Đăng bởi: Ngô Minh | 27.01.2012

VI HÀNH

VI HÀNH

Những ngày đầu Xuân, không hiểu sao tôi cứ miên man nghĩ về chuyện vi hành của các ông vua thời xưa và các vị lãnh tụ nổi tiếng. Có lẽ vì xem ti-vi Tết, chỗ nào cũng thấy các đồng chí lãnh đạo đất nước đi chúc Tết địa phương này địa phương khác. Những ngày thường, lãnh đạo cũng về địa phương thăm hỏi như thế, nhưng đi công khai,trống giong cờ mở, chứ không phải bí mật vi hành. Không biết các vị lãnh đạo của ta có bao giờ “vi hành” không ? Chắc là không , vì nếu họ vi hành biết thì đã có những quyết sách khác, sát với thực tế dân nghèo hơn.
Theo “Từ điển Tiếng Việt” do Văn Tân chủ biên, in lần thứ 2 có bổ sung, NXB Kho hpcj xã hội, Hà NỘi 1977, thì vi hành là “Nói vua thời xưa đi ra ngoài để bí mất xem xét tình hình”. Xem phim Tàu, phim Hàn quốc,hay đọc lịch sử nước ta, thấy ông vua nào cũng có những chuyên “vi hành” xa gần. Những chuyến đi ấy, vua xuất hành bí mật, không lên kế hoạch trước và chỉ có vài tùy tùng đi cùng. Vua đến các khu chợ, các xóm phố nghèo để xem tận mắt cuộc sống dân tình, để đưa ra những quyết sách chính xác của mình trong chỉ đạo, điều hành đất nước .

Lịch sử Việt Nam trải hàng ngàn năm phát triển với hơn 100 đời vua nối nhau trị vì. Có nhiều chuyện vua vi hành kỳ thú . Trần Anh Tông là vị vua thứ 4 của nhà Trần, ở ngôi 21 năm (1293 – 1314), để tiếp cận với đời sống nhân dân, vua thường đi vi hành. Có lần ông đã bị ném vỡ đầu. Sử cho biết như sau: “Vua thích vi hành, cứ đêm đêm lại lên kiệu cùng với hơn chục thị vệ đi khắp trong kinh kỳ, gà gáy mới trở về cung. Có đêm ra đến quân phường bị bọn vô lại ném gạch trúng vào đầu vua. Người theo hầu thét lên: “kiệu vua đấy” bọn chúng biết nhà vua mới tan chạy cả.
Cụ Hồ từ khi thành Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa đã nhiều lần vi hành . Tôi xin kể lại vài cuộc vi hành của Cụ Hồ cóp nhặt qua một số bài viết trên báo . Mùa Xuân độc lập đầu tiên, Xuân Bính Tuất năm 1946 , vào thời khắc mọi gia đình chuẩn bị đón giao thừa thì Cụ Hồ xắn quần, bước thấp bước cao đến các ngõ hẻm ở phố Sinh Từ, phố Hàng Lọng ( Hà Nội)… để được chính mắt nhìn thấy cảnh Tết của bà con lao động. Giao Thừa đó, Cụ Hồ đã chứng kiến cảnh gia đình một người đạp xích lô “Tết mà không có Tết” ngoài một nén hương đang cháy dở trên bàn, còn chủ nhà thì đang đắp chiếu nằm mê mệt vì ốm. Bác đã xúc động lấy khăn lau nước mắt, bảo đồng chí thư ký ghi lại địa chỉ để hôm sau báo cáo cho đồng chí Chủ tịch Hà Nội biết. Cũng đêm Ba mươi Tết Bính Tuất đó, đúng giao thừa, khi Đài Tiếng nói Việt Nam truyền khi khắp đất nước lời chúc mừng năm mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thì chính Người lại đang vui Xuân cùng nhân dân ở đền Ngọc Sơn, trong vai một cụ già cùng cháu đi hái lộc.
Tối Ba mươi Tết năm 1960, Bác đến thăm gia đình mẹ con chị Tín, một lao động nghèo ở phố Hàng Chĩnh, Hà Nội. Chiều mùng hai Tết năm 1961, Bác đến Văn Miếu dự buổi bình thơ Xuân của các cụ. Mùng hai Tết năm 1962, Bác đến thăm các cháu học sinh miền Nam ở Hải Phòng. Chiều 29 Tết năm 1963, Bác cải trang thành một cụ già theo cháu đi chợ hoa và chợ Đồng Xuân… Tất cả đều bí mật bất ngờ và do đó bao giờ cũng tạo hiệu quả lớn. Tết Quý Mão năm 1963 , sáng 29 Tết, Bác thăm chợ Tết Đồng Xuân. Bác đi theo đường Nguyễn Thiệp vào cổng sau của chợ. Người chăm chú quan sát cảnh mua bán tấp nập, dừng chân xem ông đồ viết câu đối Tết, có lúc hỏi giá hàng… Khi đến thăm chợ hoa, Bác định mua một bó hoa huệ nhưng đồng chí cảnh vệ sợ lộ bí mật nên trả giá rất rẻ để rút lui. Bác nói vui: “Trả giá như chú, cả ngày đi chợ cũng chả mua được gì.”.v.v..và v.v..
Nói chuyện vi hành, tôi cứ ao ước : Bao giờ ĐẤT NƯỚC CÓ NHỮNG VĨ LÃNH ĐẠO VI HÀNH ĐỂ BIẾT THỰC CHẤT CUỘC SỐNG NGƯỜI DÂN ? Bởi vì nếu có những cuộc vi hành như vậy, chắc chắc những quyết sách liên quan đến sở hữu đất đai, đến bù giải tỏa, cưỡng chế …của Nhà nước đã không như thực tế hiện hành. Đã từ mấy chục năm nay, cả nước ta đã quen với bệnh thành tích, nên bị bệnh ưng thư di căn “CÁO CÁO LÁO”. Báo cáo láo để lên chức, lên quyền. Báo cáo láo để kiếm nhiều dự án, từ đó mới có % làm giàu. Xã láo với huyện, huyện láo với tỉnh, tỉnh láo với Trung ương. Lâu ngày thành một “nếp sống”, thành mẫu mực “đạo đức”. Báo cáo láo kèm theo hối lộ, xu nịnh đã trở thành “tiêu chuẩn sống” của phần lớn cán bộ có chức có quyền. Thường nịnh trên thì trù dập dưới . Bọn chúng đã thẳng tay đàn áp dân nghèo để bảo vệ lợi ích của chúng . Chính bọn chúng đã gây hàng ngàn vụ khiếu kiện đất đai quyết liệt, kéo dài ở Đồng bằng Sông Hồng, Đồng bằng Sông Cửu Long, đã gây ra sự kiện nông dân tỉnh Thái Bình nổi dậy chống lại lãnh đạo chính quyền vi phạm luật đất đai và tham nhũng 1996-1997; đã gây ra vụ án oan khiên đối với bà Ngọc Sương ở Nông trường Sông Hậu, hay gần đây nhất là vụ cương chế thu hồi ao đầm anh Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng, Hải Phòng. Đa phần lãnh đạo bây giờ là bọn suy thoái, tham nhũng. Chúng liên kết với nhau theo nhóm từ trung ương đến địa phương, lợi dụng điều luật “đai đai là sở hữu Nhà nước, sở hữu toàn dân” để cướp đất nông dân mua bán làm giàu, đẩy họ vào con đường cũng quẫn. Nếu dân không nghe theo thì chúng huy động công an, bộ đội cưỡng chế, họ chống đối thì quy tội “chống người thi hành công vụ” để bắt tù. Bọn “cầm quyền” ấy , bao nhiêu năm nay đã tạo nên một làn sóng căm thù, phẫn uất trong nhân dân. Sự căm thù đó nếu có mỗi mồi lửa, chắc chắn sẽ trở thành bão lửa to lớn hơn Thái Bình 1996-1997 !
Vì thế , tôi cảm thấy rất khó chịu khi thấy các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước đi đến đâu cũng được tiền hô hậu ủng, xe cộ rầm trời, công an còi hụ inh ỏi không khác gì sắp có biến. Bí thư chủ tịch tỉnh đón, đi kè kè ngày bên cạnh. Tất cả cảnh thăm đều được kịch bản bố trí, sắp xếp từ trước . Chỉ một ông Ủy viên Bộ chính trị thường thôi, thậm chí bộ trưởng thôi về tỉnh cũng còi họ trước hụ sau. Rồi khẩu hiệu “Nhiệt liệt chào mừng đồng chí về thăm tỉnh N, Y, Z…”. Nhân dân của mình, “đồng chí” của mình sao lại quan cách xa vời thế ? Tôi cứ nghĩ đi như rứa cũng là một cách đi, nhưng đó là cách đi để “lấy tiếng”, để đánh bóng tên tuổi và hình ảnh mình, chứ không phải vi hành. Đi như thế không thể biết được thực chất cuộc sống thật, ngày Tết thật của người dân lao động bần hàn.
Giả sử đồng chí Tổng Bí thư Đảng, hay Trưởng Ban kiểm tra Trung ương Đảng …cải trang, đóng vai một thường dân, hay cụ già hành khất, bí mật về xã Vinh Quang huyện Tiên Lãng, không cho lãnh đạo TP Hải Phòng hay huyện Tiên Lãng biết, hỏi bà con về lịch sử gia đình ông Đoàn Văn Vươn và tại sao lại sinh ra vụ cưỡng chế máu lửa ấy, thì sẽ biết đích xác chân tướng bọn quan tham những ức hiếp dân. Nhưng đi như thế thì phải chịu khó chịu khổ, lại không được “cơm bưng nước rót”, thậm chí không được quà cáp hậu hĩnh. Vì thế ai cũng thích đi cả đoàn , trống gương cờ mở inh ỏi. Ôi đi thăm như thế chỉ làm cho lòng dân thêm rầu, niền tin của dân vào chính thể càng giảm đi . Sự tồn vong của chế độ đã đến lúc báo động đỏ.
Vì thế tôi cứ đêm đêm thao thức trằn trọc, mong mỏi các vị lãnh đạo đảng, nhà nước phải vi hành thật nhiều để hiểu thực chất cuộc sống nhân dân và hiểu chân tướng của bọn suy thoái , tham nhũng đang lộng hành, để có những quyết sách quyết liệt cứu đất nước, cứu dân tộc.

Ngô Minh

Đăng bởi: Ngô Minh | 25.01.2012

THƠ TẶNG ANH ĐOÀN VĂN VƯƠN

THƠ XUÂN TẶNG ĐOÀN VĂN VƯƠN
Đặng Bá Tiến

anh không phải là thú hoang
nhưng họ đã dồn anh vào bước đường cùng
buộc anh phải gầm lên
như con thú hoang tội lỗi
+
khi công lý nơi đây đã biến màu
như kỳ nhông giả dối
tia hy vọng cuối cùng
đốm lửa cuối cùng về niềm tin đã bị bóng tối bủa vây
khi những nhân danh đã trở thành son phấn
thánh thần lộ tim đen sau lớp mặt nạ dày
khi sự nghiệp cả đời đã trở thành mây khói
thì tù đày nghĩa lý gì đâu
cả thân xác cũng chỉ là cát bụi
anh thà hy sinh hơn sống phải cúi đầu

và mìn nổ
và tất nhiên
máu đổ
và tù đày
tan nát cả mùa xuân
tan nát cả gia đình tổ ấm
nhưng tiếng súng của anh
đã trở thành tiếng sấm
xé toạc bóng đen
xé toạc những mặt dày
xé toạc những liên minh ăn cướp ban ngày
lột trần những nhân danh ma quái

sẽ còn mãi cái ngày Tiên Lãng ấy
cái ngày đất đai cũng nổi sóng bất bình
cái ngày đất đai bị cầm tù oan trái
cái ngày đất đai bị phỉnh phờ lừa dối
cái ngày đất đai bị đầu độc bởi quan tham

sẽ còn mãi cái tên Đoàn Văn Vươn
vụ án Đoàn Văn Vươn
sự kiện Đoàn Văn Vươn trong lịch sử
dẫu hôm nay anh bị tù đày
anh bị tù đày nhưng anh không đơn độc
anh không có xuân này
những sẽ có những xuân sau…

Đêm mùng 2 Tết Nhâm Thìn
Đặng Bá Tiến

(Nguồn: trannhuong.com)

Đăng bởi: Ngô Minh | 25.01.2012

35 TẾT HUẾ

35 TẾT HUẾ
Ngô Minh

Tính đến Tết Nhâm Thìn này tôi đã ăn 35 cái Tết Huế. Tết năm 1975, tôi ăn Tết ở rừng Đồng Xoài bên sông Sài Gòn. Đang vui Tết thì được lệnh hành quân đi giải phóng thị xã Phước Long, Rồi hành quân theo Chiến dịch Hồ Chí Minh mãi cho đến trưa 30-4 vô Sài Gòn. Tết 1976, tôi ăn cái Tết Sài Gòn đầu tiên trong đời mình. Dù đang trong thời kỳ Uỷ ban Quân quản của tướng Trần Văn Trà, nhưng bà con đi chợ Tết rôm rả lắm. Cơ quan Ban chính trị chúng tôi đóng ở Hẽm Câp Điệp, đường Nguyễn Đình Chiểu được anh nuôi sắm Tết không thiếu thứ gì. Giò lụa, giò thủ, thịt heo quay, bánh chưng ,bánh Tét, hạt dưa, mứt trái cây… nghĩa là Tết ba miền. Sau Tết vài tháng, tôi được ra quân về lại Trường Đại học Thương Mại.
Cuối tháng 9-1976 , tôi bộ đội ở Sài Gòn ra quân chuyển về TRường Đại học Thương Mại rồi xin về công tác ở Huế, thành công dân của Huế. Tết 1977, lần đầu tiên tôi ăn Tết Huế . Lúc đó chưa vợ, ngày Tết tôi đi Đông Ba, Bến Ngự xem chợ Tết. Chiều 30 Tết qua cầu Trường Tiền gặp anh bộ đội dắt em bé đi chợ hoa về. Anh bộ đội vác một cành mai lớn, còn em bé cầm một cành mai nhỏ, tung tăng chạy theo . Một lát sau, em bé kéo lê cành mai dưới chân. Một bà cụ gánh hàng rong đi ngang nói nhỏ với anh bộ đội : Đừng để cháu kéo hoa mai như vậy, không nên ! Tôi hiểu chữ “không nên” là phạm thượng . Tôi rùng mình. Trời ơi, đất Huế tâm linh ngay trong từng cành hoa, cây cỏ. Tết đó, tôi ăn Tết Huế đến sáng mùng hai Tết mới về làng biển Thượng Luật, Ngư Thuỷ với mạ .
Những năm tháng cuộc sống bao cấp ấy, tàu xe đi lại vô cùng khó khăn, khi đã có gia đình, cả nhà tôi năm nào cũng ở lại ăn Tết Huế , chỉ về thằng nội, thăm ngoại khi nghỉ phép năm. Huế mấy trăm năm là thủ phủ Đằng Trong và Kinh Đô triều Nguyễn nên tết nhất nặng nhiều về tâm linh, rất hợp với tôi. Trước Tết thì đi thăm mộ . Cả thành phố già trẻ, trai, gái đổ nhau lên mộ. Ngày hai chín, ba mươi Tết, ăn mặc chỉnh tề, đem theo hoa chuối, nhang đèn, bánh trái… và cả dao, cuốc lên nghĩa trang làm cỏ , quét dọn, rồi bày mân cúng… Tôi có đứa con sinh thiếu tháng. Cháu là người ngoài cuộc đời / Chỉ được nhìn Huế năm ngày qua lồng kính ( NM) . Nên Tết nào cũng đi thăm mộ cháu theo tập tục Huế. Sau đó về lo sửa soạn bàn thờ tiên tổ. Với Huế, Tết là dịp tỏ lòng hiếu thảo. Cho nên có người suốt mấy ngày tết luôn khăn đóng áo dài bái lạy. Tết Huế có cỗ cúng sớm, cúng tối. Đồ cúng ra không ăn hết cũng phải nấu đồ cúng mới. Gia đình tôi dần dần cũng quen nếp Huế. Đối với người Huế, các món thờ cúng ông bà và tiếp khách ba ngày Tết đều tự chế biến . Bí lắm mới mua ở chợ. Đối với người phụ nữ Huế, mâm cỗ ngày Tết là biểu tượng của văn hoá gia phong, là sự sum vầy, hạnh phúc. Nên Tết đến với họ trước cả tháng trời. Cả tháng trước Tết , vợ tôi tất tả chuẩn bị thực phẩm gia vị để chế biến hàng chục món ăn phục vụ các bạn bè nhà văn, nhà báo đến chúc Tết nâng ly. Mồi nhậu gồm các loại giò chả, thịt bò ngâm, thịt dầm dấm, thịt đông, nem, tré…Đồ ngọt là các loại mứt bánh. mút gừng, mứt bí, hàng chục thứ dưa món ( củ hành muối, củ kiệu muối, dưa món chế biến bằng đu đủ, cà rốt, ớt,v.v…), Rồi các loại thịt bò, thịt heo, đùi heo, thịt gà để chế biến các món như hấp, ninh, nướng…. Ngay cả việc làm món mứt bí cũng phải chuẩn bị suốt cả tháng trời từ việc đi mua loại bí đao già có phấn trắng trên vỏ, không sâu, rồi bảo quản cho đến gần Tết mới chế biến. Lát bí phải phơi nắng ba ngày, vừa dội nước vừa phơi. Công phu lắm mới có được miếng ngon ở đời…
Có lần sát Tết, vợ tôi bận đi làm cơ quan, nhà đang phơi mấy nia cà rốt, hành, củ cải thái …để làm dưa món. Trời bỗng đổ mua. Mưa Huế là dai dẳng lắm. Mai đã là ngày 30 Tết rồi. Thế là tôi đốt bếp than, lấy cái mâm nhôm để sấy khô. Tôi mải đọc sách, đến khi nhớ ra mình đang sấy dưa món, chạy ra xem, thì đã tất cả thứ thì cháy xém, thứ thì chín nhừ hết !
Vợ tôi lo cái để thờ cúng ông bà trong ba ngày Tết hơn lo cái để mình ăn. Tết thực sự bắt đầu trong đêm 23 tháng Chạp, tiễn Ông Táo về trời . Một nải chuối, cây hoa vạn thọ, ba ông đầu rau, vàng mã, hai que bông vót từ que tre nhuộm đỏ, rồi xôi chè … Đúng nửa đêm hai vợ chồng thức dậy cúng dưa ông Táo. Cúng xong đưa ba ông đầu ra cái cột điện đầu phố gửi ở đó. Nhà nào cũng gửi ở đó. Nhiều năm thành một khém dày các loại đầu rau.
Tuần giáp Tết là tuần lo chạy đi chạy lại kiếm hàng Tết mỏi rời cả chân . Đầu tiên là lo ra phố đánh bóng bộ ngũ sự, tam sự. Sau đó lo mua cát thờ mấy bà dưới Phú Lộc , Thuận An gánh lên bán ở cầu Bến Ngự. Rồi chuối thờ, nhang, nến, hoa giấy Thanh Tiên để cúng trang bà. Gia đình tôi năm nào cũng mua tới sáu bảy nải chuối thờ . Nghe nói có nhà phải mua tới vài chục nải. Rồi chuẩn bị nguyên liệu làm các loại bánh cúng như bánh ngũ sắc, , bánh in .v.v..Sau đó là mua hoa. Tết nào cũng phải có một cành mai Huế, mấy chục cành hoa la-zơn, mấy chậu cúc, thược dược. Một thứ hoa mà gia đinh Huế nào cũng phải có là hoa vạn thọ. Vạn thọ vàng là thứ hoa cúng đầu bảng . Có lẽ do cái tên của hoa là VẠN THỌ , có ý nghĩa liên quan đến mong ước trường thọ. Gần Tết thì mua lá dong, thịt ba chỉ, đậu xanh để gói bánh chưng . Tôi bảo vợ phải gói bánh chưng, nấu bánh chưng đêm giao thừa để con lớn lên có ký ức về Tết gia đình . Thế nên năm nào nhà tôi cũng nấu bánh chưng . Tôi ra chợ Đông Ba mua hẳn một cái khuôn bằng gỗ để gói bánh. Sau đó có người bày cho cách bẻ lá dừa cũng thành cái khuân bánh đẹp. Hai đứa con trai thức cùng gói bánh với ba mẹ, rồi thức đến giao thừa để chờ bánh chín. Có khi chúng ngủ quên nơi chiếc chiếu gần bếp. Từ khi hai đứa vào học đại học, vợ tôi không gói bánh chưng nữa, mà mua bánh chưng Nhật Lệ cho tiện.
Hương vị Huế tôi thích nhất là mứt gừng. Theo tôi, mứt rừng là mùi đặc trưng Tết Huế nhất. Tết nào vợ tôi cũng tự chế biến lấy vài cân mứt rừng . Mứt gừng Huế vàng mà cay thơm hơn mứt gừng trong Nam ngoài Bắc. Trước Tết vài ngày, vợ tôi ra chợ Bến Ngự mua củ gừng non, về cạo sạch vỏ, ngâm nước phèn chua, rửa sạch sau đó thái thành lát, luộc hai ba lần cho giảm độ cay sau đó rim đường. Nhà văn Hà Khánh Linh , một Người Kinh Đô cũ , họ danh gia vọng tộc Nguyễn Khoa kể rằng, những gia đình giàu có ở Huế xưa chế biến mứt gừng rất công phu. Họ làm mứt gừng nguyên củ. Gừng non, gọt sạch vỏ, ngâm vào nước lạnh, lấy que nhọn xăm thật mềm, sau đó xả nước lạnh, vắt chanh vào gừng, phơi nắng khoảng hai tiếng đồng hồ, sau đó rửa cho hết vị chua của chanh, ép kho, luộc lần nữa, lại ép khô rồi mới rim đường. Công kỹ thật.
Đối với một nhà thơ như tôi, ấn tượng nhất là cứ qua mỗi mùa Xuân, hồn tôi lại thấm thêm một phần văn hoá Huế. Tôi đã được dự cúng giỗ vua Duy Tân, ăn tiệc chay với Hoàng Tộc Nguyễn, đi ăn chay ở các chùa với các anh Phan Thuận An, Bác sĩ Dương Đình Châu, Bửu Ý, nhà văn Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường…, rồi vui thả thơ, đổ xăm hường, nghe ca Huế sa- lon…. Là nhà văn, nhà báo như tôi , Tết về từ đầu tháng 10 âm lịch. Vì lúc đó là lúc tập trung cảm hứng để viết báo Tết. Để trang trải đủ một cái Tết phải in được vài chục bài trên các báo Trung ương, địa phương. Viết báo Tết cũng như đi nơm cá. Cứ gửi đại, không biết họ có in hay không. Đến gần Tết anh nhà văn nhà báo nào cũng chạm mặt nhau ở quầy bán báo bưu điện , vì ai cũng ra đó để đọc chùa, hồi hộp dò xem bài Tết mình có được in hay không. Các nhà văn Huế như Nhất Lâm, Ngàn Thương, Mai Văn Hoan.v.v..đều đứng suốt ngày ở quầy báo, hay ở Hội báo Xuân tỉnh để xem mình coa bài nào in báo Têt. Đọc báo chùa mà không mua cô bán báo gắt gỏng, không vừa lòng. Nhưng biết làm sao ?.Văn nghệ sĩ Huế trong ba này Tết thường có tục lệ đến nhà các nhà văn đã quá cố để thắp nhang tỏ lòng tri ngộ. Rồi sáng Nguyễn Tiêu, trước khi tổ chức Đêm Thơ Nguyên Tiêu, các văn nghệ sĩ thuê xe đi “viếng mộ các thi nhân”. Bắt đầu từ Phan Bội Châu, đến Thanh Hải, Hải Triều ở nghĩa trang Phan Bội Châu, Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương, vợ chồng thi nhân Vĩnh Mai… ở Đồi Tưi Hiếu , đến Hải Bằng, Phương Xích Lô, Thái Ngọc San, Bửu Chỉ…ở nghĩa trang thành phố Huế, cuối cũng là mộ vợ chồng nhà thơ Phùng Quán ở THủy Dương. Tôi cho rằng, ngày Nguyên Tiêu viếng mộ thi nhân là một nét văn hóa đẹp của Huế, đó cũng là ký ức đẹp trong mỗi cái Tết.
34 cái Tết ở Huế, 34 lần cúng Tất Niên, 34 lần cúng đưa ông bà, những ngày đó ở Huế gia đình nào cũng đông vui nhất. Sáng mùng một dặn con đừng vội đến nhà người khác đạp đất, lỡ năm đó họ làm ăn không nên thì gay. Rồi vợ chồng chở nhau lên Chùa xim xăm. Mùng Hai mới xuất hành đi thăm. Ra đường ngày Tết cũng là một niềm vui vì không khí từng bừng, màu sắc trang phục đẹp đẽ. Hồi nghèo, còn đi xe đap., tôi đèo vợ đi chúc Tết. Thấy người ta chở nhau đi Tết bằng honda , áo dài tím bay phấp phới, vợ tôi ước : Khi mô mình được như rứa hè. Mới đó mà bây giờ xe máy đã là lạc hậu. Nhiều gia đình đi chúc Tết bằng ô tô xịn. Thế mới biết mức sống người dân Huế đã khá hơn trước nhiều. .Muốn đi thăm Tết phải chuẩn bị phong bao lì xì. Trước Tết vợ tôi đã nhờ bạn bè đổi tiền mới cứng. Lì xì là một phong tục đẹp. 33 cái Tết , cứ đến giờ ăn cỗ Giao Thừa, tôi bao giờ cũng mở chai sâm banh Nga, nâng ly với cả gia đình và tặng phong bao cho hai con trai, chúc con chăm ngoan, học giỏi, thành đạt. Nói chuyện lì xì Tết lại nhớ nhà thơ Hải Bằng. Hồi nhà thơ Hải Bằng còn sống, mùng Hai Tết vợ chồng tôi sang đường Nguyễn Chí Diễu chúc Tết gia đình anh trong khuôn viên của Công ty phát hành sách. Đến mục vợ tôi mở phong bao lì xì, nhà thơ khoát tay cười món mém bảo : Cậu có hai đứa con, tờ bốn đứa, thế thì cậu chỉ lì xì con tớ hai đứa thôi, khỏi thối lại ! Năm ngoái Tết Tân Mão, vợ tôi đến chúc Tết vợ chồng nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường-Lâm Thị Mỹ Dạ, vợ tôi rút ví lì xì nhà văn hai tờ mười ngàn đồng mới cứng. Anh Tường cầm tờ tiền ngó lui ngó tới rồi thốt lên với vẻ mặt nghiêm trọng : “Sao nhiều thế này ? Đến hai vạn đồng cơ à ?” Thì ra nằm một chỗ hơn 10 năm, trong anh không còn khái niệm tiền bạc….

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.01.2012

CHÀO XUÂN NHÂM THÌN

CHÀO XUÂN NHÂM THÌN

alt

Xuân Nhâm đã về với mỗi gia đình. Đã nghe thức nức mùi vị bánh chưng bánh tét, mùi vị  mứt gừng trong gió se. Đón Xuân Mới, QUÀ TẶNG XỨ MƯA xin chúc đọc giả phương an khang, thịnh vượng hơn năm cũ. Năm Tân Mão qua, đọc giả đã đến với QUÀ TẶNG XỨ MƯA rất nhiệt tình. Năm này, chúng tôi sẽ cố gắng hơn về nội dung và hình thức trang blog để đáp ứng lòng tin cậy của đọc giả. Khai bút đầu năm, Ngô Minh xin tặng bạn đọc bài thơ TẶNG VỢ NHÂM THÌN. Vợ Ngô Minh tuổi Nhâm Thìn ( 1952) , năm 2012 này là tròn Giáp Niên. Cưới nhau năm 1977 ở Huế, sau ngày giải phòng 2 năm. Trải nhiều đắng cay mặn nhạt, đến nay vợ chồng đã sống bên nhau 34 năm . Đã có 2 cháu nội, gia đình đoàn tụ, thơ , sách xuất bản đều đều . Ôi , thế cũng đáng được gọi là HẠNH PHÚC!

Ngô Minh

TẶNG VỢ NHÂM THÌN
Cho Minh Tâm

Nhâm Thìn ơi, Nhân Thìn em
cho anh nương tựa nhớ quên tít mù
rượu be thơ túi ngất ngư
một mình em gánh cơ đồ xông pha

Nhâm Thìn nuôi lợn, sửa nhà
Nhâm Thìn trong cõi ta bà xở xoay
mẹ cha xa tận trời mây
nhớ thương gom nhặt vơi đầy nước non

Nhâm Thìn giờ giáp niên tròn
bi bô cháu, rộn ràng con ấm lòng
bao năm mặn ngọt vợ chồng
Xuân này anh níu đuôi Rồng, lại bay …
Huế, Xuân Nhâm Thìn, 2012

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.01.2012

TẾT PHỞ

TẾT PHỞ
Ngô Minh
Năm 2011, chương trình CNNGo của kênh truyền hình CNN (Mỹ) vừa bình chọn và giới thiệu 50 món ăn ngon nhất thế giới. Trong đó Việt Nam có hai món Gỏi cuốn và Phở được chọn. Nhắc đến phở là nhớ Hà Nội. Nhớ về Hà Nội cái đầu tiên là nhớ phở. Lại nhớ thời sinh viên với những những cái Tết phở . Phở Hà Nội bây giờ ở khắp bắc, trung , nam đâu đâu cũng có, nhưng chỉ có về Thủ Đô mới được thưởng thức “phở thứ thiệt”,” phở Hà Nội rin”. Phở đã vào thơ Tú Mỡ từ gần bảy mươi năm trước. Trong bài thơ Phở Đức Tụng ( ca tụng công đức của phở), hơn 40 câu viết năm 1937 nhà thơ mê phở và luận về phở rất hay : Một vài xu nào đắt đỏ mấy mươi/ Mà đủ vị: ngọt, bùi, thơm,béo, bổ. Bởi vậy:
Đừng khinh phở là món ăn hèn mọn
Đấu xảo thành Ba-lê còn phải đón phở sang
Cùng các món ăn ngoại quốc phô trương
Ngon lại rẻ, phở thường tranh quán giải
Sống trên đời, phở không ăn cũng dại…
Ở hải ngoại các nhà văn gọi phở là Danh thiếp của người Hà Nội, danh thiếp của người Việt Nam . Nghĩa là nói đến phở là người ta nghĩ ngay đến Việt Nam. Từ 35 năm qua, cái thương hiệu phở đó đã thành sứ giả Việt Nam đến mỗi ngày với người dân bốn biển năm châu. Đã có nhiều tiệm phở Việt, phở Hà Nội ở Mỹ, Anh, Pháp, Úc, Canada, Nga, Ba Lan ,Cộng hòa Séc.v.v.. Quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới phải ghi công đầu cho phở . Ít mặt hàng Việt chiếm được thị phần rộng lớn như thế. Chả thế mà mấy năm trước ở Hà Nội người ra đã xuất bản một cuốn sách dày về phở : Vietnam’s Heritage (Phở, một di sản Việt Nam). Vâng, phở là di sản, cũng giống như di sản Hoàng Thành Thành Long, Quần thể Di tích Cố Đô Huế, Vịnh Hạ Long, Phố cổ Hội An, như Di sản âm nhạc cung đình, ca trù, quan họ.v.v.. Phở sang trọng, nổi tiếng thế, nhưng phở lại là một món ăn bình dân, món điểm tâm của tất cả các tầng lớp người Việt. Giàu nghèo, già trẻ, lớn bé đều biết ăn phở, thích ăn phở. Nên mỗi người dân đều khoái phở theo “tâm hồn ăn uống” của mình. Và ai cũng có những ký ức riêng về phở. Phở tôi nói đây là phở bò với đủ loại chín –tái, chín nạm; tái- nạm, tái-gầu , chín-bắp…. Bây giờ thì thế gian đầy thứ phở như phở gà, phở vịt, phở ngan… Rồi lại có các loại phở xuất phát từ cách chế biến như phở xào, phở rán, phở cuốn… Tôi không thích những món phở “ăn theo” thương hiệu như thế. Cũng như ở Huế, cơm Hến là món ngon, được ca tụng. Nhưng rồi người ta lại chế biến thêm thứ bún hến , cũng là một loại ẩm thực ăn theo. Cho nên ở Huế tôi chỉ ăn cơm hến, ra Hà Nội, tôi chỉ tìm đến những quán phở bò gốc…
Tôi có bốn năm là sinh viên Hà Nội và 15 năm làm phóng viên báo Thương Mại( Hà Nội), cứ vài ba tháng lại ra cơ quan một lần, đâm ra nghiền phở. Thời sinh viên, chúng tôi thường ăn “phở không người lái” ba hào một bát, giống như phở múc cho trẻ em một hai tuổi bây giờ ( mà trong bút ký phở nổi tiếng , cụ Nguyễn Tuân gọi là “phở nhi đồng”). Bát phở không có thịt bò, tái nạm gì cả, chỉ có bánh phở chan ít nước dùng.Phở ba hào mà phải xếp hàng, thò tay vào cái ô cửa nhỏ xíu chờ hàng giờ cho đến khi bàn tay búp măng của cô mậu dịch viên lạnh lùng đưa bát phở ra, không thấy mặt mũi cô xinh xẻo ra sao, cũng đã thấy hởi lòng hởi dạ. Sung sướng vì cái mùi thơm quyễn rủ của nước phở. Trường Đại học Thương Mại ở Từ Liêm, mỗi lần tôi đạp xe đi ngang Cửa hàng ăn uống quốc doanh ở Cầu Giấy, nghe “mùi phở” bay ra, lại theo quán tính thò tay vào túi xem có còn đồng nào không. Không có tiền thì đứng tần ngần nuốt nước miếng một lúc, rồi đạp xe thật nhanh như chạy trốn cái sự quyến rũ…Bốn năm học đại học, miền Trung bom đạn nên Tết chúng tôi không được về. Mấy đứa Vĩnh Linh, Quảng Bình ở lại ăn Tết ở trường. Sáng nào chúng tôi cũng đạp xe về Hà Nội “ăn Tết phở”. Ba ngày Tết ăn phở đã đời. Mỗi đứa chịu một bữa. Phở một tô một đồng hai hẳn hoi, chứ không phải phở không người lái. Ăn tô phở nóng kèm thêm mấy cái quẩy là đằm cái bụng xâu đói.
Sau này làm cán bộ, có lương, cứ ra Hà Nội là tôi ăn phở cả tuần. Đêm phở, ngày phở. Sáng phở, trưa , chiều phở . Mười giờ đêm lại mò ra phố làm bát phở gàu mới ngủ yên. Tôi thường ăn phở bò ở ba quán nổi tiếng. Ở đầu phố Lò Đúc, gần cơ quan tôi có quán phở Thìn rất tiếng tăm. Chỗ đặt bàn chế biến phở ngay ở cửa ra vào, nên mùi phở thơm ngào ngạt phố. Phía trong là hai dãy bàn gỗ màu đen, như bàn học trò. Khách đứng ở cửa chờ múc phở, trả tiền rồi bưng vào phía trong ngồi bàn ăn rất đàng hoàng. Phở Thìn là phở bò, không bỏ bột ngọt mà nước dùng ngọt lịm. Ở Hà Nội phở Thìn đã sinh sôi ra nhiều quán ở nhiều nơi, nhưng hương vị phở vẫn giống nhau. Phở Thìn cũng như phở Bát Đàn ( 49-phố Bát Đàn) không có rau sống , giá kèm theo như ở Sài Gòn, Huế. Người ta múc tô phở nóng hổi, điểm xuyết vài cọng hành hoa lên trên rất mát mắt. Bưng bát phở Bát Đàn thịt bò thái tươi rói, thơm ngậy, nước dùng ngọt vị xương hầm, dạy mùi phở Hà Nội truyền thống, lúc nào tôi cũng thấy xúc động. Còn ở trên bàn có lọ tương ớt cay nồng, nước mắm, miếng chanh cốm chua gắt để quý khách dùng theo khẩu vị. Người ăn phở Bát Đàn mấy chục năm nay vẫn phải xếp hàng như xếp hàng mua thực phẩm thời bao cấp. Có buổi sáng tôi thấy người xếp hàng cả trăm mét phố. Đến khi bưng được bát phở trên tay thì nhìn quanh chỗ ngồi đã hết. Vì thế đi ăn phở Bát Đàn phải rủ nhau hai ba người. Người giữ chỗ, người xếp hàng lấy phở. Có lần nhà thơ Trần Quang Đạo rủ tôi và nhà thơ Hoàng Cát đi ăn phở Bát Đàn. Thương binh chân giả Hoàng Cát phải xếp hàng dài tới ba chục mét. Còn tôi và Trần Quang Đạo trai trẻ nhanh hơn thì đứng chờ người ra ăn xong để chiếm ghế. Vất vả, mồ hôi mồ kê, nhưng ai cũng xuýt xoa thoả lòng vì được thưởng thức món phở đầu bảng phở Hà Nội.

Ở Huế, mỗi lần nhớ phở Hà Nội, tôi lại đọc sách Món ngon Hà Nội của Vũ Bằng . Nhà văn quan sát từ xa quán phở bò Hà Nội , đọc mà xốn xang bụng dạ : “ Ngay từ đằng xa, mùi phở cũng đã có một sức huyền bí, quyến rũ ta như mây khói chùa Hương, đẩy bước chân ta, thúc bách ta…Qua làn cửa kính đã thấy gì ? Một bó hành hoa xanh như lá mạ, dăm quả ớt đỏ buộc vào một cái dây, vài miếng thịt bò tươi và mềm : chín có, tái có, sụn có, mỡ gàu có, vè cũng có…Người bán hàng thỉnh thoảng lại mở nắp cái thùng sắt ra để lấy nước dùng chan vào bát. Một làn khói tỏa ra khắp gian hàng, bao phủ những người ngồi ăn ở chung quanh trong một làn sương mỏng, mơ hồ như một bức tranh tàu vẽ những ông tiên ngồi đánh cờ trong rừng mùa thu…Trông mà thèm quá !”.
Ở phố Mai Hắc Đế , Hà Nội có một quán phở rất chật chội, không cắm bảng hiệu, nhưng người ăn đông nghẹt. Ở đây rất ít ghế, nên nhiều người phải bưng bát phở đứng ăn. Thế mà hôm sau họ lại đến. Bán phở là một bà già nhanh nhẹn. Bà vừa múc phở vừa luôn mồn hỏi “ Béo hay gầy,”béo hay gầy”. Tức là hỏi người ăn thích thứ phở có thêm mỡ gầu hay chỉ thịt thôi. Khách hàng trả lời “béó”, bà thái thêm cho một một lát mỡ gàu bò. Nguyễn Tuân viết :”Tôi còn được nghe một ông phở khác nói đến mỡ gầu, cái tảng thịt dắt mỡ quí giá nó không béo quá, mà lại quánh như sáp, ròn và mềm ấy mà gọi là một cánh gầu; và lúc cầm vào cân thịt tái, thịt tươi còn nhảy lên dưới làn dao, mà gọi là một quả thăn”. Ăn miếng mỡ gầu nghe béo giòn đầu chân răng.
Nói về phở Hà Nội là phải nói tới cái “mùi phở”, mà không có nó thì không thành phở được. Bữa nay nhiều quán trưng biển “Phở Hà Nội” nhưng bưng bát phở lên không có cái “mùi phở” đặc trưng ấy, người ta gọi là “phở mì chính”. Người ta còn mua những gói gia vị “phở” từ Trung Quốc về để bỏ vào nồi nước dùng, nhưng cũng không phải mùi phở Hà Nội gốc. Cái mùi phở Hà Nội do nồi nước dùng ( gọi là nước phở) được chế biến công phu mà có. Tôi nhớ thời bao cấp, có lần Công ty Ăn uống Quốc doanh Bình Trị Thiên ( cũ) mời nghệ nhân phở Đinh Bá Châu từ Bộ Nội Thương về Huế cả tháng để “truyền nghề” chế biến phở cho các đầu bếp trong ngành ở Cửa hàng ăn uống Nam Sông Hương trước mặt Bưu Điện trung tâm Huế bây giờ. Bác Châu là người chế biến phở Hà Nội số 1 Việt Nam bây giờ. Bác Châu hướng dẫn cách hầm xương bò ( xương ống) lửa phải liu riu. Bác bảo :” To lửa thì tủy tan ra, nước đục. Trong quá trình nấu, thỉnh thoảng phải vớt bọt, có thế nước mới trong. Rồi thêm gia vị như gừng, hồi, thảo quả… để khử mùi ngây ngấy của mỡ bò. Cái “mùi phở đặc trưng” đó tuỳ thuộc vào tài nghệ gia giảm các gia vị này. Vừa thì ngon, già tay là lạc mùi ngay. Hầm xương suốt đêm, sáu bảy tiếng đồng hồ tất cả các chất trong xương đều tan vào nước, nước mới ngọt và có mùi thơm đặc trưng. Người đầu bếp phải thức suốt đêm mới có nồi nước dùng ưng ý. Bởi thế mà dạo đó người đếm Cửa hàng Nam Sông Hương ăn phở sáng đông nghẹt.
Có lần sáng đi làm, tôi ghế chỗ nhà thơ Lê Thị Mây ở Liễu Quán để gửi chùm thơ cho Tạp chí của Hội Văn nghệ tỉnh. Khi mở cửa, không biết gió máy thế nào , bổng nhiên nhà thơ mặt tái nhợt, ngất xỉu. Tôi chạy đến nhà bác sĩ Thuỷ ở đường Ngô Quyền nhờ cấp cứu. Bác sĩ Thuỷ khám, cho uống thuốc rồi bảo tôi:” Anh đi mua cho chị Mây tô phở nóng, ăn là tỉnh lại liền!”. Tôi đãng trí, mang cạp-lồng đi mua phở mà không mang cái quai xách, chỉ cầm cái tô nhôm đạp xe ra cửa hàng Nam Sông Hương. Một tay bưng tô phở Hà Nội nóng thơm bốc khói , một tay đạp xe về đến chỗ Lê Thị Mây, thì mấy ngón tay trái của tôi bị bỏng dộp. Nhưng nhìn bạn thơ ăn tô phở Hà Nội, toát mồ hôi, tỉnh lại, tôi lại mừng.

Nghĩ về phở Hà Nội lại nhớ cách ăn phở của Phùng Quán. Sinh thời, mỗi khi tôi ra Hà Nội, dù cơ quan có phòng khách, tôi cũng về “Chòi ngắm sóng” của Phúng Quán bên Hồ Tây trú ngụ ở đó. Anh Quán rất giỏi ẩm thực, sành làm bếp, nhưng anh nghèo nên anh có cách chế biến, cách ăn của anh : Rẻ mà sang!. Anh bảo :” Món gì Hà Nội anh cũng nấu nướng được, trừ phở”. Vì thời gian của anh là để uống rượu với bạn bè và để viết. Anh không có thời gian để chăm lo cho nước dùng suốt đêm được. Mà cái thơm ngon đặc trưng của phở, bao nhiêu bổ béo của phở là ở trong cái nồi nước dùng ấy. Thấy tôi thích phở, sáng nào anh cũng đèo xe đạp chở tôi đi ra chợ Châu Long, có khi ra phố Bát Đàn ăn phở. Anh bảo mình chỉ cần mua một bát phở nhỏ , bưng ra húp hết nước, rồi bưng bát đến cô hàng “cho anh xin ít nước nữa !”. Bao giờ người bán phở cũng sẵn lòng. Ăn như thế “lời gấp đôi”. Nói rồi anh vuốt râu cười…
Về nguồn gốc của phở người ta bảo phở bắt nguồn từ Nam Định, sau mới truyền lên Hà Nội. Từ chục năm lại đây có nhiều quán “ phở gia truyền Nam Định” mở tại nhiều thành phố trong Nam ngoài Bắc. Ở Đà Nẵng, Huế, Đồng Hới cũng có . Nhưng tôi ăn thấy không ngon được như phở Hà Nội. Nhưng so với các quán “phở mì chính” Hà Nội mở tại các địa phương thì phở Nam Định do chính người Nam Định vào làm ngon hơn, nên tôi thường ăn. Về cái tên phở người thì bảo là gọi theo tên một thứ súp hổ lốn ở Pháp (Pot-au-feu). Có người lại kể rằng, hồi Pháp mới sang ta, một người đầu bếp trại lính, nấu nồi nước phở phải hầm suốt đêm, sĩ quan Pháp đi tuần thấy nhà bếp còn đỏ lửa nên hỏi “fue?”, nghĩa là sao tối rồi mà còn lửa. Từ đó, “feu” nói trại thành “phở”.(?) . Dù nguồn gốc cái tên như thế nào, thì phở là âm Việt chính hãng và mãi mãi là hồn quê Việt, hương vị Việt .

Ôi, những ký ức phở Hà Nội cũng dậy mùi Tết đến nao lòng…

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.01.2012

LO TẾT THỜI BAO CẤP

LO TẾT THỜI BAO CẤP

Ngô Minh
Thoát khỏi thời “trăm thứ thứ gì cũng phân” vô cùng khó chịu ấy là một cuộc giải thoát vĩ đại. Nhưng công bằng mà nói, thời kỳ gian nan ấy, những “cán bộ mậu dịch” đã làm hết sức mình để năm nào cũng lo được cho hàng triệu gia đình có một cái Tết đàng hoàng. Đó là cũng là chuyện không thể quên… Những cái Tết thời bao cấp mới xa cách đây hơn 20 năm thôi, còn đậm trong trí nhớ của nhiều người, nhưng đối với thế hệ , 8X, 9X thì vô cùng lạ lùng khi nghe kể lại..
Đối với người Việt Nam, Tết Nguyên Đán là lễ trọng nhất trong năm . Dân gian diễu thầy bói : Số cô không giàu thì nghèo. Ba mươi Tết có thịt treo trong nhà. Nhưng ngẫm lại thì thầy bói đã nói rất đúng . Bởi vậy mà Tết đến, nhà nào cũng cố sắm cái Tết cho thật tươm tất dù trong lúc hàng ngày phải ăn bo bo, nước ruốc… Trên bàn thờ phải có chai rượu, lọ hoa, nải chuối, bánh chưng, bánh tét. Đây không chỉ là món ăn mà là chuyện tâm linh, hồn vía Tết. Tết phải có đĩa bánh, mứt, kẹo để tiếp khách. Phải có cành mai, cành đào cắm trong nhà. Thời kỳ ấy tôi là cán bộ tổ chức của Công ty Thực phẩm, rồi Sở Thương mại Bình Trị Thiên ( cũ), nên các cuộc họp bàn chuyện Tết, những đợt “đi chỉ đạo Tết” tôi đều có mặt. Có khi thức cả đêm ở lò mổ lợn Tết. Lo Tết ở đây là lo cho mấy trăm ngàn hộ gia đình cán bộ, công nhân và người ăn theo họ trong đối tượng chính sách có tem phiếu. Còn hơn 80 % nhân dân lao động ở nông thôn, thành thị tất nhiên là họ tự lo Tết …Người dân lo Tết theo cách riêng của họ, trên thị trường “nước nổi bèo nổi”. Cuối cùng ai cũng có cái Tết đàng hoàng như xưa nay vốn dĩ.

Tết truyền thống người Việt là “ Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ. Dây nêu tràng pháo bánh chưng xanh” . Nên trước Tết cả quý, lãnh đạo tỉnh sốt sắng về làm việc với lãnh đạo các ngành Thương mại, Lương thực để tính toán khả năng khai thác nguồn hàng, cung cấp Tết được những thứ gì, khả năng dự trữ, tổ chức phân phối sao. Sau đó ngành Thương nghiệp tỉnh nào cũng đã vắt giò lên cổ mà chạy. Tết là thước đo “chất lượng phục vụ” của cả năm. Đầu tiên là Ban cán sự Đảng , lãnh đạo ngành họp với công ty để bàn chuyện Tết. Bàn cãi tóe khói. Câu hỏi được nêu lên gay gắt là : Tết năm nay loại hàng gì đủ, nguồn ở đâu? . Hàng gì thiếu, kiếm ở đâu cho có , không kiếm được thì có thứ hàng gì thay thế ?. Sau đó là phân công cán bộ phụ trách từng “mũi công tác” như “mũi thịt lợn”, “mũi gạo nếp”; rồi “mũi đường”, mũi trà thuốc, pháo, bánh kẹo, củi, là dong, chuối thờ .v.v… Với quyết tâm không được để có hộ nào cán bộ không mua được “tiêu chuẩn” Tết. Ví dụ mỗi khẩu phải có 0,5 kg thịt lợn, 0,3 kg gạo nếp, hai lạng đậu xanh, một cân bánh kẹo, năm lạng mứt, một phong pháo.v.v…rất chi tiết, không thế đùa được . Thống nhất rồi mới tính toán và công bố “tiêu chuẩn Tết” năm nay có những thứ gì lên báo , rồi dán ở các cửa hàng thực phẩm, công nghệ phẩm, lương thực . Đã công bố công khai thì người tiêu dùng có quyền đỏi hỏi, có quyền phán xét. Căng thẳng lắm. Các giám đốc công ty, trưởng cửa hàng luôn vò đầu bứt tai vì lo. Mấy mặt hàng Tết không thể thiếu là : thịt lợn, gạo nếp, đậu xanh, chè gói, thuốc lá, rượu, nước mắm, hạt dưa, bánh kẹo, mứt gừng…rồi mì chính, hạt tiêu, củi, lá dong gói bánh, chuối nải để thờ.v.v.. Nghĩa là nhu cầu Tết xưa nay gồm những thứ gì đều tất tật được đưa vào kế hoạch cung cấp.

Ở Hà Nội thời đó, đi cửa hàng Mậu dịch mua hàng Tết như “đi chiến đấu”, cũng phải xếp hàng, chen lấn, xô đẩy, có khi cả ngày mới mua được suất của mình . Phải đi từ bốn năm giờ sáng. Dù cô mậu dịch viên khuôn mặt đầy vẻ ban ơn, cáu gắt, người mua vẫn kiên nhẫn chịu đựng. Cô cắt tem phiếu, ghi sổ, thu tiền rồi gọi tên cộc lốc, trịch thượng ném hàng cho người mua. Thế nhưng, vì một cái Tết gia đình, mọi người hàng mấy chục năm ròng đã quen chịu đựng, chẳng ai phản ứng gì. Mấy năm đầu, hàng Tết được bán từng mặt hàng một. Bán như thế thấy mậu dịch viên vất vả mà người mua hàng cũng phải chầu chực ở nhiều của hàng rất khổ. Nên người ta đã nghĩ ra cách đóng gói nhiều thứ hàng Tết vào trong một cái túi. Ở Hà Nội và các thành phố lớn, người ta đóng tất cả các loại hàng Tết trong túi nilông ( trừ thịt, gạo nếp, đậu xanh) in cành hoa đào hoặc hoa mai và dòng chữ “Chúc mừng năm mới”. Túi hàng Tết ai cũng như ai, đều có : hộp mứt thập cẩm đựng trong cái hộp bìa thô kêch, mẫu mã xấu xí, mấy lạng măng, miến, bóng bì, ít mộc nhĩ, nấm hương, gói mì chính nho nhỏ, một túi hạt tiêu , bánh đa nem, gói chè Hồng Đào hoặc Thanh Hương, bao thuốc Điện Biên hoặc Trường Sơn bao bạc , một chai rượu cam, rượu chanh Hà Nội, một bánh pháo tép…Còn thịt, gạo nếp, đậu xanh… thì đến cửa hàng xếp hàng mua trực tiếp. Ở các tỉnh thì người có tem phiếu trực tiếp ra cửa hàng mua. Sau này học tập Hà Nội , cũng đóng thành túi “Hàng Tết” như vậy, nhưng ít thứ hơn.

Tất cả thứ đó đối với từng hộ gia đình thì ít ỏi lắm, nhìn hàng mua về ai cũng thấy loãnh loãng, không vừa lòng vì còn thiếu nhiều thứ. Nhưng tính gộp chung cả tỉnh, cả ngành sẽ thành những con số khổng lồ. Thứ gì cũng lên đến vài trăm tấn, năm bảy chục tấn , hay vài chục vạn cái cả. Trong một cuộc họp lo Tết như thế, ông Phan Đình Chi, Giám đốc Sở Thương mại Bình Trị Thiên cũ quát :”Không lo đủ lợn Tết thì cán bộ cả ngành ta phải nộp lợn nuôi của gia đình mình vô cho đủ”. Anh Phan Đình Chi và những cán bộ thương nghiệp vất vả năm ấy bây giờ nhiều người không còn nữa. Nhưng hình ảnh gãi đầu vò tai vì lo lắng của các anh thì không thể quên . Hồi đó, cán bộ thu mua nào cũng về từng thôn xã để “kiểm kê” lợn cho Tết. Nắm đầu lợn “như công an nắm hộ khẩu” !. Họ ghi chép “hồ sơ lý lịch” con lợn nuôi từ bao giờ, đến Tết thì được bao nhiêu ký. Rồi họp thôn, họp xã công bố công khai các hộ có lợn Tết, để họ không bán ra “thị trường tự do”. Bí thư Đảng ủy xã phải đứng lên quán triệt, dặn dò. Rồi công bố chế độ đối lưu hàng hóa ưu tiên hơn ngày thường. Những vải tốt, đạm urê, chăn màn tốt.v.v..được chuẩn bị . Chặt chẽ thế mà không phải hộ nuôi lợn nào cũng bán lợn cho nhà nước, vì mậu dịch thời bao cấp luôn “mua như cướp”, giá chỉ bằng hai phần ba giá đầu nậu chợ đen mua, chịu không thấu. Người ta nuôi con lợn sáu bảy tháng ròng mà giá thu mua một cân lợn hơi chỉ đồng sáu, hai đồng, chỉ bằng một phần ba giá bán cho thương lái, ai mà không xót ruột !

Anh Phan Tấn Thanh, một thời là giám đốc Công ty thực phẩm Bình Trị Thiên, người gầy gò nhanh nhẹn, hiện đang sống ở Huế, đi bộ sáng nào tôi cũng gặp. Gặp nhau là dừng lại nói chuyện lo Tết thời bao cấp. Vào dịp Tết là anh thức cả đêm để tính toán. Người gầy rộc đi . Thời bao cấp tem phiếu thực phẩm chia ra nhiều loại : A1, A, B, C, E… Ở tỉnh không có phiếu A. Phiếu A chỉ có ở cửa hàng Tôn Đản, Hà Nội. Tỉnh chỉ có vài người hưởng phiếu B như Bí thư , chủ tịch tỉnh . Ở Huế có một người “dân” được hưởng phiếu thực phẩm loại B, đó là bà Từ Cung ( Từ Cung Hoàng thái hậu, vợ vua Khải Định, tên thật là Hoàng Thị Cúc ), mẹ vua Bảo Đại . Mới hay chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hóa cũng rất trân trọng đối với những nhân vật quan trọng trong triều đình nhà Nguyễn đang sống, dù triều Nguyễn đã sụp đổ từ năm 1945. Đến năm 1980 bà Từ Cung mới mất.

Anh Phan Tấn Thanh mở sổ cái to tướng theo dõi từng huyện. Cái sổ cái ấy ấy khổ lớn như giấy A3 bây giờ, đóng bìa cứng. Tôi thấy trong đó có từng cột ghi số lượng cán bộ, người ăn theo , hưởng tem phiếu gì của từng huyện thị trong tỉnh. Cẩn thận lắm. Số liệu không chỉ năm ngoái, năm kia mà hàng chục năm về trước. Cuốn sổ cái của anh Phan Tấn Thanh xứng đáng được đưa vào bảo tàng kinh tế Việt Nam. Tiếc là bây giờ không biết nó thất lạc đi đâu. Tôi nhớ trong sổ cái ấy, anh Thanh ghi rõ số lượng cán bộ công nhân viên và hưu trí cả tỉnh lúc đó là 600.000 người, cộng thêm các “đối tượng ăn theo” như trẻ em, người già được hưởng tem phiếu gấp ba nữa , rồi bộ đội, nên số người phải lo lên đến hơn 1,8 triệu. Bình quân các loại phiếu thực phẩm là 0,5 kg thịt một người trong tháng Tết, vị chi phải có 900 tấn thịt, công thêm nhu cầu quân đội và cầu giao tế của tỉnh, tổng số thịt lợn phải lo trong mỗi dịp Tết lên đến 1200 tấn. Một tạ lợn hơi khi mổ thu được 70 ký thịt , tính ra khối lượng lợn hơi là 1600 tấn. Muốn có 1600 tấn lợn hơi, phải thu mua và nuôi dự trữ cho được hơn 3000 con lợn trong một thời gian ngắn. Thật không dễ. Dự trữ thì phải có đủ cám lợn ăn, chuồng trại, người chăm sóc. Rất tốn kém. Nên các tổ thu mua phải đi về các làng xã, nằm cả tháng trời. Gay go nhất là lúc mổ thịt. Vì thời đó hầu hết gia đình cán bộ không có tủ lạnh, mà Tết chỉ trong 3 ngày, nên không thể cung cấp thịt sớm trước cả tuần được. Họ thường mua thịt cũng như các loại hàng Tết vào những ngày 28 Tết trở đi.

Các công ty, cửa hàng thực phẩm, lương thực phải mở thêm hàng chục điểm “bán hàng Tết” để đưa hàng Tết đến mọi gia đình đúng vào dịp Tết. Những đêm mổ thịt lợn Tết lãnh đạo Công ty Thực phẩm, các trưởng cửa hàng và anh em vận chuyển đều thức trắng ở Lò Mổ ở đường Huỳnh Thức Kháng Huế. 3 giờ sáng thịt lợn đã được chuyển về quầy bán lẻ…Có lần vào chiều 30 Tết tôi về Cửa hàng C ở đường Phan Đình Phùng, Huế, là nơi cung cấp thực phẩm cho các đối tượng phiếu C, D. Biết tôi ở phòng Tổ chức Công ty, mấy em mậu dịch viên trẻ như Liệu, Tiến, Lưu… dân Đông Hà, Đồng Hới bỗng òa khóc nức nở. Tôi hỏi sao khóc. Liệu bảo :” Bọn em không được về ăn Tết với bố mẹ rồi, phải trực đến 10 giờ đêm 30 Tết…”. Tôi ngậm ngùi an ủi :” Nghề phục vụ phải thế, rồi ra Tết về nghỉ dài hơn, em ạ…”. Đó là gái mậu dịch viên chưa chồng. Còn có chồng con rồi, thì chồng phải thay vợ làm dưa món, muối kiệu, hành, đi đánh bóng bộ tam sự, ngũ sự, mua cát bỏ bát nhang, đi xếp hàng mua hàng Tết ở các quầy hàng. Chiều 30 Tết phải nấu cúng tất niên, vì vợ về đến nhà tắm rửa xong là Giao thừa…
Ấy là chuyện những người lo thịt cho Tết. Ngoài thịt còn bao nhiêu thứ nữa như gạo nếp, kẹo, mứt, lá dong…Muốn có mỗi gia đình vài cân gạo nếp để gói bánh chưng, nấu xôi chè ông bà trong một cái Tết, ngành lương thực phải vô tận Đồng bằng Sông Cửu Long mua hàng trăm tấn gạo nếp. Kẹo, bánh, mứt , hạt dưa phải vô Sài Gòn mua, chuối thờ thì lên huyện miền núi A Lưới, Hướng Hóa hoặc vô tận Đồng Nai, Bình Phước, Khánh Hòa mới mua nhiều được. Thời đó cả nước dùng tiền mặt. Mỗi cái Tết Công ty Thực phẩm phải dùng xe con chở một lúc ba bì tải tiền ( năm sáu trăm triệu ) vô miền Nam mua hàng Tết về . Huế là xứ sở có nhiều bàn thờ, trang thờ nhất nước ta. Mỗi nhà trong mỗi cái Tết phải mua ít nhất năm bay nải chuối thờ. Có nhà mua tới vài chục nải. Lần đầu cung cấp chuối thờ, do vận chuyển kém nên chuối chở từ miền Nam ra bị xây xát, bầm vỏ, ba bốn xe tải chuối thờ đành đổ đi, lỗ cả trăm triệu đồng.

Đó là là chuyện lo Tết cho toàn tỉnh. Riêng từng cơ quan còn có sự “lo Tết” riêng. Ngoài tiêu chuẩn Tết Phòng Hành chính hoặc Công Đoàn trước Tết thường phân công nhau bủa về các địa phương, các nông trường , xí nghiệp mà mình thường quan hệ “năn nỉ” mua con lợn hay bò , ít gạo nếp, đậu xanh, chuối thờ … đem về chia thêm cho anh em. Được thứ gì tốt thứ đó, vì thứ gì cũng “đói “cả. Ngày 28, 29 Tết, bếp ăn tập thể của cơ quan mổ lợn. Thịt thì chia cho từng người. Lãnh đạo cũng như anh em đều bằng nhau, không phân biệt. Còn đầu, lòng , xương thì nấu các món để cả cơ quan ăn “bữa cơm tất niên” trước khi nghỉ Tết. Ăn bữa tất niên xong mọi người chia tay nhau, xe đạp treo lỉnh kỉnh túi thịt, túi gạo, nắm lá dong, nải chuối thờ …không khác gì đi chợ Đông Ba về. Ngày Tết cơ quan dán lịch phân công cán bộ “Trực Tết”. Cơ quan Sở Thương Nghiệp của tôi quy định trực Tết phải cả đêm, cả ngày. Mỗi buổi trực được cơ quan “bồi dưỡng một chiếc bánh chưng” to tướng, thứ bánh gói bằng nửa cân nếp. Trực cả ngày thì được hai chiếc bánh. Vui lắm…

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.01.2012

VỤ NÔNG DÂN NỔI DÂY Ở THÁI BÌNH

SỰ KIỆN NÔNG DÂN THÁI BÌNH NỔI DẬY NĂM 1997
Được đăng bởi nguyentrongtao vào lúc: 6:15 sáng ngày 20/01/2012 0 Bình luận
NTT – Trong bài “Bạo lực đỏ” tôi có nhắc tới sự kiện nông dân tỉnhThái Bình nổi dậy chống lại lãnh đạo chính quyền vi phạm luật đất đai và tham nhũng. Sự kiện này dù được nghe “truyền miệng” nhiều nhưng lại ít thấy có cuốn sách nào, tờ báo chính thống nào nói một cách đầy đủ và hệ thống. Mới đây TỈNH ỦY-HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN-ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH chỉ đạo cho ra đời cuốn TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH do NXB Văn hóa Thông tin xuất bản 2010 đã có 4 mục nói về sự kiện này.

Cuốn sách, theo lời giới thiệu của ông Bùi Tiến Dũng – Bí thư tỉnh ủy – Chủ tịch HĐND tỉnh giới thiệu, “gồm 5.000 mục từ với hơn 1.300 trang”, đáng được xem là một công trình từ điển bách khoa về Thái Bình.

Không ngại va chạm để nói đến những sự kiện lịch sử có tính bước ngoặt, lần đầu tiên một ấn phẩm, một công trình đồ sộ do Tỉnh Thái Bình xuất bản chính thức đưa Sự kiện Thái Bình 1997 vào sách dưới những đề mục nhỏ, như một sự công nhận lịch sử mà không hề chối bỏ.

Cuốn TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH là sách tra cứu và không phải ai cũng có thể sở hữu vì số bản in không nhiều. Đối với sự kiện Thái Bình năm 1997, có 4 đề mục nhỏ là: Vụ Quỳnh Hoa, Vụ Quỳnh Hội, Vụ Quỳnh Mỹ và Vụ Thái Thịnh.

“Khi nông dân ra phố” xin trân trọng giới thiệu lại toàn bộ 4 vụ này trong cuôn TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH để chúng ta cùng đọc và suy ngẫm.

1. Vụ Quỳnh Hoa
“Điểm nóng số 1 của tỉnh. Chiều ngày 16/6/1997, khoảng 300 người dân xã Quỳnh Hoa, huyện Quỳnh Phụ đã bắt giữ Bí thư Đảng ủy, chủ tịch UBND xã và Phó ban tài chính xã dong lên huyện, đi bộ trên quãng đường 7km dưới trời mưa không cho đội mũ nón, vừa đi vừa lăng mạ, chử bới, đánh đập. UBND huyện cứ người ra tiếp, trong cuộc đối thoại, yêu sách của dân tập trung vào việc đòi xử lý cán bộ xã tham nhũng, tiêu cực; huyện yêu cầu trả tự do cho cán bộ xã và hứa cử đoàn thanh tra về làm rõ, nếu cán bộ vi phạm sẽ xử lý.

Sau đó, tại xã Quỳnh Hoa vẫn tiếp tục tiếp diễn tình trạng lăng mạ, vây ép đòi cán bộ xã phải ký vào những văn bản do một số người thảo sẵn. Ngày 12/9/1997, 34 cán bộ xã Quỳnh Hoa gồm Đảng ủy, UBND, Công an, xã đội, các đoàn thể HTX nông nghiệp và 6/10 trưởng xóm mang 6 con dấu và đơn xin nghỉ việc lên trả cho huyện. Không khí ở địa phương rất căng thẳng, ngày nào cũng có hàng trăm người lên UBND xã chất vấn cán bộ. Ngày 12/11/1997, khoảng 400 người dân xã Quỳnh Hoa kéo lên UBND tỉnh khiếu tố, đòi gặp chủ tịch tỉnh.
Do không chấp nhận giải thích của lãnh đạo UBND tỉnh, một số người đã hành động quá khích, gây rối trật tự công cộng, lăng mạ chửi bới cán bộ trước cổng UBND tỉnh. Đoàn người tập trung ngòai cổng trụ sở UBND tỉnh từ sáng tới chiều tôi thì nhiều người trèo qua cổng và hàng rào tràn vào UBND tỉnh, đập phá cửa kính, hò hét, chửi bới.

Trước tình hình đó, ngày 13/11 cơ quan bảo vệ pháp luật đã bắt một số người phạm pháp quả tang trong đoàn khiếu kiện tại thị xã và tại xã Quỳnh Hoa. Đối phó lại, ngay chiều tối hôm ấy, tại xã Quỳnh Hoa hàng nghìn người bao vây cản trở không cho công an thi hành nhiệm vụ, lùng sục bắt giữ 23 công an và 1 cán bộ Viện kiểm sát nhân dân tỉnh; cướp 1 máy bộ đàm ném xuống ao, phá hỏng 1 xe ô tô; đối xử tàn nhẫn thô bạo với những người bị bắt đồng thời tổ chức rào làng, đặt chướng ngại vật, huy động thanh thiếu niên sử dụng dao kiếm, côn gậy tuần tra canh gác, liê tục đánh kẻng, gõ mõ báo động, kiểm soát chặt chẽ “nội bất xuất, ngoại bất nhập” gây không khí căng thẳng.

Trong khi đó, hàng trăm người ở các xã Quỳnh Mỹ, Quỳnh Giao, Quỳnh Thọ, An Ấp, An Thái cũng kéo sang Quỳnh Hoa, càng làm cho tình hình thêm phức tạp.

Sau 2 ngày thuyết phục vận động, đến 16h ngày 16/11/1997, 20 cán bộ chiến sĩ công an mới được trả tự do (4 chiến sĩ đã tự giải thoát)
Hoạt động của tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể xã Quỳnh Hoa hoàn toàn bị tê liệt, không kiểm soát được tình hình. Các đoàn công tác của tỉnh, huyện cũng phải rút khỏi Quỳnh Hoa. Sự kiện Quỳnh Hoa gây chấn động dư luận, thu hút sự quan tâm chú ý của cả nước.

Từ ngày 2 đến 4/7/1998, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình đã mở phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án “gây rối trật tự công cộng, chống người thi hành công vụ, bắt giữ người trái pháp luật” xảy ra tại Quỳnh Hoa. Vụ án có 40 bị cáo, đông nhất từ trước đến nay ở Thái Bình, 28 bị cáo bị tạm giam, 12 bị cáo tại ngoại, một số bị cáo là thương binh, đối tượng chính sách.

Đào Văn Tá bị xử phạt 11 năm 6 tháng tù giam, Nguyễn Văn Hội 9 năm tù giam, Nguyễn Xuân Hùng 8 năm tù giam. Các bị cáo khác bị phạt tù từ 7 năm đến 18 tháng tù cho hưởng án treo. Đồng thời cơ quan cảnh sát điều tra Thái Bình cũng quyết định khởi tố vụ tham ô tài sản XHCN đối với Nguyễn Thanh Vận, Phan Văn Phền, Chủ nhiệm và nguyên chủ nhiệm HTX nông nghiệp Quỳnh Hoa.”

Trích: TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH. TỈNH ỦY-HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN-ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH. NXB VĂN HÓA THÔNG TIN. 2010. Trang 1082 – 1083.

2. Vụ Quỳnh Hội
“Sự kiện khởi đầu của tình hình mất ổn định chính trị – xã hội ở Thái Bình. Trong 2 tháng cuối 1996, hàng trăm người ở xã Quỳnh Hội huyện Quỳnh Phụ nhiều lần lên xã, huyện, tỉnh khiếu tố về việc UBND huyện Quỳnh Phụ không thực hiện quỹ đất 5% là trái với chủ trương của tỉnh; các khoản dân phải đóng góp quá lớn; cán bộ xã có hành vi tham nhũng, tiêu cực. Dân yêu cầu cấp trên thanh tra, xử lí cán bộ sai phạm.

Ngày 5/12/1996, UBND huyện Quỳnh Phụ thành lập đoàn thanh tra liên ngành, tiến hành thanh tra việc xây dựng cơ bản, ngân sách xã và kinh tế HTX Nông nghiệp. Kết quả thanh tra xây dựng cơ bản (trạm bơm, cải tạo mương máng, làm đường giao thông…) bước đầu phát hiện có dấu hiệu tham ô 90.600.000 đồng.

Thanh tra kinh tế, tài chính xã, phát hiện chi sai nguyên tắc 48.275.000 đồng. Ngoài ra còn có nhiều biểu hiện tiêu cực trong việc mua thóc giống, vay tiền cá nhân sử dụng cho HTX với lãi suất cao…

19h30 ngày 26/12/1996, Chi nhánh điện Quỳnh Phụ ngừng cấp điện cho xã vì còn nợ chi nhánh 3.800.000 đồng. Hàng nghìn người trong xã kéo đến nhà chủ tịch UBD xã thắc mắc và một số người quá khích đã đập phá tài sản, làm thiệt hại khoảng 3.000.000 đồng.

Ngay sau khi sự việc xảy ra, dưới sự chỉ đạo của Lãnh đạo công an tỉnh, của Thường trực huyện ủy, UBND huyện Quỳnh Phụ, lực lượng công an và các ngành đã tập trung giải quyết nhằm ổn định tình hình.

Ngày 26/12/1996, Công an huyện Quỳnh Phụ đã khởi tố vụ án gây rối trật tự công cộng, khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn Toán, Phạm Văn Quýnh, Nguyễn Tiến Mừng.

Ngày 14/1/1997, khởi tố điều tra vụ án tham ô, cố ý làm trái gây thiệt hại tài sản XHCN, khởi tố 3 bị can: Đặng Đình Thảo (Bí thư Đảng ủy xã, nguyên Chủ nhiệm HTX), Nguyễn Quốc Dũng (kế toán trưởng), Vũ Thị Tám (thủ quỹ HTX nông nghiệp).” Trích: TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH. TỈNH ỦY-HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN-ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH. NXB VĂN HÓA THÔNG TIN. 2010. Trang 1083.
3. Vụ Quỳnh Mỹ
Vu gây rối trật tự nghiêm trọng nhất. Ngày 6/5/1997, Phạm Hữu Hoành, Phạm Văn Tới và Nguyễn Văn Ty tự nhận là đại diện cho nhân dân đứng ra in giấy mời, triệu tập Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã, Bí thư chi bộ, xóm trưởng, trưởng các ban ngành của xã về Hội trường UBND để họp bàn chống tham nhũng.

Tại đây Phạm Hữu Hoành công khai đả kích , phê phán chính quyền xã, kích động quần chúng kéo lên huyện, tỉnh yêu cầu xử lý những cán bộ mà họ cho là tham nhũng.

Xét hành vi của Phạm Hữu Hoành và Phạm Văn Tới có dấu hiệu về tội “lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm tới lợi ích của Nhà nước và xã hội”, ngày 8/5/1997, Công an huyện Quỳnh Phụ đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt Phạm Hữu Hoành và Phạm Văn Tới. Lập tức, từ ngày 9 đến 11/5/1997, hàng nghìn người xã Quỳnh Mỹ và các xã lân cận liên tiếp kéo lên huyện đòi thả người bị bắt.

Chiều 10/5, khoảng 3.000 người đã tràn vào Viện kiểm sát nhân dân huyện, một số người đã đập phá phòng làm việc và lăng mạ, súc phạm Viện trưởng; thu và xé tài liệu của Viện kiểm sát nhân dân.

Tình hình càng căng thẳng khi hàng trăm người của xã Quỳnh Hồng cùng số dân xã Quỳnh Mỹ kéo đến bao vây trụ sở công an huyện. Trong suốt 6 giờ đồng hồ (từ 19 giờ ngày 10/5 đến 1 giờ sáng ngày 11/5) khoảng 2.000 người tụ tập trước trụ sở công an huyện. Lợi dụng đêm tối, một số người quá khích hò hét, chửi bới, xô đổ cổng, dậu của Công an huyện và trường Đảng huyện; dùng gạch đá tấn công trụ sở và cán bộ chiến sĩ công an đang làm nhiệm vụ. Họ còn dùng các vật cản chắn đường ô tô, ngăn không cho lực lượng công an tỉnh và công an các huyện tăng cường; đồng thời tổ chức săn lùng, đánh đuổi các chiến sĩ công an. 11 cán bộ chiến sĩ công an bị thương, nhiều tài sản bị hư hỏng, trong đó có 3 xe chữa cháy, 1 xe cứu thương, 1 xe chở quân, vỡ nhiều lá chắn, hỏng toàn bộ cánh cửa nhà 2 tầng, hệ thống chiếu sáng và nhiều máy móc thông tin liên lạc..

Để giảm bớt áp lực của quần chúng, tạm ổn định tình hình, Thường trực Tỉnh ủy và UBND Tỉnh đã họp bàn thống nhất chủ trương tạm tha 2 đối tượng bị bắt. Được thể, một số người ở Quỳnh Mỹ đã ép Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện phải ký vào văn bản họ viết sẵn, thừa nhận việc bắt người là sai rồi công bố trên Đài truyền thanh xã Quỳnh Mỹ và tổ chức ăn mừng thắng lợi.

Trích: TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH. TỈNH ỦY-HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN-ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH. NXB VĂN HÓA THÔNG TIN. 2010. Trang 1083 – 1084.

4. Vụ Thái Thịnh
Vụ tham nhũng, tiêu cực và gây rối trật tự công cộng điển hình ở huyện Thái Thụy.

Ngày 25/6/1997, 60 người dân xã Thái Thịnh lên UBND tỉnh kiến nghị giải quyết thanh quyết toán các công trình xây dựng của xã và tố cáo Chủ tịch xã vi phạm luật đất đai, tham nhũng. Buổi tối cùng ngày, quần chúng họp tại 2 địa điểm xóm 1 và xóm 5 để nghe thông báo kết quả đi khiếu kiện ở tỉnh về.

14h ngày 26/6/1997, trong lúc Đảng bộ xã đang họp bàn chủ trương thực hiện công văn số 279 của UBND tỉnh, hơn 200 người kéo đến bao vây trụ sở, yêu cầu xã phải thực hiện ngay công văn số 279. Chủ tịch xã ra giải quyết yêu cầu mọi người giải tán. Quần chúng không nghe và có lời lẽ thô tục, lăng mạ.

5h chiều cùng ngày, Chủ tịch huyện cùng đoàn cán bộ huyện Thái Thụy về xã Thái Thịnh để giải quyểt, hứa sẽ chỉ đạo xã thực hiện nghiêm túc công văn 279 của UBND tỉnh. Có tới hàng nghìn quần chúng tụ tập tại trụ sở UBND xã. Những người quá khích đã ào lên vây giữ Chủ tịch huyện và đoàn cán bộ. Lực lượng công an tìm cách đưa được Chủ tịch huyện ra ngoài. Chủ tịch xã và Trưởng công an huyện bị một số phần tử xấu hành hung trọng thương. 6 cán bộ khác của xã, trong đó có Bí thư Đảng ủy và 3 an ninh viên bị xâm phạm đến thân thể. Toàn bộ bàn ghế, cánh cửa, tủ đựng tài liệu, tăng âm, loa đài của xã và HTX bị đập phá và mất 13,600,000 đồng quỹ UBND xã.

Sau đó, họ kéo đập phá nhà, tài sản gia đình Phạm Văn Chiêm (Chủ tịch xã), Phạm Văn Nghị (Phó Chủ tịch xã), Đinh Thị Tâng (Cán bộ địa chính xã), gây nhiều thiệt hại.

Tình hình rối loạn diễn ra từ 7 giờ tối ngày 26/6 đến 1 giờ sáng ngày 27/6/1997.

Để giải quyết ổn thỏa tình hình xã Thái Thịnh, Thường trực Tỉnh ủy Thái Bình đã chỉ đạo 3 ngành Công an, Viện Kiểm sát, Tòa án tiến hành đồng thời việc điều tra truy tố những đối tượng quá khích, gây rối trật tự công cộng, vi phạm pháp luật với việc truy tố những cán bộ xã có hành vi tham nhũng, tiêu cực là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới việc khiếu kiện phức tạp của quần chúng.

Ngày 3/7/1997, Công an tỉnh đã thực hiện lệnh bắt 5 đối tượng chủ yếu (Vũ Văn Kiện, Vũ Văn Tuấn, Phạm Văn Vịnh, Ngô Thị Duyên, Phạm Văn Khuynh) trong 36 đối tượng gây rối trật tự công cộng, cố ý hủy hoại tài sản XHCN, tài sản công dân, cố ý gây thương tích, xảy ra đêm 26/6/1997 tại Thái Thịnh.

Đồng thời, Công an tỉnh khẩn trương điều tra, xác định Phạm Văn Chiêm (Chủ tịch xã từ 1991 – 1997) đã cấp trái phép 23.686m2 đất và đã cùng Phạm Văn Thiện (Phó ban tài chính xã) vi phạm các quy định về chế độ, nguyên tắc quản lí kinh tế nhà nước, gây thất thoát ngân sách xã hơn 220 triệu đồng. Chiêm tham ô 24.670.000 đồng, Thiện tham ô 63.804 ngàn đồng.

Một số cán bộ chủ chốt khác của xã như Phạm Thanh Nghị (Phó chủ tịch xã) , Phạm Văn Thái (Bí thư Đảng ủy xã), Phạm Huy Khản (Phó Bí thư Đảng ủy xã), Phạm Thị Duyên (Thủ quỹ UBND xã) đồng phạm gây thất thoát 154 triệu đồng ngân sách xã. Ngoài ra, Nghị còn tham ô 13 triệu đồng, Thái 11 triệu đồng, Khản hơn 2 triệu đồng, Duyên 5 triệu đồng, Tăng hơn 13 triệu đồng.
Trích: TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH. TỈNH ỦY-HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN-ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH. NXB VĂN HÓA THÔNG TIN. 2010. Trang 1084 – 1085.

Nguồn: nguyentrongtao.org

THỦ PHẠM GÂY TAI NẠN GIAO THÔNG NGUY HIỂM
CHƯA ĐƯỢC NHẬN DIỆN

Ngô Minh

Bình quân mỗi năm nước ta có hơn 12.000 người chết vì tai nạn giao thông và cũng chừng ấy người bị thương, tàn tật. Việt Nam là nước số người chết do tại nạn giao thông nằm trong số vài nước cao nhất thế giới. Số người chết vì tại nạn giao thông ở nước ta hàng năm lớn hơn nhiều lần số người chết năm cao nhất do bom đạn Mỹ trong chiến tranh phá hoại miền Bắc thời chống Mỹ. Có một con số giật mình : Năm 2008, số người chết vì tai nạn giao thông trên 1 triệu người ở Anh là 38, Mỹ là 71, Đức 52, Italia 67, Nhật bản 32, thì Việt Nam là 284, gấp gần 10 lần Nhật bản ! Đó chuyện cách đây bốn năm. Bây giờ thì tỷ lệ người chết tai nạn giao thông ở Việt Nam chắc cao hơn các nước nhiều. Có nhiều tác nhân gây tai nạn giao thông : đường sá chật chội, xuống cấp, bọn tham nhũng “ăn” hết vốn nên đường vừa mới làm đã hư hỏng, đầy ổ voi ổ gà; Thiết kế đường sá không hợp lý; phương tiện giao thông cơ giới ngày càng tăng. Nhà nước lại khuyến khích sản xuất ô tô, xe máy để kiếm ngân sách, quảng cáo ô tô xe máy vẫn tràn ngập màn ảnh nhỏ ; nhiều xe cũ quá đát tham gia giao thông , quản lý phương tiện và người tham gia giao thông kém; ý thức tuân thủ pháp luật của người tham gia giao thông kém; pháp luật chế tài chưa đủ mạnh; cảnh sát giao thông phẩm chất thấp, ăn hối lộ, nên phương tiện tham gia giao thông không còn được kiểm soát chặt chẽ.v.v..

Nhưng có một tác nhân gây tại nạn giao thông rất nguy hiểm, diễn ra hàng ngày mà không được các cơ quan chức năng nhận diện. Đó là KHẨU HIỆU,QUẢNG CÁO, TRÊN ĐƯỜNG. Tôi đã nhiều lần đi xe đò tuyến Hà Nội – Huế, Vinh -Huế , Thành phố HCM – Huế. Điều rất khó chịu trên các đoạn đường QL1A là các đoạn đường đi qua các thị trấn, thị xã, thành phố như Nam Hà, Ninh Bình, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị.v.v.. ở đâu cũng đỏ rực khẩu hiệu và quảng cáo. Ở các sống đường một chiều, biểu ngữ, khẩu hiệu nền đỏ chữ vàng cột đèn nào cũng có, chói chang, lóa cả mắt . Ngày lễ nào có khẩu hiểu ngày đó : Đại hội đảng các cấp, Bầu cử quốc hội, HĐND, ngày sinh các vị lãnh tụ ; ngày khai giảng năm học mới… cho đến việc sinh đẻ có kế hoạch, đặt vòng, thắt ống dẫn tinh, bảo vệ môi trường, ngày “sạch phố sạch làng”.v.v..đều đua nhau tương ra đường. Hiện đại hơn, ở nhiều địa phương, còn làm cổng chào chắn ngang đường, chạy khẩu hiệu điện tử nhấp nháy suốt đêm ngày. Khẩu hiệu đã chật đường rồi lại thêm quảng cáo bảng to , bảng nhỏ, ngay bên đường và trên các cánh đồng cạnh đường, xanh đỏ tím vàng : quảng cáo từ các nhãn hiệu xi măng “sức bền thế kỷ”, bia “hàng đầu thế giới”, đến khách sạn 5 sao “ưng sao được vậy”… Đó là trên đường quốc lộ. Ở các thị xã ,thành phố, khẩu hiệu luôn giăng đỏ rực phố lớn, phố nhỏ. Mỗi ngày một chủ đề kỷ niệm, tuyên truyền đều tương hết lên phố. Cứ chiều tối, hai người được thuê đi treo khẩu hiệu đẩy một xe ba gác các loại băng khẩu hiệu nền đỏ chữ vàng, đến cột đèn đường hay cây cổ thủ, chỗ nào tiện là trèo lên treo. Sáng mai mọi người thức dậy đã thấy đỏ phố, đỏ đường. Chưa hết, quảng cáo, khẩu hiệu còn in lên thành xe buýt, xe ca lượn lờ khắp đường khắp phố. Tôi nghĩ có lẽ chưa đất nước nào sống bằng khẩu hiệu, quảng cáo như đất nước mình. Lịa nghĩ dường như ngành văn hóa, các doanh nhân không còn chỗ nào để giới thiệu khẩu hiệu, quảng cáo, nên mới tương cả ra đường , biến con đường thành không gian quảng cao. Gơ-ben, bộ trưởng bộ tuyên truyền của Hítle phát xít có một triết lý về tuyên truyền :” Điều không có, nói mãi mọi người phải tin là có”. Có lẽ vì triết lý đó mà quảng cáo ở ta giăng rợp đường chăng ?

Các cơ quan “sản xuất” ra khẩu hiệu là Ban tuyên giáo, Bộ văn hóa, sở văn hóa hàng ngày mang khẩu hiệu, quảng cáo treo ngang dọc đường, phố với ý đồ là nhắc nhở, tuyên truyền cho mọi người chấp hành chủ trường của Đảng và Nhà nước, nhưng lại quên mất chủ trương “an toàn giao thông”. Các địa phương bán vị trí đọc dường cho các Công ty Quảng cáo để họ dựng biển quảng cáo, nhằm tăng thu ngân sách, không thèm đến xỉa đến việc tai nạn giao thông đang gnayf càng gia tăng trên đường . Các cơ quan sản xuất khẩu hiệu, quảng cáo không hề nghĩ đến điều nguy hiểm là có khẩu hiệu, tức là có thông tin, thì người đi đường nhất thiết phải đọc xem khẩu hiệu nói gì, rồi giây lát quên mất mình đang lái xe ! Vì đây là một hình thức “tuyên truyên cưỡng bức”, buộc mọi người dù không thích cũng phải đọc, phải xem. Những người lái xe con, xe tải, xe máy đi dọc đường cũng thế. Họ không thể không đọc khẩu hiệu trong lúc lái xe. Khi người lái xe đang chăm chú lái xe với tốc độ cao, mà gặp phải câu khẩu hiệu giăng ngang mắt, lóa mắt, chỉ cần liếc mắt mấy phần trăm giây thôi đã không còn làm chủ tay lái. Những thời điểm đó tai nạn giao thông sẽ xẩy ra. Nhiều lái xe đang đi trên trên đường bằng, không đèo dốc gì cũng tông vào xe đi ngược chiều. Nguyên nhân có thể là buồn ngủ, có thể là phút giây liếc khẩu hiệu, quảng cáo bên đường. Đây là một thực tế cần nghiêm túc nhìn nhận.

Ở nhiều nước, trên các con đường ô tô quốc gia , hoặc các đường trong thành phố đều không bao giờ có quảng cáo, khẩu hiệu. Nhà nghiên cứu văn hóa Mai Khắc Ứng, một năm sống ở Canada về kể rằng ở nước này trên đường ô tô, trên phố chỉ có biển chỉ đường giao thông, không có bất cứ một khẩu hiệu , quàng cáo nào hết. Xem ti-vi, phim, thời sự quốc tế cũng dễ dàng nhận thấy điều đó. Có nước như Brazin, họ còn ra lệnh cấm các biển quảng cáo lớn trên các nóc nhà thành phố. Những con đường của họ gọi là “con đường sạch” . Còn ở ta đường quốc lộ, đường phố là những “con đường bẩn”, con đường ô nhiễm khẩu hiệu, quảng cáo, đang hàng ngày làm tăng thêm nguy cơ tai nạn giao thông . Đây là vấn đề rất lớn, không thể coi thường.

Cho nên, để hạn chế tại nạn giao thông, chúng tôi đề nghị Nhà nước phải có lệnh cấm việc giăng khẩu hiệu, quảng cáo trên đường, trên phố và triển khai thực hiện nghiêm túc như lệnh đội mũ bảo hiểm. Cắt khẩu hiệu treo trên đường trên phố là hình thức tuyên truyền cũ kỹ, lỗi thời, lại “lợi bất cập hại”, rất nguy hiểm cho dân lái xe và người đi đường. Hiện nay có rất nhiều phương tiện hiện đại hơn để phổ biến khẩu hiệu, quảng cáo tới mỗi người như báo chí, web., blog, nhà văn hóa Không nên duy trì mãi phương thức tuyên truyền cổ lỗ và nguy hiểm ấy . HÃY LOẠI BỎ KHẨU HIỆU, QUẢNG CÁO, TRẢ LẠI ĐƯỜNG CHO PHƯƠNG TIỆN VÀ NGƯỜI THAM GIA GIAO THÔNG.

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.01.2012

THỜI GIAN MÁU

Nhà thơ Bùi Minh Quốc vừa gửi cho QUÀ TẶNG XỨ MƯA bài thơ Thời gian máu. Bài thơ tác giả viết từ năm 2005 mà như mới viết từ tuần trước, sau vụ cướp đầm, phá nhà anh Vươn của Chihns quyền huyện Tiên Lãng Hải Phòng

BÙI MINH QUỐC

THỜI GIAN MÁU

Việt Nam tôi
Thời gian trôi trong máu chảy

Máu dân tuôn
Bọn bất lương cộp lòe dấu đỏ
Cộp cộp
Thi nhau cướp
Cướp
Cướp đất
Cướp trời
Cướp tất
Phập phập
Thi nhau đâm
Đâm
Tóe máu hồn liệt sĩ

Việt Nam ơi
Thời gian trôi máu chảy.

Việt Nam ơi
Máu sôi
Lũ bất lương liệu đấy !

Thăng Long 3 giờ sáng
26.1.2005
chớm xuân Ất Dậu

Đăng bởi: Ngô Minh | 07.07.2009

THƠ MỪNG TUỔI HẢI BẰNG

MỪNG TUỔI BẠN THƠ GIÀ

Mừng anh Hải Bằng 64 tuổi

chớp mắt đà sáu tư

mà mến yêu chưa đã

“Mưa Huế”, ” Mưa lại về”…(*)

đời ni buồn chi lạ


chớp mắt thành trẻ con

khóc cười chan hỡn dỗi

đi ăn mày nuôi thơ

quên ung thư, quên tuổi !


chớp mắt tờ bạc mới

ai lì xì đầu năm

thưa, ta còn đợi lớn

khi thơ chưa tới rằm…


Huế
,2.3.1993

——–
(*): Tên những tập thơ của  Hải Bằng

Đăng bởi: Ngô Minh | 07.07.2009

TRANG THƠ TRẦN VÀNG SAO

TRANG THƠ TRẦN VÀNG SAO

Sao3

BÀI THƠ CỦA MỘT NGƯỜI YÊU NƯỚC MÌNH

Buổi sáng tôi mặc áo đi giày
ra đứng ngoài đường
Gió thổi những bông nứa trắng bên sông
Mùi toóc khô còn thơm lúa mùa qua
Bầy chim sẻ đậu trước sân nhà
Những đứa trẻ đứng nhìn ngấp nghé
Tôi yêu đất nước này như thế
Mỗi buổi mai
Bầy chim sẻ ngoài sân
Gió mát và trong
Đường đi đầy cỏ may và muộng chuộng
Tôi vẫn sống
vẫn ăn
vẫn thở
như mọi người
Đôi khi chợt nhớ một tiếng cười lạ
Một câu ca dao buồn có hoa bưởi hoa ngâu
Một vết bùn khô trên mặt đá
Không có ai chia tay
Cũng nhớ một tiếng còi tàu.
Mẹ tôi thức khuya dậy sớm
Năm nay ngoài năm mươi tuổi
Chồng chết đã mười mấy năm
Thuở tôi mới đọc được i tờ
Mẹ thương tôi mẹ vẫn tảo tần
Nước sông gạo chợ
Ngày hai buổi nhà không khi nào vắng người đòi nợ
Sống qua ngày nên phải nghiến răng
Cũng không vui nên mẹ ít khi cười
Những buổi trưa buổi tối
Ngồi một mình hay khóc
Vẫn thở dài mà không nói ra
Thương con không cha
Hẩm hiu côi cút (Đọc tiếp…)
Đăng bởi: Ngô Minh | 08.07.2009

80 năm trước, thi hào Tagore đến Sài Gòn

NGÔ QUANG HIỂN

 

Rabindranath Tagore (1861-1941).

Rabindranath Tagore (1861-1941).

TTO – Trong lịch sử văn hóa thế giới, ít có một người có năng lực sáng tạo phong phú và phi thường như Tagore. Ông đã sáng tác 52 tập thơ, 42 vở kịch, 12 cuốn tiểu thuyết, hàng trăm truyện ngắn hay, hàng ngàn bài hát có giá trị; ngót ngàn bức tranh, trong đó có nhiều bức đã được trưng bày trong các bảo tàng mỹ thuật lớn trên thế giới.

Ông còn là một nhà triết học lừng lẫy, nhà giáo dục tâm huyết, nhà nghiên cứu văn học Ấn Độ cổ đại và ngôn ngữ Bengali.

Sau chiến tranh thế giới lần thứ I, ông đi khắp nơi trên thế giới để cổ vũ cho phong trào đấu tranh giành độc lập của các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Ông đã đến Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc, Anh, Pháp, Ba Tư và cả Việt Nam.

Năm 1913, với tập thơ Dâng, ông trở thành người châu Á đầu tiên lãnh giải Nobel về văn học.

Năm 1924, tin Rabindranath Tagore sẽ đến Việt Nam đã làm tốn hao không biết bao nhiêu sách vở, bút mực. Hầu như các báo, nhất là làng báo Sài Gòn, nơi Tagore dự định dừng chân ba ngày trên đường du thuyết khắp thế giới để cổ vũ cho hòa bình, đã dành nhiều trang bài, đăng ảnh, giới thiệu về thân thế, sự nghiệp văn chương của nhà thi sĩ vào loại bậc nhất của Á Đông này. Ai ai cũng háo hức chờ đón vị khách quý đến từ Ấn Độ. Nhưng người mong đợi Tagore đến Sài Gòn nhiều nhất vẫn là tầng lớp trí thức yêu nước.

Thi sĩ Đông Hồ cho rằng trí thức Việt Nam khoảng mấy năm đó “say mê với các nhà cách mạng ra mặt chống đối với vũ lực đế quốc. Họ thấy Tagore cũng như Gandhi thuộc về hạng người chí sĩ hy sinh ái quốc dám lên tiếng, dám hành động chống xâm lăng, chống đế quốc thực dân để đòi hỏi độc lập cho nước nhà. Họ không được công khai đón tiếp Phan Sào Nam, Nguyễn Thượng Hiền thì họ đón Tagore cho hả lòng hả dạ”… (Đọc tiếp…)

THƯ GỬI PHẠM VĂN ĐỒNG VÀ VÕ NGUYÊN GIÁP
Hoàng Xuân Hãn

Hoàng Xuân Hãn
Sau đây là bức thư cuối cùng của Hoàng Xuân Hãn, viết gửi chính quyền Việt Nam, qua Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp. Bức thư do chính Hoàng Xuân Hãn mang tay đến Tòa Đại Sứ Việt Nam tại Paris, nhờ chuyển. Trên đường về nhà, Hoàng Xuân Hãn đã trượt chân ngã. Vào nhà thương ít hôm sau mất.
PARIS ngày mồng 2 tháng Giêng năm Bính Tý
Thân gửi anh VĂN
Thưa ANH
Đối với ANH đã nhậm trọng-trách trong nước, những kẻ đạt lời đến ANH, ắt dùng những tiếng xưng-hô cực long- trọng. Vậy tôi xin Anh thứ lỗi đã giữ lời xưng kín-đáo thân- mật trong buổi gian-nan để cùng nhau mừng năm mới và chúc Anh vẫn mạnh-khoẻ để trường thọ và chỉ-giáo cho con em. Chúng ta là những kẻ tủi-nhục cho nước khi trẻ, mà may-mắn hơn nhiều bạn, còn sống đến ngày nay, nhận thấy đất nước thống-nhất độc-lập. Nhưng lại sợ rằng lớp trẻ, hiện nay là sinh-lực của nước, sẽ chóng quên tủi nhục xưa và công lao những người như các Anh.
Tôi đã có lúc biện-luận về điều khác biệt giữa sự thắng ngoại-xâm và sự giải-phóng đất nước. Nước ta chỉ có hai cuộc giải-phóng mà thôi: thời 1416-1427 với Lê Lợi cùng Nguyễn Trãi, và thời 1945-1975 với Bác Hồ cùng các Anh. Tự nhiên cả hai mặt phải nhờ gắn-bó giữa mưu-lược lãnh-đạo và kiên-cường nhân-dân. Khi ngoại-xâm thì nhân-dân ai cũng căm-tức và lo-sợ cho tương-lai; còn trong cuộc giải-phóng thì địch đã ở chung với nhân-dân lâu trong nước, rồi có thể dùng quyền-lợi để chia rẽ và giảm tinh-thần nhân-dân. Vì vậy, cái cần-thiết nhất trong cuộc giải-phóng là cái ĐỨC của những người lãnh-đạo, cái Đức để cho địch không tìm cách mua-chuộc mình và làm gương cho nhân-dân giữ lòng yêu nước. (Đọc tiếp…)

HƯỚNG TỚI 1000 NĂM THĂNG LONG- HÀ NỘI:

HÀ NỘI 36 PHỐ PHƯỜNG…

Ngô Minh

Rủ nhau chơi khắp Long Thành
Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai…
36 phố phường Hà Nội…, câu thơ dân gian ấy ai cũng thuộc. Nhưng 36 phố phường là những phố nào và có tự bao giờ ? Đó là điều không phải ai cũng biết . Từ ngày vua Lý Công Uẩn xuống chiếu dời đô về Đại La ( 1010) , đặt tên Kinh đô là Thăng Long ( Rồng bay), thủ đô chia làm 2 khu vực: Khu vua ở và thiết triều gọi là Thăng Long Thành và khu dân cư nơi làm ăn buôn bán của mọi tầng lớp sĩ nông công thương. Dân quê gọi là phố Kẻ Chợ , vì mỗi phố sản xuất và bán một thứ sản vật nổi tiếng. Khu dân cư này cũng có thành bao quanh , gọi là Thăng Long ngoại thành. Cả hai khu vực này được tổ chức thành một đơn vị hành chánh, gọi là phủ Ứng Thiên. Đến năm 1014 đổi là Nam Kinh. Sang đời Trần đổi là Trung Kinh , có 61 phường. Đến đời Lê , mới tổ chức lại thành 36 phường . Đến đời Hồ gọi là Đông Đô. Đến thời nhà Lê, sau chiến thắng quân Minh, đổi thành Đông Kinh. Đến năm 1831, thời Minh Mạng , cái tên HÀ Nội mới ra đời , gồm 4 phủ : Hòa Đức ( tức Thăng Long cũ), Thường Tín, Ứng Hòa, Lý Nhân. Phủ Hòa Đức, Thăng Long cũ ấy chính là 36 phố phường xưa. 36 phường thời Lê ấy , lại chia thành 3 loại theo nghề nghiệp làm ăn : Thứ nhất là các phường làm nghề nông , vẫn giữ nguyên tên gọi đến ngay nay như Quảng Bá, Nghi Tàm, Tây Hồ, Xã Đàn, Thịnh Quang…, rồi các phường buôn bán, phường thợ thủ công. Với quá trình đô thị hóa, nhiều phường nông nghiệp biến thành phương buôn bán, như phường Giang Khẩu ( HÀ Khẩu) ở ngay cửa sông Tô Lịch là một nơi nhộn nhịp trên bến dưới thuyền, thuyền bè thương nhân trong và ngoài nước vào buôn bán, làm ăn. Cạnh đó còn các phường buôn bán, thủ công mới hình thành nên nhiều phố Kẻ Chợ như hàng hàng The ( tơ , lụa, the ), hàng Vôi , hàng Giấy,v.v.. Đến thế kỷ thứ 18, thương nhân Hà Lan, Anh , Bồ Đào Nha , nhiều nhất là Hoa Kiều đã đến Hà Nội mở các tiệm cao lâu, các cửa hàng dịch vụ, buôn bán. Từ đó tạo hình thành 36 phố phường sầm uất . Có bài ca dao nổi tiếng, giúp mọi người nhớ tên 36 phố phương xưa . Xin chép theo trí nhớ phục vụ bạn đọc, ai thấy có câu nào chưa đúng bổ sung để có một bài ca dao hoàn chỉnh:
Rủ nhau chơi khắp Long Thành
Ba mươi sau phố rành rành chẳng sai
Hàng Bồ, Hàng Bạc, Hàng Gai
Hàng Buồm ,Hàng Thiếc, Hàng Hài, Hàng Khay
Mã Vĩ, Hàng Điếu, Hàng Giày
Hàng Lờ ,Hàng Cót, Hàng Mây, Hàng Đàn
Phố Mới, Phúc Kiến , Hàng Than
Hàng Mã, Hàn Mắn, Hàng Ngang, Hàng Đồng
Hàng Muối, Hàng Nón, CẦu Đông
Hàng Buồn, Hàng Đậu, Hàng Bông, Hàng BÈ
Hàng Thùng, Hàng Bát, Hàng Tre
Hàng Vôi, Hàng Giấy, Hàng The , Hàng Gà
Quanh đi đếïn phố Hàng Da
Trải xem phừơng phố thật là cũng xinh
Phồn hoa thứ nhất Long Thành
Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ
Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ
Bút hoa xin chép nên thơ lưu truyền. (Đọc tiếp…)
Đăng bởi: Ngô Minh | 13.07.2009

SÁCH TRẮNG CỦA VIỆT NAM CÔNG BỐ NĂM 1979

Bạn đọc kính mến. Tình hình biên giới Trung Quốc từ trước đến nay luôn luôn nóng vì mưu mô xâm chiếm lãnh thổ lân bang của tư tưởng Đại Hán. Hiện nay tình hình biên giới trên biển giữaViệt Nam-Trung Quốc đang căng thẳng mỗi ngày. Hôm 7/7/2009, tàu chiến Trung Quốc đã đâm vào tàu tuần tra của Hải QuânVieetjø nam trên lãnh hải VN làm 6 chiến sĩ ta bị thương, một số khác bị mất tích. Cho nên việc đọc lại tư liệu công bố trong Sách trắng VẤN ĐỀ BIÊN GIỚI GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC giúp chúng ta nhìn rõ hơn một mặt thật của “người anh em” láng giềng xấu tính. Cuốn sách này do một đảng viên ĐCSVN 70 tuổi ở HÀ Nội tên là HMT đánh máy gửi cho BAUXITEVIETNAM.INFO.


VẤN ĐỀ BIÊN GIỚI GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC
Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội-1979
Phụ trách bản đưa in: Phạm Xuyên, Nguyễn Hanh
Trình bày bìa: Nghiêm Xuân Thành
In 5.100 cuốn, khổ 12,5×19 tại Nhà máy in Tiến bộ-Hà Nội. Số in 528, Số XB 15/79
Xong ngày 15 tháng 4 năm 1979. Nộp lưu chiểu tháng 4-1979

VẤN ĐỀ BIÊN GIỚI GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC


I- Sự hình thành biên giới lịch sử giữa Việt Nam và Trung Quốc và sự thoả thuận năm 1957-1958 về biên giới giữa hai nước.

1– Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng giáp giới nhau trên đất liền và trên biển (vịnh Bắc Bộ). Đường biên giới giữa hai nước đã được hình thành qua quá trình lịch sử lâu dài. Trước khi bị Pháp áp đặt chế độ thực dân, Việt Nam đã là một nước độc lập có chủ quyền, có đường biên giới rõ rệt, ổn định với Trung Quốc.
Cách đây gần 100 năm, Chính phủ Pháp và triều đình nhà Thanh Trung Quốc đã ký kết các Công ước 1887-1895 giải quyết vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, chính thức công nhận về cơ bản đường biên giới vốn có đó. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 14.07.2009

KỴ HÚY DƯỚI TRIỀU NGUYỄN

KỴ HUÝ DƯỚI THỜI NGUYỄN

Hiểu những kỵ húy dưới triều Nguyễn giúp ta đọc và hiểu hiểu được những sự biến đổi của tên người,tên làng trong các văn sách một thời. QUÀ TẶNG XỨ MƯA  nhặt được trên mạng tài liệu này, thấy cũng có ích nên  công bố ở đây để mọi người cùng biết.

Húy, là tên người chết, phải tránh đi, không được nhắc đền. Đó là tập tục cổ truyền của người Việt, đi đến chỗ cưỡng hành ở cấp quốc gia đối với nhà cầm quyền.
Với Nhà Nguyễn, mỗi triều vua đều có công bố những chữ húy và chỉ thị rõ ràng về cách tránh. Vừa lên ngôi, năm Minh Mạng nguyên niên (1820) vua đã có lệnh cấm về các chữ huý. Qua năm Minh Mạng thứ 6 (1825) lệnh này được lặp lại và nói rõ, nếu ai vi phạm sẽ chiếu luật vi chế, xử tội nặng nhẹ tuỳ trường hợp. Những chữ này được xếp vào loại quốc huý, nghĩa là cả nước phải kiêng. (Đọc tiếp…)

Thiếu một tấm lòng

(Thư của Nguyễn Đắc Xuân gởi nhạc sĩ Phạm Tuyên sau khi đọc bài báo “Nhạc Phạm Duy và những điều cần phải nói” trên An Ninh Thế Giới Cuối Tháng (4-2009

mail

NDXNhà văn Nguyễn Đắc Xuân
Huế, ngày 22 tháng 5 năm 2009
Anh Phạm Tuyên kính mến,
Có lẽ anh rất bất ngờ khi nhận được cái thư khá dài nầy của tôi. Trước tiên tôi xin lỗi đã làm mất thì giờ lão nhạc sĩ rất quý mến của người bạn vong niên ở Huế của anh.
Vừa rồi tôi được đọc bài báo “Nhạc Phạm Duy và những điều cần phải nói” trên An Ninh Thế Giới Cuối Tháng (4-2009) của ba anh Trọng Bằng, Phạm Tuyên và Hông Đăng, tôi cảm thấy có sự bất bình thường, định viết một bài phản biện gởi cho báo, nhưng nghĩ lại thấy như thế không tiện nên ngồi gõ cái thư nầy gởi cho anh và qua anh có thể trao đỏi ý kiến của tôi với hai anh bạn của anh. Chuyện muốn nói với ba người mà bắt một mình anh phải nghe quả là không công bằng. Mong anh thứ lỗi.
Anh Pham Tuyên kính mến,
Cảm tưởng đầu tiên của tôi: Bài báo của các anh không có điều gì mới về tiểu sử trích ngang của nhạc sĩ Phạm Duy. Trong bộ sưu tập của tôi, tôi có hàng trăm bài của các lực lượng lưu vong chống Cộng đã dội “gió tanh, mưa máu” lên Phạm Duy vì cái tội Phạm Duy hưởng ứng Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản VN. Và, tôi cũng có không ít những bài viết phê phán Phạm Duy ở ngay trong nước Việt Nam trước và sau 30-4-1975. Phạm Duy là một nhạc sĩ, một người bình thường, chứ không phải là một kẻ sĩ. Con người bình thường thì có khối chuyện hay và cũng lắm chuyện dở. Báo chí, sách vở và chính Phạm Duy đã, đang và cũng sẽ viết tiếp những chuyện dở của Phạm Duy. Trong hồi ký Phạm Duy đã viết nhiều chuyện dở của Phạm Duy mà những ai chưa đọc hồi ký ấy thì không thể biết được. Nhưng viết những chuyện dở ấy để hiểu mặt phải mặt trái của một nhạc sĩ lớn chứ không phải viết vì đố kỵ, vì trâu cột ghét trâu ăn giống như vụ hoạ sĩ Trịnh Cung viết về chuyện “tham vọng chính trị” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vừa công bố hồi đầu thang 4-2009 vừa qua. (Đọc tiếp…)
Đăng bởi: Ngô Minh | 16.07.2009

ẨM THỰC PHÙNG QUÁN

Ngô Minh

ẨM THỰC PHÙNG QUÁN

25Mỗi văn nghệ sĩ có một “gu” thưởng thức ẩm thực riêng , không lẫn . Các nhà văn Vũ Bằng, Nguyễn Tuân sinh ra và lớn lên ở Hà Nội , nên rất sành ăn và viết rất hay về các món ăn tinh tế và đài các của Thủ Đô . Nhà thơ Phùng Quán cũng có một cá tính ẩm thực rất đặc biệt và mạnh mẽ , rất giống phong cách thơ văn anh.
Đời Phùng Quán rất khổ. Cho đến năm cuối đời ( 1-1995 ), vẫn chưa có một ngày sống an nhàn . Anh phải bao nhiêu năm lăn lộn giữa đời, làm đủ mọi việc để kiếm sống, nuôi con và viết văn . Bởi thế mà Trong trăm nghìn nỗi đói / Tôi nếm trải cả rồi ! Hoàn cảnh sống đó , anh đã biết tạo ra một phong cách ẩm thực : nghèo mà lịch lãm , ít tiền vẫn làm ra được món ăn hấp dẫn. Đó đích thực là ẩm thực theo lối Huế ! Nhưng đối với Phùng Quán , ngoài chuyện nghèo , ông còn có một một quan niệm về ẩm thực rất cao cả , nhân văn , tôi tạm gọi là Ẩm thực Phùng Quán. Ví dụ , từ chuyện thi hào Đỗ Phủ ( thời Đường, Trung Quốc) chạy giặc trên chiếc đò nhỏ trên sông Tương , nhịn đói đã 10 ngày. Sau đó được chức sắc trong vùng biết tin, đem rượu thịt mời. Ông ăn uống no say rồi bị “ thương thực” lăn ra chết. Gọi là chết no , nhưng thực chất là chết đói. Phùng Quán đã làm bài thơ tuyệt tác “ Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe “ : …Em ơi, nếu Đỗ Phủ / Vai khoác áo lông cừu / Bụng no đến muốn mửa / Viết sao nổi câu thơ / Nghìn năm cháy như lửa:
Cửa son rượu thịt ôi
Ngoài đường xương chết buốt (Đọc tiếp…)
Đăng bởi: Ngô Minh | 17.07.2009

CHUYỆN ĐÔI BỜ HIỀN LƯƠNG

55 năm Hiệp Đinh Geneve ( 20/7/1954- 20/7/2009) :

CHUYỆN ĐÔI BỜ HIỀN LƯƠNG
BÂY GIỜ MỚI KỂ

HL2

Ngô Minh

Từ ngày 20 tháng 7-1954, Hiệp định Giơnevơ ký kết cho đến cuối năm 1964 đôi bờ giới tuyến Hiền Lương lặng im tiếng súng, nhưng đây là 11 năm diễn ra cuộc đối đầu văn hóa nóng bỏng , quyết liệt nhất giữa ta và bên kia là Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Có nhiều chuyện lạ lùng ít người biết trong cuộc đấu tranh ấy…

HIỀN LƯƠNG- CHIẾC CẦU HAI MÀU SƠN
Cầu Hiền Lương bắc qua sông Bến Hải tại km 735 trên đường thiên lý Bắc -Nam là biểu tượng của sự chia cắt đất nước. Bến Hải là do người Pháp gọi từ một địa danh ở thượng nguồn có tên là Bến Hải. Sông Bến Hải xưa tên là Minh Lương. Đó là tên của một làng, nơi hợp lưu 2 sông Bến Hải và Sa Lung. Thời Minh Mạng, do húy chữ “Minh” nên tên làng , tên sông đều đổi thành Hiền Lương. Cầu Hiền Lương do Pháp xây dựng lại 5- 1952, dài 178 mét, 7 nhịp, trụ bằng bê tông cốt thép , mặt cầu lát gỗ thông, rộng 4 mét…Suốt mười mấy năm trời, bà con thân thích hai bờ sông không được qua cầu thăm viếng nhau. Một lần, một số anh em lính Sài Gòn giác ngộ đã lái xe chạy thẳng qua cầu ra Bắc , nhưng đến giữa cầu thì bị bọn cảnh sát ngụy bắn thủng lốp và bị bắt ! (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.07.2009

Tàu thì lạ sự hèn hạ thì quen

Bạn đọc kính mến, vừa qua, báo chí Việt Nam loan tin : một “tàu lạ” đã đâm vào tàu đánh cá của ngư dân Lý Sơn Quảng Ngãi trên Vùng biển Việt Nam tại Trường Sa làm tàu đánh cá bị chìm, rồi tháo chay. Báo chí nhà nước gọi là “tàu lạ” vì sợ phạm húy… Thực ra tàu lạ đó là tàu ai, thì ai cũng rõ. Ai vào đấy nữa. Đến cái tên của bọn cướp mà cũng không được gọi , đó không hèn hạ thì là gì ! Chúng tôi xin tải về đây bài vủa nhà báo Huy Đức để bạn đọc cùng chia sẻ.


Huy Đức

Như vậy là lại thêm một vụ “Tàu lạ” đâm vào tàu đánh cá của ngư dân mà không được kịp thời phát hiện. Ủy ban An Ninh Quốc Phòng nên tổ chức nghe điều trần ngay, để nếu xét thấy cần thiết thì phê chuẩn kinh phí, tăng cường nhân lực, khí tài cho các lực lượng bảo vệ dân trên Biển. Có lẽ không nên chậm trễ việc quyết định bố trí “Hạm đồn Biên phòng Hoàng Sa”.

Ngư dân Việt Nam bị thương sau vụ đâm của "tàu lạ"

Ngư dân Việt Nam bị thương sau vụ đâm của "tàu lạ"

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.07.2009

GS.TS Võ Hồng Anh, con gái tướng Giáp qua đời

GS.TS Võ Hồng Anh, con gái tướng Giáp qua đời


19/07/2009 09:55:57


LTS: GS – TS Võ Hồng Anh, con gái của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã qua đời vào 16h ngày 18/7/2009. Để hiểu hơn về chị, Bee.net.vn đã đăng lại cuộc phỏng vấn của nhà báo Lương Bích Ngọc với chị vào năm 2003. Chúng tôi xin đăng lại bài này như là một nén nhang viếng chị.


Đại tướng và con gái Võ Hồng Anh. ảnh Trọng ThanhĐại tướng và con gái Võ Hồng Anh. ảnh Trọng Thanh

Đạitướng Võ Nguyên Giáp và  vợ là Nguyễn Thị Quang Thái

Đạitướng Võ Nguyên Giáp và vợ là Nguyễn Thị Quang Thái

 

“… Năm 1946 – khi được gặp lại Ba lần đầu, tôi đã nhất định không nói một lời nào, kể cả khi ông bế tôi ra chỗ vắng, chỉ với một câu hỏi: “Có nhớ, có thương Ba không…”. Có lẽ, đó là tiền lệ cho kiểu “hiểu không lời” giữa hai cha con cho mãi về sau này”.

Chị Hồng Anh, đã nói như vậy trong cuộc trò chuyện về những góc đời thường của Đại tướng.

…Từ khi biết đọc, biết viết, tôi thuộc từng đoạn dài trong những lá thư Ba tôi gửi về, những lá thư bao giờ ngoài phong bì cũng có câu đề: “Hồng Anh, con gái Anh Văn…” Và tôi thích nhất bức ảnh Ba tôi mặc quần áo bộ đội, đội cái mũ Vệ Quốc đoàn có gắn sao phía trước mà người gửi về cho tôi… (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.07.2009

NGẨN NGƠ GÁI THÁI TẮM TIÊN

HUYỀN THOẠI TẮM TIÊN TÂY BẮC

Trần Vân Hạc

hac1a

Người ta vẫn kháo nhau, lên Tây Bắc mà xem con gái Thái tắm tiên. Con gái Thái da trắng như hoa ban, uyển chuyển với những đường cong tuyệt mỹ. Con gái Thái dịu dàng, hiền thục…

Mới nghe có vẻ như thô và phàm tục, nhưng với những người đã từng ở Tây Bắc, hoặc am hiểu văn hóa Thái thì cảnh con gái Thái tắm tiên là một phần không thể tách rời trong văn hóa Thái và nếu thiếu cảnh trữ tình, nên thơ ấy, suối ngàn Tây Bắc sẽ kém đi vẻ lung linh huyền ảo. Tây Bắc sẽ phần nào kém đi vẻ đẹp dung dị nhưng vô cùng lãng mạn, nên thơ.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.07.2009

CUỘC HỘI NGỘ NGHÌN NĂM GỐM VIỆT

Ngô Minh

CUỘC HỘI NGỘ NGHÌN NĂM GỐM VIỆT

                                                       

Cổng vào "phố gốm" được kết bằng gốm trang trí cung đình Huế xưa

Cổng vào "phố gốm" được kết bằng gốm trang trí cung đình Huế xưa

                               

 

Gốm  mỹ thuật của họa sĩ Lê Bá Đảng

Gốm mỹ thuật của họa sĩ Lê Bá Đảng

                Chưa bao giờ ở Cố đô Huế lại có một cuộc HỘI NGỘ GỐM VIỆT hoành tráng và hấp dẫn như dịp Festival nghề truyền thống Huế vừa qua . Cổng vào phố gốm được kết bằng hàng ngàn hoa văn gốm cung đình của Xí nghiệp sản xuất gốm cổ Huế làm cho đất trời trở lên cổ kính. Gốm là sự hòa quyện tuyệt vời giữa đất, nước, lửa với tâm hồn con người . Những tác phẩm gốm , tinh hoa văn hóa dân tộc từ bao đời, đều về hội ngộ ở Huế : Cổ vật gốm quý hiếm nhiều thế kỷ ở nhà trưng bày 15 Lê Lợi; sản phẩm gốm đương đại của các làng nghề nổi tiếng ở đường đi bộ Nguyễn Đình Chiểu; rồi gốm nghệ thuật Hà Nội ; Gốm Lê Bá Đảng , gốm sứ bang giao hoặc ký kiểu ở Trung Quốc của triều Nguyễn, gốm “vô danh” vớt lên từ Sông Hương của nhà nghieencuwus Hồ Tấn Phan và gốm từ các dòng sông ở Nam Bộ trong chuyên đề triễn lãm “Dòng sông kể chuyện”… Nghĩa là nghìn năm gốm Việt Nam đang điểm danh lực lượng. Gốm là một trong ít thương hiệu Việt hiện được cả thế giới biết đến . Nghệ sĩ nhân dân- họa sĩ Lê Huy Quang, Trưởng đoàn Hội nghệ sĩ tạo hình có mặt ở Huế mấy hôm nay, tâm đắc :” Có thể nói rằng mặt hàng sứ thì ta thua Trung Quốc, nhưng phải tự hào rằng gốm của ta không thua kém gì gốm Trung Quốc về giá trị niên đại và giá trị nghệ thuật. ”. Có lẽ vì thế mà dù trời rất nóng , các “địa chỉ gốm” vẫn đông chật người… (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.07.2009

VĨNH BIỆT GS-TS VÕ HỒNG ANH

Vĩnh biệt GS.TS Võ Hồng Anh: “Tưởng nhớ một con người thực sự!”

21/07/2009 12:58:32
- Sáng nay (ngày 21/7) lễ viếng GS.TS Võ Hồng Anh đã diễn ra trang trọng từ 7h – 9h tại Nhà tang lễ Bộ Quốc phòng. Rất nhiều cá nhân và tổ chức đã đến viếng và gửi vòng hoa tiễn đưa bà. Phần mộ của bà được đặt tại nghĩa trang Thanh Tước (Hà Nội). SAu đây là một vài hình ảnh tiêu biểu trong  đám tang.

GS-TS y khoa Nguyễn Huy Dung- cậu của bà Hồng Anh

GS-TS y khoa Nguyễn Huy Dung- cậu của bà Hồng Anh

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.07.2009

THƠ NGÔ MINH ĐƯỢC GIẢI THƯỞNG

Bạn đọc wordpress.com kính mến. NGÔ MINH làm thơ từ hơn 30 năm nay, đã có rất nhiều bài thơ được nhiều độc giả thuộc nằm lòng, cũng có rất nhiều bài thơ , tập thơ được trao giải thưởng ở Địa phương và Trung ương . Bắt đầu từ hôm nay, mỗi tuần QUÀ TẶNG XỨ MƯA  sẽ  giới thiệu những bài thơ, tập thơ được giải, để bạn đọc  cùng chia sẻ và hiểu thêm về tác giả chủ blog này. Hôm nay xin giới thiệu tập thơ CHÂN DUNG TỰ HỌA do Hội VHNT Bình Trị Thiên ấn hành năm 1989. Bìa sách tranh xé giấy của Nguyễn Trọng Tạo; Lời tựa của Hoàng Phủ Ngọc Tường . Đây là tập thơ thứ 2 của Ngô Minh. Tập thơ được UBND tỉnh Thừa Thiên Huế tặng giải B Giải thưởng VHNT Cố Đô lần thư I ( 1989- 1993).
Tập thơ 32 bài, xin giới thiệu 4 bài thơ   và lời tụa của Hoàng Phur Ngọc Tường.

TẬP THƠ CHÂN DUNG TỰ HỌA

VẦN CŨ I

ta về
đêm cỏ kiếm tìm
non tây khuyết chén
đàn chìm nốt sương

uống đi
mấy kiếp đoạn trường
rượu suông nhấm với
tình suông ơ hờ…

nát nhàu
vần cũ tờ thơ
trăng treo phù phiếm
gió chờ phù vân

uống đi
nghe vỡ tiếng đàn
nghe ta nằm với
muôn vàn
nín câm…
4-1988
( Bài đã được tuyển trong tập thơ
LỤC BÁT VIỆT NĂM 2 thế kỷ, NXB Văn học,2000)
214256-gh

NGÔ MINH

HÃY CẦU SIÊU CHO NHỮNG NGƯỜI
CHẾT TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM


Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Năm bảy năm lại đây , hoạt động tôn giáo ở Việt Nam có những nét mới : Đó là việc tổ chức các Đại lễ cầu siêu cho linh hồn các liệt sĩ , anh hùng là bộ đội, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến… đã hi sinh đời mình cho non sông Việt Nam nói liền nột dải. Điều đó vô cùng cần thiết và đáng ghi ơn giới Tăng ni, Phật tử đã hành động vì tâm linh đất nước. Mỗi lần dự Đại lễ cầu siêu là lòng tôi lại trào dâng niềm xốn xang day dứt. Đất nước mình nghìn năm đánh giặc, lớp lớp thịt xương thành đất nuôi người. Người chết ngoài mặt trận, người chết vì bom rơi đạn lạc khắp chốn cùng quê , cả những người nước ngoài xa gia đình, tổ quốc sang Việt Nam , rồi chết nới chiến địa… Tất cả họ, những người đã chết trong hai cuộc chiến tranh ở Việt Nam , dù bên này hay bên kia chiến tuyến đều là CON NGƯỜI với bao nhiêu đơn đau, oan ức, tủi khổ, bao nhiêu hoài vọng, khát khao mang theo về bên kia thế giới, mà chưa một lần siêu thoát. Huế là nơi tôi đang sống, đến ngày Thất thủ kinh đô ( 1885), đến ngày Mậu THân ( 1968), cả thành phố cúng, cả thành phố cầu siêu, cả thành phố thắp nhang khấn vái, chia sẻ với những linh hồn…
tôi tìm tôi lửa đốt
mỏi rời chân đêm đứng chờ vợ đẻ
cửa hạnh phúc đầy tiếng rên la
bắt chước ai tôi cắm nén nhang bên gốc xà cừ
cầu bình an cho con
bình an cho mẹ
sao lại không nguyện cầu cho bình an
Huế trăm năm lớp lớp oan hồn
chính tôi một oan hồn còn sống ( Ngô Minh) (Đọc tiếp…)

Ngô Minh

TRÒ CHUYỆN VỚI TÁC GIẢ

TIỂU THUYẾT THỜI CỦA THÁNH THẦN

Nhà văn Hoàng Minh Tường- Ảnh NM
Nhà văn Hoàng Minh Tường- Ảnh NM

Hoàng Minh Tường là nhà văn nổi tiếng với những cuốn tiểu thuyết viết về nông thôn được đông đảo bạn đọc mến mộ như Thủy hỏa đạo tặc ( Giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam năm 1997), Đồng sau bão, Thời của Thánh thần …Đặc biệt, tiểu thuyết Thời của Thánh thần hơn một năm nay đã trở thành cuốn sách Việt Nam bán chạy nhất, được nhiều người tìm đọc nhất. Đầu tháng 7-2009 vừa qua, anh quyết định “thưởng” cho đứa con trai út của mình vừa thi đậu vào lớp 10 một chuyến du lịch Huế. Theo anh, Huế và Nha Trang là hai thành phố du lịch đẹp nhất , đáng đi thăm nhất ở miền Trung. Đã đi du lịch thì nên đến Huế vì Huế là trầm tích văn hóa nhiều tầng . Vô Huế, Hoàng Minh Tường thuê khách sạn, rồi mượn xe máy của nhà văn Nguyễn Quang Hà chở con đi  thăm lăng tẩm, chùa chiền Huế, về  tắm biển Thuận An, về  chợ quê Cầu ngói Thanh Toàn , đi thăm bạn bè văn chương  và thưởng thức những món ăn nổi tiếng Huế… Mấy ngày nắng nôi nóng bức thế mà bố con nhà văn cứ đi trên đường ngày hai buổi…Tôi phải tin nhắn, điện thoại mấy lần mới có dịp ngồi với anh vài tiếng đồng hồ ở Khách sạn Bến Ngự trò chuyện về chuyện hậu Thời của  Thánh thần TCTT) (Đọc tiếp…)

“THỔ ĐỊA GIỚI TIÊU” ĂN CƯỚP  !

moc3

 Trong một bài viết trên trang Bauxitevietnam.info có  phần phụ lục , tác giả HSP có đưa mấy ảnh chụp cọc mốc giới kỳ lạ của người Trung Quốc. Tác giả  HSP viết :”  một thân hữu từ Côn Đảo đem về cho tôi một hiện vật rất liên quan và có ý nghĩa. Đó là một trong số rất nhiều cột mốc của Trung Quốc sản xuất hàng loạt , cắm quanh Côn Đảo, nhằm khẳng định Côn Đảo là thuộc về Trung Quốc, thế đấy ! Tôi gửi đến các độc giả ảnh chụp chi tiết cột mốc này”. Trời đất ơi, té ra lâu này người Trung Quốc đều xác  định  đất đai thuộc chủ quyền của họ theo kiểu đó  cả ư ? Cứ  đức thật nhiều cột mốc ghi chữ Trung Quốc, có cọc nhọn, rồi ném  xuống, cắm xuống bất cứ lãnh địa nào thuộc nước khác mà họ thèm,  một thời gian sau họ kêu lên “Đây là đất Trung Quốc, chúng tôi có bằng cớ là Thổ địa giới tiêu đây !” Nhà văn Trần Nhương  đã viết rằng,  cái cột mốc địa  giới này giúp ” các bạn hiểu thêm các đồng chí Trung Quốc với thói quen Bốn phương vô sản đều là anh em nên các đồng chí bốn tốt của chúng ta mang cọc mốc đóng xuống quanh Côn Đảo. Vài năm sau khai quật lên là có bằng cớ coi Côn Đảo là của Trung Quốc. Không biết các đồng chí  16 chữ vàng Trung Quốc có chôn mốc này ở Tân Rai, Nhân Cơ không hở ông Đoàn Văn Kiển ? (Đọc tiếp…)

Ngô Minh

HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG
NHỮNG MẠCH VỈA THAN ĐÁ

                      Thật may mắn và hạnh phúc là Hoàng Phủ NgọcTường đã vượt qua được cơn tai biến hiểm nghèo của số phận , để được tiếp tục đến với đọc giả cả nước trong suốt mười một năm nay. Đối với tôi , khi bên chiếu rượu ngồi nghe anh Tường nói, hay đọc bút ký ,nhàn đàm, thơ của Hoàng Phủ là những lần tôi được nghe các “cua” ngoại khóa sâu sắc về nhân văn và nghề văn. Tôi tự biết rằng, trong vốn liếng để hành trình trên đường đi không đến , con đường văn chương thăm thẳm của mình, có một phần “ học lỏm” được từ Hoàng Phủ. Văn chương Hoàng Phủ Ngọc Tường là mạch vỉa than đá cung cấp nguồn năng lượng cho tâm hồn con người . Đọc Hoàng Phủ , tôi đã “thọ giáo” được rất nhiều bài học về quý báu về nhân cách sống và nghề văn…

Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường khi chưa bị bệnh
Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường khi chưa bị bệnh

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 01.08.2009

THƠ NGÔ MINH VIẾT VỀ HÀ NỘI

Ngô Minh

THU GỌI

miên man anh mùi thu quấn quýt
tóc cốm tóc ô mai ủ chín mắt cười
nghê nga mấy vòng hồ tóc rượu
quờ tay mới hay em ở cuối trời

.
em ở cuối trời sao Hà Nội gió
gió sấu gọi thèm gió hoa sữa gọi mong
bóng ai trên đường giống em, anh gọi
lá vàng rơi nghẹn lối thu quên

.
thu chân dài vòng eo nắng uốn
lẽo đẽo anh khát đỏ mắt tìm
nhớ nhung chi cho thu se thắt
thu kề bên mà anh loạn nhịp tim

.
rồi một mình cùng thu Hà Nội
anh tựa gốc bàng cầm chút nắng rơi
em yêu ở cuối trời có biết
Hà Nội thu em có một người…imagesCA5LW67M

 

 

  (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 02.08.2009

EM BIẾT BỘ TRƯỞNG SẼ… IM LẶNG

EM BIẾT BỘ TRƯỞNG SẼ… IM LẶNG
Bùi Hoàng Tám

Bùi Hoàng TámThưa Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân, nếu là thí sinh dự kỳ thi đại học vừa qua, em sẽ làm đề văn này như dưới đây. Và em cứ băn khoăn tự hỏi, nếu Bộ trưởng là người chấm, thầy có đủ dũng cảm cho điểm em không? Em biết, Bộ trưởng sẽ im lặng. Vì trung thực rất cần sự dũng cảm và giá của nó không hề rẻ. Lời nói thật đã hơn một lần chết chém Nhưng may mắn thay, được sống một cuộc sống trung thực đang, đã và sẽ là khát vọng lớn nhất của nhân loại. Vâng, nhưng em biết thầy sẽ… im lặng!

Đề bài

Câu II (3 điểm):
Trong thư gửi thầy hiệu trưởng của con trai mình, Tổng thống Mĩ A. Lin-côn (1809-1865) viết: “Xin thầy hãy dạy cho cháu biết chấp nhận thi rớt còn vinh dự hơn gian lận khi thi.” (Theo Ngữ văn 10, Tập hai, NXB Giáo dục, 2006, tr.135).
Từ ý kiến trên, anh/chị hãy viết một bài văn ngắn (không quá 600 từ) trình bày suy nghĩ của mình về đức tính trung thực trong khi thi và trong cuộc sống

Bài làm:

Trong thư Ngày 20/11, Bộ trưởng đã cảnh báo: “sự giả dối vẫn đang tồn tại trong ngành và trong xã hội”. GS Hoàng Tụy, một nhà khoa học nổi tiếng bởi sự chính trực đã từng kêu lên: “Dân tộc Việt Nam không có truyền thống giả dối. Bệnh giả dối là một nỗi quốc nhục”.
Vâng. Giả dối là nỗi quốc nhục nhưng buồn thay, chúng ta đang phải sống chung với sự giả dối dù trong sâu thẳm, mỗi người đều khao khát được sống trung thực với mọi người, trung thực với chính mình. Thế nhưng ai cho họ sự trung thực? Làm sao có thể sống trong sự trung thực khi xung quanh tràn lan sự lọc lừa, dối trá? (Đọc tiếp…)

Lược trình sức ép của Trung Quốc ngày càng gia tăng lên Việt Nam

Minh Hoàng[*]
Kỹ sư chế tạo máy TP HCM

Sức mạnh đang phất lên và mưu đồ hung hăng của Trung Quốc

Theo báo Economist, ngân sách quốc phòng TQ năm 2008 là 85 tỷ đô la, đứng thứ nhì sau Hoa Kỳ. Với Project 048, TQ đang xây hàng không mẫu hạm ở đảo Changxinh cạnh Thượng Hải và sẽ có 2 chiếc hoạt động vào năm 2015. Lực lượng hải quân có khoảng 55 tàu ngầm, 70 khu trục hạm, 50 tàu đổ bộ và 40 tàu chiến ven bờ. TQ đã chế xong 2 trong 6 chiếc tàu ngầm nguyên tử lực tối tân, loại Jin-class (094) và trang bị hỏa tiển JL-2 có tầm xa 7.200km. Trên bộ, TQ trang bị hỏa tiễn nguyên tử di động DF-31 và DF-31A. TQ sắp sử dụng hàng không mẫu hạm NAe Sao Paulo của Brazil để thực tập bay/đáp theo kỹ thuật CATOBAR (phóng khi lên, dùng dây móc khi xuống). Còn Việt Nam (VN) vừa mua của Nga 6 tàu ngầm Kilo ($1.8 tỷ đô la) và 8 máy bay Su-30MK2 ($400 triệu đô la) không kèm vũ khí hay thiết bị kỹ thuật, khác nào chim ưng không móng (máy bay mới của Nga là Su-35), so ra khó thể làm cho TQ ngại ngùng khi tính toán chiến tranh. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 04.08.2009

Trường ca Hoàng Sa – Trường Sa

Bạn đọc kính mến. Anh Nguyễn Hữu Viện ở Pháp vừa comment vào ngominhblog một bài thơ dài Trường ca Hoàng Sa – Trường Sa thể hiện bầu nhiệt huyết sục sôi của một đứa con xa nước trước việc biển đảo của Tổ Quốc đang bị kẻ xấu xâm lấn từng ngày. QUÀ TẶNG XỨ MƯA  xin đăng  nguyên văn trường ca này để bạn đọc cùng thưởng thức. Rất cám ơn anh Nguyễn Hữu Viện

 Trường ca Hoàng Sa – Trường Sa

Trường Sơn Tây nhớ Trường Sa Đông

50 đứa con biệt ly chia tay nhau theo Cha xuống biển rộng
Hoàng Sa – Trường Sa
Trường Sa Đông

50 đứa con từ ly chia tay nhau theo Mẹ lên rừng
Trường Sa Đông – Trường Sơn Tây
Hiện thực Giấc mơ Âu Cơ – Lạc Long Quân
Hình thành Tổ Quốc Việt Nam ngày nay

* * *

Trên Đảo Mộng nhớ Trường Sa
Em bảo sao lạ anh không nhớ đến Hoàng Sa ?
Như hai người con gái sinh đôi song sinh
Đứa này mất tâm hồn thân xác
Đứa kia chẳng còn !

Cột mốc Trường Sa. Ảnh mạng

Cột mốc Trường Sa. Ảnh mạng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(Đọc tiếp…)

 

 

 

Nhà Huế học Phan Thuận An
Nhà Huế học Phan Thuận An

 

NHÀ HUẾ HỌC PHAN THUẬN AN:
TÔI CON PHÁT HIỆN MỘT CHÂU BẢN LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM Ở HOÀNG SA NỮA 


 

 

 

 

 

 

              Nhà nghiên cứu lịch sử và văn hóa Phan Thuận An được mọi người tôn vinh là một trong những nhà Huế học hàng đầu, bởi ông là người đam mê Kinh đô Huế từ tuổi sinh viên : làm luận văn cao học lịch sử Phòng thành Huế, 1972. Từ sau khi chuyển từ giáo viên Trường Quốc Học về công tác ở Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố Đô Huế đến nay, ông đã có trên 10 công trình nghiên cứu về Huế, trong đó có những công trình nổi tiếng như Kiến trúc Cố Đô Huế ( in lần thứ 16); Quần thể di tích Huế( tái bản lần thứ nhất); Lăng tẩm Huế- một kỳ quan ( in lần thứ 5 ); đặc biệt tác phẩm Kinh thành Huế (1999) đã được giải thưởng kiến trúc Việt Nam và giải thưởng Cố Đô Huế…. Tác phẩm của ông được dịch ra tiếng nước ngoài, được lưu trữ tại nhiều thư viện quốc tế, trong đó có cả thư viện Quốc hội Mỹ. Ông may mắn được học tiếng Pháp, tiếng Anh từ thời Trung học , và sau đó học thêm chữ Hán, nên ông có điều kiện tiếp xúc với các nguồn tài liệu viết về Huế bằng tiếng nước ngoài. Ông là người được giao trách nhiệm nghiên cứu chấp bút sọan thảo hai bộ hồ sơ lớn để trình lên UNESCO công nhận quần thể Di tích Huế và Nhã nhạc cung đình Huế là Di sản văn hóa thế giới (1993) và Di sản phi vật thể của thế giới (2003) .Tác phẩm và công lao của ông đồ sộ, nhưng tính ông lại kín đáo, cẩn trọng và điềm đạm. Trong sắc phục khăn đóng áo dài khi lễ nghi hoặc với bộ áo bà ba trắng guốc mộc khi tiếp khách ở nhà, bao giờ ông cũng rất lịch lãm, nhã nhặn trong giao tiếp. Ông sống đúng cốt cách Huế xưa trong ngôi biệt phủ vườn nổi tiếng là Phủ thờ công chúa Ngọc Sơn (con vua Đồng Khánh ), là bà nội đích của vợ ông, ở đường Nguyễn Chí Thanh- Huế. Ở ngôi nhà vườn này, ông đã tổ chức nhiều đêm ca Huế sa-lon, một thú chơi tao nhã của văn nhân tài tử xưa. Ông tiếp khách quý bằng thú chơi cổ như thả thơ, đổ xăm hường trên sông Hương, ăn tiệc chay Huế.v.v..Ông nói cười nhỏ nhẹ như gió sớm qua vườn… (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 06.08.2009

VŨ ĐIỆU SẾU ĐẦU ĐỎ VIỆT NAM

Vũ điệu thần tiên sếu đầu đỏ

Tượng đài sếu
Tượng đài sếu

Sếu đầu đỏ, loài chim quý hiếm có tên trong Sách Đỏ sắp bị tiệt chủng, hội tụ đến vùng đất dưới chân núi MoSo của huyện Kiên Lương (Kiên Giang) để trú ngụ. Nhà báo Trương Thanh Nhã – nguyên Chủ tịch Hội Nhà báo tỉnh Kiên Giang – đã ghi lại được những khoảng khắc đặc biệt về sinh hoạt đời thường của loài động vật đang có nguy cơ tiệt chủng này… (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 09.08.2009

CHÚNG TÔI KỶ SỬU

Bạn đọc kính mến. Bài CHÚNG TÔI KỶ SỬU Ngô Minh viết  vào dịp Tết âm lịch Kỷ Sửu để tặng bạn bè nhà văn của Ngô Minh. Nay xin post lên blog để mọi người cùng chia sẻ .

CHÚNG TÔI KỶ SỬU !

Ngô Minh

 

 
 

 

 

 

 

Ngô Minh đọc thơ ở Đất Mũi,Cà Mau

Ngô Minh đọc thơ ở Đất Mũi,Cà Mau

Năm nay là năm Kỷ Sửu, ai tuổi này sẽ là năm tròn vòng hoa  giáp 60 năm . Phải sống 60 năm nữa mới được sinh nhật Kỷ Sửu thứ hai trong đời, có lẽ không bao giờ có được. Bạn biết không , theo tử vi Kỷ Sửu là Trâu trong chuồng ,  tự làm lấy mà ăn . Họ là những người nhanh nhẹn, tháo vát, dũng cảm, lòng ngay thẳng, bộc trực, nóng nảy,  có tài năng nghệ thuật, nhưng luôn khổ tâm, dằn vặt chuyện đời, hay trắc trở đường tình duyên. Cay đắng lắm vẫn nói cười như không (NM). Trong số những người Kỷ Sửu có tài mà tâm khổ ấy, người vướng phải nghiệp chướng văn chương như tôi nhiều lắm. Chỉ lật dở cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại ( NXB Hội Nhà văn, 2007) đã thấy trong số 1157 nhà văn, nhà văn tuổi Sửu có hàng trăm, riêng tuổi Kỷ Sửu có 40 người ( sinh 1949). Nếu tính 12 con giáp, rồi 10 chi, thì phải có 120 năm tuổi khác nhau. Nghĩa là trong cuốn sách đó mỗi tuổi chỉ  bình quân chưa tới 10 nhà văn, thế mà Kỷ Sửu có tới 40 “nhà”. Nhiều lắm đấy chứ. Đó là chưa kể hàng trăm  văn nhân Kỷ Sửu tài ba nhưng chưa vào Hội, hoặc không cần vào Hội. Đêm giao thừa này, những nhà văn tuổi Kỷ Sửu hãy cùng nhau ngước lên trời , gọi to chào năm trọn vòng hoa giáp của mình đang về : Chúng tôi Kỷ Sửu ! (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 11.08.2009

PHÙNG QUÁN CHỐNG THAM Ô LÃNG PHÍ

Hãy đọc to bài thơ “Chống tham ô lãng phí”
của nhà thơ Phùng Quán

Ngô Minh

Phùng Quán khi viết  "Chống tham ô lãng phí"

Phùng Quán khi viết "Chống tham ô lãng phí"

Năm 1954, nhà thơ Phùng Quán, chiến sĩ Vệ Quốc đoàn, chiến sĩ Điện Biên được điều về Cơ quan sinh hoạt Văn nghệ Quân đội, thuộc Tổng cục Chính trị, tiền thân của tạp chí Văn nghệ Quân đội hiện nay, với vai trò như một phóng viên. Với chất lửa hừng hực sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Phùng Quán đã xung phong vào Sầm Sơn, Thanh Hóa trong dịp đón tiếp tù nhân Côn Đảo.

Sau chuyến đi ấy, anh đã hoàn thành tiểu thuyết “Vượt Côn Đảo” và trường ca về liệt sĩ Võ Thị Sáu “Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo”, cùng với tiểu thuyết “Tuổi thơ dữ dội” viết sau này, thành bộ ba tác phẩm nổi tiếng được đề nghị xét giải thưởng VHNT Nhà nước năm nay. Thời gian đó, miền Bắc đang hàn gắn vết thương chiến tranh. Phùng Quán đã lặn lội trong cuộc sống bộn bề của đất nước. Nhà thơ cùng với nhân dân thắt lưng buộc bụng, chịu đựng gian khổ để làm nên hạt lúa, củ khoai. Trong đó một số cán bộ nhà nước lại sống phè phỡn trên mồ hôi nước mắt của đồng bào. Năm 1956, trong một chuyến đi thực tế về, Phùng Quán đã viết bài thơ “Chống tham ô lãng phí”(*). Bài thơ tự sự dài 76 câu như một tiếng thét đau đớn, một lời hiệu triệu chống tham ô, lãng phí lay động lòng người. 51 năm rồi, đọc lại “Chống tham ô lãng phí” ta vẫn nghe sục sôi, nóng bỏng như vừa mới viết hôm qua. Trong cao trào chống tham nhũng đang được  phát động hiện nay, mỗi  người Việt Nam nên đọc to lên bài thơ “Chống tham ô, lãng phí” của cố nhà thơ Phùng Quán để tiếp thêm niềm tin, sức mạnh trong cuộc chiến đấu chống “nạn nội xâm” khốc liệt này. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 13.08.2009

KỲ THÚ GIẾNG CỔ GIO AN

KỲ THÚ GIẾNG CỔ GIO AN

Ngô Minh

Giếng cổ Gio An- Máng dẫn nước  xuống  giếng.

Giếng cổ Gio An- Máng dẫn nước xuống giếng.

Theo Quốc lộ 1A đến gần Cồn Tiên-Dốc Miếu, xe rẽ theo đường lên Nghĩa Trang Trường Sơn , đến địa phận xã Gio An thì dừng lại , rẽ vào làng quê đất đỏ sẽ gặp những giếng cổ rất kỳ lạ và quý giá. Một người dân địa phương dẫn chúng tôi đến các thôn An Nha, Hảo Sơn, An Hương, Gia Bình , ông chỉ và gọi tên đến hơn 20 giếng cổ có những cái tên độc đáo như Giếng Kình, giếng Búng, giếng Trạng, giếng Ông, giếng Bà, giếng Tép, giếng Gai, giếng Lợi, giếng Cõi, giếng Dưới, giếng Tranh, giếng Trầm, giếng Đìa, giếng Con, v.v.. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 15.08.2009

TRUNG QUỐC NGANG NHIÊN LẤN BIỂN VIỆT NAM

Bài này  vừa in trên http://antg.cand.com.vn/vi-vn/sukien/2009/8/70103.cand, không hiểu sao lại bị gỡ xuống.Bản in này  chúng tôi khênh về từ  google do Bauxitevietnam.info dẫn.

Lại thêm một hành động không hữu hảo trên biển Đông

 

Tàu cá chờ ra khơi. Ảnh minh họa

Tàu cá chờ ra khơi. Ảnh minh họa

Nguồn: TNOTheo báo điện tử VnExpress, tàu cá của ông Nguyễn Tấn Lự (38 tuổi) cùng 12 ngư dân, ở huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, đã bị phía Trung Quốc bắt giữ hồi 11h30’ ngày 1/8, khi đang tránh áp thấp nhiệt đới tại đảo Linh Côn thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam mà Trung Quốc chiếm giữ trái phép. Sau đó Trung Quốc đưa tàu và tất cả ngư dân Việt Nam về đảo Phú Lâm (cũng thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam).

Rất đáng tiếc, đây lại là một hành động không hữu hảo nữa của phía Trung Quốc trên biển Đông. Chỉ tính từ tháng 5 năm nay, phía Trung Quốc đã có nhiều hành động được coi là nhằm “ép sân” Việt Nam nói chung và ngư dân Việt Nam nói riêng trên biển Đông. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.08.2009

Kỳ ngũ thi nhân Lệ Thuỷ

Kỳ ngũ thi nhân Lệ Thủy

Hoàng Minh Tường

                 Đi Bình Trị Thiên hè này, tôi có hạnh phúc được hầu chuyện quá nhiều văn nhân nổi tiếng.
Nhà văn Nguyễn Quang Hà, nguyên Tổng biên tập Tạp chí Sông Hương, ngay khi vừa đi phá Tam Giang tìm bối cảnh cho bộ phim truyền hình nhiều tập, về đến thành phố, đ• tìm đến khách sạn, giao cho hai bố con tôi chiếc honda 86 và hai mũ bảo hiểm. Xăng đầy bình rồi. Cứ thế mà đi. Ông cười hiền từ chỉ hướng cho hai bố con lên đàn Nam Giao và khu đền thờ Huyền Trân Công Chúa vừa mới khánh thành.
               
Hoàng MInh Tường- H Phủ Ngọc Tường và Ngô Minh- Lâm Thị Mỹ Dạ, 2 người cùng lớp xưa 7-09

Hoàng MInh Tường- H Phủ Ngọc Tường và Ngô Minh- Lâm Thị Mỹ Dạ, 2 người cùng lớp xưa 7-09

Vừa qua cầu An Cựu, lên dốc Phan Bội Châu thì gặp nhà thơ Ngô Minh. Hành trình một ngày lập tức thay đổi hoàn toàn. Đi thăm bạn bè cái đ•. Vợ chồng nhà thơ Hoàng Cát mới từ Hà Nội vào, cũng đang ở đây. Cuốn tiểu thuyết mới “Thời của Thánh Thần” của ông tôi đ• đọc một lèo trên mạng, nhưng vẫn muốn có một cuốn để hai ông anh trai tôi cùng đọc. Họ mù tịt in-tơ-net. Ngô Minh vừa nói vừa vồ vập kéo khách vào nhà. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.08.2009

VỀ HUẾ ĂN CHAY

VỀ HUẾ ĂN CHAY

Ngô Minh

Các món chay trên bàn ăn của chùa Tây Thiên, Photo NM

Các món chay trên bàn ăn của chùa Tây Thiên, Photo NM

Vợ chồng Ngô Minh thỉnh thoảng lại được các chùa mời  đến ăn cơm chay, ăn giỗ chay. Ngô Minh đã được dự  tiệc giỗ vua Duy Tân ở An Lăng, được chùa sư nữ Đông Thuyền mời tiệc chay. Tất cả  các cuộc cơm chay này đều do bác sĩ  Dương Đình Châu, một trí thức nổi tiếng ở Huế rất thông thạo chùa Huế và cơm chay,  làm môi giới để các chùa  tiếp xúc  giao lưu với văn nghệ sĩ Huế. Chủ nhật ( 16-8-2009) vừa qua ,vợ chồng Ngô Minh lại được  chùa Tây Thiên ( phía sau Đàn Nam Giao) mời đến giao lưu và ăn cơm  bình dân với các sư chùa. Đến nơi, tôi mới thấy hầu như các văn nghệ sĩ trí thức lớn ở Huế đều có mặt : Các nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Khắc Phê, Tô Nhuận Vĩ, Phan Thuận An, Thái Kim Lan ( ở Đức  về), Nguyễn Văn Dũng, Nguyễn Đắc Xuân, học giả lão thành Phan Văn Dật ( Hà Nội vào), nhà báo Hoàng Thị Thọ, nhà báo Thanh Tùng… Và ở đây, chúng tôi đã được ăn một bữa cơm chay thân mật với các sư thầy…Nhân tiện đây xin  gửi đến  độc giả một  bài viết về  cơm chay Huế để cùng thưởng thức… (Đọc tiếp…)

Rắn là một loài bò…

GS Tương Lai

Đường LƯỠI BÒ quân bành trướng TQ vẽ

Đường LƯỠI BÒ quân bành trướng TQ vẽ

(TuanVietNam) – Chỉ có khởi động được ý chí và sức mạnh của toàn dân tộc làm chỗ dựa vững chắc cho những giải pháp ngoại giao và tranh thủ sự đồng tình của dư luận quốc tế về chính nghĩa của Việt Nam mới có thể tìm ra giải pháp cho những “lưỡi bò”, “lưỡi rắn” hiện nay! Trung Quốc đã đệ trình công hàm gửi ông Tổng thư ký LHQ để phản đối Việt Nam nộp báo cáo về ranh giới ngoài thềm lục địa của mình cho Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của LHQ theo công ước của Luật biển 1982.

Đường “lưỡi bò” chữ U hay đứt đoạn đều là cách gọi khác nhau để chỉ yêu sách lạ đời của TQ đối với 80% diện tích của Biển Đông, được vẽ sát vào bờ của các quốc gia ven biển Đông như Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Brunei, Philippines. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.08.2009

ẢNH NUDE – THƯ GIÃN CUỐI TUẦN

Nud4ẢNH NUDE – THƯ GIÃN CUỐI TUẦN

Nghệ sĩ Nghiếp ảnh Thái Phiên, Việt Nam là người đầu tiên công bố được ảnh nghệ thuật nude của mình ở trong nước. Lâu nay tranh khỏa thân, ảnh nude là những thứ bị cấm kỵ trong nhiều chục năm ròng. Đến bậy giờ các nghệ sĩ chụp ảnh nude , họa sĩ vẽ tranh khỏa thân vẫn chưa được phép công bố thoải mái những sáng tác của mình.Nhiều cuộc triễn lãm bị hủy bỏ…
QUÀ TẶNG XỨ MƯA XIN GIỚI THIỆU VỚI BẠN ĐỌC MỘT CHÙM ẢNH NUDE CỦA NHIỀU TÁC GIẢ VÀ NGHỆ SĨ THÁI PHIÊN ĐỂ THƯ GIẢN CUỐI TUẦN. Mỗi bức ảnh Thái  Phiên đều có đặt tên. Tuy nhiên chugns tôi muốn   banjd dọc xem ảnh và đặt tên theo ý tưởng của mình.

Nud3

 

 

 

 

 

 

Hoa nắng- THái Phiên

 

(Đọc tiếp…)

Kỷ niệm 99 năm ngày sinh của Đại tướng 1911- 2009

ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP – CHÂN DUNG MỘT HUYỀN THOẠI

Cù Huy Hà Vũ

1239282514_vo%20nguyen%20giap“Hoan hô Đại tướng Võ Nguyên/Giáp ta thắng trận Điện Biên lẫy lừng”(**). Mới tí‎ tuổi đầu tôi và lũ trẻ hàng phố Điện Biên Phủ (một trùng hợp ngẫu nhiên hay tiền định?) nằm đất Rồng bay (***) đã thuộc làu và cùng nhau hô vang bất luận ở bên quân nào mỗi khi trò đánh trận giả kết thúc, như thể tên Ông là hồi kèn Chiến thắng, là khúc Khải hoàn ca! Ấy là kí ức đầu tiên của tôi về vị Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam mà đa phần chúng tôi không biết mặt (thời đó phương tiện thông tin đại chúng đâu có rầm rộ như bây giờ!). Có ngờ đâu mấy chục năm sau, khi các con tôi không còn biết đánh trận giả là gì nữa nhưng lại biết nhiều điều hơn về võ công đã trở thành huyền thoại này của dân tộc qua truy cập internet, “Võ Nguyên Giáp – Điện Biên Phủ”, âm thanh kép ấy của Việt Nam Chiến thắng lại vang động trong tôi khi nhận đuợc một cú điện thoại của Đại tá Huyên, Chánh văn phòng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho biết Đại tướng vui lòng tiếp tôi tại nhà riêng để vẽ chân dung ông nhân kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ. Mừng đấy nhưng cũng trách nhiệm đấy! Quả là tôi đã ra Bắc vào Nam để vẽ chân dung các lão thành văn nghệ và con số “người mẫu” đặc biệt ấy đã lên tới trên trăm nhưng các chính khách thì tôi chưa từng. Và tôi đã chuẩn bị tất cả để đợi giờ G. (Đọc tiếp…)
Đăng bởi: Ngô Minh | 27.08.2009

THÚ CHƠI THƠ

THÚ CHƠI THƠ

Ngô Minh

Chơi thơ rất phổ biến ở Trung Quốc ,Việt Nam và các nước châu Á dùng Hán tự từ xưa đến nay. Chơi thơ ( trong sáng tác) là trò chơi trí tuệ và là thú vui tao nhã lúc trà dư tửu hậu . Muốn chơi thơ người chơi phải rành luật thơ, lại phải thâm thúy , nhạy cảm mới ứng đối được. Chơi thơ là chơi chữ với lối hồi văn liên hoàn , họa vần, họa chữ, nói lái , độc vận, điệp từ, hay chơi cấu trúc thơ .Sách “Chơi chữ Hán Nôm”( NXB Thuận Hóa, 2002) của Hải Trung giới thiệu hàng chục cách chơi cấu trúc thơ của Trung Quốc, Việt Nam xưa như dạng “thuận nghịch đọc”,hay ” Thuận Hán, nghịch Nôm” , cấu trúc vòng tròn, xoắn ốc, hình Hà Đồ, thơ hình núi.v.v.. Ví dụ bài thơ “Vũ Trung Sơn Thủy” của vua Thiệu Trị chỉ 56 chữ Hán, mà có thể đọc đến 64 bài bát thất ngôn bát cú, 64 bài thất ngôn tứ tuyệt. (Đọc tiếp…)
Đăng bởi: Ngô Minh | 29.08.2009

CẦN GIÁO DỤC SỰ XẤU HỔ

Cần giáo dục về sự xấu hổ

Nguyễn Hưng Quốc
 

Soi gương- tượng Đào Phương ( ảnh minh họa)
Soi gương- tượng Đào Phương ( ảnh minh họa)

 

Từ năm 1945, đặc biệt từ năm 1954, người Việt Nam, nhất là ở miền Bắc và sau đó, từ năm 1975, trong cả nước, không ngớt được/bị giáo dục về lòng tự hào. Tự hào về bốn hay năm ngàn năm văn hiến. Tự hào về tài đánh giặc, hết giặc Tống đến giặc Minh, giặc Thanh, giặc Chiêm, rồi cuối cùng, giặc Pháp và giặc Mỹ.

Ngoài ra, người Việt Nam còn tự hào về tài trí của mình, bao gồm cả tài văn chương, với những tên tuổi có th3 làm lu mờ truyền thống lừng lẫy của thời Tiền Hán và Thịnh Đường bên Trung Quốc. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 30.08.2009

TÀU ‘LẠ’ VÀO BẾN QUEN

TÀU ‘LẠ’ VÀO BẾN QUEN

thanh thảo

Tàu lạ vào vịnh Việt Thanh cách nhà máy lọc dầu Dung Quất 02km, chạy lòng vòng quanh phao rót dầu không bến SPM mấy vòng rồi…đi, không biết đi về phương mô (!)…
Anh em kỹ sư Nhà máy lọc dầu Dung Quất (NMLDDQ) trong khi làm việc ở phao rót dầu đã chụp được ảnh này. Ảnh khá rõ, dù có sương mù và cả những đôi mắt…mù sương khi nhìn ảnh. Theo anh em kỹ sư, thì tàu chỉ lạ với ai đó, chứ không hề lạ với những người tận mắt nhìn thấy nó. Đó là tàu của bác Hồ (Cẩm Đào) vào thăm NMLD Dung Quất. Chỉ thiếu băng-rôn và cờ phướn (có lô-gô quảng cáo các doanh nghiệp) do Sở văn hóa Quảng Ngãi treo lên trên phao rót dầu nữa là đủ bộ lễ chào mừng( !?) Mấy hôm nay, cứ nghe ồn lên về chuyện NMLD Dung Quất phải tạm dừng hoạt động do bị hỏng một chiếc van nào đó. Chiếc van hỏng có thể thay van khác, lại do nhà thầu Technip chịu trách nhiệm hoàn toàn bởi nhà máy đang trong giai đoạn chạy thử, càng phát hiện được nhiều lỗi càng tốt, vì mọi chi phí sửa lỗi do nhà thầu lo.

Tàu lạ, hình  chụp mờ phía xa.

Tàu lạ, hình chụp mờ phía xa.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 04.09.2009

59 CÂU LỤC BÁT HAY CỦA NGÔ MINH

59 CÂU THƠ LỤC BÁT HAY
CỦA NGÔ MINH

Người sưu tầm : Văn Minh Ngọc

1
khuya nghe lục bát gọi đôi
một anh một bóng một người một không

( bài thơ LỤC BÁT GỌI ĐÔI)

2
đêm qua
trắng nõn linh hồn
giấc mơ hóa bướm
thu còn
thiên thu…

(Bài thơ ĐÀ LẠT THU )

3
yêu đương tro bụi như đùa
biết bao nhiêu lửa cho vừa cuộc sôi

( Bài thơ VU VƠ )

4
Trời ơi, người khuất lâu rồi
Sao còn đau đáu những lời nước non !

( Bài thơ ĐÊM CÔN LÔN)

5
tay lần vá những mảnh buồm
cho nguyên lành ngọn gió nồm , biển ơi

( bài thơ PHÍA NẮNG LÊN) (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 06.09.2009

NGƯỜI ĐƯỢC VUA BAN “LỘC”

NGƯỜI ĐƯỢC VUA BAN “LỘC”

NGÔ MINH

mai khac ungỞ Huế, người ta gọi ông là “Nhà Minh Mạng học”. Ông thường xuyên lui tới Lăng Minh Mạng. Mỗi lần người Nhật Bản sang giúp Huế trùng tu di tích lăng ,ông đều được mời làm cố vấn. Dường như sự nghiệp nghiên cứu lịch sử văn hoá Huế của ông gắn liền với Minh Mạng, vị vua sáng giá nhất trong 13 vua triều Nguyễn, với hai cuốn sách xôn xao giới sử học cách đây hơn 10 năm : Lăng của Hoàng đế Minh Mạng (1993) và Chính sách khuyến nông dưới thời Minh Mạng ( 1996). Có lẽ nhờ thế mà hương hồn vua Minh Mạng đã “ban” cho ông nhiều “lộc” trong công việc và đời sống. Đó là nhà sử học, nhà nghiên cứu văn hoá Huế Mai Khắc Ứng . (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 08.09.2009

PHÓ THỦ TƯỚNG… LỠ MIỆNG

PHÓ THỦ TƯỚNG… LỠ MIỆNG

Thật tình, tôi không dám tin những lời nói đó là của Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng. Hai ngày qua, tôi đã cố ngóng chờ một lời cải chính từ báo chí rằng đó là do các tòa báo dẫn sai lời ông. Hoặc một câu “nói lại” từ chính Phó Thủ tướng rằng đó chỉ là do cách diễn đạt của ông nó luẩn quẩn, rối rắm khiến người nghe hiểu sai, hay chỉ bởi ông lỡ miệng nói sai mà thôi.

Và rồi tôi thất vọng. Thất vọng khi hiểu ra báo chí dẫn đúng lời ông, không sai một dấu phẩy. (Đọc tiếp…)

Quyến rũ ruộng bậc thang Sa Pa  

ruong-bac-thang8909-6

(Dân trí) – Vùng du lịch Sa Pa đang bước vào Thu với phong cảnh mùa lúa chín vàng đẹp như mơ trên những thửa ruộng bậc thang nằm dưới chân đỉnh núi Phan Si Păng hùng vĩ… Ruộng bậc thang Sa Pa đoợc xếp là  “Top 7” ruộng bậc thang kỳ vỹ nhất thế giới (Đọc tiếp…)

Cả tuần nay dư luận nhân dân VN rất bất bình việc báo điện tử Đảng CSVN đã đăng tin “Hải quân Trung Quốc tập trận ở quần đảo Trường Sa “để bảo vệ lợi ích quốc gia” . Quốc gia nào ? Trường Sa là lãnh thổ VN, tại sao báo Đảng không lên tiếng phản đối hành vi xâm lăng ấy mà lại đưa tin ủng hộ ? Các nhà báo , các bloggers lên tiếng , biểu tình chống TQ đều bị bắt, báo Đảng lại ủng hộ tuyên truyền cho hành động TQ xâm lấn lãnh thổ quốc gia, vậy phải đối xử như thế nào đây với những người tuyên truyền cho bọn xâm lấn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ Quốc?
Mời bạn đọc đọc “Thư ngỏ gửi Tổng Biên tập báo Điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam” của nhà báo Nguyễn Vĩnh.

Thư ngỏ gửi Tổng Biên tập báo Điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam

Về vụ việc báo Điện tử Đảng cộng sản Việt Nam mắc phải sai lầm rất nghiêm trọng khi đưa tin về biển đảo, tôi không nhắc lại sự việc nữa. Vì suốt từ sáng cho đến giờ này (6 giờ chiều), ngày hôm nay, 9/9/09, độc giả đọc báo mạng, đọc các tin tức khác trên mạng internet đều đã biết cả rồi. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 12.09.2009

NẾU TỔ QUỐC TÔI KHÔNG CÒN BIỂN

NẾU TỔ QUỐC TÔI KHÔNG CÒN BIỂN

Trần Mạnh Hảo

TranManhHao150

Mất Hòang Sa, Trường Sa

Rồng Việt Nam không còn chỗ núp

Không có lối ra

Tổ Quốc như bị giam trong ngục

Xin Ngô Quyền trở về

Xin Trần Hưng Đạo trở về

Dìm quân xâm lược

Tổ Quốc nguy nan

Mỗi người Việt Nam

Hóa thành cọc nhọn (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 15.09.2009

THƠ KHẮC TRÊN BIA MỘ MẠ

Bạn đọc kính mến. Ngày mai - 28-7 âm lịch, kỷ niệm 26 năm ngày mất của MẸ Ngô Minh.

Nhân dịp này, Ngô Minh xin gửi đến  bạn đọc bài thơ THƠ KHẮC TRÊN BIA MỘ MẠ

 
Mẹ Đào Thị Tam
Mẹ Đào Thị Tam

  THƠ KHẮC TRÊN BIA MỘ MẠ

1

Con về dựng biển làm bia mộ
mạ một đời sóng gió dễ gì ghi
đôi mắt buồn dẫu khép vào lòng cát
biển vẫn nhắc con lối đi về

2

Con về dựng trời cao làm bia mộ
Mạ một đời chi chít ước mong
Mắt níu trời tay đào bới cát
Con như chim bay hút tầm nhìn

3

Con xin dựng tim con làm bia mộ
Tạc câu thơ đời mạ đau buồn
Trái tim nhỏ ước là quả chín
Trên cát nghèo trắng xoá thời gian !

5-3, Bính Dần
Làng Thượng

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.09.2009

UA CHẦU CHẦU NGUYỄN QUANG LẬP

UA CHẦU CHẦU NGUYỄN QUANG LẬP

Ngô Minh

Nhà văn Nguyễn Quang Lập

Nhà văn Nguyễn Quang Lập

Tôi chọn mãi cái tít cho bài viết về Nguyễn Quang Lập mà không cái nào ưng ý. Đọc lại Ký ức vụn, bỗng lóe lên , đây rồi Ua chầu chầu Nguyễn Quang Lập . Tôi và Lập cùng ở Huế từ năm 1987 , cùng vô Hội Nhà văn một lần, lại cùng quê và đều ham rượu, nên anh em thân thiết lắm. Bởi thế mà trong các entry “bạn văn” trên blog Quê choa, sau này chọn lại thành Ký ức vụn, thỉnh thoảng Lập lại nhắc Ngô Minh nói thế này, Ngô Minh nói thế khác…Có tay mọt sách, gặp ở Đông Hà, liền bắt tay tôi lắc lắc :” Em đọc Kỹ ức vụn, không có bài riêng về anh, nhưng hình bóng Ngô Minh trong ấy đậm lắm…”. Thế là mình được thơm lây cái nổi tiếng của Lập rồi. Hồi 1988, tôi viết bài thơ Tìm tôi tìm Huế, có đoạn về Dương Thành Vũ dựng cái chòi ở nghĩa địa để ở : Bạn là người ngoài cuộc đời / uống bóng mình xạm đen râu ria đáy chén / Câu thơ chưa đủ ấm/ kể chuyện tiếu lâm nghe tiếng mình cười…Có buổi rượu say, Lập khóc hu hu :” Anh em mình thân thiết thế, sao anh viết thơ về cha Vũ hay rứa, mà không có câu mô cho em”. Tất nhiên Lập chỉ mượn cớ để khen thơ. Nhưng tôi thì bị ám ảm với lời trách ấy tới giờ.
(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.09.2009

ĐỒ ĐỂU

Bạn đọc kính mến. Nhặt được trên mạng một bài viết vô danh rất vui, rất thâm thúy ,và xót xa.

QUÀ TẶNG XỨ MƯA  xin gửi đến bạn đọc để cùng chia sẻ với chuyện  nước mình đang ở thời kỳ …ĐỒ ĐỂU

ĐỒ ĐỂU

Vô Danh

Hắn đem gia đình sang du lịch Paris.
Khi hắn vừa tốt nghiệp Cử Nhân Văn Khoa thì miền Nam thay đổi chế độ, và mọi người trở thành thất nghiệp. Hắn may mắn thừa hưởng một miếng đất rất rộng ở ngay ngoại ô Saigon , hắn canh tác miếng đất đó, trồng rau quả, nuôi gà vịt, mở một quán cà phê nhỏ để sống qua ngày. Thì giờ rảnh rỗi hắn nghiên cứu về một môn học mà hắn gọi là môn “ngôn sử”. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.09.2009

ĐỔI MỚI ĐẢNG TRÁNH NGUY CƠ SỤP ĐỔ

ĐỔI MỚI ĐẢNG TRÁNH NGUY CƠ SỤP ĐỔ

Nhà báo cộng sản Tống Văn Công
Nhà báo cộng sản Tống Văn Công

THIỆN Ý- TỐNG VĂN CÔNG

…” Nói “thông qua dân chủ bầu cử Quốc hội”, người dân bảo: “Lâu nay vẫn là Đảng cử, Dân bầu!”

Nói “Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất”, người dân bảo: “Quốc hội bao giờ cũng họp sau khi Đảng đã họp và đề ra nghị quyết chỉ đạo cho Quốc hội phải làm gì. Vừa qua Bộ Chính trị quyết định đại dự án Bauxite đâu có cần thông qua Quốc hội!”

…Nói đảng viên cán bộ là đày tớ của nhân dân, mấy ông hai lúa cười: “Cả đời mình làm chủ mệt mỏi quá rồi, cầu mong mấy đứa nhỏ sau này có đứa được làm đày tớ cho cả dòng họ được nhờ!”

Nói “Sống và làm việc theo pháp luật”, “Mọi người bình đẳng trước pháp luật”, người dân bảo: “Pháp chế xã hội chủ nghĩa, tư pháp do Đảng lãnh đạo. Người có chức có quyền mới tham nhũng, mà có chức có quyền thì phải là đảng viên, vậy tư pháp làm sao dám xét xử tham nhũng? Hãy coi Tòa án Hà Nội, rồi Tòa án Tối cao cứ như gà mắc tóc trước vụ luật sư Cù Huy Hà Vũ khởi kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì biết tư pháp Việt Nam được độc lập cỡ nào!”… (Đọc tiếp…)

Bạn đọc kính mến, ngày 22/09/2009 trong mục Bài viết / Ý kiến, báo QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN đã đăng bài phản kích lại bài ĐỔI MỚI ĐẢNG TRÁNH SỰ SỤP ĐỔ ” của nhà báo Tống Văn Công. Để tiện cho độc giả có điều kiện đọc và so sánh hai bài báo, chúng tôi  xin in lại bài “Mưu đồ thâm hiểm phía sau lời “góp ý”” của Tâm Việt  để bạn đọc cũng bàn luận bài nào tâm huyết , báo động  nguy cơ lớn đang  đe dọa vận mênh dân tộc, bài nào  công thức, bổn cũ soạn lại. Mong các bạn xa gần cùng chia sẻ với hai tác giả.     

Mưu đồ thâm hiểm phía sau lời “góp ý” (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 25.09.2009

HUẾ SẼ THÀNH THÀNH PHỐ LỚN THỨ 4 VIỆT NAM

HUẾ SẼ THÀNH THÀNH PHỐ LỚN THỨ 4 VIỆT NAM ?1

Ngô Minh

Ở Việt Nam bây giờ, đang rộ lên phong trào “chạy” để trở thành THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG . Đà Nẵng, Cần Thơ đã trở thành Thành phố loại I trực thuộc Trung ương rồi, bây giờ Huế chạy, Vinh cùng đang chạy.
Từ nhiều tháng nay, ở Huế ai cũng sôi nổi bàn đến “bước ngoặc lịch sử ” Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương. Người dân náo nức vì hơn 10 năm trước đề án Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương đã được đưa ra kỳ họp Quốc hội “biểu quyết”, nhưng không thành.Vừa qua, lần đầu tiên trong lịch sử Huế, TBT Nông Đức Mạnh cùng 13 Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành TƯ Đảng khóa 10 đã về Huế để làm việc với lãnh đạo tỉnh và đã có kết luận số 48 xác định vị trí của Huế là 1 trong 5 độ thị cấp quốc gia ( cùng TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ); trọng tâm là trong vài năm tới Xây dựng tỉnh Thừa Thiên Huế thành thành phố trực thuộc Trung ương. Ngoời ta cho rằng :”Đây là một quyết định sáng suốt, có lơi cho nền văn hóa nước nhà”. Ngay sau kết luận của Bộ Chính trị, ngày 17/6 / 2009 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký quyết định 86/2009/QĐ-TTG ”Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020”,với mục tiêu tiêu : “ Xây dựng tỉnh Thừa Thiên Huế sớm trở thành thành phố trực thuộc Trung ương ; một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của cả nước về văn hóa, du lịch…”, thành phố Festival của cả nước. Kèm theo Quyết định là “Danh mục chương trình và các dự án ưu tiên nghiên cứu đầu tư từ nay đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 của tỉnh Thừa Thiên Huế. Danh mục đó gồm hơn 210 chương trình, dự án và cụm dự án trọng điểm về tất cả các lĩnh vực du lịch dịch vụ, xây dựng, công nghiệp nông nghiệp, văn hóa, muôi trường…được ưu tiên đầu tư . (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 26.09.2009

TẠ LỖI VỚI TRƯỜNG SƠN

TẠ LỖI VỚI TRƯỜNG SƠN

Đỗ Trung Quân

Đỗ Trung Quân, tác giả bài thơ nổi tiếng Quê Hương được phổ nhạc thành bài hát Quê Hương : Quê hương là chùm khế ngọt/ Cho con trèo hái mỗi ngày…vừa công bố bài Tạ lỗi Trường Sơn viết từ năm 27 tuổi (1982). Tác giả viết :” Công bố bài thơ viết năm 27 tuổi, bảy năm sau hòa bình  – nay nhìn lại, tôi cũng không hiểu điều gì đã dẫn dắt cho những dòng chữ này. Khi làm xong nghĩa vụ một thanh niên thời hậu chiến, người có lý lịch may mắn không vướng phải chuyện lính tráng dù thế hệ tôi sau “mùa hè đỏ lửa 1972” hầu hết cũng đã “yên vị” khói hương trên bàn thờ gia đình… Còn nhớ những năm của thập niên 80, giáo sư Nguyễn Khắc Viện viết một bài đanh thép trên báo Sài Gòn Giải Phóng “Sen hay Bùn” về danh xưng khi nào thì gọi là thành phố Hồ Chí Minh, khi nào thì gọi là Sài Gòn? và ông khẳng định cái tốt thì gọi tp HCM, cái tệ nạn, cái xấu, cái “tồn đọng” thì gọi là Sài Gòn. Giáo sư Nguyễn Ngọc Lan đã đối thoại bằng một bài báo khác (tất nhiên ông không thể đăng bài phản biện ấy trên báo SGGP như trong một xã hội bình thường), ông nhắc rằng hiện tại sau 10 năm giải phóng, thành phố vẫn còn một tờ báo lớn tiếng nói chính thức của “Đảng bộ và nhân dân thành phố” tờ Sài Gòn Giải Phóng (nó vẫn còn đến tận hôm nay), còn một nhà máy thuốc lá Sài Gòn, còn một đội bóng danh tiếng mang tên Cảng Sài Gòn (nay đã không còn)… Bài thơ này, có lẽ là cái nhìn đau đớn đầu tiên của một người trẻ tuổi vừa từ chiến trường K trở về với bao nhiêu hoài bão sau khi chứng kiến những hy sinh cao đẹp của một thế hệ thanh niên Sài Gòn, những con người thành phố tuổi chỉ mới đôi mươi…
Đỗ Trung Quân khi 27 tuổi và một bài thơ dài nhất của đời mình….
Nhặt được bài thơ hay trên Blog Chung Do Kwan, QUÀ TĂNG XỨ MƯA xin đăng lại để banjd dọc cùng chia sẻ…

Bây giờ…
Tin chắc rằng trong các ngài đã vô số kẻ tin vào “thượng đế”
Khi sống hả hê giữa một thiên đường
Ai bây giờ
Sẽ
Tạ lỗi
Với Trường Sơn? (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 28.09.2009

TƯỜNG ƠI

NGÔ MINH

 

     

 

NM-Hoàng Phủ trong lễ sinh nhật HPNT 9-9-2009
NM-Hoàng Phủ trong lễ sinh nhật HPNT 9-9-2009

 

 

 

 

 

 

TƯỜNG ƠI

 

Tường ơi không đứng thì nằm
Thì ngao du với dặm đàng chiêm bao
Cõi âm người hát nghêu ngao
Tiếng ma cười đấy ! Tai nào biết nghe ? (*)

Miên man nào cõi đi về
Quỳ hôn cát bụi, khóc chia kiếp người
Phù dung về ngủ trên đồi
Vẫn đau đáu một chỗ ngồi nơi kia…

Tường nằm điện thoại và nghe
Tiếng cười xa ngái sơn khê mây mù
Rồi khóc cười đẫm câu thơ
Rượu không còn uống vẫn thừa men say

Chơi vơi ảo ảnh lên ngày
Khoảng trời long não xanh gầy tuổi tên
Lang thang là nhịp trái tim
Hát cùng tăm cá bóng chim cuối ngàn

Tường ơi
Không đứng thì nằm
Nghê nga cùng lũ dế buồn gáy mưa…

———–

(*)Năm 1989, tỉnh lại sau 2 tháng hôn mê ở Bệnh viên Đa khoa Đà Nẵng, Hoàng Phủ Ngọc Tường thường hay hát : Ai đã từng đi qua bãi tha ma. Bãi tha ma có nhiều ma lắm. Ai đã từng nghe tiếng ma cười. Tiếng ma cười ha ha ha ha… theo nhịp bài hát Tiểu đoàn 307. Những chữ in nghiêng là thơ Tường.

 

Chuyện ít biết về quan hệ Việt – Trung thời chống Mỹ

Dương Danh Dy

Nhân 60 năm nước CHND Trung Hoa, ông Dương Danh Dy, nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu bàn về quan hệ Việt – Trung thời kì chống Mỹ.

Hồ Chủ tịch và Mao Trạch Đông

Hồ Chủ tịch và Mao Trạch Đông

Tổng kết sao cho đúng thực chất quan hệ Việt Trung trong 60 năm qua, để từ đó rút ra những bài học bổ ích nhằm thúc đẩy quan hệ hai nước tiến tới là một vấn đề rất trọng đại, đòi hỏi công sức, trí tuệ của nhiều bậc tài cao đức trọng nhiều thế hệ. Đó là một công việc vô cùng khó khăn, động chạm tới nhiều vấn đề tế nhị, nhạy cảm của tầng lớp lãnh đạo hai nước, tới những người đã khuất và còn sống… chưa biết chừng còn có thể bị “vạ lây” (vì bị cho là không đúng ý ai đó). (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 01.10.2009

BI KỊCH TRUNG HOA

Kỷ niệm ngày 1-10, quốc khánh nước Cộng hòa nhân dân Trung Quốc

Mao Trạch Đông nghìn năm công tội

 ( Huy Đức lược thuật cuốn Mao Trạch Đông nghìn năm công tội của Đại tá Tân Tử Lăng, nhà nghiên cứu và giảng dạy tại Học viện Quân sự cấp cao Trung Quốc )


Mao Trạch Đông- người cầm lái vĩ đại

Mao Trạch Đông- người cầm lái vĩ đại

Hôm nay, trong cái ngày mà Bắc Kinh gọi là quốc khánh, chắc chắn chính quyền Trung Quốc chỉ nói về sự trỗi dậy suốt hơn hai thập niên qua và những đích đến phỉnh nịnh cơn thèm khát của nhiều người dân mộng bá quyền Đại Hán. Mao Chủ Tịch vẫn cười tủm tỉm trước cửa Thiên An Môn.

Sáu mươi năm trước Mao đã thắng trong một cuộc chiến “da thịt tàn nhau”, đuổi Tưởng Giới Thạch ra Đài Loan. Người dân Trung Quốc được dạy đấy là công lao. Nhưng, rồi nhiều người trong số họ cay đắng nhận ra đó là ngày Mao bắt đầu biến Đại Lục thành địa ngục. Sau đây là những thông tin lấy từ cuốn Mao Trạch Đông ngàn năm công tội, được viết bởi một nhà nghiên cứu và giảng dạy tại Học viện Quân sự cấp cao Trung Quốc, Đại tá Tân Tử Lăng. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 02.10.2009

Công lao hơn đời, tội ác tày trời

Thấy bài tựa rất hay và đúng, chúng tôi xin khênh về đây để bạ dđọc cùng  suy nghĩ:

Công lao hơn đời, tội ác tày trời

Lý Nhuệ (Trung Quốc)**

(Lời tựa cho cuốn “Mao Trạch Đông – Ngàn năm công tội”*)

Mao 2Cải cách và mở cửa trong hơn hai mươi năm qua, giống như múa ương ca, không thể tiến thẳng một mạch, xét cho cùng là do sự quấy rối không ngừng của “tả”, bao giờ cũng có người nói thế này thế nọ, thậm chí còn gây sự, giương ngọn cờ Mao Trạch Đông để công kích đường lối và chính sách đúng đắn. Cuốn sách Mao Trạch Đông – Ngàn năm công tội của Tân Tử Lăng***, căn cứ vào di ngôn của Đặng Tiểu Bình, đưa việc đánh giá Mao đi vào chiều sâu, là đột phá quan trọng trong lĩnh vực hình thái ý thức từ ngày cải cách mở cửa đến nay, đập tan triệt để hai cái khẩn cô chú dọa người được gọi là “phản đối con đường xét lại” và “ngăn ngừa chủ nghĩa tư bản phục hồi” do Mao Trạch Đông để lại, làm cho phái cải cách giành được quyền ăn nói, tranh được địa vị chính thống lịch sử. Từ nay trở đi, có thể quang minh chính đại, có lẽ phải không sợ, thúc đẩy sự nghiệp cải cách mở cửa, không bao giờ phải dùng ngọn đèn “tả” để rẽ phải (hữu) nữa. Bút pháp khúc chiết của tác giả kiêm thêm bình luận, nhất là những trình bày lý luận của phần “Mở đầu” và “Lời kết thúc” cực có sức thuyết phục, đã để lại cho tôi ấn tượng sâu sắc. (Đọc tiếp…)

Ngô Minh

THƠ TIỄN NGUYỄN KHẮC THẠCH
LÊN TÀU ĐI HỌC
TRƯỜNG VIẾT VĂN NGUYỄN DU

tài sắc không có ga dừng
ngày ấy nàng Kiều nào ai đưa tiễn
ga đầu Đạm Tiên ga cuối Tiền Đường
vé in sẵn kiếp người vào cuộc thế

tiếng hát không có ga dừng
cô ca sĩ không xếp hàng mua vé
vẫn về ga nấm cỏ Long Thành

khổ đau không có ga dừng
hỡi thập loại chúng sinh
những oan hồn cô hồn chưa một lần ngồi toa tàu chợ
vẫn vị móc túi cả cuộc đời

Nguyễn Du tàu chợ
nàng Kiều ngồi đứng bên ta
cô ca sĩ Long Thành ngồi đứng bên ta
thập loại chúng sinh kẻ ngồi người đứng
còn nhà thơ hình như chèn toa cuối

bạn ơi bạn ơi rượu hay nước mắt
cạn túi mươi đồng cạn cốc tiễn nhau
cay đắng trong veo nồng nàn cũng trong veo
trong veo câu thơ thương người biết khóc

thôi bạn đi
túi sách vở muối mè đừng để mất
con tàu thơ không có ga dừng…!

Xin gửi đến bạn đoc 2 bài viết mới về ông Quát ( Đào Duy) báo Điện tử ĐCS : Bản Kiến nghị và bài QUÁT DÂN :

Kiến nghị đình chỉ chức danh Ủy viên BCH

và xóa tên ông Đào Duy Quát khỏi Hội Nhà báo Việt Nam

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

KIẾN NGHỊ
“V/v đình chỉ chức danh Ủy viên BCH và xóa tên ông Đào Duy Quát khỏi Hội Nhà Báo VN”

Kính gửi: BAN CHẤP HÀNH HỘI NHÀ BÁO VIỆT NAM

Ông Đào Duy Quát- người coi TRường Sa, Hoang Sa là của TQ

Ông Đào Duy Quát- người coi TRường Sa, Hoang Sa là của TQ

Tôi tên là Nguyễn Văn Chính (Nguyễn Chính), Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam (Thẻ Hội viên số 00570 cấp ngày 12/6/2008). Căn cứ khoản 6, Điều 11 của Điều lệ Hội Nhà Báo Việt Nam (sửa đổi) ban hành theo QĐ số 579/2005/QĐBNV ngày 29/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, tôi kính gửi bản kiến nghị này tới Quý Ban Chấp hành, với những nội dung như sau :
Hội viên Đào Duy Quát hiện là Ủy viên BCH Hội Nhà báo Việt Nam (số thứ tự 22 trong danh sách BCH), lợi dụng quyền hạn TBT, đã cố ý cho đăng bản tin “Hải quân TQ diễn tập tại biển Đông” trên báo Điện tử Đảng CS Việt Nam ngày 08/9/2009. Đây là sai phạm cực kỳ nghiêm trọng, mang tính chủ động, cố ý, ngay tại thời điểm nước ta vừa đệ trình hồ sơ về chủ quyền lãnh hải, thềm lục địa gửi LHQ và TQ đang tích cực muốn khẳng định chủ quyền tại biển Đông dưới mọi hình thức. Sai phạm này hoàn toàn không phải lỗi bất cẩn, hoặc “tai nạn nghề nghiệp” như Hội viên Đào Duy Quát thanh minh. Bản tin đó trên báo Điện tử Đảng CS Việt Nam vừa xúc phạm vong linh của cha, ông chúng ta, của những anh hùng, liệt sỹ thuộc nhiều thế hệ người Việt Nam đã hy sinh xương máu vì chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc, vừa xúc phạm tình cảm của gần 90 triệu đồng bào ta ở trong và ngoài nước. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 08.10.2009

LẠY CỤ NGUYỄN DU

Ngô Minh

LẠY CỤ NGUYỄN DU

Tượng Thi hào Nguyễn Du ở Tiên Điền

Tượng Thi hào Nguyễn Du ở Tiên Điền

lạy này xin cụ xá cho
cô Kiều năm ấy mới vừa qua đây
nom chừng son phấn thêm dày
cầm ca một thuở đã phai nhạt rồi

lạy này xin cụ đánh roi
trăm năm báo oán mà đời oán dâng
lũ Tú bà, Mã Giám Sinh
nhung nhúc Ưng Khuyển, Sở Khanh…nảy nòi

lạy này xin cụ ngậm cười
văn chương trần thế chín mười đơn sai
chữ tâm rơi rớt dặm dài
chữ tài liền với chữ tai… Thôi thì…

lạy này xin cụ say vì
cháu con thơ lại đến quỳ trước thơ
Tiên Điền mây cỏ ngẩn ngơ
trăm phần trăm chén giang hồ
Nguyễn ơi…

Tiên Điền 1-2007

Đăng bởi: Ngô Minh | 09.10.2009

Alfred-Nobel VÀ BẢN DI CHÚC KỲ LẠ

Các giải Nobel năm nay đã được công bố trong tuần này. Nhưng có lẽ  không ít người chưa biết tại sao có giảit hưởng danh gia này.Nhân mùa Nobel 2009 , QUÀ TẶNG XỨ MƯA  xin giới thiệu ít tư liệu về Nobel để bạn đọc tham khảo.

Alfred-Nobel VÀ BẢN DI CHÚC KỲ LẠ

Ngô Minh

Huy chương vàng giải Nobel

Huy chương vàng giải Nobel

 

 

Bắt đầu từ tuần đầu tháng 10 hàng năm, Viện hàn lâm khoa học Hoàng gia Thụy Điển trao giải thưởng NOBEN . Mặc dầu có nhiều ý kiến cho rằng giải Nobel ngày càng bị nhuốm màu sắc chính trị, nhất là giải Nobel Văn học và Hoà bình; song Nobel vẫn là giải thưởng lớn nhất, danh giá nhất trên thế giới. Trị giá giải thưởng Nobel năm 2008 này lên tới 1,4- 1,52 triệu USD. Việc công bố các giải thưởng Noben trong tháng 10, kéo dài cho đến ngày 10-12 dương lịch thì tổ chức Lễ trao giải thưởng Noben long trọng tại Stockholm (Thụy Điển). Đó là ngày nhà bác học thiên tài, nhà doanh nghiệp đầy lương tri nhân loại qua đời. Năm nay là năm thứ 111 ngày mất của , cũng là năm thứ 112 giải thưởng Nobel được sáng lập. Vậy A.Nobel là ai ? Có lẽ không ít độc giả biết quá ít về ông tổ của giải thưởng Nobel, một thiên tài cực kỳ đặc biệt…

Chân dung Nobel ( tranh)

Chân dung Nobel ( tranh)

(Đọc tiếp…)

…Hèn, hèn chứ? Nhà văn nước mình tận trong tâm can ai mà chẳng thấy mình hèn? Cái sợ nó làm mình hèn. Vì thế mà từ xưa tới nay có bao nhiêu nhà văn nhà thơ đã đi ở ẩn ngay trong tác phẩm? Chúng ta vắng thiếu những cây thông đứng sừng sững. Có một nhà văn đàn anh nâng chén rượu lên giữa đám đàn em: “Tao còn sống, còn cầm bút được đến bây giờ là nhờ biết sợ!”, nói rồi ngửa mặt lên trời cười rung giường, nước mắt tuôn lã chã, giọt đổ xuống đất, giọt đổ vào lòng…

HÃY ĐỌC AI ĐIẾU CHO MỘT GIAI ĐOẠN VĂN NGHỆ MINH HOẠ

Nguyễn Minh Châu

Nhà văn Nguyễn Minh Châu

Nhà văn Nguyễn Minh Châu

Là một người sáng tác, chắc tôi cũng giống như nhiều anh em sáng tác khác, có thói quen vừa viết vừa tự quan sát, nhìn theo cái ngòi bút của mình có lúc đầy hào sảng có lúc lại đầy đắn đo hồi hộp lẫn e ngại chạy trên mặt tờ giấy định mệnh.

Chao ôi, để bụng không nói ra thì thôi chứ nói ra cái chuyện này nó vui lắm, mà nó cũng buồn lắm, có đôi khi buồn đến thối ruột! Thú thật chừng ba bốn năm trở lại đây tôi cứ nổi lên nhũng cơn ngán giấy bút, hay so sánh mình với những anh em bạn bè cầm bút một cách suôn sẻ bình thản, được trời đất ban cho một cái tạng nhà văn luôn luôn sẵn sàng thích nghi với mọi thứ lý luận và luật lệ văn học, họ thật sướng, viết ra trang giấy mà trong bụng chẳng bao giờ có điều gì phải sợ sệt, lo lắng, như một người bao giờ cũng sống đĩnh đạc, cứ thẳng đường chính rộng lớn mà đi; còn mình thì y như một kẻ gian phi lúc nào cũng như đang lén lút thu giấu cái gì quốc cấm trong cạp quần hay dưới áo. Nghĩ mà buồn quá, nghề giấy bút nó chẳng nuôi gì được mình mà chỉ thấy nó hành mình. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 13.10.2009

NHỚ ANH NGUYỄN MINH CHÂU

Bạn đọc kính mến. Tiếp theo bài viết tâm huyết ” Hãy đọc ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa” của nhà văn Nguyễn Minh Châu, QUÀ TẶNG XỨA MƯA  xin giới thiệu  bài viết đôi nét chân dung nhà văn để  bạn  đọc hiểu thêm về nhà văn tài hoa và khí khái này.

NHỚ ANH NGUYỄN MINH CHÂU

Ngô Minh

Nhà văn Nguyễn Minh Châu

Nhà văn Nguyễn Minh Châu

Nhà văn Nguyễn Minh Châu về cõi vĩnh hằng đã 16 năm rồi, mà tôi cứ ngỡ như anh vẫn còn đâu đó ở Hà Nội, Nghệ An , Huế…. Hình ảnh nhà văn mũ bê rê nghiêng vầng trán rộng, đôi mắt nheo nheo như hỏi như cười hiền hậu , nhưng luôn mới mẻ trong suy nghĩ về nghề văn và thời cuộc , luôn gợi trong tôi hình ảnh một con người luôn sống hết mình, viết hết mình, trung thực ,bản lĩnh. Mỗi lần đọc cái gì liên quan đến người lính, những kỷ niệm về anh lại ùa về… (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 15.10.2009

SẸO BIỂN

NGÔ MINH

SẸO BIỂN

Tặng anh trai Ngô Tấn Ninh

Ngư dân Ngô Tấn Ninh. Ảnh NM- 7-09

Ngư dân Ngô Tấn Ninh. Ảnh NM- 7-09

trên bờ cát trắng mịn da trinh nữ
anh tôi là vết chém của sóng
anh ngã nghiêng đi như người từ hành tinh khác đến
áo manh phấp phới ngọn cờ
anh chẳng có bài ca để hát
đời là vỏ ốc u u

trên bờ cát trắng mịn màu thiên đường
anh tôi là vết chém của sóng
sự lựa chọn nào đã sinh ra anh với chiếc thuyền nan
chiếc vỏ trấu nghìn đời không thể lớn
anh và thuyền nan – biển chơi trò tung hứng
phận cá là anh mắc lưới trời!

tháng tám khoai non cháy ruột
biển động chân trời rách tả tơi
anh bên đàn con nhìn lửa
lửa cười…

 

trên bờ cát trắng mịn màu hạnh phúc
anh tôi là vết chém của sóng
từ muôn xưa lằn sẹo tới mai này…

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.10.2009

LUẬT CHỐNG THAM NHŨNG CỦA TRIỀU NGUYỄN

LUẬT CHỐNG THAM NHŨNG CỦA TRIỀU NGUYỄN

 

Ngô Minh

Vua Gia Long ( 1802-1820)

Vua Gia Long ( 1802-1820)

Tham nhũng, hối lộ là vấn đề bức xúc của tất cả các triều đại từ xưa đến nay. Muốn chống tham nhũng có hiệu quả, có hai điều quan trọng nhất phải thực thi nghiêm túc : 1. Người đứng đầu phải tuyệt đối không tham nhũng và quyết tâm trừ diệt bọn tham nhũng. Thoợng bất chính hạ tắc loạn. 2. Phải có điều luật diệt trừ tham nhũng phải ban hành những điều luật cụ thể , chi tiết và thực thi luật rất nghiêm minh. Đã ba năm rồi, từ 1/7/2006, Luật chống tham nhũng được Quốc hội nước ta đã thông qua sẽ bắt đầu có hiệu lực. Nhưng cho đến nay cuộc “chiến” chống tham nhũng vẫn ngày một cam go, phức tạp: Vụ PU 18 bị chìm xuồng, vụ Đại lộ Đông Tây bị xử chệch hướng… Lý do chống tham nhũng chưa hiệu quả có nhiều, trong đó nhất định có việc ban hành điều luật chưa cụ thể, hoặc xử lý chưa nghiêm . Chúng tôi xin cung cấp đôi điều về các điều luật chống tham nhũng dưới Triều Nguyễn để bạn đọc tham khảo .Triều Nguyễn không có một bộ luật chống tham những riêng, nhưng theo các sách Quốc Sử Quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, sau khi lên ngôi 14 năm, Gia Long đã ban hành bộ Hoàng triều luật lệ trong đó hàng chục điều luật về tội hối lộ, tham nhũng áp dụng cho quan lại triều đình rất khắt khe. Xin cung cấp đôi điều tóm lược để bạn đọc tham khảo: (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.10.2009

Trí thức Việt Nam quanh bồn trí tuệ

Nhà văn TRần Kiêm Đoàn ,người Huế  ở Hải Ngoại. Ông có nhiều sách in ở trong nước . Nhận thấy bài viết của ông
bàn  về mối quan hệ giữa lãnh đạo và trí thức rất sâu sắc và chí lý, chúng tôi  khuân  trên mạng về đây để mọi người cùng chia sẻ.

Trí thức Việt Nam quanh bồn trí tuệ

Trần Kiêm Đoàn, MSW; Ph.D
PSY- EASTWEST FOUNDATION

Nhà văn Trần Kiêm Đoàn

Nhà văn Trần Kiêm Đoàn

Bài học chữ Nho mở lòng của thế hệ Quốc văn giáo khoa thư là “Nhan Súc thuyết Tề vương quý sĩ” nghĩa là Nhan Súc thuyết giảng cho vua Tề biết trọng đãi người trí thức. Nhan Súc là một hiền sĩ đương thời. Một hôm vua Tề cho mời đến bàn việc nước. Sau khi chủ khách an vị, vua nói:

- Súc tiền! [Nghĩa là: “Nhan Súc, bước tới đây!”]

Nhan Súc trả lời:

- Vương tiền! [Nghĩa là: “Vua bước tới đây!”]

Vua Tề hoang mang vì xưa nay chưa hề ở vào hoàn cảnh bị động như thế bao giờ. Nhan Súc lên tiếng:

- Nếu vua gọi mà tôi bước tới trước, người đời sẽ cho tôi là quỵ lụy trước quyền thế. Nếu tôi gọi mà vua bước tới trước trước, thiên hạ sẽ cho là vua biết trọng kẻ hiền tài. Nếu để cho tôi mang tiếng xấu là kẻ xu phụ quyền thế; sao bằng để cho vua được tiếng thơm là biết trọng kẻ hiền tài!

Bài học nhỏ nói về vị thế mà đồng thời cũng là thân phận trí thức trước quyền lực chính trị. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.10.2009

CHỮ “TÍN” VÀ PHÉP TRỊ QUỐC

CÁC QUAN CHỨC HÃY ĐỌC VÀ NGẪM

CHỮ “TÍN” VÀ PHÉP TRỊ QUỐC

ĐẮC TRUNG

Tín là nền tảng của phép trị quốc. Có lần Tử Cổng hỏi Khổng Tử: “ Việc chính trị nên như thế nào ?”. Khổng Tử đáp: “ Túc thực, túc binh, dân tín chí dĩ”. (Đủ ăn, đủ binh và được dân tin ). Tử Lộ lại hỏi: “ Trong ba điều ấy, nếu phải bỏ một, thì bỏ cái gì ?”. “Bỏ binh”. “ Nếu hai điều còn lại phải bỏ một, thì bỏ cái gì ?”. “Bỏ thực”. Điều thứ ba phải giữ, bởi mất lòng tin của dân là mất tất cả. Tín quan trọng là thế. Không có tín sẽ không có uy. Không tín, không uy sẽ không quản nổi xã tắc và nước sẽ loạn. Không có nước nào luôn luôn mạnh. Cũng không có nước nào luôn luôn yếu. Hễ những người thi hành pháp luật mạnh thì nước mạnh. Hễ những người thi hành pháp luật yếu, thì nước yếu. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.10.2009

NHÀ THƠ LÂM THỊ MỸ DẠ VIẾT NHẠC

Thi sĩ Lâm Thị Mỹ Dạ

Thi sĩ Lâm Thị Mỹ Dạ

 BẤT NGỜ CA KHÚC LÂM THỊ MỸ DẠ

Ngô Minh

Từ mấy chục năm nay, bạn đọc ai cũng biết Lâm Thị Mỹ Dạ là nữ thi sĩ nổi tiếng với các tập thơ tập Trái tim sinh nở , Bài thơ không năm tháng , Hái tuổi em đầy tay , Mẹ và con , Đề tặng một giấc mơ , Hồn đầy hoa cúc dại , Green Rice (Cốm non ) xuất bản bằng tiếng Anh ở Mỹ , Thơ tình Lâm Thị Mỹ Dạ…; nhà thơ có những bài thơ được tuyển vào sách giáo khoa như Chuyện cổ nước mình , Khoảng trời hố bom …; nhà thơ được Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007. Nhưng một Lâm Thị Mỹ Dạ …sáng tác nhạc thì có lẽ còn ít người biết. Mấy năm nay, thỉnh thoảng tôi được Dạ mở cát-sét cho nghe bài hát của mình. Hay mới đây, đến dự đêm thơ Nguyễn Duy ở New Space Art Residence (NSAR), làng Lại Thế, khi được giới thiệu, Mỹ Dạ không đọc thơ mà xin hát một bài hát dù không có nhạc đệm. Là bạn bè thân thiết gặp nhau hàng ngày, vậy mà tôi cảm thấy rất bất ngờ và xúc động khi Dạ tặng tôi đĩa CD album đầu tay Ca khúc Lâm Thị Mỹ Dạ. Tôi nghĩ . làm vài bài hát, nghê nga hát chơi cho đỡ buồn là chuyện khác, còn đây là một album nhạc hẳn hoi thì nữ nhà thơ của chúng ta đích thị là …người sáng tác nhạc rồi ! (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 26.10.2009

Mời cu Lờ làm thủ tướng

Nhà văn Nguyễn Quang Lập

Nhà văn Nguyễn Quang Lập

Mời cu Lờ làm thủ tướng

Nguyễn Quang Lập

Tối qua đi uống rượu về, mò vô nhà bác Ba Sàm thấy tin ông Philipp Roesler là người gốc Việt đầu tiên trong nội các Đức, sướng rêm, máu tự hào dân tộc nổi lên, dù đã say vẫn nốc hết ly rượu to, hút hết nửa bao thuốc mới chịu lên giường. Lên giường rồi vẫn không ngủ được, cứ nghĩ vẫn vơ, giá mình là bố Philipp Roesler, nghe tin này thì sẽ thế nào nhỉ? Mới nghĩ đến thế đã nước mắt dàn dụa.

Philipp Roesler phiên âm ra tiếng Việt là Phi lip Rơs lờ, người Việt mình thích nói tắt, gọi là cu Lờ cho nó đậm đà bản sắc dân tộc. Cu Lờ máu Việt toàn tòng, mới 36 tuổi đã làm bộ trưởng của một nước to đùng, dù biết bộ trưởng nước tây hôm nay nhậm chức hôm sau có thể mất chức, chứ không phải như ta, đã lên đến chức đó rồi thì cứ nhè vinh hoa phú quí mà thẳng tiến, thì cũng cứ sướng cái đã. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 28.10.2009

SIÊU ÂM TIM – THƠ

Ngô Minh

SIÊU ÂM TIM

Bác sĩ ơi, tim tôi từ lâu đã không còn lành
Lên 7, cha bị Đội trói vào cọc xử bắn, súng nổ, tôi ôm lấy mạ nấc lên. 12 phát đạn ấy xuyên vào tim mạ tim tôi, làm mẹ con lăn vùi xuống cát. Lần đầu tôi nhìn thấy con người độc ác …
53 năm rồi còn rỉ máu vết thương tim
Sao không hiện lên màn hình ? (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 30.10.2009

Hoàng Sa, Trường Sa là bãi hoang chim ỉa ư?

Hoàng Sa, Trường Sa là bãi hoang chim ỉa ư?

Thanh Thảo

Nhà thơ Thanh ThảoTôi đọc bài trả lời phỏng vấn của Trung tướng Nguyễn Văn Hiến – Phó đô đốc, Tư lệnh quân chủng hải quân VN, nhớ mãi lời vị tướng này nhắc nhở thế hệ cháu con: hãy nhớ, Hoàng Sa là của Việt Nam. Dù còn bao lâu, qua bao đời, thì cháu luôn hãy nhớ rằng: Hoàng Sa là của chúng ta! Sau cơn xúc động vì lời khẳng quyết như đinh đóng cột của vị tướng hải quân, tôi bất giác nhớ bức thư của nguyên Tổng biên tập báo Lao động Tống Văn Công vừa gửi cho tôi, trong đó ông tường trình đầy đủ về các cuộc họp chi bộ phường ông cư ngụ để “kiểm điểm quan điểm sai trái” của ông – tức lá thư ngỏ ông gửi cho Đảng của mình – có cái tên khá dài mà tôi nhớ không đầy đủ, nhưng nội dung lá thư ngỏ thì tôi nhớ.

Ông Tống Văn Công thuật lại ý kiến phát biểu trong cuộc họp chi bộ kiểm điểm ông của đồng chí Ba Náo, nguyên Bí thư chi bộ, hiện là Chi ủy viên chi bộ, rằng: “Hoàng Sa, Trường Sa là bãi hoang chim ỉa, ta nói ta có bằng chứng của ta, Trung Quốc nói họ có bằng chứng của họ. Giống như hai người láng giềng là Út Kỷ với Hải (hai ông láng giềng trong tổ dân phố có chi bộ này) bất hòa với nhau thôi”. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 02.11.2009

ĐẶNG NHẬT MINH, PHIM VÀ ĐỜI

Đạo diễn-NSND Đặng Nhật MinhBạn đọc kính mến. Đạo diễn- NSND Đặng Nhật Minh cùng bộ phim “Đừng đốt” sẽ đến Mỹ tham gia chương trình chiếu phim tại 14 trường đại học và giao lưu với khán giả, từ ngày 4 đến 20-11. Chuyến công chiếu theo lời mời của Viện Văn hóa và Giáo dục Việt Nam (IVCE) tại Mỹ. Được biết Bộ phim “Đừng đốt” của đạo diễn Đặng Nhật Minh đã đánh bại hơn 20 tác phẩm khác để dành “Giải thưởng do khán giả bình chọn”, tại LHP quốc tế Fukuoka lần thứ 19. Đây là giải thưởng duy nhất trong khuôn khổ LHP này vào 9-2009 tại Nhật Bản. LHP Fukuoka được tổ chức ở thành phố cùng tên ở Nhật Bản là một LHP lớn trong khu vực. Những bộ phim tham gia LHP sẽ được lưu giữ tại Thư viện phim Fukuoka, nơi có điều kiện để bảo quản phim trong vòng 400 năm. Khoảng 30 bộ phim Việt Nam đã được chọn vào thư viện này, trong đó có các tác phẩm “Hải Nguyệt” của đạo diễn Mỹ Hà, “Chiếc chìa khoá vàng” của đạo diễn Lê Hoàng, “Đời cát” của đạo diễn Nguyễn Thanh Vân, “Sống trong sợ hãi” của Bùi Thạc Chuyên… Đạo diễn Đặng Nhật Minh có tới 6 bộ phim được lưu giữ là “Bao giờ cho đến tháng 10″, “Cô gái trên sông”, “Trở về”, “Hà Nội mùa đông năm 46″, “Mùa ổi” và sắp tới là “Đừng đốt”. Ông cũng là 1 trong những người tham gia liên hoan phim này từ năm đầu tiên (năm 1991) với bộ phim “Bao giờ cho đến tháng 10″. Nhân dịp này, QUÀ TẶNG XỨ MƯA xin giới thiệu bài viết ĐẶNG NHẬT MINH, PHIM VÀ ĐỜI (Đọc tiếp…)
Đăng bởi: Ngô Minh | 06.11.2009

NHỚ ÔNG NGUYỄN TUÂN

Ngô Minh

TET 20

 

 

 

 

 

NHỚ ÔNG NGUYỄN TUÂN

…ông là tô phở Hà Nội mình
quý người ăn nên sang người nấu
một bữa nhớ đời
mà bắt chước thì vô cùng khó
cái dư vị trinh nguyên nết đất
cái nhân tình đậm đặc
nói với tôi : Mình hãy cứ là mình
nếu mong đến một cái gì đích thực ! (Đọc tiếp…)

Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Đó là điều đã được  khẳng định trong lịch sử, chứ không phải là “Bãi hoang chim ỉa” như ông Bí thư chi bộ Náo trong chi bộ của  ông Tống Văn Công cố tình  lãng quên để bảo vệ bọn bành trướng. Sau khi đăng Bài ” Hoàng Sa là bãi hoang chim ỉa ư ?” của nhà thơ Thanh Thảo, chúng tôi đọc trên mạng thấy bài viết của tác giả Đinh Kim Phúc rất tâm đắc,  xin khệnh về đây để góp tiếng nói khẳng định chủ  quyền Việt Nam ở  hai quần đảo thiêng liêng này. Mời các bạn cùng chi sẻ.

Từ “Bãi cát vàng” cho đến “Hoàng Sa – Trường Sa” không phải là “Bãi hoang chim ỉa”

Đinh Kim Phúc

Việc Quốc vụ Viện Trung Quốc phê chuẩn việc thành lập thành phố hành chính Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam trực tiếp quản lý ba quần đảo trên biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào đầu tháng 12 năm 2007 là một bước tiến mới trong tham vọng mở rộng “miền Đông Hải” của Trung Quốc. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 11.11.2009

QUA Ô CỬA BỆNH VIỆN

Ngô Minh

QUA Ô CỬA BỆNH VIỆN

ngoài kia cuộc sống sùng sục như nồi nước sôi
người xe lấn chen hú còi rượt đuổi
tất cả lao về phía trước
còn ở đây người nhăn nhó, người rên
người nhắm mắt thiền
người co quắp nghĩ về cõi chết ?…

ngoài kia hàng cổ thụ trăm tuổi trổ lá xanh non
như môi trẻ
sông Hương dang vòng tay đợi
những cặp tình nhân dìu nhau dưới tán hương long não
ở đây chàng trai hóa ông già
chống gậy lom khom lần đi toilet

ở đây sáng nay xe đưa hai tử thi ra nhà xác
chở theo tiếng khóc sụt sùi
ở đây sáng nay bốn đứa trẻ lọt lòng
tiếng khóc oe oe như mần tách vỏ

bệnh viện là nhà ga nối sự sống với cái chết
ở đây con người như bóng thời gian
nhìn qua ô cửa bệnh viện
không biết mình trẻ hay già !

BV Trung ương Huế
6-3-2009

Đăng bởi: Ngô Minh | 12.11.2009

DIỆU KỲ ĐIÊU KHẮC VỎ TRỨNG

DIỆU KỲ ĐIÊU KHẮC VỎ TRỨNG

Hình như đã có một nghệ thuật điêu khắc trên chất liệu mới, không phải bằng  đá, đồng, gỗ… mà bằng  VỎ TRỨNG. Việt Nam ta là xứ sở của trứng, nhưng có lẽ không ít người biết được rằng vỏ trứng cũng làm rung động lòng người. QUÀ TẶNG XỨ MƯA xin giới thiệu với bạn đọc bốn phương những tác phẩm điêu khắc trên chất liệu vỏ trứng, như những bài thơ đẹp

Vỏ trứng 1

VT3

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.11.2009

HÀ NỘI 36 PHỐ PHƯỜNG…

HÀ NỘI 36 PHỐ PHƯỜNG…

Ngô Minh

Rủ nhau chơi khắp Long Thành
Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai…
36 phố phường Hà Nội…, câu thơ dân gian ấy ai cũng thuộc. Nhưng 36 phố phường là những phố nào và có tự bao giờ ? Đó là điều không phải ai cũng biết . Từ ngày vua Lý Công Uẩn xuống chiếu dời đô về Đại La ( 1010) , đặt tên Kinh đô là Thăng Long ( Rồng bay), thủ đô chia làm 2 khu vực: Khu vua ở và thiết triều gọi là Thăng Long Thành và khu dân cư nơi làm ăn buôn bán của mọi tầng lớp sĩ nông công thương. Dân quê gọi là phố Kẻ Chợ , vì mỗi phố sản xuất và bán một thứ sản vật nổi tiếng. Khu dân cư này cũng có thành bao quanh , gọi là Thăng Long ngoại thành. Cả hai khu vực này được tổ chức thành một đơn vị hành chánh, gọi là phủ Ứng Thiên. Đến năm 1014 đổi là Nam Kinh. Sang đời Trần đổi là Trung Kinh , có 61 phường. Đến đời Lê , mới tổ chức lại thành 36 phường . Đến đời Hồ gọi là Đông Đô. Đến thời nhà Lê, sau chiến thắng quân Minh, đổi thành Đông Kinh. Đến năm 1831, thời Minh Mạng , cái tên HÀ Nội mới ra đời , gồm 4 phủ : Hòa Đức ( tức Thăng Long cũ), Thường Tín, Ứng Hòa, Lý Nhân. Phủ Hòa Đức, (Đọc tiếp…)

Bạn đọc kính mến. Quốc Hội đang thảo luận về Nhà máy điện hạt nhân. QUÀ TẶNG XỨ MƯA nhặt được trên mạng bài phỏng vấn ông Phùng Liên Đoàn, một người Việt Ở Mỹ, một chuyên gia về điện hạt nhân của Mỹ. Nhận thấy những ý kiến của ông Đoàn là xác đáng, chúng tôi tải về đây để bạn đọc cùng suy ngẫm

10 phương pháp không cần điện hạt nhân mà vẫn giúp Việt Nam tăng thêm nội lực


Hỏi:

Như ông đã biết, Việt Nam đang thảo luận về việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân với 8 tổ máy tại Ninh Thuận. Từng tham gia thiết kế 4 nhà máy điện hạt nhân (ĐHN) và viết hơn 100 khảo cứu và phúc trình về sự an toàn và giá thành của ĐHN so với các nguồn tạo điện khác, tham gia tẩy uế phóng xạ tại 10 trung tâm nguyên tử khắp nước Mỹ và đánh giá hơn 50 nhà máy hạt nhân của Mỹ, ông có suy nghĩ gì về mong muốn xây dựng nhà máy ĐHN?

Phùng Liên Đoàn:

Điện là rất cần thiết cho phát triển kinh tế, nhưng việc sản xuất điện mất rất nhiều tiền và thời gian. Vì thế, khảo sát và đề xuất cách cung cấp điện cho tương lai là việc quan trọng. Tuy nhiên, việc đệ trình lên Quốc Hội một đề án ĐHN lớn 8000 MW, trong khi Quốc Hội có rất ít thì giờ và người dân đủ mọi thành phần chưa có cơ hội hiểu biết và đóng góp, là một việc làm có rất nhiều rủi ro sai lầm dẫn đến phí phạm ngân sách quốc gia vốn đã rất eo hẹp. “Mong muốn” xây dựng nhà máy ĐHN để thành một “cường quốc” ĐHN là một việc duy ý chí không có cơ sở vững chắc. Tôi ở nước ngoài nghe nói vài năm trước ta có dự án lớn “điện toán hóa” các cơ quan giáo dục toàn quốc nhưng ngày nay tiền đã tiêu hết nhưng kết quả thì không như dự kiến. Chương trình có ĐHN to lớn để sánh vai với các nước giàu và công nghệ cao thì tốn kém hơn ngàn lần kinh nghiệm đó. Ta không thể tin ngay một số người đã có định kiến sẵn là ta “thừa sức làm” vì đó là duy ý chí. Quốc Hội nên yêu cầu chính phủ nghiên cứu kỹ lưỡng hơn với điều kiện có sự phản biện của người dân, nhất là giới trí thức có am hiểu về khoa học, kinh tế, xã hội, và quốc phòng liên quan đến ĐHN và tương lai của đất nước. Ta nên nhớ rằng người làm cho chính phủ được trả lương, còn người dân thì không, vì thế ta nên rất trân trọng người có lòng với quốc gia đưa ra phản biện. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.11.2009

ngồi nói chuyện một mình trong vườn bông

ĐỖ TRUNG QUÂN

ngồi nói chuyện một mình trong vườn bông

Nhà thơ Đỗ Trung Quân

 

 

 

để sống
phải biết sợ
biết sợ lâu ngày tôi có một gia tài hèn
chuyện bình thường thôi
nhưng đấy là tôi –
phó thường dân nam bộ

(Đọc tiếp…)

Vài nhận xét về kết quả phong hàm giáo sư 2009

Ngày 18/11 vừa qua, Hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước (HĐCDGSNN) vừa công bố danh sách các nhà khoa bảng Việt Nam mới được phong hàm giáo sư (65 người) và phó giáo sư (641 người). Đây là đợt xét phong cho cả 2 năm 2008 và 2009. Tôi tò mò làm một vài phân tích dựa vào số liệu trên trang web của HĐCDGSNN và số liệu tôi thu thập từ mấy năm trước thì thấy vài xu hướng thú vị.

Thứ nhất là số lượng GS, PGS được phong tăng đáng kể trong vòng 5 năm qua. Nhìn qua Bảng 1 dưới đây, chúng ta thấy so với năm 2005, số GS được xét phong tăng nhanh trong 2 năm 2007 (tăng 32%) và 2008-2009 (tăng 58%). Số PGS được xét phong vào năm 2008-2009 tăng vọt, hơn 2 lần so với năm 2005. (Đọc tiếp…)

Bạn đọc kính mến. Liên Thành- Chỉ huy trưởng BCH/CSQG Thừa Thiên Huế trước năm 1975 là kẻ giết thầy, chặt đầu bạn. Thế mà mới đây ông ta đã in sách, viết báo kể tốt về mình. Xin mời bạnd dọc  đọc hồi ký của nhà văn Nguyễn Đắc Xuân để hiểu thêm con người Thực của Liên Thành.

Qua một vài chuyện được chứng thực để biết con người Liên Thành gian ác như thế nào

Nguyễn Đắc Xuân

Nhà văn Nguyễn Đắc Xuân. Ảnh NM chụp ở  Dã Lê ChánhChủ nhật, 13 tháng 11, 2009, 18:49, tôi nhận được một e-mail từ địa chỉ: “vi lethituong” levisq06@yahoo.com.vn với nội dung như sau:

Kính gửi nhà văn Nguyễn Đắc Xuân,
Tôi là một người dân Huế xa xứ , vì yêu Huế nên rất quan tâm đến những chuyện vui buồn của Huế. Vừa qua tôi có đọc bài viết “ Trịnh Công Sơn và những hoạt động nằm vùng” của ông Liên Thành và sau đó là bài phản hồi của ông Hoàng Phủ Ngọc Phan trên trang web Lề Bên Trái .Tôi cũng theo dõi những trang web hải ngoại giới thiệu quyển sách “Biến Động Miền Trung” của Liên Thành và loạt bài “Liên Thành và Mắm Tôm” của Bảo Quốc Kiếm…Tuy vậy , vẫn còn một số chuyện mà tôi nghĩ rằng những ngừơi trong cuộc chưa nói hết. Được biết ông Nguyễn Đăc Xuân cũng là một trong số những người trong cuộc, là nhân chứng quan trọng-hơn nữa ông còn là nhà Huế học, rất am hiểu về các biến động lịch sử nói trên.Vậy tôi xin mạo muội gửi thư này kèm một số câu hỏi có liên quan đến ông, nhờ ông giải đáp giùm . Mục đích của tôi không phải vì hiếu kỳ mà vì muốn hiểu được sự thật ,nên cũng mong được nghe ông nói những điều trung thực, với lương tâm và trách nhiệm của người cầm bút để ghi chép lịch sử, nhất là lịch sử thành phố Huế . (Đọc tiếp…)

Bài này được đăng lúc 07:48 ngày Thứ Bảy, 28/11/2009 trong mục Bài viết.

Nhà văn Phạm Đình Trọng là một trong những người sớm ký tên vào Kiến nghị dừng dự án bauxite ở Tây Nguyên. Nhận thấy trong một quốc gia dân chủ, gia nhập đảng hay từ bỏ đảng là việc làm bình thường, tùy vào nhận thức và sự lựa chọn của từng người, Bauxite Việt Nam xin đăng Thông báo sau đây theo đề nghị của anh.

Bauxite Việt Nam

Nhà văn Phạm Đình Trọng: Thông báo về việc từ bỏ đảng tịch đảng viên Đảng Cộng sản


Kính gửi:

- CHI ỦY VÀ CHI BỘ 4

- ĐẢNG ỦY PHƯỜNG 15 QUẬN TÂN BÌNH TPHCM

Tội là Phạm Đình Trọng, nhà văn, là đảng viên Cộng sản lớp Hồ Chí Minh từ 19.5.1970. Đến nay, 20.11.2009, tôi tự thấy đảng Cộng sản không còn phù hợp với lí tưởng thẩm mĩ và giá trị nhân văn mà tôi theo đuổi nên tôi tự rút ra khỏi đảng. Thiếu vài tháng nữa, tôi tròn 40 năm là người Cộng sản. Từ lúc tự nguyện đứng vào hàng ngũ Cộng sản, đến tự rút ra khỏi đảng là một quá trình chuyển biến trong tôi, từ nhận thức bằng tình cảm sang nhận thức bằng lí trí và cũng là quá trình chuyển biến của chính đảng Cộng sản, từ ý chí vì dân, vì nước sang ý chí chỉ vì sự tồn tại của đảng. Tôi xin trình bày về quá trình hai chuyển biến đó, một chuyển biến thuận, tất yếu, hợp qui luật phát triển và một chuyển biến nghịch, tiêu cực, thóai hóa. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 30.11.2009

HOA HẬU

Ngô Minh

HOA HẬU

           Cho vợ Minh Tâm

trưa nay hoa hậu muộn về
bố con thi sĩ cơm khê, lửa cười
vô tư là giống trên đời
biết đâu rau đậu bời bời giá lên
đồng tiền như ả vô duyên
đầu hôm hăm mốt qua đêm còn mười

lội quanh chợ cá, chiều rồi
thứ ngon thì mắt, thứ ôi thì buồn (*)
em cười cho bữa cơm ngon
trung thu chiếc bánh cho con nhớ mừa
chiều chồng chén rượu đĩa dưa
còn bầu còn bạn đời chưa cạn tình

em thi họa hậu một mình
âm thầm vương miện lặng im thơ đề…

Huế, 8-3-1989

(*): Mắ:, tiếng Huế nghĩa là “đắt”

Đăng bởi: Ngô Minh | 03.12.2009

UỐNG VỚI LẠI ĐĂNG THIỆN

Bạn đọc kính mến. Thương binh Lại Đăng Thiên  thời chiến tranh là chiến sĩ công binh

đã hai lần được truy điệu sống để lái ca nô  kích nổ bom từ trường Mỹ trên các dòng sông

ở miền Trung. Hoà bình , Thiện đi học y tế và đã đỡ đẻ cho hơn 400 em bé khắp huyện Tân Kỳ…

Ngô Minh

UỐNG VỚI LẠI ĐĂNG THIỆN

rót thêm chén nữa hỡi chiều
đò Rô hổn hển như diều đứt dây
sông Con sấp ngửa vơi đầy
say cho đến tận góc này nhân gian

ừ thêm chén nữa, cười khan
đã truy điệu sống chưa tàn cuộc chơi
đỡ trăm em bé chào đời
trắng đêm trắng mắt trắng trời…lại thơ

rót thêm chén nữa, ơ hờ
non non nước nước bao giờ cho khuây
bao nhiêu đồng đội vùi thây
mình may con sống trắng tay vẫn là…

ừ thêm chén nữa, a ha
sang hèn chi cõi ta bà ẩm ương
mốt mai còn mấy đoạn trường
đắng cay là chén vô thường , Thiện ơi…

Lại Đăng Thiện

 

 

 

 

 

 

 

 

Lại Đăng Thiện

Nghĩa Bình, Tân Kỳ
1-9-2009
Đăng bởi: Ngô Minh | 05.12.2009

TUYÊN NGÔN QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN

Bạn đọc kính mến. Chúng tôi cung cấp cho các bạn Bản Tuyến ngôn quốc tế về Nhân quyền của Liên Hiếp Quốc  năm 1948 mà nước ta đã long trọng ký kết, để có điều kiện đối  chiếu với những việc làm hằng ngày chúng ta đã thực hiện quyền làm người như thế nào

TUYÊN NGÔN QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN

Xét rằng: Sự công nhận nhân phẩm của tất cả con người trong đại gia đình nhân loại và những quyền bình đẳng không thể tước đoạt của họ là nền tảng của tự do, công lý và hòa bình trên thế giới.

Xét rằng: Hành vi xem thường và chà đạp nhân quyền đã dẫn đến những hành động man rợ, xúc phạm đến lương tâm nhân loại. Việc tiến đến một thế giới trong đó tất cả mọi người được hưởng sự tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, không còn lo sợ hãi và nghèo khó, phải được tuyên xưng như là ước vọng cao nhất của con người. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 06.12.2009

HOA ĂN THỊT

HOA ĂN THỊT

Ngô Minh

Giống thú ăn thịt thì ai cũng biết. Giống người ăn thịt là chuyện thường ngày. Đến việc HOA ĂN THỊT thì khiếp lắm. Gọi là Hoa vì trông giống như một đoá hoa, màu sắc sặc sỡ, hấp dẫn. Đó là giống cây mà người Việt gọi là cây nắp ấm. Cây mọc rồi nởq  ra một bông hoa như vô tình đâu đó bên bờ ruộng, bên đường cái quan, dưới gôc cây cổ thụ..trông như một đoá hoa. Nhưng mỗi khi có những chú ruồi, ong, chuồn chuồn, hay muỗi, sâu bọ …bò vào miệng hoa ấy là lập tức nó đậy nắp lại, thế là con động vật biến thành mồi ngon của cây. Thì ra đó là một cái bẫy  săn mồi. Trên thế giới có nhiều loại cây NẮP ẤM, Ngô Minh là nhà thơ, không biết tên , chỉ tải về dây vài ảnh của nó để mọi người ngắm  và ngẫm trong ngày chủ nhật. Ngắm để hiểu rằng, muốn bắt mồi, con thú cũng như cây nắp ấm, cũng như con người phải luôn phải khoác chiếc áo đẹp...

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 09.12.2009

LẠY CỤ NGUYỄN DU

Ngô Minh

LẠY CỤ NGUYỄN DU

lạy này xin cụ xá cho
cô Kiều năm ấy mới vừa qua đây
nom chừng son phấn thêm dày
cầm ca một thuở đã phai nhạt rồi

lạy này xin cụ đánh roi
trăm năm báo oán mà đời oán dâng
lũ Tú bà, Mã Giám Sinh
nhung nhúc Ưng Khuyển, Sở Khanh…nảy nòi

lạy này xin cụ ngậm cười
văn chương trần thế chín mười đơn sai
chữ tâm rơi rớt dặm dài
chữ tài liền với chữ tai… Thôi thì…

lạy này xin cụ say vì
cháu con thơ lại đến quỳ trước thơ
Tiên Điền mây cỏ ngẩn ngơ
trăm phần trăm chén giang hồ
Nguyễn ơi…

Tiên Điền 1-2007

Đăng bởi: Ngô Minh | 12.12.2009

QUÀ TẶNG XỨ MƯA

Ngô Minh đã lấy tên bài thơ này để đặt tên cho blog của mình. Đây là bài thơ văn xuôi 9 khúc viết về MƯA HUẾ, một nét văn hoá của Cố Đô…

NGÔ MINH

QUÀ TẶNG XỨ MƯA

I
 Con đường dâng trước ngực tôi lời ngợi ca đầy ắp.Cơn mưa rộng dài tâm tình sung mãn thành phố trăm năm vang bóng nước mây dâng tặng mai này. Gót mưa dạo hồn tôi nhẹ nhàng mát mẻ .

Tất cả tan vào mưa, không gian không chia hướng. Những ô cửa tầng cao lim dim niềm ngẫm nghĩ, hạnh phúc tiềm ẩn nơi đâu bỗng quánh đặc khoảng trời. Bác xich-lô già nép lòng mưa mai mỉm cười đón khách, chia người qua đường chút lửa ấm trên môi.

Những hạt mưa gieo xuống hồn tôi như người trồng rau ngoại ô gieo hạt vào đất ẩm. tiếng đất nghẹn cồn cào cơn khát hạ say mở lòng chào đón và dắt mưa quấn quýt bước người cày

Mưa nảy mần hạnh phúc giữa lòng tay ! (Đọc tiếp…)

Bộ Ngoại giao tiếp nhận văn bản thời Lê về Hoàng Sa


- Chiều 14/12, UBND tỉnh, Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch Thừa Thiên – Huế đã bàn giao văn bản liên quan đến chủ quyền quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam từ thời nhà Lê cho Bộ Ngoại giao.

 

 

 

 

 

 

 

 

Văn bản gốc được lập dưới triều Lê khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa. Ảnh: Phú Hà
Văn bản được viết trên giấy dó, do quan Thuận Đức trấn giữ cửa biển Biên Hải (nay là cửa Tư Hiền, xã Vình Hiền, huyện Phú Lộc) lập để xử lý vụ kiện giữa hai phường An Bằng (nay là làng An Bằng, xã Vinh An, huyện Phú Vang) và Mỹ Toàn (thôn Mỹ Lợi, xã Vinh Mỹ, huyện Phú Lộc). (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.12.2009

BẠN VĂN 32 – BẢO NINH

( QTXM) Bạn đọc thân mến. Nhà văn Bảo Ninh tuổi Nhâm Thìn, tên khai sinh là Hoàng  Âú Phương, xã Bảo Ninh, Đồng Hới, Quảng Bình với tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh nổi tiếng- Giải thưởng Hội nhà văn VIỆT NAM năm 1991. Là con của nhà ngôn ngữ học Hoàng Tuệ, chắt nội của  ông Huỳnh (Hoàng ) Côn – Thượng thư Bộ lễ  và Phụ chánh Đại thần triều vua Duy Tân.

BẠN VĂN 32
BẢO NINH

Nguyễn Quang Lập

Nhà văn Bảo Ninh

Bảo Ninh hơn mình hai ba tuổi gì đây nhưng mình vẫn mày tao với nó từ thời mới gặp nhau đến giờ, mấy chục năm rồi. Mình vốn cục bộ địa phương, hồi mới gặp nhau ở Huế nó hầu như vô danh trong khi mình đang rất nổi, vô danh hữu danh chẳng quan trọng, miễn dân Quảng Bình là kéo nhau vào quán bù khú được rồi.
Sau này biết nó thuộc dòng danh gia vọng tộc, bố nó là nhà ngôn ngữ mình vô cùng kính trọng và ngưỡng mộ, ông cố nội nó là thượng thư bộ lại ba đời vua Triều Nguyễn, có tên đường ở Đồng Hới thì nể lắm, đôi khi thấy mình cũng vinh lây. Chẳng cần nó làm gì, văn veo viết lách ra sao, chỉ cần nhìn cung cách ngồi uống rượu của nó cũng biết nó thuộc giống người sang, lịch lãm có từ trong máu.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.12.2009

THƯ GIẢN CUỐI TUẦN

THƯ GIẢN CUỐI TUẦN

Bạn đọc kính mến. Các bức hình chụp có khi tình cờ nhưng mang nhiều sự hài hước, ngộ nghĩnh và có khi hàm chứa cả những câu hỏi tâm lý không thể trả lời. QUÀ TẶNG XỨ MƯA xin cung cấp cho các bạn những bức hình như thế  nhặt tinh tinh đây đó trên mạng  mong  góp vui  giải trí cuối tuần. Chú thích anh là của chúng tôi, mong các tác giả thông cảm.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.12.2009

MỪNG BAUXITEVIETNAM THOÁT HIỂM

MỪNG BAUXITEVIETNAM THOÁT HIỂM

Bạn đọc kính mến. Từ một tuần nay ngày nào tôi cũng 3 lần vào web. Bau xitevietnam.info , nhưng lúc nào cũng thấy thông báo “xin bạn đọc chờ đến ngày 13/12″, ” rồi xin bạn đọc chờ  đến ngaỳ 20/12″… Chúng tôi biết, Bauxitevietnam đang gặp nạn. Lo quá. Lo vì trang web. trung thực, chất lượng cao và sống chết vì non nước Việt Nam , đang được hàng triệu độc giả  ngươì Việt cập nhật hàng ngày này đang bị bọn xấu tấn công. Nhưng sáng nay, truy cập thì mừng quá. Bauxiteivetnanm đã có giao diện mới, đã thoát hiểm. Xin chúc mừng và mong Bauxitevietnam luôn cảnh giác, vững vàng trước sóng gió để luôn có mặt với mỗi con dân yêu nước Việt Nam .
QÙA TẶNG XỨ MƯA  xin tải lại bái viết đầu tiên trên Bauxitevietnam.info sau khi thoát hiểm để bạn đọc cũng mừng vui, chia sẻ.- Ngô Minh

Bạn đọc yêu quý,

Chúng tôi đã định giấu kín mọi khó khăn, cố vượt qua thử thách, cũng là để tự vượt lên mình. Nhưng đã không thể nào giấu nổi trước con mắt tinh tường của rất nhiều anh em bè bạn vẫn ngày ngày ghé thăm trang mạng. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.12.2009

100 NGÀY TÔI VƯỢT TRƯỜNG SƠN

100 NGÀY VƯỢT TRƯỜNG SƠN

Hồi ức của Ngô Minh

 

 

 

Trong đời tôi có những năm tháng khắc tạc vào trí nhớ, không thể quên. Một trong những ký ức mãi tươi ròng không thành sẹo đó là 100 ngày vượt Trường Sơn đánh giặc. Hàng triệu người lính đã vượt Trường Sơn. Hàng vạn người lính, đã nằm lại giữa lòng Trường Sơn. Trường Sơn là nơi thử thách ý chí và lòng người :Trường Sơn đông nắng tây mưa/Ai chưa đến đó như chưa rõ mình ( Tố Hữu). Đường Trường Sơn luôn luôn là một bí ẩn không chỉ đối với kẻ thù mà cả đối với những người đã từng 100 ngày leo đèo vượt suối như tôi. Đi một chặng là hiểu thêm bao điều bi tráng, lớn lao của cuộc kháng chiến. Đã 36 năm rồi, cuốn “Nhật ký Trường Sơn” mỏng của tôi dẫu nhòe bụi thời gian vẫn nóng hổi từng con chữ. Xin gửi đến bạn đọc trẻ hôm nay những hồi ức chân thực rút từ cuốn nhật ký ghi vội giữa chiến trường năm ấy, để biết cha anh mình đã vượt Trường Sơn như thế nào…

Ngô Minh  1973, trước khi vượt Trường Sơn (Đọc tiếp…)
Đăng bởi: Ngô Minh | 24.12.2009

MỪNG MÙA GIÁNG SINH 2009

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ngô minh

THƠ ĐÊM GIẤNG SINH

Chúa ai ngự ở trên trời
tình yêu là chúa của người yêu nhau
thiên dường là trái tim đau
âm thầm gõ nhịp nhiệm màu ngân vang

Đất sờn mưa nắng thời gian
đạn bom gươm giáo tưởng tan nát rồi
vây trong giả dối cuộc đời
chỉ còn chốn ấy cho người nương thân

Linh thiêng phút chúa giáng trần
là khi ta xích lại gần nhau hơn
là khi tay nắm mắt nhìn
khi làn môi ướt say tìm làm môi

Nếu không phút ấy em ơi
làm sao có được Chúa Trời sinh ra
sẽ không có nhị có hoa
con đường và những mái nhà… cũng không

Trái đất như thể mặt trăng
lạnh lùng trôi giữa trống không thiên hà
Thiên đường là trái tim ta
tình yêu muôn thưở vẫn là sơ sinh…

Đăng bởi: Ngô Minh | 26.12.2009

Đi tìm ẩn ngữ thơ Hoàng Cầm

Đi tìm ẩn ngữ thơ Hoàng Cầm

Đỗ Lai Thuý

Đỗ Lai Thuý xuất hiện đột ngột nhưng lao đao. Đột ngột vì khi in Con mắt thơ ông đã cứng tuổi và có lẽ là một trong vài người hiếm hoi trở thành nhà văn thế hệ ngũ thập mà không đi qua nẻo Văn nghệ; còn vì cái giọng văn nghiên cứu phê bình nồng nhiệt thiết tha, bay bổng đầy nữ tính mà trước Đỗ Lai Thuý chúng ta chỉ mới thấy có ở Hoài Thanh. Lao đao vì những “ảnh hưởng” thô, những trích dẫn không trong ngoặc kép và chú thích nguồn đã khiến ông chịu búa rìu dư luận; chịu đến nỗi ở cách xa vẫn cảm thấy mồ hôi vã ra, nhoè ướt cả trang sách vẫn đang làm xao xuyến, làm thổn thức bạn đọc. Dầu sao mặc lòng, chuyện thị phi nói bao giờ cho hết, cái cần nói là trên văn đàn, nhất là góc lý luận phê bình của nó, Đỗ Lai Thuý vẫn là một diện mạo quyến rũ. Văn chương, nhất là thơ, mỗi khi đi từ văn bản qua ông để đến bạn đọc đều lung linh sáng và nhiều khi trở nên lộng lẫy óng ả. Chương sách về Hoàng Cầm trích từ cuốn Bút pháp của ham muốn của ông là một ví dụ như vậy. vanvn.net

Mỗi người
thăm
thẳm
một chiêm bao
Trần Dần

Tôi gặp Hoàng Cầm lần đầu tiên vào những năm bảy mươi. Tập thơ Về Kinh Bắc bấy giờ còn ở dạng bản thảo. Một cuốn sổ bìa cứng, giấy carô và những con chữ phóng túng như muốn vượt ra ngoài lề. Đặc biệt, thỉnh thoảng lại có một bức tranh minh họa của Bùi Xuân Phái, Sỹ Ngọc…, hay của chính nhà thơ. Về Kinh Bắc với những giai thoại về số phận của nó đã gây cho tôi một ấn tượng bàng hoàng. Tôi nài Trúc Thông dẫn tôi đến nhà Hoàng Cầm. Bấy giờ ông được phép mở quán rượu tại gia để lấy tiền độ nhật. Hoàng Cầm là một người dong dỏng, đẹp trai, giọng nói ấm áp, cách nói hấp dẫn, hơi trình diễn, và đầy một sự dịu dàng nữ tính. Ông thật tương phản với tất cả những gì xung quanh: căn nhà cấp bốn lụp xụp, tối tăm và lũ tửu đồ thô kệch mà ông phải lăng xăng phục vụ. Tôi và Trúc Thông chọn một góc khuất, gọi hai chén rượu và ngắm Hoàng Cầm. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 28.12.2009

Sự bỉ ổi có phương pháp

Bạn đọc kinh mến. Chiều hôm qua NM nhận được 2 file thư chuyển từ địa chỉ email của nhà văn Phạm Toàn,một người trong  nhóm chủ  biên bauxitevietnam.info. Thư xin  rút tên khỏi nhóm chủ biên và thư tố cáo GS Nguyễn Huệ Chi lấy tiền  nước ngoài để làm mạng phản biện và  chi tiêu không minh bạch. Ngô Minh đang rất băn khoăn thì  trên quechoablog đã có bài  viết nói rõ đây là sự bỉ ổi của  bọn tin tặc xấu xa. NM xin tải những thông tin của NQL về đây để bạn đọc chia sẻ.

Sự bỉ ổi có phương pháp

Nguyễn Quang Lập


Hôm nay, 14h ngày 28/12/2009, tôi nhận được email từ địa chỉ email anh Phạm Toàn, một trong ba thành viên sáng lập và quản trị Bauxite Việt nam, email có đính kèm 2 file: 1 file có tên ” thư rút tên“, 1 file có tên ” Nguyễn Huệ Chi con người hai mặt” Đây là hai file PDF nên không cách sao copy đưa lên mạng được, đành lược kể như sau: (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 30.12.2009

THƠ VỀ ẨM THỰC

THƠ VỀ ẨM THỰC

Ngô Minh

Các nhà thơ cổ kim đông tây viết về rượu đều rất hay ( Thảnh thơi thơ túi rượu bầu -Nguyễn Công Trứ ; hay Trăm năm thơ túi rượu vò / Nghìn năm thi sĩ , tửu đồ là ai – Tản Đà , hay Gặp nhau là nhớ mùi rượu Hiếu- Nguyễn Trọng Tạo ), nhưng lại ít làm thơ về các món ẩm thực trong cuộc sống. Âu thứ gì thân thuộc với cuộc sống con người cũng đều là chất liệu thơ cả, nhưng rượu có lẽ dễ gửi gắm tâm trạng hơn các món ăn. Thơ về ẩm thực khó viết, vì ai lại đi đưa chuyện ăn uống trần tục vào thơ! Nói thế , nhưng thơ về ẩm thực nhiều đến độ có thể xuất bản thành một tuyển tập ! Tôi vốn có “tâm hồn ăn uống”, lại có năm say mê viết sách “Ăn chơi xứ Huế” , nên thấy bài thơ , câu ca nào nói về ẩm thực là để ý . Đâù năm , bên mâm rượu , xin đọc tặng bạn đọc đôi bài thơ Việt Nam về ẩm thực , làm đồ nhấm. (Đọc tiếp…)

Ngô Minh được  Giải thưởng Văn học nghệ thuật Cố đô lần thứ IV (2003-2008)
 

 

 

 

Bạn đọc thân mến. tạpchisonghuong.com.vn vừa đưa tin kết quả  xét Giải thưởng VHNT Cố đô của tỉnh Thừa Thiên Huế lần thứa 4 (2003-2008). Tập thơ Huyền thoại Cửa Tùng viết về hiền Lương-Quảng Trị , quê mẹ của Ngô Minh xuất bản năm 2004 đã được  giải C. Như vậy  Ngô Minh đã được Giải thưởng CỐ đô  4 kỳ liên tục. Mời các bạn  đọc thông tin trên Sông Hương để biết những người được giải. Kỳ sau Ngô Minh sẽ giới thiệu tập thơ Huyền thoại Cửa Tùng

Sau 2 ngày làm việc (26-27/12) tại Văn phòng Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Thừa Thiên Huế, Hội đồng Chung khảo Giải thưởng Văn học nghệ thuật Cố đô lần thứ IV (2003-2008) đã thống nhất giới thiệu 37/54 tác phẩm, công trình (thuộc các lĩnh vực: nhiếp ảnh, mỹ thuật, kiến trúc, sân khấu, múa, âm nhạc, văn nghệ dân gian và văn học) để bỏ phiếu kín, chấm điểm xếp thứ hạng giải thưởng. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 31.12.2009

CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2010

CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2010

Ngô Minh xin chúc quý độc giả một năm mới  trọn vẹn niềm vui , an lành hạnh phúc. Cám ơm quý độc giả trong năm 2009 đã đến với  ngominhblog.wordpress.com rất chân tình. Ngô Minh đã cố gắng đăng bài  vở  chất lượng, nhưng không thể tránh khỏi những  khiếm khuyết, kính mong quý sđộc giả lượng thứ. Mong năm mới quý bà con ghé thăm QUÀ TẶNG XỨ MƯA nhiều hơn.

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 02.01.2010

Giới thiệu tập thơ HUYỀN THOẠI CỬA TÙNG

“THẾ GIỚI TÌM THẤY” TRONG TẬP THƠ “HUYỀN THOẠI CỬA TÙNG” CỦA NGÔ MINH

HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG

Kể từ tập thơ đầu tay (Phía nắng lên in năm 1985), Huyền thoại Cửa Tùng là tập thơ thứ mười (và là tập sách thứ 17) của Ngô Minh đã ra mắt công chúng. Dù nghề làm báo có chi phối đôi chút thì giờ của anh , có thể nói chắc rằng Ngô Minh đã đi cùng với thơ 20 năm, và thực sự đã trở thành người bạn cố tri của thơ giữ lúc mà những đồng nghiệp khác của anh hoặc do qúa nghèo đói, hoặc do đã giàu có lên, đều đã phải từ giã nghề làm thơ. Vậy thì Ngô Minh đâu còn là “một nhà thơ trẻ có triển vọng” để cần toi viết đôi lời giới thiệu với độc giả? Thế nhưng, xin thú nhận rằng tôi đã thật sự xúc động và vui mừng xiết bao khi được Ngô Minh ngỏ ý muốn nhường cho tôi bày tỏ đôi lời gọi là trước bạn bè quen biết về tập thơ thứ mười này. Vì một lẽ đơn giản nhưng hiếm có rằng đây là một tập thơ thuần tuý dành cho Quảng Trị, mảnh đất nhau rốn của tôi và cũng là đất quê ngoại của Ngô Minh, hơn nữa là mảnh đất chiến trường nóng bỏng của cả hai chúng tôi.

Gần ba mươi năm chiến tranh đã đi qua, nhưng không hiểu sao sự vật đối với tôi lại gần gũi thế, và những kỷ niệm đối với tôi vẫn nóng bỏng thế, tươi mới như không thuộc về quá khứ, và trĩu nặng tâm hồn như một cái gì thuộc về vĩnh cửu. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 03.01.2010

NGHĨ VỀ MỘT QUỸ DỊCH THUẬT VĂN HỌC VN

Bạn đọc kính mến. Hội nhà văn Việt Nam đang chuẩn bị mở Hội nghị lớn bàn về việc dịch văn học Việt Nam ra nước ngoài. Có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh vấn đề  quan trọng này. Được sự đồng ý của nhà thơ Hoàng Hưng, QUÀ TẶNG XỨ Mưa xin giới thiệu  bài viết  NGHĨ VỀ MỘT QUỸ DỊCH THUẬT VĂN HỌC VN do nhà thơ gửi đến cho chúng tôi . Mời bạn đọc cùng quan tâm chia sẻ.

NGHĨ VỀ MỘT QUỸ DỊCH THUẬT VĂN HỌC VN
(ABOUT A VIETLITBELL FOUNDATION)

HOÀNG HƯNG
Nếu như việc giới thiệu văn học cổ điển VN từ trước đến nay đã được thực hiện bài bản bởi những thiết chế chính thống và thuộc nhà nước, thì văn học đương đại, nhất là văn học từ sau đổi mới, hầu như hoàn toàn do các cá nhân ở nước ngoài (người Việt cùng đồng nghiệp/ đối tác nước sở tại) khởi xướng và thực hiện. Tình trạng này đặt ra cho tôi một số suy nghĩ:
1/ Nhìn qua những tác phẩm được bạn đọc phương Tây chú ý nhất gần đây:
Một khảo sát trên mạng cho thấy:
Về Văn xuôi, cho đến nay, có 5 tác phẩm được người đọc bình chọn là xuất sắc, cũng là những tác phẩm nhận được nhiều bình luận.
Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh (The Sorrow of War, bản dịch tiếng Anh của Phan Thanh Hảo, Frank Palmos hiệu đính): Cho đến nay vẫn xếp vị trí đầu bảng trong số các tác phẩm được bạn đọc phương Tây chú ý. Nó đã được xếp trong top 10 các tiểu thuyết Đông Nam Á. Có người đã nói là nó xứng đáng được giải Pulitzer (giải văn học sáng giá nhất của Mỹ) và được so sánh với Mặt trận phía Tây không có gì lạ của Remarque. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 05.01.2010

KHI SĨ PHU NGOẢNH MẶT

KHI SĨ PHU NGOẢNH MẶT

 

 

 

 

 

 

 

 

  Nhà văn Nguyên Ngọc

Cat Khuê phóng vấn nhà văn Nguyên Ngọc

Hội nhập văn hóa “về hình thức” là gì, thưa ông? Việc chúng ta rất hãnh diện với các loại hình văn hóa phi vật thể được thế giới công nhận trong đó có ca trù được đưa vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp của UNESCO có là bình thường không, thưa ông? (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 06.01.2010

CHIẾU DỜI ĐÔ –QUYẾT SÁCH VƯỢT NGÀN NĂM

Hướng về 1000 năm Thăng Long- Hà Nội :

CHIẾU DỜI ĐÔ –QUYẾT SÁCH VƯỢT NGÀN NĂM

Ngô Minh

 

Một ông vua hay người đứng đầu đất nước có tầm nhìn xa, trông rộng là phúc lớn cho dân tộc. Lý Công Uẩn là một ông vua như vậy. Lý Công Uẩn, người khai sáng vương triều Lý (1010-1225), khai sinh Thủ đô Thăng Long – Hà Nội, sinh ra và được nuôi dưỡng, giáo dục nơi cửa chùa. Năm 1009, Lê Ngọa Triều ( Lê Long Đĩnh ) của nhà Tiền Lê mất, Lý Công Uẩn được giới tăng sĩ và quần thần mà chủ yếu là sư Vạn Hạnh và Đào Cam Mộc ( một vị tướng người Thanh Hoá) .tôn lên làm vua một cách êm thấm và kịp thời, lấy niên hiệu là Thuận Thiên (nghĩa là “theo ý trời”), miếu hiệu là Lý Thái Tổ. Lập tức, chưa đầy một năm sau- 1010 , ông đã ban Thiên Ðô Chiếu ( chiếu dời đô) dời Kinh đô từ Hoa Lư ( Ninh Bình) ra Đại La, đổi tên thành Thăng Long. Đó là quyết định có ý nghĩa lịch sử trọng đại nhất của Lý Công Uẩn thể hiện một trí tuệ việt trác, thiên tài, một tầm nhìn xa vượt ngàn năm, một tấm lòng lo toan cho con cháu nước Việt muôn đời . Thời đại chúng ta cũng có những quyết định sát nhập, đổi tên tỉnh này nọ, nhưng chỉ hơn thập niên thôi tất cả lại trở về như cũ bởi tầm nhìn hạn hẹp. Ôi, một quyết sách của một vị Hoàng Đế mà hơn 10 thế kỷ vẫn còn sức trường tồn hẳn là quyết sách của trời vậy! (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 11.01.2010

Bauxite Việt Nam đã khai trương trở lại

Bauxite Việt Nam đã khai trương trở lại

GS Nguyễn Huệ Chi, GSTS Nguyễn Thế Hùng, Nhà giáo Phạm Toàn
SG Nguyễn Huệ ChiThế là Bauxite Việt Nam đã khai trương trở lại. Đó là tin tốt lành. Theo một nguồn tin không chính thức thì việc đánh sập trang Bauxite Việt Nam và trò bỉ ổi có phương pháp xảy ra từ một hai tuần trước không do người Việt Nam gây ra, nếu đúng vậy thì đó cũng là một tin tốt lành nữa. Tin tốt lành thứ 3 là bác Phạm Toàn đã quyết định không rút khỏi Bauxite Việt Nam. Ông năm nay đã 79 tuổi lại quá bận bịu với bộ sách giáo khoa mơ ước của ông nhưng vì những trò xấu của kẻ xấu vừa rồi đã buộc ông không thể rời khỏi nhóm biên tập- bộ ba kết nghĩa vườn đào bấy lâu nay.

Ngay bây giờ vẫn chưa vào được trang Bauxite, nhưng theo gs Nguyễn Huệ Chi cho biết đó chỉ là trục trặc nhỏ, trong ngày hôm nay bà con sẽ truy cập đựơc. (Đọc tiếp…)

Thuyết phục để Trung Quốc không thành kẻ bắt nạt thế giới”

 Phương Loan

Kéo dài so với dự kiến, trưa nay (12/1), ngay sau khi tới Hà Nội, Giáo sư Joseph Nye đã có cuộc gặp với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bàn về câu chuyện phát triển của Việt Nam trong bối cảnh hậu khủng hoảng và sự trỗi dậy của Trung Quốc.
Thuyết phục Trung Quốc hành xử có trách nhiệm
Nhấn mạnh quan hệ Việt – Mỹ dựa trên nền tảng lịch sử và tương lai Đông Á, Giáo sư Nye đặc biệt lưu ý về sự trỗi dậy của Trung Quốc tại khu vực.
Cùng với sự phát triển kinh tế, Trung Quốc hiện cũng đang tăng cường mở rộng ảnh hưởng, sử dụng và khuếch trương sức mạnh mềm. Phát biểu tại ĐH Đảng lần thứ 17 của Trung Quốc, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào cho biết nước này chủ trương tăng cường sức mạnh mềm bên cạnh sức mạnh kinh tế và quân sự.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp GS Joseph Nye. Ảnh: Lê Anh Dũng (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 13.01.2010

Tin nóng – GS NGUYỄN HUỆ CHI BỊ KHÁM NHÀ

Tin nóng – 16h 30, 13-1-2009
Vietnamese police search house of bauxite-mine critic (m&g/DPA). Công an Việt Nam khám nhà nhân vật chỉ trích việc khai thác bauxite. “Police on Wednesday searched the Hanoi house of a professor who has criticized Chinese-run bauxite mines in Vietnam. A neighbour of Nguyen Hue Chi, a literature professor who runs the website Bauxite Vietnam, said he had seen police searching Chi’s house.”

( Theo anhbasam.com )

Ngày mai, thứ năm họ vẫn mời Huệ Chi “làm việc”

Thư của nhà nghiên cứu Phạm Toàn cho biết tin về việc Công an tới khám nhà giáo sư Huệ Chi và mời “làm việc”.

9 giờ sáng nay (giờ Paris), thứ tư 13.1.2010, được tin giáo sư Nguyễn Huệ Chi, một trong ba người khởi xướng bản kiến nghị về bauxite và chủ trương mạng Bauxite Việt Nam, bị công an tới khám nhà và tịch thu “ổ cứng” máy tính, chúng tôi đã gửi thư điện tử cho nhà nghiên cứu Phạm Toàn (một trong ba người chủ xướng) để hỏi tin.

16g36 (giờ Paris, 22g36 giờ Hà Nội), chúng tôi nhận được thư trả lời của Phạm Toàn. Theo ý tác giả (xem cuối thư), chúng tôi đăng dưới đây toàn văn lá thư này để bạn bè trong nước và ngoài nước được thông báo chính xác (xem thêm : bản tin BBC, nối kết trong mục THẤY TRÊN MẠNG của Diễn Đàn). (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 15.01.2010

Trẻ em đeo râu và cụ già

Trẻ em đeo râu và cụ già

- QTXM : Bạn đọc kính mến. Sang nay thấy trên Boxitvn.wordpress.com có bức thư thứ 2 của thầy giáo Phạm Toàn kể chuyện “làm việc” với  A25 vui quá, tử tế quá, đàng hoàng quá, liên khuân về đây để bạn đọc cùng chia sẻ, để hiểu thêm về các anh A25 bây giờ.

Thân gửi anh Giao và các bạn,

 Thầy giáo  Phạm ToànLá thư thứ 2 này của tôi gửi các bạn có nội dung nói về buổi làm việc với cơ quan An ninh ngày 14-01-2010. 7 giờ 45 sáng, điện thoại : CA khu vực gọi. Đó chính là người hôm qua đã gọi khi tôi không ở nhà. Tôi hẹn anh 8 giờ 30 sẽ gặp, vì tôi bận đi trả tiền Bưu điện. Anh đồng ý. Tôi giả vờ hỏi: “ Anh sẽ đến vì việc gì ? ” thì anh lúng túng mãi không biết trả lời ra sao. Thế mới biết hỏi đã khó mà trả lời cũng chẳng mấy dễ dàng !

Đúng 8 giờ 30, những bốn anh vào nhà tôi. Một trung tá cao 1 mét 78, đẹp trai ra phết. Hai anh mặc thường phục. Và anh Công an khu vực. Anh Công an khu vực vào đề để đưa tôi tờ giấy gọi đi “ làm việc ”ở A 25 của cơ quan An ninh quốc gia. Các anh yêu cầu đi ngay. Tôi hỏi “ Đi đến tối có về chứ ? ” Mọi người cười không trả lời. Tôi bảo : “ Để mình xin phép vợ đã ”. Tôi vào phòng làm việc của vợ tôi, xin phép đàng hoàng. Và nói thêm bằng tiếng Anh “ Không bị tù đâu ”. Vợ tôi tán thêm “ Chưa bị chứ không phải là không bị ”. Các đồng chí Công an có mặt đều hiểu tiếng Anh nên đều cười.

Thầy giáo Phạm Toàn (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.01.2010

NGƯỜI HUẾ LÀM CỖ TẾT

NGƯỜI HUẾ LÀM CỖ TẾT

      Bạn đọc kinh mến. Hôm nay đã Mừng 3 tháng Chạp rồi. Các gia đình người Huế ở khắp nơi trên thế giới bắt đầu rục rịch chuẩn bị các món Tết. QUÀ TẶNG XỨ MUA xin cung cấp cách làm các  món cỗ Tết của người phụ nữ Huế mà hơn 30 năm ở Huế  chúng tôi ghi nhận được.

Đối với người phụ nữ Huế, mân cỗ ngày Tết là biểu tượng của văn hoá gia phong, sự sum vầy, hạnh phúc. Nên Tết đến với họ trước cả tháng trời. Đó là những tháng mà họ bận bịu chuẩn bị nguyên vật liệu để chế biến những món cho ba ngày Tết. Tuần giáp Tết, hương vị Tết Huế đã thức dậy thơm toả các nhà vườn Kim Long, Vĩ Dạ, Thuỷ Biều…Đối với người Huế, các món thờ cúng ông bà hay đãi khách trong ba ngày Tết đều tự làm lấy, ít khi mua thứ chế biến sẵn ở chợ. Ngày Tết lá dịp để người phụ nữ Huế thể hiện sự tài ba, tinh thế trong nghệ thuật ẩm thực. Họ rất hạnh phúc, mặt mũi rạng rỡ, khi ngắm cha mẹ, bạn bè, chồng con thưởng thức những món ngon cổ truyền do chính mình làm ra trong những bữa cơm đầu năm…

Món bánh ít khoai  tía

(Đọc tiếp…)

Ngoại giao để giữ đất dưới thời vua Lý Nhân Tông

Ngọc Thu

Do điều kiện địa lý nước ta nằm sát ngay bên dưới nước láng giềng phương Bắc nên suốt chiều dài lịch sử nước ta đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh lớn nhỏ cùng với những lần tranh chấp đất đai. Cha ông ta anh hùng không những thể hiện qua những lần chống giặc ngoại xâm mà chúng ta còn thấy được qua những lần đối đáp, tranh luận với sứ giả phương Bắc để giữ từng tấc đất của tổ tiên để lại.

Năm 1076, theo lệnh vua Tống Thần Tông, Quách Quỳ cùng Triệt Tiết đem quân sang đánh nước ta. Sau khi bị Lý Thường Kiệt đánh bại trên sông Như Nguyệt, quân Tống rút về nước. Mặc dù rút quân về nước nhưng nhà Tống vẫn còn cho quân chiếm giữ phần đất của nước ta sát biên giới Việt – Tống là châu Quảng Nguyên (1) cùng một số đất đai, hang động, trong đó có hai động Vật Dương và Vật Ác do thổ dân Đại Việt vì sợ sệt nên khi chiến tranh xảy ra đã đem nộp cho nhà Tống. (Đọc tiếp…)

Bạn đọc  thân mến. Dư luận giới cầm bút nước ta đang xôn xao về bài viết Tô Hoài nhìn từ một khoảng cách gần của Nhà phê bình  Vương Trí Nhàn. Nhiều người không biết vào mạng nào để đọc bài viết của Vương Trí Nhàn và phản hồi của Nhà thơ Phạm Khải và nhà văn Phan Thị Vàng Anh. QUÀ TẶNG XỨ MƯA xin cung cấp cho các bạn bài viết của Vương Trí Nhàn và các bài phản hồi   trên để mọi ngưeơì cùng suy nghẫm về cuộc sống của người cầm bút

Ngạc nhiên và thất vọng!

(Nhân đọc bài viết “Tô Hoài nhìn từ một khoảng cách gần” của
nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn)

PHẠM KHẢI

Những ai từng đọc các bài viết về bậc trưởng lão Tô Hoài của nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn hẳn sẽ không khỏi bất ngờ khi tiếp xúc với bài viết “Tô Hoài nhìn từ một khoảng cách gần” dài cả thảy gần 30.000 chữ vừa được anh cho tải trên trang web của Hội Nhà văn Việt Nam và trang web của GS Trần Hữu Dũng – một Việt kiều hiện định cư tại Mỹ (chúng tôi xin dựa vào bản này khi trích dẫn vì bản này được ghi chú là

Nhà văn Tô Hoài        đầy đủ hơn cả). Nói bất ngờ vì: Nếu như trước đây, Vương Trí Nhàn từng có những ý kiến, nhận xét thể hiện sự thích thú, pha lẫn ngưỡng mộ (dù là ở một vài khía cạnh nào đó) về bậc đàn anh Tô Hoài thì ở bài viết mới công bố này, anh lại đưa dẫn nhiều ý kiến nhận xét (cả của mình lẫn của một số đồng nghiệp) một cách rất… không hay về bậc trưởng lão nói trên. Vẫn biết, như lời của một vĩ nhân “chân lý là một quá trình liên tục điều chỉnh”, song “điều chỉnh” đến độ như những gì tôi trích dẫn và đối sánh dưới đây từ chính những bài viết của Vương Trí Nhàn, hẳn nhiều bạn đọc sẽ thấy buồn thay cho thế thái nhân tình! (Đọc tiếp…)

Lãnh đạo phải chủ động thông tin kịp thời cho báo chí

( Bí thư Thành uỷ Hà Nội Phạm Quang Nghị  trả lời báo chí)

TT – “Cần chủ động thường xuyên cung cấp thông tin, đối thoại với báo chí nhiều hơn. Không chỉ nói về những mặt tích cực, việc tốt mà còn phải nêu cả những mặt yếu kém để báo chí lên tiếng phê bình hỗ trợ TP tháo gỡ khó khăn”. Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị đã phát biểu như vậy tại Hội nghị Đảng bộ TP đầu năm 2010.

Công luận đang hi vọng đây không chỉ là quyết tâm của lãnh đạo một TP mà còn là chủ trương và xa hơn là những chính sách kịp thời để đưa chủ trương này vào thực tế của các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Về vấn đề này, ông Phạm Quang Nghị đã có cuộc trao đổi thẳng thắn với Tuổi Trẻ.

 

 

 

 

 

 

Ông Phạm Quang Nghị – Ảnh: V.V.Thành

- Ông Phạm Quang Nghị: Nhu cầu thông tin trong xã hội hiện đại là rất lớn, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật ngày nay cho phép chúng ta thực hiện nhu cầu đó tốt hơn bao giờ hết. Hai mặt này tổng hợp lại thành một đặc điểm mà chúng ta quen gọi là thời đại bùng nổ thông tin. Vấn đề đặt ra là làm sao để thực hiện nhu cầu thông tin chính đáng của người dân một cách tốt nhất, để thông tin không những kịp thời mà còn chính xác. Việc này không chỉ đòi hỏi đối với những người làm báo, mà ngay cả những người lãnh đạo cũng phải chủ động nhận thức được tình hình để có cách ứng xử phù hợp. (Đọc tiếp…)

VIỆT NAM ĐÓN NĂM MỚI VỚI NHIỀU VẤN ĐỀ LO TOAN

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
Tài liệu tham khảo đặc biệt

Tập đoàn sản xuất vũ khí Raytheon của Mỹ vừa tuyên bố họ đã nhận được đơn đặt hàng quân sự trị giá 1,1 tỷ USD từ phía Đài Loan. Theo đó, Mỹ sẽ cung cấp cho Đài Loan các hệ thống phòng thủ tên lửa Patriot. Câu chuyện về việc Quốc hộ Philippin đã thống qua dự luật về chủ quyền biển năm 2009 vừa xong khiến Trung Quốc tức giận thì nay lại đến chuyện Đài Loan, nơi chỉ cách Đại lục một eo biển và người dân hai bên cùng một gốc Hoa thần chủng, cùng nói tiếng Bắc Kinh (tiểng phổ thông) nay vẫn còn họ hàng anh em đi lại thăm nhau, thế mà hàng năm họ đã đổ ra hàng chục tỷ USD lo tân trang, mua sắm tên lửa, tàu chiến trước những cái mà hòn đảo này cho là mối đe doạ từ phía Đại lục.

Rồi việc Malaixia cũng phải bỏ tiền mua máy bay và nhiều vũ khí hiện đại của Pháp… là các dấu hiệu cho thấy các nước trong khu vực đang rất lo lắng về việc có các tàu chiến lớn với lá cờ đỏ nhiều sao suốt ngày diễu hành trên Biển Đông và thường làm những chuyện bất thường như bắt bỏ các tàu thuyền đánh cá của Việt Nam và các nước trong khu vực chủ quyền của chính họ. Những động thái đó là bất bình thường và như thể họ tự cho đây là khu vực riêng cảu mình, có độc quyền cai quản khu vực này dù nằm cách xa đất nước họ, điểm nhô ra biển nhất cũng là hàng trăn ngàn hải lý, đe doạ đến an ninh của các nước trong khu vực cùng chung sống. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.01.2010

CÔ GÁI ĐỒ LONG THỜI HỒ CẨM ĐÀO

CÔ GÁI ĐỒ LONG THỜI HỒ CẨM ĐÀO

Người Trung Quốc với tư tưởng Đại Hán thật đáng sợ. 60 năm qua bao nhiêu nước đã bị mất đất đai vì bọn bành trướng. Nhưng con gái TRung Quốc thì xinh. Thật xinh tươi và thoáng mát. Quảng cáo ô tô cũgn rất gợi cảm. Cuối tuần xin giới thiêụ chùm anh CÔ GÁI ĐỒ LONG THỜI HỒ CẨM ĐÀO để cùng thư giản

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 25.01.2010

Thơ tặng tuổi

Ngô Minh

Thơ tặng tuổi

tuổi ơi
tuổi đi đâu ở đâu
khuya lại lén về trắng bầm chân tóc
soi tìm không thấy
chỉ gặp gương mặt một thời
chằng chịt dấu chân chim chân tuổi

ta nhuộm tóc thoa phấn cạo râu
như phù thủy làm phép thiêng đuổi tuổi
ba ngày sau tuổi lại trở về
uể oải đi trong ánh chiều vàng vọt
gà chưa gáy tuổi đã thức ta dậy
ta gánh tuổi mỗi ngày như gánh núi

tuổi ơi
Xuân về tuổi mới
sao chiều qua em đến
tuổi bỗng biến đi đâu
trước em ta thành trẻ nít
luống cuống đứng ngồi ríu rít nói năng
em trẻ xinh hóa quan tòa nghiêm nghị
hay em đã ăn mất tuổi của ta?

em gọi bằng bác tuổi về sầm sập
em gọi bằng chú tuổi chạy dọc sống lưng
em gọi bằng anh ta không còn tuổi!

tuổi ơi
cuối cùng ta cũng tìm ra
nơi con người gửi tuổi…

Đăng bởi: Ngô Minh | 27.01.2010

Tổng bí thư Lê Duẩn qua hồi ức con trai

Tổng bí thư Lê Duẩn qua hồi ức con trai

Tôi không tán thành chủ trương và biện pháp cải tạo CTN Miền Nam sau năm 1975 của Đảng và nhà nước ta đã gây nên cuộc “vượt biên” đau đớn. Tôi không đồng tình với việc chiếm đóng Cămphuchia gây ra sự cấm vận ghế gớm của thế giới đối với Việt Nam, gây ra cảnh hàng  vạn người lính chúng ta phải nằm lại  trên đất người. Tôi không đồng tình với việc để xảy ra sự phân biệt đối  xử Với Hoa Kiều làm cho hàng vạn người Hoa phải rời nơi mà mừng đã sinh con đẻ cháu… Tất cả những việc đó xảy ra dưới thời Tổng Bí Thư Lê Duẩn, nên ông có trách nhiệm trong  những vụ việc này. Nhưng TBT Lê Duẩn là một nhân vật lịch sử của Việt Nam thế kỷ 20. Xin giới thiệu với bạn đọc  bài viết của con trai ông Lê Kiến Thành  tiết lộ nhiều chuyện về người cha của mình. Bài viết được đăng tải trên HỒN VIỆT ONLINE. Lời toà soạn là của Hồn Việt :

L.T.S: Lê Duẩn là tổng công trình sư của công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ông có tầm nhìn toàn cục, ý chí kiên định, xứng đáng là người thống soái, người đứng đầu của cuộc chiến đấu lâu dài, ác liệt, phức tạp…, không cân sức đối với một siêu cường hùng mạnh nhất thế giới. Từ những năm chiến đấu chống thực dân Pháp ở chiến trường Nam Bộ, tiếp đến những năm đương đầu với những trận khủng bố diệt Cộng, đã hình thành trong ông con đường của Cách mạng miền Nam, cách mạng Việt Nam.

Nghị quyết 15 của Trung Ương Đảng mở ra trận chiến đấu mới. Trong tình hình quốc tế hết sức phức tạp lúc đó, ông đã tranh thủ thời cơ, lực lượng; tìm được sự ủng hộ mạnh mẽ có hiệu quả của Liên Xô, Trung Quốc, của toàn phe Chủ nghĩa Xã hội và của các dân tộc khác. Vận dụng linh hoạt chiến lược; đánh và đàm, tiến công và nổi dậy, kết hợp nông thôn và thành thị, miền Bắc và miền Nam… Ông là nhà chiến lược đại tài, xứng đáng với sự chọn lựa kế nghiệp của Bác Hồ vĩ đại. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 31.01.2010

HỔ QUYỀN TRIỀU NGUYỄN

HỔ QUYỀN TRIỀU NGUYỄN

Ngô Minh

Tranh Đỗ Kỳ Hoàng

 

 

Có thể nói trên phương diện thể thao, Việt Nam là nước có nhiều trò thi đấu sử dụng cầm thú nhất thế giới. Phổ biến là chọi gà, chọi chim, đến chọi trâu ở Đồ Sơn, đưa voi ở Tây Nguyên. Độc đáo nhất là trò đấu hổ – voi dưới triều Nguyễn. Đến nay có lẽ châu Á và cả thế giới nữa đến nay chỉ còn có một đấu trường đấu hổ duy nhất còn tồn tại ở Huế. Đấu trường đó gọi là Hổ Quyền, một di tích quý còn nguyên vẹn trong quần thế Di tích làm nên Di sản thế giới Huế.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 03.02.2010

CỌP DỮ HAY HIỀN ?

CỌP DỮ HAY HIỀN ?

Ngô Minh

Cọp ( hổ ) là loài thú dữ ăn thịt bất cứ loài động vật nào, kể cả con người. Bởi thế mà dân ven rừng quê tôi gọi cọp bằng ôông ( ông), ngài, Mệ: Ôông Ba Mươi, ôông Coọc, ôông Khái…Nhưng lạ lùng là trong chuyện kể dân gian, cọp cũng là con vật thiêng liêng và rất thân thiện. Ở Quảng Bình quê tôi, người ta hay dùng cái móng ( vuốt) cọp, là thứ vũ khí vồ mồi của cọp, hay khúc xương cọp làm bùa đeo cho trẻ con để trấn ma quỷ . Ma quỷ sợ “ vuốt Ngài” sẽ không dám đến gần trẻ con. Nghe nói người đi rừng đeo các loại bùa này thì khi gặp cọp sẽ tránh xa. (Đọc tiếp…)

Đạo diễn Trần Văn Thủy với ký ức
“Hà Nội trong mắt ai”

Đạo diễn Trần Văn Thuỷ

 

 

 Trần Ngọc Kha – Bùi Dũng

Trong ký ức của nhiều thế hệ độc giả, “Hà Nội trong mắt ai” là bộ phim tài liệu “có vấn đề”. Khi gợi lại câu chuyện một thời, tác giả của những thước phim đó – đạo diễn, NSND Trần Văn Thủy – còn nhớ như in từng chi tiết nhỏ.
 Ngay từ khi ra đời, vào đầu những năm 1980, bộ phim tài liệu “Hà Nội trong mắt ai” (đạo diễn Trần Văn Thủy) đã trở thành sự kiện gây chú ý trong đời sống văn hóa – nghệ thuật vào “đêm trước Đổi mới”. Tác phẩm không chỉ gây chấn động dư luận lúc bấy giờ về tính ẩn dụ, mức độ hấp dẫn và góc nhìn trực diện về những “vấn đề” nóng bỏng của xã hội, mà còn vì những “sóng gió” liên tiếp mà nó và người làm nên nó vấp phải.
“Hà Nội trong mắt ai” đã bị cấm chiếu, cho đến khi được đích thân Thủ tướng Phạm Văn Đồng xem và nhận xét. Vị Nguyên thủ khi đó đó đã truyền đạt mệnh lệnh: “Tổ chức chiếu công khai bộ phim này cho nhân dân xem, chiếu càng rộng càng tốt, càng nhiều càng tốt. Chiếu ngay lập tức! Nếu phát hiện ra cái gì sai thì sửa sau”. Đó là vào ngày chiều 18/10/1983.

(Đọc tiếp…)

Hitler đã uống “Viagra” để “chiến đấu”
mỗi tối cùng với Eva Braun

Allan Hall

Adolf Hitler đã dùng một dược phẩm ở dạng thô sơ của Viagra cho các cuộc “đọ sức” với Eva Braun, theo như tuyên bố của các tác giả một cuốn sách viết về tình trạng sức khỏe yếu kém của nhà độc tài này.
Loại chiết xuất kích thích tố sinh dục nam này là một trong 82 thứ dược phẩm khác nhau mà Hitler đã sử dụng trong suốt 12 năm đế chế của mình.
Nhà lãnh đạo này đã trở nên quá ốm yếu và quá lo lắng cho sức khỏe của mình đến mức có lúc ông ta đã dùng tới 28 loại thuốc và biện pháp trị liệu mỗi ngày.Hít-le và vợ Evan Braun

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 10.02.2010

Sự thật đằng sau chiếc yếm bỏ ngỏ

Sự thật đằng sau chiếc yếm bỏ ngỏ

 
 Trịnh Thanh Thủy

 Gần đây Hà Nội tưng bừng với cuộc triển lãm ảnh Để hiểu hơn về một Hà Nội xưa, do tạp chí Xưa và Nay phối hợp với Thư viện Hà Nội tổ chức. Báo chí toàn quốc đều loan tin và viết bài phóng sự về cuộc triển lãm hiếm có đã quy tụ được nhiều nhà sưu tập ảnh, trong đó có nhà sưu tập bưu ảnh nổi tiếng người Pháp Philippe Chaplain.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  (Đọc tiếp…)

Về việc các tỉnh cho người nước ngoài thuê đất

đầu nguồn trồng rừng nguyên liệu dài hạn

Đồng Sỹ Nguyên- Nguyễn Trọng Vĩnh

Bạn đọc kinh mến. Chúng tôi thực sự sửng  sốt khi đọc bài viết của Trung tướng Đồng Sỹ Nguyễn và thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh về việc các địa phương đã bán rừng đầu nguồn cho nước ngoài 50 năm. Không thể hiểu nổi cách làm kinh tế  giết chết tương lai ấy.

Sau đây là lời giới thiệu của Bau xitViẹtNam :

Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên vốn là người có 7 năm phụ trách Chương trình 327 mà mục tiêu là phủ xanh đồi núi trọc, bảo vệ rừng, và môi trường sinh thái; còn Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh nguyên Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc (1974-1989). Hai nhà cách mạng lão thành gửi cho Bauxite Việt Nam bài viết sau đây, nêu rõ hiểm họa của việc chúng ta cho Trung Quốc, Đài Loan và Hồng Kông thuê trong thời hạn 50 năm hơn 264 nghìn ha rừng đầu nguồn; 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới.
Bauxite Việt Nam (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 12.02.2010

ĂN TẾT HUẾ

ĂN TẾT HUẾ

Ngô Minh

 

 

 

1
Tính đến Tết Canh Dần này tôi đã ăn 33 cái Tết Huế. Tết năm 1975, tôi ăn Tết ở rừng Đồng Xoài bên sông Sài Gòn. Đang vui Tết thì được lệnh hành quân đi giải phóng thị xã Phước Long, Rồi hành quân theo Chiến dịch Hồ Chí Minh mãi cho đến trưa 30-4 vô Sài Gòn. Tết 1976, tôi ăn cái Tết Sài Gòn đầu tiên trong đời mình. Dù đang trong thời kỳ Uỷ ban Quân quản của tướng Trần Văn Trà, nhưng bà con đi chợ Tết rôm rả lắm. Cơ quan Ban chính trị chúng tôi đóng ở Hẽm Câp Điệp, đường Nguyễn Đình Chiểu được anh nuôi sắm Tết không thiếu thứ gì. Giò lụa, giò thủ, thịt heo quay, bánh chưng ,bánh Tét, hạt dưa, mứt trái cây… nghĩa là Tết ba miền. Sau Tết vài tháng, tôi được ra quân về lại Trường Đại học Thương Mại.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 13.02.2010

QUÀ TẶNG XỨ MƯA CHÚC TẾT

QUÀ TẶNG XỨ MƯA CHÚC TẾT

MỪNG XUÂN CANH DẦN , NGÔ MINH XIN GỬI ĐẾN BÀ CON BẠN ĐỌC BỐN PHƯƠNG
LỜI CHÚC AN KHANG THỊNH VƯỢNG, TÀI LỘC DỒI DÀO, THƠ PHÚ XÔN XAO, NGHĨA TÌNH TRỌN VẸN

CHÀO CANH DẦN

Răng tuổi về nhanh rứa
mới đó đà sáu hai
mà Giao Thừa chớp mắt
Kỷ Sửu vèo qua vai

Răng ngày đi chậm rứa
Bao giờ đến… ngày mai
Giao thừa ơi ngóng ngóng
Canh Dần có chi vui ?

Răng anh còn thơ thẩn
Giá lên lương thì dừng

Em ơi đời như rứa
Không thơ còn buồn hơn…

28 tháng Chạp Kỷ Sửu
                                                                                                                                                                                    ngô minh

Đăng bởi: Ngô Minh | 16.02.2010

Danh sách quan chức Hà Giang mua dâm nữ sinh

QTXM nhặt được ở anhbasam.com ngày 2 Tết( 15-2-2010) đưa lại bài trên Người Việt (California)13-2-10 chuyện quan chúc Hà Giang mua dâm nữ sinh. Tải về đây để bạn đọc  cùng tham khảo , gây  áp lực dư luận để xét  xử bọn quan chức đồi bại , nếu danh sách tố cao này là đúng

Danh sách quan chức Hà Giang mua dâm nữ sinh ?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ðơn kêu cứu của nữ sinh Nguyễn Thị Thanh Thúy
tố cáo các quan chức tỉnh, gồm cả điện thoại
xuất hiện trên Internet. (Hình: mocxi.vn) (Đọc tiếp…)

Những tiết lộ về cuộc xâm lăng của Trung Quốc
vào 6 tỉnh biên giới phía Bắc năm 1979

Đúng 31 năm trước, ngày 17-2-1979, Trung Quốc đưa quân tràn qua biên giới Việt Nam sau nhiều tuần căng thẳng.

Trong nhiều năm, nguồn tư liệu của phía Trung Quốc về cuộc chiến vẫn thuộc vào hàng danh sách mật, và thông tin chính thức chỉ có lẻ tẻ.

Tuy vậy, gần đây nhiều tư liệu lưu hành nội bộ về cuộc chiến năm 1979 đã được công bố, cộng thêm một số hồi ký của các sĩ quan cao cấp.

Một trong những câu hỏi chưa có lời giải đáp chi tiết là khi nào và làm thế nào Bắc Kinh đã ra quyết định có hành động quân sự chống Việt Nam.

Những tư liệu mới
Trong hồi ký của Zhou Deli, tham mưu trưởng của Quân khu Quảng Châu, nhớ lại rằng vào tháng Chín 1978, một cuộc họp về “cách giải quyết vấn đề lãnh thổ bị quân Việt Nam chiếm đóng” đã diễn ra tại văn phòng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Trung Quốc. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.02.2010

10 tư thế ‘yêu’ được ưa chuộng nhất 2009

10 tư thế ‘yêu’ được ưa chuộng nhất 2009

Xin được điểm qua những tư thế “yêu” được quan tâm nhất trong năm 2009. Mời các bạn cùng đọc và khám phá để có được những phút giây đáng nhớ bên người ấy.

1. Uốn dẻo với tư thế con cua

“Yêu” trong tư thế này sẽ giúp “cô bé” thít chặt lại hơn, điều đó sẽ mang lại khoái cảm cho chàng. Nhưng trước khi bạn bắt đầu thì hãy tìm hiểu kĩ nhé.

2. Đê mê cùng tư thế “úp thìa”

Nàng sẽ cảm thấy thật an toàn trong vòng tay của chàng, cảm nhận được sự săn chắc từ vòng ngực của chàng, và vô cùng thích thú và hưng phấn khi đôi bàn tay chàng ôm lấy vòng ngực của mình và massage chúng, đặc biệt là cặp nhũ hoa. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.02.2010

THƠ VỀ ẨM THỰC

THƠ VỀ ẨM THỰC

Ngô Minh

Các nhà thơ cổ kim đông tây viết về rượu đều rất hay ( Thảnh thơi thơ túi rượu bầu -Nguyễn Công Trứ ; hay Trăm năm thơ túi rượu vò / Nghìn năm thi sĩ , tửu đồ là ai – Tản Đà , hay Gặp nhau là nhớ mùi rượu Hiếu- Nguyễn Trọng Tạo ), nhưng lại ít làm thơ về các món ẩm thực trong cuộc sống. Âu thứ gì thân thuộc với cuộc sống con người cũng đều là chất liệu thơ cả, nhưng rượu có lẽ dễ gửi gắm tâm trạng hơn các món ăn. Thơ về ẩm thực khó viết, vì ai lại đi đưa chuyện ăn uống trần tục vào thơ! Nói thế , nhưng thơ về ẩm thực nhiều đến độ có thể xuất bản thành một tuyển tập ! Tôi vốn có “tâm hồn ăn uống”, lại có năm say mê viết sách “Ăn chơi xứ Huế” , nên thấy bài thơ , câu ca nào nói về ẩm thực là để ý . Ngày Tết , bên mâm rượu , xin đọc tặng bạn đọc đôi bài thơ Việt Nam về ẩm thực , làm đồ nhấm. (Đọc tiếp…)

Người có công đầu suy tôn Lý Công Uẩn lên ngôi

 

Trong lịch sử dân tộc, xứ Thanh có nhiều người con ưu tú có công lao to lớn góp phần cho sự nghiệp phát triển vững mạnh của đất nước. Một trong số đó là Thái sư Á vương Đào Cam Mộc, người có công đầu suy tôn Lý Công Uẩn lên ngôi vua, mở ra vương triều Lý kéo dài 215 năm (1010 – 1225).

Đào Cam Mộc quê ở huyện Yên Định, Thanh Hóa. Quê cha ở làng Tràng Lang, Định Tiến, quê mẹ làng Nam Trịnh, Yên Trung. Hai làng quê đã sinh ra một người con ưu tú làm rạng danh cho quê hương, xứ sở là Đào Cam Mộc, chính vì vậy từ bao đời nay dân hai làng càng tự hào bao nhiêu lại càng đoàn kết, gắn bó bấy nhiêu, như nhân dân trong vùng xưa nay nói:

Trang Lang – Nam Trịnh

Nghĩa đá vàng từ thuở tiền Lê

Về sự ra đời của Đào Cam Mộc, người trong vùng vẫn thường hay kể: Một buổi sáng bà mẹ ông ra sông Mã gánh nước thấy một quả bầu trôi quẩn quanh chỗ bà lấy nước, mấy lần bà đẩy ra xa, nhưng quả bầu lạ cứ quẩn quanh mãi bên chân, cuối cùng bà gánh nước và mang theo quả bầu ấy về nhà. Không bao lâu sau bà mang thai rồi sinh nở. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 26.02.2010

NGÀY THƠ VIẾNG MỘ THI NHÂN

NGÀY THƠ VIẾNG MỘ THI NHÂN

Ngô Minh

 

Nhà thơ Mai Văn Hoan đọc thơ Phương Xích Lô trước mộ thi sĩ


Viếng mộ thi nhân tại Huế là chương trình khởi đầu trong hoạt động chào mừng Ngày thơ Việt Nam lần thứ VII Nguyên Tiêu Canh Dần tại Huế với nội dung “ Thơ Cố Đô Huế hướng về Thăng Long Hà Nội ngàn năm”. Sáng ngày 15/2/2010 ( tức ngày 12 Tháng Giêng Canh Dần) , rất nhiều nhà văn, nhà thơ thuộc Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế do hoạ sĩ Đặng Mậu Tựu, chủ tịch Hội Liên Hiệp VHNT Thừa Thiên Huế dẫn đầu đã lên vùng đồi miền Tây Huế viếng mộ các nhà thơ . Đã thành lệ, đây là lần thứ ba các nhà văn Huế đi viếng mộ thi nhân trong Ngày thơ Việt Nam. Chúng tôi cho rằng, Ngày thơ Việt Nam là ngày Chào Lá cờ Thơ, ngày “Giỗ Thơ”, nên đi viếng mộ thi nhân là việc đầu tiên phải làm. Và ở Huế , viếng mộ thi nhân trong ngày thơ Việt Nam đã thành một mỹ tục. Đoàn gồm có nhà thơ Hồng Nhu, Mai Văn Hoan, Trần Hoàng Phố, Trần Thuỳ Mai, Ngô Minh, Hạ Nguyên , Nguyễn Thiền Nghi, Lê Vĩnh Thái, Nguyên Quân, Lê Tấn Quỳnh.v.v.. cùng gần 20 em học sinh lớp chuyên văn trường Đại học  Khoa học Huế do cô giáo, hoạ sĩ Võ Thị Quỳnh chủ nhiệm cùng đi . Chương trình do Tạp chí Sông Hương tài trợ. Tạp chí đã thuê xe, mua nhang , rượu ngon cho các nhà văn đi viếng mộ. (Đọc tiếp…)

KHÔNG CÓ THẦY THUỐC HUẾ,
TÔI ĐÃ THÀNH MA 11 NĂM RỒI !

Ngô Minh

Chiều ngày 16 tháng 10 năm 1999, tôi bị một tai nạn giao thông kinh hoàng, phải cưa  MỔ sọ não. Nhưng nhờ sự nhạy cảm , giỏi nghề nghiệp và sự tận tình của các bác sĩ, y tá, họ lý Bệnh viện Trung ương Huế, tôi đã thoát khỏi tử vong trong gang tấc. Vâng, nếu không có những thầy thuốc Huế ấy tôi đã thành ma nấu giỗ 10 năm rồi ! Câu chuyện éo le và hi hữu lắm. Xin kể vài hồi ức để bạn đọc hiểu thêm tấm lòng người thầy thuốc Huế…

Đó là một ngày thứ bảy. Huế trời mưa như trút. Buổi trưa tôi uống rượu với bạn bè rồi về nhà ăn cơm và lăn ra ngủ. Vợ tôi vừa đi phép thăm ngoại ( ở Tân Kỳ, Nghệ An) từ tối hôm qua. Tôi ở nhà chăm hai đứa con đi học. Tôi ngủ vùi đến 4 giờ chiều mới dậy, nhìn đồng hồ thấy còn giờ làm việc ( thứ bảy nghỉ mà tôi quên mất), thế là khoác áo mưa phóng xe lên Đài Truyền hình VTV tại Huế để hỏi Phòng Văn nghệ xem cái kịch bản chân dung nhà văn tôi vừa mới nộp hôm trước có dùng được không. Lên đến nơi thầy Đài HTV vắng tanh mới nhớ ra hôm nay thứ Bảy. Thế là phóng xe về. Tôi đang đi đường Ngô Quyền, một con đường hẹp nhưng rất đông người vì đây là đường đến bệnh viện. Đến đoạn trước cổng Đại học Y Khoa Huế thì một người thanh niên đi xe máy ngược chiều phóng rất nhanh, lao sầm vào tôi. Tôi bị văng ra khỏi xe , bất tỉnh nhân sự. Chị Phi vợ nhà thơ Mai Văn Hoan bán quán gần đó kể lại rằng, vì mưa nên chị không phát hiện ra người quen, nhưng thấy một người nằm quằn quại trong mớ áo mưa lùng bùng, máu me lênh láng. Còn người tông xe thì đã biến đi đâu mất… (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 01.03.2010

XIN ĐỪNG GIAO TRỨNG CHO ÁC

XIN ĐỪNG GIAO TRỨNG CHO ÁC
(Ôn cố tri tân với hai điều giả định)

Vũ Cao Đàm

Trong những ngày gần đây, Bauxite Việt Nam đã công bố bài viết của hai vị lão tướng khả kính, là Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh cảnh báo về việc các tỉnh biên giới cho các Công ty Đài Loan, Hồng Kông và Trung Quốc (Sau đây gọi chung là Trung Quốc) thuê rừng đầu nguồn.

Tiếp đó, trên một số trang mạng trong nước và ngoài nước đã đưa tin, bình luận và cảnh báo các nguy cơ liên quan đến việc các tỉnh biên giới cho các Công ty Trung Quốc thuê rừng đầu nguồn. Đài BBC cũng đã có cuộc phỏng vấn với những người có trách nhiệm liên quan đến việc cho thuê rừng đầu nguồn.

Các ý kiến xoay quanh việc lo ngại các Công ty này là, khai thác cạn kiệt, gây hậu quả đến môi trường Việt Nam, hơn nữa còn lo ngại việc các Công ty này chiếm dần các vùng đất hiểm yếu ở các tình biên giới, với những mục đích mà ngày nay chúng ta chưa thể lường hết được.

Sau khi tiếp nhận và phân tích các thông tin đó, tôi xin đặt ra hai tình huống giả định để các nhà lãnh đạo và dư luận xem xét. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 02.03.2010

5.200 người khỏa thân trước nhà hát Sydney

5.200 người khỏa thân “vị nghệ thuật” trước nhà hát Sydney

 Khoảng 5.200 người hôm  1-3-2010 đã cùng ôm hôn nhau trên các bậc tam cấp của Nhà hát Opera Con Sò nổi tiếng của Sydney để “tạo dáng” cho các tác phẩm của nghệ sỹ chụp ảnh khỏa thân tập thể nổi tiếng thế giới Spencer Tunick. Tunick, người nổi tiếng chụp ảnh “nuy” tập thể ở những nơi công cộng, đã yêu cầu những người tham gia “tạo dáng” trong suốt hơn một tiếng đồng hồ.

 

 

 

 

 

 

 

 

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 04.03.2010

“TÔI NHỚ VỢ TÔI LẮM”…

“TÔI NHỚ VỢ TÔI LẮM”…

Ngô Minh

Phải có xúc cảm mạnh tạo ra khoảng trống lớn và sự đột biến về tình cảm mới có thơ hay. Thơ về bất cứ đề tài gì cũng vậy. Nhiều nhà thơ làm thơ tình hay vì họ dám “ chết vì yêu”. Thơ tặng vợ cũng là thơ tình , nhưng nó không chỉ là nụ hôn, nhớ nhung hờn giận, vì giai đoạn “yêu đương” trai trẻ đó đã qua rồi , mà cao hơn, đó là tình nghĩa, trách nhiệm, bổn phận với tương lai gia đình. Mà cái đó thì người đàn ông nào cũng phải gánh vác . Vì thế nhiều nhà thơ cả đời không làm nổi bài thơ tặng vợ , không phải vì không yêu vợ, mà vì cuộc sống diễn ra thường nhật không có những cảm xúc đột biến. Bởi thế mà tôi đọc tuyển tập “Thơ trữ tình Việt Nam thế kỷ XX” dày 983 trang của NXB Giáo dục ( 2004) với gần 600 bài thơ của gần 500 nhà thơ , mà chưa đến chục bài thơ trực tiếp viết tặng vợ được tuyển .

(Đọc tiếp…)

CỤ LỮ HỮU THI, NGƯỜI NHẠC CÔNG
CÒN LẠI CỦA ĐỘI NHẠC CUNG ĐÌNH HUẾ XƯA

Ngô Minh

Cụ Lữ Hữu Thi, ảnh chụp cuối năm 2009

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 Nhiều lúc đang bốc đồng điều gì đó, bỗng nghe tiếng một bản đàn Huế theo điệu Nam Bình, thế là tự nhiên tâm hồn ta chùng xuống , lắng xuống quảng trầm xốn xang, da diết . Như mình vừa từ phố thị về bến sông quê, đứng trước cây đa bến nước, con đò…Vâng, mỗi lần tôi nghe hòa tấu nhã nhạc Huế, mặc dù đây là âm nhạc bác học, nhưng cái chất dân tộc miên man ấy làm cho ta có cảm giác về lại quê nhà…

(Đọc tiếp…)

Bạn đọc kính mến. Chúng tôi thấy bài viết rất tâm huyết với hiện tình Đất Nước, xin tải về đây để mọi người cùng chia sẻ. Lời giới thiệu của mạng BauxiteViệt Nam.

Cho thuê và bán rừng là sự tiếp tay cho kế hoạch A: 31 ngày TQ sẽ thôn tính xong VN!

Phạm Vũ

Điều cấp bách khiến người dân vô cùng băn khoăn lo lắng trong tình hình đất nước ngổn ngang trăm mối hiện nay là hình như không có một sự chỉ huy thống nhất nào từ trên xuống dưới. Quan chức các cấp hình như ai muốn làm gì thì làm, không còn ai quản lý nổi ai. Tình trạng “trên bảo dưới không nghe” không còn là câu nói hài hước để chọc cười mà đã trở thành một mối đe dọa thực sự, hễ nghe đến đã có thể toát mồ hôi hột, khi những tin tức tới tấp đến với mọi người về lớp người đương chức đương quyền ở khắp nơi trong nước thì hầu như đều chỉ phơi ra phẩm chất “xôi thịt” của họ: nào tỉnh này Chủ tịch nằm trong danh sách đen mua trinh con gái vị thành niên; thành phố kia Bí thư lạm quyền quyết định bán đất chia lô cho người thân và cấp dưới nhưng khi ra tòa thì vài anh vai vế quèn đành phải đứng ra nhận tội thay; thành phố nọ cả Bí thư và Chủ tịch tìm cách đưa các anh hùng có công vào tù để chiếm đất của nông trường; rồi 10 tỉnh bán rừng đầu nguồn cho ngoại nhân một cách trắng trợn, lại còn ngang nhiên trả lời chống chế như không có chuyện gì đáng quan tâm cả… Thử hỏi, một thực tế láo nháo về trình độ và phẩm cách người cầm chịch đến vậy thì có đáng lo hay không? “Quốc gia lâm nguy thất phu hữu trách”, huống chi các vị ấy là người đang ngồi trên đầu dân, thay mặt dân đảm đương trọng trách – mà trọng trách an nguy của đất nước phải được coi là trọng trách hàng đầu. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 16.03.2010

Phỏng vấn Thạch Quỳ

Ngô Minh

Phỏng vấn Thạch Quỳ

Là đá sao không đứng lại quỳ?
Em đẹp thế dại gì ngô nghê đứng
Trời cao quá đất mới là bè bạn
Quỳ trước cỏ xanh cũng một cách nguyện cầu

Biển đầy thế sao người gầy như gió?
Biển không đầy bằng chai
Không đầy bằng mắt nhớ
Phải gầy hơn mũi tên mới vào được hư vô
Lúm má em thăm thẳm đến không ngờ

Nước ngập nhân gian sao người không tắm?
Đá có tắm đâu nắng có tắm đâu
Kẻ tắm sữa xông hơi mà tâm hồn dơ dáy
Làm sao đến được cõi người!
Sao ta thấy người cười mà như khóc
Ta cười thật mà cười thật người ơi
Lọt lòng mẹ ta đã cười nhăn nhở
Nếu ta khóc 65 năm vò xé
Còn đâu nước mắt để cười

Thơ là gì mà người đeo đuổi
Thơ mà ma. Thơ chính là ta
Nếu được tái sinh xin lại làm thi sĩ
Để được tự do xơ xác vì thơ

—————–

Thạch Quỳ là nhà thơ xứ Nghệ, sống và viết ở  TP Vinh
Đăng bởi: Ngô Minh | 19.03.2010

Thi sĩ “Màu tím hoa sim” qua đời

Thi sĩ “Màu tím hoa sim” qua đời

Vào lúc 19h hôm qua (18/3), lão thi sĩ Hữu Loan đã từ trần tại nhà riêng ở thôn Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn (Thanh Hóa), thọ 95 tuổi.

Nhà thơ Hữu Loan

 

Thi sĩ Hữu Loan tên thật là Nguyễn Hữu Loan, sinh năm 1916 tại thôn Văn Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn (Thanh Hóa). Ông đỗ tú tài sau đó đi dạy học, tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền ở huyện Nga Sơn. Khi cách mạng thành công, Hữu Loan giữ chức Ủy viên Thông tin tuyên truyền trong Ủy ban lâm thời của chính quyền tỉnh Thanh Hoá.

 Nhà thơ Hữu Loan nổi tiếng với nhiều bài thơ tình lãng mạn như: “Màu tím hoa sim,” “Tình thủ đô,” “Hoa lúa”, “Yên Mô”… Các tác phẩm thi ca của Hữu Loan bị thất lạc hiện đang được người con trai út Nguyễn Hữu Đán sưu tầm và lưu giữ. Tuy nhiên đến thời điểm này nhà thơ Hữu Loan vẫn chưa cho ra mắt bạn đọc một tập thơ nào.

Bài thơ “Màu tím hoa sim” – bài thơ cho đến nay vẫn được xem như một trong những bài thơ tình yêu hay nhất của thế kỷ 20 đã được hai nhạc sĩ phổ thành nhạc: Phạm Duy và Dũng Chinh. Bài của Dũng Chinh có tựa đề là “Những đồi hoa sim”, Còn ca khúc của Phạm Duy có tên là “Áo anh sứt chỉ đường tà”. Hai ca khúc này đã để lại không ít dấu ấn trong lòng những người yêu nhạc.

Được biết, thi sĩ Hữu Loan bị chứng thấp khớp nặng, toàn thân đau nhức không thể đi lại được từ hơn 1 năm nay. Mặc dù đã được gia đình chăm sóc chu đáo, nhưng do tuổi cao, sức yếu, nhà thơ đã vĩnh biệt cuộc đời ở tuổi 95.

O.L (Tổng hợp)

(Theo Bee.net.vn)

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.03.2010

Thấp thoáng Hữu Loan

Thấp thoáng Hữu Loan

Nhà thơ Hữu Loan

Hà Đình Cẩn

QTXM : Thương tiếc nhà thơ Hữu Loan, chúng tôi xin đăng lại bài viết rất hay của nhà văn Hà Đình Cẩn để bạn đọc cùng chia sẻ.


Cả ba lớp cửa từ đường làng vào vườn, vườn vào sân,sân vào nhà của nhà thơ Hữu Loan đều khép hờ.Ai ra vào tuỳ ý.Nhưng xem ra cũng ít người qua lại,trừ đám trẻ, như bà cụ hàng xóm nói,chúng kéo đến vào mùa nhãn,cho đến khi bói không ra một quả, rồi thôi, bỏ lại khu vườn đã vặt trụi hoa trái cho hai ông bà già…
Bà cụ hàng xóm mau mắn: các bác có lòng đến thăm cụ Tú thì cứ vào, chứ gọi cửa cũng không có người ra đón đâu. Cụ Tú con đàn cháu đống,ra ở riêng cả rồi,về già chỉ còn lại hai cái bóng mướp. Cụ Tú có nhà đấy, chắc lại đang ngồi ngắm rượu.
Nhà thơ đang ngồi ngắm rượu thật, trên manh chiếu trải ngoài hiên,tựa lưng vào tường,hai đầu gối so lên cằm, mái tóc bạc trắng rũ xuống,mắt nhìn đắm đuối vào chén rượu trên tay. Mâm bát sơ sài, chỉ một quả chối xanh, nhúm muối và đôi đũa lệch. Nhà văn xứ Thanh, Kiều Vượng, nói với tôi, mỗi năm ông vài lần đến thăm cụ Loan, lần nào cũng gặp cụ ngồi nhìn chén rượu thế kia, chỉ nhìn mà ít uống. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.03.2010

HỒN QUÊ TRẦM TÍCH – SÁCH MỚI CỦA NGÔ MINH

HỒN QUÊ TRẦM TÍCH –

SÁCH MỚI CỦA NGÔ MINH

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ngày hôm nay, 22/3-2009, Ngô Minh bắt đầu phát hành tập ký HỒN QUÊ TRẦM TÍCH. Tập ký gồm 32 bài bút ký, ký sự chân thật và xúc động về những vùng đất và con người từ địa đầu Tổ Quốc đến Mũi Cà Mau. Sách do NXB Thuận Hóa ấn hành, dày 308 trang, khổ 20,5 x 14 cm, giá 75.000 đồng. Các bài ký hay trong tập sách như : Nguyễn Hoàng linh vọng , 300 năm Hà Tiên đất Việt , Hai lần gặp Đại tướng Tổng tư lệnh ; Chiêú dời đô – Áng văn chương bất hủ , Bất ngờ mối tình đầu Phùng Quán , “Chất quan” Trương Đình Tuyển Miên man Đất Mũi , Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long, Người nuôi hồn nhã nhạc, Từ rượu Hiếu đến … cơm Hiếu ; Tình sử đồi thông chung mộ , Mạch đất sông Con; Người anh hùng không được tuyên dương , Bến Tre thăm thẳm xứ dừa , Lẵng hoa dâng cụ Phan Thanh Giản , Người xơ xác vì thơ , Đầu nguồn sáng Hoà Bình .v.v.. Mời các bạn tìm đọc. Địa chỉ liên lạc : Ngô Minh, 11/73- Phan Bội Châu, Tp Huế. ĐT : 0985756355. Sau đây xin giớia thiệu một bài ký rút từ HỒN QUÊ TRẦM TÍCH (Đọc tiếp…)

Tin nóng

Nga sẽ giúp Việt Nam xây dựng căn cứ tàu ngầm

Ảnh minh hoạ

VIT – Hãng tin RIA Novosti hôm 25/3 đưa tin, Bộ trưởng Quốc phòng Nga Anatoly Serdyukov thông báo với các nhà báo rằng, Hải quân Nga sẽ giúp Hải quân Việt Nam trong việc xây dựng căn cứ đồn trú tàu ngầm của Việt Nam.Từ ngày 22-24/3/2010, Bộ trưởng Quốc phòng Nga đã có chuyến thăm Việt Nam và tiến hành hội đàm với lãnh đạo Bộ Quốc phòng Việt Nam, Đại tướng Phùng Quang Thanh. Việt Nam có ý định mua 6 tàu ngầm thuộc dự án 636, chiến hạm mang tên lửa loại Molnya, chiến hạm loại Gepard, máy bay chiến đấu Su-30MK2 của Nga.

“Tương lai (hợp tác kỹ thuật quân sự) rất chính đáng. Việt Nam cần nơi đồn trú tàu ngầm. Hải quân Nga sẽ giúp đỡ Việt Nam theo hướng này”, Bộ trưởng Quốc Nga Serdyukov nói.

Theo lời ông, Việt Nam cũng đề nghị Nga tham gia xây dựng nhà máy sửa chữa tàu thuyền.

“Việt Nam cũng cần tàu cứu hộ, tàu cung ứng …Chúng tôi sẵn sàng giúp các đồng nghiệp Việt Nam xây dựng hàng không trên biển”, Bộ trưởng Quốc phòng Nga bổ sung thêm.

Ông Serdyukov cho rằng, cần phải giải quyết vấn đề tài chính của vấn đề này. “Người Việt Nam đã muốn nhận được tín dụng để thực hiện mục đích này”, ông bổ sung thêm.

Vấn đề về căn cứ cũ của Hải quân Liên Xô và Nga tại Cam Ranh đã không được thảo luận trong các cuộc hội đàm giữa lãnh đạo Bộ Quốc phòng Nga và Việt Nam.
Huy Linh (Theo RIA)- Nguồn : anhbasam.com

Giải pháp Biển Đông: Trung Quốc cần bỏ yêu sách 9 đoạn

- Trung Quốc từ bỏ yêu sách 9 đoạn, các nước bỏ qua một thế kỉ thực dân, đế quốc… là cách để tìm kiếm giải pháp hợp lý và công bằng cho Biển Đông – TS Vũ Quang Việt gợi ý tại Hội thảo ĐH Temple.

Đường lươi bò vô lý của TQ trên Biển ĐNA

Ngày 25/3 (giờ địa phương), phòng hội thảo tại ĐH Temple nóng rẫy với các thảo luận liên quan đến tranh chấp chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng nước liên quan và con đường để tìm kiếm một giải pháp hợp lý và công bằng cho xung đột đang được dư luận quan tâm này.

Lo an ninh

Chia sẻ nhận định yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo thuộc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa “chỉ là một bước đi ban đầu để đến mục tiêu tham vọng hơn nhiều là kiểm soát toàn bộ Biển Đông Nam Á”, các học giả bày tỏ quan ngại về an ninh cho các quốc gia liên quan đến tranh chấp và cả khu vực. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 01.04.2010

TRỊNH CÔNG SƠN THI SĨ

TRINH CÔNG SƠN THI SĨ

Ngô Minh

Anh Nguyễn Văn Hóa, giám đốc Xí nghiệp in chuyên dùng ở Huế là người rất say mê Trịnh Công Sơn. Trong phòng giám đốc của anh treo một bức ảnh phóng to chụp  bức tranh họa sĩ Bửu Chỉ vẽ khuôn mặt Trịnh Công Sơn trong  cây đàn ghi ta rất ấn tượng . Đến nỗi khi đến mừng nhà mới của tôi, anh cũng mang bức hình phóng to chụp  tranh của hoạ sĩ  Bửu Chỉ vẽ Trịnh đóng khung sang trọng tặng vợ chồng tôi.  Trong chuyến tôi theo xe anh Hóa lên Khe Sanh ( huyện Hướng Hóa, Quảng Trị) thăm Hoàng Phủ Ngọc Tường đang chữa bệnh ở đấy, dọc đường tôi nghe anh Hóa ngâm những đoạn ca từ của Trịnh, như ngâm thơ vậy .Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi

 Vâng, ca từ trong nhạc Trịnh Công Sơn là những áng thơ tuyệt tác. Đó là nhận xét của rất nhiều người. Nhà phê bình văn học Hoàng Ngọc Hiến gọi ca từ  của bài hát  Đêm thấy ta là thác đổ của Trịnh Công Sơn là  là một trong những bài thơ tình hay nhất của thế kỷ 20. Ca từ cũng là một phần làm nên  sức mạnh trường tồn của âm nhạc Trịnh. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 02.04.2010

HÃY NÓI DỐI GIỎI HƠN NỮA !

Ngày nói dối toàn thế giới là ngày hôm qua 1-4, Nhưng QTXM bận bài veefNhạc sĨ Trịnh Công Sơn, nên bây giờ mới tải Diễn văn  của Bọ Lập về để cho bà con đọc lại cho thêm phần long trọng.

Diễn văn của bọ Lập chào mừng Ngày nói dối toàn thế giới.

Thưa các đồng chí và các bạn!

Hôm nay, trong không khí phấn khởi tự hào chào mừng ngày nói dối toàn thế giới, tôi xin gửi tới các đồng chí và các bạn lời chúc mừng nồng nhiệt nhất, thân thương nhất.

Thưa các đồng chí và các bạn.

Trải qua một chặng đường đấu tranh gian khổ với bè lũ nói thật chúng ta đã thu được nhiều thắng lợi to lớn. Nhờ có nói dối mà vợ không làm gì được chồng, cấp dưới không làm gì được cấp trên, phụ huynh không làm gì được cô thầy, bố mẹ không làm gì đựơc con cái.

Nhờ có nói dối chúng ta có được hàng ngàn dự án bánh vẽ, giải thưởng ma, tiến sĩ giấy, công trình dổm. Nhờ có nói dối mà nhân dân tin tưởng, bạn bè quốc tế nể trọng, cho vay ngày càng nhiều đòi nợ ngày càng khó. Thử hỏi cứ nói thật làm thật thì chúng ta có bao nhiêu thắng lợi rực rỡ, bao nhiêu thành công lớn lao, bao nhiêu công trình vì đại. Và lấy đâu ra sự đồng thuận hả các đồng chí, lấy đâu ra? (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 04.04.2010

Chẳng lẽ chỉ có mông và cổ?

Chẳng lẽ chỉ có mông và cổ?

Hà Văn Thịnh

Khu tập thể mà tôi sống có thằng bé tên Tèo, 8 tuổi. Một hôm, Tèo đố tôi: “Cháu đố chú có nơi nào mà người ta không có mắt, không có đầu, không có tim…?” Điên tiết, tôi vặc: “Làm gì có chuyện đó”! Tèo tỉnh bơ: “Chú dạy đại học mà ngu như bò. Đó là nước Mông Cổ. Ở đó con người chỉ có mông và cổ”. Xin thưa đây là chuyện thật 100%.

Chuyện đã lâu rồi vì Tèo nay đã lớn, đã có vợ, sắp có con. Tôi nghĩ đó là câu chuyện vừa vui vừa để răn mình, vì quả thật đôi lúc tôi thấy mình cũng giông giống như Tèo đã nói. (Đọc tiếp…)

ĐẶNG HUY TRỨ-
ÔNG QUAN CHỐNG THAM NHŨNG LỪNG DANH

Ngô Minh

Cụ Đặng Huy Trứ

 

 

 

 

Nước Đại Việt từ thời Tự Đức do bế quan tỏa cảng , kinh tế sa sút, quan tham nhũng lúc nhúc như dòi bọ. Đến nỗi vua phải kêu lên trong một chỉ dụ gửi các quan năm 1851 :” Quan coi dân như kẻ thù, dân sợ quan như hổ. Quan mưu tích cho đầy túi tham, ngày đục, tháng khóet, lại thêm bao nhiêu việc sách nhiễu không thể kể hết được… Dân điêu tàn mà gốc của nước lay động, rất đáng lo sợ thay !”. Trong bối cảnh đó, lại có một ông quan nổi tiếng thanh liêm , danh thơm truyền đời : Đó là Đặng Huy Trứ !

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 13.04.2010

Đức Từ Cung – bà mẹ vua cuối cùng

Đức Từ Cung – bà mẹ vua cuối cùng

Tâm Hàng Nguyễn Đắc Xuân

Đức Hoàng Thái Hậu Từ Cung

 

 

 

- Bà Hoàng Thái hậu cuối cùng của triều Nguyễn là Đoan Huy Hoàng Thái hậu, tên thật là Hoàng Thị Cúc, vợ vua Khải Định (1916-1925), mẹ vua Bảo Đại (1926-1945).

Bà Thái hậu xuất thân trong họ Hoàng Văn (hay Huỳnh Văn hay Hoàng Trọng) có nhiều người đỗ đạt và làm quan to gốc ở làng Mỹ Lợi, Tổng Diêm Trường, huyện Phú Lộc tỉnh Thừa Thiên Huế như các ông Hoàng Văn Tuyển (1824-1879), đậu Tiến sĩ khoa Tân Hợi (1851), từng làm Tổng đốc Bình Định và Thượng thư bộ Công; ông Hoàng Trọng Nhu, năm 38 tuổi, đậu Cử nhân Khoa Kỷ Dậu (1909). Thân sinh của bà là ông Huỳnh Văn Tích, đậu Tú Tài, làm Tri huyện Hoà Đa (Bình Định), thân mẫu của bà là bà La Thị Sơn.

Tuy gốc gác, xuất thân trong một dòng họ có nhiều người đỗ đạt và làm quan như thế, nhưng hoàn cảnh riêng của bà thì hết sức hẩm hiu.

Chuyện trong gia đình họ Hoàng Mỹ Lợi kể rằng: Ông Tú tài Hoàng Văn Tích tuy đã làm Tri huyện nhưng gia đình rất khó khăn. Ông có với bà La Thị Huân người con trai đầu lòng Hoàng Trọng Khanh, khi sinh thêm người con gái tiếp theo là Hoàng Thị Như [1] ông phải nhờ người chị vợ là La Thị Sơn đến giúp em lo liệu việc nhà. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.04.2010

CỬA NGÕ XUÂN LỘC THÁNG 4-1975

CỬA NGÕ XUÂN LỘC THÁNG 4-1975

Hồi ức của Ngô Minh

Sau khi giải phóng giải phóng thị xã Phước Long bên chân núi Bà Rá, Sư Đoàn 7 thuộc Quân Đoàn 4 chúng tôi hành quân lên giải phóng Bảo Lộc, Đà Lạt. Hành quân suốt đêm ngày. Đến Bảo Lộc , Ban chính trị E141 chúng tôi trú chân trong một ngôi nhà của một công nhân trồng chè. Ông là người Bắc di cư. Tôi hỏi bà vợ :” Thưa bác, hai bác được mấy anh chị cả thảy ạ ?”. Bà cười :” Cám ơn chú Giải phóng, vợ chồng tôi sinh được 22 đứa con, 8 gái, 14 trai. Chiến tranh thế mà chẳng có đứa nào việc gì cả “. Anh em tôi tròn mắt kinh ngạc. Thấy thế ông chồng cười bảo :” Đẻ cho hết trứng chứ mấy chú”. Ở Bảo Lộc, nghe tin ở Đà Lạt , bộ đội địa phương đã giải phóng được thành phố thông và hoa này, thế là đơn vị chúng tôi tôi từ Bảo Lộc hành quân bộ gần tuần lễ về ém quân trong một rừng chuối mênh mông ,chuẩn bị tấn công cứ điểm Xuân Lộc , cửa ngõ Đông Bắc Sài Gòn, đúng vào đêm 1-4-1975. (Đọc tiếp…)

Hồ Diệu Bang bất ngờ được “phục hồi danh dự”

Trọng Thành

Hồ Diệu Bang

Le Monde hôm nay chú ý đến một sự kiện đặc biệt mà tờ báo nêu trong hàng tựa của bài viết trang quốc tế : Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo “khôi phục danh dự’’ của cựu tổng bí thư Hồ Diệu Bang. Sự kiện này khiến cho những người đang ngán ngẩm đời sống chính trị của Trung Quốc, phải ngạc nhiên sửng sốt.

Báo Le Monde trích dẫn Nhân dân nhật báo, cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản Trung Quốc ngày 16 tháng tư đã đăng bài của thủ tướng Trung Quốc ca ngợi công lao của nguyên lãnh đạo đảng Hồ Diệu Bang. Nhân chuyến thăm Quí Châu, khu vực bị nạn hạn hán làm khô kiệt phía nam, thủ tướng Ôn Gia Bảo đã đưa ra một bài diễn văn đầy xúc cảm ngợi ca lãnh tụ Hồ Diệu Bang, mà ông đã từng được tháp tùng trong một chuyến công tác cũng tại tỉnh này.

(Đọc tiếp…)

Đôi điều thưa lại với bài trả lời của Đỗ Ngọc Bích

Nguyễn Tuấn Khải

Lời  giới thiệu của Bau xite VN: Đã thông báo với bạn đọc rằng BVN muốn khép lại đề tài này, thế nhưng vẫn như còn chút duyên nợ. Số là bạn đọc Nguyễn Tuấn Khải gửi bài viết đến chúng tôi, nhưng lại không đến địa chỉ hộp thư giao dịch mà lại đi vào hộp thư của một thành viên Ban biên tập. Không nỡ phụ lòng một cây bút đã nhiệt tâm viết và gửi đi sớm; lẽ khác là bài viết dù có hơi “đắng” – tất nhiên nếu bớt “đắng “ đi thì vẫn hay hơn – nhưng càng nhẩm càng thấy trong vị đắng có cả sự ngọt lành bởi tấm lòng trung hậu của người “bốc thuốc cứu người”, nên BVN quyết định đăng tải, như một chuyến tàu đến muộn.

Bauxite Việt Nam

Đọc qua những gì cô “Đỗ Ngọc Bích trả lời độc giả”, tôi cảm thấy thất vọng. Cô vẫn sử dụng một văn phong hách dịch và trịch thượng, mỉa mai những người phê bình cô. Cô cố tình ngụy biện hòng đưa độc giả lạc hướng về những sai lầm rất cơ bản của cô, để lấp liếm những khoảng trống về sự hiểu biết rất tai hại của cô. Nếu “văn là người” thì bài trả lời của cô là một thể hiện rõ ràng nhất cho thấy cô đúng là một kẻ ngụy học thuật. Bài này chỉ nhằm trao đổi với cô Bích một vài điểm chung quanh văn hóa bàn luận mà thôi, chứ không bàn đến nội dung học thuật của cô. Tôi sẽ tập trung vào những điểm mà cô trả lời. (Đọc tiếp…)

Gần lắm, Trường Sa ruột thịt

Thả hoa trên biển viến các liệt sĩ Trường Sa1988

 

 

Là một huyện đảo thuộc tỉnh Khánh Hòa, quần đảo Trường Sa, tiếng Anh: Spratly Islands; là nhóm đảo gồm hơn 100 đảo nhỏ và đảo đá ngầm. Nằm trong biển Đông, quần đảo Trường Sa được bao quanh bởi những vùng đánh cá trù phú, giàu có về tài nguyên dầu mỏ và khí đốt.

 

Huyện đảo Trường Sa nằm trên biển Đông, ở phía Đông và Đông Nam bờ biển Việt Nam. Huyện Trường Sa nằm ở tọa độ địa lý phạm vi 6°50’00″ đến 12°00’00″ vĩ độ Bắc và từ 111°30’00″ đến 117°20’00″ kinh độ Đông, cách Cam Ranh 248 hải lý, cách Vũng Tàu 305 hải lý (tính từ đảo Trường Sa Lớn). (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 27.04.2010

NƯỚC PHÁP ĐÃ LÀM GÌ TRƯỚC NGÀY 30-4?

NƯỚC PHÁP ĐÃ LÀM GÌ TRƯỚC NGÀY 30-4 ?

Đây là một đoạn ngắn trích từ bản dịch tóm lược của quyển “SaiGon et Moi”, mà tác giả là ông Jean Marie Mérillon, cựu đại sứ Pháp tại Sài Gòn năm 1975. (Quyển “Saigon Et Moi” được giới thiệu ngày 23/03/1985 tại khách sạn La Fayette, quận 6, Paris. Trong hàng cử toạ ngày hôm đó có một số nhân vật quan trọng lúc bấy giờ như cựu Tổng Thống Giscard d’ Estaing, thị trưởng Jacques Chirac, Ông Pierre Mesmer … nhưng sau đó hình như tác giả không được phép của Bộ Ngoại Giao (hay của chánh phủ Pháp) nên không có thể phổ biến quyển sách nầy .  Tác giả của nó cũng không công nhận mình đã viết cuốn sách. Tuy nhiên các báo Việt Nam tại Pháp lúc bấy giờ đều có đăng bản tóm lược của quyển sách nầy.Hy vọng một ngày nào đó nếu có duyên may tìm được quyển sách quý “SaiGon et Moi” thì chúng tôi sẽ xin tiếp tục dịch để cống hiến cho quý vị độc giả. Bây giờ thì xin giới thiệu quý vị phụ bản đặc biệt nầy, trích từ tập san ĐA HIỆU). Bài viết theo quan điểm của ông Jean Marie Mérillon, có nhiều việc, nhiều chỗ nhận định sai hoặc trái với quan điểm  của Việt Nam. Thấy sự việc đã qua 35 năm rồi, nên chúng tôi xin  trích in để bạn đọc hiểu thêm nước Pháp đã làm gì trước ngày 30-4-1975, để biết  chúng ta đã vượt qua rất nhiều  trở lực mới có ngày  30-4 chiến thắng

 * * * * *
Đã đến lúc Đại Sứ Martin phải nói thật với tôi : Nước Mỹ cần phải làm gì vào những ngày sấp tới khi Phan Rang thất thủ ? Và Mỹ cần xác minh thái độ đối với Dương Văn Minh, nguoi mới hôm qua vừa đòi Nguyễn văn Thiệu từ chức. (Đọc tiếp…)

Nuôi thù hận, cản trở hòa hợp là có tội với tương lai

Cựu đại sứ Võ Văn Sung

LTS: Nhà ngoại giao lão thành Võ Văn Sung từng tham gia cuộc đàm phán bí mật Lê Đức Thọ-Kissinger từ năm 1971 đến 1974 và là người còn lại duy nhất trong 5 thành viên chính thức đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa ký kết bản Hiệp định Paris lịch sử ngày 27/1/1973.

Ông là đại sứ đầu tiên của Việt Nam Dân chủ cộng hòa tại Pháp kiêm đại diện của Chính phủ Việt Nam tiếp xúc với Hoa kỳ từ sau Hiệp định Paris cho đến năm 1979, đồng thời là bí thư Ban Cán sự Đảng Lao động Việt Nam tại Pháp, chỉ đạo phong trào Việt kiều ở Pháp và nhiều nước phương Tây.

Cuốn sách của ông mà VietNamNet từng có dịp giới thiệu với tựa đề “Chiến dịch Hồ Chí Minh giữa lòng Paris” do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành năm 2005 là một tập sử liệu hiếm có nhằm tri ân những người con dân Việt Nam ở Pháp và các nước phương Tây trong những ngày này 35 năm trước đã hướng về Tổ quốc góp phần đấu tranh cho hòa bình, độc lập và thống nhất nước nhà. (Đọc tiếp…)

MỘT KIỂU PHÂN TÍCH THẬT BẠI 30-4 CỦA MỸ TẠI VIỆT NAM
( BÍ ẨN 30-4)

Phạm Trần Hoàng Việt

Những người Việt chống Cộng lưu vong cho rằng, Việt Nam Công Hoà sụp đổ ngày 30-4 là do bị Mỹ bỏ rơi. Tại sao Mỹ lại bỏ rơi đồgn minh Việt Nam Cộng Hoà ? Họ cho rằng đó là do sự khuynh loát của người Mỹ gốc Do Thái trong chính quyền Hoa Kỳ. Nhận thấy bài viết muốn lãng tránh  sức mạnh và tài thao lược quân sự  của  Quân dội Nhân dân Việt Nam với cú điểm huyệt Buôn Mê Thuột và chiến dịch Hồ Chí Minh  5 mũi tiến công Sài Gòn,  nhưng bài viết cũng cung cấp cho người đọc  những tư liệu lý thú  về nội tình nuước Mỹ, nên mời bạn đọc cùng tham khảo qua trích đoạn bài viết BÍ ẨN 30-4 để hiểu thêm nội tình nước Mỹ.

1) Mở đầu
Từ hồi còn là sinh viên, chúng tôi được tiếp xúc với Giáo sư Huy và đã may mắn có nhiều dịp hàn huyên đối thoại ghi nhận được những chi tiết rất đặc biệt. Sau khi Giáo sư Huy qua đời vào ngày 28.07.1990, chúng tôi đã đảm trách nối tiếp Giáo sư Huy hàng tháng viết bài nhận định thời cuộc “Tình hình thế giới trong tháng vừa qua” kéo dài trên 5 năm trên nguyệt san Tự Do Dân Bản tại Hoa Kỳ. Nhân dịp đó, chúng tôi đã phải nghiên cứu các sáng tác của cố Giáo sư để nắm vững thêm mọi vấn đề. Nhờ vậy, chúng tôi mới cảm nhận và thấy được tầm kiến thức rất uyên bác, rất đa diện của Giáo sư Huy mà hiếm ai cùng thời có được (xin xem thêm phần phụ lục phía dưới về tiểu sử). Nổi bật nhứt là những viễn kiến và phân tích độc đáo về các biến cố lịch sử trên thế giới.

2) Ai đã gây ra thảm họa 30.04.1975? (Đọc tiếp…)

Hình tượng anh hùng trong thời đại phát triển

GS Trần Văn Thọ (Nhật Bản )

GS Trần Văn Thọ ( Nhật Bản)

 

Mong rằng hai ba mươi năm nữa, những quan chức, những vị lãnh đạo đầu đã bạc ngồi ở quán cà phê bên Hồ Hoàn Kiếm trò chuyện mãi về những ngày mà thời trung niên của họ đã hết lòng vì nước vì dân nên Việt Nam đã vượt qua cái bẫy của nước thu nhập trung bình, chen chân được vào hàng ngũ những nước giàu mạnh trên thế giới .
Alice Amsden, giáo sư kinh tế chính trị học tại Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) của Hoa Kỳ, có viết trong cuốn sách Escape from the Empire ( 2007 ) như sau ( trích lời của một ký giả Mỹ hoạt động tại Việt Nam trước đây ): “Cuối cùng tôi nhận ra rằng chúng ta không thể nào thắng cuộc chiến này khi tôi thấy mọi đường phố ở Saigon đều được đặt theo tên của những anh hùng Việt Nam từng chiến đấu chống ngoại xâm”.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 06.05.2010

VÕ NGUYÊN GIÁP – TỔNG TƯ LỆNH CỦA LÒNG DÂN

Đại tướng Võ Nguyên Giáp

 

VÕ NGUYÊN GIÁP – TỔNG TƯ LỆNH CỦA LÒNG DÂN

Ngô Minh

Những người mang quân hàm đại tướng quân đội ta đang đương chức, đã mất, hay đã nghỉ hưu có nhiều, nhưng khi nhắc đến hai chữ “Đại tướng” , 80 triệu người dân Việt Nam đều hiểu đó là Đại tướng Võ Nguyên Giáp kính yêu. Có danh xưng đó vì Võ Nguyên Giáp là Đại tướng Tổng tư lệnh của lòng dân. Ông sống mãi trong lòng nhân dân Việt Nam vì Võ Nguyên Giáp đánh giặc không phải sự nổi tiếng mà vì quyền được sống của mỗi người dân và của cả một dân tộc . Nhũng ai vinh hạnh được gặp đại tướng một lân là nhớ đời. Cách đây 5 năm, tôi cùng anh em nhà văn người Quảng Bình dự Đại hội Nhà văn Việt Nam đến thăm Đại tướng ở 30- Hoàng Diệu Hà Nội. Chúng tôi được Đại tướng và phu nhân Đặng Bích Hà tiếp hơn tiếng đồng hồ, rồi còn được Đại tướng mới ăn kẹo sôkôla, chụp ảnh kỷ niệm . Điêù ngạc nhiên nhất đối với tôi là , Đại tướng là Tổng Tư lệnh 30 năm cầm quân đánh thắng “hai đế quốc to”, được Hội đồng Khoa học Hoàng gia Anh vinh danh là một trong 10 nhân vật quân sự lỗi lạc nhất mọi thời đại, Người đã đánh bại 10 danh tướng Pháp, Mỹ, trong đó có 7 đại tướng Pháp , 3 đại tướng Mỹ, chưa kể các đại tướng của Chính quyền Sài Gòn cũ. Thế mà khi gặp, tôi lại có cảm giác như được gặp một Ông Bụt nhân từ . Đại tướng tóc bạc trắng, đôi mắt tinh anh luôn cười hiền hậu, nói năng từ tốn. Con người Đại tướng toát ra sự ấm áp, tin cậy. Ngạc nhiên thứ hai là Đại tướng đi đánh giặc khắp đất nước mấy chục năm, rồi ở Hà Nội hơn nhiều chục năm, thế mà ông vẫn nói tiếng “trọ trẹ” Lệ Thuỷ ,Quảng Bình quê hương! (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 06.05.2010

ĐI TÌM LÁ DIÊU BÔNG

ĐI TÌM LÁ DIÊU BÔNG

Ngô Minh

Từ thuở ấy
Em cầm chiếc lá
đi đầu non cuối bể
Gió quê vi vút gọi
Diêu bông hời…
… ới Diêu bông…!
Nhà thơ đi tìm. Người yêu thơ đi tìm. Những lứa đôi đi tìm. Nhưng nào ai tìm thấy ! Còn cái “Lá Diêu Bông“ viết hoa ấy vẫn ẩn hiện đâu đó nơi phố xá làng quê, nơi rừng sâu núi thẳm. Hoàng Cầm đa tình, kiêu sang mà cay đắng. Có phải bởi Hoàng Cầm cũng là tên của một vị thuốc bắc có vị đắng tận cùng ?. Hoàng Cầm là ông hoàng về thơ tình Việt Nam từ 50 năm nay. Bài thơ Lá Diêu Bông là một trong những bài thơ trữ tình hay nhất của ông, không thua kém gì, về mặt thơ, có khi vượt bài thơ Bên kia Sông Đuống. La Diêu Bông là một dấu ấn buồn thảm nên thơ nhất của đời ông. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 06.05.2010

ĐI TÌM LÁ DIÊU BÔNG

Kính viếng nhà thơ lớn Hoàng Cầm

ĐI TÌM LÁ DIÊU BÔNG

Ngô Minh

Thi sĩ Hoàng Cầm

 

Từ thuở ấy
Em cầm chiếc lá
đi đầu non cuối bể
Gió quê vi vút gọi
Diêu bông hời…
… ới Diêu bông…!

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 12.05.2010

KẺ SĨ

KẺ SĨ

Hoàng Phủ Ngọc Tường

Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 Ý niệm “kẻ sĩ” có từ bao giờ ? Theo lời cụ Nguyễn Công Trứ có giang sơn thì “sĩ” đã có tên – “ Từ Chu, Hán vốn “sĩ” này là quý”. Thế mới biết từ thời Chu, thời Hán đến nay quả là có rất nhiều người làm nghề “sĩ” ( người đọc sách ), nhấn mạnh vào chữ nghề, như có lúc người ta nói “ nhất sĩ nhì nông”. Nhưng thử xem còn lại mấy người được lưu danh là kẻ sĩ, vì vậy từ kẻ sĩ thường bao hàm cả sự độc xuất, nhân cách và đạo lý.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 15.05.2010

ĐOÀN NHÀ VĂN HUẾ HÀNH PHƯƠNG BĂC

ĐOÀN NHÀ VĂN HUẾ HÀNH PHƯƠNG BĂC

Ngô Minh

Vo chong Ngo Minh truoc mo cu Tus Xuong

Được sự giúp đỡ của vợ chồng cựu chiến binh Nguyễn Ngọc Đạt- Lan Phương, lính cũ của Trung Đoàn Phú Xuân Huế , từng chiến đấu ở chiến trường Thừa Thiên Huế 7 năm ròng, lại là người làm thơ, luôn ân tình với đồng đội, Đoàn nhà văn Việt Nam tại Huế do nhà văn Nguyễn Khắc Phê làm trưởng đoàn cùng các nhà văn Hồng Nhu, Tô Nhuận Vỹ, Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Khắc Thạch, Ngô Minh, Lâm Thị Mỹ Dạ, Mai Văn Hoan, Vĩnh Nguyên đã có một chuyến Hành phương Bắc rất ấn tượng từ sáng ngày 7-5 đến tối ngày 11 -5 -2010. Một cuộc hành hương thực sự tâm linh. Hành hương đi thăm các nhà văn nhà thơ đã quá cố trước khi Đại hội Nhà Văn Việt Nam lần thứ VIII sắp diễn ra ở Hà Nội, như là sự tìm về nguồn cội.
Sáng sớm ngày 7 khởi hành ở Huế từ 6 giờ sáng mãi đến 7 giở 30 tối mới Nam Định . Nguyên do vì đường xấu, bắn tốc độ tràn lan, nên xe đi như rùa bò. Ngủ một đêm , sáng hôm thức dậy sau anh em đã ra thăm, chụp ảnh dưới chân tượng đàì Trần Hưng Đạo uy nghi ở Trung tâm Thành phố Nam Định. Sau đó đi thăm mộ cụ Tú Xương ( 1870-1907). Mộ cụ Tú Xương năm ở bên hồ Vị Xuyên, trung tâm thành phố. Buổi sáng trong công viên bên hồ người đi bộ, tập thể dục rất vui vẻ. Tôi cũng đã từng đi bộ một vòng hồ Vị Xuyên với vợ chồng người bạn thân nhạc sĩ Huy Tập . Chúng tôi đã dừng lại trước mộ cụ Tú, vái cụ và mời cụ cùng đi bộ. Cụ hiện ra, cười mắng : – Ta nằm bên hồ nhìn đời vòng vo đèn kéo quân / Chẳng cần đi đâu cũng thấy / Văn chương các người nước ốc cũng tấp tễnh đua chen / Thôi về giặt váy vợ và đi bộ / Còn hơn làm bẩn mắt thế gian…Trên mộ cụ có khắc hai câu thơ nổi tiếng “ Đêm nghe tiếng ếch bên tai / Giật mình lại tưởng tiếng ai gọi đò…” Thắp nén hương cho cụ, tôi lại giật mình nhớ hai câu thơ trong bài thơ Vịnh khoa thi Hương của cụ : Nhân tài đất Bắc nào ai đó / Nghoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà .Cứ y như cụ Tú nói với trí thức thời nay vậy !

(Đọc tiếp…)

NGHĨ THÊM VỀ LỜI KÊU GỌI KHÔNG CÓ GÌ QUÝ HƠN ĐỘC LẬP TỰ DO

Bùi Minh Quốc

Nhà thơ Bùi Minh Quốc

Lời kêu gọi lịch sử ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vang lên lần đầu tiên vào buổi sáng ngày 17.7.1966 tại thủ đô Hà Nội, làm rung động mãnh liệt mọi trái tim Việt Nam yêu nước, yêu dân chủ tự do.Vì độc lập, vì tự do, biết bao người con của tổ quốc Việt Nam đã không chút đắn do hiến dâng cả tính mạng suốt mấy cuộc chiến đấu trường kỳ.
Thực ra, ngay từ năm 1942, tư tưởng KHÔNG CÓ GÌ QUÝ HƠN ĐỘC LẬP TỰ DO của Hồ Chí Minh – cũng là lẽ sống của bất cứ con người bình thường nào – đã ghi rõ ràng trong bốn câu thơ này :
Trên đời ngàn vạn điều cay đắng
Cay đắng chi bằng mất tự do
Mỗi việc mỗi lời không tự chủ
Để cho người dắt tựa trâu bò
(Hồ Chí Minh – Nhật ký trong tù) (Đọc tiếp…)

“Cháy” viễn cảnh đường sắt cao tốc Bắc – Nam

P.Thảo

Cái gọi là “tư duy nhiệm kỳ” có phải là đây không thưa ông Bộ trưởng Bộ GT – VT? Xin lấy nửa câu ngạn ngữ Việt Nam để giải thích cái tư duy ấy: “Sống chết mặc bay, tiền…”.

Hay cũng có thể nói, trong đám các vị được gọi là tinh hoa đang lãnh đạo đất nước giờ đây đã nẩy nòi ra không ít “công tử Bạc Liêu”, khi hứng lên rút ngay tờ đô-la xòe diêm châm vào để làm que đóm hút thuốc mà mặt vẫn tỉnh bơ. Chỉ có khác là… tờ đô-la này không rút từ trong túi riêng của các ngài mà lại rút từ mồ hôi nước mắt của dân chúng.

Bauxite Việt Nam


(Dân trí) – Từng mảng viễn cảnh đẹp của dự án đường sắt cao tốc Hà Nội – TPHCM vẽ ra lần lượt vấp quan điểm phản biện “thực tế trần trụi” của cơ quan thẩm tra. UB KH-CN&MT của Quốc hội đề nghị xét lại tính khả thi của dự án 55 tỷ USD này.

Hụt nhu cầu 57 triệu khách hay thừa 70% năng lực khai thác?

Bộ trưởng GT-VT Hồ Nghĩa Dũng trình bày “siêu” dự án. Theo tính toán, đến năm 2030, nhu cầu hành khách trên hành lang vận tải Bắc – Nam là 534 nghìn khách/ngày, tương đương 195 triệu khách/năm, tương đương tốc độ tăng trưởng bình quân năm đạt 6,59%. Lúc đó, nếu không có đường sắt cao tốc thì tổng năng lực của các phương thức vận tải trên hành lang Bắc – Nam chỉ đạt 138 triệu khách/năm.

Để có thể khai thác đường sắt cao tốc vào 2020, dự án phải bắt đầu chậm nhất từ 2012. (Ảnh minh họa) (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 27.05.2010

16 chữ vàng là thật hay giả

 Bạn đọc kính mến. Trên BoxitViệt Nam đăng bài 16 chữ vàng là thật hay giả  của Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh lời lẽ rất xác đáng. QTXM xin khuân về đây để mọi người cùng chia sẻ.

16 chữ vàng là thật hay giả

Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh

Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh

 Cũng từ xưa Việt Nam luôn muốn sống hoà bình hữu nghị với Trung Quốc, không hề xâm phạm lợi ích chính đáng của Trung Quốc, chỉ có yêu cầu là giữ vững độc lập chủ quyền của mình và sống yên ổn, từ khi đề ra 16 chữ, Việt Nam thực hiện rất nghiêm chỉnh, đôi khi còn nhân nhượng quá mức.

 

Còn phía Trung Quốc thì sao? 16 chữ do Trung Quốc chủ động nêu ra có nội dung thật không, trong tư tưởng có thật như thế không?

Nếu thật thì Trung Quốc hãy trả cao điểm 1.500m nằm trong huyện Vị Xuyên cho tỉnh Hà Giang. Nếu thật thì hãy trả 1/2 thác Bản Giốc lại cho tỉnh Cao Bằng. Hãy trả biên giới Việt Nam về sát Hữu Nghị Quan (mà xưa gọi là Ải Nam quan, Nguyễn Trãi đã tiễn cha là Phi Khanh đến tận đấy). Nếu hữu nghị thật thì hãy trả lại cho Việt Nam quần đảo Hoàng Sa và một bãi đá ngầm chiếm năm 1988 sau khi đánh đắm tàu tiếp tế và giết hơn 70 binh sĩ Việt Nam. Nếu hữu nghị thật thì hãy xóa bỏ cái “lưỡi bò” vẽ một cách vô lý và phi pháp bao trùm hầu hết biển đảo của Việt Nam và từ bỏ âm mưu chiếm Trường Sa của Việt Nam, hãy thôi bắt, bắn ngư dân Việt Nam và tước đoạt tài sản và ngư cụ của họ; hãy rút chiến hạm gọi là tàu “Ngư chính” khỏi vùng biển Đông xua đuổi ngư dân Việt Nam. Nếu là thật thì hãy hủy mọi hợp đồng thuê rừng dài hạn của Việt Nam. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 30.05.2010

THƯ GIẢN TÍ CHÚT VỚI 15 NGƯỜI ĐẸP

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

THƯ GIẢN  TÍ CHÚT VỚI 15 NGƯỜI ĐẸP

Có 15 người đẹp rất chi là phong nhũ phì đồn ( mông to vú nở như Mạc Ngôn gọi). Quà tặng Xứ mưa xin tải về đây để bạn đọc nam nữ cùgn thưởng thức những tác phẩm điêu khắc tuyệt vời của tạo hoá. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 01.06.2010

LỤC BÁT SÔNG HÀN

Ngô Minh

LỤC BÁT SÔNG HÀN

sông Hàn thập thững bước mưa
nổi trôi phố rộng như chưa gặp người
em đi khuất nẻo thu rồi
bơ vơ là cõi anh ngồi nghe đông

câu lục xe xiết lòng sông
xuống câu bát đã trống không mắt chiều
phù vân nhuộm trắng bóng đèo
thuyền ai xa ngái về neo sông Hàn

THEO NHÀ VĂN NGUYÊN NGỌC THÌ CÁC NHÀ  PHẢN BIỆN , GỬI  KIẾN NGHỊ  VỀ VẤN ĐỀ BAUXITE TÂY NGUYÊN NĂM NGOÁI ĐÃ ĐÚNG. CHÚNG TÔI XIN  TẢI VỀ ĐÂY Ý KIẾN CỦA NHÀ VĂN NGUYÊN NGỌC TRONG BÀI  TRẢ LỜI PHỎNG VẤN  RFI ĐỂ BẠN ĐỌC CÙNG CHIA SẺ.

Bauxite Tây Nguyên có nguy cơ bế tắc về vận chuyển

Thanh Phương

(RFI tiếng Việt thực hiện )

Nhà văn Nguyên Ngọc

 

Những gì các bản Kiến nghị liên tiếp đưa ra trong hai tháng tháng 4 và 5 năm 2009 đến nay ngày càng được thực tế xác nhận. Các ngài còn chần chừ gì nữa? Trước mắt, con đường tối ưu, lại giữ được danh dự cho đất nước, là dừng tất cả mọi dự án lại và từng bước khôi phục môi sinh cũng như văn hóa bản địa cho vùng đất Tây Nguyên.

 

Bauxite Việt Nam

Bất chấp những lời khuyên can, Chính phủ Việt Nam vẫn tiến hành hai dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên, gọi là để thí điểm. Tuy nhiên theo nhà văn Nguyên Ngọc, dự án Tân Rai đã bộc lộ những tác động tiêu cực về môi trường, xã hội, kinh tế… nhưng bế tắc nhất là việc vận chuyển đến nơi xuất khẩu.

Bất chấp những lời khuyên can của các nhà khoa học, các chuyên gia, các nhà trí thức, Chính phủ Việt Nam đã quyết định cho tiến hành hai dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên, gọi là để thí điểm. Sau chuyến đi thị sát trong tháng Tư vừa qua, Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải đã đánh giá rằng, nhìn chung, kết quả triển khai hai dự án bauxite Nhân Cơ, Đắc Nông và Tân Rai, Lâm Đồng “đáp ứng tương đối yêu cầu thi công cơ bản, thực hiện tốt công tác quản lý lao động theo đúng quy định luật pháp, bảo đảm an toàn, an ninh”.

Thật ra thì hiện giờ, chỉ mới có dự án Tân Rai được thực hiện, còn dự án Nhân Cơ cho tới nay vẫn chưa được khởi công. Nhưng theo đánh giá của nhà văn Nguyên Ngọc, người cũng đã đi tham quan các khu (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 04.06.2010

FESTIVAL HUẾ, HỒN QUÊ TRẦM TÍCH

FESTIVAL HUẾ, HỒN QUÊ TRẦM TÍCH

Ngô Minh

Tượng gỗ của Tô Bích Hải

1.Thế là đã qua 5 kỳ Festival Huế. Tối mai (5-6-2010) khai mạc Festival Huế lần thứ 6. Tôi vốn thích ngồi ngẫm nghĩ một mình, sợ đám đông. Thế mà trong những ngày diễn ra Festival Huế, tôi cũng “lên cơn sốt” đội mũ bảo hiểm, đeo phù hiệu nhà báo ra đường “chạy xô” hết điểm diễn này đến lễ hội khác. Không có tiền để thưởng thức Dạ nhạc tiệc, hay những bữa ẩm thực trong Đêm Hoàng Cung thì đi xem cảnh , xem người , xem sông, xem đò… cũng no nê thoả thích. Không ai tài nào xem hết tất cả các lễ hội. Huế là Kinh Đô nước Việt một thời, mang chứa một trầm tích văn hóa dân tộc đủ để đối tác nước ngoài trong các Festval định kỳ 2 năm một lần. Mỗi Festival có hàng trăm tiết mục của mấy chục quốc gia của 5 châu lục tụ về, chỉ diễn ra trong 9 đêm ngày quả là bội thực. Nhiều quá không kham nổi, nên đành chuộng tiết mục nào thì theo tiết mục ấy thôi. Festival Huế là lễ hội, là liên hoan văn hoá quốc tế, nhiều cái mới lạ lắm, không xem cũng uổng…

Nhưng đi trong không gian Huế, một điều dễ cảm nhận là Festival năm nay lung linh một hồn quê trầm tích lắng đọng trong cây trong lá, trong từng dáng người trên phố. Hôm khai mạc Triễn lãm Mỹ thuật 6 tỉnh Bắc miền Trung ( một triễn lãm thuộc Festival) , điều làm tôi ngạc nhiên nhất là hoạ sĩ Bằng Lâm, phó chủ tịch thường trực Hội Mỹ thuật Việt Nam , một người dân Bắc chính hãng từ Hà Nội vào lại mặc áo dài khăn đóng lên diễn đàn phát biểu . Có vị khách ngồi gần tôi bảo, trông hoạ sĩ như người sắp diễn tuồng. Nhưng tôi lại nghĩ khác. Sự xuất hiện của anh trong trang phục quốc lễ xưa của dân tộc như là một nét hồi cổ thật đáng yêu. Có lẽ chỉ ở Huế mặc như thế mới đẹp, mới hợp với đất trời mây gió chăng ? Tại phòng triễn lãm Thư pháp chữ Hán 40 bài thơ Trung đại tiêu biểu về Huế , tôi thấy nhà thơ, nhà thư pháp trẻ dòng hoàng tộc (Đọc tiếp…)

Đường sắt cao tốc: Việt Nam ngày nay và Nhật Bản 50 năm trước

Trần Văn Thọ (Tokyo)

GS Trần Văn ThọLTS Bauxite: Mơ làm đường sắc cao tốc như Nhật Bản 50 năm trước là một giấc mơ liều lĩnh và khôi hài, chỉ sản sinh từ những đầu óc bệnh hoạn, những kẻ đã vét được tiền của rủng rỉnh trên mồ hôi nước mắt của dân chúng nên chỉ muốn giàu thêm, không cần biết mình là ai giữa 86 triệu dân đang ngóc đầu không nổi.

Hãy mơ ước làm sao có thêm nhiều bệnh viện để cho người ốm không chen chúc 3, 4 nhân mạng trên một chiếc giường, lây bệnh cho nhau. Hãy mơ ước cho học sinh Việt Nam học hết phổ thông không phải đóng học phí để nông thôn và vùng sâu vùng xa giảm thiểu tỷ lệ mù chữ đang ngày một tăng lên dễ sợ. Hãy mơ ước cho người nông dân có thể sống được trên mảnh ruộng của họ chứ không bị tước đoạt mất trắng, hoặc bị các nhà máy, công ty thải chất độc hại làm cho ruộng vườn hoang hóa để nhiều làng trở thành làng chết, nhiều làng phải kéo nhau từng đoàn từng lũ đi tha phương. Hãy mơ ước trong nước có nhiều ngày thanh bình, không xảy ra những vụ án mạng rùng rợn lặp lại hàng ngày như cơm bữa, chứng tỏ lương tri con người đã xuống đến tận đáy; không xảy ra những vụ trộm cướp lừa đảo làm xã hội hầu như lúc nào cũng trong tâm trạng âu lo thấp thỏm. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 08.06.2010

Thống Nga Dmitry Medvedev nói về Stalin

Tác giả Giao Tiên có bài viết về việc Tổng thống Nga Dmitry Medvedev vừa qua đã có  nhiều lần phát biểu về con người nổi tiếng Stalin, người đã lãnh Đạo Hồgn quân Liên Xô đánh bại Phát xít Đức.. Chúng tôi xin thông tin để bạn đọc hiểu thêm về Stalin và quan điểm của Tổng thống Nga hiện nay.

Thống Nga Dmitry Medvedev nói về Stalin

Giao Tiên

 

Ngày 7 tháng 5 năm 2010, Tổng Thống Nga Dmitry Medvedev đã trả lời câu phỏng vấn của tờ nhật báo Nga Isvestiai rằng: “ Chế độ chính quyền ở Liên Xô khi trước không thể diễn tả bằng cách nào khác hơn là một chế độ độc tài toàn trị. Thực không may, đây là một chế độ đàn áp các quyền tự do cơ bản không những chỉ người dân của nước mình, mà còn cho nhân dân các nước nằm trong khối CS, tôi muốn nói tới các nước XHCN khác, trong gần nửa thế kỷ nay. Và vết nhơ này không thể nào bôi xóa trong lịch sử.””

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 10.06.2010

NGẤT NGƯỠNG CÙNG CÀ KHEO BỈ

NGẤT NGƯỠNG CÙNG CÀ KHEO BỈ

 

Ngô Minh

Festival Huế 2010 đúng là Đại tiệc văn hoá đa sắc màu, hoành tráng nhất trong 6 kỳ Festival. Cùng với các đoàn nghệ thuật trong nước đến từ ba miền Trung Nam Bắc, 42 đoàn nghệ thuật của 28 quốc gia khắp 5 châu lục đã mang đến Huế những chương trình nghệ thuật dân gian và đương đại đặc sắc của mình. Gần 20 sân khấu ( có bán vé) ở Hoàng Cung, Cung An Định, Kỳ Đại Huế, Cửa Thượng Tứ,v.v…suất diễn nào cũng đông chật người xem. Nhưng không hiểu sao tôi lại thích không khí rộn ràng, náo nhiệt bởi các hoạt động nghệ thuật đường phố của các đoàn nghệ thuật nước ngoài. Có lẽ do loại hình nghệ thuật này gần gũi hơn với người dân lao động nghèo, nó lại mang tính cội nguồn dân dã chăng ?. Buổi sáng trên đường Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Nguyễn Đình Chiểu, hay trước Cung An Định, Đoàn nghệ thuật Les Traine-Savates (Pháp) các nhạc công kèn đồng với những những chiếc kèn hình thù lạ mắt và vũ công biểu diễn nhạc funk (hoảng sợ) nhận được sự cổ vũ rất nhiệt tình của người xem.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 13.06.2010

Thế nào là người Hà Nội?

Nhân 1000 Năm Thăng Long:

Thế nào là người Hà Nội?

Lê Phú Khải

Nhân 1000 năm Thăng Long, nhà thơ Hoàng Hưng ba đời là người Hà Nội (bản thân, cha, ông nội )… đã viết bài “ Thử nêu vài đặc điểm phổ biến của lối sống người Hà Nội”. Hoàng Hưng đã lấy sự quan sát chính dòng tộc của ông, một gia đình trí thức khá nổi tiếng qua ba thế hệ sống ở Hà Nội, từ đời ông nội, cha và bản thân, tức khoảng thời gian từ cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX0 đến nay… cùng với việc quan sát nhiều người Hà Nội khác sống trong khoảng thời gian đó, để “ thử” nêu vài đặc điểm phổ biến của lối sống người Hà Nội.

Ông nêu những nhận định khái quát về bản sắc người Hà Nội, đó là sự kết hợp giữa những nét của tính cách người Kinh Kỳ cộng với văn minh phương Tây đầu thế kỷ XX, sau đó là những biến động sau Cách mạng Tháng Tám 1945, những cái còn và mất của lối sống Hà Nội cho đến hôm nay.

Là một người có năm cái “đồng” với nhà thơ Hoàng Hưng: Sinh đồng năm (1942), đồng hương người Hà Nội, đồng học một trường (Đại học Sư phạm Hà Nội), đồng nghiệp (dạy học và làm báo), đồng chính kiến… hơn thế nữa, tôi không những ba đời mà gốc gác không biết bao nhiêu đời đã sống tại Hà Nội, vì theo ông nội tôi, thì làng Cơ Xá Nam, chính là làng tôi, có từ trước cả khi vua Lý dời đô về Thăng Long, nay làng còn đền thờ Lý Thường Kiệt ở phố Nguyễn Huy Tự, vừa được trùng tu và được công nhận là di tích lịch sử quốc gia nhân kỷ niệm 1000 năm Thăng Long (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.06.2010

Ai sẽ đi ĐSCT vào năm 2025?

Ai sẽ đi ĐSCT vào năm 2025? Và bài toán chi phí cho ĐSCT

Hà Thanh

Tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến của TS Lê Đăng Doanh và nhiều ý kiến khác lên tiếng phản đối dự án ĐSCT hoặc đề nghị chưa xét đến kế hoạch ĐSCT trong thời điểm hiện nay. Hãy dời đến sau 2020 thậm chí sau 2030, chúng ta mới có đủ cơ sở để trả lời: có nên thực hiện ĐSCT hay không? Còn hiện nay, thay vì vay 56 tỉ (dự tính) để làm thì hãy vay chỉ khoảng (5.600.000USD) để tổ chức nghiên cứu thật kỹ lưỡng các bài toán của ĐSCT trong bối cảnh lịch sử, xã hội, kinh tế và điều kiện phát triển, cơ sở hạ tầng và thượng tầng tri thức của nước ta. Đến 2020, có kết quả hẵng báo cáo cho Chính phủ và Quốc hội để đề xuất: có làm hay chưa nên làm ĐSCT ở thời điểm đó. (Đọc tiếp…)

Quốc hội “bác” dự án đường sắt cao tốc

Dự thảo nghị quyết về dự án đường sắt cao tốc Hà Nội-TP.HCM cuối cùng đã không được Quốc hội thông qua tại phiên họp chiều 19/6 vì số đại biểu tán thành không quá bán.

Quốc hội đưa ra hai điều để các đại biểu lựa chọn. Điều 1 của dự thảo nghị quyết về dự án này nêu hai phương án. Theo đó, phương án 1 nêu sự cần thiết trong thời gian tới cần huy động đa dạng mọi nguồn lực của Nhà nước và xã hội trong và ngoài nước, bằng nhiều phương thức đầu tư để tăng đầu tư, cải thiện rõ rệt cơ sở hạ tầng giao thông trong phạm vi cả nước cũng như trong từng vùng, góp phần tạo bước phát triển đất nước nhanh và bền vững.

Kết quả biểu quyết phương án này chỉ có 209/439 đại biểu (chiếm 42,39%) tán thành, 191 vị không tán thành (chiếm 38,74%), và 39 không biểu quyết (chiếm 7,91%).

Với phương án 2 là Quốc hội tán thành chủ trương đầu tư xây dựng dự án này với tư tưởng chỉ đạo, nội dung và bước đi được nêu rõ tại nghị quyết có 185 đại biểu tán thành (chiếm 37,53%), 208 đại biểu không tán thành (chiếm 42,19%) và 34 vị không biểu quyết (chiếm 6,9%).

Về điều 2 trong nghị quyết, thể hiện nội dung giao cho Chính phủ thực hiện một số công việc tiếp theo, chỉ có 157 đại biểu tán thành (chiếm 31,85%), 170 vị không tán thành (chiếm 34,48%) và 82 không biểu quyết (chiếm 16,63%).

Như vậy, cả ba lần biểu quyết số đại biểu tán thành đều không quá bán, nên Quốc hội không ra nghị quyết về dự án tại kỳ họp này. Đồng thời Quốc hội đề nghị Chính phủ tiếp tục nghiên cứu thêm và lựa chọn phương án phù hợp để trình Quốc hội vào thời điểm thích hợp khác.

( theo Bee.net )

CẦN DỨT KHOÁT ĐỔI MỚI TỔ CHỨC HỘI

Bùi Minh Quốc

TNc: Tôi nhận bản tham luận của nhà thơ Bùi Minh Quốc tại đại hội nhà văn khu vực Miền Đông Nam Bộ và Đồng bằng SCL. Trong khi chúng ta đang tiến tới Đại hội lần thứ VIII những ý kiên của hội viên là rất đáng quý. Trên tinh thần đồng nghiệp, nhà thơ BMQ có lời nhờ TNc nên tôi đưa bài lên trang nhà như tất cả các bài Bầu bạn góp cổ phần..và tôn trọng ý kiến riêng của ông …Kính nhờ trannhuong.com công bố giùm, trân trọng cảm ơn

(Phát biểu tại đại hội Hội nhà văn khu vực miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long sáng16.06.2010 họp tại Bến Tre)

Hôm nay tôi rất vui mừng và xúc động được phát biểu ý kiến của mình trên mảnh đất Bến Tre rất đỗi tự hào với truyền thống đồng khởi, truyền thống Nguyễn Đình Chiểu nhà thơ chiến sĩ, cảm thấy như tâm hồn được tiếp thêm ngọn lửa chiến đấu mãnh liệt hơn bao giờ hết.Tôi bồi hồi sống lại kỷ niệm lần đầu tiên được đến với Bến Tre trong một chuyến công tác đặc biệt có ý nghĩa vào tháng 9 năm 1988.Tôi, với tư cách là chủ tịch Hội Văn Nghệ Lâm Đồng, phụ trách một đoàn mấy anh em cán bộ của Hội đi làm việc với Hội Văn Nghệ các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và kết hợp đưa nhà thơ Hữu Loan đi thăm đất nước sau 30 năm ông gần như bị giam lỏng tại quê nhà sống bằng nghề thồ đá vừa được đi đây đi đó và trở thành khách quý của Hội Văn Nghệ Lâm Đồng nhờ chủ trương đổi mới.Tôi không thể nào quên kỷ niệm với họa sĩ Lê Dân, chủ tịch Hội Văn Nghệ Nguyễn Đình Chiểu đã cùng tôi ký bản kiến nghị chung của hai Hội gửi Trung ương yêu cầu thể chế hóa nghị quyết 05 của Bộ chính trị về văn hóa văn nghệ – một nghị quyêt giải phóng sức sản xuất trên lãnh vực tinh thần – để thực hiện được mau chóng và hiệu quả.Tôi cũng không thể nào quên kỷ niệm tuyệt vời trong đời thơ của mình khi bài thơ “Những ngày thường đã cháy lên” vừa mới sáng tác đã được công bố trước tiên trên báo Đồng Khởi, cơ quan của Đảng bộ tỉnh Bến Tre, tiếp đó là báo Minh Hải, cơ quan của Đảng bộ tỉnh Minh Hải (gồm Cà Mau và BạcLiêu), rồi tạp chí Đối thoại của Hội Văn Nghệ Cửu Long (gồm Vĩnh Long, Trà Vinh) với đoạn kết sục sôi tinh thần đồng khởi như sau :
Chính Mẹ chứ không ai, Mẹ phải nắm quyền
Hỏi tội những thằng thẻ-đỏ-tim-đen (Đọc tiếp…)

Đàn Âm hồn – Đài liệt sĩ chống ngoại xâm đầu tiên của nước Việt

CÙ HUY HÀ VŨ

Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ

Dù không muốn cũng phải khẳng định rằng lịch sử Việt Nam trước hết là lịch sử của các cuộc chiến tranh ái quốc. Từ mấy ngàn năm nay, biết bao người con nước Việt đã ngã xuống vì Xã tắc và họ xứng đáng được Nhà nước và nhân dân tôn vinh. Nếu như ta dễ dàng nhận thấy sự tôn vinh ấy của nhân dân trong quá khứ phong kiến qua các đền thờ, miếu thờ các liệt sĩ – nhân thần có khắp trên mọi miền đất nước thì dễ mấy ai biết được Nhà nước quân chủ Việt Nam cũng đã tưởng niệm những thần dân số 1 ấy bằng cả một công trình bề thế: Đàn Âm hồn, do Vua Thành Thái cho lập tại Huế năm 1894 để ghi nhận sự hy sinh của hàng ngàn quân dân trong các trận đánh cuối cùng chống quân Pháp vào ngày Kinh đô thất thủ, 5/7 (23/5 Âm lịch) 1885. Và từ đó cho đến 1975, Đàn Âm hồn luôn được chế độ cũ trân trọng, duy trì bằng ngân khố quốc gia. Đáng tiếc là ngay sau khi đất nước đã liền một giải thì Đàn Âm hồn lại bị chính quyền mới ở Thừa thiên – Huế phá tan, thậm chí chia lô để phân cho quan chức của tỉnh. Càng thấy, sự lóa mắt trước đất đai vốn là sở hữu của toàn dân đã khiến một số kẻ có vai vế trong hàng ngũ quan chức cộng sản hiện nay – và chỉ có quan chức cộng sản, vốn từ khố rách áo ôm mà lên chứ không ai khác – đã không từ một thủ đoạn trắng trợn nào, từ việc dẫm đạp lên anh hồn các bậc tiên liệt từng hiến thân vì nước, đến việc đày vào ngục tối cả những người anh hùng đã vì lý tưởng cộng sản mà tự nguyện thí nghiệm đưa nông dân lên con đường tập thể xã hội chủ nghĩa như anh hùng Trần Thị Ngọc Sương. Ôi! Họ đang làm cho người xem cười phá lên khi nghĩ đến câu nói tiên tri của ông Mác: người ta sẽ sử dụng tiếng cười (tức là chứng kiến rất nhiều tấn kịch bi hài từ nay) mà tiễn đưa quá khứ. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 29.06.2010

hồi ký của GS.TS.Nguyễn Mạnh Tường

KẺ BỊ MẤT PHÉP THÔNG CÔNG

Cái đói thê thảm

( Trích hồi ký của GS.TS.Nguyễn Mạnh Tường, người lập kỷ lục tại Pháp, mới 22,5 tuổi đã đạt hai bằng tiến sĩ : tiến sĩ luật và tiến sĩ văn chương)

GS.TS Nguyễn Mạnh Tường

 

….Lãnh đạo thật phúc đức. Họ đã tránh cho tôi phải chịu một chế độ tù giam mà ở đó tôi có khi thành đứa hầu lo quét dọn cho các đại ca đầu gấu, cho những tay trùm phòng giam, thành nạn nhân bị bóc lột bởi bọn cai tù, bởi bọn du côn tham lam tàn bạo tước đoạt đi chút lương thực dự trữ và phải chịu những hành hạ tàn khốc của chúng. Tôi cũng không bị đưa vào những trại cải tạo nơi mà từng hàng tù nhân phải thi hành những công việc lao động đất đai dưới sự điều khiển của những ông quản giáo. Tôi được tha khỏi bị những ngày tháng dài, rất dài trong trong tù, có khi đền tận ngày lìa đời, giữa những chấn song của một căn phòng chật hẹp của công an ở một nơi nào đó mà không ai biết là ở đâu, bao trùm bởi một màn đen bí mật và huyền bí, hay bị nhốt (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 01.07.2010

Cuộc trở về sau 800 năm

Cuộc trở về sau 800 năm

Việt Nhân

* Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã ký quyết định nhập quốc tịch Việt Nam cho ông Lý Xương Căn. “Vâng, đó không chỉ là một tin vui đến với ông Lý Xương Căn – hậu duệ đời thứ 31 của vua Lý Thái Tổ – sau 800 năm hoàng tử Lý Long Tường rời đất nước sang đất Cao Ly – mà còn là tin vui của tất cả chúng ta trước Đại lễ Nghìn năm Thăng Long. Buổi lễ sẽ diễn ra vào  28/6 tại Hà Nội “. Mời bạn đọc đọc bài viết sau đây của Việt Nhân.

  Cuộc trở về trọn vẹn sau 800  năm  

đại tướng Võ Nguyễn Giáp tiếp Lý Xương Căn năm 2004

Cuộc điện thoại lúc nửa đêm. Đầu dây bên kia một giọng nói lơ lớ. “Anh có phải là…” Giọng lạ quá, nghe không rõ, tôi định nói “anh nhầm máy” thì chợt nhớ ra ông Lý Xương Căn chưa sõi tiếng Việt. “Lý Xương Căn đây – anh nói – tôi gọi điện báo anh biết tôi đã được nhập quốc tịch Việt Nam rồi. Tôi gọi cho anh để mời họp báo về cuốn sách về Lý Long Tường và đọc quyết định của Chủ tịch nước về việc nhập quốc tịch Việt Nam cho tôi…”

Vâng, đó không chỉ là một tin vui đến với ông Lý Xương Căn – hậu duệ đời thứ 31 của vua Lý Thái Tổ – sau 800 năm hoàng tử Lý Long Tường rời đất nước sang đất Cao Ly – mà còn là tin vui của tất cả chúng ta trước Đại lễ Nghìn năm Thăng Long. Buổi lễ sẽ diễn ra vào chiều nay, 28/6 tại Hà Nội

Gần 800 năm trước tại kinh đô Thăng Long có một cuộc chia tay lặng lẽ. Để bảo toàn dòng tộc, một hoàng tử nhà Lý đã phải đành giã từ Tổ quốc Đại Việt yêu dấu để vượt biển ra đi tìm nơi tỵ nạn. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 03.07.2010

NGÔ MINH VÀ BÓNG ĐÁ

Bạn điọc thân mến. Ngô Minh là người mê bóng đá. Trong cuộc đời của mình , cho đến nay, Ngô Minh làm được 3 bài thơ về bóng đá.Một bài về cảm xúc khi xem bóng đá, bài về nỗi buồn trọng tài và bài về bóng đá và hoà bình thế giới. Nhân wordlcup Nam Phi 2o10, Ngô Minh xin gửi đến bạn đọc nhũng tâm sự bóng đâ của mình.


Ngô Minh

TỪ SÂN CỎ TRỞ VỀ

Sân cỏ hay vòm ngực tôi đây

bước chân các anh xoáy thành cơn lốc

đường lên bóng xuyên dọc sống lưng

buốt tê

nóng rực

cho tôi quên phận nghèo cơ cực

hét lên niềm sung sướng vô tư

rút thuốc mời những người xung quanh không quen biết

các anh ơi

những cú sút chẳng dễ dàng xếp đặt

đường bóng bất ngờ như đường tới tim em

cám ơn những đôi chân

những đôi chân trên cỏ

những đôi chân có mắt

những đôi chân có hồn

thứ ngôn ngữ trụi trần lấm đất

đánh thức tận cùng cuồng nhiệt say mê

gọi muôn người vang chung nhịp hát

từ sân cỏ trở về

tôi như đi bằng đôi chân khác

từ sân cỏ trở về

tim tôi thổn thức

trái bóng trái trăng lăn giữa sân trời

mãi gọi về những câu thơ trên cỏ

như những đôi chân không ngừng không nghỉ

với tình yêu khung- lưới-hoà-bình

sút bùng lên ngọn lửa trái tim.

1985 (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 06.07.2010

LÀNG NÓI TRẠNG

LÀNG NÓI TRẠNG

Ghi chép Ngô Minh

ông trần hữu chư, người vẽ tranh về chuyện trạng

Ông Chư ra hiệu mời chúng tôi ngồi xuống tấm phản kê giữa nhà , rồi chạy xuống xách lên một ấm nước chè xanh, rót ra ba bát, cười nói :” Bọ ( bố) mời mấy eng ( anh) uống đọi ( bát) nác ( nước) chè đứng đụa ( đũa) . Ở xóm ni nác chè không đứng đụa là nỏ ai ưng ( muốn) “. Nước chè đứng đụa là nước chè đặc đến độ cắm đũa vào không đổ ! Đó là “ngôn ngữ trạng” Huỳnh Công. Một lần khác, tôi lại đến tìm ông Chư ở xã Vĩnh Tú, một xã chia ra từ làng Huỳnh Công xưa, để nghe ông kể chuyện trạng . Thấy chúng tôi, đưa con gái của ông mặt mày buồn thiu, bảo :” Tiếc mấy eng tới chơi mà bọ tui lại đi cấp cứu bệnh viện huyện từ khi hôm ( hôm qua) rồi !”. Chúng tôi hốt hoảng :” Ông cụ khỏe thế, bị bệnh gì mà phải đi cấp cứu !”. Cô con gái mặt tỉnh queo, từ tốn kể :” Tui đi mần rọng ( ruộng) về thấy bọ nằm chổng khu ( mông ) lên trlờơi ( trời) , hỏi , bọ chỉ ú ớ, không nói được . Lện ( sợ) quá, mấy eng tam ( anh em) tui vọng ( khiêng võng) bọ vô phòng cấp cứu liền. Một chặp ( lát), eng bác sĩ cũng người Huỳnh Công , ra bảo :” Khám thì chộ ( thấy) tim , phổi bình thường , dạ dày, ruột gan nỏ can chi cả. Rồi eng bác sĩ hỏi hỏi :
- Có trúc ( đổ) xe cộ chi không ?- Khôông !
- Có ăn chi lạ không ? – Khôông !
- Trước khi đi mần rọng ( ruộng), tui chỉ luộc mấy củ khoai lang cho bọ tui ở nhà uống nước chè đứng đụa thôi. Nỏ lẽ ăn khoai lang mà bị ? Nghe tui nói ăn khoai, eng bác sĩ la lên :” Thôi , đúng rồi, bọ ăn khoai lang , khoai Bàu Thủy Ứ củ bở ( bột nhiều) quá, bị nghẹn tắc cổ rồi, răng o mi khôông nói với eng từ trước !
- Chừ ( bây giờ) mần răng ?…”.

Cô gái kể chưa xong câu chuyện thì ông Chư vác cuốc từ ngoài cổng đi vào. Ông cười vang, rồi bảo :” Hắn nói trạng cho mấy eng nghe đó, không phải thiệt mô !”. Sau này tìm hiểu tôi mới biết câu chuyện trên có tên là “ Ăn khoai lang đi cấp cứu”, ca ngợi khoai Huỳnh Công củ to, bột nhiều. Vâng, đó là lối nói trạng, kể chuyện trạng của người Huỳnh Công từ bao đời nay ! (Đọc tiếp…)

ĐÔI ĐIỀU GÓP BÀN VỚI BCH HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM

Bùi Minh Quốc

 QTXM: Nhà thơ Bùi Minh Quốc  vừa gửi cho chúng tôi  bài góp ý với BCH Hội Nhà văn. Nhận thấy đây cũng là  những ý kiến đáng quan tâm của một Hội viên, hơn nữa  bài viết của nhà thơ Bùi Minh Quốc đã được một số trang mạng đăng tải. QTXM xin in lại để bạn đọc tham khảo.

(Đã gửi báo Văn Nghệ, báo điện tử Hội NVVN, báo điện tử Văn Nghệ sông Cửu Long, đang chờ đăng)

Bùi Minh Quốc ở cột mốc biên giới

Các dự thảo văn kiện chuẩn bị cho đại hội 8 của Hội Nhà văn chúng ta đến nay vẫn chưa đăng lên báo Văn Nghệ để thảo luận rộng rãi, để hội viên trên khắp nước được biết ý kiến của nhau, hơn thế nữa, để chúng ta được biết ý kiến của nhân dân, của bạn đọc – là đối tượng mà chúng ta phục vụ.Tôi khá lấy làm lạ, một việc hết sức cần thiết, rất dễ làm như thế mà không làm, lại tổ chức đại hội các khu vực rình rang tốn kém để làm chính những việc ở đại hội toàn quốc sẽ phải làm. BCH nên công bố ngay xem vừa rồi chi phí hết bao nhiêu cho các đại hội khu vực và kết quả đạt được có tương xứng ? Tại sao lại gọi là “đại hội khu vực”, cách gọi tên và cách tổ chức này có phù hợp với điều lệ, hay là Ban chấp hành đặt ra một cách tùy tiện ? Ở đại hội khu vực miền đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long mà tôi dự, chất lượng thảo luận theo tôi là thấp; giữa tình hình xã hội ngổn ngang bao nhiêu chuyện kinh hoàng, sự xuống cấp đạo đức cứ theo chiều hướng ngày càng tệ hại khó bề ngăn chặn, trước hết là trong giới công quyền và giới chuyên rao giảng đạo đức (trong đó có giới cầm bút), vậy mà tôi hầu như không nghe thấy cất lên được một lời nào bày tỏ nỗi ưu tư về trách nhiệm nhà văn, về giữ gìn phẩm giá nhà văn ( lưu ý : báo cáo của Ban chấp hành Hội mang tiêu đề rất vang : “…vì phẩm giá con người”, nhưng các nhà văn thì hình như nguội lạnh với chuyện này, hoặc tự cho mình phẩm giá đã đủ đầy, khỏi bàn mất thì giờ ). (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 10.07.2010

ĐẠI HỘI NHÀ VĂN IV NGÂM KHÚC

ĐẠI HỘI NHÀ VĂN IV NGÂM KHÚC

Lời ngõ : Tôi không rõ bài “vè diễn ca”viết theo điệu Chinh phụ ngâm này là của ai, nhưng sau Đại hội nhà văn lần thứ IV, ngày 1-12-1989, trên chuyến xe nhà thơ Nguyễn Duy quá giang cùng đoàn Nhà văn Thừa Thiên Huế vào quê Đò Lèn, Thanh Hoá, nhà văn đã đọc rất hứng khởi cho tôi và mọi người chép. Xe nhấp nhổm, chép chữ được chữ mất. Trước Đại hội Nhà văn lần thứ VIII, tôi muốn giới thiệu lại bài “vè” này để mọi người cùng biết Đại hội Nhà văn nó song phẳng, sôi động và vui vẻ như thế nào ! – NGÔ MINH
****

Thuở trời đất nổi cơn đại hội
Khách làng văn nhiều nỗi truân chiên
Xanh kia thăm thẳm tầng trên
Vì ai cách trở cho nên nỗi này
Trống Hà Thành lung lay bóng nguyệt
Sương Ba Đình mờ mịt thức mây
mấy lần nghị quyết trao tay
nửa đêm bàn bạc ngày ngày khai trương (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 16.07.2010

CHUYỆN BIA MỘ CHÓ CỦA CỤ PHAN

CHUYỆN BIA MỘ CHÓ CỦA CỤ PHAN

Ngô Minh

Cụ Phan Bội Châu

Cụ Phan Bội Châu là nhà cách mạng nổi tiếng Cụ còn là nhà thơ yêu nước lớn đầu thế kỷ XX. Thời gian bị thực dân Pháp giam lỏng ở ngôi nhà trên dốc Bến Ngự, Huế (bây giờ là 119-đường Phan Bội Châu) từ 1925- 1940, cụ Phan Bội Châu làm nhiều việc cụ thể mà ý nghĩa lắm. “Ông già Bến Ngự” đã bỏ tiền mua một đám đất ở Huế để làm “Nghĩa trang Phan Bội Châu” dành cho các nhà yêu nước thương nòi có chỗ an thân sau khi qua đời. Ở nghĩa trang này ( bây giờ là số 5 – đường Thanh Hải, Huế) hiện có mộ của nhà cách mạng Nguyễn Chí Diễu, nữ sử Đạm Phương, Nguyễn Khoa Văn ( Hải Triều), nhà thơ Thanh Hải.v.v..Nhưng đáng suy nghĩ nhất là chuyện bia mộ chó của cụ Phan. Cụ Phan có nuôi hai con chó. Cụ đặt tên là con Vá và con Ki. Cụ rất yêu hai chú chó ta thủy chung và dũng cảm. Khi hai chú chó bị đau yếu mà mất, cụ đều đắp mộ và đề bia mộ bằng chữ Hán, chữ Quốc ngữ. Hiện dưới chân phần mộ Phan Bội Châu ở nhà Lưu niệm cụ Phan có mộ Con Vá ,Con Ki và 3 tấm tấm bia mộ chí, tấm bia chữ Hán và tấm bia dịch ra chữ Quốc ngữ. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.07.2010

GHI Ở CÔN ĐẢO

GHI Ở CÔN ĐẢO

Ngô Minh

Ngô Minh ở Nghĩa trang Hàng Dương,Côn Đảo

ĐẢO TÙ QUỐC TẾ !
Bạn đã ra Côn Đảo bao giờ chưa ?. Nếu chưa ra, thì trong đời nên ít nhất một lần ra đảo để hiểu thêm truyền thống yêu nước đấu tranh anh hùng của dân tộc ta. Từ cảng Vũng Tàu, mua vé , xuống tàu 09 hoặc 010 lúc 5 giờ chiều, tàu chạy suốt đêm vượt 97 hải lý đến 5 giờ 30 sáng hôm sau là đến Bến Đầm cách Thị trấn Côn Đảo 12 km. Hoặc đi máy bay Thành phố Hồ Chí Minh-Côn Đảo thì chưa đầy tiếng đồng hồ, máy bay sẽ đỗ ở sân bay Cỏ Ống.
Côn Lôn không phải là một hòn đảo, mà là một quần đảo gồm 16 đảo lớn nhỏ, trong đó Côn Đảo là đảo lớn nhất có hình dạng như một con Gấu lớn quay lưng về phía đất liền. Các đảo khác có tên rất dân dã : Hòn Bà, Hòn Bảy Cạnh, Hòn Cau, Hòn Bông Lan, Hòn Vung, Hòn Trọc, Hòn Tre lớn, Hòn Tre nhỏ…. Xa nhất là Hòn Anh, Hòn Em cách đảo Côn Lôn gần 50 cây số . Mỗi hòn đảo đều có một truyền thuyết sinh thành .Ví dụ Hòn Bà là do truyền thuyết kể rằng năm 1784 , Nguyễn Ánh trong khi chạy trốn Tây Sơn đã giam người vợ trẻ của mình là thứ phi Hoàng Phi Yến ( tên thật là Lê Thị Răm ) trong một hang đá trên hòn đảo này vì bà này chống lại việc cầu viện ngoại bang của chồng. Bà Phi Yến sáng tác thơ khuyên chồng : Ngai vàng một thuở ngồi chưa vững/ Bia đá ngàn năm vết vẫn còn / Máu chảy ruột mền đau phận thiếp / Nồi da xáo thịt thỏa tình ông !
Nguyễn Ánh nghe tin quân Tây Sơn đuổi tiếp, vội vàng rời đảo . Khi thuyền rời bến, hoàng tử Hội An, tục gọi là Hoàng tử Cải, con bà Phi Yến, lúc đó mới 5 tuổi, không thấy mẹ bên cạnh , nghe mọi người nói cho biết mẹ đang bị giam thì cậu bé khóc rống lên, đòi ở bên mẹ. Nguyễn Ánh tức giận ra lệnh ném con mình xuống biển ! Nên người làng Cỏ Ống thời bấy giờ đặt câu ca : Gió đưa cây CẢI về trời. Rau RĂM ở lại chịu lời đắng cay (Răm là tên Mẹ, Cải tên con). Nên có tên đảo Hòn Bà. Bây giờ ở Cỏ Ống có miếu Cậu thờ Hoàng tử Cải và đền thờ Bà Phi Yến gọi là An Sơn Miếu. Cứ đến ngày 18 tháng 10 âm lịch là người dân Côn Đảo nấu giỗ Bà, là một trong 4 cái giỗ lớn nhất ở Côn Đảo, mà nhà nước cũng lo và dân cũng làm cỗ cúng. Đó là giỗ anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu, giỗ đ/c Lê Hồng Phong, giỗ nhà yêu nước Nguyễn An Ninh và giỗ bà Hoàng Phi Yến.
(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.07.2010

Dạy chó sói

Dạy chó sói

 Truyện dân gian Do Thái
Nguyễn Ước dịch

Có một đại tôn sư nghe lỏm các mục tử đang than vãn về con chó sói nguy hiểm nọ.
Một người nói:
- Hầu hết chó sói để yên cho đàn cừu của tôi nhưng có một con sói đêm nào cũng cố bắt cho được một con cừu.
Người kia nói:
- Con sói đó đã ăn nhiều cừu của tôi.
Đại tôn sư nói:
- Ta sẽ dạy cho con sói đó biết đọc biết viết, lúc đó nó sẽ không sát hại cừu nữa. Nó sẽ tìm được công việc thích đáng và trở thành một phần tử hữu dụng của xã hội.
Và vị thầy đó tìm thấy con sói, hằng ngày mang thực phẩm tới thăm viếng nó cho tới khi con sói hoàn toàn tín nhiệm ông. Kế đó, ông bắt đầu dạy con sói tập đọc. Hằng ngày, ông dạy nó một mẫu tự trong bảng chữ cái Hebrew: aleph, bet, gimet và daled, tức là A, B, C và D. Ông là một thầy giáo rất giỏi tới độ con sói có thể đọc từng mẫu tự A, B, C, D theo thứ tự bảng chữ cái. Đại tôn sư quá đỗi vui mừng. Kế đó, ông kết các mẫu tự thành chữ.
Đại tôn sư nói:
- Nào, chó sói, đọc chữ này đi. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.07.2010

CHUYỆN VUI CÁC ĐẠI HỘI NHÀ VĂN

CHUYỆN VUI CÁC ĐẠI HỘI NHÀ VĂN

Ngô Minh

Tôi là nhà văn đã dự 4 kỳ Đại hội nhà văn, kỳ Đại hội thứ VIII này nữa là 5. Đại hội nhà văn luôn là một Đại hội quan trọng được dư luận xã hội , đặc biệt là từng lớp trí thức rất quan tâm. Nhưng đại hội nhà văn cũng có nhiều chuyện vui đáo để….

HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG HAM “ĐỐI TRỌNG”
QUÊN ĂN TRƯA

Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường

Ở Đại hội Nhà văn lần thứ V ( 1995), nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đọc bài tham luận rất hay về quan điểm Đối trọng, nghĩa là các nhà văn có trách nhiệm với đất nước, nhân dân phải mạnh dạn nêu ý kiến phản biện xã hội để Đảng và Nhà nước ban hành các quyết sách đúng đắn hơn. Kiểu như quan can gián vua trong các triều đại ngày xưa. Trưa hôm sau, văn phòng Tổng Bí thư Đỗ Mười đưa xe đến mời nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường tới gặp mặt Tổng bí thư. Anh Tường kể : Cuộc nói chuyện bắt đầu từ 10 giờ sáng, chỉ có 3 người là là TBT Đỗ Mười, anh Tường và ông Nguyễn Đức Bình, lúc đó là Uỷ viên Bộ Chính trị phụ trách công tác tư tưởng. Nhưng ông Bình chỉ ngồi nghe, từ đầu đến cuối không nói gì . TBT Đỗ Mười là một nhà lãnh đạo tâm huyết và có tài hùng biện, Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn thông kim bác cổ, nên hai người say sưa nói chuyện. Vẫn chuyện đối trọng hay không đối trọng, nhưng câu (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 27.07.2010

TỔ QUỐC VÀ TỰ DO

TỔ QUỐC VÀ TỰ DO

Tham luận tại Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam khóa 8 của nhà văn Bùi Minh Quốc

Nhà văn Bùi Minh Quốc

Kính gửi anh Hữu Thỉnh Chủ tịch, anh Nguyễn Trí Huân, anh Lê Văn Thảo Phó chủ tịch Hội;

Kính gửi các anh chị trong Ban chấp hành Hội,

Ngày 18.07.2010 tôi nhận được giấy mời do anh Hữu Thỉnh ký, yêu cầu gửi tham luận tới Hội trước ngày 25.07.2010. Bấy lâu cứ đinh ninh về dự Đại hội sẽ trao tham luận cho Chủ tịch đoàn rồi chờ đến lượt thì lên diễn đàn, nên khi nhận được giấy mời mới vội bắt tay viết, bây giờ (gần 0g ngày 25.07.2010) mới xong. Vì vậy tôi gửi theo đường thư điện tử về địa chỉ báo điện tử của Hội do anh Thỉnh làm Tổng biên tập. Tôi nhờ anh Thỉnh cho đăng ngay lên báo, coi như tôi đọc tham luận trước thềm Đại hội, phòng trường hợp Chủ tịch đoàn sơ ý bỏ lọt tham luận của tôi ở cuối xấp giấy nằm chờ chăng. Tôi cũng gửi tham luận này đến blog và web của các đồng nghiệp hội viên Nguyễn Huệ Chi, Trần Nhương, Nguyễn Trọng Tạo, Ngô Minh, Nguyễn Quang Lập, Phạm Viết Đào nhờ công bố giùm luôn thể, trân trọng cám ơn. BMQ

 

TỔ QUỐC VÀ TỰ DO

Bùi Minh Quốc

Trong bóng tối bí mật đầy vật vã của một cơn đau đẻ lịch sử lớn, vào những đêm hè năm 1945, tại làng Dục Tú, huyện Đông Anh, Hà Nội – làng quê của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng – có hai chiến sĩ cách mạng thức trắng trước trang giấy cặm cụi viết. Hai chiến sĩ ấy, một người 32 tuổi, một người mới 21 tuổi, được Đảng giao nhiệm vụ viết một bản báo cáo về văn hóa để trình bày trong đại hội toàn dân sắp họp tại Tuyên Quang (thuộc khu Giải phóng). Bản báo cáo ấy, khi hoàn thành vào ít ngày sau, mang tên: “MỘT NỀN VĂN HÓA MỚI”. Hai chiến sĩ cách mạng đồng tác giả là Nguyễn Hữu Đang và Nguyễn Đình Thi, thành viên nòng cốt của tổ chức Văn hóa cứu quốc Việt Nam, tiền thân của Hội nhà văn Việt Nam (cùng các hội khác thuộc lãnh vực văn hóa nghệ thuật). (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 01.08.2010

ĐÃ ĐI VỚI NHÂN DÂN THÌ THƠ KHÔNG THỂ KHÁC

ĐÃ ĐI VỚI NHÂN DÂN
THÌ THƠ KHÔNG THỂ KHÁC

(Tham luận của Ngô Minh tại Đại hội NV VIII)

Đỗ Phủ là nhà thơ đời Đường, cùng với Lý Bạch được coi hai nhà thơ vĩ đại nhất Trung Quốc. Bản thân ông 15 năm cuối đời cũng là người bần hàn, khốn khó, đói rách .Một lần Đỗ Phủ chạy giặc trên chiếc đò nhỏ trên sông Tương , nhịn đói đã 10 ngày. Sau đó được chức sắc trong vùng biết tin, đem rượu thịt mời. Ông ăn uống no say rồi bị “ thương thực” lăn ra chết. Gọi là chết no , nhưng thực chất là chết đói. Vì thế thơ ông thấm đẫm nỗi đau của người dân cùng khổ. Nói về Đỗ Phủ, trong bài thơ “ Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe” của Phùng Quán có khúc thơ rất thống thiết : Đã đi với nhân dân / Thì thơ không thể khác/ Dân máu lệ khốn cùng / Thơ chết áo đắp mặt…Tôi muốn nhân chuyện thơ Phùng Quán về Đỗ Phủ để nói vài ý kiến ngắn về lối đi của nhà văn trên con đường văn chương thăm thẳm để có tác phẩm đích thực mà người đọc luôn mong đợi. Gần mực thì đen/ Gần đèn thì sáng. Nhà văn đi với ai thì sẽ viết ra thứ văn chương đó. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 09.08.2010

VUI BUỒN ĐẠI HỘI NHÀ VĂN 8

VUI BUỒN ĐẠI HỘI NHÀ VĂN 8

Ngô Minh

Nhà thơ Hữu Thỉnh, CT HNV khoá 8 bế mạc Đại hội

 

 

 

Người ta gọi Đại hội Nhà văn VN 8 theo chữ số La Mã là đại hội VIII ( VUI). “Vui’ ở đây theo hai nghĩa : vui mừng và buồn cười lắm. Vui là lần đầu tiên sau nhiều Đại hội, BCH Hội nhà văn được bầu một lần đạt chỉ tiêu đề ra 15 người và là số uỷ viên chấp hành đông nhất từ Đại hội IV đến nay, trong đó 8/15 hội viên trong Ban chấp hành ở dưới tuổi 60. Vui là nhà thơ Hữu Thỉnh lần thứ 3 tái đắc cử chức chủ tịch Hội, vượt cố nhà văn Nguyễn Đình Thi một lần. Con hơn cha là nhà có phúc chứ sao !

  (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 13.08.2010

Đảng và sự nhân danh Đảng

Lâu nay, việc các cơ quan quyền lực CỦA đảng và nhà nước cấm đoán, tịch thu, “xay bột” các tác phẩm vănh ọc “có vấn đề’ của các nhà văn xảy ra liên tục, nhưng đều với những phán quyết không minh bạch. Những phán quyết đó đều “nhân danh Đảng”. Vậy làm  sao để tránh những phán quyết gây oan khiên đối với  tác phẩm và tác giả> Nhận thấy bài viết của nhà văn Văn Chinh trên vanvn.net về việc nay, QTXM xin khuân về đây để đọc giả v\cùng suy nghĩ

Đảng và sự nhân danh Đảng

Văn Chinh

Nhà văn Văn Chinh

 

1, Trong Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ IV ( tháng 12 – 1989) Chủ tịch HĐBT Đỗ Mười đến dự và đọc Thư chào mừng Đại hội của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh. Đọc đến gần cuối, phần nói về phương pháp sáng tác, cụ Đỗ Mười dừng lại, nói vo:

- Tôi nghe các đồng chí nhà văn đang bàn về phương pháp sáng tác, xem có cần giữ vững phương pháp hiện thực XHCN hay không. Tôi thấy phương pháp nào cũng tốt, miễn là viết hay. Đảng yêu cầu các đồng chí viết hay. Nhân dân yêu cầu các nhà văn viết hay. Tôi yêu cầu các đồng chí viết hay! (Đọc tiếp…)

NTT: Nhà văn Lê Hoài Nguyên tên thật là Thái Kế Toại, nguyên Đại tá công an, công tác tại A25 (chuyên theo giõi văn nghệ sĩ và văn hóa) đã gửi tới NTT.ORG một chuyên luận dài về Nhân Văn Giai Phẩm. Các bạn hãy đọc nó như đọc một “góc nhìn” về sự thật.

VỤ NHÂN VĂN – GIAI PHẨM TỪ GÓC NHÌN MỘT TRÀO LƯU TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ, MỘT CUỘC CÁCH MẠNG VĂN HỌC KHÔNG THÀNH

LÊ HOÀI NGUYÊN

LÊ HOÀI NGUYÊN


III- DIỄN BIẾN VỤ NVGP

1- Biên niên sự kiện

Năm 1953:

-              Luật Cải cách ruộng đất được ban hành

-              Stalin qua đời.

-              Ngày 17- 6 biểu tình tại Cộng hòa dân chủ Đức. B. Brecht và J. R Becher phê phán chính sách văn nghệ chuyên chính của Đảng và nhà nước.

-              Trần Dần bị phê bình giảng sai chính sách văn nghệ của Đảng trong khóa đào tạo cán bộ văn công do ông phụ trách.

Năm 1954:

-              Chiến thắng Điện Biên Phủ. Cải cách ruộng đất.

-              Hiệp định Giơ  ne vơ. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa thành lập tại Sài Gòn.

-              700.000 ngàn người miền Bắc di cư vào Nam trong đó có nhiều trí thức văn nghệ sĩ có tên tuổi. Đó là một cuộc lựa chọn-nhận đường, phân hóa có ý nghĩa lịch sử với đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, còn có ý nghĩa văn học lâu dài. Vũ Khắc Khoan viết các truyện ngắn Thần Tháp Rùa, Trương Chi, Thiên Thai, Người Đẹp Trong Tranh với chủ đề về sự phân vân của trí thức Hà Nội đi tìm một căn bản tư tưởng. (Đọc tiếp…)

NTT: Lần đại hội nào nhà thơ Trần Mạnh Hảo cũng gây sốc bởi tham luận. Lần này với tham luận gần 9000 chữ, chắc không đủ thời gian để đọc nên anh đã nhờ các trang web “đọc” giúp. Nhưng thật khó nuốt vì nó quá dài và dễ hóc… Ai muốn biết nhà thơ Trần Mạnh Hảo phát gì trong đại hội, xin chịu khó xem nhé.

Chỉ có sự thật mới giải phóng con người, giải phóng văn học và đất nước

(Tham luận của Trần Mạnh Hảo trong Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII, soạn theo thư “mời viết tham luận” của nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam)

Trần Mạnh Hảo

Nha tho TRan Manh Hao

“Sự thật là tiêu chuẩn của chân lý” K. Marx

Kính thưa quý đồng nghiệp cầm bút,

Thưa quý vị quan khách và quý vị lãnh đạo,

Thói thường, con người sợ món gì nhất? Sợ ma quỷ ư? Không! Sợ vợ ư? Không! Sợ công an ư? Không! Sợ kẻ cầm quyền ư? Không! Sợ chết ư? Không!

Theo chúng tôi, con người trên mặt đất này sợ nhất sự thật! Vì vậy, ngạn ngữ Việt Nam từng nói: “Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng”. Người Trung Hoa từ thượng cổ đã nói: “Trung ngôn nghịch nhĩ”. Người Ba Tư cổ khuyên: “Nếu nói ra sự thật, anh sẽ chết”. Người Ai Cập xưa cảnh cáo: “Khi sự thật bị bỏ quên quá lâu, một hôm nó thức dậy thành ngày tận thế”. Ngạn ngữ Tây Tạng tiền Phật giáo khuyên: “Mày chỉ được phép nói ra sự thật, nếu mày làm vua”. Thổ dân Úc bảo: “Ai nhìn thẳng vào sự thật sẽ bị mù mắt”. Lịch sử nhân loại đã ghi nhận hàng triệu con người từng dám cả gan nói lên sự thật mà bị mất mạng, bị tù tội hay bị quản thúc tại gia. (Đọc tiếp…)

TIN BUỒN :

BÀ VŨ BỘI TRÂM, VỢ NHÀ THƠ PHÙNG QUÁN QUA ĐỜI


KÍNH GỬI BẠN ĐỌC YÊU VĂN CHƯƠNG PHÙNG QUÁN

Bà Vũ Bội Trâm (vợ nhà thơ Phùng Quán) đã qua đời lúc 8h35 sáng ngày chủ nhật 15 tháng 8 năm 2010 tại Bệnh viện Hữu Nghị – Hà Nội sau hơn một tháng lâm bệnh nặng, hưởng thọ 79 tuổi ( 1932-2010).
Tang lễ tổ chức từ 8 giờ đến 11 giờ, thứ năm ngày 19 tháng 8 năm 2010 tức ngày 10 tháng 7 năm Canh dần (âm lịch) tại nhà tang lễ bệnh viện Quân Đội 354 – Phố Đốc Ngữ, quận Ba Đình, Hà Nội. Điện táng tại Đài Hóa thân Hoàn Vũ cùng ngày.

Xin kính cáo để bạn bè bốn phương được biết và cầu nguyện cho hương hồn bà Vũ Bội Trâm sơm tới miền cực lạc, gặp được chồng là nhà văn Phùng Quán ở cõi vĩnh hằng

Kính cáo

Ngô Minh

Ngô Minh thăm chị Bội Trâm tại BV Hữu Nghị ngày 3-8-2010

Đăng bởi: Ngô Minh | 26.08.2010

GIÁP TA THẮNG TRẬN…

GIÁP TA THẮNG TRẬN…

Ngô Minh

Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Câu lục bát nổi tiếng đã làm nên tên tuổi của trường phái “Thơ Bút Tre” nửa thế kỷ nay là câu lục bát viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp mà cả nước từ già đến trẻ ai cũng thuộc :
Hoan hô đại tướng Võ Nguyên
Giáp ta thắng trận Điện Biên trở về
Bây giờ thì thơ “Bút Tre trẻ”, “ Hậu Bút Tre” …sản sinh ra rất nhiều, nên khó phân biệt được đâu là thơ Bút Tre thực. Nhưng câu lục bát trên thì trăm phần trăm Bút Tre, vì câu lục bát trên nằm trong trường ca gần 100 câu viết về Điện Biên Phủ của nhà thơ Bút Tre. Xin trích một đoạn để làm chứng :
… Hoan hô đại tướng Võ Nguyên
Giáp ta thắng trận Điện Biên trở về
Cờ hoa sáng rực trời quê
Nhà nhà phấn khởi hả hê nhà nhà…
Câu lục Hoan hô đại tướng Võ Nguyên còn được tác giả nhắc lại trong đoạn kết. Đây là hai câu thơ xuất thần, đột khởi làm nên thương hiệu Bút Tre lưu truyền hậu thế và tạo nên nhiều thế hệ Bút Tre mới sau này (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 28.08.2010

NGÔ MINH ĐI VIẾNG HANG TÁM CÔ

NGÔ MINH ĐI VIẾNG HANG TÁM CÔ

Ngô Minh viếng Tám Cô

Tuần trước  dịp Vu Lan rằm tháng 7 âm lịch, về làng Thượng Luật Quảng Bình chạp mả họ Ngô, Ngô Minh có dịp cùng nhà thơ Hà Nhật ( thầy giáo dạy văn cấp 3 của NM), nhà thơ Lê Đình Ty và nhà văn Hữu Phương đã đi viếng Hang Tám Cô. Hang Tám cô là một huyền thoại thời chống Mỹ. Đêm hôm trước khi đi, bà mự của vợ Ngô Minh dặn, Hang Tám cô thiêng lắm, lên đó đứng đùa dỡn gì mà mang hoạ. Có nhiều câu chuyện thiêng về chuyện các cô phạt người này người khác…
Từ di tích phà Xuân Sơn, ngược lên chừng 2km sẽ gặp một tấm biển nhỏ đề “Km 0 – đường 20 Quyết Thắng”. Từ đây tuyến đường huyền thoại năm xưa chạy trong vùng rừng được bảo vệ của khu bảo tồn thiên nhiên Phong Nha – Kẻ Bàng. Từ Km 0 đến Km15 sẽ gặp một ngã tư mang tên Trạ Ang, nơi giao nhau giữa đường Hồ Chí Minh nhánh tây và đường 20. Đi thêm chừng 2km nữa sẽ gặp hang Tám Cô – Thì ra hàng ngày rất nhiều đoàn từ khắp nơi trong cả nước đến viếng Hang Tám cô. họ mang theo lễ vật như gà giò, đầu heo, xôi, thịt, bánh trái, hoa quả ,nhang đèn để cúng viếng những liệt sĩ Trường Sơn, những cô gái TNXP anh hùng đã hy sinh tuổi thanh xuân cho đất nước. Ở đây có một đơn vị của Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ bàng, gồm những nam giới rất trẻ trung quản lý Di tích, tổ chức lễ viếng rất nghiêm trang. Sau đây là một vài hình ảnh Ngô Minh cùng các nhà văn viếng Hang Tám Cô (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 30.08.2010

Cả nước thích đùa

Cả nước thích đùa

(Tham luận của Cố nhà văn Aziz Nesin* gửi Đại Hội – Hội Nhà Văn VN lần thứ VIII)
Bạn đọc kính mến. Quà tặng xứ mưa vừa nhận được bài viết không ghi tên tác giả, viết dưới dạng tham luận gửi Đại Hội Nhà văn VIII. Nhà văn Aziz Nêsin ( Thổ Nhĩ Kỳ” đã qua đời 15  năm nay. Có lẽ nhận thấy người Việt Nam cũng là “Những người thích đùa “như ông, nên hương hồn ông đã gửi bài tham luận này chắc ? Xin giới thiệu để bạn đọc cùng chia sẻ.

 

 

 

Các bạn đồng nghiệp Việt Nam thân mến,

Cách đây gần hai thập kỷ, Aziz Nesin tôi được các bạn độc giả Việt Nam biết đến như một người “thích đùa”. Vâng, tôi đã phải trả giá cho sự bông đùa của mình bằng nhiều năm ngồi bóc lịch sau song sắt. Nhà cầm quyền ở nước tôi không thích đùa. Những tín đồ Hồi giáo cực đoan ở Thổ Nhĩ Kỳ không thích đùa. Các bạn may mắn hơn tôi vì được sinh ra và hành nghề cầm bút ở một xứ sở con người luôn lạc quan, mơ mộng và hài hước. (Đọc tiếp…)

Làm sao thực hiện được tư tưởng Hồ Chí Minh:

“NẾU CHÍNH PHỦ LÀM HẠI DÂN THÌ DÂN CÓ QUYỀN ĐUỔI CHÍNH PHỦ”?

Tống Văn Công

Nhà báo Tống Văn Công, nguyên TBT báo Lao Động

Sau bài viết “Vì sao Hồ Chí Minh đặt dân chủ trước giàu mạnh?”, tôi nhận được nhiều ý kiến bạn đọc trong, ngoài nước, hỏi vì sao hiện nay cả nước đang liên tục rầm rộ tổ chức học tập tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh, nhưng những tư tưởng lớn của người rất cần cho sự nghiệp Đổi mới, cho cuộc sống nhân dân thì lại không được học tập, vận dụng?

Trong bài viết này, tôi muốn đề cập đến một trong những nội dung cốt lõi về dân chủ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định một cách mạnh mẽ: “Nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ” (HCM toàn tập, NXB Sự thật, tập 4, trang 283).

Đây là một nội dung có ý nghĩa then chốt ở một thể chế dân chủ, nó như lửa thử vàng để biết vàng thật hay vàng giả, ở đây là dân chủ thật hay dân chủ giả.

Có thể bạn sẽ hỏi liệu Chính phủ của chúng ta đã có những sai lầm gì “làm hại dân”? (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 01.09.2010

Kỷ niệm nghìn năm Thăng Long …Nhìn lại

Ông Hoàng Lại Giang

Kỷ niệm nghìn năm Thăng Long …Nhìn lại

HOÀNG LẠI GIANG

 

1/ Với dân, hãy trong sáng và minh bạch.

Có một số quan chức hay nhấn mạnh mối quan hệ truyền thống giữa Việt Nam và Trung Quốc… Truyền thống ở đây được hiểu theo mối quan hệ anh em, đồng chí, mối quan hệ “môi răng”. “Môi hở răng lạnh”.

Từ những năm 50 của thế kỷ trước, khi còn ngồi trên ghế nhà trường tôi vẫn nghĩ như vậy, tin son sắt mối quan hệ “Núi liền núi, sông liền sông”, mối quan hệ “vừa là đồng chí, vừa là anh em” như vậy. (Đọc tiếp…)

NGƯỜI ĐÀN BÀ BẤT CHẤP TAI ƯƠNG ẤY ĐÃ RA ĐI

Ngô Minh

chị Vũ Bội Trâm

Chị Vũ Bội Trâm, vợ cố nhà thơ Phùng Quán đã qua đời lúc 8 giờ 35 phút sáng ngày 15 tháng 8 năm 2010 tại bệnh viện Hữu Nghị Hà Nội. Lòng tôi trĩu nặng tiếc thương chị và thương cháu Quyên, cháu Quân mồ côi cha mẹ. Mới hôm nào ra Đại Hội Nhà văn VIII, tôi đã cùng anh em nhà văn Huế như Tô Nhuận Vỹ, Nguyễn Đắc Xuân, Mai Văn Hoan, Nguyễn Khắc Phê, Vĩnh Nguyên… đến Bệnh viện thăm chị. Chị nằm bất tỉnh, nhưng khi nghe tôi nói:” Em là Ngô Minh đây”, mặt chị sáng lên, hình như chị cười. Một giọt nước mắt chị ứa ra trên khuôn mặt hoang dại… Tôi quen thân gia đình anh Phùng Quán-chị Bội Trâm từ đầu năm 1980, đến nay độ 30 năm rồi. Anh chị coi tôi như đứa em trong nhà, có chuyện gì cũng kể. Từ ngày anh Phùng Quán qua đời, bao nhiêu bài viết của anh Quán hay những bài các nhà văn nhà báo viết về anh Phùng Quán, chị đều gửi vào Huế cho tôi cất giữ. Nhờ khối tư liệu đó, tôi và chị đã làm được mấy cuốn sách cơ bản về nhân cách và tài năng Phùng Quán như Nhớ Phùng Quán, Phùng Quán còn đây, Ba phút sự thật. Những cuốn sách được độc giả ca nước rất mến mộ. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 04.09.2010

THƯƠNG TIẾC NHÀ VĂN BĂNG SƠN

THƯƠNG TIẾC NHÀ VĂN BĂNG SƠN

Sau 7 tháng nằm viện vì bị tai biến mạch máu não, 8h15 ngày 3/9/2010, nhà văn Băng Sơn đã trút hơi thở cuối cùng tại nhà riêng (66 Lê Văn Hưu, Hà Nội) ở tuổi 78.  nhà Văn Băng Sơn là chỗ quen thân của Ngô Minh. Năm 2002, ông đã từng  đề tựa cho tập bút ký ẩm thực “Ăn chơi xứ Huế’ của Ngô Minh. Con trai nhà văn, nhà báo Trần Phương Quang 14 năm cùng công tác với Ngô Minh ở Báo Thương Mại ( Bộ Thương Mại cũ)

Nhà văn Băng Sơn tên thật là Trần Quang Bốn, sinh ngày 18/12/1932, quê ở Bình Lục (Hà Nam), nhưng ông sinh ra và lớn lên ở Cẩm Giàng (Hải Dương) và mảnh đất Hà thành lại là nơi ông bắt đầu với nghiệp văn chương. Nhà văn Băng Sơn nổi tiếng là cây bút chuyên viết về Hà Nội với tất cả tâm huyết, dấu yêu. Những trang viết của ông thấm đẫm chất thơ và tình yêu Hà Nội, với những kiến thức đầy lý thú về mảnh đất kinh kỳ, qua sự “công phu đào sâu vào từng góc nhỏ của xã hội” của một con mắt tinh tế, giàu cảm xúc.

x

Nhà văn Băng Sơn. Ảnh: VNE

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 05.09.2010

Ba bài chiếu đời Lý – một tầm cao văn hóa

Ba bài chiếu đời Lý – một tầm cao văn hóa mở đầu cho kỷ nguyên Thăng Long – Đại Việt

Đoàn Thị Thu Vân

Tượng Lý Thái Tổ

Mở đầu cho kỷ nguyên Thăng Long là triều đại nhà Lý với những dấu ấn khó phai về một đường lối trị nước thành công, hiệu quả, đưa đất nước Đại Việt từ chỗ nhược tiểu, vừa thoát vòng nô lệ, loạn ly cát cứ lên vị trí một quốc gia hùng mạnh, có vị thế trong khu vực. Một đường lối trị nước kết hợp từ tinh thần nhân ái của truyền thống văn hóa dân tộc với tinh thần “vô ngã, vị tha” của một Phật giáo Đại Việt giàu tính thực tiễn.

Sự kết hợp hoàn mỹ này được thể hiện qua ba bài chiếu của các vua đầu đời Lý, không chỉ nói lên một chủ trương chính trị sáng suốt, phù hợp, mà còn cho thấy nơi con người Đại Việt thời đại, trong đó các vua nhà Lý là đại biểu, một tầm cao văn hóa và sự lớn lao về nhân cách.

1. Bài chiếu xuất hiện đầu tiên trong văn học dân tộc là Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu) của Lý Thái Tổ. Về tính chất đĩnh đạc, trang trọng, thể hiện một chủ trương lớn, một tầm nhìn xa rộng của người lãnh đạo quốc gia cũng như tâm huyết và khát vọng xây dựng một đất nước giàu mạnh, tầm cỡ, phát triển lâu dài trong bài chiếu, đã có không ít nhà nghiên cứu phân tích, bình luận. Đây chỉ đề cập đến hai khía cạnh đáng chú ý.

- Trước hết là một tinh thần nhạy bén và linh hoạt trong trị nước, “nếu thấy thuận tiện thì thay đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh”(1). Nhìn ra những chỗ bất lợi của kinh đô cũ, nhà vua đã kịp thời thay đổi và quyết tâm thay đổi. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 09.09.2010

NGÀY 10/9- SINH NHẬT NGÔ MINH

NHÂN NGÀY SINH NHẬT NGÔ MINH, TẶNG BẠN ĐỌC  CHÙM THƠ VỀ SINH NHẬT :

Ngô Minh

THƠ SINH NHẬT

1

Xin đừng hỏi hoa sao vội tàn
Khi hương sắc đã thấm vào hi vọng
Xin đừng hỏi ngày sinh của biển
Khi giọt buồn thấm mặn lòng nhau

*
nếu ai bắt tôi đếm tuổi của em
tôi lặn xuống sông nhặt triệu viên sỏi trắng
như cậu vỡ lòng, bày ra sân và đếm
cho đêm về trời chín một mùa sao…

2

Kể từ khi sinh con

ba có thêm ngày sinh đẹp nhất

tuổi con như con thuyền đưa ba về phía  trước

muốn tìm tuổi ba hãy ngược  phía thác ghềnh

4

Tấm lịch treo 365 ngày sinh nhật

con những ai quên mất tuổi mình

hãy một phút ngước lên trời tìm lại

hạt cát nào cũng sáng giữa  cao xanh…

Fidel Castro: ‘Cuba cần thay đổi mô hình kinh tế’

Nhà lãnh đạo cách mạng Fidel Castro nói với một phóng viên người Mỹ và một chuyên gia chính sách Mỹ – Cuba rằng, hệ thống kinh tế do nhà nước nắm giữ phần lớn của Cuba cần phải thay đổi.

Đây là lời bình luận hiếm hoi về vấn đề trong nước từ một người đã rời ghế lãnh đạo Cuba cách đây bốn năm.

a
Cựu Chủ tịch Cuba Fidel Castro phát biểu trong một cuộc gặp gỡ với sinh viên tại Đại học Havana ngày 3/9. Ảnh: Reuters (Đọc tiếp…)
Đăng bởi: Ngô Minh | 12.09.2010

MẮM HUẾ TRÊN BÀN TIỆC NGOẠI GIAO

MẮM HUẾ TRÊN BÀN TIỆC NGOẠI GIAO

Ngô Minh

Là người chưa bao giờ biết các đoàn khách ngoại giao đến nước ta được đãi tiệc bằng những món gì, nên khi đọc báo, thấy bà Tôn Nữ Thị Ninh, một người Huế giỏi nấu ăn, nhà ngoại giao kỳ cựu nói rằng nói rằng” Thật vô lý khi khách nước ngoài đến nước ta đều được đãi tiệc bằng những món ăn Âu”, thì tôi vô cùng ngạc nhiên và buồn. Không buồn sao được khi khách nước ngoài đến ta lại đãi họ bằng cá hồi xông khói , thịt cừu nướng , hạt kê blinnis.v.v..Trong lúc đó ẩm thực Việt Nam 3 miền có hàng trăm món ăn thượng thặng, không thua kém món ăn nước nào, nhiều món đã phổ biến trên thế giới như phở Hà Nội ,bánh khoái Huế, nem Sài Gòn, chả giò.v.v.. Tôi nghĩ, mỗi dân tộc đều có văn hóa ẩm thực riêng , nên khi đãi khách nước ngoài mình phải mời họ thưởng thức các món ăn Việt của mình chứ, sao lại đãi họ bằng món ăn của họ. Những bữa tiệc thuần Việt ấy không chỉ là bữa ăn, mà là một cuộc trình diễn tiếp thị hình ảnh , văn hóa Việt. Khi văn hóa ẩm thực làm “sử giả ngoại giao” sẽ tác dụng truyền cảm hơn nhiều lần những lời lẽ của nhà ngoại giao lịch thiệp nhất. Cho nên tôi rất đồng tình với ý kiến của nhà thơ Nguyễn Duy, Nguyễn Trọng Tín, kiến trúc sư Nguyễn Trọng Huấn , đầu bếp Nguyễn Dzoãn Cẩm Vân, bà Bùi Thị Sương…trong cuộc tòa đàm “ Thực đơn Việt” trong một cuộc toạ đàm về ẩm thực rằng, chúng ta hoàn toàn có thể đãi khách ngoại giao bằng thực đơn thuần Việt ! (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 16.09.2010

DƯ ÂM ĐẠI HỘI NHÀ VĂN VIII

BUỒN VUI ĐẠI HỘI HỘI NHÀ VĂN

ĐỖ HOÀNG 

Nhà thơ Đỗ Hoàng

 Tôi được dự nhiều đại hội Nhà Văn Việt Nam, khi là đại biểu dự thính, khi là khách mời, khi là đại biểu chính thức. Tôi là người vô tư vì thấy Đại hội Nhà Văn vui là chính, nghĩ rằng: Được đi, được dự, được gặp gỡ các nhà văn tên tuổi là thú vị rồi. Thứ gì mình là một thằng tỉnh lẻ, nhà quê lại được đứng gần cụ Tô Hoài, cụ Nguyễn Đình Thi, cụ Huy Cận, cụ Nguyễn Xuân Sanh… Lại nhìn tận mặt các vị quân vương bằng người thật, áo quần thật, không phải nhìn qua ảnh hoặc trên ti vi! (Đọc tiếp…)

 

VỀ BỘ TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ TÁM TRIỀU VUA LÝ

Hoàng Quốc Hải

  

Nhà văn Hoàng Quốc Hải

 

 

 Sáng ngày 16-9-2010, tại hội trường Hội Nhà văn Việt Nam, Nhà xuất bản Phụ nữ và Nhà sách Vạn Niên đã tổ chức lễ ra mắt hai bộ tiểu thuyết đồ sộ của nhà văn Hoàng Quốc Hải.
  Bộ tiểu thuyết lịch sử: Tám triều vua Lý gồm 4 tập với 3514 trang
  Bộ tiểu thuyết lịch sử: Bão táp triều Trần gồm 2912 trang  .
Có lẽ trong nhưng công trình chào mừng 1000 năm Thăng Long Hà Nội thì đây là một công trình đồ sộ với 10 tập sách hơn 6000 trang. Nhà văn Hoàng Quốc Hải đã bỏ ra gần 30 năm để hoàn thành bộ sách này.
  Bộ sách Tám triều vua Lý đã phục dựng toàn cảnh sinh động về triều Lý- triều đại đã xây dựng nên móng cho một nước Đại Việt tự chủ. Về thể chế, đó là những thành tựu trong việc tổ chức chính quyền hoàn chỉnh từ hương ấp, trấn, lộ đến triều đình trung ương. An ninh quốc phòng với chính sách “Ngụ binh ư nông”. Về văn hóa đã thực hiện “tam giáo đồng nguyên” (Phật, Nho, Đạo). Nhà Lý phát triển rực rỡ thơ ca còn lưu lai hậu thế nhiều tác phẩm bất hủ..Sau đây là bài viết của nhà văn Hoàng Quốc Hải về bộ tiểu thuyết Tám triều vua Lý :

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.09.2010

HUYỀN DIỆU VŨ TRỤ, TẬP THƠ LẠ

HUYỀN DIỆU VŨ TRỤ, TẬP THƠ LẠ

    Ngô Minh

 

       
       Tập thơ Huyền diệu vũ trụ (*) của Nguyễn Minh Hoàng khó đọc vì  nhiều từ mới, ý niệm mới, tôi  phải đọc đi đọc lại mới nhận ra sư độc đáo, khác thường của cảm xúc thơ . Có nhiều nhà thơ hướng về vũ trụ để gửi gắm nỗi lòng mình :” Trái đất ba phần tư nước mắt / Trôi như  giọt lệ giữa không gian”( Xuân Diệu); Trái đất đa tình phiêu lãng”( Hoàng Vũ Thuật )…Riêng Huy Cận từ trước tiền chiến đã có tập thơ Vũ trụ ca ( 1942) và ông được coi là người đi tìm niềm an ủi trong vũ trụ, muốn thoát khỏi cuộc đời, trốn vào vũ trụ : Cả biển trăng ngời cả gió mây / Cả dòng ngân bạc sữa ngân đầy…Nhưng thơ Huy Cận về vũ trụ là mượn vũ trụ để  nói chuyện buồn vui của con người trần thế với những triết lý cuộc đời. Còn trong tập thơ Huyền  diệu vũ trụ của Nguyễn Minh Hoàng đối tượng trữ tình chính là bản thể vũ trụ gồm thời gian, không gian, vật chất, ánh sáng, các thiên thể như mặt trời, mặt trăng, các sao, lỗ đen và thế giới hạt. (Đọc tiếp…)

VỤ ÁN “VỀ KINH BẮC”, MỘT SỰ KIỆN “HẬU NHÂN VĂN”

Hoàng Hưng

 
  Hoàng Hưng trước ngày bị bắt (17.8.1982)

 Nguyễn Trọng Tạo giới thiệu: Chỉ vì tập bản thảo thơ Về Kinh Bắc mà cả tác giả (Hoàng Cầm) và người cầm nó (Hoàng Hưng) cùng bị bắt giam tháng 8.1982. Hoàng Cầm 18 tháng, Hoàng Hưng 39 tháng. Đến thời đổi mới, năm 1989, tôi phụ trách xuất bản của Hội Văn Nghệ Bình Trị Thiên xin phép anh Hoàng Cầm in tập thơ này, theo bản chép tay của tác giả, lời tựa của Nguyễn Thụy Kha. Sách đang chuẩn bị đưa in  (với số lượng trên 1 vạn bản) thì nhận được điện tín của Hoàng Cầm có nội dung: “Đề nghị anh Tạo và anh Tường ngừng in VKB – Hoàng”. Tôi nói với anh Hoàng Phủ Ngọc Tường là cứ in, coi như việc đã xong. Anh Tường suy nghĩ rồi nói: “Tiếc quá, nhưng miềng phải tôn trọng anh Cầm thôi”. Tôi đoán chắc anh Hoàng Cầm bị CA dọa. Sau đó, tình cờ tôi gặp nhà thơ CA Lê Hoài Nguyên ở báo Văn Nghệ, anh khuyên tôi chưa nên in, vì trong hồ sơ ông Cầm đã khai nhận là thơ “phản động”. Tôi có nói in để giải oan cho tác giả. Nhưng rốt cuộc kế hoạch đành dang dở… Bài viết của nhà thơ Hoàng Hưng đã làm sáng tỏ vụ án ngớ ngẩn này:  (Đọc tiếp…)

VỤ NHÂN VĂN – GIAI PHẨM TỪ GÓC NHÌN CỦA ĐẠI TÁ CÔNG AN (bài chuẩn)

NTT: Nhà văn Lê Hoài Nguyên tên thật là Thái Kế Toại, nguyên Đại tá công an, công tác tại A25 (chuyên theo giõi văn nghệ sĩ và văn hóa) đã gửi tới NTT.ORG một chuyên luận dài về Nhân Văn Giai Phẩm, và chúng tôi đã đăng làm 5 kỳ từ đầu tháng 8/2010, được nhiều trang mạng đăng lại. Nay tác giả đã chỉnh sửa lại bài viết của mình và nhờ NTT.ORG đăng lại trọn vẹn bài viết này. Các bạn hãy đọc nó như đọc một “góc nhìn” về sự thật.

VỤ NHÂN VĂN – GIAI PHẨM MỘT TRÀO LƯU DÂN CHỦ, MỘT CUỘC CÁCH TÂN VĂN HỌC KHÔNG THÀNH
LÊ HOÀI NGUYÊN

I – Mấy vấn đề có tính phương pháp luận

Hiện nay còn tồn tại nhiều cách đánh giá về vụ Nhân Văn-Giai Phẩm. Có người cực đoan cho rằng cốt lõi đây là vụ án chính trị phản động không dính líu gì đến văn học, mà chỉ có một số anh em văn nghệ sĩ bị lôi kéo vào, Đảng và nhà nước đã không xử án văn nghệ sĩ (1). Người thì cho là một vụ án văn học, thuần túy oan sai về văn học, để đàn áp văn nghệ sĩ, nhà nước đã biến một vụ việc văn học thành một vụ án chính trị. (2).Tât nhiên là để bảo vệ các khuynh hướng, để đánh giá đúng thực chất của Nhân Văn Giai Phẩm không phải dễ dàng, mà phản bác hoàn toàn cũng cần hết sức thận trọng.

Với tất cả những gì đã xảy ra xem xét vụ Nhân Văn Giai Phẩm nên được đánh giá dưới góc độ là một trào lưu tư tưởng dân chủ, một cuộc cách tân văn học không thành thì đúng hơn. Để đi tìm cách cắt nghĩa nó. Gìn giữ những gì nó đặt ra, nó để lại cho đời sống chính trị, cho nền văn học nước nhà. Còn nếu coi là vụ án chính trị phản động thì không cần tốn giấy mực để viết về nó trong lịch sử văn học làm gì.

Xem xét từ cốt lõi các vấn đề chủ yếu, tức là hồn cốt vụ án, tức là hình thái của nó, các điều kiện lịch sử của nó, các nhân vật của nó, các vấn đề nó đặt ra cho xã hội đều thực sự là tư tưởng và văn học.

Vài vấn đề về phương pháp luận:

- Đánh giá Nhân Văn Giai Phẩm như một trào lưu văn học nhưng vẫn phải ghi nhận rằng không có thứ văn học thuần túy văn học. Từ trong thuộc tính của văn học Nhà văn bao giờ cũng là người nhạy cảm và có trách nhiệm trước các vấn đề của thời đại, của dân tộc mình. Như vậy văn học mang tính chính trị theo ý nghĩa đó. Một trào lưu văn học ra đời, trước đó nó đã chịu tác động của thời cuộc, của chính trị. Chính vì lí do đó văn học xứng đáng là một loại hình cao cấp trong các loại hình văn học nghệ thuật. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.09.2010

MỘ NHÀ THƠ PHÙNG QUÁN SẮP VỀ VỚI HUẾ

MỘ NHÀ THƠ PHÙNG QUÁN
SẮP ĐƯỢC CẢI TÁNG VỀ HUẾ

Ngô Minh

Linh vị Nhà thơ Phùng Quán và bà Bộỉ Trâm

Phùng Quán ( 1932-1995) là nhà thơ nổi tiếng đã để lại nhiều dấu ấn đặc biệt trong trong lịch sử văn học Việt Nam từ nửa sau thế kỷ XX. Đặc biệt vì đời anh có quá nhiều tai ương , đau khổ, nhưng anh vẫn giữ vững bản lĩnh một nhà văn cách mạng “ Ngay thẳng tột cùng/ sự ngay thẳng thuỷ chung/ của mỗi dòng chữ viết”. Nghĩ về Phùng Quán trong tôi luôn hiện lên một chân dung cốt cách nghĩa khí (chữ của HPNT) một chiến sĩ Vệ Quốc đoàn cương thực, quyết liệt , một thi sĩ tài hoa ngất ngưỡng và một nhân cách cao cả . Phùng Quán đã để lại hàng chục tác phẩm được nhiều thế hệ bạn đọc mến mộ, được tái bản hàng chục lần. Trong đó những bài thơ Lời mẹ dặn,Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe, tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội… là những tác phẩm để đời. Phùng Quán được tặng Giải thưởng Nhà nước năm 2007 là ghi nhận của Tổ Quốc và nhân dân đối với tài năng và tâm huyết của anh. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 30.09.2010

VŨ BẰNG VỚI MIẾNG NGON HÀ NỘI

VŨ BẰNG VỚI MIẾNG NGON HÀ NỘI

Ngô Minh

Nhà văn Vũ Bằng

Miếng ngọn Hà Nội là tên cuốn bút ký ẩm thực của nhà văn gạo cội Vũ Bằng. Vũ Bằng là nhà văn cách mạng, người Hà Nội gốc , nên ông rất sành điệu các món ăn Hà Nội. Nên mỗi khi nghĩ về ông ta lại nhớ đến món ăn Hà Nội, hoặc khi thưởng thức những món ăn Hà Nội ta lại nhớ đến ông. Hai mươi năm cuối đời sống và viết ở Sài Gòn, nhưng lại viết toàn chuyện Hà Nội. Có lẽ do những năm tháng tha hương ấy, nỗi nhớ quê da diết đã đưa ngòi bút của ông đến với từng hương vị của kỷ niệm Hà Nội, của đất Bắc Kỳ trong các tác phẩm nổi tiếng Thương nhớ mười hai, Miếng ngon Hà Nội… Ông viết về Miếng ngon Hà Nội là viết về chính đời mình :” Miếng ngon Hà Nội, vì thế, nhiều khi làm cho ta yêu Hà Nội thấm thía, nhớ Hà Nội nao lòng, làm cho ta cảm giắc ta là người Hà Nội hơn…Những miếng ngon mà người Việt Nam ăn vào thấy ngát mùi đất nước, thấy mình Việt Nam hơn…” (Đọc tiếp…)

HÃY GÓP CHÚT CÁT ĐÁ
XÂY LĂNG MỘ NHÀ THƠ PHÙNG QUÁN Ở HUẾ

Thưa các anh chị trí thức, văn nghệ sĩ và những người yêu mến ngưỡng mộ nhà thơ Phùng Quán .

Nhà thơ Phùng Quán

Được sự thống nhất của Trưởng tộc họ Phùng- Thuỷ Dương và cháu Phùng Đỗ Quyên, con gái nhà thơ, Ngô Minh xin gửi đến các anh , chị Lời kêu gọi hãy góp chút cát đá để xây lăng mộ nhà thơ Phùng Quán- bà Vũ Bội Trâm ở Huế .

Chúng ta, ai cũng biết Phùng Quán ( 1932-1995) là nhà thơ nổi tiếng đã để lại nhiều dấu ấn đặc biệt trong trong lịch sử văn học Việt Nam từ nửa sau thế kỷ XX. Đặc biệt vì đời anh có quá nhiều tai ương , đau khổ, nhưng anh vẫn giữ vững bản lĩnh một nhà văn chiến sĩ :“ Ngay thẳng tột cùng/ sự ngay thẳng thuỷ chung/ của mỗi dòng chữ viết”. Nghĩ về Phùng Quán trong chúng ta luôn hiện lên chân dung một nhà văn nghĩa khí, một chiến sĩ Vệ Quốc đoàn cương trực, một thi sĩ tài hoa ngất ngưỡng và một nhân cách cao cả . Phùng Quán đã để lại hàng chục tác phẩm được nhiều thế hệ bạn đọc mến mộ. Trong đó những bài thơ Lời mẹ dặn, Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe, tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội… là những tác phẩm để đời. Phùng Quán được tặng Giải thưởng Nhà nước năm 2007.
Từ ngày trốn mẹ đi theo Vệ Quốc Đoàn năm 14 tuổi, cho đến khi qua đời ( 1995) Phùng Quán xa quê tới 39 năm . Sinh thời anh luôn khao khát được trở về quê hương . Anh mơ sở hữu một chiếc đò nhỏ để trong những ngày cuối đời , được câu cá uống rượu đọc thơ dọc Sông Hương. Nhưng anh rời cõi tạm quá sớm, không thực (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 04.10.2010

HÀ NỘI CỦA TÔI

HÀ NỘI CỦA TÔI

Ngô Minh

Mỗi con dân Việt Nam trên dải đất hình chữ S thân thương có tên là Việt Nam này đều có riêng một Hà Nội của mình. Đó là những ký ức, một lá thư, một tin nhắn, một bài hát, những câu thơ… đều làm nên máu thịt, hồn người. Quê tôi ở làng Thượng Luật, nơi góc biển nam Quảng Bình, nơi có những cồn cát cao, trùng điệp ngăn bước chân người. Thế mà tôi cũng có một Hà Nội nồng nàn sâu đậm. Tôi có mối tình đầu ở Hà Nội, tôi có bốn năm đọc nát cái thư viện Trường Đại học Thương Mại ở Từ Liêm ,tôi đã từng lo lắng, hồi hộp cùng Hà Nội 12 ngày đêm Điện Biên phủ trên không…
Giữa năm 1968, tôi có giấy báo đi Đại học Thương Nghiệp, Hà Nội. Do lối tuyển sinh không thi mà mỗi trường về Quảng Bình cắt một khúc danh sách tốt nghiệp cấp 3 ở Ban tuyển sinh tỉnh. Vì vậy làng Thượng luật của tôi có tôi và Nguyễn Văn Bạo cùng đi học Thương Nghiệp. Tôi xin vào Tổng hợp văn, nhưng giấy báo lại đi học nghề buôn. Thật trớ trêu. Mạ tôi thức đêm may hai cái túi nhỏ phía trong hai chiếc quần đùi để tôi bỏ tiền vào đấy. Bà bảo, ở bến xe dọc đường có nhiều kẻ móc túi lắm . Rồi mạ sắm cho tôi đôi dép cao su và chiếc nón lá mới . Tôi và Bạo đi bộsuốt 11 ngày đêm liền .. Hai đứa chân đau nhức, bụng đói, ba lô khập khiểng đến ngã ba Yên Lý, Nghệ An. Máy bay địch ném bom đâu ở phía Tây Nghệ An nghe gần lắm. Bom chớp lửa ngút trời. Khuya một hai giờ sáng , đang đi trên đường Quốc lộ 1A, chợt có chiếc xe rà tới hỏi :” Có ai đi Hà Nội không ?”. Như sắp chết đuối vớ được cọc, chúng tôi lên xe trong cảnh tối om, chẳng đèn đóm gì. Sáng hôm sau chúng tôi đặt chân tới Hà Nội. Trễ mất một tháng, nhưng vì dân Khu Bốn chiến tranh nên trường cho nhập học. Chiếc nón mới mẹ tôi mua cho thành chiếc nón cời, tôi vứt lại ở một gốc cây nào đó bên Hồ Gươm khi còi báo động may bay nổi lên.
Từ đó tôi trở thành sinh viên Hà Nội. Tiết học đầu tiên (Đọc tiếp…)

THÁI ĐỘ CỦA NGƯỜI VIỆT NAM
ĐỐI VỚI TRUNG QUỐC HIỆN NAY

(THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM Tài liệu tham khảo đặc biệt .Thứ ba, ngày 05/10/2010)

TTXVN (Bắc Kinh 28/9)

Bức xúc lớn nhất của người VIỆT NAM đối vơi TQ là Hoàng Sa, Trường Sa và đường lưỡi bò

Bài dưới tiêu đề “Yêu ghét đan xen: Ấn tượng về Trung Quốc của người Việt Nam hiện nay” đăng trên tờ “Quốc tế tiên khu đạo báo” của Trung Quốc số ra ngày 27/8/2010 viết về ấn tượng của người Việt Nam đối với Trung Quốc hiện nay. Với cách nhìn nhận của những người thuộc thế hệ trẻ, tiếp nhận nền giáo dục và sống trong môi trường như được thể hiện qua bài viết, tác giả Vu Thắng Nam – đặc phái viên của tờ báo nói trên cho rằng việc làm cho người Việt Nam loại bỏ hoàn toàn tâm lý cảnh giác đối với Trung Quốc là điều không thể làm được nên cần phải có sự tiếp xúc trực tiếp nhiều hơn giữa người dân hai nước.

 

***

Tại khu thắng cảnh biên giới giáp ranh giữa huyện Đại Tân, Quảng Tây Trung Quốc và tỉnh Cao Bằng của Việt Nam có một ngọn thác xuyên biên giới nổi tiếng – Thác Bản Giốc (Thác Đức Thiên), du khách Trung Quốc hàng ngày nườm nượp qua đây, ngoài mê say trước cảnh đẹp hoành tráng của thác nước, du khách còn đặc biệt hào hứng với dãy “phố nhỏ hàng Việt Nam” được hình thành một cách tự nhiên bên cạnh cột mốc biên giới số 53 mang ý nghĩa đặc biệt ở phía thượng nguồn của thác nước. Mặc dù hàng hóa ở đây chủng loại rất ít nhưng du khách vẫn thích thú với những đồ thực phẩm, hàng thủ công sản xuất tại Việt Nam hay các nước Đông Nam Á khác, trong đó điều dễ làm du khách hào hứng nhất là được tự do qua lại ở vùng biên giới này. “Chúng tôi thích các bạn Trung Quốc đến Việt Nam, các bạn đến càng nhiều chúng tôi làm ăn càng tốt, kiếm được nhiều tiền hơn”. Sau khi nhận mấy tờ nhân dân tệ và bằng tiếng phổ thông Trung Quốc gượng gạo, một phụ nữ người Việt vừa cười vừa nói vậy. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 08.10.2010

CÒN AI ĐỌC THƠ TỐ HỮU?

CÒN AI ĐỌC THƠ TỐ HỮU?

 Lai Nguyên  Ân

Nhà thơ Tố Hữu

NTT gioi thieu: Tố Hữu mấy chục năm làm quan to được giới bồi bút tâng là “ngọn cờ đầu thơ Việt Nam”. Tuy vây, năm 1985 tại một cuộc giao lưu tại Đại học Quy Nhơn được hỏi về thơ Tố Hữu, tôi đã trả lời rằng: “Tôi không thích thơ Tố Hữu, có thể vì cơ thể tôi dễ bị dị ứng, giống như cá ngừ ngon, nhưng có người không ăn được”. Trong nhiều cuộc trà dư tửu hậu tôi cũng hay đưa thơ Tố Hữu ra đùa: “Thịt với xương tim óc dính liền” là một câu thơ về tai nạn giao thông; “Đảng ta đó trăm tay nghìn mắt” nghĩa là tay làm thì ít mà mắt lườm nguýt thì nhiều; vân vân… Vừa rồi tôi có nhận được 2 giấy mời đi dự 2 cuộc về thơ Tố Hữu tôi cũng không đến vì dễ gây sự không đồng thuận. Nay anh Lại Nguyên Ân gửi đến bài viết này, tôi thấy khá tâm đắc và xin giới thiệu cùng bạn đọc.

VÀI Ý NGHĨ NHÂN HỘI THẢO VỀ TỐ HỮU

1/ Kỷ niệm Tố Hữu (TH) năm nay, nhân 90 năm sinh, được tổ chức khá rùm beng: đã một buổi trình diễn thơ-nhạc tại Nhà hát Lớn hôm chủ nhật 2/10, lại buổi hội thảo tại ban Tuyên huấn TƯ hôm 4/10. Làm lớn nhân năm chẵn, lại nhân lễ ngàn năm Thăng Long, rõ rồi; nhưng liệu có phải vì cái uy của thơ TH đang suy trong công chúng? Nghe đôi nhà giáo đại học cho biết, sinh viên ngữ văn không thích làm luận văn, luận án về thơ TH. Không tin thì ban Tuyên huấn cho cán bộ nhân viên làm điều tra xem? (Đọc tiếp…)

Những bức ảnh đẹp nhất về môi trường 2010

Giải nhất trong cuộc thi CIWEM Environmental Photographer of the Year 2010 – Nhiếp ảnh gia Môi trường năm 2010 – đã thuộc về nhà nhiếp ảnh người Đức Florian Schulz với bức ảnh chụp cảnh hàng ngàn con cá đuối đang bơi vượt đại dương tại Baja California Sur, Mexico.

Dưới đây là những bức ảnh đẹp nhất đoạt giải của cuộc thi Nhiếp ảnh gia Môi trường năm 2010:

1. Giải nhất:

Những bức ảnh đẹp nhất về môi trường 2010 - Tin180.com (Ảnh 1)

Bức ảnh chụp cảnh hàng ngàn con cá đuối đang bơi vượt đại dương được chụp bởi nhiếp ảnh gia người Đức Florian Schulz tại Baja California Sur, Mexico. Nhiếp ảnh ra người Đức cho biết đây là cảnh tượng ngoạn mục nhất trong 30 năm bay liên tục qua khu vực này. (Đọc tiếp…)

TRẦN ĐỨC THẢO – NHỮNG PHỦ ĐỊNH TRỚ TRÊU

Nguyễn Thanh Giang

 

Nhà triết họcTrần Đức Thảo

 “Một ý thức bản ngã được thoả mãn trong một ý thức bản ngã khác hay một người được thoả mãn trong một người khác khi mà bên này được bên kia công nhận. Trong khái niệm thuần tuý của sự công nhận, có hai bước, mỗi bước có hai mặt. Bước đầu thì ý thức bản ngã gặp một ý thức bản ngã khác hay một người gặp một người khác, và hai bên trông nhau, thì một mặt mình đã mất mình vì thấy mình ở bên kia. Nhưng mặt khác mình lại phủ định bên kia, và không thấy người kia với tính chất độc lập của người ta mà lại thấy mình ở người ấy. Bước thứ hai thì một mặt mình phủ định bên kia và tin tưởng ở mình, nhưng mặt khác thì chính mình lại phủ định mình, vì mình phải tự nhận thấy mình ở bên kia.”[1]
Trên đây là triết luận của Hegel về sự phủ định trong công nhận.
Bài này nói đến một vài phủ định trớ trêu liên can đến một trí thức Việt Nam.
Góp phần xây móng cho triết học Mác-xít
Thế kỷ 19, thế giới vang động một cuộc luận chiến trong lĩnh vực triết học. Đó là cuộc luận chiến bất phân thắng bại[2] giữa hai bộ óc lớn là Trần Đức Thảo và Jean Paul Sartre, kéo dài từ đầu năm 1949 đến đầu năm 1950. (Đọc tiếp…)

(Đọc tiếp…)

Cái nước Trung hoa cường quốc văn minh thế mà bóp nghẹt tự do báo chí, tự do ngôn luận của nhân dân, cả bài nói của Thủ tướng cũng bị biên tập. Các bạn có tin không ?  Bài sau đây tải về từ Talawas giúp ta hiểu thêm ông bạn”16 chữ vàng” :

Thư ngỏ gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Thực thi điều 35 Hiến pháp Trung Quốc, bãi bỏ kiểm duyệt, thực hiện quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí

 Lý Duệ 

( Cựu  phó Ban Tổ chức Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khoá 12 Đảng Cộng sản Trung Quốc)

Ngày 1 tháng 10 năm 2010
Kính gửi các ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Điều 35 Hiến pháp Trung Quốc, thông qua vào năm 1982, nói rõ: “Công dân nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do diễu hành và biểu tình”. Đã 28 năm nay điều khoản này vẫn chưa được thực thi vì bị những qui định và luật lệ cụ thể “bổ sung” khác phủ nhận. Nền dân chủ giả hiệu, về hình thức thì thừa nhận nhưng trong những sự việc cụ thể lại chối bỏ dân chủ, là một biểu hiện đáng hổ thẹn trong lịch sử của nền dân chủ thế giới. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.10.2010

THƯƠNG TIẾC NHÀ BÁO, NHÀ THƠ NGUYỄN SĨ CỨ

Nhà báo Sĩ Cứ. Ảnh chụp ngày 4-8-2010

 

THƯƠNG TIẾC NHÀ BÁO, NHÀ THƠ NGUYỄN SĨ CỨ

Ngô Minh

Tôi đang ngủ say thì vợ đánh thức, thút thít báo tin :” Anh ơi, bạn em ở Hà Nội điện báo tin Sĩ Cứ mất rồi”. Tôi bàng hoàng. Đó là lúc nửa khuya. Từ đó hai vợ chồng tôi thức rì rầm những kỷ niệm về Sĩ Cứ . Chao ơi, cái thằng bạn chân tình, chung thuỷ của gia đình tôi hơn ba chục năm qua, một người thơ nặng lòng với cuộc đời đã không còn trên cõi trần này nữa rồi ! Mới hôm nào tôi ra Hà Nội dự Đại hội Nhà văn, vợ tôi gửi theo một xách thanh trà , quả ngon chỉ riêng Huế có để làm quà cho bà Chắt Cầu và cho mợ Long và các cháu. Tôi và các anh trong đoàn Nhà văn Huế đến thăm , thấy Cứ rầy rạc đi mà nghẹn lòng. Nằm mãi không ngủ được, tôi dậy mở mạng nguyentrongtao.org, mới hay Nguyễn Sĩ Cứ qua đời lúc 21h50 ngày15/10/2010, nghĩa là đã ba tiếng rồi. Trời, anh 59 tuổi đời, còn nhiều tứ thơ ấp ủ, còn bao nhiêu dự định cho tương lai con cái… (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 25.10.2010

VĂN TẾ THẬP LOẠI GIÁO SƯ

VĂN TẾ THẬP LOẠI GIÁO SƯ

 Tiểu dẫn: Mỗi năm một lượt “đến hẹn lại lên”, Hội đồng chức danh học hàm nhà nước lại cho triển khai đợt xét phong học hàm Giáo sư và Phó giáo sư. Thế là, các ông nghè bà nghè cả nước lại một phen nháo nhào “đăng trường ứng thí”. Cũng là một thứ “Lều chõng” tái thế mang khuôn dạng có vẻ mỹ miều. Chẳng biết các Hội đồng của các ngành khác thế nào không rõ, chứ Hội đồng bên cái ngành văn vẻ năm nào cũng eo sèo lắm chuyện chẳng mấy sạch sẽ gì.

Hội đồng chuyên ngành đã vừa kết thúc. Như mọi cuộc thi, có kẻ khóc người cười. Ấy là nói phía những “ứng thí viên”. Chứ còn những “giám khảo viên” cũng không dám chắc là không có chuyện…Kẻ hậu sinh này rập đầu cúi xin Đại thi hào Nguyễn Du được tập “ Văn chiêu hồn” của Người mà “khốc” rằng (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 27.10.2010

NHÂN DÂN ĐÒI NGỪNG NGAY DỰ ÁN BO-XIT

BON THAM NHŨNG, ĂN TIỀN NOỚC NGOÀI HÃY COI ĐÂY  : NHÂN DÂN SẼ PHANH THÂY CHÚNG MÀY

Dân trí vừa đăng ý kiến của Bộ trưởng TNMT Phạm Khôi Nguyên “Bảo đảm hồ bùn đỏ ở Tây Nguyên an toàn” và kiến nghị của nhiều nhân sĩ, trí thức đề nghị dừng dự án khai thác bô xít ở Việt Nam. Theo bạn: Đồng ý với ý kiến Bộ trưởng Phạm Khôi Nguyên 1405 (6%) Đồng ý với kiến nghị của các nhân sĩ, trí thức 23067 (93%) Ý kiến khác 370 (1%)

Đăng bởi: Ngô Minh | 30.10.2010

Sự thật về mối tình Hàn Mạc Tử – Kim Cúc

Bà Hoàng Thị Kim Cuc ( 1913- 1989)

Sự thật về mối tình Hàn Mạc Tử – Kim Cúc

Phaxiphăng

Lâu nay, khá đông người cho rằng thi sĩ Hàn Mạc Tử và nhà giáo kiêm cư sĩ Hoàng Thị Kim Cúc từng có một tình yêu đôi lứa. Lắm sách báo ghi nhận như vậy. Ngay cả lối sống khá đặc biệt của Kim Cúc – suốt đời độc thân, làm thơ tặng Hàn, chẳng chuyện trò điều này với người trong nhà… – càng khiến dư luận nghĩ vậy.

Nhà giáo, cư sĩ Hoàng Thị Kim Cúc (1913-1989).
Với Kim Cúc, Hàn từng gửii thư và hai áng thơ mà thiên hạ lưu truyền với nhan đề Đây thôn Vỹ Dạ và Đừng cho lòng bay xa. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 01.11.2010

HỖ TRỢ XÂY LĂNG MỘ PHÙNG QUÁN -BỘI TRÂM

MỘT THÁNG HỖ TRỢ XÂY LĂNG MỘ PHÙNG QUÁN -BỘI TRÂM

  Ngô Minh xin thông báo:

Đến 16 giờ ngày 1-11-2010, sau một tháng  kêu gọi, Ngô Minh  đã nhận được  tiền hỗ trợ xây  lăng mộ Phùng Quán- Bội Trâm qua tài khoản và  bưu điện  theo thứ tự thời  gian gửi tiền như sau : Cho đến 16 giờ ngày 1/11/2010, tổng số tiền cập nhật  là :

- 91.000.000 VND ( trong đó có 300 USD của anh Tôn Gia Khai ở Ba Lan đã đổi ra VND)

- 1741,31 USD

- 100 EURO

- 200 Franc Thụy Sĩ.

Vô cùng cám ơn  anh em trí thức, văn nghệ sĩ cùng những người yêu mến nhà thơ Phùng Quán ở trong nước và Hải ngoại đã tỏ tấm lòng  tri kỷ đối với vợ chồng nhà thơ Phùng Quán. Ai đã  gửi tiền mà sót tên trong sách sách  xin thông tin cho Ngô Minh qua số ĐT: 098 5756355 hoặc Email : ngominhnt@gmail.com. Các nhà văn đã thông báo gửi tiền , nhưng tiền chưa tới, chúng tôi  chưa đưa vào danh sách như : Nhà văn Cao Duy Thảo ( Nha Trang), Lê Thiếu Nhơn Sài Gòn), nhà thơ Văn Lợi ( Quảng Binh), nhà văn Trần Nhương ( Hà Nội)v.v..Sẽ cập nhập tiếp. Còn một tháng “góp cát đá hỗ trợ xây lăng mộ  nhà thơ Phùng Quán ở Huế” nữa. Chúng tôi mong những người yêu mến, hâm mộ  nhà thơ Phùng Quán tiếp tục chia sẻ với công việc nghĩa tình này. (Đọc tiếp…)

TOÀN VĂN PHÁT BIỂU CỦA ÔNG DƯƠNG TRUNG QUỐC

 

Dương Trung Quốc

 
 


Đại biểu Dương Trung Quốc phát biểu tại phiên thảo luận về tình hình kinh tế – xã hội ngày 2/11
Kính thưa Quốc hội.
Trước hết, vì thời lượng phát biểu hạn chế mà tôi không có ý kiến về những vấn đề được nêu trong báo cáo mà Chính phủ đã trình Quốc hội tại kỳ họp này mà nhiều vị đại biểu đã phát biểu trước tôi, ghi nhận những nỗ lực to lớn của Chính phủ trong chỉ đạo thực hiện trọng trách của mình vượt qua những khó khăn của thời kỳ khủng hoảng cũng như phân tích những yếu kém sai sót của Chính phủ.
Tại đây tôi muốn bày tỏ quan điểm của mình về những vấn đề mà bản Báo cáo của Chính phủ không đề cập tới, nói đúng hơn là lẽ ra phải đề cập tới. Thêm một lần nữa tôi muốn bày tỏ sự cần thiết phải cải tiến hình thức và nội dung các bản báo cáo Chính phủ trình vào mỗi kỳ họp Quốc hội.
Với thời lượng nửa năm nhưng báo cáo chỉ đề cập đến những vấn đề vĩ mô thì nó sẽ mãi mãi chỉ nhắc đi, nhắc lại những điệp khúc của các đánh giá, các bài học hay giải pháp chẳng mấy khác nhau với những con số được điều chỉnh nhưng rất khó kiểm chứng. (Đọc tiếp…)
Đăng bởi: Ngô Minh | 05.11.2010

VIẾT GÌ CHO HÔM NAY?

VIẾT GÌ CHO HÔM NAY?

 NGUYỄN TRỌNG TẠO

Cùng mấy người bạn vào nhà hàng, đôi khi không biết chọn món gì. Những cuốn thực đơn thời nay từ món dân dã đến cao lương mỹ vị đọc mãi không hết. Tôi mở trang thịt heo, thấy đến mấy chục món: Nem – Chả giò; Cà tím đúc thịt; Bắp cải cuộn thịt; Thịt heo nướng táo; Đậu phụ nhồi thịt rán; Khoai tây nhồi thịt; Thịt luộc chấm mắm tôm; Thịt viên chiên xù; Cơm sườn; Sườn xào chua ngọt; Ngô non xào thịt xay; Chả quế; Giò tai; Thịt hấp trứng; Thịt rán với đậu cô ve; Thịt kho trứng; Thịt rán ngũ vị; Thịt heo xốt dứa/ thơm; Thịt heo xốt vang táo; Cà chua nhồi thịt. Lại mở trang hải sản: Nem-chả giò cá; Nem cua bể; Cá nướng bơ tỏi; Cá phi lê chiên xù; Đậu phụ hấp cá; Cá đuối- cá phi lê xốt chua ngọt; Tôm rim thịt ba chỉ; Tôm tẩm bột; Khoai tây cuộn tôm; Bacon- thịt xông khói cuộn tôm; Cá trách kho; Chả cá thát lát; Gỏi cuốn tôm thịt; Chả cá; Ốc nấu chuối đậu; Mực ống dồn thịt; Mực chiên giòn; Mực xào thập cẩm; Trai biển, ngao, sò xốt bơ tỏi; Hào tái chanh; Hào tẩm bột; Cá kho; Sandwich cuộn chạo tôm nướng; Sandwich cuộn chạo tôm chiên; Chả giò chạo tôm; Cá hồi xốt dứa/ thơm; Mai cua nhồi thịt; Cá chiên giòn; Cá xốt rau củ; Cá bống kho tiêu; Cá hồi cuộn thịt xông khói…

Cuối cùng gọi: Cơm, canh riêu cua mồng tơi, cà muối mắm tôm, thịt rang cháy cạnh, cá bống kho tiêu… (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 06.11.2010

HÔ TRỢ XÂY LĂNG MỘ NHÀ THƠ PHÙNG QUÁN

Bạn đọc kính mến, vì  blog vnweblogs.com bị tin tặc đánh sập, Ngô Minh không thể cập nhật danh sách hỗ trợ xây  lăng mộ Phugnf Quán- Bội Trâm trên ngominh.vnweblogs.com đoợc ,nên chuyển về đây, mong bạ dđọc thông cảm và chú ý cho:

CẬP NHẬT DANH SÁCH HỖ TRỢ XÂY LĂNG MỘ PHÙNG QUÁN-BỘI TRÂM

( Từ 3-11 – 6/11/2010 )

1. Nguyễn Văn San, Gò vấp, Sài Gòn 500.000 VND
2.Bùi Văn Bình, giáo viên, Tuy Phước, Bình Định 500.000 VND
3. Hoàng Công Hảo , Tam Kỳ, Quảng Nam 200.000 VND
4-Đỗ Thị Tùng, Nha TRang 1.000.000 VND
5.Nhà thơ Nguyễn Quốc Minh, Cầu Giấy, HN 2.000.000 VND
6.Nguyễn Văn Dũng, Long THành, Đồng Nai 500.000 VND
7. Nhà văn Phạm Quang Đẩu, Hà Nội 500.000 VND
8,Họa sĩ Đinh Quang Tính 500.000 VND
9.BTV Vũ Thành Nhân 500.000 VND
10. Tú Si Sam 500.000 VND
11.Đỗ Đức Trích, Vũng Tàu 1.000.000 VND
12.Lê Xuân Hòa 500.000 VND
13. Nhà thơ Mai Văn Phấn , Hà Nội 1.000.000 VND

Đăng bởi: Ngô Minh | 07.11.2010

TƯỜNG ƠI…

NGÔ MINH

 
TƯỜNG ƠI

Tường ơi không đứng thì nằm
Thì ngao du với dặm đàng chiêm bao
Cõi âm người hát nghêu ngao
Tiếng ma cười đấy ! Tai nào biết nghe ? (*)

Miên man nào cõi đi về
Quỳ hôn cát bụi, khóc chia kiếp người
Phù dung về ngủ trên đồi
Vẫn đau đáu một chỗ ngồi nơi kia…

Tường nằm điện thoại và nghe
Tiếng cười xa ngái sơn khê mây mù
Rồi khóc cười đẫm câu thơ
Rượu không còn uống vẫn thừa men say

Chơi vơi ảo ảnh lên ngày
Khoảng trời long não xanh gầy tuổi tên
Lang thang là nhịp trái tim
Hát cùng tăm cá bóng chim cuối ngàn

Tường ơi
Không đứng thì nằm
Nghê nga cùng lũ dế buồn gáy mưa…

(*)Năm 1989, tỉnh lại sau 2 tháng hôn mê ở Bệnh viên Đa khoa Đà Nẵng, Hoàng Phủ Ngọc Tường thường hay hát : Ai đã từng đi qua bãi tha ma. Bãi tha ma có nhiều ma lắm. Ai đã từng nghe tiếng ma cười. Tiếng ma cười ha ha ha ha… theo nhịp bài hát Tiểu đoàn 307. Những chữ in nghiêng là thơ Tường.
Đăng bởi: Ngô Minh | 08.11.2010

PHẢN BIỆN XàHỘI

 

PHẢN BIỆN XÃ HỘI

Nguyễn Trần Bạt,

 


Quan sát cuộc sống chúng ta có thể thấy phản biện là một hoạt động diễn ra hàng ngày. Phản biện là một nhu cầu của cuộc sống bởi nhờ có nó con người có thể loại bỏ những yếu tố sai để tiệm cận tới sự hợp lý trong các quyết định, các hành vi của mình. Trong khoa học, phản biện cũng là một trong những cách thức chủ yếu để các nhà nghiên cứu tiệm cận tới các chân lý khoa học. Còn trong đời sống xã hội phản biện là một công cụ không thể thiếu để tổ chức ra một xã hội dân chủ. Phản biện xã hội là một vấn đề hoàn toàn không mới, loài người đã làm quen với khái niệm này từ rất sớm và biến nó trở thành công cụ hữu hiệu để tạo ra nền dân chủ, tạo sự phát triển về chính trị của nhiều quốc gia tiên tiến.

Trong thời đại ngày nay, phản biện xã hội vẫn là một trong những vấn đề hệ trọng, là đối tượng cần nghiên cứu, nhất là đối với các quốc gia đi sau, các quốc gia đang phấn đấu cho nền dân chủ. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 10.11.2010

SỢ – không chỉ là do… HÈN!

SỢ – không chỉ là do… HÈN!

  TRẦN HUY THUẬN    

          “ Phải biết sợ mới nên người

                                                         (LÊ QUÝ ĐÔN)

 Sống ở trên đời, ai mà không một đôi lần… sợ? Bé thì sợ ma (tuy chả biết con ma nó ra làm sao và tại sao mà phải sợ nó?), lớn lên một tí, ngoài sợ ma, còn sợ nhiều thứ khác, như  sợ chuột, sợ gián, sợ thạch sùng, sợ rắn và cả… sợ roi vọt nữa! Trở thành người lớn, hầu như đã bớt sợ mấy thứ đó, nhưng lại có cái sợ khác, như sợ “sếp”, sợ mất việc, sợ không được lên lương,… (Đọc tiếp…)

DANH SÁCH HỖ TRỢ XÂY LĂNG MỘ PHÙNG QUÁN-BỘI TRÂM
  (Từ ngày 7-11 đén trưa 12/11/2010)

1.Nguyễn Tự Tư, Q.Tân Bình, TP Hồ Chí Minh:  500.000 VND
2.Nhà văn Hà Khánh Kinh, Huế                                  100.000 VND
3.Nhà văn Lê Thiếu Nhơn, Sài Gòn                        1.000.000 VND
4.Phan Luận, Nhà máy Cao Su Đà Nẵng                  500.000 VND
5. TRần Hải ( chồng chị Khánh Trâm ), Sài Gòn 500.000 VND
6. Lê Xuân Quỳnh, Hà Nội                                          2.000.000 VND
7.Nhà văn Bảo Ninh-Phạm Thị Thành,HN        1.000.000 VND
8.Phạm Đức Thành, Thanh Xuân, Hà Nội              100.000 VND
9.Ngô Hoài Chung, GĐ Sở VH-TT-DL Thanh Hóa2.000.000 VND
10.Thái Hồng Ngọc:                                                         500.000 VND
11.Phan Văn Cho, Gia Lai                                                 300.000 VND
12. Ngọc Dũng, báo Tầm Nhìn.Net                              200.000 VND
13.Nhà văn Nguyễn Minh Ngọc, Quân đội               500.000 VND

14. Nguyễn Hải Anh, Bắc Giang                                1.000.000 VND

Đăng bởi: Ngô Minh | 13.11.2010

TÂM THỨC HUẾ THƠ

TÂM THỨC HUẾ THƠ

Ngô Minh

 

Không biết tự bao giờ , mọi người Việt Nam mỗi khi nhắc đến Huế thường gọi một cách trìu mến: HUẾ THƠ ! Có lẽ Huế là xứ sở duy nhất trên thế giới tên gọi lại được kèm với chữ Thơ như một biểu tượng nghệ thuật. Vâng , đã có một Huế Thơ trong tâm thức người Việt bao đời. Điều gì đã tạo cho Huế có cuộc kết duyên cùng thơ kỳ diệu như thế ? Bài viết này muốn cùng độc giả đi tìm đôi điều lý giải hiện tượng văn hóa đặc biệt đó. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 14.11.2010

Ngô Minh – Đứa con của cát

Văn Cầm Hải ( trái) ở Tây Tạng

Ngô Minh – Đứa con của cát

Văn Cầm Hải

Mỗi con người đều cho ta một cuộc đời và mỗi cuộc đời lại cho ta một miền quê với những sắc màu văn hoá. Tất cả những gì hiện hữu trên cỏi đoèi này đều có ngọn nguồn khai sinh, với Ngô Minh – Anh tự cho mình là Đứa con của cát.

Như đời một viên sa khoáng được tạo hoá hình thành qua bao bước đường tôi luyện bao chất màu đất đá và thời gian, hơn mấy chục năm qua, bằng những suy tư và kinh nghiệm sống – Đứa con của làng biển Thượng Luật đã mang đến cho thi ca một nhịp điệu mới, một chân dung mới nhưng không xa lạ với cuộc đời bởi những gì anh sáng tạo đều gắn bó máu thịt với nơi mình sinh ra và lớn lên, nơi quê Quảng Bình – miền Trung của đất Việt vốn giàu sóng biển và mưa nắng bộn bề.

Đăng bởi: Ngô Minh | 14.11.2010

KHỎA THÂN THIẾU NỮ HÀ NỘI XƯA

KHỎA THÂN THIẾU NỮ HÀ NỘI XƯA

Nguyễn Trọng Tạo giới thiệu : Cứ tưởng đến thời “hội nhập” này thiếu nữ Hà Nội mới dám chơi ảnh khỏa thân (mà vẫn còn dấu dấu diếm diếm). Thì đây, từ vài thế kỷ trước, các thiếu nữ Hà Thành đã dũng cảm phô bày toàn thân thể trước ống kính của các nhà nhiếp ảnh như chẳng có chuyện gì xảy ra. Với bộ sưu tập ảnh “Ký ức Hà Nội xưa” của KTS Đoàn Bắc và nhà giáo Đoàn Thịnh, các thiếu nữ Hà Thành của thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX đã hiện ra trong một triển lãm ở chợ Hàng Da với những vẻ đẹp xưa. Có nhiều người xem đã nói lời “bái phục các cụ”. Còn tôi, xin hầu quý vị mươi tấm ảnh với những đường cong gợi cảm vừa được nhà văn Đoàn Tử Huyến chuyển đến qua mail…

Thiếu nữ Hà Nội không nude (Đọc tiếp…)
Đăng bởi: Ngô Minh | 15.11.2010

GỬI CÁC VIP LÒI VÀ CHƯA LÒI ĐUÔI CHUỘT

CÁI ĐUÔI VÀ CON CHUỘT

Trần Huy Quang

Không hiểu sao tôi thích nhất các truyện mà có biến hóa, như con hồ li tinh chớp mắt đã biến thành một cô gái tuyệt thế giai nhân, một công chúa cành vàng lá ngọc, một quan đại thần đức cao vọng trọng, vân vân… Thế nhưng có cái điều oái oăm là thành cái gì thì thành, hoàng đế hay thảo dân được cả, mà không thể biến hóa hết, khéo đến mấy, thành công đến mấy, vẫn còn cái đuôi. Tôn Ngộ không cũng vậy, phù một cái thành đại vương này đại vương khác, song cứ vậy, vẫn còn cái đuôi. Con mèo đã biến thành tiểu thư Jupite, xinh đẹp, đài các, kiêu sa, trong vũ hội, nghĩ rằng đã thành đến 99,99 phần trăm là người của giới quí tộc nhưng vẫn còn một phần ngàn có tý hơi băn khoăn. Các vị thần muốn cho chắc ăn liền nghĩ đến phép thử, họ bèn cho một con chuột chạy ra. Jupite đã là một tiểu thư quí tộc hay còn là mèo là lúc này. Nhưng thoáng thấy bóng chuột, Jupite liền tung người vồ ngay bỏ vào mồm cắn xé máu me nhoe nhoét dính ra cả xiêm y lỗng lẫy… Hóa ra tất cả các phép biến hóa cuối cùng đều thất bại.
Tôi chợt nghĩ đến các phép biến hóa thời nay. Rất nhiều người được nhà nước và nhân dân cho một cuộc biến hóa (như cơ cấu chẳng hạn) từ một người bình thường, người được học hành có người mới học bổ túc vài năm bỗng chốc trở thành người quan trọng(VIP), leo dần lên, đến khi trong tay tập trung bao nhiêu quyền hành, bao nhiêu ngân sách, bao nhiêu địa giới hành chính hoặc là ngành nghề, nhân lực. Ăn nói có gang có thép. Một quyết định của họ có thể ảnh hưởng (xấu hoặc tốt) đến một sinh mạng hoặc hàng chục triệu sinh mạng con người. Hàng chục năm lên xe xuống ngựa, da dẻ ở tuổi năm mươi sáu mươi mà vẫn nõn nà trắng bóng vì ăn uống đủ chất, sức khỏe được chăm sóc cực kỳ chu đáo, nếu gan trời cần ăn cũng mua được, giao tiếp họp hành trong nước ngoài nước, với toàn những người quan trọng và giải quyết cũng toàn những vấn đề quan trọng của ngành, của địa phương hoặc của quốc gia. Nghĩ rằng phép biến hóa như thế cũng đã hoàn tất, đạt đến độ tuyệt hảo, nhân dân đã làm được một phép thần thông. (Đọc tiếp…)

Danh sách hỗ trợ xây lăng mộ Nhà thơ Phùng Quán

  (Từ ngày 13 đến 16 giờ ngày 18/11/2010)

1.Cụ Nguyễn Ninh, TP HCM 1.000.000 VND
2. Phạm Hoàng Phiệt 1.000.000 VND
3.Nhà văn Hoàng Nhật Tuyên, Nha Trang 200.000 VND
4. Nhà thơ Văn Lợi, Đồng Hới, QB 500.000 VND
5.Anh Phan Văn Thảo, Sở VH-TT-DL TTHue 200.000 VND

6.Hà Thị Bích Hường, Đà Nẵng                      500.000 VND

7.Cộng động  sach xua.net( Lê Tuấn Anh đại diện)                       5.300.000 VND

8.Phan Phú, Nha Trang      200.000 VND

 

ĐẶNG HUY TRỨ
VÀ 104 THỨ HỐI LỘ KHÔNG THỂ NHẬN

Ngô Minh

Cụ ĐẶng Huy TRứ

 

Nước Đại Việt từ thời Tự Đức do bế quan tỏa cảng , kinh tế sa sút, quan tham nhũng lúc nhúc như dòi bọ. Đến nỗi vua  phải kêu lên trong một chỉ dụ  gửi các quan năm 1851 :” Quan coi dân như kẻ thù, dân sợ quan như hổ. Quan mưu tích cho đầy túi tham, ngày đục, tháng khóet, lại thêm bao nhiêu việc sách nhiễu không thể kể hết được… Dân điêu tàn mà gốc của nước lay động, rất đáng lo sợ  thay !”. Trong bối cảnh đó, lại có một ông quan nổi tiếng thanh liêm , danh thơm truyền đời : Đó là Đặng Huy Trứ  ! (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.11.2010

MỐI TÌNH ĐẦU CỦA PHÙNG QUÁN

MỐI TÌNH ĐẦU CỦA PHÙNG QUÁN

Ngô Minh

Phùng Quán 1954

Trong những cuốn sách biên soạn về Phùng Quán, tôi đã cung cấp cho độc giả mối tình nồng cháy, vượt qua đau khổ và cơ cực của Phùng Quán – Vũ Bội Trâm, chúng tôi đã hé lộ đôi chút về những mối tình sau này của nhà văn Phùng Quán với Hương Quân, Hà Khánh Linh… Lần này lại một mối tình nữa , mà hình như là mối tình đầu ly kỳ hơn đã được Phùng Quán tự kể và chị Vũ Bội Trâm, vợ nhà văn, phát hiện ra. Phùng Quán là một nhà văn lạ lùng, luôn luôn làm mọi người bất ngờ hết chuyện này đến chuyện khác. Uống rượu suốt ngày, rong chơi suốt ngày, nhưng khối lượng tác phẩm để lại ít người địch nổi. Riêng chuyện tình năm 22 tuổi này thì ngay cả vợ con và bạn bè thân quen anh cũng bị bất ngờ. Trong bài viết “ Tôi soạn Di cảo của Anh” in ở cuối sách “Tôi đã trở thành nhà văn như thế nào” của Phùng Quán, chị Vũ Thị Bội Trâm, vợ anh , viết :” … vô tình tôi phát hiện ra một cuốn sổ đã cũ trong số bộn bề những sổ tay ghi chép của anh, giở ra đọc thì thấy đó là những trang anh viết về khúc quanh của cuộc đời. Càng đọc tôi càng bị thu hút bởi những chuyện mà sau bao nhiêu năm chung sống nay tôi mới được tỏ tường…”. Nhờ sự phát hiện đó được thông tin cho anh Nguyễn Đức Bình, Giám đốc NXB Văn nghệ mà cuốn sách “ Tôi đã trở thành nhà văn như thế nào” đã ra mắt đọc giả tháng 10-2007. Khi Đức Bình điện báo cho tôi tin mừng này, tôi vô cùng ngạc nhiên vui sướng. Tôi gặp anh Quán nhiều lần, được nghe anh kể nhiều chuyện, cả những chuyện không thể nói ra, nhưng tôi không bao giờ nghe anh hé lộ một chi tiết nào về một cuốn hồi ức những ngày tháng anh viết tiểu thuyết Vượt Côn Đảo để trở thành nhà văn Quân đội năm 1954. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 25.11.2010

NHÀ VĂN TỰ TRÓI MÌNH

NHÀ VĂN TỰ TRÓI MÌNH

Nguyễn Trọng Tạo

  

Nguyễn Trọng Tạo – Ảnh: Đoàn Tử Huyến

… Trong tinh thần đổi mới hiện nay, Đảng ta quyết tâm “cởi trói” cho văn nghệ. Vậy lâu nay ai đã buộc trói văn nghệ? Đảng ta đã nhìn thẳng vào sự thật và công khai chỉ rõ những sai lầm trong công tác lãnh đạo văn nghệ. Nhưng phải chăng, sự buộc trói ấy chỉ do những sai lầm đáng tiếc của cơ chế quản lý quan liêu bao cấp gây ra? Có thể nói thẳng ra rằng, chính chúng ta, những người trực tiếp làm văn nghệ cũng đã góp phần thắt chặt thêm sợi dây buộc trói ấy cho chính bản thân mình. (Đọc tiếp…)

DANH SÁCH HỖ TRỢ XÂY LĂNG MỘ PHÙNG QUÁN-BỘI TRÂM

( TỪ Ừ NGÀY 19 ĐẾN 25/11/2010 )

Phùng Quán 1954

1. TT VH-Ngôn ngữ Đông Tây ( Nguyễn Thị THúy gửi) : 2.000.000 VND
2.Phạm Ngọc Hải, Ngân hang Công thương:  200.000 VND
3.Nhà thơ Thường Quán , Úc 200 Đô-la Úc = 3.713.000 VND
4. Họa sĩ Phan Nguyễn , Pháp:   1.000.000 VND
5. Nguyễn Lan Phương :         400.000 VND
6.Lê Hữu 500.000 VND
7.Tiến Thảo :         300.000 VND

8. Nguyễn Đình Hách: 500.000 VND

Sau đợt thông báo này sẽ là Daanh sách góp cát đá  xây lăng mộ Phugnf Quán- Bội TRâm sau 2 tháng kêu gọi . Những người  gửi hỗ trợ từ 26/11 đến 30/11 sẽ in  cuối  danh sách. Những ai  sai sót tên, sai địa chỉ hoặc chưa có địa chỉ tin cho Ngô Minh biết để chỉnh sửa , ý kiến gửi về :  ngominhnt@gmail.com hoặc ĐT : 098 5756355. Đây là chuyện tâm linh, rất hệ trọng , đề nghị  bà con ta lưu ý.

Nhà thơ NGÔ MINH

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 28.11.2010

HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG VIẾT VỀ THƠ NGÔ MINH

QUÀ TẶNG

Hoàng Phủ Ngọc Tường

 

Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường

 

Tập thơ này (*) của Ngô Minh ra mắt bạn đọc khá lâu. Từ hơn hai tháng nay, mà nó cứ loanh quanh mãi trên bàn viết của tôi, nay mới nhận ra. Lý do cũng đơn giản thôi : Xin lỗi tác giả, tập sách nhỏ này đã nằm yên trong cái nhìn thơ ơ của tôi, chỉ bởi tôi đã nhầm nó với một món quà tặng thật sự. Không ngờ, dưới cái tên “Thơ Tặng” , đó là những bài thơ thực sự, trong sự nghiệp văn chương của Ngô Minh, thơ gan ruột hẳn hoi, và phải xếp vào loại thơ hay là khác. Một lần nữa tôi thành thật xin lỗi về sự vô ý đối với tác giả, vậy !

 

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 30.11.2010

HẢI KỲ-SỐNG HẾT MÌNH, THƠ HẾT MÌNH

Bạn đọc thân mến. Nhà thơ Hải Kỳ 8 giờ sáng hôm nay ( 30/11/2010) đã lên bàn mổ tại Bệnh Viện Trung Ương Huế. Hai tháng trước, Haải Kỳ bị ung thư lưỡi cũng đã vào Bệnh việnHueế xạ trị 2 tháng. Sau đợt nghỉ 2 tháng vào kiểm tra lại, thì ung thư di căn sang thực quản. Đợt Đại phẫu thuật này Hải Kỳ bị  cắt  gần hết thực quản, kéo dạ dày lên. Ca mổ kéo dài 5  tiếng đồng hồ do kíp giáo sư-bác sĩ gồm 5 ngoời thực hiện. Chia tay Hải Kỳơ cuửa phòng mổ, Ngô Minh buồn  lắm, bèn về nhà pot bài viết HẢI KỲ- SỐNG HẾT  MÌNH THƠ HẾT MÌNH lên blog để cầu mong cho bạn tôi qua cơn hiểm nghèo. NGÔ MINH

HẢI KỲ – SỐNG HẾT MÌNH,THƠ HẾT MÌNH

Ngô Minh

Nhà thơ Hải Kỳ trước khi mổ 1 ngày. Foto NM

 

 

 

 

1. Hải Kỳ là người có tính cách khí khái, cương trực. Khi say thì hát Trịnh Công Sơn , đọc thơ , nói năng thật bốc, thật phấn chấn. Trước cái mất mát anh khóc như trẻ con, giận thì anh đùng đùng bỏ về dù đang ở nhà bạn thân. Trước cái ngang trái anh phẫn nộ đỏ mặt. “Mày như đứa trẻ lắm dỗi hờn” ( Văn Tăng). Chất trực cảm mạnh ấy, cái bản năng lâu bền ấy giúp cho Hải Kỳ bắt nhạy với thơ và thể hiện sâu đậm cái tôi trữ tình của mình . Cuộc đời Hải Kỳ có quá nhiều nỗi đau, nỗi đau xa cha, nỗi đau mất mẹ, nỗi đau quê hương Đồng Hới bị bom đạn tàn phá…Những trang đời cay đắng ấy ngấm vào anh để thành bản lĩnh sống, thành những trang thơ màu nhiệm: (Đọc tiếp…)

DANH SÁCH  GÓP CÁT ĐÁ XÂY LĂNG MỘ PHÙNG QUÁN- BỘI TRÂM 2THÁNG 10-11/2010  

 

Kính thưa các anh chị trí thức ,văn nghệ sĩ và những người  mến mộ nhà thơ Phùng Quán trong nước và ở nước ngoài. Sau 2 tháng kêu gọi góp cát đá xây lặng mộ vợ chồng Phùng Quán- Bội Trâm, đến ngày 30/11/2010, danh sách có 150 người gửi tiền,  những thực tế đã có hơn 200 người góp tiền hỗ trợ, Có nhiều anh chị em  góp tập thể rồi cho một người đứng tên  gửi tiền vào TK Ngô Minh như BCH Hội Nhà văn khóa VIII, các nhà văn Quảng Ninh, Chị hội Nhà văn VN tại Huế, nhóm sachxua.net, nhóm anhn Tạ Duy Hinh.v.v… Các loại tiền  gửi  hỗ trợ gồm  VND, USD, Đô-la Úc,  Frans Thụy Sỹ, Euros thể hiện trong  danh sách dưới đây.

Trước hương hồn  nhà thơ Phùng Quán- chị Bội Trâm , chúng tôi gồm 2 cháu Phùng Đỗ Quyên và Phùng Quân và bà con  họ Phùng ở Thủy Dương và Ngô Minh vô cùng biết ơn tấm lòng rộng mở của bạn bè bốn phương. Qua đây mới biết, Phùng Quán luôn ở trong trái tim mọi người. Ngô Minh sẽ có bài viết  riêng về việc này. Đến  đây xin khép lại việc góp cát đá. Số  tiền được sử dụng như thế nào  sau khi xây xong lăng mộ sẽ công khai trên mạng . (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 04.12.2010

TRƯỚC VÀ SAU

Thư giản

 

TRƯỚC VÀ SAU

  
Cuối tuần mời các bạn xem những tác phẩm nghệ thuật tranh và ảnh khỏa thân Quà tặng Xứ mưa nhặ duoợc trên mạng :

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 07.12.2010

“SÁT HẠCH”PHÙNG QUÁN

“SÁT HẠCH” PHÙNG QUÁN

Ngô Minh

Nhà thơ Phùng Quán

Trong thâm tâm của tôi, việc kêu gọi “Góp cát đá xây lặng mộ nhà thơ Phùng Quán- cô giáo Vũ Bội Trâm” là để một lần nữa tôn vinh nhà văn đã có tuyên ngôn nổi tiếng :”Đã đi với nhân dân thì thơ không thể khác”, hay Giấy bút tôi ai cướp giật đi/ Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá”, là dịp “sát hạch” xem hình ảnh Phùng Quán trong lòng độc giả bốn phương có còn sâu đậm như hồi anh còn sống không, sau đó mới đến việc có thêm ít kinh phí để xây lăng mộ nhà thơ cho đàng hoàng. Có nhà thơ thế lực như trời, nhưng qua đời rồi thì thơ họ càng ngày càng thưa người đọc.Và sau hai tháng mọi người tự nguyện góp cát đá, điều tôi vô cùng thấm thía là : Phùng Quán , sau 15 năm rời cõi tạm, vẫn sống mãnh liệt trong lòng bạn đọc người Việt từ khắp nơi trên thế giới ! (Đọc tiếp…)

LÀM SAO ĐỂ ĐẢNG KHÔNG  TRỞ THÀNH “ĐẢNG CAI TRỊ” ?

(Nguyên Chủ tịch Quốc hội  Nguyễn Văn An tra ơ lời phỏng vân)

Ông Nguyễn Văn An, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức TƯ, Chủ tịch Quốc hội khóa XI tiếp tục chia sẻ góc nhìn của mình xung quanh việc chuẩn bị cho Đại hội XI. Ông bày tỏ mong muốn Đại hội XI chọn khuynh hướng đổi mới tư duy toàn diện và triệt để cả về kinh tế và chính trị để tạo tiền đề cho đất nước tiếp tục bứt phá mạnh mẽ trong tương lai.

Các dự thảo văn kiện của Đại hội Đảng XI vừa được công bố rộng rãi để lấy ý kiến nhân dân. Như Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã nhấn mạnh: “Đây là một khâu rất quan trọng trong xây dựng Đảng về chính trị – vấn đề cốt tử của Đảng và là nhiệm vụ hàng đầu trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng”. Bằng cách chân thành lắng nghe và tiếp thu thực chất những ý kiến đóng góp của dân, Đảng sẽ cộng hưởng được trí tuệ của toàn dân tộc để lãnh đạo đất nước vượt lên trong một thời đại rất nhiều cơ hội nhưng cũng vô vàn thách thức. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 15.12.2010

KHI SỬ GIA CÓ VĂN HÓA ĐỌC QUÁ THẤP

Tạp chí Hồn Việt  vừa in bài “KHÔNG ĐƯỢC BÊU RIẾU DANH NHÂN  LỊC SUỬ ủa một nhà sử học Phan Hàn Giang cho rằng văn nô Nguyễn Quang Lập viết chuyện  cổ tích tân trang Sự tích cao nguyên Lâm viên vàDak Nông là phỉ báng Bà Triệu. Bạn Thuận Nghĩa trên blog thuannghia.vnweblogs.com có bài viết sau đây bình luận về bài veết của tiến sĩ  sử học , mời các bạn cùng chia sẻ.

 

SỬ GIA CÓ VĂN HÓA ĐỌC QUÁ THẤP

bình luận

Thuận Nghĩa

Tôi không tin mặc dầu có rất nhiều người đã nói, và tin tức báo chí, truyền hình vẫn có đưa hà rầm ra đó. Và ngay cả những cơ quan nhà nước, và cả một  TP Đà Nẵng cũng ra sắc lệnh cho các công sở, chính quyền không chấp nhận bằng cấp ngoài đào tạo chính qui. Tôi không tin vì tôi nghĩ rằng, những trường hợp dùng bằng cấp giả mạo để tiến thân trong nghề nghiệp và chính trường chỉ là những hiện tượng đơn lẽ. Hiện tượng này ngay ở những nước phát triển như Âu-Mỹ thỉnh thoảng vẫn có chứ không phải không. (Đọc tiếp…)

            NHÀ THƠ HẢI KỲ VƯỢT QUA CƠN ĐẠI PHẪU NGUY HIỂM

                                                                     Ngô Minh

   

Nhà thơ Hữu Thỉnh thăm Hải Kỳ tại Bệnh viện. Anh NM

 
 

       Tôi không thể nào tả hết nỗi sự vui mừng của mình khi người bạn thân yêu vượt qua cơn đại phẫu thuật thực quản ngày 30/11/2010 tại Bệnh viện Trung ương Huế. Hồi hộp, lo lắng bà cả nỗi lo sợ. Mổ cắt 8 cm thực quản ( tức cắt gần hết thực quản) do bị  di căn ung thư, kéo  dạ dày lên thay thực quản là ca mổ khó, rất nguy hiểm, cực  kỳ nguy hiểm, gọi là đại phẫu thuật . Một kíp bác sĩ giỏi nhất của Khoa  ngoại tiêu hóa Bệnh viện TW Huế do bác sĩ- tiến sĩ Lộc ,trưởng khoa trực tiếp mổ đã thực hiện đến  hơn 5 tiếng đồng hồ liền. 7 giờ 30 sáng, tôi và Lý ( vợ Hải Kỳ) theo nhà thơ  lên tầng 4 , khu nhà  7 tầng là nơi mổ. Tiễn bạn vào  phòng mổ cách ly, bắt tay bạn, tôi không sợ không dám nhìn vào mắt …Đến  13 rưỡi  chiều ca mổ mới xong… (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 16.12.2010

Nga Vạch Tội Stalin

Nga Vạch Tội Stalin

Nguyễn Viết Khánh

Stalin

Nước Cộng hòa Liên bang Nga đã hết Cộng sản. Hạ viện Nga (Duma) công bố một tài liệu mật gây sửng sốt cả thế giới, tố cáo Josef Stalin, kẻ tàn bạo khủng khiếp nhất trong thời gian Đệ nhị Thế chiến (không phải độc tài Hitler của Đức Quốc xã) năm 1940 đã ra lệnh thực hiện vụ tàn sát ở lò hỏa thiêu Katyn, Ba Lan, đốt chết khoảng 20,000 sĩ quan Ba Lan và một số công dân có tiếng tăm. Tổng Thống Nga Dmitry Medvedev sẽ sang thăm Ba Lan vào đầu tháng 12 này. (Đọc tiếp…)

NGUYỄN VĂN AN VÀ CHUYỆN Z30

Bùi Hoàng Tám

Nhà văn Bùi Hoàng Tám

LỜI TÁC GIẢ:
Trong suy nghĩ của tôi, ông Nguyễn Văn An là nhà pháp trị và có tinh thần dân chủ rất cao. Trong nhiệm kỳ của mình, Chủ tịch Nguyễn Văn An đã trả lại vị thế “là cơ quan quyền lực cao nhất” của Quốc hội đồng thời ban hành nhiều luật và bộ luật. Những cuộc chất vấn và trả lời chất vấn tại nghị trường dưới thời ông làm Chủ tịch luôn sôi động, được cử tri quan tâm, theo dõi và đánh giá cao. Ngay từ năm 1983, Nguyễn Văn An và Đoàn Duy Thành (người khởi xướng là ông Thành) đãkhông thực hiện Chỉ thị Z30. Nếu ở Đoàn Duy Thành là cái tâm của nhà cách mạng với đời sống nhân dân thì với Nguyễn Văn An, là cơ sở pháp lý. Lần đầu tiên sang Pháp, ông An đã tìm đến bờ sông Sen để tận mắt được nhìn nơi thanh tra Zave (một nhân vật trong tiểu thuyết Những người khốn khổ của Vichto Huygô) trẫm mình vì không chứng minh được Giăngvanzăng là người ăn cắp. Đã hơn một lần ông nói với tôi về QUYỀN và HẠN, về Luật Đảng…. Cuộc trò chuyện của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An với tôi diễn ra vào năm 2006, tại Văn phòng Quốc hội – 37 Hùng Vương, khi đó ông còn đương chức và 2 năm sau, tôi mới bắt tay viết bài báo này. Sau đó, đã được báo Pháp luật TPHCM và nhiều báo đăng lại. Gần đây, ông Nguyễn Văn An tiếp tục phát biểu những suy nghĩ của mình trên các phương tiện thông tin đại chúng và được quần chúng nhân dân, nhân sĩ trí thức đồng tình hưởng ứng. Xin đăng tải lại bài viết đã từng công khai trên nhiều cơ quan thông tin đại chúng và được đưa vào cuốn sách 20 năm – Những bài báo Đổi mới của NXB Trẻ TP HCM 2010. (Đọc tiếp…)

Lê-Nin đánh cơ với hit-le- chuyện lạ có thật ?

Bức phác họa Adolf Hitler thời trẻ đang chơi cờ với Lenin được đem bán đấu giá … nhưng liệu có phải nó ghi nhận một sự kiện lịch sử đích thực? (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.12.2010

TUYÊN BỐ CỦA BAUXITE VIỆT NAM

TUYÊN BỐ CỦA BAUXITE VIỆT NAM

Bauxite Việt Nam

 

 
1./ Ban Biên tập BVN được biết về sự xuất hiện tên của ba người sáng lập trang Bauxite Việt Nam (Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn và Nguyễn Thế Hùng) trong một “bản tuyên bố” nói là của “những người Việt yêu nước”, ký nhân dịp “Kỷ niệm năm thứ 62 Tuyên ngôn Nhân quyền Liên Hợp Quốc”. 
Trong bản tuyên bố trên, tên của Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn và Nguyễn Thế Hùng được ghi với số thứ tự 2, 3, 4 ở danh mục những người ký tên hiện sống ở trong nước, mặc dù họ không hề biết có bản tuyên bố này, dĩ nhiên lại càng không được tham khảo ý kiến.
 
2/ Trang Bauxite Việt Nam xin trịnh trọng tuyên bố như sau: (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.12.2010

CHÚC MỪNG GIÁNG SINH 2010

 

 

 CHÚC MỪNG GIÁNG SINH 2010

MỪNG MÙA GIÁNG SINH 2010 VÀ ĂNM MỚI 2011,
QUÀ TẶNG XỨ MƯA XIN GỬI ĐẾN BẠN ĐỌC VÀ BẠN BÈ BỐN PHƯƠNG
LỜI CHÚC ANH LÀNH VÀ HẠNH PHÚC.
Ngô Minh

Đăng bởi: Ngô Minh | 25.12.2010

NGUỄN TRỌNG TẠO VIẾT VỀ THƠ NGÔ MINH

NGÔ MINH KHẮC KHOẢI VỚI THƠ

 Nguyễn Trọng Tạo

Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo

  Có người nói:” Nhà thơ là nhà thơ. Nhà phê bình là nhà phê bình. Đừng nên đá nhầm sân!”

            Nhà phê bình Hoài Thanh không làm thơ. Ông viết phê bình thơ tuyệt  hay,mà tiêu biểu là những bài viết trong tập Thi nhân Việt Nam đã xay dựng nên lâu đài văn chương của riêng ông, hơn nửa thế kỷ qua người đời vẫn không ngừng chiêm ngưỡng và trầm trồ thán phục. Những bài bình thơ của nhà thơXuân Diệu cũng là những áng văn khiến nhiều nhà phê bình của ta mơ tưởng. Ai đã từng thán phục tài đàm đạo về thơ của Viên Mai qua Tuỳ Viên ThiThoại, hẳn sẽ ngạc nhiên khi nhận ra ông cũng chính là một nhà thơ cao thủ. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 28.12.2010

MỖI NGÀY – thơ

NGÔ MINH

MỖI NGÀY

Có ngày vui hiên nắng
Có ngày buồn vườn mưa
Có ngày gần ríu rít
Có ngày xa mong chờ

Dọc ngang ngày như sợi
Dệt lóng mốt lóng đôi
Tấm vải bền như thể
Ta vì nhau mỗi ngày

Nếu một ngày hờ hững
Như buồm vắng gió khơi
Một ngày như sợi đứt
Giữa tấm dời em ơi !

Yêu nhau ta được sống
Mới mẻ trước mỗi ngày
Thủy chung ta được hái
Mỗi ngày chín thành hai…

Đăng bởi: Ngô Minh | 29.12.2010

Mai Văn Hoan là rứa đó !

MAI VĂN HOAN LÀ RỨA ĐÓ !

Ngô Minh

Làng Thanh Khê cát biển gió sóng bên bờ nam Sông Gianh ấy đã sinh ra 3 nhà văn có chỗ đứng trên văn đàn Việt là Hoàng Bình Trọng, Nguyễn Hữu Quý và Mai Văn Hoan. Có lẽ xứ ta chưa có một làng quê nào có nhiều nhà văn như vậy. Đến nay, nhà thơ- thầy giáo Mai Văn Hoan đã in 6 tập thơ trữ tình: Ảo ảnh (1988), Giai điệu thời gian (1989), Hồi âm (1991) ),Trăng mùa đông (1997 ) Giếng Tiên (2003) ), Lục bát thơ ( 2006 ) và 4 tập phê bình tiểu luận. Thơ Mai Văn Hoan luôn được các bạn trẻ là sinh viên, học sinh Vinh, Huế, Đồng Hới… thuộc lòng và chép đầy sổ tay . Nhưng khi nói về Mai Văn Hoan người ta luôn kể về những lứa học trò và những câu chuyện lạ lùng cảm động…

SINH VIÊN NGHE TRỘM THẦY HOAN GIẢNG KIỀU
Thầy Mai Văn Hoan giảng văn hay đến mức như mê hoặc học trò, nhất là giảng về Nguyễn Du và Truyện Kiều . Nhiều giáo viên văn ở Huế cho rằng, muốn làm cho học sinh yêu văn chương phải dạy như thầy Hoan đã dạy, chứ không phải theo cách của Bộ Giáo dục. Đó là lối dạy văn gợi cảm, gợi hứng, truyền cảm xúc tới học trò, không thụ động theo giáo án soạn sẵn . Thầy Hoan giảng Kiều hay đến mức có cô sinh viên khoa văn Đại học sư phạm Huế nghe tiếng, đã lẻn vào lớp của thầy Hoan ở Quốc Học, đóng giả làm sinh viên thực tập để “mục sở thị” tài giảng Kiều của thầy, rồi viết thư cho thầy : (Đọc tiếp…)

THÔNG BÁO LỄ CẢI TÁNG, AN TÁNG

VỢ CHỒNG NHÀ THƠ PHÙNG QUÁN- BỘI TRÂM

Thưa các văn nghệ sĩ và người yêu mến nhà thơ Phùng Quán

Lễ cải táng và an táng nhà thơ Phùng Quán và nhà giáo Vũ Thị Bội Trâm về với Đất Mẹ Thủy Dương sẽ diễn ra tại Khu nghĩa trang Ngoại Viên Hưng, vùng đồi phía tây Phường Thủy Dương, thị Xã Hương Thủy, Thừa Thiên Huế

- Thời gian : bắt đầu từ 10 giờ 30 , ngày 6 tháng Chạp năm Canh Dần, tức ngày Chủ nhật, 9 tháng 1 năm 2011

Chỉ dẫn đường đi : Từ Bắc vào hay Nam ra, đến địa phận Thủy Dương ,cạnh Nghĩa trang Liệt sĩ Thủy Dương , Quôc lộ 1A sẽ có biển báo ” Mộ nhà thơ Phùng Quán – 3 km” rẽ tay phải theo đường nhựa 3 km nữa là đến .

Trân trọng thông báo để anh em trí thức, văn nghệ sĩ và những người hâm mộ Phùng Quán khắp cả nước biết . Nếu ai có điều kiện mời về dự lễ an táng vợ chồng nhà thơ tại khu mộ mới xây dựng.

Kinh báo.

Huế, ngày 1 Tháng 1 Năm 2011

BAN TỔ CHỨC

THÔNG TIN THÊM VIỆC GÓP CÁT ĐÁ XÂY MỘ PHÙNG QUÁN

Mặc du việc kêu gọi góp cát đá chỉ trong 2 tháng 10, 11- 2010, nhưng sau khi kết thúc 2 tháng, vẫn có nhiều nhà văn, trí thức và những người ngưỡng mộ Phùng Quán tiếp tục đóng góp. Chúng tôi vô cùng biết ơn tấm lòng của bè bạn. Sau đây là danh sách những người góp cát đá từ 1/11/2010 đến 10/1/2011:

133 – Nhà văn Trần Thùy Mai , Huế : 500.000 VND

134-Thái Thu Lan (vợ nhà văn Huy Phương), Sài Gòn;    1.000.000 VND

135  -Nguyễn Bảo An và Đinh Kỳ Thanh , Sài Gòn :  300.000 VND

136  -Lê Tất Sĩ :   200.000 VND

137 – Mai Phương và các nhà văn tỉnh Quảng Ninh : 2.000.000 VND

138 – Đặng Văn Dũng : 300.000 VND

139 : Hoàng Quý Thân và Nguyễn Thị Nhu ,Hà Nội : 500.000 VND

140 : Hoàng Tấn Trung, Quảng Trị : 200.000 VND

141 – Nhà báo Minh Tự, báo Tuổi Trẻ : 500.000 VND

142-  Một người mến mộ PQ nhờ chị Kim Ngân chuyển : 2.000.000 VND

143   - Đào Tiến Thi, Hà Nội (gửi cháu PĐ Quyên) : 300.000 VND

144 – Nhà thơ Ngô Minh , Huế : 1 000.000 VND

145 – Nhà thơ Phạm Quốc Ca, Đà Lạt  : 300.000 VND

146- Nhà văn Trần Nhương, Hà Nôi:  1.000.000 VND

147 – Nhà văn Nguyễn Đặng Mừng : 500.000 VND

148 – Nhà báo Lê Đức Dục, báo Tuổi Trẻ  :  500.000 VND

149 Nhà văn Nguyễn Đức Tùng, Canada : 100 đô-laCND= 2 080.000 VND

150 – Nguyễn Thị Dư Khánh , TP HCM  : 500.000 VND

151 Ngô Thị Hà Châu, TP HCM 1.000.000 VND

152 Lê Văn Bài. TP HCM 1.000.000 VND

153 Trần Văn Chút, TP HCM 200.000 VND

154 Nguyễn Mười, TP HCM 500.000 VND

155 Đỗ Quang Ninh, TP HCM 500.000 VND

156 Đoàn Minh Tâm, TP HCM 200.000 VND

157 Trương Trọng Nghĩa 100.000 VND

158 Hãng phim truyện VN 1.000.000 VND

159 Đạo diên Lê Đức Tiến 500.000 VND

160 Bành Mai Phương 200.000 VND

161 Bùi Việt Hà 1.000.000 VND

162 Nguyễn Trọng Chức, báo Tuổi Trẻ 1.000.000 VND

163 Vợ chồng anh Lê Gia Ninh, Huế 1.000.000 VND

164 Một GS-TS Toán học ở Hà Nội ( không chịu nêu tên) 3.000.000 VND

165 Nhà thơ Trần Ninh Hồ, Hà Nội 500.000 VND

166 Nhà thơ Nguyễn Quang Khuê, Hà Nội 500.000 VND

167     Tiến sĩ toán học Nguyễn Xuân Tấn( em kết nghĩa của PQ)         2.000.000   VND
  168   Trương Gia Bình , Bùi Quang Ngọc và tập thế

           lớp học sinh Troờng Chu Văn An 1970-1973 :                        20.000.000 VND
  169   Nhà thơ, NSND Lê Huy Quang                                                     500.000 VND
   170  Nhà thơ-nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo                                               500.000  VND

  171 Nhà thơ Du Tử Lê, Mỹ                                                                       100 USD
   172. Phan Thanh Hải , Hà Nội                                                               1.000.000 VND
    Tổng hợp số tiền góp cát đá đến 3/1/2011 như sau: 

I.VND:    177.993.000VND
II.Ngoại tệ  :

-Anh Hà Dương Tường đã đổi 1300 Euros bạn bè đóng góp thành  1741,31 USD,tỷ giá thời điểm đổi được 33.938.000 VND. Anh Tôn Gia Khai ở Ba Lan  gửi 300 USD=5.800.000VND ( Số tiền anh Khai góp đã cộng trong VND)

-100 EURO  Anh Trần Duy Nghĩa ở Pháp gửi chưa đổi

-200 Franc Thụy Sĩ đổi được 4.000.000 VND.

III. Như vậy tổng số tiền hỗ trợ góp được là :  

  = 223.613.000 VND

Kính thông báo để mọi người được rõ. Kính chúc những tấm lòng mến yêu nhà thơ Phùng Quán luôn bình an, hạnh phúc.

                                                                        Nhà thơ Ngô Minh

                                                                                    Kính báo

Đăng bởi: Ngô Minh | 06.01.2011

Trần Trọng Kim với Việt Nam Sử Lược

Trần Trọng Kim với Việt Nam Sử Lược

Nhà sử học Trần Trọng Kim

Mai Khắc Ứng


Một buổi chiều cuối năm 1962, sau hồi kẻng “thu không” khoảng 15, tôi theo thầy Trần Quốc Vượng ra khỏi lớp. Lúc đó, mấy lối đi về phía nhà ăn của Ký túc xá Láng học trò trường Trung học Trung Hoa và sinh viên Khoa Xã hội trường Đại học Tổng hợp đã gõ đũa vào bát lanh canh. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 10.01.2011

PHÙNG QUÁN VỀ ĐẤT MẸ

PHÙNG QUÁN ĐÃ VỀ ĐẤT MẸ

   Ngô Minh

         

Lăng mộ Phùng Quán- Bội Trâm

Sau ba tháng kêu gọi Hãy góp chút cát đá xây lặng mộ nhà thơ Phùng Quán , hơn 300 văn nghệ sĩ, trí thức và những người Việt   mến mộ Phùng Quán ở Việt Nam, Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Ba Lan, Úc, Thụy Sĩ .v.v..,đã nhiệt tình góp cát đá xây lăng mộ nhà thơ Phùng Quán- bà Vũ Bội Trâm ở Thủy Dương, Huế . Đầu tháng 1 năm 2011, lăng mộ đã được xây dựng xong tại khu nghĩa trang Ngoại Viên Hưng, phía Tây Thủy Dương cách Huế  6 km về phía nam. Trong khu lăng có khắc phần cuối bài thơ Lời Mẹ dặn, bút tích  bài thơ  Thơ đề trên thơ : Có những  phút ngã lòng. Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy của Phùng Quán, câu đối chữ Hán của hàn sĩ Hà Sĩ Phu viếng Phùng Quán khi nhà thơ qua đời : Nhất Quán tận can trường / Trùng Phùng lưu cốt cách. Có bàn ghế để anh em ngồi cùng nâng chén với hương hồn thi sĩ .v.v.. Khu lăng mộ được xây cất không cầu kỳ lòe loẹt như các thành phố lăng  Thuận an, An Bằng , nhưng đây là  một địa chỉ văn hoá tâm linh để những người nguõng mộ Phùng Quán trong và ngoài nước đến Huế ghé về viếng thăm, chia sẻ. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 13.01.2011

THƠ TẾT NGÔ MINH IN TRÊN THANH NIÊN XUÂN TÂN MÃO

Ngô Minh

VỀ ĂN TẾT HUẾ

nắng về ăn Tết Huế

mai vàng vàng sân vàng phố vàng chùa

rưng rưng anh cắm cành nắng mới

lên chỗ mình ngồi Tết xưa

 

sương về ăn Tết Huế

lừng thơm khói bánh giao thừa

mưa xuân the vị mứt gừng lên tóc

rêu Hoàng Thành còn mách lối sương qua

 

người về ăn Tết Huế

tập ăn trầu đỏ má đỏ môi

người cắn hạt dưa người chờ câu hẹn

thẻ xăm chùa khúc khích ngày mai

 

rủ nhau về ăn Tết Huế

ngàn thông thắp nến sang mùa

Hương Giang trăm năm vua ngự

vẫn giòn như thuở còn chưa…

( Bài đăng THANH NIÊN XUÂN TÂN MÃO)

SƠN DOONG- HANG ĐỘNG MỚI PHÁT HIỆN Ở QUẢNG BÌNH

Nguyễn Quang Lập

Ngày chủ nhật mời bà con coi một hang động tuyệt mỹ của Quảng Bình quê tui. Đó hang Sơn Đoòng nằm trong quần thể hang động Phong Nha-Kẻ Bàng. Theo thông báo của Hiệp hội hang động Hoàng gia Anh thì Sơn Đoòng là một phần của hệ thống ngầm nối với hơn 150 động khác ở Việt Nam và gần biến giới Lào.

Ngày 22/4/2009, khi công bố về hang động lớn nhất thế giới này, Hiệp hội Hang động Hoàng gia Anh cho biết hang có chiều rộng 200m, cao hơn 150m, dài ít nhất 6,5km. Hang có thể còn dài hơn nữa, tuy nhiên do điều kiện kỹ thuật, các nhà thám hiểm thuộc Hiệp hội Hang động Hoàng gia Anh đã không thể đi hết chiều dài của hang để kết luận hang dài bao nhiêu.

Với kích thước này, hang Sơn Đoòng đã vượt qua hang Deer ở Vườn quốc gia Gunung Mulu của Malaysia (với chiều cao 100m, rộng 90m, dài 2 km) để chiếm vị trí hang động tự nhiên lớn nhất thế giới .

Hang động này do  một người dân địa phương tìm ra tên là Hồ Khanh, anh đã hướng dẫn đoàn thám hiểm Hiệp hội Hang động Hoàng gia Anh tìm tới, và chính anh cũng đã đặt tên cho hang động này. (Đọc tiếp…)

GIỖ PHÙNG QUÁN ( 22-1-1995 – 22-1 2011)

PHÙNG QUÁN – SỨC MẠNH TẤT THẮNG
CỦA LÒNG TRUNG THỰC VÀ LÝ TƯỞNG NHÂN VĂN

 

BÙI MINH QUỐC

PQ KHI VIẾT lỜI MẸ DẶN

Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu

Đấy là tuyên ngôn Sống, tuyên ngôn Thơ của Phùng Quán.
Đối với tôi, anh là tấm gương chiến sĩ – thi sĩ tiêu biểu hàng đầu trong cuộc chiến đấu trường kỳ cho một giá trị nhân văn cao quý nhất : con người trung thực, yêu tự do và dũng cảm chiến đấu cho tự do.Những câu thơ trên trích từ bài thơ “Lời Mẹ dặn” dung dị như đồng dao đi thẳng vào lòng người – mà theo tôi cần đưa ngay vào sách giáo khoa để giáo dục bồi dưỡng đức tính trung thực, tinh thần dũng cảm và lòng yêu tự do từ tuổi nhi đồng cho mọi con người.Chỉ với mấy câu có vẻ nôm na rất dễ hiểu dễ nhớ dễ thuộc nhưng thật thơ, Phùng Quán kiên quyết khẳng định : trung thực là một giá trị sinh tử đối với con người nếu muốn “được cho ra cái giống người”, như từ hàng trăm năm trước cụ Tú Xương đã chúc cho “vua quan sĩ thứ người muôn nước”.Và trung thực luôn phải gắn liền với tự do, đồng thời phải dũng cảm chiến đấu cho tự do, bởi vì khi đã quyết sống trung thực thì tất yếu phải đương đầu với dối trá, cũng tất yếu phải rất dũng cảm mới đương đầu nổi trong một xã hội mà dối trá đã kết thành thế lực.Và phải rất kiên trì, bởi vì cuộc chiến chống các thế lực dối trá là một cuộc chiến trường kỳ.
Trong cuộc chiến đấu trường kỳ ấy, Phùng Quán đã thắng. (Đọc tiếp…)

 

 

Khách mời

Phùng Quán vẫn sống mãnh liệt trong lòng bạn đọc



         Vừa qua bạn đọc trong nước, người Việt ở nước ngoài vui mừng trước sự kiện di hài hai vợ chồng thi sĩ Phùng Quán được đưa về quê theo di nguyện của ông lúc còn sống. Người đứng ra thực hiện di nguyện này là nhà thơ Ngô Minh ở Huế và bạn bè văn chương. Thưa bạn đọc, nhà thơ Ngô Minh, khách mời tuần này của chúng tôi.

Nguyễn Minh Sơn (NMS): Xin nhà thơ cho biết lý do ông thực hiện di nguyện của thi sĩ Phùng Quán?

Ngô Minh (NM): Đúng là anh Phùng Quán sinh thời luôn khao khát trở về quê mẹ. Phùng Quán trốn mẹ đi theo đội trinh sát thiếu niên của Trung đoàn 101 Trần Cao Vân ở Huế năm 14 tuổi, cho đến khi qua đời ở tuổi 64 (1995) anh xa quê tới 50 năm. 16 năm từ sau khi bị trọng bệnh qua đời, vì còn vợ con, nên mộ Phùng Quán vẫn an toạ ở nghĩa trang quê vợ là làng Kiều Mai, xã Phú Diễn, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Như vậy, cuộc đời Phùng Quán đã xa quê tới 66 năm. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.01.2011

Kim Mộc Thuỷ Hoả Thổ

Kim Mộc Thuỷ Hoả Thổ

Thơ Nguyễn Duy

Nguyễn Quang Lập: Tối qua đi nhậu với bác Nguyễn Duy, bác hỏi: “Lập có nhớ bài Kim mộc Thuỷ hoả thổ của mình không?” Ồ, sao lại không nhớ. Bài Thơ đó in ở Cửa Việt số 16, cùng với truyện ngắn Gió dại của Bảo Ninh, toạ đàm Bàn tròn  nó đã góp phần đánh sập Cửa Việt, buộc Hoàng Phủ Ngọc Tường phải chạy vô Huế, còn tui chạy ra Hà Nội.  Tui nói góp phần là vì đó chỉ là cái cớ… Mà thôi, chuyện qua lâu rồi, không muốn nhắc lại thêm buồn.

Bài thơ  bác Duy đã “ác” mà cái sapo của bác Tường viết cũng “ác”, bác Tường viết:“Thơ xưa, Quỉ Cốc Tử nói rằng: “Quản Trọng đạt thời sớm. Khương Tử Nha thời muộn. Thạch Sùng giàu, Mông Chính thì bần cùng. Bành Tổ sống lâu, Nhan Uyên chết yểu. Cả sáu người đó đều nằm trong Ngũ Hành”. Nay cuộc sống nhìn từ gần, hoá ra mọi sự lố lăng nhếch nhác, mắc cười, vỡ mộng… tất thảy cũng đề u là trò cười của Kim Mộc Thuỷ Hoả Thổ. Bài thơ này đọc thì cười ngất, nhưng cười xong thấy lạnh buốt tuỷ sống, như rơi vào cõi thái âm. Thơ Nguyễn Duy vẫn bông đùa như vậy”. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 27.01.2011

Trịnh Công Sơn: 320 bức tình gửi một người

Trịnh Công Sơn: 320 bức tình gửi một người

Ngày 1/4/2011, đúng mười năm sau ngày nhạc sĩ Trịnh Công Sơn rời cõi tạm để rong chơi chốn vĩnh hằng, bà Dao Ánh – người tình đầu tiên – một trong những người tình đã mãi mãi bất tử bằng những ca khúc của ông cho công bố hơn 300 bức thư tình của Trịnh Công Sơn gửi cho bà.

Trịnh Công Sơn đã nói tiếng yêu em bằng ngôn ngữ thật đẹp, là bản chúc thư ca ngợi tình yêu, là thân phận, là những dằn vặt triền miên về kiếp người. Người ta nói nghệ thuật là đời sống riêng biệt, hiếm hoi. Trong trường hợp này, dường như tình yêu đã làm nên những cảm xúc để từ đó ra đời những tình khúc huyền thoại để lại cho cuộc đời. Xin cảm ơn bà Dao Ánh và gia đình cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã cho phép Giai phẩm xuân Tân Mão Sài Gòn Tiếp Thị lần đầu tiên công bố những di bút rất riêng tư này.
 

Dao Ánh lần trở lại năm 1998. Ảnh: TLGĐ

Dao Ánh lần trở lại năm 1998. Ảnh: TLGĐ

Sau gần nửa thế kỷ, hơn ba trăm bức thư tình mới được chủ nhân của nó tiết lộ, hé mở phần sâu thẳm trong trái tim một nhạc sĩ tài hoa, gắn với một thời đoạn khai sinh những ca khúc bất hủ về tình yêu và thân phận… (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 30.01.2011

Năm Mão xem tranh “ Đám cưới chuột”

Năm Mão xem tranh “ Đám cưới chuột”

Ngô Minh

Bức tranh Đám cưới chuột trong bộ tranh dân gian Đông Hồ cổ rất ý vị, đến nay vẫn còn nhiều ý kiến nhận xét và giải mã khác nhau.Có người gọi tên tranh là Trạng chuột vinh quy. Dù gọi là gì thì bức tranh vẫn được vẽ ước lệ gồm hai tuyến đối lập đầy kịch tính: Tuyến chính phía dưới là một đám rước (hay đám cưới ?) với tám nhân vật chuột. Đi đầu là chú chuột đội mũ cánh chuồn cưỡi ngựa hồng rất bnh trai, oai vệ, nhu nhưng đầu lại nghoảnh về phía sau trông rất căng thẳng và bất cần. Theo sau là hai chú chuột cầm lọng, vác biển hiệu. Trong hai chú có chú cũng nghoảnh lại phía sau. với ý thức rất cảnh giác. Sau cùng là bốn chú chuột khênh một chiếc kiệu lớn, ngồi trong kiệu là một cô chuột xinh đẹp đội vương miện, mặc áo lễ. Trong bốn chú chuột khênh kiệu thì hai chú phía sau cùng ngoảnh nhìn lui với vẻ thách thức. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 01.02.2011

THÔNG BÁO LẬP “QUỸ PHÙNG QUÁN”

THÔNG BÁO LẬP “QUỸ PHÙNG QUÁN”

   Ngô Minh

       
        Kính thưa bạn hữu văn chương và những người  yêu mến  nhà thơ Phùng Quán .

          Đợt vận động “Góp cát đá xây lăng mộ nhà thơ Phùng Quán”bắt đầu từ đầu tháng 10/2010 và dự định kết thúc cuối tháng 11/2010. Nhưng đến ngày 12/1/2011 vợ chồng nhà thơ Du Tử Lê ở Mỹ vẫn gửi về đóng góp . Như vậy, kết thúc cuộc vận động góp cát đá có 172 người gửi tiền về, đại diện cho hơn 300 thân hữu bạn vè và những người  ngưỡng mộ Phùng Quán. Danh sách đã được công bố  trên mạng ngominh.vnweblogs.com; ngominhblog.wordpress.com; mạng ngay-dem.com của Nguyễn Quốc Minh, mạng blogquechoa của bọ Lập. Tổng số tiền thu được ( sau khi đổi các loại ngoại tệ ra VND) là 223.731.000 VND. Ngô Minh vô cùng cám ơn tấm lòng cao đẹp của mọi người . (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 02.02.2011

QUÀ TẶNG XỨ MƯA CHÚC MỪNG NĂM MỚI TÂN MÃO

CHÀO NĂM TÂN MÃO

NĂM MỚI TÂN MÃO -2011 ĐẾN RỒI. NGÔ MINH XIN GỬI TỚI BẠN ĐỌC VÀ CỘNG ĐỒNG BLOG LỜI CHÚC MỪNG NỒNG THẮM. CHÚC MỌI NGƯỜI THÊM TUỔI MỚI AN LÀNH, MẠNH GIỎI, MỌI SỰ NHƯ Ý. NĂM QUA, CỘNG ĐỒNG BLOG, WEB. ĐÃ GIÚP NGÔ MINH RẤT NHIỀU TRONG VIỆC XÂY LẶNG MỘ VỢ CHOOGNF NHÀ THƠ PHÙNG QUÁN- NHÀ GIÁO VŨ BỘI TRÂM. NGÔ MINH VÔ CÙNG CẢM KÍCH VÀ BIẾT ƠN. BÂY GIỜ LĂNG MỘ ĐÃ XÂY XONG, TẾT NHẤT THONG THẢ, XIN MỜI MỌI NGƯỜI GHÉ HUẾ VIẾNG MỘ NHÀ THƠ. TẾT TÂN MÃO, NGÔ MINH TẶNG BẠN ĐỌC THIỆP CHÚC TẾT VỚI BÀI THƠ HAI CÂU : CÁI ĐUÔI CHUỘT, BÃI CỨ MÈO / CŨNG THÀNH MINH TRIẾT DÕI THEO BƯỚC NGƯỜI.

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.03.2011

PHÙNG QUÁN-THI SĨ VỆ QUỐC ĐOÀN

NGÔ MINH

 

PHÙNG QUÁN

Tôi quen thân  anh chị Phùng Quán-Bội Trâm từ đầu những năm 80 của thế kỷ trước, nghĩa là đã hơn 30 năm rồi. Mỗi lần anh Quán vô Huế, anh đều rủ tôi theo anh đi đọc thơ, uống rượu ở các cơ quan, gia đình người hâm mộ. Anh lúc nào cũng áo Mán, quần bò, đeo cái bị cói, đi chiếc xe đạp cuốc Liên Xô cao lênh khênh và đi đôi dép cắt từ lốp ô tô nặng chịch …Anh bảo dép nặng như thế này mới đứng vững trên mặt đất. Ở Huế, cuộc nhậu nào  hết  mồi là anh lẳng lặng đứng dậy đi mua, không  bao giờ sai em út.  Cơ quan tôi Báo Thương Mại ở Lò Đúc, có  phòng khách, nhưng mỗi lần ra Hà Nội tôi đều về ở với anh trên Chòi ngắm sóng. Anh chị coi tôi như đứa em , có chuyện gì cũng kể. Khi tôi vô Huế, anh thức dậy rất sớm , nấu cơm, hơ lá chuối gói cơm nắm, vót cật trẻ làm dao cắt cơm, rồi muối mè để em ăn dọc đường cho an toàn. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 25.03.2011

THÔNG BÁO ỦNG HỘ QUỸ PHÙNG QUÁN

Kính gửi  độc giả  ngưỡng mộ nhà thơ Phùng Quán

Sau khi xây dựng lăng mộ vợ chồng nhà thơ Phùng Quán-nhà giáo  Vũ Bội Trâm xong, số tiền còn lại  chúng tôi  đã lập QUỸ PHÙNG QUÁN và tiếp tục kêu gọi sự hỗ trợ để QUỸ PHÙNG QUÁN  ngày càng lớn lên trước cơn lạm phát đang tăng hiện nay.

Cho đến  ngày 25-3- 2011, chúng tôi đã nhận được hỗ trợ QUỸ PHÙNG QUÁN của những “Mạnh thường quân” sau :

1- Nhà thơ Bành Thanh  Bần, Hà Nội          5 .000.000 VNĐ

2- Ông chủ đỏ Lê Minh Ngọc, Sài Gòn         5.000.000 VNĐ

3- Ông Đỗ Đức Trích, Vũng Tàu                   3.000.000 VNĐ

Rất cảm ơn những tấm lòng đối với nhà thơ Phùng Quán

TM BQL QUỸ PHÙNG QUÁN

Nhà thơ Ngô Minh

 

 


Đăng bởi: Ngô Minh | 29.03.2011

“NGƯỜI TÌNH” TRỊNH CÔNG SƠN

Ngô Minh

Trịnh Công Sơn

1.  10 năm Trịnh Công Sơn  rời xa “cõi tạm”, âm nhạc của Trịnh vẫn  vang lên ở mọi ngõ ngách trong tâm thức Việt, đời sống Việt. Trong hơn 600 ca khúc Trịnh Công Sơn gửi lại, ngoài  âm nhạc cách mạng, nhạc phản chiến, còn lại  đa phần là tình ca . Có thể nói Trịnh Công sơn là người tình của cuộc đời, của con người, của thiên nhiên muôn thuở : Tàn đông con nước kéo lên / Chút tình mới chớm đã viên thành…( Đoá hoa vô thường) ; hay Chiều nay còn mưa sao em không lại / Nhỡ mai trong cơn đau vùi / Làm sao có nhau, hằn lên nỗi đau ( Diễm xưa).v.v.. Vậy NGƯỜI TÌNH  của Trịnh Công Sơn là ai ? Đó là câu hỏi của bạn, của tôi, mỗi khi nghĩ về Trịnh …

(Đọc tiếp…)

alt

 

 

MẶT TRỜI  ĐỎ

Ông già bị sóng thần tung lên mái nhà rồi bay ra biển

Sau hôn mê đại dương mở mắt

ông già hai tay giương cao

hay níu vào

mảnh mặt trời

Nhật Bản

 


Geisha Tsuyako Ito

Geisha Tsuyako Ito ở Kamaishi

Chuẩn bị đi diễn thì sống thần xô đến

Nước Nhật ơi, đời bà Ito 84 tuổi đã ba lần bị sóng thần cuốn đi như thế

Mà lần nào tỉnh dậy

vẫn lại gặp cây đàn shamisen

và điệu múa geisha

 


30 BÔNG ANH ĐÀO Ở SENDAI

Ba mươi đứa trẻ Sendai bị sóng thần cuốn vào một mái trường

Sáu ngày chờ mong sáu ngày lạnh giá

Người mẹ đầu tiên khóc mở cửa tìm con

Thấy 30 bông anh đào

đang nở

Huế, 29-3-2011

Đăng bởi: Ngô Minh | 10.04.2011

KHUYA HUẾ UỐNG VỚI BẠN CÀ MAU

Bạn đọc thân mến.

Thơ Ngô Minh đã hai lần được Ban tổ chức đêm thơ Nguyễn Tiêu  tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám  chọn thả thả lên trời. Nguyên tiêu 2008 câu thơ nằm nghe lục bát gọi đôi / một anh một bóng một người… một không…” trong bài LỤC BÁT GỌI ĐÔI ĐƯỢC CHỌN. Nguyên tiêu 2011, câu thơ ta khuya với bóng đền đài  /tưởng như tuổi đã ra ngoài thời gian trong bài thơ KHUYA HUẾ UỐNG VỚI BẠN CÀ MAU được chọn. Xin giới thiệu bài thơ KHUYA HUẾ UỐNG VỚI BẠN CÀ MAU để bạn đọc cùng chia sẻ.


Ngô Minh


KHUYA HUẾ

UỐNG VỚI BẠN CÀ MAU


Gửi Nguyễn Trọng Tín


ta khuya với bóng đền đài

tưởng như tuổi đã ra ngoài thời gian

lo mơ râu tóc sương giăng

Nam Ai…ngâm khúc tiễn nàng Huyền Trân

nước non ngàn dặm mong gần

núi cao vực thẳm phong trần sá chi

thơ còn đêm thức ngày đi

khi nơi chót Mũi khi kề Hương Giang

giai nhân ơi hỡi giai nhân

trăm năm Minh Mạng rượu dành chờ say

sông không chảy sông ắp đầy

sương sương khói khói đâu ngày sau xưa

tuổi tên danh phận như đùa

rượu vơi lựng nậm chuông chùa cầm canh…

TIẾNG NÓI NHÀ VĂN (HỘI VIÊN)

VỀ VIỆC TƯỞNG NIỆM VÀ TÌM HIỂU

NHÀ VĂN ANH HÙNG CHU CẨM PHONG

BÙI MINH QUỐC

Nhà văn Chu Cẩm Phong

Tháng 03 năm ngoái, 2010, nhà văn liệt sĩ Chu Cẩm Phong được Nhà nước truy phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang. Trong lịch sử Hội Nhà văn Việt Nam thành lập từ 1957, Chu Cẩm Phong là nhà văn đầu tiên được phong anh hùng với tư cách nhà văn (xin phép lưu ý các đồng nghiệp và bạn đọc: trong Hội cũng có nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ được truy phong Anh hùng lực lượng vũ trang với tư cách nhà quân sự). (Đọc tiếp…)

Nhân kỷ niệm 40 năm ngày nhà văn anh hùng Chu Cẩm Phong hy sinh (01.05.1971 – 01.05.2011)

AI LÀ NGƯỜI ĐẦU TIÊN

GIỚI THIỆU NHẬT KÝ CHU CẨM PHONG ?

                                       BÙI MINH QUỐC

     Một thời gian dài, hơn ba mươi năm, tôi cứ đinh ninh rằng mình là người đầu tiên làm công việc ấy. Nhưng không phải thế.

Nhà văn Chu Cẩm Phong

Tháng 03 năm 2010, nhà văn liệt sĩ Chu Cẩm Phong được nhà nước truy phong anh hùng. Trong lịch sử Hội Nhà văn Việt Nam thành lập từ 1957, Chu Cẩm Phong là nhà văn đầu tiên được phong anh hùng với tư cách nhà văn (xin phép lưu ý bạn đọc : trong Hội cũng có nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ được truy phong Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân với tư cách nhà quân sự).Tác phẩm chủ yếu của Chu Cẩm Phong mà công luận đặc biệt quan tâm và đánh giá cao là “Nhật ký chiến tranh”.Đây là những trang nhật ký Chu Cẩm Phong ghi từ ngày 11 tháng 07.1967 đến ngày 27.04 năm 1971, ba ngày trước khi anh hy sinh trong một cuộc chiến đấu tuyệt đối không cân sức từ dưới hầm bí mật ở thôn Vinh Cường (xã Duy Tân, huyện Duy Xuyên, Quảng Nam) với lực lượng đối phương đông gấp bội bên trên vừa gọi hàng vừa liên tục ném lựu đạn xuống. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.04.2011

SANG VIÊN CHĂN VUI TẾT VỚI CÁC NHÀ VĂN LÀO

Ngô Minh

Đoàn nhà văn Huế với vòng hoa Bunpimay trên cổ chụp ảnh chung với nữ nhà văn VănMay

        Vào đúng dịp Tết Lào Bunpimay, Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Huế đã tổ chuyến đi thăm và vui Tết với các nhà văn Lào. Tết BunPiMay diễn ra trong 3 ngày 14, 15, 16 tháng Tư dương lịch hàng năm, là Tết té nước để cầu  phúc mà chúc may mắn. Lễ hội ở Lào thường được gọi là Bun. Tiếng Lào Bun nghĩa là phước. Làm Bun nghĩa là làm phước để được phước. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.04.2011

GIỎI LẮM, LÀO ƠI

Ngô Minh


Ngô Minh trong Vườn tượng Phật ở Viên Chăn

Cả tháng nay, báo chí Việt Nam lùm sùm về đập thủy điện Xayaburi ở hạ lưu sông Mê Công mà nước Lào đang rục rịch xây dựng . Chính phủ Lào phản ứng trước mọi nghi vấn và chỉ trích về con đập . Nước Lào trong mấy năm nay sống chủ yếu bằng “tiền bán  điện”  do các Nhà máy thủy điện sản xuất.  Hiện nay Lào có  tổng cộng 70 dự án (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 30.04.2011

VỀ CÁI CHẾT CỦA CỤ PHẠM QUỲNH

Lời dẫn của Nguyễn Văn Tuấn:  Ngày nay chắc chẳng còn bao nhiêu người nhớ đến ông Phạm Quỳnh. Ông là một nhân vật lịch sử, một quan chức cao cấp trong triều Nguyễn. Ông còn là một đại trí thức, nhà văn hóa, nhà báo kiệt suất. Ông giỏi tiếng Pháp (cách đây 4 năm, tôi có giới thiệu một cuốn sách tập hợp những bài tiểu luận viết bằng tiếng Pháp của ông). Ông cũng là nhà báo xiển dương việc dùng chữ Quốc ngữ thay cho chữ Nho và tiếng Pháp.  Là người đấu tranh độc lập và tự trị cho Việt Nam. Thế nhưng ông chết thảm.  Theo (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 03.05.2011

HOA HẬU

Đến với bài thơ hay:

 HOA HẬU

 Trưa nay hoa hậu muộn về
Bố con thi sĩ cơm khê lửa cười
Vô tư là giống… trên đời
Biết đâu rau đậu bời bời giá lên
Đồng tiền như ả vô duyên
Đầu hôm hăm mốt qua đêm còn mười

Lội quanh chợ cá, chiều rồi
Thứ ngon thì mắc thứ ôi thì buồn
Em cười cho bữa cơm ngon
Trung thu chiếc bánh cho con nhớ mùa
Chiều chồng chén rượu đĩa dưa
Còn bầu còn bạn đời chưa cạn tình

Em thi hoa hậu một mình
Âm thầm vương miện, lặng im thơ đề…
.

NGÔ MINH

Lời bình của nhà văn NGUYỄN MINH NGỌC

Thơ ca Việt Nam xưa nay không hiếm những bài thơ hay của các thi sĩ viết tặng người bạn đời yêu dấu của mình. Từ Tú Xương, Tú Mỡ cho đến các nhà thơ đương đại có lẽ không mấy ai trong đời cầm bút mà lại không có những vần thơ ngợi ca, biết ơn công lao của các bà “nội tướng” đối với văn nghiệp của mình. Bài thơ “Hoa hậu” của Ngô Minh cũng nằm trong mạch ấy. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 07.05.2011

VÕ NGUYÊN GIÁP – MÙA XUÂN VĨNH CỬU

“Kỷ niệm 57 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ.”


       
    Xem hình ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận huy hiệu 70 năm tuổi Đảng và bắt tay chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trên VTV1 tôi bồi hồi xúc động. Thế là Đại tướng Tổng Tư lệnh của chúng ta vẫn tỉnh táo. Từ Tết Canh Dần đến nay, tin tức về sức khỏe Đại tướng làm cho nhân dân lo lắng. Khi nghe báo đưa tin  Đại tướng Võ Nguyễn Giáp  khen ngợi lễ duyệt binh trong Đại lễ 1000 năm Thăng Long –Hà Nội, rồi Đại tướng gửi thư động viên nhân dân Quảng Bình chống  lũ, nhưng không có hình, ai cũng lo .Qua Tết Tân Mão, cho đến ngày kỷ niệm 57 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, Đại tướng vẫn tỉnh táo. Nhân dân cả nước mừng . Đại tướng là một nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam lứa đầu tiên, một vị (Đọc tiếp…)

Đồi Thịt Băm [Hamburger Hill là tên gọi lính Mỹ đặt cho cao điểm 973 tức Đồi A Bia ở Thung Lũng A Sầu gần biên giới Lào thuộc địa phân huyện A Lưới tỉnh Thừa Thiên Huế. Ở đây năm 1969 đã xảy ra một cuộc tử chiến  giữa  lính Mỹ và bộ đội, du kích địa phương. Năm 2002, nhà văn Nhất Lâm ở Huế đã viết tiểu thuyết “Đồi không tên” kể lại gương chiến đấu hy sinh của Bộ đội Giải phóng và du lịch A Lưới. Bài viết dưới đây mô tả lại không  khí chiến tranh dưới góc nhìn của lính Mỹ. Xin giới thiệu với bạn đọc.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 03.06.2011

BIỂN ƠI

NGÔ MINH

BIỂN ƠI

những tháng ngày này

biển sục sôi giận dữ

sóng lừng rách chân trời

ngư dân làng tôi

bao đời trừng mắt

chấp mấy bão dông

chấp nghìn lũ cướp

con gái pháo tầm xa đuổi tàu chiến giặc

con trai ra khơi vai súng tay chèo

 

biển cho tôi cơm áo, bài ca

tôi cất dành trong biển

chén rượu sủi tăm không cạn của đời mình

máu quê tôi là máu biển

mắt quê tôi là mắt biển

Hoàng Sa, Trường Sa thao thiết tầm nhìn

 

biển dạy tôi những lưỡi câu ngạnh sắc

dù nhỏ nhoi chòng chành đầu sợi cước

mùi gió mặn xoắn vào da tóc

ngư trường xa luôn gọi tên mình

chủ nhân ông của đại dương xanh

 

biển

bờ đêm đốt lửa

âu lo tin cậy lập lòe

giữa khơi xa chúng con vẫn trong vòng tay mẹ

Việt Nam

Huế 6-2010

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.05.2011

CỤ HỒ ĐI BẦU CỬ

       

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa III
ngày 26-4-1964, tại Hà Nội.                                                         Ảnh: TL


             Ngày 22/5/2011 tới , nhân dân ta sẽ đi bầu cử Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.  Toàn dân ta lại đang “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” . Có thể tóm tắt cô động nội dung đạo đức của Bác  vào  mấy chữ “ Nhân”, “Nghĩa”, “Trí”, “Dũng “,”Liêm”. Hay câu mà Bác Hồ hay  nhắc nhở cán bộ đảng viên “ Cần, Kiệm, Liêm ,Chính, Chí công, Vô tư”. Đạo đức  ấy không phải là nói suông, mà thấm (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.05.2011

THƯ NGỎ GỬI PHÙNG XUÂN BÍNH VÀ HUY THẮNG

      

Phùng Quán

  Bạn đọc thân mến. Đầu tháng 10 năm 2007, báo Tiền phong Chủ nhật in bài viết của tôi có tựa đề là “Chuyện tình “Trăng Hoàng Cung” và nỗi niềm Phùng Quán“, thì báo Văn Nghệ  số 43, ra ngày 27-10-2007, có in bài viết “ Đôi điều cần nói rõ thêm về nhà thơ Phùng Quán” của Phùng Xuân Bính và Huy Thắng.  Bài viết phê phán Ngô Minh đã viết “ những chi tiết không đúng, thậm chí cường điệu”. Sau đó tôi đã có  Thư ngõ gửi 2 tác giả trên , nhưng báo Văn Nghệ không  đăng và cũng không hồi âm. Tôi đang chuẩn bị cuốn sách về Phùng Quán, lục trong lưu trữ , tìm thấy bài viết này. Xin  in lại trên  blog QUÀ TẶNG XỨ MƯA để bạn đọc  biết Ngô Minh đã “cường điệu” về Phùng Quán như thế nào.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 26.05.2011

THÀNH PHỐ HUẾ TƯƠNG LAI NÊN GỌI TÊN GÌ ?

                                                                                                   Ngô Minh

            Năm 2009, Bộ Chính trị Ban Chấp hành TƯ Đảng khóa 10 đã có Kết luận 48 xác định vị trí của Huế là 1 trong 5 độ thị cấp quốc gia ( cùng TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ); tiến tới Xây dựng tỉnh Thừa Thiên Huế thành thành phố trực thuộc Trung ương.  Ngay sau kết luận của Bộ Chính trị, ngày 17/6 / 2009 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký quyết định 86/2009/QĐ-TTG ”Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020”,với mục tiêu tiêu : “ Xây dựng tỉnh Thừa Thiên Huế sớm trở thành thành phố trực thuộc Trung ương ; một trong những trung tâm lớn, đặc sắc về văn hóa, du lịch, thành phố Festival của cả nước…Nghĩa là Trung ương đã “bật đèn xanh”, đã “quyết tâm”. Như vậy cả tỉnh Thừa Thiên Huế hiện nay sẽ “lên” thành phố. Có người băn khoăn cho rằng “Thành phố” trực thuộc trung ương mà nghèo có khác gì  tỉnh trực thuộc trung ương hiện nay đâu ?  Hay đây chỉ là sự “đổi tên”, chứ Thừa Thiên Huế còn lâu mới làm đủ ăn, làm sao bằng các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố  Hồ Chí Minh, Hải Phòng…được. Cách đây 16 năm, tỉnh Thừa Thiên Huế cũng đưa ra Quốc hội biểu quyết cho Huế trở thành thành phố  trực thuộc Trung ương, nhưng không được. Lúc đó nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã viết :” Thành phố gì mà có cọp  beo đi trên đường…”. Từ điển Tiếng Việt- NXB Khoa học Xã hội năm 1977 ( in lần thứ 5 có chính lý bổ sung) giải thích từ “thành phố” và “nông thôn” như sau : “Thành  phố là địa hạt hành chính lớn có phố xá đông dân cư”, “nông thôn là làng mạc sống bằng sản xuất nông nghiệp khác với thành thị”. Xem ra như (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 30.05.2011

Thơ đi Lào, Thái Lan (1)

BANGKOK - THÁI LAN


Ngô Minh

 TRÊN ĐƯỜNG

 

người Thái luôn đi lề bên trái

lề phải là ngược chiều

tài xế Thái luôn ngồi bên trái xe

gọi là tay lái nghịch

tôi người Việt

trên đường Thái

cứ nơm nớp

trái , nghịch

trái, nghịch

trái…

nhưng anh bạn Thái nói

người Thái cũng như người Việt

lề  trái lề phải

đều đi về phía lòng người…

U Đon 15/4/2011

 

 

KHẢI HOÀN MÔN - VIÊN CHĂN

 

Ngô Minh 


THÀNH PHỐ TRĂNG

 

 Viên Chăn

Thành phố trăng

Văn May quàng lên cổ tôi vòng hoa chúc phúc

gương mặt em tóc em đẫm nước

nước của trời

Happy Bunpimay

Tôi và em

Trăng trên trời và hoa trước ngực

Nước và lửa

Óng vàng

ban mai Phật

Viên Chăn 14/4/2011

 

——–

Viên Chăn: Tiếng Lào nghĩa  là Thành phố trăng

Đăng bởi: Ngô Minh | 03.06.2011

Thơ đi Lào, Thái Lan (2)

Hoa đooc-mun của mùa xuân Lào

Ngô Minh

 TÍP XÔI LÀO

mở típ xôi 

hương cao nguyên dậy

ta cầm trên tay thơm dẻo mùa nương

gà nướng vàng bờ Mê Kông sóng

rượu Lào chang chang

lần đầu mở típ xôi Lào

lần đầu nâng chén với bạn Lào

hoa đoọc-mun lăm vông với phố

ta lăm vông

với lửa

với mình

Viên Chăn đêm 12/4/2011

               http://i599.photobucket.com/albums/tt73/hoalinhthoaivn/hoa-su.jpg

 

Ngô Minh

 BỮA CƠM TRƯA Ở THÀ-KHẸT

 

bữa cơm thường

cà chấm ruốc

canh chua và rau muống luộc

nhưng tôi đang ngồi ăn bên bờ Mê Công

bên kia Thái Lan bên này Thà Khẹc

một bữa thôi và chẳng bao giờ

bữa cơm thường

dưới bóng cây vông đồng Khăm Muộn

bên  kia Thái bên này Lào

muốn sang phải qua cửa khẩu

nhưng rất lạ là tôi đang ăn  những món ăn quê

như thể mỗi ngày

bữa cơm thường trưa Thà Khẹc

mẹ bán cơm bỏm bẻm tiếng Quảng Bình

  – Mạ sang đây từ bé giờ đã bảy ba

quê Cao Mại người thân chẳng còn ai

nhưng mạ nhớ lắm

món ăn xứ miềng

nên trưa ni mạ nấu

vì biết các con là Việt Nam

 bữa cơm thường thôi

nơi xa xôi đất Lào Khăm Muộn

cứ ngỡ ở làng

Trưa Thà Khẹc 17/4/2011

 

Trung Quốc là mối đe dọa lớn nhất cho hòa bình thế giới kể từ thời Đức Quốc xã

Duy Ái – VOA
Giữa lúc những hành động được xem là hung hãn của Trung Quốc ở Biển Đông hồi gần đây làm cho nhiều người, đặc biệt là người Việt Nam, cảm thấy hoài nghi về tuyên bố trỗi dậy trong hòa bình hay “hòa bình

 
Ảnh : Tàu hải giám Trung Quốc mang số hiệu 84 vi phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Ảnh: TTXVN.

khởi” của chính phủ ở Bắc Kinh, hai học giả ở Mỹ đang chuẩn bị ra mắt cuốn sách nói về điều mà họ cho là mối đe dọa lớn nhất đối với hòa bình thế giới kể từ thời Đức quốc xã. Trong cuốn sách “Death by China” (deathbychina.com), phát hành vào đầu tháng sáu, Tiến sĩ Peter Navarro của Đại học California ở Irvine và chuyên gia về Trung Quốc Greg Autry cho rằng những nhà cai trị tàn bạo ở Trung Nam Hải đang đe dọa tới kế sinh nhai của người dân ở các nước phát triển, gây nguy hại cho sức khỏe và tính mạng của vô số người trên khắp thế giới, kể cả những người dân bình thường ở Trung Quốc. Mời quí vị nghe Duy Ái trình bày thêm chi tiết trong tiết mục Nhìn Về Á Châu sau đây.

(Đọc tiếp…)

Nguyễn Khoa Điềm: Người ta chỉ biết đến tiền mà quên mất các giá trị làm nên sự tử tế của một con người.

 Từ dạo quay về làm dân ở Huế, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm – nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị, nguyên Trưởng ban Tuyên giáo T.Ư, sống rất lặng lẽ và kín tiếng. “Bây giờ tôi chỉ còn chường cái mặt tôi ra trong thơ”, ông nói thế khi bị thắc mắc.

Nhưng mới đây, ông làm tôi ngạc nhiên khi trong một hội thảo về văn hoá Huế, ông bất ngờ có một tham luận khá gay gắt và “nặng lời”. Phải chăng ông không còn “biết sợ điều phiền toái” nữa, như trong một câu thơ của mình trước đó?

Ông không trả lời ngay câu hỏi của tôi. Ông bảo từ ngày nghỉ hưu về Huế, ngoài chuyện làm thơ, đọc sách, mối quan tâm lớn nhất của ông là các vấn đề văn hoá: “Đó là mối quan tâm

NT Nguyễn Khoa Điềm và Ngô Minh tại mộ nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị    

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 06.06.2011

Phan loai Ca Dao tren tap chi Nam Phong cua Pham Quynh?

Phân lọai Ca Dao trên tạp chí Nam Phong cua cụ Phạm Quỳnh?

Tiến sĩ Nguyễn Văn Hoa

Bạn đọc thân mến. sau khi đọc bài trên Quà tặng xứ mứa ” Phạm Quỳnh da bi ” khử ” nhu thế nào ?” . Tiến sĩ NGUYỄN VĂN HOA , sinh ngày 8 tháng 9 năm 1946 tại Thôn Tháp Dương, xã Trung Kênh, huyện Lương Tài , Bắc Ninh, Tiến sĩ Kinh tế. ( bảo vệ tại CHDC ĐỨC 28-2-1987), Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội,  Hội viên Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội đã gửi cho QUÀ TẶNG XỨ MƯA  bài  : Phân loại Ca Dao trên tạp chi Nam Phong của cụ Phạm Quỳnh?. Xin cám ơn Ông nghè Kinh Bắc và giớithiệu với bạn đọc:

Phân loại “ Ca dao” trên Tap Chi Nam Phong cách đây 90 năm ?
Nguyễn Văn Hoa( Hoi Nha Van Ha Noi )

*

Cụ Phạm Quỳnh

Ngày 21 tháng 4 năm 1921 , cách nay 90 năm ,chủ bút Nam Phong Phạm Quỳnh đã có bài diễn thuyết về Tục ngữ ca dao. Sau đó được đăng lại trên báo Nam Phong năm 1921.
Pham vi bài diễn thuyết này rất rộng lớn về Ca dao .
Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin phép chỉ đề cập đến khía cạnh việc “ phân loại Ca Dao của diễn giả này .
Diễn giả có nhắc đến quyển sách xưa ví dụ như “ Gương phong tục của Đoàn Duy Bình ( Đông Dương Tạp chí ) .
Diễn giả đã khẳng định được vị trí của Ca Dao trong văn chương truyền khẩu nước nhà. ví dụ có câu : “ tuy không khỏi nôm na mach qué, song thật có ý vị vô cùng , có thể (Đọc tiếp…)

Thư Bé gái học lớp 12 Việt Nam gửi chủ tịch nước CHND Trung Hoa

Kính gửi Ngài chủ tịch của đất nước Trung Quốc to lớn và hùng mạnh!
Có lẽ cháu quá nhỏ bé nên cũng chẳng cần giới thiệu tên tuổi làm chi, xin Ngài hãy cứ gọi cháu là Việt Nam!
Hôm nay, một ngày hè oi ả trên đất Việt, khi cháu đang cố gắng để vượt qua kì thi Tốt Nghiệp và thi Đại Học sắp tới thì được biết một tin thật đau lòng: đất nước Trung Quốc của Ngài đang muốn thôn tính và chiếm đoạt 2 quần đảo xinh đẹp Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Dù đang rất mệt mỏi và lo lắng cho kì thi sắp tới nhưng điều này khiến một công dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà như cháu không khỏi lo lắng và sợ hãi. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 10.06.2011

LÀM GÌ ĐỂ GIẢI OAN CHO PHÙNG QUÁN ?

LÀM GÌ ĐỂ GIẢI OAN CHO PHÙNG QUÁN ?

 (Thư ngỏ gửi nhà báo Hà Đăng, nhà văn Từ Sơn cùng các đồng nghiệp cầm bút)

BÙI MINH QUỐC

Nhà thơ Bùi Minh Quốc ôm cột mốc số 0 ở Hữu Nghị Quan

Vừa qua tôi được đọc trên trang nhà của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo bài “Nhà văn Phùng Quán mang nỗi oan khuất xuống mồ” của tác giả Minh Tâm.Bài viết cho biết thời gian cuối đời, nhà văn Phùng Quán bị Ban tư tưởng văn hóa trung ương ra thông báo (ngày 20.03.1994) phát hành rộng rãi có nội dung vu khống xúc phạm danh dự nhà văn. Đoạn đó như sau : “Quan hệ với một số người trong nhóm Nhân văn – Giai phẩm cũ còn có tư tưởng chống đối, đầu năm 1994, Đỗ Trung Hiếu đã tổ chức cho Phùng Quán từ Hà Nội vào gặp gỡ ở nhà riêng, trong đó có Nguyễn Hộ, Tạ Bá Tòng, Hồ Hiếu, Bùi Minh Quốc nghe Phùng Quán trình bày lại nội dung vụ Nhân văn – Giai phẩm, từ đó bóp méo toàn bộ sự thật, đả kích Đảng cộng sản Việt Nam”.Nhà văn Phùng Quán đã có đơn kháng cáo gửi các cơ quan thẩm quyền tối cao (đồng thời gửi Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam), nhưng cho đến khi nhà văn qua đời vẫn không được giải quyết, đành mang theo nỗi oan khuất xuống mồ. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 11.06.2011

LƯU TRỌNG LƯ- CÂY BÚT VĂN XUÔI ĐÁNG NỂ

LƯU TRỌNG LƯ- CÂY BÚT VĂN XUÔI ĐÁNG NỂ

Lại Nguyên Ân

QTXM – Lâu này, người ta chỉ  biết đến Sự nghiệp văn nghệ của Lưu Trọng Lư với tư cách nhà thơ,  nhà hoạt động sân khấu Việt Nam thế kỷ XX, it người biết ông còn là một cây bút văn xuôi đầy năng lực trước tiền chiến với  rất nhiều thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn, tùy bút, ký sự… Nhân kỷ niệm 100 năm sinh Lưu Trọng Lư (1911 – 1990), NXB Lao Động và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây cho ra mắt tập truyện ngắn, tiểu thuyết của ông do nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân và Hoàng Minh sưu tầm, biên soạn. Bộ sách gồm 2 tập, bao gồm tất cả những tác phẩm thuộc thể loại tự sự – truyện ngắn, tiểu thuyết – của Lưu Trọng Lư mà những người thực hiện đã dày công sưu tầm được. Trong sưu tập này có số lượng lớn những tác phẩm hầu như đã bị quên lãng kể từ sau lần công bố đầu tiên, cách nay 60 – 70 năm. Xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc bài viết cũng là lời dẫn của nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân cho bộ sách này.

Lưu Trọng Lư

Sự nghiệp văn nghệ của Lưu Trọng Lư với tư cách nhà thơ, nhà văn, nhà hoạt động sân khấu Việt Nam thế kỷ XX, thoạt nhìn, cho đến những năm đầu thế kỷ XXI, tưởng chừng như đã được ghi nhận và đánh giá ổn thỏa; nhưng nhìn kỹ, ta lại thấy nhiều nét trái ngược.

Chẳng hạn, theo một nề nếp “phân vùng” có từ thời bao cấp, Lưu Trọng Lư được nghiễm nhiên coi như một “nhân sự” thuộc giới sân khấu nên giới chức quản lý văn học đôi khi tặc lưỡi bỏ qua ông, hoặc người ta xem ông chỉ như nhà thơ để khỏi phải tính (!) đến ông như người viết văn xuôi, viết truyện, bất chấp cái thực tế là: số truyện ngắn truyện dài Lưu Trọng Lư đã viết và đã in ra trong toàn bộ đời văn của mình nhiều gấp vài ba lần số tập thơ hay số vở kịch ông đã viết, đã dàn dựng. Chẳng những mảng truyện dài truyện ngắn của Lưu Trọng Lư bị quên, cả mảng tiểu luận phê bình của ông cũng bị quên; thế nhưng đôi khi được nhắc lại thoáng qua, khá tình cờ − ví dụ một bài ông viết về Truyện Kiều hay một bài khác về thơ văn Nguyễn Công Trứ, − thì không cần phải có cặp mắt thật xanh, người ta cũng cảm thấy vẻ đặc sắc của cả giọng văn lẫn ý kiến tác giả…

Chỉ tính về phương diện người viết truyện thôi, trong dư luận phê bình, Lưu Trọng Lư đã trải qua một lịch trình từ thăng xuống trầm, từ chỗ được đánh giá cao đến chỗ dần dần bị coi nhẹ. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 12.06.2011

TRUNG QUỐC CÓ PHẠM NHAN, VIỆT NAM CÓ YẾT KIÊU

TRUNG QUỐC CÓ PHẠM NHAN, VIỆT NAM CÓ YẾT KIÊU

NGUYỄN TRỌNG TẠO
Phạm Nhan là tên tướng giặc có phép thuật, đưa các chiến thuyền gây chiến và xâm lược nước ta. Nhưng thời Trần của Đại Việt lại có tướng Yết Kiêu có thể lặn dưới nước cả ngày đêm, đục thủng các chiến thuyền của giặc và bắt sống Phạm Nhan. Khi Phạm Nhan bị chặt đầu thì liền mọc ra đầu khác. Cuối cùng, Trần Hưng Đạo phải sai dùng kiếm thần bôi vôi và bồ hóng mới trảm được tên giặc Tàu có phép thuật ấy. Thây Phạm Nhan biến thành đỉa, và thành ngữ có câu “như đỉa phải vôi” là vì vậy.

Cụ Yết Kiêu ơi,tàu giặc vào biển ta rồi đấy !

(Đọc tiếp…)

Việt Nam vẫn đang kiêu hãnh về những chiếc đầu lâu

 của lính Trung Quốc trong rừng rậm

 Sergei Balmasov (PRAVDA )

(Ngày 5-3-2009)

Việt Nam đã anh dũng đẩy lùi cuộc tấn công của Trung Quốc cách đây 30 năm. Mối thù nghịch giữa hai nước tiếp tục trong hơn 2.000 năm.

Cách đây 2500 năm, lãnh thổ của Việt Nam đã từng lan rộng tới Sông Yangtze. Người Việt Nam đã chứng tỏ cách đây 30 năm rằng họ có thể vẫn còn tiến hành được một cuộc chiến tranh.

 

Lính Trung Quốc bị dân quân Việt Nam bắt 2-1079

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Cuộc chiến đã nổ ra năm 1979 bởi vì những mối quan hệ căng thẳng giữa Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Sô Viết và Trung Quốc. Hai chế độ cộng sản đang tranh giành ảnh hưởng đối với các quốc gia trong phe xã hội chủ nghĩa. Bắc Kinh đã không thể khoác lác được về bất cứ thành công nào: phạm vi ảnh hưởng của họ chỉ bao gồm có hai nước Albania và Kampuchea. (Đọc tiếp…)

Song Tinh Bất Dạ , truyện thơ lục bát của một tác giả Quảng Bình viết trước Truyện Kiều 100 năm

Tiến sĩ Nguyễn Văn Hoa
(Hội Nhà Văn Hà Nội )

 

Nhà văn Nguyễn Văn Hoa ( Hà Nội)

 

 

 

 

 

 1. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi xin giới thiệu một tác giả Quảng Bình có tập thơ Lục Bát có trước truyện Kiều của Nguyễn Du. Đó là tác phẩm (Truyện Song Tinh) của vị tướng- thi sĩ Nguyễn Hữu Hào thời chúa Nguyễn, là anh ruột của tướng tài Nguyễn Hữu Cảnh , quê ở Quảng Bình. Hai anh em Nguyễn Hữu Hào và Nguyễn Hữu Cảnh đã có công lớn trong việc mở mang bờ cõi nước Việt về phía Nam. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 16.06.2011

HOÀNG SA NỘ KHÍ PHÚ

Có bài phú chống Trung Quốc nhặt được trên trannhuong.com rất hay, khênh về đây để bạn đọc bốn phương cùng thưởng thức

HOÀNG SA NỘ KHÍ PHÚ

Kha Tụy Ly

….Như nước ta,
Một dải non sông, nam bắc chung giềng,
Trăm triệu anh em, trước sau như nhất.
Hoàng Liên, Tam Đảo, Hồng Hà, Cửu Long , là máu là xương,
Phú Quốc, Côn Sơn, Trường Sa, Hoàng Sa là da là thịt.
Máu xương đâu lẽ tách rời,
Thịt da dễ gì chia cắt?
Mà là liền tổ quốc phồn vinh,
Mà là khối giang sơn gấm vóc.
Người trăm triệu nhưng vốn một lòng,
Tim một trái dẫu nhiều sắc tộc!
Nữ nhi chẳng thiếu bậc anh hùng,
Niên thiếu cũng thừa người kiệt xuất.
Mười năm phục quốc, gươm Lê Lợi thép vẫn sáng ngời,
Ba lượt phá Nguyên, sông Bạch Đằng cọc còn nhọn hoắt.
Thùng! Thùng! Thùng! Liên hồi giục, trống Ngọc Hồi hực bước tiến quân.
Đánh! Đánh! Đánh! Luôn miệng thét, điện Diên Hồng, vang lời sát thát.
Ải Chi Lăng, Liễu Thăng chết còn lạc phách kinh hồn,
Sông Nhị Hà, Sĩ Nghị chạy còn đứng tim vỡ mật.
Thoáng thấy vó câu Thường Kiệt, Khâm Châu ngàn dặm, không còn bóng quỉ bóng ma,(1)
Chợt nghe tiếng sét Đống Đa,Quảng Đông toàn tỉnh chẳng tiếng con gà con vịt. (1)
Hùng khí dù dậy trời Nam,
Nghĩa nhân lại tràn đất Bắc: (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.06.2011

ĐÃ CÓ MỘT “THỊ TRƯỜNG BÁO CHÍ”

Ngô Minh

Thị trường báo chí hàng trăm năm nay đã rất sôi động ở tất cả các nước. Ở nước ta , 20 năm đổi mới, báo chí đã có sự phát triển đa dạng phong phú cả về số lượng và chất lượng.  Có thể nói ở nước ta đã hình thành một thị trường báo chí  ! Nói thị trường báo chí là nói là nói chuyện “lấy báo nuôi báo”, khác xa khái niệm thương mại hóa báo chícác cơ quan quản lý báo chí hay dùng để phê phán những tờ báo lá cải chuyên đưa tin giật gân, thất thiệt. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.06.2011

COI CHỪNG NHÀ BÁO DỞM !

     Ngô Minh

           Báo chí nước ta từ ngày đổi mới đến nay đã có những bước phát triển đáng mừng : sôi động hơn, phục vụ đắc lực công cuộc đổi mới đất nước và nhu cầu thông tin của nhân dân hơn !Điều đó đã được thực tế cuộc sống khẳng định.  Đội ngũ nhà báo đã trở thành “đội quân “ được xã hội nể trọng. Tuy nhiên, từ đó cũng xuất hiện những người giả danh nhà báo để lừa đảo thiên hạ, kiếm ăn, làm giàu. Đến độ khi nói đến nhà báo là các giám đốc , các thủ trưởng đều tìm cách lẩn tránh vì ngại bị làm phiền và “sợ” bị trấn lột!  Vậy làm sao trừ diệt bọn nhà báo dởm  ? (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.06.2011

THƯ SÀI GÒN 2

Anh Trần Nhương thân kính!

Lẽ ra thư này viết gửi anh ngay từ đêm 12/6/2011, nhưng tôi lại bận đi huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp, thăm vùng quê Định Yên, nơi có chợ Ma, làng nghề dệt chiếu cói và một thời từng nổi danh là Định Yên Quốc- một nước riêng của người theo đạo Hòa Hảo.

 

Mà thôi, chuyện này kể sau. Tôi đi miền Tây sông nước với tâm trạng bất an bởi nỗi ám ảnh vì trước đó tận mắt chứng kiến cháu sinh viên Phạm Nguyên bị đuổi bắt trên sân nhàthờ Đức Bà. (Đọc tiếp…)

Nhân 100 ngày Fukushima và 100 năm khoa học hạt nhân, GS chuyên ngành hạt nhân Phạm Duy Hiển đã có thư ngỏ gửi Thủ tướng Naoto Kan. Bee.net.vn xin đăng tải toàn bộ nội dung bức thư này.

Kính thưa Ngài Thủ  tướng Naoto Kan,

Tròn 100 năm trước, lần đầu tiên con người đã nhìn thấy những cấu trúc rất bé nằm sâu trong lòng vật chất gọi là hạt nhân nguyên tử. Ba mươi năm sau đó, một cơ cấu lò phản ứng ra đời chứng minh nguồn năng lượng vĩ đại trong cấu trúc ấy có thể khai thác và chế ngự được. Nhưng chưa đầy bốn năm sau, có trong tay thành quả lao động của hàng trăm nhà khoa học quy tụ quanh dự án Manhattan, quân đội Mỹ đã mang hai quả bom nguyên tử dội xuống Hiroshima và Nagasaki, chẳng phải để buộc nước Nhật của Ngài nhanh chóng đầu hàng, mà cốt phô trương sức hủy diệt bằng nguyên tử trong thời hậu chiến. Những nhà khoa học tài ba thai nghén ra hai quả bom ấy đã bất lực không ngăn được nhà cầm quyền gây ra thảm họa trên đất Nhật. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.06.2011

NGƯỜI VIỆT Ở MỸ QUA NHỮNG CON SỐ…


Ts. Nguyễn Đình Thắng

Theo kết quả kiểm tra dân số năm 2010 vừa được công bố, dân số người Việt đã tăng 38% (thêm 425,921 đầu người) trong thập niên 2000-2010. Số người Việt hiện ở Hoa Kỳ là 1,548,449, so với 1,122,528 năm 2000, 614,547 năm 1990, và 261,729 năm 1980. Vào thời điểm của cuộc kiểm tra dân số năm 1970 thì chưa có cộng đồng người Mỹ gốc Việt.

Trong 10 năm từ 2000 đến 2010, dân số người Việt ở mọi tiểu bang đều gia tăng, ngoại trừ thủ đô Hoa Thịnh Đốn thì giảm sút 18% — vì đời sống mắc mỏ, nhiều người Việt đã phải di dời sang tiểu bang Virginia và Maryland. (Đọc tiếp…)

Cuốn sách “100 NGÀY VƯỢT TRƯỜNG SƠN” là hồi ức quan trọng của cuộc đời Ngô Minh.

Cuốn sách khởi viết từ đầu năm 2009 nhân kỷ niệm 50 năm Đường Hồ Chí Minh lịch sử. Đã giới thiệu một số phần ngắn trên Tạp chí Nhà văn và blog ngominhblog.wordpress.com. Ngô Minh đã gửi bản thảo cho NXB Hội Nhà văn, nhưng họ bảo phải bỏ phần viết về đấu tố trong Cải cách ruộng đất, chuyện ông bố bị Đội bắn chết , họ mới in. Ngô Minh không chịu. Đành giới thiệu trên mạng để bạn đọc cùng chia sẻ “.

Bạn đọc theo dõi từng kỳ in sẽ được một cuốn sách hấp dẫn, xúc động.
(Đọc tiếp…)

Bìa sách "100 NGÀY VƯỢT TRƯỜNG SƠN"

BUỔI ĐẦU QUÂN NGŨ

1

Nhỏ con gầy guộc như tôi mà trở thành anh bộ đội chính quy là một ví dụ điển hình của chiến tranh nhân dân Việt Nam với lý thuyết mỗi người dân là một người lính. Tiểu đội chúng tôi trong đội hình Sư đoàn 325 khung vượt Trường Sơn năm ấy một phần ba là sinh viên Đại học Thương nghiệp Hà Nội. Đứa đang ôn thi tốt nghiệp như tôi , Dũng, Đảm. Đứa đang học năm cuối như Phan Văn Các, đứa học năm thứ hai như Thước, Trung.v.v..Có đứa học năm thứ 3, người Thái Nguyên là Nguyễn Quốc Tiến ở Trung đội 3… Chúng tôi nhập ngũ theo lệnh tổng động viên của nhà nước để thực hiện việc giải phóng miền Nam sau khi Hiệp định Paris sắp được ký kết. (Đọc tiếp…)


Bìa sách "100 NGÀY VƯỢT TRƯỜNG SƠN"                                 

  XUẤT QUÂN

         1

          Từ ga Phú Bình, đầu tháng 1-1973, chúng tôi hành quân bằng xe tải mới cứng, có  hai hàng  ghế, phủ bạt  bịt bùng. Đơn vị làm lễ xuất quân đàng hoàng lắm. Có cờ đỏ sao vàng, ảnh Bác Hồ. Có lãnh đạo huyện, xã đến dự. Đứng lẫn trong những người đến tiễn đưa sáng ấy, tôi thấy  có chị Đỗ Thị Quỳnh vợ Đảm, chân kiễng lên, tay cầm chiếc nón cũ vẫy vẫy, mắt đỏ hoe. Chúng tôi cố nở nụ cười tươi để làm yên lòng người đưa tiễn. Thế là chúng tôi  xa miền Bắc, xa Hà Nội không hẹn ngày về, xa cuộc đời sinh viên nhiều khát vọng.  Có lễ xuất quân đi B mà có người đưa tiễn là an ủi lắm. Những năm trước bộ đội đi B hoàn toàn trong bí mật. Đến khi chết, giấy báo tử cũng không ghi rõ địa điểm hy sinh mà chỉ  ghi là “chiến trường phia Nam”, “Chiến trường Nam Bộ”…, tội nghiệp lắm. (Đọc tiếp…)

    

Bìa sách "100 NGÀY VƯỢT TRƯỜNG SƠN"

  XUẤT QUÂN

5

     Trở lại chuyện ba tôi. Ông coi tử vi , đoán vận hạn , biết mình sắp bị nạn  lớn vào tuổi 53 , nên  ba rôi lặng lẽ lên xã xin đổi tên bốn anh em tôi là Ngô Văn Thạnh, Ngô Văn Thường, Ngô Văn Cường, Ngô Văn Cần ( ông là nhà nho, đặt tên con theo chữ nho,  Thạnh-Thường-Cường Cần - tức là gia đình khả giả là nhờ lao động  cần cù mà có )  thành Ngô Văn  Khương, Ngô Văn Ninh, Ngô Văn Khôi, Ngô Văn Phục . Khương – Ninh- Khôi- Phục – nghĩa là hai anh đầu  phải vững vàng chắc chắn để hai em sau tựa vào đó mà phục hồi danh dự gia đình.  Tôi tên khai sinh là Ngô Văn Cường, sau đổi là Ngô Văn Khôi . Khi đi học tôi  học theo bọn trẻ trong làng đổi thành Ngô Minh Khôi. Thế mà sau này thấy tôi học giỏi, thành đạt, là người  đi đại học đầu tiên của xã, lại  là nhà văn , nên mấy thế hệ con cháu của tám nhánh họ Ngô ở làng tôi sau này đa số đều  lấy chữ lót khi  làm  giấy khai sinh  là Ngô Minh…cả. (Đọc tiếp…)

Bìa sách "100 NGÀY VƯỢT TRƯỜNG SƠN"

LÊN TRƯỜNG SƠN

                1

              Từ sáng đó, chúng tôi bắt đầu đi bộ lội suối leo đèo dốc vượt Trường Sơn 100 ngày ròng rã . Từ Xuân Bồ , Lệ Thuỷ đi  vài tiếng là đến đường 15 lên Trường Sơn. Đây là đường hành quân của  rất nhiều  sư đoàn, trung đoàn  bộ đội, cũng như các đoàn  văn nghệ sĩ, kỹ sư đi Nam từ những năm 1960. Đường đất đá lô nhô, nhưng rộng, ô tô đi được. Chúng tôi lên đường 14 từ lúc trời chưa sáng rõ. Mới đi bộ vài tiếng mà đứa nào mồ hôi cũng vã ra như tắm. Hai vai tê dại. Đi đứng như thế này không biết có đủ sức vượt ngàn cây số núi đèo không đây. Gay thật. (Đọc tiếp…)

                       Bìa sách "100 NGÀY VƯỢT TRƯỜNG SƠN"              

  TRƯỜNG SƠN TÂY

              1

             Lên Trường Sơn tôi mới biết, đường Trường Sơn không phải là một con đường độc đạo mà có hai tuyến lớn là đường Đông Trường Sơn và Tây Trường Sơn. Mỗi tuyến đều có hàng chục con đường  ngang dọc chằng chịt, bí ẩn, không ai biết  hết được, không ai đi hết được. Có giao liên dẫn mới đi đúng đường, không  dẫn là sẽ lạc vào ma trận Trường Sơn không tìm được lối ra.  Hệ thống đường Trường Sơn phát triển thành một mạng lưới phức tạp của các con đường đất, đá rộng cho ô tô, cho người đi bộ và xe đạp thồ, bãi đỗ xe tải…. Cạnh đường còn có kho, bãi chứa hàng, doanh trại, bệnh viện, đơn vị phòng không bảo vệ…. Tất cả được nằm dưới rừng già, máy bay địch khó phát hiện được. Đó là một công trình (Đọc tiếp…)

           Bìa sách "100 NGÀY VƯỢT TRƯỜNG SƠN"

TRƯỜNG SƠN TÂY

4

          Hôm sau, đơn vị chúng tôi chuyển hướng sang Tây Trường Sơn. Cấp trên phổ biến, đi vào B2 phải  đi trên đất Lào mới nhanh và an toàn, còn đường Trường Sơn Đông thì vào A Lưới, Thừa Thiên,  Hiên, Giằng Quảng Nam…địch bắn phá ác liệt lắm, chỉ dành cho các đơn vị đi B1, B3. Thằng Chiến, Trung đội 3 , người Huế, bố tập kết đẻ hắn ở Hà Nội bảo rằng, từ Sông Hiền Lương vào Huế chỉ 100 cây số thôi. Từ A Lưới mà về Huế cũng gần trăm cây…Nó tiếc không đi đường ấy để nhìn bầu trời quê (Đọc tiếp…)

                       Bìa sách "100 NGÀY VƯỢT TRƯỜNG SƠN"

NGÃ BA ĐÔNG DƯƠNG

 

   1

  Qua hết tỉnh Salavan, Atopu là đến sông Sê kông thuộc tỉnh Sê Kông. Thằng Trung có mang theo cái bản đồ nhỏ, tra mới biết sông Sê Kông bắt nguồn từ Trường Sơn, chảy qua núi rừng Salavan, Atopu (Lào) , vào đất Cămpuchia đến Kracheh thì đổ vào sông Mê Công. Đây là biên giới Lào-Cămphuchia. Nghe trưởng Trạm giao liên nói, ở đây về vùng Bờ Y tỉnh Công Tum Việt Nam chỉ hơn ngày đường. Nghĩa là đây là vùng NGÃ BA ĐÔNG DƯƠNG. Từ đây đường rừng bằng phẳng hơn, rừng cây (Đọc tiếp…)

Bìa sách "100 NGÀY VƯỢT TRƯỜNG SƠN"

LỘC NINH ÁM ẢNH

 1

Đây là đất Lộc Ninh, tỉnh Bình Long ( bây giờ là Bình Dương), là điểm cuối của con đường  Hồ Chí Minh lịch sử . Rừng cao su xanh tốt bạt ngàn. Sư đoàn tân binh của chúng tôi đóng quân trong rừng su chờ bổ sung về các đơn vị chiến đấu. Nghe nói phải chờ mấy hàng tuần liền, nên  các tiểu đội phải làm nhà, đào hầm. Chúng tôi lại phân công nhau vào  rừng  đẵn gỗ, đi hái lá trung quân về lợp nhà. Lá trung quân lá thứ lá rộng bằng bàn tay, dài hơn gang tay có rất nhiều ở rừng miền Đông Nam Bộ. Lính ta hái lá trung quân về rồi chẻ tre kẹp thành từng tấm tranh để (Đọc tiếp…)

Bìa sách "100 NGÀY VƯỢT TRƯỜNG SƠN"

LỘC NINH ÁM ẢNH

3

        Tôi xin mãi, may nhờ có chị Phương Biên, trưởng phòng giáo vụ, một người Huế chính ngạnh, tôi mới  thỏa nguyện. Nhưng đến cuối năm 1976 trường mới cho về Huế. Và người  ta phân bổ tôi về công tác ở Công ty Thực phẩm Nông sản cùng chỗ với  Minh Tâm. Thế là chúng  tôi quen nhau, rồi bị “tiếng sét ái tình”. Hồi đó Công ty cử tôi và Tâm với mấy người nữa  sang ở một khu nhà công ty  mới mua. Đó là khu nhà Viễn Đệ ở cạnh chợ Bến Ngự bên sông An Cựu. Viễn Đệ  là một nhà tư sản (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 05.07.2011

100 NGÀY VƯỢT TRƯỜNG SƠN (VIII): VĨ THANH

Bìa sách "100 NGÀY VƯỢT TRƯỜNG SƠN"

VĨ THANH

          Sau một tuần nghỉ ở Lộc Ninh, ngày 30-4-1973, chúng tôi được phân về các đơn vị chiến đấu. Không hiểu  họ phân công thế nào mà cả tiểu đội tôi 10 người, thì 9 người về Trung đoàn độc lập 205. Chỉ một mình tôi về Trung  Đoàn 141, Sư đoàn 7. Thế là  chia tay nhau nước mắt ngậm ngùi trước khi bước vào cuộc chiến tử sinh . Bạn bè thương cho tôi “cô đơn” một mình khi về  đơn vị mới. Chia tay, tôi ôm lấy từng đứa bạn thân, nước mắt dàn giụa. Tôi tặng thằng Thước, thằng Trung mỗi đứa một quả lựu đạn mỏ vịt là vật bất ly thân  mà tôi mang suốt 100 ngày vượt Trường Sơn với lời dặn :” Hãy giữ mình em nhé…Hẹn gặp nhau ở Hà Nội…”. Tôi về Trung đoàn 141, gọi là Trung đoàn Ba Vì, tiểu đoàn 2, đại đội 7 trực tiếp chiến đấu ở đôi bờ sông Bé, vùng Thủ  Dầu Một, Phước Vĩnh, Dầu Tiếng, Đồng Xoài dọc đường 13. Tôi  tham gia chiến đấu mấy (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 05.07.2011

100 NGÀY VƯỢT TRƯỜNG SƠN (IX): PHỤ LỤC

Bìa sách "100 NGÀY VƯỢT TRƯỜNG SƠN"

PHỤ LỤC

                    Vài nét về tiểu sử NGÔ MINH

 Bút danh:  NGÔ MINH

Tên thật : Ngô Minh Khôi, sinh 10-9-1949 ( Kỷ Sửu)

Quê quán : Làng Thượng Luật, xã Ngư Thủy Trung , huyện Lệ Thủy , tỉnh Quảng Bình.

Chỗ ở hiện nay : 11/73- Phan Bội châu, TP Huế.

Email : ngominh31@gmail.com.    ĐT : 0985756355

Tốt nghiệp Đại học Thương nghiệp Hà Nội ( 9-1972).  Kỹ sư Thương phẩm học Hàng thực phẩm (Đọc tiếp…)

                                                                        Ngô Minh

          

Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ

Những nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đẩu, Đinh Kim Phúc.v.v.. đã viết rất nhiều, rất chính xác rằng lãnh hải Việt Nam trong đó có  quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đã được ghi rõ trong nhiều bản đồ cổ  của nước ta và thế giới từ 600 năm trước. Xin tóm lược các ý kiến của các tác giả : Hai bản đồ An Nam quốc (Hồng Đức 1490) và Vương quốc An Nam (Alexandre de Rhodes 1650) vẽ khá rõ biển Đông và hải đảo Việt Nam đương thời.  Hàng trăm bản đồ thế giới của các nước Tây phương vẽ, hầu hết trong đó đều có ghi nước ta với các đảo Hoàng Sa – Trường Sa mà họ gọi là Paracel hay Pracel.  Vua Lê Thánh Tông đã đưa Hoàng Sa, Trường Sa vào bản đồ Đại Việt  năm Canh Tuất (1490). Bộ sách Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư Đỗ Bá hiệu Công Đạo vào khoảng 1630 – 1653 gồm 4 quyển, trong quyển 1 có ghi: “Giữa biển có một dải cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm…” và có một bản đồ vẽ nhóm đảo thuộc (Đọc tiếp…)

TỪ “LỜI MẸ DẶN” ĐẾN TÌNH YÊU TỔ QUỐC

Quốc Toản

 

Tôi đọc “Ba phút sự thật” của Phùng Quán vào cuối năm 2006. Hôm nay tự dưng tôi lại nhớ đến ông, nghĩ về ông. Ai đó nói: Người ta chỉ thực sự chết khi không còn sống trong lòng người khác. Phùng Quán, tên ông sẽ còn mãi. Một con người vượt lên khổ đau để được sống an nhiên, tự tại. Để được chết trong sự yêu thương, tôn kính của tất cả mọi người. Ông không chết. Ông mãi là tấm gương cho thế hệ trẻ hôm nay về lòng yêu nước. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.07.2011

THƠ NGÔ MINH ĐÁNH TÀU NĂM 1979

MÙA HỒNG CHIÊM

 

                  Gương chiến đấu chống giặc Tàu xâm lược
                           của Hồng Chiêm, cô mậu dịch viên
                          ngành Thương nghiệp Quảng Ninh  2-1979

 

Mùa Hồng Chiêm

đẹp sắc thơm hương

trên tuyến đầu Tổ Quốc

nhân mùa xuân bát ngát trăm miền

 

mùa xuân ơi chẳng thể nào quên

ngày  quê hương bỗng  đen ngòm bóng giặc

mỗi thế đứng đều mang hồn dân tộc

mỗi trái tim hóa điểm chốt trung kiên

  (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.07.2011

ĐẠO LÝ CÔNG CHỨC

                Muốn quản lý xã hội nhất thiết phải có luật và quản lý theo luật. Nhưng luật pháp thì mỗi chính thể đều khác nhau. Có chính thể soạn ra luật , thực thi luật theo cách để bảo về  mình chứ không vì tự do dân chủ, không vì cộng đồng nhân dân rộng lớn. Cuộc sống phát sinh hàng ngày. Nhiều điều luật năm trước đúng, năm sau không còn phù hợp nữa.v.v..Cho nên, ngoài luật, ông cha ta còn phải dựa vào đạo lý để phân xử phải trái.  Trên thực tế, đã  xuất hiện rất nhiều hiện tượng các công chức nhà nước gọi là làm theo pháp luật, nhưng thực chất là “hành dân”, họ bắt dân phải lo hết thủ tục vô lý này đến thủ tục vô lý (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 27.07.2011

ƠI HỒN THIÊNG LIỆT SĨ TRƯỜNG SƠN

                   http://phienbancu.tuoitre.vn/Tianyon/Cache/Image/653/207653.jpg

Các anh  liệt sĩ ơi

Chiều nay Ngô Minh đến  Nghĩa Trang Trường Sơn

Thắp nhang kính cáo 10 vạn  linh hồn

Các anh có nghe lòng dân Bắc-Trung-Nam đang dậy sóng

Đuổi giặc Tàu xâm lấn biển Đông (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 28.07.2011

CÔNG AN MÀ TỐT

                                     Anh Nguyễn Văn Thanh là nghệ sĩ nghiệp ảnh có tiếng ở Huế. Vì cùng hoạt động văn nghệ , tôi quen biết anh hơn chục năm nay, lại sáng nào đi bộ thể dục cũng gặp nhau, nhưng không hề biết anh là công an. Một hôm chúng tôi cùng ăn sáng tại quán cháo gạo lức -cá bống ở chợ Bến Ngự, anh Thanh ăn ít, cáo về nhà trước. Khi anh đi xa rồi, bà Thi bán cháo mới bảo tôi :” Ông nớ là ông Thánh đó !”. Tôi ngạc nhiên hỏi :” Sao lại gọi ông Thanh là ông Thánh?”. Bà con cùng ăn cháo bảo rằng :” Ông ấy là công an mà tốt”. .  Từ đó tôi mới biết anh Thanh trước đây là thượng tá công an, trưởng phòng cảnh sát giao thông tỉnh, về hưu.“Thế công an là xấu sao ?’- Tôi hỏi lại. Bà con  tranh nhau kể :”  Thời ông Thanh làm công an, bà con buôn bán lô tạm lấn ra đường, bày hàng lên lề cầu Bến Ngự, ông bao giờ cũng  kiên trì thuyết phục. Khi có đoàn “ông cốp” Trung ương về, xe còi hụ trước hụ sau, anh Thanh thông báo sớm cho bà con dọn hàng vi phạm lề đường, anh còn giúp bà con dọn hàng. Anh  không bao giờ bưng cả rổ rau, rổ trứng, cá (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 27.07.2011

HÃY ĐẾN ĐÂY !

                            Gửi các đại biểu Quốc hội khoá 13

Hãy đến đây

Đến đây

Nào

Các đồng chí đầy tớ

Hãy đến đây

Dù chí ít vài giây

Với Nhân dân mắt nhìn thẳng mắt

Cùng Nhân dân mở to nghìn mắt

Nhìn nó đạp mặt dân

Đạp mặt dân (Đọc tiếp…)

Bạn đọc kinh mến. Bức tranh miêu tả cuộc chiến đấu bảo vệ đảo Gạc Ma của chiến sỹ Hải quân Việt Nam ngày 14-3-1988 được treo trang trọng tại Phòng Truyền thống của Vùng 4 Hải quân. Nhặt được bài báo  mô tả cuộc chiến đấu chống Trung Quốc trên Đảo Gạc Ma, Trường Sa năm 1988, Ngô Minh xin  tải về đây để bà con cùng chia sẻ với chiến Hải Quân của chúng ta. Những người trình đọ tác chiến không thua kém gì lính Trung Quốc, nhưng trong cuộc chiến đấu đó  họ được lệnh trên “phải kiềm chế, không được nổ súng”, nên họ đã bị bắn, bị đâm lê sau lưng, bị chìm tàu, bị bắt một cách oan uổng. Trận chiến đó chúng  64 chiến sĩ ta đã nằm lại với biển Trường Sa

     (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 03.08.2011

NHÀ THƠ HẢI KỲ ĐI THẬT RỒI !

                                                   Ngô Minh

 

             Bạn đọc thân mến. Thế là nhà thơ Hải Kỳ tài hoa của chúng ta đã đi thật rồi ! Đó là ý nghĩ đau nhói tâm can khi Ngô Minh rưới chén rượu quốc lủi Quảng Bình lên nấm mộ nhà thơ vừa mới đắp xong trên vuông đất phía Tây phường Bắc Lý. Hai ngày ba đêm linh cửu Hải Kỳ quàn ở phòng khách gia đình , nơi mà  sinh thời Hải Kỳ hay  uống rượu với bạn bè, nến ngang nghi nhút, vợ con, cháu nội , anh em ruột thịt luôn ngồi bên khóc lóc thương tiếc, bạn bè thân thuộc, bà con khối phố đến viếng tập nập, ai cũng khóe mắt ngấn lệ, rồi ngày ba bữa cúng cơm, có sư thầy tụng kinh niệm Phật, nhưng chưa ai nghĩ là Hải Kỳ đã vĩnh viễn đi xa. Thế mà giờ đây, khi những người thân cuối cùng lên xe rời nghĩa trang, Hải Kỳ chỉ còn một mình dưới ba thước đất …Hải Kỳ đi thật rồi ! Hải Kỳ viết về mẹ : Bây giờ tôi đã là tôi . Mẹ thành nấm đất cuối đồi sim mua. Bây giờ Hải Kỳ cũng là nấm đất  cuối đồi sim mua cô độc, lạnh lùng! (Đọc tiếp…)

Một hang động lồng lộng giữa rừng già Phong Nha-Kẻ Bàng (Quảng Bình) đang gây sự chú ý lớn của nhiều người. Đó là hang bảy tầng, một “kỳ quan” do bàn tay con người xây dựng từ những năm tháng của chiến tranh.

Đi giữa đường kín

Người đi rừng vẫn kể cho nhau nghe hang động bảy tầng có nhiều dấu tích của bộ đội trong đó. Nhưng sự đặc biệt của nó là có sự can thiệt của bàn tay con người để biến một hang động cao cả trăm mét thành bảy tầng hang khác nhau là một kỳ công dưới bom đạn cách đây ngót hơn 60 năm. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 06.08.2011

THƠ TẶNG HẢI KỲ

Thơ Ngô Minh                                      

 

BẠN ƠI

          Thương tặng  Hải Kỳ

 

Bạn giờ như nộm nang tre

khẳng khiu cọng cỏ cuối hè lắt lay

moocphin hai ống một ngày

vợ cơn sấp ngửa tìm thầy thuốc thang

đẳng trương từng giọt thời gian

ngắn dần cõi tạm tấc gang chia lìa…

Bạn tôi cười : Rượu còn kia

không cụng ly được thì chia ánh nhìn

ôi hai con mắt đa tình

một thời, nay vẫn lung linh với đời

vẫn thơ với biển với người

thều thào bạn đọc như lời đất rên

Bạn ơi, no đói sang hèn

Một lần là hết , nhớ quên bời bời

điếu văn rời cõi viết rồi

chỉ còn thơ bám hồn người

không đi…

                     Đồng Hới, 14-7-2011 (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 10.08.2011

THÔNG BÁO THỨ 2 VỀ HỖ TRỢ QUỸ PHÙNG QUÁN

             Kính gửi: Quý độc giả  ngưỡng mộ nhà thơ Phùng Quán

  Ngày 8/8/2010, anh Đỗ Phú Hải, Đạo diễn Đài Truyền Hình Thành phố Hồ Chí Minh , sau khi ký hợp đồng bản quyền với cháu Phùng Đỗ Quyên về việc làm phim truyền hình nhiều tập “Tuổi thơ dữ dội” , đã gửi hỗ trợ Quỹ Phùng Quán 1.000.000 đồng. Ngày 11/8/2011, anh Nguyễn Thanh Khiết, giám đốc Công ty Kiểm toán Asco, Hà Nội đã chuyển hỗ trợ Quỹ Phùng Quán 2.000.000 VND.

Như vậy cho  đến nay, Quỹ Phùng Quán đã nhận được sự hỗ trợ của những “Mạnh thường quân” sau đây :

1- Nhà thơ Bành Thanh  Bần, Hà Nội          5 .000.000 VNĐ

2- Ông chủ đỏ Lê Minh Ngọc, Sài Gòn         5.000.000 VNĐ

3- Ông Đỗ Đức Trích, Vũng Tàu                   3.000.000 VNĐ

4. Nhà văn Ngọc Trai, Hà Nội                        3.000.000 VNĐ

5. Đạo diễn Đỗ Phú Hải, TP HCM                 1.000.000 VND

6.Nguyễn Thanh Khiết, Hà Nội                     2.000.000 VND

Rất cảm ơn những tấm lòng tin yêu đối với nhà thơ Phùng Quán

THƯỜNG TRỰC QUỸ PHÙNG QUÁN KÍNH MONG CÁC NHÀ HẢO TÂM TIẾP TỤC HỖ TRỢ ĐỂ  QUỸ PHÙNG QUÁN LÀM ĐƯỢC  NHIỀU VIỆC CÓ ÍCH CHO ĐỜI.

Liên lạc : Ngô Minh, ĐT : 0985 756 355

Kính cáo

Tình yêu Phùng Quán – Bội Trâm là mối tình lớn gắn liền với thăng trầm thời cuộc. Tôi quen thân gia đình anh Phùng Quán – chị Bội Trâm đến nay độ 30 năm rồi. Anh chị coi tôi như đứa em trong nhà, có chuyện gì cũng kể, kể cả chuyện yêu nhau thời trẻ, chuyện các cô mê thơ Phùng Quán. Từ ngày anh Phùng Quán qua đời, bao nhiêu bài viết của anh Quán hay những bài các nhà văn nhà báo viết về anh Phùng Quán, chị Bội Trâm đều gửi vào Huế cho tôi cất giữ. Đối với tôi, Phùng Quán – Bội Trâm một tình yêu bất chấp tai ương dâu bể để tạo dựng hạnh phúc của riêng mình.

Bà Bội Trâm

Bà Bội Trâm

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.08.2011

LÂM THỊ MỸ DẠ – CHO ANH TỰA VÀO EM

      Đến năm 2011 này, đã 13 năm nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ vừa sáng tác thơ, nhạc, vừa chăm nuôi người chồng, một nhà văn lớn,  bị bạo bệnh phải nằm một chỗ, vất vả nhọc nhằn hơn nuôi con mọn. Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường trong chuyến  đi dạy “cua” về Văn hóa Huế ở Đại học Duy Tân, Đà Nẵng, bị tai biến mạch máu não tại khách sạn Faifô đêm 14-6-1998, hôn mê hai tháng liền. Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ , lúc đó đang ở Hà Nội,  chuẩn bị bay đi Mỹ, dự hội thảo văn học do Trung tâm William Joiner ở thành phố Boston, Mỹ mời. Nghe tin chồng bị nạn đang cấp cứu ở Bệnh viện Đà Nẵng, chị quyết định  bỏ chuyến đi Mỹ,  tức tốc bay về Đà Nẵng, và bên chồng như một “điều dưỡng viên” từ ấy tới giờ. Nữ thi sĩ vừa là Người Vợ  tần tảo, vừa là “Người Mẹ” bao dung, săn sóc , đút mớm cơm cháo, thuốc men, xoa bóp, tắm rửa, vệ sinh cho chồng. Trăm thứ việc nặng (Đọc tiếp…)

                                                               Ngô Minh

              Nhờ bạn đọc comment trên blog Quà tặng xứ mưa mà tôi biết được anh Huy Thắng có bài viết trên tờ Văn nghệ Công An ngày 17/8/2011 ( và  in lại trên lethieunhon.com ) về bài viết “ Phùng Quán- Bội Trâm, tình yêu bấp chấp tai ương” của tôi. Bài viết này tôi in trên báo Đang yêu  của Nguyễn Quang Thiều và trên  blog của tôi. Trước hết  tôi cám ơn anh đã đọc bài viết của tôi và góp ý. Tôi định không trả lời, vì những điều “trao đổi”  của anh không tập trung vào chủ đề chính của bài  viết, mà chỉ những điều vụn vặt. Nhưng tôi nghĩ  anh đã có bài trên công luận thì mình cũng trả lời lại cho bạn đọc rõ, khỏi hiểu nhầm. Tôi xin đi vào từng điểm mà anh trao đổi

Phùng Quán và Ngô Minh tại Đại hội Nhà văn VN lần thứ IV, 1989

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.08.2011

“Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà”

Phạm Xuân Nguyên

Nếu hôm nay người ta không dám ca ngợi anh hùng dân tộc của mình trên đất nước mình, thì ngày mai người ta sẽ thóa mạ ai?

Nếu hôm nay người ta đục bỏ lời của Hồ Chí Minh, thì ngày mai người ta giữ lại cái gì?

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 26.08.2011

ĐẠI HỘI VIII HỘI NHÀ VĂN NGÂM KHÚC

Nguyễn Xuân Diện

Khúc Một: Tiền Đại hội

2.8.2010

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi

Khách làng văn nhiều nỗi truân chuyên.

Xanh kia thăm thẳm từng trên,

Vì ai gây dựng cho nên nỗi này!

Khắp các web dở hay mọi nhẽ

Khói thuốc lào vần vũ quán văn!

Khắp nơi tán chuyện văn nhân,

Nửa đêm tâm sự xa gần niềm riêng.

Gọi điện thoại chẳng kiêng khuya khoắt,

Nhấc máy lên là ắt cà kê,

Nhỏ to mấy chuyện tỉ tê,

Xa gần rồi cũng lại về bầu ai?

Đường rong ruổi lưng gài cung tiễn

Buổi tiễn đưa lòng bận thê noa.

Bóng cờ Hữu Thỉnh xa xa

Sầu lên ngọn ải oán ra cửa phòng!

. (Đọc tiếp…)

( Nguồn : http://baomai.blogspot.com)

Theo tài liệu được công bố trên “TẬP CHÍ CÁC VẤN ĐỀ CHIẾN LƯỢC” của Ấn Độ phát hành ngày 15/4/2009: Xin trích một vài điểm quan trọng, phản ảnh một số vấn đề thuộc tư duy chiến lược của Trung Quốc qua bài phát biểu của Trì Hạo Điền – nguyên Bộ Trưởng Quốc Phòng Trung Quốc – tại Hội nghị các tướng lãnh bàn về “CHIẾN LƯỢC CHIẾN TRANH TƯƠNG LAI” được tổ chức vào năm 2005. Xin trích đoạn liên quan đến nước Mỹ:

I. PHẢI TIÊU DIỆT HOA KỲ BẰNG VŨ KHÍ SINH HỌC:

Số phận lịch sử đã quyết định rằng Trung Quốc và Mỹ sẽ không khỏi đối đầu nhau trên một con đường nhỏ và chiến đấu chống lại nhau! Mỹ, không giống như Nga và Nhật Bản, Mỹ chưa bao giờ làm tổn thương Trung Quốc và cũng giúp Trung Quốc chống lại cuộc chiến đấu chống Nhật Bản. Tuy vậy, Mỹ tất yếu sẽ là trở ngại, trở ngại lớn nhất! Về lâu về dài sẽ là đấu tranh một mất một còn. (Đọc tiếp…)

Ngô Minh

Nhà xuất bản Trẻ vừa ấn hành tập chân dung văn nghệ sĩ viết theo lối văn chương độc đáo của nhà văn Nguyễn Quang Lập có tựa là Bạn văn. Cuốn sách dày 456 trang gồm 74 mục mà Nguyễn Quang Lập viết trong hai ba năm nay. Sách phác thảo gần 100 chân dung văn nghệ sĩ quen biết của nhà văn , có người đã mất, có người đang sống và viết trên khắp cả nước. Đây là những bài đã được in trên báo Tuần San Thanh niên, chuyên mục Giai thoại . Sau đó in  trên blog Quê choa của Bọ Lập trong chuyên mục Bạn văn.  Blog Quê choa của Nguyễn Quang Lập là một trong ít blog nóng nhất trên thế giới mạng hiện nay. Chỉ mới 3 năm, từ 2009 đến nay, riêng trong mạng wordpress, đã có gần 12 triệu lượt người truy cập của 160 quốc gia trên thế giới. Một trong entries của BlogQuêchoa lôi cuốn (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 30.08.2011

THƯ GỬI ANH VŨ DUY THÔNG

Nhà thơ Trần Trương

Nc: Nhà thơ Trần Trương và Vũ Duy Thông đều là bạn đồng nghiệp của tôi. Cả hai ông đều hạ cánh cả rồi. Ông Trương hồi hưu về viết những bài thơ nhân tình thế thái. Ông Thông hồi hưu nhưng vẫn vung roi. Thế mới biết ở đời biết mình khó lắm thay

Anh Thông thân mến! Vừa qua tôi có đọc  bài viết của anh trên báo HNM  tôi thấy cách thể hiện “Lòng yêu nước” của anh hơi quá mức so với trình độ, chức vụ cũng như học hàm học vị của anh. Sự “lên gân” và cách nói có thể là thiếu lễ độ ấy rất gây phản cảm cho bạn đọc.Cái Oai của anh cũng chỉ là cái chức Vụ trưởng một thời mà thôi,ngày xưa biết bao vị công hầu, khanh tướng lúc về hưu cũng có bao giờ nói “mạnh” như anh đâu.Người ta biết đến anh ở những bài thơ 5 chữ ấy, chứ họ không biết anh làm chức vụ gì, vì thế nếu cứ ngỡ “Cái ghế” là vị thần cứu tinh cho danh giá của mình thì thật là nhầm lẫn, nhầm lẫn giữa cái “Đế”(gọi chệch đi (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 31.08.2011

LỤC BÁT TẶNG ĐỘC TÀI GADHAFI

       

Lỗ chỗ vết đạn trên tranh vẽ ông Moammar Gadhafi trên tường một tòa nhà ở Tripoli. Ảnh: AP


Gadhafi

Gadhafi

Giờ thì chui lủi còn gì mà mong

Quyền uy một thưở tang bồng

Còng tay, treo cổ ai không theo mình

Đôla, vàng tấn  kìn kìn

Túi tham càng chật dân tình càng suy

 

 

Gadhafi

Gadhafi

Nhơn nhơn khắp chốn  Á, Phi vẫn còn

độc tài đen độc tài son

miệng hô dân chủ tay chôn sống người

phủ vương, dinh thự ngút trời

mua nhà ngoại quốc vẫn chơi hầm ngầm

tự do  ngôn luận vô ngần

chỉ độc tài  nói, muôn dân ngậm mồm

 

 

Gadhafi

Gadhafi buồn

Giá mà …

ta biết chẳng còn đế vương

thì ta giết sạch bốn phương

40 năm ấy súng bom thiếu gì

 

 

Gadhafi

Gadhafi

Có dân mới có những gì cho ngươi

Kiếp sau

có được làm NGƯỜI…

 

31/8/2011

Ngô Minh

                                                                               Ngô Minh

             Mấy tuần qua các báo  viết, báo mạng, các trang Web, blog có nhiều bài về việc xét giải thưởng Nhà nước GTNN), giải thưởng Hồ Chí Minh (GTHCM) đang diễn ra ở xứ ta.Tài năng làm nên giải thưởng, chứ  ngàn giải thưởng không làm nên tài năng. Có người suốt đời chẳng có giải thưởng nào trong nước, nhưng  họ được bao thế hệ người Việt mến mộ, tôn vinh, tìm đọc, tìm nghe hàng ngày. Nhưng đã có giải thưởng thì cũng nên bàn  đôi chút về cái giải ấy , sao cho nó chính danh.  Nhiều nhà văn như Sơn Tùng, Nguyên Ngọc, Nguyễn Khoa Điềm, Sơn Nam lần lượt xin rút khỏi danh sách đề cử. Việc rút tên khỏi (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 08.09.2011

NGƯỜI BÁN MẶT NẠ

Ngô Minh

Có một mùa trung thu buồn. Vì Tết trung thu đúng vào dịp cuối tháng, lương cạn. Hồi đó thời bao cấp, trên phố Huế hay bán các loại mặt nạ Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới…bắt chước theo phim Tây Du Ký của Tàu. Buổi chiều tôi đi làm về. Đạp xe trên đường Lê Lợi bên Sông Hương, gặp người bán mặt nạ đen nhẻm. Anh bán mỗi cái mặt nạ 3 đồng. Trong túi tôi lúc đó chỉ có 5 đồng, nếu mua hai cái cho hai đứa con trai thì thiếu mất một đồng. Mà không đủ hai cái thì hai đứa trẻ sẽ giành nhau. Tôi năn nỉ mãi, nhưng nhất định ông không bán. Thế là tôi lẽo đẽo dắt xe đạp theo ông tới hoàng hôn, tận cuối thôn Vỹ Dạ. Lúc này (Đọc tiếp…)

 HỒ TRUNG TÚ

Trận Hải chiến Trường Sa – Gạc Ma xảy ra ngày 14/3/1988 có chín người sống sót sau cuộc thảm sát giữa một bên tay không giữ đảo và một bên là súng máy phòng không 37ly cùng pháo 105ly bắn thẳng vào vòng người tay không giữ đảo. Chín người bị bắt, cùng sống, cùng chiến đấu để thể hiện phẩm chất người lính Hải quân Việt Nam suốt 4 năm trại giam quân thù, nhưng sau ngày trao trả năm 1992 đến nay họ mới lại gặp mặt. Thực ra là chỉ tám vì một người đã mất vì ung thư. Cảm giác tức ngực như thế nào khi đạn 37 ly cắm xuống nước; Dương Văn Dũng và (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 14.09.2011

BA THẾ KỶ HÀ TIÊN ĐẤT VIỆT

                                                                   Ghi chép của Ngô Minh

 

Đoàn văn nghệ sĩ Huế trước đền thơ Mạc Cửu

Lâu nay tôi chỉ lỏm bỏm biết Hà Tiên là vùng đất phên dậu phía Tây Nam Tổ Quốc chịu nhiều cuộc tấn công của ngoại quốc; hay qua thơ Đông Hồ: Mối sầu khôn dãi cùng trời đất / Chén rượu đành khuây với nước non. Tôi không ngờ đây là mảnh đất văn vật về với  Đại Việt đã 303 năm trước .

          Vừa đến Thị xã Hà Tiên, chúng tôi đã đi xe lôi đến thăm Nhà lưu niệm cố vợ chồng thi sĩ Đông Hồ- Mộng Tuyết, cặp uyên ương Hà Tiên, cùng nổi danh văn chương thơ phú một thời. Nhắc đến Đông Hồ -Mộng Tuyết lại nhớ sách (Đọc tiếp…)

                            

Sau một thời gian chuẩn bị, sáng ngày 17/9/2011, UBND Phường Thủy Dương, thị xã Hương Thủy , tỉnh Thừa Thiên Huế đã trao thưởng 41 em học sinh xuất sắc của các trường tiểu học, PTCS trong phường năm học 2010 -2011 để động viên các em bước vào năm học  mới. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.09.2011

XUẤT BẢN TUYỂN TẬP LÂM THỊ MỸ DẠ

    altĐầu tháng 9-2011, nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ vừa cho ra mắt tuyển tập dày 570 trang, khổ 14,5 x 20,5 cm tại công ty TNHH in Hà Anh, do Nhà xuất bản Hội nhà văn cấp giấy phép, Hội nhà văn Việt Nam  tài trợ kinh phí . Nhà thơ tự bỏ thêm  tiền in thêm 100 cuốn.

Tuyển tập gồm có năm phần:

Phần 1: Khoảng trời, hố bom.

Phần 2: Người tình hư ảo.

Phần 3: Ta thành trái mà hồn còn như lá.

Phần 4: Mẹ và con

Phần 5: Cánh buồm ngũ sắc

Tuyển tập có trên 200 bài thơ chia làm các chủ đề và giai đoạn sáng tác của nhà thơ.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.09.2011

CON ĐƯỜNG MANG TÊN PHÙNG QUÁN

                   

                                                                          Ngô Minh

Trích văn bản đặt tên đường

         Tin vui cho những người làm thơ và  yêu mến  và ngưỡng mộ Phùng Quán trong và ngoài nước:  Tên của nhà thơ đã được đặt cho một con đường trên chính quê hương anh- Phường Thủy Dương, thị xã Hương Thủy.

          Ngày 26/8/2011, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã ra quyết định số  30 /2022/QD-UBND do ông Phó chủ  tịch Ngô Hòa ký “về việc điều chỉnh và đặt tên đường tại các phường của thị xã Hương Thủy, đợt 2 năm 2011”. Theo quyết định này thì có 2 tên đường được và 18 tên đường được đặt tên mới ở các phường Phú Bài, Thủy Dương,  Thủy Phương. Trong các tên đường mới,  có 2 con đường mang tên chú cháu ruột Phùng Lưu và Phùng (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.09.2011

Kinh tế không người lái

Ngô Nhân Dụng

Nếu người dân Việt Nam ai cũng thông minh, hiểu biết như các đại biểu Quốc hội của họ thì Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng sẽ chẳng phải lo lắng gì về kinh tế cả. Mạng Vneconomy mới dẫn ra mấy lời tuyên bố của một ông đại biểu Sài Gòn tên là Đỗ Văn Đương. Theo Vneconomy, ông Đương phát biểu như thế này: “Tôi không nghĩ lạm phát ở nước ta cao nhất khu vực… Theo tôi phải xem lại chỗ này. Tôi đi các nước thấy giá tiêu dùng đắt đỏ, một đĩa rau muống xào ở Thượng Hải tới 200 nghìn (đồng Việt Nam), nhưng ở Việt Nam chỉ mấy chục (nghìn)… Cần xem lại đánh giá chỉ tiêu lạm phát này xem có đúng không, theo tôi (lạm phát ở Việt Nam) không phải là cao nhất”.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 27.09.2011

KHÁNH TÂY THI SĨ

 

Phan Hồng Khánh

…Và tôi thấy có lần đảo khóc

Vì sự cô đơn giữa biển và trời

Tôi cứ tưởng đảo lầm lì gan góc

Có ngờ đâu đảo cũng yếu lòng thôi…


Không biết tôi đọc được ở đâu bài thơ Đảo hoang của Phan Hồng Khánh và thầm cảm ơn tác giả đã nói hộ lòng mình trong những tháng ngày cam go nhất của gia đình tôi. Năm chị  em tôi là con của một địa chủ quy oan bị bắn trong Cải cách ruộng đất năm (Đọc tiếp…)

 Ông khóc những người bay không có chân trời

Tôi khóc ông

Nước mắt ta là giọt máu hồng

Nhỏ cùng nhân thế

Nhỏ vào vũ trụ

Vẽ chân trời

Thành trái tim chung

Nguyễn Thanh Giang

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 01.10.2011

THẾ NÀO LÀ HIẾN PHÁP DÂN CHỦ, TỰ DO ?

HIẾN PHÁP PHẢI LÀ HIẾN PHÁP DÂN CHỦ BẢO VỀ QUYỀN CON NGƯỜI.

Hiến pháp là của một dân tộc, một quốc gia trường tồn với thời gian, Hiến pháp không phải của bất cứ đảng phái nào. Đưa ý chí của đảng phải vào Hiến pháp sẽ tạo nên những bản hiến pháp phiến diện, chỉ dân chủ đối với đảng phái đó, mà không dân chủ với toàn dân, với các đảng phái khác. Nên ở Mỹ khi đảng Dân Chủ, khi đảng Cộng hòa thay nhau cầm quyền, nhưng Hiến pháp Mỹ thì chỉ có một. Nhân Quốc hội đang có chủ trương sửa đổi hiện pháp năm 1992, chúng tôi xin tóm lược 2 bản hiến pháp dân chủ tiêu biểu trên thế giới là Hiến pháp Mỹ 1787 và Hiến pháp nước Công hòa Pháp 1958 để bạn đọc tham khảo :

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 03.10.2011

CHUYỆN VUI: THẦY ĐỪNG TU

Thầy đừng tu

Một nhà sư đi khất thực giữa trưa hè oi bức. Khát quá, thầy bèn vào nhà bên đường xin nước uống. Cô gái trẻ vội mang chai nước lọc ra nhưng quên mang ly. Vì khát quá nên vị sư kia cầm chai lên tu ừng ực. Cô gái thấy thế ái ngại nói:
– Thầy đừng tu, để em lấy…
Vị sư kia vội trả lời:
– Thôi, em đừng lấy. Để thầy tu…
-Xin thầy cứ tu, em vẫn lấy.
Thầy vui mừng đáp:
– Nếu em nhất định lấy, Thầy bỏ tu.

Bú sữa mẹ
Hai chú nhóc nằm kế nhau ở nhà thương nhi đồng, tán gẫu cho đỡ buồn:
– Đằng í bú sữa mẹ hay sữa bình?
– Tớ bú sữa bình .
– Sữa bình có ngon không ?
– Cũng ngon, nhưng phiền cái là khi ngọt khi lạt, lúc nóng lúc nguội, có khi nóng phỏng miệng luôn đó, thế đằng í bú sữa gì ?
– Tớ thì bú sữa mẹ .
– Thế sữa mẹ có ngon không ?
– Ngon lắm, sữa lúc nào cũng ấm đều đều, không ngọt không lạt, bình sữa lại đẹp nữa nhưng thỉnh thoảng nó có mùi thuốc lá hay whisky khó chịu khôn tả !

Thiếu sữa iốt!
Một anh chàng có vợ mới sinh. Anh viết thư về khoe với mẹ :
“Vợ con đã sinh một đứa con trai, nhưng vì vợ con không có sữa nên đã phải nhờ một bà da đen cho bú. Vì thế nên đứa bé có tóc xoăn và da đen như người châu Phi….”
Bà mẹ ngay lập tức viết thư cho con trai: “Con trai yêu quí, mẹ rất mừng khi nhận được thư con. Ngày xưa khi mẹ sinh con mẹ cũng không có sữa nên đã phải cho con bú sữa bò, vì thế nên bây giờ con vừa ngu vừa có sừng……”

Bác sĩ giỏi
Bác sĩ cẩn thận kiểm tra sức khoẻ và phát hiện thằng bé bị thiếu cân khá nhiều do suy dinh dưỡng.
Bác sĩ hỏi: “Hàng ngày chị cho cháu bú sữa mẹ hay bú bình ?”
– Sữa mẹ ! – Người phụ nữ đáp.
– Vậy thì chị cởi áo ra ! – Bác sĩ yêu cầu.
Người phụ nữ làm theo và bác sĩ khám tỉ mỉ, xoa nắn trên, dưới, xoắn phải, xoắn trái một hồi. Ra hiệu cho người đàn bà mặc áo vào, ông bác sĩ kết luận: “ Hèn gì thằng bé suy dinh dưỡng. Chị chẳng có chút sữa nào cả !”
– Tôi biết ! – Thiếu phụ công nhận – Nhưng tôi là bà ngoại của nó mà !

Đăng bởi: Ngô Minh | 05.10.2011

XUÂN SÁCH- CHA TÔI

CHA TÔI -XUÂN SÁCH
Ngô Nhật Đăng
KỲ 1
Hôm nay tròn 30 ngày cha tôi rời cõi tạm,tôi vẫn giật mình vì cứ ngỡ ông vẫn còn đâu đây.Dù rằng những ngày cuối cùng ông nằm trên giường bệnh tôi biết không thể níu kéo ông ở lại thêm nữa.Mười ngày cuối cùng ông không chịu tiêm,uống thuốc,không chịu ăn(phải dỗ dành rất lâu ông mới ăn một chút) và nhất định không chịu nói gì nũa chỉ cười và giả vờ ngủ.Khi chúng tôi đưa ông vào bệnh viện với ý định kiểm tra phổi thì ông bị hôn mê luôn,bác sỹ nói với tôi : Hỏng hết rồi anh ạ tim,gan,phổi,thận vv….tức là lục phủ ngũ tạng không còn gì nữa.Tôi chóang váng, nó ngược hòan tòan với kết quả khi bố tôi ra viện trước đó một tháng.Anh ta còn nói thêm “em không hiểu tại sao lượng Natri trong người cụ nhiều thế,anh có thể đưa cho em xem tất cả các đơn thuốc và phác đồ điều trị của cụ từ trước đến giờ được không?”. Để mà làm gì,tôi nghĩ.Ngay đêm đó bố tôi qua đời.Hôm sau khi làm thủ tục tôi phải viết một tờ giấy đại ý : Cám ơn bệnh viện đã tận tình cứu chữa và xin không khám nghiệm tử thi , họ còn nói thêm anh khai chính xác ngày sinh, hộ khẩu cho cụ để còn làm chế độ vì “Giấy chứng tử”chỉ cấp một lần. (Đọc tiếp…)

Đàn Âm hồn – công trình tưởng niệm liệt sĩ cấp quốc gia – tại sao không được phục sinh!

CÙ HUY HÀ VŨ

Kinh đô thất thủ và Đàn Âm hồn
Ngày ấy cách đây tròn 2 năm, quay lại thành phố Huế cùng với Nguyễn Thị Dương Hà vợ tôi gốc Thành Nội, sau khi thăm đồi Vọng Cảnh trong bối cảnh của cuộc “nội chiến” vì sự tồn vong của di sản văn hóa này vừa kết thúc, tôi thấy hầu như trên hè phố nào cũng bày bàn cơm cúng. Hỏi ra mới biết đó là “Lễ cơm chung” cúng vong hồn chiến sĩ và đồng bào hy sinh trong những trận đánh cuối cùng chống quân viễn chinh Pháp với sự tham gia của 12.000 quân Triều đình và 1.200 khẩu thần công do Tôn Thất Thuyết chỉ huy trong ngày 5/7/1885 (23/5 Ất Dậu) – ngày Kinh đô Huế thất thủ trước quân xâm lược.
(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 11.10.2011

THƠ NGHIÊM TRỌNG THẬT

Bạn đọc thân mến. Vì blog của Ngô Minh bị lỗi, không post được ảnh cả nửa tháng nay, nên các bạn chịu khó xem chữ vậy.

—————————————————————————————–

THƠ NGHIÊM TRỌNG THẬT !

Ngô Minh

Cơn bão số 6 mạnh cấp 14, 15 đang ngấp nghé ngoài biển Đông, thì ở Huế , đoàn nhà văn chúng tôi thấp thỏm toan tính đi dự Hội thảo Thơ hiện đại nhìn từ miền Trung. May mà nó tan thành áp thấp. Hay là nó ngại các nhà thơ miền Trung đang “ngựa xe như nước” đến Đồ Sơn ? Nhà văn Tô Nhuận Vĩ nhắn tin cho tôi :” NM Đ HT SS ko ?”. Chà chữ NM thì đích thị là tên tôi viết tắt rồi. Chữ “ko” là chữ “không” theo lối chữ của dân nhắn tin di động. Còn “Đ HT SS” viết cách là cái chi chi ? Chữ “SS” là sung sướng hay sa sút, hay Sầm Sơn ? Tôi nghĩ tới 3 phút mới à ra thế. Thôi đúng rồi. Đi hội thảo Sầm Sơn , Sầm Sơn cũng là sung sướng chứ gì nữa. Hội thảo THƠ HIỆN ĐẠI mà không đi, hóa ra mình là thằng “thơ cũ” à ? . Chết cũng phải đi cho tới chỗ Hiện Đại mà xem mặt-mũi-thơ ra răng !

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.10.2011

NGÀY 20-10, NHỚ MẠ

THƠ KHẮC TRÊN BIA MỘ MẠ

1

Con về dựng biển làm bia mộ
mạ một đời sóng gió dễ gì ghi
đôi mắt buồn dẫu khép vào lòng cát
biển vẫn nhắc con lối đi về

2

Con về dựng trời cao làm bia mộ
Mạ một đời chi chít ước mong
Mắt níu trời tay đào bới cát
Con như chim bay hút tầm nhìn

3

Con xin dựng tim con làm bia mộ
Tạc câu thơ đời mạ đau buồn
Trái tim nhỏ ước là quả chín
Trên cát nghèo trắng xoá thời gian !

5-3, Bính Dần
Làng Thượng

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.10.2011

BÀN VỀ NHÂN CÁCH NHÀ VĂN

Nhân đọc trên báo Văn Nghệ số 42 ra ngày 15.10.2011 bài “” Thơ và nhân cách Việt” của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm cựu ủy viên Bộ chính trị, trưởng Ban tuyên giáo trung ương, chủ tịch hội đồng lý luận trung ương, cựu tổng thư ký Hội nhà văn Việt Nam (khóa 5) với ý kiến rất quan trọng ” mệnh lệnh của thời đại là mệnh lệnh về nhân cách” , xin nhờ ngominhglog công bố giùm bài phát biểu của tôi trong hội thảo của Hội tổ chức tại Biên Hòa tháng 1 .2009, rất cám ơn.Bài đã gửi báo Văn Nghệ ngay sau hội thảo nhưng báo không đăng.

Đà lạt ngày 12.01.2009
Kính gửi anh Nguyễn Trí Huân, phó chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, tổng biên tập báo Văn Nghệ
Tôi trân trọng gửi đến anh bài phát biểu của tôi sáng ngày 08 tháng 01.2009 vừa qua trong cuộc hội thảo do Hội ta tổ chức tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và yêu cầu anh đăng báo. Xin nhắc lại, đây là yêu cầu, tôi và anh, chúng ta đều có trách nhiệm nghiêm túc làm theo đúng tư tưởng Hồ Chí Minh: “Đối với MỌI VẤN ĐỀ, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình góp phần tìm ra chân lý.Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người”.

Bùi Minh Quốc

PHÁT BIỂU TẠI HỘI THẢO
“NHÀ VĂN VÀ SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA,
HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC”

Sáng 08.01.2009, TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Thưa các bạn đồng nghiệp, thưa các anh các chị,
Tôi chuẩn bị ý kiến trong đầu rồi nói vo nên nếu có gì luộm thuộm thì xin thông cảm, và xin hai bạn Trần Ngọc Tuấn, Nguyễn Một trong đoàn thư ký cố gắng ghi giúp.
Trước hết tôi xin góp ý với ban chấp hành Hội Nhà văn cần cải tiến ngay cách tổ chức những cuộc hội thảo như thế này, bỏ bớt tối đa những nghi lễ rườm rà, dành thời gian tối đa cho các phát biểu, tốt nhất là các phát biểu trực tiếp tươi ròng nguyên vẹn từ trong tim trong óc các thành viên tham dự hội thảo hơn là những bài viết sẵn gửi trước, duyệt trước, dành thời gian cho thảo luận, như thế hội thảo mới có sinh khí, có thực chất, cái sinh khí, cái thực chất phải bắt nguồn từ từng thành viên tham dự hội thảo.
Đó là về phương pháp. Còn về nội dung thì tôi yêu cầu đáng lẽ trước tất cả mọi cuộc hội thảo về các đề tài cụ thể “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” như thế này hoặc về “nông nghiệp, nông thôn” đang dự định sắp tổ chức thì phải có một cuộc hội thảo lớn nhất, bao trùm nhất là hội thảo về “Trách nhiệm của nhà văn Việt Nam với sự nghiệp dân chủ hóa đất nước”, xin nhắc lại cho rõ: Trách nhiệm của nhà văn Việt Nam với sự nghiệp dân chủ hóa đất nước. Vừa qua chưa làm thì ngay sau đây phải làm một cuộc hội thảo như thế. Đây là nhiệm vụ chính trị hàng đầu của Hội ta. Từ 2001 đến nay, kể từ khi đại hội Đảng lần thứ 9 đặt “dân chủ” thành mục tiêu chiến lược trong cương lĩnh hành động của toàn Đảng toàn dân, tám chín năm đã trôi qua, hãy tự hỏi chúng ta đã làm gì cho dân chủ? Hãy xem lại báo Văn Nghệ kể từ thời anh Hữu Thỉnh làm tổng biên tập đến nay, trên mục “Tiếng nói nhà văn”, có được bao nhiêu bài về dân chủ? Theo nhận xét của riêng tôi thì rất ít, rất ít.
Tôi xin đọc các anh các chị nghe một câu hết sức quan trọng của chủ tịch Hồ Chí Minh:
“Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do.Tự do là thế nào? Đối với MỌI VẤN ĐỀ, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình góp phần tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người”.
Trong câu tôi vừa đọc, tôi xin nhấn mạnh mấy chữ “Mọi người, mọi vấn đề”, vâng, mọi vấn đề, nghĩa là Hồ chủ tịch yêu cầu dứt khoát không được phép đặt ra các vùng cấm cho mọi người, cho bất cứ ai khi họ thực hiện quyền và nghĩa vụ tự do phát biểu ý kiến. Từ câu tôi vừa dẫn trên đối chiếu vào thực tế, thì thấy chúng ta đã làm sai, làm chệch, làm ngược với tư tưởng Hồ Chí Minh. Tại sao mấy chục năm qua không có một công trình nghiên cứu, một tác phẩm nào về đề tài cải cách ruộng đất, chống bọn bành trướng, chống bọn diệt chủng Khơ-me đỏ ? Cuốn tiểu thuyết của anh Tô Hoài về cải cách ruộng đất khó khăn lắm mới in được nhưng lại không cho tái bản.Thế là thế nào ? Ai đã đặt ra các vùng cấm như thế ?
Trước tình hình quốc vụ viện Trung Quốc tuyên bố thành lập thành phố Tam Sa trên đảo Hoàng Sa thuộc lãnh thổ nước ta, chỉ có mình nhà văn Nguyễn Khắc Phục lên tiếng, tôi noi gương anh Nguyễn Khắc Phục viết thư ngỏ cho Ban chấp hành Hội cùng toàn thể anh chị em hội viên yêu cầu Ban chấp hành phải ra tuyên bố tỏ thái độ của Hội ta. Nhưng từ đó đến nay đã hơn 1 năm Ban chấp hành Hội vẫn im lặng. Tại sao Hội ta không thể làm được như Đoàn luật sư TP HCM? Rõ ràng chúng ta đã rơi vào một trạng thái yêu nước thụ động rất xa lạ với truyền thống nghìn đời của dân tộc, tại sao chúng ta đã từng kế thừa và phát huy rất mạnh mẽ truyền thống yêu nước tích cực chủ động “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” rất oanh liệt của dân tộc ta mà nay ta lại thụ động như vậy, đây là một sự suy thoái về văn hóa rất nghiêm trọng, rất nguy hiểm. Một lần nữa tôi yêu cầu Ban chấp hành Hội phải khẩn trương ra tuyên bố về vấn đề chống bành trướng như Đoàn luật sư TP HCM đã làm.
Hồi nãy anh Trần Thanh Đạm có nói đến tình hình “văn tặc”. Theo tôi, “văn tặc” chính là bọn đã đặt ra các vùng cấm như thế. Đấy là sự phản bội tư tưởng Hồ Chí Minh, chống lại chủ trương “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật” mà Đảng đã vạch ra từ đại hội 6.
Gần đây nhiều ý kiến nêu lên vấn đề nâng cao tính chuyên nghiệp của hoạt động văn học nghệ thuật. Theo tôi, cái gốc của vấn đề tính chuyên nghiệp không có gì khác hơn là vấn đề nâng cao chất lượng sáng tác mà chúng ta từng nói hoài với nhau và sẽ còn nói mãi, nó là vấn đề của mọi nhà văn, mọi nền văn học ở mọi thời và mọi xứ sở, nghĩa là phải làm sao để có tác phẩm hay.
Muốn nâng cao chất lượng sáng tác thì trước hết phải nâng cao chất lượng người sáng tác. Trong chất lượng người sáng tác có 2 yếu tố cơ bản là tài năng và nhân cách. Tài năng thì có phần của năng khiếu, phần thiên bẩm thiên phú và phần phải rèn luyện. Nhưng nhân cách thì phải rèn luyện mới có được, rèn luyện thường xuyên, rèn luyện suốt đời. Từ năm 1959 tôi còn trẻ dự hội nghị những người viết văn trẻ lần thứ nhất toàn miền Bắc, anh Nguyễn Đình Thi tổng thư ký Hội đã nói với lớp trẻ chúng tôi: làm người là cái gốc của sự làm văn, đến nay vấn đề này vẫn luôn đặt ra cho chúng ta. Từ cách đây mấy năm, tại cuộc hội thảo ở Hội An về nhà văn liệt sĩ Chu Cẩm Phong mà anh Hữu Thỉnh có dự, tôi đã phát biểu đề nghị Ban chấp hành Hội nhà văn cần gấp rút tổ chức hội thảo về vấn đề nhân cách của các nhà văn trong Hội nhà văn chúng ta. Các nhà văn ngày nào cũng lớn tiếng về tình trạng đạo đức xã hội xuống cấp nghiêm trọng, nhưng còn tình trạng đạo đức của chính bản thân các nhà văn trong Hội nhà văn chúng ta thì thế nào?
Gần đây có chuyện các thanh niên ở công ty FPT in sách đặt lời mới cho một số bài hát cách mạng và kháng chiến, những lời mới này thô lỗ gây bất bình trong xã hội; nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu, một trong những tác giả là nạn nhân của tình trạng đó đã phẫn nộ thốt lên: “Mất dạy!”. Tôi muốn chúng ta hãy cùng suy nghĩ sâu hơn trước tình trạng đó. Theo tôi, nguồn gốc sâu xa của sự mất dạy là do những người dạy không còn đủ tư cách của người dạy; biết bao kẻ vô đạo đức, giả đạo đức đang hàng ngày đứng ra rao giảng đạo đức đó.
Cho nên tôi nhắc lại một lần nữa một điều đã nói nhiều lần: đề nghị Ban chấp hành Hội Nhà văn ngay sau cuộc hội thảo này phải gấp rút tổ chức cuộc hội thảo về nhân cách các nhà văn trong Hội ta.
Nói đến nâng cao tính chuyên nghiệp của hoạt động văn học nghệ thuật thì phải tạo môi trường pháp lý cho việc hành nghề để người nghệ sĩ có thể sống bằng nghề của mình, nghĩa là trước hết phải có báo chí tư nhân và nhà xuất bản tư nhân. Tại sao không có được một sự bình đẳng tối thiểu, người nông dân có quyền đem cân thóc cân gạo ra chợ bán mà tôi không có quyền đem cuốn sách của mình tự xuất bản đem bán trực tiếp cho người đọc và tôi tự chịu trách nhiệm về tác phẩm của mình trước người đọc và trước pháp luật, nếu tôi viết có gì vi phạm pháp luật tôi sẵn sàng ra tòa. Ông Nguyễn Hiến Lê trước năm 1975 tự viết sách tự xuất bản rồi hai vợ chồng đem bán, chi phí thấp, thu nhập cao. Dưới chế độ hà khắc thời nước Nga Sa Hoàng, ông Đốt-xtôi-ép-xki đi tù về vẫn ra tạp chí tư, nhà xuất bản tư được, chả nhẽ chế độ ta không bằng chế độ Sa Hoàng à? Luật báo chí, luật xuất bản hiện nay không có điều khoản cho ra báo tư nhân, nhà xuất bản tư nhân là vi phạm Hiến pháp. Dạo nọ có cán bộ cao cấp nào đó ở bộ thông tin phát biểu không chấp nhận ra báo tư nhân, nhà xuất bản tư nhân, cán bộ ấy có quyền gì mà nói như thế, nói thế là vi phạm Hiến pháp, là phản bội tư tưởng Hồ Chí Minh.
Vừa rồi có nhiều bài trên các báo phê phán cuốn hồi ký của anh Nguyễn Đăng Mạnh, một cuốn sách còn ở dạng bản thảo và tác giả chưa chính thức công bố. Tôi đề nghị chúng ta hãy mời anh Nguyễn Đăng Mạnh hoàn chỉnh bản thảo và để anh Mạnh chính thức đưa đăng nhiều kỳ trên báo, chính thức xuất bản rồi sau đó mới đăng các bài nhận xét, đăng hàng nghìn bài cũng được, với mọi ý kiến khác nhau, đảm bảo thông tin nhiều chiều, và dành quyền cho tác giả trả lời, như thế mới là cách chơi tử tế, chứ cái kiểu ỷ vào thế độc quyền báo chí một mình một chợ muốn nói thế nào thì nói như vừa rồi, nghe nói có nhà văn không dám ký cái bút danh quen thuộc mà lại dùng bút danh khác, đấy, chơi như thế chẳng thể gọi là tử tế được.
Trong khi chờ sửa luật báo chí và luật xuất bản để công dân được ra báo chí tư nhân, nhà xuất bản tư nhân thì tôi đề nghị một cách làm chuyển tiếp thế này: báo Văn Nghệ cho tôi và các bạn tôi thầu một trang, trên đầu trang ghi rõ bài trong trang này do tác giả chịu trách nhiệm trước pháp luật, nếu có chuyện gì thì tác giả ra tòa chứ không phải tổng biên tập. Hãy làm như thế đi. Anh Hữu Thỉnh về báo cáo cấp trên đi và cho làm ngay đi.
(Ghi mấy ý kiến trao đổi ngoài hành lang:
Buổi trưa, Bùi Minh Quốc và Hữu Thỉnh chủ tịch Hội Nhà văn gặp nhau ở cầu thang.
Hữu Thỉnh:
- Gớm, giao nhiệm vụ nặng quá, nặng quá…
Bùi Minh Quốc :
- Này, chuyện Hoàng Sa cực kỳ quan trọng đấy, Ban chấp hành không có tuyên bố thì còn ra tư cách Hội yêu nước gì nữa, Thỉnh hãy gặp nói trực tiếp với Trương Tấn Sang là nếu các anh không cho chúng tôi có tiếng nói về việc này thì Ban chấp hành chúng tôi mang tiếng với anh em, mang tiếng với nhân dân lắm).
Ghi lại thành văn bản tại Đà Lạt ngày 12.01.2009)
BÙI MINH QUỐC

(Tôi ghi theo trí nhớ, nếu có đồng nghiệp nào hôm ấy ghi âm được thì xin đối chiếu chỉnh sửa giúp, cám ơn) .

BÀI THƠ NAM QUỐC SƠN HÀ KHÔNG PHẢI CỦA LÍ THƯỜNG KIỆT và…
Trần Nhuận Minh

LK: Nhà thơ Trần Nhuận Minh vừa gửi cho tôi một bài viết ngắn. Bài viết có nhiều tư liệu mới. Mời bạn đọc cùng tham khảo.
BÀI THƠ NAM QUỐC SƠN HÀ KHÔNG PHẢI CỦA LÍ THƯỜNG KIỆT và vấn đề nói dối nói thật của người Việt ta

Quả thật chúng ta đã nói dối quá nhiều, viết dối quá nhiều. Bản thân tôi cũng đã từng nói dối, đã từng viết dối. Cứ nhớ đến là lại xấu hổ. Đã đến lúc phải nói thật, viết thật. Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, là khẩu hiệu của đại hội VI đảng Cộng sản Việt Nam và cũng là phương châm hành động của những người Cộng sản chân chính Việt Nam. Chính tôi đã trực tiếp nghe từ Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đến Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu khuyến khích các nhà văn nói thật, viết thật, và yêu cầu các nhà văn lấy đó làm tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp của mình.
Có một thời kì khá dài, chúng ta nghĩ rằng: cái gì có lợi cho cách mạng, dù cái đó không diễn ra, vẫn là sự thật. Còn cái gì không có lợi cho cách mạng, dù cái đó có diễn ra ngay trước mắt, cũng không phải là sự thật. Quan niệm này, theo tôi, xuất phát từ câu nói nổi tiếng của Mao Trạch Đông: “Cái gì có lợi cho cách mạng thì cái đó là chân lí”, mà Nguyễn Đình Thi thuật lại, trong ghi chép của Hà Minh Đức. Cũng theo Nguyễn Đình Thi, trong bài nói chuyện về văn nghệ ở Diên An năm 1942, “Mao Trạch Đông phủ nhận tính người, đề cao tính giai cấp và thực dụng của văn học”. (Nguyễn Đình Thi – Chim phượng bay từ núi, của Hà Minh Đức, nhà xuất bản Văn học, 2010).
Chúng ta lại phải đánh giặc, hai lần kháng chiến trường kì, vô cùng gian khổ và ác liệt, cần phải chiến thắng bằng mọi giá, để giải phóng đất nước, giành độc lập tự do cho dân tộc, kể cả đốt cháy giải Trường Sơn, nếu cần, như chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói.
Trong binh pháp cuả mọi thời, mọi quốc gia, ai cũng biết có thuật nghi binh. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, chúng ta cũng dùng thuật nghi binh, làm lạc hướng chú ý của đối phương để tạo ra chiến thắng áp đảo ngay từ trận đầu… Nhưng áp dụng nó trong văn chương và học thuật lại là vấn đề khác, có khi tạo ra những sai lầm vài thế kỉ… Ví như bài thơ Phóng cuồng ca rất nổi tiếng của Trần Tung, Bồi tụng Bùi Huy Bích thời Lê ghi là của Trần Quốc Tảng, 200 năm sau, cho đến tận bây giờ, sai lầm này của ông Bùi vẫn không sửa hết được. Gần đây là bài thơ Nam quốc sơn hà… không phải của Lí Thường Kiệt. Giáo sư Bùi Duy Tân, người thày dạy tôi ở trường đại học Tổng hợp Hà Nội, đang điều trị ung thư giai đoạn cuối ở bệnh viện Hữu Nghị, nhờ con chở đến và xin đăng kí phát biểu trong hội thảo thơ tại nhà Thái Miếu trong Ngày thơ Việt Nam, chiều Rằm tháng Giêng năm Kỉ Sửu ( 2009), do nhà thơ Vũ Quần Phương, chủ tịch hội đồng Thơ chủ trì và tôi là ủy viên hội đồng, được phân công cùng với nhà thơ Vũ Quần Phương, thực hiện cuộc hội thảo này. Bài thơ Nam quốc sơn hà của Lí Thường Kiệt thường được biểu diễn trong màn múa hát dàn dựng theo phong cách sử thi rất hoàng tráng với giáo mác oai hùng tại sân khấu chính của Ngày thơ Việt Nam. Giáo sư nói với chúng tôi rằng: đây là lời phát biểu cuối cùng của ông, vì ông không biết sẽ “đi” ngày nào. Chúng tôi đã dành cho ông 45 phút, trong khi những người khác, chỉ có 15 phút.
Tại đây, trong không khí linh thiêng của nhà Thái Miếu, có đốt hương trầm khi hội thảo khai mạc, giáo sư đã chính thức báo cáo rằng, bài thơ ấy khuyết danh, giáo sư là người đầu tiên gán cho Lí Thường Kiệt và sau đó, ông cùng những cộng sự của ông và những học trò của ông nữa, đã viết vào tất cả các loại sách giáo khoa, từ cấp tiểu học đến trên đại học. Và bây giờ, trong hương khói linh thiêng của Thái Miếu – Quốc Tử giám Thăng Long – Hà Nội 1000 năm văn hiến, ông chính thức xin lỗi các thế hệ thày giáo và các thế hệ học trò…
Nghĩ cũng tiếc, bởi bài thơ mấy chục năm nay, đã được coi là Bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc do Lí Thường Kiệt soạn thảo. Và tên ông, Lí Thường Kiệt, sánh ngang với Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh. Bây giờ không phải của Lí Thường Kiệt thì ứng xử ra sao… Thực ra, không có ý kiến chính thức của giáo sư, bất cứ ai có chút am hiểu về lịch sử và thơ văn thời Lí, cũng đều biết bài thơ ấy khuyết danh, chỉ là tục truyền, mà ngay tục truyền cũng không ghi: “tục truyền rằng bài thơ ấy là của Lí Thường Kiệt”, như sau này ghi tục truyền rằng: những bài thơ Nôm ấy (ám chỉ âm vật và chuyện buồng the ) là của Hồ Xuân Hương ( mà không phải của Hồ Xuân Hương). Tôi tra trong Đại Việt sử kí toàn thư ( 1479) tập I, chương Nhân Tông hoàng đế nhà Lí, năm Bính Thân ( 1076), vua sai Lí Thường Kiệt đánh Tống trên sông Như Nguyệt. Sau khi ghi xong cuộc chiến, với thắng lợi lớn rồi, sử gia mới ghi thêm trong ngoặc đơn (…), nguyên văn như sau (“Tục truyền rằng, Thường Kiệt đắp luỹ làm rào ở dọc sông để cố giữ. Một đêm các quân sĩ chợt nghe ở trong đền Trương tướng quân, có tiếng ngâm to rằng: Nam quốc sơn hà nam đế cư… ) Sử gia ghi hết bài thơ 4 câu rồi viết sang việc khác ngay, không ghi bài thơ đó tục truyền là của ai và kết quả bài thơ ấy trong trận đánh là như thế nào.
Bây giờ, trên các diễn đàn và trên các sách báo, vẫn có người nói và viết về bài thơ này của Lí Thường Kiệt… Dù vài năm nay, sách giáo khoa dạy cho học sinh phổ thông trong nhà trường, bài thơ ấy đã đề khuyết danh rồi. Và một bạn tôi cho hay, bài thơ NAM QUỐC SƠN HÀ thiếp chữ vàng đề tên Lí Thường Kiệt trong bảo tàng lịch sử nay cũng không đề tên tác giả nữa. Như thế là sự thật đã được khôi phục theo đúng tinh thần đại hội VI của Đảng.Ví như Thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương, một Hồ Xuân Hương dân gian, cũng như một Đoàn Thị Điểm dân gian trong truyện Trạng Quỳnh, mà tôi đã trình bày lại khá căn kẽ trong các bài đã đăng báo trước đây…Tôi nhớ giáo sư Hoàng Xuân Hãn hoặc giáo sư Trần Thanh Mại, một trong hai ông, đã kêu to lên rằng: “mồ cha không khóc đi khóc đám mối”. “Mồ cha” là Lưu Hương kí , tác phẩm do Hồ Xuân Hương thật sáng tác. “Đám mối” là Thơ truyền tụng…, sáng tác dân gian gán cho Hồ Xuân Hương. Nó vẫn nguyên giá trị nếu xét trong phạm trù văn học dân gian, chứ không phải văn chương thành văn, văn chương bác học của một tác giả có thật. Vậy mà “đám mối” ấy, có trong tất cả các sách giáo khoa dạy sự trung thực văn hóa cho học trò ở mọi cấp học trong nước, chưa kể ở nước ngoài… Được biết có thời kì, chúng ta còn định làm hồ sơ để UNESCO công nhận Hồ Xuân Hương ( nhân vật dân gian) là thi hào dân tộc như Hội đồng hòa bình thế giới đã từng công nhận thi hào dân tộc Nguyễn Du. Xuân Diệu đã có tập sách Ba thi hào dân tộc: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương…Hãy chỉ nói hai vấn đề rất lớn và rất nhỡn tiền trong văn chương, chưa kể trong các loại khoa học đòi hỏi sự chính xác khác. Ví như nguyên nhân cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan, sách giáo khoa sử học, ở tất cả các cấp, hàng vài chục năm, đã viết, do Mai Thúc Loan cùng nông dân Nghệ Tĩnh phải gánh vải cống sang Trung Hoa cho Dương Quí Phi ăn… mà nổi dậy chống quân nhà Đường. Khi tra vào tiểu sử Dương Quí Phi thì Mai Thúc Loan khởi nghĩa năm 713, năm ấy, bố mẹ Dương Quí Phi còn chưa lấy nhau. Năm 719, nghĩa là 6 năm sau, Dương Ngọc Hoàn mới sinh ra, năm 736 mới vào cung, năm 739 mới làm phi cho vua Đường Minh Hoàng và được gọi là Dương Quí Phi… ( chưa kể việc gánh vải vài chục năm sau ấy, ở Quảng Châu , Trung Hoa, chứ không phải ở Việt Nam) . Rồi em bé Đuốc sống Lê Văn Tám. Tôi đã có 7 năm dạy học ( 1962 – 1969) và 22 năm làm bí thư chi đoàn và bí thư đoàn, (1962 – 1974), thường nêu cao tấm gương anh hùng hiếm có của anh. Nhưng chỉ một lần, đến thăm kho xăng ở Hà Khẩu, thị xã Hồng Gai, một kho xăng loại nhỏ, sau khi nghe thuyết trình về hệ thống cấu trúc, bảo ôn, và nguyên tắc bảo vệ của các kho xăng, tôi đã nghi ngờ chuyện Lê Văn Tám là bịa rồi…Biết bao trường học, con đường. công viên… hiện vẫn còn mang tên Lê Văn Tám… Gần đây, giáo sư Phan Huy Lê, một nhà sử học đầu ngành và là chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam đã công bố công khai trên báo chí và trên Đài Truyền hình Việt Nam, ý kiến của giáo sư Trần Huy Liệu, trước khi mất ( cũng giống như giáo sư Bùi Duy Tân) về việc ông, khi làm Bộ trưởng tuyên truyền, đã tạo ra hình tượng anh hùng này, chỉ để tuyên truyền trong kháng chiến chống Pháp, thì tôi tin ngay và càng thêm kính trọng nhân cách hai vị giáo sư. Rồi cành đào Thăng Long mà vua Quang Trung gửi tặng Ngọc Hân công chuá đang ở Phú Xuân (Huế) là do một nhà viết chèo bịa ra, sau này được sử dụng trong nhiều cuốn sách như một tư liệu chính thức về mối tình cao đẹp của vị anh hùng áo vải Nguyễn Huệ. Gần đây, tôi được biết tại nhà thờ danh nhân văn hóa Chu Văn An ( Chu An) tại Chí Linh, Hải Dương có dòng chữ sơn son thiếp vàng lớn để thờ: “Ta chưa thấy nước nào coi thường sự học mà khá lên được”. Dưới câu đại tự đó đề CHU VĂN AN, như một câu danh ngôn “Hiền tài là nguyên khí quốc gia…” của Thân Nhân Trung vậy. Ai cũng ngạc nhiên vì chưa từng thấy Chu An nói thế, viết thế bao giờ. Sau hỏi ra mới biết đó là lời thoại trên sân khấu của nhân vật Chu An trong một vở kịch chèo. Vậy đó là lời của nhà viết chèo hôm nay đấy chứ. Chao ôi, cái nước mình nó thế ( lời nhà văn Hoàng Ngọc Hiến ) các nhà sử học chân chính, các nhà văn hoá thứ thiệt đi đâu cả rồi…
Ấy là chưa kể “phát minh khoa học” lạ lùng: “ăn ngô bổ hơn ăn gạo” …vân vân và vân vân…
Tôi có câu thơ: Ngày vĩ đại là ngày không nói dối…
Bởi tôi biết “không nói dối” là một điều rất khó tránh và không ít trường hợp, ta dùng nó như một phương tiện hành xử. Vì những lời nói dối, dễ được nghe hơn những lời nói thật, nhất là với đàn bà, trẻ con và các cấp trên. Ví như tôi thường kể cho các cháu ngoại nghe về lòng tốt đến không thể nào có, của các bà tiên, ông bụt, trong các chuyện cổ, mà đương nhiên là tôi vẫn biết đó là những điều bịa tạc giả dối. Ngay từ lúc lọt lòng, mình đã dạy thế hệ sau sự giả dối rồi…Vậy thì còn biết trách ai đây ?…

Nguồn: Trandangkhoa Blog:

http://laokhoa.blogtiengviet.net/2011/10/13/p5222510#more5222510

Đăng bởi: Ngô Minh | 25.10.2011

VIẾNG ĐỘC TÀI GADDFI

Ngô Minh

VIẾNG ĐỘC TÀI GADDAFI

người Việt có câu
nghĩa tử nghĩa tận
tôi chợt chạnh lòng khi nghe tin ông chết
đương kim tổng thống bị nhân dân trùy lùng như con thú

đáng lẽ ông phải sống
để nghe nhân dân 42 năm bị bịt miệng
bị gặm nhấm thịt xương
đang hét to lời nguyền rủa
đả đảo bọn độc tài
đả đảo bọn độc tài đen đỏ !

đáng lẽ ông phải sống
để biết thế nào là nỗi mừng vui sung sướng
khi nhân dân giơ nắm đấm TỰ DO

đáng lẽ ông phải sống
để chết từng tí một
không phải chết bằng súng hay thuốc độc
mà chết dần chết dần
bởi sự nguyền rủa của triệu triệu người dân

nhưng ông đã chết
có điều làm tôi buồn nôn
là xác ông người ta ướp trong một hầm lạnh thực phẩm

nhân loại ơi
hãy ném hắn ra khởi kho thực phẩm
độc tài
không bao giờ là thức ăn
của CON NGƯỜI !

Huế 24-5-2011

Đăng bởi: Ngô Minh | 26.10.2011

TRUNG QUỐC LẠI LÊN GIỌNG HIẾU CHIẾN

Báo TQ lại ra cảnh báo về Biển Đông
Tờ Hoàn Cầu Thời báo vừa có bài xã luận cảnh cáo các nước cùng tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, rằng ‘tiếng súng sẽ vang’ trên vùng biển tranh chấp.
Trong bài xã luận mới nhất đăng vào thứ Ba ngày 25/10, tờ báo này nói các quốc gia như Việt Nam và Philippines cần ‘chuẩn bị tâm lý để nghe tiếng đại bác’ nếu như còn tiếp tục đối chọi với Trung Quốc.
Bài xã luận nói các nước láng giềng đang lợi dụng ‘lập trường ngoại giao ôn hòa’ của Trung Quốc để thúc đẩy lợi ích của mình ở Biển Đông.
“Hiện nay, quan điểm chính thống của Trung Quốc là trước tiên cần phải thông qua các kênh đàm phán để giải quyết tranh chấp trên biển. Tuy nhiên, nếu tình hình trở nên tồi tệ, thì hành động quân sự là cần thiết,” bài xã luận viết.
“Nếu các nước kia không muốn thay đổi cách tiếp cận với Trung Quốc, thì họ phải chuẩn bị tâm lý để nghe tiếng đạn đại bác. Chúng ta cần chuẩn bị sẵn sàng, vì có thể đây là cách thức duy nhất để giải quyết tranh chấp trên biển.”
Hoàn Cầu Thời báo, một trong các báo có lượng độc giả lớn nhất Trung Quốc, thường xuyên có các bài giọng điệu hiếu chiến, mang màu sắc dân tộc chủ nghĩa, đôi khi khá quá khích.
Đây là một ấn bản của tờ Nhân dân Nhật báo, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Thêm vào đó, Trung Quốc giữ kiểm soát chặt chẽ lĩnh vực truyền thông, và nhiều người tin rằng đường hướng hung hăng của các tờ báo như Hoàn Cầu phản ánh một luồng dư luận trong chính giới.
Tuy nhiên, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Khương Du bác bỏ nội dung bài xã luận phản ánh quan điểm chính thống của Chính phủ nước này.
Bà Khương nói Trung Quốc cam kết tìm giải pháp hòa bình cho vấn đề Biển Đông.
“Báo chí Trung Quốc có toàn quyền tự do ngôn luận, nhưng chúng tôi hy vọng các báo đóng vai trò xây dựng và chuyển tải trung thực các thông điệp.”
Hiếu chiến
Đây không phải lần đầu Hoàn Cầu Thời báo có các bài kêu gọi biện pháp ‘trừng phạt’ các nước tham gia tranh chấp với Trung Quốc.
Trong một bài viết vào cuối tháng Chín, tờ này cũng kêu gọi Bắc Kinh có “hành động quân sự”.
Xã luận mới đăng hôm thứ Ba 25/10 viết rằng các nước khác đã tảng lờ kêu gọi ‘gác bỏ khác biệt để hợp tác vì lợi ích chung’ mà Trung Quốc đưa ra.
“Hiện không có biện pháp nào có thể giúp giải quyết các vấn đề một cách hòa bình.”
“Thực tế là các nước trong khu vực đều tin là họ có cách bắt Trung Quốc phải nhân nhượng. Trung Quốc muốn giữ hòa khí, nhưng đó thực là một vai trò bị cô lập.”
Tờ Hoàn Cầu cảnh báo: “Trung Quốc phải tự điều chỉnh cho phù hợp với thực tế này”.
Tình hình Biển Đông sau một thời gian tạm lắng lại gia tăng căng thẳng khi Việt Nam và Ấn Độ ký kết hợp đồng thăm dò dầu khí ở vùng biển ngoài khơi Việt Nam mà Bắc Kinh nhận là thuộc chủ quyền của Trung Quốc.
Tuần này hải quân Philippines và Hoa Kỳ cũng đang tiến hành tập trận với hoạt động đổ bộ ở Biển Đông.
Mới đây lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc đã nhất trí giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông thông qua các biện pháp hòa bình trong chuyến thăm của Tổng bí thư Đảng Cộng sản Nguyễn Phú Trọng dẫn đầu.
Trước đó hai bên cũng thống nhất sẽ tuyên truyền, quản lý báo chí hai nước để nhân dân nhận thức được tầm quan trọng của quan hệ Việt-Trung.
Tuy nhiên, với truyền thông Trung Quốc đăng tải các bài như nói ở trên, có thể thấy các nỗ lực chung dường như chưa giải tỏa được căng thẳng trong khu vực.

Đăng bởi: Ngô Minh | 27.10.2011

MINH TRIẾT HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LẬP TỰ DO

NGHĨ THÊM VỀ LỜI KÊU GỌI
“KHÔNG CÓ GÌ QUÝ HƠN ĐỘC LẬP TỰ DO”
(Tham luận tại hội thảo “Giá trị Minh triết Hồ Chí Minh, một định hướng phát triển Việt Nam” do Trung tâm Văn hoá Minh Triết, tổ chức tại Hà Nội ngày26.10.2011)

BÙI MINH QUỐC

Tôi rất tán thành ý kiến của cựu chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An nhận định rằng minh triết Hồ Chí Minh là minh triết – lý luận – hành động.Nói rõ hơn, đó là minh triết được thể hiện thành những tư tưởng cụ thể,nói ra thành những lời giản dị, rõ ràng, chắc nịch, dứt khoát, có thể chuyển ngay thành hành động; minh triết- tư tưởng gắn chặt với hành động.
Tôi xin lấy ví dụ:KHÔNG CÓ GÌ QUÝ HƠN ĐỘC LẬP TỰ DO.Lời kêu gọi lịch sử ấy của chủ tịch Hồ Chí Minh đã vang lên lần đầu tiên vào buổi sáng ngày 17.7.1966 tại thủ đô Hà Nội, làm rung động mãnh liệt mọi trái tim Việt Nam yêu nước, yêu dân chủ tự do.Vì độc lập, vì tự do, biết bao người con của tổ quốc Việt Nam và gia đình họ, trong đó có bản thân tôi,vợ tôi, gia đình tôi cả bên nội lẫn bên ngoại, đã không chút đắn do hiến dâng cả tính mạng suốt mấy cuộc chiến đấu trường kỳ.
Thực ra, ngay từ năm 1942, tư tưởng KHÔNG CÓ GÌ QUÝ HƠN ĐỘC LẬP TỰ DO của Hồ Chí Minh – cũng là lẽ sống của bất cứ con người bình thường nào – đã ghi rõ ràng trong bốn câu thơ này :
Trên đời ngàn vạn điều cay đắng
Cay đắng chi bằng mất tự do
Mỗi việc mỗi lời không tự chủ
Để cho người dắt tựa trâu bò
(Hồ Chí Minh – Nhật ký trong tù)
Như thế, độc lập, trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ hạn hẹp ở độc lập dân tộc, dầu rằng độc lập luôn luôn là nỗi ám ảnh nghìn đời của dân tộc ta, và vào thời điểm ra đời những câu thơ trên đang là nhiệm vụ bức thiết hàng đầu. Độc lập, ở Hồ Chí Minh còn một tầng nghĩa nữa sâu hơn, đó là vị thế độc lập của mỗi con người, trước hết là cái quyền suy nghĩ độc lập và công khai nói lên tiếng nói độc lập, để không rơi vào cảnh “mỗi việc mỗi lời không tự chủ để cho người dắt tựa trâu bò”.
Tự do cũng vậy.Tự do không chỉ là quyền của mỗi dân tộc trong mối quan hệ với dân tộc khác;tự do trước hết và căn bản là quyền của mỗi con người (lâu nay không ít bài trên báo đài thường có kiểu nói lướt nói tắt chung chung “Độc lập Tự do của tổ quốc” làm cạn nghĩa một lẽ sống phổ quát).Cho nên, ngay sau khi lãnh đạo nhân dân làm Cách Mạng Tháng Tám thành công, Hồ Chủ Tịch liền phải lập tức nhấn mạnh rạch ròi: “Nước được độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì”(1).Chắc rằng Hồ Chủ Tịch đã thấy trước, nếu không nói rạch ròi như vậy, ắt sẽ khó tránh khỏi tình trạng áp đặt cách hiểu cạn cợt về độc lập để lấn át các quyền tự do căn bản của người dân, trước hết là quyền suy nghĩ độc lập và tự do nói lên tiếng nói độc lập.
Nhưng suy nghĩ độc lập để tìm ra lẽ phải, nói và làm theo lẽ phải là việc tưởng như đương nhiên bình thường bình dị mà thực ra lại hoàn toàn không đơn giản giữa cái thế thái nhân tình vô cùng rắc rối này. Ngay từ 1942 Cụ Hồ đã ghi lại thành thơ sự trải nghiệm ấy : “Vốn biết việc đời không phải dễ/Mà nay càng thấy khó khăn hơn” (Nhật ký trong tù).
Cũng trong năm 1966, có một người cộng sản thấm nhuần tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập tự do” đã dũng cảm làm theo sự suy nghĩ độc lập xuất phát từ thực tiễn của mình : thực hiện khoán trong hợp tác xã nông nghiệp – một việc động trời đụng chạm gay gắt vào các giáo điều phản động phản lại lợi ích của nhân dân đang ngự trị trói buộc nền sản xuất.Người đó là ông Kim Ngọc, bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phú.Bí thư Kim Ngọc phải trả giá nặng nề cho tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập tự do” như thế nào mọi người nay đã rõ, nhưng sự hy sinh cao cả của ông đã được đền bù xứng đáng (tuy muộn mằn, phải đợi đến 22 năm) khi “khoán Kim Ngọc” được những cán bộ chủ chốt kiên trung của đảng bộ Hải Phòng dũng cảm tiếp tục thực hiện tạo cơ sở thực tiễn cho “khoán 100” rồi “khoán 10”, đưa Việt Nam từ chỗ năm nào cũng phải cử người xách túi đi xin viện trợ lương thực chỉ trong một thời gian ngắn đã có thóc gạo dồi dào và tiến lên thành nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ hai thế giới.
Quyền suy nghĩ độc lập và tự do nói lên suy nghĩ độc lập cùng các quyền căn bản khác của người dân chỉ có thể trở thành hiện thực bình thường bằng một chế độ dân chủ.Cho nên Hồ chủ tịch khẳng định rõ :
“Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do.Tự do là thế nào ? Đối với MỌI VẤN ĐỀ, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình góp phần tìm ra chân lý.Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người”(2).
Tôi xin nhấn mạnh mấy chữ MỌI VẤN ĐỀ trong câu vừa dẫn trên, nghĩa là ngoài các qui định thật cụ thể thật rõ ràng của luật pháp thì dứt khoát không một ai , không một cơ quan, một tổ chức nào được phép đặt ra vùng cấm (hiện nay biến tướng và được che giấu dưới hai chữ “nhạy cảm”) cho việc tự do bày tỏ ý kiến.Hơn nữa, thật đặc biệt sâu sắc và triệt để, Hồ chủ tịch coi việc tự do bày tỏ ý kiến không những là quyền mà còn là nghĩa vụ của mọi người.Đã là nghĩa vụ thì những ai không dám tự do bày tỏ ý kiến để góp phần tìm ra chân lý, đương nhiên người đó chưa làm tròn trách nhiệm đối với xã hội và với chính bản thân mình.Và do đó, cũng tất nhiên, những ai cậy quyền cậy thế mà hạn chế, áp chế việc tự do bày tỏ ý kiến của mọi người là có tội lớn với xã hội, là phản bội tư tưởng Hồ Chí Minh.
Hồ chủ tịch còn luôn khẳng định :
“Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân” (3)
“Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng nhân dân đưa cách mạng tiến lên”(4).
(Xin nhấn mạnh mấy chữ “phát huy dân chủ đến cao độ” trong câu vừa dẫn trên để càng thấy tính triệt để trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền làm chủ của người dân : yêu cầu đặt ra không phải chỉ là phát huy dân chủ ở mức bình thường, thậm chí tệ hơn nữa chỉ đối phó bằng kiểu thực hiện dân chủ một cách làng nhàng, hời hợt, hình thức – căn bệnh kinh niên rất phổ biến bấy lâu nay – mà phải là “phát huy dân chủ đến cao độ”).
“ Thực hành dân chủ là cái CHÌA KHOÁ VẠN NĂNG có thể giải quyết mọi khó khăn”(5).
Và trong di chúc của mình, chủ tịch Hồ Chí Minh lại hai lần nhấn mạnh DÂN CHỦ :
“Trong Đảng thực hành DÂN CHỦ rộng rãi”
“Xây dựng một nước Việt Nam hoà bình thống nhất độc lập DÂN CHỦ và giầu mạnh”
Đại hội Đảng lần thứ 9 đã đưa DÂN CHỦ thành mục tiêu xây dựng xã hội, coi dân chủ là tiền đề để có công bằng và văn minh, dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực – là CHÌA KHOÁ VẠN NĂNG, mở ra một nguồn sức mạnh vô cùng lớn để giải quyết mọi khó khăn đưa đất nước phát triển lành mạnh và bền vững, đảm bảo tự do hạnh phúc cho mỗi con người.
Khi mục tiêu dân chủ đã được ghi trong cương lĩnh thì toàn Đảng, từ tổng bí thư đến đảng viên thường phải coi đó là mệnh lệnh – mệnh lệnh thiêng liêng của Cách mạng, của non sông đất nước – phải chấp hành cho bằng được.Đối với cơ quan lãnh đạo, phải biến mục tiêu đó thành những chính sách cụ thể, những qui định pháp luật đảm bảo cho người dân được hưởng các quyền tự do cơ bản mà nhân dân đã giành được khi vùng lên làm cách mạng Tháng Tám 1945.
Nhưng, đã hơn 10 năm kể từ đại hội 9, tình trạng mất dân chủ trong Đảng và trên toàn xã hội ngày càng trầm trọng, mà chưa hề có một cuộc kiểm điểm nghiêm túc nào của cơ quan lãnh đạo về việc thực hiện mục tiêu dân chủ đã ghi trong cương lĩnh.
Hồ chủ tịch từng nói rất cụ thể, rạch ròi dứt khoát : “Dân chủ trước hết là để cho dân được mở miệng”.Vậy mà ngay đến các bức thư của đại tướng đại công thần Võ Nguyên Giáp bày tỏ ý kiến về các việc quốc gia đại sự cũng không được đăng, mà không một cán bộ lãnh đạo nào dám nhận trách nhiệm về việc này.Nếu nghiêm túc thực hiện lời Hồ Chủ tịch, thì ngay ngày mai tất cả các báo phải đăng các bức thư đó của Võ đại tướng.
Hồ Chủ tịch đã viết rất rõ từ năm 1948 về nguyên tắc “dân chủ tập trung”, đặt dân chủ lên trước, chỉ có lấy dân chủ làm nền móng thì sự tập trung mới có giá trị, nếu không thì sẽ chỉ là sự tập trung quyền lực vào tay một thiểu số bè phái, cá nhân chủ nghĩa.Đã nhiều năm, trong các văn kiện chỉ thấy ghi ngược nguyên tắc nêu trên thành “tập trung dân chủ”.Phải chăng đây là một dụng ý ngấm ngầm phản bội tư tưởng Hồ Chí Minh cài đặt ngay vào văn kiện của Đảng ? Tình hình thực tế đã diễn ra đúng như thế.
Chung quy lại, đã đến lúc sự thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh phải được thể hiện bằng hành động dứt khoát : chuyển ngay việc NÓI DÂN CHỦ thành việc LÀM DÂN CHỦ.
Dân chủ trong Đảng và dân chủ trên toàn xã hội.
Muốn thế, đảng viên phải làm chủ Đảng và công dân phải làm chủ các hội đoàn mà mình tham gia.
Từng đảng viên, từng công dân phải chủ động nắm lấy và thực hành quyền làm chủ của mình một cách kiên quyết và kiên trì, từng ngày một, từng việc một, từ việc dễ đến việc khó, tiến tới làm chủ thường xuyên, trong mọi việc, từ việc nơi tổ đảng, tổ nông hội, tổ công đoàn dến những việc ở tầm chiến lược quốc gia.
Làm chủ phải là lẽ sống, là nếp sống, là niềm vui sống hàng ngày của mỗi con người, của mọi người.

________________
(1), (2), (4), (5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, H, t4, tr 56, t8, tr216, t9, tr 582, t12, tr 249.
(3) Bài nói với trí trức ở lớp nghiên cứu chính tri, ngày 8.12.1956

Đăng bởi: Ngô Minh | 30.10.2011

CUỘC GẶP TRÊN SÂN GA

Hẹn gặp trên sân ga

Sáu giờ kém sáu phút. Cái đồng hồ lớn hình tròn trên quầy tin tức ở nhà ga Grand Central Station cho biết như thế. Người sĩ quan trẻ tuổi cấp bậc trung úy vừa mới bước xuống từ đường ray xe lửa, ngẩng cao khuôn mặt rám nắng và nheo mắt để nhìn cho rõ giờ ghi trên đồng hồ. Tim anh đập mạnh. Chỉ sáu phút nữa thôi, anh sẽ được gặp người thiếu nữ đã tràn ngập một phần đời của anh từ mười ba tháng nay, người thiếu nữ anh chưa một lần gặp mặt, tuy nhiên những lời cô viết cứ bám miết anh không rời. Anh đứng thật sát quầy thông tin, để tránh đám người chen lấn. Hồi tưởng lại một đêm khi giao chiến ác liệt xảy ra, máy bay anh lọt vào giữa vòng vây của chiến đấu cơ địch, trung úy Blandford còn nhìn thấy rõ nét cười nham nhở trên khuôn mặt một phi công thù nghịch.
Trong một bức thư trước đó, anh đã thú nhận với cô ấy là anh thường xuyên cảm thấy sợ hãi, và chỉ một vài ngày trước cuộc không chiến nói trên, anh nhận được trả lời của cô. “Tất nhiên là anh thấy sợ… mọi người can đảm đều thấy như vậy. Bộ Vua David trong Thánh Kinh không biết sợ sao? Đó là lý do Ngài viết Thi Thiên thứ 23. Lần sau nếu anh không cảm thấy bình an thì anh hãy nghe giọng em đọc cho anh nghe những câu thơ trong bài nhã ca này: “A ha, cho dẫu con đi qua thung lũng của cái chết thì con cũng không hề sợ hãi bởi có người bên con.” Và anh nhớ lại có lúc anh đã nghe tiếng nói của cô và anh lấy lại được sự bằng an trong tâm hồn.
Giờ đây anh đang đi tìm gặp giọng nói đích thực của cô. Chỉ còn bốn phút nữa là tới sáu giờ. Vẻ mặt anh trở nên căng thẳng. Dưới vòm mái mênh mông, mọi người đang đi lại hối hả, giống những sợi chỉ màu đan xen trong cái mạng nhện. Một thiếu nữ đi qua cạnh anh khiến anh giật mình. Trên ve áo cô cài một bông hoa đỏ nhưng đó là bông của cây đậu chứ không phải một bông hoa hồng như họ từng hẹn trước với nhau. Vả lại, người thiếu nữ còn quá trẻ, trạc 18 tuổi, trong khi Hollis Maynell nói rõ ràng với anh là cô đã ba mươi. “Sao, như vậy đã sao?” Anh hỏi lại, và cho biết: ”Tôi cũng đã 32”. Thật ra, anh mới 29 tuổi.
Trí óc anh trở lại với cuốn sách – cuốn sách mà Ơn Trên đã đặt vào tay anh trong hàng trăm cuốn sách Thư Viện Quân Đội đã gởi đến trại huấn luyện Florida. Đó là cuốn Of Human Bondage (Hệ Lụy Nhân Sinh) với những nét chữ ẻo lả ghi chú chằng chịt bên lề mỗi trang. Anh vốn ghét những ghi chú như vậy nhưng đây thì lại hoàn toàn khác. Anh không bao giờ nghĩ rằng một phụ nữ lại có thể nhìn thấu tâm hồn người đàn ông một cách dịu dàng, thông cảm đến thế. Tên của cô ghi trên tấm thẻ thư tịch: Hollis Meynell. Và anh đã tìm thấy địa chỉ của cô trên cuốn điện thoại niên giám của thành phố Nữu Ước. Anh viết thư và cô trả lời thư. Ngày hôm sau thì anh được tàu chở tới căn cứ, nhưng hai người đã giữ được đường dây thư tín.
Trong mười ba tháng liền, cô tiếp tục hồi âm thư anh. Và còn hơn thế nữa, cả khi thư anh không đến, cô vẫn viết cho anh, và bây giờ thì anh tin rằng anh đã yêu cô và cô cũng yêu anh. Tuy nhiên cho dù anh xin cô nhiều lần, cô nhất định không gởi hình cho anh. Anh cảm thấy hơi phật ý. Nhưng cô giải thích: “Nếu như tình cảm của anh đối với em có chút gì chân thật thì dung nhan em như thế nào đâu có gì quan hệ. Giả sử như em đẹp đi. Em sẽ luôn luôn bị ám ảnh bởi cái cảm giác là anh muốn lợi dụng điều đó. Và một tình yêu như thế làm cho em chán ngán. Giả sử như em tầm thường (mà điều này thì có thể lắm). Và rồi em sẽ luôn luôn lo sợ rằng anh tiếp tục viết cho em chỉ vì anh cô đơn, không có người nào khác. Không, đừng đòi em gởi hình cho anh. Khi anh đến New York, anh sẽ gặp em và rồi anh sẽ tự quyết định lấy. Nên nhớ rằng cả hai chúng ta đều hoàn toàn tự do quyết định ngưng lại hay tiếp tục – muốn cách nào cũng được.”
Chỉ còn một phút nữa là tới sáu giờ. Anh rít mạnh một hơi thuốc, cảm thấy trái tim mình vọt lên cao, còn hơn chiếc máy bay anh thường lái. Một phụ nữ trẻ đang đi tới. Khuôn mặt cô hình trái soan thanh tú, mái tóc màu vàng của cô buông thành búp sau vai. Mắt cô màu xanh của biển, môi và cằm cô xinh đẹp. Trong bộ đồ xanh ngọc thạch, cô là hình ảnh của mùa xuân tươi sắc. Anh bắt đầu bước về phía cô, quên để ý là cô không cài bông hoa hồng, và khi anh tới gần thì nụ cười gợi cảm thoáng hiện trên môi cô.
“Anh chàng quân nhân đang đến với tôi đó hả?” Cô gái thì thầm. Không tự chủ được, anh tới gần hơn. Và rồi anh chợt trông thấy Hollis Meynell. Bà đứng ngay sau cô thiếu nữ, trạc ngoài bốn mươi, mái tóc màu xám nằm gọn dưới chiếc mũ cũ. Bà có hơi đẫy đà, chân đi đôi giày gót thấp. Nhưng bà cài một bông hồng trên ve áo bạc màu. Trong khi đó cô gái mặc bộ đồ xanh ngọc thạch vội vã bỏ đi.
Blandford có cảm tưởng như mình bị tách làm đôi: anh vừa tha thiết muốn bước theo người thiếu nữ, lại vừa cảm thấy phải đến với người thiếu phụ đã hòa hợp và nâng đỡ tâm hồn anh. Bà đang đứng kia, khuôn mặt bầu bĩnh dễ thương và đầy thông cảm. Mắt thiếu phụ bừng lên một tia ấm áp.
Trung úy Blanford không còn cảm thấy do dự nữa. Tay anh cầm cuốn sách bìa da mang theo – cuốn Of Human Bondage để thiếu phụ có thể nhận diện ra anh.. Đây không phải là tình yêu, nhưng là cái gì đó còn quý hơn nữa – một tình bạn mà anh hằng ấp ủ và mãi mãi biết ơn. Anh cúi chào người thiếu phụ, đưa cuốn sách về phía bà, cho dù trong lúc mở lời anh cảm thấy có cái gì đó cay đắng trong nỗi thất vọng.
“Tôi là trung úy John Blandford, và bà… có phải là Hollis Meynell. Tôi vui mừng được gặp bà. Tôi mời bà đi dùng cơm tối nay nhé.” Khuôn mặt người thiếu phụ bừng lên ánh hân hoan cởi mở với nụ cười trên môi. “Ta không hiểu toàn bộ câu chuyện này ra sao cả, con trai ạ.” Bà nói. “Cô thiếu nữ bận bộ đồ màu ngọc thạch kia – người vừa mới bước đi đó – yêu cầu ta cài bông hồng này lên áo. Và cô ấy bảo nếu con mời ta đi ăn thì ta sẽ cho con biết là cô ấy đang chờ con ở cái tiệm ăn lớn bên kia đường. Cô ấy bảo đây chỉ là một phép thử thôi. Ta cũng có hai con trai trong quân đội nên ta coi con cũng như con mình vậy.”
( Nguon : Tran Thuy Mai)

Đăng bởi: Ngô Minh | 01.11.2011

TRỜI HỠI LÀM SAO CHO KHỎI…LỌA ?

Trời hỡi làm sao cho khỏi… Lọa???

*Nguyễn Ngọc Tư*

Lúc rày nghe nói ngư dân nước mình bị tàu Lọa ăn hiếp, bắt bớ, đánh đuổi dữ quá, sông quê mình bị Lọa bóp họng từ xa, đất quê mình bị Lọa che lấn từng tấc một… tinh thần dân tộc của chú Tư bừng bừng trỗi dậy, chú liền họp mặt gia đình thông báo từ nay cấm không xài đồ của nước Lọa nữa, không lý gì nó bức hiếp chà đạp mình vậy mà mình cứ nhơn nhơn xài đồ Lọa, làm giàu cho nó.

- Phải chống lại sự xâm lăng của Lọa ngay từ trong nhà mình – Chú nói với sự quyết tâm ngút ngất.

Ở nhà chú Tư, lệnh chú là lệnh trời. Thím Tư là ngừơi đầu tiên cảm nhận trời sập cái rầm xuống đầu mình, tối tăm mày mặt, cái phim Lọa “yên yên mông mông” mà thím đang coi đang tới khúc chia ly mùi mẩn gay cấn. Nhưng giờ trong nhà đang có chiến dịch tẩy chay hàng Lọa, nên ti vi hầu như không hoạt động. Chú để cái búa cạnh nó, chú nói, hễ phát hiện ra ai coi phim Lọa, nghe nhạc Lọa là chú bửa… ti vi cho tan nát đời con… chip luôn.

Tánh chú nói là làm, ai cũng ớn. Bàn thờ nhà chú giờ chưng toàn trái cây héo, bởi trái cây mà tươi rói căng mọng chắc chắn là từ bên Lọa chở qua. Đồ chơi của thằng Tu Ti cháu nội chú bị đem bán ve chai hơn một nữa do “made in Lọa”. Thằng Sáu buộc phải cho không cái điện thoại Lọa mua có hơn một triệu mà coi được ti vi, nghe nhạc lồng lộng, nó mua lại cái di động hiệu Nó Kìa. Đem về chú Tư săm soi rồi hét lên, cha chả cái thằng Sáu, điện thoại này cũng sản xuất ở Lọa nghen mậy. Thằng Sáu mặt xanh như tàu lá, chạy đi đổi lại cái điện thoại Việt cho chắc ăn. Mấy bữa sau đọc báo thấy điện thoại nhãn Việt toàn đặt hàng gia công bên Lọa, thằng Sáu kêu chú Tư cho năm triệu, cỡ tiền đó mới mong hàng không liên quan tới đất nước ất ơ kia. Chú Tư đổ mồ hôi hột, nhưng cố bấm bụng vì những đồng bào đau khổ của mình, vì yêu nước mình nên mua điện thoại… Nhật Bản cho con nó xài.

Rắc rối đâu chỉ có vậy, cái phim Việt “Thái Sư Trần” nhưng quay cảnh bên Lọa, cả son phấn trên mặt diễn viên cũng do người Lọa phết lên. Chú Tư tức mình nói với thằng Hai, tao chống mắt coi làm phim Lý Thường Kiệt thì đi quay ở đâu, tại vì ông Kiệt này chống nước Tống, tức là tiền thân của nước Lọa, họ đâu có ngu mà cho mình qua đất họ quay phim chửi họ. Thằng Hai cười, cũng chưa biết sao à tía, tại vì phim lịch sử nước mình hay mặc nhầm quần áo của Lọa lắm, nói chuyện giống y phim Lọa nói, sao tía cự được, tía có sống ở một ngàn năm trước đâu.

Chú Tư cảm thấy ngán ngẩm lắm rồi, tối qua thím Tư mặc cái áo ngủ mỏng tang mới mua, liếc qua mà chú nóng bừng ngây ngất, ai dè áo mang mác Lọa, làm chú mất hứng quá chừng. Ngó qua ngó lại trong nhà thấy cái gì cũng của Lọa, chén ăn cơm, ly uống nước, hột gà, hột quẹt, đèn pin, tới cây đập ruồi của made in Lọa nữa là sao là sao là sao ? Chú vừa tống chúng ra ngoài đống rác vừa kêu trời.

Nhà trống trơ, vợ con chú ủ rủ, đồ Lọa bị đẩy ra khỏi nhà mang theo bao nhiêu vui thú trên đời, không phim Lọa ti vi chẳng có gì để thím coi, con Út Chín phải lén đọc mấy tờ “Nhí Nhảnh”, “Nhí Nhố” ở ngoài đường, đem về nhà chú Tư thấy trong đó toàn là hình diễn viên Lọa là chết chắc, Út Mười không có con sâu nhồi bông gòn để ôm ngủ, nó trằn trọc đêm đêm. Một bữa thằng Hai đòi đổi tên, chớ tên nó lai Lọa quá, gì mà Hà ĐạiCương, phải đổi lại là Sông LớnCứng, thằng Ba Hà Đức Minh thì đổi là Sông Nết Sáng, thí dụ vậy… Mà tía cũng phải đổi thành Sông gì đó nghen. Con đi hỏi thủ tục đổi tên rồi, đóng chín dấu, qua bốn cửa là xong, nhà mình thuần Việt. Nhưng con lo mấy cái đơn xin không biết viết sao cho nó Việt hết cỡ, thí dụ “Độc lập – tự  do – hạnh phúc” thì mình viết là “một mình sung sướng thoải mái” được không ?

Chú Tư ngã vật ra chết giấc. Cũng may nhà còn sót lại chai dầu cù là nhập bên.. Lọa mới đánh gió lay tỉnh chú được. Thiệt tình !

Cải cách toàn diện để phát triển đất nước!
NQL: Có thể xem đây là một sự kiện hy hữu, khi 13 các giáo sư tiến sỹ nổi tiếng đang công tác tại nhiều quốc gia: Hồ Tú Bảo, Nguyễn Tiến Dũng, Trần Hữu Dũng, Giáp Văn Dương, Nguyễn Ngọc Giao, Ngô Vĩnh Long, Vĩnh Sính, Nguyễn Minh Thọ, Trần Văn Thọ, Cao Huy Thuần, Nguyễn Văn Tuấn, Hà Dương Tường, Vũ Quang Việt và Phạm Xuân Yên đã cùng nhau soạn thảo và công bố những ý kiến về phát triển đất nước. Mình thấy đấy là những ý kiến chuẩn không cần chỉnh. Chưa nói đến nội dung, chỉ cần biết các trí thức hàng đầu đã ngồi lại với nhau để soạn ra văn bản 90 trang như thế này cũng đủ biết tấm lòng yêu nước của họ nồng nàn biết nhường nào. Không biết Đảng và Nhà nước ứng xử với 90 trang góp ý này như thế nào, thì cũng chỉ hai hướng thôi: Một là nghe theo, hai là ném vào sọt rác và gọi 13 ông giáo sư tiến sĩ này là lực lượng thì địch. Chưa biết câu chuyện sẽ đi theo hướng nào, xin xem hồi sau sẽ rõ.
Quê choa xin đăng lại phần giới thiệu và tóm tắt những ý chính. Chi tiết có thể xem thêm tại trang Viet-Studies. Xin cảm ơn các tác giả.
Lời giới thiệu
Văn bản dưới đây được soạn thảo trong mùa hè vừa qua, khi Trung Quốc xâm phạm chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông. Là người Việt Nam, không ai không khỏi giật mình tự đặt câu hỏi: làm sao đối phó với hiểm họa ngoại xâm khi nội lực của chúng ta đang có nhiều vấn đề đáng lo ngại: kinh tế bấp bênh, giáo dục và y tế xuống cấp, khoa học và công nghệ non yếu, đạo đức xã hội suy đồi, tham nhũng tràn lan, bộ máy nhà nước thiếu hiệu quả.
Qua trao đổi giữa các đồng nghiệp trong giới đại học và nghiên cứu làm việc ở nhiều nơi trên thế giới, văn bản này được viết ra, nhằm phân tích những yếu kém của nội lực Việt Nam và đề nghị những biện pháp cải cách. Xuất phát từ nhiều chỗ đứng khác nhau, nhưng cùng bức xúc như nhau trước tình hình nghiêm trọng của đất nước, những người soạn thảo đã làm việc trên tinh thần đồng thuận. “Bản Ý Kiến” này là kết quả của vài trăm điện thư trao đổi, đúc kết nhiều quan điểm khác nhau để đi đến một “mẫu số chung”: Sự cần thiết của cải cách thể chế, con đường ngắn nhất và hiệu quả nhất để tăng cường nội lực, thực hiện đoàn kết, bảo vệ đất nước, và phát triển bền vững.
Văn bản này không phải là một bản kiến nghị, cũng không phải đưa ra để lấy chữ ký, mà cốt chia sẻ suy nghĩ về cải cách toàn diện để phát triển đất nước. Văn bản đã được gửi đến các ủy viên trong Bộ Chính trị cách đây khoảng một tháng và đến Quốc hội cùng Chính phủ gần đây hơn. Nay xin trân trọng gửi đến bạn đọc.
Tóm tắt văn bản.
Việt Nam chúng ta đang đứng trước một khúc ngoặt lịch sử. Theo dõi những diễn tiến của xã hội Việt Nam, đặc biệt trong những năm gần đây, chúng tôi thật sự lo âu về tương lai của đất nước. Bản ý kiến này không nêu lại những thành tựu Việt Nam đã đạt được, mà tập trung vào vấn đề nội lực Việt Nam đang suy yếu: Kinh tế bấp bênh, giáo dục và y tế xuống cấp, khoa học và công nghệ non yếu, đạo đức xã hội suy thoái, tham nhũng tràn lan, bộ máy nhà nước nhiều bất cập. Trong lúc đó, kinh tế ngày càng lệ thuộc vào Trung Quốc và đe dọa về an ninh từ nước láng giềng phương Bắc ngày càng rõ nét.
Năm 2008 lần đầu tiên thu nhập đầu người của Việt Nam vượt qua ngưỡng 1.000 USD, thoát ra được vị trí của nước thu nhập thấp. Nhưng ta đã mất gần 35 năm kể từ khi đất nước thống nhất, nếu kể từ khi đổi mới cũng gần một thế hệ mới đạt được thành quả còn khiêm tốn này. Trong cùng thời gian đó, nhiều nước ở châu Á đã đạt thành quả được cả thế giới ngưỡng mộ. So với các nước trong vùng và trên thế giới có cùng điều kiện phát triển trước đây, nước ta hiện nay vẫn còn ở vị trí rất thấp trong hầu hết mọi lĩnh vực, từ kinh tế, giáo dục đến khoa học. Mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” mà Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra vẫn còn rất xa. Hiện nay chưa có dấu hiệu cho thấy Việt Nam có thể đạt mục tiêu trở thành nước công nghiệp hiện đại vào năm 2020.
Khi phân tích vấn đề, chúng tôi thấy có hai nguyên nhân sâu xa, liên quan đến thể chế nói chung, và cơ chế tuyển chọn người lãnh đạo và quản lý nhà nước nói riêng.
Thứ nhất, thể chế còn thiếu dân chủ. Có thể nói rằng thể chế hiện nay là di sản của thời chiến tranh, bao cấp và chủ nghĩa xã hội kiểu Lênin-Stalin, với đặc điểm cơ bản là hạn chế dân chủ, hạn chế tự do tư tưởng, thiếu tinh thần thượng tôn pháp luật. Hệ quả là xã hội suy giảm tính năng động và hiệu quả, hạn chế sáng tạo trong khoa học và giáo dục, không chống được suy thoái giá trị đạo đức và văn hóa, bất công và cách biệt xã hội tăng lên, và không khuyến khích việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước để phát triển. Chế độ tiền lương bất hợp lí trong cơ chế “xin cho” đã đẩy nhiều công chức vào con đường tham nhũng, và làm cho nhiều nhà giáo, bác sĩ, nhà khoa học,… không chuyên tâm với nghề nghiệp và không giữ được đức tính cao đẹp vốn có từ xưa. Hoàn toàn đáng lo ngại khi thể chế hiện nay đang hạn chế sức mạnh của đất nước và làm lung lay nền tảng của xã hội.
Thứ hai, là hệ quả của nguyên nhân thứ nhất, trong thành phần lãnh đạo đất nước chưa có nhiều người tài giỏi, bản lĩnh, chịu trách nhiệm cao và quy tụ được bên mình những trí thức và cộng sự chân chính. Từ trung ương đến địa phương, nhiều quan chức thiếu cả năng lực và đạo đức cần thiết. Tình trạng bằng cấp giả và chạy chức chạy quyền đã trở thành vấn nạn nhức nhối. Việc lợi dụng vị trí công quyền để trục lợi cá nhân đang là hiện tượng phổ biến ở nhiều cán bộ nhà nước.
Theo chúng tôi, phải có một cuộc cải cách mang tính cách mạng về thể chế mới giải quyết được hai vấn đề này. Chúng tôi nghĩ rằng trách nhiệm này trước hết thuộc về đảng cầm quyền và trên thực tế hiện nay cũng chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới đảm nhận được vai trò này.
Vì vậy, chúng tôi đề nghị Đảng Cộng sản Việt Nam xem xét thực hiện 8 điểm sau:
1. Kiên quyết xây dựng nhà nước dân chủ pháp quyền.
Không có ai và tổ chức nào đứng trên và đứng ngoài pháp luật. Để thực hiện được điều này, cần triệt để tôn trọng Hiến pháp và đảm bảo sự thực thi Hiến pháp theo tinh thần hiến pháp là trên hết. Đồng thời, cần có cơ chế kiểm soát quyền lực, cần có hệ thống tòa án độc lập để chế tài được các hành vi lạm dụng quyền hành, tham nhũng, làm giàu bất chính và ức hiếp dân chúng.
Triệt để dân chủ hóa, đúng như mục tiêu mà Hiến pháp đề ra. Đảng cần chứng minh bằng hành động thực tế rằng đó không phải là khẩu hiệu mà chính là thao thức thường xuyên của lãnh đạo, của các cơ quan công quyền. Để thực hiện dân chủ trong khuôn khổ pháp lý hiện nay, cần thật sự triển khai và áp dụng nội dung của Hiến pháp. Trước hết, phải thật sự tôn trọng các quyền mà Hiến pháp đã ghi rõ, đặc biệt là quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, và được quyền lập hội, quyền biểu tình trong khuôn khổ pháp luật, và quyền bình đẳng trước pháp luật.
Pháp luật nhằm bảo đảm quyền tự do của người này không xâm phạm đến quyền tự do của người khác chứ không phải nhằm hạn chế hoặc triệt tiêu tự do. Tất nhiên, tự do cá nhân phải tôn trọng lợi ích tập thể, nhưng không nên viện lợi ích tập thể với mục đích triệt tiêu tự do. Cụm từ “theo quy định của pháp luật” phải được hiểu trong tinh thần đó để các quyền được Hiến pháp công nhận có giá trị thực sự chứ không phải chỉ có tính cách lý thuyết. Hiện nay, không thiếu thí dụ luật được viết nhằm hạn chế quyền công dân được ghi trên Hiến pháp. Thí dụ điển hình là luật bầu cử và Quyết định 97. Luật bầu cử hạn chế quyền ứng cử của công dân vì đòi hỏi người tự ứng cử phải được Mặt trận Tổ quốc thông qua. Quyết định 97 của Thủ tướng nhằm hạn chế quyền phản biện chính sách của trí thức. Thật ra, tất cả các quyền của công dân đều đã nằm trong Hiến pháp Việt Nam, chỉ cần triển khai và thật sự áp dụng.
Cần bảo đảm nền móng của dân chủ: đó là tự do ngôn luận. Quyền tự do ngôn luận mà Hiến pháp đã ghi rõ cần đi vào thực chất với việc bảo đảm tính công khai và minh bạch của các hoạt động công quyền và quyền tranh luận của xã hội và công dân đối với những hoạt động đó. Những hạn chế cần thiết của tự do ngôn luận, như các bí mật quốc gia (thuộc phạm vi hình sự) hay bí mật kinh doanh, đời tư của công dân (dân sự), phải được ghi rõ trong các đạo luật (được quốc hội thông qua) chứ không phải là qua các nghị định, quyết định của hành pháp.
2. Tiếp thu các tư tưởng tiến bộ nhằm thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Không nên tự ràng buộc vào một ý thức hệ duy nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh nếu chỉ biết học thuyết Mác-Lênin, không tiếp thu mọi tư tưởng tiến bộ của thế giới thì đã không viết được bản Tuyên ngôn độc lập gói ghém những giá trị phổ quát của nhân loại. Mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” là rất hợp lòng dân. Các hệ tư tưởng là công cụ nhằm giúp đạt mục tiêu trên. Kinh nghiệm trên thế giới cho thấy một xã hội muốn phát triển cần có tự do tư tưởng và tự do ngôn luận do đó cần thoát khỏi sự ràng buộc vào một ý thức hệ duy nhất. Ra khỏi sự ràng buộc vào ý thức hệ đó cũng sẽ cho thấy Việt Nam độc lập với Trung Quốc về mặt tư tưởng và đi trước Trung Quốc về cải cách thể chế.
3. Xây dựng một nhà nước vững mạnh bằng cách minh bạch hóa việc bổ nhiệm các chức vụ cao cấp, thực hiện việc tuyển chọn công chức theo qui trình khách quan dựa trên khả năng, cải cách chế độ tiền lương cho hợp lý.
Nêu cao trách nhiệm cá nhân trong hệ thống công quyền. Tất cả công chức và người lãnh đạo trong hệ thống nhà nước phải chịu trách nhiệm cá nhân về nhiệm vụ của mình, không được ẩn náu dưới danh nghĩa trách nhiệm tập thể. Cơ chế tập trung dân chủ khi đem áp dụng trong việc điều hành chính phủ đã bị nhiều người lợi dụng để bao biện cho thói vô trách nhiệm, ỷ lại, đổ lỗi cho tập thể, cơ hội, bè phái, “cha chung không ai khóc”. Ngoài ra, cần xây dựng cơ chế tách bạch sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước để tránh sự chồng chéo, áp đặt, kém hiệu quả.
Minh bạch hóa trong bổ nhiệm tất cả các chức vụ, kể cả vị trí cao cấp. Tạo cơ chế công khai và dân chủ hóa để có thể tuyển chọn những nhà lãnh đạo tài đức và đáp ứng được đòi hỏi của dân tộc, được dân tin tưởng và được thế giới nể trọng. Không nên tiếp tục cách làm hiện nay là dàn xếp trong nội bộ Đảng rồi đưa ra Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm. Những người đủ tài đức nhưng không phải đảng viên cũng cần được xem xét bổ nhiệm vào các vị trí quan trọng. Chính phủ Hồ Chí Minh sau Cách mạng Tháng tám cũng đã có phương châm này.
Xây dựng bộ máy công chức làm việc có trách nhiệm và hiệu quả, và có cơ chế tuyển chọn khách quan dựa trên tài năng chuyên môn. Hiệu suất của bộ máy công quyền là điều kiện tối cần thiết để kinh tế, giáo dục, văn hóa phát triển nhanh và lành mạnh. Cho nên, việc tuyển chọn công chức phải dựa trên tiêu chí chuyên môn và đạo đức, độc lập với quan điểm chính trị ở nhiều loại công việc.
Cải cách chế độ tiền lương nhằm bảo đảm người công chức có thể sống bằng đồng lương của mình. Công chức phải được bảo đảm sống bằng đồng lương để tập trung vào công việc. Chế độ tiền lương cần hợp lí và phù hợp với khả năng, cống hiến thực của công chức để có thể thu hút được những người có khả năng nhất trong xã hội vào bộ máy công quyền. Đây là một trong những vấn đề cốt lõi cần đặt thành mục tiêu ưu tiên phải thực hiện ngay.
4. Phát triển kinh tế theo hướng bền vững trong đó ưu tiên hàng đầu là tạo công ăn việc làm và nhanh chóng cải cách việc điều hành và quản lý doanh nghiệp quốc doanh trong đó có các tập đoàn kinh tế.
Về việc phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm cho người lao động cần được đặt thành ưu tiên hàng đầu. Để phát triển bền vững và hướng tới toàn dụng lao động cần đẩy mạnh công nghiệp hóa theo hướng ngày càng cạnh tranh trên thị trường quốc tế và chú trọng phát triển nông thôn.
Đề nghị lập một hội đồng tư vấn chiến lược phát triển để giúp chính phủ vạch ra chiến lược phát triển có trọng điểm, không dàn trải và dẫm chân lên nhau, kết hợp thỏa đáng lợi ích quốc gia và lợi ích vùng nhằm phát triển nền kinh tế có chất lượng. Hội đồng này tập trung những chuyên gia có trình độ, có chức năng xây dựng và giám sát việc thi hành chiến lược phát triển với đủ thẩm quyền và chế độ đãi ngộ thích hợp. Bộ phận này phải được đặt trên tất cả các bộ ngành liên quan tới lĩnh vực kinh tế, đứng đầu là Thủ tướng hoặc Phó thủ tướng thường trực, có những chuyên viên tài năng, có cơ chế tiếp thu ý kiến của giới doanh nhân và trí thức. Bộ phận chuyên trách này sẽ có tiếng nói quan trọng trong việc quyết định các dự án lớn, trong quy hoạch phát triển và xây dựng kết cấu hạ tầng.
Cải cách chế độ sở hữu ruộng đất và tạo cơ hội có việc làm ngoài nông nghiệp là hai trụ cột để nâng cao mức sống của người dân ở nông thôn. Cần có chiến lược về đất đai, qui hoạch rõ rệt các vùng chuyên canh nông nghiệp và vùng có thể phát triển công nghiệp, cải cách để xác định rõ đâu là đất tư hữu và đâu là đất công hữu, tiến tới xóa bỏ hẳn chính sách coi đất đai là sở hữu toàn dân như hiện nay. Tư hữu hóa sẽ là cơ sở để giải quyết việc tập trung ruộng đất manh mún hiện nay để thực hiện sản xuất lớn nông nghiệp và phục vụ công nghiệp hóa nông thôn. Mặt khác, như nhiều người đã chỉ ra, đất đai là một nguồn tham nhũng rất lớn, gây hàng ngàn vụ khiếu kiện của dân trong những năm qua, tệ nạn này sẽ được hạn chế rất nhiều nếu người dân trên nguyên tắc được toàn quyền sở hữu (thay vì chỉ có quyền sử dụng) đất đai của mình.
Cần xóa bỏ chế độ hộ khẩu để người dân khi đến đô thị làm việc có thể yên tâm với cuộc sống ở đó và không cần giữ lại quyền sử dụng đất ở nông thôn.
Cần nhanh chóng cải cách việc điều hành và quản lý doanh nghiệp quốc doanh đặc biệt là các tập đoàn kinh tế. Thời gian qua tập đoàn kinh tế đã trở thành nơi hội tụ của các nhóm lợi ích và người có quyền chức, gây ra bất ổn cho nền kinh tế và tình trạng tham nhũng bành trướng. Vì thế, cần đặt các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế, trong khung pháp lý chung của luật pháp; xóa bỏ việc hành pháp trực tiếp lãnh đạo kinh doanh và thay vào đó là Hội đồng quản trị độc lập có nhiệm kỳ, do Quốc hội hay Hội đồng Nhân dân bổ nhiệm, nhằm tránh biến tập đoàn thành một phần của các nhóm lợi ích. Ngoài ra, cần xóa bỏ các ưu đãi đặc biệt (về tín dụng, thuế, bảo lãnh nợ,…) cho doanh nghiệp quốc doanh; và không phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp quốc doanh và ngoài quốc doanh.
5. Ngăn chặn sự xuống cấp của văn hóa và đạo đức xã hội.
Văn hóa và đạo đức xã hội đang xuống cấp nghiêm trọng. Kỷ cương phép nước và nhân phẩm của con người đang bị coi thường. Chưa bao giờ cái xấu, cái giả và cái ác, biểu hiện ở nhiều dạng nhiều mặt, lại xuất hiện nhiều như bây giờ. Các giá trị văn hóa tốt đẹp của nhân loại chưa kịp nuôi dưỡng và bén rễ thì đã bị những cái xấu, cái giả lấn át. Thói háo danh, hình thức phô trương, mê tín dị đoan lại càng được dịp lên ngôi. Vì thế, cần quảng bá, khuyến khích những giá trị văn hóa tiến bộ của nhân loại như tự do, bình đẳng, bác ái, pháp quyền… và khôi phục những tinh hoa văn hóa truyền thống để làm nền tảng cho mọi sinh hoạt của xã hội. Cần nghiêm khắc xử lý cán bộ ở các cấp cao khi có hiện tượng sai phạm đạo đức để làm gương. Đặc biệt quan trọng là việc sử dụng hiệu quả vai trò tích cực của công luận để phê phán và ngăn chặn sự suy thoái của đạo đức và văn hóa.
6. Thực sự làm cho giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu.
Nguồn lực lớn nhất của Việt Nam là con người. Vì thế, chiến lược phát triển cần phải xây dựng theo hướng chủ yếu dựa vào nguồn nhân lực ngày càng có kỹ năng và khả năng làm chủ công nghệ cao. Chiến lược phát triển cũng cần phải vì cuộc sống của đại đa số dân chúng nhiều hơn nữa. Do đó, phải có biện pháp hiệu quả nhằm cụ thể hóa các chính sách về giáo dục, khoa học và công nghệ. Đồng thời, lãnh đạo phải cho thấy quyết tâm chăm lo sức khỏe của người dân qua các cải cách về y tế.
Cần tránh chính trị hóa học đường. Thay vào đó, cần giáo dục đạo đức, khích lệ tinh thần yêu nước, trách nhiệm công dân, và ý chí phấn đấu của tuổi trẻ. Điều tối quan trọng là cần đảm bảo tự do học thuật, tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở đào tạo.
Do tầm quan trọng và tình hình ngày càng xuống cấp của giáo dục, chúng tôi đề nghị Thủ tướng trực tiếp chịu trách nhiệm về giáo dục, cụ thể là chỉ đạo nội dung cải cách, theo sát việc triển khai các chiến lược, chính sách, và chịu trách nhiệm về kết quả của các cải cách lớn.
7. Thực hiện đoàn kết dân tộc
Chấp nhận và dung hòa với những người bất đồng chính kiến nhưng cùng mục tiêu phát triển đất nước. Đặc biệt trước những diễn biến phức tạp và nguy hiểm ở biển Đông, hòa hợp hòa giải dân tộc cũng có nghĩa là cổ vũ lòng yêu nước của mọi người dân không phân biệt chính kiến, quá khứ. Chúng tôi đặc biệt đề nghị nên có hình thức ghi nhận và biểu dương sự dũng cảm hy sinh của những quân nhân Việt Nam Cộng hòa bảo vệ Hoàng Sa năm 1974.
8. Triển khai một đường lối ngoại giao độc lập, dựa trên một thể chế dân chủ, chú trọng hơn đến quan hệ chiến lược với ASEAN và Hoa Kỳ, trong khi tiếp tục coi trọng quan hệ hữu nghị và bình đẳng với Trung Quốc.
Quan hệ Việt Nam và Trung Quốc cần được xây dựng trên cơ sở hoàn toàn bình đẳng, nhưng không xem đó là quan hệ đặc biệt, càng không thể coi đó là đồng chí tốt. Việt Nam không thể “hợp tác toàn diện” với một nước lớn và mạnh hơn mình hàng chục lần và có những quan hệ phức tạp về lịch sử và địa chính trị, nhất là đang thể hiện rõ tham vọng và đã có những hành động bành trướng, xâm hại chủ quyền và an ninh quốc gia của Việt Nam.
Về Biển Đông, Quốc hội Việt Nam cần ra một tuyên cáo đặc biệt về Công hàm của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958, khẳng định đó không phải là sự thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc ở Hoàng Sa và Trường Sa. Công hàm Phạm Văn Đồng chỉ là thiện chí của Việt Nam ủng hộ Trung Quốc trong việc tranh chấp với Mỹ về an ninh ở vùng biển gần Đài Loan. Tuyên cáo này vừa để làm rõ quan điểm của Việt Nam trước dư luận quốc tế, vừa xóa bỏ những ngờ vực của không ít người Việt Nam ở trong và ngoài nước, góp phần tăng thêm tình đoàn kết dân tộc trước hiểm họa ngoại xâm.
Cần đoàn kết với Philippines, Malaysia và Brunei trong việc chống lại tuyên bố “Đường Lưỡi Bò” của Trung Quốc. Chúng tôi đề nghị Việt Nam đưa ra đề án với ASEAN đặt tên vùng biển Đông nước ta (mà Trung Quốc và nhiều nước gọi là biển Nam Trung Hoa) là Biển Đông Nam Á.
Trước bước ngoặt lịch sử của đất nước hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam mang một trách nhiệm nặng nề đối với tiền đồ dân tộc. Chúng tôi mong thấy một cuộc cách mạng mới về thể chế để Việt Nam có thể phát triển thành một nước giàu mạnh và tự chủ.
Nhóm tác giả:
Hồ Tú Bảo Giáo sư Tin học, Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Nhật Bản, Nhật Bản.
Nguyễn Tiến Dũng Giáo sư Toán học, Đại học Toulouse, Pháp.
Trần Hữu Dũng Giáo sư Kinh tế học, Đại học Wright State, Hoa Kỳ.
Giáp Văn Dương Nhà nghiên cứu (Vật lý), Đại học Quốc gia Singapore.
Nguyễn Ngọc Giao Nhà báo, nguyên Giảng viên Toán, Đại học Paris VII, Pháp.
Ngô Vĩnh Long Giáo sư Sử học, Đại học Maine, Hoa Kỳ.
Vĩnh Sính Giáo sư danh dự (Sử học), Đại học Alberta, Canada.
Nguyễn Minh Thọ Giáo sư Hóa học, Đại học Leuven, Bỉ.
Trần Văn Thọ Giáo sư Kinh tế học, Đại học Waseda, Nhật Bản.
Cao Huy Thuần Giáo sư danh dự (Chính trị học), Đại học Picardie, Pháp.
Nguyễn Văn Tuấn Giáo sư Y khoa, Đại học New South Wales, Úc.
Hà Dương Tường Giáo sư danh dự (Toán học), Đại học Công nghệ Compiègne, Pháp.
Vũ Quang Việt Chuyên gia tư vấn Thống kê Kinh tế cho Liên Hiệp Quốc, Myanmar, Philippines và Lào; nguyên chuyên viên cao cấp Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ.
Phạm Xuân Yêm Nguyên Giám đốc nghiên cứu Vật lý, Đại học Paris VI và Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học, Pháp

Đăng bởi: Ngô Minh | 06.11.2011

GDP VÀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG

Câu chuyện kinh tế cuối năm:

GDP VÀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG

Ngô Minh

Lâu nay trong các báo cáo tổng kết tình hình kinh tế chúng ta hay dùng các chỉ số như GDP, tốc độ tăng GDP, GDP bình quân đầu người…để đo tốc độ phát triển. Theo dõi báo chí, chúng tôi thấy đa số các tỉnh đều công bố những con số chóng mặt : Tăng trưởng GDP của các địa phương 5 năm qua đều tăng từ 11 đến 13%, có tỉnh đến 15%, có nhiều huyện thị còn đạt tốc độ tới 17%. Nghĩa là 64 tỉnh thành nước ta đều có tốc độ tăng GDP khủng khiếp , thế giới chưa từng có ! Nghe những con số này ,các nhà tuyên truyền thì phấn khích, còn các nhà kinh tế lại rất băn khoăn hỏi : 64 tỉnh thành tăng trưởng GDP rất cao, tại sao GDP cả nước lại tăng ít hơn ? Từ 15 năm nay, GDP nước ta chưa bao giờ vượt ngưỡng 8,5% . Năm 2005, GDP nước ta đạt 8,4%, một trong những nước cao nhất thế giới. Năm 2008 , do thiên tai, biến động kinh tế, ảnh hưởng khủng hoảng tài chính Mỹ, dự kiến GDP cả nước chỉ khoảng 7 %. Con số đó chỉ bằng nửa tốc độ tăng GDP của nhiều tỉnh ! Vậy con số nào là thật ?
Theo ông Vũ Thành Tự Anh trên Thời báo Kinh tế Sài gòn thì số liệu GDP hiện nay có 32 nghịc lỹ lớn . Nghịch lý 1: “ Tất cả các địa phương đều tăng trưởng cao hơn mức trung bình của cả nước. Vì khuôn khổ bài báo không cho phép liệt kê danh sách tất cả các tỉnh, thành trong toàn quốc nên bảng 1 chỉ tóm tắt tốc độ tăng GDP của các vùng. Theo bảng này, nếu tổng hợp số liệu GDP do cục thống kê của các tỉnh, thành công bố thì tốc độ tăng GDP của Việt Nam trong giai đoạn 2000-2007 là 10,8%, trong khi nếu theo số liệu của Tổng cục Thống kê thì con số này chỉ là 7,7% – một tỷ lệ “lạm phát GDP” lên tới 40,3%.”
“Nghịch lý 2: Đóng góp vào tăng trưởng GDP của 20% số tỉnh lớn hơn của cả nước (bảng 2). Nghịch lý này trên thực tế là hệ quả của Nghịch lý 1, tuy nhiên vẫn được phân tích để cung cấp một cái nhìn rõ ràng hơn về mức độ lạm phát GDP ở cấp độ địa phương. Số liệu của bảng 2 cho thấy chỉ riêng 11 tỉnh đứng đầu về GDP của cả nước trong cả ba năm 2008, 2009, và 2010 cùng nhau “đóng góp”… trên 100% cho tăng trưởng GDP của cả nước. Thậm chí trong năm 2010, tỷ lệ “đóng góp” này còn lên tới 121%.
Nghịch lý về GDP ảo và lạm phát GDP đã tồn tại dai dẳng từ lâu và nghịch lý không kém là mặc dù tất cả các cơ quan thống kê và hoạch định chính sách kinh tế đều biết, nhưng tình trạng này không hề được sửa chữa, trong đó hai nguyên nhân chính “

Vậy GDP là gì ? Theo Từ điển kinh tế do Trung tâm Đào tạo và Nghiên cứu khoa học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh (1994), thì “GDP là tổng sản phẩm quốc nội, là tổng trị giá tiền tệ của tất cả các sản phẩm cuối cùng và dịch vụ phát sinh trong một nền kinh tế trong một năm” . Theo định nghĩa trên , thì GDP cả nước sẽ bằng GDP 64 tỉnh thành cộng với GDP khu vực kinh tế trung ương . Nhất định GDP khu vực kinh tế trung ương ( các tập đoàn, TCT ) bao giờ cũng tăng cao hơn các địa phương vì có ưu thế về vốn, thiết bị, thị trường. Theo cách tính đó thì GDP bình quân của nước ta 5 năm qua phải tăng từ 12- 15% mỗi năm trở lên, chứ không phải phấn đấu cật lực mới được 7- 8,4% ! Cho nên cách tính GDP của các địa phương đang là vấn đề nghi vấn : Một là thiếu chính xác? Hai là mang nặng bệnh chạy theo thành tích,”màu cờ sắc áo”.
Nếu theo tốc độ tăng GDP của các tỉnh nêu, thì nông thôn nước ta đã giàu có lắm lắm , nhưng sự thật lại không phải vậy . Bộ mặt nông thôn, đô thị, cuộc sống nhân dân chẳng biến đổi bao nhiêu so với 5 năm trước ? Nhiều con đường ở một số thành phố cấp I, cấp II vẫn ổ voi, ổ gà lởm chởm, mưa xuống là ngập lụt. Nguyên nhân tình trạng đó là do trong “tổng sản phẩm quốc nội” gọi là GDP đó có rất nhiều thứ có trên thực tế , nhưng hiệu quả thì không . Ví dụ các dự án xây dựng kéo dài ,các quy hoạch Khu đô thị đã xây cơ sở hạ tầng, nhưng không kêu gọi được đầu tư; rồi các dự án đầu tư hàng chục tỷ đồng nhưng không phát huy hiệu quả kinh tế như xây chợ mấy năm rồi mà không có người mua bán ; Đường quốc lộ, tỉnh lộ vừa tốn hàng trăm tỷ đồng xây dựng, nâng cấp, qua một mùa mưa lại hư hỏng ,lại đầu tư sửa chữa cũng hơn chừng ấy tiền ; thậm chí kinh phí đầu tư để sữa chữa công trình mới thi công xong đã hư hỏng.v.v… Rồi bao nhiêu nhà máy bao bì xi măng, nhà máy gạch men sứ, nhà máy đường, ximăng lò đứng, lò quay, nhà máy tinh bột sắn, xây dựng cảng nước sâu, khu du lịch…“trời ơi đất hỡi”, thua lỗ triền miên. Tất cả vốn đầu tư không hiệu quả ấy đều được tính hết vào GDP . Ngoài ra, nạn “chạy dự án”, tăng đầu tư bất cứ giá nào nhiều năm nay đã trở thành một “mốt” làm ăn thời thượng của nhiều quan chức. Càng đầu tư nhiều tỷ lệ phần trăm ăn chia bên A, bên B, bên C … càng nhiều ! Bệnh thành tích nặng nề cũng thúc đẩy đầu tư bất cứ giá nào. Càng đầu tư nhiều thì GDP tỉnh càng cao, càng có thành tích .
Như vậy, tăng GDP mấy năm trở lại đây là nhờ tăng đầu tư xây dựng cơ bản cho các dự án đủ các lĩnh vực, chứ chất lượng cuộc sống của người dân thì không được tăng tương ứng. Càng đầu tư nhiều thì GDP càng cao và tốc độ tăng GDP cũng càng cao, và GDP bình quân đầu người càng tăng,địa phương càng được đánh giá “phát triển cao”. Nhưng GDP đó không phản ảnh được chất lượng phát triển.
Chất lượng phát triển của một địa phương thể hiện ở các chỉ tiêu sau đây : Thặng dư, lợi nhuận bổ sung vốn để tái đầu tư , sản phẩm mới và sức cạnh tranh , khả năng phát triển thị trường trong và ngoài nước, thu nhập thực tế của nhân dân thành thị nông thôn tạo nên sức mua của xã hội, đặc biệt là môi trường trong sạch. Bây giờ tỉnh nào nếu kiểm tra cũng phát hiện ra những “VêDan” gây ô nhiễm rất trầm trọng môi trường sinh sống của người dân. Các xí nghiệp công nghiệp, các bệnh viên lớn nhỏ đều thải trực tiếp nước thải ra sông , ao hồ, ảnh hưởng trầm trọng đến chất lượng cuộc sống của cộng đồng. Ở miền Trung hiện nay phần lớn các tỉnh công nghiệp quy mô nhỏ, chắp vá, công nghệ lạc hậu, sản phẩm chất lượng thấp, không có sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước, dẫn đến nhiều doanh nghiệp thua lỗ kéo dài . Tỷ trọng lao động nông -lâm-ngư nghiệp vẫn chiếm trên 70%, lao động thất nghiệp ở nông thôn còn nhiều. Chỉ số GDP bình quân đầu người cả nước được công bố là 650 USD/ người/năm , nhưng thực tế thì đa phần hộ dân nông thôn 6 miệng ăn mỗi năm làm ra hạt lúa củ khoai, con cá chưa đầy ba bốn triệu đồng , nghĩa là bình quân mỗi tháng 100- 150 ngàn đồng/ nhân khẩu! Nền kinh tế vẫn trong tình trạng tự cung tự cấp, ít mặt hàng vươn ra thị trường trong nước và quốc tế mà chỉ đóng khung trong địa bàn tỉnh, huyện ! Đây mới là vấn đề chủ yếu của sự tăng trưởng GDP .
Vì thế chúng tôi đề nghị chính quyền các cấp, cơ quan thống kê và các cơ quan liên quan phải nghiên cứu lại việc tính toán GDP của các địa phương, hướng vào những chỉ tiêu như : chất lượng cuộc cuộc sống người dân, thặng dư, lợi nhuận, sức cạnh tranh, khả năng phát triển thị trường trong và ngoài nước, bảo vệ môi trường; phải điều tra cụ thể thu nhập thực sự của nhân dân thành thị nông thôn, để giúp Đảng và nhà nước có một quyết sách đúng đắn , sát thực tế về đầu tư phát triển kinh tế, xã hội, chứ không nên phấn đấu tăng GDP chạy theo thành tích bằng với bất cứ giá nào

Đăng bởi: Ngô Minh | 07.11.2011

ĐIỀU ĐÓ RỒI CŨNG QUA ĐI…

Điều đó rồi cũng qua đi

Một ngày nọ, Vua Salomon bỗng muốn làm bẽ mặt Benaiah, một cận thần thân tín của mình. Vua bèn nói với ông: “Benaiah này, ta muốn ông mang về cho ta một chiếc vòng để đeo trong ngày lễ Sukkot và ta cho ông sáu tháng để tìm thấy chiếc vòng đó. “

Benaiah trả lời: “Nếu có một thứ gì đó tồn tại trên đời này, thưa đức vua, tôi sẽ tìm thấy nó và mang về cho ngài, nhưng chắc là chiếc vòng ấy chắc phải có gì đặc biệt? “

Nhà Vua đáp: “Nó có những sức mạnh diệu kỳ. Nếu kẻ nào đang vui nhìn vào nó, sẽ thấy bớt vui, và nếu ai đang buồn, nhìn vào nó sẽ thấy bớt buồn”. Vua Salomon biết rằng sẽ không đời nào có một chiếc vòng như thế tồn tại trên thế gian này, nhưng ông muốn cho người cận thần của mình nếm một chút bẽ bàng.

Mùa xuân trôi qua, mùa hạ đến nhưng Benaiah vẫn chưa có một ý tưởng nào để tìm ra một chiếc vòng như thế.

Vào đêm trước ngày lễ Sukkot, ông quyết định lang thang đến một trong những nơi nghèo nhất của Jerusalem. Ông đi ngang qua một người bán hàng rong đang bày những món hàng trên một tấm bạt tồi tàn. Benaiah dừng chân lại hỏi “Có bao giờ ông nghe nói về một chiếc vòng kỳ diệu làm cho người hạnh phúc đeo nó quên đi niềm vui sướng và người đau khổ đeo nó quên đi nỗi buồn không? “. Người bán hàng lấy từ tấm bạt lên một chiếc vòng giản dị có khắc một dòng chữ. Khi Benaiah đọc dòng chữ trên chiếc vòng đó, khuôn mặt ông rạng rỡ một nụ cười.

Đêm đó toàn thành phố hân hoan, tưng bừng đón mừng lễ hội Sukkot.

“Nào, ông bạn của ta, ” Vua Salomon nói, “Ông đã tìm thấy điều ta yêu cầu chưa? “. Tất cả những cận thần đều cười lớn và cả chính vua Salomon cũng cười.

Trước sự ngạc nhiên của mọi người, Benaiah đưa chiếc vòng ra và nói: “Nó đây thưa đức vua”. Khi vua Salomon đọc dòng chữ, nụ cười biến mất trên khuôn mặt vua. Trên chiếc vòng đó khắc dòng chữ: “Điều đó rồi cũng qua đi”

Vào chính giây phút ấy, vua Salomon nhận ra rằng tất thảy những sự khôn ngoan, vương giả và quyền uy của ông đều là phù du, bởi vì một ngày nào đó, ông cũng chỉ là cát bụi.

( Nguồn : Sầm Nguyên)

Ngô Minh

  Cách đây vài ba năm, báo chí đưa tin làm tôi giật mình: Đến năm 2012, Việt Nam phải nhập than đá ! Thế mà đến năm 2011, nước ta đã phải nhập hàng nghìn tấn than đá từ nước ngoài. Ai cũng lo, ai cũng bức xúc. Ôi thuở ấu thơ tôi được các thầy dạy :” Việt Nam ta rừng vàng biển bạc”. Bây giờ thì sắp cạn rồi sao ? Nhìn lại  đối mới từ năm 1986 đến nay,  một thực trạng đau lòng đang diễn ra khắp nơi : Chúng ta đã khai thác, buôn bán tài nguyên quốc gia một cách ồ ạt, vô tội vạ. Dường như  thu nhập GDP đất nước đều do buôn bán tài nguyên mà có, còn hàng hoá sản phẩm mang hàm lượng chất xám cao chiếm tỷ lệ không đáng kể. Nghĩa là từ “đổi mới” đến nay, chúng ta đang sống nhờ bán tài nguyên, chứ chẳng làm được thương hiệu   gì bền vững có tầm cỡ thế giới cả.  Nhìn qua Hồng Kông, Ma Cao,Singapore , Nhật Bản… mà thương cho đất nước mình. Người ta chẳng có nhiều tài  nguyên khoáng  sản, sao người ta giàu thế . Còn  mình bán  tài nguyên mà ăn, rồi con cháu  vài thế hệ sau ăn không khí à ?

   Tài nguyên quốc gia do mồ hôi xướng máu bao đời giành được  gồm : trời, đất , núi, nước, rừng, biển, khoáng sản và môi trường.   Trong hoà bình xây dựng 30 năm nay, do ấu trĩ trong nhận thức và non kém về quản lý, chúng ta tiếp tục tàn phá tài nguyên dữ dội hơn, nặng nề hơn . Hình thế núi sông Việt Nam đang thấy đổi từng ngày,  đang bị cày xới nham nhở  !

  20 năm qua có rất nhiều “phong trào” bán tài nguyên để “làm ngân sách” xảy ra rầm rộ. Như khai thác gỗ rừng để xuất khẩu ồ ạt. Quốc doanh khai thác xuất khẩu, “hợp tác xã” khác thác xuất khẩu, tư nhân núp bóng nhà nước khai thác, xuất khẩu…Gỗ cứ kìn kìn từ rừng miền Trung, rừng Tây Nguyên đổ về  các cảng biển. Các đầu nậu gỗ, những người cấp phép khai thác gỗ, cấp quota xuất khẩu gỗ  giàu lên  từng ngày một. Đến khi “ngộ ra”, ban hành lệnh cấm, thì rừng đã bị “ “bán ăn” gần hết. Thế là lại phải “làm dự án” trồng 5 triệu hec-ta rừng gần chục năm nay vẫn không thành .

    Hết rừng rồi thì bán đất rừng. Hơn 300.000 héc ta rừng đầu nguồn đã bị các tỉnh bán cho doanh nhân Trung Quốc khai thác 50 năm. Nghĩa là  50 năm năm , chúng muốn biến  mảnh đất rừng đó thành căn cứ quân sự, lô cốt, hầm ngầm.v.v… là quyền của họ. Hết nước rồi non nước ơi !

       Bán hết rừng đến  bán khoáng sản dầu thô, than đá, cát, quặng ti-tan, quang a-pa-tít, quặng vàng…Nghe thông tin báo chí về việc xuất khẩu than lậu ở Quảng Ninh mà choáng váng . Trữ lượng than của ta ở Quảng Ninh có được bao lăm mà hô hào thành tích “ khai thác và xuất khẩu năm sau cao hơn năm trước”?; rồi quản lý yếu kém để cho hàng trăm công ty “ma” xuất khẩu than lậu một lúc hàng trăm tàu. Sao coi tài nguyên quốc gia “như vỏ hến” vậy ? 

           Người bán gỗ, bán than, thì  có kẻ lại bán núi, bán  đất ruộng làm giàu. Xem ra bán núi bán đất dễ giàu có hơn. Trong những chuyến đi thực tế ở vùng Đông Bác hay Thanh Hóa, Ninh Bình…, tôi thấy nhiều ngọn núi bị san bằng trơ trọi, để khai thác đá sản xuất xi măng, đá xây dựng. Bây gìờ tỉnh nào cũng hai ba nhà máy xi măng, hàng chục công trường  khái thác đá hàng ngày ra sức san phá núi. Có tỉnh bán luôn cả ngọn núi cho nước ngoài làm xi măng, không chỉ bán phần dương mà còn bán cả phần âm tới 30 mét sâu, nghĩa là 50 năm sau, núi thành hồ ! Hình sông thế núi Việt Nam ngàn đời hũng vĩ , bây giờ đang  bị xẻ thịt nham nhở.  Liệu con cháu  tương lai sẽ sống như thế nào, có còn hình dung ra nước non Việt tươi đẹp xưa nữa không, khi mà quanh chúng núi non bị  gậm nhấm, thân thể Tổ Quốc ghẻ lở, xác xơ ?. Tài nguyên của mình, nước ngoài đến khai thác rồi chế biến thành sản phẩm xuất khẩu của họ, trong lúc hình hài non sông bị xâm hại. “Bán núi” để ăn như thế có đau núi quá không?  

“Bán đất” mới là cuộc tỉ thí với tương lai khủng khiếp nhất. Tỉnh  nào cũng có vài ba Khu công nghiêp, nhưng chẳng  làm ra sản phẩm xuất khẩu nào có thương hiệu cả vì máy móc lạc hậu,  bán trong nước cũng chẳng ai mua . Tỉnh nào cũng có ba bốm sân golf. Rồi dự án mở rộng đô thị lên gấp đôi gấp ba, dự án  khu biệt thư, …đang làm cho đất nông nghiệp, đất trồng lúa trong cả nước, đất trồng cây ăn trái ở Nam Bộ đang thu hẹp với tốc độ chóng mặt. mỗi năm có  từ 73.000- 120.000 ha đất nông nghiệp bị thu hồi, bịu chuyển đổi. Mở rộng đô thị thì đất ruộng thành đất thành phố, bán với giá cao hơn. Đua nhau mà  ăn chia, lấn chiếm, đẩy nông dân ra khởi mảnh đất ngàn đời sinh sống của họ. Thế là khẩu hiệu của Cộng Sản “dân cày có ruộng”  thành trò đùa lịch sử.

  Vì mục tiêu tăng GDP, tăng thu ngân sách , các tỉnh đang thi nhau bán đất  nông nghiệp một cách vô tội vạ . Mất đất, chỉ nông dân và nhà nước là  thua thiệt. Ruộng mình đó, đất mình đó, bỗng nhiên bị mất trắng tay . Tiền đền bù giá bèo không đủ mua đất mới để xây nhà, nói chi đến làm ăn sinh sống

          Hết bán rừng, than, ti-tan, đá, người ta con bán  cả bo-xit Tây Nguyên, thứ mà cách đây mấy chục năm, khối Comicom ( Khối kinh tế các nước XHCN) đã ngăn không cho khai thác, họ sợ làm hư hỏng môi trường và văn hóa Tây Nguyên. Nhưng bây giờ thì  bất cần tương lai Tây Nguyên , bất cần hàng ngàn trí thức tâm huyết với đất nước kịch liệt phản đối, họ vẫn khai thác. Nhưng, bọn  người được quyền đầu tư khai thác ấy lại là bọn giặc truyền kiếp phương Bắc ngàn đời của Dân tộc ta mới đau, mới lo chứ.Chúng thâm hiểm lắm, người ơi.  Chúng mang hàng ngàn người ( dân binh ?) vào Tây Nguyên, với  kế hoạch làm chủ tây Nguyên của Việt nam. Các nhà chiến lược quân sự thường nói :” Ai làm chủ Tây Nguyên sẽ làm chủ Đông Dương”. Chao ôi, từ việc bán tài nguyên đến “bán nước” chỉ còn một khoảng cách mong manh như sợi chỉ !

    Nước là loại tài nguyên quý giá cũng đang bị xâm hại nghiêm trọng. Hiện nay tất cả các con sông đều “đang chết dần” vì ô nhiễm do chất thải công nghiệp, bệnh viện chưa qua xử lý đều thải trực tiếp ra sông.  Mạch nước ngầm đang xuống thấp chưa từng có do khai vô tội vạ.   Rồi “phong trào” phát triển thuỷ điện tùm lum làm cho mực nước ở đồng bằng giảm xuống. Đến cả sông Hồng cũng cạn trơ đi bộ qua được. Có tỉnh làm đến hàng chục nhà máy thuỷ điện. Được điện thì mất lúa vì đất đai khô cằn không có nước tưới,  bị sa mạc hoá không trồng lúa, trồng màu được.   Muốn phát điện thì mực nước tích ở hồ phải cao hơn mực nước chết. Ví dụ  Hồ thuỷ điện Hoà Bình bình thường mực nước cao 115 mét. Mực nước chết cao 80 mét. Nghĩa là để có điện, phải tích nước cao hơn 80 mét. Cái lượng “nước chết” cao 80 mét ấy chứa hàng tỷ mét khối không thể đổ về những cánh đồng lúa được, thì ruộng khô hạn là phải ! Mùa lũ, nhà máy điện xả lũ để bảo vệ đập, thế là không chỉ xóm làng mà cả xá cũng ngập chìm trong nước. Làm thủy điện vô tội vạ cũng là một cách “ăn tài nguyên nước” qua dự án đầu tư. Không “ăn” dự án  thì các quan huyện, quan tỉnh, quan trung ương tiền đâu mà làm nhà lầu, mua xe hơi, sống cuộc sống giàu sang phú quý, cho con đi học các trường nổi tiêngs thế giới như Ha-vớt, Sóc-bon ?

           Chúng tôi khẩn thiết đề nghị Chính phủ và chính quyền các địa phương phải có một chiến lược khai thác tài nguyên lâu dài và chỉ đạo thực hiện thật quyết liệt mới mong không bắn đại bác vào tương lai.  Chúng tôi đề nghị :

           – Kiểm kê lại tài nguyên đất nước để có kế hoạch bảo vệ.  Quy hoạch chi tiết  ngay các vùng đất nông nghiệp lâu dài, vùng núi non hung vĩ, và cấm tiệt việc khai thác bừa bãi.

          – Phải dừng ngay các dự án khai thác Bo-xít Tây Nguyên vì với sự án này, người Trung Quốc không  cần bo-xít , cái mà họ cần là địa bàn Tây Nguyên, đó là điều mà nhiều trí thức lớn đã phân tích, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng đã có thư cảnh báo. Phải thu hồi các diện tích đất  rừng bị bán cho nước ngoài, dù phải bồi thường hợp đồng , vì chúng đang đe dọa đến vận mạng, sự sống còn của đất nước.

           -Hạn chế tối đa, kiểm tra chặt chẽ  các dự án đầu tư FDI vào lĩnh vực khai thác tài nguyên ( như xi măng, quặng ti tan, và các loại khoáng vật khác ) , khuyến khích đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực có hàm lượng chất xám cao như công nghệ thông tin, sản xuất hàng tiêu dùng. Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài để làm giàu cho đất nước. Chúng ta phải hướng nền kinh tế theo cách làm của Nhật Bản, Singapor , Hồng Kong, những nước ít tài nguyên nhưng biết cách làm giàu bằng trí tuệ.

 Ôi, giá mà tiếng kêu của tôi đến được tai những người đang cầm  vận mệnh đất nước trong tay .

N.M

Đăng bởi: Ngô Minh | 13.11.2011

16 CHỮ VÀNG CỦA CỤ NGUYỄN KHẮC NIÊM

THẾ VIỆT

NTT – Tôi may mắn có thời gian công tác với nhà văn Nguyễn Khắc Phê con trai cụ Hoàng Giáp. Cụ có nhiều người con nổi tiếng như GS Nguyễn Khắc Viện, GS Nguyễn Khắc Phi, GS Nguyễn Khắc Dương, nữ sĩ Thiếu Anh… Và đặc biệt gia đình cụ lại là thông gia với gia đình Hoàng Giáp Đặng Văn Thụy ở Diễn Châu quê tôi. Chỉ nhìn những người con đầy tài năng và nhân cách cũng biết họ đã được thừa hưởng một nền giáo dục từ gia đình như thế nào. Có thể nói khí chất của người cha đã ảnh hưởng rất lớn tới các con…

HG Nguyễn Khắc Niêm

Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (1889-1954) là một đại thần triều Nguyễn, nguyên Tham tri Bộ Hình, Phủ doãn Thừa Thiên, Quyền Tổng đốc Thanh Hóa. Ông sinh năm 1889 tại làng Gôi Vị, nay là xã Sơn Hòa, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Từ nhỏ, Nguyễn Khắc Niêm đã thông minh tuấn tú hơn người. Năm 1906, mới 18 tuổi, ông thi đậu cử nhân, trường thi Nghệ An. Năm 1907, ở tuổi 19, ông thi đậu đệ nhị giáp tiến sĩ (Hoàng giáp)[1], khoa thi đình Đinh Mùi, tại Huế. Có thể nói, Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm là một trong số rất ít người đậu đại khoa thời phong kiến khi ở cái tuổi còn rất trẻ như thế. Khi thi đỗ đại khoa, được cùng các vị tiến sĩ đồng khoa triều kiến vua Thành Thái, nhà vua đề nghị mỗi vị tân khoa tiến sĩ hãy góp kế sách để phục hưng quốc gia, Nguyễn Khắc Niêm đã đọc 4 câu như sau: (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 14.11.2011

THÔNG BÁO SỐ 3 VỀ HỖ TRỢ QUỸ PHÙNG QUÁN

THÔNG BÁO THỨ 3 VỀ HỖ TRỢ QUỸ PHÙNG QUÁN
Kính gửi: Quý độc giả ngưỡng mộ nhà thơ Phùng Quán
Ngày 8/8/2010, anh Đỗ Phú Hải, Đạo diễn Đài Truyền Hình Thành phố Hồ Chí Minh , sau khi ký hợp đồng bản quyền với cháu Phùng Đỗ Quyên về việc làm phim truyền hình nhiều tập “Tuổi thơ dữ dội” , đã gửi hỗ trợ Quỹ Phùng Quán 1.000.000 đồng. Ngày 11/8/2011, anh Nguyễn Thanh Khiết, giám đốc Công ty Kiểm toán Asco, Hà Nội đã chuyển hỗ trợ Quỹ Phùng Quán 2.000.000 VND. Đầu tháng 11/2011, dù vợ đang bị đột quỵ nằm tại bệnh viên Bạch Mai, anh Nguyễn Ngọc Đạt, nguyên Tổng GĐ CT TNHHMTV cấp nước Nam Định, ủng hộ 3 triệu đồng
Như vậy cho đến nay, Quỹ Phùng Quán đã nhận được sự hỗ trợ của những “Mạnh thường quân” sau đây :
1- Nhà thơ Bành Thanh Bần, Hà Nội 5 .000.000 VNĐ
2- Ông chủ đỏ Lê Minh Ngọc, Sài Gòn 5.000.000 VNĐ
3- Ông Đỗ Đức Trích, Vũng Tàu 3.000.000 VNĐ
4. Nhà văn Ngọc Trai, Hà Nội 3.000.000 VNĐ
5. Đạo diễn Đỗ Phú Hải, TP HCM 1.000.000 VND
6.Nguyễn Thanh Khiết, Hà Nội 2.000.000 VND
7. Nguyễn Ngọc Đạt , Nam Định 3.000.000 VND
Rất cảm ơn những tấm lòng tin yêu đối với nhà thơ Phùng Quán
THƯỜNG TRỰC QUỸ PHÙNG QUÁN KÍNH MONG CÁC NHÀ HẢO TÂM TIẾP TỤC HỖ TRỢ ĐỂ QUỸ PHÙNG QUÁN LÀM ĐƯỢC NHIỀU VIỆC CÓ ÍCH CHO ĐỜI.
Liên lạc : Ngô Minh, ĐT : 098 5756 355
Kính cáo

Đăng bởi: Ngô Minh | 16.11.2011

CHỐNG THAM NHŨNG : PHẢI CÓ KIỀNG BA CHÂN

Kiềng ba chân” chống tham nhũng!
Thành Luận

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ngay trong phiên họp chính phủ đầu tiên sau khi tái đắc cử lại đề cập đến vấn đề chống tham nhũng. Ông nói: “công tác phòng chống tham nhũng phải được tiếp tục làm quyết liệt từ trung ương đến địa phương” (Tuổi Trẻ 28-7).
Cách nói của người đứng đầu chính phủ khiến người dân có thể có những cảm nhận khác nhau, nhưng tựu chung lại, vấn nạn tham nhũng vẫn là một trọng tâm trong chương trình hành động của cá nhân thủ tướng và chính phủ.
Những biện pháp như: rà soát, chấn chính cơ chế, thủ tục, đưa các vụ án trọng điểm ra xét xử… không mới, nhưng được nhắc lại như một biện pháp cấp thời.

Một số vụ án trọng điểm gần đây đang được xét xử như: vụ Nguyễn Lâm Thái lừa hàng loạt bưu điện, vụ Nguyễn Đức Chi lập dự án ma ở Khánh Hòa, vụ Bùi Tiến Dũng… cho đến nay vẫn chưa làm hài lòng người dân, đặc biệt những người quan tâm đến tham nhũng và sự độc lập của ngành tư pháp. Sự chuyển biến của chiến dịch chống tham nhũng vẫn chưa theo kịp, hay nói đúng hơn, vẫn chưa đáp ứng được mong muốn của người dân, chưa tạo được niềm tin rằng: chính phủ đang thực tâm chống tham nhũng.
Đặc biệt, quan điểm về phòng chống tham nhũng trong nhân dân vẫn chưa được đẩy mạnh. Sự tách bạch giữa quyền lợi chung và lợi ích tư vẫn chưa bao giờ trở thành một thiết chế, và một tiêu chuẩn cho hành động của công chức. Điều này có thể thấy được ngay trong cuộc thăm dò trên cổng thông tin chống tham nhũng của Thanh tra chính phủ. Câu hỏi: “Nếu bạn là công chức nhà nước, khi nhận được món quà trị giá trên 500 ngàn bạn sẽ…” thì có tới 43,1% độc giả trả lời rằng: “nhận món quà đó mà không nói với ai”. (http://chongthamnhung.thanhtra.gov.vn )
Điều đó cho thấy: ý thức về phòng chống tham nhũng trong cán bộ công chức và nhân dân chưa thể tương đồng với những lời kêu gọi hay những ý kiến phát biểu về chống tham nhũng được nêu trên công luận. Vậy phải chăng tham nhũng không thể có thuốc chữa? Nếu nhìn nhận trên bình diện thế giới, thì tham nhũng là một vấn nạn chung.
Chỉ có điều ở mỗi quốc gia, mức độ tham nhũng sẽ khác nhau. Thực tế ở VN, tham nhũng đang là nhân tố cản trở lớn nhất đối với sự phát triển kinh tế-xã hội. Nhận diện nguyên nhân tham nhũng đã được tiến hành bằng nhiều phương cách.
Và nguyên nhân ấy có thể quy thành ba loại chủ yếu: lòng tham, kẽ hở của pháp luật, và sự nghiêm minh của pháp luật. Không thể phủ nhận, lòng tham, thực thể sinh học – xã hội, đặc điểm tự nhiên của con người, đến nay vẫn chưa thể chế ngự. Thực tế cho thấy, chúng ta đã có những quy phạm đạo đức nhằm điều chỉnh đặc điểm tự nhiên này, nhưng cho đến nay, vẫn chưa phát huy tính hiệu quả.
Chính lòng tham là nhân tố tự nhiên chi phối các hành vi tham nhũng. Chúng ta phải chân nhận với nhau rằng: những biện pháp giáo dục tư tưởng, đạo đức… để chống tham nhũng hiện nay không có hiệu quả. Vậy, chỉ còn một phương hướng để chống tham nhũng: đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Tuy nhiên, pháp luật, dù ở những nước đã xây dựng thành công nhà nước pháp quyền thì những kẽ hở trong luật pháp vẫn tồn tại. Bởi xã hội trong quá trình phát triển của mình vẫn luôn nảy sinh những vấn đề mới, những khía cạnh mới nằm ngoài sự chi phối của pháp luật. Cho nên, công tác lập pháp cần phải được coi trọng và tiến hành thường xuyên.
Về công cụ pháp luật và hành chính chống tham nhũng, đến nay có thể nói chúng ta đã hoàn chỉnh được nhiều công đoạn quan trọng: đã có luật phòng chống tham nhũng, luật thực hành tiết kiệm, thành lập Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng…
Vậy, vì sao tham nhũng vẫn hoành hành, vẫn không giảm? Có lẽ vấn đề nằm ở tính nghiêm minh của pháp luật. Thực tế thì tính nghiêm minh của pháp luật ở ta đã không được thực hiện nghiêm chỉnh. Ở một bộ phận lớn cán bộ, đặc biệt là cán bộ cao cấp, khi bị phát hiện tham nhũng, họ đã không bị xử lý, hoặc không thể xử lý, hoặc không được xử lý tới nơi tới chốn. Phải chăng vẫn còn có những bộ phận đứng trên pháp luật, còn có những vùng cấm?
Nhiều vụ tiêu cực báo chí phải dừng lại khi bắt đầu cảm thấy… đụng chạm (như vụ tiền polymer). Nhiều vụ việc cơ quan tư pháp xử lý theo kiểu “đùa dai quá cỡ” (như vụ tham nhũng đất đai tại Hải Phòng, phiên tòa sơ thẩm chỉ tuyên phạt mỗi bị cáo nộp phạt 50.000đ)…
Trong khi tính nghiêm minh của luật pháp đòi hỏi mọi cá nhân, tổ chức phải bị chế tài dù họ “là ai, ở bất cứ cương vị nào”. Như vậy, về lâu dài, cần phải có một giải pháp tổng thế phòng – chống tham nhũng. Biện pháp giáo dục tư tưởng, đạo đức… để hạn chế, và tiến tới chế ngự lòng tham.
Thế nhưng, đối với một quốc gia, có lẽ yếu tố quan trọng nhất là xây dựng nhà nước pháp quyền, để sao cho mỗi “công bộc của dân” không cần, không dám và không thể tham nhũng.
Điểm mấu chốt trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền chính là thượng tôn pháp luật, đưa mọi cá nhân, tổ chức, hội đoàn, đảng phái… vào quỹ đạo chi phối của pháp luật. Là đảng hiện đang cầm quyền, Đảng Cộng sản (ĐCS) VN là chủ thể đầu tiên cần phải nhìn nhận tính tất yếu này.
Nói khác đi, cần phải nhận thức hơn nữa để giải quyết những bất cấp trong mối quan hệ giữa đảng và nhà nước, để tránh được những khoảng trống quyền lực, khoảng trống giữa những cơ quan bảo vệ pháp luật như: Công an, Tòa án, Viện kiểm sát…
Hệ thống chính trị của ta, với những quan hệ chồng chéo giữa Đảng và Nhà nước, Quốc hội, Toà án, Viện Kiểm sát…đang đặt ra những yêu cầu về đổi mới. Sự hài hòa giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị đang là nhiệm vụ trọng tâm của đất nước trong thời kỳ hội nhập. Yêu cầu của sự hài hòa đòi hỏi sự đổi mới phải tập trung vào bản chất chứ không phải hiện tượng.
Sự lãnh đạo của đảng, nếu thực sự cần thiết, phải được đổi mới về nội dung, chứ không phải về phương thức như nhiều lãnh đạo hiện nay phát biểu. Sự độc quyền hay độc tôn bao giờ cũng không tốt cho phát triển. Sự thật là nhiều năm nay, ĐCS VN luôn tự giành cho mình cái quyền được đại diện cho nhân dân, là lực lượng tiên phong, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội.
Sự thật là: vai trò lãnh đạo ấy đã được đảm bảo chủ yếu bằng những lực lượng như: công an, quân đội và một mạng lưới an ninh dày đặc… Người dân chưa bao giờ, và dường như ĐCS VN cũng không muốn, được tham gia quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước cách thực sự.
Xét cho đến cùng, việc đổi mới bản chất lãnh đạo của ĐCS VN có lẽ không quan trọng bằng việc phải tạo ra một đối trọng với ĐCS VN. Điều này thật ra không hề mâu thuẫn với phát triển hay nguyện vọng của nhân dân (bởi lẽ nhân dân chưa bao giờ thực sự được hỏi ý kiến về vấn đề này), trái lại, nó còn phù hợp nguyên lý mâu thuẫn để phát triển của chủ nghĩa Mác-Lênin mà ĐCS VN luôn lấy làm kim chỉ nam. Xem ra, điều này cần đến dũng khí của ĐCS VN và sự quyết tâm của nhân dân.Hơn nữa, những nội dung và phạm vi lãnh đạo của ĐCS VN, hay của bất cứ đảng phái nào, nếu được phép tồn tại và hoạt động ở VN phải được điều chỉnh, phải được cụ thể hóa bằng hệ thống văn bản pháp quy, phải được luật hóa… Nhưng trên hết, cái khái niệm lãnh đạo cần phải được hiểu là phục vụ, chứ không phải là làm chủ.
Như vậy, ba nhiệm vụ trọng tâm: phòng chống tham nhũng, xây dựng nhà nước pháp quyền, đổi mới và thể chế hóa nội dung lãnh đạo của đảng cầm quyền có thể coi là ba chân kiềng cho sự phát triển bền vững của đất nước, có quan hệ biện chứng với nhau, nhằm đẩy lùi tham nhũng khỏi đời sống xã hội.
Không thể chống tham nhũng nếu không xây dựng được nhà nước pháp quyền thực sự, hiệu quả; không thể xây dựng nhà nước pháp quyền nếu những quan hệ chính trị chồng chéo giữa đảng cầm quyền, nhà nước, quốc hội, tư pháp… không được sửa đổi, nếu nội dung lãnh đạo của đảng cầm quyền không được đổi mới. Xem ra, quá trình này cần nhiều sự dũng cảm và quyết tâm

ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHÔNG THỂ PHÁT BIỂU VI HIẾN
Luật gia Trần Đình Thu

Vừa qua, vị Đại biểu quốc hội Hoàng Hữu Phước đã làm nóng dư luận khi nêu vấn đề liên quan đến 2 dự luật Luật biểu tình và Luật lập hội tại diễn đàn quốc hội. Bằng một số lập luận ngắn, ông kết luận cần phải loại bỏ 2 luật này ra khỏi chương trình nghị sự quốc hội trong suốt khóa XIII và còn ám chỉ cần loại bỏ vĩnh viễn khỏi đời sống chính trị của xã hội Việt Nam.
Việc diễn đạt để đi đến các kết luận như trên của ông Hoàng Hữu Phước khá băm bổ, đọc lên không thấy một chút nào là lập luận của một nhà lập pháp. Chẳng hạn về Luật biểu tình ông viết: “Liệu cái gọi là quyền biểu tình ấy có lớn hơn quyền được kiếm sống của người dân, quyền được ra đời của con cái của người dân, quyền được sử dụng công lộ của người dân, quyền được mưu cầu hạnh phúc của người dân”.
Quyền tự do lập hội, tự do biểu tình là 2 trong 5 quyền cơ bản của công dân được ghi rõ trong các văn bản Hiến pháp 1959, 1980, 1992 (5 quyền là quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội và tự do biểu tình) thế mà ông Phước gọi là “cái gọi là”, một cách gọi hết sức miệt thị. Cách gọi này của ông Phước chẳng những vô nguyên tắc mà thể hiện sự coi thường pháp luật, coi thường hiến pháp, coi thường quốc hội các khóa trước.
Thực ra Hiến pháp quy định là quy định khung, còn chúng ta sẽ cân nhắc để mở các quyền ra cho công dân đến mức nào là tùy vào tình hình thực tiễn của từng giai đoạn, quốc hội sẽ sáng suốt xem xét, nhưng một đại biểu quốc hội không thể vì lý do không muốn mở quyền mà phát biểu vi hiến bằng cách xổ toẹt cả hiến pháp như thế.
Bây giờ tôi xin trao đổi vài điểm với ông Hoàng Hữu Phước. Về Luật lập hội, ông viết: “Nếu Luật lập hội là để tạo nên các đối thủ bên ngoài hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, vô hiệu hóa, tiến đến xóa sổ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, vậy Luật lập hội có cần không? Nếu Luật lập hội là để tạo nên các hội mới nằm bên trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam như 44 thành viên hiện hữu để làm phong phú hơn tổ chức hùng mạnh của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, vậy Luật lập hội có cần không?”. Thưa ông Phước, ở đây ông đã nhầm lẫn khái niệm. Luật lập hội là để quy định một loạt các vấn đề có tính nguyên tắc khi lập hội, bao gồm cho cả hội mới và cả hội đã có sẵn về số lượng thành viên tối thiểu, thủ tục đăng ký, con dấu, trụ sở, kinh phí hoạt động… Còn Mặt trận Tổ Quốc là một khái niệm hoàn toàn khác. Nếu ông chưa rõ khái niệm Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam là gì, thì xin mời ông đọc lại Khoản 1 Điều 1 Luật Mặt Trận Tổ Quốc:
Điều 1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị
1- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Ông thấy đó, Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam đâu phải là một nhóm hội kiểu như một tổng công ty trong hoạt động kinh tế đâu mà có đối thủ cạnh tranh là một nhóm hội khác, mà có bên ngoài bên trong? Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam là một tổ chức liên minh hết thảy các hội và các tổ chức, cá nhân khác. Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam còn bao gồm cả Đảng cộng sản Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam nữa kia mà. Vậy thì làm gì có chuyện “tạo nên các đối thủ bên ngoài hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam”?
Lập luận khiên cưỡng, không căn cứ vào cái gì cả, đặc biệt là vi hiến nghiêm trọng, thế nhưng ông Hoàng Hữu Phước lại nhân danh rất nhiều tầng lớp nhân dân trong xã hội để đề nghị Quốc hội “loại bỏ Luật lập hội và Luật biểu tình”, trong khi một trong 2 luật ấy được đích thân Thủ tướng chính phủ đề xuất xây dựng. Phải chăng là chuyện tréo ngoe?
T.Đ.T

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XIII (2011-2016)Nhắn tin: 0988898399 Email: hhphuoc@yahoo.com Blog cá nhân: http://hhphuoc.blog.com, http://antichina.blog.com Web cơ quan: www.myabiz.biz

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.11.2011

CẦN CÓ LUẬT BẢO HÀNH DỰ ÁN

MUỐN CHỐNG THAM NHŨNG HIỆU QUẢ
CẦN CÓ LUẬT BẢO HÀNH DỰ ÁN

Ngô Minh
Lĩnh vực tham nhũng nóng nhất hiện nay là xây dựng cơ bản (XDCB). Hàng năm nhà nước đầu tư sáu bảy trăm ngàn tỷ đồng vào xây dựng . Số vốn ấy chiếm từ 35-40 % GDP. Ở các tỉnh nghèo như miền Trung, mỗi năm cũng đầu tư từ 10 – 50 nghìn tỉ đồng vào XDCB . Đó là chưa kể các dự án sử dụng các nguồn vốn ODA, NGO.., vốn viện trợ nhân đạo của các tổ chức quốc tế, vốn vay đầu tư chiều sâu của các doanh nghiệp . Vốn ODA mỗi năm các nước hứa cho Việt Nam vay 7 đến 8 tỷ USD. Đây là loại vốn tương lai phải trả, cugnx đang bị tham những lớn. Tại các kỳ họp Quốc hội, nhiều đại biểu đã lên án mạnh mẽ tệ nạn tham nhũng. nhiều đại biểu thẳng thắn nêu con số có đến 30% vốn đầu tư xây dựng cơ bản mấy năm qua đã chui vào túi bọn tham nhũng. Cho nên chống tham nhũng trong xây dựng cơ bản hiện nay là nóng bỏng nhất !
Số vốn đầu tư khổng lồ hàng năm ấy đã được sử dụng như thế nào ? Phải khẳng định rằng chúng ta đã có những dự án đầu tư lớn mang lại hiệu quả kinh tế và xã hội cao như đầu tư đường dây 500 KV Bắc-Nam, dự án phát triển mạng viễn thông mấy năm vừa qua.. Tuy nhiên, vấn đề bức xúc đang gây bất bình lớn trong nhân dân hiện nay là việc sử dụng đồng vốn của nhà nước không có hiệu quả, tình trạng lãng phí, tham nhũng tiêu cực tràn lan ở các cấp các ngành đang biến một phần không nhỏ vốn nhà nước thành tài sản cá nhân. Hàng năm chỉ ngồi đọc báo và cộng các khoản tham nhũng ở các công trình xây dựng bị phanh phui cũng lên tới hàng trăm ngàn tỷ đồng ! Thông tin trên báo cho biết : Đại Lộ đông -tây ở TP HCM chưa khánh thành đã ổ voi-ổ gà nham nhở . Con đường tránh Huế từ thị trấn Tứ Hạ đến Phú Bài, mới đưa vào sử dụng mấy năm đã tan nát đến xấu hổ. Tất cả đó là do tham nhũng mà sinh ra. Tham nhũng từ duywwtj dự án, cấp vốn đến thiết kế,t hi công, bên A, bân B. Hiện nay , hàng chục xí nghiệp gạch tuy-nen, gạch blôk, gạch ốp lát ceramic, các xí nghiệp bao bì..của các địa phương bị “chết “ ngay khi chưa kịp thu hồi đồng vốn nào. “Phong trào” đầu tư xây dựng cảng mấy năm qua cũng đã ném hàng trăm tỷ vốn nhà nước xuống biển vì có cảng mà không có hàng qua cảng ! Các công trình làm đường, làm cầu ở vùng lũ lụt năm nào cũng đầu tư sửa chữa và làm mới hàng trăm tỷ đồng, nhưng rồi năm sau “đến hẹn” lũ về lại hỏng, lại lập dự án xin đầu tư ; rồi nhà mới xây xong đã nứt nẻ, lún sập ! Trong lúc các công trình dự án xây dựng “ mới nghiệm thu đã hỏng” , thì tài sản, nhà cửa của bọn “cò dự án”, những người duyệt dự án, bên A, bên B cứ mọc lên đồ sộ, thách thức dư luận nhân dân! Những vụ PMU18, Đường hầm Thủ Thiêm… năm nào cũng xảy ra.

Chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng tất cả các dự án, công trình “ xót tiền dân” ấy trước khi triển khai đều đã có các bản nghiên cứu “tiền khả thi” rồi “khả thi” rất công phu và được các cấp thẩm quyền thẩm định bằng nhiều cuộc họp với “ trách nhiệm cao”!Rồi kéo nhau đi “tham quan nghiên cứu” ở nước ngoài.v.v.. Nhưng, tại sao hiệu quả và chất lượng của các dự án không cao ? Xin thưa rằng, khởi nguồn của nó là tình trạng “ buôn dự án”, “ ăn dự án” đang trở thành căn bệnh phổ biến hiện nay. Phải nói rằng hiện nay cả nước ta sống nhờ “ăn dự án”. Có lần Bộ Kế hoạch đầu tư cho biết : tỷ lệ thất thoát vốn ngân sách chi cho đầu tư xây dựng cơ bản , rơi vào các khoản hoa hồng quà cáp, lễ lạt động thổ, nghiệm thu, khánh thành, ăn bớt nguyên liệu, “công tác phí” lên tới 20% tổng vốn . Tôi cho rằng, còn hơn thế. Có năm Nhà nước mất khoảng 300 tỷ đồng để thanh toán “công tác phí “cho lãnh đạo các dự án, chủ đầu tư.. đều là các quan chức các cơ quan nhà nước !.

Người ta muốn có tiền để làm nhà, mua xe con, cho con đi học Ha-vớt, Sóc-bon, rồi chia chác, đi ăn chơi xả láng ở nước ngoài thì “liên kết “với nhau làm một dự án. Đầu tiên là lập “dự án tiền khả thi” rồi họp, rồi mời các quan chức “tay hòm chìa khóa” đi khảo sát, tham quan, ăn chơi vui vẻ ở nước ngoài vài chuyến. Thế là có “ dự án khả thi” với hàng chục chữ ký con dấu đỏ chói từ thấp đến cao, với đầy đủ ban bệ Chính quyền, tài chính, ngân hàng, kế hoạch-đầu tư.. với những con số vẽ vời về hiệu quả kinh tế cao, giải quyết nhiều việc làm cho người lao động ,v.v..Tiếp theo là rủ nhau đi “duyệt” ( thực chất là mang tiền đi để mua chữ ký ). Số tiền bỏ ra từ A đến Z để có một quyết định cho phép đầu tư ấy gọi là vốn ban đầu của bọn tham nhũng.“Dự án khả thi”được duyệt là bên A đã chắc chắn có 10 % bỏ túi, đó là khoản “tiền lãi”. Số vốn đầu tư được duyệt càng lớn thì số tuyệt đối của khoản “lãi ròng “10% bên A ấy càng lớn . Đó là quy trình “ buôn dự án” đang rất thịnh hành hiện nay !Tất nhiên bên B cũng chẳng thua kém trong việc tung tiền ra để “tranh thủ”, để giành giật công trình, “thắng thầu” với giá thấp và sau đó tìm mọi cách bớt xén vật tư , làm dối, làm ẩu để có nhiều lợi nhuận ! Bị “ ăn” ba bên bốn bề, một dự án được đầu tư 100 tỷ thực tế chỉ còn chưa tới 50 %, lấy đâu ra chất lượng công trình.
Nguy hiểm hơn nữa dự án đã duyệt rồi, đã triển khai thi công, đã nghiệm thu rồi ,thì sống chết mặc bay tiền thầy bỏ túi !Đúng như dân gian thường nói “ Công trình càng lớn bao nhiêu – Thì ông cán bộ càng nhiều nhà, xe..!
Các kỳ họp Quốc hội đã nói nhiều đến tham nhũng, trong quá đầu tư các dự án hạ tầng. Nhưng theo chúng tôi, một vấn đề nổi cộm chưa được các cơ quan lập pháp chú ý là thời gian qua chúng ta hoàn toàn không có các biện pháp chế tài đối với những cơ quan và cá nhân liên quan đến việc lập, thẩm định và triển khai thi công các dự án . Lập, bảo vệ và duyệt dự án thì ai cũng hăng hái vì mình có ít nhiều quyền lợi trong đó, nhưng không ai chịu trách nhiệm gì về hiệu quả, chất lượng dự án cả . Nhà máy đường xây xong rồi, không có mía để sản xuất, hàng trăm tỷ vốn nằm đó, hàng ngày phải trả lãi ngân hàng, hậu quả này những người lập và duyệt dự án phải bồi thường , phải chia nhau mà chịu chứ, sao lại bắt nhà nước chịu?. Nhà máy xi măng, gạch men ..xây xong sản phẩm không tiêu thụ được, những người lập và thẩm định, duyệt “dự án khả thi” phải gánh chịu tổn thất đó chứ ! Đường hỏng, cầu hỏng khi mới xây xong thì bên thi công phải bỏ tiền túi ra mà làm lại theo đúng yêu cầu chất lượng chứ, sao lại lấy tiền ngân sách mà làm !

Cho nên ,muốn chống tham nhũng trong xây dựng có hiệu quả, chúng tôi khẩn thiết đề nghị Quốc Hội phải ban hành ngay bộ LUẬT BẢO HÀNH DỰ ÁN . Một dự án tùy theo vốn đầu tư to hay nhỏ, tác dụng của công trình lớn hay bé mà quy định chủ đầu tư , người duyệt và người thi công phải bảo hành trong bao nhiêu năm. Trong thời hạn bảo hành nếu dự án hư hỏng thì anh phải bị xử lý theo pháp luật, phải tự đầu tư sửa chữa hoặc phải bồi thường vật chất ! Bộ luật đó làm công cụ chế tài, bảo vệ an toàn và hiệu quả của đồng vốn đầu tư của nhà nước .Những văn bản luật này cũng sẽ góp phần sàng lọc cán bộ, loại bỏ ra khỏi bộ máy công quyền những người thiếu hiểu hiết chuyên môn nghiệp vụ do không chịu học hoặc học theo lối “mua chữ “, “mua bằng” để được cơ cấu cũng đang là vấn nạn trong đào tạo hiện nay. Có các điều luật quy định trách nhiệm vật chất trong việc lập và duyệt các dự án đầu tư.. chắc chắn mỗi năm chúng ta sẽ cứu được trăm năm ba trăm nghìn tỷ đồng vốn đầu tư đang bị bọn tham nhũng đục khoét !

Thủ tướng nói về chủ quyền ở Biển Đông

Cập nhật: 09:51 GMT – thứ sáu, 25 tháng 11, 2011

Ngày 25/11, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã có phiên trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội.
22 đại biểu đã đặt câu hỏi cho Thủ tướng, trong đó có hai người hỏi về vấn đề chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông.
Dưới đây là nguyên văn trả lời của ông Nguyễn Tấn Dũng, được Quốc hội Việt Nam công bố.
“Quán triệt đường lối đối ngoại hòa bình hữu nghị, độc lập, tự chủ và chủ quyền quốc gia của Đảng và Nhà nước ta, trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Luật biển năm 1982 của Liên hiệp quốc, tuyên bố ứng xử của các bên ở biển Đông, gọi tắt DOC đã ký giữa ASEAN và Trung Quốc, căn cứ vào thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển mà ta và Trung Quốc mới ký trong chuyến thăm của đồng chí Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đến Trung Quốc, căn cứ những chủ trương, đường lối và những nguyên tắc nêu trên, chúng ta phải giải quyết và khẳng định chủ quyền đối với 4 loại vấn đề trên biển Đông như sau:
Vấn đề thứ nhất, về đàm phán phân định ranh giới vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ. Trong Vịnh Bắc Bộ sau nhiều năm đàm phán, ta và Trung Quốc đã đạt được thỏa thuận phân định ranh giới năm 2000, còn vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ nếu theo Công ước Luật biển năm 1982 thì thềm lục địa của nước ta có trồng lấn với đảo Hải Nam của Trung Quốc. Từ năm 2006 hai bên đã tiến hành đàm phán, mãi tới năm 2009 thì hai bên quyết định tạm dừng vì lập trường hai bên còn rất khác xa nhau. Đến đầu năm 2010 hai bên thỏa thuận là nên tiến hành đàm phán những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển sau nhiều lần đàm phán như tôi vừa trình bày, nguyên tắc đó đã được hai bên ký kết nhân dịp Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Trung Quốc vừa rồi. Trên nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển này thì vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ là quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, vì vậy 2 nước Việt Nam và Trung Quốc cùng nhau đàm phán để phân định ranh giới vùng biển này trên cơ sở Công ước Luật biển, trên cơ sở DOC, trên cơ sở các nguyên tắc đã thỏa thuận.
Để có một giải pháp hợp lý mà hai bên có thể chấp nhận được chúng ta đang thúc đẩy cùng với Trung Quốc xúc tiến đàm phán giải quyết việc phân định này. Cũng xin nói thêm trong khi chưa phân định thì trên thực tế với chừng mực khác nhau, hai bên cũng đã tự hình thành vùng quản lý của mình trên cơ sở đường trung tuyến. Cũng trên cơ sở này chúng ta có đối thoại với Trung Quốc để bảo đảm cho việc an ninh, an toàn trong việc khai thác nghề cá của đồng bào chúng ta. Đó là vấn đề thứ nhất.
“Lập trường nhất quán của chúng ta là quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, chúng ta có đủ căn cứ lịch sử và pháp lý để khẳng định điều này. Nhưng chúng ta chủ trương đàm phán giải quyết đòi hỏi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình.”
Vấn đề thứ hai, chúng ta phải giải quyết và khẳng định chủ quyền đó là vấn đề quần đảo Hoàng Sa. Thưa các đồng chí, các vị đại biểu, Việt Nam chúng ta khẳng định có đủ căn cứ về pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chúng ta đã làm chủ thực sự ít nhất là từ Thế kỷ XVII. Chúng ta làm chủ khi 2 quần đảo này chưa thuộc bất kỳ một quốc gia nào và chúng ta đã làm chủ trên thực tế và liên tục hòa bình. Nhưng đối với Hoàng Sa, năm 1956 Trung Quốc đưa quân chiếm đóng các đảo phía Đông của quần đảo Trường Sa. Đến năm 1974 cũng Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong sự quản lý hiện tại của chính quyền Sài Gòn, tức là chính quyền Việt Nam cộng hòa. Chính quyền Sài Gòn, chính quyền Việt Nam cộng hòa đã lên tiếng phản đối, lên án việc làm này và đề nghị Liên hợp quốc can thiệp. Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam của chúng ta lúc đó cũng đã ra tuyên bố phản đối hành vi chiếm đóng này. Lập trường nhất quán của chúng ta là quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, chúng ta có đủ căn cứ lịch sử và pháp lý để khẳng định điều này. Nhưng chúng ta chủ trương đàm phán giải quyết đòi hỏi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình.
Chủ trương này của chúng ta phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc, phù hợp với Công ước về Luật biển, phù hợp với tuyên bố DOC. Đó là loại vấn đề thứ hai mà chúng ta phải giải quyết và khẳng định chủ quyền.
Vấn đề thứ ba, quần đảo Trường Sa, năm 1975 giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc thì Hải Quân chúng ta đã tiếp quản 5 hòn đảo tại quần đảo Trường Sa, đó là đảo Trường Sa, đảo Song Tử Tây, đảo Sinh Tồn, đảo Nam Yết và đảo Sơn Ca, năm đảo này do quân đội của chính quyền Sài Gòn chính quyền Việt Nam Cộng hòa đang quản lý chúng ta tiếp quản.
Sau đó với chủ quyền của chúng ta, chúng ta tiếp tục mở rộng thêm lên 21 đảo, với 33 điểm đóng quân. Ngoài ra chúng ta còn xây dựng thêm, 15 nhà giàn ở khu vực bãi Tư Chính để khẳng định chủ quyền của chúng ta ở vùng biển này, vùng biển trong phạm vi mà 200 hải lý thuộc thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của chúng ta. Trong khi đó ở quần đảo Trường Sa, Trung Quốc cũng đã chiếm 7 bãi đá ngầm, Đài Loan chiếm 1 đảo nổi, Philipin chiếm 9 đảo, Malaixia chiếm 5 đảo, còn Bruney có đòi hỏi chủ quyền trên vùng biển nhưng không có chiếm giữ đảo nào.
Như vậy trên quần đảo Trường Sa, Việt Nam là quốc gia có số đảo đang đóng giữ nhiều nhất so với các quốc gia và các bên có đòi hỏi chủ quyền ở quần đảo Trường Sa. Việt Nam chúng ta cũng là quốc gia duy nhất có cư dân đang làm ăn sinh sống trên một số đảo mà chúng ta đang đóng giữ với số hộ là 21 hộ, 80 khẩu, trong đó có 6 khẩu cũng đã sinh ra, lớn lên ở các đảo này.
“Như vậy trên quần đảo Trường Sa, Việt Nam là quốc gia có số đảo đang đóng giữ nhiều nhất so với các quốc gia và các bên có đòi hỏi chủ quyền ở quần đảo Trường Sa. Việt Nam chúng ta cũng là quốc gia duy nhất có cư dân đang làm ăn sinh sống trên một số đảo mà chúng ta đang đóng giữ với số hộ là 21 hộ, 80 khẩu, trong đó có 6 khẩu cũng đã sinh ra, lớn lên ở các đảo này.”
Chủ trương của chúng ta đối với thực hiện chủ quyền đối với Hoàng Sa là như thế nào mà các đồng chí nêu, tôi cũng muốn nói rõ vấn đề này. Chủ trương của chúng ta là nghiêm túc thực hiện Công ước Luật biển, nghiêm túc thực hiện tuyên bố ứng xử của các bên liên quan ở biển Đông gọi tắt là DOC và các nguyên tắc thỏa thuận mới đây mà chúng ta đã ký kết giữa Việt Nam và Trung Quốc, cụ thể là chúng ta yêu cầu các bên giữ nguyên trạng, không làm phức tạp thêm có ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định ở khu vực này. Việc thứ nhất là chúng ta yêu cầu phải giữ nguyên trạng, không làm phức tạp thêm để gây ảnh hưởng đến hòa bình ổn định ở khu vực này.
Thứ hai là chúng ta tiếp tục đầu tư nâng cấp hạ tầng kinh tế-xã hội và cơ sở vật chất, kỹ thuật ở những nơi chúng ta đang đóng giữ bao gồm cả đường sá, điện, trạm xá, trường học, nước v.v… để cải thiện đời sống và tăng cường khả năng tự vệ của quân dân đảo Trường Sa, đó là việc làm thứ hai.
Việc làm thứ ba là chúng ta có các cơ chế chính sách hiện nay đã có, Chính phủ đang yêu cầu sơ kết đánh giá lại cơ chế chính sách hỗ trợ đồng bào ta khai thác thủy, hải sản, vận tải biển trong khu vực này. Không có thời gian, tôi không nói cụ thể nhưng đã có, đang có hiệu quả, nhưng chúng tôi thấy cần phải sơ kết để làm sao khuyến khích, hỗ trợ cho bà con của chúng ta thực hiện làm ăn sinh sống, thực hiện chủ quyền trên vùng biển Trường Sa này.
Vấn đề thứ tư, liên quan tới cam kết quốc tế là chúng ta nghiêm túc thực hiện và yêu cầu các bên liên quan nghiêm túc thực hiện theo đúng Công ước Luật biển năm 1982 và tuyên bố DOC là phải bảo đảm tự do hàng hải ở biển Đông, bảo đảm hòa bình, ổn định, an ninh, trật tự, tự do hàng hải ở Biển Đông. Bởi vì đây là mong muốn, là lợi ích của tất cả các bên liên quan, không chỉ của Việt Nam, của tất cả các bên liên quan của các nước. Vì trên Biển Đông là tuyến đường vận tải hàng hóa từ đông sang tây mà tuyến đường này là tuyến vận tải từ 50%-60% tổng lượng hàng hóa vận tải từ đông sang tây.
Đó là những việc ta làm cụ thể. Lập trường này của chúng ta thì báo cáo với các vị đại biểu là được cộng đồng quốc tế ủng hộ, gần đây nhất là tại Hội nghị cấp cao ASEAN và cấp cao ASEAN với các đối tác.
Vấn đề thứ tư, chúng ta phải giải quyết và khẳng định chủ quyền trên Biển Đông là vấn đề phải giải quyết và khẳng định chủ quyền của chúng ta trong phạm vi 200 hải lý thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo Công ước Luật Biển năm 1982. Chúng ta đã và sẽ tiếp tục khẳng định chủ quyền để quản lý thực hiện chủ quyền ngày càng đầy đủ hơn, hiện quả hơn đối với vùng biển này.
Tôi xin nói lại là vùng biển 200 hải lý thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam theo Công ước Luật Biển năm 1982.
Do không có thời gian, nên tôi xin trình bày vắn tắt 4 vấn đề mà chúng ta đang chủ trương giải quyết và khẳng định chủ quyền trên Biển Đông.”

Đăng bởi: Ngô Minh | 02.12.2011

MỜI MUA SÁCH “CỔ TÍCH TÀU KHÔNG SỐ”

MỜI MUA SÁCH “ CỔ TÍCH TÀU KHÔNG SỐ”

Bạn đọc thân mến. Ngô Minh vừa ấn hành cuốn ký sự CỔ TÍCH TÀU KHÔNG SỐ do NXB Hội Nhà văn cấp phép. Sách dày 304 trang.

Cuốn sách là bức chân dung sinh động, cuốn hút về đoàn tàu không số suốt 14 năm vượt biển Đông vận chuyển vũ khí chi viện cho miền Nam đánh giặc. Hành trình của những con tàu và trí thông minh, quả cảm của những thuyền trưởng và thủy thủ tàu không số đẹp như chuyện cổ tích, huyền thoại. Trong sách có rất nhiều chi tiết ly kỳ như mà có thật . Nhiều chương sách xúc động như Quảng Bình- mảnh đất khởi phát; Võ Nguyễn Giáp- linh hồn đoàn tàu không số; Nỗi đau của một người thuyền trưởng; Chuyện anh Hùng Nguyễn Phan Vinh; Thuyền trưởng ba lần vào Vũng Rô…

Sách dày 304 trang, in đẹp, bìa do nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo vẽ rất trang nhã. Giá bìa : 60.000 VNĐ/cuốn. Sách do tác giả tự phát hành. Bạn đọc mua sách xin gửi đăng ký về địa chỉ Ngô Minh trong tháng 12/2011:

ngominhnt@gmail.com

Đt : 098 57 56 355

Nhận được yêu cầu đặt mua, Ngô Minh sẽ gửi sách về địa chỉ của bạn trong thời gian sớm nhất.

Ngô Minh kính thông báo.

alt

“Cổ tích tàu không số “  là quyển sách lớn

cho những ai cần hiểu Tổ quốc mình

 Nhất Lâm

             Tôi đã đọc một mạch cuốn ký sự Cổ tích tàu không số với tâm cảm người cùng thời với các chiến sĩ tàu không số. Bởi giữa các anh chiến sĩ ấy với tôi có một sự liên hệ vô hình, cũng đi qua trận mạc trong chiến tranh và sau này đi học tôi có sử dụng la bàn, bản đồ thực địa và bản đồ trên biển. Từ quan đo trắc, đo sao tính phương vị để định hướng cho mục tiêu cần đến. Ngô Minh và tôi có chuyến đi biển một đêm dài năm 2004 trên tàu Côn Đảo 9 từ thành phố Vũng Tàu ra đảo. Con tàu khá hiện đại chở được cả ngàn người ( Hôm ấy con tàu chở 600 cựu tù chính trị trở về thăm Côn Đảo). Chúng tôi đã lên đài thuyền trưởng và được hướng dẫn khá chi tiết về các máy đo độ sâu, đo tầm xa, đo phương vị. Con tàu ấy có tốc độ 45km/giờ, nhưng nếu cần tăng tốc thì có thể lên đến 75 đến 80km/giờ. Và nó chịu được gió bão từ cấp 8 đến cấp 10 ). Sau đó thuyền trưởng còn cho biết công ty có tàu Côn Đảo 10  vừa đưa vào khai thác còn hiện đại hơn. Nghĩa là con tàu này còn chịu cấp sóng gió cao hơn.

            Nói một điều như vậy để chúng ta có độ lùi vào 50năm trước những con tàu không số được đóng bằng gỗ, bằng sắt chạy máy chở nặng hàng chục, hàng trăm tấn vũ khí vượt hàng ngàn hải lý cho một chuyến hải hành thì thật được đánh giá con người và con tàu ấy là tột đỉnh Vô song của một nghệ thuật chỉ huy chiến trận của Việt Nam.

             Xin phép không nhắc đến những con tàu và mỗi con người mà theo tôi:  Nếu tôi có một cái quyền thì tôi sẽ phong tặng tất cả những con tàu ấy những con người ấy là Anh Hùng ngay hôm nay. Cho dù họ đã được phong anh hùng, tất nhiên là còn hàng chục hàng trăn chiến sĩ trên các con tàu không số chưa may mắn có danh hiệu anh hùng. Nhưng họ đã thực sự là người anh hùng trong lòng dân. Tôi nhớ các bạn Liên Xô đã nói với tôi trong vệ quốc có nhiều sũ quan, chiến sĩ được phong tặng danh hiệu anh hùng lần thứ hai. Ông bố của kỹ sư địa chất chuyên gia vàng lá, là một người anh hùng được phong hai lần như thế. Vậy thì tại sao những chiến sĩ của các tàu không số từ thuyền trưởng, chính trị viên, báo vụ đến châm dầu…trên mỗi chuyến vào Nam ra Bắc, ra đi trong giông bão biển động với những con tàu chẳng khác gì ngôi nhà cấp 4 trên đất liền lại đem theo một sứ mạng để cho cả dân tộc chiến thắng, lại không phong tặng cho các chiến sĩ ấy anh hùng lần thứ 2, lần thứ 3…

          Trong một chuyến vào Tuy Hòa, Phú Yên  tôi đã đọc một tập thơ của một ông già 81 tuổi. Đêm hôm ấy tôi đã thao thức với một câu thơ rất lạ.

                                     Trăng xô chị Hằng qua eo núi

Ngày hôm sau chúng tôi gặp nhau, tôi hỏi . anh trả lời : câu được viết khi tôi đi tàu không số chở vũ khí vào Vũng Rô. Bây giờ tôi là thiếu tá về hưu ở thành phố này. Tôi ôm người lính hải quân can trường và thổ lộ thật lòng: Chỉ với câu thơ này anh là thi sĩ hơn cả mọi nhà thơ mà tôi đã có dịp đọc thơ của họ hôm nay.

            Và tôi nghĩ người lính ra trận dù bất cứ hoàn cảnh ác liệt nào mà lạc quan đến độ yêu cái đẹp đến lạ lùng như người lính trên những con tàu không số họ đều bất tử. Việc phong danh hiệu anh hùng cho họ chỉ là sự hành chính hóa một thủ tục Vinh quang mà thôi.

                Cổ tích tàu không số là tập ký sự thành công về nhiều mặt. Mà nếu phân tích  mổ xẻ, cho dù phân tích mổ xẻ cái hay cái đẹp cũng chỉ là cái công việc cắm thêm  những gì vào bình hoa khi mà từng bông hoa trong cái bình ấy không những đẹp mà ngát hương. Nói theo cách nhận xét trước một tác phẩm văn học in đậm một sự kiện hào hùng của dân tộc. Cổ tích tàu không số là quyển sách lớn cho những ai cần hiểu Tổ quốc mình đã đi qua các cuộc chiến tranh dài. Cả dân tộc chịu hy sinh qua nhiều và cũng là dân tộc anh dũng Vô song trước nhân loại.

           Như phần trên tôi đã đề cập. Bây giờ nói lại những sự việc của từng chiến sĩ  còn sống hay đã hy sinh và những con tàu còn giữ lại hoặc đã bị phá hủy là chẳng còn gì để nói thêm. Vì Ngô Minh đã nói hộ bạn đọc đầy đủ hơn 300 trang sách của mình.

              Nhưng nói như vậy không phải là để không đề cập một sự kiện mà theo tôi đó là chi tiết vô cùng lộng lẫy của tập ký sự. Khi chuyến tàu do thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh chở hàng trăm tấn vũ khí vào Vũng Rô trên con tàu 41 vào một dịp tết. Thế là có cuộc vui hội ngộ rất lớn và cũng rất hy hữu. các chiến sĩ và dân quân trên bến tổ chức liên hoan, có mặt cả bí thư tỉnh ủy Suyền Tàu đã đem đến cho bà con ở bến 3 tấn gạo thơm từ miền Bắc vào. Trong khi mọi người vui mừng tột độ thì một cô dân quân 16 tuổi tên là Tảng gói một nắm đất trong cái khăn đẹp tặng thuyền trưởng để đưa ra Bắc. Mọi người có mặt vô cùng xúc động bởi một món quà có một không hai này. Sau này bí thư tỉnh ủy hỏi Tảng: Ai bảo cháu làm việc này ? Cô dân quân trẻ trả lời: Cháu tự nghĩ ra, chẳng có ai bảo cháu cả !

          Đó là món quà vĩ đại xuất phát từ trái tim tuổi thơ đầy khát vọng quê hương mình, mảnh đất mình sống phải được giải phóng.

            Năm 1954 bộ đội miền Nam ra Bắc tập kết theo tinh thần hiệp định Giơnevơ. Một bà má miền Nam đã gửi một nắm đất cho một anh bộ đội và bảo ra thưa với cụ Hồ đất này là của Việt Nam. Nhà thơ Xuân Miễn có mặt trong cuộc chia tay đó đã thể hiện bài thơ Nắm Đất có câu:

Con ra thưa với Cụ Hồ

Đất này chỉ có ngọn cờ vàng sao.

Một việc làm giống nhau, ở hai lứa tuổi mẹ và con vào hai thời gian ác liệt, ác liệt đánh Mỹ hy sinh mất mát khủng khiêos hơn nhiều hơn giai đoạn đánh Pháp. Chỉ có trái tim nhạy cảm của bà má của em gái ta khôn lớn trước tuổi mới có hành động rất hay rất lạ lùng của một dân tộc.

Một chi tiết nữa mà không nói đến là có tội với Má Rìu gần trăm tuổi và con trái Má là thuyển trưởng Lê Hà. Má đã cống hiến gia tài, chồng con cho sự nghiệp giải phóng dân tộc mà không một chút đắn đo. Bây giờ đã ở tuổi đại thọ mà vẫn lao động bình thường để kiếm sống cho mình, cho con. Mặc dù Nhà Nước đã có chút chính sách. Tôi thiết nghĩ những con người như Ma Riu như chị Tảng như những con người còn lại của  tàu không số phải có  một chế độ vô cùng đặc biệt. Đặc biệt về tinh thần, về vật chất để họ sống những năm tháng còn lại không phải lo toan từng bữa ăn, ngôi nhà để ở với bao đau đớn thân xác và đồng đội đã hy sinh. Những tập đoàn, những công ty…đã đóng góp rất nhiều vào sự chăm sóc. Nhưng như vậy vẫn chưa đủ.

             Mỗi địa phương có các chiến sĩ Tàu không số cư ngụ, hay là quê hương sinh ra phải lấy làm vinh dự có người anh hùng cụ thể trên mảnh đất của mình để là tấm gương cho các cháu lớp sau.

 Xin cảm ơn Ngô Minh đã kịp cho ra mắt ký sự Cổ tích Tàu không số, khi mà cả nước đang có chương trình không thể lãng quên.

  Huế 8/12/20011

NHẤT LÂM

RA MẮT SÁCH “CỔ TÍCH TÀU KHÔNG SỐ”

alt

Nhà thơ Phạm Nguyên Tường đề dẫnalt

Nhà văn Tô Nhuận Vỹ phát biểualt

 Vĩnh Mẫn, Hoàng thân kể chuyện tàu không số

alt

Nguyễn Khoa Điềm phát biểualt

Ngô Minh  cám ơn alt

Quang cảnh phòng họp

alt

Chụp ảnh kỷ niệm

Bạn đọc kính mến. Chiều hôm nay, 17/12/2011, tại Nhà sách Phương Nam, 15- Lê Lợi, Huế, Hội nhà văn Thừa Thiên Huế và New Space Art Foundation Thanh-Hải đã tổ chức ra mắt cuốn sách CỔ TÍCH TÀU KHÔNG SỐ của Ngô Minh. Đông đảo các nhà văn Huế, sinh viên văn chương các Trường Đại học đã tới dự. Sau khi họa sĩ Lê Đức Thanh, thay mặt cặp họa sĩ Song sinh Thanh -Hải, chủ nhân của New Space Art Foundation, người tổ chức cuộc ra mắt sách phi lộ đôi lời, nhà văn Phạm Nguyên Tường, chủ tịch Hội nhà văn Thừa Thiên Huế đã đọc lời đề dẫn. Anh Vĩnh Mẫn ( tức Phan Thắng) cựu Trưởng ban tuyên huân Đoàn tàu không số xưa, người đã cung cấp tư liệu cho Ngô Minh viết sách đã phát biểu rất sôi nổi. Ông cho rằng việc đưa ra công khai Đoàn tàu không số làd rất cần thiết. Nhờ thành lập Hội truyền thống Đường Hồ Chí MInh trên biển , mà anh em cựu chiến binh tàu không số cảm thấy ấm lòng hơn. Ông cảm ơn các nhà văn, nhà báo đã có công đưa lịch sử những con tàu không số ra công khai. Các nhà văn Nguyễn Khấc Phê, Hồng Nhu, Tô Nhuận Vỹ, Nguyễn Khoa Điềm, Nhất Lâm, Vĩnh Nguyên… đã phát biểu hoặc đọc bài phân tích những ưu điểm và ấn tượng của tác phẩm CỔ TÍCH TÀU KHÔNG SỐ. Đa số ý kiến đều thống nhất rằng, đây là cuốn sách thể hiện sự nhạy cảm và lao động cật lực trong thời gian 3 tháng qua của tác giả. Đồng thời nhiều ý kiến cũng khẳng định là cuốn sách xúc động, ” là cuốn sách lơn đối với ai muốn hiểu thêm về Tổ quốc mình”( Nhất Lâm), hay cuốn sách là “chân dung sự tích một thời ” ( Hông Nhu); “Cái tựa sách CỔ TÍCH TÀU KHÔNG SỐ là hay và chính xác vì sẽ không bao giờ có những con tàu không số lần thứ hai”( Nguyễn Khoa Điềm), ” hay đây là một cuốn sách thành công của Ngô Minh” ( Tô Nhuận Vỹ).v.v..
Nhà thơ Mai Văn Hoan là người dẫn chương trình rất sinh động. Sau đây là một số hình ảnh của cuộc ra mắt sách CỔ TÍCH TÀU KHÔNG SỐ. Sau đây là lời đề dẫn do nhà thơ Phạm Nguyễn Tường, Chủ tịch Hội Nhà văn TTH trình bày :

Ngô Minh và ký sự huyền thoại

Hôm nay nhân kỷ niệm 57 năm ngày thành lập QĐND Việt Nam, 50 năm đường Hồ Chí Minh trên biển, chúng ta đến đây để cùng chia sẻ một tác phẩm mới của nhà thơ Ngô Minh, tập ký “Cổ tích tàu không số” vừa mới ấn hành. Có lẽ trong chúng ta ai cũng đều biết đến Ngô Minh với tư cách một nhà thơ với những bài thơ tinh tế, đằm sâu, day dứt, nhưng Ngô Minh không chỉ có thơ. Anh còn là tác giả của nhiều tác phẩm văn xuôi bao gồm các tập ký sự, chân dung phản ảnh một cái nhìn- trách nhiệm công dân của một nhà văn- nhà báo trước cuộc sống, con người và thời đại.
Hôm nay Ngo Minh đến với chúng ta bằng một huyền thoại ký sự. Một ký sự dày dặn, mang tầm vóc sử thi: huyền thoại đường Hồ Chí Minh bằng đường biển, dày đến 303 trang. Cuốn sách là một bản anh hùng ca viết về những con người hy sinh thầm lặng cho sự sống còn của đất nước này, dân tộc này. Hơn thế, ra đời vào đúng thời điểm nóng bỏng của biển Đông, nên cuốn ký sự lại mang một giá trị kép: Biển là máu, xưa là vậy, mà nay cũng vậy. Lòng tự trọng và kiêu hãnh dân tộc là sức đề kháng mạnh mẽ nhất, dữ dội nhất, để mỗi con người trên mảnh đất này, sẵn sàng hy sinh, và có thể vượt qua mọi tình huống bi kịch lịch sử. Cảm hứng chủ đạo của cuốn “ Cổ tích tàu không số” chính là ở đó.
Cuốn sách thuyết phục người đọc, trước hết là tính chân thực và giản dị. Tác giả đã ẩn mình đằng sau, để cho các nhân vật tự xuất hiện, tự lên tiếng. Một thế giới đầy ắp những nhân chứng sống động, hiển hiện lên trang sách từ câu chuyện này đến câu chuyện khác (Từ Hoàng thân triều Nguyễn là Vĩnh Mẫn – thuộc đoàn 125 – đoàn tàu không số, đến những người anh hùng thầm lặng, làm nên kỳ tích như ông Huỳnh Ba, chị Nguyễn Thị Táng, anh Đỗ San, Hồ Đắc Thạnh…). Chọn những nhân chứng sống làm người kể chuyện, tác giả ký sự đã chuyển tải được vô số các tình tiết, sự kiện về số phận con người trong và sau chiến tranh. Từ câu chuyện của người đang sống, gọi dậy những linh hồn đã khuất – những con người vùi sâu trong biển cát, vô danh, chỉ có sóng nước ghi tên họ trên tấm bản đồ của dân tộc này. Bởi vậy, theo tôi, cuốn ký sự, trước hết là có giá trị to lớn về mặt sử học.
Đây là một cuốn sách thuộc ký sự – văn học? Nếu nhìn từ góc độ này, có lẽ, phải khắt khe hơn với tác giả của nó. Tác phẩm sẽ có tính văn học hơn, nếu Ngô Minh biết sắp xếp, chắt lọc lại một số chi tiết, sự kiện. Vẫn biết, ký sự vốn yêu cầu sự thật, việc thật. Nhưng, sự chân thực của chi tiết, không có nghĩa là đưa tất cả sự thật vào trang viết của mình. Dù có một số hạn chế về mặt nghệ thuât, cuốn sách là một sự thức nhận trong mỗi chúng ta, về trang sử đã qua, để đi tiếp trên con đường bi hùng của dân tộc này. Tất nhiên tại buổi giới thiệu hôm nay, chúng tôi mong chờ nhận được thêm nhiều những phản hồi từ bạn đọc, từ đồng nghiệp để cuốn sách và tác giả ngày càng hoàn thiện hơn phẩm chất văn học của mình.
Hội Nhà văn TTH trân trọng cảm ơn New Space Arts Foundation, Trung tâm văn hóa Phương Nam-Làng nghề Huế đã hỗ trợ chúng tôi rất nhiều để có được buổi sinh hoạt văn học hôm nay.
Chúc quý vị có một buổi chiều thư thái, nhiều ý nghĩa.

(PHẠM NGUYÊN TƯỜNG- TRẦN HUYỀN SÂM )

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.12.2011

ĐÊM NÀY ĐÊM CHÚA GIÁNG SINH

HẢI KỲ

NHÂN NGÀY CHÚA GIÁNG SINH, XIN CHÚC BẠN ĐỌC BỐN PHƯƠNG AN LÀNH, HẠNH PHÚC.

NHÂN GIÁNG SINH , CHÚNG TÔI XIN CHÉP TẶNG MỌI NGƯỜI BÀI THƠ “ĐÊM NÀY ĐÊM CHUA GIÁNG SINH” CỦA CỐ NHÀ THƠ HẢI KỲ, MỘT NGƯỜI BẠN THƠ TRI KỶ CỦA CHÚNG TÔI ĐÃ TẠ THẾ 7-2011 TẠI ĐỒNG HỚI, QUẢNG BÌNH.

Đêm này đêm Chúa Giáng sinh
Tình yêu tôi cũng tượng hình đêm nay
Chúa trời giang rộng cánh tay
Trên cây thành giá lưu đày khổ đau

Tình yêu tôi cũng nhiệm màu
Đóng đinh tôi vạn thưở đầu trang thơ
Thiên thần cánh trắng như mơ
Trong tôi bay liệng bây giờ là em

Để trên máng cỏ diệu huyền
Sinh tôi với những ưu phiền trần gian

HK

QUẢN LÝ VĂN HÓA, VĂN NGHỆ :
XƠ CỨNG VÀ TỤT HẬU

Ngô Minh
Là một nhà báo, một công dân tôi đã đọc kỹ phần nói về văn hóa văn nghệ trong các Nghi quyết của Đại hội ĐSS VN. Đảng nêu khẩu hiệu :“ Phát triển văn hóa để thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội”, hay :“xây dựng nền văn hóa tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Điều đáng buồn là tất cả những vấn đề nêu trên đã được nêu trong nhiều nghị quyết Đại hội Đảng nhiều khóa trước, nhưng không thực hiện , nên tình trạng quản lý văn hóa ngày càng tụt hậu so với cuộc sống xã hội đang đổi mới hàng ngày.
25 năm đổi mới vừa qua, tuy đến nay nước ta vẫn là nước chậm phát triển , vẫn xếp hàng ở nhóm cuối trong ASEAN về kinh tế. Đặc biệt, trong lĩnh vực “văn hóa,văn nghệ” thì phương thức quản lý vẫn không khác gì thời chiến tranh hay thời bao cấp. Nghĩa là giáo điều, nặng về “cấm đoán”,” “canh gác”, tuyên truyền một chiều , mà thiếu sự đối thoại cởi mở, tạo ra môi trường dân chủ, tự do để kích thích sáng tạo. Chỉ hơn chục năm qua, đã có hàng chục cuốn sách bị thu hồi, bị “xay bột” mà không được giải thích nguyên nhân . Nhiều bộ phim” có vấn đề” bị duyệt đi duyệt lại hàng chục lần, theo “ Hồi ký điện ảnh” của Đặng Nhật Minh thì cả Tổng bí thư Đảng cũng phải đi duyệt phim !. Đầu những năm 80 của thế kỷ trước, Tạp chí Sông Hương đã dịch và in tiểu thuyết Gtrawm năm cô đơn của nhà vaƯN Mác-ket, vừa in xong là bị cấm,bị xay bột. Tác phẩm được giải nô-bel của một người cộng sản cũng bị xay bột, thật kỳ cục ! Đọc lại những cuốn sách bị “cấm”, bị “ chặn” ( ví dụ Con nai đen của Nguyễn Đình Thi, Vào đời của Hà Minh Tuân, Những thiên đường mù của Dương Thu Hương, Đi về nơi hoang dã của Nhật Tuấn, Ly thân của Trần Mạnh Hảo… hoặc có những cuốn chỉ vừa mới in xong đã bị thu hồi, cấm không được phát hành như Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn, Hệ thống xã hội chủ nghĩa của Kornai János, bản dịch của Nguyễn Quang A, thơ Chân dung của Xuân Sách, Chuyện Làng Ngày Ấy của nhà văn Võ Văn Trực.… Trong nhiều trường hợp, có những cuốn sách tuy đã lọt lưới kiểm duyệt của các biên tập viên Nhà xuất bản nhưng lại bị “các cơ quan chức năng” trong lãnh vực văn hóa, tư tưởng kịp thời phát hiện nên có lệnh thu hồi và lắm khi người được lệnh ký quyết định thu hồi lại chính là kẻ đã ký cho nó ra mắt tức các ông Giám đốc của các Nhà xuất bản! ( theo nguyêntrongtao.org). Trong các tác phẩm ấy, tôi thấy chẳng có vấn đề gì phản quốc, phản dân tộc, phản nhân loại cả hay tuyên truyền văn hóa đồi trụy…cả. Đa số nêu lên mặt trái của sự thật trong cuộc chiến tranh, những ấu trĩ, những khiếm khuyết của lãnh đạo Đảng, chính quyền cấp này, cấp khác . Người viết nêu lên những sự thật đau lòng trong xã hội là giúp Đảng , nhà nước nhìn lại đội ngũ của mình , đó là việc tốt. Trong hình dung của các nhà văn, đội ngũ cán bộ tuyên huấn từ Trung ương đến địa phương càng ngày càng đông đảo, như những “ông Kẹ” suốt ngày đeo mục kỉnh, đọc dò từng trang sách, cột báo, để tìm ra những ý tứ, câu chữ nào “có vấn đề” để quy chụp là “nói xấu chế độ” , “chống Đảng” để “ngăn chặn ”. Vì “sợ” tù đày, con cái gia đình bị đe dọa, rất nhiều nhà văn phải “tự biên tập mình” trước từng trang sách. Viết như thế làm sao mà có tác phẩm lớn được . Hình như đội quân tư tưởng không chịu xem lại nhận thức của mình có bị xơ cứng không, có bị vô cảm trước thân phận nhân dân, thân phận đất nước, đang vô cùng khốn khó không ?
Các Hội văn nghệ trung ương , địa phương đang bị biến thành” cơ quan hành chính”, nhà văn trở thành “cán bộ tuiyên truyền”. Tôi nghĩ, có nhiều vấn đề trong xây dựng CNXH chúng ta đang học tập kinh nghiệm Trung Quốc. Tại sao ta không học tập việc Trung Quốc cho in và trao giải thưởng tiểu thuyết “ Phong nhũ phì đồn “ ( ta dịch là “Báu vật của đời” ) của nhà văn Mạc Ngôn . Một tác phẩm mà nếu in ở Việt Nam ,thì chắc chắn tác giả của nó sẽ bị làm tình làm tội. Ở Trung Quốc các nhà văn viết rất thoải mái đủ mọi khía cạnh độc ác, tàn bạo của thời kỳ Đại Cách mạng văn hóa, nhưng ở nước ta viết về CCRĐ, Nhân văn giai phẩm .v.v.. lại bị cấm đoán, ngăn chặn ?. Ngay cả viết về những nét đẹp, nét hay của một số nhà văn “có vấn đề” trong Nhân văn giai phẩm, trong “thời kỳ xét lại” cũng bị ngăn chặn. Viết về những sai lầm , ấu trĩ của Đảng làm cho dân tin Đảng hơn, làm cho Đảng trong sạch hơn ( “thuốc đắng dã tật”), sao lại cho là chống đối. Che dấu, tâng bốc chỉ làm cho dân mất lòng tin . Nói thật lòng, 25 năm qua, việc “ quản lý văn nghệ văn hóa” giáo điều, một chiều đã làm cho dân xa Đảng hơn, làm chậm , thậm chí cản trở rất lớn bước tiến của đất nước !

Việc quản lý văn hóa đang ngày càng lúng túng, bối rối trong thời @. Quan điểm cố hữu là : cái gì không quản được thì cấm, như internet, karaoke, vũ trường… Thế thì hội nhập làm sao ? Xây dựng cuộc sống văn hóa thì rất hình thức và gây lãng phí. Cuộc vận động “xây dựng làng xã và cơ quan văn hóa” là một ví dụ. Cả một cơ quan tỉnh ủy hay cơ quan Sở văn hóa một tỉnh mà mới được công nhận và cấp bằng “cơ quan văn hóa” cách đây vài năm, thì thật buồn cười. Chẳng lẽ trước đó họ không phải là cơ quan văn hóa hay sao ? Thế mà muốn có tấm bằng đó thì phải làm báo cáo, mời duyệt đi duyệt lại, phải “xin-cho”, phong bì, liên hoan, rồi làm lễ đón bằng, tốn kém hàng chục triệu đồng. Cả nước có hàng chục triệu cơ quan, trường học, làng xã phải tốn tiền để có tấm bằng ”Cơ quan văn hóa” như thế! Rồi đùng một cái, lãnh đạo cơ quan là người tham nhũng, cờ bạc, mại dâm, lãnh đạo làng văn hóa lại say rượu, chửi bới dân. Xây dựng làng văn hóa mà cho chặt hết những hàng rào dâm bụt, hàng rào chè tàu, bờ tre giếng nước, …để xây tường gạch quanh nhà như ở Tân Kỳ , Nghệ An là sự phản văn hóa nghiêm trọng.

Đó là văn nghệ, văn hóa, còn báo chí của hệ thống báo Đảng đã thực sự tách khỏi cuộc sống nhân dân hàng ngày từ nhiều năm nay. Tất cả báo Đảng ở hầu hết địa phương trụ sở tòa ngang dãy dọc, xe con hai ba chiếc, mỗi năm tiêu tốn hàng mấy chục tỷ đồng tiền thuế của dân) nhưng lại làm ra thứ báo “không ai đọc”, chỉ dùng để gói đồ, vì không phản ảnh những mối quan tâm của nhân dân . Thậm chí bảo vệ những bọn tiêu cực ở địa phương đã bị các báo Trung ương vạch mặt. Đảng lấy tiền thuế của dân nuôi 60 tờ báo mỗi năm hàng trăm tỷ đồng , rồi lại lấy hàng trăm tỷ tiền thuế của dân cho các chi bộ, cơ quan Đảng mua những tờ báo đó về để bao gói, chứ không phải để đọc, thật đau lòng. Còn hàng ngày người dân đọc báo Thanh Niên, Tuổi Trẻ, Kinh tế Sài Gòn. An Ninh Thế giới, Tiền phong, đọc báo trên mạng internet, đọc các trang Web., blog cá nhân.v.v…Báo mạng. blog từ vài năm nay đã trở thành thông tin chính thống của người dân.

Đảng CS phải nghiêm khắc kiểm điểm trong 25 năm vừa qua, trong lúc cả nước vắt mồ hôi, trí tuệ , tiết kiệm từng đồng vốn để đổi mới, làm tăng trưởng kinh tế đất nước, các báo Đảng lại là đội quân đang làm nghèo đất nước ! Đã có luật báo chí, mà không “quản” theo luật mà quản theo mệnh lệnh của lãnh đạo: “ Phải viết thế này…không được in những bài như thế…” thì thật khó cho Tổng biên tập các báo. Báo chí là một nghề có thể tự nuôi sống mình bằng sản phẩm .Ở nước ta có hàng chục tờ báo giàu có, nhưng vẫn làm tốt nhiệm vụ chính trị của Đảng, được nhân dân đón đọc, tại sao các báo khác lại sống bằng tiền thuế của người dân nghèo ? Thật không công bằng .Và đó cũng là nguyên nhân làm cho người đọc quay lưng lại với báo Đảng . Theo chúng tôi, báo chí phải phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước, nhưng phải vay vốn mà làm báo ( trừ một số tờ báo được bao cấp như Tạp chí Hán Nôm… vì cần phục hồi vốn cổ). Những tờ báo nào không tự nuôi sống được mình bằng tiền bán báo thì nên dẹp bỏ, vì nhà báo cũng là người lao động không thể sống trên mồ hôi nước mắt của người lao động khác ( năm 2004, Trung Quốc đã đóng cửa trên 700 tờ báo vô tích sự).

Quản lý văn hóa, văn nghệ báo chí theo cách hiện nay là rất cũ kỹ, lỗi thời.. Đáng tiếc, Nghị quyết Đảng nêu “ Đổi mới nội dung và phương pháp quản lý của Nhà nước về văn hóa. Xây dựng cơ chế, chính sách, chế tài ổn định, phù hợp, đáp ứng nhu cầu mới của sự nghiệp phát triển văn hóa của thời kỳ công nghiệp hóa… Nhưng không ai làm cả, vì tất cả bộ máy đã trở nên vô cảm và cũ kỹ, không theo kịp thời đại.

Đăng bởi: Ngô Minh | 31.12.2011

CHÀO 2012

alt
Cháu Ken. ảnh chụp ngày 30/11/2011

alt

Cháu Ta Ta, ảnh chụp 30/11/2011 

alt

         CHÀO 2012

             Năm 2012 đã đến trước thềm nhà, QUÀ TẶNG XỨ MƯA xin gửi đến bạn đọc bốn phương lời chào  thân ái. Mong sang năm mới, mọi người sẽ có thêm nhiều niền vui mới, gia đình an khang thịnh vượng. 2012, hãy góp một tiếng thét, một cánh tay đưa lên trời, thét vào mặt lũ  bành trướng đang xâm lấm biển đảo  Tổ Quốc thân yêu, đưa chúng ra trước vành móng ngựa  tòa án lương tâm nhân loại. 2012 , hãy góp  một tiếng nói cùng Đảng và nhà nước vạch mặt bọn tham nhũng đang nảy nòi nhung nhúc khắp đất nước, từ trung ương đến  thôn xã, để cho  xã hội trong sạch hơn, gia đình trong sạch hơn. Năm 2012, hãy góp một tiếng nói bảo vệ những người dân dám xuống đường đấu tranh bảo vệ  biên cương lãnh hải,  đấu tranh vạch mặt những kẻ tham nhũng, kẻ đang lợi dụng chức quyền để kết bè, kết nhóm nhằm vinh thân phì gia. Năm 2012, năm RỒNG BAY, RỒNG CUỘN, mong chặn tay bọn Khựa thâm hiểm, bảo vệ vững chắc  biên cương  biển đảo Tổ Quốc, mong đất nước ta sẽ vượt qua cơn lũ lạm phát 19 – 20 % đang tràn về…

             Riêng NGÔ MINH, chủ bút QUÀ TĂNG XỨ MƯA đã có một năm 2011với nhiều niềm vui đáng được bố cáo với bạn bè bốn phương:

               – Cháu  nội thứ hai ra đời. Đó là  cu Ken ( Ngô Văn Hải Minh), đến  9 tháng Chạp Tân Mão này  là tròn ba tháng. Mỗi ngày cháu cong chim đái qua nôi. Cháu nội đầu , bé Ta Ta ( Ngô Phan Hiền Anh) đến  mùng 9 tháng Tư năm Nhâm Thìn này là tròn 3 tuổi. Ông nội đã làm được 20 bài thơ tặng cháu. Cháu đã hát được mấy chục bài, biết đếm tiếng Việt đến 50, đếm tiếng Anh đến 10…

              – Từ tháng 8 đến hết tháng 11 năm 2011, Ngô Minh đã dốc sức viết  được cuốn  ký sự CỔ TÍCH TÀU KHÔNG SỐ, nhằm khắc họa chân dung một kỳ tích lớn của đất nước thời đánh Mỹ. Để có cuốn  ký sự Ngô Minh đã đi nhiều nơi, gặp gỡ nhiều cựu chiến binh Tàu không số, đã viết 34 bài báo về họ ịn trên  các báo Thanh Niên, Công an Đà Năng, Văn Nghệ, báo Thừa Thiên Huế, báo Quảng Bình, Bee.net, Tạp chí Sông Hương, Tạp chí Cửa Biển… Và đầu tháng 12-2011, cuốn sách CỔ TÍCH TÀU KHÔNG SỐ đã ra mắt bạn đọc. Cuốn sách được bạn đọc đành giá cao , được  Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế và  New Space Art Foundation Thanh-Hải đã tổ chức giới thiệu trang trọng. Nhiều nhà văn nổi tiếng ở Huế đã tham  dự và phát  biểu biểu dương  cuốn sách như nhà văn Nguyễn Khắc Phê, Nguyễn Khoa Điềm, Tô Nhuận Vỹ, Nhất Lâm, Hồng Nhu…

            Sau khi viết xong cuốn sách, do ngồi  bên máy tính  mỗi ngày 12 đến 14 tiếng đồng hồ, Ngô Minh bị “thoái hóa đốt sống lưng số 5”. Đã  nằm Bệnh viện Trung ương Huế  hai tuần, đã chụp X quang, chụp MRI ( chụp cộng hưởng từ, loại chụp phim hiện đại nhất  của Bệnh viên Trung ươnbg Huế hiện nay ), bác sĩ đã phát hiện ra bệnh “thoát vị đĩa đệm”, nhưng chưa đến mức mổ. Cái đĩa đệm ấy  nó chèn dây thần kinh làm cho chân phải đau nhức, tê cứng, không thể đứng, đi được. Ngô Minh đã phải nằm  hơn tháng nay…. Trong  ngày cuối năm này, vợ Ngô Minh- Nguyễn Thị Minh Tâm  vẫn tiếp tục xào nóng gần chục loại lá như là cây gấc, là đại tướng quân, vỏ cây hoa gạo, lá lược vàng, cành dao.v.v.. để đắp lưng đau cho chồng. Đây là bài thuốc dân gian chữa  thoái hóa cột sống hiệu nghiệm. Mấy ngày nay, Ngô Minh đã đỡ, đã có thể đi lại trong nhà được rồi. Hôm qua đã đi xe máy  dự 50 ngày mất của chị Chiến , vợ cố nhà thơ Hải Bằng, Dẫu  bệnh tật đau đớn, nhưng  có được cuốn sách CỔ TÍCH TÀU KHÔNG SỐ vào những ngày cuối năm là một niềm vui lớn.

              Năm 2012, Ngô Minh mong mỏi sức khỏe sẽ tốt hơn hơn để được tiếp tục  cày trên những trang viết, cống hiến cho bạn đọc cả nước những trang thơ, trang văn tâm huyết…

                                   XIN CHÀO  NĂM 2012 !

Đăng bởi: Ngô Minh | 04.01.2012

HÃY “THA” CHO HAI CHỮ “NHÂN DÂN”

HÃY THA CHO HAI CHỮ “NHÂN DÂN”

Ngô Minh

Gần đây, thành phố Đà Nẵng đã đề nghị thay cụm từ “Chủ tịch ủy ban nhân dân” thành “Thị trưởng”. Ví dụ gọi là : Thị trưởng Đà Nẵng, Thị trưởng Huế, thị trưởng Hà Nội.v.v..Mới đây khi thảo luận về việc thực thị Hiến pháp 1992, UBND Thành phố Hồ Chí Minh đã đề xuất không gọi là Ủy ban nhân dân … , mà gọi là Ủy ban hành chính…Hôm trước, xem ti vi, tôi thấy thông tin, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị đổi tên thành Viện công tố…. Tôi rất tán đồng với ý những cao kiến này, vì nó chính xác như khoa học, gan ruột mà rất đúng nghĩa. Từ mấy chục năm nay chúng ta gọi là Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Ủy ban nhân dân, mà không hiểu nó có nghĩa là gì. Ủy ban gì là Ủy ban nhân dân ? Không ai giải thích được. Đúng quá.Rồi Viện kiểm sát nhân dân tối cao, viện kiểm sát nhân dân ( tỉnh, huyện) là cái viện chi chi : Cái viện chuyên đi “kiểm sát nhân dân”, chứ không kiểm sát đảng, không kiểm sát nhà nước, không kiểm sát chính phủ , không kiểm sát lãnh đạo, kiểm sát cán bộ ư ? Rõ ràng nghĩa của từ không ổn . Nước ta có rất nhiều tên gọi các tổ chức, cơ quan “đèo bòng” thêm hai chữ nhân dân một cách ép uổng như thế.

Tôi biết không phải chỉ ở nước ta, mà nhiều nước “trong phe XHCN” xưa cũng gắn hai chữ “nhân dân” vào tên nước, tên các tổ chức hành chính như : Công hòa nhân dân Trung Hoa, Công hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, Quân giải phòng nhân dân Trung Quốc,…rồi thư viện nhân dân, giáo viên nhân dân, nghệ sĩ nhân dân, Nhà văn nhân dân.v.v.. Được vinh danh tột đỉnh thế mà nhân dân không ai sung sướng hãnh diện cả, vì nhân dân “kiếm ăn từng bữa toát mồ hôi”, thời giờ đâu mà biết.. Theo tôi hiểu thì thời kỳ đang đấu tranh chống đế quốc, giành chính quyền, các Đảng CS đều thêm 2 chữ “Nhân dân” vào để tập lực lượng đông đảo trong nước đi theo mình. Điều đó rất đúng và rất có hiệu lực trong thực tế. Nhưng khi Đảng CS đã thành đảng cầm quyền,“cai trị” ( hay quản lý) đất nước rồi, thì việc cứ giữ nguyên hai chữ “Nhân dân” sau các tên gọi tổ chức hành chính trong bộ máy của mình như thế, không còn tác tác dụng nữa, mà có khi trở thành sự trớ trêu, phản cảm. Ví dụ tên báo là Nhân dân, nhưng tôi cam đoan là 80% nhân dân không đọc, mà chỉ bí thư đảng bộ cơ sở trở lên, lãnh đạo và cán bộ lão thành mới đọc. Vì tin tức bài vở trên báo giống như công báo, không liên quan đến cuộc sông hàng ngày của dân chúng.

Trong thể chế quân chủ , nhân dân là người “bị cai trị”, gọi là dân đen. Trong chính thể cộng hòa, họ là đối tượng “bị”/ được quản lý . Bởi vậy mà những tổ chức nhà nước có dính thêm hai chữ “nhân dân” ở đuôi như Hội đồng nhân dân.v.v..là không đúng nghĩa thật của nó. Đọc lên nghe như sự lợi dụng, nghe như sự tuyên truyền. Cách đây hơn chục năm, có một ông Tổng biên tập một tờ báo ngành ở Hà Nội đã viết và cho đăng một bài nhàn đàm bàn về hai chữ “Nhân dân” trên báo mình. Đại ý bài viết là ở nước ta nhiều tổ chức có chữ nhân dân kèm theo như Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Ủy ban nhân dân, Viện kiển sát nhân dân, Tòa án nhân dân. Thư viện nhân dân…chỉ có mấy tổ chức liên quan đến tiền bạc là của Nhà nước, như : Kho bạc Nhà nước, Nhân hàng Nhà nước. Nghe nói sau khi đăng bài đàm đạo này, ông Tổng biên tập lập tức bị cách chức. Nhưng ngẫm lại, ý kiến trong bài viết của ông TBT là hoàn toàn đúng. Vì sao kho bạc hay ngân hàng không được gọi là Khi bạc nhân dân, Ngân hàng ngân dân , mà lại gọi là Kho bạc/ Ngân hàng Nhà nước ? Đó là câu hỏi mà ai cũng có thể đặt ra. Trong tổ chức bộ máy hành chính một quốc gia, kho bạc hay ngân hàng không khác gì viện kiểm sát hay tòa án cả, sao nơi thì thêm chữ nhân dân, nơi lại thêm chữ “Nhà nước” ? Cách gọi tên như thể làm cho người dân luôn nghĩ giống như ông Tổng biên tập nọ đã nghĩ. Nghĩa là tiền bạc thì Nhà nước phải nắm, còn cái gì không liên quan đến tiền bạc thì là “của nhân dân”. Đó là tư tưởng của bọn phản động xấu xa, bọn diễn biến hòa bình

Dù ĐCS nhiều lần khẳng định :” Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân”, cũng không thể gắn hai chữ “nhân dân” vào sau tên các tổ chức, các danh hiệu như vậy. Rõ ràng nhân dân không bao giờ quản lý, điều khiển được các tổ chức như Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cả. Nếu nói hai chữ “nhân dân” là bản chất của bộ đội, của công an cũng không hoàn toàn đúng trong thời Đảng cầm quyền. Công an là lực lượng bảo vệ trật tự trị an xã hội, quân đội là lực lượng bảo vệ Tổ Quốc, nhiệm vụ của nó dược pháp luật quy định. Giả dụ, khi chính thể cầm quyền thối nát, phản động, bán nước cho ngoại bang, nhân dân đứng lên “lật thuyền” để bảo vệ Tổ Quốc, lúc đó, theo lệnh cấp trên Quân đội nhân dân, Công an nhân đàn áp nhân dân à ? Phản lại bản chất của mình à ?.

25 năm đổi mới, hội nhập, ý nghĩa của hai chữ “nhân dân” trong tên gọi các tổ chức càng ngày càng mất tác dụng. Ví dụ một số cán bộ lãnh đạo trong “Ủy ban nhân dân’… tỉnh/ huyện/xã, lợi dụng việc thu hồi đất ruộng của dân để xây dựng khu công nghiệp, khu đô thị mới, làm sân golf.v.v..rồi chia nhau bán làm giàu. Nhân dân không chịu dời nhà thì “ Ủy ban nhân dân…” cho lính đến cưỡng chế . Khi nhân dân tụ tập kéo nhau lên trung tâm thành phố để khiếu kiện , đòi lại đất, thì “Ủy ban nhân dân” sai “công an nhân dân” đi trấn áp, bắt trói nhân dân tống lên xe , vi cho là “gây rối trật tự công công”, “chống lại chính quyền” . Trong các cuộc xuống đường chống Trung Quốc xâm lấn biển đảo Việt Nam, bắt bớ, giết ngư dân Việt Nam đang đánh cá trên vùng biến của nước mình, cắt cáp thăm dò của Tàu thăm dò dầu khí của nước ta…, thì “ Ủy ban nhân dân” lại sai “công an nhân dân” trấn áp, bắt bớ, tống vô tù, thậm chí đạp vào mặt nhân dân.v.v.. Các nhà tuyên huấn lập luận rằng, những cuộc xuống đường như thế dễ bị kẻ xấu lợi dụng . Nhưng kẻ xấu nào nguy hiểm hơn bọn xâm lăng đang rình rập biên cương Tổ Quốc ? Bởi thế nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm , trong bài thơ Nhân dân mới đây đã viết : “Sao lại sợ nhân dân biểu tình?”. Tất cả những cảnh tượng “ bắt bớ”, “đàn áp” nhân dân ấy không phù hợp tí nào với những tên gọi :” Ủy ban nhân dân”, “Công an nhân dân”…

Cho nên để đảm bảo sự chính xác tên gọi, không gây sự hiểu lầm, phù hợp với một tổ chức nhà nước hiện đại , chúng tôi đề nghị bỏ hai chữ “nhân dân” khỏi các tên các tổ chức Nhà nước, chính quyền. Gọi lại các tên cho chính xác và sang trọng như : Ủy ban hành chính, Viện công tố, Thị trưởng thành phố, hoặc Chủ tịch ủy ban hành chính, hay Quân đội Việt nam, Công an Việt Nam…

Vâng, hãy tha cho hai chữ “nhân dân”

Đăng bởi: Ngô Minh | 06.01.2012

THƠ VỀ BIỂN ĐẢO

THƠ VỀ BIỂN ĐẢO

Ngô Minh

NGHE TRẺ CON HÁT
Ở TRƯỜNG SA

Hôm qua em đến trường…
các em học sinh hát
nghe ở Trường Sa mà như nghe ở làng quê bên Sông Hồng, Sông Hậu
tiếng hát bi bô sóng
bi bô đá
như dây leo xoắn cột mốc chủ quyền
lũ én đảo nghiêng tai riu rít

Trường Sa ơi
Trường Sa bây giờ không chỉ ra-đa và súng
Trường Sa đang sinh sôi tiếng trẻ học bài
gì sâu hơn mắt trẻ thơ ngơ ngác
xoe tròn trước đại đương xanh

Các em sinh ra ở đảo
như cây phong ba, như gốc bàng vuông
có tiếng hát các em
Trường Sa bỗng cao hơn

ở Trường Sa
tiếng trẻ bổng trầm hát theo cô trong lớp
lính đảo lắng nghe
như hồn Việt
gọi tên

9-2011

( Bài thơ đã in trên báo Thanh Niên số Xuân Nhâm Thìn)

Ngô Minh

THỨC VỚI LÀNG BIỂN THƯỢNG LUẬT

1

đêm như đá
biển va dông chớp
nhoi nhói những con thuyền chưa về
làng tắt đèn mà chưa ai ngủ
thắc thỏm trời cũng chưa ngủ
he hé những ngôi sao màu lửa ủ tro
Sóng sầm sịch lưng chừng ngoài biển bắc… (*)
chạnh lòng ta lắm
tiếng ru

2
Cạnh ta ngồi
mộ ông nội ta nằm quay ra hướng biển
mộ bà nội ta nằm quay ra hướng biển
mộ ba ta nằm quay ra hướng biển
mộ mạ ta nằm quay ra hướng biển
đời nội ngư trường Hoàng Sa như cánh đồng làng
đời ba ngư trường Trường Sa như cánh đồng làng
trăm năm bủa câu giăng lưới
trăm năm làng nhức nhối đợi thuyền
sóng sậm sịch lưng chưng ngoài biển Bắc…
bà nội ta hát rứa
mạ ta hát rứa
và bây giờ em hát rứa
những con thuyền chưa về
câu hát như đêm
ủ lửa

3
Làng ơi
Bên trái ta là eo Tàu Đồng, bên phải là xóm Tàu Sắt
những con tàu xâm lăng bỏ xác một thời
chị dâu ta trung đội trưởng pháo tầm xa 85 ly
bạn gái ta mười đứa là pháo thủ
năm lần bắn cháy tàu chiến Mỹ
“Xê Gái pháo binh Ngư Thủy ” hóa tượng đài
vĩnh hằng trước biển

bây giờ các chị đã thành bà nội bà ngoại
có cháu trai đánh bắt xa bờ
có cháu gái đêm đêm lại ru con hát đợi
Sóng sậm sịch lưng chưng ngoài biển Bắc
Giọt mưa tình rỉ rắc chốn hàng hiên…

4
Làng ơi
giọt mưa tình
và sóng dữ ngoài biển bắc
tưởng xa lạ
mà thành thổn thức
thành lo toan ngàn đời
bà nội ta hát rứa
mạ ta hát rứa
và bây giờ em hát rứa
câu hát gọi chân trời
nhú lửa…

Làng Thượng Luật, 8-9-2011

———
(*) Dân ca Bình- Trị- Thiên “:
Sóng sầm sịch lưng chừng ngoài biển bắc
Giọt mưa tình rỉ rắc chốn hàng hiên
Em muốn làm lơ đi mà ngủ, ngủ cũng không yên
Sợ mưa già nước ngập, biết tựa con thuyền vào đâu?

Đăng bởi: Ngô Minh | 09.01.2012

CUỘC TÌM KIẾM NGƯỜI ANH HÙNG

Nên chăng Quân chủng Hải Quân và Bộ Quốc phòng, gặp lại các nhân chứng như: Tư lệnh trưởng Lương Văn Nhã, nhà báo Nguyễn Hoàng Dục để làm rõ các nhân vật trong bài báo; mà đúng như vậy thì nên làm lễ truy tặng, suy tôn anh hùng cho những liệt sĩ đã hy sinh trong trận đánh mà bài báo đã nêu ???

CUỘC TÌM KIẾM NGƯỜI ANH HÙNG .

Nhân kỷ niệm 40 năm ngày truyền thống bộ đội đặc công Hải quân Việt Nam ( 19/3/1967 – 19/3/2007 ). Trên số báo đặc biệt chào mừng 40 năm ngày truyền thống bộ đội đặc công Hải quân, có bài: “ Chuyện bây giờ mới kể : Có một ngôi đền thờ BỘ ĐỘI ĐẶC CÔNG ” của nhà báo Nguyễn Hoàng Dục. Bài báo có đoạn viết: “ Tại rừng Tràm ấp Bà Bông, huyện Nhơn Trạch ( Đồng Nai) , nơi đặt sở chỉ huy của chiến khu rừng Sác, đồng chí tư lệnh Lương Văn Nhã ( tức là Hai Nhã ), đêm đêm trăn trở suy nghĩ, tìm cách chặn đánh, tiêu diệt các đoàn tàu địch trên sông Đồng Nai. Sau khi bàn bạc thống nhất chủ trương, ý định tác chiến trong đảng ủy, chỉ huy, đồng chí Hai Nhã quyết định giao nhiệm vụ cho một tổ đặc công nước gồm ba đồng chí của đại đội 2 sang phối thuộc cho Y4 bên Thủ Đức để nghiên cứu, lập trận địa, tổ chức đánh tàu địch ( Y4 là đoàn biệt động Sài Gòn – Gia Định). Cả 3 đồng chí đặc công nước đều thuộc Đoàn 8 đặc công nước của Bộ tư lệnh Hải quân. Tổ trưởng là đồng chí Nhật nhập ngũ năm 1963, quê ở Quảng Bình. Hai tổ viên là đồng chí Đại, quê ở Quảng Bình và đồng chí Cốt quê ở Thái Đô, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình cùng tham gia trinh sát, bảo đảm cho trận đánh này…” Bài báo kể về sự vất vả lăn lộn tìm kiếm nhiều đêm để nghiên cứu và đặt thủy lôi dưới lòng sông, ngày thì ém ở bờ sông để giữ bí mật cho trận đánh; Địch thì cảnh giác cao độ cho các tàu rà quét mìn và phi pháo dọc bờ sông…
“ … Sáng tinh mơ, gió chướng se se lạnh của một ngày cuối tháng 11 năm 1967, những vạt lúa Long Tân chín cong trái me trải khắp vùng quê, có một số bà con ra đồng gặt lúa. Bỗng chốc máy bay đầm già( L19) vè vè bay lượn, nghiêng chao nhòm ngó, tìm tòi từng kẻ lá hai bìa sông. Khi các tàu rà quét mìn di chuyển ngược lên thượng lưu thì từng tốp máy bay trực thăng quần đảo sát những lùm cây, gió cuốn nghiêng ngả. Những trận địa pháo thi nhau nã đạn vào những nơi chúng nghi ngờ lực lượng ta phục kích. Cả một vùng quê chấn động bởi phi pháo quân thù. Cứ mỗi khi có tàu địch hành trình trên sông thì “bản nhạc” này lại tấu lên, trình diễn khoảng hơn nửa giờ, mãi rồi dân ở đây cũng thành quen, mặc kệ chúng, họ lại cày cuốc lao động mưu sinh. Rồi từ phía Cát Lái vọng về tiếng máy tàu ì ầm. Một chiếc tàu lớn, kéo sau 8 xà lan, trọng tải mỗi xà lan cả nghìn tấn, chở khẳm từ bom đạn, hai bên sườn đoàn xà lan là 4 chiếc tàu chiến chở đầy lính Mỹ, súng pháo lăm lăm, xé nước ngược xuôi hộ tống bảo vệ đoàn tàu. Các chiến sĩ đặc công nước bí mật phục chờ trong lùm cây lau sậy, một người sẵn sàng dùng súng B 41 bắn yểm trợ và cũng phòng khi kíp trái nổ bị lép thì bắn thẳng vào đoàn xà lan, kích cho bom đạn trên đó nổ. Một người làm nhiệm vụ điểm hỏa ở phía sau, cách mép sông khoảng 7 m, lấy đầu đồng chí phía trước làm lộ tiêu ngắm đoàn tàu, sẵn sàng điểm hỏa. Căng thẳng tột độ, thời cơ đã đến, cả tổ nghiến răng, dồn hết tâm lực vào trận đánh, họ cùng nhau đếm một, hai, ba, đánh!…”
“ … Anh em chỉ kịp nghe tiếng nổ “ Ầm oàng ” long trời lở đất, thật kinh khủng, nó không như tiếng nổ trầm đục trong trận đánh nhận chìm tàu Ba-lon-Ru-gơ Victory chở đầy xe tăng, súng, pháo, bom , đạn, máy bay còn nguyên trong kiện ở ngã Bảy Thiềng Lừng trên sông Lòng Tàu ngày 24/8/1966, mà sau tiếng nổ là một cột nước khổng lồ dâng cao hàng chục mét trùm cả một đoạn sông Đồng Nai, do cùng một lúc cả chục ngàn tấn bom đạn phát nổ, phá toang và nhấn chìm cả 8 chíếc xà lan, tàu kéo hạng nặng và 4 chiếc tàu chiến đấu cùng hàng trăm lính Mỹ xuống dòng sông sâu…”
“… Sau trận đánh, trung đoàn 10 Rừng Sác lại hối hả lao vào chuẩn bị cho tổng tiến công tết Mậu Thân năm 1968. Ai cũng hy vọng anh em còn sống hoặc trở về đơn vị sau, hoặc tiếp tục chiến đấu ở bên Y4 biệt động, nhưng không có một sự thông tin gì về sự còn mất của tổ đặc công nước đánh trận này. Mãi về sau, mọi người mới biết là cả tổ đều hy sinh, không ai còn thi hài nguyên vẹn, do sức công phá lớn của bom đạn trên đoàn tàu địch… Nhà ông Năm nơi 3 chiến sĩ đặc công trú ngụ chỉ còn lại một đống tro tàn, cả 3 chiếc võng của các chiến sĩ đặc công nước cũng cháy hết, không còn một tấm hình, dòng thư hay kỷ vật. Bà con Long Tân tập hợp lại, đi theo những con chim Kền Kền kêu, bay lượn đánh mùi ngoài ruộng lặn lội tìm kiếm, dồn hết thi thể anh em về, có một người con gái ( Vợ ông Châu ở xã Long Tân) đã lấy chiếu cũ của gia đình cùng bà con Long Tân gói bó, bí mật vùi vào mép gò cát, Vì lúc này địch kiểm soát gắt gao. Sau này có một cơ sở đóng xà lan góp vốn cùng xã Long Tân xây một ngôi đền thờ các chiến sĩ đặc công rừng Sác và biệt động đã vì nước hy sinh nơi đây, Đền không lớn nhưng thiêng liêng. Đó là Long Tân ngày nay.”
Ba chiến sĩ đặc công nước, như trong bài báo của nhà báo Nguyễn Hoàng Dục kể, thì 2 người ở Quảng Bình, một người ở Thái Đô Thái Thụy Thái Bình. Gia đình Anh Đại ở Quảng Bình, và anh Cốt ở Thái Bình không biết có đọc được bài báo này hay không ? Nhưng riêng gia đình Anh Nhật người Quảng Bình, có 6 anh em trai, thì đã có 5 anh em đều ở binh chủng hải quân, nên khi đọc bài báo này các anh và gia đình đều khẳng định anh Nhật trong câu chuyện mà bài báo đã nêu là thân nhân của họ.
Bởi vì anh Hoàng Trọng Nhật nhập ngũ tháng 4 năm 1963, thuộc Đoàn 8 đặc công nước bộ tư lệnh Hải quân, được điều vào miền Nam chiến đấu năm 1964. Trong nội dung bài báo gia đình đối chiếu thì đồng chí Nhật trong báo trùng với giấy báo tử, do thượng tá Võ Xuân Phúc cục phó cục chính sách có ghi Liệt sĩ Hoàng Trọng Nhựt sinh năm 1943, nhập ngũ năm 1963 vào Đảng tháng 1 năm 1967, chính thức tháng 10 năm 1967, chức vụ đại đội phó NB thuộc đại đội 10.
Biệt biệt trên 40 năm hy sinh, gia đình chỉ nhận được một giấy báo tử hy sinh tại chiến trường miền Nam mà không kèm theo một kỷ vật và chiến công gì của liệt sĩ.
Anh Nhật mới 20 tuổi đã nhập ngũ, 21 tuổi anh được huấn luyện đặc công nước và chuyển về Đoàn 8 vào miền Nam chiến đấu. Tham gia chiến đấu tại chiến trường Nhơn Trạch, Đồng Nai đến 1967 thì Hy sinh, khi anh vừa tròn 24 tuổi.
Trong bảng vàng danh dự của thủ tướng chính phủ Phạm Văn Đồng tặng cho ông bà Hoàng Đăng và Hoàng Thị Lan xã Hải Trạch Huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình ký ngày 01 tháng 4 năm 1974, có 4 con tòng quân chống Mỹ cứu nước:
1; Anh Hoàng Ban nhập ngũ 1954, đơn vị 363 Bố Trạch sau này là đơn vị B thuyền Hải quân, chức vụ thiếu úy.
2; Anh Hoàng Hữu Thăng nhập ngũ tháng 4 năm 1964, ở đoàn tàu không số, 3 lần làm lễ truy điệu sống, đưa hàng vào miền Nam, hoàn thành nhiệm vụ trở về, chức vụ Trung úy.
3; Anh Hoàng Trọng Nhật nhập ngũ tháng 4 năm 1963 thuộc đơn vị đặc công nước vào miền Nam năm 1964 , hy sinh năm 1967, chức vụ Trung úy.
4; Hoàng Duy Thật, nhập ngũ tháng 8 năm 1970 công an nhân dân tỉnh Quảng Bình, chức vụ Thượng úy.
Sau này có 2 em lớn lên tiếp tục nhập ngũ đó là Hoàng Duy Lập nhập ngũ tháng 8 năm 1978 hải quân nhân dân Việt Nam, nay là Đại tá, trung đoàn trưởng trung đoàn 83, hiện công tác tại thành Phố Đà Nẵng.
6; Anh Hoàng Minh Thạnh nhập ngũ tháng 8 năm 1978 bộ đội Hải quân nay đã phục viên, chức vụ Thượng úy.
Như vây một gia đình có 6 anh em trai, đều lần lượt lên đường nhập ngũ, cả sáu anh em đều là là sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam, trong đó có 5 anh em đều là sĩ quan ở Binh chủng Hải quân Việt Nam.
Khi đọc bài báo “ Chuyện bây giờ mới kể ” Anh trai Hoàng Duy Ban đã gửi thư cho ban biên tập Báo Hải Quân Việt Nam, về trường hợp em trai của mình là Hoàng Trọng Nhật, chính là đồng chí Nhật nhập ngũ năm 1963, quê ở Quảng Bình, là tổ trưởng tổ đặc công nước thuộc Đoàn 8, đánh đoàn tàu gồm 8 chiếc Sà lan và 4 tàu chiến với gần 10 nghìn tấn vũ khí bom đạn, ngày cuối tháng 11 năm 1967. Sau đó được báo Hải Quân Việt Nam số 803 ngày 17/9/2007 trả lời: “ Liệt sĩ trong bài viết không phải là thân nhân của ông Hoàng Duy Ban, mà là anh trai của một sỹ quan cao cấp hiện công tác trong quân chủng Hải Quân…”
Nếu theo sự tìm hiểu và trả lời của báo Hải Quân Việt Nam thì sỹ quan cao cấp trong Quân chủng Hải Quân chính là Đại tá Hoàng Duy Lập trung đoàn trưởng trung đoàn 83.
Như vậy đây là điểm thứ 5 trùng khớp, để khẳng định Đồng chí Hoàng Trọng Nhật quê ở xã Hải Trạch, Bố Trạch Quảng Bình chính là nhân vật trong câu chuyện của nhà báo Nguyễn Hoàng Dục.
Một thông tin thứ 6 để khẳng định người anh hùng trên bài báo đó là Hoàng Trọng Nhật, là giấy xác nhận của Ông Trịnh Xuân Bảng, nguyên anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thuộc đoàn 10 Đặc công, quân chủng Hải Quân, quê ở Thôn Hòa Bình xã Quảng Hưng, huyện Quảng Trạch, Quảng Bình, viết như sau:
“… Năm 1966 tôi và đồng chí Nhật quê ở Lý Hòa, Hải Trạch, Bố Trạch ở cùng đoàn 10 đặc công, đơn vị đóng quân ở quận Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai. Năm 1967, đồng chí Lương Văn Nhã, nguyên tư lệnh trưởng quân khu 7, trực tiếp giao nhiệm vụ cho đồng chí Nhật làm tổ trưởng 3 người, nghiên cứu đặt mìn dưới lòng sông để đánh đoàn tàu xà lan, chở vũ khí từ Vũng Tàu về tổng kho Long Bình. Sau trận đánh thành công đó chúng tôi mất liên lạc. Đến nay sau mấy chục năm, gặp lại gia đình đồng chí Nhật, tôi được biết, gia đình chỉ nhận được tấm bằng tổ quốc ghi công mà không có một tấm huân huy chương nào cả. Nay tôi xin cam đoan trận đánh năm 1967 do đồng chí Nhật làm tổ trưởng thuộc Đoàn 8 đặc công nước của trung đoàn 10 đặc công Rừng Sác là đúng sự thật. Vậy tôi đề nghị Quân chủng Hải Quân – Bộ Quốc Phòng xét truy tặng thưởng huân chương các loại cho đồng chí Nhật. ” Bản cam đoan đã được UBND xã Quảng Hưng xác nhận chữ ký của ông Trịnh Xuân Bảng.
Tôi đã trực tiếp điện thoại cho đại tá Hoàng Duy Lập trung đoàn trưởng trung đoàn 83 Quân chủng Hải Quân, theo số điện thoại: 0982 289 978, được anh cho biết : Đồng chí tổ trưởng Nhật đặc công nước đánh đoàn tàu trong trận cuối tháng 11/1967 trong bài báo là anh trai của anh, tên là Hoàng Trọng Nhật. Để cẩn thận hơn tôi đã điện thoại cho anh: Hà Công An trưởng ban liên lạc cựu Hải quân của tỉnh Quảng Bình theo số điện thoại: 0976 316 961, và anh Phan Xuân Dạch nguyên trung tá, chủ nhiệm chính trị lữ đoàn 146 Trường Sa; và trước đó nguyên là trợ lý cán bộ trung đoàn 126 đặc công nước hải quân, nay là phó ban liên lạc truyền thống Hải Quân tỉnh Quảng Bình. Các anh đều cho biết, chiến sĩ đặc công nước quê ở Quảng Bình tên là Nhật, chính là Hoàng Trọng Nhật quê ở xã Hải Trạch, huyện Bố Trạch, nay đã hy sinh.
Cuộc hành trình tìm người anh hùng đánh đoàn tàu địch, trong bài báo “ Chuyện bây giờ mới kể ” của nhà báo: Nguyễn Hoàng Dục, khá kỳ công. Gia đình cả 6 anh em đều ra trận, bố mẹ già đều qua đời, vợ con của liệt sĩ chưa có, gia đình không ai nghĩ rằng sẽ tìm ra thành tích của gia đình mình, để kể công với tổ quốc. Mà chỉ có chúng ta hôm nay được sống trong cảnh đất nước thanh bình, tổ quốc giàu đẹp phồn vinh, thì chúng ta tôn vinh và biết ơn những người đã hy sinh tuổi trẻ và hạnh phúc của mình cho tổ quốc nở hoa độc lập, kết trái tự do.
Ba chiến sĩ đặc công nước đã được bà con xã Long Tân, Nhơn Trạch, Đồng Nai lập Đền thờ, để biết ơn những người hy sinh vì tổ quốc.
Sao chúng ta không nghĩ rằng: Chiến công của 3 liệt sĩ đánh đoàn tàu, gồm một tàu kéo hạng nặng, 8 xà lan với hơn 8 ngàn tấn vũ khí, bom đạn, cùng 4 tàu chiến đấu với hàng trăm lính Mỹ, cùng một máy bay L19 bay theo đoàn tàu cũng bị đâm nhào xuống sông, mà bài báo đã viết “ Chuyện bây giờ mới kể ” cách đây 4 năm, trên báo Hải Quân Việt Nam; Là một biểu tượng anh hùng, các liệt sĩ đã làm rạng danh truyền thống anh hùng của quân chủng Hải Quân Việt Nam anh hùng. Nên chăng Quân chủng Hải Quân và Bộ Quốc phòng, gặp lại các nhân chứng như: Tư lệnh trưởng Lương Văn Nhã, nhà báo Nguyễn Hoàng Dục để làm rõ các nhân vật trong bài báo; mà đúng như vậy thì nên làm lễ truy tặng, suy tôn anh hùng cho những liệt sĩ đã hy sinh trong trận đánh mà bài báo đã nêu ???
Xương máu các anh, hai người con của Quảng Bình và một người con Thái Bình đã thấm sâu vào mảnh đất Long Tân, hòa vào dòng nước ngọt của dòng sông Đồng Nai huyện Nhơn Trạch; ngày đêm rì rào bài ca về Người anh hùng mãi mãi đi cùng năm tháng.

CẢNH GIANG
( Hội văn học nghệ thuật, hội di sản văn hóa Việt Nam tỉnh Quảng Bình )
Thanh Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình
Canhgiang1948@gmail.com

Đăng bởi: Ngô Minh | 10.01.2012

CHỈNH HAY ĐỐN ?

“CHỈNH” HAY “ĐỐN” ?

Ngô Minh

Ngày 26/12/ 2011, phát biểu khai mạc Hội nghị TƯ 4, BCH Trung ương Đảng khóa XI , Tổng bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng nói: “Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là công việc rất phức tạp, nhưng không thể không làm, vì nó liên quan đến sinh mệnh của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp…”. Phát biểu tổng kết Hội nghị TƯ 4, ông Trọng có kể chuyện Bác Hồ rất chân thành :”Tôi làm điều xấu, các đồng chí trông thấy phải phê bình cho tôi sửa chữa ngay. Nếu tôi có vết nhọ trên trán, các đồng chí trông thấy lại lấy cớ “nể Cụ” không nói là tôi mang nhọ mãi. Nhọ ở trên trán thì không quan trọng nhưng nếu có vết nhọ ở trong óc, trong tinh thần mà không nói cho người ta sửa là hại người ta…”

Thế nhưng xem tivi, nhìn nét mặt và nghe giọng nói của ông Trọng , tôi thấy vẫn bình thường, giọng trầm trầm, có khi nét mặt thoáng cười cười, khi thì ngậm ngùi, không tỏ ra giận dữ, không tỏ rõ thái độ quyết liệt dứt khoát , như ông đang nói về chuyện không quan trọng nào đó, chứ không phải là chuyện cực kỳ hệ trọng là “Chính đốn Đảng”để bảo vệ “sự tồn vong của chế độ”. Dẫu sao tôi vẫn xin biểu lộ sự đồng cảm với ông TBT Trọng, vì ông đã tổ chức được một hội nghị TƯ chuyên đề về chỉnh đốn đảng ngay trong năm đầu nhiệm kỳ của mình . Chứng tỏ Đảng đã suy thoái ghê gớm lắm, bức xúc lắm. Suy thoái nghĩa là biến chất. Ông Trọng nói :” Ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp”( NM nhấn mạnh). Tôi xin bổ sung: Suy thoái đã đến mức phần lớn, đa số, chứ không phải một bộ phận không nhỏ đâu . Có thể khẳng định rằng phần lớn đảng viên có quyền có chức đang sống bằng tham nhũng, làm giàu bằng tham nhũng . Đa số đảng viên có quyền có chức trên diễn đàn thì dạy dỗ cán bộ nhân dân phải “học tấm tấm gương đạo đức Bác Hồ”, phải trong sạch, phấn đấu, cách mạng.v.v.. Dạy dỗ xong , bước xuống diễn đàn, họ lại biến thành con người khác : lo kiếm “dự án” để chia chác, bòn rút đất đai, công quỹ càng nhiều càng tốt, bất chấp đạo lý, kỷ cương phép nước để xây biệt thự “khủng” nơi này nơi khác, mua xe hơi, để có tiền gửi con đi học Anh, Mỹ. Tại sao cán bộ chức quyền lại suy thoái ghê gớm thế ? Chúng tôi cho rằng, nguyên nhân sâu xa có lẽ là do : sau sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống XHCN Đông Âu, những cán bộ lãnh đạo đó biết rằng, trước sau các nước XHCN khác , trong đó có Việt Nam, sẽ sụp đổ nay mai. Họ biêt CNXH là một chủ nghĩa không tưởng, không thể làm cho “dân giàu nước mạnh” được. Bởi vậy, trước khi nó sụp đổ như Liên Xô, họ phải tranh thủ vị trí của mình để vơ vét. Ngoài nguyên nhân trên, còn có không ít đảng viên có chức quyền do đầu tư tiền chạy chọt mà lên , nên phải gấp rút kiếm chác để “hoàn vốn”. Những đợt cổ phần hóa Công ty nhà nước ồ ạt, việc quản lý lỏng lẻo các Tập đoàn Kinh tế nhà nước, quy hoạch khu đô thị, cụm công nghiệp, khu công nghiệp; những dự án lớn như “Đường Hồ Chí Minh”, đường cao tốc.v.v. là những “thời cơ vàng” để chúng tham nhũng, vơ vét. Ước tính có đến 40 đến 50% vốn đầu tư từ ngân sách và vốn vay nước ngoài ( ODA) hàng năm đã vào tay bọn tham nhũng các cấp ( !?) Bọn tham nhũng vô hiệu hóa tất cả các chủ trương của Đảng. Làm cho các chủ trương đó không đi vào cuộc sống . Chúng mạnh tới mức ,đề ra và chỉ đạo thông qua nhũng chính sách, dự án có lợi cho “lợi ích nhóm” của chúng. Điều đó nhân dân đã nhận ra từ lâu, nhưng nhân dân thấp cổ bé họng…

Chuyện chỉnh đốn đảng đã nói, đã bàn mấy chục năm nay rồi, nhưng không những không “chỉnh đốn” được, mà suy thoái, tham nhũng ngày càng trầm trọng hơn, đã đến mức nức nhối, trắng trợn . Trầm trọng đến mức, lãnh đạo ai không suy thoái, không tham nhũng hay đấu tranh chống lại tham nhũng được cho là “thằng mát”, “thằng điên”. Trong dân gian có câu :” Đảng viên mà tốt” để nói rằng đã là Đảng viên nhất định là xấu. Được bầu vào chức vụ Bí thư, chủ tịch tỉnh, bộ trưởng, thứ trưởng, giám đốc sở, kể cả cấp cao hơn, việc đầu tiên họ nghĩ đến, lên kế hoạch , bày binh bố trận ngay là trong nhiệm kỳ phải “cướp cho được” bao nhiêu trăm tỉ tiền của dân của nước. Có bí thư tỉnh ủy ăn cướp đất của bà mẹ liệt sĩ để xây nhà mình. Có bí thư tỉnh ủy tham nhũng quá, nên bầu Hội đồng nhân dân tỉnh mà không trúng đại biểu; chủ tịch tỉnh ăn chơi trác táng, chơi cả gái vị thành niên , thật vô nhân đạo. “Lợi ích nhóm” trong vụ Vinashin đã ăn của nhà nước hàng trăm ngàn tỉ đồng. Việc Tổng Công ty Điện lực Việt Nam ( EVN) liên tục kêu lỗ để tăng giá điện, móc túi dân, trong lúc lương cán bộ văn phòng cao ngất trời, lương cán bộ lãnh đạo cao gấp hàng chục lần lương theo hệ số của Bộ trưởng; tổn thất điện lớn, xây dựng văn phòng 2000 tỷ đồng.v.v.. thế mà vẫn “sống khỏe” là do được “bảo kê lợi ích nhóm”.v.v..Người viết bài này đã mục sở thị ông Chủ tịch tỉnh T., trước khi lên chức chủ tịch không có xe máy để đi, đi xe đạp chân co chân duỗi, thế mà chỉ nhiệm kỳ chủ tịch tỉnh, khi về hưu liền xây ngay ba nhà lầu cao tầng cho mình, cho con trai, con gái, xây 2 khách sạn, mua ô tô vài tỷ đồng, thuê người lái, xây khu dịch vụ nhà hàng mat-xa trên khu đất phố 15.000 mét vuông, rồi đầu tư mở trường Đại học tư thục, trường mẫu giáo, tiểu học hiện đại theo kiểu nước ngoài. Tính ra ông ta trong thời gian nhiệm kỳ đã tham nhũng không dưới năm trăm tỉ đồng…, rồi vụ lãnh đạo cấp sở đánh cờ ăn thua một lần 5 tỷ v.v…và v..v.v…

Nhớ lại thời Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh với chủ trương “Nói và Làm”, được nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng. Ông Linh ra lệnh kiểm tra hộ chiếu đỏ ( hộ chiếu được chế độ miễn trừ ), đã phát hiện ra nhiều lãnh đạo cao cấp buôn lậu hàng ngoại về sân bay Nội Bài. Nhân dân cả nước háo hức những tưởng kỳ này sẽ diệt hết bọn suy thoái, tham những trong đảng. Nhưng không, chỉ sau một thời gian, tất cả lại đâu vào đấy. Tôi nghe dư luận đồn rằng, TBT Nguyễn Văn Linh đã bị chính hệ thống của mình vô hiệu hóa, vì chúng sợ “nói và làm” đe dọa đến quyền lợi cá nhân của họ. Vậy liệu TBT Nguyễn Phú Trọng có chỉnh đốn Đảng được không ?. Khó lắm !. Vì “ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống” đã thành bản chất của bộ máy hiện nay.

Vậy bây giờ phải “chỉnh” hay “đốn”? Rõ ràng, đã đến lúc, trước khi “chỉnh” phải “đốn” thật mạnh .Chúng tôi xin mạo muội hiến kế cho ông Tổng Bí thư mấy vấn đề như sau :

1 -Về quan điểm : Phải tuyên bố bỏ ngay ý quan niệm “đã là Đảng CS là không xấu”. Vì quan điểm này mà tất cả bài báo viết về các tổ chức đảng hay đảng viên có chức có quyền tham nhũng, suy thoái đều bị “tốp”. Bí thư, chủ tịch tỉnh “xấu” ở địa phương thì điều lên trung ương làm chức to hơn. Đảng viên có chức có quyền tham những, tiêu cực nặng nhưng chỉ bị TƯ kỷ luật với hình thức “Phê bình”, “khiển trách” rồi cười xòa với nhau. Nguy hiểm nhất là Đảng đứng trên pháp luật, nên các vị lãng đạo cao cấp đảng quản lý bị kỷ luật, chỉ xử lý trong Đảng, không chuyển sang truy cứu hình sự. Vì xử án công khai sẽ ảnh hưởng đến “uy tín” của Đảng. Nhận thức sai lầm đó là cái khiên che cho tệ nạn suy thoái, tham những càng thêm trầm trọng. Tham nhũng bây giờ đã thành “nội xâm”, chúng đang bán cả đất đai Tổ quốc để làm giàu cá nhân. Cho nên đảng viên xấu thì nói xấu, công khai trên báo chí, xử án công khai cho nhân dân biết. Có tuyên bố rõ ràng như vậy mới “đốn” suy thoái, tham nhũng được.

2- “Chỉnh đốn Đảng” mấy chục năm nay không làm được vì chỉ hô hào “gương mẫu”,“tự kiểm điển”, “tự phê bình”, “đấu tranh nội bộ”. Tổng bị thư hô hào, xong về tỉnh Bí thư tỉnh ủy hô hào. Rồi huyện ủy hô hào, xã ủy hô hào, bí thư chi bộ hô hào. Thế là xong nhiệm vụ. Không ai hành động “đốn” suy thoái, tham nhũng cả. Những đảng viên đã là “suy thoái, tham nhũng” thì phần “CON” đã chiếm hai phần tâm hồn lòng dạ rồi, phần “NGƯỜI” chỉ còn chút xíu thôi- không thể kêu gọi “cải tà quy chánh” được – đó là chân lý. Chế độ quân chủ có quan cán gián vua khi vua ban hành những chỉ dụ không đứng, có hại. Lãnh đạo Đảng CS không có người can gián, lại không thực hiện “tam quyền phân lập”, lên ai muốn làm gì thì làm. “Tam quyền phân lập” là kiến thức quản lý xã hội được đúc rút từ thời Aristots, đã ngàn năm nay. Có nó mới chặn được bọn tham nhũng. Đó là căn nguyên của suy thoái và tham nhũng đang trở thành “nội xâm” trong đảng . Ví dụ : Lệnh bổ sung thêm vốn cho Vinashin bao nhiêu triệu đô-la là bổ sung ngay, không ai dám cãi, mà cãi là mất chức, dù ai cũng biết con tàu ấy sắp chìm.

3-Muốn “đốn” suy thoái thành công phải dựa vào dân. Nguyễn Trãi dạy :” Nâng thuyền cũng dân, lật thuyền cũng dân”. Đảng phát động một phong trào toàn dân tố cáo cán bộ, đảng viên, nhất là những kẻ có chức có quyền đang suy thoái, tham nhũng bằng mọi hình thức, bọn giàu bó bất thường, bất chính. TBT Nguyễn Phú Trọng phải lập có một hòm thư nóng riêng để nhân dân gửi thư tố cáo vào đó. Thư nặc danh, không nặc danh đều là nguồn tư liệu quý để tìm ra tung tích bọn tham nhũng . Từ đó mới tìm ra có chứng cớ để “đốn” bọn suy thoái. Lực lượng thứ hai quan trọng nhất là báo chí. TBT phải ký văn bản cho phép các báo công bố rộng rãi thông tin về những quan chức suy thoái, tham nhũng , nếu có những chứng cứ cụ thể , Phóng viên nào lợi dụng để vu khống thì phải chịu chế tài của Luật Báo chí. Từ nguồn tin tố cáo của nhân dân và nguồn tin trên báo, Bao Thanh Thiên sẽ vào cuộc.

3- Tổng bí thư phải tự mình chọn một đội ngũ kiểm tra, thanh tra cương trực, dũng cảm ở trong các lực lượng công an, quân đội, thanh tra nhà nước vào đội quân “chỉnh đốn Đảng” do Tổng bị thư Đảng trực tiếp lãnh đạo. Cấp “thượng phương bảo kiếm” cho họ, cử một vị tướng trong sạch trong Bộ chính trị làm Bao Thanh Thiên. Đội quân “chỉnh đốn” này không thuộc bất cứ một cơ quan công an, thanh tra nào, kể cả Ban chống tham nhũng của chính phủ ( vì Ban chống tham nhũng mà toàn những người có điều kiện và nguy cơ tham nhũng nhất, lại làm trưởng ban thì chỉ là hình thức để lòe dân, vô tác dụng) . Căn cứ tố cáo của nhân dân và thông tin trên báo chí, lực lượng Bao thanh Thiên này sẽ bí mật tiếp xúc với nhân dân ( tức không thông qua chính quyền các cấp) để điều tra, thanh tra và kết luận. Có như thể mới lôi cổ bọn tham nhũng ra ánh sáng được.

Làm quyết liệt như thế trong năm năm, nhất định Đảng sẽ trong sạch hơn bây giờ nhiều. Có thể sẽ có thế lực tìm cách chống lại, vô hiệu hóa TBT, vô hiệu hóa cuộc “chỉnh đốn đảng” như họ đã làm nhiều năm nay, nên phải cảnh giác, phải diệt trước bọn đó. Chúng tôi mạo muội mách nhỏ với TBT Nguyễn Phú Trọng một vài đặc điểm để nhận dang bọn suy thoái đang ở xung quanh mình: Bọn xấu, bọn suy thoái, tham nhũng thường là bọn muốn giữ ghế lâu dài để kiếm chác, nên chúng thường xum xoe, nịnh bợ, hay khen thủ trưởng, họp hành thì tán dương ý kiến Tổng Bí thư một cách chung chung, làu làu nghị quyết, hoặc im lặng, không bao giờ nêu ý kiến trái chiều hay phản biện. Những bọn đó hãy lặng lẽ loại dần ra khỏi bộ máy đảng và chính quyền, đặc biệt không cho chúng vào đội quân diệt suy thoái tham nhũng nói trên.

Tôi là một đảng viên vào Đảng Nhân dân cách mạng Miền Nam ở mặt trận. Đảng của tôi là đảng đã cùng toàn quân toàn dân hi sinh xương máu mấy chục năm ròng để giành giải phóng dân tộc. Đảng bây giờ không vì dân vì nước như xưa nữa, mà đa phần đảng viên cầm quyền là quân ăn cắp, quân tham nhũng để vinh thân phì gia đáng nguyền rủa. Cho nên phải “chỉnh đốn” quyết liệt, không khoan nhượng, không xuê xoa mới mong tìm lại uy tín và hình bóng xưa Đảng xưa trong lòng nhân dân.

Tôi thấy việc “chỉnh đốn” Đảng là quá cần thiết và cấp bách, nên có mấy lời để cùng suy ngẫm .

CỔ TÍCH TÀU KHÔNG SỐ, QUYỂN SÁCH ĐẦY THUYẾT PHỤC
Bùi Ngọc Sách
Cùng bạn đọc. Sau khi in xong sách CỔ TÍCH TÀU KHÔNG SỐ, Ngô Minh tặng anh Vĩnh Mẫn, vị hoàng Thân triều Nguyễn, người cung cấp tư liệu cho NM viết cuốn sách, 15 cuốn để biếu tặng bạn bè. Cuối tháng 12/2011, anh Vĩnh Mẫn nhận được lá thư của người bạn tri kỷ là ông Bùi Ngọc Sách, , năm nay 82 tuổi, cựu học sinh Trường Sĩ quan Lục quân Trần Quốc Tuấn khóa 5, trinh sát Đại đoàn 304, chuyên viên Đài PT-TH TP Hồ Chí Minh , nghỉ hưu ở ở TP Hồ Chí Minh. Lá thư nhận xét rất xác đáng về CỔ TÍCH TÀU KHÔNG SỐ. xin giới thiệu với bạn đọc.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 25-12-2011
Vĩnh Mẫn thân
Mình vừa đọc xong cuốn CỔ TÍCH TÀU KHÔNG SỐ- NXB Hội Nhà văn 2011 bạn tặng. Lâu nay, chuyện về thành tích chiến trận, như nhiều bạn đọc chung hiện nay, mình ngán đọc. Không phải vì chuyện về thời giữ nước, nhất là thời chống Mỹ, đã hết chỗ trong lòng độc giả đâu, mà vì rất nhiều chuyện người ta kể để khoe mình, khoe thành tích là chính ( thương là vậy). Và vì vậy nhiều khi nó thêu dệt hơi bị nhiều và có chỗ thiếu trung thực. Nhưng với tinh thần trân trọng bạn, phần nào cũng thử xem để biết về con dường bí ẩn trên biển , mình đã tò mò…đọc cẩn thận, vừa đọc vừa ghi lại để – như bạn nói “cho biết ý kiến”. Cho nên không dám đọc lướt ( nhất là giữa lúc NHO ( một người bạn chiến đấu – NM chú) mất đang ám ảnh mình nỗi bàng hoàng khó tả- cuộc sống thực tại luôn trĩu nặng mà !)
Bây giờ mình xin có ý kiến :
Trước tiên phải cám ơn tác giả, người đã thắp ngọn đuốc sống cho tập ký sự. Dù cho công lao Vĩnh Mẫn to lớn mấy mà cuốn sách không thu hút người đọc cũng công cốc. Ngô Minh tự nhận “ chỉ là người ngất ngưỡng thơ, không quen chuyện viết văn xuôi tràng giang đại hải”. Nhưng mình nghĩ anh ấy đã rất thành công trong xử lý tư liệu, trong thổi hồn vào tác phẩm – khó lắm, nghệ thuật lắm.
Về xử lý tư liệu Ngô Minh làm rất tốt. Thường thì khi ôm một đống tư liệu người viết tham lam sẽ bày bừa bãi, bối rối khi trình bày. Nhưng anh đã tránh được chuyện này: sắp xếp lớp lang theo từng vấn đề mà không lệ thuộc vào thời gian câu chuyện xảy ra. Về kỹ thuật có thể có chỗ NM nhầm như chuyện gõ tín hiệu ma-níp mà gọi là điện thoại ( trang 52). Ma-níp là gõ tin hiệu morse không phải là điện thoại.
Ngòi bút NM có tình khi viết về những con người, nhất là những người vô danh. Khi Vĩnh Mẫn kêu lên :” Trời ơi, lòng dân trời tỏ !”, tuy đó là tiếng than của Vĩnh Mẫn , nhưng tác giả đưa vào đứng chỗ làm rung động lòng người đọc, trong hoàn cảnh mà Đảng và Nhà nước ta chưa làm được những gì đáng làm và đáng trách. Ngô Minh giải đáp những chuyện bí mật một cách dễ hiểu, không có vẻ cao siêu thần thoại mà rất rõ ràng, chi tiết nên có giá trị thuyết phục.
Ngô Minh quả là người CÓ LÒNG( đọc trong mục Vĩ thanh). Sau mới đến công Vĩnh Mẫn. Bạn quả là người góp nhặt cần mẫn về những con người trong câu chuyện. Vĩnh Mẫn cần cù với tấm lòng ”Dĩ dân vi quý, quân vi khinh” của con tằm nhả tở, con ông xây tổ. Rất hay là nó lại xuất phát từ một con người Hoàng tộc. Mình vô cùng khích lệ khi nghe bạn nhắc tới vai trò của người dân mà người ta hay nhắc :” Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong”, mà Ngô Minh đã phác học trong tác phẩm về vai trò của Đại tướng Võ Nguyên Giáp- nhà cầm quân kiệt xuất. Điều này Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, đồng môn của chúng ta đã thú nhận trong bữa chạm cốc tại Nhà khách QKIV( Vinh) buổi “về nguồn” Hà Cháy năm nào của anh em ta- CCB học viên khóa chẩn bị Tổng phản công khóa V (1949), chắc Vĩnh Mẫn còn nhớ, nhưng không mấy ai còn để nằm lòng !? Quả thật hôm chúng mình đi với Vĩnh Mẫn về Bến Tre (2007), mình vẫn chưa tin là việc bạn sẽ thành và cứ ai ngại !
Vĩnh Mẫn, anh kiệm lời và khiến tốn có vẻ hơi khác với Phùng Quán trong Tuổi thơ dữ dội. Ngô Minh- Vĩnh Mẫn đã trùng phùng để cho đời một tác phẩm giá trị.
Cuối cùng mình cầu mong cho những ai còn bạc phận mà Ngô Minh viết sẽ được toại nguyện, đặc sắc như làng đóng tàu Nghi Thiết ở Nghệ An, như anh Nguyễn Tiến Quốc đeo cái nợ oan…
Mình trân trọng và chân tình kết thúc vài ý mọn tặng các bạn làm quà mừng năm mới. Thân yêu.

Đăng bởi: Ngô Minh | 13.01.2012

QUÊ NỘI PHÙNG QUÁN

Bạn đọc kính mến . Ngày mai, 21 tháng Chạp Tân Mão ( 14-1-2012) là ngày giỗ lần thứ 17 của nhà thơ Phùng Quán. Những năm trước, NM và anh em bạn bè cúng giỗ Phùng Quán tại nhà Ngô Minh. Từ lần giỗ năm ngoái, giỗ tại mộ và ở nhà thờ gia đình trong làng Thủy Thanh Thượng , nơi thờ vợ chồng nhà thơ Phùng Quán. Theo chương trình, chiều mai, Ngô Minh, Mai Văn Hoan, Vinh Nguyễn cùng bạn bè văn nghệ sĩ lên thắp nhang viếng mộ nhà thơ rồi về cúng giỗ tại nhà thờ gia đình . Nhân ngày giỗ Puhng Quán, chúng tôi xin giới thiệu bài viết quê nội Phùng Quán của Nhụy Nguyên, một nhà văn trẻ trong Ban biên tập Tạp chí Sông Hương

Quê nội Phùng Quán, biết mấy là thương
Nhụy Nguyên
Thủy Dương được hình thành với tên làng Thanh Thủy Thượng vào năm Cảnh Hưng nguyên niên (1740), do số dân nghèo từ làng Thanh Thủy Chánh (nay thuộc xã Thủy Thanh có di tích Cầu ngói Thanh Toàn) tiến vào núi Sầm sinh sống. Địa hình làng Thanh Thủy Thượng hình một con dơi. Đáng chú ý là phía đông với dòng sông Lợi Nông uốn lượn (dân bản địa gọi là Lệ Nông – giọt lệ của nhà nông). Là một nhánh của dòng sông Hương thơ mộng, nó đổ ra phá Tam Giang, chảy qua xã Thủy Dương như một nét vạch tự nhiên của người họa sĩ trên bức vẽ. Dòng Lợi Nông nước mặn tình người tục truyền được vua Gia Long đào với mục đích: hình thành tuyến đường vận chuyển vật liệu để xây lăng cho mình ở núi Sầm. Nguyên nhân bởi núi Sầm có hình thù giống một con voi đang quỳ ngủ – ai làm gì mặc, voi cứ ngủ. Vậy là chốn đất lành. Nhưng đấy không phải niềm vui của dân làng nơi đây. Họ bảo làng có lăng mộ vua, ắt mạt! Chuyện kể: làng Thanh Thủy Thượng đã bí mật thuê thầy địa lý về giả bộ xem đất rồi tung tin, rằng chỗ này không được tốt – voi ngủ, rồi voi sẽ trở dậy phá phách… Tuy nhiên núi Sầm vẫn là chốn “có duyên” với bậc đế vương. Dưới chân núi Sầm giờ còn chùa Bà Hoàng, vợ của vua Khải Định, không có con. Khi vua có thêm vợ mới, Bà Hoàng xin được hồi tôn, dựng một ngôi chùa dưới chân núi Sầm ngày đêm niệm Phật quên muộn phiền. Phật dạy …tình là dây oan; nếu soi vào “nhân duyên trời định” này… Ông nội của P.B.K. xưa thuộc con nhà giàu có bậc nhất trong làng, thường lên phố ngắm hoa thưởng nguyệt. Vận đến: một quận chúa (dòng chính thống của Cường Để) “đóng đèn”. Bên gái chủ động xuống tận nơi mối lái. Cả làng mừng hú, và kính nể gia đình chàng thanh niên được làm thông gia với Hoàng tộc. Nhưng ngày cưới về, động phòng chúc hoa, chàng trai mới vỡ: kiệu quan đã rước về cho mình một quận chúa què!
Theo Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục: trước năm 1776, làng Thanh Thủy Thượng đã trở thành một đơn vị hành chính dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Thế kỷ XVIII, vùng Thanh Thủy Thượng vẫn còn là rừng núi, nhiều loài thú như vượn, nai, báo, voi trú ngụ. Sang thế kỷ XIX, dân cư của làng quy gọn trong bốn ấp sống hai bên sông Lợi Nông. Làng rất gần sông, hơn nữa ruộng trũng nên voi trong núi thường kéo nhau ra tắm. Dần dà làng có vinh dự là nơi giữ voi, chăm sóc voi cho vua; tầng lớp chuyên trách được gọi là lính Kinh tượng. Trong sổ đinh được bảo lưu tại làng Dã Lê Thượng (xã Thủy Phương) niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 7 (1799) thời Tây Sơn có ghi: Dã Lê Thượng và Thanh Thủy Thượng (đều thuộc huyện Hương Thủy) đóng ba mươi xuất binh voi trận (tượng cơ), trong đó Thanh Thủy Thượng có tới mười sáu quản tượng các tượng cơ. Sử cũ thì viết: khi đại thắng quân Thanh, vua Quang Trung ngồi trên mình voi trận, áo bào nhuộm thuốc súng tiến vào thành Thăng Long… Các viên quản tượng, võ quan, binh lính của đất Hương Thủy cũng có mặt trong ngày hội ấy.
Song song với dòng Lợi Nông, Thủy Dương có con hói hướng lên núi Sầm rất đẹp. Không có tài liệu xác định rõ, song con hói tên gọi Bến Quan này được dân ở đây đào trong thời Gia Long, dài chừng ba cây số, nơi rộng nhất trên mười mét. Ngày trước sống dọc con hói chủ yếu địa chủ phú hào. Sự giàu có là điều kiện trực tiếp của vô vàn ngôi nhà rường to đẹp trong làng. Tiếc thay nó đã vào cổ tích từ ngày giặc Pháp đốt làng dồn dân mà cố nhạc sĩ Văn Cao chứng kiến. Nhẩn nha cuốc bộ dọc con hói ta sẽ gặp lại hình dáng quê xưa với cây cao, bến nước, mái đình cong. Đình làng nằm khoảng giữa hói Bến Quan, cắt con hói bằng hồ sen rộng hàng ngàn mét vuông. Trước đình làng có bàu nước sâu gọi là bàu Choàng. Loại cá nhiều nhất, béo và ngon nhất ở đây là cá rô, đã đi vào câu ca: Gạo de An Cựu, cá rô bàu Choàng. Cánh đồng Thanh Thủy Thượng quanh năm ngập nước, chỉ có vùng An Cựu khô ráo mới trồng được gạo de. Gạo de được coi là cây thần nông chủ yếu dùng để tiến cung, dân chẳng mấy ai được ăn. Tôi về đất này nhặt được hai câu “tuyệt bút”, đặt sệt tính dân gian: Mẹ già ăn tấm gạo de/ Đẻ con tóc quắn đi ve cả làng… Theo bài văn tế làng từ cuối triều Nguyễn: làng Thanh Thủy Thượng có 13 vị khai canh, là thủy tổ của các dòng họ: Lê Diên, Ngô, Nguyễn Diên, Lê Bá, Lê Viết, Lê Đô, Nguyễn Thanh, Phùng, Phan, Đặng, Trần, Phạm, Hồ (họ Lê Đô đến đời thứ 5 thì tuyệt tự, việc tế kị được làng ấn định vào tháng 7 âm lịch hàng năm để ghi ơn). Đa số các vị gốc ở Thanh Hóa theo Tiên chúa Nguyễn Hoàng vào khai khẩn Đằng trong từ thế kỷ XVI. Ngoài ra còn một số họ khác không được thờ tự trong đình, đều nhập cư sau này.
*
* *
Đình làng Thanh Thủy Thượng. Lần tới thăm tôi có gặp một anh bạn gần đó. Anh họ Ngô, tên Bê, từng là cán bộ xã, nay đã chuyển lên làm ở phòng văn hóa huyện nhà. May mắn hơn, tôi được anh tặng lại bức ảnh Phùng Quán chụp trước đình làng. Mà chẳng phải riêng nhà anh là Phùng Quán thường lui tới. Nếu trừ khoảng thời gian “chốt” tại làng viết Tuổi thơ dữ dội, mỗi lần về thăm quê nội Thủy Dương, Phùng Quán đều ghé vào nhà này nhà nọ, thân tình như Hemingway sống tại làng chài Ông già và biển cả.
Phùng Quán mồ coi cha từ năm lên hai. Mẹ là một thiếu phụ thuộc hoàng tộc. Bà ở vậy nuôi con cho đến lúc mất ở Huế. Mới bằng “hột mít”, Bê (tên hồi nhỏ của Phùng Quán) đã giúp mẹ chăn trâu, cắt cỏ ở làng, người đen nhẻm và nồng mùi bùn đất quanh năm.
Tuổi thơ của Phùng Quán tuy dữ dội nhưng lại được ẵm trong tầng không gian mượt mà cổ tích, khiến thằng Bê chăn bò vượt qua “lời nguyền số phận” theo như lời phán của ông thầy bói trong làng: “Khi lớn lên, thằng này không ăn mày cũng ăn cướp”. Sau này ngồi với bạn bè gợi lại chuyện ngày cũ, Phùng Quán vin vào hai câu thơ của Êxênhin: Những số phận khác thường, sinh ra đều định trước. Tôi không nhà thơ thì cũng thành trộm cướp. Và chính vùng quê ấy, là “điểm nhớ” dai dẳng nhất trong chặng đời trầm luân của Phùng Quán, mặc dầu đấy là quãng thời gian ông chả mấy học hành.
Ai cũng biết đến một Phùng Quán câu trộm cá Hồ Tây; “bỏ nghề”, ông lại làm một cái chòi, vừa để ngắm sóng vừa hưởng thú tao nhã của cụ Tam Nguyên Yên Đổ gửi lại (trầm mình bách kế bất như nhàn). Cái thú đó, thật ra tiềm ẩn trong “thằng Bê” thủa nào. Anh Lê Viết Lãm, cựu học sinh trường làng Thanh Thủy Thượng khóa 1956 – 1958 nhớ lại: “Những kỷ niệm ở trường làng thật đẹp. Thủa ấu thời, vào khoảng bốn, năm tuổi tôi đã đi học vỡ lòng a, b, c tại đình làng được thầy giáo Lưu dạy. Lúc đó, bạn bè của tôi chỉ vỏn vẹn ba người là anh Bê, chị Lượng và chị Sen – ba người này học lớp cao hơn tôi; tôi được gần gũi với anh Bê nhiều hơn hết vì anh thường hay ra câu cá ở hồ sen trước đình làng. Những buổi trưa hè, tôi cũng thường theo anh ra bờ hồ, ngồi dưới gốc cây cổ thụ hóng mát. Mùa này sen nở rộ khắp mặt hồ, mùi thơm dìu dịu thoảng bay trong gió…”. Ấy là thời khắc hiếm hoi để Phùng Quán nhận ra sự vô ơn của một câu ca cần phải đuổi mặt…
Cách mạng Tháng Tám bùng nổ lúc Bê mới mười ba tuổi. Giã từ những đóa sen thanh khiết, cậu bé Phùng Quán hòa mình vào dòng sông cách mạng hùng vĩ, làm một chiến sĩ của trung đoàn Trần Cao Vân. Những tháng ngày oanh liệt được ông khắc họa bằng máu và nước mắt trong hơn một ngàn trang sách quý. Nhưng can qua vô thường, sự chân thật như lưỡi dao vạch dòng thơ trên đá đã đẩy ông tới tận cùng sự cô đơn giữa một biển người. Im lặng. Nỗi im lặng kiêu dũng “như con cò vàng” lặn lội bên sông… Mãi cho tới năm 1984, “rời bỏ vùng núi Thái Nguyên, con suối Linh Nham, cái lán xiêu vẹo mái lợp tranh lá mía dột nát bốn bề” ông trở về quê nội. Trước mắt ông là màu xanh ngọc của những thửa vườn lá non chen với màu xanh mượt mà của cánh đồng lúa đang độ con gái. Đằng đông sau rặng tre bên kia đồng, vài cánh buồm nâu thoắt ẩn thoắt hiện nhắc ông nhớ tới dòng Lệ Nông bi lụy. Những mái nhà gianh đứt rồi lại nối bởi các ngõ ngang dọc dẫn vào xóm. Ngậm ngùi:
Ngày ra trận
Tóc tôi còn để chỏm
Nay trở về
Đầu đã hoa râm…
Xóm làng nghẹn ngào đón đứa con bao năm xa quê. Đêm ấy, Phùng Quán quỳ lạy quê hương, lạy bà con lối xóm. Rồi ông Tạ:
Con tạ đất làng quê
Thấm đẫm máu bao anh hùng đã khuất
Không ngọn cỏ nào không long lanh nước mắt
Không lá cây nào không mặn chát gian lao
Nhiều người đã chép lại bài thơ Tạ ông sáng tác ngay chính trên đất làng quê nội sau hơn ba mươi năm dằng dặc xa cách “trăng mới tỏ Hoàng thành”. Ngay những đứa trẻ được chứng kiến ông “quỳ rạp trán” trước mọi người, mai lại gặp ở đâu cũng chỉ tay gọi “ông Tạ”. Phùng Quán rất mãn nguyện, lại nấn ná ở lại thăm thú xóm giềng thân thuộc. Tới nay, tại đôi quán cà phê sáng bình dân dọc quốc lộ thuộc địa phận phường Thủy Dương người ta còn nhắc mãi câu chuyện Phùng Quán tới nhà Ngô Hữu Giã. Hữu Giã là một ông giáo làm thơ trong làng. Lối sống của Hữu Giã rất khắt khe, kỳ cục đến nước vợ con chịu không nổi. Hữu Giã sống trong đói rách, quanh năm ăn xúp nhưng không hề nợ ai một đồng. Lần Phùng Quán vào chơi, thức ăn chỉ có khế chấm ruốc và rau sam luộc, cộng thêm xị rượu độc nhất. Phùng Quán vỗ tay phét đùi khen bữa ăn ngon, cùng nâng ly ngâm thơ. Quà tặng chia tay là quả bí to nhất trong vườn Hữu Giã, mà Phùng Quán đã phải rất nặng nhọc trên chuyến hành trình dọc chiều đất nước. Tôi cứ băn khoăn: chẳng rõ “món hàng” đó có liên quan gì tới Quả bí xanh tuyệt ngon mắt trong tập “Trăng hoàng cung” của Phùng Quán hay không? Chỉ biết, ông quý nó hơn cả quả dưa hấu ông từng cúi lạy!
Mùa đông năm 1994, ông mặc chiếc áo trắng “bám” chi chít chữ ký của bạn bè từ Sài Gòn ghé thăm Thanh Thủy Thượng lần chót. Đúng vậy, Phùng Quán ra Hà Nội và không còn gượng dậy được nữa! Thật đáng tri ân, ông đã được bạn bè đưa về ngôi làng Thanh Thủy Thượng nên thơ; ở đấy, tin chắc nhà thơ sẽ yên bình mơ về Tuổi thơ dữ dội.
*
* *
Tôi biết đến ông chủ tịch Thủy Dương là ngày vào trình tờ giấy giới thiệu của huyện năm 2002. Khuôn mặt ông tròn, hơi béo chút đỉnh, không thấy có ria mép song nụ cười cực kỳ bí ẩn. Hết nhìn tờ giấy có con dấu đo đỏ tròn tròn, ông lại nhìn mặt tôi vẻ ngờ vực. Nhưng rồi cũng ổn, tôi được chỉ định xuống tầng dưới làm việc với anh Trọng, phụ trách Ban Văn hóa. Ở đấy tôi thấy khá nhiều ảnh các vị lãnh đạo Đảng chụp trong những lần về thăm xã như Lê Đức Anh, Phạm Văn Đồng, Đỗ Mười… Âu cũng là sự “thơm lây” từ tấm bằng Anh hùng Lao động Nhà nước tặng Hợp tác xã nông nghiệp Thủy Dương thời bao cấp. Với hơn bảy trăm mẫu ruộng, Thủy Dương luôn đạt năng suất tuyệt đối cho giới truyền thông ngắm đến. Được biết chủ nhiệm Hợp tác xã ngày đó là ông Phanh (tên cứ như người Liên Xô thời Đất vỡ hoang). Đồng chí Lê Duẩn lần đến thăm đã ghi vào sổ lưu niệm: “Tôi khen chú giỏi nhưng nhờ dân cũng giỏi”. Văn phòng Hợp tác xã giờ đã được xây lại hai tầng to rộng, thoải mái cho trên chục người làm việc. Một lần tới đây xin vài số liệu, thấy quá khó khăn khi phải làm việc với ông “phó” hay đi chiếc rim Tàu đời F9, nên tôi đã bỏ về tay trắng. Chẳng bù cho một nhà văn tên tuổi từng được Hợp tác xã nuôi thời gian khá dài để mong viết được “cái gì đó” tô điểm cho sự làm ăn khấm khá. “Bỗng nhiên tôi cụt hứng” – đầu đề một bài viết được đăng ở tạp chí uy tín hẳn hoi, làm người làng người xã ai từng đọc đều cười chảy nước mắt. Chuyện: có viên chức trên tỉnh xuống thăm Hợp tác xã lại không được đón tiếp như bao người khác trong Bắc ngoài Nam có tước hiệu. Ông lạc loài giữa đón rước và tiệc tùng, bởi ai bảo cán bộ quyền cao chức trọng mà cưỡi chiếc xe đạp cà tàng…!
Thủy Dương chừ khác hẳn chuyện trầu cau. Khoảng giữa thế kỷ XVI, sử mô tả: Trên con đường giao thông chính chạy dọc Thuận Hóa đến tận đèo Hải Vân chỉ có bốn cái quán, cả xứ có ba chợ. Thiệt chẳng thể nào sánh được một góc nhỏ của Thủy Dương hôm nay. Khi mà bất động sản đang được chia xẻ đổi đô la. Khi mà đâu đó đã rục rịch những ngôi nhà bạc tỉ đua ganh với ông nào đấy trên huyện. Và đâu đó đã hình thành nên những cụm dân cư “chả thiếu thứ gì”. Khu đô thị mới đang dần lộ hình hài để xứng tầm với một góc riêng của Huế. Chỉ sự học thì không nhất thiết phải cần đến những điều kiện thành phố có.
Làng Thanh Thủy Thượng, giáo dục được đánh dấu mốc vào năm 1886, khi đoạn quốc lộ từ Huế vào đèo Hải Vân hoàn thành. Con đường mới, rộng rãi băng qua làng nối liền với kinh đô Huế, đã làm cho việc giao lưu văn hóa của làng được mở mang. Nhận thức đúng thời cuộc, làng đã cho di dời chợ Mai ở bến Nhất Đập lên sát quốc lộ, đổi chợ cũ lấy đám đất hiện nay là trường mẫu giáo Thủy Dương để xây nhà Văn Thánh, vừa làm nơi thờ đức Khổng Tử vừa làm Hương trường dạy chữ cho con em trong làng. Ngày ấy toàn tỉnh có bốn trường trung học: bờ Nam sông Hương có trường Quốc Học, Đồng Khánh (dành cho nữ) và Nguyễn Tri Phương; bờ bên kia có trường Hàm Nghi. Trường tiểu học Thanh Thủy Thượng có tên chính thức là vào khoảng sau năm 1954. Ngôi trường gồm ba phòng học lợp tranh, dựng trên mảnh đất bên trái dốc mấp mô sỏi đá dẫn về phía đình làng… Tôi từng ghé vào lớp học dành cho con em trong xã – là học sinh xuất sắc của huyện, tuần ba buổi được Ủy ban tài trợ. Cùng với đầu năm 2011, quỹ Nhà thơ Phùng Quán được lập để hàng năm trao cho học sinh học giỏi… Hình thái mới mẻ và đầy trách nhiệm này của xã được những người con xa quê, các cựu học sinh trường làng hướng về như đã hướng về tiên tổ. Trong Hội Cựu học sinh Thanh Thủy Thượng, có một người khiến tôi chú ý hơn cả. Mạn phép gọi anh là nhà thơ câm lặng! Trong đầu tôi giờ còn lưu hai câu thơ của anh tặng quê nhà. Nếu viết ra đây – tôi nghĩ – hẳn người ta sẽ còn nhớ mãi:
Bọt bèo con nước sâu nông
Rong rêu trăm hói tìm sông mà về.

Đăng bởi: Ngô Minh | 15.01.2012

TẾT TRÊN VAI MẠ

TẾT TRÊN VAI MẠ

Ngô Minh
Cứ mỗi đận Tết về tôi lại nôn nao nhớ hình ảnh mạ tôi xưa suốt mấy chục năm kẽo kẹt triêng gióng, gánh Tết trên vai. Ký ức Tết tuổi thơ ấy đã thành máu thịt, thành chất liệu làm nên tâm hồn tôi. Làng Thượng Luật quê tôi ở vùng cát biển nam Quảng Bình. Làng tôi đánh giặc thì giỏi lắm, có Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy anh hùng bắn cháy tàu chiến giặc những năm đánh Mỹ, nhưng làng tôi rất nghèo . Có câu hát nhại ca từ Hoàng Vân :‘ Quảng Bình khoai khoai toàn khoai”, hẳn là hát về làng tôi. Khi tôi bảy tuổi thì ba tôi mất do bị bắn ơn trong Cải cách ruộng đất. Chị đầu đi lấy chồng, bốn anh em tôi còn nhỏ. Thế là gia đình không thuyền lưới, không có người đi biển. Sau một thời gian phải cầm rổ đi xin từng con cá dọc biển bờ chang chang nắng gió, rồi đi mót từng củ khoai hà, mạ tôi quyết định chuyển sang nghề chạy chợ. Mạ tôi phải tần tảo chạy chợ mấy chục năm liền kiếm gạo nuôi con. Hồi đó ở miền Bắc ngoài cửa hàng Mậu dịch và Hợp tác xã mua bán, không ai được mở cửa hàng tư, vì thế ‘của hàng’ của mạ là đôi triêng gióng trên vai, không ai bắt phạt được.

Mạ buôn chè xanh, thơm (dứa), quả mận quân, mít xanh, mít chín… từ Chợ Huyện, quê ngoại Vĩnh Linh , gánh về làng biển đổi cá cho bà con trong làng. Cá ngừ, cá thu thì cắt miếng kho, các loại cá cơm, cá duội, cá nục…thì phơi làm cá khô hoặc làm mắm nêm, nước mắm…rồi gánh đi chợ Tréo, chợ Mai, chợ Hôm Trạm, Chợ Chè khắp huyện Lệ Thủy để bán. Từ làng tôi đi chợ Tréo gần 20 cây số, phải trèo động cát tới 6 cây số, gánh nặng phải đi 5 tiếng đồng hồ mới kịp giờ họp chợ. Nên mạ phải dậy từ hai sáng, đến tối mịt mới về. Những ngày Mỹ ném bom miền Bắc, đoạn đường mạ tôi đi chợ ngày nào cũng có bom nổ. Mỗi lần nghe bom nổ đâu đó, anh em tôi lo thắt ruột. Bữa mô bán ế, mạ lại gánh cá, mắm lên chợ Hôm Trạm hay vào các làng ở Liên Thủy, Mỹ Thủy bán cho bằng hết mới về. Vì cuộc sống anh em tôi ở trên vai mạ nên khi mạ về mới có rau, cá, để ăn, có quần áo, sách vở để học. Nhiều bữa cả bốn anh em chờ tới tận mười giờ đêm mạ mới về…Ăn xong anh em tôi lăn ra ngủ, mạ lại lui cui chuẩn bị cá mắm để sáng mai lên chợ… Khi anh em tôi thức dậy thì thấy nồi cơm, song cá mẹ kho để trên chạn bếp. Đó là thức ăn cho mấy đứa suốt ngày…

Vào mỗi dịp giáp Tết, từ đầu tháng Chạp âm lịch, mạ tôi chạy chợ liên tục, mồ hôi mồ kê nhễ nhại. Bốn anh em trai chúng tôi thường xuyên ra gốc dương cổ thụ đầu xóm đón mạ mỗi tối. Có lần tôi được đi chợ Huyện ( tức chợ Hồ Xâ, Vĩnh Linh) vào ngày 26 Tết với mạ. Tôi lẽo đẽo đi bộ theo mạ vượt 26 cây số Truông Nhà Hồ đến chợ. Đến chợ tôi say mê chạy theo mấy ông bán tò he, gà đất, chó bột, chân vấp phải hàng nồi đất, vỡ mất chiếc nồi nấu cơm của họ, mạ phải đền . Mạ mắng tôi mà n ước mắt lưng tròng. Chỉ có tối Ba mươi Tết là mạ về sớm hơn. Nói là sớm cũng bốn năm giờ chiều. Về để làm cơm cúng tất niên, chuẩn bị bàn thờ đón Giao Thừa. Mạ chợ về trên vai một gánh Tết đầy…

Tết mạ tôi gánh đến cho người làm ruộng là những chai nước mắm ngon, gọi là nước mắm chắt, nước mắm nhĩ, tức là loại nước mắm cốt từ trong chượp chắt ra, nhĩ ra tự nhiên, ngon lắm. Rồi những con mắm mục, mắn trích thính thơm phức, những khúc cá ngừ, cá thu kho ngon lựng ; Tết mạ gánh về cho bà con làng biển Thượng Luật nghèo là bó chè xanh, quả thơm, quả mít chín, gạo nếp, rồi bao nhiêu thứ kẹo bánh cho trẻ con như : kẹo bi, kẹo bột đậu bọc giấy bóng xanh đỏ tím vàng, kẹo cứt gà ( tên kẹo như thế vì kẹo nấu bằng đường thủ công tẩm bột nâu, đen đen trăng trắng như viên cứt gà khô trên cát) ; rồi các thứ bánh để thờ trên bàn thờ ngày Tết như bánh in bọc giấy bóng xanh đỏ, bánh ít, rồi lá dong, lá chuối để bán cho các nhà gói bánh chưng bánh tét.

Tối ba mươi Tết mạ tôi ở nhà nấu xôi, chè, làm con gà giò luộc để nhờ thầy xem giò đoán vận hạn , nấu các món thịt xào, thịt phay, canh bún riêu cua … làm mâm cơm cúng tất niên. Mạ vừa nấu cúng vừa bán hàng Tết chịu nợ cho bà con nghèo, vì đến gần giao thừa rồi mà nhiều gia đình vẫn chưa kiếm được tiền sắm Tết. Anh em tôi thì lo soạn bàn thờ, thắp nhang đèn. Cúng tất niên xong là mạ bắt đầu gói bánh chưng bánh tét. Tết nào mạ cũng nấu một nồi lớn bánh chưng sôi sùng sục. Anh em chúng tôi được mẹ phân công đứa thì lau chùi các thứ lư đỉnh ấm chĩn trên bàn thờ, thay cát thờ mới , riêng tôi thì canh nồi bánh chưng, khi nào cạn nước thì thêm nước. Tôi trải chiếc chiếu rách bên nồi bánh , thắp cây đèn dầu nằm đọc sách , vừa canh nồi bánh vừa đợi giao thừa, rồi có Tết ngủ quên lúc nào không biết .

Còn mạ thì cặm cúi nấu xôi chè cúng Giao thừa, rồi làm các loại bánh như bánh nổ, bánh đúc, bánh ú.v.v.. để mai sớm gánh ra bán ở nơi làng tổ chức đánh đu, chơi Tết. Làng tôi hồi đó Tết nào cũng chơi luôn hai cây đu lớn.Hội đu là nơi vui nhất trong mỗi cái Tết. Từ rằm tháng Chạp, người ta đê kéo nhau vô các làng xã miền ruộng để chọn mua tre la ngà về dựng đu. Bắt đầu từ sớm mùng Một Tết, đông đảo thanh niên nam nữ trong làng đã chen nhau vào chơi đu. Trẻ con chúng tôi thì đứng xem vỗ tay tán thưởng mỗi khi có cặp chơi đu vút lên cao thẳng đứng. Mấy anh thanh niên cứ mỗi lần thấy các chị đánh đu vút lên cao, hai ống quần lụa gió bay ngược xuống đùi là vỗ tay rần rần. Tết làng tôi còn có hội đua thuyền nếu năm biển lặng. Hơn chục chiếc thuyền đánh cá của các đội sản xuất được sơn lại như mới, rồi vẽ rồng bay phượng múa. Mỗi thuyền có 16 thanh niêm lực lưỡng cầm chèo. Có một ông già đầu bịt khăn đóng, ngồi trước mũi thuyền đánh sanh, hò dô rất nhịp nhàng. Cả làng đô xô ra bờ biển hò hét. Có người giơ nón lên cao, lội ra biển để vẫy. Rồi trò ném vòng cổ chai, ném quả bóng bàn vào giỏ do Đồng biên phòng tổ chức thu hút rất nhiều thiếu niên như tôi.

Chuyện Tết rất ấn tượng nữa thời bao cấp ở làng tôi là xem phim. Những ngày đó ở Quảng Bình có Đội chiếu bóng lưu động số 17 . Thường một năm vài lần Đội đem phim về chiếu ở xã tôi, họ thường về vào dịp trước Tết hoặc sau Tết vài năm bảy ngày. Đó là một ngày hội của làng. Các thôn Liêm Lấp, Liêm Vàng, Tây Thôn xa 17 cây số , trẻ con, người lớn cũng bới cơm ra làng Thượng coi phim. Mỗi lần phim về, làng phải cử 12 thành niên trai tráng vượt động cát lên Quốc lộ 1A, khiêng vác máy nổ, máy chiếu, màn ảnh về. Hai đêm chiếu phim xong lại khiêng máy lên trả. Khi phim về mạ tôi nấu cơm sớm để anh em tôi đi xem. Chúng tôi ra bãi từ khi chưa tắt mặt trời để giành chỗ ngồi trước. Ngồi mãi đến gần tám giờ tối người ta mới loa “ Buổi chiếu bóng xin phép được bắt đầu. Hôm nay Đội chiếu bóng lưu động số 17 sẽ phục vụ bà con hai bộ phim thời sự và phim truyện…”. Máy chạy rè rè . Màn ảnh sáng lên. Gió biển lay cái màn ảnh phần phật. Đứa nào cũng mừng rơn, ngóng cổ lên màn hình. Nhưng mở đầu buổi chiếu bao giờ Chủ tịch xã cũng phát biểu “huấn thị” bà con. Huấn thị là cái “mốt thời đại” của lãnh đạo thời đó. Họ nói như đọc sách chính trị. Hồi đó ông Hoài là chủ tịch. Ông mở đầu cuộc nói bằng cái đằng hắng, rồi lên giọng:” Hôm nay tôi xin nói với bà con ba điểm cần quán triệt…Điểm thứ nhất là…”. Ông nói tới chục cái “điểm thứ nhất là…”, rồi sáu bảy lần “điểm thứ hai là..”, hết hơn tiếng đồng hồ. Tôi ngủ quên lúc nào không biết. Anh Ninh lay tôi dậy thì nghe ông đang nói “điểm cuối cùng…”. Tôi nghe đến mấy lần “Điểm cuối cùng” thì ngủ luôn ở bãi chiếu phim cho đến sáng, anh lay cũng không dậy được nữa . Sáng dậy mới biết hôm qua mình đi coi phim. Bộ quần áo đẹp mẹ may mặc Tết thành nhàu bẩn. Hàng chục lần như thế. Không có lúc nào bọn trẻ chúng tôi thức đến khi có phim truyện cả. Sau này về quê gặp ông Hoài đã già, tôi nhắc lại chuyện coi chiếu phim, nghe ông phát biểu. Ông cười khề khề :” Nghề chủ tịch xã là nghề nói mà, nghề nói mà…”

Sáng mùng một Tết, mạ tôi dọn mân xôi chè và mấy thứ bánh cúng ông bà, cúng ba tôi , phát áo mới cho bốn anh em, dặn không được sang nhà họ đạp đất, lo trong năm có gì xui họ trách, rồi mạ triêng gióng gánh Tết lên vai…. Mạ đi “phục vụ Tết” cho bà con” tới chiều tối mùng Một mới về.
Mạ tôi là người nấu ăn giỏi nhất làng. Bởi thế mà suốt mấy chục năm khi xã, hợp tác xã có liên hoan là mời mạ tôi đứng bếp. Các thầy giáo trong huyện về Ngư Thủy dạy cấp 1, cấp 2 đều ở nhà tôi, có lẽ một phần vì nhà tôi có tủ sách lớn do ba tôi để lại, phần nữa là do mạ nấu ăn ngon. Mạ tôi làm bánh nổ bằng thóc nếp rang cho nổ bung, sảy vỏ rồi cho vào nấu với nước đường, thêm tí vani, tí bột đao, ép khuôn cắt thành từng vuông nhỏ, hoặc vắt tròn như quả mận. Ăn ngọt mà giòn rụm. Ngày Tết, trẻ con trong làng rất thích loại bánh này. Mạ còn nấu bánh đúc bằng gạo mùa mới gặt. Nấu cho nhuyễn, thêm gia vị tiêu hành rồi đổ ra cái mâm thau, đợi bánh nguôi, cắt thành từng miếng hình thoi, xếp vào thúng lót lá chuối, gánh đi bán. Bánh đúc chấm nước lèo ăn no vẫn thòm thèm..

Cuộc đời mạ tôi trầm luân vất vả. Nước mắt Mạ nhiều hơn nụ cười. Chỉ có đêm ba Mươi, sớm Mùng Một là có Tết ở nhà. Gọi là Tết nhưng phải lo bao việc sáng đêm quần quật. Trong ký ức của tôi, Tết luôn luôn ở trên vai Mạ. Mạ sống mãi với Xuân với Tết

Đăng bởi: Ngô Minh | 29.01.2012

CÁI CHẾT V

CÁI CHẾT CỦA VĂN HOÁ VIỆT VÀ MONG ĐIỀU LẠ XẨY RA.
Phạm Thành

Chẳng biết các bạn bloger khác khai bút đầu năm con Rồng thế nào, bađamxoe tôi khai bút đầu năm và cũng chính thức khai chương blog badamxoe.wordpress.com bằng bài viết này. Hẳn nhiên bài viết có nhiều khiểm khuyết, mong có ai đọc thì lượng thứ. Phạm Thành

1.Cái chết văn hoá.

Cái chết ấy chẳng biết từ khí nào? Từ gần 70 mươi năm hay từ hàng ngàn năm trước đây? Có lẽ là cả hai?
Từ ngàn năm nay người Trung Hoa luôn luôn không muốn có một Đại Việt độc lập. Các cuộc tàn sát văn hoá Việt nói riêng đã diễn ra liên miên. Không có triều đại nào của Trung Hoa lại không có một lần tàn sát văn hoá Việt, dân tộc Việt. Tàn sát về chủng tộc thì có gì tàn độc bằng, hiếp, giết đàn bà, con gái và hoạn của đàn ông. Còn về văn hoá, đốt, cướp những tác phẩm văn hoá, lịch sử, nghệ thuật cả vật thể và phi vật thể, như “nhổ cỏ phải nhổ tận gốc” luôn là chiến lược không thay đổi của các triều đại Trung Hoa, cũng đã diễn ra cùng với sức mạnh của cuộc xâm lăng hoặc không trực tiếp xâm lăng. Bởi thế, một dân tộc có tới 4 ngàn năm lịch sử mà văn hoá còn lại chỉ là đấu tích. Nhan nhản những đấu tích còn lại. Ta có triều đại Triệu, bây giờ cố đô chỉ như một gò mối, như một vạt đồi đủ rộng cho chó ỉa. Ta có vương triều Đinh – Lê mà dấu tích còn lại chỉ là vài ba câu đối, vài bà nền móng ngôi nhà, một vài đền thơ nhỏ nhỏ, giống như khu một của một gia đình thường thường bậc trung bên Thái, bên Tầu. Ta có vương triều Lý dài dài 216 năm, dấu vết còn lại cũng chỉ là một mảnh vườn nhỏ nhỏ, trong đó có Khuê Văn Các chỉ đủ rộng cho một bàn trà ngồi đủ 4 người. Ta có vương triều Trần hiển hách với ba lần đánh thắng quân Nguyên Mông, dài tới 175 năm, dấu tích còn lại cũng là “lai rai” vài căn miêu nhỏ. Ta có vương triều Lê oai phong, tồn tại tới 360 năm, dấu tích còn lại, chỉ là một tấm bia đá cỏn con nơi lăng mộ vùng sơn cước xứ Thanh. Ta có nhà Nguyễn, khởi nghiệp từ năm 1802 và kéo dài cho đến năm 1945 với chiến công mở cõi Đại Việt, dấu tích còn lại cũng chỉ là một khu thành nhỏ nhoi, giống như một khu doanh trại của một thủ lĩnh giang hồ.
Nhin chung là chẳng thấy gì cho nó có tầm vóc. Ta có thể tự hào về nét vẽ, cách đục đẽo tạo hình khối, hoa văn trên trên tường này, tượng kia nhưng ta không thấy một vật thể hoành tráng nào xứng với một dân tôc có tới 4 nàng năm lịch sử còn tồn tại tới bây giờ.
Bên cạch đó, những tác văn văn hoá, văn học, lịch sử, nghệ thuật cũng luôn bị ngoại bàng tàn sát dưới hình thức chính: đốt và cướp. Chẳng nói Kinh Dịch,… có từ thời cổ đại mà có chuyên gia nói là của người Việt, ngay đến tác phẩm vĩ đại “Đại Việt sử ký toàn thư” do Lê Văn Hưu sọan, “Thất Trảm Sớ” của nhà giáo Chu Văn An, có sau Kịch Dich, Kinh Thư rất lâu, cũng không còn.
Như thế, có thể chắc, chẳng phải phải cha ông ta không làm được những tác phẩm văn hoá kỳ vĩ mà là bị các “thế lực” thù địch tàn phá, đốt và cướp triền miên nên mới để lại nhiều “khoảng trống” như ngay nay mỗi khi ta muốn nhìn.
Mấy ngàn năm lịch sử là mấy ngàn năm thân thể dân tộc bị bào mòn bởi các thế lực ngoại bang ở chủng tộc và văn hoá, để bây giờ chúng ta phải tự hào, tự tôn dân tộc một cách tưởng tượng. Và từ tưởng tượng đến không còn gì về văn hoá dân tộc trong đầu dân Việt là một vận động tất yếu.

2. Mong có điều lạ xẩy ra.

Năm 1945, lần thứ 7, dân tộc ta giành được quyền độc lập. Đảng cộng sản Việt Nam lên lãnh đạo, giữ vài trò đầu tầu dẫn dắt con em trăm họ Đại Việt trên con đường xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, tính đến nay đã gần 70 mươi năm.
70 năm này dân tộc ta phát triển văn hoá trong điều kiện nào. Đó là điều kiện cả dân tộc phải gồng mình đánh Pháp, đuổi Mỹ, đánh Khơ me đỏ, chống Tầu bành trướng. Như vậy, sự phát triển văn hoá trong giai đoạn này là văn hoá đánh nhau, mà cấp độ của nó là “một mất, một còn”. Dân tộc đã phải làm tất cả vì nó. Và văn hoá cũng phải làm tất cả vì nó. Sự phát triển của văn hoá cũng buộc phải theo hướng này mà mục đích nhằm đạt tới là biến tất cả nhân dân thành chiến sĩ, thành người cầm súng, thành người căm thù, biết lấy máu làm quốc hồn, lẽ sống: “Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước”; lấy sự giết người làm lẽ tự hào: “Đường vinh quanh xây xác quân thù”. Từ đây biết bao nhiều văn hoá tàn độc được sinh sôi phát triển, mà bây giờ có ngu đi, mụ mị đi, ta vẫn không thế nào quên: “
“ Giết nhầm hơn bỏ sót”,
“ Trí, phú, địa, hào đào tận gốc trốc tân dễ”
“ Trí thức không bằng cục phân”
“ Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù”
Rồi còn hàng ngìn bài hát, hàng vạn bài thơ, hàng ngàn tác phẩm văn học, nghệ thuật khác vào hùa, làm cho từ thành thị đến nông thôn, từ công trường đến chiến trường lúc nào cũng vang lên bài ca bắn và giết. Thậm tệ hơn người ta còn coi việc đi bắn giết như đi trẩy hội:
“ Còn gì vui hơn đường ra trận mùa xuân”
“Đường ra trận mùa này đẹp lắm”
Người ta đếm người chết như đếm dây đàn:
“Kia trông, một hai ba bốn năm sáu bảy tên linh thuỷ đánh bộ Mỹ kia nó bỏ xác trên rừng”
Rồi người ta bịa đặt xuyên tạc con người, lịch sử, văn hoá. Người ta không con biết xấu hổ khi bốc lên cung tiên lãnh tụ này, hạ xuống địa ngục vĩ nhân kia, để chỉ có ta là đúng, là nhất định đúng, nhất định đi lên, nhất định hơn thiên hạ:
“Cái tốt của kẻ thu là cái tốt của ta. Cái xấu của ta là cái xấu do kẻ thù đem đến”.
Còn nhiều, nhiều nữa.
Cả dân tộc như lên đồng, cuồng si, mê mãi với một lối sống lấy chém giết, xuyên tạc, bịa đặt, dệt nên bản ngã làm người. Đó là lối sống không có chỗ cho cái thiện tồn tại, chỉ giúp cho cái ác phát triển và nhanh chóng đạt tới cấp độ “hoàn thiện”. Văn hoá đã cố ý và vô tình biến con người văn minh lại giống về dã thú.
Chính vì vậy mà thứ văn hoá do người, vì người không có chỗ để phát triển.
Đau khổ nhất là hệ lụy của nó còn hiện hữu đến tận bây giờ. Văn hoá Việt, đặc biệt là thứ văn hoá làm người tử tế đang tiếp tục bị khoanh vùng, tiêu diệt.
Vì thế mà người ta bình thản với 12 ngàn người chết trên đường quốc lộ một năm.
Vì thế mà một kẻ tàn sát dã man đồng loại chỉ bị tù có 4 năm.
Vì thế mà người ta có thể làm tượng đài tới hàng ngàn tỷ đồng, trong khi có hàng triệu người không có ăn hàng ngày.
Vì thế mà người ta có thể đánh hạ trẻ em cho đến tàn tật để sử dụng vào mục đích đi ăn mày, ăn xin.
Vì thế mà lãnh đạo không biết ngượng mồm nói dối, đem cái lưu manh phản động của chính mình khoác cho người khác.
Vi thế mà cả triệu lao động làm việc trong guồng máy nhà nước trong đầu chỉ duy nhất có 4 chữ: kiếm tiền và lên chức.
Vì thế mà ngày ngày các phương tịên truyền thông đại chúng chỉ rặt bọn bất lương có chức có quyền, bọn “ xướng ca vô loài” khua môi muá mép dạy văn hoá, đạo đức cho người.
Vì thế dân ta mới thuộc sử nước người hơn sử nước mình.
Vì thế mà nền giáo dục muốn tốt mà không thể.
Và còn hàng ngàn các ví dụ khác mà tất cả đang ngày ngày đầu độc và tiêu diệt từng góc nhỏ của văn hoá, đạo đức tốt đẹp của người Việt còn ngoi ngóp sót lại.
Dân tộc sẽ còn khi còn văn hoá của dân tộc còn.
Văn hoá của dân tộc mình đã bị bào mòn trong hàng ngàn năm lịch sử, từ cổ đại, đến cận đại và đương đại. Liệu nó khả năng phục hưng? Rất ít có tin hiệu cho con đường phục hưng. Như thế văn hoá Việt sẽ triệt tiêu. Cái đau nhất, hoảng loạn nhất là văn hoá Việt sẽ bị triệu tiêu mà không thấy có văn hoá lai cảo nào lên ngôi. Như chữ quốc ngữ chẳng hạn. Nó không là của Việt, nhưng nó tiến tiến và chúng ta đã chấp nhận và nó đã có ích cho dân tộc ta từ bấy đến nay. Không còn văn hoá Việt, con đường mất dân tộc, mất nước không xẩy ra mới là điều lạ. Và tôi mong điều lạ đó xẩy ra.
Phạm Thành
16h 16 phút, ngày 23/1, tức 1 tháng Giêng, năm Nhâm Thìn

Bài viết cũ hơn »

Chuyên mục

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.