Đăng bởi: Ngô Minh | 02.09.2014

TRÊN CHIẾN KHU BA LÒNG

TRÊN CHIẾN KHU BA LÒNG

 
Lê Phương
Đại tá – Cựu chiến binh
 
QTXM: Ông Lê Phương – Đại tá, cựu chiến binh – quê làng Hòa Ninh, xã Quảng Hòa, Quảng Trạch, Quảng Bình; vào bộ đội khi 16 tuổi, cùng đơn vị với Nhà văn Phùng Quán. Ngày mới nhập ngũ, ông làm liên lạc, rồi được quân đội cử đi học ở trường “Thiếu sinh quân” (Khu 4). Chưa xong khóa học, do nhu cu của chiến trường, trở về đơn vị trên chiến trường Bình Trị Thiên. Năm 1953 – 1954, được điều ra nước ngoài dự khóa huấn luyện và tiếp nhận pháo cao xạ 37mm; là sĩ quan “Cao xạ pháo” của “Trung đoàn pháo cao xạ 367” chiến đấu trên chiến trường Điện Biên Phủ lịch sử. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông công tác tại Cục Chính trị, Quân chủng Phòng không – Không quân. Nhân dịp Cách mạng Tháng 8 – Quốc khánh 2/9 lần thứ 69, QTXM trích đăng hồi ký “Những tiếng lòng của tuổi xuân” của Đại tá Lê Phương, kể về những ngày tháng chiến đấu ở Chiến khu Ba Lòng – mặt trận Bình Trị Thiên, thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp.
Chiến sĩ văn công từ U Bò – Ba Rền đến Chiến khu Ba Lòng
Cuộc kháng chiến vĩ đại bước sang năm thứ 4. Ngoài Bắc, quân ta đại thắng, mặt trận Bình Trị Thiên có những bước đi lên. Chiến trường cần thêm nhiều chiến sĩ; theo lệnh của Khu uỷ Khu 4, một số lớn học sinh của các trường “Thiếu sinh quân” cần bổ sung cho mặt trận miền Bắc và Phân khu (Bình Trị Thiên). Xác định được nhiệm vụ của mình, tôi trở về hàng ngũ chiến đấu, đó là tháng 2 năm 1950. Cuộc đời “thiếu sinh quân” chỉ vẹn vẹn có 6 tháng.
Trèo đèo lội suối, vượt U Bò – Ba Rền đến chiến khu Ba Lòng, nơi “đầu vào” của mặt trận kháng chiến Bình Trị Thiên. Một sự gặp gỡ bất ngờ trên dốc cao Làng Hạ. Chị hai tôi (con thứ 2 trong gia đình – chị Lê Thị Hạnh Phúc) đi học ở Phân khu về. Hai chị em gặp nhau giữa lưng đèo. Em vào Nam chị ra Bắc, gặp nhau mà nghẹn ngào, chả nói nên lời. Tôi nhìn người chị mến yêu không chớp mắt, gian khổ đã hiện lên khuôn mặt hiền từ của chị. Chị vô cùng ngạc nhiên khi gặp em ở đây, vì tôi mới rời áo lính đi học có mấy tháng, chưa kịp nói rõ lý do cuộc hành quân này. Đoàn của tôi, đội của chị đã cách nhau xa, không thể nấn ná lâu, vì “chúa sơn lâm” đang rình những người đi về (thời kỳ này đã có những chiến sĩ bị hổ vồ trên đường ra trận). Phút chia tay sao mà buồn thế. Tôi đứng yên trên tảng đá nhìn bóng dáng người chị khi đã khuất dần trong cây lá. Chị càng đi càng gần lại quê hương, được gặp mẹ và cac em. Tôi muốn gửi theo chị lời chào với mẹ kính yêu, nhưng chị đã đi xa rồi…

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 01.09.2014

Bàn về chữ “Giá” trong một bài thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm

  •   Thế Anh

Trên tạp chí Kiến thức ngày nay số 839 ra ngày 01-12-2013 có đăng  bài Kỷ niệm về một bài thơ & một câu hỏi chưa lời giải đáp của Nguyễn Cẩm Xuyên. Vấn đề nêu lên rất thú vị: đó là cách hiểu chữ giá trong bài thơ Cảnh nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bài thơ này trong nguyên văn chữ Nôm không có tên gọi. Những người soạn giáo khoa đã căn cứ vào nội dung đặt tên cho bài thơ là Cảnh nhàn và đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường trước đây.

Hiện nay bài thơ cũng được chọn vào chương trình Ngữ văn 10 của bậc THPT và lấy tên gọi là Nhàn. Bài thơ như sau:

Một mai, một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dù ai vui thú nào

Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn, người đến chốn lao xao

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

Rượu đến cội cây đa sẽ uống

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

Bài thơ nôm na, dung dị, không dùng từ Hán – Việt và điển cố cầu kỳ. Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí có nhận xét chung về thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm như sau: Văn chương ông tự nhiên, nói ra là thành, không gọt dũa, giản dị mà linh hoạt, không màu mè mà có ý vị, đều có quan hệ đến việc dạy đời. Bài thơ đã được trao đổi, phân tích, bình giảng của nhiều nhà giáo, giáo sư, cán bộ nghiên cứu, nhà thơ và cả những người yêu thích văn chương nữa. Phần lớn các ý kiến phân tích đều có sức thuyết phục và đã giúp cho các em học sinh hiểu được một cách sâu sắc hơn quan niệm sống của nhà thơ (chữ Nhàn) qua đó thấy được nhân cách và những nét đặc trưng trong phong cách thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm (giọng điệu trữ tình kết hợp với chất triết lý). Thế nhưng cũng có một vị Phó GS đã gán ghép cho cụ Trạng và bài thơ hàng loạt điển cố xa lạ của Tàu[1]. Ông cho rằng người soạn sách giáo khoa giảng cho các em học sinh mai để đào đất, cuốc để xới đất, cần câu để bắt cá là sai, mà phải hiểu như ông là khi phá đề Nguyễn Bỉnh Khiêm lấy ngay điển từ Nhạc phủ – bài Kích nhưỡng ca để mở đề: “Tạc tỉnh nhi ẩm, canh điền nhi thực, nghĩa là đào giếng mà để uống, cày ruộng mà để ăn”. Ông còn trích dẫn tràng giang đại hải tư tưởng Mặc Tử, Trang Tử, Hàn Phi Tử. Về chữ cần câu tác giả bài viết này cũng buộc cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm không được dùng lưỡi câu bình thường và mồi câu thơm như ở quê nhà mà phải câu lưỡi thẳng như cụ Lã Vọng trong lịch sử cổ đại Trung Hoa. Ông gán cho Nguyễn Bỉnh Khiêm điển Trang Tử về cần câu và dẫn bài Trúc Can trong Kinh Thi để minh họa. Sự gán ghép trên đây quả là khiên cưỡng, bởi vì Lã Vọng ngồi câu với lưỡi câu thẳng là để chờ thời và cuối cùng cụ đã đạt được mục đích là giúp Vũ Vương diệt Trụ lập nên triều đại nhà Chu, còn cụ Trạng của chúng ta thì đã từ quan về ở ẩn ở chốn quê nhà, lấy chữ nhàn làm lạc thú nhìn xem phú quý tựa chiêm bao  thì việc gì cụ lại phải bắt chước Lã Vọng. Vị PGS này còn xúc phạm những người viết sách giáo khoa là vẹt hót khi họ phân tích: Bốn mùa xuân, Hạ, Thu, Đông, mùa nào nào thiên nhiên cũng là môi trường sống thanh tao:

Thu ăn mang trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

Hai câu là bộ tranh tứ quý, có cảnh, có người, có mùi vị, có hướng sắc.

Măng trúc và giálà hai loại thức ăn bình dân, quê kiểng bao đời nay, cần gì phải đi tìm gốc gác trong kho thư tịch cổ ngổn ngang của Tàu và trích dẫn lời Mã Viện (14TCN đến 49SCN)- một tên tướng đã từng xâm chiếm và cai trị nước ta – cho rằng, vị măng đông ngon hơn măng cuối xuân, hoặc dẫn chứng những câu chuyện có liên quan đến măng của các danh nhân cổ đại Trung Quốc chẳng dính líu đến câu thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Cái kiểu bình luận văn chương theo lối nói lấy được để phô trương kiến thức biến con chuột thành con voi đã làm cho vị PGS đi quá đà đẩy câu thơ cụ thể của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm lên một phạm trù triết học trừu tượng, siêu hình, thú thật tôi cũng không hiểu ông ta định nói gì, xin ghi lại đây để độc giả tham khảo:

“Câu đầu, Nguyễn Bình Khiêm đưa ăn lên trên và đặt song trùng: ăn (măng)// ăn (giá). Đấy là hình nhi hạ. Câu sau, thi nhân vẫn dùng phương pháp sóng đôi: tắm (hồ)// tắm (ao). Đây mới là hình nhi thượng. Hai câu luận song song đối nhau. Nhưng ngay trong mỗi câu, Nguyễn Bỉnh Khiêm lại chặt đôi: hình nhi thượng trước (măng trúc)// hình nhi hạ sau (giá). Măng trúc do trời ban, thiên nhiên ban; còn giá bởi con người vất vả làm ra. Câu sau vẫn lối cấu trúc: Hình nhi thượng trên – hồ sen do ông xanh tạo hóa, ông ban cho được tắm hương trời; mà nếu, ông xanh không cho thì vui vẻ trở về tắm ao (cũng có thể tắm ao tù) – Hình nhị hạ dưới. Con người tự làm, chẳng phái đội Thiên tử (!).”

Trở lại chữ giá mà tác giả Nguyễn Cẩm Xuyên đề cập đến trong bài viết của mình chúng tôi xin có ý kiến như sau: Trong cấu trúc chữ Nôm có một loại đọc theo âm Hán – Việt nhưng không lấy nghĩa mà chỉ lấy âm. Chẳng hạn một số câu trong Truyện Kiều:

Trăm năm trong cõi người ta (些)

Trải qua (戈) một cuộc bể dâu

Tà tà bóng ngả (我) về tây

Đi đâu (兜) chẳng biết con người Sở Khanh

Chữ ta (些) tiếng Hán có nghĩa là ít, một ít, chữ qua (戈) là một binh khí ngày xưa; ngã (我) là ta, tôi; đâu (兜) cái mũ ngày xưa lúc ra trận; nghĩa của những chữ Hán trên đây không liên quan gì đến nội dung câu thơ, mà chủ yếu là mượn âm đọc.

Chữ giá (蔗, 稼) mà ông đề cập đến trong bài viết cũng thuộc loại này, cho nên không thể hiểu câu thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm là Thu ăn măng trúc, đông ăn mía hay ăn mạch nha được, mà chỉ có một cách đọc và hiểu duy nhất là Thu ăn măng trúc, đông ăn giá (giá đỗ) và lại càng không thể hiểu là băng giá hay nước đá như ông đã phân tích.

Chữ Nôm của các cụ trước đây chưa được điển chế và qui chuẩn hóa, nên một âm có thể viết được nhiều cách tùy trình độ từng người, một chữ cũng có thể được đọc khác nhau, tùy theo từng văn cảnh cụ thể và cảm nhận của từng người, chẳng hạn như chữ nghỉ/nghĩ, nêm/nen, nét ngài/nét người… trong Truyện Kiều.

Một điều đng chú ý nữa là khi thưởng thức văn chương trung đại, ta không nên phân tích quá tỉ mẩn theo con mắt của nhà khoa học hiện đại, như có người đã cố đi tìm cho được hệ đo lường của Trung Quốc thời xưa để xác định chiều cao của Từ Hải trong Truyện Kiều. Măng trúc và giá trong câu thơ, cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng chỉ muốn đề cập đến những món ăn dân dã, quê kiểng và cái thú tắm ao, tắm hồ ở nông thôn khi cụ về ở ẩn tìm thú an nhàn thế thôi, chứ cụ đu có suy nghĩ theo kiểu hàn lâm ăn măng/ăn giá là hình nhi hạ, tắm hồ/tắm ao là hình nhi thượng (!) hay đi câu với lưỡi câu thẳng như người ta đã gán cho cụ.


[1]Xin xem bài đăng trên Tạp chí Hán Nôm số 4/2009 của Nguyễn Đăng Na có nhan đề Về bài thơ số 79 của Nguyễn Bỉnh Khiêm

( Nguồn :VHNA)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 01.09.2014

Di chúc của Lê Nin

Di chúc của Lê Nin

 
Phạm Ngọc dịch từ tiếng Nga/ FB Bùi Quang Minh
Di chúc” của Lênin là toàn văn “Thư gửi đại hội” được vợ ông gửi tới ủy ban trung ương ngay sau khi Lênin qua đời, nó được đọc trước Đại hội lần thứ 13 của Đảng cộng sản vào tháng 5 năm 1924.. Trong số 6 nhân vật được nhắc tên trong Di chúc – Stalin, Trotsky, Zinovyev, Kamenev, Bukharin, Pyatakov nên ủy ban quyết định không công bố công khai. Ủy ban trung ương cho rằng di chúc là hậu quả của tình trạng tâm thần bất ổn của Lenin trong những năm cuối đời, và vì thế, những lời phán xét cuối cùng của ông không đáng tin cậy. Việc không đếm xỉa tới những ý kiến của Lenin sau này được cho là một sai lầm nghiêm trọng.

Sau khi nắm quyền lãnh đạo sau đại hội, Stalin đã trục xuất Trotsky khỏi Nga và sau đó phái người ám sát ông, 4 người còn lại lần lượt bị Stalin hãm hại, bị kết án “tổ chức chống phá nhà nước Xô-viết”, “kẻ thù nhân dân” và bị xử bắn.
THƯ GỬI ĐẠI HỘI
(Di chúc Lenin)
23-12-1922
Theo tôi trong kì đại hội này nên tiến hành một loạt thay đổi trong chế độ chính trị của đảng ta.
Tôi muốn chia sẻ với các đồng chí những dự định tôi cho là quan trọng nhất.
Điều đầu tiên, tôi đặt vấn đề tăng số lượng ủy viên BCHTW lên vài chục cho đến một trăm. Tôi nghĩ BCHTW đang đứng trước hiểm họa to lớn trong trường hợp diễn biến sự kiện xảy ra không có lợi cho ta (ta chưa thể lường trước việc này), – nếu như chúng ta không áp dụng cải cách này.
Tiếp theo, tôi đề nghị đại hội lưu ý đến đặc trưng pháp lí của nghị quyết Ủy ban kế hoạch nhà nước, trong những điều kiện nhất định; vấn đề này liên quan trực tiếp đến đồng chí Trotsky, đến một mức độ nào đó trong những điều kiện nhất định.
Liên quan đến điểm đầu tiên, tức là vấn đề tăng số lượng ủy viên BCHTW, tôi nghĩ việc này thật sự cần thiết để nâng cao uy tín của BCHTW, và quan trọng để hoàn thiện bộ máy nhà nước của ta, hầu ngăn chặn xung đột của một bộ phận nhỏ trong BCHTW có thể gây nên hậu quả lớn, có hại cho số phận của đảng ta.
Theo tôi, đảng ta có quyền đòi hỏi từ giai cấp công nhân 50-100 ủy viên BCHTW và có thể đạt được mà không phải cố gắng quá sức.
Cải cách này tăng cường đáng kể sự vững mạnh của đảng và làm giảm bớt áp lực của cuộc đấu tranh giữa các nước thù địch, mà theo tôi có thể và chắc chắn sẽ gay go khốc liệt hơn trong những năm tới. Tôi nghĩ sự ổn định của đảng ta nhờ biện pháp này sẽ tăng lên cả ngàn lần.
24-12-1922
Vì sự ổn định của BCHTW, như tôi đã nói ở trên, tôi nhận thức được những biện pháp ngăn chặn sự chia rẽ, trong một chừng mực nào đó, những biện pháp này có thể được thực hiện. Vì lẽ, tất nhiên, tên bạch vệ trong tạp chí “Tư tưởng Nga” (hình như là S.S. Oldenburg) đã có lí, một là, khi đặt vấn đề về sự chia rẽ của đảng ta, trên quan điểm chống lại nước Nga Xô-viết của chúng, hai là, đặt vấn đề về mâu thuẫn nghiêm trọng trong nội bộ đảng đối với sự chia rẽ đó.
Đảng ta dựa trên hai giai cấp và vì thế, tình trạng mất ổn định có thể xảy ra và sự sụp đổ cũng không tránh khỏi, nếu giữa hai giai cấp này không thể đạt được một sự đồng thuận. Trong trường hợp đó, thực hiện biện pháp này hay biện pháp khác, nói chung, bàn về sự bền vững của BCHTW là một việc vô ích. Không biện pháp nào trong trường hợp này có thể ngăn chặn được sự chia rẽ. Nhưng tôi hi vọng đó còn là một tương lai rất xa và là một biến cố có xác suất rất nhỏ để chúng ta phải bàn luận trong lúc này.
Tôi nói đến sự bền vững, đảm bảo không xảy ra chia rẽ trong một tương lai gần và tôi có ý định xem xét ở đây một loạt dự định có tính cách hoàn toàn cá nhân.
Tôi nghĩ rằng vấn đề chính yếu của sự ổn định từ quan điểm này là các ủy viên BCHTW, như Stalin và Trotsky. Theo tôi, quan hệ giữa hai người chiếm hơn một nửa hiểm họa chia rẽ, có thể tránh khỏi và để tránh được nó, theo ý kiến tôi, chỉ bằng cách tăng số ủy viên BCHTW lên 50 hoặc 100 người.
Từ khi nắm trọng trách tổng bí thư đảng, đồng chí Stalin đã thâu tóm vào tay mình quyền lực vô hạn mà tôi không dám chắc đồng chí sẽ đủ thận trọng để sử dụng quyền lực này. Mặt khác, đồng chí Trotsky, được chứng tỏ qua việc chống lại BCHTW về vấn đề Bộ dân ủy giao thông, không chỉ nổi bật về khả năng xuất chúng mà thôi. Về phương diện cá nhân, có lẽ Trotsky là người có năng lực nhất trong BCHTW hiện nay, nhưng lại tự tin quá mức và hay bị lôi cuốn bởi khía cạnh hành chính thuần túy của công việc.
Những phẩm chất ấy của hai nhà lãnh đạo xuất sắc của BCHTW hiện nay có thể vô tình dẫn tới sự chia rẽ, và nếu đảng ta không thực hiện những biện pháp đề phòng, sự chia rẽ ấy có thể bùng nổ bất ngờ.
Tôi miễn nêu tính cách những ủy viên BCHTW khác theo phẩm chất cá nhân của họ. Tôi chỉ lưu ý, biến cố tháng Mười của Zinovyev và Kamenev, tất nhiên, không phải là tình cờ, nhưng không thể quy đó là lỗi lầm cá nhân của họ, cũng như không thể quy cho Trotsky không phải là bôn-sê-vích.
Trong số những ủy viên BCHTW trẻ tuổi, tôi muốn có vài lời về Bukharin và Pyatakov. Theo ý tôi, họ là những lực lượng xuất sắc nhất (trong số lực lượng trẻ) và đối với họ, cần chú ý như sau: Bukharin chẳng những là lí thuyết gia quý báu nhất và cứng cáp nhất của đảng, mà còn có quyền được xem như con cưng của toàn đảng, tuy nhiên, khó mà chắc chắn được những quan điểm lí luận của đồng chí có thể được coi là hoàn toàn Mac-xit, bởi có gì kinh viện giáo điều trong đó (đồng chí chưa bao giờ học hỏi, và theo tôi, chưa bao giờ thông hiểu toàn bộ biện chứng pháp).
25-12-1922
Về Pyatakov, không nghi ngờ gì, là người có ý chí sắt đá và khả năng xuất chúng, nhưng lại quá thiên về quản lí hành chính và khía cạnh hành chính của công việc, thành thử không thể dựa vào đồng chí trong những vấn đề chính trị quan trọng.
Dĩ nhiên, những nhận định này khác của tôi chỉ có giá trị trong giai đoạn hiện tại, giả sử như hai cán bộ xuất sắc và trung thành này không có dịp bồi dưỡng thêm kiến thức và thay đổi quan điểm phiến diện của mình.
Bổ sung thư ngày 24-12-1922
4-1-1923
Stalin là người quá thô lỗ và nhược điểm này hoàn toàn có thể chịu đựng được trong quan hệ giữa chúng ta, những người cộng sản, song không thể chấp nhận được trên cương vị tổng bí thư đảng. Vì thế, tôi đề nghị các đồng chí hãy suy nghĩ về biện pháp thuyên chuyển Stalin khỏi trọng trách này và đề cử vào vị trí đó một đồng chí khác, với những phẩm chất ưu tú hơn so với Stalin, cụ thể là kiên nhẫn hơn, trung thực hơn, nhã nhặn hơn, chu đáo với đồng chí hơn, ít thất thường hơn v.v… Tình huống này có thể là không đáng kể. Tuy nhiên, tôi nghĩ, trên quan điểm ngăn ngừa sự chia rẽ như những gì tôi trình bày ở trên về quan hệ giữa Stalin và Trotsky, thì điều này hoàn toàn không hề nhỏ nhặt, bằng không, đó là sự nhỏ nhặt có thể mang một ý nghĩa quyết định.
Ghi chép tiếp theo
26-12-1922
Việc tăng số lượng ủy viên BCHTW lên đến 50 hoặc thậm chí 100 người, theo tôi, phải phục vụ cho hai mục đích hoặc thậm chí ba mục đích, càng nhiều ủy viên BCHTW, càng phải tăng cường việc bồi dưỡng công tác cho các ủy viên và càng giảm nguy cơ chia rẽ do sự bất cẩn nào đó. Việc lôi kéo nhiều công nhân vào BCHTW sẽ giúp công nhân hoàn thiện bộ máy nhà nước của ta, hiện đang rất non kém. Bộ máy của chúng ta, về bản chất, được thừa kế từ chế độ cũ, vì lẽ hoàn toàn không thể cải tạo nó trong một thời gian ngắn, đặc biệt trong điều kiện chiến tranh, nạn đói xảy ra, v.v…. Vì vậy, đối với những búa rìu “phê bình”, với sự mỉa mai hay ác cảm, đang chỉa mũi dùi vào những yếu kém của bộ máy chúng ta, có thể bình tĩnh trả lời rằng những người này hoàn toàn không hiểu gì về điều kiện cách mạng hiện đại. Nói chung không thể nào đủ thời gian trong vòng 5 năm cải tạo lại bộ máy nhà nước, đặc biệt trong những điều kiện như cuộc cách mạng xảy ra ở ta. Sẽ đủ thời gian nếu như trong vòng 5 năm chúng ta thiết lập được nhà nước kiểu mới, trong đó công nhân tiên phong cùng nông dân chống lại tư sản, và trong tình trạng tồn tại hận thù giữa các dân tộc thì vấn đề này là một công cuộc vô cùng to lớn. Tuy nhiên chúng ta không bao giờ được phép lơi lỏng nhận thức về vấn đề này, là về bản chất, chúng ta giành lại bộ máy từ tay phong kiến và tư sản và giờ đây bắt đầu thời kì hòa bìnhvà đảm bảo nhu cầu tối thiểu do nạn đói tất cả nhiệm vụ phải tập trung vào việc hoàn thiện bộ máy.
Tôi hình dung sự việc theo khía cạnh này, vài chục công nhân tham gia vào thành phần BCHTW có thể tốt hơn bất kì một ai khác đảm trách nhiệm vụ kiểm tra, hoàn thiện, và tái lập bộ máy nhà nước ta. Chức năng này đầu tiên thuộc về Ban thanh tra nhà nước công nông, mà hầu như không đảm đương nổi nhiệm vụ và có lẽ sẽ được sử dụng như “cánh tay phụ” hoặc người trợ giúp, trong những điều kiện nhất định, cho những ủy viên BCHTW. Những công nhân tham gia vào thành phần BCHTW, theo ý tôi, phải được ưu tiên không phải từ những người đã kinh qua quá trình phục vụ lâu dài trong nhà nước Xô-viết (thành phần công nhân trong thư này bao gồm cả nông dân), bởi vì trong con người họ đã hình thành những truyền thống nhất định, những thành kiến nhất định cần phải đấu tranh để khắc phục.
Những công nhân từ tầng lớp thấp, thuộc tầng lớp công nhân tiên phong và nông dân, trực tiếp hay gián tiếp, không nằm trong hàng ngũ giai cấp bóc lột, phải được ưu tiên tham gia vào thành phần ủy viên BCHTW, để rồi sau 5 năm họ được đưa vào đội ngũ những người phục vụ nhà nước Xô-viết. Tôi nghĩ, những công nhân ấy, hiện diện tại tất cả các phiên họp của BCHTW, các phiên họp của Bộ Chính trị, nghiên cứu các văn kiện của BCHTW, có thể lập ra bộ khung gồm những đồng sự trung thành với chế độ Xô-viết, một là, có khả năng tạo sự ổn định cho chính BCHTW; hai là, có khả năng thực sự thực hiện đổi mới và hoàn thiện bộ máy nhà nước.
(Phạm Ngọc dịch từ tiếng Nga)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 31.08.2014

AI MUA THƠ TA BÁN THƠ CHO…

  Tượng ĐỢI của Đào Phương

  AI MUA THƠ TA BÁN THƠ CHO…

    Ngô Minh    

  “Bán thơ “, ở góc độ lãng tử là một từ đẹp, thậm chí rất đẹp. Tản Đà thi sĩ từng  “gánh thơ lên bán Chợ Trời” ! Hàn Mặc Tử thì rao : ” Ai mua trăng ta bán trăng cho”. Bán thơ cũng như bán trăng , là bán cái trinh tuyết của tâm hồn . Bán là cách nói cho có vẻ đời thực, chứ thơ, cũng như trăng là thứ  chỉ để ngắm, để tặng, để dâng hiến .. Ngay cả chuyện ra tiệm sách mua một tập thơ của ai đó rồi về tặng người yêu, mượn thơ người khác trao gửi tình cảm của mình cũng là chụyện bất đắc dĩ lắm . Một lần cách đây đã nhiều năm, tôi bươn bả ra hiệu sách ở đường Trần Hưng Đạo, Huế mua cuốn thơ của đại thi hào Targor kẻo sợ hết. Cô bán sách xinh đẹp nhìn tôi tủm tỉm cười rồi đột nhiên hỏi :” Anh mua thơ mần chi ?”. Trời ơi, người đã đẹp lại hỏi “chết người” như rứa, mần răng mà trả lời ! Tôi đoán chắc là sách hết liền xuống giọng cấu khẩn và biến baó :”Ờ, ơ.., tôi mua thơ để tặng cô bạn gái, chị làm ơn..”. Tôi chưa hết câu người đẹp đã cười khanh khách và phán một câu xanh rờn :” Anh phải tự làm lấy thơ mà tặng người yêu, ai lại đi mua thơ người khác để tặng, kỳ chết ” ! Dường như câu nói đó đã xui tôi làm thơ.. ! Vâng đó là một kỷ niệm thật đẹp về chuyện mua bán thơ. Còn chuyện “bán thơ” mà tôi đang “rao” đây lại hoàn toàn tục lụy trong chốn thị trường mồ hôi, nước mắt.. (Đọc tiếp…)

Báo chí Trung Quốc viết về chuyến thăm Trung Quốc của ông Lê Hồng Anh

  •   Nguyên Hải dịch và giới thiệu

 Dưới đầu đề « Tập Cận Bình : Trung Quốc, Việt Nam nên trở lại quỹ đạo phát triển đúng đắn, mối tình hữu nghị truyền thống đáng được quý trọng » , Nhân dân Nhật báo Trung Quốc ngày 27/8/2014 đăng bản tin của Tân Hoa Xã nói về cuộc gặp giữa ông Lê Hồng Anh với Chủ tịch Tập Cận Bình, toàn văn như sau:

Ngày 27 tại Đại Lễ đường Nhân dân, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), Chủ tịch nhà nướcTrung Quốc Tập Cận Bình đã hội kiến với đặc phái viên của Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), Ủy viên Bộ Chính trị ĐCSVN, Bí thư thường trực Ban Bí thư Lê Hồng Anh.

Lê Hồng Anh đã chuyển lời nhắn (nguyên văn khẩu tín) của Tổng Bí thư Trung ương ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch Nhà nước Việt Nam Trương Tấn Sang gửi Tập Cận Bình.

Tập Cận Bình nói : Trung Quốc, Việt Nam là láng giềng gần, lại đều là quốc gia xã hội chủ nghĩa do đảng cộng sản lãnh đạo. Láng giềng gần thì khôngthể dọn đi đâu được, (quan hệ) hữu hảo phù hợp với lợi ích chung của hai bên. Mấy năm gần đây, mối quan hệ giữa hai nướcvề tổng thể phát triểntốt, nhưnggần đây bị xói mòn (nguyên văn xung kích) rất lớn, gây ra sự quan tâm cao độ của nhân dân hai nước và cộng đồng quốc tế. Tổng Bí thư NguyễnPhú Trọng cử đồng chí làm đặc phái viên đếnTrung Quốc tiến hành gặp gỡ cấp cao hai đảng, điều đó thể hiện nguyện vọng phía Việt Nam muốn cải thiện và phát triển mối quan hệ hai nước. Tôi coi trọng lời nhắn của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch Trương Tấn Sang, mong muốn phía Việt Nam và phía Trung Quốc cùng cố gắng  làm cho mối quan hệ Trung-Việt trở lại quỹ đạo phát triển đúng đắn.

Tập Cận Bình nhấn mạnh, cấp cao hai đảng Trung Quốc và Việt Nam nên nắm đại cục, duy trì và tăng cường giao lưu, kịp thời đi sâu trao đổi, kiên trì từ tầm cao chiến lược và góc độ lâu dài dẫn dắt mối quan hệ Trung-Việt, đặc biệt vào thời điểm quan trọngcó sự quyết đoán chính trị đúng đắn. Phía Trung Quốc sẽ tiếp tục nắm phương châm ổn địnhlâu dài, hướng tới tương lai, láng giềng hữu hảo, hợp tác toàn diện, củng cố tốt, phát triểntốt mối quan hệ hai đảng hai nước.

Tập Cận Bình nhấn mạnh, tình hữu nghị truyền thống Trung Quốc-Việt Nam là do nhữngngười lãnh đạothế hệ trước của hai đảng hai nướctự tay xây dựng và hết lòng vun đắp nên, đáng đượcquý trọng và gìn giữ gấp bội. Hàng xóm với nhau khó tránh đượcva chạm, điều quan trọng là dùng thái độ và phương thức như thế nào để đối xử và giải quyết. Hai phía Trung Quốc, Việt Nam cần kiên trì xuất phát từ đại cục giữ gìn tìnhhữu nghị Trung-Việtvà mối quan hệ Trung-Việt, loại bỏ các can nhiễu, giải quyết ổn thỏa các vấn đề liên quan, đặc biệtlà kiên trì dẫn dắt dư luận đúng hướng, vun đắp, giữ gìn tình cảm hữu hảo giữa nhân dân hai nước. Trongcuộc hội đàm với đồng chí hôm nay, đồng chí Lưu Vân Sơn đã trình bày toàn diện lập trườngcủa Đảng và Chính phủ Trung Quốc về mối quan hệ Trung-Việt. Hai bên cần phảiquán triệt vào thực tế nhận thức chung và thành quả cuộc gặp cấp cao hai Đảng lần này, thúc đẩy mối quan hệ Trung-Việtthiết thực đượccải thiện và phát triển.

Lê Hồng Anh tỏ ý : tôi sẽ báo cáo trung thực và đầy đủ với Đảng và Chính phủ Việt Nam lời của Tổng Bí thư Tập Cận Bình. Phía Việt Nam sẵn lòng cố gắng hết sức cùng với phía Trung Quốc duy trì giao lưu cấp cao, tiến hành trao đổi chân thành, tăng cường hiểu biết và tín nhiệm lẫn nhau, tăng cường đoàn kết hợp tác, giải quyết ổn thỏa các vấn đề, cùng nhau thúc đẩy mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai Đảng hai nướckhôngngừng đượccủng cố và phát triển ; điều đó phù hợp lợi ích căn bản và lâu dài của hai nướcvà của nhân dân hai nước, cũng có lợi cho hòa bình, ổn địnhvà phồn vinh của khu vực. Sáng nay tôi đã cùng đồng chí Lưu Vân Sơn tiến hành hội đàm thẳng thắn chân thành và hữu hảo, đạt đượcsự nhận thức chung quan trọng. Phía Việt Nam mong muốn thực hiện tốt nhữngnhận thức chung đó, thúc đẩy việc cải thiện và phát triển mối quan hệ hai Đảng, hai nước.

Ủy viên Quốc vụ Dương Khiết Trì, Phó Chủ tịch Chính Hiệp toàn quốc, Trưởng ban đốingoại Trung ương Đảng Vương Gia Thụy đã tham gia buổi hội kiến.  

 

Về cuộc gặp Lê Hồng Anh – Lưu Vân Sơn, Tân Hoa Xã Trung Quốc ngày 27/8 đưa tin như sau (toàn văn) :

Sáng ngày 27/8/2014 tại Đại Lễ đường Nhân dân, Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị Trung ương ĐCSTQ, Bí thư Ban Bí thư Trung ương Lưu Vân Sơn đã hội đàm với đặc phái viên của Tổng bí thư ĐCSVN, Ủy viên Bộ Chính trị ĐCSVN, Bí thư thường trực Ban Bí thư Lê Hồng Anh.

Lưu Vân Sơn nói, Trung Quốc, Việt Nam đều là quốc giaxã hội chủ nghĩado đảng cộng sản lãnh đạo, mối quan hệ giữa hai nướcmấy năm gần đây về tổng thể giữ được xu thế phát triển ; sự giao lưu hợp tác trên các lĩnh vực quan hệ đảng, ngoại giao, kinh tế thương mại, nhân văn đượctriển khai rộng rãi, đem lại nhữnglợi ích thực sự cho nhân dân hai nước.

Lưu Vân Sơn vạch ra : trong thời kỳ trước đây, mối quan hệ Trung Quốc-Việt Nam có một dạo xuất hiện cục diện căng thẳng, đây là điều chúng tôi khôngmuốn thấy. Vào lúc mối quan hệ Trung -Việt gặp khó khăn,ĐCSVN cử đặc phái viên của Tổng Bí thư đếnTrung Quốc tiến hành gặp gỡ cấp cao hai đảng, điều đó thể hiện ý nguyện chính trị tích cực thúc đẩy sự cải thiện, phát triểnmối quan hệ Trung -Việtcủa Đảng và Chính phủ Việt Nam. Mong rằng phía Việt Nam tiếp tục cùng phía Trung Quốc cố gắng thúc đẩy mối quan hệ Trung -Việttrở lại quỹ đạo phát triểnôn địnhlành mạnh. Lưu Vân Sơn nhấn mạnh Trung Quốc, Việt Nam cần qua hợp tác mà giải quyết ổn thỏa vấn đề trên biển, hai bên cần kiên trì đàm phán song phương và hiệp thương hữu hảo, thiết thực quản lý kiểm soát tốt tình hình trênbiển, thực sự làm đượcviệc cùng nhau khai thác, mở ra cục diện mới Trung Quốc-Việt Nam hợp tác chiến lược toàn diện.

Lê Hồng Anh nói, lãnh đạoĐảng và Nhà nướcViệt Nam coi trọng mối quan hệ song phương Việt Nam-Trung Quốc, đặt nó ở vị trí ưu tiên trongchính sách ngoại giao. Trước sau coi trọng tình hữu hảo truyền thống với phía Trung Quốc, trước sau chân thành mong mỏi thúc đẩy mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai nướclà phương châm nhất quán và chiến lược lâu dài của Đảng và Chính phủ Việt Nam. Trong tình hình quốc tế phức tạp hiện nay, thúc đẩy hợp tác, giải quyết bất đồng, làm cho hai nướcdốc sức vào sự nghiệp của mỗi nước, là điều quan trọng so với bất cứ thời kỳ nào. Tin rằng thông qua sự quyết tâm và cố gắng của hai bên, mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt -Trung ắt sẽ đượckhôi phục và phát triển theo chiều sâu.

Hai bên đạt được nhận thức chung ba nguyên tắc về phát triển mối quan hệ Trung Quốc-Việt Nam : một là lãnh đạohai đảng hai nướcsẽ tăng cường hơn nữa sự trực tiếp chỉ đạo phát triển mối quan hệ hai bên, thúc đẩy mối quan hệ Trung-Việt luôn luôn phát triển lành mạnh ổn định. Hai là hai bên cần tiếp tục làm sâu sắc sự giao lưu về đảng, chú ý khôi phục lâu dài và tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực quốc phòng, kinh tế thương mại, an ninh chấp pháp, nhân văn. Ba là hai bên đồng ý nghiêm chỉnh tuân theo các nhận thức chung quan trọng mà lãnh đạo hai đảng hai nước đã đạt được, nghiêm chỉnh thực hiện « Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa hai nước », sử dụng tốt cơ chế đàm phán biên giới của chính phủ Trung Quốc-Việt Nam, tìm kiếm các biện pháp giải quyết cơ bản và lâu dài mà hai bên đều có thể tiếp thụ, tích cực nghiên cứu và bàn bạc các vấn đề cùng phát triển, không sử dụng hành động làm phức tạp và mở rộng tranh chấp, giữ gìn đại cục quan hệ Trung-Việt và hòa bình ổn định ở biển Nam Hải.

Phó Chủ tịch Chính Hiệp toàn quốc, Trưởng ban đốingoại Trung ương Đảng Vương Gia Thụy đã tham gia hội đàm.  

( Nguồn : VHNA)

Nguyên Hải  dịch theo nguồn tin

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 30.08.2014

Thời nay không đọc là chết

Thời nay không đọc là chết

Từ Sâm

Truyện ngắn

Tôi có thằng bạn, lâu không gặp nhau thì nhớ, mà gặp thì chào hỏi, bắt tay, bai bai không sao chứ năm mười phút tâm sự là bắt đầu sinh chuyện. Y như vợ chồng thường cãi nhau thì sống với nhau cả đời, còn vợ chồng nào không cãi nhau một tiếng, mà đã cãi nhau rồi là to chuyện, có khi cãi nhau trước tòa không chừng. Tôi không bỏ nó, và nó cũng chẳng bỏ tôi. Nó làm ở ban tuyên giáo tỉnh. Đúng là trời sinh voi sinh cỏ. Nó học khoa nuôi, tôi học hàng hải cùng trường Đại học. Những năm tám mươi học nuôi trồng ra trường là thua vì người ta nuôi heo nuôi gà chứ làm gì nuôi tôm nuôi ốc như bây giờ.

 Nó chạy thế nào mà vào được ban tuyên giáo (vợ hắn khoe là mất mấy ký đường, dăm hộp sữa và một năm phiếu thịt). Lúc đầu nó làm phòng tổ chức, sau đi học mấy khóa đào tạo gì đó, rồi học nữa…và như ngày nay. Thỉnh thoảng thấy bài nó đăng trên báo tỉnh, thường là chuyên mục lý luận. Gần đây nhất có bài “Tính thực tiễn và sáng tạo trong văn học nghệ thuật tỉnh nhà”, và “Các văn nghệ sĩ vững vàng trước nền văn hóa ngoài luồng xâm nhập vv.. và vv..”. Các bài viết của nó thường xuất hiện trước kỳ đại hội, đặc biệt là đại hội Đảng, Hội đồng nhân dân vv…nhưng, có khi lại xuất hiện trước đại hội “Câu lạc bộ nuôi dê” vài ngày (tôi biết tỏng là nó viết theo đặt hàng vì dê đang lên giá). (Đọc tiếp…)

NM và tác giả Cửu Phúc

MỘT THỜI ĐỂ NHỚ, CUỐN SÁCH THÚ VỊ VỀ HUẾ THÁNG TÁM NĂM 1945

  Ngô Minh

Một thời để nhớ ( NXB Thuận Hóa, 2014) là cuốn tự truyện của anh Nguyễn Cửu Phúc, nguyên cán bộ giáo viên Trường Cao đẳng sư phạm, Cao đẳng Mỹ thuật Huế  đã nghỉ hưu. Tôi, cũng như nhà thơ Mai Văn Hoan, Hoàng Vũ Thuật , Đỗ Hoàng… quen anh Cửu Phúc mấy chục năm nay. Thỉnh thoảng  về nhà anh ở khu nhà số 2 đường kiệt số 8 (nay kaf nhà 26.1, đường Nguyễn Công Trứ , Huế ) để uống rượu và nghe anh đọc thơ. Thơ anh bài nào cũng dài, tứ mạnh như các bài Protít tẩm mật ông, Howeix Thượng Đế, Chí Phèo…Những lúc ấy tôi chưa hề biết anh viết văn xuôi.Anh cũng chẳng khoe bao giờ. Thế rồi tháng 6/2014 vừa qua, nhà thơ Mai Văn Hoan đưa đến  cho tôi cuốn tự truyện Một thời để nhớ anh tặng. Mai Văn Hoan bảo rằng, anh Nguyễn Cửu Phúc đã viết xong  bộ tự truyện Định mệnh loài người gồm 20 tập, tập đầu là Một thời để nhớ, dày 160 trang .Tôi đọc và thấy cuốn sách rất thú vị. Điệu văn của Nguyễn Cửu Phúc di dỏm, độc đáo, nhiều chi tiết đời thực rất  xúc động. và ám ảnh

      Một thời để nhớ là tập I, là tự truyện về thời niên thiếu của anh và gia đình ở Huế, đặc biệt là những sự kiện đầy biến động năm 1945, khi Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương.  Vì bố anh là ông Nguyễn Cửu Khương. Ông Khương lấy con gái bà Nử sử Đạm Phương, mà gia đình bà Đạm Phương là địa chỉ trung tâm thu hút các nhà hoạt động cách mạng. như Hải Triều ( Nguyễn Khoa Văn), Tố Hữu, Lâm Hồng Phấn, Nguyễn Cửu Thạnh…Cửu Phúc gọi Hải Triều là cậu ruột. Qua Hải Triều, Tố Hữu, Cửu Phúc được biết các văn nghệ sĩ như Phạm Duy, Lưu Hữu Phước, Tôn Thất Đào, Lượng Xuân Nhị, Trần Văn Cẩn …từ đó  anh mê thơ mê họa, Đi học vẽ từ nhỏ và đã thành một họa sĩ thực thụ. Cửu Phúc kể :” Tôi gặp Phạm Duy ở hiệu sách Hương Giang. Lúc đó Phạm Duy đang xem tập Hò Huế của nhà sư Vân Đàm. Phạm Duy vui vẻ dạy cho tôi hát bài Xuất quân mà nhạc sĩ mới hoàn thành: Ngày, bao hùng binh tiến lên / Bờ cõi vang lừng câu quyết chiến !… Kèn  vang theo bước chân đang dồn dập xa xa… (Đọc tiếp…)

Lao động Trung Quốc ở Vũng Áng đủ lập 2 “sư đoàn”

 
Nam Nguyên/ RFA
Cùng với chuyến đi Bắc Kinh ngày 26-27/8/2014 của Ông Lê Hồng Anh, Thường trực Ban Bí thư, Đặc phái viên của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng mà mục đích chính là để làm giảm căng thẳng giữa hai bên, báo chí trong nước đưa tin hơn 1 vạn lao động Trung Quốc sắp đến Vũng Áng Hà Tĩnh.
Vị trí địa lý nhạy cảm về quân sự

Trước biến động tháng 5/2014, số công nhân làm việc tại các gói thầu của dự án Formosa ở Vũng Áng Hà Tĩnh lên tới 26.000 người, trong số này có rất nhiều người quốc tịch Trung Quốc nhưng con số đích thực thì không được công bố. Hiện nay số công nhân làm việc chỉ còn 19.000 người nhưng các nhà thầu đang chờ cấp phép để đưa thêm 11.000 lao động Trung Quốc vào làm việc. Với đợt tăng cường này số lượng công nhân Trung Quốc ở Vũng Áng đủ để thành lập hai sư đoàn.
Dự án Khu liên hợp Gang thép công suất 22 triệu tấn thép/năm và Cảng nước sâu Sơn Dương do Tập đoàn Formosa Đài Loan đầu tư xây dựng  được nhà nước Việt Nam biệt đãi. Dự án này có tổng mức đầu tư 15 tỷ USD được phép sử dụng 3.300 ha, bao gồm 2.000 ha trên đất liền và 1.200 ha diện tích mặt nước ở phía Nam Vịnh Vũng Áng Hà Tĩnh.
Báo chí Việt Nam từng nêu ý kiến phản biện của chuyên gia cho rằng những ưu đãi về thuế và cung cấp tín dụng ngân hàng Việt Nam đặc biệt là ưu thế về đất đai và cảng biển sẽ có thể giết chết hàng loạt doanh nghiệp thép trong nước khi khu liên hợp gang thép Formosa đi vào hoạt động.
Tuy vậy điều mà dư luận quan tâm trước hết là vấn đề an ninh chính trị. Khu Liên hợp Gang thép và Cảng nước sâu Sơn Dương thuộc khu Kinh tế Vũng Áng nằm ở vị trí địa lý nhạy cảm về mặt quân sự. Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành từ Hà Nội phân tích: 
“Vùng Vũng Áng-Hà Tĩnh đó đối diện và gần với Hải Nam. Nếu ngày nào Trung Quốc xây dựng cảng Vũng Áng ấy mà bên Hải Nam chĩa qua ngay Vũng Áng, thì có thể nói Vịnh Bắc Bộ sẽ trở thành một ao hồ của Trung Quốc và nó ngăn cản sự vận chuyển giao thông hàng hải của Việt Nam từ Bắc vào Nam, sẽ ra sao đây? Ngoài ra nó có những nguy cơ về quốc phòng, từ cảng Vũng Áng đi qua Lào chỉ có 50 km thôi. Như vậy nếu có vấn đề gì thì làm sao có thể phòng thủ khi Trung Quốc từ bên Lào đi qua Vũng Áng, 50km chạy ô tô vài tiếng đồng hồ là có thể cắt đôi Việt nam ra hai khúc.”
Trên báo Đất Việt, bà Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ mô tả dự án Gang thép Vũng Áng, cảng nước sâu Sơn Dương là một quyết định đáng tiếc. Nguyên văn lời bà Chi Lan: “Địa điểm địa lý nhạy cảm như thế nào về quốc phòng an ninh thì ai cũng biết cả rồi.” Bà Chi Lan nhấn mạnh tới việc nhà thầu Trung Quốc và công nhân Trung Quốc tham gia phần lớn các gói thầu của dự án này. Được biết công nhân Trung Quốc có thói quen đem theo gia đình sang và ở gần công trường thi công, khá nhiều nơi trở thành những cụm dân cư người Hoa.
Rút đi 4000 nhưng đưa qua 10.000
Bên cạnh câu chuyện Vũng Áng Hà Tĩnh, sự kiện Nhà thầu Trung Quốc, công nhân Trung Quốc có mặt ở hầu hết các dự án lớn nhỏ ở Việt Nam đã và đang gây ra sự quan ngại trong dư luận. TS Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế độc lập ở Hà Nội từng nhận định:
“Sự lo ngại của người dân Việt Nam là hiện nay Trung Quốc đã có những dự án ở Tây Nguyên là một vùng địa bàn chiến lược về mặt quân sự cũng như về mặt chiến lược đối với Việt Nam. Ngoài ra Trung Quốc đầu tư vào nhiều dự án, nhưng khác với các nước khác, Trung Quốc xây một khu riêng và dựng hàng rào lên kín mít và người dân không biết trong đó họ làm cái gì và đấy là công nhân hay là lính hay là họ định chuẩn bị cái gì đây. Cho nên sự lo ngại trong công luận Việt Nam rất là lớn và tôi cũng không hiểu tại làm sao mà trên lãnh thổ Việt Nam lại có những đơn vị Trung Quốc kinh doanh đóng kín như người dân ở Hà Tĩnh nói lại là công an vào họ cũng không cho vào.” 
Ít nhất có 4.000 lao động Trung Quốc đã sơ tán khỏi Vũng Áng sau vụ biểu tình bạo động ngày 14/5 làm một số người Trung Quốc thiệt mạng và bị thương. Lúc đó đó Bắc Kinh đã đưa mấy chuyến tàu vào Cảng Vũng Áng để thực hiện việc di tản. Rút đi 4.000 và bây giờ đưa qua  hơn 1 vạn thì chứng tỏ mọi việc đang bình thường hóa.
Chắc không phải ngẫu nhiên mà báo chí Việt Nam cùng lúc đưa tin về chuyến đi Bắc Kinh của Thường vụ Bộ Chính trị Lê Hồng Anh và sự kiện hơn 1 vạn lao động Trung Quốc sắp vào Hà Tĩnh. Sau vụ giàn khoan Hải Dương 981 và các hành động gây hấn khác của Trung Quốc trên Biển Đông, giới chuyên gia đặt vấn đề thoát khỏi ảnh hưởng Trung Quốc. Điều đáng chú ý là người dân muốn thoát Trung nhưng những gì Đảng Cộng sản và Chính quyền Việt Nam thể hiện thì đi đang ngược lại điều này.

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 28.08.2014

Phạm Duy và Huế

Phạm Duy và Huế

  •   Đặng Tiến

 

Nhạc sĩ Phạm Duy Nhạc sĩ Phạm Duy

Nhạc sĩ Phạm Duy không có quan hệ dây mơ rễ má gì với đất Huế và người Huế, nhưng xứ Thần kinh đã để lại trong nhạc phẩm anh nhiều âm hưởng và hình ảnh sâu đậm, đặc biệt sau bốn lần ghé Huế : 1944 khi đi hát rong ; 1946 sau cách mạng tháng 8, từ chiến khu Nam Bộ về Bắc ; 1948 trong kháng chiến chống Pháp ; và 1953 khi về thành.

1948, từ chiến trường Bình Trị Thiên chống Pháp, Phạm Duy về hoạt động tại vùng địch hậu Đại Lược và nhiều đêm bí mật về gặp gỡ cán bộ, nghệ sĩ nội thành tại Vỹ Dạ, thời điểm sáng tác bài Về Miền Trung :

Ôi quê hương xứ dân gầy, ôi bông lúa,

Con sông xưa, thành phố cũ..

Ngần ấy chữ thôi là cô đọng tất cả hình ảnh chủ yếu về một vùng đất và một thành phố ;không cần đến những « Huế đẹp và thơ », « áo tím, áo trắng, nón nghiêng… » là những vẽ vời, lâu ngày sáo mòn trở nên phù phiếm.

Con sông xưa, thành phố cũ, là đầy đủ, hàm súc và tình nghĩa.

Mùa Xuân 1944, Phạp Duy lưu diễn trong gánh Đức Huy Charlot Miều, từ Bắc vào Nam, ghé Huế, hát tại rạp Tân Tân, trên đường Paul Bert, nay  là Trần Hưng Đạo. Nhạc sĩ chưa sáng tác nhiều, nhưng 1944 là  bước ngoặt quan trọng vì anh khám phá ra dân nhạc Huế, trong nhiều đêm nằm đò lắng nghe những câu hò mái nhì, mái đẩy, những bài Nam Ai, Nam Bình mà trước kia anh chỉ nghe qua đĩa hát. Lần này Phạm Duy nghe trực tiếp, ghi lại nhạc lý, viết thành biên khảo « Những điệu hát bình dân Việt Nam ».

Anh nhắc lại : Âm giai ngũ cung lơ lớ của hò mái nhì khác hẳn với âm giai điều hòa (harmonie tempérée) của Âu Tây và âm giai ngũ cung đúng của dân nhạc miền Bắc. Các cung bực của hò Huế có những cao độ (intervalles) non hơn hay già hơn cung bực trong âm giai Âu Tây, hay âm giai Miền Bắc.

 

Hò mái nhì hay hò mái đẩy là tiếng nói điển hình của người dân tại một miền nên thơ nhất của đất nước Việt. Tiếng hát xây dựng trên một âm giai lơ lớ đã thể hiện được sự thần bí của cõi lòng, vì vậy nên dễ dàng đi sâu vào tâm hồn người nghe hơn là nhạc ngũ cung đúng của Miền Bắc » [1].

1944, Phạm Duy chỉ mới là ca sĩ phụ diễn trên sân khấu bình dân, ngoài hai mươi tuổi ; anh học hỏi thêm về nhạc dân tộc và trao đổi với các vị Vĩnh Phan, Bửu Lộc, Vĩnh Trân.

Về tân nhạc, anh tiếp xúc với Ngô Ganh, VănGiảng, Nguyễn văn Thương.

Anh cũng nếm mùi ái tình tại Huế, như đã nhắc lại trong bài Tình Ca, sáng tác mười năm sau, 1953 :

Tôi yêu những sông trường

Biết ái tình ở dòng sông Hương…

Cách mạng tháng Tám xảy ra khi Phạm Duy đã trở về Hà Nội, 1946. Anh tham dự đoàn quân Nam Tiến, vào Nam Bộ chiến đấu trong chiến khu Bà Rịa, bị thương nhẹ trên cánh tay. Mùa thu 1946, trên đường về Bắc, anh dừng chân mấy tháng tại Huế, cũng để trình diễn « âm nhạc cải cách » theo tên gọi thời đó, chủ yếu là tại phòng trà ca nhạc Quán Nghệ Sĩ, có khi hát cho Đài Phát Thanh. Anh có gặp gỡ các vị Hải Triều, Tố Hữu, Nguyễn chí Thanh. Nhưng chủ yếu là gặp lại bạn cũ, như Vĩnh Phan, Võ đức Duy và nhất là Lưu Trọng Lư, mà anh vừa phổ nhạc bài thơ Tiếng Thu nổi tiếng.

Huế, mùa thu 1946, thời nghỉ ngơi của người chiến sĩ.  Phạm Duy tranh thủ để sáng tác, hoàn chỉnh, biên tập nhiều ca khúc : Thu chiến trường, Chiến sĩ vô danh, Nợ xương máu, nhạc kháng chiến phổ biến một thời.

Khối Tình Trương Chi phảng phất ít nhiều âm hao Huế :

Êm êm dần lan

         Cung Nam Thương mờ vang

Cung Nam Ai thở than

Ai  thương em lầu buồn mỗi lúc khuya tàn cung

Ngoài nhạc điệu ảo não, hình ảnh  người khuê nữ trong bài hát gần với cô gái Huế tân thời, cuổi triều Bảo Đại hơn là cô Mỵ Nương thời các vua Hùng.

Sự thật là có một nàng Tôn nữ như thế, cấm cung trong một dinh thự phía Nam Giao. Anh Trương Chi là chàng ca sĩ trẻ tuổi đẹp trai, nhưng  «  xa cách nhau vì đời » do hoàn cảnh và tình huống đôi bên. Chút tình riêng thầm lặng này giải thích, nhạc và lời lãng mạn, tha thiết của bài Khối tình Trương Chi, mà chất trữ tình dào dạt không có trong những nhạc phẩm kể chuyện cổ tích khác, như Trầu Cau của Phan huỳnh Điểu chẳng hạn.

Sau đó là toàn quốc kháng chiến. Từ Hà Nội, Phạm Duy tham gia kháng chiến chống Pháp, chủ yếu là ở khu Tư, có lúc công tác tại chiến trường Bình Trị Thiên non sáu tháng, 1948 Phạm Duy đã sáng tác Mười hai lời Ru, Bà mẹ Gio Linh, Bao giờ anh lấy được đồn Tây, sau đổi thành Quê Nghèo. Và đặc biệt Về Miền Trung.

Phạm Duy kể :« tôi đã làm công việc phát triển mạnh mẽ cái thanh âm lơ lớ(PD nhấn mạnh) của Miền thùy dương này (…) Tuy nhiên đối với tôi, hình thức không quan trọng bằng nội dung. Bài Về Miền Trung là một bài ca Huế hùng dũng, không bi quan yếm thế như một bài Nam Ai, Nam bình chẳng hạn » [2].

Tại Sài gòn, đài Pháp Á đầu thập niên 1950 là cơ quan phổ biến tân nhạc mạnh nhất. Trong mục nhạc yêu cầu, trong hai năm 1951-1952, Về Miền Trung là ca khúc được thính giả yêu cầu nhiều nhất, không nhất thiết phải từ Huế.

Có thể vì nó là khúc ca tiêu biểu nhất cho người Huế đất Huế.

Tháng 5-1951, Phạm Duy rời kháng chiến về thành, cùng với gia đình nhà vợ. Năm 1953, anh có dịp trở lại Huế sống dài ngày hơn ba lần trước « có đủ thời giờ để biết Huế hơn xưa ». Cuộc sông êm đềm đưa đến dạ khúc Dạ Lai Hương, 1953, một sérénade theo kỹ thuật Âu Tây. Lời ca tràn đầy hạnh phúc « đời vui như ong bay, ngọt lên cây trái… Đẹp duyên người sống cho người… » Phạm Duy gọi là  « cảnh sắc đêm thơm xứ Huế ».

 Thời điểm này Phạm Duy không sáng tác nhiều nhạc trữ tình, nhưng âm hưởng Huế lắng sâu vào tâm thức và sẽ tái hiện trong trường ca Con đường Cái Quan sáng tác rỉ rả từ 1954 đến 1960, nhất là đoạn II Qua Miền Trung với đoản khúc Nước non ngàn dặm ra đi. Ca khúc mới nhất của Phạm Duy về Huế là Huế đa tình, anh vừa mới phổ thơ Bích Khê, đang thu đĩa và  sẽ phát hành cuối năm nay 2010.

*

Nhạc dân gian Huế, những cảnh sắc và tình người cố đô đã để lại  âm hưởng đậm đà trong tác phẩm Phạm Duy, mà đã có nhiều người Huế nhận ra, từ đó gìn giữ nhiều cảm tình với anh Thời Việt Nam khép kín, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường trong một bài viết dũng cảm, có mơ ước một cuộc đoàn viên giữa giới văn nghệ trong và ngoài nước, trong một bữa tiệc tại cồn Giã Viên. Năm 2005, Phạm Duy được về nước lâu dài, các bạn Huế, trước mọi nơi, đã nồng nhiệt đón tiếp, đưa về Gio Linh thăm người Mẹ năm xưa. Họa sĩ Bửu Chỉ cao hứng vẽ một chân dung và tự hào rằng đã phác họa được tất cả chủ đề chính trong nhạc phẩm Phạm Duy. Trong một festival Huế, ban tổ chức đã dự trù trình diễn Con Đường cái Quan, tiếc là dự án bị đình chỉ.

Sắp tới, ngày 5-10 là sinh nhật Phạm Duy, sinh 1921. Tính tuổi ta là anh lên 90, mà sức sáng tác còn sung mãn.

Ấy là cũng do tinh thần yêu nghệ thuật, yêu con người, yêu quê hương qua bao nhiêu cuộc khóc cười qua mệnh nước nổi trôi.
 


[1]Phạm Duy, Hồi Ký I, tr.309, nxb PhạmduyCường, 1990, California. Bài này đã in trong Dân Ca, nxb Văn Nghệ, 1948, Việt Bắc. Và in lại trong Lược khảo về dân nhạc Việt Nam, nxb Hiện Đại, 1970, Sài Gòn.

[2]Phạp Duy, Hồi Ký II, tr. 257, nxb Phạm Duy Cường, 1989, California.

( Nguồn: VHNA)

 

Cụ Nguyễn Khuyến

            NGUYỄN KHUYẾN- CHỐNG THAM NHŨNG  BẰNG BÀI VĂN SÁCH THI ĐÌNH NỔI TIẾNG

                                                                              Ngô Minh

          Nguyễn Khuyến ( 1835- 1909) là một nhà thơ cổ điển lớn của dân tộc, là “sư tổ” của nghệ thuật câu đối Việt Nam. Đồng thời ông còn là một nhà “kinh bang tế thế” mẫn tiệp và chính trực. Năm Tân Mùi ( 1871) trong kỳ thi Đình ở Kinh Đô Huế, Nguyễn Khuyến đỗ Hoàng Giáp Đình Nguyên (Tam Nguyên) với bài văn sách nổi tiếng. Bài văn sách thi Đình ấy là áng văn sắc sảo vạch trần tệ tham nhũng và tâu vua kế sách chống tham nhũng và cải cách hành chính mạnh bạo.  

Khoa thi Đình đó vua Tự Đức đích thân ra đề :” Trẫm thường đọc sách Luận Ngữ , đến chỗ Tử Cống hỏi về chính sự, Không Tử  nói rằng :” Đủ lương thực, đủ binh lính, dân tin theo vậy”. Nhân nghĩ công việc hiện nay, không gì quan trọng hơn điều đó, mà muốn thực hiện điều đó thì sự lựa chọn người tốt lại là quan trọng hơn cả. Trẫm từng đêm ngày lo nghĩ mà vẫn chưa đạt được hiệu quả mong muốn.oông đảo kẻ sĩ các ngươi lúc mới xuất thân ắt hẳn có sở học kinh bang tế thế. Vậy thì những loại việc thiết thực như vậy, suy từ cổ đến kim, nghĩ thế nào, làm thế nào để công hiệu, hãy nói hết với trẫm. Các ngươi chớ lặp lại người khác, chớ bàn phù phiếm, trẫm cũng bất tất phải hỏi nhiều để các ngươi có thì giờ rộng rãi, nói được hết ý nghĩa, xứng với ý muốn của trẫm .”

 

(Đọc tiếp…)

THAM NHŨNG- KẺ HỦY DIỆT TỪ CỦA CẢI ĐẾN TÂM HỒN

 Nguyễn Quang Thân
Tham nhũng, kẻ hủy duyệt văn hóa số 1 - TL (Minh họa)

Tham nhũng, kẻ hủy duyệt văn hóa số 1 – TL (Minh họa)

Cái nguy hại bậc nhất hơn cả nỗi đau mất của là nạn tham nhũng đã thúc đẩy nhanh sự xuống cấp không phanh của văn hóa và thuần phong mỹ tục, những thứ vô giá phải mất hàng trăm năm gầy dựng nên.

Căm phẫn chống bọn tham nhũng thực chất là tiếng kêu thét xé lòng của người lương thiện bị ăn cắp, trấn lột giữa thanh thiên bạch nhật. Từ những vụ cướp bạc tỷ ở những công ty lớn, đến những vụ lặt vặt như ông cảnh sát giao thông “làm luật” vài chục ngàn bạc lẻ. To, nhỏ, lộ hoặc chưa bị lộ, bản chất đều giống nhau: cướp của dân, của nhà nước (thực chất cũng là của dân) về làm của riêng, vinh thân phì gia.

Những người lương thiện bị mất của thì xót xa, nỗi căm giận rất dễ hiểu. Của đau con xót, ai mà không phẫn nộ khi mồ hôi nước mắt chảy vào túi kẻ khác. Của cải xã hội như tấm chăn, có rộng lớn bao nhiêu cũng hữu hạn, người này giàu lên bất chính thì ắt người khác phải nghèo đi.

Nhưng cái nguy hại của tham nhũng không chỉ là chuyện mất của. Văn hóa và văn minh thành thảm hại khi người còng lưng nuôi kẻ ngay, kẻ ngồi mát ăn bát vàng, người lao động lương thiện thì “cơm chan nước mắt”, giật gấu vá vai, vắt mũi bỏ miệng cũng không xong.

Cái nguy hại lớn nhất của tham nhũng không ở chỗ “mất của”. Cũng như trong một gia đình, có bị cháy nhà, bị trộm dọn đồ sạch sành sanh đi nữa thì chí thú làm ăn vài ba năm là có thể phục hồi. Một công ty hay cả một tập đoàn bị tham nhũng làm bại hoại thì bắt nhốt bọn ăn cắp, thay vào người liêm khiết, cơ cấu lại, một thời gian là có thể gượng dậy. Mất mùa, người nông dân chỉ đói năm sáu tháng.

Nhưng một gia đình suy thoái, gia phong, một xã hội suy đồi văn hóa thì không biết bao nhiêu năm, bao nhiêu thập kỷ mới lấy lại được cuộc sống bình thường. Cái nguy hại bậc nhất hơn cả nỗi đau mất của là nạn tham nhũng đã thúc đẩy nhanh sự xuống cấp không phanh của văn hóa và thuần phong mỹ tục, những thứ vô giá phải mất hàng trăm năm gầy dựng nên.
Cái nguy hại bậc nhất hơn cả nỗi đau mất của là nạn tham nhũng đã thúc đẩy nhanh sự xuống cấp không phanh của văn hóa – TL

Tham nhũng mà không bị ngăn chặn, trừng phạt kịp thời thì đó là dịch bệnh nguy hiểm dễ lấy nhất hơn cả dịch hạch hay AIDS. Dễ lây vì, nếu thấy hàng xóm, đồng nghiệp không phải lao động cực nhọc mà chỉ bằng mánh lới thi thố bên bàn nhậu làm giàu nhanh như tên lửa thì ắt rất nhiều người muốn học theo, muốn “lây bệnh”, ngày đêm ao ước, chỉ mong được như anh hàng xóm tốt số kia mà thôi.

Tham nhũng có thể làm một cơ quan, một đơn vị không còn hồn vía đâu mà thực hiện công tác, “nhiệm vụ chính trị”, khi những người có quyền chỉ chăm chăm kiếm cách đút túi càng nhiều càng tốt. Nó biến một cơ quan cao quý như một bệnh viện, một trường học hay một tổ chức “chính quyền vì dân” thành nơi kiếm tiền bất chính. Lương y dễ biến thành hổ báo, cô giáo thành mẹ mìn, sếp cơ quan thành bố già giấu mặt, người trí thức thành tay ăn cắp vặt. Hỏi có mấy người giữ được cái lý tưởng mà họ mong theo đuổi ban đầu? Một cơ quan để nạn tham nhũng hoành hành thì mọi ý tưởng cao quý được hóa phép thành đồng tiền nhơ bẩn và thú vui hưởng thụ sa đọa. Tham nhũng không chỉ làm mất của mà còn làm mất cả hồn xã hội.

Tham nhũng làm đảo lộn giá trị được xác lập theo lương tri con người và văn hóa truyền thống. Khi người lao động chân chính bị tước đoạt thành quả mồ hôi (và có khi cả máu) của chính mình thì những kẻ ăn cắp (nếu chưa bị lộ) trở thành những người rao giảng đạo đức. Nếu kéo dài thì chính những kẻ “ăn cắp” này sẽ biến những người lương thiện quanh mình thành trộm cướp, vì nếu họ không chịu “mặc áo giấy” thì sao có thể “đi cùng với ma”? Họ có thể bị đuổi việc, miệt thị hoặc bị gậy ra đường. Không ít kẻ vì không muốn thành kẻ xấu mà mang họa.

Tham nhũng thóa mạ tình yêu cuộc sống, gây ra sự nghi ngờ lẫn nhau và nếu chỉ như thế thôi nó cũng đã trở thành kẻ hủy diệt văn hóa số một.

Tham nhũng là đầu mối nguyên nhân sâu xa của mọi tệ nạn xã hội, của bi kịch gia đình. Ai có thể bào chữa nổi cho bọn tham nhũng nếu cho rằng nạn các em gái nông dân phải sớm hủy hoại tuổi xuân, đứng đường bán thân hay gửi tuổi xuân cho những ông chồng tàn phế nước người là nạn nhân của chúng? Những thanh niên hư hỏng sa vào vòng trộm cắp, cướp giật cũng vậy. Trừ rất hiếm kẻ mang gien tội phạm cha truyền con nối, đa số trong những kẻ được coi là trộm cướp này là nạn nhân của nạn cướp bóc trên giấy tờ dự án, trên những chữ ký mua bán quyền lực, những mưu ma chước quỷ mà chính họ cũng như các bạn và tôi đều không thể lần ra được manh mối.

Tham nhũng đẻ ra những dự án vô bổ, hoa hòe hoa sói vẽ rắn thêm chân với mục đích chính là số tiền vàng hay nhà đất được chuyển vào túi tham vô đáy chứ không phải vì quốc kế dân sinh như lời hứa não. Dự án, công trình ra sao, có “làm nghèo đất nước” cũng mặc, miễn là tiền thầy bỏ túi. Nó nhấn chìm mọi sáng kiến, ngăn chặn mọi tiến bộ khoa học, kéo lùi văn minh hàng năm, hàng thập kỷ.

Tham nhũng đưa đồng tiền xã hội vào tay bọn ma giáo, biến chúng thành kẻ đạo đức, thành Tiên, thành Phật. Tiền không có lỗi, chỉ là “vật ngang giá” vô tư. Nhưng mỗi khi tiền ở trong tay bọn tham nhũng thì nó không còn là vật ngang giá nữa mà là thứ vũ khí nhơ bẩn của bọn bất lương, nó khuynh đảo mọi thứ tốt lành thành một nồi cám heo mất kỷ cương, biến tiêu chí công bằng xã hội trên ngọn cờ thành trò cười thảm hại.

Tham nhũng thóa mạ tình yêu cuộc sống, gây ra sự nghi ngờ lẫn nhau và nếu chỉ như thế thôi nó cũng đã trở thành kẻ hủy diệt văn hóa số một.

Tội ác xẩy ra hàng ngày, y tế, giáo dục xuống cấp, khoa học, nghệ thuật trì trệ có nhiều nguyên nhân nhưng hàng đầu là từ nạn tham nhũng. Hãy sáng suốt để tìm ra mối liên hệ đau buồn giữa một cô gái nhảy cầu vì tuyệt vọng, một nông dân phải sang biên giới bán thận lén lút hay một sinh viên vào tù vì mang hộ hàng cấm với một ông kẹ quần áo chỉnh tề, thơm nức ngồi bán chữ ký trong những văn phòng lộng lẫy.

( Nguồn :vanviet…)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 26.08.2014

CÓ NÊN ĐẶT VẤN ĐỀ THOÁT TRUNG?

CÓ NÊN ĐẶT VẤN ĐỀ THOÁT TRUNG?

Giang Nguyên

Tôi không muốn nghe hai chữ “thoát Trung” vì nó đau lòng quá khi bị gợi lên cảm giác tủi buồn, yếm thế của sự trốn chạy. Thật vậy. Thoát là gì? Từ điển Tiếng Việt giải nghĩa; Thóat là “ra khỏi nơi kìm hãm, nguy hiểm thoát chết trong gang tấc”. Thoát, muốn dịch ra tiếng Pháp phải dùng chữ sortir hoặc échapper. Muốn dịch ra tiếng Anh phải dùng một trong các chữ: to escape, to exit, to quit.

Thực tế, đã bao giờ chúng ta nhập vào đâu mà phải hò nhau thóat ra, đã bao giờ entrer đâu mà phải xin sortir. Và, việc gì mà phải “escape”. Ông Hoàng Cao Khải chắc chắn không đúng khi nói: “Dân tộc Nam ta là Hán tộc không còn nghi ngờ gì nữa”. Cũng không thể đồng ý với GS Nguyễn Văn Tuấn (Australia) trong bài “Một phiên bản của  “Nói “tương đồng” thì có vẻ oai, chứ Tàu nó chỉ xem Việt Nam chỉ là một phiên bản của họ. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 25.08.2014

Một vấn đề cần kiểm chứng

GS Tương Lai

Một vấn đề cần kiểm chứng

Tương Lai

Trong bài viết của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trên tạp chí Cộng sản và được công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng có một chi tiết cần kiểm chứng.

Đó là câu trích dẫn được cho là lời của Trần Hưng Đạo:

Những bài học giữ nước của cha ông ta để lại là hết sức quý giá với chúng ta ngày nay. Những cảnh báo của nhà bác học Lê Quý Đôn về những nguy cơ làm mất nước: Một, trẻ không kính già; hai, trò không trọng thầy; ba, binh kiêu tướng thoái; bốn, tham nhũng tràn lan; năm, sỹ phu ngoảnh mặt là điều chúng ta cần phải suy ngẫm; hay những lời nói của Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn: phải biết chủ động rút củi đáy nồi, phải kiềng canh nóng mà thổi rau nguộitrong xử lý quan hệ với kẻ thù; vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, cả nước góp sức, giặc phải bị bắt, xây dựng quân đội một lòng như cha con thì mới dùng được, phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc là thượng sách giữ nước… vẫn còn nguyên giá trị với chúng ta hôm nay.

 Câu “rút củi đáy nồi” trích từ văn bản sử liệu nào?

Liệu có phải trích từ Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo không vì đi liền với câu sau cho phép suy ra như thế:“phải kiềng canh nóng mà thổi rau nguội”?

Nếu đúng là trích trong Hịch tướng sĩ thì trích không chuẩn xác.

Nguyên văn của câu đó như sau:“Nay ta bảo thật các ngươi: Nên cẩn thận như nơi củi lửa, nên giữ gìn như kẻ húp canh, dạy bảo quân sĩ, luyện tập cung tên, khiến cho người nào cũng có sức khỏe như Bàng Mông và Hậu Nghệ, thì mới có thể dẹp tan được quân giặc[...]”(theo bản dịch của Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược ấn hành năm 1921, nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh in lại năm 2000).

Cùng với bản dịch của Trần Trọng Kim, còn có nhiều bản dịch khác của những học giả đáng kính như Phan Kế Bính, Ngô Tất Tố…, nhưng có lẽ bản của Trần Trọng Kim là trọn nghĩa và súc tích hơn cả (Phan Kế Bính: “Nay ta bảo thật các ngươi: Nên lấy việc đặt mồi lửa dưới làm nguy; nên lấy điều kiềng canh nóng mà thổi rau làm nguội làm sợ”. Ngô Tất Tố: “Nay ta bảo các ngươi: Cái chuyện dấm đống củi phải lo, mà câu sợ canh thổi rau nên nhớ”).

Nếu lùi trở lại, trong Đại Việt sử ký toàn thư, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam dịch theo bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697), Nhà xuất bản Khoa học Xã hội ấn hành năm 1998, thì nguyên văn câu trên như sau:“Nay ta bảo thật các ngươi: Nên nhớ chuyện đặt mồi lửa vào dưới đống củi* làm nguy cơ, nên lấy điều kiềng canh nóng mà thổi rau nguội** làm răn sợ. Hãy huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ, để có thể bêu đầu Hốt Tất Liệt dưới cửa khuyết, phơi xác Vân Nam Vương ở Cảo Nhai. (Chú thích *:Câu trong Hán thư:Ôm mồi lửa đặt dưới đống củi rồi nằm lên trên, lửa chưa kịp cháy vẫn cho là yên.Chú thích **:Câu trong Sở Từ:Kẻ sợ canh nóng thường thổi cả rau nguội”).

Dựa vào những văn bản đáng tin cậy trên, có hai điều cần nói rõ:

1.Câu trích trong bài viết của ông Chủ tịch Nước là không đúng, càng không thích hợp khi cho rằng câu trích trên là để hướng đến hành động trong xử lý quan hệ với kẻ thù. Hoàn toàn không phải vậy, đây là những điều Trần Hưng Đạo căn dặn các tướng lĩnh phải quan tâm dạy bảo quân sĩ.

Người chuẩn bị văn bản đưa ra câu trích này đã lẫn lộn, nếu chưa muốn nói là đánh tráo đối tượng của câu trích, có thể chỉ do nhầm lẫn. Nhưng sẽ nguy hiểm hơn là có thể dẫn đến chỗ làm người đọc hiểu rằng ai đó đã cố tình mượn lời của tiền nhân để minh họa và bào chữa một cách thô thiển cho những chủ trương, đường lối và hành động hèn nhát đối với Trung Quốc khi mà kẻ xâm lược đã hiện nguyên hình.

2. Câu trích được gán cho Trần Hưng Đạo“rút củi đáy nồi” để vận dụng “trong xử lý quan hệ với kẻ thù”, nếu nghĩ kỹ chính là một sự xúc phạm đến truyền thống của ông cha trong cuộc đấu tranh đánh giặc giữ nước. Trong chiến thuật quân sự cũng như trong sách lược ngoại giao, ông cha ta quả đã biết cách “rút củi đáy nồi” khi đã xác định một khí phách quả cảm không khuất phục trước kẻ thù cho dù chúng mạnh đến đâu.

Rút củi đáy nồi”, nếu đúng nghĩa của nó thì cũng tuyệt đối không thể và không phải là đường lối “đu dây”.

22.8.2014

T. L.

( Nguồn :BVN)

 

 Du khách đổ xô đến xem…mộ bố ông Tập Cận Bình

 
 
theo Một thế giới 
 
Từng là trung tâm của con đường tơ lụa cổ xưa, thành phố Tây An của Trung Quốc nhanh chóng trở thành một trung tâm du lịch. Một trong những điểm hút khách hành hương là đi thăm mộ phần của ông Tập Trọng Huân, cha của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Đây là thông tin được tờ Zee News của Ấn Độ xác nhận.Ông Tập Trọng Huân từng là phó thủ tướng Trung Quốc từ 1959 đến 1962 nhưng ông cũng bị bức hại trong Cách mạng Văn hóa, một phong trào chính trị-xã hội dưới thời Mao Trạch Động kéo dài một thập kỷ từ năm 1966 đến năm 1976.Tập Trọng Huân bị buộc phải tự kiểm điểm và bị “đày” đi một nơi xa làm phó giám đốc cho một công ty chế tạo máy cày ở Lạc Dương khi Cách mạng văn hóa chớm mở hồi giữa thập niên 60.Trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa, ông bị ngược đãi, bỏ tù trong một thời gian dài ở Bắc Kinh. Mãi đến tháng 5.1975 ông mới được thả và phải sau khi Bè lũ 4 tên bị hạ thì ông mới được trọng dụng làm Bí thư tỉnh ủy Quảng Đông.“Nghiêng mình ba lần để tỏ lòng tôn kính với lãnh đạo”, hướng dẫn viên nói với đám đông ở phía trước của bức tượng bằng đá sa thạch khổng lồ tạc hình ông Tập Trọng Huân ở Tây An.Tưởng niệm ông Tập Trọng Huân bây giờ rất được quan tâm, đặc biệt là khi là con trai của ông, Tập Cận Bình nổi lên như một nhà lãnh đạo mạnh mẽ của Trung Quốc. Ông Tập Cận Bình giờ đã thâu tóm 3 chức vụ ảnh hưởng nhất Trung Quốc là Chủ tịch nước, tổng bí thư và bí thư đảng ủy quân sự.Tỉnh nhà của Chủ tịch Trung Quốc là Thiểm Tây với thủ phủ là Tây An, từng là kinh đô nhiều triều đại, hiện đang sẵn sàng để tìm lại vinh quang cũ và nó đang được tái thiết giống như là điểm khởi đầu của Con đường tơ lụa mới.Hàng tỷ đô la đầu tư đang đổ vào thành phố Tây An. Dường như Trung Quốc đang xây dựng rất nhiều công trình để biến quê hương của ông Tập Cận Bình thành một khu vực sầm uất, phát triển.
Đăng bởi: Ngô Minh | 24.08.2014

VÕ THỊ THẮNG: có một nụ cười khác

VÕ THỊ THẮNG: có một nụ cười khác

Ghi chép của Đào Hiếu

 Tám giờ mười lăm phút sáng ngày 22/8/2014 chị Võ Thị Thắng, uỷ viên trung ương đảng CS Việt Nam, nguyên Tổng Cục Trưởng Tổng cục Du lịch Việt Nam đã từ trần tại TPHCM sau một thời gian dài bị bệnh nan y.

Với tư cách là “người nhà” của chị, tôi xin ghi lại đôi điều mà tôi từng được nghe chị kể cùng với những kỷ niệm nhỏ giữa tôi và chị như một sự bày tỏ lòng thương tiếc và yêu mến.

*

Trước đây tôi không từng hoạt động chung với chị vì hai người ở hai đơn vị khác nhau nhưng do sự sắp xếp ngẫu nhiên của xã hội mà sau này chúng tôi trở thành người nhà với nhau: chị làm dâu, còn tôi làm rể họ Trần.

Trong chuyến về quê chồng (Bình Định) tảo mộ, gia đình chị và tôi cùng đi trên một chiếc xe mười sáu chỗ của ngành du lịch. Suốt hai ngày đường, chúng tôi nghỉ lại nhiều nơi và đó là dịp mà chị đã kể lại những “biến cố đầy kịch tính” mà chị đã phải trải qua trong suốt thời gian làm Tổng Cục Trưởng. Những biến cố ấy có thể viết thành một cuốn sách dày, li kỳ hấp dẫn như phim hình sự Mỹ. Nhưng chị không dám viết, cũng không dám nhờ tôi viết dù tài liệu thì có rất nhiều. Tôi nghĩ rằng một ngày nào đó những tài liệu ấy sẽ được công bố, hoặc là cuốn sách ấy sẽ được viết ra, nhưng bây giờ thì không.

 

Bây giờ chỉ có ký họa.

Bây giờ chỉ vài đường nét bằng bút chì, bằng ngón tay nguệch ngoạc trên cát biển Qui Nhơn, bằng hòn than vẽ  trên bức tường cũ… phác thảo bi kịch của một người đàn bà có địa vị ngang hàng với bộ trưởng, một người từng gan lì truy sát địch hàng giờ với một khẩu súng rỉ sét, một nữ sinh trường Gia Long đã nghĩ ra được câu tuyên bố để đời. Rồi cuối cùng chiếc ghế Tổng Cục Trưởng mà người ta trao cho chị cũng bị đặt trên bốn trái mìn nổ chậm được làm bằng lòng đố kỵ, bằng thù oán cá nhân, bằng những mưu đồ ma quỷ.

Người con gái “anh hùng” ngày xưa chợt biến thành nhân viên CIA Mỹ với tập hồ sơ dày cộm.

Đó là những ngày cuối năm 1996. Nhiều nhân vật có tình cảm với Võ Thị Thắng trong Bộ Chính Trị đều rất bàng hoàng. Con chạch lại leo lên đẻ trên ngọn đa! Vậy mà người ta vẫn có đầy đủ những tài liệu về một con chạch như vậy!

Và nhiều kế hoạch “ám sát” đã được nghĩ đến: xông thằng vào cuộc họp quốc hội “bắt nóng”? Hay bắn tỉa? Bắn ở đâu?

Năm 1999 Tổng Cục Trưởng Võ Thị Thắng nhận được giấy mời sang Mỹ dự hội nghị về du lịch. OK. Sao không cho người bắn tỉa tại sân bay Los Angeles? Ngay khi đối tượng bước ra cổng phi trường là gởi một viên đạn vào đầu rồi đổ thừa cho CIA giết người diệt khẩu. Thật gọn nhẹ.

Kế hoạch lập tức được triển khai. Một anh chàng James Bond 007 mũi tẹt da vàng được chọn trong đám thân tín tại Mỹ để thực hiện Mission Impossible này. Và Mme Thắng không hề hay biết gì về âm mưu đó.

Mấy hôm sau chị lại nhận được một giấy mời của ngành du lịch Trung Quốc. Và, một cách ngẫu nhiên, chị đã chọn đi Trung Quốc.

Chàng James Bond ngồi ngáp ruồi ở sân bay Los Angeles.

Không giết được tên CIA Võ Thị Thắng ở Los thì sẽ bắt cóc hắn tại sân bay Nội Bài khi hắn ta trở về Việt Nam.

Một phương án mới được triển khai ngay lập tức: khi máy bay đáp xuống, xe con của Tổng Cục Du Lịch đến đón sếp thì sẽ có một xe mười sáu chỗ trờ tới, ép nó sát lề, chặn đầu. Khống chế tài xế, bắt cóc bà Tổng Cục Trưởng chạy ra khỏi phi trường, thẳng về nơi giam giữ.

Và mọi việc đã xảy ra y như kịch bản. Nhưng khi những kẻ bắt cóc mở cửa chiếc xe con của Tổng Cục Du Lịch thì chỉ nhìn thấy “bác tài” đang “há hốc mồm” vì kinh ngạc.

-Bà Thắng đâu?

-Xe khác đã đến đón rồi!

Sự thực chẳng hề có chiếc “xe khác” nào cả. Chỉ có phép lạ của phật bà Quán Thế Âm Bồ Tát. Ngài đã làm cho chiếc va-li của Võ Thị Thắng lạc mất. Mme Thắng xuống máy bay nhưng không tìm thấy hành lý, đứng chờ ở cái vòng xoay cả tiếng đồng hồ. Tài xế chiếc xe con đến đón bấm điện thoại di động gọi nhưng tắt máy, anh ta tưởng sếp đã có người nhà đến đón nên chạy xe không về và bị những kẻ bắt cóc ép vô lề.

Mme Thắng tìm được hành lý thì đã quá trễ. Chị đành gọi một chiếc taxi.

*

Kẻ thù giấu mặt ấy là ai? Chị biết, Bộ chính trị cũng biết nhưng không làm gì được.

Và bà Tổng Cục Trưởng đã nghĩ đến cái chết. Nhiều người trong Bộ chính trị không tin những hồ sơ ngụy tạo ấy nhưng cũng không “dám” bác bỏ. Chị gần như đơn độc. Chỉ trừ một người bạn giấu mặt. Một ân nhân của chị mà cho đến giờ này, khi sóng gió đã yên, khi một số tay chân của kẻ thù đã bị Bộ công an bắt, bị tòa án xét xử và khi chị đã nghỉ hưu… chị cũng không hề biết người đó là ai?

Trong những lúc lâm nguy nhất, người đó đã gọi điện cho chị, từ một trạm điện thoại công cộng, và báo cho chị hay rằng đang có một âm mưu như thế, như thế… rằng sự việc sẽ diễn ra như thế, như thế…

Nhưng đó cũng chỉ là những an ủi nhất thời. Tuy nhiều lần người ấy đã cứu chị thoát chết nhưng tại sao chị phải lâm vào tình thế ấy? Tại sao lại phải sợ hãi những kẻ đứng trong bóng tối? Tại sao kẻ trong sạch lại phải sợ bọn tội phạm? Tại sao một cán bộ cao cấp như chị lại phải sợ một thứ quyền lực đen nào đấy?

Và đã có lúc chị cầm một sợi dây thòng lọng. Chị cuộn nó lại, giấu trong túi xách, đến soi mặt mình trong gương. Một đêm mất ngủ. Và khóc. Một đêm ngồi trong góc tối của căn phòng nhìn chồng nhìn con và nhìn bức ảnh nổi tiếng của mình. Bức ảnh chụp chị đứng trước tòa án, giữa hai người quân cảnh đeo kính đen. Chị nhìn cái miệng cười của mình. Nước mắt lặng lẽ lăn xuống gò má. Bởi vì giờ đây chị không “được” đứng trước một tòa án để mà cười. Chị đang đứng trước một thế lực vô hình, chị đang bị rình rập, truy sát.

Ngày xưa chị nhìn thấy kẻ thù ngay trước mặt, chị bắn nó bằng một khẩu súng rỉ sét nhưng chị ở thế chủ động, chị là thợ săn còn kẻ địch là con mồi. Bây giờ thì chị không biết kẻ thù đang đứng chỗ nào, mặt mũi nó ra sao. Bây giờ chị có một khẩu K59 mới tinh nhưng chị sẽ bắn vào đâu? Bắn vào bóng tối? Vào hư vô?

Không ai trả lời những câu hỏi ấy và điều đó làm chị tuyệt vọng.

Sẽ phải treo sợi dây thòng lọng ở đâu? Trên xà nhà? Trước cửa? Hay trên một cành cây?

Không thể chết tầm thường được. Phải biến nó thành một lời cảnh tỉnh, một cáo trạng. Có lẽ chỗ tốt nhất là Hội trường Văn phòng Trung ương Đảng.

Chị quyết định vào đó để chọn một vị trí thích hợp.

Thính phòng im phăng phắc. Sân khấu mờ ảo. Những dãy ghế quen thuộc cũng đang lặng thinh, nín thở, chờ xem người đàn bà quen mặt này sẽ làm gì. Chị bước lên sân khấu, ngước nhìn những phông màn, những giàn đèn và những sợi dây kéo. Chị đi một vòng, chậm rãi, thầm lặng. Rồi chị bước xuống những bậc cấp, tìm đến chiếc ghế mà chị vẫn thường ngồi trong các phiên họp Ban chấp hành Trung ương Đảng.

Chiếc ghế ôm chị vào lòng nó, cũng mềm mại, ấm áp như ngày nào. Chị ngửa cổ, tựa đầu vào lưng ghế. Và khóc.

Dường như chị có thiếp đi được một lúc cho đến khi chuông điện thoại reo. Chị mở túi xách, Chiếc điện thoại màu bordeaux đang sáng lên giữa những cuộn dây thòng lọng.

Đó là cuộc gọi của người vô danh, ân nhân giấu mặt của chị. Chị nhận ra giọng nói quen thuộc. Nó ấm áp và chậm rãi. Những lần trước, chị đã cố nghĩ xem đó là giọng của ai nhưng không biết được. Chị chỉ biết chắc người đó đã gọi cho chị theo lệnh của một đồng chí nào đó trong Bộ Chính Trị. Lần này giọng nói ấy chỉ là một câu đơn giản.

-Bộ công an đã bắt hết chúng rồi. Chúc mừng đồng chí.

Chị lặng người đi. Hội trường như sáng lên. Chị thọc tay vào túi xách, nắm chặt sợi dây thòng lọng.

Chị thấm nước mắt bằng chiếc khăn rằn của du kích Miền Nam mà chị đã chuẩn bị sẵn. Chị nhìn thẳng lên sân khấu và cười. Tiếc thay anh nhà báo người Nhật năm nào đã không có mặt để ghi lại nụ cười ấy. Nó vẫn đẹp. Và nếu được công bố với đầy đủ những tình huống đắng cay thì nụ cười trong buổi sáng cuối năm 2000 ở Hội trường này cũng sẽ trở thành một huyền thoại, và có khi còn nổi tiếng hơn cả nụ cười của mấy mươi năm về trước.

Đ.H

Nguồn: daohieu.wordpress.com

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.08.2014

CHÙM THƠ NGÔ MINH TẶNG NGƯỜI ĐƯƠNG THỜI

 

  Thơ Ngô Minh   

LẠY CỤ NGUYỄN DU

lạy này xin cụ xá cho

cô Kiều năm ấy mới vừa qua đây

 nom chừng son phấn thêm dày

cầm ca  một thuở đã  phai nhạt rồi

 

lạy này xin cụ đánh roi

trăm năm báo oán mà đời oán dâng

lũ Tú bà, Mã Giám Sinh

nhung nhúc Ưng Khuyển, Sở Khanh…nảy nòi

 

 lạy này xin cụ ngậm cười

văn chương trần thế chín mười đơn sai

chữ tâm  rơi rớt  dặm dài

chữ tài liền với chữ tai… Thôi thì…

 

 lạy này xin cụ say vì

cháu con thơ lại đến quỳ trước thơ

Tiên Điền mây cỏ ngẩn ngơ

 trăm phần trăm chén giang hồ

                                    Nguyễn ơi…

 

Cửa Lò, 2006 (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.08.2014

Nhìn lại Xung Đột Việt-Trung

Nhìn lại Xung Đột Việt-Trung

Nguyễn Quang Dy/Viet-studes 
 
Tháng 5/2014, Hà Nội nóng bỏng bất thường ngay đầu hè. Rõ ràng Trung Quốc góp phần làm cho trái đất nóng lên. Đặc biệt Biển Đông càng nóng bỏng hơn. Trung Quốc đăt dàn khoan khổng lồ HD 981 taị vùng biển của Việt Nam từ đầu tháng 5 để tranh cướp chủ quyền, thổi bùng lên làn sóng chống Trung Quốc ở Việt Nam và khắp khu vực.


Nghịch lý yêu-ghét trong lịch sử quan hệ Việt-Trung đầy bi kịch thường dẫn đến xung đột lợi ích quốc gia, kể cả chiến tranh. Năm 1979 Trung Quốc đã xâm lược Việt Nam trong cuộc chiến biên giới đẫm máu, sau ba thập kỷ gắn bó như “môi với răng” vì cùng chung ý thức hệ. Liệu lịch sử có lặp lại lần nữa tại Biển Đông? Nước cờ tiếp theo của Trung Quốc là gì? Liệu Trung Quốc có xô đẩy Việt Nam vào vòng tay người Mỹ, giống như vào vòng tay người Nga năm 1979? Việt Nam phải làm gì để có thể sống yên ổn bên cạnh người láng giềng khổng lồ? 
 Bối cảnh lịch sử
Không có bạn thù vĩnh viễn, chỉ có lơi ích vĩnh viễn

 Napoleon Bonaparte đã từng nói, “Trung Quốc là gã khổng lồ đang ngủ. Hãy để cho nó ngủ yên, vì khi thức dậy nó sẽ làm đảo lộn thế giới”. Người Mỹ đã không nghe lời khuyên đó. Họ đã giúp gã khổng lồ trỗi dậy bằng chính sách “can dự xây dựng”. Nhưng họ đã đi quá đà nên bây giờ bắt đầu ân hận, phải tìm cách ngăn chặn sự trỗi dậy hung hăng của nó. Kế hoạch “xoay trục” và TPP (Tran-Pacific Partnership) để “tái cân bằng” sự trỗi dậy của Trung Quốc làm ta nhớ lại thập niên 1950 và 1960 khi Mỹ dùng SEATO (South East Asia Treaty Organization) để ngăn chặn nguy cơ Trung Cộng. Hình như lịch sử đang lặp lại, nhưng với trò chơi mới và luật chơi mới.

 Ông Kissinger được ghi nhận là kiến trúc sư của Chính sách Trung Quốc, đã có công giúp Trung Quốc trỗi dậy, theo tầm nhìn của ông ta về một trật tự thế giới trong đó Trung Quốc liên minh với Mỹ để chống Liên Xô. Ông ta đã bí mật dàn xếp với người Trung Quốc để đưa Tổng thống Nixon sang Trung Quốc bắt tay Mao Chủ tịch và ký Thông cáo chung Thượng Hải (năm 1972). Theo thỏa thuận, Mỹ sẽ bỏ rơi Nam Việt Nam, thỏa hiệp về chủ quyền Đài Loan, hợp tác giúp Trung Quốc thực hiện “bốn hiện đại hóa”, đánh đổi lấy việc Mỹ sẽ rút quân dần khỏi Nam Viêt Nam “trong danh dự”, và lập một liên minh “trên thực tế” chống Liên Xô.

 Sau đó ông Brzezinski (Cố vấn An ninh Quốc gia của Tổng thống Carter) đã tiếp tục Chính sách Trung Quốc bằng thỏa thuận ngầm với ông Đặng Tiểu Bình để Trung Quốc xâm lược Việt Nam (1979) và ngầm ủng hộ Khmer Đỏ trong chính phủ liên hiệp ở Campuchea. Việt Nam đã trở thành con tốt trong ván bài nước lớn bất lương này, bị xô đẩy vào vòng tay người Nga (1978-1979). Như vậy người Trung Quốc phải mang ơn ông Kissinger về cơ hội trỗi dậy, với sự ủng hộ của ông ta và “China Lobby”. Có điều ông Kissinger không biết (hoặc không quan tâm) liệu Trung Quốc có giữ lời hứa sẽ trỗi dậy “trong hòa bình” và không “động tới quyền lợi của Mỹ” và đồng minh của Mỹ ở Đông Á hay không.

 Có lẽ người Mỹ đã hơi ngây thơ hoặc ảo tưởng và ngộ nhận về sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc mà không tính kỹ những nguy cơ tiềm ẩn. Việc Trung Quốc sẽ trở mặt bắt nạt các nước láng giềng và thách thức Mỹ chỉ là vấn đề thời gian. Ngay cả khi người Mỹ đã “xoay trục” sang Đông Á để ngăn chặn nguy cơ Trung Quốc, dường như họ vẫn chưa thoát ra khỏi cái bóng của ông Kisinger. Những gì đang diễn ra là quá ít và quá muộn để răn đe Trung Quốc và bảo vệ quyền lợi của Mỹ cũng như đồng minh ở khu vực. Người Nhật bây giờ mới tỉnh ngộ và đang vội vã sửa lại hiến pháp để đối phó với Trung Quốc, trong khi các nước khác ở khu vực (như ASEAN) thì hoang mang, bối rối, và bị Trung Quốc phân hóa.   

 Năm 1979, Trung Quốc xâm lược Việt Nam để “dạy một bài học”, sau khi Việt Nam xâm lược Campuchea để đánh Khmer Đỏ là đồng minh của Trung Quốc. Thực chất, Trung Quốc đánh Việt Nam chủ yếu là để gây ấn tượng với người Mỹ rằng Trung Quốc là một đối tác tin cậy trong liên minh chống Liên-Xô và Việt Nam. Đối với ông Đặng Tiểu Bình, sự hỗ trợ của Mỹ để thực hiện “bốn hiện đại hóa” mới là mục tiêu chính để giúp Trung Quốc trỗi dậy. Mọi chuyện khác đều là thứ yếu, chỉ là phương tiện. Đối với lãnh đạo Việt Nam, Trung Quốc trở thành “kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm”, nên phải liên minh với Liên Xô để chống Trung Quốc. 

 Phải mất hơn một thập kỷ Việt Nam mới bình thường hóa được quan hệ với Trung Quốc, sau cuộc gặp cấp cao bí mật tại Thành Đô (9/1990) với phương châm “16 chữ vàng” (láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai). Điều này đã diễn ra đúng như lời tiên đoán trước đây của ông Đặng Tiểu Bình là Việt Nam sẽ phải quay đầu lại với Trung Quốc. Lý do chính Việt Nam phải quay lại là bức tường Berlin và chủ nghĩa cộng sản đã xụp đổ, cùng với sự tan rã của Liên Xô. Lãnh đạo Việt Nam đã hoảng hốt lo mất chính quyền, nên vội vã làm lành với lãnh đạo Trung Quốc bằng mọi giá, dù phải hy sinh lợi ích quốc gia sống còn, để cứu vãn một ý thức hệ và thể chế chính trị đã lỗi thời.

 Thỏa thuận Thành Đô là một sai lầm chiến lược to lớn và một bước ngoặt bất hạnh cho Việt Nam, làm cố ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch phải cay đắng nhận xét, “một thời kỳ bắc thuộc mới đầy nguy hiểm đã bắt đầu”. Lãnh đạo Viêt Nam đã dại dột chui vào bẫy ý thức hệ của Trung Quốc, trở thành con tin để họ thao túng, đến tận bây giờ. Suốt hai thập kỷ tiếp theo, các thế hệ lãnh đạo Việt Nam đã buộc phải theo cam kết Thành Đô, như con tin mắc bẫy, với cái giá phải trả ngày càng cao. Qua nhiều năm, Trung Quốc đã lặng lẽ cài cắm một mạng lưới sâu rộng gồm tay sai và người ủng hộ họ trong nội bộ Việt Nam, từ trung ương đến các địa phương, để tác động vào các quyết sách quan trọng, không chỉ liên quan đến các vấn đề kinh tế và chính trị, mà còn cả quân sự và an ninh. Bản chất quan hệ Viêt-Trung bất bình đẳng, dựa trên lòng trung thành mù quáng về ý thức hệ, là nguyên nhân chính đã kìm hãm cải cách kinh tế và ngăn cản đổi mới chính trị ở Viêt Nam trong suốt hai thập kỷ qua.

 Nay một bước ngoặt mới lại xuất hiện khi Trung Quốc đột nhiên kéo dàn khoan khổng lồ HD 981 đặt tại vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam ở Biển Đông từ đầu tháng 5, làm lãnh đạo Việt Nam bất ngờ, choáng váng, làm xụp đổ ảo tưởng của họ khi Trung Quốc đã công khai trở mặt, vứt bỏ “16 chữ vàng”. Dàn khoan HD 981 không phải chỉ để khoan dầu, mà còn để khẳng định chủ quyền tại vùng biển tranh chấp mà Trung Quốc đơn phương tuyên bố là “lợi ích cốt lõi” của mình. Thực tế dàn khoan HD 981 là một loại “vũ khí dân sự” để cưỡng đoạt chủ quyền, còn hiệu quả hơn cả hàng không mẫu hạm “Liêu Ninh”. Trung Quôc không bỏ lỡ cơ hội Mỹ và các nước NATO đang bận đối phó với Nga về vấn đề Ukraine, để tăng cường hợp tác với Nga vì nhu cầu năng lượng lẫn địa chính trị. Họ học ngay bài học Nga chiếm Crimea như một chuyện đã rồi, để lấn chiếm Biển Đông bằng dàn khoan khổng lồ HD 981, nhằm thử phản ứng của Viêt Nam, ASEAN, Mỹ và các nước khác, chuẩn bị cho nước cờ tiếp theo. 

 Tình hình quốc nội 

Con hổ mới đã biến thành con mèo ốm yếu

 Trong khi Trung Quốc trỗi dậy, trở thành cường quốc kinh tế thứ hai thế giới, thì Việt Nam lại tụt hậu, không cất cánh lên được. Các tổng công ty lớn của nhà nước theo “định hướng XHCN” là trụ cột nền kinh tế, nhưng đã thua lỗ nặng và trở thành những con nợ khổng lồ. Thành quả cải cách kinh tế gần hai thập kỷ đầy ấn tượng nay đã tan thành mây khói, vì nạn tham nhũng, quản lý tồi, và bị các nhóm lợi ích thao túng trong một cơ chế thân hữu. Các nhóm lợi ích tham lam chiếm đất của nông dân làm dự án, câu kết với quan tham và xã hội đen đàn áp dân nghèo, gây nên một làn sóng bất bình khắp nơi, có nguy cơ làm bất ổn định xã hội. Nhiều công nhân tại các doanh nghiệp FDI ở các khu công nghiệp biểu tình đòi tăng lương và cải thiện điều kiện sống, nhưng không được giới chủ đáp ứng tích cực nên đầy bức xúc, dễ bị kẻ xấu lợi dụng kích động gây rối, như các vụ bạo động chống Trung Quốc gần đây đã chứng minh.

 Thất bại kinh tế và bất ổn xã hội đã thúc đẩy nhanh khủng hoảng chính trị và lãnh đạo. Các phe phái cầm quyền tranh giành quyền lực ngày càng quyết liệt, làm phân hóa nội bộ lãnh đạo và tê liệt năng lực quản trị đất nước, tới mức khủng hoảng. Đấu tranh quyền lực quyết liệt giữa phe chính phủ do Thủ tướng đứng đầu với phe đảng do Tổng Bí thư đứng đầu, đã diễn ra tại hầu hết các hội nghị trung ương trong năm 2013, cho tới khi tạm thời lắng xuống vào cuối năm do không phân thắng bại phải hòa hoãn. Nay sự kiện dàn khoan HD 981 và khủng hoảng trong quan hệ Việt-Trung đã làm gia tăng tranh giành quyền lực, có lợi thế cho Thủ tướng (lên tiếng chống Trung Quốc, nên được dân ủng hộ) và bất lợi cho Tổng Bí thư (im hơi lặng tiếng, nên mất lòng dân). Tuy Việt Nam có cơ hội để thay đổi cơ bản, nhưng lãnh đạo lại chia rẽ vì xung đột lợi ích trước sự đe dọa của Trung Quốc.  

 Gần bốn thập kỷ sau chiến tranh Việt Nam, trong khi người Việt và người Mỹ về cơ bản đã hòa giải xong, thì cộng đồng người Việt trong nước và ngoài nước vẫn chưa hòa giải được. Nội chiến thường để lại những vết thương tâm lý và tinh thần sâu nặng hơn. Chừng nào trong lòng còn hận thù và thành kiến, thì không những khó hòa giải, mà còn dễ làm phân hóa cuộc đấu tranh chung cho tự do dân chủ và chủ quyền quốc gia. Những người cộng sản cực đoan là những người độc tài, nhưng những người chống cộng cực đoan cũng chẳng khác gì. Vì vậy, chủ nghĩa cực đoan là kẻ thù tiềm ẩn của hòa giải dân tộc và chấn hưng quốc gia.

 Tình hình quốc tế 

Con sói cô độc

 Việt Nam tuyên bố chính sách đa phương hóa quan hệ và có “đối tác chiến lược” với hơn 10 nước (nhưng chưa có Mỹ). Lúc này, chẳng đối tác chiến lược nào (ngoài Mỹ) có thể giúp Viêt Nam răn đe Trung Quốc để tránh bị bắt nạt. Trước hành động xâm chiếm của Trung Quốc tại Biển Đông, chính phủ nhiều nước tuy bất bình, nhưng không dám công khai ủng hộ Viêt Nam sợ làm mất lòng Trung Quốc. Năm 1979, khi bị Trung Quốc tấn công, Việt Nam có hiệp ước liên minh quân sự với Liên-Xô để răn đe Trung Quốc. Nhưng hiện nay Việt Nam hoàn toàn cô độc, không có liên minh quân sự với một nước nào (khác với quan hệ của Mỹ với Nhật, Hàn Quốc, và Philippines). Viêt Nam đã cố giữ cân bằng quan hệ với Trung Quốc và Mỹ bằng chính sách “Ba Không”: không tham gia liên minh quân sự với nước nào, không cho nước nào đặt căn cứ quân sự, và không dựa vào nước này để chống nước kia. Nếu Việt Nam không thay đổi chính sách cân bằng thụ động này, thì làm sao tự bảo vệ được mình? Viet Nam đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng kép: vừa thất bại về kinh tế vừa bị Trung Quốc đe dọa chủ quyền.

 Chính sách “xoay trục” của Mỹ sang Đông Á chưa có hiệu lực răn đe Trung Quốc. Bằng việc đưa dàn khoan HD 981 đến Biển Đông, Trung Quốc đã qua mặt Mỹ, ngay sau khi Tổng thống Obama đến thăm Đông Á. Phản ứng của Mỹ đối với Trung Quốc chưa đủ mạnh, vì Việt Nam khác với Philippines. Quan hệ “đối tác toàn diện” với Mỹ phải nâng lên thành “đối tác chiến lược”, bao gồm bán vũ khí sát thương, tập trận chung, và sử dụng căn cứ quân sự tại Cam Ranh (như Philippines và Singapore đã làm với Mỹ). Nhưng thể chế chính trị độc tài của Viêt Nam, với hồ sơ nhân quyền xấu vì đàn áp tự do dân chủ, là trở ngại chính đối với việc nâng cấp quan hệ với Mỹ. Viêt Nam cũng khó hòa nhập sâu hơn vào thị trường thế giới (WTO và TPP) vì vẫn bám giữ “định hướng XHCN” và chậm chuyển đổi hẳn sang kinh tế trị trường.

 Phản ứng của ASEAN đối với sự kiện HD 981 cũng khá yếu. Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN (10/5/2014 tại Myanmar) ra được tuyên bố chung nhưng không dám nêu đích danh Trung Quốc. ASEAN là một tổ chức lỏng lẻo gồm nhiều nước có thành phần đa dạng, dễ bị Trung Quốc phân hóa và vô hiệu hóa. Bó đũa ASEAN đang bị Trung Quốc tách ra để bẻ gãy từng chiếc, nếu không đoàn kết trong một cộng đồng mạnh hơn. Trong nhiều năm, ASEAN đã không ép được Trung Quốc ký COC (quy tắc ứng xử) tại Biển Đông. ASEAN không có cơ chế an ninh tập thể nên không thể can thiệp để bảo vệ các nước thành viên, kể cả khi bị đe dọa.

 Căng thẳng và xung đột trong khu vực đã thúc đẩy nhiều nước chạy đua vũ trang. Việt Nam trở thành khách hàng lớn mua vũ khí của Nga. Nhưng điều này dẫn đến hai nguy cơ lớn: Một là, chi phí quốc phòng tăng lên trong khi kinh tế suy thoái sẽ đặt Viêt Nam vào thế tiến thoái lưỡng nan; Hai là, Việt Nam sẽ bị hở sườn nếu Trung Quốc và Nga nâng cấp đối tác chiến lược để đối phó với Mỹ (như đang diễn ra hiện nay). Nếu Việt Nam nâng cấp quan hệ với Mỹ thành đối tác chiến lược (như dự kiến), thì các hệ thống vũ khí hiện đại mua của Nga có thể không còn an toàn để chống Trung Quốc nữa (đặc biệt là hợp đồng mua 6 tàu ngầm Kilo class 636 và mua thêm 12 máy bay chiến đầu Su-30MK2 còn đang trong quá trình chuyển giao). Vì vậy, việc Mỹ bỏ cấm vận vũ khí sát thương là rất quan trọng đối với Việt Nam lúc này.

 Nước cờ tiếp theo 

Tiếp tục “Tam chủng Chiến pháp”

 Sự kiện Trung Quốc đưa dàn khoan HD 981 vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và bạo loạn chống Trung Quốc tại Bình Dương và Vũng Áng là lời cảnh báo về những tử huyệt của Viêt Nam. Nhưng nếu lãnh đạo Hà Nội vẫn không tỉnh ngộ để tìm cách thoát khỏi cái bẫy ý thức hệ và dũng cảm đối phó với thực tế mới, thì Trung Quốc sẽ tiếp tục thao túng những tử huyệt này để đạt được mục đích, mà chẳng cần chiến tranh.

 Trung Quốc đã lợi dụng tử huyệt của lãnh đạo Viêt Nam để dùng dàn khoan HD 981 lấn chiếm chủ quyền tại Biển Đông như chuyện đã rồi, để thử phản ứng các bên liên quan. Người ta nghi ngờ tay sai của Trung Quốc tại Việt Nam đã ngầm xúi giục công nhân gây bạo loạn tại Bình Dương, Vũng Áng và những nơi khác để Trung Quốc lấy cớ rút người và đầu tư, và để các nhà đầu tư Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản sợ không dám đầu tư. Việc này nhằm gây sức ép để chính phủ Việt Nam tiếp tục trấn áp biểu tình chống Trung Quốc. Ngoài ra Trung Quốc có thể dùng những đòn bẩy khác để gây bất ổn cho xã hội Viêt Nam, như dùng mạng lưới tay sai cài cắm trong nội bộ chính quyền và cộng đồng để tác động vào các sự kiện, dùng biện pháp tài chính thương mại để thao túng thị trường, dùng chiến tranh mạng để gây nhiễu, dùng truyền thông để tác động vào dư luận, và dùng công cụ pháp lý để lật lại vấn đề. Đây là một phần của học thuyết “Tam chủng Chiến pháp” (Chiến tranh tâm lý, truyền thông và pháp lý) mà lãnh đạo của họ đã thông qua từ năm 2003. Trong khi chính phủ Việt Nam chưa dám nộp đơn kiện, thì ngày 9/6, Trung Quốc đã bất ngờ đệ trình Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc một tài liệu chính thức về quan điểm đối với tranh chấp tại Biển Đông để lưu chuyển cho tất cả 193 thành viên LHQ.      

 Phản ứng của lãnh đạo Viêt Nam quá chậm và im hơi lặng tiếng, trừ thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có những tuyên bố kịp thời và mạnh mẽ về hành động hiếu chiến của Trung Quốc, tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN ở Myanmar (10/5) và tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới về Đông Á ở Manila (22/5), ghi điểm cao và nổi bật trước các đối thủ chính trị khác. Trước mắt, Thủ tướng đã giành lại được sự ủng hộ của dân chúng và chính danh của người lãnh đạo quốc gia cho sứ mạng  bảo vệ chủ quyền. Điều này là thiết yếu trong cuộc chạy đua vào vị trí số một tại Đại Hội Đảng tới. Sự kiện này đã tạo ra một bước ngoặt làm phân hóa nội bộ lãnh đạo Việt Nam, có thể đảo lộn những toan tính trước đó về sắp xếp nhân sự. Đây là cơ hội tốt để Thủ tướng khẳng định vị thế chính trị, và tạo ra những thay đổi cơ bản về chính trị và đối ngoại. Nhưng điều này còn phụ thuộc vào lòng dũng cảm và thành tâm chính trị của người lãnh đạo. . 

 Phản ứng của dân chúng quá nhanh và mạnh. Có lẽ hơi quá bồng bột để “các thế lực thù địch” lợi dụng gây bạo loạn tại Bình Dương, Vũng Áng và các nơi khác, làm mất uy tín Việt Nam và phá hoại nền kinh tế đang khủng hoảng. Nếu chính phủ biết cách khắc phục hậu quả, hy vọng tác động tiêu cực đến đầu tư FDI, như rút người rút vốn, chỉ là nhất thời. Sau lúng túng ban đầu, chính phủ đã có những biện pháp mạnh hơn để đối phó. Nhưng đừng quá mạnh tay với dân chúng và nhẹ tay với bọn đầu sỏ thủ phạm, vì đó là dấu hiệu họ đứng về phía nào. Đây là cơ hội tốt để các lực lượng yêu nước tập hợp, vì hòa giải và đoàn kết dân tộc, để bảo vệ chủ quyền quốc gia. Đây cũng là thời điểm tốt để phe cải cách lật ngược bàn cờ chính trịvà giành lại thế thượng phong. Nhưng sau chuyến thăm của Dương Khiết Trì (18/6/20014), hình như cả hai phái lãnh đạo Việt Nam vẫn lúng túng và bất lực, chưa dám hành động.  

 Tuy phe bảo thủ thân Trung Quốc bị choáng váng, hoang mang và mất thể diện, nhưng họ vẫn nắm quyền quyết định. Việc Ngoại trưởng Phạm Bình Minh phải hoãn chuyến đi Mỹ theo lời mời của Ngoại trưởng John Kerry (22/5), và những phát biểu yếu ớt của Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh tại Đối thoại Shangri-La 2014 (30/5) là những tín hiệu xấu, chứng tỏ lãnh đạo Việt Nam vẫn sợ Trung Quốc, tiếp tục duy trì nguyên trạng về ý thức hệ, mặc dù nguy hại cho chủ quyền quốc gia. Một khi Trung Quốc rút dàn khoan và tàu thuyền về, phe bảo thủ sẽ lại hồi phục và thế cân bằng chính trị lại tiếp diễn. Kinh nghiệm cho thấy, chỉ có thể thay đổi cơ bản khi nào dân chúng thoát khỏi nỗi sợ để hòa giải và đoàn kết dân tộc thành sức mạnh nhân dân, tạo sự đột phá bằng quá trình thay đổi từ dưới lên, chứ không phải chỉ từ trên xuống. Giai đoạn Đổi mới (1986-1990) là một bài học về quá trình thay đổi từ trên xuống bị chết yểu khi chính quyền đột nhiên quyết định đóng cửa.

 Phản ứng quốc tế mạnh hơn trước, nhưng chưa đủ mạnh để răn đe Trung Quốc. Không nên ảo tưởng là quốc tế luôn ủng hộ Viêt Nam chống Trung Quốc, vì thế lực Trung Quốc quá lớn và quá mạnh, bàn tay của họ quá dài vươn ra khắp nơi. Viêt Nam phải thay đổi thái độ chính trị để có bộ mặt tử tế hơn Trung Quốc, vì không ai muốn ủng hộ một chế độ độc tài tham nhũng, với hồ sơ nhân quyền quá xấu. Đây là cơ hội tốt để Việt Nam nâng cấp quan hệ với Mỹ thành đối tác chiến lược để đối phó với Trung Quốc. Nhưng đừng quá ảo tưởng vào “lá bài Mỹ” (cũng như “lá bài Nga” trước đây). Chủ trương “xoay trục” và trò chơi TPP của Mỹ còn đang diễn biến. Đối với Washington, Trung Quốc quan trọng hơn nhiều so với Việt Nam. Hơn nữa, Mỹ còn đang sa lầy tại Trung Đông và dính líu tại Ukraine, trong khi phải đối phó với ngân sách quốc phòng bị cắt giảm và xu hướng trong nước muốn co lại. Trong bài diễn văn về đối ngoại dài 9 trang tổng thống Obama đọc tại West Point (28/5/2014) chỉ có mấy dòng mờ nhạt đề cập đến tranh chấp trên biển tại khu vực này, trong đó chỉ nhắc đến Biển Đông và Trung Quốc hai lần, và không nói gì đến Việt nam cũng như dàn khoan của Trung Quốc.    

 Trung Quốc khó có khả năng duy trì quá lâu dàn khoan khổng lồ HD 981 và một đội tàu hộ tống quá lớn tại Biển Đông. Đơn giản là quá tốn kém, dù cho bất kỳ lý do gì. Trung Quốc có thể rút dàn khoan HD 981 vào giữa tháng 8 như dự kiến, hoặc thậm chí sớm hơn nếu đã xong nhiệm vụ, hoặc nếu mùa mưa bão ập đến sớm hơn. Nhưng dù sao, Trung Quốc sẽ không bao giờ bỏ cuộc, và sẽ sử dụng tối đa “chiến thuật dàn khoan”. Họ có thể triển khai thêm nhiều dàn khoan tại những vị trí khác, và ráo riết xây dựng hạ tầng chiến lược tại các bãi đá họ chiếm để đòi “vùng đặc quyền kinh tế”, và “khu vực nhận dạng phòng không”. Trung Quốc sẽ “tùy cơ áp đặt” để từng bước độc chiếm Biển Đông, nhưng tránh đối đầu quân sự với Mỹ. Nước cờ dàn khoan của họ cho thấy nếu xung đột vũ trang xảy ra, nó sẽ xảy ra chớp nhoáng trên biển, với những đòn tấn công chính xác của hải quân và không quân, để phát huy ưu thế, nhằm đảm bảo thắng nhanh để Mỹ không kịp can thiệp. Trận hải chiến tại Gạc Ma năm 1988 là một ví dụ.

 Nhưng khi hạm đội tàu ngầm Viêt Nam gồm 6 chiếc Kilo class 636 được bàn giao và sẵn sàng hoạt động, với 12 máy bay chiến đấu Su-30MK2 mới bổ xung, Trung Quốc sẽ khó tự do tung hoành ở Biển Đông. Đặc biệt, khi quan hệ với Mỹ được nâng cấp thành “đối tác chiến lược”, bao gồm bán vũ khí sát thương và tập trận chung với Hạm đội 7, và nhất là sau khi Nhật Bản chuyển giao đội tàu tuần duyên loại Bizan cho cảnh sát biển Việt Nam, thì tư thế phòng thủ của Viêt Nam ở Biển Đông sẽ được cải thiện đáng kể. Tuy Trung Quốc không muốn xô đẩy Viêt Nam vào vòng tay người Mỹ, nhưng hành động ngang ngược mới của họ có thể làm thay đổi cục diện, dẫn đến những hệ quả không mong muốn.

 Trung Quốc có những phương án khác trong chiến lược vươn ra biển khơi của mình. Nếu lối ra Ấn Độ Dương của họ bị ngăn chặn vì những thay đổi gần đây ở Miến Điện, với sự gia tăng ảnh hưởng của Mỹ tại đây, Trung Quốc phải tìm lối ra Vịnh Thailand và xa hơn nữa. Vì những lý do kinh tế và địa chính trị, Trung Quôc phải kết nối các tỉnh phía Nam với biển khơi bằng một hành lang trong đất liền như một tuyến đường huyết mạch đi qua mấy nước láng giềng, để đối phó với chiến lược “bao vây trên biển” của Mỹ nhằm phong tỏa Trung Quốc tại các điểm yết hầu trên biển. Gần đây, Trung Quốc đã giành được một số dự án lớn ở Lao, Campuchea và Thailand, để xây dựng những cơ sở giao thông và hậu cần có giá trị cao, bao gồm các hệ thống đường sắt, đường cao tốc, đường sông, sân bay, trạm ra đa, hải cảng và kho tàng.

 Việc Trung Quốc triển khai dàn khoan khổng lồ HD 981 và đội tàu hộ tống rất lớn tại đây là một phần của kế hoạch nhằm độc chiếm Biển Đông, và kiểm soát các đường hàng hải huyết mạch, bằng cách triển khai học thuyết A2/AD (anti-access/area-denial) mà Mỹ và các đồng minh rất quan ngại. Gã khổng lồ đói năng lượng tất nhiên thèm khát tài nguyên ở Biển Đông, bao gồm 11 tỷ thùng dầu và 190 nghìn tỷ mét khối (Anh) khí đốt (theo đánh giá của US Energy Information Administration) hoặc 17 tỷ thùng dầu và 498 nghìn tỷ mét khối khí đốt (theo đánh giá của China National Offshore Oil Corporation). Nhưng, Trung Quốc còn muốn kiểm soát cả đường hàng hải, vì hơn 5 nghìn tỷ USD hàng hóa hàng năm phải qua đây (gồm 3/4 số dầu Trung Quốc nhập khẩu và hầu hết số dầu chuyển đến Japan, South Korea, và Taiwan). Vì tất cả hàng hóa của họ vận chuyển bằng đường biển phải qua đây, nên Trung Quốc rất lo ngại chiến lược “Kiểm soát Ngoài khơi” (Offshore Control) của Mỹ nhằm bảo vệ “Vành đai các đảo tiền tiêu” (First Islands Chain) và dùng các điểm yết hầu như eo Malacca hay Lombok để chặn đường xuất nhập khẩu của Trung Quốc. Vì vậy, trong khi Trung Quốc tìm kiếm các con đường bộ khác (qua Lao, Campuchea, Thailand), họ phải kiểm soát bằng được Biển Đông.

 Điều một dàn khoan trị giá gần một tỷ đô la đến Biển Đông, với hơn một trăm tàu hộ tống các loại vây quanh trong mấy tháng liền, chi phí mỗi ngày gần một triệu đô la, Trung Quốc không chỉ nhằm một mục đích. Nếu không phải chủ yếu để khoan dầu như dư luận nghi vấn, thì nó phải có một nhiệm vụ gì khác quan trọng hơn. Dàn khoan này có thể được dùng để đánh lạc hướng dư luận trong khi họ lặng lẽ xây dựng đảo nhân tạo và căn cứ quân sự tại các bãi đá ở Trường Sa, nhằm áp đặt “đường lưỡi bò” (như chuyện đã rồi), tuyên bố “khu vực nhận dạng phòng không” (ADIZ) và đòi “vùng đặc quyền kinh tế” (EEZ) như tại Hoàng Sa. Nếu đúng Trung Quốc đang đóng thêm một dàn khoan khổng lồ thứ hai (HD 982) như tin đồn, thì việc sử dụng dàn khoan khổng lồ có công năng kép này chứng tỏ là một công cụ chiến lược hiệu quả, vừa để khoan dầu vừa để khẳng định chủ quyền. 

 Vì vậy, điều quan trọng là phải quan sát thật kỹ xem Trung Quốc đang lặng lẽ làm gì tại các địa điểm chiến lược khác ở Biển Đông, cũng như ở Viet Nam, Lào, Campuchea, và Thailand (từ sau đảo chính). Các công trình đang được xây dựng ở Trường Sa (như đường băng trên bãi đá Gac Ma, đảo nhân tạo và căn cứ quân sự trên bãi đá Chữ Thập) sẽ được kết nối với căn cứ hải quân Du Lâm tại đảo Hải Nam và đảo Tam Sa tại Hoàng Sa. Theo đường chim bay, căn cứ Du Lâm chỉ cách đặc khu kinh tế Vũng Áng hơn 350km. Mấy nghìn công nhân Trung Quốc đang làm việc tại Vũng Áng (Hà Tĩnh, Miền Trung), tại dự án Bô xít Tân Rai và Nhân Cơ (Tây Nguyên) là một rủi ro lớn về an ninh. Nếu có chiến sự, Trung Quốc dễ dàng cắt đôi Việt Nam tại điểm xung yếu này. Về phía Tây có tuyến đường sắt cao tốc Côn Minh-Vientiane (Lào), các căn cứ tại Koh Kong và Bokor (Campuchea), kênh đào Kra Isthmus (Thailand). Một khi các cơ sở chiến lược này hoàn thành và được kết nối, thì Trung Quốc có thể vô hiệu hóa kế hoạch “xoay trục” của Mỹ nhằm ngăn chặn Trung Quốc, và dễ dàng khống chế Việt Nam. Họ chỉ cần hăm dọa, cưỡng ép và bắt chẹt cũng đạt được mục đích, mà không cần phải đánh, vì lúc đó mọi sự kháng cự của Việt Nam là quá yếu ớt và quá muộn…

 Năm 1973 “cú sốc dầu hỏa” làm Nhật Bản được một bài học nhớ đời, phải vội vã điều chỉnh chiến lược năng lượng, nên bị thiên hạ gọi là “quái vật kinh tế”. Trung Quốc học bài rất nhanh, đã kịp thời bắt tay với Nga gần đây để đảm bảo nguồn cung cấp năng lượng và lá bài địa chính trị trong trò chơi nước lớn mới. Trong khi đó, Trung Quốc đã triển khai hung hăng hơn tại Biển Đông để tranh thủ giành lợi thế do khoảng trống quyền lực tại đây vì ASEAN yếu và phân hóa, còn Mỹ và các đồng minh đều vướng các vấn đề khác nên không thể hành động quyết đoán. Đây là nước cờ có tính toán nhưng rất nguy hiểm vì Trung Quốc không chỉ là một “quái vật kinh tế” khổng lồ đã vượt qua Nhật Bản, mà còn là một “quái vật được vũ trang” đầy tham vọng, sẵn sàng thách thức các quyền lợi toàn cầu của Mỹ. Họ không còn đủ kiên nhẫn để chơi theo luật chơi cũ. “Cú sốc dàn khoan” này là một lời cảnh báo và một bước ngoặt mới, không chỉ đối với Việt Nam mà cho toàn khu vực. Dù có kiềm chế, khả năng xảy ra xung đột vũ trang do sai sót kỹ thuật hay con người, hoặc do trục trặc về truyền thông là rất lớn. 

 Làm thế nào để “thoát Trung” 

Phản tỉnh dể thoát khỏi cái bẫy ý thức hệ

 Quan hệ Viêt-Trung phải dựa trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và hai bên cùng có lợi. Nhưng thực tế điều này không thể có giữa một nước nhỏ yếu với một láng giềng khổng lồ, lại có truyền thống bá quyền đại Hán. Cách duy nhất là Việt Nam phải độc lập và đủ mạnh để răn đe đối với Trung Quốc (như Israel đối với các láng giềng lớn hơn).

 Nhưng muốn độc lập và mạnh, trước hết phải “thoát Trung” vì cái bẫy ý thức hệ đã trói buộc và kìm hãm Viêt Nam trong hơn một nửa thế kỷ. Cơ hội “thoát Trung” tốt nhất là khi Trung Quốc bi khủng hoảng và suy yếu (như thời Cách mạng Văn hóa). Mô hình Trung Quốc trước đây đã thất bại (như đại nhảy vọt) và sắp tới cũng không thể thành công (như Giấc mộng Trung Hoa), trừ phi có thay đổi chính trị cơ bản (điều này rất khó). Đó là nghịch lý phát triển kiểu Trung Quốc. Gordon Chang dự đoán “Trung Quốc sắp xụp đổ” trong khi Paul Krugman xác nhận “Trung Quốc đang gặp rắc rối lớn”, vì đã đến điểm giới hạn. Ngày phán quyết của họ đang đến gần. Vậy tại sao Việt Nam cứ đi theo Trung Quốc?   

 Muốn “thoát Trung”, trước hết Việt Nam phải đổi mới tư duy, từ “trong cái hộp” phải tư duy “ngoài cái hộp”. Người Việt phải học hỏi kinh nghiệm “thoát Á” của người Nhật dưới thời Minh trị, theo tư tưởng đổi mới vĩ đại của Fukuzawa Yukichi (1835-1901). Những nước Đông Á nào quyết tâm đổi mới tư duy để hiện đại hóa đất nước, đều trở thành cường thịnh và có sức sống (như Nhật Bản, Hàn Quốc). Chỉ 2 hay 3 thập kỷ sau chiến tranh bị tàn phá lớn, họ đã chấn hưng được đất nước, trở thành cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới.

 Trong hơn một nửa thế kỷ qua, Viêt Nam đã xa lầy vào quỹ đạo ý thức hệ Trung Quốc hai lần. Lần thứ nhất là từ khi biên giới hai nước thông thương (1950) để hai bên “núi liền núi, sông liền sông”, gắn bó như “môi với răng”, và để chủ nghĩa Mao tràn vào Viêt Nam, gây bao đại họa (như cải cách ruộng đất, tập thể hóa nông nghiệp, đàn áp phong trào nhân văn Giai phẩm…). Lần thứ hai là tại gặp gỡ cấp cao Thành Đô (9/1990) khi hai “anh em tử thù” lại đột nhiên ôm chầm lấy nhau như các đồng chí “bốn tốt” với phương châm “16 chữ vàng”. Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc một cách “bất bình thường”, dại dột tự chui đầu vào cái bẫy ý thức hệ của Trung Quốc, để bây giờ mới vỡ mộng khi Trung Quốc công khai lộ bộ mặt thật. Hệ lụy nặng nề của sai lầm to lớn tại Thành Đô đã được cố ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch dự báo, nay đang diễn ra tại Biển Đông và những nơi khác.  

 Giữa hai kinh nghiệm thảm họa đó khi Viêt Nam đi theo quỹ đạo Trung Quốc, thì Viêt Nam đã cố “thoát Trung” một lần sau năm 1975, khi Viêt Nam xâm lược Campuchea để đánh Khmer Đỏ là đồng minh của Trung Quốc (12/1978), và đánh trả Trung Quốc xâm lược Viêt Nam để “dạy bài học” (2/1979). Viêt Nam đã coi Trung Quốc như “kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm”, thậm chí ghi cả điều đó vào Hiến pháp (1980) và Cương lĩnh Đảng (1982). Viêt Nam đã mắc sai lầm chiến lược to lớn, sập bẫy của Trung Quốc, bị cô lập với thế giới (trừ Liên Xô), và xa lầy tại Campuchea. Viêt Nam đã cố “thoát Trung” một cách lầm lẫn: chống Trung Quốc (nhưng vẫn giữ nguyên ý thức hệ), chủ quan (tưởng Liên Xô là thành trì vững chắc) và ngây thơ (đối đầu với Trung Quốc khi họ đã bắt tay được với Mỹ).

 Nay nếu Viêt Nam định “thoát Trung” bằng cách đi đêm với Mỹ như đối tác chiến lược để chống Trung Quốc, trong khi không chịu từ bỏ ý thức hệ đã lỗi thời, thì sẽ lặp lại sai lầm. Viêt Nam chỉ có thể dựa vào Mỹ để “căn bằng” với Trung Quốc, chứ không thể “đối đầu” với họ. Chỉ có thể “thoát Trung” về ý thức hệ, chứ không thể “thoát Trung” về địa chính trị. Về lâu dài, người Việt phải sống khiêm tốn, tử tế, tương kính với người Hoa như những láng giềng thân thiện, cùng nhau đổi mới kinh tế và chính trị, xây dựng một xã hội khá giả và dân chủ. Độc tài và tham nhũng là kẻ thù chung của hai dân tộc. Vì vậy, muốn “thoát Trung” trước hết phải phản tỉnh để thoát khỏi ý thức hệ đã lỗi thời, là nguyên nhân chính dẫn đến mọi tai họa.

 Làm thế nào để sống bên cạnh Trung Quốc? 

Phải thay đổi hoặc mất hết.

 Nhìn lại quá khứ với những bài học đau đớn, Viêt Nam phải làm thế nào để sống được bên cạnh một nước láng giềng khổng lồ có truyền thống bá quyền đại Hán (như Trung Quốc)?

 Thứ nhất, lãnh đạo của nước nhỏ hơn phải giỏi hơn về thuật trị quốc, để nước láng giêng lớn hơn không dễ bắt nạt. Để có lãnh đạo giỏi, phải biết trọng dụng nhân tài, không phân biệt và kỳ thị nguồn gốc, như người Đức trọng dụng bà Angela Markel gốc Đông Đức hay ông Philipp Koeller gốc Việt. Lãnh đạo quốc gia phải vì lợi ích dân tộc, chứ không vì lợi ích nhóm hay cá nhân. Nếu lãnh đạo chạy chức chạy quyền không theo luật pháp, thì các quan tham sẽ vơ vét tài sản quốc gia làm giàu cho mình, làm đất nước khánh kiệt.  

 Thứ hai, dân trí của nước nhỏ hơn phải cao hơn trong một xã hội dân sự, để nước láng giềng lớn hơn không dễ lừa gạt. Phải khai tâm khai trí cho dân, và phải tôn trọng quyền tự do dân chủ của người dân. Đất nước không thể có nhân tài nếu người dân không được suy nghĩ sáng tạo và tự do tư tưởng. Không thể phát huy được nội lực quốc gia để dựng nước và giữ nước nếu không có hòa giải dân tộc và xã hội dân sự.

 Thứ ba, tiềm lực kinh tế và quốc phòng của nước nhỏ hơn phải có chất lượng cao hơn, để nước láng giềng lớn hơn không dễ áp đặt. Trong quá trình dựng nước, phải học bài học “quốc gia khởi nghiệp” của Israel, và kinh nghiệm phục hồi kinh tế sau chiến tranh của Đức, Nhật và Hàn Quốc. Mặc dù Nhật và Đức thua trận phải đầu hàng, nhưng chỉ hai-ba thập kỷ sau chiến tranh, họ đã phục hồi, trở thành cường quốc kinh tế đứng thứ hai và thứ ba thế giới. Trong khi đó Việt Nam tuy thắng trận, nhưng bốn thập kỷ sau chiến tranh, đất nươc vẫn nghèo nàn lạc hậu và lệ thuộc. Muốn phát triển kinh tế bền vững, phải đổi mới thể chế chính trị, để hậu thuẫn cho cải cách kinh tế và đổi mới công nghệ.

 Thứ tư, quan hệ đối tác chiến lược của nước nhỏ hơn phải đủ mạnh để răn đe tham vọng bá quyền của nước láng giềng lớn. Hiện nay, Viêt Nam có rất ít sự lựa chọn và rất ít thời gian, không thể tiếp tục bắt cá hai tay để cân bằng quan hệ với cả Trung Quốc và Mỹ. Sự kiện dàn khoan HD 981 là một bài học. Trong thế giới đa cực ngày nay, quan hệ đối tác chiến lược không còn phụ thuộc vào ý thức hệ mà chỉ dựa vào lợi ích quốc gia và địa chính trị. Nếu Viêt Nam không chịu thay đổi tư duy thì sẽ trở thành tù binh của quá khứ, và thất bại. 

 Nếu thiếu hụt những yếu tố trên, Viêt Nam dễ trở thành mồi ngon của chủ nghĩa bá quyền đại Hán. Nguy cơ bắc thuộc ngày càng lớn lên cùng sự trỗi dậy của Trung Quốc và tụt hậu của Viêt Nam. Để giữ độc lập và chủ quyền quốc gia, người Việt cần phản tỉnh để thoát khỏi cái bẫy ý thức hệ và cải cách thể chế chính trị. Đã đến lúc phải thay đổi hoặc mất hết. 

 NQD, 6/2014

(Nguyen Quang Dy is a Harvard Nieman Fellow, 1993).

 Theo Viet- studies
………………………………..
References:

 1. Peril of Pride and Prejudice, Philip Bowring, South China Morning Post, May 14, 2014

2. Beijing’s actions in the South China Sea demand a U.S. response, Elizabeth Economy and Michael Levi, World Policy, May 15, 2014

3. China’s Push in South China Sea Divides the Region, Murray Hiebert, CSIS, May 16, 2014

4. Hot oil on troubled waters, Economist, May 17th 2014 |

5. Vài Đánh giá Ban đầu về Cuộc Xung đột Viêt-Trung Hiện nay (Initial Assessments on Sino-Vietnamese Conflict now), Trần Ngân, Viet-Studies, May 18, 2014

6. China Miscalculates with its Drill Rig, Bill Hayton, Asia Sentinel, May 19, 2014

7. Mồi lửa & Đống củi (The Sparks & the Firewood), Huy Đức, Viet-Studies, May19, 2014

8. Xi Jinping’s Excellent adventure: A Calibrated Takeover of South China Sea, Nayan Chanda, Yale Global online, May 20, 2014. 

9. Kịch bản Chiến tranh Viêt- Trung (Scenarios of a Sino-Vietnamese War), BBC interviewed Carl Thayer, May 22, 2014

10. Vietnam Won’t be Pushed Around by China, H.D.S. Greenway, Boston Globe, May 25, 2014

11. Vụ Khoan dầu khiến Việt Nam Đi Trên Lộ trình Mới (China oil rig set Vietnam on a new direction), Người Việt interviewed Jonathan London, May 28, 2014

12. Vietnam: Turning Point, David Brown, Asia Sentinel, June 2, 2014

 

( Nguồn: quechoa)

 

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.08.2014

TẬP CẬN BÌNH VÀ VỢ

Gia đình Phạm Dũng

TẬP CẬN BÌNH VÀ VỢ

Truyện ngắn Phạm Dũng

Nửa đêm, chợt nghe ông Tập thở dài, bà Tập nằm cạnh trở mình rồi ngồi dậy, hỏi :

-      Anh chưa ngủ à ?

-      Ừ…

-      Anh lo phải không ?

-      Em nói xem…

-      Là anh lo lão Giang Trạch Dân đang âm thầm cho người…

-      Lão rất quỷ quyệt. Rất nhiều thằng chịu ơn lão…

-      Thêm nữa lại sợ anh đưa lên đọan đầu đài nên nhất định chúng nó không chịu ngồi yên chờ chết ! – Bà Tập nhấn mạnh.

Ông Tập cố nén nhưng tiếng thở dài vẫn phọt ra. Ngọn lửa chống tham nhũng ông châm đã bùng phát, dù muốn ngăn lại cũng không dễ.

-      Em bảo anh phải làm sao ?

-      Anh dậy đi, cũng chẳng ngủ được, rồi nghe em nói. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.08.2014

NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ

NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ

Bùi Mai Hạnh

Vừa rồi về Việt Nam, bất ngờ được chị bạn (làm công tác văn hóa văn nghệ) nhắc nhở: “Em chẳng nhạy cảm chính trị gì cả!”. 
Thực ra “nhạy cảm chính trị” là cái quái gì nhỉ? Ngơ ngác một lúc, nhớ ra, ngay từ buổi đầu viết báo, mình từng được/bị nhắc như thế. Không chỉ một lần. 
Lần thứ nhất cách đây cũng gần hai chục năm. Sau đợt đi thực tế theo chương trình thực tập của Trường Viết văn Nguyễn Du, mình nộp bài cho tờ X. Một tuần căng thẳng hồi hộp chờ đợi trôi qua, mình được bà Tổng biên tập tiếp bằng nụ cười tươi rói và thương cảm: “Đúng là nhà thơ nhà văn các bạn lơ mơ thật. Chẳng nhạy cảm chính trị tí nào!”. 
Bài báo viết về nỗi đau chết hụt trong “căn nhà tình nghĩa” của một bà mẹ anh hùng ở Ninh Hòa, vùng đất có nhiều mẹ anh hùng nhất nước. Không nhạy cảm chính trị là sao? 
Căn nhà đó có bảy bát hương xếp hàng trên ban thờ lặng ngắt u buồn. Vệt nước lụt vẫn còn thẫm đen đánh dấu trên nửa già cánh cửa gỗ sắp mục. Bức tường nứt đút lọt ngón tay út. Gian bếp lạnh tanh chỏng chơ cái nồi nhỏ… Thỉnh thoảng mẹ mới đến nhà mình để thắp hương cho những người chết trận (chồng và các con trai). Vì mẹ sợ. Ở căn nhà đó, mẹ sợ đủ thứ. Sợ trộm cắp, sợ lụt lội, sợ cái nhà ụp xuống đầu bất cứ lúc nào. Sợ hơn cả là nỗi cô đơn không hàng xóm láng giềng. Mới đấy, lũ lụt tràn qua bất ngờ trong đêm, mẹ suýt chết đuối. May có đứa cháu họ xa sực nhớ đến, chạy ra cõng mẹ về. Từ đó, mẹ về hẳn trong làng ở nhờ nhà người bà con. 
Không hề ngần ngại, mẹ thổ lộ nỗi buồn, sự bất bình với chính quyền địa phương khi xây cho mẹ căn nhà không đảm bảo chất lượng vì đã “bị rút ruột một nửa” và nằm chơ vơ giữa cánh đồng hoang vắng. Từ xa, ngôi nhà nom giống mô hình “nhà cô đơn trên sa mạc”. Có lẽ, chức năng của căn nhà là làm nhân chứng cho “sự quan tâm của Đảng và nhà nước” thì đúng hơn là làm “nhà tình nghĩa”, mái ấm cho một bà mẹ anh hùng cô đơn. 
Kết luận bài báo, mình nói về cảm giác buồn nôn khi chứng kiến ông quan chức Phòng Thương binh Xã hội, miệng cười hềnh hệch gào thét zô zô, tay thản nhiên thò vào khuấy đá trong vại bia đang sủi bọt ở quán ăn chiêu đãi các tân nhà báo. Chỉ mấy phút trước, trong buổi mít-tinh tưởng nhớ liệt sĩ, những ngón tay chuối mắn này còn vung lên hùng hồn phụ họa cho bài diễn văn “nghèn nghẹn xúc động”… 
Tuy nhiên, bài viết nhiều thông tin thực tế và cảm xúc “lai láng” của một đứa thơ thẩn đã không được duyệt chỉ vì nó rất thiếu “nhạy cảm chính trị”. 

Lần thứ hai khái niệm “nhạy cảm chính trị” do một sếp nữ giảng giải. Chẳng nhớ là mình đã phạm lỗi gì cụ thể (vì nhiều lỗi quá), chỉ nhớ hôm ấy, ở hành lang cơ quan, mình hút thuốc và sếp cũng… xin một điếu. Đấy là lần duy nhất mình thấy sếp hút thuốc (hình như sếp đang bức xúc gì đó). Sếp chân tình nói: “Này, chị bảo thật, người ta nói ăn cây nào rào cây ấy, nếu em định viết bài chê ngành văn hóa thì em chỉ có cách ra khỏi ngành, rồi muốn viết gì thì viết. Ngành văn hóa tham nhũng giỏi lắm được vài chục triệu, làm sao bằng ngành giao thông tham nhũng hàng chục tỉ hả em. Em cần phải nhạy cảm chính trị hơn chứ đừng có ngây thơ như thế…”. 
Mình nghe sếp nói và… im lặng. Sếp nói quá chuẩn! Sau đó, mình đã thực hiện đúng lời khuyên của sếp, tình nguyện vĩnh biệt đời công chức, ra khỏi ngành và viết “Lê Vân yêu và sống”, một cuốn sách mình muốn viết. Cuốn sách bị cấm tái bản (theo lệnh miệng) sau một tháng phát hành. Đến giờ, lệnh cấm vẫn còn nguyên hiệu lực, mà chẳng ai cho mình biết lý do tại sao cấm để mình còn “rút kinh nghiệm”. Đoán mò, chắc tại mình kém “nhạy cảm chính trị” chăng? 
Lần thứ ba mình được “thụ giáo” bởi một anh chàng dễ thương bên an ninh văn hóa. Khi đó, mình đang say sưa viết một loạt bài điều tra về ông hiệu trưởng một trường đại học tham nhũng, lạm quyền. Vì là chỗ quen biết, chàng đọc thấy bèn chân tình khuyên nhủ: “Em viết làm gì. Ông trưởng bảo đúng ông phó bảo sai. Đố em biết được ai đúng ai sai!!! Cơ chế là thế. Hôm nay đúng ngày mai sai ngày kia lại đúng. Chẳng có ai sai cả. Viết thế chứ viết nữa cũng chả giải quyết được gì!!! Em phải biết trên ông ấy là ai chứ! Em chả nhạy cảm chính trị tí nào”. 
Quả thật, bốn số liền đăng bài tố cáo mà “ngài hiệu trưởng khả kính” không thèm ra lời. Thậm chí, không hiểu phù phép thế nào, ông ta lại được ca ngợi hết lời, cũng chính trên tờ báo đó. Thế mới đau chứ! 
Nỗi đau này mãi gần chục năm sau mới… lên da non được. Tình cờ một hôm, cà phê vỉa hè, mình đọc được tin ngài hiệu trưởng phù thủy ấy sắp ra tòa. Vì tham nhũng hay gì gì đó, ở một phi vụ khác… Bỗng nhớ lời khuyên chân tình của chàng an ninh văn hóa về “căn bệnh” kém “nhạy cảm chính trị” của mình. 
Và còn nhiều lần nữa, mỗi lần được nhắc nhở kém / thiếu “nhạy cảm chính trị”, mình chỉ ừ hữ hoặc im lặng mà không có thuốc nào chữa được. Vái tứ phương, được các “lang vườn” bạn bè kê đơn bắt uống loại thuốc cây nhà lá vườn rất hiệu nghiệm có tên tiếng Tây là “Mackeno” và tên tiếng Việt là “Vô cảm”. 
Vô cảm. Ai đó đã dùng chữ này đầu tiên để miêu tả căn bệnh thờ ơ, chán nản, buông xuôi, trơ lì của toàn xã hội, từ dân đen tới cán bộ? Vô cảm trước sự đói nghèo, vô cảm trước áp bức bất công, vô cảm trước cường hào tham nhũng, vô cảm trước tội ác bạo hành, vô cảm khi an ninh quốc gia bị đe dọa, và đặc biệt vô cảm trước sự vô cảm. Cả một xã hội ù lì u mê không cảm xúc yêu ghét. 
Giống y hệt lúc tắc đường, là khi gương mặt xã hội được phản ánh rõ nhất. 
Đầu tiên cáu vì bỗng nhiên bị chặn đứng (như bị ngâm hồ sơ giấy tờ, bị sách nhiễu vòi vĩnh…). 15 phút đầu bực lắm. Bực ra mặt. Trán nhăn lại cau có, mắt láo liên nhìn quanh tìm lối thoát. 15 phút tiếp theo vẫn đứng im một chỗ, bắt đầu chửi đổng trong bụng. 15 phút nữa trôi đi trong cam chịu, nhẫn nhục. Ai cũng giống hệt mình. Cuối cùng, thêm 15 phút hay lâu hơn nữa cũng vậy. Chẳng còn trông đợi gì nữa… Sau một giờ đồng hồ, thậm chí hai giờ, chôn chân tại chỗ, nắng đổ lửa xuống hay mưa như xối trên đầu, khói xăng xe mù mịt ngộp thở, mọi cảm xúc bực bội, chán nản, lo lắng, đau khổ, oán than, nguyền rủa… lên tới đỉnh điểm rồi bất ngờ rơi về trạng thái trống rỗng. 
Dù đã được nhích lên từng tí một thì cũng chẳng còn hơi sức đâu mà mỉm cười. Dù sẽ được giải thoát nhưng lại nhận thức ngay rằng ngày mai vẫn thế, ngày kia vẫn thế, tháng sau vẫn thế, năm sau vẫn thế… Chẳng cáu chẳng chửi thậm chí cũng chẳng mừng. Một lần, sau cú tắc đường gần hai tiếng (đoạn đường dọc sông Kim Ngưu về nhà ở Kim Giang), khi được giải thoát cũng là lúc mình tự nhiên ngã lăn quay vì kiệt sức. Và hoàn toàn tê liệt mọi giác quan. Hoàn toàn vô cảm. 
Một thời gian dài, đọc đâu cũng thấy chữ “nhạy cảm”, muốn nói gì viết gì cũng được miễn đừng đụng đến “vùng nhạy cảm’, tức vùng cấm, sợ động chạm, sợ phạm húy… Chữ “nhạy cảm” được dùng nhiều quá, trở nên chai lỳ, báo chí chuyển qua phong trào dùng chữ “vô cảm”, báo hiệu căn bệnh các vùng nhạy cảm bị… vô cảm. 
Phải chăng, cái đích cuối cùng của báo chí tiếng Việt là đi từ “nhạy cảm” đến “vô cảm”, một quá trình triệt tiêu mọi cảm xúc một cách hoàn hảo để chữa căn bệnh thiếu /kém nhạy cảm chính trị

( Nguồn :vanviet)

 

THƯ CỦA THIẾU TƯỚNG LÊ DUY MẬT GỬI TRUNG ƯƠNG ĐẢNG

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Hà Nội ngày 20 tháng 07 năm 2014

Kính gửi:
Đ/C Tổng Bí Thư BCHTƯ Đảng
Các đ/c Uỷ viên Bộ Chính Trị
Các đ/c Uỷ viên Ban Bí thư TƯ Đảng
Các đ/c ủy viên Trung ương Đảng khóa XI.

Tôi là: Lê Duy Mật – Thiếu tướng – Nguyên Phó Tư lệnh – Tham mưu trưởng Quân khu 2 và Tư lệnh Mặt trận 1979-1984 (Hà Giang) thay mặt một số đảng viên, xin được nêu thắc mắc và kiến nghị như sau:

Cuộc chiến tranh biên giới 1979 – 1984 cũng là một trong những cuộc chiến đẫm máu vô cùng đau thương trong lịch sử nước ta. Đây là cuộc chiến tương tự các cuộc chiến Bạch Đằng,Chi Lăng, Đống Đa, nhưng tại sao đã qua 30 năm mà cuộc chiến này vẫn không được tổng kết, đúc rút kinh nghiệm phục vụ cho mục tiêu bảo vệ Tổ quốc cấp thiết trước mắt, Việc tổng kết này vô cùng cần thiết và sẽ rất hữu ích khi mà đối tượng chiến đấu vẫn là một, khi mà quân xâm lựợc đang cận kề chứ không xa xôi như trong các cuộc chiến chống Pháp, chống Mỹ. Bên cạnh đó các chính sách đối với gia đình liệt sĩ và những người chống xâm lược năm 1979 – 1984 ,chúng tôi đã nhiều lần đề nghị nhưng vẫn không được giải quyết ,mà chỉ có những lời hứa hẹn xuông.

Phải chăng có một nguyên nhân mà chúng tôi săp nêu lên sau đây.

Chúng ta đều biết mọi tiêu cực trong xã hội hiện nay từ Trung Quốc gây ra, khiến cho nước ta sản xuất lẹt đẹt, lạc hậu, đã thế, họ lại còn có những lời sỉ nhục đôi với cả dân tộc ta :“Việt Nam là con hoang, loại vô liêm sỉ, phải cho thêm vài bài học”. Vậy mà, lãnh đạo ta không hề có một phản ứng nào!

Rồi khi bọn xấu trà trộn trong đám biểu tình được xúi giục phá phách gần 1000 nhà máy của Hàn Quốc, Đài Loan,Singapore,Trung Quốc, thì công an lúc đó làm ngơ , sau đó mới xuất hiện, chỉ xử lý qua loa và xin lỗi xin đền bù thiệt hại cho họ. Trong khi đó Tung Quốc đâm phá gần 30 tàu ,thuyền của chúng ta thì không quyết liệt đòi bồi thường, mà chỉ “nhẹ nhàng” lên án.

Khi có hiện tượng bất thường nho nhỏ về dân sự thì lập tức nửa đêm đại sứ của Việt Nam ở Bắc Kinh bị gọi đến để nhận thư phản kháng, còn khi Trung Quốc gây hại cho ta thì chỉ có cán bộ Bộ Ngoại giao Việt Nam đến gặp cơ quan Lãnh sự Trung Quốc tại Hà Nội để giao công hàm phản kháng.

Lạ lùng nhất là tỉnh ủy Quảng Đông mà lại ngang nhiên gửi công văn cho Bộ Ngoại giao Việt Nam yêu cầu phải thực hiện 16 việc phải làm. Một thái đọ trịch thượng ,coi thường nước ta rất vô lễ mà ta vẫn chịu đựng.

Trung Quốc tự tiện cho giàn khoan vào xâm nhập lãnh hải Việt Nam bất chấp mọi ý kiến phản đối của nhân dân ta và dư luận các nước lên án. Khi rút đi, họ tuyên bố là do họ đã xong việc. Trung Quốc làm như vậy mà ta vẫn khen Trung Quốc là bạn tốt, 16 chữ vàng và 4 tốt. Đến nỗi dư luận thế giới cũng phải ngạc nhiên về thái độ quá ư nhu nhược của chúng ta.

Ngạc nhiên hơn là Nhà nước đàn áp những người biểu tình chống xâm lược ở trong nước mà chỉ khuyến khích biểu tình ở nước ngoài.

Chẳng lẽ một dân tộc Việt Nam anh hùng đã ba lần chiến thắng Nguyên Mông, đã có Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu, mà nay lại hèn kém như vậy sao! Chúng tôi cho rằng nguyên nhân sâu xa là ở Thỏa hiệp Thành Đô ngày 4/9/1990 của một số vị lãnh đạo. Chúng tôi chưa rõ thực hư thế nào mà chỉ biết sau này những hiện tượng tiêu cực xảy ra đã thể hiện nội dung của bản Thỏa hiệp đó . Xin trích một đoạn Thỏa hiệp Thành Đô: “Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa Cộng sản, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam sẽ cố gắng hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị vốn lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp trong quá khứ. Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh , như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông,Tây Tạng,Quảng Tây….

Phía Trung Quốc đồng ý và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.” .(Hết trích) (1) .

Vì vậy, chúng tôi yêu cầu trong hội nghị TW này Bộ chính trị , Ban Bí thư cần công bố các văn bản của Thỏa hiệp Thành Đô ,để chứng minh thực hư thế nào.Nếu Thỏa hiệp Thành Đô là đúng như vậy thì rõ ràng là một bản thỏa hiệp rất nguy hiểm cho đất nước như là phản bội Tổ Quốc. Vì vậy, chúng tôi đề nghị Hội nghị TƯ xem xét và ra tuyên bố phản bác bản thỏa hiệp đó ,chấn chỉnh lại tổ chức, kỷ luật những người đã ký và những người thực hiện sau này. Có như vậy Đảng ta mới thực sự là một Đảng chân chính, dám nhận khuyết điểm, dám công khai khuyết điểm như Bác Hồ đã nói: “Một Đảng mà không dám nhận khuyết điểm, công khai khuyết điểm là một Đảng hỏng”.

Theo điều lệ Đảng (điều 3 khoản 3), Đảng là của nhân dân lao động ,Đảng của toàn thể đảng viên vì vậy chúng tôi có quyền yêu cầu phải công khai các hoạt động của những người lãnh đạo để dân biết ,dân bàn,dân làm,dân kiểm tra như trong các Nghị quyết TƯ đã đề ra .

Trên đây là những kiến nghị tâm huyết và bức xúc của đảng viên.Tôi mong rằng :Bộ chính trị ,Ban bí thư nên tôn trọng ý kiến của các đảng viên cơ sở và thực hiện các việc nói trên .Tóm lại là:

1- Tổng kết cuộc chiến tranh chống quân xâm lược năm 1979 ,thực hiện chính sách qui tập mồ mả ghi công các anh hùng liệt sĩ trong cuộc chiến tranh chống quân xâm lược cũng như bao cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc trước đây của dân tộc ta, tổ chức kỷ niệm trọng thể hàng năm.

2- Công khai bản Thỏa hiệp Thành Đô tháng 9/1990 để toàn dân ,toàn Đảng biết được thực hư và ra tuyên bố để giải thích các hiện tượng tiêu cực . Thỏa hiệp Thành Đô là thứ ung nhọt đang di căn khắp cơ thể đất nước ta.

Nguy cơ mất nước đang là sự thật, mong các đồng chí có lương tâm ,vì sự nghiệp của tổ quốc mà thực hiện cho được. Nếu ở Hội nghị Trung ương X này không ra được bản tuyên bố thì yêu cầu đưa vào chương trình Đại hội Đảng bất thường hoặc Đại hội 12.

Chúng tôi chờ mong hồi đáp của các đồng chí.

Kính

Thiếu tướng Lê Duy Mật

 

              

CÁC NHÀ VĂN NỔI TIẾNG THỦ ĐÔ MÊ ẨM THỰC HUẾ

        Ngô Minh

Giáo sư Nhật Bản Tomita Kenje có một nhận xét rất tinh tế rằng:” Phong cách ăn của người Việt Nam đôi khi còn đậm tính dân tộc hơn cả ngôn ngữ’’. Huế là xứ sở ẩm thực độc đáo, vừa dân dã, vừa sang trọng. Ai đến Huế sau khi thưởng thức các món ăn nấu theo lối Huế, cũng đều xuýt xoa khen ngợi, và nhớ mãi như một kỷ niệm đẹp đời mình! Nhiều nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ lớn đương đại Việt Nam cũng rất mê các món ăn Huế, rượu làng Chuồn. Xin kể vài ký ức để thấy rằng: không chỉ người Huế thích món Huế mà cả những người sành ẩm thực nhất nước cũng mê món Huế !

 

          Năm 1986, Nhà văn Nguyễn Tuân vô Huế chơi. Ông ở Nhà khách tỉnh ở 2- Lê Lợi Huế. Tôi cùng mấy anh em nhà thơ ở Huế đến hầu chuyện ông. Ông mở “ba lô” lấy ra một cút rượu và ba cái chén, từ tốn rót rượu rồi ngửng lên nheo mắt cười mời chúng tôi :” Mời các bạn trẻ chủ tập thể đi!”. Ông kể “ rượu ấy là  rượu Vân,  đi đâu mình cũng phải bới đi ”. Ở Huế chưa được tuần, hết rượu Vân, ông thờ thẫn. Anh em mang đến chai rượu Chuồn Huế mời ông, ông nhấp nhấp thử rồi phán ”Thằng này được !”. Thế là  ông mê rượu Chuồn từ đó .

          Nguyễn Tuân vốn luôn xê dịch qua rất nhiều vùng đất, nên ông rất sành điệu các món ăn ba miền. Ông đã viết rất tụyệt vời về phở Hà Nôi, về cốm Vòng. Ông đã một lần viết rất hay về cơm muối Huế. Ông đặc biệt thích nhấm rượu với nem tré, tôm chua- vả chuối ăn kẹp với thịt lợn phay theo kiểu Huế. Đã thành lệ, lúc sinh thời nhà văn Nguyễn Tuân, các nhà văn, nhà thơ đất Cô Đô khi ra Hà Nội, ai cũng không quên mang theo xâu nem, lọ tôm chua với chục quả vả để làm quà cho người đồng nghiệp vong niên sành ăn của mình. Nhà thơ Nguyễn Xuân Thâm kể: Một lần nhà thơ về quê ra, mang biếu Nguyễn Tuân một lọ tôm chua Huế và chục quả vả. Mươi hôm sau, nhà thơ lại đến thăm cụ Nguyễn Tuân, thấy lọ tôm chua vẫn còn để nguyên trên giá, bên cạnh chai “Ông già chống gậy”. Hỏi mới biết nhà văn Nguyễn Tuân phải chờ hai ông bạn thân là họa sĩ Bùi Xuân Phái và họa sĩ Nguyễn Sáng đang đi vẽ xa về, để được cùng nhau thưởng thức phong vị Huế ! Khi mời khách ăn món Huế, tự tay Nguyễn Tuân gọt vả, thái chuối xanh, luộc thịt lợn, gắp tôm chua ra đĩa với một  thái độ rất trân trọng các loại thực phẩm đời thường mà tạo ra được những rung cảm thẩm mỹ và niềm tự hào về văn hóa dân tộc !

          Nhà thơ – nhạc sĩ Văn Cao, “người Việt Nam tài danh của thế kỷ XX”, tác giả Quốc Ca nước Việt, người từng viết bài thơ “Một đêm đàn lạnh trên sông Huế” nổi tiếng từ những năm 1940, năm 1987 ông lại “vi hành” vào Huế và rất mê rượu Chuồn. Lần vào thăm Huế đó, ngày nào ông cũng được nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo và bạn bè mời rượu Chuồn, rượu Hiếu. Ông bảo rượu Chuồn là “vô địch”, trên tài vốt-ka ngoại! Tuần ấy, không may ông bị ốm phải vào nằm bệnh viện Trung ương Huế. Buổi sáng hôm đó nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo và tôi vào viện thăm ông. Thấy chúng tôi vào mắt ông sáng hẳn lên. Ông kéo Nguyễn Trọng Tạo xuống nói gì đó rồi nhấp nháy mắt cười hóm hỉnh. Anh Tạo bảo với tôi:”Cụ thèm rượu Chuồn, ông ngồi đây, mình đi một lúc’’. Lát sau, Nguyễn Trong Tạo trở vô viện với cút rượu, cái chén mắt trâu giấu trong cặp: “Chỉ cho cụ uống tí chút cho đỡ thèm, chứ bác sĩ cấm ngặt!“. Tôi chiêu một chén cho cụ rồi giấu chai rượu xuống góc giường. Nhạc sĩ Văn Cao chưa kịp nhấp hết chén rượu thì bất ngờ bác sĩ viện trưởng dẫn một ông lãnh đạo tỉnh đến thăm. Bị bắt quả tang đang vi phạm điều luật của bệnh viện, nét mặt cụ Văn Cao trở nên bẽn lẽn, lúng túng như trẻ con. Nhạc sĩ thú thật :” Cái giống Chuồn này ngon lắn, trộm nhấp tí kẻo nhớ ..!” Tất cả mọi người đều cười vui trước sự chân tình đến dễ thương của người nhạc sĩ lớn của dân tộc. Sau đó nhạc sĩ -nhà thơ Văn Cao được các nhà thơ Huế Võ Quê, Nguyễn Quang Hà mời về làng Chuồn, đi giăng lưới đánh cá với dân làng trên Phá Tam Giang. Đánh được con cá nào ngon là nướng và uống với gió, với trăng mờ, rồi đọc thơ suốt đêm. Sau đêm rượu đó ,ông viết : Tôi níu lấy mảnh lưới / Lưới là cái cuối cùng / Đang hắt tôi xuống biển…

          Nhà thơ Hoàng Cầm là người trong các cuộc rượu vui thường thích đọc thơ và say nói chuyện với người đẹp hơn là ăn uống. Có nhiều bữa tôi để ý chẳng thấy ông gắp tí gì. Một lần duy nhất tôi thấy ông ăn một cách thích thú là hôm chúng tôi mời ông ăn nem lụi ở quán Đông Phương, Huế. Hôm đó cùng vui có nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Đình Toán và cô tiếp viên hàng không xinh đẹp mà nhà thơ vừa “làm quen” trên chuyến bay từ Hà Nội vào Huế. Như thường lệ Hoàng Cầm ngồi cạnh người đẹp và đọc thơ. Tôi giới thiệu mãi ông mới cầm ăn một lọn nem lụi mà tôi đã cuốn sẵn . Không ngờ, ăn xong que nem này, ông lấy bánh đa nem nhờ gói que khác, miệng luôn tấm tắc “tuyệt vời, tuyệt vời”. Rồi ông tự gói nem, múc nước lèo mời người đẹp, rồi nói một câu rất có cánh:” Mình không ngờ thức ăn cũng có thể làm cho người ta xúc động chẳng khác gì thơ” ! 

 

          Tháng 5 năm 1988, sau 30 năm “ ngồi một chỗ” ở Hà Nội, nhà thơ Trần Dần khập khiểng theo Phùng Quán vào Huế. Một buổi tối vợ chồng tôi mời cơm ông, anh Phùng Quán cùng một số nhà văn ở Huế như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Quang Lập… trong căn phòng tập thể của mình ở lưng chừng dốc Bến Ngự. Anh em thì uống rượu với đồ nhấm “cây nhà lá vườn”. Riêng nhà thơ Trần Dần vì răng yếu nên được “ưu tiên” các loại bánh Huế như bánh nậm, bánh bèo, bánh khoái, bánh ướt.. mua ở quán về . Hai đứa con tôi lâu ngày không có tiền để ăn bánh, khi thấy mấy thứ bánh ngon thì đứa nào cũng sáng mắt lên mừng rỡ. Thế là cả ba bác cháu được “ăn riêng” món bánh. Bữa vui phải đốt đèn dầu vì mất điện. Dù vậy câu chụyện văn chương vẫn rôm rả đến tận nửa đêm. Sáng hôm sau, gặp lại tôi, ông cảm kích ghì chặt tay nói từ chuyện bánh sang chuyện văn rất hồn nhiên: “Ở Huế ăn ngon, hợp khẩu vị. Món ăn Huế không cay nặng như món ăn Ấn Độ. Bánh Huế, bánh của “nhân loại tím” là chúa sơn lâm ! Các nơi khác có nguyên liệu mà không làm được. Cái ngon, cái mới trong thơ cũng có sẵn đâu đó trong cuộc sống như trong bánh Huế. Chỉ có người thích làm, dám làm, biết làm mới làm được..”.

 

CUỘC ĐỜI ĐAU BUỒN VÀ KHÍ PHÁCH CỦA TÁC GIẢ “Màu tím hoa sim”


 
Nhà thơ Hữu Loan sinh ngày 2 tháng 4 năm 1916  mất ngày 18 tháng 3 năm 2010. Ông ra đi thanh nhàng nhẹ nhõm và mãn nguyện như vừa chở xong một chuyến xe đá giữa bà con xóm giềng. Những người như ông không bao giờ coi cái chết là trút xong một món nợ đời, mà chính là bước sang một thế giới khác sinh sinh, hóa hóa vô thường. Thế hệ đời sau nhớ mãi một nhà thơ chiến sĩ, nhớ mãi thi nhân chở đá xây đời.  Ông có một cuốn  tự thuật kể lại cuộc đời mình vô cùng cảm động . Đặc biệt là đoạn viết về hai người vợ của mình trong đó người vợ đầu và bài thơ MÀU TÍM HOA SIM nổi tiếng.

  
Nàng có ba người anh
Đi bộ đội
Những em nàng còn chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh.
Tôi là người chiến binh
Xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo cưới,
Tôi mặc đồ quân nhân
Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân,
Nàng cười xinh xinh
Bên anh chồng độc đáo.
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi!
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng đời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về
Thì thương người vợ chờ
Bé bỏng chiều quê …

Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người gái nhỏ hậu phương
Tôi về không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con
Đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
Thành bình hương
Tàn lạnh vây quanh …

Tóc nàng xanh xanh
Ngắn chưa đầy búi
Em ơi!
Giây phút cuối
Không được nghe nhau nói
Không được trông thấy nhau một lần.

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa một mình
đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa…

Một chiều rừng mưa
Ba người anh
Trên chiến trường Đông Bắc,
Biết tin em gái mất
Trước tin em lấy chồng.

Gió sớm thu về
Rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió thu về
Cỏ vàng chân mộ chí.

Chiều hành quân
Qua những đồi sim ..
Những đồi hoa sim …,
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
Tím cả chiều hoang biền biệt
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa.
Áo tôi sứt chỉ đường tà,
Vợ tôi chết sớm mẹ già chưa khâu

Hữu Loan
 

Đây là những dòng tự thuật của chính nhà thơ Hữu Loan:
“Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học.
Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh Văn Xuấn, Đỗ Thiện và…tôi – Nguyễn Hữu Loan.Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái Thị Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên.
Ở Thanh Hóa, bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới. Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà.Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi – mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: ” Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời.Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non”.
Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chỗ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt …..
Có lần tôi kể chuyện ”bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành… Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ…
Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu” Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi …..


Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì.
Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:- Thầy có thích ăn sim không ?- Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ …
Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.- Thầy ăn đi. Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ: Ngọt quá!Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế!
Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì….tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo!Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến.Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi…Tôi quay đầu nhìn lại… em vẫn đứng yên đó … Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa.Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ …
Chín năm sau, tôi trở lại nhà…Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em, hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi.Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp… Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm ”soạn kịch bản”.
Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: ”yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”.
Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay…lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng.
Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết! Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ.
Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại…..
Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống. Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối!Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn…
Dường như càng kìm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép.Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra: “Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội… Những em nàng có em chưa biết nói. Khi tóc nàng đang xanh…” Tôi về không gặp nàng…
Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh.
Đó là bài thơ Màu tím hoa Sim. Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chỗ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa.Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : “Chiều hành quân, qua những đồi sim…
Những đồi sim, những đồi hoa sim.. Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết.. Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt…Và chiều hoang tím có chiều hoang biết…Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.”
Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi” hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!
Đó là thời năm 1955 – 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cặn.Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng…
Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông…
Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chỗ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc? Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày.Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo.Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi …
Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956, khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!
Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955. Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học , lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa.Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền. Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước.Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chỗ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông .Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách.Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng. Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta.Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói.Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói. Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ.
Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó , bữa đói bữa no…. Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai, 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa!Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì.Năm 1988, tôi ” tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự.
Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu tím hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan.Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác, nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán”.
Nhà thơ Hữu Loan

(Đọc tiếp…)

200 triệu đồng lấy được bằng Tiến sỹ y khoa

 
Nhóm Pv điều tra/ Dân việt

Ông Đàm Khải Hoàn chụp ảnh cùng sinh viên.
Qua giới thiệu của một nguồn tin, PV Dòng Đời đã tìm gặp Phó Giáo sư (PGS) Đàm Khải Hoàn, Trưởng bộ môn Y học Cộng đồng, Đại học Y Thái Nguyên để nhờ vị Phó GS này tìm cách “tậu” cho tấm bằng Tiến sỹ Y khoa danh giá.
Trong vai một người có nhu cầu làm nghiên cứu sinh, phóng viên Dòng đời đã tiếp cận với vị giáo sư này cũng như công nghệ lấy bằng tiến sĩ mà “thầy” đã vẽ ra 
 Trước khi tiếp PV tại nhà riêng, PV đã điện thoại trước cho Phó GS Hoàn, tự giới thiệu có mong muốn được vị Phó GS này hướng dẫn Nghiên cứu sinh. Khi đó, vị Phó GS đang bận một cuộc nhậu. Tuy nhiên, chỉ sau đó khoảng 30 phút, vị Phó GS này rời cuộc vui để gặp PV tại nhà riêng của mình.
 
Đi mua… bằng Tiến sỹ Y khoa 
 
Tọa lạc trên một khu đất rộng, ngôi nhà của vị Phó GS này là một nhà sàn “chất”, mà theo ông khoe, là: “Mấy năm trước, tôi mới mua được của một gia đình dân tộc trên huyện Võ Nhai. Hồi đó, giá của nhà sàn rẻ lắm! Cả làm “luật” cho kiểm lâm và vận chuyển nữa hết có gần 20 triệu!”. 
\
Trước những cảnh quan và vật dụng liên quan chủ yếu tới lâm sản, PV nhanh chóng nghĩ ra một “vai diễn” phù hợp với bối cảnh khi tự nhận mình là một “trùm” buôn gỗ. Sau khi “đi” vài đường cơ bản về gỗ, PV nhanh chóng đặt vấn đề:
 
“Nhà em vốn có truyền thống theo nghề Y nên khi học xong cấp 3, em đã thi vào ĐH Y Hà Nội. Tuy nhiên, sau khi vào học ngành này, em lại không có hứng thú nên học hành rất chểnh mảng, gần như không biết gì. Đi học thì thuê, đi thi thì “chạy”.
 
Khi học xong bằng cử nhân, gia đình lại ép em học luôn thạc sỹ. Lúc này, em đã tham gia vào công việc kinh doanh gỗ nên đi lại triền miên. Vì thế, bằng Cao học của em cũng là đi mua nốt. Bây giờ, việc kinh doanh gỗ của em chủ yếu chuyển trọng điểm về Thái Nguyên, công việc cũng đang phát đạt nên bố mẹ em nhất quyết bắt em phải học nốt cái bằng Tiến sỹ để sau này có cái bằng mà mở phòng khám.
 
Công việc trên Thái Nguyên thì em không thể bỏ được nên em rất mừng khi được anh em giới thiệu qua gặp thầy để thầy hướng dẫn Nghiên cứu sinh. Nhưng thực tình, kiến thức thì em không biết gì…”.
 
- “Thế em đã có bài báo hay công trình khoa học nào chưa?” vị Phó GS Đàm Khải Hoàn ngắt lời, hỏi.
- “Dạ, chưa ạ!”.
- “Thế em đã đi làm chuyên môn ở đâu chưa?”.
- “Dạ, chưa ạ!”, PV lí nhí.
- “Vậy được rồi! Việc lấy bằng Tiến sỹ của cậu, tôi sẽ giúp được. Cậu cứ yên tâm! Tôi nhận lời với cậu”, vị Phó GS chốt lại.
Ông Đặng Kim Vui, Giám đốc Đại học Thái Nguyên: “Việc anh Hoàn trao đổi chuyện làm bằng tiến sỹ kiểu đó là sặc mùi mua bán. Không thể chấp nhận được! Chúng tôi sẽ không bao che cho những hành động tiêu cực này!”.
Kỹ nghệ “lấy” bằng
 
Sau khi câu chuyện đã cởi mở, ông Hoàn nói thêm: “Trước tiên, tôi sẽ viết cho cậu vài bài báo khoa học để đăng trên tạp chí Y học Thực hành. Mấy bài báo này sẽ ký tên cậu. Cậu chỉ việc tới tòa soạn, đưa cho họ mấy đồng rồi nhờ họ đăng bài, tôi sẽ có lời cho cậu. 
 
Việc tiếp theo, cậu phải nhờ các mối quan hệ của gia đình mình để có tên trong một cơ quan hoặc tổ chức phi chính phủ nào đó để khi hội đồng xét duyệt hồ sơ, họ tin rằng cậu đã làm ở cơ quan, tổ chức đó chứ không phải là anh buôn gỗ” – ông Hoàn bắt đầu tiết lộ bí quyết nghề nghiệp của mình.
 
“Việc cậu đi làm, cậu cứ đi. Tôi sẽ làm đề cương đề tài cho cậu (đây là phần quan trọng nhất mà thí sinh phải trình bày trước Hội đồng các Giáo sư, Phó GS để được chấp nhận đậu đầu vào Nghiên cứu sinh – PV). Tôi sẽ trao đổi với cậu qua email” – ông Hoàn nói thêm.
 
Trước sự hướng dẫn nhiệt tình của vị Phó GS, tôi tiếp tục thể hiện “quan điểm: “Nhưng thực tình em không biết gì hết. Lỡ khi vào bảo vệ đề cương đề tài các thầy trong hội đồng hỏi thì em không biết trả lời sao? Thầy có lo cho em được cả hội đồng không ạ?”.
 
Lúc này, vị Phó GS trấn an ngay: “Yên tâm, cái đó lo được! Không biết rửa bát thì phải bế em thôi. Tôi đã hướng dẫn nhiều người rồi! Cần gặp ai thì tôi sẽ bảo cậu đến gặp. Mấy người đó toàn… đàn em của tôi thôi mà!” (Ý nói mấy vị trong hội đồng xét tuyển Nghiên cứu sinh – PV).
 
Trước sự chắc chắn của vị Phó GS này, tôi chốt lại: “Vâng, trăm sự em nhờ thầy! Vậy thầy cho em biết là em sẽ phải chuẩn bị bao nhiêu tiền để lo việc này hả thầy?”.
 
“Thôi, cậu cứ về đi. Mới gặp lần đầu, tôi chưa muốn nói chuyện này. Để hôm khác. Cậu cứ yên tâm là tôi giúp được cậu. À mà cậu tên là gì nhỉ?”, lúc này, vị Phó GS Đặng Khải Hoàn mới kịp nhớ ra là mình chưa hỏi tên “khách hàng”.
 
Tuy nhiên, trong câu chuyện về ngôi nhà sàn của mình, ông Hoàn có “gợi ý” rằng ngôi nhà sàn của ông vẫn còn những gỗ tạp và kêu than chuyện lúc này, lực lượng kiểm lâm làm gắt quá. Dù có nhiều mối quan hệ với cả lực lượng kiểm lâm và lâm tặc, ông Hoàn vẫn không thể vận chuyển được số gỗ nghiến về để hoàn thiện nốt ngôi nhà sàn của mình. Trước ý tứ trên, PV buộc phải gợi ý là mình có thể làm được việc này.
 
Sau đó, PV có nhận được email từ vị Phó GS này với đoạn có nội dung sau: “Thầy định thay toàn bộ sàn bằng nghiến. Có lẽ vẫn phải dầy 5cm, vì nó mới im, mỏng sẽ rung. Diện tích toàn bộ sàn là 100m2. Các tấm gỗ dài ngắn tùy theo đều được cả vì phải ghép mà. Em lo hộ thầy”.
 
Trước tình hình trên, tôi buộc phải đồng ý sẽ lo giúp thầy Hoàn 100m2 gỗ nghiến loại dày 5cm. Tại lần gặp thứ hai, PV đã một lần nữa hỏi về số tiền phải đưa cho Phó GS Đàm Khải Hoàn để lo chuyện đầu vào. Lần này, ông Hoàn đã đồng ý với mức giá 200 triệu đồng và cho tôi số tài khoản ngân hàng để chuyển tiền vào.
 
Những nội dung của cuộc ngã giá chỉ được PV tiến hành sau khi gặp gỡ với nhiều người đã, đang được vị Phó GS này hướng dẫn Nghiên cứu sinh. Các nhân vật này đều khẳng định: Nếu muốn mua bằng Tiến sỹ Y khoa bằng tiền tại Đại học Y Thái Nguyên, PV nên tìm đến Phó GS Đàm Khải Hoàn là đúng địa chỉ nhất.
 
Sặc mùi mua bán
 
Khi những tư liệu trên đầy đủ, PV quyết định ra mặt để đối chất với vị Phó GS. Ngay sau khi PV công bố các tư liệu đã thu thập, Phó GS Đàm Khải Hoàn im lặng một hồi rồi bỏ về. Sau đó, ông Hoàn có gửi lại một email cho chúng tôi.
 
Email này có đoạn: “Anh giới thiệu là người buôn gỗ nhưng đã học Cao học Y tế công cộng. Tuy nhiên mải làm ăn cho nên học không đến nơi đến chốn. Nhưng với điều kiện đó tôi nghĩ sẽ dạy cho anh được. Anh nói anh làm ra rất nhiều tiền, sẵn sàng cho tôi cái này, cái nọ. Nhưng đấy là anh đặt vấn đề và xuất phát từ anh chứ tôi có đòi hỏi gì đâu? Tôi nghĩ xã hội này có nhiều người có nhiều tiền thì khi học, họ có thể biếu tôi món quà to…”.
 
PV cũng đã liên hệ với lãnh đạo Đại học Y Dược Thái Nguyên để làm việc. Trước những thông tin nghiêm trọng mà phóng viên đưa ra, Ban Giám hiệu Đại học Y dược Thái Nguyên đã triệu tập một cuộc họp với đầy đủ lãnh đạo nhà trường, phóng viên và Phó GS Đàm Khải Hoàn với mục đích để các bên xem các tư liệu, đối chất và đưa ra các quan điểm về vụ việc.
 
Tại đây, ông Hoàn nhận mình có khả năng giúp các nghiên cứu sinh có bằng Tiến sỹ Y khoa mà không cần phải học, ông Hoàn vẫn giữ quan điểm rằng viêc ông nói như vậy đơn thuần nghĩ rằng việc hướng dẫn một nghiên cứu sinh có điều kiện về kinh tế thì việc nhận được những món quà có giá trị vật chất lớn là điều bình thường.
 
Trong khi đó, đại diện cho lãnh đạo nhà trường, ông Nguyễn Văn Sơn cho rằng việc ông Hoàn nói như vậy bước đầu có thể kết luận là không đúng với đạo đức của người thầy giáo.
 
Tuy nhiên, bình luận về những tư liệu mà phóng viên đưa ra, ngày 4.8.2014, ông Đặng Kim Vui, Giám đốc Đại học Thái Nguyên (Đại học Y Dược Thái Nguyên là 1 trường đại học thành viên của Đại học Thái Nguyên) nhìn nhận thẳng thắn: “Việc anh Hoàn trao đổi chuyện làm bằng tiến sỹ kiểu đó là sặc mùi mua bán. Không thể chấp nhận được! Chúng tôi sẽ không bao che cho những hành động tiêu cực này!”.
 

(Đọc tiếp…)

Học giả Trung Quốc bác bỏ quan điểm sai trái về Biển Đông

Mới đây, học giả Lê Oa Đằng, chủ trang Blog có tới hơn 4.039.130 người đọc trên diễn đàn mạng Sina.com lớn hàng đầu Trung Quốc, đăng bài “Nam Hải từ xưa đến nay là của Trung Quốc ư?”, thẳng thừng bác bỏ những luận điểm sai trái của chính quyền Trung Quốc về vấn đề Biển Đông.

Đầu tháng 8 vừa qua, Trung Quốc lại cho phát hành cuốn sách “Bàn về lịch sử, địa vị và tác dụng của Đường 9 đoạn” do một số học giả, quan chức viết. Cao Chí Quốc, Viện trưởng nghiên cứu chiến lược phát triển Cục Hải dương Trung Quốc – chủ bút cuốn sách này rêu rao sản phẩm của ông ta và 2 đồng nghiệp “cung cấp chỗ dựa pháp lý quan trọng để Trung Quốc bảo vệ quyền lợi biển ở Nam Hải (tức biển Đông)” (!?).

Tuy nhiên, chỉ cần đọc qua những lời giới thiệu, người ta thấy ngay nó chả có gì mới mẻ hơn những điều mà viên tướng Vương Quán Trung, Phó Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc đã đưa ra tại Diễn đàn Shangri La hồi tháng 6/2014 và đã bị dư luận quốc tế kịch liệt phê phán và bác bỏ…

 

 Những luận điệu xằng bậy của Vương Quán Trung: “Trung Quốc có chủ quyền, quyền chủ quyền, chủ trương quyền quản hạt ở Nam Hải được hình thành trong quá trình phát triển lâu dài; từ triều Hán hơn 2000 năm trước đã bắt đầu phát hiện và từng bước hoàn thiện việc quản lý đối với Nam Hải, đặc biệt là các đảo bãi Nam Sa (Trường Sa) và vùng biển liên quan”, đã bị chính các học giả Trung Quốc hiểu biết và tôn trọng lẽ phải nghiêm khắc lên án, bác bỏ.  

Người Chiêm Thành phát hiện ra Hoàng Sa đầu tiên

Học giả Lê Oa Đằng phân tích, Vương Quán Trung đã khôn khéo trộn lẫn hai khái niệm “phát hiện” và “quản lý” để cố tình dẫn dắt khiến người ta lầm tưởng Trung Quốc “từ xưa đến nay đã có chủ quyền” đối với Trường Sa. Ông cho rằng “phát hiện” và “quản lý” là hai khái niệm khác hẳn nhau về mặt ý nghĩa pháp luật; “phát hiện” không mang lại chủ quyền, chỉ có “quản lý” mới có; càng không thể gắn 3 vấn đề “Nam Hải” (Biển Đông), “Nam Sa” (Trường Sa) và “vùng biển liên quan” làm một.

Học giả Lê Oa Đằng viết: Trung Quốc có thực sự có chủ quyền “không thể tranh cãi” đối với Nam Hải hay không? Hãy để sự thật lên tiếng. Trung Quốc thực tế đã “phát hiện” Nam Hải từ triều Hán; nhưng Nam Hải không phải do người Trung Quốc phát hiện sớm nhất, mãi đến đời Tần Trung Quốc mới đến Nam Hải; còn trước đó từ rất lâu, tộc người Bách Việt sinh sống ở vùng Quảng Đông và bán đảo Đông Dương đã sinh sống ven Nam Hải.

Nếu nói ai “phát hiện” ra Nam Hải thì người Việt Nam có tư cách hơn chúng ta, vì họ là hậu duệ trực hệ của người Bách Việt, và cũng là quốc gia duy nhất được xây dựng bởi chủ thể là các hậu duệ của tộc người Bách Việt.

Học giả Lê Oa Đằng khẳng định: Các sách, sử liệu của Trung Quốc từ đời Tống trở về trước đều “rất khó xác định người Trung Quốc đã biết đến Tây Sa (Hoàng Sa) hay chưa, chứ đừng nói tới Nam Sa (Trường Sa).Ví dụ sách “Dị vật chí” đời Đông Hán mà Trung Quốc hay nhắc tới niên đại có ý kiến cho rằng thực ra nó được viết vào đời nhà Ngô sau này, viết: “Trướng Hải Kỳ Đầu, nước nông có nhiều đá có từ tính, từ thạch”.

Chính phủ Trung Quốc cho rằng: Trướng Hải chính là Nam Hải, Kỳ Đầu chính là các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Phán đoán đó đã phạm sai lầm tối thiểu về mặt lô-gic “lấy cá thể thay cho tổng thể”. Mấy chữ đó không thể chứng minh được những địa danh đó ở nơi nào, cũng chẳng có bài viết nào của Trung Quốc chỉ ra rằng chúng ở đâu.

Sự thật là, những ghi chép đầu tiên giúp xác định Tây Sa (Hoàng Sa) lại do người Chiêm Thành cung cấp. Theo ghi chép trong sách “Tống hội yếu”, năm 1018, sứ giả Champa đi sứ Trung Quốc có nói (dịch nghĩa): “Chúng tôi đến Quảng Châu, thuyền bị gió thổi trôi đến Thạch Đường, đi mãi mới đến được đây. Thạch Đường trên biển cách Nhai Châu 700 dặm, chìm dưới nước 8-9 thước”.

Qua miêu tả cho thấy, Thạch Đường chính là quần đảo Hoàng Sa. Do đoạn văn tự này do người Trung Quốc ghi lại, nên các chuyên gia Trung Quốc liền cho rằng đó là một chứng cứ lịch sử cho thấy Hoàng Sa là của Trung Quốc, nhưng họ cố tình không chịu hiểu là: phía Trung Quốc chỉ là người ghi chép lại, còn người Chiêm Thành mới là bên cung cấp thông tin, sự việc được ghi lại chính là: người Chiêm Thành đã đến quần đảo Hoàng Sa.

Chính vì vậy, nếu lấy ghi chép trong sử liệu làm chuẩn, người Chiêm Thành phát hiện ra Hoàng Sa sớm nhất, Vương quốc Champa là một bộ phận của Việt Nam ngày nay. Xét về quan hệ kế thừa chủ quyền, chính người Việt Nam chứ không phải Trung Quốc đã phát hiện ra quần đảo Hoàng Sa đầu tiên.

Trung Quốc biết tới Trường Sa còn muộn hơn

Lê Oa Đằng khẳng định, theo sử sách của chính Trung Quốc, họ biết đến Trường Sa còn muộn hơn nhiều. Ông dẫn lại những ghi chép trong Quyển 197, sách “Tống hội yếu”, có chép lại sự kiện ngày 20 tháng 7 năm Gia Định thứ 9 (1209), có sứ giả nước Chanlifu (Chanthaburi ở Đông Nam Thái Lan ngày nay) đến thăm.

Ông ta kể lại với các quan chức nhà Tống việc từ nước mình sang tới đây phải qua Chiêm Thành, sắp đến Giao Chỉ thì bị gió lớn thổi dạt đến “Vạn Lý Thạch Đường” nước chỗ nông chỗ sâu, nhiều đảo bãi, thuyền lật chết đuối mười mấy người; may có gió Đông Nam vượt qua được Giao Chỉ, đi 4-5 ngày nữa mới đến được Khâm Châu, Liêm Châu. Đoạn văn này chỉ ghi lại sự việc, chẳng nói ai phát hiện ra “Vạn Lý Thạch Đường” theo phỏng đoán là quần đảo Trường Sa.

Lê Oa Đằng cho rằng, Trung Quốc luôn nhấn mạnh bắt đầu từ đời nhà Tống đã quy Hoàng Sa và Trường Sa vào Vạn Châu. Chứng cứ là các địa phương chí có ghi “Vạn Châu có biển Trường Sa và biển Thạch Đường”, nhưng chỉ cần đọc hoàn chỉnh cả câu thì thấy ngay cách nói đó không đáng tin cậy.

“Thực ra, hoạt động của các quốc gia khác ven Nam Hải có lịch sử rất lâu đời. Người Chiêm Thành, nay thuộc Việt Nam biết đến Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) rất sớm, thậm chí có thể là những người phát hiện ra chúng. Việt Nam có chứng cứ đã quản trị Tây Sa (Hoàng Sa) từ đầu thế kỷ 18, thậm chí đã được quốc tế thừa nhận. Trái lại, Trung Quốc chả có chứng cứ gì về mặt này”.

  Học giả Lê Oa Đằng khẳng định

 Theo Thu Thủy

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.08.2014

NGUYỄN ÁNH VÀ NGUYỄN DU

Gia Long - Nguyễn Ánh

(Trích KỊCH NGUYỄN ÁNH)

PHẠM DŨNG

Vở kịch này đã được giải của Hội sân khấu VN. Một thành viên BGK nhận xét: “nói lên được một số vấn đề của thời đại một cách sâu sắc!”. Đây là đoạn đối thoại giữa Nguyễn Ánh và Nguyễn Du.

Nội dung:

Nguyễn Ánh phẩy tay. Lê Văn Duyệt vào rồi ra cùng Nguyễn Du. Nguyễn Du chào theo nghi lễ. Nguyễn Ánh tiếp chân tình.

NGUYỄN ÁNH: Ồ! Mời ngồi… người đâu, mời rượu.

NGUYỄN DU: Bẩm Hoàng thượng… hôm nay long thể của người…

NGUYỄN ÁNH: Trẫm không uống không có nghĩa là khách của trẫm không uống.

Người hầu bưng rượu ra. Nguyễn Ánh rót ra cho Nguyễn Du.

NGUYỄN ÁNH: Mời!

NGUYỄN DU: Dạ, thần… xin đạ tạ… nhưng…

NGUYỄN ÁNH: (cười) Trẫm có nghe nói người ta bảo uống rượu dở nhất là uống với vua. Uống ngon là uống với cố tri… nhưng đặc biệt, một hôm nào đó về làng, trai thanh gái tú, dưới ánh trăng mờ ảo… vừa uống vừa… ca hát và tý toáy được với một cô gái làng…

NGUYỄN DU: Thưa bệ hạ, đó là chuyện tầm phào của bọn người đường chợ, bệ hạ nghe làm chi cho rác tai rồng.

NGUYỄN ÁNH: Nào, tả tướng khanh cạn chén với quan Đông các đại học sĩ cho có bạn.

LÊ VĂN DUYỆT: Dạ, bệ hạ cho thần không phải phạm quân lệnh ạ.

NGUYỄN DU: Dạ, bệ hạ đã nói thế thần xin không dám khước từ. (Nguyễn Du uống cạn) Dạ… rượu ngon lắm ạ.

NGUYỄN ÁNH: Ha! Ha! Ha! Cứ bảo nhà thơ là ngông… nhưng sao trẫm thấy khanh rất… khoan hòa…

NGUYỄN DU: Dạ…

NGUYỄN ÁNH: Trẫm đùa thôi. Những kẻ ngông bên ngoài cũng chỉ là phường bù nhìn canh ruộng. Trẫm biết ông ngông. Ông ngông ở trong tác phẩm kìa. Không ngông làm sao dám ngợi ca một kỹ nữ Thúy Kiều, một loạn thần Từ Hải. Không ngông làm sao mà trong tác phẩm của mình chỉ có một mệnh quan duy nhất, một tổng đốc đại thần lại tráo trở, vô sỉ như Hồ Tôn Hiến?

NGUYỄN DU: Dạ… thưa bệ hạ… hôm nay bệ hạ triệu thần đến đây chắc không phải chỉ để bàn về mấy cái chuyện cỏn con đó?

NGUYỄN ÁNH: Mấy chuyện đó sao có thể là chuyện cỏn con… Nó là văn hóa, là nguồn cội của một dân tộc. Còn nhớ nhà Nguyên xâm lược Trung Quốc, rồi sau đó vì nền văn hóa Trung Quốc lớn hơn, sâu sắc hơn mà nhà Nguyên bị nhà Minh đồng hóa. Người dân sống theo cách sống của nhà Minh đã đành mà quan lại cũng sống theo cách sống của nhà Minh. Và rốt cuộc hóa ra lại là nhà Nguyên bị nhà Minh xâm lược.

NGUYỄN DU: Dạ…

NGUYỄN ÁNH: Dạ, sao quan Đông các đại học sĩ có gì muốn nói?

NGUYỄN DU: Dạ… thần nghĩ đó là những ý nghĩ sâu sắc và thấu đáo hiếm có của một bậc quân vương.

NGUYỄN ÁNH: Chà! Trẫm ngồi trên ngai vàng mà suốt ngày nghe nào là sâu sắc, nào là thấu đáo, thậm chí minh ý nữa…  Cứ thế thì dẫu vua Nghiêu vua Thuấn cũng khó mà không ngộ nhận về bản thân.

NGUYỄN DU: Nhà vua đã chấp nhận mình… làm vua thì phải chấp nhận những thứ theo cùng với nó. Ví như một người nghèo thì khó mà không bị khinh rẻ. Một người thành đạt khó mà không được nể vì. Người bại trận khó mà không bị người đời gọi là ngụy tặc.

NGUYỄN ÁNH: Đúng thế! Và đó là điều trẫm lo lắng.

NGUYỄN DU: Dạ… Hoàng thượng đã biết lo lắng tất Hoàng thượng đã có chủ ý không để những điều tầm thường, sai trái làm mình lầm lạc.

NGUYỄN ÁNH: Nhưng còn con, còn cháu trẫm… (Nguyễn Du im lặng) Thôi được rồi, Nguyễn Du… Nhiều lúc ta… ta cô đơn lắm khanh biết không?

NGUYỄN DU: Dạ… thần trộm nghĩ không chỉ riêng bệ hạ…

NGUYỄN ÁNH: Cả khanh cũng thế ư? (im lặng) Có lẽ bất kể ai tự mở con đường riêng của mình… cũng đều sẽ có cảm giác này. Họ không có người chia sẻ… (im lặng hồi lâu) Khanh?

NGUYỄN DU: Dạ, có thần…

NGUYỄN ÁNH: Bây giờ trẫm phải làm gì?

NGUYỄN DU: Dạ…

NGUYỄN ÁNH: Trẫm phải làm gì?

NGUYỄN DU: Dạ, thần không hiểu… ý của bệ hạ?

NGUYỄN ÁNH: Trẫm… Ta… ta muốn nói về những sai lầm của ta trong quá khứ. Ta đã cầu viện ngoại bang, ta đã đào mồ Nguyễn Huệ. Ta đã giết hại công thần… ta phải làm sao để xóa đi những vết ố trong quá khứ của mình… Ta đã bắt giam quan ngự sử khi hắn không chịu viết theo ý ta… Ta có thể sai các văn thần tô vẽ lên lịch sử đời mình với những trang chói lọi… Nhưng như thế đâu phải là ta…

NGUYỄN DU: Bệ hạ… bệ hạ còn day dứt vì điều đó… còn hiểu bệ hạ  cũng chỉ là một quân cờ của đấng cao xanh thì chính là bệ hạ đã lĩnh được ý thiêng của thánh thần rồi ạ.

NGUYỄN ÁNH: Khanh nói nữa đi… những lời từ gan ruột…

NGUYỄN DU: Bệ hạ… bệ hạ không thể sửa chữa những sai lầm nhưng nếu bệ hạ… trong phần đời còn lại… biết sống cho bá tánh… và hậu duệ của bệ hạ cũng biết sống như vậy, thì nhân dân sẽ tri ân với bệ hạ hơn là hờn trách những sai lầm của bệ hạ.

NGUYỄN ÁNH: Không! Khanh an ủi ta…  Mà thôi ta và khanh là đạo quân thần… Ta phải chấp nhận thôi… Chấp nhận đã ngồi trên ngai vàng thì không thể nào có một người tri kỷ… Khanh về đi.

NGUYỄN DU: Dạ… hạ thần xin cáo lui ạ…

Nguyễn Du vào. Nguyễn Ánh ho rũ rượi. Thái tử Đảm vào.

THÁI TỬ ĐẢM: Cha! Cha ho nhiều quá. Thái y đâu?

THÁI Y: Dạ! Thuốc của bệ hạ đây ạ.

Thái y mang thuốc vào. Thái tử cho Nguyễn Ánh uống. Nguyễn Ánh uống xong.

NGUYỄN ÁNH: Con…

THÁI TỬ ĐẢM: Gì, thưa cha!

NGUYỄN ÁNH: Tuy con có những điểm không bằng các anh con nhưng con lại được gần cha nhiều hơn. Con thông minh, có ý chí và lòng bao dung, đó là ba phẩm chất để tạo ra một vị vua sáng. Con cần biết điều này. Khi con đã chấp nhận làm vua là con phải chấp nhận sống không theo nhưng thế tục thông thường… Thí dụ cha cố tình bức hại Nguyễn Văn Thành…

THÁI TỬ ĐẢM: Cố tình?

NGUYỄN ÁNH: Phải… Chính là vì cha sợ cho con sau này. Ông ta chẳng những là một vị tướng lỗi lạc mà còn là một người có uy tín trong triều. Con sẽ không đấu lại ông ta khi cha mất. Cái họa thái sư Bùi Đắc Tuyên đối với vua Quang Toản con trai Nguyễn Huệ là nhỡn tiền. Lê văn Duyệt cũng là một kẻ gian hùm, cha có thể ra tay trừ khử nhưng… Sau khi cha chết con hãy dùng ông ta làm vật tế để bọn quan thần kinh sợ.

THÁI TỬ ĐẢM: Ôi cha?

NGUYỄN ÁNH: Với bọn nước ngoài con nên gắng học hỏi nhưng đừng để cho họ gần mình. Khi để họ gần con sẽ lu mờ và uy danh thiên tử sẽ dần dần sẽ mất thiêng đi. Còn với những nước gần ta thì với nước lớn ta phải khôn khéo đừng bao giờ để chúng mất thể diện. Với nước nhỏ thì phải luôn khiến chúng cảm thấy cái uy của mình mà thực tâm nể phục.

THÁI TỬ ĐẢM: Con thấy cha rất tôn trọng Nguyễn Du?

NGUYỄN ÁNH: Cũng là bề ngoài thôi. Có lần ta bảo ông ta so sánh ta với Nguyễn Huệ. Ông ta nói Nguyễn Huệ là một nông dân không có thiên mệnh làm thiên tử, nên dù đánh thắng 20 vạn quân Thanh vẫn không được làm vua. Ta hơn ông ấy vì, cuối cùng ta đã đã thắng ông ta. Nhưng, con phải biết là một quan đương triều mà xây dựng nên một hình tượng quan lại phản trắc, vô sỉ như Hồ Tôn Hiến… thì chắc chắn vị quan đó có rất nhiều uẩn ức và không hết lòng với triều đình mà ông ta đương phải nương nhờ.

THÁI TỬ ĐẢM: Thế thì con phải làm sao?

NGUYỄN ÁNH: Không riêng gì Nguyễn Du, những quan lại từng theo Lê – Trịnh giờ làm quan cho ta đều có chung nỗi niềm: một thân phải thờ hai chủ. Bọn danh sĩ Bắc Hà còn tức tối vì chuyện triều đình thường o bế, tâng tiu những quan lại phía đàng trong do đám quan lại này có công phò tá ta những năm gian khổ. Danh sĩ Bắc Hà thường là những kẻ có tài… rất hữu dụng cho ta khi xây dựng vương triều. Con phải biết tùy người, tùy việc mà ứng phó.

THÁI TỬ ĐẢM: Dạ, con xin nghe lời cha…

NGUYỄN ÁNH: Còn nữa, cái bọn văn nhân hèn kém ấy, chúng luôn xúc xiểm bá tánh làm loạn. Bá tánh như trâu bò ngựa dê, mình khéo chăn dắt thì sẽ vào khuôn khổ. Không có cái lũ văn nhân rót vào tai chúng những điều sằng bậy thì lũ trâu bò kia có bao giờ biết ngẩng lên mà nói tiếng người.

THÁI TỬ ĐẢM: Dạ…

NGUYỄN ÁNH: Với bọn văn nhân con cư sử với chúng nhất định phải khôn khéo. Luôn an ủi vỗ về chúng, và cho chúng thỏa mãn cái ngông kẻ sĩ. Lôi kéo được thì tốt bằng không được thì cũng đừng bao giờ làm chúng nổi điên.

THÁI TỬ ĐẢM: Dạ… con xin khắc cốt ghi tâm.

NGUYỄN ÁNH: Tuy nhiên đôi khi trong những tác phẩm của chúng cũng có những điều ta cần phải học. Nguyễn Du từng khuyên cha muốn giữ vững ngai vàng phải chăm lo đến bá tánh. Con hãy nhớ những ông vua khai quốc bao giờ cũng chú ý đến bá tánh, những đời vua sau thường chỉ lo hưởng lạc. Đó là họa mất nước. Ông ta cũng nói rằng những sai lầm của cha sẽ được người đời quên đi nếu đời con biết chăm lo đến bá tánh… sửa những sai lầm cha đã mắc. (ho rũ rượi)

THÁI TỬ ĐẢM: Con sẽ khắc cốt ghi tâm điều này. Cha mệt rồi… cha đi nghỉ đi.

NGUYỄN ÁNH: Còn điều này nữa, sau khi cha chết… con hãy thả Nguyễn Trung Nghĩa ra và cho phục lại chức cũ…

THÁI TỬ ĐẢM: Nhưng hắn…

NGUYỄN ÁNH: (khoát tay) Lịch sử… Cuối cùng thì cha cũng nhận ra không một ông vua nào có thể viết lại lịch sử theo ý của mình… con hãy nhớ điều đó để luôn tự sửa mình.

THÁI TỬ ĐẢM: Dạ…

( tác giả gửi cho QTXM)

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 16.08.2014

BA THẾ KỶ HÀ TIÊN ĐẤT VIỆT

NM trước tượng Mạc Cửu

                       BA THẾ KỶ HÀ TIÊN ĐẤT VIỆT

               Ghi chép của Ngô Minh

 (QTXM)- Bạn đọc thân mến. Mấy ngày nay, những phần tử quá khích chống Việt Nam ở Cawmpuchia đã biểu tình, đốt cờ Việt Nam.Đây là sự kích động của bọn Tàu Khựa. Những năm tôi ở miền Đông Nam Bộ, nhiều lần quân khơ me đỏ cũng tấn công các căn cứ sư đoàn bộ  của ta đang đóng trên đất Cawmphuchia. Chúng cho rằng, Việt Nam xhieems đất của chúng, nay đòi lại. THời kỳ Polpot, bọn Tàu đã xúi quân Khơ Me Đỏ tấn công dọc tuyến biên giới Việt Nam, tàn sát dân ta rất thảm khốc. Thực sự thì vùng Chân Lạp (Đồng bằng sông Cửu Long) vua Xiêm giao cho Mạc Cửu, một người Hoa cai quản. Tháng 8-1708 ( Mậu Tý) tính chuyện muốn tồn tại  lâu dài thì không thể không  đi với Đại Việt, thế là Mạc Cửu cử  cận thần mang ngọc lụa đến thành Phú Xuân  dâng biểu xưng thần, xin được làm Hà Tiên trưởng . Chúa Nguyễn Phúc Chu, với sự mẫn cảm chính trị, tầm nhìn xa trông rộng đã rất  vui mừng đón nhận vùng đất mới , như là tiểu quốc tự trị mới của Đại Việt , liền chấp nhận và đặt là Trấn Hà Tiên của Đại Việt và phong Mạc Cửu tước Cửu Ngọc Hầu, chức Tổng binh.

  (Đọc tiếp…)

VỤ THẢM SÁT ‘THẾ GIỚI CHƯA TỪNG BIẾT ĐẾN’

 
Bài viết của ông James Zumwalt, Trung tá Thủy quân Lục chiến Mỹ, nói về đoạn video Trung Quốc đã ra tay tàn sát những người lính Hải quân Việt Nam ngày 14-03-1988 ở đảo Gạc Ma.
Tác giả: James Zumwalt
Người dịch: Nguyễn Văn Phước
14-08-2014
Đây là một trong những tội ác trắng trợn nhất thời hiện đại.
Chẳng có gì ngạc nhiên khi thủ phạm đã không nói gì về nó, nhưng đáng ngạc nhiên là cả nạn nhân cũng im lặng. Người ta đã chọn cách làm như vậy, có lẽ là để sau này thiếu bằng chứng cho thế giới thấy, nó đã xảy ra.
Tháng 6 năm 2012, một đoạn video về vụ thảm sát đã được công bố. Thông thường, quốc gia phạm phải hành động tàn bạo như vậy sẽ giữ im lặng về nó. Tuy nhiên, video này đã được chính thủ phạm công bố, điều này làm dấy lên câu hỏi: “Tại sao?”

Vụ việc xảy ra vào tháng 3 năm 1988, giữa hai nước Trung Quốc và Việt Nam. Nó xảy ra ở vùng biển Nam Trung Hoa (Việt Nam gọi là Biển Đông – ND), nơi có tranh chấp giữa hai quốc gia về chủ quyền quần đảo Trường Sa, tranh chấp sau đó tiếp tục và hiện vẫn còn tồn tại.
Như kết quả sự im lặng của Việt Nam thời điểm đó, người dân Việt Nam không có cách nào để biết về vụ việc đã xảy ra cho đến khi Trung Quốc công bố đoạn video – sự giận dữ đã nổi lên vì vụ thảm sát và vì sự im lặng của chính phủ.
Quần đảo Trường Sa là một quần đảo gồm khoảng 750 đảo, đảo nhỏ, rạn san hô và đảo san hô.
Vụ việc liên quan đến ba rạn/đảo san hô rất gần nhau. Mỗi đảo san hô thấp đến mức nước biển đôi khi nhấn chìm một phần củachúng.
Dự đoán là phía Trung Quốc sẽ cố gắng chiếm các rạn san hô, hai tàu vận tải của Việt Nam, HQ-604 và HQ-605, chở 73 binh sĩ, đã được lệnh cho công binh đổ bộ để khởi công xây công sự.
Các quân nhân Việt Nam đã đổ bộ lên rạn san hô Gạc Ma, bản đồ phương Tây gọi là Johnson South Reef, vào tối ngày 13 tháng 3 năm 1988.
Hai tàu vận tải của Việt Nam được mô tả chỉ là có thể chống lại những đe dọa quân sự nhỏ. Chúng là những tàu thương mại được vũ trang để vận chuyển binh lính và vật liệu xây dựng, và như vậy, chúng là những tàu quân sự được trang bị rất nhẹ. Những tàu này phải tiếp cận mục tiêu trong phạm vi 500 m thì những khẩu súng của nó mới có hiệu lực.
Vụ việc đã diễn ra ở Gạc Ma.
Với lực lượng Việt Nam đã để lại đó, hai tàu vận tải đi về phía hai đảo san hô khác.
Sáng 14 tháng 3 năm 1988, tàu chiến Trung Quốc tiếp cận các rạn san hô. Họ không chỉ có lực lượng đổ bộ trên các tàu vận tải, họ còn có tàu khu trục đi kèm với hỏa lực mạnh để hỗ trợ lực lượng đổ bộ.
Rõ ràng, nếu cuộc đối đầu giữa các lực lượng hải quân Trung Quốc và Việt Nam xảy ra, lợi thế sẽ thuộc về phía Trung Quốc vì tầm bắn lớn hơn nhiều của các khẩu pháo.
Cờ Việt Nam đã được dựng lên trên đảo san hô Gạc Ma, và cùng lúc đó, trên một đảo san hô khác, Cô Lin.
Tại Gạc Ma, những người lính công binh, đội quân được trang bị nhẹ – có thể so sánh với một Seabee – một đơn vị thuộc Tiểu đoàn Xây dựng của Hải quân Hoa Kỳ – nằm dưới sự chỉ huy của phó chỉ huy trưởng, trung úy Trần Văn Phương. Mặc cho sự hiện diện của đội tàu Trung Quốc rình rập gần đó, những ngườilính Việt Nam vẫn tập trung vào các công trình xây dựng của mình.
Khoảng 6 giờ sáng, một số xuồng tấn công chở thủy quân lục chiến có vũ khí, đã xuất phát từ vận tải Trung Quốc và hướng đến Gạc Ma.
Phía Việt Nam ngay lập tức hình thành một vành đai phòng thủ 360 độ với cờ của họ ở trung tâm – họ tạo nên hình thể một”vòng tròn bất tử” – biểu thị quyết tâm bảo vệ rạn san hô bằng mọi giá.
Với số ít binh lính trên đảo san hô, những người lính công binhViệt Nam đã được lệnh cản trở để giữ vững đường vành đai. Các tàu tấn công đã đổ bộ, và trong trận chiến chủ yếu là cận chiến do phạm vi hạn hẹp, người Trung Quốc đã thất bại khi cố gắng xâm nhập vào vành đai.
Khi Trung úy Phương chụp lấy lá cờ Việt Nam, giành giật nó với kẻ thù, ông đã bị bắn vào đầu. Ngay lập tức lá cờ được giương lên bởi Nguyễn Văn Lanh – người ghì giữ nó cho đến khi ông liên tiếp bị đâm và bắn. Thật kỳ diệu, Lanh sống sót, và khi phía Trung Quốc rút lui, Lanh đã chứng kiến ông và những người sống sót khác phải chịu một cuộc oanh tạc dữ dội và hủy diệt bằng súng máy từ tàu Trung Quốc.
Cùng lúc đó, một cuộc oanh tạc khác nhắm vào tàu vận tải HQ-604 của Việt Nam – con tàu như dự kiến, đã cho thấy nó không có khả năng tấn công đáp trả tàu Trung Quốc nằm ngoài tầm bắn của mình. Bị nước xâm nhập, HQ-604 được khôn khéo làm mắc cạn trên Gạc Ma nhưng phát bắn trực tiếp vào phòng động cơ khiến nó nhanh chóng chìm xuống khi nhiều người vẫn còn trên tàu.
Tiếp đến phía Trung Quốc tấn công HQ-605. Nó nhanh chóng bốc cháy, buộc chỉ huy của nó phải ra lệnh bỏ tàu.
Điều đáng lo ngại nhất về video này là những gì đã xảy ra sau đó. Tại thời điểm đó, những người lính Việt Nam còn sống sót trên các rạn san hô hoàn toàn không phải là mối đe dọa cho quân Trung Quốc. Tuy nhiên, đoạn video cho thấy súng của hải quân Trung Quốc đang tập trung vào Gạc Ma nơi những người sống sót phía Việt Nam không có một chỗ trú ẩn. Những tiếng súng liên thanh cào rạn san hô khi đối phương không có vũ khí tự vệ, nhẫn nhịn đứng chịu trận, chờ đợi cuộc tấn công dữ dội cuối cùng – số phận của họ đã được định đoạt khi từng người một, họ ngã xuống để bảo vệ đất nước. Đối với những kẻ tấn công Trung Quốc, thách thức với họ chỉ là câu cách ngôn “bắt cá trong chậu”.
Video còn để lại một hoài nghi. Người Việt Nam dễ bị tấn công. Người ta chỉ có thể cảm nhận sự bất lực, họ cảm thấy điều đó khi người Trung Quốc bắt đầu nổ súng tàn sát không thương tiếc. Chín người Việt Nam sống sót sau đó bị giam giữ trong ba năm.
Hiện nay, Trung Quốc đang chiếm bãi đá ngầm, trên đó họ đã có căn cứ và đang xây dựng một sân bay. Việt Nam đã mất 64 chiến sĩ dũng cảm ngày hôm đó. Trong số những người sống sót, Lanh bị thương nặng.
Nhưng tại sao Trung Quốc, sau 24 năm im lặng, lại công bố video?
Câu trả lời nằm ở Haiyang Shiyou 981 của Trung Quốc, một giàn khoan nửa nổi nửa chìm được triển khai vào ngày 2 tháng 5 năm 2012 tại Biển Đông gần quần đảo Hoàng Sa, nơi quyền sở hữu vẫn đang là tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam. Động thái này của Trung Quốc gây ra một số cuộc đối đầu trên biển.
Một tháng sau đó, Trung Quốc không hề nao núng đã phát hành video như là lời đe dọa ngấm ngầm rằng những gì đã xảy ra vào năm 1988 có thể xảy ra một lần nữa.
Rõ ràng Trung Quốc dự định sử dụng các mối đe dọa quân sự có thể – không bị thách thức bởi bất kỳ nước láng giềng nào trong khu vực,  hơn là ngoại giao để “đàm phán” giải quyết vấn đề chủ quyền.
Trong khi hành động tàn bạo năm 1988 của Trung Quốc tại Gạc Ma là vụ thảm sát “thế giới chưa từng biết đến”, thì việc Bắc Kinh công bố một cách trắng trợn video ghi lại vụ việc cung cấp cơ hội nữa để chắc chắn rằng lần này nó lại như vậy.
—-
Tác giả: Ông Zumwalt là Trung tá Thủy quân Lục chiến về hưu, đã từng phục vụ trong chiến tranh Việt Nam, cuộc đổ bộ vào kênh đào Panama và cuộc chiến Vùng Vịnh lần thứ nhất. Ông thường viết bài phê bình về những vấn đề chính sách đối ngoại và quốc phòng cho nhiều tờ báo. Ông cũng là tác giả của 3 cuốn sách: “Bare Feet, Iron Will—Stories from the Other Side of Vietnam’s Battlefields,” “Living the Juche Lie: North Korea’s Kim Dynasty” and “Doomsday: Iran—The Clock is Ticking” 

(Đọc tiếp…)

  MỘT CHỦ TRƯƠNG  LƯƠNG BỔNG ĐANG HẠ THẤP UY TÍN CỦA ĐẢNG, CẦN BÃI BỎ.

                                                                            Ngô Minh

 

Trong một cuộc gặp gỡ của các trí thức ở Huế như giáo sư Thân Trong Ninh , ông Vĩnh Mẫn, cựu trưởng Ban tuyên giáo của Đoàn tàu không số, anh Phan Tân Hội, con cụ Phan Anh, nhà văn Nguyễn Khắc Phê, nhà văn Dương Phước Thu…, tôi nghe mọi người bàn tán đến một chủ trương lương bổng trong Đảng CS làm dân tình bức xúc . Đó là việc lương của các cơ quan Đảng từ Trung ương đến địa phương hiện nay cao hơn lương của cơ quan hành chính sự nghiệp gần gấp đôi (đến 65%). Và việc “hưởng lương cao ngoài chế độ lương” ấy đã diễn ra ba năm rồi. Tôi nghe mà bàng hoàng, kinh sợ và vô cùng xấu hổ. Tôi dự tính sẽ đi tìm bằng chứng để nói cho toàn dân biết cái chủ trương “ăn trên ngồi trốc” này của cơ quan Đảng. Tôi chưa kịp tìm thì đọc trên báo Văn Nghệ ( Hội Nhà văn Việt Nam) số 31 (2-8-2014) chuyên mục “tiếng nói nhà văn” ở trang nhất, bài “ Đã thực sự cùng nhau vui cười ?…” của nhà văn Trần Cao Sơn. Xin trích :

 

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 13.08.2014

NGUYỄN HỮU ĐANG: MỘT BI KỊCH LỚN

NGUYỄN HỮU ĐANG: MỘT BI KỊCH LỚN

Nhân kỷ niệm 101 năm ngày sinh Nguyễn Hữu Đang (15/8/1913-15/8/2014):

 Lê Thọ Bình
Đang nắm giữ những chức vụ và đảm nhiệm những công việc rất quan trọng của chính quyền: Thứ trưởng Bộ Tuyên truyền, Thứ trưởng Bộ Thanh niên, được giao nhiệm vụ tổ chức ngày Lễ Độc lập (2-9), ông như con đại bàng đang bay cao. Nhưng rồi cái tư tưởng phóng khoáng, tự do của một chú đại bàng “hoang dã” muốn đưa đồng loại của mình tới khoảng trời bay nhày tự do đã khiến ông rơi từ “trời cao” xuống vực thẳm, để lại cho nhân gian những câu chuyện thật đau lòng bằng một vụ án văn chương mà người ta gọi là “Nhân văn giai phẩm”.
Vâng, ông là Nguyễn Hữu Đang, người được coi là “Lãnh tụ tinh thần” của “Nhân văn Giai phẩm”.

Hành trình bài bút ký

Lần đầu tiên tôi gặp Nguyễn Hữu Đang là mùa hè năm 1993, khi ông vừa lên Hà Nội cư trú sau gần 20 năm bị quản thúc thúc tại Thái Bình, quê ông.
Hôm ấy tôi đang làm việc ở Văn phòng cơ quan thì một cụ già vận chiếc quần bộ đội bạc phếch, áo sơ mi cộc tay trắng đã ố vàng bỏ ngoài quần, đi dép cao su 3 quai,đầu đội chiếc mũ lá tềnh toàng. Tôi đã nghĩ “Lại cụ nông dân đi kiện về đất đai” và chào ông. Ông cởi chiếc mũ lá. Đầu trọc lốc. Ông không chào, cũng chẳng đáp lời tôi, hỏi cộc lốc: “Các ông có biết tôi là ai không?”. Tôi lắc đầu. Ông nhăn mặt: “Tôi là Nguyễn Hữu Đang vừa ở tù 15 năm và quản thúc 20 năm đây!”. Tôi hết sức ngạc nhiên. Không, phải nói là sửng sốt thì đúng hơn. Nguyễn Hữu Đang, Lãnh tụ tinh thần của “Nhân văn giai phẩm” đây sao!
Thú thực, ban đầu tôi không thực sự ấn tượng vì cách nói chuyện theo kiểu không đầu không cuối của ông. Đầu hơi cúi gằm. Thỉnh thoảng lại lấm lét ngước mắt lên nhìn người nghe. Tuy nhiên, ông lại có chất giọng hào sảng, âm thanh rất vang.Cuối buổi trò chuyện ông rút trong chiếc bị cói ra tập bản thảo bút ký 15 trang giấy viết tay kể về “Tổ chức Ngày Lễ Độc lập năm 1945”. Nét chữ của ông nắn nót, tròn, đều tăm tắp. Tôi cảm ơn ông và hứa sẽ tìm cách đăng cho ông.
Tôi đã kỳ công biên tập ngắn gọn lại thành một bài viết 1.500 chữ và gửi cho báo Tuổi trẻ Chủ nhật (Nay là Tuổi trẻ cuối tuần) để đăng nhân dịp Quốc khánh, 2-9. Tuổi trẻ trả lời không đăng được. Tôi đã gửi đi tới cả chục báo, tạp chí như Đại đoàn kết, Lao động, Phụ nữ TP.HCM, Tạp chí Thế giới mới, Kiến thức ngày nay… nhưng tiếc rằng không báo nào “dám đăng”.
Đó là điều mà tôi đã tiên liệu trước: Ai dám đăng bài viết mà tác giả của nó là “Lãnh tụ tinh thần” của Nhóm”Nhân văn giai phẩm”. Tuy nghĩ là vậy, nhưng tôi vẫn hy vọng vào lòng quả cảm của một Tổng biên tập nào đó, vì thực ra ngay từ năm 1989 ông đã được “phục hồi”, năm 1990 đã được trả lương hưu và năm 1993 đã được về sống tại Thủ đô.

Tôi như người “mắc nợ” với ông, mặc dù khi đưa tập bản thảo cho tôi ông đã bảo: “May ra có Tuổi trẻ dám đăng”. Sau đấy năm nào cũng vậy,cứ đến dịp Quốc khánh tôi lại gửi đến một vài báo khác nhau. Và vẫn câu trả lời: “Không đăng được”. Tôi luôn nặng trĩu trong lòng và vì “món nợ” ấy mà đã nhiều năm liền không dám tìm gặp ông.
6 năm sau, năm 1999, tôi về làm việc tại Báo Nông thông ngày nay. Vì là người được chị Mai Nhung, Tổng biên tập giao nhiệm vụ Tòa soạn, biên tập, duyệt đăng bài, nên tôi đã bê nguyên xi bản thảo ông Đang viết đăng 4 kỳ ở chân trang. Sau khi báo phát hành nhận được rất nhiều lời khen ngợi. Thậm chí ông Vũ Duy Thông, lúc ấy là Vụ trưởng báo chí Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương) biểu dương. Thì ra lâu nay toàn sợ bóng sợ gió cả.
Phần vì bận nhiều công việc, phần không tìm được ra nhà ông Nguyễn Hữu Đang, nên tôi đã không chuyển nhuận bút bài báo cho ông được.Mãi tới năm 2004 tôi mới tìm ra được căn hộ ông ở tít mãi tận Nghĩa Đô (quận Cầu Giấy, Hà Nội) lúc ấy còn rất hoang vắng.Như vậy là sau 6 năm, kể từ khi ông đưa cho tôi, bài Bút ký mới được đăng và sau 5 năm nữa món nhuận bút mới được chuyển đến tay ông.

Ở căn hộ khu tập thể Nghĩa Đô

Sau nhiều lần tìm kiếm rồi cuối cùng chúng tôi cũng tìm ra nơi ông ở. Tôi và nhà báo Lương Thị Bích Ngọc chui qua cầu thang ẩm ướt, tối mò, lên tầng 2 dãy nhà Tập thể Bột mì (Nghĩa Đô) gõ cửa nhà ông. Chừng 5 phút sau ông Đang ra mở cửa.Căn phòng nhỏ, bộn bề, đặc mùi ẩm mốc.Ông đã bước sang tuổi 90, cơm nước phải nhờ đến một người cháu tới giúp, song những hoạt động trí tuệ thì ai có thể thay thế được cho con người vốn có tinh thần độc lập từ xưa- kể từ khi ông bị thực dân Pháp bắt tra tấn và suýt đưa ra tòa lúc còn là vị thành niên?
Ngồi ở chiếc bàn nhỏ vừa để ăn vừa để đọc sách của ông, nhìn quanh trên tường và trên bàn có nhiều tấm ảnh chân dung chắc chắn là rất thân thiết với ông; và đập ngay vào mắt chúng tôi là tấm ảnh lịch sử: Lễ đài Ba Đình 2-9-1945 được cho vào khung ảnh cẩn thận kê ngay ngắn trên một chiếc vỏ hộp bánh quy. Chiếc bàn kê sát giá sách để chiếc điện thoại bàn lấm bụi, chiếc kính lúp, cái đèn pin, mấy cục pin con thỏ để lăn lóc.
Cuộc đời có thể tước đoạt của ông nhiều thứ song không thể tước đi quyền tự hào là người đã được chủ tịch Hồ Chí Minh trao cho trọng trách tổ chức ngày lễ Độc Lập ở Ba Đình, và tới năm 1947, ông vẫn còn được coi là nhân vật quan trọng nhất nhì bên cạnh chủ tịch Hồ Chí Minh.Mái đầu húi cua bạc cháy tựa nương cằn miền núi sau trận cháy rừng giờ không còn ngẩng cao kiêu hãnh mà hơi cúi gằm bởi năm tháng, nhưng cái vóc dáng cồng kềnh và chắc chắn của ông vẫn cho thấy một nghị lực sống được nén lại, và đôi lúc ánh mắt ông vô tình vẫn lóe lên những luồng ánh sáng trí tuệ.
Nhìn ông, ai có thể tin rằng: Sau mười lăm năm tù đầy, ở tuổi 63, ông đã từng phải sống nhờ vào côn trùng và cóc- nhái- chuột- rắn trong suốt hơn mười lăm năm vất vưởng bên lề xã hội ở một làng quê Thái Bình… Trải qua quá nhiều nỗi đớn đau thử thách, và ở giai đoạn cuối cuộc đời vẫn phải lo tránh cạm bẫy, ông phải tự giữ gìn và giữ cho cả người đang đối thoại với mình mà bằng trực giác ông biết là lòng lành, song dường như ông vẫn không bị mất đi sự sắc sảo pha chút hóm hỉnh.
Thấy mấy cuốn sách,vài ba tờ báo vứt lỏng chỏng trên bàn, trên giường,tôi hỏi ông: “Lâu nay bác vẫn nhận được sách báo đều chứ ạ?”. Ông không nói gì, chập chạp, run rẩy đứng dây khỏi giường, chậm rãi bước tới cái giá sách nhỏ ở góc nhà lục tìm cái gì đó. Nhìn dáng ông đi liêu xiêu, mảng lưng hở qua chiếc áo bở tã đến thê thảm. Ông lúi húi bên giá sách cạnh tấm ảnh đen trắng Dostoievski chợt nhòe đi. Bên dưới tấm ảnh văn hào Nga được nhiều thế hệ độc giả Việt yêu quý là chiếc tủ lạnh cũ. Bất giác tôi đứng lên, bước tới chiếc tủ lạnh, tự động mở ra: cả hai ngăn trên và dưới đều trống rỗng! Ông Đang không hề để ý tới việc khách mở tủ lạnh và quan sát đồ dùng sinh hoạt trong phòng ông. Ông rời giá sách trên tay cầm theo cuốn sách dày cộp. Ông giở bìa cuốn từ điển Bách khoa“Le petit Larousse” in năm 2.000 ra, chỉ tay vào trang đầu tiên có chữ nắn nót của ông: “Mất từ tr. 865 đến tr. 968″. Rồi ông vội vã mở cuốn sách ra để chứng minh điều mình đã thông báo. Tôi hỏi ông: “100 trang sách đã bị xé. Ai đã xé những trang này hỡ bác?”. Ông thở dài: “Còn ai vào đây nữa!”. Ông nói nhỏ dường như chỉ để cho mình ông nghe:“Những người có trách nhiệm kiểm soát trước khi chuyển nó đến cho tôi. Còn những mục gì ư? Chỉ là những thứ mà theo người ta, sẽ đầu độc một lão già vô hại là tôi!”.
Câu cuối ông nói ra vừa có gì diễu cợt lại vừa đượm nước mắt. Một công trình văn hóa hoàn hảo, một trong những biểu tượng của trí tuệ nhân loại bị phá hoại bởi những người quen thói bao cấp tư tưởng, quen hăng hái săn sóc tâm hồn và tri thức cho người khác- kể cả với những người đương nhiên là bậc thầy về văn hóa của họ! Thực là một tấn bi hài kịch không đáng có, vậy mà đã nó diễn ra thường xuyên như thứ một tập quán ghê sợ!

Nguyễn Hữu Đang: ông là ai?

Nguyễn Hữu Đang sinh ngày 15/8/1913 tại làng Trà Vy, huyện Vũ Tiên, tỉnh Thái Bình. Theo bản “Tóm tắt quá trình hoạt động xã hội của Nguyễn Hữu Đang” do chính tay ông viết thì năm mười sáu tuổi, ông tham gia Học sinh hội (tổ chức thuộc Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội, rồi Đông dương Cộng sản đảng), làm tổ trưởng Hội này. Ngay từ năm 1929 Nguyễn Hữu Đang đã là đối tượng được kết nạp vào đảng. Cuối năm 1930, ông bị bắt, bị tra tấn và bị giam 2 tháng rưỡi tại nhà lao thị xã Thái Bình. Mùa hè năm 1931, bị đưa ra toà, nhưng vì tuổi vị thành niên (trên giấy tờ, ông rút tuổi, khai sinh năm 1916), cho nên chỉ bị quản thúc tại quê nhà. Từ 1932 đến 1936, Nguyễn Hữu Đang theo học trường sư phạm Hà Nội.
Năm 1937-1939 ông tham gia Mặt trận dân chủ Đông Dương. Biên tập các báo của Mặt trận như Thời báo (cùng Trần Huy Liệu, Nguyễn Đức Kính), Ngày mới (cùng Nguyễn Đức Chính, Nguyễn Đức Kính) và các báo của Đảng Cộng sản như Tin tức (cùng Trần Huy Liệu, Phan Bôi), Đời nay (cùng Đặng Xuân Khu tức Trường Chinh, Trần Huy Liệu)
Từ 1938 đến 1945, Nguyễn Hữu Đang hoạt động trong Hội Truyền bá Quốc ngữ, ở các vị trí: Uỷ viên ban trị sự Trung ương, Huấn luyện viên Trung ương, trưởng ban dạy học, Trưởng Ban Cổ động, Phó trưởng Ban Liên lạc các chi nhánh tỉnh.
Năm 1943 Nguyễn Hữu Đang gia nhập Đảng Cộng sản Đông dương, bắt đầu liên lạc mật thiết với Tổng bí thư Trường Chinh và thành ủy Hà Nội, nhưng vẫn chưa được chính thức kết nạp vào Đảng.
Năm 1943-46 ông Tham gia sáng lập và lãnh đạo Hội Văn hoá cứu quốc, tiếp tục hoạt động chống nạn mù chữ. Mùa thu năm 1944 bị Pháp bắt ở Hà Nội và bị giam một tháng tại Nam Định. Được ra, lại tiếp tục hoạt động cách mạng.
Tháng 8-1945 ông tham dự đại hội Tân Trào, được bầu vào Ủy ban giải phóng dân tộc. Tham gia Chính phủ lâm thời mở rộng, được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ truyên truyền. Đồng thời cũng trong năm đó ông được Hồ Chí Minh cử làm Trưởng Ban Tổ chức Ngày Lễ tuyên bố độc lập 2-9-1945.
Từ tháng 10-1945 đến tháng 12-1946 ông giữ các chức vụ Thứ trưởng Bộ Thanh niên, Chủ tịch Ủỷ ban vận động Mặt trận văn hoá. Tổ chức Hội nghị văn hoá toàn quốc lần thứ nhất tại Hà Nội.
Từ tháng 12-1946 đến tháng 3-1948 ông làm Trưởng Ban Tuyên truyền xung phong trung ương.
Năm 1947, ông chính thức được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương.
Từ tháng 4-1948, đến tháng 4-49, ông phụ trách báo Toàn dân kháng chiến, cơ quan trung ương của Mặt Trận Liên Việt.
Từ tháng 7-1949 đến tháng 10-1954 Nguyễn Hữu Đang làm Trưởng ban Thanh tra Nha bình dân học vụ. Từ tháng 11-1954 đến tháng 4- 1958 ông tổ chức và biên tập báo Văn Nghệ. Cuối năm 1956 đầu năm 1957 Nguyễn Hữu Đang tổ chức, lãnh đạo và biên tập báo Nhân Văn, giúp đỡ tập san Giai Phẩm.

Phong trào “Nhân Văn giai phẩm”

Nguyễn Hữu Đang chính thức tham gia hoạt động phong trào Nhân Văn Giai Phẩm từ tháng 9-1956, với sự ra đời của báo Nhân Văn số 1 (20-9-1956). Báo Nhân văn ra được 5 số và đến số thứ 6 chưa kịp phát hành đã bị đình bản (tháng 12-1956).
Trong thời gian tổ chức và tham gia phong trào “Nhân văn giai phẩm”, Nguyễn Hữu Đang tổ chức lớp học tập dân chủ 18 ngày (từ ngày 8-8 đến 26-8-1956) và trong ngày cuối cùng, ông đã đọc một bài tham luận “nảy lửa” chỉ trích những sai lầm trong công tác lãnh đạo văn nghệ. Trương Tửu đánh giá bài tham luận của Nguyễn Hữu Đang là”sự việc thực là cụ thể, lời lẽ thực là tha thiết”. Hoàng Cầm cho rằng tinh thần nêu những thắc mắc, có từ kháng chiến, tích tụ lại và bùng nổ lên trong lớp học này.
Nhà văn Lê Đạt sau này kể lại: “Trong cuộc học tập này, anh em phê phán văn nghệ rất nhiều, trong đó nổi bật lên vai trò của anh Nguyễn Hữu Ðang. Lúc đó Ðang có nói một câu với Nguyễn Ðình Thi (Nguyễn Ðình Thi lúc ấy là một trong những người chịu trách nhiệm tờ Văn Nghệ-VN) rằng: “Thế nào tao cũng ra một tờ báo, tờ báo chưa biết tên là gì, tao thì không làm được nhưng để cho bọn Giai Phẩm Mùa Xuân nó làm”.
Còn Nguyễn Huy Tưởng ghi lại không khí lớp học 18 ngày, trong nhật ký của mình như sau: “Nguyễn Hữu Đang nổi lên. Tiếc rằng kéo anh ta về văn nghệ để làm rầy rà mình. Chính người chửi mình nhất là Nguyễn Hữu Đang”.Những bực mình và dằn vặt của Nguyễn Huy Tưởng, càng làm rõ tấm lòng và nhân cách của ông: Mặc dù không đồng ý với Nguyễn Hữu Đang, bị Đang chỉ trích nặng nề, nhưng sau này, ông là người duy nhất trong ban lãnh đạo văn nghệ đã đứng ra bênh vực Nhân Văn, như Lê Đạt từng thuật lại và ông cũng ghi trong nhật ký: “đã phản ảnh lên Trường Chinh về vụ Nhân Văn, nhưng vô hiệu”.
Về phía buộc tội, Nguyễn Hữu Đang được coi là lãnh tụ, “đầu sỏ”. Mạnh Phú Tư viết: “Người ta không thấy tên tuổi Nguyễn Hữu Đang trên những số đầu báo Nhân Văn, nhưng chính hắn là linh hồn của tờ báo.Thông qua tờ báo Nhân Văn, hắn đã trở thành một thứ lãnh tụ của một bọn người cơ hội, có âm mưu chính trị… “.
Thực vậy, là người làm chính trị, Nguyễn Hữu Đang, với tài tổ chức và hùng biện trong lớp học 18 ngày, ông đã chiếm được lòng tin của giới trí thức và văn nghệ sĩ cấp tiến. Ông nắm lấy cơ hội, đứng ra tổ chức “Nhân Văn Giai Phẩm” với những người bạn cùng chí hướng từ trong kháng chiến như Trương Tửu, Trần Thiều Bảo, Lê Đạt, Hoàng Cầm… chủ trương tạp chí “Giai phẩm mùa xuân”.
Tuy không có nhiều bài ký tên thật, nhưng dấu ấn của Nguyễn Hữu Đang trên báo Nhân Văn là hết sức đậm nét bằng hàng loạt bài phỏng vấn các tên tuổi lớn như Nguyễn Mạnh Tường, Đào Duy Anh, Trần Đức Thảo, Đặng Văn Ngữ về vấn đề dân chủ.
Sau này Nguyễn Hữu Đang nói: “Thực chất phong trào “Nhân Văn Giai Phẩm”, nếu đứng về mặt chính trị, thì đó là một cuộc đấu tranh của một số người trí thức, văn nghệ sĩ và một số đảng viên về chính trị nữa, là chống, không phải chống đảng cộng sản, mà là chống chủ nghĩa Staline và chủ nghĩa Mao. Sự thâm nhập của chủ nghĩa Statline và chủ nghĩa Mao đưa đến nhiều hiện tượng cực quyền toàn trị. Nó gay gắt ghê lắm! Chúng ta đã phạm sai lầm trong Cải cách ruộng đất, rồi thì Chỉnh huấn, Chấn chỉnh tổ chức, Ðăng ký hộ khẩu v.v… Tất cả những chính sách quá tả đó là đều từ phương Bắc xâm nhập vào Việt Nam”.
Tháng 4-1958 Nguyễn Hữu Đang bị bắt. Ngày 19-1-1960, ông bị đưa ra toà cùng với Thụy An, Trần Thiếu Bảo, Phan Tại, và Lê Nguyên Chí.
Sau này Nguyễn Hữu Đang nhớ lại: “Ở trước tòa án thì tôi nhận mấy điểm như thế này: (1).Tôi có phạm kỷ luật của Ðảng và của nhà nước về phương diện tuyên truyền. (2).Trong việc làm của tôi, cũng có những vụ sai sót. Anh em cũng như tôi thôi, thế nhưng tôi gánh trách nhiệm nặng hơn. (2). Ðộng cơ thì nhất định là tốt: Chúng tôi chỉ vì dân, vì nước mà tin rằng việc mình làm có ích nước lợi dân cho nên làm thôi.
Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội đã tuyên: Nguyễn Hữu Đang và Thụy An: 15 năm phạt giam và 5 năm mất quyền công dân sau khi ra tù; Minh Đức: 10 năm phạt giam và 5 năm mất quyền công dân; Phan Tại: 6 năm phạt giam và 3 năm mất quyền công dân; Lê Nguyên Chí: 5 năm phạt giam và 3 năm mất quyền công dân.
Sau này có lần Nguyễn Hứu Đang nói: “Ra tòa tôi nhận hết, chứ tôi không bào chữa, không cãi cọ gì nhiều cả. Thậm chí là sau khi bị kết án 15 năm tù tôi cũng không có ký chống án gì cả. Từ bấy giờ đến nay tôi cũng không viết một cái đơn nào để thanh minh, phân trần, xin xỏ, khoan hồng hay là nọ kia. Không! Cái việc đó không!

Có thật là Nguyễn Hữu Đang tìm cách trốn vào Nam?

Thông tin thời bấy giờ và cả sau này nữa đều cho rằng Nguyễn Hữu Đang bị bắt khi ông đang trên đường trốn vào Nam. Tuy nhiên sự thật có phải như vậy không? Chúng ta hãy nghe chính Nguyễn Hữu Đang sau này kể lại: “Tôi muốn ra nước ngoài, chứ không phải vào Nam, nhưng tôi đã đặt điều kiện: Nếu các anh giúp tôi đi ra một nước khác, tôi chấp nhận, nhưng vào Nam thì tôi từ chối, vì như thế hàm chứa cái ý phản bội, chạy sang phe địch, phe thù. Đó là một sự nhục nhã. Vào Nam? – Để làm gì chứ? Vào Nam làm gì với Ngô Đình Diệm? Nhưng tôi thực sự muốn ra nước ngoài- tôi đã nói thẳng với Trường Chinh trong một cuộc gặp giữa ông ấy và tôi. Câu hỏi thứ nhất mà Trường Chinh vừa cười vừa đặt ra cho tôi là: “Hả, sao kia, anh đã tuyên bố với các đồng chí rằng anh muốn ra nước ngoài, vì không khí trong nước nghẹt thở quá. Vậy là anh muốn ra nước ngoài, nhưng đến một nước trong phe xã hội chủ nghĩa hay phe đế quốc, anh nói tôi nghe”. Ông ta cười. Lúc đó tôi vừa cười vừa trả lời: “Tôi rất muốn ra nước ngoài, một nước trong phe xã hội chủ nghĩa nếu điều kiện cho phép. Nhưng nếu vì những khó khăn buộc tôi phải đến một nước theo chế độ tư bản, tôi có thể chấp nhận. Bằng chứng là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cư trú ở Pháp, và ông đã giữ được lòng yêu nước và tinh thần cách mạng, và tôi có thể làm như ông ấy. Tôi nghĩ rằng tôi có thể làm như Nguyễn Ái Quốc. Nguyễn Ái Quốc là một nhà cách mạng, tôi cũng là nhà cách mạng. Nguyễn Ái Quốc là một người cộng sản, tôi cũng là cộng sản. Nguyễn Ái Quốc có lòng dũng cảm, tôi cũng có lòng dũng cảm. Tôi không sợ cư trú dài hay ngắn hơn trong một nước tư bản”. Thế là người ta đã sửa soạn… Người bạn đã khuyên tôi nên ra nước ngoài đã nhận lời giúp tôi đến được một nước khác. Anh ấy đã hứa, nhưng chuyến đi đã không được thực hiện. Vậy là tôi lỡ một dịp đi đến một nước khác. Nhưng để tô vẽ bản cáo trạng, người ta đã đưa vào câu tôi muốn vào Nam. Khi đó tôi trả lời toà án: “Không, tôi không muốn vào Nam; tôi muốn đi ra nước ngoài”. Và người ta hỏi tôi: “Nhưng ở nước ngoài anh sẽ làm gì?”- “Đấu tranh cho thống nhất, thống nhất hai miền; ở nước ngoài tôi sẽ tiếp tục đấu tranh thực hiện thống nhất đất nước, thống nhất hai miền Bắc Nam”. Nghe lời tuyên bố ấy, cử toạ… phiên toà bao gồm những người ủng hộ chính phủ, quần chúng của Đảng, đảng viên, những cán bộ của nhiều tổ chức và hoạt động khác nhau đều phản nhân văn, họ phá lên cười nhạo cái ý định đấu tranh cho thống nhất đất nước của tôi. Trong chuyến đi rời đất nước ra nước ngoài, tôi muốn thăm Ấn Độ và Nam Tư của Tito, tôi tin ở Nehru và Tito. Tôi rất muốn gặp họ và xin họ lời khuyên để đấu tranh cho nước Việt Nam bị chia cắt, để Việt Nam được thống nhất và độc lập. Tôi muốn gặp Tito và Nehru…”.
Sau này, khi ra tù, Nguyễn Hữu Đang cho biết: “ Khi Hiệp nghị Paris trả lại tự do cho tôi, tôi đã viết thư cho gia đình – người ta cho phép tôi viết thư cho gia đình để báo tin tôi được trả tự do. Lúc ấy cả gia đình tôi kinh ngạc, cả gia đình tôi hoàn toàn sửng sốt: “Ôi, kìa, anh Đang còn sống, thế mà chúng ta cứ tưởng anh đã chết lâu rồi”.

Mối tình bi thương

Sẽ là không vẹn toàn nếu nói về cuộc đời đầy bi kịch của Nguyễn Hữu Đang mà không nhắc tới mối tình đầy lãng mạn, nhưng cũng không kém phần bi thương của ông.
Ngày Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Hữu Đang 32 tuổi. Ở cái tuổi “tam thập nhi lập”, lẽ thường đã phải yên bề gia thất, nhưng ông vẫn độc thân sau những năm tháng mải mê với những công việc xã hội.
Trong đống bản thảo mà Nguyễn Hữu Đang để lại có một bản mà giấy đã ngã màu vàng, gần như đã bắt đầu mục nát, không hiểu ông viết vào thời gian nào, ông đã kể lại mối tình đầu với một thiếu nữ Hà Nội tên là Huyền Nhiên: “Năm ấy mới 19 tuổi là con một gia đình thương nghiệp trung lưu sống theo nền nếp cổ truyền, chưa học hết bậc thành chung, phong cách thùy mị… không thích đua đòi”.
Ông viết: “Đối với tôi lúc ấy, sắc đẹp là tất cả, biết bấy nhiêu về Nhiên đã là thừa. Không cần biết gì về Nhiên mới đúng. Có ai lại ngớ ngẩn chỉ chú ý đến tài năng, đạo đức, học vấn, gia sản, lý lịch Hằng Nga, Tiên nữ bao giờ?… Theo lòng mình, tôi kính trọng Huyền Nhiên tới mức yêu nhau nửa năm trời tôi chưa từng dám chạm vào thân thể Huyền Nhiên, dù chỉ cầm tay cũng đã coi là xúc phạm, còn nói chi đến ôm hôn”… Hồi ức còn viết rất nhiều, bằng những lời lẽ mà chỉ đọc vẫn nhận ra tình cảm rất nồng nàn của người viết sau nửa thế kỷ đầy những truân chuyên.
Cuối cùng, vị Thứ trưởng Bộ Thanh niên cũng quyết định phải thổ lộ với người mình yêu bằng việc tặng cho Huyền Nhiên tiên nữ một chiếc vòng tay bằng bạc như một giao ước kết hôn. Nàng đã đặt chiếc vòng cầu hôn vào hộp, nói những lời cam kết là sẽ yêu chàng suốt đời, sẽ đến lúc thành hôn, sẽ chung sống với nhau trọn đời… Người đẹp chỉ có một yêu cầu: “Em chỉ ước ao được đến gặp cụ Hồ, được đứng gần cụ. Mà anh thì đến chỗ cụ luôn, anh cho em đến chỗ cụ Hồ một lần, chỉ một lần thôi”.
Tuy công việc khiến vị Thứ trưởng Thanh niên có cơ hội gặp Cụ Hồ, nhưng ông cũng e ngại vì không muốn lẫn lộn việc công tư. Nhưng tình yêu đã giúp ông thực hiện được một cách mỹ mãn ý nguyện của người mình yêu.
Có một nhà tư sản yêu nước ở tỉnh Bắc Giang tên là Ngô Tiến Cảnh mà ông từng quen biết trong thời kỳ tham gia chống thất học, lúc bấy giờ đang làm chủ tịch cuộc vận động “Mùa đông binh sĩ”. Cuộc vận động này từng được cụ Hồ phát động nhằm cung cấp trang phục cho lực lượng vũ trang cách mạng mới thành lập còn nhiều thiếu thốn. Cuộc vận động đã làm được 1 vạn chiếc áo trấn thủ. Ông Cảnh muốn được gặp cụ Hồ để báo cáo tình hình và trao tặng tượng trưng tấm áo cho Người.
Nhà tư sản nhờ ông Nguyễn Hữu Đang đề đạt và cụ Hồ tỏ lòng sẵn sàng tiếp một đoàn đại biểu “Mùa đông binh sĩ”. Ông Đang bàn với ông Cảnh những nghi thức của buổi tiếp, để thêm phần trang trọng khi tặng áo cho Hồ Chủ tịch sẽ có một thiếu nữ bưng một cái khay trên đó đặt tấm áo được trao. Ông Đang hứa sẽ tìm người giúp ông Cảnh làm công việc này và đương nhiên người đó chính là cô thiếu nữ Hà thành đang mong ước được gặp cụ Hồ. Nhất cử lưỡng tiện.
Cuộc gặp được Nguyễn Hữu Đang kể lại trong bản thảo hồi ký của minhfnhw sau: “Tới ngày giờ hẹn, tôi dùng xe hơi đưa Nhiên đến trụ sở “Mùa đông binh sĩ” rồi đến Bắc Bộ phủ. Cụ Hồ ra phòng khách lớn tiếp đoàn đại biểu trong đó có cả Huyền Nhiên đứng cạnh ông Cảnh, tay bưng sẵn chiếc khay trên đó có một chiếc áo trấn thủ. Ông Cảnh nói đến câu “xin kính biếu Chủ tịch tấm áo trấn thủ đầu tiên may được” thì Nhiên bước nhanh đến sát cụ Hồ, khay nâng ngang mặt cung kính. Cụ cầm áo xem xét kỹ, khen “tốt lắm!”, rồi đưa cho Vũ Đình Huỳnh giữ. Cụ nói chuyện với đoàn đại biểu có vẻ tự nhiên, cởi mở. Rồi như thường lệ, cụ không quên cử chỉ quan tâm đến người con gái vừa dâng áo, hãy còn cầm khay đứng đó. Cụ đặt bàn tay lên đầu Nhiên vỗ vỗ nhẹ mái tóc, nói dịu dàng: “Cháu mang đến cho Bác áo chống rét, quà quý của Ủy ban Mùa đông binh sĩ, Bác cảm ơn cháu. Cháu sẽ rủ các bạn của cháu cùng với cháu giúp các chiến sĩ bộ đội nhiều hơn giúp Bác, đem lại cho họ những món quà tỏ tình thương yêu của đồng bào. Cháu làm được không?”. Tất cả mọi người có mặt đều đổ dồn sự chú ý vào Nhiên và chờ cô đáp lại. Phần vì cảm động quá, phần vì chẳng biết trả lời thế nào, Nhiên e lệ cúi mặt nói yếu ớt tiếng run run như sắp khóc “vâng”. Cụ cười độ lượng, khuyên nhủ ngọt ngào: “Phụ nữ thời cách mạng phải mạnh bạo. Có mạnh bạo mới đấu tranh được”…
Ít lâu sau, chiến tranh bùng nổ. Người thiếu nữ đã đính hôn của Nguyễn Hữu Đang phải theo gia đình tản cư khỏi Hà Nội. Năm 1948, quân Pháp đánh rộng ra các tỉnh xung quanh, càn quét liên miên hai bên các trục đường giao thông lớn. Gia đình Nhiên không chịu nổi gian khổ phải trở về Hà Nội. Không thể một mình ở lại vùng tự do, Nhiên đành theo gia đình. Từ đấy tôi không còn dịp nào gặp lại Nhiên”…
Chiến tranh, rồi cuộc kháng chiến 9 năm, khiến cuộc hôn nhân không thành và hai người sống cách xa nhau, nhưng lời hẹn ước thì không ai đơn sai. Ngày kháng chiến thành công trở về với thủ đô giải phóng, cuộc sống bề bộn cùng những bi kịch của đời ông, nên tiếc rằng mối tình duy nhất của ông đã trở thành dang dở.
Sau này Nguyễn Hữu Đang không kể thêm về cuộc đời tiếp theo của người bạn gái nhưng cho đến cuối đời, mối tình ấy vẫn là một ký ức đẹp nhất của cuộc đời ông.
Năm 2007 ông qua đời ở tuổi 93, mang xuống tuyền đài tất cả những vinh quang, cay đắng, hạnh phúc và khổ đau.

Trường Sa
Tháng 4 năm 2014

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 13.08.2014

Người Việt đang rất xấu

Người Việt đang rất xấu

PGS-TS Huỳnh Văn Sơn
(Phó chủ tịch Hội Tâm lý học xã hội VN)

 Trong vài năm trở lại đây số lượng người VN đi du lịch nước ngoài mỗi năm một tăng nhanh, nhất là những ‘mùa’ du lịch như hè, Giáng sinh – tết Tây, tết ta… Và cũng từ đây, trong mắt của người nước ngoài, nhiều hình ảnh không hay của người VN đã xuất hiện và ngày càng rõ nét.

Một thói xấu thường thấy: tiểu tiện nơi công cộng

Điều này không những tạo nên sự trăn trở của những người bản xứ – nơi mà người Việt đến tham quan mà còn trở thành mối bận lòng của nhiều người có trách nhiệm với văn hóa Việt hôm nay.

“Xin mời ăn bao nhiêu lấy bấy nhiêu”

Hè năm ngoái, khi đi du lịch Thái Lan, vào một nhà hàng ăn buffet, tôi ngạc nhiên khi nhìn thấy cái biển ghi chữ tiếng Việt: “Xin mời ăn bao nhiêu lấy bấy nhiêu. Nếu ăn không hết sẽ phạt từ 200 baht đến 500 baht. Xin cảm ơn!”.

Chuyện ăn uống này đã thành câu chuyện buồn của khách du lịch Việt không chỉ ở Thái Lan mà còn cả ở Singapore. Tại Singapore, biển ghi bằng tiếng Việt (và chỉ có duy nhất tiếng Việt): “Lấy vừa đủ ăn”. Quả thật, phải vào tận nơi mới biết tại sao người ta phải trưng những cái biển đấy. Nhà hàng đông khách, ai ai cũng xếp hàng đợi đến lượt mình lấy đồ ăn. Bỗng dưng một cặp đôi người Việt từ đâu ùa tới chen ngang. Những người xung quanh chỉ biết lắc đầu cười. Hai người này lấy những năm, sáu con hàu, trong khi người phục vụ bàn đang tách từng con hàu một cho khách. Vào một nhà hàng khác thì lại gặp một anh người Việt ăn tham, bê mấy đĩa đồ ăn đầy bự về bàn, cứ như kiểu không lấy thì sợ ai “hốt” hết, ăn không hết rồi bỏ bê luôn.

 

Có thể nhìn nhận đây đã trở thành một thói quen xấu của người VN. Một thói xấu gần như khó sửa. Người Việt bất chấp cái bụng của mình có thể ăn được bao nhiêu, mà ăn bằng “mắt”, lấy cho sướng tay, kể cả những món ăn lạ, không hợp khẩu vị, và để trên bàn ngồi ngắm nhìn như thành tích, rồi bỏ đi, trong ánh mắt vừa khó chịu vừa kinh ngạc của những người xung quanh. Lý giải cho điều này thật nhiều chuyện phải bàn. Thói quen? Sự nhận thức lệch pha về khả năng ước lượng? Hay sự sang trọng tức thời? Hoặc một yếu tố nào khác?

Những tiếng xấu về ứng xử thiếu văn hóa của người VN ngày càng lan truyền mạnh mẽ. Sự thụt lùi về văn hóa đang trở thành một nạn lớn đối với thế hệ trẻ của đất nước. Đầu tiên chỉ là sự thiếu tôn trọng cá nhân nhưng sau đó sẽ thành sự thiếu tôn trọng, phân biệt đối xử cho quốc thể

“Đi vệ sinh nhớ dội nước”

Thêm một lần choáng nữa ở nhà vệ sinh khi tôi bắt gặp cái biển to tướng, đánh máy bằng tiếng Việt hẳn hoi “đi vệ sinh nhớ dội nước” được gắn trên một nhà hàng đồi cát trên đất Thái. Vẫn đáng chú ý là chỉ có mỗi tiếng Việt mà không có ngôn ngữ khác.

Chuyện đi vệ sinh cũng là chuyện tế nhị, và với du khách người Việt thì phải luôn có sự nhắc nhở “giữ vệ sinh chung”, như nhắc trẻ mẫu giáo, nhưng cũng chỉ là “nước đổ lá khoai”. Họ cứ thẳng tiến “vào”, và đi “ra” tự nhiên, để người đến sau phải nhăn mặt bởi những gì người đi trước để lại. Đã có những chuyện cười ra nước mắt ở châu Âu, du khách Việt bị nhốt trong toilet, bởi muốn cửa mở ra thì phải có động tác giật nước xả.

Còn chuyện xả rác bừa bãi thì nhiều vô kể. Hay gặp nhất là ở sân bay. Có lần tôi đang ở sân bay Đài Loan, vì thời tiết xấu nên bị hoãn chuyến bay lại 2 giờ. Sân bay đông người không đủ chỗ ngồi, rất nhiều người nước ngoài phải đứng. Thế mà một đoàn người Việt, toàn những người trẻ 8X, 9X lôi báo ra trải dưới sàn ngồi, lôi bài ra đánh reo hò ầm ĩ. Đến khi đứng dậy thì báo mỗi chỗ một mảnh, mặc đấy cho nhân viên sân bay dọn dẹp. Đúng hôm ấy, chủ đề tôi chia sẻ lại là: bản sắc văn hóa và mối quan hệ với hành vi ứng xử.

Bài nói làm tôi ngậm ngùi lâu không hẳn chỉ vì sự cảm xúc quá lên khi trình bày về văn hóa người Việt mà đó là những gì thuộc về lòng tự trọng.

“Sorry, turn back please”

Tôi ít khi nói về những gì mình trải qua nếu mình có điều kiện hơn những cá nhân khác dù chỉ là một nhóm. Nhưng kinh nghiệm học tập tại Singapore từ những năm sau đại học khoảng 1999 – 2000 đến những cơ hội tập huấn về tư vấn ở một vài quốc gia như: Philippines, Malaysia hay xa hơn là Đan Mạch thì chuyện ứng xử đặc thù của người Việt vẫn là sự trăn trở tất bật trong suy nghĩ mỗi khi tình cờ gặp đồng hương xa xứ. Vừa mừng, vừa lo vì không biết mình có phải nhạy cảm quá đáng… Hay chuẩn bị gặp một tình huống đặc biệt nào đó trong cuộc sống từ người đồng hương ấy.

Dép trong nhà vệ sinh công cộng cũng bị lấy cắp

Có lần tôi lang thang ở Singapore và tình cờ gặp một sinh viên rất trẻ được một giải thưởng công nghệ. Vốn đang nghiên cứu về nghệ thuật nói trước công chúng, tôi sẵn sàng nhận lời mời để tham gia buổi nhận thưởng của bạn ấy cách trung tâm TP 3 km. Cùng lên chuyến xe taxi do một tài xế người gốc Malaysia lái. Anh ta từ chối thẳng thắn, không chịu chở cả tôi và cậu sinh viên ấy khi hai lần đề nghị cài dây an toàn nhưng chàng trai cứ giả vờ không nghe thấy. Tôi hỏi cậu ta không nghe rõ à. Cậu bảo: Nghe chứ, nhưng bên mình có cần cài đâu. Đi có chút xíu cài chi cho mệt. Không chở thì đi xe khác…

Có lần tôi lang thang ở Disneyland từ sáng sớm đến khuya chỉ để làm một thao tác khá đơn giản. Vốn khi học sau đại học ngành quản trị hành vi trong tổ chức, tôi muốn xem xét hành vi giám sát thương mại ở các khu vui chơi. Chọn Disneyland làm điểm đến, tôi kiên nhẫn chờ đợi, quan sát.

Mọi sự cứ lặng lẽ trôi nếu như không có cảnh nao lòng và buốt dạ. Một du khách bị tống cổ ra khỏi vị trí cuối cùng khi chuẩn bị được dạo chơi để hàn huyên cùng chị hằng. Người phụ trách giám sát trưng ra bằng chứng là một hình ảnh. Ban đầu, vị khách ấy đứng sau khoảng 8 người khách Tây và 4 trẻ em trong nước (có lẽ là người Hồng Kông hay Trung Quốc). Nhưng hình ảnh ghi nhận từ camera cho thấy anh ta đã len lỏi hai lần để tiến hơn 12 bậc để được lên sớm. Hành vi ấy được thực hiện bằng cách khều người phía trước để ra hiệu tìm người quen, nhưng rồi khi đến vị trí mới, anh ấy lại “sorry” để tiếp tục thực hiện. Và người cuối cùng tìm được cũng không phải người quen.

“Sorry, turn back please”. Câu hỏi “Anh đến từ VN?” cất lên bởi giọng lơ lớ của cô nhân viên giám sát làm tôi điếng người. Cái đau như vọng từ tiềm thức về hành vi công cộng bị xem thường hay sự xem thường chính mình của người Việt? (Còn tiếp)

Và một chuyện xấu nữa có thể kể đến là việc đi mua sắm. Người Việt đi du lịch và mua sắm nhưng gần như không có nhiều kiến thức về hàng hóa. Do đó khi mua sắm, nhiều người đã trở thành “trưởng giả học làm sang”, mua sắm vô tội vạ, đua nhau mua theo kiểu “anh có gì ả có đó”, khi mua, lấy hàng chọn hàng vứt bừa bãi lộn xộn, bới tung cả lô hàng… chưa kể chuyện “rình” để ăn cắp vặt.

Tháng 6.2013, một bức ảnh chụp biển cảnh cáo hành vi ăn cắp vặt có in tiếng Việt (dưới là dòng chữ dịch sang tiếng Nhật) gây xôn xao. Tấm biển cảnh cáo có nội dung: “Ăn cắp vặt là phạm tội. Nếu ăn cắp vặt thì bị phạt tù dưới 10 năm. Ngay khi phát hiện ăn cắp vặt thì chúng tôi sẽ thông báo cho cảnh sát ngay lập tức”.

Tiếng xấu ngày càng lan truyền mạnh mẽ

Tất nhiên không thể đánh đồng tất cả người VN đều mang những “tật” trên, nhưng đó cũng là một bộ phận không nhỏ. Và trong mắt không ít người ngoại quốc, nhiều trường hợp khách du lịch VN đã trở thành “con sâu làm rầu nồi canh”. Những tiếng xấu về ứng xử thiếu văn hóa của người VN ngày càng lan truyền mạnh mẽ. Sự thụt lùi về văn hóa đang trở thành một tệ nạn lớn đối với thế hệ trẻ của đất nước. Đầu tiên chỉ là sự thiếu tôn trọng cá nhân nhưng sau đó sẽ thành sự thiếu tôn trọng, phân biệt đối xử cho quốc thể. Thử hỏi, với những tiếng xấu về văn hóa đó, làm sao thế hệ trẻ có đủ tự tin để hòa nhập và phát triển đất nước?

Tính cách có một phần yếu tố di truyền, song một phần lớn khác là do ảnh hưởng của sự giáo dục (trong gia đình, nhà trường) và môi trường xã hội tác động đến. Do đó, tính cách ấy không thể bất biến được. Muốn thay đổi tính cách, con người cần phải đặt trong môi trường nhất định. Nếu như trong một cộng đồng, một xã hội được thắt chặt kỷ cương, đạo đức xã hội, pháp luật nghiêm minh, người thực thi pháp luật không nể nang bất cứ ai, tạo ra xã hội thực sự dân chủ, minh bạch thông tin thì những thói xấu như tham ăn, háo danh, sĩ diện, tùy tiện… sẽ khó có đất mà tồn tại.

Ngoài ra, xã hội cần có sự tuyên truyền mạnh mẽ về việc chống lại các thói quen xấu đã, đang và có xu hướng được hình thành. Bản thân mỗi cha mẹ cần là một tấm gương sáng để con cái noi theo. Nhà trường cần chú trọng khâu rèn luyện đạo đức, nếp sống, thói quen cho trẻ. Bên cạnh dạy kiến thức, nhà trường và gia đình cần dạy dỗ nhiều hơn về văn hóa giao tiếp và ứng xử. Có như vậy mới góp phần đưa văn hóa VN trở thành một điểm sáng trong mắt bạn bè thế giới.

(Đọc tiếp…)

Ông Đặng Văn ViệtĐVV đang nhảy đầm

“PHÉP” SỐNG THỌ CỦA “CON HÙM XÁM ĐƯỜNG SỐ 4”

Nhà văn Nguyễn Khắc Phê

“Con Hùm Xám Đường số 4” là một trong rất nhiều “danh hiệu” mà người đời phong tặng cho “người lính già” Đặng Văn Việt (ĐVV), sau chiến dịch biên giới Cao-Bắc-Lạng (1950). Hồi đó, ĐVV là Trung đoàn trưởng trung đoàn 174 – một trong các trung đoàn chính quy đầu tiên của quân đội nhân dân Việt Nam, đã làm giặc Pháp kinh hồn không chỉ trên đường số 4; ông đã chỉ huy đánh thắng trên trăm trận, nên ông cũng có danh hiệu là “Nã Phá Luân nhỏ”, đối thủ gọi ông là “Un Général, un Maréchal sans étoile” (Một đại tướng, một Nguyên soái không sao); đồng đội thì gọi ông là “Anh hùng dân phong”… Có chuyện “không sao” và “dân phong” vì ông “vướng lí lịch”, nên đã phải sớm chuyển ngành sang Bộ Thủy sản, rồi Bộ Xây dựng.

 

(Đọc tiếp…)

Chống Trung Quốc xâm lược

Lại bàn về cái Gốc : Việt Nam chọn đồng minh chiến lược mới

Vũ Duy Phú

Hiện nay trong nhân dân đang nảy sinh những ý kiến mâu thuẫn nhau về nhiều vấn đề quốc tế, trong đó rõ nhất là “Chọn đồng minh chiến lược số 1”… Chẳng cần úp mở làm gì, hiện nay, rõ ràng VN đang đứng trước sức ép trong nước và thế giới về sự lựa chọn Mỹ hay Trung Quốc làm Đồng minh quan trọng nhất của mình.

Đặt vấn đề

1/ TQ đã từng là đồng minh chiến lược của VN suốt mấy chục năm vừa qua, khi mục tiêu quốc gia của VN và TQ trùng hợp với nhau. Hơn thế VN và TQ còn dựa vào nhau và tận tình giúp đỡ nhau thực hiện mục tiêu (việc VN giúp trở lại TQ – tạo bàn đạp chiến lược cho TQ – thì hầu như chỉ có những nhà chiến lược của các nước mới thấy rõ và đã ghi nhận). Nhưng nay, khi mục tiêu của TQ đã khác mục tiêu của VN (TQ muốn gấp rút trỗi dậy để thế chân Mỹ trong thế kỷ XXI ), thì VN lại ngẫu nhiên, trên quan điểm của TQ, trở thành “vật cản” tự nhiên của TQ trên đường đi của họ. Vì vậy, trên thực tế hành động, TQ đã đối xử với VN không khác một kẻ thù. Chính đó là cái khó cho VN, vì thực chất bây giờ là cần/phải từ bỏ quan hệ đồng minh chiến lược vốn có với TQ, để chống đỡ lại một TQ đang tự thể hiện như là kẻ thù của mình. Do vậy VN cần chọn thêm một đồng minh chiến lược mới cho giai đoạn cách mạng hiện nay.

 

2/ Mỹ đã từng là kẻ thù lớn nhất của VN suốt mấy chục năm qua cho đến năm 1975. Nhưng sau khi Mỹ đã nhận ra sai lầm chiến lược do nhầm lẫn tệ hại ngay từ năm 1945 đối với bản chất của Chính phủ VNDCCH, nên Mỹ đã có thái độ tích cực tham gia khắc phục những hậu quả sai lầm tại VN, và đặc biệt từ năm 2013, Mỹ đã bắt tay với VN trong quan hệ “đối tác hợp tác toàn diện”, đang ủng hộ và hỗ trợ VN chống lại bành trướng bá quyền Đại Hán/TQ. Vì vậy, hiện nay, Mỹ rất xứng đáng để VN chọn mời làm đồng minh chiến lược với mình, ngoài những đồng minh rất quan trọng đã có.

Như trên đã nói, trong thế giới phẳng ngày nay, nếu lãnh đạo một nước cần một sự lựa chọn lớn mà sai lầm, không chỉ bị nhân dân phê phán, chống đối, mà còn bị nhân dân thế giới chê cười và không đồng tình ủng hộ. Vì vậy, chọn đồng minh chiến lược số một là một bài toán rất lớn cho người lãnh đạo và cho đất nước. Rõ ràng, vừa qua VN đã từng chọn TQ là đồng minh chiến lược. Vậy nay giới lãnh đạo TQ tự biến mình thành kẻ thù của VN, thì có nghĩa tự họ đã vứt bỏ cái mác đồng minh chiến lược ấy đi. Còn Mỹ, bằng hành động và các quyết định cấp nhà nước của mình, thực tế là đã quên đi thời gian nhầm lẫn đen tối trước đây để bắt tay xây dựng mối quan hệ mới tốt đẹp với VN. Bản chất vấn đề đã sáng tỏ như vậy, thì nếu VN có luyến tiếc cái cũ hay sợ hãi cái mới cũng chẳng giúp ích gì, mà lại còn bị chê cười là kỳ dị, lú lẫn hay tránh né một sự thật!

Tình thế hiện nay bắt buộc VN phải nghiêm chỉnh xem xét tìm một đồng minh chiến lược số 1 mới để có chỗ dựa trong cuộc chiến đấu lâu dài xây dựng và bảo vệ đất nước trong thế kỷ XXI.

Để khách quan, tin tưởng quyết định của mình là đúng, và để nhân dân TQ (láng giềng hữu nghị) cũng phải thừa nhận sự thật và không thể phản đối, sau đây chúng tôi xin đưa ra một phương án (chủ quan, sơ bộ) so sánh lại cho cẩn thận ngay giữa TQ (đồng minh chiến lược số 1 cũ) với Mỹ (đồng minh chiến lược số 1 mới đang được đưa ra lựa chọn) không chỉ ở thời điểm hiện tại, mà tính đến cả những diễn biến trong tương lai ngắn hạn và trung hạn nữa.

I. Bàn về tiêu chuẩn chung

Rõ ràng cạnh tranh phát triển là một đặc điểm bẩm sinh. Mà cạnh tranh để chiếm ngôi “Đứng đầu thế giới” giữa các nước có tiềm năng là không thể tránh khỏi và gay go nhất. Tất nhiên chúng ta lựa chọn các đồng minh chiến lược, nhất là đồng minh chiến lược số một – tuy không phải là yếu tố bất biến – phải là sự lựa chọn giữa những nước đang đứng hàng đầu thế giới và đang ủng hộ chúng ta phù hợp quan điểm và lợi ích của đất nước chúng ta. Nhưng trước đó, để không mơ hồ, nhầm lẫn, và khách quan, chúng ta hãy xem xét vấn đề này theo một hệ tiêu chí chung của toàn cộng đồng Nhân loại.

Tiêu chí để lựa chọn đồng minh chiến lược văn minh theo lẽ đương nhiên là:

1. Thể chế chính trị, mô hình phát triển tiên tiến nhất, hay tiên tiến hơn;

2. Sức mạnh kinh tế, quân sự, văn hóa xã hội… ưu việt hơn;

3. Thái độ chính trị và các mặt quan trọng khác của họ đối với nước đang tìm chọn phải là tốt hơn. Đây có lẽ là điều quan trọng nhất;

4. Thái độ của thế giới, của khu vực đối với nước được lựa chọn là tốt hơn;

5. Ảnh hưởng của những yếu tố gắn bó quan hệ truyền thống, lịch sử giữa 2 bên.

Điều cần lưu ý ngay là, các tiêu chuẩn trên chủ yếu được đánh giá tại thời điểm hiện nay.Vì vậy, rất cần thêm điểm phân tích thứ 6:

6. Sự thay đổi trong tương lai gần và trung hạn các tiêu chí nói trên của từng nước được đưa ra lựa chọn.

II. Đi vào cụ thể

Về tiêu chuẩn 1 và 2: Đến thời điểm hiện nay 2014, thì chính TQ cũng phải thừa nhận rằng, về tổng thể, Mỹ đang vượt trội hơn TQ. Vì vậy, thế giới và chính TQ mới gọi Mỹ là siêu cường đứng đầu thế giới, thừa nhận thế giới còn đang “độc cực”, còn TQ mới đang phấn đấu “mở hết tốc lực” để đuổi kịp, và tự gọi mình là “nước đứng đầu thế giới tiềm năng” (xem trong “Giấc mộng Trung Hoa” của chính TQ). Vậy nếu chỉ xét điểm 1 và điểm 2, cộng với thái độ cụ thể rất rõ rệt không cần bàn cãi về vấn đề thời sự Biển Đông của TQ đối với nước ta hiện nay (TQ thì chèn ép, xâm lược, dã man tàn bạo), còn Mỹ, và thế giới thì bênh vực, ủng hộ VN (nội dung thời sự quan trọng của điểm 3 và 4), nên nếu chúng ta không chọn Hoa Kỳ là đồng minh chiến lược số một, trong khi Mỹ đã sẵn sàng, để đối phó lại với TQ thì thế giới và nhân dân nước ta có thể coi đó là một điều kỳ lạ, hay kỳ dị!

Có lẽ điều kỳ lạ đó được giải thích như sau: Để chọn đồng minh chiến lược số 1, ta không nên chỉ dựa vào tình thế hiện tại. Vấn đề Biển Đông như vậy mà bị xem chỉ là một “đụng chạm nhỏ” (!), mà cần xét kỹ cả những yếu tố quan hệ lịch sử nữa (điểm 5, đã nói ngắn gọn trong phần mở đầu) và chiều hướng chuyển biến toàn cục trong tương lai ngắn hạn và trung hạn (điểm 6).

 Vì vậy, sau đây, để hoàn toàn an tâm, tôi sẽ phân tích ngắn gọn toàn diện lịch sử và triển vọng diễn biến phát triển (về điểm 6), của Trung Quốc và Mỹ trong tương lai:

Về so sánh cụ thể mạnh hay yếu và diễn biến sắp tới của 2 nước ứng viên

2.1. Hoa Kỳ

- Về tiêu chuẩn thể chế chính trị: Thể chế chính trị của Mỹ là thể chế mà tại thế kỷ XXI này mọi quốc gia trên thế giới đang hướng tới, đó là “Nhà nước pháp quyền tam quyền phân lập, Thị trường tự do hướng tới thị trường xã hội và Xã hội dân sự hiện đại” (dẫn đầu xu thế tất yếu trung hạn: Toàn cầu hóa TBCN). Bởi thế ngay từ khi Mỹ ra Tuyên ngôn lập nước, Các Mác đã viết: “Hoa Kỳ là nơi đầu tiên sản sinh ra tư tưởng của nước cộng hòa dân chủ vĩ đại”, Mác coi “Tuyên ngôn độc lập” năm 1776 của Hoa Kỳ là “Tuyên ngôn nhân quyền đầu tiên của Nhân loại”. Mác cũng đánh giá rất cao “Tuyên ngôn giải phóng” nô lệ của Mỹ năm 1863, vì vậy ông đã “thay mặt Quốc tế Cộng sản I phát đi lời chúc mừng đầy nhiệt huyết”. Còn Tôn Trung Sơn sau khi quan sát nghiên cứu kỹ tình hình nước Mỹ, đã ca ngợi: “Mỹ là nước văn minh tiên tiến, là nước cộng hòa đầu tiên trên thế giới”, ông đã khuyến khích người TQ học tập Mỹ, trước hết là học tập tinh thần cách mạng và xây dựng đất nước của Mỹ. Còn Mao Trạch Đông thì “quyết tâm đuổi kịp và vượt Mỹ trong vòng 15 – 20 năm”. Hồ Chí Minh ngay từ 1945 đã vận dụng mô hình chính trị của Hoa Kỳ. Hiện nay những chính khách tầm cỡ của giới tư bản Mỹ đã nhận định: Hoa Kỳ hiện nay đã chuyển từ CNTB đế quốc sang CNTB dân chủ. Còn chính giới Trung Quốc hiện nay thì nhận định rằng: “Hoa Kỳ đã tự do dân chủ một nửa, là tự do dân chủ đối với trong nước, còn vẫn là bá quyền đối với nước ngoài”, vả lại, Mỹ mới chỉ có “dân chủ theo chiều ngang” (xem giải thích tại phụ lục (*)). Như vậy có thể kết luận: Về mặt thể chế, chưa có nước nào được các chính khách lớn trên thế giới đánh giá cao như vậy. Tuy nhiên: Cái sai lớn nhất của Mỹ là: a) đã để hình thành các “tập đoàn kinh tế” toàn cầu không có cơ chế kiểm soát hữu hiệu và ngăn chặn độc quyền ngay từ đầu. Các tập đoàn này đã biến thành “Siêu quyền lực” điều khiển cả Chính phủ Mỹ và Thế giới; b) Thái độ ứng xử với thế giới rất chủ quan, tự mãn kiêu căng; nhiều khi lợi dụng thực hiện chức năng sen đầm thế giới để trục lợi quốc gia và các tập đoàn…; c) Khi bị nhân dân thế giới chống lại, đã có thời kỳ thi hành chính sách phản động: “Không theo ta là kẻ thù”, gây chiến tranh bảo vệ quyền lợi quốc gia và đồng minh với rất nhiều nước; d) Nhầm lẫn trong chủ trương chống “CSVN” (tưởng rằng Hồ Chí Minh tuân theo đường lối QTCS III), đó là sai lầm chiến lược trong chiến tranh ở VN.

Với tất cả những thành công to lớn từ khi lập nước và những thất bại nặng nề đã trải qua tại nửa sau thế kỷ XX, nước Mỹ đã đủ thông minh – và đủ tiềm lực – để bắt đầu “Tìm lại giấc mơ cũ”. Từ cuối thế kỷ XX, Mỹ đang chuyển dần từ “Chủ nghĩa tư bản đế quốc” sang “Chủ nghĩa tư bản Dân chủ” mà Obama là đại diện (theo sự chứng minh của John Perkins, một chính trị gia nổi tiếng của Mỹ). Mỹ cũng đã nhận thấy sai lầm ở VN và đang tự giác đền bù lại sai lầm của mình, đã quyết định coi VN là “đối tác hợp tác toàn diện”.

- Về các nội dung kinh tế, KHCN, quân sự, văn hóa, xã hội dân sự…: hầu như nước Mỹ đều đứng đầu bảng, hoặc vẫn vào tốp đầu, ví dụ về thu nhập bình quân đầu người của Mỹ còn kém một số nước. Chính vì vậy Mỹ mới được thừa nhận rộng rãi là siêu cường hùng mạnh nhất thế giới.

Vậy tại sao Mỹ lại có được vị trí như vậy? Cái lòng tham phổ quát toàn cầu nó đóng góp vào thành tựu này của Mỹ như thế nào?

Quả thật, với lòng tham vốn có của con người và sự dũng cảm vượt đại dương sang kiếm sống tại lục địa Hoa Kỳ của những người Châu Âu đầu tiên đã dựng nên nước Mỹ hơn 200 năm trước đây. Bản thân cái tên “Hợp chúng quốc Hoa Kỳ” đã nói lên rằng, nước này không có gì trong quá khứ để tự hào, luyến tiếc, và cũng chẳng phải là nô lệ của một cái gì xấu xa trước đó, hay một lịch sử dân tộc “hàng mấy ngàn năm” trì trệ. Vì vậy, khi những công dân Mỹ đầu tiên (mang theo mình những trí thức khai sáng của Châu Âu là chính, nơi vừa rũ bỏ thành công chủ nghĩa phong kiến tập quyền mất dân chủ tự do, đang bắt đầu xây dựng chủ nghĩa tư bản với những đặc điểm cơ bản như chúng ta đã thấy: Nhà nước pháp quyền, thị trường tự do và xã hội dân sự) họ sang mảnh đất hoang sơ này để được hoàn toàn tự do dân chủ bình đẳng cạnh tranh lao động kiếm sống. Và để hòa bình, yên ổn làm ăn, họ đã tự mình xây dựng một thể chế tổ chức quản lý đất nước, đấu tranh “thống nhất giang sơn’ và chống xâm lược. Mô hình của Châu Âu Tư bản chủ nghĩa đã được người dân Mỹ tham khảo và nhanh chóng được họ cải tiến tốt hơn cho chính nước họ. Trong quá trình phát triển TBCN, Tư bản Mỹ, với “lòng tham của con người” và với hoàn cảnh thuận lợi – tự mình làm chủ – như đã nói, nước Mỹ đã nhanh chóng trở nên hùng cường, đủ “khôn” để bành trướng ra thế giới. Nhưng tại sao họ không đi chiếm thuộc địa, mở mang bờ cõi, xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải của các nước xung quanh? Bởi lẽ họ có đủ thông minh: a) Vì họ tôn trọng bản đồ thế giới đã hình thành, và học được bài học thất bại của các nước TBCN thực dân đi trước; b) Vì với KHKT tiên tiến nhất thế giới, với những sản phẩm chất lượng, tinh xảo hàng đầu, Mỹ nhận thấy rằng, cứ thuyết phục các nước “mở cửa” thị trường thì Mỹ sẽ thống lĩnh được kinh tế thế giới không cần chiến tranh (cái ý ấy là đặc sệt “cá nhân chủ nghĩa”, khôn ngoan, nhưng là tiên tiến cho đến tận ngày hôm nay). Mỹ đã cố gắng đứng ra làm “Sen đầm” giữ trật tự thế giới để cùng cạnh tranh trong hòa bình, yên tâm rằng, chừng nào KHCN và sản phẩm công nghệ cao của Mỹ vấn đứng đầu thế giới. Thái độ chống CNCS gay gắt cũng chính là vì Mỹ sợ cái đường lối đưa công nông (nghèo khó, ít học) lên lãnh đạo, xóa bỏ thị trường tự do thì nó sẽ chặn đứng, thậm chí tiêu diệt cái chủ trương tự do dân chủ cạnh tranh thị trường theo tài trí sáng tạo của mọi công dân; c) Vì một điều may mắn: đất Mỹ đã đủ rộng cho khoảng 2-300 triệu dân.

Tất cả những cái xấu xa cũ đã thúc ép, và tất cả những cái tốt đẹp vốn có đang tạo ra khả năng để Hoa Kỳ có thể chuyển dần từ CNTB đế quốc, về CNTB Dân chủ, cơ hồ có thể tìm lại giấc mơ cũ trong các bản Tuyên ngôn nổi tiếng của nước Mỹ. Mỹ rất xứng đáng là đồng minh chiến lược số 1 của VN.

 

2.2. Trung Quốc

Khác hẳn với Mỹ, nếu đem hệ thống thang bậc tiến hóa abc của thế giới ra áp vào TQ, thì hầu như TQ đang đứng ở bậc trung bình về hầu hết các nội dung, trừ tổng lực kinh tế đứng thứ hai (của 1,3 tỷ dân, trong khi Mỹ chỉ có trên 300 triệu dân), chinh phục vũ trụ và số lượng trang bị quân sự là đạt được hàng thứ ba, thứ tư thế giới. Trung quốc có lịch sử chí ít cũng đến 3, 4 ngàn năm. “Hiện nay tại TQ đang nổi lên trạng thái tâm lý rất cực đoan đang thịnh hành ở nước này liên quan đến cái gọi là tính ưu việt về chủng tộc của Trung Quốc, chủ nghĩa quân phiệt, và trường phái lý luận coi ý chí chính trị đóng vai trò quyết định tối hậu của nước này” (Theo TTX VN). Tâm lý ấy đang động viên Trung Quốc “chạy hết tốc lực” để trở thành “quốc gia số một” hay “cường quốc đứng đầu thế giới” thay thế Mỹ. Nhưng vì cái gì, để cho ai, thì các nhà lý luận chiến lược của TQ chưa trả lời được rõ ràng. Một số chuyên gia TQ nói rằng, “để TQ làm mẫu, tạo mô hình tân tiến “dẫn dắt” thế giới” (!).

Trên cơ sở nào xuất hiện tư duy nôn nóng, vội vã độc đáo ấy? Đây là truyền thống thông minh, sáng tạo, tiên tiến đặc sắc; hay ý muốn chủ quan siêu hình, lập dị, ảo tưởng; là sự bừng tỉnh của một số người TQ tiên phong đã từng đi tham quan khảo sát ở các nước phương Tây; hoặc đơn giản chỉ là biểu hiện của lòng tham không đáy, muốn có sức mạnh để lặp lại những sai lầm của CN thực dân đế quốc hay phát xít trước đây?

Sau đây là điểm qua mấy nguyên nhân:

1. TQ là nước lớn nhất cả về dân số lẫn đất đai và lịch sử văn hóa lâu đời. Vậy thì TQ hèn kém gì mà không đặt cho mình mục tiêu trở thành một nước đứng đầu thế giới? (**)

2. Trung quốc đã từng là cường quốc kinh tế thế giới. Đã từng có nền văn minh Trung Hoa nổi tiếng “nhân đạo và hòa bình” (!) thời Trung Đại, đã phát minh ra giấy, thuốc súng, la bàn, đã tự sáng tạo ra chữ viết và các triết giáo nổi tiếng như Đạo Lão, Đạo Khổng; TQ có định hướng thể chế tân tiến (XHCN đặc sắc TQ), có mô hình hiện đại là “Dân chủ theo chiều dọc” (xem phụ lục), có sức mạnh của “Trung Quốc vương đạo” không bao giờ phai lạt… Vậy TQ có quyền “lập chí” đứng đầu thế giới!

Nhưng TQ đã cố bỏ qua cái Gốc: Vì lý do gì TQ đã từng có vị trí đứng đầu thế giới phong kiến, nhưng sau đó đã để mất tư thế đó, thậm chí đã trở thành “một nước nghèo yếu nhất thế giới để cho các nước tư bản phương Tây sâu xé suốt gần một thế kỷ”, như Tôn Trung Sơn đã từng nói? Đó là vì: a) Trung Quốc đã chìm sâu vào Chủ nghĩa phong kiến, đã hoàn thiện, chăm chút, tô điểm, nâng cấp cái chủ nghĩa “Trung quân Vương đạo” này đến mức tinh xảo, ưu việt nhất trong “Thế giới phong kiến” toàn cầu. Nếu Chủ nghĩa phong kiến trên thế giới có những đặc điểm gì cản trở sự tiến hóa văn minh, thì chủ nghĩa phong kiến của TQ luôn thuộc loại đứng đầu. Người TQ vẫn tự hào về nền văn hóa cổ kính của mình, đặc biệt cái đỉnh cao của nó là Đạo Khổng, chuyên dạy người ta phải sống có nhân nghĩa, đạo đức (đó là cái tốt), nhưng thực chất trước hết là để hết lòng trung thành với nhà vua (Chủ nghĩa Trung quân) (mâu thuẫn với nhân nghĩa, đạo đức); b) Các vua chúa phong kiến rất ghét tư duy Dân chủ, độc lập, sáng tạo, sự tự do, thậm chí ghét đến mức rất nhiều triều đại cho quân lính tịch thu đốt hết sách vở, bắt giết cả trí thức có ý vươn ra ngoài quy chế lễ giáo phong kiến, nhất là tại các “thuộc quốc” để triệt tiêu sự nổi dậy. Bởi họ coi những thứ đó là rất nguy hiểm cho chế độ vương đạo, cho ngai vàng của họ; c) Nói về cái bệnh phổ quát của con người là bệnh tham lam, thì có lẽ TQ là tập hợp chứa chấp một số nhóm người tham lam nhất thế giới. Không ai dám bịa: Chính những nhóm người này là hạt nhân cực kỳ lợi hại, nguy hiểm của Chủ nghĩa bành chướng bá quyền phong kiến cực đoan Trung Hoa. Do lòng tham vô độ, nhưng thay vì nghiên cứu sáng tạo KHCN, làm ra sản phẩm mới, thì họ lại không ngừng nghỉ “sáng tác” ra mọi mục tiêu và mưu mẹo xảo trá dã man thâm độc để “mở mang” bờ cõi, xâm chiếm đất đai, đồng hóa các dân tộc khác chung quanh, không để cho người ta sống hòa bình, yên ổn. Đó là nguyên nhân dẫn đến kết quả không ngờ: Từ một vùng đất rộng lớn, trên đó cư trú trên hai chục quốc gia độc lập (như kiểu các quốc gia độc lập Châu Âu tồn tại cho đến hiện nay), họ đã đánh chiếm bằng cả quân sự lẫn mưu mẹo, rồi bằng mọi cách đồng hóa bên bị thua để các nước thua không thể đòi tách ra độc lập trở lại như cũ được nữa (Dấu vết của cái dã tâm xâm chiếm đồng hóa này vẫn còn chưa kịp hoàn thành đến giờ này, đó là các vùng Tân Cương, Tây Tạng và Nội Mông…)(***); g) Chính vì Chủ nghĩa trung quân được điêu luyện trên đất TQ, nên nó đã triệt tiêu đến tệ hại mọi ý chí vươn lên sáng tạo và cạnh tranh phát triển KHCN, sản xuất sản phẩm cao cấp hiện đại, đời sống văn hóa và thể chế chính trị phi phong kiến…, làm cho đất nước Trung Hoa ngày càng tụt hậu so với thế giới hiện đại như Tôn Trung Sơn đã nhận xét (người đã rất nhiều lần tìm đường sang phương Tây quan sát, học hỏi).

Bây giờ một số giới TQ với đầu óc dân tộc rất cao, có chí hướng lớn, có tầm nhìn rất “chiến lược”… đã gợi dậy tinh thần xô vanh nước lớn của Nhân dân TQ để thực hiện ý đồ chính trị của mình (“nước mà đứng đầu, thì dân sẽ rất có lợi”). Tôn Trung Sơn đã từng nói: “Người TQ phải làm nên những kỳ tích vĩ đại nhất của Nhân loại” (!), “Phải xây dựng TQ trở thành quốc gia “4 nhất’: Mạnh nhất thế giới, giàu nhất thế giới, nền chính trị tốt nhất thế giới, dân chúng hạnh phúc nhất thế giới”. Những tư tưởng đó thật vĩ đại, thật đặc sắc. Và Tôn Trung Sơn cũng đã nói: “Thế giới phải hòa bình, thế giới phải đại đồng. Mong muốn người TQ sẽ đảm bảo hạnh phúc lớn nhất cho nhân loại, làm nên kỳ tích lớn nhất cho nhân loại, không chỉ mang lại lợi ích cho một dân tộc, một quốc gia, mà là cho toàn thể nhân loại”. Giải pháp của Tôn Trung Sơn đưa ra là theo bước chân của Hoa Kỳ.

Vậy tại sao bây giờ TQ đi ngược lại 180 độ những lời chỉ giáo của lãnh tụ của mình, phải “tăng tốc tận lực” bóc lột nhân dân TQ, phải dùng biện pháp bành trướng bá quyền ra chung quanh, chà đạp lên luật pháp quốc tế và quyền lợi các nước khác để thực hiện mục tiêu phát triển thành một “nước lớn đứng đầu” thế giới?

Có rất nhiều lý do khác nhau:

1. Về chính trị. Tôn Trung Sơn đã dạy: Muốn phát triển, TQ phải thực thi Tam quyền phân lập (Lập pháp, tư pháp, hành pháp) như các nước phương Tây, thậm chí cần sáng tạo thêm, thực hiện “Ngũ quyền phân lập”, tức phải thêm “hai quyền phân lập” nữa, là thêm chế độ chất vấn và thi cử (như chất vấn quốc hội, tranh cử nghị sĩ và tổng thống). Tôn Trung Sơn còn nói: “Nếu TQ có thể đi theo con đường cách mạng của Mỹ, thì kết quả tương lai đương nhiên sẽ tốt đẹp hơn Mỹ”. Nói tóm lại, đáng lẽ là phải Tự do dân chủ đa nguyên như phương Tây, và hơn phương Tây. Nhưng Mao Trạch Đông và phe phái của Mao cầm quyền thì lại rất nôn nóng, tôn sùng, học theo nhà độc tài Stalin và lãnh chúa khát máu Tần Thủy Hoàng… để thực hiện ý đồ không lành mạnh “chạy cho thật nhanh” để soán ngôi cường quốc chủ trì thế giới nhằm trục lợi! Vậy bao giờ TQ mới “dẫn dắt” được thế giới về chính trị, về mô hình phát triển?

2. Về kinh tế. Để phát triển trỗi dậy, đương nhiên phải tự chăm sóc nội lực và quan hệ tốt với thị trường quốc tế. Nhưng với phương châm nóng vội “chạy cho thật nhanh” thì TQ không thể theo mô hình dân chủ cạnh tranh bình đẳng tự nhiên như các nước, vì cái này đòi hỏi thời gian dài. Vì thế TQ đã dùng mọi mưu ma chước quỷ dụ dỗ các nước phương Tây, sau khi Mỹ thua tại VN nên gặp nhiều khó khăn, để họ sẵn sàng giúp biến TQ thành “công xưởng của thế giới” để TQ tự bóc lột mấy trăm triệu nhân dân nước mình, thông qua thu hút đầu tư, công nghệ và giải quyết thị trường bên ngoài. Việc TQ coi thường luật pháp quốc tế và các quan hệ láng giềng, đã hung hăng bành trướng bá quyền ra các nơi chung quanh không cần dấu diếm như đang thấy, chính là nằm trong chiến lược “chạy thật nhanh” để chiếm “vị trí đứng đầu thế giới” nói trên. Sự nôn nóng, ăn xổi đó đã dẫn đến tác hại mà chính một chuyên gia TQ đã cho biết: “Nền kinh tế TQ có 16 cái “tử huyệt”, nếu phương Tây mà “trừng phạt” vào đấy, thì kinh tế TQ có thể gục ngay sau vài tháng”. Vậy bao giờ TQ mới ở vị trí “Dẫn dắt” thế giới về kinh tế như họ muốn ?

3. Về KHCN và kỹ thuật quân sự. Sự lạc hậu về KHCN và KT quân sự của TQ có nguyên nhân sâu xa từ chế độ tập quyền phong kiến, như đã nói (nên mới bị các nước phương Tây và Nhật “bắt nạt”). Vì việc tự lực nâng trình độ KHCN và kỹ thuật QS lên không thể nhanh, cho nên TQ đã có cực nhiều sáng kiến “sao chép” mọi lĩnh vực KHCN của thế giới, đã khôn khéo lôi kéo được các chuyên gia KHCN và KT quân sự LX chạy sang, đồng thời cũng huy động được các trí thức chuyên gia TQ học tại các nước phương Tây trở về. Tình báo thu thập thông tin KHCN và KT QS của TQ cũng phát triển rất mạnh. Một chân lý: Khi đã ngang bằng, mà muốn vượt lên, thì phải bằng chính trí tuệ và sức lực của mình. Nhưng chính các chuyên gia chiến lược KHCN, Kỹ thuật quân sự của TQ cũng mới chỉ hy vọng rằng: TQ sẽ sớm bỏ qua vị trí thứ ba trong lĩnh vực sức mạnh này. Vậy bao giờ TQ mới “dẫn dắt” được thế giới về những mặt KHCN và KT quân sự ?

Tóm lại, cái mối lo và đáng ngại nhất của thế giới đối với TQ thực chất là sự hung hăng và ý chí nóng vội “chạy thật nhanh”. Cái đáng gờm thứ hai là sự tàn bạo mưu mô sảo quyệt dã man của TQ, không chỉ đối với bên ngoài, mà họ dám làm đối với ngay trong nước họ, để diệt những ý tưởng chống đối sự mất dân chủ và bất chính. Nhưng 2 cái đó chỉ là sức mạnh đe dọa tạm thời, không cơ bản, chỉ có thể hữu hiệu cho những mục tiêu cụ thể trước mắt. Trước đây, TQ chê Mỹ và phương Tây là Cường đạo dã man, còn TQ sẽ là Cường đạo văn minh. Nhưng nay, thực tế đang diễn ra là đã đảo ngược lại. Điều đó không có gì khó hiểu: TQ đi sau phương Tây khoảng một thế kỷ. Họ không thể không trải qua những bước tiến hóa theo trật tự quy luật, nhưng vì nôn nóng, để rút thật ngắn, họ buộc phải tìm cách nhảy cóc bằng “cơ bắp” và thủ đoạn gian dối.

Mặc dù TQ đã có thời đứng hàng đầu thế giới, nhưng nên nhớ, đó là hàng đầu trong thể chế và văn minh phong kiến. Nên thực tế không thể chối cãi là TQ hiện nay đang giống nhiều nước phương Tây trước thế chiến một và thế chiến hai. Vì vậy, trong khi Mỹ đã chuyển sang CNTB Dân chủ, thì Tàu mới bắt đầu đi vào giai đoạn Tiền TBCN, để rồi sau đó sang nửa đầu thế kỷ XXI này mới “định hướng” đạt đến giai đoạn CNTB đế quốc như Mỹ tại nửa sau của thế kỷ XX vừa qua. Chính Mao Trạch Đông, sau khi thất bại nặng nề trong “Đại nhẩy vọt” đã điều chỉnh thời gian cần để TQ vượt Mỹ từ 15 – 20 năm lên 50 – 100 năm. Còn Đặng Tiểu Bình thì nêu thời gian để TQ tiến lên vượt trước Mỹ, đứng đầu thế giới là “nửa sau của thế kỷ XXI”. Chúng tôi, căn cứ sự tiến hóa văn minh của Nhân Loại, thấy rằng, mỗi thế kỷ tiếp sau, các thế hệ CON NGƯỜI mới sinh ra lại có bao điều mới mẻ, tiến bộ thông minh hơn các thế hệ trước, do đó nếu Bồ Đào Nha chỉ giữ được vị chí “đứng đầu thế giới” gần 1 thế kỷ, Hà Lan giữ được “cường quốc đứng đầu” trên 1 thế kỷ, nước Anh đứng đầu thế giới khoảng 2 thế kỷ, thì Mỹ có thể đủ thông minh, tài trí để giữ được vị trí đứng đầu thế giới khoảng từ 2 đến 2,5 thế kỷ. Còn TQ, vì bắt đầu tham gia vào cuộc đua quá chậm, không đi từ CNTB Dân chủ hàng ngang, mà từ “CNTB đặc sắc Dân chủ hàng dọc”. Điều đó bắt buộc TQ phải đi từ giai đoạn, về thực chất, là “Tiền TBCN” (ít nhất vài chục năm như đang tiếp tục diễn ra trong nước), sau đó mới “tiến” lên CNTB đế quốc (nửa thế kỷ nữa), rồi sau nhiều thất bại (như TB phương Tây trước đây) mới tỉnh ngộ để tham gia phấn đấu tiến tới CNTB Dân chủ (dự kiến 1 thế kỷ). Hiện nay, 2014, đối với trong nước, thì TQ vẫn đang ở giai đoạn Tiền TBCN, đối với ngoài nước thì TQ đã bắt đầu “nhảy cóc” đi vào giai đoạn CNTB đế quốc. Có kết quả lệch pha như vậy, chính là do “ý chí vươn lên đuổi kịp và vượt” ghê gớm của giới cầm quyền, bắt đầu từ Mao Trạch Đông. Theo quy luật thế giới, TQ cần trải qua một số thất bại mang tính quyết định, cái đó tuỳ tình hình lực lượng các bên trên thế giới, sau đó – theo đúng quy luật – có thể TQ mới bước vào giai đoạn CNTB Dân chủ như Mỹ hiện nay được. Nên nhớ: Thất bại của “Đại nhảy vọt” 1958 của Mao Trạch Đông chưa phải là thất bại của CNTB đế quốc Trung Quốc, mà mới là thất bại của “ảo tưởng” công xã nhân dân trong giai đoạn hướng theo chế độ XHCN.

Lịch sử trỗi dậy của những nước lớn không phải ở dân số đông, diện tích rộng, mà là ở chí hướng, ở sức mạnh trí tuệ, trình độ văn hóa xã hội của nhân dân, và tầm nhìn nhân bản của lãnh đạo nước họ. Một khi chí hướng đã bị đặt sai lệch, trí tuệ không đầy đủ, đạo đức lại yếu kém, thậm chi điên rồ, dã man… thì chẳng được chính nhân dân nước mình ủng hộ, nói gì có sức mạnh thật sự để sớm vươn lên thành “nước lớn vĩ đại”, có mô hình “dấn dắt” để được chúng ta tự nguyện chọn làm “Đồng minh chiến lược”.

Tuy nhiên, cần thấy trên đây chỉ là đạo lý nghiêm chỉnh, là tư duy của những người có thần kinh bình thường. Còn TQ là một nước lớn sát ngay biên giới và biển đảo với VN, từ ngàn xưa đã nhiều lần xâm chiếm VN, nay rất muốn chi phối, bắt VN thành thuộc quốc, phên dậu cho họ, dắt mũi được lãnh đạo VN nhiều năm dài, nên VN không thể không tính đến, không thể không đề phòng tình hình bất trắc đối với một TQ “đồng chí” dởm như vậy, khi họ bị VN gạt ra khỏi “vị trí” vẫn muốn có của họ. Để khắc phục sự lo lắng, băn khoăn, dẫn đến lưỡng lự, mâu thuẫn nội bộ, bỏ lỡ cơ hội mà chính TQ và Thế giới đã mở ra cho VN nắm lấy, thì chúng ta cần trước hết phải dũng cảm thuyết phục, loan báo được cho toàn dân, toàn đảng và bạn bè thế giới biết về bản chất cái Gốc của vấn đề như đã trình bày ở trên.

Cuối cùng, nếu có lo rằng, liệu Mỹ có duy trì lâu dài được vai trò “đứng đầu thế giới”, thì đó là một tư duy chiến lược nghiêm chỉnh, nhưng cái đó không chỉ phụ thuộc chính vào nước Mỹ. Nếu TQ chẳng hạn, sau này sẽ vươn lên đạt tiêu chuẩn, chúng ta sẽ lại đem ra xem xét và điều chỉnh sự lựa chọn đồng minh chiến lược số 1 của mình. Cái khó cho VN trong việc hoán đổi đồng minh chiến lược hiện nay là TQ thì không muốn VN từ bỏ đồng minh số một với TQ, để TQ có thể tiếp tục thực hiện Dân chủ chiều dọc tới VN (như Dương Kiết Trì vừa mới thực hiện, sang chỉ thị cho lãnh đạo VN nhưng không dám công khai cho nhân dân biết), còn VN thì cần dũng cảm thực thi Dân chủ chiều ngang đầy đủ để nhân dân Mỹ cho phép chính phủ Mỹ nhận VN là đồng minh chiến lược. Vì vậy, đây chính là cái Gốc cực kỳ quan trọng hàng đầu trong quan hệ quốc tế đối với sự nghiệp bảo vệ đất nước chính nghĩa của VN, mà chúng ta phải nắm được. 

Tóm lại, chúng ta vẫn chân thành hữu nghị với nhân dân TQ, chúc họ sẽ sớm đạt danh hiệu mà họ mong muốn là “Quốc gia hàng đầu” và tham gia “dẫn dắt thế giới”, nhưng tại giai đoạn này, nhân dân ta cần cương quyết, cố gắng, dứt điểm tiếp nhận thời cơ trăm năm có một và những tư vấn chân tình của bạn bè quốc tế để chọn một đồng minh chiến lược số 1 của mình, đó là Hoa Kỳ – nước đứng đầu CNTB Dân chủ, đương kim siêu cường thế giới.

Mặt khác, cũng rất mong muốn thế giới sẽ từ bỏ “Mô hình” độc cực một siêu cường đứng đầu, phấn đấu để toàn cầu trở nên đa cực nhiều siêu cường, từ đó thế giới sẽ có thể tồn tại cân bằng trong hòa bình dân chủ và văn minh.

Hà Nội, ngày 28 tháng 7, năm 2014

V.D.P.

Chú thích: Đây là phương án sơ bộ (dự thảo) về “chọn Đồng minh”. Nếu ai có thời gian và quan tâm, xin đưa ra phương án “chọn Đồng minh” tốt hơn để nhân dân và chính quyền tham khảo, chắc chắn sẽ được mọi người hoan nghênh.

 

Phụ lục

(*) Xin giải thích rõ, đi từ hình ảnh cực đoan để diễn tả:

Dân chủ theo chiều ngang điển hình đầu tiên là dân chủ tại một cái chợ thời xã hội hoang sơ, Dân làm chủ thật sự, nhưng tự phát, thiếu kỷ cương, đôi khi hỗn loạn. Bây giờ Dân chủ chiều ngang đã tiến tới Dân làm chủ có tổ chức, cạnh tranh đa nguyên, đa đảng, nhà nước pháp quyền, thị trường tự do có kiểm soát và xã hội dân sự lành mạnh.

Dân chủ theo chiều dọc từ trên xuống, điển hình nhất là chế độ tù trưởng, lãnh chúa, vua quan đứng đầu, vương triều chỉ đạo, có tham khảo ý kiến một số thần dân. Sau đó nâng cao bằng học thuyết Khổng Tử, Đến bây giờ là độc đảng toàn trị, có “bầu bán dân chủ” dưới sự “lãnh đạo liên tục của một đảng “sáng suốt” độc quyền duy nhất”.

Thực ra hiện nay, thể chế dân chủ tự do đa nguyên phương Tây là đã có kết hợp nhuần nhuyễn Dân chủ chiều dọc với Dân chủ chiều ngang rồi. Cụ thể là, Dân chủ chiều ngang dùng để toàn dân lựa chọn Thể chế, Hiến pháp, và lựa chọn tự do công bằng một đảng cầm quyền vừa ý nhất theo nhiệm kỳ, sau khi Dân đã dân chủ chiều ngang lập ra Hiến pháp và chọn ra một đảng cầm quyền rồi, thì đảng đó được quyền thực hiện Dân chủ chiều dọc theo quyền lực tập trung trong phạm vị một hoặc hai nhiệm kỳ. Nếu nhân dân thấy chưa ổn ở chỗ nào thì lại thực hiện Dân chủ chiều ngang để tìm cách sửa chỗ đó, tức là sửa Hiến pháp, hay thay đổi, lật đổ thủ lĩnh đảng đang cầm quyền.

Hiện nay, chính nhân dân TQ, và Đảng CSTQ cũng rất băn khoăn, dao động về cái khái niệm thể chế CNXH hay CNTB. Người ta nói, Trung quốc đang là “đầu Ngô, mình Sở”. Có nghĩa đầu thì vẫn muốn tự gọi là, hay phấn đấu để đi theo (định hướng) XHCN đặc sắc TQ “Dân chủ chiều dọc”, nhưng mình và chân tay thì đã hoạt động theo cái thể chế TBCN rồi, cụ thể nhất là TQ đang thuyết phục các nước tư bản “công nhận TQ có cơ chế thị trường đầy đủ”; Xã hội dân sự thì đã phát triển tràn lan “khắp hang cùng ngõ hẻm” và “chiếm lĩnh không gian mạng” rồi (hai cái thứ mà CN Mác – Lê “kỵ” nhất, ghét nhất). Còn Mỹ thì, nói ngắn gọn là: Sau nhiều thất bại nặng nề do tư tưởng đế quốc mới phát sinh, với thái độ huênh hoang, ngạo mạn, chủ quan do địa vị “siêu cường độc cực” trên thế giới mang lại, nay, sau nhiều lần thất bại, và trước sự giác ngộ và áp lực của toàn dân và thế giới, nước Mỹ đã và đang chuyển từ CNTB đế quốc trở về CNTB dân chủ đúng như “Tuyên ngôn lập nước” và Hiến pháp Dân chủ của Mỹ bắt đầu từ nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Obama (như “Tìm lại giấc mơ Mỹ”). Như vậy, để khách quan, và để dùng đúng cái chuẩn khái quát nhất của phát triển, tức là nhận dạng cho đúng cái tương lai “sẽ” đến của thể chế chính trị, cái mà các nước đang quan tâm so sánh rõ nhất trong cạnh tranh là “Mô hình phát triển”. Chúng ta nên đem “Mô hình phát triển” của Mỹ và “Mô hình phát triển” của Trung Quốc hiện nay và cách thức họ đang triển khai đã trình bày ở trên ra để xem xét là tiện nhất.

(**) Nếu so sánh với Bồ Đào Nha khi trỗi dậy trở thành “nước lớn” ở thế kỷ 16, đất đai chỉ có 92 ngàn km2, với dân số hơn 1 triệu người. Hà Lan nước nhỏ làm nên nghiệp lớn, đứng đầu thế giới ở thế kỷ 17, khi dân số Hà Lan chỉ có 1,7 triệu người. Sau đó đến nước Anh, một đảo quốc không lớn, dân số mấy chục triệu người, vậy mà cũng đứng đầu thế giới suốt 2 thế kỷ. Nước Mỹ có diện tích và dân số vừa phải, mới lập quốc vài trăm năm, nhưng họ đã trở thành một đất nước vĩ đại của thế kỷ XX.

(***) Matteo Ricci, một nhà nghiên cứu phương Tây đã lục lọi trong tàng thư của TQ và ghi chép lại: “Trước kia TQ chỉ là một nước nhỏ”, nằm quanh khu vực Bắc Kinh hiện nay, với Vạn lý trường thành để bảo vệ phía Tây chỉ cách Bắc Kinh mấy chục cây số. “Khi đó, phía đông TQ có 3 nước, phía tây có 53 nước, phía nam có 55 nước, phía Bắc có 3 nước, vị chi là 114 nước”. Vậy nếu quả thật TQ là một nước tồn tại hòa bình có văn hóa, thì tại sao đến bây giờ chung quanh TQ lại còn lại chỉ có 8-9 nước như đang thấy? Không phải ngẫu nhiên Bà Mac Kell đã tặng Ông Tập Cận Bình một tấm bản đồ cổ, trong đó TQ chưa có đất Nội Mông, Tân Cương, Tây Tạng, Hải Nam và Đài Loan…, đương nhiên càng chưa có Hoàng Sa và Trường Sa.

(Nguồn :BVN)

 

 

Dịch Ebola: Lời tiên tri khủng khiếp của bà lão mù Vanga đã linh nghiệm?

 


Những tiên đoán đúng khiến loài người giật mình

- Tàu ngầm Krusk của Nga chìm vào năm 2000
Đúng 20 năm trước khi thảm kịch xảy ra, vào năm 1980, Vanga đã tiên tri rằng: “Cuối thế kỷ này, vào tháng 8/1999 hoặc 2000, Kursk sẽ chìm dưới nước, và cả thế giới sẽ than khóc vì nó”. Ngày đó, không một ai quan tâm đến lời tiên tri buồn cười này. Nhưng rồi người ta mới biết rằng Kursk bà nói không phải là về thành phố mang tên Kursk.


Tàu ngầm Krusk của Nga được Vanga đoán trước sẽ chìm vào năm 2000
Vào đúng tháng 8 năm 2000, tàu ngầm nguyên tử Kurst của Nga (đặt theo tên của thành phố Kurst) đã gặp nạn và 118 thủy thủ trên tàu không còn cơ hội sống sót. Cả thế giới nói chung và nước Nga nói riêng vô cùng đau buồn trước sự tổn thất lớn không lấy gì bù đắp lại được này.

– Sự hồi sinh của nước Nga

Hình ảnh Dịch Ebola: Lời tiên tri khủng khiếp của bà lão mù Vanga đã linh nghiệm? số 3
Nước Nga hồi sinh sau thảm hoạ tàu ngầm

Năm 1988 khi tiên tri về nước Nga, bà Vanga vẽ một vòng tròn lớn trong lòng bàn tay và nói: “Nga sẽ một lần nữa trở thành đế chế vĩ đại, chỗ dựa tinh thần cho toàn thế giới. Tuy nhiên phải đợi rất lâu khi con số 8 xuất hiện và có những ký kết về Trái đất”. Và trên thực tế, nếu nước Nga trở thành cường quốc lớn mạnh và tham gia nhóm G7 đến biến nó thành G8 thì họ sẽ có tác động tới tiến trình chiến tranh và hòa bình thế giới
- Khủng bố toà tháp đôi của Mỹ 11/9/2001
Lời tiên đoán năm 1989: “Đáng sợ! Đáng sợ! Những anh em sinh đôi của Mỹ sẽ ngã xuống sau khi bị những con chim sắt tấn công. Những con sói sẽ gầm rú trong lùm cây và máu của những người vô tội sẽ chảy” dường như đã được ứng nghiệm với sự kiện tòa tháp đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới (New York) đổ sập bởi vụ tấn công khủng bố ngày 11/9/2001.

Toà tháp đôi của Mỹ bị khủng bố vào ngày 11/9 theo như lời tiên tri của bà Vanga

Tháp đôi cũng có nghĩa khác là “sinh đôi” (Twins) hay còn gọi là anh em. Những kẻ khủng bố đã khống chế toàn bộ hành khách trên máy bay – “những con chim sắt” – và lao vào tòa tháp. Lùm cây trong tiếng Anh có nghĩa là “bush” nên ở đây có thể cũng ám chỉ đến tên của vị Tổng thống đương nhiệm của G. Bush.
- Thảm hoạ động đất, sóng thần ở Nhật Bản năm 2011
Và gần đây nhất là sự “hiện thực hoá” về thảm hoạ động đất, sóng thần tại Nhật Bản vào ngày  11/3/2011.
Thảm họa thiên tai quá lớn, quá đột ngột và việc người dân Nhật “không kịp trở tay” ấy một lần nữa gây xôn xao thế giới khi có thông tin cho rằng, nó đã được dự đoán trước bởi một nữ tiên tri mù có tên Vanga. Người ta bắt đầu tìm kiếm lại những lời tiên đoán ấy và vô cùng kinh ngạc trước mức độ chính xác của nó.

Hình ảnh Dịch Ebola: Lời tiên tri khủng khiếp của bà lão mù Vanga đã linh nghiệm? số 5

Thảm hoạ động đất, sống thần xảy ra ở Nhật Bản năm 2011

“Do những trận mưa phóng xạ nên ở Bắc Bán cầu cả động vật lẫn thực vật đều sẽ bị tuyệt diệt vào tháng 3 năm 2011”. Chỉ riêng mốc thời gian được nhắc đến trong lời tiên đoán cũng khiến cho không ít người phải giật mình.
Thời điểm tháng 3 kinh hoàng của lịch sử Nhật Bản đã được đề cập đến. Không những vậy, hai chữ “phóng xạ” cũng khiến người ta nghĩ ngay đến thảm họa phóng xạ mà những vụ rò rỉ của nhà máy điện nguyên tử của Nhật Bản đang khiến nước Nhật lo lắng.
 Nhiều tiên đoán…trật lất
- Chiến tranh thế giới thứ III năm 2010
Bà cho rằng, xung đột vũ trang tại Nam Ossetia và trong thế giới của người Hindu, những vụ mưu sát các nhà lãnh đạo và nguyên thủ quốc gia sẽ dẫn tới bùng nổ Chiến tranh thế giới III vào năm 2010 và kết thúc vào năm 2014. Theo bà, Ngày tận thế là kết quả do Cuộc Chiến tranh thế giới III dẫn đến thảm họa chiến tranh hạt nhân trên phạm vi toàn cầu, sự diệt vong của loài người và toàn bộ sự sống trên Trái đất. Thế nhưng, bây giờ đã là năm 2012 và thực tế đã chứng minh không hề có cuộc chiến tranh nào trên quy mô toàn cầu như vậy cả.

Theo Vanga, năm 2010, chiến tranh thế giới thứ III sẽ xảy ra

Tuy nhiên, người ta cũng khá quan tâm tới những lời tiên tri này của bà bởi với tình hình thế giới bất ổn như ngày nay: chiến tranh dầu mỏ, hạt nhân, vũ khí sinh học…; nguy cơ bùng nổ một cuộc chiến quy mô lớn đến như vậy được bà đặt ra không phải là không có cơ sở.
- Dịch Ebola sẽ huỷ diệt loài người vào năm 2014?
Trước khi qua đời, nữ tiên tri lỗi lạc này cũng đã tiên đoán, đến năm 2014 “đa số người dân sẽ bị mụn nhọt, ung thư da và những chứng bệnh khác về da” do hậu quả của chiến tranh Thế giới thứ III.

alt


Lời dự đoán này khiến nhiều người nghĩ rằng dịch bệnh Ebola đang hoành hành ở Tây Phi gây nên cái chết của gần 1000 người hiện nay chính là ứng nghiệm lời tiên tri này.
Tuy nhiên, trên thực tế, dịch bệnh Ebola do virus Ebola gây ra và hoàn toàn không bắt nguồn từ chiến tranh hóa học như lời dự đoán của nhà tiên tri lỗi lạc này.


(Theo Tin Mới)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 10.08.2014

Nguyễn Quang Lập kể ‘Chuyện nhà quê’

Nguyễn Quang Lập kể ‘Chuyện nhà quê’

Bạch Tiên

Giọng điệu châm biếm, hài hước và phong cách “khẩu văn” – viết như nói – giúp Nguyễn Quang Lập rút ngắn khoảng cách giữa độc giả và tác giả.

Tên sách: Chuyện nhà quê
Tác giả: Nguyễn Quang Lập
NXB Hội Nhà văn

“Chuyện nhà quê” là tập truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Quang Lập.

Qua những trang viết trong Chuyện nhà quê, ông phơi bày tật xấu của các nhân vật một cách không thương tiếc. Lối viết “khẩu văn” đặc trưng của bọ Lập có thể khiến người đọc lần đầu tiên tiếp xúc những tác phẩm của ông có đôi chút choáng ngợp với những suy nghĩ về con người, cuộc sống được bộc lộ một cách rất thành thật và hồn nhiên, chẳng hề ngượng ngùng hay cố gắng hoa mỹ.

'Bìa sách Chuyện nhà quê

Bìa sách “Chuyện nhà quê”.

Chẳng hạn như ở truyện ngắn Anh hờ hờ, tác giả dám đưa cả bản thân mình và những tên tuổi khác vào làm nhân vật như: Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Khải… Cả câu chuyện là để phê phán thói hư vinh, xem trọng danh vọng hơn bản chất nghệ thuật của anh Hờ Hờ. Tác giả can đảm tự phê phán thói xấu của chính mình qua một chi tiết trong truyện: khi biết ai về nhà anh Hờ Hờ cũng được đãi cỗ linh đình, ông cũng mong muốn được anh Hờ Hờ mời về nhà và khi có cơ hội đó, ông đã nhận ngay lập tức. Tinh thần tự phê phán đó khiến người đọc phần nào nhớ đến Trung Trung Đỉnh vì ông cũng nhiều lần tự phê phán bản thân qua những truyện ngắn có nhân vật chính như đang đại diện cho chính bản thân mình.

Trang viết của Nguyễn Quang Lập cũng không thể thiếu chất hài hước, trào phúng. Đọc hết một truyện ngắn của ông, thường người ta tìm thấy sự châm biếm ẩn sau cuối mỗi câu chuyện. Như trong Ký ức năm hào, ở đầu truyện, có thể người đọc sẽ chỉ nghĩ đây là hồi ức dễ thương, có phần hài hước của một cậu bé về lần đầu tiên khi cậu kiếm được năm hào và nâng niu nó như thế nào. Cậu có phần tự mãn về bản thân mình khiến chúng ta chưa thấy rõ sự tự châm biếm mỉa mai, nỗi buồn của cậu. Chỉ đến tận cùng, câu chuyện mới đột ngột chuyển hướng. Tiêu biểu cho kiểu cấu trúc này là những truyện như: Thằng sứt môi, Chuyện tình anh cu Đom…

Chuyện nhà quê còn là mảng hồi ức khó quên của một người con khi nhớ về nơi chôn nhau cắt rốn. Làng phố trong văn của bọ Lập có sự kết hợp giữa cái bần cùng, chất phác của làng với cái ồn ào, xô bồ của phố. Sự nhạy cảm vốn có của một nhà văn nhiều kinh nghiệm sống giúp Nguyễn Quang Lập viết nên những trang viết rất đời. Ông trăn trở trong từng câu chuyện và nhân vật thể hiện cái nhìn thương cảm trước những tha hóa, đổi thay của con người, của thời cuộc. 

Nguồn: http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/sach/diem-sach/nguyen-quang-lap-ke-chuyen-nha-que-3018194.html

Đăng bởi: Ngô Minh | 09.08.2014

Khốn khổ nước tôi

Khốn khổ nước tôi

altKhalilGibran

” …Khốn khổ nước tôi
Mê tín thì vô hạn
Tôn giáo thì nông cạn…

Tác giả mấy câu thơ vừa dẫn ở trên là Khalil Gibran, thi sĩ xứ Liban (Lebanon)- ông cũng là người viết câu thơ bất hủ:

Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương…

 

(Wake at dawn with winged heart
and give thanks for another day of loving…)

Chưa hết, câu nói trứ danh của Tổng thống Mỹ, J.F. Kennedy:

“Đừng hỏi nước Mỹ đã làm gì cho bạn mà hãy hỏi bạn đã làm gì cho nước Mỹ” cũng xuất phát từ ý một bài thơ của Khalil Gibran, nhưng có lẻ bài thơ Pity the Nation dưới đây mới kinh khủng về sức tiên tri của nó, không chỉ ở đất nước ông mà nhiều xứ sở khác.

Pity the Nation -
(Khalil Gibran)

“Pity the nation that is full of beliefs and empty of religion.
Pity the nation that wears a cloth it does not weave
and eats a bread it does not harvest.

Pity the nation that acclaims the bully as hero,
and that deems the glittering conqueror bountiful.

Pity a nation that despises a passion in its dream,
yet submits in its awakening.

Pity the nation that raises not its voice
save when it walks in a funeral,
boasts not except among its ruins,
and will rebel not save when its neck is laid
between the sword and the block.

Pity the nation whose statesman is a fox,
whose philosopher is a juggler,
and whose art is the art of patching and mimicking

Pity the nation that welcomes its new ruler with trumpeting,
and farewells him with hooting,
only to welcome another with trumpeting again.

Pity the nation whose sages are dumb with years
and whose strongmen are yet in the cradle.

Pity the nation divided into fragments,
each fragment deeming itself a nation.”

(The Garden of the Prophet – 1934)
***

Bản dịch:

Khốn khổ nước tôi
Mê tín thì vô hạn
Tôn giáo thì nông cạn

Khốn khổ nước tôi
Mặc áo mình không dệt
Ăn gạo mình không trồng
Uống rượu mình không làm

Khốn khổ nước tôi
Ca ngợi côn đồ là anh hùng
Gọi kẻ xâm lăng là bạn vàng

Khốn khổ nước tôi
Trong mơ thì ghét cay ghét đắng
Tỉnh dậy lại đầu hàng

Khốn khổ nước tôi
Chỉ dám nói năng khi đưa tang
Chỉ dám khoe khoang di sản hoang tàn
Chỉ dám phản kháng khi đầu sắp lìa khỏi cổ

Khốn khổ nước tôi
Chính khách xảo quyệt như chó sói
Triết gia tung hứng chữ làm xiếc
Nghệ thuật bắt chước chắp và vá

Khốn khổ nước tôi
Kèn loa tưng bừng rước kẻ cai trị mới
Rồi tống cổ chúng bằng la hét phản đối
Rồi lại tưng bừng kèn loa đón kẻ cai trị khác

Khốn khổ nước tôi
Vĩ nhân càng nhiều tuổi càng lú
Thánh nhân chờ mãi chưa ra đời

Khốn khổ nước tôi
Cứ chia năm xẻ bảy chơi
Phe nào cũng xưng mình là nước

 

( Nguồn : Nhà văn TrầnThùy Mai cung cấp)

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 08.08.2014

GIẢI CỨU KẺ THÙ

GIẢI CỨU KẺ THÙ

Trích kịch của Phạm Dũng

 Kịch nước mình, chỉ thấy anh bộ đội Giải phóng tha cho anh bộ đội Cộng hòa. Chiến tranh mà, sao lại chỉ một chiều như thế? Tôi viết một vở ngược lại.

 CẢNH 1 – HANG ĐÁ

 Việt bước ra, nằm vật ra thở. Tiếng quát một người đàn ông vang lên.

 Đàn ông:    Đứng dậy!

 Việt giật bắn người. Theo quán tính anh cầm Khẩu súng Ak lên. Âm thanh một loạt đạn vang lên. Việt hốt hoảng vội bỏ Khẩu súng xuống đất. Tiếng người đàn ông vẫn vọng ra.

 Đàn ông:    Ném súng đi!

 Việt vội vàng ném súng ra xa. Hội ra.

 Hội:            Tên gì?

Việt:           Nam!

Hội:            Đơn vị nào?  (ném ra một sợi dây dù) Buộc chân lại đi!

 Việt ngồi xuống lấy dây dù buộc hai chân của mình lại.

 Hội:            Buộc thắt nút! Đ. má! Tao bắn chết mẹ mày bây giờ. Láu cá! Có gì ăn không?

 Việt buộc chặt lại, rồi đưa ra một cục lương khô. Hội bẻ một miếng đưa cho Việt, ra hiệu ăn. Việt ăn.

 Việt:           Tôi Khát quá! Anh có nước không?

 Hội lấy bi đông đưa cho Việt.

 Hội:            Một ngụm thôi!

 Việt uống một ngụm rồi trả lại. Hội ngồi ăn lương khô ngấu nghiến.

Hội:            (bất chợt) Nam!

 Việt không có phản ứng gì.

 Hội:            Đ.má! Tên gì?

Việt:           (nói nhỏ) Việt!

Hội:            Tao tên Hội. Đằng nào thì lát nữa mày cũng chết, nói dối làm mẹ gì. Hả? Mày lấy hết đồ trong túi ra.

Việt lục túi lấy hết những thứ trong người ra.

 Hội:            Sách gì thế?

Việt:           Truyện Kiều!

Hội:            Mày cũng mê Truyện Kiều nhỉ?

Việt:           Tôi bói Kiều.

Hội:            Còn ảnh ai kia? Người yêu mày phải không?

Việt:           Cô ấy là người yêu… mối tình đầu…

Hội:            Mày ngủ với nó chưa?

 Hội nhếch mép cười.

 Hội:Thô thiển quá hả? Hồi còn là sinh viên văn khoa tao đã bụp 3 con, vẫn còn thua khối thằng. 

Việt:           Rồi anh có hạnh phúc không?

Hội:            Mày làm tao cáu, tao sẽ giết mày sớm hơn. Quê mày ở đâu?

Việt:           Tôi ở Quảng Ngãi.

Hội:            Huyện nào? Xã nào?

Việt:           Huyện Mộ Đức. Xã Đức Nhuận.

Hội:            Sao nói giọng Bắc?

Việt:           Tôi là dân tập kết.

Hội:            Tao dân Ninh Bình. Nhà ở ngay Phát Diệm. Mày đến đó chưa?

Việt:           Nhà thờ ở đó rất lớn. Có tượng Đức Mẹ, đôi mắt lúc nào cũng khóc.

Hội:            Vậy là khi  má tao dắt tao vào Nam thì má mày ẵm mày ra Bắc.(cười) Hồi đó, ông Hồ Chí Minh mà chọn miền Nam thì tao với mày sẽ không phải di chuyển gì cả. Đúng không? (quát) Đúng không?

Việt:           Đúng!

Hội:            Nói cho cùng đây là một cuộc chiến tranh chó đẻ.

Việt:           Người Mỹ đã xâm lược Việt Nam.

Hội:            Hừ! Bọn cộng sản nhồi sọ mày thế hả? Bọn mày có Liên Xô đứng đằng sau. Bọn tao có Hoa Kỳ. Huề!

Việt:           Không giống nhau.

 Hội điên tiết chĩa súng vào Việt.

 Hội:            Mày quỳ xuống và hô “Trần Anh Hội muôn năm!”. Mau!

Việt:           Anh học văn mà sao lại muốn làm nhục người Khác?!

Hội:            Tao bảo quỳ xuống!

 Việt định quỳ thì Hội đạp Việt ngã lăn ra đất.

 Hội:            Nếu không có cuộc chiến tranh chết tiệt này thì chắc tao với mày đã trở thành bạn thân. (cầm ảnh cô gái lên, cười) Và có khi thành tình địch cũng nên. (cầm cuốn Truyện Kiều lên) Mày có biết Nguyễn Du viết.(đọc thơ)

Mụ già hoặc có điều gì,

Liều công mất một buổi quỳ mà thôi.

(ngừng đọc)

Nghĩa là gì không?

Việt:           Tôi không hiểu lắm. Quỳ chắc… cũng có nghĩa là quỳ lạy chứ gì?

Hội:            Hồi tốt nghiệp tao đã làm luận văn về Kiều. Đề tài là từ láy trong Truyện Kiều. Mày có biết từ láy là gì không?

Việt:           Là… là… thí dụ lấp lánh, xênh xang, mênh mông…

Hội:            Có thể tao sẽ tha chết cho mày? Quỳ trong trường hợp này không phải là quỳ gối như lúc nãy tao bắt mày quỳ đâu. Đây, mày nghe đây.

(đọc)

Tình cờ chẳng hẹn mà nên

Mạt cưa, mướp đắng, đôi bên một phường.

Chung lưng mở một ngôi hàng,

Quanh năm buôn phấn, bán hương đã lề.

(ngừng đọc)

Câu này diễn nôm có nghĩa là hai người này cùng chung vốn làm nghề buôn phấn, bán hương. Quan hệ giữa Mã Giám Sinh và tú bà là quan hệ ngang hàng nên Mã Giám Sinh có lợi dụng cơ hội, lấy đi trinh tiết của Kiều thì anh ta cũng không đến nỗi phải quỳ trước tú bà. Quỳ ở đây là chơi kiểu quỳ. Mày hiểu chưa?

Việt:           Tôi… không hiểu.

Hội:            Mày học lớp mấy mà đi lính?

Việt:           Lớp 10.

Hội:            Lớp 10?

Việt:           Ở miền Bắc hết lớp 10 là vào đại học.

Hội:            À thế thì tương đương với lớp 12 trong này. Mày không hiểu là phải. Thế tao hỏi cái câu.

(đọc)

Nước vỏ lựu, máu mào gà

Mượn màu chiêu tập lại là còn nguyên.

Mập mờ đánh lận con đen,

Bao nhiêu cũng bấy nhiêu tiền, mất chi?

(ngừng đọc)

Nghĩa là gì?

Việt:           Nghĩa là tú bà dạy cho Thúy Kiều dùng nước vỏ lựu và máu của mào con gà bôi vào tấm vải trải giường để lừa khách làng chơi là mình còn trinh.

Hội:            Rất nhiều người hiểu như thế. Thực ra tao hỏi mày, kiểu lừa ấy làm sao qua mặt được bọn đi chơi gái? Nghĩa của nó thế này. Trong nước vỏ lựu, có một chất gì đó có thể làm da thịt săn lại. Bọn gái điếm ngày xưa dùng thứ nước đó bôi vào âm đạo. Để Khách làng chơi tưởng là chúng mới vào nghề.

Việt:           Quả là giờ tôi mới hiểu. Anh học văn có khác. Anh Hội… tôi muốn hỏi anh… nói cho cùng… anh giết tôi có lợi gì cho anh?

Hội:            Mày nói thêm một câu tương tự, tao bắn mày ngay lập tức. Đừng làm tao mất hứng.

 Việt liếc Hội. Hội gườm gườm nhìn Việt.

 Hội:            Định cướp súng hả? Mày đánh giá tao quá thấp đấy!

Việt:           Tôi muốn đi tiểu.

Hội:            Đi đi!

 Việt nhảy lò cò ra một góc quay lưng đái.

 Hội:            Mày có thuộc bài thơ nào đọc lên nghe cho vui?

Việt:           Tôi có làm được một số bài.

Hội:            Đọc nghe thử?

Việt:           Bài thơ này có tên là “Đừng nói lời yêu nhé” tôi viết để tặng người yêu tôi. 

(đọc)

Đừng nói lời yêu nhé,

Chỉ mãi hoài vậy thôi.

Đừng đốt ta thành lửa,

Mà tro than suốt đời.

 

Cứ đi bên đời nhau,

Như sương và như khói.

Không một lần cầm tay.

Không một lần gian dối.

 

Một ngày nào hấp hối,

Ta nhớ người xiết bao

Giật mình ta tự hỏi,

Thật hay là chiêm bao?

 Hội:            Cũng được đấy!

Việt:           Anh chắc cũng có làm thơ?

Hội:            Tao từng giật giải nhất về thơ ở trường đại học văn khoa, mày tin không? Bài này có tên là “Em, đồ chó!” Sao? Nghe đã thấy hấp dẫn rồi chứ hả? Nghệ thuật trước tiên phải lạ. Có hàng triệu bài thơ rồi, thêm một bài thơ giống như những bài đã có thì thêm làm mẹ gì?

(đọc)

Em, đồ chó!

Hẹn mà không đến.

 Em, đồ chó!

Yêu hay là không?

Cứ chập chờn như ngọn nến trước gió

 

Em, đồ chó!

Ta muốn lồng lên như sói

Tru những tiếng tru man dại Khát thèm

Hoan ca của loài cầm thú

 

Em, đồ chó!

Ta hộc lên.

 

Em, đồ chó!

 Việt:           Thơ anh… kỳ kỳ. Tôi nhớ có một nhà thơ đã viết “Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé. Để lòng buồn tôi dạo gót quanh sân…”.

Hội:            Tao thế. Nó hẹn mà không đến, tao chửi. Còn mày? Mày yêu nó, mày muốn lên giường với nó chết mẹ, thế mà mày lại “Không một lần cầm tay” với lại “Đừng nói lời yêu nhé”?! Thế có phải là đạo đức giả không?

Việt:           Đó là cảm giác thật của tôi.

Hội:            Tao không hiểu. Tao khác! Yêu con nào là tao muốn ăn thịt con đó.

Việt:           Như vậy là anh chưa từng yêu.

 Hội cười to. Việt cười theo.

 Hội:            Mày không cần nịnh. Trời sáng là tao bắn mày. Hát một bài đi! Biết đâu… tao sẽ đổi ý… Biết hát chứ?

Việt:           Tôi… hát được…

Hội:            Hát đi!

Việt:           (hát) Khi cất lên tiếng ca gửi về người yêu phương xa. Ta át tiếng gió mưa thét gào cuộn dâng phong ba. Em ơi…

 

Việt hát xong.

 

Hội:            Mày hát hay lắm! Có biết bài “Bèo dạt mây trôi” không?

Việt:           (hát) Bèo dạt mây trôi chốn xa xôi, em ơi anh vẫn đợi í a bèo dạt…

 

Hội hát theo. Hai người hát say sưa. Hai người hát xong. Việt nói với Hội.

 

Việt:           Anh Hội, anh tha cho tôi đi. (rưng rưng) Tôi còn má già và một cô em gái… Tôi mới 23 tuổi… (bật khóc) Tôi xin anh…

Hội:            (đứng bật dậy) Mày im đi! Lính tráng gì thế?

 Việt câm bặt.

 Hội:            Mẹ kiếp! Cái cuộc chiến tranh quái quỷ này… (chồm lên, nhìn vào mắt Việt) Nếu đổi lại, mày có giết tao không?

 Việt lắc đầu.

 Hội:            Chưa chắc!

Việt:           Thà là chúng ta không đọc thơ và hát cho nhau nghe… Anh lại còn giải thích cho tôi truyện Kiều.

Hội:            Câm! Mày cố làm tao mềm lòng. Đừng hòng! (chua chát) Mẹ kiếp! Tao biết cuộc chiến này chúng mày cuối cùng rồi cũng sẽ thắng. Chúng mày có chính nghĩa. Chúng mày có lý tưởng, lại được Nga Xô, Trung Cộng giúp đỡ. Nhưng về chế độ xã hội mà chúng mày đang theo đuổi thì chúng mày sai. Tổng thống Truman từng nói chế độ cộng sản trước sau gì cũng tan rã vì nó sai trong hệ thống cấu trúc của nó.

Việt:           Anh Hội, anh tha cho tôi, biết đâu sau này…

Hội:            Mày sẽ bắt được tao? Sẽ không có ngày đó đâu!

Việt:           Anh Hội, trên cổ anh có đeo thánh giá. Chúa Giesu có nói gì đó, đại ý là… nếu người ta tát mình một bên má thì hãy đưa má còn lại cho người ta tát…

Hội:            Chúa Giesu lúc này nói với tao, chiến tranh là chiến tranh. Mày có biết bói Kiều không?

Việt:           Hôm nay tôi đã bói… cho một người đồng đội…

Hội:            Bói sao?

Việt:           Tôi… chỉ nói đùa là cô ấy sẽ chết…

Hội:            Rồi sao?

Việt:           Một trái bom… và cô ấy… đã chết!

Hội:            Ha! Ha! Ha! Vậy là mày có năng lực siêu phàm. Tốt! Thế hôm nay mày đã bói cho mày chưa?

Việt:           …

Hội:            Bây giờ mày bói đi… Mày định kháng chỉ sao?

Việt:           Tôi… được rồi. (giở Kiều ra nhìn)

Hội:            Làm sao mà cái mặt mày dại ra thế kia, hả?

Việt:           Tôi… tôi… giở được đúng chỗ ban sáng…

Hội:            Đọc lên đi! Mà thôi. Mày bói trúng như vậy thì mày là thiên tài rồi. Các thầy bói không bói được cho bản thân. Mày hơn họ. Lát nữa tao sẽ giúp mày. Ê! Mày thử đoán xem, tại sao tao lại chưa giết mày?

Việt:           Sự thú vị của con mèo vờn con chuột.

Hội:            Đúng thế! Trong phim Tom và Jerry, lúc nào con chuột cũng thắng.

Việt:           Tom và Jerry là cái gì?

Hội:            À, mày không biết. Chúng mày không chiếu phim đó mà. Tom và Jerry là phim hoạt hình trẻ con. Nó kể chuyện con mèo và con chuột đấu trí với nhau.

Việt:           À… ngoài đó có chiếu một bộ phim tương tự, nói về con chó sói và con thỏ.

Hội:            Và con thỏ lúc nào cũng thắng, đúng không?

Việt:           Đúng!

Hội:            Thế đấy… những tác phẩm nghệ thuật luôn ve vuốt con người. Mày có công nhận ngoài đời con sói bao giờ cũng ăn thịt con thỏ không? Và bây giờ, định mệnh đã cho tao là con sói, mày là con thỏ… Ha! Ha! Ha!

Việt:           Đằng nào tôi cũng chết, anh bắn tôi ngay đi. Cứ như thế này…

Hội:            Mày đừng vờ vĩnh nữa. Con người ai cũng tham sống sợ chết. Mày có đọc “Tình yêu cuộc sống” của Jaclondon không?

Việt:           Có!

Hội:            Đấy!… Có một con người và một con chó… đói khát… Cả hai rơi vào trạng thái mà cái chết e chính là một ân huệ. Thế mà cả người và chó đều muốn sống. Con chó cắn được vào tay con gười. Con người cắn được vào thịt con chó… cả hai cùng cố sức… cố sức. Cuối cùng con người đã mạnh hơn và uống được máu con vật mà sống… Tao với mày bây giờ cũng đâu có khác gì…

Việt:           Anh bắn tôi ngay đi!

Hội:            Được. Là mày muốn chết đấy nhé.

 Hội giương súng lên. Việt nhắm mắt.

 Hội:            Mở mắt ra!

 Hội bắn một phát, trúng chân của Việt.

 Hội:            Hôm nay mày bói mày phải chết. Tao tha mạng cho mày… Tao chính là đức chúa trời của mày… Ha ! Ha ! Ha!

 Việt thét lên đau đớn và ôm chân lăn lộn trên đất. Hội uống thêm một ngụm nước, để cái bi đông và miếng lương khô cuối cùng lại. Hội bước đi vài bước. Nghĩ thế nào Hội quay lại lấy cuốn truyện Kiều đút vào người.

Tất cả tối sầm.

 (Hết cảnh 1)

 Ghi chú: Phần sau, sau giải phóng, anh Hội bị bắt oan, và anh Việt đi “giải cứu” cho anh Hội. Rồi họ thành bạn thân – như mơ ước của tôi.

Vở này, tất nhiên không (hoặc chưa) được dựng. Hi Hi…

Phạm Dũng

( Tác giả gửi cho QTXM)

 

Sắc Dục Của Hoàng Đế Mao Trạch Đông


Tác giả: Thuỵ My – RFI
 

LND : Tác phẩm « Tình dục, dối trá và chính trị » – Những kẻ bị ám ảnh đang lãnh đạo chúng ta – của tác giả Pierre Lunel, nhà xuất bản L’Archipel, Paris 2012 – gồm có ba phần. Phần đầu « Các nhà độc tài » viết về Stalin, Mussolini, Mao Trạch Đông và Bokassa. Phần hai về các lãnh đạo ở Mỹ : Kennedy, Bill Clinton, Arnold Schwarzennegger, và phần thứ ba dành cho châu Âu : Mitterand, Giscard d’Estaing, Berlusconi, Chirac, DSK.
 
Pierre Lunel là cựu hiệu trưởng trường đại học Paris 8, tác giả nhiều đầu sách tiểu sử và biên khảo sử học. 
 
Thụy My xin giới thiệu một phần chương sách « Mao Trạch Đông và hàng ngàn thê thiếp » trong tác phẩm trên, đã tạm lược bỏ 8 trang đầu nói về những người vợ của Mao là Dương Khai Tuệ (Yang Kaihui), Hạ Tử Trân (He Zizhen), Giang Thanh (Jiang Qing).
 
 
…Mao có tính cách giản đơn của các tên tuổi lớn. Đa số thời gian, ông xử lý các vấn đề của Trung Quốc trên chiếc giường gỗ rộng mênh mông mà ông vẫn mang theo khi di chuyển, hay bên cạnh hồ bơi riêng. Ông ta có thể không mặc quần áo suốt nhiều ngày.
 
bia-private_life_of_chaiman_mao
 
Mao rất thích các hồ bơi và những món ăn mỡ màng, ngập trong dầu béo ngậy. Ông ta không bao giờ đánh răng, chỉ súc miệng với nước trà. Mao không bao giờ tắm, mà vệ sinh thân thể bằng cách bắt những người tình một đêm dùng khăn nóng chà lên người mình. Bị chứng mất ngủ, ông có thể thức trắng nhiều đêm, và các cán bộ của ông phải chuẩn bị tinh thần để bị triệu đến lúc hai, ba giờ sáng. Làm việc với Mao thì cứ phải khỏe như vâm.
 
Suốt ngày hầu như ông ta lững thững chỉ với chiếc áo choàng tắm khoác hờ trên người, để lộ bờ vai lực lưỡng và chiếc bụng to tướng. Mao có nước da trắng đẹp, khuôn mặt đầy đặn luôn nở nụ cười, mái tóc đen dày.
 
Mao vẫn giữ thói quen nông dân. Khi phải mặc đồ, ông ta tròng vào bộ quần áo cũ mèm và đôi giày cà tàng. Bộ trang phục « kiểu Mao Trạch Đông » nổi tiếng và những đôi giày bóng lộn được dành cho những dịp long trọng. Chính trong cái bộ dạng kỳ khôi đó mà Mao đã lãnh đạo đất nước Trung Quốc.
 
Khi không có việc gì buộc phải ngồi dậy, ông ta nằm ườn trên chiếc giường gỗ « khủng », kích thước to gấp đôi một chiếc giường đôi thông thường. Người khách nào có óc quan sát có thể để ý thấy cái góc giường mà Mao dựa lưng cao hơn khoảng mười phân. Nếu có ai liều lĩnh đặt câu hỏi, sẽ được nghiêm chỉnh trả lời là đóng cao hơn để tránh cho khi ngủ mê không bị té xuống giường. Nhưng thật ra chỉ là nhảm nhí – gờ giường đóng cao theo yêu cầu của Mao để cho những trận bão tình ái được thuận tiện.
 
Mao « tán » các con mồi qua những buổi tối khiêu vũ, đây là một điều đặc biệt. Nhảy đầm đã bị Cách mạng cấm vì cho là lối sống suy đồi, và tất cả các sàn khiêu vũ đều bị chính thức đóng cửa. Thế nhưng Mao hàng tuần vẫn tổ chức những đêm khiêu vũ, tại sảnh Xuân Liên rộng mênh mông, không xa căn hộ của Mao là mấy.
 
Khi Mao vừa tới nơi khiêu vũ, là hàng chục thiếu nữ liền bổ nhào đến, năn nỉ ông nhảy với mình một bản. Mao nhảy một cách nặng nề, nhưng điều đó có nghĩa lý gì đối với các cô gái muốn được thần tượng chú ý bằng mọi giá. Các cô được những người thân cận của Mao tuyển lựa từ các đội văn công, theo tiêu chuẩn có ngoại hình đẹp và trung thành về mặt chính trị.
 
Mao nhanh chóng cho đặt một trong những chiếc giường size « khủng » của ông ta trong một căn phòng giáp với phòng khiêu vũ. Sau khi nhảy được vài ba bản, đại đế Mao tỏ ý muốn nghỉ ngơi, nắm lấy tay một trong những cô gái hơ hớ tuổi xuân này và đưa vào phòng. Ông ta chỉ ra khỏi phòng chừng hai tiếng đồng hồ sau đó, đa phần là với vẻ hài lòng vì đã được cô gái phục vụ tận tình.
 
Mao luôn bị ám ảnh với ý nghĩ một ngày nào đó sẽ bị mất đi khả năng tình dục. Khi các bác sĩ báo cho biết là ông ta đã trở nên vô sinh, Mao trả lời một cách xúc động :
 
- Thế là tôi đã thành hoạn quan rồi à !
 
Các bác sĩ phải hết lời trấn an, nói rằng tuy « tinh binh » của Mao không bình thường, nhưng không hề ảnh hưởng gì đến năng lực tình dục cũng như ham muốn.
 
Thực ra Mao chẳng hề quan tâm đến việc vô sinh, nhưng sợ hãi khi nghĩ đến khả năng bị bất lực, nhất là khi ông ta mang nặng trong đầu ám ảnh là năng lực làm tình sẽ chấm dứt vào tuổi sáu mươi. Đến tuổi này, ông ta có đôi khi bị trục trặc, nên thường cho tiêm truyền chất bột nhung hươu, mà tương truyền theo đông y là món thuốc cường dương đại bổ. Nhưng thấy nhung hươu không giúp giải quyết được vấn đề, Mao bèn ngưng sử dụng và quay lại với tây y – nói chung, ông ta không tin tưởng vào đông y.
 
Mao muốn được lưu danh theo truyền thống các hoàng đế Trung Quốc, đặc biệt là một vị theo truyền thuyết đã trở nên trường sinh bất tử nhờ quan hệ với một ngàn thiếu nữ đồng trinh. Ông ta hy vọng theo gót được vị tổ sư này. Không tin mấy vào năng lực tự nhiên, Mao say mê thu thập tất cả những tin tức từ phương tây hay những nơi khác, loan báo việc phát hiện các loại dược liệu giúp hoạt động tình dục cho đến chín mươi tuổi.
 
Trong khi chờ đợi thần dược ra đời, Mao nhồi nhét vào người đủ loại nhân sâm và đưa lên giường một số lượng đáng nể các cô thiếu nữ. Dù sao thì ông ta vẫn cho rằng đi ngủ và tắm rửa là lãng phí thời gian.
 
Nếu làm tình là thú tiêu khiển hàng đầu đối với Mao, thì ngược lại ông ta không yêu mến ai cả. Mao không có khả năng yêu thương lẫn cảm tình. Cũng có thể do ông ta đã chứng kiến quá nhiều thảm kịch và cái chết trong đời. Người vợ thứ hai, Dương Khai Tuệ bị Quốc dân đảng xử bắn, cũng như hai người em trai của ông. Nhiều người con của Mao đã chết trong cuộc Trường Chinh. Tất cả những bi kịch này làm Mao Trạch Đông trở nên sắt đá.
 
Trong thâm tâm, Mao hài lòng đã sống sót được qua nhiều nghịch cảnh, mà theo ông ta đó là dấu hiệu cho thấy mình sẽ trường thọ. Ông đã chứng tỏ trái tim sắt thép qua tất cả những hành động trong đời sống thường ngày, theo gương những hoàng đế Trung Hoa tồi tệ nhất. Chẳng hạn như Trụ vương đời nhà Thương, vị hôn quân thích trưng bày cái xác bị tùng xẻo của các nạn nhân, đổ đầy rượu vào hồ bơi, có hàng ngàn nàng hầu vây quanh. Hoặc Tùy Dạng Đế (Sui Yangdi), một trong những bạo chúa tệ hại nhất trong lịch sử Trung Hoa, đã bắt những cô gái trẻ đẹp phải kéo thuyền rồng đi ngược gió bằng những dải lụa.
 
Một bằng chứng cho sự tàn bạo của Mao Trạch Đông, lịch sử đặc biệt ghi nhận câu trả lời của ông ta trước Nehru :
 
- Chúng tôi chẳng việc gì phải sợ bom nguyên tử cả. Nếu ai tấn công tôi bằng bom nguyên tử, thì tôi có thể trả đũa tương tự. Mười triệu hay hai chục triệu người chết cũng chẳng ăn nhằm gì đối với chúng tôi !
 
Nehru không phải từ bi hỉ xả gì, nhưng cũng phải dựng tóc gáy khi nghe câu nói của Mao coi mạng người như ngóe.
 
Không một điều gì có thể làm Mao xúc động. Trong chiến dịch Đại nhảy vọt, nhiều triệu người dân nông thôn đã chết đói, nhưng ông ta vẫn ăn ngon ngủ yên. Ngay cả đối với người thân trong gia đình cũng thế. Chỉ cần kể ra đây thái độ đối với chính người con trai lớn của Mao.
 
Mao Ngạn Anh (Mao An Ying) tử nạn ngày 25/11/1950, trong cuộc chiến tranh Triều Tiên đã làm cho khoảng 400 ngàn người Trung Quốc thiệt mạng. Ngạn Anh đã lấy vợ trước đó một năm và vợ anh, Lưu Tư Tề (Liu Xi Qi), từ vài năm qua vẫn được xem như là con gái nuôi của Mao Trạch Đông. Ông ta thích cô đến nỗi tỏ ra vô cùng giận dữ khi nghe tin Ngạn Anh và Tư Tề đính hôn. Sự thực đằng sau cơn thịnh nộ này là: Lưu Tư Tề hết sức xinh đẹp, và Mao ghen với người con trai sẽ được ngủ với cô. Ông ta cản trở việc tổ chức đám cưới với những cái cớ kỳ lạ, chẳng hạn như phải chờ đến lúc tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc ngày 01/10/1949…Khi nghe tin con trai mình tử thương, Mao phát biểu câu này thay cho lời ai điếu :
 
- Đã là chiến tranh làm sao không có người chết cho được ?
 
Ông ta không tỏ ra buồn phiền một chút nào, không hề nhỏ một giọt nước mắt. Tư Tề suốt một thời gian dài vẫn không hay biết về cái chết của chồng, và cuối cùng khi cô chất vấn Mao Trạch Đông về vấn đề này, ông ta trả lời là Ngạn Anh đã chết. Lưu Tư Tề kề cận cha chồng gần như hàng ngày trong suốt hai năm rưỡi trời, nhưng chưa bao giờ thấy Mao tỏ vẻ u sầu. Thậm chí ông ta còn nói đùa với cô về Ngạn Anh, như là con trai vẫn còn sống…
 
Kể từ năm 1958, trong cơn say Đại nhảy vọt, Mao trở nên ít kín đáo hơn trong cuộc sống riêng tư. Cho đến nỗi nhiều người đều biết về cách sống xa hoa, phóng đãng của ông ta, về những tòa biệt thự nằm rải rác khắp đất nước Trung Quốc, và về việc cung cấp gái đẹp mà chính Mao gọi là « tuyển lựa cung phi ». Các nữ nghệ sĩ trẻ của các đội văn công tham gia các buổi dạ vũ, cạnh tranh với nhau để làm đẹp lòng Mao, và kết thúc bằng việc qua đêm với ông ta. Các cô ganh tị lẫn nhau, cô nào được Mao nắm tay dẫn vào phòng ngủ trở thành mục tiêu bị các cô khác thù ghét.
 
Một hôm – và đây là lần duy nhất trong đời – Giang Thanh đã làm ầm ĩ lên với Mao. Ông ta phản ứng bằng cách cấp tốc ra khỏi phòng. Giang Thanh nhanh chóng hối hận vì cơn nóng giận này, và gởi đến Mao lời xin lỗi. Ông ta chỉ nhún vai. Có nghĩa lý gì, vài cô hầu thiếp dành cho con người quyền lực nhất, nhà sáng lập nước Trung Hoa cộng sản ?
 
Từ đó Mao hoàn toàn yên ổn, không hề bị bà vợ chua ngoa chỉ trích. Ông ta cũng không còn giấu diếm việc đi lại thường xuyên với các cô gần như là gái gọi hạng sang. Thỉnh thoảng lại có một trong số những cô gái này, nhờ quyến rũ hơn, đã được nâng cấp : thay vì là người tình một đêm, được ân sủng trở thành quý phi.
 
Người đầu tiên giành được vị trí ưu tiên này là một nữ nhân viên trẻ của Cơ mật viện – một cô gái tuyệt đẹp có làn da trắng như tuyết, đôi mắt sáng và cặp chân mày xinh như vẽ. Cô ta không thèm giấu diếm gì với Giang Thanh, và còn tìm cách làm thân với bà. Giang Thanh, được nịnh hót và vẫn còn áy náy vì mới đây đã nổi nóng với Mao, vui vẻ chấp nhận sự hiện diện của cô ta. Bà tự hứa với chính mình là sẽ không gây sự với chồng vì chuyện các cô bồ của ông ta nữa.
 
Những người thân tín của Mao luôn tìm cách làm vui lòng ông ta. Ban đầu mỗi tuần chỉ có một đêm dạ vũ, nhưng sau đó họ nhanh chóng thấy rằng để chiều lòng chủ tịch thì như thế chưa đủ. Thế là từ một buổi dạ vũ trở thành hai buổi mỗi tuần, có nghĩa là số cung phi dành cho Mao phải tăng gấp đôi. Tất cả các đoàn văn công đều phải đóng góp vào. Sự chăm sóc này không phải là quá đáng, vì chủ tịch càng cao tuổi thì ham muốn tình dục lại tăng lên. Năm đó Mao đã 67 tuổi.
 
Khi phải nhận lãnh những ngón đòn chính trị và bực tức trước những lãnh đạo cao cấp khác của Đảng, Mao nằm lì suốt nhiều ngày và chỉ ra khỏi giường để dự dạ vũ. Ông ta thường xuyên nhảy nhót cho đến hai giờ sáng, rồi sang phòng bên cạnh « nghỉ ngơi » với các « đối tác ». Không một tiếng động nào lọt ra khỏi căn phòng có cánh cửa bọc vải dày. Những cô gái được chọn lựa không hề phàn nàn, mà hoàn toàn ngược lại.
 
Chưa bao giờ, ngay cả trong những giấc mơ điên rồ nhất, các cô có thể tưởng tượng ra có ngày lại được phục vụ cho thú vui nhục cảm của vị thượng đế được hàng trăm triệu người tôn sùng. Rất ít người từ chối đề nghị của chúa tể Trung Quốc. Có thể chỉ có vài cô y tá hay phụ nữ hơi cứng tuổi. Cô y tá nào từ chối thì đó là vì đạo đức nghề nghiệp không cho phép lẫn lộn vai trò, còn phụ nữ lớn tuổi thì do mắc cỡ khi phải gia nhập hậu cung gồm toàn các thiếu nữ tuổi xuân hơ hớ. Còn tất cả những cô gái khác đều phát cuồng vì Mao, và sẵn sàng thỏa mãn những đòi hỏi dù có quá quắt của ông ta.
 
Hầu hết là những cô gái rất nghèo khó. Chẳng hạn cô Lưu từng đi ăn xin trên đường phố cùng với mẹ, cô Chu là trẻ mồ côi. Thường thì cha mẹ các cô này, đã qua đời, được xem là « liệt sĩ cách mạng ». Nhiều cô không được học hành gì cả, và trở thành diễn viên múa nhờ có Đảng. Các đoàn văn công đầy dẫy những thiếu nữ loại này, được tuyển mộ nhờ ngoại hình chuẩn, để giúp người của các cán bộ cao cấp trong Đảng giải trí.
 
Các cô được lên giường với Mao là « hàng tuyển trong số hàng tuyển », cho dù chỉ vài tiếng đồng hồ. Điều này chỉ có thể hiểu được nếu chúng ta nhớ lại nạn thần thánh hóa Mao Trạch Đông. Sự xuất hiện của Mao trong những dịp lễ lạc trang trọng, oai vệ như một bức tượng đại đế tại quảng trường Thiên An Môn, là một kỷ niệm không thể quên đối với mỗi người tham dự. Chưa nói đến những người được đặc ân có một không hai là bắt tay với Mao, họ không rửa ráy trong nhiều tuần lễ để giữ trên người loại « nước thánh ». Có thể nói, Mao gần như một huyền thoại, và còn được yêu mến và kính trọng hơn cả các đại đế Trung Hoa.
 
Làm thế nào trong điều kiện đó, các cô gái trẻ dốt nát lại không cảm thấy hãnh diện khi được vinh dự ngủ vài tiếng đồng hồ bên cạnh vị thánh sống ? Việc này cũng như một lễ hiến tế tối thượng, và các cô sẵn sàng làm tất cả để xứng đáng với niềm vinh hạnh lớn lao như thế. Tất cả những cô gái này đều chưa chồng, vừa mới tròn hai mươi, hai mươi hai tuổi, và một khi đã bị Mao chán chê thì cũng phải đợi đến khi chủ tịch cho phép mới được lập gia đình.
 
Đôi khi Mao cũng ngạc nhiên vì các cô gái không coi ông ta là một người đàn ông, mà như Thượng đế. Điều ấy làm Mao bật cười, nhưng cái chính không phải ở đó. Các thiếu nữ này phải chứng tỏ họ xứng đáng với ham muốn của Mao, vốn chừng như không giảm sút đi với thời gian.
 
Gần đến tuổi bảy mươi, Mao có vẻ đã nói lời vĩnh biệt với chứng bất lực mà trước kia vẫn làm ông ta khiếp sợ mỗi khi nghĩ đến nguy cơ này. Trở thành tín đồ nhiệt thành của các phương pháp làm tình theo tinh thần Lão giáo, xem hành vi tình dục là nghi lễ phù hợp với luật âm dương của trời đất để trường thọ, Mao cần những thiếu nữ có đủ điều kiện tham gia và tỏ ra xuất sắc trong lãnh vực này.
 
Từ đó, chiếc giường size « khủng » của Mao đón tiếp có thể đến một tá cô gái cùng một lúc. Thực tế, quan niệm Lão Tử chỉ là cái cớ cho tính dâm dục tự nhiên của ông ta. Những điều mà các người tình một đêm này cho là hạ cấp đối với những người đàn ông khác, thì với Mao lại được coi là tuyệt vời, và các cô tự hào kể lại những kỳ tích của Mao.
 
Các cô gái không ngần ngại học hỏi kỹ năng làm tình để đáp ứng được những đòi hỏi trớ trêu của ông ta, vì thật là tệ hại nếu không phục vụ được ngang tầm. Cô nàng đó sẽ bị loại ngay lập tức, trong khi có hàng tá cô gái khác đang chầu chực ngoài cổng. Một trong số các cô, một hôm đã ngây ngất thổ lộ :
 
- Tất cả những gì ông ấy làm hết sức tuyệt vời, đê mê !
 
Ở tuổi bảy mươi, Mao vẫn cảm thấy cường tráng, mà ông ta cho rằng đó là nhờ hoạt động tình dục có thể sánh vai với Sardanapale (một vị vua thời cổ đại chỉ thích khoái lạc – ND).Mao thích làm tình hơn tất cả mọi thứ trên đời, cũng như các cô gái trẻ xinh xắn, đặc biệt là các trinh nữ.
 
Người ta đưa các cô đến phục vụ cho Mao như là thức ăn hàng ngày, tuyển lựa dựa theo các tiêu chuẩn cụ thể : phải thật đẹp và xuất thân từ thành phần vô sản. Mao chúa ghét những phụ nữ tinh tế, học thức và ở lứa tuổi chín chắn. Những cô gái trúng tuyển choáng ngợp trước vinh dự này.
 
Người cầm lái vĩ đại thực sự là một con sư tử trong lãnh vực tình dục. Cho đến lúc chết, cuộc sống riêng tư của Mao là một loạt những cuộc truy hoan. Đó là thú vui duy nhất của ông ta, và Mao tiêu thụ một số lượng thiếu nữ không thể đếm xuể.
 
Sự ham mê sắc dục của Mao không chỉ giới hạn ở những cô gái trẻ. Ông ta cũng thích các thanh niên đẹp trai lực lưỡng, như đa số các nam nhân viên phục vụ vẫn thường xuyên phải đấm bóp cho ông dễ ngủ. Mao đòi hỏi các chàng thanh niên này phải xoa bóp cả bộ phận sinh dục của ông ta nữa. Và cũng không ít trường hợp khi đã được làm nóng, Mao lại vuốt ve bộ phận kín của chàng trai. Đây không hẳn là khuynh hướng đồng tính luyến ái, nhưng đúng ra là một nhu cầu tình dục mãnh liệt dưới mọi dạng thức.
 
Đương nhiên không phải là đơn giản khi để cho bằng ấy thiếu nữ có ngoại hình hoàn hảo sống cùng một mái nhà với các chàng trai đẹp « lung linh ». Đội ngũ cận vệ gồm đủ loại người, trừ các hoạn quan, và họ không ngần ngại buông lời trêu hoa ghẹo nguyệt với các cô gái tuổi đôi mươi này. Nhưng hãy coi chừng cơn thịnh nộ của vị chúa tể…Mao không ưa người khác đi săn trên lãnh địa của mình, và đã có nhiều người học được bài học đắt giá.
 
Có vài ba lần Mao say đắm tài năng của một trong số các tì thiếp cho đến nỗi không cho cô ta kết hôn, khi cô phải lòng một anh chàng đẹp trai. Thế là nhiều nhân chứng đã phải chứng kiến những vụ cãi cọ chẳng khác ngoài chợ. Một cô ái phi khác thì dần dà có ảnh hưởng lớn đến mức cô ta tự cho phép mắng Mao sa sả. Nhưng cô này làm tình rất nghệ thuật cho nên Mao bỏ qua tất cả. Hơn nữa cô ta còn giới thiệu với Mao một lô một lốc các người đẹp trong gia đình mình, cô sau lại còn đẹp hơn cô trước.
 
Vào thời kỳ đó, cuộc sống tình dục của Mao Trạch Đông gần như trở thành quan hệ gia đình. Ông ta nhanh chóng sủng ái một trong các cô em của cô bồ đương nhiệm, và cô này đương nhiên bị hất cẳng. Cô em đã có chồng, nhưng điều này có can hệ gì…Một buổi tối, Mao mời cả gia đình đến ăn tiệc. Lúc đến món tráng miệng, ông ta bất thần nảy sinh ham muốn. Mao yêu cầu anh chồng đi nơi khác để có thể « chăm sóc » cô vợ. Đương nhiên là người chồng chẳng dám hé miệng, thậm chí còn cho rằng việc vợ mình được Mao chọn lựa là một sự ưu ái. Mao ưa thích các phụ nữ trong gia đình này cho đến nỗi ông ta có thể ngủ cả với người mẹ nếu bà còn sống…
 
**
 
Thời gian càng trôi đi, các người tình của Mao càng trở nên ngạo mạn. Hãy còn vô tư lúc mới gặp gỡ, chỉ cần được vời đến nhiều đêm trên giường của Mao là những người đẹp này bỗng trở thành những cô ả đanh đá. Đa số vô học, nên các cô nhanh chóng trở nên kiêu căng. Những người đẹp này ngu ngơ cho đến mức khi bị lây nhiễm căn bệnh hoa liễu, vốn không có lý do gì mà không ập đến chốn thanh lâu này, các cô còn tỏ ra hãnh diện vì được Mao Trạch Đông lây bệnh cho. Những thiếu nữ này xem đó là một niềm vinh hạnh, và nhất là, đây là bằng cớ chứng tỏ mình đã được ngủ với Mao.
 
Khi phải chữa trị cho nhân vật là nguồn gây lây lan bệnh, thì lại là chuyện khác vì Mao không bị ảnh hưởng gì, cho rằng đây là điều vô bổ. Các bác sĩ cảnh báo nguy cơ :
 
- Thưa chủ tịch, điều gì sẽ xảy ra nếu đến lượt phu nhân Giang Thanh của ngài cũng bị lây bệnh ?
 
Mao cười lớn :
 
- Điều đó chẳng bao giờ xảy đến đâu ! Tôi không quan hệ tình dục với bà ấy từ đời nảo đời nào rồi…Tôi bảo với bà ấy là tôi già quá rồi, không thể làm tình được nữa.
 
Nguy cơ lây truyền bệnh hoa liễu lại càng cao hơn vì Mao không bao giờ tắm rửa. Kể cả rửa « cái ấy ». Ông ta cười hô hố :
 
- Tôi rửa nó trong cơ thể phụ nữ rồi !
 
Hậu quả là Mao Trạch Đông mang trong người vi trùng hoa liễu cho đến cuối đời, và tiếp tục lây nhiễm căn bệnh cho hàng mấy trăm thiếu nữ…

 

 

  Tiến trình Trung Quốc lần chiếm đất của Việt Nam

Thật ra, người Việt đã bị Tàu cướp đất dài dài trong tiến trình lịch sử, bắt đầu từ thời mới lập quốc cho đến ngày nay, do đó người Việt phải tiến dần xuống phía Nam. Tuy nhiên, cha ông chúng ta cũng đã chiếm đất của Lâm Ấp, Chiêm Thành và Chân Lạp để lập thành một nước mới.

Trong bài này chúng tôi chỉ nói về tiến trình bị mất đất trong lịch sử.

BÀI HỌC LỊCH SỬ?
Trong bài Tựa của bộ “Việt Nam Sử Lược”, cụ Trần Trọng Kim (1882 – 1953) có than phiền:

“Sử mình đã không hay, mà người mình lại không mấy người biết sử. Là vì cách học tập của mình làm cho người mình không có thể biết được sử của mình”.

Bài Tựa này được viết vào năm 1919, khi bộ “Việt Nam Sử Lược” lần đầu tiên được xuất bản, nhưng đến nay vẫn còn đúng. Không những thế, một số “sử gia” đời nay khi viết sử, thường không dựa theo chính sử như cụ Trần Trọng Kim, mà chỉ ghi lại những phần mình thích, bỏ đi những phần bị coi là mất “khí thế” hay không oai hùng, biến hoá nhiều đoạn và thêm huyền thoại vào làm cho sử không còn là thực sử nữa! Một vài thí dụ cụ thể:
(1) Khi viết về vua Lê Lợi đánh thắng giặc Minh, các “sử gia” ta chỉ ghi lại “Bình Ngô Đại Cáo” và giấu đi tờ biểu thê thảm mà Lê Lợi dưng lên vua Minh xin phong vương. Trong vụ Nguyễn Huệ đánh thắng quân Thanh, các “sử gia” ta cũng chỉ ghi lại “Hịch Đánh Trịnh” của Nguyễn Hữu Chỉnh và “Hịch Gọi Đò” của Nguyễn Huệ, còn tờ biểu được Nguyễn Huệ dưng lên vua Thanh năn nỉ xin ban sắc phong được coi như không có. Họ cho rằng những tở biểu đó làm mất “khí thế” nên phải loại ra khỏi sử, không nên cho con cháu đọc.
(2) Thiền sư Lê Mạnh Thát đã sửa lại sử, cho rằng không có chuyện Bắc Thuộc lần thứ nhất và Mã Viện đem quân đánh hai Bà Trưng. Trái lại, các đời vua Hùng Vương đã kéo dài ra đến sau Công Nguyên, tức đến khi Phật giáo được truyền vào đất Việt! Việc sửa sử này nhắm mục tiêu chứng minh: “Phật giáo là dân tộc” vì đã du nhập vào Việt Nam từ đời Hùng Vương!
Pháp nạn kinh hoàng (gần như làm cỏ) mà Nguyễn Huệ đã gây ra cho Phật Giáo để có phương tiện tiến đánh quân Thanh, không được ai ghi lại một vài dòng, kể cả các “sử gia” Phật Giáo! Họ chỉ nói đến “Pháp nạn” dưới thời Ngô Đình Diệm!
(3) Tàu xây Ải Nam Quan như thế nào và các diễn biến về sau ra sao, đã được ghi rất tỉ mỉ trong chính sử của Tàu cũng như của ta. Công Ước Thiên Tân ngày 9.6.1885 giữa Pháp và Trung Hoa và các văn kiện đính theo đã gọi Ải Nam Quan là “Porte de Chine” (cửa của Trung Hoa) và vẽ nó nằm trên đất Trung Hoa.

Bây giờ người Việt ở trong cũng như ngoài nước, gần như nhà nào cũng xem phim Đại Hàn, trong đó có nhiều phim lịch sử, chẳng hạn như Thời Đại Anh Hùng, Những Ngày Đen Tối, Jumong, Bài Ca Sơ Đông, Đại Hiệp Sĩ, v.v. Qua các bộ phim này, chúng ta thấy người Đại Hàn đã diễn tả rất trung thực lịch sử của họ: thời kỳ nào cường, thời kỳ nào nhược, những sự rối loại trong cung đình, những thủ đoạn gian ác áp chế dân lành của các quan lại phong kiến, những phương thức mà cha ông họ đã dùng để chống ngoại xâm… Nhờ diễn tả lịch sử một cách trung thực như vậy, người Đại Hàn ngày nay đã rút được kinh nghiệm lịch sử để xây dựng một đất nước Đại Hàn tốt đẹp hơn. Trái lại, sử của người Việt đã bị hai bên đối nghịch biến chế theo sở thích và theo nhu cầu chính trị, làm sao có thể dựa vào đó để rút kinh nghiệm của cha ông được?

NƯỚC TA KHỞI TỪ BÊN TÀU?
Theo truyền thuyết và dã sử, thời kỳ Hồng Bàng bắt đầu từ năm 2879 trước Tây lịch, thuộc niên đại vua Kinh Dương Vương, với quốc hiệu Xích Quỷ. Địa bàn của Việt Nam dưới thời Kinh Dương Vương nằm ở tận bên Tàu, rất rộng lớn: Phía bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ Nam), phía đông là Đông Hải, phía tây là Ba Thục (Tứ Xuyên), và phía nam tới nước Hồ Tôn (Chiêm Thành).
Nước Chiêm Thành lúc đó nằm ở đâu? Bộ “Phương Đình Dư Địa Chí” của Nguyễn Văn Siêu đã ghi lại như sau:

“Chiêm Thành: phiá đông giáp bể, phía Tây đến Vân Nam, phía nam giáp Chân Lạp, phía bắc liền Annam, phía đông bắc đến Quảng Đông…”

Thật ra, phải đến thế kỷ thứ 13, nước ta mới có quan viết sử, nên những điều xẩy ra trước đó đều được chép lại theo tục truyền, không biết đúng được bao nhiêu phần trăm. Nhưng chắc chắn người Việt ngày xưa ở tận bên Tàu, sau đó trụt dần xuống phía nam. Tại sao như vậy? Cụ Trần Trọng Kim giải thích:

“Người nòi gióng Việt Nam ta mỗi ngày một nẩy nở ra nhiều, mà ở phía bắc đã có nước Tàu cường thịnh, phía tây thì lắm núi nhiều rừng, đường đi lại không tiện, cho nên mới theo bờ biển lấn xuống phía nam, đánh Lâm Ấp, dứt Chiêm Thành, chiếm đất Chân Lạp, mở ra bờ cỏi bây giờ.”

Đây là kiểu “Dùi đánh đục thì đục đánh săng (gỗ)” hay “Cá lớn nuốt cá bé”.

ĐỒNG TRỤ NẰM Ở ĐÂU?
Nước ta có ranh giới đầu tiên với nước Tàu là do Mã Viện ấn định. Lịch sử kể lại rằng dưới thời Đông Hán, năm 41 sau Tây lịch, vua Quang Vũ của Tàu sai Mã Viện làm Phục Ba Tướng Quân, sang đánh Trưng Vương, đem đất Giao Chỉ về lại cho nhà Hán (Thiền sư Lê Mạnh Thát nói chuyện này không có!). Mã Viện dời phủ trị về Mê Linh và dựng cây đồng trụ ở chỗ phân địa giới, khắc sáu chữ: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt”. Nghĩa là cây đồng trụ gãy thì người Giao Chỉ mất. Người Giao Chỉ đi qua dưới chân cột đồng ấy cứ lấy đá bồi đắp lên mãi thành gò đống cao, vì sợ cột đồng ấy bị đổ gãy.
Nhưng cột đồng này đã được dựng ở đâu?
Theo “Lĩnh Ngoại Đại Đáp” của Tàu (đời Đường) và “An Nam Chí Lược” của Lê Tắc, cột này được dựng ở Khâm Châu, trong vùng hang động Cổ Sâm.
Khâm Châu là một châu của Tàu nằm sát biên giới với Giao Chỉ, còn Cổ Sâm là một động của ta nằm sát biên giới Tàu.
Sách “Vân Đài Loại Ngữ” của Lê Quế Đường (tức Lê Qúy Đôn) có ghi: “Giữa đỉnh núi Phân Mao ở Khâm Châu có cột đồng to độ hai thuớc. Có lẽ đây là Mã Tống dựng lên.”
Núi Phân Mao (Phân Mao lĩnh) ở đâu?
Sách “Dư Địa Chí” của Nguyễn Trãi viết:

“Vân Cừ, Kim Tiêu, Phân Mao ở về Yên Bang (sau tránh húy đổi làm Yên Quảng). Vân Cừ là tên sông, tên khác của sông Bạch Đằng, Tiền Ngô Vương bắt Hoằng Tháo, Hưng Đạo Vương bắt Ô Mã Nhi đều ở đây. Phân Mao là tên núi, Kim Tiêu là cột đồng. Ở phía Tây lộ Hải Đông 300 dặm có đèo Phân Mao, ở nửa đèo có cột đồng của Mã Viện dựng, lớn chừng ba thước.”

(Dư Địa Chí, Nguyễn Trãi toàn tập, bản dịch của NXB KHXH – Hà Nội, tr. 202)
Sách “Gia Khánh Trùng Tu Nhất Thống Chí” của Nhà Thanh cho biết: Núi Phân Mao ở phía Tây Khâm Châu (nay là đất tỉnh Quảng Đông). Năm Tuyên Đức thứ 2 (1427) thời Minh, núi ấy thuộc vào châu Tân An của Giao Chỉ. Đến năm Gia Tĩnh thứ 21 (1542) Mạc Đăng Dung hàng, mới thuộc về nước Tàu.
Đồng trụ nếu to 2 thước ta (theo Lê Qúy Đôn) hay 3 thước ta (theo Nguyễn Trải) thì cũng rất lớn. Mỗi thước ta bằng 0,425 mét. Như vậy 2 thước là 0,850 mét và 3 thước là 1,275 mét.
Về sau, cả người Tàu lẫn người Việt đều không biết rõ đồng trụ nói trên nằm ở đâu. Sách “Khâm Định Việt Sử Thương Giám Cương Mục” có cho biết năm 1272, nhà Nguyên đã sai Ngột Lương sang Việt Nam hỏi giới mốc đồng trụ ngày trước ở đâu. Vua Trần Thánh Tôn đã sai viên phái Lê Kính Phu đi hội đồng khám xét. Lê Kính Phu tâu với Nhà Nguyên: “Chỗ cột đồng do Mã Viện dựng lên lâu ngày bị chìm lấp, nay không thể biết ở chỗ nào được”. Việc đó sau cũng thôi. (Quyển VII, tr. 219).
Thật ra, Mã Viện không phải chỉ dựng một đồng trụ ở Cổ Sơn. Ông đã mở mang bờ cỏi của nhà Hán, dựng lên một đồng trụ ở Đèo Ngang (giữa Hà Tĩnh và Quảng Bình) và hai đồng trụ ở Bình Định. “Phương Đình Dư Địa Chí” của Nguyễn Văn Siêu cho biết: Sách Tần Thư Điạ Lý Chí ghi: Ở quận Nhật Nam có cột đồng từ đời Hán dựng làm địa giới. Sách Lâm Ấp Ký chép: Phía tây quận Nhật Nam có nước Tây Đồ Di, Mã Viện qua đất này dựng hai cột đồng nêu bờ cỏi nhà Hán.
Quận Nhật Nam lúc đó gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định ngày nay (có tài liệu cho là đến tận cửa Đại Lãnh, Phú Yên). Vùng này là bắc Chiêm Thành.
Nhìn lại, nếu đồng trụ do Mã Viện dựng để phân ranh giới Việt – Trung mà còn thì nó cũng đã nằm trên đất Tàu, vì năm 1540 Mạc Đăng Dung đã giao vùng đất Cổ Sơn, nơi có đồng trụ, cho Trung Hoa rồi.

MẤT ĐẤT DƯỚI THỜI PHONG KIẾN
Nhiều người tưởng rằng, trong lịch sử, cha ông chúng ta luôn kiên cường dựng nước và giữ nước, không để mất một tấc đất nào. Thực tế không phải như vậy. Ngoài việc bỏ Hồ Nam, Quảng Đông và Quảng Tây chạy xuống Bắc Việt hiện nay, cha ông chúng ta còn phải chịu bị mất đất rất nhiều lần.
Mặc dầu Mã Viện đã dựng đồng trụ ở Phân Mao để đáng dấu ranh giới giữa Giao Chỉ và nước Tàu, những việc phân định ranh giới giữa hai nước không dễ dàng vì biên giới rất rộng lớn. Mỗi lần có tranh chấp, vua hay quan Tàu đều giàng quyền quyết định phần nào thuộc Tàu và phần nào thuộc ta.. Thí dụï năm 1442, nhà Minh gởi dụ cho vua Lê Thái Tông, nói rằng Chiêm Lãnh và Như Tích là thuộc Châu Khâm của Trung Quốc, do Hoàng Khoan cai quản, nên phải trả lại cho Trung Quốc. Năm 1547, Đô Đốc Mã của nhà Thanh gởi thư cho Chúa Trịnh và nói: “Từ Sa Châu trở ra ngoài đến Phân Mao – Đồng Trụ là đất của quý quốc cày cấy chăn nuôi từ lâu, cho về An Nam”.
Ngoài chuyện tranh chấp về vùng biên giới, các vua và quan Tàu luôn tìm cách chiếm thêm đất của nước ta. Tạm bỏ qua “một ngàn năm đô hộ giặc Tàu” đi, chúng ta thấy từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ thứ 18, dưới các triều đại của Trung Quốc từ Tống, Nguyên, Minh đến Thanh đều đem quân xâm lấn Đại Việt. Nhà Tống xâm chiếm 2 lần, nhà Nguyên 3 lần, nhà Minh và nhà Thanh mỗi vương triều một lần. Ngoài những cuộc xâm chiếm đại quy mô như thế, các triều đại Trung Quốc cũng thường tìm cách cướp đất của người Việt ở vùng biên giới. Sau đây là một số thí dụ cụ thể:
1.- Mất hai động Vật Ác và Vật Dương.
Dưới thời nhà Tống, Quách Quỳ đã chiếm 4 châu và một huyện của Đại Việt là Quảng Nguyên, Quang Lang, Tô Mậu, Môn, và Thuận châu. Sau đó, năm 1057 Nùng Tôn Đàn nộp động Vật Ác và năm 1064 Nùng Trí Hội nộp thêm động Vật. Dương. Vua Lý Nhân Tông phái sứ qua thương lượng nhiều lần, vua Tống chỉ chịu trả cho 4 châu và một huyện, nhưng không trả hai động Vật Ác và Vật Dương.
2.- Mất 59 thôn ở Cổ Lâu
Năm 1401, khi Hồ Hán Thương được Hồ Quý Ly nhường ngôi, đã sai sứ sang xin vua nhà Minh phong vương. Vua Thánh Tổ nhà Minh nghe tin ở An Nam đang có chuyện lộn xộn nên cho điều tra và biết được Hồ Quý Ly đã cướp ngôi nhà Trần. Nhà Minh muốn nhân cơ hội này đem quân sang chiếm nước An Nam, lấy lý do là để hạch tội Hồ Quý Ly. Khởi đầu, vào năm 1405 nhà Minh sai sứ sang đòi lại đất Lộc châu, tức Lộc Bình thuộc tỉnh Lạng Sơn ngày nay, viện lý do đất này trước đây thuộc châu Tự Minh của tỉnh Quảng Tây. Lúc đầu Hồ Quý Ly không chịu, nhưng thấy áp lực của nhà Minh quá nặng nên Hồ đã sai quan hành khiển là Hoàng Hối Khanh đến dàn xếp. Hoàng Hối Khanh quyết định cắt 59 thôn ở Cổ Lâu nhường cho Tàu. Hồ Quý Ly thấy cắt nhiều quá, có mắng Hoàng Hối Khanh. Tuy đã nhún nhường như thế, nhà Minh vẫn không chịu, đem binh qua chiếm nước ta.
3.- Mạc Đăng Dung giao hai châu và 4 động cho Tàu
Theo cuốn “Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí” của Phan Huy Chú, năm 1540 khi Mạc Đăng Dung đầu hàng nhà Minh, đã trao trả 2 châu và 4 động cho nhà Minh. Hai châu là Như Tích và Chiêm Lãng, và 4 động là Tê Phù, Kim Lạc, Cổ Sâm và Liêu Cát. Các lãnh thổ này được sát nhập vào châu Khâm của Tàu. Nhưng Mạc Đăng Dung không được nhà Minh phong vương mà chỉ phong làm Đô Thống Sứ.
4.- Mất 13 châu và 3 động.
Năm 1684, thổ quan huyện Khai Hóa của tỉnh Vân Nam đem quân chiếm ba động Vị Xuyên, Bảo Lạc và Thủy Vĩ thuộc tỉnh Tuyên Hưng của ta. Chúa Trịnh Thuận Đức cho sứ qua đòi lại nhưng nhà Thanh không trả.
Năm 1698 thổ quan tỉnh Vân Nam lại chiếm thêm ba động Ngưu Dương, Hồ Điệp và Phổ Viên thuộc tỉnh Tuyên Quang. Sứ thần Nguyễn Đăng Đạo đến Trung Quốc xin vua Khang Hy trả lại, nhưng vua từ chối. Chúa Trịnh Bính lại phái sứ khác qua nhà Thanh xin xem lại vụ này, nhưng quan Tuần Phủ Quảng Tây không cho đi. Từ đó, ba động này kể như mất luôn.
Năm 1781, dưới thời Tây Sơn do Nguyễn Nhạc lãnh đạo, Hoàng Công Thư đã đem 10 châu của nước Việt nộp cho Tổng Đốc tỉnh Vân Nam. Triều đình ta gởi thư yêu cầu Tổng Đốc Vân Nam xét lại biên giới. Tổng Đốc Vân Nam trả lại thư và nói rằng biên giới tự nhiên không cần vạch lại.
Trên đây là một số vụ mất đất điển hình trong thời phong kiến.

MẤT ĐẤT DƯỚI THỜI XHCN
Có thể nói, nếu không có Pháp xâm chiếm và đô hộ nước ta, khó mà ấn định được đường ranh giới hợp lý và khoa học trên bộ và trên biển giữa Việt Nam và Trung Hoa.
Sau nhiều lần thương lượng rất gay cấn, kể cả dùng sức mạnh quân sự, ngày 9.6.1885 nhà cầm quyền Pháp và Trung Hoa đã ký Công Ước Thiên Tân về biên giới Việt – Trung được gọi là “Hiệp Ước Hòa Bình, Hữu Nghị và Thương Mại” (Traité de Paix, d’Amitié, et de Commerce). Công ước này đã được bổ túc do công ước ngày 26.6.1887 và công ước ngày 20.6.1895.
Mặc dầu có những hiệp ước ấn định ranh giới một cách rõ ràng nói trên, kể từ năm 1954, sau khi Pháp rút khỏi miền Bắc, Trung Quốc bắt đầu xâm phạm biên giới Việt Nam. Những vụ xâm phạm này đã được nhà cầm quyền Hà Nội ghi rõ trong tập “Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc”, do nhà xuất bản Sự Thật của Hà Nội xuất bản năm 1979, sau khi Trung Quốc đem quân “dạy cho Việt Nam một bài học.” Trong “Lời Nhà Xuất Bản”, nhà xuất bản Sự Thật nói rõ đây là toàn bộ “Bị vong lục của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc nhà cầm quyền Trung Quốc gây khiêu khích, xâm lăng lãnh thổ Việt Nam ở vùng biên giới”.
Vì tập sách khá dài, chúng tôi chỉ ghi lại những điểm chính. Trong phần “Tình hình Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam từ năm 1954 đến nay”, nhà cầm quyền Hà Nội cho biết thủ đoạn lấn chiếm đất của Trung Quốc như sau:
(1) Từ xâm canh, xâm cư, đến xâm chiếm đất (tr. 8).
(2) Lợi dụng việc xây dựng các công trình hữa nghị để đẩy lùi biên giới sâu vào lãnh thổ Việt Nam (tr. 10).
(3) Đơn phương xây dựng các công trình ở biên giới lấn sang đất Việt Nam (tr. 11).
(4) Từ mượn đất của Việt Nam đến biến thành lãnh thổ của Trung Quốc (tr. 12).
(5) Lợi dụng việc vẽ bản đồ giúp Việt Nam để chuyển dịch đường biên giới, điển hình là đã sửa ký hiệu ở khu vực thác Bản Giốc (mốc 53), nơi chúng định chiếm một phần thác Bản Giốc và cồn Pò Thông (tr.14)…
Sau đây là một số trích đoạn được trích dẫn:
1.- Từ xâm canh, xâm cư đến xâm chiếm đất.
Tài liệu cho biết:

“Lợi dụng đặc điểm là núi sông hai nước ở nhiều nơi liền một dải, nhân dân hai bên biên giới vốn có quan hệ họ hàng, dân tộc, phía Trung Quốc đã đưa dân họ vào những vùng lãnh thổ Việt Nam để làm ruộng, làm nương rồi định cư những người dân đó ở luôn chỗ có ruộng nương, cuối cùng nhà cầm quyền Trung Quốc ngang ngược coi những khu vực đó là lãnh thổ Trung Quốc.”

Một thí dụ cụ thể: Từ năm 1956 phía Trung Quốc tìm cách nắm số dân Trung Quốc sang làm ăn ở Trình Tường bằng cách cung cấp cho họ các loại tem phiếu mua đường, vải và nhiều hàng khác, đưa họ vào công xã Đồng Tâm thuộc huyện Đông Hưng, khu tự trị Choang-Quảng Tây. (tr. 8 và 9)
2.- Lợi dụng việc xây dựng các công trình hữu nghị để đẩy lùi biên giới sâu vào lãnh thổ Việt Nam.
“Năm 1955, tại khu vực Hữu Nghị Quan, khi giúp Việt Nam khôi phục đoạn đường sắt từ biên giới Việt-Trung đến Yên Viên gần Hà Nội, lợi dụng lòng tin của Việt Nam, phía Trung Quốc đã đặt điểm nối ray đường sắt Việt Trung sâu trong lãnh thổ Việt Nam trên 300m so với đường biên giới lịch sử, coi điểm nối ray là điểm mà đường biên giới giữa hai nước đi qua. Ngày 31 tháng 12 năm 1974, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà đã đề nghị Chính phủ hai nước giao cho ngành đường sắt hai bên điều chỉnh lại điểm nối ray cho phù hợp với đường biên giới lịch sử nhưng họ một mực khước từ bằng cách hẹn đến khi hai bên bàn toàn bộ vấn đề biên giới thì sẽ xem xét…” (tr.10)
3.- Đơn phương xây dựng các công trình ở biên giới lấn sang đất Việt Nam.
“Trên đoạn biên giới đất liền cũng như ở các đoạn biên giới đi theo sông suối, tại nhiều nơi, phía Trung Quốc đã tự tiện mở rộng xây dựng các công trình để từng bước xâm lấn đất.
“Tại khu vực mốc 53 (xã Đàm Thuỷ, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) trên sông Quy Thuận có thác Bản Giốc, từ lâu là của Việt Nam và chính quyền Bắc Kinh cũng đã công nhận sự thật đó. Ngày 20.2.1970 phía Trung Quốc đã huy động trên 2.000 người kể cả lực lượng vũ trang lập thành hàng rào bố phòng dày đặc bao quanh toàn bộ khu vực thác Bản Giốc thuộc lãnh thổ Việt Nam, cho công nhân cấp tốc xây dựng một đập kiên cố bằng bê tông cốt sắt ngang qua nhánh sông biên giới, làm việc đã rồi, xâm phạm lãnh thổ Việt Nam trên sông và ở cồn Pò Thoong, và ngang nhiên nhận cồn này là của Trung Quốc… (tr.11 và 12).
Trên đây chỉ là một vài thí dụ cụ thể. Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này sau.

LỆNH PHẢI GIỮ ĐẤT
Năm 1473 khi Lê Duy Cảnh, Thái bảo kiến dương bá, đi trấn giữ ở vùng biên giới giáp với tỉnh Quảng Tây, vua Lê Thánh Tông đã trao cho ông một sắc dụ, trong đó viết:

“Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vứt bỏ, ngươi nên cố cãi, chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe, còn có thể sai quan sang xứ Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di.”

Lữ Giang
Theo Sách Hiếm
( Nguồn : Nguyennguyenbay…)

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 06.08.2014

TIẾNG SÚNG

TIẾNG SÚNG

Truyện ngắn Phạm Dũng

Hắn kiểm tra lại đạn. Những viên đạn ánh màu đồng, sáng bóng. Tốt! Vài tiếng nữa súng sẽ nổ và cả nước, không, cả nhân loại sẽ sôi lên vì một cuộc tự sát vô tiền khoáng hậu, một cuộc tự sát giữa một đại hội nhà văn của một nước có chín mươi triệu dân.

Mình sẽ nổ súng! Nhất định mình sẽ nổ súng. Sống lâu hơn hay nhanh hơn mội vài năm hay một vài chục năm thì có gì khác nhau? Đảng cần cần phải có một sự cảnh báo. Tiếng súng! Tiếng súng sẽ là một cảnh báo mạnh mẽ.

Hắn lật áo lên, gài súng vào cặp quần.

-      Anh đi nghe!

-      Ừ, anh đi!… Kìa cái cổ áo! – Vợ hắn bước tới chỉnh lại cái cổ áo cho hắn.

-      Cảm ơn em!

Hắn ôm vợ. Tự dưng hắn thấy người vợ hắn có mùi bếp núc.

-      Em… có mùi bếp… thơm thật.

-      Anh nói lạ, em nội trợ suốt ngày phải có mùi bếp chứ! (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 05.08.2014

THƯ NGỎ GỬI BẠN TRẺ VIỆT NAM

Nhà văn Nguyễn Khắc Phục

THƯ NGỎ GỬI BẠN TRẺ VIỆT NAM

Nguyễn Khắc Phục

Sự kiện nhà cầm quyền Trung Quốc trắng trợn tuyên bố đầu tư 40 tỉ USD thăm dò biển Đông trên thềm lục địa của Việt Nam đã làm dấy lên sự phẫn nộ của người dân Việt Nam cả trong nước lẫn ngoài nước. Mặc dầu bị đàn áp và bịt miệng, nhà văn Nguyễn Khắc Phục ở Hà Nội đã lên tiếng cảnh báo nguy cơ mất nước bởi bọn bành trướng Trung Quốc trong lá thư ngỏ gửi bạn đọc trẻ Việt Nam…”. THư viết từ năm 2008 mà nóng hổi như mới viết hôm qua !

Nhật Tuấn

 

Hà Nội ngày 8 tháng 12 năm 2008

Tôi tên là Nguyễn Khắc Phục, hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam, đã về hưu và tiếp tục sáng tác tại Hà Nội. Cách đây đúng một năm (ngày 08.12.2007), trước những hành vi sai trái, nguy hiểm của nhà cầm quyền Trung Quốc đe dọa chủ quyền, an ninh lãnh thổ nước ta, tôi đã phải viết một bức thư ngỏ gửi các nhà văn Trung Quốc. Một năm sau, những diễn biến nói trên mỗi lúc một thêm nghiêm trọng, nhà cầm quyền Bắc Kinh càng có nhiều hành động không thể chấp nhận được, đưa ra những đòi hỏi cực kì vô lý, đi ngược lại mọi chuẩn mực công pháp quốc tế, đạo lý khi tuyên bố chủ quyền đối với vùng biển có diện tích khoảng 75% Biển Đông. Tham vọng bất chính, bất hợp pháp của họ không dừng lại ở việc xâm chiếm phi pháp Hoàng Sa, đe dọa Trường Sa mà còn tiếp tục những mưu toan ngang ngược, trắng trợn đòi chiếm luôn cả vùng Tư Chính – Vũng Mây và bồn trũng Nam Côn Sơn của Việt Nam vốn nằm cách đảo Hải Nam của Trung Quốc 1000 km, bất chấp chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam đối với vùng biển này đã được luật quốc tế và các bên liên quan công nhận (xin tham khảo thêm tư liệu ở TUANVIETNAM ngày 8.12.2008, “Chủ quyền Việt Nam ở vùng Nam Côn Sơn, Tư Chính, Vũng Mây” của Dương Danh Huy – Lê Minh Phiếu).

 

(Đọc tiếp…)

XÓT TIỀN DÂN CHO NHỮNG CHUYẾN ĐI NƯỚC NGOÀI VÔ BỔ 

 
 
Đào Tuấn/ TVN
Chi phí tiền tỷ ra đi theo các chuyến công cán. Ảnh minh họa
Trong nước cũng thế, ngoài nước cũng vậy. Trung ương cũng nhiều, địa phương cũng lắm. Hóa ra, chuyện lãng phí, chuyện trùng lắp là chuyện của… “chúng ta”.
 Những con số “tế nhị”

 

 

 

Ngày 3/10/2013, bản tin trên một tờ báo điện tử dẫn lời chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh nói: “Tôi vừa từ nước ngoài về, Đại sứ Việt Nam tại Liên Bang Nga Phạm Xuân Sơn cho biết bình quân một năm đón tiếp từ 200- 220 đoàn công tác từ Việt Nam sang, có đoàn tới 60 người”. Nhưng cũng chỉ rất nhanh sau đó, câu trên đã được sửa lại thành “một Đại sứ cho biết…”.

 

 
Có thể, số đoàn vẫn chỉ là 200-220, nhưng rõ ràng “Một Đại sứ”, khác với “Đại sứ Phạm Xuân Sơn”. Có thể, vì những con số là tế nhị nhạy cảm cũng không biết chừng.
Giá cho một cặp vé khứ hồi đi Moscow rẻ nhất là 17 triệu VNĐ, hạng thương gia lên tới 52 triệu. Không khó để tự những người nông dân tính ra một năm như thế, họ phải làm ra bao nhiêu thóc chỉ để phục vụ cho các đoàn công tác nước ngoài.
Huống chi “đoàn” không phải lúc nào cũng 60 người, nhưng chắc chắn không đoàn nào là 1 người. Huống chi Nga chỉ là một trong khoảng 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Huống chi, cũng theo đại sứ Phạm Xuân Sơn kể, lãnh đạo tổng cục Du lịch từng sang tổ chức hội thảo quốc tế bằng cách đưa cho đại sứ quán mấy cuốn băng video, mấy tờ bướm quảng cáo, vài cuốn sách hướng dẫn du lịch nhỏ xíu rồi cùng với đoàn cán bộ chuyên môn… “đi đâu đó”.
Vậy thì có bao nhiêu “tấn thóc” đi đâu đó ra nước ngoài mỗi năm?
3.780 đoàn năm 2012 và 3.200 đoàn năm 2013. Đây là con số mà Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh chính thức công bố.
Phải dừng lại để nhấn mạnh rằng, có lẽ đây là lần đầu tiên những thống kê chính thức về chuyện công cán nước ngoài được công khai trước nhân dân. Dù về nguyên tắc, trước nay chẳng ai quy định đó là tế nhị hay nhạy cảm cả.
 Và những con số đó được Phó Thủ tướng nhắc tới kèm theo một lời than “Nhiều nước bạn phản hồi, có nhiều vấn đề vừa trả lời đoàn này, một thời gian ngắn sau lại có đoàn khác sang hỏi câu tương tự. Điều này gây nên sự lãng phí tiền của đất nước”.  
 
Còn người nói cho lòng dân hai chữ “quá trời” thì chính là Thủ tướng. “Tôi nghe báo cáo có nước bạn thấy đoàn Việt Nam đến người ta sợ. Các đồng chí phải xem lại cái này, đi quá trời thế này, dù có giảm nhưng còn tới 3.200 đoàn như vậy là rất lớn”- ông nói.
“Lớn” ở đây không chỉ là nhiều, mà còn là những phí tổn khổng lồ. Cho dù về lý thuyết, chuyến công cán nào cũng đều được thuyết minh là cần thiết, là hiệu quả.
Chuyện của… “chúng ta”
Tình trạng công tác trong nước cũng tệ không kém. Chủ tịch An Giang kèm theo việc “kêu trời” trước con số 70 đoàn vào công tác mỗi năm đã nêu kỷ lục có đoàn ở tới… 3 tháng, đã mở ngoặc liệt kê thêm bao nhiêu khoản chi phí. Từ tiền vé máy bay, tiền ăn ở, tiền khách sạn… Trong khi, dù không “hỏi câu tương tự”, nhưng cũng là thanh kiểm tra những vấn đề trùng lắp.
Nhưng nói cho cùng, các địa phương cũng chẳng phải chỉ là nạn nhân. Tháng 11 năm ngoái, Chủ tịch Quảng Bình than thở trên Tiền phong trước tình trạng có lúc ông phải “bù đầu” cáng đáng công việc cho 3 vị phó chủ tịch cùng lúc đi công tác nước ngoài. Trong 10 tháng của năm, một tỉnh nghèo như Quảng Bình mà có đến 98 đoàn đi công tác nước ngoài.
Trong nước cũng thế, ngoài nước cũng vậy. Trung ương cũng nhiều, địa phương cũng lắm. Hóa ra, chuyện lãng phí, chuyện trùng lắp là chuyện của… “chúng ta”.
Cần nhắc lại rằng năm nào Chính phủ cũng yêu cầu hạn chế công tác nước ngoài. Năm nào Bộ tài chính cũng yêu cầu chỉ đi trong trường hợp cần thiết. Cũng khối địa phương có trát rành rành hai chữ hạn chế, nhưng xem ra, các bộ ngành địa phương vẫn còn nặng nề lắm với tư tưởng “làng Vũ Đại”: Hạn chế là hạn chế ai đó, chắc trừ mình ra.
Nhớ hồi tháng 9, tại Thái Lan, khi bàn về dự án ngân sách, chuyện công du “nhiều thứ 3 trên thế giới” của thủ tướng nước này đã được đưa ra mổ xẻ, kèm thêm con số chi phí 9,4 triệu USD. 52 chuyến công du. Chi phí 9,4 triệu USD. Trong khi thống kê thương mại cho thấy đất nước đang thâm hụt 18 tỷ USD.
Người dân Thái Lan, với tư cách những người đóng thuế, ít nhất cũng có số liệu cụ thể về chi phí và hiệu quả để tự mình đánh giá.
“Bây giờ phải hết sức cân nhắc đoàn đi, yêu cầu đi, số lượng người đi… phải hết sức chặt chẽ. Tôi đề nghị đồng chí Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh rà soát lại, để có cách kiểm soát và báo cáo Ban Bí thư về vấn đề này”- Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói.
Có lẽ, muốn tránh lãng phí từ những chuyến công du thì ngoài việc thẳng thắn về con số các đoàn công cán nước ngoài, Chính phủ nên có một bản bạch hóa những chuyến công cán cho từng bộ ngành, từng địa phương.
Để ít nhất khi ký công lệnh cho cán bộ đi nước ngoài, các vị thủ trưởng đáng kính của chúng ta có thể ước lượng ngay được số tiền mà người dân của mình phải “vắt mồ hôi quy xăng” cho những chuyến đi đắt đỏ đó.
( Đầu đề của QTXM)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 04.08.2014

THẰNG CẦM CẶC

 

THẰNG CẦM CẶC

Truyện ngắn của  PHẠM DŨNG

Ở nước Sảng thời Ngũ quốc phân tranh, có một người có cái tên rất kinh dị đó là thằng cầm cặc. Sở dĩ hắn có cái tên này là do vua nước Sảng có một thói quen vô cùng bệnh hoạn là khi ngủ với các cung tần mỹ nữ phải có nó cầm cái thứ đó thì nhà vua mới hoàn thành mỹ mãn công việc. Vì sao thì thật khó lý giải.

Lúc đó nước Sảng bí bét nhất trong 5 nước. Nào là quan lại tham nhũng, kiêu binh ức hiếp dân lành, hoạn quan lũng đoạn triều chính. Tóm lại người càng có tài, có tâm thì càng sống lay lắt, khổ sở.

Thằng cầm cặc là đứa có tâm. Nhiều lần, nhân khi vua đang lên đỉnh, nó góp ý cho nhà vua cần phải làm thế này thế khác. Nhưng nhà vua không nghe: “Ổn định là điều căn bản của một nước! Có ổn định ta với nhà ngươi mới được như thế này chứ!?”

Thời gian trôi qua, thằng cầm cặc hồi mới vào cung, cằm nhẵn thín giờ đã có một chòm râu dài cả tấc. “Cứ thế này mãi thì mình chẳng làm được gì cho dân cho nước a?”. Nghĩ thế, nó xin từ quan.

-      Ờ, mày về đi, cũng già mẹ nó rồi, hử?

Vua nói rồi ban cho nó vô khối vàng bạc gấm vóc cùng một tấm bảng sắc phong có dòng chữ tự tay vua viết:

“Đây là một người cầm cặc vĩ đại!”.

Thế là thằng cầm cặc về.

Nhưng từ ngày nó ra đi, không có ai cầm cái đó thì vua lại chẳng thể nào hành sự được. Vua cho rất nhiều người thay nó làm việc ấy nhưng đứa thì bàn tay nhẽo nhèo, đứa thì tay cứng quèo, đã thế lại chẳng có sự phối hợp nhịp nhàng. Thật chẳng ra làm sao cả.

Vua tức tốc cho triệu hồi thằng cầm cặc đến.

Thằng cầm cặc yêu cầu phải cho nó làm tể tướng, với quyền lực tuyệt đối thì nó mới chịu trở lại cung.

-      Ừ, tể tướng thì tể tướng, cứ làm đi rồi biết!

Và, thằng cầm cặc ra làm tể tướng.

Thời gian trôi đi, năm này qua năm khác, đất nước vẫn ngày càng lụn bại, dân lành vẫn ngày càng sống ngắc ngoải hơn.

Một hôm nhà vua gọi nó vào, hỏi:

-      Trẫm đã cho khanh muốn làm gì thì làm, sao không thấy khanh làm gì vậy?

-      Dạ, thần cầm cặc quen rồi… nên giờ dù có cho thần tự tung tự tác thần vẫn chẳng thể tự mình làm gì sất.

-      Đấy khanh thấy không, làm vua đâu có dễ!

Nói rồi nhà vua kéo nó theo vào hậu cung. Nhà vua mới tuyển được một tài nhân cực kỳ hấp dẫn.

Thằng cầm cặc lại… cầm cặc.

Thằng cầm cặc tự an ủi rằng giúp nhà vua lên đỉnh thì cũng coi như đã làm được một việc có ích cho muôn dân. Nhờ vậy từ sau khi quay lại với công việc cũ, nó không còn bị lương tâm cắn rứt nữa.

( Tác giả giửu chio QTXM)

Đăng bởi: Ngô Minh | 03.08.2014

Văn Cao, tiếng hát

Văn Cao, tiếng hát

  •   Đặng Tiến

Nhạc sỹ Văn Cao Nhạc sỹ Văn Cao

Thiên Thai Trương Chi là hai ca khúc nổi tiếng từ nửa thế kỷ trước, cấu trúc trên hai truyền thuyết được lưu hành lâu đời. Thiên Thai là chuyện Lưu Nguyễn lạc vào cõi bồng lai, Trương Chi kể lại niềm đau đớn của chàng ngư dân có tiếng hát hay, tuyệt vọng vì tình:  ai cũng hiểu như thế và hiểu đúng. Gần đây, Phạm Duy có phát triển thêm ý nghĩa của hai bài hát, trong một loạt bài rất hay đăng trên Văn Học (California), số 16 và 17 tháng 10, 11 năm 1987, mà Hợp Lưu đăng kèm trong số này.

Nay chúng tôi muốn đưa một lối nhìn khác về hai nhạc phẩm, không phải để đi tìm cái độc đáo, lập dị, mà để đưa Thiên ThaiTrương Chi vào toàn bộ sự nghiệp thơ – nhạc – họa của Văn Cao, như một đồng bộ thống nhất: hai bài hát đó, chúng tôi xem như là tuyên ngôn nghệ thuật của Văn Cao – những nguyên tắc thẩm mỹ được đưa ra từ thuở hai mươi, sẽ chung thủy với Văn Cao đến tuổi xế chiều.

Thiên Thai mở ra bằng một tiếng hát:

Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng…

Bồng lai, ở đây, chỉ là tiếng hát: Thiên Thai là lịch sử một tiếng hát, một tác phẩm nghệ thuật lừng danh và vô danh. Tiếng hát, không à ơi trên võng, không tỉ tê bên gối, không ê a dưới ánh đèm màu, không rè rè qua máy phát thanh, và vang lừng trên sóng, vượt tới vũ trụ và lấn át vũ trụ. Tiếng hát át tiếng sóng là một âm thanh tự thức đè lên một âm thanh vô thức. Tiếng ai hát… ai hát?  Ta không biết và không cần biết. Một tác phẩm nghệ thuật, khi lìa tác giả, không còn cần tác giả, như đứa con khi trưởng thành không còn cần mẹ như trước:  chúng ta yêu Truyện Kiều mà không cần biết Nguyễn Du. Biết, dĩ nhiên, «thì cũng tốt thôi»nhưng không phải là điều chính yếu trong nghệ thuật. Cái sai lầm của cô Mỵ Nương là đã muốn đồng hóa tiếng hát với người hát:  «Anh Trương Chi. Người thì thậm xấu hát thì thậm hay… Hồ nghe tiếng hát thì thương… Hồ trông thấy bóng anh chàng thì chê»như lời ca dao quê Văn Cao mà Nguyên Hồng và sau này Phạm Duy, có kể lại. Mà không cứ gì một cô bé lầu Tây sai lầm, mà cả nền văn nghệ hiện thực xã hội chủ nghĩa (đã) sai lầm, khi đánh giá những bài hát nói Nguyễn Công Trứ qua Nguyễn Công Trứ, đánh giá tiểu thuyết Nhất Linh qua con người Nhất Linh – mà lại đánh giá sai.

«Thiên Thail à gì?  là cả một thiên thu trong tiếng đàn chơi vơi». Sự đối lập, hay song lập giữa vĩnh viễn và mong manh, giữa những định hình và những chơi vơi, là thế giới nghệ thuật. Nụ cười mong manh trở thành miên viễn trong bức họa La Joconde. Cái không gian như cái giây tơ, bước đi sẽ đứt động hờ sẽ tiêu trong buổi chiều Xuân Diệu – hay buổi chiều Nguyễn Du, bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha, những ánh sáng mong manh ấy, là cả một thiên thu.

Một mặt, nghệ thuật là tiếng « đàn xui ai quên đời dương thếnhớ quê chiều nào xa khơi… chắc không đường về tiên nữ ơi», tách rời khỏi thực tế: nghệ thuật là một thế giới riêng, với những quy luật riêng, bảo vệ và phát huy bản năng sáng tạo, độc lập với hiện thực. Mặc khác, nghệ thuật cần bám rễ vào thực tại để phát triển, và phả sắc, nhả hương về lại trần gian. Nói giản dị hơn: nghệ thuật cần thực tại để nảy sinh và cần quần chúng để trưởng thành và tồn tại, nghệ thuật là ánh trăng thanh mơ tan thành suối trần gian. Nghệ thuật là một mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn qua một lần, là những cánh hoa trong một bức tranh tuyệt mỹ, không nở không tàn, nhưng chỉ sống thực khi gặp cái nhìn của người xem: sóng mắt con người đánh thức cành hoa trong hội họa, và trong ánh mắt đó, nó sẽ nở sẽ tàn như mọi thứ hoa trần thế ; và chỉ có phút bừng sống đó, cành hoa nghệ thuật mới đạt tới đời sống thực và có khả năng trở thành một cành hoa lý tưởng. Trong khi chờ đợi, cành hoa huệ của Tô Ngọc Vân, cành hoa cúc của Lê Phổ… vẫn là những hoa xuân chưa gặp bướm trần gian.

Người nghệ sĩ khi cầm cây cọ ngòi bút tên tay đều biết rằng ái ân thiên tiên, em ngờ phút mê cuồng có một lần – một lần thôi, nếu có. Và có thể cái phút mê cuồng ấy không đến:  phút linh cầu mãi không về như lời thơ Hồ Dzếnh. Hoặc đến không phải nơi phải lúc. Phút mê cuồng ấy linh thiêng, tuyệt đối, là động cơ sâu xa của sáng tạo mà mỗi nghệ sĩ, mỗi xã hội đều có nhiệm vụ bảo vệ, vì nó chỉ có một lần. Và khi khai triển chuyển phút có một lần thành cả một thiên thu, người nghệ sĩ lại phải tỉnh táo:  trước cái phút mê cuồng đó để chuẩn bị, và sau đó, để hoàn tất. Lúc tỉnh táo, trước và sau đó, anh là người thợ, phải có dụng cụ, có tay nghề. Anh đừng cả tiếng khinh thường thợ thơ, thợ vẽ:  không có người thơ trong tay, anh suốt đời chỉ nghệch ngoạc, hoặc rung đùi đợi vợ con hầu rượu hoặc lạc rang, và chửi đời «không có trình độ».

Thiên Thailà luồng điện hai chiều: người trần thế mê hạnh phúc bồng lai trong khi những tiên cô khao khát «khúc tình duyên»trần thế. Lưu Nguyễn khi ở Thiên Thai đã «quên trần hoàn», khi về trần, muốn tìm lại cõi tiên thì Đào nguyên nơi nao? . Nghệ thuật cũng vậy. Nghệ thuật là cuộc đời muốn hóa thân thành màu sắc, âm thanh; mà cũng là những âm sắc khô cứng muốn trở lại làm hoa làm lá. Nghệ thuật là đóa hoa mong chín mọng thành trái đầu mùa, mà cũng là quả cây chín muộn, nhung nhớ cánh bướm hoang đường từ một mùa xuân xa vắng. Là những lối đi trùng với lối về, nghệ thuật là cõi hẹn hò ngang trái. Mỗi ngang trái là một chung thủy và hạnh phúc của sáng tạo nảy sinh từ sự thủy chung đó. Nghệ sĩ cùng bầy tiên đàn ca bao năm, không còn nhớ đường về; anh sống với nghệ thuật cũng vậy: trước giá vẽ, anh chỉ biết vui với cây cọ và màu sắc, mà không cần nhớ cuộc sống, không nên thêm vào một bó hoa hồng để tranh dễ bán, không nên bớt đi một đóa sen cho hợp với đường lối, lập trường. Anh vẽ cuộc sống, nghĩa là vẽ cuộc sống trong anh; dù là vẽ cái ly trước mặt, anh vẫn vẽ ra hàng ngàn cái ly chứng kiến đời anh, bằng một cái ly trong tâm tưởng. Tĩnh vật trước mặt chỉ là cái cớ, làm trung gian giữa tác giả và người xem tranh. Những mối tình lớn không cần trung gian. Những họa phẩm lớn không cần đề tài. Nhưng ngược lại, khi rời khỏi giá vẽ, trở lại đời sống bình thường của xã hội, thì anh lại phải sống bình thường, đau cái đau của con người, vui cái vui của vợ con, buồn nỗi buồn của dân tộc. Nguyễn Du không lăn lóc suốt đời thì không thốt lên được tiếng đoạn trường. Nguyễn Khuyến không lo sốt vó vì lụt lội mất mùa, phần thuế quan thu, phần trả nợ thì không viết nổi câu nước trong veo. Nói vậy để trả lời những người hỏi Văn Cao: Sao tài hoa xuất chúng mà đi lãnh việc trong ban khủng bố?  Sao lại không? Chẳng lẽ là tài hoa, anh lãnh phần làm nhạc quốc ca thôi, còn việc bẩn thỉu thì để người khác làm thay?  Hỏi như thế thì khác gì trách Nguyễn Công Trứ cầm quân dẹp loạn, hay trách André Malraux chỉ huy lữ đoàn thép Alsace Lorraine? Văn Cao có câu thơ thật hay:

Cuộc đời ôm tôi như trong một cái bình

Một tiếng vang vang cả lòng cả đáy

Văn Cao là vậy, luôn luôn là vậy, một tiếng vang vang cả lòng cả đáy, dội về biển lớn, vang lừng trên sóng.

Thiên Thailà cõi vô thủy vô chung, không có thời gian. Mà không có thời gian thì không có Âm Nhạc. Lô gíc. Không có khúc nghê thường. Gió hát trầm tiếng ca, tiếng phách ròn lắng xa là nghệ thuật, là trần gian, là ý thức của hủy thể. Âm ba thoáng rung cánh đào rơi trong mộtmùa đào dòng ngày tháng chưa tàn qua một lần. Nghệ thuật đã là rụng chiếc lá đầu tiên xuống Đào Nguyên. Nghệ thuật là cố gắng của con người vượt qua khỏi vật thể, tội lỗi và cái chết trong trần thế và đã đưa những khái niệm ấy vào Thiên Thai qua Đào Nguyên Hành của Vương Duy hay chuyện Lưu Thần, Nguyễn Triệu trong thơ Tào Đường mà Văn Cao có chịu ảnh hưởng như anh đã ghi nhận (1944). Nhưng Lưu Nguyễn chỉ là nhân vật, nên đã thong dong trở về trần. Còn Trương Chi là người hát, có thể là tác giả những bài hát, nên phải trả một cái giá đắt hơn.

 

TRƯƠNG CHI

Có nhiều huyền thoại Trương Chi. Tình sử Trung Quốc kể chuyện một cô gái mê tiếng hát một người lái buôn rồi chết, tim hóa đá, cho đến khi người đàn ông trở lại, nhỏ một giọt nước mắt, khối tình mới tan. Theo truyền thuyết Việt Nam, người đàn ông là một người thuyền chài, có tiếng hát hay, nhưng bị chê nghèo (hoặc xấu); nhân vật nữ là cô Mỵ Nương. Có thuyết cho là nàng chết, thuyết khác cho chàng chết, tim hóa gỗ bạch đàn hay ngọc đá. Văn Cao nhấn mạnh hai chủ đề nhạc và giai cấp, và chuyện chấm dứt ở cái chết của Trương Chi, chỉ còn lại tiếng hát nức nở bên sông. Không có chuyện trái tim và nước mắt, Phạm Duy, trong Khối Tình Trương Chi (1945) kể lại truyền thuyết từ đầu đến cuối. Hai bản nhạc đồng thời với nhau và Phạm Duy đã có lần giải thích rất hay tác phẩm bạn mình (báo Văn Học, đã dẫn).

Bài hát Trương Chi mở đầu cho một thế giới sơ khai: Một chiều mưa trăng nước chưa thành thơ, một thế giới chưa có nghệ thuật, chưa có sáng tạo ; sau đó không gian mới rung thành tơ: con người đã phát triển được bản năng thẩm mỹ, bằng cách tiếp thu một cách tiêu cực vẽ đẹp của vũ trụ, rồi dần dần sáng tạo ra nghệ thuật, ôi tiếng cầm ca thu tới bao giờ. Con người trước tiên tiếp xúc với vũ trụ để tự vệ và sản xuất, nhờ có nghệ thuật, họ đã bằng những rung cảm mới, ngoài phạm vi nhu cầu tồn tại. Tương quan giữa tiếng cầm ca và thu tới bao giờ là tương quan giữa bản năng thẩm mỹ, bản năng sáng tạo và cái đẹp của thiên nhiên. Thiên nhiên thì vẫn vậy thôi, hay chuyển hóa rất chậm và rất ít, theo chu kỳ, nhưng ý thức thẩm mỹ của con người ngày càng phát triển nhanh, càng tiếng bộ, trở thành phức tạp, tinh tế. Cho đến một lúc nào đó, con người bỗng thấy lòng chiều bơ vơ lúc thu vừa sang… Buổi chiều. Mùa thu. Niềm bơ vơ:  chúng ta đã đến những chủ đề cổ điển của văn thơ thế giới, từ nhiều nguồn văn minh khác nhau. Con người chủng tộc, văn hóa khác nhau có thể cùng rung cảm như nhau, vì cái đẹp khách quan bàng bạc dưới ánh sáng hài hòa của vũ trụ và cái đẹp chủ quan ấp ủ trong bản năng thẩm mỹ của con người, bản chất gần nhau. Từ đó, nghệ thuật là mớ vốn chung cho toàn thể nhân loại, nó phải có tham vọng đáp ứng lại nhu cầu thẩm mỹ của con người – dĩ nhiên là qua lăng kính ngôn ngữ, văn hóa của từng dân tộc một. Sáng tạo nghệ thuật làm vũ trụ và con người càng ngày càng giàu có thêm. Buổi chiều, cũng như buổi sáng, buổi trưa, không đẹp, không xấu:  buổi chiều là giờ an nghỉ, phút chia tay, một ánh trầm tư, một thoáng u hoài trước cảnh vật phai màu nhạt sắc. Buổi chiều, một thoáng bơ vơ, trở thành một tình cảm văn nghệ. Có nghĩa gì đâu một buổi chiều (Xuân Diệu).

Nhưng theo đà tiến hóa, nghệ thuật – và con người nữa, cách ly ra khỏi thiên nhiên, độc lập và có khi đối lập thiên nhiên, công phá thiên nhiên. Nghệ thuật ngày một ngày hai trở thành một hoạt động chuyên nghiệp có quy chế trong xã hội. Ngày nay, ai thích lời chim hót ríu rít tiếng oanh ca không nhất thiết phải thích âm nhạc; ai yêu phong cảnh sông Lô bến sóng vàng từng nhà mờ biếc chìm một màu khói thu, người ấy không nhất thiết phải yêu hội họa.

Nhưng nghệ thuật, cụ thể là âm nhạc, hội họa và văn thơ khơi sâu ý thức về cái đẹp, gọi là mỹ cảm trong con người, giúp con người yêu thêm, yêu sâu sắc hơn ngôn ngữ và những âm sắc thiên nhiên. Không phải tự nhiên mà con người nghe suối hát theo đôi chim quyên hay ngoài song mưa rơi trên bao cung đàn… còn nghe như ai nức nở và than… trầm vút tiếng gió mưa… cùng với tiếng nước róc rách ai có buồn chăng… Trong trường ca Những Người Trên Cửa Biển, Văn Cao nói rõ hơn:

Có người không biết trăng là đẹp

Bỗng nhiên chiều đứng ngắm trăng lên

Nghe như ai hát trong lòng…

Có người quên hàng chục năm dĩ vãng

Chợt nhớ ra tất cả những ước mơ

Của những ngày niên thiếu

(Lá, tr. 72)

nhờ một câu thơ, một khúc nhạc. Nghệ thuật là bội số của cuộc đời, nhân cuộc đời thành hàng vạn giấc mơ, từ đó, Văn Cao đã có thể khẳng định những bức tranh tăng dân số chúng ta. Và anh giải thích:

Bao tình yêu khát khao hy vọng

Gửi từng cuộc đời nhỏ bé

Từng thế giới con con

Với tôi tất cả

Đều rộng lớn vô cùng

vì những nhỏ bé con con ấy lớn lên trong nghệ thuật, đều trở thành cái vung tay hùng tráng của người gieo – (le geste auguste du semeur).

Nhưng cái đẹp trong nghệ thuật không phải lúc nào cũng lung linh ánh trăng, long lanh tiếng suối, lóng lánh hơi mưa, nó có thể lem nhem than khói:

Nhạc đang biến thành sự thực quanh ta

Tôi càng yêu hơn

Những cuộc đời sau bức tường xám xa lem nhem than khói

Những lá thuyền chen chúc nép bên nhau

Qua chiếc lưới phới thấp thoáng bóng người

Cả đến cuộc đời những con hà lóng lánh

(, tr.  71)

Tác dụng của nghệ thuật thật lớn lao trong cuộc sống của loài người. Cô Mỵ Nương vốn ở lầu Tây, con quan Thừa Tướng ngày ngày cấm cung trong ca dao làm sao có tầm hiểu biết như thế.

Tây hiên Mỵ Nương khi nghe tiếng ngân hò khoan

Mơ bóng con đò trôi

Giai nhân cười nép trăng lả lơi

Lả lơi bên trời

Sai lầm của cô gái lầu Tây là đã mơ người hát qua lời hát, mơ tác giả qua tác phẩm, sau đó muốn chiếm hữu tác giả – nghĩa là chiếm hữu toàn bộ tác phẩm lẫn nguồn sáng tạo cho riêng một mình – rồi lại chê nhặt chê khoan. Cô là hiện thân của hệ thống chính trị cưỡng đoạt văn nghệ từ xưa đến nay. Đường Minh Hoàng yêu chuộng Lý Bạch, Louis nâng đỡ Molière, bất quá là để mua vui như Lê Thánh Tông dùng nhạc Lương Đăng; còn chế độ chuyên chính vô sản, từ Staline đến nay, chiếm đoạt nghệ thuật ra sao thì chúng ta không cần dài lời. Trong bài hát, Văn Cao phớt qua hình ảnh Mỵ Nương, chút nhan sắc của cô bé dậy thì này không đáng cho chúng ta dừng mắt lại lâu, như lời chàng Nguyễn Huy Thiệp chịu khó quan sát, những cô gái mới lớn hết sức đức hạnh và trong trắng lại lén lút đi đọc những chuyện nhảm nhí. Người anh hùng của các thiếu nữ hoa niên là một gã Đông Juăng nào đó (Sông Hương, số 42, 1990). Điều này, dĩ nhiên là không làm vinh dự cho anh Trương Chi, anh chỉ trách ai khinh nghèo quên nhau. Quên nhau là thôi, là hơn. Trương Chi dừng chèo là Văn Cao dừng chuyện. Không cần gì mà phải tim hóa đá để đòi nợ nước mắt. Vì không ngọc đá nào quý bằng trái tim con người, trái tim biết yêu, biết nhớ, trái tim ngừng đập là tan với cỏ cây. Trái tim Trương Chi, trái tim Văn Cao không có gì sánh được. Còn món nợ kia? Ở đời, một anh «phủi»nợ, thì hết vấn đề. Hai là anh nhận nợ, thì không bao giờ anh trả hết: chết đi, chết kiểu gì đi nữa, thì anh cũng chỉ mới thoát nợ chứ chưa phải là trả nợ. Lẩn thẩn mà Văn Cao đòi nợ thì phiền lắm: cả nước nợ anh một bản quốc ca, mỗi chúng ta còn nợ anh một vài bản nhạc tình, cả mấy cô tiên trên Thiên Thai cũng còn nợ Văn Cao trái đào thơm. Năm nay bảy mươi tuổi, Văn Cao đã ăn được trái đào thơm nào đâu?  Còn quả đắng, thì suốt một đời, anh phải ăn nhiều lắm. Văn Cao là chú đạo đồng dâng mật ngọt cho bữa tiệc trần gian rồi suốt đời phải ăn trái đắng.

Trái tim Trương Chi thì đã tan rã. Nhưng tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung. Đây là định mệnh của tác phẩm nghệ thuật, là ý nghĩa đặc biệt của nhạc phẩm Trương Chi, chứ không phải là chuyện tình lẩn thẩn. Phải hiểu như thế mới bắt được mạch thơ Văn Cao

Đêm nay dòng sông Thương dâng cao

Mà ai hát dưới trăng ngà

Ngồi đây ta gõ ván thuyền

Ta ca trái đất còn riêng ta

Ta ở đây không phải là cá nhân Trương Chi, cũng không phải là Văn Cao, mà là Con Người, Nhân Loại sáng tạo ngôn ngữ, rồi sáng tạo nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật, văn minh, văn hóa để làm chủ trái đất còn riêng ta. Con người gõ ván thuyền mà ca, giữa cảnh trăng nước sông Thương đó, đẹp hơn cả hình ảnh Trang Sinh khi vỗ bồn mà hát. Hát rằng:  ta có trời đất làm quan quách, nhật nguyệt làm ngọc bích, tinh tú làm ngọc châu, vạn vật làm lễ tống… Mà còn thêm chi cho lắm việc (Liệt Ngự Khấu, Ngoại Thiên). Bối cảnh có khác nhau, nhưng nội dung chính yếu của chuyện gõ thuyền, gõ chậu mà ca không khác nhau: con người tự thức, làm chủ thể của ý thức và ngoại vật. Tự thức ở Trang Tử là tư tưởng lớn lao của ông, tự thức của Văn Cao là nghệ thuật của mình, là tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng, mà cũng là tiếng sóng. Tiếng sóng Kêu khát suốt ngày đêm – Suốt ngày đêm kêu khát. Nghệ thuật phải là những làn môi. Những làn môi nóng bỏng căng mình chờ đợi:

Nước ngọt của dòng sông

Bao giờ đổ đầy lòng biển

(Câu khép trường ca Những Người Trên Cửa Biển)

( Trích theo Vanhoanghean )

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 02.08.2014

THỰC CHẤT TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Nhà thơ Từ Quốc Hoài

(QTXM). Bạn đọc thân mến. Nhà thơ Từ Quốc Hoài , đảng viên cộng sản, Hội viên Hội Nhà văn  Việt Nam vừa có bài viết rất sâu sắc và chính xác về những vấn đề nóng hổi của ĐẤT NƯỚC có tựa đề : Tháo bỏ ách tắc để giữ lấy độc lập và chấn hưng đất nước . Chúng tôi xin in lại phần II là phần “Thực chất Tư tưởng Hồ Chí Minh. Gần chục năm nay Đảng cộng sản VN phát động “học tập và làm theo tư tưởng và đạo đức Hồ Chí MInh”. Trên nói, tỉnh nói, huyện nói, xã hói, nhưng liệu có bao nhiêu người biết  thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là gì ? Chúng ta hãy đọc Từ Quôc Hoài để biết chúng tga đang làm theo cái gì ?

THỰC CHẤT TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Từ Quốc Hoài

Hồ Chí Minh, người khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là bậc vĩ nhân, anh hùng dân tộc. Người là linh hồn cuộc chiến đấu trường kỳ, khốc liệt và vẻ vang của dân tộc, lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Được khích lệ bởi cuộc chiến tranh giải phóng hào hùng của nhân dân Việt Nam, phong trào đấu tranh của nhân dân khắp năm châu vì hòa bình, tiến bộ xã hội, chống ách nô dịch, thuộc địa… bùng lên mạnh mẽ. Kết cục là sự cáo chung của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ lẫn kiểu mới trên phạm vi toàn thế giới. Có thể nói thế kỷ hai mươi là thế kỷ đấu tranh giải phóng dân tộc.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 02.08.2014

LẦN THEO BÀI “NGÃ BA HẠC PHÚ”

 

LẦN THEO BÀI “NGÃ BA HẠC PHÚ”

 NGUYỄN HƯNG HẢI

Có những quá khứ làm mê ngủ bao đời người. Nhưng cũng lại có những  kỷ niệm, dù là kỷ niệm đắng cay, làm người ta tỉnh thức ? Quốc Tử Giám hôm nay còn lại những văn bia, khi vang vọng những  dòng tên đã thuộc về phía khác. Hình như trong giữa hội tao đàn của các bậc  đàn anh, Nguyễn Bá Lân đang khiêm tốn ngồi kia cùng nâng chén với Lê Quý Đôn bác học – thông gia.  Để có cuộc gặp gỡ này, thế kỷ 18 đã phải viết sử bằng máu và nước mắt cùng với bao khôn dại lỡ lầm của cả vua, chúa, quan, quân; hình như có cả tiếng kêu van trời đất của muôn dân và danh nhân nữa. Nguyễn Bá Lân đang hãnh diện ngẩng cao đầu ngâm ngợi phú Nôm, phú Hán hay lầm lũi ở con hẻm nào của 36 cái phố phường, từng nhầy nhụa và nhớp  nháp trong quá khứ? 

 

  Ngỡ như mâu thuẫn. Ngỡ như chẳng còn gì để nói. May sao còn có chuyến đò qua ngã ba sông, có một khoảnh khắc say giữa dòng đời luôn phải tỉnh. Và Nguyễn Bá Lân đã vật vã để hồi sinh; bỏ tấm mạng che nhiễu điều nhung lụa, chạy vội về phía có những đàn cá anh vũ đang nô đùa nơi xoáy sóng.  Nội lực bừng lên, bốc hỏa, hóa thân vào “Ngã ba Hạc Phú”, làm bà đỡ  cho một Nguyễn Bá Lân – Tiến sĩ sống cùng trời đất đến ngày hôm nay? Viên mãn một cuộc đời đã làm rạng danh cho cả dòng họ Nguyễn Bá vốn  nhiều “kinh bang tế thế”; trải từ Kinh Bắc xa xôi; qua vùng Cổ Đô (trấn Sơn Tây) đến trung du Phú Thọ bây giờ. Tất cả những gì mà Nguyễn Bá Lân gieo, gặt trong lịch sử đã thực sự trở thành điểm tựa và niềm tin cho những sự an minh, hãnh diện và hình như có cả nỗi kinh hoàng tỏa sáng nữa.

 

Được thừa hưởng một truyền thống giáo dục của gia đình có cội rễ sâu xa  là văn hóa, lớn lên trong sự dắt dìu nghiêm khắc và dân chủ có định hướng của người cha – người thầy Nguyễn Công Hoàn với sự khuyến khích liên tục về sự  tranh đua, thi thố văn chương nên Nguyễn Bá Lân sớm có trong tiềm thức khát  vọng kiếm tìm và xác lập những chân giá trị. Lịch sử của thời đại ấy lại có nhiều  đối chứng cho ông kiểm nghiệm, suy ngẫm nên vào những lúc tưởng đã cạn kiệt  niềm hy vọng, ông vẫn nguyên một giá trị đích thực cả về đạo và đời.  Trớ trêu thay, ông sinh ra không phải chỉ để làm quan; chuyên tâm chăm chú cho mỗi một việc: điều binh khiển tướng. Tài năng đã chắp cánh cho ông.

 Nhưng hình như đến lúc làm quan trong triều rồi, ông mới chợt vỡ ra rằng: cũng  chẳng để làm gì, nếu như không “lập công, lập đức và lập ngôn”. Chính vì vậy mà ngồi trên bạc vàng, gấm vóc, được thừa hưởng nhiều ân huệ của triều đình, ông vẫn luôn hướng về phía nhân dân, vẫn dứng về phe nước mắt. Dường như ông linh cảm được trước mọi biến thiên của lịch sử, kiếp người. Ở ông còn có một sợi dây tình cảm nào đấy, rất mật thiết và cũng có rất nhiều cung bậc rung  lên từ phía khốn cùng. Ông nghe được và ông đau khổ. Cũng bởi vậy, suốt cuộc đời làm quan ông đã phải cùng một lúc chịu lực đè từ trên xuống và sự thúc giục từ dưới lên? Trong sự giằng níu không phải lúc nào cũng tự do quẫy đạp được, ông đã biết bỏ qua cái nhỏ để làm nghiệp lớn. Sự lựa chọn bằng tài năng ấy của ông, phần nào đã đắp bù cho những sự thiếu hụt hết sức cơ bản và trầm trọng về văn hóa của cái thời vua Lê – chúa Trịnh đã vào hồi “mạt vận” ? Cũng có thể  đấy còn là chủ định của ông muốn được tận mắt chính kiến cái “ngõ sau” của  chế độ phong kiến Việt Nam trong cái thế kỷ đầy nhiễu nhương, ung nhọt, hình  như có cả ròi bọ nữa?

  Đắp trong chăn ấy, ngoài nỗi ấm lãnh do cảm giác, ông cũng đã biết  trước, đã nhận thấy trong thơm tho giả tạo, mùi khê và khét của thể chế bị đốt  liên tục bằng ngọn lửa oán hờn của muôn kiếp dân đen, đang ngùn ngụt cháy ở  khắp nơi. Và đã nhiều lần, ông vùng dậy, chạy ra ngoài đêm đen trong ớn lạnh, mở to đôi mắt, dõi về vô định, mong gặp, dù chỉ là le lói một vì sao ? Bất lực trở vào, hình như ông đã lên cơn sốt vì hơi lạnh từ thanh bảo  kiếm ? Có một thứ “virút” đầy ma lực sinh ra từ thể chế đã nhiễm vào ông chăng? Liệu có cách nào chữa chạy và trừ khử được không? Đó là nỗi dằn vặt  không thể tâm sự cùng ai ! Nhưng cũng nhờ có niềm trắc ẩn ấy, ông tránh được  những cú “ra đòn” của lòng đố kỵ, nhỏ nhen và tăm tối ?

  Cũng vì biết sống ít hơn tài năng có thật ông được dân quý, vua trọng. Cả những kẻ đối nghịch cũng phải kiềng nể. Cốt lõi là đây chăng? Giữa hoàn cảnh éo le, giữa bốn bề xu nịnh, nếu không biết sống thế ông giữ sao được bản ngã  của một trí thức phong kiến thanh liêm, chính trực. Sống trong cái thời đảo điên, tao loạn ấy, tài lắm, họa nhiều. May sao ông  đã làm văn chương, ký thác và gửi gắm được về sau tâm trạng mình, thái độ  sống của mình qua mong manh chữ nghĩa. Và ông đã tồn tại chính danh một nhà  văn hóa, một trong bốn đại tài của nước Nam thuở đó.

  Ông đã đi lại tới mòn chân nơi cửa phủ, thuộc đến từng ngọn cỏ lá cây  ven bờ hồ Hoàn Kiếm, hiểu đến tường tận cốt cách người Thăng Long và Thăng Long ngàn năm văn vật. Vậy mà có lúc, hình như do buồn phiền, lơ đễnh không muốn dây vào những điều nên tránh mà ông suýt nữa bị liên lụy, phiền toái ? Đã làm quan thì phải biết phụng sự lợi ích của triều đình. Nhưng ông ghê  sợ cái lợi ích ấy, vì ông không phải là một cuồng tín, ngoan đạo đến mức mù  quáng trước thối rữa của một thể chế quen coi máu và nước mắt của nhân dân là  vật tế thần, là đồ trang sức ?

  Đôi lần do bắt buộc của lịch sử, ông phải đứng ra bênh vực triều đình – Lương tâm ông đã không thể nào yên ổn – Và như để sửa chữa những sai lầm  ấy, ông đã biết vận dụng những cơ may để khoan sức cho dân? Vì ông khôn khéo, vì ông thực tài, nên nhiều việc triều đình dù biết mà  vẫn không làm gì nổi ông ? Trong phủ chúa, thời đó, sau lưng cũng có lắm kẻ  gièm pha nhưng đứng trước ông họ vẫn phải thừa nhận: Còn Nguyễn Bá Lân  còn chính trực của triều chính và mẫn tiệp của “trung quân ái quốc”? Đó cũng là  lí do để ông không phải uốn ba tấc lưỡi trước khi nói câu gì.

  Ý thức được về mình nên ngay từ trong hoang tàn, trong rệu rã, đểu giả, ông biết nhen nhóm lên đạo lý, dẫn dắt nhiều vùng tư tưởng tối tăm của đám quần thần ra tắm sáng. Và ông đã tự cháy, tự đốt lên năng lượng của thế thái nhân tình cho nhiều bấu víu xung quanh, góp phần củng cố trong vơi vớt về uy tín của một thời ngán ngẩm. Và ông đã đứng vững bằng chính đôi chân tưởng  chừng như rất chông chênh của mình.  Trong tê tái nỗi niềm, dường như có lúc ông đã muốn phó thác cuộc đời  cho trò chơi số phận, buông câu ở một góc ao nhiều bọt bèo nào đó. Nhưng vì là  trí thức, là chỗ dựa cuối cùng của niềm tin nên ông không thể nào trốn chạy.

  Có thể nói, nhắc đến ông là làm thức dậy những tháng năm không bình thường của lịch sử. Trong những sự đảo lộn liên tục các giá trị mà chế độ phong  kiến định hình, thì Nguyễn Bá Lân là một trong những bền vững hiếm và quý  đến độ có thể coi như một chút vàng ròng của lịch sử.

 

Chao ôi ! Cái con người sinh ra đã như là một điềm báo về mọi sự tốt  lành, vậy mà cũng lận đận, lênh đênh. Cũng chấp chới thấp thỏm suốt cả cuộc  đời ăn bổng lộc triều chính. Nghe theo triều chính – Và lựa thời để không bị  triều chính coi như một mặt hàng trao đổi.  Có thể ông cũng đã rơi nước mắt khi được vu Lê Hiển Tông ban yến ở Lễ  Bộ Đường. Lúc được Thượng thư Bộ lễ cài trâm, ban mũ áo cân đai, ông đã kịp  ngẫm ngợi điều gì về những ngày làm quan trong triều sau đó? Để rồi lại phải  nuốt nước mắt đi ngược về phía những mũi tên của nông dân. Để rồi lại phải vờ  ốm, cáo lui; vờ nghễnh ngãng mới giữ được mình, mới không vương bẩn sang  người khác.

  Sống trong cái thế kỷ thê lương ngập những chuyện đau buồn ấy, đến như  Nguyễn Bá Lân cũng còn phải trốn mình vào nghiệp chướng, coi văn chương  như một sự giải thoát.  Và như vậy “Ngã ba Hạc phú” không đơn thuần là “tức cảnh sinh tình”  mà ở đây phải hiểu như là giãi bày của tâm trạng được quy nạp gửi gắm qua một  tâm sự lớn của một tâm thế lớn. Không phải ngẫu nhiên Tiến sĩ, thượng sư  Nguyễn Bá Lân lại viết “xinh thay ngã ba Hạc, lạ thay ngã ba Hạc”, để rồi ngay  sau đó lại đẩy tới một đối chứng “dưới hợp một dòng” mà “trên chia ba ngác”.  Thiên nhiên khéo vẽ vời, hay “dưới” và “trên” có điều gì khuất tất ? Làm quan  và làm dân là như thế chăng? Trong linh cảm chia tan “ngóc ngách khôn đo  rộng hẹp”, Nguyễn Bá Lân không chỉ thiên về tả đâu, mà dường như bằng cái  nhìn của một đạo sĩ ông đã chỉ ra giữa “lênh lang dễ biết nông sâu” đúng cái chỗ  “huyệt kim qui chênh hẻm đá gồng ghềnh” ? Để rồi đứng giữa “vũ trụ mơ màng, càn khôn xếch xác” ông lại phải dằn lòng nhớ về Hoài Bão – Tiên Du của phủ  Từ Sơn, vùng Kinh Bắc ấy. Tổ tiên ông ở đấy. Ở đấy là hi vọng. Cũng có thể sẽ  là thất vọng nếu như ông vướng bụi kinh thành để thanh danh nhiễm bẩn. Trong không khí lịch sử của cái thời “móc gieo ngọn cỏ mọc dầy dầy, đá  giãi hơi xương vàng xua xúa” hình như chúng ta còn nghe được từ Quốc Tử Giám văn bia tiếng con vàng oanh vọng lại, nhắn nhủ rằng “dải đất Đoài  Phương, cõi trời Nam Quốc; trên xô nguồn, nguồn chảy vẩn vơ; dưới ngấm  nước, nước xuôi tuồn tuột” cùng những tiếng nấc của thời gian còn kẽo kẹt ở nơi “ba góc bờ tre vắng vắng” ở “một chòm bãi cỏ phơi phơi”. Đã vỡ ra trong ông điều gì khi Đà giang, Lô giang và Thao giang nhập  vào làm một.

 

Đất Cổ Đô phong khí có nét trầm buồn và điềm tĩnh như Cố đô Huế, có gì  như không nhất quán với ông chăng? Hình như Cổ Đô đã vỡ ra từ ông những mảnh sắc và bỏng trong sự va đập  khôn lường của thể chế và cơ chế.  Vỡ ra từ ông cả sự truyền miệng về một quá khứ xuất thân đầy bất trắc vì  mọi sự thiên di; về một cái bướu cứng – rất cứng ở trên đầu.  Có thể là hào quang đã đắp nên ông. Nhưng chắc chắn không có sự vay  mượn nào. Cũng còn có thể là do tư chất và bản ngã của một dòng tộc lớn thích  thi thố và chịu chơi đã làm nên ông và văn chương của ông.

 

Phải chăng, Thượng thư, Tiến sĩ Nguyễn Bá Lân chính là câu trả lời của  dòng họ Nguyễn Bá trước mọi triều chính, ở giữa nơi trời đất. Hình như trong  thăm thẳm nỗi niềm Nguyễn Bá Lân còn là nơi triều đình luôn kính nể, hãnh  diện và cũng đầy ngờ vực.  Như thế càng thêm chứng tỏ một nhân cách lớn của một tài năng lớn từng  chói sáng trong lịch sử, từng có ở đương thời một lần kêu oan cho Lê Quý Đôn  bác học; một lần không bị bạc vàng mua chuộc lúc Đặng Thị Huệ muốn chối bỏ  Trịnh Khải để lập Trịnh Cán lên ngôi chúa. Tấm lòng trong sáng ấy của Nguyễn Bá Lân cũng là sự minh triết trước lịch sử. Tiếc rằng, tất cả những gì chúng ta  được biết đến ngày hôm nay còn quá ít. Ngay cuốn “Cổ Đô gia phả” của dòng  họ Nguyễn Bá cũng còn phải thừa nhận sự ghi chép quá sơ sài về một “thời kỳ  cả mấy trăm thái bình thì ít, rối ren thì nhiều”. Và khi xem vào gia phả, chúng ta  lại như “lần mò trong đêm tối, cầu mong một đốm lửa nhỏ để soi đường, cho dù  đó chỉ là một con đom đóm”.

 

Nguyễn Bá Lân – con người đầy khát vọng chấp chính và khả năng chấp  chính – ông Tổ của dòng họ Nguyễn Bá, miền Cổ Đô, Tiên Sơn (thuộc trấn Sơn  Tây và vùng Kinh Bắc) có lẽ đang ngước mắt lên nhìn chúng ta mỉm cười. Rằng, rất có thể con cháu hôm nay chưa hiểu gì về ông cả. Vâng, xin kính cẩn  thưa với Tiến sĩ, Thượng thư: Bây giờ đã là thập niên thứ 2 của thế kỷ 21. Biết  đâu chẳng có sự trùng lặp nào của lịch sử? Và vua chúa nào rồi cũng đều băng  hà cả. Duy chỉ có Nguyễn Bá Lân thì còn mãi trong trời đất, trong ngưỡng vọng  của cuộc đời, trong chói sáng của một nền văn hiến – không chỉ với một bài  “Ngã ba Hạc phú” nổi tiếng.

( Tác giả gửi bài cho QTXM)

 ————–

 

Ngã ba Hạc phú

Nguyễn Bá Lân

Vui thay! Ngã ba Hạc ; vui thay! Ngã ba Hạc.
Dưới họp một dòng ; trên chia ba ngác.
Ngóc-ngách khôn đo rộng hẹp, dòng biếc lẫn dòng đào[2] ; lênh-lang dễ biết sâu nông, nước đen[3] pha nước bạc.
Nhớ xưa: Vũ trụ mơ màng , càn khôn xếch-xác.
Vua Bàn-cổ[4]khai lò tạo-hóa, hồng-mông[5] đà phơi-phới hơi xuân ; họ Hữu-Ngu[6] khơi mạch sơn-hà, cương-giới vẫn rành-rành dấu tạc.
Vậy có: Nắm đất Đoài-phương[7] ; cạnh giời Nam -quốc.
Ba góc bờ chia vành – vạnh, huyệt kim-qui[8] hẻm đá rộng hông-hênh ; hai bên cỏ mọc lâm-dâm, hang anh-vũ[9] giữa dòng sâu huếch-hoác.
Mọi thú mọi vui ; một chiều một khác.
Lơ-thơ đầu ông Lã[10]thả cần ; trần-trụi mặc Chử-đồng[11]ngâm nước.
Bè khách-thương bạ[12] bến, cắm neo quỳ gối lắc cày xuôi[13] ; thuyền ngư – phủ thuận dòng, giương nách khom lưng chèo tếch ngược[14].
Dùi điểm thùng thùng trống gọi, cửa tuần-ty[15] rộn-rã khách chen vai; chày đâm văng-vẳng chuông đưa, nền Phật-tự[16] lao-xao người rén bước.
Khác gì : Những chốn Tiêu Tương[17] ; đồ Tranh thủy mặc[18].
Trên lọ phải vén quần vua Tống[19], ra sức anh uy; dưới cũng vui vỗ bụng giời Nghiêu[20], dắng ca canh tạc[21].
Ta nay : Qua miền Tam – đái[22], dứt dải sông lô; thấy Ngã ba Hạc vui thay, làm chơi một đạc[23].
Ai hữu tình ngắm lại mà coi, kể làm cực nhân – sinh chi khoái-lạc.

   

 Chú thích

  1. Ngã ba Hạc : chỗ hợp – lưu của ba ngọn sông là sông Đà ( hoặc sông Bờ ), sông Lô ( hoặc sông Tuyên ) và sông Nhị-Hà, ở giáp huyện Bạch-Hạc ( nay thuộc tỉnh Vĩnh-Yên )
  2. Dòng biếc lẫn dòng đào : dòng biếc là sông Lô nước trong xanh; dòng đào là sông Nhị nước đỏ
  3. Nước đen : nước sông Đà đen
  4. Bàn-cổ 盤 古 : theo thần-thoại của Tàu, họ Bàn-cổ phân ra trời đất tự đấy mới có thế-giới và vạn-vật
  5. Hồng-mông 洪 蒙 : mênh-mông mờ-mịt ; đây là nói về vũ-trụ lúc mới khởi thủy
  6. Hữu-Ngu 有 虞 : họ của vua Thuấn (2042-1989). Vua Thuấn sai ông Vũ trị thủy và định cương giới chín châu trong nước Tàu
  7. Đoài-phương : phương tây. Huyện Bạch-hạc trước thuộc về Sơn – Tây
  8. Kim-qui : con rùa vàng. Tục truyền ở sông Hạc có con rùa vàng ở trong hang đá
  9. Anh-vũ : tên một thứ cá, thịt ngon, ở sông Hạc có nhiều
  10. Ông Lã : tức là Lã Thượng 呂 尚 : hoặc Khương Tử – Nha 姜 子 牙 ( còn gọi là Thái-công Vọng 太 公 望 : hoặc Sư-thượng-phụ 師 尚 父 ) một bậc hiền-thần đời nhà Chu. Cuối đời nhà Thương, về đời vua Trụ, ông ẩn cư ở Bàn-Khê 磻 溪 ( thuộc tỉnh Thiểm-tây ); một hôm ông ngồi câu cá trên bờ sông Vị, vua Chu Văn-vương đi săn gặp, đón ông về dùng. Sau giúp vua Chu Vũ-vương ( con Văn-vương ) đánh vua Trụ, lập nên cơ-nghiệp nhà Chu
  11. Chử đồng : tức là Chử đồng – tử 禇 童 子. Theo sách Lĩnh nam trích quái, vua Hùng-vương thứ ba có người con gái là nàng Tiên-Dong một lần đi chơi thuyền trên sông Nhị – hà, ghé vào bến làng Chử-xá ( nay thuộc huyện Văn-giang, tỉnh Bắc – ninh ), lên trên bãi cát tắm, không ngờ gặp Chử đồng-tử trần-trụi (vì quá nghèo không có khố đóng )đang nép mình trong cát; nàng cho là duyên trời xui khiến, bèn lấy Chử đồng-tử. Sau vua cha giận. Sai quan quân đến bắt, thì cả hai vợ chồng hóa phép bay lên trời
  12. Bạ : đến gần
  13. Cắm neo quỳ gối lắc cày xuôi : tả việc nhà thuyền neo thuyền cho chặt theo xuôi dòng nước
  14. Giương nách khom lưng chèo tếch ngược: tả việc chèo thuyền ngược dòng sông
  15. Tuần-ty 巡 司 : sở của Chánh-phủ lập ra để đánh thuế các hàng-hóa của người buôn-bán
  16. Phật tự 佛 寺 : chùa thờ Phật
  17. Tiêu, Tương 瀟 湘: sông Tiêu và sông Tương hợp-lưu với nhau ở địa-phận tỉnh Hồ-nam bên Tàu
  18. Thủy mặc 水 墨 (nước và mực): lối vẽ không dùng đến các màu, chỉ dùng mực hòa với nước
  19. Vén quần vua Tống: theo câu trong Tống sử: «Kiến dân cơ hàn, tắc kiển thường nhu túc dĩ cứu chi 見 民 饑 寒 ,則 褰 裳 濡 足 以 救 之». (Thấy dân đói rét thì xắn quần ngâm chân xuống nước để cứu lấy) câu ấy khen vua Tống Thái-Tổ thấy dân đói thì phát chẩn cũng như người thấy người khác sắp chết đuối thì xắn quần lội xuống nước mà cứu
  20. Vỗ bụng giời Nghiêu : đời vua Nghiêu (một bậc thánh-quân về đời thượng-cổ nước Tàu) có ông Lão vỗ bụng mà hát để ngợi khen cái cảnh thái-bình
  21. Canh tạc : đây nhắc đến hai câu trong bài hát của ông lão đời vua Nghiêu nói trên. Canh điền nhi thực, tạc tỉnh nhi ẩm 耕 田 而 食 ,鑿 井 而 飲 (Cày ruộng mà ăn, đào giếng mà uống)
  22. Tam đái : tên phủ về đời Hậu Lê thuộc Sơn tây, gồm có sáu Huyện: Phù-ninh (nay thuộc Phú-Thọ), Bạch-Hạc, Lập-thạch, Yên-lạc (nay thuộc Vĩnh-yên), Yên-lãng (nay thuộc Phúc-yên), Tân-phong (nay là Quảng-oai, thuộc Sơn-tây)
  23. Đạc: đây tức là một bài

 

 

GS Ngô Bảo Châu: Chúng ta làm ngược với thế giới – Giáo dục – Tuổi Trẻ Online//

Về giáo dục Đại học ở Việt Nam:

GS Ngô Bảo Châu: Chúng ta làm ngược với thế giới

TT – “Đánh giá một cách khách quan thì học sinh tốt nghiệp THPT của ta không đến nỗi quá tệ so với trình độ học sinh các nước khác, nhưng người tốt nghiệp ĐH của ta tương đối đuối so với người tốt nghiệp ĐH nước ngoài. Đuối cả về kiến thức lẫn tác phong làm việc”.

Ảnh: Nguyễn Khánh

“Nhìn chung, tinh thần “hợp tác” hiện nay của các trường ĐH trong nước mới chỉ dừng ở mức độ “khai thác” các nhà khoa học Việt kiều hơn là thể hiện sự hợp tác với họ”

GS NGÔ BẢO CHÂGS Ngô Bảo Châu nhận định như vậy trước thềm hội thảo “Cải cách giáo dục đại học” do nhóm Đối thoại giáo dục mà ông là người chủ trì phối hợp với một số đơn vị trong và ngoài nước tổ chức tại TP.HCM hôm nay (31-7) và ngày 1-8. Trao đổi với Tuổi Trẻ, GS Ngô Bảo Châu khẳng định: “Vấn đề của giáo dục VN là giáo dục ĐH chứ không phải ở giáo dục phổ thông. Tất nhiên phổ thông cũng có vô vàn vấn đề và những ai liên quan đều có cảm giác bất an. Nhưng đứng trên tầm quốc gia mà nhìn nhận thì giáo dục ĐH mới là mảng cần nhiều sự thay đổi hơn”Là người được hội thảo chỉ định nghiên cứu về mảng nhân sự ĐH, GS Ngô Bảo Châu đã trăn trở nhiều về công tác tuyển dụng nhân sự trẻ trong các trường ĐH hiện nay. GS Châu nói: “Hiển nhiên ai cũng thấy nan giải nhất là lương của giảng viên, cán bộ ĐH (trong hệ thống lương công chức nói chung). Mức độ lương không tương ứng với mức độ cống hiến và vị trí xã hội của họ. Tất nhiên hiện tại có nhiều biện pháp khác nhau để khắc phục, chẳng hạn như có thêm thu nhập từ việc làm các đề tài nghiên cứu được bổ sung vào lương, nhưng đó chỉ là những giải pháp tình thế”.

Những cuộc hôn nhân cận huyết thống

Giải pháp mà tôi đề xuất có thể động chạm vào quyền lợi của một số người, nhưng tôi nghĩ hoàn toàn có thể làm được, đó là đưa ra quy định thống nhất trong cả nước một quy trình tuyển chọn cán bộ trẻ, có website chung để thông báo việc này. Chẳng hạn cần phải quy định ngày nào phải nộp hồ sơ, ngày nào tuyển chọn trong cả nước, ngày nào các trường phải có quyết định…

 

* Giáo sư có thể nói cụ thể hơn được không, về quy trình tuyển dụng nhân sự?

- Trong quá trình nghiên cứu vấn đề nhân sự của ĐH, chẳng cần phải quá giỏi giang gì tôi cũng nhận ra ngay một điều là cách mà chúng ta làm trái ngược với quy trình tuyển chọn giảng viên của bất kỳ trường ĐH nào trên thế giới. Ví dụ, phương thức mà các trường ĐH VN thực hiện để xây dựng nhân sự cho mình là tạo nguồn tại chỗ. Thật ra một số trường của ta có vẻ cũng đang làm khá hiệu quả việc này, nhưng trên bình diện quốc gia thì đó là một cách rất dở. Các trường ĐH của ta thường chọn những sinh viên giỏi nhất để bồi dưỡng, đào tạo họ trở thành cán bộ cho chính trường mình. Trong khi đó trên thế giới hầu hết các ĐH đều có chính sách không tuyển sinh viên do mình đào tạo.

* Phải chăng họ khuyến khích một người làm khoa học phải được trải nghiệm trong các môi trường khoa học khác nhau?

- Họ khuyến khích như vậy và họ có hệ thống để việc luân chuyển cán bộ từ trường nọ sang trường kia rất đơn giản. Khi một cán bộ trẻ có sự bất hòa với thầy giáo – tức thủ trưởng của mình, hoặc một người trẻ có hoài bão, muốn xây dựng môi trường làm việc mới cho mình hoặc đơn giản chỉ để thoát ra khỏi cái bóng của thầy, họ có nhiều lựa chọn nhờ hệ thống thông tin công khai sẵn có trên các trang mạng. Còn ở nước ta, để chuyển nơi công tác mỗi cán bộ khoa học trẻ phải dựa vào mối quan hệ của các cá nhân, vì thông tin bị bưng bít. Nhờ quen biết ông này ông kia ở trường này trường kia, rốt cuộc họ cũng chuyển được đến nơi mới nhưng đó không phải là sự lựa chọn tối ưu.

* Có thể so sánh việc các trường ĐH tự tạo nguồn từ chính sinh viên của mình giống như những cuộc hôn nhân cận huyết thống?

- Chính xác. Vì thế mà hầu hết các ngành khoa học của chúng ta đang đi xuống. Tức là học trò không có điều kiện để giỏi hơn thầy. Học trò của học trò còn tệ hơn nữa.

ĐH phải tự chủ

* Chính phủ mới thông qua việc thành lập ĐH Việt – Nhật, trước đó là các ĐH Fulbright (thông qua chủ trương), ĐH Việt – Đức, ĐH Việt – Pháp… Vậy các trường VN sẽ phải thay đổi thế nào trong cuộc cạnh tranh này với các trường quốc tế đang dần thâm nhập vào VN?

- Đây là một cơ hội để giáo dục ĐH trong nước phát triển. Con đường tiến bộ cho ĐH VN chính là có sự tự chủ, những trường nào có khả năng, có tham vọng phát triển tốt hơn thì họ có cơ hội để làm chuyện lớn mạnh. Tôi không nghĩ những trường quốc tế mà bạn nêu ra đều sẽ là những trường tốt. Cũng có trường tốt, có trường không tốt. Nhưng sự xuất hiện của những yếu tố mới sẽ khích lệ, thôi thúc các trường còn lại nỗ lực để tồn tại và đi theo xu hướng mới.

Để làm chủ được cơ hội này, không còn cách nào khác là các trường phải thể hiện mạnh mẽ sự tự chủ. Đây không phải khái niệm suông. Trong tự chủ có tự chủ về tuyển sinh, tự chủ về đội ngũ, về giảng dạy và nghiên cứu, về tài chính, về chương trình học… Vấn đề nữa trong tự chủ là xác định ai là người làm chủ? Đương nhiên là ông hiệu trưởng. Vấn đề khá quan trọng là ông ấy được đánh giá như thế nào? Đây là điều cần được xem xét trong quản trị ĐH. Hội thảo của chúng tôi sẽ có một báo cáo khá kỹ về vấn đề này. Ở đây tôi chỉ muốn nói muốn cho một trường ĐH có những hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học tốt hơn thì ông hiệu trưởng phải được đánh giá trên thành tích tuyển chọn, xây dựng đội ngũ cán bộ của ông ấy. Nếu đánh giá trên những tiêu chuẩn khác, kiểu như ông ấy kéo về được bao nhiêu đề tài hay bao nhiêu tiền đầu tư… thì chắc chắn không đưa đến kết quả như mong muốn.

* Từ trước đến nay có nhiều hội thảo được tổ chức ở VN nhưng cuối cùng cũng chưa giải quyết được vấn đề gì. Chủ trì hội thảo này, GS có đặt nhiều kỳ vọng?

- Để đầu tư vào việc này, ít nhất về thời gian, chắc chắn phải có một sự kỳ vọng nhất định. Nó là công sức, thời gian không chỉ của tôi mà của nhiều người khác nhau. Mặt khác, tôi cũng không phải là người quá viển vông, cho rằng chỉ sau một hội thảo thì thay đổi cục diện bộ mặt ĐH VN. Nhưng có những căn cứ để khiến tôi nghĩ hội thảo này có tác dụng gì đó, ít nhất là trong nhận thức cả về phía những người làm chính sách lẫn những người trong giới ĐH, và cả trong dư luận.

Thứ nhất, đây là thời điểm tốt khi mà Đảng và Nhà nước đưa ra chính sách chung về cải cách cơ bản toàn diện giáo dục. Vấn đề cải cách ĐH đã bắt đầu nhưng chưa được đào sâu, thế thì đây là thời điểm hợp lý cho những ai không tham gia việc hoạch định chính sách có thể có ý kiến, có thể đào xới vấn đề mà không lo ngại là động chạm tới những cái đã được quyết định.

Thứ hai, điều khiến chúng tôi tin tưởng hơn về cái mình làm sẽ không hoàn toàn mất thời gian là chúng tôi đề cập từng vấn đề nhỏ, cụ thể tưởng như khá hiển nhiên vậy mà lâu nay hầu như không mấy ai nhắc đến. Chẳng hạn vấn đề nhân sự ĐH như tôi nói ở trên. Tôi không phải là chuyên gia nghiên cứu lâu năm về tổ chức ĐH nhưng chỉ chịu khó nghĩ một lúc thì chúng ta thấy nhiều cái bất hợp lý. Những cái bất hợp lý đó không phải là những cái không thể giải quyết được. Đúng là có những cái không thể giải quyết được ngay nên chúng tôi ưu tiên hướng sự bàn thảo về những vấn đề có thể giải quyết được.

LÊ ANH HOA thực hiện

Thiếu tinh thần hợp tác

Tôi muốn lấy một ví dụ để cho thấy có những vấn đề thật sự khó khăn trong việc này. Đó là trường hợp của một GS người Pháp. Ông là người nổi tiếng, chính ông đã đào tạo những người sau này tìm ra hạt Higgs. Khi về hưu ông ấy quyết định về VN làm việc, có lẽ vì bạn đời của ông ấy là người VN. Ông ấy không cần bất kỳ sự đài thọ nào, bởi chỉ cần sống bằng lương hưu của chính mình ông ấy đã thấy đủ.

Ông về làm việc cho một trường ĐH nhưng rồi nảy sinh nhiều mâu thuẫn khiến ông không thể làm việc tiếp. Cái họ cần nhất là sự tôn trọng thì họ không cảm nhận được. Những người không đòi hỏi gì về vật chất mà mình lại không hợp tác được thì rõ ràng có vấn đề, mà chuyện đó lại xảy ra ở một trường ĐH không phải tệ nhất của VN.

( Nguồn : tuoitreonline)

 

 

 

 

Đã khi nào thực sự dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra việc nước?

Vĩnh Nguyên (Chi Hội Nhà văn Việt Nam tại Huế)

Cái đề trên, nguyên văn có trong các văn kiện, nghị quyết của nhà nước, chính phủ cùng các ban, ngành để phổ biến đến người dân là: “Nhà nước là của dân, do dân, vì dân; dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra”. Nội dung thể hiện một nhà nước dân chủ, minh bạch, nhưng thực hiện được nó là khó lắm. Để khỏi dài dòng, người viết bài này chỉ lấy khúc sau. Cái tít bài là ở vế sau.

- Xin trả lời là chưa. Điều “Dân làm” là thâm căn muôn thuở. Đã là dân thì chỉ biết làm thôi. Còn việc “Dân biết”, nếu người dân biết được đôi điều về thế sự của đất nước thì, đâu dễ được bàn và dễ kiểm tra ai?

 

Nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An sau khi rời vũ đài chính trị có khởi trên công luận: Việt Nam lỗi tại Hệ thống. Bây giờ thì dùng cụm từ Ý thức hệ. Âu cũng từ Hệ thống mà ra.

Cựu Thủ tướng Singapore, ông Lý Quang Diệu nói: ”Lãnh đạo Việt Nam bị ý thức hệ kìm hãm”. Bị ý thức hệ kìm hãm như thế nào? Thì “Vừng ơi hãy mở cửa ra!” Nó đã mở ra và sáng tỏ từ Hiệp định đình chiến Genève Thụy sĩ (1954). Đã lâu rồi, nhiều người nhớ, người khác quên, thì vừa rồi, ngày 18.7.2014 Việt Nam kỷ niệm trọng thể 60 năm Hiệp định ấy (21.7.1954 – 18.7.2014), người dân Việt Nam có dịp ôn lại.

Nội dung Hiệp định là gì? Là Bãi bỏ quyền cai trị của người Pháp, công nhận quyền độc lập của ba quốc gia Việt, Miên, Lào. Một Hiệp định lịch sử. Các nước trịnh trọng ký bản tuyên bố chung khẳng định các bên tham gia Hội nghị cam kết và thừa nhận về nguyên tắc độc lập, thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Căm pu chia. Các bên tham gia ký Hiệp định là Pháp, Anh, Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam, Lào và Căm pu chia. Việt Nam do Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn. Trưởng đoàn Trung Quốc là Thủ tướng Chu Ân Lai. Dù trong văn bản đã nói đến độc lập - thống nhất - chủ quyền - toàn vẹn lãnh thổ, nhưng trước khi ký, các nước lớn đã khôn khéo “sắp xếp” trong đó có Pháp và Trung Quốc. Triều Tiên đã bị chia cắt hai miền Nam – Bắc Triều nên Chu Ân Lai lấy mẫu mực Triều Tiên” áp đặt vào Việt Nam, cho rằng, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa đủ sức để theo đuổi chiến thắng hoàn toàn.

Trung Quốc một bên đã ký Hiệp định, nhưng Trung Quốc đã nhanh chóng lật lọng.

Ngày 4.9.1958 Trung Quốc đưa ra một bản tuyên bố: Hải phận Trung Quốc rộng 12 hải lý. Tất cả phi cơ, thuyền bè không được phép của Trung Quốc thì không được xâm phạm vào không và hải phận của Trung Quốc.

Ngày 10.9.1958 trong thư phúc đáp gửi Chu Ân Lai (nay còn gọi công hàm Phạm Văn Đồng), Phạm Văn Đồng đã làm một việc vi hiến là ký tán thành bản tuyên bố 4.9.1958 ấy. Thư phúc đáp từ chữ “Thưa đồng chí Tổng lý…” đến chữ ký Phạm Văn Đồng là 127 chữ. Nguyên văn như sau: “Thưa đồng chí Tổng lý. Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4.9.1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trên mặt bể. Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng. Phạm Văn Đồng”.

Vin vào cớ ấy, năm 1974, Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm Hoàng Sa của Việt Nam. Mao Trạch Đông là người quyết định đánh (theo tài liệu của nhà nghiên cứu Dương Danh Dy).

Năm 1978 Trung Quốc đã đi con đường Tư bản chủ nghĩa qua tuyên bố của Đặng Tiểu Bình“Mèo trắng mèo đen không quan trọng, miễn là bắt được chuột”. Với tuyên bố ấy, để, “Dạy cho Việt Nam một bài học”, bước sang năm 1979, chính Đặng Tiểu Bình thúc 60 vạn quân tinh nhuệ đánh năm tỉnh biên giới Bắc Việt Nam.

Năm 1988 Trung Quốc tiếp dùng vũ lực đánh chiếm đảo Gạc Ma và 6 đảo đá khác thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Đại hội ĐCSTQ lần thứ 18 (11.2012), khánh tiết trên lễ đài là 10 lá cờ Trung Quốc (mỗi bên 5 lá châu lại), không có ảnh Mác – Lênin – Mao Trạch Đông. Rõ ràng Trung Quốc đã đi con đường Tư bản chủ nghĩa; “Trung Quốc xây dựng CNXH theo màu sắc của Trung Quốc” là tuyên ngôn ẩm ờ, ngụy trang để lừa mỵ nhân dân Việt Nam và cả thế giới.

Công hàm Phạm Văn Đồng (1958) là cái cớ thứ nhất, sơ đồ nghiên cứu Biển Đông của Quốc dân đảng, thời Tưởng Giới Thạch (1947) là cái cớ thứ hai để Trung Quốc giờ tự vẽ lại Đường lưỡi bò 9 đoạn rồi 10 đoạn đến công bố bản đồ khổ dọc để độc chiếm trọn cả Biển Đông theo Luật rừng của Trung Quốc, không cần tuân theo luật pháp Quốc tế và trắng trợn, liều lĩnh hạ đặt giàn khoan HD 981 vào thềm nhà của Việt Nam 75 ngày (2.5 đến 16.7.2014), Trung Quốc dùng tàu lớn đã đâm hỏng 19 tàu kiểm ngư của Việt Nam, húc chìm tàu đánh cá ngư dân Đà Nẵng, bắt 13 ngư dân Quảng Bình và Đà Nẵng về Trung Quốc (đến ngày 17.7 mới thả cho về). Trung Quốc đã bộc lộ là kẻ xâm lược, tàn bạo! Tập đoàn bành trướng Đại Hán Trung Quốc đâu còn là “Bốn phương vô sản” nữa, họ đang trên đường chủ nghĩa Tư bản tài chính để thành chủ nghĩa Đế quốc, chủ nghĩa phát xít là mộng cai trị thế giới mà chính họ đã tự đề cao “Giấc mộng Trung Hoa” thì sao ta còn theo họ để xây dựng chủ nghĩa… cái gì? Có phải đây là lỗi Ý thức hệ?

Hiệp định Paris 1954 đến nay nhân dân Việt Nam đã rõ. Công hàm Phạm Văn Đồng 127 chữ nay dân đã biết. Thế còn Hội nghị Thành Đô (1990) nói về những gì giữa Việt Nam và Trung Quốc? Hiệp ước Việt-Trung về vịnh Bắc Bộ (30.12.năm 2000) nói về những vấn đề gì mà sau đó, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Công Phụng đã thú nhận rằng: so với Hiệp ước Pháp-Hoa (1897), phía Việt Nam mất hơn 10.000 km2.

Tại Bắc Kinh, ngày 21.6.2013 Việt Nam và Trung Quốc đã tuyên bố chung những điều khoản gì người dân đâu được biết mà chỉ nghe tuyên truyền 4 tốt và 16 chữ vàng, đến nỗi, người dân vì quá ngứa tai mà đặt đồng dao rất thông minh để nhại lại “thập lục kim tự” kia: Láng giềng khốn nạn, cướp đất toàn diện, cướp biển lâu dài, thôn tính tương lai!

Ngày 21.6.2013 hai bên tuyên bố chung những gì ở Bắc Kinh mà ngày 21.6. 2014 Ủy viên quốc vụ Dương Khiết Trì sang Việt Nam khi về nước đã đọc thông điệp cứng rắn “Bốn không được” áp đặt cho Việt Nam, đến nỗi vị tướng 95 tuổi Nguyễn Trọng Vĩnh phải viết thư tay (ngày 15.7 bốn trang) gửi đến Bộ Chính trị. Ông phân tích nội dung về “4 không được” và tức giận bởi lời lẽ ngạo mạn của vị khách họ Dương này. Thư của vị Tướng già chắc nịch như đinh đóng cột ở cuối rằng: “Trong cuộc đấu tranh, chúng ta chỉ còn có một thứ vũ khí khả dĩ chặn hành động xâm lược của Trung Quốc là Kiện.”

Bởi kiện là giải pháp văn minh, tiến bộ nhất của thời đại. Ta chủ trương hòa bình, thì bởi vì hòa bình mà buộc ta phải kiện là giải pháp tốt nhất để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ dân tộc!

Hết Trung ương đến địa phương, người dân chẳng biết nhà nước, chính phủ ký kết những gì với Trung Quốc mà ông Hồ Xuân Hoa, Bí thư tỉnh Quảng Đông sang Hà Nội (4.2014) khi về Quảng Đông đã gửi (chỉ thị) cho Bộ Ngoại giao Việt Nam “16 việc phải làm”. Ai cũng hiểu “đây là việc làm vượt thẩm quyền của một tỉnh”, thì tại sao Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hồ Xuân Sơn lại chấp hành ông tỉnh Quảng Đông ký công văn gửi đến các ban, ngành thực hiện 16 điều không mấy tốt đẹp lại rất tai hại cho phía Việt Nam!? (Công văn số 1832/BNG-ĐBA ngày 3.6.2014).

Đã đến lúc người dân Việt Nam khẩn cầu nhà nước, chính phủ công bố nội dung Hội nghị Thành Đô (1990), Hiệp ước về Vịnh Bắc Bộ (2000), Tuyên bố chung ở Bắc Kinh (2013) cho nhân dân cả nước được biết nội dung của nó. Một dân tộc kiên cường, trước họa ngoại xâm thì nhân dân phải biết “địch-ta”. Trước hết là phải biết từng chữ, từng lời, từng mưu mô xảo quyệt của đối phương. Từng phút từng giây, mọi lúc mọi nơi không ngừng nâng cao cảnh giác với chúng. Nhưng phải cho dân biết thì dân mới bàn (dẫu trong phạm vi nào đó của họ) những kế sách hay để giúp nước. Và nhà nước phải biết nghe dân. Chính dân mới làm nên lịch sử. Nhưng trước hết phải tháo bỏ Ý thức hệ. Bởi sai lầm là từ nó. Nhân dân thế giới sẽ giúp Việt Nam bởi ta chính nghĩa. Nhưng khi ta chưa xóa bỏ Ý thức hệ thì cớ gì người ta giúp mình? Bàn cờ đã đi ngửa rồi kia mà!

Dân ta giờ đã hiểu nhiều và thông minh lắm. Nhiều người chưa có vi tính, chưa cài intenet thì đã có con, cháu của họ cập nhật hàng ngày. Cứ mở Google rồi đánh: Danh sách cán bộ nhà nước tham nhũng… thì sẽ có danh sách ấy. Chẳng biết các vị có chức có quyền bằng cách nào mà có được hàng chục, hàng trăm triệu đôla?

Nước ta có trên 20 triệu người theo các tôn giáo khác nhau. Nhiều nhất là Phật giáo. Kinh điển pháp độ chúng sinh rất hay: Tất thảy hãy vì chúng sinh. Các vị Bồ Tát phải biết quên mình đi mà rốt ráo không hề biết mệt nhọc độ giúp chúng sinh khi gặp cơn hoạn nạn… Chúng ta đang làm cuộc cách mạng “Dân giàu Nước mạnh” cũng vậy. Đã một thời gian dài Trung ương hô hào chung chung “cho đảng viên làm giàu” là sai rồi! Đảng viên là số ít. Đảng viên có chức có quyền lại càng ít hơn. Mà số làm giàu bất chính thường là những đảng viên có chức quyền. Lý ra là nên hô: Cho nhân dân làm giàu! Bởi trong dân đã có đảng rồi. Ai sinh ra đều phải làm dân trước. Vào đảng (cộng sản chẳng hạn) là phải có thời gian? Hô hào cho đảng viên làm giàu là cố ý giành lợi quyền cho cá nhân hoặc lợi ích nhóm. Trải qua hai cuộc chiến để được thống nhất nước nhà là phải xương chất thành núi, máu đổ thành sông của biết bao đồng bào, chiến sĩ. Các vị lên nắm quyền cứ tưởng tài nguyên thiên nhiên, đất đai, biển đảo… như là một chiến lợi phẩm khổng lồ rồi hô hào chung chung để ai được chức to thì hưởng lợi nhiều hơn. Các vị sai rồi! Chính vì cái lợi riêng ấy đẫn đến đất nước lụn bại. Dân không còn tin các vị đủ tư cách và trình độ để lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện nữa. Và, người dân đã nói thẳng thừng: bởi chiếc ghế, bởi quá tham ăn, các vị đã mắc mưu Trung Quốc.

Tài năng và đức độ như Đức Phật mà còn phải biết học chúng sinh, mới hình thành nhiều ngôi chùa Phật Học. Hơn 700 năm trước, Phật Hoàng Trần Nhân Tông đã từng di chúc cho dân tộc Việt Nam: “… Các ngươi chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường, làm một nẻo… Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn… Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: Một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không được để lọt vào tay kẻ khác. Ta muốn lời nhắn nhủ này như một di chúc cho con cháu muôn đời sau”.

Mới 40 năm mà ta đã mất Hoàng Sa, Gạc Ma, mất 2/3 thác Bản Giốc, mất Ải Nam Quan, mất bãi Tục Lãm, mất các cao điểm chiến lược Hà Giang, Lão Sơn… Các vị ký tá những gì với họ mà đến giờ vẫn còn ém nhẹm chưa cho dân được rõ? Nếu chiếu theo di chúc của Nhà Vua Trần Nhân Tông thì tội để mất đất vào tay kẻ khác lớn biết chừng nào. Giá như trước đây các vị nghe công dân Đại tướng Võ Nguyên Giáp bằng ba bức thư góp ý là dừng ngay dự án bauxite cao nguyên, nghe Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên góp ý không nên nhượng bán (có thời hạn) rừng đầu nguồn thì đỡ đi biết mấy. Nay vị Tướng già rất có trình độ và mưu lược trong chiến tranh vệ quốc viết thư tay đến Bộ Chính trị với vũ khí Kiện là hợp thời đại, thế giới sẽ ủng hộ Việt Nam, và nhân dân Việt Nam sẽ theo chiều hướng đổi mới, khoa học, văn minh của nhân dân thế giới. “Ai sống ở đâu 50 năm thì nơi ấy thuộc sở hữu chủ quyền của họ”. Đó là luật pháp Quốc tế. Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa của ta đã hơn 40 năm. Cái giàn khoan HD 981 là cái cớ tuyệt vời! GS Tương Lai “Cám ơn cái giàn khoan” là bởi chính Trung Quốc đã phơi bày dã tâm tàn ác của kẻ xâm lược! Thì ta đi kiện là ta vừa có thế lại vừa đúng lúc thế giới đang ủng hộ chúng ta. Nếu ta không kiện mà tiếp tục nhân nhượng và càng nhân nhượng thì Trung Quốc càng lấn tới, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh nói với thực dân Pháp trước đây. Một ví dụ khẩn thiết: ông Phan Công Chánh, giảng dạy ở San Jose State University, Hoa Kỳ góp ý cho Việt Nam 8 chữ vàng là: “Tây Tiến – Đông Kết – Bắc Hẹn – Nam Hòa” (bbc ngày 29.7.2014) là rất có lý. Các vị lãnh đạo nên tham khảo sự góp ý này. Còn người dân chúng tôi sẽ nghiêng về vị Tướng già Nguyễn Trọng Vĩnh hơn là sự bảo thủ, trì trệ, lừng khừng mất cơ hội tạo đà cho lũ xâm lăng lấn át, giày xéo đất nước này! Đảng, nhà nước cần dứt khoát và mau chóng lựa chọn!

Huế, 30.7.2014

V. N.

(Tác giả gửi cho QTXM. Tư liệu văn phong của tác giả)

 

 

 

 

Huyền bí Phong Nha – Kẻ Bàng –  Những người có duyên với hang động

 

Năm 1997, GS-TSKH Nguyễn Quang Mỹ đã đọc một báo cáo gây sửng sốt giới khoa học về Phong Nha – Kẻ Bàng. Và nếu không có ông Howard Limbert cùng đoàn thám hiểm thì VN không thể giới thiệu được những hình ảnh về hang động của mình với thế giới. 

 

 Huyền bí Phong Nha - Kẻ Bàng - Kỳ 4: Những người có duyên với hang động 1
Howard Limbert cùng vợ – bác sĩ Debbie – Ảnh: DLQB

 

GS-TSKH Nguyễn Quang Mỹ và Howard Limbert thật sự có duyên với hang động Quảng Bình. Nhờ vậy, năm 2003 UNESCO đã tôn vinh hang động Phong Nha – Kẻ Bàng là di sản thiên nhiên thế giới.  

 

 

Vợ chồng “ham chơi”

“Duyên trời định” đã đưa ông Howard Limbert cùng vợ là bác sĩ Debbie Limbert và các thành viên trong đoàn tới VN từ năm 1990. 24 năm, ông tiến hành gần 20 cuộc thám sát hang động thuộc hệ thống núi đá vôi Kẻ Bàng.

Howard kể, từ năm 15 tuổi, ông đã bắt đầu với những chuyến thám hiểm ở Anh và các nước châu Âu. Howard từng là trưởng đoàn từ những năm 1980 thám hiểm Mexico và mang đến nhiều kết quả vang dội.

Cưới nhau đến nay gần 35 năm, cùng niềm đam mê, cùng ưa đến nơi chưa ai từng đến, mà vợ chồng ông thường đùa là vì “ham chơi”, vì sự hấp dẫn của những dãy núi đá vôi châu Á mà họ đã ra khỏi nước Anh. Năm 1990, hai vợ chồng lên kế hoạch, kiên trì tìm kiếm sự chấp thuận của các nước châu Á. Và như một cơ duyên, khi nhận được thư phúc đáp từ Khoa Địa lý – Địa chất Trường đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội thì cái duyên ấy gắn với khu vực Phong Nha – Kẻ Bàng.

 
 
Huyền bí Phong Nha - Kẻ Bàng - Kỳ 4: Những người có duyên với hang động 2
Ảnh: Bùi Tuấn

GS-TSKH-Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Quang Mỹ (ảnh), nguyên Trưởng khoa Địa lý Trường đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội, nguyên Chủ tịch Hội Hang động VN qua đời ngày 25.2.2014. Ông ra đi nhưng dự cảm của ông đã thành hiện thực. Rất nhiều người trên thế giới đã biết đến Phong Nha – Kẻ Bàng, một tài nguyên vô giá mà ông góp phần không nhỏ trong việc khám phá.

 

Từ năm 1990, khi lần đầu tiên họ cùng 9 thành viên trong đoàn thám hiểm đặt chân tới đây, cả xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch (Quảng Bình) ai cũng biết vợ chồng “ông Tây” này.

Ông khẳng định mình đã đặt chân tới 90% hang động tại nước Anh, nhưng cũng thừa nhận mới chỉ chinh phục được 10% hang động ở quần thể Phong Nha – Kẻ Bàng. Bà Debbie Limbert chia sẻ: “Nhờ James Cameron sản xuất phim Sanctum (2011) về một nhóm khám phá hang động mà các hãng thông tấn như BBC, NHK, đặc biệt là Hội Địa lý Mỹ (National Geographic) bắt đầu để ý tới hang động VN nhiều hơn. Cơn sốt khám phá hang động khiến họ gửi các đoàn làm phim, nhiếp ảnh gia đến các hang động mới phát hiện của VN như Sơn Đoòng, với sự hỗ trợ và dẫn đường của đoàn Howard Limbert. Những hình ảnh kỳ bí và tuyệt đẹp trong hang động nhờ hiệu ứng 3D đã kích thích trái tim và cái đầu ưa mạo hiểm, làm loạn nhịp những ai ưa vẻ đẹp thiên nhiên và làm nghẹt thở những người có máu phiêu lưu”.

Howard và Debbie luôn nói về những người đã giúp mình thực hiện thành công những chuyến khám phá hang động ở Phong Nha – Kẻ Bàng. Đó là chính quyền luôn tạo điều kiện thuận lợi và người dân địa phương trong vai trò người dẫn đường. Các kết quả thám hiểm và nghiên cứu hang động của ông Howard Limbert đã được sử dụng để xây dựng hồ sơ di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha – Kẻ Bàng mà chúng ta đã biết. 

Tâm huyết của người con với quê hương

GS-TSKH Nguyễn Quang Mỹ quê ở Ba Đồn, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Ông học đại học và bảo vệ xuất sắc luận án TSKH tại ĐH Tổng hợp Lomonosov (Liên Xô cũ).

Nhiều người biết hai nhà văn đều là em ruột của ông là Nguyễn Quang Lập và Nguyễn Quang Vinh nhưng mãi đến năm 1990, khi công bố kết quả đợt thám sát Phong Nha đầu tiên, nhiều người mới biết ông là người Quảng Bình. Với tư cách là Chủ tịch Hội Hang động VN, người tham gia cùng đoàn thám hiểm Hội Địa lý hang động Hoàng gia Anh, ông đã có nhiều chuyến trực tiếp tham gia thám hiểm mà sau này ông kể lại với “những kỷ niệm rùng mình”.

Năm 2001, cuốn sách Kỳ quan hang động Việt Nam bằng hai ngôn ngữ Việt – Anh do Nguyễn Quang Mỹ và Howard Limbert chủ biên cùng sự đóng góp của 15 nhà khoa học VN, 40 nhà khoa học thuộc Hội Hang động Hoàng gia Anh đã ra mắt công chúng trong nước và quốc tế. Đó là kết quả 10 năm khảo sát công phu hang động tiêu biểu của VN trong giai đoạn đó. Dù cho rằng đây chỉ là một phần rất nhỏ chân dung của hang động Phong Nha – Kẻ Bàng nhưng thực sự nó đã mở ra một giai đoạn mới.

Hơn 40 năm làm thầy, GS Nguyễn Quang Mỹ đã đào tạo hàng nghìn sinh viên, trong đó nhiều người đã trở thành TS, chuyên gia địa lý, địa chất, hang động. Nhưng sự đóng góp của ông không chỉ ở đó. Người trong nghề tôn vinh ông là “ông vua hang động” bởi cuộc đời ông gắn liền với hành trình khám phá.

Ông từng tâm sự: “Dưới lòng đất đá là một hệ thống hằng hà tài nguyên đến nay chưa được biết đến. Tiềm năng vô giá sẽ được khám phá. Rồi đây người trong nước, quốc tế sẽ chiêm ngưỡng vẻ đẹp tiềm ẩn, một thế giới lung linh choáng ngợp dưới lòng đất VN”.

Trương Quang Nam – Vũ Nguyễn

(Nguồn :thanhnienonline)

 

 

 

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 30.07.2014

Bọn “siêu trộm” bị xử nặng là phải!

 

Bọn “siêu trộm” bị xử nặng là phải!

Truyện trong mơ của Nguyễn Khắc Phê

.

Chuyện kẻ cắp, kẻ trộm thì xưa như … trái đất, nhưng tôi vừa mơ thấy vụ “siêu trộm” xuyên quốc gia bị đưa ra xét xử; rất nhiều người đến xem vì có những tình tiết độc đáo. Dư luận thì đang ồn lên vụ trộm 65 lượng vàng tại nhà một vị Giám đốc Sở Tài chính tỉnh nọ, nên xin kể lại giấc mơ hầu bạn đọc cho vui.

Cầm đầu nhóm “siêu trộm” là Tuấn, trán cao, mắt sáng, có dáng vẻ trí thức. Tòa

hỏi:

- Vì sao bị cáo chỉ nhằm cạy tủ phòng các vị lãnh đạo Sở?

- Dạ thưa, vì em ham đọc báo, đọc Nghị quyết…

- Này, đây là Tòa, chứ không phải quán xá mà nói đùa nghe!

- Dạ, em nói thật đó ạ. Vì báo và nghị quyết nói rõ là tham nhũng ngày một tinh vi phức tạp, mà người có quyền chức mới tham nhũng được. Họ tham nhũng nên chắc chắn trong tủ có nhiều vàng và tiền. Chứ nhân viên quèn thì tiền tiêu chẳng đủ, lấy đâu tích trữ.

- Thôi, chuyện ấy ai cũng biết, không phải nói. Bị cáo nghe đây: Tại sao lại biết tiền, vàng họ để trong tủ? Lỡ họ gửi ngân hàng, chơi chứng khoán, đầu tư bất động sản thì có phải trắng tay mà vẫn vất vả không?

- Dạ, thì cũng nhờ báo chí cho biết tham nhũng đi đôi hủ hóa. Ở Trung Quốc cũng vừa xử quan to Trung ương tham nhũng nuôi bồ nhí hết cô này đến cô khác. Các quan ấy phải giữ tiền riêng, coi như “quỹ đen” không cho vợ biết để thoải mái nhậu nhẹt, mát-xa , mát-gần… Các quan ta thì vốn có truyền thống “học tập” mọi thứ ở “nước-bạn-lớn” láng giềng…

(Đọc tiếp…)

 

Việt Nam theo đuổi liên minh đối phó Trung Quốc: Tại sao và nên như thế nào?

  •   Lê Hồng Hiệp (dịch)

Sự kiện Trung Quốc hạ đặt Giàn khoan Hải dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam cùng với những hành động hiếu chiến đi kèm đã làm biến đổi quan hệ Việt – Trung nói riêng và môi trường chiến lược của Việt Nam nói chung. Theo đó, đã đến lúc Việt Nam cần đánh giá lại bản chất quan hệ Việt- Trung cũng như định hướng chính sách đối ngoại để ứng phó với những thay đổi trong quan hệ song phương cũng như môi trường chiến lược.

Cụ thể, gần đây có một số các nhà quan sát đã lập luận rằng trong tình thế hiện nay, đã đến lúc Việt Nam cần phải từ bỏ chính sách đối ngoại trung lập, không liên kết để chuyển sang chính sách chính trị liên minh, nhằm nâng cao vị thế chiến lược và khả năng mặc cả với Trung Quốc, qua đó bảo vệ tốt nhất lợi ích quốc gia của mình. Bài bình luận này sẽ đi sâu thảo luận một số khía cạnh của vấn đề này, đặc biệt là lý do tại sao Việt Nam cần theo đuổi chính trị liên minh,  những thách thức mà Việt Nam phải đối mặt khi đi theo phương hướng đó, cũng như gợi ý một số bước đi cụ thể nhằm hiện thực hóa lựa chọn này.

Chiến lược Trung Quốc của Việt Nam từ sau bình thường hóa

Kể từ sau khi bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc vào tháng 11/1991 cho đến những năm gần đây Việt Nam nhìn chung đã duy trì được một chiến lược Trung Quốc khéo léo và phù hợp nhằm thu được lợi ích tối đa từ mối quan hệ với Trung Quốc. Chiến lược này kết hợp nhiều cách tiếp cận khác nhau theo phương châm “vừa hợp tác, vừa đấu tranh”, qua đó vừa coi Trung Quốc là một “đối tác” mà Việt Nam cần tranh thủ hợp tác, vừa là một “đối tượng” cần đấu tranh, đặc biệt là trên hồ sơ tranh chấp Biển Đông. Cụ thể, chiến lược này dựa trên bốn trụ cột lớn:

Một là, thực dụng kinh tế.Thông qua việc khuyến khích theo đuổi quan hệ hợp tác kinh tế với Trung Quốc, cỗ máy tăng trưởng của thế giới, Việt Nam đã tận dụng được đòn bẩy kinh tế từ Trung Quốc để phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế và tăng cường nội lực của mình. Mặc dù còn những bất cập, như tình trạng nhập siêu lớn, phụ thuộc Trung Quốc về một số mặt hàng nguyên vật liệu đầu vào… nhưng nhìn chung không thể phủ nhận đóng góp của quan hệ giao thương với Trung Quốc vào sự phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam hơn hai thập niên qua. Điều đáng nói là dù quan hệ giữa hai nước có những thăng trầm nhất định do tranh chấp Biển Đông nhưng cho đến nay có thể nói quan hệ kinh tế song phương đã được tách bạch ra khỏi những căng thẳng đó và quan hệ kinh tế giữa hai nước chưa bị Trung Quốc “bắt làm con tin” để cưỡng ép Việt Nam trong vấn đề Biển Đông. Tuy nhiên, đây vẫn là một khả năng có thể xảy ra, đặc biệt là trong trường hợp quan hệ song phương lao dốc

Hai là, can dự chính trị.Việt Nam đã tăng cường quan hệ chính trị và các cơ chế giao lưu song phương ở mọi cấp độ với Trung Quốc nhằm tăng cường hiểu biết, tin cậy chính trị lẫn nhau. Cụ thể, từ sau bình thường hóa tới nay, hai bên đã trao đổi 36 chuyến thăm cấp cao (giữa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng phía Việt Nam với Chủ tịch nước/ Tổng Bí thư, Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng phía Trung Quốc), cùng hàng nghìn chuyến thăm các cấp khác. Hai bên cũng đã nâng cấp quan hệ lên mức Đối tác Chiến lược Toàn diện năm 2008. Cơ chế can dự song phương hiện có ở cả cấp độ Đảng lẫn Chính phủ, cấp trung ương lẫn địa phương, và cấp chính thức lẫn dân gian. Điểm đáng nói là mặc dù quan hệ chính trị và sự can dự song phương có bước phát triển đáng kể nhưng điều này không giúp Việt Nam kiềm chế được Trung Quốc trong vấn đề tranh chấp Biển Đông.

Ba là, cân bằng cứng.Do tranh chấp Biển Đông là mối đe dọa lớn nhất đối với an ninh quốc gia cũng như toàn vẹn lãnh thổ, đồng thời với nhận thức rằng sự phát triển của quan hệ chính trị và kinh tế không thể giúp hóa giải vấn đề Biển Đông, nên Việt Nam cũng đã theo đuổi chính sách “cân bằng cứng” bằng cách tăng cường sức mạnh quốc phòng. Biện pháp này được thực hiện bằng cả nội lực thông qua phát triển năng lực ngành công nghiệp quốc phòng nội địa lẫn biện pháp hợp tác quốc tế và mua sắm vũ khí từ các đối tác nước ngoài. Có thể nói cho đến nay chính sách này đã giúp Việt Nam tăng cường đáng kể sức mạnh chiến đấu và khả năng răn đe đối với kẻ thù. Tuy nhiên, cần nhận thức rằng, trong quan hệ với Trung Quốc và tranh chấp Biển Đông, khả năng quốc phòng của Việt Nam dù phát triển lớn mạnh tới đâu cũng không bao giờ đuổi kịp Trung Quốc, vốn hiện giờ là nước có chi phí quốc phòng lớn thứ 2 thế giới và vượt xa tổng chi tiêu quốc phòng của cả 10 nước ASEAN cộng lại.

Bốn là, cân bằng mềm.Đây là biện pháp mà Việt Nam ưu tiên áp dụng để ứng phó với sức ép của Trung Quốc, thông qua việc tăng cường quan hệ ngoại giao với các quốc gia trong khu vực, đặc biệt là các cường quốc và các quốc gia tầm trung,cũng như thông qua việc khai thác tối đa đòn bẩy ngoại giao mà các tổ chức và dàn xếp khu vực, nhất là ASEAN và các dàn xếp do ASEAN chủ trì, mang lại. Đặc biệt cho đến nay Việt Nam đã có được tiếng nói đáng kể trong khuôn khổ ASEAN và đã thiết lập các mối quan hệ đối tác chiến lược hoặc toàn diện với 15 quốc gia khác nhau. Trong khi đây là một thành tựu đáng kể đối với Việt Nam thì cũng cần phải thấy rằng các biện pháp cân bằng mềm sẽ bị hạn chế nếu Trung Quốc tìm cách chia rẽ ASEAN, phớt lờ các thể chế khu vực, đồng thời nếu quan hệ “đối tác chiến lược” giữa Việt Nam và các đối tác chính không vượt được ra ngoài khuôn khổ hình thức để đi vào các biện pháp hợp tác thực chất nhằm đối phó với mối đe dọa Trung Quốc.

Bốn trụ cột này trong chiến lược Trung Quốc của Việt Nam được các học giả quan hệ quốc tế gọi với một tên chung là chiến lược “hedging”, tạm dịch là chiến lược “phòng bị nước đôi”. Theo đó, Việt Nam đã không thiên hẳn về chính sách “phù thịnh” (bandwagon) với Trung Quốc hay “cân bằng” (balancing) chống lại láng giềng phương Bắc của mình mà áp dụng một chiến lược kết hợp các mẫu hình chính sách của cả hai hướng tiếp cận. Chiến lược “phòng bị nước đôi” vì vậy cho phép Việt Nam khai thác tối đa mối quan hệ với Trung Quốc để phục vụ mục tiêu phát triển của mình, đồng thời giúp Việt Nam “phòng bị” được trong trường hợp quan hệ xấu đi. Cụ thể, khi sức ép từ Trung Quốc vượt qua “giới hạn đỏ”, Việt Nam có thể chuyển hướng sang chiến lược “cân bằng” để đối phó với Trung Quốc mà không phải mất quá nhiều thời gian để xoay chuyển tư thế chiến lược của mình.

Bên cạnh đó, trong hơn 20 năm qua từ sau khi bình thường hóa, Việt Nam cũng đã duy trì một chính sách có thể gọi là không liên minh – liên kết trong quan hệ đối ngoại nói chung và quan hệ với Trung Quốc nói riêng. Theo đó, dù áp dụng các biện pháp ít nhiều mang tính đề phòng Trung Quốc như đã nói trên, nhưng các quan chức Việt Nam cũng nhiều lần khẳng định rằng “Việt Nam…là một nước độc lập, không liên minh, liên kết, đồng minh với nước nào, không dùng nước thứ 3 để chống lại nước khác.”

Với mục tiêu duy trì đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, “muốn là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế” và duy trì quan hệ láng giềng tốt với Trung Quốc thì rõ ràng chính sách không liên minh – liên kết như trên là phù hợp.

Tại sao cần chuyển hướng sang chính sách liên minh?

Tuy nhiên, một chính sách tốt đối ngoại tốt không phải là một chính sách bất biến, được áp dụng trong mọi hoàn cảnh, mà phải là một chính sách linh hoạt, có thể điều chỉnh phù hợp với hoàn cảnh biến đổi để mang lại lợi ích tốt nhất cho quốc gia.

Như đã nói, sự cố Giàn khoan Hải dương 981 đã làm biến đổi nền tảng quan hệ Việt Trung từ sau bình thường hóa, chuyển hóa môi trường chiến lược của Việt Nam lẫn khu vực theo hướng bất lợi cho Việt Nam nếu như Việt Nam vẫn giữ cách tiếp cận cũ đối với chính sách đối ngoại nói chung cũng như chính sách Trung Quốc nói riêng. Nói cách khác, thế cân bằng cũ trong chính sách ngoại giao và chiến lược của Việt Nam đã bị Trung Quốc phá vỡ, và Việt Nam cần chủ động chuyển sang một thế cân bằng mới cho các chính sách của mình. Cụ thể hơn, đã đến lúc Việt Nam cần điều chỉnh lại chiến lược Trung Quốc từ sau bình thường hóa tới nay, đồng thời từng bước từ bỏ chính sách không liên minh – liên kết để dần chuyển hướng sang chính sách liên minh một cách khôn khéo và có chọn lọc để ứng phó với Trung Quốc. Sau đây là những lý do cơ bản cho sự chuyển hướng này.

Thứ nhất, hiện nay nền tảng của chính sách không liên minh – liên kết của Việt Nam đã trở nên không còn phù hợp hoặc phản tác dụng. Mỗi chính sách đều xuất phát từ một nền tảng nhất định. Khi các nền tảng thay đổi thì cần phải có sự điều chỉnh chính sách để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, giúp bảo vệ tốt nhất lợi ích quốc gia. Cụ thể:

  • Chính sách không liên minh – liên kết chỉ phù hợp với từng giai đoạn lịch sử. Thực tế, chính sách không liên minh – liên kết về cơ bản là một sản phẩm từ thời Chiến tranh lạnh, khi mà các nước Thế giới thứ Ba tìm cách để không bị vướng vào cuộc xung đột Đông – Tây nên đã hình thành nên Phong trào Không liên kết như một cách thức vừa tập hợp lực lượng, nâng cao vị thế, vừa tự bảo vệ mình trước cuộc xung đột Đông – Tây. Sau Chiến tranh lạnh, một số quốc gia như Việt Nam vẫn theo đuổi chính sách này vì nó vẫn ít nhiều phù hợp với lợi ích quốc gia của mình, nhất là trong việc khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ. Mặt khác, riêng đối với Việt Nam, chính sách không liên minh – liên kết còn nhằm trấn an Trung Quốc, đặc biệt là trong khoảng một thập niên gần đây, khi Trung Quốc luôn e ngại việc bị Hoa Kỳ tìm cách bao vây, kiềm chế. Tuy nhiên, khi môi trường và lợi ích thay đổi thì sự trung thành của các quốc gia đối với chính sách không liên kết cũng thay đổi theo. Ví dụ, bản thân Trung Quốc vốn là nước đầu tàu trong phong trào không liên kết hiện nay cơ bản cũng đã từ bỏ chính sách này (xem thêm bài Tư duy mới của Trung Quốc về liên minh) bằng cách thắt chặt quan hệ với Nga nhằm đối trọng với Mỹ, mà biểu hiện gần đây nhất là chuyến thăm của Putin tới Bắc Kinh với việc hai bên ký kết hợp đồng khí đốt kỷ lục và hỗ trợ nhau về ngoại giao, quốc phòng trong các vấn đề quốc tế và khu vực.
  • Chính sách không liên minh – liên kết chỉ là lựa chọn tốt khi an ninh Việt Nam không bị đe dọabởi các thế lực bên ngoài. Khi bị đe dọa, ép buộc, việc không liên minh – liên kết cướp đi của Việt Nam một lựa chọn hữu hiệu nhằm cân bằng lại mối đe dọa. Hiện nay, trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng trở nên xác quyết trong vấn đề Biển Đông, có biểu hiện từ bỏ chính sách “thao quang dưỡng hối” để bắt đầu dùng sức mạnh đã tích lũy bấy lâu nhằm đạt được các mục tiêu đối ngoại của mình, thì việc Việt Nam tiếp tục trung thành với chính sách không liên minh – liên kết sẽ càng biến chúng ta thành một “mục tiêu thuận tiện” cho Trung Quốc thực hiện mưu đồ. Phải nhận thức rõ ràng rằng vụ Giàn khoan Hải dương 981 sẽ không phải là vụ cuối cùng, cũng không phải là mức độ cưỡng ép cao nhất mà Trung Quốc sử dụng. Sẽ còn có nhiều vụ tương tự, và mức độ cưỡng ép của Trung Quốc sẽ còn cao hơn, không loại trừ việc Trung Quốc sử dụng vũ lực. Vì vậy, trong trường hợp này việc không liên minh liên kết sẽ phản tác dụng đối với Việt Nam.
  • Việc không liên minh – liên kết chỉ hợp lý khi nội lực của Việt Nam đủ mạnh.Trong trường hợp đó, dù xuất hiện các mối đe dọa, Việt Nam vẫn có thể ít nhiều tự xoay sở để đối phó. Tuy nhiên trong thực tế, dù hiện nay nội lực tổng hợp của Việt Nam nói chung cũng như năng lực quốc phòng nói riêng đã có nhiều cải thiện so với khoảng 2 thập niên trước đây, nhưng nhìn nhận khách quan thì chúng ta vẫn còn rất yếu, nhất là so với Trung Quốc. Nếu Việt Nam tiến bộ một thì Trung Quốc đã tiến bộ mười. Nếu chỉ một mình dựa vào nội lực và một vài sự ủng hộ ngoại giao hình thức để đối chọi với Trung Quốc là một điều không tưởng. Vì vậy, trong bối cảnh Trung Quốc trỗi dậy với sức mạnh vượt trội và ngày càng trở nên hung hăng, hiếu chiến, thì nền tảng của chính sách không liên minh – liên kết của Việt Nam cũng bị lung lay.

Thứ hai, Trung Quốc đã phá vỡ “điểm cân bằng” trong quan hệ song phương và buộc Việt Nam phải thay đổi chiến lược. Nói cách khác, Việt Nam không còn đường lùi. Thực tế, quan hệ song phương trong lịch sử có thể nói luôn dựa trên một thỏa thuận ngầm, bất thành văn giữa hai nước, rằng Việt Nam sẽ tôn trọng Trung Quốc, thậm chí chấp nhận vai trò bá chủ của Trung Quốc, miễn là Trung Quốc tôn trọng sự độc lập, toàn vẹn lãnh thổ và quyền tự chủ của Việt Nam. Bởi thế mà các triều đình phong kiến Việt Nam bề ngoài thường chấp nhận tham gia hệ thống triều cống của Bắc Kinh như một cái giá danh nghĩa để đổi lấy hòa bình và cơ hội giao thương, phát triển cho Việt Nam, trong khi vẫn có thể duy trì được nền độc lập, tự chủ của mình. Quan hệ thời kỳ hiện đại, nhất là giai đoạn từ sau bình thường hóa cũng vậy, dù là trên danh nghĩa chủ quyền bình đẳng, hai bên cùng có lợi, nhưng Việt Nam vẫn đã giành cho Trung Quốc sự tôn trọng đúng mực trong vai trò một nước lớn, mà chính sách không liên minh – liên kết của Việt Nam là một hình thức của sự tôn trọng đó. Đổi lại, Trung Quốc cũng được kỳ vọng sẽ tôn trọng độc lập, toàn vẹn lãnh thổ và sự tự chủ của Việt Nam. Tuy nhiên, với sự cố Hải dương 981, là sự cố nghiêm trọng nhất từ sau bình thường hóa nhưng chắc chắn không phải là sự cố cuối cùng, Trung Quốc đã vi phạm thỏa thuận ngầm này và phá vỡ “điểm cân bằng” trong quan hệ song phương. Khi điểm cân bằng bị phá vỡ, Việt Nam hoặc phải quy thuận theo Trung Quốc, hoặc phải tìm cách để ứng phó lại. Tuy nhiên, đó không phải là lựa chọn mà Việt Nam có thể thực hiện, bởi Việt Nam chỉ có một con đường là tìm cách ứng phó lại mối đe dọa từ Trung Quốc mà không thể “đánh đổi chủ quyền lấy thứ hữu nghị viễn vông”. Trong bối cảnh đó, chính sách không liên minh – liên kết không giúp được gì cho Việt Nam.

Thứ ba, Việt Nam có đủ điều kiện thuận lợi để chuyển sang chính sách liên minh. Một mặt, vị thế quốc tế và nội lực của Việt Nam hiện nay khác với thời kỳ trước bình thường hóa. Trong quá khứ, nhất là giai đoạn cuối 1970, khi Việt Nam liên minh với Liên Xô để đối phó với Trung Quốc, Việt Nam ít nhiều đã phải trả giá. Tuy nhiên lúc đó trong nước Việt Nam nội lực yếu kém, bên ngoài lại bị bao vây, cô lập, cấm vận, quan hệ ngoại giao hạn chế, nên đã dễ dàng bị Trung Quốc chèn ép, gây khó khăn, đặc biệt Trung Quốc đã có thể dùng vấn đề Campuchia để khiến Việt Nam “chảy máu đến chết”. Tuy nhiên, hiện nay nội lực của chúng ta đã lớn mạnh hơn trước nhiều. Đặc biệt, liên quan đến xu hướng liên minh, chúng ta đã có quan hệ ngoại giao rộng mở, có quan hệ kinh tế hai bên cùng có lợi với hầu hết các nước trên thế giới. Chúng ta cũng có quan hệ bình thường và ngày càng phát triển với các cường quốc lớn và tầm trung. Đặc biệt, chúng ta đã là thành viên của tất cả các tổ chức chủ chốt của khu vực và thế giới. Vì vậy chúng ta vừa có điều kiện và mạng lưới quan hệ thuận lợi để hình thành các liên minh, vừa có đủ không gian ngoại giao để thoát thế bao vây, cô lập của Trung Quốc nếu bị trả đũa.

Thứ tư, môi trường chiến lược khu vực và thế giới hiện nay có lợi cho sự chuyển hướng của Việt Nam.Cụ thể, trong vấn đề Biển Đông, chúng ta có ưu thế chính nghĩa so với Trung Quốc. Các yêu sách quá mức và phi lý, bất chấp luật pháp quốc tế, cùng cách tiếp cận dựa trên sức mạnh của Trung Quốc nhìn chung đã khiến “mối đe dọa Trung Quốc” không còn là một lý thuyết nữa mà trở thành một điều hiện hữu. Vì vậy, Việt Nam sẽ dễ dàng nhận được sự ủng hộ của các nước và thu hút những “đồng minh” tiềm tàng. Ở khu vực, Việt Nam có đồng minh tự nhiên là các nước cùng có tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc, đặc biệt là Philippines. Ở phạm vi xa hơn, chúng ta có Nhật Bản, nước cũng có các tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc và ngày càng lo ngại trước mối đe dọa đến từ Bắc Kinh. Ở phạm vi xa hơn nữa, Ấn Độ và Hoa Kỳ cũng là những quốc gia có những lợi ích chiến lược mâu thuẫn với Trung Quốc. Đó là chưa kể các quốc gia tầm trung hay có ảnh hưởng lớn ở khu vực như Hàn Quốc, Australia, Indonesia, Singapore… cũng có những lý do để đồng cảm với Việt Nam trong nỗ lực tìm cách chống lại mối đe dọa từ Trung Quốc.

Tóm lại, phân tích các lý do cho thấy Việt Nam có đầy đủ lý do để nên theo đuổi một chính sách liên minh – liên kết một cách khôn ngoan và có chọn lọc để đối phó với mối đe dọa từ Trung Quốc. Vấn đề đặt ra là Việt Nam có đủ ý chí để thực hiện sự chuyển hướng này hay không. Câu hỏi này lại liên quan đến nhận thức của Việt Nam đối với các thách thức và rủi ro mà Việt Nam có thể gặp phải.

Thách thức và rủi ro

Thách thức lớn nhất đối với Việt Nam chính là sự trả đũa của Trung Quốc. Một khi nhận thấy Việt Nam liên kết với các nước khác, nhất là những cường quốc có lợi ích đối chọi như Hoa Kỳ hay Nhật Bản, Trung Quốc sẽ tìm cách “trừng phạt” hay gây sức ép đối với Việt Nam. Năm hình thức “trừng phạt” cơ bản nhất có thể có bao gồm:

  • Hạn chế, thậm chí gián đoạn quan hệ ngoại giao với Việt Nam, kết hợp bao vây cô lập Việt Nam tại các diễn đàn, tổ chức quốc tế
  • Can thiệp, kích động chống phá, phá hoại kinh tế – chính trị từ trong nội bộ Việt Nam
  • Sử dụng bên thứ ba để chống phá Việt Nam như trường  hợp Khmer Đỏ những năm 1970 – 1980
  • Tấn công quân sự Việt Nam
  • Cắt đứt quan hệ kinh tế với Việt Nam

Nếu phân tích các khả năng cơ bản này, chúng ta có thể thấy trong điều kiện hiện tại, các lựa chọn này của Trung Quốc hoặc ít khả thi, hoặc không gây thiệt hại đáng kể cho Việt Nam. Cụ thể

  • Việc hạn chế hoặc gián đoạn quan hệ ngoại giao với Việt Nam đơn giản sẽ không giúp ích gì cho Trung Quốc. Trái lại duy trì quan hệ ngoại giao sẽ tạo cơ hội cho Trung Quốc đàm phán với Việt Nam, tìm cách dụ dỗ lôi kéo Việt Nam quay lại về phía mình. Hơn nữa do Việt Nam đã có quan hệ rộng mở, việc cắt đứt quan hệ ngoại giao cũng không giúp Trung Quốc bao vây, cô lập Việt Nam. Tại các diễn đàn quốc tế, với vị thế của Việt Nam hiện tại, Trung Quốc cũng không thể dễ dàng cô lập Việt Nam bởi không như thời kỳ Chiến tranh lạnh, các tổ chức quốc tế không còn bị chia rẽ sâu sắc thành các phe khối khép kín, đối lập, trong khi Việt Nam đang có quan hệ tốt với các cường quốc trên thế giới.
  • Việc Trung Quốc can thiệp, kích động chống phá Việt Nam từ bên trong là hoàn toàn có thể. Tuy nhiên nếu Việt Nam nâng cao cảnh giác, tiến hành các biện pháp đề phòng, thắt chặt kiểm soát biên giới và an ninh trong nước thì nguy cơ này hoàn toàn có thể ngăn chặn được.
  • Việc sử dụng các bên thứ ba chống phá Việt Nam cũng không phải là một lựa chọn khả dĩ của Trung Quốc, bởi không có sẵn một lực lượng như vậy cho Trung Quốc lợi dụng. Hiện nay lựa chọn này chỉ trở nên khả dĩ hơn đối với Trung Quốc nếu tình hình ở Campuchia chuyển biến bất lợi cho Việt Nam với việc Đảng Cứu quốc của Sam Rainsy, người vốn có xu hướng chống Việt Nam, thắng cử. Tuy nhiên điều này cũng ít xảy ra bởi khả năng Sam Rainsy thắng cử trong thời gian tới là không chắc chắn. Ngoài ra kể cả nếu thắng cử Sam Rainsy cũng có thể thay đổi quan điểm bới chống Việt Nam sẽ phương hại tới an ninh và kinh tế của Campuchia, trong khi bản thân Sam Rainsy cũng phải chịu trách nhiệm đối với cử tri trong nước về an ninh và thành tích kinh tế của quốc gia nếu muốn tiếp tục thắng cử.
  • Tấn công quân sự Việt Nam cũng không phải là lựa chọn khôn ngoan mà Trung Quốc sẽ tiến hành. Trước hết hành động quân sự sẽ bị cộng đồng quốc tế lên án vì vi phạm luật pháp quốc tế. Vị thế quốc tế của Việt Nam và môi trường chiến lược quốc tế hiện nay không cho phép Trung Quốc dễ dàng tiến hành tấn công quân sự Việt Nam như năm 1979. Hơn nữa việc Việt Nam đã nâng cao sức mạnh quốc phòng đáng kể thời gian qua hoàn toàn có thể làm Trung Quốc chùn tay. Ví dụ, các nhà chiến lược Việt Nam đã nói đến khả năng dùng các tên lửa tấn công vào các thành phố trọng yếu của Trung Quốc ở phía Nam trong trường hợp Trung Quốc tấn công quân sự. Vì vậy, dù không được phép chủ quan, nhưng Việt Nam cũng không nên quá lo lắng trước khả năng này.
  • Cuối cùng, khả năng cao nhất là Trung Quốc có thể sử dụng biện pháp cắt đứt quan hệ kinh tế để trừng phạt Việt Nam. Năm 2013, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, với 28% nhập khẩu của Việt Nam đến từ Trung Quốc, trong đó có nhiều mặt hàng quan trọng như phụ tùng, máy móc, nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất. Ngoài ra, Trung Quốc cũng tiêu thụ 10% giá trị xuất khẩu của Việt Nam. Ngoài ra quan hệ kinh tế song phương còn có đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam và sự tham gia của các nhà thầu Trung Quốc trong các dự án công nghiệp – xây dựng. Có ước tính cho rằng, nếu Trung Quốc chấm dứt quan hệ kinh tế song phương thì GDP của Việt Nam sẽ bị thu hẹp 10%. Tuy nhiên mối đe dọa này không nên bị thổi phồng bởi lẽ: 1) Nếu Trung Quốc chấm dứt trao đổi kinh tế, bản thân Trung Quốc cũng sẽ thiệt hại. Kinh nghiệm từ trường hợp Nga – EU cho thấy, vũ khí kinh tế là con dao hai lưỡi không phải lúc nào cũng có thể sử dụng được; 2) Các hoạt động thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc hiện nay có sự tham gia lớn của các tập đoàn đa quốc gia liên quan tới các nước thứ ba. Chính vì vậy Trung Quốc không thể đơn giản chấm dứt thương mại song phương mà không gây nên sự phản đối và sức ép từ các nước này; 3) Với quan hệ thương mại, đầu tư rộng mở, Việt Nam có thể tìm được các thị trường xuất nhập khẩu thay thế để ít nhất giảm thiểu thiệt hại; 4) Trong cái rủi có cái may, nếu Trung Quốc hạn chế hoặc gián đoạn trao đổi kinh tế thì đó cũng là một cú hích giúp Việt Nam thay đổi, cải cách từ bên trong, đa dạng hóa quan hệ kinh tế với bên ngoài để vừa giảm phụ thuộc vào Trung Quốc , vừa tạo đà tăng trưởng bền vững hơn cho nền kinh tế về lâu dài.

Tóm lại các rủi ro gắn liền với việc Trung Quốc trả đũa nếu Việt Nam quyết định đi theo con đường liên minh để đối trọng lại với Trung Quốc là có, nhưng không nên bị thổi phồng. Chính vì vậy thách thức lớn nhất đối với sự chuyển hướng này chính là việc liệu nội bộ Việt Nam có đủ sự đồng lòng và quyết tâm, đặc biệt là ở các lãnh đạo cấp cao, trong việc từ bỏ thứ “hữu nghị viễn vông” để tìm một thế đứng tốt hơn vì lợi ích dân tộc hay không.

Một vài gợi ý chính sách

Như vậy, có thể thấy, nếu Trung Quốc tiếp tục duy trì sức ép như hiện nay, Việt Nam cần tính đến phương án theo đuổi các liên minh để đối trọng với Trung Quốc bởi đây là một lựa chọn vừa phù hợp với đòi hỏi của tình hình, vừa khả thi về mặt thực hiện. Tuy nhiên, trước khi Việt Nam có thể thực sự áp dụng chính sách này, cần định rõ một số nguyên tắc cơ bản như sau:

  • Chính sách liên minh không phải là một chính sách bất biến, một chiều hay tuyến tính. Cũng như chính sách không liên minh – liên kết, chính sách liên minh cũng có thể được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình. Tùy vào yêu cầu của tình hình, Việt Nam có thể tăng cường hay dịu bớt ưu tiên đối với chính sách này, miễn sao có thể giúp phục vụ tốt nhất lợi ích quốc gia, thể hiện trước hết ở việc bảo vệ được toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, và sau đó là đồng thời duy trì được quan hệ hòa bình, ổn định, hai bên cùng có lợi với Trung Quốc.
  • Một khi đã chuyển hướng sang chính sách liên minh, thì dù điều chỉnh mức độ ưu tiên, Việt Nam vẫn cần phải duy trì chính sách này đề phòng trường hợp Trung Quốc “ngựa quen đường cũ”. Ngoài ra, việc xây dựng các liên minh đòi hỏi nhiều thời gian và công sức, đặc biệt là trong việc xây dựng lòng tin, nên đó là một tài sản chiến lược quan trọng mà Việt Nam cần gìn giữ để sử dụng phù hợp trong ứng xử với Trung Quốc.
  • Liên minh không đồng nghĩa với liên minh với Hoa Kỳ. Các đối tác liên minh của Việt Nam có thể đa dạng, tùy vào phạm vi và mục đích của liên minh, dựa trên nguyên tắc phối hợp với những nước có lợi ích tương đồng để cùng theo đuổi mục đích hay cân bằng lại mối đe dọa chung.
  • Liên minh không nên được hiểu chỉ có nghĩa là liên minh quân sự mà còn có thể là liên minh về chính trị, ngoại giao, pháp lý…, qua đó giúp các quốc gia cùng chia sẻ lợi ích đối phó với mối đe dọa chung. Thực tế, kể cả khi Việt Nam đã hình thành hoặc tham gia được các liên minh thì Việt Nam cũng cần xác định rằng trong trường hợp xảy ra đụng độ quân sự, trách nhiệm chủ chốt, nếu không nói là duy nhất, vẫn thuộc về Việt Nam. Tuy nhiên, việc hình thành các liên minh về chính trị, ngoại giao, pháp lý… với các nước khác bản thân chúng đã có giá trị răn đe đối với Trung Quốc. Hơn nữa, trong trường hợp xung đột không thể tránh khỏi thì các đồng minh dù không can dự trực tiếp về quân sự nhưng vẫn có thể mang lại những hỗ trợ quý giá về cả vật tài vật lực lẫn tinh thần để giúp chúng ta chống lại sức ép quân sự từ phía Trung Quốc.
  • Việc theo đuổi các liên minh không đồng nghĩa Việt Nam phải hi sinh quan hệ với Trung Quốc. Các liên minh chỉ là một công cụ giúp Việt Nam quản lý và điều chỉnh mối quan hệ với Trung Quốc mà thôi. Là một nước lớn, Trung Quốc đáng nhận được sự tôn trọng của Việt Nam, nhưng với điều kiện Trung Quốc cũng tôn trọng các lợi ích chính đáng của Việt Nam. Chính vì vậy trong trường hợp Trung Quốc thể hiện mình không phải là một mối đe dọa đối với Việt Nam thì Việt Nam vẫn sẵn sàng phát triển quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc, nhất là về mặt kinh tế, và chính sách liên minh của Việt Nam sẽ nằm ở trạng thái “chờ”, đề phòng cho trường hợp mối đe dọa từ Trung Quốc tái trỗi dậy.

Trên cơ sở các điều kiện và nguyên tắc này, Việt Nam cần xác định các liên minh có thể xây dựng, xác định các đồng minh phù hợp cho từng liên minh, đồng thời thiết lập lộ trình để hiện thực hóa chúng. Hiện nay có thể xác định 3 loại hình liên minh mà Việt Nam có thể thiết lập là liên minh chính trị – ngoại giao, liên minh pháp lý, và liên minh quân sự. Đương nhiên có thể có sự kết hợp giữa các liên minh này với nhau ở những quốc gia đồng minh nhất định.

Về đối tượng đồng minh, có thể xác định:

  • Liên minh chính trị – ngoại giao: Nòng cốt sẽ là Việt Nam – Philippines, vòng thứ hai sẽ là Hoa Kỳ, Ấn Độ, Indonesia, Singapore, Malaysia, vòng thứ ba sẽ là các quốc gia còn lại của ASEAN và các thành viên khác của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, cùng với Australia và Hàn Quốc.
  • Liên minh pháp lý: Nòng cốt sẽ là Việt Nam – Philippines, Vòng hai sẽ là Malaysia, Brunei, những nước có tranh chấp với Trung Quốc ở Biển Đông. Vòng thứ ba sẽ là Indonesia, Singapore và Nhật Bản, Hoa Kỳ, những nước có lợi ích lớn trong việc tôn trọng luật pháp quốc tế ở Biển Đông.
  • Liên minh quân sự: Đối tác liên minh quân sự khả dĩ nhất cho Việt Nam chính là Hoa Kỳ. Theo đó nếu Việt Nam có được quan hệ liên minh quân sự với Hoa Kỳ thì sẽ gần như tự động gia nhập mạng lưới liên minh “trục và nan hoa” với các đồng minh của Hoa Kỳ tại khu vực như Nhật, Hàn Quốc, Philippines, Australia… Tuy nhiên khả năng này trong tình hình hiện tại còn nhiều trở ngại, nên tạm thời xin chưa bàn tới ở đây. Tuy nhiên, Việt Nam cần chuẩn bị dần các điều kiện cho điều này bằng cách cải thiện quan hệ hơn nữa với Hoa Kỳ, nhất là quan hệ chính trị. Đặc biệt, Việt Nam cần từ bỏ cách tiếp cận dựa trên “ý thức hệ” để phát triển quan hệ song phương một cách thực chất với mục tiêu lợi ích quốc gia, dân tộc là trên hết. Chỉ khi các rào cản chính trị và ý thức hệ được dỡ bỏ thì mới có thể tính tới được một mối quan hệ gần gũi về mặt quân sự giữa hai nước. Ngoài ra, các đồng minh quân sự tiềm tàng của Việt Nam còn có Philippines và Nhật Bản.

Về mặt lộ trình, Việt Nam cần tiến hành từng bước, vừa thực hiện vừa đánh giá phản ứng của các bên liên quan, nhất là Trung Quốc. Theo đó, trước mắt Việt Nam cần làm ngay các việc sau theo thứ tự ưu tiên:

  • Ký kết hiệp định đối tác chiến lược với Philippines càng sớm càng  tốt
  • Tham gia cùng Philippines trong vụ kiện Trung Quốc
  • Cùng các nước ASEAN, đặc biệt là các nước có tranh chấp nếu toàn bộ ASEAN không đạt được đồng thuận, ký kết một bản Quy tắc ứng xử trên  Biển Đông mang tính ràng buộc pháp lý giữa các bên với nhau, đồng thời mở cho các bên quan tâm ngoài khu vực tham gia (đặc biệt là Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ), không cần chờ Trung Quốc đồng ý
  • Thiết lập cơ chế hợp tác, tham vấn trực tiếp về Biển Đông giữa 4 nước Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei (có thể mời Đài Loan tham gia) dưới hình thức một cuộc họp không chính thức về Biển ASEAN như các học giả và chuyên gia Indonesia đã đề xuất.)
  • Mở cửa cảng Cam Ranh cho tàu chiến Hoa Kỳ, Ấn Độ cũng như các nước có quan tâm
  • Nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược với Hoa Kỳ và Australia (dù danh nghĩa hay thực chất đều có tác động răn đe đối với Trung Quốc)
  • Mời Hoa Kỳ và các quốc gia quan tâm tham gia tập trận trong vùng biển Việt Nam
  • Thiết lập lực lượng hải quân quốc tế với sứ mạng “gìn giữ hòa bình” tuần tra chung tại Biển Đông nói chung và quần đảo Trường Sa nói riêng…

Đây chỉ là những gợi ý sơ bộ, cần được đánh giá, cân nhắc, thêm bớt,… để đảm bảo tính khả thi. Tuy nhiên, nguyên tắc là cần làm từng bước, dễ trước khó sau, để thăm dò phản ứng của Trung Quốc cũng như các bên liên quan. Sau đó tùy tình hình Việt Nam có thể điều chỉnh lộ trình cũng như các bước đi cụ thể cho phù hợp.

Tóm lại, điểm mấu chốt là đã đến lúc Việt Nam cần nghiêm túc xem xét lựa chọn liên minh như là một chiến lược lâu dài để đối phó với Trung Quốc trong bối cảnh chắc chắn Trung Quốc sẽ ngày càng hung hăng và xác quyết hơn trên Biển Đông. Tuy nhiên, lựa chọn này có khả thi hay không và có thể thực hiện đến đâu, tất cả còn phụ thuộc vào quyết tâm chính trị và tầm nhìn chiến lược về lợi ích quốc gia của các lãnh đạo Việt Nam.

Rốt cuộc, Việt Nam không thể chọn được láng giềng, nhưng có thể chọn được cách cư xử sao cho phù hợp nhất với láng giềng đó để bảo vệ lợi ích quốc gia của mình.

””””””””””””””””””””””””””””

Lê Hồng Hiệp là giảng viên Khoa Quan hệ Quốc tế, trường ĐHKHXH&NV, Đại học Quốc gia TPHCM, và hiện là Nghiên cứu sinh tại trường ĐH New South Wales, Học viện Quốc phòng Australia, Canberra.

( Nguồn :vanhoanghean)

 

 

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 26.08.2014

Thơ ngỏ gửi Liên Hợp Quốc

Thi sĩ Thi Hoàng

Thơ ngỏ gửi Liên Hợp Quốc

Thi Hoàng

Trung Quốc là nước to

Chứ không phải là nước lớn

Bởi to và tham nên để phần xác ăn mất phần hồn

Nước không hồn sao gọi là nước lớn

Họ càng mạnh giàu, càng hành xử du côn

Hãy đuổi họ ra khỏi thường trực Hội đồng Bảo an

 Họ đâu có bảo an

Mà chỉ gây bất an cho nhiều quốc gia, khu vực

Chỉ thích dạy cho láng giềng bài học?

Bài học tối tăm từ chính trị cường quyền

Cũng có lúc người hiền lành kiềm chế trước thằng điên

Khổ nỗi đây là thằng điên muốn quản lý thế giới

Việc họ làm dường như vả vào mồm họ nói

Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển 1982 họ cũng nhổ vào

Bãi nước bọt to đùng như cái lưỡi bò chín đoạn

Làm sao Trung Quốc, một nước thường đi quấy rối phá đám

Lại là thành viên thường trực Hội đồng Bảo an (?!)

Chỉ kẻ cục súc mới cậy to cậy khỏe làm tàng

Giá lại xẻ nó ra như xưa thành Ngô, Tề, Ngụy, Sở…

Hãy đuổi họ ra khỏi thường trực Hội đồng Bảo an

Thay vào đó là một nước châu Á khác

Như Nhật Bản chẳng hạn, có thể yên tâm hơn với quốc gia này.

Biết thừa đây là bài thơ (có thể) đúng chứ chưa hay

Muốn hay thì lại phải chờ ở… Liên Hợp Quốc.

5/2014

(Tạp chí Cửa Biển thuộc Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hải Phòng số tháng 5/2014 )

Older Posts »

Danh mục