Đăng bởi: Ngô Minh | 31.10.2014

5 lý do cáp treo vào Sơn Đoòng là thảm họa!

5 lý do cáp treo vào Sơn Đoòng là thảm họa!

 
Cô Giáo Đi Bụi/ Triết học đường phố 
Ảnh bên:Trong ảnh, bạn Mike đang choáng ngợp trước sự kỳ vĩ của Sơn Đoòng.
1. Bài toán kinh tế
2014 năm thử nghiệm tour du lịch mạo hiểm vào Sơn Đoòng, 223 khách đi, mỗi khách đóng khoảng $3000. 2015, số giấy phép sẽ được cấp ra là 450 – 500 giấy. Và với tốc độ đăng ký hiện nay thì vấn đề bán hết số giấy phép đó là dễ như trở bàn tay. Tỉnh nhẩm nhanh thôi cũng thấy doanh thu từ cách khai thác Sơn Đoòng hiện nay dễ dàng lên đến 30 tỷ mỗi năm, mà ảnh hưởng đến môi trường là rất ít, hầu như không có (chuyên gia của Hiệp hội Hang động Hoàng gia Anh luôn đi chung với khách ngoài công tác hướng dẫn khoa học, còn để đảm bảo không một cái gói kẹo rơi lại trong hang).

Thêm vào đó, với cách hoạt động hiện nay của Oxalis, toàn bộ lực lượng phục vụ đoàn là người bản địa. Chưa kể bản thân Oxalis là một tổ chức thực hiện trách nhiệm xã hội rất tốt. Mùa hè vừa rồi, họ vừa hoàn thành việc xây dựng trường Tiểu học số 2 Tân Hóa cho bà con nơi đây.
Còn Sun Group đầu tư 4500 tỷ. Để thu hồi vốn sau 4-5 năm, thì nôm na mỗi năm phải doanh thu 1000 tỷ. Hiện tại, công ty chưa công bố giá vé. Nhưng giá vé cáp treo và tham quan 1 ngày ở Bà Nà là 500.000VND. Tạm tính giá vé Sơn Đoòng gấp 4 lần số đó là 2 triệu đồng một vé (một cái giá phải nói là trên trời, chỉ để được bó gối trong 1 cái hộp). Để thu 1000 tỷ, công ty phải bán khoảng 500.000 vé một năm. Hãy tưởng tượng tác động của môi trường từ chưa đến 500 người một năm lên 500 ngàn người một năm. Chỉ riêng lượng ánh đèn flash thôi cũng đủ giết chết những sinh vật dưới lòng đất quen sống với môi trường tối đen như mực và yên lặng như tờ của Sơn Đoòng rồi.
alt
 
Trong ảnh, bạn Mike đang choáng ngợp trước sự kỳ vĩ của Sơn Đoòng. 

Đừng tìm cách sở hữu mọi thứ! Đừng biến mọi thứ thành tiền! Đừng khai thác tận gốc! Đừng nhìn ngắn hạn! Đừng vin vào cái nghèo!
 
  
2. Ảnh hưởng đến môi trường
Không như bài toán kinh tế, ảnh hưởng môi trường khó có thể lấy máy tính ra mà bấm. Và quan trọng hơn nữa, là ta không thể để nó xảy ra rồi mới tính. Vì vậy, hãy tạm dùng những tiền đề về các dự án cáp treo trước của Sun Group cũng như trên thế giới.
Đồi Bà Nà là công trình cáp treo tiêu biểu của Sun Group. Nhưng có lý do cả mà “dân gian” lưu truyền câu:

“Chưa đi chưa biết Bà Nà
Đi rồi mới biết ở nhà còn hơn.”

Dĩ nhiên, cảm nhận tùy mỗi cá nhân. Riêng tôi, tôi không chịu nổi sự xô bồ, đông đúc, chen lấn ở đó. Tôi không chịu nổi mùi nước tiểu nồng nặc trong bán kính 50 meter chung quanh khu vực vệ sinh. Tôi không chịu nổi sự giả tạo, rẻ tiền, trong những kiến trúc giả cổ, giả Tây, mà chưa đến tầm. So với những ấn tượng tuổi thơ tôi có về Bà Nà, thì ngọn đồi hôm nay đã xuống cấp trầm trọng.

alt
 
Cảnh xô bồ chen lấn tại trạm cáp treo Bà Nà 

Một dự án khác của Sun Group cũng đang làm lòng dân oán hận là cáp treo lên Fansipan. Hồi trước, khi tôi leo Fan, trời lạnh mà mồ hôi ướt đẫm lưng áo. Chính những vất vả đó khiến giây phút đứng trên đỉnh thật xứng đáng. Bạn tôi, Đỗ Tường Duy, một phượt thủ, cũng khẳng định: Fan đẹp không chỉ vì đỉnh núi cao, mà còn vì con đường lên đỉnh lắm thăng trầm. Những rừng trúc, hoa đỗ quyên, hay đơn thuần chỉ là những tảng đá như tấm lưng người khổng lồ.
Hôm nay, “người ta” đang đem xe ủi lên vạt rừng, tróc cây, xây khu vui chơi, ẩm thực, sân golf 18 lỗ, và khách sạn 5 sao (link). Bạn của Duy đang leo Fan báo lại, mái nhà Đông Dương đang biến thành bãi rác công nghiệp. Liệu chúng ta có để Sơn Đoòng biến thành nạn nhân tiếp theo? Mà chưa kể, khác với Fan, rất nhiều sinh vật trong hệ sinh thái của Sơn Đoòng còn chưa được nghiên cứu và ghi nhận hết. Hủy hoại những sinh vật này là có tội với khoa học thế giới.
Nhìn rộng ra khỏi biên giới Việt Nam, công trình cáp treo Zhongtianmen lên đỉnh núi Taishan của Trung Quốc cũng bị lên án kịch liệt. Giáo sư Xie Ninggao, trưởng Trung tâm Nghiên cứu Di sản Thế giới của Đại Học Bắc Kỳ gọi cáp treo này là “vết sẹo lên vẻ đẹp của tự nhiên” hủy diệt thảm thực vật lên đến 19000 mét vuông; trong số đó có hằng trăm thực vật đơn bào không thể phục hội lại được. LIỆU CHÚNG TA CÓ MUỐN LẶP LẠI SAI LẦM CỦA TÀU?
3. Cân bằng nội địa- quốc tế
Một trong những chiêu bài ngôn luận hàng đầu của Sun Group là hình thức thám hiểm hiện tại của Sơn Đoòng phục vụ được quá ít đồng bào Việt Nam, vì 2 lý do: giá tiền và sức khỏe.
Tuy nhiên, thống kê năm vừa rồi của Tổng cục du lịch cho thấy lượng khách Việt Nam đi Châu Âu lên đến vài trăm nghìn lượt. Nôm na, trong số đó một nửa là tự túc, nửa qua các công ty lữ hành thì giá trung bình cũng 3000USD cho một tuần ở xứ người. Đó là chưa kể lượng khách đi Mỹ, Nhật, Úc hay các nước khác có mức phí tương đương. Nói nôm na, người Việt mình đâu có nghèo.
Vậy phải chăng người Việt mình yếu? Đúng là so với thế giới, thể trạng mình không bằng ai, nhưng nếu leo trèo và đi bộ một tuần mà cũng không nổi thì nhục mặt con Rồng cháu Tiên quá. Người lớn tuổi nhất từng chinh phục Sơn Đoòng là một bác người Mỹ (?) 75 tuổi. Chả lẽ hầu hết dân tộc này đều yếu hơn ông cụ 75? Không đúng! Năm 2012, Nguyễn Sơn Lâm chinh phục thành công nóc nhà Đông Dương trên chiếc nạng gỗ của mình. Chứng tỏ người Việt Nam chúng ta có sức mạnh và ý chí. Đừng làm thế giới nghĩ người Việt mình là một bầy heo chỉ muốn di chuyển trong lồng!
Và ngay cả nếu bạn chưa đủ tiền thật, chưa khỏe mạnh cường tráng thật, thì bạn vẫn có thể dành dụm. Tôi chỉ là một cô giáo, cao vỏn vẹn một thước rưỡi. Nhưng tôi bỏ ống heo và tập thể dục suốt 3 năm trời để một ngày được bước chân đến Sơn Đoòng. Tiền có thể để dành, sức khỏe có thể rèn luyện; Nhưng một khi thiên nhiên đã chết, thì không thể cứu lại được.
Mà nói thật ra, về mặt toán học, số người Việt đi Sơn Đoòng đâu phải là ít. Năm đầu tiên thí điểm du lịch mạo hiểm, Sơn Đoòng đón 223 khách, trong đó có ít nhất 7 khách người Việt mà tôi được biết, chiếm tỷ lệ hơn 3%. Trong khi, nếu tính về dân số thế giới (7 tỷ người), thì Việt Nam (90 triệu dân) chỉ chiếm hơn 1%.
Và tận sâu trong đáy lòng, dù yêu đồng bào lắm, tôi vẫn tự đặt câu hỏi giữa Sơn Đoòng hiện nay có 3% du khách nội địa so với Bà Nà có hơn 90%, thì tôi sẽ chọn viễn cảnh nào cho tương lai Sơn Đoòng. (Vì sao khách nước ngoài ngưng đến Bà Nà thì hình trên phần nào lý giải được.)
4. Quyền sở hữu
Đã nói đến đây thì tôi xin được phép đặt một câu hỏi, mặc dù lý luận này của tôi có thể sẽ khiến tôi bị ném đá dữ dội; Và mặc dù tôi là một người con yêu nước lắm, yêu đến xót xa, tôi vẫn tự hỏi: Thật ra Sơn Đoòng có thuộc quyền sở hữu của chính quyền Quảng Bình, hay thậm chí là chính quyền Việt Nam không? Giống như một đứa trẻ sinh ra, có thuộc quyền sở hữu của chính cha mẹ nó không? Vì sao khi cha mẹ bạo ngược với trẻ, chính quyền sẽ can thiệp? Phải chăng là vì, ngoài là con của cha mẹ, đứa trẻ đó còn là một nhân tố của xã hội và vì thế xã hội không thể để mặc cho cha mẹ muốn đối xử với con mình ra sao thì ra.
Khi Việt Nam nhận danh hiệu “Di sản Thiên nhiên Thế giới” của UNESCO trao tặng cùng với những tài trợ đi kèm chính là Việt Nam đang nhận trách nhiệm bảo vệ di sản đó và di sản đó thuộc về thế giới, thuộc về loài người. Đừng vì lợi ích của một nhóm nhỏ trong xã hội mà đánh mất giá trị lâu dài. UNESCO đã từng đe dọa tước lại danh hiệu của Cố đô Huế và Vịnh Hạ Long cũng vì cách quản lý yếu kém ở những nơi đó. Chẳng lẽ Việt Nam muốn mất luôn Phong Nha – Kẽ Bàng hay sao?
Chỉ cần một cây đinh thô bạo đóng vào Sơn Đoòng, là di sản ấy mất tính thiên nhiên và đứng trên bờ vực mất luôn danh hiệu. Trong quá khứ, UNESCO đã từng đe dọa một vài nước, nếu cố tình xâm hại một di sản thế giới, thì tổ chức sẽ tước danh hiệu và rút tài trợ của TẤT CẢ di sản trên đất nước đó. VIỆT NAM CÓ MUỐN TRỞ THÀNH MỘT ĐẤT NƯỚC KHÔNG CÓ DI SẢN?
5. Giá trị của thiên nhiên
Suy cho cùng, mục đích tối thượng của thiên nhiên không phải lúc nào cũng để phục vụ kinh tế cho con người. Có những giá trị lớn hơn đồng tiền. Và trên thế giới họ đã ý thức được điều đó. Ví dụ: hang Leschugilla của Mỹ được đóng cửa vĩnh viễn đối với khách du lịch.
( Nguồn: quechoa)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 30.10.2014

Ngô Minh – nhà thơ của biển đảo quê hương

Ngô Minh ở đảo Cồn Cỏ

Ngô Minh – nhà thơ của biển đảo quê hương

  Bùi Ánh

 Hẳn ai đã từng đọc thơ Ngô Minh sẽ không thể quên những miền “cát trắng tinh”, từng lớp sóng vỗ ru hay những cảnh tượng biển với đủ kiểu trạng thái lúc dữ dằn ghê rợn, lúc lãng mạn trữ tình, lúc đau thương tột cùng cũng có lúc đằm thắm chất chứa yêu thương đã dệt nên một hồn thơ tha thiết với quê hương, với biển đảo mà như ông đã từng ao ước: “Những câu thơ như vỏ sò vỏ ốc/ Với mênh mông tiếng biển trong lòng”.

  Có thể nói, hành trình thơ ông là hành trình tiếng thơ hòa vào với tiếng biển ru mỗi ngày, là hành trình tiếng lòng yêu quê hương đất nước tha thiết của một người lính trở về sau bao năm trên chiến trường. Dù xuất hiện khá muộn trên thi đàn so với bạn bè trang lứa nhưng thơ ông đã khẳng định được vị trí và sức vang trong dòng chảy văn học Việt hiện đại. Trên chặng đường sáng tạo, ông đã dành tâm huyết rất nhiều cho những vần thơ về biển đảo. Có thể nói, biển đảo là hình ảnh không thể thiếu trong mỗi dòng thơ của ông. Hành trình từ tập “Chân sóng”, “Quà tặng xứ mưa:, “Đứa con của cát, “Phù sa biển”, “Huyền thoại Cửa Tùng” cho đến “Kí tự biển”,…biển đi vào thơ một cách tự nhiên và ở lại sâu lắng trong lòng người đọc. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 29.10.2014

Khảo cứu lại về Hồ Chí Minh

Khảo cứu lại về Hồ Chí Minh

  •   Tsuboi Yoshiharu

 Hồ Chí Minh với tư cách là một người theo chủ nghĩa Cộng hòa 

Trong bài viết này, chúng ta thử thoát khỏi những quan niệm về “Tư tưởng Hồ Chí Minh” của Đảng Cộng sản Việt Nam  cũng như cách đánh giá Ông Hồ như một người cộng sản Marx-Lenin,  lần theo những nẻo đường trong cuộc đời Hồ Chí Minh để khảo cứu lại tư tưởng của Ông trên một lập trường giá trị tự do hơn. 
Từ khi bắt đầu nghiên cứu Việt Nam năm 1973, mỗi  lần có cơ hội, tôi lại cố gắng lần theo những dấu vết cuộc hành trình của Hồ Chí Minh. Bắt đầu từ xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An – quê hương của Hồ Chí Minh, tôi  lần theo dấu chân Ông ở Nhà kỉ niệm Hồ Chí Minh ở Vinh – thủ phủ của tỉnh Nghệ An; phòng làm việc, Bảo tàng và Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Thủ đô Hà Nội; Bảo tàng Hồ Chí Minh ở Thành phố Hồ Chí Minh; trường Quốc học Huế, v.v… Ở Trung Quốc, tôi đã đến thăm Hồng Kông, Quảng Đông, Thượng Hải, Diên An, v.v… Tôi cũng tìm đến ngôi nhà Hồ Chí Minh từng sống ở Moscow.  Tôi đã đứng trong ngôi nhà ở  phố Compoint, đƣợc coi là nơi hoạt động của Hồ Chí Minh ở Paris. Ở London, tôi đã tới thăm khách sạn nơi Ông  từng  làm đầu bếp dưới sự hướng dẫn của Escoffier. Ở New York, tôi đã thử hình dung Hồ Chí Minh đã ngắm nhìn bức tượng Nữ thần tự do từ góc độ nào. Tôi cũng có dịp thảo luận với các nhà nghiên cứu Hồ Chí Minh người Pháp như Brocheux, G.Boudarel … Đương nhiên, tôi cũng có dịp trao đổi ý kiến với những nhà trí thức, học giả người Việt như Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Đình Đầu, Phan Huy Lê, Vũ Minh Giang, Nguyên Ngọc, v.v… Trong quá trình đó, tôi luôn cảm thấy dường như chưa có ai đoán đúng được tư tưởng “bè trầm liên tục” của Hồ Chí Minh. 
Cho đến gần đây, tôi nhận ra rằng có lẽ giá trị mà Hồ Chí Minh coi trọng nhất trong suốt cuộc đời của mình là những giá trị của nền Cộng hòa. Tôi cho rằng nếu nhận thức Hồ Chí Minh nhƣ một ngƣời theo chủ nghĩa Cộng hòa, chúng ta có thể đánh giá được một cách đầy đủ và đúng đắn nhất những tư tưởng và hành động của Ông. 
Không ai phủ nhận việc Hồ Chí Minh là một nhà ái quốc. Mục tiêu tối thượng của Ông là giải phóng dân tộc và giành lại nền độc lập cho Tổ quốc từ tay thực dân Pháp. Để thực hiện công cuộc đó, cơ sở lý luận của Ông là  “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” – những biểu tượng của nền Cộng hòa. 
Khi đặt chân đến nước Pháp, đất nước đã biến Việt Nam thành thuộc địa, Ông phát hiện ra rằng tầng lớp lao động nghèo khổ ở Pháp cũng ở trong tình cảnh bi thảm  như các dân tộc bị áp bức ở thuộc địa. Đồng thời, Ông cũng ngạc nhiên trước tinh thần Cộng hòa đối xử bình đẳng với con người bất kể sự khác biệt về màu da, ngôn ngữ, văn hóa. Có một câu chuyện nổi tiếng liên quan đến vấn đề này. Sau chuyến hải hành dài bắt đầu từ Sài Gòn, cuối cùng Hồ Chí Minh cũng đến được Marseille. Đây là lần đầu tiên Ông Hồ đặt chân lên nước Pháp. Ông vào một quán cà phê và gọi một tách cà phê. Người hầu bàn đáp lại: “Vâng, thưa Ông” (Oui, Monsieur). Khi còn ở Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân, Hồ Chí Minh chưa bao giờ được gọi bằng từ “Mousieur”. 
Đối với chàng thanh niên Hồ Chí Minh khi đó mới 21 tuổi, được một người Pháp gọi là  “Mousieur” là một sự ngạc nhiên thú vị.  Có lẽ khi đó người hầu bàn cũng không nghĩ rằng vị khách của mình là một người Việt Nam đến từ xứ thuộc địa, hoặc cũng có thể anh ta không quan tâm tới quốc tịch của vị khách. Câu nói của người hầu bàn chỉ là một câu nói “đương nhiên” thường dùng để xác nhận với khách hàng. Nó được anh ta sử dụng như một cái máy chứ không có ý kính trọng gì đặc biệt ở đây. Thế nhưng, đối với Hồ Chí Minh, một người vốn đã quen chứng kiến quang cảnh phân biệt đối xử ở xứ thuộc địa, câu trả lời “đương nhiên” đó lại là một hiện tượng thật ngạc nhiên và mới mẻ.
 
Tinh thần nền Cộng hòa Pháp 
 
Tinh thần nền Cộng hòa Pháp mang tính lý tưởng cao. Qua Cách mạng Pháp, một quan điểm mới về giá trị con người khác hẳn với giai đoạn trước đã được xác lập. 
Như đã thể hiện trong câu nói của bản Tuyên ngôn Nhân quyền: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng”, sự khác biệt căn bản nhất của thời Cận đại so với các thời đại khác là sự thay đổi 180 độ quan điểm về giá trị con người. Tinh thần nền Cộng hòa chính là cuộc vận động nhằm tạo nên và lý tưởng hóa hình tượng con người mới, thúc đẩy mỗi cá nhân tiếp cận với hình tượng lý tưởng đó.  
Đó là cách nhận thức con người bằng việc bài trừ những thuộc tính cá nhân. Lấy ví dụ, nó không quan tâm tới người đó là người Nhật hay người Việt Nam, sinh ra ở tỉnh nào, xuất thân trong gia đình hay dòng họ nào, bao nhiêu tuổi, là nam hay nữ. Vấn đề quan trọng là con người đó với tư cách là một “cá nhân” có đủ khả năng suy nghĩ một cách lý tính hay không.  Nền Cộng hòa được xây dựng bởi những cá nhân là nhân dân Pháp, bất kể giai cấp, màu da hay người đó có sinh ra ở Pháp hay không. Do vậy, nhiệm vụ quan trọng nhất của nền Cộng hòa là phải giáo dục ra được những “cá nhân” có đủ khả năng suy nghĩ một cách lý tính. 
Tuy nhiên, không dễ dàng hiện thực hóa được những lý tưởng đó của tinh thần Cộng hòa. Đã có rất nhiều hành động nhằm kéo xã hội quay về với tư tưởng cũ. Để xác lập được tinh thần Cộng hòa, nước Pháp cần phải đợi đến thời kỳ nền Đệ  tam Cộng hòa, khoảng 100 năm sau Cách mạng Pháp. Ở nước Pháp khi đó cũng như ngày nay, nông dân luôn đóng vai trò trung tâm. Họ có tư tưởng cực kỳ bảo thủ. Ở người nông dân, tình cảm thích nhà vua, coi trọng gia đình, truyền thống và dòng dõi là hết sức mạnh mẽ. Trong số họ có rất nhiều người vừa hiếu kỳ đối với những người khác, đồng thời lại có những suy nghĩ mang tính phân biệt chủng tộc, cho rằng người da trắng ưu việt hơn so với các chủng tộc khác. Cách mạng Pháp đã thay đổi tư tưởng bảo thủ của nông dân thành những “cá nhân” theo giá trị con người kiểu Cận đại, quá trình biến đổi đó kéo dài 100 năm. Ngay trong thời đại hiện nay, dù có quá nửa người Pháp tán thành tinh thần Cộng hòa, nhưng rõ ràng cũng có không ít người vẫn duy trì thể tạng cũ của nông dân. Nói một cách chính xác hơn, vẫn còn rất nhiều người vẫn mang trong mình mâu thuẫn giữa một bên là con người được giáo dục để mang tinh thần Cộng hòa một cách tự giác, với một bên là quan điểm bảo thủ về giá trị con người vốn được nuôi dưỡng trong môi trường gia đình thủ cựu. Về mặt này, có thể nói người Pháp vẫn mang đầy mâu thuẫn, và tinh thần Cộng hòa vẫn đang tiếp tục bị thử thách ở nước Pháp. Trong khi đó, người Việt Nam lại hoàn toàn ngược lại. Người Việt Nam trước tiên coi trọng thuộc tính. Mỗi khi đến Việt Nam, tôi thường rất lúng túng khi bị người Việt Nam đặt những câu hỏi liên quan đến cá nhân như bao nhiêu tuổi, làm việc cho công ty nào, ở vị trí gì, xuất thân từ trường đại học nào, vùng nào, tầng lớp nào, gia đình như thế nào. Hay những câu hỏi đại loại như “Đã kết hôn chưa?”, “Đã có con chưa, nếu có con thì được mấy con rồi?”, “Con mấy tuổi”… Tại sao người Việt Nam lại chấp nhặt những thông tin cá nhân và hoàn cảnh gia đình như vậy. Đó là vì: thông qua những câu hỏi đó, người Việt muốn làm rõ vị trí của đối phương, dựa vào đó xác định rõ ràng mối quan hệ xã hội trên dưới giữa mình và đối phương. Từ đó, quan hệ đó sẽ được phản ánh qua cách dùng từ và động tác ứng xử, qua việc sử dụng cách nói kính trọng hay khiêm tốn, có nên chào hỏi và bắt tay như đối với người lớn hơn hay không. Để xây dựng được quan hệ tốt đẹp cho hai bên và ứng xử đúng với những qui tắc xã hội vô hình, trước tiên người Việt phải tìm hiểu những thuộc tính của đối phương. Đây không chỉ là truyền thống của riêng Việt Nam mà là truyền thống của cả khu vực theo văn hóa Nho giáo, tương ứng với thế giới Đông Á bao gồm cả Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản, những nơi cũng lấy  “quan hệ” giữa con người với con người làm qui tắc chuẩn cho hành động. 
Ở Đông Á, nơi thuộc tính cá nhân và quan hệ con người đóng vai trò chủ đạo, người ta đã không lý giải được hết được tinh thần nền Cộng hòa. Người ta thường viện dẫn những ví dụ của nước Pháp và nước Mỹ để đưa ra những định nghĩa mang tính mô phạm về nền Cộng hòa, kiểu như nền Cộng hòa là việc chặt đầu nhà vua, phế bỏ chế độ quân chủ, xây dựng thể chế chính trị “của dân, do dân, vì dân”; nền Cộng hòa là thể chế chính trị mà nhân dân đóng vai trò chính,… Ngƣời ta đã không đạt tới được nhận thức rằng: điều kiện tiền đề của nền Cộng hòa là những “cá nhân” theo quan điểm giá trị mới về con người. 
 
Nhận thức về tinh thần nền Cộng hòa của Hồ Chí Minh 
 
Người viết cho rằng có lẽ Hồ Chí Minh là lãnh đạo chính trị duy nhất ở Đông Á nhận thức được một cách đúng đắn nhất tinh thần nền Cộng hòa và Ông đã  cố gắng đưa nó vào Việt Nam. Tôi muốn lần theo những hành động của Hồ Chí Minh trong quãng thời gian 10 năm Ông phát huy đƣợc năng lực lãnh đạo của mình nhất, tức là quãng thời thời gian từ lúc về nước năm 1941 sau ba chục năm bôn ba ở hải ngoại đến những năm 1950, để chứng minh cho giả thuyết nêu trên. 
Trước tiên, tôi cho rằng cần phải khảo cứu lại vấn đề tại sao Hồ Chí Minh lại “phát hiện” ra Lênin và trở thành một người Cộng sản. Để định nghĩa lại Hồ Chí Minh từ một người cộng sản Marx-Lênin thành một người theo chủ nghĩa Cộng hòa, cần phải làm rõ mối quan hệ này. 
Hồ Chí Minh biết đến Lênin nhờ đọc bài viết đƣợc công bố của Lênin về vấn đề thuộc địa. Ông đã bị thu hút mạnh mẽ bởi mối quan tâm sâu sắc cũng như cách đưa ra những phương pháp giải quyết cụ thể đối với vấn đề thuộc địa của Lênin. Ông Hồ cho rằng để giải phóng thuộc địa, chỉ có con đường duy nhất là Đảng Cộng sản, do vậy Ông đã từ bỏ Đảng Xã hội và trở thành một trong những thành viên sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Sau đó, Ông sang Moscow, trở thành một thành viên của Quốc tế cộng sản và hoạt động năng nổ. Kể từ lúc đó, trong quá trình hoạt động của mình, Ông học được rằng: để giành được độc lập cho Việt Nam từ tay nhà nước Pháp, một trong những liệt cường của Tây Âu có lực lượng quân sự và chính trị khổng lồ, cần phải có một tổ chức đoàn kết chặt chẽ đóng vai trò trung tâm cho công cuộc giải phóng, cũng như cần hoạt động liên kết quốc tế nhằm nhận đƣợc sự đồng cảm rộng rãi từ quốc tế. Ông đồng tình với đề xướng của Lênin về Bôn-sê-vich, Đảng Cộng sản-một đảng tiên phong có kỷ luật sắt. Về điểm này, đúng là Hồ Chí Minh là một người theo chủ nghĩa Lênin. Tuy nhiên, ngoài mặt tổ chức ra, Hồ Chí Minh cho rằng vấn đề cần ưu tiên nhất là đấu tranh giải phóng dân tộc giành lại độc lập cho Việt Nam chứ không phải là vấn đề giai cấp. Về mặt này, Hồ Chí Minh không phải là một người cộng sản “chính thống” theo chủ nghĩa Marx-Lenin. Đối với những người cộng sản “chính thống”, việc Hồ Chí Minh coi trọng giải phóng dân tộc, coi nhẹ đấu tranh giai cấp là hành động xa rời Chủ nghĩa Cộng sản, do đó, Ông Hồ đã bị phê phán một cách gay gắt. Vào những năm 1930, Hồ Chí Minh đã bị những người cộng sản Việt Nam trẻ tuổi như Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập phê phán một cách gay gắt và công khai. Furuta Motoo, tham khảo nghiên cứu  của Kurihara Hirohide. đã trích dẫn một phần lá thư của Ủy ban hải ngoại Đảng Cộng sản Đông Dương gửi cho Quốc tế Cộng sản như sau:   
“Ở Đông Dương, các tổ chức cộng sản đã triển khai một cuộc đấu tranh công khai với đường lối của đồng chí Nguyễn Ái Quốc và Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội  – đường lối là tàn dư kết hợp giữa chủ nghĩa dân tộc với chủ nghĩa cải lương duy tâm. Tàn dư này hết sức nặng nề và đang trở thành một chướng ngại cho sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản. Cần thiết phải đấu tranh không thương tiếc với chủ nghĩa cơ hội và lý luận kiểu cũ của Quốc và Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội. Chúng tôi đề xuất đồng chí Lin (Bút danh lúc đó của Nguyễn Ái Quốc  – Tsuboi) phải viết bản tự kiểm điểm bản thân.” 
Trước những phê phán này, Ông Hồ đã phải thay đổi đôi chút lập trường của mình và phải rất vất vả để giữ được vị trí của mình trong Quốc tế Cộng sản. Tuy nhiên, Ông đã bị gạt ra ngoài hoạt động lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và bị buộc phải sang Moscow học tập. Nhưng cũng nhờ đó mà Ông Hồ đã thoát nạn. Dưới sự đàn áp khốc liệt của nhà đương cục thực dân, nhiều người Cộng sản hoặc bị chết hoặc bị xử tử. Lê Hồng Phong bị bắt tháng 6 năm 1938 và sau đó qua đời trong tù vào khoảng tháng 9 năm 1942. Hà Huy Tập bị bắt tháng 7 năm 1938, sau đó đƣợc thả ra một thời gian rồi bị bắt lại năm 1940 và bị xử tử vào tháng 8 năm 1941. Khi Ông Hồ trở về nước vào năm 1941, ở Việt Nam hầu như không còn một người Cộng sản “chính thống” nào. 
Nhờ vậy, trong quãng thời gian 10 năm tính từ khi trở về nước năm 1941, Ông Hồ, dựa vào sự ủng hộ của Quốc tế Cộng sản cũng như tiếng tăm của mình, đã có thể hành động một cách tự do hơn theo những suy nghĩ của mình. 
Có một giai thoại thể hiện rất rõ hình ảnh Hồ Chí Minh là một người theo chủ nghĩa Cộng hòa. Năm 1941, Hồ Chí Minh về nước sau 30 năm bôn ba ở hải ngoại, chủ trì Hội nghị lần thứ Tám Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dƣơng, xác định cách mạng là Cách mạng giải phóng dân tộc, công bố ý tưởng thành lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đồng thời thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh (tên thường gọi là “Việt Minh”). Tên gọi Việt Minh cho thấy mục tiêu của cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ là đánh đổ ách thống trị của Nhật và Pháp, giành lại độc lập, tập trung toàn lực vào cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc. 
Hồ Chí Minh nêu lên chủ trương của Việt Nam Độc lập Đồng minh là “liên hiệp hết thảy các tầng lớp nhân dân không phân biệt tôn giáo, xu hướng, đảng phái chính trị nào, giai cấp nào, đoàn kết chiến đấu để đánh đuổi Pháp, Nhật, giành quyền độc lập cho “xứ sở”. Mục tiêu của Việt Nam Độc lập Đồng minh là “sau khi đánh đuổi được đế quốc Pháp, Nhật, sẽ thành lập một chính phủ nhân dân của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngôi sao vàng năm cánh làm lá cờ toàn quốc.”
 
Tuyên ngôn Độc lập 
 
Tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được cho là do Hồ Chí Minh đặt. Nội dung của nó được thể hiện trong Tuyên ngôn Độc lập tháng 9 năm 1945 và Hiến pháp năm 1946. Câu đầu tiên của bản Tuyên ngôn Độc lập có đề cập đến Hiến pháp Mỹ và bản Tuyên ngôn Nhân quyền Pháp.  “Tất cả mọi ngƣời đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. 
Tuyên ngôn Nhân quyền được viết trong Cách mạng Pháp năm 1791 đã trình bày nội dung tương tự như sau: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.  
“Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được. Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cƣớp đất nƣớc ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa. Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chúttự do dân chủ nào. Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết. Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu. Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân. Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhƣợc. Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xƣơng tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu. Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng. Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng. Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn”. (Lược một đoạn – Tsuboi)
“Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam. Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp” (trích ―Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945″). 
Còn có một câu chuyện nữa về Hồ Chí Minh ít được biết đến. Sau khi thành lập Việt Minh năm 1941, để kêu gọi sự ủng hộ của các nước Đồng minh trong đó có cả Trung Quốc, Ông Hồ đã quay trở lại Trung Quốc. Tuy nhiên, do Việt Minh nằm dưới cái bóng của Chủ nghĩa Cộng sản nên Ông Hồ đã bị Quốc dân đảng nghi ngờ. Ông bị chính quyền địa phương của Quốc dân đảng bắt và bị giam từ tháng 8 năm 1942 đến tháng 9 năm 1943. Sau cùng, Quốc dân đảng nhận định rằng Việt Minh là thế lực chính trị chống Nhật trong phạm vi Việt Nam nên Ông Hồ đã được thả. Tháng 8 năm 1944, khi được tự do và chuẩn bị về nước, Hồ Chí Minh đã nói với tướng Trương Phát Khuê của Quốc dân đảng như sau: “Tuy tôi là một ngƣời cộng sản nhưng bây giờ vấn đề mà tôi quan tâm không phải là chủ nghĩa cộng sản mà là độc lập tự do của Việt Nam. Tôi xin hứa với anh 1 lời hứa đặc biệt: trong vòng 50 năm tới sẽ không thực hiện chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam”. (trích theo Furuta Motoo). 
 
Cách mạng Tháng Tám 
 
Tuy nhiên, không thể có được Con người mới gánh vác độc lập tự do chỉ bằng đấu tranh giải phóng đơn thuần. Hồ Chí Minh biết rõ rằng, để đạt được điều đó cần một cuộc cách mạng làm đòn bẩy. Cuộc cách mạng đó ở Việt Nam là “Cách mạng Tháng Tá”. Ngày 15 tháng 8 năm 1945, Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện quân Đồng minh, nước Pháp bảo hộ thì chưa khôi phục được thế lực của mình. Cách mạng Tháng Tám là cuộc khởi nghĩa trên toàn quốc do Việt Minh tổ chức nhân cơ hội đó nhằm giành quyền tự chủ thực sự cho Việt Nam. Nhận được tin Nhật đầu hàng, từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 8 năm 1945, Đảng Cộng sản đã tổ chức Hội nghị toàn quốc ở Tân Trào, ra quyết định khởi nghĩa. Ngày 16-17 tháng 8, Việt Minh tổ chức Đại hội Quốc dân, quyết định thành lập Chính phủ lâm thời nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau đó, bắt đầu từ việc giành chính quyền ở Hà Nội ngày 19 tháng 8, Việt Minh đã lãnh đạo thành công khởi nghĩa ở các thành thị khác, xác lập được quyền làm chủ đất nước. 
Kết quả của quá trình này là sự ra đời của bản Tuyên ngôn độc lập. Có nhà nghiên cứu cho  rằng Cách mạng Tháng Tám không đơn thuần là một cuộc đảo chính bằng vũ lực. Đúng là khi cách mạng nổ ra, quân Nhật, lúc đó đã đầu hàng Đồng minh, đã không tiến hành đàn áp cuộc khởi nghĩa của Việt Minh. Đồng thời ở Việt Nam cũng không có mặt quân Pháp và  quân Đồng minh. Nhờ vậy, cuộc khởi nghĩa đã diễn ra một cách tương đối dễ dàng và không phải đổ nhiều máu. Đối với Hồ Chí Minh, cuộc cách mạng này chính là quá trình giành lại quyền lực của nhân dân dựa trên khát khao mạnh mẽ về tự do của họ, nó chính là quá trình xây dựng nên  Con người mới. 
 
Ý nghĩa của Độc lập – Tự do – Hạnh phúc 
 
Ước mơ “Độc lập” từ lâu của Hồ Chí Minh là Việt Nam được giải phóng khỏi tay Thực dân Pháp và trở thành một nước độc lập. Nhưng Độc lập của Hồ Chí Minh không phải là khái niệm “độc lập” theo nghĩa cũ, vốn thường được lặp đi lặp lại trong  sách giáo khoa – là quá trình Việt Nam giữ vững được độc lập và bản sắc (identity) của mình trước  sự uy hiếp của Trung Quốc. Việt Nam có lịch sử khởi nghĩa, đánh bại, đánh đuổi sự xâm lược của các triều đại Tống, Nguyên, Minh, Thanh của Trung Quốc, nhưng sau mỗi lần đánh đuổi quân xâm lược Trung Quốc, Việt Nam lại chỉ xây dựng một thể chế chính trị mô phỏng Trung Quốc. Nhưng “Độc lập” mà Hồ Chí Minh muốn xây dựng là một nước độc lập, một nhà nước chủ quyền theo kiểu Cận đại. Từ “Độc lập” của Ông bao hàm ý nghĩa xây dựng một quốc gia chủ quyền có lực lượng sánh vai được với các cường quốc trên thế giới. Ý tưởng của Ông là không chỉ xây dựng một chế độ Dân chủ Cộng hòa mà còn xây dựng nên hình ảnh những Con người mới đóng vai trò gánh vác quốc gia độc lập. 
 “Tự do” của Hồ Chí Minh rõ ràng chịu ảnh hưởng từ chữ “Tự do” trong khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” của Cách mạng Pháp và quyền mưu cầu Tự do của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Tự do của Hồ Chí Minh không chỉ đơn thuần là đất nước được độc lập, nhà nước có chủ quyền và có quyền tự do phát ngôn, hoạt động trên trường quốc tế, mà phải là thứ tự do được từng người dân ca ngợi. Nó cũng yêu cầu  mỗi người dân ca ngợi quyền tự do đó phải trở thành chủ thể xây dựng từ dưới lên trật tự của nền Cộng hòa, yêu cầu từng cá nhân phải có khả năng suy nghĩ, quyết định với tinh thần trách nhiệm cao. Nhà nước kiểu Cận đại chính là nhà nước xây dựng được hệ thống giáo dục đào tạo ra được những con người như vậy, đồng thời  có những thiết chế chính trị đi kèm đảm bảo cho việc giáo dục đó. Nước Cộng hòa của Hồ Chí Minh là Chủ nghĩa dân chủ kết hợp với Tự do. 
Cuối cùng như được đề cập trong bản Tuyên ngôn độc lập, “Hạnh phúc” của Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng của “quyền mưu cầu hạnh phúc” trong Hiến pháp của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.  Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ chính là bản Hiến pháp đầu tiên viết rõ ràng về “quyền mưu cầu hạnh phúc”.  Hạnh phúc là một từ có tính đa nghĩa, nhƣng ý nghĩa từng cá nhân có quyền mưu cầu hạnh phúc là một khái niệm hết sức mới mẻ của thời kỳ Cận đại. Lịch sử Việt Nam là lịch sử tranh sáng tranh tối của những cuộc đấu tranh chống lại sự xâm lược của Trung Quốc, đấu tranh chống lại những thảm họa thiên nhiên như lũ lụt, hạn hán. Con người Việt Nam coi những nguy cơ đó là “bất hạnh”, đặc điểm của Việt Nam là có lịch sử chiến đấu và chiến thắng những “bất hạnh” đó. Nếu coi những “bất hạnh” mà dân tộc Việt Nam phải chịu đựng là những thử thách của ông Trời mang lại để dân tộc Việt Nam phải vượt qua thì quả thực, dân tộc Việt Nam là một dân tộc anh hùng và quả cảm. Thế nhưng, quá trình đó bản chất là một quá trình mang tính thụ động. Thông điệp về hạnh phúc của Hồ Chí Minh là thông điệp mỗi người đều có quyền mưu cầu hạnh phúc và phải chủ động, tích cực tranh đấu để giành được hạnh phúc đó. 
Trong bản Hiến pháp làm cơ sở cho nhà nước, Hồ Chí Minh đã tham khảo nước Cộng hòa Pháp và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và nêu lên ý tưởng về nước Việt Nam Dân  chủ Cộng hòa. Con người Hồ Chí Minh được phản ánh sắc nét trong Hiến pháp là một người theo Chủ nghĩa Cộng hòa và chủ nghĩa hòa bình hơn là một người theo Chủ nghĩa Cộng sản. Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn Độc lập cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Trong vòng xoáy tương quan lực lượng quốc tế mà Việt Nam bị lôi vào, Liên Hiệp quốc đóng vai trò vô cùng quan trọng. Để các nước công nhận nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh đã có một hành động mạo hiểm là xóa đi hình ảnh người cộng sản của mình. Tháng 11 năm 1945, Ông Hồ đã ra quyết định dứt khoát giải tán Đảng Cộng sản. Đương nhiên, trên thực tế, tổ chức của Đảng vẫn được giữ nguyên, do đó cũng có thể coi nó như một “hành động ngụy trang”. Thế nhưng, để được các nước công nhận nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ông Hồ đã lựa chọn con đường ưu tiên “quyền lợi dân tộc” lên trên “quyền lợi đảng phái”. Về điểm này, chúng ta có thể nhìn thấy một phần cách suy nghĩ theo chủ nghĩa Cộng hòa của Hồ Chí Minh. 
 
Người Việt Nam có hiểu Hồ Chí Minh không? 
 
Ở đây có một vấn đề là những người Việt Nam khác có hiểu được nguyên lý về  nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà Hồ Chí Minh đã trình bày cũng như tinh thần nền Cộng hòa được đúc kết trong khẩu hiệu “Độc lập  – Tự do – Hạnh phúc” của Ông hay không?  Thật tiếc phải nói rằng thông điệp của Hồ Chí Minh hầu như không được truyền bá và lý giải một cách đầy đủ và đúng đắn. Người ta đã coi Ông như một người lãnh đạo của phong trào Cộng sản quốc tế, một người theo chủ nghĩa Marx-Lênin. Đó là vì sau Chiến tranh Thế giới II, thế giới rơi vào cục diện Chiến tranh Lạnh, Việt Nam đã bị đặt vào tiền tuyến xung đột của Chiến tranh Lạnh Đông  – Tây. Trong bối cảnh quốc tế đó, Hồ Chí Minh sau khi thành lập nước đã phải nhận sự hỗ trợ của Trung Quốc và Liên Xô, trở thành lãnh tụ lãnh đạo một cuộc chiến tranh lâu dài chống Pháp và Mỹ. Ai cũng lấy ý thức hệ làm chủ thể để lý giải Ông Hồ, và ngay bản thân Ông Hồ, để nhận được viện trợ tiếp tục công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc mình, không có một sự lựa chọn nào khác ngoài việc phát ngôn và hành động như một thành viên của liên minh những ngƣời cộng sản. 
Thế hệ kém Ông Hồ 10 tuổi như Đại tướng Võ Nguyên Giáp hay ông Trần Văn Giàu, do chịu sự giám thị gay gắt của nhà đương cục thực dân, đã phải hoạt động tại nước ngoài một thời gian. Chính vì vậy, họ đã hiểu được tình hình bên ngoài và lý giải được một phần tinh thần nền Cộng hòa của Hồ Chí Minh. Sự lý giải của họ là nhờ vào kinh nghiệm sống ở các nước Âu Mỹ, chủ yếu là nước Pháp.
Tuy nhiên đối với những thế hệ trẻ hơn, do phải tiến hành cách mạng và chiến tranh trên đất Việt Nam, nên hầu như không có mấy người có kinh nghiệm sống ở nước ngoài. Do đó, họ thiếu đi nền tảng tư tưởng để có thể lý giải được đầy đủ “Tinh thần nền Cộng hòa” mà Hồ Chí Minh đã đúc kết được sau 30 năm bôn ba ở hải ngoại. Càng đến những thế hệ trẻ hơn, người ta càng có xu hướng lý giải Hồ Chí Minh chỉ theo góc độ là nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản. Cùng với việc thần tượng hóa Hồ Chí Minh, người ta đang đánh mất đi khả năng lý giải nội tại Hồ Chí Minh với tư cách là một CON NGƯỜI bình thường./.    
 

Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo Việt Nam học lần thứ III. Tậpi. NXB Đại học Quốc gia HN. Hà nội,2008

( Theo VHNA)

 

 QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT “TUỔI THƠ DỮ DỘI”

 Trần Kim Huế

  QTXM : Bạn đọc thân mến. Khoa sinh Trần Thị Kim Huế vủa bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ “ Thi pháp tiểu thuyết “Tuổi thơ dữ dội” của Phùng Quán”, tại TRường Đại học Khoa học – Huế với số diểm 9,4/8,5. Đây là luận văn thạc sĩ thứ 3 về văn chương Phùng Quán. QTXM xin giới thieuj với bạn đọc trích Chương 2 luận văn này.

 ….Với quan niệm con người mang vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng, của khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, ở thời kì trước 1975, Phùng Quán đã xây dựng nên những hình mẫu nhân vật mang đậm cảm quan nghệ thuật của nhà văn. Con người trong tác phẩm Phùng Quán trước hết là con người có lí tưởng sống cao đẹp, ý thức được tầm vóc lịch sử và ý nghĩa thời đại của cuộc kháng chiến. Trong Tuổi thơ dữ dội nổi bật kiểu: con người yêu nước, hồn nhiên, dũng cảm; con người lãng mạn giàu khát vọng; con  người số phận, bi kịch; con người phản bội, hèn nhát. (Đọc tiếp…)

Chúng ta có biết đứng dậy và bước đi hay không?

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều/ Dân trí 
 Người Việt chúng ta đang sống lúng túng, nhiều lúc hoang mang. Đã bao người, bao lần đặt câu hỏi vì sao chúng ta lại thế? Với tôi, vì chúng ta không xác lập được mình là ai trong khi dân tộc Việt Nam được xác lập rõ ràng, mạnh mẽ trong suốt chiều dài lịch sử của mình.
Chúng ta đã từng đi qua một thời mà có người gọi là “thời ngạo mạn”. Cái thời như thế chưa từng có trong lịch sử của dân tộc chúng ta trước đó cho dù ông cha ta đã làm nên những điều kỳ vỹ.
Trong cái “thời ngạo mạn”, chúng ta nói: Người Việt ta yêu nước nhất thế giới. Chúng ta nói: Người Việt ta anh hùng nhất thế giới. Chúng ta nói: Người Việt ta thông minh nhất thế giới. Chúng ta nói: Người Việt ta nhân đạo nhất thế giới. Chúng ta nói: Thủ đô ta nhiều cây xanh nhất thế giới….
Nhưng đến một ngày, chúng ta nhận ra sự thật không phải hoàn toàn như vậy. Mỗi người dân trên thế gian này đều yêu dân tộc của mình nhất, mỗi dân tộc đều anh hùng nhất khi đấu tranh cho độc lập, tự do của họ, mỗi dân tộc đều có lòng nhân đạo của họ…
Sự ngạo mạn ấy chẳng làm cho chúng ta lớn lên mà ngược lại nó làm cho dân tộc ta yếu đi. Sự ngạo mạn ấy làm cho chúng ta chẳng còn biết thế giới này như thế nào nữa. Chúng ta sống trong cái thế giới như câu thành ngữ “ếch ngồi đáy giếng” của mình một cách thỏa mãn. Và chúng ta được cảnh cáo công khai nhiều lần về nguy cơ sẽ bị thế giới bỏ quên.
Cuối cùng thì người Việt chúng ta cũng rút khỏi cái “thời ngạo mạn” rất… lặng lẽ. Nhưng ngay sau đó, chúng ta lại rơi vào một cái “thời” khác: “Thời tự ti dân tộc”.
Cái thời này cũng tệ hại không kém gì cái thời “ngạo mạn” chúng ta vừa thoát ra được. Bây giờ, cứ hễ nói đến đất nước Việt Nam, nói đến người Việt Nam là không ít người Việt Nam chúng ta tự chê bai mình không tiếc lời. Chúng ta tự vẽ lên chân dung chúng ta xấu xí đến không tưởng. Không ít người nước ngoài trố mắt kinh ngạc khi nghe chính người Việt nói về người Việt.
Một số bạn bè nước ngoài của tôi nói: Người Việt Nam có rất nhiều đức tính đẹp nhưng sao tôi nghe không ít người Việt nói về người Việt cứ như người Việt là những người kém cỏi và xấu xí nhất thế giới này? Chúng ta đã đi từ cái nhất này đến cái nhất khác một cách dễ dàng. Trạng thái này cho thấy sự bất ổn về nhân cách của chúng ta.
Thế giới đang quá nhiều bất ổn. Mỗi quốc gia có những sự bất ổn khác nhau như bất ổn kinh tế, bất ổn chính trị, bất ổn giáo dục, bất ổn tôn giáo hay bất ổn môi trường… Bất ổn nào cũng là vật cản đường cho sự phát triển của một quốc gia.
Nhưng sự bất ổn về nhân cách là sự bất ổn nguy hiểm nhất. Một trong những vấn đề của sự bất ổn về nhân cách là việc không xác lập được mình là ai. Khi không xác lập được mình là ai thì con người đó, quốc gia đó không có cơ hội phát triển và hoàn thiện mình.
Những gì mà dân tộc Việt Nam tạo dựng trong suốt chiều dài lịch sử của mình đã cho chúng ta một nền tảng đầy đủ để đứng dậy kiêu hãnh và bước đi vững vàng.
Điều còn lại là chúng ta có biết đứng dậy và biết bước đi hay không mà thôi.

 

 

 Việt Nam đứng áp chót trong bảng xếp hạng “Quốc gia đáng sống” của LHQ

  Việt Nam áp chót bảng xếp hạng “Quốc gia đáng sống” của LHQ

Depplus.vn – Việt Nam đứng thứ 124/125 đất nước được xếp hạng, thấp hơn nhiều các quốc gia ở Đông Nam Á. Trong khi danh hiệu “Quốc gia đáng sống nhất” thuộc về Ireland

Bảng xếp hạng “Quốc gia đáng sống” dùng để đo những đóng góp của mỗi quốc gia cho hành tinh và nhân loại. Có 7 phương diện được xét đến đó là “đóng góp về khoa học công nghệ, đóng góp về văn hóa, đóng góp vào hòa bình và an ninh thế giới, trật tự thế giới, bảo vệ môi trường hành tinh, đóng góp vào sự phồn vinh và bình đẳng của thế giới, đóng góp về y tế sức khỏe. từ văn hóa đến đóng góp để cái thiện hành tình và nâng cao sức khỏe cộng đồng”.

Theo công bố của Liên Hợp Quốc, Việt Nam đứng tứ 124/125 đất nước được khảo sát, chỉ đứng trên Lybia – đất nước bất ổn ở Trung Đông.Cũng theo bảng xếp hạng này Ireland là quốc gia tử tế nhất thế giới. Với tư cách là một trong những điểm đến du lịch hấp dẫn nhất hành tinh, quốc gia này luôn đạt được những thành quả lý tưởng trong việc bảo vệ môi trường, góp phần quan trọng đến sự thay đổi môi trường trên toàn hành tinh theo hưởng tích cực.

Bên cạnh đó, nhờ được hưởng những điều kiện tốt về các dịch vụ an sinh xã hội, người dân Ireland luôn rất hạnh phúc và cởi mởi. Chính vì vậy, khách du lịch khi đến Ireland luôn được chào đón trong bầu không khí thân thiện, nồng ấm.


Bảng xếp hạng này đã đưa ra một gợi ý tuyệt vời cho những người muốn tìm một địa điểm du lịch tốt nhất với không khí trong lành, khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp, an toàn và thân thiện với du khách.
10 đất nước đáng sống nhất trên thế giới bao gồm:

1. Ireland

2. Phần Lan

3. Thụy Điển

4. Hà Lan

5. New Zealand

6. Thụy Sĩ

7. Vương quốc Anh

8. Na Uy

|
9. Đan Mạch

10. Bỉ

Hyo (depplus.vn/MASK)

( Nguồn: vVANDANNNB)

Đăng bởi: Ngô Minh | 28.10.2014

CHÚ CẢNH

Nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh

Nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh về thăm quê lần cuối cùng cô Giáng Hương (người đứng ở giữa)

CHÚ CẢNH

 

Nhà thơ Nguyễn Ngọc Phú

  Tôi gọi ông bằng chú mặc dù ông hơn bố tôi hai tuổi. Lần đầu tiên tôi gặp ông ở trên một cánh rừng Tây Bắc. Hồi đó tôi là một cậu lính tân  binh ở sư đoàn 391 đóng quân ở Thuận Châu (Sơn La). Sư đoàn được giao nhiệm vụ mở con đường chiến lược 279 vì tình hình biên giới phía Bắc lúc  ấy đang diễn biến phức tạp. Do có chút năng khiếu về văn chương nên cán  bộ quân lực sư đoàn rút tôi về ban sáng tác của đội tuyên văn. Một sớm, chúng tôi được đón đoàn nhà văn tạp chí Văn nghệ Quân đội đi thực tế. Trong đoàn có một người thấp đậm, vầng trán rộng và đặc biệt là đôi mắt  mở to tinh anh đầy cá tính với giọng nói đặc sệt miền Trung pha chút giọng  Bắc nhưng tác phong lại rất giản dị, cởi mở và hóm hỉnh. Đó là nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh.

   Ôi, chú Cảnh đó ư? Người mà tôi đã thuộc lòng rất nhiều  bài thơ của ông khi còn đi học phổ thông. Tôi nhớ trước lúc lên đường nhập  ngũ có mấy câu thơ của ông gây ấn tượng trong bài thơ “Mẹ”. Chỉ mấy câu  thơ ngắn mà gói trọn cả ba tâm trạng như một tình huống kịch trên sân khấu. “Ăn đi con, nào đưa cho mẹ xới – Mẹ vẫn giấu con chuyện này xóm dưới – À thôi, chẳng vội để mai sau – Giặc tan rồi nắng đỏ chín buồng cau”. Lại  biết nhà thơ quê ở Hà Tĩnh nên mấy ngày đó tôi quấn quýt bên ông. Hai chú  cháu đồng hương dắt nhau ra suối. Con suối Tây Bắc thật trong chạy lượn lờ dưới những tán cây gạo đỏ mùa tháng ba. Tôi ngập ngừng gửi cho ông mấy  bài thơ ngắn. Sau đó về Hà Nội ông chọn bài thơ “Múa nón ở Mường  Giàng” gửi cho nhà thơ Vũ Từ Trang in ở trang văn nghệ báo Thương nghiệp và nhận nhuận bút mua mấy tập thơ hay gửi lên cho tôi. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 27.10.2014

CHUYỆN “THẰNG CUỘI” DU NAM

CHUYỆN “THẰNG CUỘI” DU NAM

Hạ Đình Nguyên 

 Theo thông báo, Dương Khiết Trì sắp qua Việt Nam. 

 Để tạo nên hòa âm cho chuyến đi của Dương, truyền thanh và báo chí Trung Quốc đồng loạt đăng và phát các bài hướng dẫn dư luận cho Việt Nam. Bài của Viện Nghiên cứu Quân sự Trung Quốc đăng trên báo Thanh Niên Trung Quốc, với tựa đề “Việt Nam không dễ thoát Trung”, và bài phát từ Tân Hoa Xã nói về chuyến đi “cầu hòa” của tướng Phùng Quang Thanh. 

 Nội dung của các lập luận tuyên truyền trên là tái khẳng định tham vọng cố hữu bao lâu nay của họ về chủ quyền Biển Đông và quan hệ khắng khít Việt-Trung trong “đại cục”. Tuy nội dung rất cũ và quá thô thiển đối với công luận Việt Nam, nhưng một mặt cũng có chất quyến rũ. Họ hy vọng là cung cấp nền tảng lý luận để củng cố cho thế lực Việt Nam nào cảm thấy “mến” Bắc Kinh. Trì qua lần này là để gia cố lập trường của họ. Các luận cứ xin được trích gọn mấy điểm chính như sau:

 (http://giaoduc.net.vn/Quoc-te/Vien-Khoa-hoc-Quan-su-Trung-Quoc-Viet-Nam-khong-de-thoat-Trung-post151488.gd

 1. Khẳng định mối quan hệ mật thiết và toàn diện.

Họ nói: 

Mối quan hệ giữa hai nước, hai đảng vì cùng ý thức hệ, từng vừa là đồng chí vừa là anh em, ngoài kênh ngoại giao bình thường giữa 2 quốc gia, còn kênh đối ngoại liên lạc giữa 2 đảng, 2 quân đội và nhiều cơ quan ban ngành 2 nước. Là “xu thế lớn phù hợp lợi ích hai nước”. 

 Qua nội dung trên, Trung Quốc tự tin về mối quan hệ rất sâu và toàn diện mà họ cho là đã đạt được, với thế mạnh bao trùm trong nội bộ Việt Nam. 

Điều này có nên xem là họ hoàn toàn nói dối? Và có ăn khớp với nội dung trong “Thông báo chung” mà TBT Nguyễn Phú Trọng đã ký kết cùng Hồ Cẩm Đào trong mục tiêu “đại cục” của họ? Trong bài viết này họ dùng từ “xu thế lớn”. Việt Nam có đồng tình hay không? Câu trả lời thuộc về TBT Nguyễn Phú Trọng. 

 2. Lấy kinh tế làm trục chính.

Họ nói: 

Việt Nam đã “học tập” Trung Quốc mà “mở cửa” từ sau 1990 – (cái mốc Thành Đô?) nền kinh tế của hai nước phát triển và đương nhiên là “phụ thuộc lẫn nhau”, nhưng vì (VN) sai lầm ở Biển Đông mà thành “Đối đầu với Trung Quốc”, từ đó đưa đến ý muốn “Thoát Trung” từ Chính phủ và các doanh nghiệp Việt Nam (?). Nhưng – họ nói tiếp – quan hệ kinh tế đặc biệt đó của Việt – Trung không phải do sức người có thể xoay chuyển, mà là kết quả tất yếu của sự phát triển nền kinh tế thị trường 2 nước trong nhiều năm qua. Vì đặc điểm riêng, kinh tế Việt Nam trở thành trọng điểm cho các hoạt động đối ngoại mà Việt Nam cần lấy đó làm trục chính trong quan hệ ngoại giao với các nền kinh tế lớn trên thế giới. 

 Ý tứ của đoạn này cực hiểm nhưng không phải là không nhận ra: Gọi tư tưởng “Thoát Trung” với chủ thể là “Chính phủ và doanh nghiệp”, chứ không nói là của Đảng hay nhân dân Việt Nam, đồng thời đe dọa “không sức người có thể xoay chuyển…”.  Họ chỉa mũi nhọn vào tiếng nói thoát Trung là từ “Chính Phù” (lộ rõ là nói ai). Như thế, về mặt tư tưởng họ đã chủ động gây mâu thuẩn, thẳng thắn và mạnh mẽ đưa đao “xẻ dọc Trường Sơn” để thao túng!

Họ lại khuyên Việt Nam lấy nền kinh tế “phụ thuộc lẫn nhau” này làm trục xoay cho chính sách đối ngoại với các nền kinh tế khác, chứ không phải thay đổi nền kinh tế thành đa phương và chủ động của Việt Nam, nhằm thoát khỏi phụ thuộc toàn diện vào Trung Quốc, mà họ khẳng định “không sức người có thể xoay chuyển…”. Họ muốn kiềm giữ nền kinh tế Việt Nam đang suy thoái trong vòng ảnh hưởng mà họ đang chi phối toàn diện.

Ai cũng biết nền kinh tế Việt Nam hôm nay là cái hồ chứa rác như thế nào của Trung Quốc. Theo hướng chỉ đạo này, ít nhất là ý nghĩ, hay ý chí chủ quan của họ, thì Việt Nam không khác gì một phần lãnh thổ thuộc Trung Quốc. 

Lại hóa ra, Việt Nam cũng đã “bắt chước” Trung Quốc đổi mới, từ sau cuộc họp Thành Đô 1990? 

Họ đã nói ngược. Chính vì “Thành Đô” mà cuộc đổi mới của Việt Nam phải khép lại, để trở thành nền kinh tế khốn cùng như hôm nay. 

Tội đồ lại trơ trẽn vỗ ngực lập công! 

 3 -Quan hệ Việt – Mỹ là không đáng tin cậy.

(Họ nói) 

Trong quan hệ Việt- Mỹ: Họ nhấn mạnh về sự khác biệt về chế độ chính trị và ý thức hệ là hãy còn đó, lại khác nhau cách nhìn cuộc chiến tranh Việt-Mỹ và quan niệm về nhân quyền.

Họ khẳng định: Việt Nam chỉ là vòng ngoài cùng trong hệ thống đồng minh của Mỹ, Ukraine là một bài học, Mỹ không kịp trở tay khi có chuyện gì xảy ra. (Ý là nhắc lại bài học 1989 mà Trung Quốc đã từng dạy?). Việc Mỹ bán vũ khí cho Việt Nam là vì Mỹ muốn kiếm tiền, và dù cho như vậy, cũng không ngăn được sự phát triển của Trung Quốc. 

 

Đoạn này đã rõ, họ khuếch đại, khai thác sự khác biệt Việt-Mỹ để gây mâu thuẩn.

Từ lâu, họ ra sức ngăn cản sự xích lại gần Mỹ của Việt Nam, nhất là sau vụ giàn khoan và Biển Đông. Họ không muốn Việt Nam trở thành một nước độc lập và dân chủ, không cho phép Việt Nam từ bỏ ý thức hệ xảo trá áp đặt, đang đi ngược lại ý chí của nhân dân Việt Nam, và cũng là ý chí của nhân dân Trung Quốc (Hong Kong đang là biểu tượng). 

  

4- Chuyến đi của Tướng Phùng Quang Thanh.  

( http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-Quoc-phong/Bai-bao-noi-ve-Dai-tuong-Phung-Quang-Thanh-cua-Tan-Hoa-xa-post151478.gd) 

 

Bài báo cũng tường thuật chuyến đi vừa rồi của tướng Phùng Quang Thanh trong dịp chuẩn bị Trì sắp qua này.

Có 2 nội dung chính:

- Kể về binh nghiệp rất dài và thành tích đầy đủ của tướng Thanh trong chiến tranh chống Mỹ theo hướng ca ngợi, kể cả thành tích việc tướng Thanh đã cho giảm số quân để xây dựng “tinh binh” (tinh và gọn), và các thành tích hiện đại hóa quân đội… Ý lộ rõ ràng, là muốn nâng cao/xác lập thêm uy tín cho tướng Thanh đối với nhân dân Việt Nam.

- Nội dung thứ hai là kín đáo nhắc nhở cho tướng Thanh thấy rõ sự khác biệt Mỹ-Việt về ý thức hệ, thể chế, rằng Mỹ bán vũ khí chỉ là nhu cầu “tái cân bằng” của Mỹ, rằng Việt Nam chỉ nên chơi với Mỹ ở mức đủ để “giữ thăng bằng”, mong chen tìm chút lợi ích từ Mỹ và các nước khác, chớ bước xa hơn, vì mối quan hệ đó là “không đáng tin cậy”. 

  

Bài viết về tướng Phùng Quang Thanh có ý nhấn mạnh quan hệ Việt-Mỹ là “không đáng tin cậy”, cho ta thấy bài báo đã bày tỏ là “khá đáng tin cậy” tướng Thanh.       

Bây giờ trong quán xá, người ta hỏi nhau: Tướng Phùng Quang Thanh, thật ra là ai vậy? 

Câu trả lời được rút ra qua bài báo! 

  5- Các kết luận.

(Họ nói) 

- Việt Nam và Trung Quốc không có tranh chấp ở Biển Đông. Trung Quốc đã “nhẫn nhịn đến kinh người”, và kiên quyết khẳng định “Biển Đông thuộc về Trung Quốc từ thời cổ đại, không có tranh chấp nào giữa Trung Quốc và Việt Nam mà vì Việt Nam tham dầu đã liên tục đánh chiếm các đảo”.  Bắc Kinh “kiên định không lay chuyển trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, quyền lợi hàng hải của mình ở Biển Đông”.

 

Đoạn này có lẽ không cần bàn cãi. Việt Nam có câu: “Thà nói với đầu gối còn hơn!”.

 

 

KẾT LUẬN CỦA KẾT LUẬN 

Có lẽ, không người Việt Nam nào mong muốn chờ xem Dương Khiết Trì sắp qua nói gì! Mà chỉ mong muốn chờ xem thái độ, tư tưởng của những người nghe Trì nói.

Điều đó sẽ thẩm định mức độ nói dối của Thằng Cuội, và biết ai là những kẻ thích nghe lời Thằng Cuội nói dối. Nhưng e rằng, và cũng khốn nạn thay, nếu Thằng Cuội đã nói lên một phần sự thật?

Để tự “giữ thăng bằng” cho mình, tôi có ý nghĩ lãng mạn rằng, Mỹ khuyên (hoặc cùng cùng bàn bạc – cho oai) Việt Nam nên “nhẹ nhàng” với Trung Quốc, chờ đợi để “dìu dắt” nhân dân Trung Quốc cùng đi theo hướng dân chủ hóa, và mềm lại, đừng có nôn nóng!                                                     

Chỉ e một nỗi, kẻ dắt thì tụt phía sau, người được dẫn phía sau lại đang ở phía trước.               

25-10-2014

H.Đ.N.

Nguồn: BVN

 

JOHANN WOLFGANG VON GOETHE

 GIẢ MÃ 1/2000 BỨC THƯ GỬI CHO NGƯỜI TÌNH CỦA JOHANN GOETHE

 Nguyễn Văn Hoa

Trên vietvanmoi.com đã giới thiệu Tập thơ dịch từ tiếng Đức , do đồng dịch giả DIỆP PHƯƠNG CHI & NGUYỄN VĂN HOA http://newvietart.com/index1.3876.html;

Nay QTXM, xin giới thiệu bài viết “GIẢ MÃ 1/2000 BỨC THƯ GỬI CHO NGƯỜI TÌNH CỦA JOHANN WOLFGANG VON GOETHE” của tiến sĩ, nhà văn Hà Nội Nguyễn Văn Hoa, hy vọng giúp độc giả yêu thơ Đức hiểu thêm về tính trữ tình của nó ;

1       NGƯỜI GỬI 2000 BỨC THƠ

Đó là Johann Wolfgang von Goethe; Ông được tôn vinh là nhà thơ số 1 của Đức .Ông được người Đức yêu quý như ở ViệtNam yêu quý  Nguyễn Du tác giả Truyện Kiều ;

Nhà thơ sinh ngày 28 tháng 8 năm 1749 ở Frankfurt am Main mất ngày 22 tháng 3 năm 1832 ở Weimar, Hưởng dương 83 tuổi;

Sinh thời ông  là một nhà thơ, người quản lý nhà hát, nhà khoa học, nghệ thuật  và chính khách.

Một trong những dấu ấn độc đáo của ông với độc giả thơ , đó là ông đã để lại 2000 bức thư gửi cho một người tình

2-NGƯỜI NHẬN 2000 BỨC THƠ TÌNH

Người nhận 2000 bức thư này là Nam tước phu nhân Charlotte Von Stein;

2000 bức thơ này hiện còn được lưu giữ ở bảo tàng Schiller và Goethe tại Weima. (Rất ngẫu nhiên tôi ( NVH ) cũng đã đến thăm bảo tàng này );

Nàng có nguồn gốc từ Scotland

 

Nàng có chồng là Friedrich Freiherr von Stein ( 1735-1793 ); Đây không phải là một cuộc hôn nhân vì tình yêu , người chồng của nàng (hôn nhân không có tình yêu ) là Nam tước Von Stein, lãnh đạm bủn xỉn , ngạo mạn và , chỉ chăm chút đến các chuồng ngựa và lãnh địa trù phú của mình, chẳng còn giây phút nào dâng hiến tâm hồn cho vợ

Nàng đã sinh bảy người con. Bốn cô con gái đã chết , ba chàng trai ( Karl Ernst , Fritz ) sống sót. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 26.10.2014

CHO LOAN CẢ TRỜI- THƠ NGUYỄN HƯNG HẢI

NGUYỄN HƯNG HẢI

 QTXM- Vừa nhận đượcchùm thơ của nhà thơ Nguyễn Hưng Hải ở Đền Hùng gửi về. Bài nào tác giả cũng ghi địa chỉ nàng thơ mà mình tặng tăng, ghi ngày giờ ngày tháng làm bài thơ. Ấy là đang yêu đấy. Thơ của người đang yêu vụng về, sôi nổi như thế nào, mời bạn yêu thơ cùng chia sẻ. NGÔ MINH

 CHO LOAN CẢ TRỜI

Tặng Phạm Kim Loan

       (K32 – Khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp, Hà Nội)

Nhớ em… anh rất nhớ em

Ngày không dám đến mà đêm thì…thì…

Cách nhau có một đề thi

Cách nhau cả những gì…gì… cách ngăn

Cái ngày thị xã trăm năm

Mùi hương long não vầng trăng đang tròn

Câu thơ anh viết có buồn

Bao năm em giữ vẫn còn thấy vui

Anh như cái hạt bị vùi

Cái cây mất ngọn không chồi được lên

Bàn tay em có ấm mềm

Xóa đi cổ tích hão huyền nghìn năm

Cản làm sao được mà ngăn

Đứt rồi chỉ vẫn đi bằng đường kim

Em là trong mộng cánh chim

Nghìn đêm không gặp vẫn nghìn đêm mơ

Sông không thể chỉ một bờ

Tròn đầy nào chẳng lờ mờ khuyết hao

Anh như đang ở kiếp nào

Cách em có một bờ rào lính canh

Bờ rào em đứng cách anh

Không hoa không nhụy mới thành trái ngang

Trèo rào chẳng có gì mang

Thì mang thơ đến cho loan cả trời…

 

Việt Trì, 9h19’ ngày 09/09/2014 (Đọc tiếp…)

10 ĐIỀU BẤT NGỜ VỀ CHUYỆN ÁI TÌNH CỦA VUA BẢO ĐẠI.


CHUYỆN ÁI TÌNH CỦA VUA BẢO ĐẠI.
1. Ngoài Nam Phương Hoàng hậu là vợ chính thức, Bảo Đại còn có đến… 7 bà vợ khác đã sống cùng ông trong những khoàng thời gian dài ngắn khác nhau. Ngoài 8 bà vợ ra, số tình nhân của Bảo Đại là không thể thống kê nổi.
2. Bảo Đại mắc chứng nghiện tình dục. Tác giả Pháp Daniel Grandclément cho biết sở thích hàng đầu của vua Bảo Đại là đuổi theo những người đàn bà đẹp. Vua thẳng thắn bộc lộ sự ham muốn của mình như sau: “Luôn có nhu cầu đối với đàn bà, một thứ nhu cầu thường xuyên không thể dập tắt được như đồ ăn thức uống. Từ khi đến tuổi lớn, đêm nào cũng phải có một người đàn bà nằm bên, mỗi đêm một người”.
3. Không chỉ mặn nồng chăn gối với những người đẹp Việt Nam , Bảo Đại còn chung đụng với cả phụ nữ Trung Quốc, Pháp, Nhật Bản, Châu Phi v..v.
4. Nổi tiếng đa tình, nhưng Bảo Đại đã hứa với Nam Phương Hoàng hậu rằng sẽ… chung thủy một vợ một chồng đến hết đời. Dĩ nhiên, Bảo Đại không thể nào thực hiện được lời hứa này.
5. Theo tác giả Pháp Lucien Bodart, do nổi máu ghen, bà Nam Phương từng lên kế hoạch bắn chết Bảo Đại cùng tình nhân ngay tại “hiện trường”. Dư luận còn đồn đại Bảo Đại từng bị một ông Tây bắn gãy chân trong lần lên Tây nguyên “hú hí” với bà vợ của ông này.
6. Những năm cuối đời, thứ phi Mộng Điệp – người vợ thứ 2 của Bảo Đại đã tiết lộ rằng bà say mê Bảo Đại không phải vì chiếc ngai vàng, mà vì năng lực phòng the tuyệt đỉnh của ông.
7. Theo nhà Huế học Nguyễn Đắc Xuân thì Bảo Đại không phải là con của ông vua bất lực Khải Định. Mẹ ông là bà Từ Cung đã lén quan hệ với ông Hường Đ. một tay cự phách về chuyện phòng the, nên Bảo Đại cũng giống nòi tình của cha đẻ.
8. Người Pháp phải chịu trách nhiệm phần nào cho thói đa tình của Bảo Đại. Được đưa sang Pháp sinh sống và học tập từ nhỏ, ông đã chịu ảnh hưởng lớn của nền văn hóa Pháp, và rất có thể là cả thói phóng đãng nổi tiếng của người Pháp.
9. “Thần dược cường dương” giúp Bảo Đại có thể lực phi thường không phải các vị thuốc truyền thống mà là thể thao. Hầu như môn thể thao quý tộc nào Bảo Đại cũng là tay chơi có hạng. Ông chơi môn nào cũng giỏi, cưỡi ngựa điêu luyện, chơi golf, tennis giỏi như một quán quân hàng tỉnh, bơi thuyền thì như một vận động viên Olympic.
10. Bảo Đại xứng đáng đứng trong danh sách những nhân vật đa tình nổi tiếng nhất thế giới, theo bình luận của một người thân thiết với ông: “Con người Bảo Đại có một phần mười của Farouk, hai phần mười của Machiavel và bảy phần mười của Hamlet… Ông đã dan díu với đủ hạng người, từ cô hầu phòng bình thường, vợ của các gia nhân đầy tớ, hoa hậu Đông Dương đến gái nhảy, thậm chí gái điếm…”.

Theo KIẾN THỨC

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 25.10.2014

Em ước mơ về một nền giáo dục khác

Em ước mơ về một nền giáo dục khác

Xuân Anh( học sinh lớp 12)

QTXM ( qua Dân Luận) xin chia sẻ với bạn đọc những dòng tâm sự của 1 em học sinh đang học lớp 12, về mơ ước được học tập trong một nền giáo dục tự do tư duy và tư tưởng, phải chăng Việt Nam đang giáo dục học sinh bằng những bài học vô vị, sáo rỗng. Biến học sinh thành những cỗ máy rập khuôn, mà không quan tâm chú trọng đến sự phát triển tư duy, sáng tạo riêng cho các em? Bài viết đã được đăng trên báo Tuổi Trẻ với tên Thiện Thanh.

Ngay từ khi còn bé, em đã ham đọc sách, thích tìm tòi. Em luôn tự hào về những gì em biết. Nhưng sự thật lúc nào cũng phũ phàng…

Mọi chuyện bắt đầu từ bài văn năm lớp 6, cô giáo cho em viết một bài văn về một tấm gương cảm động mà em biết. Em viết bài đó rất hay và tốn nhiều công sức chỉnh sửa. Cuối cùng em cũng được đọc nó trước lớp. (Đọc tiếp…)

 

Giữ Trường Sa trước tham vọng bá quyền –  Những cuộc đối đầu căng thẳng

  

(TNO) Giai đoạn cuối 1986 đến tháng 3.1988 là quãng thời gian đối đầu căng thẳng giữa ta và các lực lượng nước ngoài âm mưu chiếm đóng các đảo ở Trường Sa. Trong đó, tàu Trung Quốc nguy hiểm và hung hãn nhất.

 

Tàu chiến Trung Quốc (bên phải) cắt mũi khiêu khích tàu vận tải của ta trên vùng biển Cô Lin - Len Đao, tháng 5.1988 - Ảnh: Nguyễn Viết Thái
Tàu chiến Trung Quốc cắt mũi khiêu khích tàu vận tải của ta trên vùng biển Cô Lin – Len Đao, tháng 5.1988

“Tàu Trung Quốc xuống, bắn chìm 2 – 3 cái”

Thượng tá Lê Văn An (nguyên Chỉ huy trưởng khu vực, Lữ đoàn 146, Vùng 4 Hải quân) vẫn nhớ như in tháng 10.1987. Khi đó, ông mới học xong lớp bổ túc cán bộ chỉ huy – Tham mưu Binh chủng hợp thành, Học viện Lục quân và tiếp tục nhận nhiệm vụ Đảo trưởng Trường Sa. Trong 1 chuyến công tác ra đảo, ông được Tư lệnh Giáp Văn Cương giao nhiệm vụ: “Tàu Trung Quốc nó xuống đây, cậu bắn chìm cho tớ 2 – 3 cái nhé!”.

Đảo trưởng An thật thà: “Nếu trong đất liền, giao bắn bao nhiêu xe tăng – quân lính, tôi cũng bắn được, vì đó là mục tiêu “động trong tĩnh”. Nhưng với mục tiêu tàu, tôi mới học chỉ huy binh chủng hợp thành về, nhiệm vụ này sợ không hoàn thành, cùng lắm chỉ bắn bị thương 1 – 2 chiếc thôi”. Tư lệnh Cương vỗ vai: “Cũng được, nhưng phải bắn trúng!”.

“Từ đầu năm 1986, anh em chỉ huy đã dự đoán sẽ có đụng độ ở Trường Sa”, thượng tá Lê Văn An kể lại và minh chứng: “Nhìn từ khâu huấn luyện bộ đội cho đến việc trang bị vũ khí – khí tài chiến đấu là biết ngay”.

 

Mộ liệt sĩ hy sinh tại Trường Sa, tháng 5.1988 (NVT)
Mộ liệt sĩ hi sinh tại Trường Sa, tháng 5.1988

 

Quả thật, từ tháng 10.1987, hoạt động của nước ngoài trên các đảo ở khu vực Trường Sa gia tăng đột biến. Nhiều tàu giả dạng đánh cá liên tục tiếp cận các đảo Sinh Tồn, An Bang, Đá Tây, Song Tử Tây, Trường Sa Đông…

Từ 16.5 – 6.6.1987, hải quân Trung Quốc tập trận. Ngày 14.12, Trung Quốc đưa đoàn tàu đánh cá gồm 14 chiếc xuống hoạt động thăm dò và đặt bia kỷ niệm ở 1 đảo. Giữa tháng 10 – 11.1987, Trung Quốc cho tàu Hải Dương 4 và một số tàu chiến đi qua khu vực đảo An Bang, Thuyền Chài, Trường Sa Đông, Trường Sa, Song Tử Tây (có lúc đi sát đảo của ta khoảng 1 hải lý)…

Ngày 24.10.1987, các đảo Trường Sa chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu, tránh âm mưu khiêu khích. Đồng thời, Lữ đoàn 146 cũng nhận nhiệm vụ nhanh chóng đóng thêm 4 đảo (Tiên Nữ, Đá Lớn, Đá Tây, Chữ Thập).

Ngày 28.10.1987, tàu HQ-613 đưa một lực lượng công binh, phân đội chiến đấu ra đóng giữ đảo Đá Tây. Ngày 30.10 bộ phận chiếm đảo Đá Tây đã lên đảo làm nhà bạt, tàu HQ-613 neo ngoài để bảo vệ. Tuy nhiên, do sóng to gió lớn, tàu phải chở lực lượng Đá Tây về Trường Sa Đông.

Đến 27.11, bộ đội lại trở về trực ở đảo Đá Tây. Do nhiều lần sóng to tràn lên đảo, không đảm bảo an toàn, anh em phải về căn cứ Cam Ranh. Ngày 28.12.1987, tàu HQ-604 đưa bộ đội và vật liệu xây dựng ra đóng giữ và làm nhà cấp III ở đảo Đá Tây, đến ngày 18.8.1988 mới xong.

Với 3 đảo còn lại, kế hoạch đóng giữ theo dự kiến cũng bất thành, do thời tiết quá khắc nghiệt.

Đối mặt

Đầu tháng 1.1988, Đảng ủy Quân chủng Hải quân nhận định: “Tình hình trên biển ngày càng phức tạp, Trung Quốc sẽ tăng cường hoạt động, thăm dò, trinh sát, tranh chấp chủ quyền, xâm chiếm một số đảo chìm xen kẽ với các đảo của ta hoặc hoạt động vũ trang khiêu khích đánh chiếm một số đảo của ta”.

 

 Tư lệnh Hải quân Giáp Văn Cương bắn đạn thật, kiểm tra vũ khí của bộ đội Thuyền Chài, tháng 5.1988 (NVT)
Tư lệnh Hải quân Giáp Văn Cương bắn đạn thật, kiểm tra vũ khí của bộ đội Thuyền Chài, tháng 5.1988

 

Đảng ủy chỉ rõ: “Nhiệm vụ bảo vệ vùng biển và quần đảo Trường Sa là nhiệm vụ quan trọng nhất và cũng vinh quang nhất trong năm 1988”.

Hoạt động đóng giữ các đảo lại gấp rút triển khai. Ngày 23.1.1988, tàu HQ- 613 chở lực lượng, vật liệu ra đóng giữ, triển khai làm nhà cấp III ở đảo Tiên Nữ, đến 6.2.1988 hoàn thành và bàn giao cho bộ đội đóng giữ đảo. Ngày 27.1.1988, tàu HQ-611 và HQ-712 do Lữ trưởng 146 Phạm Công Phán làm Biên đội trưởng và trung tá Nguyễn Văn Dân, tham mưu phó Vùng 4, làm biên đội phó, đưa 1 đại đội công binh và 2 khung đóng giữ đảo đi làm nhiệm vụ.

 

Bữa ăn trong giờ trực chiến của khẩu đội pháo trên đảo Phan Vinh, tháng 3.1988 (NVT)
Bữa ăn trong giờ trực chiến của khẩu đội pháo trên đảo Phan Vinh, tháng 3.1988

 

Ngày 30.1.1988, lữ trưởng Phán chỉ huy 2 tàu, từ Trường Sa Đông về đóng giữ đảo Chữ Thập (lúc này trung tá Nguyễn Văn Dân đi với HQ-07, làm nhiệm vụ tại Đá Lớn).

6 giờ ngày 30.1.1988, khi cách đảo Chữ Thập khoảng 5 hải lý, có 4 tàu chiến Trung Quốc ra ngăn cản không cho tàu ta tiếp cận đảo (có lúc chỉ cách tàu ta 300 mét) nên 2 tàu ta phải quay về Trường Sa Đông.

Từ tình hình này, Quân chủng Hải quân ra lệnh: “Nêu cao cảnh giác sẵn sàng chiến đấu. Khi gặp tàu địch, tránh khiêu khích, bình tĩnh xử lý tình huống. Nếu địch nổ súng vào ta, thì kiên quyết đánh trả”.

Ngày 5.2.1988, tàu HQ-611 và HQ-712 cơ động đến Đá Lát, đổ bộ, triển khai làm nhà cấp III, đến 20.2.1988 thì xong và giao cho bộ đội bảo vệ đảo.

 

Công binh Hải quân xây dựng, củng cố đảo Phan Vinh, tháng 5.1988 (NVT)
Công binh Hải quân xây dựng, củng cố đảo Phan Vinh, tháng 5.1988

 

Ngày 13.2.1988, tàu HQ-505 kéo LVC-556 chở công binh, ra phối hợp với HQ-671 và HQ-701 đóng giữ đảo Đá Lớn (tàu HQ-07 cùng xây dựng và bảo vệ). HQ-505 cũng đến Trường Sa Đông, nhưng do sóng to gió lớn, tàu bị đứt 2 neo nên phải quay về.

Ngày 15.2.1988, HQ-701 được lệnh ủi bãi phía Tây Nam Đá Lớn. Tàu HQ-671 cũng ủi bãi, nhưng máy bị hỏng, phải neo đậu. HQ-505 đến Đá Lớn ngày 17.2 và đưa LVC-556 vào bãi cạn phía Nam Đá Lớn, để công binh triển khai làm nhà cấp III, đến ngày 13.3 hoàn thành.

Ý định của ta là khảo sát và đưa lực lượng đóng giữ Châu Viên từ 13.2.1988; sử dụng tàu HQ-851 khi cần cho ủi bãi để giữ đảo. Ngày 18.2, cả 2 tàu HQ-851 và HQ-614 cùng tiến hành khảo sát đóng giữ, nhưng do sóng quá to, tàu rê neo, tàu Trung Quốc ép tàu ta liên tục. Ngày 19.2, tàu HQ-851 lại hỏng máy, nên ta không thực hiện được kế hoạch đóng giữ Châu Viên.

Đại tá Nguyễn Văn Dân, nguyên Phó tham mưu trưởng Vùng 4 Hải quân, khẳng định: “Nếu tối 18.2, ngày 19.3.1988 mình không linh hoạt, cứ dập dình với mấy tàu của Trung Quốc, thì không lên được Đá Đông, đâm ra mất cả Châu Viên lẫn Đá Đông”.

Ông nhận định: “Đá Đông quan trọng hơn Châu Viên nhiều. Nó dài, có hồ trong đó, tàu bè vào trong đó đậu bình thường”. (Còn tiếp)

 

“Sáng 18.2.1988 là mùng 2 Tết, nhóm 9 anh em từ tàu HQ-614 đổ bộ lên Châu Viên cắm cờ. Vừa cắm xong thì gió mùa Đông bắc ùa về, kèm nước lớn khiến tàu HQ-614 bị trôi neo, tách khỏi đảo. Lúc này trời đã tối, tàu phải nổ máy chạy cạnh đảo, tìm cách kéo anh em ra.

Nửa đêm, Tư lệnh Hải quân ra lệnh: Sáng mai bằng mọi giá phải lên Châu Viên. Buổi sáng chuẩn bị lên thì 4 tàu chiến Trung Quốc kéo đến, quay pháo đe dọa nổ súng, khiến ta không lên được. Lúc ấy chúng tôi nghĩ Châu Viên là đảo nhỏ, không quan trọng bằng giữ Đá Đông, Đá Tây, Đá Lớn, Tốc Tan (những đảo lớn từ vài cây đến 30 km vuông). Thêm nữa, lực lượng của mình mỏng, phải tập trung vào các đảo lớn, không thể triển khai đến tất cả các đảo, bãi ngầm nhỏ”.

(Đại tá Nguyễn Văn Dân, nguyên Phó Tham mưu trưởng Vùng 4 Hải quân)

( Nguồn :thanhnienonline)

 

 Lần đầu tiên công bố: Phóng sự:  “Việt Nam nhìn từ bên trong” của G. Márquez, viết sau chuyến thăm Việt Nam tháng 7-1979 

 Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, giới thiệu/Viet- studies

Nhà văn Triệu Xuân: Cách nay bốn năm, khi làm tư liệu để chuẩn bị tái bản một số tiểu thuyết danh tiếng của Gabriel Garcia Marquez, Nobel Văn học 1982, tôi đọc được thông tin sau: “Nhà văn Gabriel Garcia Marquez cùng với vợ và hai người con trai đã đến thăm Việt Nam vào giữa tháng 7/1979. Trong gần một tháng ở Việt Nam, ông đã đi thăm nhiều nơi, gặp gỡ nhiều giới chức và người dân ở các địa phương tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Vũng Tàu. Tại Hà Nội ông tiếp xúc với Hội Nhà văn Việt Nam, làm việc với Bộ ngoại giao và được Thủ tướng Phạm Văn Đồng tiếp và nói chuyện thân tình.
Sau chuyến đi ấy, trở về Mexico, nơi ông định cư từ đầu những năm 60 thế kỷ trước, Marquez đã viết thiên phóng sự dài “Việt Nam nhìn từ bên trong” (Vietnam por dentro) đăng trên báo Proceso. Bài phóng sự đó của Marquez viết về tình hình Việt Nam thời kỳ sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đó là thời gian mà Việt Nam gặp nhiều khó khăn về kinh tế, xã hội, chuyện về người ra đi bằng thuyền đang là vấn đề nổi cộm trên truyền thông quốc tế lúc đó. Nhưng Marquez, vốn là một nhà báo bậc thầy giàu kinh nghiệm, nên ông có cách tiếp cận và xử lý thông tin một cách khách quan và cân bằng đối với đề tài nhạy cảm ấy.  

 Chân thành cám ơn nhà báo, nhạc sỹ Trần Lê Quỳnh đã giúp tôi tìm được thiên phóng sự Việt Nam nhìn từ bên trong của nhà tiểu thuyết lừng danh mà tôi rất yêu thích! 

   Việt Nam nhìn từ bên trong” (Vietnam por dentro)

 Gabriel Garcia Marquez

Đấu tranh để giành lại đất nước bị tàn phá, Việt Nam lại phải đối mặt với một Trung Quốc thù địch và sự đe dọa từ kẻ thù ở bên trong. (Đọc tiếp…)

Nhà văn Nguyễn Khắc Phê

 Nợ công và gánh nặng trên vai đại biểu Quốc hội

Nhà văn Nguyễn Khắc Phê

Trước thềm kỳ họp Quốc hội lần này, báo “Tuổi trẻ” (TT) có sáng kiến cho đưng loạt bài Nhà Quốc hội “Trời tròn đất vuông”; nhờ đó, dân chúng được chiêm ngưỡng phần nào công trình “có một không hai” để sánh cùng nhà Quốc hội các nước. Bây giờ, khi tòa nhà đã hoàn thành, nói chuyện “nên hay không nên” và cả sự bình phẩm này nọ, có lẽ không ích gì. Chỉ cầu mong công trình được thiết kế và thi công theo tiêu chuẩn “G7” quốc tế sẽ trường tồn trên khu đất vàng lịch sử Thăng Long-Hà Nội, chứ không xảy ra những sự cố nứt lún như con đường cao tốc Hà Nội- Lào Cai vừa khánh thành hay như không ít các công trình hoành tráng trên đất nước ta trong những năm qua không thể không nghĩ đến khoản nợ xấu và nợ công khổng lồ đang là gánh nặng không chỉ có thể làm “nứt lún” một công trình mà cả nền kinh tế đất nước. (Đọc tiếp…)

Tìm hiểu chính sách đào tạo lớp trí thức mới của nhà nước Nga Xô Viết để hiểu trí thức được đào tạo ở Hà Nội sau 1954

 VƯƠNG TRÍ NHÀN

  Tập tiểu luận  Về trí thức Nga ( La Thành và Phạm Nguyên Trường dịch, nxb Tri thức H. 2009)  gồm có nhiều bài viết xuất sắc
+ Chân lý của triết học và sự thật của người trí thức 
+ Khủng hoảng trí tuệ và sứ mệnh của tầng lớp trí thức cả hai cùng của  tác giả N.A. Berdaev 
+ Tầng lớp kỹ giả — Alekssandr Solzhenítsyn
+ Phẩm tính trí thức – Dmitri Likhachev
Riêng bài Bàn về  số phận của tầng lớp có học ở Nga của Sergey Kirilov thì bàn sâu vào lớp trí thức Nga sau 1917. Tầng lớp này  đã được quan niệm như thế nào, nhà nước xô viết đã hình thành họ theo những cách thức ra sao, tại sao giới trí thức Nga  lại có bộ mặt như chúng ta đang thấy, tại sao trong thời đại mới,  đa số những người này dừng lại ở cái trình độ thảm hại và kèm theo  những suy đồi  về đạo đức quá rõ so với trí thức Nga trước Cách mạng.
Chúng tôi lược thuật  bài này, cốt để các bạn xa gần qua đó, từ trí thức Nga sau 1917, có thể hiểu thêm về lớp trí thức được đào tạo ở Hà Nội sau 1954.
Trong cơn thức tỉnh sau chiến tranh, nay là lúc xã hội thường hay chê trách lớp trí thức này về mọi mặt.  Nhưng nếu hiểu được người trí thức ở ta là thế và được nhào nặn như thế, chúng ta sẽ độ lượng với họ hơn với nghĩa… bớt hy vọng ở họ hơn.
Cũng như ở các nền văn hóa khác, nền văn hóa Nga trước 1917 mang tính thượng lưu. Lí do, chỉ có một số người có thể làm được việc mà đa số không thể làm nổi. Trí thức nói chung chỉ chiếm tối đa 10%, còn thấp nhất là 2 – 3%. Ở các cộng đồng khác đã vậy, ở Nga trước 1917 cũng vậy.
Đến thời Xô Viết, có một xu thế chỉ đạo việc đào tạo, đó là tạo nên giới tri thức không có sự tách biệt với dân chúng như thời Nga hoàng. Để làm được việc đó, người ta xóa bỏ những chuẩn mực cần thiết, tạo ra một lớp trí thức yếu ớt phàm tục, không có khả năng độc lập mà phụ thuộc nhà nước, do đó sống chết cũng phải trung thành với nhà nước. Tầng lớp trí thức này luôn luôn được bổ sung bởi các bộ phận ít học là quần chúng công nông, cho nên nó chỉ có trình độ rất thấp và một cấu trúc dễ bị phá vỡ.
Từ căm ghét đến tiêu diệt trí thức cũ và thay thế bằng trí thức mới
Chính quyền Xô Viết có một niềm căm ghét đặc biệt đối với nền văn hóa trước cách mạng, tồn tại trong lòng nó một giai tầng có học mang tính hiện đại. Do yêu cầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, những năm đầu, họ phải sử dụng tạm thời lớp trí thức đó, nhưng nhanh chóng tìm cách dần dần thủ tiêu những người này  — cả với nghĩa đen lẫn nghĩa bóng là làm biến chất họ –, thay vào đó là những người của mình.
Cách mạng đặt ra mục đích tiêu diệt trí thức đồng thời tiêu diệt văn hóa cũ.
Mặc dù số trí thức tham gia nội chiến không nhiều, nhưng đại diện của tầng lớp trí thức vẫn chiếm từ 80 – 90% những người chống đối việc thiết lập chế độ Bolsevik. Lúc ấy  một phần lớn trí thức Nga  là người trong quân đội.
Vào năm 1917, tất cả những người có học, trong độ tuổi nghĩa vụ, đều là sĩ quan.
Những người Bolsevik nhận thức rõ kẻ thù thật sự của họ trong cuộc nội chiến không phải là bọn tư sản và địa chủ, mà chính là tầng lớp trí thức có quân hàm hoặc không đeo quân hàm.
Cuộc khủng bố đỏ được tiến hành nhằm vào tầng lớp trí thức ấy.
Các lãnh tụ Bolsevik coi việc giai cấp vô sản đã bẻ gãy được ý chí của tầng lớp trí thức là sự bảo vệ tốt nhất cho thắng lợi của cách mạng trong tương lai. Và cái mục đich cao cả ấy được dùng để biện hộ cho những hành động phản tiến hóa của họ.
Sự đàn áp thô bạo, nạn đói, bệnh dịch – vốn là hậu quả của cách mạng – làm mấy trăm ngàn trí thức thiệt mạng, một số thì lưu vong.
Những người còn sống sót thì bị thù ghét. Họ không có chỗ đứng trong các sơ đồ mác – xit bởi lúc nào cũng làm vướng cẳng các lí thuyết gia mác – xit. Theo quan niệm của những người xây dựng xã hội mới thì trong tương lai tầng lớp này sẽ không còn. Hệ thống giáo dục có mục đích tạo ra “một sự đồng nhất về mặt xã hội” (tương tự  như Việt Nam từng  có khẩu hiệu Trí thức hóa công nông và công nông hóa trí thức — VTN)
Đào tạo lớp người thay thế.
Bùng nổ về số lượng đi đôi với sự hạ thấp chất lượng
Tầng lớp trí thức Nga trước cách mạng có số lượng tương đối nhỏ, khoảng từ 2- 3 triệu người tức khoảng 3% dân số.
 Ngược lại, dưới chính quyền Xô Viết, sự phát triển trí thức lại có tính cách ồ ạt, nhà nước chủ trương một sự phát triến nhanh chóng và giả tạo số người có học.
Tại sao cần vậy?
 Luôn luôn trong giới trí thức cũ, người ta nhận ra những chuyên gia nổi loạn.
Nảy sinh nhu cầu thay thế.
Nhưng cái mà người không thể làm được là chất lượng.
Vậy phải bù vào bằng sự  dư thừa số lượng để tạm an lòng.
Hầu như trong tất cả các giai đoạn lịch sử, người ta đều cố gắng thúc đẩy việc đào tạo các chuyên gia và phát triển hệ thống trường học. Mục đích là “biến tất cả mọi người thành trí thức” và không để cho giai tầng này được hưởng đặc quyền đặc lợi nữa. Tốc độ đào tạo kỹ sư và chuyên gia các ngành khác nhau vượt xa nhu cầu của nền kinh tế và được quyết định chủ yếu bởi nhu cầu chính trị và tuyên truyền.
 Có thể thấy sự gia tăng đột ngột số lượng người có học diễn ra trong những năm 1930 qua các con số – chỉ trong một chục năm lớp người này đã gia tăng gần 300%, riêng số người có bằng đại học và trung học chuyên nghiệp gia tăng 360%.
 Cú bùng nổ thứ hai diễn ra trong những năm 1950 – 1960, lúc đó trong một số ngành tốc độ phát triển lên đến 100% trong có một chục năm.
 Nhưng đặc điểm chung của cả hai giai đoạn bùng nổ này là  lớp tri thức mới có trình độ thấp hơn rất nhiều so với chuẩn mực trên thế giới.
Những trí thức xa lạ với văn hóa
Cuối những năm 80, cả Liên Xô có 87 triệu chuyên gia, trong đó 16 triệu người tốt nghiệp đại học. Sự phình ra một cách vô giới hạn tầng lớp tri thức dẫn đến hiện tượng giả tạo là mặc dù mức độ phát triển khoa học kĩ thuật và văn hóa xã hội của Liên Xô thấp hơn so với các nước phát triển ở châu Âu, nhưng lại đứng đầu về số lượng bác sĩ kỹ sư cán bộ nghiên cứu khoa học. Không chỉ về số lượng tuyệt đối mà Liên Xô còn đứng đầu tỉ lệ trí thức tính theo đầu người. Đồng thời lớp trí thức này lại được trả lương ở mức thấp nhất. Sự thấp kém nói ở đây không phải về giá trị tuyệt đối mà là thấp hẳn so với mức lương trung bình của cả nước.
Trở lại với sự so sánh trí thức cũ và mới. Nét đặc biệt của người trí thức mới là họ phải phủ nhận bản chất tinh hoa của mình. Kết quả là không có gì chung giữa tầng lớp có học hiện nay với lớp tri thức của nước Nga xưa.
Trong xã hội Xô Viết, một người bình thường (không phải nhân vật mà nhà nước đào tạo) gần với văn hóa truyền thống hơn là người có học kiểu Xô Viết.
Người bình thường ấy còn giữ khái niệm về một nền văn hóa chân chính.
Nhưng người bình thường ấy lại không phải là nhân vật chủ đạo của xã hội.
Người có học thời Xô Viết không hiểu gì về người trí thức trước cách mạng, cũng chả hiểu gì về châu Âu và văn hóa cổ điển. Họ bịa đặt ra một số nét đặc thù của văn hóa Nga, mà thực tế chỉ là thứ văn hóa bị hạ thấp và  đứng ngoài mọi chuẩn mực.
Hợp thức hóa tình trạng vô học của giới quan chức.
Không chỉ đẩy mạnh đào tạo và tăng nhanh sinh viên, người ta còn đề cử những người không có bằng cấp làm những việc đòi hỏi trí thức, bằng cách đó tạo ra một sự hỗn loạn mà chỉ chủ nghĩa xã hội mới có.
 Môt đặc điểm của bộ máy quan chức Xô Viết là sự phình ra vô tội vạ. Số lượng nhân viên nhà nước thời Nga hoàng tính tới 1917 là 576.000, tới 1923 – 1925  con số quan chức đã lên tới 2.230.000.
Vấn đề cắt giảm bộ máy phải nói đến thường xuyên, nhưng sát nhập, giải tán… chỉ là trò đùa. Không thể tưởng tượng nổi chế độ Xô Viết mà không có quá trình quan liêu hóa.
Việc làm giảm trình độ giới trí thức nói chung còn được thúc đẩy bởi việc có một số chuyên gia thực hành chỉ học theo lối hàm thụ cũng được đề bạt đặc cách.
Sinh ra hàng loạt chức vụ đòi hỏi đại học, việc này tạo ra đơn đặt hàng giả tạo với ngành giáo dục.
Người ta đòi hỏi có bằng cấp ngay cả khi đó là nghề lao động bình thường (kiểu đại học phòng cháy chữa cháy của Việt Nam VTN).
 Do hệ thống lương bổng quái gỡ, lại sinh ra hiện tượng có những người chỉ làm công việc như công nhân cũng phải xoay sở bằng được lấy bằng đại học, vì chỉ nhờ thế họ mới được tăng lương, — tuy đó chỉ là đồng lương chết đói ( nhưng lại đã là quá cao so với lao động của họ. VTN)
Sự tầm thường đã đến với lớp người  vốn được coi là cao quý
Người ta đã học như thế nào?
Phần lớn giới trí thức Liên Xô được đào tạo rất hời hợt. Nguyên tắc lớn nhất của giáo dục Xô Viết là tầm thường hóa lao động trí óc, tầm thường hóa quá trình đào tạo những kẻ  muốn phát triển về mặt trí tuệ.
Trong những năm 1920 – 1930 người ta sử dụng rộng rãi phương pháp “học theo đội”, chỉ cần một sinh viên trả lời đúng là cả nhóm được cho qua kỳ kiểm tra. Các chuyên gia được đào tạo theo kiểu đó vốn có trình độ khá thấp ngay trước khi nhập trường, sẽ không thể nào so sánh được với các trí thức trước cách mạng. Trình độ văn hóa chung, nhất là trình độ các môn khoa học nhân văn do hệ thống nhà trường Liên Xô đào tạo không những đơn sơ cổ lỗ mà còn sai lầm có hại, vì đó không phải là kiến thức văn hóa thực thụ, mà đã bị làm méo bởi các nguyên tắc tư tưởng của đảng. Các môn học nhằm tạo ra cơ sở văn hóa tổng quát được dạy rất ít. Các trường đại học khoa học tự nhiên không có môn này, còn trong các trường khoa học xã hội nhân văn thì sinh viên lại được học một số kiến thức giống như thần học.
Đặc trưng của trí thức Nga là tính chất quý phái, tức là sang trọng vượt lên sự tầm thường, kết quả của sự tu dưỡng nhiều đời, có sự tham gia của kiến thức sách vở.
Tất cả những người có học đều có phẩm chất quý tộc ấy. Có quý tộc một đời lại có quý tộc kế thế, nhiều đời – bộ phận nhiều đời này mới thật là tinh hoa ổn định.
Có chân trong giới thượng lưu, người ta dễ dàng giữ được sự độc lập về tinh thần, dễ tự tin, tin vào giá trị thật của mình, và giữ được tính độc lập trước mọi hệ thống quyền lực. Có điều lạ là cả một giáo sư đại học lẫn ông giáo làng dạy tiểu học, họ đều chia sẻ cảm giác tự hào mà trí thức vốn có. Khi người trí thức không có cảm giác về thân phận cao quý của mình thì họ cho phép mình làm bậy.
Ở trên chúng ta đã xét tới việc học ngày nay. Học như thế thì làm sao giới trí thức mới có được cảm giác quý phái mà trí thức cũ đã có.
Thời Xô Viết, người ta chỉ lo tri thức không quên nguồn gốc công nông của mình. Bộ phận trí thức xuất thân lớp trên bị hạ nhục, bị làm phiền: người ta chỉ muốn họ quên họ từ đâu tới.
Nguyên tắc giai cấp, chiếu cố giai cấp, ưu tiên giai cấp, cho phép tình trạng phi chuẩn mực đối với những con người thuộc giai cấp công nông bộc lộ khá lộ liễu và thô bạo.
Đầu cách mạng, số sinh viên xuất thân từ tầng lớp có học, tức là lớp thượng lưu cũ chiếm 2/3.
Tới 1923, số này chỉ còn lại ½
Tới đầu những nằm 30 thì còn lại 20 – 10%.
Kết quả là ¾ trí thức Xô Viết là hạng F1 mới từ công nông lên. Đó là các trí thức một đời. Người trí thức khộng có khái niệm về sự cao quý của mình, về lòng tự trọng.
Trí thức cấp thấp và quan chức cấp cao. Xu thế bành trướng
Trước 1917, người trí thức giữ chức vụ cao trong bộ máy nhà nước không có bất động sản. Nhưng lương họ cao – cao gấp vài chục lần người lao động chân tay.
Sau cách mạng, thu nhập trí thức chỉ nhỉnh hơn chút ít so với thu nhập công nhân. Nếu thêm việc các quỹ gọi là “phúc lợi xã hội” cũng được tái phân phối theo hướng có lợi cho công nhân thì cho đến năm 1980, mức sống của tầng lớp trí thức chỉ bằng một nửa hoặc 40% mức sống của công nhân.
Ví dụ giáo viên thì lớp giáo viên tiểu học còn đỡ; lớp dạy đại học chỉ được nhận 20% mức lương trước cách mạng. Từ đó nảy sinh trong tầng lớp trí thức xu thế quan liêu hóa vì chỉ trở thành quan chức trong giới của mình thì mới có thể có mức thu nhập cao.
Sự xây dựng tri thức trong xã hội Xô Viết tiến hành theo nguyên tắc phản chọn lọc. Nó tiêu diệt những người ưu tú, lại cất nhắc những kẻ tồi tệ. Quá trình chọn lựa kéo dài hơn một nửa thế kỉ, những kẻ xấu xa nhất được nâng đỡ, việc này đã dẫn đến kết quả là, không những nhóm lãnh đạo chính trị chóp bu, mà cả những nấc thang thấp hơn của kim tự tháp quyền lực, đều nhung nhúc những kẻ không ra gì.
Đấy là lý do vì sao chế độ Xô Viết về nguyên tắc là không thể thay đổi được, dù lãnh đạo cao nhất bị thay đổi.
Nếu tầng lớp tinh hoa trong lĩnh vực quản lí trước cách mạng bao gồm những người được giáo dục và có học vấn tốt nhất trong thời đại của mình, và tầng lớp tinh hoa chính trị trong các nước châu Âu ngày nay cũng bao gồm chủ yếu là những người đã tốt nghiệp các trường đại học uy tín nhất, thì ở Liên Xô, bức tranh hoàn toàn ngược lại.
Tầng lớp lãnh đạo chính trị cao nhất gần như là những người có trình độ học vấn văn hóa kém nhất trong số những người lao động trí óc.
Mặc dù trong thời Xô Viết cũng có một số trường đại học có chất lượng cao nhưng hiếm khi những người tốt nghiệp các trường đại học như thế được gia nhập vào bộ phận tinh hoa trong lĩnh vực quản lí. Tầng lớp quản lí thường chỉ bao gồm những người tốt nghiệp các trường đại học tỉnh lẻ cộng với các trường Đảng cao cấp, nghĩa là những trường đại học có trình độ văn hóa thấp nhất nếu không nói là giả đại học.
Trình độ học vấn kém cỏi của giới quan chức dẫn đến sự đối lập quan chức – trí thức. Bộ máy quản lí thời Khruchev là một ví dụ tiêu biểu của chất lượng giáo dục khi họ tham gia vào việc quản lí.
Đây là giai đoạn mà sự tầm thường hóa giáo dục đại học đạt đến đỉnh điểm. Lạm phát trí thức  bùng nổ với nghĩa hàng chục trường đại học không đủ điều kiện đã được thành lập.
Đây cũng chính là giai đoạn hình thành cơ sở cho việc sản xuất thừa các chuyên gia.
 Kết quả và quá trình bành trướng số người lao động trí óc đã dẫn đến sự suy giảm nghiêm trọng uy tín của lao động trí óc. Tương lai của khoa học cũng gánh chịu những hậu quả nặng nề. Biên chế của các viện nghiên cứu khoa học tăng theo cấp số nhân.
Kể cả những kẻ tầm thường vốn không thể có hi vọng và bản thân không hề nghĩ việc nghiên cứu khoa học, cũng trở thành các “nhà khoa học”.
 Đến những năm 80 họ đã trở thành gánh nặng, khiến cho những dự định cải cách chỉ trở thành ảo tưởng. Hơn thế nữa, lúc đó do quá trình thay đổi thế hệ, lớp trẻ hãnh tiến này đã chiếm giữ hầu hết các vị trí lãnh đạo trong khoa học và thực hiện chính sách trí thức dội từ trên xuống theo đúng bản chất của mình.
Kết cục khó tránh
Chế độ Xô Viết, sau hàng chục năm phấn đấu đã gần đạt được thành công trong việc loại bỏ tầng lớp trí thức như một hiện tượng xã hội đặc thù, như một cơ cấu tương đối hoàn chỉnh; hoàn toàn loại bỏ được đặc trưng mang tính thượng lưu của nó; và xóa bỏ được sự khác biệt về trình độ học vấn và vốn văn hóa giữa nó với đám quần chúng được gọi là nhân dân.
Có những khó khăn nhất định ngăn cản không cho tầng lớp có học hiện nay nhận thức được sự bất toàn về mặt xã hội của mình. Cơ sở tư tưởng của chế độ toàn trị cộng sản là sự sùng bái “con người bình thường”. Sau hàng chục năm bị thôi miên rằng chân tay quan trọng hơn đầu óc và đầu óc là để phục vụ cho chân tay, thì đầu óc – tức là lớp trí thức — đã quen dần với định đề phản tự nhiên đó. Họ dần đánh mất phần lớn khả năng tư duy của mình và cho đến nay vẫn chưa có đủ dũng khí vươn lên để khẳng định vai trò của mình trong xã hội.
Những thành quả sáng chói của nền khoa học và văn hóa Nga thế kỉ XIX được tạo nên bởi những con người sinh ra trên những nguyên tắc có nguồn gốc từ sự phát triển xã hội ba thế kỉ trước.
Còn việc cố tình hạ thấp vai trò của trí thức và tiêu diệt trên thực tế tầng lớp này sau 1917 lại chỉ bắt nguồn từ sự trì trệ trong vận động lịch sử của những thập kỉ gần đây.
Kết quả là chúng ta có một tầng lớp có học nhưng không có khả năng thực hiện các thiên chức của nó.
Cuối cùng trong xã hội Xô Viết, chỉ có một chút ngoại lệ là các nhà trí thức hàn lâm và các nhà kĩ thuật quân sự, vốn được đào tạo như một khu vực tách rời khỏi xã hội. Sau năm 1991, chính bộ phận này khi ra nước ngoài đã hòa nhập được với giới khoa học của các nước phương Tây.
Muốn thay đổi được thực trạng nói trên thì chính nhà nước phải có một quan niệm khác đi về giới tri thức. Phải công nhận rằng trong xã hội Xô Viết đã hình thành một lớp kỹ giả ngu dốt – vô năng. Đoạn tuyệt với họ rất khó. Người trí thức chân chính sau 1991 vẫn không thể lọt vào cả giới chính trị lẫn giới kinh doanh – môi trường kinh doanh vốn đầy tính chất mafia của Nga.
Tầng lớp tinh hoa trí thức như một giai tầng xã hội chỉ có thể được hình thành nhờ những cố gắng mang tính chủ động của nhà nước. Phải bắt đầu bằng sự phủ nhận rằng chúng ta đã làm sai, đào tạo sai thì sau đó mới có thể bắt tay làm lại mọi việc. Không có sự cố gắng như thế, đất nước — trong trường hợp tốt nhất — chỉ biến thành người cung cấp chuyên gia cho các nước khác mà thôi.
(Nguồn: vươngtrinhan)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.10.2014

Chuyện nhà mới Quốc hội

Mạt tiền.Phù điêu phòng họp

Chuyện nhà mới Quốc hội

TP - Bữa khai mạc kỳ họp thứ 8, Quốc hội (QH) khóa 13 (20/10) 7 giờ hơn, lên sớm tòa nhà QH mới, chỉ gặp lác đác vài người. May, gặp được ông thứ trưởng Bộ Xây dựng Cao Lại Quang. Vị thứ trưởng này từng cắm chốt giám sát công trình từ những ngày đầu khởi công nhà QH mới và Hội trường Ba Đình.

Bên ông thứ trưởng, thoắt lùi lại những ngày thương mến đã xa từng hò hét với đám bạn trong đám cưới của anh thợ đường hầm Sông Đà Cao Lại Quang ở Hòa Bình. Tạm xong Sông Đà, anh thợ Cao Lại Quang được cử vào Ialy và nhiều công trình thủy điện trọng điểm khác…

Bảo là xong, khánh thành là chưa chuẩn. Khoảng hơn 80% hạng mục của tòa nhà QH mới hoàn thành. Còn một số phải gấp rút, chắc hết năm nay mới hoàn tất được.

 

 4/8 cột đỡ Phòng họp Diên Hồng.

Bữa nay, vị thứ trưởng có mặt không phải dự phiên khai mạc của QH mà dường như đang tiếp tục việc điều hành việc vận hành của công trình. Và như cũng để chứng kiến để lây niềm vui của các đại biểu (ĐB) lần đầu họp ở nhà mới của QH.  5 năm với 10 kỳ họp (tính con số tròn) QH phải họp tạm ở Hội trường Bộ quốc phòng. Nói bất tiện cũng chưa hẳn (vì chưa có ĐB nào phàn nàn về nơi họp tạm cản trở gì đến hoạt động của QH cũng như ĐB cả) nhưng có lẽ tâm lý, nhất là các ĐBQH khóa 13 đều mong ngóng việc thi công tòa nhà mới QH chong chóng lên!

 

Cũng là có cái ý, trên cái bình mới ấy, nhiệm kỳ sắp kết thúc, mình sẽ gắng chưng cất thứ rượu mới – chất lượng xây dựng và giám sát, những quyết định sáng suốt về kinh tế xã hội ích nước lợi dân nó được khoáng đạt và thông tuệ hơn chăng?  Thấu hiểu những mong ngóng cùng nguyện vọng chính đáng đó, 5 năm qua, những người quản lý và lực lượng xây dựng thi công một hạng mục quan trọng ở một khu vực trung tâm chính trị như Ba Đình kề bên Khu di tích khảo cổ khổng lồ dường như phải gánh một áp lực rất lớn.

Bộ Xây dựng, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng nhà QH và Hội trường Ba Đình mới đã tập trung toàn bộ sức lực, trí tuệ cho công trình với những máy móc, công nghệ hiện đại nhất. Không kể ngày, đêm, 3 ca liên tục. Trên công trường luôn có khoảng hơn 2.000 công nhân cùng hàng nghìn chuyến xe tải ra vào vận chuyển đất đá, vật liệu, kể cả ngày lễ, tết.

Nghĩ mà lạ. Hình như thuật ngữ quân sự xứ mình thường vận dụng lẫn lạm dụng vào địa hạt xây dựng? Những chiến dịch những thi đua nước rút chào mừng này nọ… Mà sao cứ phải là vội vã cùng là gấp rút vậy?

Nghĩ mà thấy ái ngại cho vị thứ trưởng suốt 5 năm trời bám trụ ở công trình trọng điểm. Chợt nhớ, dịp ấy ngồi với ông Bộ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Hồng Quân. Ông bộc bạch thế này, trong đời làm thứ trưởng rồi bộ trưởng của ông, có hai công trình khiến ông phải chạy đua với thời gian với tiến độ đến lử lả. Đó là sân vận động Mỹ Đình (xây dựng trong 20 tháng để kịp SEA Games) và Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Đình (xây dựng trong 22 tháng cho kịp APEC.

Khi hoàng thành Thăng Long phát lộ năm 2003 thì sự kiện Việt Nam đăng cai tổ chức Hội nghị APEC 2006 đã đến rất gần). Thuận thay, ông Quân lẫn ông Quang, những đại công trình trên đều ổn cả.

 

Dư dả thời giờ, nèo ông thứ trưởng cho đáo những hạng mục của cơ ngơi mới này thì đã quá. Nhưng chỉ loáng thoáng cái tổng thể và đại thể.

Xứ mình quả là chu đáo với các ĐB dân cử. Đáo qua hệ thống vệ sinh các tầng nhà QH mới, nhỡn tiền ngay chưa phải là thiết bị sứ hàng nội Viglacera mà là những tấm biển con với hàng chữ Hướng dẫn sử dụng hộp xà phòng. Dùng tay nhấn lên đỉnh hộp. Rồi cách sử dụng vòi chậu và vòi cảm ứng trong nhà vệ sinh.

Chợt nhớ hồi trang bị Laptop cho các ĐB, trong một ngày chủ nhật, các ĐBQH chia thành 2 lớp, sáng và chiều tại Hội trường 37 Hùng Vương để bồi dưỡng cấp tốc việc sử dụng laptop… Thấy ấm áp cái câu thiên hạ vẫn nói là cái chi chi cũng phải học, không biết thì hỏi, tự ti làm gì?

Tôi theo thứ trưởng Cao Lại Quang đến Phòng họp chính- Phòng Diên Hồng đặt chính giữa công trình, có mặt bằng hình tròn, mặt đứng có hình côn ngược. Được biết đường kính dưới đáy 44 m, đường kính trên 54 m, mái tròn trên đường kính 60 m.

Phòng Diên Hồng được đặt trên 8 cột bê tông, trong đó khối lượng thép cốt cứng khoảng 640 tấn. Mỗi cột dài 15 m, gần 80 tấn/cột. Dựng cột phải dùng cần cẩu có sức nâng 1.250 tấn.

Qua câu chuyện đứt nối với vị thứ trưởng, tôi láng máng biết thêm, hệ thống 8 cột thép hình chữ I này còn có chức năng giảm thiểu hay chống động đất.

Ngước lên khoảng không Phòng Diên Hồng là cái nóc với 35 vòng tròn đồng tâm. Chính giữa là một vòng tròn khá rộng hắt ra những khoảng sáng mờ. Chỉ tay vào khoảng tròn mờ đó, thứ trưởng Quang cho biết vị trí ấy, theo thiết kế sẽ bố trí một chùm đèn có kết cấu khá phức tạp nặng trên 5 tấn.

 

Một thiết bị chiếu sáng trọng lượng 5 tấn lơ lửng vòi vọi hàng chục mét trên đầu các ĐB dân cử, việc lắp đặt chả thể tùy tiện? Có phải vì phức tạp, thận trọng nên hạng mục gần như cuối cùng của Phòng họp Diên Hồng này sẽ được thi công sau vào thời điểm thích hợp nào đó! Đèn đã nhập về, chỉ còn việc lắp!  Lượn một lúc, nhớ ra cái ý với ông thứ trưởng rằng có ý kiến đâu đó phàn nàn, nhà mới QH hơi bị… Tây?!

Ông Quang cười, chỉ vắn tắt đại loại, tòa nhà hình vuông, nóc tròn. Trời tròn đất vuông. Diên Hồng có 575 ghế đại biểu; 339 ghế khách mời. Ban công có trang trí các họa tiết, hoa văn như: hoa sen, chim hạc, sóng nước thời Lý, các chi tiết hoa văn, đường kỷ hà… Nghe vị đốc công công trình thoảng qua triết lý nhân sinh của người Việt cùng việc bổ sung những yếu tố Việt trong bản thiết kế của nhóm kiến trúc sư Cộng hòa Liên bang Đức cứ thấy là lạ?

Và trước thời điểm đưa một phần công trình vào sử dụng, đã từng rộ lên những sự bàn tán về công trình. Xin những ai đó chớ vội sốt ruột. Có lẽ nói chi thì nói, cứ phải tin vào tầm lẫn trí của Hội đồng chấm thi quốc gia?

Họ là những chuyên gia kiến trúc, xây dựng hàng đầu nước Việt cùng 4 thành viên ngoại quốc do Hiệp hội Kiến trúc sư quốc tế cử đến. Hội đồng đã khẩn trương soi xét 25 phương án của 22 tổ chức thiết kế của 12 quốc gia dự thi. Kết quả, phương án số 17 của Tập đoàn thiết kế Cộng hòa Liên bang Đức đoạt giải nhất.

…Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng đang nán lại với tốp báo chí. Họ nói không phải bữa nay mà nửa tháng trước, UBTVQH mới là những người làm cái việc bóc tem khai trương (phiên họp lần thứ 32 của UBTVQH diễn ra tại Phòng Tân Trào tòa nhà mới QH).

Ông Chủ tịch QH cũng trao đổi cởi mở với các nhà báo về sự kiện diễn ra hôm ấy tại Phòng Tân Trào là Chủ tịch QH đã yêu cầu Kiểm toán Nhà nước (KTNN) báo cáo kết quả kiểm toán công trình trụ sở Nhà QH mới vào kỳ họp thứ 9 diễn ra vào giữa năm 2015.

Cũng hơi bất ngờ khi Chủ tịch QH cho biết thêm cái tên Phòng Tân Trào (nơi họp của UBTVQH) và Phòng Diên Hồng (nơi họp chính của QH) là do ĐBQH, nhà sử học Dương Trung Quốc đề nghị đặt!
Chợt nhớ 7 năm trước, ĐB Dương Trung Quốc là một trong 32 ĐBQH biểu quyết phản đối quyết định phá dỡ Hội trường Ba Đình!

… Âm thanh ồn ào của Trung tâm báo chí tầng I có sức chứa cho 300 phóng viên tác nghiệp chừng như gián đoạn những suy nghĩ lẩn thẩn của tôi. Hỏi ra mới biết các nhà báo đang bàn nhau việc ký vào một bản kiến nghị gửi Ban tổ chức đề nghị tạo điều kiện hơn cho báo chí trong quá trình tác nghiệp, đặc biệt là việc tiếp cận ĐB trong giờ giải lao.
Số là, cái quy định ngặt nghèo, phải “xin” được thẻ sự kiện mới được lên sảnh hội trường tầng 3 để phỏng vấn đại biểu. Mà thẻ thì ít nhà báo thì nhiều…

 

Ông Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc đã có mặt! Theo ông Phúc, do sảnh hội trường chật nên chỉ có thể cho 50 phóng viên lên tiếp cận đại biểu…  Cứ lẩn mẩn nghĩ thêm, rồi mọi sự vướng mắc cũng sẽ được giải quyết suôn sẻ thôi. Bởi công trình hiện đại bậc nhất nước, tiên tiến trên thế giới mà lại không thu xếp cho cánh nhà báo muôn thuở vẫn đồng hành cùng QH một không gian hành nghề thuận tiện?

Như các cụ mình nói sắm được con trâu còn được nữa tiếc chi cái thừng?
Đêm 21/10

Nhà mới QH cao 39m, kiến trúc hình vuông, gồm 3 tầng hầm và 5 tầng nổi. Tổng diện tích sàn khoảng 63.240m2; 3 tầng hầm để xe có sức chứa 500 xe, diện tích trên 17.000m2. Mặt tiền, đồng thời cũng là cửa chính Nhà QH nằm trên đường Độc Lập, nhìn về Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bên trong tòa nhà có hơn 80 phòng họp lớn nhỏ. Phòng họp chính QH hình tròn có mái vòm màu xanh, gồm 2 tầng, phía trước có 2 màn hình lớn hơn 100 inch. Trên bàn họp của đại biểu được gắn các phím điều khiển chìm điện tử rất hiện đại, ở đó ghi rõ chức năng từng phím như phát biểu, biểu quyết, tán thành, không tán thành, thậm chí có phím ngôn ngữ, khe cắm thẻ điểm danh và tai nghe. Ghế ngồi làm việc của đại biểu (600 ghế) bọc da màu kem, thiết kế xoay 180 độ.

Ngoài ra, tòa nhà còn có các phòng đọc, phòng lưu trữ, phòng khách, phòng trưng bày hiện vật Hoàng thành Thăng Long. Với hơn 700 bộ cửa gỗ, các vách ngăn được sử dụng khung nhôm, vách kính cách âm mặt đứng, đóng tấm thạch cao và gia công tấm tường ốp gỗ. Toàn bộ đá ốp tường công trình được chế tác từ nước ngoài và được treo lên bằng giá chịu lực…

( Nguồn :tienphongonline)

 

 

 

Đề nghị hủy danh hiệu anh hùng của cựu Bí thư Thừa Thiên Huế

Cựu Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên – Huế đã được phong tặng Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 2000. Ngày 22/10, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã ký Tờ trình của Chính phủ gửi Chủ tịch nước về việc hủy bỏ quyết định phong tặng Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thành tích thời kỳ kháng chiến đối với ông Hồ Xuân Mãn.

Ông Hồ Xuân Mãn – cựu Xã đội trưởng xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế đã có hành vi gian dối trong việc kê khai thành tích để được phong tặng danh hiệu nêu trên.

Được biết, ông Hồ Xuân Mãn – nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, cựu Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên – Huế đã được phong tặng Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 2000.

Tuy nhiên, sau khi được phong tặng, có nhiều đơn thư tố cáo ông Hồ Xuân Mãn khai chưa đúng thành tích.

Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thành lập Đoàn kiểm tra và kết luận trong 17 thành tích của ông Hồ Xuân Mãn báo cáo, chỉ có 2 thành tích là đúng, 3 thành tích chỉ là người tham gia, phối hợp chiến đấu, không phải là người chỉ huy đơn vị tổ chức các trận đánh; 4 thành tích chưa đủ cơ sở xác định và 8 thành tích báo cáo không đúng sự thật.

Những khuyết điểm, vi phạm nêu trên của ông Hồ Xuân Mãn gây bất bình trong dư luận và ảnh hưởng không tốt đến việc thực hiện chính sách khen thưởng của Đảng và Nhà nước.
Theo VOV/Chinhphu.vn
Đăng bởi: Ngô Minh | 22.10.2014

Về hoàng tử Cảnh

Về hoàng tử Cảnh

 Nguyễn Thị Chân Quỳnh

Cho tới nay, phần đông chúng ta chỉ biết Hoàng tử Cảnh sang Pháp rồi về nước, chết vì bệnh đậu mùa, nhưng không mấy người rõ chết năm bao nhiêu tuổi, đã làm nên sự nghiệp gì, Hoàng tử là con người như thế nào vv. ? Đến đầu thế kỷ này mới lại thấy nhắc đến đích tự tôn của Hoàng tử là Kỳ Ngoại Hầu Cường Để do Phan Bội Châu tôn làm Minh chủViệt-Nam Quang Phục Hội.

Sau đây xin sơ lược về tiểu sử và hậu duệ Hoàng tử Cảnh.

A – SỰ NGHIỆP

Hoàng tử Cảnh sinh năm Canh Tý (1780) ở Gia-định. Mẹ là Thừa-Thiên Cao Hoàng Hậu, con quan Chưởng Doanh Tống Phúc Khuông, sinh được hai con trai, con trưởng là Chiêu mất sớm, con thứ là Cảnh. Năm lên 4 tuổi, Hoàng tử vâng lệnh cha, theo Bá-đa-lộc sang Pháp cầu viện, đến năm lên 9 (1789) thì về nước.

Tháng 3 năm Giáp Dần (1794), 14 tuổi, Hoàng tử được lập làm Đông Cung Thái Tử, phong chức Nguyên Súy Quận Công, được ban Đông Cung Chi Ấn, dựng phủ Nguyên Súy, đặt văn võ đại thần. Việc nhỏ do các đại thần phân xử, việc lớn bẩm Súy phủ quyết định. Mùa hạ năm ấy, Vua (Nguyễn Ánh) đi đánh Qui-nhơn, sai Ðông Cung trấn giữ Gia-định ; mùa đông, trấn giữ Diên-khánh.

Năm 1794, Tây Sơn Nguyễn Quang Toản sai Trần Quang Diệu và Nguyễn văn Hưng đem quân thủy bộ cùng vây đánh Qui-nhơn, Diên-khánh. Vua thấy Đông Cung khó nhọc nên đến tháng 2 năm 1795 cho về trấn giữ Gia-định. Mùa đông, Tây Sơn lại vây Diên-khánh, Đông Cung ở Gia-định một mặt lo việc trị an, một mặt vận tải quân nhu, phòng ngự.

Tháng 5 năm Ðinh Tỵ (1797), vì quân Tây Sơn ở Qui-nhơn quá đông, không đánh được, Vua đem chiến thuyền ra cửa bể Ðà-nẵng, Quảng-nam, sai Đông Cung đem tướng sĩ dinh Tả quân vào cửa biển Đại chiêm, đánh lấy Chiêm dinh, chia đặt đồn sở. Tháng 6, đi đánh giặc ở La-qua thắng trận, được thưởng 1000 quan.

Tháng 10 năm Mậu Ngọ (1798), Vua lại sai Ðông Cung tổng quản tướng sĩ dinh Tả quân và Vệ ban trực tuyển phong Tiền quân Thần sách, đến trấn giữ Diên-khánh. Cho Bá-đa-lộc cùng Phó tướng Tống Viết Phước đi theo giúp đỡ.

Tháng 4 năm Kỷ Vị (1799), sai Ðông Cung hộ giá đi đánh Thị-nại, chống Trần Quang Diệu, Võ văn Dũng. Lại theo Vua đi đánh Qui-nhơn (lấy được Qui-nhơn, đổi tên ra Bình-định).

Tháng 10 năm Canh Thân (1800), Đông Cung thấy các dinh Gia-định đều điều đi đánh Tây Sơn, xin lập thêm chi binh, chiêu mộ những quân trốn và những dân ngoại tịch bổ vào để canh giữ.

Ngày 20/3/1801 (Tân Dậu), sau khi lấy được Thị-nại, chính vị Đông Cung được 8 năm thì mắc bệnh đậu mùa, mất năm 22 tuổi. Vua sai Nguyễn văn Nhân, Nguyễn Tử Châu hiệp cùng Lễ bộ lo việc an táng ở Bình-định. Sách cho Gia-định đình mọi việc cúng tế cho đến ngày an táng, đình việc giá thú 60 ngày ; các tỉnh Bình-dương, Bình-thuận đình cúng tế 13 ngày, đình giá thú 30 ngày.

Năm Gia-Long thứ 3, đem thờ ở Tả vu nhà Thái miếu. Năm Gia-Long thứ 4, truy đặt tên thụy là Anh Duệ Hoàng Thái Tử, lập nhà thờ Đại mộ ở xã Vĩ-dạ. Năm Gia-Long thứ 8 (1809) đưa về táng ở Dương-xuân (6).

B – CON NGƯỜI

Sử chép rằng Đông Cung thiên tư sáng suốt, hiếu học và ưa lời nói thẳng.

a – Giáo dục : Vua rất chăm sóc đến việc giáo dục Ðông Cung. Ngoài Sư phó Bá-đa-lộc, ngay sau khi Hoàng tử chính vị Đông Cung, vua đã cho dựng nhà Thái học, đặt Ngô Tòng Chu vào chức Phụ đạo, lại có 2 Thị Giảng, 8 Hàn lâm viện Thị Học, trong số này có Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định (7), cùng 6 Quốc tử giám Thị Học, ngày hai buổi giảng bàn kinh sử. Đông Cung nói gì, làm gì, Thị Học phải ghi chép, mỗi tháng một lần dâng lên vua xem.

Tháng 10 năm Ất Mão (1795), sai Phó tướng Tả quân Phạm văn Nhân làm Phụ đạo. Tháng 4 năm Mậu Ngọ (1798), sai Ngô Tòng Chu cùng Lễ bộ kiêm Đốc học Nguyễn Thái Nguyên Phụ đạo Đông Cung (8). Tháng 4 năm Canh Thân (1800), lấy hàng thần là Nguyễn Gia Cát, Tiến sĩ nhà Lê, làm Đốc học hầu Đông Cung.

Hoàng tử Cảnh theo Bá-đa-lộc sang Pháp từ nhỏ, ăn ở chung sống với Bá-đa-lộc, được dạy dỗ theo đạo Thiên Chúa nên tỏ ra rất quyến luyến “Đức Thầy” và rất mộ đạo. Khi vua, một phần vì nghe các quan can gián, quyết định cho Hoàng tử ra ở riêng thì tuy Đông Cung chẳng ở cùng nhà với Đức Thầy song vẫn kín đáo đến thăm, lại chọn những ngày quân hầu là người có đạo để dễ xem lễ. Hoàng tử thường tỏ ra phiền muộn vì chưa được chịu phép rửa tội, xin Đức Thầy dậy phép rửa tội, phòng khi bệnh nặng mà bên mình không ai có đạo thì chỉ cách để người ta rửa tội cho mình. Thực Lục còn chép rằng khi ở Pháp về Hoàng tử không chịu bái yết Tôn Miếu, nhờ Cao Hoàng Hậu khéo dậy, sau mới đổi.

Đại Nam Việt Quấc triều Sử ký cho biết sau khi Đức Thầy qua đời thì “tính nết ông Đông Cung khác lắm. Vì ông ấy buông mình theo tính xác thịt, đắm mê tửu sắc, chẳng còn tưởng nhớ gì đến sự đạo nữa. Song khi thấy mình đau nặng gần chết thì mới nhớ đến Ðức Chúa Trời, cùng ra sức giục lòng ăn năn tội, và xin quan nhỏ kia có đạo làm phép rửa tội cho mình kín đáo không ai biết”.

b – Đức độ : Trong hành động, Đông Cung tỏ ra là người rất tôn trọng đạo đức, đôi khi hơi câu chấp. Ngô Tòng Chu giảng một thiên Nhạc ký, Đông Cung bình rằng người đời xưa làm nhạc để cảm động đến Trời Đất, quỷ thần. Nay cúng tế ở Miếu, theo tục dùng bọn nữ nhạc, chèo hát, rất là vô vị.

Lính bỏ trốn, quan địa phương bắt vợ con lính giam ở quân xá, Ðông Cung xin cho giam riêng để trai gái được phân biệt, bảo toàn danh dự cho người nữ.

Năm Ðinh Tý (1797/8) theo vua đi đánh Qui-nhơn, Quảng-nam, khi về xin cho làm sách Hiền Trung Chư Thần Liệt Truyện để khuyến khích lòng người.

c – Tình cảm : Đông Cung là con người nhân từ. Năm 1800, Hà-tiên đói, viên quản thủ Kiên-giang không cho Cai cơ Mặc Tử Khiêm đong thóc, Đông Cung lúc ấy đang trấn Gia-định nói :” Tuy có lệnh cấm buôn thóc đưa ra ngoài biển nhưng Hà-tiên cũng là con đỏ của triều đình, ta không nỡ cấm”. Bèn ra lệnh cho phép bán 10 xe thóc.

Nhân từ có thể đi đến nhu nhược : Khi Tống Viết Phước cùng Bá-đa-lộc giúp Đông Cung trấn giữ Diên-khánh, Phước hay lấn lướt Bá-đa-lộc, Đông Cung để yên. Vua dụ :”Phàm nhân hậu phải có cương quyết mới được việc. Ngươi làm Nguyên Soái trấn giữ Diên-khánh thế mà Phước trước đã tự tiện làm oai, sau lại vô lễ với Sư phó ngươi mà ngươi một niềm nín nhịn há chẳng là quá nhân hậu ư ? Từ nay về sau, kể từ Phó tướng trở xuống, kẻ nào không vâng lệnh thì đem chém để nghiêm tướng lệnh”.

Đông Cung rất có cảm tình với người Tây dương. Trong một lá thư đề ngày 11/4/1801 gửi cho Letondal, L. Barisy viết rằng Đông Cung là người đã ra mặt che chở cho tất cả những người Âu, đã bảo vệ cho đạo Thiên Chúa… đích thực là một người bạn thành thật (9).

Xem cách cư xử thì thấy Đông Cung cũng biết phải trái, chỉ vì còn trẻ nên đôi khi hơi câu nệ, và vì thiếu kinh nghiệm nên đặt hết lòng tin vào các Sư phó, Phụ đạo, nếu những người này sai lầm, có thành kiến, thì Đông Cung cũng sai lầm theo :

Tỉnh Gia-định theo đạo Phật, nhiều kẻ trốn sai dịch vào chùa ở. Có nhà sư tên Cao phạm tội, vua muốn giết và truyền lệnh phàm các sư tăng dưới 50 tuổi đều phải chịu sai dịch như người thường. Các quan có ý ngăn cản, vua còn do dự thì Ngô Tòng Chu, vì trọng đạo Nho, nói với Đông Cung rằng vua bài trừ đạo Phật như thế là việc rất hay, bầy tôi đã không biết tán thành lại còn can ngăn là rườm lời, cái hại về đạo Phật, đạo Lão còn quá hơn đạo họ Dương, họ Mặc (10). Đông Cung nghe theo, dâng sớ chỉ trích cái bậy của các nhà sư, vua mới quyết định. Giữa ảnh hưởng của Sư phó Bá-đa-lộc, trọng đạo Thiên Chúa, và Phụ đạo Ngô Tòng Chu, trọng đạo Nho, dĩ nhiên Đông Cung chưa đủ già dặn để tìm hiểu mà chỉ xét đạo Phật qua những phần tử “trốn sai dịch” (11).

C – HẬU DUỆ

Đông Cung kết duyên với Tống thị Quyên, sinh được hai con trai là Mỹ Đường (còn tên là Đán) và Mỹ Thùy (còn tên là Cảnh, nhưng nghĩa khác). Năm Gia-Long thứ 16 (1818), phong cho Mỹ Đường là Ứng Hòa Công, Mỹ Thùy là Thái Bình Công.

Sau khi Đông Cung mất, có người tố cáo Mỹ Đường thông gian với mẹ đẻ là Tống thị Quyên. Lê văn Duyệt tâu kín. Vua (Minh-Mệnh) sai bắt thị Quyên giao cho Duyệt dìm chết và cấm Mỹ Đường không được chầu hầu. Năm 1824 Mỹ Ðường dâng sớ nói có bệnh, xin nộp trả sách và ấn, về ở nhà riêng, làm thứ dân. Vua y. Hệ Mỹ Đường thì ghi phụ vào sau Tôn Thất Phả (12).

Thực Lục chép : Năm 1826, vua được tin Thái Bình Công Mỹ Thùy mắc chứng hoắc loạn cấp tính, sai đại thần đem ngự y tới thăm, đến nơi thì Công đã chết. Con gái của Công mới sinh, sai Trưởng Công Chúa nuôi. Liệt Truyện viết hơi khác : Mỹ Thùy bị quân lính ở Dực Chấn kiện, sắp giao xuống cho đình thần nghị tội thì bị bệnh chết, không có con (13).

Năm 1826, Lệ Chung, con trai Mỹ Ðường, tuổi mới lên 6, lẽ ra chưa đáng phong, nhưng Mỹ Đường phải tội, Mỹ Thùy đã mất nên đặc cách cho tập phong tước Ứng Hòa Hầu, ban cho sách ấn, khiến giữ việc thờ Anh Duệ Hoàng Thái Tử, miễn việc chầu hầu, lương hàng năm 600 quan tiền, 500 phương gạo và cấp cho một đội Dực tráng để sai khiến. Sai bộ Lại chọn một người có học hạnh cho hàm thất phẩm để sung làm Giáo tập kiêm hộ lý ấn triện (14).

Năm 1827, bộ Lễ tâu : “Ứng Hòa là tước hiệu của Mỹ Đường trước kia, từ lúc Mỹ Đường có tội, việc thờ cúng Anh Duệ do Thái Bình Công, nay Công đã mất lại không con trai, Lệ Chung chủ việc tế tự Anh Duệ nên làm người thừa kế Thái Bình Công. Nếu cứ gọi là Ứng Hòa Hầu thì như người có tội vẫn được truyền tước mà Thái Bình Công lại mất danh hiệu, xin đổi phong là Thái Bình Hầu.” Vua y (15).

Năm Minh-Mệnh 14, Chánh, Phó Tổng tài sở Ngọc Diệp là bọn Phan Huy Thực, Tôn Thất Bằng tâu tội của Mỹ Đường mình làm mình chịu, nhưng con là Lệ Chung, tức cháu của Anh Duệ Hoàng Thái Tử, thì xin được liệt vào Tôn Phả, xin bỏ biên phụ đi. Châu phê là phải.

Năm Minh-Mệnh 17, Phủ Tôn Nhân hội với bộ Lễ, tâu cho Lệ Chung được miễn nghị để giữ việc thờ tự, nhưng các con của Lệ Chung đều giáng làm thứ dân, xóa tên ở sổ họ Tôn Thất đi. Vua y.

Năm Minh-Mệnh 20, vua dụ : “Lệ Chung không phải con của Thái Bình, há để tập phong hiệu Thái Bình như cũ ? Nên đổi phong là Cảm Hóa Hầu, nhưng vẫn phải giữ việc thờ tế Thái Bình Công (16).”

Đến năm 1848, Tự-Đức nguyên niên, Đông các Đại Học Sĩ Vũ Xuân Cẩn tâu xin gia phong cho Cảm Hóa Hầu. Vua cho bộ Lễ ghi lại, đợi hết tang sẽ lượng cho tấn phong.

Năm sau, bọn Tạ Quang Cự 30 người lại xin. Vua chuẩn cho con cháu Mỹ Ðường lại được liệt vào Tôn Phả. Lệ Chung làm Cảm Hóa Quận Công.

Tuy nhiên, trong Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả không thấy có tên của Mỹ Đường, Lệ Chung, Ứng Hòa Hầu hay Cảm Hóa Quận Công ; Mỹ Thùy tuy có tên nhưng không có tiểu sử.

26kyngoaihau src=https://nghiencuulichsudotcom.files.wordpress.com/2014/10/26kyngoaihau.jpg?w=269&h=300

Đầu thế kỷ 20 mới lại thấy nhắc đến hậu duệ Hoàng tử Cảnh : Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, cháu đời thứ 6 của Gia-Long. Khi Phan Đình Phùng cầm cự quân Pháp ở Hà-tĩnh đã phái người đến Kinh mời Hàm Hóa Hương Công ra làm thủ lĩnh nhưng Công nghĩ mình già yếu, cho con là Cường Để, mới 13 tuổi, đi thay.

Khoảng 1903, Phan Bội Châu thấy dư đảng Cần vương và nhiều nhân sĩ miền Nam còn nặng lòng với nhà Nguyễn nên muốn tạm thời dựa vào nền quân chủ để chống Pháp giành độc lập, đã tìm đích tự tôn của Đông Cung là Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, tôn làm Minh chủViệt-Nam Quang PhụcHội, và giúp Cường Để xuất du, sang Nhật hoạt động (1906).

Nhưng đến Nhật (1906) thì được biết, theo lệ bang giao, nếu không được sự ưng thuận của chính phủ Pháp, Nhật không được đón tiếp người trong Hoàng tộc, vì vậy Cường Để phải trà trộn vào đám du học sinh, ghi tên vào trường Chấn Võ Lục Quân ở Đông kinh (1907), bị bệnh nên bỏ học, sau đó lại ghi tên vào Đại học Waseda. Năm 1908 Pháp chẹn đường gửi tiền sang cho du học sinh, hàng trăm người không tiền phải bỏ học. Năm 1909 Cường Ðể bị trục xuất ra khỏi Nhật, nhân thấy ở Nhật không còn sinh viên, không hoạt động được bèn sang Xiêm tìm căn cứ khác, song không biết tiếng Xiêm nên năm 1909 lại trở về học ở Waseda.

Khi Pháp yêu cầu Nhật giải tán du học sinh Việt, Cường Để bỏ Nhật sang Hương cảng, rồi đi Thượng-hải (1910). Năm 1912 cải tổ Việt-Nam Quang Phục Hội.

Tháng 2, 1913 lẻn về nước quyên tiền để thực hành kế hoạch lập cơ sở mới ở Trung quốc và đi Âu Mỹ khảo sát tình hình, thu được hai vạn đồng. Ðến tháng 5, đi Âu châu (YÙ, Ðức, Pháp, Anh).

Tháng 4, 1914, nghe nói Viên Thế Khải có ý muốn giúp đỡ bèn bỏ Anh về Trung quốc, song đến nơi mới hay Trung quốc chưa thể giúp, đợi mấy năm nữa hùng cường sẽ tính sau.

Từ sau Cách mạng Tân Hợi ở Trung quốc (1911), Phan Bội Châu chịu ảnh hưởng chế độ dân chủ, năm 1914 lập hội mớiViệt-Nam Quốc Dân Đảng ở Quảng-châu, Cường Để làm Hội chủ. Thời gian Phan Bội Châu bị giam lỏng ở Huế, Cường Để ở Đông-kinh, cũng chịu ảnh hưởng dân chủ chế độ, gửi thư về nước, ký là “Vi nhân tặc hậu Cường Để” (17).

Năm Ất Mão (1915), bỏ Bắc-kinh trở lại Nhật, gửi một bức thư về cho vua bầy tỏ lẽ thịnh suy và những biện pháp cứu quốc như nuôi dân khí, sửa quan chế, mở mang tài lợi vv… Ký tên :”Vong thần Cường Để”.

Năm 1939 cải tên Việt-Nam Quang Phục Hội thành Việt-Nam Phục Quốc Đồng Minh Hội, Cường Để làm Ủy viên trưởng.

Nhật đảo chính, một số Cao-đài và nhân sĩ ở Saigon tổ chức đón Cường Để về nhưng ông không về, tin tưởng Nhật thật lòng thực hành chủ nghĩa Đại Á Tế Á, sẽ giải phóng cho dân tộc Á châu thoát khỏi vòng áp bức của Tây phương.

Ông mất ngày 5/4/1951, tại Đông-kinh (18). Sau con là Tráng Liệt sang Nhật đem di cốt về.

o O o

Thói thường, đoạn kết là câu giải đáp cho vấn đề nêu ra trong bài, nhưng đoạn kết bài này lại là những câu hỏi :

1) Tại sao Đông Cung có hai con trai mà khi Gia-Long mất lại lập Minh-Mệnh lên làm vua ?

Người ta có thể nghĩ vì hai con của Đông Cung còn nhỏ nên Gia-Long chọn Hoàng tử Đảm (sau này là Minh-Mệnh), đã trưởng thành, đủ khả năng gìn giữ cơ nghiệp nhà vua đã khó nhọc gây dựng.

Sự thực thì khi Gia-Long mất, con của Đông Cung đã xấp xỉ 20, có thể nối ngôi được. Vấn đề tuổi tác, nếu có đặt ra, cũng chỉ dự một phần trong việc lập Minh-Mệnh.

2) Tại sao khi Hoàng tử Cảnh vừa chính vị Đông Cung, mới 14 tuổi, từng đi Pháp cầu viện lập được công to, không bị trọng bệnh, thế mà Nguyễn Ánh lại chọn lúc ấy yêu cầu Nguyên Phi Tống thị, mẹ Hoàng tử Cảnh, nhận Hoàng tử Đảm làm con nuôi, trong khi mẹ Hoàng tử Đảm vẫn còn sống ?

Phải chăng vì Vương nhận thấy Hoàng tử Cảnh quá mộ đạo Thiên Chúa, có quá nhiều cảm tình với người Tây dương, tính tình lại nhu nhược, nếu lên ngôi có thể sẽ đánh mất chủ quyền nên chọn sẵn Hoàng tử Đảm để phòng hờ trường hợp phải loại Hoàng tử Cảnh ra.

Trong một lá thư gửi từ Pondichéry (20-3-1785) cho Giám đốc Hội Truyền giáo nước ngoài, Ba-đa-lộc viết :”Tôi cần sự giúp đỡ của quý vị trong việc giáo dục vị Hoàng tử bé nhỏ do tôi phụ trách (…) Tôi muốn dậy theo truyền thống đạo Thiên Chúa (…). Hoàng tử mới lên 6 tuổi mà đã biết đọc kinh và hết lòng mộ đạo (…) rất mến tôi chứ không nhớ gì đến cha mẹ hay các bà nhũ mẫu (…). Nếu sau này cha của Hoàng tử có xoay ra thân thiện với người Anh hay người Hòa-lan thì hẳn quý vị cũng thấy việc dậy dỗ, uốn nắn ông Hoàng nhỏ bé này hữu ích biết chừng nào” (19).

Ngay từ năm 1787, Bá-đa-lộc đã muốn Nguyễn Ánh theo đạo, trước là để làm gương cho sĩ phu noi theo, thứ đến nhân dân toàn quốc. Nhưng Gia-Long không nghe (20). Theo Ngô Giáp Dậu, Nguyễn Ánh từng nói :”Bá-đa-lộc đánh Đông dẹp Bắc, là người ngu xuẩn, trí trá, nhưng có thể sai khiến được”. Sử Ký Đại Nam Việt có chỗ chép rằng mỗi khi Vua muốn sai khiến điều gì mà Bá-đa-lộc cưỡng lại thì y như rằng mấy hôm sau các quan nào có đạo đều bị bắt bớ khiến Bá-đa-lộc phải đến xin tha, chịu nước lép vv…”. Vua tuy rất quý nể Ba-đa-lộc và những người Âu đã giúp mình lên ngôi báu, nhưng thưà đủ sáng suốt để trông rõ nguy cơ rình rập, đủ khôn ngoan để nắm vững chủ quyền chứ không “nhẹ dạ” như Hoàng tử Cảnh.

Phần Hoàng tử Đảm, lúc được vua chọn để làm con nuôi Nguyên Phi, mới lên ba dĩ nhiên chưa biết gì, nhưng chắc chắn là không có liên hệ mật thiết với đạo Thiên Chúa và người Tây dương là đỡ được mối lo bị ảnh hưởng ngoại bang làm mất chủ quyền rồi. Vả chăng đấy chỉ là một biện pháp phòng hờ, và như ta đã thấy, khi trưởng thành Đông Cung bớt say mê đạo, có lẽ vì thế mà chưa bị truất ngôi ?

Có thể vì đã nhìn rõ chủ ý của Nguyễn Ánh khi yêu cầu mình nhận Hoàng tử Đảm làm con nuôi, bất lợi cho con đẻ của mình, nên Nguyên Phi mới có yêu sách phải lập Khế khoán (giao kèo buộc cả đôi bên) ?

3) Tại sao Hoàng tử Đảm là Hoàng tử thứ tư lại được chọn để nối ngôi, vậy thì hai ông Hoàng Hai và Hoàng Ba đâu ?

Người ta có thể nghĩ như Ngô Giáp Dậu rằng cả hai ông Hoàng Hai và Hoàng Ba đều mất sớm nên theo vị thứ, Hoàng tử thứ tư được chọn là lẽ dĩ nhiên (21). Sự thật :

- Ông Hoàng Hai tên là Nguyễn Phúc Hy (không rõ tên mẹ), sinh năm 1782, mất năm 1801, thọ 20 tuổi, vô tự (22). Tuy mất sớm nhưng Hoàng tử cũng tỏ ra là người có khả năng : Năm 1799, là Khâm sai Cai đội, trấn thủ Gia-định, Hoàng tử giữ vững căn bản, điều quân, cấp lương, khuyến việc nông tang, nghiêm cấm uống rượu nên trong hạt yên ổn. Năm 1804, được gia tăng là Hoài Công ; năm 1809, cải táng “Thiếu Úy Hy” ; năm 1831, gia tăng Thuận An Công.

Như vậy là năm 1793, khi Hoàng tử Đảm được chọn thì ông Hoàng Hy còn sống.

- Ông Hoàng Ba tên là Nguyễn Phúc Tuấn (có chỗ chép Noãn), mẹ là Chiêu Dung Lâm Thức. Mất năm 12 tuổi. Năm 1909 cải táng ở Nguyệt-biều (23). Vì không thấy chép ông sinh năm nào nên tôi đoán sinh sớm nhất là sau ông Hoàng Hai mấy tháng, tức là cũng sinh năm 1782 ; như thế có nghĩa là ông chết sớm nhất vào năm 1782 + 12 = 1794, thế thì năm 1793, khi Hoàng tử Đảm được chọn, ông cũng còn sống như ông Hoàng Hy.

Rõ ràng Hoàng tử Đảm được chọn không phải vì hai ông anh đã chết mà vì một hay nhiều lý do khác, chẳng hạn vì Hoàng tử Đảm thông minh hơn hai anh. Thực Lục chép :” Hoàng tử thứ tư sẵn tính thông minh”, Quổc sử Di Biên cũng chép :”Hoàng tử có tài và minh mẫn, cưỡi ngựa, bắn cung rất giỏi nên Hoàng thượng muốn lập Hoàng tử ấy làm tự quân” (24).

Việc đưa Hoàng tử Đảm làm con nuôi Chính Phi là gián tiếp công nhận ngôi thưà kế dành cho vị Hoàng tử này, tránh mọi sự tranh giành của các Hoàng tử khác.

4) Sau khi Minh-Mệnh lên ngôi được mấy năm thì hai người con Đông Cung liên tiếp mắc tội, người bị giáng làm thứ dân, kẻ bị kiện cáo, chưa đem ra xử thì đã chết vì bệnh, đấy có phải là sự tình cờ hay không ?

Rất có thể, nhưng ta cũng không nên quên rằng trong đám triều thần có những phần tử bất phục ông vua trẻ :

- những người nhận thấy là mình bị “bạc đãi” : Hai người Pháp Chaigneau và Vannier bỏ về nước, các quan người Nam thì đem lòng oán hận.

- những người như Nguyễn văn Thành muốn tôn dòng chính thống (25) có thể đã mưu toan đưa con Đông Cung lên kế vị.

Minh-Mệnh lên ngôi là do sự quyết định của Gia-Long, không phải do mưu mô, giành giật mà chiếm được ngai vàng, nhưng đối trước những phản ứng bất thuận lợi của một số triều thần mà sau 5 năm trị vì nhà vua vẫn không dẹp nổi, có thể Minh-Mệnh đã ra tay “trừ hậu hoạn”. Nếu các con Đông Cung chết, hoặc không còn hi vọng lên nối ngôi thì bọn phản thần sẽ như rắn không đầu, còn dựa vào đâu mà mưu mô chống đối ?

Và cũng có thể vì vụ này mà lệ “Tứ bất lập” (26) của nhà Nguyễn ra đời. “Tứ bất lập” là không lập Chánh Cung, không lập Đông Cung, không lập Tể tướng và không lấy ai đỗ Trạng-nguyên. Không lấy ai đỗ Trạng, không lập Tể tướng là để giữ vững chủ quyền của Hoàng đế, không lập Chánh Cung và Đông Cung phải chăng vì mẹ của Minh-Mệnh chỉ là Thứ Phi chứ không phải là Chánh Cung, do đó Minh-Mệnh không thể đương nhiên lên ngôi Đông Cung vốn dành cho dòng chính ? Có người cho rằng “Tứ bất lập” do Gia-Long đặt ra nhưng Hoàng tử Cảnh đã lên ngôi Đông Cung năm 1794, mẹ là Vương Hậu Tống thị thì được lập làm Hoàng Hậu năm 1806, rõ ràng dưới thời Gia-Long lệ “Tứ bất lập” chưa có. Lệ này do Minh-Mệnh đặt ra hợp lý hơn bởi Minh-Mệnh mới phải đương đầu với những khó khăn do dòng chính thống gây ra. Đọc Đại Nam Thực Lục Chính Biên, chỉ thấy Minh Mệnh có “Phi” mà không thấy có “Hoàng Hậu”, có “Hoàng Trưởng Tử” mà không thấy có “Đông Cung”.

Viết xong tháng 11, 1995
Sửa lại tháng 6, 2001
CHÚ THÍCH

1 – Theo Bằng Giang, tr. 103 và 111, thì linh mục Đặng Đức Tuấn (cha Khâm), người từng cộng tác với Trương Vĩnh Ký trên tờ Miscellanées, là tác giả những bài : “Tự tích việc đạo nước Nam vãn và Lời khai về Việc đạo và về Giặc Tây” (= Tây Sơn),” Đức Thầy tử vi đạo vãn”… nhan đề có nhiều chỗ trùng hợp với Đại Nam Việt Sử Ký, có thể cuốn này cũng do Đặng Đức Tuấn viết rồi người đời sau bổ sung thêm cho đến tận năm 1907 ?

2 – Theo truyền thuyết ở Trung quốc thì năm 65, Hán Minh Đế nằm mơ thấy kim nhân, tỉnh dậy bảo quần thần đoán mộng. Bác Nghị đoán là Phật, vua bèn sai Thái Âm và Cảnh Hiến đi Tây vực cầu đạo. Thái Âm về nước cùng 2 vị Sa môn, dùng ngựa trắng chở 42 Chương Kinh về. Hán Đế xây chùa Bạch Mã ở Lạc-dương cho hai thầy Sa môn thờ Phật.

Không rõ ai đã xướng xuất ra cái thuyết Hán Minh Đế vì nghe tiếng đạo Thiên Chúa là Chính đạo nên sai các quan sang Tây phương tìm, nhưng các quan lười biếng, ngại xa, đi nửa đường dừng lại ở Thiên-trúc, về dối vua là đã đi đến nơi. Thuyết này được Philiphê Bỉnh chép trong Sách Sổ Sang Chép CácViệc vào cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 ; S. Baron, thế kỷ 17, cũng chép trong Description du Royaume de Tonquin nhưng có lẽ A. de Rhodes là người đầu tiên chép thuyết này trong Histoire du Royaume de Tonquin từ thế kỷ thứ 16, Đại Nam Việt Quấc Triều Sử Ký chỉ nhắc lại mà thôi.

3 – “Mới nên 4 tuổi…” không rõ thời xưa thường hay nhầm “n” với “l” hay chỉ riêng những người có đạo viết như thế vì tôi thấy lỗi này rất thường trong cả Sách Sổ Sang… của Thầy Cả Bỉnh.

4 – Phạm văn Nhân là dòng dõi thế gia, đã theo Nguyễn Ánh sang Vọng-các, ra trận lập công to, giúp Đông Cung trấn giữ Gia-định, Diên-khánh, làm đến chức Chưởng cơ Giám quân Thần sách cai quản tướng sĩ 5 đồn (Liệt Truyện).

Nguyễn văn Liêm cũng theo Nguyễn Ánh đi Vọng-các rồi hộ tống Ðông Cung sang Pháp. Khi về làm đến chức Thuộc nội Cai cơ, trông coi Thị vệ ở Long-diên (Liệt Truyện).

5 – Boudet & Masson, tr. 21.

6 – Thực Lục, IV, tr. 24.

7 – Ngô Tòng Chu người Bình-định, tính ưa nói thẳng, trung trực. Làm quan đến Lễ bộ rồi Phụ đạo Ðông Cung. Năm Kỷ Mùi cùng Võ Tánh trấn Bình-định, bị vây đã uống thuốc độc tự tử (Liệt Truyện).

Trịnh Hoài Đức là học trò của Ngô Tòng Chu, tổ tiên người Phúc-kiến đời đời làm quan, trốn tránh nhà Thanh sang Việt-Nam. Từng làm Thượng thư bộ Lễ, Hiệp biện Đại Học Sĩ, Chánh Sứ sang nhà Thanh, Tổng tài soạn Ngọc Phả. Ân khoa năm 1822, làm Chủ khảo thi Hội, thi Đình giữ chức Độc quyển. Sung Thị Giảng cùng với Lê Quang Định (Liệt Truyện).

Lê Quang Định cũng là học trò Ngô Tòng Chu. Làm Hữu Tham tri bộ Binh. Soạn Đại Việt Nhất Thống Dư Địa Chí, 10 quyển, khảo sát từ Bắc chí Nam (Liệt Truyện).

8 – Nguyễn Thái Nguyên người Thừa-thiên, chính trực, hòa nhã. Từng theo Nguyễn Ánh sang Vọng-các, giữ chức Khâm sai, Tham mưu, vượt biển về Phú-xuân do thám tình hình. Làm quan bộ Lại, rồi bộ Lễ, có lần nói trái ý vua bị cách chức. Năm Ất Mão, làm bộ Lễ kiêm dậy Đông Cung (Liệt Truyện).

9 – Thư của Barisy (người đã đáp tầu Méduse năm 1789 về giúp Nguyễn Ánh, và là nhạc phụ của J.B. Chaigneau) gửi cho Letondal. Trong thư tả cảnh Đông Cung lúc hấp hối cả đêm gọi tên những người bạn Pháp, gửi gấm họ cho vua cha, lại sai người đến xin ông Liot cầu nguyện cho Đông Cung, rồi mất lúc 4 giờ sáng. (L. Cadière, tr. 21-6).

10 – Họ Dương, trỏ Dương Chu (440-380), chủ trương “dù nhổ một cái lông làm lợi cho thiên hạ cũng không làm”, thiên hạ loạn chỉ vì những người thích “làm lợi cho thiên hạ” mỗi người một ý mà gây ra chiến tranh (Liệt Tử và Dương Tử).

Họ Mặc, trỏ Mặc Địch (480-379 tr.TL ?), chủ trương thuyết Kiêm ái : nếu mọi người đều thương yêu nhau thì sẽ hết chiến tranh.

11 – Thực Lục, tập I, tr. 289.

12 – Thực Lục, VII, tr. 104.

13 – Thực Lục, VIII, tr. 76 – Liệt Truyện, II, tr. 49.

14 – Thực Lục, VIII, tr. 97 – Minh-Mệnh Chính Yếu, I, tr. 74.

15 – Thực Lục, VIII, tr. 204-5.

16 – Thực Lục , VII, tr. 97 – Minh-Mệnh Chính Yếu, I, tr. 74.

17 – Anh Minh, tr. 17.

18 – Trong Vietnamologica, I, tr. 150, Nguyễn Vy Khanh cho biết các con Kỳ Ngoại Hầu Cường Để là Tráng Cử, Tráng Liệt, Tráng Đinh.

19 – Bouillevaux, tr. 93-105 – Héduy, tr. 35.

20 – Nguyễn Xuân Thọ, tr. 435.

21 – Ngô Giáp Dậu, tr. 336-7.

22 – Nguyễn Phước Tộc Thế Phả, tr. 254.

23 – Nguyễn Phước Tộc Thế Phả, tr. 255.

24 – Thực Lục , III, tr. 225 – Quốc Sử Di Biên, tr. 223.

25 – Liệt Truyện, tr. 27 : Năm 1814, Tống Hậu mất, các quan có người bàn đem con Hoàng tôn Đán (trỏ vào Lệ Chung, vì “Đán” là tên của Mỹ Đường) giữ việc thừa tự, Vua không nghe, sai Hoàng tử Đảm, đã được Tống Hậu nhận làm con nuôi. Nguyễn văn Thành e lời xưng hô trong văn tế khó nói, Vua dụ : “Con vâng mệnh cha để tế mẹ là danh chính, ngôn thuận rồi” và quyết định sai Hoàng tử Đảm dâng lễ tế điện.

26 – Có chỗ chép là “ngũ bất lập” tức là không lập Chánh Cung, không lập Đông Cung, không phong Vương, không lấy đỗ Trạng, không lập Tể tướng.
 
SÁCH THAM KHẢO

ANH MINH : Kỳ Ngoại Hầu Cường Để với Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng. 1951.

BẰNG GIANG : Sương mù trên tác phẩm Trương Vĩnh Ký. Văn Học, 1994.

BARON, Samuel : Description du Royaume de Tonquin. Bản dịch của H. Deseille, không đề năm xuất bản.

PHILIPHÊ BỉNH : Sách Sổ Sang Chép Các Việc (1822). Saigon : Viện Đại Học Đà-lạt, 1968.

BOUDET & MASSON : Iconographie historique de l’Indochine. 1931.

BOUILLEVAUX, M.C.E. : Voyages dans l’Indochine (1848-56). Paris : 1858.

CADIÈRE, L. : “Les Français au service de Gia-Long, XII. Leur correspondance”, Bulletin des Amis du Vieux Hué, Oct-Déc., 1926.

CH’EN, Kenneth : Buddhism in China. Princeton University Press, 1964.

DANEY, Charles : Quand les Français découvraient l’ Indochine. Paris : Herscher, 1981.

HÉDUY, Philippe : Histoire de l’Indochine. La Conquête (1624-1885). Paris : Henri Veyrier, 1983.

LAMB, Alastair : The Mandarin Road to Old Hué. London : Chatto & Windus, 1970.

NGÔ GIÁP DẬU : Hoàng Việt Long Hưng Chí. Dịch giả : Ngô Đức Thọ, Mai Xuân Hải, Nguyễn văn Nguyên. Hà-nội : Văn Học, không đề năm.

NGUYỄN HIẾN LÊ : Liệt Tử và Dương Tử. Lá Bối ; Xuân Thu tái bản ở Mỹ.

N.V. : “Hoàng tử Cảnh”, Phổ Thông, số 23 & 24, 1959.

NGUYỄ N VY KHANH : “”Tìm hiểu tên họ người Việt”, Vietnamologica, I. Canada : Centre de Vietnamologie, 1995.

NGUYỄN XUÂN thỌ : Bước mở đầu của sự thiết lập hệ thống thuộc địa Pháp ở Việt-Nam (1858-97). California : tác giả xuất bản, 1995.

PHAN BỘI CHÂU : Tự Phán. Garden Grove, USA : Nhan Chu Hoc Xa, 1987.

PHAN BỘI CHÂU : Ngục Trung Thư. Dịch giả : Đào Trinh Nhất. Saigon : Tân Việt, 1950.

PHAN KHOANG : Trung Quốc Sử Cương. Saigon, 1958 ; Đại Nam tái bản ở Mỹ.

TRÁNG LIỆT : Cuộc đời cách mạng CƯỜNG ÐỂ, Saigon, 1957 (?).

VĨNH CAO, VĨNH DŨNG, TÔN THẤT HANH, VĨNH KHÁNH, TÔN THẤT LÔI, VĨNH QUẢ, VĨNH THIỀU :Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả. Huế : Thuận Hóa, 1995.

RHODES, A. de : Histoire du Royaume de Tonquin. Hồng Nhuệ dịch qua bản tiếng Pháp của Henri Albi. Uỷ Ban Đoàn Kết Công Giáo TPHCM, 1994.

Đại-Nam Chính Biên Liệt Truyện. Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn. Huế : Thuận Hóa, 1993.

Đại-Nam Thực Lục Chính Biên. Hà-nội : Sử học, Khoa học, KHXH, 1964, 1968.

Đại-Nam Việt Quấc Triều Sử Ký. Tân-định, Imprimerie de la Mission, 1879.

Minh-Mệnh Chính Yếu. Huế : Thuận Hóa, 1994.

( Nguồn: nghiencuu lịch sử)

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.10.2014

Thủ tướng nói rất chuẩn

Thủ tướng nói rất chuẩn

Trích tin trên VietNamNet

Đôi câu bình luận
Thủ tướng nói rất chuẩn
Dân chủ là đương nhiên
Chỉ những kẻ ngu xuẩn
Sợ dân chủ phát điên…

TN

( Nguồn : trannhuong.com)
Đăng bởi: Ngô Minh | 21.10.2014

TRẢ ƠN !

TRẢ ƠN !

Minh Tâm

Được đặt tên là Trả ơn nhưng thực ra đây là một câu chuyện về sự vô ơn. Không hậu hiện đại tiền hiện đại chi hết, không chủ nghĩa cấu trúc cấu trắc chi hết, không cao giọng, không dùng nhiều thán từ kiểu ôi, a, câu chuyện được kể ra giản dị, trần trụi, “vô tư” như chính cuộc đời này, chính vì thế mà nó có sức lay động. Đừng băn khoăn đây là hồi ức hay là truyện ngắn. Một truyện ngắn, khi mà đạt được một nội lực mạnh mẽ thì có sức mạnh lay động còn ghê gớm hơn cả một câu chuyện có thật.

Quý vị đừng có vội lên án Mạnh là kẻ vô ơn, đừng vội xoa tay thỏa mãn khi được xem một câu chuyện hay và cho rằng mình chẳng có nét nào giống Mạnh. Trong mỗi chúng ta rất có thể đang có một gã Mạnh béo tốt, nhởn nhơ. Có vô khối kẻ tốt hơn Mạnh nhưng cũng có vô khối kẻ xấu hơn Mạnh. Có như vậy thì những kẻ cặn bã mới luôn luôn có thừa lý do để sống hạnh phúc vì họ luôn biết rằng còn có kẻ xấu hơn họ.

Vô ơn là một căn bệnh phổ biến trong thời đại chúng ta. Sự vô ơn lớn nhất mà chúng ta được chứng kiến là sự vô ơn đối với những người đã ngã xuống ở Hoàng Sa, Trường Sa, ở biên giới phía Bắc 1979. Vì quyền lợi ích kỷ của một chính đảng, một thể chế mà trong mấy chục năm qua, sự hy sinh của hàng vạn người vì độc lập của tổ quốc đã không được nhắc đến. Một nhà hiền triết nói rằng: “Kẻ ích kỷ sẵn sàng đốt nhà bạn chỉ để luộc một quả trứng”. Vâng, người ta đã cố tình vô ơn với rất nhiều người chỉ để giữ quyền lợi của một nhóm người. Người ta cũng đã vô ơn với các công thần của chế độ như Cù Huy Cận, Nguyễn Hữu Khiếu khi bắt giam Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Hữu Vinh… chỉ vì hai “nghịch tử” này dám nghịch dại đòi tự do dân chủ. Đây chỉ là vài ví dụ về sự vô ơn trong vô vàn sự vô ơn trong thời đại ngày nay.

Trạch hối hận muộn màng rằng “mình đã đổ máu để cứu một bọn lưu manh”.

Vâng, bọn họ chỉ là một đám lưu manh vô giáo dục bởi vì những kẻ vô ơn đương nhiên là những kẻ vô giáo dục, dù họ có ngồi trên chót vót quyền lực hoặc học hành thông thái đến bậc nào đi nữa.

Bauxite Việt Nam

 

         Hơn ba chục năm tôi mới gặp Trạch. Trận đánh thị xã Phước Long tháng 01-75, lão hứng trọn trái M79 nát tươm hai chân. Ai cũng tưởng lão ngoẻo rồi. Vậy mà bây giờ lão từ Thái Bình tìm đến nhà tôi tận Sài Gòn trên chiếc xe lăn.

      – Có việc cần lắm tao mới phải đến. Chứ  lết nửa cái thân tàn này hơn nghìn cây số nhếch nhác lắm!

       Trạch vẫn nói bằng giọng bỗ bã, rồi cười móm mém, hai hàm răng chỉ còn vài chiếc, khuôn mặt nhăn nheo, đen đúa tương phản với mái tóc bạc. Trạch gần bằng tuổi tôi, ngoại lục tuần mà nhìn lão hom hem hơn ông cụ ngoài bảy mươi. Tôi hỏi có việc gì? Trạch chậm rãi mở ba-lô con cóc nhàu nát lôi ra một bọc giấy  ở đáy ba-lô. Tôi nói:

         – Nhờ xác minh quá trình công tác trong quân đội chớ gì? Đang có đợt làm chính  cho  người có công đấy. Ông  thì xứng đáng quá đi chứ!  Trận Phước Long đã được thưởng huân chương chiến công hạng nhất cơ mà…

           Trạch nói:

            – Đời mình một nửa đã chôn ở Phước Long rồi, còn một nửa nay mai chôn nốt ở Thái Bình, cần huân chương huân chước làm gì? Vào đây là  vì thằng con cần phải  nhờ đồng đội giúp đỡ…

             Hình như khó khăn lắm  Trạch mới thốt ra được mấy câu cuối. Giọng lão nghẹn ứ. Hơn ba chục năm trước Trạch đã từng bắn liền ba phát B40 trúng 3 xe tăng,  bị thương nát cả hai chân mặt lão vẫn rắn đanh chứ có yếu đuối như vậy đâu. Cà đơn vị gọi  là Trạch lì. Lão cũng hơi gàn, lại bướng, nói năng bỗ bã,  nhưng tính thẳng băng và đối với đồng đội chí cốt.Tôi hỏi :

        – Con cái thế nào mà phải nhờ đồng đội?

         Trạch uống nước, hút thuôc rồi kể. Hôm đánh Phước Long lão bị thương , tưởng ngẻo , nhưng nhờ đồng đội nhiệt tình đưa vào quân y gấp , được truyền máu nên sống sót.  Sài Gòn giải phóng lão vẫn nằm chết dí trong bệnh viện, chả biết hòn ngọc viễn đông nó như thế nào. Rồi lão được đưa ra Bắc,  an dưỡng ở trại thương binh Thái Bình. Cứ nghĩ   gửi nửa tấm thân tàn ở đây đến chết. Nào ngờ  một cô thương binh  cụt tay, mất một mắt cũng vào an dưỡng.   Cùng cảnh ngộ thế là thương nhau, nên vợ chồng. Địa phương ưu tiên cho vợ chồng  Trạch làm nhân viên thu lệ phí chợ.  Vợ chồng ăn ở với nhau, ba lần đẻ chỉ nuôi được một. Trạch đặt tên con là Phước. Thì có  phước  mới có vợ và có đứa con nối dõi, chứ không thì nửa cái thân tàn  chết không có người chống gậy. Trạch nói thế. Và lão bảo:

           – Tớ đặt tên con là  Phước cũng là để  kỷ niệm trận đánh cuối cùng đời lính!

           Vợ chồng lão Trạch kiếm được đồng nào  dồn cho con ăn học hết . Nhờ trời, thằng Phước hay ăn chóng lớn, và  chăm ngoan, học giỏi. Thấm thoát đã lên đại học, tốt nghiệp kỹ sư cầu đường loại ưu. Nhưng ra trường  xin việc không chỗ nào nhận. Phải có chức, có quyền , hoặc  có nhiều tiền. Vợ  chồng Trạch đào đâu ra?  Có thằng cò  đòi 10 triệu chạy cho một chỗ , vợ chồng Trạch thế chấp hai quyển sổ thương binh lấy 10 triệu đưa cho nó.  Nó cầm tiền xong là biến.  Thằng Phước đành  ra chợ  thu lệ phí với bố mẹ.   Nhìn con thất vọng , Trạch đau như đứt từng khúc ruột. Đêm nào Trạch cũng sang hàng xóm xem nhờ tivi, mong  nơi nào đăng tin  cần kỹ sư cầu đường .  Cách đây một tuần, Trạch tình cờ nhận ra tôi và Mạnh xuất hiện trên TV.  Lão biết Mạnh đang làm Tồng giám đốc một công ty xây dựng, và đang cần tuyển kỹ sư , nên vào xin việc cho con.      

           Trạch nói với tôi:

          -Mừng quá suốt đêm không chợp mắt , mong trời sáng đi gặp chúng mày!

          Tôi nói vui:

          – Nếu không chắc  quên béng tụi tôi rồi?

          Trạch cười khầng khậc, nói như kẻ mắc lỗi:

          – Cái thân tôi, tôi còn quên  nữa là. Ông biết không? Nhiều đêm nằm mơ cứ tưởng mình còn chân, vùng dậy chạy, thế là té nhào , đổ máu đầu. Mới gần  sáu chục , nhưng  cực quá đâm đãng trí mất rồi!

          Tôi cảm thấy thương người bạn đã từng sống chết với mình. Còn nhớ mùa mưa năm 1968, đơn vị hành quân vào  B2.  Đói, sốt rét tả tơi. Càng vào sâu anh em rơi rớt càng nhiều. Một chiều, đến bãi khách thấy thiếu Mạnh, Trạch vứt ba-lô, xách AK quay lại đường cũ.  Đêm ấy Trạch không về. Sáng hôm sau đơn vị hành quân tiếp, bỏ Trạch và Mạnh lại. Ai cũng nghĩ hai đứa  “rụng” rồi.  Nhưng ba hôm sau, đơn vị đang nghỉ ở bờ sông Xe-băng-Hiêng, thì Trạch  cõng Mạnh  về.   Mạnh  chỉ còn là một cái xác thoi thóp, xám ngoét. Trạch đã mò mẫm ba ngày đêm mới tìm thấy Mạnh trong rừng sâu.  Trên đường Trường Sơn ngày ấy  biết bao người lính như Mạnh, bỏ xác âm thầm vì đồng đội không  quay lại tìm…

         Tôi  sốt sắng điện thoại báo tin  cho Mạnh.  Tôi tưởng Mạnh mừng lắm , nhưng Mạnh lại tỏ ra  lạnh nhạt. Mạnh hỏi tôi:

        – Lão Trạch còn sống à?

         Tôi nói  cho Mạnh biết nguyện vọng của Trạch, và ngỏ ý đưa Trạch đến nhà Mạnh chơi.  Mạnh nói mai đưa Trạch đến văn phòng công ty. 

           Trạch  vuốt ve cẩn thận tờ đơn xin việc và cái bằng kỹ sư của con. Nhà tôi chỉ cách Văn phòng công ty Mạnh hơn cây số. Tôi  đặt nửa tấm thân người bạn lính quắt queo nhẹ bỗng  lên cái xe lăn, rồi đẩy đi gặp   đồng đội cũ .  Đường phố Sài Gòn nhộn nhịp, người xe như nêm,  Trạch chả thèm để ý, cứ luôn mồm hỏi :

          – Sắp đến chưa?

           – Đừng sốt ruột, thế nào thằng Mạnh cũng nhận con ông!

           Tôi trấn an Trạch nhưng  trong lòng cảm thấy hơi băn khoăn.  Vì  Mạnh tỏ ra lạnh nhạt . Lẽ ra Mạnh  phải vui mừng vì gặp lại  người đã cứu sống mình . Chính Mạnh đã từng  xúc động  phát biểu trên  TV về  đền ơn đáp nghĩa cơ mà…

           Mạnh ra tận cửa, ôm choàng  lấy Trạch,  đón chúng tôi vào phòng khách.  Tôi cảm thấy mối nghi ngại trong lòng mình dịu đi.

          Chuyện trò thăm hỏi vồn vã xong,  Mạnh mời chúng tôi sang phòng bên. Một bàn tiệc thịnh soạn đã dọn sẵn.   Ngoài Mạnh và chúng tôi còn có cán bộ công ty của Mạnh va phóng viên đài truyền hình.  Mạnh giới thiệu Trạch , không quên nhắc lại những chiến công của người đồng đội cũ. Rồi ôm hôn Trạch thắm thiết trước ống kính Camera. Nước mắt Trạch ràn rụa chảy xuống hai gò má nhăn nheo.  Phóng viên quay xong cảnh cảm động đó, nhận phong bì rồi tếch thẳng. Chúng tôi cụng ly , rôm rả chuyện trò. Bỗng Mạnh ghé tai tôi hỏi:

           – Cậu còn nhớ chuyện lão Trạch ngửi súng không?

           Tôi giật mình khi nghe Mạnh nhắc chuyện đó , mặt lạnh như tiền. Số là vào mùa hè năm 70, đơn vị làm nhiệm vụ chốt chặn đoạn quốc lộ Lộc Ninh đi Snun. Chiều chiều từng tiểu đội cắt rừng ra mặt lộ chôn mìn rồi mai phục. Xe tải, xe bọc thép của quân đội Việt Nam cộng hòa thường qua lại đoạn đường đó. Đơn vị chôn mìn rồi phục kích, khi xe đối phương trúng mìn, bắn bồi tiếp mấy phát B40. Thời kỳ đầu hiệu suất chiến đấu rất cao.  Nhưng sau đối phương cảnh giác,  cho biệt kích lùng sục, và công binh rà mìn rất kỹ trước các cuộc hành quân.  Các tiểu đội đi phục mấy đêm liền đều trắng tay, gùi mìn đi lại gùi về.  Riêng  tiểu đội Mạnh đi lần nào thắng lần đó. Mạnh báo công: Đã cho nổ mìn lật nhào 10 xe bọc thép và bắn cháy 15 xe khác.  Tiểu đội trưởng Mạnh được đề nghị tặng danh hiệu dũng sĩ diệt xe tăng. Trạch nghi ngờ thành tích của Mạnh, đã phát biểu công khai trong sinh hoạt đại đội. Nhưng Mạnh cho rằng Trạch “ghen ăn”. Đại đội trưởng, chính trị viên vừa   không tin, vừa ghét Trạch,  bởi Trạch  nói bậy làm giảm ý thành tích của đơn vị…

           Buổi sáng hôm ấy, tiểu đội Mạnh đi phục về, báo cáo đã bắn ba xe bọc thép bằng súng B40. Chính trị viên đại đội đang định biểu dương thì  Trạch nhảy xổ ra. Trạch   giật khẩu B40 trong tay Mạnh, hỏi:

            – Bắn bằng khẩu B40 này à?

            – Đúng! Mạnh đáp.

               Trạch liền kề mũi vào nòng súng hít mạnh. Rồi lão dí nòng súng đó vào mũi đại đội trưởng, chính trị viên đại đội nói:

             -Các ông ngửi đi!

             Đại đội trưởng, chính trị viên không hiểu Trạch giở trò gì, nhưng cũng ngửi nòng súng. Chờ hai người ngửi xong Trạch hỏi:

             – Các thủ trưởng có thấy thối không?

            –  Không! Hai người cùng đáp.

              Trạch  thò ngóng tay ngoáy vào nòng khầu súng B40,rồi  giơ lên cho mọi người nhìn thấy bụi bám  đen xì, và hỏi:

            – Khẩu súng này chưa lau! Đúng không?

            – Đúng!

             Trạch mới chỉ mặt Mạnh hỏi :

             – Mày bảo đã bắn ba phát đúng không?

             – Đúng!

             Bấy giờ Trạch mới nói rành rọt :

             -Những thằng bắn B40 đều biết, chỉ bắn một phát, nòng súng đã thối hoắc. Không tin cứ bắn thử. Đồng chí Mạnh bắn ba phát , chưa lau chùi , mà  nòng súng không thối.

             Nói xong, Trạch ra gốc cây, xách ba quả đạn B40 vào để trước mặt chính trị viên đại đội:

             – Đây là ba quả đạn tiểu đội đồng chí  Mạnh vứt đi rồi báo cáo  đã bắn cháy ba xe bọc thép!

             Thì ra suốt đêm qua Trạch đã bám theo tiểu đội Mạnh để điều tra việc làm gian dối của Mạnh. Trước bằng chứng không thể chối cãi,  Mạnh phải thú thực đã nhiều lần  báo cáo láo thành tích. Mạnh  cảnh cáo, bị bị gạch tên trong danh sách đề nghị khen thưởng…

            Đã hơn ba mươi năm mà Mạnh còn nhớ và thù Trạch. Tôi nói với Mạnh:

            – Quên chuyện cũ đi. Đó cũng là bài học Trạch dạy ông để có được ngày hôm nay. Tôi nghĩ điều ông cần phải  nhớ là  Trạch đã  cứu ông , không chì một mà hai lần. Không có Trạch thì ông bỏ xác  ở Trường Sơn rồi. Và  trong trận Phước Long , Trạch  đã  lấy thân che cho ông . Nó hứng trọn trái M79, mất nừa thân thể…

             Mạnh cười nhạt:

            – Ông khỏi nhắc. Tôi sẽ trả ơn hắn!

             Nói rồi Mạnh móc túi lấy chiếc phong bao  đã chuẩn bị sẵn bước tới bên Trạch. Một tay Mạnh ôm vai Trạch , một tay cầm cái phong bao giơ lên. Mạnh nói giọng xúc động:

            – Ăn quả nhớ kẻ trồng cây! Tôi có  ngày hôm nay là nhờ nhân dân đùm bọc, đặc biệt là những người đồng đội như anh Trạch đậy. Tôi có một chút quà  xin đến đáp lại anh Trạch.

            Mạnh trao cái phong bao cho Trạch. Trạch cầm đặt xuống bàn. Và nói:

            – Tôi xin cảm ơn đồng chí Mạnh! – Trạch không  bỗ bã theo thói quen,  mà nói rất nghiêm túc, giọng rưng rưng xúc  động – Tôi từ quê vào đây tìm đồng đội cũ chì có một việc nhờ đồng đội giúp. Vợ chồng  có mỗi cháu Phước. Cháu tốt nghiệp đại học giao thông, nhưng hơn hai năm nay  chưa xin được việc làm. Tôi mong đồng chí Mạnh và các đồng chí cưu mang  cháu cháu vào làm ở công ty…

              Lão Trạch run run đưa cái đơn xin việc và cái bằng tốt nghiệp của con mình cho Mạnh. Tôi nhìn Mạnh như cầu khẩn Mạnh cầm lấy. Nhưng  Mạnh không cầm . Mạnh  nhếch mép cười từ chối khéo:

              – Anh Trạch thông cảm! Công ty đang cổ phần hóa nên không nhận thêm người. Anh chịu khó xin việc nơi khác cho cháu vậy.

             Rồi Mạnh vỗ mạnh vào vai Trạch,  phá  lên cười, nói bỗ bã:

             -Vả lại nhựa đường còn thối hơn  nòng súng B40 anh Trạch ạ!

            Những cán bộ dưới quyền Mạnh cất tiếng cười tán thưởng câu nói đùa vừa ác ý vừa vô duyên của sếp.  Những khuôn mặt no nê, nhầy nhụa phả ra toàn hơi rượu,  nhìn bẩn thỉu như những đống phân. Trạch  nhìn Mạnh, nhìn những khuôn mặt đó.  Anh  chợt hiểu ra tất cả.  Chúng  nó thù dai như đỉa nhưng nhanh chóng quên ơn . Bất đắc dĩ chúng nó phải bớt  xén tiền ăn cắp của dân để bố thí cho mình gọi là đền ơn đáp nghĩa, làm mầu làm mè với thiên hạ, để xuê xoa  che giấu tội lỗi, để  tục lừa dối, chứ không hề nghĩ đến trách nhiệm đối với con mình. Mình đã đổ máu để cứu bọn  lưu manh.

         Trạch cầm chiếc phong bao ném thẳng vào mặt Mạnh.  Những tờ đô la bay tứ tung,  dính vào  khuôn mặt nhờn mỡ của Mạnh và đồng bọn. Rồi Trạch lết ra chiếc xe lăn. Anh  không nhờ tôi bế lên xe, cũng không chờ tôi cùng về. Anh dùng hai bàn tay gầy quắt queo vần bánh xe lăn . Tôi cảm thấy tim mình buốt nhói.

Nguồn: http://bongbvt.blogspot.com/2014/10/tra-on.html#more

( THeo BVN)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.10.2014

Bộ phận không nhỏ nằm ở đâu?

   Bộ phận không nhỏ nằm ở đâu?

  •   Lam Giang

 

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã trăn trở như vậy trong cuộc tiếp xúc với cử tri quận 4, TP.HCM hôm 15-10 vừa qua. “Dân hỏi mãi, Đảng hỏi mãi nhưng không trả lời được. Từ Trung ương đến cơ sở đều lúng túng chỗ này” – Chủ tịch nước cho hay.

Đây không phải là lần đầu tiên, lãnh đạo cao cấp đề cập cái gọi là “bộ phận không nhỏ”. Cụm từ này đã từng xuất hiện trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về ” Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” ban hành ngày 16/1/2012. Nghị quyết TW4 chỉ rõ “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kểcả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…” (http://baodientu.chinhphu.vn/Home/Nghi-quyet-Hoi-nghi-Trung-uong-4-Mot-so-van-de-cap-bach-ve-xay-dung-Dang-hien-nay/20121/125067.vgp)

Tại buổi tiếp xúc cử tri diễn ra vào sáng 1/12/2012, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đã khẳng định: “một phận không nhỏ” đó có thể nằm ngay trong mỗi con người chúng ta, khi ông đề cập tới vấn đề có những cá nhân suy thoái trong Đảng.

Trở lại điều mà Chủ tịch nước trăn trở: “bộ phận không nhỏ” bây giờ nằm ở đâu? Quả thực, để chỉ mặt đặt tên hay là nắm được tay day được cánh thật không dễ chút nào nhưng không phải là không thấy. Chúng (xin gọi như thế vì nó đông lắm, một bộ phận là đã nhiều rồi, huống chi lại là bộ phận không nhỏ) vẫn đi lại, nói cười hàng ngày trước mắt mọi người bằng vẻ ngoài sang trọng, bằng ngôn từ chải chuốt, bằng chức danh đương nhiệm khiến thiên hạ phải kính nể. Bởi thế, nhìn bề ngoài không dễ gì nhận mặt được chúng.

Nhưng nhân dân thì biết chúng “núp” ở đâu.

Chúng núp ở những dự án đẻ ra bởi phần trăm được bỏ túi chứ không phải vì lợi ích của cộng đồng, cái phần trăm luật bất thành văn đứng trên luật pháp.

Chúng núp ở những công trình hàng ngàn tỉ chưa khánh thành đã hư hỏng, xuống cấp hoặc lãng phí; ở những con tàu, những ụ nổi, những thiết bị máy móc được mua với giá hàng triệu đô nhưng rốt cuộc chỉ để làm sắt vụn hay đồ phế thải.

Chúng núp trong những biệt thự hoành tráng, những xe hơi sang trọng, những trang trại mênh mông mà chủ nhân của nó không phải đổ mồ hôi sôi nước mắt mới có được.

Chúng núp sau những con số tuyệt đẹp kiểu như một triệu người kê khai tài sản chỉ phát hiện được một kẻ gian dối hay 1500 cuộc thanh tra chỉ phát hiện được một vụ buôn lậu, còn một thành phố lớn thì 5 năm liền không có tham nhũng trong khi đó công trình bờ kè hàng trăm tỉ vừa xây xong đã bị sập.

Chúng núp sau những quyết định bổ nhiệm hàng loạt trước khi thăng chức hay nghỉ hưu, khoảng thời gian “nhạy cảm” mà dư luận gọi là phút 89.

Chúng núp bất cứ ở đâu, từ rừng núi đến đồng bằng, từ thành thị đến nông thôn.

Mỗi khi bị báo chí hay người dân phanh phui, lập tức chúng được che chắn bằng sự lươn lẹo miệng lưỡi, sự luồn lách luật pháp và bằng cả ô che dù chắn bên trên.

Đôi khi chúng còn táo tợn hiện hình, thách thức dư luận, coi thường luật pháp, ví như vị cựu quan chức nọ làm đơn buộc chính quyền phải nắn đường qua nhà mình hay như vị quan tòa kia vô tư gọi điện thoại trong khi đang ngồi chễm chệ trên ghế xử án.

Thế đấy, chúng đâu có phép tàng hình. Dù núp ở đâu, dù che đậy như thế nào chúng vẫn lộ gót chân “asin” hay là “lạy ông tôi ở bụi này” như các cụ ta ngày xưa đã dạy. Trò đời là thế, kẻ ăn vụng có bao giờ chùi sạch mép. Nhân dân trăm tai nghìn mắt nên thấy hết, biết hết.

Để lôi cái “bộ phận không nhỏ” ra ánh sáng, phải bằng hành động, bằng chế tài cụ thể chứ không thể cứ hô hào hay kêu ca mãi được. Chống tham nhũng, tiêu cực mà không làm đến nơi đến chốn thì khiến cho “bộ phận không nhỏ” như vi rút nhờn thuốc. Chúng càng nhởn nhơ, giỡn mặt, bởi chúng có lợi thế: có quyền, có tiền và quan trọng hơn, chúng đông lắm, cả một bầy sâu như Chủ tịch nước có lần đã nói.

Nhân dân đặt niềm tin vào Đảng, Quốc hội và Chính phủ trong cuộc chiến chống tham nhũng đầy cam go. Niềm tin ấy sẽ ra sao nếu các cấp các ngành từ Trung ương đến cơ sở cứ lúng túng mãi với câu hỏi của người dân: “bộ phận không nhỏ” bây giờ nằm đâu?

( Nguồn : vhna)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.10.2014

Hy hữu vụ nhầm xác chết xôn xao ở Huế

Hy hữu vụ nhầm xác chết xôn xao ở Huế

Đang chuẩn bị đám tang cho con, gia đình Cương bất ngờ thấy thanh niên này bước vào và nói: ‘Con là Cương đây. Ở nhà có chuyện gì à?’. Vụ việc nhầm xác trong đám tang gây xôn xao dư luận xã Hải Dương, thị xã Hương Trà, Thừa Thiên Huế suốt thời gian qua.

alt

Cha mẹ anh Phôn cho rằng con mình không may nên mới “chết thay” cho người khác.

Theo ghi nhận của CSGT tỉnh Thừa Thiên Huế, rạng sáng 18/9, chiếc xe máy do một nam thanh niên điều khiển với tốc độ cao trên Quốc lộ 1A, khi đến địa phận cách sân bay Phú Bài (thị xã Hương Thủy) khoảng 200m thì tự đâm vào chiếc xe container đang đậu bên lề đường. Người điều khiển xe bay ra húc trúng vào cột mốc cố định dựng trên đường. Cú va đập mạnh khiến nam thanh niên chết ngay tại chỗ.

Ít phút sau khi tai nạn xảy ra, cơ quan chức năng có mặt tại hiện trường để làm việc. Kiểm tra cốp xe, cảnh sát tìm thấy giấy tờ tùy thân của anh Lê Văn Cương (sinh năm 1995, ngụ thôn Thái Dương Hạ Bắc, xã Hải Dương, thị xã Hương Trà) và chiếc điện thoại. Lần tìm lịch sử cuộc gọi, công an tìm thấy người thân của của chủ thuê bao.

Bà Nguyễn Thị Gái (65 tuổi, mẹ anh Cương) kể lại, lúc đó trời đã khuya, cả nhà vẫn đang ngủ say, bỗng điện thoại chồng bà đổ chuông inh ỏi. Người nhà nhấc máy thì nghe giọng hỏi: “Ông tên là ông Va, cha của Lê Văn Cương à? Ông về Phú Bài nhanh đi, vì con trai ông là Cương đang bị tai nạn giao thông ở đó”.

Nghe xong điện thoại, ông Va, cha của Cương, hốt hoảng báo với vợ. Bà Gái bật dậy run run, cuống cuồng mở tủ lấy tiền, còn ông Va đánh thức hai người con đi cùng. Đường xa, để tới hiện trường vụ tai nạn, chạy nhanh cũng mất cả tiếng đồng hồ, nạn nhân đã được phủ chiếu lên cơ thể.

“Thấy chiếc xe máy nằm giữa đường tôi đã khóc lóc, không còn hy vọng gì, mở chiếc chiếu ra đúng là áo của con trai mình hay mặc. Thi thể bị tai nạn mặt bị sưng và biến dạng một chút, ngoại hình, tuổi tác thì quá giống nhau, vả lại tinh thần bốn người chúng tôi lúc đó đều bất ổn, hoảng loạn nên ai cũng chết lặng, không mảy may nghi ngờ, liền xin đưa xác con về nhà trong đêm để mai táng”, bà Gái kể lại.

Đến khoảng hơn 3h sáng, thi thể người bị tai nạn đã được đưa vào nằm ở giường như phong tục địa phương. Dù giữa đêm, nhưng nhiều người là bà con, họ hàng thân thích, hàng xóm đều tới xem xét sự tình, chia buồn cùng với gia đình người xấu số. Mọi người phân công công việc, gọi điện thoại báo tin cho họ hàng con cái làm ăn tận Đà Lạt, TP HCM, thậm chí bên Mỹ sắp xếp về quê để dự đám tang. Người đơm cơm, trứng lên cúng, người đi đặt hòm khâm liệm.

alt
Di ảnh anh Phôn

Giữa lúc tiếng khóc thương tâm đang vang lên bên thi thể nạn nhân thì bất ngờ một thanh niên lững thững đi vào: “Con là Cương đây này! Có chuyện gì à?”. Chưa kịp định thần, ngay lập tức người cậu ruột của Cương tưởng ai đó trêu đùa nên giáng một nhát bạt tai như trời giáng vào người thanh niên mới bước vào.

Vài người ngước lên, ú ớ: “Ối thằng Cương đây này. Mày là ma hiện về à?”. Người thanh niên giậm chân bình bịch: “Con là Cương, con vẫn sống”. Vài người vừa tháo chạy trước đó vì sợ ma, nay mới lò dò quay lại, nhận ra người này đúng là anh Cương. Người vui nhất là mẹ của cậu, bà la to lên: “Con mình đây mà”, ôm chầm lấy con.

Lúc này, mọi người với vỡ lẽ, hóa ra người chết không phải anh Cương, mà là người bạn Võ Văn Phôn (sinh năm 1997, ngụ khu tái định cư 1, thôn Thái Dương Hạ Trung, cùng xã). Khoảng 21h đêm 17/9, Phôn cùng hai người bạn sang nhà trọ của Cương tại đường Lê Thánh Tôn (TP Huế) để nhậu sau một ngày làm việc.

Cả nhóm bốn người mua  bia về uống, đến 23h thì nghỉ. Cương cùng Phôn nằm nghỉ ngơi đến gần 1h sáng, cảm thấy đói bụng nên chở nhau đi ăn bánh canh. Sau khi đã no, người thấm mệt vì có chút hơi men, Cương nằm lăn ra ngủ. Phôn bất ngờ nhận được tin nhắn hẹn hò của một cô gái ở huyện Phú Lộc nên lấy xe, lấy điện thoại, choàng luôn chiếc áo của Cương đi chơi.

Anh Cương phát hiện ra sự việc khi nửa đêm thức giấc chưa thấy bạn về, mượn điện thoại người khác gọi vào số của mình, thì được báo tin người đi chiếc xe máy của mình đã gặp tai nạn, người điều khiển xe đã chết. Anh về quê, nhưng không về nhà ngay, mà sang nhà Phôn báo tin trước.

Người anh trai của Phôn kể lại: “Đêm ấy tôi đang ngủ thì Cương cùng với một anh thanh niên nữa về nhà tôi. Cương gọi cửa và nói: ‘Đã chở xác thằng Phôn về nhà chưa anh? Phôn đi xe máy của em về dưới Phú Bài chơi với bạn thì gặp tai nạn giao thông, chết rồi. Em mới thức dậy mượn điện thoại gọi vào số em thì có người nói vậy, em chạy về đây liền’. Tôi hốt hoảng đi tìm ba mẹ về để tính tiếp chuyện”.

Về phía Cương, báo tin cho nhà bạn xong, anh mới về nhà mình. “Thấy người đông, rồi trong nhà rất nhiều tiếng khóc vọng ra gọi: ‘Cương ơi! Cương ơi’, tôi biết chắc nhà mình có chuyện rồi, nên đứng ở ngoài quan sát, đi qua đi lại một hồi mới lấy bình tĩnh bước thẳng vào nhà”, anh Cương kể lại.

Hai thanh niên này là bạn thân của nhau từ thời chăn trâu cắt cỏ, ngoại hình rất giống nhau. Khi nhận xác, cha mẹ Phôn đòi cởi áo ra xem xét vì anh này có vết xăm hình ở vai, còn Cương thì không. Lúc đó gia đình Phôn mới tin là thật, đem xác con về nhà.

Trước đó, gia đình của Cương đã trình báo sự việc con mình tử vong với chính quyền thôn. Lát sau, gia đình của Phôn cũng đến trình báo tiếp, khiến vị trưởng làng ngạc nhiên hỏi tới, hỏi lui rất nhiều lần.

Một hàng xóm cho biết: “Chuyện này quá hy hữu, mà cũng may sao Cương về nhà sớm, không mà chậm thêm vài giờ thì chuyện càng rắc rối và gay cấn. Nếu mà đã chôn thì chắc lại phải đào, mở quan tài ra nhận dạng”.

Ngồi bên vợ và các con, ông Võ Long (48 tuổi, cha của Phôn) gạt nước mắt. Ông Long đau đớn “đổ lỗi”: “Con tôi chết là thế mạng cho con nhà họ mà thôi. Cách đêm xảy ra tai nạn chỉ ít hôm, một người thân của gia đình Cương ở Sài Gòn cho biết người này nằm mơ liên tục thấy gia đình có người chết do tai nạn xe. Việc này làm cho gia đình họ rối cả lên, rồi đi xem thầy. Thầy nói thằng Cương cần cẩn thận. Do con tôi ăn mặc, đi xe thằng Cương nên mới bị ‘bắt’ đi mà thôi”.

Ông này cho biết, gia đình Cương đã phúng viếng trong đám tang con trai mình số tiền khá lớn, gần 20 triệu đồng. Họ còn định bán chiếc xe gặp tai nạn đi để làm tiền cúng cho Phôn. Gia đình nạn nhân đã sử dụng số tiền này để xây lăng mộ cho con mình.

Ông Nguyễn Văn Cường, Phó trưởng công an xã Hải Dương, cho biết: “Chuyện xác chết của anh Võ Văn Phôn được người nhà của anh Lê Văn Cương nhầm lẫn đưa vào nhà để lo hậu sự là hoàn toàn có thật. Sáng sớm ngày 18/9, tôi đã trực tiếp có mặt tại gia đình và cũng đã xác minh nguyên nhân mà anh Phôn tử vong là do tai nạn giao thông. Gia đình nạn nhân không có yêu cầu gì nên tôi đã trình báo lên cấp trên ngay trong ngày hôm đó”.

Theo Pháp luật Việt Nam

 

Kẻ tử tội của CCRĐ thoát chết nhờ Hồn thiêng Nữ Liệt sĩ Đinh Kế Thị Tường Vi?

  Lê Quang Vinh

QTXM - Bạn đọc thân mến. Ngày Phụ Nữ Việt Nam 20/10 hôm nay, chúng ta gặp lại nhà báo Lê Quang Vinh với câu chuyện của một LIỆT NỮ quê anh thời chống Pháp. Đó là chị Đinh Kế Tường Vi.Chị Vi hy sinh, nhưng  hồn thiêng của chị đã về kịp để cứu người anh trai của mình sắp bị Đội CCRA bắn ở làng Vĩnh Lộc. Câu chuyện xúc động lắm. QTXMcám ơn nhà báo Lê Quang Vinh và xịn được chia sẻ với bạn đọc.   

Người con gái mà đại tá Lê Phương nói đến trong Hồi ký “Trên Chiến khu Ba Lòng” – Quà Tặng Xư  Mưa đăng trên Chuyên mục “VĂN” (ngominh | 02 Sep,  2014, 06:48 | VĂN |); bị giặc giết trong một trận càn, đó là  chị Đinh Kế Thị Tường Vy (con cụ Đinh Kế Tác – Người làng Vĩnh Lôc, xã Quảng Lộc, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình):

Tôi cảm phục người bạn gái cùng quê đã anh dũng chống lại bọn lính gian ác khi chúng toan hãm hiếp chị. Chị đã bị bắn chết trên bãi cát, với thân thể lõa lồ, tang thương”.  Đoạn hồi ký kể về cuộc càn của giặc Pháp trên Chiến khu ba Lòng năm 1951, được ông Lê Phương viết bằng cả trái tim yêu thương đồng chí đến nao lòng và hờn căm chất chứa bởi sự dã man của giặc khiến Trời xanh phải thấu. Hồi ký của người chiến sĩ trong cuộc “Trên chiến khu Ba Lòng”, nóng bỏng đến ngày nay:

    “Tôi nhớ đến mùa chiến dịch, cùng cán bộ cơ quan về xuôi đi chiến đấu. Lúc này, tôi không trực tiếp cầm súng nhưng không phải ở mãi sau trận tuyến. Chúng tôi phải “nhanh như điện”, chuyển tải những lời động viên của cấp trên, những tờ báo theo sau gót người chiến sĩ. Cùng ém quân phục kích đoàn xe lửa trên cầu Mỹ Chánh, đánh ở Liêm Công Tây, Liêm Công Đông. Chiến dịch Lê Lai, Phan Đình Phùng đều có mặt. Trong cuộc chiến đấu đó, tôi đã bị thương, nhỏ giọt máu đào cho Tổ quốc.Tôi nhớ trận địch lùng ở Phong Thu, vì sơ hở mà của mất người hy sinh. Cả cơ quan bị bao vây như trong một cái túi. Trên Trời máy bay, sau lưng quân bộ, dưới sông ca nô. Chúng tôi – những người lính văn phòng – không một tấc sắt để chống cự; chỉ kịp tiêu hao tài liệu, công văn. Mở đầu trận lùng, bọn giặc trên máy bay bắn bị thương đồng chí Dung nằm cách tôi một thước. Tiếng Dung gọi: “Phương ơi, tao bị thương rồi”! Trong tay không có một cuộn băng nào, phải mau chóng đưa Dung vào nấp trong bụi rồi xé áo băng bó cho bạn. Tôi cảm phục người bạn gái cùng quê đã anh dũng chống lại bọn lính gian ác khi chúng toan hãm hiếp chị. Chị đã bị bắn chết trên bãi cát, với thân thể lõa lồ, tang thương. Tôi mến thương người chị gái nuôi quân (lâu ngày quên mất tên), lấy thân mình che đạn cho mẹ con một cháu bé. Chị hy sinh cách tôi không đầy một cánh tay.

   Giờ phút nguy cấp, tiếng loa của giặc rõ dần, không còn cách nào khác là vứt hết đồ đạc, chôn tài liệu và bơi qua sông. Sông không rộng, nhưng nước chảy mạnh. Tôi cố lấy hết sức bơi sang đến bờ thì kiệt sức, nằm sóng sượt. Tiếng ca nô của địch ầm ầm, các đồng chí đều phải chạy, hướng thẳng lên rừng, sau lưng đạn bay như mưa.

   Sau trận lùng ấy, mỗi người chỉ sót lại chiếc quần đùi mặc trên người, bụng thì đói, cắn răng thoát hiểm tìm về căn cứ. Các đơn vị bạn mở cuộc “lạc quyên” giúp đỡ chúng tôi, cùng nhường cơm xẻ áo. Chúng tôi lại bắt tay xây dựng nhà cửa. Lao động quần quật suốt ngày. Trận lụt năm 1951 phá hoại ghê gớm tài sản của đồng bào. Bình Trị Thiên đã nghèo lại nghèo thêm, đã khổ lại khổ thêm. Bao kho gạo dự trữ cho kháng chiến bị ngập. Gạo ngâm nước lụt lâu ngày phơi khô mốc ẩm, lên men. Nấu cơm lên thối đến nỗi cho chó chó chê, cho lợn lợn không ăn. Cơm nấu xong, xới ra trên lá môn quạt hết hơi đến nguội để bớt thối. Thế nhưng, mấy hôm đầu không ai ăn được. Cái đói giày vò, cái bụng bắt phải nuốt, công việc bắt phải ăn, nhắm mắt nhắm mũi mà đút vào mồm. Anh em ăn vào đi lỏng, ra toàn vỏ gạo (vì gạo chưa xát). Dần dần bụng chúng tôi cũng phải quen với loại cơm  đáo để này và phải đành “làm bạn” với nó hàng tháng trời.

   Ăn uống như thế, nên nhiều đồng chí đã “quỵ xuống” vì mệt nhọc, vì sốt rét… Gạo đã thiếu thuốc càng thiếu hơn. Lên cơn sốt rét thì đắp chăn mà run. Có được viên thuốc quinine vàng liền hoà ra hàng lít nước để chia nhau.

Trong gian nan mới thật thương nhau. Tình đồng chí xây bằng máu. Cứ mỗi lần đồng chí nào về xuôi lên mang theo được lon gạo nếp, không nỡ ăn một mình, mà mượn cái nồi to đổ thật nhiều nước, nấu cháo húp mỗi ngưòi một bát.

  Gian khổ, đói rét không làm chúng tôi lung lay, lòng vẫn lạc quan tin tưởng. Những ngày ở chiến trường Bình Trị Thiên thực  sự là “trường học” rèn luyện thử thách, đào tạo nên người chiến sĩ. Song cũng có những kẻ hèn nhát, tham sống sợ chết, dao động hoang mang, không chịu nổi đã đầu hàng giặc.”

 

Chị Đinh Kế Thị Tường Vi trong đoạn văn trích, được kể lại chân thực vô cùng kiệm lời, nhưng đủ để hình ảnh chị hiển  hiện lên là một nữ “Anh hùng Liệt sĩ” cực kỳ tiêu biểu: anh dũng, kiên trinh, hy sinh lẫm liệt đến giọt máu cuối cùng giữa bầy lang sói; chị quyết không thể cho chúng làm nhục nhằm giữ nguyên phẩm tiết của người con gái tuổi xanh, hiến dâng trọn vẹn cuộc sống tươi đẹp nhất cho Tổ quốc lúc lâm nguy. Vậy chị Tường Vi trong lòng quê hương Vĩnh Lộc, anh em, người yêu “đã hẹn ước” cùng con cháu…nay được nhớ lại và lưu giữ như thế nào và gia đình của chị sau sự hy sinh đó?

 

Ông Đinh Duyệt, năm nay 95 tuổi – Cán bộ Tiền Khởi nghĩa, Huy hiệu 65 tuổi Đảng (2012), nguyên Chuyên viên cao cấp công tác tại Toà án Nhân dân Tối cao; hiện nghỉ hưu tại quê nhà là thôn Vĩnh Lộc, xã Quảng Lộc, Thị xã Ba Đồn (huyện Quảng Trạch cũ), tỉnh Quảng Bình; khi được tiếp xúc Hồi ký  “Trên chiến khu Ba Lòng” của em trai vợ mình (Bà  Lê Thị Toán) – Đại tá  Lê Phương, lòng bồi hồi xúc động nhớ lại: Chị Đinh Kế Thị Tường Vi có Thân phụ là cụ Đinh Kế Tác, tục danh “Xu Tác” – Một nhà thầu khoán (Sur veilzan) có tiếng thời Pháp thuộc; rất yêu nước và có nhiều công lao đóng góp đối với quê hương. Cụ cùng nhà thấu khoán và là bạn thân quê ở làng bên Hoà Ninh (nay là xã Quảng Hoà, Thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình) tên là Đoàn Phiến, tục danh “Xu Phiến” cùng chung tiền của công sức xây dựng nên Trường tiểu học Élémenter Hoà Ninh  cho con em mấy làng vùng Nam phủ Quảng Trạch thời đó: Hoà Ninh, Vĩnh Lộc, Vĩnh Phước, Minh Lệ, La Hà…có nơi học tập. Riêng với mảnh đất chôn rau cắt rốn là làng Vĩnh Lộc, cụ Đinh Kế Tác đã bỏ công của vật lực đắp xếp 2 con kè lớn bằng đá hộc lẫn đá sa thạch để ngăn luồng nước xiết chống xói lở phía Rào Đơờng (Nguồn Nậy sông Gianh, nhánh chảy qua các làng Vĩnh Lộc, Cồn Sẻ và Văn Lôi). Hai con kè đá này sau gần cả trăm năm hiện vẫn còn y nguyên tác dụng (đắc dụng). Nếu chiến tranh Pháp – Việt không nổ ra, cụ đã hoàn thành tâm nguyện xây dựng một cây cầu cho cả 2 làng Vĩnh Lộc – Hoà Ninh liền bờ, vị trí định xây dựng gần lối bến sông cạnh nhà ông Đoàn Phụng, để đi ra đường “Kiệt Ngang” Hòa Ninh qua chợMới (Minh Lệ).

Chị Đinh Kế Thị Tường Vi là một cô nữ sinh rất hiếm hoi thời đó ở vùng quê nghèo Vĩnh Lộc, được bọ mạ (cha mẹ) gửi vào Kinh đô Huế cho ăn học tại Trường Đồng Khánh – Ngôi trường dành riêng cho nữ giới con nhà quyền quý, quan lại và công chức trong chính quyền thuộc Pháp. Khi học xong chương trình “trung học” (?) Trường Đồng Khánh – Huế, chị trở về gia đình ở quê hương Vĩnh Lộc dự tính sẽ tiếp tục học lên. Thế rồi cuối năm 1946, Pháp núp bóng quân Anh trở lại đánh chiếm Sài Gòn – Gia Định và cả Nam bộ. Hưởng ứng “Lời Hiệu triệu cứu nước” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chỉ vẻn vẹn trong 2 tháng cuối năm 1946 – đầu năm 1947, nhân dân Thẻ Làng (riêng Làng Vĩnh Lộc phía Bắc sông Hoà Ninh goị là “xứ Đông”, không có Xóm Vụng (Xóm Vũng) – một phần làng Vĩnh Lộc ở phía Nam sông Hoà Ninh goị là “xứ Đoài”) đã có 3 đợt nam nữ thanh niên xung  phong “Nam Tiến” để cùng quân dân Nam Bộ đánh giặc. Đợt “Nam Tiến” đầu tiên, có 4 anh chị em, trong đó có chị Đinh Kế Thị Tường Vi.

Ông Dinh Duyệt nhớ lại như in, hình ảnh cô em gái nhỏ nhắn, tóc dài, nước da trắng nõn nà nhưng bặm trợn khi lên vị trí diễn giả để tranh luận với đám thanh niên cũng đang hừng  hực khí thế “Nam Tiến”. Khi mấy cán bộ Việt Minh thấy rõ mồn  một chị Tường Vi  là cô gái còn quá nhỏ tuổi (chị là bạn học  với anh Lê Phương – sinh năm 1932, so các anh cùng đăng ký “Nam Tiến” đợt này ít hơn ngót chục tuổi), thân hình lại “liễu yếu  đào tơ”, “chưa lấm bụi đời”, dứt khoát không tiếp nhận và để chị kê khai lý lịch cũng như viết quyết tâm bày tỏ nguyện vọng lên  đường …; chị Đinh Kế Thị Tường Vi liền nhảy phốc lên cướp lời mọi người, với giọng vô cùng dõng dạc, dứt khoát: “Ông cha ta đã dạy rồi, giặc đến nhà, đàn bà cũng phải đánh. Tui (tôi) tuy là “đàn bà con gái” nhỏ tuổi, nhỏ người nhưng ăn thua là ở cái tinh thần đánh giặc cứu nước chứ không phải vì con gái hay tuổi nhỏ, người nhỏ mà bỏ qua”. Thế là không ai còn cản được chị Đinh Kế Thị Tường Vi lên đường “Nam Tiến” cùng 3 trai làng khác là anh Đinh Xuân Dật (tên trong Bằng Tổ quốc ghi công: Liệt sĩ Đinh Thụy Sơn), Nguyễn Đăng Khoa và Đinh Như San. Chị Đinh Kế Thị Tường Vi, hai anh Đinh Xuân Dật và Đinh Như San hy sinh trong những năm đầu và giữa cuộc kháng chiến chống Pháp; còn anh Nguyễn Đăng Khoa (sinh năm Quý Hợi – 1923)  may mắn sống sót, tiếp tục chiến đấu suốt gần 30 năm trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp – Mỹ và xây dựng quân đội trong Hoà Bình, là sĩ quan với cấp bậc “Thiếu tá”. Cụ qua đời cách đây 17 năm (27/11/Đinh Sửu – 1997) sau khi về nghỉ hưu tại quê nhà.

Buổi đăng ký cho thanh niên lên đường “Nam Tiến” đợt đầu tiên này diễn ra tại đình Vĩnh Lộc (ngôi đình giữa cánh đồng,  đã bị triệt phá sau Cải cách ruộng đất mấy năm). Thời điểm  này, ông Đinh Duyệt là phó Chủ nhiệm Việt Minh xã Vĩnh Trạch (xã Quảng Lộc sau này). Anh Đinh Như San có người anh ruột là Đinh Như Hằng, tham gia lực lượng vũ trang tại địa phương và cũng hy sinh anh dũng trên quê hương thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Hai anh em Đinh Như Hằng và Đinh Như San là con trai cụ Đinh Thị Vặt – tục danh “Giang Ưa”. Cụ là O ruột (cô ruột) của ông Đinh Duyệt. Hiện địa phương đang làm các thủ tục để đề nghị Chủ tịch nước Truy tặng Danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng” cho cụ Đinh Thị Vặt.

Thạc sĩ Nguyễn Bá Sinh, con trai thứ 5 của cụ Nghè Cơ – Nguyễn Bá Ky (cụ Nghè Cơ – Nguyễn Bá Ky cũng  là  cậu  ruột  của  ông  Đinh Duyệt), trên Comment (lời góp ý) bài hồi ký “Trên Chiến khu Ba Lòng” – “QTXM”, đã chia sẻ cùng bạn đọc những tư liệu rất quý về mối tình đầu và bức ảnh “duy nhất còn lại” mà gia đình đang thờ phụng người nữ anh hùng liệt sĩ này: “Những ngày sau CM tháng 8, chị Đinh Kế Thị Tường Vy là một nữ sinh trung học nhưng đã tham gia hoạt động phụ nữ cùng chị gái tôi là Nguyễn Thi Ngọc Lan. Chị Nguyễn Thi Ngọc Lan sau này trở thành vợ của người cán bộ Việt Minh – Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên (Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng).

 

Dạo đó, chị Đinh Kế Thị Tường Vy hay sang nhà tôi (ởxóm Vụng – Xóm Vũng) – một phần làng Vĩnh Lộc ở phía Nam sông Hoà Ninh, người xưa goị là “xứ Đoài”) để cùng chị Lan trù tính công tác đoàn thể. Dáng người chị Tường Vi thanh mảnh, xinh xắn; nước da trắng trẻo, mái tóc tha  thướt tôn vẻ đẹp dịu hiền như người con gái xứ Huế. Tôi có người chú họ, tên là Phầu cùng làng với chị Đinh Kế Thị Tường Vy nên hai người biết nhau từ tấm bé. Chú Phầu tôi (học trường Khải Định ở Huếu); lúc còn lứa truổi “học sinh”, đã rất mến rồi đâm lòng yêu  thương chị. Có lẽ do “Duyên Trời” (Thiên duyên) nên hai người dễ dàng có “hẹn ước”. Ôông mệ (ông bà) tôi đã có “cơi trầu”, “chai rượu” sang thưa với Ôông mệ bên nhà chị xin được kết giao thông gia. Nhưng rồi, còn đâu ! Kháng chiến bùng nổ. Sau khi mặt trân Huế vỡ, quân Pháp đánh lan ra Quảng Trị, Quảng Bình. Khói lửa ngút trời. Những chàng trai cô gái làng tôi như anh Lê Phương, chị Tường Vy, chú Phầu tôi… rời làng  lên đường đi chiến đấu. Khi chia tay, chị Tường Vy tặng chú tôi một tấm ảnh nhỏ làm kỷ niệm – như lời “hẹn ước trăm năm” của đôi trai gái.

Chị được tổ chức điều vào Phân khu Bình Trị Thiên làm công tác điện đài (mật mã); còn chú Phầu tôi ra Bắc học Trường sỹ quan lục quân. Rồi một hôm từ Việt Bắc, chú Phầu tôi nhận được  tin sét đánh: Trong một trận càn của giặc, chị Tường Vy đã lọt vào tay giặc và anh dũng hy sinh như lời kể của anh Lê Phương trong hồi ký “Trên chiến khu Ba lòng”. Từ đó, bức hình chị Tường Vi đối với chú Phầu tôi là “chứng nhân” của mối tình nồng thắm “thuở ban đầu” trong ba lô người chiến sỹ và cả quê hương yêu dấu trên mỗi bước hành quân suốt cả chiều dài hai cuộc kháng chiến đánh Pháp và đánh Mỹ.

Nhiều năm sau khi đất nước đã hòa bình, anh trai chị là ông Đinh Kế Nhậm đã dày công tìm kiếm được hài cốt chị Tường Vy đưa về an táng tại quê nhà. Thời điểm này, chú Phầu tôi cũng đã ở tuổi tám mươi, mái tóc bạc phơ, chân đi chầm chậm về thăm quê. Trước đó, tại Thủ đô Hà Nội, chú tôi đã thuê in tấm ảnh của người yêu cũ vô vàn yêu dấu lên chất liệu sứ men nung. Chính trong dịp về quê này, ông đã cùng con cháu ra nghĩa trang liệt sĩ xã Quảng Lộc và đến bên mộ người yêu – người đồng chí lặng lẽ gắn lên bia mộ bức hình men sứ chụp năm xưa (còn lại duy nhất trong đại gia đình và bè bạn) của nữ Liệt sĩ Đinh Kế Thị Tường Vy, cùng những bông hoa cúng trắng muốt trong làn khói hương bay não nùng…”. Sự ra đi “một không trở lại” từ ngày “Nam Tiến” 1946  rồi hy sinh lẫm liệt vào năm 1951 tại Chiến khu Ba

Lòng của người con gái nhỏ đầy khí phách; nhưng vô cùng đau  thương đối với cha mẹ, anh chị em trong đại gia đình cụ Xu Tác – Đinh Kế Tác. Vết cắt đau đớn tột cùng như cứa đôi mỗi cuộc đời trong gia đình chị Tường Vi từ già đến trẻ bởi niềm thương tiếc người ruột thịt vẫn chưa nguôi ngoai cùng sự ngăn cách  hai miền đất nước Nam – Bắc tại Vĩ tuyến 17 Vĩnh Linh – sông  Bến Hải; đúng 8 năm sau ngày lên đường “vô định” đó và 3 năm  sau sự hy sinh của chị, tai ương của cuộc Cải cách ruộng đất lại nhằm đúng gia đình người nữ liệt sĩ: Anh trai trưởng trong gia đình chị Đinh Kế Thị Tường Vy là Đinh Kế Nhậm, bị  Đội “Cải cách” quy “Địa chủ” – “Cường hào gian ác” –”Phản động” và “Có nhiều nợ máu với nhân dân”. Phiên tòa “Nhân dân” của Cải cách ruộng đất được mở ra đấu tố suốt 2 – 3 ngày liền cùng mấy người nữa y tội danh. Tại trường bắn “dã chiến” Hòn Sả (địa điểm này hiện là chân cầu phía Nam của cầu Quảng Hải – Vĩnh Lộc),  Lời “tuyên án” vừa đọc xong (thực tế là một đứa không biết chữ “hô chay” bằng mồm), một đứa “cốt cán” rất “tử tế” đã đến bịt mắt ông Đinh Kế Nhậm. Ba đứa “dân quân” ôm súng đang chực sẵn để lắp đạn lên nòng đợi giây phút hành hình người anh trai Liệt sĩ Đinh Kế Thị Tường Vy.

Oan ức của gia đình chị Tường Vi chắc chắn cũng “thấu trời xanh”, hay chính là Hương hồn người em gái này quá thiêng; một “Lệnh trên” như của viên tướng Từ Hải xưa kia trong truyện Kim Vân Kiều giúp Vương Thúy Kiều lập “Tòa án” báo ân báo oán xử bọn hãm hại nàng suốt 15 năm trời lưu lạc, khiến nàng phải “Thanh lâu hai  lượt, thanh y hai lần”, từ Trung ương (nghe đâu của Bác Hồ?) kịp về trong nháy mắt đã giải thoát cho ông Đinh Kế Nhậm được sống.

Qua vụ này, người làng Vĩnh Lộc và mấy làng cạnh bên, đa phần có biết tiếng tăm công đức của cụ Xu Tác và cuộc hóa thân của thiên thần Đinh Kế Thị Tường Vy vào khí thiêng non sông đất nước; đã tin như “đinh đóng cột” là chính công đức cha mẹ và Hồn thiêng em gái đã cứu mạng ông Đinh Kế Nhậm – kẻ “tử tội” của Cải cách ruộng đất, chứ không một ai hay một phép màu nào khác!

Ông Đinh Kế Nhậm đi bộ đội (vào “Vệ quốc đoàn” năm 1947). Năm 1952, bị ốm nên cùng được đi “an dưỡng” với ông Nguyễn Bá Sinh – người viết Comment đã giới thiệu ở phần trên (đang học trường “Thiếu sinh quân” – Khu 4). Hai anh em cùng quê tình cờ gặp nhau tại “Đoàn thu dung Lê Lợi” – Quân khu 4, đóng quân ở huyện Can Lộc – Hà Tĩnh. Năm 1954, ông Đinh Kế Nhậm về quê Vĩnh Lộc tham gia công  tác tại địa phương; rồi gặp luôn đại họa CCRĐ với cách  làm “khoán theo chỉ tiêu”, nên đã tiêu diệt và làm oan  khuất rất nhiều người vô tội.

Ông Đinh Kế Nhậm về sau trở thành cán bộ  của ngành Ngân hàng, công tác suốt mấy chục năm liền trong cuộc kháng chiến chống Mỹ – cứu nước và sau  này nữa, tại các địa phương tỉnh Quảng Bình. Những  năm tháng về quê Vĩnh Lộc nghỉ chế độ hưu trí, ông tham gia tích cực công tác xã hội; đóng góp nhiều công sức cùng con em xây dựng “Nông thôn mới” ở quê  nhà như gương sáng và sự hy sinh của cha và em gái.  Ông Đinh Kế Nhậm qua đời năm 2005 – thọ trên 80

 

Vĩnh Lộc, 14 giờ 52’ ngày 18/10/2014

( Tác giả gửi cho QTXM)                                                                            

 

Người con gái mà đại tá Lê Phương nói đến tronh Hồi ký “Trên Chiến khu Ba Lòng” – Quà Tặng Xư Mưa đăng trên Chuyên mục “VĂN” (ngominh | 02 Sep, 2014, 06:48 | VĂN |); bị giặc giết trong một trận càn, đó là chị Đinh Kế Thị Tường Vy (con cụ Đinh Kế Tác - Người làng Vĩnh Lôc, xã Quảng Lộc, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình):

Tôi cảm phục người bạn gái cùng quê đã anh dũng chống lại bọn lính gian ác khi chúng toan hãm hiếp chị. Chị đã bị bắn chết trên bãi cát, với thân thể lõa lồ, tang thương”.

Đoạn hồi ký kể về cuộc càn của giặc Pháp trên Chiến khu ba Lòng năm 1951, được ông Lê Phương viết bằng cả trái tim yêu thương đồng chí đến nao lòng và hờn căm chất chứa bởi sự dã man của giặc khiến Trời xanh phải thấu. Hồi ký của người chiến sĩ trong cuộc “Trên chiến khu Ba Lòng“, nóng bỏng đến ngày nay:

“Tôi nhớ đến mùa chiến dịch, cùng cán bộ cơ quan về xuôi đi chiến đấu. Lúc này, tôi không trực tiếp cầm súng nhưng không phải ở mãi sau trận tuyến. Chúng tôi phải “nhanh như điện”, chuyển tải những lời động viên của cấp trên, những tờ báo theo sau gót người chiến sĩ. Cùng ém quân phục kích đoàn xe lửa trên cầu Mỹ Chánh, đánh ở Liêm Công Tây, Liêm Công Đông. Chiến dịch Lê Lai, Phan Đình Phùng đều có mặt. Trong cuộc chiến đấu đó, tôi đã bị thương, nhỏ giọt máu đào cho Tổ quốc. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.10.2014

Ngày về

Ngày về

Phạm Thị Hoài

“Chúng ta đang sống trong một hoàn cảnh thật khốn nạn. Sau hàng thế kỉ ngoại thuộc, sau ba chục năm trời nhiễu nhương, nay nước nhà được thanh bình, dân tộc bắt tay xây dựng đất nước, thì chúng ta lại bỏ xứ ra đi, chúng ta lại vắng mặt, lại đứng ngoài vòng”.

“Không về được, chúng ta tự thấy sống một đời vô duyên, lãng xẹt. Cần thì chưa chắc tổ quốc đã cần đến mình; chưa chắc mình sẽ có một đóng góp nào đáng kể. Những kẻ có ý thức cao nhất về mình cũng không bao giờ dám tự nhận mình là cả một cần thiết cho quốc gia. Tuy nhiên, nghĩ rằng ở cái xứ nghèo khó nhỏ bé của mình đồng bào đang rầm rập xây dựng mà mình không được dự phần vào, tự dưng có một cảm tưởng tưng hửng, dần dần ngấm thành một đau đớn”.

“Lòng chúng ta lúc nào cũng tha thiết với quê hương, nhưng quê hương lại không còn như xưa. Cho nên chúng ta lâm cảnh bẽ bàng”.

 “Về ư? Dẫu có về được, ta đâu còn về để tiếp tục đời sống như trước, mà chỉ để tăng cường hàng ngũ nô lệ. Đành rằng sống chết không cần, nhưng đã sống ta lại cam chịu sống như vậy sao? Sống để răm rắp vâng lời, để suốt đời ca ngợi lãnh đạo sáng suốt, để đem thân trâu ngựa củng cố một chế độ độc tài, vun bồi quyền lợi của một tầng lớp thống trị?”

“Bị kẹt dưới chế độ độc tài là đáng thương; còn như quyết định tự nguyện nhảy vào cúi đầu phục vụ độc tài lại đáng nguyền rủa. Kẹt cứng! Đồng bào ta, có lớp bị kẹt lại trong nước, có lớp lại bị kẹt… ở ngoài nước!”

Những dòng trên đây là của một nhà văn miền Nam nổi tiếng, trong tùy bút “Ngày về” in năm 1987 tại California [1]. Hai mươi lăm năm sau những tâm sự khắc khoải này và ba mươi bảy năm sau khi rời quê hương, một phần nhỏ tác phẩm của ông đã trở về. Hai đầu sách, Quê hương tôiTạp văn được Nhã Nam xuất bản tại Việt Nam. Chỉ có điều bút danh nổi tiếng của ông, Võ Phiến, được thay bằng Tràng Thiên, một bút danh ít người biết đến.

Tất nhiên điều đó không bình thường. Nó để lại một dư vị không dễ chịu. Dư vị của ngụy trang. Nhưng ngụy trang là hành vi gắn liền với toàn bộ sự tồn tại Việt Nam, với tất cả những mặt khuất và điểm sáng của nó. Ở đây tôi thiên vị các điểm sáng. Chúng ta thử nhìn câu chuyện Võ Phiến cải tên này qua một sự cố khác, sự cố Chuyện ở nông trại, tác phẩm lừng danh về những con lợn làm cách mạng để rồi thiết lập chính cái nguyên trạng mà chúng lật đổ, cũng do Nhã Nam xuất bản không lâu sau Lolita [2] và Võ Phiến.

*

Trong vụ tác phẩm chống toàn trị cộng sản kinh điển của George Orwell lọt lưới kiểm duyệt ở Việt Nam, công đầu chắc chắn thuộc về những người làm sách. Tuy không thể cho Chuyện ở nông trại một sự hiện diện rầm rộ trên truyền thông như với tác phẩm nổi tiếng và tai tiếng của Nabokov [3], nhưng chỉ riêng việc nó được cấp phép xuất bản và bản dịch không bị cắt xén đã đủ ngoạn mục. Song trong trường hợp tác phẩm đặc biệt này, ngoài bản lĩnh và sự dấn thân khéo léo của những người làm sách, phải có những may mắn khác.

May mắn đáng kê ra đầu tiên là sự dốt nát của bộ máy kiểm duyệt văn hóa tại Việt Nam. Ai từng làm việc với nó đều vẫn phải sửng sốt dù đã được nhiều lần báo trước. Trình độ của đại đa số các cán bộ kiểm duyệt có một quyền quyết định nào đó thường thấp đến mức “hạn chế” còn là một mĩ từ quá rộng lượng để chỉ. Guồng máy công quyền ở mọi nơi đều là chốn nương thân lí tưởng cho sự tầm thường, nhưng ở đất nước này guồng máy ấy do một bàn tay vô hình ưa mỉa mai sắp đặt: hệt như ở các lĩnh vực khác, tiêu chuẩn của người quản lí văn hóa dường như trước hết phải là không biết gì về văn hóa. Nghe họ mở miệng – đúng ra phải gọi là mở băng – bạn sẽ chỉ có một cảm giác duy nhất là tuyệt vọng. Tuyệt vọng khi nghe họ giải thích, chẳng hạn vì sao Kafka là một “trường hợp có vấn đề”, và càng tuyệt vọng hơn khi một lúc nào đó, khoảng hai thập niên sau, trái đất vẫn quay dù chúng ta đứng im, lại nghe họ giải thích vì sao trường hợp ấy không có vấn đề nữa. Trước một thành trì u mê được dán kín tem quyền lực như vậy bạn không có cơ hội nào hết. Hoặc là bạn phát điên. Hoặc là bạn trở thành một nhà hiền triết. Ngoài hai khả năng khá gần nhau này, bạn còn có thể tê liệt như một lựa chọn dễ dàng hơn. Tôi từng liệt toàn thân khi lịch sự ngồi nghe một cán bộ tuyên huấn cỡ kha khá kể chuyện ông ấy đã liều bảo vệ một tác phẩm đang bị “đánh” của tôi như thế nào. Tư duy của ông ấy – nếu có thể gọi đó là tư duy – không hề bị xúc phạm trước một chân lý đại loại như: một nhà văn rửa tay trước khi viết là một nhà văn trong sạch, nhân đạo và tiến bộ. Còn sự đổi mới tư duy táo bạo của ông ấy nằm ở nhận thức rằng tôi tuy không rửa tay nhưng vẫn trong sạch, nhân đạo và tiến bộ, vì tay tôi có bẩn đâu mà phải rửa. Mạng lưới kiểm duyệt thỉnh thoảng thủng ra một hai lỗ, có khi cho cả một tác phẩm lớn chui vừa, từ sự dốt nát đó. Thuyết phục kẻ giáo điều thường vô ích. Nhưng một kẻ giáo điều mù tịt đôi khi lại bất ngờ có một quyết định sáng sủa, vì hắn thậm chí không đủ hiểu biết để ý thức về quyết định đó của mình.

Những phẩm chất trứ danh khác của bộ máy nói trên là quan liêu, lười nhác và tắc trách. Tôi đảm bảo rằng nếu thay tên George Orwell bằng Eric Athur Blair, tên thật của ông, hay H. Lewis Always, một bút danh khác của ông, và đổi 1984 thành Tấm lòng của người Anh Cả; hoặc nếu thay Arthur Koestler bằng Kösztler Artúr và lấy tên bản gốc tiếng Đức Sonnenfinsternis dịch thành Một vầng nhật thực thay vì dịch theo những nhan đề đã quá nổi tiếng của bản tiếng Anh Darkness at Noon hay bản tiếng Pháp Le Zéro et l’Infini, thì cả hai tác phẩm thuộc hàng chống toàn trị và chống cộng đầu bảng này đều được duyệt êm ru tại Việt Nam và báo Nhân dân sẽ nhiệt tình quảng cáo. Trong trường hợp Animal Farm, rất có thể vụ vỡ đê kiểm duyệt xảy ra vì bản thảo được mang một cái tên đồng quê hiền lành, Chuyện ở nông trại.

*

Vì thế tôi mừng cho một phần Võ Phiến đã chui lọt một trong những cái lỗ tất yếu ngày càng to ra trong bức tường kiểm duyệt ngày càng kém chất lượng ở Việt Nam. Một ngày không xa, Đêm giã từ Hà Nội có thể được xuất bản với tên tác giả là Nguyễn Đăng, một bút danh của Mai Thảo. Nếu phải đổi thành Hà Nội đêm tiễn biệt, Giọt nước mắt đêm chia tay Hà Thành, Thăng Long đêm biệt li… để Mai Thảo được trở về cố hương, tôi sẽ lựa chọn sự ngụy trang ấy. Bản thân tôi, không được thông báo trước, cũng có lần xuất hiện trên một tạp chí ít người đọc ở trong nước, với cái tên chỉ dùng trong gia đình và một nhóm nhỏ bạn bè.

Trong số những nhà văn miền Nam được mệnh danh là, những tên biệt kích của chủ nghĩa thực dân mới trên mặt trận văn hóa-tư tưởng“ thì Duyên Anh ngồi tù 5 năm rưỡi, mất tại Pháp; Hồ Hữu Tường ngồi tù 5 năm, ra tù thì qua đời tại Việt Nam; Nguyễn Mạnh Côn chết trong tù; Vũ Khắc Khoan di tản, mất tại Hoa Kỳ; Mai Thảo vượt biên, mất tại Hoa Kỳ; Doãn Quốc Sỹ ngồi tù 14 năm, hiện sống ở Hoa Kỳ; Nhã Ca đi tù 2 năm, hiện sống ở Hoa Kỳ; Võ Phiến di tản, hiện sống tại Hoa Kỳ; Nhất Hạnh đã ra nước ngoài từ 1967; Dương Nghiễm Mậu ngồi tù 2 năm, hiện sống tại Việt Nam… Năm 2007, 4 tập truyện ngắn của Dương Nghiễm Mậu vừa được in lại ở trong nước thì biến mất, rất nhanh, sau khi những pháo đài à la Vũ Hạnh khạc đạn, loại đạn tồn kho quân khí tư tưởng từ vài chục năm trước, thô sơ cổ lỗ nhưng vẫn đủ sức sát thương. Nhưng từ khi Võ Phiến alias Tràng Thiên tái xuất, không thấy ông Vũ Hạnh, người đích thân phụ trách phần viết về Võ Phiến trong tác phẩm chống “biệt kích văn hóa” khét tiếng nói trên, đem súng ra lau. Một dấu hiệu tích cực. Như thể dù phải len lén đi đêm, văn học miền Nam và văn học hải ngoại cuối cùng cũng gửi được một đại diện đáng kể của mình đến dự cuộc tọa đàm không chính thức và đã rất trễ giờ về hòa giải dân tộc.

*

Song ngày vui ngắn chẳng tày gang. Bây giờ chúng ta được biết cái giá phải trả cho tấm vé ngày về của Võ Phiến. Hóa ra việc cải tên chỉ là một động tác rất phụ. Con trai ông, cũng một nhà văn, bút danh Thu Tứ, người đã “chọn lựa và biên tập” hai tác phẩm Quê hương tôiTạp văn nói trên, tuyên bố rõ trong bài “Trường hợp Võ Phiến“: “Chúng tôi cố chọn những tác phẩm vừa giá trị nhất vừa hoặc không chứa hoặc chứa rất ít nội dung chính trị. Nếu có nội dung chính trị, khi biên tập chúng tôi loại bỏ hết. Mục đích của việc chọn và bỏ như thế là đưa những thành tựu văn học đỉnh điểm của văn nghiệp Võ Phiến đến với người đọc mà không gây hại cho nước”. Trong phần còn lại của bài viết khá dài này, ông Thu Tứ phê phán toàn bộ hành trình tư tưởng chống cộng của cha mình để đi đến kết luận về giá trị của Võ Phiến: “Văn nghiệp Võ Phiến vừa tích cực vừa tiêu cực. Tích cực, đáng lưu truyền, là phần văn học. Tiêu cực, đáng bỏ đi, là phần chính trị” cũng như điều kiện để Võ Phiến có thể trở về: “Sai lầm chính trị đã đưa tác phẩm Võ Phiến ra khỏi lòng dân tộc. Đất nước đã độc lập, thống nhất lâu rồi. Nay đến lúc, nhân danh bảo tồn những giá trị văn hóa Việt Nam, đưa tác phẩm Võ Phiến trở về, sau khi lọc bỏ nội dung chính trị”.

Tuyên bố của ông Thu Tứ xuất hiện trên trang Góc nhìn vào tháng 8/2014, song đến khi được Tuần báo Văn nghệ TP HCM đăng lại cuối tháng 9 và đầu tháng 10/2014 nó mới thực sự được chú ý. Như có thể đoán trước, nó cũng vừa được báo Nhân dân và báo Tuyên giáo đăng lại. Còn thiếu báo Thanh tra, báo Quân đội và báo Văn nghệ của Hội Nhà văn là thành trì tư tưởng chính thống điểm danh xong. Năm ngoái, cái liên minh già nua ấy đã khoe cơ bắp trước tác giả trẻ Nhã Thuyên. Tương lai thuộc về ai, điều ấy không cần bàn cãi. Nhã Thuyên có rất nhiều tài năng, rất nhiều lao động cả học thuật và nghệ thuật. Cái liên minh ấy có những chiếc răng kiểm duyệt cuối cùng. Ông Thu Tứ chỉ góp thêm một chiếc lá vàng vào mùa thu của các vị trưởng lão.

Tôi không coi việc làm của con trai nhà văn Võ Phiến là hành động “đấu tố cha” hay “bất hiếu”, như phần lớn phía dư luận đang phẫn nộ, đặc biệt ở hải ngoại. Máu mủ không phải là tiêu chuẩn để xác định đúng sai thiện ác. Chẳng lẽ chúng ta phải ca ngợi từ Kim Chính Nhật đến Kim Chính Ân, những người con trung thành nhất với cha ông? Lịch sử quá nhiều điên đảo và phân cực của Việt Nam tất yếu chia cắt và chia rẽ, thậm chí con người này đả đảo con người kia ngay trong một con người. Con cái Phạm Quỳnh bất hiếu chăng, khi tận trung phục vụ cho chế độ đã giết cha mình? Cù Huy Hà Vũ là một nghịch tử chăng, khi chống lại cái chế độ mà cha mình là một trong những công thần khai quốc? Chúng ta lấy quyền gì mà đem những quả tạ đạo đức ra đặt ùm ùm, lúc thì lên cán cân bên này, lúc thì lên cán cân bên kia, chỉ để lẩy cho được cái kết quả trọng lượng đang cần cho sổ sách trong những trường hợp như thế? “Trường hợp Thu Tứ” chỉ là điển hình cho những xung đột đã và đang giằng xé người Việt trong mọi quan hệ và trên mọi bình diện. Nạn nhân là tất cả mọi thứ, riêng gì đâu tình phụ tử.

Nếu ông Thu Tứ chỉ đoạn tuyệt với cha mình về quan điểm chính trị, tôi không chia sẻ, nhưng đó là quyền tự do của ông, như của bất kì ai, mà tôi thấy tranh luận là vô ích. Song điều khiến tôi sởn gai ốc là ông biến cái quyền tự do tư tưởng ấy của bản thân thành quyền tự do thanh trừng tư tưởng của người khác, và người đó là thân phụ ông, nhà văn Võ Phiến, với tất cả lòng tin cậy ruột thịt đã cấp cho ông tấm giấy ủy quyền. Giấy phép gọt Võ Phiến cho vừa khuôn Thu Tứ. Không thể trớ trêu hơn. Đội quân đấu tranh tư tưởng của chính quyền Việt Nam có thể cả cười: nó sẽ tế nhị rút lui, khi gia đình đã đủ là trận tuyến.

Quả thật có những nghệ sĩ lớn đã nhỏ hẳn đi khi làm chiến sĩ tư tưởng và ngược lại. Người ngưỡng mộ nhà thơ Pablo Neruda ước gì bài tụng ca Stalin của đồng chí đảng viên cộng sản Pablo Neruda chỉ là một cơn ác mộng lạc đường. Người yêu thơ Lê Đạt muốn tống khứ 626 dòng Trường ca Bác năm 1970, viết ngày giỗ đầu Hồ Chủ tịch (Mây trắng đền Hùng/Râu Bác ung dung. Suối Lê Nin/ Núi Mác… Ôi/ Đến cả hình hài/ Bác/ cũng chẳng mang đi… Bác để lại/ cho ta/bốn biển/ sâu xa/ tình đồng chí. Bác để lại/ cho ta/ tất cả/ Bác Hồ), sau tất cả những sỉ nhục dành cho Nhân văn-Giai phẩm. Biết đâu một ngày nào hậu duệ của Tố Hữu sẽ đòi đốt sạch di sản của cha, một nhà thơ không phải là không có năng khiếu, chỉ giữ lại bài thơ “Khi con tu hú”, với tên tác giả là Lê Tư Lành, để giữ gìn nghệ thuật chân chính. Như ông Thu Tứ tin rằng phải cắt phăng khối nọc độc, phần tác phẩm chứa tư tưởng chống chế độ cộng sản của Võ Phiến, thì mới bảo toàn được giá trị sự nghiệp văn học của cha mình.

Những quan niệm lang băm trung cổ như thế vẫn sống sót trong thời hiện đại, nơi văn chương đã lặng lẽ rút lui khỏi ý thức xã hội. Ngày về âm thầm của một tác giả lớn có dấy lên được một chút dư luận cũng chỉ vì tiếng động của dao kéo kiểm duyệt. Trong “trường hợp Võ Phiến”, kiểm duyệt tại gia đã đi trước kiểm duyệt quốc gia.

17-10-2014

P.T.H

Nguồn: http://www.procontra.asia/?p=5068

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

[1] Võ Phiến, Tùy bút, quyển 2, Văn Nghệ, California 1987, tr. 317-318, 323-324

[2] Bất chấp sự tranh cãi về dịch thuật, việc Lolita chính thức xuất hiện trong tiếng Việt là một bước tiến đáng ghi nhận của đời sống văn học tại Việt Nam.

[3] Cả Nhã Nam lẫn NXB Hội Nhà văn đều không đưa thông tin về cuốn sách lên mạng. Lời đồn cuốn sách đã bị thu hồi cũng không được phía nào xác nhận hay bác bỏ.

 

Kết quả cuộc thi thơ viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp

       TRIỆU TẤM LÒNG KÍNH ĐẠI TƯỚNG CỦA DÂN
(Tổng kết cuộc thi viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp)

Đỗ Hoàng

vannghecuocsong.com phát động cuộc thi thơ viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ tháng 10 năm 1013 đến 3 -10 -2014  đã nhận 1020 bài dự thi gồm cả văn thơ nhạc họa, đã in được 216 bài thơ của các tác gỉa người Việt trong và ngoài nước, khắp băc trung nam; các  nhà thơ , nhà văn là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam hưởng ứng ngày từ đầu như: Hoàng Thái Sơn, Y Phương, Triệu Lam Châu,Phạm Thanh Quang, Ngô Minh, Lâm Xuân Vy, Trần Chấn Uy, Lê Xuân Đố, Vĩnh Nguyên…
Hiếm thấy một vị Đại tướng nào làm việc binh đao của loài người được dân kính yêu như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, được dân gọi một cái tên rất trìu mến, kính trọng: Đại tướng của dân. Bởi vì ông biết “ Nãi tri binh giả thị hung khí/ Thánh nhân bất đắc dĩ nhi dụng chi” (Lý Bạch) (Mới biết binh đao là vật gỡ/ Thánh nhân cực chẳng đã mới dùng đến) (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.10.2014

Học văn để làm chi hè?

Học văn để làm chi hè?

 
Nguyễn Quang Lập/Quê choa
O Kim Tiến xinh đẹp, Bộ trưởng Y tế xinh đẹp của chúng ta nói rằng “Tôi phải nói thật là môn văn rất cần. Trong quá trình làm việc, nhiều người viết báo cáo mà ngữ pháp sai rất nhiều, chưa nói đến lỗi chính tả. Viết sai thì tư duy cũng sai, nói cũng không tốt được (…). Môn văn rất cần cho cán bộ ngành y, giúp việc nói năng lưu loát, diễn đạt văn bản rõ ràng, đúng ngữ pháp”.
 Từ câu nói của người đẹp Kim Tiến dân tình bàn loạn cả lên. Tui để ý xem có nhà văn nào lên tiếng không. Không. Hoàn toàn không. Bởi vì đó không phải việc của nhà văn. Đó cũng không phải vấn đề mà nhà văn quan tâm. Hi hi… thiệt rứa đó.

 Bảo rằng học văn để nói năng lưu loát, xin thưa trật lấc! Muốn nói năng lưu loát thì đi học môn hùng biện chứ không phải đi học văn. Tất cả nhà văn hàng đầu nước ta đều nói năng không hề lưu loát chút nào. Kim Tiến đã nghe nhà văn Nguyễn Minh Châu nói chuyện lần nào chưa? Nếu chưa bây giờ thử mời nhà văn Bảo Ninh đến Bộ y tế nói chuyện. Trình nói chuyện của Bảo Ninh cũng xêm xêm Nguyễn Minh Châu, họ đều thuộc trường phái ngậm hột thị.  Ngậm hột thị hãy còn khá, có nhà văn không hề biết nói, điển hình là nhà thơ Tế Hanh. Rời cây bút ra là ông không sao diễn đạt được điều ông nghĩ cho mọi người hiểu. 
Bật mí cho người đẹp Kim Tiến nhé: Ở đâu không biết chứ ở nước ta phàm ông nào trước đám đông nói năng lưu loát, trơn tuột như cháo chảy, thì hoặc ông đó không phải nhà văn hoặc là nhà văn dốt, tức nhà văn bất tài. Chắc chắn 100%.
Bảo rằng học văn để viết lách gãy gọn, đúng ngữ pháp, đúng chính tả, xin thưa cũng trật lấc nốt. Muốn giỏi mấy món đó thì lo đi học môn soạn thảo văn bản. Hơn 90% phần trăm nhà văn nước ta viết sai chính tả, trong đó có tui. Nhà thơ Đỗ Trung Quân chẳng những viết sai chính tả mà sai luôn cả lỗi đánh máy, đọc bài ông viết lắm khi muốn nổi khùng. Thế nhưng ông là nhà thơ được yêu mến hàng đầu Tổ quốc mình đấy O Kim Tiến ạ. Bạn đọc đọc thơ ông chứ chẳng ai đọc chính tả của ông bao giờ, không tin O Kim Tiến hỏi họ mà xem.
 Một nhà thơ hàng đầu đất nước khác đó là nhà thơ Phạm Tiến Duật, ông còn không viết nổi biên bản một cuộc họp nửa tiếng của ban biên tập báo Văn nghệ. Một hôm ông Hữu Thỉnh giao cho Phạm Tiến Duật làm biên bản. Phạm Tiến Duật mừng lắm, vì nghĩ mình được coi trọng,  ra sức viết một biên bản 4 trang A4. Họp xong,Phạm Tiến Duật đọc biên bản. Mọi ngơ ngác không ai hiểu sao cả. Chỉ riêng Hữu Thỉnh là xuýt xóa khen hay. Xuýt xoa khen hay xong Hữu Thỉnh hỏi Phạm Tiến Duật, nói này ông Duật, cái này là biên bản hay thơ hậu hiện đại?
 O Kim Tiến ơi! Môn văn chẳng cần để làm chi hết, nói chung học sinh nước ta không cần phải học văn. Ông Bảo Ninh có lần tâm sự với tui, nói tao nói thật, sở dĩ bây giờ tao thành nhà văn vì ngày xưa tao chán học văn khủng khiếp. Đúng vậy. Ở một xã hội lấy đạo đức giả làm căn bản thì văn chương (thứ thiệt) là thứ nguy hiểm càng tránh xa càng tốt. Ở một xã hội mà bọn đạo đức giả luôn lấy món nhân văn ( giả cầy) làm ngọn cờ  gương mẫu uy tín thì càng học văn càng nguy hiểm, càng học văn càng giết chết văn, giết chết luôn tính người trong mỗi chúng ta. Điều đó giải thích vì sao càng học văn thì tình trạng cướp giết hiếp càng dâng cao, y đức ngành của O càng suy sụp.

Rứa đo O Tiến nờ.

( Nguồn : quechoa)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.10.2014

CÁI ĐÊM HÔM ẤY… ĐÊM GÌ ?

QTXM- Bạn đọc thân mến. Cuộc đấu tranh giữa văn nghệ sĩ và cường quyền để khẳng định tính nhân văn của mình là cuộc đấu tranh không khoan nhượng và không có hồi kết. Bút ký “Cái đêm hôm ấy …đêm gì?” của Phùng Gia Lộc đã dóng lên hồi chuông báo động về sự độc ác tàn bạo của bạn người quyền chức ở Thanh Hóa vào những năm bao cấp. Phùng Gia Lộc (1939-1992)  với bài bút ký Cái đêm hôm ấy…đêm gì chấn động văn đàn và dư luận Việt Nam cuối những năm 80 của thế kỷ trước…Những sự độc ác đó đén hôm nay vẫn chưa hết, vẫn diến ra đây đó làm cho người nông dân ngày càng khốn quẩn, đi khiếu kiện kéo dài không ai giải quyết. QTXM xin in lại bủt ký nổi tiếng một thời này để bạn đọc trẻ hôm nay cùng chia sẻ.

CÁI ĐÊM HÔM ẤY… ĐÊM GÌ ?

 PHÙNG GIA LỘC 

Cuối năm 1983, tôi được ở nhà chờ quyết định về nghỉ chế độ. Chiều chủ nhật, thằng Học con tôi rủ rỉ nói:

- Con bắt được bác Quang ăn bánh cuốn ở hàng anh Minh. Bác đi thồ sắn ở chợ Phúc Địa về. Bác cho mấy bó nhưng con không lấy. Bác dặn con về đừng nói với bố mẹ là đã gặp bác. Nói, hôm nào sang bác đánh chết.

- Hừ! Lại thế nữa…

Tôi buột miệng bảo với con thế, rồi thừ ra. Bạn bè anh em cùng một phòng với nhau mà đi qua không vào. Có điều gì nhỉ?

Sáng thứ hai tôi sang cơ quan ứng mấy cân gạo và định bụng sẽ gặp, trút sấm sét lên đầu anh ấy. Nghe tôi trách, Lê Trung Quang, trưởng phòng tổ chức Ủy ban huyện Thọ Xuân, cười hà hà làm lành thật đôn hậu, dễ yêu:

- Giá có một mình thì tôi vào. Đằng này những bốn binh, khao được, anh cũng liệt. Vả lại, bốn cái xe nặng è, sợ tối.

Là trưởng phòng tổ chức ủy ban huyện, anh cũng để gia đình vợ con đói thiếu. Ra anh còn kém cỏi hơn cả tôi, một kẻ chân chim trần trụi, một tay sắp trở thành “phó thường dân”. “Nhà mình cũng bí. Nộp sản đi rồi, lúa đã cạn. Khó mà ăn thấu tết được”. Quang lắc đầu bảo thế.Anh gạn tôi:

- Ông ở đây với tôi đêm nay cho vui. Tôi buồn quá.

Tôi chỉ vào mấy cân gạo đã bó buộc sau xe, bảo anh Quang:

- Phải mang “hàng chiến lược” này về chứ.

Nếu nghe lời Lê Quang Trung nằm lại với anh một đêm, thì tôi đã không thể nào hình dung nổi ở Phú Yên xã tôi Cái đêm hôm ấy là đêm gì…

Có cái “các” quá giang của Lê Trung Quang cho mượn, tôi không phải mất ba đồng tiền đò. Qua sông Chu gió vù vù bên tai, tôi phải kéo vành mũ len, trùm thấp cho đỡ run. Tôi về đến nhà, trời đã sẩm tối, con mực xông ra í a í ẳng vờn chân lên hông. Vợ tôi bế thằng Văn ngủ khì trong lòng, ngồi bên bếp than vỏ cao su um khói. Bên cạnh, thằng cu Thức bốn tuổi đang liến láu. Còn Học – thằng con nhớn đang học bài ở nhà trên.

(Đọc tiếp…)

Trung Quốc: Biểu tình của người dân ở các tỉnh Quý Châu, Hà Bắc, Chiết Giang,Quảng Đông

 
 
Theo copnhat / Blog Trần Nhương
Ngày 11/10/2014, hơn 100.000 người dân tỉnh Quý Châu gồm sinh viên, học sinh, công nhân, thương nhân, tài xế taxi, nông dân, trí thức,… tất cả mọi tầng lớp nhân dân đồng loạt đình công, xuống đường giương cao băng rôn, biểu ngữ biểu tình phản đối đảng CS, chính quyền CS tham nhũng, cướp đất, cướp tiền – vàng, ác ôn với nhân dân.


Ngay lập tức Phong trào chiếm Trung tâm Hành chính đã được phát huy một cách hiệu quả nhất; đến sáng nay vẫn còn rầm rộ, người dân đã chặn các tuyến đường chính, tập trung tại quảng trường trước trụ sở chính quyền CS để phản đối, hô vang khẩu hiệu “Đả đảo đảng cộng sản”, “Đả đảo Quan chức cs tham nhũng, ác ôn”, “Yêu cầu bí thư, chủ tịch tỉnh phải từ chức”,…

.
Hàng nghìn Cảnh sát CS, Quân đội CS đã được huy động để đàn áp nhân dân, nhưng trước sức ép mãnh liệt của hàng trăm nghìn người dân thì đảng cộng sản bước đầu đã chưa dám manh động. Còn rất nhiều hình ảnh tại đường dẫn bài viết:  http://wickedonna2.tumblr.com/post/99771518738/2014.
.
Cũng trong ngày, hàng trăm nghìn người dân các tỉnh Hà Bắc, Chiết Giang, Quảng Đông đã xuống đường biểu tình phản đối Đảng, chính quyền CS tham nhũng, ác ôn, cướp đất, cướp nhà, tăng tô thuế, thủ phí mới,… để bóc lột thậm tệ sức lao động của nhân dân, để sống sung sướng trên mồ hôi, xướng máu của nhân dân.
.
Các đường dẫn bài viết:
Đăng bởi: Ngô Minh | 17.10.2014

“TRÁI TIM LẦM CHỖ ĐỂ TRÊN ĐẦU”

 

Nhà thơ Mai Văn Hoan

“TRÁI TIM LẦM CHỖ ĐỂ TRÊN ĐẦU”

 QTXM- Nhà thơ Mai Văn Hoan vừa gửi cho QTXM bài viết về chuyện Trọng Thủy làm gián điếp lấy cắp nỏ thần của An Dương Vương giúp Triệu Đà chiến thắng. Bây giờ bọn lãnh đạo Trung Quốc lại giở cái trò đó hòng độc chiếm biển Đông, buộc Việt Nam phải phụ thuộc thiên Triều. Chúng tôi in bài viết bày để mọi người cùng bàn luận

 

Nhà thơ Mai Văn Hoan

 Nhà thơ Tố Hữu từng viết:

Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu

Trái tim lầm chỗ để trên đầu

Nỏ thần vô ý trao tay giặc

Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu!

 Đọc những câu thơ này tôi cảm thấy càng thương Mỵ Châu. Trong truyện nàng đã bị thần Kim Quy kết tội oan và bị vua cha chém đầu rơi đầu một cách đau đớn. Bây giờ nhà thơ lớn của chúng ta lại bồi cho nàng thêm một nhát gươm nữa thì quả là hết mức chịu đựng. Nàng có tội là vô ý đưa Trọng Thủy đến kho cất giấu nỏ thần. Nhưng ai phải chịu trách nhiệm chính trong chuyện này? Theo tôi, người chịu trách nhiệm chính là An Dương Vương và những cộng sự của ông ta. Chính An Dương Vương mới để “trái tim” lầm chỗ. Triệu Đà trước đó đã nhiều lần lăm le thôn tính Âu Lạc sao ông ta và những cộng sự của ông ta không cảnh giác lại đồng ý gả Mỵ Châu cho Trọng Thủy? Gả cho Trọng Thủy rồi sao lại mù quáng nhận lời cho Trọng Thủy ở rể? Cho Trọng Thủy ở rể rồi sao không cắt cử người theo dõi, kiểm soát, khống chế? Sao chỗ cất giấu vũ khí lợi hại lại để cho Mỵ Châu biết? Sao thần Kim Quy và nhà thơ Tố Hữu đổ tất cả tội lỗi cho một cô gái mới lớn đang còn ngây thơ, trong sáng ? Rõ ràng An Dương Vương đã đặt tình thông gia lên trên chuyện quốc gia đại sự. Đó là sai lầm cơ bản nhất mà những người lãnh đạo đất nược phải rút ra bài học xương máu. Trọng Thủy là gián điệp và hắn ta đã thực hiện mưu đồ của Triệu Đà một cách khôn khéo. Nghĩa là hắn ta đã dạy cho An Dương Dương một bài học đích đáng. Dù có yêu Mỵ Châu đến mấy đi nữa thì hắn ta cũng biết đặt quyền lợi quốc gia hắn lên hàng đầu chứ không đến nỗi ngu muội như An Dương Vương và các cộng sự của ông ta.

 Sau này Đặng Tiểu Bình và Tập Cận Bình đã làm cái điều y như Trọng Thủy đã làm. Nếu Đặng Tiểu Bình và Tập Cận Bình đặt tình hữu nghị của hai đảng anh em lên trên hết thì không có chuyện xua quân đánh biên giới và đặt giàn khoan vào lãnh hải nước ta để dạy thêm cho chúng ta “một bài học”. Đặng Tiểu Bình lúc đó như ta biết rất muốn lấy lòng nước Mỹ, muốn quan hệ làm ăn lâu dài với Mỹ để đưa đất nước Trung Quốc phát triển nên đã bất chấp tình hữu nghị “như răng với môi” giữa hai đảng, mang quân đánh chiếm biên giới nước ta. Và sau đó như chúng ta biết Mỹ đã hỗ trợ cho Trung Quốc như thế nào để Trung Quốc được như bây giờ. Mới đây, Tập Cận Tập Bình cũng vì quyết mở cho bằng được “con đường tơ lụa” trên biển để làm ăn với các nước Nam Á nên bất chấp tình hữu nghị của hai đảng anh em, ngang nhiên đặt giàn khoan trên lãnh hải nước ta.

 Về điều này, tôi thiết nghĩ những người lãnh đạo đảng CS VN phải thức tỉnh. Vì đảng CS vốn tự xưng là đảng của nhân dân thì phải biết đặt quyền lợi của nhân dân, đất nước lên hàng đầu. Đừng để họ lại dạy cho chúng ta thêm bài học nữa!

***

Mai Văn Hoan

ĐỘC THOẠI

 “Thương thay thân phận con

 Lên đình đội hạc, xuống chùa đội bia”

Ta là người có công

Hay là người có tội

Ai oán hận ta không ?

Đêm đêm ta tự hỏi.

Công ta, ai cũng biết

Tội ta, mấy ai hay

Lương tâm ta cắn rứt

Từ bấy cho đến nay.

Một lời ta lỡ nói

Chẳng suy xét trước sau

An Dương Vương nổi giận

Chém rơi đầu Mỵ Châu.

Máu tươi ròng ròng chảy

Dẫu có thành ngọc trai

Những lời ta buộc tội

Ngàn năm còn oan sai !

Có phải vì thế chăng

Ta bị trời trừng phạt

Lên đình thì đội hạc

Xuống chùa thì đội bia ?

( Tác giả gửi cho QTXM)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.10.2014

“ MỆ HUẾ” NGUYỄN TUÂN

Nhà văn Nguyễn Tuân

                       “ MỆ HUẾ”  NGUYỄN TUÂN 

         Ngô Minh

           Chưa có nhà văn người Hà Nội nào rành Huế và đậm đặc “chất Huế” như Nguyễn Tuân. Có thể nói Nguyễn Tuân là một “mệ” Huế ( “Mệ” là từ gọi chung người trong Hoàng Tộc Nguyễn, cả nam lẫn nữ).  Năm 1986, ông vô Huế.  Mấy anh em viết văn trẻ chúng tôi đến khách sạn, nói là thăm ông, thực ra là để xem mặt nhà văn lớn. Ông cười, hỏi tên từng người, rồi lục ba lô lấy ra một nậm rượu và mấy cái chén mắt trâu Bát Tràng . Ông vừa rót rượu , vừa nói giọng Huế ngọt lịm : “Cái thằng Vân ni được lắm, không thua gì thằng Chuồn Huế mô”. Ông đưa chén rượu đến từng người rồi bất chợt phán :” Các “Mệ” làm chủ tập thể đi !”.   Tôi rụt rè :” Thưa, sao anh biết rượu Chuồn ?”. Ông cười vuốt râu, lại nói giọng Huế :” Mình đã uống rượu Chuồn  từ khi các “mệ” chưa có trên cõi đời ni, nghe chưa !”.  (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 16.10.2014

Văn tế thập loại giáo sư

Văn tế thập loại giáo sư

Khuyết Danh

 Tiết quý Thu gió mưa vuồn vuột
Dân quê miềng lạnh buốt xương da
Lập đàn đèn nến hương hoa
Lạy ông tiến sĩ, lạy bà giáo sư.

Bể học vấn hư hư thực thực
Lối quan trường bắc bực gai chông
Vênh vênh một lũ Hội đồng
Phiếu bầu thì có, đầu không có gì.

Không có gì mà gì cũng có
Sự học hàm ngấp ngó đua tranh
Đua tranh thì có giá thành
Mua danh ba vạn, bán danh ba hào.

Nào những kẻ mũ cao áo rộng
Chốn Tam đình ngong ngóng vào ra
Thanh binh chính thị nghiệp nhà
Ô hô mồm giải mép loa cũng tài.

Nào những kẻ miệt mài đèn sách
Đạo văn người chắp nhặt nên câu
Sách người làm mọt làm sâu
Ô hô nhai lại kiếp trâu kiếp bò.

Nào những kẻ tò vò nuôi nhện
Bụng nhện tròn nó quện luôn ông
Ô hô mông quạnh đồng không
Có hương có khói nhưng không bàn thờ.

Nào những kẻ lập lờ đục nước
Hội Tâm linh mưu chước sắp bày
Dị nhân đuổi gió hô mây
Quái nhân múa mép, múa tay, múa tiền.

Nào những kẻ điên điên dại dại
Nay quốc ca mai lại quốc hoa
Ô hô vỏ lựu mào gà
Nước nôi man mác biết là còn không.

Nào những kẻ lưu vong thất thổ
Cõi Tây phương mặt rỗ kỳ khu
Học đòi lí lẽ ba xu
Chõ về đàn gảy tai tru mà rầu.

Nào những kẻ Đông Âu tu luyện
Trợ cấp còm tằn tiện từng khâu
Gái xinh chẳng dám nhìn lâu
Áo phông son Thái khấu đầu bán buôn.

Nào những kẻ cúi luồn thân phận
Tay bút gươm lòng lận bút lông
Ô hô trời đất thấu không
Đô Long hạ bệ, đốc Đông thượng tòa.

Nào những kẻ ghen gà tiếng gáy
Hám vinh danh tháu xoáy công trình
Chưa thôi tranh luận rập rình
Đã lôi nhau đến pháp đình… tội chưa.

Cũng có kẻ thân lừa ưa nặng
Cũng có cha lẵng nhẵng oán ân
Cuốc Liên điện thoại Ma Lân
Đánh rơi thằng nọ, xí phần đứa kia…

Phận bèo bọt thia lia mặt nước
Giang sơn này độc dược tràn lan
Bán buôn sông biển non ngàn
Hồn hề hồn hỡi hồn tan hay còn…

Cuối thu nhặt được
(Khuyết danh)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 16.10.2014

CƯỚI ĐÊM – CHÙM THƠ PHAN ĐÌNH tIẾN

Nhà thơ Phan Đình Tiến

QTXM- Bạn đọc thân mến. Nhà điêu khắc Phan Đình Tiến hiện là Chủ tịch Hội VHNT Quảng Bình. Anh đã có tượng đặt ở nhiều thành phố lớn ở nước ta như Huế, Vũng Tàu, TP Hồ Chí Minh, Đá Lạt, Đồng Hới…và nhận được rất nhiều giải thưởng cao của ở Trung ương và địa phương.  Ngoài điêu khắc,Phan Đình Tiến  là một nhà thơ hiện đại và độc đáo. Anh đã được giải thưởng thơ Tạp chí Sông Hương. QTXM xin giới thiệu chùm thơ của nhà điêu khắc Phan Đình Tiến để bạn đọc thưởng thức

 

CƯỚI ĐÊM

 Cưới đêm ta uống rượu nồng

Cạn ly duyên thắm vợ chồng từ nay

Yêu đêm cho bõ ghét ngày

Khát khao tình ái tháng đầy rụng rơi

Đã đi hơn nữa kiếp người

Mà ta vẫn cứ thằng tôi lạc loài

Đêm này đêm hỡi đêm ơi

Ngày kia ghẻ lạnh còn tôi với mình

Động phòng với bóng đêm xinh

Nghe chừng con sóng dập dình biển xa

Lời đêm thủ thỉ mặn mà

Mắt đêm nghiêng ánh trăng ngà tái tê

Ôm đêm trong cõi đê mê

Gối mây trinh tiết dầm dề sương tơ

Ái ân với bóng đêm mơ

Thương tôi thân xác bơ vơ lỡ làng

Khổ đau một kiếp đa mang

Tháng năm

tất tưởi

bẽ bàng

đêm ơi./. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 15.10.2014

 

Văn Việt:Thơ chân dung”, chính xác là “thơ hý họa chân dung”, không phải điều mới mẻ của thơ Việt Nam và thế giới. Những bài thơ bất hủ của Nguyễn Khuyến, Tú Xương phác hoạ một cách thần tình những nhân vật cùng thời, đã vượt khỏi phạm vi “thơ hài, thơ biếm” như cách “phân loại” máy móc của một số nhà phê bình, mà thấm đượm chất trữ tình, nhiều khi như những tiếng cười nhẹ thân ái mà đượm buồn… 100 bài thơ “chân dung” của Xuân Sách gần đây là một kho hý hoạ đặc sắc, từ ác đến vui, đủ cung bậc.

Nhà văn Phạm Lưu Vũ gửi đến Văn Việt 12 bài “thơ chân dung” sau đây của các bạn văn chương của mình, chắc là muốn nối tiếp truyền thống ấy trong thơ Việt. Xin giới thiệu với bạn đọc.

VỊNH NHÂN VẬT CHÍ

1- TRẦN NINH HỒ

Chàng thuở trẻ vốn từng làm lính

Máu văn chương nên dính nghiệp thơ

Xuất thân Kinh Bắc, Sen Hồ

Sông Cầu chảy giữa nhấp nhô xóm làng

Dáng thanh thanh rõ ràng chum vại

Thước năm mươi đo vội đo vàng

Cứ gì mồm rộng mới sang

Cứ gì thon thả mới hàng mĩ nhân

Khi chinh chiến gieo vần bom đạn

Lúc thanh bình bè bạn thí thân

Ninh Hồ từ ấy thành nhân

Vốn dòng Ích Tắc họ Trần ngày xưa

Chí làm người dư thừa can đảm

Bén duyên nhau nói nhảm cũng hay

Những là tháng tháng ngày ngày

Lừa con, lừa vợ, Đông, Tây tít mù

Vạ mồm miệng kẻ trù người ghét

Đã bảo tàng mà suýt vẫn toi

Thế rồi chơi để mà chơi

Câu thơ để khóc để cười cho ai

Cần gì nữa một hai giải… rút

Đã gọi chùa không Bụt vẫn thiêng

Ghế đời trao quá chung chiêng

Ghế nhà mình vững như kiềng ba chân

Thì tiếc gì mấy lần hưng phế

Cõi nhân gian tử tế? Còn lâu!

Thế rồi ngồi tót đâu đâu

Để xem thiên hạ bắt đầu… với nhau. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 15.10.2014

Ban Tuyên giáo TW phổ biến tài liệu Hội nghị Thành Đô

Theo RFA, Bangkok

Tập tài liệu về Hội nghị Thành Đô do ban Tuyên giáo Trung ương đã được biên soạn và phân phát đến các đảng viên, cán bộ trong các cơ sở đảng

 

Tập tài liệu về Hội nghị Thành Đô do ban Tuyên giáo Trung ương đã được biên soạn và phân phát đến các đảng viên, cán bộ trong các cơ sở đảng
alt RFA files photo

Một tài liệu được nói là do Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam biên soạn về Cuộc gặp cấp cao tại Thành Đô năm 1990 mà nhiều người quan tâm trong nước gọi là Thỏa thuận Thành Đô đang được lưu hành xuống cơ sở đảng. Động thái này được thực hiện sau khi có một số kêu gọi của chính những vị cao cấp trong Đảng cũng như người quan tâm phải bạch hóa thỏa thuận đó.
Những điều được Ban Tuyên giáo nêu ra trong tài liệu có đáp ứng được yêu cầu của những người từng có kiến nghị về việc này hay chưa? Gia Minh trình bày.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 14.10.2014

CÙNG ĐÔNG HÀ ĐI NGƯỢC ĐÁM ĐÔNG

Thi sĩ Đông Hà   

     CÙNG ĐÔNG HÀ ĐI NGƯỢC ĐÁM ĐÔNG

      Ngô Minh

  Nhà thơ Đông Hà vừa tặng tôi tập thơ mới của chị có cái tên là lạ “Đi ngược đám đông “. Sao không đi cùng mà lại đi ngược đám đông ? Đi ngược đám đông nghĩa là đi một mình, ngồi một mình, một mình lặng lẽ tâm thức ?. Trong đề từ đầu sách, nhà thơ viết :”Mượn tinh thần chữ của Trịnh Công Sơn trong Phúc âm buồn tôi viết đi ngược đám đông.”. Phúc âm buồn của Trịnh là một bài hát về phận người cô độc và bất lực, yêu thương và đau khổ :

Còn bao lâu cho thân thôi lưu đày chốn đây
Còn bao lâu cho thiên thu xuống trên thân này
Còn bao lâu cho mây đen tan trên hồn người
Còn bao lâu tôi xa em xa anh xa tôi
(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 14.10.2014

Ai yêu Trung Quốc?

Ai yêu Trung Quốc?

  •   Ian Buruma

Hàng vạn người đã “chiếm đóng” những con đường ngập tràn hơi cay của khu vực Trung tâm Hong Kong để chiến đấu cho những quyền dân chủ của họ. Nhiều người hơn nữa sẽ sớm gia nhập với họ. Mặc dù một vài người kinh doanh và chủ ngân hàng cảm thấy khó chịu bởi sự gián đoạn công việc, nhưng những người biểu tình đã đúng khi phản kháng.

Chính quyền Trung Quốc đã hứa hẹn với những người dân Hong Kong rằng họ có thể tự do bầu chọn Trưởng Đặc khu vào năm 2017. Nhưng, với điều kiện rằng các ứng viên phải được rà soát bởi một ủy ban thân Trung Quốc được bổ nhiệm bởi chính quyền trung ương, việc bầu chọn của công dân sẽ không còn có nhiều ý nghĩa. Chỉ có những người “yêu Trung Quốc” – tức yêu Đảng Cộng Sản Trung Quốc – mới được tranh cử.

Người ta có thể dễ dàng hiểu được tại sao các nhà lãnh đạo Trung Quốc lại bị phong trào phản kháng ở Hong Kong làm cho cảm thấy bối rối. Suy cho cùng thì khi Hong Kong còn là một thuộc địa của Anh, người Anh đã chỉ định các vị toàn quyền mà chẳng có ai phản kháng cả đấy thôi.

Thực tế, thỏa thuận mà những người dân thuộc địa Hong Kong chấp nhận – gạt chính trị sang một bên để đổi lấy cơ hội theo đuổi sự thịnh vượng vật chất trong một môi trường an toàn và trật tự – không khác là mấy so với thỏa thuận (với chính quyền Bắc Kinh) mà những tầng lớp có giáo dục ở Trung Quốc ngày nay chấp nhận. Trước đây, một quan điểm thông thường của các công chức chính quyền thực dân, thương gia, và các nhà ngoại giao là người Trung Quốc không thực sự hứng thú với chính trị chút nào; tất cả những thứ họ quan tâm chỉ là tiền.

Bất cứ ai có những kiến thức cơ bản nhất về lịch sử Trung Quốc sẽ thấy rằng quan điểm này hoàn toàn sai. Nhưng, trong một thời gian dài, nó dường như đã đúng ở Hong Kong. Tuy nhiên, có một sự khác biệt đáng kể giữa Hong Kong dưới sự cai trị của Anh Quốc và Hong Kong thuộc Trung Quốc ngày nay. Trước đây, Hong Kong không phải là một vùng đất dân chủ, nhưng nó đã có một nền báo chí tương đối tự do, một chính quyền tương đối trung thực và một hệ thống tư pháp độc lập – tất cả được ủng hộ bởi một chính quyền dân chủ ở London.

Đối với phần lớn công dân Hong Kong, triển vọng của việc bị chuyển giao từ một một cường quốc thực dân này sang một cường quốc thực dân khác vào năm 1997 chưa bao giờ là một triển vọng hoàn toàn vui vẻ. Nhưng thứ thật sự tiếp sức cho chính trị ở Hong Kong là cuộc đàn áp quảng trường Thiên An Mônở Bắc Kinh và ở các thành phố khác trong năm 1989. Những cuộc biểu tình khổng lồ đã diễn ra ở Hong Kong để phản đối cuộc thảm sát, và các lễ tưởng niệm có quy mô lớn về sự kiện đó được tổ chức vào tháng 6 hàng năm. Điều này đã giúp duy trì một ký ức vốn bị kìm nén và lãng quên ở những nơi khác thuộc Trung Quốc.

Không chỉ sự giận dữ từ lý do nhân đạo đã kích động rất nhiều người Hong Kong hành động trong năm 1989. Họ đã nhận ra rằng dưới sự cai trị trong tương lai của Trung Quốc, chỉ có nền dân chủ chân chính mới có thể giữ vững các thể chế vốn giúp bảo vệ các quyền tự do ở Hong Kong. Nếu không có tiếng nói đáng kể nào về cách mà họ sẽ bị cai trị, cuộc đời của những người dân Hong Kong sẽ bị phó mặc cho những nhà lãnh đạo Trung Quốc.

Từ quan điểm của những nhà cai trị ở Bắc Kinh, điều này thật sai trái. Họ coi những yêu sách về dân chủ của người Hong Kong là những nỗ lực sai lầm để bắt chước nền chính trị phương Tây, hoặc thậm chí giống như là một dạng hoài cổ về thời kỳ đế quốc chủ nghĩa của Anh. Dù theo cách nghĩ nào đi nữa, kế hoạch của những người biểu tình luôn bị coi là “chống lại Trung Quốc”.

Theo cách nhìn nhận của những nhà cai trị Trung Quốc, chỉ có sự lãnh đạo vững chắc từ trung ương và quyền lực tối cao không bị thách thức của họ mới có thể tạo ra những điều kiện cần thiết để nước Trung Quốc giàu mạnh trỗi dậy. Dân chủ, trong quan điểm của họ, sẽ dẫn tới sự hỗn loạn; tự do tư tưởng sẽ gây ra sự nhiễu loạn của người dân; và sự chỉ trích của công chúng về Đảng có khuynh hướng dẫn đến sự sụp đổ chính quyền.

Theo nghĩa này, Bắc kinh nhìn chung theo tư duy truyền thống (giống các triều đại phong kiến trước đây – NBT). Nhưng, mặc dù chính quyền Trung Quốc luôn luôn độc tài, nó chưa bao giờ tham những tràn lan như hiện nay. Và nền chính trị Trung Quốc cũng chưa bao giờ vô luật pháp như vậy.

Theo truyền thống, Trung Quốc đã có những thiết chế – các liên kết dòng họ, các cộng đồng tôn giáo, các nhóm thương nhân, vv… – mang tính tự trị tương đối. Sự cai trị của hoàng đế có thể rất độc đoan, nhưng vẫn có những khoảng trống lớn cho sự độc lập bên ngoài kiểm soát của trung ương. Theo nghĩa này, Hong Kong có lẽ mang tính truyền thống hơn so với các phần còn lại của Trung Quốc, dĩ nhiền là loại trừ Đài Loan.

Ngày nay, quyền uy chính trị tối cao đã đặt Đảng Cộng sản lên trên luật pháp, điều này đã khuyến khích tham nhũng trong các quan chức của Đảng, cả ở cấp địa phương và trung ương. Sự kiểm soát nghiêm khắc đối với tôn giáo, học thuật, nghệ thuật và báo chí đã kiềm chế sự phổ biến các thông tin cần thiết và các tư tưởng sáng tạo. Sự thiếu vắng một hệ thống tư pháp độc lập đã làm suy yếu nền pháp quyền. Những điều này không có lợi ích gì cho sự phát triển tương lai cả.

Khi Hong Kong được chính thức trao trả về Trung Quốc 17 năm trước, một số người lạc quan nghĩ rằng mức độ tự do lớn hơn ở vùng đất thuộc địa này sẽ giúp thúc đẩy cải cách ở các phần còn lại của Trung Quốc. Hình mẫu về bộ máy quan chức trong sạch và những người thẩm phán công tâm sẽ giúp đẩy mạnh pháp quyền trên toàn bộ đất nước. Một số người khác, với cùng lý do đấy, coi Hong Kong như con ngựa thành Troy nguy hiểm có thể làm xói mòn nghiêm trọng trật tự cộng sản.

Đến nay, không có bất kỳ bằng chứng nào cho thấy những người biểu tình ở khu vực Trung tâm Hong Kong có bất kỳ tham vọng nào trong việc làm suy yếu, chứ đừng nói đến lật đổ chính quyền ở Bắc Kinh. Họ chỉ thực sự chú tâm vào việc đứng lên bảo vệ quyền lợi của họ ở Hong Kong, và cơ hội mà họ sẽ thành công dường như rất mong manh. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình rất nóng lòng để thể hiện sự cứng rắn của ông ta. Thỏa hiệp sẽ thể hiện sự yếu đuối. Mục tiêu của ông ta là khiến Hong Kong giống với những phần còn lại của Trung Quốc, hơn là một cái gì đó khác biệt.

Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều lý do để tin rằng Trung Quốc sẽ được hưởng lợi lớn từ con đường ngược lại. Ít tham nhũng hơn, sự tin tưởng vào pháp luật nhiều hơn, sự tự do tư tưởng lớn hơn sẽ làm cho Trung Quốc thêm vững chắc, thêm sáng tạo và thịnh vượng hơn.

Trong ngắn hạn, điều này có thể chưa xảy ra, nhưng những người thực sự “yêu Trung Quốc” sẽ dễ dàng được tìm thấy trên những con phố của Hong Kong hơn là ở những khu nhà chính phủ kín cổng cao tường ở Bắc Kinh.

………………………..

Ian Buruma là giáo sư về dân chủ, quyền con người và báo chí ở trường Đại học Bard. Ông là tác giải của rất nhiều đầu sách, bao gồm: Murder in Amsterdam: The Death of Theo Van Gogh and the Limits of Tolerance [Án mạng ở Amsterdam: Cái chết của Theo Van Gogh và Những giới hạn của Sự khoan dung], và gần đây nhất, Year Zero: A History of 1945 [Năm zero: Lịch sử 1945].

Biên dịch: Lê Khánh Toàn

Bản gốc tiếng Anh: Project Syndicate

Nguồn: http://nghiencuuquocte.net

 

Huyên Trân Công Chúa

Giải ảo lịch sử và Cảm quan lịch sử về chuyện Huyền Trân công chúa

Nguyễn Đức Toàn

Thời gian gần đây, tôi làm công việc khác không được gần gũi với nghiên cứu sách vở cho lắm. Thì giờ đọc cũng ít đi. May nhờ Facebook, bạn bè chia sẻ được đọc ké bài của tác giả Nguyên Khôi: Giải ảo lịch sử về Huyền Trân công chúa. Đăng trên Tia sáng[1]. Bài viết khá lý thú, hấp dẫn đưa ra những chứng cứ và phân tích lịch sử chủ quan của Tác giả về những vấn đề liên quan đến Công chúa Huyền Trân, được Ngô Sĩ Liên chép trong Đại Việt sử ký toàn thư (Toàn thư). Bài viết cụ thể đưa ra 3 luận điểm:

1. không có chuyện Huyền Trân bị hỏa thiêu, vì thế cũng không có chuyện giải cứu Huyền Trân như Toàn thư đã viết;

2. Giả thuyết Huyền Trân đầu độc Chế Mân không có cơ sở, không có chuyện nhóm Trần Khắc Chung phải lập mưu cướp công chúa về Đại Việt. Toàn thư đã chép đoạn này trên một truyền bản tin đồn hoặc huyền thoại thất thiệt (fakelore) vào đời sau. Câu chuyện đó chỉ có ý nghĩa đối với những sáng tác văn học mà hầu như lại rất có hại đối với lịch sử và sử học;

3. Mối quan hệ Huyền Trân- Khắc Chung có thể có mà cũng có thể không. 

Nhưng thẳng thắn theo cảm quan của tôi, tôi chỉ ủng hộ 1/4 của luận điểm thứ 2 mà thôi. Đó là Không có cơ sở về giả thuyết Huyền Trân đầu độc Chế Mân. Vì không có sự chuẩn bị về tư liệu, nên tôi xin căn cứ theo những gì Tác giả Nguyên Khôi nêu trong bài để trình bày lại cảm quan của tôi. Dẫn dụ lòng vòng xin các bạn thông cảm. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 13.10.2014

NỘI LỰC VĂN HÓA- SỨC MẠNH CỦA DOANH NHÂN

      NỘI LỰC VĂN HÓA- SỨC MẠNH CỦA DOANH NHÂN

  Ngô Minh

       Thời bao cấp, ở nước ta mọi người rất kỵ chữ “buôn bán”. Hàng ngày người ta hay mắng nhau :” Đồ con buôn !” Hành vi buôn bán được xã hội bao cấp xếp vào diện “ phi văn hóa” !   Đó là tâm lý tiểu nông trong xã hội tự cấp, tự túc, người ta không hiểu rằng doanh nhân chính là những nhà văn hóa trên thương trường! Trên góc độ các thương gia, văn hóa kinh doanh bao giờ cũng tồn tại hai mặt :Hướng ngoại và hướng nội . Hướng nội là nội lực của các doanh nhân dựa vào cái mỏ vốn liếng văn hóa dân tộc để tạo ra sức mạnh hội nhập của chính mình ! Nội lực văn hóa đó quyết định trình độ, thế đứng của doanh nhân khi hướng ngoại, làm sao vừa mang lại lợi nhuận cao, vừa nâng cao dân trí trong nước. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 12.10.2014

Thảo luận trực tuyến về sách ‘Đèn Cù’

Tác giải Trần Đĩnh

Thảo luận trực tuyến về sách ‘Đèn Cù’

  • QTXM : Từ mạng, đặc biệt là Việt Nam thư quán, sách Đèn cù của tác giả Trần Đĩnh đã được in ra hàng vạn bản ở Việt  Nam. Nhiều người say mê đọc. Cũng có người tỉnh táo đặt vấn đề  về sự thật về sự kiện và các nhân vật mà tác giả kể trong cuốn sách đạt độ chuẩn xác như thế nào? Mời bạn đọc xem cuộc tọa đàm trực tuyền của BBC về vấn đè này.

Ông Hoàng Hưng cho rằng Trần Đĩnh nói những sự thật mà tác giả biết và cho đó là sự thật.

‘Đèn Cù’ là một cuốn sách có vị trí ‘quan trọng nhất’ trong một giai đoạn lịch sử, theo một khách mời tham gia cuộc tọa đàm trực tuyến giữa BBC với các khách mời về cuốn tự truyện của tác giả Trần Đĩnh hôm 09/10/2014.

Trao đổi với tọa đàm của BBC hôm thứ Năm ( http://bit.ly/1v6CmDn), nhà thơ Hoàng Hưng từ Sài Gòn nói về tính ‘xác thực’, ‘chân thực’ với sự thực lịch sử của cuốn sách đang thu hút sự chú ý của dư luận Việt Nam trong và ngoài nước:

Ông nói: “Về việc tác giả nói sự thật hay không, tôi nghĩ tác giả cũng đã nói rồi, tác giả nói những sự thật mà tác giả biết, và tác giả cho đó là sự thật và tác giả không bịa đặt.”

“Những sự thật này nó chính xác như thế nào về mặt lịch sử thì cái này không bàn, bởi vì tác giả… khi mà bàn những chuyện này, nghe ý kiến của người nọ, người kia nói rằng là sai lịch sử, hay bịa đặt ấy, thì tác giả nói rằng là “thì ai chỉ cho tôi bịa đặt”.

“Tác giả nói ngay gần đây có một bức thư của bà (Bảy) Vân, vợ của [cố Tổng bí thư Đảng CSVN] ông Lê Duẩn đưa ra để tố cáo Võ Nguyên Giáp, thì những ý của bà Vân đưa ra như thế thì cái nào là đúng, cái nào là không đúng, cũng rất là khó, cái đó thuộc về vấn đề lịch sử xác minh.

Về việc tác giả nói sự thật hay không, tôi nghĩ tác giả cũng đã nói rồi, tác giả nói những sự thật mà tác giả biết, và tác giả cho đó là sự thật và tác giả không bịa đặt

Nhà thơ Hoàng Hưng

“Thế còn khi tác giả viết ra thì tác giả đều tin tất cả những chuyện đó là sự thật, có thể là qua kể lại, có thể là mắt mình được chứng kiến, hoặc có thể là qua những hiểu biết của tác giả. Cho nên tôi cho rằng… vấn đề sự thực lịch sử thì chúng ta phải nhìn như thế.”

Từ Hà Nội, nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên nói với cuộc thảo luận ( http://bit.ly/10PcizT) về bản chất của cuốn sách:

Ông nói: “Cuốn Đèn Cù của nhà báo Trần Đĩnh, mà chúng ta biết vị trí của ông Trần Đĩnh là từ rất sớm đã vào làm ở báo Đảng, báo Sự Thật, sau này là báo Nhân Dân, để được ở kề cận Tổng Bí thư Trường Chinh và có thể có những tiếp xúc với những cán bộ cấp cao và có những nguồn tin có thể tin cậy…

“Tôi có nói tác giả là người có thẩm quyền để nói ra những điều mình biết và những điều mà ông nói ra có thể khiến người ta tin được vì được nói ra bởi một người có thẩm quyền, chứ không phải là quyền uy.”

‘Sai sót, nhầm lẫn?’

Ông Phạm Xuân Nguyên tin rằng Đèn Cù nói lên sự thật từ một người viết ‘có thẩm quyền’.

Khi được hỏi liệu cuốn sách có ‘khả tín’ hay không khi có một số ý kiến cho rằng “Đèn Cù” có thể có một số ‘nhầm lẫn’ về sự kiện, nhân vật hay dữ kiện lịch sử, nhà phê bình nói:

“Còn khi mà có những sai khác, thì bản thân ông cũng đã xác định là ở đây ông kể “chuyện tôi”. “Truyện tôi” tức là được lọc qua ký ức, được lọc qua những trí nhớ và có thể những câu chuyện của bạn bè.”

Và ông Nguyên đưa ra so sánh giữa ‘Đèn Cù’ với ‘Bên Thắng Cuộc’ một cuốn sách khác được xuất bản trên mạng của nhà báo, blogger Huy Đức:

“Nếu đòi hỏi một cách khách quan, ví dụ chúng ta đặt cuốn ‘Đèn Cù’ (so sánh) bên cạnh cuốn ‘Bên Thắng Cuộc’, thì tác giả Huy Đức có thể lại làm công việc của một nhà báo, nhà khảo cứu và có thể có những ghi chép, những số liệu có thể đối chiếu.

“Còn như của Đèn Cù của anh Trần Đĩnh, thì anh chỉ bàn những cái nhớ lại bằng hồi ức của mình mà vừa rồi tôi có đọc một bài của nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn, thì anh cũng có nói phải có một phụ lục, một ‘Index’ để chỉ ra những nhân vật, những sự kiện trong này mà có chú thích, thì được thêm một cuốn phụ lục ấy nữa, thì đó là công cuộc của nhà khảo cứu.

Còn khi mà có những sai khác, thì bản thân ông cũng đã xác định là ở đây ông kể “chuyện tôi”. “Truyện tôi” tức là được lọc quy ký ức, được lọc qua những trí nhớ và có thể những câu chuyện của bạn bè

Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên

“Còn cuốn ‘Đèn Cù’ là cuốn ‘Truyện tôi’, tức là chuyện đời được phản ánh qua trí nhớ, qua ký ức, qua hồi tưởng của nhà báo Trần Đĩnh.”

Từ Paris, nhà báo tự do Mỹ Dung cho rằng những cuốn sách như Đèn Cù hoặc nhiều cuốn khác từng được xuất bản bằng tiếng Việt ở bên ngoài Việt Nam, trong đó có các cuốn như ‘Bên Thắng Cuộc’ của Huy Đức, hay ‘Trần Đức Thảo – những lời trăn trối’ của Tri Vũ – Phan Ngọc Khuê, vẫn là một chủ đề được nhiều bạn đọc người Việt ở hải ngoại nói chung, ở nước Pháp nói riêng, đón đọc.

Cây viết nữ nói: “Tất cả những cuốn sách vừa mới nêu đều có chung một đặc điểm, cho dù nó được thể hiện dưới một hình thức nào, văn học, tự truyện, hồi ký, nghiên cứu lịch sử v.v…, nó đều có một đặc điểm chung là đó đều là những cái nhìn rất độc lập, không bị chi phối bởi hệ tư tưởng chính trị nào, bởi thế lực nào, của người viết về giai đoạn lịch sử nào đó mà họ quan tâm, để mà họ viết ra thành sách.

“Cho nên tất cả những cuốn sách đó dĩ nhiên sẽ được rất nhiều bạn đọc trong cũng như ngoài nước, là bạn đọc Việt Nam, đọc tiếng Việt, trong và ngoài nước, nếu có quan tâm đến lịch sử Việt Nam, đều rất muốn có để mà đọc.

Nhà báo Mỹ Dung cho rằng các cuốn sách như Đèn Cù có thể thu hút được bạn đọc ngoại quốc.

“Đọc để tìm hiểu xem cùng một sự kiện lịch sử đó, thì những góc nhìn độc lập đó họ nhìn nhận những sự kiện lịch sử như thế nào.”

‘Được đón đọc’

Theo nữ nhà báo này, nếu được dịch từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài mà ở đây là tiếng Pháp, nhiều cuốn sách như Đèn Cù cũng có thể sẽ được bạn đọc ngoại quốc ‘đón đọc nồng nhiệt’ như với các tác phẩm của nữ văn sỹ Dương Thu Hương.

Mỹ Dung nói: “Còn nếu hỏi là người Pháp đọc lịch sử Việt Nam bằng những cách kể chuyện khác nhau như thế, thì rất tiếc cho tới nay chỉ có tất cả những tác phẩm của bà Dương Thu Hương là được dịch ra tiếng Pháp”.

“Còn những cuốn khác… không có tiếng Pháp, nên tôi không biết người Pháp sẽ đón nhận như thế nào”.

“Riêng về cuốn sách của bà Dương Thu Hương, đến nay, bà viết về lịch sử Việt Nam, tuy rằng với giọng văn là tiểu thuyết đi nữa, nhưng vẫn được người Pháp, độc giả Pháp tiếp nhận rất là nhiều và người ta rất hoan nghênh.

Theo cảm nhận chủ quan của tôi, thì những cuốn sách được nêu, nếu được dịch ra tiếng Pháp và được giới thiệu ra với bạn đọc Pháp, thì chắc chắn sẽ được bạn đọc Pháp đón nhận một cách nồng nhiệt không kém

Nhà báo tự do Mỹ Dung

“Và theo cảm nhận chủ quan của tôi, thì những cuốn sách được nêu, nếu được dịch ra tiếng Pháp và được giới thiệu ra với bạn đọc Pháp, thì chắc chắn sẽ được bạn đọc Pháp đón nhận một cách nồng nhiệt không kém.”

‘Tự vấn thành công’

Từ London, nhà báo Nguyễn Giang, Trưởng Ban Việt ngữ của BBC nêu quan điểm:

“Nếu nói về mặt văn học, nhiều nhân vật được mô tả rất sinh động, sống trong những bối cảnh đó, thế nhưng nếu nói đây là những chứng cứ, hay chứng liệu lịch sử, thì tôi thấy rất khó bàn ở chỗ là ngày tháng nào, gặp nhau ở đâu, ai nói gì, những cái đấy chúng ta không biết và chúng ta hoàn toàn tin tưởng là tác giả viết theo đúng những gì mà ông ấy nêu ra,

“Nhưng mà đây không phải là một cuốn sách khảo cứu cho nên giá trị văn chương nhiều hơn, tôi nghĩ, là giá trị mà chúng ta gọi là tư liệu lịch sử.”

Nguyễn Giang cho rằng Trần Đĩnh đã thành công khi ‘tự vấn’ về thân phận đất nước.

Vẫn theo nhà báo Nguyễn Giang, tác giả Trần Đĩnh đã đạt được sự thành công nhất định qua tác phẩm ở một khía cạnh được gọi là ‘tự vấn’ về thân phận đất nước, dân tộc, đặc biệt bắt đầu từ cuộc tiếp xúc bước ngoặt giữa Việt Minh, chính quyền của họ với chủ nghĩa Mao.

Nguyễn Giang nói: “Ông Trần Đĩnh đã rất thành công trong việc ông ấy tự vấn, ông ấy tự phản tỉnh, ông ấy tự đặt câu hỏi tại sao dân tộc của chúng ta lại có cuộc tiếp xúc rất lớn với chủ nghĩa Mao giai đoạn Việt Minh, để rồi có một hệ thống như thế và bắt đầu đi tiếp một cuộc chiến nữa.”

Vẫn theo Nguyễn Giang, cuộc chiến Việt Nam vẫn ‘tiếp tục’ được các giới và dư luận quốc tế biết đến, và do đó rất có thể sẽ tiếp tục xuất hiện trong tương lai các cuốn sách như Đèn Cù của Trần Đĩnh.

Người ta vẫn tiếp tục viết về cuộc chiến này ở trên thế giới bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, đủ những thứ tiếng khác nhau, người Trung Quốc người ta cũng vẫn đang viết, thì người Việt Nam tại sao lại không thể viết ở trong nước và xuất bản trong nước bình thường được

Nguyễn Giang, Trưởng ban BBC Việt ngữ

“Người ta vẫn tiếp tục viết về cuộc chiến này ở trên thế giới bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, đủ những thứ tiếng khác nhau, người Trung Quốc người ta cũng vẫn đang viết, thì người Việt Nam tại sao lại không thể viết ở trong nước và xuất bản trong nước bình thường được,” Nguyễn Giang đặt vấn đề.

Cuộc hội luận được phát trực tuyến trên kênh Google Hangout và YouTube của BBC Việt ngữ từ lúc 19h30 – 20h00 giờ Việt Nam hôm thứ Năm, 09/10/2014 với khách mời là nhà phê bình văn học, các nhà báo và người viết tự do từ Việt Nam và hải ngoại.

Các quý vị có thể theo dõi toàn bộ cuộc thảo luận tại đường dẫn sau đây http://bit.ly/10PcizT hoặc trên trang nhà của chúng tôi ở địa chỉ bbcvietnamese.com

Các ý kiến về cuốn sách, xin vui lòng gửi cho chúng tôi về địa chỉ vietnamese@bbc.co.uk.

 

 

NGUYỄN NGUYÊN BẢY thông báo về dự án Sách Thơ Bạn Thơ,5.

 

1. Thể theo đề nghị của đông đảo bạn đọc đề  nghị không thực hiện Dự án bộ sách Văn Thơ Dọc Chọn như đã thông báo vì không quy tập được bài vở và bạn đọc chỉ muốn tham gia thằng vào hai bộ sách Văn Bạn Văn và Thơ Bạn Thơ. Do vậy, chương trình bộ sách Văn chương đoc chọn không tiếp tục thực hiện.

2. Bô sách Văn bạn Văn, đã xuất bản tập hai, đang thực hiện tập 3. Kính mời cộng tác.

 
3. Bộ sách Thơ Bạn Thơ đang in tập 4, là hoàn tất dư án bộ sách Thơ Bạn Thơ xuân/Hạ/Thu/Đông, bốn tập đúng theo chương trình đã công bố. Nay do không thực hiện bô sách Văn chương đọc chọn, nên Thơ Bạn Thơ sẽ tiếp tục thực hiện phần hai của dự án với 4 tập THƠ BẠN THƠ 5-8. 
Bô sách TBT,5 này tuân thủ như trình tự của bộ sách Thơ Bạn Thơ Xuân/Hạ/Thu/ Đông trên cả hai phương diện nội dung/hình thức và in ấn phát hành. Nhấn mạnh lại một vài chi tiết:
+ Sách không tham gia thị trường. Người làm sách và người tham gia làm sách trên tinh thần tự nguyện, không có bất kỳ một ràng buộc,đòi hỏi nào về tài chính/quà cáp đóng góp, nhuận bút trả bằng sách biếu, bài tự gửi hoặc được BT chọn đọc, được thông báo công khai, đúng pháp luật xuất bản trước khi in ấn phát hành, miễn thị phi tranh tụng.
+ Các bạn thơ đã tham gia sách TBT 1-4, đều có thể gửi bài tham gia TBT 5-8, vì đây là dự án phần 2, độc lập với phần 1, mục dích chung, tìm kiếm những áng thơ hay của Thi đàn Việt.
+ Bộ sách TBT 5-8 sẽ thêm phụ đề, đã được BBT gợi ý đề xuất, và đã xin ý kiến của nhiều ban đọc quan tâm, nay trên thông báo này, tâm thành chờ mong góp ý của các bạn thơ và ban đọc cho chọn lựa sau cùng. Các tiêu đề đã được gợi ý:

THƠ BẠN THƠ              THƠ BẠN THƠ           THƠ BẠN THƠ           THƠ BẠN THƠ

Hoa Cỏ Thời Tôi             Mây Gió Thời Tôi      Thi Khúc Thời Tôi     Hoa trái thời tôi
 
4. Trang blog VandanBNN là địa chỉ liên lạc/ trao đổi bài vở .
Các hộp thư: nguyenbaybnn@yahoo.com.vn
nguyennguyenbay@gmail.com
Di động: 0989722051.

5. Sách Thơ Bạn Thơ 5, bắt đầu thực hiện từ 10.10.1914.

Kính báo và trận trọng kính mời tham gia sách TBT,5

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 11.10.2014

Độ-Quảng-Nguyên-Ngọc

Nhà văn Nguyên Ngọc

Độ-Quảng-Nguyên-Ngọc

Mai Anh Tuấn

 Tiêu đề bài viết này được tôi vỡ lẽ lựa chọn sau khi, một cách chầm chậm, đọc hết những tiểu luận của ông in trong Nguyên Ngọc – Tác phẩm1 và nhất là, khi nhận ra ông có một cảm hứng thật đặc biệt với mảnh đất quê hương: xứ Quảng Nam. Theo cách hiểu của ông, “Quảng” nghĩa là “mở rộng” và từ đó, tạo nên phẩm chất rất riêng của vùng đất và con người nơi đây: luôn bước tới, ở tiền tuyến, không ngại đứng đầu sóng ngọn gió.

Tôi muốn dùng lại chữ “Quảng” này để trỏ một đặc tính gần như xuyên suốt và cô đặc thành năng lượng làm nên sức bền bỉ khó bì kịp trong tư duy cũng như cách biểu đạt tư duy của Nguyên Ngọc: luôn va đến độ rộng nhất định, rồi ngay ở tình thế buộc phải co rút các điểm nhấn, bao giờ nó cũng lộ ra một sự mở, tiềm năng mở những chiều kích suy ngẫm, những điểm khả thủ cho các hành động nhận thức tiếp theo, thường là trở lại để không ngừng trực diện, mạnh mẽ và riết ráo hơn. Chữ “độ”, đương nhiên, tôi có được thật dễ dàng, theo cảm nhận riêng tư đầy vui thích, từ Độ không của lối viết, công trình luận thuyết nức danh của nhà khoa học xã hội nhân văn Pháp, Roland Barthes, mà Nguyên Ngọc là dịch giả. Dù biết những người bạn, đồng nghiệp yêu mến, kính trọng ông đã hình dung Nguyên Ngọc vẫn trên đường xa2, thật nồng ấm và ít nhiều chân xác, nhưng tôi không khỏi băn khoăn, rằng, hình như những tiểu luận, bài viết của ông, với phổ quan sát, biện giải rất rộng, vẫn đang được dùng chỉ để thi thoảng phụ trợ cho vẻ đẹp dấn thân của ông, ở những nơi ông xuất hiện, phát biểu, đề đạt… Chưa mấy ai thật sự dừng lại kĩ lưỡng, dù đây chưa hẳn là công việc tức thì, ở trên đường xa mà Nguyên Ngọc đang có, đang đi ấy, để có thể dẫn nhập ông một cách rõ rệt. Tôi nghĩ mình càng không đủ khả năng làm được điều đó và sẽ thật mạo hiểm nếu trưng ra ở bài viết ngắn này vài lời lẽ khái lược mà đã tạm yên lòng về Nguyên Ngọc, một hiện tượng đa văn bản thực sự hiếm gặp trong thế hệ của ông.

Nguyên Ngọc trụ vững trên một căn nền quan trọng: ông có tư liệu và trải nghiệm của một chứng nhân, đã can dự vào nhiều giai đoạn phức tạp của lịch sử, xã hội, và đồng thời, có tri thức để biết cách sử dụng bản thân cho những lí lẽ, việc làm mang ý nghĩa nhất. 

Nguyên Ngọc, đối với phần lớn chúng tôi, những người học hành qua loa ở quê nhà, dường như đã kết thúc ở Nguyễn Trung Thành, tác giả của Rừng xà nu vốn từng là niềm hưng phấn dễ chịu mỗi kì thi cử. Mà không chừng  ngay cả bây giờ, khi sách giáo khoa và giáo trình vẫn là “kinh thánh” ở bục giảng phổ thông, thì Nguyễn Trung Thành cùng lắm được thêm thông tin chức Tổng biên tập Văn nghệ, tờ báo có được giai đoạn đáng nhớ bậc nhất khi ông về cầm trịch. Những bài viết của ông tiếc thay, như nhiều tiếng nói đáng lắng nghe khác, đã/vẫn chưa lan rộng đến quảng đại độc giả, ít nhất là độc giả trẻ như tôi. Cơn cớ của thực tế ấy, theo tôi, nằm ở chỗ, tuy thường xuyên phát ngôn và chọn sự hiển thị chính kiến trước nhiều vấn đề cấp thiết làm cách thức xác định danh tính, nhưng tiếng nói Nguyên Ngọc thường hay vấp phải một lực cản ở xã hội ưa thuận chiều: chúng đều quá thẳng thắn và sắc bén; chúng không nửa vời dù ngắn gọn; đặc biệt, chúng có một thái độ rạch ròi biết mình muốn gì và sau cùng, cơ bản thống nhất trong các nấc thang cảm xúc và giọng điệu. Và phải nói ngay từ đầu, đọc Nguyên Ngọc tức gần như chạm đến bảng nhiệt kế không lấy gì làm dịu nhẹ.
Nhìn vào hệ thống tiểu luận, với mức độ đậm nhạt ở các bàn định, có thể thấy Nguyên Ngọc chủ yếu đặt ngòi bút trở đi trở lại trên ba địa hạt: đau đáu với không gian tộc người Tây Nguyên; tinh nhạy bắt các đỉnh sóng văn học nghệ thuật; và gần đây hơn, điểm vào các huyệt bất ổn của văn hóa, giáo dục. Trong ba địa hạt ấy, ta lại thấy ông triển khai khá cụ thể: với Tây Nguyên, chủ yếu về rừng, và các thực thể văn hóa đang có nguy cơ mai một, thậm chí, đang bị biến dạng bởi những can thiệp thô bạo từ những chính sách thiếu hiểu biết; với văn học nghệ thuật là lật ngược các vấn đề, các điểm bị đông cứng trong nhận thức và thực tế, rồi tiến đến những tri kiến riêng có khả năng ứng dụng cao; với văn hóa, giáo dục là phúc thẩm những giá trị, phản biện những sai lầm và sau khi quyết liệt với điều đó, thường háo hức trước những tín hiệu đẹp. Để không bị chới với giữa các chiều kích tưởng như tõe ra nhiều hướng ấy, Nguyên Ngọc trụ vững trên một căn nền quan trọng: ông có tư liệu và trải nghiệm của một chứng nhân, đã can dự vào nhiều giai đoạn phức tạp của lịch sử, xã hội, và đồng thời, có tri thức để biết cách sử dụng bản thân cho những lí lẽ, việc làm mang ý nghĩa nhất.
Hãy lấy những tư kiến của ông về Tây Nguyên làm ví dụ trước hết. Cho dù không phải là nhà dân tộc học, Nguyên Ngọc vẫn khiến vùng đất này trở nên thật sáng rõ trong cách mô tả của ông và nhất là, cách phát hiện vấn đề rất sâu sắc: 1/ Rừng là một thứ không-thời gian bao trùm toàn bộ con người Tây Nguyên, do đó, người Tây Nguyên không du canh du cư – một thứ nhận định hời hợt, mà là luân canh, phương pháp canh tác thích hợp trên đất dốc (T.2, tr.17). Bởi rừng là tâm linh, là cội nguồn văn hóa nên theo ông, không cứ giao rừng cho nhà nước quản lí là đúng, vì như ông thấy ở đồng bào Cơ Tu, Cà Dong, họ giữ rừng tuyệt vời, “hơn đứt các nông trường, lâm trường, kiểm lâm” (T.2, tr.156); 2/ Làng là đơn vị cơ bản và duy nhất trong xã hội Tây Nguyên. Ngay cả thời điểm hiện tại, tinh thần cộng đồng làng lâu đời ấy vẫn có thể giữ được tính độc đáo và thu hút được sức mạnh riêng. Vì thế, chuyện già làng, hội đồng già làng ở Tây Nguyên, theo Nguyên Ngọc, “không hề là chuyện ngẫu nhiên, cũng không phải là chuyện ta muốn hay không, mà là một thực tế lịch sử có căn nguyên sâu xa và còn hết sức sống động” (T.2, tr.164). Cùng với thiết chế già làng, ở Tây Nguyên, cách thức tổ chức xã hội mang tính chất cổ xưa vẫn còn đậm, trong đó có hệ thống thần linh. Sẽ không có gì phá vỡ được hệ thống này trừ khi, Nguyên Ngọc cảnh báo, “là những tấn công ngu dốt, thiển cận và thô bạo” (T2, tr.143). Nhưng “ngu dốt, thiển cận và thô bạo” có lẽ đang dần trở thành một đặc điểm của nhiều phương sách, bất chấp yêu cầu phải tôn trọng thực tế lịch sử như là bài học đắt giá nhất. 3/ Một biểu hiện của đặc điểm đó, dưới lời lẽ đôi khi giễu nhại của Nguyên Ngọc, là sự xuất hiện cái gọi là “nhà rông văn hóa” ở bản làng. “Nhà rông là cái không ai có thể đem cho được” – Nguyên Ngọc khẳng định, “Nhà nước tuyệt đối không thể đem cho làng một cái nhà rông được” (T2, tr.645). Bởi vì nhà rông là sản phẩm văn hóa, một sản phẩm văn hóa đích thực thì bao giờ cũng phải được sinh ra từ chính trong đời sống tinh thần tự nhiên của cộng đồng. Thấu hiểu “niềm vui sống” của người dân Tây Nguyên, Nguyên Ngọc đã tự phản tỉnh những chủ trương phi căn cứ, những việc làm tỏ ra vỗ về đời sống sắc dân thiểu số nhưng thực tế lại phản tác dụng, biến những tiêu chuẩn sống đáng ngưỡng mộ thành hiện trạng sống méo mó, dị dạng. Tây Nguyên trong câu chữ Nguyên Ngọc không đơn thuần là địa danh mà là không gian thiêng, nơi ông chọn để đọc hiểu quá khứ cũng như để bình giá hiện tại, và cũng là nơi ông lên tiếng bảo vệ, chiêu tuyết cho bằng được những hằng số bất khả diễn dịch nhầm lẫn thuộc về địa-văn hóa nơi này. Sau Nguyên Ngọc, Tây Nguyên trong tiếng Việt có thể còn đầy lên bởi nhiều tiếng nói tri thức bản địa khác, nhưng hẳn sẽ không dễ tìm được một giọng điệu cứng cỏi dám chỉ thẳng vào những thực tế bất thường.

Nguyên Ngọc đã tự phản tỉnh những chủ trương phi căn cứ, những việc làm tỏ ra vỗ về đời sống sắc dân thiểu số nhưng thực tế lại phản tác dụng, biến những tiêu chuẩn sống đáng ngưỡng mộ thành hiện trạng sống méo mó, dị dạng.

Nhiều người coi Nguyên Ngọc của năm 1979 như là một trong số ít cá nhân bắt đầu khai hỏa tấn công vào những nhược điểm của văn học cách mạng. Nhưng Nguyên Ngọc khi chấp bút Đề cương đề dẫn thảo luận ở Hội nghị đảng viên bàn về sáng tác văn học vào tháng 6/1979 lúc đó chưa phải là Nguyên Ngọc của cao trào đổi mới văn học, khi ông điều hành tờ Văn nghệ, và càng chưa phải Nguyên Ngọc ngay sau đó, khi ông rời tờ báo này để dấn thân vào các hoạt động văn hóa, xã hội trong tư cách trí thức độc lập. Tất nhiên sợi dây xuyên suốt ở đây vẫn là ý thức dám tiến tới, băng qua những chần chừ và níu kéo. Một Nguyên Ngọc của “chiến thắng” còn bị chất vấn bởi chính con người này thời “hậu chiến thắng”: “Vấn đề không chỉ đơn thuần là độc lập, vấn đề là trên cơ sở độc lập đó phải phát triển, phát triển dân tộc. Tìm một con đường phát triển, và tìm một cách phát triển cho dân tộc, trong thế giới biết bao hấp dẫn mà cũng xiết bao khó khăn này” (T2, tr.610). Cho nên, ngay lúc tiến trình đổi mới văn học, từ sau 1991, như Nguyên Ngọc nhận ra, bỗng chững lại rõ ràng thì ông vẫn không bị mắc kẹt, mà liên tục tìm kiếm và cung cấp những cái mới khác, bộc lộ cái mới của bản thân trên những lựa chọn có chủ đích. Nguyên Ngọc thời hậu-đổi mới là Nguyên Ngọc dịch giả, là một công đoạn chữ nghĩa khác hẳn gốc gác người sáng tác trước đây. Các khoảng trống tri thức văn chương không chỉ của Nguyên Ngọc mà còn của một thời kì co cụm góc nhìn, đã được chính Nguyên Ngọc bổ sung thông qua dịch thuật, từ Jean-Paul Sartre, Roland Barthes, đến Milan Kundera. Tôi nghĩ nhận xét của TS. Nguyễn Thị Từ Huy cho rằng các bản dịch của Nguyên Ngọc có tính ứng dụng là chuẩn xác3. Không thể kể hết những công trình, bài viết, đặc biệt trong các nghiên cứu văn chương mang tính hàn lâm, đã trích dẫn Độ không của lối viết hay Nghệ thuật tiểu thuyết kể từ khi hai bản dịch này ra đời.  Cho tới giờ, mức độ “ứng dụng” như thế đối với những công trình lí thuyết du nhập từ nước ngoài, theo quan sát của tôi, là không quá nhiều và nếu so với thực tế “ăn ngay” một cách tức thì những hệ tư tưởng được coi là ngoại quốc khác thì quá trình tiếp nhận R. Barthes hay M. Kundera chủ yếu diễn ra trong sự háo hức của việc tự kiểm chứng4. Nói như vậy vì chính Nguyên Ngọc, sau khi dịch những cuốn sách thấy cần, đã lên tiếng về việc cần khôi phục một nền dịch thuật lành mạnh, “cần kiên quyết và kiên trì cải thiện thị hiếu của người đọc đã bị vô số sách dịch tạp nham lâu nay mài mòn và làm suy thoái” (T2, tr.328). Từ văn học, Nguyên Ngọc chuyển sang dịch dân tộc học, trước nhất và bề thế nhất, là dân tộc học Tây Nguyên: Bộ ba công trình của Jacques Dournes (Mảnh đất huyền ảo, 2003; Rừng, Đàn bà, Điên loạn, 2006; Pötao, một lý thuyết về quyền lực ở người Jörai Đông Dương, 2013); công trình của Anna De Hautecloque Howe (Người Ê-đê: một xã hội mẫu quyền, dịch cùng Phùng Ngọc Cửu, 2004);… Các dịch phẩm này, đôi khi đính kèm với lời giới thiệu của ông, thể hiện rõ cảm hứng “một cuộc gặp gỡ” giữa những con người hiếu tri, xuyên qua nhiều lớp văn bản để chuyển tới cộng đồng sự thông hiểu lẫn nhau như một ứng xử văn hóa trong thời đại đa văn hóa.

Nhìn vào đường xa mà Nguyên Ngọc đi qua, có thể thấy ông đã lần lượt giã từ vai trò nhà văn-chiến sĩ, nhà văn-bí thư Đảng đoàn, nhà văn-tổng biên tập…, nghĩa là những vai trò được nhấn mạnh bằng yếu tố chính thống, nhà nước hóa, để xác lập mình trong vai trò trí thức độc lập trong xã hội dân sự.

Nguyên Ngọc có một lòng yêu mến, liên tài đặc biệt đối với những con người tài năng quá cỡ, hoặc nhiệt tâm, hoặc được coi là khí phách, và ông không ngần ngại diễn đạt về họ bằng những mĩ từ, những tổ hợp tính từ khái quát cao. Thậm chí, đôi lúc ông cũng không ngần ngại kích lên một tấm gương trở nên lớn và sáng hơn bản thân nó vốn có. Hãy nhìn vào những thân danh cao mà tần số xuất hiện trong các bài viết cho thấy ông chưa hề cạn suy ngẫm về họ: nhiều nhất về Phan Châu Trinh, thâm tình với Nguyễn Khải, trân trọng bao gồm cả lăng-xê Nguyễn Ngọc Tư, đồng cảm sâu sắc với Milan Kundera, ngưỡng mộ “loại hình sống” Condominas, kĩ lưỡng với Jacques Dournes, hào hứng với Francois Jullien… Trong những bài viết đó, Nguyên Ngọc trước sau vẫn duy trì một quan điểm đánh giá không thoái lui, một độ tư duy gần để đọc thấu và đọc đúng về đối tượng và vấn đề. Cảm tưởng ông đã nhận được ở đấy những vốn xã hội ở ngoài nhà nước, phi nhà nước, để không đơn điệu và khô cằn cho sự hình dung của ông về con đường phát triển của dân tộc mà ông thường canh cánh. Chỉ riêng điều đó, ông đã tự khác, tự lật hẳn qua một vị thế mới.
Vậy thì, nhìn thế nào về mẫu người Nguyên Ngọc? Gọi ông là “con đẻ của cách mạng”5 thì sẽ trả lời thế nào nếu phải nhìn lại trong suốt mấy thập niên cả dân tộc tiến hành cách mạng, rất nhiều thế hệ đã ra đi và trở về như Nguyên Ngọc, đã được chính giai đoạn ấy dìu dắt và tôi luyện, rút cuộc, có bao nhiêu “con đẻ của cách mạng” đủ khả năng và bản lĩnh xác lập mình trong vai trò trí thức xã hội dân sự? Nhìn vào đường xa mà Nguyên Ngọc đi qua, có thể thấy ông đã lần lượt giã từ vai trò nhà văn-chiến sĩ, nhà văn-bí thư Đảng đoàn, nhà văn-Tổng biên tập…, nghĩa là những vai trò được nhấn mạnh bằng yếu tố chính thống, nhà nước hóa. Không kịp giã từ các vai trò này, người bạn thân của ông, nhà văn Nguyễn Khải, từng phải đi tìm cái tôi đã mất trong im lặng. Còn Nguyên Ngọc, ông kịp và đang thể hiện mình là trí thức độc lập trong xã hội dân sự, dù là dân sự mới ló dạng. Tôi nghĩ, đã là một trí thức thì bất luận là “con đẻ” của ngữ cảnh nào, họ vẫn trưởng thành như một cá nhân độc lập và hành trạng của họ là mẫu hình để xã hội lắng nghe, hướng tới.

1 NXB Hội Nhà văn, 2009, gồm ba tập. Tập 1 gồm những sáng tác (Tiểu thuyết, Truyện ngắn, và kí); Tập 2 gồm những tiểu luận, bài viết về nhiều chủ đề khác nhau; và Tập 3 tập hợp những công trình dịch thuật của Nguyên Ngọc. Các trích dẫn trong bài, nếu không có chú thích gì khác, đều lấy từ tài liệu này.
2 Nhiều tác giả (2012), Nguyên Ngọc vẫn trên đường xa, NXB Tri thức & Trung tâm Văn hóa – Ngôn ngữ Đông Tây, H.
3 Xem bài “Những dịch phẩm của tự do” của Nguyễn Thị Từ Huy trong sách Nguyên Ngọc vẫn trên đường xa.
4 Một đánh giá về dịch thuật của Nguyên Ngọc, xin xem Phùng Ngọc Kiên (2014), “Bàn về hiệu ứng đọc lí thuyết phê bình nước ngoài – trường hợp bản dịch “Độ không của lối viết”, tạp chí Nghiên cứu văn học, s.7, tr.54-65.
5 Xem bài “Nhà văn Nguyên Ngọc, con đẻ của cách mạng” của Trung Trung Đỉnh in trong tập 3, tr.487-500.

Nguồn://tiasang.com.vn/Default.aspx?

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 10.10.2014

PHAN VŨ VỚI EM ƠI, HÀ NỘI PHỐ…

Nhà thơ Phan Vũ và con gái

                    PHAN VŨ VỚI EM ƠI, HÀ NỘI PHỐ

        Ngô Minh

         Mỗi khi nhớ bẹn bè Hà Nội, hay khi xem tranh phố của Bùi Xuân Phái, trong tôi lại vang lên âm điệu da diết của những bài hát , bài thơ về Hà Nội: Hà Nội mùa thu cây cơm nguội vàng/ Cây bàng lá đỏ/ Nằm kề bên nhau/ phố xưa nhà cổ mái ngói thâm nâu…( Trịnh Công Sơn), hay Hà Nội ơi, nguồn mộng mơ dày như cỏ mùa xuân/ Mỗi khi tôi thấy mình xơ xác/ Tôi lại về đánh cắp/ Dẫu một chút bóng đêm trên đường phố Khâm Thiên ( Thanh Tùng). Đặc biệt là giai điệu Em ơi Hà Nội phố / Ta còn em mùi hoàng lan/ Còn em hoa sữa ...( Phú Quang- Phan Vũ).

            Những giai điệu, những ca từ như xoáy vào lòng người, day dứt, ngân vang… Có lẽ rất nhiều người thuộc bài hát này nhưng ít biết nó xuất xứ từ bài thơ Em ơi, Hà Nội phố, là một trong những bài thơ hay nhất viết về Hà Nội và là bài thơ hay nhất, tâm huyết nhất trong cuộc đời sáng tác của thi sĩ, họa sĩ, kịch sĩ -đạo diễn sân khấu Phan Vũ. Bài thơ là một trường ca dài tới 24 đoạn với 272 câu thơ như những trang nhật ký tâm hồn Hà Nội. Nhà thơ Phan Vũ viết trường ca này vào mùa đông 1972, khi máy bay Mỹ, cả máy bay B52 đang điên cuồng bắn phá Hà Nội trong trận chiến Điện Biên Phủ trên không năm ấy. Nhà thơ kể rằng, những ngày đó tôi và họa sĩ Bùi Xuân Phái rủ nhau đi lang thang trong đêm. Ông vẽ phố, còn tôi nghĩ về phố. Tôi viết bài thơ ấy trong khoảng 10 ngày. Nhà tôi ở phố Hàng Bún. Chiến tranh, người ta đi vắng hết. Bom đạn, cây cối, nhà cửa đổ nát… (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 10.10.2014

THOÁT TRUNG HAY THOÁT HỆ TƯ TƯỞNG?

Nhà thơ Mai Văn Hoan

THOÁT TRUNG HAY THOÁT HỆ TƯ TƯỞNG?

  Nhà văn Mai Văn Hoan

 Gần đây, nhân chuyện Dàn khoan, nhiều người tính đến chuyện làm sao để thoát

Trung. Ảnh hưởng và sự chi phối của Trung Quốc đối với nước ta từ trước đến nay là chuyện không phải bàn. Theo tôi thì sự ảnh hưởng và chịu sự chi phối ấy có nguyên nhân sâu xa là ý thức hệ tư tưởng. Nếu thoát được ý thức hệ tư tưởng, không những ta có thể thoát Trung mà còn đưa nước ta xích lại gần với cộng đồng quốc tế và công cuộc xây dựng đất nước sẽ tiến triển tốt đẹp hơn.

   Điều mà tôi hết sức ngạc nhiên là hầu như ai cũng nhận thấy cái tiền đồ tiến mạnh, tiến vững chắc lên XHCN để “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu” là không tưởng, là không bao giờ có, là thứ bánh vẽ… mà sao chúng ta cứ tin tưởng một cách mù quáng? Cái luận điểm: Giai cấp công nhân là giai cấp tiên phong lãnh đạo cách mạng hoàn toàn xa lạ đối với nước ta một nước mà cho đến nay nông nghiệp vẫn chiếm đa phần, một nước mà ngay từ khi cách mạng manh nha toàn thấy các bậc trí thức như Nguyễn Ái Quốc, Lê Hồng Phong, Trần Phú, Võ Nguyên Giáp… lãnh đạo cách mạng chứ chẳng thấy bóng dáng một anh công nhân nào cả. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 09.10.2014

THƠ VỀ HÀ NỘI

                                   THƠ VỀ HÀ NỘI

                    Ngô Minh   

                                      HÀ NỘI MÙA ĐÔNG

Tặng Thanh Hương

 đường dài bươc tỉnh bước say

mùa đông Hà Nội chiều nay anh về

mắt ơi long lanh điều gì

buốt tê là tiếng thầm thì bên em

 

thơ Lầu Ngắm Sóng cầm lên

tóc vương như sợi rét mềm buộc nhau

một lời thưa với mai sau

chút tình đơn lẻ cũng giàu ngày đông

 

rồi mai chết giữa má hồng

lúm đồng tiền ạ se lòng phố xưa…

 

co ro đường sấu nhớ mùa

sông Hồng đắp áo nằm mơ dáng Kiều

hương  se gió ngọt xiêu xiêu

cành đông Hà Nội trắng điều nhớ nhung

 

lạy trời anh được về cùng

phố Hương thường trú mùa đông đời mình… (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 09.10.2014

TẠ VŨ CỤNG CHÉN CÙNG TRĂNG

Nhà thơ Tạ Vũ ( Foto NM năm 2010)

QTXM- Tin buồn – Nhà thơ Tạ Vũ sinh năm 1935, mất lúc 4 giờ sáng ngày 8-10-2014, hưởng thọ 80 tuổi. Tang lễ tổ chức từ 7 giờ đến 9 giờ ngày 10-10-2014, tại Nhà tang lễ bệnh viện Thanh Nhàn, hỏa táng tại Đài hóa thân hoàn vũ Hà Nội. Ngô Minh xin gửi tới nhà thơ Nguyễn Thị Điều và gia quyến lời chia buồn sâu sắc và cầu mong nhà thơ Tạ Vũ siêu thoát vào cõi Vĩnh Hằng.

Mời các bạn  đọc bài viết của Ngô Minh về nhà thơ Tạ Vũ, em kết nghĩa của nhà thơ Phùng Quán

 

                         TẠ VŨ CỤNG CHÉN CÙNG TRĂNG

                                                           Ngô Minh

          Tôi gặp nhà thơ Tạ Vũ và nâng chén với anh nhiều lần. Gặp trong các đại hội nhà văn. Gặp ở Chòi ngắm sóng Phùng Quán bên hồ Tây. Gặp ở Huế. Anh Phùng Quán cũng kể cho tôi nghe nhiều ký ức thú vị về đứa em kết nghĩa Tạ Vũ… Tôi nghe nhiều nhà văn Hà Nội than phiền, Tạ Vũ sống buông thả, thiếu nền nếp. Nhưng với tôi anh là một thi sĩ đích thực từ trong máu thịt. Sống hết hết lòng với cuộc đời, với thơ. Tôi rất kính trọng chất lãng tử, ngất ngưỡng trực cảm ấy. Xin kể vài kỷ niệm về anh nhân anh sắp lên đại lão 80. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 08.10.2014

THÔNG BÁO VỀ SÁCH THƠ BẠN THƠ 4

THÔNG BÁO VỀ SÁCH THƠ BẠN THƠ 4

THÔNG BÁO VỀ SÁCH THƠ BẠN THƠ 4
Bộ sách Thơ Bạn Thơ (Xuân/Hạ/Thu/Đông) bốn tập, đã đọc chọn/biên tập hoàn tất tập cuối cùng, Thơ Bạn Thơ 4. Dưới đây là danh sách 10 tác giả đã mất và 80 tác giả đương thời, tham gia sách TBT4. Thông báo này đăng trang 1, blog VandanBNN, kéo dài 10 ngày, để các tác giả tham gia sách, các biên tập thiện nguyện, và bạn đọc xa gần quan tâm tới bộ sách TBT, đóng góp ý kiến, thay đồi sửa chữa bài vở, hủy cộng tác, hoặc bất kỳ khiếu nại nào khác.

MỤC LỤC
Lời Thưa/ 5
A. 99 câu thơ/ 6
B. Thơ Người Thơ đã mất/ 20
1. Phùng Khắc Bắc / 21
2. Hoàng Cầm/ 23
3. Quang Dũng/ 33
4. Tú Mỡ – Hồ Trọng Hiếu / 39
5. Vĩnh Mai /  43
6. Huỳnh Văn Nghệ/ 45
7. Đào Phương/ 46
8. Bế Kiến Quốc/ 47
9/ Thái Ngọc San/ 50
10/ Lưu Quang Vũ / 54
C. Thơ Người Thơ đương thời/ 59
1. Nguyễn Nguyên Bảy/ 62
2. Dã Phong Bình/ 73
3. Trần Bương/ 76
4. Nguyễn Lâm Cẩn/ 77
5. Phan Minh Châu/ 80
  6. Đức Doanh/ 83
7/ Thạch Đà / 85
8. Ngô Bảo Đài/ 87
9. Hoàng Tấn Đạt/ 94
10/ Dương Xuân Định/ 97
11. P.N.Thường Đoan/ 99
12. Trịnh Hoài Giang/ 101
13. Nguyễn Ngọc Hạnh/ 102
14. Tôn Nữ Ngọc Hoa/ 106
15/ Nguyễn Trọng Hoan/ 110
16. Đỗ Hoàng/ 113
17. Thi Hoàng/ 116
18. Phùng Văn Khai/ 122
19. Phan Hồng Khánh/ 126
20. Đỗ Văn Khoái/ 129
21. Đỗ Trọng Khơi/ 132
22. Ngọc Khương/ 135
23. Bùi Nguyễn Trường Kiên/ 137
24. Nguyễn Ngọc Kiên/ 137
25. Văn Lạc/ 141
26. Trúc Linh Lan/ 143
27. Vũ Thúy Lan/ 149
28. Tường Linh/ 151
29. Nguyễn Đăng Luận/ 152
30. Lý Hữu Lương/ 154
31. Ma Joan/ 157
32. Nguyễn Xuân Nha/ 159
33. Thế Nhân/ 163
34. Nguyễn Anh Nông/ 165
35. Phăng Xi Păng/ 168
36. Tôn Phong/ 171
37. Diễm Phúc/ 174
38. Hồ Phi Phục/ 176
39. Hữu Phước/ 178
40. Tạ Phương/ 182
41. Trần Huy Minh Phượng/ 183
42. Võ Quê/ 186
43. Nguyễn Bắc Sơn/ 190
44. Đào Thái Sơn/ 191
45. Nguyễn Thiên Sơn/ 194
46. Nguyễn Xuân Sùng/ 198
47. Nguyễn Ngọc Tân/ 201
48. Trần Gia Thái/ 203
49. Cao Ngọc Thắng/ 207
50. Phạm Thị Phương Thảo/ 210

51. Hoàng Tháp/ 212
52. Hạ Tháp/ 214
53. Lại Đăng Thiên/ 216
54. Đăng Văn Thơm/ 219
55. Hà Diệp Thu/ 221
56. Phạm Việt Thư/ 224
57. Trần Quốc Thực/ 228
58. Đinh Thường/ 229
59. Ngàn Thương/ 230
60. Trần Văn Thuyên/ 232

61. Phạm Dạ Thủy/ 233
62. Lê Hưng Tiến/ 236
63. Từ Nguyên Tĩnh/ 239
64. Dạ Tịnh/ 244
65. Lê Quang Trạng/ 246
66. Đông Trình/ 249
67. Nguyễn Ngọc Trìu/ 253
68. Hoàng Bình Trọng/ 256
69/ Huy Trụ/ 259
70. Phạm Công Trứ/ 261
71. Ngô Thế Trường/ 264
72. Nguyễn Ngọc Tư/ 267
73. Hoàng Anh Tuấn/ 271
74. Trương Công Tưởng/ 274
75. Trương Đình Tuyển/ 277
76. Nguyễn Đăng Việt/ 278
77/ Châu La Việt/ 281
78/ Huy Vọng/ 285
79/ Phan Vũ / 287
 
Trong đó có 23 tác giả Ngô Minh chọn : Phùng Khắc Bắc, Hoàng Cầm, Quang Dũng, Vĩnh mai, Đào Phương, Thái Ngọc San, Đức Doanh, Nguyễn Ngọc Hạnh, Tôn Nữ Ngọc Hoa, Phan Hồng Khánh, Đỗ Văn Khoái, Tôn Phong, Hồ Phi Phục, Võ Quê, Hạ Tháp, Lại Đăng Thiện, Phạm Việt Thư, Phạm Dạ THủy, Lê Hưng Tiến, Trương Đình Tuyển, Huy Trụ, Hoàng Bình Trọng, Nguyễn Đăng Việt
 
Mọi liên lạc xin gọi trực tiếp nnb: 0989722051 
hoặc email: nguyennguyenbay@gmail.com
vandanbnn kính báo

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 08.10.2014

Giai thoại về Stalin

 

Giai thoại về Stalin

  •   Borev

Lời người dịch: Giới đại học Việt Nam nhiều người biết ông Borev , tác giả cuốn Mĩ học (Bản dịch tiếng Việt của Hoàng Xuân Nhị), nhưng không mấy ai biết ông này từng bỏ 20 năm trời để sưu tầm tiếu lâm về Stalin. Năm 1990, ông cho xuất bản cuốn sách dày tại Nxb “Nhà văn xô viết” (lúc ấy Liên Xô chưa đổ), có nhan đềlà : “Stalin truyền kì” (Борев Ю.Б.-Сталиниада – Москва: Советский писатель, 1990 – с.408)…

La Khắc Hòa dịch

1.

- Cả một trung đội canh giữ ai thế kia?

- Canh người đàn bà ở Gori

- Bà ấy phạm tội gì?

- Tội sinh ra một người nổi tiếng từng làm nhiều điều ác với dân chúng

- Thế thì sao phải canh bà ấy?

- Để đừng đẻ ra thêm một tên khác như thế nữa!

2.

Stalin đến thăm Lenin đang nghỉ dưỡng trên núi

- Này anh bạn, tôi ốm quá, chắc chết mất thôi.

- Thế thì trao chính quyền lại cho tôi.

- Tôi sợ nhân dân không theo anh

- Một phần nhân dân sẽ theo tôi, ai không đi theo tôi, sẽ theo anh thôi!

3.

Stalin hỏi Radek:

- Cậu sáng tác tiếu lâm đấy à?

- Vâng, tôi sáng tác đấy.

- Kể tôi nghe một tiếu lâm thật ngắn xem nào.

- Đây ạ: Stalin là Tổng bí thư.

4.

Dự án xây tượng đài Pushkin nhân một trăm năm ngày mất. Giải Ba – Pushkin đọc trước tác của Stalin.  Giải Nhì – Stalin đọc trước tác của Pushkin. Giải nhất – Stalin đọc trước tác của Stalin.

5.

Stalin: – Này, đồng chí Pushkin, nói thật xem, đồng chí cần gì nào? Cái gì chúng tôi cũng điều phối được. Có lẽ, bút lông ngỗng chăng? Giấy à? Hay điều kiện xuất bản? Cái gì cũng sẽ làm được.

Pushkin: – Cảm ơn đồng chí Stalin, tôi có đủ rồi. Chỉ cần kiểm duyệt đừng quấy rầy tôi thôi.

Stalin: – Tôi sẽ là cán bộ kiểm duyệt của đồng chí.

Pushkin: – Tuyệt quá. Một trăm năm trước tôi đã có kinh nghiệm giống thế rồi. Lấy cảm hứng từ cuộc gặp này, tôi đi sáng tác đây.

Stalin: – Thế thì đi nhé, đồng chí Pushkin, đồng chí cứ làm việc đi. Chúc đồng chí gặt nhiều thành công trong sáng tạo.

Pushkin đi ra. Stalin liền quay điện thoại: – A lô! Đồng chí Beria đấy à? Báo ngay cho đồng chí Dantes: đồng chí Pushkin vừa ra khỏi văn phòng của tôi đấy nhé.

6.

Stalin gọi phôn Cho Beria:

- Này, Lavrenti, cái tẩu mất mất rồi. Một vụ phá hoại đấy. Điều tra ngay đi nhé.

- Sẽ làm ngay, thưa đồng chí Stalin.

Một tuần sau.

- Thưa đồng chí Stalin, xin phép được báo cáo, đã tiến hành điều tra vụ mất tẩu hút thuốc của đồng chí.  Đã phát hiện một vụ âm mưu lật đổ. Bắt 400 người. 389 người đã khai nhận tham gia hoạt động phá hoại, đã định tôi và xửa bắn hết rồi.

- Lavrenti, đừng hấp tấp thế. Tôi tìm thấy tẩu hút thuốc rồi.

( Nguồn : VHNA)

 

 

GS Nguyễn Khắc Khai (hhải)

Tiếp quản Thủ Đô 10-10-1954 và lời hứa của Hồ Chí Minh.

Nguyễn Khắc Mai.

Sau khi có Hiệp Định Geneve, tháng bảy năm 1954, từ Việt Bắc Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bức thư gởi đồng bào, mục đích là để chuẩn bị tinh thần cho đồng bào, để tuyên truyền về những chính sách của Việt Minh (HCM Toàn tập-NXB ST 1987.T7 tr4).

Trong bức thư ấy có câu: ”Chúng ta phải ra sức thực hiện những cải cách xã hội, để nâng cao đời sống của nhân dân, thực hiện dân chủ thật sự.” (mấy chữ thực hiện dân chủ thật sự trong sách còn được in nghiêng!)

Trước hết, nói cuộc cải cách ruộng đất long trời lỡ đất. Gần đây chúng ta thấy tái hiện cuộc cải cách này qua một cuộc triễn lãm nửa vời và rồi phải nhanh chóng đóng cửa. Quả thật cuộc cải cách này rất long trời, vì nó đã đạt được những kết quả như sau: Hai triệu hộ nông dân miền Bắc đã được chia ruộng, tưởng như là đã thực hiện xong khẩu hiệu cách mạng “người cày có ruộng”. Mặc dù năm 1958 tại một cuộc chỉnh huấn giáo dục toàn miền bắc, Hồ Chí Minh gọi một hiệu trưởng ở hội nghị hỏi : Xã chú đã CCRĐ chưa – Thưa đã – Thế thì trong xã có mấy địa chủ, có mấy nông dân – Thưa, xã có 9 địa chủ và 8 ngàn nông dân. Cụ Hồ liền kết luận: Trước đây ruộng đất thuộc về 9 tư hữu. Bây giờ là của 8 ngàn tư hữu.Thế thì có phải là cộng sản không? (HCM toàn tập.XBST 1987 t.7, tr497). Tuy nhiên nông dân chỉ được sở hữu chỉ trong mấy năm. Từ 1959, khi xóa bỏ HP 1946, rồi đến HP 1980, nhà nước đã “quốc hữu hóa” ruộng đất. Người ta cho rằng nông dân được cấp đất một lần, nhưng lại hai lần bị tước đoạt “quyền có ruộng” .Sau đó đã có những cuộc cải cách gì, đời sống nhân dân được nâng cao ra sao và dân chủ có thật sự hay không.

Về kinh tế, cuộc cải cách này đã xóa bỏ đi lực lượng sản xuất nông nghiệp giỏi nhất lúc bấy giờ, từ trung nông cho đên phú nông, địa chủ. Nó tạo ra khủng hoảng nông nghiệp triền miên và chỉ tạm chấm dứt sau này khi khoán hộ vào cuối thập niên 80, đến mức nó đã tạo ra nạn đói và cả nước phải cắp rá đi xin từ bột mì, bo bo cho đến cả rau muống khô.

Như thế cuộc cải cách này không đạt được mục đích “nâng cao đời sống” như HCM đã hứa hẹn.

Còn về di họa của “dân chủ”, của xã hội, thì một trạng thái xã hội của “luật rừng” tùy tiện, đã tạo nên nếp gấp trong não trạng cầm quyền ở VN. Một nền tư pháp hậu cải cách ruộng đất đến nay vẫn hoang sơ, sự vô thiên, vô pháp vẫn còn ngự trị. Khác trước là luật pháp trong tay “Đội” cho nên nhất đội nhì trời. Bây giờ luật vẫn là trong tay “nhà nước” – kẻ cầm quyền, chứ chưa phải là luật đã thật sự dân chủ như HCM hứa hẹn!

Về văn hóa và đạo đức xã hội thì cuộc cải cách này đã để lại vết thương, nhìn bề ngoài tưởng như sẹo đã liền. Thật sự những di chứng và chấn thương xã hội thì còn kéo dài.

Cuộc cải cách thứ hai, mà khi còn sống cụ đã lãnh đạo và tiến hành cũng “to lớn, vĩ đại” là cuộc Cải tạo công thương để thực hiện công tư hợp doanh, xóa bỏ bóc lột tư bản chủ nghĩa, nhằm “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Chủ nghĩa xã hội”. Cuộc cải cách này còn tiếp diễn sau khi cụ đã mất vào những năm cuối thập kỷ 70 ở vùng các đô thị miền Nam. Cả cuộc sống và cả dân chủ đều không đạt. Người ta đã đập tan lực lượng những người có vốn, biết và giỏi giữ vốn và phát triển vốn. Cái vốn lớn của dân tộc là cái gen kinh doanh bị vùi dập không chút thương tiếc. Đội ngũ công thương gia ở miền Nam đã từng tạo ra bạn hàng quốc tế. Ngày nay ta gọi là đối tác, bị phá vỡ. Nay đang vất vả khôn cùng để tái lập! Cái lực lượng quý báu để giữ đồng vốn (tư bản), để phát triển vốn, kiếm tìm bạn hàng để làm ăn buôn bán, hình thành và xây dựng năng lực kinh doanh… của dân tộc đã bị “đập tan” không chút xót xa. Thời kỳ tiến hành cải cách kinh tế để tiến nhanh, tiến mạnh lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện quốc doanh hóa triệt đễ, khiến đã làm tiêu hao vốn của nhà nước, năng lực kinh doanh của xã hội tiêu mòn, mà trình độ sản xuất luôn lạc hậu. Đến nỗi ngày nay khi hợp tác với Hàn Quốc thì chiếc đinh ốc quy chuẩn dẫu có làm ra được nhưng giá thành quá cao nên cũng thành vô tích sự. Để đỗ lỗi cho “cải cách“ như thế, giới “trí thức” của nhà nước đã tìm được một khái niệm để đánh tráo, gọi là cơ chế bao cấp! Mọi chuyện hư hỏng đổ cho thằng bao cấp thế là yên chuyện. Sau một thời kỳ khủng hoảng kéo dài khiến hàng hóa tiêu dùng không có, xuất khẩu ỳ ạch,ngân sách thu không đủ chi… đã buộc phải “đổi mới”, nghĩa là im lặng thừa nhận sự thất bại của cải cách. ”Đổi mới”, nói cho có văn vẻ, thực chất là trở lại với những cái cũ mà hợp lý có ích, có lợi.

Nhiều cuộc cải cách ở tầm quốc gia như cải cách hành chính, cải cách giáo dục cũng được tiến hành không đến nơi đến chốn. Như cải cách hành chính chỉ làm nửa vời, dừng lại ở cái gọi là cải cách thủ tục hành chính.Nên mấy chục năm nền hành chính vẫn là “hành dân là chính”, tham nhũng tràn lan không cách gì ngăn ngừa được. Cải cách giáo dục thì cuộc trước thất bại, cuộc này không dám dùng chữ cải cách nữa, mà phải gọi là đổi mới toàn diện, triệt để, hệ thống…

Trong câu nói của cụ Hồ có ba nội dung đi với nhau – Một là cải cách – Hai là đời sống – Ba là dân chủ thật sự. Cải cách không đúng nghĩa, đúng tầm, không có tư duy chiến lược,mà chỉ có những tư tưởng giáo điều biệt phái đã lỗi thời, không có con người tâm huyết,không có phương thức dân chủ,không phù hợp tiến trình thời đại, sẽ chỉ là sự “bôi bác”, mà như Các Mác từng dùng một thành ngữ la tinh để chỉ: cacatum non es pictum (cái bôi bác thì không phải bức tranh).

Cụ Hồ nói khá hay, trong câu kêu gọi trên – Phải cải cách – Phải nâng cao đời sống (vật chất, văn hóa, tinh thần, đạo đức, lối sống, quyền dân, quyền con người…) – Phải dân chủ thật sự. Nhưng sáu mươi năm cho ta kết luận rằng nếu không có thể chế chính trị, kinh tế hợp lý, văn minh, tiến bộ, và dân chủ, không thể thực hiện mà không bôi bác cái công thức của cụ Hồ ,cả lời hứa của cụ với đồng bào Thủ đô 60 năm trước.

N.K.M.

Nguồn : BVN

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 07.10.2014

THANH THIÊN BẠCH NHẬT RÕ RÀNG CHO COI

THANH THIÊN BẠCH NHẬT RÕ RÀNG CHO COI

Tương Lai

QTXM – Cách đây nhiều năm, nhà báo Thanh Tùng gửi cho QTXM bài viết này. Một bài viết khá hay sau vụ việc ông quan to nhất tỉnh Thừa Thiên Huế bị cô tiếp viên nhà hàng giáng cho cát tát trước “ba quân thiên hạ”. Rất tiếc là thời điểm đó bài viết đã không được đăng trên tờ Tiền phong.Nay xin đăng lại để bạn đọc cùng tham khảo và chia sẻ vì nó không bao giờ cũ.

Liên tục ba tờ báo đưa tin khiến người đọc không sao kìm được sự phẫn nộ. Cô tiếp viên ở một cửa hàng nọ đã dạy cho “ông quan to nhất tỉnh”* bài học đích đáng bằng một cái tát như trời giáng vào má trái giữa “thanh thiên bạch nhật rõ ràng cho coi” ngay trước mắt của tất cả mọi người, trong đó có nhiều cô giáo đến liên hoan nhân ngày kỷ niệm 20.10. (Đọc tiếp…)

Older Posts »

Danh mục