Đăng bởi: Ngô Minh | 23.07.2014

GHI Ở TRUÔNG BỒN

 

Tượng các chị Truông Bồn

 Ngô Minh   

       GHI Ở TRUÔNG BỒN

 

 47 năm rồi các chị vẫn  hai mươi

Hồn trinh vút xanh trời nghẹn thắt

Mây vần vũ những hình người tan nát

Tôi rưng rưng thắp nén nhang đau…

 

13 người chung ngôi mộ đá

13 người dưới một mái nhà mới khang trang

Doãn Đang Nhung Tâm Dung Phúc Hiền Vinh…

Chật chội quá phải không các chị

 

Thôi thế cũng yên lòng

Đền thờ trang nghiêm khói nhang nghi ngút

Bà mẹ Mỹ Sơn cứ vái hoài và khóc

Trước tượng con tươi trẻ mỉm cười

 

Chuyện chị mơ về  quê với mẹ già

Anh chị sẽ về làm cô dâu chú rể

Chị về học trung cấp chuyên nghiệp…

Nghe xót xa  đất nước một thời

  Bên đền thờ hoa mua nở tím lòng

 

Con đường 15 A xưa vẫn còn đây

Cuộc sống ồn ào xở xoay giành giật

Nhưng qua đây ai cũng lặng im

Xe không hú còi sợ các chị giật mình tỉnh giấc

 

Người ta đang xây cái tháp chuông

Rồi mỗi bình minh tiếng chuông ngân thức

Như tiếng gọi của liệt sĩ Truông Bồn trinh thiêng bất diệt

Nước non ơi…

 Truông Bồn- Cửa Lò tháng 5-2014

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.07.2014

NGÔI NHÀ ÁM ẢNH

 

NGÔI NHÀ ÁM ẢNH

     Hồi ức của  Lâm Thị Mỹ Dạ

             Năm 1968, tôi mười tám tuổi, vừa tốt nghiệp trung học phổ thông. Vì hoàn cảnh gia đình, tôi không thể đi đại học được.Thật may  mắn, tôi được Hội Văn học nghệ thuật Quảng Bình nhận vào làm việc. Công việc của tôi là sửa bản in ( mo-rát) và nhận bản thảo cho Tập san Văn nghệ của Hội. Ngày đó, cơ quan Hội văn nghệ  chỉ có một căn nhà nhỏ để làm trụ sở. Tôi ở ngay trong cơ quan. Sau này có  thêm chị Lê Thị Mây  về làm văn thư. Một thời gian sau Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định cho Hội Văn nghệ mua một  khu nhà vườn khá rộng để tiện làm việc. Tôi và Lê Thị Mây được chuyển đến đó ở . Vì các nhà văn Xuân Hoàng, Trần Công Tấn, Trần Nhật Thu đều đã có chỗ ở riêng. Người chủ bán ngôi nhà vườn cho chúng tôi là ông bà Đoá. Ngày giao nhà, bà Đoá nước mắt lưng tròng  kể cho tôi nghe vì sao bà phải từ giã ngôi nhà thân yêu của mình để ra đi. Bà vừa nói vừa lột đôi bông tai đưa cho tôi xem : (Đọc tiếp…)

 

Tìm thấy trong sổ tay một Du khách Mỹ đánh rơi trên bãi biển ở VN
 
- Ăn đi : Không có nghĩa là vừa ăn vừa đi mà chỉ nhắc nhở ai đó Ăn mạnh vào.
- Ăn mặc : Không có ăn chi cả mà chỉ có mặc không thôi

- Ăn nói: Cũng không ăn chi cả mà chỉ nói không thôi
- Buồn cười : Không có buồn gì cả mà chỉ có cười không mà thôi

- Cà lăm, Cà nhắc, Cà chớn, Cà khịa, Cà rịch, Cà tang : Không phải những loại Cà để ăn,mà những tật không hay của người ta.
- Đánh Giày : Không phải là Phang, Đánh, đập, đá vào Giày mà là “o bế “, làm đẹp cho Giày.

- Đánh Răng : Không phải là Đánh, Đập. . cho Răng đau, mà dùng bàn chải và kem làm cho sạch răng mà thôi.
- Đi Cầu : Là đi vô toilet chứ không phải lái xe hay chạy qua cầu đâu.
- Hai Vợ Chồng : Không có nghĩa là 2 Vợ 1 Chồng mà chỉ có 1 Vợ 1 Chồng thôi.
- Hai Ông Bà : Không có nghĩa là 2 Ông 1 Bà, mà chỉ có 1 Ông 1 Bà thôi.
- Làm thinh : Không có làm việc gì cả mà chỉ yên lặng , không nói năng chi hết.
- Làm biếng : Cũng không có làm chi hết mà chỉ . . .chơi không mà thôi.
- La cà : không la rầy ai cả mà rề rà (?) ghé chỗ này chỗ kia.
- Làm răng (mần răng) : Làm thế nào chứ không phải đi chửa Răng đau đâu.
- Ngâm thơ : Không phải là đem lá thơ ngâm vô nước, mà là đọc. .kéo từng chữ cho dài ra,cho người ta nghe hay hay.
 
- Nhà tôi : Không phải là cái nhà để ở mà NGƯỜI BẠN ĐỜI hay MỘT NỬA KIA. . . . của mình.

- Nhà thơ,nhà văn,nhà báo : Không có nghĩa là nhà để chứa những bài thơ,bài văn hay báo chí, mà là chỉ người làm thơ,viết văn,viết báo…
 
- Ông Sui : Là Ba mình gọi Ba của vợ mình, chứ không có nghĩa là” Mr. . Unlucky ” đâu.

- Tục ngữ : Không phải là những lời thô tục, mà là những lời dạy dổ quý báu trong dân gian.
( Nguồn : Nguyennguyenbay…)

 

 

KHÔNG ĐƯỢC MỜI KẺ THÙ VÀO NHÀ , DÙ CHỈ LÀ NỬA BƯỚC.

Ngô Minh

Hôm 16/7, ngay trong ngày Trung Quốc thông báo di dời giàn khoan 981 ra khỏi Biển Đông, đại sứ Việt Nam tại Liên Hợp Quốc là ông Lê Hoài Trung lập tức đưa ra tuyên bố: “Việt Nam sẵn sàng xem xét những khả năng hợp tác với Trung Quốc trong hoạt động thăm dò dầu mỏ trên Biển Đông”. Ông Đại sứ tại Liên Hiệp Quốc nói tức là Đảng và nhà nước nói. 90 triệu người dân Việt Nam, kể cả 3 triệu đảng viên cộng sản đều ngỡ ngàng, đau xót trước lời tuyên bố đi ngược lại với chủ quyền và lợi ích quốc gia ở Biển Đông

(Đọc tiếp…)

 

60 năm Hiep Đinh Geneve  ( 20/7/1954-  20/7/2014) :

 

                 BÊN VEN BỜ HIỀN LƯƠNG

                 CHIỀU NAY RA ĐỨNG TRÔNG VỀ…

 

 Ghi chép của  Ngô Minh

           Đó là câu hát mà tôi thuộc lòng từ bé. Vĩnh Linh là quê ngoại của tôi. Ở đó tôi có những thằng bạn sinh viên Đại học Thương Mại cực thân tên Đảm, Trung, sinh ra ở Vĩnh Giang ngay bên sông , mà lớn lên chưa một lần qua cầu giới tuyến. Rồi bạn cùng tôi đi bộ đội vượt Trường Sơn . Bạn tôi  ngã xuống ở đất Gia Nghĩa ( Đắc Nông), Long An, Bến Lức những ngày cuối của cuộc chiến tranh. Thế là ước vọng qua cầu Hiền Lương mãi mãi không  thành. Vì thế cứ mỗi lần qua lại cầu Hiền Lương tôi lại nao lòng nhớ . Nhớ bạn và nhớ về những câu chuyện lịch sử văn hoá một dòng sông, một cây cầu. Sông Hiền Lương xanh mền lá cỏ/ Vết chém Hiền Lương trái đất chưa nguôi…(NM)

           Từ ngày 20 tháng 7-1954, Hiệp định Giơnevơ ký kết cho đến cuối năm 1964 đôi bờ giới tuyến Hiền Lương lặng im tiếng súng, nhưng đây là 11 năm diễn ra cuộc đối đầu văn hóa nóng bỏng , quyết liệt nhất giữa ta và bên kia là Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

 

                         HIỀN LƯƠNG- CHIẾC CẦU HAI MÀU SƠN

           Cầu Hiền Lương  bắc qua sông Bến Hải tại km 735 trên đường thiên lý Bắc -Nam là biểu tượng của sự chia cắt  đất nước. Bến Hải là do người Pháp gọi từ một địa danh ở thượng nguồn có tên là Bến Hải. Sông Bến Hải xưa tên là Minh Lương. Đó là tên của một làng, nơi hợp lưu 2 sông  Bến Hải và Sa Lung. Thời Minh Mạng, do húy chữ “Minh” nên  tên làng , tên sông đều đổi thành Hiền Lương. Cầu Hiền Lương do Pháp xây dựng lại  5- 1952, dài 178 mét, 7 nhịp, trụ bằng bê tông cốt thép , mặt cầu lát gỗ thông, rộng 4 mét…Suốt mười mấy năm trời, bà con thân thích  hai bờ sông không được qua cầu thăm viếng nhau. Một lần, một số anh em  lính Sài Gòn giác ngộ đã lái xe chạy thẳng qua cầu ra Bắc, nhưng đến giữa cầu thì bị bọn cảnh sát Sài Gòn bắn thủng lốp và bị bắt ! (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.07.2014

Thi ca miền Nam 1954-1975

Thi ca miền Nam 1954-1975

Nguyễn Vy Khanh

Tháng 7 năm 1954, cuộc chiến-tranh Đông-dương chấm dứt, nước Việt-Nam bị chia đôi. Trước thực tại mới, những nhà thơ ba miền tập hợp ở bên này vĩ tuyến 17 đã háo hức sáng tác, lên đường, làm nên một nền thi-ca độc đáo và dựng xây một nền văn-học nhân bản và khai phóng. Nếu về phương diện chính-trị, quốc gia Việt-Nam Cộng-Hòa là một thực thể mới, thì về văn-học nghệ-thuật, cái mới cũng sẽ lấn át cái cũ và cái có sẵn, với những văn nghệ sĩ mới: mới trong tinh thần trách nhiệm và xây dựng!

 

1- Thơ Tự-Do

 

“Nhóm” Sáng Tạo đã góp phần làm mới văn học về văn cũng như thơ, về hình thức, thể cách cũng như nội dung. Tạp chí Sáng Tạo (rồi Thế Kỷ Hai Mươi, v.v) đã đến với độc giả với những tác-giả mới và những bài thơ mới (với đề mục ‘thơ tự do’). Trong số, Thanh Tâm Tuyền có những bài thơ tự do, không vần, bất ngờ về ý và chữ dùng, sau xuất bản Tôi Không Còn Cô Độc (1956) và Liên, Đêm, Mặt Trời Tìm Thấy (1964). Thơ Thanh Tâm Tuyền dùng ngôn ngữ để phá hủy ngôn ngữ, phó mặc mạch thơ, nhạc điệu cũng như ngôn ngữ thơ, tự do trôi chảy như sự vật vô tri vô nghĩa từ nguyên thủy. Với Nguyên Sa, thơ tự do là thơ phá thể, không khuôn khổ (1), trong khi Thanh Tâm Tuyền đi xa hơn, “thơ hôm nay không dừng lại ở thơ phá thể, thơ hôm nay là thơ tự do” mà cao điểm sẽ là thơ văn xuôi (2). Khi thơ Tự Do đã thành công gây tiếng vang thuận tiện, nhất là với những người làm thơ mới ra đời, nhóm Sáng Tạo bèn đi xa hơn phủ nhận giá trị thơ văn tiền chiến. Nhiều nhóm văn nghệ sĩ đã lên tiếng phản đối, nhất là ở Huế. Dù gì thì Thanh Tâm Tuyền rồi Nguyên Sa đã khai pháo mở đường cho dòng thơ sẽ được gọi là Thơ Tự Do. Thơ tự do nguyên thủy là phản ứng lại Thơ Mới và thơ thời tiền chiến, một vận động đã bắt nguồn từ thời kháng chiến, với Hữu Loan và Màu Tím Hoa Sim, v.v.

 

Đến Nguyên Sa, thơ chủ yếu là thơ tình-yêu rõ nét, đặc thù, cá nhân, có hình dáng nhưng cũng là một tình yêu phức tạp, đa dạng nhưng lã lướt, như trái tim người trẻ tuổi thấm nhuần hai văn hóa sống vào buổi giao thời của những năm cuối thập niên 1940 và đầu 1950. Thơ tình yêu của Nguyên Sa là một thứ tình yêu thuần chất, trữ tình thường nhật, hiện sinh. Khác thơ tình hiếm hoi của Thanh Tâm Tuyền, thơ Nguyên Sa không làm ra để gây băn khoăn hay suy nghĩ. Thanh Tâm Tuyền phải lo cho sứ mạng văn nghệ do đó bỏ quên tình yêu (“Tôi không ngợi ca tình yêu, tôi nguyền rủa tình yêu (…) Thơ hôm nay không cần đến Tình Ái và khi Tình Ái đến với thơ hôm nay cũng với vẻ tiều tuỵ khốn khổ chịu đựng hất hủi như cả một cuộc đời …”(3). Trong bài “Nỗi buồn thơ hôm nay”, Thanh Tâm Tuyền đi xa hơn khi ông hạ giá tình yêu : “tình ái cũng bị dùng làm phương tiện khám phá đời sống, khai quật ý thức…”. Do đó, cũng như các “nhà thơ hôm nay” của hai thập niên 1950 và 1960, Nguyên Sa chống trữ tình và lãng mạn, chống cả tình ái theo nghĩa thường vì theo ông, lãng mạn là “sự xúc động quá mãnh liệt, sự trữ tình bi thảm hoá” (4). Yêu nhưng không lãng mạn, cả không thác loạn của thơ tiền chiến. Tình với ngôn ngữ mới, cung cách mới, thơ mộng nhớ nhung mới và khác, có vẻ thực tế và thành thật hơn!

 

Tình yêu ở Nguyên Sa có thể bắt đầu bằng mong nhớ, đợi chờ và những lời trách móc tự nhiên :

 

“Có phải em về đêm nay?

Trên con đường thời gian trắc trở

để lòng anh đèn khuya cửa ngõ

ngọn đèn dầu lụi bấc mắt long lanh

(…) Em đừng trách anh để lòng mình tủi cực

dến ngại ngùng dù nắng dù mưa

sao em không về

để dù nắng dù mưa

dù trong thời gian có sắc mầu của những thiên đàng đổ vở…”

(Có Phải Em Về Đêm Nay)

 

“Em” thời nay thành “con chó ốm, con mèo ngái ngủ” và ” mắt cá ươn”; không còn là “mắt xanh là bóng dừa hoang dại” (Đinh Hùng), “em đi áo mỏng phô hờn tủi” (Quang Dũng). Tóc của “em” chỉ là “tóc ngắn” (Áo Lụa Hà Đông). Tình yêu đến với nhà thơ như một hạnh phúc, một tròn đầy với những cảm xúc thật với da thịt cũng như trong tâm hồn.

 

Thơ tự do của Nguyên Sa có tiết tấu và nhạc điệu đặc biệt chưa thấy trước đó. Nguyên Sa lại có tài sử dụng nhiều hình ảnh mới và lạ. Nào “chải tóc em bằng năm ngón tay”, nào “lệ trắng gạo mềm” , “da em trắng anh chẳng cần ánh sáng / tóc em mềm anh chẳng thiết mùa xuân” , “tóc màu củi chưa đun”, miệng “chim sẻ”, áo “sương mù”, “bàn tay chim khuyên” (Nga) hay “sương gió trầm tư thêu thùa má ướt”, v.v.

 

“… Người về đâu giữa đêm khuya dìu dặt

Hơi thở thiên thần trong tóc ẩm hương xưa

Người đi về trời nắng hay mưa

Sao để sương gió trầm tư thêu thùa má ướt…”

(Đẹp)

 

Muốn “phá thể” và “tự do” nhưng thơ Nguyên Sa có lời và chất nhạc rất nhẹ nhàng, rất Việt Nam. Ông vẫn sử dụng lại những ước lệ của thi ca cổ điển như “thuyền ghé bến”, tay “lá sen”, mắt “mt vừng trăng sáng”, hay của thơ mới như “gió heo may”. Thành ra Nguyên Sa có những câu thơ mà ngôn từ như có âm hưởng ca dao dù đã được tân hóa theo thời đại:

 

“… Paris có gì lạ không em?

Mai anh về mắt vẫn lánh đen

Vẫn biết lòng mình là hương cốm

Chả biết tay ai làm lá sen…”

(Paris Có Gì Lạ Không Em?).

 

Thơ tự do của Nguyên Sa thời ra đời trên Người ViệtSáng Tạo đã thuyết phục người thưởng thức văn nghệ rằng thơ tự do có thể sống động, rằng thơ tự do cũng có thi-tính. Sau thử nghiệm của Nguyễn Đình Thi trong kháng chiến chưa đủ thuyết phục, thì giờ đây là một xác định mới với một thẩm-mỹ mới, nhận định mới. Thơ tự do của Nguyên Sa nhờ giàu nhạc tính, lại đơn sơ, truyền cảm và hãy còn chứa đựng tâm hồn Việt Nam do đó đã sống lâu hơn đến ngày nay và chắc cả sau này; trong khi thơ tự do của nhiều nhà thơ thời ông đã và đang đi vào quên lãng. Nếu lúc đầu thơ tự do được cổ võ như một vượt thoát khỏi những bó buộc và giới hạn của luật thơ thì nay bài thơ tự do nào còn gi” được vần và nhạc và hình ảnh lại tiếp tục được yêu thích. Trong trường hợp Nguyên Sa, phủ nhận Thơ Mới và tiền chiến đồng thời cổ xúy thơ tự do và phá thể, nay phân tích lại thì Nguyên Sa đã không thật sự đi xa trên con đường thơ tự do và vô tình thơ ông lại là gạch nối với thơ tiền chiến và dòng thơ kháng chiến trước đó. Cho đến khi tạp chí Sáng-Tạo đình bản hẳn, những nhà lý thuyết cổ võ thơ tự do của nhóm đã vẫn không thuyết phục thật sự giới sáng tác cũng như giới thưởng thức văn nghệ. Thanh Tâm Tuyền có vẻ là người cuối cùng lên tiếng khi cho rằng người làm thơ tự do vì sống thời gian hôm nay và dùng thanh âm ngôn từ để khám phá chính mình. Dù sao đi nữa, cùng với Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa đã đem lại niềm tin nơi thể thơ tự do, thở của hai ông đã chiếu sáng trên nền trời thi ca Việt Nam hậu chiến. Chính sự tiếp nối và thành công của những nhà thơ khác đã đưa thơ tự-do đi xa.

 

Cũng thuộc nhóm Sáng Tạo nhưng hơi thơ mệnh yểu, Quách Thoại lên án chiến tranh, bạo lực, đồng thời chào mừng tự do và đòi hỏi dân chủ. Cõi tự do thật vô cùng quyến rũ :

 

“Cờ dân chủ ta bước tới tương lai đầy ứ

Phố lớn cười đại lộ hát nghênh ngang

Xã hội đi về, vũ trụ rộn ràng

Nhà mới dựng, gỗ ngói còn thơm lắm

… Đường rộng mở thênh thang trời dân chủ

Ôi! Tự do do thật vô cùng quyến rũ !”.

Bài Sáng Tạo ghi dấu sinh hoạt của nhóm tạp chí cùng tên:

“Tôi đổ lệ khóc đêm nay

Nào các anh có biết

Khi tôi đọc những bài văn anh,

bài thơ anh thắm thiết:

Những mối tình yêu đời bất diệt

của lòng anh, của hồn anh trinh khiết

hiện nguyên hình trên chữ mực vừa in.

Tư tưởng — giòng câu — chứa đựng vạn niềm tin

Bao tâm huyết đổ dồn trên ý nghĩ

Thơm tho thay những ý tình tế nhị

Nói không cùng những cảm động ẩn trong lời

Tôi biết các anh những kẻ đã khóc cười

Là những kẻ còn tin yêu vững sống

Còn sáng tạo các anh hãy còn sáng tạo

Mặt trời mọc !

Mặt trời mọc !

Rưng rưng mùa hoa gạo

Lỡ một mai tôi chết trần truồng không cơm áo

Thì hồn tôi xin phảng phất chốn trăng sao

Để nhìn các anh như vừa gặp buổi hôm nào

Và trong câu chuyện tôi sẽ cười nhắc bảo:

Còn sáng tạo ta hãy còn sáng tạo”.

 

Mai Trung Tĩnh đề nghị thơ xuôi, một cách thể nghệ-thuật tự-do :

 

…Tôi vẫn trờ về xóm đêm đêm nghe tiếng đàn than van kể chuyện chiều xưa mẹ chết anh bỏ đi, em bơ vơ chịu lấy một mình đau khổ. Em lớn lên mang theo từng hồ lệ khóc không hết ngày xanh.

Bao cung bậc nức nở như lòng anh rạn nứt.

Người ôm đàn còng lưng gói tròn tâm sự riêng tây, giây chùng nỉ non như trái tim bị hắt hủi.

Người ta muốn xót thương và cần sự tội nghiệp của kẻ khác ư? Cuộc đời phải chăng là một chuỗi dài tội nghiệp. Đêm đêm người ta vẫn đàn vọng cổ tiếc cho ngày xưa dù có hay không. Nghĩa là một dĩ vãng, kỷ niệm nào.

Nghĩa là tôi muốn cho mắt khóc. Cuộc đời là những câu vọng cổ dài. Đời mình là những chuỗi nhớ thương tiếc nuối.

Người muốn thế nên không cưỡng được.

(Tiếng khóc, 40 Bài Thơ).

 

Như vậy, thơ Tự do hiện đại thi ca thêm một bước, hợp tâm tình con người “hôm nay” lúc bấy giờ và có thể cả sau này, nhưng về mặt văn chương, thành quả và sự đóng góp hạn chế hơn Thơ Mới và cả thơ Tượng trưng dù chỉ có mặt không lâu !

 

2-Thơ lục bát đã được canh tân với một số nhà thơ thời Thơ Mới, nay trên tạp chí Sáng Tạo rồi Thế Kỷ Hai Mươi, Văn Học, Văn, Nghệ-Thuật, v.v. , lục bát được tiếp tục hiện đại hóa với ngôn ngữ tân kỳ, hình ảnh mới hơn, bất ngờ, cũng như trong cách dùng chữ, ngắt câu. Khởi xướng bởi Cung Trầm Tưởng, tác giả tập Thi Ca, tiếp đó có Sao Trên Rừng (Nguyễn Đức Sơn), Trần Tuấn Kiệt, Trần Đức Uyển, Hoài Khanh, Kim Tuấn, Hoàng Trúc Ly, …

 

Cung Trầm Tưởng:

 

“Bù em một tháng trời gần
Đơm hoa kết mộng cũng ngần ấy thôi
Bù em góp núi chung đồi
Thiêu nương đốt lá cũng rồi hoang sơ.
Bù em xuôi có ngàn thơ
Vẫn nghe trắc trở bên bờ sông thương
Quên thôi, bông sẽ phai hường
Mà xưa tiếng gọi nghe dường thiên thu
Non sông bóng mẹ sầu u
Mòn trong ngưỡng cửa, chiều lu mái sầu.
Thôi em xanh mắt bồ câu,
Vàng tơ sợi nhỏ xin hầu kiếp sau…”

(Kiếp Sau, Lục Bát Cung Trầm Tưởng)

Sao Trên Rừng:

 

“rồi mai huyệt lạnh anh về
ru nhau gió thổi bốn bề biển xưa
trăng tà đổ bóng cây thưa
mộng trần gian đã hái vừa chưa em”

(Tịch Mạc, Lời Ru).

 

Hoàng Trúc Ly :

 

“xin em dừng lại môi mềm
giấc mơ thê thảm bóng chìm đêm sâu
tay xuôi mười ngón rụng sầu
xa nhau năm tháng cúi đầu nhớ nhau.

(… ) nhìn lên cửa khép lầu cao
bóng em chảy xuống vực sâu mắt buồn
về đêm khuya khoắt nhớ thương
mưa bay trước mặt, tủi hờn giăng ngang”

(Lá Hoa Duyên, Trong Cơn Yêu Dấu).

 

3- Thơ tình đã phong phú thêm ở giai đoạn 1954-1975, hơn nữa là thời có những bài thơ tình để đời với sự phụ họa của nhạc phổ thơ. Hiện tượng thơ có thể nói đến những tập Truyện Chúng Minh của Nhất Tuấn (5). Tình yêu trong trắng của những người tuổi trẻ, nhưng hoàn cảnh đất nước phân ly và chiến tranh khiến những kẻ yêu nhau không thể gần, chỉ gần trong tơ tưởng và kỷ niệm. Ở đây, tình yêu đã nhuốm mùi súng đạn, tình yêu và thơ tình thời đại:

 

“Con quỳ lạy Chúa trên trời

Để cho con thấy được người con yêu

Đời con đau khổ đã nhiều

Kể từ thơ dại đủ điều đắng cay

Số nghèo hai chục năm nay

Xây bao nhiêu mộng trắng tay vẫn nghèo

…Người ta lại bỏ con rồi

Con quỳ lạy Chúa trên trời thương con”

(Cầu Nguyện, Truyện Chúng Mình 1).

 

Thơ nguồn cảm hứng từ tôn giáo đặc biệt là thơ Thiền nhưng lại dùng kho ngôn ngữ của Trung-Hoa vì thi ca Việt Nam chịu ảnh hưởng này hơn là từ chữ Phạn. Thiên Chúa giáo cũng đã là nguồn hứng cảm của Quách Thoại, LM Vũ Đức Trinh, Nhất Tuấn, Du Tử Lê, v.v. Những bài thơ hay của Quách Thoại viết về tình ái:

 

“Ta ngạt thở bởi mùi hương xa vắng

Hương thiên đàng vừa thoảng bến trần gian

Ta đê mê cảm động đến mơ màng

Nghe mầu nhiệm thấm nhuần trong mến cảm

… Như Băng em, xin ngó nẻo thiên đàng

để nguy hiểm ta sống đời địa ngục…”

(Như Băng Trường Tình).

 

Nhà thơ Du-Tử Lê – giải Văn học Nghệ thuật 1973 với tập Thơ Du Tử Lê 1967-1972, đã ngạo mạn tôn thờ người nữ thành Tin Mừng cho đời chàng chăng?

 

“Nàng buồn như trái chín

mắt gầy đêm mưa xanh

hồn căng trên thập tự

đầu cúi xuống dương gian

chớp hoài đôi mắt ướt

tôi thích được quỳ dưới chân nàng

chỉ để xin những điều vớ vẩn”

(Phúc Âm Nàng).

 

Du Tử Lê còn có những bài đầy một nỗi buồn tuyệt vọng và chân thành, nhiều giãi bày và tiên tri của một người tin ở sứ mệnh đến với đời như một nhà thơ:

 

“… hãy mang đi hồn tôi

một hồn đầy côn trùng

một hồn đầy tháp chuông

ngân nga lời báo tử”

(Lúc Người Chết).

 

Thơ tình còn có Thế Viên, Hoàng Trúc Ly rồi Kim Tuấn :

 

“Anh cho em mùa Xuân

Nụ hoa vàng mới nở

Chiều Đông nào nhung nhớ

đường lao xao lá đầy

Chân bước mòn vỉa phố

Mắt buồn vin ngọn cây … “

(Nụ Hoa Vàng Ngày Xuân, Thơ Kim Tuấn).

 

Trần Dạ Từ, Phạm Thiên Thư, Hoàng Trúc Ly, Cung Trầm Tưởng, v.v. đã là những nhà thơ đa tình. Với Trần Dạ Từ đó là : “Thủa làm thơ yêu em

 

Trời mưa chưa ướt áo

Hoa cúc vàng chân thềm

Gió mây lưng bờ dậu

Chiều sương đầy bốn phía

Lòng anh mấy ngã ba

Tiếng đời đi rất nhẹ

Nhịp sầu lên thiết tha .

   Thủa làm thơ yêu em

Cả dòng sông thương nhớ

Cả vai cầu tay nghiêng

Tương tư trời thành phố … ”

(Thủa Làm Thơ Yêu Em)

 

Ở Cung Trầm Tưởng, tình bắt đầu với Mùa Thu Paris:

 

“… Mùa thu đêm mưa

Phố cũ hè xưa

Công trường lá đổ

Ngóng em kiên khổ phút, giờ

Mùa thu âm thầm

Bên vườn Lục-Xâm

Ngồi quen ghế đá

Không em buốt giá từ tâm…”.

 

Hai nhà thơ Kiên Giang, Trần Tuấn Kiệt cũng đã để lại nhiều bài thơ tình đẹp. Tình mới lớn có hiện tượng Nguyễn Tất Nhiên với những vần thơ học trò ca tụng tình yêu được phổ nhạc và phổ biến rộng rãi nhất là trong giới học sinh, sinh viên! Cô Bắc Kỳ Nho Nhỏ sau đây là một bài thơ tình nhưng người đọc có thể hình dung lại được đời sống dân tộc hài hoà ở miền Nam, những vùng như Biên Hoà, nơi sinh trưởng của nhà thơ: “

 

“Đôi mắt tròn, đen, như búp bê

Cô đã nhìn anh rất … Bắc Kỳ

Anh vái trời cho cô dễ dạy

Để anh đừng uổng mớ tình si

Anh vái trời cho cô thích mộng

Để anh ngồi kể chuyện nằm mơ

” Đêm qua có một chàng bươm bướm

Nguyện chết khô trên giấy học trò “

Anh chắc rằng cô sinh trong nam

Cảnh tượng di cư chắc lạ lùng ?

Khi nghe ai luyến thương Hà Nội

Chắc cô nghe bằng tim dửng dưng

Anh vái trời cho cô dửng dưng

Coi như Hà Nội – xứ hoang đường

Để anh còn dắt cô đi dạo

Còn rủ cô vào rạp cải lương

Anh vái trời cô thích cải lương

“Thích kẻ anh hùng diệt bạo tàn”

Mốt mai thê thảm quanh đời sống

Cô sẽ còn đôi chút lạc quan

Đôi mắt tròn, đen, như búp bê

Cô nhớ nhìn thiên hạ lận lường

Mà hãy nhìn anh cay lắm chuyện

Nhưng còn con trẻ chuyện yêu đương”

(1973).

 

4-

Nếu từ thời Thơ Mới, thơ đã tự do hơn, phóng túng hơn thơ cũ nhưng vẫn thường ở trong khuôn tế nhị, thơ mộng thì đến thời này nhất là ở những năm chiến tranh, tâm tình con người giao động nhiều, mất mát thua thiệt nhiều, như bất lực trước tàn bạo của chiến tranh và kiếp người, đã có những giọng thơ khinh bạc, bạt mạng, như Nguyễn Bắc Sơn; cũng là thời thơ văn bốc lửa của miền Trung địa đầu của miền Nam Cộng Hòa. Miền Trung đã sôi động với những biến cố Phật giáo 1963, 1965, đại học Huế, nhóm Lập Trường, rồi biến cố Tết Mậu Thân, cổ thành Quảng Trị, v.v. , với những người thơ trẻ Trần Vàng Sao, Thái Luân, Mường Mán, Hoàng Lộc, Thành Tôn, Luân Hoán,… Nguyễn Nho Sa-Mạc với những vần thơ mệnh yểu; thơ ở ông rõ là không phơn phớt, nơi trần bì, mà đã thẩm thấu trong hình hài và tâm tưởng. Một trong những bài thơ tình đầu tiên của Nguyễn Nho Sa-Mạc là bài Vàng Lạnh, đăng trên tạp-chí Mai năm 1962, một tạp-chí cung cách thủ cựu, khép kín và nổi tiếng với những bài nghị luận khô khan về triết lý và văn-hóa. Bài thơ đến với giới thưởng ngoạn thi ca lúc bấy giờ như một làn gió lạ. Nội dung một thiên tình sử dù chỉ mới bắt đầu và lời thơ được chăm sóc, trau chuốt một cách tuyệt vời :

 

“Chuyện bữa ấy chiều nay em kễ lễ

màu môi chôn kỷ niệm đã lâu rồi

mi mắt đó ghi ân tình đổ vỡ

đời nữ sinh vàng lạnh tháng ngày trôi

Em đã khóc cả buổi chiều hôm trước

chúng bạn đùa đã biết chuyện riêng tư

nỗi yêu thương trong đời người con gái

bảo em buồn nức nở trước trang thư

(…) Chuyện bữa ấy chiều nay em kể lể

dáng mi trầm nuối tiếc những ngày qua

thứ bảy chiều chúng mình mừng sinh nhật

của mối tình sớm nở sớm đi qua”.

 

Vũ Hữu Định cũng chết trẻ, nổi tiếng với bài thơ Còn Một Chút Gì Để Nhớ được Phạm Duy phổ nhạc – nhạc phổ thơ đóng một vai trò quan trọng giúp đến với người thưởng ngoạn và làm sống lâu những tác phẩm hay, từ thời này và ra đến hải ngoại sau này (nhưng thương mại hóa hơn là tự phát) :

 

“phố núi cao phố núi đầy sương

phố núi cây xanh trời thấp thật buồn

anh khách lạ đi lên đi xuống

may mà có em đời còn dễ thương

phố núi cao phố núi trời gần

phố xá không xa nên phố tình thân

đi dăm phút đã về chốn cũ

một buổi chiều nào lòng bỗng bâng khuâng

em Pleiku má đỏ môi hồng

ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông

nên em mắt ướt và tóc em ướt

da em mềm như mây chiều trong

xin cảm ơn thành phố có em

xin cảm ơn một mái tóc mềm

mai xa lắc bên đòi biên giới

còn một chút gì để nhớ để quên”.

 

Trong số, Luân Hoán là nhà thơ sáng tác mạnh nhất với năm thi tập được xuất bản trước khi xảy ra biến cố 1975, đó là chưa kể sáu tập khác in chung với bạn thơ. Ông nhập dòng thi ca phản kháng chiến-tranh bên cạnh dòng thơ quê hương và tình yêu với một ngôn ngữ riêng ông :

 

“em yêu dấu hờn giận chi kỹ rứa

chim trong vườn chiều nay hót nhiều hơn

em có nhớ con chào mào mọi bữa

vẫn đứng một mình đổ giọng véo von”

(Làm Lành).

*

Thơ thời này còn có những khuynh hướng triết lý, về phận người và vũ trụ như thơ Chế Vũ, Phổ Đức, Thành Tôn, Hoài Khanh, Bùi Giáng, Mai Trung Tĩnh, … Ở Thành Tôn :

 

“.. đi, về bóng lạ bàn chân

dòng sông nghiệp dĩ tiếp dần biển khơi

quanh co nghĩ rộng đất trời

cái tôi hiện hữu một thời vong nô

     khép dần cánh cửa hư vô

thân chưa nhập thế cơ hồ cách xa”

(Ranh Giới, Thắp Tình 1969).

 

Tình yêu ở Phổ Đức đã nhẹ nhuốm mùi thiền :

 

“Anh đứng dậy che tay buồn cúi mặt

Nhìn lối quen năm tháng dẫm lên sầu

Em qua đó bao lần khi nắng tắt

Mỗi chiều về bốn mắt lại nhìn nhau

Trong im lặng anh nghe hồn ẩm mục

Khóc thương thân vàng úa cả tâm linh

Đời chung hưởng nhưng không cùng chung mộng

Anh tự tay đào huyệt để chôn mình… ”

(Ảo Tượng Tình Yêu).

 

Hoài Khanh, trong Thân Phận (1962), “kẻ bị đày giữa bãi đất hoang tàn của nghĩa địa trần gian” như Phạm Công Thiện giới thiệu trong đề tựa: “Tôi lẩn trốn vì biết mình không thể / Mây của trời rồi gió sẽ cuốn đi”, vì nhà thơ đã mất hay hết còn tin những nơi trú ẩn tình yêu và niềm tin:

 

“Hãy để tôi đi khuất cõi đời

Buộc ràng chi nữa xác thân tôi

(…) Thượng đế đành vắng mặt

Chân lý lại xa vời

tôi dối lòng an ủi ngắm mây trôi

tìm một chút bình yên khi linh hồn sôi sục”

(Tự Vấn).

 

Thơ Thiền của Bùi Giáng là một phương tiện giải thoát cuộc sống khó khăn, hiện-sinh không lối thoát. Thơ ảnh hưởng Phật giáo có Phạm Thiên Thư, Nhất Hạnh, Hoài Khanh, Phạm Công Thiện, Xuân Phụng, … nhưng nổi tiếng là Phạm Thiên Thư với những bài thơ tình dài hơi thể lục bát như Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng hay bốn chữ như Ngày Xưa Hoàng Thị :

 

“Em tan trường về

Đường mưa nho nhỏ

Chim non dấu mỏ

Dưới cội hoa vàng…”

 

Tập thơ trường thiên Đoạn Trường Vô Thanh (1973) viết theo thể lục bát muốn đi xa hơn tình yêu dưới bóng bồ đề và bốn bề thiên nhiên. Ở đây đằng sau chuyện nàng Thúy Kiều là bề sâu tư tưởng dân tộc, tôn giáo cùng triết lý. Cuộc đời Kiều dưới lăng kính một người Việt ở thế kỷ XX. Hãy nghe ông tả tiếng đàn Thúy Kiều:

 

“… bây giờ phiếm gợn thêm chương

soạn cung giải vận đoạn trường từ đây

vi vu đồi liễu cồn mây

hơi thu tỏa cánh hạc bay chập chờn

cỏ vàng núi nhuộm tà dương

đồi phong lá gọi bóng sương xạc xào

hạt đàn tấm tức nao nao

suối tuôn mạch đá đau bào lòng non …”

(Tr. 24).  

 

Thi ca thế giới đa dạng được giới thiệu nồng nhiệt hơn. Diễm Châu của nhóm Trình Bày đã đưa thơ Âu-châu hậu chiến đến với người đọc. Phạm Công Thiện giới thiệu Rainer M. Rilke như là một nhà thơ của hố thẳm, của đêm tối nguyên thủy, nhà thơ của Hư vô, ông đến với Phật và đông phương như nguồn cảm hứng; nhà thơ cô đơn trước những sự vật có thể có cảm thông nhưng chắc là có một hiện hữu riêng, tự tại. Rilke ở trong số những văn nghệ sĩ chống và “muốn” tách khỏi nguồn Thiên chúa giáo, cũng như F. Nietzche. Guillaume Apolinaire thích làm thơ tự do và có những bài mỗi đoạn là một chữ, tập Alcools gồm những bài hay nhất của ông, không chấm câu. Nhà thơ siêu thực Gérard de Nerval sống cuộc đời của mộng ảo, sống giữa trong những khoảnh khắc tỉnh thức, cơn điên và mộng ảo. Thi ca trở thành trò chơi của sự sáng tạo, đứa con của thượng đế, là hoả diệm sơn kia bỗng một bữa nào, lãng đãng trào phun bởi một gót chân ngà huyền diệu. Kẻ chôn cuộc đời mình trong những cơn mộng ảo. Kẻ ôm mộng một đời, mà thơ là một lời mời gọi của trái tim.

 

Về thơ nữ có Trần Thị Tuệ Mai, Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội, Hoàng Hương Trang, Trần Thy Nhã Ca, Lệ Khánh, ..; đi từ những tình ý ngập ngừng, kín đáo và lời cổ kính, đến những nghi vấn khúc mắc, táo bạo! Trong số, Nhã Ca đem những tứ thơ nhuốm không gian của thời hồng hoang nhân loại, tình đam mê ngây thơ trong một khung cảnh thật vô tư:

 

“Tôi làm con gái

Buồn như lá cây

Chút hồn thơ dại

Xanh xao tháng ngày…”

(Bài Nhã Ca Thứ Nhất, Nhã Ca Mới, tr. 36)

 

“Đời sống ôi buồn như cỏ khô

Này anh, em cũng tợ sương mù

Khi về tay nhỏ che thời tiết

Nghe giá băng mòn hết tuổi thơ”

(Thanh Xuân, tr. 41).

 

5-

Thi-ca miền Nam trong hơn 20 năm (1954-1975) đã là một bộ diễn-mục của những khúc giao-hưởng gồm nhiều biến tấu, đa dạng về thể thơ cũng như nội dung, âm hưởng, tiết tấu. Nếu phải nhận định, chúng tôi không nói đến loại thơ bình dân của người Việt-Nam ‘dân tộc thi sĩ’, xin chỉ thu gọn trong một số điểm về những hiện tượng và sự nghiệp, công trình đáng nói đến.

Trước hết, về ngôn-ngữ thi ca đã có đủ trình độ, từ ngôn ngữ cổ-kính, sang-cả, nét thơ tinh tế, ý tưởng thâm sâu của Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, v.v.

 

“… Ta lảo đảo vùng đứng lên cười ngất,
Ghì chặt nàng cho chết giữa mê ly.
Rồi dày xéo lên sông núi đô kỳ,
Bên thành quách ta ra tay tàn phá.
Giữa hoang loạn của lâu đài, đình tạ,
Ta thản nhiên, đi trở lại núi rừng.

Một mặt trời đẫm máu xuống sau lưng” (Đinh Hùng, Bài Ca Man Rợ)

đến ngôn-ngữ nguồn cội đông-phương cùng ý tưởng lập ngôn của nhà thơ thế hệ tiếp nối, như Viên Linh, Tô Thùy Yên :

 

“… Ta hỏi han hề Hiu Quạnh Lớn

Mà Hiu Quạnh Lớn vẫn làm ngơ

Đảo hoang, vắng cả hồn ma quỉ.

Thảo mộc thời nguyên thủy lạ tên

Mỗi ngày mỗi đắp xanh rờn lạnh

Lên xác thân người mãi đứng yên

(…) Sóng thiên cổ khóc, biển tang chế

Hữu hạn nào không tủi nhỏ nhoi ?”

(Trường Sa Hành)

 

Bên cạnh đó là ngôn-ngữ tâm hồn của thời đại. Hoặc là một ngôn-ngữ thi ca đẹp, trau chuốt; của những Nguyên Sa, Hoàng Trúc Ly, Nguyễn Tất Nhiên, Mai Trung Tĩnh, …

 

Hoặc là ngôn-ngữ thi ca triết lý của thời đại mà thơ của Phổ Đức, Thành Tôn, Hoài Khanh, Trần Tuấn Kiệt, Phạm Công Thiện, … là những dấu tích, như đã trích dẫn ở phần trên. Thơ của Nguyễn Nho Sa-Mạc đã mang hình ảnh và ý thơ chứa nét hiện sinh của thời đấu thập niên 1960 :

 

“Bằng đôi tay ốm kín nỗi buồn

Ta đi trong trời đất hoàng hôn

Mà nghe sữa mẹ chan hòa cháy

Máu ở buồng tim cùng loạn cuồng  

Ta siết hình em trong tiếng hôn

Im nghe da thịt và linh hồn

Giữa không gian rộng ta vùng dậy

Cuộc sống đi vòng quanh áo cơm

Ôi nửa cuộc đời ta đảo điên

Đêm nằm ru giấc ngủ cô miên

Hai mươi tuổi trong hồ suy tưởng

Ngửa mặt nhìn trời đi ngả nghiêng”

(Sinh Nhật).

 

Một ngôn-ngữ thi ca đầy hoài nghi, khắc khoải, khi siêu-hình, khi hiện sinh thân phận người. Ngôn-ngữ của những kiếm tìm lốt thoát cho cá nhân và tập thể.

Cái đẹp, cái đạt trong thơ ngừng ở hình thức, nhạc tính, âm điệu hay cần phải bao gồm cảm hứng và triết lý, tư duy? Có người nhờ kỹ thuật thể hiện, cho nội dung mới vào ngôn ngữ thơ mà trở nên thơ hơn, được đón nhận hơn, dù bước đầu có thể đi lại trên con đường người trước như Thơ Mới có người làm theo nhưng với ngôn ngữ, ý tình hôm nay, ngữ điệu độc đáo riêng, tạo bản sắc, có thi tính riêng! Nói thơ tình yêu chưa chắc thời nào cũng như nhau là do lẽ đó! Có thời trang thành mốt lâu dài, có khi lại chỉ là đồ chưng xa xỉ không cầm cự được với thời gian! Lý luận cho lắm rốt lại, văn chương là ở cách thể hiện. Thẩm mỹ học mới, ý thức mới quan trọng, vì chính ý thức sáng tạo có mới, có độc đáo, khác biệt, riêng tư,… thì kỹ thuật, ngữ điệu, ngôn từ, hồn thơ mới cất cánh bay được!

Như vậy, thi ca có những sáng tạo văn chương, những cái mới, có thể gây bối rối và ồn ào lúc đầu nhưng có khả năng sống còn với thời gian, được đón nhận, nhưng cũng có những cái mới lạ gây nghi vấn, chống đối và cũng có những cái bất cập, trở lùi quá độ ! Người làm thơ cảm nhận thi hứng rồi diễn đạt thành lời thơ, hai phương diện của một thể hiện nghệ thuật, cái Đẹp! Phải có ý chí sáng tạo, sống mạnh, cách tân ngôn ngữ, cấu trúc, nhịp điệu, nhạc tính, v.v. vì thơ hay hay không cũng chẳng có khuôn mẫu nào. Cái khó cho nhà thơ khi phải lập lại phong cách, ngôn từ sẵn có của mình mà không sáng tạo, không thêm được cái mới hay không thay đổi; hoặc quá tập trung vào văn bản như một ám ảnh; rồi đề tài có khi hết chất thi ca. Thơ mới, tứ mới, tâm tình mới đưa đến một hay nhiều hình thức khác, mới, để diễn tả thi hứng mới, của hôm nay. Như thế thơ này sẽ truyền cảm đến người đọc cùng thế hệ, cùng thời! Dù sao thì thi ca là thể loại tương đối khả dĩ có những cách tân, làm mới hơn là một vài bộ môn văn nghệ khác như tiểu thuyết, truyện ngắn, …, dù vậy cái mới luôn đòi hỏi ba yếu tố cổ điển thiên thời địa lợi nhân hòa. Hội họa chẳng hạn, người nghệ sĩ có thể một mình đi trước thời đại, không được hiểu liền, nhưng tác phẩm một khi được hình thành, sẽ vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt và sẽ có lúc có người đồng cảm. Cái mới, cái khác của thơ cần phải có đáp ứng liền, phải năng động thường trực, phải đi với thời đại. Thơ tự do từ tạp chí Sáng Tạo là một thí dụ. Cái mới cũng có nghĩa cách tân cái cũ, trở lại cái cũ với một ngôn từ, nội dung, hình thức, kỹ thuật, .. mới. Thơ Tô Thùy Yên là một thí dụ,

Tóm, hai mươi năm thi ca này có hai khuynh hướng chính: một, hiện đại, mới với trữ tình, thi tính; một mới hoàn toàn tự do. Cả hai là những nỗ lực mới về ngôn ngữ thơ, về nhạc điệu, những dựng xây nền tảng thi ca mới, sứ mạng thi nhân mới và khác trước đó.   . Tự do và khác. Tất cả với Thanh Tâm Tuyền chẳng hạn, là phản, là đối nghịch. Như nội dung, ý tình chuyên chở trong thơ. Hình thức và nội dung với thơ Thanh Tâm Tuyền là một, như một. Phải thành công một, kia mới thành công xướng lên, mới lên. Yếu tính thơ tự do có yếu tố hỗn độn,… vì nó có sự tổ chức riêng, có kết cấu riêng, nội tại, để nói lên, để nên thơ! Thơ tự do khác thơ cổ đìển hay có niêm luật vì liên hệ đến tác giả, đến tài thơ, nhịp thơ riêng. Nếu không, là thất bại, là không còn thơ tự do! Thanh Tâm Tuyền bỏ làm thơ sau những xáo trộn giữa thập niên 1960, cho đến khi ông vào trại “cải tạo” nơi núi rừng Việt Bắc sau 1975. Trên tạp chí Nghệ thuật, nhà thơ Trần Ðức Uyển đã có lần nhắc lại câu tâm sự của Thanh Tâm Tuyền tại sao không còn có thể làm thơ: “… Tự nhiên thấy khó, không dám làm. Vả lại chưa tìm được cái gì mới. Tôi thấy thơ bây giờ càng ngày càng thu hẹp lại, rút gọn vào trong cái “tôi”, để cuối cùng chỉ có mình hiểu được thơ mình”(6).

Nếu Thanh Tâm Tuyền hiện đại với âm hưởng Tây phương thì Tô Thùy Yên là dấu vết khảo cổ, nhân chủng học cho một phương đông huyền diệu, thần bí. Không khí cổ thời, ý và nhân sinh quan có vẻ của người xưa, không gian và cảm giác xưa. Sống ở thế kỷ XX, ông chụp ảnh nghệ thuật, dùng máy hiện đại hôm nay để nắm bắt những nét đẹp đông-phương vương vất đâu đó trong vũ trụ, nhất là những nét đan thanh của tâm hồn ! Cái đẹp ở đây là cái đẹp của những huyễn mộng hoang đường, của một thế giới ẩn chìm trong thời gian, là mỹ cảm của tâm hồn nhà thơ đứng trước thiên nhiên, trước đời văn minh mà như hoang sơ. Cái đẹp ở trong nỗi buồn thế kỷ, ngôn ngữ thăng hoa thành mộng mị cổ thời. Cái Tôi sung mãn truyền thừa văn hóa, hãnh tiến trong hoang vu cũng như trong bức rối của thời đại.

 

Kẻ hậu sinh sau này muốn tìm hiểu con người và cảnh tượng đời sống Việt thế hệ 1954-1975 không thể không mở tìm lại những trang thơ mang suy tư về cá nhân và tập thể của Mai Trung Tĩnh, Hoài Khanh, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, v.v.! Ở thơ Tô Thùy Yên chẳng hạn, thi ca gắn liền với đời sống, đặt vấn đề cho lương tâm nhân loại, cho đồng loại, và không chỉ ở một thời. Ở ông, có thể nói đến thi ca như một kinh nghiệm vừa tư duy vừa tâm linh mà cũng là một kinh nghiệm nhân sinh. Thơ ông là một khẳng định lớn của con người! Có lần ông đã nhận định rằng “thế kỷ mà chúng ta đang sống đây càng lúc càng hiển lộ một hiện tượng tách biệt trầm trọng lạ lùng giữa thơ và đời sống. Tách biệt đến mức tưởng chừng bây giờ thơ đã trở thành một công việc riêng tư hết sức chuyên môn như trong một hội kín giữa các người làm thơ với nhau thôi. (…) Nếu lịch sử là nỗ lực mô tả những diễn biến cụ thể của thời gian thì thơ, một cách khái quát, là lịch sử trừu tượng của thời gian, là phần hồn thiêng của lịch sử “(7)./.

Chú-thích:

  1. Nguyên Sa,”Kinh nghiệm thi ca”, Sáng Tạo, số 21, 6-1958, tr. 66.

  2. Thanh Tâm Tuyền, “Nỗi buồn trong thơ hôm nay”, Sáng Tạo, 31, 9-1959, tr. 1.

  3. Thanh Tâm Tuyền. Bđd, tr. 4 & 6.

  4. Nguyên Sa. “Rời bỏ nền văn chương trú ẩn”. Đất Nước, 2, 12-1967, tr. 9.

  5. Gồm nhiều tập, tái bản nhiều lần, tập 1 xuất bản lần đầu năm 1962.

  6. Trần Ðức Uyển. “Nhìn lại thơ hôm nay”. Nghệ Thuật, 12, 12-1965, tr. 16-17.

  7. “Bài nói chuyện của Tô Thùy Yên trong buổi ra mắt Thơ Tuyển tại Houston TX ngày 9-3-1996″. Ngày Nay TX, 340, 1-4-1996, tr. B3.

( Nguồn : Văn học & Nghệ Thuật)

 

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.07.2014

THƠ HÀ NHẬT

 

Hà Nhật, ký họa của Bùi Xuân Phái

HÀ NHẬT

ĐỀN CUÔNG*

Nghe nói khi bị chém

Máu Mỵ Châu không tan

Bắt biển hoá thành ngọc

Để nghìn thu kêu oan.

Cha dẫu nghiêm đến mấy

Nỡ nào cha vung gươm !

Chồng bạc tình đến mấy

Nỡ nào tráo lẫy thần !

Đền Cuông – cuông bay hết

Về chi nữa em ơi

Cha già còn ngoảnh mặt

Mong gì đời sửa sai !

Diễn Châu, 8-2007

* Đền Cuông, tức Đền Công theo cách gọi của người xứ Nghệ, ngày xưa thường có nhiều chim công bay về, nằm dưới chân núi Mộ Giạ, nay là đất huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Tương truyền đây là nơi vua An Dương Vương bị giặc đuổi cùng đường, đã rút gươm chém Mỵ Châu trước khi đi xuống biển. Cho đến nay, bên cạnh ngôi đền lớn thờ An Dương Vương, nơi thờ Mỵ Châu chỉ là cái am nhỎnằm khuất khỏi tầm mắt vua cha. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.07.2014

ÔNG DU BÁ CƠ… DẠ!

 

ÔNG DU BÁ CƠ… DẠ!

Truyện rất ngắn của Tào Lý Ba

Trước cửa nhà ông Du Bá Cơ có hai con chó lẹo nhau. Ông Du Bá Cơ cùng một ông hàng xóm và bọn trẻ con đứng xem. Rồi ông hàng xóm lẩm bẩm: “Hai con chó này tự do quá!”. Ông Du Bá Cơ buột miệng: “Dạ!”.

Trong đám trẻ con có một đứa nghe nhầm, tưởng ông nói, chạy về mách mẹ. Rồi mẹ nó sang thầm thì với bà hàng xóm, rồi bà hàng xóm thầm thì với đại hàng xóm. Tin ông Du Bá Cơ nói câu đó lan truyền nhanh như virút cúm.

Cuối cùng, qua rất nhiều quy trình theo đúng thủ tục của các cán bộ hành pháp có kinh nghiệm, ông Du Bá Cơ phải ra hầu tòa. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.07.2014

Đổ lỗi cho nhau

 

Đổ lỗi cho nhau

TP – Một nhóm các nhà lãnh đạo thế giới đang kêu gọi tiến hành một cuộc điều tra quốc tế toàn diện và độc lập về MH17 do Liên Hợp Quốc (LHQ) lãnh đạo. Việc đổ lỗi cho nhau bùng lên, đổ thêm dầu vào mồi lửa căng thẳng trước đó giữa Nga và phương Tây.
Theo Wall Street Journal, Anh đề nghị LHQ dẫn đầu cuộc điều tra để đưa thủ phạm ra trước công lý. Hội đồng Bảo an LHQ tổ chức cuộc họp khẩn ngày 18/7 để thảo luận sự kiện MH17.

Khẩu chiến 

Chính quyền Ukraine ngay lập tức quy trách nhiệm cho Nga và phe ly khai miền đông là thủ phạm gây ra tấn thảm kịch MH17, gọi đây là “hành động khủng bố”. Kiev cho rằng, máy bay bị bắn hạ bởi hệ thống phòng không Buk do Nga sản xuất. 

Washington Post dẫn lời lãnh đạo an ninh Ukraine Valentyn Nalyvaichenko nói rằng, họ thu được các cuộc gọi được cho là giữa lực lượng ly khai và đặc vụ Nga, theo đó nhóm chiến binh ly khai thông báo đã bắn rơi một máy bay dân sự. 

Nhiều người thắc mắc, trước đây, cả tình báo Mỹ và Ukraine đều không biết gì về kế hoạch thu hồi Crimea của Nga, nhưng nay bỗng dưng xuất sắc chặn được hội thoại của tình báo Nga và phe ly khai để nhanh chóng công bố? Trong khi đó, phe ly khai khẳng định, họ chỉ có các tên lửa phòng không tầm bắn 3.000-4.000m, không thể với tới độ cao 10.000m của MH17. 

Ông Sergei Kavtaradze, một trong các lãnh đạo ly khai ở khu vực Donetsk, nói với Interfax: “Đơn giản là chúng tôi không có các hệ thống phòng không loại này”. Nga tuyên bố, chỉ có các hệ thống tên lửa như S-300, Buk-M1 mới có khả năng đạt đến độ cao 10.000m và quân đội Ukraine có những hệ thống như vậy. Ukraine trước đó tuyên bố quân đội nước này không tấn công MH17.

Tuy nhiên, Bộ Quốc phòng Nga thông báo, quân đội Ukraine đã triển khai ít nhất 27 bệ phóng tên lửa đất đối không Buk-M1 đến miền đông và một đơn vị trong số đó triển khai gần khu vực MH17 bị bắn rơi. Buk-M1 có khả năng phát hiện mục tiêu bay trong phạm vi 160km, ở độ cao 11.000-25.000m và tấn công mục tiêu trong tầm bắn hơn 30km. 

Ông Aleksey Komarov thuộc Bộ Quốc phòng Nga khẳng định, gần đây, quân đội Ukraine triển khai nhiều loại tên lửa tại Donetsk. Theo tình báo Mỹ, MH17 bị tên lửa đất đối không bắn trúng, nhưng chưa thể khẳng định thủ phạm là ai. 

Giới truyền thông và chuyên gia an ninh quốc tế nêu ra một số giả thiết khác. Interfax dẫn một nguồn tin giấu tên nói rằng, chuyên cơ của Tổng thống Nga Vladimir Putin công du Nam Mỹ trở về và MH17 gần như cùng đi qua một lộ trình, cùng một độ cao trước khi thảm kịch xảy ra. 

“Máy bay của Tổng thống đi qua khu vực đó lúc 16h2, còn máy bay Malaysia đi qua lúc 15h44 (giờ Mátxcơva). Xét về kích cỡ, màu sắc, nhìn ở tầm xa, chúng gần như y hệt”, nguồn tin nói. 

Những người theo thuyết âm mưu đặt câu hỏi: Phải chăng tồn tại một ý đồ nào đó nhằm vào ông Putin nhưng lại nhầm mục tiêu? Một tờ báo Nga dẫn nguồn tin của nhân viên kiểm soát không lưu người Tây Ban Nha nói rằng, vài phút trước khi MH17 rơi, xuất hiện hai máy bay chiến đấu Ukraine áp sát chiếc máy bay Malaysia. Bộ trưởng Quốc phòng của nước cộng hòa tự xưng Donetsk, ông Igor Strelkov, cho rằng, MH17 đã bị máy bay tiêm kích Ukraine bắn hạ. 

Nhiều người thắc mắc, trước thảm kịch MH17, mỗi ngày có tới 300 chuyến bay thương mại đi qua không phận phía đông Ukraine, đa số chuyến bay liên lục địa Á-Âu đều tránh khu vực đang xảy ra chiến sự, vậy tại sao máy bay Malaysia lại chọn hay “được hướng dẫn” bay qua vùng nguy hiểm trên? 

Mặc dù sự thật còn chưa sáng tỏ, song Mỹ và phương Tây đã chỉ trích Nga cực kỳ dữ dội. Nhà Trắng cho rằng, việc Nga ủng hộ lực lượng ly khai tại miền đông Ukraine dẫn tới vụ máy bay Malaysia bị bắn rơi. 

Theo Reuters, phát biểu trước Quốc hội Úc hôm 18/7, Thủ tướng Úc Tony Abbott (trong số 298 nạn nhân trên MH17 có 27 người Úc) quy trách nhiệm cho phe ly khai ở Ukraine được Nga hậu thuẫn đã bắn hạ chiếc máy bay. 

Đại sứ Nga tại Úc đã bị triệu tập để chất vấn về vụ việc. Úc còn yêu cầu được trực tiếp tới hiện trường máy bay rơi để điều tra. Vụ MH17 cũng phủ bóng lên Hội nghị Thượng đỉnh G20 vào tháng 11 tới, khi Úc dự kiến tiếp đón Tổng thống Nga Vladimir Putin và các nhà lãnh đạo thế giới khác. 

Thủ tướng Canada Stephen Harper cho rằng, dù chưa thể xác định ai chịu trách nhiệm cho thảm kịch này, Nga vẫn là “gốc rễ của cuộc chiến đang diễn ra tại Ukraine”. 

Đề nghị ngừng bắn, điều tra quốc tế

Theo Tổng thống Nga Putin, căn nguyên của thảm kịch này xuất phát từ chiến dịch quân sự của Ukraine. Ông gửi lời chia buồn sâu sắc đến Malaysia, đồng thời ra lệnh cho giới chức quân sự “cung cấp mọi sự hỗ trợ cần thiết để làm sáng tỏ hành vi tội ác này”. Nga sẽ làm tất cả để “có một bức tranh khách quan” về tấn thảm kịch MH17, đồng thời đề nghị điều tra thấu đáo vụ việc. 

Washington Post nhận định, căng thẳng giữa Nga và phương Tây sẽ leo thang sau thảm họa này. Một số nhà lãnh đạo châu Âu trước đó vốn không ủng hộ trừng phạt Nga về cuộc khủng hoảng Ukraine nay có thể đánh giá lại quan điểm. 

Mỹ yêu cầu quân đội Ukraine và phe ly khai lập tức ngừng bắn để tạo điều kiện cho cuộc điều tra nguyên nhân MH17 bị bắn hạ. Trong thời điểm này, điều quan trọng nhất là phải đảm bảo các bằng chứng ở hiện trường không bị phá hủy. 

Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu lập tức tổ chức cuộc họp truyền hình với phe ly khai thân Nga. Lực lượng này đã cam kết đảm bảo an toàn cho các chuyên gia quốc tế đến điều tra ở hiện trường vụ thảm họa, đồng ý hợp tác với chính quyền Ukraine để điều tra. 

Một thủ lĩnh ly khai ở Donetsk tuyên bố sẽ sớm đàm phán với chính quyền Kiev về việc thực hiện cuộc điều tra. Hôm qua, khoảng 30 điều tra viên quốc tế đã bay đến địa điểm MH17 rơi, BBC đưa tin

(Nguồn : tienphongonline

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.07.2014

CON CHIM 2

 

CON CHIM 2

Truyện ngắn Phạm Dũng

 

Vậy là nó vừa tròn sáu mươi. Sự tàn phá của thời gian khiến nó trông già nua, bệu rệu. Ngay cái thân, bộ phận quan trọng nhất của nó nom cũng rất buồn thảm. Nó còm nhom, lụm cụm, vừa gặp nước thì co hết cả lại, vo tròn bé bằng hòn bi, mềm thủn.

Nó luôn bị mệt mỏi. Da lão hóa, nhăn nheo. Mùa lạnh về là xương khớp đau nhức. Hễ làm việc thì quên trước quên sau.

Người ta cho nó về hưu là phải rồi. Nhưng nó vẫn cảm thấy ấm ức: Cái thằng mắt, mờ đui mờ đọc mà vẫn được ông người sắm cho cái kính hàng mấy triệu và vẫn cho ngồi ghế cũ. Còn thằng tai thì ông hứa nếu nghe kém thêm một chút ông mua hẳn cho cái máy trợ thính 50 triệu, chứ cái vài triệu nghe chẳng ra gì. Rồi… Thôi chẳng kể nữa, cứ nghĩ đến là trái tim nó đau quặn hết cả lên.

 

Khi cầm cái giấy về hưu nó buồn kinh khủng. Ôi, từ nay thế là phải xa những đêm hoan lạc thật sao? Phải xa những em bướm vừa xinh như mộng vừa lẳng lơ như nàng Thị Mầu khiến bao thế hệ đàn ông say đắm thật sao? Chẳng nhẽ nó lại phải sống trong cảnh lực bất tòng tâm từ giờ cho đến khi theo ông người vào quan tài? Không! Nó không cam tâm.

Thế nhưng nó còn chưa biết phải làm gì để sống lại thời kỳ huy hoàng thì chiều nay vào buồng tắm, ông người đem theo cái dao cạo mỏng nhưng sắc lẹm.

-        Làm gì thế ông? – Thằng tay hỏi.

-        Tao cạo mẹ tóc thằng chim đi.

(Đọc tiếp…)

 

KHÔNG XÁC ĐINH ĐƯỢC KẺ THÙ THÌ LÀM SAO BẢO VỆ TỔ QUỐC ?

Ngô Minh

  Ngày 2/6/2014, tôi nghe Đài truyền hình VTV Huế đưa tin Trung ương đã mở lớp bồi dưỡng cho đối tượng  từ thiếu tá trở lên của Công an và Quân đội về Chiến lược quốc phòng của Đảng, về chống âm mưu diễn biến hòa bình, âm mưu của các thế lực thù địch, về phát triển kinh tế… Tôi nghe biên tập viên không nói gì về  kẻ thù đang xâm lược biển Đông của Việt Nam là Trung Quốc cả. Báo quân đội nhân dân số ra ngày 14/7/2014, trong bài Quân đội ta mang đậm bản chất cách mạng của giai cấp công nhân ,cũng viết : “Ngày nay, đất nước ta hòa bình và thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân đang mở rộng quan hệ và hợp tác quốc tế, xây dựng đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Các thế lực thù địch lại lợi dụng đẩy mạnh chống phá nước ta trên nhiều lĩnh vực thông qua thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, cùng tác động của nền kinh tế thị trường, tình hình thế giới và khu vực. Vì vậy, chúng ta càng phải giữ vững nguyên tắc lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, nhằm tăng cường bản chất chính trị của giai cấp công nhân trong toàn quân.” Bài viết cũng không nói gì về kẻ thù xâm lược là anh bạn 4 tốt 16 chữ vàng Trung Quốc khốn nạn ấy cả. Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng, Ủy viên Bộ Chính trị Phùng Quang Thanh tại Đối thoại Shangri-La lần thứ 13 ở Singapore vừa qua cũng nêu rõ : “Quan hệ giữa Việt Nam và nước bạn láng giềng Trung Quốc về tổng thể trên các mặt đang phát triển tốt đẹp, chỉ còn tồn tại vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển. Trên thực tế, ngay ở trong quốc gia, hay mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng, huống chi là các nước láng giềng với nhau còn tồn tại tranh chấp về biên giới, lãnh thổ, hoặc va chạm là điều khó tránh khỏi….” (Đọc tiếp…)

 

Trung Quốc chuẩn bị cho một giai đoạn hành động mới, nguy hiểm hơn

 (VTC News) – Thiếu tướng Lê Văn Cương cho rằng, việc Trung Quốc dịch chuyển giàn khoan Hải Dương 981 là để chuẩn bị cho một giai đoạn hành động mới, nguy hiểm hơn.

Như đã đưa tin, khoảng 4h00 sáng nay, ngày 16/7, giàn khoan Hải Dương 981 do Trung Quốc hạ đặt trái phép trên vùng biển Việt Nam cùng với một số tàu bảo vệ đã di chuyển cách vị trí ban đầu khoảng 20 hải lý theo hướng Đông Đông Bắc.

Liên quan đến sự kiện này, phóng viên VTC News đã có cuộc trao đổi với Thiếu tướng, PGS.TS Lê Văn Cương – nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược Bộ Công an.

Tướng Cương cho biết, giàn khoan Hải Dương 981 có thể chịu được bão mạnh cấp 14, cấp 15 và động đất mạnh tới 8 độ richter. Bởi vậy, việc Trung Quốc rút giàn khoan này hoàn toàn không phải là để tránh cơn bão Rammasun. Trung Quốc cũng không rút giàn khoan do tác động bởi Nghị quyết 412 của Thượng viện Mỹ.

- Nghĩa là việc đưa giàn khoan ra khỏi khu vực hạ đặt trái phép đã nằm trong lộ trình rồi, thưa ông? (Đọc tiếp…)

 

Số phận buồn thảm của những nhà văn nổi tiếng

Ernest Hemingway (1899-1961)


Số phận buồn thảm của những nhà văn nổi tiếng

Là tác giả của những tác phẩm nổi tiếng thế giới như “Ông già và biển cả”, “Chuông nguyện hồn ai”, “Giã từ vũ khí”… nhà văn nổi tiếng người Mỹ Ernest Hemingway suốt cả cuộc đời đã phải chịu đựng những bất ổn tâm lý.
Dựa trên những ghi chép về ông, các nhà tâm lý học ngày nay cho rằng Hemingway đã mắc chứng rối loạn tâm lý lưỡng cực cùng những rối loạn khác về tính cách.
Ngoài ra, có thể nhà văn cũng đã bị những tổn thương não bộ sau khi chứng kiến những cảnh khốc liệt ngoài chiến trường khi còn là một lính lái xe cứu thương ở Ý hồi Thế chiến I.
Kể từ cuối thập niên 1950, sức khỏe Hemingway đã đi xuống rõ rệt. Thời đó, những biện pháp trị liệu tâm thần còn khá hạn chế, vì vậy, người ta đã không thể giúp gì nhiều cho ông. Năm 1961, ông đã tự tử bằng súng.
Gia đình Hemingway đã sản sinh ra một tài năng văn chương mang tầm vóc thế giới nhưng đồng thời đây cũng là một gia đình bi kịch. Nhiều thành viên trong gia đình Hemingway đã lần lượt tự vẫn, gồm cha của nhà văn, em gái, em trai và sau này là cháu gái của ông.
 


Stefan Zweig (1881-1942)


Số phận buồn thảm của những nhà văn nổi tiếng


Stefan Zweig là nhà văn, nhà báo, nhà viết kịch người Áo nổi tiếng thế giới. Ở thập niên 1930, ông là tác giả có các tác phẩm được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất. Những tác phẩm như “Bức thư của người đàn bà không quen”, “24 giờ trong đời một người đàn bà”… là những tác phẩm nổi tiếng trong sự nghiệp văn chương của ông.
Cuốn tiểu sử của Zweig – “Thế giới của ngày hôm qua” – đã được hoàn thành chỉ một ngày trước khi ông tự sát. Cuốn tiểu sử này đã tập trung những quan điểm của Zweig về ý nghĩa sự sống.
Trong những năm tháng cuối đời, Zweig cảm thấy càng lúc càng tuyệt vọng vì thái độ không khoan nhượng, chủ nghĩa độc đoán, chủ nghĩa Phát-xít ngày càng lan rộng, khiến ông cảm thấy tuyệt vọng về tương lai của loài người cũng như sự hủy diệt của những nền văn hóa.
Zweig đã ra đi trong tư thế nắm tay đầy thư thái. Ông lại lá thư tuyệt mệnh viết rằng: “Tôi cho rằng mình nên kết thúc khi mọi thứ vẫn còn tốt đẹp, khi cuộc sống vẫn còn trong khả năng chịu đựng, ở đó, lao động trí óc vẫn còn là niềm vui thích trong trẻo và sự tự do cá nhân là mục đích tối thượng trên trái đất này”.

Virginia Woolf (1882-1941)


Số phận buồn thảm của những nhà văn nổi tiếng

Virginia Woolf
là một nhà văn nữ nổi tiếng người Anh, bà được coi là một trong những nhà văn nổi bật nhất của thế kỷ 20. Sinh thời, Virginia Woolf là một nhân vật có tầm ảnh hưởng đối với giới văn chương Anh. Những tác phẩm của Woolf có đề cập tới sự bất ổn về tâm lý và những suy ngẫm về ý nghĩa của sự tồn tại.
Sinh thời, bà cũng thường phải chịu đựng trạng thái lo lắng, bất an dẫn tới suy sụp tâm lý. Những bi kịch trong gia đình càng góp phần làm nặng thêm những rối loạn tâm thần ở bà. Thế chiến II càng khoét sâu vào sự bất an thường trực khi chứng kiến thành phố London yêu dấu bị tàn phá. Cuối cùng, Woolf quyết định tự tử.

Jack London (1876-1916)

Số phận buồn thảm của những nhà văn nổi tiếng

Jack London
là một nhà văn nổi tiếng người Mỹ, tác giả của những tác phẩm nổi tiếng như “Tiếng gọi nơi hoang dã”, “Nanh trắng”, “Tình yêu cuộc sống”… Ông là một trong những nhà văn Mỹ đầu tiên có thể làm giàu từ nghề viết văn.
Jack London cũng là một người đàn ông có tính cách kỳ lạ, khá dữ dội, ông thường đi từ thái cực cảm xúc này đến thái cực cảm xúc khác một cách đột ngột, điều đó khiến người ta tin rằng Jack London có lẽ cũng mắc chứng rối loạn tâm lý lưỡng cực.
Một số tác phẩm văn học của Jack London cũng từng đề cập tới sự tự vẫn. Đặc biệt trong cuốn tự truyện của mình, ông từng kể về một lần uống rượu say và trong lúc không tỉnh táo đã lao từ trên thuyền xuống, suýt chết đuối. Trong một tác phẩm khác, ông cũng từng đề cập đến một nhân vật bị tử thương nên đã đón nhận “cái chết nhân đạo” bằng một liều thuốc tiêm từ bác sĩ.
Sau này, Jack London bị mắc bệnh sỏi thận, ở thời đó, người ta chưa có cách nào để chữa khỏi căn bệnh này. Ông chỉ còn cách sống chung với bệnh tật và những cơn đau kinh hoàng.
Người ta thường phải tiêm thuốc giảm đau liều cao cho Jack London, cuối cùng, ông đã chết vì một lần tiêm thuốc giảm đau quá liều. Trước sự ra đi này, có rất nhiều tranh cãi, có người gọi đây là một tai nạn, có người cho rằng đó chính là “cái chết nhân đạo” mà ông đã từng đề cập tới.

Edgar Allan Poe (1809-1849)

Số phận buồn thảm của những nhà văn nổi tiếng

Edgar Allan Poe
là nhà văn, nhà viết kịch, nhà phê bình, nhà thơ Mỹ. Ông cũng được coi là “ông tổ” của thể loại truyện trinh thám và hình sự, có sức ảnh hưởng đến thế hệ những nhà văn viết truyện trinh thám sau này, nổi tiếng nhất trong số đó có Arthur Conan Doyle – tác giả của loạt truyện xoay quanh thám tử Sherlock Holmes
Edgar Poe cũng là một “thiên tài bị hành hạ”, ông đã trải qua nhiều bi kịch trong cuộc đời, vợ mất khi còn quá trẻ, Poe đau buồn tìm tới rượu và chất gây nghiện để lãng quên. Ông thường xuyên rơi vào trạng thái u uất và bị ám ảnh bởi cái chết, điều này đã được thể hiện trong những tác phẩm của ông.
Những vần thơ của một trái tim phiền muộn đã khiến ông trở thành nhà thơ nổi tiếng nhất nước Mỹ thời bấy giờ. Năm 1849, người ta tìm thấy ông đang nằm hôn mê trong một quán trọ.
Người ta không thể kết luận chính xác nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự ra đi của một tài năng văn chương bởi sức khỏe trong những tháng ngày cuối đời của Edgar Allan Poe đã quá tệ hại. Thêm vào đó, ông lại đẩy nhanh sự xuống dốc bằng rượu và các chất gây nghiện.
Bích Ngọc
(Nguồn: nguyennguyenbay…)

Theo Listverse/The L Magazine

 

 

 

 

Giàn khoan Hải Dương-981 dịch chuyển ra ngoài vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam

 

Theo thông tin từ Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam, từ 21 giờ 3 phút ngày 15/7, giàn khoan Hải Dương- 981 của Trung Quốc hạ đặt trái phép trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam dịch chuyển theo hướng bắc tây bắc về phía đảo Hải Nam (Trung Quốc).

 

 Sơ đồ thể hiện đường di chuyển của giàn khoan Hải Dương-981đến rạng sáng ngày 16/7 - Nguồn: TTXVN
Sơ đồ thể hiện đường di chuyển của giàn khoan Hải Dương-981đến rạng sáng ngày 16/7
- Nguồn: TTXVN

Qua theo dõi của các lực lượng chức năng của ta, giàn khoan Hải Dương-981 của Trung Quốc cùng các tàu hộ tống dịch chuyển với tốc độ lúc cao nhất khoảng 4 – 4,2 hải lý/giờ (tương đương gần 8km/giờ) theo hướng 330 độ (hướng bắc tây bắc), hướng về phía đảo Hải Nam (Trung Quốc). Phía Trung Quốc bố trí gần 60 tàu các loại hộ tống giàn khoan dịch chuyển theo hình chữ V ở cự ly sát nhau.

Tại thời điểm 18 giờ 30 phút ngày 16.7, giàn khoan Hải Dương-981 đã dịch chuyển khỏi vị trí cũ 41 hải lý, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 163 hải lý về phía Tây Nam, ra ngoài vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. 

Các lực lượng thực thi pháp luật của Việt Nam đang tiếp tục theo dõi sự dịch chuyển của giàn khoan Hải Dương-981 và các tàu hộ tống của Trung Quốc.

( Nguồn :thanhnienonline)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 16.07.2014

VĂN HỌC MIỀN NAM (II)

 

VĂN HỌC MIỀN NAM (II)

Văn học Miền Nam từ 1954 đến 1975

Thụy Khê

Sau 1954, ở Miền Nam có thể phân biệt hai lớp trí thức văn nghệ sĩ:

Thế hệ đầu, gồm những người đã từng hoạt động và nổi danh từ tiền chiến hoặc trước như: Hồ Biểu Chánh, Nhất Linh, Lê Văn Trương, Tam Lang, Nguyễn Vỹ, Đỗ Đức Thu, Vi Huyền Đắc, Phùng Tất Đắc, Vũ Bằng, Tchya Đái Đức Tuấn, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Đức Quỳnh, Đào Đăng Vỹ, Đỗ Thúc Vịnh, Tạ Tỵ, Lý Văn Sâm, Tam Ích, Thiên Giang, Thê Húc, Lê Văn Siêu, Thẩm Thệ Hà, Phi Vân, Phú Đức, … các nhà thơ như Tương Phố, Đông Hồ, Mộng Tuyết, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Bàng Bá Lân, Quách Tấn, … các nhạc sỹ như Lê Thương, Hùng Lân, Thẩm Oánh, Phạm Duy, Dương Thiệu Tước, v.v. Trừ các nhạc sĩ như Phạm Duy, Dương Thiệu Tước… vẫn còn hoạt động mạnh, các nhà văn nhà thơ trong thế hệ này không còn sức thu hút như trước mặc dù họ vẫn có mặt trên văn đàn; Nhất Linh với tờ Văn hoá ngày nay và hai tác phẩm giá trị Xóm Cầu Mới Dòng sông Thanh Thuỷ, Vũ Hoàng Chương vẫn làm thơ, vẫn được mọi người xưng tụng, nhưng dường như các ông đã bị thời đại và lớp trẻ đẩy lùi vào quá khứ. Đinh Hùng là trường hợp đặc biệt sự nghiệp thi ca bắc cầu giữa thời tiền chiến và chia đôi Nam Bắc, nhưng thơ Đinh Hùng mang dấu vết của thời lãng mạn, trở thành một giá trị “cổ điển”. (Đọc tiếp…)

Thư tay gửi Bộ chính trị của Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh

Nguyễn Trọng Vĩnh/BVN

NQL:Hiếm thấy ai ở tuổi 99 nét bút vẫn rắn rỏi, lời lẽ vẫn mạch lạc sáng sủa và tinh thần vị quốc vong thân của một người lính vẫn rực cháy trong trái tim yêu nước như vị tướng già Nguyễn Trọng Vĩnh. Cảm phục thay!

Trong cuộc đấu tranh, chúng ta chỉ còn có 1 thứ vũ khí khả dĩ chặn hành động xâm lược của TQ là kiện. Cơ hội này nếu không kiên quyết thoát ra khỏi vòng tay kìm kẹp của TQ, tìm những bạn thân mới thì việc mất biển, đảo là điều khó tránh khỏi và hơn nữa trong tương lai trở thành 1 thứ thuộc địa kiểu của chủ nghĩa bành trướng bá quyền Đại Hán cũng không phải là chuyện hoang đường“.

Theo BVN

 

 Ai tiếp tay cho ông Hồ Xuân Mãn thành “anh hùng”?

Hoàng Quân/CA Tp HCM 
Ông Hồ Xuân Mãn- Ảnh Intrernet
Ban Bí thư vừa kết luận xem xét hủy bỏ quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang (LLVT) nhân dân của ông Hồ Xuân Mãn (nguyên Ủy viên Trung ương (UVTƯ) Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên – Huế). Ông Mãn khai man, gian dối, ‘chạy” thành tích và có sự “tiếp tay” của không ít cán bộ. Phóng viên Báo Công an TPHCM đã tìm ra nhiều sự thật xung quanh vụ việc này.

KHAI MAN ĐỂ ĐƯỢC PHONG ANH HÙNG 

Trong Đại hội thi đua yêu nước tỉnh Thừa Thiên – Huế lần thứ ba vào ngày 21-8-2010, ông Hồ Xuân Mãn được trao tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân (gọi tắt là danh hiệu Anh hùng). Đây là vinh dự lớn không chỉ của ông Mãn mà đối với toàn thể nhân dân cố đô Huế. Một tháng sau, ông Mãn về hưu sau hai nhiệm kỳ làm Bí thư Tỉnh ủy (2000 – 2010).

Ngày 2-1-2014, đoàn công tác Ủy ban Kiểm tra (UBKT) Trung ương (T.Ư) Đảng có buổi làm việc thông báo kết luận với nội dung: Ban thi đua – khen thưởng T.Ư báo cáo các cơ quan chức năng Nhà nước có thẩm quyền xem xét hủy bỏ quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng và thu hồi hiện vật, tiền thưởng của ông Mãn; đồng thời UBKT T.Ư chỉ đạo các cơ quan liên quan kiểm điểm làm rõ trách nhiệm và xử lý theo quy định đối với các tổ chức, cá nhân có liên quan đã để xảy ra các vi phạm, khuyết điểm trong việc xét đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng cho ông Mãn. Theo kết luận của UBKT T.Ư, 17 thành tích mà ông Mãn khai chỉ đúng có hai. Tuy nhiên, một trong hai thành tích lại gây hậu quả xấu, đó là diệt giặc nhưng làm tổn hại đến cách mạng, nhân dân địa phương.

Như vậy, 15 thành tích còn lại ông Mãn khai đều là bịa đặt, gian dối như: đã tự tổ chức đơn vị đánh gần 100 trận, diệt 150 tên Mỹ – Ngụy, phá hủy 1 máy bay, 37 xe quân sự (1969 – 1975); dẫn đường cho Quân đoàn 2 giải phóng Huế và truy quét ngụy quân, ngụy quyền… Thành tích “láo” đồng nghĩa với những tặng thưởng cũng được nghi vấn là giả mạo: 33 lần được tặng Dũng sĩ diệt Mỹ; Chiến sĩ thi đua; các Huân chương Chiến công, Giải phóng; Kháng chiến các hạng…

Kết quả trên gây chấn động dư luận, nhưng không làm mọi người bất ngờ bởi chuyện danh hiệu Anh hùng của ông Mãn đã bị nghi ngờ và tố cáo từ lâu. Gần 20 cựu chiến binh (CCB), cán bộ hưu trí là những “nhân chứng sống”, những đồng đội, có người là chỉ huy của ông Mãn tố cáo ông cựu bí thư khai man, bịa đặt, cướp công đồng đội để được phong tặng danh hiệu Anh hùng.

Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, một anh hùng sẽ bị tước danh hiệu. Ông Nguyễn Ngọc Thiện, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên – Huế cho biết: “Sắp tới Tỉnh ủy sẽ thực hiện công việc theo kết luận của Ban Bí thư về thẩm quyền của tỉnh là xem xét sai sót, vi phạm các cơ quan, cá nhân trong tỉnh theo quy định. Dự kiến có thể ra Tết tiến hành kiểm điểm Ban Thường vụ Tỉnh ủy và các cá nhân liên quan”.

NHỮNG CÁ NHÂN, ĐƠN VỊ LIÊN QUAN SAI PHẠM 

  
 Ảnh bên:Vì đại cuộc, ông Hồ Văn Nghĩa cũng tố cáo, vạch trần người cháu của mình
Một con người “ưu tú, có thành tích xuất sắc” nhưng sau 10 năm làm cách mạng (như ông Mãn đã khai) mới được vào Đảng (năm 1974) và 25 năm sau ngày giải phóng mới được phong tặng danh hiệu Anh hùng, khiến nhân dân nghi ngờ, không phục. Ông Mãn tự làm thành tích, không có đơn vị vũ trang hay tập thể giới thiệu, bầu chọn mà được đơn vị công tác (Tỉnh ủy) xác nhận. Bản báo cáo thành tích được 15 người của Thường vụ Tỉnh ủy nhất trí với tỷ lệ 100%. Nghiêm trọng hơn, dù không ai biết cụ thể những việc ông Mãn làm, nhưng vẫn nhất trí với thành tích đó. Rồi hồ sơ lần lượt được chuyển đến Ban chỉ huy quân sự (CHQS) huyện, Bộ CHQS tỉnh, Quân khu 4, Bộ Quốc phòng và các ban ngành ở T.Ư.

Danh hiệu cao quý của Nhà nước trao nhầm người, là lỗi ở người khai đã bịa đặt. Nhưng cũng cần làm rõ trách nhiệm, sai phạm của cá nhân, tập thể đã “tê liệt”, để lọt hồ sơ giả. Trước đây, một số lãnh đạo tỉnh khẳng định với báo chí là việc xét tặng danh hiệu Anh hùng cho ông Mãn được thực hiện đúng quy trình, nguyên tắc. Thế nhưng những người tố cáo nói hồ sơ này đi trái nguyên tắc: từ trên xuống chứ không phải dưới lên (cơ sở đề nghị, cấp trên xét duyệt) và người ký chỉ việc ký, không được đọc, sao lưu…

Ông Hồ Viết Bá, Trưởng ban tổ chức Tỉnh ủy, lúc đó là Chánh Văn phòng Tỉnh ủy đã ký xác nhận vào bản báo cáo thành tích. Việc làm này không đúng thẩm quyền vì ông Bá không phải là cấp trên của ông Mãn. Ông Bá cho biết: “Ban Bí thư đã có kết luận rồi và UBKT T.Ư đang làm, tôi nói sẽ không khách quan. Nếu sai đến đâu, kỷ luật ra sao thì tôi xin chịu, chấp hành theo quyết định của UBKT T.Ư, bây giờ biết nói sao?”.

Thượng tá Nguyễn Văn Lương, nguyên Chỉ huy trưởng Ban CHQS huyện Phong Điền (đã nghỉ hưu) viết xác nhận: “Khi đang đương chức, là chỉ huy trưởng tôi có ký hồ sơ của anh Mãn và một số người khác nữa. Tôi có đọc thành tích của anh Mãn nhưng lâu rồi nên không nhớ hết”.

Đại tá Đặng Ngọc Nghĩa, Phó tham mưu trưởng Quân khu 4, nguyên Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Thừa Thiên – Huế (giai đoạn 2005 – 2011, một trong 15 người thuộc Thường vụ Tỉnh ủy từng ký xác nhận hồ sơ cho ông Mãn) thừa nhận: “Tôi ký vào tờ trình chấp hành theo nghị quyết của Thường vụ Tỉnh ủy. Lúc đó 100% thường vụ đều nhất trí, không ai phản đối gì. Ngành quân đội làm chặt chẽ từ Ban CHQS huyện lên tỉnh, sau đó đề nghị ra Quân khu 4, Tổng cục Chính trị – Bộ Quốc phòng rồi Nhà nước. Lúc đó ông Mãn là Bí thư Tỉnh ủy, ông cũng có công qua hai nhiệm kỳ. Tôi là lớp hậu sinh, ông Mãn khai thế nào thì biết vậy và ông ấy phải chịu trách nhiệm về lời khai”.

Thường vụ Tỉnh ủy lúc đó gồm 15 người là cán bộ chủ chốt của Đảng, chính quyền, lực lượng vũ trang và các ban ngành của tỉnh, hiện đa số đều đang đương chức hoặc chức vụ cao hơn. Với câu hỏi: 15 người nhất trí với hồ sơ của ông Mãn mà không phát hiện ra bất thường, không ai phản đối gì mặc dù không rõ về thành tích của ông Mãn?


Những nhân chứng sống vạch trần sự gian dối của ông Mãn
Tiếp tục liên hệ với lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Hội đồng cùng Ban thi đua khen thưởng tỉnh để tìm hiểu về tờ trình, hồ sơ đề nghị xét tặng danh hiệu Anh hùng cho ông Mãn, chúng tôi đều nhận được câu trả lời là “bận họp” hoặc gặp “UBKT T.Ư mà hỏi”. Chiều 6-1-2014, phóng viên liên hệ với ông Lê Hồng Liêm, Phó chủ nhiệm UBKT T.Ư thì ông nói đang họp ở Hà Nội và không thể trả lời qua điện thoại.

“ÔNG MÃN MÀ ANH HÙNG THÌ HUẾ CÓ HÀNG NGHÌN NGƯỜI”

 Các CCB, cán bộ hưu trí – những người vạch trần sự gian dối của ông Hồ Xuân Mãn đã nói như thế. Ông Hoàng Phước Sum (trung tá), nguyên Đội trưởng An ninh huyện Phong Điền) cho biết: “Hay tin Mãn được phong anh hùng, nhân dân Phong Điền và nhiều nơi trong nước phản ứng dữ lắm. Mãn mà anh hùng thì hàng nghìn người ở Huế cũng là anh hùng. Chúng tôi (gần 20 cán bộ hưu trí, CCB) là những đồng đội, nhiều người là cấp trên của Mãn, cùng chiến đấu, cùng quê với Mãn, quá hiểu về Mãn. Lúc đó, anh em đã làm đơn khiếu nại nhưng không được trả lời, giải quyết. Đến khi có bản báo cáo thành tích của Mãn, anh em mới có cơ sở để tố cáo. Nay Ban Bí thư có kết luận Mãn bịa đặt thành tích và đang xem xét thu hồi danh hiệu. Anh em phấn khởi lắm vì vụ việc nhạy cảm và phức tạp đã được T.Ư giải quyết khách quan, nghiêm minh”.
 
Các CCB cho biết nguyên nhân vạch trần Hồ Xuân Mãn là vì uy tín, sự trong sạch của Đảng; vì danh dự của quân đội, trách nhiệm đối với những liệt sĩ; vì sự thật chứ không hề có tư thù cá nhân. Trong quá trình chống tiêu cực, những người tố cáo tự bỏ tiền túi ra đi nhiều nơi để thu thập tài liệu, chứng cứ; tìm thêm nhân chứng; gặp lãnh đạo, ban ngành có liên quan. Trong thời gian đó, họ đối diện với nhiều cạm bẫy, nguy hiểm: bị mua chuộc, dụ dỗ, tung tin thất thiệt, đe dọa, hành hung… Việc này đã được báo cáo đến cơ quan ban ngành từ T.Ư đến địa phương đề nghị làm rõ, nhưng nay vẫn chưa có kết quả.

Thật đau đớn khi những người cùng chiến đấu với Hồ Xuân Mãn không ai xem là đồng đội, bởi ông ta đã cướp công của chính đồng đội mình. Ông Mãn còn bị chính người trong dòng tộc tố cáo, tẩy chay. Ông Hồ Văn Nghĩa, nguyên Trưởng ban an ninh huyện Phong Điền, chú ông Mãn cho rằng bị ông Mãn lừa, cho người bịt mặt đến hành hung mình. “Mãn gian dối, bịa đặt thành tích. Chạy đua để nhận anh hùng làm chi cho nhục. Giờ nó còn mặt mũi nào về quê nhìn anh em, họ hàng, làng xóm”, ông Nghĩa nói.

Các CCB tiếp tục đề nghị thu hồi danh hiệu “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” của ông Mãn. Năm 2010, ông Mãn là một trong ba Bí thư Tỉnh ủy tiêu biểu của cả nước được tuyên dương vì có nhiều thành tích trong cuộc vận động này. Bởi theo ông Hoàng Phước Sum: “Mãn khai bịa đặt để được anh hùng thì không đủ tư cách, đạo đức, phẩm chất để cho các thế hệ học tập, noi theo”. Trong lần biểu dương đó, ông Mãn kể lại chuyện trong một lần đi công tác về, được vợ chuyển cho tập tài liệu kèm theo phong bì, bên trong có 3.000 USD. Ông liền mang đến báo cáo cơ quan và công an. Ông Sum nói: “Chuyện này khó tin quá, không ai chứng thực cả. Không ai đi đưa tài liệu cùng phong bì mà không nói tên, nói rõ mục đích”.

CHUYỆN VỀ ÔNG “VUA CỐ ĐÔ”

 Cái tên Hồ Xuân Mãn rất “nổi tiếng”. Những ngày này, người dân bàn tán sôi nổi và bày tỏ vui mừng vì T.Ư kiên quyết thu hồi danh hiệu Anh hùng đã trao nhầm và đang chỉ đạo cơ quan chức năng tiếp tục xử lý cán bộ vi phạm. Ban Bí thư chưa kỷ luật ông Mãn vì căn cứ Quy định 181 của Bộ Chính trị, theo tờ trình của Hội đồng chuyên môn bệnh viện sức khỏe miền Trung thì ông Mãn đang bị bệnh hiểm nghèo. Như vậy đến khi nào cơ quan chức năng xác nhận ông Mãn hết bệnh hiểm nghèo thì mới kỷ luật?

Những người tố cáo lại cho biết, ông Mãn vẫn đi lại bình thường và vẫn xuất hiện ở nhiều nơi. Ông Hoàng Tiến Dũng, một người đứng đơn tố cáo cho biết: “Tháng trước, Mãn đi dự đám cưới con của một lãnh đạo huyện tại xã Phong Hiền, cũng có ăn nhậu. Ông Mãn hát ba bài, trong đó có bài “Cuộc đời vẫn đẹp sao”… Ngày 21-12-2013, ông Mãn ăn nhậu tại nhà cộng đồng thôn Vĩnh Hương, xã Phong An, cũng hát hò”. Ngày 3-3-2013, ông Mãn có mặt trong buổi lễ trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới cho GS.TS Bùi Đức Phú, Giám đốc Bệnh viện Trung ương Huế. Và người dân xôn xao mỉa mai: Anh hùng dỏm đi dự lễ của anh hùng thật. Ngày 31-12, có mặt trong buổi lễ kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, ông Mãn ngồi ở một góc hội trường với vẻ buồn rầu…

Lúc còn đương chức, quyền lực ông Mãn đi kèm với tai tiếng. Trong bài “Đất cố đô có vua” (Báo Lao Động ngày 26-11-2005) và một số bài báo khác nói về ông cán bộ to nhất tỉnh đi nhậu ở một nhà hàng. Đoạn cao trào, “vua” ghì đầu cô gái hôn vào má trước mặt nhiều người. Cô gái vừa chửi “đồ mất dạy” vừa tát vào mặt “vua”. “Vua” liền hô hào nói chủ nhà hàng đuổi ngay cô tiếp viên. Vụ việc trên vẫn còn được nhiều người kể đến hôm nay. Ông Thương (trú phường Vỹ Dạ, TP.Huế), chủ một nhà hàng cho biết: “Trước đây, một số báo viết về ông Bí thư sàm sỡ nhân viên ở nhà hàng C.A, phường V., TP.Huế. Nhà hàng tôi tên Châu Anh, mọi người tưởng là xảy ra ở đó. Rồi khách vắng dần, tôi buôn bán không được phải trả lại mặt bằng, đi chỗ khác làm ăn. Có thể sự việc xảy ra ở một nhà hàng thân thiết của ông Bí thư. Tôi được nghe ông bí thư có “bảo kê” cho một người tên M. mở nhà hàng “Nhất Hồ”, nghĩa là: nhất Hồ Xuân Mãn và khu ăn chơi giải trí lớn ở thị xã Hương Trà. Thằng M. vốn sửa xe dạo, lang thang bụi đời nhờ có cha thân với ông bí thư mà phất lên nhanh chóng. Rồi M. thành lập Công ty vận tải Nhất Hồ nhưng sau đó tan rã từ khi ông bí thư về hưu”.

Ông Mãn có thú tiêu khiển là săn bắn chim. Cách đây 19 năm, trong một lần đi săn, đạn lạc làm chị H.T.T.P (43 tuổi, trú huyện Phong Điền) bị trọng thương. Sau chuyện đó, người dân mỗi lần thấy ông Mãn xách súng đi bắn chim thì tránh xa kẻo… lãnh đạn.

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 14.07.2014

TUÂN NGUYỄN – TÔI LÀ NGƯỜI CÓ LỖI…

                 TUÂN NGUYỄN – TÔI LÀ NGƯỜI CÓ LỖI

                       ( Nhân đọc sách  Nhớ Tuân Nguyễn )

 NGÔ MINH

                Nhà văn Trần Phương Trà, người Huế ở Hà Nội vừa gửi tặng tôi cuốn sách “ Nhớ Tuân Nguyễn” do anh sưu tầm và biên soạn ( NXB Hội Nhà văn, 2008). Cuốn sách 420 trang dày dặn là tập hợp đầy đủ nhất về tính cách, sáng tác và cuộc đời đau đớn của nhà thơ Tuân Nguyễn và những kỷ niệm sâu sắc của bạn bè về anh. Đã 25 năm Tuân Nguyễn  về cõi vĩnh hằng, hình ảnh của anh, thơ ca của anh vẫn nóng hổi nước mắt trong tâm trí bạn bè. Điều ấy không dễ có. Họ vẫn lưu giữ thơ anh, vẫn thuộc thơ anh để chép lại cho người biên soạn sách. Đọc xong tập sách, tôi xúc động thẫn thờ . Trong tôi cứ nhói lên một câu hỏi : Sao người trí thức trẻ ấy lại lâm vòng lao lý oan khiên  làm vậy ?  Trong bài “ Tuân Nguyễn- Kẻ mơ mộng”, Hà Nhật kể :” Buổi chiều ngồi nói chuyện với Cao Xuân Hạo về Tuân Nguyễn, Hạo buông một câu nghe là lạnh người : Tuân Nguyễn sinh ra ở đời là để đóng cái vai trò này : Khi có ai đó muốn kêu lên :” Trời ơi sao mà tôi khổ thế ?”, thì nhìn vào Tuân Nguyễn  sẽ thấy mình chưa phải là người khổ”. (Đọc tiếp…)

 

Chương trình Nhịp Cầu Hoàng Sa chính thức giao nhà cho bà quả phụ Hải quân trung tá Ngụy Văn Thà

Huy Đức

Hôm nay, 11-7-2014, Chương trình Nhịp Cầu Hoàng Sa chính thức giao nhà cho bà quả phụ Hải quân trung tá Ngụy Văn Thà (nhũ danh Huỳnh Thị Sinh), đó là một căn hộ 3 phòng, rộng hơn 60 m2 nằm trên tầng năm (5.05) cao ốc B – Nguyễn Kim, phường 7, Quận 10. Đây là lần đầu tiên bà Huỳnh Thị Sinh có quyền sở hữu nhà.

Hải quân Trung tá Ngụy Văn Thà, Hạm trưởng Chiến hạm Nhật Tảo (HQ-10), cùng với 73 người lính Việt Nam Cộng hòa khác, hy sinh trong trận Hải chiến Hoàng Sa chống lại quân Trung Quốc ngày 19-1-1974. Khi chồng hy sinh, bà Huỳnh Thị Sinh chỉ mới 26 tuổi. Trong suốt 40 năm qua, bà Sinh đã âm thầm thờ chồng, lặng lẽ nuôi ba con gái trong căn hộ ấy mà vợ chồng bà đã sống từ năm 1973 đến năm 2009, khi chung cư bị giải tỏa để xây những cao ốc mới.

Bà Sinh đăng ký nhận một căn hộ tái định cư kèm theo một khoản tiền hỗ trợ là 546 triệu đồng. Tuy nhiên, suốt 5 năm qua, khu tái định cư chưa hề có dấu hiệu khởi công. Do tuổi cao sức yếu, bà Sinh có nguyện vọng muốn chuyển sang mua một căn hộ trong khu kinh doanh (xây dựng trên nền chung cư Nguyễn Kim trước đây). Từ ngày 15-2-2014, chúng tôi đã bắt đầu cùng bà xúc tiến thủ tục, nhưng phải tới nay, sau gần năm tháng, việc mua nhà cho bà Huỳnh Thị Sinh mới hoàn thành.

Căn hộ mới có giá bán (bao gồm cả thuế) lên tới 1.343.797.981 VNĐ. Trong thời gian chờ nhà tái định cư, Nhà nước đã chi một số tiền để bà Sinh thuê nhà, cho nên “khoản tiền hỗ trợ” 546 triệu bị trừ đi, còn 229.505.000 VNĐ. Nhịp Cầu Hoàng Sa đã chi trả toàn bộ số tiền còn lại là 1.114.292.981 VNĐ. Số tiền này cao hơn rất nhiều so với mức mà chúng tôi dự tính (750 triệu đồng).

Với mức 750 triệu đồng, chúng tôi có thể mua một căn hộ ở ngoại ô. Nhưng, cả đời bà Huỳnh Thị Sinh đã gắn bó với nơi đây; các anh, em ruột của bà cũng đang sinh sống quanh đây. Nguyện vọng của bà là có một căn hộ ở nơi mà anh em có thể qua lại thăm nhau, bà có thể phụ giúp các cháu buôn bán.

Sau nhiều lần trao đổi với bà Huỳnh Thị Sinh và các thành viên Nhịp Cầu Hoàng Sa, chúng tôi quyết định mua căn hộ này. Tuy mức giá vượt quá xa so với dự toán ban đầu nhưng chúng tôi nghĩ rằng, ý nghĩa của ngôi nhà sẽ không còn trọn vẹn nếu nó làm đảo lộn cuộc sống thường nhật của bà Huỳnh Thị Sinh và khiến bà phải xa nơi đầy ắp kỷ niệm với người chồng mà bà đã dành trọn tuổi xuân thờ phụng.

Nhịp Cầu Hoàng Sa là một chương trình được khởi xướng từ ngày 7-1-2014 bởi một nhóm các nhà báo: Vũ Kim Hạnh, Cựu TBT Tuổi Trẻ; Nguyễn Thế Thanh, Cựu TBT báo Phụ Nữ TP; TS Nguyễn Thị Hậu, kỹ sư Đỗ Thái Bình…  Sau hơn sáu tháng vận động, Chương trình đã nhận được sự ủng hộ bằng tiền, bằng hiện vật từ hơn 524 lượt đóng góp với tổng số tiền là 1.711.965.042 VNĐ.

Trong dịp Tết Giáp Ngọ, Nhịp Cầu Hoàng Sa đã gửi tặng 10 phần quà, mỗi phần 5 triệu đồng tới 5 gia đình Hoàng Sa và 5 gia đình Gạc Ma. Cùng thời gian xúc tiến việc mua căn hộ này cho bà quả phụ Ngụy Văn Thà, Nhịp Cầu Hoàng Sa chi 320 triệu đồng giúp cựu binh Gạc Ma Lê Hữu Thảo mua một lô đất ở thành phố Hà Tĩnh và sẽ chi thêm 80 triệu giúp anh Thảo xây nhà; Nhịp Cầu Hoàng Sa cũng đang xúc tiến thủ tục để giúp bà Hồ Thị Đức – mẹ của thiếu úy Trần Văn Phương, anh hùng trong trận hải chiến Gạc Ma – sửa nhà ở Quảng Bình.

Như đã cam kết với các bạn, Nhịp Cầu Hoàng Sa sẽ tiếp tục vận động để giúp bà quả phụ Hải quân thiếu tá Nguyễn Thành Trí cải thiện chỗ ở; giúp các gia đình Hoàng Sa, Gạc Ma khác vượt qua hoàn cảnh khó khăn.

Nhịp Cầu Hoàng Sa xin thông báo kết quả ban đầu này, xin chân thành cám ơn toàn thể các bạn đã quan tâm và nhiệt tình ủng hộ.

H.Đ.

(Nguồn :BVN)

 

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 13.07.2014

BÁC TÔ HOÀI

 

Nhà văn Tô Hoài tai Hội Nhà Văn Hà Nội

     Lúc ấy là khoảng 14h chiều. Anh Bằng Việt thảng thốt gọi cho tôi: Kha ơi, cụ Tô Hoài mất rồi, lúc 11h. Lặng đi kể từ giây phút ấy. Ngày 6 tháng 7 năm 2014.

     Rồi cũng bắt đầu anh Bằng Việt đi đâu thì tôi đi đấy để cùng anh Phương Vũ con trai út của Nhà văn, cùng cơ quan lo việc cho Cụ. Vũ không ngủ mấy hôm liền, thì mấy anh em tôi cũng căng ra khác gì con cái Cụ.

      Tôi lăng xăng về  19 Hàng Buồm khoảng đầu những năm 90 thế kỷ trước. lúc đó Nhà văn Tô Hoài là Chủ tịch Hội Văn Nghệ Hà Nội (từ năm 1996 mới thành Hội Liên hiệp, còn giờ thì đang chuyển sang Liên hiệp Hội). Làm hẳn thì khoảng năm 1994, 1995  nhưng dạng amatơ, hay nói như anh Vũ Quần Phương lúc ấy là Tổng Biên tập báo Người Hà Nội: “Kha ở Hàng Buồm chỉ nên giữ vai khách!”. Tôi giữ mãi cách ấy cho đến năm 1999 khi anh Bằng Việt từ Hội đồng Nhân dân Thành phố trở về làm Chủ tịch Hội thì mới nửa chủ nửa khách cho tới tận giờ.

     Tức là tôi cũng được khoảng 4 năm làm dưới trướng Bác Tô Hoài vì lúc ấy tôi giúp việc cho anh Bùi Việt Mỹ, khi đó là Chánh Văn phòng Hội, nay là Tổng Biên tập báo Người Hà Nội.

     Vậy tôi là quân nhà của Cụ. Là khi tôi in tập thơ thứ hai năm 1996. Chính nhà văn Tô Hoài đọc và chịu trách nhiệm bản thảo. Cụ tinh khiếp lắm. Cụ ghi từng bài bằng bút bi đỏ, chỉ ra một bài thơ tình kiểu sexy nhưng thô. Lúc ngồi ở quán Nghệ sĩ phố Mã Mây Cụ mới nói hồi mới vào nghề cụ có làm thơ nhưng nghiệp văn sinh kế lôi Cụ theo như một người tình, đành vậy.

     Thực ra, đến bây giờ, dù được gặp Cụ rất nhiều lần, trong quãng thời gian 20 năm có lẻ, tôi vẫn thấy nhà văn Tô Hoài thuộc hàng tiền bối, thân gần đấy nhưng cũng khách sáo lắm. Tôi hay được Cụ gọi ra Mỹ Kinh (ở phố Hàng Buồm) uống bia. Cụ thích và sành bia hơi. Ăn ít, có khi chỉ mấy lát giò lụa. sau năm 1988 nghỉ công việc ở Hà Nội, cụ uống bia chai Hà Nội. Mấy năm nay thì toàn uống rượu vang đỏ của Pháp hoặc Chi Lê. Tôi thấy Cụ ít cà phê trà lá. Cụ Tô Hoài đôi lúc cởi mở, kể chuyện, dù gì cũng rất duyên.

     Nhà văn Tô Hoài là một kho kiến thức, một cây từ điển viết hoa. Có lẽ thứ nhất là ở cách đọc, dù là quyển sách hay tờ báo. Cụ đọc hết, kể cả mục quảng cáo. Đọc để biết, để triết, để viết. Thứ hai là cách làm việc. Chỉ khi đối diện với trang giấy để sáng tác cụ mới chăm chỉ nghiêm cẩn, còn những lúc công tư quan trọng đời thường thấy Cụ thanh thản cứ như không. Làm nghề văn như cụ là hiếm có. Sống một đời cách mạng, đời văn sĩ, đời thường, đời lãng tử như Cụ cũng chỉ ít người.

     Lại nói về nghề văn.

     Tôi cũng thuộc dạng tập ngông hạng điếc không sợ súng. Làm thơ thấy cạn là tôi viết truyện ngắn. Nhớ cái truyện Mèo lại do anh họa sĩ Công Quốc Hà minh họa năm 1998 số Tết báo Người Hà Nội do anh Hồ Xuân Sơn làm Tổng Biên tập. Đọc xong Cụ bảo cậu chưa biết kết. Thì tôi viết đến đoạn cho vợ chồng người ta cùng chung lại phấn đấu làm ăn, đổi đời, ngòi bút cứ loay hoay đành tóm vài lời dông dài triết lý vụn cho xong. Thế mà Bác Tô Hoài vẫn nhận ra.

     Tôi học nhiều ở Cụ cách sử dụng từ, nhưng cúng chỉ ở hàng Thượng sĩ. Điều khiển đội quân chữ nghĩa, cụ là Thống soái văn chương. Những giống đực, giống cái, giống trung (tạm chia ra mô phỏng từ nước ngoài chứ tiếng Việt không tách bạch như vậy) vào văn cụ là đúng nơi không thay đổi được.

Chả thế mà ở tác phẩm Dế mèn phiêu lưu ký bất tử xuất bản năm 1941, Bác Tô Hoài có thể nói đã chững chạc ngồi vào vị trí các văn hào thế giới. Nhân vật Dế mèn, có thể nói, sánh ngang được với nhân vật AQ của Lỗ Tấn. Chỉ khác là sau 30 năm, cậu AQ của cách mạng Tân Hợi thụ động và dốt nát đã phải nhường chỗ cho chàng Dế mèn ôm hoài bão  độc lập khám phá, hiểu biết, và hiện đại cùng lý tưởng thế giới đại đồng. Ấy là vì dù nằm trong khung cảnh và phong tục phương Đông, nhưng Dế mèn đã là một kiểu nhân vật nhân văn – triết lý nhân sinh đậm đặc chất văn hóa nhân bản.

    Nhà văn Tô Hoài là một trong những người thành công nhất khi dùng phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa trong sáng tác, mà tác phẩm Miền Tây, đặc biệt là truyện Vợ chồng A Phủ là một minh chứng. Khi chuyển sang bộ phim cùng tên do Nhà văn viết kịch bản, cùng các diễn viên tài năng và bài hát nhạc phim Bài ca trên núi, từ ấy đến giờ vẫn làm rung động hàng triệu triệu người mấy thế hệ Việt Nam.

     Chuyện Cũ Hà Nội lại là một thành công, có lẽ là lớn nhất về con người, khung cảnh, tập tục, lối sống năm mươi năm đầu thế kỷ XX mà ngoài Bác Tô Hoài ra, chắc ít người làm được. Những hồi ức như được một thư ký thời đại viết ra dựng lại một thời sống động đầy ý nghĩa làm cho ta cảm phục sức nhớ, sức viết của Nhà văn, mà những biến động thời cuộc, những thay đổi thế nhân không thể làm đổi thay chí hướng.

     Tôi đã say mê đọc Cát bụi chân ai, Chiều chiều, Ba người khác. Gọi là hồi ký cũng được, hồi ức tiểu thuyết cũng được, Đó thực sự là lịch sử – lịch sử con người xã hội. Giọng văn hóm hỉnh, bi và hài xen nhau, nói về mình mà như tự sự, tưởng lạnh lùng mà thấm thiết lắm. Viết về cái khốn khổ khốn nạn của những kiếp người nhưng không miệt thị hạ thấp, tưởng phải là thứ văn người tâm đạo mới kham nổi.

     Hôm vào thăm Bác ở Bệnh viện Việt Xô, thấy cô y tá cứ nhem nhẻm gọi anh Hoài trêu Bác, mà mắt Bác vẫn sáng ánh lên hóm hỉnh, tưởng còn lâu Cụ mới rời xa cõi tạm, mà nay Bác Dế mèn đã phiêu lưu sang thế giới người Hiền (chữ dùng của nhà thơ Bằng Việt). Đành rằng sinh biệt tử ly là đau thương mất mát, mà sao hụt hẫng cứ thường trực thế này. Muốn nói nhiều lại nhớ Bác Tô Hoài dặn lúc sinh thời, đã là nghề văn phải chú tâm vào viết. Lớp hậu sinh chúng cháu kính cẩn “cao sơn – cảnh hành”.

     Ngoài trời mấy hôm nay hình như mưa nhiều!

                                    Ngày 12/7/2014

    ( Nguồn :nguyentrongtao…)

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 12.07.2014

Nước mắt Vị Xuyên

 

Nước mắt Vị Xuyên

TT – 30 năm sau trận chiến tàn khốc, những người lính của sư đoàn 356 trở về chiến trường Vị Xuyên. Những “đồi thịt băm”, chỏm yên ngựa, thung lũng chết… vẫn luôn hằn trong hồi ức của họ.

 

 

 

Business Insider: Việt Nam đứng thứ 23/35 quân đội hùng mạnh nhất thế giới

 

(TNO) Trang tin Business Insider (Mỹ) ngày 10.7 đăng tải bảng xếp hạng 35 quân đội mạnh nhất thế giới, trong đó Việt Nam đứng hàng thứ 23.

 alt
Tàu hộ vệ tên lửa Đinh Tiên Hoàng của Việt Nam – Ảnh: Tấn Tú

Đứng đầu bảng xếp hạng là Mỹ, tiếp theo là Nga và thứ ba là Trung Quốc.

Business Insider đưa ra bảng xếp hạng này dựa vào chỉ số Global Firepower Index (tạm dịch: chỉ số sức mạnh quân sự toàn cầu, gọi tắt GFI) tại địa chỉ globalfirepower.com.

Trang globalfirepower.com đã đưa ra bảng thống kê sức mạnh quân sự của 106 quốc gia trên thế giới dựa trên 50 yếu tố, ngân sách quốc phòng, binh sĩ, khí tài quân sự…

Bảng xếp hạng của GFI được công bố vào tháng 4.2014. Trang globalfirepower.com cho rằng trong những số liệu đưa ra để làm nên bảng xếp hạng, một số được công bố công khai, còn lại là do ước tính.

Những thông số này chỉ mang tính tương đối và vẫn đang được tiếp tục điều chỉnh, theo globalfirepower.com.

“Quân đội Việt Nam được cung cấp nhiều khí tài quân sự từ các nước như Nga, Ấn Độ, Ukraine và Israel”, theo globalfirepower.com.

Theo globalfirepower.com, với dân số 92.477.857 và nguồn nhân lực có sẵn là 50.645.430 người, quân đội Việt Nam hiện có 412.000 binh sĩ, và 5.040.000 lính dự bị.

Globalfirepower.com cho hay quân đội Việt Nam hiện sở hữu 3.200 xe tăng, 413 máy bay quân sự (trong đó có 209 chiến đấu cơ), sức mạnh hải quân với 65 tàu trong đó có tàu ngầm lớp Kilo và ngân sách quốc phòng là 3.365.000.000 USD.

(Nguồn : thanhnienonline)

 

 

THẢO LUẬN THOÁT TRUNG VỀ VĂN HOÁ (10) THOÁT TRUNG RỐT CUỘC LÀ THOÁT GÌ?

  Nguyễn Ngọc Lanh

  Thoát Trung là thoát sự lệ thuộc vào Trung Quốc. Vì, đã lệ thuộc, dù ít, dù đó là nước cùng lý tưởng… nền độc lập sẽ không thể toàn vẹn.

Về địa lý, số phận đã an bài, chúng ta không thể (và cũng không cần thiết) thoát Trung. Vĩnh viễn, ta và TQ là lân bang.

Do đâu lệ thuộc?

Lân bang và lệ thuộc là những khái niệm khác nhau, không liên quan. Tuy nhiên, một nước vừa “nhược” vừa “tiểu”, lại có lân bang hùng mạnh và văn minh hơn, trước sau sẽ là nạn nhân của mưu đồ thôn tính, đồng hóa, thậm chí tiêu diệt. Đây là quy luật của lịch sử mà loài người đã trải qua, từ thượng cổ cho tới thời kỳ văn minh nông nghiệp. Chúng ta mất nước, đưa đến họa Bắc thuộc và Pháp thuộc là do vậy.

 

Tuy nhiên, so với sức mạnh vật chất thì văn minh (văn hóa) mới là cái gốc, mới lâu bền. Mông Cổ và Mãn Thanh từng chinh phục Trung Quốc bằng sức mạnh, nhưng sau một-hai trăm năm cai trị, chính giới cầm quyền đã bị trình độ văn minh của Trung Quốc đồng hóa. Và sau đó, chính Mông Mãn còn bị TQ nuốt lại. Bởi vậy, khi đã bị lệ thuộc hoặc mất nước, sự kháng cự về văn hóa (để khỏi bị đồng hóa) mới thật sự là “thiên nan, vạn nan” và trường kỳ gian khổ. Đó là hoàn cảnh tổ tiên ta từ ngàn năm trước. Tới khi Ngô Quyền mở ra kỷ nguyên độc lập, thì cũng chỉ là độc lập “tương đối”. Tổ tiên ta không thể sáng tạo hay du nhập ý thức hệ nào khác – ngoài ý thức hệ phong kiến, mà chủ thuyết là đạo Nho của Khổng tử. Cái lợi là chế độ phong kiến ở Việt Nam được củng cố, phát triển, thực hiện được thiên chức do lịch sử trao. Cái hại là Việt Nam lệ thuộc và rất ham ngưỡng vọng văn minh Trung Quốc.

Vẫn rất thời sự

Tới thế kỷ XX, chúng ta vẫn còn lại phần đất hiện nay (mất lưỡng Quảng thời nhà Triệu), chứng tỏ tổ tiên ta đã nhiều lần “thoát Trung” thành công và không thành công. May, đến nay chuyện các dân tộc chinh phục, đồng hóa hoặc tiêu diệt nhau bằng bạo lực ngày càng khó xảy ra; nhưng sự nô dịch nhau bằng văn minh, văn hóa (bao gồm chính trị, chủ thuyết, ý thức hệ…) vẫn là chuyện rất thời sự. Chưa nói chuyện tự đeo gông và không tự tháo gông.

Nước Nga xô viết quy tụ được gần đủ các nước “anh em” (vốn là chư hầu của Nga hoàng) là nhờ giúp các nước đó lập đảng cộng sản – bất cần sự hình thành của giai cấp công nhân – chỉ cốt chung ý thức hệ (thế giới đại đồng). Bài học gì có thể rút ra?

Tiếp thu và đồng hóa những cái hay của kẻ đô hộ

Chỉ xin nêu 2 ví dụ: từ vựng và đạo Khổng

- Vốn từ vựng

Một dân tộc nhỏ yếu như Việt Nam trải ngàn năm bị đô hộ mà không bị diệt vong hoặc bị đồng hóa, chính một phần quan trọng là nhờ biết tiếp thu và đồng hóa những gì có lợi cho sự sống còn và phát triển của mình.

Kho từ ngữ và sự sáng tạo thêm từ ngữ (để đáp ứng các khái niệm mới nảy sinh) của một dân tộc nói lên trình độ văn minh của dân tộc đó. Do trình độ còn thấp, tổ tiên ta buộc phải tiếp thu chữ viết và các từ ngữ gốc Hán. Nhưng tổ tiên ta đã đồng hóa chúng và sử dụng nhuần nhuyễn theo cách của mình. Thoạt tiên, là Việt hóa triệt để cách đọc chữ Hán. Không khó gì phát âm “chung quở” nhưng chúng ta đọc là “trung quốc”. Tiếp đó là sáng tạo chữ Nôm; nhờ vậy giữ được ngữ pháp Việt, nhất là ghi lại được kho tàng văn hóa dân tộc (ca dao, tục ngữ, cổ tích) và dùng tiếng Việt để sáng tác (truyện Kiều). Sau cùng, là dùng chữ quốc ngữ thay hẳn chữ Hán và chữ Nôm. Tốn cả ngàn năm mới có kho từ vựng được đồng hóa như hiện nay, nếu nay muốn “thoát” thì chỉ có… chết!

- Đạo Khổng (Nho giáo)

Văn minh nông nghiệp là trình độ mà loài người phải trải qua sau thời kỳ mông muội, trong đó chế độ phong kiến là đương nhiên phù hợp. Thoạt đầu, do trình độ quản lý còn thấp, chế độ phong kiến chưa thể tập trung, mà phân tán, nhỏ lẻ… Chiến tranh giành đất đai sẽ liên miên (thời Xuân Thu – Chiến Quốc dài gần ngàn năm). Sự tiến hóa xã hội đòi hỏi tập quyền. Đạo Khổng ra đời đúng lúc, có tác dụng củng cố và phát triển chế độ này. Ở đây, không phải chỗ bàn vì sao đạo Khổng chỉ có thể ra đời ở phương Đông và vì sao chế độ phong kiến châu Á kéo dài quá lâu.

Sự tiếp thu đạo Khổng (từ đời Lý) là cần thiết cho Việt Nam. Mặc dù các vua Lý rất sùng đạo Phật, nhưng công lớn được lịch sử ghi lại là triều Lý mở đầu các kỳ thi Nho giáo để tuyển chọn quan lại. Đạo Phật (đề cao nhân ái và thiện căn) rất thích hợp khi đất nước còn phân tán, chia rẽ (nội chiến), nhưng không thể dùng để trị quốc – mà phải là đạo Khổng. Xin đừng oán trách đạo Khổng thời xa xưa và than vãn cho sự éo le của số phận dân tộc.

Chính sự lan tỏa của văn minh công nghiệp từ phương Tây sang châu Á là thời điểm đạo Khổng bộc lộ sự phản tiến bộ của nó. Tàn dư đạo Khổng quả là một tai họa với nước ta (có người gọi đó là thứ “văn hóa quỳ lạy”). Chỉ xin nêu 2 hiện tượng ai cũng trải (ai cũng từng đi học) để thấy di họa của đạo Khổng thâm căn tới mức nào. Khẩu hiệu Tiên học lễ, hậu học văn được đề cao suốt 4 đời bộ trưởng Giáo dục. Bộ này còn phát động phong trào “chữ đẹp” với thành tích cao nhất là lùa học sinh cả huyện đi thi… Éo le ở chỗ là nơi phát sinh đạo Khổng từ lâu đã không có 2 hiện tượng này.

Đạo Khổng bị gột rửa sớm nhất và triệt để nhất ở Nhật (duy tân), sau đó tới các nước “hóa rồng” khác: Đài Loan, Nam Hàn, Singapore. Đạo Khổng cũng bị thanh toán mạnh mẽ ngay ở Trung Quốc – quê hương nó. Mao đã phát động phong trào “phê phán Lâm Bưu và Khổng Tử” rầm rộ cách đây cả nửa thế kỷ.

Do vậy, việc dứt bỏ tàn dư của đạo này không mang ý nghĩa thoát Trung, mà là chuyện của riêng Việt Nam. Chính chúng ta đã không tự tháo chiếc gông trên cổ.

Trung Quốc: tấm gương tự “thoát” chính mình

Cũng chỉ xin nêu 2 ví dụ

- Mao Trạch Đông “bắt tay” đế quốc Mỹ

Hãy hỏi các cụ 80 tuổi để biết phong trào chống Mỹ – do đích thân Mao chủ tịch phát động – hừng hực cỡ nào ở đất nước tỷ dân. Đó là thập niên 60 và 70 thế kỷ trước. Quả là kỳ công, khi làm cho cả tỷ người tin Mỹ chỉ là “hổ giấy”. Trung Quốc quyết liệt chống Liên Xô (có nổ súng ở biên giới) với cái cớ là Khrusov chủ trương chung sống hòa bình với Mỹ – kẻ thù số 1 của CNXH. Nhưng… đùng một cái, năm 1972, chính Mao bắt tay Mỹ, và bị đảng VN phê phán gay gắt (phản bội đồng chí, phản bội ý thức hệ). Đảng Việt lên án Mao dựa trên quan điểm tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa; nhưng “đảng bạn” lại đặt ý thức hệ thấp hơn lợi ích dân tộc. Tranh luận với nhau vô ích.

- Đặng Tiểu Bình chủ trương “bốn hiện đại hóa”

Đặng bị mất mọi chức vụ trong “cách mạng văn hóa” vì cái tội nói rằng: Miễn là bắt được chuột, bất kể mèo trắng hay đen. Chủ nghĩa Mác-Lê chân chính đòi hỏi phải tập thể hóa sản xuất; nhưng phong trào “công xã hóa” nông nghiệp do Mao khởi xướng đã thất bại thê thảm (chết đói 30 triệu người). Câu nói của Đặng chỉ hàm một ý: Miễn là sản xuất phát triển (mục đích), còn tư nhân hóa hay tập thể hóa chỉ là biện pháp. Mao phát động “cách mạng văn hóa” để trừ khử những ai phê phán sai lầm của ông; do vậy Lưu Thiếu Kỳ là nạn nhân số 1; Đặng – với câu nói trên – là số 2.

Năm 1976, Đặng lấy lại địa vị cao, câu nói của ông trở thành nổi tiếng và mang ý nghĩa rộng lớn hơn nhiều. Nó ngầm nêu ý tưởng “thoát Mao” và thoát cả Mác-Lê. Trung Quốc cần hùng cường, bằng bất kể biện pháp nào.

Năm 1978, Đặng chủ trương “bốn hiện đại hóa”, bị đảng Việt phê phán nặng nề: Xa rời chủ nghĩa, rơi vào “vũng lầy” tư bản. Thực ra, Đặng coi lợi ích dân tộc là cao nhất, trong khi chưa dám “sổ toẹt” ý thức hệ chỉ vì phái bảo thủ còn rất mạnh.

Hội nghị Thành Đô 1990: thể hiện sự kiên định lý tưởng của phía VN

Về mặt trung thành với lý tưởng, đảng CSVN cao cả gấp bội so với đảng bạn bên Trung Quốc! Đảng TQ chính thức bị chúng ta coi là kẻ thù từ năm 1979 khi tiến hành chiến tranh xâm lược đẫm máu các tỉnh biên giới nước ta. Và thêm một lần chúng ta nhận ra: đây là kẻ thù truyền kiếp chứ có mới mẻ gì cho cam…

Không ai ở VN dám ngờ rằng chỉ 10 năm sau, khối XHCN Đông Âu bắt đầu tan vỡ mà Liên Xô cứ bỏ mặc (vì lo thân mình chưa xong!). Sự trung thành với ý thức hệ đã giúp đảng CSVN bỏ qua mối thù 1979 (bấy giờ được đảng coi là nhỏ, so với “đại cục”) để chủ động xin gặp gỡ đảng bạn, đề nghị chủ trì sự nghiệp cứu vãn phần còn lại của CNXH. Kết quả: Thành công; hội nghị Thành Đô 1990 đã đi đến những thỏa thuận (nào đó)…

Thoát Trung, rốt cuộc là “tự thoát”?

Xin nhường lời cho bạn đọc.

N.N.L.

( Nguồn : BVN)

 

 

 

Đối đáp giữa TBT Nguyễn Phú Trọng và Hồ Cẩm Đào năm 2011


Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trong cuộc gặp năm 2011 với Tổng bí thư Trung Quốc
Nguyễn Phú Trọng và Hồ Cẩm Đào, đối đáp 2011
Trong buổi nói chuyện ngày 9/7 tại kỳ họp thứ 14, HĐND TP.HCM, trung tướng Phạm Văn Dỹ – Chính ủy quân khu 7 đã đề cập đến cuộc nói chuyện giữa Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và ông Hồ Cẩm Đào vào năm 2011. Qua đó có thể thấy lãnh đạo Đảng ta đã có thái độ chính trực, mềm dẻo nhưng rất cương quyết khi đề cập đến vấn đề chủ quyền quốc gia.
Theo trung tướng Phạm Văn Dỹ, cuộc gặp diễn ra vào tháng 10/2011. Trong một buổi nói chuyện Tổng bí thư Trung Quốc khi đó là Hồ Cẩm Đào đã nói rất rõ với đại ý: “Tôi là người Trung Quốc tôi không nói Nam Sa – Tây Sa là của tôi thì tôi không phải là người Trung Quốc. Cũng như các đồng chí là người Việt Nam mà không nói Hoàng Sa – Trường Sa là của các đồng chí thì các đồng chí không phải là người Việt Nam”.
Bình luận về lập luận này Trung tướng Dỹ cho rằng đó là thứ lý lẽ ngụy biện bởi “một cái gì đó hoặc là của anh, hoặc là của tôi, làm gì có chuyện ai cũng nói là của tôi được”.
Cũng trong cuộc gặp này ông Hồ Cẩm Đào còn nói rằng đại ý: “Tôi không thể bỏ đường 9 đoạn được vì đường chín đoạn là cái lịch sử để lại, nếu chúng tôi bỏ nó thì người dân Trung Quốc không theo chúng tôi”.
Đáp lại câu này Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nói: “Các đồng chí nói sai rồi, cái đường đó đâu phải là đường lịch sử để lại. Đường đó là của Tưởng Giới Thạch. Chúng tôi và các đồng chí đều không công nhận Tưởng Giới Thạch vì thế làm sao có thể công nhận sản phẩm của họ!
Nếu các đồng chí nói lịch sử thì lẽ ra phải nói đến “Nhị thập tứ sử” hay “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ”.
Đến đây, Hồ Cẩm Đào chỉ còn biết im lặng…
* “Nhị thập tứ sử” là bộ chính sử được các triều đại Trung Quốc thừa nhận. Bộ sử ký này ghi chép từ Thượng cổ đến thời nhà Thanh. Trong đó các mục Địa lý đều không đề cập đến các hòn đảo ở xa hơn đảo Hải Nam.
* “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” - Tập bản đồ Địa dư toàn đồ tới các tỉnh của TQ được thực hiện dưới thời nhà Thanh, xuất bản năm 1904 trong đó ghi rõ cực Nam của Trung Quốc là đảo Hải Nam
 
( Nguồn : Nguyennguyenbay…)

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 10.07.2014

104 KIỂU HỐI LỘ KHÔNG THỂ NHẬN !

 

Đặng Huy Trứ 

104 KIỂU HỐI LỘ KHÔNG THỂ NHẬN !

 

           Ngô Minh

                              Mình thiệt, lợi dân, DÂN gắn bó

                             Đẽo dân ,mình béo, DÂN căn hờn

                             Hờn căm, gắn bó tùy ta cả

                             Duy chữ THANH, THANH đối thế nhân 

                                    (Đặng Huy Trứ)

          Đó là bốn đề từ cho cuốn sách có một không hai trong lịch sử nước ta :TỪ THỤ YẾU QUY (không thể nhận và có thể nhận). Đặng Huy Trứ  (1825- 1874) là ông quan nổi tiếng triều Nguyễn về đức thanh liêm. Không chỉ liêm khi đương chức, về cuối đời, khi đang bệnh nặng ở Trung Quốc, ông đã dốc hết trí tuệ và sinh lực  để soạn cuốn sách  dày 650 trang  bàn về nạn hối lộ và đức thanh liêm của người làm quan, gọi là Từ thụ yếu quy , rồi tự bỏ tiền túi ra in năm 1868, mong để lại cho đời sau những điều tâm huyết: Muốn làm quan phải luôn luôn tâm niệm có 104 thứ hối lộ không thể nhận. Cuốn sách cũng đưa ra những điển tích, những tấm gương sáng của người xưa về đức thanh liêm (Đọc tiếp…)

Còn cay đắng hơn cả câu chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy

Nguyễn Trung/ Viet-studies

Chẳng lẽ đốn đời đến mức phải nói lời cảm ơn với cái giàn khoan HD 981 hả trời đất!? Tôi cảm thấy xấu hổ trong lòng về ý nghĩ này, và quả thực  trong bụng có lúc tôi đã nghĩ như vậy!  

 

Sự thật là không ít các bạn đồng niên của tôi cũng có cách nghĩ như thế trước một thực tế đau lòng: Hàng chục năm nay, chí ít là từ khi anh Trần Quang Cơ trong cuốn Hồi ức và suy nghĩ  (2001) của mình đã giấy trắng mực đen cảnh báo rành rành trước cả nước về mối họa Thành Đô. Nhưng tất cả cứ như nước đổ đầu vịt! Các lời cảnh báo khác qua mấy khóa đại hội đảng cũng thế… (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 09.07.2014

TẬP CẬN BÌNH

 

Tập Cận Bình là người khát khao đưa nước Trung Hoa trở thành cường quốc số một thế giới. Khẩu hiệu “Giấc mơ Trung Hoa” của ông được người dân Trung Quốc hưởng ứng. Thế nhưng, đợt thanh trừng phe đối lập, dưới danh nghĩa chống tham nhũng “bắt cả hổ lẫn ruồi” của ông chỉ lừa được những người dân nhẹ dạ. Một phong trào chống đối âm ỉ, phát triển nhanh đến chóng mặt khiến ông vô cùng lo lắng.

Ông triệu tập một cuộc họp Bộ chính trị mở rộng có nội dung rất trực tiếp là: “Bàn về chống diễn biến hòa bình, cứu vớt sự sụp đổ tất yếu của chính thể!”.

Ông có hai người con trai: Tập Cận Đại hiện sống ở một nước tư sản và Tập Cận Thắng đang làm trợ lý cho ông. Cả hai đều được đặc cách mời dự.

Mở đầu cuộc họp ông nói ngắn gọn: “Hôm nay tôi cho phép mọi người nói thẳng những suy nghĩ của mình, ngay lập tức chúng ta phải làm một điều gì đó, căn cốt, nếu không trong vòng không tới 5 năm nữa, chế độ này sẽ tiêu tan và viễn cảnh là tất cả chúng ta ngồi đây, hoặc phải sống lưu vong, hoặc phải chịu chung số phận như Gaddafi”.

Mọi người ngồi im theo thói quen, song cũng muốn dò xem người đang nắm mọi quyền lực của Đảng, có thực sự muốn nghe lời nói thẳng hay không. Không khí mỗi giây lại căng thêm tưởng như có người điếc nhạc đang lên dây đàn.

Phựt! Dây đàn đứt chăng?

Không! Đó là phát biểu của Tập Cận Đại, một kẻ có vẻ ít quan tâm đến cái ghế của cha.

-      Tôi nghĩ chúng ta phải tam quyền phân lập thôi!

Lại im lặng. Ai cũng hiểu chỉ cần tính toán sai, nói hớ một câu biết đâu số phận lại chẳng giống như ông chú rể của cậu Ủn khùng bên Bắc Hàn.

Thực ra, trước đó ông Tập đã bí mật gặp riêng Tập Cận Đại. Chúng ta nghe chuyện này thì biết cha con họ thế nào.

Ông Tập hỏi.

-      Tài khoản của con được bao nhiêu rồi?

-      Mới bằng của thằng Gaddafi.

-      Trời! Nó ở một nước nghèo mạt rệp…

-      Ba mới lên mà…

-      Ờ… cũng phải!

Nói rồi ông Tập vỗ vai con, căn dặn: “Nhớ làm thân với tổng thống các nước, nhất là các nước tư bản, nghe!”.

Và chuyện này chỉ có ông biết, nó biết, trời biết.

Chúng ta trở lại cuộc họp.

Thấy con nói vậy, thừa hiểu các đồng chí của ông lo lắng những gì, Tập Cận Bình thủng thẳng nhận xét, cốt để kích động không khí tự do vốn là thứ tuyệt đối không có trong những cuộc họp Đảng, chẳng khác mấy các triều đình phong kiến trước đó.

-      Đó là một phương án không tồi!

Sau câu đó của ông Tập, bộ trưởng Công an, như người mót trung tiểu (ghi chú: là rắm! – hết ghi chú) nhịn, dồn nén đã lâu, bục ra:

-      Dân sắp hóa điên rồi!

-      Thế còn bộ đội? – Tập hỏi.

-      Tôi đã cho treo khẩu hiệu khắp các doanh trại: “Quyết tử cho Đảng quyết sinh!”, Bộ trưởng bộ chiến tranh Nhân dân đáp.

      Ông Tập gật gù:

-      Tốt lắm!

-      Không ăn thua, – ông chủ tịch Quốc hội, nơi tập trung tất cả đại biểu ôsin của dân, nhún vai – dậu đổ bìm leo. Hễ có động là binh lính họ… ai muốn bắn vào cha mẹ mình chứ?

Tất cả lại chìm vào im lặng. Ông trưởng ban Tuyên huấn rụt rè:

-      Tôi nghĩ nhân mới nhậm chức, đồng chí nên có thông điệp đầu năm nói mấy câu phỉnh phờ để yên lòng dân.

-      Việc đó nên làm nhưng bọn trí thức nước mình chó lắm – Ông thủ tướng nhăn nhó – Toàn nuôi ong tay áo. Hàng năm chi cho chúng biết bao tiền, thế mà… Chúng toàn lợi dụng mạng méo diễn biến hòa bình ghê lắm!

-      Bọn ăn cháo đá bát ấy, cứ nhập kho tuốt! – Ông trưởng ban Nội chính Trung ương gầm gừ.

-      Nhưng, Tập Cận Đại vẫn khẳng khái – Tôi vẫn cho là gì thì gì ta không tam quyền phân lập là không xong!

Ông Tập cố tỏ ra nhẹ nhàng:

-      Các đồng chí thấy sao?

-      Đừng dại! – ông trưởng ban tổ chức Trung ương – Cả bộ máy lâu nay quen thế rồi… Tam quyền phân lập chính là nút nhấn của cái máy chém. Không khéo ta nhấn nút chém chính mình!

Mọi người lại ngồi yên. Ông trưởng ban soạn thảo Hiến pháp mới, tỏ vẻ lo ngại:

-      Thưa đồng chí, có một điều khá hệ trọng, nhiều người đề nghị bỏ điều 1 trong Hiến pháp nói về sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản.

-      Không! – ông Tập khẳng định – Nếu có thể ta cứ cho tam quyền phân lập, tự do dân chủ, thậm chí có thể cho biểu tình, nhưng nhất định không thể bỏ điều 1 được.

Ông chủ tịch Quốc hội băn khoăn:

-      Nhưng bọn dân chủ bảo điều này phủ nhận tất cả những điều khác.

-      Nếu cần thì bỏ cũng được. Thậm chí bỏ, và cho trưng cầu dân ý… càng hay!

Khiếp, ai mà dám trái lời ông Tập vào lúc này chứ. Nhìn ra mới biết đó chính là cậu con trai Tập Cận Thắng thư ký riêng của ông.

-      Cái gì?

-      Hả?

-      Cậu nói sao?

Mọi người hốt hoảng, căng thẳng. Câu hỏi dồn dập. Người bật ra mồm, người tóe ra mắt.

-      Hiến pháp là con mẹ gì? – Tập Cận Thắng lạnh lùng, trong giọng nói tỏa ra luồng tử khí – Từ lâu nay, bao nhiêu điều có trong hiến pháp mình chẳng thực hiện, ai làm gì nào?

-      Hay!

Hứng chí ông Tập, đập bàn cái “phập!” (tiếng động nghe y như… xem ghi chú ở trên, hết ghi chú).

Ông chỉ Tập Cận Thắng:

-      Tôi tuyên bố thằng này làm thái tử. Thôi, giải tán!

( Nguồn :nguyentrongtao)

 

 

Từ điều 9 Hiến pháp Nhật đến hợp tác hàng hải Nhật – Việt – Philippines

Hà Văn Long – Huỳnh Tâm Sáng/Một thế giới

Đã có những ý kiến về một liên minh pháp lý, nâng cấp mối quan hệ đối tác chiến lược, hợp tác quân sự chung giữa Nhật Bản và Việt Nam, Philippines. Việc Trung Quốc ngày càng quyết đoán hơn trong chính sách tại biển Đông, khiến nhiều quốc gia khó có thể “ngồi im”.

Tâm lý lo lắng bao trùm, chủ nghĩa dân tộc của các quốc gia nổi lên, tăng cường chạy đua vũ trang, khiến an ninh của khu vực nói chung và an ninh hàng hải nói riêng đang đứng trước một thách thức. Hệ quả có thể dẫn đến một sự phân chia quyền lực trong khu vực được coi là tương lai của thế giới.
Các nước nhỏ đang bị Trung Quốc bắt nạt, đặc biệt là Philippines và Việt Nam hiểu rằng để đối phó với một “con rồng hung hăng”, ngoài việc tăng cường sức mạnh trong nội tại của quốc gia, việc hợp tác với những nước đang có chung vấn đề với nhau sẽ giúp họ có thêm những sức mạnh cần thiết và kịp thời để đối phó với những thách thức an ninh chung của khu vực. 
 
Và một nước lớn đang cùng có chung vấn đề đó, không ai khác chính là Nhật Bản.
 
Vai trò an ninh mới của Nhật Bản 
 
Đối với Nhật Bản, ngoài những tranh chấp đơn thuần với Trung Quốc trên biển Hoa Đông thì biển Đông chính là con đường sinh mệnh của họ. 
 
Cục phòng vệ Nhật Bản (bây giờ là Bộ Quốc phòng Nhật Bản) tuyên bố: “Đông Nam Á, trong đó có eo biển Malacca, biển Đông, vùng biển gần Philippines và Indonesia, vô cùng quan trọng đối với việc vận chuyển tài nguyên thiên nhiên đến Nhật Bản, khu vực này là điểm then chốt để liên kết giao thông giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương”. 
 
Vì vậy, bất cứ một xung đột lớn nào tại đây đều sẽ làm gián đoạn tuyến đường cung cấp dầu khí cho Nhật Bản, trực tiếp tác động tới sự sống còn của nền kinh tế, chính trị và an ninh của Nhật Bản.
 
Cùng với đó, trước những biến động lớn của tình hình thế giới và khu vực, Nhật Bản đang muốn thoát khỏi cái bóng của “kẻ thua trận” trong thế chiến thứ hai, để đảm nhận một vị trí cao hơn trong nền an ninh, chính trị khu vực cũng như toàn cầu.
 
Điều 9 trong “Chương II: Phủ nhận chiến tranh” nêu rõ: “[…] Nhật Bản sẽ không bao giờ duy trì các lực lượng lục quân, hải quân, không quân hay các tiềm năng quân sự khác. Quyền tham chiến không được công nhận”. Đây là rào cản quá lớn đối với Nhật Bản từ năm 1947. Đó là lý do từ sau thế chiến II, Nhật Bản vẫn phải chịu “lép vế” hơn so với Trung Quốc về mặt quân sự.
 
Thủ tướng Abe giữ vai trò quan trọng trong quyết định tu sửa chính điều 9 của Hiến pháp. Những năm gần đây, ông Abe và những người ủng hộ luôn đề cao thuyết “hòa bình tích cực” (active pacifism). Điều 9 của Hiến pháp với ý nghĩa nhất định sẽ cản trở khả năng này. Hiển nhiên, theo điều 9 thì Nhật sẽ không thể đánh chặn tên lửa nhằm vào Mỹ hoặc bảo vệ tàu của một đồng minh đang bị tấn công. Khi đó, mối đe dọa cho đồng minh sẽ là mối đe dọa cho Nhật.
 
Ngoài ra, Tokyo cũng luôn giữ thái độ thận trọng với đồng minh chiến lược Washington. Mặc dù các cam kết vẫn luôn hiện hữu nhưng không ai đảm bảo Mỹ sẽ hỗ trợ Nhật tích cực khi Senkaku/ Điếu Ngư bị đe dọa. Nếu chính Nhật Bản không thể hiện vai trò chủ động, Mỹ cũng chẳng mặn mà gì đánh cược quan hệ Mỹ – Trung khi xung đột Trung – Nhật diễn ra xung quanh Senkaku/ Điếu Ngư. Quan hệ “đồng minh kiềm chế” của Mỹ đã buộc Nhật phải chủ động và tránh làm phật lòng “quan thầy” của mình. 
 
Sáng ngày 1.7, Dự thảo Nghị quyết cho phép Nhật Bản sử dụng quyền “tự vệ tập thể” (collective self defence) đã được thông qua. Điều này đồng nghĩa với việc Nhật Bản không còn bị ràng buộc bởi điều 9 của Hiến pháp chủ hòa. 
 
Từ đây, Nhật Bản từ chấp nhận quyền tự vệ (sử dụng vũ lực với mức độ tối thiểu) khi bị tấn công đã có thể chủ động bảo vệ đồng minh khỏi các mối đe dọa từ bên ngoài lãnh thổ. Động thái này được xem là một cuộc cách mạng cả trong chính trị đối nội và đối ngoại của Nhật.
 
Theo cách giải thích mới, quân đội Nhật Bản sẽ có thể trợ giúp trong trường hợp quân đội Mỹ bị tấn công bởi một kẻ thù chung, ngay cả khi Nhật Bản không phải là đối tượng của cuộc tấn công đó. Việc giải thích lại Hiến pháp vừa là động thái ôn hòa khả dĩ mà ông Abe có thể tìm đến như một cứu cánh trong bối cảnh an ninh Đông Bắc Á đang như chỉ mành treo chuông.
 
Khao khát khôi phục vị thế “cường quốc bình thường” đã buộc Nhật phải toan tính kỹ lưỡng. Những động thái của Trung Quốc gia tăng căng thẳng tại biển Đông và biển Hoa Đông từ năm 2007 đến nay chính là “phép thử” cho ông Abe. Nhật Bản đã nhanh chóng chớp lấy cơ hội khi lợi dụng “lực cản” từ Trung Quốc để tạo “lực đẩy” cho ý thức tự chủ, ý nguyện an ninh và nhu cầu tăng tường quan hệ đồng minh chiến lược Mỹ – Nhật. 
 
Thực tế, Nhà trắng cũng đã “bật đèn xanh” cho Nhật khi Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ Jen Psaki tuyên bố vào cuối tháng 6.2014 rằng luôn “khuyến khích Nhật Bản trang bị quyền tự vệ cho họ một cách minh bạch và sẽ vẫn hợp tác với nhau về những vấn đề quan trọng khác”.
 
Liên minh hàng hải Nhật Bản – Việt Nam – Philippines 
 
Qua việc “diễn dịch lại hiến pháp ”, thông điệp mà Nhật truyền đi cho Trung Quốc hẳn sẽ là “con giun xéo lắm cũng quằn”. Mặc dầu giải pháp quân sự cần hội tụ đủ 3 điều kiện (i) một đe dọa thực sự với nhà nước Nhật Bản, (ii) mối nguy hiểm rõ ràng tới quyền sống, tự do, theo đuổi hạnh phúc người dân Nhật và (iii) không còn một giải pháp thay thế nào khác, nhưng rõ ràng đây là một nỗ lực mang tính quyết đoán của nội các Thủ tướng Abe. 
 
Từ sự quyết đoán của Nhật, những quốc gia như Việt Nam và Philippines sẽ có thể xem đây là gợi mở để có cách tiếp cận quả quyết và khéo léo hơn với Trung Quốc xung quanh vấn đề biển Đông, đặc biệt trong việc hình thành một liên minh hay hợp tác về an ninh hành hải.
 
Trong hợp tác này, Nhật Bản là nước duy nhất có đủ khả năng để hỗ trợ cho Việt Nam và Philippines trang thiết bị kỹ thuật nhanh nhất, kịp thời nhất để đảm bảo an ninh hàng hải. Đồng thời điều này phù hợp với một chiến lược lâu dài của Nhật Bản nhằm tăng cường vai trò của nước này.
 
Việt Nam và Nhật Bản đang có mối quan hệ ngày càng sâu sắc với nhiều chuyến thăm cấp cao từ hai phía trong thời gian qua. Việt Nam là nước không có mâu thuẫn về lãnh thổ với Nhật Bản, sẵn sàng chia sẻ quan điểm với Nhật Bản trên nhiều vấn đề. Nhật Bản mong muốn nhận được sự ủng hộ tích cực từ các nước trong khu vực về mặt chính trị. 
 
Từ tầm nhìn đó, chính phủ Nhật Bản đã bước vào một cuộc thảo luận về quyền phòng thủ tập thể, có ý kiến cho rằng khi quyền phòng thủ tập thể được áp dụng, Nhật Bản có thể trợ giúp Việt Nam trước động thái cứng rắn của Trung Quốc. 
 
Đây là điều hoàn toàn hợp lý về nguyên tắc, nhưng việc trợ giúp có thực hiện được hay không lại là vấn đề khác. 
 
Nếu Nhật Bản chủ trương công khai hỗ trợ Việt Nam có thể khiến Bắc Kinh nổi giận và sẽ đáp trả Nhật Bản, đó còn chưa kể đến rào cản trong những quan điểm khác nhau đến từ giới chính trị Nhật Bản. 
 
Do đó, trong chiến lược sắp tới Tokyo có thể sẽ từng bước hỗ trợ và hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực an ninh. Trong đó điểm bắt đầu là tăng cường năng lực của Việt Nam trong việc đảm bảo an ninh hàng hải tại tuyến đường “sinh mệnh” trên biển của Nhật Bản bằng việc huấn luyện lực lượng bảo vệ bờ biển và chia sẻ thông tin, cung cấp các tàu tuần duyên cho lực lượng cảnh sát biển, kiểm ngư Việt Nam. 
 
Bên cạnh đó, quan điểm hiện nay của Việt Nam rõ ràng: “Việt Nam luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó” (Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng). 
 
Việc Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng biển Việt Nam đã khiến quan hệ Việt – Trung ngày càng xấu đi, những cuộc đụng độ, va chạm trên biển khiến an ninh hàng hải đang bị đe dọa nghiêm trọng. Trong bối cảnh đó, Việt Nam nhận ra rằng, lực lượng kiểm ngư, cảnh sát biển cần phải tăng đầu tư nhanh, cường mạnh mẽ hơn nữa để đối phó với các thủ đoạn từ Trung Quốc hiện tại và tương lai.
 
Philippines cũng đang có cùng một nỗi lo ngại với Việt Nam và Nhật Bản. Hiện nay quan hệ giữa hai nước đang thực sự khởi sắc trong quan hệ chiến lược do tác động của nhận thức chung về mối đe dọa từ Trung Quốc và các quan ngại về chính trị và kinh tế trong nước.
 
Với sự cầm quyền trở lại của Thủ tướng Shinzo Abe, Nhật Bản đang thực hiện hình ảnh về một cường quốc “toàn diện” trong khu vực và Philippines có thể đóng một vai trò quan trọng trong chiến lược đó. Trong khi đó, Manila đang đẩy mạnh quan hệ đối tác với các đồng minh trong khu vực, bao gồm cả Nhật Bản, nhằm tăng cường tiềm lực quốc phòng của mình, đồng còn ủng hộ mạnh mẽ Nhật Bản tái vũ trang, thoát khỏi ràng buộc của Hiến pháp hòa bình để trở thành một yếu tố cân bằng quan trọng trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. 
 
Những bước đi cụ thể
 
Việc chuyển giao 10 tàu tuần tra mới cho Philippines đã thể hiện một chiến lược của Nhật Bản nhằm tăng cường sức mạnh hàng hải. Mặc dù nó sẽ không làm nghiêng quá mức cán cân hải quân ở biển Đông nhưng nó sẽ nâng cao nhận thức về biển của Philippines và thúc đẩy các thương lượng chiến lược của Nhật Bản trong khu vực Đông Nam Á.
 
Lực lượng Bảo vệ Bờ biển của Philippines có thể giúp Nhật Bản bằng cách giám sát các hoạt động hàng hải của Trung Quốc ở biển Đông. Đối với Nhật Bản, biển Đông là một trường hợp thử nghiệm về cách hành xử của Trung Quốc trong cuộc tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư. Hơn nữa, Nhật Bản thấy rằng bằng cách tăng số lượng tàu có sẵn mà Philippines có thể sử dụng trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, sự tập trung và nguồn lực của các cơ quan hàng hải Trung Quốc sẽ có khả năng bị phân tán giữa biển Hoa Đông và biển Đông. 
 
Ngoài ra, tăng cường năng lực cho các lực lượng biển không được trang bị tốt của Philippines cũng sẽ cho phép nước này đóng góp vào việc bảo vệ tự do hàng hải ở biển Đông, bao gồm cả tuyến đường biển không bị cản trở của Nhật Bản.
 
Song song với hợp tác an ninh hàng hải với Nhật Bản, Việt Nam và Philippines đang tiến hành những bước đi cần thiết để cùng nhau bảo vệ các nguồn lợi thủy sản, chống lại các hoạt động phi pháp trên biển và sự xâm nhập các vùng lân cận giữa hai nước.
 
Trong chuyến thăm làm việc của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng tại Philippines và dự Diễn đàn Kinh tế thế giới về Đông Á 2014 (WEF Đông Á 2014), Tổng thống Aquino khẳng định: “Hai nước đã đối mặt với thách thức chung với tư cách là quốc gia biển và thành viên của ASEAN. Việc tăng cường hợp tác giữa Philippines và Việt Nam sẽ cho phép chúng ta bảo vệ tốt hơn các nguồn lợi thủy sản của mình. Chúng ta tiếp tục theo đuổi các chiến lược giúp tăng trưởng và vì lợi ích của người dân và khu vực”.
 
Còn Thủ tướng Việt Nam đã phát biểu rằng: “Chúng tôi cũng tái khẳng định hợp tác biển là một trụ cột trong quan hệ hai nước; nhất trí tiếp tục thường xuyên trao đổi, phối hợp, hợp tác có hiệu quả tại các cơ chế song phương như Ủy ban Hỗn hợp về hợp tác biển và đại dương, nhóm chuyên gia pháp lý về các vấn đề hợp tác trên biển; thúc đẩy hợp tác trong nghiên cứu khoa học biển, khí tượng, thủy văn và bảo vệ môi trường biển”.
 
Việc hai nước đều là thành viên của ASEAN và cũng đang đứng trước những thách thức nghiêm trọng từ phía Trung Quốc, việc hợp tác hỗ trợ lẫn nhau trở thành việc cấp bách. Đã có những ý kiến về một liên minh pháp lý, nâng cấp mối quan hệ đối tác chiến lược, hợp tác quân sự thông qua việc cho mượn hoặc mua một số các vũ khí đã qua sử dụng hay khả năng đào tạo nhân sự và diễn tập quân sự chung giữa Nhật và Việt Nam, Philippines. 
 
Nhưng quan trọng nhất trong bối cảnh một Trung Quốc trỗi dậy “không hòa bình” là các quốc gia chịu ảnh hưởng đang cần một cuộc cách mạng về tư duy, trong việc nhìn nhận và đánh giá lại các mối quan hệ khu vực và quốc tế. 
 
Sự ủng hộ lẫn nhau đang diễn ra trong bối cảnh khu vực Đông Á đang đứng trước nhiều thách thức về an ninh, đặc biệt là an ninh hàng hải. Nhật Bản và Philippines đã đi trước về quân sự và pháp lý vậy Việt Nam chúng ta còn chờ đợi gì?

Theo Một thế giới

 

 

 

Cố Tổng bí thư Lê Duẩn: “Chúng ta không được phép sợ Trung Quốc”

Trên cương vị là Bí thư thứ nhất và sau đó là Tổng Bí thư suốt 26 năm, ông Lê Duẩn đã để lại nhiều di sản cho lịch sử Việt Nam. Có thể người ta còn tranh cãi về ông ở vài vấn đề, nhưng công lao to lớn trong sự nghiệp giải phóng và thống nhất dân tộc cũng như ý chí kiên cường và tinh thần cảnh giác cao độ trong việc chống lại chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc, thì có lẽ ít người nghi ngờ…
“Chúng ta không được phép sợ Trung Quốc”
 
Bài học lớn về Trung Quốc
Trước hiệp định Geneva, ông Lê Duẩn là người lãnh đạo phong trào cách mạng ở miền Nam. Như nhiều nhà lãnh đạo của Việt Nam khi ấy, ông thực sự tin Trung Quốc là người anh em, đồng chí thực sự của cách mạng Việt Nam.
Năm 1954, Hiệp định Geneva được ký kết đã bẻ ngoặt nhận thức của ông về mối quan hệ với Trung Quốc. Nhà thơ Việt Phương, thư ký của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng kể:
“Khi bàn thảo về Hiệp định Geneva, Bộ Chính trị của ta chỉ đồng ý lấy vĩ tuyến 16 là ranh giới cuối cùng của khu phi quân sự tạm thời giữa hai miền Nam – Bắc trong thời gian chờ tổng tuyển cử. Nhưng Trung Quốc với sự ảnh hưởng của mình, đã khăng khăng ép ta phải đồng ý chọn vĩ tuyến 17. Khi chúng ta bàn bạc vấn đề này với Trung Quốc, họ đã nói: “Chúng tôi là tướng ngoài mặt trận. Các đồng chí hãy để cho chúng tôi tùy cơ ứng biến”. Khi nói như thế, người Trung Quốc đã tự cho mình quyền định đoạt số phận của người Việt Nam”.
Thời điểm đó, ta đã kiểm soát phần lớn vùng Nam bộ, ngoại trừ một vài đô thị nhỏ. Ở miền Bắc, ta chiến thắng vang lừng ở Điện Biên. Nhưng Trung Quốc đã bắt ta phải ký một hiệp định chia cắt đất nước – một hành động mà sau này như nhiều người nói: “người anh lớn” đã phản bội lại “người em” của mình.
Sau khi hiệp định được ký,  trên đường từ Bắc vào Nam,  nhìn những quân dân miền Nam giơ 2 ngón tay chào nhau, vừa là biểu tượng victory  – chiến thắng, vừa là lời hẹn 2 năm sau sẽ đoàn tụ, ông Lê Duẩn đã khóc. Ông hiểu, sẽ không bao giờ có tổng tuyển cử, sẽ không bao giờ chỉ là 2 năm…Rồi đây đất nước sẽ còn bị chia cắt rất lâu vì Hiệp định Geneva năm đó.
Sau đó, khi chia tay Lê Đức Thọ ra Bắc tập kết, ông Lê Duẩn đã nói với người đồng chí của mình một câu rất nổi tiếng: “Anh ra nói với Bác, 20 năm nữa tôi mới được gặp Bác”.
Rất trùng hợp, 20 năm sau, đất nước thống nhất. Nhưng quan trọng hơn, đó là lần ông Lê Duẩn thực sự thấy thấm thía nhất về nỗi đau chứng kiến đất nước ông đã bị người anh em Trung Quốc phản bội. Năm 1972, trong một cuộc trò chuyện với Chu Ân Lai, nhắc lại về Hiệp định Geneva, ông Lê Duẩn đã  không ngần ngại lên án: “Năm đó, người Trung Quốc các anh đã bán đứng chúng tôi trên bàn đàm phán”.
Dù là năm 1954 hay năm 1972 hay sau này, dù là lúc đang lãnh đạo cách mạng miền Nam hay khi đã ra Bắc lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, kể cả khi đất nước đã thống nhất, chưa một phút giây nào, TBT Lê Duẩn quên bài học đó.

“Chúng ta không được phép sợ Trung Quốc”
Khi còn sống, TBT Lê Duẩn luôn cho rằng, hiểu Trung Quốc là chuyện sống còn của dân tộc Việt Nam, khi mà lịch sử địa lý, trớ trêu thay đã khiến ta mãi mãi phải là láng giềng của họ. Mà để hiểu người Trung Quốc nhất định phải hiểu được những đặc tính của dân tộc Việt Nam.
Đắm chìm vào trong dân tộc để hiểu cái ở ngoài dân tộc và giữ dân tộc là cách mà TBT Lê Duẩn đã làm khi ở cương vị người đứng đầu đất nước.
Trong suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, nhân danh việc chi viện, giúp đỡ chúng ta, rất nhiều lần Trung Quốc lồng ghép vào đó những toan tính riêng của họ. Có lần Trung Quốc đề nghị cho chúng ta 500 chiếc xe vào Trường Sơn với điều kiện kèm lái xe của họ. Nhưng TBT Lê Duẩn không nhận bất cứ một chiếc xe nào.
Có người trong Bộ Chính trị đề nghị “sao ông không nhận một vài chiếc cho người ta vui?”, nhưng TBT Lê Duẩn vẫn kiên quyết giữ lập trường của mình: “Chừng nào tôi còn ngồi đây, thì tôi không cho một kẻ nào nghĩ trong đầu rằng có thể cướp được đất nước Việt Nam này”.
Hẳn là  vì hiểu rõ dân tộc, mà ông đã không quên rằng, Trung Quốc từng mượn đường vào đánh Chiêm Thành thời nhà Trần, rồi từng lấy cớ vào giúp vua Lê Chiêu Thống để kéo quân vào Hà Nội. Như một nhà nghiên cứu về quan hệ Việt Nam với Trung Quốc đã từng nhận xét về ông: “Với TBT Lê Duẩn, cái gì nhịn được thì nhịn, nhưng ông tuyệt đối không bao giờ nhượng bộ những điều quá đáng, nguy hại cho an ninh quốc gia”.
Điều mà TBT Lê Duẩn vẫn thường cố gắng cắt nghĩa là tại sao Trung Quốc đô hộ Việt Nam 1.000 năm mà không đồng hóa được ta? Bởi 1.000 năm là quá dài, và người Trung Quốc chưa bao giờ giấu diếm tham vọng ấy suốt những thời kỳ họ cai trị Việt Nam. Trong lịch sử, nhiều dân tộc khác bị đồng hóa rất dễ dàng chỉ với vài trăm năm, nhưng sự khác biệt của người Việt Nam đã khiến dân tộc này thoát khỏi quy luật đáng sợ đó.
Có rất nhiều thứ người Trung Quốc cho là chân lý, nhưng người Việt Nam không chấp nhận. Người Trung Quốc dùng đạo Khổng để giáo dục người dân. Người Trung Quốc dạy: “Tại gia tòng phụ”, nhưng người Việt Nam nói: “Con hơn cha là nhà có phúc”. Người Trung Quốc nói “xuất giá tòng phu”, người Việt Nam lại cho rằng “Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn”.
Và ông Lê Duẩn luôn nhìn thấy, qua những khác biệt đó người Việt Nam vừa để dạy mình, vừa thể hiện sự phản kháng với tư tưởng đó, và sâu sa hơn là phản kháng sự đồng hóa mà người Trung Quốc cố tình áp đặt lên số phận của dân tộc Việt Nam. Sự phản kháng này nằm sâu trong mầm mống tồn tại của dân tộc, khiến sức mạnh đồng hóa của người Trung Quốc không đâm thủng được. Trung Quốc ngày đó bắt người phụ nữ bó chân, nhưng người Việt Nam không bao giờ đồng ý.  Với người Việt Nam, để sinh tồn thì bàn chân là phải vững chắc trên mảnh đất này. Đó là một nền tảng văn hóa vô cùng Việt Nam, tự thân người Việt Nam và nó đối chọi hoàn toàn với người Trung Quốc.
Dường như, khi hiểu được truyền thống ấy và sức mạnh phản kháng ấy của dân tộc, TBT Lê Duẩn đã luôn có tự tin khi đứng trước những nhà lãnh đạo Trung Quốc, đứng trước sức mạnh của người Trung Quốc, trong rất nhiều giai đoạn thăng trầm của mối quan hệ giữa hai nước.
Một lần, khi ra ngoài Bắc bàn về đấu tranh miền Nam, ông Lê Duẩn nói: “Thưa Bác, chúng ta muốn thắng Mỹ, có một điều rất quan trọng là chúng ta phải không được sợ Mỹ, nhưng cũng không được sợ Trung Quốc và không được sợ Liên Xô”.
Có người trong Bộ Chính trị phản đối ý kiến đó. Nhưng ông Nguyễn Chí Thanh đã đứng lên ủng hộ: “Thưa Bác, việc anh Ba nói vậy là vô cùng cần thiết và nhất định phải như vậy chúng ta mới thắng được”.
Cả Bộ Chính trị vỗ tay hoan hô ý kiến đó. Chỉ tiếc là đến giờ những văn bản họp Bộ Chính trị khi đó hầu như vẫn chưa được công bố, khiến những câu chuyện này không thực sự được biết rộng rãi trong dân chúng.
Điều khiến nhiều người suy nghĩ là những năm tháng đó, trong lúc khó khăn nhất, khi mà chúng ta đang dựa vào họ, thành bại của cuộc chiến tranh phụ thuộc một phần không nhỏ vào sự ủng hộ của họ, nhưng TBT Lê Duẩn vẫn biết cách giữ được vị thế của mình với những nhà lãnh đạo Trung Quốc.
Ông cũng rất khéo léo giữ được độc lập của đất nước mà vẫn khiến Trung Quốc duy trì sự ủng hộ với Việt Nam trong một giai đoạn dài. Cái ý thức “không sợ Trung Quốc” ấy có lẽ đã khiến TBT Lê Duẩn dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, cũng luôn ở thế ngang bằng với những lãnh đạo Trung Quốc như Chu Ân Lai, Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình. Nhưng cũng chính vì tư tưởng đó, TBT Lê Duẩn đã trở thành nhà lãnh đạo Việt Nam khiến Trung Quốc e dè, nếu không muốn nói là “gai mắt” nhất trong giai đoạn ấy.
Nhà thơ Việt Phương từng kể một câu chuyện: “khi Bác Hồ đang chữa bệnh ở Trung Quốc, TBT Lê Duẩn có chuyến thăm Trung Quốc và ở gần nơi Bác chữa bệnh. Bác Hồ lúc đó đã  bảo với ông Lê Duẩn: “Chú Ba đến ăn cơm với Bác. Chắc là họ chưa đến mức có ý định giết Bác. Bác đã rất nghi ngại việc TBT Lê Duẩn ở một mình có thể có những chuyện không hay và tìm cách giữ an toàn cho ông bằng mọi cách”.
Từ năm 1976, khi ta căng thẳng với Trung Quốc, mỗi lần sang Trung Quốc, khi những người lính cần vệ của TBT Lê Duẩn đưa dụng cụ đo phóng xạ vào phòng ông kiểm tra, bao giờ độ phóng xạ cũng ở mức kịch kim. Có người lính cận vệ đã đề nghị ông đổi phòng vào ban đêm một cách bí mật. 1 năm sau đó, người lính cận vệ đó bị ung thư máu qua đời, dù trước đó rất khỏe mạnh. Đó có thể chỉ là một sự trùng hợp, nhưng cũng có thể không…
2 tháng qua, khi Trung Quốc ngày càng tráo trở và ngang ngược ở biển Đông, với tham vọng bá quyền không giấu diếm, rất nhiều người dân Việt Nam nhớ về vị TBT mà lịch sử đã nhìn nhận là người có đường lối cứng rắn nhất với Trung Quốc.
Có lẽ ngày hôm nay, với vấn đề biển Đông, người Việt Nam chúng ta sẽ phải nhớ lại câu nói của cố TBT Lê Duẩn và bài học mà ông đã để lại: “Chúng ta, bằng bất cứ giá nào, cũng không được phép sợ Trung Quốc”.

(Theo Một Thế Giới)

 

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 08.07.2014

HOA Ở CỬA LÒ

 

HOA Ở CỬA LÒ

 

Tặng H

 

Ngàn dặm anh về Cửa Lò say

Hoa thơm môi mắt gọi đêm ngày

Thơ đọc cạn lòng chưa nói hết

Chút tình chưa chớm đã ngất ngây

 

Cửa Lò hoa sóng nở trắng trời

Hoa mưa hoa nắng nụ còn tươi

Đảo Ngư đảo Mắt như hoa biển

Một phút bên nhau dấu cát cười

 

Cửa Lò hai mảnh nghiêng trời đất

Sóng liếm thịt da biển dâng mời

Sốt sắng anh cùng hoa nâng chén

Rượu buồn rượu đắng rượu chia phôi

 

Mai về phố nghèo  không còn rượu

Tim anh thành bình cắm hoa em

Nõn nà cho tới trăm năm nữa

Hoa vẫn là  hoa Cửa Lò xinh

 

Cửa Lò 29-6-2014

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 07.07.2014

Nhà văn Tô Hoài qua đời

 

Nhà văn Tô Hoài qua đời

 

(TNO) Nhà văn Tô Hoài, tác giả của tác phẩm nổi tiếng Dế Mèn phiêu lưu ký đã qua đời vào sáng 6.7, hưởng thọ 94 tuổi.
 alt
Nhà văn Tô Hoài tại Đại hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội 2011 – Ảnh: Việt Chiến
Theo thông tin từ gia đình nhà văn Tô Hoài, cây đại thụ của văn học Việt Nam đã trút hơi thở cuối cùng tại nhà riêng ở khu tập thể Nghĩa Tân (Hà Nội), sau thời gian dài chống chọi với nhiều căn bệnh khác nhau.
Được biết, do tuổi cao, nhà văn Tô Hoài đã phải nhiều lần “vào ra” bệnh viện. Có lần, ông từng đùa: “Phải dành hết vài trang giấy A4 may ra mới ghi đủ số lần bác vào viện”. Năm 2009, ông từng một lần vượt qua khỏi tình trạng “thập tử nhất sinh” do bệnh hiểm nghèo.
Nhà văn Tô Hoài sinh năm 1920, tên khai sinh là Nguyễn Sen, quê nội ở huyện Thanh Oai, Hà Nội. Tuy nhiên ông lớn lên ở quê ngoại là làng Nghĩa Đô, huyện Từ Liêm, Hà Đông (nay thuộc quận Cầu Giấy, Hà Nội).
Ông đến với văn chương ở tuổi thanh niên, lấy bút danh là Tô Hoài, gắn với hai địa danh là sông Tô Lịch và phủ Hoài Đức.
Năm 1941, Tô Hoài sáng tác Dế Mèn phiêu lưu ký, trở thành tác phẩm văn học gắn liền với tuổi thơ của nhiều thế hệ thiếu nhi Việt Nam từ đó đến nay.
Bên cạnh đó, ông còn cống hiến cho nền văn học trong nước hàng trăm tác phẩm đáng quý, thuộc nhiều thể loại khác nhau: truyện ngắn, truyện dài kỳ, hồi ký, kịch bản phim, tiểu luận và kinh nghiệm sáng tác, nổi bật như Xóm giếng, Nhà nghèo, O chuột, Dế Mèn phiêu lưu ký, Núi Cứu quốc, Truyện Tây Bắc, Mười năm, Xuống làng, Vỡ tỉnh, Tào lường, Họ Giàng ở Phìn Sa, Miền Tây, Vợ chồng A Phủ, Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ
Nhà văn Tô Hoài được trao giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học – Nghệ thuật tại đợt đầu tiên vào năm 1996. Tác phẩm gần nhất của ông là Ba người khác, phát hành vào năm 2006.
Hiền Nhi – V.B
(Nguồn :thannienonline)

 

 

Được ưu đãi tột cùng, Formosa đầu tư gì tại Hà Tĩnh?

 TT – Mặc dù đề xuất thành lập khu kinh tế không được chấp nhận, Formosa Hà Tĩnh vẫn đang là dự án được hưởng các ưu đãi đụng trần pháp luật. Để được hưởng ưu đãi đặc biệt như vậy, cho đến nay Formosa đã triển khai đầu tư gì tại Hà Tĩnh? PV Tuổi Trẻ vào tìm hiểu tại “đại công trường” của dự án.

  

Hiện nay tại công trường dự án Formosa có khoảng 24.000 lao động, trong đó có 2.000 lao động nước ngoài, chủ yếu từ Đài Loan với 1.200 người và Trung Quốc khoảng 450 người – Ảnh: Hồng Quý

 

 

Lò gió nóng và lò cao đang được tích cực lắp đặt. Riêng lò cao số 1 này đã hoàn thành 71,5%, dự kiến đi vào sản xuất cho ra các sản phẩm thép vào cuối tháng 5-2015. Ảnh: Đình Dân

 

Với vốn đầu tư gần 10 tỉ USD, cho đến thời điểm này dự án Formosa đã giải ngân hơn 4 tỉ USD. Những thay đổi có thể dễ dàng nhận thấy, từ khu dân cư gần dự án cho đến trung tâm đại công trường này.

Nhà trọ cho lao động nước ngoài

 

Chế tạo và mua bán gang thép

Có 11 ngành nghề đăng ký kinh doanh, một số ngành nghề quan trọng như: chế tạo và mua bán gang thép; kinh doanh cảng; sản xuất ximăng; kinh doanh nhà máy nhiệt điện và nhà máy xử lý nước; xây dựng, lắp đặt, vận hành và kinh doanh nhà máy khí, bán các khí nén và các khí chất lỏng sử dụng trong công nghiệp như oxy, nitơ…; chế tạo, gia công, sản xuất, mua bán và xuất nhập khẩu các sản phẩm liên quan quá trình luyện than cốc, hắc ín, dầu thô nhẹ…

Ngành nghề cuối cùng trong danh mục hoạt động của Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh là kinh doanh bất động sản, quyền sử dụng đất thuộc chủ sở hữu, chủ sử dụng hoặc đi thuê (mã ngành 68100).

 

Từ ven quốc lộ 1A đi một đoạn ngắn, nhiều người có thể vào ngay khu vực bên ngoài của dự án Formosa. Những đoàn xe chở nguyên vật liệu, chở các kiện hàng khổng lồ nối đuôi nhau vào dự án.

Điều thay đổi lớn nhất kể từ khi có dự án này theo nhiều người dân địa phương đó là giá đất ở đây tăng vùn vụt và kèm theo là sự xuất hiện của các phòng trọ dành cho người nước ngoài. “Anh em bọn tôi và nhiều người dân ở Kỳ Anh đã bỏ tiền túi cũng như vay mượn khá nhiều để xây nhà trọ, mua xe chuyên chở phục vụ chuyên gia Trung Quốc và Đài Loan” – anh Hà, một người dân địa phương đang kiếm sống bằng những dịch vụ phục vụ người lao động ở công trường Formosa, cho hay.

Anh Hà cũng cho biết đất nơi đây giờ rất có giá. “Giờ dân ở đây có đất chẳng ai bán. Họ vay tiền xây nhà trọ đón chuyên gia và công nhân cho thuê rồi mở quán nhỏ ngay đó để bán hàng tạp hóa, ăn uống. Nhà nào gấp quá, cực chẳng đã phải bán thì cũng với giá tầm trên 250 triệu một mét dài” – anh Hà cho biết. Một mét dài tương đương 50m2. Tính ra mỗi mét vuông đất ở đây có giá khoảng 5 triệu đồng. Anh Hà cho hay mức này cao gấp nhiều lần so với trước năm 2008. Giá thuê phòng nghỉ khách sạn ở đây cao hơn hẳn giá thuê ngoài trung tâm thành phố Hà Tĩnh và ngang ngửa giá thuê khách sạn 2-3 sao tại TP.HCM.

Đi vào bên trong công trường an ninh được kiểm soát nhiều lớp nghiêm ngặt,  camera ghi hình, tất cả người ra vào đều phải có thẻ. Giữa cái nắng gần 40oC của trời hè miền Trung, hàng chục ngàn chuyên gia, công nhân từ nhiều nước đang gấp rút lắp đặt máy móc, xây dựng hạ tầng.

Gấp gáp trao đổi với chúng tôi qua điện thoại, ông Chu Xuân Phàm – trưởng đại diện của Formosa tại Hà Nội – nói: “Công việc hết sức vất vả. Bây giờ chỉ có làm và làm thôi, không thể nói gì hơn”.

Trong khi đó, theo ông Ngô Đình Vân – phó trưởng Ban quản lý các khu kinh tế tỉnh Hà Tĩnh, dự án đang được xây dựng rất nhanh theo tiến độ mà phía chủ đầu tư Đài Loan cam kết. “Đến nay theo con số từ phía ngành thuế báo lại dựa trên khoản thuế Formosa đóng vào ngân sách, họ đã giải ngân được 3,5 tỉ USD. Còn theo ước tính của chúng tôi, họ đã giải ngân hơn 4 tỉ USD vào Vũng Áng” – ông Vân khẳng định.

Từ số vốn giải ngân đó, đến nay theo đại diện Ban quản lý các khu kinh tế tỉnh Hà Tĩnh, khoảng 65% hạng mục của dự án đã hoàn thành. “Dự án có ba mảng chính là nhà máy nhiệt điện, cảng và tổ hợp gang thép. Tháng 9 này nhà máy nhiệt điện số 1 sẽ phát điện, công suất 150 MW và 11 cầu cảng đã xây xong, có cảng nước sâu đón tàu lớn ra vào. Về tổ hợp gang thép, các hạng mục quan trọng đều đã cơ bản hoàn thành” – ông Vân thông tin.

Trên cơ sở tiến độ xây dựng đó, ông Vân cho biết ông Vương Văn Uyên – chủ tịch Formosa – khẳng định trong năm 2015 sẽ ra mẻ thép đầu tiên.

Chuyên về sản phẩm thép

Ghi nhận thực tế trên công trường cho thấy đã có khá nhiều hạng mục của dự án đang trong giai đoạn hoàn thành. Với diện tích được cấp phép lên đến 2.025ha đất liền nên chúng tôi phải dùng xe máy di chuyển trong nhiều giờ mới có thể tiếp cận hết các khu vực khác nhau của đại công trường này. Từ quốc lộ 1A đi vào là tòa nhà văn phòng lớn đã hoàn thành, chỉ còn vài mảng sân đang lát đá ốp vỉa hè. Sát bên là tòa nhà khách lớn với rất nhiều phòng để phục vụ những đoàn khách số lượng lớn tới đây trong tương lai.

Ngay bên cạnh là các tòa nhà làm chỗ ở cho chuyên gia, được đánh dấu A, B, C, D. Các tòa nhà từ 5-10 tầng này được xây theo kiến trúc châu Âu. Tại khu vực nhà máy chế biến thép, các lò cao đã được lắp đặt đứng sừng sững. Chạy dọc các lò cao là những hệ thống khung thép từ nhà xưởng cán nóng, xưởng luyện cốc, lò vôi và các hệ thống đường dẫn cũng đang được đấu nối. Theo thuyết minh của Formosa, từ lò cao này sẽ cho ra các sản phẩm như phôi thép vuông, phôi dẹt, thép cuộn cán nóng, thép cuộn làm sạch và ngâm dầu, thép kiện cán nóng, băng thép cán nóng.

Để chuẩn bị cho mẻ thép đầu tiên sẽ ra lò vào tháng 5-2015, theo ông Vân, dự kiến trong giai đoạn một sẽ có 6.000 cán bộ công nhân vận hành nhà máy, trong đó 1.000 người từ Đài Loan sang. Số còn lại là lao động VN. Hiện tại phía Formosa đang tuyển lao động và tới thời điểm này đã tuyển được 4.000 người.

Theo giấy phép đầu tư dự án chia làm hai giai đoạn, giai đoạn một có công suất 7,5 triệu tấn/năm, giai đoạn hai 15 triệu tấn/năm và cảng Sơn Dương phục vụ nhà máy gang thép, với tổng vốn đầu tư gần 10 tỉ USD. Cơ cấu sản phẩm nhà máy liên hợp gang thép giai đoạn một với 7,5 triệu tấn gồm: phôi thép vuông 1,5 triệu tấn/năm, phôi dẹt 2,25 triệu tấn/năm, thép cuộn cán nóng 2 triệu tấn/năm, thép cuộn làm sạch và ngâm dầu 450.000 tấn/năm, thép kiện cán nóng 250.000 tấn/năm, băng thép cán nóng 1,05 triệu tấn/năm.

Ông Vân khẳng định hiện nay cơ cấu sở hữu vốn của dự án Formosa không thay đổi, các thông tin chủ đầu tư bán cổ phần cho Trung Quốc là không có thật. Đây là dự án do nhiều cổ đông người Đài Loan sáng lập. “So với bản đầu tiên các cổ đông không có gì thay đổi mà chỉ thay từ 7,9 tỉ lên 10 tỉ USD, đây là những yếu tố tính trượt giá, còn quy mô dự án không có gì thay đổi so với ban đầu. Giờ Formosa đang xin điều chỉnh công suất dự án lên 21,5 triệu tấn thép/năm, tức gấp ba lần so với công suất đăng ký ban đầu cả giai đoạn một và giai đoạn hai chỉ 15 triệu tấn/năm, tương ứng với 28 tỉ USD” – ông Vân cho biết.

Theo thuyết minh của phía Formosa, sản phẩm chủ chốt của họ sắp tới sẽ là các loại thép tấm để phục vụ làm khung sườn ôtô và họ muốn nhắm đến các trung tâm sản xuất ôtô lớn ở Thái Lan, Malaysia.

Nhập máy móc từ Đài Loan, Trung Quốc

Mặc dù Formosa tuyên bố sản phẩm chính của họ sẽ là thép tấm, với dây chuyền sản xuất hiện đại, nhưng theo ghi nhận máy móc thiết bị phục vụ cho dự án chủ yếu từ Trung Quốc. “Công ty chúng tôi nhận bốc dỡ hàng hóa ở cảng Sơn Dương. Hàng nhập về của Formosa phần lớn là hàng có xuất xứ Trung Quốc” – ông Paul Yeh, phó tổng giám đốc Công ty VietGlory đóng tại Kỳ Anh, cho biết.

Theo thông tin từ Chi cục Hải quan Vũng Áng, dự án Formosa bắt đầu nhập khẩu máy móc, thiết bị từ năm 2010. Các mặt hàng này phục vụ chủ yếu cho các dự án lò luyện thép, nhà máy nhiệt điện đang triển khai xây dựng. Trong đó trên 90% được nhập về từ Đài Loan và Trung Quốc, phần còn lại là từ nhiều quốc gia khác như Đức, Bỉ, Úc…

Điều khá bất ngờ là hàng hóa nhập khẩu của dự án Formosa đang được hưởng ưu đãi rất lớn như miễn thuế đối với các mặt hàng tạm nhập tái xuất, chưa kể Formosa là đối tượng đầu tư trong khu vực được ưu tiên nên tiếp tục được miễn thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng tạo tài sản cố định…

Tại khu vực làm thủ tục thông quan, nhân viên ra vào nhộn nhịp. Quan sát trên danh mục hàng nhập khẩu và hàng ngàn tờ khai hải quan trên hệ thống điện tử, có thể thấy máy móc linh kiện nhập khẩu vào dự án Formosa chủ yếu đến từ Đài Loan và Trung Quốc. Ngoài các cấu kiện lớn về máy móc, thiết bị thì cũng có những mặt hàng nhỏ lẻ như bulông, ốc vít để lắp ráp. “Hàng nhập khẩu đầu tư về làm tài sản cố định đối với các hạng mục chính trong dự án Formosa như lò cao, lò luyện, nhà máy thép tới trên 90% là từ Đài Loan, Trung Quốc” – một nhân viên hải quan tại đây cho biết.

ĐÌNH DÂN – HỒNG QUÝ – VĂN ĐỊNH

 

 

( Nguồn :tuoitreonline)

Đăng bởi: Ngô Minh | 06.07.2014

 

Sao lại đi học kẻ thù?

Nguyễn Trọng Vĩnh

 

Đọc bài dưới đây càng thấy con mắt nhìn của nhà ngoại giao kỳ cựu Nguyễn Trọng Vĩnh vẫn giữ được tinh bén như thuở còn đương chức. Cụ đã chỉ ra rất trúng tim đen của “đồng chí Tàu” muốn gấp rút đào tạo thêm vài nghìn tay sai bán nước để tiếp tay cho bước leo thang nguy hiểm trong hành động xâm lược của chúng – theo cách nói rất ý nhị của Cụ: “Họ sẽ giáo dục chính trị, văn hóa Trung Quốc cho [số người này] thấm nhuần tư tưởng và trách nhiệm làm “phiên thần” của “Đế chế Đại Hán tộc”” – mặc dù không một ai tỉnh táo trong 90 triệu con dân Việt không đinh ninh rằng loại người biết “đón bắt cơ hội” này trong hàng ngũ “Đảng ta”, những “chẫu chàng gặp mưa rào”, đến nay cũng đã có dư.

Đặc biệt, vị lão tướng còn nhìn sâu vào bụng dạ của kẻ đã quá nhanh nhảu hưởng ứng “chỉ thị” của tỉnh Quảng Đông, viết ngay công văn gửi các bộ ngành trong cả nước: “Người có “sáng kiến” chủ trương việc đi học này còn có ý tỏ cho “nước bạn” biết là thần phục họ, coi họ là bậc thầy trong công tác và kinh nghiệm hay để mong ông Tập qua đường dây nóng gợi ý với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề cử vào vị trí cao trước Đại hội Đảng Việt Nam khóa XII tới”? Trúng phóc Cụ ơi!

Cuối bài viết của mình, tác giả kết luận: “Trong khi Trung Quốc đang lấn chiếm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của ta, thái độ hung hăng bạo ngược, quyết tâm tiến chiếm biển, đảo của chúng ta và thóa mạ ta “đưa đứa con hoang đãng trở về nhà” mà Đảng, Chính phủ hoặc một nhóm nào đó lại làm những việc có tính chất “làm thân”, “cầu hòa” như nêu trên đây, thì thật là nhục nhã”.

Thưa cụ Vĩnh: chúng tôi thiển nghĩ, nếu các vị ấy cứ nuốt nhục mà làm thì đã đi một nhẽ. Nhưng họ lại coi đây là biểu hiện của liên minh “ý thức hệ”, liên minh giữa hai đảng cộng sản với nhau kia. Mà liên minh “ý thức hệ” thì trớ trêu thay… không liên quan gì đến việc đất nước đang bị lũ nhân danh “ý thức hệ” ở Bắc Kinh thực hiện dã tâm chiếm cướp. Đảng là đảng, cướp là cướp, mặc bọn chúng luôn phân thân từ đảng sang cướp song “Đảng ta” trước sau vẫn “giữ lòng chung thủy”, chỉ tiếp nhận ở chúng phần “đảng” mà thôi. Tài thật! “Biện chứng” đến thế là cùng! Nhưng một “lôgic” như thế theo chúng tôi, chắc chắn sẽ dẫn đến một hệ quả đương nhiên trong nhận thức; ấy là: “Đảng ta” giờ đây không chỉ đang mất hết tính chính danh mà cũng đang đánh mất cả cái tư thế chính nghĩa mà trước kia họ đã có. Đảng chẳng còn liên quan gì đến công cuộc chèo chống cho vận mệnh sinh tồn của dân tộc mà dân chúng khắp nước lâu nay đang sục sôi và nhiều thành phần ưu tú đang ra sức lên tiếng “gọi đàn”, bảo nhau vào cuộc. Thế có phải là “sự chuyển hóa giữa hai mặt đối lập” đang tự nó thực hiện đúng quy luật hay không?

Nói thế chắc Cụ cũng ngầm hiểu, việc yêu cầu ông Nguyễn Phú Trọng từ chức như dư luận vẫn râm ran mới đây có lẽ cũng không cần thiết nữa rồi, bởi lịch sử đã hội đủ yếu tố để xuất hiện những đòi hỏi cao hơn thế nhiều.

Hy vọng một thời gian nữa thực tiễn sẽ có câu trả lời để Cụ và chúng tôi cùng chứng nghiệm.

Nguyễn Huệ Chi

Được biết người ta mới cử một đoàn cán bộ cấp vụ sang Trung Quốc để học xây dựng Đảng và công tác cán bộ.

I. Những người được cử đi học được gì?

- Được một chuyến tham quan du lịch (bằng tiền nhà nước cũng tức là của dân đóng góp).

- Được nghe cán bộ Trung Quốc thuyết giảng cái gì Trung Quốc cũng hay cũng giỏi để mà thán phục.

- Được ăn cơm Tàu, được chiêu đãi nồng hậu, có quà cáp hoặc được thưởng thức gái Trung Quốc. Ăn cơm Trung Quốc thì phải nói hữu nghị với họ, biết ơn họ mặc dầu họ đang cướp biển, đảo của nước mình. Cũng có người trở thành thân Trung Quốc hoặc thành người của họ, về sẽ tuyên truyền cho họ.

Người có “sáng kiến” chủ trương việc đi học này còn có ý tỏ cho “nước bạn” biết là thần phục họ, coi họ là bậc thầy trong công tác và kinh nghiệm hay để mong ông Tập qua đường dây nóng gợi ý với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề cử vào vị trí cao trước Đại hội Đảng Việt Nam khóa XII tới.

II. Họ học được gì?

Cứ đem “Tuyển tập Hồ Chí Minh” ra học và dạy thì có đủ lời hay, ý đúng trong mọi công tác, kể cả công tác xây dựng Đảng và công tác cán bộ.

Hãy đọc lại các nghị quyết của Đảng Lao động và Đảng Cộng sản cũng đã thấy tiêu chuẩn “Cán bộ là đủ Đức, Tài; Đức là chủ yếu” được ghi nhiều lần rồi. Trong các nghị quyết và tài liệu cũng đã từng ghi “lựa chọn, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ phải là người có đạo đức và năng lực và được tín nhiệm”, vấn đề là có thực hiện đúng thế không, việc gì phải sang Trung Quốc về nói là học được những điều đó.

“Lựa chọn quần chúng ưu tú, được thử thách để kết nạp vào Đảng và Đảng viên phải tiên phong gương mẫu trong mọi việc” cũng đã có trong các chỉ thị, nghị quyết cả rồi, phải đâu đoàn cán bộ phải sang Trung Quốc mới học được đem về những điều tưởng là “mới” ấy!

Hơn nữa, cứ tổng kết từ Việt Nam ta cũng thiếu gì kinh nghiệm phong phú, cần gì phải đi học ai. Trong kháng chiến gian khó ác liệt có điều kiện thử thách thực tế nên phát triển Đảng cũng như tuyển chọn, đề bạt cán bộ đúng nhiều, có sai cũng rất ít. Trong hòa bình, chức quyền nhỏ nhất cũng phải là Đảng viên mới được giao nên nhiều người chẳng vì lý tưởng chẳng tiên phong gương mẫu cũng tìm mọi cách để được vào Đảng. Tiếp đến tham nhũng tràn lan “dột từ nóc” (Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh nói), rồi “mua quan bán chức”, ưu tiên “con ông cháu cha” nên Đảng suy thoái, người có thực tài, thực đức, cương trực thì gạt bỏ, một số có học hàm dễ kiếm bằng giả, cơ hội, vô tài, bất đức, nịnh bợ thì được trọng dụng.

Nghe đâu còn có chủ trương hai thành phố lớn Hà Nội và TP Hồ Chí Minh mỗi nơi sẽ gửi 100 cán bộ sang Trung Quốc để họ đào tạo. Nếu đúng thì đây là chủ trương “gửi trứng cho ác”!

Nhà cầm quyền Trung Quốc sẽ làm gì?

Trước hết họ đối xử nhiệt tình nồng hậu, họ sẽ “mua” và gài bẫy “mỹ nhân kế”, đây là nghề truyền thống của họ, họ đã thực hiện thành công ngay cả đối với những người lãnh đạo cao nhất của một số nước. Họ sẽ tuyên truyền cho 200 cán bộ đó: Trung Hoa là trung tâm của thiên hạ, sẽ là siêu cường lãnh đạo thế giới. Họ sẽ giáo dục chính trị, văn hóa Trung Quốc cho thấm nhuần tư tưởng và trách nhiệm làm “phiên thần” của “Đế chế Đại Hán tộc”.

III. Sao lại vào lúc nước sôi lửa bỏng đương diễn ra?

Trong khi Trung Quốc đang lấn chiếm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của ta, thái độ hung hăng bạo ngược, quyết tâm tiến chiếm biển, đảo của chúng ta và thóa mạ ta “đưa đứa con hoang đàng trở về nhà” mà Đảng, Chính phủ hoặc một nhóm nào đó lại làm những việc có tính chất “làm thân”, “cầu hòa” như nêu trên đây, thì thật là nhục nhã.

Kẻ xâm lược thì phải gọi là kẻ thù, không thể khác. Năm 1979, Tổng Bí thư Lê Duẩn nói thế lực bành trướng Trung Quốc là kẻ thù truyền kiếp của nhân dân ta, rất đúng.

Trong tình hình ác liệt, một mất, một còn như hiện nay mà gửi cán bộ cho nước thù đào tạo để làm thân thì thử hỏi trong họ còn có chút nào dòng máu Lạc Hồng và chút nào chí khí quật cường của dân tộc Việt Nam nữa không?

N. T. V.

Tác giả gửi BVN.

Xem thêm:

Đoàn cán bộ Ban Tổ chức Trung ương nghiên cứu về công tác xây dựng đảng tại Trung Quốc: xaydungdang.org.vn

( Nguồn : BVN)

 

 

 

 

LậpAnh Mỹ Vinh

 

 

 

BA NGƯỜI TÀI SINH RA TỪ TRƯỜNG “CẤP III BA ĐỒN” 
 LÊ QUANG VINH

   Nền giáo dục cả nước, có những ngôi trường phổ thông cấp huyện – vì những lý do nào đó, ít khi được tuyên truyền vì thế không nổi tiếng lắm trong dư luận. Tuy nhiên, theo bề dày đào tạo và cống hiến, đặc biệt lớp lớp các thế hệ học sinh những ngôi trường “không nổi tiếng lắm” đó; sau khi ra trường tiếp tục học lên, họ trưởng thành rồi ra đời tham gia chiến đấu trong chiến tranh cứu nước trước đây và lao động trong hòa bình sau này, nhiều “cựu học sinh” lại rất “nổi tiếng” bởi những cống hiến đặc biệt xuất sắc cho đất nước. Ngôi trường thực sự điển hình về sự độc đáo này chính là Trường Phổ thông Cấp III Quảng Trạch (tên dân gian là “Cấp 3 Ba Đồn”), tỉnh Quảng Bình trước đây – Tên mới bây giờ là Trường THPT số I Quảng Trạch. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 05.07.2014

CỬU ĐỈNH ĐÃ ĐƯỢC ĐÚC NHƯ THẾ NÀO ?

 

                         CỬU ĐỈNH ĐÃ ĐƯỢC ĐÚC NHƯ THẾ NÀO ?

                                        Ngô  Minh

            Ở Khu Thế Miếu trong Đại Nội Huế có 9 cái Đỉnh đồng lớn, gọi là 9 đỉnh triều đại, người dân gọi nôm na là Cửu Đỉnh. Năm 2012 Cửu Đỉnh được tôn vinh là báu vật quốc gia..Mỗi cái nặng trên 2 tấn, được khởi đúc từ cuối năm 1835, hoàn thiện xong tháng 3- 1837 .Cứu Đỉnh tượng trưng cho sự trường tồn của Vương quốc Đại Việt và uy quyền của triều đình.  Cửu Đỉnh  là một cụm tượng đài  hoành tráng nhất, là “ bách khoa thư” về nước Việt Nam lúc bấy giờ, là công trình văn hóa lớn nhất , để đời của Vua Minh Mạng. Theo sử sách nhà Nguyễn, ý tưởng thiết kế Cửu Đỉnh là của vua Minh Mạng .Vua trực tiếp chọn các hình ảnh và giao cho Bộ Công  chỉ đạo thợ đúc đồng Phường Đúc Huế thực hiện. Chỉ dụ của Vua đặt tên cho từng Đỉnh theo thứ tự : Đỉnh lớn ở giữa là Cao Đỉnh, tượng trưng cho sự Vĩ Đại, đỉnh cao 2,02 m, đường kính 1,61 m;   đến Nhơn Đỉnh (tượng trưng Đức ), cao 1,9m, đường kính 1,62 m; Chương Đỉnh ( Anh sáng) : 1,88 m và 1,6 m; Anh Đỉnh ( Hiển đạt): 1,875m và 1,61 m; Nghị Đỉnh ( cương nghị) : cao 2,08 và 1,63; Thuần Đỉnh ( Tinh Khiết): cao 1,88 và 1,60; Tuyên Đỉnh ( tinh thông) : 1,98 m- 1,60 m; Dũ Đỉnh ( phong phú) ; Huyền Đỉnh ( tinh thông): cao 1,88m và 1,61 m. Nhà nghiên cứu L. SOGNY ( Pháp) cho rằng, mỗi đỉnh tượng trưng cho một ông vua ( Như Cao Đỉnh là Gia Long, Nhơn Đỉnh là Minh Mạng.v.v.) .Nhưng  Cửu Đỉnh được đúc năm 1935, làm sao vua Minh Mạng biết được Triều Nguyễn có 9 vua để tìm hình ảnh tượng trưng ? ( Thực tế có 13 đời vua) . Cũng chưa ai giải thích vì sao chiều cao, đường kính của các đỉnh sau Cao Đỉnh lại khác nhau và không theo một trật tự ưu tiên nào ?. Vua xuống chiếu : “Trên các đỉnh phải khắc các hình núi , sông, người và động vật. Không chỉ phải khắc cho đủ mà còn phải chạm rõ ràng đúng vị trí để ghi nhớ tài liệu và cho rõ là của ai” . Có 17 mô típ ( nhóm hình ảnh)  vừa cụ thể vừa tượng trưng nhằm kỷ niệm năm Minh Mạng thứ 17. Các nhóm hình ảnh gồm có trời, đất, núi sông, sản vật, vũ khí…Trời trên Cửu đỉnh gồm các hình tượng mặt trời, mặt trăng, gió, mây, sấm, sét, các sao kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Đối diện với Trời là Đất gồm các hình ảnh  Sông (Tiền Giang, Hậu Giang, sông Mã, sông Hồng, Bạch Đằng Giang, sông Hương…), Núi (Hồng Lĩnh, Tản Viên, Đèo Ngang, núi Đại Lãnh, Hải Vân…).Sau sông núi là các loại gỗ quý, cây ăn quả, cây thực phẩm, muông thú trong rừng, chim chóc trên cây, tôm cá dưới nước, hoa cảnh, vật nuôi, cây thuốc, thuyền buồm…Nhóm hình ảnh thứ 17 là vũ khí gồm kiếm, cung, giáo, súng thần công… Tổng số đồng để đúc 9 đỉnh là 22.473kg .Tổng số các hình ảnh trong 17 nhóm trên là 153 hình ảnh chạm khắc nổi với hàng ngàn đường viền, đường lượn , hoa văn vô cùng tinh xảo..  Một câu hỏi đặt ra là cách đây 168 năm, trong điều kiện thủ công vô cùng lạc hậu , bằng phương thức nào, thợ đúc đồng Huế đã thực hiện tuyệt vời ý đồ thiết kế của nhà Vua , tạo nên công trình đúc đồng lớn tuyệt mỹ như vậy ? (Đọc tiếp…)

 

Học giả thế giới: Mỹ, Nhật có thể kiện “đường lưỡi bò”

TP – Đó là một trong những đề xuất của GS Jerome Cohen thuộc Trường Luật – Đại học New York (Mỹ), một học giả uy tín về luật pháp quốc tế, đặc biệt về những vấn đề liên quan Trung Quốc, tại hội thảo quốc tế ở Việt Nam mới đây, được GS Carlyle Thayer (Học viện Quốc phòng Úc) lược thuật trên tạp chí The Diplomat ngày 4/7.
Tàu kéo Hữu Liên 9 của Trung Quốc đâm húc tàu kiểm ngư KN 951 (phải) của Việt Nam hôm 23/6 gần giàn khoan Hải Dương 981 mà Trung Quốc hạ đặt trái phép trong vùng biển Việt Nam.  Ảnh: Việt Cường Tàu kéo Hữu Liên 9 của Trung Quốc đâm húc tàu kiểm ngư KN 951 (phải) của Việt Nam hôm 23/6 gần giàn khoan Hải Dương 981 mà Trung Quốc hạ đặt trái phép trong vùng biển Việt Nam. Ảnh: Việt Cường

GS Cohen chủ trương dùng luật pháp quốc tế để giải quyết các tranh chấp ở biển Đông. Ông cho rằng, vấn đề tranh chấp ở biển Đông quá phức tạp nên cần nhiều phương pháp tháo gỡ; dù đàm phán song phương hay đa phương giữa các bên liên quan, các cuộc đàm phán vẫn có những giới hạn và thường cần tới sự bổ trợ của những cách tiếp cận khác. Theo ông, phương thức sử dụng trọng tài và tòa án quốc tế nên được coi là ưu tiên cao trong giải quyết tranh chấp.

GS Cohen khuyên Việt Nam đưa vụ việc ra Tòa Công lý quốc tế bất chấp Trung Quốc có thể từ chối tham gia vụ kiện. Nó chứng tỏ cam kết của Việt Nam đối với luật pháp quốc tế nhằm giải quyết các tranh chấp lãnh thổ. Ông bày tỏ hy vọng Tòa Trọng tài quốc tế, nếu đồng ý thụ lý vụ việc, có thể làm sáng tỏ một số điều khoản quan trọng trong Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS). 

Tòa Trọng tài có thể xác định rõ cấp độ nào những yêu sách mang tính lịch sử mơ hồ của Trung Quốc tồn tại được trước UNCLOS, cũng như tiêu chuẩn hợp thức để phân biệt chính xác giữa một hòn đảo (đủ điều kiện tự nhiên cho con người sinh sống, có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa) và một bãi đá là gì.

GS Cohen nói rằng, Việt Nam có thể lựa chọn cùng tham gia vụ kiện với Philippines hoặc tự đưa vụ việc ra trọng tài UNCLOS. Trường hợp Việt Nam muốn đòi lại chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, cần phải đưa vụ việc ra Tòa Công lý quốc tế. Cho dù Trung Quốc từ chối tham gia, Việt Nam vẫn có lợi nhờ chứng tỏ với thế giới mong muốn và sự chân thành của mình về việc giải quyết hòa bình, công bằng. GS Cohen cho rằng, sự chân thành của Việt Nam thậm chí càng trở nên nổi bật hơn.

Học giả Cohen còn đề nghị Nhật Bản cân nhắc đưa “đường lưỡi bò” 9 đoạn (10 đoạn trong tấm bản đồ dọc Trung Quốc mới công bố) ra trọng tài UNCLOS. Ông cũng gợi ý rằng, dù không phải một thành viên UNCLOS, Mỹ vẫn có thể khởi kiện “đường lưỡi bò” ra Tòa Công lý quốc tế, bất chấp Trung Quốc có thể từ chối tham gia vụ kiện. GS Cohen đưa ra nhiều đề xuất đề cao vai trò của luật pháp quốc tế. Ông đề nghị thành lập một nhóm làm việc bao gồm các học giả từ các quốc gia có đòi hỏi chủ quyền ở biển Đông nhằm tìm cách tháo gỡ những vấn đề phức tạp và đề xuất những giải pháp giải quyết tranh chấp lãnh thổ hiện nay. 

TS Patrick Cronin ở Trung tâm An ninh Mỹ Mới nói: “Luật pháp dựa trên ba yếu tố: tính có thể dự đoán hay tính tin cậy, sự minh bạch và sự công bằng. Tuy nhiên, đó lại không phải mục tiêu của Trung Quốc”. Ông Cronin vạch rõ, Trung Quốc đang theo đuổi chính sách hăm dọa ở biển Đông. 

Nhằm đối phó chính sách sử dụng hăm dọa của Trung Quốc, TS Cronin đề xuất 5 ưu tiên chính sách. Thứ nhất, Mỹ và Việt Nam nên phát triển những chiến lược gây phí tổn để ngăn Trung Quốc. Thứ hai, Mỹ và Việt Nam nên tập trận song phương thường xuyên. Thứ ba, Mỹ có thể ủng hộ cơ chế đối thoại an ninh ba bên Việt Nam, Malaysia và Philippines. Thứ tư, Mỹ nên bãi bỏ lệnh cấm bán vũ khí cho Việt Nam. Thứ năm, Mỹ nên gây áp lực với tất cả các thành viên khối ASEAN ủng hộ những quy tắc đặc thù nhằm duy trì trật tự, an ninh biển và tự do hàng hải ở biển Đông.

Việt Nam tiếp tục phản đối Trung Quốc tại LHQ

Ngày 3/7, Đại sứ Lê Hoài Trung, Trưởng Phái đoàn đại diện thường trực Việt Nam tại Liên Hợp Quốc (LHQ), tiếp tục gửi thư lên Tổng Thư ký LHQ Ban Ki-moon đề nghị lưu hành hai văn bản nêu rõ lập trường của Việt Nam về việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. 

Cụ thể, đề nghị lưu hành hai văn bản này như những tài liệu chính thức của Đại hội đồng LHQ khóa 68. Các tài liệu khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, bác bỏ các yêu sách không có cơ sở pháp lý và lịch sử của Trung Quốc về chủ quyền đối với quần đảo này. 

Việt Nam cho rằng, Trung Quốc đang làm gia tăng căng thẳng ở biển Đông bằng các hành động vi phạm luật pháp quốc tế, yêu cầu Trung Quốc tôn trọng sự thật lịch sử và nghiêm túc đàm phán với Việt Nam về vấn đề quần đảo Hoàng Sa. 

Đây là lần thứ tư Việt Nam gửi thư đề nghị Tổng Thư ký LHQ lưu hành các tài liệu của Việt Nam khẳng định chủ quyền của mình đối với Hoàng Sa và liên quan việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan.

Theo The Diplomat

(Nguồn :Tienphongonline)

 

 

 

Báo Trung Quốc: 4 lý do không thể thắng Việt Nam bằng chiến tranh

 
Hồ Trung Nghĩa (lược dịch) 
Theo Infonet  

Không quân VN luôn sẵn sàng túc trực bảo vệ bầu trời Tổ quốc.
 Trêntrang mạngQuân sự TrungQuốc (Military.china.com) ngày 3/7 có bài viết cho rằng với 4 lý do cốt tử, gần như chắc chắn Trung Quốc sẽ phải gánh chịu thất bại nếu gây chiến với Việt Nam.

 Căng thẳng trên biển Hoa Đông giữa Trung Quốc với Nhật Bản hay trên Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc càng trở nên căng thẳng hơn nữa và kêu gọi gây chiến không chỉ bởi những quyết sách thâm hiểm từ các cấp lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc, mà còn bởi một bộ phận người Trung Quốc thiếu hiểu biết, mang tư tưởng chủ nghĩa dân tộc cực đoan “Đại Hán” luôn cổ vũ cho những hành động mang tính chất ngang ngược vô đạo đối với các nước láng giềng.
Nhưng bên cạnh đó cũng những người Trung Quốc hiểu và biết rằng, nếu bây giờ Trung Quốc gây chiến với các nước láng giềng họ sẽ tự chuốc lấy họa.
Trên trang mạng Quân sự Trung Quốc (Military.china.com) ngày 3/7 có bài viết cho rằng với tình hình hiện tại Trung Quốc không thể gây chiến. 
Theo đó lý do thứ nhất là sự lão luyện thiện chiến của quân đội Việt Nam. Bài viết cho rằng, không phải lãnh đạo Trung Quốc không dám gây chiến, nhưng với những hạn chế hiện tại của Trung Quốc, thi Trung Quốc không thể tiến hành gây ra một cuộc chiến tranh với bất kỳ quốc gia láng giềng nào.
Nếu Trung Quốc gây chiến với Việt Nam, Trung Quốc sẽ rơi vào cái bẫy, những bài học từ cuộc chiến với Việt Nam năm 1979 đã cho thấy sự hao tiền tốn của và sinh mạng như thế nào, chỉ riêng trong trận Lão Sơn, mỗi tuần Trung Quốc tiêu hao gần 200.000 quả đạn pháo, nhưng lại thiệt hại từ 4.000 đến 8.000 quân.
Quân đội Việt Nam sử dụng chiến thuật chiến tranh du kích rất lão luyện, họ sẽ đánh bại chúng ta bằng cuộc chiến tiêu hao từ từ cho đến khi chúng ta thất bại, chúng ta không thể khinh thường họ. Người Mỹ đã hết sức sai lầm khi tuyên bố “đưa Việt Nam về thời kỳ đồ đá” và Việt Nam đã đáp lại bằng câu nói rằng “chúng tôi đã bước vào thời kỳ đồ nhôm” (xác máy bay Mỹ)… Vì vậy Trung Quốc không thể chiến thắng bằng cách gây ra chiến tranh, bài học về các lực lượng không quân và hải quân bị tiêu diệt vẫn còn giá trị. 
alt
Thứ hai, đó là môi trường chính trị quốc tế, khi gây ra cuộc chiến tranh với Việt Nam, Trung Quốc đầu tiên sẽ phải đối mặt với sự lên án một cách gay gắt từ dư luận phương Tây và Hoa Kỳ cũng như Nhật Bản.
Không những thế, gây chiến với Việt Nam sẽ làm cho Trung Quốc không còn chỗ đứng trên trường quốc tế, các nước trên thế giới sẽ lên án Trung Quốc vì sức mạnh truyền thông nằm trong tay các nước phương Tây, và trong cuộc chiến truyền thông thì Trung Quốc hoàn toàn bị động. Cuộc chiến sẽ làm cho Trung Quốc mất dần sức mạnh và suy yếu, các lực lượng thù địch Trung Quốc sẽ thừa cơ can thiệp vào trung Quốc. 
Thứ ba, Trung Quốc phải đối mặt với vấn đề thù trong giặc ngoài. Trong khi chính trong nội bộ lãnh đạo Trung Quốc vẫn còn tồn tại những vấn đề rất lớn thì bên ngoài Trung Quốc lại đang phải đối diện với một vòng vây chữ C của các nước.
Nếu Trung Quốc sử dụng những lực lượng tinh nhuệ nhất, hiện đại nhất để đối phó với Việt Nam thì ở những khu vực khác của Trung Quốc lực lượng sẽ yếu và mỏng đi, Trung Quốc sẽ đối mặt với điều cấm kỵ trong binh pháp đó là cùng một lúc phải đối mặt với hai mặt trận. Có thể dự đoán khi Trung Quốc khai chiến với Việt Nam thì Đài Loan sẽ tuyên bố độc lập ngay tức khắc, lúc đó Trung Quốc không thế nào chiến thắng được trên mặt trận Đài Loan vì Hoa Kỳ sẽ đứng sau hậu thuẫn.
Tiếp theo là Nhật Bản sẽ kiểm soát hoàn toàn quần đảo Điếu Ngư/Senkaku, Trung Quốc sẽ đánh mất cơ hội kiểm soát Bắc Triều Tiên, Ấn Độ đánh chiếm khu vực tranh chấp và thôn tính miền Nam Tây Tạng…
Việc Trung Quốc không thể lấy bài học của Hoa Kỳ tại Lybia hay bài học của Nga tại Georgia bởi vì không chỉ là sức mạng quốc gia của họ mạnh hơn Trung Quốc mà với các cuộc chiến trên thì Nga và Mỹ họ đều có sự thuận lợi về yếu tố địa chính trị, họ không có những vấn đề lớn phức tạp với các nước láng giềng và sự ổn định cơ bản trong nội bộ đất nước, do đó họ không phải lo lắng từ áp lực của bên ngoài và nội bộ để có thể dành chiến thắng.
Và điểm cốt lõi quan trọng nhất trong cuộc chiến Iraq, Afghanistan bởi họ là những quốc gia sa mạc, Không quân Mỹ có thể dễ dàng oanh kích kẻ thù, trong khi đó Georgia vốn chỉ là một đồng bằng chỉ cách ba mươi sáu cây số từ Nga, vì vậy lực lượng cơ giới Nga có thể ngay lập tức cơ động đánh chiếm.
alt
Hải quân đánh bộ Việt Nam diễn tập sẵn sàng chiến đấu.(Ảnh minh họa)
Nhưng với Việt Nam thì khác, những bài học trên không thể áp dụng được, Việt Nam được bao bọc bởi đồi và núi, Pháp, Hoa Kỳ và cả Trung Quốc đã phải nếm trải những thất bại đau đớn tại đây, một cuộc chiến với Việt Nam sẽ hết sức khó khăn, Việt Nam rất lão luyện trong chiến tranh du kích, do đó việc sử dụng tên lửa, máy bay chiến đấu là một sự ngu ngốc! Các đơn vị cơ giới sẽ bị chặn lại bởi các dãy núi, vì vậy chắc chắn chúng ta sẽ rơi vào một cuộc chiến tranh tiêu hao kéo dài, nó không phải là giữa những hy vọng của đối phương cho nó!
( Nguồn: quechoa)

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 03.07.2014

Việt Nam, Nhật, và giàn khoan 981

 

Việt Nam, Nhật, và giàn khoan 981

 
Nguyễn Lương Hải Khôi
  
 
Viet- studies: Đây là bài phỏng vấn Nguyễn Lương Hải Khôi (Quỹ Nghiên cứu Biển Dông) do Đỗ Thiện của báo Pháp luật TP HCM thực hiện. Tuy nhiên, cho đến ngày 2-7-2014 thì bài vẫn chưa được đăng và người được phỏng vấn vẫn chưa nhận được quyết định nào của tờ báo. Do đó, Nguyễn Lương Hải Khôi nhờ viet-studies phổ biến đến bạn đọc.


 

Câu 1: Thưa ông, ông đánh giá thế nào về vai trò của Nhật đối với Việt Nam trong đấu tranh ngoại giao với Trung Quốc xung quanh vấn đề giàn khoan 981 trái phép trên quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, nhất là khi Nhật là một đồng minh của Mỹ?
Trả lời:
Về vai trò của Nhật đối với Việt Nam trong đấu tranh ngoại giao với Trung Quốc, không khó để mỗi chúng ta có câu trả lời. Chúng ta chỉ cần tưởng tượng chuyện gì sẽ xảy ra ở Châu Á thế kỷ 21 này, nếu chỉ có một cường quốc duy nhất là Trung Quốc, không tồn tại một cường quốc có bề dày lịch sử là Nhật Bản hoặc Nhật Bản chỉ là một quốc gia đang phát triển như Việt Nam. 
Sự tồn tại của Nhật Bản như hiện nay đã là một ích lợi lớn cho Việt Nam và các nước đang phát triển trong khu vực – một quốc gia với vai trò gìn giữ vai trò hòa bình, là đối trọng để kiềm chế các động thái hung hăng gây hấn của Trung Quốc, là động lực kinh tế, và là một nền dân chủ trưởng thành nhất trong cả khu vực.
Điều quan trọng không phải đánh giá vai trò của Nhật đối với Việt Nam trong một sự việc cụ thể là vấn đề giàn khoan Haiyang Shiyou 981 mà là nhận thức được vai trò của Nhật Bản đối với Việt Nam trong cuộc đấu trí tuệ có tính sinh tử trước chiến lược bành trướng tính bằng nhiều thế kỷ của Trung Quốc, không phải chỉ từ bây giờ.
Câu 2: Hiện nay, chính phủ Nhật đã và đang thể hiện quan điểm như thế nào về vấn đề 981? Ông đánh giá thế nào về các động thái đó của Nhật?
Trả lời:
Chính phủ Nhật đã công khai ủng hộ Việt Nam, phê pháp mạnh mẽ hành động sai trái của Trung Quốc ở các diễn đàn quốc tế, ở Hội nghị thượng đỉnh an ninh Châu Á (Đối thoại Shangri – La), ở Hội nghị G7 – nơi Việt Nam không có điều kiện tham gia, cử tàu Kunisaki thăm Việt Nam. Việc giúp đỡ về khí tài vật chất đang được xem xét, tuy nhiên còn vướng mắc ở các vấn đề pháp lý của Hiến pháp Nhật Bản.
Tuy vậy, điều chúng ta cần nhận thức là: chúng ta cần Nhật Bản không chỉ cho sự vụ “nhỏ nhặt” là cái dàn khoan này. Nếu chúng ta nghĩ rằng chúng ta chỉ cần sự trợ giúp của Nhật để giải quyết cho “êm xuôi” cái vụ “lình xình ngắn hạn” này, chúng ta sẽ không nhận được gì cả, không chỉ từ Nhật mà còn từ các cường quốc khác. Chúng ta cần Nhật Bản cho một cuộc đấu về mặt trí tuệ trường kỳ và bài bản để trưởng thành và sinh tồn trong một thời đại mới.
Câu 3: Đâu là lĩnh vực mà Việt-Nhật nên tăng cường hợp tác để xây dựng sức mạnh trong thế đối trọng với Trung Quốc?
Trả lời:
Không có Việt Nam, Nhật Bản vẫn dư sức để tự vệ. Không có Nhật Bản và thế giới các cường quốc dân chủ khác, Việt Nam không thể tồn tại được trước Trung Quốc. Hợp tác với các nước này để tự lực tự cường, trước hết, đó là nhu cầu nội tại của Việt Nam.
Chúng ta không cần thiết phải hỏi “lĩnh vực” cụ thể để ưu tiên. Nhật Bản là quốc gia duy nhất đã hỗ trợ Việt Nam toàn diện ở hầu hết các lĩnh vực quan trọng: viện trợ kinh tế, kỹ thuật, giáo dục, tư vấn chiến lược phát triển một cách trường kỳ và bài bản. Nhưng, các loại viện trợ này mang lại lợi ích cho Việt Nam hay không, mang lại lợi ích đến mức độ nào, thì hoàn toàn nằm ở phía người nhận. Nếu chỉ nhờ nhận viện trợ mà “hóa rồng” thì cả thế giới này đâu còn quá nhiều “giun dế” đến thế. Cái chúng ta cần băn khoăn, xin nhắc lại, không phải là “lĩnh vực” mà là “cách thức”. “Cách thức” của chúng ta hình thành từ một thể chế lành mạnh, trong sạch, muốn đi vào phát triển thực chứ không phải là nâng cao các con số.
Câu 4: VN nên có động thái gì nếu muốn “nhận 1 phiếu ủng hộ” từ Nhật một cách rõ rệt, mạnh mẽ?
Trả lời:
 Nếu nói về một “động thái” cần thiết, có lẽ đó nên là một động thái cho thế giới thấy chúng ta đang đi về phía thế giới văn minh, tự do, dân chủ.

 

Tuy vậy, cái chúng ta cần không chỉ là một động thái, một “chiến thuật” có tính mưu mẹo để “giải quyết” cho “êm xuôi” một tình huống khó khăn (là chuyện giàn khoan 981).
Nếu Trung Quốc ngay lập tức rút giàn khoan vào ngày mai? Rất có thể. Nhưng mối nguy đối với sự tồn vong của dân tộc chúng ta trước trước chiến lược bành trướng của Trung Quốc thì có giảm không? Không.
Trung Quốc sẽ rút giàn khoan thôi. Giống như đã đưa quân pháo vào chốt một vị trí trên bàn cờ để dễ bề bố trí đội hình ở phía khác, khi xong việc rồi thì quân pháo sẽ được rút về vị trí an toàn. Nhưng khi đó, một thế trận mới đã hình thành và thường thì kẻ chơi cờ yếu tay hoặc thiếu thông tin để xử lý sẽ chẳng thể thấy gì.
Giàn khoan này không có vẻ có mục đích kinh tế là khai thác dầu. Và, nếu để khai thác dầu, không ai làm những việc khiến cả thế giới phẫn nộ như thế. Tôi nghĩ đây là hành vi nhắm đến một mục đích chính trị. Mục đích gì? Không phải để gây hấn với Mỹ, làm cho Nhật Bản phải căng mình lên đề phòng. Trên bàn cờ, đây chỉ là mục tiêu phụ. Mục tiêu chính phải nằm ở đâu đó, mà vấn đề lãnh hải, chủ quyền, dầu khí chỉ là cái phông nền của màn kịch “Sơn Đông mãi võ”. Trung Quốc là xứ từ thời Xuân Thu Chiến Quốc đến nay, đời nào cũng để lại sách vở dạy dỗ về “quyền mưu” trong chính trị, kinh tế, đối nhân xử thế… Chúng ta cần hiểu điều này để không bị cuốn vào các màn diễn võ rổn rảng trên phố.
Câu 5: Theo ông, dự báo sắp tới quan hệ Việt – Nhật sẽ ra sao khi quan ngại giàn khoan 981 sẽ là tiền lệ xấu không chỉ cho VN, mà còn cho Nhật?
Trả lời:
Câu chuyện giàn khoan kiểu này rất khó xảy ra trên lãnh hải Nhật. Trung Quốc cho công bố kế hoạch này từ tháng 3 năm 2014. Họ còn cần thời gian để kéo giàn khoan này tới đường biên lãnh hải Việt Nam, rồi từ đường biên lãnh hải ấy di chuyển tới vị trí hiện tại. Suốt thời gian đó, Việt Nam đã làm gì? Tôi không được biết thông tin nào về hành động của chúng ta trong giai đoạn này cả. Dường như chỉ đến khi dàn khoan dừng lại và Trung Quốc bố trí xong đội hình tàu chiến bảo vệ thì chúng ta mới lên tiếng.
Nếu là Nhật Bản, tôi nghĩ họ sẽ không làm thế. Nhật Bản sẽ phản đối, hoặc cảnh cáo, ngay khi Trung Quốc mới công bố kế hoạch, sẽ đón tiếp “khách quý” ngay từ đường biên chứ không để khách vào sâu cách đường cơ sở chỉ 120 hải lý như vậy. Cho nên chúng ta không cần phải quan ngại rằng chuyện giàn khoan này có thể lặp lại với Nhật. 
Nhật và nhiều cường quốc khác dù không có chủ quyền nhưng có quyền lợi trên Biển Đông. Họ không thể để Trung Quốc nuốt trọn vùng biển này. Nhưng, Việt Nam không nên dựa vào thực tế đó để mong đợi rằng vấn đề Biển Đông “tự nó” sẽ “được giải quyết” bởi ai đó, còn Việt Nam thì chỉ cần “tọa sơn quan hổ đấu” và “được lòng tất cả các bên”. 
Còn dự báo quan hệ Việt – Nhật thì rất khó. Những gì Nhật giúp Việt Nam thực ra đã vượt quá khả năng tiêu hóa của Việt Nam rồi. Một ví dụ: Nhật sẵn sàng giúp Việt Nam phát triển “công nghệ cao” nhưng đây không phải là cái mà Nhật “cho” thì Việt Nam “nhận” được. Đó không phải là khẩu súng kíp thời Cao Thắng để bắt chước. Quan hệ Việt Nhật chỉ thực sự giúp Việt Nam phát triển lên một đẳng cấp mới khi Việt Nam tái cấu trúc tiến trình ra quyết định ở cấp chiến lược, xây dựng xã hội dân sự lành mạnh, và một thể chế sạch sẽ khỏi tham nhũng.
*Tựa do viet-studies đặt.
( Nguồn: quechoa)

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 03.07.2014

Đặc khu kinh tế hay là “tiểu vương quốc”?

 

Đặc khu kinh tế hay là “tiểu vương quốc”?

  •   Nguyễn Duy Xuân

 

Không dừng ở đó, FormoMấy ngày qua, dư luận bàn nhiều đến chuyện Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (thuộc Tập đoàn Formosa, Đài Loan) kiến nghị với Chính phủ cho thành lập đặc khu kinh tế riêng với cơ chế đặc biệt ưu đãi về thuế khóa, nguồn cung ngoại tệ, tín dụng…sa còn muốn được cắt đất bán lâu dài cho nhân viên với số lượng lên đến 15.000 người.

Giữa lúc tình hình biển Đông căng thẳng, chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc đang bị ngoại bang đe dọa, đọc những thông tin này, người dân không khỏi cảm thấy lo lắng.

Đặc khu kinh tế, cái tên gọi ấy nghe thật quyến rũ, nhưng đằng sau cái mĩ từ ấy sẽ là cái gì ? Một “tiểu vương quốc” chăng ?

Đất đai là tài sản vô giá của quốc gia, thế mà họ lại yêu cầu nhà nước ban cho đặc ân bán đất để 15.000 nhân viên định cư lâu dài. Té ra họ sang ta không phải làm công nhân ngày một ngày hai theo thỏa thuận của đôi bên. Họ muốn cắm rễ bền lâu.

Thế cho nên cái đặc khu kinh tế cộng với đất đai nhà cửa của 15.000 ngàn người (tương đương một phường, xã) theo đề xuất của họ, không là hình bóng của một “tiểu vương quốc” thì là gì ? Ai dám bảo cái “phường” gồm 15.000 nhân khẩu ấy lại không phình ra theo cấp số nhân khi thời hạn thuê đất của họ những bảy mươi năm ?

Không thể tưởng tượng nổi chuyện gì sẽ xảy ra trong tương lai nếu như những kiến nghị của Formosa thành hiện thực. Đọc tin mà thấy… lạnh gáy, buốt sống lưng!

(Nguồn: vanhoanghean)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 02.07.2014

Việt nam không cần đồng minh?

 

 

Việt nam không cần đồng minh? 

Tống văn Công
 
Cuộc họp báo sau kỳ họp thứ 7 Quốc hội  do ông Nguyễn Hạnh Phúc chủ nhiệm văn phòng Quốc hội chủ trì. Có phóng viên đặt câu hỏi:
-    “ Trong cuộc điện đàm mới đây với ngoại trưởng Mỹ, Phó thủ tướng Phạm Bình Minh có nói, Việt nam sẵn sàng phối hợp với Mỹ triển khai các biện pháp cụ thể nhằm tiếp tục thúc đẩy quan hệ Việt Nam-Mỹ theo tinh thần quan hệ đối tác toàn diện giữa hai nước. Quan điểm của ông thế nào?”
 Chủ nhiệm văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc trả lời:
-  “Quan điểm của Đảng,Nhà nước ta là quan hệ với tất cả các nước trên thế giới. Vừa qua, với Mỹ hay Trung Quốc cũng thế. Sau 1975 thì quan hệ của chúng ta đã dần dần cải thiện và ngày càng tốt đẹp. Nhưng Việt Nam cũng là một nước độc lập, không liên minh, liên kết, đồng minh với nước nào, không dùng nước thứ 3 để chống lại nước khác. Quan điểm này đã được công khai nhiều lần”. 
Đúng là quan điểm này đã được công khai nhiều lần, nhưng đó là ở thời đoạn mà Trung Quốc chưa đưa giàn khoan HD 981 cắm sâu vào trong vùng đặc quyền kinh tế của nước ta,  đưa  hàng trăm tàu, có cả tàu chiến, máy bay có cả máy bay quân sự  ngày đêm uy hiếp  tàu cảnh sát biển và tàu cá  ngư dân ta. Đó là thời đoạn chưa có chuyện Dương Khiết Trì  sang Việt Nam mà theo Hoàn Cầu thời báo là nhằm răn dạy Việt Nam, “đứa con hoang đàng  biết trở về  “! Mới đây,  Trung Quốc  vừa công bố bản đồ mới   “10 đoạn” bao gồm Hoàng Sa, toàn bộ Trường Sa và 80% Biển Đông. Vậy là họ chỉ còn chực chờ thời cơ  để  dùng vũ lực chiếm trọn những vùng biển đảo của Việt Nam. Đó là thủ đoạn ngàn đời của bọn bành trướng  phương Bắc, từ Tàu Hoàng đế  cho đến Tàu Tưởng,  Tàu Mao. Hãy nhớ : Năm 1946 lợi dụng lúc chúng ta  phải đối phó với  Pháp, Tàu Tưởng chiếm đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa, đảo Ba Bình thuộc Trường Sa. Năm 1950 Tưởng thua chạy rút bỏ cả 2 nơi . Năm 1956, lợi dụng quân Pháp  rút đi, Tàu Tưởng chiếm lại Ba Bình, Tàu Mao  chiếm lại Phú Lâm. Tháng 1- 1974, lợi dụng Việt Nam Cộng hòa suy yếu, Tàu Mao chiếm toàn bộ phần còn lại của Hoàng Sa. Năm 1988  lợi dụng chúng ta  giúp bạn Campuchia,  chúng  tấn công Trường Sa giết 64 hải quân ta, chiếm 7 đảo và bãi đá  thuộc Trường Sa.
  Sau thỏa hiệp Thành Đô 1990,  chúng ta cứ tưởng đã cầm chắc “16 chữ vàng” và “4 tốt”  sẽ  đảm bảo “Sau kiếp nạn anh em còn đó. Trông nhau cười thù oán sạch không”( Thơ Giang Vĩnh đời Thanh. Giang Trạch Dân đọc tặng Nguyễn văn Linh tại Thành Đô ). Quá vui mừng, Nguyễn văn Linh đáp lại  cả 4 câu thơ tiếng Tàu, câu thứ tư là:”Thiên tải tình nghị hựu trùng kiến”. ( Tình nghĩa ngàn năm xây dựng lại.). Nào hay đã bị chúng cho một quả  lừa! Năm 2007, Trung Quốc  bắt đầu bắn giết,  bắt  ngư dân ta đòi tiền chuộc.  Ngày 26-5-2011, một bước ngoặt mới, chúng cắt cáp tàu Bình Minh 2  của Việt Nam đang thăm dò trong vùng biển đặc quyền kinh tế của mình. Tân hoa xã còn lớn tiếng:”Việt Nam láo xược xâm phạm vùng biển của Trung Quốc.” Thời báo Hoàn Cầu dọa sẽ “ lấy máu Việt Nam  tế cờ cho cuộc Nam tiến.” 
  Phản ứng  hành động láo xược của Bắc Kinh, ngày 10 tháng 7-2011, hàng ngàn người Việt Nam, gồm  các  lão thành cách mạng, trí thức, đảng viên và nhân dân trong,  ngoài nước ký “Bản kiến nghị về bảo vệ và phát triển đất nước trong tình hình hiện nay.” Đề mục  thứ nhất của Bản kiến nghị là “ I- Độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ đang bị đe dọa nghiêm trọng.”  Câu  kết của Đề mục  là:” Việt Nam càng nhân nhượng, Trung Quốc càng lấn tới!”
  Bản kiến nghị, đã mô tả rất rõ  bộ mặt của kẻ thù . Tiếc thay, đám mây mù ý thức hệ vẫn che mắt nhiều người. Từ đó đến nay có thể kể không biết bao nhiêu lời hay ý đẹp của nhiều nhà lãnh đạo Việt Nam ca tụng mối quan hệ Việt – Trung. Đáng lo nhất là  từ năm 2009, mỗi năm Bộ Quốc phòng đều cử một đoàn sĩ quan cao cấp sang học tập ở  Học viện chính trị Tây An của  Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. 
  Bởi đặt hết lòng tin vào “16 chữ vàng”  và “4 tốt” , cho nên  ngày 1-5-2014, khi  Trung Quốc đưa giàn khoan khổng lồ  đặt xuống vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam thì chúng ta  hoàn toàn  bất ngờ! Phải mất đến 5 ngày sau, Bộ trưởng ngoại giao Phạm Bình Minh mới có cuộc điện đàm với Bộ ngoại giao Trung Quốc. Mất 6 ngày sau, chiều ngày 7-5,   mới có cuộc họp báo của Bộ ngoại giao. Từ đó đến nay,  báo chí và các phương tiện truyền thông đã có những lời  vạch rõ  mưu đồ xâm lược của Trung Quốc, mà chỉ mấy tháng trước đây thôi, nếu nói như vậy đã bị coi là có tội.. Tuy vậy, lòng dân vẫn chưa yên, bởi còn   quá nhiều âu lo chưa được giải tỏa:
  Phát ngôn của những người có trọng trách  rất so le nhau. Trong khi  Thủ tướng  nói rõ ràng, mạnh mẽ về chủ quyền bị xâm phạm thì  Bộ trưởng Quốc phòng cho rằng “trong quốc gia, hay mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn , bất đồng huống chi là các nước láng giềng…. Việt Nam và nước bạn Trung Quốc về tổng thể trên các mặt đang phát triển tốt đẹp, chỉ còn tồn tại vấn đề tranh chấp chủ quyền trên biển đảo, nên đôi khi cũng có va chạm…”  Người dân không khỏi đoán già đoán non: liệu lãnh đạo nước ta có thống nhất với nhau, thực tâm  kiện Trung Quốc,  hay chỉ  chống đỡ  trước sự phẫn uất của nhân dân và bảo vệ tính chính danh của Đảng?  Chuẩn đô đốc Lê Kế Lâm chủ tịch Hội Khoa học, Kỹ thuật và Kinh tế biển TP HCM đặt câu hỏi với Chủ tịch nước:” Nhân dân, đặc biệt là trí thức đặt vấn đề Đảng ,Nhà nước ta nhìn nhận quan hệ thực chất với Trung Quốc như thế nào? Có còn là đồng chí tốt, bạn bè tốt, láng giềng tốt, đối tác tốt nữa không? Hay đây là chiêu bài được nêu lên nhưng thực tế họ, Trung Quốc không có cái gì tốt đối với chúng ta cả?”. Chủ tịch nước có nhiều ý kiến tích cực khẳng định chủ quyền đất nước, nhưng cử tri chờ đợi và bị  hẩng hụt bởi  ông  không  trả lời câu hỏi rất quan trọng đó. Chủ tịch nước  nhận định rất đúng rằng “tình hình sẽ còn gay gắt, phức tạp hơn chỉ trừ khi nào họ nói họ từ bỏ đường chín đoạn hoặc chúng ta từ bỏ chủ quyền- mà điều này chắc chắn không người dân Việt nam nào chấp nhận.” Nhưng sau đó ông lại cho rằng :” Phải kiên trì đấu tranh, năm nay không xong thì năm tới, 10 năm này không xong thì 10 năm sau, đời ta không xong thì đến đời con cháu”. Thưa Chủ tịch, nói như vậy chỉ  chứng tỏ được  sự  kiên trì, chứ không thực tế, do đó không  đem lại hi vọng và niềm tin. Ông bà chúng ta có câu ”Để lâu cứt trâu hóa bùn”. Và  luật pháp quốc tế  cũng thế, chúng ta  chỉ còn 10 năm nữa là hết thời hiệu để kiện Trung Quốc đòi chủ quyền Hoàng Sa. Mọi người Việt Nam đang sống phải nhận lấy trách nhiệm của thế hệ mình đúng như lời dạy của Đức Trần NhânTôn: ”Một tấc đất của tiền nhân để lại, quyết không để lọt vào tay kẻ khác”! Chúng ta không được phép  trao gánh nặng  lại  cho con cháu đời sau để chúng phải bó tay, không thể giải quyết! Mới đây giáo sư Thayer cảnh báo : “Việt Nam phải lên tiếng ngay bây giờ , nếu không sẽ mất cơ hội mãi mãi”.
 
  Chúng ta quá chừng mực, thậm chí e dè khi lên án hành động gây hấn, xâm lược của Trung Quốc , trong khi đó  lại  muốn các nước ASEAN, Mỹ và phương Tây  phải lớn tiếng lên án Trung Quốc bênh vực Việt Nam.  Ngày 5-6 , Tạp chí Cộng sản đăng lại  bài “Cần có sự can thiệp của Mỹ trong tranh chấp ở Biển Đông”( 5 ngày sau  rút xuống.). Ngày 24-6 nguyên đại sứ Việt Nam tại EU Tôn Nữ thị Ninh nói với hãng tin Đức DW  : “EU phải hiện diện, cất tiếng nói rõ ràng hơn, to hơn và ít nhất cũng gọi đúng tên các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông”. Bị cướp vào nhà, lại bảo chúng như người trong gia đình cũng có lúc bất hòa, nhưng lại đòi hàng xóm phải gọi chúng đúng  là kẻ cướp và đuổi  chúng dùm! Không muốn làm đồng minh với bất cứ nước nào, nhưng lại muốn các nước phải  bảo vệ  mình như một đồng minh! Làm được điều đó còn khó hơn là hái sao trên trời! 
  Vì sao Trung Quốc chọn thời điểm 1-5-2014  đặt giàn khoan vào sâu trong vùng đặt quyền kinh tế của Việt Nam? Trước đó không lâu, Trung Quốc gây căng thẳng với Philippines, rồi với Nhật ở biển Hoa Đông, làm như chiến tranh sắp nổ ra ở đó. Dương đông kích tây và đánh vào chỗ bất ngờ, vốn là binh pháp Tôn Tử của Tàu. Từ lâu chúng đã xác định hướng  bành trướng  là  phía Nam, mấu chốt là Việt Nam. Lúc này Việt Nam đang lâm vào khủng hoảng, nguy hiểm nhất là khủng hoảng niềm tin, và về  đối ngoại cũng  là lúc cô đơn nhất. Mỹ đang bận rộn chuyện Ucraina. Mặc dù từ năm 2013, đã có lời mời của chủ tịch nước Trương Tấn Sang, nhưng đến chuyến  công du tháng 4-2014  tới 4 nước châu Á, TT Obama  vẫn không đến Việt Nam và vẫn chưa đồng ý bán vũ khí sát thương cho Việt Nam. Còn nước  Nga  mà Việt Nam coi như đồng minh cũ và đặt nhiều hi vọng được  che chở thì   đang khẩn trương chuẩn bị tập trận với  Trung Quốc ! Vậy thì Trung Quốc,  đồng minh lớn nhất và duy nhất của  Việt Nam,  bất ngờ chĩa mũi giáo vào  Việt Nam, đâu còn phải sợ ai! 
  Hai tháng qua, chúng ta trấn an mình bằng dư luận quốc tế, mà phần lớn người ta chỉ là yêu cầu hai bên giải quyết bằng biện pháp hòa bình và theo luật pháp quốc tế. Xưa nay bọn xâm lược không hề sợ dư luận, chúng chỉ sợ thua trận và  thiệt hại  kinh tế. Do đó, từ thượng cổ tới  hiện đại, phương Đông cũng như phương Tây, trong tất cả các cuộc chiến tranh giành giật đất đai, người ta đều tìm kiếm đồng minh.  Trung Quốc đã có những  bậc thầy về tổ chức đồng minh với các chiêu “hợp tung”, “liên hoành”. Tôn Tử, tác giả bộ binh pháp lừng danh,  là người giúp vua Ngô liên minh  với 2 nước nhỏ là Đường và Thái, nhờ đó chỉ với  3 vạn quân,  đã có thể đánh bại  25 vạn quân nước  Sở.  Ngày nay, dù xu thế của thế giới là hòa bình, hợp tác, nhưng ở các vùng nóng đều có thể thấy  sự tìm kiếm đồng minh. Nước ta, ngay khi đang “một cổ hai tròng”, Việt Minh đã “gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít” nhờ đó mà có toán “Con nai” của Mỹ nhảy dù xuống Việt Bắc  huấn luyện cho quân giải phóng của Võ Nguyên Giáp. Rồi cả hai cuộc kháng chiến, Việt Nam đều dựa vào đồng minh để  giành được chiến thắng. Chúng ta có thể tìm thấý  nhiều bài học bổ ích trong việc chọn đồng minh của  các nước láng giềng Nhật, Hàn , Philippines. Cuối thế kỷ trước, cả ba nước này đã từng muốn nới lỏng, hoặc thoát dần  khỏi quan hệ đồng minh với Mỹ: Nhật đặt thời hạn cho Mỹ rút quân khỏi Okinawa. Hàn yêu cầu Mỹ có kế hoạch giảm số quân đang có mặt ở nước này. Phi đòi lại cảng Subic và các căn cứ quân sự. Nhưng khi Trung Quốc trỗi dậy, đe dọa với láng giềng thì lập tức  cả 3 nước nói trên đều nhanh chóng thay đổi quyết sách chiến lược, ráo riết  mời Mỹ gấp rút trở lại. Do đó, Mỹ tuyên bố quần đảo Senkaku được che chở bằng thỏa thuận quân sự giữa Washington với Tokyo. Mới đây, TT  Obama nói bất cứ nơi nào trên thế giới khi các đồng minh của chúng ta bị đe dọa thì quân đội Mỹ buộc phải can thiệp. Tháng 4-2014 Mỹ viện trợ cho Philippines  50 triệu USD,  riêng  hải quân được cho thêm 40 triệu USD và  3 tàu tuần tra lớn lớp Hamilton… Ba nước nói trên đâu có vì chọn đồng minh chiến lược mà họ bị mất độc lập dân tộc?   Phải chăng đã đến lúc chúng ta không nên khư khư “Việt Nam không liên minh với một nước để chống nước thứ ba”;  Tình thế đang đòi hỏi : “ Việt Nam cần phải  tìm mọi cách để  liên minh được với các  nước để chống lại kẻ nhất quyết  sẽ xâm lược đất nước mình”?
 
  Tuy nhiên chớ  tưởng  chỉ cần chúng ta muốn liên minh với nước nào đó thì ắt  được người ta đón nhận. Từ ngàn xưa , các nhà chiến lược đều có tiêu chuẩn để chọn đồng minh. Tôn Tử cho rằng “chưa biết ý đồ chiến lược của một nước thì không thể tính đến chuyện kết giao.” Ông  cho rằng một  quốc gia  hùng mạnh  không phải vì có một đội  quân lớn mà  là trước hết, phải là  quốc gia  biết  lấy chữ  “đạo” làm đầu, tức là có  “ Một nền chính trị hợp lòng dân, nhờ đó mà vua tôi đồng tâm, nhất trí ”. Trần Hưng Đạo của ta nói  “Phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rể, bền gốc. Đó là thượng sách giữ nước vậy.” Một người biết lắng nghe và coi trọng  ý kiến của  những nông dân đan giỏ, mò tôm, thuần hóa voi  như với  Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng  thì chữ “sức dân” của ông phải được hiểu là gồm  cả tâm, trí và lực. Ngày nay, Mỹ và các nước phương Tây  đặt  tiêu chuẩn cao nhất để chọn đồng minh là  dân chủ và nhân quyền. Lắm khi vì lợi ích  trên bàn cờ chính trị , các nhà cầm quyền  đã  châm chước  khi xét tiêu chuẩn đối với  các quốc gia  mà họ cần lôi kéo, nhằm cô lập đối  thủ nặng ký và  hung bạo.  Tuy nhiên điều ấy có thể bị  nghị viện và nhân dân  nước họ phát hiện, phản đối. Quan hệ hợp tác Việt-Mỹ đã phát triển  nhiều mặt, nhưng cho đến nay, Mỹ   vẫn chưa  đồng ý bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, chưa công nhận Việt Nam thực sự có nền kinh tế thị trường. Vậy mà,   Foreingn Policy ( chính sách ngoại giao) một tạp chí có tiếng của Mỹ số ra ngày 1-2-2011  có bài : “Các đồng minh đáng xấu hổ của Hoa Kỳ” , chỉ trích chính phủ Mỹ  quá dễ dãi  đối với nhiều hành động vi phạm nhân quyền của  Việt Nam!
  Tại sao vậy? 
  Bởi vì  thật  trớ trêu là  chính sách  đối nội và đối ngoại của  nước ta  giống hệt Trung Quốc, bệnh trạng  tham nhũng của hai bên cũng hết sức giống nhau. Hai  nước có chung một  lập luận về “các thế lực thù địch từ Mỹ và phương Tây lợi dụng  dân chủ và nhân quyền  âm mưu lật đổ chế độ  xã hộichủ nghĩa”.  Thật ra , không hề có cái gọi là dân chủ và nhân quyền của phương Đông, hoặc của riêng Trung Quốc và   Việt Nam ! Nước ta là thành viên của Liên Hiệp Quốc. Nhà nước ta  đã  cam kết thực hiện Tuyên ngôn Nhân quyền và các Công ước  của Liên Hiệp Quốc. Vấn đề  là  Việt Nam và Trung Quốc  có cách hiểu  các điều khoản của  Tuyên ngôn và các  Công ước của  Liên Hiệp Quốc không giống cách hiểu của hơn 100  quốc gia khác trên thế giới . Rất dễ dàng  để  dẫn ra  vô vàn  ví dụ  về các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí , tự do hội họp, lập hội, biểu tình, bầu cử và ứng cử…Nhưng chỉ xin nêu một ví dụ  về quyền tự do ngôn luận mà theo Voltaire :“Là nền tảng của tất cả các quyền tự do khác. Không có tự do ngôn luận sẽ không có các quốc gia tự do”.  Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị ( Nhà nước Việt Nam  đã ký kết gia nhập  ngày 24-9-1982. Nhà xuất bản TP HCM xuất bản năm 1997 ) ở  Điều 19  với  nội dung như sau:
                                “ 1- Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp.
                                  2- Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền miệng, hoặc bằng bản viết, in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật,  hoặc thông qua mọi phương tiện đại chúng khác tùy theo sự lựa chọn của họ.
                                   3- Việc thực hiện những quyền quy định tại Khoản 2 của điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt.  Do đó có thể dẫn tới một số hạn chế nhất định, tuy nhiên, những hạn chế này phải được pháp luật quy định và  cần thiết để:
                                   a/ Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác;
                                   b/ Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng .
  Hơn 100 quốc gia đều  hiểu nội dung  của  Điều 19  là : Mọi công dân đều có quyền  phát biểu quan điểm của mình đối với mọi học thuyết, mọi vấn đề về chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục mà không bị quy chụp, đàn áp, buộc tội. Tức là mọi người có quyền  không đồng ý đối với  một hệ tư tưởng, nghị quyêt của đảng cầm quyền, chính sách của chính phủ,  khi nhận thấy nó có hại cho nhân dân, đất nước. Trong ngày nhận chức nhiệm kỳ đầu, TT Obama nói  :” Một chính quyền  không phải đối mặt với một giới truyền thông cương trực và mạnh mẽ , đó không phải lựa chọn của nước Mỹ !”. Mọi công dân đều có quyền tìm kiếm, nhận tin tức bao gồm những luận điểm mới, học thuyết mới và phổ biến cho mọi người bằng mọi hình thức.  Mọi công dân đều có quyền xuất bản báo chí và báo chí chỉ trung thành với công chúng, với dân tộc, tôn trọng sự thật, không bị kiểm duyệt, không bị buộc phải viết  theo định hướng, nghị quyết, không bị bưng bít thông tin vì lợi ích nhóm, vì  lợi ích của đảng phái, kể cả Đảng cầm quyền .( Chỉ trừ   2 điểm  a và b nói trên ). 
     Nhà nước Việt Nam và Trung Quốc có cách hiểu Điều 19 giống nhau:  Mọi  công dân  phát biểu ý kiến không được trái với  quan điểm, đường lối, nghị  quyết  của Đảng lãnh đạo. Báo chí là công cụ của Đảng phải đặt lợi ích của cách mạng,  của Đảng lên trên  hết, phải  lấy nhiệm vụ tuyên truyền, cổ vũ và  tổ chức phong trào cách mạng của quần chúng thực hiện thắng lợi nghị quyết của đảng làm thước đo hiệu quả của  báo chí. Phó trưởng ban Tuyên huấn Trung ương Nguyễn Thế Kỷ  nói trong cuộc hội thảo quốc gia về Đạo đức nghề báo: “ Cần tăng cường giáo dục đạo đức cho sinh viên báo chí, cho phóng viên trẻ; nâng  chất lượng đầu vào đối với sinh viên báo chí , thậm chí “phải xét cả yếu tố nhân thân tương tự như với sinh viên vào các trướng công an, quân đội”. ( báo Tuổi Trẻ ngày 12-10-2012). Trong dịp kỷ niệm ngày báo chí cách mạng Việt Nam ,21-6 vừa qua, suốt một tuần, đài truyền hình HTV9 của TP HCM mở đầu bằng bài hát  với điệp khúc:”Nhà báo, nhà báo Việt Nam, một lòng trung thành với Đảng!”. Tư nhân  không được phép ra báo, vì  e rằng  sẽ làm rối dư luận xã hội. Ban tuyên giáo của Đảng có trách nhiệm chỉ đạo báo chí  thực hiện định hướng tuyên truyền từng thời kỳ , việc nào cần phải nói mạnh, nói kỹ,  việc nào không nên nói, không được phép nói. Không chấp nhận có  báo tư nhân. 
Tình hình phát triển đất nước hiện nay, theo Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng  : “Động lực mà những cải cách trước đây đã không còn đủ mạnh để thúc đẩy phát triển” và “ Nguồn động lực mới phải đến từ Đổi mới thể chế và phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân”. Đúng vậy, vấn đề là phải dám quyết tâm thực hiện , bởi không còn thì giờ để chần chừ nữa !  Nhà nghiên cứu người Pháp Valérie Niquet cho rằng, Trung Quốc đang bị  suy yếu từ bên trong, cho nên cố thực hiện bành trướng để kích thích chủ nghĩa dân tộc, hòng tìm lại tính chính đáng của Đảng cộng sản đã bị hao mòn. Trong khi đó, tạp chí tình báo nổi tiếng của Anh ( Jane `s  Intelligence Weekly ngày 27-6-2014) lại có  nhận định: “Tranh chấp Biển Đông sẽ thách thức sự ổn định của chính phủ Việt Nam”;  bởi vì : “Tính chính đáng của Đảng Cộng sản Việt Nam là dựa vào  lịch sử  đấu tranh chống ngoại xâm giành độc lập dân tộc.”  Ngaỳ nay, đang bị  đứng trước một câu hỏi :” Phải chăng  Đảng cộng sản Việt Nam không có đủ khả năng đối phó với sự xâm lược của Trung Quốc ?”  Trong dân gian Việt Nam đang lan truyền  hai câu  có hàm ý như thế : “Đi với Tàu thì mất nước, nhưng còn Đảng. Đi với Mỹ thì  còn  nước, nhưng e sẽ  mất Đảng”. Phải giải quyết dứt khoát vướng mắc tư tưởng này thì mới có thể yên lòng đổi mới thể chế,  tìm được đồng minh  vì  sự nghiệp chống bành trướng Bắc Kinh, bảo vệ Tổ quốc . Nhân dân bao giờ cũng rất  tinh tường và  công bằng, nếu một đảng  dám đặt sự tồn vong của Tổ quốc lên trên vận mệnh của mình  thì  nhất định sẽ được nhân dân bảo vệ, tin yêu.  Nhân đây xin  nhắc lại, một chuyện rất đáng nhớ:  Năm 2010, với cương vị  Chủ tịch ASEAN, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tới Myanmar,  chuyển thông điệp ASEAN cho  các tướng lĩnh quân phiệt cầm quyền : “Mong muốn các nhà lãnh đạo Myanmar triển khai có hiệu quả lộ trình dân chủ, vì hòa bình, hòa hợp dân tộc, tổ chức bầu cử công bằng, dân chủ với sự tham gia của tất cả các đảng phái, qua đó sớm ổn định để phát triển đất nước.” Các tướng lĩnh  cầm quyền  Myamar đã  nhanh chóng nhận thức,   đó  là  con đường duy nhất để đưa đất nước thoát khỏi sự o ép của Trung Quốc. Họ không ngần ngại  từ bỏ chế độ độc tài quân phiệt,  đưa  những tù nhân chính trị  suốt hàng chục năm đối lập như bà Aung San Suu  Ky  lên địa vị  đối tác, cùng ngồi với nhau bình đẳng bàn việc nước; Họ quyết định xóa bỏ chế độ kiểm duyệt báo chí, rồi cho xuất bản  báo chí tư nhân; đặc biệt  là  quyết định hủy bỏ dự án đập thủy điện của Trung Quốc 3,6 tỉ USD. Sau cải cách vĩ đại nói trên , Myanmar được TT Obama và nhiều nguyên thủ quốc gia  tới thăm, ký kết  viện trợ . 
Chẳng lẽ, một Đảng vốn “không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng” mà ngày nay trước vận nước hiểm nguy lại không thể chọn một hành động cao cả  ngang tầm với  các tướng lĩnh độc tài quân phiệt Myanmar ?.
 Ngày 30-6-2014
Tác giả gửi Quê Choa
Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả
( Nguồn :quechoa)

 

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 01.07.2014

ẨM THỰC CUNG ĐÌNH HUẾ

 

Bánh bông hồng

ẨM THỰC CUNG ĐÌNH HUẾ

                                                                             Ngô Minh

Văn hóa ẩm thực có lẽ là sự khởi đầu  của văn hóa loài người, vì con người muốn sống, trước hết là phải ăn. Việc phát minh ra lửa cũng lớn lao như phát minh ra điện, ra vệ tinh, máy vi tính.v.v.. Có lửa, con người đã bắt đầu biết nướng thịt các thú rừng săn bắn   làm thức ăn. Và các món nướng ấy của các bộ tộc người Việt cổ  vẫn lưu truyền đến hôm nay, trong văn hóa ẩm thực Việt Nam !

 Âm thực cung đình là nghệ thuật chế biến món ăn cao cấp và cách thức tổ chức bữa ngự thiện của Vua, bữa ăn  cho các Hoàng Thái hậu , các bà phi, các hoang tử ,công chúa trong Tử Cấm Thành ; tổ chức tiệc yến trong cung đình vào dịp các lễ Đăng quang, Khánh hạ :  Vạn thọ, Vạn thọ đại khánh của vua, Thánh thọ , Thánh thọ đại khánh  của hoàng thái hậu ;  Tết Nguyên Đán, Tết Trùng Dương,  vua tiếp sứ thần , mừng đúc xong Cửu vị Thần Công, Cửu Đỉnh.v.v.. vua đều ban tiệc yến .Dù ít người hay nhiều người tham dự, tiệc yến là những bữa ăn được các đầu bếp giỏi  chế biến công phu, cầu kỳ, sang trọng nhất của đất nước . Văn hóa ẩm thực cung đình Huế chính là phần tinh túy, cốt lõi nhất của Văn hóa ẩm thực Huế..Vậy  văn hóa ẩm thực cung đình Huế có nguồn cội từ đâu ?   Văn hóa ẩm thực không chỉ là  nghệ thuật chế biến, trình bày các món ăn ,mà cao hơn là quan niệm triết lý về ẩm thực, tư tưởng thẩm mỹ  trong thưởng thức món ăn , nghệ thuật tổ chức một bữa ăn  . Về mặt này, văn hóa ẩm thực cung đình Huế là mẫu mực .
(Đọc tiếp…)

 

Biển Đông dậy sóng: Đâu là giới hạn cuối cùng của Việt Nam?

 
Hà Trang
Theo Dân trí
NQL: Đăng bài này để biết  một lối ngụy biện rất tinh vi nhằm che đậy “sự im lặng đáng sợ”  mà một số quan trên đang ra sức vỗ về dân chúng.trước những gì TQ đã  đang và sẽ làm trên Biển Đông. Gs Trần Hữu Dũng đã bình luận thật hay lý lẽ  khôn khéo- uyển chuyển- biện chứng của ông Lê Việt Trường: “Ý kiến của ông này là điển hình của giới lãnh đạo VN.
 

 Theo ông thì ““Giới hạn” ở đây phải được xem xét trên thực tế, đây không phải là sự “giới hạn” của một vật cụ thể mà là “giới hạn” trong mối quan hệ chính trị“.   Nói cách khác, ta vẽ một đường trên cát, bảo rằng “Đây là “giới bạn”, tôi… “đề nghị” anh khộng nên vươt qua!”.  Khi họ ngang nhiên vượt qua thì ta lại vẽ một đường khác, gần ta hơn, rồi bảo: “Đây là “giới hạn” mới, tôi… “đề nghị” anh khộng nên vươt qua!” . Họ lại vượt qua, ta lại vẽ một đường nữa, gần ta hơn… và cứ thế tiếp tục… cho đến khi VN chỉ còn có đảo Phú Quốc!
 Ông Lê Việt Trường, Phó chủ nhiệm Ủy Ban Quốc phòng – An ninh Quốc Hội: “Từng có ý kiến đặt vấn đề này với nhiều vị lãnh đạo. Tôi cho rằng, một nền hòa bình dù có mong manh đến mấy thì vẫn tốt hơn nhiều một cuộc chiến tranh”.

Trung Quốc vừa cho phát hành bản đồ 10 đoạn, gần như nuốt trọn Biển Đông – kể cả 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam. Nhờ “đường lưỡi bò” này mà chiều dài của Trung Quốc cũng giãn ra tới 5.500km trong khi chiều rộng là 5.200km. Quan điểm của ông về vụ việc này như thế nào?

Tôi cho rằng, đây là một việc làm hết sức ngang ngược, tùy tiện vì trước đây họ đưa ra 9 đoạn, nay thì 10 đoạn, không biết về sau này họ còn vẽ thêm bao nhiêu đoạn nữa. Tấm bản đồ này là vô giá trị vì không dựa trên bất cứ một cơ sở pháp lý nào cả. 
Điều này thể hiện rõ hơn tham vọng bành trướng của Bắc Kinh. Trước đây, tất cả các bản đồ chính thức của Trung Quốc thường được vẽ theo chiều ngang. Còn tấm bản đồ này được thể hiện theo chiều dọc, trong đó ngoài phần lục địa, phạm vi nước này gọi là chủ quyền còn mở ra rộng khắp Biển Đông. “Đường lưỡi bò” nuốt trọn Biển Đông được thể hiện bằng 10 đoạn màu đỏ chạy liền nhau, thay vì 9 đoạn như Trung Quốc tự vẽ ra trước đây. Đoạn thứ 10 nằm gần Đài Loan, hòn đảo mà Trung Quốc xem là một phần lãnh thổ của mình.
Rõ ràng tấm bản đồ “10 đoạn” trên đã vi phạm trắng trợn luật pháp quốc tế và Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hòa bình, an ninh và ổn định trong khu vực. Năm 2012, Trung Quốc từng cho phát hành loại hộ chiếu, trong đó có in một bản đồ thể hiện “đường lưỡi bò” tham lam mà nước này tự vẽ ra. Khi đó, động thái này đã vấp phải một làn sóng phản đối dữ dội từ các quốc gia khác. Tôi nghĩ, Việt Nam và các nước cần phải có những phản ứng cứng rắn, lên án mạnh mẽ đối với các hành động phi lý của phía Trung Quốc để tránh những hành động tương tự lặp lại.
Thực tế, đây không phải là lần đầu tiên Trung Quốc có những tuyên bố ngang ngược về đường lưỡi bò phi lý trên biển Đông, nhưng theo ông tại sao Trung Quốc lại chọn thời điểm này để phát hành tấm bản đồ gây tranh cãi này?
Với việc để một nhà xuất bản trong nước phát hành tấm bản đồ gây tranh cãi trên, Trung Quốc dường như đang muốn làm một phép thử để đo phản ứng của dư luận. Nếu các nước không có phản ứng quá gay gắt, chính Phủ Trung Quốc có thể sẽ đẩy mạnh việc sử dụng tấm bản đồ này trong tương lai, thậm chí là dùng sức mạnh của mình để thực hiện hóa tham vọng bành trướng của mình trên thực tế.
Trong lịch sử, Trung Quốc đã lặp lại hành động tương tự này nhiều lần nên chúng ta cần phải có những động thái cứng rắn, tỉnh táo hơn bao giờ hết.
Thực tế, việc phát hành tấm bản đồ này của Trung Quốc ở thời điểm hiện tại, tôi cho rằng, nhằm thỏa mãn hai mục đích: thứ nhất là Trung Quốc đang muốn củng cố hơn nhận thức, niềm tin của người dân về chủ quyền lãnh thổ trên biển Đông mà nước này từng tuyên bố. Còn trên bình diện quốc tế, thông qua tấm bản đồ Trung Quốc cũng muốn khẳng định với các nước láng giềng tham vọng bành trướng của mình là không thay đổi, cũng như “hợp thức hóa” đối với những yêu sách chủ quyền của mình ở các vùng biển đang tranh chấp.
Kể từ sau chuyến thăm của ông Dương Khiết Trì tới Việt Nam, nhiều người đã hi vọng động thái mới từ phía Trung Quốc, nhưng có vẻ với những hành động ngày càng leo thang và không có dấu hiệu dừng lại, Trung Quốc đang đẩy quan hệ giữa hai nước Việt – Trung ngày một căng thẳng?
Trước hết, tôi cho rằng, về mặt ngoại giao chuyến thăm của ông Dương Khiết Trì được nhiều người hy vọng nó sẽ mang lại ảnh hưởng tích cực cho việc khôi phục và phát triển quan hệ hai nước. Tuy nhiên, trong khi hai bên đã thống nhất sẽ sớm ổn định tình hình Biển Đông thì ngay sau khi ông Dương Khiết Trì về nước, Trung Quốc đã nhanh chóng “tung” ra một loạt bước đi gây hấn và tỏ rõ thái độ ngang ngược hơn trước như: Đâm, húc trực diện vào tàu của các lực lượng chấp pháp Việt Nam, đưa một loạt giàn khoan mới vào Biển Đông.
Trong đó, giàn khoan Nam Hải 09 tiến hành khoan dầu tại vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ, khu vực chưa được phân định giữa Việt Nam và Trung Quốc. Theo luật pháp quốc tế, đối với những vùng chưa phân định, không bên nào được đơn phương hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí ở vùng biển chồng lấn…
Hàng loạt các động thái này cho thấy, Trung Quốc tiếp tục hành xử theo kiểu nói một đằng, làm một nẻo, lời nói luôn đi ngược lại với hành động và không hề có một chút thiện chí nào cả.
Thực tế, để giải quyết một vấn đề bao giờ cũng cần phải có sự thiện chí từ hai phía. Với những hành động đơn phương, ngang ngược của một bên, sẽ chỉ làm tình hình trở nên ngày một căng thẳng và phức tạp hơn mà thôi.
Nhiều ý kiến cho rằng, những leo thang căng thẳng mới đây trên Biển Đông, đã đến “tận cùng của giới hạn chịu đựng” và Việt Nam cần phải thể hiện sự cứng rắn, mạnh mẽ hơn nữa trong việc đối phó với Trung Quốc, ông nghĩ sao?
“Giới hạn” ở đây phải được xem xét trên thực tế, đây không phải là sự “giới hạn” của một vật cụ thể mà là “giới hạn” trong mối quan hệ chính trị, cho nên các bên phải xem xét, đánh giá sát sao từng hành vi, diễn biến trên biển Đông, để bảo vệ lợi ích của quốc gia mình.
Trong nhiều cuộc họp, cũng từng có những ý kiến đưa ra, đặt vấn đề với tôi và nhiều vị lãnh đạo khác về vấn đề đã đến giới hạn cuối cùng chưa? Tôi cho rằng, một nền hòa bình dù có mong manh đến mấy thì vẫn còn tốt hơn nhiều so với một cuộc chiến tranh. Chính vì thế, trong một chừng mực nhất định, về phía chúng ta vẫn nên thực hiện các biện pháp trên thực địa như trong thời gian qua là hợp lý.
Tức là, sử dụng biện pháp đấu tranh, tuyên truyền, tiếp tục các hành động tuần tra kiểm soát, yêu cầu họ rút giàn khoan và ngừng ngay các hành động gây hấn. Mặt khác, kiên trì đấu tranh trên mặt trận ngoại giao.
Chúng ta cũng nên tích cực chuẩn bị các tài liệu pháp lý để sẵn sàng các biện pháp hòa bình như đưa vụ việc ra tòa án quốc tế và các tổ chức tài phán khác. Trong một gia đình có gia phong nề nếp, một quốc gia cũng có trật tự, pháp luật; thế giới cũng phải có trật tự, quy củ chứ không phải để cho các nước tự ý được quyền làm theo ý mình. Nếu các nước đều hành xử theo kiểu “nói một đằng làm một nẻo”, không thực hiện đúng những cam kết đã ký thì không thể có hòa bình, ổn định được.
Thưa ông, tăng cường sức mạnh quân sự liệu có phải là giải pháp tối ưu để bảo vệ lãnh thổ của Việt Nam trong bối cảnh căng thẳng như hiện nay không?
Cũng không hẳn như vậy, đây chỉ là một trong số nhiều giải pháp. Bất cứ một quốc gia nào cũng thế, một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó tự biết bảo vệ lợi ích của chính nó.
Đất nước ta, từ khi có sự lãnh đạo của Đảng, bao giờ cũng thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Việc củng cố, tăng cường sức mạnh quốc phòng chỉ là một giải pháp nhưng không phải yếu tố quyết định tất cả. Thời nhà Hồ, với việc xây dựng thành quách và sức mạnh quân đội mạnh như thế nhưng cũng chỉ tồn tại được vài năm.
Để tạo nên một sức mạnh tổng hợp bảo vệ đất nước, đó phải là sức mạnh của lòng yêu nước, của sự đoàn kết, đồng lòng của toàn dân tộc. Thứ nữa, cái mà Trung Quốc đang gây ra và họ không có được, đó chính là sức mạnh của chính nghĩa.
Có ý kiến cho rằng, với việc không ra một nghị quyết riêng về Biển Đông, Quốc Hội chưa thể hiện được động thái cứng rắn của mình về vấn đề này, ông nghĩ sao?
Tôi cho rằng, nghị quyết hay thông cáo thì cái quan trọng nhất là nội dung truyền tải trong đó, có thể hiện đúng ý chí, nguyện vọng của nhân dân hay không, có thực sự tạo được sự lan tỏa mạnh mẽ trong dư luận trong nước và quốc tế hay không? Thông cáo vừa rồi theo tôi đã thể hiện rất rõ sự phản đối của Quốc hội Việt Nam trước sự vi phạm của phía Trung Quốc. Tiếp đó, trách nhiệm của cơ quan đối ngoại Quốc hội cũng đã có công thư gửi tới các nghị viện, uy ban đối ngoại các nghị viện, liên minh nghị viện trên thế giới.
Thực tế, không phải là Quốc hội chúng ta không có nghị quyết. Từ năm 1996, Quốc hội khi thảo luận để phê chuẩn công ước của LHQ về luật biển năm 1982, trong đó cũng nhấn mạnh, việc giải quyết tranh chấp các đảo, trong quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa hoàn toàn không ảnh hưởng, gián đoạn đến việc thực thi quyền chủ quyền, tài phán quốc gia của Việt Nam và các nước xung quanh. Chính vì thế, các hành động của Trung Quốc đều vi phạm các quy định của Việt Nam cũng như luật pháp thế giới.
( Nguồn : quechoa)

 

 

Nhà thơ Nguyễn Hưng Hải vừa đạt giải cao trong 4 cuộc thi thơ

Nhà thơ Nguyễn Hưng Hải vừa đạt giải thưởng cao trong 4 cuộc thi

thơ hết sức có ý nghĩa được tổ chức ở Trung ương và một số tỉnh, thành

trong cả nước. Đó là giải Nhì (không có giải Nhất) cuộc thi Sáng tác thơ “Kỷ

niệm 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954 – 07/5/2014) và 55 năm

Đường Trường Sơn (19/5/1959 – 19/5/2014) do Bộ Văn hóa – Thể thao – Du

lịch tổ chức. Giải Nhì cuộc thi Sáng tác thơ, truyện ngắn, ca khúc, bài vọng

cổ ” Chào mừng 10 năm Thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương ” do

Thành ủy, UBND Thành phố Cần Thơ tổ chức. Giải Nhì cuộc thi Sáng tác

thơ “Tự hào Thành phố Yên Bái anh hùng” do Hội Liên hiệp Văn học Nghệ

thuật tỉnh Yên Bái tổ chức. Giải Nhất cuộc thi Sáng tác thơ “Điện Biên Phủ

trong trái tim tôi” do Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Điện Biên tổ chức.

Thêm 4 lần đạt giải trong 4 cuộc thi thơ này, Nhà thơ Nguyễn Hưng

Hải sau hơn 30 năm cầm bút đã lập nên một kỳ tích với 25 lần đạt giải trong

các cuộc thi thơ ở Trung ương và các địa phương trên khắp mọi miền Tổ

Quốc. Đó cũng là kết quả của một quá trình lao động nghiêm túc, đúng như

Nhà thơ Hữu Thỉnh và một số Nhà lý luận phê bình văn học có tên tuổi của

Đất Nước hơn 20 năm trước đã nhận định: Nguyễn Hưng Hải là một nhà thơ

xuất sắc của thi đàn vùng đất Tổ, được dư luận cả nước đặc biệt chú ý.

CẦM SƠN

(Tin từ Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Phú Thọ )

Đăng bởi: Ngô Minh | 25.06.2014

Chơi cờ

Tiếng nói nhà văn

 

Chơi cờ

Vĩnh Nguyên

Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Huế

Dân Việt Nam ta, từ thành thị đến thôn quê, đều thích chơi môn thể thao trí tuệ này: cờ tướng. Hai người chơi. Nhiều người vây quanh xem cách điều quân của đối phương. Số người vây quanh thường thành hai phe tham mưu, mách nước. Người đi một nước cờ mà tính được đến bảy, tám nước “bí hiểm” sau đó mới được gọi là người cao cờ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải quyết tâm giữ lấy nước”. Đó là một thế cờ!

Quần đảo Maldives (Ấn Độ Dương), Tổng thống tổ chức họp Nội các dưới đáy biển. Mục đích: Thế giới hãy cứu chúng tôi! Với hiện tượng băng tan – nước biển dâng, chỉ dâng một mét là năm vạn dân đảo ngập chìm trong biển nước! (7/2006) Họp Nội các dưới biển là một “thế cờ” của quần đảo Maldives.

Ở Tịnh Tây, Quảng Tây (Trung Quốc) đầu tư 3 tỉ nhân dân tệ khai thác quặng bauxite đã gây ô nhiễm nặng dòng sông Pangling! Chẳng hiểu bằng cách nào, họ khéo léo bắt tay với Tập đoàn công nghiệp than khoáng sản Việt Nam (TKV) rồi đưa dần công nhân lao động thủ công của họ sang khai thác là họ đã đi một nước cờ cao!

Các nhà khoa học Việt Nam đã phản biện về sự tác hại của dự án bauxite với Bộ Công thương. Người dân trong nước và kiều bào ta ở nước ngoài đã ký tên 6 đợt kịch liệt phản đối, số người ký có trên 5.000 và đề nghị dừng dự án. Bởi người ta tính được khoảng 40 đến 50 năm sau, mực nước biển Việt Nam sẽ dâng từ 1 mét đến 1,5 mét thì các tỉnh miền Tây Nam Bộ, nhiều vùng dân cư không còn ở được. Lượng dân cư đông đảo này phải di dời đi đâu? Thì, cao nguyên rộng lớn là khu đắc địa nhất? Chưa nói đến việc cao nguyên là vị trí chiến lược quân sự, môi trường sinh thái và nền văn hóa dân tộc bản địa?

Bốn mươi năm về trước, ngày 17/1/1974, Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm đảo Hoàng Sa của Việt Nam, 74 quân nhân Việt Nam Cộng hòa tử trận. Ngày 14/3/1988 Trung Quốc tiếp dùng vũ lực đánh chiếm đảo Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, 64 chiến sĩ Hải quân hy sinh cùng hai tàu chở lính công binh (không có vũ khí) bị tàu chiến Trung Quốc bắn chìm.

Nhận thấy dự án bauxite Tân Rai, Nhân Cơ là nước cờ đi thấp nên buộc phải đi nước cờ khác cao hơn. Nước cờ ấy là: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa 13, kỳ họp thứ ba năm 2012 thông qua và ban hành LUẬT BIỂN VIỆT NAM, có hiệu lực từ ngày 1/1/2013. Ngay Điều Một, viết: Luật này quy định về đường cơ sở, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, các đảo, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và quần đảo khác thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam; hoạt động trong vùng biển Việt Nam; phát triển kinh tế biển; quản lý và bảo vệ biển, đảo.

Ngày 2/5/2014, để phá thế cờ của ta, Trung Quốc đi nước cờ của họ: hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 ở tọa độ 15 độ 29’ N/ 111 độ 12’ E, cách đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) 119 hải lý (221km), thuộc lô 143 trên bản đồ dầu khí của Việt Nam, cách bãi ngầm đảo Tri Tôn phía Nam quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam 18 hải lý.

Đến 5h30 ngày 27/5/2014, Hải Dương 981 dịch chuyển theo hướng Đông Đông Bắc cách vị trí ban đầu khoảng 23 hải lý. Để bảo vệ Hải Dương 981, Trung Quốc đã sử dụng nhiều tàu quân sự, trong đó có tàu hộ vệ tên lửa 534, 2 tàu tuần tiểu tấn công nhanh, 3 tàu hải tuần, 36 tàu hải cảnh, 39 tàu chấp pháp, còn lại là tàu kéo, tàu vận tải, tàu đánh cá… (trên 100 tàu). Trung Quốc còn dùng cả máy bay ném bom H6, máy bay chiến đấu TH7… Máy bay bay thấp để đe dọa tàu chấp pháp của Việt Nam đến nỗi, trưa ngày 1/6 phóng viên Hồng Chuyên đứng trên boong tàu Cảnh sát biển Việt Nam số hiệu CSB 2016 nhìn rõ số hiệu máy bay của Trung Quốc CMS-V3843 lượn bốn vòng trên đầu.

Ngày 5/6, Bộ Ngoại giao Việt Nam tổ chức họp báo. Ông Ngô Ngọc Thu, Phó tư lệnh, tham mưu trưởng Cảnh sát biển Việt Nam cáo buộc: Trung Quốc đâm hỏng 24 tàu, trong số này gồm 19 tàu Kiểm ngư, 5 tàu Cảnh sát biển. Tàu Trung Quốc còn đâm chìm tàu đánh cá của ngư dân hai tỉnh Quảng Ngãi và Đà Nẵng.

Trong thời gian Hải Dương 981 ở vị trí 1 dịch chuyển đến vị trí 2, các tàu làm nhiệm vụ chấp pháp của ta bị lực lượng tàu hùng hậu của Trung Quốc cản trở nên chỉ tiếp cận giàn khoan Hải Dương 981 từ 7 đến 10 hải lý, thế mà báo giới Trung Quốc hô hoán xằng bậy: Đến ngày 10/5 tàu Việt Nam đã đâm tàu Trung Quốc 171 lần, đến ngày 10/6 tàu Việt Nam đâm tàu Trung Quốc đến 1.400 lần!

Vào lúc thế cờ nguy kịch này, bạn bè quốc tế đã tham mưu, mách nước cho ta: Tấm bản đồ cổ Trung Quốc thời Càn Long (1736-1795) do Nhà bản đồ học người Pháp Jean Baptiste Bourguignon d’Anville vẽ (xuất bản ở Đức năm 1735), Thủ Tướng Đức Angela Merkel tặng Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình không có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Hay, ngày 31/5/2014 Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN (đối thoại Shangri-La) ở Singapore, Trưởng đoàn các nước đều ủng hộ quan điểm của Việt Nam về Công ước Luật biển Quốc tế năm 1982 và không đồng tình với vụ giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc là “khiêu khích”, gây “bất ổn khu vực”, và chất vấn Trưởng đoàn Trung Quốc – Trung tướng Wang Guanzhong (Vương Quán Trung), Phó tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc – về bằng chứng tàu Việt Nam đâm tàu Trung Quốc đến 1.400 lần ở đâu. Ông Vương Quán Trung bối rối trả lời loanh quanh. Trung Quốc đã vu bậy tàu Việt Nam đâm 1.400 lần không có chứng cứ. Tàu Trung Quốc đâm tàu Việt Nam 24 lần có chứng cứ rất cụ thể (bằng hình ảnh).

Trung Quốc đi nước cờ hiểm: Họ kéo và hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 là khoan dầu hay có thể là cắm mốc theo cái đường lưỡi bò mà họ tự vẽ ra mới dùng hai lực lượng hải quân, không quân bảo vệ vòng trong, vòng ngoài gắt gao đến vậy? Và mai sau, con cháu của họ cũng theo cái máu bành trướng Đại Hán mà hô to hơn: cha ông chúng tôi vào ngày ấy, tháng ấy, năm ấy… đã cắm mốc dưới ruột Biển Đông!

Nước cờ đã bị lộ, hay nói cách khác là họ đã tự lột mặt nạ! Trung Quốc đi tiếp hai nước cờ “mã giằng” là giằng thế “cù nhầy” để chờ thời cơ giục “bầy tốt” qua sông… Nước mã 1: Ngày 26/5/2014, ông Narendra Modi, 63 tuổi, thuộc Đảng dân tộc chủ nghĩa Ấn (BJP) đắc cử Thủ tướng. Ông Modi trước đây từng phát biểu: Trung Quốc có não trạng bành trướng, cho nên Trung Quốc liền cử ngay Bộ trưởng Bộ Ngoại giao sang Ấn Độ “bắt tay thắm thiết chúc mừng”! Nước mã 2: Đối thoại Shangri-La Singapore, nhiều đại biểu quốc tế ủng hộ Việt Nam, chỉ trích Trung Quốc về giàn khoan Hải Dương 981 là “gây hấn”, “gây quan ngại cho hòa bình ở Biển Hoa Đông và Biển Đông” nên ngày 18/6/2014 ông Dương Khiết Trì – Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc – tới Hà Nội bắt tay Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh. Ông Dương với thái độ “dịu dàng” lắng nghe phía Việt Nam nói về giàn khoan Hải Dương 981 là vi phạm chủ quyền. Chuyến đến Hà Nội của vị Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc chẳng có gì “đột biến” hay bởi vì ông chưa đủ thẩm quyền mới “dịu dàng” đến vậy? Và có thật “dịu dàng” không, khi hai bên đã nhất trí: “Đồng ý xử lý đúng đắn các vấn đề tế nhị song phương”! Đến đây, xin có hai ghi chú, 1: Chính ngày 18/6 ông Dương Khiết Trì đến Hà Nội, thì Đài VTV1 đưa tin, vào lúc 15g30 tàu Trung Quốc số hiệu 252 đã đâm tàu Kiểm ngư Việt Nam số hiệu KN 762 ở khu vực biển gần giàn khoan Hải Dương 981; và 2: Bản tin của Cục Hải sự Trung Quốc ngày 19/6/2014 cho biết: các giàn khoan Nam Hải số 2, Nam Hải số 5 hướng tới Đông Sa (Đài Loan kiểm soát), Nam Hải số 4 hoạt động gần bờ biển Trung Quốc, Nam Hải số 9 sẽ đến gần bờ biển Việt Nam hơn, nó đang được kéo từ tọa độ 17 độ 38 vĩ Bắc, 110 độ 12,3 kinh Đông đến tọa độ 17 độ 14,1 vĩ Bắc, 109 độ kinh Đông. Nó còn được kéo đến đâu nữa thì chưa thể biết? Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam – Thiếu tướng Nguyễn Quang Đạm – cho hay: Giàn khoan Nam Hải số 9 này nằm bên ngoài cửa vịnh Bắc Bộ và là nơi hai bên đang bàn vòng 5 để phân định. Hóa ra sự “dịu dàng” đồng ý xử lý đúng đắn các vấn đề tế nhị song phương là như vậy đó!

Trung Quốc đông dân nên đài, báo của họ tuyên truyền để đánh lừa công luận là rất lợi thế. Nhưng, những ai đã đọc hai quyển sách Người Trung Quốc xấu xa của Bách Dương, người Đài Loan, xuất bản năm 1987 tại đại lục Trung Quốc đã thu hút hàng triệu độc giả bởi giọng văn châm biếm mỉa mai đã phanh phui bản chất truyền thống không tốt nhưng khéo đậy che thầm kín của họ. Và quyển Chết dưới tay Trung Quốc của Peter Navarro và Greg Autry (xem http://boxitvn.blogspot.kr/2012/11/loi-mo-au-cuon-chet-duoi-tay-trung-quoc.html với lời giới thiệu của Baiqiao Tang – một trong những sinh viên sống sót trong vụ đàn áp Thiên An Môn 1989, sau đó trốn thoát sang Hoa Kỳ), tác phẩm xuất bản ở Mỹ tháng 11/2012, đã chỉ thẳng: Chính quyền Trung Quốc tàn nhẫn với nhân dân của mình và chơi bẩn với đối tác thương mại. Trong chương Lời kết có đoạn viết: Từ sau vụ Thiên An Môn, chính quyền tàn nhẫn dùng bất cứ phương tiện cần thiết nào để giữ vững quyền lực. Ngày nay, ẩn sau vẻ ngoài của “sự trỗi dậy hòa bình”, nước Mỹ quá-tin-người đã nhấn chìm vào một mối quan hệ thương mại bất thường với China, phá hủy nền tảng sản xuất của mình và nhanh chóng làm giảm khả năng tự vệ đối với mối đe dọa quân sự ngày càng tăng từ China…

Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã 13 năm, người dân nước Mỹ và nhiều nước khác không ai còn lạ gì cái bộ mặt vờ vịt “bắt tay nỉ hảo” nhưng rồi được đằng chân lân đằng đầu, Trung Quốc sẽ nhận chìm kẻ yếu hơn lún sâu vào khủng hoảng kinh tế, nghèo đói, buộc đối tác lệ thuộc rồi trở thành thuộc địa của Trung Quốc?

Hai quyển sách trên đã cho nhiều người thấu hiểu bản chất của Tập đoàn nắm quyền lực từ xưa đến nay của Trung Quốc là tàn bạo với người dân nước mình chưa đủ mà còn bành trướng xâm chiếm nước khác, lừa phỉnh và tàn bạo với người dân nước khác.

Trung Quốc gian xảo, phi nghĩa. Phi nghĩa nên thường dùng nhiều mẹo vặt, ví dụ như: Ngày ấy, tháng ấy, năm ấy… Lý Chí Dân – Đại biện lâm thời Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam – gặp Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Ung Văn Khiêm đã nói gì đó về Tây Sa, Nam Sa… Hoặc bám vào và khai thác cái công hàm ngờ nghệch vì niềm tin mù quáng của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Chu Ân Lai công nhận lơ mơ cách các đảo 12 hải lý… Hoặc lợi dụng, phỉnh nịnh, (có thể có cả chuyện) đút lót thế nào đó với kẻ ham tiền mà dốt sử rồi đem in (có thể là in nối bản) vào sách giáo khoa địa lý lớp chín nào đó chẳng hạn, một bài giới thiệu viết sẵn tâng bốc ngất trời rằng các đảo Hoa Đông, Biển Đông thành bức “trường thành” bảo vệ Trung Hoa đại lục! Thì, những điều kia người ta dễ dàng phản bác bởi nó chỉ là cá nhân “làm việc” với cá nhân chứ Quốc hội, Nhà nước đâu có xác quyết?

Việt Nam sống có đạo lý, chính nghĩa, tôn trọng pháp luật, thực hiện đúng Công ước Luật biển Liên Hiệp Quốc năm 1982 nên Việt Nam được thế giới trân trọng và ủng hộ. Vậy nước cờ của Việt Nam lúc này là khởi kiện Trung Quốc ra Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ). Nếu Trung Quốc từ chối “không tham gia vụ kiện”, giở trò “cù nhầy” thiếu nhân cách nước lớn, thì việc kiện của Việt Nam tiếp theo vụ kiện Trung Quốc của quốc gia Philippines sẽ làm cho “bó đũa ASEAN” vững mạnh thêm lên; nếu Trung Quốc dùng cách ứng xử cù nhầy nhằm giãn thời gian để “giương Đông kích Tây” rồi dùng mưu ma chước quỷ, nào tàu đệm khí, tàu chạch, tàu lươn… đêm ngày rình rập, chờ sơ hở, mất cảnh giác của đối phương là trườn tới chiếm đảo này, đảo khác, thì Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) sẽ có cách xử của Tòa. Chúng ta phải vững tin như vậy. Nhân dân Việt Nam kiện là vì hòa bình, gìn giữ “non sông gấm vóc vững âu vàng” của Việt Nam và gìn giữ hòa bình cho thế giới! Và nhằm để cho nhân dân thế giới biết rằng vào ngày ấy…, tháng ấy…, năm ấy…, Việt Nam đã khởi kiện Trung Quốc ra Tòa án Công lý Quốc tế về việc đòi lại quần đảo Hoàng Sa và đảo Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam mà Trung Quốc đã dùng vũ lực đánh chiếm vào các năm 1974 và năm 1988 là cái Mốc lịch sử của nước Việt Nam, của Dân tộc Việt Nam. Biển Đông nối liền Thái Bình Dương là đường hàng hải của quốc tế, mà Trung Quốc tham tàn bạo ngược, mưu đồ độc chiếm Biển Đông 80% là tham lam hết chỗ nói và vi phạm trắng trợn luật pháp quốc tế. Nên Việt Nam phải kiện Trung Quốc ra Tòa án Công lý Quốc tế để Nhân dân Thế giới không còn ai bị đánh lừa về sự kiện cái giàn khoan Hải Dương 981 di chuyển theo cái hình lưỡi bò hay còn gọi đường gãy khúc chín đoạn với mưu đồ nham hiểm mạt hạng của Tập đoàn bành trướng Đại Hán thời nay của Trung Quốc.

Không còn chần chừ gì nữa. Giờ lịch sử Việt Nam đã điểm! Phải kiện Trung Quốc ra Tòa án Công lý Quốc tế ngay là một nước cờ cao và chắc thắng!

Huế, mùa World Cup 2014 ở Brazil

V. N.

Tác giả gửi cho QTXM

 

Phùng Hoài Ngọc
Tôi vừa đọc cuốn hồi ký tự truyện “Chuyện nghề của Thủy” của hai tác giả: Lê Thanh Dũng và đạo diễn Trần Văn Thủy do Nhà xuất bản Hội nhà văn ấn hành, tái bản lần 1 năm 2013.
 Rất nhiều thú vị khi đọc cuốn sách tuyệt vời của đạo diễn phim tài liệu nổi tiếng (chủ yếu với hai bộ phim Hà Nội trong mắt ai và Chuyện tử tế). Có thể nói, đạo diễn Trần Văn Thủy là nhà đạo diễn đầu tiên đổi mới nghệ thuật trước khi Đảng đành phải đổi mới.

 Ở đây, tôi chỉ muốn bàn về một chi tiết nhỏ trong cuốn sách đó: đoạn viết về bác sĩ Đặng Thùy Trâm, trong phần Bốn. Trên đường cuốc bộ gian khổ vượt Trường Sơn, ông Thủy có dịp cùng đi một đoạn đường với bác sĩ trẻ Đặng Thùy Trâm. Đạo diễn kể tới tám trang về người đồng đội đặc biệt này và những suy ngẫm khi biết tin cuốn Nhật ký của bà Trâm được một cựu sĩ quan Mỹ trả lại và xuất bản.
 Tôi giật mình đọc đoạn ông Trần Văn Thủy nêu ra nghi ngờ về câu nói nổi tiếng được cho là của viên trung sĩ Nguyễn Trung Hiếu “Đừng đốt, trong ấy đã có lửa”, ông viết:
 Không biết ai là người đầu tiên nói rằng khi những người lính phía bên kia giết chị Đặng Thùy Trâm và lấy cuốn Nhật ký của chị, một người lính Mỹ định đốt cuốn nhật ký, viên hạ sĩ quan quân đội VNCH Nguyễn Trung Hiếu đã nói “Đừng đốt, trong ấy đã có lửa” . Có thật anh ấy nói câu ấy không? Hơi khó tin, cái câu chữ sặc mùi chính trị…. Viên trung sĩ một người rất kiệm lời mà có một câu mỹ miều đầy tính sân khấu ấy chăng, nhất là giữa chiến trường ác liệt?… Nếu có lửa thì là do ai đó, có thể là một người mê cải lương, đưa vào mà thôi (trang 67, 68 – Chuyện nghề của Thủy).
 Trần Văn Thủy còn dẫn lại ý kiến nhà thơ Thanh Thảo “Nếu chị Trâm còn sống ngày hôm nay, tôi chắc chắn chị không cho in cuốn Nhật ký”.
 Tôi kiểm tra thêm lần nữa qua Wikipedia, nhân tiện ôn lại câu chuyện. Wiki ghi sơ lược về tác giả Nhật ký như sau:
 Đặng Thuỳ Trâm sinh ngày 26 tháng 11 năm 1942 tại Huế trong một gia đình trí thức Hà Nội. Bố là bác sĩ ngoại khoa, mẹ là dược sĩ, giảng viên trường Đại học Dược Hà Nội.
 Tốt nghiệp trường Đại học Y khoa Hà Nội năm 1966, Thùy Trâm tham gia Quân đội Nhân dân Việt Nam với tư cách là một bác sĩ quân y và được điều vào công tác ở Đức Phổ, chiến trường Quảng Ngãi trong chiến tranh Việt Nam.
 Vào Đảng Cộng Sản Việt Nam ngày 27 tháng 9 năm 1968.
 Đặng Thùy Trâm hy sinh ngày 22 tháng 6 năm 1970. Hài cốt bà được mai táng tại nơi hy sinh, sau thống nhất được đưa về Nghĩa trang liệt sĩ xã Phổ Cường. Năm 1990, được gia đình đưa về Nghĩa trang liệt sĩ Xuân Phương,Từ Liêm, Hà Nội.
 Hai tập nhật ký còn lại được viết từ ngày 8 tháng 4 năm 1968, khi tác giả phụ trách bệnh xá Đức Phổ, cho đến ngày 20 tháng 6 năm 1970, hai ngày trước khi hy sinh.
 Nội dung quyển sách là những suy nghĩ, cảm xúc của tác giả về gia đình, xã hội và cuộc chiến, khi trực diện với sự sống, cái chết đang diễn ra.
 Hai tập nhật ký do Frederic Whitehurst, cựu sĩ quan quân báo Hoa Kỳ, lưu giữ cho đến ngày được trả lại cho gia đình tác giả vào cuối tháng 4, 2005. Ông này đã giữ lại quyển nhật ký mà không đốt đi, vì theo lời của thông dịch viên, thượng sĩ Quân lực Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Trung Hiếu, trong cùng đơn vị: “Fred, đừng đốt cuốn sổ này, bản thân trong nó đã có lửa.”
Quyển sách được Nhà xuất bản Hội Nhà văn liên kết với Công ty Cổ phần Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam cho ra mắt nhân dịp kỉ niệm ngày Thương binh liệt sĩ (27 tháng 7) năm 2005 của Việt Nam. Đến tháng 3 năm 2006, quyển sách này đã bán được hơn 400.000 bản – được xem là một hiện tượng văn học. Hiện tại cuốn Nhật ký được lưu giữ tại Viện lưu trữ về Việt Nam ở Lubbock, Texas, Hoa Kỳ.
 **
“Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm” là quyển sách do nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn biên tập, giới thiệu từ hai tập nhật ký viết tay của bác sĩ liệt sĩ anh hùng Đặng Thùy Trâm.
 Người biên tập cuốn Nhật ký, ông Vương Trí Nhàn không nói rõ ai nói câu đó, chính xác như thế nào, trong hoàn cảnh nào. Hẳn là Frederic Whitehurst người giữ cuốn nhật ký đã nói, nhưng nói với ai, viết ở đâu ? Câu nói độc đáo của ông Nguyễn Trung Hiếu khiến bao người xưa nay thấy dạt dào cảm xúc, hởi lòng hởi dạ, cảm động đến mức không nhận thấy sự phi lý của lời nói ấy.
 Chúng tôi thử tưởng tượng hoàn cảnh phát sinh lời nói của ông Hiếu như sau:
 Sau trận càn quét vào khu bệnh xá Đức Phổ nơi BS Trâm phụ trách, quân Mỹ thu dọn chiến trường. Họ thu nhặt tất cả giấy tờ, sổ sách và những thứ gọi là tài liệu của đối phương. Những tài liệu nào bằng tiếng Việt đều được giao cho trung sĩ Nguyễn Trung Hiếu (làm nhiệm vụ thông dịch viên cho quân đội Mỹ) xem xét báo cáo cho sĩ quan quân báo Mỹ phụ trách lúc ấy là Frederic Whitehurst. Những tài liệu có giá trị giúp quân Mỹ tìm hiểu đối phương, phục vụ cho các trận càn quét thì được giữ lại để khai thác. Tài liệu nào không cần thiết thì đốt bỏ. Hẳn là sau khi đọc sơ qua hai tập Nhật ký của BS Trâm, một kẻ thù đã bị giết, ông Hiếu không khỏi ngạc nhiên và có những cảm xúc mạnh. Khi báo cáo sơ bộ lần lượt từng tài liệu thu gom được với sĩ quan Frederic Whitehurst (gọi thân mật là Fred), giở đến hai tập nhật ký, ông Hiếu nói:
-          Đây chỉ là nhật ký riêng tư của nữ bác sĩ Trâm, người phụ trách bệnh viện đã tử trận. Hai cuốn tập này không có thông tin gì về bí mật quân sự.
Frederic Whitehurst  nói:
-          Thế thì đốt bỏ đi.
Ông Hiếu nói tiếp:
-          Đừng đốt, cuốn nhật ký này cũng lạ lắm. Nếu Fred muốn biết thêm về cuộc đời và tâm trạng của một nữ Việt cộng trẻ tuổi người Hà Nội thì giữ lại đọc sau, cũng không vô ích đâu.
Tôi không nghĩ rằng hai người lính Mỹ Việt đồng tình giữ lại nhật ký với mục đích sau này trao lại cho gia đình người xấu số. Bởi lẽ đơn giản: bản thân họ cũng không tin chắc sống sót được qua cuộc chiến tranh khốc liệt chưa có dấu hiệu nào sắp chấm dứt. Lúc ấy mới là tháng 6 năm 1970.
 Tin lời của thông dịch viên Nguyễn Trung Hiếu, viên sĩ quan quân báo kia đã giữ lại tập nhật ký. Khi trở về Mỹ, anh ta mang 2 tập vở viết tay đó về quê, nhờ người dịch ra tiếng Anh. Đọc nhật ký qua tiếng Anh, anh cũng rất cảm động, thỏa mãn chí tò mò và về sau tặng cho một Trung  tâm nghiên cứu Việt Nam của một trường đại học ở Texas. Rồi anh lại công phu sang Việt Nam tìm lại gia đình Đặng Thùy Trâm.
 Bây giờ chúng ta thử gắn câu nói “Fred, đừng đốt cuốn sổ này, bản thân trong nó đã có lửa” như loan truyền, vào cuộc đối thoại trên và đọc lại xem sao.
 “…ông Hiếu nói:
-          Đây chỉ là nhật ký riêng tư của nữ bác sĩ Trâm, người phụ trách bệnh viện đã tử trận. Hai cuốn tập này không có thông tin gì về bí mật quân sự.
Frederic Whitehurst  nói:
-          Thế thì đốt bỏ đi.
Ông Hiếu nói tiếp:
-          Đừng đốt, bản thân nó đã có lửa rồi”.
 Bạn đọc thử so sánh hai đối thoại xem cái nào hiện thực, cái nào hư cấu?
 Một cuộc đối thoại bình thường sẽ theo quy luật nhân quả. Câu trước tạo điều kiện, lý do phát sinh ra câu sau – câu ứng đáp, cứ tiếp tục như thế đến khi chấm dứt đối thoại. Hai người lính, Mỹ và Việt, đang làm công việc xem xét tài liệu thu lượm của đối phương. Đó là một công việc nghiêm túc, không thể nói giỡn chơi hoặc bỗng nhiên cao hứng lạc đề được. Câu nói của thông dịch viên (như được loan truyền) như thế là trật ra ngoài mạch đối thoại. Nghe như câu nói của một người mộng du, hay một thi nhân làm thơ ngẫu hứng…Trong nghệ thuật văn chương, Hemingway nhà văn Mỹ đạt giải Nobel ưa viết những “đối thoại khập khễnh” được gọi là “nghệ thuật đối thoại tảng băng trôi”. Đối thoại kiếu này rất công phu, thường bỏ qua các quy tắc đối thoại thông thường. Người đọc phải bận tâm cố suy ngẫm mới hiểu được….Giới phê bình văn học từng ca ngợi lối viết đối thoại độc đáo của nhà văn Hemingway. Nhưng đó là chuyện văn chương.
 Lại tưởng tượng một chút, sau khi cuộc chiến tranh bi thảm trôi qua khá lâu, anh cựu binh Mỹ nghiền ngẫm kỹ và cảm thấy “có lửa” trong cuốn sách này. Đó là ngọn lửa tâm hồn của một nữ bác sĩ quân y trẻ giữa cuộc chiến, lửa yêu đời, lửa nhớ quê hương người thân, lửa tình yêu nam nữ, lửa tình cảm đồng đội, lửa yêu nước, lửa căm thù giặc…. Khi báo chí Mỹ bùng nổ thông tin về cuốn Nhật ký, có thể anh đại tá cựu binh Frederic Whitehurst đã nói cảm nghĩ ấy với ai đó trên báo chí. Lúc này anh cựu binh mang tâm trạng một nhà thơ, không còn là sĩ quan quân báo Mỹ thời chiến tranh nữa. Một câu nói ngẫu hứng lúc nào đó, rồi tam sao thất bản loan truyền. Có thể, Frederic đã có cảm hứng thi sĩ khi gán câu nói cho thông dịch viên Nguyễn Trung Hiếu, hoặc ai đó đã gán vào Nguyễn Trung Hiếu (Tôi không nghĩ như đạo diễn Trần Văn Thủy “cái câu chữ sặc mùi chính trị”, và có thể là một người mê cải lương đưa câu nói ấy vào”).
 Nói vậy, nhưng tôi không có ý phàn nàn gì về ông Frederic Whitehurst. Trái lại chúng ta ai nấy đều ghi nhận tinh thần quý trọng đối phương của ông sĩ quan Mỹ đã gìn giữ cuốn nhật ký hiếm hoi quý giá của người Việt, ông là một người cựu chiến binh nhưng chẳng phải một kẻ võ biền, ông còn biết thương hoa tiếc ngọc (đồng đội Nguyễn Trung Hiếu cũng là người như vậy). Người sĩ quan Mỹ kia còn  nhờ người dịch sang tiếng Anh, lại tốn nhiều công phu đi tìm gia đình bác sĩ Trâm để trả lại di vật người con gái đáng thương của họ.
 Nói vậy, tôi chỉ phàn nàn ông Vương Trí Nhàn người tổ chức biên soạn Nhật ký, viết Lời giới thiệu cho sách mà không dẫn chính xác nguồn câu nói đầy chất thơ, thiếu chất thực được cho là của trung sĩ thông dịch viên Nguyễn Trung Hiếu. Tôi cũng phàn nàn báo chí nước ta từ hồi năm 2005 thường truyền lại “câu nói bất hủ” ấy mà chẳng có nhà báo nào tìm được nguồn chính xác. Chỉ có hai người biết rõ: Nguyễn Trung Hiếu và Frederic. Bây giờ muộn quá rồi, khó mà xác minh. Mà cũng chẳng còn cần thiết nữa.
 Qua báo chí được biết gia đình chị Trâm được mời sang Mỹ nhận lại di vật của chị Trâm, hai người em gái đã cùng với phóng viên Uyên Ly cố gắng tìm bằng được cựu trung sĩ Nguyễn Trung Hiếu lúc ấy đang sống ở Mỹ, trong một căn hộ chung cư. Ông Hiếu cố ý tránh gặp nhưng cuối cùng ông chẳng đặng đừng… Sau đó chị Trâm em không kể lại đầy đủ cuộc gặp gỡ và không đả động “câu nói nổi tiếng” được cho là của ông Hiếu.
***
 Để hiểu rõ hơn về ông Nguyễn Trung Hiếu, xin tham khảo thêm hai bài báo của nhà báo Uyên Ly về cuộc tìm gặp ông Hiếu ở Hoa Kỳ:
 Những cuộc trò chuyện lúc 0 giờ
Hành trình đi tìm Nguyễn Trung Hiếukỳ 1 
Nguyễn Trung Hiếu (California)
Nguyễn Trung Hiếu, Nguyễn Trung Hiếu, cái tên ấy lặp đi lặp lại trong tâm trí tôi cả ngày lẫn đêm kể từ khi Fred phác họa chân dung của ông cho tôi nghe. Một tình cảm kỳ lạ luôn thôi thúc chúng tôi tìm gặp được ông để nói về việc ông đã làm cách đây 35 năm, và điều đó không bị quên lãng.
“Tôi là Hiếu đây!”
Đêm 4-9, cầm số điện thoại của Mỹ, mã vùng California trong tay, tim đập mạnh. Tôi nhấn cẩn thận từng con số mà mình đã thuộc lòng. Không liên lạc được vì số không đúng, lo quá. Nhìn kỹ bàn phím, nhấn lại lần hai. Tiếng chuông reo phía đầu dây bên kia. Thêm một hồi chuông reo nữa. “Alô?” – giọng một người đàn ông miền Nam. Linh cảm mách bảo đó đúng là người cần tìm. Tôi dùng cách xưng hô thân mật nhất có thể:
- Xin lỗi, có phải chú Hiếu không ạ?
- Phải, tôi là Hiếu đây…
Ôi trời, hình như tôi đang ngồi trên máy bay và bị đột ngột rớt độ cao.
- Có phải chú Nguyễn Trung Hiếu không ạ?
- Vâng, tôi đây!

Tôi không thở nổi, tai lùng bùng.

Giọng nói của ông trầm và ấm, chậm rãi nhưng đầy cảnh giác. Nhớ lại lời mô tả của Fred về thân phận của những người phiên dịch trong chiến tranh, tôi hình dung ra một người đàn ông thấp, đậm, khuôn mặt hằn những nếp suy tư che giấu ký ức.
Trong cuộc điện thoại đầu tiên ấy, tôi tự giới thiệu mình là phóng viên trẻ của báo TS và với tất cả tình cảm của mình, tôi kể về hành trình của cuốn nhật ký của một người nữ bác sĩ mà có lẽ ông còn nhớ.
Ông Hiếu xưng hô rất lịch sự, nhưng đáp lại với vẻ đề phòng, rằng ông có đọc cuốn nhật ký rất hay từ cách đây mấy chục năm. “35 năm rồi phải không?” – ông Hiếu nói một cách chính xác, rồi như sực nhớ điều gì, ông lại bảo: “Tôi không nhớ rõ vì đã lâu quá rồi”.
Tôi bộc lộ rằng gia đình người viết cuốn nhật ký rất biết ơn ông, người sĩ quan Mỹ từng làm việc bên ông cũng đã khóc khi kể về ông và những kỷ niệm chiến tranh. Tôi nhắc đến tên Frederic.
Ông Hiếu nghĩ một thoáng rồi nói: “Tôi không nhớ tên anh ta”. Tôi nhắc lại: “Ông ta tên là Frederic Whitehurst”. Ông Hiếu nói: “À, tôi nhớ đó là tay Whitehurst”.
\
Tôi bảo: “Chú đã bảo ông ấy giữ lại cuốn nhật ký, đó là một hành động dũng cảm và có thể chú sẽ gặp nguy hiểm phải không?”
Ông Hiếu lạnh lùng: “Chuyện chiến tranh súng đạn, tôi không muốn nhắc tới”.
Tôi thay đổi cách tiếp cận, bày tỏ tình cảm và niềm vui của mình khi tìm được ông và ngỏ ý muốn gửi cho ông những thư từ, tài liệu ở VN như cuốn nhật ký, những bài báo viết về ông. Nguyễn Trung Hiếu rất quan tâm và đồng ý cho địa chỉ khu nhà (nhưng không cho số nhà).
Tôi đột ngột hỏi: “Chú có nhớ nhà không?”. Ông Hiếu im lặng một lát, rồi nói: “Gia đình tôi không còn ai ở VN. Những chuyện quá khứ tạm thời tôi không muốn nghĩ tới nữa. Tôi đang bận!”. Cúp máy.
Phóng viên Uyên Ly (báo TS)
Vừng ơi, mở ra
 Cảm giác cô đơn của ông Hiếu lên đến cùng cực vào đêm 7-9. Qua điện thoại, ông Hiếu nói: “Với tôi bây giờ, cuộc đời không có gì là đáng tin nữa. Mấy chuyện chính trị tôi không quan tâm. Đến cả tình người, không có gì là đáng tin hết. Tôi nói chuyện đó với cô, xin lỗi, như một con người trần truồng ra mà nói với nhau đây. Tôi đọc cho cô nghe hai câu thơ này: Hôm qua tôi chết một lần. Hôm nay tôi chết thêm lần nữa”.
Những lời ấy làm nhói tim tôi. Đêm đó về nhà, tôi không ngủ được, nỗi buồn và những câu hỏi về thân phận chiến tranh cứ day dứt trong tôi. Không thể như vậy được.
Nguyễn Trung Hiếu cần được chia sẻ. Tình cảm của ông về quê hương và gia đình vẫn luôn tràn đầy. Niềm tin đó dẫn đường cho tôi trong những cuộc điện thoại lần sau cho dù có lúc ông tỏ ra xa lạ và bất cần.
Mở đầu câu chuyện lúc 0g, ông thường hỏi: “Thật ra ở VN muốn gì?”. Tôi trấn an ông bằng những giọt nước mắt và nụ cười trong chuyến trở về VN của Fred, bằng sự quan tâm của người VN đối với ông, bằng lòng mong muốn được nói lời cảm ơn của người mẹ vừa tìm lại được con gái đã mất.
Những cuộc điện thoại lúc nửa đêm đã trở thành thói quen. Chúng tôi chia sẻ những gì về cuộc sống hiện tại ở Mỹ, ở VN, chuyện công việc, gia đình. Tôi thu thập từng bài thơ, bài báo mà tôi cho rằng ông quan tâm và đọc cho ông nghe qua điện thoại, gợi lại dần dần những câu chuyện quá khứ để tránh tổn thương cho ông.
Cho đến một ngày, ông bảo: “Tôi ở đây 20 năm rồi mà không có bạn bè. Có cô như một người bạn ở VN gọi tới, tôi rất cảm kích. Dần dần tôi sẽ kể cho cô nghe những câu chuyện buồn”.
Tôi lái xe về nhà với một niềm lạc quan mới được nhen nhóm, bắt tay vào viết cho ông lá thư đầu tiên bày tỏ niềm tin trước sức sống mãnh liệt của tình người và kết thúc có hậu sẽ đến với những tấm lòng thiện. Sau đó tôi gửi lá thư ấy tới địa chỉ đầy đủ mà ông vừa cho tôi.
Tôi biết mình sắp bắt đầu cuộc hành trình mới…
UYÊN LY
Ban biên tập TS quyết định cử nữ phóng viên Uyên Ly sang Mỹ. Nhưng một ngày trước khi Uyên Ly lên máy bay, Nguyễn Trung Hiếu từ chối: “Tôi không muốn gặp cô. Tôi mến cô, nhưng tôi sợ người ta sẽ “bụp” cô…”.
Nữ phóng viên Uyên Ly vẫn lên máy bay và bắt đầu bước đi trên “cây cầu bắc qua dòng sông cay đắng” (lời Fred).

Hai chị Hiền Trâm và Phương Trâm trao cho ông Nguyễn Trung Hiếu cuốn nhật ký Đặng Thùy Trâm tại nhà ông Hiếu ở California - Ảnh Uyên Ly

Hành trình đi tìm Nguyễn Trung Hiếu – Kỳ 2:

Lịch trình chuyến đi Mỹ của gia đình chị Đặng Thùy Trâm đã được chuẩn bị kỹ lưỡng. Nguyện vọng cao nhất của người mẹ là được ôm cuốn nhật ký của con gái vào lòng, nguyện vọng thứ hai là tìm gặp người phiên dịch năm xưa. Còn với tôi, địa chỉ và số điện thoại của ông Nguyễn Trung Hiếu tôi đã nằm lòng.

Ý kiến bạn đọc về hành trình tìm Nguyễn Trung Hiếu

Lời mời không được đáp lại

Đã đến lúc cần phải cho Fred và gia đình biết rằng tôi đã liên lạc được với ông Hiếu. Tôi hỏi ông có đồng ý vậy không? Ông Hiếu nhận lời nhưng vẫn dè chừng: “Để coi họ nói sao!”.

Ngày 21-9, ông Hiếu kể rằng Fred và chị Kim Trâm đã gọi cho ông. Hai cuộc điện thoại ấy đã gợi cho ông rất nhiều tình cảm về quê hương. Tôi ngỏ ý rằng báo TS và rất nhiều người bạn khác nữa sẵn lòng mời ông về VN. Ông Hiếu từ chối với lý do đơn giản là không muốn về, ẩn chứa đằng sau đó là những băn khoăn mà ông chưa tiện bày tỏ. Tôi cũng kể với ông rằng gia đình chị Thùy Trâm đang sửa soạn đi Mỹ và hi vọng sẽ được gặp ông để tỏ lòng cảm tạ, ông nói sẽ suy nghĩ về việc đó.

Những ngày này hình như ông đang gặp phải những phản ứng tiêu cực, ông dè dặt: “Hóa ra chuyện về cuốn nhật ký lớn lắm. Tôi biết sách bán được mấy trăm ngàn bản rồi. Bây giờ chuyện gia đình cô Kim và cuốn nhật ký ở bên này ai cũng biết hết. Cô Kim có gọi điện cho tôi. Tôi nói chuyện xưa tôi đã quên. Mấy chục năm rồi. Gia đình muốn đến gặp thì tôi cũng welcome (chào đón – PV) thôi, nhưng khi gia đình cô Kim ra khỏi nhà là tôi có chuyện liền”.

Gần kề ngày đến Mỹ, giữa những cuộc trò chuyện tôi luôn nhắc lại những lời mời và nguyện vọng được gặp ông Hiếu. Ngày 27-9, ông thổ lộ nỗi lo và những suy nghĩ có phần day dứt: “Tôi sẽ về VN không biết chừng, nhưng về VN rồi trở lại Mỹ sao đây?… Không nên gặp tôi ở đây vì tôi còn có gia đình, tôi sợ bị người ta gây phiền nhiễu”.

Đêm 2-10, một ngày trước khi tôi bay đến Mỹ, ông Hiếu nói: “Tôi không muốn gặp cô. Tôi mến cô và muốn giúp cô, nhưng nếu cô đến, tôi sợ người ta sẽ “bụp” cô”. “Bụp” ư? Dù chưa biết thực hư sẽ ra sao, cảm giác bất lực bỗng xâm chiếm tâm trí tôi. Tôi viết cho người bạn mới một bức thư buồn bã: “Cháu sẽ không làm những gì mà cháu không yên tâm, đặc biệt là khi việc làm của mình có thể ảnh hưởng đến người khác… Qua các cuộc trò chuyện từ điện thoại, chắc hẳn chú nhận ra sự chân thành của cháu. Nhưng sự chân thành ấy đã vướng những rào cản quá khứ….Câu trả lời nằm ở những người như chú. Sức mạnh tinh thần vượt qua năm tháng chính là tình người, mà sao người đến với nhau khó quá. Cháu chẳng trách được ai cả…!”.

Khi đặt dấu chấm than, tôi nghĩ: “Ừ nhỉ, vì sao người lại không được gặp người? Chiến tranh đã lùi xa rồi. Robert (anh trai của Fred) nói lời của chị Thùy là cây cầu bắc qua dòng sông cay đắng. Nhưng làm sao để bắc những cây cầu…”.

Uyên Ly, tôi đang hỏi một cô gái nhỏ bé, rằng khi nào tôi sẽ ngừng xao động đây? Được tin về Hiếu, những giọt nước mắt tưởng như đã khô nay lại rơi. Bóng tối lại vây quanh và bám chặt. Dù cho ta có quên được chúng trong một thời gian, chúng vẫn quay trở lại và mang theo nước mắt. Đó không phải là ám ảnh, mà chính là những kỷ niệm nay đã trở thành một phần của tâm hồn không thể lãng quên. 

Hiếu cũng có những kỷ niệm ấy. Tôi hiểu. Liệu có ổn không khi tôi gọi cho anh ta? Tôi không muốn làm Hiếu tổn thương nhưng tôi rất muốn nói chuyện với anh. Anh là một người rất tốt và can đảm, một người lính trung thực. Hãy cho tôi biết ý cô về chuyện tôi gọi điện cho Hiếu. Nếu cô thấy được, tôi sẽ gọi.

Fred

Những giọt nước mắt

Tin tức và hình ảnh về chuyến đi của gia đình chị Thùy Trâm được truyền đi khắp thế giới. Nhà ông Hiếu không có Internet nhưng tin tức đổ tới qua tivi, báo chí địa phương và qua câu chuyện của những người xung quanh. Gia đình chị Thùy Trâm và chúng tôi cùng thống nhất giải pháp mời ông Hiếu tới Washington DC, như vậy sẽ tránh được những mối lo mà ông Hiếu từng nhắc tới, đồng thời cũng tránh sự quan tâm của báo chí lúc nào cũng bao vây lấy gia đình trong thời gian ở Texas và Bethel, North Carolina.

Đầu giờ chiều thứ năm, ngày 6-10, lòng tôi như tan ra khi nghe người đàn ông này khóc qua điện thoại. Chuyến đi của gia đình đã có tác động mạnh tới ông. Ông Hiếu nói mấy hôm nay ông không ngủ được vì day dứt trước tấm lòng của gia đình chị Thùy Trâm đối với mình mà mình lại không thể đáp lại.

Ông nói như một người có lỗi cần được thể tất. Ông Hiếu hứa sẽ ghi nhớ tấm lòng của gia đình Thùy Trâm, của Fred, của báo TS, của phía VN suốt đời và nói xa xôi về những khó khăn mà mình gặp phải… Ông Hiếu đã khóc, những tình cảm đang giày vò ông.

Đến North Carolina, Fred, chị Hiền Trâm và tôi thay nhau gọi điện cho ông Hiếu nhiều lần để khơi gợi tình cảm sẵn có trong ông. Sáng thứ bảy (8-10), Fred động viên ông Hiếu: “Hiếu à, ông nên gặp mẹ và các em gái tôi. Đó là gia đình thật sự của tôi với những con người có tâm hồn đẹp đẽ. Ông hãy suy nghĩ và sau đó gọi cho tôi biết nhé”.

Chiều thứ bảy (8-10), ông Hiếu nói với tôi bằng một giọng rất lạ: “Cô Uyên Ly, 10g sáng mai tôi sẽ gọi vào số điện thoại của Fred để nói chuyện với cô”. Cả buổi sáng trôi qua, tôi quanh quẩn bên Fred, tai căng ra đón tiếng điện thoại. Không có tín hiệu.

Thứ hai (10-10), chúng tôi khởi hành đi Washington DC bằng ôtô. Gọi cho ông nhưng ông không có nhà. Tôi bắt đầu lên kế hoạch: “Ở đó có đường bay thẳng đến Cali…”. Bỗng trong bữa ăn trưa dọc đường, chị Hiền Trâm thông báo với mọi người: đêm qua ông Hiếu đã ngỏ ý muốn mời gia đình tới nhà riêng của ông. Như vậy, nỗi lo không an toàn cho ông và cho cả chúng tôi khi đến gặp ông đã được giải tỏa phần nào.

Gia đình nhất trí cử chị Hiền Trâm và chị Phương Trâm đi tới Cali cùng tôi. Chị Kim Trâm và bác Doãn Ngọc Trâm tiếp tục đi thẳng tới New York theo lịch trình đã sắp sẵn.

Chuyến bay nội địa dài nhất nước Mỹ đưa chúng tôi đến với người phiên dịch năm xưa.

Phương án cuối cùng

Sáng 11-10, tôi phấn khởi gọi cho ông Hiếu từ sân bay Cali: “Cháu và gia đình đã tới nơi”. Ông Hiếu trả lời, giọng đầy hoảng hốt: “Ba giờ sáng nay có người gọi đến nhà tôi chửi bới, dọa dẫm. Người đó nói biết hết việc tôi đang làm. Trên Internet hình như người ta cũng đang chửi tôi. Việc gặp cô và gia đình chắc phải coi lại xem sao đã”. Chiếc balô trên vai tôi bỗng trở nên nặng trĩu… Nỗi mệt nhọc về tinh thần đè nặng lên các cơ bắp nhão ra sau chuyến bay dài.

Chị Hiền Trâm gọi lại cho ông Hiếu. Mười lăm rồi 20 phút trôi qua, chị thuyết phục và nhắc lại với ông về lời mời hôm trước, nhưng ông Hiếu vẫn khẳng định chưa thể gặp được. Rồi ông nói ông bận đi đón con và nhắn chị gọi lại vào đầu giờ chiều, sau khi lũ trẻ đi học về.

Trên taxi từ sân bay về khách sạn, chúng tôi mải suy nghĩ và thất vọng đến nỗi không nói với nhau lời nào.

Buổi trưa nặng nề trôi qua. Một giờ chiều, 2 giờ chiều… 2 giờ 30 chiều… Chị Hiền Trâm, chị Phương Trâm và tôi thay nhau bấm số. Những tiếng chuông điện thoại réo lên vô vọng.

Tôi biết mình phải làm gì: đến thẳng nhà ông với tất cả trái tim mình!

Để tránh những rắc rối có thể xảy đến như lời ông Hiếu đã nói, hai chị Hiền Trâm và Phương Trâm sẽ chờ tôi ở khách sạn.

Lúc đó là 3 giờ chiều 11-10, tôi kiểm tra phương tiện nghề nghiệp, để lại chiếc túi có logo TS tại phòng khách sạn, thuê taxi thẳng tới địa chỉ cần tìm. Con đường 30 dặm nối hai thành phố hun hút dài, người lái xe đưa tôi đi qua những dãy trúc đào và tường vi thắm đỏ, qua những dãy núi hùng vĩ…

Băng qua con đường dài hun hút, cô phóng viên trẻ đang hướng tới một địa chỉ duy nhất, tìm gặp một người đã trở nên quen thuộc với chính cô, kể từ cuộc trò chuyện đầu tiên ngày 4-9…
Cuộc gặp mặt đã được chuẩn bị nhưng vẫn đầy những bất ngờ.

UYÊN LY

( Nguồn : nguyentrongtao…)

 

 

 

Quần thể danh thắng Tràng An chính thức trở thành Di sản thế giới .

 

(Cadn.com.vn) – Thông tin từ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho biết: Vào lúc 11 giờ 57 (giờ Qatar), tức 15 giờ 57 (giờ Hà Nội), ngày 23-6, tại thủ đô Doha, Qatar, Ủy ban Di sản Thế giới thuộc Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã chính thức ghi danh Quần thể danh thắng Tràng An (Ninh Bình) của Việt Nam vào danh mục Di sản thế giới.

Quần thể danh thắng Tràng An bao gồm ba khu vực liền kề nhau là: Di tích cố đô Hoa Lư, Khu danh thắng Tràng An – Tam Cốc – Bích Động và Rừng nguyên sinh Đặc dụng Hoa Lư. Giá trị nổi bật toàn cầu của Quần thể danh thắng Tràng An được Ủy ban Di sản Thế giới công nhận dựa trên 3 trụ cột chính quy định tại Hướng dẫn thực hiện Công ước về Bảo vệ Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới.

Theo đó, Khu danh thắng Tràng An đã đạt được các tiêu chí về văn hóa: Tràng An chứa đựng các bằng chứng về sự tương tác giữa con người và môi trường, thể hiện sự thích ứng của con người với các điều kiện biến đổi về địa lý và sự khắc nghiệt nhất của môi trường trong lịch sử Trái đất, đặc biệt là những biến đổi khí hậu diễn ra vào cuối và ngay sau thời kỳ băng hà cuối cùng.

Về tiêu chí vẻ đẹp thẩm mỹ, cảnh quan tháp karst của Tràng An chứa đựng những cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp với những ngọn núi hùng vĩ, hang động huyền bí, sông nước thanh tĩnh, điểm xuyết với những đền, chùa, miếu linh thiêng. Về tiêu chí về địa chất- địa mạo, quần thể Danh thắng Tràng An minh chứng cho các giai đoạn cuối cùng của quá trình tiến hóa karst trong môi trường khí hậu nhiệt đới ẩm. Khu danh thắng Tràng An cũng đảm bảo tính toàn vẹn và tính xác thực; thực thi và bảo đảm thực thi đầy đủ việc bảo vệ, quản lý di sản.

alt
Danh thắng Tràng An.

(Đọc tiếp…)

 

Mua điện gấp 3 giá thường: Kẻ nào nối giáo cho Trung Quốc?

  
Phạm Chí Dũng
Phản nghịch!
(…)  Đất Việt – tờ báo của Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam và là một trong những xung kích phản biện vượt qua sợ hãi nhất trong hệ thống truyền thông nhà nước – mới đây đã cùng với GS TS Đặng Đình Đào – nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Phát triển, Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội – hé lộ một “bí mật quốc gia”: từ nhiều năm qua, EVN đã mua điện từ các doanh nghiệp Trung Quốc với giá gấp đến 3 lần mức thông thường của doanh nghiệp Việt Nam.
 
Thậm chí, EVN mua điện của Trung Quốc với giá cao cả ở thời điểm nguồn cung cấp trong nước dồi dào, vin vào lý do vì hợp đồng mua điện với Trung Quốc được ký từ năm 2005 và chính thức mua điện từ 2009. Thái độ kinh doanh bất chấp này đã bất chấp một thực tế là trong thời gian gần đây, nguồn điện trong nước được tăng cường nhiều hơn, nhiều nhà máy điện ngoài EVN chưa huy động hết công suất, có thời điểm điện dư thừa, giá lại rẻ hơn nhiều giá điện Trung Quốc bán cho Việt Nam. Nhưng bởi lối hành xử đầy ngờ vực, EVN đã cố tâm mua điện trong nước với giá chỉ bằng 1/3 giá mua điện của Trung Quốc, kèm theo các điều kiện rất khắt khe. 

Đến năm 2013, giới chuyên gia phản biện độc lập đã không còn giữ nổi bình thản: một lượng lớn điện thương phẩm mua từ Trung Quốc với giá cao và có xu hướng tăng nhanh những năm gần đây đã làm méo mó quá nhiều thị trường điện.
Cơ chế độc quyền vong bản đã phát triển đến mức trong khi nhiều doanh nghiệp sản xuất điện của Việt Nam sẵn sàng chịu lỗ để hòa lưới điện, khi suốt từ năm 2011 khi báo chí Việt Nam dồn dập phẫn nộ trực chỉ vào trách nhiệm của EVN về quan điểm “người Việt dùng hàng Trung”, doanh nghiệp thuộc loại độc trị theo cung cách thời chủ nghĩa tư bản dã man này vẫn quay mặt làm ngơ với hình ảnh tàu Bình Minh bị Trung Quốc cắt cáp và ngư dân Việt bị người “đồng chí tốt” đẩy vào vòng khốn quẫn ngay trên vùng biển quê hương.
Bởi từ một góc nhìn khác, ai cũng biết Trung Quốc sở hữu khối doanh nghiệp có biệt tài “quà cáp” hẩu nhất thế giới.
Ai phải bù lỗ và gánh nợ?
Ở Việt Nam, EVN là một trong những dẫn chứng sống động và dối trá nhất về việc người ta đã mượn lý thuyết kinh tế chỉ huy thời chiến để trục lợi như thế nào vào thời bình. Trong điều kiện nền chính trị độc đảng, thủ đoạn lợi dụng càng trở nên thâm ý hơn. Độc quyền và đặc lợi cũng vì thế đồng nghĩa với tội đồ, đối với nền kinh tế và đời sống dân sinh.
Với trường hợp EVN, đó chính là tội ác. 
Năm 2011, vào lúc nền kinh tế Việt Nam dợm chân vào suy thoái, sự đổ bể của hai thị trường chứng khoán và bất động sản đã kéo theo một phát minh không tiền khoáng hậu kể từ thời mở cửa 1990: những doanh nghiệp nhà nước đặc trưng bởi chủ thuyết “giá chỉ có tăng chứ không giảm” như EVN và Petrolimex (Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam) đã tạo thành cặp song sinh có chung hậu môn. Hàng loạt chiến dịch đầu tư trái ngành của các tập đoàn này vào chứng khoán, bất động sản và bảo hiểm rốt cuộc đã tích đọng gánh nợ đến trên 40.000 tỷ đồng.
Trong suốt ba năm qua, toàn bộ số nợ nần đó đã được EVN và Petrolimex tuồn qua tuyến đại tràng để đổ lên đầu người dân đóng thuế.
Nhưng cũng trong suốt ba năm qua, bất chấp những đợt tăng giá điện vô tội vạ của EVN, đã không có bất cứ cuộc kiểm tra nào được làm tới nơi tới chốn. Tất cả những dấu hiệu khuất lấp về tài chính và số lương “nghèo khổ” ít nhất vài chục triệu đồng theo đầu người ở tập đoàn này mà dư luận bức xúc từ năm 2011, đã hầu như không bị cơ quan chủ quản của EVN là Bộ Công thương phản cảm. Không những thế, những lãnh đạo cao nhất của Bộ Công thương như ông Vũ Huy Hoàng vẫn không ngơi nghỉ một chiến dịch khác: PR cho “cậu ấm hư hỏng” của mình.
Đó là một dạng PR không mới, nhưng lại chỉ được dư luận người dân Việt đặt tên chính thức từ năm 2012: PR chính sách. Chủ thể của hoạt động này chính là cái tên “nhóm thân hữu” – một chủ đề mà chưa một ủy viên bộ chính trị nào đủ can đảm hay liêm sỉ để mổ xẻ trước bàn dân thiên hạ.
Cũng không quá khó hiểu là những động thái PR chính sách đã xuất hiện không ít lần, kể cả ở cấp Chính phủ. 
Nhóm thân hữu, về bản chất, lại có mối quan hệ ruột rà và móc xích giữa các chính khách ở các cấp khác nhau, từ dưới lên và từ trên xuống. Trong từng trải của người dân Việt Nam, thực tế sinh tồn của các doanh nghiệp lệ thuộc vào chính sách từ nhiều năm qua đã chứng tỏ một nguyên tắc bất thành văn: chỉ có chính sách mới tạo ra được lợi nhuận; để đến lượt mình, lợi nhuận phải quay lại “nuôi” chính sách.
Cũng là “nuôi” các chính khách.
Công nghệ “giết sống” 
Giá xăng dầu và điện lực phi mã tất yếu dẫn đến lạm phát đội mồ sống dậy. Trong thực tế, chỉ số tiêu dùng CPI bị tác động không nhỏ và lập tức kích hoạt hàng loạt đợt tăng giá của hàng tiêu dùng, thực phẩm, giá vận tải hành khách và hàng hóa, giá nhà trọ…, làm khốn khó hơn cho đời sống công nhân và dân nghèo vốn đã quá khó khăn.
Đời sống dân sinh ấy cũng liên đới quá đỗi hữu cơ với íty nhất 80% lực lượng vũ trang và gần 3 triệu công chức viên chức nhà nước. Vài năm gần đây, ngay cả cảnh sát giao thông còn bị “đói” thì giới nhân viên an ninh không than thở mới là chuyện lạ.
Thế nhưng đối mặt với tất cả những trớ trêu và nghịch lý tận cùng ấy, lãnh đạo Bộ Công Thương vẫn hầu như khóa khẩu, trong khi vài ba viên chức cấp vụ của bộ này vẫn cố gắng “an dân” bằng thuyết minh việc tăng giá xăng dầu và điện không ảnh hưởng nhiều đến CPI.
Nhưng vào năm 2013, một cuộc thanh tra của Thanh tra chính phủ đã phát hiện trong bảng giá thành của mình, EVN đã hạch toán cả các công trình xây bể bơi, sân tennis và biệt thự vào giá bán điện. Giá bán điện lại được phổ cập cho mặt bằng dân trí thấp kém trong dân chúng. Và thêm một lần nữa, người ta có được bằng chứng về cái được coi là “trận đánh đẹp” của EVN: cuộc chiến bù lỗ vào dân.
Sau khi tăng giá liên tục trong ba năm qua, nợ ngân hàng của EVN đã được rút bớt. Nhưng chỉ là bớt một ít. Với hơn 30.000 tỷ đồng thất bát từ đầu tư trái ngành, EVN luôn phải đối mặt với tương lai phá sản nếu không thanh toán được cho các chủ nợ.
Trong khi đó, một con số lần đầu tiên được công bố là EVN chính là doanh nghiệp vay nợ ngân hàng lớn nhất Việt Nam, với hơn 118.000 tỷ đồng. Đây là mức dư nợ lớn nhất mà hệ thống ngân hàng dành ưu ái cho một tập đoàn nhà nước.
Với nợ nần khổng lồ và số lỗ do đầu tư trái ngành, người ta ước tính EVN phải tăng giá điện liên tục đến năm 2017-2018 thì mới may ra “hòa vốn”.
Thế nhưng cái điểm hòa vốn ăn thịt lẫn nhau ấy lại có thể khiến những người dân nghèo nhất phải quyên sinh. Bởi theo nguyên lý từ thời tư bản dã man, nếu doanh nghiệp độc quyền có được lợi nhuận, nhân dân chắc chắn phải mất đi phần lớn thu nhập của mình; còn nếu doanh nghiệp độc quyền hòa vốn, nhân dân phải chịu lỗ hoặc phá sản. 
Không chỉ mất tài sản, người dân còn phải trả giá bằng cả sinh mạng bởi lối hành xử vô lương tâm của những quan chức độc quyền nhà nước. Vụ xả lũ đồng loạt của 15 nhà máy thủy điện ở miền Trung vào cuối năm 2013 đã “giết sống” đến năm chục mạng người nghèo nơi rốn lũ. 
Tất cả đều biết cấp trên trực tiếp của các nhà máy thủy điện là EVN, còn thủ trưởng trực tiếp của EVN là Bộ Công thương. Tuy nhiên sau vụ “giết sống” trên, nhiều phóng viên báo chí quốc doanh đành nuốt nhục vì bị cơ quan tuyên giáo “chặn họng”. Nhân quả là đã không có bất kỳ một quan chức vô cảm và vô trách nhiệm nào phải đối mặt với vành móng ngựa, mặc dù chính vào lúc người dân chết chìm trong nước lũ xả trắng mênh mông, Bộ trưởng công thương Vũ Huy Hoàng còn bận “công du “ ở nước ngoài. 
Tán tận lương tâm chắc chắn là từ ngữ hiển thị đầy đủ nhất tâm địa của các doanh nghiệp độc quyền và những quan chức “tận Trung” trong những năm suy thoái kinh tế qua. Kinh tế càng xuống dốc, đời sống người dân càng túng quẫn, thái độ sống chết mặc bay càng lên ngôi, chủ nghĩa thực dụng, lợi nhuận và vong quốc càng “hiển thánh”.
Tận Trung: Kẻ nào nối giáo?
Hãy trở về với câu chuyện tán tận lương tâm dân tộc khi EVN mua điện Trung Quốc cao gấp 3 lần giá bình thường. 
Một lần nữa, báo chí nhà nước bùng lên câu hỏi: Những ràng buộc có nghi vấn trong hợp đồng mua bán điện với Trung Quốc và sự cố Hiệp Hòa liên quan tới việc sử dụng thiết bị Trung Quốc mới đây khiến dư luận đặt nghi ngờ về sự hiện diện quá lớn của Trung Quốc trong ngành điện Việt Nam. Phải lý giải điều này như thế nào, khi mà thiết bị Trung Quốc vốn bị coi là chất lượng kém, bãi rác công nghệ của thế giới? Liệu có thể đặt nghi vấn về lợi ích nhóm trong việc này?
Ông Đặng Đình Đào – nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Phát triển khẳng định: Với tình trạng độc quyền như EVN hiện nay và thiếu minh bạch trong kinh doanh trên thị trường điện ở Việt Nam, trách nhiệm trong việc này trước hết là do chính cơ chế quản lý kiểu bộ chủ quản lâu nay không được thay đổi, tiếp đó là các cơ quan quản lý nhà nước trong ngành điện mà cụ thể là Bộ Công thương và cả EVN trong tổ chức và quản lý điện Việt Nam. Mấu chốt của vấn đề phải là nhanh chóng xóa bỏ tình trạng độc quyền của EVN, chấm dứt tình trạng một tay nắm cả mua bán, phân phối, điều độ… 
Nhưng xem ra, những câu hỏi trên vẫn còn quá hiền lành trong bối cảnh quyền tự do báo chí vẫn trong “bước đi đầu tiên của thời kỳ đầu tiên của giai đoạn quá độ” ở Việt Nam. 
Bởi trong tận cùng của bản chất, táng tận lương tâm quan chức và hậu quả của nó không thể không liên quan đến trách nhiệm của giới lãnh đạo chính phủ, những người đã im lặng hoặc “bật đèn xanh” cho EVN gây nên các chiến dịch tăng giá quốc nội và giảm giá quốc ngoại.
Sau ba năm kể từ lúc các chiến dịch “thủ ác” được kích phát dồn dập và bất chấp oán thán dân tình, kẻ tội đồ EVN đã có đủ thời gian chứng tỏ nó có năng lực gây ra tội ác ghê gớm đến thế nào, kể cả thành tích nối giáo ngoại xâm kinh tế.
Không chỉ bị lên án dữ dội bởi dư luận trong nước, khối u độc quyền doanh nghiệp quốc doanh ở Việt Nam còn bị nhiều chính phủ xã hội dân sự trên thế giới và các tổ chức quốc tế chỉ trích kịch liệt, bởi hiện trạng bệnh hoạn đó đi ngược lại với những cam kết về “xóa độc quyền và hoàn thiện nền kinh tế thị trường” mà Chính phủ Việt Nam đã hùng dũng cam kết trước cộng đồng quốc tế.

(…)

P.C.D.

……………….
(…) :Quê choa lược bỏ

( Nguồn : quechoa)

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.06.2014

Đồng chí ta, đồng chí địch

Đồng chí ta, đồng chí địch

Nhà văn Tạ Duy Anh

Chỉ cần điểm qua cách xưng hô cũng thấy hiện lên một phần lịch sử quan hệ vừa bi vừa hài giữa Việt Nam và Trung Quốc, mà can dự rõ nhất là danh từ đồng chí.

Tình đồng chí giữa lãnh đạo hai nước đạt độ nồng ấm nhất vào những năm 60 của thế kỷ hai mươi.

Khi đó, mặc dù gần trăm triệu người dân Trung Quốc chết hoặc trước sau cũng chết bởi cuộc đại cách mạng văn hóa, thì nó vẫn không ngăn được Tố Hữu, vì tình đồng chí, viết: Trung Quốc đó bàn tay nào huyền diệu/ Đã nắn lại cả dung nhan dáng điệu/Mặt đồng khô xóa sạch những bờ ngăn/ Như mặt người tươi giãn những đường nhăn.

Thân tình đến nỗi, trẻ con Việt Nam cũng gọi ông Mao là “Bác”. Đây là giai đoạn Trung Quốc muốn Việt Nam “đánh Mỹ đến người cuối cùng”, vì thế họ sẵn sàng là “hậu phương bao la của Việt Nam” như lời ông Mao! Nhưng hóa ra từ khi ấy, khi là đồng chí thắm thiết của nhau, khi “cùng chí hướng” giải phóng nhân loại, xóa bỏ biên giới, “Bác Mao” đã chuẩn bị kỹ càng để chiếm đoạt biển đảo của “con cháu Bác” ở bên Việt Nam. Cú lừa để có cái Công hàm 1958 đầy bi hài là một bằng chứng.

Năm 1974, Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa, lúc ấy do chính phủ Việt Nam cộng hòa kiểm soát. Vì là đồng chí nên Miền Bắc bắt buộc phải im lặng, như là chẳng liên quan gì đến mình, như là việc của hai quốc gia láng giềng*. Dân chúng miền Bắc không hề có bất cứ thông tin gì, cảm xúc gì vì vậy họ không có chút cảm giác nào về chuyện mất mát lãnh thổ. Hoặc nếu có bộ phận nào biết thì lại thấy như là điều may mắn vì kẻ thù (Việt Nam cộng hòa mà miền Bắc gọi là Ngụy quyền), mất đi một vị trí chiến lược có thể thọc vào sườn hậu phương xã hội chủ nghĩa! Danh từ đồng chí cho phép xác định Trung Quốc là bạn, còn người anh em phía Nam bị mặc nhiên coi là thù! Liệu có biến cố nào bi hài và thê thảm hơn trong lịch sử người Việt?** 

Điều gì phải đến sẽ đến, mọi thứ nham hiểm của Trung Quốc nấp sau danh từ đồng chí cuối cùng cũng lộ mặt. Hơn 50 mười ngàn “con cháu bác Mao” (số ước tính của Hoa Kỳ) ở cả hai bên bị chết trong cuộc tắm máu nhau dọc 6 tỉnh biên giới, trong đó cứ một người rưỡi Tầu đổi một mạng An Nam. Năm 1979 Hà Nội ra sách trắng về quan hệ Việt-Trung, tố cáo Trung Quốc phản bội, chơi đểu, lợi dụng Việt Nam khó khăn để mưu thôn tính từ từ. Thế là chẳng có anh em con cháu gì nữa, chỉ đích danh “bè lũ phản độngMao” là những kẻ chủ mưu ăn thịt người Việt, sau khi đã no thịt người Hán. Trong Hiến pháp Việt Nam năm 1980 thậm chí còn ghi rõ Trung Quốc là kẻ thù trực tiếp, lâu dài, nguy hiểm. Những nhà lãnh đạo Bắc Kinh đương nhiên là những kẻ xâm lược. Có bài báo gọi đám con cháu của Tần Thủy Hoàng là “những con chó Trung Nam Hải”, còn Đặng Tiểu Bình thì là “thằng lùn cao bồi”. Chế Lan Viên, tác giả của câu thơ nôm na nổi tiếng “Bác Mao không ở đâu xa/ Bác Hồ ta đó chính là bác Mao” thì lúc ấy có hẳn cả một bài thơ “Vịnh thằng lùn”, viết về Đặng Tiểu Bình,

( Nguồn: quechoa)

 

Tướng Pháp:Phải tập trung đánh đổ yêu sách đường 9 đoạn của Trung Quốc

Trần Khánh
Tướng Daniel Schaeffer
Ông Schaeffer cũng cho rằng các quốc gia trong khu vực cần phải buộc Trung Quốc từ bỏ yêu sách đường lưỡi bò phi lý của mình.
 Đây là những tuyên bố đáng chú ý của Tướng Daniel Schaeffer, Chuyên gia của Bộ Quốc phòng Pháp chuyên nghiên cứu về Biển Đông trong cuộc phỏng vấn với phóng viên VOV bên lề Hội thảo Quốc tế “Hoàng Sa-Trường Sa: Sự thật lịch sử” tổ chức trong 2 ngày 20-21/6.

PV: Như ông đã biết, Trung Quốc đã tiến hành hạ đặt giàn khoan Hải Dương-981 trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Liệu Việt Nam có nên kiện Trung Quốc vì việc này?
Tướng Daniel Schaeffer: Theo tôi thì Việt Nam nên khởi kiện như Philippines đã làm. 
PV: Tại sao ông cho rằng Việt Nam nên làm như vậy?
Tướng Daniel Schaeffer: Tôi nghĩ rằng Việt Nam có thể làm một số việc như sau:
Đầu tiên, Việt Nam cần tiếp tục đối thoại với Trung Quốc. Sau đó, Việt Nam sẽ yêu cầu một phán quyết của Tòa án Quốc tế về Luật biển và cần phải có một chiến lược rõ ràng để bảo vệ quan điểm của mình cũng như giành được sự quan tâm và ủng hộ của cộng đồng quốc tế về việc Luật biển cần phải được tôn trọng như thế nào.
PV: Ông cũng biết rằng Quần đảo Hoàng Sa chỉ là nhiều đảo đá, tuy nhiên Trung Quốc lại căn cứ vào đó để vạch đường cơ sở của mình để có lãnh hải và các vùng liên quan như vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Điều này là trái với Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển. Vậy, Việt Nam có nên kiện Trung Quốc vì cố tình diễn giải sai Công ước này hay không?
Tướng Daniel Schaeffer: Chúng ta cần tách bạch rõ ràng vấn đề này. Đầu tiên, chúng ta thử giả định rằng quần đảo Hoàng Sa là của Trung Quốc. Chỉ là giả định thôi nhé. Trong trường hợp Trung Quốc muốn vạch đường cơ sở thẳng thông qua quần đảo Hoàng Sa thì điều này là hoàn toàn sai trái. 
Lý do là, đây chỉ là một quần đảo và nếu Trung Quốc là chủ thực sự của Hoàng Sa (thực tế, Việt Nam mới có chủ quyền tại đây) thì việc vạch đường cơ sở để xác định vùng lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế theo luật pháp phải là từ hiện trạng của một hòn đảo chứ không phải là cả một quần đảo.
Ngoài ra, việc vạch định đường cơ sở rồi tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc thông qua quần đảo Hoàng Sa cũng như việc Trung Quốc cố tình chiếm toàn bộ bãi cạn Scraborough và bãi Macclesfield cho thấy đường 9 đoạn mà Trung Quốc tuyên bố thiết lập trên Biển Đông là hành vi xâm phạm lãnh thổ của các quốc gia khác. 
Chính vì thế, các nước trong khu vực đừng nên quá tập trung vào việc tranh luận về chủ quyền của các hòn đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa mà trước hết hãy hướng sự chú ý đến yêu sách đường 9 đoạn của Trung Quốc. Chỉ khi đường 9 đoạn này không tồn tại thì mới có thể bàn đến vấn đề chủ quyền các hòn đảo.
PV: Trung Quốc đã dùng vũ lực đánh chiếm Hoàng Sa, vậy Việt Nam có nên khởi kiện Trung Quốc hay không?
Tướng Daniel Schaeffer: Tôi muốn nhắc lại rằng Trung Quốc đã tiến hành đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa vào năm 1947 khi Việt Nam còn là thuộc địa của Pháp và hoàn tất việc này vào năm 1974. 
Tôi nghĩ rằng, Việt Nam cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng những bằng chứng lịch sử của mình để khẳng định chủ quyền thực sự của mình. Tôi cho rằng cách tốt nhất mà Việt Nam có thể làm là khởi kiện Trung Quốc ra Tòa án Quốc tế về Luật biển như Philippines đã làm. Chỉ có Tòa án Quốc tế về Luật biển mới có thể đưa ra phán quyết rõ ràng về vấn đề này. 
Hơn thế nữa, dù Trung Quốc không muốn đưa vấn đề này ra quốc tế thì đây cũng đã là một vấn đề quốc tế rồi vì Biển Đông cũng là vùng biển quốc tế chứ không phải là của riêng Trung Quốc. Có thể Trung Quốc muốn có vùng biển này để tăng cường phòng thủ với Mỹ, quốc gia mà Trung Quốc rất e dè nhưng không có lý gì Trung Quốc lại có thể chiếm toàn bộ Biển Đông chỉ để phục vụ cho lợi ích của mình.
PV:Nếu Việt Nam muốn khởi kiện Trung Quốc, Việt Nam cần làm gì?
\
Tướng Daniel Schaeffer: Việt Nam cần phải học hỏi kinh nghiệm từ Philippines và tôi tin rằng nếu Việt Nam bàn thảo với Philippines thì nước này sẽ chia sẻ kinh nghiệm của mình với Việt Nam.
Nhiều người sợ rằng việc này sẽ dẫn đến phản ứng mạnh mẽ của phía Trung Quốc. Tuy nhiên, Việt Nam đang tuân thủ đúng luật pháp quốc tế nên không có gì phải lo sợ cả.
PV: Trung Quốc đã đưa thêm một giàn khoan khác tới Biển Đông, theo ông động thái này của Trung Quốc là để làm gì?
Tướng Daniel Schaeffer: Việc Trung Quốc đưa giàn khoan chỉ là một vụ việc tạm thời trong dã tâm lâu dài của Trung Quốc nhằm củng cố tuyên bố chủ quyền dựa trên yêu sách đường 9 đoạn của nước này. 
Ngoài yêu sách đường 9 đoạn mà Trung Quốc ngang nhiên đưa ra trên Biển Đông, nước này còn cố tình thay đổi hiện trạng của bãi đá Gạc Ma nhằm tăng cường sự hiện diện thường xuyên của Trung Quốc trên Biển Đông.
PV: Xin cảm ơn ông!./.
(Nguồn: quechoa)

 

 

 

VIỆT NAM KIỆN TRUNG QUỐC RA TÒA ÁN NÀO CỦA LIÊN HIỆP QUỐC ?

Nguyễn Văn Thân

[clip_image001%255B3%255D.jpg]

Năm vị thẩm phán của Tòa trọng tài THường trực

Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (The United Nations Convention on the Law of the Sea) ra đời tại Montego Bay Jamaica vào ngày 10 tháng 12 năm 1982 và chính thức có hiệu lực vào ngày 16 tháng 11 năm 1994. Hiện đã có 166 quốc gia ký vào Công Ước.

Công Ước phân loại biển và đại dương thành các vùng khác nhau. Thứ nhất là nội thủy nằm phía trong của đường cơ sở (đường thẳng từ những mũi đất nhô ra bờ biển hoặc theo ngấn nước thủy triều thấp nhất ven bờ biển). Lãnh thổ và lãnh hải của quốc gia ven biển gồm có bờ biển, vùng nội thủy cộng với 12 hải lý. Trong vùng tiếp giáp (contiguous zone) gồm có 12 hải lý từ lãnh hải (tức 24 hải lý từ đường cơ sở), quốc gia có thẩm quyển thực thi hệ thống luật pháp của mình đối với một số tội phạm ví dụ như buôn lậu hoặc nhập cư bất hợp pháp. Từ đường cơ sở ra tới 200 hải lý là vùng đặc quyền kinh tế. Trong vùng này, quốc gia ven biển được hưởng độc quyền thăm dò và khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên của vùng nước bên trên đáy biển, của đáy biển và dưới lòng đất đáy biển cùng với quyền tài phán trong các lãnh vực như lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình nghiên cứu khoa học về biển và bảo vệ và gìn giữ môi trường. Nhưng các quốc gia khác dù có biển hay không có biển được hưởng quyền tự do hàng hải và hàng không, quyền tự do đặt dây cáp và các đường ống ngầm.

Thềm lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải 12 hải lý từ đường cơ sở cho đến mép lục địa (continental margin) hoặc cách đường cơ sở 200 hải lý tính theo cái nào có giá trị lớn hơn, nhưng không được vượt quá 350 hải lý hoặc cách đường đẳng sâu 2500m một khoảng cách 100 hải lý. Quốc gia ven biển có độc quyền khai thác khoáng sản và các thứ nguyên liệu không phải là sinh vật sống. Bên ngoài thêm lục địa là hải phận quốc tế, tài sản chung của nhân loại.

Cơ chế giải quyết tranh chấp theo Công Ước

Công Ước quy định là các quốc gia thành viên khi có tranh chấp về việc diễn giải hoặc áp dụng các điều khoản của Công Ước phải tìm cách thoả thuận và giải quyết tranh chấp bằng một phương pháp hòa bình. Nếu thương lượng không thành công thì các quốc gia tranh chấp có quyền tiến kiện và lựa chọn phương thức xét xử và tòa án gồm có Tòa án Công lý Quốc tế (International Court of Justice), Tòa án Quốc tế về Luật Biển (International Tribunal for the Law of the Sea), Tòa Trọng Tài về Luật Biển dưới Phụ lục VII của Công Ước (Annex VII Arbitral Tribunal) hoặc Tòa Trọng Tài Đặc biệt dưới Phụ lục VIII của Công Ước (Annex VIII Special Tribunal). Trong trường hợp các quốc gia tranh chấp không đạt được đồng thuận về thủ tục giải quyết thì Tòa Trọng Tài về Luật Biển được thành lập dưới Phụ lục VII sẽ được áp dụng. Phán quyết của các tòa có giá trị tối hậu và ràng buộc đối với các bên tranh chấp. Không có thủ tục hoặc cơ chế kháng cáo ngoại trừ các bên tranh chấp cùng đồng ý xin tòa xét lại sự việc.

Tòa án Công lý Quốc tế

Tòa án Công lý Quốc tế được thành lập dưới Hiến Chương Liên Hiệp Quốc ký trong tháng 6 năm 1945 và có hiệu lực từ ngày 24 tháng 10 năm 1945. Trụ sở chính nằm tại The Hague, Hòa Lan. Tòa có 15 vị thẩm phán được các đại biểu Liên Hiệp Quốc và Hội Đồng Bảo An bầu chọn với nhiệm kỳ 9 năm. Tòa có thẩm quyền xét xử mọi tranh chấp giữa các quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc (State Member) với điều kiện là các quốc gia thành viên đó đã phê chuẩn chấp nhận thẩm quyền của Tòa. Tới nay thì chỉ mới có khoảng 65 quốc gia thành viên phê chuẩn. Tính tới năm 2013 thì Tòa đã xét xử hơn 150 vụ kiện liên quan tới tranh chấp biên giới, lãnh thổ, lãnh hải, chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải, quan hệ ngoại giao, con tin, tỵ nạn quốc tịch và nguyên tắc không can thiệp vào các vấn đề nội bộ của mỗi quốc gia. Tòa đã công bố hơn 110 phán quyết. Vụ kiện gần đây nhất liên quan tới việc Úc kiện Nhật bản về các chương trình săn cá voi trong vùng biển phía Nam Thái Bình Dương. Ngoài ra, Tòa cũng ban hành phán quyết tư vấn (advisory opinions) khi được các cơ quan Liên Hiệp Quốc yêu cầu. Cho tới nay thì Tòa đã ban hành 25 phán quyết tư vấn. Những phán quyết này không có tính cách ràng buộc về mặt pháp lý đối với các quốc gia thành viên nhưng có thể có nhiều ảnh hưởng về mặt ngoại giao và chính trị.

Tòa án Quốc tế về Luật Biển

Tòa án Quốc tế về Luật Biển được thành lập dưới Phụ lục VI của Công Ước và có trụ sở tại Hamburg, Đức quốc. Tòa có 21 vị thẩm phán được các quốc gia thành viên Công Ước bầu chọn cho mỗi nhiệm kỳ 9 năm. Chánh Án đương nhiệm là Shunji Yanai (Nhật). Trong các quốc gia có tranh chấp tại Biển Đông hiện nay thì chỉ có Cao Chi Quốc (Gao Zhiguo) từ Trung quốc là một thẩm phán của Tòa. Một điểm khác biệt với Tòa án Công lý Quốc tế là đương đơn gồm có nguyên đơn lẫn bị đơn không nhất thiết phải là quốc gia thành viên Công Ước.

Tới nay thì Tòa đã xét xử 22 vụ kiện. Đa số các vụ kiện này liên quan tới đơn xin thả tàu khẩn cấp (prompt release) trong các trường hợp mà tàu bị bắt giữ vì bị coi là xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế (đánh cá bất hợp pháp) và biện pháp tạm thời (provisional measures) yêu cầu các bên tranh chấp ngưng một số hành động trong khi chờ Tòa xét xử.

Cũng nên nói rõ là Tòa án Quốc tế về Luật Biển chỉ có thể xét xử các vụ tranh chấp về việc diễn giải vá áp dụng các điều khoản của Công Ước về Luật Biển chứ không có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về lãnh thổ hoặc lãnh hải hoặc ấn định lãnh thổ hoặc lãnh hải vốn thuộc phạm vi thẩm quyền của Tòa án Công lý Quốc tế. Tuy nhiên, trong tiến trình diễn giải và áp dụng các điều khoản của Công Ước thì có lúc Tòa phải có phán quyết liên quan tới việc phân định lãnh hải cũng như vùng đạc quyền kinh tế và thềm lục địa. Vào ngày 14 tháng 3 năm 2012 thì Tòa đã ra phán quyết về vụ kiện giữa Bangladesh và Miến điện liên quan tới sự tranh chấp về việc khai thác kinh tế trong Vịnh Bengal. Đây là một phán quyết quan trọng và là lần đầu tiên Tòa trình bày những luận cứ pháp lý trong tiến trình giải quyết các tranh chấp về biên giới lảnh hãi và phân định vùng đặc quyền kinh tế cũng như thềm lục địa.

Có một điểm quan trọng liên quan tới Công Hàm Phạm Văn Đồng trong vụ kiện này là Bangladesh lập luận rằng biên giới lãnh hải đã được quyết định sau khi hai phái đoàn thương lượng của họ và Miến điện ký vào Biên bản Đồng thuận vào năm 1974 (Agreed Minutes of 1974) và vì vậy Miến điện không được quyền đi ngược lại (estopped) với những điểm đồng thuận đó. Nhưng Tòa phán rằng Biên bản này không hội đủ tiêu chuẩn pháp lý quốc tế trói buộc Miến điện mà chỉ là một dữ kiện ghi nhận những điểm thảo luận và đồng thuận trong phiên họp. Biên bản không có tính cách ràng buộc pháp lý như là một hiệp ước vì người dẫn đầu phái đoàn thương lượng của Miến điện không có thẩm quyền đại diện quốc gia ký kết Hiệp Ước có tính ràng buộc theo Điều 7 của Công Ước và Hiệp Ước Quốc tế Vienna. Hơn nữa, Biên bản này không được bên nào thông qua dưới thủ tục hiến pháp quốc gia để biến nó thành một Hiệp Ước ràng buộc cả hai bên.

Tòa Trọng tài về Luật Biển dưới Phụ lục VII

Nếu các quốc gia thành viên không đồng thuận được việc sử dụng Tòa nào thì Tòa Trọng Tài về Luật Biển được thành lập dưới Phụ Lục VII sẽ được áp dụng. Tòa này có thẩm quyền xét xử mọi tranh chấp liên quan tới Công Ước ngoại trừ những vụ kiện có tính chuyên môn ví dụ như đánh cá, bảo vệ môi trường biển, hàng hải và nghiên cứu khoa học biển. Tòa này có 5 thành viên được chọn lựa từ danh sách thẩm phán Mỗi quốc gia thành viên Công Ước đều được quyền đề cử 4 người với Tổng Thư ký Liên Hiệp quốc để đưa vào danh sách thẩm phán. Khi có tranh chấp thì các bên chỉ định thẩm phán. Nếu không đồng thuận thì sẽ do Chánh Án Tòa án Quốc tế về Luật Biển chỉ định.

Như mọi người đã biết, vào ngày 30 tháng 3 năm 2004 vừa qua, Phi Luật Tân đã để đơn kiện Trung Quốc lên Tòa Trọng Tài Thường trực được thành lập dưới Phụ lục VII. Đơn kiện gồm có hồ sơ dài khoảng 4000 trang và nguyên đơn yêu cầu Tòa phán quyến tuyên bố chủ quyền “đường lưỡi bò” của Trung quốc là bất hợp pháp. Tòa đã yêu cầu Trung quốc hồi đáp trước ngày 15 tháng 12 năm 2014. Cho tới nay thì Trung Quốc đã thông báo là sẽ không tham gia vụ kiện và không công nhận phiên tòa.

Tòa Trọng Tài Đặc biệt dưới Phụ lục VIII

Tòa này có thẩm quyền giới hạn và chuyên môn ví dụ như việc đánh bắt hải sản, bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển hoặc hàng hải. Tòa này có sự đóng góp đáng kể của các tổ chức khoa học quốc tế chuyên môn chẳng hạn như Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO), Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO), Chương Trình của Liên Hiệp Quốc về Môi trường (UNEF)… Khi có tranh chấp, một hội đồng đặc biệt dựa trên danh sách chuyên viên sẽ được thành lập để xét xử và giải quyết tranh chấp.

Tòa Trọng Tài Thường Trực (Permanent Court of Arbitration)

Tòa Trọng tài Thường trực được thành lập dưới Công Ước The Hague 1899 và 1907 và cũng có trụ sở tại The Hague Hòa Lan. Thật ra, tên gọi Tòa Trọng Tài Thường trực là không đúng vì tổ chức này không phải là một tòa án theo nghĩa ý nghĩa thông thường mà chỉ là một tổ chức quốc tế cung cấp dịch vụ tài phán và giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên. Tính tới tháng 2 năm 2012 thì tổ chức này có 115 thành viên. Việt nam là thành viên mới nhất gia nhập ngày 27 tháng 2 năm 2012. Tòa có văn phòng thường trực đón nhận và chuyển đơn kiện (Registry) cho các bên liên hệ trong cuộc tranh chấp.

Như đã trình bày, Phi Luật tân đã tiến hành nộp đơn kiện Trung Quốc với Tòa Trọng Tài Thường Trực được thành lập theo Phụ lục VII của Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển. Nhưng sau đó, Trung Quốc cho biết là họ sẽ không chấp nhận và tham gia vào vụ kiện. Tuy nhiên, một Tòa Trọng tài đã được thành lập gồm có 5 thành viên là Thẩm phán Thomas A. Mensah (Chánh Án-Ghana), Thẩm phán Jean-Pierre Cot (Pháp), Thẩm phán Stanislaw Pawlak (Ba Lan), Giáo sư Alfred H.A. Soons (Hòa Lan) và Thẩm phán Rudiger Wolfrum (Đức). Tòa đã chính thức yêu cầu Trung Quốc nộp hồ sơ phản biện trước ngày 15 tháng 12 năm nay. Cho tới bây giờ thì có dấu hiệu cho thấy là Tòa sẽ vẫn tiến tới xét xử cho dù Trung Quốc không tham dự vào vụ kiện.

Tòa án nào cho tranh chấp giữa Việt nam và Trung quốc tại Biển Đông

Tranh chấp giữa Việt Nam và Trung qUốc bao gồm tranh chấp chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, việc Trung Quốc đặt giàn khoan trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và tổng quát hơn là tuyên bố chủ quyền 9 đoạn “đường lưỡi bò” của Trung Quốc. Cả Việt Nam lẫn Trung Quốc đều chưa tuyên bố tham gia và công nhận thẩm quyền của Tòa án Công lý Quốc tế và vì vậy Việt Nam không có cơ sở để kiện Trung Quốc về vấn đề chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tại Tòa án Công lý Quốc tế. Trong khi đó thì Tòa án Quốc tế về Luật Biển lại không có thẩm quyền xét xử tranh chấp chủ quyền lãnh thổ hoặc lãnh hải.

Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia thành viên Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982. Việt Nam phê chuẩn Công Ước ngày 25 tháng 7 năm 1994 và Trung Quốc hai năm sau đó vào ngày 7 tháng 6 năm 1996. Trước mắt thì Việt nam có thể tiến hành đơn kiện với Tòa án Quốc tế về Luật Biển phản đối việc Trung Quốc đặt giàn khoan 981 gần đảo Tri Tôn và cách đảo Lý Sơn 120 hải lý là vi phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Nếu Việt Nam và Trung Quốc không đồng thuận thủ tục pháp lý thì Việt Nam có thể nộp đơn kiện với Tòa Trọng Tài Thường trực được thành lập dưới Phụ Lục VII của Công Ước, như Phi Luật Tân đã làm. Ngoài ra Việt Nam cũng có thể tham gia nhập vào vụ kiện của Phi Luật Tân phản đối tuyên bố chủ quyền đường lưỡi bò của Trung Quốc. Đây là yêu sách yếu nhất của Trung Quốc vì tuyên bố này thiếu hoặc không có cơ sở pháp lý. Vì vậy cả Phi Luật Tân lẫn Việt Nam đều có cơ hội thành công cao nhất. Có thể Trung Quốc sẽ không tham gia vào vụ kiện nhưng nếu Tòa phán quyết theo yêu cầu của nguyên đơn thì sẽ có tác động mạnh mẽ về mặt chính trị và ngoại giao trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương cũng như vạch rõ bộ mặt giả dối “trỗi dậy hòa bình” của Trung Quốc trước công luận quốc tế.

N.V.T.

(Nguồn: BVN. Tựa đề của QTXM)

(Đọc tiếp…)

Older Posts »

Danh mục