Đăng bởi: Ngô Minh | 18.09.2014

Đừng bao giờ tái diễn một cuộc CCRD

Đừng bao giờ tái diễn một cuộc CCRD

Nhà văn Hoàng Minh Tường
 Văn Việt: Lẽ ra bài phỏng vấn này đã xuất bản vào sáng 13/9/2014 trên một tờ báo lớn ở Hà Nội. Nhưng đến phút chót, báo đã thay đổi, vì theo lệnh của Ban Tuyên huấn Trung Ương, Triển lãm về CCRĐ ở Bảo tàng Lịch sử đã đóng cửa. Nay được sự đồng ý của tác giả Văn Việt giới thiệu cùng bạn đọc.
 1. Với tư cách là nhà văn có tác phẩm hay về CCRĐ, xin ông cho biết ông có trải qua thời kỳ CCRĐ không?
 CCRĐ diễn ra ở quê tôi khi tôi còn là cậu bé 8 tuổi (tôisinh tháng Giêng, 1948). Ở lứa tuổi ấy, những gì còn lại đều được lưu giữ rất kỹ. Tôi nhớ như in cảnh cùng mẹ tôi đi đấu tố bố tôi tại sân chùa. Cảnh xử bắn địa chủ bên cánh Dinh đầu đình. Cảnh đội thiếu niên nhi đồng (mà tôi bị cuốn vào, muốn ăn theo chứ chưa được đứng trong hàng ngũ) chiều nào cũng đi tuần hành đả đảo địa chủ. Tôi cũng như bị nhập đồng cùng hô đả đảo bố mình là địa chủ cường hà đại gian đại ác. Tôi nhớ rõ, có lần bố tôi đứng trước cổng nhà một địa chủ được dùng làm nhà giam các địa chủ, xem bọn tôi đi qua, râu ông mọc tua tủa, nhìn tôi đầy thương cảm và khó hiểu… Bố tôi hai vợ, mẹ tôi là vợ cả. Khi cải cách mẹ tôi và hai chị em tôi thuộc phe bị bóc lột… Rồi mẹ tôi thuộc thành phần bần nông, bố và dì tôi thành phần địa chủ. Mẹ tôi được chia một gian nhà trong dinh cơ đại địa chủ Hoành. Rồi sửa sai, bố tôi xuống trung nông. Mẹ con tôi lại về nhà cũ. Cuộc chia chác căn nhà tranh năm gian (bố tôi bị quy địa chủ nhưng chỉ có 1,2 mẫu ruộng và ngôi nhà tranh 5 gian) cho hai bà vợ diễn ra ngay sau những ngày sửa sai. Hai giai cấp đối kháng, hai mối hận thù hằng ngày cùng sống trong một ngôi nhà. Tôi và chị tôi vừa là nạn nhân, vừa là chiến lợi phẩm của hai bên… Những ký ức về CCRĐ của tôi sau này được tôi tái hiện trong tiểu thuyết Thời của Thánh Thần.Tất nhiên không thể bê hết hiện thực cay đắng, chớ trêu, nghiệt ngã ấy vào tác phẩm. Tôi chỉ tái hiện phần nào và có chọn lọc. Và không chỉ riêng ký ức. Tôi đưa nhiều cảnh ngộ, thân phận, chi tiết cuộc đời của nhiều người, nhiều nơi mà ciuộc CCRĐ diễn ra. Rất nhiều độc giả thuộc thế hệ tôi sau này, đọc tác phẩm đã khóc, nhiều người viết thư, điện thoại cho tôi, cảm ơn đã cho họ được sống lại một quãng đời cay đắng…
 2.  Xin ông cho ý kiến (nhận xét) về triển lãm CCRĐ đang diễn ra tại Viện bảo tàng Lịch sử.
Khi biết tin Bảo tàng lịch sử mở triển lãm về CCRĐ, tôi nghĩ, đã đến lúc phải cho hậu thế biết về một thời kỳ nhiều ân oán này. ÂN, tức là những thành tựu như giám đốc Bảo tàng đã nói, các hãng thông tấn, báo chí chính thống đã đưa tin. Rằng đây là một cuộc đổi đời của hàng triệu nông dân miền Bắc, người cày có ruộng, một cuộc cách mạng nhân đạo ở nông thôn vv… Ai cũng biết một đất nước mà 98 phần trăm là nông dân khi đó, một cuộc cách mạng về ruộng đất, với khẩu hiệu Người cày có ruộng, là đúng đắn. Nhưng, có cảm giác, với hơn một trăm hình ảnh được tái hiện trên ba chủ đề, cuộc triển lãm còn quá sơ sài, phiến diện, quá vội vàng trong việc tìm kiếm tư liệu, tổ chức, chưa đạt được tính trung thực, thậm chí còn bị hiểu sai về CCRĐ. Điều này chính là phần OÁN của cuộc CCRĐ, mà triển lãm này còn chưa hội được lòng người. Có rất nhiều hình ảnh, số liệu chưa được bạch hoá. Ví như vụ đấu tố điển hình địa chủ Nguyễn Thị Năm. Ví như hàng loạt vụ xử tử những đảng viên cốt cán bị quy oan là Quốc dân đảng. Ví như sự làm mưa làm gió của Đội (cải cách), về vai trò của cố vấn Trung Quốc, về các cuộc họp hành mớm cung, bồi cung, tố điêu địa chủ (để xảy ra cảnh con tố cha, vợ tố chồng, anh tố em v.v.). Đã đến lúc phải bạch hoá các con số: Bao nhiêu đảng viên , bao nhiêu trung nông, phú nông ưu tú, bao nhiêu địa chủ kháng chiến,nhân sĩ yêu nước, những chủ nhân ông thực sự của đồng ruộng bị tố oan, giết oan? Đã gần 60 năm, mọi sai lầm dần được lãng quên. Nhưng sự thật không thể bị chôn vùi, giấu diếm. Có cảm giác ở triển lãm này chưa làm được điều đó. Nên chăng, Bảo tàng Lịch sử coi đây là bước đầu báo cáo với người xem về ý tưởng, về hoài bão một đề tài lớn, bắt đầu đươc chuẩn bị. Sẽ phải kỳ công hơn nữa, tâm huyết hơn nữa. Và đặc biệt có một tấm lòng nhân ái, dám nhìn thẳng vào sự thật để tái hiện lịch sử, trả lại lịch sử những gì không thể chối bỏ, lãng quên.
 3. Với tư cách là nhà văn, chúng ta rút ra được bài học gì qua CCRĐ để không còn sai lầm trong tương lai.
Tất nhiên, đất nước chúng ta sẽ chẳng bao giờ tái diễn một cuộc cách mạng nào như CCRĐ nữa. Bởi hệ luỵ của nó là quá đau đớn, vô nhân, nó như một cơn địa chấn trong chính trái tim mỗi người.
Có thể hiểu như thế này chăng: Khi chúng ta quá chú trọng đến tiếng sôi réo của cái dạ dày mà nỡ bóp vỡ trái tim và khối óc, thì chúng ta thậm chí không còn giữ được hình hài cho đúng nghĩa một con người. Huống chi, cuộc cải cách này lại được khởi dựng bởi lý thuyết đấu tranh giai cấp, bị dẫn dắt bởi những tay cố vấn muốn bá quyền cả một đại lục, muốn áp đặt lên đất nước chúng ta một thứ chủ nghĩa quái gở…
Người ta muốn nói nhiều về mục đích nhân văn của CCRĐ, là người cày có ruộng, là mang lại quyền lợi cho mấy chục triệu người. Nhưng kinh tế sẽ không thể là cứu cánh duy nhất, khi chính chúng ta bất chấp mọi quy luật xã hội, bất chấp logic của đời sống. Cải cách kinh tế, chính trị, nếu bất chấp những quy luật nhân sinh, quy luật phát triển của văn hoá, nhân văn, không tổng hoà các yếu tố lịch sử, truyền thống… thì mọi cải cách đều dẫn đến bế tăc, thậm chí phản quy luật phát triển…
Có thể nói, CCRĐ cho tới giờ, vẫn là nỗi ám ảnh, nhức nhối cho vài ba thế hệ. Từng gia đình, từng dòng họ, từng xóm thôn đều bị phơi nhiễm căn bệnh giả dối, ác độc, phi nhân tính. Hàng triệu nông dân được chia quả thực, có ruộng đất, nhà ở, Nhưng lại có hàng vạn người chết oan, hàng triệu người rơi vào cảnh cha con, vợ chồng, anh em, xóm giềng sống trong thù hận, nghi kỵ, phản phúc…
Cần nhớ rằng, cuộc cách mạng Tháng Tám, rồi cuộc kháng chiến chống Pháp chín năm, có công lao rất lớn của tầng lớp địa chủ yêu nước, những tinh hoa của nông thôn, nông dân. Hàng vạn con em của họ, trong đó có những Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp,Trần Huy Liệu, Hoàng Minh Giám, Tạ Quang Bửu…, những trí thức con địa chủ quan lại đã tình nguyện đi kháng chiến. Vậy mà, khi cuộc đi săn vừa kết thúc, thì thịt luôn cả thỏ và chó nhà. CCRĐ phạm sai lầm lớn nhất là bóp chết lòng yêu nước, triệt tiêu tinh hoa và động lực của nông dân, nông thôn. Nhưng nguy hại hơn là nó triệt tiêu đạo lý, triệt bỏ tình người. Con tố cha, vợ bỏ chồng, anh em hận thù, xóm làng phiêu tán… Bao nhiêu giá trị văn hoá, đạo lý, nghìn đời mới tạo dựng được, phút chốc đã tiêu tan. 
Cho nên, văn chương, nếu thực sự làm được thiên chức ghi lại những khúc quanh của lịch sử, thì nhà văn may ra còn giúp cho các thế hệ hậu sinh nhận diện lại một thời mà cha anh chúng ta đã từng phải trả giá. Để không đi theo vết cũ. Phải thấm nhuần hơn nữa đạo nghĩa của Ức Trai. Thắng giặc rồi hãy cởi bỏ hận thù. Phải biết “lấy trí nhân để thay cường bạo”. Để chúng ta không bị lừa phỉnh bởi những thứ học thuyết ngoại lai, phi bản. Để chúng ta sống với nhau nhân ái hơn, biết gìn giữ những tinh hoa quá khứ, những truyền thống đạo lý, để xây dựng một Đất nước Việt Nam sánh vai với thế giới hiện đại.
Ngày 12/9/2014.
HMT
(Nguồn: quechoa)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.09.2014

Nhìn lại một nền văn học

Nhìn lại một nền văn học

 Lê Hoài Nguyên

QTXM : Bài viết đáng đọc. QTXM rát đồng tình với tác giả Lê Hoài Nguyên

Đường hầm Tình yêu ở Ukraine.
 
Hôm nay đã sắp 40 năm ngày chấm dứt của nền văn học ấy. Từ thập niên 80, 90 giới nghiên cứu phê bình quen gọi là nền Văn học thực dân mới hoặc Văn học đô thị miền Nam 1954-1975. Những nhà văn đã sinh ra nền văn học đó thì gọi nó là Văn Học Sài Gòn hoặc Văn học Cộng hòa miền Nam.
Từ sau 1975 còn có một nền văn học nối dài do nhiều chủ nhân của nó định cư ở nước ngoài làm lại đã phát triển 40 năm nay với tên  gọi lúc đầu là Văn học lưu vong, sau là Văn học hải ngoại hay như từ năm 1993 tôi đã gọi một cách ấm cúng trong bối cảnh đương thời là nền Văn học Người Việt ngoài nước*.
Hôm nay nhiều người Việt đã không còn nhìn nhận sự kiện 30-4-1975 như là một sự kiện thuần túy sắt máu, cũng như không còn nhìn nhận toàn bộ nền văn minh vật chất và tinh thần của xã hội miền Nam chỉ là sản phẩm của chủ nghĩa thực dân mới do đế quốc Mỹ để lại.
 
Cũng trong hoàn cảnh nhiều người trong giới viết văn, nghiên cứu phê bình trong nước đã nhìn nhận hai nền văn học ở trên là một tiến trình phát triển, một bộ phận hiển nhiên không thể bỏ đi của nền Văn học hiện đại Việt Nam.
 
Từ lâu tôi đã đã nghĩ đến có một ngày như thế khi tôi còn trẻ chứng kiến các khối văn hóa phẩm khổng lồ chuẩn bị được đem đi tiêu hủy. Trong số các ấn phẩm tôi còn kịp nhận ra tên của ngững kiệt tác gia của nhân loại mà ở Khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội tôi chưa được đọc.


Thời gian và tình thế dân tộc, đất nước đã đủ để mỗi người Việt Nam hôm nay nhìn rõ cái lẽ phải trái một thời, có những đại cuộc viển vông, có những niềm tin ấu trĩ, những xung đột huynh đệ thảm khốc, những ý tưởng manh nha ngược chiều đương thời nay trở thành chân lý…Tôi thấy mình đang phải thoát ra khỏi các tín điều để tìm ra một cách lý giải mới về lịch sử, văn hóa đất nước qua các biến thiên thời cuộc cho đến hôm nay.
 
Trở lại khởi điểm các nhà mác xít Việt Nam đã nói về cái nền văn hóa ở miền Nam 1954-1975. Họ đã quả quyết rằng cái nền văn hóa ấy hoàn toàn chỉ là sản phẩm của người Mỹ mang đến, hoàn toàn do các chính sách nô dịch của người Mỹ và chính quyền tay sai Mỹ nặn ra. Họ đã bỏ qua tính độc lập của văn hóa, bỏ qua các thành tố thuần túy văn hóa của một nửa dân tộc tự xây dựng nên để tồn tại trong sự đối lập với chính quyền , trong bối cảnh chiến tranh khốc liệt…
Họ quên rằng trong hàng chục thế kỷ đã qua, dân tộc Việt Nam đã có nhiều thời kỳ sống dưới ách đô hộ nước ngoài nhưng không một ngoại bang nào, không một chính thể nào có thể thay thế được nền văn hóa Việt bằng nền văn hóa của họ. Hai là không thể lẫn lộn cái gọi là sự xâm lược văn hóa với sự lan tỏa ảnh hưởng của những nền văn minh trong văn hóa của những dân tộc phát triển theo sau các đạo quân đế quốc như của Trung Hoa, Pháp và Mỹ đối với nước ta. Chính thể nào, quốc gia, cộng hòa hay cộng sản cũng đều có bộ máy văn hóa để tuyên truyền cho nó, cố gắng áp đặt ý chí của nó nhằm tạo ra một bộ mặt văn hóa minh họa cho bản chất của nó nhưng xét đến cùng các chính thể không thể lãnh đạo được toàn bộ nền văn hóa của một dân tộc. Ngoài yếu tố bản thể tự nhiên, các nền văn hóa tư sản hay cộng sản bao giờ cũng có yếu tố dân tộc, hiện thực, nhân đạo, yếu tố mới, yếu tố đẹp, yếu tố phản kháng, yếu tố chống chiến tranh, bạo lực… Vậy thì nền văn hóa của cả nửa dân tộc Việt xây dựng ở miền Nam trong 20 năm 1954-1975 không chỉ có mỗi hình thái nô dịch đồi trụy. Hiển nhiên  nó vẫn chảy theo lộ trình của văn hóa dân tộc Việt có từ ngàn năm. Chỉ tiếc rằng thế giới quan vụ lợi về chính trị đã làm cho giới nghiên cứu bấy lâu nay gạt bỏ hết phần giá trị của nó.
Vậy thì cần phải nhìn văn hóa, văn học miền Nam 1954-1975 với cách nhìn của hôm nay trong tiến trình lịch sử dân tộc, với các giá trị của tiến bộ xã hội, của con người, với xu thế phát triển của thế giới hiện tại. Phê phán những người vì mục đích tiền bạc hoặc hư vinh mà phục vụ cho guồng máy tuyên truyền của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa nhưng cũng cần phân biệt những người còn ý thức về sự tồn vong của dân tộc, đất nước, về sự đau khổ của đồng loại, những người sáng tạo vì vẻ đẹp của dân tộc. Thậm chí trong bối cảnh chiến tranh lúc đó, thái độ lưỡng lự, hoang mang, u sầu thôi cũng góp phần không hun nóng thêm những cái đầu khát vọng chiến tranh. Hoặc một tác phẩm phản ánh khách quan sự thật băng hoại của xã hội miền Nam cũng có ý nghĩa thức tỉnh tích cực lương tri của cộng đồng. Hoặc những cố gắng cách tân nghệ thuật đưa ngôn ngữ Việt tiếp cận các phương thức biểu hiện hiện đại, các tư tưởng của triết học thế giới đương thời cũng là đáng quý…
Đó là lý do tại sao những phần giá trị của văn hóa, văn học miền Nam 1954-1975 vần sống âm ỉ trong lòng nhiều người miền Nam, cả người miền Bắc, và cả thế hệ trẻ hôm nay.
 Sức sống ấy bất chấp những nỗ lực của những người thắng cuộc sau 30-4-1975 đã huy động một bộ máy tuyên truyền, một hệ thống truy quét khổng lồ để tiêu diệt nó.
 
 Như vậy không thể đơn giản quy chiếu toàn bộ nền Văn học miền Nam 1954-1975 dưới góc độ phản động- đồi trụy mà phải nhìn nó như nó vốn tồn tại như một lẽ tự nhiên với đầy đủ các thang bậc giá trị. Cùng với khuynh hướng phục vụ chính thể chế độ Việt Nam cộng hòa, nền văn học ấy còn có các khuynh hướng khác như :
Khuynh hướng hiện thực
Khuynh hướng phản kháng lại chính quyền
Khuynh hướng chống chiến tranh
Khuynh hướng nhân đạo
Khuynh hướng tình tự quê hương đất nước
Khuynh hướng cách tân nghệ thuật
Các khuynh hướng có thể tồn tại trong một nhóm tác giả hoặc đan xen phức tạp trong mỗi tác giả. Vì thế sự đánh giá mỗi tác phẩm, tác giả của nền Văn học miền Nam 1954-1975 cũng không hề đơn giản.
Với trang Văn học miền Nam 1954-1975 chúng tôi chỉ có tham vọng ghi nhận một cách nhìn mới về nền văn học này và cố gắng sưu tầm các kết quả nghiên cứu đánh giá về nó và tập hợp một tủ sách   đại diện cho các khuynh hướng của nó hầu giúp cho đồng nghiệp và bạn đọc tiếp cận được một cách trung thực đời sống văn học một nửa đất nước trong hai mươi năm chia cắt.
 
Tháng 7-2014
( Nguồn VANDANNNB)

 

Để biết thêm về tác giả Đèn Cù/ Thư Nguyễn Khải gửi Trần Đĩnh

Nguyễn Khải/
FB Trương Huy San
Huy Đức:Đọc thư gửi bạn Trần Đĩnh ngày 18/7/1999 mới hiểu vì sao Nguyễn Khải đã viết Đi Tìm Cái Tôi Đã Mất
Ô. T. Đĩnh thân thiết!
Tôi nhớ ông lắm đấy ô. T. Đĩnh ạ, nói rất thật lòng, vô trong này tôi cũng ít bạn bè và cũng không muốn đánh bạn với người mới, làm xong công việc là xong. Ở trong này, tôi cứ nằm lì ở nhà, ở cái xó Khánh Hội mà ông đã tới ấy, ngay đến hàng xóm cũng không biết tôi đã ở nhà hay ra Hà Nội. 


Ngồi viết chút chút lại nằm đọc, đọc 1 chút là ngủ, ngủ một chút lại bừng dậy, đọc tiếp. Sống như thế là rất buồn, nhưng tôi đã sống một mình 20 năm nay, nên cũng đã quen, và không cảm thấy buồn lắm. Ai rủ đi đâu cũng ngại, trừ ra Hà Nội. Hà Nội vẫn là cái nhà của tôi, lắm lúc nhớ đến phát cuồng. Vì Hà Nội có đủ mọi thứ để nuôi dưỡng cho một tuổi già, nhất là có bạn, một ít bạn, trong đó có ông. Nhận được thư ông, lại được ông khen, tôi “phấn khởi” lắm, thì ra tôi vẫn thích được khen, nhất là được bạn khen, lại là bạn tâm đầu ý hợp khen thì nhất.
Tôi dạo này cũng yếu nhiều, già hẳn, đúng là một ông già 70 còn tương đối khỏe. Ngồi xuống muốn đứng lên lại phải chống tay. Bữa nọ đi bộ buổi sáng vấp nhẹ 1 cái đã ngã dập mặt xuống đường, gẫy một cái răng cửa, lại phải đi làm răng, đầu gối chỉ sưng chứ không bị rạn nên dăm hôm lại đi lại như thường. Nghĩ mà buồn, vì biết rằng cũng sắp đến ngày cáo biệt bạn bè rồi. Theo tử vi thì trong mùa xuân năm Ngọ, sang 73 tuổi là chết, là tận số, không có oan uổng gì. Tính ra, chỉ còn sống thêm 2 năm Thìn, Tỵ nữa thôi . Sống thế cũng là thọ lắm, con đầu hơn tuổi ông Nam Cao, con út xấp xỉ tuổi Vũ Trọng Phụng, nhìn lại những trang đã viết chả biết có còn lại được mươi trang không?

Người làm sao văn làm vậy, tôi quen sống trong nhân nhượng, trong dàn hòa, bằng lòng với chút hạnh phúc bé nhỏ, bằng lòng với cái hữu hạn của một kiếp người nên văn cũng thế, thiếu triệt để, thiếu quyết liệt, không dám đi tới cái tận cùng. Bởi thế nên không thể “lớn” được, cái mà Lê Đạt bảo là “hình như còn thiếu một cái gì đó”, một đời đã sống như thế chỉ còn vài năm cuối làm sao sống khác được. Sống không khác thơ văn làm sao mà khác! Chả biết từ nay đến cuối năm HNV có gọi ra họp hành gì không, để mình lại có dịp gặp nhau. Tôi rất thèm được nói chuyện với ông lắm. Gặp nhau để nói những chuyện chả đâu vào đâu mới thật khoái. T. Đĩnh, L Đạt, N. Khải được ngồi đấu hót với nhau một đêm thì thật tuyệt!

Nhớ ông lắm ông ơi! Nhớ Hà Nội Lắm!
Hẹn cuối năm được gặp nhau.

Bạn già
Nguyễn Khải
Theo FB Trương Huy San

Hé lộ nghi vấn đặc biệt về mộ vua Quang Trung ở Quảng Nam 

QTXM :Từ trước đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu, điều tra nhằm tìm mộ vua Quang Trung. Nhà văn Nguyễn Đắc Xuân đã có hẳn một tác phẩm độ sộ về việc đi tìm lăng mộ Nguyễn Huế-Quang Trung.Theo ông mộ vua Quang Trung  ở Huế. Lại có học giả phát hiện rằng mộ vua Quang Trung được chôn ở trong lòng núi Quyết, Nghệ An. Bây giwof lại thêm một  nghi vấn mới về mộ vua Quang Trung tại Quảng Nam. Mời các bạn cugnf tìm hiểu.
(Cadn.com.vn) – Từ trước đến nay, việc mộ vua Quang Trung được chôn cất ở đâu vẫn là điều bí mật. Thế nhưng gần đây, Phòng PA83 CA tỉnh Quảng Nam phát hiện một tài liệu về chánh cung hoàng hậu của vua Quang Trung mang họ Phạm ở Quảng Nam, không phải ở Tuy Viễn (Bình Định) như sử sách lâu nay đề cập. Từ tình tiết này, Phòng PA83 CA tỉnh Quảng Nam cùng các cơ quan chức năng đã tiếp tục điều tra, nghiên cứu và dần hé lộ ra những tình tiết đặc biệt liên quan đến mộ vua Quang Trung.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 16.09.2014

Bản đồ thế giới của bá quyền Trung Quốc

// //

Bản đồ thế giới của bá quyền Trung Quốc

// //

  •   Steven W. Mosher

Lời Người Dịch:

Bài dịch dưới đây là một Chương trong quyển sách nhan đề Bá Chủ: Kế Hoạch Của Trung Quốc Để Thống Trị Á Châu và Thế Giới, xuất bản năm 2000, và được Dân Biểu Quốc Hội Hoa Kỳ Dana Rohrabacher đánh giá là “có giá trị hơn cả các sự thuyết trình của Cơ Quan Tình Báo Trung Ương (CIA)”.

 

Chương này phác họa kế hoạch của Trung Quốc nhằm xây dựng quyền bá chủ thế giới qua ba giai đoạn: 1. Bá quyền căn bản, trong đó việc xâm chiếm Biển Đông là một trong hai mục tiêu phải hoàn tất; 2: Bá quyền trong vùng; và 3. Quyền bá chủ toàn cầu, thiết lập một trật tự thế giới mới dưới sự thống trị của Trung Quốc, một Pax Sinica.

Kế hoạch này chính là bản chất của Đại Hán Tộc Chủ Nghĩa, nhằm thực hiện chính sách bành trướng Đại Hán cực đoan, cụ thể là nhằm thu hồi lại tất cả những vùng đất mà Bắc Kinh cho rằng đã từng nằm dưới sự cai trị của các triều đại Trung Hoa trước đây. Truyền thông của Trung Quốc công khai nêu ra các kịch bản như sáu cuộc chiến tranh trong tương lai để “thu hồi” các vùng đất này nhằm chuẩn bị dư luận quần chúng Trung Quốc.

Tuy một vài sự kiện trong bài dịch được viết ra gần 15 năm trước đây đã thay đổi, chẳng hạn như sự đổi trục chính trị của Miến Điện từ năm 2011 và quay hướng về Hoa Kỳ, nhưng bản chất bành trướng Đại Hán Tộc Chủ Nghĩa ngày càng bộc lộ rõ hơn qua các hành động lấn chiếm hung hăng tại Biển Đông. Hơn ai hết, người Việt Nam ngày càng nhận thức được rằng họ đang ở vào một vị thế yếu nhất, cô độc nhất, và bất lợi hơn hết vì ở vào vị trí gần nhất trên bước đường bành trướng và do đó sẽ là nạn nhân đầu tiên cho tham vọng bá chủ của Bắc Kinh.

Việt Nam đang thực sự ở vào một giai đoạn nguy hiểm và người Việt Nam phải can đảm, sáng suốt và quyết liệt để lựa chọn con đường sống còn của mình.

***

Kích thước của sự dịch chuyển vị thế của Trung Quốc trong thế giới là kích thước to lớn đến nỗi thế giới phải tìm kiếm một sự cân bằng mới trong 30 hay 40 năm tới. Không thể giả vờ rằng đây chỉ là một tay chơi lớn khác. Đây là tay chơi lớn nhất trong lịch sử con người.

                                                                                                                                                                          – Lý Quang Diệu, 1994. 1

Những kẻ tuyệt hảo trong việc phòng thủ tự chôn mình sâu dưới điểm thấp nhất của Quả Đất. Những kẻ tuyệt hảo trong việc tấn công di chuyển từ bên trên các đỉnh cao nhất của Trời.

                                                                                                                                           Tôn Tử, khoảng 500 Trước Công Nguyên.

Bản Đồ Mới Nhất Của Trung Quốc
nguồn: http://www.google.com

Các chuyên viên về Trung Quốc, các kẻ hiếm có đủ các mảnh rời rạc của bức tranh ghép Trung Quốc vô cùng phức tạp để tiên đoán một cách chính xác về động thái quốc tế của Trung Quốc nói chung, có khuynh hướng tối thiểu hóa khả tính về sự xâm lược của Trung Quốc. Họ đồng ý – với ngôn từ nóng bỏng cất lên từ Bắc Kinh sẽ thật khó để không đồng ý – rằng Trung Quốc nghiêng về việc thu hồi Đài Loan trong vòng tay ôm của tổ quốc và khẳng định sự kiểm soát trên toàn thể Biển Nam Trung Hoa. Nhưng phần lớn tiên đoán rằng sự bất mãn của Trung Quốc đối với Hoa Kỳ sau hết sẽ lắng xuống và rằng với thời gian Trung Quốc sẽ bằng lòng để chấp nhận vị trí của nó trong trật tự thế giới do Mỹ khống chế.

Song giả định rằng Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc không có một đại kế hoạch cho tương lai thì không hoàn toàn xác đáng. Giới tinh hoa CHNDTQ chỉ phải nhìn vào các bản đồ cụ thể của các đế quốc Trung Hoa trong lịch sử hầu vạch ra hình thái của các sự việc khả dĩ. Triều đại nhà Thanh trong suốt giai đoạn bành trướng trong thế kỷ thứ mười tám của nó, khi Trung Hoa vươn tới tầm mức lãnh thổ rộng lớn nhất, tác động như một loại siêu bản đồ (meta-map). Như chúng ta đã thảo luận trước đây, vào lúc dó Thiên Triều đã cai trị một lãnh thổ mênh mông trải dài từ Vùng Viễn Đông của Nga băng ngang miền nam Siberia đến Hồ Baikal, sau đó quay xuống hướng nam ngang qua Kazakhstan, ngoặt sang hướng đông dọc theo rặng Hy Mã Lạp Sơn, Miền Bắc Miến Điện, Lào, và Việt Nam. Hàn Quốc, Nepal và tất cả bán đảo Đông Nam Á đã nhìn nhận quyền bá chủ của Trung Hoa và có triều cống. Chính bản đồ này làm nảy sinh những điều không mời đón trong đầu óc Trung Quốc khi hình dạng của một “Đại Trung Quốc” tương lai được thảo luận đến. 2 Và chính cùng bản đồ này đang nung nấu các sự tưởng tượng của thế hệ các nhà lãnh đạo ngày nay của Trung Quốc.

Không phải ngẫu nhiên rằng ngay khi Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) nắm quyền kiểm soát trên Trung Hoa Đích Danh (China Proper), nó đưa một mắt thèm thuồng nhìn đến các lãnh địa từng có thời thuộc nhà Thanh. Giống như cựu Liên Bang Sô Việt, đã tìm cách để bám giữ Đế Quốc Nga trong khi hô to các khẩu hiệu chống đế quốc chủ nghĩa, ĐCSTQ tự miễn trừ mình ra khỏi tín điều chống đế quốc chủ nghĩa của chính nó và phái các đội quân của nó tiến bước. Sự thu hồi Tây Tạng và các vùng biên giới do Sô Viết chiếm cứ tại Tân Cương, Nội Mông, và Mãn Châu đã theo sau. Sau một sự cách biệt lâu dài và thất vọng, Hồng Kông và Macao đã được lôi về trong vòng tay ôm của đất mẹ. Bất kể các sự tiến quân này, tuy thế, lệnh truyền của Bắc Kinh vẫn chưa vươn tới mức trọn vẹn của Đại Trung Quốc. Và ở đó có vấn đề.

Điều đôi khi được nói bởi các kẻ biện hộ cho nó rằng Trung Quốc không có nhu cầu để bành trướng bởi nó không phải đối diện với sự đe dọa đên sự vẹn toàn lãnh thổ của nó. Nhưng từ quan điểm của Bắc Kinh sự vẹn toàn lãnh thổ của nó đã sẵn bị và tiếp tục bị xâm phạm. Không chỉ có hòn đảo Đài Loan là bị tách rời khỏi phần còn lại của Trung Quốc, mà còn có cả một tầng lớp lãnh thổ bao la dọc theo các biên giới Ấn Độ, Trung Á, Mông Cổ, và Nga với Trung Quốc, cũng như thế. Từ một nhãn quan tập trung vào Trung Quốc, tất cả các lãnh thổ này đang chờ đợi “sự giải phóng”.

Lớp lang theo đó các lãnh thổ bị mất này được thu hồi sẽ được xác định bởi các biến cố hơn là bởi đại kế hoạch. Có lẽ đây là lý do tại sao Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc đang tập hợp một cách hung hang các năng lực quân sự để phóng chiếu sức mạnh ra ngoài xa biên giới của nó trong mọi hướng. Một năng lực phóng chiếu quyền lực đên mọi phương vị sẽ phục vụ Trung Quốc đắc lực dọc theo bất kỳ điểm nào trong địa bàn khi nó đối mặt với sự yếu kém.

Một khi sự tái xây dựng Đại Trung Quốc được hoàn tất, Bá Chủ [Trung Quốc] có thể phóng mắt nhìn xa hơn: thí dụ, can thiệp tại Trung Đông, hay tìm cách ly gián Nhật Bản khỏi Hoa Kỳ. Các giới hạn cũ đối với các tham vọng đế quốc của Trung Quốc đã được ấn định bởi khoảng cách xa, nhưng bá quyền hiện đại không có các ranh giới địa dư, chỉ có các ranh giới địa chính trị, điều trong giờ khắc này được ấn định bởi Mỹ và các đồng minh Âu Châu và Á Châu của nó.

Sự theo đuổi bá quyền của Trung Quốc có thễ dẫn dắt nó qua ba giai đoạn:

· Bá Quyền Căn Bản: Thu hồi Đài Loan và sự khẳng định quyền kiểm soát không tranh cãi trên Biển Nam Trung Hoa.

· Bá Quyền Cấp Vùng: Nới rộng đế quốc Trung Quốc cho đến tầm mức tối đa của thời nhà Thanh.

· Bá Chủ Toàn Cầu: Một sự đua tranh toàn cầu với Hoa Kỳ để thay thế Pax Americana; trật tự thế giới của Mỹ hiện thời bằng một Pax Sinica.

BÁ QUYỀN CĂN BẢN

Tiếp theo sau cuộc thăm viếng của [Tổng Thống] Nixon tại Trung Quốc hồi năm 1972, Bắc Kinh lặng im không công khai rung kiếm dương oai với Đài Loan trong một thời gian. Một cách riêng tư, họ Mao kín đáo nói với Nixon rằng sẽ vẫn còn cần thiết để lấy lại Đài Loan bằng vũ lực, tin tưởng rằng sự đe dọa này sẽ dẫn các nhà lãnh đạo Đài Loan đến bàn hội nghị không lâu sau khi sự bảo vệ của Hoa Kỳ bị rút lại. Trung Quốc đòi hỏi, và nhận được, một sự triệt thoái các lực lượng của Hoa Kỳ ra khỏi hòn đảo và sự xóa bỏ chính thức Hiệp Ước An Ninh Hỗ Tương Hoa Kỳ – Trung Hoa Dân Quốc. Tuy nhiên, sự thịnh vượng gia tăng của Đài Loan, cộng với sự sẵn lòng tiếp tục của Mỹ để bán cho Đài Loan khí giới phòng thủ, giữ cho Đài Loan không phải làm việc khấu đầu như được ước định.

Các sự tính toán của Trung Cộng còn bị đảo lộn hơn nữa khi Đài Loan dân chủ hóa vào cuối thập niên 1980, và đảng đối lập chính yếu, Đảng Dân Tiến (Democratic Progressive Party), bắt đầu to tiếng đòi hỏi một sự tuyên bố chính thức độc lập. Đây là một con dao đe dọa hai lưỡi đối với Bắc Kinh, bởi nó có nghĩa không chỉ Đài Loan có thể vuột ra khỏi tầm nắm bắt của nó vĩnh viễn, mà còn vì việc dân chủ hóa hòa bình của hòn đảo sẽ vươn cao như một sự quở trách làm bối rối cho chế độ độc đoán của chính Bắc Kinh.

Sau khi mưu toan bị thất bại để lôi kéo Đài Loan chấp nhận cùng công thức đã được áp đặt trên Hồng Kông, Bắc Kinh đã bắt đầu lên giọng. “Nếu chúng ta từ bỏ sự đe dọa dùng vũ lực chống Đài Loan, khi đó sẽ không có khả tính rằng sự thống nhất hòa bình sẽ đạt được”, Chủ Tịch Giang Trạch Dân có nói với nhật báo Asahi Shimbun hồi Tháng Tám 1995, vang vọng các cảm nghĩ của họ Mao một phần tư thế kỷ trước đó. Để nhấn mạnh quan điểm của ông ta, CHNDTQ đã bắn vài hỏa tiễn có khả năng hạt nhân M-9 tại vùng phụ cận rộng lớn của Đài Loan.

Vào hôm trước các cuộc bàu cử tổng thống Đài Loan hồi Tháng Ba 1996, Trung Quốc một lần nữa đã tác xạ thử nghiệm bên trên và bên dưới Đài Loan bằng các hỏa tiễn trang bị đầu đạn M-9. QĐGPNDTQ tiếp tục tập trận đổ bộ lên một hòn đảo, sử dụng các tàu đổ bộ tấn công thủy bộ, thao diễn sự chuyển vận binh sĩ, các phi vụ máy bay trực thăng và đã nã trọng pháo. Mặc dù có sự ngập ngừng ban đầu, Tổng Thống Clinton sau hết đã phái hai nhóm chiến hạm đến ngoài khơi của Đài Loan và đã gửi lời cảnh cáo đến Bắc Kinh. Giới lãnh đạo Trung Quốc đã lùi bước trong màn trình diễn quyết tâm này, nhưng chỉ sau khi chính sách “đẩy tới bờ vực chiến tranh” liều lĩnh có nó không làm nhụt nhuệ khí của chính quyền Clinton.

Sự khăng khăng của Trung Quốc về chuyện “giải phóng” Đài Loan, đến mức độ biến nó thành mục đích chính yếu trong chính sách ngoại giao, mang góc cạnh xúc cảm của nó từ một khát khao muốn loại bỏ các tàn dư sau cùng của chính phủ và quân đội Tưởng Giới Thạch. Cho đến khi điều này xảy ra, giới tinh hoa của ĐCSTQ vẫn chưa có thể tuyên bố rằng chiến thắng của họ trong cuộc nội chiến Trung Hoa đã được hoàn tất. Phe Cộng Sản cũng hăng say để “giải phóng” Đài Loan vì các lý do ý thức hệ: để ngăn chặn sự lan tràn của các giá trị và các định chế dân chủ đã bắt rễ vững chắc ở dó trong vài thập niên qua. Một Đài Loan dân chủ và thịnh vượng là một con dao găm đâm vào quả tim của chế độ độc tài độc đảng đang từng chập bất thường mưu tính hiện đại hóa Trung Quốc. Theo quan điểm của Bắc Kinh, hai nhóm chống đối lớn nhất của Trung Quốc là phe Quốc Dân Đảng và Đảng Dân Tiến tại Đài Loan.

Bắc Kinh tiếp tục chào hàng như một căn bản cho một sự thỏa thuận ngang qua eo biển công thức “một xứ sở, hai hệ thống” đã được áp dụng tại Hồng Kông. Nhưng ít có cảm nghĩ trên đảo về sự hợp nhất với Trung Quốc như nó được cai quản hiện nay. Tại sao người dân Đài Loan lại sẽ muốn đổi tự do mới tìm thấy của họ để lấy xiềng xích được trui rèn tại Bắc Kinh, đánh đổi chính quyền địa phương dân cử của họ lấy một viên tổng đốc cộng sản, đánh đổi quân đội được tuyển mộ tại dịa phương của họ lấy sự chiếm đóng bởi cùng đội quân đã nổ súng trên các người biểu tình tay không tại Quảng Trường Thiên An Môn? Không ai, dù là Quốc Dân Đảng, nhóm muốn sự thống nhất chỉ được tiến hành sau khi đại lục đân chủ hóa, hay Đảng Dân Tiến, nhóm không muốn thống nhất gì cả, lại sẵn sàng nhượng bộ sự tự trị của Đài Loan cho Bắc Binh.

Chính sách hiện thời của Trung Quốc đối với Đài Loan là việc lựa chọn giữa các sự đe dọa và các sự thương thảo – một biến thể của chiến lược “đánh, đánh, đàm, đàm” trong cuộc nội chiến Trung Hoa – một chính sách được tính toán để lan truyền sự hoảng sợ từng chập tại Đài Loan và làm sụp đổ tinh thần của người dân. Bắc Kinh đà trả lời sự kêu gọi của Tổng Thống Đài Loan Lý Đặng Huy hồi Tháng Bảy 1999 cho các cuộc đàm phán “giữa nhà nước với nhà nước” bằng việc gọi ông ta là một kẻ phản quốc, và loan báo rằng Trung Quốc có bom trung hòa tử (neutron), trong trường hợp nó cần để bình định một tỉnh phản bội. Trong khi Đài Loan là một chú bé David đáng tin đối với kẻ khổng lồ Goliath của CHNDTQ, ít có sự ngờ vực rằng một cuộc tấn công quyết liệt của QĐGPNDTQ sau rốt sẽ phá tan các sự phòng thủ của hòn đảo.

Chỉ có khả tính rất thực của sự can thiệp của Hoa Kỳ mới khiến Bắc Kinh ngập ngừng. Không một láng giềng nào của Đài Loan, ngay cả Nhật Bản, sẽ giơ tay giúp đỡ. Trong năm 1996 tất cả họ đều lịch sự ngoảnh mặt quay đi khi các hỏa tiễn phóng qua các đường bay quốc tế và rớt xuống các hải đạo quốc tế, cho dù sự lưu thông hàng không và hải vận bằng tàu đều bị gián đoạn. Mã Lai và Phi Luật Tân mau chóng tuyên bố một chính sách trung lập, trong khi ngoại trưởng Indonesia khẳng quyết rằng sự đối đầu hoàn toàn là một chuyện riêng của Trung Quốc. Ngoại trưởng Thái Lan còn đi xa đến mức tuyên bố rằng sự gián đoạn du hành hàng không và hàng hải do Trung Quốc gây ra là “bình thường”.

Ít nhất kể từ thời Tôn Tử, hai mươi bốn thế kỷ trước đây, cách giao chiến của Trung Hoa đã nhấn mạnh đến sự lén lút và dối gạt. Trong thực tế, thật khó để tưởng tượng một tình huống trong dó Trung Quốc sẽ chính thức tuyên chiến, trừ khi như một cách làm mất tinh thần một hòn đảo đã sẵn bị cô lập, thành một sự đầu hàng chặn đầu. Nếu Trung Quốc tiến tới việc đánh Đài Loan, họ sẽ làm như thế vào một thời điểm và trong một cung cách mà chúng ta ít chờ đợi nhất, có thể bằng việc gây ra một vụ nổ hạt nhân ở độ cao bên trên hòn đảo để làm gián đoạn các sự giao thông, hay bằng việc đột nhiên phóng ra một hàng rào hỏa tiễn vào các cơ sở then chốt.

Một kịch bản như thế có thể xem ra kỳ cục nếu Mỹ đã không bị bất ngờ nhiều lần trong những năm gần đây bởi các sự phát triển hỏa tiễn tại Á Châu. Iraq, Pakistan, và Iran đều có phóng ra các hỏa tiễn tầm ngắn và trung mà các cơ quan tình báo Hoa Kỳ tỏ ra bối rối vì không hay biết đến ngay những gì họ đang phát triển. Trong thực tế, trước cuộc phóng một hỏa tiễn có tầm xa 800 dặm hồi Tháng Bảy 1998 của Iran, Cơ Quan Tình Báo Trung Ương Hoa Kỳ (CIA) đã tuyên bố rằng sẽ cần đến mười năm hay lâu hơn trước khi các hỏa tiễn của Iran sẽ có thể nhắm đến Do Thái. Nhưng Iran đà che dấu các hỏa tiễn của nó khỏi các vệ tinh do thám của Mỹ bằng việc xây dựng chúng tại các cơ xưởng dưới mặt đất. Bắc Hàn đã che dấu một cách thành công chương trình chế tạo hỏa tiễn của nó trong cùng một cung cách. Sẽ là một điều gây ngạc nhiên, ở mức tối thiểu, nếu giới lãnh đạo Trung Quốc lại không tự mình làm theo cùng một chiến thuật hiển nhiên để che giấu một số chương trình vũ khí. Ngoài các đường dây sản xuất hỏa tiễn mà chúng ta hay biết, có lẽ phải được bổ túc các đường dây khác, được chôn dấu tại các hầm dưới mặt đất nơi ba phiên làm việc của các công nhân một ngày có thể bận rộn để gia tăng số dự trữ hỏa tiễn của CHNDTQ. Không giống như Hoa Kỳ, CHNDTQ không công bố các số tồn kho của các nơi chứa vũ khí trên các trang nhật báo toàn quốc của nó.

Các hỏa tiễn của CHNDTQ cũng ngày càng trở nên chí tử hơn nhiều, như sự khác biệt giữa các vụ bắn hỏa tiễn Trung Quốc trong các năm 1996 và 1996 đã chứng tỏ. Trong sáu hỏa tiễn DF-15 (Đông Phong” hay “Gió Đông”) được bắn ra trong Tháng Bảy 19995, một đã bị phá hỏng, hai hỏa tiễn đi sai đường và ba hỏa tiễn còn lại rớt xuống cách mục tiêu vài dặm. Vào Tháng Ba 1996, nhờ kỹ thuật hướng dẫn hỏa tiễn Nga mới mua được, tất cả bốn hỏa tiễn bắn ra đánh trúng các khu vực mục tiêu của chúng gần hai hải cảng chính yếu của Đài Loan là Kaohsiung (Cao Trung) và Keelung (Lỳ Long) một cách chính xác. 4

“Hàm ý của các sự cải tiến hỏa tiễn Trung Quốc là điềm đáng ngại cho Đài Loan”, Paul Bracken đã viết như thế. “Phóng ra bốn mươi hỏa tiễn với đầu đạn quy ước, Trung Quốc có thể thực sự đóng cửa các hải cảng, các phi trường, các nhà máy nước, các nhà máy điện, và phá hủy kho chứa nhiên liệu của một quốc gia cần đến sự bổ sung liên tục từ thế giới bên ngoài”. Tôi tin tưởng rằng con số các hỏa tiễn cần có để đánh sập hạ tầng cơ sở của Đài Loan, một số trong các cơ sở đã được kiên cố hóa chống lại các mối nguy hiểm của đúng ngay một cuộc tấn công như thế, thực sự lên tới vài trăm hỏa tiễn. Nhưng điểm tổng quát của Bracken đứng vững: Như một đảo quốc nhỏ bé, Đài Loan lệ thuộc một cách khác thường vào ba hải cảng chính yếu, bốn phi trường chính yếu, và một số ít nhà máy phát điện quan trọng để duy trì các dịch vụ thiết yếu. Và cho dù cần khoảng từ 40 đến 50 hỏa tiễn để vô hiệu hóa chúng, Trung Quốc sẽ sớm thụ đắc số đạn dược cần thiết– nếu không phải là đã có sẵn. 5

Nếu các hệ thống hướng dẫn hỏa tiễn làm việc giống như được quảng cáo, sẽ có sự tổn thất dân sự tối thiểu, giảm bớt một cách lớn lao xác suất của một phản ứng quân sự mạnh mẽ từ Hoa Kỳ. Trung Quốc cũng sẽ mưu tính trói tay chúng ta với sự đe dọa của các hỏa tiễn tầm xa, một lần nữa nêu câu hỏi (như nó đã làm trong năm 1996) là liệu Mỹ có sẵn lòng để hy sinh Los Angeles hầu đổi lấy Taipei hay không. (Có lẽ người dân Los Angeles sẽ được thết đãi bằng các hỏa tiễn đáp xuống ngoài khơi Santa Catalina, bởi Bắc Kinh tìm cách xác tín các năng lực của nó.) Sự tàn nhẫn là một liều thuốc giảm đau hữu hiệu. Cho dù Hoa Kỳ dẫn đầu trong kỹ thuật hỏa tiễn và các số lượng về đầu đạn, Trung Quốc qua mặt Hoa Kỳ trong hai cách thức then chốt: một sự sẵn lòng chịu đựng các sự tổn thất trong chiến tranh và một sự sẵn sàng để hủy điệt đối phương, bất kể là quân sự hay dân sự.

Liên quan đến việc ấn định thời biểu, xác suất của Trung Quốc tiến đánh Đài Loan gia tăng với mức độ bất ổn nội địa và có thể bị châm ngòi bởi bất kỳ điều gì, từ một sự trì trệ kinh tế tổng quát (như Trung Quốc đã kinh nghiệm trong các các năm 1998-99), cho đến các vụ cho nghỉ việc ồ ạt từ các xí nghiệp quốc doanh vô hiệu quả, đến sự đàn áp liên tục các môn đồ của Pháp Luân Công. 6 Song một cái nhìn thoáng qua vào lịch sử xâm lược gần đây của Trung Quốc khiến ta nghĩ rằng các hành động của nó thường vượt quá lãnh vực của các sự tính toán hợp lý như thế. Chiến Tranh Trung – Ấn năm 1961 có thể được giải thích một phần bởi nhu cầu làm cho dân chúng Trung Quốc quên đi các cái bụng cồn cào của họ, bởi vào lúc có cuộc tấn công đó, xứ sở đang trong sự kìm kẹp của một trận đói tàn khốc mà chung cuộc đã làm tổn thất khoảng bốn chục triệu sinh mạng”. 7 Cũng còn có thể đặt giả thuyết rằng cuộc xâm lăng của Trung Quốc vào Việt Nam hồi đầu năm 1979 là một nỗ lực của Đặng Tiểu Bình nhằm củng cố sự nắm giữ quyền hành của chính ông ta trong thời kỳ chuyển tiếp khó khăn đó. Nhưng cuộc biểu dương lực lượng chống lại Đài Loan hồi năm 1996 là gì, vào một thời khoảng có sự thịnh vượng nội địa tương đối và sự yên tĩnh về chính trị?

Việc ấn định thời biểu thì không thể tiên đoán bởi giới tinh hoa Trung Quốc thực hành điều có thể được gọi là chính trị của sự phục thù lịch sử. Các nhà lãnh đạo chính trị cũng như quân sự vẫn còn ý thức về các sự khinh thường đã xảy ra một thế kỷ hay lâu hơn trước đây, với hầu hết bất kỳ duyên cớ nào, họ sẽ tìm kiếm một số đường lối để phục thù chúng. Không có nhân dân Trung Quốc hay bất kỳ định chế nào khác tại Trung Quốc, chẳng hạn như Quốc Hội Đại Biểu Dân Tộc, phục vụ như một bộ phận kềm hãm hành vi đột xuất, xem ra độc đoán như thế. Trong thực tế, dân tộc chủ nghĩa nồng nhiệt của Trung Quốc, được cùng chia sẻ bởi giới tinh hoa cũng như thường dân, là một chất kích thích thường trực trong chiều hướng hiếu chiến của lời nói và hành động.

Khi Tổng Thống Đài Loan Lý Đăng Huy nêu ý kiền trong Tháng Bảy 1999 rằng các cuộc thương thảo giữa Đài Bắc và Bắc Kinh phải được thực hiện trên một căn bản “nhà nước với nhà nươc’, tờ Nhân Dân Nhật Báo trở nên sặc mùi máu. Nó đã không cần biết rằng Tổng Thống họ Lý chỉ lập lại, mạnh mẽ hơn một chút, lập trường theo đuổi từ lâu của Đài Loan rằng các đại diện của hai chính phủ phải thương thảo trực tiếp. Bắc Kinh, đòi hỏi các cuộc đàm phán “đảng với đáng (như trong thời nội chiến) đã gọi ông là một “kẻ phản bội” đang ‘có các bước tiến cực kỳ nguy hiểm”. CHNDTQ tăng cường độ trong lời nói chỉ vài tuần lễ trước các cuộc bàu cử tổng thống hồi Tháng Ba năm 2000 của Đài Loan, công bố một bạch thư thẳng thừng lập lại “sự đe dọa sử dụng vũ lực từ lâu” của phe Cộng Sản: “Nếu các nhà cầm quyền Đài Loan từ chối … sự giải quyết hòa bình của việc tái thống nhất ngang qua eo biển xuyên qua các cuộc thương thảo, khi đó chính phủ Trung Quốc sẽ chỉ còn cách phải chấp nhận mọi biện pháp quyết liệt khả dĩ, kể cả sự sử dụng vũ lực.” 8 Sự dọa nạt bằng lời nói này có tính chất điển hình, và nó tăng cường cho một khuynh hướng tiến tới các hành vi xâm lược. Trung Quốc hiện hữu trong một thế giới nơi mà lời nói là cha đẻ của hành động.

Một sự giải thích về cuộc khủng hoảng hỏa tiễn Đài Loan hồi các năm 1995 – 96 lập luận rằng bàn tay của Chủ Tích Giang [Trạch Dân] bị kiềm chế bởi các tướng lĩnh của ông ta. Họ Giang miễn cưỡng đe dọa Đài Loan một cách trực tiếp nhưng các tướng lĩnh của ông ta đã khăng khăng đòi hỏi, hay do câu chuyện thuật lại như thế. Ý nghĩ rằng các tướng lĩnh hăng hái để thi hành việc báo thù trên phe Quốc Dân Đảng của Đài Loan vì các lý do giờ đây đã cũ hơn nửa thế kỷ, đã có ngón tay của họ trên các nút khai hỏa các hỏa tiễn của Trung Quốc là một ý nghĩ không xác đáng. Cho dù đây là một lời an ủi nhỏ nhoi, nhiều phần đúng là họ Giang đã toàn tâm đồng ý với hành động đề nghị. Và sự vắng bóng sau đó của các sự phản đối thông thường tại Trung Quốc – các hỏa tiễn đà được khai hỏa với sự tán đồng chung – là một sự nhắc nhở điềm tĩnh rằng công chúng ủng hộ các nhà lãnh đạo của họ.

Các Viên Đá Bàn Đạp

Spratlys (Trường Sa) và Paracels (Hoàng Sa) là các chùm đảo hầu như không có giá trị gì hơn tên gọi. Gồm một ít chục mỏm đá vươn lên tại mỗi quần đảo, nhiều mỏm trong chúng chìm dưới mặt nước lúc thủy triều lên cao, chúng thiếu một nguồn nước ngọt và chưa hề có con người cư trú. Tuy nhiên, điều chúng thiếu về mặt đất lại được bù đắp về mặt bằng mênh mông. Quần Đảo Paracel, tọa lạc với khoảng cách bằng nhau từ Trung Quốc, Việt Nam và Phi Luật Tân, trải dài hàng trăm dặm. Quần Đảo Spratly, xa hơn về phía nam đến năm trăm dặm, trải dài ngang qua hàng trăm dặm nữa của biển mở ngỏ giữa Việt Nam, Mã Lai, và Phi Luật Tân.

Trung Quốc đang tiến hành một cách hung hăng để chiếm lĩnh sự kiểm soát hai vòng cung đảo này, phớt lờ các sự tuyên nhận tranh giành của nửa tá nước khác. Trong một bản báo cáo hôm 15 Tháng Mười Hai, 1998 lên các lãnh tụ đảng Cộng Hòa tại Hà Viện [Hoa Kỳ], Dân Biểu Dana Rohrabacher đã tường thuật rằng “khuôn mẫu các căn cứ hải quân Trung Quốc tại quần đảo Spratly cho thấy một chiến lược bao vây các hòn đảo giàu nhiên liệu và một sự hiện diện quân sự có tính chất đe dọa dọc theo hải lộ sinh tử nối liền Eo Biển Malacca chiến lược với Eo Biển Đài Loan”. Khoảng mười một căn cứ Trung Quốc đã được phát hiện cho tới nay [năm 2000, chú của người dịch].

Các sự tuyên nhận của Trung Quốc thường được giải thích về mặt kinh tế. Trong thực tế, sự quen dùng thèm khát sẵn có của Trung Quốc về nhiên liệu đang kéo căng các nguồn tài nguyên trong nước, và thềm lục địa của Biển Nam Trung Hoa được ngờ có chứa đựng các mỏ dầu và khí đốt bao la. Song các nỗ lực của Bắc Kinh để biến đổi Biển Nam Trung Hoa thành một ao nhà của Trung Quốc cũng có các nguyên do chiến lược. Eo Biển Malacca là một điểm yết hầu hàng hải nối liền Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, xuyên qua tuyến đường biển sinh tử này là bảy mười phần trăm dầu thô nuôi dưỡng các nền kinh tế của Nhật Bản, Đài Loan và Nam Hàn. Sự tự do lưu thông xuyên qua Eo Biển Malacca có tính chất trọng yếu cho bất kỳ sự đáp ứng hữu hiệu nào của Hoa Kỳ đối với các sự khủng hoảng tại Á Châu và Trung Đông.

Từ các căn cứ đang được xây dựng trên Rạn San Hô Mischief và các nơi khác tại Quần Đảo Spratly, các lực lượng không quân, hải quân, thủy quân lục chiến của Trung Quốc có thể tấn công không chỉ vào tuyến hải vận, mà còn đến tất cả các nước bao quanh Biển Nam Trung Hoa, kể cả các đồng minh của Hoa Kỳ như Phi Luật Tân, Brunei, và Thái Lan. Yếu tố đe dọa của việc có một QĐGPNDTQ nhưng một láng giềng gần bên có thể sui khiến một số trong các nước này tự mình tách xa khỏi Hoa Kỳ một cách hoảng hốt. Bán đảo Đông Nam Á giờ đây thấy mình bị kẹp giữa một trạm kiểm thính và căn cứ hải quân của Trung Hoa tại Miến Điện [tình hình tại Miến Điện đã thay đổi một cách bất lợi cho Trung Quốc tại Miến Điện kể từ năm 2011, với sự chuyển hướng ngoại giao sang phía thân Hoa Kỳ hơn của chính quyền nước này, chú của người dịch], và một sự hiện diện gia tăng của Trung Quốc tại Biển Nam Trung Hoa.

BÁ QUYỄN CẤP VÙNG:

ĐỊNH HÌNH CÁC SỰ VIỆC SẮP TỚI

Một khi Bắc Kinh đã khẳng quyết sự kiểm soát trên Đài Loan và Biển Nam Trung Hoa, trào lưu của Trung Quốc có thể hạ xuống – hay, triều đại Trung Quốc hiện tại, giống như các đế quốc tiền thân của nó, có thể mưu tính bẩy đòn sức mạnh quân sự và kinh tế rất cụ thể của nó thành bá quyền cấp vùng.

Chính sách “Mở Cửa” đã bảo đảm không chỉ sự tăng trưởng kinh tế mau chóng bên trong phạm vi Trung Quốc, mà còn cả sự kết hợp kinh tế của nó với phần lớn vùng Đông Á và Đông Nam Á trong những cung cách mà tác động chung cuộc vẫn chưa được xác định. Sự liên lập kinh tế này mang lại cho Trung Quốc một quyền lợi chiến lược trong việc duy trì sự ổn định trong vùng, chắc chắn như thế, mà cũng còn làm gia tăng vốn liếng của nó trong việc bảo đảm rằng các chính sách thân hữu với Trung Quốc được xuất hiện từ các thủ đô trong vùng, cũng như trong việc bảo vệ các nhóm dân Trung Hoa thiểu số có các kỹ năng kinh doanh lèo lái các nền kinh tế của phần lớn các nước Đông Nam Á. 9

Trong số các tích sản địa chính trị quan trọng nhất của Trung Quốc phải kể đến sáu mươi triệu Hoa Kiều hải ngoại giàu có, các kẻ chiếm giữ các vài trò kinh tế then chốt tại một tá các nước Á Châu. “Các kiều bào này: bridge compatriots”, hay qiaobao [âm tiêng Hán trong nguyên bản, chú của người dịch], đã thành đạt tuyệt diệu tại các nước chấp nhận họ, nổi bật nhất tại Singapore, Mã Lai, Thái Lan, Phi Luật Tân và Indonesia. Riêng tại Đông Nam Á, tích sản tổng hợp của năm trăm công ty hàng đầu do người Hoa làm chủ có trị giá tổng cộng khoảng $540 tỉ [mỹ kim] trong năm 1994. Tổng số lợi tức của sáu mươi triệu Hoa kiều, từ $500 – $600 tỷ [mỹ kim], tương đương với Tổng Sản Lượng Nội Địa Gộp (GDP) của bản thân CHNDTQ. 10 Các thuộc địa gồm các người Trung Hoa giàu có được nhận thấy tại mọi nước láng giềng của Trung Quốc, từ Miến Điện, và Nepal cho đến Các Cộng Hòa Trung Á, Mông Cổ, và Siberia. Niềm hãnh diện về tính vĩ đại tái xuất hiện của Trung Quốc, các lợi thế sẽ giành được từ sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc, và sự nhập cảnh liên tục các kiều bào của họ từ Trung Quốc trợ lực vào việc duy trì căn cước chủng tộc của họ được tồn tại và hướng về Bắc Kinh.

Trong khi các quốc gia-dân tộc Âu Châu và các hậu duệ rải rác của chúng khắp thế giới không còn quan tâm đến sự mở rộng lãnh thổ, các sự tranh chấp biên giới tiếp tục tạo thành trọng tâm trong chính sách ngoại giao của Trung Quốc. Nơi mà các ranh giới quốc gia hiện hữu không phù hợp với Đế Quốc nhà Thanh vào lúc cực thịnh, chúng có khuynh hướng bị nghi ngờ. Sự tái thiết lập bá quyền cấp vùng của Trung Quốc tại Á Châu rất có thể đưa đến, đặc biệt tại phía bắc và phía đông, một toan tính để vẽ lại các biên giới hiện hữu.

Sự biện minh về ý thức hệ cho sự can thiệp của Bắc Kinh vào các công việc của các quốc gia láng giềng là tính chất ưu việt không cần tra hỏi của lối sống Trung Quốc, mặt bên kia của đồng tiền là trách nhiệm đặc biệt mà Trung Quốc cảm nhận đối với các dân tộc kém được ân huệ hơn tại vùng ngoại vi của nó. Ngay ngày nay, người Trung Quốc vẫn có một cảm giác quá quắt về tính ưu việt riêng của họ — trên người Tây Tạng, thí dụ. Giang Trạch Dân khoe khoang các phúc lợi văn hóa và xã hội mà sự thống trị của Trung Quốc đã mang lại cho Tây Tạng, nghe rất giống như một Rudyard Kipling đang thổi kèn loan báo về các sứ mệnh khai hóa của Đế Quốc Anh. Và vì một lý do tốt. Trong khi khái niệm thời cuối thế kỷ thứ mười chín về một “Gánh Nặng của Người Da Trắng” bị rơi vào sự bất thích dụng, và ngay cả không đồng ý, tại Phương Tây, ý nghĩ rằng có một “Gánh Nặng Của Người Trung Hóa” để chăm nom sự an lạc của các dân tộc lân bang lại được chấp nhận một cách rộng rãi tại Trung Quốc vào lúc khởi đầu thế kỷ thứ hai mươi mốt. Những cảm nghĩ như thế cho dù có vẻ đã lỗi thời trong đầu óc Tây Phương, chúng tiếp tục bốc cháy trong đầu óc người Trung Quốc – và có thể dễ dàng được chiêu dụng bởi chế dộ Bắc Kinh hầu giúp vào việc biện minh cho chính sách bành trướng của Trung Quốc.

Hán Hóa Vùng Siberia

Bản Đồ Hán hóa Vùng Siberia
nguồn: Joe Burgess/The New York Times

Điều được phát hiện rằng các lành tụ Trung Quốc cao cấp trong các cuộc phỏng vấn phơi bày một thái độ phụ huynh đối với tất cả các láng giềng trực tiếp với Trung Quốc với một ngoại lệ — trừ nước Nga. Nhưng Nga là nơi mà các sự biến đổi lãnh thổ lớn lao có thể xảy ra. Sự kiện rằng nước Nga đã cai trị vùng Viễn Đông thuộc Nga từ năm 1898, và các lãnh thổ Á Châu khác trong một thời khoảng còn lâu hơn nữa, sẽ không làm sai lệch Trung Quốc khỏi các ý đồ của nó trên các lãnh thổ này. Sau hết, Đài Loan đã chỉ được cai trị bởi Trung Quốc trong 5 năm (1945-1949) trong 105 năm qua. Nếu một mảnh thời gian ngắn ngủi này là nền tảng đủ để cho chính quyền Bắc Kinh đóng cọc tuyên nhận chủ quyền, khi đó các lãnh thổ khác bị mất đi trong thế kỷ trước hay trong thời khoảng như thế — như vùng Viễn Đông thuộc Nga, các phần của Siberia, Mông Cổ, và các phần của Trung Á – cũng có thể được tuyên nhận.

Các mưu đồ của Nga trên vùng Viễn Đông đà vươn tới tầm mức lớn nhất của chúng ngay theo sau Thế Chiến II, khi binh sĩ Sô Viết chiếm lĩnh Mãn Châu và Nội Mông. Bị đẩy lùi về các biên giới thời trước chiến tranh bởi một họ Mao cương quyết, sự kiểm soát của Nga trên Siberia xem ra không có thể bẻ gãy được cho đến 1990. Sau đó diễn ra sự sụp đổ của Liên Bang Sô Viết, làm cho Siberia còn di chuyển xa hơn nữa khỏi vùng trọng địa Âu Châu thuộc Nga. Giải đất mênh mông này từ Hồ Baikal đến Thái Bình Dương, rộng gần bằng Canada, chỉ được chiếm ngụ bởi tám triệu người Nga lớn tuổi, một dân số đang sụt giảm từ năm này sang năm khác bởi sự từ trần và xuất cảnh. Ở phía nam của phần đất bao la, gần như trống không này, 1,300 triệu người Trung Quốc đang chờ đợi.

Các quan hệ tốt đẹp hơn giữa Moscow và Bắc Kinh trong thập niên [19]80 mang lại một hoạt động mậu dịch đổi chác hàng hóa nẩy nở, với các nguyên liệu của Siberia chảy xuống phía nam để đổi lấy các tiêu thụ phẩm do Trung Quốc chế tạo. Nhưng trong thập niên [19]90, với sự sụp đổ của sự kiểm soát biên giới của Sô Viết, Trung Quốc đã khởi sự xuất cảng một sản phẩm khác sang Siberia: dân chúng. Có tới nửa triệu người Trung Quốc một năm đang di chuyển ngang qua biên giới giờ bị thủng lỗ mỗi năm, dựng lên cửa hàng tại Vùng Viễn Đông thuộc Nga và vùng Siberia chính danh. Họ mang theo gia đình và các trẻ em, và sinh sống trong các Phố Tàu tách biệt của riêng họ. Có vào khoảng năm triêu người Trung Quốc đang sinh sống trên đất Nga. Nếu người Trung Quốc chưa sẵn đông hơn người Nga tại các khu vực cùng cư ngụ này, họ sẽ sớm vượt qua. Bộ Trưởng Quốc Phòng Nga Pavel Grachev đã cảnh cáo hồi năm 1995, “Người Trung Quốc đang trong tiến trình thực hiện một cuộc chinh phục hòa bình vùng Viễn Đông thuộc Nga”. 11 Mặc dù phàn nàn về sự xâm nhập của các di dân bất hợp pháp này, Nga đã không làm gì để ngăn chặn làn sóng, chứ đừng nói gì đến việc trục xuất các người đã sẵn có mặt tại Siberia.

Trong khi các viên chức Nga nhìn làn sóng di dân dâng cao này với sự hoảng sợ, Bắc kinh dường như hài lòng một cách âm thầm. Lượng xuất cảnh làm giảm bớt số thất nghiệp trong nước, tạo thuận tiện cho việc mậu dịch và, quan trọng nhất, củng cố các sự tuyên nhận thu hồi đất cũ trên các lãnh thổ mà Trung Quốc có thời từng cai trị. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã không quên các mưu mô của Muraviev, kẻ, bằng sự lừa gạt và các bản đồ ngụy tạo, đã ăn trộm phần đất phía tây sông Ussuri một thế kỷ trước đây. Họ cũng không quên các hiệp ước trước đây đã chuyển nhượng hàng trăm nghìn dặm vuông đất phía bắc của Mãn Châu và Mông Cổ. Với họ, sự chinh phục của Nga vùng Siberia chính danh, hoàn tất trong năm 1790, giờ xem ra mất hết tinh thần hồi gần đây, không phải là không thể đảo ngược gì hết. Trong thực tế, sự thăng trầm trong lịch sử Trung Quốc gần như sẽ xem ra bảo đảm cho sự phục hồi của nó. Như James Billington, học giả về Nga và là Quản Thủ Thư Viện Quốc Hội [Hoa Kỳ], đã ghi nhận gần đây, các tuyên hận thu hồi đất cũ của Trung Quốc, các nhu cầu năng lượng của nó, và số lượng công nhân-khách Trung Quốc tại miền đồng nước Nga “nhiều phần tạo ra một sự chuyển động của Trung Quốc nhắm vào Siberia trong mười đến mười lăm năm tới”. 12

Mặc dù Nga vẫn còn quá hùng mạnh về mặt quân sự để Trung Quốc thách đố trực tiếp vào thời điểm hiện tại, sự suy yếu của nó sẽ cám dỗ Trung Quốc khuyến khích sự lệ thuộc kinh tế ngày càng gia tăng của vùng Viễn Đông thuộc Nga vào mậu dịch ngang qua biên giới. Với sự cổ vũ của Trung Quốc, khu vực này sẽ vuột ra khỏi tầm nắm của Moscow và rơi vào trong quỹ đạo của chính Bắc Kinh mà không có bất kỳ sự đoạn tuyệt dộc nhiên hay quyết liệt nào, và không phải bắn một viên đạn nào. Các biên giới mở ngỏ và sự cổ vũ âm thầm sự xuất cảnh người Trung Quốc (đã sẵn xảy ra) khi có sẽ thi hành phần còn lại. Trong vòng một thế hệ, người Nga sẽ giảm xuống thành một nhóm thiểu số nhỏ, bất lực để kháng cự tiếng la hét của khối dân đa số Trung Quốc đòi tái thống nhất với đất mẹ. Gần ba triệu dặm vuông của lục địa Đông Bắc Á Châu sẽ thuộc về Trung Quốc.

Mông Cổ Và Các Cộng Hòa Trung Á Châu

Nằm lọt giữa Trung Quốc và Nga, Mông Cổ trong lịch sử là lãnh thổ của Trung Hoa cho tới 1921, khi Sô Viết biến nó thành một quốc gia bù nhìn của riêng nó, Cộng Hòa Nhân Dân Mông Cổ. Đã từng cai trị Mông Cô hàng trăm năm trước đó, Trung Quốc sẽ không khó khăn gì để phục hồi một sự tuyên nhận.

Như tại Siberia, các ràng buộc kinh tế ngang qua biên giới Trung Quốc – Mông Cổ đang lan tràn, trong khi mậu dịch giữa Mông Cổ và Nga yếu đi. Cũng vậy, tương tự là tình hình nhập cảnh, với các cộng đồng phát đạt của các nhà mậu dịch Trung Quốc đang thành công tại Ulan Bator và các khu vực đô thị khác. Nếu nền kinh tế Nga tiếp tục trì trệ, Mông Cổ có thể trở thành một thuộc địa kinh tế của Trung Quốc. Chính phủ Trung Quốc, vốn chỉ miễn cưỡng thừa nhận sự độc lập của Mông Cổ do sự thúc giục của Moscow hồi năm 1950, có thể đề nghị một liên hiệp quan thuế, nếu không phải sự tái thống nhất thực sự, trong những năm sắp tới. 13 Thản hoặc thẩm quyền trung ương tại Nga bị sụp đổ, Bắc Kinh gần như chắc chắn sẽ chuyển động mạnh mẽ để khẳng quyết sự tuyên nhận lịch sử của nó trên Mông Cổ.

Khi các Cộng Hòa Trung Á thoát ra khỏi tầm kiểm soát của Sô Viết hồi đầu thập niên [19]90, phản ứng tức thời của Trung Quốc là cố gắng một cách thận trọng để biến tình trạng này thành thường trực. Trong Tháng Tư 1996, Trung Quốc đã ký kết một hiệp định an ninh và biên giới chung với Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan và Nga. Chủ Tịch Giang Trạch Dân đã thực hiện một cuộc thăm viếng cấp quốc gia tại Kazakhstan ba tháng sau đó, và đoan chắc với người dân Kazakh rằng Trung Quốc sẽ ủng hộ “các nỗ lực được thực hiện bởi Kazakhstan để bảo vệ nền độc lập, chủ quyền, và sự vẹn toàn lãnh thổ của nó”. Vì phần lớn lãnh thổ của Kazakhstan đã bị giựt ra khỏi Trung Hoa bởi các Nga hoàng, sự bảo đảm ủng hộ này cho sự độc lập của Trung Á nhiều phần nhất là một mưu tính để ngăn chặn bất kỳ nỗ lực tiềm năng nào của Nga nhằm đòi lại vùng này, chứ không phải là một sự từ bỏ vĩnh viễn bất kỳ tham vọng lãnh thổ nào về phía Trung Quốc.

Trung Quốc chú ý đến các tài nguyên năng lượng giàu có mà các cộng hòa này chứa đựng. Các nhà mậu dịch Trung Quốc cũng đang di chuyển đến các thành phố trong vùng và đã trở thành nguồn cung cấp chính yếu các tiêu thụ phẩm. Tuy nhiên, nếu sự đổ vỡ của Nga còn tiếp diễn, Trung Quốc có thể trở nên ngày càng khẳng quyết trong vùng, tìm cách mang toàn thể các cộng hòa Trung Á vào trong khu vực ảnh hưởng của nó. Sự điều chỉnh biên giới của nó với Kazakhstan khi đó có thể trở thành một vấn đề.

Sự Quay Về Của Một Nước Triều Cống:

Vấn Đề Triều Tiên

Bán Đảo Triều Tiên, tọa lạc chiến lược giữa Trung Quốc, Nga và Nhật Bản, là chìa khóa cho việc khống chế vùng Đông Á. Bắc Hàn, một quốc gia theo đường lối Stalin cứng rắn với một quân đội một triệu lính, đã khéo léo đưa đẩy Trung Quốc và Liên Bang Sô Viết (LBSV) kình chống nhau trong những năm có sự phân hóa Nga-Hoa. Sự sụp đổ của Sô Viết và sự tan rã kế tiếp của nước Nga đã làm cho Bình Nhưỡng quay hướng nhìn chính yếu đến Bắc Kinh. Nạn đói tại Bắc Hàn hồi cuối thập niên [19]90 sẽ còn tệ hại hơn nếu không có các chuyến xe hỏa chở đầy gạo và dầu ăn cung cấp bởi người dân Trung Quốc. Hỏa tiễn No-dong không thể phóng ra một cách mau chóng hay đi xa hơn nếu không có sự trợ giúp của kỹ thuật hỏa tiễn Trung Quốc. Một khi Trung Quốc thu hồi vùng Viễn Đông thuộc Nga, điều này sẽ vĩnh viễn khóa chặt sự lựa chọn theo Nga của Bình Nhưỡng và xác định Bắc Hàn như một nước triều cống của Trung Quốc.

Nếu chế độ Kim Jong Il [(năm 20140 là Kim Jung Un, kế nhiệm người cha, chú của người dịch] sụp đổ, Bắc Kinh có thể di chuyển các binh sĩ vào miền bắc để thiết lập một chế độ bù nhìn hay, một cách lựa chọn khác, để dùng như các đồng tiền mặc cả trong việc môi giới sự tái thống nhất bán đảo theo các điều kiện của riêng nó. Các điều kiện này nhiều phần sè là một sự triệt thoái hoàn toàn các lực lượng Mỹ ra khỏi Bán Đảo Triều Tiên, việc bãi bỏ hiệp ước an ninh giữa Hoa Kỳ và Đại Hàn Dân Quốc, và một sự tuyên bố chính thức về phía tân quốc gia Hàn Quốc tư thế phi liên kết của nó. Sự triệt thoái các lực lượng Hoa Kỳ bởi tự thân sẽ thực sự hạ giảm Hàn Quốc trước tiên xuống tình trạng trung lập, kế đó thành một sự khuất phục tiệm tiến như một quốc gia triều cống cổ truyền.

Một sự triệt thoái của Hoa Kỳ khỏi Nam Hàn xảy ra bởi các tình huống khác (chính sách cô lập được tái lập, các sự hạn chế về ngân sách, dân tộc chủ nghĩa dâng cao của Hàn Quốc, v.v…) cũng sẽ có thể được tiếp nối bởi một sự thỏa hiệp giữa Trung Quốc và Hàn Quốc. Các cảm tính chống Nhật Bản mãnh liệt của người dân Hàn Quốc (được hỗ ứng đầy đủ bởi người dân Nhật Bản) khiến nhiều phần Nam Hàn và Nhật Bản khó có thể đoàn kết một cách hữu hiệu để chống lại Trung Quốc. Vai trò trong vùng của Nhật Bản sẽ bị suy giảm một cách lớn lạo và vị trí của Hoa Kỳ tại Đông Á sẽ trở nên mong manh. Nếu toàn thể Bán Đảo Triền Tiên nằm dưới sự thống trị của Trung Quốc, quyền bá chủ Á Châu sẽ nằm trong tầm nắm bắt của Trung Quốc.

Đông Nam Á

Đông Nam Á, chuỗi vòng lòng thòng đong đưa phía dưới bụng của Trung Quốc, theo truyền thống đã từng bị thống trị bởi Trung Hoa. Ngày nay, khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc đang bành trướng mau lẹ. Miến Điện, Lào, và Căm Bốt đã sẵn đi theo sự hướng dẫn của Trung Quốc. Ngoại trừ người dân Việt Nam thù nghịch trong lịch sử, các kẻ ngay lúc này vẫn tiếp tục chịu đựng các sự xâm nhập quân sự của Trung Quốc, 14 ảnh hưởng của Trung Quốc tại các thủ đô khác khắp trong vùng đang lên cao. Thúc đẩy tiến trình này là các số lượng đông đảo các Hoa kiều, các quyền lợi kinh tế chung, và một số đặc tính nào đó được chia sẻ bởi mọi nền văn hóa Á Châu.

Miến Điện có lẽ đang là đồng minh thân cận nhất của Trung Quốc trong vùng [tình hình này đã thay đổi trong vài năm gần đây, như đà ghi nhận bên trên, chú của người dịch]. Chế độ quân phiệt độc tài khống chế nước đó đã tìm thấy nơi Trung Quốc một nguồn cung cấp không chỉ trich, về vũ khí, viện trợ, và sự ủng hộ quốc tế. Đổi lại, nó đã cung cấp cho Trung Quốc sự điều hành miễn phí các cơ sở hải cảng trên các hòn đảo ngoài khơi của Miến Điện và một trạm kiểm thính trên Ấn Độ Dương. Hoạt động từ Miến Điện, Trung Quốc có thể duy trì một sự hiện diện hải quân tại Ấn Độ Dương cũng như hành sử đòn bẩy chiến lược trên Eo Biển Malacca, chưa nói đến toàn vùng Đông Nam Á một cách tổng quát hơn. Liên minh Bắc Kinh – Ngưỡng Quang giúp cho Trung Quốc kẹp Ấn Độ nằm giữa hai đồng minh, Miến Điện và Pakistan, và ngặn trở một cách hữu hiệu các tham vọng trong vùng của New Delhi tại Nam Á Châu.

Ảnh hưởng của các kiều bào [Trung Hoa] có thể được nhìn thấy tại Mã Lai, nơi mà người Hoa hợp thành khoảng một phần ba dân số và kiểm soát có lẽ đến hai phần ba kinh tế Mã Lai. Thủ Tướng Datuk Mahathir của Mã Lai là ngươi thân Trung Quốc nhất trong các nhà lãnh đạo Đông Nam Á, ngoài hội đồng quân phiệt Miến Điện, và do đó là người chống Hoa Kỳ mạnh nhất. Lập trường của Mahathir tại diễn đàn Tháng Năm 1996 tại Tokyo về an ninh cấp vùng có thể là lập trường của Trung Quốc: ông đà công khai thách đố sự cần thiết của Hiệp Ước An Ninh Hoa Kỳ – Nhật Bản và yêu cầu cho biết danh tính của địch thủ mà liên minh này nhắm đến. Mặc dù ông tuyên bố rằng Mã Lai không cần các đồng minh, ông ta rõ ràng đang nối kết một cách chặt chẽ số phận của đất nước ông với Trung Quốc.

Singapore cũng thế, đang bị kéo gần hơn đến Trung Quốc. Các cuộc ghé thăm hải cảng của Hải Quân Hoa Kỳ vẫn còn được chào đón, nhưng các Hoa kiều kiểm soát kinh tế và chính trị của quốc gia-thành phố này, và ngày càng xu nịnh hơn những gì Trung Quốc quan tâm đến. Singapore đã đón nhận các số lượng đáng kể các người dân Trung Quốc lục địa giàu có xuất cảnh, những kẻ mà tình trạng cư trú ở hải ngoại cho phép họ được hưởng sự miễn thuế từ năm đến mười năm bởi Bắc Kinh dành cho các nhà đầu tư “nước ngoài”.

Tại Thái Lan, nơi mà các Hoa kiều kiểm soát khoảng bảy mươi lăm phần trăm nền kinh tế, cũng đã có một khuynh hướng nghiêng về Trung Quốc rõ rệt. Khi Thủ Tướng Thái Lan Chavalit Yongchaiyuadh đến thăm viếng Bắc Kinh trong năm 1997, mục đích của ông theo lời tường thuật là để thiết lập một liên minh chiến lược vững chắc với “Đại Trung Quốc”. Giới tinh hoa Thái Lan được nói đã “nhìn nhận Trung Quốc như một siêu cường có một vai trò toàn cầu”, và ước muốn xứ sở của họ phục vụ như “một chiếc cầu giữa Trung Quốc và khối ASEAN”. 15 Sự nhập cảnh của người Trung Quốc vào Thái Lan đang tái nối kết cộng đồng người Hoa phần nào đã đồng hóa (người Hoa phần lớn lấy tên họ Thái Lan) của xứ sở đó với quê hương của nó. Hiện tại, Thái Lan vẫn còn là một đồng minh của Hoa Kỳ, một nước từ đó Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (Voice of America) phát thanh vào Trung Quốc và nơi mà các Thủy Quân Lục chiến Hoa Kỳ tổ chức các cuộc tập trận Cobra Gold hàng năm. Cùng lúc, Thái Lan ngày càng lo ngại không muốn xúc phạm Bắc Kinh.

BÁ CHỦ TOÀN CẦU:

SỰ DÀN TRẢI ĐẾ QUỐC

Trung Quốc như một cường quốc toàn cầu sẽ có hình dáng ra sao? Sau khi đã thống nhất toàn thể lục địa Đông Á, khi đó nó sẽ cố gắng để trung lập hóa các đồng minh còn lại của Mỹ trong một cách sẽ dẫn đến sự trục xuất Mỹ ra khỏi các căn cứ ngoài khơi của nó tại Á Châu. Nó sẽ hoàn tất sự thống trị Đông Nam Á bằng việc dặt Phi Luật Tân và Indonesia dưới sự thống trị của nó. Để nối dài tầm tay với của nó ra xa hơn nữa, nó có thể tìm kiếm một sự liên minh tạm thời hoặc với Nga hay Nhật Bản, và sau đó sẽ tìm cách buộc quốc gia còn lại vào vị thế phi liên kết. Nó sẽ trung lập hóa Ấn Độ, và nối dài tầm với của nó đên vùng Trung Đông và Phi Châu. Giống như Liên Bang Sô Viết, nó có thể còn tìm kiếm các đồng minh ngay cả trong các nước Mỹ Châu.

Tại Phi Luật Tân, các Hoa kiều hiện chỉ chiếm hai phần trăm dân số nhưng họ kiểm soát gần phân nửa nền kinh tế, và số nhập cảnh người Hoa đang gia tăng. Chính phủ Phi Luật Tân ngày càng miễn cưỡng chỉ trích các hành động của Trung Quốc một cách công khai. [Tình trạng này cũng đã thay đổi trong vài năm gần đây, rõ rệt nhất là việc Phi Luật Tân khởi kiện Trung Quốc trước tòa án quốc tế về sự tranh chấp chủ quyền trên các đảo ở Trường Sa trong năm 2014, chú của người dịch]. Sự thiết lập của QĐGPNDTQ một cơ sở quân sự trên Rạn San Hô Mischief Reef ngoài khơi bờ biển Phi Luật Tân chỉ khơi dậy các sự phản đối thầm lặng. Cùng lúc, Phi Luật Tân đã mau chóng xin lỗi láng giềng vĩ đại của nó khi một vụ đụng độ hồi Tháng Bảy 1999 giữa một tàu tuần tra của Phi Luật Tân đã làm chìm một tàu đánh cá của Trung Quốc. Với một hải quân biển xanh của Trung Quốc khống chế Biển Nam Trung Hoa và các căn cứ không lực Trung Quốc ngoài khơi cách xa khoảng 200 dặm, Phi Luật Tân có thể cảm thấy buộc phải điều chỉnh với thực tế mới của sức mạnh của Trung Quốc.

Indonesia, vốn chưa bao giờ là một phần của sự cai trị của Trung Quốc, đã sẵn lo âu về việc bị lôi kéo vào quỹ đạo của Trung Quốc. Thiểu số Hoa kiều của nó vào khoảng hai phần trăm dân số, nhưng làm chủ chín mươi phần trăm nền kinh tế và có các sự ràng buộc kinh tế khá chặt chẽ với đất mẹ. Một số người tại vòng cung đảo nhận thấy tình trạng báo động này. Saydiman Suryohadiprojo, người đã từng làm đại sứ Indonesia tại Nhật Bản, đã cảnh cáo rằng “sự can thiệp kinh tế của Trung Quốc trong vùng” sẽ huy động sự ủng hộ từ các hoa kiều địa phương và còn có thể dẫn đến “các chính phủ bù nhìn” do Trung Quốc đỡ đầu”. 16 Sức mạnh hải quân và kinh tế gia tăng của Trung Quốc có thể dẫn dắt Indonesia đến việc chấp nhận sự khống chế của Trung Quốc trong vùng.

Ấn Độ chưa bao giờ phải xây một Vạn Lý Trường Thành, vì các hướng tiến phía bắc của nó được phòng vệ bởi các núi non cao nhất trên thế giới. Trong suốt các thời đại của sự khoa trương triều đại, các đội quân của Trung Hoa đã tiến tới phía bắc hay phía tây đánh dân du mục của Mãn Châu và Mông Cổ, và các thảo nguyên Trung Á, hay xuống phía nam đánh các bộ lạc vùng nhiệt đới, nhưng Ấn Độ hầu như không thể vươn tới được, và do đó, nó mãi mãi vẫn ở bên ngoài đế quốc của Trung Hoa, ngay dù chỉ như một quốc gia triều cống.

Tuy nhiên, giờ đây các quan hệ của Ấn Độ và Trung Quốc không còn được ấn định một cách tốt lành bởi địa dư. Một đội quân của Trung Quốc đã tiến vào Ấn Độ trong năm 1962 trên cùng rặng núi đã từng có thời là một hàng rào gần như không thể băng ngang qua được. Các đường lộ giờ đây đã chạy thẳng đên biên giới tại vài địa điểm. Pakistan và Miến Điện giờ đây đều là các đồng minh của Trung Quốc, kẹp chặt Ấn Độ ở phía đông và phía tây. Và Hải Quân của QĐGPNDTQ, hoạt động từ một căn cứ mới tại Miến Điện, đã mở ra một mặt trận mới trên Ấn Độ Dương. Khi Dân Biểu [Hoa Kỳ] Christopher Cox hội kiến với Guiral năm 1997, Thủ Tướng [Ân Độ] có phàn nàn về “động tác kìm kẹp [mà Trung Quốc đang thực hiện] trên Ấn Độ”. Guiral “đã vạch ra một cách cụ thể sự bố trí các hỏa tiễn hạt nhân tại Tây Tạng, đến các tàu ngầm tại Ấn Độ Dương … đến sự kiện rằng Miên Điện đã biến thành một trại vũ trang của QĐGPNDTQ và Pakistan được trang bị vũ khí bởi CHNDTQ như một sự khó chịu đối với Ấn Độ”. 17

Đúng vậy, không có các chỉ dẫn rằng Trung Quốc thực sự có các ý đồ về lãnh thổ của Ấn Độ, và trong năm 1991, hai nước đã ký kết một hiếp ước hòa bình giải quyết – có lợi cho phía Trung Quốc – các sự tranh chấp trên đó hai nước đã đi đến chiến tranh ba mươi năm trước đây. [Bản đồ Trung Quốc mới cho in trong năm 2013 trên sổ thông hành của họ có bao gồm cả một phần lãnh thổ thuộc Ấn Độ, và Ân Độ cũng đã lên tiếng phản đối việc này, chú của người dịch]. Đúng hơn, chính sách của Trung Quốc dường như được nhắm tới việc ngăn trở tham vọng của Ấn Độ muốn trở thành một cường lực trong vùng. Sự cạnh tranh lâu dài giữa nước theo xã hội chủ nghĩa lớn nhất của thế giới và “chế độ dân chủ lớn nhất của thế giới” đã qua rồi, và Trung Quốc dường như đang nói như thế, và Trung Quốc đã thắng lợi.

Liên Minh Với Nga hay với Nhật Bản?

Sự sụp đổ của cuộc thí nghiệm đáng ngờ của Nga với chế độ dân chủ, có thể tiếp theo sau sự bàu cử một đảng viên cộng sản hay một kẻ theo dân tộc chủ nghĩa triệt để lên nắm quyền, sẽ mở đường cho một liên hiệp được tái lập giữa nước này và Trung Quốc. Họ đã sẵn được kết hợp bởi các sự phàn nàn chung chống lại các chính sách của Hoa Kỳ “đang tìm kiếm quyền bá chủ”, chẳng hạn như sự mở rộng khối NATO. 18 Cả hai nước đều đang mưu tính bắt kịp siêu cường đang ngự trị xuyên qua các chương trình hợp tác quân sự sâu rộng. Tuy nhiên, lần này quanh một trục của Trung Quốc – Nga sẽ được lãnh đạo từ Bắc Kinh. Căn bản kinh tế của nó sẽ là sự mở rộng mậu dịch giữa hai nước, với Trung Quốc cung cấp các tiêu thụ phẩm đổi lấy các sản phẩm công nghiệp và nguyên liệu của Nga. Mục đích chiến lược của nó sẽ là sự trục xuất Hoa Kỳ ra khỏi Á Châu.

Một liên minh Trung Quốc – Nhật Bản , mặc dù còn lâu mới là một khả tính, nhưng cũng là một xác suất. Một sự bất hòa ác cảm với Hoa Kỳ trên các vấn đề mậu dịch, kết hợp với một thị trường Trung Quốc tăng trưởng cho các sản phẩm do Nhật Bản sản xuất, có thể dẫn dắt Nhật Bản đến sự tái lượng định liên minh của nó với Hoa Kỳ. Sự triệt thoái đơn phương của Mỹ ra khỏi các vị trí tiền phương của nó tại vùng Đông Á, có thể với vài ý niệm nhường lại cho Trung Quốc “khu vực ảnh hưởng tự nhiên” của nó cũng có thể dẫn dắt Nhật Bản đến việc quyết định ràng buộc số phận của nó với Trung Quốc.

Hậu quả sẽ là một sự biến đổi quyền lực đa tầng (tectonic). Một trục Trung Quốc – Nhật Bản trong thực tế sẽ kết hợp các nền kinh tế thứ nhì và thứ ba của thế giới lại với nhau, tạo ra một khối đồng thịnh vượng có kích thước gần tương đương với nền kinh tế Hoa Kỳ. Một sự quản lý chung như thế sẽ cũng thụ hưởng một số sự bù trù thích hợp, kết hợp các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân lực của Trung Quốc với kỹ thuật, kỹ nghệ, và các nguồn tài chính của Nhật Bản.

Làm sao mà Trung Quốc lại có thể lái Nhật Bản đến các mục đích riêng của nó? Việc giải quyết các sự tuyên nhận lãnh thổ tranh chấp nhau trên quần đảo Sentaku (Diao-yu Tai) cách xa một khoảng gần bằng nhau từ Nhật Bản, Trung Quốc và Đài Loan, sẽ loại bỏ một nguồn cội bất hòa giữa hai nước. Trung Quốc sẽ mở cửa hơn nữa các thị trường của nó cho các sản phẩm do Nhật Bản sản xuất, tạo lập một nhóm vận động “thân Trung Quôc’ tại Tokyo trong các công ty đa quốc gia của Nhật Bản quan tâm đến các quan hệ được cải thiện. Nhấn mạnh đến các sự tương đồng văn hóa giữa hai xã hội sẽ giúp vào việc che lấp các ký ức về cuộc xâm lược của Nhật Bản trong Thế Chiến II bằng các hình ảnh tích cực hơn của nền văn hóa Khổng học vốn chế ngự lịch sử của cả hai nước.

Một sự liên kết như thế được thừa nhận nhiều phần sẽ không xảy ra, và chỉ có lẽ được kết tụ bởi một sự triệt thoái hoàn toàn của Mỹ ra khỏi Á Châu. Ngay khi đó, cảm giác bị bỏ rơi và bất an của Nhật Bản có thể không dẫn dắt nó rơi vào vòng tay mở rộng của Trung Quốc, mà đúng hơn sẽ tiến hành một chương trình tái vũ trang đồ sộ được thúc đẩy bởi một tinh thần [xây dựng] Thành Lũy Nhật Bản. Đối với Trung Quốc, đây là một chung cuộc cần né tránh với mọi giá.

Trong trường hợp có một trục Trung Quốc – Nga, Bắc Kinh sẽ thúc giục Nhật Bản duy trì các khả năng quân sự của nó ở mức khiêm tốn đồng thời huých tay xô đẩy Tokyo đến sự trung lập, có lẽ với lập luận rằng một Nhật Bản trung lập sẽ có sự tiếp cận nhiều hơn đến các thị trường Trung Quốc. Chủ Tịch Giang Trạch Dân đã đưa ra một điểm để tái bảo đảm các nhà lãnh đạo Nhật Bản đang sang thăm viếng rằng “Trung Quốc sẽ không bao giờ đe dọa các nước khác ngay dù sau khi nó trở nên hùng mạnh hơn”. Bắc Kinhcũng sẽ nêu lên các câu hỏi về sức mạnh lâu bền của Mỹ tại Á Châu, trong một mưu toan làm hạ giá Hiệp Ước Anh Ninh Hoa Kỳ-Nhật Bản trong mắt nhìn của Tokyo./-

___

CHÚ THÍCH

1. Barry Buzan và Gerald Segal, “Asia: Skepticism about Optimism”, The National Interest, 39 (Spring 1995): 83-84.

2. Xem, thí dụ, Barme, In the Red, 340.

3. Về sự tố cáo của CHNDTQ đối với Tổng Thống Lý [Đăng Huy], xem “Facts Speak Louder than Words and Lies Will Collapse on Themselves”, New China News Agence (NCNA), Tháng Bảy 1999. Trả lời trước sự dương oai diễu võ của Bắc Kinh, Đài Loan đang tiến tới việc gia tăng chi tiêu quốc phòng của nó. Bộ Trưởng Quốc Phòng Trung Hoa Dân Quốc Tang Fei gần đây có điều trần trước quốc hội Đài Loan về nhu cầu đối cân với sự đe dọa gia tăng của CHNDTQ bằng việc nâng cấp hệ thống chống hỏa tiễn của quốc gia, chuẩn bị chống lại chiến tranh thông tin, và nâng cấp sức mạnh chiến đấu quy ước. “Tang Seeks Defense Budget Hike to Counter Mainland Threat”, Free China Journal, 5 Tháng Mười Một 1999.

4. Các nguồn tin của Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc gần đây có tuyên bố rằng, trong thời khoảng năm năm từ 1995 đến 1999, quân đoàn hỏa tiễn chiến lược đã đạt được tỷ số thành công 100 phần trăm. Được trưng dẫn trong quyển China Reform Monitor, no. 263 (10 Tháng Mười Hai, 1999), cung ứng tại// <![CDATA[
var prefix = 'ma' + 'il' + 'to';
var path = 'hr' + 'ef' + '=';
var addy53963 = 'santoli' + '@';
addy53963 = addy53963 + 'afpc' + '.' + 'org';
var addy_text53963 = 'santoli' + '@' + 'afpc' + '.' + 'org';
document.write('');
document.write(addy_text53963);
document.write('');
//-->\n
// ]]>
santoli@afpc.org// <![CDATA[
document.write('');
// ]]>This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.// <![CDATA[
document.write('');
// ]]>.

5. Paul Bracken, trong quyển Fire in the East: The Rise of Asian Military Power and the Second Nuclear Age (New York: Harper Collins, 1999), 58. Theo tờ The Washington Times, Trung Quốc đã gần hoàn thành hai căn cứ hỏa tiễn tầm ngắn sát Đài Loan trong năm 1999. Các căn cứ này, tọa lạc tại Yongan và Xianyiu, sẽ có khoảng 100 hỏa tiễn mới có khả năng vươn tới tất cả các căn cứ quân sự quan trọng của Đài Loan với ít hay không có sự tiên báo. Xem Bill Gertz, “Clinton Concerned about Missile Threat”, Washington Times, 9 Tháng Mười Hai, 1999.

6. Theo Trung Tâm Thông Tin Về Nhân Quyền và Phong Trào Dân Chủ tại Trung Quốc, chính phủ Trung Quốc đã bắt giữ ít nhất 35,793 tín đồ của Pháp Luân Công trong giai đoạn từ 20 Tháng Bảy đến 30 Tháng Mười, 1999. “China Claims 35,000+ Arrests, Experts Say Number is Low”, Reuters, 2 Tháng Mười Hai, 1999.

7. Jasper Becker, Hungry Ghosts: Mao’s Secret Famine (New York: The Free Press, 1996), xem Chương 18, “How Many Died”, để có các số ước lượng trong khoảng từ 30 đến 45 triệu người.

8. Hội Đồng Nhà Nước, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, Bạch Thư: The One-China Principle and the Taiwan Issue (Beijing: Taiwan Affairs Office, 21 Tháng Hai 2000). Bạch thư bác bỏ một đòi hỏi của phía Đài Loan rằng sự cải cách chính trị, có nghĩa, chế độ dân chủ và nhân quyền, phải được ghi thêm vào nghị trình của các cuộc đàm phán tái thống nhất. Xem Lee Teng-hui, The Road to Democracy: Taiwan’s Pursuit of Identity (Tokyo: PHP Institute, 1999), để có sự trình bày chi tiết về lập trường của đảo quốc [Đài Loan].

9. Mặc dù Bắc Kinh cố gắng để tháo gỡ vấn đề hai quốc tịch nhiều thập niên trước đây, trong thực tế việc này vẫn xảy ra. Mọi người Trung Hoa, cho dù đã tách rời khỏi lục địa nhiều thế hệ, vẫn được xem là “các người đồng tổ quốc: compatriots”, thụ đắc quyền được cư trú trên phần đất của tổ tiên họ. Với việc tán dương chủng tộc người Trung Hoa là sắc dân giỏi giang nhất và thông minh nhất trên thế giới, chính phủ đang tăng cường một căn cước xuyên dân tộc có thể tạo thành căn bản tương lai cho các sự tuyên nhận thu hồi đất cũ trên lãnh thổ của các quốc gia như Nga, Mông Cổ, và Kazakhstan.

10. Asiaweek, 25 Tháng Chín 1994. International Economy, Tháng Mười Một/Tháng Mười Hai 1996.

11. International Herald Tribune, 25 Tháng Tám 1995, 5.

12. James Billington, diễn thuyết tại U.S. Institute of Peace Conference on Russia, Washington, D. C., 19 Tháng Năm 1999.

13. Xem, thí dụ, Kuo-Kung Shao, Zhou Enlai and the Foundations of Chinese Foreign Policy (New York: St. Martin’s Press, 1996), 160.

14. “Tilting Towards America”, cột “Tin Tình Báo: Intelligence”, Far Eastern Economic Review, 22 Tháng Bảy 1999.

15. The Nation (Bangkok, ấn bản tiếng Anh hàng ngày), 31 Tháng Ba 1997, được trưng dẫn trong sách của Brzezinski, The Grand Chessboard, 168.

16. Saydiman Suryohadiprojo, “How to Deal with China and Taiwan”, Asahi Shimbun (Tokyo), 23 Tháng Chín 1996.

17. Phỏng vấn ông Christopher Cox, 29 Tháng Mười 1999.

18. Khi các chủ tịch của Trung Quốc và Nga gặp gỡ các tổng thống của vài cộng hòa Trung Á tại Kyrgyzstan hồi Tháng Tám 1999, thí dụ, họ hứa hẹn tạo ra một “thế giới đa cực”. một công thức hàm ý chống đối lại sự thống trị bởi Hoa Kỳ.

19. Chủ Tịch Giang Trạch Dân có nói với một phái đoàn Nhật Bản rằng Trung Quốc sẽ không bao giờ dọa nạt các nước khác …” Kyodo News Service, 6 Tháng Năm 1999./-

____

Nguồn: Steven W. Mosher, China’s Plan to Dominate Asia and the World: Hegemon, San Francisco: Encounter Books, 2002, Chương 5: The World Map of Hegemony, các trang 97-116.

Ngô Bắcdịch và phụ chú

 

(Nguồn; VHNA)

 

Ví dặm không chỉ đơn thuần là một làn điệu dân ca

  •   Phan Lan Hoa

 tăng kích thước chữ

Tác giả bài viết hát dân ca Nghệ Tĩnh Tác giả bài viết hát dân ca Nghệ Tĩnh

Những loại hình âm nhạc dân gian, theo thường lệ phải có người viết sẵn lời, còn diễn viên chỉ việc thuộc lời là diễn, có chăng chỉ là sự sáng tạo trong khâu diễn xuất mà thôi. Riêng Ví Dặm thì khác. Diễn viên không những phải hát hay những làn điệu, mà còn phải tự sáng tác lời. Hơn thế nữa, lời hát lại còn phải sáng tác nhanh để có thể đối đáp tại chỗ. Điều đó đòi hỏi diễn viên phải thật sự hiểu biết trên nhiều lĩnh vực, như phải có năng khiếu về văn chương, phải tài ứng khẩu, phải uyên thâm về chữ nghĩa, sử học, triết học, phải tận tường về đạo lý cuộc sống, vv…

 

Sự khác biệt này của Ví Dặm, khiến nhiều người nghi ngờ, cho rằng nguồn gốc môn hát này là do các Đồ Nghệ dựng nên. Nhưng khi đi sâu tìm hiểu, các chứng cứ thu thập về của các nhà nghiên cứu cho thấy sự giỏi giang của các ca nương phường ví căn bản là do năng lực của chính họ. Ví dụ như o Nhẫn ở phường vải Đan Du (Kỳ Anh), xuất thân vốn chỉ là con ở của nhà địa chủ. Văn chương cô có được chỉ là sự học lóm trong khi bưng trà nước phục vụ thầy đồ dạy học cho con chủ nhà, mà rồi trở thành người thông hiểu khá nhiều điển tích trong Tứ thư, Ngũ kinh, Đường Thi, Nam Bắc chính sử…Cho đến một ngày, cơ duyên đẩy đưa cuộc đời o Nhẫn vào vai kép nữ chính của phường vải Đan Du với lời tuyên bố đầy thách thức: 

Trừ trời cao năm tấc cho én nhạn lượn bay

Tản văn hữu võ, ai đến đây ta cũng không trừ!”.

Sự thách thức này đã gây nên làn sóng hiếu kỳ trong giới văn nho thi sĩ, khiến họ phải cơm đùm cơm nắm “đường xa chẳng quản” từ Thanh Chương, Nam Đàn, Nghi Xuân, Can Lộc… vào tận Đan Du để “cân sức cân tài”, để được hát đối đáp cùng nàng. Câu chuyện o Nhẫn, và những o phường ví khác đã đã khẳng định điều ngược lại: Chính phường ví mới là lò luyện tài năng văn chương của các Đồ Nghệ. Nhờ có phường ví mà văn nhân nho sĩ xứ Nghệ có nơi trổ tài, để tạo nên danh hiệu Đồ Nghệ nổi tiếng trong lịch sử thi đàn Việt Nam.

Trong Ví Dặm, nghệ sĩ vừa hát vừa lao động sản xuất.         

“Tấn Tần rắp ranh

Vì chưng kéo vải mới sinh ra phường

Nguyệt dạ canh trường

Dăm ba  o ngồi lại

Trước là nghề bông  vải

Sau đàn hát vui cười

Cuộc thanh lịch vui chơi…”

Chỉ mấy câu thôi, cũng hình dung ra được ví phường vải được hình thành như thế nào. Ấy vậy mà ở Nghệ – Tĩnh đâu chỉ có mỗi phường vải là có hát ví, mà phường cấy, phường nón, phường củi, phường chè, vv… đều có làn điệu ví riêng của mình. Mỗi phường có thủ tục nhập cuộc riêng tùy vào loại hình lao động sản xuất. Nếu như phường muối:

Sớm mai quảy gánh đi ra

Chờ nhau Đồng Gác¹  phường ta đủ đầy

Thì phường chè lại:

Dừng chân ở trại Cổ Cò ²

Gặp bầy gặp bạn hát hò vài câu

Lấy câu tình nghĩa làm đầu

Cho dù nắng dãi mưa dầu cũng cam

            Còn phường củi  thì:

Lên non truông ngái đàng xa

Em chờ anh với để mà đi chung

Đường vô trong rú trong rừng

Mình em đơn lẻ hãi hùng lắm thay

Không chỉ vừa hát vừa lao động, nghệ sĩ hát ví đồng thời còn là người sáng tác lời ca:

Đồn đây có gái hát tài

Để ta đối địch một vài trống canh

Dẫu thua, dẫu được cũng đành

Bõ công đèn sách học hành bấy lâu

Chá chà! đi hát mà để cho “bõ công đèn sách”, nghe rồi cứ ngỡ như đi thi hương vậy! Đó là lời dạo cảnh đánh tiếng của kép nam khi đi ngang qua phường vải, động lòng nghe câu ví xa đưa, những muốn nhập cuộc vui. Nhưng chàng trai chưa chắc đã vào được bên trong để mà coi người đẹp vừa hát vừa quay tơ dệt vải,  vì thủ tục chào hỏi khá gay cấn đúng như là một cuộc thi sát hạch trình độ và tư cách chàng trai. Từ lúc chàng mở lời xin qua ngõ, các cô gái sẽ cử người nói lời chào, lời hỏi thăm tên tuổi, địa chỉ, quê quán và thách đối để kiểm tra tài năng của chàng khách đến đâu.  Cái khó là người đẹp phường ví ý nhị mở lời bằng thơ, lại là thơ của chính nàng sáng tác:

Hỏi chàng khách lạ đàng xa

Đến đây cân sắc hay là kết duyên?

Nên chàng trai cũng phải tỏ ý mình là người lịch lãm có học:

- Sa chân bước xuống cõi tiên

Trước thời cân sắc, sau kết duyên Châu Trần.

Ví Dặm là một cuộc chơi chữ  trí tuệ

Người ta gọi hát ví phường vải là một “cuộc hát”, bởi vì hát ví phường vải có tới ba lớp, chín hồi, từ hát dạo, hát chào, mời, đố, đối, nghịch, xe kết, cho tới hát hẹn, hát tiễn, nội dung kết cấu thứ tự chặt chẽ. Trong đó lớp hai có phần hát đố, hát đối là lớp đấu trí gay cấn của các kép hát.  Thời gian kéo dài  bao lâu, một buổi, một tuần, hay một tháng, không hạn định trước được, mà phải phụ thuộc vào kết quả đấu trí của hai bên nam thanh nữ tú, chỉ khi nào ngã ngũ, “đối ra đáp được nên lời” thì cuộc hát của phường vải mới kết thúc được.

Cái cổng “đơn sơ nhà nàng” gần như  không khép bao giờ, vậy mà nhiều lúc khó hơn qua quan ải, nhận phải câu đối khó, các kép nam thậm chí không thể đáp lời phường vải ngay được, phải về nhà vắt óc những mấy ngày, đôi khi đến cả tháng trời để sáng tác lời,  mới hòng hát sao cho vừa lòng đẹp ý phường vải. Sự thông minh của các cô đào phường vải tạo cho khách văn chương một cảm giác tò mò, vừa khó khăn, lại vừa cuốn hút say mê, như một sự khích lệ bùng phát tài năng. Nếu nói phường vải là lò luyện văn chương, hay trại sáng tác thơ ca của các Đồ Nghệ cũng không ngoa tí nào. Đó vừa là đặc thù, vừa rất đặc biệt của Ví Dặm, mà không một loại hình nghệ thuật dân gian nào khác có được.

Khởi đầu để cho khách lạ dễ dàng nhập cuộc, các cô gái chỉ đưa ra những câu hát với ý nghĩa đơn thuần là chào, hỏi thăm thân thế:

Mừng chàng quần áo mọi màu

Quần hồ lơ trứng sáo, áo trắng phau cánh cò.

Nhưng các chàng trai chớ vội chủ quan. Ẩn trong câu chào mừng tưởng chừng như bình thường ấy là trò chơi chữ, chơi tiếng: “hồ ” và “trứng sáo” là một màu, “trắng phau” và “cánh cò” cũng là một màu.  Và để xem chàng trai đối lại thế nào:

- Mừng nàng má phấn môi son

Áo màu huyền cánh quạ, tóc xanh non đuôi gà.

Đối được thế là cũng giỏi rồi, cũng coi như có thể nhập cuộc hát ví rồi. Nhưng để đánh giá người khách đến chơi là bậc tài trí cỡ nào trong thiên hạ, các diễn viên phường ví sẽ nâng dần độ khó của vế đố:

Ra về thiếp dặn thiệt nha

Mai răng cũng lại đàng nhà thiếp chơi.

Đến đây thì các cô không chỉ chơi chữ, mà còn là chữ Hán Nôm cơ đấy, “thiệt” là lưỡi, “nha” là răng, như vậy cả hai câu của các cô đều nói đến răng với lưỡi. Ái chà, nữ nhi mà văn chương cỡ đấy thì trai nam nhi tính sao đây:

Chưa khi hương vị ngát nồng

Bóng dần trước dậu, sao đông láy đoài.

Với tài chữ nghĩa như thế, diễn viên phường ví có thể gộp cả “cầm kỳ thi tửu”, “tuyết nguyệt phong hoa”, “xuân hạ thu đông” chỉ trong hai câu lục bát, khiến người chơi tìm được lời mà đối cho đặng cũng toát mồ hôi hột chứ chả chơi:

Thơ đông tuyết, cờ thu phong

Đờn vui hạ nguyệt, rượu nồng xuân hoa.

Ví Dặm đòi hỏi người chơi phải tinh tường sử sách, phải có kinh nghiệm cuộc sống, đạo đức tư cách:

- Thuyền quyên muốn hỏi anh hùng

Ông chi thuở trước vun trồng cây Lê?

Hay: 

Đố chàng quán cổ thông kim

Tình hình thế giới nổi chìm dường bao?

***

Nghe anh kinh sử đã làu

Chị dâu rớt xuống giếng anh nắm đằng nào kéo lên?…

Là yêu thương sâu đằm, là “nỗi buồn tận đáy”!

Trong cuộc trò chuyện giữa nhà báo Phan Thắng và nhạc sĩ An Thuyên.  Nhạc sĩ An Thuyên cho rằng “làn điệu của dân ca Ví Dặm được xây dựng trên cái trục 3 nốt nhạc Mi – La – Đô”, đặc trưng của Ví Dặm là “buồn tận đáy”. Ông cho rằng các làn điệu khác cũng có buồn, nhưng không “tận đáy” được bằng Ví Dặm. Ông nói: “Tôi đã đi nhiều nơi, dù ở phương trời nào, không một người Việt Nam nào khi nghe những bài hát hay có chất liệu Nghệ Tĩnh mà họ không rung động khác thường. Họ yêu thích đến cuồng nhiệt, đến kỳ lạ, cứ như là bài hát ấy của riêng mình dù rằng họ không phải người sinh ra từ xứ Nghệ. Tại sao vậy? Tôi cho rằng vì nỗi buồn Nghệ Tĩnh đã chạm vào được nỗi buồn chung của nhiều người Việt Nam”

Bởi vì lời đối đáp trong Ví Dặm là sự chắt lọc của trí tuệ, được trải qua cao trào đấu trí tinh tuệ, rồi đằm sâu trong sự cảm phục tài trí của nhau, cho nên cái kết của một cuộc hát ví thường có nhân hậu để đời. Khi cuộc hát tàn canh thì đồng thời cũng ươm mầm nên những mối tình keo sơn bền chặt. Ví dụ  như o Cúc ở phường vải Trường Lưu nặng tình với Nguyễn Du, o Diên phường vải Ngọc Đình nhan sắc thuở nào, đã trọn đời thủy chung với chí sĩ Phan Bội Châu. “Trai khôn tìm vợ chợ đông, gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân” há chẳng phải là đây sao? Liệu có sự ứng xử thanh lịch nào tuyệt vời hơn khi nam thanh nữ tú dùng âm nhạc để ngỏ lời tình yêu? Lời của Ví Dặm không phải do một vài tác giả ngồi gom góp kinh nghiệm của mình để soạn ra phục vụ người đời,  mà lời và nhạc của Ví Dặm  được soạn ra từ trái tim người hát, là lời “tận đáy” của tình yêu. Tình trong Ví Dặm là tình mặn nồng keo sơn của kép hát chính, cho nên có nghe là có sâu đằm da diết dấy lên trong lòng.

Ai về về với ai ơi

Ai ngược ngược với, ai xuôi xuôi cùng.

Anh về mai đã lên chưa

Để em bưng bát cơm trưa em chờ?

- Cơm trưa em cứ ăn đi

Còn lưng cơm túi (tối), em thì đợi anh.

 

Ví Giặm quyến rũ mê say

Không động lòng say mê sao được khi mỗi lời hát cất lên, thâm ý chỉ bộc lộ nửa chừng,  nửa thâm tình còn lại bị người hát ý tứ dấu vào đâu đó, lẩn khuất trong không gian, trong cỏ hoa, sông núi, trăng sao, đất trời… Đúng là cái kiểu “người khôn ăn nói nửa vời” như thế chỉ có gái ngoan và bậc chính nhân quân tử mới thốt lên được, xô đẩy cuộc hát vào một kết cục người về, người ở đều lưng chừng cảm xúc cái kiểu  “nửa trong như đã, mặt ngoài còn e”. Nên mới than thở mà rằng:

Nửa về nửa muốn ở đây

Nửa thiên địa vận, biết xuây đường nào?

Phường vải thì cũng dường như nửa muốn đoan chính, tiễn đưa khách ra về kẻo trời đã khuya, nửa lại muốn níu giữ bạn hát ở lại dốc hết tâm tình cho trọn canh thâu. Với những lời hát non biển như thế này, nếu bạn là người trong cuộc liệu có vô tư ra về nổi hay không:

Anh về em chỉ ngong theo,

Ngong truông truông rậm, ngong đèo đèo cao

***

Chàng về ngoảnh mặt lại đây,

Em ngong một  chút đỡ khuây cơn buồn.

Rốt cuộc thì bậc chính khách quả là đã không thể dấu nổi lòng mình:

- Lời sao cặn kẽ chí tình

Nàng ơi ở lại cho anh lên tàu

Mình đang trò chuyện cùng nhau

Trách con gà kia vội gáy, giục mau ba tuần.

 

Làn điệu da diết, lời hát sâu sắc, đấu trí tài tình, yêu thương chân tình, kết cục có hậu, đó là lý do vì sao Ví Dặm có sức cuốn hút cả những bậc tri thức tài cao học rộng như Nguyễn Du, Nguyễn Huy Quýnh, Phan  Bội Châu… cùng tích cực tham gia làm kép hát.  Để rồi khi người trai trẻ vì xã tắc giang sơn mà ra đi không về, phường vải ở lại vẫn tha thiết đợi chờ, thủy chung trọn đời. Nước chảy cho đá trôi nghiêng / Chàng lo chung thiên hạ, thiếp sầu riêng một mình³. Và vì như thế, vì mỗi khi mà tình yêu của kép hát phường ví trở thành chuyện tình lịch sử, Ví Dặm theo đó mà thành danh tiếng, là cuộc chơi nghệ thuật tiếng tăm bất hủ muôn đời…  

===========

(¹) Đồng Gác  : Thuộc xã Diễn Kỷ ngày nay

(²) Cổ Cò : Nằm trên đoạn đường số 7 từ Diễn Châu lên Đô Lương

(³) Đó là lời than thở của o Diên phường vải Ngọc Đình trong những ngày ngóng trông Phan bội Châu.

( Nguồn: VHNA)

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 15.09.2014

Việt Nam trong mắt Lý Quang Diệu

Việt Nam trong mắt Lý Quang Diệu

 
Lý Quang Diệu: Lẽ ra vị trí số một ở châu Á phải là của Việt Nam
 
Cao Huy Huân/ VOA
Trong thế kỷ 21, có những điều mà trong thế kỷ trước không ai nghĩ rằng sẽ có nhiều thay đổi đến vậy. Giờ phút này, một công dân trẻ như tôi ngồi đây, viết những dòng chữ này thì đất nước Việt Nam, nơi tôi đang sống, làm tôi thất vọng về trình độ phát triển. Sáng nay tôi được đọc một bản nói rằng năng suất lao động của người Việt chỉ bằng 1/5 của người Malaysia, 2/5 của người Thái Lan và tệ hơn, chỉ bằng 1/15 của người Singapore.

Singapore, một đất nước nhỏ bé về diện tích, đang ám ảnh những công dân Việt Nam ở thế kỷ 21 này. Những khu dân cư, những trung tâm thương mại, những thành phố mới được xây dựng… tất cả đều được “ăn theo” mô hình và kỹ thuật của Singapore. Nhưng tại sao lại là Singapore? Chẳng phải những mô hình, những kỹ thuật đó Singapore cũng đã học tập từ những quốc gia phương Tây tiên tiến hay sao? Tại sao từ một làng chài kém phát triển trên bán đảo Malay, Singapore đã phát triển thành một quốc gia đứng thứ 2 ở châu Á về mức sống? Câu trả lời có thể dẫn đến nhiều nguyên nhân, nhưng căn nguyên nhất vẫn là yếu tố con người.

Lý Quang Diệu, nhân vật đã thay đổi và biến làng chài nhỏ bị dịch bệnh triền miên trở thành đất nước có nền kinh tế phát triển hàng đầu của châu Á. Singapore là nơi mà những kiến trúc hiện đại cùng chung sống với thiên nhiên chan hòa, nơi cả thế giới ngưỡng mộ về chuẩn mực môi trường xanh sạch, nơi có làn sóng di dân ngược từ châu Âu sang châu Á. Nhưng trong những ngày đầu lập nước vào thập niên 60 thế kỉ trước, Lý Quang Diệu, thủ tướng đầu tiên của Singapore, đã từng nói “hy vọng là một lúc nào đó Singapore sẽ phát triển giống như Sài Gòn”. Thật  đáng kinh ngạc khi có một thời chính nhà lãnh đạo của Singapore đã mơ tưởng và bị ám ảnh về sự phát triển của Sài Gòn.

Còn bây giờ thì sao? Sau hơn 30 năm, chính người Việt Nam đang thèm thuồng được như Singapore  ngày nay. Sau khi Mỹ rút khỏi miền nam Việt Nam, chính Lý Quang Diệu, người từng có tuổi thơ sinh sống tại Biên Hòa, đã nắm ngay lấy cơ hội đó để biến thời cuộc thành lợi ích cho Singapore. Sau năm 1975, tất nhiên Mỹ và phương Tây đóng cửa với Việt Nam, mọi giao thương với châu Á đều dành cho đồng minh của họ. Singapore được Lý Quang Diệu phát triển thành cảng trung chuyển đường biển lớn nhất tại khu vực. Và đúng theo quy luật về thương mại – kinh tế, Singapore được thừa hưởng những đặc quyền của một cảng biển lớn, một cửa ngõ hướng vào Đông Nam Á và cả châu Á.

Lý Quang Diệu cho rằng, cuộc chiến tranh giữa Việt Nam và Mỹ là tiền đề quan trọng cho sự phát triển của những nước phi Cộng sản ở châu Á. Rõ ràng là trước khi tuyên bố như thế, Lý Quang Diệu đã nhanh chóng nắm lấy cái “tiền đề quan trọng” đó để biến Singapore từ một quốc gia non trẻ kém phát triển thành một đất nước giàu có. Lý Quang Diệu nhận định rằng, sau khi Mỹ rút khỏi miền nam Việt Nam, lập tức những đồng minh của Mỹ ở châu Á tranh thủ thời cơ để trở thành 4 con rồng châu Á, và sau này có thêm sự xuất hiện của 4 con hổ Đông Nam Á. Bốn con rồng được nói đến là Singapore, Nam Triều Tiên, Hong Kong và Đài Loan. Bốn con hổ là Malaysia, Thái Lan, Philippines và Indonesia. Vậy Việt Nam đã biến đi đâu trong bản đồ khu vực? Và lý do gì Việt Nam lại tụt hậu một cách nhanh chóng như vậy?

Lý Quang Diệu từng nói rằng lẽ ra vị trí số một ở châu Á phải là của Việt Nam. Theo ông, vị trí địa lý chiến lược, tài nguyên thiên nhiên phong phú là hai yếu tố hàng đầu có thể đưa Việt Nam trở thành người khổng lồ ở châu Á. Ông cho rằng, đất nước Singapore nhỏ bé với diện tích và dân số chỉ xấp xỉ Sài Gòn, hoàn toàn không có tài nguyên thiên nhiên, chỉ có một ít đất để xây dựng và ngay cả nước sinh hoạt cũng phải nhập từ nước bạn Malaysia, nhưng Singapore đã phát triển trở thành đất nước có GDP cao thứ hai ở châu Á chỉ sau Nhật Bản. Lại nói đến Nhật Bản, Lý Quang Diệu cũng chỉ ra những bất lợi của quốc gia này, đó là một quốc gia bại trận sau Chiến tranh thế giới thứ hai, không giàu tài nguyên, quanh năm động đất và sóng thần,  nhưng chỉ vài  năm sau khi chiến tranh kết thúc, Nhật Bản là người khổng lồ châu Á. Lý Quang Diệu cho rằng, sự thành công của một quốc gia bao gồm ba yếu tố: điều kiện tự nhiên (vị trí chiến lược và tài nguyên thiên nhiên), con người và thời cơ. Trong đó, để có yếu tố thời cơ, thì yếu tố con người phải vững và nhanh nhạy. Lý Quang Diệu đánh giá rất cao điều kiện tự nhiên của Việt Nam, nhưng ông không đánh giá cao yếu tố con người trong sự phát triển chậm chạp này. Tôi hay đọc các bài viết trong nước ca ngợi sự thông minh, tính cần cù, chịu khó của người Việt. Xin lỗi, tôi không thấy được sự thông minh và cần cù đó. Xin nhắc lại, năng suất làm việc của người Việt Nam chỉ bằng 1/15 của người Singapore, tức là một người Singapore làm việc bằng 15 người Việt Nam. Dân số Singapore là 5 triệu dân, dân số Việt Nam là hơn 90 triệu dân. Vậy tức là năng suất làm việc của 5 triệu dân Singapore chỉ mới bằng 75 triệu dân Việt Nam, thế nhưng GDP của Singapore là gần 300 tỷ USD, trong khi GDP của Việt Nam là khoảng 170 tỷ USD. Đó chỉ là một so sánh chung chung, chưa tính đến dân số ở độ tuổi lao động của hai quốc gia. Một khi yếu tố con người đã yếu kém như thế thì yếu tố cơ hội cũng sẽ chẳng có nhiều.

Lý Quang Diệu tiếc vì Việt Nam không biết trọng dụng người tài, ông nói rằng người tài ở Việt Nam đã định cư ở nước ngoài hết rồi. Tôi đồng tình với quan điểm này của Lý Quang Diệu. Tôi thường nghe nói về cậu bé thần đồng Đỗ Nhật Nam và cũng thường xem các video thi hùng biện tiếng Anh của em. Báo chí và truyền thông Việt Nam cũng hay đề cập đến em, nhưng tuyệt nhiên không thấy có một động thái nào của chính phủ Việt Nam dành cho Đỗ Nhật Nam. Phải chăng đối với chính phủ Việt Nam, cậu bé ấy không phải là nhân tài cần đầu tư và phát triển? Chưa kể là trong một lần phát biểu về truyện tranh, cậu bé ấy đã bị những người lớn Việt Nam công kích, chỉ vì em không thích đọc truyện tranh mà chỉ thích đọc sách khoa học. Thật trớ trêu. Đỗ Nhật Nam chỉ là một trường hợp thần đồng được báo chí ưu ái, nhưng cũng bị chính phủ thờ ơ. Vậy còn những thần đồng thầm lặng khác ở cái đất nước hơn 90 triệu dân này thì sẽ nhận được hỗ trợ gì từ chính phủ? Trong mọi sự phát triển, yếu tố con người luôn tối quan trọng. Thật đáng tiếc.

Nói thế nào đi chăng nữa, Lý Quang Diệu cũng chỉ là người ngoài, không phải người Việt Nam. Thế nhưng những nhận định khách quan của ông cũng đáng để suy ngẫm về sự phát triển của một quốc gia nhiều thuận lợi như Việt Nam. Tôi thường thấy Việt Nam rất tự hào về lực lượng lao động trẻ với giá nhân công rẻ của minh. Tôi cảm thấy đó là một điều đáng xấu hổ. Giá nhân công rẻ chẳng qua là do trình độ, tay nghề kém nên chẳng thể đòi hòi được trả công cao. Gần đây, quốc gia láng giềng với GDP thấp hơn Việt Nam là Campuchia cũng đã tự chế tạo được xe hơi. Ngược lại, khi hãng điện tử Samsung đưa ra danh sách những mặt hàng có thể đặt gia công với các doanh nghiệp Việt Nam thì mới vỡ lẽ là Việt Nam chưa thể sản xuất nổi cái sạc pin, usb và ngay cả vỏ nhựa cho điện thoại di động. Tất nhiên, Việt Nam đã đánh mất cơ hội gia công cho hãng này. Việt Nam còn sẽ đánh mất nhiều cơ hội như thế cả về quy mô và số lượng nếu cứ tiếp tục tự hào với những cái thuộc về quá khứ và không nhận thức được một cách thấu đáo và nghiêm túc rằng mình đang ở đâu trên bản đồ khu vực và thế giới. Lý Quang Diệu nói phải mất 20 năm nữa Việt Nam mới bằng Malaysia, vậy thì 20 năm nữa Malaysia sẽ phát triển ra sao và mãi mãi người Việt Nam sẽ bị ám ảnh bởi sự thua kém của mình hay sao?

( Nguồn: quechoa)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 14.09.2014

THƠ TẶNG TUỔI

MỜI BẠN ĐỌC CÙM THƠ THƠ TẶNG TUỔI CỦA NGÔ MINH ĐỂ CÙNG CHIA SẺ SỨC NẶNG CỦA THỜI GIAN LÊN CUỘC ĐỜI

Ngô Minh

THƠ TẶNG TUỔI

tuổi ơi

tuổi đi đâu ở đâu

khuya lại lén về trắng bầm chân tóc

soi tìm không thấy

chỉ gặp gương mặt khốn khó một thời

chằng chịt dấu chân chim chân tuổi

 

ai nhuộm tóc thoa phấn cao râu

như phù thủy làm phép thiêng đuổi tuổi

ba ngày sau tuổi lại trở về

uể oải đi trong ánh chiều vàng vọt

gà chưa gáy tuổi đã thức ta dậy

ta gánh tuổi mỗi ngày như gánh núi

 

tuổi ơi

xuân về bắt ta thêm tuổi mới

sao chiều qua em đến

tuổi bỗng biến đi đâu

trước em ta thành trẻ nít

luống cuống đứng ngồi ríu rít nói năng

em trẻ xinh hóa quan tòa nghiêm nghị

hay em đã ăn mất tuổi của ta ?

 

em gọi bằng bác tuổi về sầm sập

em gọi bằng chú tuổi chạy dọc sống lưng

em gọi bằng anh ta không con tuổi!

(Đọc tiếp…)

CUỘC HÀNH HÌNH CỤ NGHÈ CƠ VÀ BÀI THƠ “ĐỒNG CHÍ CỦA TÔI”

 

 Nhà báo Lê Quang vinh
          Tôi đọc bài thơ “Đồng  chí của tôi” của Cố Thi sĩ Văn Cao và lời giới thiệu về con đường đến với công chúng của bài thơ đó của Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo; từ trong tâm khảm tôi, một niềm xúc động dâng trào và lòng thương cảm sâu xa đối với biết bao con người đã bị CCRĐ đày đọa đến những cái chết thê thảm. Tôi cứ đọc đi đọc lại bài thơ, trong đầu cũng cứ nổi lên bao lần câu hỏi: Chẳng lẽ Thi sĩ Văn Cao chứng kiến hoặc nghe ai đó kể tường tận cho ông biết về cuộc hành hình của Đội CCRĐ xã Quảng Hòa, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đối với Thân sĩ yêu nước, đảng viên Đảng Lao động VN, Lão thành CM tiền khởi nghĩa Cụ Nghè Cơ – Nguyễn Bá Ky? Nếu không thế, để giờ đây con cháu hậu duệ Cụ Nghè Cơ và cả chúng ta, làm sao có được bức tranh vô cùng bi thương bằng thơ chi tiết, điển hình và chính xác đến từng hơi thở của nạn nhân mà Văn Cao xây dựng nên (vẻ lại) tài tình đến thế? Đích thị nhân vật trong bài thơ “Đồng  chí của tôi” chính là Cụ Nghè Cơ làng Vĩnh Lộc (xã Quảng Hòa) – Quê hương tôi rồi!
             “Cụ Nghè Cơ – Tên thật Nguyễn Bá Ky (1896 – 1956), Bí danh hoạt động CM là “Vĩnh Khang” – Nhạc phụ của nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Phó thủ tướng, Trung tướng Đồng Sĩ  Nguyên – bị “Cải cách ruộng đất” quy “địa chủ”, “phản động”, “cường hào gian ác” và xử bắn ngay nơi chỗ mệ Nội tôi nằm là bãi Hói Nại. Cách đây 2 năm, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình đã có Quyết định công nhận “Cán bộ Lão thành cách mạng tiền khởi nghĩa” cho ông Nghè (Liệt sĩ, Đảng viên Đảng Lao động – nay là ĐCS). Trường hợp minh oan này là vô cùng hy hữu và đặc biệt; cả nước vẫn còn đấy biết bao gia đình bị quy kết oan sai, song sự công bằng chưa thể đến với họ”. (Đám tang mệ Nội tôi – Nghịch lý thời Cải cách ruộng đất” – LQV).

(Đọc tiếp…)

Đóng triển lãm ‘Cải cách Ruộng đất’?

Nguyễn Trọng Tạo:Tôi nghĩ, anh nào bày ra cái trò “Triển lãm Cải cách ruộng đất” thật là dại dột. Giống như cái vết thương lâu ngày đã làm sẹo thì bỗng dưng lại đưa dao rạch vào cái vết sẹo khổng lồ đó cho đất nước thêm một lần đau đớn.

Tôi cứ nghĩ mãi, tại sao lại có cái tối kiến đó? Phải chăng có anh nào đó đã chơi đểu để lấy tiền dự án từ Đảng, từ hệ thống tuyên truyền của nhà nước? Các bạn thử nghĩ xem. Các vị lãnh đạo thử nghĩ xem. Cái triển lãm đó nó có lợi hay có hại, khi mà CCRĐ có quá nhiều sai lầm, đến nỗi cụ Hồ phải khóc, cụ Trường Chinh phải thôi chức TBT ngay khi CCRĐ còn tiếp diễn. Cuộc sửa sai tuy có, nhưng danh dự, tài sản của những “địa chủ kháng chiến”, “địa chủ qui sai” không thể nào được cứu vớt, khiến lý lịch của họ bị bôi đen đến cả mấy đời sau?
Lợi bất cập hại, phải không các vị.
Tin từ Hà Nội cho hay cuộc triển lãm Cải cách Ruộng đất 1946 -1957 “bị đóng cửa vì lý do ánh sáng” trong chiều thứ Năm.
Cuộc triển lãm đã gây ra nhiều tranh cãi ngay từ hôm khai mạc.
Báo chí tiếng Việt trong và ngoài nước đã nói nhiều về cách trình bày hiện vật ở bảo tàng này.
Có những ý kiến từ giới sử gia trong nước cho rằng cuộc triển lãm chưa đầy đủ.
Một nguồn tin trong giới nghiên cứu cho BBC hay chiều tối 11/9 giờ Hà Nội rằng có tin nói Bảo tàng “đang tạm không tiếp đón người xem chiều nay để điều chỉnh lại”.
Cũng chưa rõ liệu cuộc triển lãm sẽ được điều chỉnh về kỹ thuật, ánh sáng hay nội dung thế nào và có mở trở lại không.
BBC chưa liên lạc được với ban giám đốc bảo tàng qua điện thoại chiều tối hôm thứ Năm để tìm hiểu thêm sự việc.
Khai mạc hôm 8/9, Bảo tàng đã trưng bày chuyên đề “Cải cách ruộng đất 1946 – 1957”.
Gần 150 hiện vật, tư liệu gốc, ảnh tư liệu về Cải cách ruộng đất đã được lựa chọn, cho người xem thêm nhiều thông tin về Cải cách ruộng đất, theo đánh giá của giới quan sát.
Nhưng cuộc triển lãm cũng bị phê phán đã không nhắc đến cụ thể “những sai lầm tả khuynh” nghiêm trọng để lại những tổn thất lớn cả về con người và tổ chức, gây đảo lộn đời sống xã hội ở nông thôn miền Bắc Việt Nam”.
Trận lũ đau buồn
Ngoài ra, cuộc triển lãm tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ở Hà Nội cũng trở thành nơi để khách đến xem, gồm các thế hệ già và trẻ “nhắc lại chuyện đau buồn” thời Cải cách Ruộng đất khi các vụ tố oan, bắn giết nông dân bị quy là “thành phần trên” đã xảy ra.
Chẳng hạn, trang VnExpress mô tả chuyện một người xem có tuổi nghĩ gì về hiện vật:
 “Chỉ lên bức ảnh nông dân được chia lại ruộng đất, đằng sau là khẩu hiệu “Địa chủ hết đời, nông dân vạn đại”, người đàn ông 74 tuổi quê Diễn Châu (Nghệ An) chia sẻ, giá như nó được sửa lại là “Địa chủ hết thời, nông dân vạn đại” với ý nghĩa khẳng định sự chấm dứt một thời kỳ áp bức của địa chủ nông thôn với nông dân thì sẽ hay hơn,”
“Không muốn nhắc lại khoảng thời gian buồn đau của gia đình khi ông, cha đều bị đem ra đấu tố, ông ví “thời kỳ 1953-1956 như trận lũ quét qua nông thôn Việt Nam”.
Theo blog Xuân Diện, sáng nay 11.9.2014, bà con dân oan Dương Nội mặc áo thun với các dòng chữ đòi nhân quyền đã đến Bảo tàng Lịch sử quốc gia, phố 25 phố Tôn Đản, Hà Nội để xem triển lãm Cải cách ruộng đất.
“Đoàn người đi bộ đến bảo tàng, đứng trước cổng để xem các thông tin về cuộc triển lãm trưng bày về Cải cách ruộng đất. Lúc đó đã 11h trưa, bảo vệ nói đã hết giờ xem, hẹn bà con đến vào lúc 2h chiều. Bà con Dương Nội tản ra vườn hoa Cổ Tân gần đó để ăn và nghỉ trưa đợi đến giờ vào xem.”
“Đến hai giờ chiều, bà con vào thăm triển lãm thì lực lượng bảo vệ triển lãm bắt dân cởi áo mới cho vào bảo tàng. Khi bà con cởi áo xong để vào thì họ nói với bà con: Triển lãm Cải cách gặp sự cố về ánh sáng nên tạm đóng cửa”, theo trang blog Xuân Diện.
alt
(Nguồn: quechoa)

 

Cụ Nguyễn Khắc Niêm

ĐI TÌM MỘ THẦY TỪ THỰC TẾ ĐẾN TIỂU THUYẾT

 Nhà văn Nguyễn Khắc Phê

 

 QTXM- Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niêm sinh năm 1889 tại làng Gôi Vị, nay là xã Sơn Hòa, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Cụ là cha của những người con nổi tiếng :Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Khắc Dương, Nguyễn Khắc Phi, Nguyễn Khắc Phê. Cụ là THượng thư, 2 lần Phủ doãn Thừa Thiên, q.Tổng đốc Thanh Hóa. Khi thi đỗ đại khoa (1906), được cùng các vị tiến sĩ đồng khoa triều kiến vua Thành Thái, nhà vua đề nghị mỗi vị hãy góp kế sách để phục hưng quốc gia, Nguyễn Khắc Niêm đã đọc 4 câu: Tôn tộc đại quy/ Tôn lộc đại nguy / Tôn tài đại thịnh/ Tôn nịnh đại suy. (Trần Đại Vinh đã tạm dịch: Tôn trọng nòi giống ắt đại hòa hợp / Tôn trọng bổng lộc ắt đại nguy nan / Tôn trọng tài năng, ắt đại phồn thịnh /Tôn trọng siểm nịnh, ắt đại suy vong.). Năm 1942, chán chế độ thuộc Pháp, cụ cáo quan về làng dạy học và bốc thuốc.Cụ được 2 lần  cụ Hồ mời ra Việt Bắc nhưng ốm không đi được. Thời CCRĐ, chính quyền Hà Tĩnh đã quy  địa chủ, bắt giam ở trại tù giữa rừng thiêng nước độc. Cụ đã chết trong tù. Để bổ sung cho “Triển lãm  về CCRĐ” ở Hà Nội chúng tôi xin  in bài viết của nhà văn Nguyễn Khắc Phê về việc đi tìm mộ bố (Đọc tiếp…)

Nhà văn Trần Đĩnh

CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT TRONG “ĐÈN CÙ” CỦA TRẦN ĐĨNH

( trích chương 5 )

 .…Cải cách ruộng đất chính thức nổ pháo hiệu đầu tiên ở xã Dân  Chủ, Đồng  Bẩm,  Thái Nguyên,  trên  quốc  lộ  1  lên  Lạng Sơn. Đối tượng: Nguyễn Thị Năm, tức Cát Hanh Long, nhân sĩ tên  tuổi  trong Trung ương Hội Liên Hiệp Phụ Nữ  cũng như Trung ương Mặt trận Liên Việt, người thường cùng họp long trọng với Hồ Chí Minh, Tôn Đức Thắng, Hoàng Quốc Việt. Nay bà  trở thành địa chủ phản động, cường hào gian ác  lợi dụng tiếng thân sĩ để phá hoại cách mạng và kháng chiến, có nhiều nợ  máu  với  bần  cố  nông.  Quản  lý  đồn  điền  Nguyễn  Lân, nguyên  vô  địch  võ  sĩ  quyền  Anh  trước  kia  nổi  tiếng  khắp Ðông Dương  cũng  là  đối  tượng  đấu  tố  và  xử  bắn. Đặc  biệt Công, con  trai bà Nguyễn Thị Năm, Việt Minh bí mật, nay  là chính ủy trung đoàn pháo 105 li đang học ở Côn Minh, Trung Quốc cũng bị gọi về, treo giò.  (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 10.09.2014

TRIỂN LÃM VỀ CCRĐ CỦA QUÀ TẶNG XỨ MƯA

 Lần đầu tiên tôi biết thế nào là cái ác

 Ngô Minh

   QTXM : Bạn đọc kinh mến. Bảo tàng lịch sử cách mạng  ở Hà Nội vừa khai trương “Triển lãm về Cải cách ruộng đất”. Thiết nghĩ đây là nỗi đau lớn của cả dân tộc và mỗi gia đình. Triễn lãm càng thức dậy nỗi  oan khiên xé trời của gia đình tôi và hàng chục vạn gia đình khác. QTXM cugnx xin làm riêng cuộc triễn lãm về CCRĐ của mình. Mời độc giả cùng chia sẻ.

Trở lại chuyện ba tôi. Ông coi tử vi , đoán vận hạn , biết mình sắp bị nạn  lớn vào tuổi 53 , nên  ba rôi lặng lẽ lên xã xin đổi tên bốn anh em tôi là Ngô Văn Thạnh, Ngô Văn Thường, Ngô Văn Cường, Ngô Văn Cần ( ông là nhà nho, đặt tên con theo chữ nho,  Thạnh-Thường-Cường Cần - tức là gia đình khả giả là nhờ lao động  cường cần mà có )  thành Ngô Văn  Khương, Ngô Văn Ninh, Ngô Văn Khôi, Ngô Văn Phục . Khương – Ninh- Khôi- Phục – nghĩa là hai anh đầu  phải vững vàng chắc chắn để hai em sau tựa vào đó mà phục hồi danh dự gia đình.  Tôi tên khai sinh là Ngô Văn Cường, sau đổi là Ngô Văn Khôi . Khi đi học tôi  học theo bọn trẻ trong làng đổi thành Ngô Minh Khôi. 

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 09.09.2014

ĐÈN CÙ

ĐÈN CÙ

( trích chương 10, nói về Trung Quốc)

Trần Đĩnh

Một biểu hiện đỉển hình của duy ý chí tư tưởng nước lớn là “Con đường Trung Quốc” mà báo Trung Quốc bắt đầu nói  tới. Nó ra đời ở Hội nghị trung ương họp tại Bắc Đới Hà, sau khi Mao  thị  sát  chớp nhoáng những  công  xã  nhân  dân mới mọc, những  lò cao gang thép mới dựng, những “sáng kiến vĩ đại” của dân mà đảng thấy là quá thiên tài nên đã tổng kết lại thành đường  lối. Từ quần chúng ra  lại  trở về quần chúng  là thế. Đề cao “con đường Trung Quốc” là cố đả phá con đường Xô viết. 

Thời gian này Khroutchev bất  thần đến Bắc Kinh. Mao hí hửng nói trước với Lý Chí Toại, bác sĩ riêng của Mao: – Tôi sẽ cắm vào mông cha này một cái kim thật là dài. Lý kể như thế trong hồi ký “Đời tư Chủ tịch” ông viết cuối những năm1980 vén lên biết bao bí mật xấu xa của lãnh tụ.  Cây  kim  thật  dài  cắm  ngay  lập  tức  khi  Khroutchev  đến. Trái nghi thức thông thường, Mao đón ông ta ở bể bơi có mái của Mao  trong  Trung  Nam Hải.  Sai  lấy  xịp  (quần  tắm)  cho Khroutchev  rồi  cả hai bồng bềnh dưới nước  chuyện  trò đại sự. Khác hẳn Khroutchev đón tiếp Mao linh đình trọng thể ra sao  năm  1957.  Lần  này  Khroutchev  sang  vì  ngại Mao  đánh Đài Loan sẽ nổ chiến tranh với Mỹ. Biết thóp, Mao cân não lại. Trước một đồng minh háo đánh Mỹ như Mao, Liên Xô bèn cố thuyết phục bằng vi thiềng lợi ích vật chất. Đề nghị: l) Lập một đài phát sóng cực mạnh hai nước cùng dùng nhưng đặt ở trên đất Trung Quốc; 2) Lập một hạm đội hỗn hợp Xô – Trung cùng bảo  vệ  vùng bỉển hai nước; 3) Trung Quốc khoan  giảiphóng Đài Loan.  Mao nhận hai khoản trên nhưng không chịu hoà bình với Đài Loan:

- Các đồng  chí  chớ  can  thiệp  vào  sứ mệnh  thiêng liêng của nhân dân Trung Quốc.  (Đọc tiếp…)

 Khổ ghê, người Việt Nam nào lấy đất Kampuchia Krom ?

 Nếu xét lại một cách sâu xa (trên vấn đề pháp lý) thì không có người VN nào « lấy đất » của Kampuchia hết cả.
Nam Kỳ lục tỉnh được vua nhà Nguyễn ký nhượng cho Pháp vào các hiệp ước năm 1862 và 1874. Nếu đất đó là « của » Kampuchia, thì đáng lẽ năm 1863, khi ký hiệp ước để nhận sự bảo hộ của Pháp, thì vua Miên phải lên tiếng phản đối (hoặc bảo lưu) cho Pháp biết vùng đất đó là của mình. Sự im lặng của Miên (qua các hành vi của nhà Nguyễn năm 1862 và 1874) là nhìn nhận đất đó thuộc chủ quyền của VN.
Mặt khác, nếu đất đó thuộc chủ quyền của Miên, sự im lặng của triều đình Nam Vang, từ năm 1862 cho đến năm 1949, mặc nhiên được hiểu là vương triều Cambodge đã từ bỏ chủ quyền (không điều kiện) ở vùng đất đó cho Pháp.
Trong khi đó, các triều vua nhà Nguyễn tiếp nối (cho đến Bảo Đại), cũng như tất cả các đảng phái chính trị VN, quốc gia cũng như cộng sản, đều có chung mục đích đánh Pháp để dành độc lập và thống nhất (ba kỳ) đất nước. Những yêu sách này đã thể hiện liên tục trong suốt lịch sử Việt Nam thời cận đại.
Vì vậy Quốc hội Pháp quyết định trả Nam Kỳ lại cho Bảo Đại (hậu duệ nhà Nguyễn), mà không trả cho Sihanouk, vào tháng 3 năm 1949 là điều hợp lý.
Phía Kampuchia đã nhiều lần nhìn nhận chủ quyền của VN tại vùng đất Nam Kỳ, qua các yêu cầu đòi phân định lại biên giới, với chính quyền thực dân Pháp, sau đó với các chính quyền của VN. Theo đó toàn bộ vùng Khmer Krom thuộc về VN.
Điển hình nhất, bộ bản đồ Kampuchia (do sở Địa dư Đông dương ấn hành năm 1953), được Sihanouk yêu cầu thế giới tôn trọng « lãnh thổ của Kampuchia », thì theo đó toàn bộ các tỉnh Nam Kỳ cũng thuộc về VN.
Vì vậy, trên phương diệp pháp lý, phía Kampuchia không có lý do nào để lên tiếng đặt lại yêu sách về lãnh thổ với VN.
Lãnh thổ Thái Lan hiện thời bao gồm ¾ lãnh thổ của Khmer ngày xưa. Trên đất Thái Lan, cũng có đông đảo người Miên sinh sống, (như một sắc dân Khmer Krom ở VN). Không thấy người Miên nào đòi lại đất từ người Thái.
Những người nông dân thật thà chấc phác Kampuchia đã bị các thế lực (chống VN) tuyên truyền nhằm xách động tinh thần dân tộc.
Điều mà người ta không bao giờ quên là dân Khmer, trong lịch sử, đã nhiều lần phát động tinh thần bài xích người Việt, đã tàn sát người Việt (cáp duồn), trong khi phía người Việt thì chưa bao giờ làm các việc dã man tương tự.
( Nguồn : Facebook Nhân Tuấn Trương)

Việt Nam có hơn 200 bệ tên lửa sẵn sàng nhấn chìm tàu đối phương

Năm 2017, dự kiến Việt Nam sẽ có hơn 200 bệ tên lửa chống hạm trên các tàu chiến, sẵn sàng “nhấn chìm” những kẻ có âm mưu thôn tính Biển Đông.

Hiện đại hóa, đa dạng hóa nhanh chóng lực lượng tàu chiến

Những năm gần đây, lực lượng Hải quân Việt Nam được ưu tiên đầu tư, trang bị nhiều loại vũ khí, phương tiện hiện đại để đáp ứng nhiệm vụ trong tình hình mới. Bên cạnh các phương tiện tuần tra như tàu tuần tra, máy bay tuần thám và các thiết bị trinh sát như radar thế hệ mới, các tổ hợp tác chiến điện tử cùng các máy bay tác chiến biển thì các tàu mang tên lửa là lực lượng được đầu tư mạnh mẽ nhất.

Trước hết, phải tính đến các chiến hạm Gepard 3.9. Hiện nay, Hải quân Việt Nam đã đưa vào trang bị 2 tàu, mỗi tàu 8 tên lửa hiện đại Kh-35, như vậy đã có 16 tên lửa.

Chưa kể hiện nay, Nga đã khởi công đóng thêm 2 tàu hộ vệ lớp Gepard 3.9 cho Việt Nam từ ngày 24/9/2013. Hai tàu mới này theo thông báo của nhà máy là sẽ có trang bị hiện đại hơn, đồng thời nâng cao về mặt tác chiến chống ngầm. Hai tàu Gepard dự kiến sẽ được bàn giao cho Việt Nam vào năm 2016-2017.

Tàu Gepard 3.9 mang tên Đinh Tiên Hoàng (HQ-011) tuần tra trên biển

Tiếp theo đó là 2 tàu hộ tống tàng hình lớp SIGMA, mỗi tàu mang 8 tên lửa hiện đại Exocet của Pháp. Ngày 23/8/2013, báo chí Hà Lan đưa tin nhà máy đóng tàu Damen của nước này đã đạt được một thỏa thuận với Hải quân Việt Nam về việc cung cấp 2 tàu hộ tống tàng hình lớp SIGMA tối tân với giá trị lên tới nửa tỷ Euro (khoảng 667 triệu USD). Hai tàu này chưa rõ thời gian bàn giao, nhưng chiếc thứ nhất dự đoán sẽ được bàn giao trước năm 2016.

Lực lượng tàu tên lửa tiếp theo là chiếc BPS-500 được trang bị 8 tên lửa Kh-35E. Mặc dù theo kế hoạch, Việt Nam sẽ đóng 10 tàu này, nhưng hiện tại chỉ hoàn thành 1 tàu. Nguyên nhân là do có lẽ hiệu quả không cao bằng các tàu lớp Molniya.

Lực lượng được xem là đội phản ứng nhanh của Việt Nam chính là các tàu Molniya dự án 12418. Hiện nay, đã có 2 tàu đưa vào trang bị. Theo kế hoạch, sẽ có 6 tàu nữa được đóng tại Việt Nam theo giấy phép của Nga. Hai tàu đầu tiên đóng tại nhà máy Ba Son đã bước vào giai đoạn thử nghiệm và dự kiến sẽ được bàn giao cho Hải quân Việt Nam vào cuối năm 2013. 4 tàu còn lại của hợp đồng sẽ được hoàn thành và bàn giao cho Hải quân Việt Nam vào cuối năm 2015.

Như vậy đến năm 2015, Hải quân Việt Nam sẽ có trong biên chế 8 tàu tên lửa cao tốc lớp Molniya, mỗi tàu được trang bị tới 16 tên lửa chống hạm Kh-35 Uran E tầm bắn 130 km, không loại trừ sẽ có biến thể mới nhất Kh-35 UE tầm bắn 220 km.

Một lực lượng mang tính đột phá tiếp theo là các tàu ngầm Kilo 636. Chiếc đầu tiên theo thông báo sẽ được bàn giao vào ngày Kỷ niệm cách mạng tháng 10 Nga (7/11). Theo kế hoạch, năm 2013, Việt Nam sẽ nhận bàn giao hai chiếc đầu tiên, chiếc cuối cùng sẽ được bàn giao vào năm 2016. Số vũ khí mỗi tàu mang theo bao gồm 18 ngư lôi (bao gồm cả 4 quả tên lửa 3M-54E, tầm bắn 220 km) hoặc 24 quả mìn.

Ngoài ra chưa kể các tên lửa thế hệ cũ P-15, P-21 được trang bị trên các tàu khác.

Không dưới 200 bệ tên lửa chống hạm sẵn sàng nhấn chìm tàu địch

Bây giờ chúng ta sẽ thống kê xem, tại một thời điểm bất kỳ, trên Biển Đông, Việt Nam có thể có tối đa bao nhiêu tên lửa chống hạm nằm trên bệ phóng sẵn sàng ngăn chặn những kể xâm chiếm chủ quyền.

Ngay tại thời điểm hiện tại, chúng ta đã có 16 tên lửa trên 2 tàu Gepard, 32 quả trên 2 tàu Molniya và 8 quả trên tàu BPS-500, tất cả đều là tên lửa hiện đại Kh-25E. Như vậy tổng là 54 quả, có thể không nhiều nhưng với sự hỗ trợ của các lực lượng không quân hải quân, chúng có thể đảm nhận được nhiệm vụ trong giai đoạn ngắn hiện nay.

Số lượng tên lửa này sẽ tăng lên một các nhanh chóng sau một vài năm nữa. Tới năm 2015, sau khi hoàn thành thêm 6 tàu Molniya chúng ta sẽ có 8 tàu với tổng cộng 128 tên lửa, cùng với 16 tên lửa trên hai tàu Gepard, 8 tên lửa trên BPS-500 và 12 tên lửa chống hạm trên 3 tàu Kilo. Như vậy, tổng cộng số tên lửa có thể sẵn sàng là 164 tên lửa.

Các tàu Molniya sẽ đóng vai trò là lực lượng cơ động nhanh, mạnh của Hải quân Việt Na,

Nếu đến hết năm 2016, so với 2015, sẽ tăng thêm 3 tàu Kilo với 12 tên lửa và ít nhất 1 tàu SIGMA với 8 tên lửa, khi đó tổng số tên lửa là 184 tên lửa.

Đến năm 2017, Việt Nam sẽ nhận thêm 2 tàu Gepard với 16 tên lửa chống hạm, nâng số tên lửa chống hạm tổng cộng lên 200 quả với các loại Kh-35E tầm bắn 130 km, Exocet tầm bắn 180 km, Kh-35UE tầm bắn 220 km, 3M54E tầm bắn 220 km.

Bên cạnh đó, các ngư lôi, thủy lôi từ cả tàu mặt nước và tàu ngầm có thể gây cho đối phương những thiệt hại không ngờ tới. Đó là chưa kể các tổ hợp tên lửa bờ hết sức uy lực như Bastion, Redut, Ruzbeh tầm bắn tới không chỉ ngăn chặn địch xâm phạm bờ biển mà còn có thể hợp đồng tác chiến tung ra các đòn tiêu diệt đối phương. 

Việt Nam còn có một lực lượng nữa là các máy bay không quân hải quân, chúng cũng có thể mang tên lửa chống hạm và giáng xuống tàu chiến đối phương những đòn hủy diệt từ bầu trời.

Với lượng tên lửa “khủng” như vậy, mật độ hỏa lực tập trung cao, Việt Nam sẽ đủ sức giữ vững chủ quyền biển đảo.

( Nguồn :GDTĐ)

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 08.09.2014

Huyền thoại giáo dục Phần Lan

Huyền thoại giáo dục Phần Lan

 
 

Hồ Anh Hải/Tia sáng 
 NQL: Bài viết từ 2012 đến nay vẫn mới mẻ. Cần đăng lại lần nữa để cuộc tranh luận về  cải cách giáo dục có thêm một ví dụ thú vị về một triết lý giáo dục lâu nay được xem là bậy bạ và phản giáo dục
Giáo dục Phần Lan bắt đầu được dư luận quốc tế quan tâm từ sau khi Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển OECD tổ chức các kỳ thi PISA (Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (Programme for International Student Assessment). Thành công xuất sắc của học sinh Phần Lan trong các kỳ thi này đã làm cả thế giới ngạc nhiên.
 


PISA là bài kiểm tra kiến thức của các trẻ em 15 tuổi, thực hiện 3 năm một kỳ tại hơn 40 địa điểm cho gần nửa triệu HS trên toàn cầu. PISA mới tiến hành được 4 kỳ (2000-2003-2006-2009) thì Phần Lan giành được vị trí thứ nhất trong 3 kỳ đầu. Tại PISA 2009 họ đứng thứ hai về khoa học, thứ ba về đọc hiểu và thứ sáu về toán học.


Sau một thời gian say sưa tranh cãi về cuốn Chiến ca của Mẹ Hổ, cuối cùng phương pháp giáo dục của Phần Lan lại đang trở thành một chủ đề nóng ở Mỹ sau khi nước này chiếu bộ phim tài liệu Chờ đợi Siêu nhân1 , vạch ra các vấn đề tồn tại của giáo dục công lập Mỹ, có so sánh với Phần Lan. Báo The Economist của Anh Quốc còn kiến nghị các nhà lãnh đạo châu Âu tạm ngừng công việc để đến Phần Lan dự các giờ học cấp phổ thông, tìm hiểu xem vì sao học sinh nước này giỏi thế. Người Trung Quốc càng hết lời ca ngợi giáo dục Phần Lan. Một bà mẹ đem hai con sang Phần Lan sống mười mấy năm, tự mình trải nghiệm thực tế giáo dục từ vườn trẻ đến đại học của xứ này, sau đó nhận xét: So với Phần Lan thì giáo dục Trung Quốc chỉ là một bãi rác lớn.

Cần nhấn mạnh: người Phần Lan không hề coi trọng mọi kỳ sát hạch học sinh, kể cả PISA, họ không bao giờ mở các lớp chuyên để đào tạo “gà nòi” đi thi PISA như ở một số nước khác. GS Pasi Sahlberg, nhà giáo dục nổi tiếng, Tổng Giám đốc Trung tâm Luân chuyển và Hợp tác quốc tế Phần Lan (National Centre for International Mobility and Cooperation, CIMO) nói: “Chúng tôi chuẩn bị cho trẻ em học cách để học chứ không phải học cách để làm một bài kiểm tra. Chúng tôi không quan tâm nhiều tới PISA. Nó không phải là thứ chúng tôi nhắm tới”.
Chính người Phần Lan cũng không hiểu tại sao HS họ lại chiếm vị trí hàng đầu trong các kỳ kiểm tra PISA, bởi lẽ họ đâu có quan tâm gì tới việc xếp hạng. Nhưng khi các đoàn cán bộ giáo dục từ khắp thế giới kéo đến Phần Lan tìm hiểu kinh nghiệm dạy và học của xứ này thì họ mới để ý tới chuyện ấy. Ngành du lịch Phần Lan cũng khởi sắc nhờ thành tích của ngành giáo dục.

Triết lý giáo dục đúng đắn


Giáo dục Phần Lan vận hành theo một triết lý (tư tưởng) giáo dục độc đáo, thể hiện ở quan điểm đối với HS và giáo viên: hai chủ thể quan trọng nhất này của nhà trường phải được quan tâm và tôn trọng hết mức.


GS Sahlberg nói: “Chúng tôi không tin vào thi cử, không tin rằng có một kỳ thi thống nhất là việc tốt. 12 năm học đầu tiên trong đời HS chỉ có một kỳ thi duy nhất vào lúc các em đã ở độ tuổi 18-19, đó là kỳ thi trước khi vào đại học. Nhờ thế thầy và trò có nhiều thời gian để dạy và học những gì họ ưa thích. Các thầy cô của chúng tôi tuyệt đối không giảng dạy vì thi cử, HS cũng tuyệt đối không học vì thi cử. Trường học của chúng tôi là nơi học tập vui thích 100%. Ưu điểm của chế độ học tập ở Phần Lan là ươm trồng tinh thần hợp tác chứ không phải là tinh thần cạnh tranh. Chúng tôi không lo HS sau này sẽ cảm thấy sợ hãi khi bước vào xã hội đầy cạnh tranh”.

Sự ưu ái HS thể hiện ở chỗ ngành giáo dục phải làm cho nhà trường trở thành thiên đường của trẻ em! Muốn thế người Phần Lan đã hủy bỏ mọi chuyện khiến lũ trẻ đau đầu nhức óc như cạnh tranh (hoặc dưới mỹ từ “thi đua”), xếp hạng giỏi kém trong học tập và các kỳ sát hạch thi cử. Ở cấp tiểu học hoàn toàn không có kiểm tra kiến thức. Nhiệm vụ của giáo viên là làm cho HS hào hứng học tập, say mê hiểu biết, quan tâm tập thể và xã hội. Tóm lại, HS không phải chịu bất cứ một sức ép nào trong học tập.

GS Sahlberg nói: “Chúng tôi không tin vào thi cử, không tin rằng có một kỳ thi thống nhất là việc tốt. 12 năm học đầu tiên trong đời HS chỉ có một kỳ thi duy nhất vào lúc các em đã ở độ tuổi 18-19, đó là kỳ thi trước khi vào đại học. Nhờ thế thầy và trò có nhiều thời gian để dạy và học những gì họ ưa thích. Các thầy cô của chúng tôi tuyệt đối không giảng dạy vì thi cử, HS cũng tuyệt đối không học vì thi cử. Trường học của chúng tôi là nơi học tập vui thích 100%. Ưu điểm của chế độ học tập ở Phần Lan là ươm trồng tinh thần hợp tác chứ không phải là tinh thần cạnh tranh. Chúng tôi không lo HS sau này sẽ cảm thấy sợ hãi khi bước vào xã hội đầy cạnh tranh”.


Luật pháp Phần Lan quy định không được dùng cách xếp hạng hoặc cho điểm để đánh giá các HS trước lớp 6. Khi các thầy cô muốn bình xét năng lực và biểu hiện của HS nào đó thì họ phải dùng văn bản ghi lại sự đánh giá, có thuyết minh cặn kẽ, chứ không được đơn giản dùng điểm số hoặc thứ bậc xếp hạng để bình xét. Bởi lẽ mỗi HS đều có sở trường của riêng mình, giáo viên chỉ có thể thông qua nhiều hình thức hoạt động để tìm hiểu HS và khai thác phát huy tiềm năng của các em.


Có người cho rằng trong môi trường không có so sánh, không có cạnh tranh, không có sát hạch thi cử thì HS sẽ không có động lực để học tập. Thực ra HS Phần Lan vẫn có thi đại học, kỳ thi duy nhất sau 12 năm học, cạnh tranh cũng rất quyết liệt, nhưng khi ấy HS đã trưởng thành. Người ta cố gắng không để HS cạnh tranh với nhau quá sớm. Các nhà trường ở châu Á cạnh tranh với nhau rất gay gắt, đó là do giáo viên, phụ huynh, HS và mọi người luôn so bì lẫn nhau. Người Phần Lan không làm như vậy, họ trau dồi cho HS tinh thần Hợp tác quan trọng hơn cạnh tranh, nhấn mạnh ở cấp mẫu giáo và trung tiểu học lại càng cần tạo ra bầu không khí không có cạnh tranh. Đây là một ưu điểm của chế độ giáo dục Phần Lan.


Một nhà tâm lý học từng nói: “Hôm nay HS biết hợp tác với nhau thì ngày mai họ sẽ có năng lực cạnh tranh”. Muốn giỏi cạnh tranh thì trước hết phải biết mình, rồi tìm hiểu người khác. Biết mình để tự tin. Biết người, tức biết đối phương, là để hiểu được ưu điểm của họ; điều ấy thực hiện được trong quá trình hợp tác với họ, qua đó sẽ có được năng lực cạnh tranh. Trau dồi năng lực sáng tạo trong môi trường chan hòa tình người thì tốt hơn trong môi trường cạnh tranh khốc liệt, vì khi ấy người ta không muốn chia sẻ kinh nghiệm cho người khác, và cũng không muốn mạo hiểm, như vậy sao có thể có được sức sáng tạo. Vì thế người Phần Lan chủ trương HS học hỏi lẫn nhau, chia sẻ với nhau thành công của mình.


Người Phần Lan trau dồi cho HS tinh thần Hợp tác quan trọng hơn cạnh tranh, nhấn mạnh ở cấp mẫu giáo và trung tiểu học lại càng cần tạo ra bầu không khí không có cạnh tranh.

Chủ thể quan trọng thứ hai của giáo dục là giáo viên cũng phải được sống trong môi trường ít sức ép nhất. Thầy cô giáo phải được xã hội tôn trọng hết mức. Muốn vậy, cũng như với HS, đối với giáo viên, nhà trường áp dụng nguyên tắc không so sánh, không xếp thứ hạng hoặc cho điểm các giáo viên, không tổ chức thi tay nghề giảng dạy, cũng không làm bản nhận xét đánh giá giáo viên.

Ngành giáo dục không làm cái việc đánh giá, xếp hạng chất lượng các trường. Nhờ thế tất cả giáo viên đều rất tự tin, ai cũng tự hào về trường mình. Họ giải thích: Nếu thầy cô còn coi thường trường mình thì HS sao có thể tin vào nhà trường?


GS Sahlberg nói: “Rất nhiều quốc gia tiến hành cải cách giáo dục xuất phát từ mặt hành chính, thậm chí tham khảo giới kinh doanh, đưa phương thức vận hành công ty vào áp dụng trong trường học, lập chế độ thưởng phạt. Cách làm như thế là không đúng. Chúng ta đều biết, trừ khi nhà trường có giáo viên giỏi, trừ khi chúng ta luôn đào tạo chuyên môn cho giáo viên và giúp đỡ họ, trừ khi xã hội biết tôn trọng giáo viên, nếu không thì cải cách giáo dục sẽ không thể thành công”.


Điều đó xuất phát từ nhận thức: Nếu xã hội đã không tín nhiệm chính thầy cô giáo của mình thì còn nói gì tới việc HS tin yêu và nghe lời thầy cô? Một khi thực thi cơ chế đánh giá xếp hạng giáo viên thì tất nhiên giáo viên bị xếp hạng thấp sẽ còn đâu uy tín để dạy các em? Một nhà trường bị xếp hạng kém thì còn ai muốn cho con mình vào học? Như vậy giáo dục còn có ý nghĩa gì?


Nếu bạn hỏi bất cứ quan chức nào của Bộ Giáo dục Phần Lan về chất lượng giáo viên xứ này thì họ sẽ nói: “Tất cả thầy cô giáo của chúng tôi đều giỏi như nhau!”. Họ cũng nói: “Tất cả các trường của chúng tôi đều giỏi như nhau!” “Tất cả các HS của chúng tôi đều giỏi cả”. Câu trả lời ấy nói lên sự tự tin của một quốc gia đã thực sự đạt được sự bình đẳng trong giáo dục, vì vậy họ có quyền nói như thế. 2


Giáo viên cũng phải được sống trong môi trường ít sức ép nhất. Muốn vậy, cũng như với HS, đối với giáo viên, nhà trường áp dụng nguyên tắc không so sánh, không xếp thứ hạng hoặc cho điểm các giáo viên, không tổ chức thi tay nghề giảng dạy, cũng không làm bản nhận xét đánh giá giáo viên.

Nhằm thực hiện được các nội dung triết lý kể trên, Bộ Giáo dục Phần Lan nêu yêu cầu cực cao đối với chất lượng giáo viên, chỉ tuyển những người có tinh thần hết lòng phụng sự nhân dân và đạo đức nghề nghiệp cao thượng, và hơn nữa còn tạo điều kiện tốt nhất tiếp tục đào tạo họ. Về trình độ chuyên môn, toàn bộ thầy cô giáo tiểu học và trung học đều phải có bằng thạc sĩ trở lên, và phải có chứng chỉ đạt yêu cầu sát hạch tư cách giáo viên. Người giỏi mới được làm giáo viên. Các trường sư phạm tuyển sinh rất khắt khe, tỷ lệ thi đỗ chỉ đạt 10%. GS Sahlberg cho biết: trong năm 2010 có khoảng 6.600 ứng viên tranh nhau 660 chỗ giảng dạy ở cấp tiểu học. Nghề giáo thực sự là nghề cao quý, được xã hội trọng vọng.

Ngành giáo dục thiết lập một hệ thống dựa trên tinh thần trách nhiệm, cho phép giáo viên được quyền tự do nhất định trong việc giảng dạy. HS cũng được quyền tự chọn phương thức học tập của mình. Giáo viên lên lớp bình quân 3 tiết mỗi ngày (so với 7 ở Mỹ), do đó có nhiều thời gian để sáng tạo bài giảng truyền được cảm hứng cho HS.


Một quốc gia không có cơ chế đánh giá hoặc xếp thứ hạng giáo viên và HS, không yêu cầu thầy trò tranh vị trí thứ nhất, thế mà lại được cộng đồng OECD xếp hạng có nền giáo dục phổ thông tốt nhất. Khi biết tin này, chính những người Phần Lan rất ngạc nhiên.


Giấc mơ bình đẳng giáo dục       


Trước thập niên 70 thế kỷ XX, giáo dục Phần Lan chưa có gì đáng tự hào. Ngành giáo dục thực hiện chế độ quản lý tập trung, có rất nhiều quy chế ràng buộc công việc của giáo viên. Thời ấy HS đến 10 tuổi đều phải qua một kỳ thi, dựa theo kết quả thi để phân ban, một loại là lớp phổ thông, một loại là lớp học nghề; việc phân ban đó quyết định tương lai các em một cách võ đoán, tương lai cả cuộc đời phụ thuộc vào một kỳ thi. Kết quả thi được cho điểm từ 4 đến 10; điểm 10 là điểm số cao nhất; điểm 4 là trượt. Thời ấy các em HS tuổi còn nhỏ mà đã biết dùng đẳng cấp để so bì lẫn nhau, qua điểm số mà cho rằng mình kém hoặc hơn người khác. Trong mỗi lớp lại còn chia ra các nhóm HS tùy theo năng lực, các em luôn so kè lẫn nhau.


Về sau giới chức giáo dục Phần Lan nhận thấy cách làm như vậy là không tốt, bởi lẽ mỗi người đều có năng lực và cách biểu hiện khác nhau. Làm như vậy chẳng khác gì bắt voi, chim cánh cụt và khỉ thi tài leo cây; dùng tài leo cây làm tiêu chuẩn đánh giá năng lực của chúng là rất vô lý. Vì thế ngành giáo dục nước này đã quyết định hủy bỏ chế độ chia đẳng cấp, không dùng điểm số để phân chia thứ bậc nữa. Các giáo viên nhanh chóng nhận thấy cách làm này là tốt. Nhờ thế đã thay đổi không khí học tập trong trường, thầy trò hợp tác với nhau, đoàn kết nhất trí. Từ thập niên 80, mọi hình thức sát hạch và thi cử, kể cả chế độ thi thống nhất chung cho các trường đều bị hủy bỏ.


Một nội dung nữa của triết lý giáo dục Phần Lan là toàn thể HS phổ thông trong cả nước phải được hưởng nền giáo dục như nhau, không thể để con nhà giàu được học tốt hơn con nhà nghèo, con em người da trắng được học tốt hơn con em người da màu di cư từ châu Phi châu Á đến. Tư tưởng bình đẳng giáo dục ấy được Nhà nước Phần Lan nêu ra trong một đạo luật ban hành năm 1860. Từ năm 1915, giáo dục được thừa nhận là một quyền công dân.


Trong đợt cải cách giáo dục tiến hành vào những năm 70 thế kỷ XX, ngành giáo dục Phần Lan nêu ra ước mơ HS trong cả nước đều được học trong các trường công chất lượng tốt 3. Họ gọi ước mơ ấy là Giấc mơ Phần Lan (The Finnish dream). Sự nghiệp giáo dục của họ phát triển liên tục, bền vững suốt 40 năm nay chính là nhờ tất cả các nhiệm kỳ Chính phủ nước này đều nối tiếp nhau thực hiện bằng được giấc mơ bình đẳng giáo dục ấy, dù đảng phái nào lên cầm quyền cũng vậy.  


Ít thấy nước nào có được giấc mơ giáo dục đẹp như thế, nó kích động lòng người và gợi mở bao ý tưởng tuyệt vời, nó giúp thu hẹp tới mức tối thiểu sự khác biệt giữa các trường và khoảng cách giữa HS kém nhất với HS giỏi nhất, giảm đáng kể ảnh hưởng của địa vị kinh tế-xã hội của phụ huynh đối với HS. Các trường đều không có cơ chế đào thải HS khi các em chưa đủ 10 tuổi ; tất cả HS đều có cơ hội học tập bình đẳng. Điều đó xuất phát từ nhận thức: Tâm hồn trong trắng ngây thơ của trẻ em cần được sự dẫn dắt đúng đắn của người lớn trong môi trường trong sạch thuần khiết chứ không phải môi trường cạnh tranh tàn nhẫn của thế giới người lớn.


Phải thay đổi tư duy nếu muốn học được gì từ giáo dục Phần Lan


Rõ ràng tư duy giáo dục của người Phần Lan rất độc đáo. Nguyên tắc giảm hết mức sức ép đối với HS, chủ trương thực hiện trường nào, thầy trò nào cũng giỏi như nhau của họ khác xa lối dạy và học nhồi nhét kiến thức cũng như chủ trương xây dựng các trường lớp “chuyên” thường thấy ở phương Đông. Phải chăng chừng nào chưa thay đổi tư duy thì khó có thể học được điều gì từ huyền thoại giáo dục Phần Lan?


Các phụ huynh Á Đông lo chuyện học tập của con với tư duy không để con thua kém ngay từ vạch xuất phát,  chỉ lo đưa con vào học trường nổi tiếng, bắt con học kiểu nhồi vịt khi chúng còn bé tẹo. Người ta quá say sưa với những cuộc thi kiến thức, buộc tâm hồn trong trắng thơ ngây của lũ trẻ phải nhồi nhét bao nhiêu kiến thức thế gian người lớn từ cổ Hy Lạp tới hậu hiện đại mà chẳng biết có trau dồi được chút đầu óc sáng tạo nào cho chúng hay không4. Cha mẹ đua nhau dạy con từ khi còn là bào thai, đưa con vào lớp năng khiếu từ tuổi mẫu giáo, thi HS giỏi, thi Olympic, học thêm, học hè. Tư duy ấy làm họ hao tổn công của, chỉ làm mồi cho bao kẻ cơ hội vớ bẫm bằng cách mở các trường lớp nhắm vào nhu cầu của họ. Cả xã hội lao vào thi cử, học để mà thi, cho nên học vẹt chứ không phải học để có năng lực sáng tạo. HS chấp nhận mọi kiến thức được dạy mà không dám nghi ngờ, phản biện.


Cần phải thấy quan niệm không để con em thua kém ngay từ vạch xuất phát là có hại cho sự trưởng thành của trẻ em. Mục đích của giáo dục phổ thông là trau dồi luân lý đạo đức, gợi mở tri thức. Một nền giáo dục quá chú trọng điểm số và cạnh tranh sẽ chỉ làm tổn thương trí tuệ và tâm hồn thuần khiết của trẻ em. Thật đáng thương những đứa trẻ thơ ngây hết cặm cụi học ở trường lại vùi đầu làm bài tập ở nhà, không còn thời gian rảnh rỗi, lúc nào cũng sống trong sức ép căng thẳng do người lớn tạo ra. Học tập đáng lẽ là niềm vui lại trở thành gánh nặng, thành nỗi lo âu, thâm chí sợ hãi của chúng. Điều đó không thể không ảnh hưởng tới sự phát triển tâm sinh lý bình thường của trẻ.


Hàn Quốc có một Thần đồng thất bại. Đó là Kim Ung-Yong sinh năm 1962, được sách Kỷ lục Guinness công nhận có IQ cao nhất thế giới : trên 210. Mới 4 tuổi Kim đã được học và đọc được ba ngoại ngữ Nhật, Đức, Anh. Sau đó chú bé được mời vào học khoa Vật lý Đại học Hanyang. 7 tuổi, Kim được Cơ quan Không gian NASA mời sang Mỹ. Tại đây anh học xong đại học và lấy bằng tiến sỹ vật lý khi chưa đầy 15 tuổi. Sau 10 năm ở Mỹ, Kim quyết định về nhà để… phụng dưỡng cha mẹ, chọn con đường làm người kỹ sư xây dựng bình thường, tránh xa mọi vinh quang của danh hiệu thần đồng.

Khưu Thành Đồng – người Hoa đầu tiên được tặng huy chương Fields Toán học (1982) – từng khuyên Trung Quốc bỏ các kỳ thi Olympic, vì các nghiên cứu sinh Trung Quốc do ông hướng dẫn tuy đều là HS giỏi thi Olympic nhưng rất kém năng lực sáng tạo. Ngược lại, Einstein học tiểu học, trung học, đại học đều rất bình thường, thậm chí bị chê là chậm hiểu. Hồi học trung học ông từng bị đuổi học một lần, thi đại học lần thứ hai mới đỗ. Nhưng điều đó đâu có ảnh hưởng tới sức sáng tạo vĩ đại của ông.

Quá nhấn mạnh giáo dục ngay từ khi trẻ còn nhỏ, nóng vội nhồi nhét quá nhiều kiến thức cho trẻ thực ra là cách làm mâu thuẫn với chính lời của cổ nhân Trung Quốc:  Mười năm trồng cây, trăm năm trồng người 5, coi giáo dục là việc lâu dài, cần hết sức nhẫn nại chờ đợi. Đời người là cuộc chạy marathon, chỗ nào, lúc nào cũng là vạch xuất phát, phải học suốt đời thì mới giỏi, người dẫn đầu lúc mới xuất phát chưa chắc đã là người về nhất sau chót. Người Phần Lan không vội vàng bắt lũ trẻ học quá căng thẳng mà dần dần từng bước gợi mở ở chúng lòng ham học, ham khám phá, ham sáng tạo chứ không ham thành tích, ham điểm số cao, thứ hạng cao.


Vài số liệu về Phần Lan (theo CIA Factbook và các nguồn khác):
Diện tích 338.145 km2. Số dân 5,26 triệu. Số người đi học 1,9 triệu. Số trường học các loại 5103. GDP năm 2011: 195,6 tỷ USD (PPP). GDP đầu người 38.700 USD. Chi phí giáo dục (2007) chiếm 5,9% GDP hoặc hơn 15% ngân sách. Có hơn 3500 trường tiểu học và trung học.
[So sánh: Singapore 5,35 triệu dân và giàu hơn (GDP đầu người 59.900 USD) nhưng số trường tiểu-trung học ít hơn Phần Lan gần 10 lần; Hà Nội 6,5 triệu dân có 1444 trường tiểu-trung học]. 

Theo Tia Sáng
—————————-
Ghi chú:
1 Waiting for Superman , được tặng giải thưởng phim tài liệu hay nhất năm 2010 tại Sundance Film Festival.
2 Báo Trung Quốc kể chuyện khi đến thăm một trường phổ thông ở Mỹ, đoàn cán bộ giáo dục Trung QuốcQ có tặng nhà trường hai con gấu trúc nhồi bông với đề nghị dùng để thưởng cho hai HS giỏi nhất. Ông hiệu trưởng cảm ơn và nói “Ở trường chúng tôi em nào cũng giỏi như nhau cả ”.
3 Finnish Lesson #3: What can we learn from educational change in Finland?    http://www.pasisahlberg.com /blog/?p=32.
4 Tôi đã tận mắt thấy chương trình lớp 10 ở Singapore dạy HS tác phẩm Macbeth, một vở bi kịch viết bằng thứ English cổ của Shakespeare cực kỳ khó hiểu ngay cả với người Anh; hơn nữa thày dạy là người Singapore thì HS chỉ có thể học vẹt chứ sao mà tiếp thu nổi.
5 Thập niên dục thụ, bách niên dục nhân (It takes ten years to grow trees, but a hundred years to rear people). Xin chớ nhầm với câu “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. 

( Nguồn :quechoa)

 

TẠP CHÍ THƠ IN LUẬN VĂN TÁC GIẢ NGUYỄN PHÚ TRỌNG LIỆU CÓ LỢI CHO ÔNG ?

(Tạp chí Thơ – Hội Nhà văn Việt Nam số 1&2 – 2012)
Đỗ Hoàng
 
Thật ra luận văn “Phong vị ca dao, dân ca trong thơ Tố Hữu” của tác giả Nguyễn Phú Trọng (đương kim Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam) Khoa Văn, Đại học Tổng hợp Văn khóa 1964 -1967 cũng bình thường như luận văn của các sinh viên khác trong Khoa. Trong đó có nhiều sinh viên xuất sắc như : Thái Ninh (sau này là Trưởng Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1991 – 1992), Phan Cung Việt (nhà thơ –nguyên phóng viên báo Tiền Phong), Nguyễn Ngọc Thiện (nhà văn – Tổng biên tập tạp chí Diễn đàn văn nghệ Việt Nam), Ngôn Vĩnh (nhà văn – nguyên Tổng biên tập báo Công an nhân dân)…
Khóa học có rất nhiều người tài, và có một người duy nhất làm nông dân thứ thiệt. Tôi đã viết bài về khóa học này in trên báo Giáo dục & thời đại cách đây độ hơn mười năm.
Tố Hữu là nhà thơ lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam, điều đó không ai bàn cải. Các nhà thơ, nhà văn như Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hoài Thanh, Trần Dần, Nguyễn Đình Thi…đã viết nhiều bài hay và đúng về thơ Tố Hữu. Xuân Diệu – Tình thương mến trong thơ Tố Hữu, Chế Lan Viên – Tố Hữu con chim vụ đường bay nhưng bộ lông cánh rất đẹp…
Bài luận văn của tác giả Nguyễn Phú Trọng không có phát hiện gì mới về thơ Tố Hữu.
Bên cạnh sự thành công học tập ca dao, dân ca làm cho thơ Tố Hữu thẩm đầy phong vị ca dao, dân ca, được đại đa số người đọc nằm lòng thuộc thơ ông thì cũng nên chỉ ra những hạn chế khi Tố Hữu sử dụng ca dao, dân ca chưa nhuần nhụy, nhiều chỗ không chính xác hoặc à ơi, vần vè, chung chung…
“Ai về thăm mẹ quê ta
Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm…”
Sao lại nhớ thầm? Chỉ có trai gái yêu nhau mới thầm thương, trộm nhớ. Đây là nhớ mẹ kia mà? Ngay cả nhớ vợ, người ta cũng không nhớ thầm, người ta công khai:
“Tôi nhớ vợ tôi quá
Cho tôi về hai ngày
Nhà tôi ở Mường Lay
Có con sông Nậm Rốm
Một ngày kia sẽ đến
Tôi cầm sung được ngay
Tôi sẽ bắn trúng Tây
Vì tay có hơi vợ…
(Cầm Vĩnh Uy)
Bài thơ Việt Bắc là bài thơ nói tới cái nhớ thương chung chung.
Nhớ thương rất nhiều, nhưng nhớ toàn nhớ trời, nhớ đất, lãnh tụ, nhớ rừng, nhớ cây đâu đâu, chứ không có nỗi nhớ nỗi thương cụ thể nào. Cũng như nhiều kẻ nói thương cả trái đất, tinh cầu, nhưng thật ra chẳng thương ai cả!
Bài thơ Việt Bắc đã có nhà phê bình nói rằng: “ Người ta chỉ cần cốc sữa chứ không cần một chum nước pha cốc sữa vào. Ngửi đâu cũng nghe mang mang mùi sữa nhưng không có sữa thật!” (Đông Hồ)
Luận văn đã không có phát hiện gì mới mà tác giả lại không chỉ ra mấy câu thơ ca ngợi Stalin của Tố Hữu là không đúng với tình cảm của người Việt của con người.
Tác giả còn nâng lên tư tưởng cách mạng dễ hóa ra một nếp nghĩ hồn nhiên.thương mình thương một, thương ông thương mười.
Ca dao người Việt nói:
“Thương người như thể thương thân
Thấy người hoạn nạn thì thương”
Thế đã nhân ái lắm, bao dung lắm. Nhân ái và bao dung tột đỉnh. Không có gì hơn.
Vì lý do chính trị, vì nhiều lý do, nhà thơ Tố Hữu quá ca tụng lãnh tụ Stalin:
“…Hôm qua tiếng gọi ngoài đồng
Tiếng loa xé ruột xé lòng biết bao!
Làng trên xóm dưới xôn xao
Làm sao ông đã làm sao, mất rồi
Ông Stalin ơi! Ông Stalin ơi!
Hỡi ơi ông mất đất trời có không?
Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Thương mình thương một, thương ông thương mười!…”
(Đời đời nhớ ông –Tố Hữu)
Thơ này các cháu mẫu giáo bé cũng biết phân tích đúng sai!
Thế mà tác giả Nguyễn Phú Trọng viết trong luận văn:
“Hình thức hát ru làm cho nội dung trở thành tất yếu phải có gắn bó mật thiết với đời sống tình cảm của nhân dân. Nó như những chuyện thường tình – chuyện “cày cấy”, ra chợ bán chè, bán rau, chuyện thương cha, thương mẹ , thương chồng” – từ đời nảo, đời nào trong đời sống và tình cảm của cha ông chúng ta. Nó đã thành máu thịt trong con người chúng ta. Cái cao xa đang trở thành gần gủi, cái mới lạ đang trở thành quen thuộc. Tình cảm gia đinh quyện với tình cảm xã hội, cái riêng hòa vào cái chung, tư tưởng cách mạng dễ hóa ra một nếp nghĩ hồn nhiên:
Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Thương mình , thương một, thương ông thương mười
Yêu con, yêu nước, yêu đời
Yêu bao nhiêu lại thương người bấy nhiêu…”
Dù ông Phật đi nữa thì cũng thương không thể thương mười như thế được!
Nếu luận văn của tác giả Nguyễn Phú Trọng chỉ ra những hạn chế trong thơ Tố Hữu thì chất lượng của luân văn này sẽ nâng cao hơn!
Còn luận bàn về Stalin thì cách đây hơn 30 năm tờ MOLODOI – Tuổi trẻ của Nga đã trưng cầu độc giả là ai ác nhất thế kỷ XX, người ta đã bình Stalin đứng đầu, Hítle đứng thứ hai! Nhà thơ Tố Hữu làm chính trị chọn lãnh tụ để ca ngợi, Nguyễn Phú Trọng làm chính trị chọn Tố Hữu làm luận văn. Sao không chọn Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu…? Và tác giả Nguyễn Phú Trọng đã thành công khi từ bỏ văn chương nghiên cưú để
trở thành nhà chính trị!
Đại học Tổng hợp Văn là nơi đào tạo ra người nghiên cứu văn học, chứ không đào tạo nhà chính trị. Nhưng khoa văn Đại học Tống hợp lại có nhiều nhà chính trị hàng đầu của Đảng Cộng sản Việt Nam như Nguyễn Phú Trọng và Thái Ninh…
Cũng hay là ông Nguyễn Phú Trọng bỏ văn chương để làm chính trị. Nếu theo văn chương nghiên cứu, may mắn lắm ông kế cận được thầy dạy mình là Hà Minh Đức hoặc Phạn Cự Đệ (Phan Cự Đệ đã từng lùng bắt và trói Giáo sư Trương Tửu thầy dạy mình nộp cho Công an). Nhưng hai thầy giáo và hai nhà phê bình này và các ông Hồ Sỹ Vịnh, Trần Đình Sử, Phong Lê…là những nhà phê bình Mậu dịch quốc doanh tem phiếu thứ thiệt!
Luận văn đại học của sinh viên dù kém, dù giỏi gì thì cũng chỉ ở trong phạm vi nhà trường để xét tốt nghiệp, chẳng ai bắt bẻ việc này. Đáng phê phán là phê phán Tạp chí Thơ đã in luận văn này và còn viết rất ẩu:
“ Tiểu luận này đã được tác giả Nguyễn Phú Trọng viết từ hơn bốn mươi năm trước, song có lẽ giờ đây vẫn còn mang ý nghĩa sâu sâu sắc với chúng ta trong tiến trình phát triển và định hướng thơ hôm nay!”
Đúng là “ Nịnh vua lại hại hơn mười phụ vua!”
Hà Nội, ngày 5 tháng 9 năm 2014
Đỗ Hoàng
Tel: 0913 369 652
( Nguồn : VANDANNNB)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 07.09.2014

THÔNG ĐIỆP TỪ GIỌT SƯƠNG

 THÔNG ĐIỆP TỪ GIỌT SƯƠNG

Nguyễn Hưng Hải

(Đọc tập thơ “Nghe trong giọt sương” của Lê Mạnh Tuấn-NXB Hội Nhà văn, XB 2007)

Nhìn giọt nước thấy đại dương là cảm giác mà tôi có được khi đọc tập thơ “Nghe trong giọt sương” của Nhà thơ Lê Mạnh Tuấn – Một giọng thơ thăm thẳm nỗi người, nỗi đời, với rất nhiều can dự, cảnh tỉnh và thức tỉnh. Hơn cả thế, tôi còn nghe được từ “trong giọt sương” tiếng suối, tiếng sông, tiếng biển khi trầm lắng, lúc sôi trào như núi lửa. Thành công này, thêm một lần nữa khẳng định, Lê Mạnh Tuấn là một trong những nhà thơ phong phú về giọng điệu, rất dồn nén trong cảm xúc và chồng lợp nhiều vỉa tầng ý tưởng trong những câu thơ thế sự. Tôi rất thích những câu thơ hay không giải thích được của ông. Chính sở trường, thế mạnh này đã tạo nên phong cách, giọng điệu riêng, thô ráp và biến ảo, giản dị mà sâu sắc, trầm lắng mà đa nghĩa, đa thanh khiến cho ai đó, dù có vội vã đến đâu, cũng phải đọc chậm lại, trăn trở cùng Lê Mạnh Tuấn trong những nghĩ suy nhiều day dứt về kiếp người, về những va đập của thời thế và nhân thế. Thơ ông không dễ đọc bởi mỗi câu chữ hàm chứa trong đó rất nhiều thông điệp. Bao trùm lên tất cả là một thái độ đầy dấn thân, không bị tiếng bão, tiếng mưa vọng từ đâu lại, át đi những âm thanh trong trẻo nhưng dứt khoát cùng với nỗi ấm lạnh nghe được từ phía quả tim luôn thổn thức. Quả tim ấy chất chứa yêu thương, thấm đẫm nỗi đau, niềm nhân ái- Và luôn mang đến cho mọi người sự ấm áp, sẻ chia.

Lê Mạnh Tuấn không tuyên ngôn, nhưng tôi như nghe được từ trong những câu thơ đẫm đầy nước mắt tiếng của ngàn đời, tiếng của một thời, tiếng của “những khoảnh khắc say giữa dòng đời luôn phải tỉnh” . Trong những câu thơ như cứa vào lòng người, thông điệp trước hết mà ông mang lại cho tôi là khát vọng khôn cùng của vẻ đẹp nhân cách. Ngay trong bài thơ mở đầu của tập thơ “Nghe trong giọt sương” đã đầy hẫng hụt: “Tìm trong khói bụi/tia nắng nhòe soi cửa phòng ai/vướng nhành bụt mọc”. Cái đẹp ở ngay đó, nhưng không phải lúc nào cũng “với tới” được, bởi xung quanh ta còn rất nhiều hệ lụy, nhiều khi đau đến tức tưởi, quặn thắt. Trong khao khát như bông mai bị nghẽn lại, không nở được ở trên tường, Lê Mạnh Tuấn đã lặng lẽ chịu gió sương. Ông đã nhận ra trong thơm tho giả tạo, mùi khê và khét của tình người, của những sự băng hoại, và dũng cảm lột tẩy: “Đêm chảy qua thơ ngây mắt trẻ/Ngự trị ngay trong những đố kỵ và ganh ghét/của biết bao từng trải và nhân danh từng trải/Họ đã lừa lọc trong đêm và lừa lọc chính đêm/mà cứ chảy”…

(Đọc tiếp…)

CẢNH GIÁC TÀU CÁ TRUNG QUỐC VÀ CHUẨN BỊ ĐỐI ĐẦU

 Vĩnh Nguyên

Ắt chúng ta ai cũng còn nhớ, Trung Quốc (TQ) ngang nhiên cho 30 tàu cá (có một tàu hậu cần 3.000 tấn) rời Tam Á, và ngày 4/7/2012 đến bãi Vĩnh Thử (Chữ Thập – Trường Sa). Đến ngày 16/7/2012, 30 tàu này rời Vĩnh Thử đến bãi Chữ Bích (bãi Su Bi thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam). Su Bi cách đảo Thị Tứ (Philippines đang ở) chỉ 16 hải lý. Mặc Việt Nam, Philippines phản đối TQ xâm phạm chủ quyền, đoàn tàu cá này cứ đi và về ngang nhiên.

Người ngư dân Việt Nam nói: Chúng đi thăm dò luồng lạch đó, còn thích thì đánh vài mẻ ăn cá tươi chơi. “Thăm dò luồng lạch”, thuật ngữ khoa học gọi là Tác nghiệp hàng hải, hay Tác nghiệp hải đồ.Thực sự TQ coi Biển Đông như ao nhà của chúng từ năm 1988, năm chúng đánh chiếm Gạc Ma, Su Bi và chiếm dần 5 đảo đá khác thuộc Trường Sa. Su Bi dài 6,5km, rộng 3,7km, TQ đã xây kiên cố bến tàu, bãi đỗ trực thăng. Còn Gạc Ma họ đang xây sân bay nhân tạo, lập hai căn cứ quân sự trên Biển Đông.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 06.09.2014

Đốt lửa đón máy bay

NV Nguyễn Đắc Xuân

Đốt lửa đón máy bay

Nhà văn Nguyễn Dắc Xuân

QTXM- Bạn đọc thân mến. Công tác tuyên truyền của nhà nước Việt Nam có nhiều khi phản tác dụng vì nói không thành có như vụ Lê Văn Tám. Ở Huế cũng có nhiều chuyện như thế, ví dụ chuyện 11 cô gái Sông Hương. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân sẽ cung cấp cho bạn đọc một nghi vấn nữa về việc dựng truyện để tuyên truyền…

Một đêm tôi nhận được lệnh của ông Trần Anh Liên-Chính ủy Cánh Bắc, điều động Đội Công tác Thanh niên chúng tôi đi đốt lửa trước cửa Ngọ Môn làm dấu hiệu để máy bay ngoài Bắc vào thả dù lương thực và đạn dược cho chiến trường Huế. Đang thiếu gạo, thiếu đạn dược, nghe có máy bay vào tiếp tế thì mừng vô cùng chứ chưa kịp nghĩ chuyện đó có thực hiện được hay không trong bầu trời do quân đội Hoa Kỳ làm chủ và hậu quả về chính trị “Máy bay miền Bắc vào đánh ở miền Nam” sẽ phải giải thích với dư luận thế giới ra sao.

(Đọc tiếp…)

12

XÁC LẬP CHỦ QUYỀN VỀ BIỂN ĐẢO CỦA TRIỀU NGUYỄN QUA CHÂU BẢN

Nguyễn Phước Hải Trung

Ngày 14.5.2014, Châu bản triều Nguyễn được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thế giới khu vực Châu Á – Thái Bình Dương thuộc chương trình “Ký ức thế giới”. Châu bản triều Nguyễn (Châu bản) là tập hợp các tập tấu, sớ, chiếu, chỉ dụ, tư trình, bẩm, truyền, sai, phó, khiển… được đích thân vua ngự lãm hoặc ngự phê bằng mực màu son, truyền đạt ý chỉ hoặc giải quyết các vấn đề chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, xã hội chính từ năm 1802 đến năm 1945. Đặc biệt, trong số Châu bản còn lưu trữ, hiện có hơn 20 văn bản đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc xác lập chủ quyền biển đảo… (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 05.09.2014

HẬN NAM QUAN

HẬN NAM QUAN


Kha Tiệm Ly

alt
Nguyễn Trãi khóc cha là Nguyễn Phi Khanh tại ải Nam Quan

Tổ quốc mất rồi núm ruột Hoàng Sa
Nay lại mất ngàn dặm vuông quan ải
Ai yêu nước mà lòng không tê tái
Bởi núi sông này là xương máu ông cha

Từ đao thù bầm nát mình hải đảo
Thì biển ta đã dậy sóng căm hờn
Nghe đất Lũng Nhai vang lời thề sắt máu
Nghe gươm mài rên đá núi Lam Sơn

Đâu Diên Hồng, đâu cánh tay sát thát?
Đâu Ngô Quyền, đâu Hưng Đạo đại vương?
Đâu ánh mắt luôn rực ngời ánh thép?
Đâu lửa hận thù hun đúc gươm thiêng?

Ta nợ giang san lòng yêu tổ quốc,
Nợ trống Ngọc Hồi, nợ thớt tượng Quang Trung.
Nợ Ức Trai lời Bình Ngô đại cáo
Nợ tổ tiên một dòng máu anh hùng

Chẳng có dịp cho trường giang dậy sóng
Nên cọc Bạch Đằng nuốt hận đứng chơ vơ
Không đủ sức để nâng ngang nòng súng
Ta vẫn còn chất thép trong thơ

Kha Tiệm Ly

99/5 Đinh Bộ Lĩnh Phường 2, tp Mỹ Tho Tiền Giang
Tel: 0987 701 952 – 01229 880 130
Email: khatiemly@gmail.com

KIẾN NGHỊ của một số cựu sĩ quan Lực lượng vũ trang nhân dân gửi Lãnh đạo Nhà nước và Chính phủ CHXHCN Việt Nam

 
 
Ngày 2 tháng 9 năm 2014
 
Kính gửi: – Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Thống lĩnh các lực lượng vũ trang Nhân dân, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh 
-Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng 

Chúng tôi là những người lính trọn đời “Trung với Nước, Hiếu với Dân”, luôn trăn trở với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và Nhân dân. Đứng trước tình hình nghiêm trọng, đe dọa an ninh, chủ quyền và sự phát triển của Quốc gia, chúng tôi vô cùng lo lắng và thấy cần phải kiến nghị với Lãnh đạo Nhà nước một số điểm như sau. 
1. Lực lượng vũ trang mang tên Nhân dân phải luôn luôn vì Nhân dân, nên không được huy động Quân đội và Công an vào bất cứ việc gì có hại cho Nhân dân. Sức mạnh của Lực lượng vũ trang chỉ có được khi dựa vào Nhân dân, nên không được đánh mất tín nhiệm đối với Nhân dân. Vì vậy, để bảo vệ uy tín của Quân đội là lực lượng có nhiệm vụ hiến định “quốc phòng”, tức là bảo vệ Tổ quốc trước ngoại xâm, cần chấm dứt ngay việc huy động Quân đội vào những sự vụ mang tính đối kháng với Nhân dân, như giải tỏa đất đai, ngăn chặn các cuộc biểu tình yêu nước ôn hòa… Để khôi phục uy tín của Công an, nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ hiến định “bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm”, tuyệt đối không lạm dụng lực lượng Công an vào việc đàn áp những người dân vô tội, chỉ yêu cầu giải quyết quyền lợi hợp pháp của mình. 
2. Các chiến sĩ Lực lượng vũ trang chỉ có thể yên tâm rèn luyện và sẵn sàng hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc khi tin tưởng rằng cống hiến của họ luôn được Nhà nước ghi nhận thỏa đáng và gia đình của họ sẽ được Nhà nước chăm sóc chu đáo. Việc cố tình phớt lờ cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 và mấy trận chiến bảo vệ biển đảo không chỉ phủ nhận lịch sử, xúc phạm đồng bào và chiến sĩ đã hy sinh xương máu vì Tổ quốc, mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới tinh thần và quyết tâm chiến đấu của Lực lượng vũ trang. Đó là sai lầm không được phép tái phạm. Để khắc phục hậu quả, phải nhanh chóng giải quyết những cách cư xử không đúng đối với với thương binh và gia đình liệt sĩ. Đặc biệt, phải sớm khôi phục danh dự và quyền lợi đã bị lãng quên của các liệt sĩ và thương binh đã hy sinh xương máu trong chiến tranh biên giới phía bắc và ngoài biển đảo, gấp rút tu bổ các nghĩa trang liệt sĩ dọc biên giới phía Bắc đã bị bỏ bê hơn hai chục năm qua. 
3. Lực lượng vũ trang cần được xác định rõ ràng và chính xác đối thủ, không thể mơ hồ biến thù thành bạn hoặc coi bạn là thù. Đối tượng tác chiến của Quân đội phải là những thế lực có thể đe dọa chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc trong hiện tại và tương lai, chứ không thể là những đối thủ đã thuộc về quá khứ. Đối tượng khống chế của Công an phải là những kẻ tội phạm và các hành vi vi phạm hiến pháp, pháp luật, dù ở trong hay ngoài bộ máy cầm quyền, chứ không thể là những người dân vô tội. Lịch sử đã chỉ ra rằng Nhân dân ta phải thường xuyên đề cao cảnh giác trước nguy cơ ngoại xâm từ nước láng giềng phương Bắc. Việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan HD 981 trên vùng đặc quyền kinh tế của của chúng ta, tuy nay đã tạm rút đi, nhưng vẫn cho thấy họ không hề từ bỏ quyết tâm bá chiếm Biển Đông. Lịch sử cũng cho thấy, sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều nước cựu thù đã hợp tác với nhau rất hiệu quả và bền vững, ví dụ như mối quan hệ giữa CHLB Đức và ba nước Mỹ, Anh, Pháp, giữa Nhật Bản và Mỹ, giữa Việt Nam và hai nước Pháp, Nhật Bản. Do đó, không thể vì những quan niệm bảo thủ, giáo điều mà đánh mất các cơ hội hợp tác với các cường quốc tiên tiến văn minh, nhằm phát triển kinh tế, công nghệ, nâng cao sức mạnh quốc phòng và tăng cường sự ủng hộ quốc tế trong sự nghiệp bảo vệ đất nước. 
4. Là người chủ và người bảo vệ đất nước, Nhân dân và lực lượng vũ trang phải được biết chính xác hoàn cảnh thực tế của Quốc gia. Vì vậy, Nhà nước phải báo cáo rõ ràng với Nhân dân về thực trạng quan hệ Việt-Trung và về những ký kết liên quan đến lãnh thổ trên biên giới, biển đảo và các hợp đồng kinh tế ảnh hưởng lớn đến an ninh và chủ quyền của Quốc gia. Về Hội nghị Thành Đô, có tin nói rằng Tân Hoa xã và Hoàn cầu Thời báo của Trung Quốc đã công bố nội dung thỏa thuận giữa hai bên, trong đó trích dẫn: “Việt Nam mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền trung ương tại Bắc Kinh như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây… Phía Trung Quốc đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc”. Chúng tôi không biết thật giả thế nào, yêu cầu Chủ tịch và Thủ tướng cho chúng tôi và nhân dân biết rõ thỏa thuận tại Hội nghị Thành Đô năm 1990. Chuyến đi thăm Trung Quốc gần đây của đặc phái viên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam đã thỏa thuận với phía Trung Quốc về ba nguyên tắc chỉ đạo phát triển quan hệ Việt-Trung mà nội dung chỉ nhắc lại những câu sáo ngữ, không nói gì tới thực trạng và các biện pháp chấm dứt các hành động ngang ngược của thế lực bành trướng Trung Quốc xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta trong mưu đồ bá chiếm Biển Đông. Chưa biết bên trong còn có những thỏa thuận cụ thể gì, nhưng toàn dân và toàn quân yêu cầu lãnh đạo Đảng và Nhà nước có đối sách đúng đắn trước mưu đồ và hành vi xâm lược của thế lực bành trướng Trong Quốc, không thể chấp nhận thái độ thể hiện sự thần phục họ, và càng đòi hỏi phải công khai, minh bạch thực trạng quan hệ giữa hai bên. 
Trên đây là mấy đòi hỏi cấp bách, nhằm khôi phục uy tín của Quân đội và Công an trong Nhân dân, đồng thời tăng cường sức chiến đấu của Lực lượng vũ trang, để có thể đáp ứng được những thách thức to lớn trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. 
DANH SÁCH NGƯỜI KÝ
 
1. Lê Hữu Đức, Trung tướng – nguyên Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham Mưu.
2. Trần Minh Đức, Thiếu tướng – nguyên Phó Tư lệnh về hậu cần Mặt trận Trị Thiên – Huế.
3. Huỳnh Đắc Hương, Thiếu tướng – nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào.
4. Lê Duy Mật, Thiếu tướng – nguyên Tư lệnh Phó Tham mưu trưởng Quân khu 2.
5. Bùi Văn Quỳ, Thiếu tướng – nguyên Phó Tư lệnh về chính trị bộ đội Tăng–Thiết giáp.
6. Nguyễn Trọng Vĩnh, Thiếu tướng – nguyên Chính ủy Quân khu 4.
7. Bùi Văn Bồng, Đại tá – nguyên Trưởng Đại diện báo Quân đội Nhân dân khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
8. Phạm Quế Dương, Đại tá – nguyên Tổng Biên tập tạp chí Lịch sử Quân sự.
9. Nguyễn Gia Định, Nghệ sĩ ưu tú Điện ảnh quân đội.
10. Lê Hồng Hà – nguyên Chánh Văn phòng Bộ Công an, ủy viên Đảng đoàn Bộ Công an.
11. Phạm Hiện, Đại tá – nguyên Chánh Văn phòng B 68 đoàn chuyên gia giúp Campuchia.
12. Xuân Phương, Đại tá – nguyên chuyên viên Cục Nghiên cứu Tổng cục Chính trị.
13. Nguyễn Đăng Quang, Đại tá – nguyên cán bộ thuộc Bộ Công an.
14. Đào Xuân Sâm, Cựu chiến binh Hà Nội – nguyên chủ nhiệm khoa Quản lý kinh tế Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
15. Tạ Cao Sơn, Đại tá – nguyên Phó Tham mưu trưởng Quân khu 2.
16. Đoàn Sự, Đại tá– nguyên Phó Cục trưởng Cục Xuất bản Tổng cục Chính trị.
17. Lê Văn Trọng, Đại tá – nguyên Trưởng Ban lịch sử Cục Nghiên cứu Bộ Tổng Tham Mưu.
18. Nguyễn Thế Trường, Đại tá – nguyên Tổng Biên tập báo Quân giải phóng Trung Trung bộ.
19. Nguyễn Văn Tuyến, Đại tá cán bộ tiền khởi nghĩa – nguyên cán bộ Viện Lịch sử Quân sự.
20. Nguyễn Huy Văn (tức Kim Sơn), Đại tá lão thành cách mạng – nguyên Phó Trưởng phòng Sở chỉ huy Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham Mưu.

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 04.09.2014

MƯA HUẾ

 

             MƯA HUẾ

Ngô Minh 

1

Con đường dâng trước ngực tôi lời ngợi ca đầy ắp. Cơn mưa rộng dài tâm tình sung mãn thành phố trăm năm trong bóng nước mây dâng tặng mai này. Bước mưa dạo giữa hồn tôi nhẹ nhàng mát mẻ

 

Tất cả tan vào mưa, không gian không chia hướng. Những ô cửa tầng cao lim dim niềm ngẫm nghĩ. Hạnh phúc tiềm ẩn nơi đâu bỗng quánh đặc khoảng trời. Bác xích-lô giad nép lòng mưa mai mỉn cười đón khách, chia người qua đường chút lửa ấm trên môi

 

Những hạt mưa gieo xuống lòng tôi như người trồng rau ngoại ô gieo hạt vào đất ẩm.Tiếng đất nghẹn cồn cào cơn khát hạ say mở lòng chào đón và dắt mưa quấn quýt bước người cày

 

Mưa nảy mần hạnh phúc giữa lòng tay… (Đọc tiếp…)

Việt Nam 1945–  chiếu thoái vị của vua Bảo Đại

  Phụ Lục A: Tờ Chiếu của Vua Bảo Đại sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh

Cựu Hoàng Bảo Đại tại ParisCựu Hoàng Bảo Đại tại Paris

Ba ngày sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh và hai ngày trước khi Việt Minh giành được chính quyền ở Hà Nội, Vua Bảo Đại tuyên cáo với quốc dân, xác định tư cách độc lập của Việt Nam, nhưng tiên liệu việc Pháp có thể theo chân Đồng Minh về tái chiếm Đông Dương. Ông kêu gọi tất cả mọi người yêu nước giúp ông lập chính phủ mới để “đương đầu với một cuộc tái hồi ngoại thuộc. ” (Khi đó, chính phủ Trần Trọng Kim vừa từ chức.) Trước tình hình chính trị sôi động ở trong nước, Vua Bảo Đại đã có một lời nói lịch sử: “Trẫm ưng làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ.”

 

 VIỆT NAM HOÀNG ĐẾ BAN CHIẾU

Cuộc chiến tranh thế giới đã kết liễu. Lịch sử nước Việt Nam hiện tới một thời kỳ nghiêm trọng vô cùng.

Đối với dân tộc Nhật Bản, Trẫm có nhiệm vụ tuyên bố rằng: Dân tộc ta có đủ tư cách tự trị và nhất quyết huy động tất cả lực lượng, tinh thần và vật chất của toàn quốc để giữ vững nền độc lập cho nước nhà.

Trước tình thế quốc tế hiện thời, Trẫm muốn mau mau có nội các mới.

Trẫm thiết tha hiệu triệu những nhà ái quốc hữu danh và ẩn danh đã nỗ lực chiến đấu cho quyền lợi dân chúng và nền độc lập nước nhà mau mau ra giúp Trẫm để đối phó với thời cuộc. Muốn củng cố nền độc lập của nước nhà và bảo vệ quyền lợi của dân tộc, Trẫm sẵn sàng hi sinh về tất cả các phương diện.

Trẫm để hạnh phúc của dân Việt Nam lên trên ngai vàng của Trẫm. Trẫm ưng làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ. Trẫm chắc rằng toàn thể quốc dân cùng một lòng hi sinh như Trẫm.

Trong sự chiến đấu mà ta cần phải đương đầu với một cuộc tái hồi ngoại thuộc, toàn thể dân tộc Việt Nam chắc chắn ở sự đắc thắng của công lý và nhân đạo và tin rằng chỉ một nước việt Nam độc lập mới có thể cộng tác một cách có hiệu quả với tất cả các nước để gây dựng một nền hòa bình vững chắc ở hoàn cầu.

Khâm thử,

Phụng ngự ký: Bảo Đại

Ban chiếu tại Thuận Hoá ngày 10 tháng 7 năm Bảo Đại thứ 20 (Dương lịch ngày 17 tháng 8 năm 1945)

Số 181 CT Ngự tiền Văn phòng cung lục Thuận Hoá ngày 11 tháng 7 năm Bảo Đại thứ 20 (Dương lịch ngày 18 tháng 8 năm 1945)

Quan Tổng Lý

Ký tên: Phạm Khắc Hòe

———-

 

Phụ lục B: Tờ Chiếu Thoái Vị của Vua Bảo Đại

Nguồn: Báo Kiến thứcNguồn: Báo Kiến thức

Ngày 25 tháng Tám, 1945, Vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị để trao quyền cho chính phủ Hồ Chí Minh vừa được thành lập trước đó một ngày. Ôn nhấn mạnh rằng “sự hi sinh của trẫm phải có bổ ích cho tổ quốcÔng đưa ra ba điều mong ước cho chính phủ  mới, đối với tông miếu và tăng tẩm nhà Nguyễn, đối với các đảng phái quốc gia, và đối với quốc dân, tất cả đều hướng về chủ đề “Đoàn kết là sống, chia rẽ là chết ”

VIỆT NAM HOÀNG ĐẾ BAN CHIẾU

• Hạnh phúc của dân Việt Nam  

• Độc lập của nước Việt Nam

Muốn đạt mục đích ấy, Trẫm đã tuyên bố: Trẫm sẵn sàng hi sinh hết cả mọi phương diện, và cũng vì phương diện ấy nên Trẫm muốn sự hi sinh của Trẫm phải có bổ ích cho Tổ quốc.

Xét thấy điều bổ ích cho Tổ quốc lúc này là sự đoàn kết toàn thể quốc dân, Trẫm đã tuyên bố ngày 22 tháng 8 vừa rồi rằng: trong giờ nghiêm trọng này đoàn kết là sống, chia rẽ là chết.

Nay thấy nhiệt vọng dân chủ của quốc dân Bắc bộ lên quá cao, nếu Trẫm cứ ngồi yên mà đợi quốc hội thì không thể nào tránh khỏi nạn Nam, Bắc phân tranh, đã thống khổ cho quốc dân lại thuận tiện cho người lợi dụng.

Cho nên, mặc dầu Trẫm hết sức đau đớn nghĩ đến công lao liệt thánh, vào sinh ra tử trong gần 400 năm để mở mang giang sơn đất nước từ Thuận-hoá tới Hà-tiên.

Mặc dầu trẫm hết sức bùi ngùi cho nỗi làm vua trong 20 năm, mới gần gũi quốc dân được mấy tháng, chưa làm được gì ích lợi cho quốc dân như lòng Trẫm muốn, Trẫm cũng quả quyết thoái vị để nhường quyền điều khiển quốc dân lại cho một chính phủ dân chủ cộng hòa.

Trong khi trao quyền cho chính phủ mới, Trẫm chỉ mong ước có ba điều này:

1. Đối với Tông Miếu và Lăng Tẩm của Liệt Thánh, chính phủ mới nên xử trí thế nào cho có sự thể.

2. Đối với các đảng phái đã từng tranh đấu cho nền độc lập quốc gia nhưng không đi sát theo phong trào dân chúng, Trẫm mong chính phủ mới sẽ lấy sự ôn hòa xử trí để những phần tử ấy cũng có thể giúp vào việc kiến thiết quốc gia và tỏ rằng chính phủ dân chủ cộng hòa nước ta đã xây đắp ở trên sự đoàn kết của toàn thể quốc dân.

 

3. Đối với quốc dân, Trẫm khuyên hết cả các giai cấp, các đảng phái, cho đến cả người Hoàng phái cũng vậy, đều nên hợp nhất mà ủng hộ triệt để chính phủ dân chủ, giữ vững nền độc lập của nước, chứ đừng vì lòng quyến luyến Trẫm và Hoàng gia mà sinh ra chia rẽ.

 

4. Còn về phần Trẫm, sau 20 năm ngai vàng bệ ngọc, đã biết bao ngậm đắng nuốt cay. Từ nay Trẫm lấy làm vui được làm dân tự do của một nước độc lập, chứ Trẫm nhất quyết không để cho ai lợi dụng danh nghĩa của Trẫm hay của Hoàng gia để lung lạc quốc dân nữa.

Việt Nam độc lập muôn năm!

Dân chủ cộng hòa muôn năm!

Khâm thử

Phụng ngự ký: Bảo Đại

Ban chiếu tại lầu Kiến Trung ngày 18 tháng 7 năm Bảo Đại thứ 20  (25 tháng 8 năm 1945)

Số hiệu 1871 GT

Ngự tiền văn phòng cung lục

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 02.09.2014

TRÊN CHIẾN KHU BA LÒNG

TRÊN CHIẾN KHU BA LÒNG

 
Lê Phương
Đại tá – Cựu chiến binh
 
QTXM: Ông Lê Phương – Đại tá, cựu chiến binh – quê làng Hòa Ninh, xã Quảng Hòa, Quảng Trạch, Quảng Bình; vào bộ đội khi 16 tuổi, cùng đơn vị với Nhà văn Phùng Quán. Ngày mới nhập ngũ, ông làm liên lạc, rồi được quân đội cử đi học ở trường “Thiếu sinh quân” (Khu 4). Chưa xong khóa học, do nhu cu của chiến trường, trở về đơn vị trên chiến trường Bình Trị Thiên. Năm 1953 – 1954, được điều ra nước ngoài dự khóa huấn luyện và tiếp nhận pháo cao xạ 37mm; là sĩ quan “Cao xạ pháo” của “Trung đoàn pháo cao xạ 367” chiến đấu trên chiến trường Điện Biên Phủ lịch sử. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông công tác tại Cục Chính trị, Quân chủng Phòng không – Không quân. Nhân dịp Cách mạng Tháng 8 – Quốc khánh 2/9 lần thứ 69, QTXM trích đăng hồi ký “Những tiếng lòng của tuổi xuân” của Đại tá Lê Phương, kể về những ngày tháng chiến đấu ở Chiến khu Ba Lòng – mặt trận Bình Trị Thiên, thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp.
Chiến sĩ văn công từ U Bò – Ba Rền đến Chiến khu Ba Lòng
Cuộc kháng chiến vĩ đại bước sang năm thứ 4. Ngoài Bắc, quân ta đại thắng, mặt trận Bình Trị Thiên có những bước đi lên. Chiến trường cần thêm nhiều chiến sĩ; theo lệnh của Khu uỷ Khu 4, một số lớn học sinh của các trường “Thiếu sinh quân” cần bổ sung cho mặt trận miền Bắc và Phân khu (Bình Trị Thiên). Xác định được nhiệm vụ của mình, tôi trở về hàng ngũ chiến đấu, đó là tháng 2 năm 1950. Cuộc đời “thiếu sinh quân” chỉ vẹn vẹn có 6 tháng.
Trèo đèo lội suối, vượt U Bò – Ba Rền đến chiến khu Ba Lòng, nơi “đầu vào” của mặt trận kháng chiến Bình Trị Thiên. Một sự gặp gỡ bất ngờ trên dốc cao Làng Hạ. Chị hai tôi (con thứ 2 trong gia đình – chị Lê Thị Hạnh Phúc) đi học ở Phân khu về. Hai chị em gặp nhau giữa lưng đèo. Em vào Nam chị ra Bắc, gặp nhau mà nghẹn ngào, chả nói nên lời. Tôi nhìn người chị mến yêu không chớp mắt, gian khổ đã hiện lên khuôn mặt hiền từ của chị. Chị vô cùng ngạc nhiên khi gặp em ở đây, vì tôi mới rời áo lính đi học có mấy tháng, chưa kịp nói rõ lý do cuộc hành quân này. Đoàn của tôi, đội của chị đã cách nhau xa, không thể nấn ná lâu, vì “chúa sơn lâm” đang rình những người đi về (thời kỳ này đã có những chiến sĩ bị hổ vồ trên đường ra trận). Phút chia tay sao mà buồn thế. Tôi đứng yên trên tảng đá nhìn bóng dáng người chị khi đã khuất dần trong cây lá. Chị càng đi càng gần lại quê hương, được gặp mẹ và cac em. Tôi muốn gửi theo chị lời chào với mẹ kính yêu, nhưng chị đã đi xa rồi…

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 01.09.2014

Bàn về chữ “Giá” trong một bài thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm

  •   Thế Anh

Trên tạp chí Kiến thức ngày nay số 839 ra ngày 01-12-2013 có đăng  bài Kỷ niệm về một bài thơ & một câu hỏi chưa lời giải đáp của Nguyễn Cẩm Xuyên. Vấn đề nêu lên rất thú vị: đó là cách hiểu chữ giá trong bài thơ Cảnh nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bài thơ này trong nguyên văn chữ Nôm không có tên gọi. Những người soạn giáo khoa đã căn cứ vào nội dung đặt tên cho bài thơ là Cảnh nhàn và đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường trước đây.

Hiện nay bài thơ cũng được chọn vào chương trình Ngữ văn 10 của bậc THPT và lấy tên gọi là Nhàn. Bài thơ như sau:

Một mai, một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dù ai vui thú nào

Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn, người đến chốn lao xao

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

Rượu đến cội cây đa sẽ uống

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

Bài thơ nôm na, dung dị, không dùng từ Hán – Việt và điển cố cầu kỳ. Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí có nhận xét chung về thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm như sau: Văn chương ông tự nhiên, nói ra là thành, không gọt dũa, giản dị mà linh hoạt, không màu mè mà có ý vị, đều có quan hệ đến việc dạy đời. Bài thơ đã được trao đổi, phân tích, bình giảng của nhiều nhà giáo, giáo sư, cán bộ nghiên cứu, nhà thơ và cả những người yêu thích văn chương nữa. Phần lớn các ý kiến phân tích đều có sức thuyết phục và đã giúp cho các em học sinh hiểu được một cách sâu sắc hơn quan niệm sống của nhà thơ (chữ Nhàn) qua đó thấy được nhân cách và những nét đặc trưng trong phong cách thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm (giọng điệu trữ tình kết hợp với chất triết lý). Thế nhưng cũng có một vị Phó GS đã gán ghép cho cụ Trạng và bài thơ hàng loạt điển cố xa lạ của Tàu[1]. Ông cho rằng người soạn sách giáo khoa giảng cho các em học sinh mai để đào đất, cuốc để xới đất, cần câu để bắt cá là sai, mà phải hiểu như ông là khi phá đề Nguyễn Bỉnh Khiêm lấy ngay điển từ Nhạc phủ – bài Kích nhưỡng ca để mở đề: “Tạc tỉnh nhi ẩm, canh điền nhi thực, nghĩa là đào giếng mà để uống, cày ruộng mà để ăn”. Ông còn trích dẫn tràng giang đại hải tư tưởng Mặc Tử, Trang Tử, Hàn Phi Tử. Về chữ cần câu tác giả bài viết này cũng buộc cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm không được dùng lưỡi câu bình thường và mồi câu thơm như ở quê nhà mà phải câu lưỡi thẳng như cụ Lã Vọng trong lịch sử cổ đại Trung Hoa. Ông gán cho Nguyễn Bỉnh Khiêm điển Trang Tử về cần câu và dẫn bài Trúc Can trong Kinh Thi để minh họa. Sự gán ghép trên đây quả là khiên cưỡng, bởi vì Lã Vọng ngồi câu với lưỡi câu thẳng là để chờ thời và cuối cùng cụ đã đạt được mục đích là giúp Vũ Vương diệt Trụ lập nên triều đại nhà Chu, còn cụ Trạng của chúng ta thì đã từ quan về ở ẩn ở chốn quê nhà, lấy chữ nhàn làm lạc thú nhìn xem phú quý tựa chiêm bao  thì việc gì cụ lại phải bắt chước Lã Vọng. Vị PGS này còn xúc phạm những người viết sách giáo khoa là vẹt hót khi họ phân tích: Bốn mùa xuân, Hạ, Thu, Đông, mùa nào nào thiên nhiên cũng là môi trường sống thanh tao:

Thu ăn mang trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

Hai câu là bộ tranh tứ quý, có cảnh, có người, có mùi vị, có hướng sắc.

Măng trúc và giálà hai loại thức ăn bình dân, quê kiểng bao đời nay, cần gì phải đi tìm gốc gác trong kho thư tịch cổ ngổn ngang của Tàu và trích dẫn lời Mã Viện (14TCN đến 49SCN)- một tên tướng đã từng xâm chiếm và cai trị nước ta – cho rằng, vị măng đông ngon hơn măng cuối xuân, hoặc dẫn chứng những câu chuyện có liên quan đến măng của các danh nhân cổ đại Trung Quốc chẳng dính líu đến câu thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Cái kiểu bình luận văn chương theo lối nói lấy được để phô trương kiến thức biến con chuột thành con voi đã làm cho vị PGS đi quá đà đẩy câu thơ cụ thể của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm lên một phạm trù triết học trừu tượng, siêu hình, thú thật tôi cũng không hiểu ông ta định nói gì, xin ghi lại đây để độc giả tham khảo:

“Câu đầu, Nguyễn Bình Khiêm đưa ăn lên trên và đặt song trùng: ăn (măng)// ăn (giá). Đấy là hình nhi hạ. Câu sau, thi nhân vẫn dùng phương pháp sóng đôi: tắm (hồ)// tắm (ao). Đây mới là hình nhi thượng. Hai câu luận song song đối nhau. Nhưng ngay trong mỗi câu, Nguyễn Bỉnh Khiêm lại chặt đôi: hình nhi thượng trước (măng trúc)// hình nhi hạ sau (giá). Măng trúc do trời ban, thiên nhiên ban; còn giá bởi con người vất vả làm ra. Câu sau vẫn lối cấu trúc: Hình nhi thượng trên – hồ sen do ông xanh tạo hóa, ông ban cho được tắm hương trời; mà nếu, ông xanh không cho thì vui vẻ trở về tắm ao (cũng có thể tắm ao tù) – Hình nhị hạ dưới. Con người tự làm, chẳng phái đội Thiên tử (!).”

Trở lại chữ giá mà tác giả Nguyễn Cẩm Xuyên đề cập đến trong bài viết của mình chúng tôi xin có ý kiến như sau: Trong cấu trúc chữ Nôm có một loại đọc theo âm Hán – Việt nhưng không lấy nghĩa mà chỉ lấy âm. Chẳng hạn một số câu trong Truyện Kiều:

Trăm năm trong cõi người ta (些)

Trải qua (戈) một cuộc bể dâu

Tà tà bóng ngả (我) về tây

Đi đâu (兜) chẳng biết con người Sở Khanh

Chữ ta (些) tiếng Hán có nghĩa là ít, một ít, chữ qua (戈) là một binh khí ngày xưa; ngã (我) là ta, tôi; đâu (兜) cái mũ ngày xưa lúc ra trận; nghĩa của những chữ Hán trên đây không liên quan gì đến nội dung câu thơ, mà chủ yếu là mượn âm đọc.

Chữ giá (蔗, 稼) mà ông đề cập đến trong bài viết cũng thuộc loại này, cho nên không thể hiểu câu thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm là Thu ăn măng trúc, đông ăn mía hay ăn mạch nha được, mà chỉ có một cách đọc và hiểu duy nhất là Thu ăn măng trúc, đông ăn giá (giá đỗ) và lại càng không thể hiểu là băng giá hay nước đá như ông đã phân tích.

Chữ Nôm của các cụ trước đây chưa được điển chế và qui chuẩn hóa, nên một âm có thể viết được nhiều cách tùy trình độ từng người, một chữ cũng có thể được đọc khác nhau, tùy theo từng văn cảnh cụ thể và cảm nhận của từng người, chẳng hạn như chữ nghỉ/nghĩ, nêm/nen, nét ngài/nét người… trong Truyện Kiều.

Một điều đng chú ý nữa là khi thưởng thức văn chương trung đại, ta không nên phân tích quá tỉ mẩn theo con mắt của nhà khoa học hiện đại, như có người đã cố đi tìm cho được hệ đo lường của Trung Quốc thời xưa để xác định chiều cao của Từ Hải trong Truyện Kiều. Măng trúc và giá trong câu thơ, cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng chỉ muốn đề cập đến những món ăn dân dã, quê kiểng và cái thú tắm ao, tắm hồ ở nông thôn khi cụ về ở ẩn tìm thú an nhàn thế thôi, chứ cụ đu có suy nghĩ theo kiểu hàn lâm ăn măng/ăn giá là hình nhi hạ, tắm hồ/tắm ao là hình nhi thượng (!) hay đi câu với lưỡi câu thẳng như người ta đã gán cho cụ.


[1]Xin xem bài đăng trên Tạp chí Hán Nôm số 4/2009 của Nguyễn Đăng Na có nhan đề Về bài thơ số 79 của Nguyễn Bỉnh Khiêm

( Nguồn :VHNA)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 01.09.2014

Di chúc của Lê Nin

Di chúc của Lê Nin

 
Phạm Ngọc dịch từ tiếng Nga/ FB Bùi Quang Minh
Di chúc” của Lênin là toàn văn “Thư gửi đại hội” được vợ ông gửi tới ủy ban trung ương ngay sau khi Lênin qua đời, nó được đọc trước Đại hội lần thứ 13 của Đảng cộng sản vào tháng 5 năm 1924.. Trong số 6 nhân vật được nhắc tên trong Di chúc – Stalin, Trotsky, Zinovyev, Kamenev, Bukharin, Pyatakov nên ủy ban quyết định không công bố công khai. Ủy ban trung ương cho rằng di chúc là hậu quả của tình trạng tâm thần bất ổn của Lenin trong những năm cuối đời, và vì thế, những lời phán xét cuối cùng của ông không đáng tin cậy. Việc không đếm xỉa tới những ý kiến của Lenin sau này được cho là một sai lầm nghiêm trọng.

Sau khi nắm quyền lãnh đạo sau đại hội, Stalin đã trục xuất Trotsky khỏi Nga và sau đó phái người ám sát ông, 4 người còn lại lần lượt bị Stalin hãm hại, bị kết án “tổ chức chống phá nhà nước Xô-viết”, “kẻ thù nhân dân” và bị xử bắn.
THƯ GỬI ĐẠI HỘI
(Di chúc Lenin)
23-12-1922
Theo tôi trong kì đại hội này nên tiến hành một loạt thay đổi trong chế độ chính trị của đảng ta.
Tôi muốn chia sẻ với các đồng chí những dự định tôi cho là quan trọng nhất.
Điều đầu tiên, tôi đặt vấn đề tăng số lượng ủy viên BCHTW lên vài chục cho đến một trăm. Tôi nghĩ BCHTW đang đứng trước hiểm họa to lớn trong trường hợp diễn biến sự kiện xảy ra không có lợi cho ta (ta chưa thể lường trước việc này), – nếu như chúng ta không áp dụng cải cách này.
Tiếp theo, tôi đề nghị đại hội lưu ý đến đặc trưng pháp lí của nghị quyết Ủy ban kế hoạch nhà nước, trong những điều kiện nhất định; vấn đề này liên quan trực tiếp đến đồng chí Trotsky, đến một mức độ nào đó trong những điều kiện nhất định.
Liên quan đến điểm đầu tiên, tức là vấn đề tăng số lượng ủy viên BCHTW, tôi nghĩ việc này thật sự cần thiết để nâng cao uy tín của BCHTW, và quan trọng để hoàn thiện bộ máy nhà nước của ta, hầu ngăn chặn xung đột của một bộ phận nhỏ trong BCHTW có thể gây nên hậu quả lớn, có hại cho số phận của đảng ta.
Theo tôi, đảng ta có quyền đòi hỏi từ giai cấp công nhân 50-100 ủy viên BCHTW và có thể đạt được mà không phải cố gắng quá sức.
Cải cách này tăng cường đáng kể sự vững mạnh của đảng và làm giảm bớt áp lực của cuộc đấu tranh giữa các nước thù địch, mà theo tôi có thể và chắc chắn sẽ gay go khốc liệt hơn trong những năm tới. Tôi nghĩ sự ổn định của đảng ta nhờ biện pháp này sẽ tăng lên cả ngàn lần.
24-12-1922
Vì sự ổn định của BCHTW, như tôi đã nói ở trên, tôi nhận thức được những biện pháp ngăn chặn sự chia rẽ, trong một chừng mực nào đó, những biện pháp này có thể được thực hiện. Vì lẽ, tất nhiên, tên bạch vệ trong tạp chí “Tư tưởng Nga” (hình như là S.S. Oldenburg) đã có lí, một là, khi đặt vấn đề về sự chia rẽ của đảng ta, trên quan điểm chống lại nước Nga Xô-viết của chúng, hai là, đặt vấn đề về mâu thuẫn nghiêm trọng trong nội bộ đảng đối với sự chia rẽ đó.
Đảng ta dựa trên hai giai cấp và vì thế, tình trạng mất ổn định có thể xảy ra và sự sụp đổ cũng không tránh khỏi, nếu giữa hai giai cấp này không thể đạt được một sự đồng thuận. Trong trường hợp đó, thực hiện biện pháp này hay biện pháp khác, nói chung, bàn về sự bền vững của BCHTW là một việc vô ích. Không biện pháp nào trong trường hợp này có thể ngăn chặn được sự chia rẽ. Nhưng tôi hi vọng đó còn là một tương lai rất xa và là một biến cố có xác suất rất nhỏ để chúng ta phải bàn luận trong lúc này.
Tôi nói đến sự bền vững, đảm bảo không xảy ra chia rẽ trong một tương lai gần và tôi có ý định xem xét ở đây một loạt dự định có tính cách hoàn toàn cá nhân.
Tôi nghĩ rằng vấn đề chính yếu của sự ổn định từ quan điểm này là các ủy viên BCHTW, như Stalin và Trotsky. Theo tôi, quan hệ giữa hai người chiếm hơn một nửa hiểm họa chia rẽ, có thể tránh khỏi và để tránh được nó, theo ý kiến tôi, chỉ bằng cách tăng số ủy viên BCHTW lên 50 hoặc 100 người.
Từ khi nắm trọng trách tổng bí thư đảng, đồng chí Stalin đã thâu tóm vào tay mình quyền lực vô hạn mà tôi không dám chắc đồng chí sẽ đủ thận trọng để sử dụng quyền lực này. Mặt khác, đồng chí Trotsky, được chứng tỏ qua việc chống lại BCHTW về vấn đề Bộ dân ủy giao thông, không chỉ nổi bật về khả năng xuất chúng mà thôi. Về phương diện cá nhân, có lẽ Trotsky là người có năng lực nhất trong BCHTW hiện nay, nhưng lại tự tin quá mức và hay bị lôi cuốn bởi khía cạnh hành chính thuần túy của công việc.
Những phẩm chất ấy của hai nhà lãnh đạo xuất sắc của BCHTW hiện nay có thể vô tình dẫn tới sự chia rẽ, và nếu đảng ta không thực hiện những biện pháp đề phòng, sự chia rẽ ấy có thể bùng nổ bất ngờ.
Tôi miễn nêu tính cách những ủy viên BCHTW khác theo phẩm chất cá nhân của họ. Tôi chỉ lưu ý, biến cố tháng Mười của Zinovyev và Kamenev, tất nhiên, không phải là tình cờ, nhưng không thể quy đó là lỗi lầm cá nhân của họ, cũng như không thể quy cho Trotsky không phải là bôn-sê-vích.
Trong số những ủy viên BCHTW trẻ tuổi, tôi muốn có vài lời về Bukharin và Pyatakov. Theo ý tôi, họ là những lực lượng xuất sắc nhất (trong số lực lượng trẻ) và đối với họ, cần chú ý như sau: Bukharin chẳng những là lí thuyết gia quý báu nhất và cứng cáp nhất của đảng, mà còn có quyền được xem như con cưng của toàn đảng, tuy nhiên, khó mà chắc chắn được những quan điểm lí luận của đồng chí có thể được coi là hoàn toàn Mac-xit, bởi có gì kinh viện giáo điều trong đó (đồng chí chưa bao giờ học hỏi, và theo tôi, chưa bao giờ thông hiểu toàn bộ biện chứng pháp).
25-12-1922
Về Pyatakov, không nghi ngờ gì, là người có ý chí sắt đá và khả năng xuất chúng, nhưng lại quá thiên về quản lí hành chính và khía cạnh hành chính của công việc, thành thử không thể dựa vào đồng chí trong những vấn đề chính trị quan trọng.
Dĩ nhiên, những nhận định này khác của tôi chỉ có giá trị trong giai đoạn hiện tại, giả sử như hai cán bộ xuất sắc và trung thành này không có dịp bồi dưỡng thêm kiến thức và thay đổi quan điểm phiến diện của mình.
Bổ sung thư ngày 24-12-1922
4-1-1923
Stalin là người quá thô lỗ và nhược điểm này hoàn toàn có thể chịu đựng được trong quan hệ giữa chúng ta, những người cộng sản, song không thể chấp nhận được trên cương vị tổng bí thư đảng. Vì thế, tôi đề nghị các đồng chí hãy suy nghĩ về biện pháp thuyên chuyển Stalin khỏi trọng trách này và đề cử vào vị trí đó một đồng chí khác, với những phẩm chất ưu tú hơn so với Stalin, cụ thể là kiên nhẫn hơn, trung thực hơn, nhã nhặn hơn, chu đáo với đồng chí hơn, ít thất thường hơn v.v… Tình huống này có thể là không đáng kể. Tuy nhiên, tôi nghĩ, trên quan điểm ngăn ngừa sự chia rẽ như những gì tôi trình bày ở trên về quan hệ giữa Stalin và Trotsky, thì điều này hoàn toàn không hề nhỏ nhặt, bằng không, đó là sự nhỏ nhặt có thể mang một ý nghĩa quyết định.
Ghi chép tiếp theo
26-12-1922
Việc tăng số lượng ủy viên BCHTW lên đến 50 hoặc thậm chí 100 người, theo tôi, phải phục vụ cho hai mục đích hoặc thậm chí ba mục đích, càng nhiều ủy viên BCHTW, càng phải tăng cường việc bồi dưỡng công tác cho các ủy viên và càng giảm nguy cơ chia rẽ do sự bất cẩn nào đó. Việc lôi kéo nhiều công nhân vào BCHTW sẽ giúp công nhân hoàn thiện bộ máy nhà nước của ta, hiện đang rất non kém. Bộ máy của chúng ta, về bản chất, được thừa kế từ chế độ cũ, vì lẽ hoàn toàn không thể cải tạo nó trong một thời gian ngắn, đặc biệt trong điều kiện chiến tranh, nạn đói xảy ra, v.v…. Vì vậy, đối với những búa rìu “phê bình”, với sự mỉa mai hay ác cảm, đang chỉa mũi dùi vào những yếu kém của bộ máy chúng ta, có thể bình tĩnh trả lời rằng những người này hoàn toàn không hiểu gì về điều kiện cách mạng hiện đại. Nói chung không thể nào đủ thời gian trong vòng 5 năm cải tạo lại bộ máy nhà nước, đặc biệt trong những điều kiện như cuộc cách mạng xảy ra ở ta. Sẽ đủ thời gian nếu như trong vòng 5 năm chúng ta thiết lập được nhà nước kiểu mới, trong đó công nhân tiên phong cùng nông dân chống lại tư sản, và trong tình trạng tồn tại hận thù giữa các dân tộc thì vấn đề này là một công cuộc vô cùng to lớn. Tuy nhiên chúng ta không bao giờ được phép lơi lỏng nhận thức về vấn đề này, là về bản chất, chúng ta giành lại bộ máy từ tay phong kiến và tư sản và giờ đây bắt đầu thời kì hòa bìnhvà đảm bảo nhu cầu tối thiểu do nạn đói tất cả nhiệm vụ phải tập trung vào việc hoàn thiện bộ máy.
Tôi hình dung sự việc theo khía cạnh này, vài chục công nhân tham gia vào thành phần BCHTW có thể tốt hơn bất kì một ai khác đảm trách nhiệm vụ kiểm tra, hoàn thiện, và tái lập bộ máy nhà nước ta. Chức năng này đầu tiên thuộc về Ban thanh tra nhà nước công nông, mà hầu như không đảm đương nổi nhiệm vụ và có lẽ sẽ được sử dụng như “cánh tay phụ” hoặc người trợ giúp, trong những điều kiện nhất định, cho những ủy viên BCHTW. Những công nhân tham gia vào thành phần BCHTW, theo ý tôi, phải được ưu tiên không phải từ những người đã kinh qua quá trình phục vụ lâu dài trong nhà nước Xô-viết (thành phần công nhân trong thư này bao gồm cả nông dân), bởi vì trong con người họ đã hình thành những truyền thống nhất định, những thành kiến nhất định cần phải đấu tranh để khắc phục.
Những công nhân từ tầng lớp thấp, thuộc tầng lớp công nhân tiên phong và nông dân, trực tiếp hay gián tiếp, không nằm trong hàng ngũ giai cấp bóc lột, phải được ưu tiên tham gia vào thành phần ủy viên BCHTW, để rồi sau 5 năm họ được đưa vào đội ngũ những người phục vụ nhà nước Xô-viết. Tôi nghĩ, những công nhân ấy, hiện diện tại tất cả các phiên họp của BCHTW, các phiên họp của Bộ Chính trị, nghiên cứu các văn kiện của BCHTW, có thể lập ra bộ khung gồm những đồng sự trung thành với chế độ Xô-viết, một là, có khả năng tạo sự ổn định cho chính BCHTW; hai là, có khả năng thực sự thực hiện đổi mới và hoàn thiện bộ máy nhà nước.
(Phạm Ngọc dịch từ tiếng Nga)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 31.08.2014

AI MUA THƠ TA BÁN THƠ CHO…

  Tượng ĐỢI của Đào Phương

  AI MUA THƠ TA BÁN THƠ CHO…

    Ngô Minh    

  “Bán thơ “, ở góc độ lãng tử là một từ đẹp, thậm chí rất đẹp. Tản Đà thi sĩ từng  “gánh thơ lên bán Chợ Trời” ! Hàn Mặc Tử thì rao : ” Ai mua trăng ta bán trăng cho”. Bán thơ cũng như bán trăng , là bán cái trinh tuyết của tâm hồn . Bán là cách nói cho có vẻ đời thực, chứ thơ, cũng như trăng là thứ  chỉ để ngắm, để tặng, để dâng hiến .. Ngay cả chuyện ra tiệm sách mua một tập thơ của ai đó rồi về tặng người yêu, mượn thơ người khác trao gửi tình cảm của mình cũng là chụyện bất đắc dĩ lắm . Một lần cách đây đã nhiều năm, tôi bươn bả ra hiệu sách ở đường Trần Hưng Đạo, Huế mua cuốn thơ của đại thi hào Targor kẻo sợ hết. Cô bán sách xinh đẹp nhìn tôi tủm tỉm cười rồi đột nhiên hỏi :” Anh mua thơ mần chi ?”. Trời ơi, người đã đẹp lại hỏi “chết người” như rứa, mần răng mà trả lời ! Tôi đoán chắc là sách hết liền xuống giọng cấu khẩn và biến baó :”Ờ, ơ.., tôi mua thơ để tặng cô bạn gái, chị làm ơn..”. Tôi chưa hết câu người đẹp đã cười khanh khách và phán một câu xanh rờn :” Anh phải tự làm lấy thơ mà tặng người yêu, ai lại đi mua thơ người khác để tặng, kỳ chết ” ! Dường như câu nói đó đã xui tôi làm thơ.. ! Vâng đó là một kỷ niệm thật đẹp về chuyện mua bán thơ. Còn chuyện “bán thơ” mà tôi đang “rao” đây lại hoàn toàn tục lụy trong chốn thị trường mồ hôi, nước mắt.. (Đọc tiếp…)

Báo chí Trung Quốc viết về chuyến thăm Trung Quốc của ông Lê Hồng Anh

  •   Nguyên Hải dịch và giới thiệu

 Dưới đầu đề « Tập Cận Bình : Trung Quốc, Việt Nam nên trở lại quỹ đạo phát triển đúng đắn, mối tình hữu nghị truyền thống đáng được quý trọng » , Nhân dân Nhật báo Trung Quốc ngày 27/8/2014 đăng bản tin của Tân Hoa Xã nói về cuộc gặp giữa ông Lê Hồng Anh với Chủ tịch Tập Cận Bình, toàn văn như sau:

Ngày 27 tại Đại Lễ đường Nhân dân, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), Chủ tịch nhà nướcTrung Quốc Tập Cận Bình đã hội kiến với đặc phái viên của Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), Ủy viên Bộ Chính trị ĐCSVN, Bí thư thường trực Ban Bí thư Lê Hồng Anh.

Lê Hồng Anh đã chuyển lời nhắn (nguyên văn khẩu tín) của Tổng Bí thư Trung ương ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch Nhà nước Việt Nam Trương Tấn Sang gửi Tập Cận Bình.

Tập Cận Bình nói : Trung Quốc, Việt Nam là láng giềng gần, lại đều là quốc gia xã hội chủ nghĩa do đảng cộng sản lãnh đạo. Láng giềng gần thì khôngthể dọn đi đâu được, (quan hệ) hữu hảo phù hợp với lợi ích chung của hai bên. Mấy năm gần đây, mối quan hệ giữa hai nướcvề tổng thể phát triểntốt, nhưnggần đây bị xói mòn (nguyên văn xung kích) rất lớn, gây ra sự quan tâm cao độ của nhân dân hai nước và cộng đồng quốc tế. Tổng Bí thư NguyễnPhú Trọng cử đồng chí làm đặc phái viên đếnTrung Quốc tiến hành gặp gỡ cấp cao hai đảng, điều đó thể hiện nguyện vọng phía Việt Nam muốn cải thiện và phát triển mối quan hệ hai nước. Tôi coi trọng lời nhắn của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch Trương Tấn Sang, mong muốn phía Việt Nam và phía Trung Quốc cùng cố gắng  làm cho mối quan hệ Trung-Việt trở lại quỹ đạo phát triển đúng đắn.

Tập Cận Bình nhấn mạnh, cấp cao hai đảng Trung Quốc và Việt Nam nên nắm đại cục, duy trì và tăng cường giao lưu, kịp thời đi sâu trao đổi, kiên trì từ tầm cao chiến lược và góc độ lâu dài dẫn dắt mối quan hệ Trung-Việt, đặc biệt vào thời điểm quan trọngcó sự quyết đoán chính trị đúng đắn. Phía Trung Quốc sẽ tiếp tục nắm phương châm ổn địnhlâu dài, hướng tới tương lai, láng giềng hữu hảo, hợp tác toàn diện, củng cố tốt, phát triểntốt mối quan hệ hai đảng hai nước.

Tập Cận Bình nhấn mạnh, tình hữu nghị truyền thống Trung Quốc-Việt Nam là do nhữngngười lãnh đạothế hệ trước của hai đảng hai nướctự tay xây dựng và hết lòng vun đắp nên, đáng đượcquý trọng và gìn giữ gấp bội. Hàng xóm với nhau khó tránh đượcva chạm, điều quan trọng là dùng thái độ và phương thức như thế nào để đối xử và giải quyết. Hai phía Trung Quốc, Việt Nam cần kiên trì xuất phát từ đại cục giữ gìn tìnhhữu nghị Trung-Việtvà mối quan hệ Trung-Việt, loại bỏ các can nhiễu, giải quyết ổn thỏa các vấn đề liên quan, đặc biệtlà kiên trì dẫn dắt dư luận đúng hướng, vun đắp, giữ gìn tình cảm hữu hảo giữa nhân dân hai nước. Trongcuộc hội đàm với đồng chí hôm nay, đồng chí Lưu Vân Sơn đã trình bày toàn diện lập trườngcủa Đảng và Chính phủ Trung Quốc về mối quan hệ Trung-Việt. Hai bên cần phảiquán triệt vào thực tế nhận thức chung và thành quả cuộc gặp cấp cao hai Đảng lần này, thúc đẩy mối quan hệ Trung-Việtthiết thực đượccải thiện và phát triển.

Lê Hồng Anh tỏ ý : tôi sẽ báo cáo trung thực và đầy đủ với Đảng và Chính phủ Việt Nam lời của Tổng Bí thư Tập Cận Bình. Phía Việt Nam sẵn lòng cố gắng hết sức cùng với phía Trung Quốc duy trì giao lưu cấp cao, tiến hành trao đổi chân thành, tăng cường hiểu biết và tín nhiệm lẫn nhau, tăng cường đoàn kết hợp tác, giải quyết ổn thỏa các vấn đề, cùng nhau thúc đẩy mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai Đảng hai nướckhôngngừng đượccủng cố và phát triển ; điều đó phù hợp lợi ích căn bản và lâu dài của hai nướcvà của nhân dân hai nước, cũng có lợi cho hòa bình, ổn địnhvà phồn vinh của khu vực. Sáng nay tôi đã cùng đồng chí Lưu Vân Sơn tiến hành hội đàm thẳng thắn chân thành và hữu hảo, đạt đượcsự nhận thức chung quan trọng. Phía Việt Nam mong muốn thực hiện tốt nhữngnhận thức chung đó, thúc đẩy việc cải thiện và phát triển mối quan hệ hai Đảng, hai nước.

Ủy viên Quốc vụ Dương Khiết Trì, Phó Chủ tịch Chính Hiệp toàn quốc, Trưởng ban đốingoại Trung ương Đảng Vương Gia Thụy đã tham gia buổi hội kiến.  

 

Về cuộc gặp Lê Hồng Anh – Lưu Vân Sơn, Tân Hoa Xã Trung Quốc ngày 27/8 đưa tin như sau (toàn văn) :

Sáng ngày 27/8/2014 tại Đại Lễ đường Nhân dân, Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị Trung ương ĐCSTQ, Bí thư Ban Bí thư Trung ương Lưu Vân Sơn đã hội đàm với đặc phái viên của Tổng bí thư ĐCSVN, Ủy viên Bộ Chính trị ĐCSVN, Bí thư thường trực Ban Bí thư Lê Hồng Anh.

Lưu Vân Sơn nói, Trung Quốc, Việt Nam đều là quốc giaxã hội chủ nghĩado đảng cộng sản lãnh đạo, mối quan hệ giữa hai nướcmấy năm gần đây về tổng thể giữ được xu thế phát triển ; sự giao lưu hợp tác trên các lĩnh vực quan hệ đảng, ngoại giao, kinh tế thương mại, nhân văn đượctriển khai rộng rãi, đem lại nhữnglợi ích thực sự cho nhân dân hai nước.

Lưu Vân Sơn vạch ra : trong thời kỳ trước đây, mối quan hệ Trung Quốc-Việt Nam có một dạo xuất hiện cục diện căng thẳng, đây là điều chúng tôi khôngmuốn thấy. Vào lúc mối quan hệ Trung -Việt gặp khó khăn,ĐCSVN cử đặc phái viên của Tổng Bí thư đếnTrung Quốc tiến hành gặp gỡ cấp cao hai đảng, điều đó thể hiện ý nguyện chính trị tích cực thúc đẩy sự cải thiện, phát triểnmối quan hệ Trung -Việtcủa Đảng và Chính phủ Việt Nam. Mong rằng phía Việt Nam tiếp tục cùng phía Trung Quốc cố gắng thúc đẩy mối quan hệ Trung -Việttrở lại quỹ đạo phát triểnôn địnhlành mạnh. Lưu Vân Sơn nhấn mạnh Trung Quốc, Việt Nam cần qua hợp tác mà giải quyết ổn thỏa vấn đề trên biển, hai bên cần kiên trì đàm phán song phương và hiệp thương hữu hảo, thiết thực quản lý kiểm soát tốt tình hình trênbiển, thực sự làm đượcviệc cùng nhau khai thác, mở ra cục diện mới Trung Quốc-Việt Nam hợp tác chiến lược toàn diện.

Lê Hồng Anh nói, lãnh đạoĐảng và Nhà nướcViệt Nam coi trọng mối quan hệ song phương Việt Nam-Trung Quốc, đặt nó ở vị trí ưu tiên trongchính sách ngoại giao. Trước sau coi trọng tình hữu hảo truyền thống với phía Trung Quốc, trước sau chân thành mong mỏi thúc đẩy mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai nướclà phương châm nhất quán và chiến lược lâu dài của Đảng và Chính phủ Việt Nam. Trong tình hình quốc tế phức tạp hiện nay, thúc đẩy hợp tác, giải quyết bất đồng, làm cho hai nướcdốc sức vào sự nghiệp của mỗi nước, là điều quan trọng so với bất cứ thời kỳ nào. Tin rằng thông qua sự quyết tâm và cố gắng của hai bên, mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt -Trung ắt sẽ đượckhôi phục và phát triển theo chiều sâu.

Hai bên đạt được nhận thức chung ba nguyên tắc về phát triển mối quan hệ Trung Quốc-Việt Nam : một là lãnh đạohai đảng hai nướcsẽ tăng cường hơn nữa sự trực tiếp chỉ đạo phát triển mối quan hệ hai bên, thúc đẩy mối quan hệ Trung-Việt luôn luôn phát triển lành mạnh ổn định. Hai là hai bên cần tiếp tục làm sâu sắc sự giao lưu về đảng, chú ý khôi phục lâu dài và tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực quốc phòng, kinh tế thương mại, an ninh chấp pháp, nhân văn. Ba là hai bên đồng ý nghiêm chỉnh tuân theo các nhận thức chung quan trọng mà lãnh đạo hai đảng hai nước đã đạt được, nghiêm chỉnh thực hiện « Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa hai nước », sử dụng tốt cơ chế đàm phán biên giới của chính phủ Trung Quốc-Việt Nam, tìm kiếm các biện pháp giải quyết cơ bản và lâu dài mà hai bên đều có thể tiếp thụ, tích cực nghiên cứu và bàn bạc các vấn đề cùng phát triển, không sử dụng hành động làm phức tạp và mở rộng tranh chấp, giữ gìn đại cục quan hệ Trung-Việt và hòa bình ổn định ở biển Nam Hải.

Phó Chủ tịch Chính Hiệp toàn quốc, Trưởng ban đốingoại Trung ương Đảng Vương Gia Thụy đã tham gia hội đàm.  

( Nguồn : VHNA)

Nguyên Hải  dịch theo nguồn tin

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 30.08.2014

Thời nay không đọc là chết

Thời nay không đọc là chết

Từ Sâm

Truyện ngắn

Tôi có thằng bạn, lâu không gặp nhau thì nhớ, mà gặp thì chào hỏi, bắt tay, bai bai không sao chứ năm mười phút tâm sự là bắt đầu sinh chuyện. Y như vợ chồng thường cãi nhau thì sống với nhau cả đời, còn vợ chồng nào không cãi nhau một tiếng, mà đã cãi nhau rồi là to chuyện, có khi cãi nhau trước tòa không chừng. Tôi không bỏ nó, và nó cũng chẳng bỏ tôi. Nó làm ở ban tuyên giáo tỉnh. Đúng là trời sinh voi sinh cỏ. Nó học khoa nuôi, tôi học hàng hải cùng trường Đại học. Những năm tám mươi học nuôi trồng ra trường là thua vì người ta nuôi heo nuôi gà chứ làm gì nuôi tôm nuôi ốc như bây giờ.

 Nó chạy thế nào mà vào được ban tuyên giáo (vợ hắn khoe là mất mấy ký đường, dăm hộp sữa và một năm phiếu thịt). Lúc đầu nó làm phòng tổ chức, sau đi học mấy khóa đào tạo gì đó, rồi học nữa…và như ngày nay. Thỉnh thoảng thấy bài nó đăng trên báo tỉnh, thường là chuyên mục lý luận. Gần đây nhất có bài “Tính thực tiễn và sáng tạo trong văn học nghệ thuật tỉnh nhà”, và “Các văn nghệ sĩ vững vàng trước nền văn hóa ngoài luồng xâm nhập vv.. và vv..”. Các bài viết của nó thường xuất hiện trước kỳ đại hội, đặc biệt là đại hội Đảng, Hội đồng nhân dân vv…nhưng, có khi lại xuất hiện trước đại hội “Câu lạc bộ nuôi dê” vài ngày (tôi biết tỏng là nó viết theo đặt hàng vì dê đang lên giá). (Đọc tiếp…)

NM và tác giả Cửu Phúc

MỘT THỜI ĐỂ NHỚ, CUỐN SÁCH THÚ VỊ VỀ HUẾ THÁNG TÁM NĂM 1945

  Ngô Minh

Một thời để nhớ ( NXB Thuận Hóa, 2014) là cuốn tự truyện của anh Nguyễn Cửu Phúc, nguyên cán bộ giáo viên Trường Cao đẳng sư phạm, Cao đẳng Mỹ thuật Huế  đã nghỉ hưu. Tôi, cũng như nhà thơ Mai Văn Hoan, Hoàng Vũ Thuật , Đỗ Hoàng… quen anh Cửu Phúc mấy chục năm nay. Thỉnh thoảng  về nhà anh ở khu nhà số 2 đường kiệt số 8 (nay kaf nhà 26.1, đường Nguyễn Công Trứ , Huế ) để uống rượu và nghe anh đọc thơ. Thơ anh bài nào cũng dài, tứ mạnh như các bài Protít tẩm mật ông, Howeix Thượng Đế, Chí Phèo…Những lúc ấy tôi chưa hề biết anh viết văn xuôi.Anh cũng chẳng khoe bao giờ. Thế rồi tháng 6/2014 vừa qua, nhà thơ Mai Văn Hoan đưa đến  cho tôi cuốn tự truyện Một thời để nhớ anh tặng. Mai Văn Hoan bảo rằng, anh Nguyễn Cửu Phúc đã viết xong  bộ tự truyện Định mệnh loài người gồm 20 tập, tập đầu là Một thời để nhớ, dày 160 trang .Tôi đọc và thấy cuốn sách rất thú vị. Điệu văn của Nguyễn Cửu Phúc di dỏm, độc đáo, nhiều chi tiết đời thực rất  xúc động. và ám ảnh

      Một thời để nhớ là tập I, là tự truyện về thời niên thiếu của anh và gia đình ở Huế, đặc biệt là những sự kiện đầy biến động năm 1945, khi Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương.  Vì bố anh là ông Nguyễn Cửu Khương. Ông Khương lấy con gái bà Nử sử Đạm Phương, mà gia đình bà Đạm Phương là địa chỉ trung tâm thu hút các nhà hoạt động cách mạng. như Hải Triều ( Nguyễn Khoa Văn), Tố Hữu, Lâm Hồng Phấn, Nguyễn Cửu Thạnh…Cửu Phúc gọi Hải Triều là cậu ruột. Qua Hải Triều, Tố Hữu, Cửu Phúc được biết các văn nghệ sĩ như Phạm Duy, Lưu Hữu Phước, Tôn Thất Đào, Lượng Xuân Nhị, Trần Văn Cẩn …từ đó  anh mê thơ mê họa, Đi học vẽ từ nhỏ và đã thành một họa sĩ thực thụ. Cửu Phúc kể :” Tôi gặp Phạm Duy ở hiệu sách Hương Giang. Lúc đó Phạm Duy đang xem tập Hò Huế của nhà sư Vân Đàm. Phạm Duy vui vẻ dạy cho tôi hát bài Xuất quân mà nhạc sĩ mới hoàn thành: Ngày, bao hùng binh tiến lên / Bờ cõi vang lừng câu quyết chiến !… Kèn  vang theo bước chân đang dồn dập xa xa… (Đọc tiếp…)

Lao động Trung Quốc ở Vũng Áng đủ lập 2 “sư đoàn”

 
Nam Nguyên/ RFA
Cùng với chuyến đi Bắc Kinh ngày 26-27/8/2014 của Ông Lê Hồng Anh, Thường trực Ban Bí thư, Đặc phái viên của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng mà mục đích chính là để làm giảm căng thẳng giữa hai bên, báo chí trong nước đưa tin hơn 1 vạn lao động Trung Quốc sắp đến Vũng Áng Hà Tĩnh.
Vị trí địa lý nhạy cảm về quân sự

Trước biến động tháng 5/2014, số công nhân làm việc tại các gói thầu của dự án Formosa ở Vũng Áng Hà Tĩnh lên tới 26.000 người, trong số này có rất nhiều người quốc tịch Trung Quốc nhưng con số đích thực thì không được công bố. Hiện nay số công nhân làm việc chỉ còn 19.000 người nhưng các nhà thầu đang chờ cấp phép để đưa thêm 11.000 lao động Trung Quốc vào làm việc. Với đợt tăng cường này số lượng công nhân Trung Quốc ở Vũng Áng đủ để thành lập hai sư đoàn.
Dự án Khu liên hợp Gang thép công suất 22 triệu tấn thép/năm và Cảng nước sâu Sơn Dương do Tập đoàn Formosa Đài Loan đầu tư xây dựng  được nhà nước Việt Nam biệt đãi. Dự án này có tổng mức đầu tư 15 tỷ USD được phép sử dụng 3.300 ha, bao gồm 2.000 ha trên đất liền và 1.200 ha diện tích mặt nước ở phía Nam Vịnh Vũng Áng Hà Tĩnh.
Báo chí Việt Nam từng nêu ý kiến phản biện của chuyên gia cho rằng những ưu đãi về thuế và cung cấp tín dụng ngân hàng Việt Nam đặc biệt là ưu thế về đất đai và cảng biển sẽ có thể giết chết hàng loạt doanh nghiệp thép trong nước khi khu liên hợp gang thép Formosa đi vào hoạt động.
Tuy vậy điều mà dư luận quan tâm trước hết là vấn đề an ninh chính trị. Khu Liên hợp Gang thép và Cảng nước sâu Sơn Dương thuộc khu Kinh tế Vũng Áng nằm ở vị trí địa lý nhạy cảm về mặt quân sự. Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành từ Hà Nội phân tích: 
“Vùng Vũng Áng-Hà Tĩnh đó đối diện và gần với Hải Nam. Nếu ngày nào Trung Quốc xây dựng cảng Vũng Áng ấy mà bên Hải Nam chĩa qua ngay Vũng Áng, thì có thể nói Vịnh Bắc Bộ sẽ trở thành một ao hồ của Trung Quốc và nó ngăn cản sự vận chuyển giao thông hàng hải của Việt Nam từ Bắc vào Nam, sẽ ra sao đây? Ngoài ra nó có những nguy cơ về quốc phòng, từ cảng Vũng Áng đi qua Lào chỉ có 50 km thôi. Như vậy nếu có vấn đề gì thì làm sao có thể phòng thủ khi Trung Quốc từ bên Lào đi qua Vũng Áng, 50km chạy ô tô vài tiếng đồng hồ là có thể cắt đôi Việt nam ra hai khúc.”
Trên báo Đất Việt, bà Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ mô tả dự án Gang thép Vũng Áng, cảng nước sâu Sơn Dương là một quyết định đáng tiếc. Nguyên văn lời bà Chi Lan: “Địa điểm địa lý nhạy cảm như thế nào về quốc phòng an ninh thì ai cũng biết cả rồi.” Bà Chi Lan nhấn mạnh tới việc nhà thầu Trung Quốc và công nhân Trung Quốc tham gia phần lớn các gói thầu của dự án này. Được biết công nhân Trung Quốc có thói quen đem theo gia đình sang và ở gần công trường thi công, khá nhiều nơi trở thành những cụm dân cư người Hoa.
Rút đi 4000 nhưng đưa qua 10.000
Bên cạnh câu chuyện Vũng Áng Hà Tĩnh, sự kiện Nhà thầu Trung Quốc, công nhân Trung Quốc có mặt ở hầu hết các dự án lớn nhỏ ở Việt Nam đã và đang gây ra sự quan ngại trong dư luận. TS Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế độc lập ở Hà Nội từng nhận định:
“Sự lo ngại của người dân Việt Nam là hiện nay Trung Quốc đã có những dự án ở Tây Nguyên là một vùng địa bàn chiến lược về mặt quân sự cũng như về mặt chiến lược đối với Việt Nam. Ngoài ra Trung Quốc đầu tư vào nhiều dự án, nhưng khác với các nước khác, Trung Quốc xây một khu riêng và dựng hàng rào lên kín mít và người dân không biết trong đó họ làm cái gì và đấy là công nhân hay là lính hay là họ định chuẩn bị cái gì đây. Cho nên sự lo ngại trong công luận Việt Nam rất là lớn và tôi cũng không hiểu tại làm sao mà trên lãnh thổ Việt Nam lại có những đơn vị Trung Quốc kinh doanh đóng kín như người dân ở Hà Tĩnh nói lại là công an vào họ cũng không cho vào.” 
Ít nhất có 4.000 lao động Trung Quốc đã sơ tán khỏi Vũng Áng sau vụ biểu tình bạo động ngày 14/5 làm một số người Trung Quốc thiệt mạng và bị thương. Lúc đó đó Bắc Kinh đã đưa mấy chuyến tàu vào Cảng Vũng Áng để thực hiện việc di tản. Rút đi 4.000 và bây giờ đưa qua  hơn 1 vạn thì chứng tỏ mọi việc đang bình thường hóa.
Chắc không phải ngẫu nhiên mà báo chí Việt Nam cùng lúc đưa tin về chuyến đi Bắc Kinh của Thường vụ Bộ Chính trị Lê Hồng Anh và sự kiện hơn 1 vạn lao động Trung Quốc sắp vào Hà Tĩnh. Sau vụ giàn khoan Hải Dương 981 và các hành động gây hấn khác của Trung Quốc trên Biển Đông, giới chuyên gia đặt vấn đề thoát khỏi ảnh hưởng Trung Quốc. Điều đáng chú ý là người dân muốn thoát Trung nhưng những gì Đảng Cộng sản và Chính quyền Việt Nam thể hiện thì đi đang ngược lại điều này.

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 28.08.2014

Phạm Duy và Huế

Phạm Duy và Huế

  •   Đặng Tiến

 

Nhạc sĩ Phạm Duy Nhạc sĩ Phạm Duy

Nhạc sĩ Phạm Duy không có quan hệ dây mơ rễ má gì với đất Huế và người Huế, nhưng xứ Thần kinh đã để lại trong nhạc phẩm anh nhiều âm hưởng và hình ảnh sâu đậm, đặc biệt sau bốn lần ghé Huế : 1944 khi đi hát rong ; 1946 sau cách mạng tháng 8, từ chiến khu Nam Bộ về Bắc ; 1948 trong kháng chiến chống Pháp ; và 1953 khi về thành.

1948, từ chiến trường Bình Trị Thiên chống Pháp, Phạm Duy về hoạt động tại vùng địch hậu Đại Lược và nhiều đêm bí mật về gặp gỡ cán bộ, nghệ sĩ nội thành tại Vỹ Dạ, thời điểm sáng tác bài Về Miền Trung :

Ôi quê hương xứ dân gầy, ôi bông lúa,

Con sông xưa, thành phố cũ..

Ngần ấy chữ thôi là cô đọng tất cả hình ảnh chủ yếu về một vùng đất và một thành phố ;không cần đến những « Huế đẹp và thơ », « áo tím, áo trắng, nón nghiêng… » là những vẽ vời, lâu ngày sáo mòn trở nên phù phiếm.

Con sông xưa, thành phố cũ, là đầy đủ, hàm súc và tình nghĩa.

Mùa Xuân 1944, Phạp Duy lưu diễn trong gánh Đức Huy Charlot Miều, từ Bắc vào Nam, ghé Huế, hát tại rạp Tân Tân, trên đường Paul Bert, nay  là Trần Hưng Đạo. Nhạc sĩ chưa sáng tác nhiều, nhưng 1944 là  bước ngoặt quan trọng vì anh khám phá ra dân nhạc Huế, trong nhiều đêm nằm đò lắng nghe những câu hò mái nhì, mái đẩy, những bài Nam Ai, Nam Bình mà trước kia anh chỉ nghe qua đĩa hát. Lần này Phạm Duy nghe trực tiếp, ghi lại nhạc lý, viết thành biên khảo « Những điệu hát bình dân Việt Nam ».

Anh nhắc lại : Âm giai ngũ cung lơ lớ của hò mái nhì khác hẳn với âm giai điều hòa (harmonie tempérée) của Âu Tây và âm giai ngũ cung đúng của dân nhạc miền Bắc. Các cung bực của hò Huế có những cao độ (intervalles) non hơn hay già hơn cung bực trong âm giai Âu Tây, hay âm giai Miền Bắc.

 

Hò mái nhì hay hò mái đẩy là tiếng nói điển hình của người dân tại một miền nên thơ nhất của đất nước Việt. Tiếng hát xây dựng trên một âm giai lơ lớ đã thể hiện được sự thần bí của cõi lòng, vì vậy nên dễ dàng đi sâu vào tâm hồn người nghe hơn là nhạc ngũ cung đúng của Miền Bắc » [1].

1944, Phạm Duy chỉ mới là ca sĩ phụ diễn trên sân khấu bình dân, ngoài hai mươi tuổi ; anh học hỏi thêm về nhạc dân tộc và trao đổi với các vị Vĩnh Phan, Bửu Lộc, Vĩnh Trân.

Về tân nhạc, anh tiếp xúc với Ngô Ganh, VănGiảng, Nguyễn văn Thương.

Anh cũng nếm mùi ái tình tại Huế, như đã nhắc lại trong bài Tình Ca, sáng tác mười năm sau, 1953 :

Tôi yêu những sông trường

Biết ái tình ở dòng sông Hương…

Cách mạng tháng Tám xảy ra khi Phạm Duy đã trở về Hà Nội, 1946. Anh tham dự đoàn quân Nam Tiến, vào Nam Bộ chiến đấu trong chiến khu Bà Rịa, bị thương nhẹ trên cánh tay. Mùa thu 1946, trên đường về Bắc, anh dừng chân mấy tháng tại Huế, cũng để trình diễn « âm nhạc cải cách » theo tên gọi thời đó, chủ yếu là tại phòng trà ca nhạc Quán Nghệ Sĩ, có khi hát cho Đài Phát Thanh. Anh có gặp gỡ các vị Hải Triều, Tố Hữu, Nguyễn chí Thanh. Nhưng chủ yếu là gặp lại bạn cũ, như Vĩnh Phan, Võ đức Duy và nhất là Lưu Trọng Lư, mà anh vừa phổ nhạc bài thơ Tiếng Thu nổi tiếng.

Huế, mùa thu 1946, thời nghỉ ngơi của người chiến sĩ.  Phạm Duy tranh thủ để sáng tác, hoàn chỉnh, biên tập nhiều ca khúc : Thu chiến trường, Chiến sĩ vô danh, Nợ xương máu, nhạc kháng chiến phổ biến một thời.

Khối Tình Trương Chi phảng phất ít nhiều âm hao Huế :

Êm êm dần lan

         Cung Nam Thương mờ vang

Cung Nam Ai thở than

Ai  thương em lầu buồn mỗi lúc khuya tàn cung

Ngoài nhạc điệu ảo não, hình ảnh  người khuê nữ trong bài hát gần với cô gái Huế tân thời, cuổi triều Bảo Đại hơn là cô Mỵ Nương thời các vua Hùng.

Sự thật là có một nàng Tôn nữ như thế, cấm cung trong một dinh thự phía Nam Giao. Anh Trương Chi là chàng ca sĩ trẻ tuổi đẹp trai, nhưng  «  xa cách nhau vì đời » do hoàn cảnh và tình huống đôi bên. Chút tình riêng thầm lặng này giải thích, nhạc và lời lãng mạn, tha thiết của bài Khối tình Trương Chi, mà chất trữ tình dào dạt không có trong những nhạc phẩm kể chuyện cổ tích khác, như Trầu Cau của Phan huỳnh Điểu chẳng hạn.

Sau đó là toàn quốc kháng chiến. Từ Hà Nội, Phạm Duy tham gia kháng chiến chống Pháp, chủ yếu là ở khu Tư, có lúc công tác tại chiến trường Bình Trị Thiên non sáu tháng, 1948 Phạm Duy đã sáng tác Mười hai lời Ru, Bà mẹ Gio Linh, Bao giờ anh lấy được đồn Tây, sau đổi thành Quê Nghèo. Và đặc biệt Về Miền Trung.

Phạm Duy kể :« tôi đã làm công việc phát triển mạnh mẽ cái thanh âm lơ lớ(PD nhấn mạnh) của Miền thùy dương này (…) Tuy nhiên đối với tôi, hình thức không quan trọng bằng nội dung. Bài Về Miền Trung là một bài ca Huế hùng dũng, không bi quan yếm thế như một bài Nam Ai, Nam bình chẳng hạn » [2].

Tại Sài gòn, đài Pháp Á đầu thập niên 1950 là cơ quan phổ biến tân nhạc mạnh nhất. Trong mục nhạc yêu cầu, trong hai năm 1951-1952, Về Miền Trung là ca khúc được thính giả yêu cầu nhiều nhất, không nhất thiết phải từ Huế.

Có thể vì nó là khúc ca tiêu biểu nhất cho người Huế đất Huế.

Tháng 5-1951, Phạm Duy rời kháng chiến về thành, cùng với gia đình nhà vợ. Năm 1953, anh có dịp trở lại Huế sống dài ngày hơn ba lần trước « có đủ thời giờ để biết Huế hơn xưa ». Cuộc sông êm đềm đưa đến dạ khúc Dạ Lai Hương, 1953, một sérénade theo kỹ thuật Âu Tây. Lời ca tràn đầy hạnh phúc « đời vui như ong bay, ngọt lên cây trái… Đẹp duyên người sống cho người… » Phạm Duy gọi là  « cảnh sắc đêm thơm xứ Huế ».

 Thời điểm này Phạm Duy không sáng tác nhiều nhạc trữ tình, nhưng âm hưởng Huế lắng sâu vào tâm thức và sẽ tái hiện trong trường ca Con đường Cái Quan sáng tác rỉ rả từ 1954 đến 1960, nhất là đoạn II Qua Miền Trung với đoản khúc Nước non ngàn dặm ra đi. Ca khúc mới nhất của Phạm Duy về Huế là Huế đa tình, anh vừa mới phổ thơ Bích Khê, đang thu đĩa và  sẽ phát hành cuối năm nay 2010.

*

Nhạc dân gian Huế, những cảnh sắc và tình người cố đô đã để lại  âm hưởng đậm đà trong tác phẩm Phạm Duy, mà đã có nhiều người Huế nhận ra, từ đó gìn giữ nhiều cảm tình với anh Thời Việt Nam khép kín, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường trong một bài viết dũng cảm, có mơ ước một cuộc đoàn viên giữa giới văn nghệ trong và ngoài nước, trong một bữa tiệc tại cồn Giã Viên. Năm 2005, Phạm Duy được về nước lâu dài, các bạn Huế, trước mọi nơi, đã nồng nhiệt đón tiếp, đưa về Gio Linh thăm người Mẹ năm xưa. Họa sĩ Bửu Chỉ cao hứng vẽ một chân dung và tự hào rằng đã phác họa được tất cả chủ đề chính trong nhạc phẩm Phạm Duy. Trong một festival Huế, ban tổ chức đã dự trù trình diễn Con Đường cái Quan, tiếc là dự án bị đình chỉ.

Sắp tới, ngày 5-10 là sinh nhật Phạm Duy, sinh 1921. Tính tuổi ta là anh lên 90, mà sức sáng tác còn sung mãn.

Ấy là cũng do tinh thần yêu nghệ thuật, yêu con người, yêu quê hương qua bao nhiêu cuộc khóc cười qua mệnh nước nổi trôi.
 


[1]Phạm Duy, Hồi Ký I, tr.309, nxb PhạmduyCường, 1990, California. Bài này đã in trong Dân Ca, nxb Văn Nghệ, 1948, Việt Bắc. Và in lại trong Lược khảo về dân nhạc Việt Nam, nxb Hiện Đại, 1970, Sài Gòn.

[2]Phạp Duy, Hồi Ký II, tr. 257, nxb Phạm Duy Cường, 1989, California.

( Nguồn: VHNA)

 

Cụ Nguyễn Khuyến

            NGUYỄN KHUYẾN- CHỐNG THAM NHŨNG  BẰNG BÀI VĂN SÁCH THI ĐÌNH NỔI TIẾNG

                                                                              Ngô Minh

          Nguyễn Khuyến ( 1835- 1909) là một nhà thơ cổ điển lớn của dân tộc, là “sư tổ” của nghệ thuật câu đối Việt Nam. Đồng thời ông còn là một nhà “kinh bang tế thế” mẫn tiệp và chính trực. Năm Tân Mùi ( 1871) trong kỳ thi Đình ở Kinh Đô Huế, Nguyễn Khuyến đỗ Hoàng Giáp Đình Nguyên (Tam Nguyên) với bài văn sách nổi tiếng. Bài văn sách thi Đình ấy là áng văn sắc sảo vạch trần tệ tham nhũng và tâu vua kế sách chống tham nhũng và cải cách hành chính mạnh bạo.  

Khoa thi Đình đó vua Tự Đức đích thân ra đề :” Trẫm thường đọc sách Luận Ngữ , đến chỗ Tử Cống hỏi về chính sự, Không Tử  nói rằng :” Đủ lương thực, đủ binh lính, dân tin theo vậy”. Nhân nghĩ công việc hiện nay, không gì quan trọng hơn điều đó, mà muốn thực hiện điều đó thì sự lựa chọn người tốt lại là quan trọng hơn cả. Trẫm từng đêm ngày lo nghĩ mà vẫn chưa đạt được hiệu quả mong muốn.oông đảo kẻ sĩ các ngươi lúc mới xuất thân ắt hẳn có sở học kinh bang tế thế. Vậy thì những loại việc thiết thực như vậy, suy từ cổ đến kim, nghĩ thế nào, làm thế nào để công hiệu, hãy nói hết với trẫm. Các ngươi chớ lặp lại người khác, chớ bàn phù phiếm, trẫm cũng bất tất phải hỏi nhiều để các ngươi có thì giờ rộng rãi, nói được hết ý nghĩa, xứng với ý muốn của trẫm .”

 

(Đọc tiếp…)

THAM NHŨNG- KẺ HỦY DIỆT TỪ CỦA CẢI ĐẾN TÂM HỒN

 Nguyễn Quang Thân
Tham nhũng, kẻ hủy duyệt văn hóa số 1 - TL (Minh họa)

Tham nhũng, kẻ hủy duyệt văn hóa số 1 – TL (Minh họa)

Cái nguy hại bậc nhất hơn cả nỗi đau mất của là nạn tham nhũng đã thúc đẩy nhanh sự xuống cấp không phanh của văn hóa và thuần phong mỹ tục, những thứ vô giá phải mất hàng trăm năm gầy dựng nên.

Căm phẫn chống bọn tham nhũng thực chất là tiếng kêu thét xé lòng của người lương thiện bị ăn cắp, trấn lột giữa thanh thiên bạch nhật. Từ những vụ cướp bạc tỷ ở những công ty lớn, đến những vụ lặt vặt như ông cảnh sát giao thông “làm luật” vài chục ngàn bạc lẻ. To, nhỏ, lộ hoặc chưa bị lộ, bản chất đều giống nhau: cướp của dân, của nhà nước (thực chất cũng là của dân) về làm của riêng, vinh thân phì gia.

Những người lương thiện bị mất của thì xót xa, nỗi căm giận rất dễ hiểu. Của đau con xót, ai mà không phẫn nộ khi mồ hôi nước mắt chảy vào túi kẻ khác. Của cải xã hội như tấm chăn, có rộng lớn bao nhiêu cũng hữu hạn, người này giàu lên bất chính thì ắt người khác phải nghèo đi.

Nhưng cái nguy hại của tham nhũng không chỉ là chuyện mất của. Văn hóa và văn minh thành thảm hại khi người còng lưng nuôi kẻ ngay, kẻ ngồi mát ăn bát vàng, người lao động lương thiện thì “cơm chan nước mắt”, giật gấu vá vai, vắt mũi bỏ miệng cũng không xong.

Cái nguy hại lớn nhất của tham nhũng không ở chỗ “mất của”. Cũng như trong một gia đình, có bị cháy nhà, bị trộm dọn đồ sạch sành sanh đi nữa thì chí thú làm ăn vài ba năm là có thể phục hồi. Một công ty hay cả một tập đoàn bị tham nhũng làm bại hoại thì bắt nhốt bọn ăn cắp, thay vào người liêm khiết, cơ cấu lại, một thời gian là có thể gượng dậy. Mất mùa, người nông dân chỉ đói năm sáu tháng.

Nhưng một gia đình suy thoái, gia phong, một xã hội suy đồi văn hóa thì không biết bao nhiêu năm, bao nhiêu thập kỷ mới lấy lại được cuộc sống bình thường. Cái nguy hại bậc nhất hơn cả nỗi đau mất của là nạn tham nhũng đã thúc đẩy nhanh sự xuống cấp không phanh của văn hóa và thuần phong mỹ tục, những thứ vô giá phải mất hàng trăm năm gầy dựng nên.
Cái nguy hại bậc nhất hơn cả nỗi đau mất của là nạn tham nhũng đã thúc đẩy nhanh sự xuống cấp không phanh của văn hóa – TL

Tham nhũng mà không bị ngăn chặn, trừng phạt kịp thời thì đó là dịch bệnh nguy hiểm dễ lấy nhất hơn cả dịch hạch hay AIDS. Dễ lây vì, nếu thấy hàng xóm, đồng nghiệp không phải lao động cực nhọc mà chỉ bằng mánh lới thi thố bên bàn nhậu làm giàu nhanh như tên lửa thì ắt rất nhiều người muốn học theo, muốn “lây bệnh”, ngày đêm ao ước, chỉ mong được như anh hàng xóm tốt số kia mà thôi.

Tham nhũng có thể làm một cơ quan, một đơn vị không còn hồn vía đâu mà thực hiện công tác, “nhiệm vụ chính trị”, khi những người có quyền chỉ chăm chăm kiếm cách đút túi càng nhiều càng tốt. Nó biến một cơ quan cao quý như một bệnh viện, một trường học hay một tổ chức “chính quyền vì dân” thành nơi kiếm tiền bất chính. Lương y dễ biến thành hổ báo, cô giáo thành mẹ mìn, sếp cơ quan thành bố già giấu mặt, người trí thức thành tay ăn cắp vặt. Hỏi có mấy người giữ được cái lý tưởng mà họ mong theo đuổi ban đầu? Một cơ quan để nạn tham nhũng hoành hành thì mọi ý tưởng cao quý được hóa phép thành đồng tiền nhơ bẩn và thú vui hưởng thụ sa đọa. Tham nhũng không chỉ làm mất của mà còn làm mất cả hồn xã hội.

Tham nhũng làm đảo lộn giá trị được xác lập theo lương tri con người và văn hóa truyền thống. Khi người lao động chân chính bị tước đoạt thành quả mồ hôi (và có khi cả máu) của chính mình thì những kẻ ăn cắp (nếu chưa bị lộ) trở thành những người rao giảng đạo đức. Nếu kéo dài thì chính những kẻ “ăn cắp” này sẽ biến những người lương thiện quanh mình thành trộm cướp, vì nếu họ không chịu “mặc áo giấy” thì sao có thể “đi cùng với ma”? Họ có thể bị đuổi việc, miệt thị hoặc bị gậy ra đường. Không ít kẻ vì không muốn thành kẻ xấu mà mang họa.

Tham nhũng thóa mạ tình yêu cuộc sống, gây ra sự nghi ngờ lẫn nhau và nếu chỉ như thế thôi nó cũng đã trở thành kẻ hủy diệt văn hóa số một.

Tham nhũng là đầu mối nguyên nhân sâu xa của mọi tệ nạn xã hội, của bi kịch gia đình. Ai có thể bào chữa nổi cho bọn tham nhũng nếu cho rằng nạn các em gái nông dân phải sớm hủy hoại tuổi xuân, đứng đường bán thân hay gửi tuổi xuân cho những ông chồng tàn phế nước người là nạn nhân của chúng? Những thanh niên hư hỏng sa vào vòng trộm cắp, cướp giật cũng vậy. Trừ rất hiếm kẻ mang gien tội phạm cha truyền con nối, đa số trong những kẻ được coi là trộm cướp này là nạn nhân của nạn cướp bóc trên giấy tờ dự án, trên những chữ ký mua bán quyền lực, những mưu ma chước quỷ mà chính họ cũng như các bạn và tôi đều không thể lần ra được manh mối.

Tham nhũng đẻ ra những dự án vô bổ, hoa hòe hoa sói vẽ rắn thêm chân với mục đích chính là số tiền vàng hay nhà đất được chuyển vào túi tham vô đáy chứ không phải vì quốc kế dân sinh như lời hứa não. Dự án, công trình ra sao, có “làm nghèo đất nước” cũng mặc, miễn là tiền thầy bỏ túi. Nó nhấn chìm mọi sáng kiến, ngăn chặn mọi tiến bộ khoa học, kéo lùi văn minh hàng năm, hàng thập kỷ.

Tham nhũng đưa đồng tiền xã hội vào tay bọn ma giáo, biến chúng thành kẻ đạo đức, thành Tiên, thành Phật. Tiền không có lỗi, chỉ là “vật ngang giá” vô tư. Nhưng mỗi khi tiền ở trong tay bọn tham nhũng thì nó không còn là vật ngang giá nữa mà là thứ vũ khí nhơ bẩn của bọn bất lương, nó khuynh đảo mọi thứ tốt lành thành một nồi cám heo mất kỷ cương, biến tiêu chí công bằng xã hội trên ngọn cờ thành trò cười thảm hại.

Tham nhũng thóa mạ tình yêu cuộc sống, gây ra sự nghi ngờ lẫn nhau và nếu chỉ như thế thôi nó cũng đã trở thành kẻ hủy diệt văn hóa số một.

Tội ác xẩy ra hàng ngày, y tế, giáo dục xuống cấp, khoa học, nghệ thuật trì trệ có nhiều nguyên nhân nhưng hàng đầu là từ nạn tham nhũng. Hãy sáng suốt để tìm ra mối liên hệ đau buồn giữa một cô gái nhảy cầu vì tuyệt vọng, một nông dân phải sang biên giới bán thận lén lút hay một sinh viên vào tù vì mang hộ hàng cấm với một ông kẹ quần áo chỉnh tề, thơm nức ngồi bán chữ ký trong những văn phòng lộng lẫy.

( Nguồn :vanviet…)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 26.08.2014

CÓ NÊN ĐẶT VẤN ĐỀ THOÁT TRUNG?

CÓ NÊN ĐẶT VẤN ĐỀ THOÁT TRUNG?

Giang Nguyên

Tôi không muốn nghe hai chữ “thoát Trung” vì nó đau lòng quá khi bị gợi lên cảm giác tủi buồn, yếm thế của sự trốn chạy. Thật vậy. Thoát là gì? Từ điển Tiếng Việt giải nghĩa; Thóat là “ra khỏi nơi kìm hãm, nguy hiểm thoát chết trong gang tấc”. Thoát, muốn dịch ra tiếng Pháp phải dùng chữ sortir hoặc échapper. Muốn dịch ra tiếng Anh phải dùng một trong các chữ: to escape, to exit, to quit.

Thực tế, đã bao giờ chúng ta nhập vào đâu mà phải hò nhau thóat ra, đã bao giờ entrer đâu mà phải xin sortir. Và, việc gì mà phải “escape”. Ông Hoàng Cao Khải chắc chắn không đúng khi nói: “Dân tộc Nam ta là Hán tộc không còn nghi ngờ gì nữa”. Cũng không thể đồng ý với GS Nguyễn Văn Tuấn (Australia) trong bài “Một phiên bản của  “Nói “tương đồng” thì có vẻ oai, chứ Tàu nó chỉ xem Việt Nam chỉ là một phiên bản của họ. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 25.08.2014

Một vấn đề cần kiểm chứng

GS Tương Lai

Một vấn đề cần kiểm chứng

Tương Lai

Trong bài viết của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trên tạp chí Cộng sản và được công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng có một chi tiết cần kiểm chứng.

Đó là câu trích dẫn được cho là lời của Trần Hưng Đạo:

Những bài học giữ nước của cha ông ta để lại là hết sức quý giá với chúng ta ngày nay. Những cảnh báo của nhà bác học Lê Quý Đôn về những nguy cơ làm mất nước: Một, trẻ không kính già; hai, trò không trọng thầy; ba, binh kiêu tướng thoái; bốn, tham nhũng tràn lan; năm, sỹ phu ngoảnh mặt là điều chúng ta cần phải suy ngẫm; hay những lời nói của Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn: phải biết chủ động rút củi đáy nồi, phải kiềng canh nóng mà thổi rau nguộitrong xử lý quan hệ với kẻ thù; vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, cả nước góp sức, giặc phải bị bắt, xây dựng quân đội một lòng như cha con thì mới dùng được, phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc là thượng sách giữ nước… vẫn còn nguyên giá trị với chúng ta hôm nay.

 Câu “rút củi đáy nồi” trích từ văn bản sử liệu nào?

Liệu có phải trích từ Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo không vì đi liền với câu sau cho phép suy ra như thế:“phải kiềng canh nóng mà thổi rau nguội”?

Nếu đúng là trích trong Hịch tướng sĩ thì trích không chuẩn xác.

Nguyên văn của câu đó như sau:“Nay ta bảo thật các ngươi: Nên cẩn thận như nơi củi lửa, nên giữ gìn như kẻ húp canh, dạy bảo quân sĩ, luyện tập cung tên, khiến cho người nào cũng có sức khỏe như Bàng Mông và Hậu Nghệ, thì mới có thể dẹp tan được quân giặc[...]”(theo bản dịch của Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược ấn hành năm 1921, nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh in lại năm 2000).

Cùng với bản dịch của Trần Trọng Kim, còn có nhiều bản dịch khác của những học giả đáng kính như Phan Kế Bính, Ngô Tất Tố…, nhưng có lẽ bản của Trần Trọng Kim là trọn nghĩa và súc tích hơn cả (Phan Kế Bính: “Nay ta bảo thật các ngươi: Nên lấy việc đặt mồi lửa dưới làm nguy; nên lấy điều kiềng canh nóng mà thổi rau làm nguội làm sợ”. Ngô Tất Tố: “Nay ta bảo các ngươi: Cái chuyện dấm đống củi phải lo, mà câu sợ canh thổi rau nên nhớ”).

Nếu lùi trở lại, trong Đại Việt sử ký toàn thư, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam dịch theo bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697), Nhà xuất bản Khoa học Xã hội ấn hành năm 1998, thì nguyên văn câu trên như sau:“Nay ta bảo thật các ngươi: Nên nhớ chuyện đặt mồi lửa vào dưới đống củi* làm nguy cơ, nên lấy điều kiềng canh nóng mà thổi rau nguội** làm răn sợ. Hãy huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ, để có thể bêu đầu Hốt Tất Liệt dưới cửa khuyết, phơi xác Vân Nam Vương ở Cảo Nhai. (Chú thích *:Câu trong Hán thư:Ôm mồi lửa đặt dưới đống củi rồi nằm lên trên, lửa chưa kịp cháy vẫn cho là yên.Chú thích **:Câu trong Sở Từ:Kẻ sợ canh nóng thường thổi cả rau nguội”).

Dựa vào những văn bản đáng tin cậy trên, có hai điều cần nói rõ:

1.Câu trích trong bài viết của ông Chủ tịch Nước là không đúng, càng không thích hợp khi cho rằng câu trích trên là để hướng đến hành động trong xử lý quan hệ với kẻ thù. Hoàn toàn không phải vậy, đây là những điều Trần Hưng Đạo căn dặn các tướng lĩnh phải quan tâm dạy bảo quân sĩ.

Người chuẩn bị văn bản đưa ra câu trích này đã lẫn lộn, nếu chưa muốn nói là đánh tráo đối tượng của câu trích, có thể chỉ do nhầm lẫn. Nhưng sẽ nguy hiểm hơn là có thể dẫn đến chỗ làm người đọc hiểu rằng ai đó đã cố tình mượn lời của tiền nhân để minh họa và bào chữa một cách thô thiển cho những chủ trương, đường lối và hành động hèn nhát đối với Trung Quốc khi mà kẻ xâm lược đã hiện nguyên hình.

2. Câu trích được gán cho Trần Hưng Đạo“rút củi đáy nồi” để vận dụng “trong xử lý quan hệ với kẻ thù”, nếu nghĩ kỹ chính là một sự xúc phạm đến truyền thống của ông cha trong cuộc đấu tranh đánh giặc giữ nước. Trong chiến thuật quân sự cũng như trong sách lược ngoại giao, ông cha ta quả đã biết cách “rút củi đáy nồi” khi đã xác định một khí phách quả cảm không khuất phục trước kẻ thù cho dù chúng mạnh đến đâu.

Rút củi đáy nồi”, nếu đúng nghĩa của nó thì cũng tuyệt đối không thể và không phải là đường lối “đu dây”.

22.8.2014

T. L.

( Nguồn :BVN)

 

 Du khách đổ xô đến xem…mộ bố ông Tập Cận Bình

 
 
theo Một thế giới 
 
Từng là trung tâm của con đường tơ lụa cổ xưa, thành phố Tây An của Trung Quốc nhanh chóng trở thành một trung tâm du lịch. Một trong những điểm hút khách hành hương là đi thăm mộ phần của ông Tập Trọng Huân, cha của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Đây là thông tin được tờ Zee News của Ấn Độ xác nhận.Ông Tập Trọng Huân từng là phó thủ tướng Trung Quốc từ 1959 đến 1962 nhưng ông cũng bị bức hại trong Cách mạng Văn hóa, một phong trào chính trị-xã hội dưới thời Mao Trạch Động kéo dài một thập kỷ từ năm 1966 đến năm 1976.Tập Trọng Huân bị buộc phải tự kiểm điểm và bị “đày” đi một nơi xa làm phó giám đốc cho một công ty chế tạo máy cày ở Lạc Dương khi Cách mạng văn hóa chớm mở hồi giữa thập niên 60.Trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa, ông bị ngược đãi, bỏ tù trong một thời gian dài ở Bắc Kinh. Mãi đến tháng 5.1975 ông mới được thả và phải sau khi Bè lũ 4 tên bị hạ thì ông mới được trọng dụng làm Bí thư tỉnh ủy Quảng Đông.“Nghiêng mình ba lần để tỏ lòng tôn kính với lãnh đạo”, hướng dẫn viên nói với đám đông ở phía trước của bức tượng bằng đá sa thạch khổng lồ tạc hình ông Tập Trọng Huân ở Tây An.Tưởng niệm ông Tập Trọng Huân bây giờ rất được quan tâm, đặc biệt là khi là con trai của ông, Tập Cận Bình nổi lên như một nhà lãnh đạo mạnh mẽ của Trung Quốc. Ông Tập Cận Bình giờ đã thâu tóm 3 chức vụ ảnh hưởng nhất Trung Quốc là Chủ tịch nước, tổng bí thư và bí thư đảng ủy quân sự.Tỉnh nhà của Chủ tịch Trung Quốc là Thiểm Tây với thủ phủ là Tây An, từng là kinh đô nhiều triều đại, hiện đang sẵn sàng để tìm lại vinh quang cũ và nó đang được tái thiết giống như là điểm khởi đầu của Con đường tơ lụa mới.Hàng tỷ đô la đầu tư đang đổ vào thành phố Tây An. Dường như Trung Quốc đang xây dựng rất nhiều công trình để biến quê hương của ông Tập Cận Bình thành một khu vực sầm uất, phát triển.
Đăng bởi: Ngô Minh | 24.08.2014

VÕ THỊ THẮNG: có một nụ cười khác

VÕ THỊ THẮNG: có một nụ cười khác

Ghi chép của Đào Hiếu

 Tám giờ mười lăm phút sáng ngày 22/8/2014 chị Võ Thị Thắng, uỷ viên trung ương đảng CS Việt Nam, nguyên Tổng Cục Trưởng Tổng cục Du lịch Việt Nam đã từ trần tại TPHCM sau một thời gian dài bị bệnh nan y.

Với tư cách là “người nhà” của chị, tôi xin ghi lại đôi điều mà tôi từng được nghe chị kể cùng với những kỷ niệm nhỏ giữa tôi và chị như một sự bày tỏ lòng thương tiếc và yêu mến.

*

Trước đây tôi không từng hoạt động chung với chị vì hai người ở hai đơn vị khác nhau nhưng do sự sắp xếp ngẫu nhiên của xã hội mà sau này chúng tôi trở thành người nhà với nhau: chị làm dâu, còn tôi làm rể họ Trần.

Trong chuyến về quê chồng (Bình Định) tảo mộ, gia đình chị và tôi cùng đi trên một chiếc xe mười sáu chỗ của ngành du lịch. Suốt hai ngày đường, chúng tôi nghỉ lại nhiều nơi và đó là dịp mà chị đã kể lại những “biến cố đầy kịch tính” mà chị đã phải trải qua trong suốt thời gian làm Tổng Cục Trưởng. Những biến cố ấy có thể viết thành một cuốn sách dày, li kỳ hấp dẫn như phim hình sự Mỹ. Nhưng chị không dám viết, cũng không dám nhờ tôi viết dù tài liệu thì có rất nhiều. Tôi nghĩ rằng một ngày nào đó những tài liệu ấy sẽ được công bố, hoặc là cuốn sách ấy sẽ được viết ra, nhưng bây giờ thì không.

 

Bây giờ chỉ có ký họa.

Bây giờ chỉ vài đường nét bằng bút chì, bằng ngón tay nguệch ngoạc trên cát biển Qui Nhơn, bằng hòn than vẽ  trên bức tường cũ… phác thảo bi kịch của một người đàn bà có địa vị ngang hàng với bộ trưởng, một người từng gan lì truy sát địch hàng giờ với một khẩu súng rỉ sét, một nữ sinh trường Gia Long đã nghĩ ra được câu tuyên bố để đời. Rồi cuối cùng chiếc ghế Tổng Cục Trưởng mà người ta trao cho chị cũng bị đặt trên bốn trái mìn nổ chậm được làm bằng lòng đố kỵ, bằng thù oán cá nhân, bằng những mưu đồ ma quỷ.

Người con gái “anh hùng” ngày xưa chợt biến thành nhân viên CIA Mỹ với tập hồ sơ dày cộm.

Đó là những ngày cuối năm 1996. Nhiều nhân vật có tình cảm với Võ Thị Thắng trong Bộ Chính Trị đều rất bàng hoàng. Con chạch lại leo lên đẻ trên ngọn đa! Vậy mà người ta vẫn có đầy đủ những tài liệu về một con chạch như vậy!

Và nhiều kế hoạch “ám sát” đã được nghĩ đến: xông thằng vào cuộc họp quốc hội “bắt nóng”? Hay bắn tỉa? Bắn ở đâu?

Năm 1999 Tổng Cục Trưởng Võ Thị Thắng nhận được giấy mời sang Mỹ dự hội nghị về du lịch. OK. Sao không cho người bắn tỉa tại sân bay Los Angeles? Ngay khi đối tượng bước ra cổng phi trường là gởi một viên đạn vào đầu rồi đổ thừa cho CIA giết người diệt khẩu. Thật gọn nhẹ.

Kế hoạch lập tức được triển khai. Một anh chàng James Bond 007 mũi tẹt da vàng được chọn trong đám thân tín tại Mỹ để thực hiện Mission Impossible này. Và Mme Thắng không hề hay biết gì về âm mưu đó.

Mấy hôm sau chị lại nhận được một giấy mời của ngành du lịch Trung Quốc. Và, một cách ngẫu nhiên, chị đã chọn đi Trung Quốc.

Chàng James Bond ngồi ngáp ruồi ở sân bay Los Angeles.

Không giết được tên CIA Võ Thị Thắng ở Los thì sẽ bắt cóc hắn tại sân bay Nội Bài khi hắn ta trở về Việt Nam.

Một phương án mới được triển khai ngay lập tức: khi máy bay đáp xuống, xe con của Tổng Cục Du Lịch đến đón sếp thì sẽ có một xe mười sáu chỗ trờ tới, ép nó sát lề, chặn đầu. Khống chế tài xế, bắt cóc bà Tổng Cục Trưởng chạy ra khỏi phi trường, thẳng về nơi giam giữ.

Và mọi việc đã xảy ra y như kịch bản. Nhưng khi những kẻ bắt cóc mở cửa chiếc xe con của Tổng Cục Du Lịch thì chỉ nhìn thấy “bác tài” đang “há hốc mồm” vì kinh ngạc.

-Bà Thắng đâu?

-Xe khác đã đến đón rồi!

Sự thực chẳng hề có chiếc “xe khác” nào cả. Chỉ có phép lạ của phật bà Quán Thế Âm Bồ Tát. Ngài đã làm cho chiếc va-li của Võ Thị Thắng lạc mất. Mme Thắng xuống máy bay nhưng không tìm thấy hành lý, đứng chờ ở cái vòng xoay cả tiếng đồng hồ. Tài xế chiếc xe con đến đón bấm điện thoại di động gọi nhưng tắt máy, anh ta tưởng sếp đã có người nhà đến đón nên chạy xe không về và bị những kẻ bắt cóc ép vô lề.

Mme Thắng tìm được hành lý thì đã quá trễ. Chị đành gọi một chiếc taxi.

*

Kẻ thù giấu mặt ấy là ai? Chị biết, Bộ chính trị cũng biết nhưng không làm gì được.

Và bà Tổng Cục Trưởng đã nghĩ đến cái chết. Nhiều người trong Bộ chính trị không tin những hồ sơ ngụy tạo ấy nhưng cũng không “dám” bác bỏ. Chị gần như đơn độc. Chỉ trừ một người bạn giấu mặt. Một ân nhân của chị mà cho đến giờ này, khi sóng gió đã yên, khi một số tay chân của kẻ thù đã bị Bộ công an bắt, bị tòa án xét xử và khi chị đã nghỉ hưu… chị cũng không hề biết người đó là ai?

Trong những lúc lâm nguy nhất, người đó đã gọi điện cho chị, từ một trạm điện thoại công cộng, và báo cho chị hay rằng đang có một âm mưu như thế, như thế… rằng sự việc sẽ diễn ra như thế, như thế…

Nhưng đó cũng chỉ là những an ủi nhất thời. Tuy nhiều lần người ấy đã cứu chị thoát chết nhưng tại sao chị phải lâm vào tình thế ấy? Tại sao lại phải sợ hãi những kẻ đứng trong bóng tối? Tại sao kẻ trong sạch lại phải sợ bọn tội phạm? Tại sao một cán bộ cao cấp như chị lại phải sợ một thứ quyền lực đen nào đấy?

Và đã có lúc chị cầm một sợi dây thòng lọng. Chị cuộn nó lại, giấu trong túi xách, đến soi mặt mình trong gương. Một đêm mất ngủ. Và khóc. Một đêm ngồi trong góc tối của căn phòng nhìn chồng nhìn con và nhìn bức ảnh nổi tiếng của mình. Bức ảnh chụp chị đứng trước tòa án, giữa hai người quân cảnh đeo kính đen. Chị nhìn cái miệng cười của mình. Nước mắt lặng lẽ lăn xuống gò má. Bởi vì giờ đây chị không “được” đứng trước một tòa án để mà cười. Chị đang đứng trước một thế lực vô hình, chị đang bị rình rập, truy sát.

Ngày xưa chị nhìn thấy kẻ thù ngay trước mặt, chị bắn nó bằng một khẩu súng rỉ sét nhưng chị ở thế chủ động, chị là thợ săn còn kẻ địch là con mồi. Bây giờ thì chị không biết kẻ thù đang đứng chỗ nào, mặt mũi nó ra sao. Bây giờ chị có một khẩu K59 mới tinh nhưng chị sẽ bắn vào đâu? Bắn vào bóng tối? Vào hư vô?

Không ai trả lời những câu hỏi ấy và điều đó làm chị tuyệt vọng.

Sẽ phải treo sợi dây thòng lọng ở đâu? Trên xà nhà? Trước cửa? Hay trên một cành cây?

Không thể chết tầm thường được. Phải biến nó thành một lời cảnh tỉnh, một cáo trạng. Có lẽ chỗ tốt nhất là Hội trường Văn phòng Trung ương Đảng.

Chị quyết định vào đó để chọn một vị trí thích hợp.

Thính phòng im phăng phắc. Sân khấu mờ ảo. Những dãy ghế quen thuộc cũng đang lặng thinh, nín thở, chờ xem người đàn bà quen mặt này sẽ làm gì. Chị bước lên sân khấu, ngước nhìn những phông màn, những giàn đèn và những sợi dây kéo. Chị đi một vòng, chậm rãi, thầm lặng. Rồi chị bước xuống những bậc cấp, tìm đến chiếc ghế mà chị vẫn thường ngồi trong các phiên họp Ban chấp hành Trung ương Đảng.

Chiếc ghế ôm chị vào lòng nó, cũng mềm mại, ấm áp như ngày nào. Chị ngửa cổ, tựa đầu vào lưng ghế. Và khóc.

Dường như chị có thiếp đi được một lúc cho đến khi chuông điện thoại reo. Chị mở túi xách, Chiếc điện thoại màu bordeaux đang sáng lên giữa những cuộn dây thòng lọng.

Đó là cuộc gọi của người vô danh, ân nhân giấu mặt của chị. Chị nhận ra giọng nói quen thuộc. Nó ấm áp và chậm rãi. Những lần trước, chị đã cố nghĩ xem đó là giọng của ai nhưng không biết được. Chị chỉ biết chắc người đó đã gọi cho chị theo lệnh của một đồng chí nào đó trong Bộ Chính Trị. Lần này giọng nói ấy chỉ là một câu đơn giản.

-Bộ công an đã bắt hết chúng rồi. Chúc mừng đồng chí.

Chị lặng người đi. Hội trường như sáng lên. Chị thọc tay vào túi xách, nắm chặt sợi dây thòng lọng.

Chị thấm nước mắt bằng chiếc khăn rằn của du kích Miền Nam mà chị đã chuẩn bị sẵn. Chị nhìn thẳng lên sân khấu và cười. Tiếc thay anh nhà báo người Nhật năm nào đã không có mặt để ghi lại nụ cười ấy. Nó vẫn đẹp. Và nếu được công bố với đầy đủ những tình huống đắng cay thì nụ cười trong buổi sáng cuối năm 2000 ở Hội trường này cũng sẽ trở thành một huyền thoại, và có khi còn nổi tiếng hơn cả nụ cười của mấy mươi năm về trước.

Đ.H

Nguồn: daohieu.wordpress.com

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.08.2014

CHÙM THƠ NGÔ MINH TẶNG NGƯỜI ĐƯƠNG THỜI

 

  Thơ Ngô Minh   

LẠY CỤ NGUYỄN DU

lạy này xin cụ xá cho

cô Kiều năm ấy mới vừa qua đây

 nom chừng son phấn thêm dày

cầm ca  một thuở đã  phai nhạt rồi

 

lạy này xin cụ đánh roi

trăm năm báo oán mà đời oán dâng

lũ Tú bà, Mã Giám Sinh

nhung nhúc Ưng Khuyển, Sở Khanh…nảy nòi

 

 lạy này xin cụ ngậm cười

văn chương trần thế chín mười đơn sai

chữ tâm  rơi rớt  dặm dài

chữ tài liền với chữ tai… Thôi thì…

 

 lạy này xin cụ say vì

cháu con thơ lại đến quỳ trước thơ

Tiên Điền mây cỏ ngẩn ngơ

 trăm phần trăm chén giang hồ

                                    Nguyễn ơi…

 

Cửa Lò, 2006 (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.08.2014

Nhìn lại Xung Đột Việt-Trung

Nhìn lại Xung Đột Việt-Trung

Nguyễn Quang Dy/Viet-studes 
 
Tháng 5/2014, Hà Nội nóng bỏng bất thường ngay đầu hè. Rõ ràng Trung Quốc góp phần làm cho trái đất nóng lên. Đặc biệt Biển Đông càng nóng bỏng hơn. Trung Quốc đăt dàn khoan khổng lồ HD 981 taị vùng biển của Việt Nam từ đầu tháng 5 để tranh cướp chủ quyền, thổi bùng lên làn sóng chống Trung Quốc ở Việt Nam và khắp khu vực.


Nghịch lý yêu-ghét trong lịch sử quan hệ Việt-Trung đầy bi kịch thường dẫn đến xung đột lợi ích quốc gia, kể cả chiến tranh. Năm 1979 Trung Quốc đã xâm lược Việt Nam trong cuộc chiến biên giới đẫm máu, sau ba thập kỷ gắn bó như “môi với răng” vì cùng chung ý thức hệ. Liệu lịch sử có lặp lại lần nữa tại Biển Đông? Nước cờ tiếp theo của Trung Quốc là gì? Liệu Trung Quốc có xô đẩy Việt Nam vào vòng tay người Mỹ, giống như vào vòng tay người Nga năm 1979? Việt Nam phải làm gì để có thể sống yên ổn bên cạnh người láng giềng khổng lồ? 
 Bối cảnh lịch sử
Không có bạn thù vĩnh viễn, chỉ có lơi ích vĩnh viễn

 Napoleon Bonaparte đã từng nói, “Trung Quốc là gã khổng lồ đang ngủ. Hãy để cho nó ngủ yên, vì khi thức dậy nó sẽ làm đảo lộn thế giới”. Người Mỹ đã không nghe lời khuyên đó. Họ đã giúp gã khổng lồ trỗi dậy bằng chính sách “can dự xây dựng”. Nhưng họ đã đi quá đà nên bây giờ bắt đầu ân hận, phải tìm cách ngăn chặn sự trỗi dậy hung hăng của nó. Kế hoạch “xoay trục” và TPP (Tran-Pacific Partnership) để “tái cân bằng” sự trỗi dậy của Trung Quốc làm ta nhớ lại thập niên 1950 và 1960 khi Mỹ dùng SEATO (South East Asia Treaty Organization) để ngăn chặn nguy cơ Trung Cộng. Hình như lịch sử đang lặp lại, nhưng với trò chơi mới và luật chơi mới.

 Ông Kissinger được ghi nhận là kiến trúc sư của Chính sách Trung Quốc, đã có công giúp Trung Quốc trỗi dậy, theo tầm nhìn của ông ta về một trật tự thế giới trong đó Trung Quốc liên minh với Mỹ để chống Liên Xô. Ông ta đã bí mật dàn xếp với người Trung Quốc để đưa Tổng thống Nixon sang Trung Quốc bắt tay Mao Chủ tịch và ký Thông cáo chung Thượng Hải (năm 1972). Theo thỏa thuận, Mỹ sẽ bỏ rơi Nam Việt Nam, thỏa hiệp về chủ quyền Đài Loan, hợp tác giúp Trung Quốc thực hiện “bốn hiện đại hóa”, đánh đổi lấy việc Mỹ sẽ rút quân dần khỏi Nam Viêt Nam “trong danh dự”, và lập một liên minh “trên thực tế” chống Liên Xô.

 Sau đó ông Brzezinski (Cố vấn An ninh Quốc gia của Tổng thống Carter) đã tiếp tục Chính sách Trung Quốc bằng thỏa thuận ngầm với ông Đặng Tiểu Bình để Trung Quốc xâm lược Việt Nam (1979) và ngầm ủng hộ Khmer Đỏ trong chính phủ liên hiệp ở Campuchea. Việt Nam đã trở thành con tốt trong ván bài nước lớn bất lương này, bị xô đẩy vào vòng tay người Nga (1978-1979). Như vậy người Trung Quốc phải mang ơn ông Kissinger về cơ hội trỗi dậy, với sự ủng hộ của ông ta và “China Lobby”. Có điều ông Kissinger không biết (hoặc không quan tâm) liệu Trung Quốc có giữ lời hứa sẽ trỗi dậy “trong hòa bình” và không “động tới quyền lợi của Mỹ” và đồng minh của Mỹ ở Đông Á hay không.

 Có lẽ người Mỹ đã hơi ngây thơ hoặc ảo tưởng và ngộ nhận về sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc mà không tính kỹ những nguy cơ tiềm ẩn. Việc Trung Quốc sẽ trở mặt bắt nạt các nước láng giềng và thách thức Mỹ chỉ là vấn đề thời gian. Ngay cả khi người Mỹ đã “xoay trục” sang Đông Á để ngăn chặn nguy cơ Trung Quốc, dường như họ vẫn chưa thoát ra khỏi cái bóng của ông Kisinger. Những gì đang diễn ra là quá ít và quá muộn để răn đe Trung Quốc và bảo vệ quyền lợi của Mỹ cũng như đồng minh ở khu vực. Người Nhật bây giờ mới tỉnh ngộ và đang vội vã sửa lại hiến pháp để đối phó với Trung Quốc, trong khi các nước khác ở khu vực (như ASEAN) thì hoang mang, bối rối, và bị Trung Quốc phân hóa.   

 Năm 1979, Trung Quốc xâm lược Việt Nam để “dạy một bài học”, sau khi Việt Nam xâm lược Campuchea để đánh Khmer Đỏ là đồng minh của Trung Quốc. Thực chất, Trung Quốc đánh Việt Nam chủ yếu là để gây ấn tượng với người Mỹ rằng Trung Quốc là một đối tác tin cậy trong liên minh chống Liên-Xô và Việt Nam. Đối với ông Đặng Tiểu Bình, sự hỗ trợ của Mỹ để thực hiện “bốn hiện đại hóa” mới là mục tiêu chính để giúp Trung Quốc trỗi dậy. Mọi chuyện khác đều là thứ yếu, chỉ là phương tiện. Đối với lãnh đạo Việt Nam, Trung Quốc trở thành “kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm”, nên phải liên minh với Liên Xô để chống Trung Quốc. 

 Phải mất hơn một thập kỷ Việt Nam mới bình thường hóa được quan hệ với Trung Quốc, sau cuộc gặp cấp cao bí mật tại Thành Đô (9/1990) với phương châm “16 chữ vàng” (láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai). Điều này đã diễn ra đúng như lời tiên đoán trước đây của ông Đặng Tiểu Bình là Việt Nam sẽ phải quay đầu lại với Trung Quốc. Lý do chính Việt Nam phải quay lại là bức tường Berlin và chủ nghĩa cộng sản đã xụp đổ, cùng với sự tan rã của Liên Xô. Lãnh đạo Việt Nam đã hoảng hốt lo mất chính quyền, nên vội vã làm lành với lãnh đạo Trung Quốc bằng mọi giá, dù phải hy sinh lợi ích quốc gia sống còn, để cứu vãn một ý thức hệ và thể chế chính trị đã lỗi thời.

 Thỏa thuận Thành Đô là một sai lầm chiến lược to lớn và một bước ngoặt bất hạnh cho Việt Nam, làm cố ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch phải cay đắng nhận xét, “một thời kỳ bắc thuộc mới đầy nguy hiểm đã bắt đầu”. Lãnh đạo Viêt Nam đã dại dột chui vào bẫy ý thức hệ của Trung Quốc, trở thành con tin để họ thao túng, đến tận bây giờ. Suốt hai thập kỷ tiếp theo, các thế hệ lãnh đạo Việt Nam đã buộc phải theo cam kết Thành Đô, như con tin mắc bẫy, với cái giá phải trả ngày càng cao. Qua nhiều năm, Trung Quốc đã lặng lẽ cài cắm một mạng lưới sâu rộng gồm tay sai và người ủng hộ họ trong nội bộ Việt Nam, từ trung ương đến các địa phương, để tác động vào các quyết sách quan trọng, không chỉ liên quan đến các vấn đề kinh tế và chính trị, mà còn cả quân sự và an ninh. Bản chất quan hệ Viêt-Trung bất bình đẳng, dựa trên lòng trung thành mù quáng về ý thức hệ, là nguyên nhân chính đã kìm hãm cải cách kinh tế và ngăn cản đổi mới chính trị ở Viêt Nam trong suốt hai thập kỷ qua.

 Nay một bước ngoặt mới lại xuất hiện khi Trung Quốc đột nhiên kéo dàn khoan khổng lồ HD 981 đặt tại vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam ở Biển Đông từ đầu tháng 5, làm lãnh đạo Việt Nam bất ngờ, choáng váng, làm xụp đổ ảo tưởng của họ khi Trung Quốc đã công khai trở mặt, vứt bỏ “16 chữ vàng”. Dàn khoan HD 981 không phải chỉ để khoan dầu, mà còn để khẳng định chủ quyền tại vùng biển tranh chấp mà Trung Quốc đơn phương tuyên bố là “lợi ích cốt lõi” của mình. Thực tế dàn khoan HD 981 là một loại “vũ khí dân sự” để cưỡng đoạt chủ quyền, còn hiệu quả hơn cả hàng không mẫu hạm “Liêu Ninh”. Trung Quôc không bỏ lỡ cơ hội Mỹ và các nước NATO đang bận đối phó với Nga về vấn đề Ukraine, để tăng cường hợp tác với Nga vì nhu cầu năng lượng lẫn địa chính trị. Họ học ngay bài học Nga chiếm Crimea như một chuyện đã rồi, để lấn chiếm Biển Đông bằng dàn khoan khổng lồ HD 981, nhằm thử phản ứng của Viêt Nam, ASEAN, Mỹ và các nước khác, chuẩn bị cho nước cờ tiếp theo. 

 Tình hình quốc nội 

Con hổ mới đã biến thành con mèo ốm yếu

 Trong khi Trung Quốc trỗi dậy, trở thành cường quốc kinh tế thứ hai thế giới, thì Việt Nam lại tụt hậu, không cất cánh lên được. Các tổng công ty lớn của nhà nước theo “định hướng XHCN” là trụ cột nền kinh tế, nhưng đã thua lỗ nặng và trở thành những con nợ khổng lồ. Thành quả cải cách kinh tế gần hai thập kỷ đầy ấn tượng nay đã tan thành mây khói, vì nạn tham nhũng, quản lý tồi, và bị các nhóm lợi ích thao túng trong một cơ chế thân hữu. Các nhóm lợi ích tham lam chiếm đất của nông dân làm dự án, câu kết với quan tham và xã hội đen đàn áp dân nghèo, gây nên một làn sóng bất bình khắp nơi, có nguy cơ làm bất ổn định xã hội. Nhiều công nhân tại các doanh nghiệp FDI ở các khu công nghiệp biểu tình đòi tăng lương và cải thiện điều kiện sống, nhưng không được giới chủ đáp ứng tích cực nên đầy bức xúc, dễ bị kẻ xấu lợi dụng kích động gây rối, như các vụ bạo động chống Trung Quốc gần đây đã chứng minh.

 Thất bại kinh tế và bất ổn xã hội đã thúc đẩy nhanh khủng hoảng chính trị và lãnh đạo. Các phe phái cầm quyền tranh giành quyền lực ngày càng quyết liệt, làm phân hóa nội bộ lãnh đạo và tê liệt năng lực quản trị đất nước, tới mức khủng hoảng. Đấu tranh quyền lực quyết liệt giữa phe chính phủ do Thủ tướng đứng đầu với phe đảng do Tổng Bí thư đứng đầu, đã diễn ra tại hầu hết các hội nghị trung ương trong năm 2013, cho tới khi tạm thời lắng xuống vào cuối năm do không phân thắng bại phải hòa hoãn. Nay sự kiện dàn khoan HD 981 và khủng hoảng trong quan hệ Việt-Trung đã làm gia tăng tranh giành quyền lực, có lợi thế cho Thủ tướng (lên tiếng chống Trung Quốc, nên được dân ủng hộ) và bất lợi cho Tổng Bí thư (im hơi lặng tiếng, nên mất lòng dân). Tuy Việt Nam có cơ hội để thay đổi cơ bản, nhưng lãnh đạo lại chia rẽ vì xung đột lợi ích trước sự đe dọa của Trung Quốc.  

 Gần bốn thập kỷ sau chiến tranh Việt Nam, trong khi người Việt và người Mỹ về cơ bản đã hòa giải xong, thì cộng đồng người Việt trong nước và ngoài nước vẫn chưa hòa giải được. Nội chiến thường để lại những vết thương tâm lý và tinh thần sâu nặng hơn. Chừng nào trong lòng còn hận thù và thành kiến, thì không những khó hòa giải, mà còn dễ làm phân hóa cuộc đấu tranh chung cho tự do dân chủ và chủ quyền quốc gia. Những người cộng sản cực đoan là những người độc tài, nhưng những người chống cộng cực đoan cũng chẳng khác gì. Vì vậy, chủ nghĩa cực đoan là kẻ thù tiềm ẩn của hòa giải dân tộc và chấn hưng quốc gia.

 Tình hình quốc tế 

Con sói cô độc

 Việt Nam tuyên bố chính sách đa phương hóa quan hệ và có “đối tác chiến lược” với hơn 10 nước (nhưng chưa có Mỹ). Lúc này, chẳng đối tác chiến lược nào (ngoài Mỹ) có thể giúp Viêt Nam răn đe Trung Quốc để tránh bị bắt nạt. Trước hành động xâm chiếm của Trung Quốc tại Biển Đông, chính phủ nhiều nước tuy bất bình, nhưng không dám công khai ủng hộ Viêt Nam sợ làm mất lòng Trung Quốc. Năm 1979, khi bị Trung Quốc tấn công, Việt Nam có hiệp ước liên minh quân sự với Liên-Xô để răn đe Trung Quốc. Nhưng hiện nay Việt Nam hoàn toàn cô độc, không có liên minh quân sự với một nước nào (khác với quan hệ của Mỹ với Nhật, Hàn Quốc, và Philippines). Viêt Nam đã cố giữ cân bằng quan hệ với Trung Quốc và Mỹ bằng chính sách “Ba Không”: không tham gia liên minh quân sự với nước nào, không cho nước nào đặt căn cứ quân sự, và không dựa vào nước này để chống nước kia. Nếu Việt Nam không thay đổi chính sách cân bằng thụ động này, thì làm sao tự bảo vệ được mình? Viet Nam đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng kép: vừa thất bại về kinh tế vừa bị Trung Quốc đe dọa chủ quyền.

 Chính sách “xoay trục” của Mỹ sang Đông Á chưa có hiệu lực răn đe Trung Quốc. Bằng việc đưa dàn khoan HD 981 đến Biển Đông, Trung Quốc đã qua mặt Mỹ, ngay sau khi Tổng thống Obama đến thăm Đông Á. Phản ứng của Mỹ đối với Trung Quốc chưa đủ mạnh, vì Việt Nam khác với Philippines. Quan hệ “đối tác toàn diện” với Mỹ phải nâng lên thành “đối tác chiến lược”, bao gồm bán vũ khí sát thương, tập trận chung, và sử dụng căn cứ quân sự tại Cam Ranh (như Philippines và Singapore đã làm với Mỹ). Nhưng thể chế chính trị độc tài của Viêt Nam, với hồ sơ nhân quyền xấu vì đàn áp tự do dân chủ, là trở ngại chính đối với việc nâng cấp quan hệ với Mỹ. Viêt Nam cũng khó hòa nhập sâu hơn vào thị trường thế giới (WTO và TPP) vì vẫn bám giữ “định hướng XHCN” và chậm chuyển đổi hẳn sang kinh tế trị trường.

 Phản ứng của ASEAN đối với sự kiện HD 981 cũng khá yếu. Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN (10/5/2014 tại Myanmar) ra được tuyên bố chung nhưng không dám nêu đích danh Trung Quốc. ASEAN là một tổ chức lỏng lẻo gồm nhiều nước có thành phần đa dạng, dễ bị Trung Quốc phân hóa và vô hiệu hóa. Bó đũa ASEAN đang bị Trung Quốc tách ra để bẻ gãy từng chiếc, nếu không đoàn kết trong một cộng đồng mạnh hơn. Trong nhiều năm, ASEAN đã không ép được Trung Quốc ký COC (quy tắc ứng xử) tại Biển Đông. ASEAN không có cơ chế an ninh tập thể nên không thể can thiệp để bảo vệ các nước thành viên, kể cả khi bị đe dọa.

 Căng thẳng và xung đột trong khu vực đã thúc đẩy nhiều nước chạy đua vũ trang. Việt Nam trở thành khách hàng lớn mua vũ khí của Nga. Nhưng điều này dẫn đến hai nguy cơ lớn: Một là, chi phí quốc phòng tăng lên trong khi kinh tế suy thoái sẽ đặt Viêt Nam vào thế tiến thoái lưỡng nan; Hai là, Việt Nam sẽ bị hở sườn nếu Trung Quốc và Nga nâng cấp đối tác chiến lược để đối phó với Mỹ (như đang diễn ra hiện nay). Nếu Việt Nam nâng cấp quan hệ với Mỹ thành đối tác chiến lược (như dự kiến), thì các hệ thống vũ khí hiện đại mua của Nga có thể không còn an toàn để chống Trung Quốc nữa (đặc biệt là hợp đồng mua 6 tàu ngầm Kilo class 636 và mua thêm 12 máy bay chiến đầu Su-30MK2 còn đang trong quá trình chuyển giao). Vì vậy, việc Mỹ bỏ cấm vận vũ khí sát thương là rất quan trọng đối với Việt Nam lúc này.

 Nước cờ tiếp theo 

Tiếp tục “Tam chủng Chiến pháp”

 Sự kiện Trung Quốc đưa dàn khoan HD 981 vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và bạo loạn chống Trung Quốc tại Bình Dương và Vũng Áng là lời cảnh báo về những tử huyệt của Viêt Nam. Nhưng nếu lãnh đạo Hà Nội vẫn không tỉnh ngộ để tìm cách thoát khỏi cái bẫy ý thức hệ và dũng cảm đối phó với thực tế mới, thì Trung Quốc sẽ tiếp tục thao túng những tử huyệt này để đạt được mục đích, mà chẳng cần chiến tranh.

 Trung Quốc đã lợi dụng tử huyệt của lãnh đạo Viêt Nam để dùng dàn khoan HD 981 lấn chiếm chủ quyền tại Biển Đông như chuyện đã rồi, để thử phản ứng các bên liên quan. Người ta nghi ngờ tay sai của Trung Quốc tại Việt Nam đã ngầm xúi giục công nhân gây bạo loạn tại Bình Dương, Vũng Áng và những nơi khác để Trung Quốc lấy cớ rút người và đầu tư, và để các nhà đầu tư Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản sợ không dám đầu tư. Việc này nhằm gây sức ép để chính phủ Việt Nam tiếp tục trấn áp biểu tình chống Trung Quốc. Ngoài ra Trung Quốc có thể dùng những đòn bẩy khác để gây bất ổn cho xã hội Viêt Nam, như dùng mạng lưới tay sai cài cắm trong nội bộ chính quyền và cộng đồng để tác động vào các sự kiện, dùng biện pháp tài chính thương mại để thao túng thị trường, dùng chiến tranh mạng để gây nhiễu, dùng truyền thông để tác động vào dư luận, và dùng công cụ pháp lý để lật lại vấn đề. Đây là một phần của học thuyết “Tam chủng Chiến pháp” (Chiến tranh tâm lý, truyền thông và pháp lý) mà lãnh đạo của họ đã thông qua từ năm 2003. Trong khi chính phủ Việt Nam chưa dám nộp đơn kiện, thì ngày 9/6, Trung Quốc đã bất ngờ đệ trình Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc một tài liệu chính thức về quan điểm đối với tranh chấp tại Biển Đông để lưu chuyển cho tất cả 193 thành viên LHQ.      

 Phản ứng của lãnh đạo Viêt Nam quá chậm và im hơi lặng tiếng, trừ thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có những tuyên bố kịp thời và mạnh mẽ về hành động hiếu chiến của Trung Quốc, tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN ở Myanmar (10/5) và tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới về Đông Á ở Manila (22/5), ghi điểm cao và nổi bật trước các đối thủ chính trị khác. Trước mắt, Thủ tướng đã giành lại được sự ủng hộ của dân chúng và chính danh của người lãnh đạo quốc gia cho sứ mạng  bảo vệ chủ quyền. Điều này là thiết yếu trong cuộc chạy đua vào vị trí số một tại Đại Hội Đảng tới. Sự kiện này đã tạo ra một bước ngoặt làm phân hóa nội bộ lãnh đạo Việt Nam, có thể đảo lộn những toan tính trước đó về sắp xếp nhân sự. Đây là cơ hội tốt để Thủ tướng khẳng định vị thế chính trị, và tạo ra những thay đổi cơ bản về chính trị và đối ngoại. Nhưng điều này còn phụ thuộc vào lòng dũng cảm và thành tâm chính trị của người lãnh đạo. . 

 Phản ứng của dân chúng quá nhanh và mạnh. Có lẽ hơi quá bồng bột để “các thế lực thù địch” lợi dụng gây bạo loạn tại Bình Dương, Vũng Áng và các nơi khác, làm mất uy tín Việt Nam và phá hoại nền kinh tế đang khủng hoảng. Nếu chính phủ biết cách khắc phục hậu quả, hy vọng tác động tiêu cực đến đầu tư FDI, như rút người rút vốn, chỉ là nhất thời. Sau lúng túng ban đầu, chính phủ đã có những biện pháp mạnh hơn để đối phó. Nhưng đừng quá mạnh tay với dân chúng và nhẹ tay với bọn đầu sỏ thủ phạm, vì đó là dấu hiệu họ đứng về phía nào. Đây là cơ hội tốt để các lực lượng yêu nước tập hợp, vì hòa giải và đoàn kết dân tộc, để bảo vệ chủ quyền quốc gia. Đây cũng là thời điểm tốt để phe cải cách lật ngược bàn cờ chính trịvà giành lại thế thượng phong. Nhưng sau chuyến thăm của Dương Khiết Trì (18/6/20014), hình như cả hai phái lãnh đạo Việt Nam vẫn lúng túng và bất lực, chưa dám hành động.  

 Tuy phe bảo thủ thân Trung Quốc bị choáng váng, hoang mang và mất thể diện, nhưng họ vẫn nắm quyền quyết định. Việc Ngoại trưởng Phạm Bình Minh phải hoãn chuyến đi Mỹ theo lời mời của Ngoại trưởng John Kerry (22/5), và những phát biểu yếu ớt của Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh tại Đối thoại Shangri-La 2014 (30/5) là những tín hiệu xấu, chứng tỏ lãnh đạo Việt Nam vẫn sợ Trung Quốc, tiếp tục duy trì nguyên trạng về ý thức hệ, mặc dù nguy hại cho chủ quyền quốc gia. Một khi Trung Quốc rút dàn khoan và tàu thuyền về, phe bảo thủ sẽ lại hồi phục và thế cân bằng chính trị lại tiếp diễn. Kinh nghiệm cho thấy, chỉ có thể thay đổi cơ bản khi nào dân chúng thoát khỏi nỗi sợ để hòa giải và đoàn kết dân tộc thành sức mạnh nhân dân, tạo sự đột phá bằng quá trình thay đổi từ dưới lên, chứ không phải chỉ từ trên xuống. Giai đoạn Đổi mới (1986-1990) là một bài học về quá trình thay đổi từ trên xuống bị chết yểu khi chính quyền đột nhiên quyết định đóng cửa.

 Phản ứng quốc tế mạnh hơn trước, nhưng chưa đủ mạnh để răn đe Trung Quốc. Không nên ảo tưởng là quốc tế luôn ủng hộ Viêt Nam chống Trung Quốc, vì thế lực Trung Quốc quá lớn và quá mạnh, bàn tay của họ quá dài vươn ra khắp nơi. Viêt Nam phải thay đổi thái độ chính trị để có bộ mặt tử tế hơn Trung Quốc, vì không ai muốn ủng hộ một chế độ độc tài tham nhũng, với hồ sơ nhân quyền quá xấu. Đây là cơ hội tốt để Việt Nam nâng cấp quan hệ với Mỹ thành đối tác chiến lược để đối phó với Trung Quốc. Nhưng đừng quá ảo tưởng vào “lá bài Mỹ” (cũng như “lá bài Nga” trước đây). Chủ trương “xoay trục” và trò chơi TPP của Mỹ còn đang diễn biến. Đối với Washington, Trung Quốc quan trọng hơn nhiều so với Việt Nam. Hơn nữa, Mỹ còn đang sa lầy tại Trung Đông và dính líu tại Ukraine, trong khi phải đối phó với ngân sách quốc phòng bị cắt giảm và xu hướng trong nước muốn co lại. Trong bài diễn văn về đối ngoại dài 9 trang tổng thống Obama đọc tại West Point (28/5/2014) chỉ có mấy dòng mờ nhạt đề cập đến tranh chấp trên biển tại khu vực này, trong đó chỉ nhắc đến Biển Đông và Trung Quốc hai lần, và không nói gì đến Việt nam cũng như dàn khoan của Trung Quốc.    

 Trung Quốc khó có khả năng duy trì quá lâu dàn khoan khổng lồ HD 981 và một đội tàu hộ tống quá lớn tại Biển Đông. Đơn giản là quá tốn kém, dù cho bất kỳ lý do gì. Trung Quốc có thể rút dàn khoan HD 981 vào giữa tháng 8 như dự kiến, hoặc thậm chí sớm hơn nếu đã xong nhiệm vụ, hoặc nếu mùa mưa bão ập đến sớm hơn. Nhưng dù sao, Trung Quốc sẽ không bao giờ bỏ cuộc, và sẽ sử dụng tối đa “chiến thuật dàn khoan”. Họ có thể triển khai thêm nhiều dàn khoan tại những vị trí khác, và ráo riết xây dựng hạ tầng chiến lược tại các bãi đá họ chiếm để đòi “vùng đặc quyền kinh tế”, và “khu vực nhận dạng phòng không”. Trung Quốc sẽ “tùy cơ áp đặt” để từng bước độc chiếm Biển Đông, nhưng tránh đối đầu quân sự với Mỹ. Nước cờ dàn khoan của họ cho thấy nếu xung đột vũ trang xảy ra, nó sẽ xảy ra chớp nhoáng trên biển, với những đòn tấn công chính xác của hải quân và không quân, để phát huy ưu thế, nhằm đảm bảo thắng nhanh để Mỹ không kịp can thiệp. Trận hải chiến tại Gạc Ma năm 1988 là một ví dụ.

 Nhưng khi hạm đội tàu ngầm Viêt Nam gồm 6 chiếc Kilo class 636 được bàn giao và sẵn sàng hoạt động, với 12 máy bay chiến đấu Su-30MK2 mới bổ xung, Trung Quốc sẽ khó tự do tung hoành ở Biển Đông. Đặc biệt, khi quan hệ với Mỹ được nâng cấp thành “đối tác chiến lược”, bao gồm bán vũ khí sát thương và tập trận chung với Hạm đội 7, và nhất là sau khi Nhật Bản chuyển giao đội tàu tuần duyên loại Bizan cho cảnh sát biển Việt Nam, thì tư thế phòng thủ của Viêt Nam ở Biển Đông sẽ được cải thiện đáng kể. Tuy Trung Quốc không muốn xô đẩy Viêt Nam vào vòng tay người Mỹ, nhưng hành động ngang ngược mới của họ có thể làm thay đổi cục diện, dẫn đến những hệ quả không mong muốn.

 Trung Quốc có những phương án khác trong chiến lược vươn ra biển khơi của mình. Nếu lối ra Ấn Độ Dương của họ bị ngăn chặn vì những thay đổi gần đây ở Miến Điện, với sự gia tăng ảnh hưởng của Mỹ tại đây, Trung Quốc phải tìm lối ra Vịnh Thailand và xa hơn nữa. Vì những lý do kinh tế và địa chính trị, Trung Quôc phải kết nối các tỉnh phía Nam với biển khơi bằng một hành lang trong đất liền như một tuyến đường huyết mạch đi qua mấy nước láng giềng, để đối phó với chiến lược “bao vây trên biển” của Mỹ nhằm phong tỏa Trung Quốc tại các điểm yết hầu trên biển. Gần đây, Trung Quốc đã giành được một số dự án lớn ở Lao, Campuchea và Thailand, để xây dựng những cơ sở giao thông và hậu cần có giá trị cao, bao gồm các hệ thống đường sắt, đường cao tốc, đường sông, sân bay, trạm ra đa, hải cảng và kho tàng.

 Việc Trung Quốc triển khai dàn khoan khổng lồ HD 981 và đội tàu hộ tống rất lớn tại đây là một phần của kế hoạch nhằm độc chiếm Biển Đông, và kiểm soát các đường hàng hải huyết mạch, bằng cách triển khai học thuyết A2/AD (anti-access/area-denial) mà Mỹ và các đồng minh rất quan ngại. Gã khổng lồ đói năng lượng tất nhiên thèm khát tài nguyên ở Biển Đông, bao gồm 11 tỷ thùng dầu và 190 nghìn tỷ mét khối (Anh) khí đốt (theo đánh giá của US Energy Information Administration) hoặc 17 tỷ thùng dầu và 498 nghìn tỷ mét khối khí đốt (theo đánh giá của China National Offshore Oil Corporation). Nhưng, Trung Quốc còn muốn kiểm soát cả đường hàng hải, vì hơn 5 nghìn tỷ USD hàng hóa hàng năm phải qua đây (gồm 3/4 số dầu Trung Quốc nhập khẩu và hầu hết số dầu chuyển đến Japan, South Korea, và Taiwan). Vì tất cả hàng hóa của họ vận chuyển bằng đường biển phải qua đây, nên Trung Quốc rất lo ngại chiến lược “Kiểm soát Ngoài khơi” (Offshore Control) của Mỹ nhằm bảo vệ “Vành đai các đảo tiền tiêu” (First Islands Chain) và dùng các điểm yết hầu như eo Malacca hay Lombok để chặn đường xuất nhập khẩu của Trung Quốc. Vì vậy, trong khi Trung Quốc tìm kiếm các con đường bộ khác (qua Lao, Campuchea, Thailand), họ phải kiểm soát bằng được Biển Đông.

 Điều một dàn khoan trị giá gần một tỷ đô la đến Biển Đông, với hơn một trăm tàu hộ tống các loại vây quanh trong mấy tháng liền, chi phí mỗi ngày gần một triệu đô la, Trung Quốc không chỉ nhằm một mục đích. Nếu không phải chủ yếu để khoan dầu như dư luận nghi vấn, thì nó phải có một nhiệm vụ gì khác quan trọng hơn. Dàn khoan này có thể được dùng để đánh lạc hướng dư luận trong khi họ lặng lẽ xây dựng đảo nhân tạo và căn cứ quân sự tại các bãi đá ở Trường Sa, nhằm áp đặt “đường lưỡi bò” (như chuyện đã rồi), tuyên bố “khu vực nhận dạng phòng không” (ADIZ) và đòi “vùng đặc quyền kinh tế” (EEZ) như tại Hoàng Sa. Nếu đúng Trung Quốc đang đóng thêm một dàn khoan khổng lồ thứ hai (HD 982) như tin đồn, thì việc sử dụng dàn khoan khổng lồ có công năng kép này chứng tỏ là một công cụ chiến lược hiệu quả, vừa để khoan dầu vừa để khẳng định chủ quyền. 

 Vì vậy, điều quan trọng là phải quan sát thật kỹ xem Trung Quốc đang lặng lẽ làm gì tại các địa điểm chiến lược khác ở Biển Đông, cũng như ở Viet Nam, Lào, Campuchea, và Thailand (từ sau đảo chính). Các công trình đang được xây dựng ở Trường Sa (như đường băng trên bãi đá Gac Ma, đảo nhân tạo và căn cứ quân sự trên bãi đá Chữ Thập) sẽ được kết nối với căn cứ hải quân Du Lâm tại đảo Hải Nam và đảo Tam Sa tại Hoàng Sa. Theo đường chim bay, căn cứ Du Lâm chỉ cách đặc khu kinh tế Vũng Áng hơn 350km. Mấy nghìn công nhân Trung Quốc đang làm việc tại Vũng Áng (Hà Tĩnh, Miền Trung), tại dự án Bô xít Tân Rai và Nhân Cơ (Tây Nguyên) là một rủi ro lớn về an ninh. Nếu có chiến sự, Trung Quốc dễ dàng cắt đôi Việt Nam tại điểm xung yếu này. Về phía Tây có tuyến đường sắt cao tốc Côn Minh-Vientiane (Lào), các căn cứ tại Koh Kong và Bokor (Campuchea), kênh đào Kra Isthmus (Thailand). Một khi các cơ sở chiến lược này hoàn thành và được kết nối, thì Trung Quốc có thể vô hiệu hóa kế hoạch “xoay trục” của Mỹ nhằm ngăn chặn Trung Quốc, và dễ dàng khống chế Việt Nam. Họ chỉ cần hăm dọa, cưỡng ép và bắt chẹt cũng đạt được mục đích, mà không cần phải đánh, vì lúc đó mọi sự kháng cự của Việt Nam là quá yếu ớt và quá muộn…

 Năm 1973 “cú sốc dầu hỏa” làm Nhật Bản được một bài học nhớ đời, phải vội vã điều chỉnh chiến lược năng lượng, nên bị thiên hạ gọi là “quái vật kinh tế”. Trung Quốc học bài rất nhanh, đã kịp thời bắt tay với Nga gần đây để đảm bảo nguồn cung cấp năng lượng và lá bài địa chính trị trong trò chơi nước lớn mới. Trong khi đó, Trung Quốc đã triển khai hung hăng hơn tại Biển Đông để tranh thủ giành lợi thế do khoảng trống quyền lực tại đây vì ASEAN yếu và phân hóa, còn Mỹ và các đồng minh đều vướng các vấn đề khác nên không thể hành động quyết đoán. Đây là nước cờ có tính toán nhưng rất nguy hiểm vì Trung Quốc không chỉ là một “quái vật kinh tế” khổng lồ đã vượt qua Nhật Bản, mà còn là một “quái vật được vũ trang” đầy tham vọng, sẵn sàng thách thức các quyền lợi toàn cầu của Mỹ. Họ không còn đủ kiên nhẫn để chơi theo luật chơi cũ. “Cú sốc dàn khoan” này là một lời cảnh báo và một bước ngoặt mới, không chỉ đối với Việt Nam mà cho toàn khu vực. Dù có kiềm chế, khả năng xảy ra xung đột vũ trang do sai sót kỹ thuật hay con người, hoặc do trục trặc về truyền thông là rất lớn. 

 Làm thế nào để “thoát Trung” 

Phản tỉnh dể thoát khỏi cái bẫy ý thức hệ

 Quan hệ Viêt-Trung phải dựa trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và hai bên cùng có lợi. Nhưng thực tế điều này không thể có giữa một nước nhỏ yếu với một láng giềng khổng lồ, lại có truyền thống bá quyền đại Hán. Cách duy nhất là Việt Nam phải độc lập và đủ mạnh để răn đe đối với Trung Quốc (như Israel đối với các láng giềng lớn hơn).

 Nhưng muốn độc lập và mạnh, trước hết phải “thoát Trung” vì cái bẫy ý thức hệ đã trói buộc và kìm hãm Viêt Nam trong hơn một nửa thế kỷ. Cơ hội “thoát Trung” tốt nhất là khi Trung Quốc bi khủng hoảng và suy yếu (như thời Cách mạng Văn hóa). Mô hình Trung Quốc trước đây đã thất bại (như đại nhảy vọt) và sắp tới cũng không thể thành công (như Giấc mộng Trung Hoa), trừ phi có thay đổi chính trị cơ bản (điều này rất khó). Đó là nghịch lý phát triển kiểu Trung Quốc. Gordon Chang dự đoán “Trung Quốc sắp xụp đổ” trong khi Paul Krugman xác nhận “Trung Quốc đang gặp rắc rối lớn”, vì đã đến điểm giới hạn. Ngày phán quyết của họ đang đến gần. Vậy tại sao Việt Nam cứ đi theo Trung Quốc?   

 Muốn “thoát Trung”, trước hết Việt Nam phải đổi mới tư duy, từ “trong cái hộp” phải tư duy “ngoài cái hộp”. Người Việt phải học hỏi kinh nghiệm “thoát Á” của người Nhật dưới thời Minh trị, theo tư tưởng đổi mới vĩ đại của Fukuzawa Yukichi (1835-1901). Những nước Đông Á nào quyết tâm đổi mới tư duy để hiện đại hóa đất nước, đều trở thành cường thịnh và có sức sống (như Nhật Bản, Hàn Quốc). Chỉ 2 hay 3 thập kỷ sau chiến tranh bị tàn phá lớn, họ đã chấn hưng được đất nước, trở thành cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới.

 Trong hơn một nửa thế kỷ qua, Viêt Nam đã xa lầy vào quỹ đạo ý thức hệ Trung Quốc hai lần. Lần thứ nhất là từ khi biên giới hai nước thông thương (1950) để hai bên “núi liền núi, sông liền sông”, gắn bó như “môi với răng”, và để chủ nghĩa Mao tràn vào Viêt Nam, gây bao đại họa (như cải cách ruộng đất, tập thể hóa nông nghiệp, đàn áp phong trào nhân văn Giai phẩm…). Lần thứ hai là tại gặp gỡ cấp cao Thành Đô (9/1990) khi hai “anh em tử thù” lại đột nhiên ôm chầm lấy nhau như các đồng chí “bốn tốt” với phương châm “16 chữ vàng”. Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc một cách “bất bình thường”, dại dột tự chui đầu vào cái bẫy ý thức hệ của Trung Quốc, để bây giờ mới vỡ mộng khi Trung Quốc công khai lộ bộ mặt thật. Hệ lụy nặng nề của sai lầm to lớn tại Thành Đô đã được cố ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch dự báo, nay đang diễn ra tại Biển Đông và những nơi khác.  

 Giữa hai kinh nghiệm thảm họa đó khi Viêt Nam đi theo quỹ đạo Trung Quốc, thì Viêt Nam đã cố “thoát Trung” một lần sau năm 1975, khi Viêt Nam xâm lược Campuchea để đánh Khmer Đỏ là đồng minh của Trung Quốc (12/1978), và đánh trả Trung Quốc xâm lược Viêt Nam để “dạy bài học” (2/1979). Viêt Nam đã coi Trung Quốc như “kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm”, thậm chí ghi cả điều đó vào Hiến pháp (1980) và Cương lĩnh Đảng (1982). Viêt Nam đã mắc sai lầm chiến lược to lớn, sập bẫy của Trung Quốc, bị cô lập với thế giới (trừ Liên Xô), và xa lầy tại Campuchea. Viêt Nam đã cố “thoát Trung” một cách lầm lẫn: chống Trung Quốc (nhưng vẫn giữ nguyên ý thức hệ), chủ quan (tưởng Liên Xô là thành trì vững chắc) và ngây thơ (đối đầu với Trung Quốc khi họ đã bắt tay được với Mỹ).

 Nay nếu Viêt Nam định “thoát Trung” bằng cách đi đêm với Mỹ như đối tác chiến lược để chống Trung Quốc, trong khi không chịu từ bỏ ý thức hệ đã lỗi thời, thì sẽ lặp lại sai lầm. Viêt Nam chỉ có thể dựa vào Mỹ để “căn bằng” với Trung Quốc, chứ không thể “đối đầu” với họ. Chỉ có thể “thoát Trung” về ý thức hệ, chứ không thể “thoát Trung” về địa chính trị. Về lâu dài, người Việt phải sống khiêm tốn, tử tế, tương kính với người Hoa như những láng giềng thân thiện, cùng nhau đổi mới kinh tế và chính trị, xây dựng một xã hội khá giả và dân chủ. Độc tài và tham nhũng là kẻ thù chung của hai dân tộc. Vì vậy, muốn “thoát Trung” trước hết phải phản tỉnh để thoát khỏi ý thức hệ đã lỗi thời, là nguyên nhân chính dẫn đến mọi tai họa.

 Làm thế nào để sống bên cạnh Trung Quốc? 

Phải thay đổi hoặc mất hết.

 Nhìn lại quá khứ với những bài học đau đớn, Viêt Nam phải làm thế nào để sống được bên cạnh một nước láng giềng khổng lồ có truyền thống bá quyền đại Hán (như Trung Quốc)?

 Thứ nhất, lãnh đạo của nước nhỏ hơn phải giỏi hơn về thuật trị quốc, để nước láng giêng lớn hơn không dễ bắt nạt. Để có lãnh đạo giỏi, phải biết trọng dụng nhân tài, không phân biệt và kỳ thị nguồn gốc, như người Đức trọng dụng bà Angela Markel gốc Đông Đức hay ông Philipp Koeller gốc Việt. Lãnh đạo quốc gia phải vì lợi ích dân tộc, chứ không vì lợi ích nhóm hay cá nhân. Nếu lãnh đạo chạy chức chạy quyền không theo luật pháp, thì các quan tham sẽ vơ vét tài sản quốc gia làm giàu cho mình, làm đất nước khánh kiệt.  

 Thứ hai, dân trí của nước nhỏ hơn phải cao hơn trong một xã hội dân sự, để nước láng giềng lớn hơn không dễ lừa gạt. Phải khai tâm khai trí cho dân, và phải tôn trọng quyền tự do dân chủ của người dân. Đất nước không thể có nhân tài nếu người dân không được suy nghĩ sáng tạo và tự do tư tưởng. Không thể phát huy được nội lực quốc gia để dựng nước và giữ nước nếu không có hòa giải dân tộc và xã hội dân sự.

 Thứ ba, tiềm lực kinh tế và quốc phòng của nước nhỏ hơn phải có chất lượng cao hơn, để nước láng giềng lớn hơn không dễ áp đặt. Trong quá trình dựng nước, phải học bài học “quốc gia khởi nghiệp” của Israel, và kinh nghiệm phục hồi kinh tế sau chiến tranh của Đức, Nhật và Hàn Quốc. Mặc dù Nhật và Đức thua trận phải đầu hàng, nhưng chỉ hai-ba thập kỷ sau chiến tranh, họ đã phục hồi, trở thành cường quốc kinh tế đứng thứ hai và thứ ba thế giới. Trong khi đó Việt Nam tuy thắng trận, nhưng bốn thập kỷ sau chiến tranh, đất nươc vẫn nghèo nàn lạc hậu và lệ thuộc. Muốn phát triển kinh tế bền vững, phải đổi mới thể chế chính trị, để hậu thuẫn cho cải cách kinh tế và đổi mới công nghệ.

 Thứ tư, quan hệ đối tác chiến lược của nước nhỏ hơn phải đủ mạnh để răn đe tham vọng bá quyền của nước láng giềng lớn. Hiện nay, Viêt Nam có rất ít sự lựa chọn và rất ít thời gian, không thể tiếp tục bắt cá hai tay để cân bằng quan hệ với cả Trung Quốc và Mỹ. Sự kiện dàn khoan HD 981 là một bài học. Trong thế giới đa cực ngày nay, quan hệ đối tác chiến lược không còn phụ thuộc vào ý thức hệ mà chỉ dựa vào lợi ích quốc gia và địa chính trị. Nếu Viêt Nam không chịu thay đổi tư duy thì sẽ trở thành tù binh của quá khứ, và thất bại. 

 Nếu thiếu hụt những yếu tố trên, Viêt Nam dễ trở thành mồi ngon của chủ nghĩa bá quyền đại Hán. Nguy cơ bắc thuộc ngày càng lớn lên cùng sự trỗi dậy của Trung Quốc và tụt hậu của Viêt Nam. Để giữ độc lập và chủ quyền quốc gia, người Việt cần phản tỉnh để thoát khỏi cái bẫy ý thức hệ và cải cách thể chế chính trị. Đã đến lúc phải thay đổi hoặc mất hết. 

 NQD, 6/2014

(Nguyen Quang Dy is a Harvard Nieman Fellow, 1993).

 Theo Viet- studies
………………………………..
References:

 1. Peril of Pride and Prejudice, Philip Bowring, South China Morning Post, May 14, 2014

2. Beijing’s actions in the South China Sea demand a U.S. response, Elizabeth Economy and Michael Levi, World Policy, May 15, 2014

3. China’s Push in South China Sea Divides the Region, Murray Hiebert, CSIS, May 16, 2014

4. Hot oil on troubled waters, Economist, May 17th 2014 |

5. Vài Đánh giá Ban đầu về Cuộc Xung đột Viêt-Trung Hiện nay (Initial Assessments on Sino-Vietnamese Conflict now), Trần Ngân, Viet-Studies, May 18, 2014

6. China Miscalculates with its Drill Rig, Bill Hayton, Asia Sentinel, May 19, 2014

7. Mồi lửa & Đống củi (The Sparks & the Firewood), Huy Đức, Viet-Studies, May19, 2014

8. Xi Jinping’s Excellent adventure: A Calibrated Takeover of South China Sea, Nayan Chanda, Yale Global online, May 20, 2014. 

9. Kịch bản Chiến tranh Viêt- Trung (Scenarios of a Sino-Vietnamese War), BBC interviewed Carl Thayer, May 22, 2014

10. Vietnam Won’t be Pushed Around by China, H.D.S. Greenway, Boston Globe, May 25, 2014

11. Vụ Khoan dầu khiến Việt Nam Đi Trên Lộ trình Mới (China oil rig set Vietnam on a new direction), Người Việt interviewed Jonathan London, May 28, 2014

12. Vietnam: Turning Point, David Brown, Asia Sentinel, June 2, 2014

 

( Nguồn: quechoa)

 

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.08.2014

TẬP CẬN BÌNH VÀ VỢ

Gia đình Phạm Dũng

TẬP CẬN BÌNH VÀ VỢ

Truyện ngắn Phạm Dũng

Nửa đêm, chợt nghe ông Tập thở dài, bà Tập nằm cạnh trở mình rồi ngồi dậy, hỏi :

-      Anh chưa ngủ à ?

-      Ừ…

-      Anh lo phải không ?

-      Em nói xem…

-      Là anh lo lão Giang Trạch Dân đang âm thầm cho người…

-      Lão rất quỷ quyệt. Rất nhiều thằng chịu ơn lão…

-      Thêm nữa lại sợ anh đưa lên đọan đầu đài nên nhất định chúng nó không chịu ngồi yên chờ chết ! – Bà Tập nhấn mạnh.

Ông Tập cố nén nhưng tiếng thở dài vẫn phọt ra. Ngọn lửa chống tham nhũng ông châm đã bùng phát, dù muốn ngăn lại cũng không dễ.

-      Em bảo anh phải làm sao ?

-      Anh dậy đi, cũng chẳng ngủ được, rồi nghe em nói. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.08.2014

NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ

NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ

Bùi Mai Hạnh

Vừa rồi về Việt Nam, bất ngờ được chị bạn (làm công tác văn hóa văn nghệ) nhắc nhở: “Em chẳng nhạy cảm chính trị gì cả!”. 
Thực ra “nhạy cảm chính trị” là cái quái gì nhỉ? Ngơ ngác một lúc, nhớ ra, ngay từ buổi đầu viết báo, mình từng được/bị nhắc như thế. Không chỉ một lần. 
Lần thứ nhất cách đây cũng gần hai chục năm. Sau đợt đi thực tế theo chương trình thực tập của Trường Viết văn Nguyễn Du, mình nộp bài cho tờ X. Một tuần căng thẳng hồi hộp chờ đợi trôi qua, mình được bà Tổng biên tập tiếp bằng nụ cười tươi rói và thương cảm: “Đúng là nhà thơ nhà văn các bạn lơ mơ thật. Chẳng nhạy cảm chính trị tí nào!”. 
Bài báo viết về nỗi đau chết hụt trong “căn nhà tình nghĩa” của một bà mẹ anh hùng ở Ninh Hòa, vùng đất có nhiều mẹ anh hùng nhất nước. Không nhạy cảm chính trị là sao? 
Căn nhà đó có bảy bát hương xếp hàng trên ban thờ lặng ngắt u buồn. Vệt nước lụt vẫn còn thẫm đen đánh dấu trên nửa già cánh cửa gỗ sắp mục. Bức tường nứt đút lọt ngón tay út. Gian bếp lạnh tanh chỏng chơ cái nồi nhỏ… Thỉnh thoảng mẹ mới đến nhà mình để thắp hương cho những người chết trận (chồng và các con trai). Vì mẹ sợ. Ở căn nhà đó, mẹ sợ đủ thứ. Sợ trộm cắp, sợ lụt lội, sợ cái nhà ụp xuống đầu bất cứ lúc nào. Sợ hơn cả là nỗi cô đơn không hàng xóm láng giềng. Mới đấy, lũ lụt tràn qua bất ngờ trong đêm, mẹ suýt chết đuối. May có đứa cháu họ xa sực nhớ đến, chạy ra cõng mẹ về. Từ đó, mẹ về hẳn trong làng ở nhờ nhà người bà con. 
Không hề ngần ngại, mẹ thổ lộ nỗi buồn, sự bất bình với chính quyền địa phương khi xây cho mẹ căn nhà không đảm bảo chất lượng vì đã “bị rút ruột một nửa” và nằm chơ vơ giữa cánh đồng hoang vắng. Từ xa, ngôi nhà nom giống mô hình “nhà cô đơn trên sa mạc”. Có lẽ, chức năng của căn nhà là làm nhân chứng cho “sự quan tâm của Đảng và nhà nước” thì đúng hơn là làm “nhà tình nghĩa”, mái ấm cho một bà mẹ anh hùng cô đơn. 
Kết luận bài báo, mình nói về cảm giác buồn nôn khi chứng kiến ông quan chức Phòng Thương binh Xã hội, miệng cười hềnh hệch gào thét zô zô, tay thản nhiên thò vào khuấy đá trong vại bia đang sủi bọt ở quán ăn chiêu đãi các tân nhà báo. Chỉ mấy phút trước, trong buổi mít-tinh tưởng nhớ liệt sĩ, những ngón tay chuối mắn này còn vung lên hùng hồn phụ họa cho bài diễn văn “nghèn nghẹn xúc động”… 
Tuy nhiên, bài viết nhiều thông tin thực tế và cảm xúc “lai láng” của một đứa thơ thẩn đã không được duyệt chỉ vì nó rất thiếu “nhạy cảm chính trị”. 

Lần thứ hai khái niệm “nhạy cảm chính trị” do một sếp nữ giảng giải. Chẳng nhớ là mình đã phạm lỗi gì cụ thể (vì nhiều lỗi quá), chỉ nhớ hôm ấy, ở hành lang cơ quan, mình hút thuốc và sếp cũng… xin một điếu. Đấy là lần duy nhất mình thấy sếp hút thuốc (hình như sếp đang bức xúc gì đó). Sếp chân tình nói: “Này, chị bảo thật, người ta nói ăn cây nào rào cây ấy, nếu em định viết bài chê ngành văn hóa thì em chỉ có cách ra khỏi ngành, rồi muốn viết gì thì viết. Ngành văn hóa tham nhũng giỏi lắm được vài chục triệu, làm sao bằng ngành giao thông tham nhũng hàng chục tỉ hả em. Em cần phải nhạy cảm chính trị hơn chứ đừng có ngây thơ như thế…”. 
Mình nghe sếp nói và… im lặng. Sếp nói quá chuẩn! Sau đó, mình đã thực hiện đúng lời khuyên của sếp, tình nguyện vĩnh biệt đời công chức, ra khỏi ngành và viết “Lê Vân yêu và sống”, một cuốn sách mình muốn viết. Cuốn sách bị cấm tái bản (theo lệnh miệng) sau một tháng phát hành. Đến giờ, lệnh cấm vẫn còn nguyên hiệu lực, mà chẳng ai cho mình biết lý do tại sao cấm để mình còn “rút kinh nghiệm”. Đoán mò, chắc tại mình kém “nhạy cảm chính trị” chăng? 
Lần thứ ba mình được “thụ giáo” bởi một anh chàng dễ thương bên an ninh văn hóa. Khi đó, mình đang say sưa viết một loạt bài điều tra về ông hiệu trưởng một trường đại học tham nhũng, lạm quyền. Vì là chỗ quen biết, chàng đọc thấy bèn chân tình khuyên nhủ: “Em viết làm gì. Ông trưởng bảo đúng ông phó bảo sai. Đố em biết được ai đúng ai sai!!! Cơ chế là thế. Hôm nay đúng ngày mai sai ngày kia lại đúng. Chẳng có ai sai cả. Viết thế chứ viết nữa cũng chả giải quyết được gì!!! Em phải biết trên ông ấy là ai chứ! Em chả nhạy cảm chính trị tí nào”. 
Quả thật, bốn số liền đăng bài tố cáo mà “ngài hiệu trưởng khả kính” không thèm ra lời. Thậm chí, không hiểu phù phép thế nào, ông ta lại được ca ngợi hết lời, cũng chính trên tờ báo đó. Thế mới đau chứ! 
Nỗi đau này mãi gần chục năm sau mới… lên da non được. Tình cờ một hôm, cà phê vỉa hè, mình đọc được tin ngài hiệu trưởng phù thủy ấy sắp ra tòa. Vì tham nhũng hay gì gì đó, ở một phi vụ khác… Bỗng nhớ lời khuyên chân tình của chàng an ninh văn hóa về “căn bệnh” kém “nhạy cảm chính trị” của mình. 
Và còn nhiều lần nữa, mỗi lần được nhắc nhở kém / thiếu “nhạy cảm chính trị”, mình chỉ ừ hữ hoặc im lặng mà không có thuốc nào chữa được. Vái tứ phương, được các “lang vườn” bạn bè kê đơn bắt uống loại thuốc cây nhà lá vườn rất hiệu nghiệm có tên tiếng Tây là “Mackeno” và tên tiếng Việt là “Vô cảm”. 
Vô cảm. Ai đó đã dùng chữ này đầu tiên để miêu tả căn bệnh thờ ơ, chán nản, buông xuôi, trơ lì của toàn xã hội, từ dân đen tới cán bộ? Vô cảm trước sự đói nghèo, vô cảm trước áp bức bất công, vô cảm trước cường hào tham nhũng, vô cảm trước tội ác bạo hành, vô cảm khi an ninh quốc gia bị đe dọa, và đặc biệt vô cảm trước sự vô cảm. Cả một xã hội ù lì u mê không cảm xúc yêu ghét. 
Giống y hệt lúc tắc đường, là khi gương mặt xã hội được phản ánh rõ nhất. 
Đầu tiên cáu vì bỗng nhiên bị chặn đứng (như bị ngâm hồ sơ giấy tờ, bị sách nhiễu vòi vĩnh…). 15 phút đầu bực lắm. Bực ra mặt. Trán nhăn lại cau có, mắt láo liên nhìn quanh tìm lối thoát. 15 phút tiếp theo vẫn đứng im một chỗ, bắt đầu chửi đổng trong bụng. 15 phút nữa trôi đi trong cam chịu, nhẫn nhục. Ai cũng giống hệt mình. Cuối cùng, thêm 15 phút hay lâu hơn nữa cũng vậy. Chẳng còn trông đợi gì nữa… Sau một giờ đồng hồ, thậm chí hai giờ, chôn chân tại chỗ, nắng đổ lửa xuống hay mưa như xối trên đầu, khói xăng xe mù mịt ngộp thở, mọi cảm xúc bực bội, chán nản, lo lắng, đau khổ, oán than, nguyền rủa… lên tới đỉnh điểm rồi bất ngờ rơi về trạng thái trống rỗng. 
Dù đã được nhích lên từng tí một thì cũng chẳng còn hơi sức đâu mà mỉm cười. Dù sẽ được giải thoát nhưng lại nhận thức ngay rằng ngày mai vẫn thế, ngày kia vẫn thế, tháng sau vẫn thế, năm sau vẫn thế… Chẳng cáu chẳng chửi thậm chí cũng chẳng mừng. Một lần, sau cú tắc đường gần hai tiếng (đoạn đường dọc sông Kim Ngưu về nhà ở Kim Giang), khi được giải thoát cũng là lúc mình tự nhiên ngã lăn quay vì kiệt sức. Và hoàn toàn tê liệt mọi giác quan. Hoàn toàn vô cảm. 
Một thời gian dài, đọc đâu cũng thấy chữ “nhạy cảm”, muốn nói gì viết gì cũng được miễn đừng đụng đến “vùng nhạy cảm’, tức vùng cấm, sợ động chạm, sợ phạm húy… Chữ “nhạy cảm” được dùng nhiều quá, trở nên chai lỳ, báo chí chuyển qua phong trào dùng chữ “vô cảm”, báo hiệu căn bệnh các vùng nhạy cảm bị… vô cảm. 
Phải chăng, cái đích cuối cùng của báo chí tiếng Việt là đi từ “nhạy cảm” đến “vô cảm”, một quá trình triệt tiêu mọi cảm xúc một cách hoàn hảo để chữa căn bệnh thiếu /kém nhạy cảm chính trị

( Nguồn :vanviet)

 

THƯ CỦA THIẾU TƯỚNG LÊ DUY MẬT GỬI TRUNG ƯƠNG ĐẢNG

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Hà Nội ngày 20 tháng 07 năm 2014

Kính gửi:
Đ/C Tổng Bí Thư BCHTƯ Đảng
Các đ/c Uỷ viên Bộ Chính Trị
Các đ/c Uỷ viên Ban Bí thư TƯ Đảng
Các đ/c ủy viên Trung ương Đảng khóa XI.

Tôi là: Lê Duy Mật – Thiếu tướng – Nguyên Phó Tư lệnh – Tham mưu trưởng Quân khu 2 và Tư lệnh Mặt trận 1979-1984 (Hà Giang) thay mặt một số đảng viên, xin được nêu thắc mắc và kiến nghị như sau:

Cuộc chiến tranh biên giới 1979 – 1984 cũng là một trong những cuộc chiến đẫm máu vô cùng đau thương trong lịch sử nước ta. Đây là cuộc chiến tương tự các cuộc chiến Bạch Đằng,Chi Lăng, Đống Đa, nhưng tại sao đã qua 30 năm mà cuộc chiến này vẫn không được tổng kết, đúc rút kinh nghiệm phục vụ cho mục tiêu bảo vệ Tổ quốc cấp thiết trước mắt, Việc tổng kết này vô cùng cần thiết và sẽ rất hữu ích khi mà đối tượng chiến đấu vẫn là một, khi mà quân xâm lựợc đang cận kề chứ không xa xôi như trong các cuộc chiến chống Pháp, chống Mỹ. Bên cạnh đó các chính sách đối với gia đình liệt sĩ và những người chống xâm lược năm 1979 – 1984 ,chúng tôi đã nhiều lần đề nghị nhưng vẫn không được giải quyết ,mà chỉ có những lời hứa hẹn xuông.

Phải chăng có một nguyên nhân mà chúng tôi săp nêu lên sau đây.

Chúng ta đều biết mọi tiêu cực trong xã hội hiện nay từ Trung Quốc gây ra, khiến cho nước ta sản xuất lẹt đẹt, lạc hậu, đã thế, họ lại còn có những lời sỉ nhục đôi với cả dân tộc ta :“Việt Nam là con hoang, loại vô liêm sỉ, phải cho thêm vài bài học”. Vậy mà, lãnh đạo ta không hề có một phản ứng nào!

Rồi khi bọn xấu trà trộn trong đám biểu tình được xúi giục phá phách gần 1000 nhà máy của Hàn Quốc, Đài Loan,Singapore,Trung Quốc, thì công an lúc đó làm ngơ , sau đó mới xuất hiện, chỉ xử lý qua loa và xin lỗi xin đền bù thiệt hại cho họ. Trong khi đó Tung Quốc đâm phá gần 30 tàu ,thuyền của chúng ta thì không quyết liệt đòi bồi thường, mà chỉ “nhẹ nhàng” lên án.

Khi có hiện tượng bất thường nho nhỏ về dân sự thì lập tức nửa đêm đại sứ của Việt Nam ở Bắc Kinh bị gọi đến để nhận thư phản kháng, còn khi Trung Quốc gây hại cho ta thì chỉ có cán bộ Bộ Ngoại giao Việt Nam đến gặp cơ quan Lãnh sự Trung Quốc tại Hà Nội để giao công hàm phản kháng.

Lạ lùng nhất là tỉnh ủy Quảng Đông mà lại ngang nhiên gửi công văn cho Bộ Ngoại giao Việt Nam yêu cầu phải thực hiện 16 việc phải làm. Một thái đọ trịch thượng ,coi thường nước ta rất vô lễ mà ta vẫn chịu đựng.

Trung Quốc tự tiện cho giàn khoan vào xâm nhập lãnh hải Việt Nam bất chấp mọi ý kiến phản đối của nhân dân ta và dư luận các nước lên án. Khi rút đi, họ tuyên bố là do họ đã xong việc. Trung Quốc làm như vậy mà ta vẫn khen Trung Quốc là bạn tốt, 16 chữ vàng và 4 tốt. Đến nỗi dư luận thế giới cũng phải ngạc nhiên về thái độ quá ư nhu nhược của chúng ta.

Ngạc nhiên hơn là Nhà nước đàn áp những người biểu tình chống xâm lược ở trong nước mà chỉ khuyến khích biểu tình ở nước ngoài.

Chẳng lẽ một dân tộc Việt Nam anh hùng đã ba lần chiến thắng Nguyên Mông, đã có Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu, mà nay lại hèn kém như vậy sao! Chúng tôi cho rằng nguyên nhân sâu xa là ở Thỏa hiệp Thành Đô ngày 4/9/1990 của một số vị lãnh đạo. Chúng tôi chưa rõ thực hư thế nào mà chỉ biết sau này những hiện tượng tiêu cực xảy ra đã thể hiện nội dung của bản Thỏa hiệp đó . Xin trích một đoạn Thỏa hiệp Thành Đô: “Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa Cộng sản, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam sẽ cố gắng hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị vốn lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp trong quá khứ. Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh , như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông,Tây Tạng,Quảng Tây….

Phía Trung Quốc đồng ý và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.” .(Hết trích) (1) .

Vì vậy, chúng tôi yêu cầu trong hội nghị TW này Bộ chính trị , Ban Bí thư cần công bố các văn bản của Thỏa hiệp Thành Đô ,để chứng minh thực hư thế nào.Nếu Thỏa hiệp Thành Đô là đúng như vậy thì rõ ràng là một bản thỏa hiệp rất nguy hiểm cho đất nước như là phản bội Tổ Quốc. Vì vậy, chúng tôi đề nghị Hội nghị TƯ xem xét và ra tuyên bố phản bác bản thỏa hiệp đó ,chấn chỉnh lại tổ chức, kỷ luật những người đã ký và những người thực hiện sau này. Có như vậy Đảng ta mới thực sự là một Đảng chân chính, dám nhận khuyết điểm, dám công khai khuyết điểm như Bác Hồ đã nói: “Một Đảng mà không dám nhận khuyết điểm, công khai khuyết điểm là một Đảng hỏng”.

Theo điều lệ Đảng (điều 3 khoản 3), Đảng là của nhân dân lao động ,Đảng của toàn thể đảng viên vì vậy chúng tôi có quyền yêu cầu phải công khai các hoạt động của những người lãnh đạo để dân biết ,dân bàn,dân làm,dân kiểm tra như trong các Nghị quyết TƯ đã đề ra .

Trên đây là những kiến nghị tâm huyết và bức xúc của đảng viên.Tôi mong rằng :Bộ chính trị ,Ban bí thư nên tôn trọng ý kiến của các đảng viên cơ sở và thực hiện các việc nói trên .Tóm lại là:

1- Tổng kết cuộc chiến tranh chống quân xâm lược năm 1979 ,thực hiện chính sách qui tập mồ mả ghi công các anh hùng liệt sĩ trong cuộc chiến tranh chống quân xâm lược cũng như bao cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc trước đây của dân tộc ta, tổ chức kỷ niệm trọng thể hàng năm.

2- Công khai bản Thỏa hiệp Thành Đô tháng 9/1990 để toàn dân ,toàn Đảng biết được thực hư và ra tuyên bố để giải thích các hiện tượng tiêu cực . Thỏa hiệp Thành Đô là thứ ung nhọt đang di căn khắp cơ thể đất nước ta.

Nguy cơ mất nước đang là sự thật, mong các đồng chí có lương tâm ,vì sự nghiệp của tổ quốc mà thực hiện cho được. Nếu ở Hội nghị Trung ương X này không ra được bản tuyên bố thì yêu cầu đưa vào chương trình Đại hội Đảng bất thường hoặc Đại hội 12.

Chúng tôi chờ mong hồi đáp của các đồng chí.

Kính

Thiếu tướng Lê Duy Mật

 

              

CÁC NHÀ VĂN NỔI TIẾNG THỦ ĐÔ MÊ ẨM THỰC HUẾ

        Ngô Minh

Giáo sư Nhật Bản Tomita Kenje có một nhận xét rất tinh tế rằng:” Phong cách ăn của người Việt Nam đôi khi còn đậm tính dân tộc hơn cả ngôn ngữ’’. Huế là xứ sở ẩm thực độc đáo, vừa dân dã, vừa sang trọng. Ai đến Huế sau khi thưởng thức các món ăn nấu theo lối Huế, cũng đều xuýt xoa khen ngợi, và nhớ mãi như một kỷ niệm đẹp đời mình! Nhiều nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ lớn đương đại Việt Nam cũng rất mê các món ăn Huế, rượu làng Chuồn. Xin kể vài ký ức để thấy rằng: không chỉ người Huế thích món Huế mà cả những người sành ẩm thực nhất nước cũng mê món Huế !

 

          Năm 1986, Nhà văn Nguyễn Tuân vô Huế chơi. Ông ở Nhà khách tỉnh ở 2- Lê Lợi Huế. Tôi cùng mấy anh em nhà thơ ở Huế đến hầu chuyện ông. Ông mở “ba lô” lấy ra một cút rượu và ba cái chén, từ tốn rót rượu rồi ngửng lên nheo mắt cười mời chúng tôi :” Mời các bạn trẻ chủ tập thể đi!”. Ông kể “ rượu ấy là  rượu Vân,  đi đâu mình cũng phải bới đi ”. Ở Huế chưa được tuần, hết rượu Vân, ông thờ thẫn. Anh em mang đến chai rượu Chuồn Huế mời ông, ông nhấp nhấp thử rồi phán ”Thằng này được !”. Thế là  ông mê rượu Chuồn từ đó .

          Nguyễn Tuân vốn luôn xê dịch qua rất nhiều vùng đất, nên ông rất sành điệu các món ăn ba miền. Ông đã viết rất tụyệt vời về phở Hà Nôi, về cốm Vòng. Ông đã một lần viết rất hay về cơm muối Huế. Ông đặc biệt thích nhấm rượu với nem tré, tôm chua- vả chuối ăn kẹp với thịt lợn phay theo kiểu Huế. Đã thành lệ, lúc sinh thời nhà văn Nguyễn Tuân, các nhà văn, nhà thơ đất Cô Đô khi ra Hà Nội, ai cũng không quên mang theo xâu nem, lọ tôm chua với chục quả vả để làm quà cho người đồng nghiệp vong niên sành ăn của mình. Nhà thơ Nguyễn Xuân Thâm kể: Một lần nhà thơ về quê ra, mang biếu Nguyễn Tuân một lọ tôm chua Huế và chục quả vả. Mươi hôm sau, nhà thơ lại đến thăm cụ Nguyễn Tuân, thấy lọ tôm chua vẫn còn để nguyên trên giá, bên cạnh chai “Ông già chống gậy”. Hỏi mới biết nhà văn Nguyễn Tuân phải chờ hai ông bạn thân là họa sĩ Bùi Xuân Phái và họa sĩ Nguyễn Sáng đang đi vẽ xa về, để được cùng nhau thưởng thức phong vị Huế ! Khi mời khách ăn món Huế, tự tay Nguyễn Tuân gọt vả, thái chuối xanh, luộc thịt lợn, gắp tôm chua ra đĩa với một  thái độ rất trân trọng các loại thực phẩm đời thường mà tạo ra được những rung cảm thẩm mỹ và niềm tự hào về văn hóa dân tộc !

          Nhà thơ – nhạc sĩ Văn Cao, “người Việt Nam tài danh của thế kỷ XX”, tác giả Quốc Ca nước Việt, người từng viết bài thơ “Một đêm đàn lạnh trên sông Huế” nổi tiếng từ những năm 1940, năm 1987 ông lại “vi hành” vào Huế và rất mê rượu Chuồn. Lần vào thăm Huế đó, ngày nào ông cũng được nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo và bạn bè mời rượu Chuồn, rượu Hiếu. Ông bảo rượu Chuồn là “vô địch”, trên tài vốt-ka ngoại! Tuần ấy, không may ông bị ốm phải vào nằm bệnh viện Trung ương Huế. Buổi sáng hôm đó nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo và tôi vào viện thăm ông. Thấy chúng tôi vào mắt ông sáng hẳn lên. Ông kéo Nguyễn Trọng Tạo xuống nói gì đó rồi nhấp nháy mắt cười hóm hỉnh. Anh Tạo bảo với tôi:”Cụ thèm rượu Chuồn, ông ngồi đây, mình đi một lúc’’. Lát sau, Nguyễn Trong Tạo trở vô viện với cút rượu, cái chén mắt trâu giấu trong cặp: “Chỉ cho cụ uống tí chút cho đỡ thèm, chứ bác sĩ cấm ngặt!“. Tôi chiêu một chén cho cụ rồi giấu chai rượu xuống góc giường. Nhạc sĩ Văn Cao chưa kịp nhấp hết chén rượu thì bất ngờ bác sĩ viện trưởng dẫn một ông lãnh đạo tỉnh đến thăm. Bị bắt quả tang đang vi phạm điều luật của bệnh viện, nét mặt cụ Văn Cao trở nên bẽn lẽn, lúng túng như trẻ con. Nhạc sĩ thú thật :” Cái giống Chuồn này ngon lắn, trộm nhấp tí kẻo nhớ ..!” Tất cả mọi người đều cười vui trước sự chân tình đến dễ thương của người nhạc sĩ lớn của dân tộc. Sau đó nhạc sĩ -nhà thơ Văn Cao được các nhà thơ Huế Võ Quê, Nguyễn Quang Hà mời về làng Chuồn, đi giăng lưới đánh cá với dân làng trên Phá Tam Giang. Đánh được con cá nào ngon là nướng và uống với gió, với trăng mờ, rồi đọc thơ suốt đêm. Sau đêm rượu đó ,ông viết : Tôi níu lấy mảnh lưới / Lưới là cái cuối cùng / Đang hắt tôi xuống biển…

          Nhà thơ Hoàng Cầm là người trong các cuộc rượu vui thường thích đọc thơ và say nói chuyện với người đẹp hơn là ăn uống. Có nhiều bữa tôi để ý chẳng thấy ông gắp tí gì. Một lần duy nhất tôi thấy ông ăn một cách thích thú là hôm chúng tôi mời ông ăn nem lụi ở quán Đông Phương, Huế. Hôm đó cùng vui có nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Đình Toán và cô tiếp viên hàng không xinh đẹp mà nhà thơ vừa “làm quen” trên chuyến bay từ Hà Nội vào Huế. Như thường lệ Hoàng Cầm ngồi cạnh người đẹp và đọc thơ. Tôi giới thiệu mãi ông mới cầm ăn một lọn nem lụi mà tôi đã cuốn sẵn . Không ngờ, ăn xong que nem này, ông lấy bánh đa nem nhờ gói que khác, miệng luôn tấm tắc “tuyệt vời, tuyệt vời”. Rồi ông tự gói nem, múc nước lèo mời người đẹp, rồi nói một câu rất có cánh:” Mình không ngờ thức ăn cũng có thể làm cho người ta xúc động chẳng khác gì thơ” ! 

 

          Tháng 5 năm 1988, sau 30 năm “ ngồi một chỗ” ở Hà Nội, nhà thơ Trần Dần khập khiểng theo Phùng Quán vào Huế. Một buổi tối vợ chồng tôi mời cơm ông, anh Phùng Quán cùng một số nhà văn ở Huế như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Quang Lập… trong căn phòng tập thể của mình ở lưng chừng dốc Bến Ngự. Anh em thì uống rượu với đồ nhấm “cây nhà lá vườn”. Riêng nhà thơ Trần Dần vì răng yếu nên được “ưu tiên” các loại bánh Huế như bánh nậm, bánh bèo, bánh khoái, bánh ướt.. mua ở quán về . Hai đứa con tôi lâu ngày không có tiền để ăn bánh, khi thấy mấy thứ bánh ngon thì đứa nào cũng sáng mắt lên mừng rỡ. Thế là cả ba bác cháu được “ăn riêng” món bánh. Bữa vui phải đốt đèn dầu vì mất điện. Dù vậy câu chụyện văn chương vẫn rôm rả đến tận nửa đêm. Sáng hôm sau, gặp lại tôi, ông cảm kích ghì chặt tay nói từ chuyện bánh sang chuyện văn rất hồn nhiên: “Ở Huế ăn ngon, hợp khẩu vị. Món ăn Huế không cay nặng như món ăn Ấn Độ. Bánh Huế, bánh của “nhân loại tím” là chúa sơn lâm ! Các nơi khác có nguyên liệu mà không làm được. Cái ngon, cái mới trong thơ cũng có sẵn đâu đó trong cuộc sống như trong bánh Huế. Chỉ có người thích làm, dám làm, biết làm mới làm được..”.

 

CUỘC ĐỜI ĐAU BUỒN VÀ KHÍ PHÁCH CỦA TÁC GIẢ “Màu tím hoa sim”


 
Nhà thơ Hữu Loan sinh ngày 2 tháng 4 năm 1916  mất ngày 18 tháng 3 năm 2010. Ông ra đi thanh nhàng nhẹ nhõm và mãn nguyện như vừa chở xong một chuyến xe đá giữa bà con xóm giềng. Những người như ông không bao giờ coi cái chết là trút xong một món nợ đời, mà chính là bước sang một thế giới khác sinh sinh, hóa hóa vô thường. Thế hệ đời sau nhớ mãi một nhà thơ chiến sĩ, nhớ mãi thi nhân chở đá xây đời.  Ông có một cuốn  tự thuật kể lại cuộc đời mình vô cùng cảm động . Đặc biệt là đoạn viết về hai người vợ của mình trong đó người vợ đầu và bài thơ MÀU TÍM HOA SIM nổi tiếng.

  
Nàng có ba người anh
Đi bộ đội
Những em nàng còn chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh.
Tôi là người chiến binh
Xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo cưới,
Tôi mặc đồ quân nhân
Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân,
Nàng cười xinh xinh
Bên anh chồng độc đáo.
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi!
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng đời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về
Thì thương người vợ chờ
Bé bỏng chiều quê …

Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người gái nhỏ hậu phương
Tôi về không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con
Đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
Thành bình hương
Tàn lạnh vây quanh …

Tóc nàng xanh xanh
Ngắn chưa đầy búi
Em ơi!
Giây phút cuối
Không được nghe nhau nói
Không được trông thấy nhau một lần.

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa một mình
đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa…

Một chiều rừng mưa
Ba người anh
Trên chiến trường Đông Bắc,
Biết tin em gái mất
Trước tin em lấy chồng.

Gió sớm thu về
Rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió thu về
Cỏ vàng chân mộ chí.

Chiều hành quân
Qua những đồi sim ..
Những đồi hoa sim …,
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
Tím cả chiều hoang biền biệt
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa.
Áo tôi sứt chỉ đường tà,
Vợ tôi chết sớm mẹ già chưa khâu

Hữu Loan
 

Đây là những dòng tự thuật của chính nhà thơ Hữu Loan:
“Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học.
Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh Văn Xuấn, Đỗ Thiện và…tôi – Nguyễn Hữu Loan.Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái Thị Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên.
Ở Thanh Hóa, bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới. Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà.Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi – mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: ” Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời.Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non”.
Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chỗ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt …..
Có lần tôi kể chuyện ”bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành… Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ…
Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu” Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi …..


Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì.
Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:- Thầy có thích ăn sim không ?- Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ …
Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.- Thầy ăn đi. Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ: Ngọt quá!Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế!
Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì….tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo!Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến.Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi…Tôi quay đầu nhìn lại… em vẫn đứng yên đó … Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa.Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ …
Chín năm sau, tôi trở lại nhà…Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em, hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi.Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp… Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm ”soạn kịch bản”.
Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: ”yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”.
Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay…lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng.
Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết! Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ.
Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại…..
Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống. Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối!Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn…
Dường như càng kìm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép.Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra: “Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội… Những em nàng có em chưa biết nói. Khi tóc nàng đang xanh…” Tôi về không gặp nàng…
Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh.
Đó là bài thơ Màu tím hoa Sim. Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chỗ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa.Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : “Chiều hành quân, qua những đồi sim…
Những đồi sim, những đồi hoa sim.. Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết.. Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt…Và chiều hoang tím có chiều hoang biết…Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.”
Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi” hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!
Đó là thời năm 1955 – 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cặn.Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng…
Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông…
Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chỗ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc? Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày.Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo.Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi …
Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956, khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!
Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955. Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học , lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa.Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền. Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước.Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chỗ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông .Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách.Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng. Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta.Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói.Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói. Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ.
Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó , bữa đói bữa no…. Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai, 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa!Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì.Năm 1988, tôi ” tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự.
Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu tím hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan.Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác, nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán”.
Nhà thơ Hữu Loan

(Đọc tiếp…)

200 triệu đồng lấy được bằng Tiến sỹ y khoa

 
Nhóm Pv điều tra/ Dân việt

Ông Đàm Khải Hoàn chụp ảnh cùng sinh viên.
Qua giới thiệu của một nguồn tin, PV Dòng Đời đã tìm gặp Phó Giáo sư (PGS) Đàm Khải Hoàn, Trưởng bộ môn Y học Cộng đồng, Đại học Y Thái Nguyên để nhờ vị Phó GS này tìm cách “tậu” cho tấm bằng Tiến sỹ Y khoa danh giá.
Trong vai một người có nhu cầu làm nghiên cứu sinh, phóng viên Dòng đời đã tiếp cận với vị giáo sư này cũng như công nghệ lấy bằng tiến sĩ mà “thầy” đã vẽ ra 
 Trước khi tiếp PV tại nhà riêng, PV đã điện thoại trước cho Phó GS Hoàn, tự giới thiệu có mong muốn được vị Phó GS này hướng dẫn Nghiên cứu sinh. Khi đó, vị Phó GS đang bận một cuộc nhậu. Tuy nhiên, chỉ sau đó khoảng 30 phút, vị Phó GS này rời cuộc vui để gặp PV tại nhà riêng của mình.
 
Đi mua… bằng Tiến sỹ Y khoa 
 
Tọa lạc trên một khu đất rộng, ngôi nhà của vị Phó GS này là một nhà sàn “chất”, mà theo ông khoe, là: “Mấy năm trước, tôi mới mua được của một gia đình dân tộc trên huyện Võ Nhai. Hồi đó, giá của nhà sàn rẻ lắm! Cả làm “luật” cho kiểm lâm và vận chuyển nữa hết có gần 20 triệu!”. 
\
Trước những cảnh quan và vật dụng liên quan chủ yếu tới lâm sản, PV nhanh chóng nghĩ ra một “vai diễn” phù hợp với bối cảnh khi tự nhận mình là một “trùm” buôn gỗ. Sau khi “đi” vài đường cơ bản về gỗ, PV nhanh chóng đặt vấn đề:
 
“Nhà em vốn có truyền thống theo nghề Y nên khi học xong cấp 3, em đã thi vào ĐH Y Hà Nội. Tuy nhiên, sau khi vào học ngành này, em lại không có hứng thú nên học hành rất chểnh mảng, gần như không biết gì. Đi học thì thuê, đi thi thì “chạy”.
 
Khi học xong bằng cử nhân, gia đình lại ép em học luôn thạc sỹ. Lúc này, em đã tham gia vào công việc kinh doanh gỗ nên đi lại triền miên. Vì thế, bằng Cao học của em cũng là đi mua nốt. Bây giờ, việc kinh doanh gỗ của em chủ yếu chuyển trọng điểm về Thái Nguyên, công việc cũng đang phát đạt nên bố mẹ em nhất quyết bắt em phải học nốt cái bằng Tiến sỹ để sau này có cái bằng mà mở phòng khám.
 
Công việc trên Thái Nguyên thì em không thể bỏ được nên em rất mừng khi được anh em giới thiệu qua gặp thầy để thầy hướng dẫn Nghiên cứu sinh. Nhưng thực tình, kiến thức thì em không biết gì…”.
 
- “Thế em đã có bài báo hay công trình khoa học nào chưa?” vị Phó GS Đàm Khải Hoàn ngắt lời, hỏi.
- “Dạ, chưa ạ!”.
- “Thế em đã đi làm chuyên môn ở đâu chưa?”.
- “Dạ, chưa ạ!”, PV lí nhí.
- “Vậy được rồi! Việc lấy bằng Tiến sỹ của cậu, tôi sẽ giúp được. Cậu cứ yên tâm! Tôi nhận lời với cậu”, vị Phó GS chốt lại.
Ông Đặng Kim Vui, Giám đốc Đại học Thái Nguyên: “Việc anh Hoàn trao đổi chuyện làm bằng tiến sỹ kiểu đó là sặc mùi mua bán. Không thể chấp nhận được! Chúng tôi sẽ không bao che cho những hành động tiêu cực này!”.
Kỹ nghệ “lấy” bằng
 
Sau khi câu chuyện đã cởi mở, ông Hoàn nói thêm: “Trước tiên, tôi sẽ viết cho cậu vài bài báo khoa học để đăng trên tạp chí Y học Thực hành. Mấy bài báo này sẽ ký tên cậu. Cậu chỉ việc tới tòa soạn, đưa cho họ mấy đồng rồi nhờ họ đăng bài, tôi sẽ có lời cho cậu. 
 
Việc tiếp theo, cậu phải nhờ các mối quan hệ của gia đình mình để có tên trong một cơ quan hoặc tổ chức phi chính phủ nào đó để khi hội đồng xét duyệt hồ sơ, họ tin rằng cậu đã làm ở cơ quan, tổ chức đó chứ không phải là anh buôn gỗ” – ông Hoàn bắt đầu tiết lộ bí quyết nghề nghiệp của mình.
 
“Việc cậu đi làm, cậu cứ đi. Tôi sẽ làm đề cương đề tài cho cậu (đây là phần quan trọng nhất mà thí sinh phải trình bày trước Hội đồng các Giáo sư, Phó GS để được chấp nhận đậu đầu vào Nghiên cứu sinh – PV). Tôi sẽ trao đổi với cậu qua email” – ông Hoàn nói thêm.
 
Trước sự hướng dẫn nhiệt tình của vị Phó GS, tôi tiếp tục thể hiện “quan điểm: “Nhưng thực tình em không biết gì hết. Lỡ khi vào bảo vệ đề cương đề tài các thầy trong hội đồng hỏi thì em không biết trả lời sao? Thầy có lo cho em được cả hội đồng không ạ?”.
 
Lúc này, vị Phó GS trấn an ngay: “Yên tâm, cái đó lo được! Không biết rửa bát thì phải bế em thôi. Tôi đã hướng dẫn nhiều người rồi! Cần gặp ai thì tôi sẽ bảo cậu đến gặp. Mấy người đó toàn… đàn em của tôi thôi mà!” (Ý nói mấy vị trong hội đồng xét tuyển Nghiên cứu sinh – PV).
 
Trước sự chắc chắn của vị Phó GS này, tôi chốt lại: “Vâng, trăm sự em nhờ thầy! Vậy thầy cho em biết là em sẽ phải chuẩn bị bao nhiêu tiền để lo việc này hả thầy?”.
 
“Thôi, cậu cứ về đi. Mới gặp lần đầu, tôi chưa muốn nói chuyện này. Để hôm khác. Cậu cứ yên tâm là tôi giúp được cậu. À mà cậu tên là gì nhỉ?”, lúc này, vị Phó GS Đặng Khải Hoàn mới kịp nhớ ra là mình chưa hỏi tên “khách hàng”.
 
Tuy nhiên, trong câu chuyện về ngôi nhà sàn của mình, ông Hoàn có “gợi ý” rằng ngôi nhà sàn của ông vẫn còn những gỗ tạp và kêu than chuyện lúc này, lực lượng kiểm lâm làm gắt quá. Dù có nhiều mối quan hệ với cả lực lượng kiểm lâm và lâm tặc, ông Hoàn vẫn không thể vận chuyển được số gỗ nghiến về để hoàn thiện nốt ngôi nhà sàn của mình. Trước ý tứ trên, PV buộc phải gợi ý là mình có thể làm được việc này.
 
Sau đó, PV có nhận được email từ vị Phó GS này với đoạn có nội dung sau: “Thầy định thay toàn bộ sàn bằng nghiến. Có lẽ vẫn phải dầy 5cm, vì nó mới im, mỏng sẽ rung. Diện tích toàn bộ sàn là 100m2. Các tấm gỗ dài ngắn tùy theo đều được cả vì phải ghép mà. Em lo hộ thầy”.
 
Trước tình hình trên, tôi buộc phải đồng ý sẽ lo giúp thầy Hoàn 100m2 gỗ nghiến loại dày 5cm. Tại lần gặp thứ hai, PV đã một lần nữa hỏi về số tiền phải đưa cho Phó GS Đàm Khải Hoàn để lo chuyện đầu vào. Lần này, ông Hoàn đã đồng ý với mức giá 200 triệu đồng và cho tôi số tài khoản ngân hàng để chuyển tiền vào.
 
Những nội dung của cuộc ngã giá chỉ được PV tiến hành sau khi gặp gỡ với nhiều người đã, đang được vị Phó GS này hướng dẫn Nghiên cứu sinh. Các nhân vật này đều khẳng định: Nếu muốn mua bằng Tiến sỹ Y khoa bằng tiền tại Đại học Y Thái Nguyên, PV nên tìm đến Phó GS Đàm Khải Hoàn là đúng địa chỉ nhất.
 
Sặc mùi mua bán
 
Khi những tư liệu trên đầy đủ, PV quyết định ra mặt để đối chất với vị Phó GS. Ngay sau khi PV công bố các tư liệu đã thu thập, Phó GS Đàm Khải Hoàn im lặng một hồi rồi bỏ về. Sau đó, ông Hoàn có gửi lại một email cho chúng tôi.
 
Email này có đoạn: “Anh giới thiệu là người buôn gỗ nhưng đã học Cao học Y tế công cộng. Tuy nhiên mải làm ăn cho nên học không đến nơi đến chốn. Nhưng với điều kiện đó tôi nghĩ sẽ dạy cho anh được. Anh nói anh làm ra rất nhiều tiền, sẵn sàng cho tôi cái này, cái nọ. Nhưng đấy là anh đặt vấn đề và xuất phát từ anh chứ tôi có đòi hỏi gì đâu? Tôi nghĩ xã hội này có nhiều người có nhiều tiền thì khi học, họ có thể biếu tôi món quà to…”.
 
PV cũng đã liên hệ với lãnh đạo Đại học Y Dược Thái Nguyên để làm việc. Trước những thông tin nghiêm trọng mà phóng viên đưa ra, Ban Giám hiệu Đại học Y dược Thái Nguyên đã triệu tập một cuộc họp với đầy đủ lãnh đạo nhà trường, phóng viên và Phó GS Đàm Khải Hoàn với mục đích để các bên xem các tư liệu, đối chất và đưa ra các quan điểm về vụ việc.
 
Tại đây, ông Hoàn nhận mình có khả năng giúp các nghiên cứu sinh có bằng Tiến sỹ Y khoa mà không cần phải học, ông Hoàn vẫn giữ quan điểm rằng viêc ông nói như vậy đơn thuần nghĩ rằng việc hướng dẫn một nghiên cứu sinh có điều kiện về kinh tế thì việc nhận được những món quà có giá trị vật chất lớn là điều bình thường.
 
Trong khi đó, đại diện cho lãnh đạo nhà trường, ông Nguyễn Văn Sơn cho rằng việc ông Hoàn nói như vậy bước đầu có thể kết luận là không đúng với đạo đức của người thầy giáo.
 
Tuy nhiên, bình luận về những tư liệu mà phóng viên đưa ra, ngày 4.8.2014, ông Đặng Kim Vui, Giám đốc Đại học Thái Nguyên (Đại học Y Dược Thái Nguyên là 1 trường đại học thành viên của Đại học Thái Nguyên) nhìn nhận thẳng thắn: “Việc anh Hoàn trao đổi chuyện làm bằng tiến sỹ kiểu đó là sặc mùi mua bán. Không thể chấp nhận được! Chúng tôi sẽ không bao che cho những hành động tiêu cực này!”.
 

(Đọc tiếp…)

Học giả Trung Quốc bác bỏ quan điểm sai trái về Biển Đông

Mới đây, học giả Lê Oa Đằng, chủ trang Blog có tới hơn 4.039.130 người đọc trên diễn đàn mạng Sina.com lớn hàng đầu Trung Quốc, đăng bài “Nam Hải từ xưa đến nay là của Trung Quốc ư?”, thẳng thừng bác bỏ những luận điểm sai trái của chính quyền Trung Quốc về vấn đề Biển Đông.

Đầu tháng 8 vừa qua, Trung Quốc lại cho phát hành cuốn sách “Bàn về lịch sử, địa vị và tác dụng của Đường 9 đoạn” do một số học giả, quan chức viết. Cao Chí Quốc, Viện trưởng nghiên cứu chiến lược phát triển Cục Hải dương Trung Quốc – chủ bút cuốn sách này rêu rao sản phẩm của ông ta và 2 đồng nghiệp “cung cấp chỗ dựa pháp lý quan trọng để Trung Quốc bảo vệ quyền lợi biển ở Nam Hải (tức biển Đông)” (!?).

Tuy nhiên, chỉ cần đọc qua những lời giới thiệu, người ta thấy ngay nó chả có gì mới mẻ hơn những điều mà viên tướng Vương Quán Trung, Phó Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc đã đưa ra tại Diễn đàn Shangri La hồi tháng 6/2014 và đã bị dư luận quốc tế kịch liệt phê phán và bác bỏ…

 

 Những luận điệu xằng bậy của Vương Quán Trung: “Trung Quốc có chủ quyền, quyền chủ quyền, chủ trương quyền quản hạt ở Nam Hải được hình thành trong quá trình phát triển lâu dài; từ triều Hán hơn 2000 năm trước đã bắt đầu phát hiện và từng bước hoàn thiện việc quản lý đối với Nam Hải, đặc biệt là các đảo bãi Nam Sa (Trường Sa) và vùng biển liên quan”, đã bị chính các học giả Trung Quốc hiểu biết và tôn trọng lẽ phải nghiêm khắc lên án, bác bỏ.  

Người Chiêm Thành phát hiện ra Hoàng Sa đầu tiên

Học giả Lê Oa Đằng phân tích, Vương Quán Trung đã khôn khéo trộn lẫn hai khái niệm “phát hiện” và “quản lý” để cố tình dẫn dắt khiến người ta lầm tưởng Trung Quốc “từ xưa đến nay đã có chủ quyền” đối với Trường Sa. Ông cho rằng “phát hiện” và “quản lý” là hai khái niệm khác hẳn nhau về mặt ý nghĩa pháp luật; “phát hiện” không mang lại chủ quyền, chỉ có “quản lý” mới có; càng không thể gắn 3 vấn đề “Nam Hải” (Biển Đông), “Nam Sa” (Trường Sa) và “vùng biển liên quan” làm một.

Học giả Lê Oa Đằng viết: Trung Quốc có thực sự có chủ quyền “không thể tranh cãi” đối với Nam Hải hay không? Hãy để sự thật lên tiếng. Trung Quốc thực tế đã “phát hiện” Nam Hải từ triều Hán; nhưng Nam Hải không phải do người Trung Quốc phát hiện sớm nhất, mãi đến đời Tần Trung Quốc mới đến Nam Hải; còn trước đó từ rất lâu, tộc người Bách Việt sinh sống ở vùng Quảng Đông và bán đảo Đông Dương đã sinh sống ven Nam Hải.

Nếu nói ai “phát hiện” ra Nam Hải thì người Việt Nam có tư cách hơn chúng ta, vì họ là hậu duệ trực hệ của người Bách Việt, và cũng là quốc gia duy nhất được xây dựng bởi chủ thể là các hậu duệ của tộc người Bách Việt.

Học giả Lê Oa Đằng khẳng định: Các sách, sử liệu của Trung Quốc từ đời Tống trở về trước đều “rất khó xác định người Trung Quốc đã biết đến Tây Sa (Hoàng Sa) hay chưa, chứ đừng nói tới Nam Sa (Trường Sa).Ví dụ sách “Dị vật chí” đời Đông Hán mà Trung Quốc hay nhắc tới niên đại có ý kiến cho rằng thực ra nó được viết vào đời nhà Ngô sau này, viết: “Trướng Hải Kỳ Đầu, nước nông có nhiều đá có từ tính, từ thạch”.

Chính phủ Trung Quốc cho rằng: Trướng Hải chính là Nam Hải, Kỳ Đầu chính là các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Phán đoán đó đã phạm sai lầm tối thiểu về mặt lô-gic “lấy cá thể thay cho tổng thể”. Mấy chữ đó không thể chứng minh được những địa danh đó ở nơi nào, cũng chẳng có bài viết nào của Trung Quốc chỉ ra rằng chúng ở đâu.

Sự thật là, những ghi chép đầu tiên giúp xác định Tây Sa (Hoàng Sa) lại do người Chiêm Thành cung cấp. Theo ghi chép trong sách “Tống hội yếu”, năm 1018, sứ giả Champa đi sứ Trung Quốc có nói (dịch nghĩa): “Chúng tôi đến Quảng Châu, thuyền bị gió thổi trôi đến Thạch Đường, đi mãi mới đến được đây. Thạch Đường trên biển cách Nhai Châu 700 dặm, chìm dưới nước 8-9 thước”.

Qua miêu tả cho thấy, Thạch Đường chính là quần đảo Hoàng Sa. Do đoạn văn tự này do người Trung Quốc ghi lại, nên các chuyên gia Trung Quốc liền cho rằng đó là một chứng cứ lịch sử cho thấy Hoàng Sa là của Trung Quốc, nhưng họ cố tình không chịu hiểu là: phía Trung Quốc chỉ là người ghi chép lại, còn người Chiêm Thành mới là bên cung cấp thông tin, sự việc được ghi lại chính là: người Chiêm Thành đã đến quần đảo Hoàng Sa.

Chính vì vậy, nếu lấy ghi chép trong sử liệu làm chuẩn, người Chiêm Thành phát hiện ra Hoàng Sa sớm nhất, Vương quốc Champa là một bộ phận của Việt Nam ngày nay. Xét về quan hệ kế thừa chủ quyền, chính người Việt Nam chứ không phải Trung Quốc đã phát hiện ra quần đảo Hoàng Sa đầu tiên.

Trung Quốc biết tới Trường Sa còn muộn hơn

Lê Oa Đằng khẳng định, theo sử sách của chính Trung Quốc, họ biết đến Trường Sa còn muộn hơn nhiều. Ông dẫn lại những ghi chép trong Quyển 197, sách “Tống hội yếu”, có chép lại sự kiện ngày 20 tháng 7 năm Gia Định thứ 9 (1209), có sứ giả nước Chanlifu (Chanthaburi ở Đông Nam Thái Lan ngày nay) đến thăm.

Ông ta kể lại với các quan chức nhà Tống việc từ nước mình sang tới đây phải qua Chiêm Thành, sắp đến Giao Chỉ thì bị gió lớn thổi dạt đến “Vạn Lý Thạch Đường” nước chỗ nông chỗ sâu, nhiều đảo bãi, thuyền lật chết đuối mười mấy người; may có gió Đông Nam vượt qua được Giao Chỉ, đi 4-5 ngày nữa mới đến được Khâm Châu, Liêm Châu. Đoạn văn này chỉ ghi lại sự việc, chẳng nói ai phát hiện ra “Vạn Lý Thạch Đường” theo phỏng đoán là quần đảo Trường Sa.

Lê Oa Đằng cho rằng, Trung Quốc luôn nhấn mạnh bắt đầu từ đời nhà Tống đã quy Hoàng Sa và Trường Sa vào Vạn Châu. Chứng cứ là các địa phương chí có ghi “Vạn Châu có biển Trường Sa và biển Thạch Đường”, nhưng chỉ cần đọc hoàn chỉnh cả câu thì thấy ngay cách nói đó không đáng tin cậy.

“Thực ra, hoạt động của các quốc gia khác ven Nam Hải có lịch sử rất lâu đời. Người Chiêm Thành, nay thuộc Việt Nam biết đến Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) rất sớm, thậm chí có thể là những người phát hiện ra chúng. Việt Nam có chứng cứ đã quản trị Tây Sa (Hoàng Sa) từ đầu thế kỷ 18, thậm chí đã được quốc tế thừa nhận. Trái lại, Trung Quốc chả có chứng cứ gì về mặt này”.

  Học giả Lê Oa Đằng khẳng định

 Theo Thu Thủy

(Đọc tiếp…)

Older Posts »

Danh mục