Đăng bởi: Ngô Minh | 26.02.2015

LẠI THÊM MỘT VỤ ĐẠO THƠ

Nhà văn Hoàng Bình Trọng ( ảnh chụp năm 2009)

LẠI THÊM MỘT VỤ ĐẠO THƠ

  Mai Văn Hoan

QTXM- Tôi nghe nhà thơ Mai Văn Hoan kể về việc thơ anh Hoàng Bình Trọng bị ăn cắp, rồi được giải thưởng, được tuyển vào tập thơ viết về chiến tranh chống Mỹ của NXB Thanh Niên mà uất ức không ngủ được. Liền bấm máy cho Mai Văn Hoan bảo hãy viết để đưa ngay việc này lên mạng. Nhà văn Hoàng Bình Trọng năm nay U80 rồi, phải bảo vệ tác phẩm của anh đến cùng. Mời bạn đọc cùng sẻ chia câu chuyện

Bài thơ Về với mẹ in trong tập Những miền ký ức của nhà thơ Hoàng Bình Trọng, NXB Văn học – 2002. Lời bình của tôi về bài thơ Về với mẹ được đăng ở báo Quân đội Nhân dân ct, ra ngày 02-8-2007. Mới đây, tôi lại thấy bài thơ này xuất hiện ở trang 64, trong tuyển tập Bài ca bất tử, do NXB Thanh Niên ấn hành, năm 2014, nhưng tên tác giả được đổi thành Phạm Lễ Hùng và câu “Chẳng bao giờ mẹ xa cách chúng con” gần cuối bài bị lược bỏ.

   Tôi hết sức ngạc nhiên, bèn điện hỏi nhà văn Hoàng Bình Trọng (hiện đang nghỉ hưu tại Quảng Hòa, Quảng Trạch, Quảng Bình). Nhà văn Hoàng Bình Trọng vô cùng bức xúc: “Cái thằng Phạm Lế Hùng nào đó nó ăn cắp thơ tớ, cậu ạ! Tớ đang định viết thư cho ông Giám đốc NXB Thanh Niên và Ban biên tập làm rõ chuyện này. Nghe đâu họ còn tặng giải cho bài thơ mà hắn ta ăn cắp của tớ nữa”. Tôi nói đùa an ủi anh: “Bị ăn cắp như thế thì cũng đáng mừng. Vì những người trong Ban biên tập và Chấm giải đã đã khẳng định sự “bất tử” của bài thơ Về với mẹ. Chỉ đáng buồn là những người trong Ban biên tập và Chấm giải không chịu khó truy tìm xem tác giả bài thơ Về với mẹ có phải của Phạm Lễ Hùng không. Mà với những bài thơ hay như Về với mẹ thì sự truy tìm đâu có khó. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 25.02.2015

CHÙM THƠ NGÔ MINH IN TẠP CHÍ THƠ 12/2014

CHÙM THƠ NGÔ MINH IN TẠP CHÍ THƠ 12/2014 

 

SIÊU ÂM TIM

 Kính dâng hương hồn ba mạ và đồng đội

 
Trái tim tôi như củ khoai tía gọt vỏ tím hồng
phập phồng màn hình siêu âm như hỏi
 – Làm sao tôi vẫn bình thường ?

Bác sĩ ơi,  tim tôi từ lâu không còn lành lặn
7 tuổi, ba bị bắt cùm chân . Mạ bảo “Trưa ni con bới cơm cho ba”. Tôi ôm mo cơm đến chỗ giam, thấp thỏm mừng vì sắp được gặp ba. Bỗng thằng lính trợn mắt :” Chưa đến giờ, đ.mạ mày, đồ con phản động !”. Rồi nó tung chân đá mo cơm trên tay tôi văng tơi bời  trên cát. Tôi khóc thấy tim mình cũng văng thành từng mảnh vụn đớn đau.

Lần đầu tiên tôi nhận ra không phải cứ người là tốt
Sao trái tim nát tan ấy không hiện lên màn hình ?

lên 7, ba tôi bị trói vào cọc xử bắn, súng nổ, bốn anh em

                                                        tôi ôm lấy mạ nấc lên,

12 phát đạn xuyên vào tim mạ tim tôi

53 năm rồi vết thương tim còn rỉ máu

Đó là lần đầu tiên tôi thấy con người thật ác …
Sao không hiện lên màn hình ?

Mạ góa bụa nuôi con. Đêm đêm nước mắt khóc chồng

                          thương con thành a-xít xói mòn tim trẻ.

Tuổi 30 tôi thét lên khi mạ qua đời:” Răng con bỗng không còn mạ !” nước mắt mồ côi trào như sóng.
Trái tim tôi mưng mủ đến bây giờ
Sao không hiện lên màn hình ?

Bác sĩ ơi, tim tôi từ lâu không còn lành lặn
Tuổi 20, ở chiến trường nhiều lần tôi vừa khóc vừa đào hố chôn đồng đội, nhiều đêm khiêng bạn bị thương vượt rừng về trạm phẫu tiền phương…

tiếng bạn rên la thắt nghẹn buồng tim … 
34 năm rồi, vết thương ấy trở trời lại nhức
Sao không hiện lên màn hình ?

Tuổi 40, không có đồng tiền để bỏ vào mê nón

                                      mệ ăn mày bên đường, tôi khóc
tuổi 60, nhìn dân quê dắt díu lang thang

                                        vì mất ruộng mất nhà, tôi khóc
khóc 42 người Quảng Hải đắm đò chết oan

                                                         vì không có cầu qua

 trái tim nhỏ bao phen nhàu nát

 

Sao không hiện lên màn hình ?

Và em nữa.
hòa bình về mất em tôi rỗng trái tim.
Vết thương không thành sẹo
Sao không hiện lên màn hình ?

Trái tim tôi như củ khoai tía gọt vỏ tím hồng
phập phồng trên màn hình như hỏi:
- Bác sĩ ơi, máy siêu âm Nhật hiện đại nhất thế giới
sao không phát hiện ra ngàn vết thương tim

                                                buốt nhức kiếp người ?
 

BV Trung ương Huế
10-3-2009
(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.02.2015

BÀI THƠ THẦN NĂM ẤT MÙI

Cụ Nguyễn Khắc Mai

BÀI THƠ THẦN NĂM ẤT MÙI

 

Nguyễn Khắc Mai

Tôi chào đón năm Ất Mùi này (2015) với bài thơ Thần đã ra đời vào năm Ất Mùi 1655, đúng 360 năm trước. Lịch xưa tính đúng chẵn sáu hội (mỗi hội 60 năm). 

Đây là bài thơ đã được ghi lại trong Đại Nam Thực Lục – một bộ sử biên niên ghi lại thời kỳ các Chúa Nguyễn rồi Nhà Nguyễn trị vì đất nước.

Bấy giờ, Chúa Hiền, Nguyễn Phúc Tần, một đêm nằm mộng thấy thần nhân hiện lên đọc cho nghe bài thơ. Hôm sau nhà Chúa đã đọc lại cho đình thần nghe, và cho rằng đó là lời mách bảo của thần linh (xem ĐNTL TI, NXB Giáo Dục, tr63).

Nguyên văn :

Tiên kết nhân tâm thuận.

Hậu thi đức hóa chiêu.

Chi diệp kham tồi lạc.

Căn bản dã nan dao (diêu)

Dịch nghĩa:

Trước hết phải cố kết nhân tâm cho thuận.

Sau là thi hành (chính trị) đạo đức để quy tụ mọi người.

Dẫu cành lá có gãy rụng.

Gốc rễ chẳng hề lung lay.

Trong văn học Việt Nam, người ta cho rằng đây là bài thơ thần thứ hai. Bài đầu là bài thơ “Nam quốc sơn hà”, tương truyền đã vang lên trong đền thờ hai vị thần Trương Hống, Trương Hát, ở ven sông Như Nguyệt, nơi phòng tuyến chống quân nhà Tống xâm lược, thời Lý Thường Kiệt.

Nếu bài thơ trước (Nam quốc sơn hà) là tinh thần, ý chí của dân Việt quyết tâm bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ của Đất Nước, quyết đánh bại mọi kẻ thù xâm lăng, được coi như một tuyên ngôn Độc lập, thì bài thơ sau là một “minh triết” chính trị. Bài thơ góp vào, làm nên sự phong phú sâu sắc của tư tưởng, đạo trị nước của Việt Nam. Cũng nên lưu ý một tình tiết tế nhị. Đó là bài thơ xuất hiện lúc đất Nước còn phân ly. Lực lượng nào muốn thắng, gồm thâu thiên hạ, đều phải chú ý đến những vấn đề cốt tử: Thi hành đức hóa, cố kết lòng người…

Ngoại trừ hoàn cảnh xuất hiện, phân tích kỹ 20 chữ của bài ngũ ngôn tứ tuyệt này, có thể rút ra được nhiều điều bổ ích, thú vị. Điều ấy, không những có ích cho những người lãnh đạo quốc gia ở tầm vĩ mô, mà còn có lợi cho cả công việc ứng xử ở tầm cơ sở, vi mô, của một gia đình, một doanh nghiệp, một cộng đồng xã hội, một chính đảng…

Chữ tiên, (trước hết) là nói tầm quan trọng của vấn đề. Câu đầu, đưa ra ba triết lý quan trọng: kết, nhân tâm thuận. Ba chữ này, là ba phạm trù rất cơ bản để nhận thức và ứng xử xã hội. Ngẫm về chữ kết, đã có điều thú vị, nó có vẻ dễ hiểu, thậm chí người ta nghe đã nhàm tai, nào kết đoàn ta là sức mạnh trong một bài hát Tàu, nào đoàn kết, đại đoàn kết…Chữ kết, người xưa viết với bộ “mịch”, có ý nói về sự bó bện cho bền chặt.Ý nghĩa là sự tập hợp cái nhiều (đa) thành cái một (nhất). Người ta phải “kết” cái nhiều lại để thành một cho mạnh cho bền chắc…nhưng không bao giờ lại thủ tiêu các thành viên, thành tố. Nếu hiểu kết mà chỉ nhăm nhăm coi trọng cái một mà bỏ cái nhiều, chỉ chú ý đến cái chung, mà bỏ cái riêng, thì chẳng còn ý nghĩa kết gì nữa. Đó là quy luật tự nhiên, huống chi là quy luật xã hội! Không thấy ý nghĩa “kết”, không thể gắn bó con người được. Phải hiểu và làm chữ kết trong thế vừa đề cao cái một, mà phải coi trọng cái đa, những thành tố riêng rẽ, để tạo thành cái “Kết”. Trong tự nhiên, người ta dễ hiểu và làm theo quy luật ấy. Như cái máy tính điện tử, nếu không coi trọng từng chi tiết, từng linh kiện, làm sao có thể có được chất lượng cao của bộ máy! Nhưng trong ứng xử xã hội, con người lại tầm thường đến độ ngu xuẩn, là muốn kết mà không muốn làm cho mọi thành tố mạnh lên!

Hai chữ nhân tâm cũng nên luận. Không nên chỉ hiểu đơn giản là lòng người. Phải thấy nhân là con người và cả cái tâm của nó. Nếu không biết nuôi dưỡng con người bằng một “politique” nhân văn, con người sẽ đói, sẽ khổ, sẽ méo mó bất thành nhân dạng, có thể thành quái thai, chỉ có phần con mà mất đi phần người.Trong trường hợp ấy, không thể có cái tâm đúng nghĩa.Tâm không chỉ là lòng người, nó là tổng hòa của cái trí, cái biết cái thức, thiếu tâm hồn, thiếu tri thức không thành người. Như vậy vấn đề nhân tâm không chỉ thuần túy là tinh thần, ý thức, tình cảm, tâm hồn. Phải tính cả những giá trị vật chất của con người cho con người, vì con người. Những thể chế, thiết chế, chế độ phản bội lại con người không thể gọi là nhân văn, lại có thể cố kết con người, làm mạnh con người. Còn chữ “Thuận”. Minh triết Việt biết đánh giá cao ý nghĩa chữ thuận – thuận vợ thuận chồng tát biển đông cũng cạn. Nhưng thuận không chỉ có nghĩa là cùng nhau, còn có cái nghĩa là theo quy luật, theo thiên tính, nhân tính, nhân tình. Con người từng đánh mất chữ thuận, nên đã làm cho con người, cho xã hội không hòa, địa không lợi, thiên không còn thời.

Vì thế, sau cái tiên kết, là nói hậu thi. Những điều phải thi hành, phải làm tiếp theo để thể hiện cho được sự cố kết, làm vững mạnh con người, làm cho nhân tâm thuận, nghĩa là làm cho tiến hóa nhân cách, nhân vị, nhân sinh làm cho tiến hóa xã hội.

Thi hành “đức hóa”, nghĩa là thi hành một nền chính trị đạo đức, nhân văn, một nền kinh tế đạo đức, nhân văn; một nền văn hóa giáo dục đạo đức nhân văn. Mọi sự tuyên bố chủ nghĩa, lý thuyết này nọ mà không theo tiêu chí ấy, đều là lừa dối, chỉ đạt tới dự nhất thời, nửa vời, đẩy con người và xã hội đi tới ngày càng suy đồi, tan rã. Không phải ngẫu nhiên, mà ngày nay đang xuất hiện nhiều những cảnh báo về cái ác tràn lan*, và đang đề xuất những tư duy lành mạnh, cổ vũ cho một tinh thần, một thái độ, một tâm thức “minh triết” trong đời sống. Bruce Lloyd**(Anh quốc) tha thiết đề nghị hãy kiến tạo xã hội minh triết, kinh tế minh triết. Còn Gandhi (Ấn) từ 1934, đã hô hào xây dựng nền giáo dục minh triết.

Thi hành đức hóa còn có nghĩa là thực hiện một đường lối, một phương thức quản trị, điều khiển, tổ chức, quản lý có nhân văn, đạo đức, coi trọng con người hơn là coi trọng giá trị vật chất gia tăng. Những cộng đồng, những xã hội vĩ mô và vi mô chỉ nhăm nhăm lợi ích giá trị vật chất gia tăng, bỏ rơi, bỏ quên con người, xã hội của con người đều không thể biện hộ cho tính “phản động” của mình. Người ta đang phải nói nhiều về nền chính trị có khuôn mặt người, kinh tế có tính người, văn hóa có tình người…

Đó là sự nuôi dưỡng, vun trồng, bồi đắp cho cái gốc, cái rễ (căn và bản) của con người, của xã hội, của Đất Nước, của nhân loại. Đó chính là bài học, là triết lý, là phương châm để một gia đình, một doanh nghiệp, một chính đảng, một nhà nước vận hành đạt tới nhân văn, tiến hóa. Nhãn tiền sự thoái hóa trông thấy trên Đất Nước ta và cả trên thế giới đều có thể chiêm nghiệm từ ý nghĩa bài thơ Thần này.

Xin chép lại bài thơ Thần đã xuất hiện đúng năm Ất Mùi (1655) và đôi lời thô thiển, nói lên cảm nghĩ của mình để hầu chuyện ban đọc bên chén rượu, chén trà xuân, năm này, cũng là một năm Ất Mùi của Dân tộc.

* Xin xem bài “Sự điên rồ của con người” TG Phạm Việt Hưng (Úc) trên trang blog <thonminhtriet.com>

** Tìm Bruce Lloyd trên mạng, bài Wisdom, Knowledge, Management and Leadership: Linking the Past, Present and Future.

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.02.2015

Hồ Chí Minh với Hoàng Xuân Hãn

Cụ Hoàng Xuân Hãn

Hồ Chí Minh với Hoàng Xuân Hãn

  •   Chu Trọng Huyến

“Cụ Hồ sẽ tiếp Hãn vào ba giờ chiều nay”. Đó là lời Cố vấn Vĩnh Thụy báo vớí Hoàng Xuân Hãn, vào sáng ngày  13-10-1945.

Hoàng Xuân Hãn (1908-1996), quê xã Yên Hồ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Ông đậu Thành Chung tại Vinh năm 1926 rồi ra Hà Nội học. Năm 1928, ông thi đỗ Tú tài toàn phần và được cấp bổng, du học tại  Pháp, lấy các bằng Kỹ sư Cầu – Đường,Thạc sĩ Toán… Năm 1936 ông về nước dạy các trường Trung, Đại học và làm công tác nghiên cứu, viết sách, trong đó có  cuốn “Danh từ khoa học”(1942). Từ 17-4 đến 23-8-1945, ông làm Bộ trưởng bộ Giáo dục- Mỹ thuật trong Chính phủ Trần Trọng Kim. Vào thời gian ấy, ông cho xây dựng và ban hành Chương trình giáo dục bằng Quốc ngữ ở các trường học, áp dụng việc học và thi Tú tài bằng tiếng Việt. Cách mạng Tháng 8-1945 thành công, sau những phút giây choáng váng, ông đứng về phía ủng hộ Chính quyền Dân chủ Nhân dân. Năm 1946, ông tham dự Hội nghị trù bị Đà Lạt là cuộc họp của các đại diện giữa ta và Pháp để chuẩn bị cho Hội nghị Phông-ten-blô. Năm 1951, từ Hà Nội, ông sang Pháp, định cư ở bên đó, công việc chính vẫn là nghiên cứu, học thêm, viết sách. Các tác phẩm nổi tiếng nhất của ông lúc này là “La Sơn Phu tử” viết về Nguyễn Thiếp(1952) cùng các sách Lịch sử và Lịch Việt Nam. Các công trình khoa học của ông đã được tóm lược trong bộ sách “La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn” do Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội ấn hành.Ông qua đời vào tháng 3-1996. Giáo sư, học giả Hoàng Xuân Hãn được Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhì và Giải thưởng Hồ Chí Minh về nghiên cứu khoa học(2000).

Như đã trình bày, Hoàng Xuân Hãn là một học giả nổi tiếng và cũng đã từng tham chính dưới thời Bảo Đại-Trần Trọng Kim. Cách mạng Tháng 8(1945) thành công, trước vô vàn khó khăn trong việc giữ vững chính quyền, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân ta, ông đã cố suy xét từ mọi phía để có một cái nhìn tương đối khách quan. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn trân trọng những ý kiến có lợi cho dân, cho nước từ các học giả, chính khách để thêm vững tay chèo lái, đưa con thuyền cách mạng Việt Nam lướt qua sóng gió trong hoàn cảnh lúc bấy giờ.

Sau đây là lời tự thuật của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn về nội dung và ý nghĩ của mình về buổi gặp riêng, duy nhất giữa ông với vị Chủ tịch nước. Ông nói:

   “…Chủ tịch tiếp tôi hơn một giờ. Hai lần xin cáo biệt nhưng Cụ giữ lại. Ban đầu bình phẩm về chính quyền. Tôi có nói: Nay ta mới độc lập, đang cần dư luận ngoại bang bênh vực. Nếu tỏ ra  bất lực hoặc có thái độ độc tài, thì khó lòng họ giúp mình. Cụ bảo rằng, (nếu có việc ấy là do) Ủy ban địa phương họ làm bậy chứ Chính phủ không có ý chuyên quyền. Cụ hỏi đi hỏi lại: “ Thế ra họ nói Chính phủ cộng sản, thực chăng?”. Tôi đáp: “Cụ đã nghe vậy thì có thật”. Cụ nói: “Còn Chính phủ độc tài thì có đâu. Trong Nội các có nhiều người không phải ở trong Mặt trận Viêt Minh”.

Cụ lại phân trần lâu việc bài xích hạng trí thức. Cụ nói Chính phủ không làm điều ấy; nhưng có người làm thì Chính phủ phải nhận lỗi. Rồi tôi nói sang chuyện đảng tranh làm dân chúng hoang mang. Chủ tịch rất chăm chú nghe, cặp mắt sáng trương to như rót vào mặt tôi. Cụ hỏi: “Trí thức theo cụ Nguyễn Hải Thần nhiều phải không? Ông giao thiệp rộng chắc biết”. Trong trả lời, tôi có nói: “Hình như khi ở nước ngoài, các cụ đã trù tính việc chung. Nay đều về, lại thấy các cụ chia rẽ, cho nên họ hoang mang. Nếu cụ Nguyễn Hải Thần chỉ kéo bè đảng mà thôi thì chắc họ (tức một số người chưa hiểu rõ tình hình) không theo. Cụ Nguyễn có tìm gặp tôi. Tôi đã thưa rằng, người trí thức chân chính không tìm địa vị. Các cụ già cứ hòa hiệp với nhau, rồi thì hạng trẻ như chúng tôi theo. Các cụ có cần gọi ra quét đường, họ cũng nhận”.

Nét mặt không di chuyển, Chủ tịch đặt câu hỏi thẳng: “Đối với ông thì cụ Nguyễn là thế nào?”. Tôi đáp: “Tôi không biết rõ nhưng cảnh huống bây giờ thì tuy là bậc cách mệnh lão thành nhưng trở về chậm nước, cụ phải ép vào thế non,…xem ra thế nào!” Cụ  (Chủ tịch) hỏi gặng: “Thế nào ?”. Tôi nói: “Thế nào…Tôi không tiện nói, chỉ có thể nói thế cụ Nguyễn(1) không được thuận. Tuy nhiên, làm cách mạng trong bốn mươi năm nay, cụ ấy có thanh thế. Vả, hạng trí thức ai cũng sẵn sàng làm việc nước, mà bị Chính phủ đem lòng ngờ vực, thì họ có đi theo cụ Nguyễn cũng là người ái quốc, đó cũng không nên lấy làm lạ!”…Tôi đứng dậy xin về mấy lần, Chủ tịch vẫn giữ lại. Cuối cùng, Cụ lại hỏi thẳng một cách cụ thể rằng: “Tôi có hai chuyện muốn hỏi ông. Ông cứ trả lời thật…Câu đầu là “Đối với cụ Nguyễn Hải Thần, nên làm thế nào?”. Tôi đáp: “Nếu cụ Nguyễn có thể làm dễ cho sự ngoại giao, thì nên dùng cụ. Tuy không nên cải tổ hấp tấp ra dáng sợ áp lực, nhưng nên cải tổ Chính phủ để hợp tác. Sự hợp tác phải thành thật, đừng để có cảm tưởng lấy danh nghĩa mà thôi”. Không động nét mặt mảy may, Chủ tịch hỏi tiếp: “Vấn đề thứ hai là ông cho biết một câu sát kết về Chính phủ?” Hoàng Xuân Hãn đã trả lời với đại ý: thừa nhận chủ trương đúng của Mặt trận(Việt Minh) là chống Pháp …

Về việc ấy, ông Hãn cũng trình bày là, lúc bấy giờ: “Chính phủ Trần Trọng Kim cũng đã có tác động cuối cùng là  khuyên cựu hoàng (Bảo Đại) mời các nhà cách mạng chính thức lập Chính phủ nhưng thiếu chuẩn bị (nên) sự ấy không thành…”

Rồi ông Hãn nói về tình hình cho đến lúc diễn ra cuộc gặp “Chắc riêng Chủ tịch hiểu rằng, đường đi đến độc lập và thống nhất còn dài và khó nhưng đại đa số còn lầm tưởng gần xong”.

Cuối cùng, Hoàng Xuân Hãn viết:

- Chủ tịch cảm ơn và thêm: “Hôm nay ông cho tôi biết được nhiều điều”. Tôi đứng dậy, từ giã, xuống lầu, cảm động vì có dịp tỏ nhiều lời tâm huyết, vì thấy vận mệnh đất nước đè lên vai một vị cách mệnh thâm niên gầy yếu nhưng tinh thần tinh anh, mặc tĩnh, thâm trầm, cử chỉ ôn tồn gãy gọn và kiên quyết. Không hiểu cảm tưởng của Chủ tịch đối với cá nhân tôi và những trực ngôn của tôi ra sao. Có lẽ không ai biết. Dẫu sao, hơn tháng sau,Cụ nhận sự hợp tác của các phái đối phương, và riêng đối với tôi, (cũng được)các anh đã nghĩ đến(2).

Sau khi Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946) được ký, để chuẩn bị cho một cuộc đàm phán chính thức bàn về quan hệ Việt-Pháp sẽ họp trên đất Pháp, một hội nghị trù bị gồm hai phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Pháp (đại diện cho thế lực của họ ở Nam Kỳ và Nam Trung Kỳ) được nhóm họp tại Đà Lạt (từ 19-4 đến 15-6-1946). Đoàn của Việt Nam do Nguyễn Tường Tam làm Trưởng đoàn và Võ Nguyên Giáp là Phó trưởng đoàn, có 12 đại biểu và 12 cố vấn, Hoàng Xuân Hãn là đại biểu, được phân công Trưởng tiểu ban chính trị của Đoàn. Ông đã ghi chép rất tỷ mỉ cộng với trí nhớ khác thường, sau này viết lại sự kiện lịch sử này, đăng (lần đầu) trên “Tập san Sử -Địa Sài Gòn” số 23, 24- 1971.

Nhớ là, ngày 15-4-1946 đoàn họp nhau lại để chuẩn bị cho chuyến đi. Chủ tịch Hồ Chí Minh và cụ Huỳnh Thúc Kháng đến thăm hỏi, căn dặn, động viên. Năm giờ rưỡi sáng ngày 16-4-1946, phái đoàn hội tụ ở Bắc Bộ phủ. Trước lúc phái đoàn ra sân bay để đi Đà Lạt, Hồ Chủ tịch và cụ Huỳnh lại ra tiễn chân anh em.

Tiếc là do phía Pháp cố bám lập trường thực dân của họ nên các vấn đề đặt ra tại Hội nghị này không đạt được một kết quả nào.

Dẫu vậy, do những tin tức từ Hội nghị Đà Lạt, nhân dân Pháp và các nước anh em bè bạn họ cũng hiểu được thiện chí tha thiết độc lập, tự do, yêu chuộng hòa bình, hữu nghị của Chính phủ và nhân dân ta.

Về phía Hoàng Xuân Hãn, sau đó, ông có tham gia dạy bộ môn Kỹ thuật cho một khóa huấn luyện của Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn. Rồi khi đã sang định cư tại Pháp, ông  còn theo học khoa Nguyên tử và đỗ bằng Kỹ sư của ngành này tại Đại học Saclay, năm 1956.

Say mê học hỏi, miệt mài nghiên cứu nhưng giáo sư Hoàng Xuân Hãn vẫn để tâm nhiều đến đất nước, nhân dân. Ngày  2-1-1996, tức 2 tháng, 8 ngày trước lúc qua đời, giáo sư có gửi thư về nước cho Nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Nguyên Phó Thủ tướng Võ Nguyên Giáp, trao đổi về tình hình phát triển của đất nước. Trong đó, nói về công lao lãnh đạo đấu tranh giải phóng đất nước qua trường kỳ lịch sử của dân tộc, ông viết: “Tôi đã có lúc luận biện về điều khác biệt giữa sự thắng ngoại xâm và sự giải phóng đất nước. Nước ta chỉ có hai cuộc giải phóng mà thôi: thời 1416-1427 với Lê Lợi cùng Nguyễn Trãi, và thời 1945-1975 với Bác Hồ cùng các anh”(3).

                                                                                                                              C.T.H

_________

(1), (2), (3) “Cụ Nguyễn” mà giáo sư Hoàng Xuân Hãn nhắc đến trong bài viết này là Nguyễn Hải Thần. Về nội dung buổi trao đổi, chủ yếu lấy từ  sách “La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn”, Tập II, Nxb Giáo Dục Hà Nội 1998. Nội dung những điều trao đổi giữa các nhân vật trong bài viết, chúng tôi giữ  nguyên cách hành văn đã in, chỉ sửa đổi tí chút  về mặt chính tả (chủ yếu là thêm những chữ trong ngoặc đơn) cho dễ hiểu hơn

( Nguồn :VHNA)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.02.2015

Lấn biển của Trung Quốc tạo lo ngại

Lấn biển của Trung Quốc tạo lo ngại

 Lê Phan

 

Sự việc Trung Cộng đang vội vàng và hăng hái xây dựng một loạt những kiến trúc trên các bãi cạn đang bị tranh chấp ở Biển Đông đang tạo báo động trên toàn vùng Thái Bình Dương và ở chính thủ đô Washington của Hoa Kỳ, lo ngại là Bắc Kinh đang dùng xi măng cốt sắt để hỗ trợ cho đòi hỏi đầy tranh cãi của họ về chủ quyền trên một vùng rộng lớn của một trong những hải lộ chính của thế giới.

Những hình ảnh mới

Những hình ảnh mới từ vệ tinh cho thấy Trung Cộng đang nhanh chóng nới rộng các đảo nhân tạo mà họ đang xây trên mặt của những bãi cạn ở Biển Đông.

Mới nhất, the IHS Jane’s, trước kia là Jane’s Defence vốn là một công ty nghiên cứu quân sự, cho thấy nạo vét và lấn biển trong năm qua tại Bãi Tư Nghĩa, thuộc quần đảo Trường Sa, đã tạo nên một hòn đảo rộng 90,000 yard vuông với hai bến đậu cho tàu bè, một sân bay cho trực thăng và điều có vẻ là một cơ sở có vẻ là một đài chống hỏa tiễn và cơ sở radar.

Hình ảnh vệ tinh chụp được hôm tháng 3 năm ngoái cho thấy chỉ mới có một cái nền xây trên mặt bãi vào lúc thủy triều lên. Một tấm hình khác cũng ở khu vực này, chụp hôm tháng 1, cho thấy một hòn đảo có người ở với những dự án xây dựng đang nhanh chóng hiện hình.

Theo Jane’s, những hòn đảo nhân tạo cũng đã mọc lên nhanh chóng ở Đá Gaven, Đá Gạc Ma, Đá Chữ Thập, vốn đều là những bãi cạn thuộc quần đảo Trường Sa mà Bắc kinh đã chiếm đóng.

Theo website mang tên Asia Maritime Transparency Initiative (Sáng kiến Minh Bạch Hàng Hải Á Châu), một cơ quan nghiên cứu của Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Thuật và Quốc Tế (Center for Strategic and International Studies-CSIS) trên Đá Gaven mà tiếng Việt gọi là Đá Ga-ven, Bắc Kinh đã xây dựng một căn cứ và cho đồn trú lính ở đó từ năm 2003. Nay thì cơ sở này gồm một bến đậu lớn nơi tầu có thể cập bến, nhiều ổ súng và các đài radar và truyền thông. Công cuộc xây dựng bắt đầu từ 30 tháng 3 năm 2014 và được xác nhận vào tháng 8 năm 2014. Nay một hòn đảo nhân tạo mới có diện tích 300×250 m, như vậy là tổng cộng 114,000 mét vuông đất mớc đã được xây dựng lên. Những kiến trúc mới ở Bãi Gaven hầu như hoàn toàn giống ở Đá Tư Nghĩa (tên quốc tế là Hughes Reef), cũng gồm một kiến trúc hình vuông có vẻ như là một tháp phòng không.

Ở Bãi Gạc-ma, vốn là một bãi ngầm rộng 7.2 km2 đã bị Trung Cộng chiếm từ tay quân đội Hà Nội, thì cho đến năm 2014, kiến trúc nhân tạo duy nhất là một bệ nhỏ chức một cơ sở thông tin, trại lính và một bến đậu. Bệ này nay được bao vây bởi một hòn đảo với diện tích 100,000 mét vuông. Đã có những tin đồn là Bắc Kinh muốn xây dựng một phi đạo trên hòn đá này, nhưng một số chuyên gia lý luận là nó quá nhỏ để có một ảnh hưởng chiết thuật đáng kể.

Bãi Chữ Thập nay đã là một căn cứ với 200 binh sĩ có khả năng radar và theo dõi kiểm soát vùng xung quanh. Các hoạt động lấn biển bắt đầu vào tháng 8 năm 2014, nhưng các họat động quanh bãi san hô này đã bắt đầu ba tháng trước đó. Trong giai đoạn từ tháng 8 đến tháng 11 năm ngoái, những tàu nạo vét Trung Cộng đã tạo nên một miếng đất chiếm toàn thể bãi cạn trước đó với khỏang chiều dài là 3,000 m và chiều rộng từ 200 đến 300 m. Hình ảnh từ vệ tinh của Digital Globe cho thấy là kế hoạch lấn biển của Trung Cộng đã gia tăng khu vực của Đá Chữ Thập gấp 11 lần, và làm cho nó rộng ra từ .08 đến .96 cây số vuông. Đá Chữ thập nay có thể là lớn gấp ba lần Đảo Ba Bình, vốn là hòn đảo lớn nhất của quần đảo Trường Sa do Đài Loạn kiểm soát. Các nhà phân tích tin là Trung Cộng có thể đang xây dựng một phi đạo trên Đá Chữ Thập.

Tạo quan ngại

Những hoạt động xây dựng này là chương mới nhất trong cuộc tranh chấp kéo dài về Biển Đông vốn đã đưa Trung Cộng đối đầu với hầu hết các nước láng giềng có hải phận lân cận và đưa Bắc Kinh trực tiếp đối đầu với Hoa Kỳ và Nhật Bản. Mục đích của việc Bắc Kinh lấn chiếm vùng này, theo tạp chí Foreign Policy, có thể là để củng cố việc tranh dành quyền lợi trong vùng biển giàu có, đầy tài nguyên ngư hải sản và chưa kể nguồn lợi dầu khí; nhưng đồng thời cũng là để tăng cường khả năng chế ngự quân sự trong một khu vực vốn bị Hoa Kỳ và các đồng minh chế ngự.

Trung Hoa thực sự chỉ mới dành Biển Đông trên nguyên tắc từ khi cuộc chiến Quốc Cộng chấm dứt hồi cuối thập niên 1940, khi Bắc Kinh và Dân Quốc ở Đài Loan đều dành chủ quyền trên một tấm bản đồ do Quốc Dân Đảng Trung Hoa vẽ ra, nhưng Bắc Kinh đã tăng cường việc dành chủ quyền trong những năm gần đây dưới thời Chủ Tịch Tập Cận Bình. Những hành động gây hấn như việc đưa một giàn khoan khổng lồ cùng với nhiều chục tàu hộ vệ vào vùng biển của Việt Nam hồi năm ngoái, tạo nên nhiều tháng chơi trò ú tim. Đồng thời các tàu của Trung Cộng thường xuyên gây sự với tàu đánh cá của các quốc gia khác.

Nay việc xây dựng vội vàng trên các bãi đá ngầm đang làm cho các quốc gia láng giềng của Trung Cộng lo ngại, kể cả Philippines, Indonesia, Malaysia và Việt Nam. Một phát ngôn nhân của Bộ Ngoại Giao Philippines tuyên bố tuần này là Philippines “quan ngại nghiêm trọng” về các hoạt động của Trung Cộng.

Vấn đề là liệu Trung Cộng có quyền, như họ nói, chiếm hầu như toàn thể Biển Đông, hay là liệu những cố gắng kiến trúc vội vàng ở những nơi đang tranh chấp này sẽ đi đến kết quả là qua mặt luật pháp quốc tế và thay đổi bộ mặt địa lý chính trị của một vùng đang đầy bất ổn. Manila đã kiện Trung Cộng trước một tòa trọng tài quốc tế về một số những bãi cạn tranh chấp, nhưng Bắc Kinh từ chối tham gia vụ kiện. Thay vì vậy họ tìm cách bắt nạt các quốc gia láng giềng với cần trục và tàu nạo vét. Bắc Kinh đã từ chối không cho phép cuộc tranh chấp về Biển Đông được đưa vào nghị trình của hội nghị sắp tới đây của Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN).

Giáo Sư James Holmes, giáo sư về chiến thuật của Học Viện Quốc Phòng Hoa Kỳ, được Foreign Policy dẫn lời nói, “Nếu Trung Quốc thực sự xây dựng những phi trường hoạt động được và các cơ sở khác trên các hòn đảo mà họ mới tạo dựng nên, thì họ có thể tăng cường cho những đòi hỏi chủ quyền lãnh thổ của họ.”

Việc xây dựng này đã làm một số người lo ngại ở Washington và ở Tokyo sợ là Bắc Kinh có thể cho đồn trú không hải quân ngay giữa những hải lộ thương mại quan trọng nơi là mỗi năm chứng kiến mậu dịch lên đến 5 ngàn tỷ đô la di chuyển qua.

Các viên chức Hoa Kỳ ngày càng tập trung vào tiềm năng đe dọa của sự hiện diện tiệm tiến này của Trung Cộng trong vùng. Mới tuần này, tư lệnh của Hạm Đội 7 tuyên bố là ông đang tính chuyện đặt chiến hạm Hoa Kỳ ở Úc, để tăng cường cho nhiều chiến hạm mới sẽ được bố trí ở Singapore bắt đầu từ năm 2017.

Một viên chức của bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, ẩn danh, đã cho biết là việc xây dựng của Trung Cộng trên các bãi đá này “đang tạo lo ngại trong vùng về ẩn ý của Trung Quốc trong quan ngại là họ sẽ quân sự hóa các căn cứ trên các địa hình đang bị tranh cãi ở Biển Đông.”

Thủ Tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã thúc đẩy quốc gia của ông từ bỏ chính sách chủ hòa của thời Hậu Đệ nhị thế chiến và theo đuổi một vai trò can thiệp quân sự hơn, một phần lớn bởi chính sách gây hấn của Trung Cộng trên toàn vùng Tây Thái Bình Dương. Trước đây trong tháng này, Nhật Bản nói họ đang tính chuyện nới rộng các cuộc đi tuần trên biển ở Biển Đông.

Và điều đó nhấn mạnh cho thấy nguy cơ của những hành động khiêu khích này của Trung Cộng: Họ đang làm các quốc gia trên toàn Á Châu bực tức và lo ngại, mà nhiều trong những quốc gia này trong những năm gần đây đã từ từ tiến lại vào quỹ đạo của Bắc Kinh vì tăng trưởng kinh tế khổng lồ của Trung Cộng.

Ngoài những cố gắng tăng cường quân sự của Nhật Bản, Philippines, Malaysia và Việt Nam đều gia tăng ngân sách quốc phòng, đặc biệt là các chiến hạm để đối phó với một hạm đội ngày càng lớn của Trung Cộng. Các xưởng đóng tàu Indonesia đang lần đầu tiên chuẩn bị nhận đơn đặt hàng của một khách hàng ngoại quốc. Đó là lệnh đặt hàng của hải quân Philippines. Úc đang tăng cường thêm nữa liên hệ quốc phòng với Hoa Kỳ và Nhật Bản và tăng cường thêm tàu ngầm và những hàng không mẫu hạm nhí cho hạm đội của họ. Các nhà phân tích chiến thuật nay nói đến nhu cầu cho Hoa Kỳ và Nhật bản tăng cường khả năng quân sự trên những hòn đảo ngoài khơi bờ biển Trung Cộng để giới hạn đe dọa này.

Vậy tại sao Bắc Kinh làm vậy? Theo Giáo Sư M. Taylor Fravel, chuyên gia về chính sách hàng hải của viện đại học Massachusetts Institute of Technology, thì việc Bắc Kinh biến những đảo san hô thành căn cứ hải quân và phi đạo có thể giúp đe dọa láng giềng qua việc giúp cho các lực lượng tuần duyên và hải giám của họ hoạt động xa các hải cảng của Bắc Kinh hơn. Việc này có thể mở màn cho việc lập lại cuộc chiến bằng súng bắn vòi rồng giữa các chiến hạm Trung Cộng và Hà Nội quanh giàn khoan như mùa hè năm rồi. Việc này lại càng có triển vọng xảy ra hơn nữa khi hôm tháng này Bắc kinh nói là đã tìm thấy một mỏ khí đốt “lớn” ở Biển Đông.

Nhưng ông Frazel cũng khẳng định là những tiền đồn này không giúp cho Trung Quốc đủ khả năng để xây dựng một vùng Nhận diện phòng không ADIZ trong khu vực này vì những đài radar đặt quá thấp và thiếu phi cảng đủ lớn gần đó. Ngược lại ông chỉ ra là những tiền đồn này sẽ là những mục tiêu đứng nguyên cho các đối thủ nếu chiến tranh xảy ra. Ông Fravel chỉ ra là những tiền đồn này rất dễ bị tấn công vì thiếu khả năng phòng vệ.

Điều quan trọng hơn nữa, theo Foreign Policy, là việc biến những bãi ngầm này thành những “hộp cát nhân tạo” chẳng thay đổi bao nhiêu tình hình về phương diện pháp lý. Hầu hết các luật gia quốc tế đồng ý là thay đổi những địa hình thiên nhiên không tăng cường thêm khả năng pháp lý. Điều này quan trọng vì bãi cạn và đá ngầm không có khả năng được coi là lãnh thổ cho chủ nhân của nó như là một đảo thực sự.

Tuy nhiên việc xây dựng này hiện đã tạo nên một thực tế khó khăn trên thực tế, ngay cả khi Washington đề nghị theo đuổi giải pháp ngoại giao và Philippines chờ ngày ra tòa. Điều đáng ngại, theo Giáo Sư Holmes là, “Nếu những quốc gia này không bảo vệ thành công được chủ quyền của họ thì họ sẽ làm gì? Và nếu họ không làm được gì cả, thì theo thời gian sự thực ở hiện trường sẽ củng cố thói quen quốc tế, hay cả luật pháp quốc tế nữa.Việc đó sẽ làm Bắc Kinh hài lòng lắm.”

(Nguồn: Internet)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.02.2015

Những kỷ lục của xứ Việt ta…

Những kỷ lục của xứ Việt ta…

QTXM-Xin phép không bình luận

Tô hủ tiếu lớn nhất

alt
Bánh tét dài nhất
alt
Bánh chưng, bánh dày lớn nhất
alt
Mâm ngũ quả lớn nhất
alt
Ly café lớn nhất
alt
Chai rượu lớn nhất
  alt
Những bữa cơm không bát đũa
alt
Đói rét chờ lũ rút
alt
Tuổi già bươi chải kiếm ăn
alt
Những đứa trẻ màn trời chiếu đất
alt
Những chỗ trú không thể gọi là nhà

( Nguồn: Internet)

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.02.2015

SAO LẠI LÀ “MÙA XUÂN CHÍN” ?

 

  SAO LẠI LÀ  MÙA XUÂN CHÍN” ?

                                    

     Ngô Minh

                Các  thế hệ nhà thơ Việt Nam đều có rất nhiều bài thơ Xuân rất hay, nhưng không hiểu sao cứ những ngày cận Tết đến Xuân về,  hồn tôi lại cứ vang lên bài thơ Mùa Xuân chín của Hàn Mặc Tử. Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi, / Hổn hển như lời của nước mây…Bài thơ như một nỗi niềm, bắt đầu từ những nét chấm phá đơn sơ mà ám ảnh:

                                         Trong làn nắng ửng khói mơ tan

                                          Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng

                                          Sột soạt gió trêu tà áo biếc,

                                         Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang.

            Bài thơ bắt đầu từ một buổi sáng rất bình yên, tinh khiết của một làng quê miền Trung thân thuộc. Tôi hình dung ra nhà thơ đang ngồi một nơi nào đó trên cao, trầm ngâm quan sát những hình ảnh, sắc màu Xuân đang hiển hiện từng nét, từng nét trước mắt mình. Trong làn nắng ửng khói mơ tan. Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng . Hai câu thơ tĩnh mà động. Tĩnh ở cảnh mà động ở tình.  Nắng ửng là nắng mới nhú, là nắng non, nắng xuân. Giống như Nắng mới của Lưu Trọng Lư : Mỗi lần nắng mới hắt bên songKhói mơ là sương giăng, là khói bếp chiều qua còn đọng lại,  đang tan dần trong nắng sớm . Thi sĩ phát hiện thêm những nét thuỷ mặc dưới thung xa:  Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng. Đó là hoa nắng, là ánh xuân đang rắc lên trời đất.. Đến câu thứ ba , thứ 4 của khổ thơ đầu thì  tác giả  bắt đầu nghe âm thanh, bóng dáng của mùa xuân sột soạt ngay cạnh mình : Sột soạt gió trêu tà áo biếc / Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang. Những động từ  Sột soạt, trêu, sang…nói rằng mùa xuân đang về gần lắm, tinh khôi lắm. có thể hít thở, sờ nắm được. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.02.2015

THƠ KHAI BÚT NĂM MÙI CỦA NGUYỄN TRỌNG TẠO

QTXM-Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo của mail cho Ngô Minh:”Gửi Ngô Mịnh bài khai bút. Khỏe nhanh lên nhé”. Bài thơ là tâm trạnd xốn xang của tác giả đầu năm trước bao điều thật giả. Xin trân trọng gửi đến quý độc giả.

BÚT NHƯ-Ý

 Nguyễn Trọng Tạo

Quà giao thừa một cây bút Như-ý

Hành Giả để trên bàn rồi về núi Quả Sơn.

Tôi nâng bút lên

Suối chảy mây vờn

Chim kêu vượn hót

Hoa quả đung đưa

Kẻ cười người khóc

Âm mưu bủa lưới hồn nhiên

Cõi nhân gian bé nhỏ. Cõi thiên đường

Mờ tỏ

Bút Như-ý phát hào quang rạng rỡ

Lộ thiên

Gương mặt điên điên

Gương mặt hiền hiền

Gương mặt đen đen

Gương mặt đỏ đỏ…

Những gương mặt vừa quen vừa lạ

Những chán chường và những yêu thương. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.02.2015

TRIẾT LÝ ẨM THỰC DÂN GIAN VIỆT

   TRIẾT LÝ ẨM THỰC DÂN GIAN VIỆT

                                     

      Ngô Minh

               Người Việt lúa nước từ ngàn năm nay đã tự tổng kết cho mình một một triết lý ẩm thực rất tinh tế và sâu sắc về tất cả các  khía cạnh của văn hoá ăn : Chọn thực phẩm ngon, cách chế biến món ăn, văn hoá ăn…Thời chưa có sách vở, triết lý ăn của người Việt đã được lưu truyền qua ca dao, tục ngữ. Ông cha ta nói Có thực với vực được đạo. Nhưng lại day Học ăn học nói, học gói học mở. Nghiên cứu triết lý ẩm thực Việt qua  ca dao tục ngữ cũng là một cách tìm về cội nguồn.

              Muốn có món ăn ngon phải biết chọn thực phẩm ngon. Muốn chọn thực phẩm ngon phải biết mùa. Tháng chín mùa rươi, tháng mười cua ra, tháng ba mùa rạm . Trong sách Miếng ngon Hà Nội, Vũ Bằng viết :” đến đầu mùa mà không được ăn bữa rươi thì như là một người đàn bà đẹp đã để phí mất tuổi hoa…”. Rươi xào với niểng thái chỉ, hay chả rươi, rươi hấp, rươi rang, mắn rươi… đều ngon, đều lạ, nhớ đời. Nhưng rươi mỗi năm chỉ có mấy ngày “Tháng 9  đôi mươi, tháng 10 mùng 5”. Nếu quên sẽ tiếc lắm, nhớ lắm. Biết mùa rồi còn phải biết địa chỉ : Muốn ăn bánh ít lá gai, lấy chồng Bình Định sợ dài đường đi; hay Ai về Tuy Phước ăn nem , Ghé qua Hưng Thạnh mà xem Tháp Chàm. Tuy Phước, Hưng Thạnh đều là địa danh ở Bình Định. Hà Nội có nhiều loại thực phẩm ngon nổi tiếng : Vải Quang, húng Láng, ngổ Đầm. cá rô Đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây, hay Ổi Quảng Bá, cá Hồ Tây…. Dưa La, cà Láng, men Báng, Tương Bần, nước mắn Vạn Vân, cá rô Đầm Sét. Rồi về với Huế :Tôm đồng lột vỏ bỏ đuôi, gạo de An Cựu mà nuôi mẹ già. Hay câu ca thể hiện sự gốc gác chung thuỷ của con người: Nhớ em anh nhớ quê nhà. Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương ! (Đọc tiếp…)

Những điều cấm kỵ trong ngày đầu năm mới trên thế giới

 

(TNO) Không chỉ ở Việt Nam, nhiều nước trên thế giới cũng có những điều kiêng cữ vào ngày đầu năm mới. Trong đó, có những quan niệm về điềm lành và điềm gở khá giống Việt Nam.

Những điều cấm kỵ trong ngày đầu năm mới trên thế giới - ảnh 1Khoảnh khắc đón năm mới ở Quảng trường Thời Đại, thành phố New York, Mỹ – Ảnh: Reuters

1. Không cho ai mượn tiền và trả dứt nợ

Nếu cho ai đó mượn tiền hay các đồ vật quý giá vào năm mới, bạn sẽ mất cả năm chỉ để đi đòi nợ và làm việc để trả nợ. Tất cả khoản nợ cũng phải được trả trước khi năm cũ qua đi. Không những vậy, bạn phải giữ tiền trong túi. Việc này sẽ mang lại sự thịnh vượng và may mắn.

2. Không khóc vào ngày đầu năm

Ai cũng nên lạc quan và hạnh phúc vào ngày đầu năm, vì như vậy họ sẽ gặp may mắn và thuận lợi cho cả năm đó. Không những ở Việt Nam, nhiều nước trên thế giới cũng kiêng cữ rơi nước mắt vào năm mới. Thậm chí ở một số nước phương Tây, nếu họ vô tình bắt gặp một chú mèo đang khóc thì phải bỏ chạy theo hướng ngược lại vì đó là điềm gở.

3. Giặt quần áo sẽ mang đến tai họa chết người

Giặt quần áo vào năm mới là điều rất cấm kỵ. Vì quần áo mang trong đó sự may mắn của con người. Nếu ai đó giặt quần áo thì may mắn sẽ trôi sạch, họ và gia đình có thể gặp tai họa chết người trong năm. Thậm chí, người ta còn kiêng cữ gội đầu vào năm mới cũng vì quan niệm đó.

4. Không đổ rác

Không được đổ rác, thức ăn hay bất cứ cái gì vào ngày đầu tiên của năm mới. Nếu có thứ gì muốn vứt đi, người ta sẽ để nó bên góc nhà hoặc trong nhà. Tất cả rác thường sẽ được đổ vào trước đêm 31.12 hoặc chờ đến ngày 2.1.

5. Không ra khỏi nhà hay mang vật gì ra khỏi nhà

Không nên đi ra khỏi nhà vào năm mới nếu không thực sự cần thiết. Việc ra khỏi nhà có thể khiến người ta bị mất đồ đạc và gặp xui xẻo trong năm tiếp theo. Ngược lại, nếu mang đồ đạc vào nhà sẽ gặp nhiều may mắn. Trong trường hợp bắt buộc phải mang vật gì đó ra khỏi nhà, gia chủ thường sẽ bù đắp bằng cách mang lại một vật gì đó vào nhà.

Ngọc Quý (tổng hợp

( Nguồn: Thanhnienonline)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.02.2015

THƠ DÊ CỦA LÊ ĐẠT

Nhà thơ Lê Đạt

Ông cụ chăn dê

 Lê Đạt

QTXM- Lê Đạt là nhà thơ say chữ. Ông coi chữ là hồn cốt của thơ. Tết Con Dê, xin mời bạn đọc thưởng thức bài thơ về Dê của  nhà thơ Lê Đạt để hiểu thêm về nỗi buồn của ông một thời và thưởng thức tài dùng chữ của thi sĩ.

Ông cụ mịt mù dê phía núi
Rít rít làng và khói xóm lưng

Mặt con chim hót
Thuở ông già nhập núi
                                  gió cửa rừng vơi lạnh

Ơi! Cái hơi người

Lũng vắng
Ba lần thuốc ông châm
Mảnh tinh lạc trời
Có quẹt đúng tẩu ông già gỗ sâng
mồi thuốc Mán bỗng rực
Ông rít hơi dài
Đàn dê bõm bẻm trăng
Mấy lũn cũn dê con
Chân tân tất trắng
vểnh râu thang gọi
Be he ông
Ông vuốt râu cháu nhỏ
đứa ông đón tay hạt muối
Bầy chiên lành cỏ mộng
luân mùa đất hẹn
Chăn đàn râu nắng

Ông là ông cụ chăn dê
Lòng những nơi mầm

Ông cải cỏ nương Voi
Cửa núi mình tơ tơ đẹp
Tỉa ngọn rừng non xòe lá tán
Miệng nõn nà dê
Đàn dê ông nuôi Hợp tác
nhân như rừng…

Anh kế bổ túc về
Biết phép tam suất
Đếm đi đếm lại
Một con dê trắng… hai con trắng dê
ba con dê trắng…
Dê hằng hà nghìn lẻ vỗ bạch đêm
Ơ những con A con B con C
con Dê
bản trang trang trắng thảo thơm
ông rén bước nhẹ
Mùa chẳng là xuân
Đất dậy men
Trời ghẹ xanh
Yếm trúc mẩy măng đôi núm sừng bò
Mót xoan
Gốc lim mười năm sét đánh
Ngó ngoáy chồi tơ trái đào
gọi là tí xuân
Con đông thử
đất lòng nửa năm tu ngủ
hé him mắt
ngáp cái xuân khởi động…
Bụng mầm xoan ba tháng
Rừng động xanh
Ai đừng được xuân
Mấy dê non buồn sừng húc gió
cẫng lên cỡn lên
Be he xuân

Ông bắt quả tang cây bạch đàn

Nồi cơm phì
                  phưỡn bụng khì

Anh kế thì say ông già đong lẫn
thì ông già khà khà
“Mùa xuân… mùa xuân
                                  gạo nở”

Ngày lún phún nắng
Gió xông nhà đỏ hoa hí hởn
màu phong bao

Anh kế lên cây “xi-mi-li”
đánh mới nước lần đôi xăng đá
Ông cháu ta xuất hành hướng nào
Ria vân vê đăm chiêu ông cụ
một câu khai bút
gầm sàn con hoa mơ bỗng

Đét đùi ông cụ nét hơ hớ
một sự sinh
tay ha hả phía mọc trời
“Hướng cục tác”
Ơ hỡi ngực son
phập phồng non nõn xuân
Con mái đuôi xòe ngơ ngỡ
Chiều bạn chân đàn núi
                                   gặm xanh đồng sao

Ông ngồi… thời gian
Trán bồi nếp địa tầng
Đêm vô cùng ông hàn huyên gì
Mải trời
Chiếc tẩu Mán khẽ rung
Có phải cần vô tuyến điện
Tút tít bên kia lúc lại bíp bíp về
Như tiếng chim bìm bịp đôi khuya
Ông hắt hơi thông ba lần
Chân ông con cún mực dương không động
leo lét ánh mắt sao ơi là xa
Nó anh em gì chó đăm chiêu Kim tự tháp
Năm trầm ngâm cát
nung nấu mơ mầm đá
Ông biết chờ…

*

Giang cánh cửa trời xanh ông
                                          “Chào bác”

Tức có hồi âm
                   “Chà… ào b… aác”

Trịnh trọng ông ngả mũ
Anh kế chợt à
Hai người chào ngôi thứ ba
Bông hoa mười giờ ai hẹn hò
Có người gọi hoa đồng hồ
Ông nghiêng bình toong nhựa Hàm Rồng
khà thôi nước luộc
tóc vòm lơ đãng trắng
Gối đầu tay hoa chờ
Ô sợi tóc tiên nào cù râu
Từng duyên nợ loài chim hiếm
Thời đồng đá đâu bay biển cạn
Tay hơi ai một chiếc lông đuôi
Nhịp nửa cầu vồng
ngã tư áo giải nàng công chúa
Be he Be he

Từng tiếng đơn thanh gió
Người khách du thấp thỏm chân trời
Nương sắn chiều nhớ lửa
Con gà rừng gáy gọi

Ông lim dim
nghe im cựa máy mùa

Sớm nay nhìn gì
Đỉnh núi ông đứng
Ông đứng nhìn gì
Bảy mươi năm làm người
hòn đá trôi xuôi
Con mương nay mừng thuận ngược
Dâu chiêm rể mùa
Hai họ lúa đi tơi tới
Ai thống kê bản Phượng hoàng xanh đèo đôi
Vườn đồng bào xen như vui vườn trẻ
Trạm thủy điện nhỏ đầy tuổi tôi bật đèn
Cây me mũ thóp đỏ đầu nhà sinh

Ông đứng cả giờ
Ông vẫn đứng

*

Dân bản xì xào
Như đỉnh núi ít lâu nay nhô cao
Các cụ rằng
Sách chép Âm Dương vận hành
Trăm linh xuân
lần đá đẻ
điềm Đại Mùa

Chòm núi hình sương sớm ông cụ chăn dê
Người ta gọi chòm núi
                                 Ông cụ Chăn Dê


Nguồn: Lê Đạt, Bóng chữ, NXB Hội nhà văn, 1994

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.02.2015

CHÚC MỪNG NĂM ẤT MÙI

CHÚC MỪNG NĂM ẤT MÙI

NĂM ẤT MÙI ĐẾN, QUÀ TẶNG XỨ MƯA CHÚC BẠN ĐỌC BỐN PHƯƠNG AN LÀNH, TÀI LỘC. NĂM GIÁP NGỌ QUA, QUÀ TẶNG XỨ MƯA (ngominh.vnweblogs.com và ngominhblog.wordpress.com) ĐÃ CÓ HÀNG TRIỆU ĐỘC GIẢ TRUY CẬP. ĐÓ LÀ ĐIỀU VÔ CÙNG PHẤN KHÍCH ĐỐI VỚI  CHỦ BÚT BLOG NGÔ MINH. TRONG NĂM CŨNG ĐÃ CÓ NHIỀU ĐỘC GIẢ HƯỞNG ỨNG LỜI KÊU GỌI CỦA QUÀ TẶNG XỨ MƯA ỦNG HỘ SÁCH CHO HỌC SINH LÀNG BIỂN NGHÈO, ỦNG HỘ KINH PHÍ ĐỂ IN TUYỂN TẬP LÊ ĐÌNH TY, KINH PHÍ HỖ TRỢ CHÁU HOÀI NAM, CON NHÀ THƠ QUÁ CỐ HẢI KỲ CHỮA SUY THẬN. THẬT LÀ CẢM ĐỘNG. NĂM ẤT MÙI ĐẾN QUÀ TẶNG XỨ MƯA XIN TẶNG BẠN ĐỌC CON DÊ CÓ CHỬA VÀ HAI BÀI THƠ VỀ TẾT

                                      Ngô Minh

                                           GIAO THỪA

                                      U ngóng giao thừa

                                      Cứ như trẻ nhỏ thức chờ cạn khuya

                                      Cái đợi thì chẳng tháy về

                                      Cái không đợi lại u mê hồn người

                                     

                                  Về ăn tết Huế

                                       nắng về ăn tết Huế
                                       vàng mai vàng sân vàng phố vàng chùa
                                       rưng rưng anh cắm cành nắng mới
                                       lên chỗ mình ngồi Xuân xưa

                                       sương về ăn tết Huế
                                       lừng thơm khói bánh giao thừa
                                       mưa xuân the vị mứt gừng lên tóc
                                       rêu Hoàng thành còn mắc lối sương qua

                                       người về ăn Tết Huế
                                       tập ăn trầu đỏ má đỏ môi
                                       người cắn hạt dưa người chờ câu hẹn
                                       thẻ xăm chùa khúc khích ngày mai 

                                       rủ nhau về ăn tết Huế
                                       ngàn thông thắp nến sang mùa
                                       Hương Giang trăm năm vua ngự
                                      vẫn giòn như thuở còn chưa…

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.02.2015

TẾT PHỞ

      TẾT PHỞ

                                                      Ngô Minh

             Năm 2011, chương trình CNNGo của kênh truyền hình CNN (Mỹ) vừa bình chọn và giới thiệu 50 món ăn ngon nhất thế giới. Trong đó Việt Nam có hai món Gỏi cuốnPhở được chọn.  Nhắc đến phở là nhớ Hà Nội. Nhớ về Hà Nội cái đầu tiên tôi nhớ là nhớ phở. Lại nhớ  thời sinh viên với những những cái Tết phở .  Phở Hà Nội bây giờ ở khắp bắc, trung , nam đâu đâu cũng có, nhưng chỉ có về Thủ Đô mới được thưởng thức “phở thứ thiệt”,” phở Hà Nội rin”. Phở đã vào thơ Tú Mỡ từ gần bảy mươi năm trước. Trong bài thơ Phở Đức Tụng ( ca tụng công đức của phở), hơn 40 câu viết năm 1937 nhà thơ mê phở và luận về phở rất hay : Một vài xu nào đắt đỏ mấy mươi/ Mà đủ vị: ngọt, bùi, thơm,béo, bổ. Bởi vậy:

                              Đừng khinh phở là món ăn hèn mọn

                              Đấu xảo thành Ba-lê còn phải đón phở sang

                              Cùng các món ăn ngoại quốc phô trương

                              Ngon lại rẻ, phở thường tranh quán giải

                              Sống trên đời, phở không ăn cũng dại…

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.02.2015

Con dê chín mùi

Con dê chín mùi

  •   Đặng Tiến

 

 Miền thôn dã quê tôi thường nghe câu hát ru em âu yếm và lạ lùng :

Ru em buồn ngủ buồn nghê

Con tằm chín đỏ, con dê chín mùi (muồi)

Con tằm chín đỏ để lại mà nuôi,

Con dê chín mùi làm thịt em ăn.

Lời ru thân thuộc, ngọt ngào lẫn chút huyền bí, lảng đảng  giữa những giấc trưa quạnh vắng. Ý nghĩa của nó chờn vờn  trong ánh nắng, gắn bó với bóng tre, đụn rơm, đọt xoài, lá mít. Câu hát dỗ dành giấc ngủ trẻ thơ, phất phơ một ít mộng mị người lớn, là thành phần một thực thể thôn trang. Nó hồi âm  cuộc sống, thực tế và tâm linh. Tách rời khỏi môi trường “một buổi trưa không biết tự thời nào““[1] thì câu hát vô nghĩa, vô lý – trừ phi ta cố công phân tích từng hình ảnh thành biểu tượng, tách lìa ra khỏi trí tưởng đơn giản của nông thôn. 

Giáo sư Bửu Cầm, tại giảng đường Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, năm 1962, có đưa ra giả thuyết : đây là câu hát vọng lên từ thuyền đò  : 

Ru con buồn ngủ buồn nghê

Con này mới théc (ngủ) con tê dậy rồi

Lời ru chập chờn lênh đênh trên sông nước, và ngọn gió vô tình đã thổi lệch đường viền của những âm hao, tạo ra những con dê chín mùi.

*** 

Năm Mùi, còn gọi là năm Vị : Mùi, Vị (năm, viết với bộ mộc) là hai từ đồng nghĩa, nhưng có thể xem như một từ với hai cách phát âm khác nhau : vị là cách đọc hán việt, mùi là cách đọc việt xưa (hay cổ Hán Việt có từ thời Đường). Còn mùi, vị hiểu theo nghĩa cảm xúc bằng mũi và lưỡi là hai từ khác, và khác nghĩa, tuy cùng một gốc từ nguyên. Ngày nay, trong tiếng Hán Việt,( khong phải thuần Việt) chữ mùi chỉ có nghĩa niên lịch, ngày giờ, còn chữ vị thì thông dụng và kết hợp rộng rãi hơn. Ở Trung Quốc, tiếng Quảng Đông phát âm giống nhau : Quý Mùi (mei6) mùi lai (vị lai), nơi khác phát âm là Vị (wei4). Tiếng Việt nói : At Mùi hay At Vị, nhưng không nói tuổi Vị, giờ Vị. 

*** 

Dê là một biểu tượng phong phú, xuất hiện lâu đời từ thời tiền sử loài người, trong đời sống vật chất và tâm linh. Sách Lĩnh Nam Chích Quái ở chương đầu tiên, về họ Hồng Bàng, đã kể lại rằng từ thời xa xưa ấy, người Việt trong hôn nhân, đã biết « giết trâu dê làm đồ lễ ». Nghĩa là con dê đã được nuôi làm gia súc và sử dụng vào việc tế lễ, nhưng không lấy gì làm bằng. Sử sách ghi lại rằng, thời Hán, 200 năm trước công nguyên, Lữ Hậu đã cấm xuất khẩu ngựa cái và dê cái sang Nam Việt để giới hạn việc chăn nuôi ở phần đất do Triệu Đà chiếm cứ. 

Vào giữa thế kỷ 16, trong bài Đào Nguyên Hành, Phùng Khắc Khoan (1528-1613) tục gọi Trạng Bùng đã tả cảnh nông thôn Việt Nam : 

Trâu bò, gà lợn, dê ngan,

Đầy lũ đầy đàn, rong thả khắp nơi.

***

 Từ Đông sang Tây, biểu tượng dê phong phú và phức tạp. Từ dê đực sang dê cái hình tượng đã đổi giá. Dê cái là hình ảnh đáng kính yêu trong các huyền thoại phương Tây, là nghĩa mẫu của thần Zeus, là bóng dáng con người gian nan vượt núi trèo non đeo đuổi cuộc sống và lý tưởng ; sừng dê cái biểu tượng sức sản sinh phồn thịnh. 

Ngược lại, dê đực tượng trưng cho mãnh lực và nhu cầu tính dục. Một chàng dê có thể đơn thân độc cước phục vụ cho cả đàn dê cái mà không mấy cực nhọc. Trong các xã hội xưa, đạo đức và tôn giáo tìm cách kìm hãm bản năng tính dục, thì sinh lực của chàng dê bị bêu riếu, phê phán, bị sử dụng như một thứ « dê tế thần, dê sứ giả » (bouc émissaire, scape coat) để ổn định xã hội. Trong khi đó, thịt dê vẫn được trân trọng « rượu nồng dê béo » vì được xem như có chất bổ dương. Chê cười dê, nhưng mong khỏe như dê. 

Người đàn ông hiếu dục, Tây phương gọi là Satyre, Việt Nam gọi là dê, dê xồm, dê cụ, dê được dùng làm động từ «  dê gái ». Trong trò chơi đánh đề, mỗi con số đề có vẽ hình một súc vật : số 35 kèm hình con dê : do đó « băm lăm » có nghĩa là hiếu sắc. Và hình tượng dê, trong nghĩa tiêu cực, chỉ áp dụng cho đàn ông. Đàn bà thì gọi là ngựa. Nghiệm cho cùng hai con vật đều bị hàm oan. Con người cũng là hàm oan của quyền lực : các đấng thần linh, mẫu hậu, đế vương thì không ai dám nói rằng dê rằng ngựa. 

Trong huyền thoại Hy Lạp con dê đực còn là hình tượng của thần Pan, thủy tổ của mục đồng, ngày xưa là kẻ chăn dê ; Pan sống trên non cao, thổi sáo làm bằng ống sậy để tưởng nhớ giọng nói của người yêu đã lẫn hồn vào lau lách. Dê còn làm hình tượng cho Dionyos, thần chủ của rượu nho, mặt nạ và sân khấu, do đó bi kịch, một thể loại văn học lớn lao của nhân loại, tiếng Hy Lạp là tragôidia bắt nguồn từ tragos, nghĩa là con dê đực. Vậy bi kịch là khúc dương ca, nói cho văn chương. Gọi là tiếng be he thì là vô lễ, nhưng không phải là vô lẽ. 

Trong tín ngưỡng dân gian, con dê có mặt trong bảng tử vi phương Đông lẫn phương Tây. Trong lịch Trung Quốc, dê tượng trưng cho năm Mùi ; trong lịch phương Tây, Dê tên là Ngư Dương sừng dê đuôi cá : capricorne là một trong 12 chòm sao trên hoàng đạo, ứng vào ngày đông chí ở Bắc bán Cầu : ngày bắt đầu dài. Trong niềm tin dân gian, đây là điềm lành. 

***                                                          

Năm bộ da dê

                                                           Bá lý Hề, năm bộ da dê

                                                           Từ chàng ra đi

                                                           Mổ con gà mái

                                                           Nồi cơm gạo đỏ

                                                           Chừ thương thì thương

                                                           Ngày nay giàu sang

                                                           Chàng quên chăng chàng

Đây là một câu hát trong bộ truyện Đông Chu Liệt Quốc. Bá Lý Hề là nho sĩ nghèo, bốn mươi tuổi phải bỏ nhà ra đi tìm công danh, có lúc phải ăn mày, cuối cùng đi giữ trâu và chăn ngựa cho vua Sở. Tần Mục Công biết tài, muốn rước về, nhưng sợ vua Sở phỗng tay trên, chỉ chuộc bằng năm bộ da dê. Bá Lý Hề về Tần, làm tể tướng, tuổi đã bảy mươi. Người vợ già lưu lạc và nghèo khó, tìm đến xin làm gia nhân, rồi thừa dịp hát bài hát nói trên, kể lại chuyện tiễn chồng ba mươi năm trước và Bá Lý Hề nghe lời hát đã nhận ra người vợ tao khang. Câu chuyện lý thú và cảm động, và chứng tỏ là trước công nguyên, việc nuôi dê đã phổ biến, da dê đã là hàng hóa thông dụng. Dĩ nhiên Đông Chu Liệt Quốc là tiểu thuyết viết sau này, nhưng cũng dựa vào tư liệu lịch sử.

Cùng thời chiến quốc (453-221 trước công nguyên) sách Trang Tử đã có kể chuyên người bán thịt dê nước Sở, có công phò vua, nhưng từ chối công khanh. Sách Liệt Tử, cùng thời, kể chuyện một con dê mất, nhiều người đi tìm, nhưng không kiếm ra vì đường đời lắm ngã rẽ. 

Trong điển cố phổ biến, có chuyện vua Tấn Vũ Đế đi xe dê vào hậu cung và các cung nữ rắc lá dâu trộn muối để cho dê dừng lại. Nên Nguyễn gia Thiều (1741-1791) trong Cung Oán Ngâm Khúc đã có câu : 

                                                         Phải duyên hương lửa cùng nhau

                                                         Xe dê lọ rắc lá dâu mới vào

và nhiều lần dùng chữ hán dương xa

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) không cần dùng đến điển cổ ngoại nhập, mà chỉ xử dụng thành ngữ  treo đầu dê bán thịt chó :

                                                         Lận thế treo dê mang bán chó

                                                         Lập danh cỡi hạc lại đeo tiền

(Lận nghĩa là lừa dối, trong từ gian lận, biển lận) câu thơ đồng thời chứng tỏ thành ngữ nói trên phải có từ lâu, và con dê là món hàng phổ cập. 

Tuy nhiên trong dân gian, nổi tiếng nhất là chuyện Tô Vũ chăn dê. Thời Hán Vũ Đế (141-87), Tô Vũ đi sứ Hung Nô, bị vua Thuyền Vu bắt giữ, đày lên miền Bắc Hải chăn dê, hẹn khi dê đực đẻ con mới được phóng thích, và loan tin Tô Vũ đã chết. Mười chín năm sau, Hồ Hán giảng hòa, sứ nhà Hán bịa đặt chuyện vua Hán nhận được thư Tô Vũ buộc vào chân nhạn, Thuyền Vu hoảng sợ mới trả Tô Vũ. Trong cõi lưu đày, Tô Vũ đã kết bạn với một con vượn cái. Chuyện Tô Vũ, với nội dung cảm động và nhiều tình tiết éo le đã là một đề tài nghệ thuật, cho nhiều tranh tượng, và điệu hát dân gian. 

*** 

Lê Thánh Tông (1442-1497) đã có hai bài Vịnh Tô Vũ , trong Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập : 

                                                         Biển bắc xuân chầy dê chẳng nghén

                                                         Trời nam thu thẳm nhạn không thông

Phải chăng đây là lần đầu, con dê, và tên dê, xuất hiện trong văn học quốc âm, nếu quả thật là thơ Hồng Đức. Vì bài này lại thấy trong truyện nôm Tô Công phụng sứ, khuyết danh, gồm có 24 bài đường luật, tương truyền có từ thời Mạc, thế kỷ 16, nhân chuyện Lê quang Bí đi sứ Trung Quốc, bị nhà Minh giữ lại 18 năm ở Nam Ninh, giống Tô Vũ ; truyện có những câu hay : 

Hơi dê hãy ngấu manh tơi lá

Tuyết nhạn còn in cái tóc lông

Ý nhắc hoàn cảnh người chăn dê sống chung với dê, quần áo đượm mùi dê, lông tóc trắng màu lông nhạn nơi Bắc Hải. 

Trong Hồng Đức Quốc Âm thi tập, còn có hình ảnh con dê độc lập, đi thẳng từ thiên nhiên vào thi ca, mà không qua điển cố văn học, trong bài Tương Phùng : 

                                                         Ong già buông nọc châm hoa rữa

                                                         Dê yếu văng sừng húc dậu thưa

Nếu quả thực là tác phẩm Lê Thánh Tông, hay một người nào khác trong nhóm Tao Đàn, thì câu thơ Việt Nam, từ thế kỷ 15 đã sắc cạnh, súc tích và hiện đại. Nó sẽ tái sinh trong hai câu cuối một bài thơ được gán cho Hồ xuân Hương, đầu thế kỷ 19, Mắng học trò dốt : 

                                                         Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ

                                                         Lại đây cho chị dạy làm thơ

                                                         Ong non ngứa nọc châm hoa rữa

                                                         Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa

Hai câu trước chỉ được phần đanh đá. Hai câu sau giàu hình tượng sắc sảo, nhưng không do Hồ xuân Hương sáng tạo ; bà có công điều chỉnh một số chữ nôm tinh vi và tinh quái. Đặc biệt câu cuối hàm súc, đa hiệu. Tách rời khỏi văn cảnh và câu chuyện mắng mỏ người khác, dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa  có thể mang ý nghĩa khác, đa mang chút âm hao u hoài, xa vắng.  

***

 Ta có từ “lục súc“ để chỉ sáu con vật được chăn nuôi trong phạm vi gia đình nông dân : trâu, ngựa, dê, gà, heo, chó. Nhưng đây là thành ngữ Trung Quốc, có trong sách vở từ thời đầu công nguyên. 

Truyện Nôm Lục Súc Tranh Công của ta cũng dựa theo sử sách Tàu, chứ thật ra việc nuôi dê không mấy phổ biến. Trong truyện ngụ ngôn nói trên ra đời tại Huế, vào thời nhà Nguyễn, con dê chỉ được sử dụng trong việc tế lễ : 

Dê vốn thật thuộc loài tế lễ

… Để hòng khi tế thánh tế thần,

… Hễ có việc lấy dê làm trước,

Dê dâng vào người mới lạy sau.

Nhưng lịch sử, tình cờ, đã tạo hai hình ảnh dê thật đẹp trong thơ Bùi Giáng và Lê Đạt. 

Cuộc kháng chiến chống Pháp đã đưa Bùi Giáng đi “chăn dê một đoạn đời 15 năm ở núi đồi Nam Ngãi Bình Phú“, như ông kể lại trong bài thơ Nỗi lòng Tô Vũ (Mưa Nguồn – 1962). Một bài thơ hay, thi vị và đằm thắm. Đàn dê trong thơ Bùi Giáng tự do nhảy múa, tha hồ be he, bé hé, bế hế, bê hê, tung tăng những bộ lông rực rỡ, trong chiếc vòng nhiều màu sắc do nhà thơ thoăn thoắt bện

Này em Đen chiếc vòng vàng tươi lắm

Này em Vàng chiếc trắng há mờ đâu

Này em Trắng chiếc hồng càng lóng lánh

Này đây em Hoa Cà hỡi ! chiếc nâu.

Và nhà thơ bỏ công ghi chú : Dê Hoa Cà có sắc lông lổ đổ tía hồng xem như hoa cà vậy. Đẹp vô cùng. Nhất là buổi chiều, sắc lông óng ả dưới nắng vàng – xa xa hình bóng dê rực rỡ bổi bật trên sườn núi xanh lơ. Dê Hoa Cà còn gọi là Dê Sao, vì lông lổ đổ sáng như sao…

… Cái lần đầu, thuở 20 tuổi trao cái vòng ngọc cho vị hôn thê mà không cảm động bằng lần đeo vòng cho dê vậy(tr.151). 

Ngẩng đầu lên nhìn anh mờ mắt lệ

Từ lần đầu vòng ngọc tuổi hai mươi

Trao người em trăm năm lời ước thệ

Đây lần đầu cảm động nhất mà thôi.

 

Vòng em xong, vòng anh dành riêng chiếc

Dành riêng mình – dê hỡi hiểu vì sao ?

Vì lòng anh luống âm thầm tha thiết

Gán đời mình trọn kiếp với dê Sao.

 

Nhìn anh đây các em Vàng Đen Trắng

Tía Hoa Cà lổ đổ thấu lòng chưa ?

Từ từ đưa chiếc vòng lên thủng thẳng

Anh từ từ đưa xuống cổ đong đưa

 

Và giờ đây một lời thề đã thốt

Nghìn thu sau đồi núi chứng cho ta

Cao lời ca bê hê em cùng thốt

Hòa cùng lời anh nghẹn nỗi thiết tha.

Về vẻ đẹp của một loài súc vật, và tình người với nó, tưởng trong văn học không mấy khi có những trang đằm thắm và tráng lệ như trong thơ Bùi Giáng. 

Mươi năm trước, Bùi Giáng đã tự nguyện đi chăn bò, chăn dê trên rừng núi Trung Trung Bộ. Mươi năm sau, nhà thơ Lê Đạt bị khổ sai làm một việc tương tợ, trong chương trình lao động cải tạo sau vụ án Nhân văn Giai Phẩm, tại vùng đồi núi Chí Linh, Bắc Bộ, từ tháng 8-1958 đến tháng 2-1959. Phải chăng trong thời kỳ này ông đã sáng tác, hay thai nghén bài Ông cụ chăn Dê trong tập thơ Bóng Chữ (1994) mở đầu bằng chân trời mông lung : 

Ông cụ mịt mù dê phía núi

Ríu rít làng và khói xóm lưng

Thơ Lê Đạt tân kỳ, đôi khi cầu kỳ, nhưng có nhiều đoạn trong sáng : 

Đàn dê bỏm bẻm trăng

Mấy lũn cũn dê con

Chân tân tất trắng

Vểnh râu thang gọi

Be he ông

Bỏm bẻm trănglà một hình ảnh sáng tạo độc đáo, vừa cụ thể vừa thơ mộng, gợi hình : một khuôn mặt già hom hem, nhá bánh tráng nướng, đối lập với đám dê lũn cũn – mà Hồ xuân Hương gọi là “dê cỏn“ – chân tân tất trắng. Từ ngữ “tân tất“ mới mẻ, táo bạo, sang trọng. Có lúc Lê Đạt đồng hóa đàn dê với sao trời, hay “Bóng Chữ“ lay động trên trang giấy 

Đếm đi đếm lại

Một con dê trắng… hai con trắng dê

Ba con dê trắng

Dê hằng hà nghìn lẻ vỗ bạch đêm

Ơ những con A, con Bê, con Xê

Con Dê

bản trang trang trắng thảo thơm

Cũng như trong thơ Bùi Giáng, không mấy khi trong ngôn ngữ, bình thường hay văn học, con dê được trọng vọng như vậy.

Và đây là niềm tin cuộc sống, ở vũ trụ và con người, qua tiếng be he đón xuân :

Rừng động xanh

Ai đừng được xuân

Mấy dê non buồn sừng húc gió

Cẫng lên cỡn lên

Be he xuân

                              (tr. 58-61)

Phải đặt bài thơ vào những năm 1958-1959 gian lao của tác giả, đồng cảnh với nhiều bạn văn bạn thơ đồng hội đồng thuyền khác, mới thấy được sức sống mãnh liệt của con người qua văn học và biết trân trọng tiếng nói của văn học.

Từ con dê non ngây thơ khao khát tự do, chết vì tự do, trong truyện ngắn của Alphonse Daudet, đến hình ảnh con dê chon von trên đỉnh núi, tận cùng của dấu thỏ dường dê, chim kêu vượn hú tứ bề núi non, trong truyện Lục vân Tiên, chúng ta tìm thấy một hình ảnh dê hiền lành, kham khổ, nạn nhân của phong tục, lễ nghi và bia miệng. 

***

Nhân chuyện dê năm Mùi, chúng ta ôn lại một số chuyện văn học và văn hóa. 

Thành ngữ và thành kiến « dê băm lăm » có lẽ chỉ xuất hiện trong dân gian về sau, do ảnh hưởng phương Tây. Trong văn chương truyền khẩu hay văn bản xưa chúng ta không gặp những câu xúc phạm đến dê. Ngược lại những thành ngữ như « treo đầu dê bán thịt chó », hay  « kêu như dê tế đền »  tạo hình ảnh đáng thương một con vật hiền lành, vô tội, oan khuất, bị lợi dụng hay hy sinh — và từ thuở Hồng Bàng hồng hoang thời nảo thời nao.

Ngược lại, ngày nay chúng ta đang có những bài thơ hiện đại xuất sắc, khôi phục danh tiết cho con dê, mà chúng ta nhớ lại nhân ngày Tết Ất Mùi.

Đồng thời, lần theo « đường dê » –  mà Nguyễn Trãi trong thơ Nôm ngày xưa có lần gọi là « dương trường đường hiểm khúc co que » –  chúng ta ghi dấu vài bước chân trong quá trình Thơ Quốc Âm từ buổi sơ nguyên, đến những bài thơ Việt Nam hiện đại nhất.

Xuân Ất Mùi, 2- 2015

( Nguồn: VHNA)


[1]Thơ Huy Cận

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.02.2015

CÁT THỜ

                       CÁT THỜ

                                                   Ngô Minh

 

             Người Huế chuẩn bị Tết, lo gì thì lo phải có cát trắng để thay vào bát nhang trên bàn thờ ông bă tiên tổ năm mới. Đó là chuyện tâm linh. Gia đnh nào cũng lo mua cât, mua hương cho đủ. Mỗi năm thay cát một lần, ngay sau lễ cúng tất niên trong câc ngày 29 hoặc 30 Tết. Chân nhang thì gom lại hóa vàng, còn cât cũ thì đổ đi,  lau rửa sạch sẽ bát nhang và thay cát mới . Không thay cát là coi như ông bà không có Tết. Nên năm hết Tết đến, có một “nghề” một năm chỉ làm cật lực một tuần, nửa thâng: đó là làm cát Tết và bán cát thờ. Gọi là nghề cho “oai”, thực ra là sự tranh thủ lúc nông nhàn kiếm thêm đồng ra đồng vào tiêu pha ngăy Tết. Nhưng nghề đó đã có hàng trăm năm nay. (Đọc tiếp…)

GS Ngô Bảo Châu: “Cả đắng cay cũng nằm trong hạnh phúc”

Trò chuyện dịp Tết, GS Ngô Bảo Châu chia sẻ: “Trong cuộc sống có cả cái ngọt ngào và đắng cay. Mình phải biết là ngay cả cái đắng cay đó cũng nằm trong hạnh phúc”.

Tôi quen lắm người nhiều tiền mà bất hạnh

Anh đang ở trên đỉnh cao khoa học, cảm giác ở trên đỉnh cao thế nào?

Tôi thấy cũng bình thường. Có cảm giác đặc biệt mà tôi phát hiện là khi mình nói thì nhiều người nghe hơn (cười). Thực ra là đối với công việc, thì tôi hơi ít thời gian để làm chuyên môn hơn. Tôi chưa tìm lời giải cho vấn đề ấy.

Mục tiêu kế tiếp của anh là gì?

Đối với tôi, giai đoạn nghiên cứu khoa học mà để chinh phục một kết quả khoa học thì tôi thấy đã làm được rồi. Một điều rất muốn mà tôi chưa làm được là đào tạo ra học trò giỏi.-GS Ngô Bảo Châu. 

Anh rất quan tâm đến đào tạo, vậy anh có khó khăn gì? Giờ anh bắt đầu một ước mơ mới, lại bắt đầu từ đầu?

Cái khó khăn bây giờ là ví dụ buổi họp bàn mà chưa đi đến kết luận gì hết. Đối với tôi cũng bình thường thôi, không thất vọng. Không ai cố tình gây khó dễ cho mình. Thực ra là khó khăn chung, khó khăn cơ bản là mình không có nhiều tiền, không thể muốn tiêu như thế nào thì tiêu.

Phải chấp nhận chuyện đó thôi. Những cái đó tôi nghĩ là mất thời gian nhưng sẽ giải quyết được. Cái khó khăn thứ hai là chuyện ước mơ của giới trẻ càng ngày càng ít hơn. Cái này thì không có cơ chế nào gỡ được. Tôi cảm thấy giới trẻ bây giờ ấp ủ ít ước mơ nhưng các bậc phụ huynh có vẻ ước mơ về con rất là nhiều.

Lần trước có đoàn học sinh đi thi quốc tế, tôi có gặp các bạn. Trong đó, có 3 bạn đăng ký học Đại học Ngoại thương, tôi hỏi: “Tại sao các em lại học Ngoại thương? Rõ ràng các em có thiên hướng, có tư chất học về Toán học cơ bản”. Mẹ một bạn bảo “Học Ngoại thương tốt về tương lai, vật chất sau này”. Nhưng bạn ấy phản đối câu trả lời của mẹ. Bạn ấy muốn học khoa học tự nhiên nhưng được bố mẹ định hướng thi Ngoại thương. Tôi nghĩ chuyện đấy rất là dở, vì cha mẹ định hướng cứ nghĩ là mình thực tế nhưng có khi lại sai lầm.

Anh có gặp phụ huynh và thuyết phục họ không định hướng cho con cái?

Thuyết phục thế nào được. Khó lắm. Với những người lớn thì không nên nói nhiều về ước mơ vì khi họ đã quá 30 – 40 tuổi ước mơ không còn quan trọng với họ nữa. Về mặt thực tế, tôi nghĩ cái nhìn ngắn hạn là rất sai lầm. Vì cái quan trọng trong cuộc đời của mỗi người không đơn thuần là kiếm được nhiều tiền. Kiếm được nhiều tiền đơn thuần không thể mang lại cho họ cuộc sống hạnh phúc được.

Cái chính của mỗi người phải là thực hiện được hết khả năng của bản thân, khả năng của mình đến đâu thì mình làm đến đó. Đó mới là cái toại nguyện nhất của bản thân. Cái bất hạnh nhất là mình cảm tưởng mình có nhiều khả năng mà mình không làm được. Tôi quen nhiều người nhiều tiền mà rất bất hạnh (cười).

Hạnh phúc của anh là gì?

Tôi vừa trả lời phỏng vấn thượng tọa Thích Nhật Từ làm báo Phật giáo Ngày nay câu hỏi này. Hạnh phúc đối với tôi thực ra khác với nhiều người nghĩ. Hạnh phúc nhất đối với tôi là cảm giác còn đang sống. Trong cái sống đó có cả cái ngọt ngào và đắng cay. Mình phải biết là ngay cả cái đắng cay đó cũng nằm trong hạnh phúc. Vì đó là cuộc sống. Khi người ta bắt đầu có những bất hạnh chính là khi chạy theo những ảo ảnh, những ảo ảnh hình dung cuộc sống rất ngọt ngào, như là chạy vào Disneyland. Khi chạy theo ảo ảnh thì chắc chắn sẽ bất hạnh. Đó là lúc mình từ chối cuộc sống thật sự.

Thưa anh, theo đuổi đam mê có phải chạy theo ảo ảnh?

Phải xem đó là đam mê như thế nào? Phải định nghĩa lại đam mê. Đam mê thực ra không phải là ảo ảnh. Nhưng nhiều cái ước mơ là ảo ảnh. Cảm giác mình đang sống rất quan trọng. Phải biết yêu cuộc sống như chính nó vốn có. Đó là một điểm rất quan trọng trong đạo Phật. Mình phải sống hết mình với những giây phút sống của mình.

Triết lý lớn nhất phải là yêu cuộc sống

Trong bài nói chuyện với nhà văn Phan Việt, anh nói “sống làm sao để sau này biến mất không dấu vết”. Nhưng Ngô Bảo Châu bây giờ biến mất thì hơi khó?

Mình phải hiểu là dấu vết như thế nào. Cũng giống như trong thiên nhiên, tất cả sinh linh tồn tại đều có một dấu vết gì đó. Dấu vết tức là cái mình để lại – cắt nghĩa chính xác rất khó. Có điều thực sự tôi rất sợ là khi nghĩ đến lúc mình chết rồi người ta làm cái mộ to tướng rồi ngày ngày đến thắp hương. Đấy là một cái dấu vết rất là kinh.

Đấy là cái nỗi sợ của anh nhưng là niềm mơ ước của rất nhiều người. Có nhiều người nhà giàu ở Việt Nam có phong trào xây mộ xây lăng cho mình?

Tôi vừa đi Huế. Nhà cho người ở thì ít nhưng mộ cho người chết thì rất to. Kể cả xây cho người đã chết rồi với tôi đó là sự lãng phí kinh khủng. Không để lại dấu vết với tôi cái lớn nhất là không nên cản trở cuộc sống của người khác. Kinh khủng nhất là cản trở cuộc sống của người khác.

Thực tế một số người tạo dấu vết của mình bằng cách cản trở cuộc sống, thậm chí cản trở sự phát triển của xã hội?

Tôi nghĩ triết lý lớn nhất là phải yêu cuộc sống. Yêu cuộc sống như chính nó chứ không phải là cuộc sống phải có chức năng nhiệm vụ gì cả. Nhiều khi mình phải nhìn kể cả những động vật, thực vật vô ích cho con người. Đôi khi chúng ta cũng nhổ cỏ dại, để bãi cỏ xanh tươi đẹp đẽ.

GS Ngô Bảo Châu với sinh viên.

Về mặt nguyên tắc không ai phủ nhận mình có quyền nhổ cỏ dại. Nhưng mình phải hiểu cỏ tồn tại vì nó tồn tại thôi, nó chẳng có lý do gì phục vụ cuộc sống con người cả. Con người cũng thế, mình phải nhìn người ta sống trong cuộc sống của chính họ, không phải tồn tại để phục vụ cho cuộc sống của mình.

Con người để đạt được trạng thái hồn nhiền của đầu óc rất khó vì bị quá nhiều kinh nghiệm, nhiều vấn đề của đời sống tạo nên những nếp hằn trong đầu óc. Tôi rất thích câu mang tính triết học của Trịnh Công Sơn “Em hồn nhiên rồi em sẽ bình minh”. Phải chăng cứ sống thật với mình rồi mình sẽ có niềm vui?

Không có hồn nhiên thì không thể khám phá được. Nếu đọc triết học của Platon thì một trong những tiền đề của sự khám phá là sự ngây thơ, hồn nhiên. Nếu cái gì mình cũng biết rồi thì ai còn ham mê khám phá nữa. Một trong những bí quyết để làm khoa học là giữ cho mình một tâm hồn trong trẻo.

Có lúc nào anh cảm thấy hối tiếc không?

Có. Tất nhiên là có những lúc hối tiếc về những quyết định trong cuộc sống.

Anh có thể kể về một sai lầm của anh không?

Không (cười). Tôi chưa chuẩn bị cho chuyện này. Sai lầm thì có nhiều sai lầm nhưng sai lầm để mình phải hối tiếc thì…

Anh đã bao giờ thấy chán Toán chưa? Đã bao giờ anh nghĩ đến việc bỏ Toán để theo đuổi cái khác chưa?

Mệt mỏi thì có chứ chán đến mức đó thì không.

Làm thế nào để hết mệt mỏi?

Mệt mỏi thì làm chuyện khác. Tôi nghĩ làm cái gì mãi thì cũng chán, nhưng quan trọng là phải luôn có cái mới. Khoa học hay ở chỗ lúc nào cũng đi tìm cái mới. Như Bổ đề cơ bản tôi theo đuổi nhiều năm trời nhưng làm xong tôi lại không thấy không ham mê như trước nữa.

Trong mười mấy năm lúc nào cũng đam mê như vậy ạ? Vậy không kết thúc thì tốt hơn đúng không, để lúc nào anh cũng thấy đam mê?

Ừ đấy. Trước đây tôi có viết một câu thơ lăng nhăng mà mọi người không ai hiểu là “Có một con đường ta đi/ Giá chi không bao giờ tới đích”. Chuyện làm Toán cũng thế, mình vẫn muốn tới đích, nhưng cái hạnh phúc nhất đó là lúc đi trên con đường. Cuộc sống của mình cũng thế. Cái đích của cuộc sống chẳng qua là cái chết (nghĩa trang thôi).

Tôi nghĩ là lúc mình đi trên con đường ấy, cái quá trình mình đi còn hạnh phúc hơn là đến được đích?

Nhưng nếu không có đích thì mình sẽ không thể đi được. Hôm trước tôi có nói với Phan Việt là phải có một cái đích cao quý. Cái cứu cánh có hai nghĩa, vừa là mục đích nhưng vừa có một cái nghĩa hơi hiểu sai một chút, đó là cái cứu mình, giúp mình tổ chức cuộc sống của mình.

Đó có phải lý tưởng không anh?

Phải có lý tưởng là đúng. Mỗi người phải có lý tưởng nhưng nói sống có lý tưởng thì tôi hơi ngại, một phần là hơi bị sáo. Lý tưởng là mình quên mất sống cuộc sống của mình mà chỉ nghĩ tới cái đích. Mình phải tin vào cái đích của mình.

Giờ có nhiều bạn trẻ có nhiều cái đích không phải là cao quý lắm, ví dụ có một cái nhà, một cái xe, một thu nhập ổn định. Đó không có gì xấu cả, nhưng nó khác với cái thời chiến tranh với lý tưởng cao quý “Thép đã tôi thế đấy”.

Xây dựng một cuộc sống an bình, đầy đủ cho gia đình thì không có gì là xấu cả. Nhưng nếu thực sự mà để dùng từ tôn giáo là “cứu rỗi” con người thì những mục đích đó không thể cứu rỗi con người được. Bản chất của con người, theo xuất phát điểm của tôn giáo, của triết học là luôn sợ hãi cái chết, nhìn thấy cái đích trước mặt mình là nghĩa trang. Cái gì là cứu rỗi mình ra khỏi cái đích đó, hiển nhiên không phải chuyện nhà cửa, xe cộ của mình mà chính là vươn lên những cái tốt đẹp nhất. Cái đó khác với cuộc sống hàng ngày.

Cái tốt đẹp là sống có ích?

Có ích và hướng tới những giá trị đẹp, cái đẹp cứu rỗi cuộc sống. Người ta nói “Phụ nữ đẹp cứu rỗi cuộc sống” (cười) nhưng thực ra không phải.

Phụ nữ đẹp nhiều khi làm cuộc sống phức tạp đi?

Phức tạp lắm. Vô cùng phức tạp (cười).

Phải đảm bảo cuộc sống vật chất

Người ta nghĩ đến anh là một nhà Toán học nổi tiếng nhưng không biết anh tiêu tiền thế nào?

Tôi không ham mê những gì đắt tiền. Tôi cũng không biết chính xác mình có bao nhiêu tiền. Vợ tôi cũng hơi giống tôi theo mức đó. Gia đình chi tiêu tương đối bình thường. Có đủ tiền để không quá mức so đo về việc chi tiêu. Đó là một phần tôi muốn cố gắng giáo dục con cái về chuyện đó.

Cái chính của mỗi người phải là thực hiện được hết khả năng của bản thân, khả năng của mình đến đâu thì mình làm đến đó. Đó mới là cái toại nguyện nhất của bản thân. Cái bất hạnh nhất là mình cảm tưởng mình có nhiều khả năng mà mình không làm được. Tôi quen rất nhiều người nhiều tiền mà rất bất hạnh.

Thật ra là mình chỉ thực sự thiếu tiền khi mình quá bị phụ thuộc vào những cái đắt tiền. Cái lớn nhất của con người cần có là tự do. Cái phụ thuộc lớn nhất là tiền nong. Khi mình quá ham mê những cái đắt tiền thì mình sẽ bị phụ thuộc rất nhiều.

Nhưng có phải do anh có tiền nên anh theo đuổi được đam mê hay không?

Cái đó đúng. Phải có một thu nhập nhất định nào đó để đảm bảo cuộc sống vật chất. Khi người ta đói thì không nên quy kết cho người ta bất cứ một chuyện gì cả. Theo Victor Hugo thì ăn cắp là việc xấu nhất nhưng khi đói thì được quyền ăn cắp để được sống. Quyền được sống lớn hơn…

Nhưng anh ở nước ngoài nên anh vừa có thể theo đuổi đam mê, vừa có thể có tiền. Nếu công việc của anh cũng là khoa học, nhà giáo, nhưng ở Việt Nam thì khó hơn.

Tôi biết thế. Nhưng tôi nghĩ xã hội rồi sẽ thay đổi. Nói chung tôi là con người tương đối lạc quan.

Đam mê kế tiếp của anh là gì?

Tôi chỉ muốn làm thế nào để tạo ra nhiều cơ hội cho nhiều bạn trẻ làm được cái mình muốn.

Sự thành công của anh cũng là tạo cơ hội rồi. Anh tạo niềm tin cho các bạn trẻ. Có bạn nào đã nói với anh là “Lớn lên em muốn trở thành người giống như anh” chưa?

Chưa thấy bạn nào nói vậy nhưng có mấy sắc đẹp nguy hiểm viết thư bảo “Em chỉ muốn lấy người như anh” thôi. (Cười).

Anh có rất nhiều việc, vậy cuộc sống của anh có gì khác với mọi người? Một ngày bình thường của anh như thế nào?

Tôi ngủ ít thôi nhưng ngủ đúng giờ. Ở Việt Nam, một ngày của tôi hơi “rắc rối” hơn vì gặp nhiều bạn. Nhưng sống ở nước ngoài thì buổi sáng tôi dậy tương đối sớm để cùng vợ chuẩn bị đồ ăn sáng, ăn trưa cho trẻ con, 2 đứa nhỏ. Trưa cô bé lớn ăn ở trường. Vợ tôi đưa trẻ con đi học. Có hôm tôi đưa. Có lúc tôi làm việc ở nhà, có lúc đến trường làm việc. Cũng có nhiều việc. Buổi chiều về nhà, xem bài vở con cái, nói chuyện với chúng nó một chút. Nói chung tôi tương đối hài lòng với cuộc sống của mình.

Anh có thể về hẳn Việt Nam, ở Việt Nam các cô gái chân dài chỉ hơi nổi tiếng thôi thì đi dự tiệc đã được trả 1.000- 3.000 USD rồi. Nổi tiếng như anh chỉ cần đi dự hội nghị là sống thoải mái.

Thôi. Thực ra làm việc ở nước ngoài cũng là một cách giúp đỡ được nhiều bạn Việt Nam hơn.

Anh có thích làm người quan trọng không?

Không muốn người khác giúp đỡ mình quá nhiều. Chính khi người khác làm cho mình quá nhiều thì mình mất đi cuộc sống của mình. Có một nhà khoa học viết một cuốn sách kinh điển về sử dụng tiếng Anh cách đây 100 năm rồi. Khi ông ấy viết được một nửa thì do ông viết chậm quá, nhà xuất bản Oxford mới đề nghị cử một bà đến để lo giặt giũ nấu nướng cho ông ấy vì ông ấy sống một mình. Ông ấy bảo “Không, các anh muốn tôi chết sớm à?”. Và ông ấy tiếp tục làm việc theo cuộc sống của ông ấy. Tất nhiên là viết cuốn sách đó rất quan trọng, nhưng sống cuộc sống của ông ấy quan trọng hơn. Cuộc sống đời thường là quan trọng nhất.

Xin cảm ơn anh!

Theo Phùng Nguyên – Hà – Hạnh
Tiền Phong

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.02.2015

Tết quê, hồn Việt thời nay

Tết quê, hồn Việt thời nay

  •   Phạm Thạch Hoàng  

1. Tết đến lòng ta có xốn xang?.Người Việt thời nay lòng còn có chút bồi hồi khi tết đến. Những người xa quê, và những người đón tết tại thành phố, ai đầy tâm trạng, ai thấy nhẹ nhàng trong cái tết cổ truyền này?

Hình như, bây giờ, trong tâm thức người lớn tuổi, nhiều người vẫn thèm một cái tết từ ngày xưa thơ bé của những năm đất nước chưa đổi mới, lúc đó mọi thứ còn giản đơn, cuộc sống còn nghèo, có được một cái tết được tươm tất là cả một niềm mơ ước. Những ngày Tết đến, anh em con cháu quây quần, trẻ con mong được mua sắm quần áo mới, vui được lì xì, được đi chơi. Người lớn được hội ngộ, được nâng ly và nói với nhau những lời tốt đẹp nhất…thậm chí thỏa sức say mà chẳng ai ca thán nhiều lời.

Thời hiện đại, tết vẫn là sự tiếp nối cái tết muôn xưa nhưng muôn vạn người là vạn nẻo cảm xúc với tết. Điều thú vị, tết là dịp để mỗi người có thời gian nghĩ về người thân, gia đình, họ tộc, dành cho nhau sự quan tâm và có thể thực hiện những ước nguyện của riêng mình.

2. Có thực người Việt không còn mặn mà với Tết?

Những tưởng cảm xúc vui tết đã nằm lòng trong người Việt nhưng thực tế có một cảm giác chung rất dễ nhận thấy trong lời nói, việc làm của mỗi con người hôm nay là không mặn mà nhiều với tết. Không quá xốn xang với thời khắc tết, không phải cầu kì tốn thời gian, công sức, tiền bạc cho việc mua sắm tết. Nhiều gia đình sinh hoạt tết giản dị như thường ngày. Trên nhiều diễn đàn truyền thông, trang mạng xã hội, đã có những cuộc tranh luận về ăn tết Tây thay cho tết Ta, đón tết đúng dịp năm mới Dương lịch cho khớp với sự vận hành của thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa và Việt Nam hội nhập quốc tế. Có những bàn luận suy xét về thời gian nghỉ tết vì nghĩ đến sự tiết kiệm cho sản xuất, chơi nhiều không hợp thời trong khi cuộc sống của nhân dân và đất nước chưa lấy gì làm khá giả.v.v…

Tại sao lại có những cảm xúc và thái độ có phần “nhạt” với tết? Nhìn trên bề mặt, chẳng khó để nhận ra những nguyên do này.

(i) Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, kinh tế thị trường với dòng công việc liên tục. Nghỉ dài thì công việc sản xuất, kinh doanh, với những lợi lộc bị đình lại và với không ít người, những nỗi lo bươn chải mưu sinh trong kinh tế thị trường khiến nhiều người không có tâm trạng nhiều cho tết.

Trong khi đó, gọi là 3 ngày tết (30, Mồng 1, Mồng 2) nhưng từ khi rục rịch nghỉ tết đến lúc làm việc bình thường trở lại, người Việt mất độ một tháng dành cho Tết. Hết tết là lại du xuân “tháng Giêng là tháng ăn chơi”, là mừng xuân mới. Với văn minh nông nghiệp mùa vụ, tết mang ý nghĩa nhiều hơn, vì đó là một sự giãn ra, một sự nghỉ ngơi, nhưng với thời buổi công nghiệp hóa, thời đại tin học thì quả là điều đáng nói. Lúc người Việt nghỉ vui tết, thì hầu hết các quốc gia trên thế giới vẫn vẫn hành công việc bình thường. Nhưng trong quan hệ với ta, họ bị gián đoạn do ta nghỉ tết. Lúc mà các nước đã vận hành được hơn một tháng của năm mới, thì chúng ta dường như mới bắt đầu.

(ii). Với sự phát triển hiện đại và thuận tiện của giao thông sự đi lại đã trở nên dễ dàng hơn, sự phát triển của các mạng điện thoại khiến cho sự thăm hỏi, giao lưu giữa con người và quê hương cũng thường xuyên hơn chứ không nhất thiết là đến tết mới hạnh ngộ cùng nhau.

(iii). Xu thế truyền thông đa phương tiện, các phương thức truyền tin cập nhật, các hình thức giải trí phong phú tràn ngập quanh ta, buồn cũng hội tụ vui cũng hội tụ liên hoan, hàng tuần, hàng tháng, đâu phải đến tết mới chén chú chén anh, mới làm bữa thịnh soạn.

(iv). Bối cảnh hội nhập, nhiều hoạt động văn hóa tinh thần trong những ngày lễ diễn ra gần như quanh năm, mỗi người trong những cộng đồng mình ít nhiều đã tham gia. Gần tết nguyên đán nhất là Noel và Dương Lịch, chưa kể lùi về trước là những mồng 2/9, 30/4-1/5, Quốc tổ Hùng Vương, 8/3, ngày nghỉ hè.v.v.

Tất cả những cái đó làm người Việt dường như đã chững lại với tết.

Tuy nhiên, đa số ý kiến vẫn ủng hộ cái tết cổ truyền được tạo dựng, giữ gìn từ muôn đời nay. Bởi nhiều người coi đó là tâm thức dân tộc, là hồn ông bà tổ tiên hiện diện, là cái hay đã được khẳng định và tôn vinh, là sự tích tụ, bồi đắp qua hàng nghìn năm của biết bao thế hệ người. Do vậy, Tết có dở nhưng lại đầy cái hay, nếu bỏ đi thì ắt sẽ tiếc nuối. Mà giữ lại thì đương nhiên sẽ có sự biến đổi và cải tiến. Do đó, xu hướng chung hiện nay là làm sao để đón cái tết vừa thiết thực tiết kiệm và an toàn. Đó là mong muốn của nhiều người.

3. Hồn Tết truyền thống trong đời sống hiện đại: sự đổi thay và những nỗi lo đôi khi đã “xưa như trái đất”.

Cái hồn tết là cái “siêu hình”… nhiều khi khó gọi tên và hình dung một cách chính xác, ngay cả đối với những nhà nghiên cứu văn hóa, bởi đây là một kiểu hình giá trị động chứ không hề đứng im, bất biến. Với ngày xưa, hồn tết hiện diện nơi “thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ”, là sum nhau quanh cỗ bài tam cúc, là trực nồi bánh chưng xanh bên bếp lửa đỏ đêm khuya…Ngày nay, sự sinh hoạt tết đa dạng hơn nhiều và nên hồn tết có phần nhạt nhưng cũng còn lưu giữ nhiều nét xưa. Cái đọng lại của muôn xưa trong hồn tết hôm nay đó là cái thú sắm tết, chơi cây và chơi hoa cho ngày tết, là xin chữ cầu phúc tài lộc, là chỉnh trang bàn thờ cúng tổ tiên, là thời khắc quần tụ cùng nhau chào đón giao thừa, là trao nhau những lời chúc tốt đẹp năm mới, là mừng tuổi người già và trẻ nhỏ, là đi thăm viếng đền chùa, miếu, nơi thờ tự linh thiêng để bày tỏ lòng thành kính và ngưỡng mộ tiền nhân có công lao với quê hương, đất nước. Những nét văn hóa đó là hồn tết được trao truyền từ muôn xưa đến nay chưa hẳn đã phôi phai và không dễ gì bị đánh mất. Và có một điều rằng, hình như càng đi lên hiện đại, người ta lại có nhu cầu tìm về và phục dựng cái truyền thống, bởi chỉ có thế mới níu giữ được kí ức dân tộc, mới thấy thiêng liêng hơn trong đời sống trần tục hưởng thụ văn minh vật chất hôm nay.

Tuy nhiên, trong thời kì mới, sự sinh hoạt tết cũng theo trào lưu chung của sự vận động xã hội và những nhu cầu cá nhân mới. Đối với nhiều người hiện nay, tết không hẳn là dịp trở về quê, hay ăn tết tại gia mà là dịp để thực hiện những chuyến đi ngắn: đi du lịch, đi nghỉ, khám phá những vùng đất mới, đi cầu may, đi thăm giao lưu bè bạn nơi xa, đi trong nước và đi ra cả nước ngoài…. Hình như đó cũng đã trở thành một cách thức/xu hướng thưởng thức tết của người Việt thời hiện đại!

Và điều này, nhiều người không nói ra nhưng mọi người dễ chấp nhận với nhau đó là tết – dịp để đi hành lễ nhà thờ, chùa, đền miếu, cầu lộc, cầu may cho năm mới…đây là điều thuộc về đời sống tâm linh mà con người hiện đại trong cuộc sống đầy áp lực quanh năm cho công việc rất cần được thõa mãn, và tết Cả là dịp thiêng liêng nhất cho thực hành miền tâm tưởng này, nên nhiều người vẫn háo hức nhất với Tết. Từ ngày “lễ tạ” cuối năm của quý bà, quý cô, đến tết ông Công, ông Táo (23 tháng Chạp), rồi Giao thừa, mồng Một đầu năm mới, ngày du xuân cầu may tiếp sau đó…là một chuỗi các ngày hành lễ cầu may, cầu tài, cầu lộc nằm trong cái gọi là “trường Tết”. Với các chị, các mẹ, du xuân cầu may dường như là hoạt động không thể thiếu mỗi khi tết đến xuân về.

Cái lo nhất đối với nhà quản lí và các cơ quan chức năng, và cũng là cái ái ngại của mỗi gia đình, mỗi người vào dịp tết, mỗi người đó là sự an toàn, an ninh đối với cộng đồng dân cư và các cá nhân. Bởi đó là “cao điểm” của năm về nhiều phương diện, nhất là chu chuyển của con người và hàng hóa. Nước Việt ta hiện 90 triệu người, cứ cho khoảng 1/2 lượng người ấy di chuyển vào dịp tết thì sự di động cơ học là rất lớn và như thế an toàn tàu xe, sự hiểm nguy bất trắc không phải là ít. Cộng với đó là do thói quen bia rượu vào ba ngày tết cũng góp phần làm mất an toàn giao thông. Không ít người đã phải vĩnh viễn giã từ tết vì về tết, chúc tết, du xuân. Không ít người phải tiếc nuối cho những người thân vì không những sự cố do không làm chủ được rượu bia. Do vậy, nên sự an toàn giao thông luôn là sự quan tâm thường trực của con người trong dịp lễ tết.

Còn nữa, nỗi lo về an toàn thực phẩm do hàng hóa tràn lan (hàng giả, hàng nhái…) khó kiểm soát, lo về sức khỏe 3 ngày tết do đi lại, hoặc thay đổi khí trời cũng khiến nhiều người cẩn trọng hơn. Theo thống kê của các cơ quan chức năng, dịp tết hàng giả hàng nhái, hàng kém phẩm bao giờ cũng nhiều hơn, vì lượng tiêu thụ tăng cao. Nhiều người mua không chỉ dùng mà mua để đi biếu, đi lễ. Nhiều người tranh thủ mua sắm vật dụng gia đình đã dự định bấy lâu sau một năm tích cóp được kha khá tiền.

Dịp tết tội phạm thường gia tăng, chỉ cần sơ sểnh là đã mất của hoặc ít hoặc nhiều. Từ xưa đến nay, nhiều người vẫn nhắc nhau cẩn thận về của cải vào tháng Củ Mật. Từ nỗi lo nhà cửa phải bỏ lại để đi chơi, hay về quê; từ những cung đường tàu xe chen lấn có bọn tội phạm trà trộn; từ những phiên mua sắm đông đúc ngày tết có lừa lọc gian manh…với đủ loại chiêu thức công nghệ cao thời hiện đại. Tết ồn ào, đông đúc, mọi người thường mang nhiều tiền của theo mình để sắm sanh, tiêu dùng ngày tết, bọn tội phạm chỉ chờ sơ sểnh là “chôm của”.

Cái lo nữa là an toàn cháy nổ, nhất là tình trạng buôn bán và sản xuất pháo. Mặc dù, pháo đã là một thứ hàng quốc cấm đã hai chục năm nay (từ NĐ 1994 của Thủ tướng Chính phủ), tuy nhiên, ở đâu đó, vẫn có sự âm thầm sản xuất và buôn báo pháo lậu. Theo thống kê của công an, năm 2013, có gần nghìn vụ bị bắt có liên quan đến pháo. Và không ít vụ nổ và gây chết người do sử dụng pháo.

Với những nỗi lo, sự phiền toái ấy làm tết giảm đi cái vui!

Mấy năm gần đây, do khủng hoảng kinh tế toàn cầu, sản xuất kinh doanh ngưng trệ, túi tiền của nhiều người, nhiều nhà gần như trống rỗng. Thời buổi kinh tế khó khăn chồng chất nỗi lo “cơm áo gạo tiền”, không khí tết nơi làng quê, ngõ phố có phần chững lại, những sự lo toan cho tết trở nên thiết thực hơn, phần nhiều không bày vẽ, và cũng chẳng vui làm gì trong khi đất nước khó khăn, lòng người đượm buồn.

 4. Tết với người xa xứ, tha hương.Tuy nhiên, với những người quanh năm đi làm ăn xa, không phải ai cũng có dịp trở về thường xuyên, ngày tết đến, vẫn mong được về quê để quay quần hội tụ, được thắp nén nhang cho ông bà tổ tiên, được kết nối với anh em thân tộc sau một năm bươn chải tha hương, lo toan công việc với đời sống của riêng mình…đó là những mong muốn rất chính đáng và thấm đẫm chiều sâu nhân văn.

Bởi vậy, những người có một miền quê xa, nhất là còn trẻ tuổi, hoặc mới có gia đình và con cái còn nhỏ, 23 tháng Chạp lịch âm, sau khi cúng ông Công, ông Táo nơi mình cư trú là nhiều gia đình rục rịch chuẩn bị về quê. Thường thì nỗi lòng có vui mà nửa có phần ái ngại, bởi mỗi bận đi về thực là một dịp “hành xác”. Sự lích kích mang theo đồ dùng, quà cáp, đi lại phiền toái, nhất là đối với các gia đình ở xa trung tâm, lại có trẻ nhỏ hoặc vợ mang bầu. Nhiều bà vợ miền Bắc, lấy chồng Trung, hoặc vợ miền Nam lấy chồng xứ Bắc, đôi khi nghĩ đến cảnh phải về tết tàu xe chật chội, chen lấn, tất bật, sự an toàn giao thông phố xá đông đúc mà cũng thấy ái ngại, chẳng mấy háo hức. Rồi những “thủ tục” đôi lúc cũng không ít phiền hà bởi phong tục, tập quán, lễ nghĩa đôi khi có phần khuôn sáo, sự khác biệt văn hóa vùng miền…thành ra, với nhiều người nỗi niềm tết không mấy hào hứng trong khi mà hoàn cảnh còn khó khăn, nhiều cái lo cộng gộp, nhưng tết như “đến hẹn lại lên”, như một nghĩa vụ, nhận thức về cái bổn phận của mình cần làm mà trở về…

Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng, vẫn còn nhiều người vẫn tha thiết được trở về với nơi quê hương trong ngày tết. Nhiều anh em chúng tôi ở Hà Nội đã mười lăm năm nay nhưng năm nào cũng về quê ăn tết, mặc dù đôi khi muốn ở lại cảm nhận cái tết thủ đô cho biết, nhưng tiếng gọi quê hương sâu nặng nghĩa tình nên thường trở về với quê vui tết, đón xuân. Cũng bởi, với nhiều người, xa quê chiều 30 Tết mới cảm nhận được tình yêu quê hương đến cháy lòng, do vậy, dù có khó khăn, đường xá xa cách nhưng nhiều người cũng lặn lội về tết với quê hương để được sống trong cái không khí tình nghĩa gia đình, xóm giềng, thân tộc, để tránh nỗi buồn cô đơn nơi đất khách quê người.

Chẳng phải vì người quê xa xứ, tha phương thường về quê đón tết nên phố phường và nơi trung tâm trong những ngày nghỉ tết thường vắng và thoáng hơn những ngày thường. Chỉ nhìn vào các thành phố lớn như Hà Nội thành phố Hồ Chí Minh thưa người trong dịp tết, mới thấy sự góp mặt của những người nhập cư, hoặc gốc gác các miền quê lớn nhường nào.

***

Tết cổ truyền là cái tết cả, trong năm 12 cái tết của văn minh nông nghiệp cổ truyền xưa còn lại. Chưa hẳn cái tết cổ truyền còn hợp với nhịp sống người hiện đại, nhưng tết như một “nguyên lí” vận hành đã được mặc định hàng ngàn năm nay, ai có thể bỏ!. Hiện nay, ở các nước Đông Á, Việt Nam, Trung Quốc là vẫn đậm cái tết cổ truyền này. Và với riêng chúng ta- một đất nước mà cái “sự sống” ở nông thôn vẫn chiếm tới 70% dân số, thì tâm thức tết cổ truyền in đậm là lẽ đương nhiên.

Không biết các thế hệ con cháu trong tương lai hàng thập kỉ tới sẽ đối xử như thế nào với cái tết Nguyên Đán dân tộc, điều đó với người hôm nay không quá quan trọng nhưng dẫu sao, với những người yêu nước, tôn sùng giá trị cổ xưa thì vẫn mong con cháu đừng quên cái tết của cha ông bởi trong sâu thẳm, ông cha đã kết tinh trong tết những giá trị văn hóa, những hồn cốt dân tộc. “Tết đến, xuân về” là thời khắc thiêng liêng để làm những điều thiêng liêng, ý nghĩa hơn vạn ngày thường.

Vậy nên, thay vì ca thán tết sự phiền toái, ta chúc nhau sự bình an đón tết. Chúc nhau năm mới tốt lành, tài lộc, ninh khang. Hi vọng tết mãi là một nguồn năng lượng tinh thần cho người Việt để có nhiều động lực hơn trong năm mới và cũng là dịp đễ mỗi người trân trọng những giá trị cha ông.

( Nguồn: VHNA)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 16.02.2015

CHUỐI THỜ TẾT HUẾ

     CHUỐI THỜ TẾT HUẾ

                 Ngô Minh

          Với các gia đình Huế, mặt hàng Tết quan trọng nhất là chuối thờ! Chuối để bày mâm ngũ quả ở bàn thờ tiên tổ. Mâm ngũ quả đẹp phải có nải chuối đặt ở phía dưới, từng trái chuối cong lên như vòng tay ôm gọn bốn thứ quả khác ở phía trên. Về tục thờ chuối thì người Huế giống người miền Bắc. Người miền Nam không bao giờ dùng chuối để thờ cúng bởi vì theo họ: “chuối” đọc trệch lại thành “chúi”, đầu năm mà thờ chuối thì cả năm không dám ngẩng mặt lên trời. Người Huế và người miền Bắc thì lại có quan điểm khác. Nải chuối như bàn tay hứng lấy những gì tinh túy nhất của trời đất.  Rồi phải có nải chuối thờ ở bàn  thờ ông, bà, cha mẹ, chuối Trang Bà, trang Bếp, chuối thờ ở góc Phật Di Lặc, rồi am thờ ngoài trời, trang thờ sân thượng. Rồi nải chuối để bày cỗ cúng Tất niên, chuối cúng tiễn ông Táo, chuối cúng giao thừa, chuối cúng sáng mùng Một, cúng đưa ông bà khi “bế mạc” Tết, v.v. Càng nhiều trang thờ, càng nhiều lễ cúng thì số  nải chuối thờ  phải mua càng nhiều. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 16.02.2015

Câu đối Tết Ất Mùi 2015

Câu đối Tết Ất Mùi 2015

Hà Sĩ Phu

QTXM:  Câu đối Hà Sĩ Phu Tết này phong phú và sâu sắc. QTXM xin dẫn vài câu  mình thích nhất.

Ngựa qua Dê tới

- Hết khoe MÃ một thời, NGỌ ngoạy lắm cũng ra vành móng NGỰA!

- Còn xuất DƯƠNG mấy độ, MÙI mẽ chi mà vểnh sợi râu DÊ?

——————————————

(*) MÃ = cái mã bên ngoài = Mã Khắc Tư

 Ngoại địch không nguy bằng nội gián

- Kẻ thù mới đừng quên: MÃ Viện dẫu tái sinh, triệu lính ngoại xâm không thể dọa!

- Bài học xưa phải nhớ: DƯƠNG Vương(*) dù quyết tử, một tên nội gián cũng là nguy!

(Dương Vương tức An Dương Vương 安陽王, chữ Dương陽 đồng âm với chữ Dương羊 là Dê, câu đối vẫn thường dùng chữ đồng âm dị nghĩa, lấy đó làm trò chơi chữ thú vị).

 

- Giáp Ngọ sắp qua, vài chú Ngựa non còn háu đá!

- Ất Mùi đang tới, mấy cụ Dê già vẫn hám chơi!

 

- Trâu bò húc Trâu bò, đang hăng máu sợ chi lòi… ruột?

- Đồng chí sợ Đồng chí, đã say quyền ắt phải nhẫn… tâm!

(*) “Đồng chí sợ đồng chí”: Lấy “điển tích” từ câu “cớ gì bây giờ mình phải sợ hãi các đồng chí của mình?” của ông Lê Hiếu Đằng.

 

Văn hóa “Hà Lội”:

 

- Phở chửi, cháo la, “văn vật” gớm!

- Bún lườm, ốc nguýt, “thủ đô” ghê!

(Chủ các quán ăn vừa bán vừa la lối chửi mắng thực khách mà khách vẫn chấp nhận bất đắc dĩ như một “thú vui” thì nền văn hóa ẩm thực độc đáo này có lẽ chỉ đất Hà thành “nghìn năm ôn vật” mới có!!

- “Thù địch” phần đông là tử tế!

- “Tà-Ru” hầu hết lại văn minh!

————

Tà-Ru” = Tù ra (chữ của nhà văn vừa quá cố Bùi Ngọc Tấn)

 

Văn hóa tang chế và nỗi buồn phong thủy

- Thương nhà này cha chết đã lâu, oan khí hồi luân, dương thế cứ nhấc lên đặt xuống!

- Buồn đám nọ mẹ già vừa khuất, vòng hoa tiễn biệt, âm binh vào phá ngược phá xuôi!

Năm Dê, hỏi bác Hồ Xuân Mãn

 

- Khai Cuội để anh hùng, công chẳng ra công, bác Mãn vẫn vui cùng Tết chứ?

- Máu làm thủ lĩnh, tội thì đắc tội, họ Hồ có thẹn với Xuân không?

( Nguồn: trang Hà Sĩ Phu)

Đăng bởi: Ngô Minh | 15.02.2015

Hình tượng con Dê trong văn hóa

Hình tượng con Dê trong văn hóa

Trầm Thiên Thu
 

alt

Năm 2015 là năm Ất Mùi, năm “cầm tinh” con Dê. Ất Mùi là sự kết hợp thứ 32 trong hệ thống đánh số Can Chi của người Á Đông, được kết hợp từ thiên can Ất (Mộc âm) và địa chi Mùi (Dê hoặc Cừu). Trong chu kỳ của lịch Trung quốc, nó xuất hiện sau năm Giáp Ngọ và trước năm Bính Thân.

Khi nói đến Dê – còn gọi là Dương hoặc Mùi, người ta không mấy thiện cảm, vì hình tượng Dê thường được dùng để ví von về những cái xấu. Tuy nhiên, trong các loài gia súc, Dê lại có ý nghĩa tinh thần phong phú và giá trị cao, thể hiện vai trò gần gũi mà quan trọng, tạo ra sức ảnh hưởng mạnh mẽ, đa dạng, tích cực đối với đời sống văn hoá của quốc gia.

Trong 12 con giáp, Dê được xem là biểu tượng của tính ôn hòa, thuần hậu nhưng không kém phần nhanh trí. Dê là một trong những thần vật được người Ai Cập sùng bái vì sự đóng góp quan trọng của Dê đối với đời sống con người. Một số dân tộc còn dùng Dê làm vật tế thần. Người Ai Cập dùng dê dâng cho các ác thần để thay thế cho con người.

Theo văn hóa Đông phương, trong đó có Việt Nam, Dê thuộc “tam sinh, lục súc”. Tam sinh là ba thứ lễ vật đặc biệt để cúng tế thần thánh: dê, lợn và bò; lục súc là sáu gia súc thông dụng nhất: dê, gà, chó, lợn, ngựa và trâu. Dê là một trong 12 con giáp, đại diện cho “chi” Mùi. Còn theo văn hóa Tây phương, Dê nằm trong 12 cung hoàng đạo với hình tượng Ma Kết. Dê còn xuất hiện trong thần thoại Hy Lạp và Kitô giáo.

Dê là biểu tượng phong phú mà phức tạp: Sừng dê cái biểu tượng sức sản sinh phồn thịnh, Dê đực tượng trưng cho mãnh lực và tính dục – vì Dê vốn tràn đầy sinh lực tình dục. Một con dê đực có thể giao phối với cả đàn dê cái. Nếu người đàn ông dục lực mạnh, dâm đãng, người Tây phương gọi họ là Satyre (bởi danh từ “satyriasis” là chứng cuồng dâm). Còn người Việt gọi họ là người có máu dê, là dê gái, dê xồm, hoặc dê cụ.

VĂN HÓA ĐÔNG PHƯƠNG

Văn hóa Đông phương có 12 con giáp (Tý, Sửu, Dần, Mẹo,…). Dê là con giáp thứ 8, “chi” Mùi. Dê còn là một trong 12 con vật được đặt tên cho 12 giờ khắc. Giờ Mùi kéo dài từ 14 giờ tới 16 giờ (chênh lệch một chút tùy mùa – Giờ Tý bắt đầu từ 12 giờ đêm), một giờ quan trọng, gọi là “giờ hoàng đạo”. Đó là khoảng thời gian mở đầu của buổi chiều, con người đã ăn uống và ngủ nghỉ, lúc này đang sung sức để tiếp tục làm việc.

Theo phong tục dân gian, chỉ mang tính dị đoan, khi khởi sự việc gì, ngoài việc chọn “ngày lành, tháng tốt”, người ta còn phải chọn “giờ tốt”. Xuất hành, khởi công xây dựng, khai trương cửa hàng, giờ đón dâu, giờ đưa đám ma, hạ huyệt,… đều phải chọn “giờ hoàng đạo”. Trừ trường hợp đặc biệt: Sắp đến giờ tàu hoặc xe xuất phát, nếu đợi giờ tốt có thể bị lỡ kế hoạch; hoặc có giờ tốt, ngày tốt, nhưng thời tiết rất xấu, chưa khởi công được… Quả thật, nếu quá câu nệ vào “giờ tốt” nhiều khi lại hỏng việc. Có hai thứ chắc chắn chúng ta không thể chủ động: Lúc sinh và lúc chết. Nếu chủ động, tại sao không chọn “giờ tốt” mà sinh hoặc chết? Như vậy, việc chọn “giờ tốt” có phải là dị đoan không? Nói chung, giờ nào cũng tốt cả, xấu hay tốt là do mình!

Đây là bảng tính giờ hoàng đạo, tham khảo chủ yếu để biết cho vui thôi!

gio-hoang-dao-cach-tinh-vinhhangvien_vn src=http://lamhong.org/wp-content/uploads/2015/02/gio-hoang-dao-cach-tinh-vinhhangvien_vn.png

Bảng trên đây cho biết ngày Dần hoặc ngày Thân, và giờ hoàng đạo ở các giờ: Tý, Sửu, Thìn, Tỵ, Mùi, Tuất.

Trung quốc có nhiều điển tích gắn liền với con dê, nổi tiếng là điển tích “Dương xa” (xe dê kéo). Tấn Võ Đế của thường dùng xe dê kéo đi mỗi đêm trong cung cấm, hễ dê dừng ở cửa phòng cung phi nào thì đêm ấy nhà vua sẽ ngủ với cung phi đó. Vì thế, hàng trăm cung phi tìm lá dâu non (loại lá dê thích) đặt trước cửa phòng mỗi đêm với hy vọng xe dê sẽ dừng lại tại cửa phòng mình. Nếu dê không dừng lại, tức là không được vua ghé vào, cung nữ sẽ tủi phận vô duyên, cảm thấy cô đơn, lạnh lẽo,… Điều này được phản ánh qua tác phẩm “Cung Oán Ngâm Khúc” (Lời Than của Cung Nữ, gồm 356 câu chữ Nôm, thể thơ song thất lục bát) của Nguyễn Gia Thiều (1741-1798):

Phải duyên hương lửa cùng nhau
Xe dê lọ rắc lá dâu mới vào
Ngấn phượng liễn chòm rêu lỗ chỗ
Dấu dương xa đám cỏ quanh co

Một điển tích khác cũng khá nổi bật, gắn liền với Tô Vũ, trung thần của nhà Hán, đi sứ sang đất Hung Nô, bị người Thuyền Vu giữ không cho về. Tô Vũ bị dụ dỗ đầu hàng nhưng quyết không chịu. Thuyền Vu nổi giận đem Tô Vũ bỏ vào hang núi cho chết đói, nhưng Tô Vũ vẫn sống nhờ uống sương đọng trên vách đá. Sau đó, Thuyền Vu lại đẩy Tô Vũ đi chăn dê ở Bắc Hải, nói rằng khi nào dê đực đẻ thì mới tha về nước. Khi nhà Hán đánh bại Hung Nô, Tô Vũ mới được tha về. Thừa tướng Bách Lý Hề là tướng nước Ngu. Khi nước Ngu bị nhà Tấn cướp, Bá Lý Hề lưu lạc sang nước Sở làm kẻ chăn dê. Vua nước Tần là Mục Công biết Bá Lý Hề là người tài giỏi, sai người mang 5 bộ da dê chuộc về làm tướng quốc. Sau đó, Bá lý Hề giúp Mục Công dựng được cơ nghiệp lớn.

Khi Bá Lý Hề lên đường lập công danh, người vợ nghèo đưa tiễn, đến lúc làm tướng quốc mải say mê công danh quên người vợ nghèo. Nàng lên đường đi tìm chồng. Nhân Bá Lý Hề bày tiệc có ca nữ múa hầu, nàng liền cải trang làm một ca nữ vào trước tiệc ôm đàn hát một khúc:

Bá Lý Hề năm bộ da dê,
Nhớ ngày chàng ra đi, giết con gà mái ấp, thổi nồi cơm gạo vàng.
Chừ nay được giàu sang, quên ta sao?

Bá Lý Hề nghe câu hát ngạc nhiên nhìn kỹ thì nhận ra là người vợ thuở hàn vi, hai vợ chồng lại đoàn tụ.

Ở Việt Nam, trò chơi “bịt mắt bắt dê” rất phổ biến, trẻ em ngày xưa thường thích chơi trò này vì vui nhộn và hồn nhiên. Còn đối với các cô cậu tuổi mới lớn, họ chơi trò này là dịp để tiếp cận, “đụng chạm” thể lý, nhưng vẫn với ý trong sáng, vui đùa với nhau mà thôi. Vì thế, ca dao nói rằng:

Giả vờ bịt mắt bắt dê
Để cho cô cậu “dễ bề” với nhau

Trong tác phẩm “Hịch Tướng Sĩ”, Hưng Đạo Vương cũng có nhắc đến “con dê”, có ý nói rằng bọn sứ giả Mông Cổ chỉ như loài dê loài chó mà lại hống hách, dương dương tự đắc. Ông mỉa mai:

Uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình
Đem thân dê chó mà ngạo mạn tể tướng

VĂN HÓA TÂY PHƯƠNG

Theo văn hóa Tây phương, Dê là một trong 12 biểu tượng của cung hoàng đạo. Trong thể loại bi kịch, một thể loại văn học lớn của nhân loại, tiếng Hy Lạp có nguồn gốc từ tragos (con dê đực). Biểu tượng của Ma Kết có hình ảnh của chữ V cho đầu của một con dê biển, bởi vì chòm sao Ma Kết được tìm thấy ở phía Nam trên bầu trời hoàng đạo. Cũng có ý kiến cho rằng biểu tượng này diễn tả một con dê đang khuỵu gối. Chòm sao này thường được mô tả bằng hình con dê có đuôi cá. Ma Kết đôi khi được ví như là một con dê biển, đôi khi là một con dê trên cạn.

Dê là hình tượng của Dionyos. Dionysus là ai? Dionysus là Thần Rượu Nho trong thần thoại Hy Lạp, tức là con trai của thần Zeus (Dớt). Công chúa người trần tên Semele có thai với Thần Zeus, và nàng đã đòi hỏi Thần Zeus bày tỏ sức mạnh thật của mình. Thần Zeus thuyết phục nàng không nên biết vì nàng là người trần, nhưng nàng không chịu, Thần Zeus liền lộ rõ sức mạnh và quyền uy của mình, nàng công chúa không chịu nổi sấm sét kinh thiên động địa nên đã chết. Khi nàng chết, Thần Zeus kịp thời đưa đứa bé ra khỏi bụng nàng, rồi khâu vào đùi của mình. Một thời gian sau, Dionysus được sinh ra từ đùi của Thần Zeus.

Công chúa Semele làm vậy vì Héra xúi giục. Để tránh cơn ghen tuông của Héra, Thần Zeus đã đem đứa bé về một hòn đảo, được các nàng tiên chăm sóc và được nuôi lớn. Cậu bé được đặt tên là Dionysus, sống vui vẻ giữa các nàng tiên cho đến khi thành một chàng trai khoẻ mạnh.

Một hôm, Dionysus đi hái nho về, cho tất cả vào chậu rồi để ở chân tường. Khi vói tay lên lấy đồ ở trên giá, chàng vô tình giẫm vào chậu nho. Chàng không biết làm thế nào, liền để nó lại trong hang rồi ra về. Vài ngày sau, chàng quay trở lại thì thấy có một mùi rất thơm toả ra từ chậu nho bị giẫm nát hôm trước. Khi uống nước đó vào thì có cảm giác sảng khoái và rất ngon. Dionysus rất thích thứ nước đó và đặt tên nó là rượu nho. Chàng quyết định sẽ làm cho cả thế giới phải tôn vinh nó. Trải qua bao thăng trầm và bị hiểu lầm, chàng đã thu nạp được đệ tử, được cha chàng (Thần Zeus) đón về đỉnh Olympus và trở thành một trong 12 vị thần [gồm Thần Zeus, Thần Héra, Thần Poseidon, Thần Demeter, Thần Athena, Thần Apollo, Thần Artemis, Thần Ares, Thần Aphrodite, Thần Hephaeatus, Thần Hermes, và Thần Dionysus]. Thần Dionysus thay vị trí của Thần Hestia. Và được Thần Zeus đồng ý, Thần Dionysus đón mẹ từ địa ngục lên đỉnh Olympus.

Theo một truyền thuyết khác, khi Thần Pan (Thần Dê) bị quái vật Typhon tấn công, Thần Pan đã trầm mình xuống sông Nin, phần phía trên mặt nước vẫn là dê, nhưng phần ở dưới nước đã hóa thành cá. Trong thần thoại Hy Lạp, dê đực còn là hình tượng của Thần Pan, thủy tổ của mục đồng (ngày xưa là người chăn dê). Thần Pan sống trên núi cao, thổi sáo làm bằng ống sậy để tưởng nhớ giọng nói của người yêu đã lẫn hồn vào lau lách. Thần thoại Hy Lạp không nói đến Dê biển mà chỉ nói đến Thần Pan là á thần (bán thần), có nửa trên là người và nửa dưới là dê. Thần Pan là con của Thần Hermes và mộ Nữ Thần Nymph (Thần Rừng). Theo văn hóa Babylon, Capricorn hoặc Dê biển, hình ảnh của Nam Thần Ea đầy quyền lực của xứ Babylon. Thần Ea có nửa cơ thể dưới là cá, đầu và mình là dê. Ban đêm, Thần Ea sống trong đại dương, ngày lại ngoi lên để canh giữ đất liền.

Thời La Mã cổ đại, trong lễ hội Lupercalia ngày 15 tháng Giêng hàng năm, các tư tế dâng thần linh một con dê và một con chó để cầu mưa thuận gió hòa và cầu xin tha tội cho mọi người. Da dê sau đó được chia ra từng mảnh nhỏ để các chàng trai mang trong mình làm “lá bùa” giúp cho mùa màng tươi tốt. Phụ nữ La Mã tìm mọi cách để có thể chạm tay vào miếng da dê tế thần, vì họ tin rằng làm vậy sẽ sinh nở dễ dàng. Do đó, sau lễ hội Lupercania, nhiều đôi trai gái nên duyên nợ nhờ miếng da dê “kỳ diệu” đó.

Theo thần thoại Bắc Âu, Thần Thor cưỡi trên một cỗ xe được kéo bởi hai con dê đực, mỗi khi nghe tiếng sấm, người Bắc Âu cổ xưa cho rằng Thần Thor đang cưỡi cỗ xe dê đến. Khi Thần Thor đến đấu trường, tên khổng lồ bằng đá nhưng có trái tim nhát gan liền bỏ chạy. Thần Thor quăng búa sét đánh Hrungnir, còn tên khổng lồ quăng một cặp sừng lên đánh Thần Thor. Chiếc búa đụng phải cái sừng nên bị văng mất, nhưng một mảnh vỡ của cái sừng lại đánh trúng đầu Thần Thor.

Tài liệu cổ xưa nhất về các nghi thức tôn giáo đối với các vị thần được tìm thấy trong các bài thơ Homer ca tụng Thần Hermes. Sự sùng bái 12 vị thần đỉnh Olympus của người Hy Lạp có thể bắt nguồn từ thế kỷ thứ 6 trước công nguyên ở thành Athens, hầu như không có tiền lệ vào thời kỳ văn hóa Mycenae. Việc tôn thờ 12 vị thần đỉnh Olympus thường được xác định bắt đầu thời gian Pesistratos lên nhiếp chính ở thành Athens, vào năm 522-521 trước công nguyên.

Thần thoại là những câu chuyện huyền thoại nhưng thú vị, thu hút cả trẻ em lẫn người lớn.

CHUYỆN TUỔI MÙI

Theo sử sách Trung Quốc, Dê là con vật dịu dàng, ôn hòa. Người tuổi Mùi vui vẻ, chân thật, thân thiết, sâu sắc, tốt bụng, dễ động lòng trắc ẩn với nỗi bất hạnh của người khác. Do đó, họ cũng được người khác quan tâm. Nếu được phát huy hết sở trường, người tuổi Mùi có tâm hồn nghệ sĩ, có năng khiếu thẩm mỹ, có thể trở thành những nghệ nhân có tính sáng tạo cao. Ngược lại, nếu không có những thành công về sự nghiệp, người tuổi Mùi có thể trở thành người bi quan, chán nản, yếm thế, vì họ là dạng người đa sầu đa cảm.

Tính cách của người tuổi Mùi hiền lành, bẽn lẽn, dễ mắc cở, nhưng hòa đồng. Họ hướng nội, sống khép kín, không thích chống đối, không thích đấu tranh, không muốn “đụng chạm”. Tuy nhiên, người tuổi Mùi vẫn gặp may mắn trong sự nghiệp và tài chính.

Người tuổi Mùi không thích bị bó buộc, thích cuộc sống phẳng lặng. Thái độ làm việc của người tuổi Mùi có thể khiến người ta khó chịu, nhưng biết sao được vì đó là thuộc tính của họ. Khi gấp, người khác có thể cuống cuồng, nhưng người tuổi Mùi vẫn từ từ, thản nhiên. Với đặc tính ôn hòa, người tuổi Mùi có thể kết bạn với những người mạnh mẽ, biết “khống chế” họ. Họ cần ở những nơi có nội quy nghiêm khắc để phát huy hết sở trường.

Năm Mùi nói chuyện cho vui
Mong con Dê chẳng ngậm ngùi suốt năm./.

( Nguồn: blog GPQN)

 

« Newer Posts - Older Posts »

Danh mục