Đăng bởi: Ngô Minh | 24.04.2014

Các nàng Geisha ở xứ Phù Tang

Các nàng Geisha ở xứ Phù Tang

Anh Chi

Đầu thế kỷ XX, Nhật Bản tiến bước rất nhanh trên con đường dân chủ và công nghiệp hóa. Trong văn chương cũng vậy, bên cạnh Mori Ogai và Natsume Soseki hết sức tân kỳ, có tài năng lớn thì Nagai Kafu cũng đã sáng tạo nên những tiểu thuyết tầm cỡ nói về đời sống tại các khu vực hồng lâu của các nàng geisha… Đó là lý do khiến tôi viết tạp văn này.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.04.2014

NGHE LÕM Ở GA NAM ĐỊNH

NGHE LÕM
Ở GA NAM ĐỊNH

 TÙNG BÁCH

Quả là bác nói không sai
Em vẫn thường xuyên gặp Chí
Hai thằng lai rai vài xỵ
Bán Trời chả cần hoá đơn

 

Chí giờ có vẻ trẻ ra
Mặt mũi ngời ngời bác ạ
Hắn bảo còn hắn trên đời

Chị em dại gì hóa đá !

Làng quê giờ là nguồn cội
Thích cứ việc kéo nhau về

Gà qué bướm hoa đều sạch  
Nói túm lại là khỏi chê !

Thị Nở nghe đâu lên huyện
Làm phòng văn hoá thông tin
Răng khểnh, tóc hoe , má lúm

Dọc ngang ai cũng ưa nhìn !

Cháo hành giờ là đặc sản
Một tô nghi ngút mười ngìn
Giải cảm , giải sầu, giải mã…
Ấn tượng cứ là khó tin !

Bất cứ lúc nào – bác nhớ
Cảm thấy bứt rứt trong người
A lô thằng em một phát
Úi dào ! Đời được mấy mươi !

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.04.2014

Thói đố kỵ – trọng bệnh của người Việt

Thói đố kỵ – trọng bệnh của người Việt

 

Người Việt hay để ý của nhau nên mới biết nhà kia có gì hay, có gì hơn của nhà mình. Nếu thấy người ta mua được con xe máy đắt tiền thì cũng cố để mua được con xe… đắt tiền hơn. Thấy người ta xây căn nhà mới, nếu sau đó nhà mình cũng xây thì luôn cố gắng làm to hơn một tí, cao hơn một tí… Ngược lại, nếu mình không được như nhà hàng xóm thì sinh ra ganh ghét, so bì.
 
Nhà văn Tạ Duy Anh tổng kết rằng, thói tự mãn, nói dối và đố kỵ là ba thứ khiến người Việt không thể lớn. Trong đó, đố kỵ là bệnh nặng nhất của giới trí thức Việt, đồng thời cũng là bệnh nặng nhất của dân tộc. Vì sao vậy?

 

Bệnh nặng nhất của giới trí thức
 
Nhà văn Tạ Duy Anh đau đáu khi bàn về tính đố kỵ của người Việt. Ông bảo, với người Việt thì thói đố kỵ là “vô cùng kinh hoàng”. “Khi gặp một người nào đó, chỉ cần xác định 3 điều: Đố kỵ, háo danh, nói dối thì khẳng định luôn là ông không có tài. Người có tài thì họ chỉ có một trong ba thứ đó thôi: Nói dối thì có thể vì làm thế mới sống được, chấp nhận được; có tài thì làm gì người ta phải háo danh nữa, vì họ hiểu danh hay không sẽ chẳng thể liên quan đến việc anh có muốn hay không mà phải là do sự nỗ lực, cố gắng của bản thân mới “hữu xạ tự nhiên hương”; nhưng đố kỵ là bệnh nặng nhất của giới trí thức Việt Nam, mà đã là giới trí thức thì đó cũng là bệnh của cả một dân tộc”, ông khẳng định.
 
Cũng theo nhà văn, đáng ra, người ta phải bài trừ những tính xấu này. Đằng này xã hội lại tạo danh tiếng cho người ta háo danh hơn bằng đủ các thể loại giấy khen, bằng khen, chứng nhận gia đình văn hóa, làng xã văn hóa… Nhà này thấy nhà kia đạt được danh hiệu thì cũng ấm ức trong lòng, quyết mua danh bằng được. Cứ thế mà thói đố kỵ đẩy lên.
 
Rồi chuyện hai nhà đang sống cạnh nhau thân thiết. Sau đó một nhà giàu có lên thì nhà kia sẽ không chơi nữa, nhưng nếu nhà giàu đó mà gặp chuyện tai ương thì nhà kia sẽ quay lại, chơi rất thật lòng. Trong một tập thể thì không ai ngoi lên được hoặc có ngoi lên sẽ bị gièm pha, nhòm ngó. Lại có ông giám đốc phấn đấu cả đời mới lên được chức ấy thì tự cao tự đại, coi mình là nhất. Những người không hợp phe cánh, phấn đấu mãi cũng chỉ làm cấp phó quay ra chống đối, cốt sao được ngoi lên cái chức vị ấy.
 
Ngay trong giới văn nghệ sĩ, nhiều người đạt được một giải thưởng nào đó thì tự đắc, coi mình tài giỏi lắm. Người khác thì chậc lưỡi “nó viết có ra cái gì đâu, chẳng qua là ăn may thôi”… “Thói đố kỵ ăn sâu đến nỗi nhiều khi tôi cũng giật mình xấu hổ vô cùng khi giả dụ thấy ai trúng vé số mấy tỷ, có một phần triệu giây trong ý nghĩ mong cho người ta bị vấn đề gì đó. Cực xấu hổ!”, ông chia sẻ.
 

Đố kỵ vì không có tiêu chí về đạo đức, tài năng
 
Theo nhà văn Tạ Duy Anh, sở dĩ người Việt đố kỵ vì cộng đồng không có tiêu chí về đạo đức, tài năng. Đó là một cộng đồng trọng tuổi “sống lâu lên lão làng” hơn là trọng tài, thích được ve vuốt hơn là nói thật. Tất cả những cái đó được tích tụ lại dẫn đến thói đố kỵ, không muốn ai hơn mình.
 
“Trong một cộng đồng không biết tôn vinh thủ lĩnh thì nó sẽ kéo nhau xuống. Có câu “chết cả đống còn hơn sống một mình” là nét khái quát nhất, thể hiện rõ nhất tính đố kỵ của người Việt. Thấy người ta viết tác phẩm hay thì nói xấu hòng kéo thanh danh của họ. Nhiều khi nói xấu chỉ để thỏa mãn bản thân chứ chẳng hại đến người ta, nhưng nó cũng cho thấy rõ ràng tính đố kỵ đã làm người ta không thể kiểm soát nổi mình”, nhà văn Tạ Duy Anh nói.
 

Đố kỵ làm người Việt nhỏ nhen
 
Còn theo PGS.TS Ngô Văn Giá thì cái gốc của thói đố kỵ là cấu trúc xã hội đẳng cấp, trọng tiêu chí hơn – kém, đúng – sai hơn là biết nhìn ra điểm khác biệt, ưu thế của mỗi cá nhân. Từ đó mà sinh ra so bì, đố kỵ, thóc mách, rất sợ người ta hơn mình và không muốn người ta hơn mình, không dám thừa nhận năng lực kém.
 
Còn ThS Trần Phương thì chỉ ra rằng, thói đố kỵ, so bì cũng có nguồn gốc “dây mơ rễ má” từ tính tò mò, tâm lý đám đông của người Việt. Ông phân tích: Người Việt hay để ý của nhau nên mới biết nhà kia có gì hay, có gì hơn của nhà mình. Nếu thấy người ta mua được con xe máy đắt tiền thì cũng cố để mua được con xe… đắt tiền hơn. Thấy người ta xây căn nhà mới, nếu sau đó nhà mình cũng xây thì luôn cố gắng làm to hơn một tí, cao hơn một tí… Ngược lại, nếu mình không được như nhà hàng xóm thì sinh ra ganh ghét, so bì, thậm chí còn viện lý do để an ủi bằng những suy nghĩ nhỏ nhen kiểu “chắc nó lại được bố mẹ, anh em cho”, “chắc gì tiền để làm những thứ ấy là trong sạch”, “trời không cho ai tất cả”…
 
Cũng theo ông Phương, chính vì văn hóa làng coi trọng tập thể hơn cá nhân; yếu tố “bản vị” coi cái gì của làng mình, của dòng họ, gia đình mình cũng là nhất nên khi thấy người khác hơn mình sẽ cảm thấy khó chịu. Cứ thế, thói đố kỵ làm người Việt luôn phải nhìn nhau, đề phòng nhau, hơn thua nhau thay vì cùng san sẻ với nhau. “Song có một điểm đáng chú ý là khi gặp thiên tai, ngoại xâm, tính đố kỵ dường như không còn chỗ nữa mà người Việt lại tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách. Đó là tính hai mặt của văn hóa làng”, ông Phương bình luận.
 

Làm sao để người Việt bớt đố kỵ?
 
Thừa nhận đố kỵ, so bì cũng thuộc cơ chế tự vệ của con người, song theo GS Phạm Thành Nghị, Viện Tâm lý học thì cơ chế ấy ở mức độ nào, có thường xuyên xuất hiện hay không lại do môi trường xã hội chi phối. Ông nói: Khi môi trường xã hội không an toàn thì cơ chế này xuất hiện thường xuyên. Ngược lại, môi trường trong lành, mức sống của người dân ở đó được đảm bảo, con người có thể tồn tại dễ dàng, có thể kết bạn thì cơ chế ấy sẽ ít xuất hiện. Điều đó lý giải cho việc vì sao người phương Tây rất cởi mở, ít so bì, đố kỵ nhau hơn người Việt Nam, người miền Nam ít đố kỵ hơn người miền Bắc, vì ở đó mức sống cao hơn, cơ chế sòng phẳng hơn, đánh giá con người thông qua năng lực tốt hơn.
 
Vì thế, để giảm bớt tính đố kỵ của người Việt, theo ông Nghị, cần phải xây dựng rõ ràng tiêu chí đánh giá con người. Phải đánh giá bằng năng lực, có thang điểm cụ thể thay vì kiểu “sống lâu lên lão làng”. Phải khắc phục bằng thiết chế, thể chế, giáo dục.
 
Tuy nhiên, nói đến sự đổi mới của giáo dục nhằm hạn chế tính đố kỵ, nhà văn Tạ Duy Anh tỏ ra khá bi quan khi cho rằng, ngay trong giáo dục cũng đang tồn tại háo danh thông qua những bằng khen, giấy khen, phiếu bé ngoan, thầy cô giáo nhận tiền của phụ huynh để sửa điểm cho học sinh… thì thật khó để nghĩ đến sự thay đổi. Bên cạnh đó, giới trí thức – những người “dẫn đường chỉ lối” cho xã hội cũng mắc phải căn bệnh đố kỵ thì dường như, để hạn chế tính đố kỵ của người Việt vẫn còn là ước muốn khá xa vời. Song, “dù gì cũng cần phải làm một cái gì đó, trước hết và căn bản vẫn phải từ giáo dục”, ông nói.

“Người Việt có câu “thà chết cả đống còn hơn sống một mình” là câu cô đúc nhất về thói đố kỵ, không muốn ai hơn mình mà chỉ muốn kéo mọi người xuống ngang bằng với mình. Đó chính là nguyên do của việc Việt Nam bị chậm phát triển. Tất nhiên, ở một góc độ nào đó, tính đố kỵ làm cho con người ta có động lực để phấn đấu, cố cho bằng bạn bằng bè. Song về cơ bản nó vẫn kìm hãm sự phát triển, không thúc đẩy được sự sáng tạo cá nhân” – PGS.TS Ngô Văn Giá

(Theo Kiến Thức)

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.04.2014

HUẾ – THÀNH PHỐ VĂN HÓA ASEAN

HUẾ – THÀNH PHỐ VĂN HÓA ASEAN.

                                                                              Ngô Minh

               Hội nghị Bộ trưởng phụ trách Văn hóa và nghệ thuật ASEAN lần thứ 6 (AMCA-6) được tổ chức trong hai ngày 19 và 20-4, tại TP Huế. Hội nghị có sự tham dự của 120 đại biểu đến từ các nước trong khu vực ASEAN, Ban Thư ký ASEAN và 3 nước Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản. Tại phiên khai mạc, Bộ trưởng Văn hóa Cộng đồng và Thanh niên Singapore Wong Shuyn Tsai Lawrence thay mặt các Bộ trưởng Văn hóa ASEAN trao logo công nhận TP Huế là “Thành phố Văn hóa” ASEAN. Như vậy, Huế đã trở thành thành phố thứ 3, sau Cube (Philippines) và Singapore được công nhận là “Thành phố Văn hóa ASEAN. Sự tôn vinh ấy là vô cùng chính xác vì từ lâu Huế đã là một trung tâm văn hóa lớn của miền Trung-Tây Nguyên và cả nước. (Đọc tiếp…)

 

Mấy cảm nhận khi đọc “Những lớp sóng ngôn từ” (*)

    QTXM: Bạn đọc thân mến. Sau khi tập thơ “Những lớp sóng ngôn từ” của Mã Giang Lân được Hội Nhà văn trao giả thưởng thơ 2013, QTXM nhận được nhiều bài viết phản đối giải thưởng này và chế tập thơ là yêu kém. Đặc biệt là bài viết của nhà thơ Trần Mạnh Hảo. Hôm nay chúng tôi đăng tiếp một bài viết đânh giá tập thơ của một nhà thơ điềm đạm hơn – nhà thơ Nguyễn Hữu Quý để bạn đọc chia sẻ. Qua đây QTXM đề nghị Hội Nhà văn phải nghiêm túc hơn trong  việc trao giải thưởng văn học hàng năm, phải mời cho được những chuyên gia thẩm thẩm định thơ, văn sắc sảo, chính xác trước khi trao giải.

Nguyễn Hữu Quý

 

Thú thực, trước khi Hội Nhà văn Việt Nam thông báo giải thưởng năm 2013 tôi chưa được đọc Những lớp sóng ngôn từ của Mã Giang Lân. Lý do rất đơn giản là không có sách và hình như dư luận cũng không nhắc tới mấy. Đến khi tập thơ đoạt giải thì trên báo Văn nghệ mới có một đôi bài khen nhưng trên “mạng” lại xuất hiện mấy bài chê không tiếc lời của Trần Mạnh Hảo, Đỗ Hoàng…Một số nhà thơ, nhà phê bình tuy không viết bài chê nhưng khi chuyện trò với tôi cũng đánh giá thấp tập thơ này. Tôi phân vân không biết ai khen chê đúng. Khi nghe một nhà thơ nổi tiếng nằm trong Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam nói, đại ý rằng: lẽ ra năm nay giải thưởng thơ nên bỏ trống vì chưa có tập nào xứng đáng kể cả Những lớp sóng ngôn từ. Có lẽ, từ câu nói này mà tôi phải mượn cuốn thơ Những lớp sóng ngôn từ để đọc một cách kỹ càng.

Tôi nghĩ trong tập thơ này Mã Giang Lân chủ tâm hướng tới đời thường, có nhiều hoài niệm về lịch sử xa xôi và quá khứ đã từng trải. Nhìn cầu Hàm Rồng anh tưởng nhớ tới bao người lính năm xưa nằm xuống, đến động Long Quang lại nghe dư âm lịch sử vọng lại từ thơ Lê Thánh Tông, về quê thì xới lại tuổi thơ khi gặp cây đa xanh nỗi niềm cô tịch / ngôi đình đầy những tiếng nói thầm những bước chân nhẹ…Cảm xúc và suy ngẫm về lịch sử hay hoài niệm dĩ vãng không có gì mới trong thơ ca nhất là với lớp người cầm bút trưởng thành trong giai đoạn chống Mỹ như Mã Giang Lân. Người đọc đợi chờ những phát hiện mới, diễn đạt mới mang dấu ấn sáng tạo thăng hoa của nhà thơ.

Có không? Hình như đọng lại đôi chút trong những câu thơ thế này:…ngôi sao mai đẫm ướt / như vừa vớt lên từ cánh đồng / chưa ráo mồ hôi (Gọi mùa màng) hay: Không hy vọng thì không thể sống / dù hy vọng cùng đường / Ban đêm đốt đèn tìm ánh sáng / ban ngày đốt đèn tìm bóng đêm (Ngẫu hứng).

Còn lại, phổ biến là những bài thơ nặng về kể tả bằng cái giọng đẫm chất khẩu ngữ, không có tứ hay và ít hình ảnh lạ. Cảm giác như Mã Giang Lân làm thơ rất dễ, anh không nhiều lựa chọn khi “đặt” các sự vật, chi tiết cuộc sống vào thơ. Những dẫn dụ sau đây chứng minh cho điều đó: Bốn lăm năm lại một sáng này / nhà chài tung lưới / đoàn tàu hối hả lao vào / hình như ngày hè găm đầy mắt lưới (Một sáng Hàm Rồng); Gió lạnh kéo về / tôi vội vã ra ga mua vé / hối hả tàu / nôn nao xe lượn / nôn nao trời / nôn nao đất / mây chơi vơi / hết một tuần hong hóng ngóng lên trời / nuốt vội nỗi buồn / choàng thêm giá rét / lại xuôi (Mưa tuyết Sa Pa); tôi gặp lại tuổi thơ / chạy nhông nhông theo những con còng gió / những con còng gió chạy nhông nhông trên cát / sóng ập vào ngoi ngóp nhoài lên (Lại về biển); Năm nay lúa chín muộn lại mưa như trút / ứa nước mắt nhìn lúa / liềm hái đành treo suông / đất rừng trông vào sắn vào khoai / chợ xa gánh sắn bán rẻ mua được / mấy gói mì ăn liền / một gói bột ngọt / để dành cho những ngày giỗ Tết (Người chị họ nói); Quán phở chiều ba hào / cô hàng cỡ tuổi tôi nhìn chằm chằm thương mến lắm (Thành phố ngày trở lại); Hai đứa rủ nhau đi Đà Lạt / tránh xa đất Bắc nắng nôi dài (Những ngày Đà Lạt)…

Sở dĩ tôi phải trích dẫn hơi tham thơ của Mã Giang Lân trong Những lớp sóng ngôn từ vì muốn “nói có sách mách có chứng”. Không nhà thơ nào có thể giấu được “đẳng cấp” của mình trong tác phẩm. Một tập thơ khá hoặc xuất sắc phải có nhiều bài, nhiều câu vượt trội; người đọc sẽ bị hút vào đó bởi ma lực của câu chữ, sự mới mẻ của thi ảnh, sự “đắc địa” của ngôn từ. Tính đa nghĩa cũng cần thiết đối với các thi phẩm hay. Nếu đối chiếu những tiêu chí ấy với phần lớn các bài thơ trong Những lớp sóng ngôn từ tôi thấy nó còn non lép. Tôi muốn thẳng thắn nói rằng Những lớp sóng ngôn từ không có nhiều phẩm chất thi ca nổi bật.

Chi tiết trong những bài thơ hay gồng gánh được ý tưởng và tình cảm của tác giả một cách tối ưu nhất. Để cái cụ thể, nhỏ bé trở thành cái khái quát, to lớn nhà thơ không thể không cân nhắc lựa chọn kỹ càng khi đưa các chi tiết vào thơ. Tôi chưa quên được hình ảnh cô thanh niên xung phong trong thơ Phạm Tiến Duật thời chống Mỹ bởi nó vừa cụ thể lại vừa khái quát đến “tầm” thế hệ: Cạnh giếng nước có bom từ trường / Em không rửa ngủ ngày chân lấm / Ngày em phá nhiều bom nổ chậm / Đêm nằm mơ nói mớ vang nhà…Thực đấy nhưng cũng là ảo đấy. Phôi liệu đời sống đã trở thành tinh hoa thi ca. Cái thật thà của câu chuyện trong Gửi em, cô thanh niên xung phong được chắp cánh bay cao nhờ giấc mơ chập chờn diệu ảo lẩn quất ấy. Trong khi cái thật thà trong khá nhiều bài thơ của Mã Giang Lân mới chỉ là sự “ghi chép” đời sống mà thôi. So sánh thế để thấy rằng, chi tiết hình ảnh trong thơ Mã Giang Lân thường không đắt và có khi ta thấy nó na ná của ai đó, ví dụ: Cây xanh đến nao lòng / Hồn các anh xanh thế khônghình như ngày hè găm đầy mắt lưới ( Một sáng Hàm Rồng). Đỗ Trung Lai trước đó rất lâu đã có câu thơ đẹp: Sao trời lọt qua mắt lưới trong Đêm sông Cầu (viết năm 1980). Và những câu như thế này nữa, tôi thấy ý thơ cũng quen cũ quá: phóng túng như biển / rộng lòng như biển / cô đơn như biển (Lại về biển); khi đói lòng thì dựa vào tiếng hát / khi ngặt nghèo thì dựa niềm tin ( Lang thang); tôi trở về đất bụi nguyên sơ (Viết theo Kinh thánh); Một mùa hè đi dọc miền Trung / cát chang chang (Những ngã đường); Tôi mở những trang thơ lửa bỏng / những trang thơ lấm láp chiến hào (Những ngã đường); Chúng ta đến chợ tình đã vãn / những đôi lứa tìm nhau khuất vào đá / khuất vào cây / khuất vào số phận / thôi đành chúng ta khuất vào nhau (Sa Pa một ngày); giá cả cứ leo thang chóng mặt / miếng cơm manh áo dễ gì đâu (Những ngày Đà Lạt); Ta còn nợ một mùa ký ức / đêm không đèn ngồi với trăng suông (Trăng ở bên trời)…

Lại còn thêm sự dễ dãi của người viết nữa chứ. Xin đọc những câu này: Trở về thăm thú Dinh Bảo Đại / xem ra thua kém nhà doanh nhân / vua trước vua nay sao sánh được / có chăng so với kẻ bần dân (Những ngày Đà Lạt); Tôi mở vào đêm / nhấp nhoáng mặt người / trố mắt chờ xổ số / ánh điện màu cô gái nào cũng đẹp / đẹp đến kinh người (Mở)…

Chuyện cũng đã rồi. Tập thơ Những lớp sóng ngôn từ của Mã Giang Lân đã được Hội Nhà văn Việt Nam trao giải thưởng năm 2013. Tuy nhiên, trước khi được Ban chấp hành Hội bỏ phiếu thông qua thì nó phải vượt qua “ải” Hội đồng Thơ. Dù là chỉ của một năm nhưng tập thơ được chọn trao giải ít nhất phải từ khá trở lên. Tôi nghĩ thế. Trong khi đó, Những lớp sóng ngôn từ của Mã Giang Lân chỉ ở mức trung bình, nếu không có tên trong danh sách giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2013 thì chắc ít người nhắc tới. Với thơ như thế, tại sao nó lại thuyết phục được đa số các thành viên Hội đồng Thơ, Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam trao giải thưởng năm 2013? Chả trách, sau khi giải thưởng công bố thì Những lớp sóng ngôn từ lại bị chê nhiều đến thế. Đối tượng chê tập thơ này nhiều nhất lại là các hội viên Hội Nhà văn Việt Nam thuộc ngành Thơ. Người ta không tâm phục, khẩu phục tác giả, tác phẩm được giải thưởng đã đành mà đến Hội đồng Thơ và Ban chấp hành Hội cũng bị hồ nghi.

Đến bây giờ thì tôi tán đồng ý kiến của nhà thơ nổi tiếng giữ vị trí khá quan trọng trong Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam: lẽ ra phải bỏ trống giải thưởng thơ năm 2013 mới đúng.

                                            Đồng Xa, Thanh minh Giáp Ngọ, 2014

                                                                     NHQ

———————-

(*) Tập thơ của Mã Giang Lân, NXB Hội Nhà văn, H.2013

(Đọc tiếp…)

(Phát biểu tại cuộc gặp gỡ của Tổng Bí thư  Nguyễn Văn Linh với nghệ sĩ, ngày 7-10- 1987)

NGUYÊN NGỌC

Kính thưa đồng chí Tổng Bí thư,

Thưa các đồng chí

Từ sáng hôm qua đến giờ, nhiều đồng chí đã phát biểu rất sâu sắc về những vấn đề quan trọng. Tôi nhất trí với nhiều ý kiến trong số đó. Vì thời gian có hạn, tôi xin không nhắc lại những ý kiến đã nhất trí, chỉ nói thêm về một số vấn đề các đồng chí trước chưa nói, hoặc một số khía cạnh chưa được nói tới trong các vấn đề các đồng chí trước đã nêu ra.

Tôi nghĩ trong hai cuộc kháng chiến vừa qua, văn học nghệ thuật ta đã làm tròn xuất sắc nhiệm vụ của mình. Cùng với các ngành khác, văn học nghệ thuật đã góp phần xứng đáng tạo nên sức mạnh tổng hợp của dân tộc, của Đảng để đánh thắng kẻ thù. Từ đó, cùng góp phần quan trọng xây dựng, phát triển và khẳng định những giá trị tinh thần và đạo đức mới tốt đẹp cho con người, cho xã hội. Về phần bản thân mình, văn học nghệ thuật ta cũng đã có một bước trưởng thành lớn về nhiều mặt, trong đó có lẽ đáng chú ý hơn cả là sự trưởng thành về đội ngũ…

Những điều này không còn gì phải bàn cãi nhiều. Tuy nhiên mặt khác cũng cần thấy rõ rằng trong suốt thời kỳ kéo dài hơn 30 năm ấy, văn học nghệ thuật nước ta đã phát triển trong những điều kiện hết sức khắc nghiệt của chiến tranh. Cho nên tất yếu có những hạn chế không thể tránh khỏi, những hạn chế ấy đã để lại những dấu vết hằn sâu. Ví dụ: do điều kiện chiến tranh, trong văn học nghệ thuật đã thường quen chỉ nói một chiều. Chỉ nói thắng lợi không nói thất bại; chỉ nói bằng thành tích, không nói tổn thất; chỉ nói sự đúng đắn, không nói sai lầm… tuy ai cũng biết rằng mỗi thắng lợi trong cuộc chiến tranh đều đã phải trả giá bằng biết bao nhiêu tổn thất hy sinh, thất bại và cả sai lầm cay đắng…

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lật đổ một chế độ xã hội cũ, chúng ta mong muốn bắt tay xây dựng một xã hội mới tốt đẹp. Nhưng lập tức chúng ta bước ngay vào chiến tranh chống ngoại xâm, cuộc chiến ấy cực kỳ ác liệt và kéo dài. Điều kiện chiến tranh buộc chúng ta hầu như lúc nào cũng phải giải quyết ngay những việc cấp bách nhất, còn những việc lâu dài, cơ bản thì cứ phải gác lại. Trong công tác tư tưởng cũng vậy. Trong văn học cũng vậy. Ví dụ như, trong giáo dục, trong văn học nghệ thuật, suốt mấy mươi năm chúng ta đã nói rất nhiều, rất đậm về tình đồng chí, quan hệ đồng chí, điều ấy là đúng và tốt quá. Song ta lại chưa kịp, chưa có thời gian… và cũng quên không nói về một cái sơ đẳng hơn, nhưng cũng gốc gác hơn của con người là tình bạn… Hoặc chúng ta đã nói nhiều, sâu về đất nước, về Tổ quốc, về Đảng, về nhân dân, về kẻ thù…, nhưng gần như đã quên hẳn một thời gian rất dài không nói gì với các cháu bé của chúng ta về cha mẹ, về gia đình… Trong việc xây dựng tư tưởng, tình cảm, nhân cách cho con người, chúng ta vừa đạt được những tầm rất cao, lại vừa có sự hụt hẫng ở một số mặt gốc rễ, cơ bản, lâu bền. Có thể nói chừng nào đã có xu hướng “thực dụng” ở đây. Đó là một sự phiến diện không nhỏ.

Điều kiện khắc nghiệt của chiến tranh cũng dẫn đến khuynh hướng đồng nhất tất cả với chính trị. Cả giáo dục, cả văn học nghệ thuật, thậm chí cả những phạm trù khoa học như sử học, đạo đức học, tâm lý học… đều nhất loạt bị đồng nhất với chính trị.

Cuộc chiến tranh giải phóng ác liệt đặt lên hàng đầu sự mất còn của toàn dân tộc. Số phận của toàn dân tộc lấn át hết mọi quan hệ khác. Trong văn học nghệ thuật điều ấy cũng in dấu rõ: cái chung, cái cộng đồng, cái toàn dân tộc là quan trọng nhất; cái riêng hầu như chưa được biết đến, nói đến. Chưa có quyền của cái riêng…

Tất cả những điều trên đây là dễ hiểu, có tính lịch sử, là đương nhiên của một “thời kỳ văn học nghệ thuật chiến tranh”. Chỉ có điều, khi chuyển sang thời kỳ khác, thời kỳ xây dựng hòa bình, tức là trở lại cuộc sống bình thường, lâu dài, hàng ngày… của một đất nước, một xã hội, nếu chúng ta không kịp nhận ra và kịp thời khắc phục những hạn chế có tính lịch sử trước đây, thì những hạn chế đó sẽ trở thành những nhược điểm, thậm chí những khuyết điểm sai lầm, cản trở sự phát triển của văn học nghệ thuật.

Tiếc thay, vừa qua chúng ta đã phạm đúng điều này trong sự lãnh đạo văn học nghệ thuật. Thật ra, từ gần 10 năm trước đây, có người cũng đã thấy và chỉ ra. Nhưng liền bị quy chụp là “phủ nhận thành tựu”, là ảnh hưởng đủ thứ quan điểm tư tưởng sai trái này nọ. Và những ý kiến trăn trở ấy bị dập đi…

Theo tôi, chúng ta đã chậm trễ mất khoảng mươi năm. Trong văn học nghệ thuật mươi năm có thể là cả một thế hệ! Thế mới biết lỗi ở chỗ này không nhỏ.

Đấy là một trong nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo nàn trong văn học nghệ thuật vừa qua như đồng chí Tổng Bí thư nhận xét.

Một nguyên nhân khác, theo tôi, là đẻ ra từ hệ tư tưởng bao cấp nặng nề thống trị trong suốt thời gian rất dài, kể cả “bao cấp về tư tưởng”. Có những thời kỳ dài, tôi xin nói một cách hình ảnh, cứ hàng quý đến kỳ anh tuyên huấn cấp dưới lại khăn gói lên tuyên huấn cấp trên, lĩnh một ít tư tưởng do cấp trên cấp phát cho, về để tiêu dùng cho mình và đơn vị mình trong suốt quý. Hết quý, lại đi lĩnh suất khác. Nếu chẳng may đến kỳ rồi mà giao thông trắc trở chưa đi lĩnh được suất tư tưởng mới thì đành lúng túng ngồi chờ vậy, chẳng thể tự mình nghĩ ra được và dám nghĩ ra cái gì khác. Bởi đã quen: quyền suy nghĩ là quyền của cấp trên!

Tôi e rằng tình trạng này đến nay cũng chưa hết hẳn đâu.

Trong văn học nghệ thuật, tình trạng này cũng nặng nề. Mãi gần đây, một hôm tôi được chứng kiến một nhà văn có tên tuổi hẳn hoi và đang giữ một cương vị khá quan trọng trong bộ máy lãnh đạo văn học ta, lên chỗ Ban Văn hóa văn nghệ Trung ương của đồng chí Trần Độ, nằng nặc đòi: “Trung ương phải chỉ đạo cho chúng tôi nên xây là chính hay chống là chính chứ! Lúc này văn học nên ca ngợi cái tốt là chính hay đấu tranh chống tiêu cực là chính? Phê bình đấu tranh đến mức nào? Tỷ lệ như thế nào?… Yêu cầu Ban của Đảng phải chỉ đạo cho chúng tôi!…”. Riêng tôi, hôm ấy, tôi nghĩ: nếu tự anh không biết được trước cuộc đời hôm nay anh cần ca ngợi cái gì, đấu tranh chống cái gì, anh yêu ai ghét ai, anh phải yêu như thế nào và ghét như thế nào… thì anh còn là nhà văn cái nỗi gì!

Quả thật thói quen chỉ có thể, chỉ được phép suy nghĩ điều cấp trên đã suy nghĩ, thói quen chỉ được, chỉ dám và chỉ biết suy nghĩ theo phép cấp trên đã thống trị lâu dài trong xã hội ta. Mọi cái “lạ” đều phải kiêng kỵ. Tình trạng đó tất nhiên làm khô cằn mọi sự sáng tạo, trước hết là sáng tạo văn học nghệ thuật.

Anh Huy Cận có nói những quan niệm thô thiển, hẹp hòi, cứng nhắc trong lãnh đạo, theo anh, ở các cấp ủy địa phương đã cản trở nhiều sự sáng tạo văn học nghệ thuật. Tôi nghĩ khác. Ở nước ta hiện nay, số lượng văn nghệ sĩ làm việc ở trung ương đông hơn ở các địa phương nhiều. Nếu sự thô thiển, hẹp hòi, cứng nhắc chỉ có ở các cấp ủy địa phương như anh Huy Cận nói, thì làm sao giải thích tình trạng nghèo nàn hiện nay của văn học nghệ thuật ta, không chỉ nghèo “ở các địa phương”? Phải tìm ở chỗ khác.

Tôi nghĩ rằng trong sự lãnh đạo văn học nghệ thuật, chúng ta có sai ở một số vấn đề quan trọng cơ bản và sai ở ngay trong “hệ chính thống”, chứ không phải ở bộ phận, ở cục bộ, ở địa phương. Tôi chỉ xin tập trung nói về một vấn đề theo tôi là nóng bỏng nhất và cũng là vấn đề cơ bản, lâu dài: Vấn đề chức năng xã hội, hay là vai trò vị trí xã hội của văn học nghệ thuật.

Nhiều đồng chí đã nói về các vấn đề cơ chế, chế độ, chính sách, về sự đối xử với các văn nghệ sĩ v.v… Tôi nghĩ những điều đó đúng, cần nói, cần giải quyết. Nhưng có lẽ dẫu sao những cái đó cũng chỉ là hệ quả tất yếu của những cái quan trọng hơn: ấy là quan niệm về chức năng xã hội của văn học nghệ thuật.

Ở ta cho đến nay vẫn thống trị hai quan niệm phổ biến về chức năng xã hội của văn nghệ. Một là văn nghệ minh họa. Chức năng phản ánh của văn nghệ được hiểu một cách thô thiển. Đại thể là: Đảng và nhân dân đã làm nên sự nghiệp anh hùng, văn nghệ hãy ghi chép lại đi, để ngợi ca, để cho mọi người biết, để cho con cháu mai sau hiểu. Hoặc cao hơn một chút nữa, thì: cuộc đấu tranh xã hội diễn ra phức tạp như thế đấy. Đảng, Nhà nước đã giải quyết như thế này, thế này… Văn nghệ sĩ hãy theo sát, tìm hiểu và ghi chép lại, trình bày những bài học Đảng đã rút ra được ở đó, một cách văn chương, để mọi người dễ tiếp thu, thấm thía… Văn nghệ là đi sâu chính trị. Chính trị giải quyết. Văn nghệ phản ánh…

Quan niệm thứ hai là: “Văn nghệ xướng ca” (và đương nhiên dẫn đến: “xướng ca vô loài”!). Đại thể: văn nghệ là một thứ trang trí của xã hội. Khi no đủ, vui vẻ, gọi văn nghệ đến giải trí, mua vui. Còn khi mệt, bận, cáu thì văn nghệ liệu mà tránh xa ra, đừng có quấy rầy!…

Vai trò xã hội của văn học nghệ thuật bị hạ thấp. Mọi thái độ đối xử không đúng với nó là bắt nguồn từ đó

Anh Nguyễn Đăng Mạnh có nói đến sự “bí mật”, sự khó định nghĩa của văn học nghệ thuật. Quả có thế thật. Cho đến nay có lẽ vẫn chưa hoàn toàn giải thích sáng rõ được hết tại sao văn học nghệ thuật lại cần thiết đến thế cho con người, đã có mặt từ khi loài người là loài người, và tồn tại mãi với nhân loại như một điều kiện của chính sự tồn tại của loài người. Và hình như xã hội càng tiến lên, đặc biệt ngày nay khi nền văn minh cơ khí càng phát triển thì nhu cầu nghệ thuật của xã hội, của con người lại càng cấp thiết, bức bách hơn.

Phải chăng, trong rất nhiều lý do, có một lý do sâu xa này: nghệ thuật là một phương thức tồn tại của con người giữ cho con người mãi mãi là con người, không sa xuống thành con vật mà cũng không thành những ông thánh vô bổ và vô duyên. Nghệ thuật là sự vươn tới sự hướng về, sự níu giữ mãi mãi tính người cho con người. Cái cốt lõi của nghệ thuật là tính nhân đạo.

Có một thời chúng ta sợ, coi việc nói đến những điều gọi là những “đề tài vĩnh cửu” của văn học nghệ thuật là tối kiêng kỵ, là “phi giai cấp”, là “tư sản”, “xét lại”… Song, mặc dù chúng ta kiêng kỵ và lo sợ, những đề tài như vậy vẫn cứ tồn tại. Có những câu hỏi cứ còn mãi, lặp đi lặp lại mãi, suốt đường dài của lịch sử con người, như những câu hỏi về sống và chết, tốt và xấu, thật và giả, thiện và ác, hạnh phúc và đau khổ… Đó là những câu hỏi quằn quại còn mãi. Chỉ có điều mỗi thời đại, mỗi giai cấp, đến lượt mình lại phải có câu trả lời riêng của mình cho những câu hỏi đó. Giai cấp vô sản và xã hội chủ nghĩa chúng ta cũng phải trả lời những câu hỏi đó, theo cách của ta. Và con cháu ta mai sau, đến lượt chúng, cũng vậy.

Sau năm 1975, có một lúc chúng ta đã ngây thơ tưởng rằng đánh giặc xong chỉ còn nội bộ nhân dân, đồng chí với nhau, mọi quan hệ sẽ dễ dàng tốt đẹp ngay… Mười năm qua có lẽ một trong những sự giác ngộ quan trọng nhất của chúng ta là thấm thía hiểu ra rằng trong xã hội càng tiến lên thì cuộc đấu tranh giữa cái tốt và cái xấu, cái thật và cái giả, cái thiện và cái ác… không giảm, không mất đi, trái lại càng phức tạp, tinh vi, ác liệt hơn. Cái ác dường như cứ càng dữ dội, xảo quyệt… hơn mãi, và không những không biến đi mà chừng như ngày càng mạnh hơn. Trong cuộc vận động quyết liệt đó cái thiện vươn lên, thắng lợi một keo. Cái ác phải lùi lại, có lúc tưởng đã bị tiêu diệt. Nhưng rồi té ra nó chỉ chuyển đổi vị trí. Một bộ phận của cái thiện lại chuyển sang phía cái ác. Cái ác lành mạnh hơn. Và cuộc đấu tranh lại bắt đầu mãi mãi… Ngẫm cho cùng văn nghệ xưa nay chính là cái nôi về cuộc đấu tranh đó.

Trong cuộc đấu tranh ấy, văn nghệ đặc biệt làm một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng: nhiệm vụ dự báo xã hội.

Có thể coi văn học nghệ thuật như là một thứ giác quan đặc biệt, là cái ăng-ten nhạy cảm đặc biệt của xã hội. Có những ngày đang nắng chang chang, vậy mà mở cái radio ra cứ nghe rẹt rẹt trên các làn sóng, thì ra gió mùa đông bắc đã ở bên kia biên giới, cơn giông sắp đến. Văn nghệ là cái ăng-ten ấy. Puskin gọi thi sĩ là nhà tiên tri. Gorki thì nói đến Chim báo bão. Còn Nguyễn Du của ta thì viết “Bất tri tam bách dư niên hậu…”.

Dự báo nghĩa là nói cái chưa có, mắt thường chưa thấy, tai thường chưa nghe… Người nghệ sĩ lớn là người có con mắt tinh đời nhìn những thế lực đang hùng hổ thống trị xã hội mà đã sớm đoán và tiên báo sự tàn lụi của nó: nghe những mầm non của cái mới còn rất cô đơn, rất mơ hồ mà dám khẳng định nó sẽ làm chủ tương lai… Nhà văn càng lớn thì khả năng dự báo của họ càng xa, càng dài, càng chính xác. Tôi nghĩ cũng nên nói rõ thêm rằng ngay chính bản thân người nghệ sĩ nhiều khi cũng không tự mình cắt nghĩa rõ được, trình bày rõ được sự “tiên tri” của mình đâu. Nhiều khi đó là một thứ dự cảm. Tâm hồn đặc biệt nhạy cảm của họ rung lên vì những chấn động nào đó mà chính họ cũng chưa hiểu được hết ý nghĩa… Nhà văn nổi tiếng G. G. Marquez có nói rằng không nên đánh giá quá thấp vai trò của nghệ thuật, nhưng cũng không nên đề cao quá đáng vai trò đó “Xưa nay nói cho cùng nghệ thuật cũng chưa bao giờ lật đổ được một chế độ chính trị nào”. Quả là ở châu Mỹ Latinh đau khổ và sôi sục của ông, cho đến nay chưa có chế độ độc tài nào bị văn nghệ lật đổ! Nhưng – ông nói – văn nghệ lại làm một việc rất quan trọng: nó báo hiệu, nó gây men, nó chuẩn bị tư tưởng cho những biến đổi xã hội rộng lớn, những cuộc cách mạng. Trong ý nghĩa đó, nó đi trước. Tôi nghĩ khi nói chức năng phản ánh của văn nghệ là phải nghĩ như vậy. Phản ánh nhưng là nói trước, chuẩn bị tư tưởng trước, chuẩn bị tư duy mới cho xã hội, chứ không phải đi sau, ghi chép, minh họa. Anh Nguyễn Khắc Viện có lần nói: “Nhiệm vụ của kẻ sĩ trong mọi thời là gây dư luận”, có lẽ cũng là trong ý này.

Văn nghệ còn có một đặc điểm là nó “la cà” trong đời sống. Và bao giờ nó cũng là cụ thể, cá biệt, nó nói nỗi đau cụ thể, cá biệt, niềm vui cụ thể cá biệt, số phận cụ thể, cá biệt… Nó sinh động như chính đời sống. Nó là tiếng nói của chính đời sống. Cho nên nó có tính nhân dân, tính dân chủ, gần như là “tự phát” vậy. Văn nghệ chính là sự khát khao mãi mãi vươn tới cái toàn thiện toàn mỹ của con người, nó là “sự không bằng lòng” mãi mãi của con người với thực tại. Văn nghệ có vai trò như tiếng nói thường xuyên sinh động của đời sống kiểm tra nhắc nhở nhằm cải thiện các hoạt động xã hội.

Cuối cùng, từ những suy nghĩ về chức năng xã hội của văn nghệ trên đây, tôi chỉ xin nói về một điểm trong sự đối xử với văn nghệ và văn nghệ sĩ.

Nếu ta công nhận chức năng quan trọng của văn nghệ là dự báo xã hội, thì cũng phải nói rằng đã là dự báo thì bao giờ cũng có ít nhất hai khả năng: dự báo đúng và dự báo sai. Ngay dự báo thời tiết hàng ngày là cái thứ vật chất thấy được, đo được bằng máy móc hẳn hoi… còn lắm khi sai, báo mưa ra nắng, báo nắng ra mưa; huống hồ là dự báo xã hội, dự báo đạo đức. Vậy khi văn nghệ có sai, nên đối xử thế nào?

Có lần tôi được nghe một vị giáo sư già đồng thời là một nhà phê bình văn học nổi tiếng Liên Xô, một người đã lăn lộn và trăn trở gần suốt đời trong thực tiễn văn học Xô viết, nói về vấn đề này. Ông nói: “Nếu quả là một người nghệ sĩ có tài, thì hôm nay họ có thể sai lầm, ngày mai họ có thể là thiên tài”, ông cũng lại nói: “Một người nghệ sĩ có tài, thì khả năng sửa chữa sai lầm ở họ rất lớn”. Tôi nghĩ đó là những lời nói sâu sắc, biểu hiện quan điểm đúng đắn của Đảng Cộng sản đối với vấn đề phức tạp và tế nhị này. Tất nhiên có được cách nghĩ như thế, cũng là trải qua kinh nghiệm 70 năm của văn học Liên Xô đầy thành tựu mà cũng đầy sóng gió, trong đó có cả những kinh nghiệm đã phải trả giá rất đắt, thậm chí bằng máu.

Nhiều đồng chí đã nói: tài năng thì hiếm. Còn cần nói thêm: tài năng nghệ thuật lại có đặc điểm là đơn nhất, không bao giờ lặp lại. Trong nghệ thuật cái gì đã mất là mất hẳn, không thể làm lại, không gì thay thế được. Cho nên đến nay chính chúng ta cũng không thể biết, không thể lường được chúng ta đã đánh mất những gì do những vụ thô bạo đã xảy ra trước đây. Ý nghĩ đó có lẽ cứ còn theo đuổi chúng ta mãi như một món nợ. Hôm nay nói, cũng chỉ để tiếc nuối thêm.

Và mong sao đừng bao giờ chúng ta phạm lại những điều như thế nữa.

Nguồn: Văn nghệ, Hà Nội,số 44 (31-10-1987). Theo tài liệu sưu tầm của Lại Nguyên Ân và Nguyễn Thị Bình.

(Đọc tiếp…)

BỘ HỒ SƠ ĐÈN BIỂN – MINH CHỨNG CHO CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA

 
 
 

BienDong.Net: Vừa qua trên truyền hình Thông Tấn xã Việt Nam có phát một phóng sự về việc ông Nguyễn Thái Phong đã hiến tặng cho Chính phủ Hà Nội tập “Hồ sơ đèn biển ở miền Trung Việt Nam” của Pháp về hệ thống đèn biển ở miền Trung Việt Nam, trong đó có đèn biển trên đảo Hoàng Sa (Pattle) thuộc quần đảo Hoàng Sa.

 

Hiện ông Nguyễn Thái Phong đang sống cùng con cháu ở địa chỉ 16/33 Nguyễn Đức Cảnh, TP. Hải Phòng, trước đây ông Phong công tác tại Cục bảo đảm an toàn Hàng hải Việt Nam.


Theo lời kể của ông Phong, năm 1976 trong một chuyến đi công tác phía Nam khảo sát bến bãi ở Đà Nẵng và Quy Nhơn, ông đã gặp 1 người đồng nghiệp, qua nói chuyện thấy ông là người am hiểu về biển đảo và cũng có tâm huyết với biển đảo, nên người bạn đó đã giao cho ông tập tài liệu “Hồ sơ đèn biển ở miền Trung Việt Nam” của Pháp và chỉ nhắn lại 1 câu là“Paracel là quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam đấy. Ông Phong đã giữ tập tài liệu, vật kỷ niệm của một ông bạn gặp trên đường đi công tác từ ngày đấy đến nay.

(Đọc tiếp…)

CHUYỆN BÊN LỀ FESTIVALHUẾ 2014 :

 

         TRÊN LỄ ĐÀI ĐÊM KHAI MẠC FESTIVAL

      CÓ MỘT “NGƯỜI LÍNH GIÀ HUYỀN THOẠI!  

      

                                                                       Ngô Minh

 

           Tôi muốn nói đến “cụ lính” Đặng Văn Việt. Gọi là cụ năm nay ông đã 95 tuổi. Hôm 12/4, vừa bay vào Huế ông đã nhờ Ban liên lạc Trường Thanh niên tiền tuyến Huế mời bạn bè đến gặp gỡ. Tôi cũng được mời vì tôi quen thân với anh Phan Tân Hội, con cụ Phan Anh, hiệu trưởng Trường Thanh niên tiền tuyến thời ấy. Thế là lần đầu tiên tôi được bắt tay, trò chuyện với người lính lừng danh thời chống Pháp, như là bắt tay, trò chuyện với nhân vật lịch sử bằng xương bằng thịt. 95 rồi mà tay ông rắn chắc. Từ Hà Nội vào ông mang theo 3 thùng sách nặng để tặng bạn bè. Ông bảo ông được UBND Thừa Thiên Huế mời dự lễ khai mạc Festival Huế 2014. Ông mừng lắm vì có mời mới được bao vé, bao ăn ở. Chứ ông rút hết cái sổ tiết kiệm của mình không đủ một chuyến vào Huế. Được vào Huế dự Festival ông coi như “về nhà”. Ông bảo:” ngồi xem lễ khai mạc mình sẽ ngắm lại Cột cờ Phu Văn Lâu, nơi mình đã ra lệnh cho lính triều đình treo là cờ đỏ sao vàng lên 69 năm trước”. 3 tuổi ông đã theo gia đình ở Huế. Lớn lên học trường Quốc học Huế. Đậu tú tài , ra Hà Nội học y khoa Đông Dương. Đang học năm thứ 3 y khoa thì Nhật đảo chính Pháp, trường đóng cửa, lại vô Huế theo Việt Minh kháng chiến…

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.04.2014

CHÙM THƠ CÚNG TRĂNG

MƯA ĐÊM

 

 ta ngồi

như đá quên đêm

nghe mưa tong tả

phương em mưa về

 

mưa môi

 

cho nhợt tái tê

mưa hai con mắt

 u mê cõi người

 

 tóc mưa

cuốn lũ bên trời

dạt trôi nào

cũng

dạt trôi bọt bèo

 

đêm mòn

từng trận mưa reo

lòng như sông lở

trôi vèo

nhân gian… (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.04.2014

Điện Biên Phủ nhìn từ phía Pháp

Điện Biên Phủ nhìn từ phía Pháp

Nguyễn Chính Viễn (St)

 

1 – Nước Pháp bàng hoàng 
Cả nước Pháp như chết lặng. Im lặng trên chiến trường và im lặng trên chính trường. Đối với người Pháp, Điện Biên Phủ (ĐBP) là một đốm đen trong lịch sử, một bước ngoặt khởi đầu cho sự tan rã của đế chế thực dân   50 năm nhìn lại, người Pháp vẫn tự hào họ có những tướng giỏi, những chiến binh dũng cảm, những phương tiện hùng hậu. Thứ duy nhất mà họ thiếu là chính nghĩa. Tờ Le Point kể lại sự bàng hoàng của người Pháp sau thảm bại ở ĐBP. Ngày 7-5-1954, sau 57 ngày bom đạn ầm ào khủng khiếp, máu lửa, những trận chiến giáp lá cà trong một khung cảnh bi thương, sự yên lặng chết chóc đột ngột bao phủ xuống lòng chảo ĐBP.  Christian de La Croix de Castries – tổng tư lệnh tập đoàn, được nâng hàm tướng trong thời kỳ bị bao vây – đã ra lệnh ngưng bắn lúc 17g30 kèm theo lệnh phá hủy tối đa trang thiết bị quân sự. Trong các chiến hào ngập bùn đất vì mưa phùn, những binh sĩ mỏi mệt, bơ phờ, cạn kiệt đạn dược, ngột ngạt vì mùi tử thi xung quanh mình, chờ đợi những con người nhỏ bé mặc quân phục xanh và đội nón cối đã đánh bại họ, nay đến bắt họ làm tù binh. Ở Paris, lúc xế chiều, Thủ tướng Joseph Laniel đăng đàn, gương mặt tái nhợt và căng thẳng. Trong bầu không khí ảm đạm, ông thông báo cái tin khủng khiếp bằng một giọng nhợt nhạt: “Cứ điểm trung tâm ĐBP đã thất thủ sau 20 ngày đêm chiến đấu khốc liệt”. Sảng sốt, các nghị sĩ đồng loạt đứng bật dậy như một người duy nhất. Chỉ trừ những nghị sĩ cộng sản vẫn ngồi lại tại chỗ. Làm sao nước Pháp lại đi đến thảm họa này?

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.04.2014

Tác giả ‘Trăm năm cô đơn’ qua đời

Tác giả ‘Trăm năm cô đơn’ qua đời

 
Garcia Marquez – nhà văn từng đoạt giải Nobel, tác giả của hàng loạt tác phẩm văn chương lớn – trút hơi thở cuối cùng hôm 17/4 (giờ địa phương) ở Mexico.

Nhà văn Garcia Marquez qua đời ở tuổi 87, tại nhà riêng ở Mexico City, Mexico, một người thân của gia đình xác nhận với AP. Garcia Marquez ra đi trong vòng tay vợ và các thành viên khác trong gia đình.

Nguyên nhân cái chết chưa được công bố nhưng Garcia Marquez gặp nhiều vấn đề về sức khỏe thời gian gần đây. Ông mới ra viện cách đây hơn một tuần sau khi phải vào viện chữa trị các vấn đề về phổi và nhiễm trùng đường tiết niệu. Trước đó, ông còn được cho là mắc chứng mất trí nhớ.

Sự ra đi của Garcia Marquez để lại khoảng trống lớn trong làng văn chương thế giới. Tác giả Trăm năm cô đơn là một trong những nhà văn vĩ đại nhất thế kỷ 20, bậc thầy của dòng văn học hiện thực huyền ảo. Tiểu thuyết, truyện ngắn của ông đã mang đến cho người đọc cái nhìn về đời sống của người Mỹ Latin với đủ các vấn đề đam mê, mê tín, bạo lực, bất bình đẳng…

Tiểu thuyết Trăm năm cô đơn xuất bản năm 1967 của ông đã bán được hơn 50 triệu bản, với hơn 25 ngôn ngữ trên thế giới. Garcia Marquez cũng để lại nhiều tác phẩm có sức ảnh hưởng lớn gồm: Tình yêu thời thổ tả, Mùa thu của vị trưởng lão, Tướng quân giữa mê hồn trận, Ký sự về một cái chết được báo trước…

Gabriel Jose Garcia Marquez sinh năm 1927 tại Aracataca, một thị trấn thuộc miền Bắc Colombia. Trước khi trở thành nhà văn, ông là một nhà báo nổi tiếng, hoạt động tại nhiều quốc gia như Colombia, Thuỵ Sĩ, Pháp, Cu Ba… Khoảng giữa những năm 1960, Marquez bắt đầu viết những tác phẩm văn học lớn của đời mình. Ông đã viết miệt mài cho tới đầu những năm 2000 và chỉ ngừng bút khi sức khoẻ không cho phép.

Nhà văn nhận giải Nobel Văn học năm 1982.

Theo Song Ngư

Nguồn :VnExpress

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.04.2014

Điều gì còn băn khoăn về Phạm Quỳnh?

 

QTXM- Bạn đọc thân mến. NXB Tri Thức chỗ anh Chu Hảo vừa ấn hành cuốn sách mới của nhà văn Tô Nhuân Vỹ có đầu đề rất luận bàn : BẢN LĨNH VĂN HÓA. Đây là những vài viết, tiểu luận nhà văn viết trong nhiều năm qua, rất tâm huyết, gửi NXB nào họ cũng “sợ”, may có TRi THức cuốn sách mới đến với bạn đọc. Gần đây một số tờ báo như Hồn Việt, Văn nghệ TP HCM đã in lại những bài viết “đánh” cụ Phạm Quỳnh. Chúng tôi xin in bài viết của nhà văn Tô Nhuận Vỹ trong BẢN LĨNH VĂN HÓA để  đả phá tư tưởng  lệch lạc cho rằng  “ai không theo ta là địch”.

 

Điều gì còn băn khoăn về Phạm Quỳnh?

 

Tô Nhuận Vỹ

 Đã có quá nhiều bài viết, nhiều dẫn chứng sinh động, cả trong nước và nước ngoài, và ngay ở cuốn sách của tác giả Nguyễn Văn Khoan, về sự đóng góp  của Phạm Quỳnh cho Văn hóa Việt Nam. Tôi chỉ xin đi thẳng vào vấn đề cụ thể.

 1. Điều gì còn băn khoăn về Phạm Quỳnh?

(Đọc tiếp…)

Patrisia Thompson cô con gái Mỹ của thi sỹ Maiakovsky

Nhà văn Tô Hoàng

  

Không một ai và chưa khi nào người đời nghi ngờ về huyết thống của bà với nhà thơ Nga Vladimir Maiakovsky. Bởi vậy, cũng là điều lạ khi một lần nhà thơ Nga Evghenhi Evtushenko yêu cầu bà cho xem giấy tờ xác minh. Nghe vậy Patrisia Thompson bực bội đứng dựng lên với hết tầm vóc cao lớn của người cha khiến Evtushenko đâm bối rối.

            “ Quả là cũng có điều gì đã minh chứng”- Evghenhi Evtushenko thú nhận.Tại một trong những nhà bảo tàng ở Moskva có lưu giữ cuốn vở ghi chép của thi sỹ Maiakovsky. Trong cuốn vở đó chúng ta dễ dàng tìm thấy bút tích của thi sỹ ghi bên cạnh địa chỉ nơi bà Patrisia Thompson trải qua tuổi ấu thơ với hai chữ “ Con gái”. Trong lần đầu tiên tới Moskva, bà Patrisia Thompson đã òa khóc khi nhìn thấy mấy chữ này…

            Bà Patrisia Thompson đã năn nỉ bà mẹ đặt tên mình theo họ cha –Elena Vladimirovna Maiakovskaia. Bà chân thành bộc lộ ý muốn có một ngày nào đó bà sẽ hoàn toàn mang tên Nga- nơi đã sinh ra nền thi ca Nga bất tử và những thi sỹ Nga bất tử.

            Bà Elizaveta Zibert, thân mẫu của bà Patrisia Thompson vốn là một người Nga lưu vong, sống tại New York với đồng lương của một hướng dân viên du lịch. Vào năm 1925, khi Maiakovsky sang Mỹ, bà trở thành người phiên dịch của ông. Một năm sau ngày hai người quen biết, cô bé Patrisia Thompson cất tiếng khóc chào đời. Lần đầu tiên và cũng là lần cuối Patrisia Thompson được gặp cha đẻ của mình-thi sỹ Maiakovsky là tại thành phố Nise, nước Pháp, khi mẹ cô sang đây nghỉ dưỡng. Lúc đó Patrisia Thompson mới 3 tuổi.

            Nhưng cô bé chỉ được biết ai là cha đẻ thực sự của mình khi cô lên sáu. Kể từ ngày đó, Patrisia Thompson phải giữ kín điều bí mật này suốt hơn nửa thế kỷ. Nhiều người quen biết bà Elizaveta Zibert kể, cho tận đến lúc nhắm mắt lìa đời bà mẹ vẫn nhắc nhở cô con gái đừng khơi gợi lại những kỷ niệm đau buồn trong gia đình: “ Mẹ tôi luôn luôn lảng tránh bất cứ chuyện gì đụng chạm tới cuộc tình của bà với Maiakovsky. Ấy thế mà tôi lại không muốn cắt đứt mọi quan hệ với cha tôi-một con người xuất chúng”- Bà Patrisia Thompson nói.  

            Bà Patrisia Thompson nổi tiếng như một chuyên viên về bình đẳng giới và xã hội học. Bà là tác giả của 15 tập sách, trong số đó có những cuốn bà khảo cứu về cuộc đời và sáng tác của thi sỹ Maiakovsky. Bà luôn tự hào vì trong huyết quản mang dòng máu Nga của cha và mẹ mình. Không hiểu dựa trên những căn cứ nào mà bà Patrisia Thompson khẳng định rằng, thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của nước Nga, người Nga.

-Những người yêu mến, kính trọng, nhớ mãi hình ảnh của cha tôi không phải chỉ tìm thấy ở nước Nga.Mới mấy hôm trước đây thôi, tôi nhận được một lá thư gửi từ Buenos-Aires nước Argentina. Tác giả bức thư hỏi tôi nhiều điều về cha tôi. Vì sao, ở nơi xa xôi ấy vẫn có người quan tâm đến ông? Xét theo nhiều điều, Maiakovsky là một người đàn ông tuyệt vời, cả về ngoại hình lẫn đời sống nội tâm.

- Nhưng sáng tác của ông vẫn là một phần của hệ thống tư tưởng Xô viết…

-Mẹ tôi gặp cha tôi lần đầu khi bà mới 20 tuổi. Đó là cuộc gặp gỡ của hai trái tim trẻ trung, nồng nhiệt; tuyệt nhiên không phải vì bà sùng phục tiếng tăm và muốn trở thành cái loa rao giảng những gì ông đang theo đuổi.Còn tài năng thơ ca của ông-như các bạn đều rõ, đã lồ lộ ngay từ trước khi cuộc Cách mạng tháng Mười Nga bùng nổ.Tôi vẫn lưu giữ bức thư cuối cùng cha tôi gửi cho mẹ con tôi. Và tôi cho rằng trong toàn bộ di sản của ông để lại không tìm thấy điều gì giống như một bản độc thoại mùi mẫn mà ông than khóc cho vợi nỗi đau chất chứa trong lòng.

-Liệu có phải mỗi khi ra nước ngoài Maiakovsky luôn nóng lòng sốt ruột muốn trở về nước, vì ở Nga nàng thơ Lilia Brik đang ngóng đợi ông?

-Cách nghĩ, cách cảm của tôi đối với Lilia Brik khá là phức tạp. Bà ta là một người phụ nữ rất từng trải. Bà ấy đã bỏ bùa cha tôi. Osip, chồng bà ta là một ‘đàn anh” của  Maiakovsky-hiểu theo nghĩa tốt đẹp của từ này. Osip đã dắt dẫn, đã trợ giúp cha tôi về nhiều phương diện.

-Bà đã có thời gian kết giao với Lilia Brik, với con trai riêng của bà Lilia là ông Vasili Katanhian- nhà nghiên cứu sáng tác của Maiakovsky…

-Nhưng mọi điều không mang lại kết quả như mong đợi.Trong một thời gian khá dài Lilia Brik là người quản lý mọi tài sản-vật chất và tinh thần-của nhà thơ. Tôi không hề nhận được một đồng nào từ những gì nhà thơ để lại và tôi tự kiếm sống cho đến tận hôm nay. Tồn tại ý kiến cho rằng Lilia Brik đã có ý định tìm tôi, nhưng không thành, bởi tôi mang họ mẹ.

-Và bà tự coi mình là người Nga mà không biết tiếng Nga…

-Tôi mang trong người tâm hồn Nga! Khi tôi còn bé, tôi trò chuyện với mẹ tôi bằng tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Đức. Mẹ tôi rành rõ 4 ngoại ngữ và có trình độ học vấn tốt.Tôi đã sống gần trọn cuộc đời ở Mỹ. Nói cách khác, tôi đã sống nhiều năm tháng ngoài cộng đồng nói tiếng Nga. Tất cả mọi điều được xếp đặt trên thế gian này tựa như làm cho chúng tôi tin rằng, không bao giờ có cơ hội được trở về nước Nga. Chưa kể rằng, tại nước Mỹ trong một thời gian dài, chỉ cần tỏ ra có cảm tình với nước Nga đã là một điều rất nguy hiểm…

            Trong một từ những chuyến tới nước Nga, tôi đã tới thăm làng Baskirii, thuộc vùng Davlekanovo-nơi còn giữ lại được ngôi của ông bà ngoại tôi, cũng là nơi mẹ tôi cất tiếng khóc chào đời. Đặt chân bước vào ngôi nhà, tôi thực sự cảm thấy đã được trở về nơi chôn rau cắt rốn. Sau chuyến đi đó tôi đã viết cuốn sách “ Những khám phá của tôi về làng Baskirii” như để trò chuyện tay đôi với cuốn “ Những khám phá về nước Mỹ “ của Maiakovsky.

-Trong cuộc đời này, bà tự xác định mục đích sống cụ thể của mình ra sao?

-Sống, đối với tôi là một sự trải nghiệm. Tôi đã sống một cuộc đời khá dài. Tôi dồn tâm sức cho việc đấu tranh dành sự bình đẳng giới. Tôi không bao giờ coi mình là đàn bà, cho dù tôi cũng chẳng thích đàn ông.

            Ngoài công việc đó ra, tôi gắng gỏi làm mọi việc để biện minh cho cha tôi. Tôi muốn mọi người biết điều chủ yếu này: Cha tôi, Vladimir Maiakovsky không hề tự vẫn !Ông biết rằng, ông có con gái; ông đã cố gắng sống, sống vì tôi . Ông thường chỉ vào tấm ảnh của tôi và nói với bạn hữu: “Tương lai của tôi đó !”. Khi ông hiểu ra rằng mơ ước của ông về một xã hội lý tưởng là điều không thể thực hiện được trên cõi đời này, ông thẳng thắn nói ra điều đó và ngưng không sáng tác nữa. Đó là nguyên cớ khiến người ta không muốn ông tồn tại …

 

( Nguồn : trannhuong.com)

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 16.04.2014

TƯỚNG TÁ THỜI NAY ?

TƯỚNG TÁ THỜI NAY ?

Ngô Minh

 (QTXM): Chiều 15/4,2014, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã nghe và cho ý kiến về dự án Luật Công an nhân dân (sửa đổi). Thường trực Ủy ban Quốc phòng An ninh cho rằng, việc xác định vị trí có nhu cầu hàm cấp tướng tuy đã quy định cụ thể nhưng vẫn chưa thật chặt chẽ. Cụ thể dự thảo Luật CAND (sửa đổi) đã nâng trần và mở rộng diện một số chức vụ có trần cấp hàm tướng so với Luật CAND hiện hành, hầu như tất cả các chức vụ Cục trưởng đều có trần cấp hàm Thiếu tướng, một số là Trung tướng và nhiều chức danh tương đương với chức vụ Cục trưởng cũng có trần cấp hàm Thiếu tướng, Trung tướng…”. Lên tướng để  làm gì ?  Vì đất nước hay vì cá nhân như trong vụ Dương Chí Dũng đưa hối lộ ? Chúng tôi muốn đã là tướng thì phải giỏi, phải được dân phục cả về tài năng chuyên môn lẫn đạo đức. Với suy nghĩ đó chúng tôi  xin in lại bài TƯỚNG TÁ THỜI NAY, mong được bạn đọc chia sẻ.

 

          Tuổi thơ ở làng, hễ đứa nào bặm trợn, “giữa đường thấy chuyện bất bình chẳng tha” đến nhà chơi, mẹ tôi hay nói :” Thằng ấy tướng tá lắm”. Đó là một lời khen. Lớn lên đọc sách, rồi trải nghiệm chiến tranh tôi mới hiểu : Tướng tá là những người chỉ huy quân sự giỏi giang, đánh thắng địch, được binh lính và nhân dân yêu mến, truyền tụng.Chỉ nghe người dân gọi danh xưng ĐẠI TƯỚNG  là ta biết ngay đó là Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

(Đọc tiếp…)

 

Thu nhập của người Việt Nam so với Thái Lan tụt hậu 95 năm !

 
 Theo TBKTSG

 

Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tụt hậu tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore. Thu nhập trung bình của người Việt Nam vẫn còn khoảng cách rất xa so với các nước trong ASEAN và Trung Quốc, dù đã được cải thiện nhiều do đổi mới và mở cửa cách đây hơn một phần tư thế kỷ.
Trong khi đó, cơ hội để Việt Nam đuổi kịp Trung Quốc và các nền kinh tế ASEAN sẽ vẫn là viễn cảnh xa vời, nếu thiếu đi những động lực cải cách hơn nữa.
Đây là cảnh báo của một đề tài khoa học cấp nhà nước mang tên “Mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011-2020: từ nhận thức với hành động” do ĐH Kinh tế Quốc dân thực hiện. Báo cáo này, thực hiện theo yêu cầu của Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội, trích dẫn số liệu về thu nhập của Việt Nam và các quốc gia khu vực do Quỹ Tiền tệ Quốc tế thực hiện năm 2010.
Theo đó, tính theo tỷ giá hối đoái, GDP đầu người của Việt Nam đã tăng từ mức 114 USD năm 1991 lên 1.061 USD năm 2010. Trong khi đó, GDP đầu người của Trung Quốc tăng từ 353 USD lên 3.915 USD trong khoảng thời gian trên.
Như vậy, thu nhập đầu người của Việt Nam tương đương 32% của Trung Quốc năm 1991 đã giảm xuống còn 27% năm 2010.
Mặt khác, tính theo sức mua tương đương (PPP), GDP bình quân đầu người của Việt Nam đạt 706 USD năm 1991 và lên tới 2.948 USD năm 2010. Trong khoảng thời gian đó, con số này của Trung Quốc tăng từ 888 USD lên 6.786 USD.
Như vậy, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam bằng 80% của Trung Quốc năm 1991 đã giảm xuống còn 43% năm 2010.
Bên cạnh đó, so với các quốc gia ASEAN khác, dù thu nhập của người Việt Nam đã dần được thu hẹp trong 20 năm qua, khoảng cách vẫn còn rất lớn ở vào thời điểm hiện tại.
Tiến sĩ Phạm Hồng Chương và các đồng sự ở ĐH Kinh tế Quốc dân cho biết, GDP bình quân đầu người của Việt Nam theo PPP chưa bằng 1/2 của Philippines, hay Indonesia, khoảng 1/5 của Thái Lan, 1/10 của Malaysia năm 1991.
Con số này đã vượt qua mức 3/4, 1/3 và 1/5 của các nước trên sau gần 20 năm.
Tóm lại, quy mô GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2010 đạt 1.061 USD tính theo tỷ giá hối đoái, và 2.948 USD theo PPP.
Tiến sĩ Phạm Hồng Chương nhận xét: “Đây là những chỉ số còn thấp xa so với mức bình quân chung của khu vực, của châu Á và thế giới”. Ông nhận xét, sau hơn một phần tư thế kỷ đổi mới và mở của, Việt Nam đã chuyển từ nhóm nước có thu nhập thấp sang nhóm thu nhập trung bình, theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới.
Tuy nhiên, theo ông Chương, xét về nhiều mặt, động thái tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chưa thể hiện rõ quyết tâm và khả năng thoát khỏi nguy cơ tụt hậu phát triển. Trong khi đó, trong một vài năm gần đây, nền kinh tế còn bộc lộ nhiều rủi ro tiềm ẩn về tính bền vững của quá trình tăng trưởng.
Báo cáo của ĐH Kinh tế Quốc dân chỉ ra thêm về thực trạng thất nghiệp ở mức 4,6% ở thành thị và 20% lao động ở nông thôn chưa được sử dụng; báo cáo nhận xét: “Như vậy, tỷ lệ trên tương đương với trên 10 triệu lao động thất nghiệp hoàn toàn ở Việt Nam”.
Thu nhập của người Việt Nam bị bỏ lại quá xa bởi các nước trong khu vực không phải là vấn đề mới.
Theo Báo cáo phát triển Việt Nam 2009 của Ngân hàng Thế giới, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tụt hậu tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore.
Báo cáo này căn cứ vào tốc độ tăng trưởng thu nhập trên đầu người tính theo giá cố định trong giai đoạn 2001 – 2007 của các quốc gia và kết luận “thực tế là Việt Nam sẽ phải rất lâu mới theo kịp được”.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 14.04.2014

Trịnh Công Sơn và Khánh Ly

Trịnh Công Sơn và Khánh Ly

Nguyễn Công Khế

(Cựu TBT báo Thanh Niên)

    Nghe tin chị Khánh Ly về hát ở Hà Nội vào tháng 5 này, tôi rất mừng.

 Cách đây gần 20 năm, tôi, anh Trịnh Công Sơn và chị Khánh Ly có ăn cơm với nhau vài lần. Qua câu chuyện giữa chúng tôi với nhau, tôi nhắc lại kỷ niệm với nhạc của anh Sơn và giọng ca của chị Khánh Ly suốt một thời tuổi trẻ của mình. Chúng tôi nói chuyện thân mật với nhau như những người trong gia đình. Trong câu chuyện anh Sơn có lặp lại một ý: Làm sao Nguyễn Công Khế tổ chức để Mai (tên thật của chị Khánh Ly) về hát ở Việt Nam ít nhất một lần. Tôi thấy ý anh Sơn thật hay, chị Mai có vẻ rất đồng tình và mong muốn bởi vì không có người nghệ sĩ nào mà lại không muốn hát trên quê hương mình cho chính đồng bào mình nghe. Trường hợp chị Khánh Ly thì lại càng như vậy. Chị sinh ra, lớn lên và hát cho cộng đồng, cho giới trẻ và được yêu mến là do chị hát ca khúc da vàng và một số bản nhạc tình ca do Trịnh Công Sơn viết gần như dành cho giọng ca thiên phú của chị.

“Mẹ ngồi ru con đong đưa võng buồn, đong đưa phận mình…

Mẹ ngồi trăm năm như thân tượng buồn để lại quê hương…”

Để lại một quê hương: chiến tranh tàn phá, con người nghi ngại với nhau, để lại một “ruộng đồng trơ gốc rạ, một đàn bò không luống cỏ…”, để lại một cuộc chiến tranh hủy diệt khốc liệt và nỗi đau chia cắt dân tộc.

***

Thời gian trôi qua rất nhanh. Mấy năm sau (ngày 1.4.2001) anh Sơn mất. Lúc đó, điện thoại của tôi reo lên. Tôi bật máy nghe: Có tiếng còi hụ của xe cứu thương và tiếng nấc nghẹn ngào của ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh. Tôi tắt máy và không dám nghe tiếp. Biết rằng, Trịnh Công Sơn đã giã từ thế giới con người mà ông đã từng đi qua “giữa nhân loại đớn đau” này.

2. Từ Gò Vấp, trên căn nhà của mẹ tôi, tôi vội vàng quay về 47C Phạm Ngọc Thạch. Thế là anh Trịnh Công Sơn đã ra đi thật rồi. Một kiếp người. Và trời đất đã trả lời cho anh câu hỏi này: “Còn bao lâu cho thiên thu xuống trên thân này…”. Anh đã đi và để lại cho đời một gia sản âm nhạc mà tôi không biết đến bao giờ người đời mới thôi cất lên tiếng hát tình yêu độ lượng và tha thiết lứa đôi, và tình yêu quê hương bất tử đến não lòng trong nhạc của anh.

***

Chiến tranh, hòa bình và quê hương. Tình yêu và thân phận con người. Đến bao giờ thì chúng ta mới giải đáp được ngôn ngữ thơ trong âm nhạc của ông. Ông hiểu thân phận con người từ khi đứa bé mới sinh ra đời “Trẻ thơ ơi, tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người” và ông rất nhân bản, hồn nhiên trong tình yêu, khi: “Yêu em yêu luôn tình phụ, yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ…” hay là “Xin em ngồi yên đó, tôi tìm cuộc tình cho”. Người phụ nữ nào được Trịnh Công Sơn yêu hoặc yêu Trịnh Công Sơn là một niềm hạnh phúc lớn bởi vì ông lý giải rằng: “Em rất xinh đẹp, tôi là người phải đi tìm tình yêu cho em chứ không phải em phải cất công đi tìm và dù rằng, em có phụ tôi thì tôi cũng chẳng bao giờ oán giận gì mà tôi có trách nhiệm đương nhiên yêu luôn mối tình phụ của em”.

Một con người như vậy, lại sống rất ngắn ngủi trên cõi trần gian giới hạn này. Và như tôi đã nói, đời sống ngắn ngủi của ông đã để lại cho chúng ta tình yêu của nghìn năm và những lời thơ bất hủ trong nhạc của ông dành cho hậu thế.

***

Làm thế nào để thực hiện cho giọng ca của Khánh Ly được về hát trên quê hương của mình như anh Sơn và chị Khánh Ly mong muốn?

Tôi đã đến miền Nam California, đến nhà gặp anh Nguyễn Hoàng Đoan (chồng chị) và Khánh Ly không dưới vài lần để bàn việc này.

Tất cả chúng tôi đều thích thú và mong muốn nguyện vọng này sớm thành hiện thực. Cách đây nhiều năm, tôi cũng đã thăm dò và nói ý kiến này với các thứ trưởng và Bộ trưởng Bộ Văn hóa và cả lãnh đạo của Bộ Công an có trách nhiệm trong việc này. Tôi nói cả ý định của tôi cũng như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn lúc sinh thời có tính đến show diễn này. Họ ủng hộ và nói rằng thời điểm nào thực hiện thì báo cho họ biết. Cách đây một vài năm thôi, tôi và gia đình anh Sơn (đại diện là chị Trịnh Vĩnh Trinh và chồng là anh Nguyễn Trung Trực) đã có ý định muốn thực hiện nguyện vọng này của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Chúng tôi đã bàn trực tiếp với chị Khánh Ly và anh Đoan để thực hiện và có vẻ như hai bên đã đồng ý hoàn toàn trên nguyên tắc. Tôi đã giao cho bên gia đình Trịnh Công Sơn lo phần liên lạc, lo việc thực hiện hợp đồng, còn chúng tôi lo phần tổ chức. Tập đoàn truyền thông Thanh Niên và tôi đã đặt và giao cho đạo diễn Quang Dũng (người mà tôi cho là hiểu Trịnh Công Sơn nhiều nhất trong giới đạo diễn) thực hiện 5 show ở Huế, Sài Gòn, Hà Nội, Cần Thơ, Đà Lạt, và tổ chức hát miễn phí cho sinh viên ở những thành phố lớn đúng với tinh thần cộng đồng của nhạc Trịnh Công Sơn. Đạo diễn Quang Dũng đã chuẩn bị báo cho tôi biết kinh phí tổ chức với một số tiền khá lớn dù lúc đó trong điều kiện chung kinh tế khó khăn nhưng chúng tôi vẫn quyết định làm. Tôi đã chuẩn bị mọi thứ về công tác tổ chức và tài chính và gửi email cuối cùng để vào lịch chương trình cụ thể. Một ngày sau, anh Đoan và chị Khánh Ly cảm ơn và báo cụ thể rằng, từ thời điểm đó (tháng 2 năm đó), chị Khánh Ly phải bận rất nhiều chương trình, hẹn lại một dịp khác.

Sau đó, tôi cũng được biết Bến Thành Audio của anh Huỳnh Tiết và bên Đồng Dao cũng là nhà tổ chức cho chị Khánh Ly về hát bây giờ và có một đơn vị phía bắc nữa cũng đã bàn thảo và có đơn vị đã có hợp đồng với chị Khánh Ly cho nên việc không thành.

Tôi nghĩ rằng việc gia đình anh Trịnh Công Sơn và chúng tôi muốn làm một show xuyên Việt với giọng hát của chị Khánh Ly dành cho đông đảo khán giả yêu mến nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và giọng ca của chị là một việc làm đầy trách nhiệm và tình cảm, chứ chưa bao giờ vì mục đích kinh doanh. Nếu chúng tôi công bố số kinh phí do đạo diễn Quang Dũng đề nghị lúc đó cho mọi người biết, thì sẽ thấy là chúng tôi chấp nhận một sự đầu tư nghiêm túc cho chương trình nghệ thuật này đến mức nào.

Hôm nay, viết những dòng này, tôi chào mừng sự trở về của giọng ca Khánh Ly hòa quyện vào những lời ca bất hủ của một nhạc sĩ mà tôi ngưỡng mộ, và những ca từ đẹp ấy thực sự đi theo tôi từ những ngày còn nhỏ tuổi đến bây giờ – những lời ca não nuột trong chiến tranh hay reo vui trên cánh đồng lúa của quê hương tôi chờ đón ngày thanh bình.

Chúc chị Khánh Ly thành công theo những gì chúng ta mong đợi.

 ( Nguồn : thanhnienonline)

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 13.04.2014

Nhớ anh Trần Độ

QTXM- Bạn đọc thân mến. NXB Tri Thức chỗ anh Chu Hảo vừa ấn hành cuốn sách mới của nhà văn Tô Nhuân Vỹ có đầu đề rất luận bàn : BẢN LĨNH VĂN HÓA. Đây là những vài viết, tiểu luận nhà văn viết trong nhiều năm qua, rất tâm huyết, gửi NXB nào họ cũng “sợ”, may có TRi THức cuốn sách mới đến với bạn đọc. QTXM sẽ giới thiệu một số bài trong cuốn sách này để bạn đọc cùng chia sẻ. Bài do tác giả gửi cho QTXM

 

Nhớ anh Trần Độ

 

Tô Nhuận Vỹ

 

Hồi đó (khoảng 1983-1984) khu sáng tác Đại Lải vừa hoàn thành và bắt đầu nhận một số văn nghệ sĩ tới ngồi sáng tác. Đó là một vùng cảnh quan trung du tuyệt đẹp với những biệt thự xây trên các triền đồi cạnh bên hồ nước xanh ngắt bao la, chỉ cách Hà Nội chừng một giờ xe chạy. Các biệt thự cách nhau vừa đủ để người ở biệt thự này không làm gì ảnh hưởng tới người ở biệt thự kia, nhất là khi họ đang “nhập thần” sáng tác. Ngay tại mỗi biệt thự có hai căn cùng vách nhưng riêng biệt. Mỗi văn nghệ sĩ,nếu được mời, sẽ sử dụng một căn gồm phòng ngủ,phòng làm việc, phòng ăn cùng khu tắm giặt vệ sinh khép kín. Đến giờ ăn, theo yêu cầu cụ thể của người sáng tác, nhà bếp sẽ phục vụ tận phòng riêng, vì người thì thức cả đêm để viết nên ngủ muộn ăn muộn, người thì như nhân viên hành chánh viết ngày ngủ đêm… (Chứ không như bây giờ, văn nghệ sĩ cả đoàn văn thơ họa nhạc nhiếp ảnh… đi chung ở chung trong một căn trong một nhà, giờ giấc như trại lính, ăn cùng giờ ngủ cùng giờ. Mà cũng gọi là đi sáng tác. Không biết sáng tác kiểu gì mà kỳ cục).Tiêu chuẩn ăn ở đây được nhà nước đài thọ hoàn toàn, ăn bữa nào cũng như đại tiệc, anh em bên quân đội cho biết còn hơn tiểu táo cấp tướng. Mà người được mời đến đây được cung phụng tối thiểu một tháng, có khi hơn, vì thường là người có công trình “nặng ký” (chứ không như bây giờ chỉ mười lăm ngày cùng với cả một đoàn ầm ào).

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 13.04.2014

CHIẾN SĨ – NGHỆ SĨ VÀ HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM

BÙI MINH QUỐC

 CHIẾN SĨ – NGHỆ SĨ VÀ HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM

(Mấy điều tâm sự cùng các đồng nghiệp hội viên trong Hội nhà văn Việt Nam)

 

               Cặp từ “Chiến sĩ - Nghệ sĩ” là tôi mạn phép mượn tên một bài của nhà văn cách mạng Nguyễn Khải viết lúc gần cuối đời đăng trên 2 số báo Văn Nghệ 17, 18 ngày 29.4/5.5.2007(về cái danh xưng “nhà văn cách mạng”, “văn học cách mạng” rồi một dịp khác sẽ phải bàn cho ra lẽ nội hàm của hai chữ “cách mạng”, ở đây tôi cứ dùng theo các nhà lý luận chính thống).Rõ ràng là cố ý, Nguyễn Khải đặt “chiến sĩ” lên trước “nghệ sĩ”, ngược hẳn với các văn kiện của đảng cầm quyền, của Hội nhà văn và các nhà lý luận chính thống suốt bao năm ròng vẫn luôn tung hô và truyền giảng : “Nghệ sĩ – Chiến sĩ”.Trong bài viết, qua người thật việc thật là chính mình và bậc đàn anh Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải chua chát thú nhận : từ cái phần đời chiến sĩ rất đẹp xông pha chiến đấu (với một niềm xác tín chân thành) cho những giá trị nhân văn cao quý trong quá khứ thời chiến, đến thời bình thì tự đánh tụt hạng đời mình thành một thứ công chức tẻ nhạt thảm hại, dù hàng ngày vẫn trưng ra cái nhãn hiệu “Nghệ sĩ – Chiến sĩ”, dù nắm giữ cương vị lãnh đạo (tổng thư ký và phó tổng thư ký) Hội nhà văn, một tổ chức kế thừa và phát triển truyền thống chiến đấu vì dân vì nước của Văn hoá Cứu quốc ra đời trước Cách mạng Tháng Tám 1945 mà Nguyễn Đình Thi là thành viên nòng cốt chủ trì sáng lập.

(Đọc tiếp…)

Luận văn Nhã Thuyên: tiếng nói của một số người trong cuộc

Nguyễn Hiếu Quân thực hiện

 

 

       Luận văn Thạc sĩ “Vị trí kẻ bên lề: Thực hành thơ của nhóm Mở Miệng từ góc nhìn văn hóa” của Đỗ Thị Thoan (dưới đây gọi tắt theo tên phổ biến hơn là Luận văn Nhã Thuyên – LVNT) đang được dư luận quan tâm đặc biệt, nhất là khi Luận văn này được một Hội đồng thẩm định lại và sau đó Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (ĐHSP HN) ra quyết định số 667/QĐ-ĐH SP HN không công nhận Luận văn này. Nhận thấy sự kiện LVNT có nhiều vấn đề cần được làm sáng tỏ, chúng tôi đã có cuộc phỏng vấn với một số người trong cuộc, bao gồm: PGS.TS Nguyễn Thị Bình (Khoa Ngữ Văn, ĐHSP HN) – giáo viên hướng dẫn khoa học luận văn; và hai thành viên trong vai trò phản biện thuộc Hội đồng chấm LVNT: PGS.TS Ngô Văn Giá (Đại học Văn hóa HN), TS. Chu Văn Sơn (Khoa Ngữ Văn, ĐHSP HN). Cuộc phỏng vấn này, như độc giả thấy, có thể coi là sự lên tiếng chính thức đầu tiên trước công luận, điều vốn rất được nhiều người chờ đợi, của những người không chỉ liên quan, hiểu rõ LVNT mà còn có tri kiến nhất định về đời sống văn học, văn hóa, giáo dục Việt Nam hiện nay. Chúng tôi trân trọng cảm ơn sự hợp tác chân thành, nghiêm túc của các ông/bà có tên trên và đồng thời, hi vọng độc giả đón nhận bài phỏng vấn này trong tinh thần đối thoại thấu đáo, đẹp đẽ.

            Trước khi theo dõi cuộc phỏng vấn, để có thông tin bao quát, xin được nhắc lại một số diễn biến xoay quanh LVNT:

            – Đỗ Thị Thoan, bút danh Nhã Thuyên, sinh năm 1986, tốt nghiệp Khoa Ngữ Văn – ĐHSP HN năm 2007, học Cao học (Thạc sĩ) chuyên ngành Văn học Việt Nam hiện đại tại Khoa Ngữ Văn – ĐHSP HN khóa 18 (2009 – 2010)

            – Ngày 2/12/2010, Trường ĐHSP HN ra Quyết định số 7460/QĐ – ĐHSP HN về việc thành lập Hội đồng chấm luận văn Thạc sĩ cho học viên Đỗ Thị Thoan. Đề tài: “Vị trí kẻ bên lề: Thực hành thơ của nhóm Mở Miệng từ góc nhìn văn hóa”. Hội đồng chấm gồm:

PGS.TS Nguyễn Văn Long (ĐHSP HN) – Chủ tịch Hội đồng

TS. Chu Văn Sơn (ĐHSP HN): Phản biện

PGS.TS Ngô Văn Giá (ĐH Văn hóa): Phản biện

PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp (Viện văn học): Ủy viên

TS. Nguyễn Văn Phượng (ĐHSP HN): Thư kí

            Tác giả Luận văn đã bảo vệ thành công đề tài, nhận số điểm tuyệt đối (10/10)

            – Tháng 3 năm 2011, Trường ĐHSP HN ra Quyết định số 676/QĐ – ĐHSP HN cấp bằng Thạc sĩ khoa học Ngữ văn cho Đỗ Thị Thoan, số hiệu bằng 7437.

              – Cuối tháng 3/2013, bắt đầu xuất hiện một số bài phê bình gay gắt LVNT trên báo chí, bắt đầu với bài của Chu Giang Nguyễn Văn Lưu trên báo Văn nghệ Tp HCM, tiếp đó là loạt bài có chung giọng điệu xuất hiện trên nhiều báo (giấy) khác nhau (trong bối cảnh báo chí Việt Nam, đó là biểu hiện của chính thống). Cùng thời điểm, cũng có một số bài tỏ tinh thần bảo vệ LVNT, coi việc đả kích LVNT là biểu hiện của sự thiếu tự do học thuật, của phê bình chỉ điểm, phê bình chỉnh huấn. Loạt bài này chủ yếu đăng tải trên diễn đàn mạng. Từ đây đến hết năm 2013, tạm coi là giai đoạn “tranh luận về LVNT”.

              – Ngày 5/3/2014, Trường ĐHSP HN có kết luận và đề nghị của Hội đồng thẩm định luận văn Thạc sĩ Khoa học Ngữ văn của Đỗ Thị Thoan. Hiện “kết luận và đề nghị” này chưa được công bố. Theo nguồn thông tin được đăng tải, Hội đồng thẩm định này bao gồm:

              PGS.TS Đoàn Đức Phương (ĐH KHXH-NV): Chủ tịch Hội đồng

              GS. Đặng Thanh Lê (ĐHSP HN, đã nghỉ hưu)

              PGS.TS Phan Trọng Thưởng (Viện Văn học)

              PGS.TS Lê Quang Hưng (ĐHSP HN)

              PGS.TS Phạm Duy Đức (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh)

              – Ngày 11/3/2014, Trường ĐHSP HN ra Quyết định số 667/QĐ – ĐHSP HN về việc không công nhận luận văn Thạc sĩ khoa học Ngữ văn của Đỗ Thị Thoan.

              -  Ngày 14/03/2014, ĐHSP HN ra Quyết định số 708/QĐ – ĐHSP HN về việc thu hồi bằng Thạc sĩ khoa học Ngữ văn của Đỗ Thị Thoan.

              – Ngày 30/03/2014, Nhã Thuyên đã công bố Hồ sơ bảo vệ Luận văn năm 2010 trên internet, blog cá nhân[1]. Đến đây, tạm coi LVNT đã thuộc về tài sản công cộng và sự đánh giá, bình luận sau đó về Luận văn, sự kiện LVNT chắc chắn vượt ra khỏi phạm vi một cá nhân, đơn vị cụ thể.

+ + +

             – Nguyễn Hiếu Quân (NHQ): Trước tiên xin hỏi PGS.TS  Nguyễn Thị Bình (NTB): xin bà cho biết qui trình thực hiện một luận văn Thạc sĩ ở trường ĐHSP HN trải qua những bước chính nào, từ khi học viên bắt đầu đến khi luận văn được bảo vệ?

- NTB: Sau khi phân công người hướng dẫn (thường là gần cuối giai đoạn học viên học các chuyên đề), học viên làm việc với người hướng dẫn để xác định đề tài luận văn, tiến hành các thao tác đầu tiên như làm thư mục tư liệu cần đọc, tìm kiếm và bao quát tư liệu, hình thành đề cương. Tiếp đó đề cương sẽ được thông qua ở Hội đồng bộ môn. Nếu Hội đồng kết luận là đề tài có thể triển khai thì học viên sẽ báo cáo lại với người hướng dẫn các ý kiến đóng góp của Hội đồng, thống nhất phương án chỉnh sửa và triển khai đề tài. Khi văn bản hoàn thành, người hướng dẫn thấy đủ điều kiện đua ra bảo vệ sẽ có văn bản đề nghị với Trưởng Bộ môn. Trưởng Bộ môn lập danh sách Hội đồng chấm Luận văn (gồm 3 thành viên là người của ĐHSPHN, 2 ngoài trường. Trong 2 phản biện, phải có ít nhất 1 người ngoài trường. Tất cả thành viên Hội đồng đều phải có học vị Tiến sĩ trở lên và phải đúng chuyên ngành, hoặc chuyên ngành gần gũi). Danh sách Hội đồng này được Ban chủ nhiệm khoa ký duyệt. Học viên nộp bản lưu luận văn cho thư viện trường, lấy giấy biên nhận của thủ thư rồi qua Phòng Sau đại học hoàn tất thủ tục bảo vệ. Hồ sơ bảo vệ được trình lên Ban giám hiệu, khi có Quyết định của Hiệu trưởng, Hội đồng chấm luận văn mới ấn định thời gian bảo vệ. Quá trình làm thủ tục được quy định là 10 ngày.

            -NHQ: Như vậy luận văn về Mở Miệng đã được một hội đồng duyệt đề tài thông qua. Xin hỏi, trong quá trình thực hiện đề tài về Mở Miệng, bà và học viên có nhận được những phản biện trái chiều nào từ đơn vị đào tạo hay những người có cùng chuyên môn không?

-NTB: Đề tài được cho ban đầu là ¨Hiện tượng bên lề hóa trong thơ Việt đương đại¨. Tại buổi thông qua đề tài, Hội đồng bộ môn ghi nhận tính văn học sử, tính thời sự của đề tài phù hợp với chuyên ngành Văn học Việt Nam hiện đại. Tuy nhiên tên đề tài còn hơi mơ hồ và đối tượng khảo sát quá rộng. Hội đồng góp ý học viên nên xác định rõ hơn hướng tiếp cận và phạm vi khảo sát cũng nên thu hẹp lại cho phù hợp với quy mô một luận văn Thạc sĩ. Sau đó chị Đỗ Thị Thoan và người hướng dẫn đã trao đổi, đi đến thống nhất chỉnh lại theo góp ý của Hội đồng bộ môn và đề tài chính thức là ¨Vị trí kẻ bên lề: Thực hành thơ của nhóm Mở miệng từ góc nhìn văn hóa¨. Khi đưa ra bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn Thạc sĩ do trường ĐHSPHN thành lập vào tháng 12/2010, tác giả luận văn còn nhận được thêm các ý kiến đóng góp của các thành viên Hội đồng, nhưng thời điểm ấy, theo quy định, học viên phải nộp bản luận văn cho thư viện, lấy giấy biên nhận mới được hoàn tất thủ tục bảo vệ nên những ý kiến đóng góp trong buổi bảo vệ sẽ chỉ được tiếp thu tại chỗ chứ không được thể hiện ở bản lưu trên Thư viện trường. Từ năm 2012 trở đi, trường mới điều chỉnh lại quy trình (Học viên bảo vệ xong, chỉnh sửa văn bản theo góp ý của Hội đồng, xin xác nhận rồi mới nộp thư viện).

unnamed

TS Chu Văn Sơn

            -NHQ: Xin hỏi PGS.TS Ngô Văn Giá (NVG) và TS Chu Văn Sơn (CVS): xin hai ông cho biết một cách ngắn gọn việc mình đã tham gia chấm LVNT như thế nào? Hội đồng chấm LVNT mà các ông là thành viên đã thống nhất cho điểm tuyệt đối (10/10). Cá nhân hai ông đã dựa trên những tiêu chí nào để đưa ra số điểm đó?

-NVG: Tôi lâu nay vẫn là cộng tác viên tham gia đào tạo (hướng dẫn và chấm luận văn/luận án)  của hai Bộ môn: Văn học Việt Nam hiện đại và Lý luận văn học thuộc khoa Ngữ văn- ĐHSPHN. Đây là việc làm bình thường và đều đặn trong nhiều năm nay của tôi ở cơ sở đào tạo này. Còn việc tôi cho điểm 10 căn cứ vào 3 yếu tố: chất lượng luận văn, năng lực trình bày/ bảo vệ luận văn, cuối cùng là triển vọng nghiên cứu khoa học của tác giả luận văn.

-CVS: Tôi theo dõi sự trưởng thành của bạn Thoan với cả một quá trình khá dài: từ khi Thoan còn là học sinh giỏi của trường chuyên Nguyễn Trãi (Hải Dương), đến lúc vào khoa Văn này ở bậc học Cử nhân, rồi bậc học Cao học. Theo dõi cả chuyện viết lách của Thoan nữa. Tôi thấy Thoan là trường hợp hiếm, một học viên tài năng, một cây bút đầy triển vọng. Tôi tham gia hội đồng chấm luận văn của Thoan  trong vai trò phản biện. Nội dung phản biện chính của tôi thì đã thể hiện ở bản nhận xét, mà đến nay, nó cũng đã được bạn Thoan công bố trong bộ hồ sơ “bạch hóa” chuyện bảo vệ của bạn ấy. Ở đây, bạn hỏi, tôi chỉ khẳng định lại thôi. Quan điểm của tôi là tôn trọng tự do học thuật. Đối với khoa học chân chính thì không có gì là cấm kị cả. Tất cả mọi vấn đề của đời sống văn học cần phải được nghiên cứu, kể cả hay lẫn dở. Là nghiên cứu khoa học (chứ không phải làm anh tuyên truyền) thì hay cũng cần phải biết hay thế nào, vì sao hay; dở cũng phải biết dở thế nào, vì sao dở. Né tránh là phi khoa học, là trái với sứ mệnh của khoa học. Do đó, tôi thấy nhóm Mở Miệng là hiện tượng rất cần được nghiên cứu. Và, với tinh thần tôn trọng tự do học thuật, tôi ủng hộ việc lựa chọn đối tượng nghiên cứu của bạn Thoan. Còn việc đánh giá một luận văn khoa học trong học đường nói riêng, một công trình khoa học văn học nói chung, tôi nghĩ, đã là một người làm khoa học, một người thầy thực sự, thì không bao giờ được lấy quan điểm riêng của mình ra để áp đặt cho tác giả. Cho nên, dù quan điểm của tác giả công trình chưa chắc đã đồng quan điểm với mình, tôi vẫn tôn trọng, miễn là sự luận giải của tác giả về vấn đề đặt ra là nghiêm túc, có căn cứ, có lí lẽ, có bằng chứng xác đáng. Một hệ thống luận giải nghiêm túc, dù thuộc khuynh hướng nào, cũng thể hiện một cách nhìn, một cách tiếp cận. Khoa học cần nhiều cách nhìn, nhiều cách tiếp cận khác nhau về cùng một đối tượng. Bạn Thoan đã chọn một cách tiếp cận tương đối hiện đại (đối với học thuật ở Việt Nam) và đã luận giải một cách xuất sắc theo hướng tiếp cận ấy. Qua bản luận văn, có thể thấy bạn Thoan đây đó hãy còn cực đoan trong nhãn quan và nhiệt tình, nhưng không thể không thấy bạn ấy là người có bản lĩnh khoa học dám dấn thân vào những vấn đề phức tạp, cập nhật tốt các lí thuyết mới mẻ, sắc sảo trong tư duy, nhất quán trong việc giải quyết vấn đề. Đó là những khía cạnh của một năng lực xuất sắc đối với một học viên. Vì thế, tôi nhất trí với ý kiến chung của toàn thể hội đồng.

            -NHQ: LVNT, thực tế, không phải nghiên cứu đầu tiên về nhóm Mở Miệng[2]. Theo hai ông, đâu là điểm khác biệt cơ bản trong nghiên cứu của Nhã Thuyên và các bài tiểu luận, phê bình này?

            -NVG: Điểm khác biệt nhất ở luận văn này là tác giả đã tiếp cận dựa trên một khung lý thuyết nghiên cứu mới: lý thuyết diễn ngôn mà trong trường hợp này, hạt nhân của nó là những tìm hiểu và cắt nghĩa những yếu tố ngoại quan chi phối/quy định việc hình thành diễn ngôn thơ của nhóm Mở Miệng. Luận văn được tiến hành một cách có hệ thống, tương đối toàn diện về đối tượng nghiên cứu. Trong khi ở các tiểu luận khác, mỗi tác giả lựa chọn một/vài vấn đề mang tính cục bộ của nhóm thơ này.

           – CVS: Có lẽ đây là lần đầu tiên có một công trình đặt ra nghiên cứu về nhóm Mở Miệng một cách trực diện và toàn diện từ góc nhìn văn hóa theo tinh thần của thuyết Tâm – Biên (Trung tâm – Ngoại biên).

            – NHQ: Như vậy, vấn đề có lẽ ở chỗ: chỉ đến khi Mở Miệng đi vào nhà trường, đi vào nghiên cứu hàn lâm ở bậc sau đại học, thì nó trở nên bị “cấm kị” và gây ra những hệ lụy ngoài khoa học. Có thể coi đây là ví dụ cho thực tế “cấm kị” trong nghiên cứu khoa học xã hội không, thưa quí vị?

-NVG: Đây mới là điểm “tréo ngoe” trong hoạt động nghiên cứu khoa học ở trường đại học. Đã là nghiên cứu, không nên có chuyện khoanh vùng đối tượng nghiên cứu. Nếu như vậy, hoạt động nghiên cứu sẽ có lỗi và lạc hậu đối với thực tiễn luôn luôn sinh động và phức tạp.

- CVS: Thì sự thật đã rõ như ban ngày, gọi là chuyện “cấm kị”, hay là chuyện thiếu tự do học thuật thì cũng thế.

            -NHQ: Thưa PGS.TS Nguyễn Thị Bình, là người trực tiếp hướng dẫn học viên, bà có nhận xét gì về thái độ làm việc cũng như tinh thần khoa học của học viên?

            -NTB: Tôi biết Đỗ Thị Thoan khi chị là sinh viên năm thứ 4 tại khoa Ngữ văn dù trước đó có nghe nhiều đồng nghiệp khen năng lực vượt trội của sinh viên này. Khi tiếp xúc tôi thấy bạn ấy khá hồn nhiên, thậm chí vụng về trong giao tiếp nhưng niềm say mê văn chương, sự sắc sảo trong tư duy học thuật của Thoan mới là phẩm chất nổi bật. Bạn ấy có sức đọc đáng nể, tiếng Anh khá tốt, luôn muốn đi đến cùng một vấn đề nào mà mình quan tâm. Có thể nói Thoan là một trong số những học trò có khả năng làm việc độc lập, có tinh thần khoa học nghiêm túc nhất mà tôi từng hướng dẫn.

            -NHQ: Thưa TS. Chu Văn Sơn, là người dành nhiều năm nghiên cứu thơ Việt Nam hiện đại, cá nhân ông có nhận xét gì về thơ ca của nhóm Mở Miệng? Việc “thực hành thơ” của nhóm Mở Miệng – như cách gọi của Nhã Thuyên, theo ông, có thể đánh giá như thế nào trong bối cảnh văn hóa văn học Việt Nam đương đại?

            -CVS: Tôi cho rằng một nền văn học bình thường là nền văn học phải tạo được sân chơi cởi mở cho nhiều khuynh hướng sáng tạo, nhiều trường phái, nhiều nhóm sáng tạo cùng nảy nở. Và mọi khuynh hướng, mọi trường phái, mọi nhóm ấy có quyền tồn tại bình đẳng. Còn giá trị mà mỗi khuynh hướng, mỗi nhóm ấy tạo ra hay dở thế nào sẽ tùy thuộc sự đánh giá của công chúng nghệ thuật và sự sàng lọc của thời gian. Vì thế, dù không đánh giá cao nhóm Mở Miệng, nhưng tôi không xem sự xuất hiện của nhóm Mở Miệng trong đời sống văn học là hiện tượng bất thường.

            -NHQ: Nhìn vào những bản nhận xét của các thành viên trong Hội đồng chấm LVNT thì, về cơ bản, LVNT đã được hội đồng chấm cũng như nhiều nhà chuyên môn trong đơn vị đào tạo cho rằng tốt, đủ cơ sở và điều kiện để công nhận học vị Thạc sĩ. Trường ĐHSP đã ra Quyết định cấp bằng Thạc sĩ. Nhưng gần 3  năm sau, LVNT lại bị/được đưa ra bàn luận, xem xét lần nữa. Theo quí vị, đâu là nguyên nhân chính của việc này?  Là những người giảng dạy lâu năm ở đại học, quí vị đã từng biết có trường hợp luận văn Thạc sĩ nào được “xem xét nguội” như vậy chưa? Đã có nhiều ý kiến cho rằng, LVNT có tư tưởng phản động, phản văn hóa. Từ quan điểm của quí vị, do đâu lại có nhận xét đó?

            - NVG: Bàn chuyện khoa học bằng những chuyện ngoài khoa học là một căn bệnh cũ tưởng đã được thanh toán, nay lại tái phát.

            -CVS: Hiện tượng lập một hội đồng để xem xét lại luận văn thạc sĩ theo như cung cách vừa rồi (bạn gọi là “xem xét nguội”, còn tôi thì gọi là “hội đồng nặc danh”) trong lịch sử Đại học Việt Nam, có thể khẳng định là: xưa nay chưa từng có. Có thể đưa vào mục “Chuyện lạ đó đây” của truyền thông đại chúng. Bạn hỏi do đâu có những qui kết rằng luận văn kia là có “tư tưởng phản động” và “phản văn hóa” à, thì tất nhiên, xét đến cùng, vẫn là do não trạng của người đưa ra nhận xét đó rồi. Cả cái ý kiến về “giải thiêng” nữa, tôi cũng cho là do vậy. Tôi nghĩ, một đầu óc bình thường chứ chưa cần đến đầu óc giáo sư, cũng phải hiểu một sự thật mười mươi: làm sao mà giải thiêng được, nếu đó là thiêng thật. Người ta chỉ có thể giải được cái thiêng giả, thiêng ảo thôi. Cái gì thật sự thiêng tất sẽ tồn tại, bất chấp cả những nỗ lực “tâng hàng” lẫn “dìm hàng” của người đời. Nếu thật thiêng thì sao phải sợ giải nhỉ?

            -NHQ: Thưa PGS.TS Nguyễn Thị Bình, khi LVNT bị nhận xét như vậy, cá nhân bà và học viên đã có những đối thoại nào về chuyên môn không? Đơn vị đào tạo có tổ chức những thảo luận nào về luận văn này không?

-NTB: Tôi và bạn Thoan đã chờ đợi một cuộc đối thoại dân chủ, cởi mở về học thuật, điều đó có ích không chỉ cho chúng tôi mà cho cả giới nghiên cứu khoa học xã hội-nhân văn. Tiếc là đến nay một diễn đàn như vậy vẫn chưa có. Bạn thấy đấy, báo chí chính thống hầu như chỉ đăng ý kiến phê phán, phủ nhận. Cuộc họp của Hội đồng khoa học khoa Ngữ Văn mở rộng, chỉ mình tôi có mặt với tư cách thành viên Hội đồng khoa học khoa đồng thời là người hướng dẫn luận văn. Theo đề nghị của chủ tọa (Chủ nhiệm khoa), tôi giải trình về quy trình thực hiện luận văn và về quan điểm của tôi đối với đề tài nghiên cứu mà chị Thoan lựa chọn. Ý kiến các nhà khoa học trong Hội đồng mở rộng của khoa được ghi thành biên bản nhưng sau cũng không thấy công bố. Khá nhiều cán bộ của Khoa Ngữ văn đến giờ vẫn không thật sự nắm được sự việc này.

unnamed

PGS.TS Ngô Văn Giá

            -NHQ: Trường ĐHSP HN đã ra quyết định thành lập Hội đồng chấm lại LVNT và kết luận của Hội đồng này là cơ sở để trường không công nhận LVNT, tước bằng Thạc sĩ của Nhã Thuyên. Cá nhân quí vị được thông báo về quyết định này và biết rõ quá trình làm việc của Hội đồng chấm lại này không?

            -NVG: Chúng tôi hoàn toàn không được biết họ thành lập từ khi nào, và họ làm những gì. Chỉ đến khi chuyện vỡ lở ra, chúng tôi mới biết có chuyện đó.

            – CVS: Tôi cũng thế. Khi dư luận đã cháy rồi, dư luận đã điểm từng mặt thành viên đó rồi, tôi mới biết. 

            – NHQ: Việc không được Hội đồng chấm lại này cho biết những kết luận khoa học của họ, dẫn đến có hai đánh giá hoàn toàn khác biệt về LVNT, khiến quí vị có suy nghĩ, cảm xúc gì? Cho đến thời điểm này, đánh giá của quí vị về LVNT có thay đổi nào không?

            -NVG: Đầu tiên là ngạc nhiên, sau lấy làm khó hiểu tại sao họ lại chấp nhận tham gia Hội đồng một cách thiếu cẩn trọng như vậy. Nó không có cơ sở pháp lý để thành lập Hội đồng, theo đó là phủ quyết điểm luận văn và tước bằng thạc sĩ của học viên.

            – CVS: Tôi thì không ngạc nhiên, khi biết các thành viên hội đồng là những ai. Còn, giờ đây, nếu phải đánh giá lại LVNT, tôi vẫn dùng bản nhận xét đã trình hội đồng trước thôi.

            – NHQ: Như vậy, đến thời điểm này, cả hai Hội đồng chấm LVNT vẫn chưa được đối thoại khoa học với nhau. Là những người bị gạt ra ngoài cuộc, quí vị có ý kiến, đề đạt gì không?

            -NVG: Các thành viên Hội đồng cũ cũng đã gửi đơn kiến nghị lên ông Hiệu trưởng ĐHSPHN để yêu cầu hai điểm: cho biết cơ sở pháp lý của những việc làm trên đối với học viên, và đề nghị tổ chức cuộc đối thoại giữa hai Hội đồng để đảm bảo tính công khai, dân chủ, minh bạch trong học thuật và đào tạo.

            - NHQ: Xin hỏi quí vị ở tư cách nhà giáo, nhà nghiên cứu trong nhà trường đại học: Sự kiện LVNT với những kết quả như quí vị thấy liệu có những ảnh hưởng gì đến tinh thần học tập, nghiên cứu của học viên, đặc biệt là học viên sau đại học, vốn là những người nhất thiết phải bước vào con đường nghiên cứu độc lập? Rất nhiều trí thức đã lên tiếng về “tự do học thuật” ở đại học, quí vị nhận thấy điều này nên/phải được hiểu và thực hiện như thế nào?

            -NVG: Về việc này, đáng lo ngại ở chỗ, nếu không được chấn chỉnh kịp thời, nó sẽ thành một tiền lệ rất nguy hiểm trong hoạt động nghiên cứu và đào tạo ở các trường đại học. Nó tạo nên sự hoang mang cho những học viên muốn theo đuổi công việc học tập, nó gây ra tâm lý chán nản, buông xuôi cho đội ngũ giáo viên, đồng thời là các nhà nghiên cứu trong các trường đại học. Nghiên cứu khoa học là một công việc khổ ải, lương các giáo viên đại học đang còn rất thấp. Nếu làm khoa học khổ ải như vậy, đã không được khích lệ, động viên thì chớ, lại còn chuốc những hệ lụy khó lường thì làm sao hy vọng có thể tạo ra niềm hứng khởi cho các nhà nghiên cứu dốc tâm sức cho khoa học được!

            – CVS: Tôi cho rằng sự hô hào về một nền đại học Việt Nam hội nhập và phát triển có thể sánh vai với các nền đại học lớn trên thế giới sẽ là xa vời, nếu cái tối thiểu để thúc đẩy đại học là tự do học thuật không được tôn trọng.

            -NHQ: Thưa PGS.TS Nguyễn Thị Bình, bà được dư luận biết đến nhiều hơn sau khi gửi “Đơn kêu cứu” trên báo Kinh doanh và Pháp luật về việc trường ĐHSP HN ra quyết định cho bà về hưu trước thời hạn mà không rõ lí do. Nhiều người nghĩ rằng đây là hệ lụy do bà đã hướng dẫn LVNT. Bà có suy nghĩ vậy không? Việc “kêu cứu” của bà đang đến đâu và có những hồi đáp nào chưa?

-NTB: Tôi buộc phải gửi đơn kêu cứu đến báo chí sau 4 lần gửi đơn kiến nghị lên lãnh đạo trường ĐHSPHN về việc trường ra quyết định tôi nghỉ hưu sớm gần 5 năm so với Nghị định 141 của Nhà nước và vì ở trường tôi cho tới nay chưa từng có một PGS.TS nào bị đối xử như thế cả. Sau đơn thứ 2 tôi được ông Đăng Xuân Thư, Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng trả lời miệng rằng lý do tôi phải nghỉ hưu sớm là do việc tôi hướng dẫn luận văn Th.S của Đỗ Thị Thoan làm ảnh hưởng đến uy tín của trường. Tôi không chấp tán thành câu trả lời này và tiếp tục gửi đơn kiến nghị lần 3 rồi lần 4. Quá thời hạn trả lời đơn thư, tôi mới tìm đến báo. Do sự tình cờ, tôi đã gặp và được ông Tổng biên tập báo Kinh doanh và Pháp luật nhận đăng đơn kêu cứu của tôi. Ngay sau khi báo ra, tôi nhận được Thông báo của trường ĐHSPHN do Trưởng phòng Tổ chức cán bộ là PGS.TS Phan Thanh Long kí, nội dung: ¨Hiện tại trường không có nhu cầu gia hạn hợp đồng lao động với bà¨. Đây rõ ràng là hệ lụy từ vụ việc LVNT. Họ thừa biết bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại của tôi đang thiếu cán bộ trầm trọng và khoa Ngữ văn đã có công văn đề nghị trường kéo dài hợp đồng lao động với tôi theo luật định.

            NHQ: Xin trân trọng cảm ơn quý vị đã tham gia cuộc phỏng vấn. Chúc quý vị dồi dào sức khỏe, vững vàng trong học thuật để góp phần đào tạo những người nghiên cứu trẻ tuổi bước vào con đường khoa học đầy đam mê nhưng cũng không ít những khổ ải này.                                                          

 Hà Nội, ngày 6/4/2014

NHQ

                                                                       


[1] Về Hồ sơ bảo vệ luận văn, xem ở đây:

http://junglepoetry.wordpress.com/2014/03/30/ho-so-bao-ve-luan-van-2010/

Về toàn văn LVNT, một địa chỉ tin cậy để xem:

http://kesach.org/archives/954

[2] Có thể xem một số bài viết:

-  Đoàn Cầm Thi, Về khoan cắt bê tông, http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=5759&rb=0101, cập nhật 11.11.2005

- Đoàn Cầm Thi, Lại về khoan cắt bê tông, http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=6109&rb=0101, cập nhật ngày 23.12.2005

- Đoàn Cầm Thi, Thơ và Lề trong xã hội Việt Nam đương đại, http://www.tienve.org/home/activities/viewWorkOfTheMonth.do?action=viewArtwork&artworkId=5898, 2007

- Inrasara, Khủng hoảng thơ trẻ Sài Gòn,

http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=3297, 2005

- Nguyễn Hưng Quốc, Giễu nhại như một ý niệm,

http://www.tienve.org/home/music/viewMusic.do;jsessionid=00D70FD504F21EA527E8A429854A01D1?action=viewArtwork&artworkId=3438

(nguồn : trannhuong.com)

(Đọc tiếp…)

 GẶP ĐẶNG VĂN VIỆT- “HÙM XÁM ĐƯỜNG SỐ 4″

QTXM- Bạn đọc thân mến. Bất ngờ nhất sáng hôm nay là Ngô Minh được gặp một người lừng danh tên tuổi trong cuộc kháng chiến chống Pháp là ông Đặng Văn Việt. Ông là chiến sĩ quân giải phóng đầu tiên của Trung đoàn 101 Huế, là học viên TRường Thanh niên tiến tuyến Huế từng hạ cờ ba que, cắm cờ đỏ vao vàng lên Kỳ đài Phu văn Lâu trong cách mạng tháng Tám 1945 và là “anh hùng đường 4″, “Hùm xám đường số 4″ làm cho quân Pháp kinh hồn bạt vía trong chiến dịch biên giới Cao Bắc Lạng.

 Ông tự xưng là “Anh hùng dân phong”, là “người Hế gốc Nghệ An”. Năm nay ông 95 tuổi nhưng vẫn rất nhanh nhẹn và minh mẫn. Ông được UBND tỉnh Thừa Thiên Huế mời vào dự Festival Huế 2014. Nhờ các anh trong Ban liên lạc Trường Thanh niên tiền tuyến mời, tôi mới được gặp con người huyền thoại này.Ông tự xuất bản cuốn hồi ký ” Những nốt nhạc thăng trầm một cuộc đời” dày 600 trang. Ông đã viết 15 đầu sách trong đớ có cuốn “Đường số 4 rực lửa” được Giải thưởng Văn học năm 2000 của Ủy Ban toàn quốc VHNT Việt Nam. Tôi vinh dự được ông tặng  những cuốn sách tâm huyết của mình.

Tiếc là  ngominhblog.wordpress.com bị lỗi không lên ảnh được. Mời các bạn sang ngominh.vnweblogs.com để xem ảnh ông Đặng Văn Việt.

Đăng bởi: Ngô Minh | 11.04.2014

ĐÊM

Ngô Minh

           

                    ĐÊM

 

mắt chong đêm

mình như khách lạ

quờ quạng tìm

đêm biến hình lập thể

 

nằm với rỗng không bốn phía

cú mèo gào kinh nguyện kỳ đài

dằng dặc nghe rồi thuộc

cú mèo khạc những miếng đêm sền sệt

 

chưa tới giờ tụng niệm

sư thầy đang mơ

ta ngồi dậy thét vào đêm

không át được tiếng cú mèo

tiếng ta biến thành hột đêm quánh đặc

 

ta bỗng nghe tim mình

trống trận

có điều gì hối thúc dọc sống lưng

 

đêm ơi, ai bảo đêm là nguồn cội

đêm ấp nụ

đêm bào thai

đêm bình yên linh hồn nương náu

sao ta một mình thao thức

sao ta một mình lay gọi

lối nào tới ban mai ?

 

ta trừng mắt hỏi

đêm không trả lời

đêm bọc ta như kén

nở thành loài sâu mắt đen ?

 

                        Huế, tháng 3

         “PHÊ VÀ TỰ PHẾ” – LÝ THUYẾT BẢO VỆ BỌN THAM NHŨNG

      Ngô Minh

  Chống tham nhũng bằng phê bình và tự phê bình ư ?

Ngây ngô quá

Đến đứa trẻ con cũng phì cười

Chống tham nhũng bằng phê và tự phê là sự lừa mị nhân dân

“ Khuyết điểm của tôi thời gian qua là hay đi làm chậm giờ , chứ tôi luôn liêm khiết và trung thành”, ” Thưa đồng chí chủ tịch kiêm bí thư, chúng tôi ai cũng bất bình vì đồng chí có lỗi mà không chịu nhận. Đồng chí chỉ có một lỗi duy nhất, ấy là có ưu điểm mà lại khiêm tốn không chịu nhận ạ!”( Minh Văn) – nói dối xứ mình đã thành lẽ sống !

 

Bây giờ tham nhũng là giặc

Ai phê bình được lũ giặc tham tàn :”Sao ông giàu nứt đổ đổ vách còn tham lam , xấu thế”

“Tôi không tham nhũng, tài sản là vợ con tôi làm nên”

Không thằng nào tự phê bình là mình trót tham nhũng, từ nay xin chừa !

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 09.04.2014

Ảnh hưởng Ukraine sang Đông Á

 

Ảnh hưởng Ukraine sang Đông Á

  •   Đoàn Hưng Quốc

Các nước Đông Á quan sát rất kỹ tình hình Ukraine vì những ảnh hưởng gián tiếp đến biển Đông. Có những điểm tương đồng như sau: 

Ukraine không nằm trong NATO nên Tây Phương không có lý do – và cũng không muốn can thiệp quân sự đối đầu với nước Nga tại quốc gia này. Hiện Việt Nam cũng nằm trong tình trạng tương tự không có hiệp định phòng thủ với các nước khác nên giả sử bị tiến chiếm biển đảo thì quốc tế dù có bênh vực cũng không thể trực tiếp can thiệp.

Nhưng ngay cả các quốc gia trong liên minh quân sự cũng chưa phải được bảo đảm 100%: 

Các nước Đông Âu như Tiệp Khắc, Ba Lan dù quan ngại nhưng vẫn tin tưởng rằng Nga không dám xâm lấn vì họ đã lọt vào vào khu vực an ninh cốt lõi của Hoa Kỳ và Tây Phương. Nhưng ngược lại các nước vùng Baltic gồm Estonia và Latvia dù thuộc về NATO nhưng vô cùng lo sợ bị Nga gây xáo trộn để tạo ra cớ đe dọa: một mặt cộng đồng người gốc Nga tại các quốc gia này rất đông đến 30% dân số không khác vùng Đông Ukraine, mặt khác do vị trí địa lý cô lập nên không chắc đủ quan trọng cho Tây Phương đánh đổi các quyền lợi chiến lược tối hậu nhằm bảo đảm an ninh trong vùng này.

Dựa trên nhận xét nói trên, có dấu hiệu cho thấy Nhật sẽ thúc giục Hoa Kỳ chính thức đứng về phía họ nếu xảy ra xung đột vũ trang với Trung Quốc. Mỹ-Nhật đã có hiệp ước phòng thủ hổ tương nhưng Hoa Kỳ vẫn còn mập mờ với lời tuyên bố không đứng về phía bên nào trong các tranh chấp lãnh hải. Đến nay lập trường phải được khẳng định nên Tokyo đòi hỏi Tổng Thống Obama xác nhận làn ranh đỏ trong lần công du sắp tới sang Đông Á.

Tương tự như vậy Philippines có thể yêu cầu Hoa Kỳ sẽ can thiệp trong trường hợp Trung Quốc gậm nhấm thêm một vài hòn đảo của họ theo đúng tinh thần của hiệp định quốc phòng Mỹ-Phi.

Ngược lại Mỹ cũng sẽ đòi hỏi Nhật và Nam Hàn phải hoà hoãn để không gây cản trở cho chính sách chuyển trục, và sẽ yêu cầu Mã – Phi tạo điều kiện thuận tiện hơn cho sự hiện diện của Hoa Kỳ tại Biển Đông.

Nhật sẽ yêu cầu Hoa Kỳ cung cấp khí đốt như Mỹ đang chuẩn bị xuất cảng năng lượng nhằm giúp Âu Châu thoát khỏi lệ thuộc vào nước Nga.

Nhật đã nới lỏng chính sách và có thể bán vũ khí cho Phi, Mã Lai và Việt Nam trong khi NATO sẽ hổ trợ huấn luyện cho quân đội Ukraine.

 Nói tóm lại, trong lúc Mỹ chưa muốn xác định làn ranh đỏ ngăn cản Trung Quốc thì chính các đồng minh Nhật-Phi sẽ đòi hỏi Hoa Kỳ bài tỏ lập trường rỏ rệt tại Biển Đông như là một bảo đảm rằng Mỹ sẽ không thể quay lưng khỏi Thái Bình Dương trong hoàn cảnh Âu Châu sôi động trở lại. Bù lại Hoa Kỳ sẽ yêu cầu các đồng minh Âu-Á chia xẻ gánh nặng để có được bảo đảm này từ Hoa Thịnh Đốn.

Những tháng sắp tới sẽ gồm nhiều biến chuyển ngoại giao ngoạn mục, không những giữa Mỹ-Nga-Trung mà còn chính giữa Hoa Kỳ kéo co với các đồng minh Âu và Á Châu./

( Nguồn: Văn hoa Nghe An)

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 08.04.2014

DE VINH DANH TRUYEN KIEU

Tản mạn chiều cuối tuần

 Để vinh danh Truyện Kiều

  •   Khải Nguyên

“Một người làm thơ đi sang Tàu cùng vợ thăm quê gốc của vợ -vốn người gốc Hoa và cũng làm thơ-, về nói rằng ở bên đó họ bảo Truyện Kiều (TK) của Nguyễn Du chẳng qua là ‘cóp pi’ Kim Vân Kiều truyện (KVK) của Thanh Tâm tài nhân”. (Cái từ “cóp pi” dùng theo kiểu trước đây, tỉ như “cậu học trò này chuyên cóp pi bài của bạn”)

Ông bạn cho tôi biết thế và tức bực nói thêm: “Anh ta nói một cách khoái chí, mà không chỉ nói một lần!”

Khổ! Ông bạn bực tức mà chi! Chẳng phải cho đó là những “sàm ngôn” chẳng đáng để tâm, mà cần ngẫm về phía chúng ta, những người muốn vinh danh TK. Nếu không nói cho tách bạch thì việc vinh danh như ta thường làm có thể có những chỗ lấn cấn, có khi gây tác dụng ngược. Nhiều chỗ đề cao có thể bị “phản biện”.

Để “bảo vệ” tác giả TK, có những ý kiến viện các tác giả phương Tây như Raxin (Racine), Coócnây (Corneille), Sêchxpia (Shakespeare), … vẫn mượn cốt truyện của nước ngoài để sáng tác. Thực ra, không đơn giản như vậy. Thường là các tác giả này chỉ mượn tích truyện. Hoặc “kĩ ” hơn như, chẳng hạn, trường hợp Ôtenlô của Sêchxpia. Để viết vở kịch này, Sêchxpia đã dựa vào tác phẩm Người Mô thành Vơnidơ của Xintiô (nước Ý) nhưng có điều chỉnh cốt truyện, mạch truyện, lược bỏ, thay đổi một số tình tiết, đưa vào những vấn đề mới, nhân vật mới cùng tính cách xã hội của họ. Trong khi TK của Nguyễn Du hầu như giữ nguyên cốt truyện, mạch truyện  KVK của Thanh Tâm  tài nhân.

Có người khi đề cập, viện dẫn TK đã viết, chẳng hạn, “xã hội trong TK là xã hội VN”, “con người trong TK là con người VN”, thậm chí “Nguyễn Du đã để cho Từ Hải chết đứng”, v. v… Rõ là “tôn nhau như thế bằng mười hại nhau”! Khỏi nói chuyện Từ Hải chết đứng chẳng phải do Nguyễn Du tạo ra, xã hội trong TK, con ngưòi trong TK trước hết là ở Trung Quốc.Ví như, trong các thư tịch VN cổ dường như không thấy có các “nhà thổ” rất đàng hoàng nhan nhản trong các sách truyện TQ, mà chỉ thấy thấp thoáng “nhà trò” hát ca trù (ả đào) thường khi còn lưu diễn theo lời mời (thuê) tới các nơi hội hè hoặc nhà riêng.Ví như, người Việt mình cũng có tục tảo mộ vào tiết Thanh Minh, nhưng không nghe nói có hội Đạp Thanh “ngựa xe như nước, áo quần như nen”.Ví như, cảnh sống của các nhà họ Vương, họ Thúc, họ Hoạn không phản ánh cảnh sống trong xã hội VN … Tất nhiên, một tác phẩm đích thực bao giờ cũng mang dấu ấn xã hội và thời đại mà nó ra đời lồng trong cảm quan của tác giả, trong trường hợp TK là xã hội VN cuối thế kỉ 18 và đầu thế kỉ 19. Xã hội phong kiến VN có những nét tương đồng với xã hội phong kiến TQ do bị ảnh hưởng dài lâu, nhưng không vì vậy mà nhận (nhầm) những gì chẳng phải là sáng tạo của Nguyễn Du.

Nếu nói theo hình thức thì có thể coi TK là tác phẩm chuyển ngữchuyển thể từ KVK, -chuyển ngữ chữ Hán sang tiếng Việt và chuyển thể văn xuôi ra thơ lục bát. Đó là nói kiểu ngày nay, chứ chắc hẳn Nguyễn Du chẳng có ý làm cái việc dịch KVK ra tiếng Việt mà muốn mượn chuyện người để kí thác nỗi đau đời, nỗi bức xúc nội tâm của mình. Do vậy, không thể đánh giá TK như một tác phẩm dịch thông thường mà tiêu chuẩn hàng đầu là trung thành với nguyên tác. Trong TK, nhiều tình tiết ở KVK đã bị thay đổi, thêm bớt hoặc loại bỏ, một phần do chuyển thể loại (từ văn xuôi sang thơ, lại là thơ lục bát); song phần quan trọng hơn, quyết định hơn, là do cảm quan nghệ thuật. Đọc hai tác phẩm thấy rõ mạch truyện TK “suôn sẻ” hơn, chẳng phải chỉ vì KVK chia ra chương hồi và đầu mỗi hồi có lời bàn luận dông dài. Về miêu tả, trần thuật, tự sự nói chung, văn xuôi có lợi thế hơn thơ; thế mà về những mặt này, TK làm tốt hơn KVK nhiều. Không ít bài nghiên cứu trên các sách báo đã bàn đến, đã chỉ ra.

Nhiều nhân vật trong KVK nếu không có TK thì không thể trở thành “bất tử” ở VN được. Cô Kiều của Thanh Tâm tài nhân lắm lời, hay lí sự, không đáng yêu mấy; còn nàng Kiều của Nguyễn Du sắc sảo mà tinh tế, giàu nữ tính, có đời sống nội tâm sâu sắc, đáng yêu và đáng trọng, dễ được cảm thương… Tính cách của nhân vật trong TK nổi rõ qua những nét mô tả chấm phá –có khi ước lệ, qua các hành động, qua đối thoại, qua suy cảm nội tâm và qua cả “đối cảnh sinh tình”. Có những nhân vật phụ mà lại “nổi tiếng”, đi vào thành ngữ tiếng Việt hoặc trở thành danh từ chung: có máu Hoạn thư, đồ Sở Khanh, sa vào tay Tú bà,… Có thể có người sẽ hỏi: “Chẳng phải những điều đó đều đã có trong KVK sao?”. Không đâu! Chỉ xin đơn cử trường hợp Tú bà, hãy chỉ nói  việc mô tả thôi. Tú bà trong KVK là “một mụ chừng ngoài bốn mươi tuổi, cao lớn to béo, mặt mũi cũng hơi trắng trẻo, ra đón và nói: -Kiều con! …” , còn trong TK là một người “nhờn nhợt màu da, ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao”, “lơi lả han chào”, và rồi “vắt nóc lên giường ngồi ngay”,… Chân dung trước là một mẩu tả chân có thể gặp những nét tương tự ở nhiều tác phẩm, chứ chân dung sau là những nét biếm họa khó tìm thấy ở đâu khác.

Trái với cảnh trong KVK hiếm và sơ sài, mờ nhạt, cảnh trong TK phong phú, đa dạng và như là những nét phác thảo tranh; cảnh quyện vào tình,… Tác giả TK khéo mượn cảnh thiên nhiên, trong đó có cảnh trăng, để làm nền, làm “chứng nhân” cho diễn tiến câu chuyện, nhất là cho tình cảnh, tâm trạng của nhân vật, cũng có khi để nói lên tâm trạng, cả tính cách nữa, của nhân vật. Có lẽ cũng nên nói thêm một điều: Nhiều cảnh trong TK là cảnh bên Tàu, không phải cảnh tả chân mà là cảnh ước lệ như trong nhiều thơ văn TQ cổ, nhất là thơ Đường. Cái cảnh “rừng phong, thu đã nhuộm màu quan san” là sáng tạo của Nguyễn Du nhờ chịu ảnh hưởng thi tứ thơ Đường, rõ ràng chẳng phải là cảnh ở VN; nhưng cảnh sắc đất Việt hẳn phải in đậm trong tâm hồn Tố Như và do đó in dấu trong các tác phẩm của ông. Câu thơ “Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia” làm ta nhớ đến những dải cát dằng dặc miền Trung ven biển Bình-Trị-Thiên, mà sinh thời chắc thi sĩ đã không ít lần đi qua.

Tả tình trong TK có tác động rất lớn đến sự cảm thụ của người đọc. Tả đúng chỗ, đúng người, đúng cảnh, sâu sắc, nhuần nhị, có khi nâng mạch truyện lên. Tả tình trong KVK lớt phớt, khô khan, nhiều lúc lướt qua, dù vui dù buồn.

Về ý tưởng, chủ đề của TK, một số vị mang đầu óc của thần dân “con trời” cho rằng y chang của KVK. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu VN, và cả TQ, đã chỉ ra chỗ khác nhau, nhưng chưa có được tiếng nói chung. Cách đâyít lâu, Nguyễn Hằng Thanh trong cuốn “Nghệ thuật tái tạo nhân vật Kiều trong Đoạn trường tân thanhcủa Nguyễn Du” (Nxb Thanh niên, 2003) có đưa ra ý kiến: Chủ đề của KVK là “tình yêu tài tử giai nhân, con người kĩ nữ,con ngưòi trung nghĩa,” và  Chủ đề của TK là “tài – mệnh”,  (không phải “tài mệnh tương đố”) với “tài là năng lượng, bản chất, là sức sống, sức vươn dậy kiên trì, bền bỉ để làm người mặc dù luôn bị ám ảnh về số mệnh”  và “mệnh là một cái gì vô hình, vô ảnh, tai ác, khắc nghiệt, định sẵn, bất di bất dịch, là cái không thể tránh được, không thể thay đổi được…”. Ý kiến này có vẻ là một “đột phá”, tôi nêu ra đây để bạn đọc tham khảo, chứ tán đồng lại là chuyện khác.

Về nghệ thuật ngôn từ, sáng tạo của nhà thơ đất Tiên Điền khó ai phủ nhận. Ông đã đưa thơ lục bát và truyện thơ VN lên đỉnh cao rực rỡ.

Nếu như Chinh phụ ngâm của Đoàn thị Điểm (?) chuyển ngữ (chữ Hán ra chữ Nôm) và chuyển thể (thơ “Trường đoản cú” ra thơ “song thất lục bát”) từ Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn vẫn được coi là một sáng tác phẩm trác tuyệt thì với TK của Nguyễn Du không thể sao? Chinh phụ ngâm của Đoàn thị Điểm là bản dịch đúng nghĩa, cũng như Tì bà hành mà Phan Huy Thực (?) dịch của Bạch cư Dị. Còn TK của Tố Như chẳng phải là “bản dịch” đơn thuần!

Vấn đề của bài này là vấn đề của những cuộc nghiên cứu qui mô và dài hơi, nhiều người đã làm, và chắc còn cần nhiều người tiếp tục làm nữa. Đó phải là những công trình trong các tập sách chứ không thể là tầm một bài tản mạn. Tôi chỉ mạo muội đưa ra vài ý mọn bàn góp mà thôi. Cốt để trao đổi và để được nghe những lời chỉ giáo.

Và… để được thấy ông bạn của tôi, thay vì bực tức, lại cất tiếng cười khà.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 07.04.2014

HỒN QUÊ TRẦM TÍCH

HỒN QUÊ TRẦM TÍCH

Ghi chép của Ngô Minh

1. Một Festival Huế nổi tiếng nữa lại đang về- Festival 2014 sẽ khai mạc đêm 12/4 và bế mạc vào tối 20/4 với nhiều chương trình hấp dẫn. Tôi vốn thích ngồi ngẫm nghĩ một mình, sợ đám đông. Thế mà trong những ngày diễn ra Festival Huế 2008, tôi cũng “lên cơn sốt” đội mũ bảo hiểm, đeo phù hiệu nhà báo ra đường “chạy xô” hết điểm diễn này đến lễ hội khác. Không có tiền để thưởng thức các chương trình bán vé như Đêm Dạ nhạc tiệc, hay những bữa ẩm thực trong Đêm Hoàng Cung thì đi xem cảnh xem người , xem sông, xem đò cũng no nê thoả thích. Không ai tài nào xem hết tất cả các lễ hội. Huế là Kinh Đô nước Việt một thời, mang chứa một trầm tích văn hóa dân tộc đủ để đối tác nước ngoài trong các Festval định kỳ 2 năm một lần. Bảy kỳ tổ chức rồi, Festival Huế nào cũng có hàng trăm tiết mục của chương trình văn hóa nghệ thuật của hàng chục quốc gia của 5 châu lục tụ về, chỉ diễn ra trong 9 đêm ngày quả là bội thực. Nhiều quá không kham nổi, nên đành chuộng tiết mục nào thì theo tiết mục ấy thôi. Festival Huế là lễ hội, là liên hoan văn hoá quốc tế, nhiều cái mới lạ lắm, không xem cũng uổng… Nhưng đi trong không gian Huế, một điều dễ cảm nhận là Festival lung linh một hồn quê trầm tích lắng đọng trong cây trong lá, trong từng dáng người trên phố. Hôm khai mạc Triễn lãm Mỹ thuật 6 tỉnh Bắc Miền Trung ( một triễn lãm thuộc Festival Huế lần thứ 7) , điều làm tôi ngạc nhiên nhất là hoạ sĩ Bằng Lâm, phó chủ tịch thường trực Hội Mỹ thuật Việt Nam, một người dân Bắc chính hãng từ Hà Nội vào lại mặc áo dài khăn đóng lên diễn đàn phát biểu . Có vị khách ngồi gần tôi bảo, trông hoạ sĩ như người sắp diễn tuồng. Nhưng tôi lại nghĩ khác. Sự xuất hiện của anh trong trang phục quốc lễ xưa của dân tộc như là một nét hồi cổ thật đáng yêu. Có lẽ chỉ ở Huế mặc như thế mới đẹp, mới hợp với đất trời mây gió chăng ? Tại phòng triễn lãm Thư pháp chữ Hán 40 bài thơ Trung đại tiêu biểu về Huế , tôi thấy nhà thơ, nhà thư pháp trẻ dòng hoàng tộc Nguyễn Phước Hải Trung cũng mặc bộ áo dài khăn đóng màu sữa đi giới thiệu từng bài thơ cho du khách, rồi ngồi quệt bút lông mực nho cho chữ như một ông đồ xưa sống lại. Ngắm hình ảnh ông đồ trẻ Hải Trung , tôi bỗng thấy ấm lòng. Vẫn còn đó nét quốc phục Việt thân quen như cây đa bến nước muôn đời, thứ quốc phục mà các nhà thiết kế thời trang chọn để cách điệu cho bộ lễ phục của 21 nguyên thủ quốc gia và vùng lãnh thổ trong Hội nghị Thượng đỉnh APEC Hà Nội cuối năm 2006. Lễ phục khăn đóng áo dài hiện vẫn rất thịnh hành ở các làng quê nước ta, nhất là Huế- miền Trung. Khi có “việc làng”, Tết nhất hay lễ ăn hỏi, lễ rước dâu ngày cưới, các bô lão phải khăn đóng áo dài, không khăn đóng áo dài thì bất thành lễ , bất thành lão, phải đứng ra ngoài ! Trang phục cung đình triều Nguyễn cũng là một biến thể của bộ lễ phục cha ông truyền thống ấy. Cho nên khi xem Lễ Hội Tế Nam Giao, lễ hội Hoàng đế Quang Trung lên ngôi ở núi Bân trong Festival Huế 2008, nhìn vua quan “hưng bái”,”chước tửu”, tôi bỗng nghĩ đến một tầm văn hoá tâm linh sâu thẳm đang ngự trị trong trời đất Huế. Trong trang phục quốc lễ ấy, con người trở nên đứng đắn hơn, đàng hoàng chững chạc và minh bạch hơn chăng ?! Cùng với phục trang khăn đóng áo dài là chiếc áo dài phụ nữ Huế, phụ nữ Việt Nam. Huế là một trong những chiếc nôi của tà áo dài Việt Nam. Áo em trắng quá nhìn không ra / Ở đây sương khói mờ nhân ảnh ( Hàn Mặc Tử). “Áo em trắng quá” ấy là tà áo dài nữ sinh Đồng Khánh Huế mỗi khi tan trường đã khảm vào tâm thức Huế như một nét văn hoá cổ truyền. Có nhiều khách du lịch quốc tế đã phục chờ trước cửa trường Hai Bà Trưng (trường Đồng Khánh xưa ) cả buổi để có tấm ảnh nữ sinh Huế tà áo trắng và tóc thề bay trong nắng …Tà áo dài là sự thướt tha, uyển chuyển, là sự tinh khiết của tâm hồn phụ nữ Việt, đã trở thành hồn quê lưu truyền. Áo dài đã trở thành thương Hiệu Việt Nam chinh phục thế thế giới. Nên Festival Huế nào cũng có chương trình Lễ hội áo dài, thế mà luôn luôn hấp dẫn, thu hút người xem đông nghẹt. Festival 2002, trình diễn áo dài trên cầu Trường Tiền; Festival 2006, người ta trình diễn áo dài trên những con đò Sông Hương; có năm Lễ hội áo dài mang tên “Dấu xưa” được tổ chức trước cửa Hiển Nhơn rêu phong cổ kính. 12 bộ sưu tập áo dài của các nhà thiết kế thời trang Minh Hạnh, Ngân Khai, Hồng Dung, Quang Tân, Minh Minh, Quang Hoà, Anh Vũ, Việt Hà, Thu Giang, Quang Huy, Thương Huyền. Chính họ là những người bằng tình yêu và trí tuệ của mình đã lưu giữ tâm hồn Huế, hoài niệm Huế qua thời gian. 260 mẫu thiết kế được may bằng vải lụa nổi tiếng Toàn Thịnh do 100 người mẫu trình diễn trong nền nhạc ca khúc Văn Cao, Trịnh Công Sơn, đã thu hút trên 10.000 khách xem. Trên tấm vải lụa Toàn Thịnh có in dấu Ấn, Triện cách điệu biểu tượng quyền uy của cung đình xưa, cũng là biểu tượng của cái đẹp Huế hôm nay. Tôi cứ nghĩ lẩn thẩn, một ngày nào đó các em gái, chị gái của chúng ta tất cả ra đường, đến cơ quan, đến trường đều mặc loại quần áo phông quần bò hở lưng, hở bụng thì rồi Huế sẽ ra sao ? Tôi bỗng rùng mình nhìn xuống sông Hương thơm hương thạch xương bồ như để trấn an mình…

(Đọc tiếp…)

NGÔ MINH TĂNG NHẠC SĨ PHẠM TUYÊN BÀI THƠ “TRƯỚC MỘ CỤ PHẠM QUỲNH”

(QTXM): Bạn đọc thân mến. Ngày  6 tháng 3 âm lịch, tiết Thanh Minh, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã từ Hà Nội bay vô Huế, đến chùa Vạn Phước để viếng mộ bố là cụ Phạm Quỳnh. Cùng viếng mộ có nhà văn Nguyễn ĐẮc Xuân, nhà văn Nguyễn Khắc Phê, nhà văn Tô Nhuận Vỹ, nhà báo Thanh Tùng và Ngô Minh. Tại mộ cụ Phạm Quỳnh Ngô Minh đã đọc bản chép tay bài thơ TRƯỚC MỘ CỤ PHẠM QUỲNH rồi hỏa vàng . Bản chép tay còn lại Ngô Minh tặng nhạc sĩ Phạm Tuyên. Sau đó mọi người cùng ăn com chay buổi trưa tại chùa Vạn Phước. 2 giờ chiều cùng ngày, nhạc sĩ Phạn Tuyên bay trở ra Hà Nội. Trên là anh Ngô Minh tặng nhạc sĩ Phạm Tuyên bài thơ ngay trước mộ cụ Phạm Quỳnh và ảnh chụp chung mấy nhà văn với nhạc sĩ Phạm Tuyên.

Sau đây QTXM xin in lại bài thơ để bạn đọc cùng chia sẻ.

Ngô Minh

 TRƯỚC MỘ CỤ PHẠM QUỲNH

 

Truyện Kiều còn

Tiếng ta còn

Tiếng ta còn

Nước ta còn

Lời nói như chân dung cụ tạc vào lịch sử

Tạc vào tim con cháu Việt muôn đời

Lời cụ nói đã thành sự thật

Cụ ơi

 

Phạm Quỳnh không chết

Phạm Quỳnh còn đây

Như chuông chùa Từ Đàm, Vạn Phước

Vang ngân đêm ngày

 

Con xin cúi đầu bắt chước cụ:

Tiếng ta còn

Nước ta còn

Nước ta còn

Phạm Quỳnh còn !

 

              Chùa Vạn Phước 29 Tết Giáp Ngọ

Đăng bởi: Ngô Minh | 05.04.2014

Hư học- hư danh- “hư” cả… cơ chế?

  • Hư học- hư danh- “hư” cả… cơ chế?

Kỳ Duyên ( Bản gốc)

Không phải chỉ là sự hơn thua nhau trong phát triển kinh tế khoa học kỹ thuật giữa hai quốc gia, mà là ở chỗ này- đó là sự hơn thua nhau cả một tầm thế kỷ, một tầm lịch sử về tư duy.
I-Những ngày này, xã hội xôn xao về vụ việc tiếp viên hàng không của Vietnam Airlines tham gia đường bay quốc tế Việt Nam- Nhật Bản bị cơ quan cảnh sát điều tra NB bắt giữ vì hành vi vận chuyển quần áo và mỹ phẩm hàng hiệu có nguồn gốc trộm cắp. Không chỉ có tiếp viên này, 01 cơ phó và 04 nữ tiếp viên khác cũng đã bị cảnh sát thẩm vấn và có yêu cầu dẫn độ sang NB để phục vụ công tác điều tra. (Đọc tiếp…)

Cầu siêu cho tất cả những người hy sinh vì biển đảo

Tiền Phong

Theo Tuổi trẻ

NQL: Tin vui nhất từ đầu năm đến giờ. Nhìn thấy con đường dẫn đến hòa hợp dân tộc là rất sáng sủa, dù vẫn còn nhiều chông gai. 

Một lễ cầu siêu sẽ được tổ chức tại Trường Sa để ghi nhận công lao của những anh hùng, liệt sĩ nhiều thế hệ, kể cả những người lính Việt Nam Cộng hòa đã hy sinh vì bảo vệ Hoàng Sa năm 1974, cũng như các thuyền nhân thiệt mạng ngoài biển Đông.

Lễ cầu siêu sẽ được tổ chức nhân dịp đoàn kiều bào ra thăm Trường Sa trong tháng 4-2014. Đó là những thông tin được Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, đưa ra tại cuộc họp báo chiều 3-4 tại Hà Nội.

(Đọc tiếp…)

Khám phá ngôn ngữ Truyện Kiều hay tận cùng của sự dung tục?

 

Hoàng Tuấn Công

tải xuống (3)Trên tạp chí “Ngôn ngữ”-Viện ngôn ngữ học số 11-2007 có bài “Những liên tưởng ngữ nghĩa của từ hoa trong Truyện Kiều-Nguyễn Du” của Phan Thị Huyền Trang. Bài viết đã táo bạo mở ra hướng tiếp cận, khám phá cái mới trong  vườn hoa ngôn ngữ của Truyện Kiều-mảnh vườn mà nhiều nhà “Kiều học”, nhiều “tín đồ” của ngôi đền thơ “Đoạn trường tân thanh” đã cày xới, chăm sóc rất kỹ ngót mấy trăm năm qua.

Theo Phan Thị Huyền Trang thì “dưới cách tiếp cận ngôn ngữ-văn hoá, bài viết này sẽ đi sâu phân tích, lý giải sự lan toả ý nghĩa của từ hoa từ tâm ra ngoại vi, cũng như sợi dây gắn kết về ngữ nghĩa từ ngoại vi hướng về tâm”. 


 Sau khi phải khá mệt mỏi bơi theo dòng “trường giang ngôn ngữ” của 10 trang viết với những tầm chương trích cú, lý luận kinh viện, cái mới mà độc giả được tiếp cận lại chính là sự tận cùng dung tục, thô lỗ hoá ngôn ngữ Truyện Kiều của tác giả Phan Thị Huyền Trang. Xin có đôi lời trao đổi cùng Phan Thị Huyền Trang và độc giả qua mấy đề mục:

 

1. “ Cái hay thì không mới…”:

 

Phan Thị Huyền Trang đưa ra 5 nghĩa của từ “hoa” mà Đào Duy Anh đã giải thích trong Truyện Kiều và chỉ ra cái hạn chế của học giả Đào Duy Anh “do cách tiếp cận thiên về từ vựng-ngữ nghĩa của một người làm từ điển, tác giả Đào Duy Anh chỉ nhấn mạnh đến các ý nghĩa cơ bản được cố định hoá của từ hoa, những ý nghĩa giúp cho nó có chỗ đứng trong hệ thống. Còn các tầng nghĩa biểu trưng, các sắc thái biểu cảm cũng như sự lan toả ngữ nghĩa tinh tế-cái tạo nên linh hồn ngữ nghĩa của từ hoa lại chỉ được nhắc đến một cách sơ sài : “thường dùng để tỉ dụ người đẹp, sắc đẹp, tình yêu…Vì vậy, chúng tôi đặt ra cho mình nhiệm vụ là: cần phải soi sáng đặc điểm ngữ nghĩa của từ hoa dưới một góc độ khác, góc độ ngôn ngữ -văn hoá”.

 

Vậy, dưới “góc độ ngôn ngữ văn hoá” Phan Thị Huyền Trang đã “soi sáng” được những gì?

 

Chúng ta đều biết, phong, hoa, tuyết, nguyệt,…là những hình ảnh rất quen thuộc, phổ biến trong thơ ca xưa. Riêng hình tượng bông hoa được so sánh, ẩn dụ với sắc đẹp, thân phận người phụ nữ  đã trở nên quá quen thuộc, cả trong văn học viết, văn học dân gian, lẫn ngôn ngữ thường ngày như: mặt hoa da phấn, tươi như hoa, đẹp như hoa, như hoa mới nở, như hoa sắp tàn, như hoa sớm nở tối tàn, như cánh hoa bị vùi dập, gót hoa, trướng hoa, thềm hoa v.v…Hoa trở thành ý nghĩa tượng trưng cho cái đẹp, sự cao sang, trong sáng và muôn hình vạn trạng trong cách ví von, ẩn dụ khác. Bởi vậy, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi trong số hơn ba ngàn câu Kiều, Phan Thị Huyền Trang đã dày công đếm được tất thẩy 133 lần xuất hiện từ hoa với nhiều ý nghĩa khác nhau. Phan Thị Huyền Trang nên hiểu rằng, phần nhiều thơ ca xưa đều vận dụng lối “tỉ dụ” để giãi bày, sáng tác. Do đó, lấy hình tượng hoa để biểu thị nét mặt, tâm trạng, thân phận, tình yêu… không phải điểm đặc biệt, duy nhất của Nguyễn Du trong Truyện Kiều. Thậm chí, trong Truyện Kiều, Nguyễn Du mới chỉ vận dụng một phần nhỏ ý nghĩa ẩn dụ của hoa trong vô vàn cách nói của dân gian. Câu ca dao: Em như một đoá hoa nhài. Canh khuya hé nở chờ ai bên tường, hoa nhài ở đây là hình ảnh một người con gái đáng chê. Nhưng câu ví Như bông hoa nhài cắm bãi cứt trâuhoa nhài  lại là một thân phận vừa đáng chê lại vừa đáng thương, đáng tiếc. Hay câu Thân em như hạt mưa sa, Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoahoa ở đây chỉ nơi chốn cao sang, sung sướng, hạnh phúc. Câu thành ngữ “Mãn nguyệt khai hoa” hoa ở đây lại chỉ sự sinh nở v.v và v.v… Với văn học viết, chỉ xin lấy “Chinh phụ ngâm” (bản diễn ca cũng như nguyên tác) làm ví dụ. Mặc dù nhân vật chính không phải là thân phận bông hoa bị dập vùi, trôi nổi như Kiều, nhưng, hình tượng hoa với lối so sánh ẩn dụ vẫn xuất hiện rất nhiều trong tác phẩm thơ cổ này:

 

“Rượu cùng hoa rắp tã đàm

Sầu làm rượu lạt, muộn làm hoa ôi”

Hay:

“Ngừng nhan sắc đương chừng hoa nở

…       

Đôi hoa cùng nở đôi cây cùng liền…

Thậm chí từ hoa còn khá “đậm đặc”:

“Hướng dương lòng thiếp như hoa

Lòng chàng lẩn thẩn e tà bóng dương

Bóng dương để hoa vàng chẳng đoái,

Hoa để vàng vì tại bóng dương

Hoa vàng, hoa rụng quanh tường

Trải xem hoa rụng đêm sương mấy lần”(1)

 

Không bằng lòng dừng lại ở cách giải thích của học giả Đào Duy Anh, Phan Thị Huyền Trang đưa ra một số đề mục rất “mùi mẫn” như: 1.Hoa-hiện thân của sự sống, 2. Hoa-thiên đường của mặt đất, 3.Hoa phút giây thoáng chốc, 4.Hoa-thực thể thụ động”,v.v…với những dòng phân tích, tán thưởng về hoa “tràng giang đại hải”. Tất cả những điều đó đã được học giả Đào Duy Anh giải thích khái quát, đầy đủ trong Từ điển Truyện Kiều, và loài người, mọi người đã nói cách đây cả…ngàn năm, trăm năm rồi.

 

Vẫn là những ngộ nhận, Phan Thị Huyền Trang viết: “Hoa thường được gán cho thiên tính nữ nên người ta thường liên tưởng với người con gái đẹp. Nhưng tài tình của Nguyễn Du là ở chỗ trong Truyện Kiều ta còn thấy đối tượng hoa ngầm chỉ không phải thuộc phái đẹp mà còn có thể thuộc phái “mày râu”:

Nàng rằng khoảng vắng đêm trường

442.Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa

 

Thật bất ngờ đối với người đọc và cơ chế liên tưởng ở đây dường như đã đi ra ngoài khung liên tưởng thông thường. Có thể hình dung ra mô hình liên tưởng như sau:

Hoaà tình yêu, tình cảm đẹp, cao quý à người yêu, đối tượng có tình cảm đẹp ấy à Kim Trọng, đối tượng cụ thể”.

 

Thực ra, những liên tưởng ấy về từ hoa trong câu thơ đã nằm trong cách giải thích thứ nhất về hoa của Đào Duy Anh mà chính Phan Thị Huyền Trang đã trích dẫn và chê là sơ sài. Đó là hoa “thường dùng để chỉ người đẹp, sắc đẹp, tình yêu. Trong câu  “Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa”, từ hoa ở đây chỉ có thể hiểu là “tình yêu” mà thôi (Vì tình yêu nên phải đánh đường tìm tình yêu). Bằng không, nếu hoa trong câu thơ trên nói về một giới “mày râu”, cụ thể là Kim Trọng (Vì Kim Trọng nên phải đánh đường tìm Kim Trọng) như cách liên tưởng của Phan Thị Huyền Trang, điều đó cũng không có gì là “bất ngờ”, “tài tình”, độc đáo và mới lạ trong Truyện Kiều. Bởi từ hoa, hình  ảnh hoa, đã lâu  không chỉ là đặc quyền khi nói về cái đẹp của người phụ nữ. Từ hoa đã mang một nghĩa bao hàm, tượng trưng khi nhắc đến tất cả những gì, (con người, sự vật hay hiện tượng) có phẩm chất, hình thức tốt đẹp: hoa tay, bút hoa, thềm hoa, chiếu hoa,v.v..,Trong “Chinh phụ ngâm” cũng đã dùng “mặt hoa” để chỉ Phan Lang-một anh chàng, một “mày râu”  đẹp trai có tiếng trong điển tích xưa:

 

Mặt hoa nọ gã Phan Lang

Sợ khi mái tóc pha sương cũng ngừng

 

 Nói tóm lại, với phần “soi sáng” rất công phu dài dòng trên đây, Phan Thị Huyền Trang không hề tìm được điều gì mới mẻ như cách đặt vấn đề hùng hồn đầu bài viết. Ngược lại tác giả đã bộc lộ những ấu trĩ không đáng có trong một bài nghiên cứu về ngôn ngữ Truyện Kiều.

 

2. “ Cái mới thì không hay”:

 

Với đề mục thứ 5 “Hoa-bộ phận cơ thể người phụ nữ”-sự ngộ nhận, non kém về ngôn ngữ, hay sự dung tục trong ý nghĩ của Phan Thị Huyền Trang đã đẩy ngôn ngữ truyện Kiều đến tận cùng của sự thô lỗ. 

 

Thoạt tiên, Phan Thị Huyền Trang ca ngợi “Một ý nghĩa biểu trưng khá thú vị của hoa trong Truyện Kiều là: hoa tương ứng với bộ phận làm đẹp của người nữ giới. Hoa là miệng xinh:

 

Hoa cười ngọc thốt đoan trang

Hoa là mặt đẹp:

Lại càng ủ dột nét hoa”

 

Như trên đã nói, ví miệng người con gái cười tươi, xinh như hoa, vẻ mặt như hoa không phải là sáng tạo chỉ có trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Do đó không cần tác giả làm rối rắm thêm vấn đề bằng những kết luận như “Sự tương tác giữa hoa với các từ xung quanh đã đẩy ngữ nghĩa của từ hoa đi từ trường thiên nhiên sang trường bộ phận con người”. Không hiểu “trường thiên nhiên”  “ trường bộ phận con người” là thuật ngữ gì mà nghe lạ tai vậy?

 

Kinh ngạc hơn, tác giả viết tiếp: “Thêm vào đó, trong Truyện Kiều, hoa còn tượng trưng cho bộ phận sinh dục của người phụ nữ, (H.T.C nhấn mạnh) là sự sống xuất hiện trên khoảng mênh mông của vùng nước khởi nguyên, kết hợp với mùi hương nồng nàn mà dịu ngọt, hoa tự thân đã có tính thái âm và nữ tính. ý nghĩa tượng trưng này được Nguyễn Du cảm nhận thực là sâu sắc:

 

Tiếc thay một đoá trà mi

Con ong đã tỏ đường đi lối về

 

Trà mi là loại hoa nở vào cuối xuân đầu hạ, nó đẹp bởi sự tinh khiết thuần tuý. Trà mi thường được sử dụng trong văn thơ để tỉ dụ người con gái đẹp, nhưng để chỉ âm hộ của người phụ nữ thì ít ai như Nguyễn Du”. Than ôi! “ít ai như Nguyễn Du” hay chỉ độc nhất vô nhị Phan Thị Huyền Trang có cách nghĩ và cách cảm thô thiển như vậy?

 

Cái cớ mà tác giả dựa vào để “liên tưởng” là căn cứ vào một số ý kiến về “biểu tượng hoa sen trong văn hoá phương Đông và hoa huệ tây trong văn hoá phương Tây” của một vài học giả phương Tây. Sau khi tán tụng hình ảnh hoa sen “trong tranh hình Ai Cập”, tác giả kết luận “Trong văn hoá ấn Độ và Trung Hoa, tầm quan trọng về ý nghĩa biểu tượng của hoa sen, về mặt trần tục cũng như về mặt linh thiêng đều bắt nguồn từ hình ảnh cơ bản này”. Và Phan Thị Huyền Trang mạnh dạn gán cho cụ Nguyễn Du một khả năng tư duy “thiên tài” đáng xấu hổ : “Từ sự liên tưởng hoa trà mi với âm hộ người phụ nữ, Nguyễn Du đã chạm tới mẫu gốc thiêng liêng trong văn hoá nhân loại. Đồng thời, với sự gán ghép phạm trù tự nhiên sang phạm trù con người, phải chăng Nguyễn Du đã cố ý trộn lẫn các đối tượng: hoa-miệng-mặt-âm hộ. Vẻ đẹp thiên nhiên tựa như thứ nhạc nền để một hoà tấu cất lên, để ấn tượng về cái đẹp nhân bản trở thành viên mãn. Những trường hợp hoa mang ý nghĩa  biểu tượng này tuy không nhiều nhưng thực sự có giá trị, vì nó là cái riêng, cái dấu ấn độc đáo của thiên tài Nguyễn Du”

Xin thưa rằng ý nghĩa về sự sinh sản, sinh dục, tái sinhphồn thịnhmẫu gốc của các loài hoa mà Phan Thị Huyền Trang trích dẫn của mấy ông Tây mang tính biểu tượng, tín ngưỡng của từng dân tộc, nó khác hoàn toàn với sự liên tưởng cụ thể “đoá trà mi” với “bộ phận cơ thể người phụ nữ”, với “âm hộ” mà Phan Thị Huyền Trang phát hiện.

 

 “Tiếc thay một đoá trà mi, Con ong đã tỏ đường đi lối về” là hai câu thơ rất hay trong truyện Kiều. Nó không chỉ hay và nổi tiếng bởi ghi lại dấu mốc quan trọng nhất, thời khắc nghiệt ngã, xót xa nhất khi Mã Giám Sinh đã biến nàng Kiều từ một người con gái trong trắng, tiết trinh, trở thành một người đàn bà “Thân nghìn vàng để ô danh má hồng”. Sau “tiếng kêu đứt ruột” đầu tiên này, nàng Kiều sẽ tiếp tục bị đẩy dài trong kiếp đoạ đầy thân xác và tâm hồn. Hai câu thơ còn nổi tiếng và hay bởi sự diễn đạt nhẹ nhàng, ý nhị, kín đáo mà gợi nên xiết bao đau đớn, tiếc nuối cho nàng Kiều. Nguyễn Du không viết Tiếc thay cái nhuỵ trà mi mà dùng chữ “một đoá trà mi”. Chữ “đoá” là một từ Hán-Việt, nghĩa gốc là một chùm hoa. Khi Việt hoá, từ “đoá” được hiểu chung là một bông hoa dưới cái nhìn tổng thể (bao gồm cuống hoa, đài hoa, cánh hoa, nhuỵ hoa ,v.v…) Do đó, “một đoá” ở đây không nhằm chỉ một bộ phận riêng biệt, cụ thể nào của bông hoa nên cũng không thể liên tưởng đến một bộ phận cụ thể nào đó của người (phụ nữ-nàng Kiều).  Hình ảnh “đoá trà mi” trong câu thơ Nguyễn Du chính là (và không chỉ là) vẻ đẹp sắc sảo mặn mà khiến Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh của nàng Kiều. Cao hơn, đoá trà mi còn tượng trưng cho vẻ đẹp về phẩm chất, tâm hồn của Kiều: Sắc đành hoạ một, tài đành hoạ hai, Thông minh vốn sẵn tính trời, Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca ngâm…

 

 Nói tóm lại đoá trà mi chính là con người, cuộc đời, vẻ đẹp đang độ rực rỡ nhất của nàng Kiều. Dù kém cỏi đến đâu, (thiên tài lại càng không thể) cũng không có nhà thơ nào lại “ngây” đến mức dùng đoá trà mi để chỉ cái cụ thể là “âm hộ của người phụ nữ” (ở đây là nàng Kiều) như cách cảm nhận của Phan Thị Huyền Trang. Kính lạy cụ Nguyễn Du (cụ có hứa tha tội thì con mới dám nói), nếu hiểu đoá trà mi là “âm hộ của người phụ nữ” như nghiên cứu của Phan Thị Huyền Trang, thì con cũng xin mạo muội  hỏi rằng: chắc hẳn “con ong đã tỏ đường đi lối về” kia chính là dương vật của người đàn ông chứ(?!). Và hỡi ôi! Cái hành động cưỡng đoạt tiết trinh, thân xác nàng Kiều của “giống hôi tanh” Mã Giám Sinh chính là liên tưởng “về cái đẹp nhân bản trở thành viên mãn”, là “ Nguyễn Du đã chạm tới một mẫu gốc thiêng liêng trong văn hoá nhân loại” hay sao (?!)

 

Để minh hoạ cho việc “Nguyễn Du đã cố ý trộn lẫn các đối tượng: hoa-miệng-âm hộ”, trong bài viết, Phan Thị Huyền Trang đã vẽ bông hoa năm cánh, trong đó có một cánh biểu thị cho “bộ phận cơ thể người phụ nữ” (âm hộ) và kết luận: “Như vậy là từ cách nhận thức ngữ nghĩa truyền thống của từ hoa qua Từ Điển Truyện Kiều của Đào Duy Anh, chúng ta còn có cơ sở để nhận thức thêm những tầng nghĩa hàm ẩn, những lớp nghĩa lan toả đầy thú vị của hoa dưới  góc độ ngôn ngữ-văn hoá(?!)

 

 

Hình minh họa của Phan Thị Huyền Trang, trong đó có 1 cánh hoa được đặt tên là “bộ phận cơ thể người phụ nữ” tức là cái “âm hộ” của nàng Kiều.

 

Rõ ràng, cái mà Phan Thị Huyền Trang gọi là “tầng nghĩa hàm ẩn”“lan toả đầy thú vị của hoa dưới góc độ ngôn ngữ văn hoá”, rất thô tục và không thể chấp nhận ở bài viết của một người chuyên nghiên cứu ngôn ngữ.

 

3. Bài viết sai về phương pháp luận, thiếu thống nhất  khoa học:

 

Chúng ta đều biết, trong truyện Kiều, ngay cả khi không nhắc đến từ “hoa”, cụ Nguyễn Du vẫn viết về hoa rất hay, rất đẹp :

“Điệu buồn như cúc, điệu gầy như mai

….

Đoá trà mi đã ngậm trăng nửa vành,

….

 Một tay chôn biết mấy cành phù dung”

 v.v…

Nếu đã đặt vấn đề nghiên cứu, tìm hiểu về nghệ thuật vận dụng hình ảnh, biểu tượng của hoa trong Kiều, những câu thơ nói về hoa mà không có từ hoa như trên của Nguyễn Du không thể gạt bỏ. Tuy nhiên, Phan Thị Huyền lại máy móc chỉ “liên tưởng ngữ nghĩa của từ hoa” và “lí giải sự lan toả ý nghĩa của từ hoa”. Do đó tác giả đã thống kê cả những từ “hoa” với tư cách là yếu tố cấu tạo từ: tài hoa, hào hoa, phồn hoa (7 trường hợp). Hoa với tư cách là từ nhân danh : con Hoa, Hoa Nô (4 trường hợp)”. (Điều này chỉ có ý nghĩa ở những cuộc thi hát, đố nhau tìm những câu thơ, bài hát có từ “hoa”) Sau đó, tác giả kỳ công ngồi đếm số lần xuất hiện từ “hoa” trong Truyện Kiều rồi “chẻ sợi tóc làm tư”, dùng máy tính để thưởng thức Kiều, kiểu như: “có tới 31 trường hợp quy chiếu của hoa là thiên nhiên (chiếm 25.4%)…có tới 49 trường hợp từ hoa quy chiếu đến người con gái đẹp (chiếm 40.2%)…ta thấy hoa chủ yếu đóng vai trò là tân ngữ (chiếm 48.3%). Còn nếu xét các vai nghĩa mà từ hoa biểu thị, ta cũng thấy chiếm tỉ lệ cao nhất là vai bị thể (42/122 trường hợp, chiếm 34.4%)”,v.v…? Tuy thống kê chính xác tới 0,…%, nhưng Phan Thị Huyền Trang không hề có kết luận hay nhận xét sự “quy chiếu” ấy, phần trăm ấy có ý nghĩa như thế nào trong Truyện Kiều.

 

Nêu ra tiêu chí chỉ chọn những từ  “hoa” để liên tưởng, nhưng chính Phan Thị Huyền Trang lại bất ngờ phá vỡ nguyên tắc đã được giới hạn ấy và chọn ngay một câu thơ  không hề có từ hoa để phân tích, làm nội dung cơ bản của bài viết:

 

“Tiếc thay một đoá trà mi

Con ong đã tỏ đường đi lối về”

 

Đoá là đoá mà hoa là hoa! Chỉ với chi tiết này chúng ta cũng có thể kết luận, bài viết rất tuỳ tiện, thiếu phương pháp luận, thiếu tính khoa học.

Phần giới thiệu đầu bài viết cho ta biết, Phan Thị Huyền Trang công tác tại Khoa ngôn ngữ, Đại học khoa học xã hội nhân văn. Truyện Kiều là một tác phẩm có chỗ đứng đặc biệt quan trọng đối với bất cứ một sinh viên khoa ngôn ngữ Việt nào.  Nhưng với cách cảm nhận dung tục, thô lỗ như Phan Thị Huyền Trang, liệu những sinh viên sẽ học được gì ở Truyện Kiều- tác phẩm xưa nay là niềm tự hào của dân tộc về sự phong phú và trong sáng của tiếng Việt ?

 

 Hoàng Tuấn Công

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 04.04.2014

Ngày giỗ Ba

(QTXM): Bạn đọc thân mến. Hôm nay là ngày giỗ ba Ngô Minh. Tên ông là Ngô Văn THắng. Một ngư dân có chữ ở làng Thượng Luật. Năm 1956, giặc CCRĐ đã quy ông  là địa chủ, chúng bắn ông vào ngày  mùng 6 tháng 3 âm lịch năm 1965, khi ông mới 53 tuổi.

Ngô Minh

 NGÀY GIỖ BA

 

Ngày ơi, ngày buồn thiêng

Ngày mồ côi của nhứng con thuyền

Ngày cát trắng hoàng hôn máu dựng

Ngày biển xanh nổi sóng triều dâng

 

Ngày giỗ ba con ra với biển

Nấm cát buồn mắt gió chông chênh

Mạ khóc hoài cho tới ngày khuất bóng

Con đi tìm khôn lớn giữa cô đơn

 

Ngày ơi đốt nén nhang mong

Bóng ba về rẽ thời gian trắng xóa

Cát bay cát bay vầng râu che chở

Mùa xanh mắt biển lệ nhòa

 

Ngày giỗ ba làng biển đói khoai

Bếp đói lửa buồm khơi đói gió

Anh em xóm giềng nhịn cơm góp giỗ

Trái tim buồn con đốt thành thơ

 

Ngày giỗ ba cho con biết có mình

 

             Mùng 5 tháng 3 âm lịch, 1996

Đăng bởi: Ngô Minh | 03.04.2014

VTV CÓ THỂ KHÔNG MUA BẢN QUYỀN WORLD cUP

Nguyên Phong

Người hâm mộ Việt Nam khó có cơ hội xem chủ nhà Brazil tranh tài tại World cup 2014 khi mà mức giá bản quyền truyền hình lên tới 10 triệu USD. ảnh: Jaxss.comNgười hâm mộ Việt Nam khó có cơ hội xem chủ nhà Brazil tranh tài tại World cup 2014 khi mà mức giá bản quyền truyền hình lên tới 10 triệu USD. ảnh: Jaxss.com

TP – Chưa đầy ba tháng trước ngày khai mạc, các đài truyền hình Việt Nam vẫn chưa thể “chốt sổ” việc phát sóng World Cup 2014 do mức giá của nhà cung cấp MP&Silva đưa ra quá cao: 10 triệu USD.

Lãnh đạo nhiều đài truyền hình tại Việt Nam hôm qua khẳng định, không mơ màng gì chuyện phát sóng World Cup 2014. TGĐ Công ty TNHH truyền hình số vệ tinh VSTV (K+) Cao Văn Liết cho biết, K+ không có chủ trương mua bản quyền giải này.

“World Cup chỉ diễn ra trong vòng chưa đầy một tháng, mà giá lại quá cao. Tôi cho rằng không đài nào đủ khả năng thu hồi được vốn nếu MP&Silva giữ nguyên mức giá trên. Chúng tôi là đơn vị kinh doanh nên buộc phải tính toán đến cân bằng thu-chi”, ông Liết cho biết.

Giám đốc Truyền hình cáp Hà Nội, ông Lê Đình Cường cũng khẳng định, sẽ không mua và cũng không có nhu cầu tiếp sóng nếu VTV mua được bản quyền World Cup 2014. “Vấn đề này tôi đã từng có ý kiến rồi.

Theo chỗ tìm hiểu của tôi thì FIFA có quy định cụ thể về việc đối với các quốc gia có LĐBĐ là thành viên của FIFA thì World Cup cần phải được phát sóng rộng rãi đến người dân trên kênh quảng bá. Là đơn vị nắm quyền phát sóng World Cup 2014 tại Việt Nam, tôi cho rằng MP&Silva cũng phải chịu ràng buộc bởi quy định này”.

“10 triệu USD tương đương hơn 200 tỷ đồng. World cup trong khi đó chỉ bao gồm 64 trận, diễn ra trong chưa đầy một tháng. Như vậy để hòa vốn thì doanh thu quảng cáo của chúng tôi phải đạt khoảng 3 tỷ đồng/trận, vào mỗi tối. Mức thu này là không tưởng”.

Phó TGĐ VTV Nguyễn Thành Lương

Qua tham khảo ý kiến, đa số các đài truyền hình hiện đều trông chờ Đài truyền hình Việt Nam (VTV), đứng ra đàm phán với MP&Silva để mua bản quyền World Cup 2014, sau đó chia sẻ cho các đài. Ông Vũ Quang Huy, Phó Giám đốc Đài truyền hình kỹ thuật số Việt Nam (VTC) nói, đài này sẽ chờ VTV chứ không chủ động đi đàm phán với MP&Silva. 

“Chúng tôi có đội ngũ bình luận viên, biên tập viên chuyên nghiệp và nhiều kinh nghiệm thực hiện các kỳ World cup. Công tác chuẩn bị vì vậy sẽ không có gì khó khăn. Quan điểm của chúng tôi là chỉ cần một đài đứng ra đàm phán, mua bản quyền với mức giá hợp lý sau đó chia sẻ lại cho các đài cùng phục vụ nhân dân”-ông Huy cho biết.

Lãnh đạo một đài truyền hình khác khẳng định, VTV theo truyền thống “thế nào cũng sẽ mua bản quyền World cup 2014”, nhưng phải là ở mức giá hợp lý.

Theo tìm hiểu của Tiền Phong, VTV và MP&Silva đã có nhiều cuộc tiếp xúc, nhưng quá trình đàm phán vẫn chưa ngã ngũ cũng do giá của MP&Silva đưa ra quá cao, tới 10 triệu USD (hơn 200 tỷ đồng).

Trao đổi với Tiền Phong hôm qua, Phó TGĐ VTV Nguyễn Thành Lương cũng khẳng định, mức giá MP&Silva đòi hỏi là rào cản lớn nhất hiện nay. Ông Lương không loại trừ khả năng VTV bắt buộc phải “hy sinh” World cup 2014. Ông Lương tính toán với PV Tiền Phong:

“Mười triệu USD tương đương hơn 200 tỷ đồng. World Cup trong khi đó chỉ bao gồm 64 trận, diễn ra trong chưa đầy một tháng. Như vậy để hòa vốn thì doanh thu quảng cáo của chúng tôi phải đạt khoảng 3 tỷ đồng/trận, vào mỗi tối. Mức thu này là không tưởng.

Nếu họ không hạ xuống thì dù chúng tôi muốn mua cũng khó có thể chịu nổi. VTV hiện nay đang phải tập trung vốn cho nhiều khoản khác, như đầu tư thiết bị, xây dựng cơ bản và tập trung cho số hóa. Ngay cả khi ngân sách nhà nước chịu thì Bộ Tài chính cũng khó chấp nhận, vì không có cơ sở nào để đưa ra số tiền lớn chừng ấy”.

Trước lo ngại về khả năng có đài vì yêu cầu cạnh tranh, chấp nhận “đi đêm” với MP&Silva, ông Lương cho rằng, chuyện cạnh tranh bằng độc quyền bản quyền phát sóng các giải đấu đã “lạc mốt”.

“Với các đài truyền hình trả tiền, họ cũng sẽ phải đứng trước bài toán lỗ lãi từ phát sóng World Cup. Người nào ra quyết định sẽ phải chịu trách nhiệm trước HĐQT. VTV vì truyền thống nên muốn mua, nhưng cũng phải ở giá nào đó thôi vì mục tiêu chính của chúng tôi là thực hiện nhiệm vụ chính trị-xã hội. Giá cao quá, mình không mua được thì phải chấp nhận bỏ” – ông Lương cho biết.

( Nguồn :tienphongonline)

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 03.04.2014

THIÊN SỨ TÌNH YÊU

 

THIÊN SỨ TÌNH YÊU  

 Truyện ngắn của Anh Tử

Tạ Đỗ Hiền dịch

Lại một cái Tết nữa sắp đến. Hôm đó một người bạn học của vợ chồng tôi đem biếu đôi gà rừng, nói rằng do người dân miền núi nơi họ ở bắt được bằng lưới. Anh nhốt chúng vào chiếc lồng che kín và mang đến, chúng tôi chỉ nghe thấy tiếng kêu quắc quắc vọng ra.

 Người bạn còn cho biết chú gà trống rất khoẻ, bất kỳ ai thò tay chạm vào là nó chống cự quyết liệt, anh còn giơ cánh tay đã bị trầy xước để minh chứng.

Gần tối chồng tôi đi làm về, tiện trên tay còn đeo đôi găng bảo hộ, anh nhanh nhẹn thò tay túm được chúng và nhốt vào một chuồng gà bằng sắt cũ trong sân nhà. Anh nói vẻ đắc ý: “Thật tuyệt, nhà ta sẽ được một bữa súp gà thật ngon vào đêm 30 Tết…”. Đêm hôm đó tiếng kêu cứu và tiếng đạp lồng tìm lối thoát của đôi gà khiến tôi trằn trọc không ngủ.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 02.04.2014

ĐÊM

 

 Ngô Minh

           

                    ĐÊM

 

mắt chong đêm

mình như khách lạ

quờ quạng tìm

đêm biến hình lập thể

 

nằm với rỗng không bốn phía

cú mèo gào kinh nguyện kỳ đài

dằng dặc nghe rồi thuộc

cú mèo khạc những miếng đêm sền sệt

 

chưa tới giờ tụng niệm

sư thầy đang mơ

ta ngồi dậy thét vào đêm

không át được tiếng cú mèo

tiếng ta biến thành hột đêm quánh đặc

 

ta bỗng nghe tim mình

trống trận

có điều gì hối thúc dọc sống lưng

 

đêm ơi, ai bảo đêm là nguồn cội

đêm ấp nụ

đêm bào thai

đêm bình yên linh hồn nương náu

sao ta một mình thao thức

sao ta một mình lay gọi

lối nào tới ban mai ?

 

ta trừng mắt hỏi

đêm không trả lời

đêm bọc ta như kén

nở thành loài sâu mắt đen ?

Đăng bởi: Ngô Minh | 02.04.2014

TRUNG QUỐC NỢ ĐẾN 265% GDP

Trung Quốc bất ổn kinh tế: trục Bắc Kinh-Hà Nội sẽ ra sao?

Phạm Chí Dũng

Tết nguyên đán 2014 mới trôi qua được một tháng, những tin tức về một đợt suy thoái kinh tế ở Trung Quốc bất chợt dồn dập. Từ sâu thẳm của những tháng năm chật chợi, những nguồn tin bắt đầu lộ diện.

 Nhưng rõ ràng nhất là việc hãng nghiên cứu có uy tín Business Wisdom đưa ra dự báo sắp có làn sóng vỡ nợ ở 10 ngành công nghiệp Trung Quốc, bao gồm: (1) đóng tàu; (2) sắt thép; (3) đèn LED; (4) nội thất; (5) bất động sản; (6) vận tải biển; (7) tín chấp và các định chế tài chính; (8) quản lý tài chính; (9) vốn tư nhân và (10) mua theo nhóm.

Dự báo của Business Wisdom có lẽ chỉ mới xuất hiện hầu như lần đầu tiên nhưng lại mang tính chi tiết nhất, trong khi trước đó ngay cả những tổ chức xếp hạng tín nhiệm nổi bật của phương Tây như S&P, Fitch Ratings, Credit Suisse, Moody’s cũng ngần ngại khi phải xoáy tia mắt vào chốn thâm cung bí sử trong lòng Nội Hán.

Cách nào đó, dự báo của Business Wisdom lại có nét tương đồng với một dự báo khác – thuộc về một hãng nghiên cứu có tiếng của Anh quốc vào năm 2013 – phác ra 3 kịch bản về sự tồn vong của chế độ chính trị đương thời ở Trung quốc. Trong đó kịch bản về tuổi thọ lâu nhất kéo dài được 10 năm. Hai kịch bản kia thiên về tương lai đoản thọ hơn – chỉ khoảng từ 5-7 năm nữa.

“Việt Nam tận dụng gì từ cơ hội Trung Quốc suy thoái kinh tế?” – một số tờ báo “lề phải” ở Việt Nam cũng không che giấu sự phấn chấn khi thẳng thừng rút tít như vậy. Nhưng hàm ý cần ngầm hiểu còn lớn hơn thế: bất chấp tia cấm cản và soi mói truyền thống cùng tính mặc định “mười sáu chữ vàng” được phát từ trong cái chăn dán nhãn “Ban Tuyên giáo trung ương”, những tờ báo này vẫn như khá hả hê trước một viễn tượng sụp đổ của quốc gia láng giềng phương Bắc.

Quả thực, Việt Nam đã phải chịu đè nén quá lâu, quá bức bối và cả quá nhục nhã từ người bạn có tên “Bốn Tốt”.

Nợ đến 265% GDP?

Sự chao đảo của nền kinh tế Trung Quốc trong thời gian gần đây cũng phác ra một viễn cảnh không mấy xa xôi: nồng độ can thiệp của Bắc Kinh đối với Hà Nội sẽ khó mà giữ nguyên trong những lời hứa hẹn về “làm mọi cách để bảo vệ nền chuyên chính vô sản”. Ngược lại, đó là một cơ hội để biểu tả cho trường phái “Thoát Trung luận” đang ngày càng mở rộng và ăn sâu trong dân chúng Việt Nam.

Tất nhiên Trung Quốc không thể đảo ngược định đề kinh tế – chinh trị luôn song hành và quyết định lẫn nhau. Hơn cả thế, quy luật này ứng biến thiết thực với những chế độ còn cố trì nại thể chế độc đảng và luôn tìm cách che giấu sự thật về thực trạng kinh tế. Đơn giản là sự thật càng bị giấu kín càng dễ bùng nổ.

Vốn đã giấu nhẹm những con số thực về tình trạng nợ công và nợ của chính quyền địa phương, nhưng từ năm 2011 Trung Quốc đã bị giới quan sát quốc tế chiếu rọi vào quá nhiều bất cập trong hệ thống ngân hàng và tài chính. Nếu Fitch Ratings đã nêu con số nợ của chính quyền địa phương lên đến 2.250 tỷ USD thay cho con số báo cáo của Ngân hàng trung ương Trung Quốc chỉ vào khoảng 1.500 tỷ USD vào năm 2011, thì đến cuối năm 2013, lần đầu tiên giai tầng “thái tử đỏ” ở Bắc Kinh phải thừa nhận mức nợ này đã lên đến 3.000 tỷ USD, tức gấp đôi so với con số mà họ công bố trước đó vài năm.

Nợ công lại càng biến thành một vấn nạn không thể chối từ. Không khác mấy Việt Nam, con số báo cáo của Trung Quốc cho thấy loại nợ này chỉ chiếm khoảng 45% GDP.

Nhưng theo cách tính toán khách quan và thành thực hơn rất nhiều của các hãng xếp hạng tín nhiệm quốc tế, tỷ lệ nợ công quốc gia thực tế của Trung Quốc phải lên đến 150% GDP. Thậm chí, một phân tích của Business Wisdom còn cho rằng Bắc Kinh chịu trách nhiệm đối với khoản nợ tương đương 265% GDP, vượt hơn nhiều so với tỷ lệ nợ công quốc gia 200% GDP của Nhật Bản khi đất nước này lâm vào cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ bắt đầu từ năm 1997, để sau đó phải chấp nhận một “thập kỷ mất mát” không thể khác hơn.

“Đầu tư nhiều nhất trong một thời gian ngắn nhất” là những gì mà đám đông bầy đàn tài phiệt ở Trung Quốc đã biến đất nước này thành con nợ của chính nó. Từ khi Ngân hàng Lehman Brothers của Mỹ bị phá sản năm 2008, tín dụng cá nhân của Trung Quốc tăng đã từ 9.000 tỷ USD lên 23.000 tỷ USD, tương đương toàn bộ hệ thống ngân hàng thương mại của Hoa Kỳ chỉ trong 5 năm. Tỷ lệ tín dụng trên GDP cũng đã tăng từ 75% lên 200%, so với Hoa Kỳ chỉ 40% vào 5 năm trước khi vỡ bong bóng thế chấp, hoặc ở Nhật Bản trước khi Nikkei tan vỡ vào năm 1990. Một vấn đề đáng quan ngại là cả nợ tư nhân và cung tiền đều tăng quá nhanh ở Trung Quốc. Theo Forbes, lượng cung tiền M2 nước này tăng 13,6% trong năm ngoái, tăng tới 1.000% so với năm 1999.

Từ năm 2009, Lou Jiwei, Chủ tịch Quỹ đầu tư toàn quyền Trung Quốc đã ngụ ý: “Cả Trung Quốc và Hoa Kỳ đang xử lý các bong bóng bằng cách tạo ra thêm nhiều bong bóng”.

Quả vậy, chỉ trong vòng 12 tháng từ tháng 9/2009, tài sản các ngân hàng Trung Quốc đã tăng thêm 3.600 tỷ USD, thêm vào 140% GDP bình quân, hay 12.500 tỷ USD vào sổ sách. Để so sánh, trong cùng kỳ các ngân hàng Hoa Kỳ thêm chưa tới 700 tỷ USD, 4,4% GDP bình quân, thấp hơn 18 lần so với các ngân hàng Trung Quốc. Sự gia tăng tài sản ngân hàng của Trung Quốc trong 4 năm qua tương đương 7/8 tổng số tài sản tồn đọng của tất cả tổ chức bảo hiểm của FDIC (Công ty Bảo hiểm tiền gửi liên bang Hoa Kỳ), tương đương 30% tổng tài sản ngân hàng khu vực đồng EUR.

Người ta có thể dễ dàng hình dung sự sụp đổ ở Trung Quốc sẽ ồn ã như thế nào một khi quả bong bóng tài chính bị vỡ. Năm 2013, tờ International Business Times lưu ý rằng ngành công nghiệp thép nặng nợ của Trung Quốc đang trên bờ vực phá sản. Vào cuối năm đó, một công ty than lớn của Trung Quốc là Tập đoàn Liansheng Resources đã phải tuyên bố phá sản với 5 tỷ USD nợ…

Hà Nội đơn độc?

Giờ đây, thế giới đang nhận ra bóng ma ngân hàng Lehman Brothers ở Mỹ vào cuối năm 2007 như đang ám ảnh thị trường tài chính Trung Quốc.

Cuộc chiến đấu “diệt cả hổ lẫn ruồi” của Tập Cận Bình vẫn đang tiếp diễn, nhưng dù thành công bằng việc lôi ra ánh sáng viên cựu bộ trưởng công an Chu Vĩnh Khang cùng gia tộc của ông ta với con số kinh ngạc đến 16 tỷ USD tài sản đen, Bộ Chính trị đảng Cộng sản Trung Quốc lại hầu như không khả vọng trong việc thực hiện cải cách nền kinh tế và đặc biệt là hệ thống tài chính của quốc gia này. Nguồn gốc cho tham nhũng và nạn chuyên quyền, độc quyền bởi thế vẫn còn y nguyên.

Tất cả những câu chuyện đau thương và trái khoáy giữa ý thức hệ và “thực tiễn cách mạng” như thế cũng là bản sao y ở Việt Nam. Tháng 5/2013, cuộc gặp của người đứng đầu nhà nước Việt Nam với Tập Cận Bình ở Trung Quốc với hình thể chào cờ quá thấp mà gây ra không ít lời đàm tiếu nguy hại về quốc thể, đã chưa mang lại kết quả đáng kể nào từ những “gói hỗ trợ” của Bắc Kinh cho Hà Nội. Thậm chí ngược lại, các thương lái Trung Hoa còn có cơ hội tung hoành hơn ở khu vực đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long khi họ tìm cách vơ vét đến cả lá điều khô, dừa khô, rễ tiêu, rễ sim, rễ hồi, lá khoai mì, lá khoai lang và cả…đỉa.

Cũng hàng chục năm qua, lớp nông dân Việt Nam nhẹ dạ luôn lao từ nỗi bấn loạn này sang cơn điêu đứng khác khi phải chặt bỏ những cây nông nghiệp chính và lâm vào cảnh bị ngân hàng siết nợ.

Ở vào thế cùng kiệt và còn bị phản bội bởi chính một số quan chức bị xem là “ăn lương của người Hán”, những di họa của nền kinh tế Việt chỉ có thể được ngăn chặn phần nào một khi chính tự thân hệ thống ngân hàng Trung Quốc “tự diễn biến”. Khi đó, những cái vòi bạch tuộc cũng bởi thế có thể co rút trong cơn bạo bệnh đa chấn thương.

Vậy sẽ ra sao đối với Việt Nam nếu nền kinh tế Trung Quốc thực sự sa chân vào cung đường suy thoái trong những năm tới? Với tư cách một đất nước duy trì sự lệ thuộc đến 80% vào các nguồn nhập khẩu nguyên phụ liệu từ Trung Quốc, chắc chắn nhiều doanh nghiệp Việt Nam sẽ bị “hẫng hụt” bởi tình trạng sụt giảm lợi nhuận qua con đường chính ngạch lẫn tiểu ngạch. Nhưng đối với giới chính khách mang quan điểm “thân Tàu”, có lẽ sự thất vọng còn vĩ đại hơn. Không chỉ khó có hy vọng nhận được những gói hỗ trợ về kinh tế, có thể họ còn phải tức tối nhận ra thái độ nhăng cuội của Trung Nam Hải về những gói “kích cầu chính trị” – nhân tố đặc biệt cần kíp trong trường hợp lớp chính khách Việt “lâm nạn”.

Nhưng xét cho cùng, trong cái rủi có cái may. Sự thất thiệt của giới chính trị gia hưởng lợi ích từ Trung Hoa đại lục lại mang đến chút hy vọng “thoát Trung” cho đại đa số tầng lớp dân chúng còn lòng liêm sỉ và tinh thần bám đất bám làng ở Việt Nam

( Nguồn : quechoa)

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 01.04.2014

NHỚ TRỊNH

                               NHỚ TRỊNH

                                                                 Ngô Minh

           Trưa ngày 1-4 năm 2001, nhà thơ Thạch Quỳ ở Vinh vào chơi, cùng các nhà thơ Mai Văn Hoan, Phương Xích Lô uống rượu tại nhà tôi. Không hiểu do thần giao cách cảm hay linh cảm mà câu chuyện bên chiếu rượu của chúng tôi hôm đó chỉ bàn về một thế hệ đông đảo người Huế tài hoa nổi tiếng  từ những năm 60 của thế kỷ trước như Trịnh Công Sơn,  Đinh Cường, Bửu Ý, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Vàng Sao, Ngô Kha, Trần Quang Long… Thế rồi buổi tối hôm đó, hàng chục cú điện thoại của bạn bè ở Sài Gòn, Huế tới tấp phôn cho tôi báo tin dữ : ‘Ngô Minh ơi, Trịnh Công Sơn… mất rồi !”. Ôi, nhạc sĩ  tài hoa của đất nước, người con thân yêu của Huế đã về cùng cát bụi ! Mồng 1 tháng Tư  là ngày nói dối, hay là tạo hoá đùa trêu ?…

                                         …Hát bụi nào hoá kiếp

                                          Rồi một mai tôi về làm cát bui

                                           Ôi, cát bụi tuyệt vời…

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 31.03.2014

HẠN CHẾ “CON ÔNG CHÁU CHA” TRONG LỊCH SỬ

Hạn chế ‘con ông cháu cha’ trong lịch sử

Tìm kiếm, tuyển chọn, bồi dưỡng đúng được người có tài, đức để ra làm quan phò dân, giúp nước, luôn là một ưu tiên trong lịch sử truyền thống Việt Nam, theo nhà nghiên cứu văn hóa từ Việt Nam

.

Tệ nạn lạm dụng quan hệ quyền lực ‘con ông cháu cha’ gây lũng đoạn hệ thống nhà nước, giúp tư lợi cá nhân, trên thực tế đã luôn được nhiều triều đại trong quá khứ của Việt Nam tìm cách hạn chế, như ở thời kỳ của Triều đình nhà Nguyễn kéo dài suốt 143 năm, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân.

Hôm 30/3/2014, nhà nghiên cứu điểm lại một số quan chế trong quá khứ từ hình thức ‘tập ấm’ cho tới ‘hậu bổ’ sau này ở cuối thời Nguyễn, để chỉ ra những gì mà theo ông Việt Nam hiện nay có thể tham khảo.

Theo ông Xuân, không phải cứ được một xuất xứ thuận lợi nào đó về mặt quan quyền từ gia đình, dòng họ, mà một người nào đó theo dạng vẫn được gọi là ‘con ông cháu cha’ có thể dễ dàng ra làm quan khi thiếu các phẩm chất được yêu cầu, kỳ vọng.

Ông Xuân nói: “Không phải có chuyện do tập ấm mà các con ông quan lớn ra làm quan, cái đó trong Triều Nguyễn không có, không có cái đó,

“Còn trường hợp con mà giỏi, thi cử đậu, đạt, thì họ ra làm quan thì chuyện đó bình thường, không phải vì do tập ấm mà họ ra làm quan. Còn mấy ông phò mã, con của Vua cũng không có ra làm quan, phần lớn họ được lương hưởng, không có ra làm quan.”

So sánh với chế độ tuyển chọn, bồi dưỡng, bổ nhiệm quan chức cao cấp lớp kế cận ngày nay, nhà nghiên cứu nói:

“Bây giờ Việt Nam cũng có chế độ đưa mấy con mấy ông lớn vô để kế nghiệp mình, để xây dựng, đào tạo lên để kế nghiệp mình, thì cái đó giữa cái này và cái thời xưa Triều Nguyễn thì hoàn toàn khác nhau, chứ không có giống nhau.”

‘Phải đi chỗ khác’

Theo nhà nghiên cứu, riêng trong Triều Nguyễn (1802-1945), trong phần lớn thời gian, nhiều quy định nghiêm ngặt đã được áp dụng để kiểm soát, ngăn cấm việc lợi dụng quan hệ cá nhân, huyết thống, thân thuộc để các nhóm cầm quyền thao túng quyền lực.

Ông Xuân nói: “Anh làm quan, anh không được đứng đầu tỉnh của anh, ở huyện của anh, mà anh phải đi chỗ khác,

“Thứ hai là anh tới chỗ đó anh làm mà có một người bà con nội ngoại của anh rồi, thì nếu người đó không quan trọng thì đổi người đó đi và anh được làm quan,

“Còn nếu người đó quan trọng không thay đổi được thì anh phải đi chỗ khác, chứ anh không được về địa phương đó.”

Nhà nghiên cứu còn cho hay có những quy định mà Vua cũng phải tuân thủ.

Ông nói: “Đó là những cấm kỵ, hay là họ ngoại, họ ngoại của Vua, con cháu họ hàng của mấy bà vợ, không được ra làm quan, không được làm quan,

“Và cái đó ghi rất rõ ở trên Văn Thánh, là một cái bia ghi rõ là họ ngoại không được làm quan,

“Thí dụ con cháu bà Từ Dũ giỏi cỡ mấy, không ai được làm quan, cho tiền rồi về nhà ở nhà thôi, chứ không ra làm quan,

“Tập ấm là lương và vinh dự thôi, chứ không hoàn toàn tập ấp là ra làm quan.”

‘Đổi chác quyền lực’

Theo nhà nghiên cứu, Triều Nguyễn cũng đã có những quy định nghiêm nhằm răn đe, nghiêm cấm việc quan lại đổi chác quyền lực với nhau, chẳng hạn như người này nhờ người khác giúp đỡ, bao bọc quyền lực, tạo điều kiện biệt đãi cho con cháu mình được làm quan ở nơi người quen của mình.

Và ngược lại, để đổi lại, quan chức nhờ vả đó sẽ bao bọc, biệt đãi con cái của quan chức khác để con cháu hai bên cùng được làm quan lại ở các vị trí, vị thế cao trọng, với điều kiện thuận lợi, dễ dàng.

Ông Xuân nói:

“Cái đó Triều Đình không biết thì thôi, chứ Triều Đình biết là chết, nói chung là rất sòng phẳng, không có cái chuyện đổi chác lẫn nhau, không có cái đó, hồi xưa không có cái đó,

“Nhưng vào cuối Triều Nguyễn, không còn có (mạnh) nữa, thì cũng có thể xảy ra một vài trường hợp họ hàng, chứ không có nhiều đâu,

“Triều Đình biết là coi như kỷ luật ngay lập tức, đuổi anh về liền, là cách chức anh liền lập tức chứ không có chuyện gia đình trị, hay họ hàng, con ông cháu cha như bây giờ là không có, hoàn toàn không có.”

‘Phễu lọc khoa cử’

Theo nhà nghiên cứu, chế độ khoa cử ngặt nghèo cũng giúp bảo đảm người chân tài, thực học, có đạo đức và các phẩm chất theo yêu cầu có thể được tuyển vào bồi dưỡng, học tập để sau ra làm quan, trong khi những ai dù là ‘con ông, cháu cha’ nhưng không có tài, đức, cũng có thể bị gạt ra ngoài.

Năm 1911, trong thời Pháp thuộc, người Pháp đã mở rộng hệ thống trường đào tạo giới chức hành chính ở Việt Nam tới Huế, về Trường hậu bổ, ông Nguyễn Đắc Xuân bình luận:

“Trường hậu bổ là anh đã học hành rồi, anh đã đỗ đạt rồi, nhưng anh không trực tiếp ra làm quan được, mà anh phải học. Anh học hành chánh, anh học đạo đức, anh học về nguyên tắc làm quan…

“Rồi sau anh đi ra làm quan, anh không phải từ Hậu Bổ ra đi làm quan liền đâu, mà anh phải về thực tập ở những nơi mà người ta sẽ cử anh tới. Cho nên anh phải thực tập mấy năm đó, một thời gian ngắn hay dài rồi anh mới được bổ, anh mới được chính thức ra làm quan, chứ không được ra làm quan.”

Về việc tiến cử quan lại, theo nhà nghiên cứu, có những quy định mà tới nhà Vua cũng phải tuân thủ.

Ông Xuân nói: “Theo tôi cho đến thời gian độc lập của Triều Nguyễn, có hai loại là ông Vua cũng không có quyền cử người, mà nó phải qua khoa cử. Anh thi đỗ rồi, anh ra, người ta chọn anh, rồi anh mới ra làm quan,

“Cái thứ hai những người tài ở các địa phương, rồi địa phương đó đưa từ xã lên huyện, rồi lên tỉnh, rồi Triều đình mới biết giỏi, thì kêu vào thử lại.”

‘Phải chịu trách nhiệm’

Triều đình phong kiến cũng có quy định nghiêm ngặt nhằm nâng cao chất lượng của việc tiến cử quan lại, mà theo ông Xuân, trong trường hợp người nào tiến cử quan lại sai, người đó sẽ phải chịu trách nhiệm liên đới.

Ông Xuân nói: “Anh làm quan, anh giới thiệu một người ra làm quan, sau đó người đó tỏ ra là quan lại không tốt, thì người giới thiệu phải chịu trách nhiệm,

“Nặng là người giới thiệu có thể mất chức, chứ không phải là anh giới thiệu lên thì muốn làm gì thì làm,

“Bây giờ người ta kết nạp Đảng có hai người giới thiệu Đảng, sau cái anh Đảng viên này anh làm tào lao, mà hai người giới thiệu lại không có trách nhiệm gì cả,

“Cũng như bây giờ một ông (Ủy viên) Trung ương giới thiệu một ông Trung ương, ông Trung ương sau tham nhũng này kia, mà người giới thiệu ông lên Trung ương không có trách nhiệm,

“Hoàn toàn bây giờ người ta không có hiểu những cái hay của Triều Nguyễn ngày xưa, hiện nay không có thực hiện bất cứ một thứ gì cả,

“Mà bởi vậy Triều Nguyễn khó khăn vô cùng, nó nghèo nàn, nó bị Trung Quốc, nó bị các nước, đặc biệt là Pháp (áp lực), mà vẫn giữ cho được 143 năm là vì nó nhờ luật lệ rất nghiêm, mà nghiêm nhất là trong vấn đề dùng người.”

‘Luân chuyển ngày nay’

Gần đây, Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến hành đợt một luân chuyển cán bộ cao cấp, kế cận, với 44 quan chức thế hệ trẻ được cử về các địa phương, ban ngành khác nhau ở nhiều tỉnh ngành tham gia lãnh đạo.

Trong số này, khoảng trên 50% được giới thiệu là nằm trong diện sẽ trở thành các Ủy viên Trung ương Đảng từ nhiệm kỳ 2016-2021 và nắm các chức vụ cao cấp trong chính quyền từ Đại hội Đảng lần thứ 12, dự kiến tổ chức trong năm năm 2016.

Bình luận về điều này, ông Nguyễn Đắc Xuân nói: “Tôi nghiên cứu Triều Nguyễn, anh không đời nào được làm đứng đầu, làm quan chức trong tỉnh của anh, mà anh phải đi tỉnh khác,

“Ngay cả tôn thất ngày xưa ở Huế không được làm Phủ Doãn Thừa Thiên, mà phải ra Thanh Hóa hoặc là các tỉnh khác, chứ không được ở Thừa Thiên Huế. Toàn bộ Triều Nguyễn không có một người tôn thất nào ở tại Thừa Thiên Huế, đứng đầu Thừa Thiên Huế hết,

“Cho nên chuyện này là một ‎ý kiến, một chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam, thì cái đó tôi chưa hiểu hiệu quả sẽ như thế nào.

“Tôi chưa biết là nó hay, hay nó dở, nên tôi chưa dám nói, nhưng mà triều Nguyễn thì họ cấm việc đó,” nhà nghiên cứu nói với BB

( Nguồn : quechoa)

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 31.03.2014

LUÂN CHUYỂN NHÂN SỰ VÀ CÁN BỘ CHO ĐẠI HỘI

  • Luân Chuyển Cán Bộ và Nhân Sự Cho Đại Hội

( QTXM): Bạn đọc thân mến. Chuyện nhân sự Đại hội Đang là chuyện triều đình, nhưng lại ảnh hưởng đến cuộc sống của từng công dân. Bài viết của nhà báo Huy Đức ( theo quan điểm riêng của tác giả), nhưng trung thực và lành mạnh, gợi lên được nhiều suy nghĩ trách nhiệm có tính xây dựng cho những người có trách nhiệm. Chúng tôi xin in lại để bạn đọc tham khảo.

Huy Đức

Sau một quyết định luân chuyển, 44 vụ trưởng, thứ trưởng… bỗng trở thành phó tỉnh [1]. Nhiều người trong đó sau Đại hội sẽ lại ra Hà Nội làm Bộ trưởng, vào Trung ương. “Luân chuyển cán bộ” là một giải pháp được Hội nghị Trung ương Ba, khóa VIII (6-1997), đặt ra. Nhưng phải tới Hội nghị Trung ương Sáu (lần 2), khóa VIII (1998), mới bắt đầu được Tổng bí thư Lê Khả Phiêu áp dụng.

Chỗ Trống

Nếu những nỗ lực đưa tuổi về hưu lên 65 không thành công, Đại hội sắp tới hứa hẹn sẽ có rất nhiều “chỗ trống”. Tuổi để không “tái ứng cử” của ủy viên Trung ương hiện là 60, tức là những người sinh từ năm 1956 trở về trước sẽ phải ra đi. Có tới 81/154 ủy viên trung ương (không tính Ban bí thư, Bộ chính trị) có năm sinh từ 1951-1956. Trong số này có 11 bộ trưởng, 15 bí thư tỉnh ủy và hai vị chủ tịch 2 thành phố Hà Nội, Sài Gòn.

Hy vọng không phải hoàn toàn tắt hết cho 15 vị ủy viên Trung ương sinh năm 1956. Nhưng cũng phải nhớ là ở Đại hội XI chỉ có 4 vị sinh năm 1951 (tương đương 1956 ở đại hội XII) lọt vào Trung ương: Phó chủ tịch Nước Nguyễn Thị Doan, Phó chủ tịch Quốc hội Huỳnh Ngọc Sơn, Ủy viên Thường vụ Quốc hội Đào Trọng Thi, Bộ trưởng Giàng Seo Phử. Năm 2011, cũng có ba vị bộ trưởng khác “cố đấm” nhưng không “ăn được xôi”: Lê Doãn Hợp (1951), Trần Đình Đàn (1951), Phạm Khôi Nguyên (1950).

Tuổi về hưu của ủy viên Bộ chính trị là 65. Có ít nhất 4 ủy viên Bộ chính trị chắc chắn sẽ bị vấn đề tuổi tác loại ra khỏi danh sách nhân sự Đại hội 12: Nguyễn Phú Trọng (1944), Nguyễn Sinh Hùng (1946), Ngô Văn Dụ và Tô Huy Rứa (cùng sinh năm 1947). Cũng có không nhiều cơ hội cho: Lê Hồng Anh (12-11-1949), Phùng Quang Thanh (2-2-1949), Phạm Quang Nghị (2-9-1949) và Lê Thanh Hải (20-2-1950).

Hai ủy viên Bộ chính trị, Phạm Gia Khiêm (6-8-1944) và Hồ Đức Việt (13-8-1947) đã bị đánh rớt tại Đại hội XI. Chỉ có một tiền lệ là trường hợp của Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng, ông được tái cử để đưa lên ghế Chủ tịch Quốc hội khi chỉ còn vài ngày là 65 tuổi (18-1-1946). 

Quy định tuổi tác và giới hạn hai nhiệm kỳ cũng có tác dụng tích cực trong một nền chính trị cả nể như Việt Nam. Ông Phạm Văn Đồng từng làm Thủ tướng từ năm 1955 đến 1987. Hồ Chí Minh, Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn đều giữ chức cho đến “hơi thở cuối cùng”. Trước Đại hội VIII, Đỗ Mười đã 79 tuổi nhưng vẫn còn “bám trụ”.

Bộ Tứ

Từ sau Đại hội IX, tuổi không tái ứng cử của “bộ tứ” được quy định là 67. Đại hội XI diễn ra vào tháng Giêng 2011, khi Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng vẫn còn 3 tháng… để trở thành Tổng bí thư (ông Trọng sinh ngày 14-4-1944).

Nếu Đại hội XII tổ chức vào đầu năm 2016, Ông Trương Tấn Sang có thể chạm vào giới hạn tuổi tác (ông sinh ngày 21-1-1949) nhưng lại có lợi thế là mới giữ chức Chủ tịch Nước một nhiệm kỳ. Ông Nguyễn Tấn Dũng đang còn mấy tháng tuổi (ông sinh 17-11-1949) nhưng chỉ có một con đường “đi lên” vì đã có hai nhiệm kỳ Thủ tướng[2].

Rất nhiều “hồng y” muốn trở thành “giáo hoàng” nhưng ai cũng phải giữ bề ngoài đạo mạo. Ai cũng cần người thay họ nói ra “tham vọng” đó (bằng cách đề cử trong những hội nghị trung ương cuối nhiệm kỳ). Trước Đại hội XI, cho dù uy tín của Nông Đức Mạnh thế nào, lời giới thiệu người kế vị của ông vẫn vô cùng quan trọng. Năm 2011, nếu không được Nông Đức Mạnh giới thiệu, Nguyễn Phú Trọng có thể chỉ là một ông già 67 tuổi về hưu.

Đề cử người kế vị của ông Nguyễn Phú Trọng chắc chắn vẫn có trọng lượng nhưng cách vận hành Bộ chính trị và Ban chấp hành Trung ương giờ đây đã phức tạp hơn. Nó chịu chi phối rất nhiều của vấn đề “thế – lực”.

Nguyễn Tấn Dũng là ủy viên dự khuyết từ tháng 12-1986. Trong khi tháng 1-1994 Nguyễn Phú Trọng mới được đặc cách vào Trung ương. Tuy vào Bộ chính trị gần như trong cùng một thời gian, mãi tới năm 2006 Trương Tấn Sang và Nguyễn Phú Trọng mới có một ví trí có quyền lực ở tầm quốc gia. Trong khi từ năm 1996, Nguyễn Tấn Dũng đã được đưa vào nhóm năm người quyền lực nhất (Thường vụ Bộ chính trị) và lần lượt giữ những chức vụ mà các quyết định có thể “quy ra thóc”, chi phối tới mọi ngóc ngách của hệ thống chính trị: Phó thủ tướng thường trực (1997); Thủ tướng (2006).

Người thắng cuộc là người có nhiều phiếu hơn. Người có nhiều phiếu hơn không hẳn vì uy tín lớn hơn mà còn có thể là người có nhiều “gót chân A-Sin” để sau khi bầu lên “đàn em” dễ dàng trục lợi.

Thành phần bỏ phiếu trong Đại hội không bị chi phối một cách trực tiếp bởi nguyên tắc lợi ích như trong Bộ chính trị, Trung ương, nhưng đại biểu lại thường là những người “phục tùng”. Cho dù xác suất rất thấp, Đại hội vẫn có thể tạo ra bất ngờ nếu như các đại biểu hiểu là lá phiếu của họ có thể chỉ tập trung đặc quyền, đặc lợi cho một số người nhân danh “tập trung dân chủ”.

 

Tại Sao Luân Chuyển

“Luân chuyển”, theo Nghị quyết Trung ương Ba, là để “giúp cán bộ trẻ có triển vọng, cán bộ trong quy hoạch được rèn luyện trong thực tiễn”. Nhưng, tại sao một ông phó chánh án Toà án Nhân dân Tối cao lại phải “rèn luyện” bằng cách về tỉnh làm phó bí thư; một ông Viện trưởng Viện Nghiên cứu Châu Phi lại phải cần “thực tiễn” ở ủy ban nhân dân một tỉnh..

Ban Tổ chức Trung ương có bao giờ hỏi ông Nguyễn Văn Giàu, hai năm cách ly với chuyên môn ở Ninh Thuận (2004-2006) có giúp được gì cho ông khi làm Thống đốc. Bí thư tỉnh ủy là một nhà chính trị địa phương trong khi Thống đốc ngân hàng làm công việc của một nhà kỹ trị. Ban Tổ chức cũng có bao giờ hỏi ông Nguyễn Hòa Bình (luân chuyển về Quảng Ngãi 2010-2011), kinh nghiệm làm Bí thư có giúp gì để  một ông tướng công an trở thành Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao. Đứng đầu “viện công tố” mà học được cái lắt léo của “chính trị gia” thì liệu có còn “độc lập, chỉ tuân theo pháp luật”.

Cũng có những cán bộ được quy hoạch để làm chính trị khi về địa phương, bị đặt trước thách thức phải tự “tìm chỗ trống có cơ cấu” như Thứ trưởng Trần Thế Ngọc (trước đương kim Bí thư Trần Thị Kim Cúc ở Tiền Giang hồi năm 2010); Phải phản công tự vệ như phó ban Tư tưởng Văn hóa Phạm Quang Nghị khi về làm Bí thư Hà Nam (1997-2001). “Đấu đá nội bộ” cũng có tác dụng trui rèn bản lĩnh nhưng không phải là con đường nhất định để trở thành chính trị gia.

Không thể coi luân chuyển là “thử thách” khi đó chỉ là quy trình một cán bộ được Ban bí thư xếp sẵn ghế rồi “ẵm” về địa phương. Chỉ có rất ít trường hợp thất bại như Vũ Trọng Kim (Quảng Trị 2001-2005). Luân chuyển chỉ là cơ hội để các bên cài đặt nhân sự của mình vào những vị trí có cơ cấu. Cả khách lẫn chủ đều biết chịu đựng nhau. Xuôi chèo mát mái thì đến hẹn họ mới đi cho. Đó là thời gian “nín thở qua sông” chứ không phải là “rèn luyện”.

Cho dù Đảng kiểm soát tuyệt đối về công tác cán bộ nhưng không có nghĩa là cán bộ của Đảng thì có thể ngồi bất cứ chỗ nào. Có những bí thư tỉnh ủy có thể làm bộ trưởng. Nhưng không có nghĩa ai có “hàm bộ trưởng” là có thể phiên ngang. Chính trị địa phương không giống như chính trị quốc gia và điều quan trọng hơn, viên chức hành chánh, viên chức chính trị và chính khách là những vị trí không thể luân qua, chuyển lại.

Hành Chánh Chuyên Nghiệp

Cho dù độc đảng hay đa đảng một quốc gia muốn ổn định đều cần phải thiết lập được một nền hành chánh công vụ chuyên nghiệp và độc lập. Các viên chức hành chánh, nếu muốn vẫn có thể “học tập đạo đức Hồ Chí Minh” và chính trị Marx – Lenin, nhưng điều họ bắt buộc phải học là chỉ được làm những gì pháp luật cho làm, tuân thủ các chuẩn mực hành chánh một cách chính xác và không cần sáng kiến.

Bộ máy hành chánh có thể hình thành từ trong các bộ, ngành, từ tỉnh, quận, huyện và phường xã. Đứng đầu các bộ máy hành chánh ở tất cả các cơ quan này là những người được đào tạo trong trường hành chánh. Họ là các chủ sự, các đốc sự và tham sự hành chánh. Họ có thể có hàm tương đương với thứ trưởng, phó tỉnh trưởng hay phó quận trưởng…

Các bộ trưởng, tỉnh trưởng có thể bị thay thế sau mỗi nhiệm kỳ, nhưng người đứng đầu bộ máy hành chánh thì chuyên nghiệp. Khi nào có bộ trưởng, tỉnh trưởng mới tới, họ lại giúp tập huấn để các chính trị gia biết giới hạn, thủ tục khi ứng xử các quyền hành chánh.

Viên chức hành chánh là một “ngạch” có thể chọn qua thi tuyển.

Viên chức chính trị bổ nhiệm (political appointee)

Đây là một lực lượng hết sức hùng hậu, trung ương có các bộ trưởng, các thẩm phán (bao gồm cả chánh án), công tố viên (kiểm sát viên – bao gồm cả viện trưởng viên kiểm sát)…; địa phương có các giám đốc sở… Họ được bổ nhiệm bởi những chính trị gia được quốc hội hoặc các cuộc tổng tuyển cử bầu lên như thủ tướng, chủ tịch nước, chủ tịch tỉnh… và thường phải được phê chuẩn của quốc hội hay hội đồng

nhân dân các cấp.

Quyền lựa chọn nhân sự cho các vị trí này thuộc về các chính trị gia. Nếu họ đưa “em út” hay đưa những kẻ “chạy chức, chạy quyền” vào thì có thể sẽ bị phát hiện trong quá trình điều trần. Nếu người mà họ bổ nhiệm không được phê chuẩn thì họ sẽ rất có thể mất uy tín, phải từ chức hoặc chịu thất cử trong nhiệm kỳ kế tiếp.

Tuy quyền lựa chọn là của cá nhân nhưng để có sự hậu thuẫn chính trị các chính trị gia buộc phải lựa chọn nhân sự từ nhiều nguồn khác nhau. Thay vì dựa vào “kho dự trữ cán bộ” của Bộ chính trị, Ban bí thư, Thủ tướng sẽ lựa chọn các bộ trưởng trong hàng các chính trị gia hoặc trong các nhà kỹ trị, các nhà văn hóa lớn; Chủ tịch nước sẽ chọn các thẩm phán không phải từ những người được quy hoạch mà có thể từ các luật sư nổi tiếng, giỏi nghề nghiệp và liêm chính.

Chính Trị Gia

Công tác cán bộ như hiện nay không thể làm xuất hiện chính trị gia cho dù vẫn có những chức danh được đặt vào thông qua bầu cử. Chính trị gia thực thụ phải là những người trưởng thành từ các hoạt động chính trị, xã hội… được công chúng biết đến và chọn lựa.

Không phải tự nhiên, cho dù có học vấn cao hơn, phẩm chất chính trị gia của lãnh đạo càng ngày càng tụt xuống. Trước đây, các lãnh đạo địa phương được điều ra Trung ương thường nhờ thành tích “đổi mới” (như Võ Văn Kiệt, Đoàn Duy Thành, Nguyễn Văn Chính – Chín Cần…). Ngày nay, không ai biết thành tích ở địa phương của các bí thư tỉnh ủy được đưa lên là gì. Không có môi trường chính trị để những người trở thành lãnh đạo thực sự cao hơn các đồng chí của họ “một cái đầu”, các nhà lãnh đạo đã chọn những kẻ kém mình “một cái đầu” cho dễ bảo.

Hiện tượng xuất hiện các nhà lãnh đạo dưới 40 tuổi có học vấn cao, được đào tạo ở Mỹ, ở Canada như Nguyễn Thanh Nghị (phó bí thư Kiên Giang), Nguyễn Xuân Anh (phó bí thư Đà Nẵng) lẽ ra phải được coi là tích cực. Nhưng họ lại đang trở thành đối tượng để dư luận “xì xào”. Vấn đề là tại sao lại chỉ có hai vị ấy mà không phải là những người xuất sắc khác trong số hàng chục ngàn bạn trẻ vừa du học trở về.

Nếu không có một môi trường chính trị minh bạch thì những người tử tế rất khó có chỗ đứng trong giới cầm quyền. Nếu không có một môi trường tranh cử công khai thì người tài không thể xuất hiện và được thử thách. Nếu đội ngũ kế cận chỉ gồm những người được cha chú “lôi từ trong túi áo ra” thì cho dù họ lên tới cấp nào cũng chỉ có thể hành xử như hàng thuộc hạ.

………………….

[1] Trong 44 cán bộ được luân chuyển đợt này, có 2 ủy viên dự khuyết Trung ương, 19  thứ trưởng và tương đương; 25 cục trưởng, vụ trưởng và tương đương; 3 cán bộ nữ. Theo Quyết định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, 25 người giữ chức Phó Bí thư tỉnh ủy, thành ủy; 19 người giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố.

[2]Theo Nghị quyết Trung ương Ba, Khóa VIII: “Cán bộ đứng đầu từ cấp huyện, quận trở lên không giữ một chức vụ quá hai nhiệm kỳ”.

( Nguồn : quechoa)

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 31.03.2014

CÁI HÈN CỦA NGƯỜI NGHỆ SĨ

CÁI HÈN CỦA NGƯỜI NGHỆ SĨ

 

NGUYỄN DUY XUÂN 

 

Khi câu chuyện NSƯT Nguyễn Chánh Tín mất nhà tung lên mạng, tôi cũng như hàng vạn độc giả, hàng vạn người hâm mộ ông không khỏi cảm thấy bàng hoàng, xót xa. Tâm trạng đó xuất phát từ lòng ngưỡng mộ một trong số ít những thần tượng của điện ảnh Việt Nam hơn nửa thế kỉ qua và từ tình cảm nhân ái vốn là nét đặc trưng trong cách ứng xử văn hóa của người Việt.

Nhưng rồi, dần theo ngày tháng, những tình tiết xoay quanh chuyện người nghệ sĩ “sa cơ lỡ vận” cứ phát lộ dần khiến cộng đồng mạng không khỏi bức xúc, thậm chí là bất bình.

Hóa ra câu chuyện không như mọi người nghĩ lúc ban đầu. Đằng sau nó còn nhiều uẩn khúc.
(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 30.03.2014

MAI VĂN HOAN LÀ RỨA ĐÓ

MAI VĂN HOAN LÀ RỨA ĐÓ !

 

                                                                      Ngô Minh

 

         Làng Thanh Khê cát biển gió sóng bên bờ nam Sông Gianh, Quảng Bình ấy đã sinh ra 3 nhà văn  có chỗ đứng trên văn đàn Việt làHoàng Bình Trọng, Nguyễn Hữu Quý và Mai Văn Hoan. Có lẽ xứ ta chưa có một làng quê nào có nhiều nhà văn như vậy.  Đến  nay, nhà thơ- thầy giáo Mai Văn Hoan đã in 6 tập thơ trữ tình: Ảo ảnh (1988), Giai điệu thời gian (1989), Hồi âm (1991) ),Trăng mùa đông (1997 ) Giếng Tiên (2003) ), Lục bát thơ ( 2006);Rượu quê ( 2011), 5 tập tiểu luận, trong đó có tập Truyện Kiều – đọc và ngẫm in năm 2013 được một lúc 2 giải thưởng : Giải tác phjaamr xuất sắc của Hội Nhà văn THừa Thiên Huế và giải tặng thưởng tác phẩm xuất sắc của Quỹ Phùng Quán . Các taqcs phẩm của Mai VĂn Hoan, nhất là thơ luôn được các bạn trẻ là sinh viên, học sinh Vinh, Huế, Đồng Hới…  thuộc lòng  và chép đầy sổ tay . Nhưng khi nói về  Mai Văn Hoan người ta luôn kể về những lứa học trò và những câu chuyện lạ lùng cảm động…

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 29.03.2014

Chuyện vui : GỬI EMAIL SAI ĐỊA CHỈ

Chuyện vui :
Gởi Email sai Địa Chỉ.

 

 Một đôi vợ chồng ở Tiểu bang Minnesota (Mỹ) quyết định đến Florida để tránh mùa đông khắc nghiệt. Họ muốn đến khách sạn mà họ đã hưởng tuần trăng mật 20 năm trước. Nhưng vì lịch trình có đôi chút rắc rối nên ông chồng đi trước, bà vợ đi sau một ngày.

Vậy là ông chồng đến và thuê được khách sạn như đã định. Trong phòng có một chiếc máy vi tính và ông bật lên để gửi e-mail về cho bà vợ. Tuy nhiên, ông lại bất cẩn ghi thiếu một chữ cái trong địa chỉ mà cứ thế gửi đi.
Trong khi ấy, ở một nơi nào đó tại Houston, một bà góa vừa trở về nhà sau đám tang của ông chồng. Buồn rầu, bà bật máy tính lên để xem thư chia buồn của bạn bè và người thân. Sau khi đọc xong lá thư đầu, bà bỗng la lên thất thanh và ngất xỉu. Cậu con trai nghe tiếng, chạy vội lên và thấy mẹ đang nằm vật ra sàn. Còn trên màn hình là nội dung bức e-mail:

From : nguoiyeumuonthuo@yahoo.com
To :
Em yêu, anh đã đến nơi, người vợ thương yêu của anh !
Anh biết là em rất ngạc nhiên khi nhận tin từ anh. Ở đây họ cũng có máy vi tính và anh có thể gửi e-mail cho những người thân yêu của mình. Anh vừa mới tới và làm thủ tục nhận chỗ. Anh thấy dường như mọi thứ đã được chuẩn bị xong để chào đón em vào ngày mai. Anh mong gặp em lắm. Anh hy vọng chuyến đi của em cũng tốt đẹp như của anh.
Người yêu của em.

PS : Ở đây nóng lắm em ạ.—

( nguồn : Nhà văn Trần Thùy Mai)

Chính trị hóa khoa học và văn học để ‘đánh’ Nhã Thuyên là không chính danh

 
Trần Mạnh Hảo

Thạc sĩ văn học Đỗ Thị Thoan (bút danh Nhã Thuyên), sinh năm 1986, từng là giảng viên khoa văn trường đại học sư phạm Hà Nội (mới bị đuổi việc) đang cực kỳ nổi tiềng với luận văn thạc sĩ: “Vị trí của kẻ bên lề: Thực hành thơ của nhóm Mở Miệng từ góc nhìn văn hóa” do PGS.TS Nguyễn Thị Bình, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội hướng dẫn” đã được hội đồng các giáo sư phản biện cho điểm tuyệt đối 10/10 vào tháng 11-2010; sau ba năm, nay nhờ nhà phê bình văn học Chu Giang (Nguyễn Văn Lưu) và GS. Phong Lê và ngót một trăm bài “đánh” khác trên các báo “ lề phải” …mà Nhã Thuyên đường đường chính chính bước vào lịch sử văn học, một mình làm thành hiện tượng kỳ vĩ ngang ngửa với vụ án “ Nhân Văn giai phẩm” ngày xưa.

Trong “ Hội nghị lý luận phê bình lần thứ 3 của Hội nhà văn VN “ ngày 05/6/2013, nhà phê bình văn học Chu Giang & GS. Phong Lê đã lên diễn đàn tố cáo luận văn thạc sĩ trên của Nhã Thuyên là phản động chống đảng, muốn lật đổ chủ nghĩa xã hội và đảng cộng sản, rằng khoa văn trường đại học sư phạm Hà Nội là một ổ phản động; tiếp đến báo “Văn Nghệ TP HCM” ngày 13/6/2013 in bài đầu tiên của ông Chu Giang (Nguyễn Văn Lưu) bắn phát đại bác mở màn cho đại chiến dịch tấn công của chế độ đương thời vào “thành lũy của đế quốc Nhã Thuyên” có tên: “Vấn đề ở khoa văn đại học sư phạm Hà Nội – Một luận văn kích động sự phản kháng và chống đối” (hai số sau của báo này, ông Chu Giang lại in tiếp hai bài đánh vu hồi khác vào bản luận văn trên: “Văn sư tử và văn cầy cáo”, “không thầy đố mày làm nên”) đã mở đầu một chiến dịch “ Điện Biên Phủ trên giấy và trên Internet “đánh vào “ tên đế quốc Mỹ bé xíu Nhã Thuyên” của các báo chính thống hùng mạnh nhất nước: Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, Công an nhân dân, tạp chí Cộng Sản, Hà Nội mới, Sài Gòn giải phóng, Công an TP. HCM, Công an thủ đô, báo Thanh Tra, Văn Nghệ, Văn Nghệ quân đội, Văn Nghệ Trẻ, Hồn Việt, Đài tiếng nói Việt Nam, báo mạng Vietnamnet, VNexpress, mạng Dân Trí, cùng hàng trăm mạng chính thống khác, thì hiện tượng Nhã Thuyên không còn nằm trên bình diện quốc gia mà đã loang ra thành bình diện quốc tế.

Nói chơi, nếu nhà nước ta dại dột nghe theo đám thầy dùi Phong Lê, Chu Giang… mà ra lệnh bắt Nhã Thuyên, tôi tin không chỉ có đế quốc Mỹ can thiệp mà ngay cả các nước dân chủ trong khối ASEAN cũng có thể can thiệp…

THOAN 2

Nếu luận văn thạc sĩ này được dịch ra tiếng Anh, được giảng dạy trên các đại học thế giới, nhất định Nhã Thuyên sẽ được giải thưởng quốc tế về công trình nghiên cứu khoa học này, thậm chí cô có thể được mời thỉnh giảng ở các đại học danh giá như Harvard không chừng…thì công lớn lăng xê Nhã Thuyên lên hàng nhân vật nổi tiếng thế giới này thuộc về ông Chu Giang, ông Phong Lê và các báo lớn nhất của chế độ vậy !

Tất cả ngành truyền thông vĩ đại của chế độ xã hội chủ nghĩa của nước Việt Nam đang cùng hè nhau kết tội một cô bé tài ba Nhã Thuyên, mới 24 tuổi đã bảo vệ thành công xuất sắc điểm 10/10 luận văn thạc sĩ văn học về một đề tài gai góc nhất, khó khăn nhất là thơ của nhóm “ Mở Miệng” và đã được mời làm giảng viên khoa văn đại học; cả hệ thống truyền thông ấy cùng “ bề hội đồng” kết án rằng: Nhã Thuyên, bằng luận văn thạc sĩ đã phạm tội: “ âm mưu lật đổ đảng cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, “ kích động nhân dân chống chế độ”, “ phỉ báng, bôi nhọ chủ tịch Hồ Chí Minh”, “ một luận văn vô văn hóa, bẩn thỉu, đê tiện, chống lại chế độ, chống lại dân tộc, chống lại đất nước và chống lại cả loài người”…

Người viết bài này không thể kể hết ra đây các thứ tội lỗi khác mà hàng trăm cơ quan truyền thông của chế độ đã kết án Nhã Thuyên bằng những lời kém văn hóa nhất.

Người viết bài này cũng đã tìm đủ mọi cách nhưng không thể có bản luận án thạc sĩ của Nhã Thuyên trong tay, nên không thể kiểm định xem bản luận án bị kết tội kia đúng sai hay dở ra sao ? Do vậy, với bài báo này, chúng tôi nhằm phê bình cái cách mà người ta kết tội một nhà khoa học trẻ là một phương cách phản khoa học, phản nhân văn, phản Marxism.

Với những tội tày trời cả chế độ đã kết án Nhã Thuyên, xem ra còn to hơn các tội lỗi được quy kết cho hai người cầm đầu vụ án Nhân Văn giai phẩm ngày xưa là bà Thụy An (1916-1989) và ông Nguyễn Hữu Đang(1913-2007); cứ bằng những tội bị kết trên, Nhã Thuyên có thể bị kêu án tử hình mới xứng

Than ôi, cả một hệ thống truyền thông của một chế độ tự khoe mình dân chủ tự do hơn triệu lần Mỹ, Anh, Pháp…lại không dám in trọn vẹn luận văn thạc sĩ của Nhã Thuyên ra công khai để mọi người kiểm chứng xem đúng sai hay dở ra sao, đã dùng phương pháp luận “ người mù sờ voi” chính trị hóa khoa học, chính trị hóa văn học để đàn áp khốc liệt, kết tội, lăng nhục hết mức một con người, một nhà khoa học, một nhà văn mà tuổi đời chỉ đáng bằng cháu nội, cháu ngoại ông Phong Lê mà thôi, thì các ông, các vị, các giáo sư, các đồng chí ơi, các đồng chí không còn chính danh nữa rồi, không còn tử tế, không đàng hoàng nữa rồi khi các đồng chí luôn nhân danh Marx để chống lại học thuyết Marx nói về khoa học, văn học nghệ thuật. Chúng tôi sẽ chứng minh.

GS. Phong Lê là một trong những người từng đi đầu trong cộng cuộc “cởi trói văn học” 1986 (chữ của tổng bí thư Nguyễn Văn Linh) được dư luận kính trọng, nay sao lại chưa hề đọc văn bản bản luận án này của Nhã Thuyên, đã vội kết án tội khi quân chết người cho nhà khoa học nghiên cứu văn học trẻ tuổi chỉ bằng tuổi cháu chắt mình là sao ? Xin trích:

\

 

“Nhóm “Mở Miệng”: lịch sử văn học đẫm máu sắp lập lại?

Mặc Lâm, biên tập viên RFA

2013-07-20

Riêng Giáo sư Phong Lê, người mà bài báo mô tả: “hai lần lên diễn đàn đề nghị các cơ quan chức năng phải làm việc nghiêm khắc và xử lý thích đáng đối với tác giả bản luận văn cũng như hội đồng chấm luận văn” trần tình với chúng tôi: Bài viết trên tờ QĐND hôm 7/7/2013 có tên “Một góc nhìn phản văn hóa và phi chính trị”. Screen capture.

“Sự thật là thế này: điều ấy tôi biết được qua thành viên chủ trì cuộc họp đó đó là anh Chu Giang. Anh này khảo rất sâu về luận văn đó và anh sâu ngược lên về nhiều chuyện khác nữa và anh viết trên tờ Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh anh đặt vấn đê phải kiềm tra lại khoa văn Đại học Sư Phạm vì sao lại đào tạo ra cái luận văn như thế. Tôi chưa được đọc trong nội dung ấy tức nhiên là phức tạp, mỗi người một cách đánh giá nhưng tôi nói rằng nếu như nội dung ấy đúng như anh nói thì nó phạm phải một đìêu mà tôi cho là không thể giải thiêng được và xúc phạm đến Hồ Chí Minh, xúc phạm nhiều chân lý, nhiều điều đáng lẽ phải tôn trọng. Đối với tôi việc giải thiêng Hồ Chí Minh thì tôi không chấp nhận đựơc và tôi nói nếu sự thực như thế thì hội nhà văn nên kiến nghị với Bộ Giáo dục về việc phải xem lại cái nội dung của luận văn đó chứ tôi không bao giờ nói công an cả. Câu chuyện này tôi biết ở trên họ đã bắt đầu “động” rồi đấy. Sắp tới báo chí nó sẽ xuất hiện.”

Theo những thông tin mà chúng tôi có thì Giáo sư Phong Lê là một thành viên trong hội đồng xem xét trường hợp luận văn này và nó sẽ bắt đầu trong thời gian ngắn sắp tới.”

(hết trích)

Cả một nền truyền thông của đảng cộng sản Việt Nam cũng như GS. Phong Lê, chưa hề đọc văn bản của người ta, không dám in công khai bản luận văn cho bạn đọc đối chứng, chỉ nghe hơi nồi chõ mấy đoạn trích bị cắt xén trong bản luận văn thạc sĩ Nhã Thuyên nơi bài báo của ông Chu Giang, rồi vội vàng kết tội chết người cho nhà khoa học trẻ, thì việc làm này đã phạm vào luân thường đạo lý tối thiểu của con người, mắc vào tội vu cáo, tội ăn gian nói dối rồi đó.

Đưa bản luận văn thạc sĩ của Nhã Thuyên ra tòa buộc tội mà không hề dẫn chứng, không hề trưng ra chứng cớ nguyên trạng, chỉ cắt một tí móng tay, trưng ra một sợi tóc của bản luận văn rồi kết tội bản luận văn và chính Nhã Thuyên mắc tội lật đổ đảng, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa, phỉ báng lãnh tụ… thì việc làm này có khác gì các ông lấy hai bao cao su đã dùng rồi để buộc tội tuyên truyền chống chế độ xã hội chủ nghĩa cho tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ vừa qua ?

Cả một nền truyền thông hè nhau đánh tráo khái niệm. Luận văn thạc sĩ của Nhã Thuyên nằm trong thể loại nghiên cứu khoa khọc, dùng khoa học để khảo sát một hiện tượng văn học, các ông lại dùng chính trị để làm hệ quy chiếu quy kết một văn bản khoa học là hoàn toàn chống lại phương pháp luận Marxism.

Chủ nghĩa Marx từng chỉ ra kinh tế là hạ tầng cơ sở quyết định thượng tầng kiến trúc xã hội. Thượng tầng kiến trúc gồm có chính trị, khoa học, văn học nghệ thuật…Nằm chung trên một mặt bằng của thượng tầng kiến trúc, khoa học, văn học, tôn giáo, triết học… tồn tại độc lập với chính trị. Việc các vị nhân danh Marx để đồng nhất khoa học cũng là chính trị, văn học cũng là chính trị, thậm chí các vị còn bảo văn học, khoa học, tôn giáo, triết học… đều là đày tớ của chính trị, với khẩu hiệu “ văn học phục vụ chính trị” là những quan niệm phản Marxism.

Dùng vũ khí chính trị để đàn áp một đề tài khoa học như việc báo Nhân Dân và các báo lớn nhất nước vừa làm để trấn áp, kết tội một luận văn khoa học của Nhã Thuyên là một hành vi chống lại chủ nghĩa Marx của những người tự xưng là cộng sản, tự xưng là Marxism, rõ ràng là một việc làm không chính danh, không đàng hoàng, không tử tế của các thế lực bảo thủ toan “gây ra một cơn bão trong tách trà” để cốt ý gây rối, phá hoại con đường đổi mới của đất nước trong những tháng ngày nước sôi lửa bỏng giặc ngoai xâm đang lăm le xấm chiếm biển đảo và đất đai Tổ Quốc hôm nay (!)

Một lần nữa, chúng tôi mong nhà khoa học, nhà văn, thạc sĩ Nhã Thuyên hãy bình tĩnh và thầm cám ơn hai ông Chu Giang & Phong Lê, cùng cám ơn cả hệ thống truyền thông phản biện chứng (chống lại biện chứng pháp Marxism, triệt tiêu đối lập, triệt tiêu phản kháng, độc tôn chính trị, độc tôn chân lý) đã giúp cô (cháu) thành hiện tượng nổi tiếng vào bậc nhất trong lịch sử khoa học và văn học Việt Nam đương đại, giống như chỉ mình cô (cháu) đã làm ra cả một phong trào Nhân Văn Giai phẩm đời mới.

Trần Mạnh Hảo xin chúc mừng Nhã Thuyên; và nhân đây, chúng tôi xin nhờ chú em kết nghĩa ngày xưa là nhà thơ thần đồng Trần Đăng Khoa một việc nhỏ như con thỏ: nhờ Khoa ra ngay chợ hoa Ngọc Hà mua dùm anh Hai một bó hoa thật đẹp, rồi tìm đến nhà tặng Nhã Thuyên dùm anh Hai với nhé ! Xin cám ơn.

 .Sài Gòn ngày 08-8-2013

( Nguồn : quechoa)

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 28.03.2014

TÂM LINH VÀ HUYỀN BÍ SẮC DỤC TRONG VĂN CHƯƠNG

TÂM LINH VÀ HUYỀN BÍ SẮC DỤC TRONG VĂN CHƯƠNG

  •   NHẬT CHIÊU

 

Hỡi Thượng đế!

Người nhìn xem, Người đã cho thân thể

Bình thịt xương để đựng chứa linh hồn.

Đó là mấy vần thơ của Huy Cận trong tập Lửa Thiêng (1940)

Cái nhìn nhị đối ấy về con người, về bản ngã ấy tất nhiên có trước Huy Cận từ rất lâu trong truyền thống phương Tây: thân thể là cái bình chứa linh hồn.

Chính vì thế mà văn hào D.H.Lawrence vào khoảng năm 1925 đã viết:

Chúng ta thường có những ý tưởng kỳ lạ về bản ngã. Ta cho rằng bản ngã như một thân thể với linh hồn trong đó,… Năm tháng nốc cạn rượu, thế là ném vứt cái bình đi, và dĩ nhiên thân thể là cái bình”. [5,tr.533]

Và Lawrence nhận thấy đó là “một loại mê tín buồn cười” (a funny sort of superstition) [5,tr.533]

Cái nhìn nhị đối xác/hồn ấy thường đưa đến một nhát cắt tai ương, rằng hồn linh thuộc về một thế giới khác, nhẹ và thanh trong khi thân xác thì thuộc về trần tục, nặng nề và ô trọc. Hơn nữa, nếu linh hồn phạm tội và sa đọa, đó là vì thân xác kéo lôi nó, như Huy Cận diễn tả trong bài thơ Thân thể:

A! Thân thể! Một cái bình tội lỗi!

Đất sơ sinh đã hóa lại bùn lầy.

Thân quá nặng nên hồn sa xuống thấp,

Chớ giận chi những kẻ mất thiên đường!

Và thế là, thân thể hay xác thịt bị tôn giáo lên án. Hiện hữu trần thế bản nguyên ấy bị lên án. Sự khỏa thân bị lên án. Tình dục bị lên án. Từ đó ra đời bao nhiêu điều cấm kỵ, kiểm duyệt, trừng phạt, thậm chí khủng bố nhân danh thuần phong mỹ tục, nhân danh kinh sách, nhân danh thánh thần và thánh hiền. Họ tấn công vào thân xác, đóng đinh thân xác vào những xác ướp ý niệm (những concept-mummies như chữ dùng của Nietzsche).

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 28.03.2014

NHIỀU TIẾN SĨ ĐỂ LÀM GÌ ?

Đừng để Việt Nam mang tiếng “quốc gia nhiều tiến sĩ”

Đừng để Việt Nam “mang tiếng” dài lâu là một quốc gia nhiều giáo sư, tiến sĩ nhưng lại quá hiếm những công trình, sáng kiến tầm cỡ, chỉ giỏi “kiếm quyền, kiếm tiền”.  

Thực tế, số giáo sư, tiến sĩ chúng ta nhiều nhất Đông Nam Á nhưng không có trường đại học Việt Nam nào được đứng trong bản xếp hạng 500 trường đại học hàng đầu thế giới đã được PGS-TS Phạm Bích San, Phó Tổng thư ký Liên hiệp Các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) thừa nhận. 

Những rào cản không đáng có

Số 24.300 tiến sỹ mà báo chí vừa nêu có thể làm quan, làm chủ doanh nghiệp hoặc đang giảng dạy ở các trường cao đẳng, đại học nhưng hình như, công việc nghiên cứu khoa học đối với họ vẫn bị “xem nhẹ”, không phải là mục tiêu  đáng được quan tâm, đáng được ưu tiên nhất. Vì thế, các công trình khoa học, các bằng sáng chế tầm cỡ khu vực và thế giới thật khan hiếm, hầu như không có.

(Ảnh minh họa)

(Ảnh minh họa)

Nói đến nguyên nhân vì sao như vậy thì rất nhiều, chủ quan có, khách quan có. Nhưng cái nguyên nhân chủ yếu vẫn chính là cái cơ chế “sính” học vị, “nặng” bằng cấp khiến cho cả guồng máy xã hội, nhà nhà, người người mệt mỏi điên cuồng chạy theo cái “danh ảo”… bằng mọi giá, bằng mọi cách có thể. Để rồi từ đó, lại tiếp tục lao vào công cuộc “kiếm quyền, kiếm tiền” mà bỏ quên mất điều cốt lõi cần có của khoa học là niềm đam mê được duy trì liên tục trong công việc tìm tòi nghiên cứu chuyên môn.

Và những học vị “vinh quang” kia cùng thói quen “kiếm tiền, kiếm quyền” lâu ngày thành quán tính, từ đó mà đánh mất đi sự nhạy cảm vốn có của mình đối với các “hiện tượng” khoa học, con người khoa học cụ thể. Người làm khoa học, làm quản lý khoa học, song song với trách nhiệm chuyên môn cần phải có thái độ quan tâm, phát hiện, hướng dẫn, tạo điều kiện cho những “mầm đam mê” sáng chế, khoa học phát triển, ra hoa kết quả.

Hoặc vì những lý do nào đấy không thể giúp ích, tạo điều kiện cho “người ta” thì cũng không nên ngăn cấm, cản trở “người ta” làm khoa học với niềm đam mê nhiệt huyết thật sự của mình. Cho dù “người ta” chỉ là thợ cơ khí, thợ thủ công, hay là những nông dân chân lấm tay bùn…

Đất nước ta không thiếu những “hiện tượng” khoa học, không thiếu những con người đam mê sáng chế, đam mê khoa học thật thụ. Báo chí hàng ngày vẫn cần mẫn phát hiện ra những “hạt nhân” đầy khát khao ấy, nào là người sáng chế ra máy tuốt lúa, máy gặt, máy xay xát, sáng chế ra tàu ngầm, ra máy bay, ô tô, mô tô… Họ âm thầm hăng say làm điều mình yêu thích, vui buồn cùng với những lần thất bại hay thành công của chính bản thân mình.

Nhưng, sự lao động trong sáng đầy ý nghĩa ấy lại gặp những “rào cản” không đáng có từ những người, đáng lẽ ra chỉ phải khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho những nhà sáng chế ấy. Mới đây, câu chuyện anh thợ máy Nguyễn Văn Thắng, người đang tự nghiên cứu chế tạo máy bay trực thăng, đã có một cuộc làm việc với… công an.

Kết quả là anh Thắng phải ký vào một biên bản buộc anh phải dừng toàn bộ việc nghiên cứu, chế tạo máy bay trực thăng. Những cán bộ này còn yêu cầu anh Thắng dỡ bỏ động cơ khỏi máy bay, như vậy, ước mong sản xuất ra trực thăng “made in Việt Nam” của anh Thắng có thể đã tan tành mây khói?!

Ở Việt Nam không thể có thiên tài?

Cũng câu chuyện mới đây tương tự như vậy, tại nước Anh xa xôi, họ “ứng xử” hoàn toàn khác. Với niềm đam mê nghiên cứu khoa học, cậu bé Jamie Edwards luôn thử làm những bài tập về nhà của anh trai mình. Một ngày, khi đang tìm kiếm trên internet về bức xạ và năng lượng hạt nhân, cậu bé đã nhìn thấy lò phản ứng hạt nhân của nhà khoa học Taylor Wilson tạo ra khi mới 14 tuổi, và từ đó cậu bé nuôi mơ ước chế tạo một sản phẩm tương tự.

Báo chí kể lại rằng, ban đầu, Jamie tìm đến sự giúp đỡ từ nhiều phòng thí nghiệm hạt nhân và các khoa ở trường đại học nhưng thấy họ không nhiệt tình lắm, Jamie quyết định thuyết phục Hiệu trưởng Jim Hourigan của Học viện Penwortham. Và trường đã đồng ý cấp cho Jamie ngân sách 3.350 USD để cậu bé thực hiện dự án.

Từ tháng 10/2013, cậu bé Jamie đã bắt tay xây dựng các lò phản ứng hạt nhân trong một môi trường đã kiểm soát, và đến ngày 5/3/2014, em đã thành công khi khiến 02 nguyên tử hidro kết hợp với nhau để tạo thành Helium. Jamie Edwards trở thành người trẻ nhất trên thế giới chế tạo thành công lò phản ứng hạt nhận khi mới 13 tuổi. Nhà khoa học nhí cho biết: “Đây thực sự là một kỳ tích. Chính em cũng không thể tin được, thậm chí bạn bè nghĩ rằng em bị điên”.

Từ hai sự kiện trên, các nhà quản lý nước ta nói chung và những nhà quản lý khoa học nói riêng cũng cần phản xem xét thật nghiêm túc thái độ của mình trước những “hạt mầm” đam mê khoa học cụ thể và có những phương pháp ứng xử thích hợp tiến bộ hơn, thuận cả tình lẫn lý. Đừng để Việt Nam “mang tiếng” dài lâu là một quốc gia nhiều giáo sư, tiến sĩ nhưng lại quá hiếm những công trình, sáng kiến tầm cỡ, chỉ giỏi “kiếm quyền, kiếm tiền”.

Có ai đó từng nhận định “ở Việt Nam không thể có thiên tài”, hơi cực đoan nhưng không hẳn là không có lý. Hàng năm, sinh viên học sinh Việt Nam mang về không biết bao nhiêu là các loại huy chương quốc tế. Thế nhưng càng lớn thì những “ngôi sao sáng”đó càng “tối” hoặc “tắt hẳn” hoặc “rơi rụng” ở chân trời xa xôi nào đó.

Lịch sử khoa học cho thấy rằng các vĩ nhân, các nhà sáng chế thiên tài chưa hẳn đã là phải là giáo sư, tiến sĩ, nhưng 100% những người xuất chúng ấy đều có một niềm đam mê thật thụ và liên tục với lĩnh vực mà họ quan tâm.

Hãy khoan nói đến những điều to tát, điều cần làm ngay bây giờ đối với những nhà quản lý khoa học nước nhà là biết quan tâm đúng mực và có trách nhiệm đối với những “hiện tượng” cụ thể, những đối tượng đam mê sáng tạo cụ thể ở trong nước. Thậm chí, cần thiết cũng phải tạo điều kiện, lên tiếng bênh vực bảo vệ những suy tư trong sáng và đáng quý của những người được “đám đông” cho là “điên rồ” đó.

Nhà nước ta coi việc phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu, với mục tiêu đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, khoa học và công nghệ đạt trình độ phát triển của nhóm các nước dẫn đầu ASEAN. Nhưng, nếu như những nhà quản lý không thay đổi nhận thức, vẫn cái kiểu “cấm cản” quen thuộc thường thấy và tư duy “mộc mạc, đơn sơ” về quan niệm bằng cấp thì rồi cái mục tiêu vĩ đại ấy cũng sẽ tiếp tục trở thành những “lời nói suông” không hơn không kém.

Phước Minh (Theo Tuần Vietnam)

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 28.03.2014

MỘ CỔ 2000 NĂM CỦA VUA NAM VIỆT

Khám phá cổ mộ trên 2000 năm với cổ vật, vũ khí, vật dụng và châu báu của vua Nam Việt

 (VTC News) – Các nhà khoa học đã kinh ngạc khi phát hiện tất cả các gian phòng đều chứa ăm ắp cổ vật, toàn vũ khí, vật dụng và châu báu.

Vào tháng 8/1980, trong quá trình san lấp quả đồi Tượng Cương (Quảng Châu, Trung Quốc), để xây cao ốc, khi đào sâu vào núi đá khoảng 20m, đã phát hiện lăng mộ khổng lồ. Theo tường thuật, thì hôm đó, chiếc máy múc xúc đất sâu vào núi, tạo ra lỗ thủng lớn. Dưới lỗ thủng là những phiến đá khổng lồ, máy múc không phá nổi. Doanh nghiệp đã dừng công việc, báo cáo chính quyền. Khi điều tra, các nhà khảo cổ khẳng định đây là ngôi mộ đá, được tạc vào trong lòng núi. Như vậy, chắc chắn phải có lối vào. Mở rộng khai quật, các nhà khảo cổ đã phát hiện một lối vào, sâu đến 20m. Lối vào đã bị lấp bởi những tảng đá lớn. Ngôi mộ nằm sâu trong núi đá, nên đã được bảo quản toàn vẹn suốt hơn 2.000 năm.
 Ngay lập tức, công tác khai quật bắt đầu. Các nhà khoa học đã gặp nhiều khó khăn khi tìm đường vào ngôi mộ, bởi lối vào được bố trí bởi các cơ quan bí mật. Phía sau cánh cửa đá có một bộ phận, mà khi đóng cửa, bộ phận đó tuột ra, làm vòm cửa đóng xuống. Khi cửa được đóng lại, thì ngôi mộ vĩnh viễn chìm vào quên lãng, không ai vào ra được nữa. Các nhà khoa học đã phải phá đá mới vào được bên trong. Phần chính lăng mộ có diện tích 100 mét vuông, gồm 7 gian phòng, tường ốp đá xanh, trần được lắp ghép bằng những phiến đá lớn, dày, nặng cả chục tấn. Các nhà khoa học đã kinh ngạc khi phát hiện tất cả các gian phòng đều chứa ăm ắp cổ vật, toàn vũ khí, vật dụng và châu báu.
 

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 27.03.2014

CHÙM THƠ TÌNH :EM LÀ BIỂN

Ngô Minh

 

          EM LÀ BIỂN

 

 em là biển cho lòng anh xoáy sóng

thủy triều dâng ứ ự giấc mơ

con sào chống lay bờ cỏ thức

biển vặn mình hức hức mùa khơi

 

em là biển cho đời anh thèm khát

mơ núm hồng ngực nhú đảo xa

mơ gối trời ôm trăng mà ngủ

sóng trườn lên phủ ướt bãi bờ

 

em là biển nước trời mặn chát

cho anh say như rượu ngả nghiêng

gục môi vào cõi u minh biển thở

con buồm tình căng gió đêm đêm

 

                         Huế, 20/2/2013

(Đọc tiếp…)

Nhà thơ Đỗ Trọng Khơi

Vòng trắng qua lời bình của Đỗ Trọng Khơi

Đỗ Trọng Khơi

Vòng trắng

Khói bom lên trời thành một cái vòng đen
Trên mặt đất lại sinh bao vòng trắng
Tôi với bạn tôi đi trong yên lặng
Cái yên lặng bình thường đêm sau chiến tranh
Có mất mát nào lớn bằng cái chết
Khăn tang, vòng tròn như một số không
Nhưng bạn ơi, ở bên trong vòng trắng
Là cái đầu bốc lửa ở bên trong.
8 – 1974
(in lần đầu trên tạp chí Thanh niên)

PHẠM TIẾN DUẬT

         Lời bình của ĐỖ TRỌNG KHƠI

         Bài thơ ra đời gây sự bất ngờ không nhỏ với nhiều bạn đọc vốn yêu thơ Phạm Tiến Duật trong chiến tranh. Qủa vậy, khi một tác giả được biết đến với những câu thơ ngời ngời khí thế lạc quan và hăm hở mùi chiến trận: “Đường ra trận mùa này đẹp lắm/… Xe không kính không phải vì xe không có kính/ Bom giật bom rung …v.v…” Vậy mà nay đột nhiên người ta gặp một bài thơ nói về cái chết, mà lại là “cái chết do chiến tranh” với tính phủ định cao thì tránh sao khỏi ngỡ ngàng, thậm chí thất vọng. 

Khói bom lên trời thành một cái vòng đen
Trên mặt đất lại sinh bao vòng trắng
Tôi với bạn tôi đi trong yên lặng
Cái yên lặng bình thường đêm sau chiến tranh

         Thơ được cấu tứ từ sự đăng đối hình ảnh của hai màu “đen, trắng” trong một cái “vòng” tạo bởi khói bom. Sự tương phản trắng – đen, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, ở đây không gây bất ngờ cho nhận thức, điều bất ngờ chỉ đến với sự xác nhận hậu quả và tính giá trị sau đó. Nói vậy bởi có thời kỳ, trong đời sống xã hội con người, làm việc và chiến đấu chỉ cần với “niềm tin vào ngày mai” mà không cần phải biết “niềm tin” đó đến từ đâu, ngày mai đó, thực chất như thế nào, có cần cho mình không? Cũng bởi vậy, ngay cả trước cái “vòng trắng” chết chóc kia thường cũng được xem “nhẹ tựa lông hồng”… Rồi câu thơ “Cái yên lặng bình thường đêm sau chiến tranh” xuất hiện, báo hiệu có gì đó bất bình thường. Vì sao? Vì ngay sau đó là cả một vấn đề: “Có mất mát nào lớn bằng cái chết” (?) Câu thơ này mang trong nó hai năng lục khẳng định và phủ định. Đúng là trong đời – sống thì không có mất mát nào lớn bằng cái chết; lại thêm một phủ định: “Khăn tang, vòng tròn như một số không”, tới đây tư tưởng thơ lộ rõ, tính lưỡng lự trong việc tiếp cận, lý giải chân giá trị đã không còn nữa. Câu thơ dường như một khẳng định giá trị, là bằng: “không”! Qủa vậy, thật khó có lương tri nào lại không nhiều trăn trở khi định đoạt “giá trị” trên những “vòng trắng” chết chóc của con người! Bởi nhận thức vậy, tác giả mới tiến tới một phẫn nộ, dự báo khi hạ bút kết bài:
         Là cái đầu bốc lửa bên trong
         Để có được chuyển đổi nhận thức này tác giả, và có thể nói, chúng ta đã phải đi qua nhiều mất mát đau thương, với quãng thời gian không hề ngắn. Bài thơ với những câu thơ có tính phủ định, và sức gợi mở cao nhằm tiếp cận lại vấn đề, bản chất của chiến tranh, giá trị mai hậu của chiến thắng, như trường hợp bài Vòng trắng của người thi sỹ – chiến sỹ lừng danh Phạm Tiến Duật, người vừa bước ra từ hào quang chiến trường (1974), thực là quá bất ngờ, hiếm gặp ở thời điểm đó.
         Lẽ thường với sự xuất hiện sáng tác mang trong nó quan điểm nhận thức hoàn toàn mới lạ với quan điểm nhận thức vốn có ở một tác giả đã thành danh, có tư tưởng nghệ thuật, thì đây phải là một mốc giới đánh dấu một lộ trình thi pháp, tư tưởng khác biệt sẽ đến. Vậy sao với trường hợp nhà thơ Phạm Tiến Duật điều đó đã không xẩy ra, bài thơ Vòng trắng chỉ dừng lại sự xuất hiện đơn độc, như một ánh chớp chợt loé lên rồi tắt lịm vào âm u thăm thẳm, hơn thế, về mặt chính trị xã hội với tác giả thì bài thơ lại mang đến những phiền tạp không nhỏ?
         Để giải quyết căn rễ điều này, vấn đề gặp phải là rất rộng, mang tính hệ thống, thời đại, ở phạm vi hẹp trong hành trang nghệ thuật một tác giả, một số phận con người, nó chỉ nằm ở chữ tài năng và bản lĩnh nghệ thuật.
                                                                                 ĐTK

( Nguồn : trannhuong.com)

(Đọc tiếp…)

Khi cán bộ chính trị kiềm tỏa người trí thức

LMHT

Câu chuyện về thạc sĩ Nhã Thuyên và luận văn của cô đang bị hội đồng chấm lại một cách bí mật dưới sức ép từ trên xuống đang – đã và sẽ gây ra nhiều tranh cãi. Nó làm cho không ít người nhớ lại cuộc kiểm điểm bài Dư Âm (nhạc sĩ Nguyễn Văn Tí), một Nhân văn – Giai phẩm của cái thời kỳ “cách mạng sôi nổi” ấy, hay gần đây nhất là một “Cánh đồng bất tận” của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư.

Sở dĩ có sự liên tưởng tương đồng như thế là vì tất cả đều có sự tham gia phát giác, đấu tố của các cán bộ chính trị trong các vấn đề mang tính học thuật, khoa học xã hội.

Cho nên mới có chuyện, những nhà phê bình văn học lại sử dụng luận điểm “phản lại chế độ” để chấm dấu hết cho cả một công trình nghiên cứu. 

Cho nên mới có chuyện, cho điểm tuyệt đối, rồi ba năm sau lại xóa bỏ toàn bộ điểm dành cho một luận văn, loại bỏ những người từng chấm bài thi trước đó đã cho thấy sự can thiệp thô bạo của chính trị bấy lâu nay trong địa hạt học thuật.

Sự xâm phạm trắng trợn đó của cán bộ chính trị vào học thuật để làm cho cả nền học thuật bị đì, đặc biệt nền học thuật xã hội. Nó vẫn bị chi phối một cách giáo điều trong cái khuôn khổ được đặt ra về mặt tư tưởng, nó vẫn bị Marx – Lenin & chế độ XHCN bao vây, mọi yếu tố muốn thoát ra đều bị xử lý, xóa bỏ. Mọi thứ đã thay đổi, nhưng vẫn có những con người, vẫn có những giáo điều không bị thay đổi. 

Báo Nhân Dân & Quân Đội Nhân Dân đã làm rất tốt trong việc làm sống dậy các câu từ đậm chất triệt tiêu giai cấp, đậm chất cách mạng đỏ như: “Nhân danh nghiên cứu để ca ngợi thứ “thơ” rác rưởi” [1]; “Một “góc nhìn” phản văn hóa và phi chính trị” [2]… Nó có khác gì so với những câu chữ của hàng chục năm về trước?, “Lật bộ áo “Nhân Văn – Giai Phẩm” thối tha, người ta thấy ra cả một ổ phản động toàn những gián điệp, mật thám, lưu manh, trốt-kít, địa chủ tư sản phản động, quần tụ trong những tổ quỷ với những gái điếm, bàn đèn, sách báo chống cộng, phim ảnh khiêu dâm”, 

Rất chân thực, rất thành công và đầy tính đấu tố tư tưởng/giai cấp. Những nhà phê bình văn học, những giảng viên đại học/ cao đẳng, những cử nhân văn học, hội viên hội Nhà văn đã trở thành những tuyên huấn lúc nào không hay, họ đem ngòi bút và cách nhìn đầy tính chính trị vào trong đánh giá học thuật thay vì là tri thức và sự tìm tòi – khám phá lẫn tính nhân bản. Để rồi con đường cuối cùng là quy kết vào cái gọi là “động cơ chính trị”. Tôi gọi đó là sự nhân danh trí thức hay lấy trí thức làm bình phong để đả phá trí thức của những công cụ chính trị.

Sự tồi tệ đó không phải là mới đây, mà ngay những năm 1956 (thế kỷ 20) ông Đào Duy Anh cũng đã từng cảnh báo: “Trong địa hạt khoa học tự nhiên, sự xâm phạm của những cán bộ chính trị vào địa hạt chuyên môn như thế cố nhiên là rất trở ngại cho công tác chuyên môn, nhất là công tác nghiên cứu khoa học. Trong địa hạt khoa học xã hội thì mối tệ cũng không kém”. [3]

Chính khi cán bộ chính trị vào giáo huấn trí thức về cách hành văn, nghiên cứu đề tài thì cũng là lúc hình ảnh trần trụi xơ xác của nền giáo dục Việt Nam phi nhân bản, rập khuôn, phục vụ chính trị lại trở nên rõ nét hơn cả. Đó là, cái trường ĐHSP Hà Nội (con chim đầu đàn của nền giáo dục Việt Nam, nơi đào tạo mỗi năm hàng ngàn nhà giáo, cử nhân) đã ra cái quyết định thu hồi luận văn và không công nhận học hàm thạc sĩ của Đỗ Thị Thoan. Tiếp đó, sự cúi rạp người của người tri thức đi đến đề nghị “báo chí không đăng tải ý kiến, đơn thư trái chiều” và cho nghỉ hưu non đối với người hướng dẫn đề tài là PGS TS Nguyễn Thị Bình. 

Như vậy, về bản chất khung trí thức khoa học bấy lâu nay không hề có sự thay đổi. Do đó, khi người ta đặt ra cái tính chính danh của Hội Đồng thì tôi nghĩ nên đặt ra câu hỏi về bản chất và cả tính chính danh của trường ĐHSP Hà Nội, của nền giáo dục Việt Nam là gì? Nếu không phải là cái công cụ dành cho cán bộ chính trị. Tư tưởng chính trị đã đè bẹt tư tưởng tự do học thuật.

Để rồi, “chính cái tư tưởng không tin và coi rẻ trí thức đã dẫn đến sự ứng dụng lệch lạc cái nguyên tắc rất đứng đắn về quyền lãnh đạo của chính trị, do đó công tác học thuật của chúng ta, về khoa học tự nhiên cũng như về khoa học xã hội, gặp nhiều cản trở mà vẫn bị hãm vào tình trạng lạc hậu.” [3]

Nền giáo dục khai phóng mà dân tộc đang cần, những nhà trí thức đúng nghĩa đang mong mỏi từ bấy lâu nay vẫn là một con đường xa ngái như PGS-TS Hoàng Dũng đã từng nhận định trong một bài viết trên Vietnamnet [4]. 

Sự an ủi dành cho những nhà trí thức giờ đây chính là tình yêu và sự kính của Thoan dành cho cô Bình cũng như cách sống thẳng, lòng nhiệt huyết, sự cởi mở và cả tôn trọng đối với lựa chọn của học trò mà cô Bình đã dành cho Thoan là câu trả lời quý giá nhất. 

Chúng ta dung dưỡng điều đó để chờ một ngày giáo dục được khai phóng thực sự, thoát khỏi mọi sự kiềm tỏa của cán bộ chính trị. Đó cũng là ngày mà luận văn về nhóm “Mở miệng” được tôn vinh.

…………………

[1] nhandan.com.vn/vanhoa/dong-chay/item/20716102-nhân-danh-nghiên-cứu-để-ca-ngợi-thứ-thơ-rác-rưởi.html

[2] qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/5/5/5/250927/Default.aspx

[3] ahvinhnghiem.org/nguyentruongto/GiaiPhamMuaThu3.htm

[4] m.vietnamnet.vn/vn/giao-duc/148564/giao-duc-khai-phong–con-duong-xa-ngai-.html

( Nguồn : quechoa)

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 25.03.2014

TỪ ĐIỂN TIẾNG NGHỆ BẰNG VĂN VẦN

TỪ ĐIỂN TIẾNG NGHỆ BẰNG VĂN VẦN

AoToi

Con trâu thì gọi “con tru”
Con dâu thì gọi “con du” trong nhà
“Mấn” là “váy”, “ngái” là “xa”
“Đi mô?” để hỏi ai là “đi đâu? ”
“Nác su” ý nói “nước sâu”
“Trấy bù” để gọi “quả bầu” đấy nha
“Gác bếp” thì gọi là “tra”
“Lông cơn” thực chất đó là “trồng cây”
“Ra sân” thì nói “ra cươi”
“Đi nhởi” ý nói “đi chơi” ấy mà 
“Chúng tao” thì nói là “choa”
“Các bạn”, thân mật gọi là “bọn bay”
“Tê” là “kia”, “ni” là “này”
“Mi” “mần” ý nói là “mày” “làm” thôi
“Chộ” là “thấy”, “nhác” là “lười”
“Mắm tôm” cứ gọi “ruốc bôi” đúng liền
“Đọi” là “bát”, ”nôốc” là “thuyền”
“Khủy chân” đích thị có tên “lặc lè”
“Đàng” là “đường”, “đấy” là “tè”
“Thế thôi” thì nói “rứa hè” là xong
“Rừng” là “rú”,“rào” là “sông”
“Ngá khu” tức thị “ngứa mông” thật rồi
“Mơ” là “mớ”, “thúi” là “hôi”
“Nỏ nhởi” ý nói “không chơi” đó mà
“Tê” là “kia, “tề” là “kìa”
“Cái môi” tên gọi “cái thìa” đó em
“Đánh nhau” – “đập chắc” nhớ liền
“Ra răng” là muốn hỏi em “thế nào”
“Ả” là “chị”, “tau” là “tao”
“Rứa” là “thế”, “răng” là “sao” đó mà
“Bổ” là “ngã”, “mả” là “mồ”
“Lọi cẳng” để nói đó là “duỗi chân”
Vải “đen” ắt hẳn vải “thâm”
”Trụt quỳn” ý nói “tụt quần” thế thôi
“Dốc” là “trôộc”, “đôộng” là “đồi”
“Mui” là để chỉ cái “môi” trước mồm
“Đầu” là “trôốc”, “hun” là “hôn”
“Ló” chưa hết là “Lúa” còn đấy em
“Ngượng ” là “rầy” “thích” là “sèm”
Ai hỏi đến “lả” thì châm “lửa” liền
“Nỏ” là “không” nhé đừng quên
“Lá trù” chính xác là tên “lá trầu”
“Mắc” là “bận”, “mô” là “đâu”
“Ăn nể” , “ăn vã” như nhau cả mà
Có người gọi “bọ” là “cha”
“Nương” là “vườn”, “rẫy” gọi là “nương” thôi
“Bù rợ” “bí đỏ” đúng rồi
“Nước chè” quê bạn, quê tôi “nác chè”
“Nướng” là phải “náng” đó nghe
Gọi mang lọ “mói” thì bê “muối” liền
Trốc cúi” là “đầu gối” chân
Nói “đài” múc nước phải cầm “gầu” ngay
“Chủi” là cái “chổi” đây này
Nói “rờ” thì cứ đưa tay mà “sờ”
“Lúc này” tạm nói là “dừ”
“Luộc kỹ gốc” nhé, “Loọc nhừ côộc” nha,
“Con ga” để chỉ “con gà”
“Con bê” choa nói đó là “con me”
“Con suối” cứ gọi là “khe”
”Châu chấu” ngoài đó, ở quê “cào cào”
“Hồ” nước được gọi là “bàu”
“Cá quả” cứ gọi “cá tràu” không sai
“Con người” thì nói “Con ngài”
”Cù cu” tên gọi của loài “bồ câu”
“tối” nói “túi”, “túi” nói “bâu”
“Con sâu” có chỗ gọi “trâu” thật mà
“Hổ bắt” thì nói “khái tha”
“Muỗi”, “giòi” thì gọi đó là “mọi”, “troi”
“Con ruồi” thì nói “Con ròi”
Bắt “tôi” “Nhúng” đít thì “tui” “trụng” quần
“Con giun” phải nói “Con trùn”
“Với chắc” có nghĩa là cùng “với nhau”
“Lộ mô” có nghĩa “chỗ nào”
Nói “vo trôốc” là “gội đầu” đó em
“Gạo” thì gọi “gấu” đừng quên
Ai nói đến “trự” nhớ liền “chữ” ngay
”Chạc” là để chỉ cái “dây”
Nói đi “đâm” gạo hiểu ngay “giã” rồi
Cả anh, em mẹ tới chơi
Đều chào là “cụ” thế thôi em ờ
“Sạu” thì phải hiểu là “ngô”
”O” là bác gái và “cô” đó mà
“Mẹ chồng” vẫn gọi “mụ gia”
“Ràn tru” phải hiểu đó là “chuồng trâu”
“Ròi bu” ý nói “ruồi bâu”
Hỏi nơi “rửa bát” là đâu “lộ chồ”
Gọi “vợ” là “gấy”nhớ cho
Nói “Nhôông” ắt hẳn chính là “chồng” thôi
“Dao khoắm” là “rạ” đúng rồi
Bảo đi lấy “toóc” thì lôi “rạ” về
“Ruộng” là gọi “roọng” đó nghe
“Anh nha” cứ nói “eng hè” là xong
“Suôn” là “thẳng”, “ngoẹo” là “cong”
“Nỏ mần răng cả” là “không việc gì”
“Gõ đầu” là “trọi trốc” mi
“Kệ tau” ý nói làm gì “mặc tôi”
“Trúp vả” để chỉ cái “đùi”
“Ả nậy” – “chị lớn” biết rồi chứ em,
“Ngong” là “ nhìn”, “coi” là “xem”
“Mệ va” – “chị ấy” mong em chớ cười
“Lớn” thì nói “nậy” thế thôi
“Lõi” ngô, lõi mít nói “cồi” đừng lo
“Cây cọ” choa nói “cơn tro”
Gọi “tắn”, gọi “tít” “rắn” bò “rết” ra
“Mạo” là cái “mũ” đó nha
Trong đó từ “rạc” nghĩa là “xác xơ”
“Anh” là “eng”, “cô” là “O”
“Mun” trong bếp củi là “tro bếp” mà…

(Mời các bạn nối vần)

SƯU TẦM

Van Anh Nguyen: “Hãi” ma tức là “sợ” ma
Nói ai “khun nậy” chính là “lớn khôn”
“Cái ghế” thì gọi “cấy đòn”
“Ăn vụng” – “ăn phúng” là con một nhà
“Bà già” thì gọi “mụ tra”
Mẹ kêu lấy “đúa” cầm ra “rổ” này
“Tâm thần” thì gọi “ra ngây”
“Nồi đất” thì lại gọi ngay “trách bù”

( Nguồn :nguyentrongtao)

(Đọc tiếp…)

Làm sao cứu vãn thứ giáo dục phi chuẩn mực này ?

Vương Trí Nhàn

-- Ngành giáo dục ở ta đang trong tình trạng thế nào ?
– Nói cho hình ảnh một chút, nó đang lê lết trong cảnh trì trệ. Về triển vọng, thì có vẻ bệnh ở dạng vô phương cứu chữa. Tức nếu không dỡ bỏ làm lại thì vùng vẫy đến mấy cũng sẽ không ra khỏi cái tình trạng suy thoái hiện có.
Tôi biết nói vậy là bi quan. Nhưng nếu biết vượt lên tình cảm thông thường và có cái nhìn khách quan, cũng như sử dụng tới những thước đo hiện đại khi đánh giá tình hình bàn việc cải cách, chắc chúng ta không thể nghĩ khác.

Một dạng “tiên thiên bất túc”

  Lùi lại nhìn ngành giáo dục của ta từ hồi kháng chiến chống Pháp, rồi qua chống Mỹ và hậu chiến gần 40 năm nay, tôi thấy nó được xây dựng ngoài những chuẩn mực chặt chẽ mà mọi nền giáo dục phải có. Như một cơ thể, nó thuộc loại tiên thiên bất túc, tức sinh ra đã không đủ các bộ phận cần thiết, sinh ra đã  bất thành nhân dạng .

 Ta hay có lối làm lấy được, tức là chưa đủ điều kiện, nhưng thấy cần, vẫn cứ làm.

Ví dụ một trường đại học trước tiên phải có đủ bộ phận giảng viên đảm nhiệm việc giảng dạy theo những quy định quốc tế. Ở các nước gọi là đang phát triển, một trường đại học chỉ được thành lập khi có một bộ phận nòng cốt là những giáo sư đã học tập  ở những Sorbone, Oxford hoặc những trường tương tự… trở  về.

Đâu người ta cũng hướng tới những yêu cầu này để noi theo, nay chưa làm được thì mai làm. Chỉ có riêng ta thì không.

 Trên danh nghĩa đại học VN cũng có những người gọi là giáo sư hay tiến sĩ đấy, nhưng đó là ta phong với nhau để làm việc, chứ thực tế  thấp hơn chuẩn mực rất nhiều.

Rộng hơn câu chuyện giáo viên là chuyện cơ sở vật chất và không khí học thuật của một trường đại học.

 Rồi rộng hơn câu chuyện của  riêng ngành đại học là chuyện của mọi cấp học.

Tính phi chuẩn đang bao trùm trong mọi lĩnh vực, từ trường sở, sách giáo khoa, cách cho điểm, cách tổ chức thi cử…, cho tới chất lượng dạy và học.

Ta hay quen miệng nói chúng ta rất có truyền thống về giáo dục. Sự thực, giáo dục VN thời trung đại còn quá non nớt không đủ hình thành một hệ thống. Tới nền giáo dục mà người Pháp mang lại thì mới tàm tạm.

Nhưng rồi mấy chục năm chiến tranh, cái sự làm lấy được làm theo ý chí đã thành chuẩn mực duy nhất ở ta, nó chi phối tất cả, khiến giáo dục VN có cách tồn tại, cách vận hành riêng chẳng giống ai. Các trường mới lập ra phải theo trường cũ, sau giải phóng thì miền bắc bắt miền nam phải theo.

 Tạm ví như trong khi người ta đi thì mình phải bò phải lết, vậy mà vẫn tự hào rằng mình cũng đang đi chứ đâu có đứng yên.

Sửa vặt chỉ là vô nghĩa

   Luôn luôn xảy ra tình trạng trường không đáp ứng đúng chuẩn mực cũng cố mà mở, giáo viên chưa đủ trình độ cũng cho dạy, học sinh không đủ trình độ cũng cho lên lớp, sinh viên ra trường không ai nhận cũng cứ xin thêm chỉ tiêu đào tạo.

Trước mắt chúng ta là một cơ thể lúc nào cũng ốm yếu quặt quẹo.

Đây đó, nó có được chấn chỉnh chỗ này thì chỗ khác lại làm bừa làm bậy rõ hơn. Mọi sự sửa chữa chẳng qua chỉ là đắp điếm giả tạo.

 Tình trạng tuyệt vọng thấy rõ là khi mọi sự đã không còn thay đổi được nữa.

Dăm bảy năm nay, nhận thấy các trường công lập bị bao ràng buộc, nhiều người đã tính bàn nhau mở thêm các trường dân lập.

 Gia đình tôi cũng thử xem sao, cho con đi học dân lập, sau mới ngớ ra. Nếp làm giáo dục ở ta mấy chục năm nay nó đã thế rồi, thì lúc ra tồn tại với danh nghĩa khác, người ta cũng cứ đường cũ mà đi.

 Khi các giáo viên vẫn thế, người quản lý các trường cũng thế, chuyện các trường dân lập có đủ bệnh như trường công lập nói chung thật dễ hiểu.

\
Thế thì còn có cách nào mà cựa bây giờ?

Để cùng xác định mức độ nghiêm trọng, và sự bất lực đã trở thành chắc chắn, xin có một chút liên hệ:
 Đọc báo gần đây, thấy các cơ quan quản lý giao thông đề nghị mọi người hiến kế để có cách làm sao tai nạn giao thông có thể mỗi ngày mỗi giảm.

 Nhưng vấn đề là ở chỗ người ta phải dự tính điều này từ khoảng mười lăm hai mươi năm trước, khi số lượng các phương tiện giao thông còn tạm chấp nhận được. Chứ với mức độ xe máy như hiện nay, trên tình trạng đường sá hiện nay thì có tài thánh cũng không hạn chế nổi tai nạn.

Sức ì của người trong cuộc

Khi không có những điều kiện cần và đủ mà bắt buộc phải tồn tại, tự bản thân cơ chế giáo dục phải có cách thích ứng, lâu dần nó tự ổn định trong tình trạng hiện thời và tự nhiên là trở nên trơ lì, không thể phấn đấu thành cái đáng ra nó phải thế, cũng tức là không thể trở thành đúng như chuẩn mực nữa.

Quán tính tự bảo vệ không cho phép người trong ngành thấy hết bệnh tật đang có trong cái môi trường người ta tồn tại.

Một điều không ai nói ra nhưng ai cũng biết, lâu nay giáo dục đã là nơi sinh sống làm ăn của bao nhiêu con người. Nay giả thử có sự thay đổi thì những người đó đi đâu làm gì bây giờ?!
 Không ai tự chặt chân mình, tự làm phiền mình trong công việc cả.

Thành thử cứ với nhận thức như hiện nay, thì dù nhiệt tình đến đâu cũng chỉ có thể có những cải cách hời hợt chứ không thể có những thay đổi cơ bản.

Qua các trang mạng tôi được biết một tờ báo của Pakistan cuối tháng 9 – 2012, có bài nói khá đúng về giáo dục VN. Tác giả bài báo kể một giáo viên VN nói với ông ta “Hệ thống giáo dục của chúng tôi đang đi xuống dốc”.

Và người giáo viên VN bổ sung “Nếu xu hướng này tiếp tục, chúng tôi sẽ chỉ có các quan chức ngu ngốc và những con người xảo trá“.

Vậy là tình trạng lê lết hiện nay ai cũng biết, nhưng không có cách cứu vãn.

Hai đề nghị của Myanmar về giáo dục mà chúng ta khó nuốt

 Khi bàn về cải cách ở Myanmar, lãnh tụ dân chủ Aung San Suu Kyi có mấy ý kiến về giáo dục mà tôi thấy rất tâm đắc.

 Trước tiên bà bảo, sau giai đoạn thuộc địa và thời kỳ sống trong chuyên chế, nay  cái mà Myanmar cần là đào tạo nhiều thợ học nghề chứ không phải đào tạo kỹ sư.

Đội ngũ trí thức trẻ, cần thì cần thật nhưng phải là thứ thiệt. Lấy đâu ra đại học tử tế để có số kỹ sư cần thiết ấy? Vậy phải tạm xếp yêu cầu đó lại.

Cách chuẩn bị tích cực nhất là nhờ nước ngoài, theo kinh nghiệm của Myanmar là nhờ Anh.

Lâu nay sách sử dạy trong các trường học Myanmar vẫn soạn theo tinh thần của các nhà sử học Anh khi viết về Myanmar. Cả nền giáo dục trước sau tính là phải theo những chuẩn mực quốc tế.
  Riêng đại học Rangoon vẫn là đại học có tiếng ở Đông Nam Á.

 Vậy mà theo Aung San Suu Kyi, thế vẫn chưa đủ. Bà bảo trong thời gian giới quân sự nắm quyền, giới sinh viên được đào tạo thành những con người biết vâng lời và làm theo mệnh lệnh hơn là con người sáng tạo. Và bà đề nghị phải làm lại nền đại học này. Trong tình hình của Myanmar, nước phải nhờ là nước Anh.

Chỉ có cách đó

Thoáng đọc, chắc ai cũng thấy các đề nghị nói trên dựa trên những nguyên tắc xa lạ với giáo dục VN.
Ngay cái chuyện đừng tính đại học vội mà hãy lo đào tạo công nhân lành nghề — ý kiến ấy cũng khó nuốt lắm. Như thế là thoái thác cái đề án “xây dựng công nghiệp hiện đại nông nghiệp hiện đại, văn hoá giáo dục tiên tiến” sao ? Ai mà chịu nổi.

 Đến như cái điểm đi nhờ giáo dục nước ngoài, lại càng không ai nghe được.

Ta quen thói tự tin, cho rằng cái gì cũng phải lấy tinh thần độc lập tự chủ làm đầu. Thế thì ai lại muối mặt đi nhờ các nước phương Tây mà ta vừa thèm muốn được như họ, vừa căm ghét sao họ hơn mình nhiều thế?

Sở dĩ người Myanmar đi tới những định hướng trên đây, bởi ở họ có một tinh thần thực sự cầu thị.
 Họ cho rằng họ phải học hỏi nước ngoài nhiều thì mới có được một nền giáo dục cần thiết.

Ta thì luôn luôn tự hào rằng mình có một truyền thống  giáo dục hết sức tốt đẹp, và chỉ cần có tiền là sẽ làm được hết.

Trong mọi việc ta thường chỉ lo làm dáng. Khi đứng trước một việc mà thâm tâm thấy  bất lực, liền đánh bài lấp liếm, mức cao hơn nữa là tự lừa dối chính mình cho xong chuyện.

Nhưng tôi vẫn thấy trong hoàn cảnh của ta, cái phương án Myanmar nói trên là phương hướng khả dĩ.
Trước mắt là không nên thảo luận về cải cách gì cả.

Bộ phận giáo dục hiện nay đã hỏng hẳn với nghĩa là tự nó không thể nghĩ ra phương hướng thay đổi. Và giả sử có phương hướng đúng thì những người trong cuộc cũng không theo nổi.

Ví dụ dù có tung ra bao nhiêu tiền của chăng nữa thì bộ phận soạn sách giáo khoa ở ta  hiện nay cũng không sao làm nổi một bộ sách giáo khoa cần thiết.

 Và giá có bộ sách ấy thì hệ thống giáo viên cũng không đủ sức dậy theo.

Vừa rồi có một đề nghị là phải trả lại tự do cho ngành giáo dục. Nhưng kinh nghiệm của tôi bên văn chương cho thấy một bài học khác. Các nhà văn của ta bị trói quá lâu, đúng hơn là bị đào tạo vội vàng, cũng tiên thiên bất túc y như bên giáo dục. Luôn miệng đòi tự do nhưng lại không biết làm gì với thứ tự do đó cả. Khi được cởi trói một chút thì chỉ có tự do hoang dại là phát triển.

Từ bỏ chủ nghĩa bình quân

Cũng phải nói thêm, sở dĩ chúng ta biết không đạt chuẩn mực vẫn cứ làm, lý do là vì muốn ai cũng được hưởng phúc lợi giáo dục. Ngay trong hoàn cảnh xã hội chưa trưởng thành mọi mặt trong đó khâu thấy rõ nhất là về kinh tế,  ta cũng vẫn cố phổ cập giáo dục rộng rãi để lấy tiếng và để mọi người ai cũng có thể vừa lòng.

Nay có lẽ đã đến lúc chúng ta phải lựa chọn: hoặc chất lượng giáo dục hoặc số lượng.
Tức một việc đau xót có thể xảy ra, là phải tạm thời từ bỏ nguyên tắc phổ cập đó, lùi một bước tiến ba bước.

Giống như trong kiếm sống, phải có người giàu trước người giàu sau, — thời gian trước mắt, trong giáo dục chúng ta chỉ có thể bảo đảm cho một số nhỏ thanh thiếu niên được học hành cẩn thận, còn đa số sẽ chỉ được trang bị một ít kiến thức cơ bản rồi lo học nghề, để ra làm thợ, có lẽ như thế sẽ hợp lý hơn chăng?

Còn làm như hiện thời, cố để mà phổ cập giáo dục là một việc quá sức, và thực tế là sẽ không bao giờ  có thể có giáo dục với nghĩa đúng đắn của nó.

( Nguồn : quechoa)

(Đọc tiếp…)

“Lại quả” 80 triệu Yen: Bộ trưởng Thăng sẽ thay hết cán bộ?

Thành Nam
Theo Infonet

Ảnh bên:Ngành đường sắt đang đối mặt với một vụ bê bối nhận lót tay 700 nghìn USD từ phía JTC Nhật Bản. (Ảnh minh họa)

“Quan trọng là Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng sẽ giải quyết thế nào về vụ việc này? Liệu Bộ trưởng có dám thay hết bộ sậu không? Hay lại điều chuyển kiểu như Dương Chí Dũng?”.

 Rất nhiều câu hỏi được đặt ra trước nghi án nhận “lại quả” hơn 700 nghìn USD từ quan chức ngành đường sắt Việt Nam.

Trong khi những lùm xùm trong vụ việc dự án cao tốc Cầu Giẽ – Ninh Bình đội giá lên mức 2,5 lần chưa được giải quyết xong, thì ngành GTVT lại đối mặt với một vụ việc được xem là chấn động khác trong ngành đường sắt: Chủ tịch Tập đoàn tư vấn giao thông Nhật Bản (JTC) đã khai nhận đưa lót tay hàng triệu USD cho 5 cán bộ cấp cao ngành đường sắt 3 nước Việt Nam, Uzbekistan và Indonesia.  (Đọc tiếp…)

Bài viết cũ hơn »

Chuyên mục