Đăng bởi: Ngô Minh | 20.10.2014

Hy hữu vụ nhầm xác chết xôn xao ở Huế

Hy hữu vụ nhầm xác chết xôn xao ở Huế

Đang chuẩn bị đám tang cho con, gia đình Cương bất ngờ thấy thanh niên này bước vào và nói: ‘Con là Cương đây. Ở nhà có chuyện gì à?’. Vụ việc nhầm xác trong đám tang gây xôn xao dư luận xã Hải Dương, thị xã Hương Trà, Thừa Thiên Huế suốt thời gian qua.

alt

Cha mẹ anh Phôn cho rằng con mình không may nên mới “chết thay” cho người khác.

Theo ghi nhận của CSGT tỉnh Thừa Thiên Huế, rạng sáng 18/9, chiếc xe máy do một nam thanh niên điều khiển với tốc độ cao trên Quốc lộ 1A, khi đến địa phận cách sân bay Phú Bài (thị xã Hương Thủy) khoảng 200m thì tự đâm vào chiếc xe container đang đậu bên lề đường. Người điều khiển xe bay ra húc trúng vào cột mốc cố định dựng trên đường. Cú va đập mạnh khiến nam thanh niên chết ngay tại chỗ.

Ít phút sau khi tai nạn xảy ra, cơ quan chức năng có mặt tại hiện trường để làm việc. Kiểm tra cốp xe, cảnh sát tìm thấy giấy tờ tùy thân của anh Lê Văn Cương (sinh năm 1995, ngụ thôn Thái Dương Hạ Bắc, xã Hải Dương, thị xã Hương Trà) và chiếc điện thoại. Lần tìm lịch sử cuộc gọi, công an tìm thấy người thân của của chủ thuê bao.

Bà Nguyễn Thị Gái (65 tuổi, mẹ anh Cương) kể lại, lúc đó trời đã khuya, cả nhà vẫn đang ngủ say, bỗng điện thoại chồng bà đổ chuông inh ỏi. Người nhà nhấc máy thì nghe giọng hỏi: “Ông tên là ông Va, cha của Lê Văn Cương à? Ông về Phú Bài nhanh đi, vì con trai ông là Cương đang bị tai nạn giao thông ở đó”.

Nghe xong điện thoại, ông Va, cha của Cương, hốt hoảng báo với vợ. Bà Gái bật dậy run run, cuống cuồng mở tủ lấy tiền, còn ông Va đánh thức hai người con đi cùng. Đường xa, để tới hiện trường vụ tai nạn, chạy nhanh cũng mất cả tiếng đồng hồ, nạn nhân đã được phủ chiếu lên cơ thể.

“Thấy chiếc xe máy nằm giữa đường tôi đã khóc lóc, không còn hy vọng gì, mở chiếc chiếu ra đúng là áo của con trai mình hay mặc. Thi thể bị tai nạn mặt bị sưng và biến dạng một chút, ngoại hình, tuổi tác thì quá giống nhau, vả lại tinh thần bốn người chúng tôi lúc đó đều bất ổn, hoảng loạn nên ai cũng chết lặng, không mảy may nghi ngờ, liền xin đưa xác con về nhà trong đêm để mai táng”, bà Gái kể lại.

Đến khoảng hơn 3h sáng, thi thể người bị tai nạn đã được đưa vào nằm ở giường như phong tục địa phương. Dù giữa đêm, nhưng nhiều người là bà con, họ hàng thân thích, hàng xóm đều tới xem xét sự tình, chia buồn cùng với gia đình người xấu số. Mọi người phân công công việc, gọi điện thoại báo tin cho họ hàng con cái làm ăn tận Đà Lạt, TP HCM, thậm chí bên Mỹ sắp xếp về quê để dự đám tang. Người đơm cơm, trứng lên cúng, người đi đặt hòm khâm liệm.

alt
Di ảnh anh Phôn

Giữa lúc tiếng khóc thương tâm đang vang lên bên thi thể nạn nhân thì bất ngờ một thanh niên lững thững đi vào: “Con là Cương đây này! Có chuyện gì à?”. Chưa kịp định thần, ngay lập tức người cậu ruột của Cương tưởng ai đó trêu đùa nên giáng một nhát bạt tai như trời giáng vào người thanh niên mới bước vào.

Vài người ngước lên, ú ớ: “Ối thằng Cương đây này. Mày là ma hiện về à?”. Người thanh niên giậm chân bình bịch: “Con là Cương, con vẫn sống”. Vài người vừa tháo chạy trước đó vì sợ ma, nay mới lò dò quay lại, nhận ra người này đúng là anh Cương. Người vui nhất là mẹ của cậu, bà la to lên: “Con mình đây mà”, ôm chầm lấy con.

Lúc này, mọi người với vỡ lẽ, hóa ra người chết không phải anh Cương, mà là người bạn Võ Văn Phôn (sinh năm 1997, ngụ khu tái định cư 1, thôn Thái Dương Hạ Trung, cùng xã). Khoảng 21h đêm 17/9, Phôn cùng hai người bạn sang nhà trọ của Cương tại đường Lê Thánh Tôn (TP Huế) để nhậu sau một ngày làm việc.

Cả nhóm bốn người mua  bia về uống, đến 23h thì nghỉ. Cương cùng Phôn nằm nghỉ ngơi đến gần 1h sáng, cảm thấy đói bụng nên chở nhau đi ăn bánh canh. Sau khi đã no, người thấm mệt vì có chút hơi men, Cương nằm lăn ra ngủ. Phôn bất ngờ nhận được tin nhắn hẹn hò của một cô gái ở huyện Phú Lộc nên lấy xe, lấy điện thoại, choàng luôn chiếc áo của Cương đi chơi.

Anh Cương phát hiện ra sự việc khi nửa đêm thức giấc chưa thấy bạn về, mượn điện thoại người khác gọi vào số của mình, thì được báo tin người đi chiếc xe máy của mình đã gặp tai nạn, người điều khiển xe đã chết. Anh về quê, nhưng không về nhà ngay, mà sang nhà Phôn báo tin trước.

Người anh trai của Phôn kể lại: “Đêm ấy tôi đang ngủ thì Cương cùng với một anh thanh niên nữa về nhà tôi. Cương gọi cửa và nói: ‘Đã chở xác thằng Phôn về nhà chưa anh? Phôn đi xe máy của em về dưới Phú Bài chơi với bạn thì gặp tai nạn giao thông, chết rồi. Em mới thức dậy mượn điện thoại gọi vào số em thì có người nói vậy, em chạy về đây liền’. Tôi hốt hoảng đi tìm ba mẹ về để tính tiếp chuyện”.

Về phía Cương, báo tin cho nhà bạn xong, anh mới về nhà mình. “Thấy người đông, rồi trong nhà rất nhiều tiếng khóc vọng ra gọi: ‘Cương ơi! Cương ơi’, tôi biết chắc nhà mình có chuyện rồi, nên đứng ở ngoài quan sát, đi qua đi lại một hồi mới lấy bình tĩnh bước thẳng vào nhà”, anh Cương kể lại.

Hai thanh niên này là bạn thân của nhau từ thời chăn trâu cắt cỏ, ngoại hình rất giống nhau. Khi nhận xác, cha mẹ Phôn đòi cởi áo ra xem xét vì anh này có vết xăm hình ở vai, còn Cương thì không. Lúc đó gia đình Phôn mới tin là thật, đem xác con về nhà.

Trước đó, gia đình của Cương đã trình báo sự việc con mình tử vong với chính quyền thôn. Lát sau, gia đình của Phôn cũng đến trình báo tiếp, khiến vị trưởng làng ngạc nhiên hỏi tới, hỏi lui rất nhiều lần.

Một hàng xóm cho biết: “Chuyện này quá hy hữu, mà cũng may sao Cương về nhà sớm, không mà chậm thêm vài giờ thì chuyện càng rắc rối và gay cấn. Nếu mà đã chôn thì chắc lại phải đào, mở quan tài ra nhận dạng”.

Ngồi bên vợ và các con, ông Võ Long (48 tuổi, cha của Phôn) gạt nước mắt. Ông Long đau đớn “đổ lỗi”: “Con tôi chết là thế mạng cho con nhà họ mà thôi. Cách đêm xảy ra tai nạn chỉ ít hôm, một người thân của gia đình Cương ở Sài Gòn cho biết người này nằm mơ liên tục thấy gia đình có người chết do tai nạn xe. Việc này làm cho gia đình họ rối cả lên, rồi đi xem thầy. Thầy nói thằng Cương cần cẩn thận. Do con tôi ăn mặc, đi xe thằng Cương nên mới bị ‘bắt’ đi mà thôi”.

Ông này cho biết, gia đình Cương đã phúng viếng trong đám tang con trai mình số tiền khá lớn, gần 20 triệu đồng. Họ còn định bán chiếc xe gặp tai nạn đi để làm tiền cúng cho Phôn. Gia đình nạn nhân đã sử dụng số tiền này để xây lăng mộ cho con mình.

Ông Nguyễn Văn Cường, Phó trưởng công an xã Hải Dương, cho biết: “Chuyện xác chết của anh Võ Văn Phôn được người nhà của anh Lê Văn Cương nhầm lẫn đưa vào nhà để lo hậu sự là hoàn toàn có thật. Sáng sớm ngày 18/9, tôi đã trực tiếp có mặt tại gia đình và cũng đã xác minh nguyên nhân mà anh Phôn tử vong là do tai nạn giao thông. Gia đình nạn nhân không có yêu cầu gì nên tôi đã trình báo lên cấp trên ngay trong ngày hôm đó”.

Theo Pháp luật Việt Nam

 

Kẻ tử tội của CCRĐ thoát chết nhờ Hồn thiêng Nữ Liệt sĩ Đinh Kế Thị Tường Vi?

  Lê Quang Vinh

QTXM - Bạn đọc thân mến. Ngày Phụ Nữ Việt Nam 20/10 hôm nay, chúng ta gặp lại nhà báo Lê Quang Vinh với câu chuyện của một LIỆT NỮ quê anh thời chống Pháp. Đó là chị Đinh Kế Tường Vi.Chị Vi hy sinh, nhưng  hồn thiêng của chị đã về kịp để cứu người anh trai của mình sắp bị Đội CCRA bắn ở làng Vĩnh Lộc. Câu chuyện xúc động lắm. QTXMcám ơn nhà báo Lê Quang Vinh và xịn được chia sẻ với bạn đọc.   

Người con gái mà đại tá Lê Phương nói đến trong Hồi ký “Trên Chiến khu Ba Lòng” – Quà Tặng Xư  Mưa đăng trên Chuyên mục “VĂN” (ngominh | 02 Sep,  2014, 06:48 | VĂN |); bị giặc giết trong một trận càn, đó là  chị Đinh Kế Thị Tường Vy (con cụ Đinh Kế Tác – Người làng Vĩnh Lôc, xã Quảng Lộc, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình):

Tôi cảm phục người bạn gái cùng quê đã anh dũng chống lại bọn lính gian ác khi chúng toan hãm hiếp chị. Chị đã bị bắn chết trên bãi cát, với thân thể lõa lồ, tang thương”.  Đoạn hồi ký kể về cuộc càn của giặc Pháp trên Chiến khu ba Lòng năm 1951, được ông Lê Phương viết bằng cả trái tim yêu thương đồng chí đến nao lòng và hờn căm chất chứa bởi sự dã man của giặc khiến Trời xanh phải thấu. Hồi ký của người chiến sĩ trong cuộc “Trên chiến khu Ba Lòng”, nóng bỏng đến ngày nay:

    “Tôi nhớ đến mùa chiến dịch, cùng cán bộ cơ quan về xuôi đi chiến đấu. Lúc này, tôi không trực tiếp cầm súng nhưng không phải ở mãi sau trận tuyến. Chúng tôi phải “nhanh như điện”, chuyển tải những lời động viên của cấp trên, những tờ báo theo sau gót người chiến sĩ. Cùng ém quân phục kích đoàn xe lửa trên cầu Mỹ Chánh, đánh ở Liêm Công Tây, Liêm Công Đông. Chiến dịch Lê Lai, Phan Đình Phùng đều có mặt. Trong cuộc chiến đấu đó, tôi đã bị thương, nhỏ giọt máu đào cho Tổ quốc.Tôi nhớ trận địch lùng ở Phong Thu, vì sơ hở mà của mất người hy sinh. Cả cơ quan bị bao vây như trong một cái túi. Trên Trời máy bay, sau lưng quân bộ, dưới sông ca nô. Chúng tôi – những người lính văn phòng – không một tấc sắt để chống cự; chỉ kịp tiêu hao tài liệu, công văn. Mở đầu trận lùng, bọn giặc trên máy bay bắn bị thương đồng chí Dung nằm cách tôi một thước. Tiếng Dung gọi: “Phương ơi, tao bị thương rồi”! Trong tay không có một cuộn băng nào, phải mau chóng đưa Dung vào nấp trong bụi rồi xé áo băng bó cho bạn. Tôi cảm phục người bạn gái cùng quê đã anh dũng chống lại bọn lính gian ác khi chúng toan hãm hiếp chị. Chị đã bị bắn chết trên bãi cát, với thân thể lõa lồ, tang thương. Tôi mến thương người chị gái nuôi quân (lâu ngày quên mất tên), lấy thân mình che đạn cho mẹ con một cháu bé. Chị hy sinh cách tôi không đầy một cánh tay.

   Giờ phút nguy cấp, tiếng loa của giặc rõ dần, không còn cách nào khác là vứt hết đồ đạc, chôn tài liệu và bơi qua sông. Sông không rộng, nhưng nước chảy mạnh. Tôi cố lấy hết sức bơi sang đến bờ thì kiệt sức, nằm sóng sượt. Tiếng ca nô của địch ầm ầm, các đồng chí đều phải chạy, hướng thẳng lên rừng, sau lưng đạn bay như mưa.

   Sau trận lùng ấy, mỗi người chỉ sót lại chiếc quần đùi mặc trên người, bụng thì đói, cắn răng thoát hiểm tìm về căn cứ. Các đơn vị bạn mở cuộc “lạc quyên” giúp đỡ chúng tôi, cùng nhường cơm xẻ áo. Chúng tôi lại bắt tay xây dựng nhà cửa. Lao động quần quật suốt ngày. Trận lụt năm 1951 phá hoại ghê gớm tài sản của đồng bào. Bình Trị Thiên đã nghèo lại nghèo thêm, đã khổ lại khổ thêm. Bao kho gạo dự trữ cho kháng chiến bị ngập. Gạo ngâm nước lụt lâu ngày phơi khô mốc ẩm, lên men. Nấu cơm lên thối đến nỗi cho chó chó chê, cho lợn lợn không ăn. Cơm nấu xong, xới ra trên lá môn quạt hết hơi đến nguội để bớt thối. Thế nhưng, mấy hôm đầu không ai ăn được. Cái đói giày vò, cái bụng bắt phải nuốt, công việc bắt phải ăn, nhắm mắt nhắm mũi mà đút vào mồm. Anh em ăn vào đi lỏng, ra toàn vỏ gạo (vì gạo chưa xát). Dần dần bụng chúng tôi cũng phải quen với loại cơm  đáo để này và phải đành “làm bạn” với nó hàng tháng trời.

   Ăn uống như thế, nên nhiều đồng chí đã “quỵ xuống” vì mệt nhọc, vì sốt rét… Gạo đã thiếu thuốc càng thiếu hơn. Lên cơn sốt rét thì đắp chăn mà run. Có được viên thuốc quinine vàng liền hoà ra hàng lít nước để chia nhau.

Trong gian nan mới thật thương nhau. Tình đồng chí xây bằng máu. Cứ mỗi lần đồng chí nào về xuôi lên mang theo được lon gạo nếp, không nỡ ăn một mình, mà mượn cái nồi to đổ thật nhiều nước, nấu cháo húp mỗi ngưòi một bát.

  Gian khổ, đói rét không làm chúng tôi lung lay, lòng vẫn lạc quan tin tưởng. Những ngày ở chiến trường Bình Trị Thiên thực  sự là “trường học” rèn luyện thử thách, đào tạo nên người chiến sĩ. Song cũng có những kẻ hèn nhát, tham sống sợ chết, dao động hoang mang, không chịu nổi đã đầu hàng giặc.”

 

Chị Đinh Kế Thị Tường Vi trong đoạn văn trích, được kể lại chân thực vô cùng kiệm lời, nhưng đủ để hình ảnh chị hiển  hiện lên là một nữ “Anh hùng Liệt sĩ” cực kỳ tiêu biểu: anh dũng, kiên trinh, hy sinh lẫm liệt đến giọt máu cuối cùng giữa bầy lang sói; chị quyết không thể cho chúng làm nhục nhằm giữ nguyên phẩm tiết của người con gái tuổi xanh, hiến dâng trọn vẹn cuộc sống tươi đẹp nhất cho Tổ quốc lúc lâm nguy. Vậy chị Tường Vi trong lòng quê hương Vĩnh Lộc, anh em, người yêu “đã hẹn ước” cùng con cháu…nay được nhớ lại và lưu giữ như thế nào và gia đình của chị sau sự hy sinh đó?

 

Ông Đinh Duyệt, năm nay 95 tuổi – Cán bộ Tiền Khởi nghĩa, Huy hiệu 65 tuổi Đảng (2012), nguyên Chuyên viên cao cấp công tác tại Toà án Nhân dân Tối cao; hiện nghỉ hưu tại quê nhà là thôn Vĩnh Lộc, xã Quảng Lộc, Thị xã Ba Đồn (huyện Quảng Trạch cũ), tỉnh Quảng Bình; khi được tiếp xúc Hồi ký  “Trên chiến khu Ba Lòng” của em trai vợ mình (Bà  Lê Thị Toán) – Đại tá  Lê Phương, lòng bồi hồi xúc động nhớ lại: Chị Đinh Kế Thị Tường Vi có Thân phụ là cụ Đinh Kế Tác, tục danh “Xu Tác” – Một nhà thầu khoán (Sur veilzan) có tiếng thời Pháp thuộc; rất yêu nước và có nhiều công lao đóng góp đối với quê hương. Cụ cùng nhà thấu khoán và là bạn thân quê ở làng bên Hoà Ninh (nay là xã Quảng Hoà, Thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình) tên là Đoàn Phiến, tục danh “Xu Phiến” cùng chung tiền của công sức xây dựng nên Trường tiểu học Élémenter Hoà Ninh  cho con em mấy làng vùng Nam phủ Quảng Trạch thời đó: Hoà Ninh, Vĩnh Lộc, Vĩnh Phước, Minh Lệ, La Hà…có nơi học tập. Riêng với mảnh đất chôn rau cắt rốn là làng Vĩnh Lộc, cụ Đinh Kế Tác đã bỏ công của vật lực đắp xếp 2 con kè lớn bằng đá hộc lẫn đá sa thạch để ngăn luồng nước xiết chống xói lở phía Rào Đơờng (Nguồn Nậy sông Gianh, nhánh chảy qua các làng Vĩnh Lộc, Cồn Sẻ và Văn Lôi). Hai con kè đá này sau gần cả trăm năm hiện vẫn còn y nguyên tác dụng (đắc dụng). Nếu chiến tranh Pháp – Việt không nổ ra, cụ đã hoàn thành tâm nguyện xây dựng một cây cầu cho cả 2 làng Vĩnh Lộc – Hoà Ninh liền bờ, vị trí định xây dựng gần lối bến sông cạnh nhà ông Đoàn Phụng, để đi ra đường “Kiệt Ngang” Hòa Ninh qua chợMới (Minh Lệ).

Chị Đinh Kế Thị Tường Vi là một cô nữ sinh rất hiếm hoi thời đó ở vùng quê nghèo Vĩnh Lộc, được bọ mạ (cha mẹ) gửi vào Kinh đô Huế cho ăn học tại Trường Đồng Khánh – Ngôi trường dành riêng cho nữ giới con nhà quyền quý, quan lại và công chức trong chính quyền thuộc Pháp. Khi học xong chương trình “trung học” (?) Trường Đồng Khánh – Huế, chị trở về gia đình ở quê hương Vĩnh Lộc dự tính sẽ tiếp tục học lên. Thế rồi cuối năm 1946, Pháp núp bóng quân Anh trở lại đánh chiếm Sài Gòn – Gia Định và cả Nam bộ. Hưởng ứng “Lời Hiệu triệu cứu nước” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chỉ vẻn vẹn trong 2 tháng cuối năm 1946 – đầu năm 1947, nhân dân Thẻ Làng (riêng Làng Vĩnh Lộc phía Bắc sông Hoà Ninh goị là “xứ Đông”, không có Xóm Vụng (Xóm Vũng) – một phần làng Vĩnh Lộc ở phía Nam sông Hoà Ninh goị là “xứ Đoài”) đã có 3 đợt nam nữ thanh niên xung  phong “Nam Tiến” để cùng quân dân Nam Bộ đánh giặc. Đợt “Nam Tiến” đầu tiên, có 4 anh chị em, trong đó có chị Đinh Kế Thị Tường Vi.

Ông Dinh Duyệt nhớ lại như in, hình ảnh cô em gái nhỏ nhắn, tóc dài, nước da trắng nõn nà nhưng bặm trợn khi lên vị trí diễn giả để tranh luận với đám thanh niên cũng đang hừng  hực khí thế “Nam Tiến”. Khi mấy cán bộ Việt Minh thấy rõ mồn  một chị Tường Vi  là cô gái còn quá nhỏ tuổi (chị là bạn học  với anh Lê Phương – sinh năm 1932, so các anh cùng đăng ký “Nam Tiến” đợt này ít hơn ngót chục tuổi), thân hình lại “liễu yếu  đào tơ”, “chưa lấm bụi đời”, dứt khoát không tiếp nhận và để chị kê khai lý lịch cũng như viết quyết tâm bày tỏ nguyện vọng lên  đường …; chị Đinh Kế Thị Tường Vi liền nhảy phốc lên cướp lời mọi người, với giọng vô cùng dõng dạc, dứt khoát: “Ông cha ta đã dạy rồi, giặc đến nhà, đàn bà cũng phải đánh. Tui (tôi) tuy là “đàn bà con gái” nhỏ tuổi, nhỏ người nhưng ăn thua là ở cái tinh thần đánh giặc cứu nước chứ không phải vì con gái hay tuổi nhỏ, người nhỏ mà bỏ qua”. Thế là không ai còn cản được chị Đinh Kế Thị Tường Vi lên đường “Nam Tiến” cùng 3 trai làng khác là anh Đinh Xuân Dật (tên trong Bằng Tổ quốc ghi công: Liệt sĩ Đinh Thụy Sơn), Nguyễn Đăng Khoa và Đinh Như San. Chị Đinh Kế Thị Tường Vi, hai anh Đinh Xuân Dật và Đinh Như San hy sinh trong những năm đầu và giữa cuộc kháng chiến chống Pháp; còn anh Nguyễn Đăng Khoa (sinh năm Quý Hợi – 1923)  may mắn sống sót, tiếp tục chiến đấu suốt gần 30 năm trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp – Mỹ và xây dựng quân đội trong Hoà Bình, là sĩ quan với cấp bậc “Thiếu tá”. Cụ qua đời cách đây 17 năm (27/11/Đinh Sửu – 1997) sau khi về nghỉ hưu tại quê nhà.

Buổi đăng ký cho thanh niên lên đường “Nam Tiến” đợt đầu tiên này diễn ra tại đình Vĩnh Lộc (ngôi đình giữa cánh đồng,  đã bị triệt phá sau Cải cách ruộng đất mấy năm). Thời điểm  này, ông Đinh Duyệt là phó Chủ nhiệm Việt Minh xã Vĩnh Trạch (xã Quảng Lộc sau này). Anh Đinh Như San có người anh ruột là Đinh Như Hằng, tham gia lực lượng vũ trang tại địa phương và cũng hy sinh anh dũng trên quê hương thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Hai anh em Đinh Như Hằng và Đinh Như San là con trai cụ Đinh Thị Vặt – tục danh “Giang Ưa”. Cụ là O ruột (cô ruột) của ông Đinh Duyệt. Hiện địa phương đang làm các thủ tục để đề nghị Chủ tịch nước Truy tặng Danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng” cho cụ Đinh Thị Vặt.

Thạc sĩ Nguyễn Bá Sinh, con trai thứ 5 của cụ Nghè Cơ – Nguyễn Bá Ky (cụ Nghè Cơ – Nguyễn Bá Ky cũng  là  cậu  ruột  của  ông  Đinh Duyệt), trên Comment (lời góp ý) bài hồi ký “Trên Chiến khu Ba Lòng” – “QTXM”, đã chia sẻ cùng bạn đọc những tư liệu rất quý về mối tình đầu và bức ảnh “duy nhất còn lại” mà gia đình đang thờ phụng người nữ anh hùng liệt sĩ này: “Những ngày sau CM tháng 8, chị Đinh Kế Thị Tường Vy là một nữ sinh trung học nhưng đã tham gia hoạt động phụ nữ cùng chị gái tôi là Nguyễn Thi Ngọc Lan. Chị Nguyễn Thi Ngọc Lan sau này trở thành vợ của người cán bộ Việt Minh – Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên (Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng).

 

Dạo đó, chị Đinh Kế Thị Tường Vy hay sang nhà tôi (ởxóm Vụng – Xóm Vũng) – một phần làng Vĩnh Lộc ở phía Nam sông Hoà Ninh, người xưa goị là “xứ Đoài”) để cùng chị Lan trù tính công tác đoàn thể. Dáng người chị Tường Vi thanh mảnh, xinh xắn; nước da trắng trẻo, mái tóc tha  thướt tôn vẻ đẹp dịu hiền như người con gái xứ Huế. Tôi có người chú họ, tên là Phầu cùng làng với chị Đinh Kế Thị Tường Vy nên hai người biết nhau từ tấm bé. Chú Phầu tôi (học trường Khải Định ở Huếu); lúc còn lứa truổi “học sinh”, đã rất mến rồi đâm lòng yêu  thương chị. Có lẽ do “Duyên Trời” (Thiên duyên) nên hai người dễ dàng có “hẹn ước”. Ôông mệ (ông bà) tôi đã có “cơi trầu”, “chai rượu” sang thưa với Ôông mệ bên nhà chị xin được kết giao thông gia. Nhưng rồi, còn đâu ! Kháng chiến bùng nổ. Sau khi mặt trân Huế vỡ, quân Pháp đánh lan ra Quảng Trị, Quảng Bình. Khói lửa ngút trời. Những chàng trai cô gái làng tôi như anh Lê Phương, chị Tường Vy, chú Phầu tôi… rời làng  lên đường đi chiến đấu. Khi chia tay, chị Tường Vy tặng chú tôi một tấm ảnh nhỏ làm kỷ niệm – như lời “hẹn ước trăm năm” của đôi trai gái.

Chị được tổ chức điều vào Phân khu Bình Trị Thiên làm công tác điện đài (mật mã); còn chú Phầu tôi ra Bắc học Trường sỹ quan lục quân. Rồi một hôm từ Việt Bắc, chú Phầu tôi nhận được  tin sét đánh: Trong một trận càn của giặc, chị Tường Vy đã lọt vào tay giặc và anh dũng hy sinh như lời kể của anh Lê Phương trong hồi ký “Trên chiến khu Ba lòng”. Từ đó, bức hình chị Tường Vi đối với chú Phầu tôi là “chứng nhân” của mối tình nồng thắm “thuở ban đầu” trong ba lô người chiến sỹ và cả quê hương yêu dấu trên mỗi bước hành quân suốt cả chiều dài hai cuộc kháng chiến đánh Pháp và đánh Mỹ.

Nhiều năm sau khi đất nước đã hòa bình, anh trai chị là ông Đinh Kế Nhậm đã dày công tìm kiếm được hài cốt chị Tường Vy đưa về an táng tại quê nhà. Thời điểm này, chú Phầu tôi cũng đã ở tuổi tám mươi, mái tóc bạc phơ, chân đi chầm chậm về thăm quê. Trước đó, tại Thủ đô Hà Nội, chú tôi đã thuê in tấm ảnh của người yêu cũ vô vàn yêu dấu lên chất liệu sứ men nung. Chính trong dịp về quê này, ông đã cùng con cháu ra nghĩa trang liệt sĩ xã Quảng Lộc và đến bên mộ người yêu – người đồng chí lặng lẽ gắn lên bia mộ bức hình men sứ chụp năm xưa (còn lại duy nhất trong đại gia đình và bè bạn) của nữ Liệt sĩ Đinh Kế Thị Tường Vy, cùng những bông hoa cúng trắng muốt trong làn khói hương bay não nùng…”. Sự ra đi “một không trở lại” từ ngày “Nam Tiến” 1946  rồi hy sinh lẫm liệt vào năm 1951 tại Chiến khu Ba

Lòng của người con gái nhỏ đầy khí phách; nhưng vô cùng đau  thương đối với cha mẹ, anh chị em trong đại gia đình cụ Xu Tác – Đinh Kế Tác. Vết cắt đau đớn tột cùng như cứa đôi mỗi cuộc đời trong gia đình chị Tường Vi từ già đến trẻ bởi niềm thương tiếc người ruột thịt vẫn chưa nguôi ngoai cùng sự ngăn cách  hai miền đất nước Nam – Bắc tại Vĩ tuyến 17 Vĩnh Linh – sông  Bến Hải; đúng 8 năm sau ngày lên đường “vô định” đó và 3 năm  sau sự hy sinh của chị, tai ương của cuộc Cải cách ruộng đất lại nhằm đúng gia đình người nữ liệt sĩ: Anh trai trưởng trong gia đình chị Đinh Kế Thị Tường Vy là Đinh Kế Nhậm, bị  Đội “Cải cách” quy “Địa chủ” – “Cường hào gian ác” –”Phản động” và “Có nhiều nợ máu với nhân dân”. Phiên tòa “Nhân dân” của Cải cách ruộng đất được mở ra đấu tố suốt 2 – 3 ngày liền cùng mấy người nữa y tội danh. Tại trường bắn “dã chiến” Hòn Sả (địa điểm này hiện là chân cầu phía Nam của cầu Quảng Hải – Vĩnh Lộc),  Lời “tuyên án” vừa đọc xong (thực tế là một đứa không biết chữ “hô chay” bằng mồm), một đứa “cốt cán” rất “tử tế” đã đến bịt mắt ông Đinh Kế Nhậm. Ba đứa “dân quân” ôm súng đang chực sẵn để lắp đạn lên nòng đợi giây phút hành hình người anh trai Liệt sĩ Đinh Kế Thị Tường Vy.

Oan ức của gia đình chị Tường Vi chắc chắn cũng “thấu trời xanh”, hay chính là Hương hồn người em gái này quá thiêng; một “Lệnh trên” như của viên tướng Từ Hải xưa kia trong truyện Kim Vân Kiều giúp Vương Thúy Kiều lập “Tòa án” báo ân báo oán xử bọn hãm hại nàng suốt 15 năm trời lưu lạc, khiến nàng phải “Thanh lâu hai  lượt, thanh y hai lần”, từ Trung ương (nghe đâu của Bác Hồ?) kịp về trong nháy mắt đã giải thoát cho ông Đinh Kế Nhậm được sống.

Qua vụ này, người làng Vĩnh Lộc và mấy làng cạnh bên, đa phần có biết tiếng tăm công đức của cụ Xu Tác và cuộc hóa thân của thiên thần Đinh Kế Thị Tường Vy vào khí thiêng non sông đất nước; đã tin như “đinh đóng cột” là chính công đức cha mẹ và Hồn thiêng em gái đã cứu mạng ông Đinh Kế Nhậm – kẻ “tử tội” của Cải cách ruộng đất, chứ không một ai hay một phép màu nào khác!

Ông Đinh Kế Nhậm đi bộ đội (vào “Vệ quốc đoàn” năm 1947). Năm 1952, bị ốm nên cùng được đi “an dưỡng” với ông Nguyễn Bá Sinh – người viết Comment đã giới thiệu ở phần trên (đang học trường “Thiếu sinh quân” – Khu 4). Hai anh em cùng quê tình cờ gặp nhau tại “Đoàn thu dung Lê Lợi” – Quân khu 4, đóng quân ở huyện Can Lộc – Hà Tĩnh. Năm 1954, ông Đinh Kế Nhậm về quê Vĩnh Lộc tham gia công  tác tại địa phương; rồi gặp luôn đại họa CCRĐ với cách  làm “khoán theo chỉ tiêu”, nên đã tiêu diệt và làm oan  khuất rất nhiều người vô tội.

Ông Đinh Kế Nhậm về sau trở thành cán bộ  của ngành Ngân hàng, công tác suốt mấy chục năm liền trong cuộc kháng chiến chống Mỹ – cứu nước và sau  này nữa, tại các địa phương tỉnh Quảng Bình. Những  năm tháng về quê Vĩnh Lộc nghỉ chế độ hưu trí, ông tham gia tích cực công tác xã hội; đóng góp nhiều công sức cùng con em xây dựng “Nông thôn mới” ở quê  nhà như gương sáng và sự hy sinh của cha và em gái.  Ông Đinh Kế Nhậm qua đời năm 2005 – thọ trên 80

 

Vĩnh Lộc, 14 giờ 52’ ngày 18/10/2014

( Tác giả gửi cho QTXM)                                                                            

 

Người con gái mà đại tá Lê Phương nói đến tronh Hồi ký “Trên Chiến khu Ba Lòng” – Quà Tặng Xư Mưa đăng trên Chuyên mục “VĂN” (ngominh | 02 Sep, 2014, 06:48 | VĂN |); bị giặc giết trong một trận càn, đó là chị Đinh Kế Thị Tường Vy (con cụ Đinh Kế Tác - Người làng Vĩnh Lôc, xã Quảng Lộc, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình):

Tôi cảm phục người bạn gái cùng quê đã anh dũng chống lại bọn lính gian ác khi chúng toan hãm hiếp chị. Chị đã bị bắn chết trên bãi cát, với thân thể lõa lồ, tang thương”.

Đoạn hồi ký kể về cuộc càn của giặc Pháp trên Chiến khu ba Lòng năm 1951, được ông Lê Phương viết bằng cả trái tim yêu thương đồng chí đến nao lòng và hờn căm chất chứa bởi sự dã man của giặc khiến Trời xanh phải thấu. Hồi ký của người chiến sĩ trong cuộc “Trên chiến khu Ba Lòng“, nóng bỏng đến ngày nay:

“Tôi nhớ đến mùa chiến dịch, cùng cán bộ cơ quan về xuôi đi chiến đấu. Lúc này, tôi không trực tiếp cầm súng nhưng không phải ở mãi sau trận tuyến. Chúng tôi phải “nhanh như điện”, chuyển tải những lời động viên của cấp trên, những tờ báo theo sau gót người chiến sĩ. Cùng ém quân phục kích đoàn xe lửa trên cầu Mỹ Chánh, đánh ở Liêm Công Tây, Liêm Công Đông. Chiến dịch Lê Lai, Phan Đình Phùng đều có mặt. Trong cuộc chiến đấu đó, tôi đã bị thương, nhỏ giọt máu đào cho Tổ quốc. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.10.2014

Ngày về

Ngày về

Phạm Thị Hoài

“Chúng ta đang sống trong một hoàn cảnh thật khốn nạn. Sau hàng thế kỉ ngoại thuộc, sau ba chục năm trời nhiễu nhương, nay nước nhà được thanh bình, dân tộc bắt tay xây dựng đất nước, thì chúng ta lại bỏ xứ ra đi, chúng ta lại vắng mặt, lại đứng ngoài vòng”.

“Không về được, chúng ta tự thấy sống một đời vô duyên, lãng xẹt. Cần thì chưa chắc tổ quốc đã cần đến mình; chưa chắc mình sẽ có một đóng góp nào đáng kể. Những kẻ có ý thức cao nhất về mình cũng không bao giờ dám tự nhận mình là cả một cần thiết cho quốc gia. Tuy nhiên, nghĩ rằng ở cái xứ nghèo khó nhỏ bé của mình đồng bào đang rầm rập xây dựng mà mình không được dự phần vào, tự dưng có một cảm tưởng tưng hửng, dần dần ngấm thành một đau đớn”.

“Lòng chúng ta lúc nào cũng tha thiết với quê hương, nhưng quê hương lại không còn như xưa. Cho nên chúng ta lâm cảnh bẽ bàng”.

 “Về ư? Dẫu có về được, ta đâu còn về để tiếp tục đời sống như trước, mà chỉ để tăng cường hàng ngũ nô lệ. Đành rằng sống chết không cần, nhưng đã sống ta lại cam chịu sống như vậy sao? Sống để răm rắp vâng lời, để suốt đời ca ngợi lãnh đạo sáng suốt, để đem thân trâu ngựa củng cố một chế độ độc tài, vun bồi quyền lợi của một tầng lớp thống trị?”

“Bị kẹt dưới chế độ độc tài là đáng thương; còn như quyết định tự nguyện nhảy vào cúi đầu phục vụ độc tài lại đáng nguyền rủa. Kẹt cứng! Đồng bào ta, có lớp bị kẹt lại trong nước, có lớp lại bị kẹt… ở ngoài nước!”

Những dòng trên đây là của một nhà văn miền Nam nổi tiếng, trong tùy bút “Ngày về” in năm 1987 tại California [1]. Hai mươi lăm năm sau những tâm sự khắc khoải này và ba mươi bảy năm sau khi rời quê hương, một phần nhỏ tác phẩm của ông đã trở về. Hai đầu sách, Quê hương tôiTạp văn được Nhã Nam xuất bản tại Việt Nam. Chỉ có điều bút danh nổi tiếng của ông, Võ Phiến, được thay bằng Tràng Thiên, một bút danh ít người biết đến.

Tất nhiên điều đó không bình thường. Nó để lại một dư vị không dễ chịu. Dư vị của ngụy trang. Nhưng ngụy trang là hành vi gắn liền với toàn bộ sự tồn tại Việt Nam, với tất cả những mặt khuất và điểm sáng của nó. Ở đây tôi thiên vị các điểm sáng. Chúng ta thử nhìn câu chuyện Võ Phiến cải tên này qua một sự cố khác, sự cố Chuyện ở nông trại, tác phẩm lừng danh về những con lợn làm cách mạng để rồi thiết lập chính cái nguyên trạng mà chúng lật đổ, cũng do Nhã Nam xuất bản không lâu sau Lolita [2] và Võ Phiến.

*

Trong vụ tác phẩm chống toàn trị cộng sản kinh điển của George Orwell lọt lưới kiểm duyệt ở Việt Nam, công đầu chắc chắn thuộc về những người làm sách. Tuy không thể cho Chuyện ở nông trại một sự hiện diện rầm rộ trên truyền thông như với tác phẩm nổi tiếng và tai tiếng của Nabokov [3], nhưng chỉ riêng việc nó được cấp phép xuất bản và bản dịch không bị cắt xén đã đủ ngoạn mục. Song trong trường hợp tác phẩm đặc biệt này, ngoài bản lĩnh và sự dấn thân khéo léo của những người làm sách, phải có những may mắn khác.

May mắn đáng kê ra đầu tiên là sự dốt nát của bộ máy kiểm duyệt văn hóa tại Việt Nam. Ai từng làm việc với nó đều vẫn phải sửng sốt dù đã được nhiều lần báo trước. Trình độ của đại đa số các cán bộ kiểm duyệt có một quyền quyết định nào đó thường thấp đến mức “hạn chế” còn là một mĩ từ quá rộng lượng để chỉ. Guồng máy công quyền ở mọi nơi đều là chốn nương thân lí tưởng cho sự tầm thường, nhưng ở đất nước này guồng máy ấy do một bàn tay vô hình ưa mỉa mai sắp đặt: hệt như ở các lĩnh vực khác, tiêu chuẩn của người quản lí văn hóa dường như trước hết phải là không biết gì về văn hóa. Nghe họ mở miệng – đúng ra phải gọi là mở băng – bạn sẽ chỉ có một cảm giác duy nhất là tuyệt vọng. Tuyệt vọng khi nghe họ giải thích, chẳng hạn vì sao Kafka là một “trường hợp có vấn đề”, và càng tuyệt vọng hơn khi một lúc nào đó, khoảng hai thập niên sau, trái đất vẫn quay dù chúng ta đứng im, lại nghe họ giải thích vì sao trường hợp ấy không có vấn đề nữa. Trước một thành trì u mê được dán kín tem quyền lực như vậy bạn không có cơ hội nào hết. Hoặc là bạn phát điên. Hoặc là bạn trở thành một nhà hiền triết. Ngoài hai khả năng khá gần nhau này, bạn còn có thể tê liệt như một lựa chọn dễ dàng hơn. Tôi từng liệt toàn thân khi lịch sự ngồi nghe một cán bộ tuyên huấn cỡ kha khá kể chuyện ông ấy đã liều bảo vệ một tác phẩm đang bị “đánh” của tôi như thế nào. Tư duy của ông ấy – nếu có thể gọi đó là tư duy – không hề bị xúc phạm trước một chân lý đại loại như: một nhà văn rửa tay trước khi viết là một nhà văn trong sạch, nhân đạo và tiến bộ. Còn sự đổi mới tư duy táo bạo của ông ấy nằm ở nhận thức rằng tôi tuy không rửa tay nhưng vẫn trong sạch, nhân đạo và tiến bộ, vì tay tôi có bẩn đâu mà phải rửa. Mạng lưới kiểm duyệt thỉnh thoảng thủng ra một hai lỗ, có khi cho cả một tác phẩm lớn chui vừa, từ sự dốt nát đó. Thuyết phục kẻ giáo điều thường vô ích. Nhưng một kẻ giáo điều mù tịt đôi khi lại bất ngờ có một quyết định sáng sủa, vì hắn thậm chí không đủ hiểu biết để ý thức về quyết định đó của mình.

Những phẩm chất trứ danh khác của bộ máy nói trên là quan liêu, lười nhác và tắc trách. Tôi đảm bảo rằng nếu thay tên George Orwell bằng Eric Athur Blair, tên thật của ông, hay H. Lewis Always, một bút danh khác của ông, và đổi 1984 thành Tấm lòng của người Anh Cả; hoặc nếu thay Arthur Koestler bằng Kösztler Artúr và lấy tên bản gốc tiếng Đức Sonnenfinsternis dịch thành Một vầng nhật thực thay vì dịch theo những nhan đề đã quá nổi tiếng của bản tiếng Anh Darkness at Noon hay bản tiếng Pháp Le Zéro et l’Infini, thì cả hai tác phẩm thuộc hàng chống toàn trị và chống cộng đầu bảng này đều được duyệt êm ru tại Việt Nam và báo Nhân dân sẽ nhiệt tình quảng cáo. Trong trường hợp Animal Farm, rất có thể vụ vỡ đê kiểm duyệt xảy ra vì bản thảo được mang một cái tên đồng quê hiền lành, Chuyện ở nông trại.

*

Vì thế tôi mừng cho một phần Võ Phiến đã chui lọt một trong những cái lỗ tất yếu ngày càng to ra trong bức tường kiểm duyệt ngày càng kém chất lượng ở Việt Nam. Một ngày không xa, Đêm giã từ Hà Nội có thể được xuất bản với tên tác giả là Nguyễn Đăng, một bút danh của Mai Thảo. Nếu phải đổi thành Hà Nội đêm tiễn biệt, Giọt nước mắt đêm chia tay Hà Thành, Thăng Long đêm biệt li… để Mai Thảo được trở về cố hương, tôi sẽ lựa chọn sự ngụy trang ấy. Bản thân tôi, không được thông báo trước, cũng có lần xuất hiện trên một tạp chí ít người đọc ở trong nước, với cái tên chỉ dùng trong gia đình và một nhóm nhỏ bạn bè.

Trong số những nhà văn miền Nam được mệnh danh là, những tên biệt kích của chủ nghĩa thực dân mới trên mặt trận văn hóa-tư tưởng“ thì Duyên Anh ngồi tù 5 năm rưỡi, mất tại Pháp; Hồ Hữu Tường ngồi tù 5 năm, ra tù thì qua đời tại Việt Nam; Nguyễn Mạnh Côn chết trong tù; Vũ Khắc Khoan di tản, mất tại Hoa Kỳ; Mai Thảo vượt biên, mất tại Hoa Kỳ; Doãn Quốc Sỹ ngồi tù 14 năm, hiện sống ở Hoa Kỳ; Nhã Ca đi tù 2 năm, hiện sống ở Hoa Kỳ; Võ Phiến di tản, hiện sống tại Hoa Kỳ; Nhất Hạnh đã ra nước ngoài từ 1967; Dương Nghiễm Mậu ngồi tù 2 năm, hiện sống tại Việt Nam… Năm 2007, 4 tập truyện ngắn của Dương Nghiễm Mậu vừa được in lại ở trong nước thì biến mất, rất nhanh, sau khi những pháo đài à la Vũ Hạnh khạc đạn, loại đạn tồn kho quân khí tư tưởng từ vài chục năm trước, thô sơ cổ lỗ nhưng vẫn đủ sức sát thương. Nhưng từ khi Võ Phiến alias Tràng Thiên tái xuất, không thấy ông Vũ Hạnh, người đích thân phụ trách phần viết về Võ Phiến trong tác phẩm chống “biệt kích văn hóa” khét tiếng nói trên, đem súng ra lau. Một dấu hiệu tích cực. Như thể dù phải len lén đi đêm, văn học miền Nam và văn học hải ngoại cuối cùng cũng gửi được một đại diện đáng kể của mình đến dự cuộc tọa đàm không chính thức và đã rất trễ giờ về hòa giải dân tộc.

*

Song ngày vui ngắn chẳng tày gang. Bây giờ chúng ta được biết cái giá phải trả cho tấm vé ngày về của Võ Phiến. Hóa ra việc cải tên chỉ là một động tác rất phụ. Con trai ông, cũng một nhà văn, bút danh Thu Tứ, người đã “chọn lựa và biên tập” hai tác phẩm Quê hương tôiTạp văn nói trên, tuyên bố rõ trong bài “Trường hợp Võ Phiến“: “Chúng tôi cố chọn những tác phẩm vừa giá trị nhất vừa hoặc không chứa hoặc chứa rất ít nội dung chính trị. Nếu có nội dung chính trị, khi biên tập chúng tôi loại bỏ hết. Mục đích của việc chọn và bỏ như thế là đưa những thành tựu văn học đỉnh điểm của văn nghiệp Võ Phiến đến với người đọc mà không gây hại cho nước”. Trong phần còn lại của bài viết khá dài này, ông Thu Tứ phê phán toàn bộ hành trình tư tưởng chống cộng của cha mình để đi đến kết luận về giá trị của Võ Phiến: “Văn nghiệp Võ Phiến vừa tích cực vừa tiêu cực. Tích cực, đáng lưu truyền, là phần văn học. Tiêu cực, đáng bỏ đi, là phần chính trị” cũng như điều kiện để Võ Phiến có thể trở về: “Sai lầm chính trị đã đưa tác phẩm Võ Phiến ra khỏi lòng dân tộc. Đất nước đã độc lập, thống nhất lâu rồi. Nay đến lúc, nhân danh bảo tồn những giá trị văn hóa Việt Nam, đưa tác phẩm Võ Phiến trở về, sau khi lọc bỏ nội dung chính trị”.

Tuyên bố của ông Thu Tứ xuất hiện trên trang Góc nhìn vào tháng 8/2014, song đến khi được Tuần báo Văn nghệ TP HCM đăng lại cuối tháng 9 và đầu tháng 10/2014 nó mới thực sự được chú ý. Như có thể đoán trước, nó cũng vừa được báo Nhân dân và báo Tuyên giáo đăng lại. Còn thiếu báo Thanh tra, báo Quân đội và báo Văn nghệ của Hội Nhà văn là thành trì tư tưởng chính thống điểm danh xong. Năm ngoái, cái liên minh già nua ấy đã khoe cơ bắp trước tác giả trẻ Nhã Thuyên. Tương lai thuộc về ai, điều ấy không cần bàn cãi. Nhã Thuyên có rất nhiều tài năng, rất nhiều lao động cả học thuật và nghệ thuật. Cái liên minh ấy có những chiếc răng kiểm duyệt cuối cùng. Ông Thu Tứ chỉ góp thêm một chiếc lá vàng vào mùa thu của các vị trưởng lão.

Tôi không coi việc làm của con trai nhà văn Võ Phiến là hành động “đấu tố cha” hay “bất hiếu”, như phần lớn phía dư luận đang phẫn nộ, đặc biệt ở hải ngoại. Máu mủ không phải là tiêu chuẩn để xác định đúng sai thiện ác. Chẳng lẽ chúng ta phải ca ngợi từ Kim Chính Nhật đến Kim Chính Ân, những người con trung thành nhất với cha ông? Lịch sử quá nhiều điên đảo và phân cực của Việt Nam tất yếu chia cắt và chia rẽ, thậm chí con người này đả đảo con người kia ngay trong một con người. Con cái Phạm Quỳnh bất hiếu chăng, khi tận trung phục vụ cho chế độ đã giết cha mình? Cù Huy Hà Vũ là một nghịch tử chăng, khi chống lại cái chế độ mà cha mình là một trong những công thần khai quốc? Chúng ta lấy quyền gì mà đem những quả tạ đạo đức ra đặt ùm ùm, lúc thì lên cán cân bên này, lúc thì lên cán cân bên kia, chỉ để lẩy cho được cái kết quả trọng lượng đang cần cho sổ sách trong những trường hợp như thế? “Trường hợp Thu Tứ” chỉ là điển hình cho những xung đột đã và đang giằng xé người Việt trong mọi quan hệ và trên mọi bình diện. Nạn nhân là tất cả mọi thứ, riêng gì đâu tình phụ tử.

Nếu ông Thu Tứ chỉ đoạn tuyệt với cha mình về quan điểm chính trị, tôi không chia sẻ, nhưng đó là quyền tự do của ông, như của bất kì ai, mà tôi thấy tranh luận là vô ích. Song điều khiến tôi sởn gai ốc là ông biến cái quyền tự do tư tưởng ấy của bản thân thành quyền tự do thanh trừng tư tưởng của người khác, và người đó là thân phụ ông, nhà văn Võ Phiến, với tất cả lòng tin cậy ruột thịt đã cấp cho ông tấm giấy ủy quyền. Giấy phép gọt Võ Phiến cho vừa khuôn Thu Tứ. Không thể trớ trêu hơn. Đội quân đấu tranh tư tưởng của chính quyền Việt Nam có thể cả cười: nó sẽ tế nhị rút lui, khi gia đình đã đủ là trận tuyến.

Quả thật có những nghệ sĩ lớn đã nhỏ hẳn đi khi làm chiến sĩ tư tưởng và ngược lại. Người ngưỡng mộ nhà thơ Pablo Neruda ước gì bài tụng ca Stalin của đồng chí đảng viên cộng sản Pablo Neruda chỉ là một cơn ác mộng lạc đường. Người yêu thơ Lê Đạt muốn tống khứ 626 dòng Trường ca Bác năm 1970, viết ngày giỗ đầu Hồ Chủ tịch (Mây trắng đền Hùng/Râu Bác ung dung. Suối Lê Nin/ Núi Mác… Ôi/ Đến cả hình hài/ Bác/ cũng chẳng mang đi… Bác để lại/ cho ta/bốn biển/ sâu xa/ tình đồng chí. Bác để lại/ cho ta/ tất cả/ Bác Hồ), sau tất cả những sỉ nhục dành cho Nhân văn-Giai phẩm. Biết đâu một ngày nào hậu duệ của Tố Hữu sẽ đòi đốt sạch di sản của cha, một nhà thơ không phải là không có năng khiếu, chỉ giữ lại bài thơ “Khi con tu hú”, với tên tác giả là Lê Tư Lành, để giữ gìn nghệ thuật chân chính. Như ông Thu Tứ tin rằng phải cắt phăng khối nọc độc, phần tác phẩm chứa tư tưởng chống chế độ cộng sản của Võ Phiến, thì mới bảo toàn được giá trị sự nghiệp văn học của cha mình.

Những quan niệm lang băm trung cổ như thế vẫn sống sót trong thời hiện đại, nơi văn chương đã lặng lẽ rút lui khỏi ý thức xã hội. Ngày về âm thầm của một tác giả lớn có dấy lên được một chút dư luận cũng chỉ vì tiếng động của dao kéo kiểm duyệt. Trong “trường hợp Võ Phiến”, kiểm duyệt tại gia đã đi trước kiểm duyệt quốc gia.

17-10-2014

P.T.H

Nguồn: http://www.procontra.asia/?p=5068

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

[1] Võ Phiến, Tùy bút, quyển 2, Văn Nghệ, California 1987, tr. 317-318, 323-324

[2] Bất chấp sự tranh cãi về dịch thuật, việc Lolita chính thức xuất hiện trong tiếng Việt là một bước tiến đáng ghi nhận của đời sống văn học tại Việt Nam.

[3] Cả Nhã Nam lẫn NXB Hội Nhà văn đều không đưa thông tin về cuốn sách lên mạng. Lời đồn cuốn sách đã bị thu hồi cũng không được phía nào xác nhận hay bác bỏ.

 

Kết quả cuộc thi thơ viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp

       TRIỆU TẤM LÒNG KÍNH ĐẠI TƯỚNG CỦA DÂN
(Tổng kết cuộc thi viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp)

Đỗ Hoàng

vannghecuocsong.com phát động cuộc thi thơ viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ tháng 10 năm 1013 đến 3 -10 -2014  đã nhận 1020 bài dự thi gồm cả văn thơ nhạc họa, đã in được 216 bài thơ của các tác gỉa người Việt trong và ngoài nước, khắp băc trung nam; các  nhà thơ , nhà văn là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam hưởng ứng ngày từ đầu như: Hoàng Thái Sơn, Y Phương, Triệu Lam Châu,Phạm Thanh Quang, Ngô Minh, Lâm Xuân Vy, Trần Chấn Uy, Lê Xuân Đố, Vĩnh Nguyên…
Hiếm thấy một vị Đại tướng nào làm việc binh đao của loài người được dân kính yêu như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, được dân gọi một cái tên rất trìu mến, kính trọng: Đại tướng của dân. Bởi vì ông biết “ Nãi tri binh giả thị hung khí/ Thánh nhân bất đắc dĩ nhi dụng chi” (Lý Bạch) (Mới biết binh đao là vật gỡ/ Thánh nhân cực chẳng đã mới dùng đến) (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.10.2014

Học văn để làm chi hè?

Học văn để làm chi hè?

 
Nguyễn Quang Lập/Quê choa
O Kim Tiến xinh đẹp, Bộ trưởng Y tế xinh đẹp của chúng ta nói rằng “Tôi phải nói thật là môn văn rất cần. Trong quá trình làm việc, nhiều người viết báo cáo mà ngữ pháp sai rất nhiều, chưa nói đến lỗi chính tả. Viết sai thì tư duy cũng sai, nói cũng không tốt được (…). Môn văn rất cần cho cán bộ ngành y, giúp việc nói năng lưu loát, diễn đạt văn bản rõ ràng, đúng ngữ pháp”.
 Từ câu nói của người đẹp Kim Tiến dân tình bàn loạn cả lên. Tui để ý xem có nhà văn nào lên tiếng không. Không. Hoàn toàn không. Bởi vì đó không phải việc của nhà văn. Đó cũng không phải vấn đề mà nhà văn quan tâm. Hi hi… thiệt rứa đó.

 Bảo rằng học văn để nói năng lưu loát, xin thưa trật lấc! Muốn nói năng lưu loát thì đi học môn hùng biện chứ không phải đi học văn. Tất cả nhà văn hàng đầu nước ta đều nói năng không hề lưu loát chút nào. Kim Tiến đã nghe nhà văn Nguyễn Minh Châu nói chuyện lần nào chưa? Nếu chưa bây giờ thử mời nhà văn Bảo Ninh đến Bộ y tế nói chuyện. Trình nói chuyện của Bảo Ninh cũng xêm xêm Nguyễn Minh Châu, họ đều thuộc trường phái ngậm hột thị.  Ngậm hột thị hãy còn khá, có nhà văn không hề biết nói, điển hình là nhà thơ Tế Hanh. Rời cây bút ra là ông không sao diễn đạt được điều ông nghĩ cho mọi người hiểu. 
Bật mí cho người đẹp Kim Tiến nhé: Ở đâu không biết chứ ở nước ta phàm ông nào trước đám đông nói năng lưu loát, trơn tuột như cháo chảy, thì hoặc ông đó không phải nhà văn hoặc là nhà văn dốt, tức nhà văn bất tài. Chắc chắn 100%.
Bảo rằng học văn để viết lách gãy gọn, đúng ngữ pháp, đúng chính tả, xin thưa cũng trật lấc nốt. Muốn giỏi mấy món đó thì lo đi học môn soạn thảo văn bản. Hơn 90% phần trăm nhà văn nước ta viết sai chính tả, trong đó có tui. Nhà thơ Đỗ Trung Quân chẳng những viết sai chính tả mà sai luôn cả lỗi đánh máy, đọc bài ông viết lắm khi muốn nổi khùng. Thế nhưng ông là nhà thơ được yêu mến hàng đầu Tổ quốc mình đấy O Kim Tiến ạ. Bạn đọc đọc thơ ông chứ chẳng ai đọc chính tả của ông bao giờ, không tin O Kim Tiến hỏi họ mà xem.
 Một nhà thơ hàng đầu đất nước khác đó là nhà thơ Phạm Tiến Duật, ông còn không viết nổi biên bản một cuộc họp nửa tiếng của ban biên tập báo Văn nghệ. Một hôm ông Hữu Thỉnh giao cho Phạm Tiến Duật làm biên bản. Phạm Tiến Duật mừng lắm, vì nghĩ mình được coi trọng,  ra sức viết một biên bản 4 trang A4. Họp xong,Phạm Tiến Duật đọc biên bản. Mọi ngơ ngác không ai hiểu sao cả. Chỉ riêng Hữu Thỉnh là xuýt xóa khen hay. Xuýt xoa khen hay xong Hữu Thỉnh hỏi Phạm Tiến Duật, nói này ông Duật, cái này là biên bản hay thơ hậu hiện đại?
 O Kim Tiến ơi! Môn văn chẳng cần để làm chi hết, nói chung học sinh nước ta không cần phải học văn. Ông Bảo Ninh có lần tâm sự với tui, nói tao nói thật, sở dĩ bây giờ tao thành nhà văn vì ngày xưa tao chán học văn khủng khiếp. Đúng vậy. Ở một xã hội lấy đạo đức giả làm căn bản thì văn chương (thứ thiệt) là thứ nguy hiểm càng tránh xa càng tốt. Ở một xã hội mà bọn đạo đức giả luôn lấy món nhân văn ( giả cầy) làm ngọn cờ  gương mẫu uy tín thì càng học văn càng nguy hiểm, càng học văn càng giết chết văn, giết chết luôn tính người trong mỗi chúng ta. Điều đó giải thích vì sao càng học văn thì tình trạng cướp giết hiếp càng dâng cao, y đức ngành của O càng suy sụp.

Rứa đo O Tiến nờ.

( Nguồn : quechoa)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.10.2014

CÁI ĐÊM HÔM ẤY… ĐÊM GÌ ?

QTXM- Bạn đọc thân mến. Cuộc đấu tranh giữa văn nghệ sĩ và cường quyền để khẳng định tính nhân văn của mình là cuộc đấu tranh không khoan nhượng và không có hồi kết. Bút ký “Cái đêm hôm ấy …đêm gì?” của Phùng Gia Lộc đã dóng lên hồi chuông báo động về sự độc ác tàn bạo của bạn người quyền chức ở Thanh Hóa vào những năm bao cấp. Phùng Gia Lộc (1939-1992)  với bài bút ký Cái đêm hôm ấy…đêm gì chấn động văn đàn và dư luận Việt Nam cuối những năm 80 của thế kỷ trước…Những sự độc ác đó đén hôm nay vẫn chưa hết, vẫn diến ra đây đó làm cho người nông dân ngày càng khốn quẩn, đi khiếu kiện kéo dài không ai giải quyết. QTXM xin in lại bủt ký nổi tiếng một thời này để bạn đọc trẻ hôm nay cùng chia sẻ.

CÁI ĐÊM HÔM ẤY… ĐÊM GÌ ?

 PHÙNG GIA LỘC 

Cuối năm 1983, tôi được ở nhà chờ quyết định về nghỉ chế độ. Chiều chủ nhật, thằng Học con tôi rủ rỉ nói:

- Con bắt được bác Quang ăn bánh cuốn ở hàng anh Minh. Bác đi thồ sắn ở chợ Phúc Địa về. Bác cho mấy bó nhưng con không lấy. Bác dặn con về đừng nói với bố mẹ là đã gặp bác. Nói, hôm nào sang bác đánh chết.

- Hừ! Lại thế nữa…

Tôi buột miệng bảo với con thế, rồi thừ ra. Bạn bè anh em cùng một phòng với nhau mà đi qua không vào. Có điều gì nhỉ?

Sáng thứ hai tôi sang cơ quan ứng mấy cân gạo và định bụng sẽ gặp, trút sấm sét lên đầu anh ấy. Nghe tôi trách, Lê Trung Quang, trưởng phòng tổ chức Ủy ban huyện Thọ Xuân, cười hà hà làm lành thật đôn hậu, dễ yêu:

- Giá có một mình thì tôi vào. Đằng này những bốn binh, khao được, anh cũng liệt. Vả lại, bốn cái xe nặng è, sợ tối.

Là trưởng phòng tổ chức ủy ban huyện, anh cũng để gia đình vợ con đói thiếu. Ra anh còn kém cỏi hơn cả tôi, một kẻ chân chim trần trụi, một tay sắp trở thành “phó thường dân”. “Nhà mình cũng bí. Nộp sản đi rồi, lúa đã cạn. Khó mà ăn thấu tết được”. Quang lắc đầu bảo thế.Anh gạn tôi:

- Ông ở đây với tôi đêm nay cho vui. Tôi buồn quá.

Tôi chỉ vào mấy cân gạo đã bó buộc sau xe, bảo anh Quang:

- Phải mang “hàng chiến lược” này về chứ.

Nếu nghe lời Lê Quang Trung nằm lại với anh một đêm, thì tôi đã không thể nào hình dung nổi ở Phú Yên xã tôi Cái đêm hôm ấy là đêm gì…

Có cái “các” quá giang của Lê Trung Quang cho mượn, tôi không phải mất ba đồng tiền đò. Qua sông Chu gió vù vù bên tai, tôi phải kéo vành mũ len, trùm thấp cho đỡ run. Tôi về đến nhà, trời đã sẩm tối, con mực xông ra í a í ẳng vờn chân lên hông. Vợ tôi bế thằng Văn ngủ khì trong lòng, ngồi bên bếp than vỏ cao su um khói. Bên cạnh, thằng cu Thức bốn tuổi đang liến láu. Còn Học – thằng con nhớn đang học bài ở nhà trên.

(Đọc tiếp…)

Trung Quốc: Biểu tình của người dân ở các tỉnh Quý Châu, Hà Bắc, Chiết Giang,Quảng Đông

 
 
Theo copnhat / Blog Trần Nhương
Ngày 11/10/2014, hơn 100.000 người dân tỉnh Quý Châu gồm sinh viên, học sinh, công nhân, thương nhân, tài xế taxi, nông dân, trí thức,… tất cả mọi tầng lớp nhân dân đồng loạt đình công, xuống đường giương cao băng rôn, biểu ngữ biểu tình phản đối đảng CS, chính quyền CS tham nhũng, cướp đất, cướp tiền – vàng, ác ôn với nhân dân.


Ngay lập tức Phong trào chiếm Trung tâm Hành chính đã được phát huy một cách hiệu quả nhất; đến sáng nay vẫn còn rầm rộ, người dân đã chặn các tuyến đường chính, tập trung tại quảng trường trước trụ sở chính quyền CS để phản đối, hô vang khẩu hiệu “Đả đảo đảng cộng sản”, “Đả đảo Quan chức cs tham nhũng, ác ôn”, “Yêu cầu bí thư, chủ tịch tỉnh phải từ chức”,…

.
Hàng nghìn Cảnh sát CS, Quân đội CS đã được huy động để đàn áp nhân dân, nhưng trước sức ép mãnh liệt của hàng trăm nghìn người dân thì đảng cộng sản bước đầu đã chưa dám manh động. Còn rất nhiều hình ảnh tại đường dẫn bài viết:  http://wickedonna2.tumblr.com/post/99771518738/2014.
.
Cũng trong ngày, hàng trăm nghìn người dân các tỉnh Hà Bắc, Chiết Giang, Quảng Đông đã xuống đường biểu tình phản đối Đảng, chính quyền CS tham nhũng, ác ôn, cướp đất, cướp nhà, tăng tô thuế, thủ phí mới,… để bóc lột thậm tệ sức lao động của nhân dân, để sống sung sướng trên mồ hôi, xướng máu của nhân dân.
.
Các đường dẫn bài viết:
Đăng bởi: Ngô Minh | 17.10.2014

“TRÁI TIM LẦM CHỖ ĐỂ TRÊN ĐẦU”

 

Nhà thơ Mai Văn Hoan

“TRÁI TIM LẦM CHỖ ĐỂ TRÊN ĐẦU”

 QTXM- Nhà thơ Mai Văn Hoan vừa gửi cho QTXM bài viết về chuyện Trọng Thủy làm gián điếp lấy cắp nỏ thần của An Dương Vương giúp Triệu Đà chiến thắng. Bây giờ bọn lãnh đạo Trung Quốc lại giở cái trò đó hòng độc chiếm biển Đông, buộc Việt Nam phải phụ thuộc thiên Triều. Chúng tôi in bài viết bày để mọi người cùng bàn luận

 

Nhà thơ Mai Văn Hoan

 Nhà thơ Tố Hữu từng viết:

Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu

Trái tim lầm chỗ để trên đầu

Nỏ thần vô ý trao tay giặc

Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu!

 Đọc những câu thơ này tôi cảm thấy càng thương Mỵ Châu. Trong truyện nàng đã bị thần Kim Quy kết tội oan và bị vua cha chém đầu rơi đầu một cách đau đớn. Bây giờ nhà thơ lớn của chúng ta lại bồi cho nàng thêm một nhát gươm nữa thì quả là hết mức chịu đựng. Nàng có tội là vô ý đưa Trọng Thủy đến kho cất giấu nỏ thần. Nhưng ai phải chịu trách nhiệm chính trong chuyện này? Theo tôi, người chịu trách nhiệm chính là An Dương Vương và những cộng sự của ông ta. Chính An Dương Vương mới để “trái tim” lầm chỗ. Triệu Đà trước đó đã nhiều lần lăm le thôn tính Âu Lạc sao ông ta và những cộng sự của ông ta không cảnh giác lại đồng ý gả Mỵ Châu cho Trọng Thủy? Gả cho Trọng Thủy rồi sao lại mù quáng nhận lời cho Trọng Thủy ở rể? Cho Trọng Thủy ở rể rồi sao không cắt cử người theo dõi, kiểm soát, khống chế? Sao chỗ cất giấu vũ khí lợi hại lại để cho Mỵ Châu biết? Sao thần Kim Quy và nhà thơ Tố Hữu đổ tất cả tội lỗi cho một cô gái mới lớn đang còn ngây thơ, trong sáng ? Rõ ràng An Dương Vương đã đặt tình thông gia lên trên chuyện quốc gia đại sự. Đó là sai lầm cơ bản nhất mà những người lãnh đạo đất nược phải rút ra bài học xương máu. Trọng Thủy là gián điệp và hắn ta đã thực hiện mưu đồ của Triệu Đà một cách khôn khéo. Nghĩa là hắn ta đã dạy cho An Dương Dương một bài học đích đáng. Dù có yêu Mỵ Châu đến mấy đi nữa thì hắn ta cũng biết đặt quyền lợi quốc gia hắn lên hàng đầu chứ không đến nỗi ngu muội như An Dương Vương và các cộng sự của ông ta.

 Sau này Đặng Tiểu Bình và Tập Cận Bình đã làm cái điều y như Trọng Thủy đã làm. Nếu Đặng Tiểu Bình và Tập Cận Bình đặt tình hữu nghị của hai đảng anh em lên trên hết thì không có chuyện xua quân đánh biên giới và đặt giàn khoan vào lãnh hải nước ta để dạy thêm cho chúng ta “một bài học”. Đặng Tiểu Bình lúc đó như ta biết rất muốn lấy lòng nước Mỹ, muốn quan hệ làm ăn lâu dài với Mỹ để đưa đất nước Trung Quốc phát triển nên đã bất chấp tình hữu nghị “như răng với môi” giữa hai đảng, mang quân đánh chiếm biên giới nước ta. Và sau đó như chúng ta biết Mỹ đã hỗ trợ cho Trung Quốc như thế nào để Trung Quốc được như bây giờ. Mới đây, Tập Cận Tập Bình cũng vì quyết mở cho bằng được “con đường tơ lụa” trên biển để làm ăn với các nước Nam Á nên bất chấp tình hữu nghị của hai đảng anh em, ngang nhiên đặt giàn khoan trên lãnh hải nước ta.

 Về điều này, tôi thiết nghĩ những người lãnh đạo đảng CS VN phải thức tỉnh. Vì đảng CS vốn tự xưng là đảng của nhân dân thì phải biết đặt quyền lợi của nhân dân, đất nước lên hàng đầu. Đừng để họ lại dạy cho chúng ta thêm bài học nữa!

***

Mai Văn Hoan

ĐỘC THOẠI

 “Thương thay thân phận con

 Lên đình đội hạc, xuống chùa đội bia”

Ta là người có công

Hay là người có tội

Ai oán hận ta không ?

Đêm đêm ta tự hỏi.

Công ta, ai cũng biết

Tội ta, mấy ai hay

Lương tâm ta cắn rứt

Từ bấy cho đến nay.

Một lời ta lỡ nói

Chẳng suy xét trước sau

An Dương Vương nổi giận

Chém rơi đầu Mỵ Châu.

Máu tươi ròng ròng chảy

Dẫu có thành ngọc trai

Những lời ta buộc tội

Ngàn năm còn oan sai !

Có phải vì thế chăng

Ta bị trời trừng phạt

Lên đình thì đội hạc

Xuống chùa thì đội bia ?

( Tác giả gửi cho QTXM)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.10.2014

“ MỆ HUẾ” NGUYỄN TUÂN

Nhà văn Nguyễn Tuân

                       “ MỆ HUẾ”  NGUYỄN TUÂN 

         Ngô Minh

           Chưa có nhà văn người Hà Nội nào rành Huế và đậm đặc “chất Huế” như Nguyễn Tuân. Có thể nói Nguyễn Tuân là một “mệ” Huế ( “Mệ” là từ gọi chung người trong Hoàng Tộc Nguyễn, cả nam lẫn nữ).  Năm 1986, ông vô Huế.  Mấy anh em viết văn trẻ chúng tôi đến khách sạn, nói là thăm ông, thực ra là để xem mặt nhà văn lớn. Ông cười, hỏi tên từng người, rồi lục ba lô lấy ra một nậm rượu và mấy cái chén mắt trâu Bát Tràng . Ông vừa rót rượu , vừa nói giọng Huế ngọt lịm : “Cái thằng Vân ni được lắm, không thua gì thằng Chuồn Huế mô”. Ông đưa chén rượu đến từng người rồi bất chợt phán :” Các “Mệ” làm chủ tập thể đi !”.   Tôi rụt rè :” Thưa, sao anh biết rượu Chuồn ?”. Ông cười vuốt râu, lại nói giọng Huế :” Mình đã uống rượu Chuồn  từ khi các “mệ” chưa có trên cõi đời ni, nghe chưa !”.  (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 16.10.2014

Văn tế thập loại giáo sư

Văn tế thập loại giáo sư

Khuyết Danh

 Tiết quý Thu gió mưa vuồn vuột
Dân quê miềng lạnh buốt xương da
Lập đàn đèn nến hương hoa
Lạy ông tiến sĩ, lạy bà giáo sư.

Bể học vấn hư hư thực thực
Lối quan trường bắc bực gai chông
Vênh vênh một lũ Hội đồng
Phiếu bầu thì có, đầu không có gì.

Không có gì mà gì cũng có
Sự học hàm ngấp ngó đua tranh
Đua tranh thì có giá thành
Mua danh ba vạn, bán danh ba hào.

Nào những kẻ mũ cao áo rộng
Chốn Tam đình ngong ngóng vào ra
Thanh binh chính thị nghiệp nhà
Ô hô mồm giải mép loa cũng tài.

Nào những kẻ miệt mài đèn sách
Đạo văn người chắp nhặt nên câu
Sách người làm mọt làm sâu
Ô hô nhai lại kiếp trâu kiếp bò.

Nào những kẻ tò vò nuôi nhện
Bụng nhện tròn nó quện luôn ông
Ô hô mông quạnh đồng không
Có hương có khói nhưng không bàn thờ.

Nào những kẻ lập lờ đục nước
Hội Tâm linh mưu chước sắp bày
Dị nhân đuổi gió hô mây
Quái nhân múa mép, múa tay, múa tiền.

Nào những kẻ điên điên dại dại
Nay quốc ca mai lại quốc hoa
Ô hô vỏ lựu mào gà
Nước nôi man mác biết là còn không.

Nào những kẻ lưu vong thất thổ
Cõi Tây phương mặt rỗ kỳ khu
Học đòi lí lẽ ba xu
Chõ về đàn gảy tai tru mà rầu.

Nào những kẻ Đông Âu tu luyện
Trợ cấp còm tằn tiện từng khâu
Gái xinh chẳng dám nhìn lâu
Áo phông son Thái khấu đầu bán buôn.

Nào những kẻ cúi luồn thân phận
Tay bút gươm lòng lận bút lông
Ô hô trời đất thấu không
Đô Long hạ bệ, đốc Đông thượng tòa.

Nào những kẻ ghen gà tiếng gáy
Hám vinh danh tháu xoáy công trình
Chưa thôi tranh luận rập rình
Đã lôi nhau đến pháp đình… tội chưa.

Cũng có kẻ thân lừa ưa nặng
Cũng có cha lẵng nhẵng oán ân
Cuốc Liên điện thoại Ma Lân
Đánh rơi thằng nọ, xí phần đứa kia…

Phận bèo bọt thia lia mặt nước
Giang sơn này độc dược tràn lan
Bán buôn sông biển non ngàn
Hồn hề hồn hỡi hồn tan hay còn…

Cuối thu nhặt được
(Khuyết danh)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 16.10.2014

CƯỚI ĐÊM – CHÙM THƠ PHAN ĐÌNH tIẾN

Nhà thơ Phan Đình Tiến

QTXM- Bạn đọc thân mến. Nhà điêu khắc Phan Đình Tiến hiện là Chủ tịch Hội VHNT Quảng Bình. Anh đã có tượng đặt ở nhiều thành phố lớn ở nước ta như Huế, Vũng Tàu, TP Hồ Chí Minh, Đá Lạt, Đồng Hới…và nhận được rất nhiều giải thưởng cao của ở Trung ương và địa phương.  Ngoài điêu khắc,Phan Đình Tiến  là một nhà thơ hiện đại và độc đáo. Anh đã được giải thưởng thơ Tạp chí Sông Hương. QTXM xin giới thiệu chùm thơ của nhà điêu khắc Phan Đình Tiến để bạn đọc thưởng thức

 

CƯỚI ĐÊM

 Cưới đêm ta uống rượu nồng

Cạn ly duyên thắm vợ chồng từ nay

Yêu đêm cho bõ ghét ngày

Khát khao tình ái tháng đầy rụng rơi

Đã đi hơn nữa kiếp người

Mà ta vẫn cứ thằng tôi lạc loài

Đêm này đêm hỡi đêm ơi

Ngày kia ghẻ lạnh còn tôi với mình

Động phòng với bóng đêm xinh

Nghe chừng con sóng dập dình biển xa

Lời đêm thủ thỉ mặn mà

Mắt đêm nghiêng ánh trăng ngà tái tê

Ôm đêm trong cõi đê mê

Gối mây trinh tiết dầm dề sương tơ

Ái ân với bóng đêm mơ

Thương tôi thân xác bơ vơ lỡ làng

Khổ đau một kiếp đa mang

Tháng năm

tất tưởi

bẽ bàng

đêm ơi./. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 15.10.2014

 

Văn Việt:Thơ chân dung”, chính xác là “thơ hý họa chân dung”, không phải điều mới mẻ của thơ Việt Nam và thế giới. Những bài thơ bất hủ của Nguyễn Khuyến, Tú Xương phác hoạ một cách thần tình những nhân vật cùng thời, đã vượt khỏi phạm vi “thơ hài, thơ biếm” như cách “phân loại” máy móc của một số nhà phê bình, mà thấm đượm chất trữ tình, nhiều khi như những tiếng cười nhẹ thân ái mà đượm buồn… 100 bài thơ “chân dung” của Xuân Sách gần đây là một kho hý hoạ đặc sắc, từ ác đến vui, đủ cung bậc.

Nhà văn Phạm Lưu Vũ gửi đến Văn Việt 12 bài “thơ chân dung” sau đây của các bạn văn chương của mình, chắc là muốn nối tiếp truyền thống ấy trong thơ Việt. Xin giới thiệu với bạn đọc.

VỊNH NHÂN VẬT CHÍ

1- TRẦN NINH HỒ

Chàng thuở trẻ vốn từng làm lính

Máu văn chương nên dính nghiệp thơ

Xuất thân Kinh Bắc, Sen Hồ

Sông Cầu chảy giữa nhấp nhô xóm làng

Dáng thanh thanh rõ ràng chum vại

Thước năm mươi đo vội đo vàng

Cứ gì mồm rộng mới sang

Cứ gì thon thả mới hàng mĩ nhân

Khi chinh chiến gieo vần bom đạn

Lúc thanh bình bè bạn thí thân

Ninh Hồ từ ấy thành nhân

Vốn dòng Ích Tắc họ Trần ngày xưa

Chí làm người dư thừa can đảm

Bén duyên nhau nói nhảm cũng hay

Những là tháng tháng ngày ngày

Lừa con, lừa vợ, Đông, Tây tít mù

Vạ mồm miệng kẻ trù người ghét

Đã bảo tàng mà suýt vẫn toi

Thế rồi chơi để mà chơi

Câu thơ để khóc để cười cho ai

Cần gì nữa một hai giải… rút

Đã gọi chùa không Bụt vẫn thiêng

Ghế đời trao quá chung chiêng

Ghế nhà mình vững như kiềng ba chân

Thì tiếc gì mấy lần hưng phế

Cõi nhân gian tử tế? Còn lâu!

Thế rồi ngồi tót đâu đâu

Để xem thiên hạ bắt đầu… với nhau. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 15.10.2014

Ban Tuyên giáo TW phổ biến tài liệu Hội nghị Thành Đô

Theo RFA, Bangkok

Tập tài liệu về Hội nghị Thành Đô do ban Tuyên giáo Trung ương đã được biên soạn và phân phát đến các đảng viên, cán bộ trong các cơ sở đảng

 

Tập tài liệu về Hội nghị Thành Đô do ban Tuyên giáo Trung ương đã được biên soạn và phân phát đến các đảng viên, cán bộ trong các cơ sở đảng
alt RFA files photo

Một tài liệu được nói là do Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam biên soạn về Cuộc gặp cấp cao tại Thành Đô năm 1990 mà nhiều người quan tâm trong nước gọi là Thỏa thuận Thành Đô đang được lưu hành xuống cơ sở đảng. Động thái này được thực hiện sau khi có một số kêu gọi của chính những vị cao cấp trong Đảng cũng như người quan tâm phải bạch hóa thỏa thuận đó.
Những điều được Ban Tuyên giáo nêu ra trong tài liệu có đáp ứng được yêu cầu của những người từng có kiến nghị về việc này hay chưa? Gia Minh trình bày.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 14.10.2014

CÙNG ĐÔNG HÀ ĐI NGƯỢC ĐÁM ĐÔNG

Thi sĩ Đông Hà   

     CÙNG ĐÔNG HÀ ĐI NGƯỢC ĐÁM ĐÔNG

      Ngô Minh

  Nhà thơ Đông Hà vừa tặng tôi tập thơ mới của chị có cái tên là lạ “Đi ngược đám đông “. Sao không đi cùng mà lại đi ngược đám đông ? Đi ngược đám đông nghĩa là đi một mình, ngồi một mình, một mình lặng lẽ tâm thức ?. Trong đề từ đầu sách, nhà thơ viết :”Mượn tinh thần chữ của Trịnh Công Sơn trong Phúc âm buồn tôi viết đi ngược đám đông.”. Phúc âm buồn của Trịnh là một bài hát về phận người cô độc và bất lực, yêu thương và đau khổ :

Còn bao lâu cho thân thôi lưu đày chốn đây
Còn bao lâu cho thiên thu xuống trên thân này
Còn bao lâu cho mây đen tan trên hồn người
Còn bao lâu tôi xa em xa anh xa tôi
(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 14.10.2014

Ai yêu Trung Quốc?

Ai yêu Trung Quốc?

  •   Ian Buruma

Hàng vạn người đã “chiếm đóng” những con đường ngập tràn hơi cay của khu vực Trung tâm Hong Kong để chiến đấu cho những quyền dân chủ của họ. Nhiều người hơn nữa sẽ sớm gia nhập với họ. Mặc dù một vài người kinh doanh và chủ ngân hàng cảm thấy khó chịu bởi sự gián đoạn công việc, nhưng những người biểu tình đã đúng khi phản kháng.

Chính quyền Trung Quốc đã hứa hẹn với những người dân Hong Kong rằng họ có thể tự do bầu chọn Trưởng Đặc khu vào năm 2017. Nhưng, với điều kiện rằng các ứng viên phải được rà soát bởi một ủy ban thân Trung Quốc được bổ nhiệm bởi chính quyền trung ương, việc bầu chọn của công dân sẽ không còn có nhiều ý nghĩa. Chỉ có những người “yêu Trung Quốc” – tức yêu Đảng Cộng Sản Trung Quốc – mới được tranh cử.

Người ta có thể dễ dàng hiểu được tại sao các nhà lãnh đạo Trung Quốc lại bị phong trào phản kháng ở Hong Kong làm cho cảm thấy bối rối. Suy cho cùng thì khi Hong Kong còn là một thuộc địa của Anh, người Anh đã chỉ định các vị toàn quyền mà chẳng có ai phản kháng cả đấy thôi.

Thực tế, thỏa thuận mà những người dân thuộc địa Hong Kong chấp nhận – gạt chính trị sang một bên để đổi lấy cơ hội theo đuổi sự thịnh vượng vật chất trong một môi trường an toàn và trật tự – không khác là mấy so với thỏa thuận (với chính quyền Bắc Kinh) mà những tầng lớp có giáo dục ở Trung Quốc ngày nay chấp nhận. Trước đây, một quan điểm thông thường của các công chức chính quyền thực dân, thương gia, và các nhà ngoại giao là người Trung Quốc không thực sự hứng thú với chính trị chút nào; tất cả những thứ họ quan tâm chỉ là tiền.

Bất cứ ai có những kiến thức cơ bản nhất về lịch sử Trung Quốc sẽ thấy rằng quan điểm này hoàn toàn sai. Nhưng, trong một thời gian dài, nó dường như đã đúng ở Hong Kong. Tuy nhiên, có một sự khác biệt đáng kể giữa Hong Kong dưới sự cai trị của Anh Quốc và Hong Kong thuộc Trung Quốc ngày nay. Trước đây, Hong Kong không phải là một vùng đất dân chủ, nhưng nó đã có một nền báo chí tương đối tự do, một chính quyền tương đối trung thực và một hệ thống tư pháp độc lập – tất cả được ủng hộ bởi một chính quyền dân chủ ở London.

Đối với phần lớn công dân Hong Kong, triển vọng của việc bị chuyển giao từ một một cường quốc thực dân này sang một cường quốc thực dân khác vào năm 1997 chưa bao giờ là một triển vọng hoàn toàn vui vẻ. Nhưng thứ thật sự tiếp sức cho chính trị ở Hong Kong là cuộc đàn áp quảng trường Thiên An Mônở Bắc Kinh và ở các thành phố khác trong năm 1989. Những cuộc biểu tình khổng lồ đã diễn ra ở Hong Kong để phản đối cuộc thảm sát, và các lễ tưởng niệm có quy mô lớn về sự kiện đó được tổ chức vào tháng 6 hàng năm. Điều này đã giúp duy trì một ký ức vốn bị kìm nén và lãng quên ở những nơi khác thuộc Trung Quốc.

Không chỉ sự giận dữ từ lý do nhân đạo đã kích động rất nhiều người Hong Kong hành động trong năm 1989. Họ đã nhận ra rằng dưới sự cai trị trong tương lai của Trung Quốc, chỉ có nền dân chủ chân chính mới có thể giữ vững các thể chế vốn giúp bảo vệ các quyền tự do ở Hong Kong. Nếu không có tiếng nói đáng kể nào về cách mà họ sẽ bị cai trị, cuộc đời của những người dân Hong Kong sẽ bị phó mặc cho những nhà lãnh đạo Trung Quốc.

Từ quan điểm của những nhà cai trị ở Bắc Kinh, điều này thật sai trái. Họ coi những yêu sách về dân chủ của người Hong Kong là những nỗ lực sai lầm để bắt chước nền chính trị phương Tây, hoặc thậm chí giống như là một dạng hoài cổ về thời kỳ đế quốc chủ nghĩa của Anh. Dù theo cách nghĩ nào đi nữa, kế hoạch của những người biểu tình luôn bị coi là “chống lại Trung Quốc”.

Theo cách nhìn nhận của những nhà cai trị Trung Quốc, chỉ có sự lãnh đạo vững chắc từ trung ương và quyền lực tối cao không bị thách thức của họ mới có thể tạo ra những điều kiện cần thiết để nước Trung Quốc giàu mạnh trỗi dậy. Dân chủ, trong quan điểm của họ, sẽ dẫn tới sự hỗn loạn; tự do tư tưởng sẽ gây ra sự nhiễu loạn của người dân; và sự chỉ trích của công chúng về Đảng có khuynh hướng dẫn đến sự sụp đổ chính quyền.

Theo nghĩa này, Bắc kinh nhìn chung theo tư duy truyền thống (giống các triều đại phong kiến trước đây – NBT). Nhưng, mặc dù chính quyền Trung Quốc luôn luôn độc tài, nó chưa bao giờ tham những tràn lan như hiện nay. Và nền chính trị Trung Quốc cũng chưa bao giờ vô luật pháp như vậy.

Theo truyền thống, Trung Quốc đã có những thiết chế – các liên kết dòng họ, các cộng đồng tôn giáo, các nhóm thương nhân, vv… – mang tính tự trị tương đối. Sự cai trị của hoàng đế có thể rất độc đoan, nhưng vẫn có những khoảng trống lớn cho sự độc lập bên ngoài kiểm soát của trung ương. Theo nghĩa này, Hong Kong có lẽ mang tính truyền thống hơn so với các phần còn lại của Trung Quốc, dĩ nhiền là loại trừ Đài Loan.

Ngày nay, quyền uy chính trị tối cao đã đặt Đảng Cộng sản lên trên luật pháp, điều này đã khuyến khích tham nhũng trong các quan chức của Đảng, cả ở cấp địa phương và trung ương. Sự kiểm soát nghiêm khắc đối với tôn giáo, học thuật, nghệ thuật và báo chí đã kiềm chế sự phổ biến các thông tin cần thiết và các tư tưởng sáng tạo. Sự thiếu vắng một hệ thống tư pháp độc lập đã làm suy yếu nền pháp quyền. Những điều này không có lợi ích gì cho sự phát triển tương lai cả.

Khi Hong Kong được chính thức trao trả về Trung Quốc 17 năm trước, một số người lạc quan nghĩ rằng mức độ tự do lớn hơn ở vùng đất thuộc địa này sẽ giúp thúc đẩy cải cách ở các phần còn lại của Trung Quốc. Hình mẫu về bộ máy quan chức trong sạch và những người thẩm phán công tâm sẽ giúp đẩy mạnh pháp quyền trên toàn bộ đất nước. Một số người khác, với cùng lý do đấy, coi Hong Kong như con ngựa thành Troy nguy hiểm có thể làm xói mòn nghiêm trọng trật tự cộng sản.

Đến nay, không có bất kỳ bằng chứng nào cho thấy những người biểu tình ở khu vực Trung tâm Hong Kong có bất kỳ tham vọng nào trong việc làm suy yếu, chứ đừng nói đến lật đổ chính quyền ở Bắc Kinh. Họ chỉ thực sự chú tâm vào việc đứng lên bảo vệ quyền lợi của họ ở Hong Kong, và cơ hội mà họ sẽ thành công dường như rất mong manh. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình rất nóng lòng để thể hiện sự cứng rắn của ông ta. Thỏa hiệp sẽ thể hiện sự yếu đuối. Mục tiêu của ông ta là khiến Hong Kong giống với những phần còn lại của Trung Quốc, hơn là một cái gì đó khác biệt.

Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều lý do để tin rằng Trung Quốc sẽ được hưởng lợi lớn từ con đường ngược lại. Ít tham nhũng hơn, sự tin tưởng vào pháp luật nhiều hơn, sự tự do tư tưởng lớn hơn sẽ làm cho Trung Quốc thêm vững chắc, thêm sáng tạo và thịnh vượng hơn.

Trong ngắn hạn, điều này có thể chưa xảy ra, nhưng những người thực sự “yêu Trung Quốc” sẽ dễ dàng được tìm thấy trên những con phố của Hong Kong hơn là ở những khu nhà chính phủ kín cổng cao tường ở Bắc Kinh.

………………………..

Ian Buruma là giáo sư về dân chủ, quyền con người và báo chí ở trường Đại học Bard. Ông là tác giải của rất nhiều đầu sách, bao gồm: Murder in Amsterdam: The Death of Theo Van Gogh and the Limits of Tolerance [Án mạng ở Amsterdam: Cái chết của Theo Van Gogh và Những giới hạn của Sự khoan dung], và gần đây nhất, Year Zero: A History of 1945 [Năm zero: Lịch sử 1945].

Biên dịch: Lê Khánh Toàn

Bản gốc tiếng Anh: Project Syndicate

Nguồn: http://nghiencuuquocte.net

 

Huyên Trân Công Chúa

Giải ảo lịch sử và Cảm quan lịch sử về chuyện Huyền Trân công chúa

Nguyễn Đức Toàn

Thời gian gần đây, tôi làm công việc khác không được gần gũi với nghiên cứu sách vở cho lắm. Thì giờ đọc cũng ít đi. May nhờ Facebook, bạn bè chia sẻ được đọc ké bài của tác giả Nguyên Khôi: Giải ảo lịch sử về Huyền Trân công chúa. Đăng trên Tia sáng[1]. Bài viết khá lý thú, hấp dẫn đưa ra những chứng cứ và phân tích lịch sử chủ quan của Tác giả về những vấn đề liên quan đến Công chúa Huyền Trân, được Ngô Sĩ Liên chép trong Đại Việt sử ký toàn thư (Toàn thư). Bài viết cụ thể đưa ra 3 luận điểm:

1. không có chuyện Huyền Trân bị hỏa thiêu, vì thế cũng không có chuyện giải cứu Huyền Trân như Toàn thư đã viết;

2. Giả thuyết Huyền Trân đầu độc Chế Mân không có cơ sở, không có chuyện nhóm Trần Khắc Chung phải lập mưu cướp công chúa về Đại Việt. Toàn thư đã chép đoạn này trên một truyền bản tin đồn hoặc huyền thoại thất thiệt (fakelore) vào đời sau. Câu chuyện đó chỉ có ý nghĩa đối với những sáng tác văn học mà hầu như lại rất có hại đối với lịch sử và sử học;

3. Mối quan hệ Huyền Trân- Khắc Chung có thể có mà cũng có thể không. 

Nhưng thẳng thắn theo cảm quan của tôi, tôi chỉ ủng hộ 1/4 của luận điểm thứ 2 mà thôi. Đó là Không có cơ sở về giả thuyết Huyền Trân đầu độc Chế Mân. Vì không có sự chuẩn bị về tư liệu, nên tôi xin căn cứ theo những gì Tác giả Nguyên Khôi nêu trong bài để trình bày lại cảm quan của tôi. Dẫn dụ lòng vòng xin các bạn thông cảm. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 13.10.2014

NỘI LỰC VĂN HÓA- SỨC MẠNH CỦA DOANH NHÂN

      NỘI LỰC VĂN HÓA- SỨC MẠNH CỦA DOANH NHÂN

  Ngô Minh

       Thời bao cấp, ở nước ta mọi người rất kỵ chữ “buôn bán”. Hàng ngày người ta hay mắng nhau :” Đồ con buôn !” Hành vi buôn bán được xã hội bao cấp xếp vào diện “ phi văn hóa” !   Đó là tâm lý tiểu nông trong xã hội tự cấp, tự túc, người ta không hiểu rằng doanh nhân chính là những nhà văn hóa trên thương trường! Trên góc độ các thương gia, văn hóa kinh doanh bao giờ cũng tồn tại hai mặt :Hướng ngoại và hướng nội . Hướng nội là nội lực của các doanh nhân dựa vào cái mỏ vốn liếng văn hóa dân tộc để tạo ra sức mạnh hội nhập của chính mình ! Nội lực văn hóa đó quyết định trình độ, thế đứng của doanh nhân khi hướng ngoại, làm sao vừa mang lại lợi nhuận cao, vừa nâng cao dân trí trong nước. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 12.10.2014

Thảo luận trực tuyến về sách ‘Đèn Cù’

Tác giải Trần Đĩnh

Thảo luận trực tuyến về sách ‘Đèn Cù’

  • QTXM : Từ mạng, đặc biệt là Việt Nam thư quán, sách Đèn cù của tác giả Trần Đĩnh đã được in ra hàng vạn bản ở Việt  Nam. Nhiều người say mê đọc. Cũng có người tỉnh táo đặt vấn đề  về sự thật về sự kiện và các nhân vật mà tác giả kể trong cuốn sách đạt độ chuẩn xác như thế nào? Mời bạn đọc xem cuộc tọa đàm trực tuyền của BBC về vấn đè này.

Ông Hoàng Hưng cho rằng Trần Đĩnh nói những sự thật mà tác giả biết và cho đó là sự thật.

‘Đèn Cù’ là một cuốn sách có vị trí ‘quan trọng nhất’ trong một giai đoạn lịch sử, theo một khách mời tham gia cuộc tọa đàm trực tuyến giữa BBC với các khách mời về cuốn tự truyện của tác giả Trần Đĩnh hôm 09/10/2014.

Trao đổi với tọa đàm của BBC hôm thứ Năm ( http://bit.ly/1v6CmDn), nhà thơ Hoàng Hưng từ Sài Gòn nói về tính ‘xác thực’, ‘chân thực’ với sự thực lịch sử của cuốn sách đang thu hút sự chú ý của dư luận Việt Nam trong và ngoài nước:

Ông nói: “Về việc tác giả nói sự thật hay không, tôi nghĩ tác giả cũng đã nói rồi, tác giả nói những sự thật mà tác giả biết, và tác giả cho đó là sự thật và tác giả không bịa đặt.”

“Những sự thật này nó chính xác như thế nào về mặt lịch sử thì cái này không bàn, bởi vì tác giả… khi mà bàn những chuyện này, nghe ý kiến của người nọ, người kia nói rằng là sai lịch sử, hay bịa đặt ấy, thì tác giả nói rằng là “thì ai chỉ cho tôi bịa đặt”.

“Tác giả nói ngay gần đây có một bức thư của bà (Bảy) Vân, vợ của [cố Tổng bí thư Đảng CSVN] ông Lê Duẩn đưa ra để tố cáo Võ Nguyên Giáp, thì những ý của bà Vân đưa ra như thế thì cái nào là đúng, cái nào là không đúng, cũng rất là khó, cái đó thuộc về vấn đề lịch sử xác minh.

Về việc tác giả nói sự thật hay không, tôi nghĩ tác giả cũng đã nói rồi, tác giả nói những sự thật mà tác giả biết, và tác giả cho đó là sự thật và tác giả không bịa đặt

Nhà thơ Hoàng Hưng

“Thế còn khi tác giả viết ra thì tác giả đều tin tất cả những chuyện đó là sự thật, có thể là qua kể lại, có thể là mắt mình được chứng kiến, hoặc có thể là qua những hiểu biết của tác giả. Cho nên tôi cho rằng… vấn đề sự thực lịch sử thì chúng ta phải nhìn như thế.”

Từ Hà Nội, nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên nói với cuộc thảo luận ( http://bit.ly/10PcizT) về bản chất của cuốn sách:

Ông nói: “Cuốn Đèn Cù của nhà báo Trần Đĩnh, mà chúng ta biết vị trí của ông Trần Đĩnh là từ rất sớm đã vào làm ở báo Đảng, báo Sự Thật, sau này là báo Nhân Dân, để được ở kề cận Tổng Bí thư Trường Chinh và có thể có những tiếp xúc với những cán bộ cấp cao và có những nguồn tin có thể tin cậy…

“Tôi có nói tác giả là người có thẩm quyền để nói ra những điều mình biết và những điều mà ông nói ra có thể khiến người ta tin được vì được nói ra bởi một người có thẩm quyền, chứ không phải là quyền uy.”

‘Sai sót, nhầm lẫn?’

Ông Phạm Xuân Nguyên tin rằng Đèn Cù nói lên sự thật từ một người viết ‘có thẩm quyền’.

Khi được hỏi liệu cuốn sách có ‘khả tín’ hay không khi có một số ý kiến cho rằng “Đèn Cù” có thể có một số ‘nhầm lẫn’ về sự kiện, nhân vật hay dữ kiện lịch sử, nhà phê bình nói:

“Còn khi mà có những sai khác, thì bản thân ông cũng đã xác định là ở đây ông kể “chuyện tôi”. “Truyện tôi” tức là được lọc qua ký ức, được lọc qua những trí nhớ và có thể những câu chuyện của bạn bè.”

Và ông Nguyên đưa ra so sánh giữa ‘Đèn Cù’ với ‘Bên Thắng Cuộc’ một cuốn sách khác được xuất bản trên mạng của nhà báo, blogger Huy Đức:

“Nếu đòi hỏi một cách khách quan, ví dụ chúng ta đặt cuốn ‘Đèn Cù’ (so sánh) bên cạnh cuốn ‘Bên Thắng Cuộc’, thì tác giả Huy Đức có thể lại làm công việc của một nhà báo, nhà khảo cứu và có thể có những ghi chép, những số liệu có thể đối chiếu.

“Còn như của Đèn Cù của anh Trần Đĩnh, thì anh chỉ bàn những cái nhớ lại bằng hồi ức của mình mà vừa rồi tôi có đọc một bài của nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn, thì anh cũng có nói phải có một phụ lục, một ‘Index’ để chỉ ra những nhân vật, những sự kiện trong này mà có chú thích, thì được thêm một cuốn phụ lục ấy nữa, thì đó là công cuộc của nhà khảo cứu.

Còn khi mà có những sai khác, thì bản thân ông cũng đã xác định là ở đây ông kể “chuyện tôi”. “Truyện tôi” tức là được lọc quy ký ức, được lọc qua những trí nhớ và có thể những câu chuyện của bạn bè

Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên

“Còn cuốn ‘Đèn Cù’ là cuốn ‘Truyện tôi’, tức là chuyện đời được phản ánh qua trí nhớ, qua ký ức, qua hồi tưởng của nhà báo Trần Đĩnh.”

Từ Paris, nhà báo tự do Mỹ Dung cho rằng những cuốn sách như Đèn Cù hoặc nhiều cuốn khác từng được xuất bản bằng tiếng Việt ở bên ngoài Việt Nam, trong đó có các cuốn như ‘Bên Thắng Cuộc’ của Huy Đức, hay ‘Trần Đức Thảo – những lời trăn trối’ của Tri Vũ – Phan Ngọc Khuê, vẫn là một chủ đề được nhiều bạn đọc người Việt ở hải ngoại nói chung, ở nước Pháp nói riêng, đón đọc.

Cây viết nữ nói: “Tất cả những cuốn sách vừa mới nêu đều có chung một đặc điểm, cho dù nó được thể hiện dưới một hình thức nào, văn học, tự truyện, hồi ký, nghiên cứu lịch sử v.v…, nó đều có một đặc điểm chung là đó đều là những cái nhìn rất độc lập, không bị chi phối bởi hệ tư tưởng chính trị nào, bởi thế lực nào, của người viết về giai đoạn lịch sử nào đó mà họ quan tâm, để mà họ viết ra thành sách.

“Cho nên tất cả những cuốn sách đó dĩ nhiên sẽ được rất nhiều bạn đọc trong cũng như ngoài nước, là bạn đọc Việt Nam, đọc tiếng Việt, trong và ngoài nước, nếu có quan tâm đến lịch sử Việt Nam, đều rất muốn có để mà đọc.

Nhà báo Mỹ Dung cho rằng các cuốn sách như Đèn Cù có thể thu hút được bạn đọc ngoại quốc.

“Đọc để tìm hiểu xem cùng một sự kiện lịch sử đó, thì những góc nhìn độc lập đó họ nhìn nhận những sự kiện lịch sử như thế nào.”

‘Được đón đọc’

Theo nữ nhà báo này, nếu được dịch từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài mà ở đây là tiếng Pháp, nhiều cuốn sách như Đèn Cù cũng có thể sẽ được bạn đọc ngoại quốc ‘đón đọc nồng nhiệt’ như với các tác phẩm của nữ văn sỹ Dương Thu Hương.

Mỹ Dung nói: “Còn nếu hỏi là người Pháp đọc lịch sử Việt Nam bằng những cách kể chuyện khác nhau như thế, thì rất tiếc cho tới nay chỉ có tất cả những tác phẩm của bà Dương Thu Hương là được dịch ra tiếng Pháp”.

“Còn những cuốn khác… không có tiếng Pháp, nên tôi không biết người Pháp sẽ đón nhận như thế nào”.

“Riêng về cuốn sách của bà Dương Thu Hương, đến nay, bà viết về lịch sử Việt Nam, tuy rằng với giọng văn là tiểu thuyết đi nữa, nhưng vẫn được người Pháp, độc giả Pháp tiếp nhận rất là nhiều và người ta rất hoan nghênh.

Theo cảm nhận chủ quan của tôi, thì những cuốn sách được nêu, nếu được dịch ra tiếng Pháp và được giới thiệu ra với bạn đọc Pháp, thì chắc chắn sẽ được bạn đọc Pháp đón nhận một cách nồng nhiệt không kém

Nhà báo tự do Mỹ Dung

“Và theo cảm nhận chủ quan của tôi, thì những cuốn sách được nêu, nếu được dịch ra tiếng Pháp và được giới thiệu ra với bạn đọc Pháp, thì chắc chắn sẽ được bạn đọc Pháp đón nhận một cách nồng nhiệt không kém.”

‘Tự vấn thành công’

Từ London, nhà báo Nguyễn Giang, Trưởng Ban Việt ngữ của BBC nêu quan điểm:

“Nếu nói về mặt văn học, nhiều nhân vật được mô tả rất sinh động, sống trong những bối cảnh đó, thế nhưng nếu nói đây là những chứng cứ, hay chứng liệu lịch sử, thì tôi thấy rất khó bàn ở chỗ là ngày tháng nào, gặp nhau ở đâu, ai nói gì, những cái đấy chúng ta không biết và chúng ta hoàn toàn tin tưởng là tác giả viết theo đúng những gì mà ông ấy nêu ra,

“Nhưng mà đây không phải là một cuốn sách khảo cứu cho nên giá trị văn chương nhiều hơn, tôi nghĩ, là giá trị mà chúng ta gọi là tư liệu lịch sử.”

Nguyễn Giang cho rằng Trần Đĩnh đã thành công khi ‘tự vấn’ về thân phận đất nước.

Vẫn theo nhà báo Nguyễn Giang, tác giả Trần Đĩnh đã đạt được sự thành công nhất định qua tác phẩm ở một khía cạnh được gọi là ‘tự vấn’ về thân phận đất nước, dân tộc, đặc biệt bắt đầu từ cuộc tiếp xúc bước ngoặt giữa Việt Minh, chính quyền của họ với chủ nghĩa Mao.

Nguyễn Giang nói: “Ông Trần Đĩnh đã rất thành công trong việc ông ấy tự vấn, ông ấy tự phản tỉnh, ông ấy tự đặt câu hỏi tại sao dân tộc của chúng ta lại có cuộc tiếp xúc rất lớn với chủ nghĩa Mao giai đoạn Việt Minh, để rồi có một hệ thống như thế và bắt đầu đi tiếp một cuộc chiến nữa.”

Vẫn theo Nguyễn Giang, cuộc chiến Việt Nam vẫn ‘tiếp tục’ được các giới và dư luận quốc tế biết đến, và do đó rất có thể sẽ tiếp tục xuất hiện trong tương lai các cuốn sách như Đèn Cù của Trần Đĩnh.

Người ta vẫn tiếp tục viết về cuộc chiến này ở trên thế giới bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, đủ những thứ tiếng khác nhau, người Trung Quốc người ta cũng vẫn đang viết, thì người Việt Nam tại sao lại không thể viết ở trong nước và xuất bản trong nước bình thường được

Nguyễn Giang, Trưởng ban BBC Việt ngữ

“Người ta vẫn tiếp tục viết về cuộc chiến này ở trên thế giới bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, đủ những thứ tiếng khác nhau, người Trung Quốc người ta cũng vẫn đang viết, thì người Việt Nam tại sao lại không thể viết ở trong nước và xuất bản trong nước bình thường được,” Nguyễn Giang đặt vấn đề.

Cuộc hội luận được phát trực tuyến trên kênh Google Hangout và YouTube của BBC Việt ngữ từ lúc 19h30 – 20h00 giờ Việt Nam hôm thứ Năm, 09/10/2014 với khách mời là nhà phê bình văn học, các nhà báo và người viết tự do từ Việt Nam và hải ngoại.

Các quý vị có thể theo dõi toàn bộ cuộc thảo luận tại đường dẫn sau đây http://bit.ly/10PcizT hoặc trên trang nhà của chúng tôi ở địa chỉ bbcvietnamese.com

Các ý kiến về cuốn sách, xin vui lòng gửi cho chúng tôi về địa chỉ vietnamese@bbc.co.uk.

 

 

NGUYỄN NGUYÊN BẢY thông báo về dự án Sách Thơ Bạn Thơ,5.

 

1. Thể theo đề nghị của đông đảo bạn đọc đề  nghị không thực hiện Dự án bộ sách Văn Thơ Dọc Chọn như đã thông báo vì không quy tập được bài vở và bạn đọc chỉ muốn tham gia thằng vào hai bộ sách Văn Bạn Văn và Thơ Bạn Thơ. Do vậy, chương trình bộ sách Văn chương đoc chọn không tiếp tục thực hiện.

2. Bô sách Văn bạn Văn, đã xuất bản tập hai, đang thực hiện tập 3. Kính mời cộng tác.

 
3. Bộ sách Thơ Bạn Thơ đang in tập 4, là hoàn tất dư án bộ sách Thơ Bạn Thơ xuân/Hạ/Thu/Đông, bốn tập đúng theo chương trình đã công bố. Nay do không thực hiện bô sách Văn chương đọc chọn, nên Thơ Bạn Thơ sẽ tiếp tục thực hiện phần hai của dự án với 4 tập THƠ BẠN THƠ 5-8. 
Bô sách TBT,5 này tuân thủ như trình tự của bộ sách Thơ Bạn Thơ Xuân/Hạ/Thu/ Đông trên cả hai phương diện nội dung/hình thức và in ấn phát hành. Nhấn mạnh lại một vài chi tiết:
+ Sách không tham gia thị trường. Người làm sách và người tham gia làm sách trên tinh thần tự nguyện, không có bất kỳ một ràng buộc,đòi hỏi nào về tài chính/quà cáp đóng góp, nhuận bút trả bằng sách biếu, bài tự gửi hoặc được BT chọn đọc, được thông báo công khai, đúng pháp luật xuất bản trước khi in ấn phát hành, miễn thị phi tranh tụng.
+ Các bạn thơ đã tham gia sách TBT 1-4, đều có thể gửi bài tham gia TBT 5-8, vì đây là dự án phần 2, độc lập với phần 1, mục dích chung, tìm kiếm những áng thơ hay của Thi đàn Việt.
+ Bộ sách TBT 5-8 sẽ thêm phụ đề, đã được BBT gợi ý đề xuất, và đã xin ý kiến của nhiều ban đọc quan tâm, nay trên thông báo này, tâm thành chờ mong góp ý của các bạn thơ và ban đọc cho chọn lựa sau cùng. Các tiêu đề đã được gợi ý:

THƠ BẠN THƠ              THƠ BẠN THƠ           THƠ BẠN THƠ           THƠ BẠN THƠ

Hoa Cỏ Thời Tôi             Mây Gió Thời Tôi      Thi Khúc Thời Tôi     Hoa trái thời tôi
 
4. Trang blog VandanBNN là địa chỉ liên lạc/ trao đổi bài vở .
Các hộp thư: nguyenbaybnn@yahoo.com.vn
nguyennguyenbay@gmail.com
Di động: 0989722051.

5. Sách Thơ Bạn Thơ 5, bắt đầu thực hiện từ 10.10.1914.

Kính báo và trận trọng kính mời tham gia sách TBT,5

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 11.10.2014

Độ-Quảng-Nguyên-Ngọc

Nhà văn Nguyên Ngọc

Độ-Quảng-Nguyên-Ngọc

Mai Anh Tuấn

 Tiêu đề bài viết này được tôi vỡ lẽ lựa chọn sau khi, một cách chầm chậm, đọc hết những tiểu luận của ông in trong Nguyên Ngọc – Tác phẩm1 và nhất là, khi nhận ra ông có một cảm hứng thật đặc biệt với mảnh đất quê hương: xứ Quảng Nam. Theo cách hiểu của ông, “Quảng” nghĩa là “mở rộng” và từ đó, tạo nên phẩm chất rất riêng của vùng đất và con người nơi đây: luôn bước tới, ở tiền tuyến, không ngại đứng đầu sóng ngọn gió.

Tôi muốn dùng lại chữ “Quảng” này để trỏ một đặc tính gần như xuyên suốt và cô đặc thành năng lượng làm nên sức bền bỉ khó bì kịp trong tư duy cũng như cách biểu đạt tư duy của Nguyên Ngọc: luôn va đến độ rộng nhất định, rồi ngay ở tình thế buộc phải co rút các điểm nhấn, bao giờ nó cũng lộ ra một sự mở, tiềm năng mở những chiều kích suy ngẫm, những điểm khả thủ cho các hành động nhận thức tiếp theo, thường là trở lại để không ngừng trực diện, mạnh mẽ và riết ráo hơn. Chữ “độ”, đương nhiên, tôi có được thật dễ dàng, theo cảm nhận riêng tư đầy vui thích, từ Độ không của lối viết, công trình luận thuyết nức danh của nhà khoa học xã hội nhân văn Pháp, Roland Barthes, mà Nguyên Ngọc là dịch giả. Dù biết những người bạn, đồng nghiệp yêu mến, kính trọng ông đã hình dung Nguyên Ngọc vẫn trên đường xa2, thật nồng ấm và ít nhiều chân xác, nhưng tôi không khỏi băn khoăn, rằng, hình như những tiểu luận, bài viết của ông, với phổ quan sát, biện giải rất rộng, vẫn đang được dùng chỉ để thi thoảng phụ trợ cho vẻ đẹp dấn thân của ông, ở những nơi ông xuất hiện, phát biểu, đề đạt… Chưa mấy ai thật sự dừng lại kĩ lưỡng, dù đây chưa hẳn là công việc tức thì, ở trên đường xa mà Nguyên Ngọc đang có, đang đi ấy, để có thể dẫn nhập ông một cách rõ rệt. Tôi nghĩ mình càng không đủ khả năng làm được điều đó và sẽ thật mạo hiểm nếu trưng ra ở bài viết ngắn này vài lời lẽ khái lược mà đã tạm yên lòng về Nguyên Ngọc, một hiện tượng đa văn bản thực sự hiếm gặp trong thế hệ của ông.

Nguyên Ngọc trụ vững trên một căn nền quan trọng: ông có tư liệu và trải nghiệm của một chứng nhân, đã can dự vào nhiều giai đoạn phức tạp của lịch sử, xã hội, và đồng thời, có tri thức để biết cách sử dụng bản thân cho những lí lẽ, việc làm mang ý nghĩa nhất. 

Nguyên Ngọc, đối với phần lớn chúng tôi, những người học hành qua loa ở quê nhà, dường như đã kết thúc ở Nguyễn Trung Thành, tác giả của Rừng xà nu vốn từng là niềm hưng phấn dễ chịu mỗi kì thi cử. Mà không chừng  ngay cả bây giờ, khi sách giáo khoa và giáo trình vẫn là “kinh thánh” ở bục giảng phổ thông, thì Nguyễn Trung Thành cùng lắm được thêm thông tin chức Tổng biên tập Văn nghệ, tờ báo có được giai đoạn đáng nhớ bậc nhất khi ông về cầm trịch. Những bài viết của ông tiếc thay, như nhiều tiếng nói đáng lắng nghe khác, đã/vẫn chưa lan rộng đến quảng đại độc giả, ít nhất là độc giả trẻ như tôi. Cơn cớ của thực tế ấy, theo tôi, nằm ở chỗ, tuy thường xuyên phát ngôn và chọn sự hiển thị chính kiến trước nhiều vấn đề cấp thiết làm cách thức xác định danh tính, nhưng tiếng nói Nguyên Ngọc thường hay vấp phải một lực cản ở xã hội ưa thuận chiều: chúng đều quá thẳng thắn và sắc bén; chúng không nửa vời dù ngắn gọn; đặc biệt, chúng có một thái độ rạch ròi biết mình muốn gì và sau cùng, cơ bản thống nhất trong các nấc thang cảm xúc và giọng điệu. Và phải nói ngay từ đầu, đọc Nguyên Ngọc tức gần như chạm đến bảng nhiệt kế không lấy gì làm dịu nhẹ.
Nhìn vào hệ thống tiểu luận, với mức độ đậm nhạt ở các bàn định, có thể thấy Nguyên Ngọc chủ yếu đặt ngòi bút trở đi trở lại trên ba địa hạt: đau đáu với không gian tộc người Tây Nguyên; tinh nhạy bắt các đỉnh sóng văn học nghệ thuật; và gần đây hơn, điểm vào các huyệt bất ổn của văn hóa, giáo dục. Trong ba địa hạt ấy, ta lại thấy ông triển khai khá cụ thể: với Tây Nguyên, chủ yếu về rừng, và các thực thể văn hóa đang có nguy cơ mai một, thậm chí, đang bị biến dạng bởi những can thiệp thô bạo từ những chính sách thiếu hiểu biết; với văn học nghệ thuật là lật ngược các vấn đề, các điểm bị đông cứng trong nhận thức và thực tế, rồi tiến đến những tri kiến riêng có khả năng ứng dụng cao; với văn hóa, giáo dục là phúc thẩm những giá trị, phản biện những sai lầm và sau khi quyết liệt với điều đó, thường háo hức trước những tín hiệu đẹp. Để không bị chới với giữa các chiều kích tưởng như tõe ra nhiều hướng ấy, Nguyên Ngọc trụ vững trên một căn nền quan trọng: ông có tư liệu và trải nghiệm của một chứng nhân, đã can dự vào nhiều giai đoạn phức tạp của lịch sử, xã hội, và đồng thời, có tri thức để biết cách sử dụng bản thân cho những lí lẽ, việc làm mang ý nghĩa nhất.
Hãy lấy những tư kiến của ông về Tây Nguyên làm ví dụ trước hết. Cho dù không phải là nhà dân tộc học, Nguyên Ngọc vẫn khiến vùng đất này trở nên thật sáng rõ trong cách mô tả của ông và nhất là, cách phát hiện vấn đề rất sâu sắc: 1/ Rừng là một thứ không-thời gian bao trùm toàn bộ con người Tây Nguyên, do đó, người Tây Nguyên không du canh du cư – một thứ nhận định hời hợt, mà là luân canh, phương pháp canh tác thích hợp trên đất dốc (T.2, tr.17). Bởi rừng là tâm linh, là cội nguồn văn hóa nên theo ông, không cứ giao rừng cho nhà nước quản lí là đúng, vì như ông thấy ở đồng bào Cơ Tu, Cà Dong, họ giữ rừng tuyệt vời, “hơn đứt các nông trường, lâm trường, kiểm lâm” (T.2, tr.156); 2/ Làng là đơn vị cơ bản và duy nhất trong xã hội Tây Nguyên. Ngay cả thời điểm hiện tại, tinh thần cộng đồng làng lâu đời ấy vẫn có thể giữ được tính độc đáo và thu hút được sức mạnh riêng. Vì thế, chuyện già làng, hội đồng già làng ở Tây Nguyên, theo Nguyên Ngọc, “không hề là chuyện ngẫu nhiên, cũng không phải là chuyện ta muốn hay không, mà là một thực tế lịch sử có căn nguyên sâu xa và còn hết sức sống động” (T.2, tr.164). Cùng với thiết chế già làng, ở Tây Nguyên, cách thức tổ chức xã hội mang tính chất cổ xưa vẫn còn đậm, trong đó có hệ thống thần linh. Sẽ không có gì phá vỡ được hệ thống này trừ khi, Nguyên Ngọc cảnh báo, “là những tấn công ngu dốt, thiển cận và thô bạo” (T2, tr.143). Nhưng “ngu dốt, thiển cận và thô bạo” có lẽ đang dần trở thành một đặc điểm của nhiều phương sách, bất chấp yêu cầu phải tôn trọng thực tế lịch sử như là bài học đắt giá nhất. 3/ Một biểu hiện của đặc điểm đó, dưới lời lẽ đôi khi giễu nhại của Nguyên Ngọc, là sự xuất hiện cái gọi là “nhà rông văn hóa” ở bản làng. “Nhà rông là cái không ai có thể đem cho được” – Nguyên Ngọc khẳng định, “Nhà nước tuyệt đối không thể đem cho làng một cái nhà rông được” (T2, tr.645). Bởi vì nhà rông là sản phẩm văn hóa, một sản phẩm văn hóa đích thực thì bao giờ cũng phải được sinh ra từ chính trong đời sống tinh thần tự nhiên của cộng đồng. Thấu hiểu “niềm vui sống” của người dân Tây Nguyên, Nguyên Ngọc đã tự phản tỉnh những chủ trương phi căn cứ, những việc làm tỏ ra vỗ về đời sống sắc dân thiểu số nhưng thực tế lại phản tác dụng, biến những tiêu chuẩn sống đáng ngưỡng mộ thành hiện trạng sống méo mó, dị dạng. Tây Nguyên trong câu chữ Nguyên Ngọc không đơn thuần là địa danh mà là không gian thiêng, nơi ông chọn để đọc hiểu quá khứ cũng như để bình giá hiện tại, và cũng là nơi ông lên tiếng bảo vệ, chiêu tuyết cho bằng được những hằng số bất khả diễn dịch nhầm lẫn thuộc về địa-văn hóa nơi này. Sau Nguyên Ngọc, Tây Nguyên trong tiếng Việt có thể còn đầy lên bởi nhiều tiếng nói tri thức bản địa khác, nhưng hẳn sẽ không dễ tìm được một giọng điệu cứng cỏi dám chỉ thẳng vào những thực tế bất thường.

Nguyên Ngọc đã tự phản tỉnh những chủ trương phi căn cứ, những việc làm tỏ ra vỗ về đời sống sắc dân thiểu số nhưng thực tế lại phản tác dụng, biến những tiêu chuẩn sống đáng ngưỡng mộ thành hiện trạng sống méo mó, dị dạng.

Nhiều người coi Nguyên Ngọc của năm 1979 như là một trong số ít cá nhân bắt đầu khai hỏa tấn công vào những nhược điểm của văn học cách mạng. Nhưng Nguyên Ngọc khi chấp bút Đề cương đề dẫn thảo luận ở Hội nghị đảng viên bàn về sáng tác văn học vào tháng 6/1979 lúc đó chưa phải là Nguyên Ngọc của cao trào đổi mới văn học, khi ông điều hành tờ Văn nghệ, và càng chưa phải Nguyên Ngọc ngay sau đó, khi ông rời tờ báo này để dấn thân vào các hoạt động văn hóa, xã hội trong tư cách trí thức độc lập. Tất nhiên sợi dây xuyên suốt ở đây vẫn là ý thức dám tiến tới, băng qua những chần chừ và níu kéo. Một Nguyên Ngọc của “chiến thắng” còn bị chất vấn bởi chính con người này thời “hậu chiến thắng”: “Vấn đề không chỉ đơn thuần là độc lập, vấn đề là trên cơ sở độc lập đó phải phát triển, phát triển dân tộc. Tìm một con đường phát triển, và tìm một cách phát triển cho dân tộc, trong thế giới biết bao hấp dẫn mà cũng xiết bao khó khăn này” (T2, tr.610). Cho nên, ngay lúc tiến trình đổi mới văn học, từ sau 1991, như Nguyên Ngọc nhận ra, bỗng chững lại rõ ràng thì ông vẫn không bị mắc kẹt, mà liên tục tìm kiếm và cung cấp những cái mới khác, bộc lộ cái mới của bản thân trên những lựa chọn có chủ đích. Nguyên Ngọc thời hậu-đổi mới là Nguyên Ngọc dịch giả, là một công đoạn chữ nghĩa khác hẳn gốc gác người sáng tác trước đây. Các khoảng trống tri thức văn chương không chỉ của Nguyên Ngọc mà còn của một thời kì co cụm góc nhìn, đã được chính Nguyên Ngọc bổ sung thông qua dịch thuật, từ Jean-Paul Sartre, Roland Barthes, đến Milan Kundera. Tôi nghĩ nhận xét của TS. Nguyễn Thị Từ Huy cho rằng các bản dịch của Nguyên Ngọc có tính ứng dụng là chuẩn xác3. Không thể kể hết những công trình, bài viết, đặc biệt trong các nghiên cứu văn chương mang tính hàn lâm, đã trích dẫn Độ không của lối viết hay Nghệ thuật tiểu thuyết kể từ khi hai bản dịch này ra đời.  Cho tới giờ, mức độ “ứng dụng” như thế đối với những công trình lí thuyết du nhập từ nước ngoài, theo quan sát của tôi, là không quá nhiều và nếu so với thực tế “ăn ngay” một cách tức thì những hệ tư tưởng được coi là ngoại quốc khác thì quá trình tiếp nhận R. Barthes hay M. Kundera chủ yếu diễn ra trong sự háo hức của việc tự kiểm chứng4. Nói như vậy vì chính Nguyên Ngọc, sau khi dịch những cuốn sách thấy cần, đã lên tiếng về việc cần khôi phục một nền dịch thuật lành mạnh, “cần kiên quyết và kiên trì cải thiện thị hiếu của người đọc đã bị vô số sách dịch tạp nham lâu nay mài mòn và làm suy thoái” (T2, tr.328). Từ văn học, Nguyên Ngọc chuyển sang dịch dân tộc học, trước nhất và bề thế nhất, là dân tộc học Tây Nguyên: Bộ ba công trình của Jacques Dournes (Mảnh đất huyền ảo, 2003; Rừng, Đàn bà, Điên loạn, 2006; Pötao, một lý thuyết về quyền lực ở người Jörai Đông Dương, 2013); công trình của Anna De Hautecloque Howe (Người Ê-đê: một xã hội mẫu quyền, dịch cùng Phùng Ngọc Cửu, 2004);… Các dịch phẩm này, đôi khi đính kèm với lời giới thiệu của ông, thể hiện rõ cảm hứng “một cuộc gặp gỡ” giữa những con người hiếu tri, xuyên qua nhiều lớp văn bản để chuyển tới cộng đồng sự thông hiểu lẫn nhau như một ứng xử văn hóa trong thời đại đa văn hóa.

Nhìn vào đường xa mà Nguyên Ngọc đi qua, có thể thấy ông đã lần lượt giã từ vai trò nhà văn-chiến sĩ, nhà văn-bí thư Đảng đoàn, nhà văn-tổng biên tập…, nghĩa là những vai trò được nhấn mạnh bằng yếu tố chính thống, nhà nước hóa, để xác lập mình trong vai trò trí thức độc lập trong xã hội dân sự.

Nguyên Ngọc có một lòng yêu mến, liên tài đặc biệt đối với những con người tài năng quá cỡ, hoặc nhiệt tâm, hoặc được coi là khí phách, và ông không ngần ngại diễn đạt về họ bằng những mĩ từ, những tổ hợp tính từ khái quát cao. Thậm chí, đôi lúc ông cũng không ngần ngại kích lên một tấm gương trở nên lớn và sáng hơn bản thân nó vốn có. Hãy nhìn vào những thân danh cao mà tần số xuất hiện trong các bài viết cho thấy ông chưa hề cạn suy ngẫm về họ: nhiều nhất về Phan Châu Trinh, thâm tình với Nguyễn Khải, trân trọng bao gồm cả lăng-xê Nguyễn Ngọc Tư, đồng cảm sâu sắc với Milan Kundera, ngưỡng mộ “loại hình sống” Condominas, kĩ lưỡng với Jacques Dournes, hào hứng với Francois Jullien… Trong những bài viết đó, Nguyên Ngọc trước sau vẫn duy trì một quan điểm đánh giá không thoái lui, một độ tư duy gần để đọc thấu và đọc đúng về đối tượng và vấn đề. Cảm tưởng ông đã nhận được ở đấy những vốn xã hội ở ngoài nhà nước, phi nhà nước, để không đơn điệu và khô cằn cho sự hình dung của ông về con đường phát triển của dân tộc mà ông thường canh cánh. Chỉ riêng điều đó, ông đã tự khác, tự lật hẳn qua một vị thế mới.
Vậy thì, nhìn thế nào về mẫu người Nguyên Ngọc? Gọi ông là “con đẻ của cách mạng”5 thì sẽ trả lời thế nào nếu phải nhìn lại trong suốt mấy thập niên cả dân tộc tiến hành cách mạng, rất nhiều thế hệ đã ra đi và trở về như Nguyên Ngọc, đã được chính giai đoạn ấy dìu dắt và tôi luyện, rút cuộc, có bao nhiêu “con đẻ của cách mạng” đủ khả năng và bản lĩnh xác lập mình trong vai trò trí thức xã hội dân sự? Nhìn vào đường xa mà Nguyên Ngọc đi qua, có thể thấy ông đã lần lượt giã từ vai trò nhà văn-chiến sĩ, nhà văn-bí thư Đảng đoàn, nhà văn-Tổng biên tập…, nghĩa là những vai trò được nhấn mạnh bằng yếu tố chính thống, nhà nước hóa. Không kịp giã từ các vai trò này, người bạn thân của ông, nhà văn Nguyễn Khải, từng phải đi tìm cái tôi đã mất trong im lặng. Còn Nguyên Ngọc, ông kịp và đang thể hiện mình là trí thức độc lập trong xã hội dân sự, dù là dân sự mới ló dạng. Tôi nghĩ, đã là một trí thức thì bất luận là “con đẻ” của ngữ cảnh nào, họ vẫn trưởng thành như một cá nhân độc lập và hành trạng của họ là mẫu hình để xã hội lắng nghe, hướng tới.

1 NXB Hội Nhà văn, 2009, gồm ba tập. Tập 1 gồm những sáng tác (Tiểu thuyết, Truyện ngắn, và kí); Tập 2 gồm những tiểu luận, bài viết về nhiều chủ đề khác nhau; và Tập 3 tập hợp những công trình dịch thuật của Nguyên Ngọc. Các trích dẫn trong bài, nếu không có chú thích gì khác, đều lấy từ tài liệu này.
2 Nhiều tác giả (2012), Nguyên Ngọc vẫn trên đường xa, NXB Tri thức & Trung tâm Văn hóa – Ngôn ngữ Đông Tây, H.
3 Xem bài “Những dịch phẩm của tự do” của Nguyễn Thị Từ Huy trong sách Nguyên Ngọc vẫn trên đường xa.
4 Một đánh giá về dịch thuật của Nguyên Ngọc, xin xem Phùng Ngọc Kiên (2014), “Bàn về hiệu ứng đọc lí thuyết phê bình nước ngoài – trường hợp bản dịch “Độ không của lối viết”, tạp chí Nghiên cứu văn học, s.7, tr.54-65.
5 Xem bài “Nhà văn Nguyên Ngọc, con đẻ của cách mạng” của Trung Trung Đỉnh in trong tập 3, tr.487-500.

Nguồn://tiasang.com.vn/Default.aspx?

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 10.10.2014

PHAN VŨ VỚI EM ƠI, HÀ NỘI PHỐ…

Nhà thơ Phan Vũ và con gái

                    PHAN VŨ VỚI EM ƠI, HÀ NỘI PHỐ

        Ngô Minh

         Mỗi khi nhớ bẹn bè Hà Nội, hay khi xem tranh phố của Bùi Xuân Phái, trong tôi lại vang lên âm điệu da diết của những bài hát , bài thơ về Hà Nội: Hà Nội mùa thu cây cơm nguội vàng/ Cây bàng lá đỏ/ Nằm kề bên nhau/ phố xưa nhà cổ mái ngói thâm nâu…( Trịnh Công Sơn), hay Hà Nội ơi, nguồn mộng mơ dày như cỏ mùa xuân/ Mỗi khi tôi thấy mình xơ xác/ Tôi lại về đánh cắp/ Dẫu một chút bóng đêm trên đường phố Khâm Thiên ( Thanh Tùng). Đặc biệt là giai điệu Em ơi Hà Nội phố / Ta còn em mùi hoàng lan/ Còn em hoa sữa ...( Phú Quang- Phan Vũ).

            Những giai điệu, những ca từ như xoáy vào lòng người, day dứt, ngân vang… Có lẽ rất nhiều người thuộc bài hát này nhưng ít biết nó xuất xứ từ bài thơ Em ơi, Hà Nội phố, là một trong những bài thơ hay nhất viết về Hà Nội và là bài thơ hay nhất, tâm huyết nhất trong cuộc đời sáng tác của thi sĩ, họa sĩ, kịch sĩ -đạo diễn sân khấu Phan Vũ. Bài thơ là một trường ca dài tới 24 đoạn với 272 câu thơ như những trang nhật ký tâm hồn Hà Nội. Nhà thơ Phan Vũ viết trường ca này vào mùa đông 1972, khi máy bay Mỹ, cả máy bay B52 đang điên cuồng bắn phá Hà Nội trong trận chiến Điện Biên Phủ trên không năm ấy. Nhà thơ kể rằng, những ngày đó tôi và họa sĩ Bùi Xuân Phái rủ nhau đi lang thang trong đêm. Ông vẽ phố, còn tôi nghĩ về phố. Tôi viết bài thơ ấy trong khoảng 10 ngày. Nhà tôi ở phố Hàng Bún. Chiến tranh, người ta đi vắng hết. Bom đạn, cây cối, nhà cửa đổ nát… (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 10.10.2014

THOÁT TRUNG HAY THOÁT HỆ TƯ TƯỞNG?

Nhà thơ Mai Văn Hoan

THOÁT TRUNG HAY THOÁT HỆ TƯ TƯỞNG?

  Nhà văn Mai Văn Hoan

 Gần đây, nhân chuyện Dàn khoan, nhiều người tính đến chuyện làm sao để thoát

Trung. Ảnh hưởng và sự chi phối của Trung Quốc đối với nước ta từ trước đến nay là chuyện không phải bàn. Theo tôi thì sự ảnh hưởng và chịu sự chi phối ấy có nguyên nhân sâu xa là ý thức hệ tư tưởng. Nếu thoát được ý thức hệ tư tưởng, không những ta có thể thoát Trung mà còn đưa nước ta xích lại gần với cộng đồng quốc tế và công cuộc xây dựng đất nước sẽ tiến triển tốt đẹp hơn.

   Điều mà tôi hết sức ngạc nhiên là hầu như ai cũng nhận thấy cái tiền đồ tiến mạnh, tiến vững chắc lên XHCN để “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu” là không tưởng, là không bao giờ có, là thứ bánh vẽ… mà sao chúng ta cứ tin tưởng một cách mù quáng? Cái luận điểm: Giai cấp công nhân là giai cấp tiên phong lãnh đạo cách mạng hoàn toàn xa lạ đối với nước ta một nước mà cho đến nay nông nghiệp vẫn chiếm đa phần, một nước mà ngay từ khi cách mạng manh nha toàn thấy các bậc trí thức như Nguyễn Ái Quốc, Lê Hồng Phong, Trần Phú, Võ Nguyên Giáp… lãnh đạo cách mạng chứ chẳng thấy bóng dáng một anh công nhân nào cả. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 09.10.2014

THƠ VỀ HÀ NỘI

                                   THƠ VỀ HÀ NỘI

                    Ngô Minh   

                                      HÀ NỘI MÙA ĐÔNG

Tặng Thanh Hương

 đường dài bươc tỉnh bước say

mùa đông Hà Nội chiều nay anh về

mắt ơi long lanh điều gì

buốt tê là tiếng thầm thì bên em

 

thơ Lầu Ngắm Sóng cầm lên

tóc vương như sợi rét mềm buộc nhau

một lời thưa với mai sau

chút tình đơn lẻ cũng giàu ngày đông

 

rồi mai chết giữa má hồng

lúm đồng tiền ạ se lòng phố xưa…

 

co ro đường sấu nhớ mùa

sông Hồng đắp áo nằm mơ dáng Kiều

hương  se gió ngọt xiêu xiêu

cành đông Hà Nội trắng điều nhớ nhung

 

lạy trời anh được về cùng

phố Hương thường trú mùa đông đời mình… (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 09.10.2014

TẠ VŨ CỤNG CHÉN CÙNG TRĂNG

Nhà thơ Tạ Vũ ( Foto NM năm 2010)

QTXM- Tin buồn – Nhà thơ Tạ Vũ sinh năm 1935, mất lúc 4 giờ sáng ngày 8-10-2014, hưởng thọ 80 tuổi. Tang lễ tổ chức từ 7 giờ đến 9 giờ ngày 10-10-2014, tại Nhà tang lễ bệnh viện Thanh Nhàn, hỏa táng tại Đài hóa thân hoàn vũ Hà Nội. Ngô Minh xin gửi tới nhà thơ Nguyễn Thị Điều và gia quyến lời chia buồn sâu sắc và cầu mong nhà thơ Tạ Vũ siêu thoát vào cõi Vĩnh Hằng.

Mời các bạn  đọc bài viết của Ngô Minh về nhà thơ Tạ Vũ, em kết nghĩa của nhà thơ Phùng Quán

 

                         TẠ VŨ CỤNG CHÉN CÙNG TRĂNG

                                                           Ngô Minh

          Tôi gặp nhà thơ Tạ Vũ và nâng chén với anh nhiều lần. Gặp trong các đại hội nhà văn. Gặp ở Chòi ngắm sóng Phùng Quán bên hồ Tây. Gặp ở Huế. Anh Phùng Quán cũng kể cho tôi nghe nhiều ký ức thú vị về đứa em kết nghĩa Tạ Vũ… Tôi nghe nhiều nhà văn Hà Nội than phiền, Tạ Vũ sống buông thả, thiếu nền nếp. Nhưng với tôi anh là một thi sĩ đích thực từ trong máu thịt. Sống hết hết lòng với cuộc đời, với thơ. Tôi rất kính trọng chất lãng tử, ngất ngưỡng trực cảm ấy. Xin kể vài kỷ niệm về anh nhân anh sắp lên đại lão 80. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 08.10.2014

THÔNG BÁO VỀ SÁCH THƠ BẠN THƠ 4

THÔNG BÁO VỀ SÁCH THƠ BẠN THƠ 4

THÔNG BÁO VỀ SÁCH THƠ BẠN THƠ 4
Bộ sách Thơ Bạn Thơ (Xuân/Hạ/Thu/Đông) bốn tập, đã đọc chọn/biên tập hoàn tất tập cuối cùng, Thơ Bạn Thơ 4. Dưới đây là danh sách 10 tác giả đã mất và 80 tác giả đương thời, tham gia sách TBT4. Thông báo này đăng trang 1, blog VandanBNN, kéo dài 10 ngày, để các tác giả tham gia sách, các biên tập thiện nguyện, và bạn đọc xa gần quan tâm tới bộ sách TBT, đóng góp ý kiến, thay đồi sửa chữa bài vở, hủy cộng tác, hoặc bất kỳ khiếu nại nào khác.

MỤC LỤC
Lời Thưa/ 5
A. 99 câu thơ/ 6
B. Thơ Người Thơ đã mất/ 20
1. Phùng Khắc Bắc / 21
2. Hoàng Cầm/ 23
3. Quang Dũng/ 33
4. Tú Mỡ – Hồ Trọng Hiếu / 39
5. Vĩnh Mai /  43
6. Huỳnh Văn Nghệ/ 45
7. Đào Phương/ 46
8. Bế Kiến Quốc/ 47
9/ Thái Ngọc San/ 50
10/ Lưu Quang Vũ / 54
C. Thơ Người Thơ đương thời/ 59
1. Nguyễn Nguyên Bảy/ 62
2. Dã Phong Bình/ 73
3. Trần Bương/ 76
4. Nguyễn Lâm Cẩn/ 77
5. Phan Minh Châu/ 80
  6. Đức Doanh/ 83
7/ Thạch Đà / 85
8. Ngô Bảo Đài/ 87
9. Hoàng Tấn Đạt/ 94
10/ Dương Xuân Định/ 97
11. P.N.Thường Đoan/ 99
12. Trịnh Hoài Giang/ 101
13. Nguyễn Ngọc Hạnh/ 102
14. Tôn Nữ Ngọc Hoa/ 106
15/ Nguyễn Trọng Hoan/ 110
16. Đỗ Hoàng/ 113
17. Thi Hoàng/ 116
18. Phùng Văn Khai/ 122
19. Phan Hồng Khánh/ 126
20. Đỗ Văn Khoái/ 129
21. Đỗ Trọng Khơi/ 132
22. Ngọc Khương/ 135
23. Bùi Nguyễn Trường Kiên/ 137
24. Nguyễn Ngọc Kiên/ 137
25. Văn Lạc/ 141
26. Trúc Linh Lan/ 143
27. Vũ Thúy Lan/ 149
28. Tường Linh/ 151
29. Nguyễn Đăng Luận/ 152
30. Lý Hữu Lương/ 154
31. Ma Joan/ 157
32. Nguyễn Xuân Nha/ 159
33. Thế Nhân/ 163
34. Nguyễn Anh Nông/ 165
35. Phăng Xi Păng/ 168
36. Tôn Phong/ 171
37. Diễm Phúc/ 174
38. Hồ Phi Phục/ 176
39. Hữu Phước/ 178
40. Tạ Phương/ 182
41. Trần Huy Minh Phượng/ 183
42. Võ Quê/ 186
43. Nguyễn Bắc Sơn/ 190
44. Đào Thái Sơn/ 191
45. Nguyễn Thiên Sơn/ 194
46. Nguyễn Xuân Sùng/ 198
47. Nguyễn Ngọc Tân/ 201
48. Trần Gia Thái/ 203
49. Cao Ngọc Thắng/ 207
50. Phạm Thị Phương Thảo/ 210

51. Hoàng Tháp/ 212
52. Hạ Tháp/ 214
53. Lại Đăng Thiên/ 216
54. Đăng Văn Thơm/ 219
55. Hà Diệp Thu/ 221
56. Phạm Việt Thư/ 224
57. Trần Quốc Thực/ 228
58. Đinh Thường/ 229
59. Ngàn Thương/ 230
60. Trần Văn Thuyên/ 232

61. Phạm Dạ Thủy/ 233
62. Lê Hưng Tiến/ 236
63. Từ Nguyên Tĩnh/ 239
64. Dạ Tịnh/ 244
65. Lê Quang Trạng/ 246
66. Đông Trình/ 249
67. Nguyễn Ngọc Trìu/ 253
68. Hoàng Bình Trọng/ 256
69/ Huy Trụ/ 259
70. Phạm Công Trứ/ 261
71. Ngô Thế Trường/ 264
72. Nguyễn Ngọc Tư/ 267
73. Hoàng Anh Tuấn/ 271
74. Trương Công Tưởng/ 274
75. Trương Đình Tuyển/ 277
76. Nguyễn Đăng Việt/ 278
77/ Châu La Việt/ 281
78/ Huy Vọng/ 285
79/ Phan Vũ / 287
 
Trong đó có 23 tác giả Ngô Minh chọn : Phùng Khắc Bắc, Hoàng Cầm, Quang Dũng, Vĩnh mai, Đào Phương, Thái Ngọc San, Đức Doanh, Nguyễn Ngọc Hạnh, Tôn Nữ Ngọc Hoa, Phan Hồng Khánh, Đỗ Văn Khoái, Tôn Phong, Hồ Phi Phục, Võ Quê, Hạ Tháp, Lại Đăng Thiện, Phạm Việt Thư, Phạm Dạ THủy, Lê Hưng Tiến, Trương Đình Tuyển, Huy Trụ, Hoàng Bình Trọng, Nguyễn Đăng Việt
 
Mọi liên lạc xin gọi trực tiếp nnb: 0989722051 
hoặc email: nguyennguyenbay@gmail.com
vandanbnn kính báo

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 08.10.2014

Giai thoại về Stalin

 

Giai thoại về Stalin

  •   Borev

Lời người dịch: Giới đại học Việt Nam nhiều người biết ông Borev , tác giả cuốn Mĩ học (Bản dịch tiếng Việt của Hoàng Xuân Nhị), nhưng không mấy ai biết ông này từng bỏ 20 năm trời để sưu tầm tiếu lâm về Stalin. Năm 1990, ông cho xuất bản cuốn sách dày tại Nxb “Nhà văn xô viết” (lúc ấy Liên Xô chưa đổ), có nhan đềlà : “Stalin truyền kì” (Борев Ю.Б.-Сталиниада – Москва: Советский писатель, 1990 – с.408)…

La Khắc Hòa dịch

1.

- Cả một trung đội canh giữ ai thế kia?

- Canh người đàn bà ở Gori

- Bà ấy phạm tội gì?

- Tội sinh ra một người nổi tiếng từng làm nhiều điều ác với dân chúng

- Thế thì sao phải canh bà ấy?

- Để đừng đẻ ra thêm một tên khác như thế nữa!

2.

Stalin đến thăm Lenin đang nghỉ dưỡng trên núi

- Này anh bạn, tôi ốm quá, chắc chết mất thôi.

- Thế thì trao chính quyền lại cho tôi.

- Tôi sợ nhân dân không theo anh

- Một phần nhân dân sẽ theo tôi, ai không đi theo tôi, sẽ theo anh thôi!

3.

Stalin hỏi Radek:

- Cậu sáng tác tiếu lâm đấy à?

- Vâng, tôi sáng tác đấy.

- Kể tôi nghe một tiếu lâm thật ngắn xem nào.

- Đây ạ: Stalin là Tổng bí thư.

4.

Dự án xây tượng đài Pushkin nhân một trăm năm ngày mất. Giải Ba – Pushkin đọc trước tác của Stalin.  Giải Nhì – Stalin đọc trước tác của Pushkin. Giải nhất – Stalin đọc trước tác của Stalin.

5.

Stalin: – Này, đồng chí Pushkin, nói thật xem, đồng chí cần gì nào? Cái gì chúng tôi cũng điều phối được. Có lẽ, bút lông ngỗng chăng? Giấy à? Hay điều kiện xuất bản? Cái gì cũng sẽ làm được.

Pushkin: – Cảm ơn đồng chí Stalin, tôi có đủ rồi. Chỉ cần kiểm duyệt đừng quấy rầy tôi thôi.

Stalin: – Tôi sẽ là cán bộ kiểm duyệt của đồng chí.

Pushkin: – Tuyệt quá. Một trăm năm trước tôi đã có kinh nghiệm giống thế rồi. Lấy cảm hứng từ cuộc gặp này, tôi đi sáng tác đây.

Stalin: – Thế thì đi nhé, đồng chí Pushkin, đồng chí cứ làm việc đi. Chúc đồng chí gặt nhiều thành công trong sáng tạo.

Pushkin đi ra. Stalin liền quay điện thoại: – A lô! Đồng chí Beria đấy à? Báo ngay cho đồng chí Dantes: đồng chí Pushkin vừa ra khỏi văn phòng của tôi đấy nhé.

6.

Stalin gọi phôn Cho Beria:

- Này, Lavrenti, cái tẩu mất mất rồi. Một vụ phá hoại đấy. Điều tra ngay đi nhé.

- Sẽ làm ngay, thưa đồng chí Stalin.

Một tuần sau.

- Thưa đồng chí Stalin, xin phép được báo cáo, đã tiến hành điều tra vụ mất tẩu hút thuốc của đồng chí.  Đã phát hiện một vụ âm mưu lật đổ. Bắt 400 người. 389 người đã khai nhận tham gia hoạt động phá hoại, đã định tôi và xửa bắn hết rồi.

- Lavrenti, đừng hấp tấp thế. Tôi tìm thấy tẩu hút thuốc rồi.

( Nguồn : VHNA)

 

 

GS Nguyễn Khắc Khai (hhải)

Tiếp quản Thủ Đô 10-10-1954 và lời hứa của Hồ Chí Minh.

Nguyễn Khắc Mai.

Sau khi có Hiệp Định Geneve, tháng bảy năm 1954, từ Việt Bắc Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bức thư gởi đồng bào, mục đích là để chuẩn bị tinh thần cho đồng bào, để tuyên truyền về những chính sách của Việt Minh (HCM Toàn tập-NXB ST 1987.T7 tr4).

Trong bức thư ấy có câu: ”Chúng ta phải ra sức thực hiện những cải cách xã hội, để nâng cao đời sống của nhân dân, thực hiện dân chủ thật sự.” (mấy chữ thực hiện dân chủ thật sự trong sách còn được in nghiêng!)

Trước hết, nói cuộc cải cách ruộng đất long trời lỡ đất. Gần đây chúng ta thấy tái hiện cuộc cải cách này qua một cuộc triễn lãm nửa vời và rồi phải nhanh chóng đóng cửa. Quả thật cuộc cải cách này rất long trời, vì nó đã đạt được những kết quả như sau: Hai triệu hộ nông dân miền Bắc đã được chia ruộng, tưởng như là đã thực hiện xong khẩu hiệu cách mạng “người cày có ruộng”. Mặc dù năm 1958 tại một cuộc chỉnh huấn giáo dục toàn miền bắc, Hồ Chí Minh gọi một hiệu trưởng ở hội nghị hỏi : Xã chú đã CCRĐ chưa – Thưa đã – Thế thì trong xã có mấy địa chủ, có mấy nông dân – Thưa, xã có 9 địa chủ và 8 ngàn nông dân. Cụ Hồ liền kết luận: Trước đây ruộng đất thuộc về 9 tư hữu. Bây giờ là của 8 ngàn tư hữu.Thế thì có phải là cộng sản không? (HCM toàn tập.XBST 1987 t.7, tr497). Tuy nhiên nông dân chỉ được sở hữu chỉ trong mấy năm. Từ 1959, khi xóa bỏ HP 1946, rồi đến HP 1980, nhà nước đã “quốc hữu hóa” ruộng đất. Người ta cho rằng nông dân được cấp đất một lần, nhưng lại hai lần bị tước đoạt “quyền có ruộng” .Sau đó đã có những cuộc cải cách gì, đời sống nhân dân được nâng cao ra sao và dân chủ có thật sự hay không.

Về kinh tế, cuộc cải cách này đã xóa bỏ đi lực lượng sản xuất nông nghiệp giỏi nhất lúc bấy giờ, từ trung nông cho đên phú nông, địa chủ. Nó tạo ra khủng hoảng nông nghiệp triền miên và chỉ tạm chấm dứt sau này khi khoán hộ vào cuối thập niên 80, đến mức nó đã tạo ra nạn đói và cả nước phải cắp rá đi xin từ bột mì, bo bo cho đến cả rau muống khô.

Như thế cuộc cải cách này không đạt được mục đích “nâng cao đời sống” như HCM đã hứa hẹn.

Còn về di họa của “dân chủ”, của xã hội, thì một trạng thái xã hội của “luật rừng” tùy tiện, đã tạo nên nếp gấp trong não trạng cầm quyền ở VN. Một nền tư pháp hậu cải cách ruộng đất đến nay vẫn hoang sơ, sự vô thiên, vô pháp vẫn còn ngự trị. Khác trước là luật pháp trong tay “Đội” cho nên nhất đội nhì trời. Bây giờ luật vẫn là trong tay “nhà nước” – kẻ cầm quyền, chứ chưa phải là luật đã thật sự dân chủ như HCM hứa hẹn!

Về văn hóa và đạo đức xã hội thì cuộc cải cách này đã để lại vết thương, nhìn bề ngoài tưởng như sẹo đã liền. Thật sự những di chứng và chấn thương xã hội thì còn kéo dài.

Cuộc cải cách thứ hai, mà khi còn sống cụ đã lãnh đạo và tiến hành cũng “to lớn, vĩ đại” là cuộc Cải tạo công thương để thực hiện công tư hợp doanh, xóa bỏ bóc lột tư bản chủ nghĩa, nhằm “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Chủ nghĩa xã hội”. Cuộc cải cách này còn tiếp diễn sau khi cụ đã mất vào những năm cuối thập kỷ 70 ở vùng các đô thị miền Nam. Cả cuộc sống và cả dân chủ đều không đạt. Người ta đã đập tan lực lượng những người có vốn, biết và giỏi giữ vốn và phát triển vốn. Cái vốn lớn của dân tộc là cái gen kinh doanh bị vùi dập không chút thương tiếc. Đội ngũ công thương gia ở miền Nam đã từng tạo ra bạn hàng quốc tế. Ngày nay ta gọi là đối tác, bị phá vỡ. Nay đang vất vả khôn cùng để tái lập! Cái lực lượng quý báu để giữ đồng vốn (tư bản), để phát triển vốn, kiếm tìm bạn hàng để làm ăn buôn bán, hình thành và xây dựng năng lực kinh doanh… của dân tộc đã bị “đập tan” không chút xót xa. Thời kỳ tiến hành cải cách kinh tế để tiến nhanh, tiến mạnh lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện quốc doanh hóa triệt đễ, khiến đã làm tiêu hao vốn của nhà nước, năng lực kinh doanh của xã hội tiêu mòn, mà trình độ sản xuất luôn lạc hậu. Đến nỗi ngày nay khi hợp tác với Hàn Quốc thì chiếc đinh ốc quy chuẩn dẫu có làm ra được nhưng giá thành quá cao nên cũng thành vô tích sự. Để đỗ lỗi cho “cải cách“ như thế, giới “trí thức” của nhà nước đã tìm được một khái niệm để đánh tráo, gọi là cơ chế bao cấp! Mọi chuyện hư hỏng đổ cho thằng bao cấp thế là yên chuyện. Sau một thời kỳ khủng hoảng kéo dài khiến hàng hóa tiêu dùng không có, xuất khẩu ỳ ạch,ngân sách thu không đủ chi… đã buộc phải “đổi mới”, nghĩa là im lặng thừa nhận sự thất bại của cải cách. ”Đổi mới”, nói cho có văn vẻ, thực chất là trở lại với những cái cũ mà hợp lý có ích, có lợi.

Nhiều cuộc cải cách ở tầm quốc gia như cải cách hành chính, cải cách giáo dục cũng được tiến hành không đến nơi đến chốn. Như cải cách hành chính chỉ làm nửa vời, dừng lại ở cái gọi là cải cách thủ tục hành chính.Nên mấy chục năm nền hành chính vẫn là “hành dân là chính”, tham nhũng tràn lan không cách gì ngăn ngừa được. Cải cách giáo dục thì cuộc trước thất bại, cuộc này không dám dùng chữ cải cách nữa, mà phải gọi là đổi mới toàn diện, triệt để, hệ thống…

Trong câu nói của cụ Hồ có ba nội dung đi với nhau – Một là cải cách – Hai là đời sống – Ba là dân chủ thật sự. Cải cách không đúng nghĩa, đúng tầm, không có tư duy chiến lược,mà chỉ có những tư tưởng giáo điều biệt phái đã lỗi thời, không có con người tâm huyết,không có phương thức dân chủ,không phù hợp tiến trình thời đại, sẽ chỉ là sự “bôi bác”, mà như Các Mác từng dùng một thành ngữ la tinh để chỉ: cacatum non es pictum (cái bôi bác thì không phải bức tranh).

Cụ Hồ nói khá hay, trong câu kêu gọi trên – Phải cải cách – Phải nâng cao đời sống (vật chất, văn hóa, tinh thần, đạo đức, lối sống, quyền dân, quyền con người…) – Phải dân chủ thật sự. Nhưng sáu mươi năm cho ta kết luận rằng nếu không có thể chế chính trị, kinh tế hợp lý, văn minh, tiến bộ, và dân chủ, không thể thực hiện mà không bôi bác cái công thức của cụ Hồ ,cả lời hứa của cụ với đồng bào Thủ đô 60 năm trước.

N.K.M.

Nguồn : BVN

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 07.10.2014

THANH THIÊN BẠCH NHẬT RÕ RÀNG CHO COI

THANH THIÊN BẠCH NHẬT RÕ RÀNG CHO COI

Tương Lai

QTXM – Cách đây nhiều năm, nhà báo Thanh Tùng gửi cho QTXM bài viết này. Một bài viết khá hay sau vụ việc ông quan to nhất tỉnh Thừa Thiên Huế bị cô tiếp viên nhà hàng giáng cho cát tát trước “ba quân thiên hạ”. Rất tiếc là thời điểm đó bài viết đã không được đăng trên tờ Tiền phong.Nay xin đăng lại để bạn đọc cùng tham khảo và chia sẻ vì nó không bao giờ cũ.

Liên tục ba tờ báo đưa tin khiến người đọc không sao kìm được sự phẫn nộ. Cô tiếp viên ở một cửa hàng nọ đã dạy cho “ông quan to nhất tỉnh”* bài học đích đáng bằng một cái tát như trời giáng vào má trái giữa “thanh thiên bạch nhật rõ ràng cho coi” ngay trước mắt của tất cả mọi người, trong đó có nhiều cô giáo đến liên hoan nhân ngày kỷ niệm 20.10. (Đọc tiếp…)

Mối tình Xuân Diệu (1916-1985) & Bạch Diệp(1929-2013) [qua di cảo thơ]

  •   Phạm Trọng Chánh

 Nữ đạo diễn Bạch Diệp vừa qua đời ngày 17-6-2013 sau một thời gian dài trị liệu bệnh ung thư, bà hưởng thọ 85 tuổi, là một nữđạo diễn thế hệ đầu tiên Việt Nam với phim đầu tiên Trần Quốc Toản ra quân và hai phim truyện Ngày lễ thánh và Huyền  thoại mẹ do diễn viên danh tiếng Trà Giang đóng vai chính đều được giải thưởng Bông Sen Bạc. Bà còn là dạo diễn nhiều phim nổi tiếng  khác như Người về đồng cói, Câu chuyện làng dừa, Người chưa biết nói, Ai giận ai thương.. bà có tên trong Bách Khoa Toàn Thư Điện Ảnh Liên Xô và  năm 2008 kỷ niệm 55 ngày Điện Ảnh Việt Nam bà là một trong 11 nghệ sĩ điện ảnh đương đại được tôn vinh.

Nhưng bà được mọi người biết đến hơn nữa vì bà là người thơ, là vợ của « Hoàng Tử Thi Ca Việt Nam » mối tình duy nhất có cưới hỏi nhưng chỉ được sáu tháng, hai người chia tay, để lại cho Xuân Diệu những bài thơ, bi thương, cay đắng, đau khổ vô cùng.

 

Những năm gần đây bà có tiết lộ trên báo chí những nguyên nhân đổ vỡ của mối tình ấy và sau đó có những bài báo xúc phạm nặng nề đến danh dự nhà thơ Xuân Diệu và cả nhà thơ Huy Cận. Là người được nhà thơ Xuân Diệu ký thác di cảo tâm sự, tôi chờ đợi đến ngày bà Bạch Diệp qua đời 33 năm sau ngày Xuân Diệu qua đời, để mở lại những trang thơ di cảo Xuân Diệu. Xuân Diệu nói gì về mối tình mình, những trang thơ di cảo của ông là một lời biện minh sáng tỏ. Điều gì màông cho rằng như :  chiếc dao cắm giữa lòng, ai cắm chiếc dao giữa lòng ông ?. Điều gì màông cho rằng : người màông yêu thương nhất lại là kẻ tàn sát nhất, không nới tay như cầm gươm sắt, chẳng mũi lòng khi nghe tiếng khóc của ta ? Những bài thơ nào đã phản bác lại lời kể bà Bạch Diệp ?

Ai là người sinh ra trên cõi đời, được toàn vẹn, đạo hạnh, không tội lỗi hãy ném viên đá đầu tiên ?   Nhà thơ để lại cho đời những áng thơ tuyệt tác, chúng ta yêu thơ, chúng ta bàn về tác phẩm bằng trí não, bằng thi hứng, bằng sáng tạo nhà thơđã để lại cho đời . Chúng ta biết ơn nhà thơđã để lại cho đời những bài thơ tuyệt tác. Xuân Diệu là một nhà thơ lớn, sáng tác riêng về thơ tình 600 bài  ông bao trùm mọi góc cạnh của tình yêu, tùy theo sở thích mỗi người : người đang nhớ nhung cóthể thấy lòng mình những bài thơ tuyệt tác về tương tư, người đang xa cách có thể thấy hàng chục bài thơ nói về xa cách, người yêu âm nhạc có thể thấy Xuân Diệu là một nhạc sĩ  đầy rung cảm, người yêu hoa có thể thấy thơ Xuân Diệu đầy sắc màu của hoa… Chớ nên như người mù sờ voi,  chỉ có chủ tâm sờđuôi voi  , hí hửng khi sờ vào cái « đuôi voi », thậm chí sờ vào phân voi.. xem  như một khám phá mới.

Nếu Thúy Kiều từ những ngày còn thơ, đã phổ vào đời mình Cung đàn bạc mệnh, thì Xuân Diệu từ những ngày còn thơđã phổ vào đời mình Vần thơ ly biệt : Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt, khu vườn xưa nay đoạn tuyệt dấu hài. Hay Hoa nở để mà tàn. Trăng tròn để mà khuyết, Bèo hợp để chia tan. Người gần để ly biệt. Lạ lùng thay Xuân Diệu chưa yêu đã nói đến biệt ly như một định mệnh, để rồi bao nhiêu người yêu như mây như gió thoáng qua đời mình rồi cũng ly biệt.

Ai là giai nhân ? : « Mê nàng bao nhiêu người làm thơ », các chàng thư sinh thi sĩ một thời phải « đứng ngẩn trông vời áo tiểu thơ ».« Em là gái bên song cửa, anh là mây bốn phương trời, anh theo cánh gió chơi vơi, em vẫn ngồi bên nhung lụa ».và nhiều bài thơ khác mang sắc màu hoa cúc… Giai nhân  được tả bằng những câu thơđẹp nhất thế kỷ : «  Vằng vặc muôn thu nét tuyệt vời . » Tôi có thời gian ở hơn 10 năm bên Công Viên Montsouris Paris, cạnh nhà bà,  là người sưu tập tác phẩm bà và có chân trong Hội bạn nhàđiêu khắc và tôi đã từng có dịp đưa các thi nhân từ trong nước sang thăm lại người xưa, người ấy làĐiêu khắc gia Điềm Phùng Thị nhủ danh Phùng thị Cúc. Nay bà còn để lại một Viện Bảo Tàng Điêu Khắc tại Huế và hơn 40 tượng đài khắp nước Pháp.

Tuổi thơấu, tâm hồn Xuân Diệu bị tổn thương vì hai cuộc chia ly : Cuộc chia ly người mẹ sinh ra mình ở Bình Định để về Hà Tĩnh với bà cả, nhà thơ không yêu mến, mẹ ruột đến thăm chỉ nhìn con từ xa. Sau 1954 bà mẹ thương con vượt sông Bến Hải ra sống với Xuân Diệu bà sống đến năm 1962. Cuộc chia ly thứ hai với chị Bốn Nhữ, người bảo bọc chăm sóc nhà thơ từ thuở chào đời, khi còn bé chị phải đi xuống Dã, nhà thơ chạy theo khóc sợ chịđi lấy chồng bỏ em, sau năm 1975 nhà thơ mới trở vềđi Plây Cu thăm chị. Hai biến cố quan trọng ấy đãảnh hưởng đến tinh thần Xuân Diệu. Từđó cuộc chia ly nào  cũng để lại trong lòng nhà thơ một xúc cảm đau đớn, ngày chia tay với Xuân Diệu sau một tháng ở Paris năm 1981, tôi đã cảm nhận điều đó. Trong thư gửi tôi ông viết : Nhất Uyên ơi, XD có một sự xúc cảm lệch, mỗi tình cảm đều có thể trở thành một đau đớn cho XD. Ta nhớ nhau mãi mãi (Thư XD gửi Nhất Uyên ngày 30-9-1981)

Đạo Diễn Bạch Diệp tên thật là Nguyễn Thanh Tâm sinh năm 1929 tại Hà Nội. Lên 6 tuổi học trường Saint Dominique tại Hải Phòng. Năm 1941 gia đình dọn sang Hải Dương, tham gia Tổng Khởi nghĩa phụ trách Hội Phụ Nữ Cứu Quốc, hoạt động Tỉnh Hội và trong thường vụ Liên Khu III. Từ sau năm 1955 chuyển về làm báo Nhân Dân. Năm 1956 Tổng Biên Tập Hoàng Tùng mai mối bà cùng nhà thơ Xuân Diệu lúc đó bà 27 tuổi và Xuân Diệu đã 40 tuổi. Tháng 4 năm 1958 hai người kết hôn tại cơ quan, nhà văn Đặng Thái Mai,  Viện Trưởng Viện Văn Học làm chủ hôn, nhưng vì lý do nào đó lại không làm giấy tờ.. Tháng 10-1958 bà Bạch Diệp dứt khoát chia tay Xuân Diệu về lại nhà cha mẹ. Hai người cùng khóc .

Năm 1958 bà học khóa  Đạo Diễn do Bộ Văn Hóa Thông Tin dưới sự hướng dẫn của chuyên gia Liên Xô tốt nghiệp năm 1963, bà về làm hãng Phim Truyện Việt Nam. Tác phẩm đầu tay Trần Quyốc Toản ra quân được giải Bông Sen Bạc, trong Liên Hoan phim Việt Nam. Bà thực hiện nhiều phim giá trị.

Năm 1975 bà kết hôn cùng ông Nguyễn Đức Tường, nhưng không con cái, 15 năm sau ông mất.

Bà về hưu năm 1992, năm 1997 được phong danh hiệu Nghệ sĩ Nhân Dân.

Có nhiều nguyên nhân gây nên sự đỗ vỡ cho tình yêu, Xuân Diệu  sống cùng mẹ tầng dưới, nhà thơ Huy Cận sống tầng trên, vợ là Xuân Như em cùng mẹ khác cha Xuân Diệu.  Bạch Diệp là một phụ nữ bản lãnh, những người làm việc cùng đạo diễn Bạch Diệp, đều công nhận bà là người thích sự hoàn hảo, bà thích chủ động trong phim trườngđiều khiển bao nhiêu diễn viên, nhân viên,  sáng tạo và thực hiện kịch bản, bà khắc khe trong công việc làm cho hoàn hảo, cũng như trong đời sống, Xuân Diệu tìm đến một người yêu là một nàng thơ dịu dàng, cho ông một nguồn thi hứng, hai người gặp nhau : hai bản lĩnh khác nhau,  đến trong cái không khí chật chội  thời Hà Nội  thiếu thốn sau chiến tranh, Bạch Diệp đến trong gia đình ở chung với bà mẹ Xuân Diệu, không có một không gian riêng cho đôi tình nhân,  một tình bạn đã hiện diện giữa Xuân Diệu và Huy Cận, cả hai gia đình đều đỗ vỡ.  Đằng sau một nhà văn lớn, cần thiết một phụ nữđảm đương tất cả mọi công việc, hiểu chồng và hiểu mọi công việc của chồng chia sẽ cùng chồng trong niềm vui sáng tạo.  Xuân Diệu không có cái may mắn của Giáo Sư Hoàng Xuân Hãn, tôi có những dịp hè về dã thự Cam Tuyền, sống bên cạnh gia đình Bác Hãn, càng kính phục Bác Hãn bao nhiêu thì càng kính phục Bác gái bấy nhiêu, bác gái  là một dược sĩ Tây học đầu tiên của Việt Nam, bác đảm đang mọi việc từ sinh sống gia đình, bếp núc, miếng ăn giấc ngủ cho chồng  đến từng trang bản thảo của chồng bác quí hơn cả vàng, cả chuyện đất nước  nhà thuốc Tây của bác gái tại Hà Nội,  là nơi cung cấp thuốc men cho kháng chiến. Suốt đời ở Paris  bác  Hãn cũng dành hết thì giờ làm công việc nghiên cứu di sản văn học Hán Nôm Việt Nam..  Bác gái  hiểu chồng, khi chồng đầu tư cả công sức vào việc trí tuệ , nghiên cứu, những hoạt động tình dục có phần giảm sút.. Với  Xuân Diệu chúng ta không nên bàn đến chuyện riêng tư cá nhân, mà chỉ nên nói đến thi ca. Bạch Diệp không phải là người sinh ra để làm nàng thơ, mà để trở thành đạo diễn đểđiều khiển những « nàng thơ »  như nghệ sĩưu tú Trà Giang trong tác phẩm của mình.

Bạch Diệp đã để lạicho Xuân Diệu một nguồn cảm hứng vô tận. Năm 2011 tôi có gửi tặng bà quyển Tự Điển Tình yêu Xuân Diệu, qua đạo diễn Lê Hồng Chương, Giám Đốc  Trung Tâm Văn Hóa Việt Nam tại Paris,  có lẽ là những ngày cuối đời bà đã đọc được toàn bộ những bài thơ Xuân Diệu viết cho bà, những bài thơ hạnh phúc  và những bài thơ cay đắng. : Mai sau dù có bao giờ , em ngồi đọc lại chùm thơ đắng này. Có ai trên trái dất này, Yêu em sâu thẳm như ngày anh yêu. Sau cuộc tình Xuân Diệu nhớ lại chuyện cũ và làm thơ tình, hàng trăm bài thơ tình Xuân Diệu viết cho Bạch Diệp trong di cảo thơ Xuân Diệu. Chúng ta hãy đọc  vài  bài thơ tình Xuân Diệu viết cho Bạch Diệp :

THƯƠNG MẾN ĐẦU TIÊN

Đêm thanh trời đất lắng nghiêng tai

Em khẽ bên anh nói một lời.

« Em mấy đêm rồi không ngủ được

Bởi vì em nghĩ đến anh thôi. »

 

Tình yêu là buổi tiệc muôn ngon

Là suối trong xanh tắm mát hồn

Là gió trên buồm căng phất phới,

Là mây thương mến ấp đầu non.

 

Nhưng xa hơn cả mọi chân trời

Hạnh phúc đưa ta đến tuyệt vời,

Là lúc trời tình chao sát cánh

Hồn ta như thể én bay đôi.

 

Em ơi !  đẹp nhất khi con suối

Mới phát nguyên ra được nửa vời,

Thương mến đầu tiên em chẳng ngủ

Cũng vì em nghĩđến anh thôi.

 

 HÃY CÒN CHƯA GIẢI HẾT THƯƠNG YÊU

Hãy còn chưa giải hết thương yêu

Còn để trong tim thương mến nhiều!

Thư gửi đã không mang nhớ nỗi,

Lúc gần chẳng nói được bao nhiêu.

 

Lắm lúc xa em bỗng giật mình,

Tháng ngày như ngoạm tuổi xuân xanh,

Biết bao sự sống em tung tỏa,

Cho gió mây mà chẳng có anh.

 

Thu đến như hao lá bớt dày,

Nắng vàng thôi lại gió heo may

Rét vang sang gió mùa đông bắc,

Anh xót thương em tự bấy chày.

 

Muốn nói yêu em đến ruột rà,

Nói sao cho đủ , xót đôi ta,

Đời còn ai kẻ thương anh đó,

Chỉ có em mà em lại xa.

Bài thơ Anh đi công tác tả cảnh Xuân Diệu đi công tác một tuần xa, dặn dò Bạch Diệp ở nhà với bà má Xuân Diệu, năm đó Bạch Diệp học trường Điện Ảnh tại Hà Nội do chuyên gia Liên Xô dạy:

ANH ĐI CÔNG TÁC

Anh đi công tác một tuần xa,

Anh dặn em khi trở lại nhà.

Chớ thấy vắng anh mà ủ dột,

Phòng chung đừng thấy rộng thêm ra;

 

Em hãy cùng ăn cơm với má,

Hãy ra vườn  thăm cây dạ hương,

Cây ấy đợt này hoa lại nở,

Anh đã nhờ nói hộ tình thương.

 

Sách đặt trên bàn em mở xem,

Mắt anh đêm vẫn đậu bên đèn,

Đèn bàn khi bật lên em thấy

Anh nhớ em ngồi viết ban đêm…

 

Áo anh còn đứt mấy khuy, xin

Em nhẹ nhàng tay đính hộ giùm.

Thứ bảy, người đưa hoa lại đến,

Cắm bình, em hãy ngắm đi em.

 

Ít thức ăn khô anh sắp sẵn,

Vào trường em hãy nhớ mang theo

Chẳng nề quá mặn hay hơi nhạt,

San sẽ cho nhau dẫu ít nhiều.

 

Suốt một tuần qua làm việc mệt,

Em về nhà, hôm nghỉ cho vui

Ra đi anh đã hôn nơi cổng

Đặng đón em yêu cả ngọt bùi.

 Thơ Xuân Diệu có rất nhiều bài thơ viết về hoa. Theo bà Bạch Diệp: “Ông giống tôi một điểm, rất thích hoa, nên trong phòng luôn luôn có hoa tươi, thường thì là hoa hồng vàng.” Ta thửđọc bài Hoa ngọc trâm bài thơ viết đêm tân hôn.

   Xuân Diệu có bốn tập di cảo Mai , Lan, Cúc, Trúc. Xuân Diệu còn  đặt tên cho tập thơ Trúc là Bức Tượng, tên một bài thơ. Xuân Diệu làm thơ như có cảm tưởng mình là một nhàđiêu khắc: Từ thuở yêu em ngay sau buổi đầu tiên. Anh đã tạc hình ảnh em trên nền trời thương nhớ.

BỨC TƯỢNG

Em đến thăm anh trên đôi dép cao su

Em đã vào nhà, mà anh còn thấy bóng em in trên trời rộng

“Khuôn mặt nhìn nghiêng dáng mũi cao

Bấy lâu trong nhớ đẹp làm sao ! “

 

Anh đã gặp em ở một bến đò

Thương nhớ bao la trên dòng sông vắng.

Phong cảnh đã vào chiều trời hiu hiu nắng

Cây đôi bờ đứng lặng, nặng hồn xa..

 

Anh đã gặp em ở chân ngọn núi xanh

Núi sẫm biếc như mùa thu đọng lại.

Trong thung lũng hoang sơ, ngô lay cờ  – rộng rãi.

Phấn ngô còn đượm mãi hồn ta.

 

Anh đã gặp em bên bờ biển sóng xao

Phi lao rì rào hồn trao cho gió.

Bờ cát mịn dạt dào sóng vỗ

Niềm ân tình vạn thuở chẳng hề vơi.

 

Anh đã gặp em dưới một trời sao

Và đôi mắt em in vào vũ trụ.

Anh ngợp giữa muôn vàn tinh tú.

Đêm mơ màng thơm hương áo của em.

 

Từ lúc yêu em ngay sau buổi đầu tiên

Anh về đã tạc hình ảnh em trên nền trời thương nhớ.

Ở đâu có nhớ thương, anh đã đặt tượng em vào đó

Nên bây giờ anh nhớ đã gặp em.

 

Em đến thăm anh trên đôi dép cao su

Em đã vào nhà, mà anh còn thấy bóng em in trên trời rộng,

In giữa đêm trường, in vào giấc mộng;

Vì thế mà anh lồng lộng yêu em.

Bài thơ Đổi trao,  đặt cho ta  nghi vấn về những tiết lộ bà Bạch Diệp, không có chuyện gì xảy ra  trong 6 tháng sống chung giữa hai người.

ĐổI TRAO

Đêm qua mới thật là đêm

Tình như biển cả, nghĩa thêm sông dài,

Đôi ta đã hóa một người,

Bốn trời con mắt, một nơi tâm hồn.

 

Hai ta đã đổi trao hồn,

Đổi trao thân, vẫn hãy còn đổi trao

Những gì đẹp nhất thanh cao

Chứa chan bến mắt, nghẹn ngào bờ tim.

 

Tìm nhau mãi giữa bầu đêm

Ngôi sao anh với sao em mỉm cười

Đổi trao ánh mắt qua trời,

Đôi bông hoa đỏ giữa vời vô biên.

Hàng trăm bài thơ Xuân Diệu viết cho Bạch Diệp, khó mà tóm lược hết tình yêu Xuân Diệu cho Bạch Diệp trong một vài trang giấy, mỗi hành động, mỗi việc làm Bạch Diệp cho Xuân Diệu đều thành thơ. Cơm áo không đùa với khách thơ, từng trái cam, trái táo, chiếc kẹo, cái bánh, con cá, bữa ăn, cái quạt, cái áo, cái chén.. bao nhiêu cánh hoa người yêu tặng cũng thành thơ. Chỉ một mục Tình Hoa thôi, Xuân Diệu viết đến 18 bài thơ về hoa tặng người yêu và người yêu tặng..  Xuân Diệu là người tinh tế đểý từng chi tiết, từng điều nhỏ nhặt, đừng tưởng Xuân Diệu ru với gió và vơ vẫn cùng mây, tách rời thực tế, mà tất cả thực tếđã thành thơ trong thơ Xuân Diệu.. Tôi sẽ trở lại trong từng đề mục.  Ngược lại với Sử thi Iliade chỉ tả cuộc chiến thành Troie trong 42 ngày nhưng  qua đó là mười năm chiến cuộc. Sáu tháng cuộc tình Xuân Diệu – Bạch Diệp trở thành đề tài thơông viết 30 năm. Tôi phải mất 3 năm để sắp xếp lại viết thành tựđiển.

Đã lâu rồi Xuân Diệu đã chết, người thi sĩ đã chết, như con chim ứa máu hót khúc ca cuối cùng, như con chim bồ nông rút ruột rút gan cho con ăn, người thi sĩ rút tinh huyết, trải lòng mình cho đời để dọn cho người đời bữa tiệc trần thế. Người thi sĩ tự hiến tế trái tim mình thành bánh cho đời, máu mình thành rượu cho đời, xin mời mọi người trong đạo ThơTìnhăn no uống cạn bữa tiệc biệt ly cuối cùng. «  Người thi sĩ đã vào làng mây khói. Ở không đâu và ở khắp mọi nơi. Như tiếng vọng trong sương sa dắng dỏi, Máu vu vơ theo giữa trái tim đời. » Và khi mỗi cặp người yêu đương đang tình tự nhau, có gió qua người làm động má thơ ngây. Và nghe như : «  Rằng có ai, người thơ ở đâu đây ?  »  Người thơở dưới trăng sao, ở bãi vắng, in dấu chân mờ trên cát trắng, người thơ trong tiếng chim, tiếng suối, giữa ngàn lau.

 Trong Di cảo Xuân Diệu  đã viết những bài thơ Di chúc để lại cho Bạch Diệp :  Khi nào em đã yêu anh : Khi ta đã ngọt bùi, đắng cay anh kể./Anh sẽ không trả thù, mà chỉ để yêu thêm.

  DI CHÚC

Tôi nhận cái này từđã lâu

Bây giờ nó tới dẫu hơi mau

Đã không tránh khỏi thì tôi tiếp

Một cách đau thương, nhưng ngẩng đầu.

 

Ai  có thích cái gìđi mãi mãi

Vô trong cái cõi chẳng mô tê

Một khi cập bến vào vô tận

Thì đến vô biên chẳng trở về.

 

Tuy vậy tôi đã sống hết mình

Suốt đời không một phút coi khinh

Tôi coi trọng nhất khi  làm việc

Họa có thua khi sống với tình.

 

Cái quả cam này đà vất hết

Hiến cho non nước, hiến đời thân

Tuy không biết đến bao giờ kiệt

Nhưng dẫu sao thì cũng phải dừng.

 

Hãy để cho tôi được giả từ

Vẩy chào cõi thực để vào hư.

Trong hơi thở chót dâng trời đất,

Cũng vẫn si tình đến ngất ngư.

EM VÀ VŨ TRỤ

Giờđây vũ trụđã nhập vào em

Em là nỗi nhớ thương vẫn tràn đầy trong nhạc,

Em là niềm êm dịu, đời đời ta khép mắt đêm

Em là hạt cườm trong cổ những con chim hót.

 

KHI EM ĐÃ YÊU ANH

Có một ngày mai đó

Khi em đã yêu anh

Anh sẽ kể hết tâm tình,

Anh sẽ kể em nghe bao khổđau anh đã trải chịu.

Anh sẽ không trả thù, mà chỉ càng cảm tạ em yêu.

Thế nào là mỗi phút của anh từ sau khi hai ta quen biết,

Thế nào là hai con mắt mở, nhớ mong chong giữa trái tim;

Em cũng chưa biết hết thế nào là em,

Em được yêu mến như thế nào ở trên trái đất,

Anh thui thủi cứ nằm gai nếm mật,

Còn em là nước sôi lửa bỏng của lòng anh.

…….

Ôi em à !

Mẹ thương con không thể lấy thước màđo,

Đã gọi là tình yêu, tất nó phải là như thế.

Khi ta đã ngọt bùi, đắng cay anh sẽ kể,

Anh sẽ không trả thù, mà chỉ để yêu thêm.

Đó là những bài thơ cuối cùng Xuân Diệu viết cho Bạch Diệp, nữ đạo diễn vừa qua đời ngày 17-6-2013. Xuân Diệu đã qua đời năm 1985, nhưng thơ ông vẫn còn trong trái tim mỗi người Việt Nam khi yêu nhau. Hỏi em từ độ yêu tôi, tình ta còn đọng thơ người trong tim./.

( Nguồn: VHNA), QTXM trích

 

 

Một người phản đối phong trào Occupy Central (trái) giằng chướng ngại vật từ tay phe biểu tình đòi dân chủ tại quận Mong Kok. Ảnh: Reuters.

TRÊN 10 TRIỆU NGƯỜI HONGKONG THAM GIA BIỂU TÌNH ĐÒI DÂN CHỦ

GẦN NHƯ TOÀN DÂN HONGKONG HƯỞNG ỨNG CÓ CẢ NHỮNG CẢNH SÁT HONGKONG BỎ NHIỆM SỞ VÀ TỪ CHỨC ĐỂ THAM GIA CÙNG VỚI ĐỒNG BÀO CỦA HỌ .Trường học, ngân hàng ở Hồng Kông đóng cửa

HONGKONG-BAODONG4

Người biểu tình đòi dân chủ tại Hồng Kông vẫn tiếp tục phong tỏa nhiều tuyến đường, giao thông bị gián đoạn trong khi trường học và ngân hàng tại khu trung tâm phải đóng cửa.

South China Morning Post dẫn nguồn từ những người tổ chức biểu tình tại Admiralty (nằm giáp quận Trung Tây về phía đông) cho biết cảnh sát yêu cầu đoàn người trả lại đường phố cho những người cần đi làm vào sáng thứ hai 29.9.

Tuy nhiên những người biểu tình từ chối, cho biết chỉ bắt đầu thương lượng khi gặp được người có thẩm quyền cao hơn. South China Morning Post cũng cho biết những người đi làm ngang qua khu vực biểu tình đã giơ tay chào và cổ cũ đoàn người biểu tình.

Tại khu Mong Kok ở Cửu Long, đoàn người biểu tình đã ngủ dậy và bắt đầu hát những ca khúc bằng tiếng Quảng Đông của nhóm nhạc rock Beyond.

Reuters cho biết một vài tiếng trước khi Hồng Kông bước vào giờ cao điểm giao thông, rất nhiều tuyến đường dẫn đến khu trung tâm tài chính vẫn bị phong tỏa, trong khi người biểu tình từ chối lời yêu cầu “rút lui” của cảnh sát.

Trong khi đó, Văn phòng Giáo dục Hồng Kông vừa thông báo các trường học tại quận Wan Chai (Loan Tử) và Trung Tây ở trung tâm Hồng Kông sẽ đóng cửa do giao thông bị gián đoạn, theo BBC.

Ủy ban tiền tệ Hồng Kông vừa ban hành kế hoạch khẩn cấp nhằm giúp thị trường tài chính tại thành phố này hoạt động thông suốt. Theo đó, đến sáng 29.9 đã có 17 ngân hàng đóng cửa 29 chi nhánh của họ thuộc những khu vực bị ảnh hưởng. Các chi nhánh sẽ bị đóng đến khi có thông báo tiếp theo, theo South China Morning Post.

Nhân viên làm việc tại các trụ sở công quyền ở khu Admiralty cũng được khuyến cáo kiểm tra tình hình giao thông, và chỉ nên đến làm nếu điều kiện cho phép, South China Morning Post đưa tin.

Sở Giao thông Hồng Kông thông báo nhiều tuyến đường tại Admiralty, Wan Chai, Causeway Bay và Mong Kok vẫn bị phong tỏa. Hơn 200 tuyến xe buýt bị ảnh hưởng, điều chỉnh hoặc gián đoạn.

Trước đó, rạng sáng 29.9, những người biểu tình đòi dân chủ ở Hồng Kông vẫn tiếp tục những cuộc biểu tình, bất chấp cảnh sát dùng hơi cay và dùi cui trấn áp họ.

Hàng ngàn người biểu tình vẫn còn bao vây quanh tòa nhà chính quyền Hồng Kông, mặc cho thủ lĩnh sinh viên, thủ lĩnh biểu tình đòi dân chủ gọi rút lui vì lo ngại cảnh sát dùng đạn cao su, theo Reuters.

Truyền thông địa phương cho biết đoàn người biểu tình lan rộng từ quận Central (quận trung tâm của Hồng Kông), sang Causeway Bay và dọc theo cảng đến Mong Kok, khiến cho chính quyền Hồng Kông khó kiềm chế người biểu tình. Ước có đến 80.000 người tham gia biểu tình.

Một số vụ ẩu đả đã xảy ra khi cảnh sát đã dùng hơi cay và dùi cui để trấn áp người biểu tình. Cảnh sát Hồng Kông bác bỏ thông tin họ bắn đạn cao su.

“Nếu hôm nay tôi không đứng lên, tôi sẽ thù hận chính bản thân mình trong tương lai”, ông Edward Yeung (55 tuổi), một tài xế taxi tham gia biểu tình dòi dân chủ, nói.

“Chúng tôi sẽ đấu tranh đến cùng… chúng tôi sẽ không bao giờ bỏ cuộc”, Peter Poon, một thanh niên trong độ tuổi 20 tham gia biểu tình, cho biết.

Một số công ty và trường học ở trung tâm Hồng Kông phải đóng cửa, một số khác kêu gọi nhân viên làm việc tại nhà. Úc và Ý ra lệnh cảnh báo công dân nước tránh xa các khu vực biểu tình.

Bắc Kinh (Trung Quốc) hồi tháng 8 đã từ chối yêu cầu được phép tự chọn đặc khu trưởng vào năm 2017 của người dân Hồng Kông và chỉ cho phép cư dân đặc khu này chọn lựa trong số các ứng viên mà Bắc Kinh đã định sẵn.

Điều này đã dẫn đến phong trào biểu tình đòi dân chủ bùng phát trên toàn Hồng Kông, được biến đến với tên Occupy Central with Love and Peace (tạm dịch Chiếm lấy khu trung tâm với Tình yêu và Hòa bình hay gọi tắt là Occupy Central). Và sinh viên, học sinh cũng tham gia biểu tình đòi dân chủ.

Đến nay cảnh sát đã bắt giữ 78 người, bao gồm Joshua Wong (17 tuổi), thủ lĩnh nhóm sinh viên biểu tình dòi dân chủ ở Hồng Kông. Wong được thả vào tối 28.9 và tuyên bố sẽ tiếp tục biểu tình, theo Reuters.

 

CẦN “PHỤC SINH” DÒNG SÔNG HÒA NINH BỊ TÀN PHÁ THỜI CCRĐ

          Lê Thanh Bình

Đọc bài thơ của bác Lê Phương (vừa in trên QUÀ TẶNG XỨ MƯA), chúng cháu mới ngớ người ra là làng Hòa Ninh (xã Quảng Hòa, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình) khi xưa là một làng thật lạ lẫm đối với bây giờ và như trong chuyện cổ tích: “Cảnh phồn thịnh trên bến, dưới thuyền tấp nập”; dòng sông Hòa Giang thật đẹp, thơ mộng: “Tôi yêu quê tôi có dòng sông xanh êm mát”, “Ánh trăng xanh rọi xuống mặt sông – Hoà Giang một dải con con – Chiếc thuyền nho nhỏ theo dòng nước trôi”Dòng sông thời ấy, bây giờ…còn đâu?
Tìm hiểu thêm lịch sử dòng Hòa Giang – Mạch nguồn tụy tụ khí thiêng của làng, thì ra khi xưa là một con hói nhỏ tự nhiên. Các cụ “đời sơ” buổi mới định cư đến vùng Nam Quảng Trạch, tiếp nữa từ thế hệ này này sang thế hệ khác, đã khôn khéo và dành bao công sức vật lực cải tạo, dần dà khơi thông mở rộng để thành ra dòng sông rất tiện ích hòa chung mạng giao thông sông nước từ nguồn sơn cước Lệ Sơn (Tây Quảng Trạch) – Còi (Tuyên Hóa) đến hạ lưu sông Gianh. Biến vùng đất mới khai khẩn này thành ra các làng xã xóm thôn trù phú với nhưng tên đất (địa danh) mang ý nghĩa (và cả ước mơ) phồn thịnh, yên lành: Hòa Ninh, Vĩnh Lộc, Vĩnh Phước, Phú Trịch (dân dã hay gọi là “Phù Trịch”)…

“Tôi nhớ quê tôi hai miền Lương – Giáo

Tình ruộng đồng gắn bó keo sơn

Giếng nước uống chung, ăn một chợ Trường

Dân hai giáp siêng năng tần tảo

Nón đẹp dưới Lương, tơi bền trên Giáo

Xưa nay nổi tiếng khắp vùng;

Khoai củ to bột trắng như bông,

Cơm gạo ré (gié) vừa thơm vừa dẻo.

Dân làng tôi cày cuốc giỏi, mà thợ thuyền cũng khéo

Hai bàn tay “bách nghệ” tinh tường

Nhớ ngày hè rộn tiếng bắn bông

Ban đêm nhạc xa vang khắp xóm.

Dân làng tôi ngày ba tháng tám,

Lúa ngô còn bát bán bát ăn

Nhà ngói mới đua mọc như măng

Cảnh phồn thịnh trên bến, dưới thuyền tấp nập.

Tôi yêu quê tôi có dòng sông xanh êm mát

Những đêm hè rộn rịp gái trai tơ

Đường cái quan nho nhỏ chạy ven bờ

Đây tình tự, đó chuyện trò, ca hát…

Cảnh làng tôi nên thơ, mến khách

Gái Hoà Giang đẹp nết, đẹp người

Trai Hoà Ninh học giỏi, lắm tài

Trai gái ấy thật vừa đôi phải lứa!

Tôi nhớ quê tôi những ngày được mùa tôm cá

Dân Ba Cồn tụ họp chợ vui đông

Thu, thiều, trích, nục, bè, sòng…

Vừa ngon, vừa rẻ, vui lòng bà nội trợ.

Chợ Trường làng tôi có những o hàng xén nhỏ

Đôi mắt huyền nụ cười nở trên môi

Đã xiêu lòng biết mấy chàng trai

Phải dừng chân giả vờ mua bán!

Tôi yêu quê tôi những đêm tháng tám

Ánh trăng xanh rọi xuống mặt sông

Hoà Giang một dải con con

Chiếc thuyền nho nhỏ theo dòng nước trôi”

Nên nhớ rằng, những vần thơ trên, bác Lê Phương – Một cán bộ cao cấp quân đội, đảng viên Đảng CS; viết bên mâm pháo vào những ngày đầu tiếp quản Thủ đô Hà Nội (tháng 10/1954), mô tả theo ký ức quê mình trước cuộc kháng chiến chống Pháp. Một làng khá sầm uất, giàu truyền thống yêu nước có nhiều con em sớm tham gia Cách mạng; dân cư hiền lành chất phác, lam lũ siêng năng “bách nghệ tinh tường“, trai tài gái đẹp…
Thế nhưng từ thời cơn bão Cải cách ruộng đất vừa tàn phá xong làng quê tôi, thì một chủ trươngchẳng khác “họa vô đơn chí” từ trên huyện trên tỉnh  ập về (cuối năm 1956 – đầu năm 1957) sức mấy nghìn dân công chặn đứng 2 cửa thông thương của dòng sông Hòa Giang (Sông Hòa Ninh – nhiều người vẫn gọi là “Hói Hòa Ninh”): một đầu ở phía Cửa Hác và một đầu phía làng Hạ Thôn. Một việc rất thiếu nghiên cứu, thiếu cân nhắc làm thay đổi cực kỳ lớn đến cảnh quan môi trường và dân sinh mấy xã Quảng Hòa, Quảng Lộc, Quảng Thủy…Hậu quả xấu ngay tức khắc là phản lại tự nhiên; phản lại công lao và thành quả biết bao đời ông cha khơi tạo ra dòng sông hiền hòa thân thương quanh năm bốn mùa trong xanh. Cũng từ đó, việc buôn bán giao lưu hàng hóa và nghề sông nước của vùng Hòa Ninh ra mạng giao thông truyền thống lên nguồn xuống biển của sông Gianh chấm dứt. Những khu sinh thái ngập mặn: rừng sú vẹt cuối mom đất làng Phú Trịch, rừng sác bần Hói Nại xanh um mấy thuở bị xóa sổ. Thủy hải sản nước mặn, nước lợ của cả dòng Hòa Giang tận diệt…

           Hiện nay, sông Hòa Ninh là một lạch nước đen ngòm, hôi thối lềnh bềnh bèo tây và rác thải. Là nguy cơ của biết bao nhiêu nguồn bệnh bởi tất cả nước bẩn và rác sinh hoạt đang từng giờ từng phút đổ dồn ra cái “ao tù” không lối thoát này.

           Công bằng mà nói thì mấy chục năm khi mới chặn nguồn, đoạn sông bị bịt kín hai đầu này, ít nhiều có tác dụng như là “hồ nước ngọt” cho 2 xã Quảng Hòa, Quảng Lộc tưới tiêu – dù cho hiệu năng là vô cùng ít ỏi mà “lợi bất cập hại” ngay từ những năm 1960 đã rõ mồn một rồi. Hệ lụy và di hại nhãn tiền kéo dài sang thế kỷ XXI bất cứ ai cũng đã thấy. Hơn nữa, hiện chức năng giữ nước ngọt không còn nữa, vì đã có thủy lợi rào Nan đảm bảo công suất cho mọi nhu cầu về nước ngọt trong dân sinh lẫn sản xuất nông – tiểu thủ công nghiệp.
Chính quyền các xã Quảng Hòa và Quảng Lộc, rồi huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình; không còn lý do nào nữa, cần dứt khoát ra tay phá bỏ 2 đập chắn để trả về tự nhiên môi trường vốn có cũng như lịch sử văn hóa của cư dân nơi đây.
Suốt mấy chục năm qua, đã không ít văn bản của người dân, của cán bộ đảng viên và con em đang học tập, công tác trên mọi miền đất nước người Hòa Ninh, Vĩnh Lộc kiến nghị lên xã, lên huyện, lên tỉnh đề nghị bỏ 2 con đập để mở lối khai thông con sông tù ô nhiễm; nhưng đến nay vẫn chưa có câu trả lời. Báo chí rồi Đài Truyền hình Trung ương có hẳn phóng sự nói lên hiện trạng của dòng sông và tâm tư nguyện vọng của bà con nơi đây đã in phổ biến, chiếu râm ran cả nước mấy năm trước. Mới nhất, cách có vài ngày nay; bạn Nguyễn Công Minh trên Comment (ý kiến phản hồi) nhân tình cờ đọc được bài thơ “Quê hương” của bác Lê Phương, cũng rốt ráo mà vẽ nên “viễn cảnh trong tầm tay” của xã Quảng Hòa trong việc ứng xử với dòng sông quê hương đang thực sự chết đau đớn vô cùng oan uổng: “Tôi cũng cùng tâm trạng: “Dòng sông thời ấy…bây giờ còn đâu?”. Quê hương ơi xin hãy giữ lấy dòng sông. Tôi ước một ngày hai bờ sông Hòa Giang được kè lên và trồng nhiều hoa, cây xanh; có con đường to đẹp chạy dọc hai bên bờ; những ngôi nhà lụp xụp được di chuyển nhường chỗ cho thảm xanh sinh cảnh. Ôi đẹp làm sao Hòa Ninh quê hương yêu dấu, nơi ấy có Bọ Mạ và ngôi nhà rường ngói vẩy rêu phong thân yêu…” (Mạ anh Minh là cụ Hoàng Thị Nga – “Cựu dân quân chống Pháp” qua đời rồi, nhưng trong anh, Bà luôn như còn sống!). Đọc lời góp ý thấm đẫm tình yêu quê này, khiến ta thấy rằng, việc làm sống lại dòng sông Hòa Ninh đã luôn thường trực và nóng bỏng trong mọi suy nghĩ của mỗi một người dân và con em họ trên vùng đất này. Không biết có phải do “hạn trời” còn quá nặng hay sao mà sau gần 60 năm, dòng sông Hòa Ninh vẫn chưa được cứu sống?

          Rõ ràng thời ngu dân “hậu Cải cách ruộng đất”, đã đầu têu tàn phá môi trường, lịch sử văn hóa cư dân trên quê tôi; để họa nhãn tiền vẫn còn nguyên đó đang đòi hỏi các cấp chính quyền hiện nay phải có cách khắc phục; không là có tội với cha ông, có tội với chính con em mình và hậu thế.
LTB

( tác giả gửi cho Q!TXM)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 05.10.2014

Nghi vấn ông Kim Jong-un không còn thực quyền

Nghi vấn ông Kim Jong-un không còn thực quyền

TP – Báo chí phương Tây hôm qua dẫn lời một cựu quan chức phản gián CHDCND Triều Tiên nói rằng, ông Kim Jong-un hiện không còn nắm quyền lãnh đạo đất nước, Bình Nhưỡng đang bị phong tỏa “nội bất xuất, ngoại bất nhập”.
Nhà lãnh đạo Kim Jong-un thăm một đơn vị quân đội Triều Tiên. Ảnh: EPA Nhà lãnh đạo Kim Jong-un thăm một đơn vị quân đội Triều Tiên. Ảnh: EPA

Cựu quan chức phản gián Triều Tiên, ông Jang Jin-sung, từng là nhân vật có ảnh hưởng trong cơ quan tuyên truyền dưới thời nhà lãnh đạo Kim Jong-il (cha của ông Kim Jong-un). Tại một hội nghị diễn ra gần đây ở Hà Lan với sự tham dự của một số cựu quan chức cấp cao Triều Tiên lưu vong, ông Jang Jin-sung nói rằng, hiện giờ ông Kim Jong-un chỉ là một nhà lãnh đạo không có thực quyền. Trong khi đó, thủ đô Bình Nhưỡng được đặt trong tình trạng “nội bất xuất, ngoại bất nhập”, ngay cả quan chức cấp cao cũng không được ra hoặc vào. Ông Jang Jin-sung nói rằng, biện pháp phong tỏa này chỉ được áp dụng khi có đảo chính hoặc phát hiện âm mưu đảo chính.

Ông Jang Jin-sung nói rằng, nhà lãnh đạo Kim Jong-un thực sự đã bị lật đổ hồi năm 2013 và chính giới ở Triều Tiên hiện do Cục Tổ chức – Hướng dẫn (OGD) điều khiển. Trước đây, OGD trực tiếp báo cáo các vấn đề liên quan cho nhà lãnh đạo Kim Jong-il. Tại hội nghị, ông Jang Jin-sung phát biểu rằng, chính giới Triều Tiên đang bị chia rẽ: một số quan chức muốn giữ nguyên hiện trạng cộng sản, trong khi một số khác muốn áp dụng một số thành tố của chủ nghĩa tư bản. Ông này nói với kênh tin tức toàn cầu Vice News (thuộc tập đoàn truyền thông Mỹ Vice Media): “Có những người muốn duy trì sự độc quyền. Có những người đang chống lại chế độ, nhưng họ muốn tận dụng tình hình để tạo ảnh hưởng. Đó không phải là nội chiến, nhưng hai lực lượng này hiện xung khắc với nhau”.

Ông Remco Breuker, giáo sư Triều Tiên hiện công tác tại Đại học Leiden (Hà Lan), người chủ trì hội nghị, ủng hộ tuyên bố của ông Jang Jin-sung. Giáo sư Breuker nói: “Quyền lực thực sự nằm trong tay ODG. Cơ quan này phục vụ nhà lãnh đạo Kim Jong-un, nhưng phục vụ di sản của ông Kim Jong-il rõ nét hơn”. Ông Jang Jin-sung cho rằng, nhà lãnh đạo Kim Jong-un có thể sẽ bị anh trai thay thế, hoặc là ông Kim Jong-nam (43 tuổi) hoặc ông Kim Jong-chul (33 tuổi).

Giáo sư Toshimitsu Shigemura, chuyên gia về các vấn đề Triều Tiên, hiện công tác tại Đại học Waseda (Nhật Bản), nói với báo Anh The Telegraph rằng, việc Bình Nhưỡng bị phong tỏa có thể đồng nghĩa với việc chế độ của ông Kim Jong-un đã trở nên bất ổn ở mức nguy hiểm. Giáo sư Shigemura nói: “Việc này ám chỉ rằng, đã có đảo chính hụt hoặc giới chức Triều Tiên đã phát hiện một âm mưu nào đó chống lại nhà cầm quyền. Nếu đó là cuộc đảo chính do quân đội hậu thuẫn thì tình hình ở Bình Nhưỡng sẽ rất nguy hiểm. Tôi thấy có một số báo cáo nói rằng, ông Kim Jong-un đã bị đưa ra khỏi thủ đô”.

Tháng trước, lần đầu tiên, báo chí nhà nước Triều Tiên công bố rằng, ông Kim Jong-un đang có vấn đề về mặt sức khỏe, báo Trung Quốc Global Times đưa tin. Công bố của truyền hình Triều Tiên dấy lên nhiều đồn đoán về tình trạng bệnh tật của nhà lãnh đạo trẻ tuổi như gút, tim mạch… Ông Kim Jong-un, 31 tuổi, thường là tâm điểm của truyền thông nhà nước, nhưng không thấy hiện diện trên báo chí kể từ ngày 3/9, khi ông và vợ có mặt tại một buổi hòa nhạc.

Đoạn phim tài liệu quay một sự kiện có sự tham dự của các quan chức cấp cao của Triều Tiên hồi tháng 7 cho thấy nhà lãnh đạo Kim Jong-un đi khập khiễng. Báo Hàn Quốc Chosun Ilbo dẫn một nguồn tin nói rằng, ông Kim Jong-un bị vỡ cả hai mắt cá chân trong khi đi giày cao gót thăm các đơn vị quân đội và nhà máy.

Tuy nhiên, Đại sứ Triều Tiên tại Liên Hợp Quốc, ông So Se-pyong, nói với hãng tin Anh Reuters rằng, thông tin nhà lãnh đạo Kim Jong-un gặp vấn đề sức khỏe chỉ là tin đồn đoán không có cơ sở.

Triều Tiên-Hàn Quốc nhất trí nối lại tiếp xúc cấp cao

Ngày 4/10, Triều Tiên và Hàn Quốc nhất trí nối lại các cuộc tiếp xúc cấp cao vốn bị đình chỉ từ tháng 2. Thỏa thuận đạt được trong chuyến thăm của 3 quan chức Triều Tiên tới Hàn Quốc dự lễ bế mạc Đại hội thể thao châu Á (ASIAD) lần thứ 17, trong đó có ông Hwang Pyong-so, Phó Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng Triều Tiên kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Triều Tiên, Yonhap đưa tin. Hai quan chức Triều Tiên còn lại đều là Bí thư Ban Chấp hành trung ương Đảng Lao động Triều Tiên: ông Choe Ryong-hae và ông Kim Yang-gon. Hôm qua, trong lễ bế mạc ASIAD 17, ông Hwang Pyong-so, nhân vật số hai của Triều Tiên, ngồi sát Thủ tướng Hàn Quốc Jung Hong-won. Cảnh tượng hiếm thấy này khiến nhiều người hy vọng về sự khởi sắc trong quan hệ liên Triều thời gian tới.

Ngày 4/10, Bộ Thống nhất Hàn Quốc thông báo, các quan chức Triều Tiên bày tỏ sẵn sàng tái khởi động đối thoại trong khoảng cuối tháng này hoặc đầu tháng sau, Xinhua đưa tin. Trước đó, Triều Tiên luôn bác bỏ đề nghị của Hàn Quốc về việc nối lại đàm phán. Cuộc đàm phán cấp cao gần nhất diễn ra tại thủ đô Seoul của Hàn Quốc hồi tháng 2, dẫn đến việc Triều Tiên đã chủ trì một cuộc đoàn tụ cho các gia đình bị ly tán từ thời Chiến tranh Triều Tiên giai đoạn 1950-1953.

Báo chí Hàn Quốc và phương Tây đưa tin, có thể nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un mới đây bị nứt vỡ mắt cá chân và hiện phải nằm viện sau phẫu thuật.

The Telegraph, Daily Mail, Yonhap, Xinhua

( nguồn :tienphongonline)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 03.10.2014

NHÀ THƠ ĐÔNG TGRINHF VIẾT VỀ THƠ NGÔ MINH

Nhà thơ Đông Trình tên thật Nguyễn Đình Trọng, sinh ngày 4/12/1942; Là nhà văn Việt  Nam đang sống và viết ở Đà Nẵng. Ông tốt nghiệp Thủ khoa Đại học Sư phạm và Đại học Văn khoa Huế. Ông là một trong những nhà thơ có ảnh hưởng lớn trong phong trào văn nghệ phản kháng ở đô thị Miền Nam trước 1975. Sau đây là cảm nhận của Đông Trình về thơ Ngô Minh


                                 BIỂN MỘT BÊN VÀ …THƠ MỘT BÊN

 

                                                                  Đông Trình

 

        “ quê tôi ở miệt cát nam Quảng Bình. Mạ tôi dẻ rơi tôi trên cát một chiều thu làng biển Thượng Luật. Có phải vì thế mà thơ tôi đi một đời vẫn không ra khỏi cái sâu xa của cát và sự bao dung của biển ?”( Nhà văn Việt Nam hiện đại, tr 435).

Đẻ rơi thì đã buồn. Lại đẻ rơi trên cát. Và da diết nữa, lại vào một chiều thu. Ấy thế mà ngoài đời ít thấy Ngô Minh buồn. Có một cô gái Huế viết rằng :

Bạn tôi…

                      Mỗi người một vẻ mỗi sắc riêng

                      Người ưa mặc đẹp người thích ăn ngon

                      Người hiền lành người thì nóng tính

                      Người thích lặng im người hay cười rần rật

( Nguyễn Thị Thái ) (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 03.10.2014

10 KHÚC YÊU TRONG CỰU ƯỚC

10 KHÚC YÊU TRONG CỰU ƯỚC

Nhã ca của vua Sa–lô–môn

bản dịch của TS PHẠM TRỌNG CHÁNH

DẠO KHÚC

NGƯỜI YÊU NỮ

Môi uống làn môi say rượu đào,

Tình chàng mơn trớn rượu thanh tao ;

Danh chàng như tựa dầu hương đổ,

Bao gái xuân thì yêu xuyến xao .

Kéo bước em đi, chân chạy nhanh,

Quân vương đưa gót đến cung phòng ;

Là cả niềm vui và lạc thú,

Dâng hiến yêu đương chén rượu nồng.

CHÚ THÍCH : Le Cantique des Canthiques : có nghĩa le chant des chants, bài hát hay nhất trong những bài hát. Đây là những bài hát hay nhất của vua Salomon. Vua Salomon ngày xưa có một harem, rất nhiều vợ. Điều này khác với Chúa Jésus chủ trương một vợ. Salomon có nghĩa là Thái Bình. Gái xuân thì : gái đến tuổi lấy chồng, có con , nhưng chưa có.

 

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 02.10.2014

Hoàn cảnh Thu Tứ

 

  QTXM : Bạn đọc thân mến. Hôm trước QTXM in bài về việc “Con đấu tố cha ( thời mới), chỉ việc Thu Tứ , con trai nhà văn nổi tiếng Võ Phiến có bài “Trường hợp Võ Phiến” mạ sát cha mình in trên báo Văn Nghệ TP HCM. Nay chúng tôi xin giới thiệu  bài viết của nhà văn Nam Dao tìm hiểu nguyên nhân của việc “con giết cha” nay. Mời bạn đọc cùng chia sẻ.

Hoàn cảnh Thu Tứ

Nam Dao

Cho đến hôm qua, tôi vẫn chưa dám tin Thu Tứ đã hạ bút viết “Trường hợp Võ Phiến”. Đọc và cảm tưởng văn bản này có vẻ như của đám đánh hôi tên “biệt kích văn hoá” thời “hồ hởi” chống Mỹ cứu nước, tôi điện thoại hỏi một người bạn văn có giao tình với gia đình Võ Phiến. Anh bảo, bài đó nằm trong http://gocnhin.net, số 295 của chính Thu Tứ, không phải là Tuyên huấn Tuyên giáo gì, dẫu đăng trên tờ Văn Nghệ TP Hồ Chí Minh. Tôi lặng người, và hiểu những nhà văn hải ngoại đã dùng những chữ như vô luân, nghịch tử, đấu tố cha… để đánh giá con người và hành động của Thu Tứ. Bạn tôi thở dài: “Bà Võ Phiến chỉ khóc, thật tội nghiệp!”

Có dịp đâu 7, 8 năm trước đi thăm anh với Nguyễn Mộng Giác, tôi giữ hình ảnh một Võ Phiến trung thực, chừng mực, xuề xòa, và rất tinh nhạy trong những cảm nhận văn học. Khi đó, tôi kể được Thu Tứ gửi tặng hai tập sách (nay tôi quên tên), Võ Phiến bảo: “Chắc nó muốn làm quen đó!” và hỏi tôi nghĩ sao về văn Thu Tứ. Dĩ nhiên, tôi im lặng rồi lảng chuyện. Anh tiếp: “Có dịp thì giúp nó!”. Tôi lại im lặng. Văn là của Trời cho, mấy ai giúp được ai! Nhưng hôm nay, nhớ giao tình với Võ Phiến, tôi cố gắng tìm cách hiểu hoàn cảnh Thu Tứ, dẫu chẳng mấy dễ dàng.

Đầu tiên, tôi vào truy lùng những vụ án “giết cha” trong văn học. Trong loại thảm kịch Hy Lạp, có cuốn sách khá nổi tiếng về 12 vụ án loại này. Vụ khá tiếng tăm là vụ Brutus đâm chết Caesar trong Nghị Viện Hy Lạp. Năm 44 trước Công Nguyên, cùng những kẻ đồng loã ở Ides des Mars, Brutus giơ dao thì Caesar ngoảnh lại, la lên “κα σύ, τέκνον”, nghĩa là “Cả mi à, con ta!”. Câu hỏi tức thì, Thu Tứ có phải là Brutus không? Triết gia Plutarque bàn về động cơ của Brutus, kẻ muốn bảo vệ nền Cộng Hoà (Hy Lạp) chống lại sự độc trị của Caesar, cho rằng Brutus là kẻ có lý tưởng, vì nghĩa chung mà hy sinh quyền lợi tư riêng. Thế thì Thu Tứ chắc hẳn khác xa Brutus. Bài viết của anh hà hơi cho một chế độ toàn trị chết dở. Chế độ này thành công chỉ ở điểm làm lùi dân trí, khiến xã hội ngày một vong bản, con người hóa ra vô cảm, kinh tế tụt hậu và lệ thuộc nhưa chưa từng có, biển mất đất mất vào tay ngoại xâm, dân chủ – công bằng – văn minh chỉ là những khẩu hiệu hàng giả sau đến gần 40 năm Giải Phóng và Thống Nhất đất nước… Nếu Thu Tứ có được chút nào thì là cái tên Brutus, người Hy ngày xưa ám chỉ sự ngu muội. Nhưng Thu Tứ – Brutus không chỉ ngu muội. Anh còn vô văn hoá: chính anh thú nhận đã kiểm duyệt và biên tập để gột phần “chống Cộng” khi in hai tác phẩm của Võ Phiến trong nước dưới cái tên Tràng Thiên. Ai viết văn cũng hiểu cái nỗi đau thấy chữ nghĩa mình bị đục đẽo. Trước khi giết, Thu Tứ đã tra tấn và bạo hành chữ nghĩa của kẻ sinh thành ra anh! Và thế là không, trăm lần không, vì như vậy Thu Tứ làm sao cao bằng mắt cá chân Brutus.

Vụ thứ nhì tôi lọc lựa để hiểu hoàn cảnh Thu Tứ là Oedipia. Chàng này thể hiện lời sấm truyền của Sphinx (nửa đàn bà nửa sư tử), phải giết cha và ân ái với mẹ. Sphinx là một con thú trong huyền thoại. Dĩ nhiên Oedipia của huyền thoại không là Thu Tứ, người thế kỷ 21, từng tốt nghiệp CalTech năm 86 và không hành nghề kỹ sư từ 1991 vì không thích mà chuyển qua văn chương bắt chước viết văn như thân sinh mình. Nhưng điều Sigmund Freud gọi là “mặc cảm Oedipia” thì, tôi e, có phần nào giải thích được hoàn cảnh Thu Tứ. Mặc cảm này thể hiện một quá trình dục tính (libidinal) có nhiều giai đoạn, từ khi sinh ra đến lúc thành niên, nảy sinh từ khuynh hướng của giới tính nam (nữ) là chiếm hữu người mẹ (cha); và để đạt được chỉ có phương thức quyết liệt là giết cha (mẹ). Giai đoạn cường điệu nhất là khoảng 3-7 tuổi, nhưng sau đó, quá trình từ từ đảo ngược bởi lẽ con người từng bước được “xã hội hóa”, tìm ra người yêu khác phái thay đấng sinh thành, và tiến tới trạng thái ổn định khi thành niên. Không phải là bác sĩ phân tâm, tôi không dám chẩn bệnh, nhưng qua câu chuyện giết (chữ nghĩa) cha trong bài viết “Trường hợp Võ Phiến”, tôi ngờ ngợ Thu Tứ đang còn ở một giai đoạn từ 3-7 tuổi, tức là trước khi ổn định được quá trình dục tính của mình. Có phải vì Thu Tứ không tìm được người yêu, sống cô đơn, ít giao du, nghề nghiệp đem bỏ để theo nghiệp văn như anh viết tiểu sử của mình, và tuy không nói nhưng cái bóng cha anh đè nặng trĩu trên cái nghiệp anh chọn lựa? Tôi không biết, nhưng nếu liều lĩnh một lời khuyên, tôi khuyên Thu Tứ nên đi tham cứu một nhà phân tâm. Có bệnh thì phải chữa, tất nhiên. Nếu không muộn, xin thêm: viết văn là một nghiệp dĩ, tôi ít thấy một nhà văn đích thực nào mà hạnh phúc!

Gần đây thôi, ở Hà Nội, chính quyền triển lãm những thành quả của cuộc Cải Cách Ruộng Đất long trời lở đất nửa thế kỷ trước. Khi người dân Dương Nội đang mất đất đến xem thì vì “mất điện”, người ta đóng cửa triển lãm. Trong blog Pro&Contra, nhà văn Phạm Thị Hoài mang ra “trưng” Ghi của Trần Dần về Cải Cách Ruộng Đất, và chỉ ở riêng vùng Bái Bắc thuộc tỉnh Bắc Ninh đã từng có 26 vụ con đấu tố giết cha mẹ. Đọc, tôi ngậm ngùi, không thể không liên tưởng đến bài “Trường hợp Võ Phiến”. Cuộc đấu tố sau đây là một hư cấu:

Người cha quì, vẫn cười, cái cười khoan hòa đến độ có chút ngu ngơ. Người con kề vai anh Đội, nhìn đám người xung quanh. Đội đập khẽ vào vai, người con xông ra quát:

- Này, có nhìn ra ai đây không?

- Dạ… Có, con là con ta mà!

- Không cha con chi ráo trọi… Mang máu mủ hòng lung lạc giai cấp hử? Mi biết mi tội gì với nhân dân không?

- …

- Mi không nhìn ra đại cuộc Giải Phóng và Thống Nhất đất nước. Mi phao là đâu có cần đổi bằng máu hàng mấy triệu người, nhận đi…

- Tui quên hết rồi! – Người cha thì thào.

- Cho là mi cũng yêu nước, nhưng lại mi yêu một cách tự ti!

- Tui hổng hiểu nổi yêu nước tự ti là chi…

Người con tay đưa lên trời, hà miệng hét:

- Đấy, bọn phản động nó ngoan cố vậy đó, nó chối thì nói hổng hiểu!

Đội nhìn quanh, ra dấu phóng tay phát động quần chúng. Tức thì quần chúng đồng thanh hô: Đả đảo phản động! Cách mạng muôn năm…

Người con tiếp tục xỉa xói:

- Mi chống Cộng cực đoan, mà còn cực đoan hơn cà những người cực đoan Cộng sản! Mi có nhận thế không?

- Tui quên hết rồi! Người cha lắc đầu.

- Văn chương chống Cộng của mi là phi dân tộc! Phải trốc cái gốc ung thối đó đi… Nghe chưa!

Đội lại ra dấu. Quần chúng đồng thanh: Phải rồi, đào tận gốc trốc tận rễ…

Người cha ngập ngừng:

- Tui quên hết rồi…

Anh Đội nhìn người con, ra lệnh:

- Đồng chí lôi “quả thực” ra!

Người con khệ nệ ôm một chồng sách ném toạch xuống đất.

- Hành hình, anh Đội phất tay.

Người con rút dao kéo, thẳng tay cắt vụn những trang sách cho sạch banh những đoạn chống Cộng, vung ném lên trời xanh. Quần chúng la, quả thực, quả thực… rồi nhảy lên vồ những con bướm trắng có vết mực in bay tung tưởi trên không. Cánh bướm bỗng tướm máu, mùi tanh tanh đâu đây thoang thoảng.

Người con khuỳnh tay, nói lớn:

- Mi nhận tội chưa? Còn điều gì để nói không?

Người cha im lặng một lát, giọng khẽ khàng:

- Tui quên hết rồi, chẳng còn gì đáng nhớ!

Năm 2010, tôi ghé thăm thì Võ Phiến đã bắt đầu quên. Người anh còn khoẻ, nhưng đầu chớm chút lẫn lộn. Cầm trên tay cuốn sách mới in tựa là “Cuối cùng”, anh nhìn tôi: “Nam Dao hay Nam Giao?”. Chỉ mới hai phút sau, anh cầm bút đề tặng tôi, anh lại hỏi chị, Dao D trên hay D dưới?

Lần cuối qua Cali cách đây hai năm, tôi điện thoại xin đến thăm anh chị. Chị bảo, thôi, anh lẫn lắm rồi, không nhớ gì đâu. Vì có lẽ chẳng có gì đáng nhớ chăng? Nhất là nay với cái “quả” ngàn cân mang tựa “Trường hợp Võ Phiến” thì quên là một ân huệ.

Nhưng thôi, Thu Tứ “hoàn cảnh” lắm.

Tội nghiệp!

Và cuối cùng thì cái gì của Caesar, trả lại cho Caesar, cái gì thuộc văn học, sẽ cũng rồi trả lại cho văn học.

 

N. D.

30-09-14

( Nguồn :Vanviet)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 02.10.2014

SUY NGẪM VỀ PHÁT BIỂU CỦA THỦ TƯỚNG

SUY NGẪM VỀ PHÁT BIỂU CỦA THỦ TƯỚNG

 Tô Văn Trường

 Suy ngẫm từ Thông điệp đầu năm đến phát biểu mới đây ở đảo Lý Sơn của Thủ tướng , chúng ta nhìn lại bối cảnh quốc tế cuối thế kỷ trước đã dồn đất nước ta vào cảnh đau lòng, gây nên những thương đau và tổn thất khủng khiếp trong nội bộ cộng đồng dân tộc ta. Phải từ góc nhìn cả dân tộc ta đã trở thành nạn nhân như thế trong cục diện quốc tế ngày ấy, để nhận thức sâu sắc những thách thức mới của cục diện quốc tế hôm nay đang đe doạ đất nước. Tất cả để gìn giữ, phát huy hoà giải và đoàn kết dân tộc là nguồn sức mạnh bất khả kháng của tổ quốc Việt Nam vô vàn yêu quý của chúng ta trong thế giới hôm nay.

Nhiều người am hiểu, theo dõi thời cuộc rất quan tâm đến lời phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhân dịp “khánh thành công trình nối cáp điện cho đảo Lý Sơn” ngày 28/9 vừa qua.

“Hôm nay, chúng ta cùng nhau có mặt tại đây, trên huyện đảo Lý Sơn, một huyện đảo tiền tiêu trên Biển Đông của Tổ quốc, một lần nữa, chúng ta khẳng định rằng Tổ quốc ta, dân tộc ta, Đảng, Nhà nước ta mãi mãi ghi nhớ, biết ơn các thế hệ người Việt Nam chúng ta, đồng chí, đồng bào chúng ta đã anh dũng hy sinh xương máu và cả tính mạng của mình vì sự nghiệp độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Chúng ta mãi mãi ghi nhớ, biết ơn các thế hệ người Việt Nam chúng ta, đồng chí đồng bào đã hy sinh xương máu và cả tính mạng của mình vì chủ quyền của Hoàng Sa, của Trường Sa, vì chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Đội hùng binh Hoàng Sa-Bắc Hải-Trường Sa sống mãi với Tổ quốc ta, dân tộc Việt Nam chúng ta”.vv…

Quan điểm thừa nhận sự hy sinh, đóng góp của người dân bảo vệ chủ quyền độc lập của tổ quốc (kể cả người lính dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa hy sinh bảo vệ Hoàng Sa 1974) đã được nhiều người nêu ra từ lâu rồi nhưng đây là lần đầu tiên, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng công khai phát biểu rất đáng ghi nhận trong thể chế chính trị hiện nay ở Việt Nam.

Ngày nay, những xu thế của sự phát triển cần có sự hòa giải, hòa hợp dân tộc. Thời gian thống nhất đất nước đã trôi qua rất lâu rồi. Cất lời hòa giải đến nay đã muộn. Nhưng muộn còn hơn không.

Đòi hỏi của sự hòa giải hòa hợp dân tộc

Việt Nam đã trải qua những cuộc chiến thảm khốc vào loại nhất nhì thế giới. Cuộc chiến đã đi vào từng gia đình, từng làng xóm, từng ngõ phố. Gia đình nào cũng có người theo phe bên này, bên kia. Sau chiến tranh, nhu cầu hòa giải, gắn kết là nhu cầu lớn. Kéo dài sự chia rẽ chỉ làm người dân mệt mỏi. Kéo dài sự chia rẽ chỉ làm phân tán lòng dân. Sự hàn gắn đã diễn ra trong xã hội, trong các gia đình từ lâu rồi. Tiếp tục sự phân biệt sẽ chẳng có ý nghĩa gì đối với đa số dân chúng. Nó chỉ làm làm giảm lòng tin, và suy yếu khối đoàn kết toàn dân.

Lúc sinh thời, ông Võ Văn Kiệt đặc biệt trăn trở, day dứt với câu hỏi phải làm cái gì, làm như thế nào, khi nào để người Việt Nam ở trong cũng như ngoài nước cùng dòng giống “con rồng, cháu tiên” được đoàn kết, hòa hợp dân tộc để phát triển đất nước. Ông thấu hiểu nỗi đau, mất mát của chiến tranh, biết bao chiến sỹ, đồng bào phải hy sinh để đất nước có ngày thống nhất. Chiến tranh đã cướp mất của ông 4 người thân yêu nhất, vợ và 2 người con nhỏ bị bom không tìm được thi thể, còn người con trai liệt sĩ, hy sinh trên chiến trường, bản thân ông cũng trải qua biết bao bao gian khổ, và không ít lần hiểm nguy vì bom đạn của quân thù.

Có thể nói gia đình ông Sáu Dân là một trong những gia đình chịu nỗi đau mất mát nhiều nhất bởi chiến tranh nên ông luôn trân trọng giá trị của hòa bình, tự do và độc lập. Trái tim đầy xúc động, nhân ái của ông, không chỉ rung lên những đau thương, tổn thất to lớn không gì bù đắp nổi của đồng bào, chiến sỹ của ta mà còn biết cảm thông, chia sẻ cả mất mát của người dân bên kia chiến tuyến. Ông hiểu rõ những vết thương trên cơ thể của đất nước, những di chứng để lại trong tâm hồn của không ít đồng bào cả 2 bên chiến tuyến. Biết nén thù nhà, đặt sự nghiệp phát triển của đất nước lên trên tất cả, ông thường trăn trở, suy nghĩ, về làn ranh ngăn cách giữa người Việt Nam ở 2 bên bờ cuộc chiến, sau hàng chục năm vẫn còn đó. Mặc dù biết rằng một số đồng chí của mình có thể chưa cảm thông, chia sẻ nhưng ông Sáu vẫn mạnh dạn viết lên những lời tâm huyết tự đáy lòng mình về kết quả cuộc chiến tranh khốc liệt hai mươi năm là ““Một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn. Đó là một vết thương chung của dân tộc cần được giữ lành thay vì tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu”.

Đòi hỏi của dân chủ, dân quyền.

Hãy bỏ qua cách phán xét dựa vào thành phần, dựa vào tư tưởng, dựa vào chính kiến. Dù thế nào họ là người Việt Nam và họ đã có cống hiến cho đất nước này, dân tộc này. Trong những giai đoạn khó khăn của đất nước. Đứng trước những hiểm nguy ngàn cân treo sợi tóc, mà Việt Nam đã vượt qua được. Đó là do chúng ta đa thu được lòng dân. Đã thực hiện được: Tất cả đóng góp, cống hiến đều được thừa nhận, bất chấp chính kiến. Cần mở rộng dân chủ để có được lòng tin.

Đòi hỏi của nhìn nhận lại những mối xung đột, bạn thành thù, thù thành bạn. Chúng ta đã trải qua chiến tranh kéo dài. Chúng ta đã có nhiều kẻ thù. Những nỗi đau rồi cũng mờ đi theo thời gian. Những xung đột rồi cũng được cởi bỏ. Những kẻ thù rồi cũng thành bạn bè. Mục đích cuối cùng là để phát triển. Cùng tồn tại để phát triển. Hiểu nhau để phát triển. Khi đã xóa đi hận thù với kẻ thù để thành bạn, vậy lẽ nào giữa người Việt Nam với nhau lại khó hòa hợp. Cần tiến thêm một bước để tạo sự gắn kết dân tộc, và tạo lòng tin trong toàn dân.

Nhà báo Kim Hạnh, Huy Đức và cộng sự đã tổ chức quyên góp thành lập quỹ mua ngôi nhà cho bà quả phụ Ngụy Văn Thà, sĩ quan chỉ huy hải đội Nam VN đã hi sinh trong trận bảo vệ không cân sức đảo Hoàng Sa chống Trung Quốc năm 1974, (và hạm đội 7 của Hoa kỳ ở ngay trên biển Đông không hề ứng cứu) chứng tỏ nhân dân ta đã không bao giờ quên các liệt sĩ dù họ mang mầu cờ sắc áo nào đi nữa trong lịch sử đầy biến động của dân tộc ta.

Việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tỏ lòng tri ân tất cả các chiến sĩ đã hy sinh quên mình bảo vệ biển đảo của chúng ta là việc nên làm, vì sao chậm trễ, là vì nhiều lý do mà chúng ta đều biết. Tuy nhiên, xét hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam hiện nay, ta chưa thể có chính sách giống nhau giữa các chiến sĩ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Việt Nam cộng hòa, tiền tử tuất có thể giống nhau, nhưng giấy chứng nhận có thể khác nhau : Giả dụ : Với các chiến sĩ CHXHCNVN :”Tổ quốc ghi công” và với các binh sĩ VNCH :”Vinh danh”, còn ở dưới là tên người đã hi sinh trong trận chiến đấu bảo vệ Hoàng Sa (và Trường Sa, đối với một số người, chủ yếu là binh sĩ của CHXHCNVN). Nên có một tượng đài chung cho tất cả các thế hệ đã bảo vệ biển đảo của chúng ta (Hoàng Sa và Trường Sa), ở đây là “Tổ quốc ghi công”.

Ở thành cổ Quảng trị có một tượng đài chung cho binh sĩ cả hai miền, nhưng vì cuộc chiến ở đó dữ dội đến mức không thể phân biệt được ai với ai nữa, xác chết chồng chất, lẫn lộn với nhau, người Bắc và Nam VN cùng chết một chỗ! Người dân rất đau lòng, khi nghe nói là người ta đã cho đục hết các dòng chữ vinh danh các chiến sĩ ta đã hi sinh cho tổ quốc trong trận chiến chống quân xâm lược Trung Quốc tấn công chúng ta năm 1979, trong khi phía Trung Quốc vẫn kỷ niệm cho lính của họ ở ngay biên giới với chúng ta. Lịch sử rất công bằng, sẽ không bao giờ quên những kẻ hèn với giặc, ác và vô ơn với dân.

Đòi hỏi nhìn nhận những đóng góp cho đất nước, dân tộc cho dù họ là ai. Chúng ta đã từng quá đề cao những chủ nghĩa, những quan điểm cao siêu. Đất nước, dân tộc đã từng không phải là ưu tiên cao nhất. Nhưng, điều đầu tiên Hồ Chí Minh dạy thiếu niên nhi đồng là “yêu tổ quốc, yêu đồng bào”. Đó là điều mà qua kinh nghiệm lịch sử, chúng ta càng ngày càng thấy thấm thía. Bỏ qua tất cả những xung đột từ đâu đó mang lại. Bỏ qua tất cả những xung đột do lịch sử để lại. Thừa nhận tất cả những công sức của đồng bào ta, của các thế hệ trước. Ta sẽ có được lòng tin và sức mạnh. Và đó mới là điều có ý nghĩa hơn tất cả những điều tưởng như cao siêu từ đâu đó mang tới.

Trên hết, đó là đòi hỏi của sự phát triển đất nước. Nếu có được những điều trên, sẽ thu được lòng tin. Lòng tin là cái mà chúng ta đang cần nhất để phát triển. Để vượt qua bẫy thu nhập trung bình.

Cần có phản biện xã hội để đảm bảo sự đúng đắn về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Ngay từ Đại hội Đảng lần thứ VI đã điều chỉnh nhận thức về công tác dân vận là phải lấy ý kiến của dân trước khi ra quyết định về những chủ trương có liên quan đến quyền lợi chính đáng của người dân. Do đó, phải thực hiện 4 điều là “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Đại hội Đảng lần thứ IX đã tiếp tục nhắc lại việc phải thực hiện 4 điều đó. Thế nhưng, trong thực tế, dường như chỉ mới thực hiện việc “dân làm” mà không thực hiện 3 việc kia!?

Khi đang viết bài này, tôi nhận được thông tin từ ngày 30/9 , hầu hết các đường phố và nhà dân ở Hà Nội đã treo cờ Tổ quốc vì Phường gõ cửa từng nhà, nói rằng Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội yêu cầu treo cờ từ 30-9 đến 10-10 nhân kỷ niệm ngày giải phóng Thủ đô 10-10. Tại sao một ngày kỷ niệm của Hà Nội lại có thể yêu cầu treo cờ lâu thế, lâu hơn bất cứ dịp quốc lễ quan trọng nào, để rồi kéo luôn quốc khánh Trung Quốc (1/10) vào đó? Và lãnh đạo Hà Nội có thấy rằng rất phản cảm khi thủ đô treo cờ vào ngày quốc khánh của Trung Quốc, kẻ đang xâm lấn nước ta không?

Tôi đọc loạt bài viết của ông Nguyễn Trung về đổi mới Đảng cộng sản Việt Nam để phấn đấu trở thành đảng của dân tộc, ngẫm suy gần 40 năm độc lập thống nhất rồi, bây giờ phải đủ tỉnh táo để xót thương thân phận dân tộc mình, từ nỗi đau bị dìm vào cuộc nội chiến hôm qua, để hôm nay tìm đường vượt lên quá khứ, chỉ có thế mới đủ sức đương đầu với mọi thách thức trong hiện tại cho nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Nếu Thủ tướng có thực hiện những điều đã phát biểu thì cũng chẳng phải là quá sớm, và nếu có ai đó không hài lòng, cản trở thì bao giờ cũng không hài lòng, đợi họ là không tưởng và rất bất lợi, tất nhiên, khi đó lượng đã chính thức biến thành chất rồi, quá trình chuyển hóa, tiến lên cùng thời đại dù có nhiều trắc trở, trả giá nhưng không thể đảo ngược.

Thay cho lời kết

Thông điệp đầu năm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, và những lần công khai phát biểu trên diễn đàn Quốc hội và quốc tế về quan điểm bảo vệ chủ quyền, biển đảo của tổ quốc rất hợp lòng người nhưng người dân vẫn mong chờ các lời nói biến thành hành động cụ thể.

Tôi vẫn nhớ trong buổi làm việc riêng chiều tối ngày 5/6/2014 tại Văn phòng Chính phủ, Thủ tướng đã kể phải tự tay tra từ điển để tìm hiểu ý nghĩa của hai từ “viển vông” để nói về tình hữu nghị!. Ông cũng tâm sự dự kiến sẽ phát biểu khi khánh thành công trình nối điện cho đảo Lý Sơn về sự ghi nhớ công lao của đồng bào chiến sĩ hy sinh bảo vệ chủ quyền biển đảo ở Hoàng Sa-Trường Sa dù là người của chế độ Việt Nam cộng hòa và Chính phủ sẽ có chính sách đối với họ vv…

Dù biết rằng thể chế chính trị ở Việt Nam rất phức tạp, nhưng người dân luôn ủng hộ và đánh giá cao lời nói, đi đôi với việc làm của những vị lãnh đạo biết nhìn lại mình và vượt lên chính mình vì quyền lợi của đất nước, của dân tộc.

( Nguồn : basam)

 

Nhà văn Võ Phiến

Chuyện khó tin trong văn học: con đấu tố cha (thời nay)

 GS Nguyễn Văn Tuấn

 Chúng ta biết rằng trong “Cải cách ruộng đất” con đấu tố cha mẹ đã xảy ra, làm đảo lộn đạo lí gia đình xã hội. Người miền Nam đọc chuyện con đấu tố cha mẹ trong CCRĐ thấy quá kinh khủng và thấy mình còn may mắn. Nhưng chưa chắc! Tuần vừa qua giới văn nghệ xôn xao chuyện ông Đoàn Thế Phúc đấu tố cha mình là Nhà văn Võ Phiến (1). Đấu tố ngay trên báo chí trong nước. Chuyện thật khó tin nhưng có thật.

Nhà văn Võ Phiến (tên thật là Đoàn Thế Nhơn), năm nay đã 89 tuổi, là một tên tuổi lớn trong văn đàn. Ông quê quán ở Phù Mĩ (Bình Định), tức là quê ngoại tôi. Tính ra, ông là bà con với Dượng Út tôi (cũng họ Đoàn), người theo ba má ông vào định cư ở Kiên Giang thời xa xưa. Ông từng theo Việt Minh, nhưng sau này thì bỏ Việt Minh vào thành. Ông nhạc phụ tôi biết Võ Phiến khá rõ vì hai người từng phục vụ cùng một cơ quan thông tin trong thời Việt Minh. Ông nhạc tôi rất khen văn tài của Võ Phiến. Ông nhạc tôi cho biết thời đó khi ông Võ Phiến quyết định bỏ trốn Việt Minh, ai cũng tiếc vì ông là người có tài. Mà, đúng là có tài, vì khi vào Sài Gòn ông trở thành nhà văn nổi tiếng ở miền Nam. Lúc ra hải ngoại ông vẫn âm thầm sáng tác và đóng góp cho văn học.

 Ông là một trong những nhà văn tôi mến mộ qua những tác phẩm đồ sộ của ông. Tôi có trọn bộ “Văn học miền Nam” (6 cuốn) do ông soạn sau khi định cư ở Mĩ. Đó là một công trình để đời. Đó là công trình đáng lẽ thế hệ sau này nên khai thác và nghiên cứu thêm, vì sau 1975 chính quyền mới đã đốt sách hay xoá bỏ quá nhiều tác phẩm có giá trị thời trước 1975. Công việc của Võ Phiến đáng quí ở chỗ đó: ông chắt chiu, chọn lọc và bình kí những tác phẩm nổi tiếng ở miền Nam thời xưa mà bây giờ ít ai biết đến.

Theo tôi biết, sau 1975 những tác phẩm của Võ Phiến bị cấm phát hành. Mãi đến năm 2012 hay 2013 mới có nhà xuất bản giới thiệu 2 cuốn sách cho bạn đọc trong nước (thật ra là sách in trước 1975). Nhưng nhà xuất bản không dám đề tên Võ Phiến, mà chỉ đề tên tác giả “Tràng Thiên” lạ hoắc.

Tưởng rằng những tác phẩm của ông dần dần sẽ về “cố hương”, ai dè ông con của ông là Đoàn Thế Phúc (bút danh Thu Tứ) “phang” một bài chỉ trích ông một cách tán tận. Bài “Trường hợp Võ Phiến” được đăng trên báo Văn nghệ. Bài viết dùng một loại “văn chương đấu tố” mà chúng ta hay thấy trong thời Cải cách ruộng đất. Ông Thu Tứ viết rằng cha ông là một người chống cộng cực đoan (“nhà văn Võ Phiến đã chống cộng cực đoan hơn là những người cộng sản Việt Nam ứng dụng chủ nghĩa cộng sản”), một người có lập trường chính trị chông chênh, một kẻ “yêu nước tự ti”. Ông kết luận về sự nghiệp của cha mình rằng “Sai lầm chính trị đã đưa tác phẩm Võ Phiến ra khỏi lòng dân tộc.”

Thoạt đầu đọc bài này tôi nghĩ ai đó trùng tên, chứ không thể nào con mà đấu tố cha như thế. Nhất là con là một người có học thức đàng hoàng, từng được đi du học ở Mĩ và có sự nghiệp ổn định. Nhưng quả thật, Thu Tứ chính là con của Nhà văn Võ Phiến. Không ai hiểu nổi tại sao con mà đấu tố cha thậm tệ như thế. Có phải là một bài viết được đặt hàng, hay tự nguyện. Dù là đặt hàng hay tự nguyện thì vẫn là một vết nhơ khó rửa sạch. Nhà văn Lê Tất Điều (aka Kiều Phong), một văn hữu của Võ Phiến, mới có một bài trả lời đích đáng đứa con ngỗ nghịch, và chỉ ra những cái sai của Thu Tứ (2). Lê Tất Điều viết một câu chí lí:

“Bài viết của cháu không thuyết phục được ai, như con dao cùn, người bị đâm không thấy đau, chỉ tức cười. Nhưng vị thế hiện nay của cháu – con trai nhà văn Võ Phiến, được ủy quyền quản thủ gia tài văn chương – cho phép cháu tha hồ phá hoại. […] Do đó, qua điện thoại, chú đã yêu cầu mẹ cháu giúp bố làm thủ tục truất quyền “thừa hưởng và quản thủ tài sản văn chương Võ Phiến” của cháu. Nếu vì thương con, bà không chịu làm việc ấy, chú sẽ đoạn giao. Dù rất thương kính ông bà, chú không thể ngồi yên chứng kiến cảnh một tên công an văn hóa được ông bà dung dưỡng, che chở, tiếp tục tàn phá, hủy diệt những di sản tinh thần quý giá của dân tộc.”

Xin nói thêm Nhà văn Lê Tất Điều là người có sách được trao giải “Sách Hay” năm 2013. Chưa thấy Thu Tứ lên tiếng. Cũng chưa thấy Nhà văn Võ Phiến nói gì.

Nghĩ lại thấy tiếc cho những văn nghệ sĩ có tài ở miền Nam trước 1975. Những tác phẩm của họ bị cấm đoán, vùi dập, thậm chí bị đốt, trong một thời gian dài. Nhạc sĩ Phạm Duy, một cây đại thụ trong âm nhạc với hàng ngàn sáng tác, vậy mà đến ngày ông chết cũng chỉ ra mắt khán giả độ 100 bài. Đó là chưa kể đến những dèm pha và chỉ trích ông phải hứng chịu suốt thời gian về sống ở VN. Điều khôi hài là có người thậm chí viết bài tố cáo rằng ca khúc “Mùa thu chết” (ông phổ thơ Apollinaire) là nói xấu Cách mạng Tháng Tám! Ngớ ngẩn đến như thế mà được đăng báo! Võ Phiến cũng giống như Phạm Duy trong văn học, tức là một cây đại thụ với gia tài sáng tác đồ sộ, nhưng ông không may mắn như Phạm Duy. Mãi đến những năm cuối đời, tác phẩm của ông mới được rón réng tái ra mắt đồng hương. Nhưng chưa chi thì lại gặp những “sự cố” bẩn thỉu như trường hợp Thu Tứ tố cáo cha mình. Con đường qui cố hương của các tác phẩm trước 1975 ở miền Nam xem ra còn khá gập ghềnh.

( Nguồn: basam)

 

Bài thơ viết trên trận địa pháo Ô Cách trong những ngày đầu tiếp quản Hà Nội

 QTXMChúng tôi đã đăng bài Bí ẩn bức hình một người lính điện biên thời cải cách ruộng đất  giới thiệu Đại tá Lê Phương  là một trong những chiến sĩ “cao xạ pháo” đầu tiên của Quân đội nhân dân VN thuộc “Trung đoàn Pháo cao xạ 367″ đánh trận Điên Biên Phủ. Hòa bình lập lại, ông cùng đồng đội tiến quân về tiếp quản, bảo vệ bầu trời Thủ đô Hà Nội ngay từ ngày đầu tiên 10/10/1954 ở trận địa pháo Ô Cách – Gia Lâm. Bên mâm pháo sau giờ trực chiến, Lê Phương viết bài thơ “Quê hương” chan chứa tình yêu quê hương đất nước. Nhân 60 năm tiếp quản Hà Nội (10/10/1954 – 10/10/2014), QTXM xin giới thiệu bài thơ củaĐại tá Lê Phương

   

 QUÊ HƯƠNG 
(Trích)
 Kính tặng Hòa Ninh, Mẹ và Hoàng Sơn Thu 
                           
                                             alt                                                  
Đại đội trưởng Lê Phương (trái) cùng đồng đội trên Cầu Thê Húc (Đền Ngọc Sơn). 
 

(Đọc tiếp…)

CHND Trung Hoa, thể chế bị căm ghét nhất trên hành tinh này

 
Mai Tú Ân/ FB Mai Tu An
Nhân chuyện biểu tình chống Trung Cộng ở ngay “quốc nội” Hồng Kông, ta điểm qua các kẻ thù của chế độ XHCN Trung Cộng vào lúc này. Với biên giới dài hàng chục ngàn km, giáp ranh với 14 quốc gia lớn nhỏ thì tuyệt đại đa số đó đều là những biên giới “không bình yên”, hoặc tiềm năng “không bình yên”.

  Các chính sách Đại Hán, chỉ biết có lợi, ngông cuồng nên trong 14 nước có chung biên giới thì chỉ còn lại có Pakistan là có quan hệ hữu hảo, trước đây có CHDCND Triều Tiên, nhưng từ ngày chú Ủn lên cầm quyền thì đã diễn ra cảnh cơm canh không ngọt, suýt dẫn tới oánh nhau với Trung Cộng.
 Nhưng diễn biến tình hình mới nhất thì Pakistan, xứ Hồi giáo “sớm đầu tối đánh” cũng đang muốn quay cờ vì phản đối TQ đàn áp Hồi giáo. Vậy là chẳng còn em nào hòa thuận với anh TC…
 Nhìn ra biên giới biển thì biển Hoa Đông có vụ Điếu ngư đài tranh chấp với Nhật Bản. Biển Đông thì có các em Việt Nam, Philippines… tranh chấp Hoàng Sa.
 Các xứ Hồi thuộc Liên Xô cũ có chung biên giới với TQ như Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan…đang công khai hoặc bi mật ủng hộ cho phong trào đòi độc lập cho xứ Hồi Tân Cương, Duy Ngô Nhĩ….đang bạo động với các vụ tấn công liều chết đẫm máu…
 Rồi phong trào đòi độc lập của xứ Tây Tạng đã kéo dài hơn 50 năm nay với Lãnh tụ sáng chói Đức Lạt Lai Lạt Ma…
 Rồi Pháp Luân Công càng bị đàn áo càng phát triển và hiện có hơn 100 triệu tín đồ…
 
 Rồi 50 triệu Hoa Kiều sống ở gần 200 nước trên thế giới, tuyệt đại đa số đều chống lại chế độ hiện nay ở Bắc Kinh…
 Và cuối cùng thì xứ nhỏ bé nhưng giàu có Đài Loan, nơi mà chính thể Quốc Dân Đảng (năm tới bầu cử sẽ giành quyền trở lại) là một chính thể duy nhất trên hành tinh này thề rằng, và viết trong cả Hiến Pháp rằng sẽ thống nhất với Trung Hoa lục địa sau khi tiêu diệt ĐCS và nhà nước CS hiện nay ở Trung Hoa.
 Chẳng có gì để mà đi theo cái chính thể nhà nước mà cả Trời Đất, cả nhân loại không dung đó nữa…

 

Ông Hồ Xuân Mãn đã làm hư hỏng cán bộ Thừa Thiên Huế như thế nào?

Hồ Xuân Mãn làm bí thư tỉnh ủy, ủy viên trung ương đảng 2 nhiệm kỳ, cho nên dân Huế nói đến Hồ Xuân Mãn là đụng tới quyền lực và tiền.

Nổi tiếng nhất là vụ Hồ Xuân Mãn dùng quyền để làm báo cáo xin phong tặng AHLLVTND. Tất cả có 17 thành tích thì 8 thành tích cướp công đồng đội, 7 thành tích khai khống. Khi đưa về huyện để làm thủ tục, người ký không được đọc, chỉ ký thôi, ký xong không được để lại bản lưu. Ở cấp tỉnh, thường vụ tỉnh ủy, cũng sợ Mãn nên phải làm theo, hội đồng thi đua khen thưởng của tỉnh không họp cũng được chỉ đạo làm biên bản và tờ trình… vi phạm các quy định của Luật thi đua khen thưởng. Có người còn ký xác nhận vào thành tích gian dối của Mãn dù họ không biết gì về thành tích của Mãn.

Bản chất của Mãn là độc đoán, gia trưởng, bản vị, tham lam, háo sắc. Khi nắm quyền cao nhất tỉnh, ông dùng quyền của mình làm hư hỏng cán bộ Thừa Thiên Huế, chỉ dùng họ hàng và những kẻ xu nịnh mình. Bà Hoàng Thị Cam vợ ông là một ví du. Bà là du kích trong kháng chiến chống Mỹ, sau giải phóng làm mậu dịch viên của công ty thương nghiệp Hương Điền, trình độ văn hóa chưa học hết tiểu học, vì thế phải nghỉ chế độ 176. Vậy mà, ông Mãn dùng quyền lực làm chế độ hưu trí và đưa vợ trở thành thành viên Ban sáng lập trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu, và làm Chủ tích hội đồng quản trị của Công ty lâm nghiệp 1 tháng 5 do Hoàng Bàng làm giám đốc.

Còn Hồ Xuân Phán, em ruột Mãn, trong chế độ cũ là đoàn viên nhân dân tự vệ, cùng cha là Hồ Bàng làm toán trưởng bình định cầm súng chống lại cách mạng. Thành tích lớn đến nỗi chính quyền Thiệu tặng cho ông Hồ Bàng một chiếc máy cày. Được các chiến sĩ cách mạng ở Phong An đưa Phán lên rừng làm du kích. Hòa bình Phán về làm bưu điện, năm 1995 được bổ nhiệm làm Trưởng phòng Bưu điện huyện Phong Điền, dẫu chưa học xong chương trình cấp II. Muốn cho em mở mặt, Mãn đã đưa ông Phán lên làm Bí thư Đảng ủy Bưu điện tỉnh kiêm Trưởng phòng tổ chức rồi về làm Giám đốc Sở thông tin truyền thông, dù chẳng có chút chuyên môn nghiệp vụ gì? .

Vụ ông Hồ Xuân Mãn đứng ra lo cho thông gia là Giám đốc cảng Thuận An thoát tội khi cho chiếc tàu 06 sang Trung Quốc buôn lậu, tàu chìm gần 10 người chết…làm dư luận bức xúc. Con rể ông Mãn tên là Phương tốt nghiệp đại học không xin được việc làm, được cha cho xuống cảng làm việc. Trở thành con rể, ông Mãn cho Phương về Phòng Kế hoạch Tài vụ Sở giao thông Vận tải, lên phó phòng, trưởng phòng rồi Phó giám đốc Sở… bằng những “thủ thuật” tinh vi. Có quyền trong tay, lại có ô dù, Phương trở nên cao ngạo không coi ai ra gì. Mất uy tín ở Sở giao thông Vận tải, ông Mãn dùng quyền “điều” con rể ra làm chủ tịch huyện Hương Trà. Thời gian làm chủ tịch huyện ở đây, con rể ông Bí thư vi phạm nhiều vụ việc về đất đai gây hậu quả nghiêm trọng đến nay giải quyết chưa xong. Đã không bị kỉ luật, Phương được bổ nhiệm làm Phó giám đốc Sở kế hoạch và Đầu tư chuẩn bị cho bước tiến cao hơn. Trước khi về hưu, ông Mãn tổ chức quy hoạch và cơ cấu cán bộ, đưa con rể vào diện quy hoạch cán bộ nguồn, hiện đang học lớp đào tạo cán bộ nguồn chiến lwocj ở Trung.

Ở Thừa Thiên Huế có nhà hàng Hồ Văn Minh tại Phú Thượng, huyện Phú Vang (cha Minh là đại úy ngụy). Tại đây, khi nhậu nhẹt đã đời, ông Mãn đã ôm hôn một cô gái phục vụ trong nhà hàng,  bị cô gái ấy cho ăn một cái tát nổ đom đóm mắt… báo chí lên tiếng ầm ĩ. Để mua sự im lặng ông Mãn đã cho tay chân tới tận nhà cô gái đưa cho cô một khoản tiền lớn để cô chuyển vào Lâm Đồng. đồng thời cấp cho Hồ Văn Minh 2 miếng đất, một mảnh gần 3.000 mét vuông và một mảnh gần 8.000 mét vuông, toàn loại nhất đẳng điền ở thôn Giáp Nhì, xã Hương Vân, Hương Trà để Minh xây dựng khu dịch vụ Massage, karaoke và hoạt động kinh doanh.

Có quyền trong tay, ông Mãn làm nhiều việc bất chấp nguyên tắc, chỉ đạo Sở công an phong cho Trần Công Phú là con cô, con cậu quân hàm đại úy, và đề bạt làm Phó phòng an ninh. Ngồi chưa ấm chỗ, ông Phú được đề bạt làm Phó Giám đốc Sở ngoại vụ dù không biết ngoại ngữ. Rồi trường hợp của Nguyễn Viết Hoạch, có  ông nội là lý trưởng gian ác, cha là thành viên tích cực Đảng Cần lao của Diệm, chú là cảnh sát ngụy có nợ máu… Vậy mà ông Mãn đã cho Hoạch về Phong Điền đưa lên làm chủ tịch huyện. Tại đây, ông Hoạch dùng vốn vay để hỗ trợ người nghèo trồng rừng cảu vB và JBIC và 3.204 héc-ta rừng giao hết cho hàng ngũ cán bộ huyện cùng ê kíp và bà con của mình. Để che chở cho Hoạch, ông Mãn lại điều Hoạch lên làm Phó Giám đốc Sở nông nghiệp và PTNT, kiêm Cục trưởng Cục Kiểm lâm. Dân gọi đây là vụ Hồ Xuân Mãn đưa tên “địa tặc” huyện lên làm “lâm tặc” tỉnh.

Chuyện Huỳnh Ngọc Sơn được sự nâng đỡ của Hồ Xuân Mãn, làm Phó phòng rồi Trưởng phòng thuế đến nay dư luận còn râm ran. Để trả ơn,  biết ông Mãn thích đánh bạc, Sơn mở sòng bạc tại nhà, rồi cung cấp tiền cho ông Mãn chơi. Được phong Cục trưởng Cục thuế Huỳnh Ngọc Sơn có nhiều sai phạm trong quản lí thuế, làm thất thoát tới 70 tỉ đồng. Không những không bị kỉ luật Huỳnh Ngọc Sơn được đề bạt làm Giám đốc Sở Tài chính rồi vào tỉnh ủy. Hay như  Nguyễn Hữu Trân còn được Mãn trước giải phóng chỉ là một anh thợ mộc mới học xong cấp II, là liên toán trưởng nhân dân tự vệ, được chính quyền ngụy đánh giá là một người lính tin cậy. Sau giải phóng, làm thế nào Nguyễn Hữu Trân trở thành cán bộ cốt cán của phường Thuận Hòa, rồi được bầu làm bí thư. Dưới bàn tay “đạo diễn” của Bí thư Tỉnh ủy , ông Trân làm Phó Giám đốc Sở Thương mại, kiêm Cục Trưởng Cục Quản lí thị trường, không lâu sau ngồi vào ghế Phó Chủ tịch tỉnh, Tỉnh ủy viên Trưởng ban Quản lí các khu công nghiệp của tỉnh..

Chuyện Hồ Xuân Mãn dùng quyền lực với danh nghĩa là luân chuyển cán bộ làm nhiều người không dám đấu tranh gì cả, thậm chí còn thỏa hiệp để cùng hưởng lợi… Vì vậy, nói Hồ Xuân Mãn đã làm hư hỏng đội ngũ cán bộ ở Thừa Thiên Huế là do thế.

( Nguồn: người cao tuổi)  

 

Khẩu chiến Việt-Trung tại Liên Hiệp Quốc về Biển Đông

Trọng Nghĩa 

 

clip_image002

Ngoại trưởng Việt Nam Phạm Bình Minh phát biểu trước Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, ngày 27/09/2014. Reuters

  Tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc, ngày 27/09/2014, Ngoại trưởng Trung Quốc Trung Quốc đã cho rằng cần phải áp dụng luật lệ quốc tế để giải quyết các tranh chấp, nhưng không hề nhắc tới Biển Đông, nơi Bắc Kinh bị tố cáo là coi thường luật lệ quốc tế. Trong phát biểu sau đó, Ngoại trưởng Việt Nam đã nêu bật tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc để xác định rằng mọi nước lớn nhỏ đều phải từ bỏ việc dùng võ lực trong việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ.

Do một sự trùng hợp ngẫu nhiên của chương trình nghị sự, đại diện Trung Quốc và Việt Nam đã cùng phát biểu trong một phiên thảo luận cấp cao trong khuôn khổ Khóa họp thứ 69 của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc tại New York.

Được lên tiếng trước, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị đã lập lại quan điểm cố hữu của Bắc Kinh theo đó các nguyên tắc về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ phải được tôn trọng, do đó cần phải áp dụng luật lệ quốc tế một cách «công minh và đúng đắn» trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu.

Ngoại trưởng Trung Quốc đã nêu lên trường hợp Gaza, Irak, Cộng hòa Trung Phi và Nam Sudan, nhưng lại không nói gì về các tranh chấp chủ quyền trên biển giữa Trung Quốc với các láng giềng, đặc biệt là với Việt Nam hay Philippines tại Biển Đông, nơi Bắc Kinh bị tố cáo là không ngần ngại ỷ thế nước lớn dùng sức mạnh để áp đặt các đòi hỏi chủ quyền rộng khắp, mặc nhiên coi thường luật pháp quốc tế.

Nếu Trung Quốc cố tình không nói đến Biển Đông, thì ngược lại Việt Nam, qua phát biểu của Ngoại trưởng Phạm Bình Minh ít phút sau đó, đã công khai nêu vấn đề Biển Đông thành ví dụ về việc không được dùng võ lực để giải quyết tranh chấp chủ quyền.

Ngoại trưởng Phạm Bình Minh đã dành riêng một đoạn trong bài phát biểu để nêu lên tranh chấp Biển Đông và lập trường tôn trọng luật lệ quốc tế của Việt Nam: «Chúng tôi kiên trì lập trường nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia, giải quyết bất đồng, tranh chấp trong quan hệ quốc tế, trong đó có vấn đề Biển Đông, bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, Công ước Luật biển 1982, nghiêm túc thực hiện Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và phấn đấu sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC)».

Các nước không phân biệt lớn nhỏ đều phải tôn trọng luật pháp quốc tế

Phần đề cập đến Biển Đông được ông Phạm Bình Minh đưa ra sau khi ông bày tỏ quan ngại về các «nguy cơ tiềm ẩn về tranh chấp chủ quyền lãnh thổ», đe dọa hòa bình và ổn định.

Theo Ngoại trưởng Việt Nam: «Những con đường dẫn đến chiến tranh và xung đột đều xuất phát từ học thuyết đã lỗi thời về chính trị cường quyền, từ tham vọng thống trị và áp đặt, và từ việc đe dọa sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp quốc tế, bao gồm các tranh chấp liên quan đến chủ quyền lãnh thổ».

Do đó, đối với ông Phạm Bình Minh, tất cả các nước «không phân biệt lớn – nhỏ, giàu – nghèo đều phải tôn trọng và thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc, chuẩn mực, quy định của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên Hiệp Quốc. Tất cả các quốc gia cần từ bỏ việc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế và thúc đẩy giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình».

Trong bài tường trình về cuộc khẩu chiến gián tiếp giữa Việt Nam và Trung Quốc tại nghị trường Liên Hiệp Quốc vào hôm qua, Thông tín viên báo Philippines Rappler tại New York đã mỉa mai tuyên bố của Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị khi nhận định như sau:

«Sau khi cho tàu tiến vào vùng biển đang tranh chấp ở Biển Đông, và cho xây dựng cơ sở tại đấy, Trung Quốc lại nói là cần phải có luật lệ «công bằng và đúng đắn» để giải quyết các tranh chấp toàn cầu… Quốc gia bị cáo buộc không chấp hành luật pháp quốc tế khi đòi hỏi chủ quyền quá đáng trên Biển Đông lại kêu gọi cộng đồng quốc tế sử dụng luật lệ ‘công bằng và đúng đắn’ trong việc giải quyết tranh chấp».

T.N.

Nguồn: http://vi.rfi.fr/viet-nam/20140928-khau-chien-viet-trung-tai-nghi-truong-lien-hiep-quoc-ve-bien-dong/

 

Báo Đài Loan: Ông Kim Jong-Un có thể đang bị quản thúc tại gia

Ông Kim đang bị giới quân sự kiểm soát?
 
Ông Kim đang bị giới quân sự kiểm soát?
 

Trong những ngày qua, dư luận thế giới rất quan tâm đến sự vắng mặt khá dài một cách bất thường của lãnh đạo CHDCND Triều Tiên Kim Jong Un. Trang Want China Times của Đài Loan (TQ) còn dẫn tin tờ trang Duowei News xuất bản tại Mỹ cho hay ông Kim vắng mặt không phải vì lý do sức khỏe mà vì chính trị.

 

Trong phiên họp quốc hội ngày 25.9, ông Kim vắng mặt và phó nguyên soái Hwang Pyong-so, đồng thời cũng là nhân vật số 2 trong Ủy ban Trung ương Đảng Lao động Triều Tiên đã được bổ nhiệm làm Phó Chủ tịch quân ủy trung ương để trở thành người dưới một người, trên muôn người ở Triều Tiên. 

 

Theo Duowei, việc bổ nhiệm này đáng ra phải được thông qua bởi chủ tịch Kim nên việc ông Hwang được thăng chức trong lúc ông Kim vắng mặt là bất thường.

 

Bổ nhiệm Hwang là Phó chủ tịch Ủy ban quân ủy trung ương đã hoàn tất một cuộc cải tổ quan trọng trong quân đội Triều Tiên sau khi phó nguyên soái Choe Ryong-hae (từng được coi là nhân vật số 2 tại Triều Tiên) và Bộ trưởng Quốc phòng Jang Jong-nam bị buộc rời Quân ủy trung ương Triều Tiên vào tháng 5.
Truyền thông nhà nước Triều Tiên sau đó đã thừa nhận rằng ông Kim đang “khó ở” như lý do cho sự vắng mặt khá lâu trước công chúng. Còn trang Duowei tuyên bố rằng lý do thực sự khiến ông Kim không được nhìn thấy kể từ 3.9 là do sự bất ổn nghiêm trọng trong chính trị Triều Tiên.
Trích dẫn tin đồn từ giới chính trị Triều Tiên, Duowei cho rằng ông Kim có thể đã bị phó nguyên soái Hwang quản thúc tại gia. Duowei cũng cho rằng ông Hwang đã buộc ông Kim phải nâng mình lên vị trí nhân vật quan trọng số 2 tại Triều Tiên như một phần trong kế hoạch để cuối cùng chiếm đoạt “ngai vàng của ông Kim”.
Theo Duowei News, ônng Kim đã phải vật lộn để giữ quyền lực sau khi người cha là ông Kim Chính Nhật (Kim Jong-il) qua đời vào cuối năm 2011. Trong cuộc đấu đá quyền lực, ông  Ri Yong-ho, tham mưu trưởng Quân đội Triều Tiên, đã buộc phải nghỉ hưu vì lý do sức khỏe vào năm 2012 và  Duowei cho rằng nó là kết quả của một cuộc đấu tranh quyền lực nội bộ giữa Ri và phó nguyên soái Choe.
Đến lượt mình, Choe lại mất chức trong cuộc đấu với phó nguyên soái Hwang. Kể từ khi ông Kim xử tử người dượng Jang Sung-taek vì tội phản quốc vào cuối năm ngoái, ông đã tiếp tục đặt thêm quyền lực trong tay phó nguyên soái Hwang. Duowei nói rằng đó có thể là nước cờ sai lầm của ông Kim. Tuy nhiên, Duowei cũng cho rằng ông Kim có thể không có nhiều sự lựa chọn khi phải đối mặt với người dượng Jang và phó nguyên soái Choe nên đành phải tin tưởng vào Hwang.
Vấn đề phức tạp hơn nữa là có tin đồn rằng Kim Jong-nam, con trai cả của ông Kim Jong-il, đang muốn lật đổ em trai lấy lại “vương vị”. Tháng 9 năm ngoái, Kim Jong-nam đã gửi con trai mình tức cháu đích tôn của ông Kim Jong-il là Kim Han-Sol, đến Paris để học tiếng Anh, luật, chính trị và quan hệ quốc tế. Điều đó dấy lên nghi ngờ cho rằng ông Kim Jong-nam có thể đặt nền móng cho một cuộc đảo chính trong tương lai và đưa con trai mình “lên ngôi”.
Dù sao Triều Tiên cũng bị ảnh hưởng bởi tư tưởng tôn trọng “dòng đích” trong việc kế vị. Dù ông Kim Jong-nam không được ông Kim Jong-il coi trọng nhưng Kim Han-Sol vẫn là đích tôn mang trong mình dòng máu Bạch Đầu.

Anh Tú
(Theo WCT)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 28.09.2014

HOÀNG GIÁP NGUYỄN KHẮC NIÊM VÀ 16 CHỮ VÀNG

Cụ Nguyễn Khắc Niêm

    HOÀNG GIÁP NGUYỄN KHẮC NIÊM VÀ 16 CHỮ VÀNG

                                                                                 Ngô Minh

Cụ Nguyễn Khắc Niêm sinh năm 1889 ( Kỷ Sửu), quê làng Gôi Vị, nay là xã Sơn Hòa, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Cụ mất năm 1954 trong CCRĐ. Năm 1907, cụ thi đậu đệ nhị giáp tiến sĩ ( gọi là Hoàng Giáp. Thi đình do vua chủ khảo, chọn ra Hoàng Giáp, Thám hoa, Bảng nhỡn, Trạng nguyên), khoa thi đình năm Đinh Mùi tại Huế, khi 18 tuổi. Đó là học vị cao nhất thời đó mà cụ đã đỗ đạt lúc còn rất trẻ . Cụ Cao Xuân Dục (1843- 1923), một vị đại khoa, đại quan triều Nguyễn , học giả, nhà văn hóa, nhà văn Việt Nam đã nhận xét về Hoàng Giáp Nguyễn Quân ( Khắc Niêm) :” Người có đức thì lời văn thuần nhất, người có học vấn thì tri thức toàn diện, người có lý lẽ minh bạch thì sách luận khúc chiết. Ở Nguyễn Quân hội đủ tất cả những điều trên. Văn là người. Gọi Nguyễn Quân ( Khắc Niêm) là một trang thiếu  niên anh tuấn cũng đáng mà gọi là một bậc lão thành cũng không phải là không xứng”. Cụ Hoàng Hương Sơn đã nhận nhiều trọng trách quan trọng trong triều đình Huế : Tư nghiệp Quốc Tử giám, Tham tri Bộ Hình , Tuần vũ Khánh Hòa, hai lần Phủ doãn Thừa Thiên, Bố chánh Nghệ An. Tháng 8-1941 ông giữ chức quyền Tổng đốc Thanh Hóa. Đến 2-1942, cụ xin nghỉ hưu về quê bốc thuộc chữa bệnh cho người nghèo. Chủ tịch Ủy ban nghiên cứu cải lương hương ước ở Huế.v.v..Cụ có tên trong bia tiến sĩ Văn Miếu Huế. Cuốn sách 256 trang gồm phần giới thiệu tiểu sử, những sáng tác thơ phú, hoành phi, câu đối của Cụ và phần bài nghiên cứu bình luận của các học giả Cao Xuân Dục, Sơn Tùng, Trà Sơn Phạm Quang Ái, Nguyễn Trọng Thư, Vũ Ngọc Khánh, Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Khắc Dương…về đạo đức, nhân cách và chữ nghĩa của Cụ , cho ta hình dung ra Cụ Hoàng Hương Sơn là một ông quan phẩm tiết, chính trực,  liêm khiết và yêu nước. (Đọc tiếp…)

GS Tương Lai

Mặt trận phải tập trung giám sát và phản biện vào đường lối, chủ trương và giải pháp cứu nước, chống Trung Quốc xâm lược

(Phát biểu của GS Tương Lai tại Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ 8 )

Tương Lai

  Kính thưa các cụ,

Thưa ông Chủ tịch Mặt trận, thưa quý vị

  Đến hẹn lại lên, tôi xin được phát biểu hai vấn đề, nhưng tuy hai mà một. Và có lẽ đây là lần cuối có mặt ở diễn đàn Mặt trận, tôi xin phép nói dài một chút, đương nhiên cũng chỉ trên 15 phút chút ít.

1. Vấn đề quan trọng nhất cần tập trung phản biện và giám sát là gì?

Văn kiện của Mặt trận ghi là giám sát và phản biện, tôi đảo ngược lại để nhấn mạnh rằng thế là cuối cùng cái gì cần đến rồi cũng phải đến. Chỉ có điều “hơi bị lâu”. Và người gánh chịu hệ lụy đó là dân, là người dân trong sự lạc hậu của đất nước nghìn năm văn hiến này!

Giáo sư Lưu Văn Đạt luôn nhắc tôi anh đừng nôn nóng, vì những tham luận, phát biểu của tôi tại diễn đàn Mặt trận, các Hội thảo do các Hội đồng Tư vấn chủ trì, mà riêng cụ Đạt làm chủ tọa thì đã có ba cuộc trong suốt nhiệm kỳ qua, và ngay cả trong nhiệm kỳ trươc nữa, đều quyết liệt nói đến sứ mệnh phản biện của Mặt trận. Quyêt liêt đến độ tôi nói rõ phải thực thi chức năng phản biện nếu Mặt trận không cam chịu làm một thứ cây kiểng vô duyên được nuôi trồng bằng tiền thuế của dân. Và rồi những tham luận hay gọi là “báo cáo khoa học” ấy đều được lưu trong ngăn kéo, chắc là ngăn kéo của ông Tổng Thư ký Vũ Trọng Kim.

Cụ Đạt dạy chí phải: trên chưa cho! “Trên” là “trên” nào đây?

Tôi đành tự an ủi trong niềm ưu tư “Xanh kia thăm thẳm từng trên. Vì ai gây dựng cho nên nỗi này”. “Nên nỗi này” không chỉ là lời của tác giả Chinh phụ ngâm! Một kẻ hậu sinh sống trong thế kỷ XXI này là anh Bảy Nhị, nguyên Chủ tịch An Giang có bài viết ngày 21.6.2012 với cái tít rớm lệ “Nước non mình đến nỗi này sao!”. Tôi đọc mà những muốn khóc theo, cố thử hình dung tâm trạng của ông bạn tôi,vốn quen lội ruộng hơn ngồi trước bàn cầm bút này, liệu có như tâm trạng nàng Kiều “một cung gió thảm mưa sầu, bốn dây rỏ máu năm đầu ngón tay” khi viết những dòng này không? Trong nỗi niềm ấy, trước diễn đàn này tôi kiến nghị: nội dung, phương thức phản biện và giám sát của Mặt Trận cần tập trung vào cái chuyện lớn đó, làm rõ nguyên nhân cơ bản ở tầm vĩ mô, cũng như những chủ trương, đường lối, giải pháp của từng thời đoạn để chỉ rõ “nước non mình” vì sao mà “đến nỗi này”.

Nỗi” làm sao? “Nỗi này” là cái nỗi gì?

Xin không vòng vo ẩn dụ nữa: “Cách đây bốn, năm mươi năm, Việt Nam và Hàn Quốc có trình độ phát triển tương đương. Sau mấy mươi năm, tôi rà lại tư liệu thì thấy Hàn Quốc hiện có khoảng 90.000 người sống tại Việt Nam và Việt Nam cũng có 90.000 người sống ở Hàn Quốc. Chỉ khác nhau ở chỗ hầu hết người Hàn Quốc tại Việt Nam làm ông chủ, làm quản lý, còn người Việt Nam ở Hàn Quốc thì chủ yếu làm ôsin. Nghe mà xót lòng”. Đây là nỗi “xót lòng” của ông Vũ Ngọc Hoàng, Phó ban thường trực đã nói trong Hội nghị toàn quốc hướng dẫn tổ chức kỷ niệm 45 năm thực hiện di chúc do Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức. (Tuổi trẻ. 21.8.2014). * Xem phụ lục

Nỗi “xót lòng” đó càng như bị xát muối thêm bởi mấy con số do ILO (Tổ chức Lao động quốc tế) công bố về năng suất lao động của Việt Nam năm 2013 thuộc nhóm thấp nhất Châu Á-Thái Bình Dương: thấp hơn Singapore 15 lần, Nhật 11 lần, Hàn Quốc 10 lần, bằng 1/5 Malasia và 2/5 Thái Lan! Ấy thế mà bài học của một thời phải thuộc nằm lòng cái nguyên lý cơ bản về năng suất lao động là cái quyết định làm cho chủ nghĩa xã hội hơn chủ nghĩa tư bản. Thua chủ nghĩa tư bản về năng suất lao động nhưng Việt Nam ta lại hơn đứt họ về sự chơi sang của giới qu‎ý‎ tộc mới. Thì đây: báo Tuổi Trẻ đăng một bài viết về cửa hàng Hermes ở Hà Nội nhập về mười bộ túi xách thời trang mới nhất. Mỗi bộ gồm bốn chiếc mang bốn màu khác nhau. Giá của một bộ bốn chiếc túi này là 1.400.000 USD (tương đương 29 tỷ đồng Việt Nam), và người ta chỉ bán bộ chứ không bán lẻ! “Loáng một cái là hết sạch. Nhiều người còn trách móc tay quản lý cửa hàng là sao không để dành cho mình. Hỏi ai trách? Trả lời “Các quý phu nhân và các quý tiểu thư”. Xin biết cho rằng Hiệp hội Hàng xa xỉ thế giới đã xếp Hermes đứng đầu bảng trong danh mục các nhãn hiệu xa xỉ và ông Patrick Thomas, chủ tịch tập đoàn này khẳng định: “Hermes tại Việt Nam vẫn tăng trưởng đều từ 20-30% trong những năm qua!

Có nghĩa là những người tiêu thụ hàng xa xỉ bậc nhất thế giới ở Việt Nam sẽ tăng trưởng đều đều, điều này tỷ lệ thuận với tham nhũng khi mà đất nước đã sập bẫy thu nhập trung bình với những chỉ báo rất rõ như: tăng trưởng GDP của Việt Nam chậm lại, năng suất lao động kém, chuyển dịch cơ cấu chỉ mang tính hình thức, trì trệ trong các bảng xếp hạng toàn cầu và đã gặp các vấn đề nảy sinh do tăng trưởng như ô nhiễm, tham nhũng, bong bóng bất động sản, chênh lệch giàu nghèo…

Đương nhiên, phản biện tuyệt đối không chỉ moi móc cái xấu, cái dở mà phải biết chắt chiu từng điểm sáng, những khởi sắc có sức sưởi ấm lòng người như chuyện con đường Nội Bài-Lào Cai vừa thông xe cách đây 4 hôm mở ra một viễn ảnh sáng sủa cho cả một vùng Tây Bắc giàu tiềm năng chẳng hạn. Phải chắt chiu, vì chúng rất quý và hiếm giữa những mảng tối tràn lan.

Nhưng chắt chiu từng điểm sáng không mâu thuẫn với trung thực và mạnh dạn phơi bày những mảng tối khi mà những mảng tối ấy lại quá dày, nó báo hiệu nguy cơ mât còn. Thì chẳng phải là chính ông Chủ tịch nước đã nói trong bài viết nhân 2.9 khi trích dẫn câu của người xưa về những nguy cơ làm mất nước: “Một, trẻ không kính già; hai, trò không trọng thầy; ba, binh kiêu tướng thoái; bốn, tham nhũng tràn lan; năm, sỹ phu ngoảnh mặt”, cả 5 yếu tố ấy xem ra đã hội đủ mà không ai là không thấy đó sao? (Trong nguyên bản,ông Chủ tịch Nước viết câu này là của Lê Quý Đôn, nhưng tôi tra cứu mãi không tìm ra xuất xứ, hỏi một số học giả quen biết thì chưa ai chỉ cho tôi cứ liệu xác đáng, nên tôi tạm gọi là lời người xưa, mong các bậc cao minh chỉ giáo)

Vậy thì, nội dung cơ bản nhất của sự giám sát và phản biện mà Mặt trận đảm nhiệm phải hướng vào là gì nếu không phải là thực tế nóng bỏng đó, “vì ai gây dựng cho nên nỗi này”? Theo tôi, đây nên là một điểm đột phá của công tác Mặt trận.

Thật ra, nói cho rốt ráo thì cái gọi là “đột phá” này vốn là chức năng đích thực, là sứ mệnh của Mặt trận tổ quốc Việt Nam ngay khi thành lập. Xin nhớ lại tham luận của luật sư Nguyễn Mạnh Tường tại cuộc họp Mặt trận Tổ quốc ở Hà Nội ngày 30.10.1956. Nhà trí thức lớn ấy đã chỉ ra một cách toàn diện những khuyết tật của thể chế sẽ kéo lùi đất nước nếu không sớm khắc phục. Và lời tiên đoán của ông đã được chứng minh. Chỉ có điều đau xót là, sau phản biện tâm huyết ấy vị học giả đáng kính đã bị “rút phép thông công” như lời ông viết sau này. Vì thế, nói đột phá cũng là nói hãy trở về với đúng chức năng đích thực của Mặt trận khi cái xiềng phản dân chủ đã tháo gỡ được vài cái mắt xích do thời cuộc đưa đẩy. (Mời xem phần phụ lục 1 và 2 ở cuối trang).

2. Trước mắt, cần tập trung giám sát và phản biện đường lối, chính sách đối nội và đối ngoại nhằm đối phó với bọn xâm lược đã tự phơi bày bộ mặt nham hiểm và độc ác của chúng.

Cũng chỉ mới cách đây không lâu, ai chạm đến cái gọi là “điểm nhạy cảm” này thì hãy coi chừng! Khi người ta dám ngang nhiên đục bỏ bia kỷ niệm những liệt sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến tranh biên giới, kiêng kỵ nhắc đến cuộc chiến với tội ác của 60 vạn quân xâm lược gây ra đối với quân dân ta trên các tỉnh biên giới mà Đặng Tiểu Bình hỗn xược tuyên bố là “để dạy cho Việt Nam một bài học”, không dám gọi đích danh tàu của kẻ cướp còn tệ hại hơn bọn cướp biển vì chúng dám xâm phạm vùng biển của ta, đánh đập cướp bóc ngư dân ta mà phải gọi là “tàu lạ” thì rõ ràng là đã có một cái gì khuất tất ẩn dấu trong cuộc gặp ở Thành Đô mà cho đến nay, những trao đổi và ký kết gì đó vẫn còn u u minh minh, thì đây chính là một câu hỏi lớn chưa lời đáp.

Nếu Mặt trận dám tự nhận mình là tiếng nói của dân, phản ánh ý chí và nguyện vọng của dân thì phải thẳng thẳn đặt ra vấn đề ra với những người đang gánh vác trọng trách trước nhân dân, yêu cầu phải giải trình một cách công khai và minh bạch trước dân. Nếu Mặt trận không nhận thức rõ đây là nội dung bức xúc nhất cần giám sát và phản biện thì Măt trận không làm tròn sứ mẹnh của mình trước dân, người ta có thể gọi đó là sự phản bội dân.

Thế rồi, quả là phải “cám ơn cái giàn khoan”, nó như mảnh giấy quỳ nhúng vào dung dịch thử. Nó giữ nguyên màu tím hay ngả sang màu xanh hoặc chuyển sang màu đỏ để biết nó là “trung tính”, “mang tính kiềm“ hay “mang tính axit“ nhằm lộ diện ai là ai, “thanh thiên bạch nhật rõ ràng cho coi”. Quả thật “trong ánh chớp của những cơn giông sáng lòe của một giai đoạn chuyển động, người ta thấy các sự việc và con người như trần truồng…” mà Einstein từng viết.

Chính cái giàn khoan “made in China” ấy đã làm nổi rõ lên sự sòng phẳng, minh bạch của lời tuyên bố dứt khoát: “Việt Nam luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, và nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc” thể hiện được ý chí và khát vọng của mọi tầng lớp nhân dân, đi thẳng vào lòng người, chạm đến điểm sâu kín nhất, thiêng liêng nhất trong tâm thế dân tộc.

Cho nên, sách lược mềm dẻo biểu hiện sự biết mình, biết người, linh hoạt trong ứng xử trên mặt trận ngoại giao là phương thức cần thiết để giữ hòa khí, tránh bớt những căng thẳng đẩy tới những đụng độ không cần thiết. Thế nhưng, phải có bản lĩnh và khí phách của Trần Bình Trọng, Trần Hưng Đạo thì mới có thể vận dụng được sách lược ấy. Còn nếu trong đầu đã ấp ủ tâm thức đầu hàng để giữ cái ghế quyền lực như Trần Ích Tắc, Trần Kiện thì nhu nhược và đê hèn là điều dễ hiểu cho dù được ngụy trang khéo đến đâu. Vả chăng, khi dụng sách lược ấy, phải hiểu rất rõ Trung Quốc là kẻ mà lời nói không bao giờ đi đôi với việc làm, chưa lúc nào bỏ thói quen tráo trở, “xi nhan” bên phải nhưng bẻ tay lái về bên phải là chuyện cơm bữa của họ mà thế giới biết quá rõ.

Độc chiếm Biển Đông là “quốc sách” nhằm thực hiện “giấc mơ Trung Hoa” của họ. Tiến hành nâng cấp, xây dựng các đảo chìm, đảo nổi đâu phải bây giờ họ mới làm. Đó là những hành động nằm trong chiến lược “xâm lược mềm” của họ từ lâu. Hiện họ đang xây dựng sân bay, quân cảng, khu hậu cần lớn trên đảo Gạc Ma. Đây là một hành động cực kỳ nham hiểm mà ta cần phải có phản đối quyết liệt hơn nữa trước công luận của thế giới.

Cho nên, cho dù là chúng ta đã rất cố gắng trong việc duy trì đàm phán với Trung Quốc để giải quyết các bất đồng, đưa ra các cương lĩnh cơ bản, thậm chí ngay cả khi họ gây ra những hành động rất trắng trợn như việc hạ đặt giàn khoan HD981 ta vẫn làm điều đó nhưng kết quả thế nào thật đã rõ như ban ngày, người lú lẫn nhất cũng đã phải thấy.

Không thể tiếp tục thỏa thuận với Trung Quốc những điều vô nghĩa khi họ luôn tráo trở. Bởi làm như thế không khác gì tạo điều kiện cho Trung Quốc lợi dụng để đánh lừa công luận, bóp méo sự thật. Hơn nữa, sẽ làm cho bạn bè của ta trong khối ASEAN nghi ngờ về quyết tâm của ta, những cường quốc có chung mối quan tâm vì lợi ích của chính họ trên con đường huyết mạch trên biển e ngại về chính sách “đi dây” nguy hiểm của một bộ phận những người cầm quyền Việt Nam.

Thời gian không chờ đợi. Bởi vậy, chúng ta bắt buộc phải kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế. Đây là việc phải làm ngay. Chần chừ, là sập bẫy của Trung Quốc và có tội với đất nước. Nhà cầm quyền Trung Quốc sẽ còn tung ra nhiều chiêu lừa mị đánh trúng vào điểm yếu của ai đó còn hy vọng hão quyền vào cái mặt nạ “cùng chung ý thức hệ xã hội chủ nghĩa” được phủ thêm một lớp son bốn tốt và mười sáu chữ bịp bợm. Chính vì thế, điểm đột phá của công tác Mặt trận sắp tới không thể là gì khác việc tập trung giám sát và phản biện vào đường lối, chủ trương và giải pháp cứu nước, chống Trung Quốc xâm lược. Được nghe trình bày dự thảo về “Lời kêu gọi” của Đại hội Mặt trận tôi quá bất ngờ và không thể không kìm được sự phẫn nộ. Đất nước lâm nguy, kẻ xâm lược đang trăm mưu nghìn kế uy hiếp ta, thế mà “Lời kêu gọi” của Đại hội chẳng có một câu lên án, cứ như thể mọi việc đều đang thoải mái “vui vẻ trẻ trung” trong Hội trường máy lạnh thật hoành tráng, sang trọng này!

Tôi xin kết thúc bài phát biểu đã quá dài với niềm tin vững chắc rằng: “Người ta chỉ có thể lừa bịp được vài người trong mọi lúc, lừa được mọi người trong vài lúc, nhưng không thể lừa được mọi người trong mọi lúc”! Đấy là lời của Abraham Lincoln.

T. L.

Tác giả gửi BVN.

PHỤ LỤC (không đọc vì sợ chiếm quá nhiều thì giờ).

*Tôi có cảm tình với anh cũng từ một chuyện liên quan đến cái cái chữ “trên” này. Trong một dịp gặp anh khi anh là bí thư tỉnh ủy Quảng Nam, nhân chuyện gì đấy tôi quên mất rồi, anh nói “ công văn, chỉ thị, báo cáo mà Văn phòng soạn đưa bí thư xem và ký, bao giờ tôi cũng sửa chữ “dưới sự lãnh đạo của Đảng” thành chữ “với sự lãnh đạo của Đảng”. Tôi nghĩ bụng “tay này chơi được đây, một lóe sáng của trí tuệ đất Quảng chứ chẳng đùa”. Dạo ấy, tôi có đem chuyện này nói với ông Sáu Dân, thấy ông trầm ngâm, trong ánh mắt thoáng có nét suy tư, day dứt.

**Trích phát biểu về Mặt trận của luật sư Nguyễn Mạnh Tường ngày 30.10.1956

“Hãy để cho các đoàn thể nhân dân được quyền mạnh dạn nói lên ý kiến của quần chúng mà họ tập hợp. Từ trước tới nay, ta có thể ví Đảng Lao động như một cây rất to, lá ruờm ra che hết ánh sáng của mặt trời, khiến ngay một ngọn cỏ cũng không mọc dưới chân nó được. Vì vậy, Quốc hội cũng như Mặt trận không thể đóng được vai trò của mình. Ở đây, tôi chỉ xin phép nói về Mặt trận của ta thôi. Các vị đã thấy rằng từ khi thành lập Mặt trận Liên Việt cho đến Mặt trận Tổ quốc, chúng ta chỉ có nhiệm vụ động viên quần chúng thi hành chính sách mà thôi. Đó là một nhiệm vụ. Nhưng dù sao chỉ có một chiều. Ta là giây liên lạc giữa các cấp lãnh đạo và quần chúng. Nếu ngược lại, ta có quyền liên lạc giữa quần chúng và cấp lãnh đạo, nghĩa là phản ảnh lên Đảng và Chính phủ ý kiến thắc mắc, nguyện vọng của quần chúng, công tác của ta thế nào cũng tốt đẹp hơn, hoàn hảo hơn. Ta gắn liền lãnh đạo và quần chúng, do đó lãnh đạo sát hợp với thực tế hơn. Tôi xin phép đặt mỗi vị uỷ viên trước trách nhiệm của mình. Chúng ta ủng hộ Chính phủ, nhưng chúng ta cũng là đại biểu của nhân dân. Công tác của chúng ta có hai mặt, chúng ta không thể chỉ lệch về một bên được. Quần chúng không cho phép chúng ta làm như vậy, muốn theo rõi công việc ta làm vì chúng ta làm đại biểu của quần chúng, được quần chúng tín nhiệm. Quần chúng giao quyền cho chúng ta, chúng ta phải xứng đáng với sự uỷ quyền ấy. ta sử dụng quyền ấy thế nào, quần chúng đòi kiểm soát ta.

Để đạt mục đích này, tôi xin phép đề nghị: một là mỗi uỷ viên phải có nhiệm vụ phản ánh lên Mặt trận ý kiến của quần chúng. Mặt trận phải có nhiệm vụ đề đạt lên cấp lãnh đạo những phản ảnh của các uỷ viên và báo cho các vị ấy thái độ của cấp lãnh đạo giải quyết vấn đề ra sao, sử dụng các phản ảnh ấy như thế nào. khi Mặt trận họp hội nghị, phải cho phép quần chúng đến bàng thính: để quần chúng kiểm soát công việc của Mặt trận làm và thái độ của các uỷ viên.

: “quản trị một nước, đặc biệt một nước đang xây dựng chính quyền cách mạng, nghĩa là một cái gì vô cùng mới mẻ và khó khăn — không giống như là đề ra đường lối và khẩu hiệu tranh đấu cách mạng và vận động quần chúng làm cách mạng. Hai khu vực hoạt động ấy tuy quan hệ mật thiết với nhau, nhưng mỗi ngành hoạt động có kỹ thuật và quy luật của nó. Lúc nhà chính trị bao biện, bất chấp hoàn cảnh khách quan kinh nghiệm xương máu của lịch sử, thì chẳng sớm thì muộn ta thấy diễn ra những tai hại hiện thời làm chúng ta đau xót. Trên con đường bao biện và tự mãn ấy, các nhà chính trị đã bị thúc đẩy bởi những thành kiến đối với pháp lý và tin rằng pháp lý là cái gậy chỉ dùng để chọc bánh xe, không hiểu rằng, trái lại, chính pháp lý giúp xe khỏi lật, khỏi gây tai nạn. Nguy hại hơn là chính trị tự đặt mình lên trên pháp luật. Ngay trong trường hợp chính trị sau khi đặt mình lên trên pháp luật, còn giữ vững thái độ chân chính, cũng đã gây ra bao khó khăn rồi. Pháp luật chủ yếu đề ra những cái gì có thể làm được, cái gì không được phép làm, do đó nhân dân vững tâm biết rõ đường mà đi. Nhưng tâm hồn quần chúng chỉ được ổn định khi nào quần chúng biết rõ rằng cái gì bó buộc mình cũng đồng thời bó buộc nhà cầm quyền. Trái lại, khi pháp luật chỉ gò bó quần chúng mà không gò bó nhà cầm quyền thì nhà cầm quyền mỗi lúc có thể vẽ ra các đường mới mà quần chúng chưa từng biết. Vì vậy quần chúng hoang mang: cái gì hôm qua làm được, ngày mai với sự độc đoán của nhà cầm quyền có thể bị coi là phi pháp. Hoang mang ấy lên tới cực độ khi tác dụng của sự thay đổi thái độ này của nhà cầm quyền không những ảnh hưởng đến tương lai, mà là ảnh hưởng cả về quá khứ nữa. Đó là trường hợp nhà cầm quyền, lúc tự đặt mình lên trên pháp luật, giữ thái độ chân chính đúng mực, huống hồ là khi nhà cầm quyền sử dụng quyền thế của mình một cách lộng quyền, như ông Trường Chinh đã nhận định.

Ông còn vạch rõ: “ Đại đa số các anh em trí thức nói chung, không mơ ước các cương vị, công tác lộng lẫy đâu, họ vui lòng nhường chỗ cho các nhà chính trị, các đảng viên. Họ chỉ thiết tha đòi hỏi được mang khả năng chuyên môn và kinh nghiệm của họ ra phục vụ nhân dân mà thôi. Họ chỉ thiết tha mong muốn được bảo toàn danh dự trí thức của họ và cái tự do tư tưởng mà họ quan niệm là cần thiết cho nhân phẩm của người trí thức mà thôi. Họ đã từng nghe thấy Đảng tuyên bố: Người trí thức là vốn quí của dân tộc. Nhưng họ cảm thấy vốn ấy quí quá đến nỗi phải cất nó đi thật kỹ, giữ gìn nó trong một bán ảnh, một hoàng hôn trường cửu. Nếu có ai cho rằng tôi nói không đúng, tôi cứ đề nghị người ấy quay mặt nhìn chung quanh, ở các cương vị công tác trong chính thể của ta. Có một chỗ nào mà người trí thức ngoài Đảng nắm được thực quyền không? Tác dụng “hiếu hỉ” hay “cười gật” thì có, mà lại có nhiều. Nhưng ngay ở các cương vị ấy, ngoài vai trò hiếu hỉ, cười gật, người trí thức có một trách nhiệm gì không, có quyền nói gì làm gì không, quần chúng đã biết và miễn tôi giả nhời.

( Nguồn: BVN)

 

 

Nhà văn Nguyễn Đắc Xuân

Thư Nhà nghiên cứu lịch sử Nguyễn Đắc Xuân gửi cho Ngô  Minh : Nhiều người hỏi mình về chuyện thoát Trung. Chuyện phải viết nhưng chưa viết được.Chính bọn làm văn hóa nghệ thuât trên Tivi bi Trung Quốc đầu độc nặng nề nhất. Đơn cử là cuốn phiam Lý Công Uẩn đường về Thắng Long. Nếu không phản biện kịp thì chúng đã chiến trên TV VN vào ngày Đại lễ 1.000 năm Thăng Long rồi. Mới lục lại được bài cũ mình viết hồi ấy gởi cho Ngô Minh trong attachment. Đây là món quà gởi cho những người đã tắm gội trong văn hóa tuyên truyền phản động của Tàu.

Nhân phim Lý Công Uẩn, đường tới thành Thăng Long , nghĩ chuyện thoát Trung

Nguyễn Đắc Xuân

Tôi là một nhà văn nghiên cứu lịch sử ở Huế và không chuyên về chuyện làm điện ảnh, nhưng do tôi có chút kinh nghiệm nghiên cứu cổ trang để “Tái hiện lễ đăng quang của vua Quang Trung” – một lễ hội quan trọng trong Chương trình Festival Huế 2008 và là tác giả bài báo “Làm phim Thái tổ Lý Công Uẩn- kiến nghị một giải pháp” đăng trên báo Hồn Việt (số 11 Tháng 5-2008) cáchđây mấy năm nên một số báo hình và báo điện tử chuyền cho tôi xem một số hình ảnh, đoạn phim ngắn giới thiệu bộ phim cổ trang truyền hình 19 tập Lý Công Uẩn, đường tới thành Thăng Long (phim LCU ĐTTL) sẽ phát sóng trong dịp Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội, và đặt cho tôi một số câu hỏi về sự cảm nhận của tôi về bộ phim đó. Qua điện thoại viễn liên, tôi cảm nhận như thế nào tôi đã trả lời như thế ấy (Báo Pháp Luật TP HCM, Đài BBC Luân Đôn, Đài RFI Pháp). Sau đó nhiều độc giả điện thoại, gởi e-mail bảo tôi đây là một vấn đề nhạy cảm thuộc lĩnh vực văn hóa nghệ thuật dân tộc nên có một bài viết tỏ quan điểm của mình một cách rõ ràng chứ không thể đề cập đến một cách qua loa qua vài câu trả lời báo chí như thế. Không thế thoái thác được nên tôi có bài viết nầy. Tôi không chuyên về chuyện làm điện ảnh, nhất là phim lịch sử, nên bài viết có điều gì bất cập kính mong các nhà chuyên môn, các nhà sử học. các thức giả bổ cứu hoặc cho tôi một cơ hội được học thêm. (Đọc tiếp…)

Đổi mới ĐCSVN để trở thành đảng của dân tộc

 
Bài viết về đại hội XII sắp tới của ĐCSVN, bài cuối trong loạt ba bài: Ba việc hầu như không thể, nhưng phải tìm cách làm.
Nguyễn Trung/ Viet- studies 
 Trong các bài trước, đặc biệt là trong bài 4B (Bàn về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường), tôi đã cố gắng đánh giá tình hình mọi mặt của đất nước, đi tới nhận định tổng quát: 40 năm độc lập thống nhất đầu tiên của đất nước là một giai đoạn phát triển thất bại. Xót xa lắm, nhưng hiểu biết của tôi là như vậy và phải thật lòng nói lên như vậy. Tôi không nói dối được. Ai muốn lợi dụng những điều tôi viết ra như thế vào việc phá hoại đất nước, đấy là dã tâm của họ, qua đó họ tự nói lên họ là ai. Đất nước này đủ trưởng thành để đối xử với những dã tâm này. Thật ra tôi chỉ phải giằng co với chính mình để dám sống vì sự thật mà thôi. Bài này tôi xin tập trung trình bày những suy nghĩ của mình về những nguyên nhân của thất bại từ phía đảng.

I.  Bản “kết toán” 40 năm đất nước độc lập thống nhất: Chưa ra khỏi vòng kiềm toả của Trung Quốc đại bá
“Kết toán” này là kết luận tôi rút ra từ suy nghĩ cả năm nay về đại hội XII sắp tới, cứ đắn đo mãi có nên viết ra hay không. Vì là 40 năm, nên có quá nhiều chuyện để nói. Tôi cố tìm điều gì để nói có thể khái quát lên được tất cả thực trạng đất nước hiện tại. Sự kiện cái giàn khoan HD 981 khiến tôi lấy khả năng ứng phó của đất nước đối với Trung Quốc đại bá làm hệ quy chiếu để đánh giá mọi cái đất nước đã làm được và mọi cái đất nước chưa làm được / thất bại, vì muốn hay không Trung Quốc vẫn là vấn đề thách thức số một đối với đất nước.
I.1. Đảng Cộng Sản Việt Nam là tù binh của chính mình
Nội dung cơ bản của các cuộc kháng chiến là vấn đề giải phóng dân tộc khỏi sự xâm lược của nước ngoài. Vì nhiều lý do liên quan đến cả xương máu nữa, nhiệm vụ lớn lao này che khuất phần nào một nhiệm vụ lớn lao khác quan trọng không kém: giải phóng dân tộc khỏi mọi nghèo hèn lạc hậu để trở thành dân tộc tự do. Toàn bộ nỗ lực sau khi kháng chiến kết thúc chỉ tập trung vào xoá bỏ nghèo nàn lạc hậu; hầu như bỏ quên hẳn nhiệm vụ giải phóng để dân tộc trở thành dân tộc tự do – nội dung cốt lõi là vấn đề dân chủ.
Trong những bài trước, đặc biệt là trong bài 3 (Chúng ta lựa chọn gì cho tổ quốc?) tôi đã đi tới kết luận: Đất nước được độc lập, nhưng nhân dân đến hôm nay vẫn chưa thật sự là người chủ của đất nước, vì đến nay vẫn đang thiếu một thể chế chính trị thực hiện quyền làm chủ đất nước của nhân dân. Thậm chí trong những bài này tôi đi tới kết luận: Trong cục diện mới của quốc tế và khu vực đầy thách thức hiểm nghèo, nhất là có vấn đề Trung Quốc, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc ngày nay đòi hỏi phải được tiến hành bởi một dân tộc tự do. Bởi vì chỉ có phát huy yếu tố con người để làm nên sức mạnh quốc gia, đất nước chúng ta mới có thể trụ vững và phát triển được trước mọi thách thức. Nghĩa là cuộc sống khách quan đặt ra cho đất nước đòi hỏi như vậy.
Thế nhưng trong cuộc sống thật, duy ý chí của đảng lại lựa chọn tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội ngay sau 30-04-1975.
Tất nhiên thất bại, phải đổi mới, song đảng vẫn duy ý chí tiếp, chỉ điều chỉnh lại thành kiên định định hướng xã hội chủ nghĩa, mặc dù đến bây giờ đảng vẫn chưa xác định được rõ ràng nó là cái gì (bài 4A – Bàn về cải cách thể chế chính trị). Ý thức hệ cộng sản bắt buộc đảng phải làm như vậy, đảng không thể nghĩ khác và không thể làm khác được. Nhìn lại, vì những lẽ này có thể nói: Ngay sau 30-04-1975, đảng với tính cách là người giải phóng, đã bị ý thức hệ của chính mình bắt làm tù binh.
Kiên định như vậy, lại với quan điểm phải bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của đảng, nên như là một tất yếu, đảng chỉ tạo lập ra được trong thời bình cho nhân dân “một chế độ chăn dắt” (bài 4A, phần III,1.). Đất nước phải sống dưới vòm trời của ý thức hệ và bên trong ranh giới chế độ chính trị của đảng vạch ra, vượt ra ngoài là trái đạo, là thù nghịch. Trong những điều kiện như vậy, quyền lực và tha hoá ngày một ngày hai cuối cùng đã tước vũ khí hoàn toàn vai trò lãnh đạo của “tù binh đảng”, chỉ còn để lại mỗi cái tính cách là đảng cai trị cho đảng. Chế độ đảng xây dựng chuyển dần thành chế độ toàn trị, dù là nó mang tên là Cộng Hoà Xã Hội Chủ  Nghĩa Việt Nam. Trong các quốc gia có nền kinh tế thị trường, chế độ chính trị này thuộc loại lạc hậu nhất trên thế giới và đang trực tiếp kìm hãm sự phát triển của đất nước ta. Không phải ngẫu nhiên Lý Quang Diệu cho rằng đứng đầu Đông Nam Á hôm nay lẽ ra phải là Việt Nam!
Sự thật là đất nước 40 năm qua đã phát triển dưới mức tiềm năng và cơ hội cho phép và đồng thời đã để xảy ra quá nhiều hiện tượng hoang dã. Trong những thập kỷ vừa qua, thực tế phát triển này cùng với sự kìm hãm của chế độ chính trị toàn trị đã huỷ hoại không ít tiềm năng  của đất nước, để lại nhiều hậu quả nặng nề cho tương lai theo nghĩa “đời cha ăn ốc đời con đổ vỏ!” – nhìn theo góc độ tàn phá môi trường tự nhiên, gánh nặng nợ nần của quốc gia, sự tha hoá các thang giá trị đạo đức – văn hoá – xã hội, gánh nặng tụt hậu… vân vân…
Tha hoá và tham nhũng ngày càng lên ngôi, nhiệm kỳ sau hoành hành quyết liệt hơn nhiệm kỳ trước. Điều vô cùng cay đắng là: Cả một cái đảng có truyền thống cách mạng bao nhiêu thế hệ từ năm 1930, cuối cùng đã gục ngã bởi quá trình tha hoá và tham nhũng của chính mình trong thời bình làm chủ đất nước. Cái sa đoạ nhất của mọi sa đoạ dẫn tới đảng gục ngã là sự dối trá. Đến hôm nay đảng vẫn hoàn toàn vô cảm với sự diễn biến hoà bình này.
Không dừng lại ở đây, sự gục ngã này đã xô đẩy theo cả một đất nước có lịch sử hào hùng vào ách cai trị của cái chế độ toàn trị do đảng dựng nên, được vận hành dưới hình thức “chăn dắt” và bằng các chính sách ngu dân, tất cả dưới vòm trời ý thức hệ và bên trong ranh giới của chế độ toàn trị. Không thể nói khác: Đấy chính là một kiểu nô dịch, thiết lập trong các khung lồng định hình rõ ràng cho tư duy và toàn bộ đời sống đất nước, gần đây được gia cố thêm bằng những quy định trong Hiến pháp quân đội và công an phải trung thành với đảng…  Thật không còn gì phi lý và chua sót hơn: Kháng chiến xoá bỏ được ách nô dịch của bên ngoài, để cuối cùng bây giờ nhân dân phải chuốc lấy ách nô dịch từ bên trong do chính mình cũng góp phần dựng nên. Sự thật trần trụi của thể chế chính trị nước ta 40 năm qua là như vậy, mặc dù có thể nói trong thâm tâm đảng không muốn thế, song tha hoá của đảng đã gây ra như thế.
Cái ách nô dịch dựng nên tự bên trong như thế hàng thập kỷ nay lúc miễn cưỡng lúc thuận theo là đồng minh với sự can thiệp của quyền lực mềm Trung Quốc. Cả hai cái này bổ sung cho nhau hay cùng nhau gây ra không ít tai ương cho đất nước ta, đó là Thành Đô, là các thua thiệt trong phân xử biên giới trên bộ và dưới biển, là bô-xít Tây Nguyên, là hàng trăm điều đau lòng khác – trong đó cái đau nhất là sự lệ thuộc vào Trung Quốc đến hôm nay vẫn chưa tìm được cách thoát ra…
Trở thành tù binh của ý thức hệ mà chính mình tôn thờ, đảng đẩy cả nước vào một ách nô dịch mới, “ma tuý quyền lực đảng” mang tên gọi độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội  giữ cho đảng và toàn bộ hệ thống chính trị của nó ngày càng xa mọi cam kết đối với đất nước đã ghi trong cương lĩnh.
Toàn bộ bức tranh chế độ 40 năm là như thế.
Các tội ác tham nhũng tiêu cực, bất công, sự trấn áp, tình trạng tha hoá của hệ thống chính trị, xã hội xuống cấp, đất nước tụt hậu ngày càng nguy hiểm, chủ quyền quốc gia bị xâm phạm và tiếp tục bị uy hiếp nghiêm trọng…, tất cả những điều đau đớn này làm nhức nhối câu hỏi: Chẳng lẽ dân tộc ta hy sinh xương máu bao nhiêu thế hệ để đi tới cái đích như hôm nay? Có những bậc cha mẹ của cơ sở kháng chiến cũ đã thốt lên: Biết thế này tụi tao ngày xưa không cưu mang tụi bay…
Một đất nước như nước ta đáng phải chịu số phận như hôm nay? Gần bốn triệu đảng viên của đảng hãy giữ lại cho mình đạo đức làm người phải có để lặn vào dân mà hỏi cho ra nhân dân hôm nay đang nghĩ gì về đảng và đang mong muốn gì cho đất nước.
I.2. Ách nô lệ của tư duy
Sinh ra lúc đất nước còn bị là thuộc địa, lớn lên theo cách mạng rồi theo đảng từ lúc đầu còn xanh, cả đời càng về già tôi càng tự hỏi mình: Cái gì cứ giam hãm mãi đất nước ta trong lạc hậu và tụt hâu như thế này? Không thể nói nhân dân ta ươn hèn và không ý thức được thân phận của mình, nếu như không muốn nói rằng không phải dân tộc nào trên thế giới này cũng ngoan cường chống lại số phận nghèo hèn của mình như dân tộc ta. Hỏi như thế, chỉ càng nhức nhối thêm câu hỏi khác: …Thế mà tại sao nhân dân ta hôm nay vẫn còn đứng rất xa cái đích độc lâp – tự do – hạnh phúc như thế này?
Câu trả lời tôi tự tìm ra cho mình, nghĩa là tôi chấp nhận: Trăm tội có lẽ chỉ tại một điều là ta chưa xác lập nên được tư duy của chính mình, ta chưa thật là ta!?..
“Ta” ở đây là nhân dân ta, dân tộc ta.
Thời phong kiến, nghĩa là cách đây khoảng 2 thế kỷ trở về trước, thế giới của nước ta hầu như chỉ là Trung Quốc, ta chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Trung Quốc là tự nhiên, kể cả trong những triều đại nước ta độc lập. Thời ấy đành chấp nhận như vậy.
Cho đến khi cách mạng nước ta với sự xuất hiện của ĐCSVN năm 1930 tham gia vào phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, toàn bộ hệ thống tư duy của đảng cho tới hôm nay là chủ nghĩa Mác – Lênin (CNML) được chế biến và được Việt Nam hoá, lúc này lúc khác được cách điệu chút ít theo thời thế. Nói như vậy để khẳng định 2 đặc điểm: (a)chủ nghĩa Mác – Lênin ở nước ta kể từ khi du nhập cho đến hôm nay chỉ là một bản sao “tam sao thất bản”, nghĩa là có nhiều điều không phải là nguyên bản [1]; (b)độc lập tự chủ trong tư duy của đảng chỉ là những “cách điệu” cho phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam từng thời song vẫn nằm trọn vẹn trong khung khổ của ý thức hệ cộng sản với cái tên gọi là CNML. Nghĩa là đảng sống bằng tư duy vay mượn, coi nó là lý tưởng của mình, cố áp đặt nó vào đất nước, vì tin nó là duy nhất đúng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Đảng đã ngấm sâu trong xương tuỷ mình thứ tư duy vay mượn và duy ý chí  mác – lênin bản sao (chứ không phải nguyên bản, vả lại nguyên bản của nó cũng lỗi thời rồi) và nắm độc quyền chân lý, cho nên tới hôm nay nước ta vẫn chưa tạo ra được tư duy của chính mình cho những vấn đề của nước mình, mặc dù hầu hết đảng viên trong thế hệ tôi, trong không ít các thế hệ sau, đều hít thở hàng ngày với ý chí “không gì quý hơn độc lập tự do”, “tinh thần độc lập tự chủ”…
Lọt vào quỹ đạo của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, lại đúng vào thời đại được những người cộng sản đặt tên là “hai phe bốn mâu thuẫn”, rồi tiếp theo là thời kỳ chiến tranh lạnh [2], có thể đi tới nhận định: Trong bối cảnh quốc tế và với nội tình quốc gia như vậy, con đường đất nước ta đã đi từ 1930 cho tới ngày 30-04-1975 gần như là tất yếu, nghĩa là không thể tránh khỏi, không thể khác được – cho dù là vô cùng đau thương và đẫm máu. Từ hàng chục năm nay, nhất là từ khi “rũ áo từ quan”, tôi đã cố khách quan suy nghĩ rất nhiều về con đường này, đặt ra nhiều giả thuyết khác nhau, phác hoạ thử nhiều con đường khác nhau, song cuối cùng vẫn phải đi đến kết luận như vậy. Bài học rút ra từ con đường đất nước đã phải đi qua này thì có nhiều, quan trọng có tính mất còn đối với đất nước cho cả hiện tại và tương lai. Nhưng kết luận thì chỉ có một như vậy mà thôi [3], dù rằng trên con đường này đôi lúc hé mở một lối đi khác nào đó, nhưng chỉ hé mở rồi tắt ngấm ngay – đơn giản vì cái trật tự quốc tế “hai phe bốn mâu thuẫn” hồi ấy kinh khủng lắm, tất cả những gì đã rơi vào quỹ đạo của nó đều bị nghiền nát – cứ nhìn các cuộc nổi dậy tại các nước Đông Âu cũ XHCN từ 1956 cho đến khi các chế độ này tan rã cuối thập kỷ 1980s thì rõ; thực tế ở Việt Nam cũng quyết liệt không kém. Mà lịch sử thì không thể vẽ lại được.
Đúng là kể từ sau 30-04-1975, là một nước độc lập, nước ta hoàn toàn có điều kiện tìm ra một con đường riêng của mình cho nước mình. Song như tôi đã nhiều lần trình bầy, tư duy ý thức hệ cộng sản đã biến đảng thành tù binh của chính nó và không cho phép đảng làm khác như đã nêu lên trong phần I.1 bên trên. Cho đến hôm nay vẫn chưa một lần ý chí “độc lập tự chủ” cũng như tinh thần “không có gì quý hơn độc lập tự do” được ĐCSVN đưa vào trong việc xác lập cho mình một tư duy riêng, một con đường riêng của Việt Nam mà Việt Nam cần và phải lựa chọn. Cho đến hôm nay, trong những trường hợp tốt đẹp nhất và trong sạch nhất (hay là trong sáng nhất?) “độc lập tự chủ” và “không có gì quý hơn độc lập tự do” mà được đảng vận dụng, cũng vẫn chỉ là để thực hiện mọi thứ trong khung khổ cái gọi là “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” mà thôi. Ý thức hệ như thế hiển nhiên chỉ cho phép đảng nhìn được một khe đi nhất định trước mặt trong khi lấp mù hết cả cái thế giới chung quanh còn lại. Cái nhìn như vậy cùng với “ma tuý quyền lực đảng” cũng làm cho đảng đui điếc trước rất nhiều vấn đề của nội tình đất nước, vì thế tất cả hành động của đảng đối với đất nước chỉ là tiến hành “chăn dắt” đi liền với trấn áp những thứ trái chiều với ý thức hệ.
Cho đến khi các nước Liên Xô – Đông Âu xã hội chủ nghĩa sụp đổ cuối thập kỷ 1980s, cái gọi là “thế giới hai phe bốn mâu thuẫn” không còn tồn tại nữa. Đây là cơ hội vàng cho Việt Nam không phải bám theo ai, từ đó có thể tự giải thoát khỏi tư duy ý thức hệ cộng sản, xác lập con đường riêng của mình cho nước mình. Song khốn nỗi vì sợ mất chế độ xã hội chủ nghĩa của đảng, lãnh đạo đảng hồi ấy đã chọn hội nghị Thành Đô để đi với Trung Quốc, mặc dù trước khi đến hội nghị này Việt Nam đã được ăn 3 đòn chí tử của Trung Quốc: chiến tranh Campuchia, chiến tranh biên giới 17-02-1979 và việc 7 đảo và bãi đá của ta ở Trường Sa bị đánh chiếm 1988. Đảng tiếp tục rơi vào trạng thái không hiểu thế giới và không hiểu nước mình, ngày đêm chỉ còn lại duy nhất mỗi mối lo có thể mất quyền lực đảng và chế độ chính trị, coi mọi phản ứng đòi hỏi tự do dân chủ của nhân dân là diễn biến hoà bình, người yêu nước chống những sai trái của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền quốc gia bị đảng coi là thù địch (giữ đại cục).
Ý thức hệ của đảng đã hy sinh lợi ích quốc gia để bảo toàn chế độ của quyền lực đảng và đã tạo ra sự lệ thuộc Thành Đô đầy thảm hoạ cho đất nước. Chắc chắn nhân dân ta sẽ lên án nghiêm khắc.
Từ Thành Đô cho đến hôm nay, ý thức hệ của đảng tiếp tục làm thiệt hại nghiêm trọng nhiều lợi ích quốc gia khác. Trong những trường hợp này phải đặc biệt nhấn mạnh: Đàm phán biên giới trên bộ và dưới biển với Trung Quốc ở cái tư thế mơ hồ về ý thức hệ, lại bí mật với nhân dân, loại bỏ sự hậu thuẫn của nhân dân, thậm chí tự cho mình cái quyền quyết thay nhân dân trong vấn đề cực kỳ trọng đại liên quan đến sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, làm sao nước ta tránh được thua thiệt? Lịch sử cũng sẽ không tha thứ sai trái này.
Ý thức hệ của đảng cũng cướp đi mất khả năng cải cách chế độ chính trị để hoà bình thay đổi hiện trạng đất nước nhân dịp sửa đổi hiến pháp 2013. Thậm chí sự kiện giàn khoan HD 981 cũng chưa đủ nghiêm trọng để có thể lôi đảng ra khỏi cơn mê của ma tuý quyền lực đảng. Đại hội XII sắp tới đang được chuẩn bị theo xu hướng chịu sự chi phối tiếp tục của cơn mê ma tuý này.
Sự nô lệ như vậy của ý thức hệ – như đã nói trên – đã tước mất vũ khí vai trò lãnh đạo của “tù binh đảng”, hôm nay chỉ để lại cho đảng vỏn vẹn là một quyền lực chính trị lớn nhất trong nước đang cai trị quốc gia. Hôm nay, trước thềm đại hội XII, ý thức hệ này một lần nữa đặt đảng trước câu hỏi: Lựa chọn đất nước? Hay lựa chon sự tồn tại của quyền lực đảng?
Là nô lệ của ý thức hệ, đảng thực ra đang đánh mất chính mình, đảng không hiểu được và do đó không thể chia sẽ được nỗi lo đau đáu của dân tộc sau 40 năm đất nước độc lập thống nhất: Làm thế nào để ta là chính ta trên thế giới này? Là chính ta, chứ không phải là kẻ phải theo ai, đeo bám vào ai, càng không phải là kẻ cứ phải leo dây giữa cái thế giới đầy nhiễu nhương tai ác này!
Lo mất chế độ, đảng đang ngày càng đánh mất mình nhiều hơn, nguy cơ mất chế độ vì thế đang tăng theo, vì sự tha hoá của đảng đang làm đất nước suy yếu tiếp về mọi mặt – cứ so sánh đảng hôm nay với đảng cách đây 5 năm, 10 năm, 20 năm… sẽ rõ. Trừ những mặt tham nhũng tiêu cực, xem xét những giá trị chân chính một đảng chính trị phải có, chỉ có thể nhận xét: Đảng đang ngày càng mất nhiều hơn, càng trấn áp càng mất.
Trong 40 năm độc lập thống nhất đầu tiên, đảng nắm trọn vẹn mọi quyền hành tuyệt đối đối với quốc gia, làm tất cả mọi việc đảng muốn làm – nghĩa là đảng không thể đổ lỗi cho hoàn cảnh vì bất kỳ lý do gì, song kết quả đất nước thu hoạch được tính đến ngày hôm nay là một giai đoạn phát triển thất bại như đã trình bầy trong các bài trước đây. Sự kiện giàn khoan HD 981 còn cho thấy đất nước bộc lộ quá nhiều yếu kém trong đối phó với âm mưu của Trung Quốc – nhất là tình trạng trống đánh xuôi kèn thổi ngược trong nội bộ lãnh đạo cấp cao nhất mà báo chí đã nêu lên.
Mặc dù ý chí bảo vệ độc lập chủ quyền quốc gia của nhân dân ta là bất khả kháng, mặc dù việc Trung Quốc phải rút giàn khoan HD 981 trước thời hạn họ định ra 30 ngày là do thất bại trước sự đấu tranh kiên trì của phía ta và sự lên án quyết liệt của cộng đồng quốc tế, song nhìn mọi mặt của sự việc, nhất là sự lúng túng nhất định của phía ta trong đấu tranh pháp lý với Trung Quốc, nhất là nhìn vào các phương tiện có trong tay Trung Quốc đang xử dụng để chống lại nước ta trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá, ngoại giao.., cần thẳng thắn đánh giá nước ta như hiện trạng đang chưa thoát khỏi vòng kiềm toả của Trung Quốc.
Sát nách một nước lớn đang ngoi lên siêu cường thế giới đượm mầu sắc đại bá, 40 năm phát triển của nước ta vẫn chưa tạo ra được đủ ý chí và lực để thoát khỏi vòng kiềm toả của người láng giềng lớn đầy rắc rối này. Sự thật là đất nước đang đứng trước thách thức mất còn trầm trọng nhất kể từ sau 30-04-1975, vì các lẽ:
- Việt Nam trở thành đột phá khẩu Trung Quốc cần khuất phục trong giai đoạn mới của chiến lược bá chiếm Biển Đông;
- bối cảnh quốc tế có quá nhiều chuyện “đục nước béo cò” để Trung Quốc lợi dụng cho việc xúc tiến tham vọng này;
- toàn bộ thách thức này lại diễn ra trong hoàn cảnh nội tình Việt Nam từ nhiều năm nay đang lâm vào một cuộc khủng hoảng toàn diện rất sâu sắc chưa từng có trong 40 nămđộc lập thống nhất.
Có thể đi tới nhận định, trong tất cả các nước láng giềng của Trung Quốc, Việt Nam như hiện nay đang là nước lệ thuộc nhiều nhất (hơn cả Bắc Triều Tiên), dễ bị can thiệp nhất, dễ bị làm chấn thương nhất, và đồng thời cũng là đối tượng Trung Quốc đang muốn và cần can thiệp sâu nhất vì rất nhiều lẽ.
Có thể nói đến mức, nếu Trung Quốc thành công trong sự can thiệp này vào Việt Nam, Trung Quốc hầu như sẽ không phải ra tay mà vẫn có thể đảo lộn được hoàn toàn mọi mối tương quan lực lượng trên Biển Đông và tại Đông Nam Á. Triển vọng này vô cùng cám dỗ đối với bá quyền Trung Quốc nhưng rất nguy hiểm cho nước ta, đang là kịch bản 1 của họ trong chính sách Việt Nam như tôi đã trình bày trong các bài viết trước (trong đó có Bài 2 “Hiểm hoạ đen”). Để Trung Quốc thành công trong âm mưu can thiệp như thế, Việt Nam sẽ trở thành tên lính xung kích rất được việc và là bàn đạp lý tưởng cho sự hoành hành của đại bá Trung Quốc, có thể mở ra một bước đột phá chiến lược làm phá sản “cái trục xoay CA-TBD” của Mỹ; hợp tác Trung – Nga đang tiếp sức thêm hy vọng cho một khả năng như thế. Tình hình này lại còn được bổ sung thêm bằng vấn đề chính Mỹ cũng đang đề nghị Trung Quốc cùng hợp tác chống nhà nước thánh chiến Hồi giáo (IS)…
Làm được kịch bản 1 trong bối cảnh quốc tế như thế, Trung Quốc có chỗ xả xú-páp hướng ra bên ngoài cho những áp lực đang đe doạ nổ tung nội trị Trung Quốc. Làm được như thế, giấc mộng Trung Hoa sẽ gần hiện thực thêm một bước. Chủ nghĩa dân tộc sô-vanh nước lớn Trung Quốc đang được khuyến khích cao độ cho triển vọng rất cám dỗ này.
Còn nếu Trung Quốc không thành công trong sự can thiệp này?
Câu trả lời lộ rõ mồn một đập ngay vào mắt chúng ta. Đấy là lời răn đe “4 không được” của Trung Quốc, đưa ra một ngày trước khi Dương Khiết Trì đến Việt Nam 16-05-2014. Đấy là cái bãi đá bây giờ biến thành căn cứ quân sự đảo Gạc Ma giữa Biển Đông. Đấy là lời khuyên nhẹ nhàng trên báo mạng Hoàn Cầu, trên Nhân dân nhật báo và nhiều báo mạng khác của Trung Quốc ngay sau chuyến đi của uỷ viên Bộ chính trị Lê Hồng Anh: Việt Nam cần biết lượng sức mình, đừng ảo tưởng!… Đấy là tiếp tục những bước đi khác trên Biển Đông và ngay tại cửa biển Vịnh Bắc Bộ…
Những điều vừa trình bày trên một lần nữa cho thấy dứt khoát: Việt Nam không bao giờ có lý do để tự mình chủ động biến Trung Quốc thành kẻ thù, nhưng Trung Quốc với tính cách là CHNDTH từ 1950 đến nay liên tục nhìn Việt Nam là một đối tượng phải khuất phục cho mục tiêu chiến lược bá quyền của mình. Bây giờ lại càng như vậy. Không có một mối quan hệ anh em, mối quan hệ ý thức hệ, mối quan hệ hữu nghị giữ gìn đại cục nào giữa ĐCSVN và ĐCSTQ có thể mảy may thay đổi được thực tế không thiếu máu và nước mắt này trong quan hệ Việt – Trung kể từ khi có nước CHNDTH đến nay – đây là điều phải khẳng định dứt khoát.
Thời kỳ quan hệ Việt – Trung “núi liền núi, sông liền sông…”, thời kỳ “Trung Quốc là hậu phương lớn của kháng chiến chống Mỹ” là những chặng đường quan hệ hai nước phát triển tốt đẹp, nước ta không quên và không vô ơn. Là nước láng giềng, còn ai hơn nước ta mong muốn sự bền vững mãi mãi của mối quan hệ tốt đẹp này? Nhưng điều này hoàn toàn không phụ thuộc vào nước ta. Thực tế đã diễn ra là 2 thời kỳ đẹp đẽ này chỉ có thể tồn tại trong chừng mực lợi ích của Việt Nam phù hợp và phục vụ được lợi ích của Trung Quốc: làm phên dậu an ninh vòng ngoài cho Trung Quốc. Nói thẳng thắn, 2 thời kỳ tốt đẹp này nước ta cũng phải mua bằng máu của mình (Việt Phương). Còn bây giờ nước Việt Nam độc lập có chủ quyền không có chỗ đứng trong khát vọng bá quyền để vươn lên siêu cường của Trung Quốc. Còn bây giờ nước Việt Nam độc lập có chủ quyền trở thành đối tượng cần khuất phục để mở ra đột phá khẩu chiến lược cho tham vọng của siêu cường bá quyền này. Còn bây giờ, nỗi sợ mất chế độ đang tiếp sức cho sự uy hiếp của Trung Quốc.
Ngoại giao phải làm tất cả những việc ngoại giao phải làm, kể cả quan hệ ngoại giao giữa ĐCSVN và ĐCSTQ, để gìn giữ hoà bình, hữu nghị và hợp tác cho nước ta với tính cách là một quốc gia độc lập có chủ quyền. Nhưng ngoại giao gì cũng phải xuất phát từ thực tế không có một “quan hệ đại cục” nào, cũng không có mối quan hệ anh em hay ý thức hệ nào giữa ĐCSVN và ĐCSTQ có thể cứu vớt được Việt Nam thoát khỏi tham vọng bá quyền của Trung Quốc. Trong mối quan hệ giữa ăn thịt và bị ăn thịt này chỉ 2 có tình huống: “mạnh được yếu thua”, và “đuổi chẳng được, tha làm phúc!”  Chẳng lẽ những sự kiện thua thiệt và đẫm máu đối với nước ta trong quan hệ VNDCCH/CHXHCNVN – CHNDTH cho đến hôm nay không đủ sức thuyết phục chúng ta về thực tế khách quan lạnh lùng này hay sao?
Câu hỏi trăn trở của đất nước bao đời nay “Làm sao ta có thể là chính ta trên thế giới này?” hôm nay đòi hỏi phải trả lời trước tiên câu hỏi “Làm sao ta có thể là chính ta bên cạnh siêu cường bá quyền đang lên này?”
Không có câu trả lời đúng, không tìm ra được con đường thực hiện câu trả lời đúng, hệ quả sẽ là: Chẳng những ta không thể là ta trên thế giới này, mà sẽ còn phải sống tiếp trong vòng kiềm toả của Trung Quốc với tính cách trở thành một chư hầu mạt hạng trong thời đại ngày nay.
II. Đã đến lúc Việt Nam phải học hỏi thế giới để lấy lại chính mình
            Nhìn về nhiều phương diện của 40 năm độc lập thống nhất, không thể tránh né được kết luận nước ta tụt hậu quá xa so với thế giới bên ngoài, mọi thấp kém là do chính mình, hôm nay không còn có thể đổ lỗi cho quá khứ chiến tranh được nữa. Đặt vấn đề như vậy, tôi tìm cách so sánh nước ta với một số nước chung quanh có xuất phát điểm và hoàn cảnh phát triển rất gần với nước ta, đó là: Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Thái Lan… Dưới đây là  một số điều tôi rút ra.
II.1. Nước ta khác gì so với chung quanh?
Qua so sánh, tôi thấy toát lên một điều mang tính quy luật: điều kiện địa lý tự nhiên trong bối cảnh vận động của địa kinh tế và địa chính trị khu vực và toàn cầu từng thời cùng với thể chế chính trị có được trong mỗi thời kỳ quyết định con đường đi và số phận của đất nước trong mỗi thời ấy. Đây là sự vận động khách quan của sự vật. Mọi trào lưu, xu thế hay “chủ nghĩa”… của từng thời hình thành trong quá trình phát triển của khu vực và thế giới có thể làm cho sự vận động khách quan này từng thời mang những mầu sắc nhất định. Song các nhân tố (1) địa lý tự nhiên, (2) tác động của địa kinh tế và địa chính trị của khu vực và thế giới, và (3) thể chế chính trị của quốc gia luôn luôn là 3 yếu tố khách quan quyết định nhất thân phận và con đường phát triển của đất nước trong từng thời kỳ. (4) Đương nhiên còn phải kể đến văn hoá như một chiều dày lịch sử cũng là một yếu tố lâu dài tác động đến sắc thái của phát triển của đất nước.
Từ nhận xét trên, tôi thấy nước nào vận dụng tốt 4 yếu tố cơ bản này để xử lý được những thách thức và phát huy được mọi cơ hội đến với nó đều thành công, và trong đó thể chế chính trị là yếu tố quyết định nhất. Tôi cũng đi tới được kết luận: Các nước đem ra so sánh họ đều vận dụng tốt hơn nước ta cả 4 yếu tố cơ bản này, vì không bị nô lệ ý thức hệ. Trong khi đó nước ta ngày càng rơi sâu vào tụt hậu, vì không dồn tâm sức vận dụng 4 yếu tố cơ bản nêu trên, mà lại kiên trì theo đuổi cái lá diêu bông chủ nghĩa xã hội và thực hiện một chế độ toàn trị để vận hành đất nước.
Suy nghĩ tiếp, cái gì làm cho những nước này vận dụng tốt được 4 yếu tố cơ bản ấy, tôi rút ra được kết luận, đó là họ luôn luôn bám sát nhịp sống của thời đại để thường xuyên phát huy trí tuệ, tinh thần dân tộc và dân chủ, nhằm giải phóng tiềm năng phát triển của đất nước họ – trước hết là tiềm năng con người. Đội ngũ tinh hoa của đất nước họ chỉ có thể hình thành và xuất hiện trong những điều kiện như vậy. Đồng thời quá trình vận động này cũng làm cho thể chế chính trị và xã hội một mặt (a) trực tiếp góp phần xây dựng nên (với nghĩa rèn luyện, chọn lọc, đào thải…) đội ngũ tinh hoa của đất nước, (b) mặt khác tạo ra một thể chế và văn hoá chỉ để cho đội ngũ tinh hoa nắm quyền quyết định vận mệnh đất nước. Qua thực tế này, tôi càng thấy quyền tự do của cá nhân và chất lượng dân chủ của thể chế chính trị giữ vai trò vô cùng quan trọng. Toàn bộ quá trình này phải dựa trên nền tảng của giáo dục.
So sánh tiếp, tôi cũng thấy: Thể chế chính trị của họ giác ngộ lợi ích quốc gia càng cao – nghĩa là họ hiểu đúng thế giới và chính bản thân nước họ, và càng ưu việt trong xử lý mọi cơ hội và thách thức, họ giành được thành quả càng lớn. So sánh Thái Lan với 3 nước còn lại, tôi cũng đi tới kết luận như vậy (vì Thái Lan thua kém 3 nước kia rất nhiều). So sánh cả 4 nước này với các nước công nghiệp phát triển trên thế giới, tôi cũng đi tới nhận thức như thế [4]. Trong quá trình toàn cầu hoá ngày càng sâu rộng, ưu tiên chiến lược số một của hầu hết các nước này là giải phóng để phát huy nguồn lực con người làm nên sức mạnh quốc gia, để từ đó có thực lực luôn luôn cải thiện vị thế quốc tế của họ. Đây thật sự là một hiện tượng mang tính thời đại, chứ không phải đi lên chủ nghĩa xã hội là xu thế tất yếu như vẫn được rao giảng trong toàn bộ hệ thống chính trị của nước ta.
Trên đây là những điều khái quát nhất rút ra được từ công việc so sánh, và tôi cố gắng trình bầy thật giản lược để thích hợp với khuôn khổ hạn hẹp của bài viết này. Đến đây có thể kết luận:
-      Họ, các nước đem ra so sánh, có cả thế giới là không gian sống và tư duy, có một thể chế chính trị luôn luôn thúc đẩy đất nước vươn ra vùng vẫy trong cái không gian thế giới này.
-      Ta có vòm trời ý thức hệ và ranh giới rõ ràng của chế độ toàn trị quy định cái không gian sống và tư duy của đất nước – với cái tên gọi là CNXH/ĐHXHCN, luôn luôn lo sợ cái không gian rộng lớn của thế giới diễn biến hoà bình mất tiêu cái không gian CNXH/ĐHXHCN của ta.
Như đã nhiều lần trình bày trong các bài trước và bài này, càng “ươm” mãi đất nước trong cái lồng CNXH của cái lá diêu bông như thế, đất nước ta càng phải trả giá, với kết cục là thực trạng của đất nước như hôm nay. Sự thật đảng đang phải đối mặt là: Làm tiếp như thế, đảng đang ngày càng “mất”, hiện nay đảng đang ngày càng đến gần nguy cơ mất trắng, với nhiều tai hoạ khôn lường cho đất nước – vì ở nước ta có lẽ không thể có kịch bản đảng sụp đổ trong hoà bình như ở các nước LXĐÂ XHCN trước đây.
-      Tại sao lại như vậy?
-      Chỉ tại một nguyên nhân gốc duy nhất thôi: Những mâu thuẫn giữa cai trị và bị cai trị trong chế độ chăn dắt hiện nay đang ngày càng gia tăng tính đối kháng nguy hiểm.
Đặc điểm cơ bản của thể chế chính trị ở nước ta hiện nay là “quyền lực thay cho năng lực” như Trần Xuân Bách đã thẳng thắn nhận định trước Bộ Chính trị. Vì thế tha hoá và tham nhũng là vô phương cứu chữa, càng thúc đẩy đảng làm chức năng duy nhất là cai trị, vứt bỏ hẳn vai trò lãnh đạo. Xem xét tất cả các chủ trương chính sách đã thực hiện, các việc đảng đã làm – từ việc Bộ Chính trị mới là người nắm quyền lực tối cao và vận mệnh của đất nước nhưng không phải do nhân dân bầu lên, đến việc Quốc hội “đảng cứ dân bầu” chỉ là một cơ quan thực thi quyền lực đảng – trước hết là của Bộ Chính trị hoặc nhóm nào đó trong Bộ Chính trị…, sự thật đập vào mắt mọi người là: “Độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội” như vậy trên thực tế chỉ có nghĩa là Tổ quốc trở thành của riêng của đảng. Cương lĩnh ghi đảng chỉ có mục đích duy nhất là phục vụ lợi ích của nhân dân – nhưng nó phải là ở trong khung khổ của chế độ chăn dắt…;  vân vân… và vân vân… Phương tiện khả dụng để đảng thực hiện những quan điểm danh và thực đối nghịch nhau như nước với lửa như thế chỉ còn lại là bạo lực và sự dối trá. Do đó sự tích tụ tính đối kháng ngày càng quyết liệt giữa đảng và nhân dân là tất yếu. Toàn đảng, trước hết là Bộ Chính trị, cần nhìn thẳng vào sự thật này.
II.2. Phải đổi mới ĐCSVN để phấn đấu trở thành đảng của dân tộc
Cần đặc biệt lưu ý, cùng với sự tha hoá của quyền lực, đảng đang ngày càng tha hoá nghiêm trọng về mặt tư duy, gây nhiễm độc tư duy rất trầm trọng cho cả hệ thống chính trị và cho toàn xã hội. Về nhiều mặt, có lẽ sự tha hoá về mặt tư duy còn nguy hiểm hơn và khó khắc phục hơn sự tha hoá của quyền lực bạo lực. Về lâu dài, để đổi mới đất nước, sự nhiễm độc tư duy đảng mang lại cho đất nước có lẽ mới là kẻ thù nguy hiểm nhất của đất nước trong quá trình canh tân đất nước. Xin ngẫm nghĩ kỹ điều này.
Tại đây chỉ xin lẩy ra đôi điều để dẫn chứng.
-      Vì cột chặt mình vào tư duy ý thức hệ, nên đảng ngày càng “mất” như đã nói đi nói lại nhiều lần bên trên; song nếu đảng vứt bỏ nó thì đảng không có lý do để tồn tại như đảng đang là nữa. Thực tế này đang giết đảng dần dần. Trong khi đó đảng phải đẩy mạnh chính sách ngu dân để giữ ánh hào quang của chế độ, làm cho người dân không thấy được cái giá phải trả quá đắt cho những gì đã đạt được trong 40 năm qua, người dân vừa bị đầu độc bởi nhiều thứ hão huyền và ngộ nhận nhiều thứ, vừa không được trang bị hiểu biết và ý chí phải có để phấn đấu đưa đất nước thoát nạn tụt hậu…
-      Đảng nói dối nhiều quá theo cách “nói djậy mà không phải djậy”, khiến cho cả hệ thống chính trị và con người của nó cũng phải nói dối theo để tồn tại và để có thể sống được; trong xã hội ngày càng quá nhiều trường hợp dân cũng phải nói dối theo để tồn tại và để sống. Cái kiểu buộc phải sống hai mặt như thế để có thể tồn tại và sống được đang tàn phá tan hoang đất nước về nhiều mặt.
-      Vì chỉ chấp nhận đấu tranh giai cấp và phân chia đất nước ra thành nhân dân và thù địch trong đấu tranh giai cấp, nên đảng không có hay đã đánh mất khả năng đau nỗi đau của dân tộc – qua những sự kiện đầy máu và nước mắt như hiện tượng di cư vào Nam 1954, sự kiện nhân văn giai phẩm, cải cách ruộng đất, cải tạo tư sản sau 30-04-1975, cải tạo “nguỵ quân nguỵ quyền”, nạn “thuyền nhân” vô cùng đau lòng… Đặc biệt là đã 40 năm rồi, nhưng đến hôm nay đảng vẫn không dám nhìn nhận cuộc kháng chiến chống Mỹ có 5 – 6 cuộc chiến tranh bên trong nó, và đau khổ nhất cho dân tộc ta là trong đó có cuộc nội chiến rất đẫm máu; thậm chí hôm nay ai dám nói đến hoà hợp hoà giải dân tộc theo tinh thần này, ngay lập tức sẽ bị quy  kết là phản động. Cho đến ngày hôm nay, đảng vẫn không đủ trí tuệ và ý chí để nhận thức được là lịch sử nội chiến của đất nước đã và đang bị đối xử như thế, đất nước này đã, đang phải tiếp tục trả giá rất đắt trong quá khứ, cho hiện tại và tương lai [5]. Không biết đau nỗi đau của dân tộc như thế, đảng đang rơi vào tình trạng vô cảm trước biết bao nhiêu nỗi đau khác của dân tộc, trong đó có nỗi đau nước độc lập mà vẫn phải là một dạng chư hầu của Trung Quốc, nỗi đau quằn quại ê chề của nhân dân trước tệ nạn trấn áp và tham nhũng, nỗi nhục của người dân của đất nước đi làm thuê và của đất nước cho thuê… Tâm lý bi quan và bất mãn rất nặng nề trong dân.
-      Không biết đau nỗi đau của dân tộc vì 40 năm rồi vẫn chưa tạo lập được sự hoà giải đáng khát khao để toàn dân tộc chỉ một ý chí và một con đường đưa đất nước đi lên phía trước, đảng đang tăng thêm nguy cơ làm cho dân tộc tiếp tục bị chia rẽ trước những thách thức hiểm nghèo từ Trung Quốc và những mối nguy mới của cục diện thế giới hôm nay. Xin đừng quên, dân tộc bị chia rẽ là một trong những nguyên nhân hàng đầu tạo ra cuộc nội chiến đẫm máu trong lòng cuộc kháng chiến chống Mỹ. Nguy cơ này hôm nay còn nguyên vẹn, có thể nhìn vào Ukraina hôm nay để nhận định như vậy. Cần nhìn thẳng vào sự thật: 40 năm độc lập thống nhất rồi, nhưng vẫn chưa xây dựng được (hay chưa xây dựng được bao nhiêu) đoàn kết dân tộc về trí tuệ, ý chí, con đường phát triển đất nước và chỗ đứng nào đất nước nhất thiết phải giành lấy trong thế giới ngày nay! Lợi ích quốc gia làm sao kham nổi sự chậm trễ này trong sự uy hiếp hàng ngày của Trung Quốc? Nhìn vào lịch sử đất nước, tôi nghi rằng chưa bao giờ tinh thân dân tộc của nước ta thấp và thậm chí bị vùi dập như hiện nay; duy nhất ĐCSVN phải chịu trách nhiệm về thực tế này. Đừng cứ vin vào đã đánh thắng nhiều kẻ thù to trong quá khứ mà nhắm mắt trước thực tế: đảng đang làm cho tinh thần dân tộc bị tha hoá nghiêm trọng!
-      Giữ “đại cục” trong quan hệ với Trung Quốc như đang làm, đảng buộc phải trấn áp sự phản kháng của nhân dân chống những hành động Trung Quốc xâm phạm chủ quyền đất nước, bưng bít dân sự thật trong quan hệ Việt – Trung, giấu dân những thủ đoạn đen tối của Trung Quốc, áp đặt dân cũng phải giữ “đại cục” – nghĩa là dân cũng phải tự trói mình… Cách tiếp cận này một mặt làm tê liệt khả năng cảnh giác và sức chiến đấu của nhân dân, mặt khác kích thích yếu tố phản ứng bầy đàn rất nguy hiểm và rất dễ xảy ra với bàn tay can thiệp của quyền lực mềm Trung Quốc – sự kiện chỉ trong 2 ngày 13 và 14-05-2014 khoảng 800 xí nghiệp bị bạo lo�( còn nữa)
( NGUỒN : QUECHOA)

 

Phùng Quán và Ngô Minh tại Đại hội nhà văn IV ( ảnh chụp ở phía sau Hội trường Ba Đình )

Nhân đại hội nhà văn lần thư IX  ( 2015)

Đại hội nhà văn IV cuối 1989:Phái vui tươi và phái hằm hằm.

VƯƠNG TRÍ NHÀN/ vtn blog

 ( Ghi chép của một nhà văn Việt Nam ở Liên Xô tên Ph.)
 
 Moskova đầu năm 89
 
18/5
 Định xin phép sứ quán về Hà Nội dự Đại Hội nhà văn, rồi lại không xin nữa. Lúc đau quá, tôi nghĩ cái Hội nhà văn ấy, bây giờ gợi ra hình ảnh một đống đổ nát, ở đó, có những thứ người ta đáng còn dùng được mà đã vứt đi, và toàn bộ thì không ra hình thù gì nữa.
Đọc thư Nguyễn Khải gửi Ban chấp hành Hội nhà văn càng thấy như vậy. Khải nhìn mọi vấn đề chung từ góc độ quyền lợi riêng. Cái chất quan chức nó thấm vào tận xương tủy. Nũng nịu, điệu bộ đòi người khác phải đặc cách kính trọng mình, khỏi để mình bị tai vạ.
Khải không phải người sáng suốt, đến nay nhận định của Khải về Nhân văn giai phẩm vẫn là hàm hồ. Và nhiều sự kiện lịch sử từ trước tới nay vẫn được Khải nhìn nhận dưới con mắt giai cấp. Có lẽ không bao giờ Nguyễn Khải trở nên một nhà văn có con mắt nhân bản chăng?
… Hình như xã hội đã làm hỏng các nhà văn, không chừa ai cả, và không một nhà văn nào hiểu cái cơ chế này đã hành hạ họ như thế nào.
 
Có một số cây bút mới được kết nạp vào Hội. Người được kết nạp cố nhiên là ủng hộ, cái sự ngăn chặn đổi mới mà họ vu cho là đổ máu rồi. Khái niệm nhà văn trở nên rẻ rúng. Không bao giờ  lại hình dung những người như mấy ông như X. Y .Z. cũng là nhà văn.
 
Dương Thu Hương đưa ra một nhận định khái quát (trong một lá thư gửi một cậu Đặng Việt Bảo nào đó):
 – Đa số anh em ở nhà đều hoang mang
- Mong rằng thế hệ sau sẽ khá hơn thế hệ này.
Nghe tin Đại hội mỹ thuật mất một ngày bầu chủ tịch đoàn. Chỉ bầu được có 4  ủy viên chấp hành. Quân mất chức đâu chỉ vì cái câu chó cứ sủa đoàn người cứ tiến ( ý muốn nói giữ nguyên cách điều khiển Hội như cũ ). Sau khi họp xong, Quân đi viện.
 
1/7
 Thanh Quế kể (Trần Đình Nam thuật lại):
– Ở Hà Nội bây giờ đến Hội Nhà văn, thằng nào cũng sẵn sàng mời mình chén trà, chén cà phê, để nói xấu những thằng khác.
– Làm báo như Hoàng Minh Châu thực khổ. Cái gì thằng Thỉnh nó cũng có ý kiến. Nó là Phái viên của Ban chấp hành cơ mà. Ông Thi đã khéo chọn được người của mình. Ấy, nó chỉ đạo mọi thứ thế, nhưng ký thì Hoàng Minh Châu phải ký, tức chịu trách nhiệm.
 Cả ông Thi, ông Chính Hữu phải lo làm báo. Chỉ có tờ báo là chỗ tranh luận.  Duật, Hồ đang là 2 con ngựa khỏe. Đâu Ng ĐThi định đưa Duật lên làm Phó tổng biên tập, nhưng Hồ phản đối. BênTác phẩm văn học, Bùi Bình Thi cũng có thể lên phó tổng biên tập nữa.
 
Cảm tưởng của tôi về xã hội, về văn học: một cái gì  yếu ớt, nhạt nhẽo, mà bên ngoài dơ dáy, nhếch nhác.
Người nói lên tiếng nói cộng đồng trong lúc này là ai? Là Nguyễn Huy Thiệp, một thứ con hoang, dị dạng. Nhưng còn là chính lão Đỗ Văn Khang, bạ cái gì cũng dở giọng bàn góp lý sự cùn, nói lấy được. Văn học là ông Khải muốn thay đổi mà lại muốn giữ nguyên các giá trị như ngày hôm qua. Là ông Lê Lựu viết những quyển sách rất hay, bằng thứ văn rất dở, như cho người ta ăn thứ cơm tám thơm đầy sạn, mà bát đũa thì nhơ nhớp.
 
12/8
Tôi đọc một vài bài tiểu luận về tình hình văn học gần đây, và thử hình dung ra khuôn mặt một số người.
-  Vũ Tú Nam, một thứ chủ nghĩa bảo thủ dịu dàng, chừng mực, nhưng bảo thủ tận trong xương tủy. Ta đã XHCN sẵn rồi, chỉ cần thêm XHCN  chút nữa mà thôi. Ta kết hợp cả hôm qua và hôm nay. Ta có nhân dân, có đất nước. Làm như ông, chỉ đẻ ra một nền văn chương nhạt nhẽo.
- Ngô Văn Phú với bài Sự nghiệp văn chương trên báo Nhân Dân rõ ra vẻ một ông nông dân, luôn luôn tự hào, ta chẳng đổi thay gì, xưa nay, ta vẫn là ta, chớ có suy nghĩ gì, làm là được. Chúng tôi là những người lao động, tôi nắm chân lý. Một thứ hãnh tiến của một đầu óc cấp huyện!
-  Nguyễn Kiên, có vẻ nhìn xa hơn một chút và hiểu rằng , có những cái mới, nhưng cũng không đủ sức thay đổi.
- Ma Văn Kháng, trải đời rồi, hết hy vọng rồi, chỉ còn tin vào chính mình. Và một câu thầm reo trong lòng rồi hoàn cảnh nào, ta cũng sống được.
 
Hà Nội Cuối 1989 
 
16/10
 Chuẩn bị đại hội. Còn có việc gì quan trọng hơn thế nữa , lúc này?
Lại Nguyên Ân không biết lấy ở đâu ra một danh sách. Những người không nên đưa vào ban thư ký (Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, Nguyễn Khoa Điềm); những người không nên đưa vào ban chấp hành mới (Nguyễn Kiên, Giang Nam….); những người nên đưa vào, họ lại đều là Ban chấp hành cũ ( PCĐệ, Xuân Trường.,..)
 
Trần Đăng Khoa, từ lúc ở Moskva, đã kể về 3 loại người không được đưa vào Ban chấp hành: loại phủ nhận, loại công nhận có 2 thứ bá quyền, loại gây mất đoàn kết
 Ai đã đưa ra những tin đồn này? Có khi là cấp trên không biết chừng.
 
17/10
Thay đổi lớn nhất ở Hà Nội mà ở Moskva tôi không biết —  đã có một Nghị quyết mới về Văn nghệ lật ngược tình thế. Gọi là Nghị quyết 7.
 
Chiến tuyến  tập trung cả vào báo Văn Nghệ.
Báo đăng bài tường thuật cuộc họp mặt ở Sài Gòn trước đây ít ngày, nhằm tuyên truyền cho Đại Hội theo hướng BCH hiện nay. Bàì viết đơn giản hơn nhiều so với thực tế. Nghe nói Triều Dương được giao sứ mệnh vào tổ chức.
Nguyễn Duy là chi nhánh trưởng của báo ở Sài Gòn, nhưng không được biết gì cả. Bọn Nguyễn Quang Sáng, Lý Văn Sâm, Vũ Hạnh, Sơn Nam không dự (được giới thiệu là bận công tác không đến được).
Nghe Trần Hữu Tá viết thư ra cho Ng Đ Mạnh nói rằng người ta, — những người đứng đắn ở trong đó, dân Sài Gòn cũ, – cũng thấy kinh hãi về các trí thức xã hội chủ nghĩa, M Liên, Tr Th Đạm v.v..
Lê Trí Viễn gọi đó là văn chương chỉ điểm. “ Đội hành quyết” thì  gồm có Anh Đức, Phạm Tường Hạnh v.v..
Lúc đó Nguyễn Khải đang ở Sài Gòn. Trong buổi họp đó, Khải dự nửa chừng rồi bỏ về.
Nhưng báo Văn nghệ số 40, đăng một bài phát biểu của Nguyễn Khải, có mấy ý quan trọng:
–mọi tội là của lãnh đạo (Nh: ý nói ông Trần Độ).
–Văn học không thể làm mất lòng tin của con người. Đổi mới phải từ từ.
– Nhà văn không ai bị thiệt trong đổi mới, nên có ai bảo thủ đâu… Không nên chê các bậc đàn anh. Các anh ấy đã rất vất vả trong việc xây dựng Hội. Có ai được hưởng quyền lợi gì lắm. Cho nên đừng có tấn công họ.
Ai có thể tưởng tượng đến lúc này, Nguyễn Khải còn nói như vậy.
 
Hôm nay thấy Nguyễn Khải đang đi xe đạp trên đường Lý Nam Đế, dáng béo phị, khệnh khạng, tôi cúi mặt không dám chào ông nữa. Có cảm tưởng là mất thật rồi, cái con người mà mình xưa nay kính trọng, thậm chí yêu mến. Nay thì tình yêu đó đã hết, tôi chẳng còn gì để nói với Nguyễn Khải nữa, ngoài lòng căm giận và sự chán ngán mà tôi phải giấu kín không thể hiện.
 
 Võ Văn Trực sang nhà tôi chơi, kể chuyện. Chán báo Văn Nghệ lắm. Bọn Duật thao túng tờ báo, số nào Duật cũng có bài. Vì Duật lại phụ trách phần lý luận và thời sự, tức là điểm mũi nhọn của báo (ở Moskva, Nguyễn Kiên kể rằng bây giờ, bị người ta ghét nhất, có lẽ là Phạm Tiến Duật).
Một lần Duật làm một trò rất nhọ. Họp công tác viên, để “quán triệt Nghị quyết 7”. Mời đâu 30, mà chỉ có 13 người đi, và toà soạn phải huy động ngồi vào đấy cho đủ chỗ. Lần sau, mời 20, đi có 4, rồi xuống nhà thấy có 2 người nữa là 6. Chả mấy ai nói chuyện gì tử tế cả.
Nhưng cũng có người như Phong Lê, rất căng. Các anh đừng có áp đặt chúng tôi về người nọ người kia…
 Nguyễn Đăng Mạnh bảo vào tai tôi, Phong Lê còn đang múa máy đấy thôi. Nhưng trên cho người của nó đến, nó bảo mấy câu là lại co vòi ngay.
 Có một bài viết giọng chỉ đạo ký Tr P Lộc .Tôi hỏi Võ Văn Trực,  Tr PLộc là ai ? Trực bảo không biết. Cả báo Văn nghệ chỉ có ba người biết là Hữu Thỉnh, Hoàng Minh Châu và Duật. Và 3 người đó giữ được bí mật.
Trực kêu không hiểu sao ông Thi ông ấy lại đi dùng những Duật, Bùi Bình Thi.
 
Ân nói về bài Khải (Văn nghệ số 41), không hiểu sao, Khải bây giờ còn cần gì nữa, mà vẫn muốn lấy lòng bọn Nguyễn Đình Thi. Tôi nghĩ Khải là vậy, phù thịnh, ai lên thì theo. Vì biết rằng phe của Thi sẽ toàn thắng, nên chịu thua ngay từ bây giờ là xong.
Nguyễn Đăng  Mạnh nhận xét về Thi.
– Về học vấn, kiến thức, có thể chê điều nọ điều kia. Chứ về ứng xử trong chính trị thì tuyệt. Với văn nghệ, đó là một đao phủ thủ có bàn tay nhung.
Đại hội nhà báo, bầu ra một ban thư ký mới, trong đó có Kim Hạnh. Cô Hà thư viện bảo, Hội nhà văn nghe tin này chẳng thú vị gì. Đến cả ông Phạm Hổ cũng khó chịu.
 
22/10
 Hình như thực chất của Đại hội là cấp trên thì muốn xiết văn nghệ lại và ở dưới thì  bên cạnh một bọn hoan hô việc riết lại đó để kiếm chác, một bọn muốn tiếp tục giẫy ra như năm ngoái năm kia.
Nhưng cấp trên là ai ?
Nghe dân Văn nghệ quân đội  kể, trong cuộc họp về Nghị quyết 7, ông Nguyễn Nam Khánh chửi bới Nguyễn Khắc Viện ghê gớm. Đó là con một viên thượng thư từng đàn áp Xô viết Nghệ Tĩnh đã sang học bên Pháp, nay lại trở về, dạy không chúng ta về Xã hội chủ nghĩa.
(Nói chung, các nhà lãnh đạo cỡ này, giọng lưỡi có khác nhau mấy tý).

 

Nhưng ông Nam Khánh chẳng qua nói lại lời ông Linh.
Lại nhớ cái lần ông Khải bảo chúng ta có một ông Tổng bí thư tuyệt với, một Tổng bí thư không nói chuyện cao siêu mà toàn bàn chuyện cụ thể.
Lại nhớ cái lần Ân viết ngay trong thư riêng (tức là những ý nghĩ tự nguyện của Ân) Văn nghệ đang đi ngược lại tinh thần Nghị quyết Đại hội VI…
Chúng ta chưa hiểu cấp trên, cái đó một phần. Nhưng đáng sợ là cấp trên hay thay đổi.Nguyễn Đăng Mạnh diễn tả khá hay về chuyện này:
- Lúc đầu mình tưởng bản chất của chủ nghĩa xã hội là dân chủ, và làm như vừa rồi là sai, nên mới đề nghị thay đổi. Còn nay, thì đã hiểu. Bản chất của chủ nghĩa xã hội là mất dân chủ rồi, còn gì phải nói nữa.
 
Nhưng bên chính trị cũng có những chuyện phức tạp của nó. Có một nhân vật mới nổi là Trần Xuân Bách. Trước kia chửi NVL (Đổi mới là gì, là NVL cộng với mười nhà báo), nay lại cười giễu việc Việt Nam lo lắng về Ba Lan. Và cho rằng chủ nghĩa xã hội chỉ có 2 khả năng, một là mở rộng dân chủ như Đông Âu, hai là đàn áp như Trung Quốc. Nghe nói bên trên có một cánh muốn đi với Mỹ, một cánh muốn kiên trì kiểu cũ, hai bên xung đột với nhau.
Thế thì còn biết đằng mù nào mà lần!
Trở lại chuyện Đại hội. Phe Nguyễn Đình Thi làm việc ráo riết. Mai Liên ở Sài Gòn ra bảo đã chuẩn bị rồi, loại như Ngô Thảo mà lên diễn đàn, thì sẽ có ai đáp lại.
Ân đưa tin là không biết chừng, Xuân Trường lại muốn làm Tổng thư ký hội, và trên lại sẵn sàng giới thiệu (cũng như Hồng Chương cuối đời về làm báo. H X Trường đã 66 rồi, còn việc gì sang trọng hơn về nắm Hội nữa).
Rồi Ân kể rằng nghe tin này, Ma Văn Kháng bảo không thể thế được, phải xáp vô.
 
 28/10
Chuẩn bị Đại hội Nhà văn, ngày 23 và 24 học Nghị quyết.
Ngày 25 và nửa ngày 26 nghe ông Hai Tân nói chuyện. Thấy mừng vì Trưởng ban mới không ra mặt áp đặt lắm. Ông kể là ta không muốn mà phải rút quân Campuchia. Vậy Đảng ta sẽ chấp nhận mọi diễn biến thực tế.
Bắt đầu có những ý kiến đề xuất việc này việc nọ. Cao Tiến Lê đề nghị Ban chấp hành có kiểm điểm. Trần Mạnh Hảo than thở, thân phận văn nghệ bị nghi ngờ quá. Thùy Mai đọc thư đề nghị xét lại trường hợp Bùi Minh Quốc.
 
Ngày 26, thảo luận quy chế đại hội, bầu chủ tịch đoàn. Tô Hoài lai rai, đòi ở chủ tịch đoàn bị Phan Hồng Giang tố cáo là sắp đi Le Caire, đừng có đòi chủ tịch  đoàn nữa.Gạt được Tô Hoài, Phan Tứ đưa được Lê Minh, Ý Nhi, Cao Tiến Lê vào (một chỗ của Lê Giang).Bắt đầu những chất vấn ở đại hội. Phạm Tường Hạnh chất vấn Sông Hương, Tô Nhuận Vỹ trả lời v.v..Thái Bá Lợi chất vấn báoVăn Nghệ Trần Phú Lộc là ai, là Trần Trọng Tân hay sao v.v..Ngày 27, bắt đầu đề cử người vào chấp hành. Sau đó cãi nhau tiếp. Nhiều người bênh Bùi Minh Quốc.
Sự kiện quan trọng buổi chiều 27: đọc thư của Trần Độ, đánh giá công tác của ban Văn hoá văn nghệ tham gia vừa qua.
 Đại ý sau Đại hội 6, tôi (Trần Độ )đã mang suy nghĩ nhiều về Văn hoá, thấy văn hoá là quan trọng đã suy nghĩ về trí thức, chắc rõ ta có trí thức tốt, phải giúp họ phát huy sức mạnh giúp Đảng đưa xã hội tiến lên.Thấy rõ ngoài phần chung của Đảng, của nhà nước, có phần riêng của mỗi người. Lãnh đạo chỉ nên định hướng rộng, và để nhân dân tự do chọn món ăn.
Trần Độ tự nhận mình là nông dân là tiểu trí thức nông thôn, phải học hỏi thêm. Trong thái độ với trí thức, mình có lúc có thô bạo, nhưng tấm lòng thì vẫn là kính trọng.
… Lá thư 21 trang của Trần Độ được Nguyễn Văn Hạnh đọc rất đĩnh đạc. Nhiều đoạn vỗ tay. Và sau cùng, vỗ tay kéo dài. Tôi nói với Nguyễn Đăng Mạnh, ông này có tư tưởng độc lập, tuy vẫn là người cộng sản chân thành.
(Trần Độ có nói “những ý tưởng của tôi còn đang là thiểu số nhưng ta sẽ chiến thắng”).
Mạnh bảo ông Độ chịu đọc lắm nên đáng trọng lắm.
Sau khi đọc lá thư, Nguyễn Văn Hạnh bốc lên, nói rằng mình chia sẻ với mọi tư tưởng của Trần Độ. Rằng những ý tưởng của Trần Độ cần được suy nghĩ. Nguyễn Văn  Hạnh tỏ ý tin tưởng ở đổi mới, ở đại hội nhà văn lần này. Ông còn nói qua mấy ngày chuẩn bị đại hội, thấy rất đáng mừng. Đây là sự thức tỉnh của lương tri dân tộc.
 
Gặp nhau sáng 26, 27,  nhiều người đã rất mừng, rõ ràng đại hội kỳ này dân chủ phe cấp tiến thăng phe bảo thủ.Thanh Thảo bảo quân ta đã đến Phan Rang rồi. Phải cẩn thận, nhưng nghe đâu, phe địch đã được lệnh tuỳ nghi di tản.
Tối 26, có buổi nói chuyện về Nguyễn Huy Thiệp ở Thư viện Hà Nội. Ý Nhi loan báo đại hội rất đáng mừng, rằng chúng tôi sẽ tính lại chuyện anh Nguyên Ngọc, chuyện Bùi Minh Quốc v.v..
…Nhưng đến sáng 28/10, đúng ngày Đại Hội khai mạc thì tình hình lại ra chiều ngược lại.Đầu tiên là nghe nói đêm hôm trước có buổi hợp Ban bí thư với các đảng viên trong chủ tịch đoàn + các đảng viên trong Ban chấp hành khoá cũ.
Đến trưa thì nghe Hữu Thỉnh nói là sẽ có Hội nghị Đảng viên vào ngày 29/10.
 
[4/11]
Thì ra tình hình thế này:
Từ mấy hôm trước, bọn Duật, Đỗ Chu, Đào Vũ… đã lên trên kêu là Đại hội hỏng rồi.Ban bí thư gặp Ban chấp hành và Chủ tịch Đoàn (chỉ ai là Đảng viên), ở đó mẹ Tú và mẹ Thường kêu la đủ chuyện.Thậm chí ông Tân (đúng không?) phê phán Nguyễn Khoa Điềm. Tại sao ở Hội nghị Ban chấp hành đã đồng ý theo thể thứcĐại hội bầu ban chấp hành, rồi chấp hành bầu Tổng thư ký, đến Đại hội này lại theo ý kiến anh em, bầu Tổng thư ký trực tiếp. Nguyễn Văn Bổng, Nguyên Ngọc phải bênh, không, ra hội nghị thấy anh em nói có lý, nên mới làm như vậy.Nhưng điều quan trọng nhất, là lá thư ông Độ đã truyền bá một quan niệm khác quan niệm của Nghị quyết 7, cho nên các ông rất không bằng lòng.Trong số những người đến dự khai mạc, có ông Sáu Thọ. Nghe nói ông quát hỏi Nguyễn Văn Hạnh.
 “Tại sao anh đọc thư Trần Độ”
 “ Có nhiều người đề nghị……”
“Tại sao lại bầu Tổng thư ký trực tiếp”
 “ Anh nên tin ở anh em ”.
Hội nghị đảng viên sáng 29/10 là để đối phó lại với lá thư ông Trần Độ là chính. Ông ĐDTùng phân tích là lá thư đó đã hình thành ra sao, ông Độ chỗ nào được, chỗ nào chưa được v.v..
Giá kể hồi trước, có Tố Hữu thì tình hình đã quay ngoắt lại ngay. Nhưng nay là các ông chính trị chay, nên họ cũng e dè hơn. Họ chỉ sợ giới  nhà văn nghe ông Độ hơn nghe các đại diện chính thức của Đảng.
Trên nói ra miệng là không áp đặt gì. Những người thuộc giới văn nghệ phát biểu cũng không muốn trên áp đặt.
Huy Phương nói rằng mất đoàn kết là ở Ban chấp hành cũ. Là do bộ máy lãnh đạo cũ tha hoá, trở thành trung gian không đáng tin cậy.
 Phong Lê – người xưa nay vốn rất cứng  — lại lên tiếng tố cáo bài viết của Anh Đức trên báo Nhân Dân và một số bài của những người khác, trên báo Văn Nghệ, là có ác ý, báo động giả.
 Nông Quốc Chấn thì cho là…không bình thường và hình như Đại hội được tiến hành để tấn công Ban Chấp hành cũ.
 Nguyễn Đình Thi muốn đẩy quả bóng lên trên, xin Ban Bí thư có gợi ý. Ông bảo nói như anh Hạnh là không được, phải nói toàn diện, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã thức tỉnh.
Ông Bổng xin lên phát biểu cuối cùng. Ông bảo Đảng có thể yên tâm vì đây là anh em chiến đấu về cả. Đảng hay nói anh em là tốt, nhưng đừng bao giờ để anh em lại hiểu rằng nói vậy thôi, còn bên trong, Đảng vẫn nghĩ khác.
Không, anh em tốt thật, nếu anh em có chút băn khoăn về Chủ nghĩa xã hội băn khoăn về Đảng, thì đấy cũng là chuyện bình thường.
Hình như các đồng chí quá lo về chuyện bầu Tổng thư ký. Nhưng Tổng thư ký bầu ra có sai nữa, thì còn có chi bộ Hội nhà văn, còn có Đảng bộ, còn có khối Tư Tưởng Văn hóa, còn có Thành uỷ, còn có Ban chấp hành TW… Có gì mà các đồng chí phải ngại.
Ông Bổng nói rất hay và anh em hoan nghênh.
 
Sau đó, Đại hội lại diễn ra bình thường.
Kể từ ngày trù bị, cho tới ngày Đại hội, có thể chia làm 2 phái. Phái diều hâu, mà nổi lên có Anh Đức, Phạm Tường Hạnh, MQLiên, và số đông anh em VNQĐ, được Nguyễn Đình Thi ủng hộ. Lập luận của họ là vừa rồi ta đã sai, đã làm bậy nhiều. Phải trở về với Nghị quyết 7 ngay lập tức. “Đấy là cái đang cần cho chúng ta”.
Phạm Tường Hạnh chửi Trần Độ, tố cáo Sông Hương (bảo làSông Hương không có bài về Sinh nhật HCT, về Chế Lan Viên…)
(Người ta nói rằng nhờ có Phạm Tường Hạnh khiêu khích thế mà bức thư ông Độ mới được công bố.)
 
Mai Ngữ hiện ra thật kinh khủng. Ông ta vào chuyện: Người ta nói tới chuyện vụ án. Tôi biết có những vụ án kinh khủng hơn.
 Năm 76, Hội đang hoạt động bình thường tự nhiên lập ra Đảng Đoàn, với ông bí thư hách dịch chỉ thích đi nước ngoài. Từ đó, Tổng thư ký cũ chỉ còn là cái bóng thui thủi…
Rồi đến vụ báo Văn Nghệ, vẫn con ngựa ấy với người đánh xe ấy. (Trần Độ và Nguyên Ngọc).
Rồi những ngày vừa rồi. Ban Văn hóa văn nghệ tập hợp tuy – ô của mình, đi gặp đồng chí Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh. Ban văn hoá văn nghệ  đưa ra Ban trù bị, định vô hiệu hoá Ban chấp hành cũ.
Nhưng tất cả lại đầy tội lỗi, lại tan nát.
Nghe anh em nói, lúc Mai Ngữ đọc, đã có nhiều tiếng ở dưới hội trường vọng lên: Đồ chỉ điểm…Đồ chống Đảng. Đọc xong ông ta đờ đẫn đứng bên cạnh mi – crô, không biết đi về đâu. Nghe tiếng hét của mọi người, mặt mũi ông ta xám ngoét đi. Ai đó nói rằng bấy giờ ông ta giống như một tên chiêu hồi, sau khi khai báo xong, tự nhiên sinh ra sợ hãi thất thần.
 
Nguyễn Văn Bổng bình luận: Ai nói những điều xấu xa thì tự người đó xấu thôi.Sự phản công lại, cũng không lấy gì làm đẹp lắm. Thu Bồn, Nguyễn Duy nói dông dài không vào vấn đề. Dương Thu Hương quá cảm động (hay bản chất Hương là vậy), nên nói không hay. Và chẳng những vấn đề Hương bàn cũng quá rộng không thích hợp với không khí đang giằng co nhau.
Có nhiều sự ngẫu nhiên. Hoàng Quốc Hải nói gãy gọn về một số yêu cầu pháp luật. Mã A Lềnh đề nghị biểu quyết về quyết nghị của Ban chấp hành cũ.
Có lúc tôi nghĩ thật tự hào về anh em mình.
Nhưng đấy là những khi nghe phát biểu.
Đến lúc đi vào công tác tổ chức thì các lực lượng cấp tiến rời rã thất bại.
Nghị quyết cũ về Báo Văn nghệ không bị bác, người ta đã mệt không ai muốn tranh cãi nữa.
 Ngay từ đầu, Hữu Thỉnh đã trúng số phiếu cao (dù rất nhiều ý kiến phê phán báo Văn nghệ và Thỉnh ngậm miệng ăn tiền, nhất định không thò ra nhận lỗi).
 Ông Chính Hữu bảo rút không rút.
Nhất là Nguyễn Khải lì lợm, đợi đến vòng 2 cũng đợi, không chịu rút. Ai đó bảo mồm Nguyễn Khải bây giờ như đít vịt ấy mà…
Sở dĩ vậy, vì Nguyễn Khải mấy lần nói với chung quanh là nhất định phen này lão sẽ rút. Cuộc đời có gì phiền muộn hơn mình nghĩ. Cuộc đời có gì thật vớ vẩn. Mà cũng đúng thôi! Lúc đổi mới là như vậy.
Rút cục, ai muốn cái gì được cái ấy.
Phe cũ được quyền lực.  
 Phe mới được tiếng nói.
Sau đại hội, nhiều người vẫn có thể ngẩng mặt lên mà chửi bọn cơ hội, thế là được lắm rồi. Họ đâu biết rằng ngày mai sẽ khác.
 
11/11
Nhớ lại những mẩu chuyện nghe được chung quanh Đại Hội.
 Vũ Bảo nhớ lại Đại hội 1983 thật là mất dân chủ. Chúng tôi muốn họp đại hội toàn thể. Anh Hoàng Tùng mắng chúng tôi nhà văn không thể nói ngược. Tôi đáp lại không, chúng tôi nói xuôi, viết xuôi. Chúng tôi không phải là người ca Liên Xô rồi chửi Liên Xô, ca Trung Quốc rồi lại chửi Trung Quốc…May mà Đại hội này đã khác.
 
Cuộc đổi mới, bắt đầu từ lúc bầu Chủ tịch Đoàn. Cao Tiến Lê bảo nếu có thời gian có thể viết được quyển sách 200 trang về Chủ tịch Đoàn. Mụ Lê Minh và mụ Ý Nhi cái gì cũng có ý kiến, cái gì không thích thì bỏ ra, nghe được thằng nào xui mấy câu, lại vào lại đòi. Lê Minh dám gọi mấy ông Trung Ương là thằng, còn sợ ai nữa.
Ý Nhi kể, lúc bàn để thông qua Nghị quyết về việc mỗi ứng viên ban chấp hành chỉ được 2 khoá, Nguyễn Đình Thi bảo:
– Nhỡ có những nhà văn làm vinh dự  cho uy tín dân tộc
Ý Nhi :
– Không, hãy ra cái đã. Bây giờ chưa có nhà văn loại đó đâu, mà chỉ có những nhà văn làm ô nhục cho uy tín dân tộc thôi.
Ông Thi im.
Lại như khi bàn về bản tuyên bố cuối cùng của Đại hội, trong đó có việc đánh giá Bản báo cáo của Ban chấp hành. Bà Lê Minh nói rằng bản báo cáo là không chính xác, và Ý Nhi bảo là không trung thực. Nguyễn Đình Thi đỏ mặt lên vì làm vậy là xúc phạm đến ông ta, xúc phạm tài năng của một người có tiếng là viết báo cáo giỏi từ xưa tới nay.
 
Ông Trần Bạch Đằng có lần ra mặt đàn anh. Anh Thi phải bình tĩnh mới được. Anh có thể ra ngoài 5 phút để nghĩ. Mỗi người trong chủ tịch đoàn có thể đề nghị một phương án của mình nên có một tuyên bố như thế nào.
 Rõ ra Trần Bạch Đằng tỏ ý xoa đầu Nguyễn Đình Thi.
Đỗ Chu đi khắp nơi xin phiếu. Anh cho em một phiếu. Này, nhớ thêm cho thằng này một phiếu nhé. Chu lại còn đi viết hộ các cụ và cứ thế, để lại tên mình, tất nhiên.
Đỗ Chu lúc nào cũng tất bật xông ra với mọi người, muốn hô hoán một điều gì đó với mọi người.
Năm ngoái, Chu từ Bắc Ninh ra ở ngay trong cơ quan Văn nghệ quân đội, đi tham gia vào vụ đánh dẹp Nguyên Ngọc, nói Nguyên Ngọc không ra gì.
Năm nay, sau khi Đại hội bầu ra Ban chấp hành mới, cùng với việc Triều Dương đến chúc mừng Nguyên Ngọc, lại thấy Đỗ Chu mời Nguyên Ngọc uống bia.
Nghe người ta kể trước lúc ra họp, Anh Đức đã chuẩn bị làm Tổng thư ký. Đã có diễn văn nhậm chức. Trong khi  Trần Mạnh Hảo chuẩn bị quần áo để đi tù (vì quyển Ly thân), thì Anh Đức chuẩn bị quần áo để nhậm chức Tổng thư ký và sẽ ở lại Hà Nội sắp xếp công việc.
Trước khi ra Bắc họp Anh Đức mở tiệc khao quân ở nhà mình. Trên máy bay, Anh Đức còn hỏi Nguyễn Khải:
– Ông thấy tôi nên chọn ai làm phó, Vũ Tú Nam hay Bằng Việt.
Xuân Tùng cung cấp một chi tiết: Trong thời gian họp, Anh Đức viết cho Ngọc Tú (trong Ban Tổ chức Đại hội) mảnh giấy, chị sắp xếp cho tôi, anh Bảo Định Giang, anh Phạm Tường Hạnh, Mai  Liên chúng tôi phải ngồi cạnh nhau để tiện sắp xếp công việc.
Rồi Anh Đức thực hiện đúng như vậy. Cánh Anh Đức luôn tách ra, ngay khi cả vào nhà ăn. Nhưng anh em họ cũng cho đám thầy trò này những vố khá đau. Có trưa, thấy mâm Anh Đức còn thiếu người,  anh em họ vẫn lảng, họ không đến gần. Nhà ăn khá đông, vậy mà thày trò cứ ngồi trơ ra đấy, chờ người cho đủ mâm. Mấy bữa sau, một người trong bọn phải báo cháo.
Ai đó kể, Anh Đức với mấy người cùng đám lên gặp ông Linh. Ông Linh (hay bọn giúp việc) không cho gặp. Anh Đức cằn nhằn rằng ở Sài Gòn tôi muốn gặp ai, muốn lúc nào cũng được.
Lại lên gặp ông Phạm Văn Đồng. Nhưng đang đi bộ trong trong vườn, thấy bọn Anh Đức từ xa, ông Đồng đã xua, về mà giải quyết việc với nhau.
Có bao giờ những điều trong hậu trường này được viết ra?
Dạo này anh em hay kể về nhật ký Nguyễn Huy Tưởng. Ở một Đại hội nào đó, ông Tưởng đã ghi “Cụ Hồ đến, Công an nhan nhản” “ Cụ Hồ lại đọc một bài thơ nhạt thếch! “
Trong Đại hội lần này, anh em kể dưới gầm bàn chủ tịch đoàn có đặt máy thu. Phòng họp chủ tịch đoàn cũng có máy thu, Chủ tịch Đoàn nói gì thu vào đấy hết.
Vậy mà có nhiều chuyện rất liều. Cao Tiến Lê kể Ý Nhi  dám cãi nhau tay đôi với Lê Đức Thọ. Ông kia bảo ”Tại sao lại bầu Tổng Thư ký. Như thế là không được ?“.”Nhưng anh em thấy được bác ạ!” Ông Thọ chịu.
Ngô Thế Oanh kể, văn phòng ông Thọ gửi thư đến, bảo Đại hội nên mời Lê Đức Thọ nói chuyện. Chủ tịch đoàn có bàn chuyện này. Nguyễn Đình Thi không có mặt hay sao đó. Và Trần Bạch Đằng gợi ý trả lời
1/ Có nói thì cũng không làm đảo lộn chương trình nghị sự, vì chương trình đã bố trí chặt.
2/ Chỉ nói trong 10 phút.
Ông Đằng cay vì chuyện chính trị nên chơi ngang vậy (với Nguyễn Đình Thì, Trần Bạch Đằng căm từ hồi lâu, năm 1974 Nguyễn Đình Thì vào, Trần Bạch Đằng không tiếp mà đẩy đi mặt trận ngay).
          Sau việc này, không thấy văn phòng Lê Đức Thọ nói gì nữa.
 
2/12
 Đại hội nhà văn qua đi. Được cái gì ? hình như không được cái gì. Tôi thấy hụt hẫng.
Tại sao những Hữu Thỉnh Ngọc Tú Hữu Mai lại được bầu vào Ban Chấp hành. Tại vì họ đã được ông Thi chọn. Nghĩa là được bộ máy chọn. Bộ máy ấy đã làm việc để nâng cao uy tín của chính những người đứng máy. Chỉ có tiêu chuẩn cánh vế chính trị chứ không có tiêu chuẩn chuyên môn chất lượng sáng tác.
Một lý do sâu sắc nữa – ấy là sự ngớ ngẩn của đám đông – cái đám đông mà tôi đã miêu tả – họ chẳng khác những con cừu.
Những điều này có liên quan đến sự định hướng hoạt động của tôi thời gian tới.
Nói chung, cách đi ẩn giữa đời vẫn là sự lựa chọn tốt nhất.
Dương Thu Hương lên tiếng bảo những Trần Đại Nghĩa, Kim Ngọc từng kêu gọi Đảng phải biết ơn nhân dân chứ không phải chỉ có nhân dân biết ơn đảng. Đọc vào tôi đã thầm nghĩ, thật  ngây thơ quá, nói những sự đơn giản ấy làm gì. Nhưng cùng lúc tôi lại nghĩ, dẫu sao Dương Thu Hương cũng tốt hơn mình, dũng cảm hơn mình, không có những run rẩy sợ hãi, khi nói về chuyện đó. Lúc nghe cũng vừa sướng vừa sợ. Tôi ấy!
Lại như khi thấy bọn Lý luận phê bình bây giờ tranh luận. Trần Hữu Tá lấy nghị quyết 5 ra chống lại Nghị quyết trung ương 7, Phạm Tường Hạnh lấy cớ nghị quyết 7 ra sau để cãi lại v.v.
Tôi muốn nói một câu đơn giản trước tiên không được chơi trò này nữa.
 
21/12
 Trên Bản tin tham khảo có một bái phân tích Các hội chứng của Chủ nghĩa xã hội hành chính ở Đức
- Tập trung quyền lực trong một nhà độc tài kiêu ngạo. Điều khiển kinh tế thông qua một trung tâm chỉ huy thiếu hiểu biết.
- Quy chế hoá và tập trung hoá quan liêu nền văn hoá. Khoa học và giáo dục đều đã xua đuổi nhiều bộ óc có tính chất phê phán ra khỏi đất nước
- Áp chế chính trị với công dân, buộc tội người khác chính kiến
Biến cảnh quan thông tin đại chúng thành một sa mạc thông tin ảm đạm, thành một hệ thống đưa tin cung đình ghê sợ.
- Gạt bỏ cơ sở Đảng ra khỏi mọi quá trình bàn bạc…
( Nguồn: vuowngrtrinhan blog- QTXM trích)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 25.09.2014

TƯỜNG ƠI , DÙ NĂM DÙ THÁNG..

Hoàng Phủ Ngọc Tường 

               TƯỜNG ƠI , DÙ NĂM DÙ THÁNG..

Ngô Minh

QTXM-Tôi mở máy xem lưu trữ, thấy có bài viết về Hoàng Phủ Ngọc Tường về những ngày đầu bị bạo bệnh nằm hôm mê ba tháng liền ở  Đà Nẵng.Bài viết này tôi viết sau chuyến  tôi cùng nhà văn Nguyễn Quang Hà, Nguyễn Khắc Thạch vào Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng thăm Hoàng Phủ đang hôn mê. Khi trở ra, Nguyễn Quang Hà, lúc đó là Tổng biên tập Sông Hương bảo tôi :” Anh Tường nặng lắm. E khó qua được. Ngô Minh viết sẵn cho Sông Hương một bài, kẻo khi sự vụ xảy ra không lo kịp…”. Bài viết ấy nằm trong máy của tôi từ mườì sáu năm nay…Hoàng Phủ Ngọc Tường vẫn khỏe…  Xin in lại đây để bạn đọc cùng chia sẻ…                                                                 

                  Tôi chợt bàng hoàng , bủn rủn chân tay khi nghe tin dữ : Anh Hoàng Phủ Ngọc Tường bị tai biến mạch máu não , một thứ bệnh thập tử nhất sinh ở một khách sạn ở Đà Nẵng ! Sao lại thế được! Mới hôm kia đây thôi, tôi theo anh lên ga Huế tiễn Lâm Thị Mỹ Dạ ra Hà Nội để đi hội thảo văn học ở Mỹ . Buổi chiều đó , anh còn chụp ảnh, nói cười, rồi xách túi du lịch nặng mấy chục ký của vợ băng băng lên tàu .  Mỹ Dạ đi rồi, tôi và anh đèo nhau bằng xe máy lòng vòng qua các phố Huế xanh , dừng  ghé quán cóc trên đường Ngô Quyền, con đường  cây kết vòm xanh quanh năm xứ Huế  . Chiều hôm đó anh nói rất hay về Nguyễn Công Trứ , về văn hóa World Cup và về các cô phát thanh viên “ cưụ trào” hơn hai mươi năm chưa hề nghỉ nói của đài truyền hình Huế.. Tôi thăm dò anh về cúp bóng đá thế giới Fran-98. Anh bảo ,Đức , Brazin sẽ đá trận chung kết , nhưng chuyện “học tài thi phận” xưa nay không thiếu ! Đêm, ngay sau lễ khai cuộc World Cup, bực tức về chuyện quảng cáo quá thời lượng trên VTV , lấn mất cả chục phút lễ khai mạc và trận đấu mở màn, anh điện thoại cho tôi,  gay gắt :” Cậu ghi thêm ngay vào bài phỏng vấn ý kiến của mình nhắn với VTV rằng, quảng cáo cũng cần để có tiền , nhưng nên nhớ là một vừa hai phải thôi, lấn lướt quá như rứa còn chi là văn hóa nữa ! “ …

(Đọc tiếp…)

MỘT BÀI THƠ SÁM HỐI CUỐI ĐỜI CỦA NHÀ THƠ CHẾ LAN VIÊN

Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1920 tại xã Cam An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị..Ông lớn lên và đi học ở Quy Nhơn, đỗ bằng Thành chung (THCS hay cấp II hiện nay) thì thôi học, đi dạy tư kiếm sống. Có thể xem Quy Nhơn, Bình Định là quê hương thứ hai của Chế Lan Viên, nơi đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn của nhà thơ.

Ông bắt đầu làm thơ từ năm 12, 13 tuổi. Năm 17 tuổi, với bút danh Chế Lan Viên, ông xuất bản tập thơ đầu tay nhan đề Điêu tàn, có lời tựa đồng thời là lời tuyên ngôn nghệ thuật của “Trường Thơ Loạn”. Từ đây, cái tên Chế Lan Viên trở nên nổi tiếng trên thi đàn Việt Nam. Ông cùng với Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Quách Tấn được người đương thời gọi là “Bàn thành tứ hữu” của Bình Định.

Năm 1939, ông ra học tại Hà Nội. Sau đó Chế Lan Viên vào Sài Gòn làm báo rồi ra Thanh Hóa dạy học. Năm 1942, ông cho ra đời tập văn Vàng sao, tập thơ triết luận về đời với màu sắc siêu hình, huyền bí.

 Cách mạng tháng Tám , ông tham gia phong trào Việt Minh tại Quy Nhơn, rồi ra Huế tham gia Đoàn xây dựng cùng với Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Đào Duy Anh. Thời kỳ này, Chế Lan Viên viết bài và làm biên tập cho các báo Quyết thắng, Cứu quốc, Kháng chiến. Phong cách thơ của ông giai đoạn này cũng chuyển dần về trường phái hiện thực. Tháng 7 năm 1949, trong chiến dịch Tà Cơn-đường 9 (Quảng Trị), Chế Lan Viên gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương.

Năm 1954, Chế Lan Viên tập kết ra Bắc làm biên tập viên báo Văn học. Từ năm 1956 đến năm 1958, ông công tác ở phòng văn nghệ, Ban tuyên huấn trung ương và đến cuối năm 1958 trở lại làm biên tập tuần báo Văn học (sau là báo Văn nghệ). Từ năm 1963 ông là ủy viên thường vụ Hội nhà văn Việt Nam, ủy viên ban thư kí Hội nhà văn Việt Nam. Ông cũng là đại biểu Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa các khóa IV, V và VI, ủy viên Ban văn hóa – giáo dục của quốc hội.

Sau 1975, ông vào sống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ông mất ngày 19 tháng 6 năm 1989 (tức ngày 16 tháng 5 năm Kỷ Tỵ) tại Bệnh viện Thống Nhất, thành phố Hồ Chí Minh, thọ 69 tuổi.

Ông được nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (1996).(Theo Wikipedia/Chế Lan Viên). 

Về cuối đời, Chế Lan Viên có một số bài thơ được nhiều người truyền tụng:

 

Ai? Tôi!

Chế Lan Viên
 
Mậu Thân 2.000 người xuống đồng bằng
Chỉ một đêm, còn sống có 30
Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2.000 người đó?
Tôi!
 
Tôi – người viết những câu thơ cổ võ
Ca tụng người không tiếc mạng mình
trong mọi cuộc xung phong.
Một trong ba mươi người kia ở mặt trận về sau mười năm
Ngồi bán quán bên đường nuôi đàn con nhỏ
 
Quán treo huân chương đầy, mọi cỡ,
Chả huân chương nào nuôi được người lính cũ!
Ai chịu trách nhiệm vậy?
Lại chính là tôi!
 
Người lính cần một câu thơ giải đáp về đời,
Tôi ú ớ.
Người ấy nhắc những câu thơ tôi làm người ấy xung phong
Mà tôi xấu hổ.
Tôi chưa có câu thơ nào hôm nay
Giúp người ấy nuôi đàn con nhỏ
Giữa buồn tủi chua cay vẫn có thể cười 

(Rút trong sổ tay thơ tập 5 của tác giả)

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.09.2014

Cô gái có… 3 vú

Chuyện lạ

Cô gái có… 3 vú

Một cô gái 21 tuổi sống tại thành phố Tampa (bang Florida, Mỹ) đã chi 20.000 USD để phẫu thuật, cấy ghép bầu ngực thứ 3 lên cơ thể mình, giúp cô trở thành một ngôi sao chương trình truyền hình thực tế.
Jasmine Tridevil có thể khiến nhiều người phải giật mình khi lần đầu nhìn thấy cô. Jasmine Tridevil có thể khiến nhiều người phải giật mình khi lần đầu nhìn thấy cô.

Jasmine Tridevil (không phải tên thật), cô gái 21 tuổi sống tại thành phố Tampa (bang Florida, Mỹ) khiến nhiều người sốc và có phần hoảng sợ khi nhìn thấy bởi lẽ cô sở hữu đến 3 bầu ngực căng tròn.

Jasmine cho biết cô đã bị từ chối bởi hơn 50 bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ vì lo ngại vi phạm đạo đức nghề nghiệp, trước khi cô tìm thấy một bác sĩ sẵn sàng giúp cô thực hiện ca phẫu thuật cấy ghép khuôn ngực thứ 3 lên cơ thể.

Jasmine cho biết, cô rất biết ơn người bác sĩ đã giúp cô thực hiện ca phẫu thuật này, tuy nhiên cô phải giấu tên người bác sĩ đó vì hành động này đã vi phạm các tiêu chuẩn về đạo đức được ban hành bởi Hiệp hội Phẫu thuật thẩm mỹ Hoa Kỳ. Cô cho biết để thực hiện ca phẫu thuật, bác sĩ đã sử dụng phần mô từ bụng để tạo hình thành khuôn ngực thứ 3, một phương pháp phổ biến được sử dụng để cải thiện kích cỡ các bộ ngực bình thường.

Giờ đây, cô gái 21 tuổi này cho biết mình hoàn toàn hài lòng với cơ thể của cô. Jasmine thường xuyên chụp những hình ảnh mặc những bộ trang phục nóng bỏng để khoe 3 bộ ngực trên người. Cô thậm chí còn thiết kế riêng những bộ bikini để có thể khoe đường cong của cơ thể.

Jasmine thậm chí còn tự hào tuyên bố rằng mình đã từ bỏ mẹ và chị gái của mình, những người đã phản đối và ghê tởm cơ thể mới của cô. Trong khi đó, bố của Jasmine đã phải miễn cưỡng chấp nhận sở thích của con gái mình.

Sau khi phẫu thuật ngực, Jasmine đã thuê một đội ngũ thực hiện truyền hình đi bên cạnh cô mỗi ngày để sản xuất một chương trình về “người phụ nữ 3 ngực”. Chương trình thực tế của Jasmine đang được chờ ngày lên sóng trên kênh MTV.

“Giấc mơ của tôi là có một chương trình trên MTV. Tôi đã tiêu từng xu cho giấc mơ này và nó sắp trở thành hiện thực”, Jasmine cho biết.

Mặc dù Jasmine cảm thấy tự tin về cơ thể khác thường của mình, nhiều người đã cảm thấy sốc và hoảng sợ khi nhìn thấy cô. Tuy nhiên cô cho biết phản ứng của người khác không làm ảnh hưởng đến cô và cô không nuối tiếc vì những gì mình đã làm.

Scot Glasberg, Chủ tịch Hiệp hội phẫu thuật Thẩm mỹ Hoa Kỳ đã lên án trường hợp của Jasmin là “phi đạo đức một cách tồi tệ” và “gây hại cho xã hội”. Glasberg cho biết trường hợp này sẽ được báo cáo lên Hội đồng quản lý bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ quốc gia và nếu tìm kiếm ra danh tính bác sĩ đã thực hiện ca phẫu thuật có thể bị thu hồi giấy phép hành nghề.

“Các bác sĩ phải gặp gỡ bệnh nhân vài lần trước khi phẫu thuật thẩm mỹ để đảm bảo rằng họ đang làm điều đó vì một lý do chính đáng. Còn đây không phải là lý do chính đáng, mà chỉ nhằm mục đích giật gân và gây chú ý”, bác sĩ Glasberg gay gắt chỉ trích.

alt Jasmine thường xuyên mặc những bộ trang phục gợi cảm để khoe 3 bầu ngực của mình

Mặc dù Jasmine đã trở nên nổi tiếng hơn sau khi thực hiện phẫu thuật tạo bầu ngực thứ 3 và tự tay xây dựng cả một chương trình truyền hình về riêng mình, tuy nhiên cô vẫn khẳng định hành động này không nhằm mục đích được nhiều người biết đến mà đơn giản chỉ là sở thích cá nhân và khiến cô không còn hấp dẫn với đàn ông vì cô không còn muốn hẹn hò.“Tôi làm điều này vì tôi muốn bản thân mình trở nên thiếu hấp dẫn với đàn ông vì tôi không còn muốn hẹn hò với họ”, Jasmine giải thích.

Theo Dân Trí

 

Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh

Đi Trung Nam Hải cầu hòa, liệu Bộ trưởng Phùng Quang Thanh có ngăn được giặc Tàu?

Hoan hô tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, tuổi già mà hùng tâm tráng chí không già. Đọc ông ta liên tưởng đến một hào khí Đông A, một Hội nghị Diên Hồng, một tâm sự yêu nước khắc khoải của Đặng Dung thuở nào: “Thù nước chưa báo sao đầu đã sớm bạc. Bao đêm mang gươm báu ra mài dưới ánh trăng”.

Cụ là tấm gương sáng cho đám hậu sinh chúng ta noi theo.

Bauxite Việt Nam

 

BỘ TRƯỞNG PHÙNG QUANG THANH THĂM TRUNG QUỐC LIỆU CÓ NGĂN ĐƯỢC ÂM MƯU CỦA HỌ CHIẾM BIỂN, ĐẢO CỦA CHÚNG TA VÀ BÁ CHIẾM BIỂN ĐÔNG KHÔNG?

 

Nguyễn Trọng Vĩnh

 

Từ xưa đến nay, chưa bao giờ các thế hệ cầm quyền Trung Quốc từ bỏ mưu đồ thôn tính nước ta.

Năm 1974, họ đánh chiếm Hoàng Sa của ta. Năm 1979, họ xua quân xâm lăng, giết hại đồng bào và tàn phá 6 tỉnh biên giới của ta. Năm 1988, họ đánh chiếm bãi đá Gạc Ma trong quần đảo Trường Sa của chúng ta, giết hại 64 cán bộ chiến sĩ của ta.

Trong đàm phán biên giới, họ ép và lấn ta làm ta mất một nửa thác Bản Giốc, mấy trăm mét từ ải Nam Quan xuống đến xã Tân Thanh và nhiều nơi nữa dọc biên giới, ta mất đất bằng một tỉnh Thái Bình.

Trên biển, Trung Quốc lập huyện Tam Sa bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa của ta, bắt tàu cá, tịch thu tài sản của ngư dân, bắn giết ngư dân ta, đưa giàn khoan 981HD vào thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của ta với hàng trăm tàu bảo vệ phun vòi rồng, đâm hỏng tàu chấp pháp, tàu kiểm ngư, đâm chìm tàu cá của ngư dân ta…

Từ khi họ nêu ra phương châm “16 chữ + 4 tốt”, chỉ có lãnh đạo phía Việt Nam thực hiện, Trung Quốc không những không hề thực hiện, trái lại còn làm những việc lấn chiếm, bắn giết, đe dọa… Phải gọi họ là kẻ cướp, kẻ thù.

Thế mà,ông Phùng Quang Thanh dẫn các tướng sang thăm Trung Quốc nhằm “củng cố tình hữu nghị”.

Chắc hẳn đoàn Bộ trưởng được đón tiếp trọng thị, khoản đãi hậu tình, có quà cáp đáng giá và được nghe những lời đường mật giả dối.

Trong khi đó, Trung Quốc sắp xây xong sân bay và đường băng trên đảo Phú Lâm, đương gấp rút hoàn thiện căn cứ quân sự có đường băng trên nhóm bãi đá Gạc Ma mà họ xây dựng thành các đảo nhân tạo không ngoài mục đích uy hiếp và chuẩn bị, chờ thời cơ chiếm nốt quần đảo Trường Sa của ta và bá chiếm biển Đông. Giới cầm quyền Trung Quốc luôn tuyên bố “Lập trường đối với Nam Hải (biển Đông) quyết không thay đổi”.

Liệu chuyến thăm của đoàn Bộ trưởng Phùng Quang Thanh sang cầu hòa có ngăn được âm mưu của họ không?!

Sinh ra Bộ Quốc phòng là để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải quốc gia. Lẽ ra ông Bộ trưởng phải phân biệt rõ bạn, thù, ra sức tăng cường lực lượng quốc phòng về mọi mặt, luôn sẵn sàng chuẩn bị đối phó với tình hình xấu nhất theo tinh thần “lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn” như dân tộc ta đã thực hiện. Đằng này, khi Trung Quốc đặt gian khoan xâm phạm thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của ta thì ông lại phát biểu “Quan hệ Việt – Trung vẫn phát triển tốt”, không có ý kiến gì đối với việc Trung Quốc xây dựng công trình trên đảo Phú Lâm và trên cụm Gạc Ma, không quan tâm đến những sự kiện Trung Quốc đã đứng chân và nắm được nhiều điểm xung yếu về quân sự trên đất liền, từ rừng biên giới đến ven biển và các hải cảng, cũng như hàng vạn người Trung Quốc rải khắp nơi trong nước ta, kể cả cư trú trái phép. Có một ông Bộ trưởng Quốc phòng như thế thì việc mất biển, đảo và mất nước là khó tránh khỏi./.

N.T.V

Nguồn: BVN

 

Older Posts »

Danh mục