ấy, nhóm những VNS “có vấn đề” này như một sự “mặc nhiên” đã thường hay gần giủi, chơi thân với nhau. 
Nhà văn Văn Linh lấy vợ tên là Phạm Thị Hoa – người thôn Tiên Lệ, xã Quảng Tiên, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Bà Phạm Thị Hoa, thầy giáo Phan Văn Khuyến (người thôn Thọ Linh, xã Quảng Sơn, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình) và Trần Ngọc Linh (đích danh tác gỉa) là ba “nguyên mẫu” của bộ ba trai gái trong tiểu thuyết “Mùa hoa dẻ”. Trong CCRĐ, bà Phạm Thị Hoa lại là cán bộ của Hội Phụ nữ huyện Quảng Trạch. Phiên tòa “Nhân dân” xử tử cụ Nghè Cơ Nguyễn Bá Ky ngày 27 Tết Ất Mùi (thứ 4 ngày 8/2 -1956) là do bà Hoa làm “Chủ tòa”. Diễn biến câu chuyện tại phiên tòa “Nhân dân” đó được Nhà báo Lê Quang Vinh viết lại trong bài báo “Cuộc hành hình Cụ Nghè Cơ và bài thơ Đồng chí của tôi của Văn Cao”. 
Nhà thơ Phan Xuân Hạt đồng hương “Nghệ – Tĩnh” với Văn Linh nên có quan hệ rất gần gũi cả gia đình Nhà văn Văn Linh. Ông Phan Xuân Hạt hiện 85 tuổi, sống ở Hà Nội, khẳng định mối quan hệ thân thiết giữa Văn Cao và Văn Linh và cả nhóm văn nghệ sĩ “có vấn đề” thời những năm 60 – 70 thế kỷ trước; nhưng ông không chắc về sự “liên thông” giữa bài thơ của Văn Cao với phiên tòa xử tử cụ Ngè Cơ có phải do chính Văn Linh kể với Văn Cao hay không. Vì vậy, chắp nối các mối quan hệ cá nhân trên khi hầu hết mọi người trong các mối quan hệ ấy hiện đã qua đời, thì một câu hỏi vẫn chưa có sự rõ ràng: Không biết “nhân vật” trong bài thơ của Văn Cao có phải nguyên mẫu là Cụ Nghè Cơ do chính người bạn là Nhà văn Văn Linh đã kể lại với ông hay không để Thi sĩ Văn Cao lấy cảm hứng sáng tác nên bài thơ lột tả những giây phút cuối cùng thật kỳ lạ ở một con người rất đặc biệt ấy – Một nhà nho, một cán bộ Việt Minh, một đảng viên Cộng sản, một tử tội của CCRĐ? Một tác phẩm mà như Nhà Thơ Nguyễn Trọng Tao nhận định: “Bài thơ tràn đầy lòng tin vào chủ nghĩa xã hội mà cảnh tỉnh những sai lầm của hiện tại, nó là tiếng lòng thống thiết của người cộng sản bị xử bắn oan gửi tới các đồng chí của mình. Không trung thực với Đảng, không có lòng can đảm của một đảng viên, không chan chứa một trái tim nhân đạọ…không thể viết được một bài thơ rớm máu như thế ”. Còn nhà báo Lê Quang Vinh, trong “Cuộc hành hình cụ Nghè Cơ và Bài thơ đồng chí của tôi”: “Tôi cứ đọc đi đọc lại bài thơ, trong đầu cũng cứ nổi lên bao lần câu hỏi: Chẳng lẽ Thi sĩ Văn Cao chứng kiến hoặc nghe ai đó kể tường tận cho ông biết về cuộc hành hình của Đội CCRĐ xã Quảng Hòa, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đối với Thân sĩ yêu nước, đảng viên Đảng Lao động VN, Lão thành CM tiền khởi nghĩa Cụ Nghè Cơ – Nguyễn Bá Ky? Nếu không thế, để giờ đây con cháu hậu duệ Cụ Nghè Cơ và cả chúng ta, làm sao có được bức tranh vô cùng bi thương bằng thơ chi tiết, điển hình và chính xác đến từng hơi thở của nạn nhân mà Văn Cao xây dựng nên (vẻ lại) tài tình đến thế? 
Có điều, trong bài thơ của Văn Cao, một chi tiết có khác với thực tế tại cuộc hành hình cụ Nghè là:
 “Giống như một nữ đồng chí
Một anh hùng của Hà Tĩnh
Tôi sẽ phải

Như mọi chiến sĩ bị địch bắn
Đảng Lao động Việt Nam muôn năm
 
 Trong khi phiên tòa diễn ra tại Quảng Bình, cụ Nghè đã hô: “Hồ Chủ Tịch muôn năm!” đến 3 lần. Điều này cũng dễ hiểu và phổ biến trong sáng tạo nghệ thuật. 
Nhưng cuộc đời cũng có nhiều điều vô cùng ngẫu nhiên tựa như sự sắp đặt cố ý và có trường hợp đến mức thật trớ trêu. Bà quý phu nhân Nhà văn Văn Linh chính là em ruột bà Phạm Thị Liên. Bà Phạm Thị Liên lại là em dâu út (vợ em trai) của người con rể nổi tiếng vừa là “đồng chí” của cụ Nghè Cơ. Bà Phạm Thị Liên và bà Phạm Thị Hoa có người anh trai Phạm Phú Thang – Chủ hiệu ảnh “Phù Thăng” nổi tiếng một thời tại TP. Thanh Hóa.
                                                                                      21 giờ 52′ ngày 12/3/2015
                                                                                                         TLHA
ĐỒNG CHÍ CỦA TÔI
Người ta các đồng chí của tôi
Treo tôi lên một cái cây
Đợi một loạt đạn nổ
Tôi sẽ dẫy như một con nai con
Ở đầu sợi dây
Giống như một nữ đồng chí
Một anh hùng của Hà Tĩnh
Tôi sẽ phải kêu lên
Như mọi chiến sĩ bị địch bắn
Đảng Lao động Việt Nam muôn năm
Cho mọi người hiểu khi tôi chết
Vẫn còn là một đảng viên
Cho mọi người hiểu khi tôi chết
Máu của tôi vẫn còn là máu của Việt Nam
Ở dưới gốc cây có các cụ già các bà mẹ
đã nuôi cách mạng
Các em nhỏ từ ba tuổi đứng nhìn tôi
dẫy chết
Có mẹ tôi
Ba lần mang cơm đến nhà tù
Hãy quay mặt đi
Cho các đồng chí bắn tôi
Tôi sợ các cụ già không sống được
Bao năm nữa
Để nhìn thấy xã hội chủ nghĩa
Của chúng ta.
Chết đi mang theo hình đứa con
Bị bắn
Tôi sợ các em còn nhỏ quá
Sẽ nhớ đến bao giờ
Đến bao giờ các em hết nhớ
Hình ảnh tôi bị treo trên cây
Bị bắn
Hãy quay mặt đi
Cho các đồng chí bắn tôi…
Nước mắt lúc này vì Đảng nhỏ xuống
Dòng máu lúc này vì Đảng nhỏ xuống
Đảng Lao động Việt Nam muôn năm
Đảng Lao động…
                                              (1956)
( Tác giả gửi cho QTXM)

(Đọc tiếp…)

Nhà văn Nguyễn Đắc Xuân phỏng vấn Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng về vụ kiện của Hiệu trưởng Đại học Tôn Đức Thắng

  •   Nguyễn Đăng Hưng – Nguyễn Đắc Xuân

 

Gs Nguyễn Đăng Hưng Gs Nguyễn Đăng Hưng

VHNA: Vụ Hiệu trưởng Đại học Tôn Đức Thắng kiện Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng về tạp chí khoa học APJCEN  đã bắt đầu từ năm 2014. Ngày 17 tháng 3 này vụ kiện sẽ được Tòa án Nhân dân quận 9 – Tp Hồ Chí Minh xét xử. Sự thật, bản chất vụ việc chắc chắn sẽ được tòa xem xét và phân xử đúng sai. Hy vọng một phán quyết công minh, có lý, có tình của tòa án để góp phần làm lành mạnh hóa các sinh hoạt học thuật, thúc đẩy nền khoa học nước nhà phát triển.

VHNA đăng bài phỏng vấn Gs Nguyễn Đang Hưng của nhà văn, nhà nghiên cứu lịch sử và là nhà báo Nguyễn Đắc Xuân. Các ý kiến, quan điểm trong bài phỏng vấn này là của hai chủ nhân cuộc phỏng vấn.

 

Nguyễn Đắc Xuân. – Biết tôi có thân quen với anh từ lâu, vừa rồi anh em ở Huế gặp nhau buổi sáng ở cà-phê Sơn phía sau TTVHPG Liễu Quán, hỏi tôi “Vụ Hiệu trưởng Đại học Tôn Đức Thắngkiện GS Nguyễn Đăng Hưng ngã ngũ ra sao rồi?”, thú thật là tôi chỉ nghe loáng thoáng chứ không biết cụ thể ất giáp ra sao cả, nên không dám trả lời, vậy nhân tiện gặp nhau hôm nay anh có thể trả lời giúp tôi câu này được không? Nếu được tôi sẽ đưa lên trang Web gactholoc.net của tôi để cho bạn bè tôi được hiểu rõ một vấn đề đang được giới trí thức trong và ngoài nứơc quan tâm!

GS Nguyễn Đăng Hưng.- Như tôi có thông báo trên trang Facebook cá nhân, vụ kiện đã bị đình chỉ theo quyến định của Toà Án Q.9 Tp HCM ngày 22/8/2014. Phần tôi, dù có nhiều lý do chính đáng, dù bạn bè tâm huyết khuyên bảo là nên làm cho ra lẽ, tôi đã không phản tố. Tôi muốn trở lại với sự thanh thản, yên lành, với công việc nhẹ nhàng của một nhà giáo đang nghỉ hưu tại quê nhà…Tôi vẫn còn hằng ngày lo cho tạp chí khoa học APJCEN, đang tiếp tục sống vui, cống hiến và phát triển trên mạng, đóng vai trò thiết thực cho hôm nay: Giúp các nhà khoa học trẻ Việt Nam và Đông Nam Á có thể phổ biến nhanh và gọn công trình khoa học giá trị của mình ra quốc tế mà không phải trả phí…

Vụ tranh chấp khởi đầu từ cuối tháng tư trên không gian học thuật quốc tế rồi kéo về Việt Nam bằng việc vụ kiện ở Toà án Q9 Tp HCM, vụ tố giác hình sự song song tại Q7 Tp HCM. Mới đây nghĩa là sau gần 4 tháng bỏ lửng, Hiệu Trưởng ĐH Tôn Đức Thắng nộp lại đơn, tiếp tục kiện tôi và Tòa Án nhân dân Q9 vừa gởi cho tôi một giấy triệu tập. Vì đang ở Bỉ, tôi đã viết thư xin hoãn lại cho đến sau Tết, khi tôi đã về Việt Nam.Tôi dùng thời gian tại Bỉ để chuẩn bị một số bài phân tích có chứng cớ khoa học và có tính thuyết phục cao, dùng cho ngày tự biện hộ tại Tòa và kịp thời thông tin cho công luận là nội dung nguyên đơn không có cơ sở thậm chí còn có chỗ sai trái. Các tài liệu đã được đặt trên mạng. Chỉ cần bấm chuột tra cứu các đường dẫn thì sẽ thấy xuất hiện tài liệu minh chứng!

Nguyễn Đắc Xuân. – Qua anh Đặng Tiến ở Pháp, tôi biết anh nguyên là một GS đại học có tiếng ở Liège (Bỉ), một nhà khoa học đã đào tạo nên nhiều thạc sĩ, Tiến sĩ cho đất nước, trong đó có người con rể của tôi mà lại bị dính vào một vụ kiện kèm theo một vụ tố cáo với khả năng có thể thân bại danh liệt. Trong những ngày này, anh đang suy nghĩ gì về hoàn cảnh của anh hiện nay?

GS Nguyễn Đăng Hưng.- Việc tôi đã bỏ ra gần 20 năm cho Việt Nam, liên tục đi về để đề xướng và điều hành các Trung tâm đào tạo thạc sỹ tại TP HCM và Hà Nội. Việc này đã được đông đảo công luận biết tới. Từ ngày có vụ kiện, ta thấy xuất hiện trên mạng một kẻ xấu miệng bảo trong khoảng thời gian trên tôi đã làm “cò giáo dục”. Lời này rất ác độc vì nó phủ nhận công sức, nhất là tấm lòng nhân ái của gần 100 nhà khoa học cao cấp từ Bỉ, Pháp, Ý, Hà Lan, Thụy Diển .. cùng tôi về Việt Nam giảng dạy mà không hưởng lương. Đã có 318 thạc sỹ tốt nghiệp và trong đó 75 em đã bảo vệ luận án tiến sỹ thành công ở các nước tiến tiến. Trong 75 em này có 5 em làm luận án dưới sự hướng dẫn khoa học trực tiếp của tôi. Anh Đăng Tiến tử tế nói thế, chứ tôi nghĩ tôi chỉ là một giáo sư, một nhà khoa học thường thường bậc trung thôi anh ạ. Tôi không bao giờ dám nhận mình là nổi tiếng đâu. Nhất là tháng 8/2014 vừa qua cũng cái từ này mà nhà báo Lê Thanh Phong đăng trên tờ báo mà trước đây anh từng cộng tác lâu năm, báo Lao Động, một bài báo dùng thủ thuật khá tệ hại để bôi nhọ tôi [1]. Ông ta cố tình bỏ đi một dòng của một bài phỏng vấn (GS Hưng trên Dân Trí [2]) rồi “dựng lên chi tiết giả này (GS Nguyễn Đăng Hưng tự nhận mình là nhà khoa học lừng danh) và lặp đi lặp lại nhiều lần để gây ấn tượng phản cảm cho người đọc về cá nhân tôi! Tôi đã phải vất vả, nhờ nhà báo Kim Dung cho đăng tải một bài phản bác vạch trần thủ thuật tệ hại [3], nói lên sự thật. Sự thật là là các chuyên gia của nhà xuất bản Springer đã gắn từ ấy cho tôi qua một thư điện tử [4] nói lên lý do tại sao đã ủng hộ chúng tôi cho ra đời tạp chí APJCEN.

Để xét đoán một cách khách quan vị trí khoa học của một nhà nghiên cứu, ngày nay thế giới đã có những công cụ truy lùng thống kê đánh giá ảnh hưởng qua những chỉ số chuyên môn. Tuy đã lấy hưu trí 8 năm rồi, gần như không còn hoạt động nghiên cứu khoa học nũa, tên tuổi tôi vẫn còn được chú ý trên mạng sau 40 năm giảng dạy và làm khoa học tại Bỉ. Xin anh vào website [5] Researchgate.net, một công cụ của Đức hiện nay rất được các nhà khoa học đánh giá cao, sẽ thấy vị trí khách quan vô tư và khoa học về cá nhân tôi. Công cụ này đã tự động truy lùng trên mạng và tìm lại được 180 bài công bố khoa học của tôi, xác định chỉ số ảnh hưởng (Impact number) của tôi là 86.3, chỉ số điểm tổng hợp của tôi là 29,3 và xếp tôi cao hơn 85% các nhà khoa học trên thế giới được công cụ này chiếu cố. Ngạn ngữ Việt Nam có câu “Cây ngay không sợ chết đứng”, tôi không hề ưu tư lo ngại về sự tác hại tiêu cực của vụ kiện không có cơ sở này. Ngược lại, trong quá khứ gần đây và trong những ngày tháng sắp đến, vì phải hành động tự bảo vệ mình, tôi sẽ có dịp tỏ bày thêm cho công luận tấm lòng của tôi đối với việc phát triển giáo dục và khoa học nước nhà. Tôi không làm gì sai trái. Lương tâm tôi rất thanh thản anh Xuân ạ!

Nguyễn Đắc Xuân. – Từ những việc đã xảy ra, anh có ân hận gì về quyết định hồi hương của anh không?

GS Nguyễn Đăng Hưng.- Không ít người bảo tôi “Ai biểu về Việt Nam làm gì, ở bên Bỉ có yên lành hay hơn không”.  Nay anh cũng có ý đó. Thú thật tôi chưa có gì phải ân hận. Ngay những ngày đầu những năm 90 khi quyết định lao vào công việc giúp Việt Nam đào tạo nhân lực đại học, tôi đã chờ đợi sẽ gặp nhiều khó khăn, ách tắc. Và trên thực tế trong khoảng thời gian dài 12 năm quản lý và điều động các chương trình đào tạo thạc sỹ do chính phủ Bỉ và Liện Hiệp Châu Âu tài trợ, tôi đã phải đối mặt với rất nhiều lực cản. Nhưng tôi đã qua được và thu thập được nhiều kinh nghiệm có đắng cay nhưng vui là chính. Có lẽ lần này tôi sẽ phải đối mặt với những thách thức ghê gớm hơn. Nhưng tôi tin là mọi chuyện sẽ sáng tỏ, lòng tôi trong sáng, tôi không làm gì không đúng mà phải ân hận…

Nguyễn Đắc Xuân. - Lúc về thăm nhà riêng của anh ở Quận 9, tôi biết anh đang điều hành một công ty chuyên thiết kế máy bay thế hệ mới cho một nước nào đó ở châu Âu, thế tại sao anh lại bỏ Công ty ấy và khi nào anh chuyển qua cộng tác với trường ĐH TDT ? Anh hãy chia sẻ đôi nét về sự cộng tác này.

GS Nguyễn Đăng Hưng.- Tôi đã chuyển nhượng 95% Công Ty Hưng Việt cho người Đức. Chỉ còn giữ lại 5% làm nghiệp vụ cho thuê phần mềm thiết kế cấu trúc cơ khí phức tạp. Tôi bắt đầu làm cố vấn học thuật cho trường ĐH Việt Đức từ năm 2011 và làm cố vấn cao cấp cho ĐH Tôn Đức Thắng từ cuối 2012. Đây là những hợp đồng nhẹ nhàng, không phải có mặt thường xuyên, chỉ tư vấn, góp ý khi có yêu cầu.

Nguyễn Đắc Xuân.- Có lần chúng ta tâm sự với nhau – đặc biệt là sau những lần anh ngã bệnh nặng phải giải phẫu nầy nọ – rằng chúng mình tuổi đã cao phải biết chỗ dừng để lo hậu sự, vậy mà làm sao anh lại chưa chịu nghỉ, còn lao vào những hoạt động phức tạp như lăng xê tên tuổi mình làm tổng biên tập một tờ báo khoa học gì đó nữa?

GS Nguyễn Đăng Hưng.- Nếu có ý định lăng xê tên tuổi tại Việt Nam mà lao vào việc thành lập một tạp chí chuyên ngành như APJCEN thì quả là thiếu cân nhắc. Thậy vậy, đây là tạp chí chuyên ngành khá chật hẹp, độc giả là những nghiên cứu sinh. Cả nước có chừng chung quanh 200 người. Để so sánh, tôi có thể ghi ở đây là trang FACEBOOK của tôi có gần 5000 bạn bè thêm 3000 độc giả theo dõi. Thử hỏi không có vụ kiện thì ở Việt Nam có mấy ai biết đến tạp chí APJCEN? Không anh ạ. Tôi chỉ muốn tiếp tục đóng góp cho nền giáo dục và khoa học Việt Nam ở những hướng sở trường, làm nhịp cầu tiếp nối mà các bạn trẻ rất cần mà chưa có điều kiện nắm bắt. Thực hiện cho ra đời một Tạp chí quốc tế như APJCEN để được Nhà xuất bản tên tuổi Springer ủng hộ, việc đầu tiên là phải huy động cho được một Ban Biên Tập có đông đảo các nhà khoa học nổi tiếng tham gia. Khả năng này cần một cá nhân có bề dầy sinh hoạt khoa học lâu năm, có giao thiệp rộng rãi toàn cầu. Tôi may mắn có được ảnh hưởng này. Các học trò năng động nhất của tôi cũng phải chờ thêm nhiều năm mới làm được. Tôi muốn giúp các nhà khoa học trẻ Việt Nam sớm vươn ra quốc tế,giúp họ có điều kiện công bố nhanh gọn các công trình khoa học. Vả lại, làm Tổng Biên Tập tạp chí này không có thù lao, chỉ là tình yêu khoa học thuần túy thôi anh ạ. Ý định của tôi là hiện diện vài năm đầu, sau đó giao lại cho một nhà khoa học trẻ Việt

Nguyễn Đắc Xuân.-  Như một tờ báo nào đó đã viết về Hợp đồng anh đã ký với Đại học Tôn Đức Thắngcó nói đến việc ra báo mà Hiệu trưởng trường này muốn làm chủ một tờ báo. Khi đặt bút ký, anh có tiên liệu được những khó khăn về sau không?

GS Nguyễn Đăng Hưng.- Đúng là có một hợpđồngmà tôi đã ký với HT TDT nói là cố vấn cao cấp sẽ “lên kế hoạch với sự hỗ trợ của Đại học Tôn Đức Thắngđể thực hiện một tờ báo khoa học”. Vì không biết mặt mũi đứa con ra sao, không có chi tiết nào nói đến ai là sở hữu chủ, ai là Tổng Biên Tập (TBT). Chính tôi cũng bất ngờ được tin vui là nhà xuất bản Springer đồng ý ủng hộ và đầu tư toàn bộ, chỉ giao cho Ban Biên Tập toàn quyền về nội dung tạp chí. Trước thềm Tết Quý Tỵ, tôi đã thông tin ngay cho Hiệu trưởng Đạihọc Tôn Đức Thắngvề sự thành công sau khi thương thảo với Nhà xuất bản Springer. Ngày 7/2/2013, Ông Lê Vinh Danh (LVD) trả lời tôi [7] nói rõ APJCEN là không phù hợp và ông Lê Vinh Danh chỉ muốn “thành lập một tạp chí tiếng Anh có tầm quốc tế của Trường đại học Tôn Đức Thắng và tạp chí này thuộc về Trường đại học Tôn Đức Thắng”. Tôi đã ngồi viết một E-mail dài tối giao thừa (29 tết) [7] trong đó,sau khi giải thích cặn kẽ về giá trị của sự ra đời của tờ báo khoa học quốc tế, có sự ủng hộ quý giá của Springer, điều kiện tiên quyết cho tương lai tạp chí. Phần kết thư này tôi cũng đã thẳng thắng khẳng định: “Không ai dại gì gỡ bỏ một lâu đài trên vùng đất cao ráo có tầm nhìn ra thế giới để trở lại xây dựng một căn nhà lá vách đất trên nền đất yếu, chật hẹp”. Thành ra vấn đề không phải tôi không hoàn tất hợp đồng (hợp đồng chỉ nói lên kế hoạch) mà tôi đã thành công ra ngoài dự kiến: Ngay từ ngày ra mắt, APJCEN đã là một tạp chí quốc tế. Vấn đề đặt ra là Hiệu trưởng Đại học Tôn Đức Thắngđã bỏ qua những lời giải thích và tư vấn cặn kẽ của tôi, không thấy được lợi ích trước mắt là song hành cùng cố vấn cao cấp của mình để có được sự ủng hộ của Springer mà khăng khăng đòi làm chủ, làm nhà sáng lập có quyền bổ nhiệm TBT. Lập trường thiển cận này là nguyên nhân của sự đổ vỡ vì nó tạo ra một tranh chấp không đáng có cho tờ báo. Trên thực tế chủ nhân tờ báo đã được xác định qua hợp đồng sáng lập [8] đó là Nhà xuất bản Springer! Và TBT là do Ban Biên Tập tín nhiệm và Nhà xuất bản chấp nhận. Anh nói đúng, khi ký hợp đồng với họ, tôi đã không tiên liệu được vì trình độ nhận thức của đối tác, đã xuất hiện khó khăn và mâu thuẫn nảy sinh từ tham vọng làm chủ.

Nguyễn Đắc Xuân.- Tôi thật sự không hiểu tại sao anh lại đi chọn trợ lý là một người đã có tiền án, một hành động thiếu cảnh giác?

GS Nguyễn Đăng Hưng.- Phải xem xét kỹ các hồ sơ, tôi mới xác định hành động đáng thất vọng của người trợ lý ấy. Đó là hồ sơ trong giai đoạn sửa soạn cho ra đời tờ báo. Và tôi phải đi đến kết luận: “Vụ kiện đã phát xuất từ một sự ngộ nhận và trách nhiệm của tác giả đứng sau sự việc này đã được phơi bày với những chi tiết không thể phủ nhận được. Người đứng sau đó với tư cách chuyên gia khoa học của ông Hiệu trưởng Đại học Tôn Đức Thắnglà TS Lê Văn Út (LVU)”. . Khi chọn TS LVU làm trợ lý tôi có biết người này có tiền án ở Cần Thơ năm 2008. Tôi cũng nhận được thông tin về nội dung luận văn tiến sỹ mà TS LVU trình ở Phần Lan. Nhưng tôi đã bỏ qua tất cả vì tôi nghĩ đó là những sai lầm của thời trẻ, nên mở lối cho một thanh niên năng động, đam mê công việc. Đây đúng là một hành động thiếu cảnh giác, tôi xin nhìn nhận.

Nguyễn Đắc Xuân.- Cảm giác của anh như thế nào sau khi anh biết được Hiệu trưởng đại học Tôn Đức Thắngđã viết thư bài bác anh gởi cho các thành viên ban biên tập APJCEN cuối tháng tư vừa rồi?

GS Nguyễn Đăng Hưng. -Tôi rất bất ngờ và ngỡ ngàng. Các bạn khoa học của tôi cũng bất ngờ không kém. Trong thư ấy, Hiệu trưởng đại học Tôn Đức Thắngđã cố tình xúc phạm tôi khi viết: 1. Tôi đặt vấn đề về đạo đức và tính trung thực của Tổng Biên tập Nguyễn Đăng Hưng. 2. Tôi không chắc là về bằng cấp của Tổng Biên tập Nguyễn Đăng Hưng. Tôi chắc chắn là ông ta không có có bằng Tiến sỹ habil. Bằng tiến sỹ đặc biệt mà ông khoe trong lý lịch khoa học chẳng có ý nghĩa gì. Một vị Hiệu trưởng một trường Đại học viết thư cho gần 60 nhà khoa học của thế giới với nội dung nói xấu về cố vấn cao cấp của mình với những lời như thế đấy anh Xuân ạ. Tôi thật tình đã rất buồn khi một vị Hiệu trưởng lại có thể viết những lời một cách không có cơ sở như thế! Trong thư trả lời, tôi đã thành thật nói lên cảm tưởng chung của chúng tôi: “Phần phụ lục (trong thư Le Vinh Danh [8]) là một sai lầm hệ trọng. Nó không xứng đáng với vai trò Giám đốc TDDU của ông. Thật vậy, nó hạ thấp vị trí học thuật của ông!”

Nguyễn Đắc Xuân.- Trong thư này, Hiệu trưởng Lê Vinh Danhkhẳng định là anh chưa hề có bằng tiến sỹ đặc biệt?

GS Nguyễn Đăng Hưng.- Ông này không biết gì về chế độ bằng cấp tại Bỉ, nhờ “chuyên gia khoa học” truy lùng trên mạng tìm mãi không thấy tên bằng Special Ph.D. rồi phát biểu lung tung khẳng định là không có, không đúng…. Thật là một thái độ thiếu khoa học đáng chê trách. Gần một chục nhà khoa học cao cấp đã phản ứng, có người nói thẳng một cách khá lịch sự nhưng rất đau như trong hồ sơ dưới đây [9]. Riêng về bằng Tiến sỹ đặc biệt, xin anh tham khảo hai hồ sơ sau đây [10,11] có đầy đủ chi tiết ngay cả toàn bộ 800 trang luận án.

Nguyễn Đắc Xuân.- Có nhà báo bảo tôi rằng: Ông ta cũng bảo khả năng khoa học của anh rất hạn chế?

GS Nguyễn Đăng Hưng.- Đây phải chăng cũng là điều mà các “chuyên gia khoa học” gà nhà này mớm cho ông Lê Vinh Danh? Điều oái ăm là các nhà khoa học trong ban biên tập biết rất rõ về tôi, có người đã đọc công bố khoa học của tôi từ những năm 60, 70. Họ đã đồng loạt khẳng định sự tín nhiệm bất di bất dịch của mình đối với Tổng Biên Tập. Anh Xuân ạ, một người không phải là nhà khoa học, chưa hề nghiên cứu khoa học chuyên ngành của tôi làm gì có khả năng đánh giá về tôi? Việc này cuối cùng chỉ là làm các nhà khoa học thế giới chê cười mà thôi.

Nguyễn Đắc Xuân.- Có người bảo anh bảo vệ luận án TS khá trễ năm 1984 mà sao anh lại khai trên CV của anh là đã đi thuyết trình khắp nơi trong thập niên 70, 80 và còn được mời về thỉnh giảng dài hạn tại VN năm 1977?

GS Nguyễn Đăng Hưng.- Giải thích việc này hơi dài dòng. Nó phát xuất từ tính cách cá biệt của lịch trình thăng tiến trong quá trình làm nhà giáo đại học của tôi tại Liège. Có lẽ tôi cũng thuộc loại người giống như anh, thích nghiên cứu khoa học, nhưng không đặt chủ tâm vào chuyện bằng cấp! Thật vậy, tôi vốn là một người đam mê nghiên cứu khoa học và trong giai đoạn sung mãn nhất của cuộc đời khoa học, tôi cứ mải mê khám phá rồi nhanh chóng công bố ra quốc tế mà không chịu dừng lại để đúc kết và tổng hợp các công trình của mình thành luận văn tiến sỹ. Tôi lại được thầy tôi ưu ái một hai lần lập thẩm định quốc tế xem xét toàn bộ công trình khoa học của tôi, cho phép tôi được bổ nhiệm làm giảng viên thường trực năm 1972, tuy tôi chưa chính thức bảo vệ luận án tiến sỹ. Tôi đã đi làm khoa học hàng chục năm (thuyết trình tại các đại học, công bố tại các hội nghị, làm chủ đề tài nghiên cứu có tài trợ…) với tư cách ấy. Năm 1977 tôi được Ủy Ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước Việt Nam mời về thỉnh giảng tại Hà Nội và TP HCM cũng với tư cách ấy. Tôi giữ đến hôm nay cái thư mời chính thức này. Năm 1982 tôi được biệt phái đi thỉnh giảng dài hạn (3.5 năm) tại Congo (Bỉ) cũng với tư cách ấy. Mãi đến năm 1984, thời điểm thầy tôi GS Ch. Massonnet sắp lấy hưu trí và muốn tiến cử tôi lên làm giáo sư thực thụ, thay ông giảng dạy một số giáo trình. Tôi được thầy tôi triệu hồi gấp về Liège. Ông bắt tôi phải nhanh chóng trình luận văn tiến sỹ. Thấy đề cương luận văn của tôi quá phong phú, ông lần nữa lập một Hội đồng thẩm định gồm những nhà cơ học lừng danh thế giới của giai đoạn 1975-1980 như các giáo sư: D.C Drucker (Illinois-Urbana Champaign, Hoa Kỳ), G. Maier (Milan, Ý), M. Save (Mons, Bỉ) và chỉ sau hai tuần các báo cáo thẩm định được gởi về và đồng ý ra văn bản xác nhận tôi có trình độ tương đương cấp tiến sỹ qua thẩm định của các nhà khoa học chuyên ngành quốc tế. Thế là tôi trở thành người đầu tiên tại Liège, được bảo vệ bằng cấp sau tiến sỹ mà chưa hề bảo vệ bằng tiến sỹ bình thường như thông lệ. Tại Bỉ bằng sau tiến sỹ dành cho người nước ngoài như tôi có tên: Doctorat Spécial. Bằng này tương đương với bằng Doctorat Habilitation ở Pháp, Ba Lan hay ở Đức.

Theo định nghĩa, bằng Doctorat Spécial phải là bằng xác định trình độ nghiên cứu khoa học thâm sâu của ứng viên. Bằng này dành cho các nhà khoa học có thâm niên nhưng tích cực hoạt động liên tục và có những thành quả nghiên cứu được giới khoa học quốc tế công nhận.

Nguyễn Đắc Xuân.- Anh bị phê phán là thích nổ vì hay kê khai chức vị đầy đủ qua các e-mail?

GS Nguyễn Đăng Hưng.- Tôi làm nhiều việc, ở nhiều nơi, đi nhiều chỗ. Việc kê khai không phải để khoe mà là để tiện bề liên lạc với bạn bè bốn phương. Tuy đã nghĩ hưu, nhưng tôi vẫn phải thường xuyên tiến cử các học trò cũ giúp họ xin học bổng, xin việc postdoc. Muốn việc làm này hữu hiệu, điều tiên quyết là phải tự giới thiệu mình một cách trung thực và thuyết phục. Thí dụ khi tôi ghi chức danh tôi là “Giáo sư Danh dự Thực thụ” trường Đại Học Liège, tôi đã dịch nguyên văn chức danh này từ tiếng Pháp (Professeur ordinaire honoraire), một chức danh đã được Hội Đồng Quản Trị ĐH Liège ban cho tôi qua văn bản ngày 21/9/2006, trước ngày tôi về hưu một tuần và khuyến dụ tôi nên sử dụng chức danh này cho đến mãn đời. Tôi chỉ tự giới thiệu một cách chính xác cái gì mình có. Người đời không tin là quyền của họ. Nhưng khi chưa kiểm chứng nghiêm túc, xin đừng ác ý, gây phản cảm không hay cho tôi, bảo tôi tự phong, tự tung, tự tác, thích nổ. Đây là thái độ của những kẻ không tốt, hay chê bai, đố kỵ, mặc cảm… Thái độ thường nhật của tôi là bao dung cho qua, không quan tâm. Người Pháp có cân ngạn ngữ rất hay: Chó cứ sủa, đoàn người cứ đi qua …

Nguyễn Đắc Xuân.- Dư luận chung quanh anh về vụ kiện diễn tiến ra sao?

GS Nguyễn Đăng Hưng.- Điều này có lẽ anh nên hỏi người thứ 3 khách quan hơn. Riêng tôi qua các mạng xã hội như  FACEBOOK, tôi thấy tuy báo chí có đăng tải nguyên văn những cáo trạng năng nề về tôi, tuy có cả một trang chuyên chỉ đăng tải những bài bôi nhọ tôi, chẳng có mấy người tin. Và những người hiểu vấn đề càng có cảm tình với tôi hơn…Những người hoài nghi sau khi đọc những bài tôi viết có nội dung khoa học, có tính thuyết phục cao, có bằng chứng hẳn hoi chứ không chung chung như những bài báo mà ta đã biết, đã hiểu đâu là sự thật, đâu là lẽ phải…

Nguyễn Đắc Xuân. -  Vụ kiện có phản ứng tiêu cực đến báo APJCEN không?

GS Nguyễn Đăng Hưng.- Chẳng có ảnh hưởng nhỏ nào cả. Ban Biên Tập lại thêm quyết tâm sắp ra số đặc biệt. Vụ kiện đã quảng cáo tốt cho APJCEN và nhà xuất bản Springer!

Nguyễn Đắc Xuân. – Qua vụ này, việc gì làm anh thất vọng nhất?

GS Nguyễn Đăng Hưng.- Sự nông cạn về nhận thức khoa học và học thuật thường song hành với tính tham lam của con người.

Nguyễn Đắc Xuân. – Anh rút được bài học gì qua vụ này? Anh liệu có còn đủ sức lao tiếp vào những công việc mới nào nữa không?

GS Nguyễn Đăng Hưng.- Nếu tôi muốn cũng chẳng có cơ hội nữa anh ạ. Tôi sẽ rút về khu vườn riêng, hoàn thiện mấy trang bút ký và tìm cách xuất bản trước khi nhắm mắt xuôi tay. Bài học ư? Đừng hoang tưởng ai cũng như mình. Đằng sau hợp đồng rất có thể là cạm bẫy, nếu là hợp đồng gắn với những ham muốn không chính đáng và không bao giờ có thể đạt tới của một …

Nguyễn Đắc Xuân.- Tôi hoàn toàn không có khả năng theo anh trong vụ này, nhưng vì bạn bè trí thức nhiều, tôi mạo muội hỏi chuyện anh hôm nay để nhắc cho các bạn tôi hãy hết sức thận trọng cân nhắc kỹ lưỡng trước ký đặt bút ký hợp tác với một đối tác mà mình chưa biết rõ. Trong lúc hỏi chuyện không tránh được những việc anh không muôn nhắc đến, nếu đã làm phiền anh, mong anh thông cảm. Cám ơn anh.

GS Nguyễn Đăng Hưng.- Cám ơn anh đã tạo dịp để tôi tỏ bày. Anh đã thẳng thắn đặt tôi trước những câu hỏi khó. Tôi cũng đã không tránh né câu hỏi nào. Mong sao những câu trả lời làm anh thỏa mãn. Còn bài học của sự cố này, anh đã có kết luận rồi đấy. Chẳng những không ký thỏa thuận mà đừng bao giờ cộng tác. Ngay cả một hợp đồng nhẹ nhàng như một hợp đồng có vấn cao cấp cũng sẽ là cái bẫy cho người lương thiện dù cấp cao đến đâu…

Thành phố Hồ Chí Minh, 30/1/2015

 

Chú thích

[1] Tác giả: Lê Thanh Phong, Lao động, ngày 15/8/2014

https://kimdunghn.wordpress.com/2014/08/15/thai-do-ung-xu-cua-tri-thuc/

[2] GS Nguyễn Đăng Hưng lên tiếng về vụ kiện

http://dantri.com.vn/…/gs-nguyen-dang-hung-len-tieng-ve-vie…

[3] Phản hồi về một bài báo

https://kimdunghn.wordpress.com/…/phan-hoi-ve-mot-bai-bao…/…

[4] E-mail sáng lập của Springer

http://www.ndanghung.com/wp-content/uploads/e_mal-sang-lap.pdf

[5] Trang Research về GS Nguyen Dang Hung

https://www.researchgate.net/profile/H_Nguyen-Dang/reputation

[6] Hợp đồng ĐH TĐT – NĐH

http://www.ndanghung.com/wp-content/uploads/Hop-dong_TDT_NDH.pdf

[7] Thư điện tử đêm giao thừa

http://www.ndanghung.com/wp-content/uploads/e-mail-29-tet-cho-LVD.pdf

[8] Thư LVD gởi cho BBT APJCEN

http://www.ndanghung.com/wp-content/uploads/TDTU-Letter-to-APJCEN-Board1.pdf

[9] E-mail phản đối của 3 nhà khoa học quốc tế.

http://www.ndanghung.com/wp-content/uploads/e_mail-phan-doi-của-GS-Ponthot-De-saxce-va-Bordas.pdf

[10] Chuyện đặc biệt về bằng cấp và bằng tiến sỹ đặc biệt.

 http://www.ndanghung.com/bai-viet/2014/05/04/lay-bang-da-dac-biet-bang-cung-co-ten-dac-biet-thi-viec-du-luan-dat-cau-hoi-chang-co-gi-dac-biet-au-cung-la-cai-so-vay.html/#more-8571

[11] Thêm tài liệu về bằng tiến sỹ đặc biệt

http://www.ndanghung.com/bai-viet/2014/06/17/mong-thay-cac-ban-tre-rut-ra-bai-hoc-tich-cuc-cua-su-viec-vang-that-khong-bao-gio-so-lua-va-viec-lam-chan-that-luon-luon-duoc-nguoi-that-va-viec-that-bao-ve.html/#more-8743

( Nguồn: vanhoanghean…)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 13.03.2015

NGUYỄN QUANG LẬP: NHỚ ĐỒNG

NGUYỄN QUANG LẬP: NHỚ ĐỒNG

Báo Dân Sinh: Nhà văn Nguyễn Quang Lập vừa gửi cho baodansinh.vn một tác phẩm tùy bút mới viết về “màu tuổi thơ” mà ông đã được hưởng trên quê hương mình. Sau đây chúng tôi xin chia sẻ đến bạn đọc bài viết tái hiện tuổi thơ rất giản dị ấy của tác giả.

NGUYỄN QUANG LẬP

NHỚ ĐỒNG

Tôi chỉ có một cánh đồng để nhớ, đó là cánh đồng làng Đông. Quê tôi không có đồng, chỉ có dăm ba thửa ruộng, còn lại là sông và cát. Chỉ đến khi nhà tôi sơ tán lên làng Đông năm 1965, tôi mới thực sự biết đến cánh đồng.

Nhớ đồng…

Cánh đồng làng Đông rất lạ. Ở cái nơi bán sơn địa của miền Trung, đầu kê núi chân gác cát, lại có một cánh đồng màu mỡ, giống như một cánh đồng của Nam Bộ còn lưu lại sau cuộc di dời đất và nước vô tận của Tạo Hóa, có bãi tràm và rặng trâm bầu, có  mai vàng và lúa trời. Và cá ngập nước  và chim đầy trời…

Đến khi lớn lên, đọc đi đọc lại Đất rừng phương Nam, gặp được cụ Đoàn Giỏi, ngồi nói chuyện với cụ trong quán cóc đường Bà Triệu, tôi kể cho cụ nghe về cánh đồng quê tôi, cụ trố mắt ngạc nhiên, chép miệng nói đi nói lại lạ vậy ha, lạ vậy ha.

 Đồng làng Đông chỉ là một phần của cánh đồng mênh mông của bốn làng Phù Lưu, Trung Thuần, làng Đông và làng Xá. Nó rộng đến nỗi  đi một vòng quanh đồng phải mất trọn một ngày. Ấy là đi nhanh, nếu thong thả rông chơi cũng phải hết  ba ngày. Mặt trời mọc từ sau rặng trâm bầu kéo dài từ làng Đông đến làng Pháp Kệ và lặn ở cuối cánh đồng, sau dãy đồi đầy sim và ổi làng Trung Thuần. Thế giới tuổi thơ tôi là vậy. Giống như mọi đứa trẻ làng Đông, thế giới của tôi chỉ có ngôi làng và cánh đồng, chỉ có vậy thôi mà đi hoài không hết, sống hoài không chán. (Đọc tiếp…)

« Newer Posts - Older Posts »

Danh mục