Đăng bởi: Ngô Minh | 23.02.2017

TẬP THƠ TẶNG VỢ “40 NĂM EM” CỦA NGÔ MINH

bia-40

TẬP THƠ TẶNG VỢ “40 NĂM EM” CỦA NGÔ MINH

 

Ngô Minh

40 NĂM EM

 

40 năm em làm mẹ

ba thằng ăn hại ăn hư (*)

40 năm em làm vợ

ông chồng thi sỹ lơ ngơ…

 

1

Cưới không bỏ trầu, ăn hỏi

phù dâu phù rể cũng không

cũng chẳng rước dâu, áo cưới

đơn sơ chiếc áo Hồng Kông

 

40 năm em lo hết

ghế hư, quạt hỏng, giường long,

nuôi lợn, trồng rau, bóc lạc…

chuyện áo cơm tưởng còng lưng

 

40 năm phai nhan sắc

cho yên ấm một gia đình

để được như bè như bạn

em không tròn giấc ngủ ngon!

 

 

2

Anh thì đọc đọc viết viết

rượu say ngủ cả trên đường

về nhà em lo tắm gội

giận thì giận thương càng thương (**)

 

anh chẳng quyền chức giàu có

cho em rủng rẻng tiêu pha

“mệ ơi thơ không bán được(***)

em lo tằn tiện từng đồng  

 

thi sỹ thường mê người đẹp

nhiều khi xúc cảm thành thơ

để em hờn ghen, đau khổ

em yêu chồng đến bờ phờ!

 

 

                              3.

Đôi lúc “ngoài chồng ngoài vợ”(****)

thủy chung lại gọi ta về

em yêu chồng anh thương vợ

câu thơ nồng ấm canh khuya

 

cùng nhau góp gom tí chút

xây ngôi nhà trái tim vàng

hai con Đại học Kiến trúc

lo năm cháu nội vuông tròn

 

trải 40 năm chồng vợ

anh nghiện mùi mồ hôi em

bốn mươi năm mùi em ấy 

vẫn còn quyến rũ hồn anh

 

bão dông cũng không ngáng trở

chúng mình vợ vợ chồng chồng

vòng tay đêm đêm ôm ấp

giờ đầy đặn 40 năm!

 

                              4

Tròn 40 năm làm vợ

làm mẹ, làm bà em ơi

nội ngoại nghèo và xa ngái

lo toan chỉ có em thôi

 

66 tuổi ôsin cần mẫn

nấu cơm, rửa bát, lau nhà…

cà phê cho chồng buổi sáng

xóm giềng chia sẻ lại qua

 

sống ở thị thành em vẫn

là gái làng Sẻ ngày nào

dịu dàng, thật thà, chân chỉ

cơ quan, bạn bè, mến yêu

 

anh viết bài thơ kể chuyện

em 66 vẫn rạng ngời

khiến hồn thơ anh tuôn chảy

ơi vầng trăng của anh ơi!

 

                    Huế, 1/1/2017

———–

(*): Ví dặm Nghệ Tĩnh

(**): Nhà thơ Phạm Việt Thư ở Vinh điện thoại đọc tặng Minh Tâm bài thơ vui: “Trong nhà tui có ba thằng/ Một thằng ăn hại hai thằng ăn hư/ Khi buồn  mẹ nó bù lu/  Khi vui mẹ nó lại ru  một thằng”. Minh Tâm tếu sửa lại câu cuối : Khi buồn mẹ nó sở cu một thằng

 (***): Câu thơ  của Ngô Minh trong bài Tìm tôi tìm Huế”

(***): Ý thơ của Thuận Hữu:” Ai cũng có những phút giây ngoài vợ ngoài chồng / Đừng có trách chi những xao lòng

bia-40-nam

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.02.2017

Formosa Hà Tĩnh: miếng “gân gà” ăn hay bỏ?

formosa

Formosa Hà Tĩnh: miếng “gân gà” ăn hay bỏ?

Thiên Luân

Trong Tam Quốc Chí có một điển tích rằng: Tào Tháo đem quân đánh Thục, Quân Thục chống trả quyết liệt khiến quân Tào rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan. Tào Tháo tâm trạng hết sức buồn bực, vào một đêm viên tùy tướng đến hỏi mật khẩu giao ban đêm nay là gì, Tào Tháo thở dài nói “kê cân”. Dương Tu nghe được liền chẩn bị đồ đạc cho việc rút quân. Thấy lạ các tướng hỏi, Dương Tu trả lời, Thừa tướng ban mật khẩu “kê cân” (gân gà) là ý muốn nói ăn không được vứt cũng không xong, việc rút quân chỉ là nay mai. Tào Tháo biết chuyện liền cho chém đầu Dương Tu vì tội tiết lộ quân cơ. Không lâu sau Tào Tháo ra lệnh rút quân.

Kể một chút về tích xưa là muốn liên hệ với việc ngày nay. Đó là vấn đề Formosa Hà Tĩnh – miếng gân gà của Chính quyền Việt Nam, ăn thì khó nuốt, bỏ đi thì không đành.

Tính đến thời điểm hiện nay, hiếm có doanh nghiệp nước ngoài nào được Chính phủ Việt Nam ưu ái như tập đoàn Formosa. Trong hợp đồng thuê đất của Formosa có viết, đảm bảo không thu hồi đất vì mục đích cộng đồng và phát triển kinh tế hay các mục đích khác; đối với thu hồi đất vì lý do quốc phòng, an ninh, hai bên tiến hành thảo luận đi đến thống nhất bồi thường dứt điểm trước khi thực hiện. Ngoài ra còn miễn tiền thuê đất 15 năm, thuế thu nhập doanh nghiệp 10% từ năm có thu nhập chịu thuế (thông thường là 25%), mà 4 năm được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, sau đó giảm 50% trong 9 năm tiếp theo và được miễn thuế đối với các mặt hàng tạm nhập tái xuất, miễn thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng tạo tài sản cố định… Mặc dù được ưu ái là vậy nhưng Formosa thấy chưa đủ. Vào tháng 6/2014 Formosa đề xuất lập đặc khu kinh tế gang thép Vũng Áng. Tuy nhiên đề xuất này đã bị Chính phủ Việt Nam bác bỏ.

Theo như thông tin đã công bố, tổng số vốn đầu tư của Formosa vào khu công nghiệp Vũng Áng khoảng 10 tỷ USD, trong đó thực vốn chỉ có 3,8 tỷ còn 7 tỷ là vay từ các ngân hàng trong và ngoài nước. Khoản vay ngân hàng nước ngoài được CP Việt Nam bảo lãnh. Còn tiền vay của ngân hàng thương mại trong nước là tiền của người dân: Thông báo ngày 219/TB – CP ngày 2/6/2014 của VP Chính Phủ đồng ý hạn mức cho Formosa vay tiền NHTM gấp 4 lần số vốn đăng ký. Theo đó họ sẽ được vay tới 40 tỷ USD, đó là tiền của người dân Việt Nam.

Thảm họa cá chết miền Trung năm 2016, chính Formosa là thủ phạm nhưng Chính phủ Việt Nam không có biện pháp nào trừng phạt thích đáng. Formosa đền bù số tiền 500 triệu USD để khắc phục hậu quả, trong khi đó Chính phủ Việt Nam lại hoàn thuế cho họ tới 14.600 tỷ đồng. Đây là một việc làm khó hiểu.

Trước những ưu ái lớn, bất thường như vậy khiến không ít người hoài nghi rằng, có một sự thỏa thuận ngầm nào đó giữa Formosa và Chính phủ Việt Nam, nếu không tại sao họ có thể tự tung tự tác như vậy được. Sau sự việc xả thải gây cá chết hàng loạt vào tháng 4/2016, Formosa xin lỗi hôm trước thì hôm sau lại có sự việc phát hiện 100 tấn chất thải của Formosa chôn trên đất liền, rồi việc người dân phát hiện tàu có ký hiệu HN-111 xả thải ra vùng biển Vũng Áng (20/11/2016) và mới đây nhất là chuyện vệt nước màu đỏ ở Vũng Áng.

Phía Formosa dường như đang thách thức lời tuyên bố của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc “Đóng cửa nếu Formosa tái phạm” khi liên tiếp vi phạm thỏa thuận, tiếp tục xả thải gây ô nhiễm môi trường. Họ cũng không quan tâm tới phản ứng của người dân vì đã có Chính quyền Việt Nam đảm bảo an ninh. Ngay cả việc người dân đi kiện ôn hòa cũng bị chính quyền đàn áp bằng vũ lực.

Nếu đóng cửa Formosa, chính quyền Việt Nam sẽ bị họ khởi kiện đòi bồi thường hợp đồng. Và quan trọng hơn nữa là số tiền Formosa đầu tư ở Vũng Áng là tiền của Việt Nam. Một khi họ bị đóng cửa thì các ngân hàng ở Việt Nam sẽ phải ôm đống sắt vụn. Còn nếu tiếp tục để Formosa tiếp tục hoạt động thì nhiễm môi trường sẽ vẫn tiếp tục bị tàn phá mà thảm họa hồi đầu năm 2016 chỉ là sự khởi đầu.

Còn nữa, việc để Formosa triển khai dự án ở Hà Tĩnh không phải quyết định của một người mà là của cả một tập thể. Cụ thể ở đây là chủ trương của Đảng, sự đồng ý của Bộ Chính Trị. Nếu bây giờ đóng cửa Formosa, hậu quả ai chịu trách nhiệm?

Chính quyền Việt Nam dường như đang bế tắc trong vấn đề này. Những hi vọng tốt đẹp khi dự án mới triển khai giờ đang nhường chổ cho những khó khăn. Cho nên có thể nhận định việc Chính phủ Việt Nam cấp phép đầu tư cho Formosa là sai lầm.

Ngành công nghệ sắt, thép không còn là xu hướng lựa chọn của nhiều nước trên thế giới vì nó không mang lại lợi ích phát triển cho quốc gia và hơn thế nữa là những tác động của nó tới môi trường. Trên thế giới nhu cầu tiêu thụ thép giảm. Tại Mỹ năm 2013, ngành công nghiệp thép của Mỹ đã báo cáo lỗ ròng tới 1,2 tỷ USD. Trong nước, nhiều nhà máy chỉ chạy 50 – 60% công suất. Tổng công ty thép Việt Nam (VNSTEEL) với quả đấm thép Công ty Gang thép Thái Nguyên (TISCO) từ khi thành lập (1959) không tạo sự thần kỳ nào, thập chí hiện tại là gánh nặng của ngành thép Việt Nam.

Mức độ thiệt hại thảm họa môi trường do Formosa Hà Tĩnh gây ra là vô cùng lớn. Biển chết, nguồn nước, không khí ô nhiễm và đặc biệt cuộc sống của hàng triệu người dân 4 tỉnh Miền Trung đang đối diện với một tương lai mịt mờ. Họ mong chờ trách nhiệm phía Formosa trong việc tái thiết, đền bù nhưng chính quyền luôn tìm mọi ngăn cản. Chính quyền đang bảo vệ miếng “gân gà” Formosa thay vì quyền lợi của người dân. Nhưng liệu có nuốt nổi miếng gân gà đó không? Chắc chắn là không.

Đã đến lúc phải giải quyết dứt điểm vấn đề của Formosa. Nhà máy phải đóng cửa và Formosa rút khỏi Việt Nam. Nếu không thảm họa sẽ còn tiếp tục, người dân còn phản đối và đấu tranh và mâu thuẩn giữa chính quyền và người dân ngày càng cao.

T.L.

Nguồn: https://www.danluan.org/tin-tuc/20170222/formosa-ha-tinh-mieng-gan-ga-an-hay-bo

Những dấu hỏi về sự giàu có của người giàu Việt

Minh Thư

Không chỉ số lượng người giàu tăng nhanh trong những năm gần đây làm cho mọi người quan tâm mà vấn đề chính nằm ở chỗ nguồn gốc của sự giàu có đó là từ đâu? Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nhận định.

Theo báo cáo Thịnh vượng 2016 (Wealth Report) của Knight Frank thì Việt Nam là một trong số các quốc gia có số người siêu giàu tăng nhanh nhất thế giới. Năm 2015, Việt Nam có 168 người siêu giàu (là cá nhân có tài sản từ 30 triệu USD trở lên – theo Knight Frank), tăng 12 người so với năm trước đó. Dự đoán, đến năm 2025 số người siêu giàu ở Việt Nam sẽ tăng hơn gấp đôi (khoảng 140%, lên 403 người).

Xung quanh vấn đề này, trao đổi với PV Infonet, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng, ở Việt Nam, không chỉ số lượng người giàu tăng nhanh trong những năm gần đây làm cho mọi người quan tâm mà vấn đề chính nằm ở chỗ nguồn gốc của sự giàu có hay sự tăng trưởng đó bằng tài năng kinh doanh như thế nào thì nhiều khi không có những bằng chứng thuyết phục.

Bà Phạm Chi Lan cho rằng, không chỉ số lượng người giàu tăng nhanh trong những năm gần đây ở Việt Nam làm cho mọi người quan tâm mà vấn đề chính nằm ở chỗ nguồn gốc của sự giàu có đó là từ đâu?

“Đa phần người giàu ở Việt Nam làm giàu lên từ đất đai là chính, mà đất đai ở Việt Nam theo luật pháp thuộc sở hữu toàn dân. Khi mà trong xã hội một số người khai thác mảng tài sản thuộc sở hữu toàn dân mà giàu lên nhanh chóng thì dễ gây nên những bức xúc và những dấu hỏi về sự giàu có của họ. Đấy là vấn đề. Còn nếu họ giàu có bằng tài năng kinh doanh thực sự, làm ăn đàng hoàng minh bạch, mang lại lợi ích lớn cho xã hội thì không ai thắc mắc mà mọi người chỉ hoan nghênh sự giàu có đó mà thôi.

Vấn đề chính mọi người quan tâm trước hết là nguồn gốc của sự giàu có đó là từ đâu? Liệu sự giàu có đó có đi cùng với việc chúng ta không có một cơ chế tốt để đảm bảo cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi người hay không mà cơ hội làm giàu lên một cách đặc biệt chỉ rơi vào một số ít hay không?”, bà Lan đặt câu hỏi.

“Họ làm giàu bằng cách nào và đóng góp của họ cho xã hội ở những mặt nào nhiều khi không được thể hiện rõ. Tất nhiên cũng có thể đo được một phần nào, ví như đại gia bất động sản giờ đã cung ứng được lượng nhà ở cho người dân ở những mức thu nhập khác nhau, giúp giải tỏa bài toán nhà ở cho xã hội. Thế nhưng, số đáp ứng được đó vẫn không tương xứng với tỷ lệ số người nghèo lớn hơn rất nhiều mà chưa có nhà ở. Giá nhà đất ở Việt Nam luôn vượt quá xa so với tầm với của người dân. Điều này tạo nên nghịch cảnh, làm cho mọi người không thực sự thấy thỏa mãn, đồng tình cao với khả năng của người giàu đóng góp cho xã hội”, bà Lan tiếp lời.

Theo vị chuyên gia kinh tế này, khi xã hội càng phát triển thì sẽ có những người giàu lên, cá nhân bà cũng hoan nghênh phải có những người giàu, nhưng những người giàu đó phải mang sự giàu có, tài năng của họ đóng góp trở lại cho cộng đồng nhiều hơn.

“Nhất là minh bạch hóa được sự giàu có của họ để làm cho cả xã hội thực sự “tâm phục, khẩu phục” với tài năng của họ, để họ không chỉ nổi tiếng giàu có mà còn có tên tuổi như những người tài giỏi được xã hội kính trọng”, bà Lan nhấn mạnh.

Mặt khác, bà Lan cho rằng, trong nghiên cứu về các lĩnh vực kinh tế như báo cáo Việt Nam 2035 vừa qua, nhiều “đại gia”, người giàu Việt Nam lại tập trung vào những lĩnh vực không có năng suất lao động cao như xây dựng, bất động sản, ngân hàng, tài chính… đấy là điều đáng suy nghĩ.

Lẽ ra, điều mong đợi là những người kinh doanh tài giỏi và giàu có có thể đi tiên phong trong những lĩnh vực có năng suất lao động cao, lĩnh vực mới mà dẫn dắt nền kinh tế đi lên, chứ không chỉ làm chủ yếu trong lĩnh vực năng suất lao động thấp.

Vậy, nguyên nhân khiến người giàu Việt Nam tăng nhanh là gì?

Trả lời câu hỏi này, bà Lan cho hay: Tôi không dám nói nguyên nhân nào khiến người giàu tăng nhanh theo cái gì riêng của Việt Nam vì chưa có nghiên cứu nào để xác định nó cả. Nhưng chỉ cảm nhận từ danh sách những người giàu được công bố lên thì thấy tương đối rõ là số lớn những người giàu có liên quan đến kinh doanh bất động sản.

“Trên thực tế ở Việt Nam, ai cũng hiểu giàu có được bằng bất động sản, lấy được những mảnh đất vàng không dễ dàng nếu đơn thuần đi bằng con đường kinh doanh bình thường, đấu  thầu sòng phẳng trên thị trường.

Chúng ta duy trì việc Nhà nước sở hữu đất đai và Nhà nước là người duy nhất có quyền phân bổ đất. Nếu quản lý ở đâu đó, chỗ nào đó thiếu  minh bạch sẽ tạo nên những kẽ hở cho các nhóm lợi ích hình thành.

Tôi vẫn cứ mong mỏi ở Việt Nam có những người giàu mà họ đi lên bằng con đường qua tài năng kinh doanh, phát kiến về công nghệ hay ứng dụng công nghệ…. nhưng tiếc là số người giàu có được bằng tài năng kinh doanh trong các lĩnh vực mà họ chứng minh được bằng lĩnh vực kinh doanh cốt lõi của họ, không phải đất đai thì số đó ở Việt Nam quá ít”, bà Phạm Chi Lan nói.

Nguồn: http://infonet.vn/infonet-post220494.info

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.02.2017

Hướng về cách nghĩ hiện đại

Hướng về cách nghĩ hiện đại

(Rút từ facebook của Vương Trí Nhàn)

Trên trang “Tuổi trẻ hôm nay 21-2-2017, có bài viết mang tên “Thầy ơi, em phải theo ai?”.
Tuy xuất phát từ câu hỏi của một học sinh hỏi thầy khi cha mẹ em ly dị, nhưng bài viết của người giáo viên này tập trung vào cái ý ca ngợi những gia đình có lối sống tạm gọi là cổ điển, tức là mọi thành viên luôn luôn sum họp trong bữa cơm hàng ngày.
Xin trích:
Vẫn biết “Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”, nhưng hằng năm phải đối diện với những tình huống trớ trêu như thế này, thật sự tôi quá xót xa cho các em. Và mang tâm trạng trăn trở đó, tôi như gửi gắm vào các em học sinh lớp 9 bài giảng “Quyền và nghĩa vụ trong hôn nhân gia đình”.
Sau này, các em lớn lên, dù bận rộn đến mấy cũng phải cố gắng lo bữa cơm gia đình với những người thương yêu nhất của mình. Nếu thiếu vắng thường xuyên bữa cơm gắn kết ấy, chính là dấu hiệu rạn nứt mái ấm.
Bữa cơm gia đình có thể đạm bạc, nhưng có ý nghĩa vô cùng quan trọng với mọi thành viên. Khi đi chợ, người mẹ sẽ suy nghĩ hôm nay nhà sẽ dùng món gì, mẹ sẽ lựa thịt cá tươi ngon, rau quả sạch sẽ, rồi nấu vừa khẩu vị cả nhà, mẹ đặt trọn tấm lòng của mình khi chế biến…
Ca dao nước ta có câu rất thấm thía: “Anh đi anh nhớ quê nhà / Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương”. Chỉ là những món ăn đơn sơ, giản dị thôi, nhưng chất chứa trong đó là tình thương của cha, tấm lòng của mẹ … Tình thương gia đình sẽ được nuôi dưỡng hòa chung với dòng chảy của tình quê hương đất nước khi con lớn khôn là như vậy
…”

CÁC GIA ĐÌNH THỜI NAY ĐÃ SỐNG KHÁC
Nghe qua, cảm thấy người giáo viên ở đây rất có trách nhiệm với công việc của mình. Và hệ thống giáo dục công dân của ta đi những bước đi rất hợp lý, dùng tình yêu gia đình để giáo dục lòng yêu nước.
Song tôi lại nhìn thấy ở đây một ví dụ về sự cổ lỗ của nền giáo dục nước ta và những quan niệm về cá nhân và gia đình đang chi phối toàn xã hội vốn lưu cữu từ lâu mà chúng ta phải vượt qua nếu như muốn sống thích hợp với xu thế phát triển.

Giống như nhiều người chúng ta nhận thức của người giáo viên ở đây là dừng lại ở một quan niệm về gia đình cũ. Trong các gia đình Việt Nam thời kinh tế tiểu nông, sự hòa hợp hiểu theo nghĩa rất đơn giản “Trên đồng cạn dưới đồng sâu – Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa”.
Vì thế mới có cảnh tượng mà người giáo viên ở trên đã nêu “Cảm giác hạnh phúc, sự ấm áp, tình yêu thương… những điều này chúng ta chỉ có thể cảm nhận được khi quây quần bên mâm cơm gia đình, rồi vợ chồng con cái chia sẻ thức ăn cho nhau, trò chuyện vui vẻ cùng tiếng cười sảng khoái…”
Ngược lại, không nói ở đâu xa, ở TP HCM hiện nay rất nhiều gia đình trong khi thích ứng với đời sống hiện đại, đã sống khác hẳn cái mẫu cổ điển.
Giống như con người ở các xã hội hiện đại, họ phải gồng lên mà sống. Sáng sáng vợ chồng con cái mỗi người mỗi ngả. Trưa, gặp đâu ăn đấy. Chỉ có buổi tối, cả gia đình mới sum họp, và không phải bao giờ cũng là những món ăn do gia đình nấu lấy mà là mua của các cửa hàng bán sẵn.
Ý của người giáo viên muốn khuyên các em sẽ hiểu hết “tất cả tấm lòng của cha mẹ qua những món ăn mà cha mẹ chuẩn bị” sẽ chỉ làm các em thất vọng và sự thực là qua ngây thơ và đơn giản với nghĩa ngày nay rất khó thực hiện.
Cảm thấy hết nếp sống lạc hậu của xứ mình, các gia đình trẻ hiện nay sống theo mẫu các nước phương Tây ngày càng nhiều mà hạt nhân của lối sống này là nâng cao năng suất lao động, và đạt tới trình độ nghề nghiệp ngày một cao của mỗi cá nhân, xem đó là một trong những yếu tố chính gắn kết gia đình.
Đồng ý là các gia dình loại này cũng gặp rất nhiều khó khăn, nhất là trong khâu giáo dục lớp trẻ, mà xã hội ta đang không biết làm gì để giúp họ. Nhưng xu thế thời đại là loại gia đình này sẽ phát triển.
Thu nhập thích đáng của các thành viên sẽ là nguồn bảo đảm cho đời sống gia đình mà cũng là nguồn kích thích để họ nêu gương cho con cái chăm chỉ lao vào chuyên môn như họ. Cái tình trạng trong một gia đình những người phụ nữ tần tảo lo việc nấu nướng, rồi “người cha, những đứa con sẽ cố gắng thu xếp công việc, chuyện học hành, để về nhà sớm, thưởng thức bữa cơm nóng hổi bên nhau” – như trong bài trên đã nêu – đang ngày càng hiếm hoi và không hợp với nhu cầu thời đại. Nó không giúp chúng ta nhanh chóng vượt qua tình trạng tụt hậu hiện thời.

TẠI SAO LẠI CÓ LỐI GIÁO DỤC NÀY?
Chúng ta đang nói với nhau quanh chủ đề lớp trẻ đang tuổi đến trường và các gia đình hiện đại.
Nên quan niệm sao về loại gia đình này?
Sự gắn kết trong các gia đình đó hôm qua là gì và hôm nay là gì? Vai trò người phụ nữ trong gia đình đó như thế nào?
Vậy chúng ta phải giáo dục lớp trẻ ra sao để chúng thích ứng với loại gia đình đó?
Đây là câu hỏi cả xã hội quan tâm chứ không phải chỉ ngành giáo dục, song ngành giáo dục lại có trách nhiệm trả lời trước hết.
Trong một bài viết trên FB đầu 2016, tôi đã có lần nói về nội dung cổ lỗ của các bài văn trong sách giáo khoa tiểu học.
Qua bài viết của nhà giáo đầy tâm huyết hôm nay, tôi lại cảm thấy cái tình trạng ấy thấm vào nhiều người chúng ta và trong cách triển khai các bài giảng, tự chúng ta đang tạo nên sự xa cách với lớp trẻ, nếu không muốn nói rằng ta chỉ làm cho trẻ sống khó khăn hơn với cuộc sống hiện đại.
Sở dĩ có tình trạng ấy vì chúng ta trước hết là những người làm sách và những người quyết định nội dung giáo dục thiếu cảm giác về sự thay đổi trên đất nước ta mấy chục năm nay, kể cả sự thay đổi của các gia đình, nhất là các gia đình ở đô thị.
Ta vẫn viết sách, vẫn giảng bài, vẫn để hết tâm huyết để thuyết minh cho những điều vốn hình thành ở xã hội và chuyển vào nền giáo dục miền Bắc trước 1975 và đến nay đã trở thành lạc hậu.
Ta thường đánh giá giáo dục báo chí hay khoa học xã hội nói chung bằng tiêu chuẩn sai đúng, nhưng chính “hiện đại hay cổ lỗ” mới là tiêu chuẩn chính xác nhất. Bởi cái có tương lai mới là cái đúng lâu dài. Tôi đã nói kỹ về điều này trong bài viết “Mấy cảm nhận về sự khác biệt giữa giáo dục miền Nam và giáo dục miền Bắc”.

Xem xét kỷ luật ông Võ Kim Cự do vi phạm liên quan Formosa

Ủy ban Kiểm tra Trung ương cho rằng những vi phạm, khuyết điểm của Ban cán sự đảng UBND tỉnh Hà Tĩnh và ông Võ Kim Cự là nghiêm trọng, đến mức phải xem xét, thi hành kỷ luật.

Ông Võ Kim Cự. Ảnh: Quang Anh.
Ông Võ Kim Cự. Ảnh: Quang Anh.

Ngày 22/2, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã công bố kết luận họp kỳ thứ 11 (ngày 15-17/2) .

Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã xem xét, kết luận về việc kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với Ban cán sự đảng Bộ Tài nguyên và Môi trường và các cá nhân liên quan liên quan đến việc Formosa xả thải gây ô nhiễm môi trường biển 4 tỉnh miền Trung.

Theo đó, Ban cán sự đảng Bộ Tài nguyên và Môi trường giai đoạn 2008-2016 đã thiếu trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo; buông lỏng quản lý, điều hành; thiếu kiểm tra, giám sát; để xảy ra các vi phạm trong công tác thẩm định, phê duyệt, chấp thuận thay đổi đánh giá tác động môi trường, điều chỉnh địa điểm xả thải và quản lý nhà nước đối với dự án Formosa Hà Tĩnh.

Ủy ban Kiểm tra cho rằng trách nhiệm thuộc về ông Nguyễn Minh Quang, nguyên Bộ trưởng TN&MT, ông Bùi Cách Tuyến, nguyên Thứ trưởng, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường và ông Nguyễn Thái Lai, nguyên Thứ trưởng chịu trách nhiệm trực tiếp về những vi phạm thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách và cùng chịu trách nhiệm về các vi phạm, khuyết điểm của Ban cán sự đảng Bộ này.

Xem xet ky luat ong Vo Kim Cu do vi pham lien quan Formosa hinh anh 1
Toàn cảnh cuộc họp của Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Ảnh: UBKTTW.

Ông Mai Thanh Dung trong thời gian giữ chức vụ Cục trưởng Cục thẩm định, đánh giá tác động môi trường và ông Lương Duy Hanh, Cục trưởng Cục kiểm soát hoạt động bảo vệ môi trường đã thiếu trách nhiệm trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.

“Những vi phạm, khuyết điểm của Ban cán sự đảng Bộ Tài nguyên và Môi trường và các đồng chí nêu trên là nghiêm trọng, đến mức phải xem xét, thi hành kỷ luật”, Ủy ban Kiểm tra kết luận.

Đối với Hà Tĩnh, Ban cán sự đảng UBND tỉnh Hà Tĩnh các nhiệm kỳ 2004-2011, 2011-2016 đã thiếu trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo; buông lỏng quản lý, điều hành; thiếu kiểm tra, giám sát trong quá trình thực hiện dự án; để xảy ra các vi phạm trong thẩm định, phê duyệt, cấp phép và quản lý nhà nước đối với dự án Formosa Hà Tĩnh.

Để xảy ra các vi phạm trên, Ủy ban Kiểm tra khẳng định trách nhiệm chính thuộc về ông Võ Kim Cự trong thời gian giữ cương vị Chủ tịch UBND tỉnh nhiệm kỳ 2011-2016, Phó chủ tịch UBND tỉnh kiêm Trưởng ban quản lý Khu kinh tế (2008-2010) và trách nhiệm của ông Hồ Anh Tuấn, Trưởng ban quản lý Khu kinh tế Vũng Áng (2010-2016); các ông Lê Đình Sơn, Đặng Quốc Khánh, Dương Tất Thắng, Nguyễn Nhật trong thời gian giữ cương vị Ủy viên Ban cán sự đảng UBND tỉnh Hà Tĩnh có phần trách nhiệm.

Kết luận cho rằng Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hà Tĩnh các nhiệm kỳ trong thời gian từ 2005-2016 đã thiếu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát đối với Ban cán sự đảng UBND tỉnh trong quá trình triển khai thực hiện dự án Formosa Hà Tĩnh.

“Những vi phạm, khuyết điểm của Ban cán sự đảng UBND tỉnh Hà Tĩnh và các đồng chí Võ Kim Cự, Hồ Anh Tuấn là nghiêm trọng, đến mức phải xem xét, thi hành kỷ luật”, kết luận nêu.

Uỷ ban Kiểm tra Trung ương yêu cầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hà Tĩnh và các ông Lê Đình Sơn, Đặng Quốc Khánh, Dương Tất Thắng, Nguyễn Nhật tổ chức kiểm điểm sâu sắc, nghiêm túc rút kinh nghiệm; đồng thời, chỉ đạo kiểm điểm, xem xét kỷ luật đối với những cán bộ thuộc thẩm quyền theo kết luận này.

Kỷ luật nhiều cán bộ liên quan tới sự cố Formosa

Bộ Tài nguyên và Môi trường thi hành kỷ luật nhiều cá nhân có liên quan tới sự cố môi trường biển miền Trung do Formosa gây ra.

Thắng Quang

Có nên xem xét đình chỉ chức vụ Thứ trưởng Hồ Thị Kim Thoa?

QUỐC TOẢN

(GDVN) – “Cơ quan có thẩm quyền cần xem xét việc đình chỉ chức vụ của bà Hồ Thị Kim Thoa để tạo thuận lợi cho việc kiểm tra, làm rõ tài sản…”, ông Thuyền đề nghị.

Lương bà Thoa được bao nhiêu mà nhiều cổ phần thế?

Liên quan tới câu chuyện về khối tài sản rất lớn của bà Hồ Thị Kim Thoa tại Công ty cổ phần bóng đèn Điện Quang, hôm 18/2, trao đổi với phóng viên Báo điện tử Giáo dục Việt Nam, TS. Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương cho rằng, cơ quan có thẩm quyền phải có trách nhiệm giải đáp rõ những vấn đề dư luận đang quan tâm.

“Người dân cần được biết, cán bộ công chức, đặc biệt là những người có chức quyền sở hữu bao nhiêu tài sản? tài sản đó từ đâu mà có được? có minh bạch không?

Có một điều chắc chắn rằng, với tiền lương của bà Thoa trước và sau khi làm Thứ trưởng Bộ Công thương, không thể mua/sở hữu số cổ phần lớn như vậy được.

Do đó, cơ quan có thẩm quyền phải làm rõ, tại sao bà Thoa lại có nhiều cổ phần như vậy? tiền mua cổ phiếu của bà Thoa lấy từ nguồn nào? kênh nào? có minh bạch không?

Việc sở hữu cổ phần của bà Thoa có hợp pháp không?

Đây chính là mấu chốt vấn đề trong vụ việc này”, TS. Lê Đăng Doanh đặt nêu quan điểm.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh (ảnh: Hoàng Lực/giaoduc.net.vn).

Không chỉ bà Thoa, các thành viên khác trong gia đình bà bao gồm con gái Nguyễn Thái Nga (đang giữ chức Phó Tổng giám đốc Công ty cổ phần bóng đèn Điện Quang) cũng sở hữu 4,1 triệu cổ phiếu; con gái Nguyễn Thái Quỳnh Lê sở hữu 2,2 triệu cổ phiếu.

Ông Hồ Quỳnh Hưng, em trai bà Thoa được bổ nhiệm chức Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Điện Quang ngay sau khi bà Thoa được bổ nhiệm Thứ trưởng, hiện đang nắm giữ 2,5 triệu cổ phiếu. Mẹ của bà Thoa là bà Trần Thị Mỹ Xuân cũng nắm giữ 1,22 triệu cổ phiếu.

Một thành viên khác trong gia đình bà Thoa là ông Hồ Đức Lam hiện đang là thành viên HĐQT tại Bóng đèn Điện Quang.

Tuy không nắm giữ cổ phần tại doanh nghiệp này nhưng ông Lam đang sở hữu khoảng 65% cổ phần tại Công ty cổ phần Nhựa Rạng Đông (RDP) và là nhân vật có quyền chi phối mọi hoạt động tại đây.

Ngoài ra, cháu ruột của bà Thoa là ông Hồ Đức Dũng cũng đang nắm giữ 4,9% cổ phần của Điện Quang.

Bà Hồ Thị Kim Thoa có khối tài sản hàng trăm tỷ đồng. Ảnh đăng trên Báo điện tử vietnamplus.vn.

Trước những thông tin trên, TS. Lê Đăng Doanh đặt nghi vấn, liệu việc cổ phần hóa doanh nghiệp này có được thực hiện một cách minh bạch? Cổ phần đó được mua đi bán lại ra sao?

“Việc người có chức có quyền, gom cổ phiếu, mua lại từ người khác là những chuyện xảy ra rất nhiều khi doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa.

Có trường hợp họ dùng quyền lực hoặc tạo áp lực từ người thứ 3, nhằm có được số cổ phần đó.

Trường hợp nếu dùng quyền lực của mình để “mua” lại của cán bộ công nhân viên chức thì rõ ràng là không hợp pháp rồi”, TS. Lê Đăng Doanh nhận định.

Nguyên Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương nhận đề nghị: “Trước mắt, Uỷ ban kiểm tra Trung ương nên đề nghị bà Thoa giải trình về số cổ phần/tài sản của mình.

Tiếp đó cần thực hiện kiểm tra lại toàn bộ quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp, số cổ phiếu bà Thoa và gia đình có được.

Phải làm rõ câu hỏi, bà Thoa lấy tiền ở đâu để mua cổ phần? mua bằng cách gì?”, TS. Lê Đăng Doanh đề nghị.

Cần xem xét đình chỉ chức vụ

Cũng liên quan tới sự việc nói trên, mới đây Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ đạo các cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xác minh thông tin tài sản của Thứ trưởng Bộ Công thương – bà Hồ Thị Kim Thoa.

Theo PGS.TS Bùi Thị An, nguyên Đại biểu Quốc hội khóa XIII), chỉ đạo trên thể hiện quyết tâm của Đảng, nhà nước trong công tác chống tham nhũng và không có vùng cấm trong việc xử lý cán bộ, đặc biệt là cán bộ có chức quyền.

Qua sự việc trên cũng cho thấy, vai trò hết sức quan trọng của người dân, truyền thông, báo chí, trong việc giám sát chống thất thoát tài sản của Nhà nước, ngăn ngừa tiêu cực, tham nhũng, lợi ích nhóm trong quá trình thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước.

PGS.TS Bùi Thị An (ảnh: NGỌC QUANG).

Về thông tin tài sản “khủng” của Thứ trưởng Hồ Thị Kim Thoa, PGS.TS Bùi Thị An cho rằng, trong trường hợp này, vấn đề minh bạch tài sản là điều mà dư luận quan tâm, và cần phải được làm rõ.

“Nếu bà Thoa giải trình được số cổ phần/tài sản của

Tổng Bí thư yêu cầu xác minh thông tin tài sản của Thứ trưởng Bộ Công thương

mình có được là hợp pháp (số tiền dùng để mua cổ phần, việc sở hữu cổ phần) thì tốt quá.

Bởi nhân dân luôn tôn trọng, ngưỡng mộ những người làm giàu bằng sức lao động chân chính. Chúng ta phải biểu dương, bởi đó là điển hình về sản xuất kinh doanh giỏi.

Đặt trường hợp, qua kiểm tra, nếu phát hiện tài sản bà Thoa có được là không hợp pháp thì cần phải xem xét, xử lý trách nhiệm của những người để thất thoát tài sản nhà nước cũng như người sở hữu tài sản bất hợp pháp đó”, PGS.TS Bùi Thị An nói.

Trong khi đó, nguyên Đại biểu Quốc hội Nguyễn Bá Thuyền (Lâm Đồng) cho rằng, cơ quan có thẩm quyền cần xem xét việc đình chỉ chức vụ của bà Hồ Thị Kim Thoa để tạo thuận lợi cho việc kiểm tra, làm rõ khối tài sản mà Thứ trưởng Bộ Công thương có được.

QUỐC TOẢ
Đăng bởi: Ngô Minh | 22.02.2017

40 NĂM EM – TẬP THƠ TẶNG VỢ CỦA NGÔ MINH

bia-40

40 NĂM EM – TẬP THƠ TẶNG VỢ CỦA NGÔ MINH

 

NGÔ MINH

LƯỚI TRĂNG EM

 

                       Kỷ niệm nụ hôn đầu

 

 anh lên lầu ngắm trăng . Sa lưới

nụ hôn đầu đời say tận chiêm bao

đêm ấy trăng như môi vàng óng

nước trời An Cựu còn xao

 

lầu trăng ơi lầu trăng Viễn Đệ

tiếng sét ái tình anh gục vào đêm

bốn mươi năm môi anh còn nức

hương lạch Đào Nguyên em (*)

 

40 năm lầu trăng còn nóng

vòng ôm trăng còn ấm tay mình

quấn quýt ơi đã thành di sản

trong hồn ta như  Huế gọi tên

 

anh sa lưới trăng từ dạo đó

bao buồn vui, đau khổ, giận hờn

cõi em thành nhà tù vĩnh cửu

và lưới trăng còn nhốt, còn giăng…

 

                           Huế 26/11/ 2016

 

———

 (*):- Lầu trăng Viễn Đệ ở 25-Đường Phan Đình Phùng, Huế

        – Chữ Tâm (Hán): Truyện Kiều của Nguyễn Du có câu:

      Đêm khuya gió lọt song đào,/ Nửa vành trăng khuyết, ba sao  

                                           giữa trời. Đó là chữ TÂM

 – Đào Nguyên:  Đôi gò Bồng Đảo sương còn ngậm/ Một lạch

      Đào Nguyên suối  chửa thông ( Thiếu nữ ngủ ngày( Hồ

     Xuân Hương)

bia-40-nam (Đọc tiếp…)

TẠP CHÍ NHÀ VĂN VÀ TÁC PHẨM TỔ CHỨC CUỘC THI THƠ 2017 – 2018

MỤC ĐÍCH Ý NGHĨA: Để cổ súy cho thơ hay, tôn vinh thơ hay;để đồng hành với công cuộc làm giàu đẹp hơn tiếng Việt; để có thơ hay hơn nữa in trên Tạp chí Nhà văn và Tác phẩm; Tạp chí Nhà văn và Tác phẩm tổ chức Cuộc thi Thơ 2017 – 2018

ĐỐI TƯỢNG DỰ THI

 

Trân trọng mời tất cả các nhà thơ, bạn viết làm thơ bằng tiếng Việt ngoại trừ các nhà tài trợ, những người trong Ban Sơ khảo, Chung khảo của Cuộc thi Thơ.

 

THỜI GIAN

 

Thời hạn nhận bài từ 15 tháng 2 năm 2017 đến hết ngày 15 tháng 2 năm 2018. Tổng kết cuộc thi thơ và Trao giải thưởng vào cuối mùa Xuân năm Mậu Tuất.

 

GIẢI THƯỞNG

 

1 Giải Nhất 30.000.000đ

2 Giải Nhì, mỗi Giải   15.000.000đ

3 Giải Ba, mỗi Giải    10.000.000đ

Số lượng Giải Khuyến khích do Ban Chung khảo quyết định

 

THỂ LỆ

 

– Cuộc thi tôn trọng mọi khuynh hướng tìm tòi, mọi thi pháp trên nguyên tắc căn ủy là nâng cao năng lực biểu đạt của tiếng Việt.

– Mỗi tác giả mỗi lần gửi ít nhất là một chùm từ 3 đến 5 bài. Do Tạp chí chỉ in thơ chùm, tối thiểu là 3 bài đạt yêu cầu chất lượng nên người dự thi có thể gửi làm nhiều lần, trong các lần gửi sau, tác giả có quyền gửi lại bài của chùm lần trước nếu cho rằng nó hay mà chưa được in. Vì mục đích cuộc thi là tôn vinh thơ hay, các tác giả có thể gửi những bài chưa in thành sách (trừ những bài đã tham dự các cuộc thi thơ khác và mức độ phổ biến của nó – cấp độ phổ biến của bài thơ do BBT quyết định.)

– Thơ Dự thi đạt chất lượng sẽ in trên Tạp chí, tác giả được hưởng nhuận bút nhưng Tạp chí giữ bản quyền cho đến suốt cuộc thi, nên không được in trên báo chí khác, kể cả in vào tập của mình.

 

BAN SƠ KHẢO

 

Ban biên tập của Tạp chí là Ban Sơ khảo cuộc thi, do nhà thơ Đặng Huy Giang làm Trưởng ban.

 

BAN CHUNG KHẢO

 

Nhà văn Nguyễn Trí Huân, Tổng Biên tập Tạp chí Nhà văn và Tác phẩm, Trưởng ban

Nhà thơ Thi Hoàng, Ủy viên

Nhà thơ Vũ Quần Phương, Ủy viên

Nhà thơ Đặng Huy Giang, Ủy viên

Nhà văn Văn Chinh, Ủy viên

Các ủy viên Chung khảo sẽ ký tên trên Bằng Chứng nhận Giải thưởng cùng Trưởng ban; để đồng chịu trách nhiệm một cách minh bạch trước công luận và người yêu thơ.

 

LỄ TRAO GIẢI THƯỞNG

 

Lễ trao Giải thưởng cuộc thi Thơ 2017 – 2018 của Tạp chí Nhà văn và Tác phẩm sẽ tổ chức thành dạ tiệc, trên nền âm nhạc ca trù, hát xẩm và hát chầu văn – ca từ là các bài thơ được giải.

 

CUỘC THI THƠ HAY 2017 – 2018 CỦA TẠP CHÍ NHÀ VĂN & TÁC PHẨM:

Trân trọng mời các nhà thơ, các bạn làm thơ và yêu thơ hãy hết mình cho một mùa sáng tạo Mới. Trên cơ sở nhận thức luận: sau những mùa trầm lắng đã lâu, nhất định thơ phải trỗi vượt để tìm lại mình; đó là quy luật lòng tự ái của các nhà thơ, của khát vọng Đẹp nói chung mà Tạp chí Nhà văn & Tác phẩm quyết định Tổ chức cuộc thi thơ 2017 – 2018.

Trân trọng mời những người yêu thơ, những tổ chức và cá nhân doanh nghiệp – những người còn nặng lòng với tiếng Việt hãy đồng hành cùng chúng tôi trong cuộc thi rất đáng kỳ vọng này.

TM/ BAN TỔ CHỨC CUỘC THI THƠ 2017 – 2018

Tổng Biên tập

NGUYỄN TRÍ HUÂN

Đã ký

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.02.2017

Trump, đao phủ khát máu?

Trump, đao phủ khát máu?

Lý Trực Dũng

QTXM: CHUYỆN THẬT LẠ, NHƯNG CÓ THẬT. BẠN NGHĨ SAO?

Tạp chí nổi tiếng Đức Spiegel số 6/2017 ngày 4/2/2017 đã đăng trên trang nhất một tranh vẽ Tổng thống Mỹ Trump trong hình hài một tên đao phủ IS hung hãn há mồm cầm cái đầu lâu đầy máu và con dao đang dính máu. Spiegel muốn gì với cái tranh biếm họa này? Để nổi tiếng hơn? Tất nhiên. Vụ gây sốc này được các báo lớn của thế giới cùng ngày thứ bảy 4/2/2017 đặc biệt là báo chí Mỹ lập tức lên tiếng như Washington Post, Business Insider, Buzzfeed cùng vô số báo chí khác. Đấu tranh cho dân chủ?

Edel Rodriguez gốc Cuba hiện sống ở Mỹ là họa sĩ chuyên vẽ tranh minh họa và viết chuyện tranh thiếu nhi là tác giả của bức tranh này giãi bày với báo Washington Post. “Đây là cái đầu biểu tượng thiêng liêng của dân chủ. Tất nhiên nó gắn vào cả việc so sánh với việc chặt đầu của IS. Cả hai đều cuồng tín. Điều tôi muốn là so sách giữa hai nhân vật này.„

Ý tưởng của cái tranh này thực ra không mới, vì tờ báo NY-Daily-News-Trump-Croped ngay từ 8/12/2015 đã vẽ một cái tranh biếm họa giễu Trump chặt đầu tượng Thần tự do. Nhưng so sánh Trump một tổng thống Mỹ được dân Mỹ bầu một cách hợp pháp với đao phủ IS thì quá đà nếu không muốn nói là quá khích, nhất là từ một tạp chí uy tín như Spiegel.

Một câu hỏi được đặt ra. Tự do báo chí phải được tôn trọng nhưng đến ngưỡng nào thì chính báo chí được coi là tự xâm phạm tự do báo chí? Dù tổng biên tập của tạp chí Spiegel sau đó đã lên tiếng bảo vệ bức tranh này là chuyện thường do rất đông bạn đọc ở Đức và trên thế giới phản đối cũng như ủng hộ cái tranh này, thì theo tôi cái tranh này thực chất cũng là một thứ cuồng tín khi ví Tổng thống Mỹ Trump người được người dân Mỹ bầu một cách hợp hiến với một tên đao phủ của IS. Cũng cần nói thêm, ý tưởng của cái tranh này cũng tầm thường nếu không nói là tồi vì cóp ý tưởng từ cái tranh biếm họa trên báo NY-Daily-News-Trump-Cropedtrước đó.

From Wikipedia, the free encyclopedia

Edel Rodriguez
Born August 22, 1971 (age 45)
Havana, Cuba, Cuba
Education BFA, Pratt Institute, Brooklyn, New York, 1994
MFA, Hunter College, 1998
Known for illustration, fine artist

Edel Rodriguez (born August 22, 1971 in Havana, Cuba) is a Cuban American artist.

Edel Rodriguez is a Cuban born American illustrator/artist and children’s book author. Rodriguez uses a variety of materials, his work ranges from conceptual to portraiture and landscape. Socialist propaganda and western advertising, island culture and contemporary city life, are all aspects of his life that inform his work.

Trump

2

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.02.2017

Lắng trong khuya khoắt

Lắng trong khuya khoắt

 

Anh Vũ đã đi xa mấy năm rồi nhưng vườn tượng, ngôi nhà rường và một góc quê mà lần đầu tiên gặp gỡ tôi đã rất thích thú của Người Kinh Bắc tài hoa này vẫn còn đó. Sức lay động của cái không gian nghệ thuật đời thường – tâm linh ấy hoàn toàn không phải ở sự lạ lẫm hay đài các kiêu sa mà ngược lại vô cùng dân giã thân thuộc. Lối xóm quanh co dẫn tới ngôi nhà gỗ lợp ngói bé nhỏ nằm bên cạnh một đoạn tường chình đất cũ kỹ rêu phong còn sót lại, sau những bức tượng cao thấp nhấp nhô được làm bằng các chất liệu xi măng, thạch cao, đất sét, gỗ… Tượng Tiên Phật, thường dân, mãnh thú, vật nuôi quây quần bên nhau. Cảm hứng miền quê Kinh Bắc lúc sâu lắng, lúc thăng hoa trong các sáng tạo nghệ thuật của anh như tượng người quan họ, thôn nữ, bà và cháu… Và, có vẻ như cái không gian Kinh Bắc nghìn năm ấy lại thêm lần đọng lại trong thơ anh qua những rung động và tạo dựng hình tượng thi ca vừa chân mộc vừa nền nã.

Chìm đắm trong hoài niệm, thơ Anh Vũ thấp thoáng những bóng hình xưa. Những hình bóng thân thương mang mưa nắng sông Cầu sông Thương; giữa miền dân ca huê tình bậc nhất đất Việt họ cũng phải gánh gồng những thất bát mùa màng, những tàn khốc binh lửa, những lạnh lẽo của kiếp phận dân đen. Nhưng, ân tình chốn quê vẫn mãi mãi xanh tươi như cây cỏ, vẫn mãi mãi ấm nồng như than lửa làng thôn.

Trong những dấu yêu của tuổi thơ dành cho người máu mủ có lẽ không tình cảm nào vượt qua mối quan hệ bà – cháu. Anh Vũ đã có những câu thơ cảm động về bà trong trường ca Lòng chảo khác. Ở tập thơ Lòng tayanh cũng đã kịp phác dựng chân dung Bà bằng những cung nét thi ca:

Bà tôi đi tuốt lúa trau

lơm chơm gốc rạ đứng

          đau đồng nghèo

bốn bề gió đuổi heo heo

chừng như cái lạnh nó gieo tự lòng

chưa trông kịp thoáng lưng còng

bà tôi đã nhập với đồng bà ơi.

Cái đáng nói là tác giả đã vượt qua được sự miêu tả (tuy rất chính xác) kia để đạt tới một chiều sâu nhân bản cốt lõi khác:

Tôi như dúm tấm đầu nia

một ăn không hết bà chia cả làng

Tôi như bánh đúc bày sàng

mượn vôi nồng chút cũ càng bà tôi.

Mẹ. Không nghi ngờ gì nữa, đây là nguồn thơ tiềm tàng nhất của nhân loại. Cũng là miếng cơm ăn thường ngày nhưng cái vị ngọt bùi, đắng cay của nó dường như không thể không gắn với tâm thế của đời người. Đi đâu về đâu thì những ngọt bùi mẹ dành cho ta vẫn là đích thực nhất:

Chả có miếng cơm nào

đã ngọt còn thơm

như bát cơm mẹ xới

Con ăn ngoài thiên hạ

đắng bao nhiêu.

Có gì đó hơi cực đoan, không ăn nhập với thời hiện đại nhưng càng ngẫm nghĩ càng thấy đúng.

Mẹ. Dẫu mất hay còn vẫn là một phần sinh tồn của ta; người hiển hiện trong tâm trí, trong tình cảm, trong bấy nhiêu may rủi hệ lụy đời mình:

Có mẹ trong máu tôi

trong óc tôi suy nghĩ

cát bụi phần cuộc đời

mẹ cùng tôi chịu lụy.

Nét đẹp của mẹ, nỗi buồn của mẹ khúc xạ qua những giọt nước mắt đồng làng; cái tứ thơ ấy đâu phải dễ gì gặp được. Hình như nó bật ra từ nỗi nhớ thương day dứt không nhòe phai của lòng hiếu nghĩa tri ân:

Nước mắt mẹ

chảy xuống con

nhói đồng đêm

nước mắt thở

– Kìa đóm ơi…

Nén trong ngực

nỗi chồng con

sao mẹ đẹp

cả khi buồn 

– Kìa đóm ơi…

Đêm sao bay

đom đóm nở

đồng nước mắt

mẹ về đâu 

– Kìa đóm ơi…

Những giọt nước mắt đồng cũng chính là những giọt nước mắt chảy xuôi của mẹ, thủ pháp hoán dụ đã đặt đúng chỗ và có hiệu quả. Thơ Anh Vũ nhiều sự liên tưởng xưa – nay, cũng là tâm trạng thường có ở những người cao tuổi từng trải:

Này mái bếp tuổi thơ bồ hóng

          đu đưa đen kịt

tôi là rổ rá gác khói không mối mọt

          bao giờ

lại thoảng mùi cơm chín tới

          với lạc giã canh dưa

mẹ vẫn phần tôi củ khoai vùi

          nưng nức.

Có lẽ, rất ít nhà thơ không viết về kỷ niệm cuộc đời, nhưng để thơ không đi lan man và vượt lên sự sáo mòn thì đòi hỏi người cầm bút phải có sự chọn lựa hình ảnh đặc sắc và cách thể hiện mới mẻ. Phần nhiều, người làm thơ thấy kỷ niệm nào cũng đáng trân trọng, cũng đáng được thơ hóa nên bỏ đi thì rất tiếc, tuy nhiên thơ cũng như nhạc họa luôn yêu cầu sự chọn lựa tinh tế, tiêu biểu, vừa cụ thể vừa khái quát, vừa bé nhỏ vừa mênh mông. Anh Vũ khi viết về kỷ niệm có những bài, những câu mang đậm nét riêng. Bài Đêm mất điện là một ví dụ:

Rồi cũng được hôm mất điện

mà nhớ đang mùa còn trăng

rủ vợ ra sân nói chuyện

mặt kề dịu từng nếp nhăn

Là nhắc ngày đầu với nhau

khao khao chẳng đủ giọt dầu

lạt xạt rạ rơm sơ tán

dế gáy đêm vời vợi đâu

Cơ hồ chính con dế ấy

theo trăng chợt về đêm nay

lặng lặng phần đời nhìn lại

ran ri nỗi nỗi vơi đầy.

Trong thơ Anh Vũ ta gặp một tâm cõi vừa sâu lắng, vừa hồn nhiên. Sự sâu lắng trộn phần day dứt thường có ở những bài thơ viết về bà, mẹ và em. Em chính là tình yêu, cũng là một phần đáng đọc trong thơ người đã quá cố này.

Em của Anh Vũ đôi khi lẫn vào mùa trong khoảng không gian mơ hồ lãng đãng:

Thoáng thu hay thoáng em

mây màu gì cho thật…

Em của Anh Vũ cơ hồ như bóng rượu làng Vân:

Phải người ấy, cổ kiêu ba ngấn môi cắn chỉ, lẳng lặng cần cù, nửa khuya đăm đăm một bóng, thăm ngóng nỗi chìm bọt tăm mắt cua, nghe độ ngấu cơm thơm chum ủ, thầm hởi lòng mẻ rượu cất nay mai… Lìm lịm mắt gái làng Vân nước rượu trong veo trong vắt. Thương hiệu men tiến Kinh Bắc thuyền bến ngả nghiêng, tưởng vừa đó mấy nghìn năm chớp mắt, quan Lạc quan Lang ôm vò líu lưỡi.

Rượu làng Vân cũng là một phần văn hóa Kinh Bắc, là chất men làm nên sự đắm say của vùng đất cổ này. Thỉnh thoảng ta lại bắt gặp những so sánh bất ngờ của Anh Vũ Tôi làm sao quên được, đôi mắt em như vết khứa lưng lợn ống tiền. Hai vết khứa lăn tăn không đáy… Nhưng, tình yêu nào mà chẳng có giông bão giận hờn, thôi thì cứ cất lên như người quan họ đành lòng vậy cầm lòng vậy để được phen thổ lộ với người thương:

Thà em cứ giận cứ hờn

cứ giông cứ bão còn hơn ràu ràu

thôi đừng mưa phùn thấm lâu

mắt người vô vọng nhìn đau

          hơn đòn.

Chao ôi Anh Vũ, thương và dỗi cũng mang khí chất của người từng trải, giận bao nhiêu cũng là yêu bấy nhiêu thôi, mong muốn an lành vẫn bao trùm tất thảy:

Thôi cứ gọi cô đơn vào đối mặt

ta quên ta có lúc cũng hai người

thôi cứ gọi trống không vào

          nhúc nhắc

lưng lửng mãi

lưng lửng bao giờ nuốt trôi một ngày.

Thơ Anh Vũ có sự hồn nhiên thôn quê, hơi thở và nhịp điệu cuộc sống đồng bãi mùa màng phả vào không ít trong câu chữ của anh. Anh nhìn bầy chim sẻ bằng cái nhìn rất trẻ:

Lích tích lích tích… lại về với nhau từ bao giờ. Chào những hạt thóc có cánh, những hạt thóc biết bay, những bầy chim sẻ líu tíu ống tre đầu hồi tối ngày. Nhỏ nhoi thế, còn phiêu bạt bao năm ở đâu.

Chim sẻ chính là đồng quê, nhà quê, là phần dĩ vãng ríu rít với những ai sinh ra và lớn lên ở đây:

Sẻ đá, sẻ ngô, sẻ di, sẻ đồng… sẻ gì nữa cũng cháu con áo nâu của đất cũng tuổi thơ ngan ngát xập xòe.

Sự hồn nhiên thơ chính là hồn nhiên của cuộc sống thôn ổ, có lúc nó chính là cái thú ẩm thực dân giã đơn sơ:

Mùa thênh thoáng, rượu trắng lênh lênh đặc sản. Hôi hổi chất tươi chất sống, chất da xương đỏ săn mưa nắng. Nghe chân răng đầm đậm chất bùn quê.

Hồn nhiên cả trong tiếc nuối, thèm muốn tình xưa:

Chợt trở về vị chát chua dôn dốt, quả khế xanh chấm muối trắng mặn đằm. Hai miếng ngon ấy là anh là em. Ta trở lại tuổi thèm, níu nhau bịn rịn. Thôi mà, thêm miếng nữa chia tay…

Thơ, nào có nói gì những chuyện lớn lao to tát, có om sòm chi những ngôn từ bóng bảy cao siêu, có bí ẩn đánh đố ai đâu mà đọc lên vẫn rưng rưng xúc động. Có phải đấy cũng là xu hướng sáng tạo của Anh Vũ, cao hơn kỹ thuật, có trước kỹ thuật là nội lực tâm hồn, là những thầm thì hay gào thét riêng tư được giải mã bằng ngôn ngữ. Gửi một nữ họa sỹ Hải Phòng, anh tâm sự:

Đuổi mấy thứ kỹ thuật nguội ngắt

ra ngoài kia chơi

cho chị một mình 

nhỏ to một mình

Toan sa mạc

và màu dầu hăng hăng mùi cát

…Vẽ bao thứ vẫn gọi hồn tự họa

thèm nơi nào man mát tí hơi mưa.

Đã xa xôi một Anh Vũ hình hài, may thay, thơ vẫn còn lưu giữ được những giá trị nguồn cội, những êm ả của thôn mạc. Nhịp đời nơi ấy cứ từ từ trôi như tiết tấu, nhịp điệu thơ Anh Vũ, không xô bồ ào ạt mà nó cứlơ thơ chảy. Dẫu thế, nó vẫn buộc ta hình dung về một tâm hồn thật nhạy cảm với cảnh sắc, con người quê hương. Anh xưng tụng một ban mai yên bình:

Lắng trong khuya khoắt

mương máng về đồng

Trả vì sao lạc

về chốn hư không

Gọi con đom đóm

bay vào trong lòng

Ngồi trong sương sớm

nghe mình rạng đông.

Bài thơ viết rất bình dị nhưng lại phát sáng bởi hai câu kết. Có cần chi sự uốn éo cầu kỳ, thơ thoát ra tự nhiên, thật tự nhiên. Nhà thơ đăm đắm và lo lắng trước những đôi mắt đồng dao:

Những đứa trẻ hát đồng dao

          ruộng bùn

chỉ đôi mắt chả đứa nào chịu lấm.

Đấy là ngày xưa khi còn:

đêm mở cánh

từ đâu bay về họp bạn niềng niễng

          dế mèn

đêm cà cuống

hình như lòng tay lâm tâm

          giọt thơm…

Còn bây giờ:

Nghẹn lòng

trong veo trong veo mắt trẻ

giọt đồng dao đã giọt nào chịu lấm

          hay chưa.

Đi qua anh những mùa quê thương nhớ bồn chồn, những gió trăng mang buồn vui thế sự :

Hình như tháng xuân trăng

          cũng lạnh

tháng hạ chưa nhìn đã thấy thu

ngược tóc bấc dồn mây lại sóng

Lòng trôi vết thương nào kín miệng

đồng trôi lá lúa vệt trăng non.

Miền dân ca lúng liếng thêm lần tình tứ trong thơ Anh Vũ :

Thương nhau ứ hự tình bằng

phập phồng khuôn ngực la rằng vì tôi

đá còn chảy trời còn trôi

tình ta mua vé khứ hồi được không.

Không còn nữa bấy nhiêu dọc ngang tang bồng. Anh Vũ đã thành lãng đãng bóng hoàng hôn, trăng khuya, gió sớm. Một kiếp người qua, một gánh thơ ca hội họa đầy vơi còn ở lại. Trong khuya khoắt Hà Thành, tôi xào xạc nghe anh:

Đi

trong lòng tay

biển mây sóng núi

Sống

trong chớp mắt

áo cơm một đời

Yêu

trong tiền kiếp

hoa bao giờ tươi.

*

Hoa bao giờ tươi.

Một câu hỏi, một tiếc nuối hay một khát khao nơi góc quê lặng thầm mà Anh Vũ đã gửi lại cho đời?

 

Nguồn Văn nghệ số 7/2017

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.02.2017

VN thứ 10 thế giới về nhập khẩu vũ khí

VN thứ 10 thế giới về nhập khẩu vũ khí

BBC

Hình tư liệu về công nghệ quốc phòng của Việt NamBản quyền hình ảnhAFP
Hình tư liệu về công nghệ quốc phòng của Việt Nam

Viện Nghiên cứu Hòa bình Stockholm (SIPRI) vừa công bố báo cáo thường niên về tình hình mua bán vũ khí trên thế giới.

SIPRI cho biết Việt Nam là nước nhập khẩu vũ khí lớn thứ 10 thế giới, và đứng số một Đông Nam Á trong 5 năm qua (2012-2016).

Chi tiết này diễn ra trong bối cảnh nhập khẩu vũ khí ở châu Á và châu Đại Dương chiếm 43% thị trường toàn cầu cùng giai đoạn.

Ấn Độ là nước nhập khẩu vũ khí số một thế giới giai đoạn 2012-16, chiếm 13% toàn cầu.

Theo SIPRI, những năm 2007-211, Việt Nam mới đứng thứ 29 thế giới thì đã tăng lên thứ 10 trong 5 năm qua.

Nga vẫn là nước xuất khẩu lớn nhất đến Việt Nam. Ước tính của SIPRI cho thấy Nga xuất vũ khí trị giá 722 triệu đôla năm 2015 và hơn 1 tỉ đôla năm 2016 cho Việt Nam.

Tính cả giai đoạn 2012-16, Nga bán vũ khí cho Việt Nam có tổng trị giá hơn 3,7 tỉ đôla.

Belarus đứng thứ hai, bán vũ khí cho Việt Nam trị giá 150 triệu đôla.

Theo số liệu của SIPRI trong 5 năm qua, đứng thứ ba là Ukraine (120 triệu), theo sau là Israel (116 triệu), Czech (48 triệu), Tây Ban Nha (36 triệu), Canada (27 triệu) và Slovakia (5 triệu).

Quân đội Việt NamBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Quân đội Việt Nam

Tính chung toàn cầu, Mỹ vẫn là nước xuất khẩu vũ khí số một, với gần một nửa là bán cho Trung Đông.

Nga chiếm 23% thị phần thế giới. 70% hàng của Nga là bán cho bốn nước: Ấn Độ, Việt Nam, Trung Quốc và Algeria.

Nhà bán vũ khí lớn tiếp theo là Trung Quốc (6,2%), Pháp (6%), và Đức (5,6%).

10 nước mua vũ khí nhiều nhất (2012-2016):

  • Ấn Độ
  • Ả Rập Saudi
  • Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất
  • Trung Quốc
  • Algeria
  • Thổ Nhĩ Kỳ
  • Australia
  • Iraq
  • Pakistan
  • Việt Nam

TQ mua tàu ngầm, máy bay của Nga – BBC Tiếng Việt

Sinh viên Việt Nam tụt hậu vì những môn học vô bổ

NGỌC QUANG (THỰC HIỆN)

(GDVN) – PGS.TS Nguyễn Văn Nhã cho biết, ở nhiều nước đào tạo đại học 4 năm, nhưng sinh viên được học rất sâu về ngành, chứ không học nhiều môn vô bổ như ở Việt Nam.

Vào tháng 1/2016, Bộ Giáo dục đã có tờ trình đề nghị rút ngắn thời gian đào tạo đại học từ 3 – 4 năm. Trao đổi với Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam, PGS.TS Nguyễn Văn Nhã – nguyên Trưởng Ban Đào tạo Đại học Quốc gia Hà Nội nhận định, rút ngắn thời gian đào tạo mà cắt thời gian học ngành thì chẳng khác nào trong bữa ăn để lại toàn món phụ, cắt đi món chính.

Thưa Phó Giáo sư, ông có ủng hộ việc rút ngắn thời gian đào tạo đại học không? Và theo ông, khi rút ngắn thời gian đào tạo thì phải cấu trúc lại thế nào?

PGS.TS Nguyễn Văn Nhã: Tôi ủng hộ quan điểm rút ngắn thời gian đào tạo đại học. Chúng ta biết rằng có 4 khối kiến thức, bao gồm: Kiến thức chung (Chính trị, tư tưởng, ngoại ngữ, toán đại cương…) có tổng cộng vào khoảng 30 tín chỉ. Gần như tất cả các trường đều học khối kiến thức chung này. 30 tín chỉ ấy chiếm mất khoảng 1 năm học. Như vậy thực chất hiện nay đào tạo đại học 4 năm thì học vào chuyên ngành và chuẩn bị cho tốt nghiệp chỉ có 3 năm.

Ở châu Âu, nhiều trường áp dụng chương trình đào tạo 3 năm, nghĩa là họ không có khối kiến thức chung như Việt Nam. Khối kiến thức chung với một số môn học bắt buộc đều được đẩy ra khỏi chương trình đào tạo chính thức, trở thành điều kiện cần cho các sinh viên tốt nghiệp. Thí dụ như ngoại ngữ chẳng hạn, sinh viên có thể học ở đâu cũng được, miễn là cuối cùng phải có được chứng chỉ đúng theo yêu cầu là đảm bảo yêu cầu.

Trong chương trình chính khóa thì bao giờ cũng học từ kiến thức cơ sở, sau đó vào kiến thức ngành, rồi đi sâu vào chuyên ngành. Ở bậc đại học vẫn là kiến thức ngành chứ chưa thể gọi là chuyên ngành, còn đến sau đại học thì mới đi vào chuyên ngành.

Thí dụ như Vật lý rất rộng, phải học cơ, điện, nhiệt, quang… gọi là đại cương; rồi sau đó mới đi theo phương pháp giảng dạy, hay theo Vật lý lý thuyết hoặc một lĩnh vực khác chuyên sâu.

Bây giờ chúng ta đào tạo 3 năm thì có nghĩa là thời gian đào tạo ngành không thể rút đi được, lý thuyết có thể điều chỉnh ngắn đi, nhưng phải tăng thời gian thực hành, đây cũng điểm còn yếu với đa phần sinh viên Việt Nam hiện nay.

Vậy khối kiến thức chung kia phải làm thế nào? Rõ ràng chúng ta cũng chỉ còn cách là đẩy nó ra khỏi chương trình chính khóa, trở thành các lớp học ngoại khóa, và cách dạy cũng phải đổi mới, không thể tiếp diễn tình trạng nhồi sọ những môn học tư tưởng như hiện nay. Thầy cứ đọc, trò cứ chép, rồi thi xong thì chữ thầy trả lại cho thầy.

PGS.TS Nguyến Văn Nhã nhấn mạnh, cấu trúc đào tạo đại học phải ưu tiên tuyệt đối cho ngành học. ảnh: Ngọc Quang.

Cũng có người nói rằng, nếu đào tạo rút gọn, lược bớt đi những phần nội dung chính trị, tư tưởng thì sinh viên được đào tạo ra liệu có còn là người Việt Nam yêu nước không?

PGS.TS Nguyễn Văn Nhã: Đấy là suy nghĩ sai lầm, bởi vì bản thân mỗi chúng ta khi sinh ra là người Việt Nam thì đã có dòng máu yêu nước rồi.

Trong cả cuộc hành trình nhiều năm tháng học từ Tiểu học cho tới Trung học cơ sở, rồi vào phổ thông, các em cũng liên tục được gia đình và nhà trường dạy dỗ truyền thống của dân tộc. Cho nên sẽ là một sai lầm nếu cứ duy trì cách dạy cũ, tức là nhồi cho các em những môn học mang tính tư tưởng một cách khô cứng ngay từ khi bước chân vào giảng đường đại học.

Tôi lấy thí dụ các em học những ngành về nghệ thuật thì ngay từ ban đầu đã phải dạy cho các em những môn học cảm nhận được cái hay, cái thú vị của ngành ấy. Hay những em nào học về Toán thì rõ ràng đam mê của các em sẽ là Toán, vậy phải học những môn có tính gợi mở của Toán, chứ không thể nào vào học là dạy Triết, nào là quan niệm phương Đông, quan niệm phương Tây… những kiến thức đó đều hay cả. Nhưng thiết kế kiểu ấy không phù hợp và nó dễ gây ra tâm lý chán nản cho sinh viên.

Nếu rút ngắn thời gian đào tạo mà lại giữ khối kiến thức chung, cắt vào kiến thức ngành thì có khác nào trong một bữa ăn cắt đi món chính và để lại toàn món phụ. Thế thì nguy hiểm quá.

Vì sao trình độ cử nhân của Việt Nam quá yếu?

Cũng là thời lượng đào tạo 4 năm, nhưng vì sao trình độ của cử nhân Việt Nam với nhiều nước có sự chênh lệch rất lớn?

PGS.TS Nguyễn Văn Nhã: Tôi lấy một thí dụ điển hình là ở nước Mỹ, cũng đào tạo đại học 4 năm, nhưng 4 năm của họ là làm việc thật, làm việc cật lực, chứ không chia thời gian cho những môn học như ở ta, để rồi không dùng được vào ngành học.

Tiêu chí đào tạo của Mỹ rất khoa học, nó được thể hiện rất rõ ràng qua việc sinh viên phải hoàn thành được một bài tập cụ thể, và phải tham gia được vào một nghiên cứu ngay từ năm thứ nhất.

Tới năm thứ hai, sinh viên phải xuống thực tế tại các nhà máy, các cơ sở lao động và phải có được một bài tham luận.

Năm nay, thực hiện cho được 5 giải pháp đột phá để giáo dục đi lên

Tới năm thứ ba, sinh viên phải tham gia được vào các công trình nghiên cứu khoa học của thầy cô, để được trực tiếp làm một số việc đơn giản, qua đó hiểu về quy trình, cách thức làm một đề tài khoa học.

Tới năm thứ tư, sinh viên phải có một khóa luận thức sự, phải có được công trình nghiên cứu của riêng mình.

Qua cả một quá trình học tập, làm việc thực tế như vậy cho nên sinh viên của Mỹ nắm rất chắc cả lý thuyết với kỹ năng.

Như vậy, vấn đề đặt ra cho nền giáo dục Việt Nam là khi rút ngắn thời lượng đào tạo thì cấu trúc phải thay đổi, nhưng thay đổi như thế nào thì cho tới nay cũng chưa rõ. Tôi mong rằng, Bộ Giáo dục sẽ có tính toán cẩn trọng, lắng nghe ý kiến của các nhà khoa học, ý kiến của các nhà chuyên môn tâm huyết với giáo dục để đưa ra được cấu trúc khoa học, phù hợp với mong muốn đổi mới của giáo dục Việt Nam.

Cùng với việc tính toán lại thời gian đào tạo đại học, ở bậc phổ thông cũng đồng thời phải cấu trúc lại để phù hợp với sự đổi mới?

PGS.TS Nguyễn Văn Nhã: Đúng như vậy! Tính hệ thống phải được đảm bảo, và cách tốt nhất là làm đồng bộ thì sẽ nhìn thấy cả một chặng đường định hướng nghề nghiệp từ phổ thông.

Theo như đề xuất của Bộ Giáo dục thì bậc Trung học phổ thông có 3 luồng, gồm: Định hướng chung (có tính hàn lâm/khoa học như hiện nay); Định hướng kỹ thuật/công nghệ; Định hướng năng khiếu (nghệ thuật, thể thao). Với sự phân chia 3 luồng rõ rệt như vậy, đào tạo sẽ đi vào chuyên sâu rõ rệt hơn.

Điều tôi muốn nhấn mạnh là với khoảng thời gian 3 năm hoàn toàn có thể xây dựng cho các em một nền kiến thức cơ bản, đảm bảo cho quá trình vào ngành ở đại học. Thí dụ, ngoại ngữ sau khi tốt nghiệp phổ thông, các em đạt được trình độ gì? Đừng để phí 6 năm trời từ trung học cho tới hết phổ thông rồi không đạt được gì.

Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau cho nên có thể triển khai ở bậc đại học trước, vì đây là nơi đưa sản phẩm trực tiếp ra thị trường. Việc cơ cấu lại thời gian đào tạo hay giảm bớt số lượng đào tạo với từng ngành, từng trường cũng mới chỉ là một biện pháp cơ bản có tính mở đầu. Cái mà xã hội quan tâm là chất lượng đào tạo, đây là vấn đề tự các trường phải vận động nếu không muốn bị tụt hậu, bị mất sinh viên.

Trân trọng cảm ơn ông!

Ngọc Quang (Thực hi

bia-40

NGÔ MINH ẤN HÀNH TẬP THƠ “40 NĂM EM” TẶNG VỢ NHÂN KỶ NIỆM 40 NĂM CƯỚI.   

QTXM- Nhân 40 năm ngày cưới ( 10/4/1977 – 10/4/2017), NM đã ấn hành tập thơ 40 NĂM EM gồm những bài thơ viết tặng vợ 40 năm qua.Tập thơ rất ấn tượng.  Bạn đọc nào có nhu cầu mua xin nhắn tin trên Facebook -(Ngô Minh Khôi) hoặc email ngominhnt@gmail.com, đăng ký và cho địa chỉ, NM sẽ gửi sách tận tay. Giá sách 100.000 đồng+ 10k phát hành. Mời các bạn mua ủng hộ giúp NM trả tiền in sách. Sau đây là chùm thơ rút trong tập thơ “40 NĂM EM”

 

 

bia-40-nam

 Ngô Minh

 

MỖI NGÀY

 có ngày vui hiên nắng

có ngày buồn vườn mưa

có ngày gần ríu rít

có ngày xa mong chờ

 

dọc ngang ngày như sợi

dệt lóng mốt lóng đôi

tấm vải bền như thể

ta vì nhau mỗi ngày

 

nếu một ngày hờ hững

như buồn vắng gió khơi

một ngày như sợi đứt

giữa tấm đời, em ơi!

 

yêu nhau ta được sống

mới mẻ trước mỗi ngày

thủy chung ta được hái

mỗi ngày chín thành hai…

 

                     Huế, 5-1983

                 Những ngày buồn (Đọc tiếp…)

Nguyễn Xuân Khánh: Chỉ là chuyện ngõ nghèo thôi ư?

Trịnh Y Thư

imageChuyện ngõ nghèo của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh (Công ti Văn hóa & Truyền thông Nhã Nam và NXB Hội Nhà Văn liên kết xuất bản, 2016) không phải chỉ đơn thuần là cuốn tiểu thuyết miêu tả cảnh nghèo khó, cùng bĩ của một gia đình trí thức Hà Nội vào đầu thập niên 80. Kì thực, tầm vóc của cuốn tiểu thuyết lớn hơn thế nhiều, bởi nó đã vượt qua đường biên của những tranh chấp chính trị thấp kém, những ý thức hệ ngông cuồng, những cuộc chém giết bạo tàn, những hận thù chồng chất, và nhất là nó dám trực diện với cái bản ngã vẫn nằm ẩn nấp trong mỗi chúng ta mà bằng cách này hay cách khác chúng ta chối bỏ, không chịu nhìn nhận nó là một phần con người.

Tác giả gọi cái bản ngã ấy là Trư cuồng. Và nếu định nghĩa tiểu thuyết là cuộc truy tìm bản ngã thì cái tố chất lợn cuồng điên ấy đã được Nguyễn Xuân Khánh lật phải lật trái lật ngang lật dọc, đã được đặt dưới ống kính hiển vi cho chúng ta ngắm nhìn, quan sát kĩ càng, tường tận. Không nhìn ra nó, phần lỗi ấy chẳng những bởi thị lực và tâm trí chúng ta yếu kém mà còn vì chúng ta đã tự đóng chốt xây dựng một hàng rào thành kiến che kín lương tri.

Cấu trúc hình thức của cuốn tiểu thuyết là những trang nhật kí mà tác giả gọi là Nhật kí lợn. Phần giữa mang hình thức những truyện ngắn – tác giả gọi là Hành trình vào Hỗn mang – đúng ra, là những giấc mơ trong cơn mê sảng vật vã suốt thời gian đau ốm của nhân vật ghi chép cuốn nhật kí. Đoạn kết Nhật kí lợn là phần ba cuốn sách.

Ở trang sách đầu tiên tác giả giới thiệu nhân vật chính diện của ông như sau:

Nhật kí này là của ông Nguyễn Hoàng; ông Hoàng làm nghề viết báo, kiêm nghề nuôi lợn. Có lẽ, khi làm nghề cầm bút, ông đã phạm một cái ‘húy’ gì đó nên bị thất sủng, phải về nghỉ hưu, tuy chưa đến tuổi …”

Qua những trang sách sau đó chúng ta biết ông Hoàng sống với mẹ già, vợ và bốn con trong một căn nhà tồi tàn ở ven đô Hà Nội. Nhà ông Hoàng nghèo, nghèo lắm. Cuộc sống càng ngày càng khó khăn, vật giá leo thang vùn vụt, với số lương hưu èo uột, vợ làm công nhân viên, gia cảnh ông lâm vào tình trạng thiếu hụt cùng quẫn, và như rất nhiều người dân Hà Nội thời bấy giờ, ông xoay ra nghề nuôi lợn. Để tìm kế mưu sinh ông không còn cách nào khác hơn. Sau ba mươi năm đi bộ đội và làm cán bộ nhà nước, tay chân ông chẳng còn sự khéo léo để học một cái nghề nào ra hồn, viết văn thì không được phép xuất bản, dịch cũng chẳng ai thuê (không ai dám dính líu đến người có “vấn đề”), đi buôn hay chạy áp phe cũng không xong vì ông không có cái điêu ngoa, thớ lợ của cuộc sống giành giật từng đồng. Phương án duy nhất còn lại là nuôi lợn. Hơn nữa, ai cũng nuôi lợn kể cả các ông bà quan chức thì có gì xấu hổ đâu. Cũng may nhà ông thuộc vùng nửa quê nửa tỉnh, đằng sau có cái ao bèo nên ông quây được cái chuồng lợn riêng, vợ chồng con cái không phải sống chung với lũ lợn như nhiều gia đình khác trong nội ô, người ngủ bên trên đàn lợn hôi thối suốt ngày đêm ủn ỉn vục vặc đòi ăn.

Sống với lũ lợn còn thấy vui hơn.” Ông Hoàng có hai người bạn thân, Lân và Tám. Lân, một thương binh, nuôi lợn gần như chuyên nghiệp, chính ông là người chua chát buông câu nói ấy. Ông đi nhặt nhạnh tất cả mọi đồ phế thải ngoài đường sá đem về chế biến cho công việc nuôi lợn của ông. Mỗi ngày ông ra bờ sông Kim Ngưu – một con sông tù đọng nước đen xì hôi thối không thể tưởng vì chứa toàn những đồ cặn bã bẩn thỉu nhất kể cả cứt đái của dân cư lao động xung quanh thải xuống – để vớt những miếng lòng lợn thải ra từ lò mổ lợn gần đó. Ông đem những miếng lòng thối rữa về đun lên trộn với cám cho bầy lợn ông ăn. Làm gì có củi đun, ông dùng toàn vỏ xe đạp cũ, và mỗi lần thấy luồng khói đen uốn éo như con rắn từ mái lều gianh ven sông bốc lên, ông Hoàng biết ngay bạn mình đang luyện đan bồi dưỡng bầy lợn. Còn Tám là một giáo viên dạy Sinh vật cấp ba, nhưng tính tình ông gàn bướng, thậm chí hơi bất thường. Có người bảo trí óc ông lệch lạc từ khi suýt chết vì bom Mĩ, nhưng cũng có thể ông bất mãn (cuộc sống ấy kẻ lương thiện không bất mãn mới là chuyện lạ). Đang dạy học, ông xin nghỉ ngang nằm nhà viết sách về lợn mà ông gọi là Bách khoa lợn. Ông Hoàng thi thoảng nhận được một trích đoạn Bách khoa lợn mà càng đọc ông càng khiếp hãi.

Sách vở sử học sau này chắc chẳng có dòng chữ nào viết về chuyện nuôi lợn cực kì bi hài của thị dân Hà Nội thuở đó. Mà chẳng riêng gì Hà Nội, hình như khắp mọi nơi trên đất nước, đó là hình thức thoát đói duy nhất cho người dân lương thiện mà sau này nhớ lại ai nấy vẫn thấy rùng mình khiếp hãi.

Lịch sử thế giới là lịch sử của vài kẻ được ưu đãi.” Nhà văn Mĩ Henry Miller viết như thế trong cuốn Chủ nhật sau chiến tranh xuất bản năm 1944. Câu văn của Miller lí giải tại sao chúng ta chẳng bao giờ tìm thấy giá trị lịch sử nhân chủng trong hàng nghìn hàng vạn trang sử do xã hội viết ra từ trước đến nay mà chỉ thấy trong các tác phẩm văn học, điển hình là tiểu thuyết. Tiểu thuyết không chú tâm đến phần mô tả và phê phán chính lịch sử. Sự biến lịch sử được tiểu thuyết gia ghi giữ và kết cấu thành tình huống hiện hữu cho các nhân vật của mình. Chúng là những sự biến do vô tình hay cố ý bị các sử gia và các nhà chính trị bỏ quên. Chúng không làm lịch sử dân tộc trở nên hiển hách, chói lọi hơn (ngược lại đa phần chỉ khiến lịch sử thêm u buồn, tăm tối), kinh nghiệm nhân chủng cơ bản của chúng được tiểu thuyết gia sử dụng như một căn nguyên lịch sử để từ đó có thể phóng chiếu lên tầng suy nghiệm nhân bản cao hơn cho những thử thách tương lai, mà thông thường là sự tái diễn. Lev Tolstoy viết trong phần ba của bộ tiểu thuyết đồ sộ Chiến tranh và hòa bình là lịch sử sẽ được hiểu một cách đầy đủ và đúng đắn hơn từ góc độ tiểu thuyết. Như chúng ta thấy, Tolstoy không hề mô phỏng lịch sử trong tác phẩm của mình. Bởi tiểu thuyết gia không phải là kẻ hầu hạ sử gia như ông nhà văn Milan Kundera nói luôn mồm. Nói như thế, lịch sử trong tiểu thuyết có đời sống riêng của nó, nó không minh họa lịch sử và chính nó đã thổi hồn phách vào lịch sử, cho lịch sử một khuôn mặt người.

Chuyện nuôi lợn của cư dân Hà Nội (một hồi đoạn hoàn toàn bị các sử gia lãng quên, nhưng cực kì trọng đại ở bình diện nhân chủng) là cái căn nguyên lịch sử được nhà viết tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh xây dựng thành một kinh nghiệm nhân chủng, mà chính ông là một chứng nhân, trong tác phẩm Chuyện ngõ nghèo.

Tuy thế, tác giả đã không cho phép chúng ta lười lĩnh tự ru ngủ với một câu chuyện tuy thương cảm, bi thiết nhưng nói cho cùng chẳng qua chỉ là chuyện thời cuộc thế gian xoàng xĩnh. (Ối dào! Chuyện đời ấy mà, có gì lạ đâu, nghèo khổ thì nơi đâu, thời nào mà chẳng có!) Tác giả không dừng ở đấy, ông bắt chúng ta phải trực diện một vấn nạn gai góc, khó nhằn hơn nhiều: cái bản ngã lợn hay Trư cuồng, nói theo ngôn từ của ông.

Câu chuyện nuôi lợn của ông Hoàng bắt đầu đi vào giai đoạn có nhiều biến cố từ khi ông mua thêm một con lợn con có đôi mắt như mắt bò và lớp lông màu hung vàng như “cỏ tranh vàng khô vào mùa lá rạc ở Tây Bắc” mà ông đặt tên là Lợn Bò. Ông đã có sẵn trong chuồng ba con lợn ỉn. Lúc mới về Lợn Bò chịu lép vế ba con lợn ỉn, không dám tranh ăn, khi nằm ngủ phải tìm góc chuồng dơ bẩn đầy cứt đái, thậm chí còn bị ba con kia cắn tai, húc mõm vào bụng. Nhưng con Lợn Bò ăn hăng lắm, nó tận tình vét máng mỗi lần ăn và nhờ thế tăng trọng nhanh chóng hơn ba con kia. Một hôm khi đã to khỏe đủ, nó đánh lại ba con lợn ỉn và cuộc chiến tranh trong chuồng lợn bùng nổ.

Cái chuồng lợn nhà ông Hoàng không khác cuộc đời ngoài kia bao nhiêu, nó là sân khấu chính trị, với tất cả những đấu tranh hận thù tàn bạo mà kẻ mạnh có toàn quyền “cắt tiết” những kẻ yếu hơn mà không chịu suy tôn thần phục chịu làm nô lệ cho mình. Ông Hoàng suy ngẫm. Thoạt tiên là ý nghĩ về từ “đồ tể.” Qua những trang viết rời từ cuốn Bách khoa lợn không bao giờ xuất bản của ông Tám, ông Hoàng nghiệm ra ý nghĩa khiếp hãi của vai trò người nắm quyền lực trong tay:

Tìm từ nguyên của từ ‘đồ tể’ thấy gồm hai thành tố: tiền tố ‘đồ’ và hậu tố ‘tể’.

Riêng hậu tố ‘tể’ chỉ thấy hiện diện trong hai từ khác: chúa tể và tể tướng. Hóa ra anh làm nghề giết lợn lại có họ hàng gần với những bậc chí cao: ông vua và quan đại thần tột bậc. Họ gần gũi nhau ở điểm gì? Xét cả ba nghề làm vua, làm quan, giết lợn, thì thấy cả ba giống nhau ở chỗ đều có quyền giết chóc kẻ khác. Vua và tể tướng có quyền giết dân, đồ tể có quyền giết lợn. Giết người là một quyền uy to lớn nhất, tối cao nhất trong mọi quyền. Suy cho cùng, có thể nói nghề vua quan cũng là một thứ nghề đồ tể; chỉ có khác, đối tượng giết ở đây là con người.”

Tôi không rõ ông Trần Bình thời nhà Hán bên Trung Quốc khi ra làm tể tướng có lây nhiễm tính “cắt tiết” của một anh “đồ tể” dưới làng quê thời hàn vi hay không (ông ta có lẽ là nhân vật lịch sử duy nhất mang cả hai danh hiệu có chữ “tể”), nhưng các cuộc cách mạng trên thế giới (không phải của đồ tể chuyên nghiệp) cuối cùng đều đi đến chỗ phản bội, và cách mạng sẵn sàng “cắt tiết” bất cứ kẻ nào cản bước tiến của mình. Có bao nhiêu chiếc đầu lâu bị máy chém cắt lìa trong cuộc cách mạng Pháp 1789? “Cách mạng đã cắt tiết chế độ cũ. Máu tiết ở tim, gan, phổi, óc của chế độ cũ phải kiệt đi, phải chảy đến giọt cuối cùng để cách mạng có thể thay thế vào đó một dòng máu mới.” Đau đớn thay, đó chính là cái gì xảy ra suốt thời trung đại lịch sử Việt Nam và lan sang cả thời hiện đại cho đến tận bây giờ. Cái bản ngã lợn không đâu rõ hơn lịch sử nội chiến Việt Nam với không biết bao nhiêu con người bị “cắt tiết” trong đớn đau, tủi hận. Cắt tiết là rút con dao lá lúa đâm một nhát vào cổ, xọc vào tim, cho dòng máu đỏ vỡ ùa ra ồng ộc nhưng cũng có thể là cho chết lần mòn bằng những hình thức tù đày, khủng bố dã man.

Nhưng quan hệ hơn, qua con Lợn Bò, ông Hoàng bắt đầu nhìn thấy hình ảnh của Trư cuồng. Hình như bất cứ ai cũng có thể là một anh đồ tể, trong tim ai cũng lấp ló một anh đồ tể sẵn sàng chém giết không gớm tay. Cái xấu, cái ác tràn ngập thế gian. Tuy vẫn còn u minh mờ mịt, ông mơ hồ cảm nhận được trong con người ông “thiếu vắng một cái gì rất cơ bản mà ông không sao xác định nổi.” Ông run rẩy vì “chợt có lúc thoáng thấy nỗi sợ hãi của phi nhân…” Ông vẫn yêu thương cuộc đời, vẫn yêu hình ảnh con sông Đuống mộng mơ của bạn ông, hay những dãy phố cổ nghiêng nghiêng trong tranh người bạn khác, nhưng ông muốn “vươn khỏi cái hạn hẹp để hành trình đến cái đích thực nhân đạo.” Mơ hồ nhưng day dứt, ông bị điều ấy hành hạ ngày đêm.

Việc nuôi lợn của ông Hoàng không làm gia đình ông hạnh phúc, sung túc hơn. Ngược lại là đằng khác. Tiền nuôi lợn thâm lạm tiền chi tiêu ăn uống khiến nhà ông phải húp cám lợn thay cháo. Vợ chồng ông hục hặc nhau, nay chiến tranh nóng, mai chiến tranh lạnh. Ông ví vợ ông là cây lộc vừng ông đem từ thôn quê ra, dĩ nhiên chị không hiểu ông và thường xuyên trách móc ông không thực tế, toàn ôm chuyện viển vông, viết lách vớ vẩn để mang họa vào thân. Lẽ đương nhiên, có ai hiểu được ông đâu, ngay cả thằng con trai lớn tên Linh học đại học ban Triết suốt ngày ôm cuốn Nam Hoa Kinh của Trang Tử cũng bỉ báng, chế nhạo ông đủ điều. Ông tìm quên ở Hồ Ly, một con cáo chín đuôi tu luyện hơn nghìn năm ở Hồ Tây biến thành cô gái đẹp bầu bạn với ông, nắm tay ông đi dạo quanh hồ vào những đêm lấm tấm trăng sao. Ông sống giao thoa giữa thực và mộng, không phân biệt được đâu là cuộc sống thật đau xót và đâu là giấc mộng ảo mơ hoa.

Chưa hết, đang vật vã với cuộc sống cùng cực cộng thêm những ý nghĩ đớn đau như thế, ông Hoàng còn bị gọi lên “làm việc” với an ninh. Người ta vẫn không để yên cho ông. Chỉ vì một câu nói “Que faire?” cách đấy mươi năm người ta quy kết lên đầu ông tội “chống tổ chức”, một cái tội mơ hồ không bằng cớ, không nhân chứng, không luật sư biện hộ, không thẩm phán, không bồi thẩm đoàn. Một tòa án cũng không mà chỉ là gian phòng thẩm vấn hỏi cung lạnh lẽo trơ trịa một chiếc bàn xấu xí. Nhưng lần này ông Hoàng bị mời đến làm việc trong một ngôi chùa. Hình ảnh ông Hoàng đi tìm ngôi chùa để “được” thẩm vấn khiến tôi nhớ lại K. hôm anh đi tìm cái tòa án cực kì lạ lùng trong cuốn Vụ xử án của Franz Kafka. Cuốn tiểu thuyết của Kafka cho chúng ta thấy bi kịch của con người hiện đại: con người va chạm không phải với con người khác mà với thế giới biến dạng thành guồng máy thư lại kềm kẹp khổng lồ. Con người như con vật nằm trong rọ. Ông Hoàng và K. có chung một số phận, số phận của những kẻ “đầu thai lầm thế kỉ”, những kẻ lầm lẫn bước vào cõi đời này.

Người thẩm vấn ông Hoàng lần này là một cán bộ đứng tuổi, giọng nói ấm áp, gương mặt đôn hậu có thiện cảm chứ không khó ưa như cái gã hỏi cung những kì trước. Ông ta bảo đây là một cuộc trao đổi chứ không phải thẩm vấn. Dù gì ông Hoàng cũng đã rắp tâm từ đêm trước nói hết điều mình muốn nói. Ông bảo người cán bộ già ngồi đối diện:

“… Đất nước chúng ta đang rơi vào một chủ nghĩa hư vô. Người ta đã dè bỉu, rồi xóa bỏ tất cả những cái nhân đạo xưa, để thay thế vào đó bằng một thứ chủ nghĩa nhân đạo mới, ở đó bóng dáng con người mờ nhạt. Người ta vẫn rao giảng một cái gì đó quá ư khoa trương, đẹp như một ống kính vạn hoa, để rồi con người soi mình vào đó và không thấy khuôn mặt mình ở đâu cả. Cái áo quá đẹp ấy không hợp với kích cỡ con người. Chúng tôi chán ngấy sự ồn ào mĩ miều và chỉ thèm khát một tấm áo giản dị nhưng vừa vặn. Chúng tôi chỉ thèm một thứ nhân đạo đích thực, ở đó người nào nhìn vào cũng thấy khuôn mặt của mình.”

Thấy người cán bộ già chưa có phản ứng rõ rệt, ông Hoàng nói thêm, lần này ông quyết liệt không vòng vo mà đi thẳng vào vấn đề cốt lõi:

Sự tham vọng quá lớn, định làm những điều quá to tát, không hợp kích cỡ ở thế gian này, đã đẩy chúng ta vào ngõ cụt. Đất nước đang gặp thất bại và sẽ còn khó khăn. Nhưng cho dù, về mặt vật chất, dù có thành công chăng nữa thì tôi cũng xin nói rằng: Cách mạng sẽ chỉ đẹp đẽ và hấp dẫn khi nó nhân đạo hơn, dân chủ hơn, vừa tầm vóc con người hơn mọi lí tưởng khác.”

Đến đây tôi chợt nhớ một đoạn văn của nhà văn Czech Milan Kundera viết trong phần 5 của danh tác Đời nhẹ khôn kham như sau:

Người nhận định các chế độ Cộng sản ở Trung Âu đơn thuần chỉ là những tổ chức ăn cướp, người ấy không nhìn ra sự thật hết sức cơ bản: bọn cầm đầu các chế độ ăn cướp đó không phải là bọn cướp, chúng là những kẻ cuồng nhiệt bám chắc vào niềm tin chúng tìm ra con đường duy nhất đưa con người đến Thiên đàng. Chúng kiên quyết bảo vệ con đường đó, đến nỗi không ngần ngại giết hại không biết bao nhiêu mạng người. Dần dà về sau, khi Thiên đàng chỉ là ảo vọng, bọn người cuồng nhiệt kia trở thành lũ sát nhân.”

Ông viết thế bởi ông là người trong cuộc đi ra và hiểu rõ bản chất thật của Thiên đàng. Qua cuốn tiểu thuyết Chuyện ngõ nghèo, tôi tin nhà văn Nguyễn Xuân Khánh cũng có một tư duy tương tự Kundera khi ông bảo, “… Bây giờ thì chúng tôi chán ngấy sự trở thành khổng lồ rồi, chán ngấy sự cuồng tín bi thảm ấy rồi, chán ngấy những cái gì siêu kích cỡ. Chúng tôi đã đẩy chúng tôi vào ngõ cụt.”

Thiên đàng của Kundera chính là “cái gì siêu kích cỡ” của Nguyễn Xuân Khánh. Cả hai nhà văn đều thất vọng cực kì về cõi hoang tưởng, cả hai đều có cái nhìn hết sức bi quan về bản ngã và bản thể cuộc sống con người.

Dĩ nhiên, cuộc “trao đổi” giữa ông Hoàng và người cán bộ già chẳng đi đến đâu. Tôi có cảm tưởng hai người tuy nói cùng ngôn ngữ nhưng không ai hiểu ai, mỗi người như có một hệ cơ số riêng, và không hề có sự đả thông tư tưởng. Lỗi ở ông Hoàng ngây thơ, hay ông còn chút hi vọng vào lẽ phải và sự hợp lí? Cũng như K. đứng giữa cái tòa án dị kì trên tầng sát mái khu chung cư tồi tàn mà hùng hồn nói về hoàn cảnh của mình (anh không tự biện hộ vì anh đâu biết mình bị kết tội gì). Lời lẽ của anh trước tòa án chẳng có chút trọng lượng nào, nó nhẹ hơn không khí, và chẳng có tí phản ứng gì từ phía ông quan tòa. Tất cả cái cảnh huống quái đản, thậm chí ma mị ấy, là sự phi lí khủng khiếp. Cả ông Hoàng lẫn K. đều tin vào sự hợp lí, tin hợp lí sẽ chiến thắng phi lí, nhưng vô cùng khốn nạn cho hai người, ở đây cái phi lí mới được tôn sùng, nó là chân lí tuyệt đối, là lẽ sống, là lí tưởng cho mọi người noi theo. Trong cuốn tiểu thuyết 1984 của nhà văn Anh George Orwell viết năm 1948, ba khẩu hiệu của Đảng được phổ biến khắp nơi, bắt cư dân ghi nhớ: Chiến tranh là hòa bình, Tự do là nô lệ, Ngu dốt là sức mạnh. Nghe phi lí quá, phải không, thưa bạn? Khẩu hiệu gì mà nghe trái với đạo lí, luân lí thông thường thế! Điều nguy hiểm chết người nằm ở đấy. Một hôm cái phi lí biến thành hợp lí, cái phi lí nghe thuận tai, cái phi lí trở nên chân lí. Sự thật được hiểu bằng doublethink (từ do Orwell sáng chế ra), tư duy hai chiều, chiều nào cũng đúng, bởi Sự thật không nằm trong tủ chè hay kệ sách nhà bạn mà nằm dưới tầng ý thức, dưới cả tầng tiềm thức, thậm chí có thể là tầng vô thức trong não bộ của bạn. Lúc điều phi lí nghe thuận tai là lúc Đảng chiến thắng toàn diện, Đảng trên hết, Đảng là chúa “tể”, và con người vĩnh viễn nằm trong quỹ đạo của Đảng. Đó là số phận của K., của anh chàng Winston Smith và của ông Hoàng.

Ông Hoàng sa sút thê thảm, tinh thần ông cũng kiệt quệ đến mức cùng cực. Hồ Ly bỏ ông ra đi. Ông không biết tại sao Hồ Ly bỏ đi, nhưng ông vẫn phải sống và đành đem những cuốn sách quý của mình đi bán rẻ kiếm tiền nuôi lũ lợn. Ôi chao! Nào là Sêkhốp (Chekhov) nào là Sếchxpia (Shakespeare), nào là Đốt (Dostoyevsky), nào là Camuy (Camus), tất cả theo nhau chui vào cái bụng ỏng của con Lợn Bò.

Con Lợn Bò đặc biệt thích ăn bằng tiền bán bộ truyện kiệt tác Anh em nhà Karamazov của Dostoyevsky. Đây là một ẩn dụ tuy buồn cười nhưng hết sức chua xót. Tác phẩm của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh chứa đựng nhiều ẩn dụ và biểu tượng, và đây chính là ẩn dụ chìa khóa để hiểu tác phẩm của ông.

Dostoyevsky – người nói câu “Cái đẹp cứu rỗi thế giới” – có lẽ là nhà văn được ông Hoàng kính trọng nhất. Đối với ông, Dostoyevsky là biểu tượng của Chủ nghĩa nhân đạo đích thực và ông tận mắt nhìn thấy cái chủ nghĩa ấy đang bị con Lợn Bò nuốt chửng. Ông không đau đớn đến bủn rủn sao được? Dostoyevsky nói câu nói ấy thường dễ trên trăm năm rồi, nhưng thế giới đã được cái đẹp cứu rỗi chưa, con người đã được giải phóng chưa hay vẫn đắm chìm trong cái xấu xa, con Lợn Bò vẫn ngự trị, sự bẩn thỉu tràn lan, để đi đến hậu quả con người dần dà đánh mất hết phẩm giá và đức hạnh. Cuối cùng Dostoyevsky hiện về bảo ông Hoàng cứ để con Lợn Bò ăn hết sách của ông, ông chẳng còn gì để nuối tiếc. Aha, cái lão Chekhov ẩm ương ấy còn tí ti lí tưởng muốn giữ lại trái tim chứ “… Còn tôi, dù con quỷ của anh có ăn hết toàn bộ hình hài, tôi cũng chẳng lo…” Dostoyevsky bảo ông Hoàng như thế. Hình như cả Dostoyevsky lẫn ông Hoàng đều đi đến chỗ tuyệt vọng, cả hai đều không còn chút niềm tin nào vào cuộc đời. “Chúa đã chết! Thời vô trị đã đến!”

Sách càng chui nhiều vào họng con Lợn Bò, ông Hoàng càng đau đớn. Ăn cho béo chưa đủ, nó còn mỉa mai, châm chọc ông, “… Chao ôi! Tư tưởng! Ta đến ngột ngạt vì sách, vì tư tưởng của các người. Nhưng thử hỏi, sách mọc lên như nấm thế, mà sao con người hiện nay có tốt đẹp gì thêm đâu? Vả lại, sách còn đem vạ cho người. Ở thời buổi này, sách có thể dẫn ta vào cuộc đời tan nát.”

Con Lợn Bò có lí của nó. Vợ ông Hoàng cũng không nghĩ khác, chị còn dọa mai này ông chết, chị sẽ chôn theo ông tất cả đống sách vở của ông.

Con Lợn Bò bây giờ phè phỡn không thể tưởng. Với sức mạnh và mưu chước quỷ thần, nó nắm trọn giang san chuồng lợn, ba con lợn ỉn hoàn toàn thần phục nó. Bây giờ nó là chúa tể chuồng lợn, nắm mọi quyền hành sinh sát trong tay, muốn làm gì thì làm, ăn những máng cám ngon nhất có trộn tóp mỡ do cậu Linh đem về, được ngủ chỗ ấm nhất trong chuồng. Lúc ăn no, nó còn nằm ễnh người ra cho con lợn ỉn út liếm dương vật. Gớm ghiếc đến thế là cùng! Mỗi lần trông thấy cái cảnh tởm lợm muốn mửa đó, ông Hoàng điên tiết cầm chổi tre quất túi bụi lũ lợn. Với cái chổi, ông tạm thời giải quyết chuồng lợn trong nhà ông, nhưng còn cái chuồng lợn kinh khiếp gấp trăm gấp nghìn lần ngoài kia thì sao? Ông lao đao, lên cơn mê sảng. Ông ốm nặng và ông thấy mình đứng mấp mé ở bến bờ tử sinh. Và trong lúc như thế ông thấy ông đi vào cuộc Hành trình vào Hỗn mang.

Đấy là phần hai của cuốn tiểu thuyết.

Hành trình vào Hỗn mang là những giấc mơ của ông Hoàng trong cơn ốm đau mê sảng, nhưng đan xen vào những giấc mơ lại là những hồi đoạn rất thật. Có thể xem đấy là những truyện ngắn đứng riêng lẻ, nhưng lồng vào tổng thể cuốn tiểu thuyết, chúng tạo thành thế hỗ tương chặt chẽ bởi chủ đề của những truyện ngắn tưởng như độc lập ấy không đi trệch ra khỏi chính truyện bao nhiêu: Cái tính thèm nhìn máu đổ, dù là máu lợn, của người dân làng trong Hội làng; cái chất “đồ tể” nguyên thủy nơi con người ông Tí Giò trong Bãi chết; phẩm chất cách mạng chân chính của người bạn tên Vinh trong Người khổng lồ vác nặng, người trước khi nhắm mắt lìa đời, dù bị cách mạng phản bội đến tả tơi mà vẫn chờ đợi, vẫn buông được câu nói “… Cái gì rất đẹp ấyrồi nó sẽ đến.” Giữa ông Tí Giò và ông Vinh là một đại dương khác biệt, hai con người tượng trưng cho hai thái cực nhân cách, như trắng và đen, như ngày và đêm. Nhưng thực tại cuộc sống cho thấy đa phần con người chúng ta không trắng đen rành rọt mà xám, và phải chăng chính cái màu xám bi đát đó đã khiến chúng ta vĩnh viễn thất lạc trong cõi Hỗn mang? Bởi trắng đen thì dễ nhìn chứ xam xám thì chỉ có cái kính “Chiếu Trư” của Chekhov mới nhìn ra. Ông Tám quả tinh mắt. Ông gọi bạn mình là “đồ ngốc” cũng đáng. Ông nhìn ra cái giống lợn-người mà ít ai trong chúng ta có khả năng nhận thấy. Vâng, ông Tí Giò có đứng xa cả trăm thước thì đứa trẻ con lên ba cũng biết và khóc ré lên vì khiếp sợ (thật ra ông Tí Giò là kẻ đáng thương hơn đáng ghét), còn những con lợn-người thì mặc những bộ áo xống đẹp đẽ lịch sự nhất, khoác những cái mặt nạ hiền hòa nhân hậu nhất, nói to vào máy vi âm những lời lẽ nhân đạo nhất cho mọi người cùng nghe, và chúng ta đứng dưới vỗ tay thật to tán thưởng. Cái thâm độc nhất của lợn-người là biết khai thác một cách đầy hiệu quả chất lợn của lợn thật (ông Tí Giò chẳng hạn), và bởi Lịch sử được viết theo góc nhìn của lợn-người nên sự quang vinh của lợn-người sẽ được muôn đời ca tụng. Sự thật không hề hiện hữu trong thế giới lợn-người.

Nhân thuật chuyện ông Tí Giò, tác giả có tạt qua việc Cải cách ruộng đất hồi đầu thập niên 50 ở miền Bắc. Sách vở về chuyện này đã có nhiều, hư cấu cũng như phi hư cấu, nhưng không mấy ai nêu lên luận điểm chìa khóa mà Nguyễn Xuân Khánh nói đến ở phần này của cuốn tiểu thuyết, dù chỉ thoáng qua. Qua suy nghĩ của Thái lúc trước khi bị đem ra xử bắn “Anh cảm thấy thương hại sự vô ơn của những con người ấy. Chính vì những con người ấy mà bao năm nay anh lăn lộn xả thân …” hiển lộ một trong những thuộc tính cơ bản nhưng thường được khéo léo che giấu của con người. Những người nông dân ngày thường thật thà chất phác ấy, ai ngờ lúc lâm sự có thể đẩy kẻ vô tội vào chỗ chết, và họ khoái trá, thậm chí cuồng điên sôi máu khi chứng kiến kẻ xấu số lãnh nhận cái chết đau đớn oan khiên. Họ chen nhau vào pháp trường, kể cả những đứa trẻ, để mục kích cảnh tượng khiếp hãi ấy. Trong cuốn tiểu thuyết Chuyện đùa, Kundera cũng có một nhận định tương tự: “Ludvik nhìn thấy tất cả bạn bè, đồng nghiệp anh thật dễ dàng đồng loạt giơ tay biểu quyết đuổi anh khỏi trường đại học và cuộc đời anh từ đó đảo lộn. Anh đoan chắc nếu cần họ cũng sẽ biểu quyết một cách dễ dàng như thế ra lệnh treo cổ anh. Từ đó định nghĩa của anh về con người: một hiện thể có khả năng xô đẩy người láng giềng đến cái chết trong bất cứ cảnh huống nào.”

Cái chất lợn-người có lẽ nằm trong DNA của chúng ta.

Cuộc Hành trình vào Hỗn mang đưa ông Hoàng vào một xứ lạ có tên gọi là Cực Thiên Thai. Đọc đoạn văn này của Nguyễn Xuân Khánh, tôi có cảm tưởng nó là tổng hợp của ba cuốn tiểu thuyết kinh điển của phương Tây về thể loại này: cuốn Chúng ta của nhà văn Nga Yevgeny Zamyatin, cuốn Thế giới mới dũng cảm của Aldous Huxley, và cuốn 1984 của George Orwell. Cả ba đều được viết từ nửa đầu thế kỉ XX, cuốn Chúng ta ra đời sau Cách mạng Tháng Mười bên Nga vài năm, bị Hội Nhà Văn Nga gán cho cái nhãn “cực kì phản động” và tác giả bị trục xuất khỏi quê hương khi cuốn sách được tung ra ở nước ngoài. Cả ba tác phẩm tiểu thuyết đều gay gắt phê phán một thế giới thuần nhất, trong đó con người là những cỗ máy, tên tuổi chỉ là những mã số được chỉ định từ lúc lọt lòng mẹ, không có tình yêu hay gia đình mà chỉ biết ăn, thở và lao động. Nguyễn Xuân Khánh cũng không chấp nhận một thế giới như vậy, một thế giới con người đóng vai Thượng đế, cho dù chỉ có tiếng cười và niềm vui. Một thế giới không nước mắt là một thế giới phi nhân, nơi đó con người là phi-chân-diện-mục. Một thế giới trong đó xã hội là một hệ thống quan liêu với mục tiêu tối thượng là bắt con người trở nên vô cảm, không có tâm hồn, mất hết mọi ý niệm cá nhân chủ nghĩa. Một thế giới trong đó giới lãnh đạo là những kẻ chỉ biết quyền lực, đối với họ quyền lực không phải phương tiện mà là cứu cánh, hoặc giả, theo định nghĩa của Simone Weil, “quyền lực là khả năng biến một con người sống thành cái xác chết, có nghĩa là, từ vật sống thành món đồ.”

Khác với anh chàng Winston Smith của Orwell chết dở sống dở từ phòng 101 bước ra về, chấp nhận cuộc sống nô lệ như cũ, ông Hoàng của Nguyễn Xuân Khánh trở về cõi dương gian sau khi nhờ chiếc kính chiếu trư của ông Tám trông thấy lãnh tụ tối cao A1 của xứ Cực Thiên Thai chính là con Lợn Bò. Trở về nhưng không vui vì ông biết cái độc chất Trư cuồng ấy vẫn tràn lan trong cõi nhân gian. Làm sao tẩy xóa nó được?

Trư cuồng – Poóxinômani – Bái trư giáo – Trư luận – Trư học – những từ ngộ nghĩnh không tìm thấy trong bất cứ cuốn từ điển nào. (Nếu tỉ mẩn, bạn có thể truy nguồn từ nguyên của từ ‘Poóxinômani’ từ hai từ tiếng Anh porcinemania, hay tiếng Pháp porcinmanie. Song, theo tôi, từ ‘Trư cuồng’ trong tiếng Việt vẫn là ấn tượng và độc đáo nhất.)

Đoạn kết cuốn sách, cũng là phần kết Nhật kí lợn, chúng ta thấy chuyện nuôi lợn của gia đình ông Hoàng phải chấm dứt, một kinh nghiệm kinh doanh thảm hại, và cậu Linh quyết định giết con Lợn Bò bán thịt để lấy tiền thuốc thang cho bố. Tôi rất thèm được nghĩ chuyện cậu Linh giết con Lợn Bò là một ẩn dụ Nguyễn Xuân Khánh muốn gửi gắm vào thế hệ tương lai, cái độc tốTrư cuồng ấy phải chấm dứt, chỉ có cách giết chết nó mới làm đẹp xã hội loài người được, và chỉ có thế hệ tương lai mới làm được chuyện đó.

Cũng như các tác phẩm văn học quan trọng khác, cuốn tiểu thuyết Chuyện ngõ nghèo của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh mang nhiều chiều kích. Ngoài chiều kích lịch sử, xã hội, chính trị, nó còn hàm ẩn chiều kích tiên tri. Từ 35 năm trước lúc nhà văn Nguyễn Xuân Khánh hoàn tất cuốn sách hay bây giờ cũng thế, Trư cuồng là một lời cảnh báo của tác giả đến chúng ta, một lời cảnh báo cực kì cấp bách. Nếu lịch sử không thay đổi đường đi của nó thì chẳng bao lâu chúng ta sẽ mất hết những phẩm chất con người, biến thành những cỗ máy vô hồn mà chính chúng ta hoàn toàn không nhận biết. Trong trường hợp ấy, nếu cái ẩn dụ bên trên đúng như tôi suy diễn thì nó chỉ là một wishful thinking.

Nguyễn Xuân Khánh đã can đảm lột trần cái xấu xa nhất của con người: cái bản ngã lợn. Trong mắt nhìn của ông thì đấy là căn nguyên của những vấn nạn gai góc chúng ta đang trực diện trong cuộc sống con người. Phải chăng ông là người theo lí tưởng chủ nghĩa bởi, với tất cả những bằng chứng lịch sử từ thuở hồng hoang cho đến ngày nay, con người vốn ác. (Tuân Tử có lẽ đúng chứ không phải Mạnh Tử khi phán “Nhân chi sơ tính bản ác.” Plato bên trời Tây trong trứ tác Cộng hòa cũng có nhận định tương tự và thánh Moses trước đó cả nghìn năm đã biết rõ bản chất ác của con người khi Ngài đặt ra Mười Điều Răn cho dân Do Thái.) Nhưng lí tưởng của Nguyễn Xuân Khánh còn là một lí tưởng nhân đạo đích thực và chính cái lí tưởng ấy đã giúp ông tiếp tục chiến đấu trong những điều kiện khó khăn, ngặt nghèo nhất. Vì lí tưởng có lúc ông như lên đồng không phân biệt được đâu là thật đâu là giả. Vì lí tưởng ông đã bị quẳng vào đáy sâu của ngục tù. Song, thể xác ông có thể bầm giập vì bạo lực, cường quyền, nhưng lí tưởng đã giúp ông bền bỉ vác thập tự giá bước đều trên con đường thánh ông tự định hướng cho mình. Ông không thể bỏ cuộc khi chính cái lí tưởng của ông bị đe dọa và vi phạm. Có thể con đường thánh đó không bao giờ đưa ông đến điểm cuối, điểm hẹn của những linh hồn thánh hóa, nhưng điều đó không quan hệ, nó chẳng khiến ông chùn bước. Ở chân trời vẫn có người bay, thưa bạn. Và chúng ta chịu ơn những người như thế nhiều biết dường nào.

Một chi tiết nhỏ, rất nhỏ, tôi ghi ra đây như phần cước chú vui vui cho bài viết. Tôi không đồng ý với ông Tám Bách khoa lợn khi ông lí giải tiền tố “đồ” trong từ “đồ tể”. Theo ông thì chữ “đồ” ở đây hàm ẩn một ý nghĩa khinh miệt như trong những cụm từ “đồ ăn cướp” hay “đồ lưu manh”. Tôi không nghĩ thế. Tiền tố “đồ” trong từ “đồ tể” 屠宰 cũng có nghĩa là giết súc vật như hậu tố “tể” mà thôi. Và trong mắt nhà văn Kim Dung nó còn mang một ý nghĩa cao cả là giết rồng (hay giết vua). Đồ long đao của Kim Dung là thanh đao dùng trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đưa người anh hùng áo vải lên làm vua nhưng nếu người anh hùng một hôm trở thành một hôn quân tàn ngược thì chính thanh đao đó sẽ quay lại biến thành vật “đồ long.” Tuy thế, cho đến ngày nay Đồ long đao vẫn là một huyền thoại.

NHỮNG CHUYỆN BÍ ẨN VỀ BÀI THƠ “HAI SẮC HOA TIGÔN” CỦA TÁC GIẢ T.T.Kh

Người ta chỉ dựa vào bài thơ Cô gái vườn Thanh đề tên tác giả Nguyễn Bính để cho rằng Nguyễn Bính chính là T.T.Kh.

TRẦN ĐÌNH THU
Có thể nhiều bạn đọc đã biết, đã thuộc làu thơ T.T.Kh nhưng vẫn có một số người khác chưa nắm rõ câu chuyện như thế nào. Vì thế, trước khi bước vào phân tích lý giải, chúng tôi xin dẫn lại toàn bộ câu chuyện này một cách có hệ thống.

HAI SẮC HOA TIGÔN
T.T.Kh.

Một mùa thu trước, mỗi hoàng hôn
Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn
Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc
Tôi chờ người đến với yêu thương

Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng
Giải đường cao vút bóng chiều phong
Và phương trời thẳm mờ sương cát
Tay vít dây hoa trắng chạnh lòng

Người ấy thường hay vuốt tóc tôi
Thở dài trong lúc thấy tôi vui
Bảo rằng hoa dáng như tim vỡ
Anh sợ tình ta cũng thế thôi!

Thuở đó nào tôi có biết gì
Cánh hoa tan tác của sinh ly
Cho nên cười đáp: “Màu hoa trắng
Là chút lòng trong chẳng biến suy”.

Đâu biết lần đi một lỡ làng
Dưới trời đau khổ chết yêu đương
Người xa xăm quá! – Tôi buồn lắm
Trong một ngày vui pháo nhuộm đường…

Từ đấy, thu rồi, thu lại thu
Lòng tôi còn giá đến bao giờ?
Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ…
Người ấy, cho nên vẫn hững hờ

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
ái ân lạt lẽo của chồng tôi
Mà từng thu chết, từng thu chết
Vẫn giấu trong tim bóng “một người”

Buồn quá ! Hôm nay xem tiểu thuyết
Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa
Sắc hồng tựa trái tim tan vỡ
Và đỏ như màu máu thắm pha!

Tôi nhớ lời người đã bảo tôi
Một mùa thu trước rất xa xôi…
Đến nay tôi hiểu thì tôi đã
Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi!

Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ
Chiều thu hoa đỏ rụng. Chiều thu
Gió về lạnh lẽo chân mây vắng
Người ấy sang sông đứng ngóng đò

Nếu biết rằng tôi đã láy chồng
Trời ơi! Người ấy có buồn không?
Có thầm nghĩ tới loài hoa… vỡ
Tựa trái tim phai tựa máu hồng

Kỳ 1: CÂU CHUYỆN TÌNH BUỒN 70 NĂM TRƯỚC
Có thể nhiều bạn đọc đã biết, đã thuộc làu thơ T.T.Kh nhưng vẫn có một số người khác chưa nắm rõ câu chuyện như thế nào. Vì thế, trước khi bước vào phân tích lý giải, chúng tôi xin dẫn lại toàn bộ câu chuyện này một cách có hệ thống. Câu chuyện T.T.Kh bắt đầu vào tháng 7/1937, khi tuần báo Tiểu thuyết thứ bảy đăng một truyện ngắn mang tên Hoa ti gôn của nhà văn Thanh Châu. Nội dung truyện ngắn được tóm tắt như sau:
Có một họa sĩ nghèo mới ra trường. Trong một lần đi tìm cảnh vẽ, chàng đã gặp một thiếu nữ đang hái hoa ti gôn trong vườn. Từ đó, chàng đâm ra mê người đẹp, luôn đạp xe vào làng để ngắm trộm nàng hái hoa.
Năm tháng qua đi, chàng họa sĩ trở nên nổi tiếng. Tranh vẽ của chàng bán được giá rất cao. Họa sĩ trở nên giàu có. Một mùa đông, chàng đi vẽ ở một vùng nọ. Trong một bữa tiệc chiêu đãi, họa sĩ trông thấy một thiếu phụ. Chàng ngờ ngợ như đã từng gặp người này ở đâu. Cuối cùng nhớ ra, nàng chính là cô gái hái hoa ngày ấy. Trong khi khiêu vũ với nàng, chàng nhắc lại chuyện cũ. Nàng vô cùng ngạc nhiên.
Nàng kể chuyện cuộc đời mình cho chàng nghe. Nàng lấy một người chồng môn đăng hộ đối nhưng cuộc hôn nhân quá tẻ nhạt. Từ đó, nàng hay lui tới chỗ họa sĩ trọ để chơi và để chàng vẽ cho một bức chân dung. Chuyện gì đến đã đến. Một buổi sáng, hai người đi chơi ở một ngôi chùa trên đỉnh núi, chàng đã tỏ nỗi lòng mình. Nàng đáp lại tình yêu của chàng.
Chàng bàn với nàng trốn đi Nhật để chung sống với nhau. Nàng nhận lời. Chàng về Hà Nội, sắp đặt xong mọi việc thì nhận được thư nàng vào giờ chót. Nàng từ chối chuyến đi vì không đủ can đảm vượt qua. Trong thư, một dây hoa ti gôn nhỏ ép rơi ra. Chàng nhìn những nụ hoa hình quả tim vỡ, đỏ hồng như nhuộm máu, lặng lẽ hôn lên những cánh hoa và khóc.
Bốn năm sau, một hôm chàng nhìn thấy trên bàn mình một phong thư viền đen. Mở ra xem thì đó là của người chồng nàng báo tin nàng đã chết. Chàng đáp xe lửa đến nơi để đặt lên mộ nàng dây hoa quen thuộc. Từ đó, chàng luôn mua hoa ti gôn về đặt trong phòng mình.
Hoa ti gôn là một truyện ngắn không có gì đặc sắc nhưng nhẹ nhàng và bay bổng. Truyện ký thác một tâm sự khắc khoải, nhớ nhung hoài niệm. Hình ảnh dây hoa ti gôn được lặp đi lặp lại nhiều lần như muốn khơi gợi một điều gì đó không tiện nói ra. Tác giả của nó – nhà văn Thanh Châu, khi đó là một chàng trai trẻ 25 tuổi, vừa quyết định bước vào nghiệp văn chương. Chàng cũng vừa trải qua một chuyện tình buồn.
Hai tháng sau ngày Thanh Châu đăng truyện ngắn nói trên, một sự kiện đặc biệt xảy ra. Vào tháng 9/1937, tòa soạn tuần báo Tiểu thuyết thứ bảy nhận được một bài thơ của một tác giả ký tên là T.T.Kh. Đó là bài Hai sắc hoa ti gôn, được đăng vào ngày 23/9/1937.
Bài thơ Hai sắc hoa ti gôn đã gây nên xúc động lớn trong lòng người yêu thơ bởi những câu thơ quá da diết. Giới văn nghệ xôn xao. Gần hai tháng sau, tòa soạn lại nhận được một bài thơ nữa. Bài thơ này có tựa đề là Bài thơ thứ nhất dù đó là bài thơ thứ hai gửi đến. Bài này được đăng trên số báo ngày 20/11/1937. Và một năm sau nữa, tòa soạn nhận thêm bài Bài thơ cuối cùng. Bài này được đăng trên số báo ra ngày 30/10/1938.
Từ đó, tuần báo Tiểu thuyết thứ bảy không còn nhận thêm bài thơ nào của con người bí ẩn này nữa. Ngược lại, có một bài thơ cũng ký tên T.T.Kh gửi đến một tờ báo khác. Đó là Bài thơ đan áo.
Những bài thơ mang tên T.T.Kh đã làm cho độc giả bàng hoàng sửng sốt. Nhưng tác giả của nó đã lặng lẽ rời bỏ văn đàn, không bao giờ xuất hiện ở đâu nữa. Không ai biết một chút gì về con người bí ẩn này. Nghi án văn học T.T.Kh từ đó bắt đầu…
Năm 1942, Hoài Thanh – Hoài Chân xuất bản Thi nhân Việt Nam lần đầu tiên, T.T.Kh đã được đưa vào tập sách quan trọng này. Song song đó, nhiều người lại liên tục công bố những thông tin về T.T.Kh. Nào Thâm Tâm, nào Nguyễn Bính, nào em gái nhà thơ Tế Hanh, nào là Trần Thị Khánh… Rất nhiều “ứng viên”.
Câu chuyện về Thâm Tâm có khá nhiều người kể. Chẳng hạn Nguyễn Vỹ, một người có mặt trong Thi nhân Việt Nam đã viết một bài dài trên Tạp chí Phổ Thông vào những năm 1960. Ông Vỹ cho biết, một buổi tối trên đường về nhà, ông gặp Thâm Tâm đang lang thang. Ông mời Thâm Tâm về nhà mình uống rượu. Ngà ngà say, Thâm Tâm cao hứng kể chuyện tình của mình. Thâm Tâm cho biết, người yêu của mình là một nữ sinh tên là Trần Thị Khánh. Nàng đã có lần gợi ý Thâm Tâm đến nhà hỏi cưới nhưng chàng bảo sự nghiệp chưa có gì. Bẵng đi một thời gian, một hôm chàng nhận được phong thư báo tin nàng sắp lấy chồng. Đã bị người yêu bỏ đi lấy chồng, lại còn bị đám bạn chế nhạo, Thâm Tâm đâm ra bị quê. Vì thế đã phải thức một đêm để làm một bài thơ tựa đề là Hai sắc hoa ti gôn, ký tên T.T.Kh. Thâm Tâm làm như vậy với dụng ý để các bạn của mình tin là của Khánh làm, cho khỏi mang tiếng bị tình phụ. Sau đó, Thâm Tâm gửi bài thơ tới tòa soạn. Về phần cô gái đó, sau khi đọc được bài thơ Hai sắc hoa ti gôn, liền viết thư phản đối Thâm Tâm kịch liệt. Thâm Tâm bèn lấy những câu chữ trong bức thư này để viết tiếp các bài thơ sau này, vẫn ký là T.T.Kh…
Ngược với Nguyễn Vỹ thì một số tác giả, chẳng hạn như Hoàng Tiến, lại cho rằng chính cô Trần Thị Khánh, cô người yêu của Thâm Tâm đã sáng tác ra những bài thơ ký tên T.T.Kh. Một số tác giả khác còn tiến thêm một bước cụ thể hơn nữa khi cho rằng Trần Thị Khánh chính là em gái họ của nhà thơ Tế Hanh…
Với Nguyễn Bính, không thấy có những câu chuyện cụ thể như trường hợp của Thâm Tâm. Người ta chỉ dựa vào bài thơ Cô gái vườn Thanh đề tên tác giả Nguyễn Bính để cho rằng Nguyễn Bính chính là T.T.Kh.

KỲ 2: NHỮNG CHUYỆN BÍ ẨN VỀ BÀI THƠ “HAI SẮC HOA TIGÔN” CỦA TÁC GIẢ T.T.Kh

TRẦN ĐÌNH THU – Kỳ 2: T.T.Kh có thể là Thâm Tâm hoặc Nguyễn Bính ? Trước hết, chúng ta hãy tìm hiểu xem liệu có thể tin rằng T.T.Kh là Thâm Tâm hoặc Nguyễn Bính như một số tác giả đã khẳng định hay không.

Tác giả Hoài Việt, một người cầm bút trước năm 1945, từng quen biết với hai thi sĩ này cho biết: Thâm Tâm, Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân hồi đó là ba thi sĩ chủ chốt trong một nhóm thơ được các văn hữu mệnh danh là các nhà thơ xóm áo bào gốc liễu. Ba người tuổi tác xấp xỉ nhau, đều xuất thân từ tầng lớp dân nghèo, không được học hành nhiều ở các trường lớp chính quy, vì thế ảnh hưởng của văn học phương Tây đối với họ hầu như không có gì. Ngược lại họ là những người được học nhiều chữ Hán, chữ Nôm. Cả ba người có lúc cùng ở trọ một nhà với nhau để viết văn, làm báo. Những hoàn cảnh như trên đã ảnh hưởng đến phong cách sáng tác của nhau, hình thành nên một nhóm thơ có tên gọi như trên.

Ngoài những nét riêng biệt trong các tác phẩm của từng người thì nhóm thơ này có một đặc điểm chung. Đó là các thành viên rất thích cái giọng văn chương hiệp sĩ, ưa dùng hình ảnh những tráng sĩ lên đường thời Xuân Thu Chiến Quốc. Những tráng sĩ mặc áo bào từ trên lưng ngựa nhảy xuống đất, buộc ngựa vào gốc liễu, nghênh ngang bước vào tửu quán. Vì thế mà thơ của họ chứa đựng cái chất tráng ca, cái khí phách ngang tàng của những trang hảo hớn: “Chí lớn chưa về bàn tay không/Thì không bao giờ nói trở lại/Ba năm mẹ già cũng đừng mong” (thơ Thâm Tâm), “Kinh Kha giữa chợ sầu nghiêng chén/Ai kẻ dâng vàng, kẻ biếu tay?/Mơ gì áp Tiết thiên văn tự/Giầy cỏ gươm cùn ta đi đây” (thơ Nguyễn Bính).

Nhận định của Hoài Việt như thế rất đúng với trường hợp của Thâm Tâm. Chất giọng văn chương hiệp sĩ của ông tạo nên nét riêng biệt không ai có được. Thơ ông là thứ thơ hùng tráng. Nếu có bi thì cũng là hùng bi: “Ngươi chẳng thấy/Thao thao Hồng Hà vạn thuở chảy/Nước mạnh như thác, một con thuyền/Ta lênh đênh hoài sầu biết mấy!” (Can trường hành), “Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch/Ta ghét hoài câu “nhất khứ hề”” (Vọng nhân hành). Chất rắn rỏi này không chỉ thể hiện trong những bài thơ thuộc thể hành mà cả khi Thâm Tâm làm những loại thơ khác.

Với Nguyễn Bính, ngoài cái phần chung với nhóm thơ trên mà ông ít nhiều chịu ảnh hưởng của bạn bè, thể hiện trong vài trường hợp (chẳng hạn bài Hành phương Nam) thì thơ Nguyễn Bính được bao trùm bởi cái chất quê, như Hoài Thanh nhận định trong Thi nhân Việt Nam: “Ở Nguyễn Bính thì không thế. Người nhà quê của Nguyễn Bính vẫn ngang nhiên sống như thường. Tôi muốn nói Nguyễn Bính vẫn còn giữ được bản chất nhà quê nhiều lắm”. Thơ Nguyễn Bính phần lớn gần gũi với đời sống lam lũ quê mùa dù ông đang ở thành thị hay thôn quê. Từ ngữ nhiều khi quá dân dã đến nỗi một số nhà thơ thời ấy chê là ông làm hò vè: “Nuôi hai con lợn từ ngày xưa/Mẹ tôi đã tính “Tết thì vừa”/Trữ gạo nếp thơm mo gói bó/Dọn nhà, dọn cửa, rửa bàn thờ” (Tết của mẹ tôi). Ngay cả khi làm thơ tình thì Nguyễn Bính cũng quê mùa chất phác như thế: “Lòng em như quán bán hàng/Dừng chân cho khách qua đàng mà thôi/Lòng anh như mảng bè trôi/Chỉ về một bến chỉ xuôi một chiều” (Em với anh). Cái chất dân dã quê mùa, pha lẫn với một ít chất tráng ca, có lẽ ảnh hưởng từ Thâm Tâm, đã tạo nên một Nguyễn Bính khó có thể lẫn vào ai.
Đó là những nét đặc thù trong thơ Thâm Tâm và Nguyễn Bính, hai tác giả được nhiều người coi là T.T.Kh. Vậy còn thơ T.T.Kh thì sao? Ta hãy đọc lại vài khổ thơ của tác giả này: “Người ấy thường hay vuốt tóc tôi/Thở dài trong lúc thấy tôi vui/Bảo rằng hoa dáng như tim vỡ/Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi” (Hai sắc hoa ti gôn), “Anh hỡi tháng ngày xa quá nhỉ/Một mùa thu cũ một lòng đau/Ba năm ví biết anh còn nhớ/Em đã câm lời có nói đâu” (Bài thơ cuối cùng).
Bạn đọc thấy gì trong những câu thơ này? Rõ ràng đây là những câu thơ nỗi lòng của một người con gái khuê các, từ nhỏ tới lớn có lẽ quen sống trong cảnh mơ màng, không vướng bận chuyện đời thường. Nàng thích nhìn gió ngắm trăng mỗi khi cô đơn trong lòng. Nàng lại đọc tiểu thuyết mỗi khi buồn: “Buồn quá hôm nay xem tiểu thuyết/Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa”. Gia cảnh của nàng rõ ràng là khá giả. Không phải thuộc loại “Tết đến mẹ tôi vất vả nhiều/Mẹ tôi lo liệu đủ trăm chiều” như Nguyễn Bính hay “Sinh ta, cha ném bút rồi/Rừng nho tàn rụng cho đời sang xuân” như Thâm Tâm.
Ta lướt qua những bài thơ của T.T.Kh và thấy, tác giả là người có thói quen sử dụng từ ngữ hiện đại. Có lẽ tác giả được đi học trường Tây chứ không phải đi học trường làng. Ta không tìm thấy những từ ngữ làng quê hay từ ngữ có nguồn gốc Hán-Việt nhiều ở đây. Vả lại những câu thơ như câu “Người ấy thường hay vuốt tóc tôi/Thở dài trong lúc thấy tôi vui” quá là hiện đại. Tình yêu trong thơ Thâm Tâm hoặc thơ Nguyễn Bính đâu có như thế.
Ta cần nhớ rằng vào khoảng thời kỳ 1932-1938, văn xuôi cũng như thơ Việt Nam còn đang cố gắng tìm một sự thay đổi căn bản. Về thơ, đó là sự thay thế thể thơ Đường luật gò bó bằng thể thơ tự do, tức thơ mới. Đến năm 1936, cuộc cách mạng này coi như thành công mỹ mãn. Tuy nhiên có sự phân hóa. Một số tác giả muốn cách tân một cách mạnh mẽ cả nội dung lẫn hình thức trong khi số khác lại không muốn bị “Tây hóa” quá nhiều về mặt nội dung mà chỉ muốn đổi mới chỉ hình thức thôi. Xuất hiện một lớp nhà thơ “tân” bên cạnh những nhà thơ “cựu” vốn ít học chữ Tây. Văn chương của hai tầng lớp này có một sự khác biệt rất dễ nhận ra. Nếu như Xuân Diệu đạt đến đỉnh cao của sự ảnh hưởng thơ Pháp thì Thâm Tâm lại quay về với hồn thơ Đường còn Nguyễn Bính thì chìm đắm trong kho tàng ca dao, dân ca Việt Nam để góp phần tạo nên dòng thơ Việt.
Còn thơ T.T.Kh? Ngay cả Hoài Thanh vào năm 1942 cũng đã rất ngập ngừng không dám xếp hẳn thơ T.T.Kh vào dòng thơ Việt. Cho nên, giữa thơ Thâm Tâm, Nguyễn Bính và T.T.Kh không thể nào chung trong một dòng thơ được. Thâm Tâm và Nguyễn Bính “cựu” quá trong khi T.T.Kh thì lại rất “tân”.

Kỳ 3: T.T.Kh là “nàng” hay “chàng”?

Trần Đình Thu (Nguồn: Báo Thanh Niên)

Cướp biển giết một và bắt cóc sáu thuyền viên VN ở biển Philippines

BBC

Ảnh chụp không rõ ngày nhưng nhận được hôm 10/1/2017 cho thấy lực lượng duyên hải Philippines đang kiểm trả một thuyền đánh cáBản quyền hình ảnhSTR/AFP/GETTY
Image captionLực lượng duyên hải Philippines đang kiểm trả một thuyền đánh cá tại vùng biển do nước này kiểm soát

Một tàu vận tải thuộc Công ty cổ phần Vận tải biển quốc tế của Việt Nam bị cướp biển có vũ trang tấn công ở vùng biển Philippines vào chiều tối ngày 19/2/2017, giết chết một thuyền viên và bắt cóc 6 thuyền viên.

Chủ tàu Giang Hải thuộc công ty vận tải biển nói trên đã gửi báo cáo cho Bộ Giao thông Vận tải, Cục Hàng hải Việt Nam về vụ tấn công trong đó thuyền trưởng và hai thuyền phó cùng các thợ máy và thủy thủ hiện đang bị bắt cóc, và thuyền viên Vũ Đức Hạnh bị những kẻ tấn công bắn chết.

Được biết hiện tàu vận tải biển này đang đậu ngoài cảng Sandakan của Malaysia; cảnh sát Philipines đang phối hợp điều tra.

Đại diện Công ty Cổ phần Vận tải biển quốc tế được báo điện tử Giao thông trích dẫn cho biết tàu Giang Hải với thủy thủ đoàn 17 người đã bị tấn công khi đang trên đường đến Philippines, chở 4.500 tấn xi măng khởi hành từ cảng Biringkassi của Indonesia.

Phát ngôn viên lực lượng duyên hải Philippines, ông Armand Balilo, cho biết tàu bị cướp biển tấn công vào đêm Chủ nhật, cách Pearl Bank ở Tawi-Tawi thuộc tỉnh cực nam Philippines chừng 31 cây số.

Con tàu trôi nổi gần đảo Baguan của tỉnh này khi tàu cứu hộ của lực lượng duyên hải Philippines tìm thấy con tàu với 10 thuyền viên còn sống sót.

Những người Malaysia bị bắt cóc và bị giam giữ tại một trại của nhóm Abu Sayyaf tại rừng nhiệt đới trên đào Jolo, nam Philippines, ngày 27/05/2000Bản quyền hình ảnhROMEO GACAD/AFP/GETTY IMAGES
Image captionNhiều người Malaysia cũng đã từng bị nhóm Abu Sayyaf bắt cóc trong những năm gần đây

Phát ngôn viên quân đội Philippines, Đại tá Edgard Arevalo, nói còn quá sớm để nói được liệu những kẻ tấn công tàu có phải là thành viên của nhóm Hồi giáo cực đoan Philippines Abu Sayyaf chuyên bắt cóc người để đòi tiền chuộc đã hoạt động tại vùng biển này từ hàng chục năm nay hay không.

Vùng biển giữa Malaysia và nam Philippines đã trở nên ngày càng nguy hiểm trong những năm gần đây khi các nhóm Hồi giáo cực đoan Philippines quay ra cướp biển, lên tàu bắt cóc thuyền viên để đòi tiền chuộc.

Các viên chức hàng hải cảnh báo tình trạng kiểu “cướp biển Somalia” đang nổi lên tại vùng biển nếu những vụ tấn công như thế này không được xử lý.

Bộ trưởng Quốc phòng Philippines, Delfin Lorenzana, trước đó hồi trong tháng cho biết Philippines có kế hoạch yêu cầu Hoa Kỳ, đồng minh lâu năm của họ, tiến hành các cuộc tập trận chung tại vùng biển phía nam.

Hồi tháng 11/2016, một tàu của Việt Nam, tàu Royal 16 khởi hành từ Quảng Ninh trên đường vận chuyển xi măng đến Philippines cũng đã bị cướp biển tấn công ở vùng biển thuộc Philippines và bắt đi sáu thuyền viên.

Hồi năm 2012, 26 thủy thủ đã bị bắt trên con tàu đánh cá Đài Loan FV Naham 3, trong đó có ba người Việt Nam và các thủy thủ quốc tịch Philippines, Trung Quốc, Campuchia, Indonesia và Đài Loan.

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.02.2017

Na-uy đi tắm mùa Đông

Na-uy đi tắm mùa Đông


( Nguồn: Google )

Donald Trump ký sắc lệnh cấm chuyển kiều hối gây sốc hàng triệu người Việt !

 

Sắc lệnh bổ sung này còn yêu cầu Bộ Tài chính của Mỹ áp đặt hàng loạt quy định để giới hạn tối đa việc chuyển tiền ra khỏi nước Mỹ, nhằm giữ nguồn vốn để đầu tư trở lại nước Mỹ, tạo công ăn việc làm cho người dân như ông Trump đã hứa.

Sau hàng loạt sắc lệnh hành chính gây sốc như: sắc lệnh cấm nhập cư khiến công dân nhiều nước và những người đã có quốc tịch Mỹ và có thẻ xanh phải khốn đốn khi bị cấm nhập cảnh, 2 sắc lệnh ngân hàng cắt bỏ nhiều điều khoản trong đạo luật Dodd-Frank “cởi trói” cho các ngân hàng Mỹ vì “giới hạn các doanh nghiệp và gia đình vay tiền ngân hàng”. Giới chủ ở Phố Wall tỏ ra vui mừng cho rằng, nới lỏng các quy định sẽ tạo điều kiện cho các ngân hàng thúc đẩy hoạt động tín dụng, qua đó tạo việc làm cho người dân. Lãnh đạo phe Dân chủ tại Thượng viện Mỹ Chuck Schumer lên tiếng phản đối sắc lệnh rà soát đạo luật Dodd-Frank và cho rằng việc hủy bỏ văn kiện này sẽ mở đường cho giới tài chính “lộng quyền”. Tiếp nối chiến lược “nước Mỹ trên hết” như đã hứa khi tranh cử, Tổng thống Donald Trump lại đưa ra thêm một sắc lệnh bị cho là vi hiến.

768417797158515950_o

Tổng thống Donald Trump

Ngược lại, sắc lệnh mới chặn dòng tiền ra khỏi nước Mỹ, buộc các ngân hàng hành động “vì nước Mỹ”, đánh thẳng vào miếng cơm manh áo của nhiều kiều dân.

Không khí hoang mang không chỉ dậy lên trong lòng người Việt hải ngoại, mà lệnh cấm chuyển tiền ra nước ngoài, ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu gia đình ở Việt Nam có người thân đang sinh sống và học tập ở Mỹ. Thậm chí, còn gây sốc mạnh cho các nhà đầu tư của Mỹ vào Việt Nam. Dòng kiều hối về Việt Nam chắc chắn sẽ giảm mạnh, thậm chí là bị khựng lại.

Theo Ngân hàng Thế giới, tổng lượng kiều hối của toàn thế giới đạt tổng cộng khoảng 582 tỷ USD (năm 2015). Mỹ chiếm 19% số lượng di dân toàn thế giới. Di dân tại Mỹ gửi về nhà lượng kiều hối trị giá 133,5 tỷ USD (năm 2015). Trong đó các nước nhận kiều hối từ Mỹ lớn nhất là: Mêhicô; Trung Quốc; và Ấn Độ. Rõ ràng đây là nguồn tiền rất lớn chuyển ra khỏi nước Mỹ mà ông Trump muốn ngăn chặn.

kieuhoi

Sắc lệnh hành pháp mới của Tổng thống Mỹ cũng sẽ đánh thẳng vào túi tiền của các ngân hàng ở Việt Nam

Như chúng ta chứng kiến thời gian qua, nhiều trường hợp người Việt không làm sao được nhập cảnh vào Mỹ. Rồi lượng người Việt ở Mỹ về thăm quê hương cũng đã giảm mạnh, thậm chí tới đây còn có nguy cơ không được mang ngoại tệ ra khỏi nước Mỹ mang về Việt Nam.

Sắc lệnh hành pháp mới của Tổng thống Mỹ cũng sẽ đánh thẳng vào túi tiền của các ngân hàng ở Việt Nam đang cung cấp dịch vụ nhận và chuyển tiền kiều hối có kết nối với các ngân hàng tại Mỹ như JPMorgan Chase & Co, Ngân hàng hợp tác Mỹ, Citigroup, Wells Fargo & Co, Goldman Sachs Group và Morgan Stanley. Người dân ở Việt Nam muốn nhận được tiền từ người thân chỉ còn cách chuyển tiền qua các kênh “chợ đen”, dịch vụ ngầm. Tức là các dịch vụ chuyển tiền chui, không qua hệ thống ngân hàng, tuy nhiên, độ rủi ro cao.

Bản đồ: Kiều hối từ Mỹ và các nước tiếp nhận (năm 2015). Lượng kiều hối nhận tỷ lệ thuận với độ đậm trên bản đồ. Mỗi độ đậm tương ứng với một lượng kiều hối. Việt Nam ở trong số nước có màu đậm nhất.

Bản đồ: Kiều hối từ Mỹ và các nước tiếp nhận (năm 2015). Lượng kiều hối nhận tỷ lệ thuận với độ đậm trên bản đồ. Mỗi độ đậm tương ứng với một lượng kiều hối. Việt Nam ở trong số nước có màu đậm nhất.

Theo Ngân hàng Nhà nước, lượng kiều hối về Việt Nam trong năm 2016 đã giảm chỉ vào khoảng 9 tỷ USD, thấp hơn tới 25% so với mức dự báo tràn lạc quan là khoảng 12 tỷ USD. Ngay tại Sài Gòn, nơi có đến vài triệu người có thân nhân ở nước ngoài, tập trung đến 50% lượng kiều hối chuyển về Việt Nam cũng chỉ nhận được khoảng 4.3 tỷ USD thấp hơn dự kiến đến 10%.

Ngoài ra, dòng kiều hối đổ về Việt Nam còn phải chịu thêm lực cản rất lớn từ việc Fed tăng lãi suất USD, cùng với chủ trương nâng giá trị USD và không tham gia TPP của Tổng thống Donald Trump, khiến các nhà đầu tư, hay những người trước đây chuyển tiền về Việt Nam thì nay sẽ giữ USD để gửi tiết kiệm tại các quốc gia có lãi suất tiền gửi USD cao hơn là gửi về Việt Nam. Lượng kiều hối từ Mỹ chuyển về Việt Nam nhằm đầu tư vào sản xuất – kinh doanh để đón đầu TPP, thì nay cơ hội này không còn.

Tới đây, cùng với lệnh nhập cư của Trump đang ảnh hưởng mạnh mẽ đến tâm lý người Việt hải ngoại, thì nay lệnh cấp chuyển kiều hối mà Donald Trump vừa ký chắc chắn là cú sốc cho nhiều người Việt.

Không chỉ ở Việt Nam, tại những quốc gia đang phát triển khác, lượng kiều hối cũng bị sụt giảm mạnh do tác động của chính sách mới của Mỹ. Báo cáo mới nhất của World Bank cho hay, nguồn kiều hối đổ vào Ấn Độ – quốc gia có lượng kiều hối lớn nhất thế giới đã giảm 5% trong năm 2016. Kiều hối đổ vào các quốc gia khác như Bangladesh, Pakistan, Sri Lanka cũng lần lượt giảm 3,5%; 5,1% và 1,6%.20168c2c8489-29d3-4304-8832-ea0713c91d56

Bên cạnh chính sách quản lý ngoại hối, chính sách đối với người Việt Nam của Mỹ cũng có vai trò quan trọng không kém trong việc ngăn dòng kiều hối vào Việt Nam. Trước đây, vấn đề được các kiều bào rất quan tâm là mang tiền về đầu tư vào đâu, thì nay dù có chỗ cần đầu tư, thì họ cũng không thể đầu tư được vì sắc lệnh mới.

Sắc lệnh về kiều hối bất ngờ bắt đầu gây lo ngại lớn cho giới bất động sản Việt Nam. Bởi vì, đây là một nguồn tiền đáng kể cho thị trường địa ốc. Việc suy giảm bất ngờ của kiều hối cũng gây ra những lo lắng khác vì nó còn chảy cả vào lĩnh vực sản xuất, thị trường chứng khoán, vàng…

Dòng kiều hối còn chảy cả vào lĩnh vực sản xuất, thị trường chứng khoán, vàng…

Dòng kiều hối còn chảy cả vào lĩnh vực sản xuất, thị trường chứng khoán, vàng…

Những năm qua, dòng kiều hối là một trong những nguồn vốn bù đắp thâm hụt cán cân thương mại, giữ ổn định tỉ giá, làm tăng nguồn vốn đầu tư xã hội, góp phần lớn vào dự trữ ngoại hối của Việt Nam. Nay nguồn tiền này bị chặn, sẽ đảo lộn cuộc sống của hàng triệu gia đình và nền kinh tế của Việt Nam.

Để đối phó lại với thực trạng đi xuống không phanh của kiều hối, Chính phủ Việt Nam cần thực hiện gấp các chính sách ưu đãi cho người nhận tiền từ nước ngoài để cứu vãn dòng kiều hối về nước.

( Nguồn: Google)

Đến lượt ngư dân Quảng Bình tổn thất vì bùn nặng gần bờ

QTXM: PHẢI CHĂNG ĐÂY LÀ CHẤT THẢI CỦA MỘT XÍ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP ?

>> Kiểm tra bùn “lạ” phá lưới ngư dân trên biển

>> Bùn “lạ” kéo chìm lưới của ngư dân

(SGGPO).- Ngày 18-2, ông Nguyễn Phương Lâm, Bí thư Đảng ủy xã Ngư Thủy Nam, huyện Lệ Thủy (Quảng Bình) cho biết, ngư dân địa phương khi đánh bắt gần bờ từ đầu năm đến nay đều phát hiện lưới của họ bị bám bùn nặng như ngư dân tỉnh Quảng Trị.

Theo phản ánh của ngư dân lên chính quyền địa phương thì lưới của họ mỗi lần đánh bắt gần bờ đều bị loại bùn vàng đục như loại bùn xả xuống biển, loại này có nhầy, khi vướng vào lưới, gây ra sức nặng lớn, ngư dân rất khó khăn mới thu hồi lại lưới. 

Còn ông Lâm cho hay, đầu năm nhiều ngư dân trúng đậm cá khoai, nhưng khi bùn nặng xuất hiện, bám đầy lưới thì cá cũng không có.

Bùn ”lạ” dính vào lưới anh Bùi Đình Mười (tại Quảng Trị) khi đánh bắt gây thiệt hại nặng. Ảnh: NGỌC OAI

Hiện sự việc đã được báo lên UBND huyện để có hướng xử lý, riêng Sở Tài nguyên – Môi trường tỉnh Quảng Bình vừa tiếp nhận thông tin cũng sẽ vào cuộc lấy mẫu bùn xét nghiệm.

MINH PHONG

– See more at: http://www.sggp.org.vn/thongtincanuoc/mientrung/2017/2/449721/#sthash.xOPlOT04.dpuf

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.02.2017

BA NGƯỜI ĐẸP XUẤT SẮC CỦA THÁI LAN

BA NGƯỜI ĐẸP XUẤT SẮC CỦA THÁI LAN

Nong Poy, Lady Blossom, Hana là 3 mỹ nhân chuyển giới đẹp xuất sắc ở Thái Lan hiện nay.
Nga ngua khi biet 3 my nu 'nong ruc' nay tung la dan ong - Anh 1

1. Nong Poy: Cô được coi là một trong số những người chuyển giới đẹp nhất Thái Lan và nổi tiếng toàn thế giới. Người đẹp sinh năm 1986 đã phẫu thuật chuyển giới từ năm 17 tuổi.
Nga ngua khi biet 3 my nu 'nong ruc' nay tung la dan ong - Anh 2

Nong Poy (còn được biết với tên Poy hoặc Treechada Petcharat) đã tạo nên bất ngờ lớn cho ngành giải trí châu Á năm 2004 khi giành chiến thắng ở Miss International Queen – cuộc thi sắc đẹp lớn nhất dành cho người chuyển giới.
Nga ngua khi biet 3 my nu 'nong ruc' nay tung la dan ong - Anh 3

Cô là ngôi sao trong lĩnh vực thương mại và điện ảnh ở Thái Lan, khiến cho công chúng phải thay đổi cách nhìn đối với người phụ nữ chuyển giới.
Nga ngua khi biet 3 my nu 'nong ruc' nay tung la dan ong - Anh 4

Vẻ đẹp của Poy chẳng thua kém cô nàng hot girl nào, có thể thấy qua hàng tá hình ảnh của cô trên mạng xã hội. Để giữ vóc dáng, cô cũng rất chăm chỉ tập gym, yoga, và thi thoảng đi bơi, lặn.
Nga ngua khi biet 3 my nu 'nong ruc' nay tung la dan ong - Anh 5

Năm 2014, Poy đã giành chiến thắng giải thưởng Nhân vật Thái Lan của năm theo Sina Weibo nhờ những thành công về mặt truyền thông và diễn xuất trong các bộ phim điện ảnh.
Nga ngua khi biet 3 my nu 'nong ruc' nay tung la dan ong - Anh 6

Nong Poy diện trang phục truyền thống, vừa nền nã, đài các lại rất gợi cảm. Không ai tin được mỹ nhân này lại từng là con trai.
Nga ngua khi biet 3 my nu 'nong ruc' nay tung la dan ong - Anh 7

2. Hana (tên đầy đủ là: Nathachat Hana Chanchiew) năm nay 25 tuổi, cũng là một trong những mỹ nhân chuyển giới hàng đầu ở Thái Lan.
Nga ngua khi biet 3 my nu 'nong ruc' nay tung la dan ong - Anh 8

Ở quê nhà, cô nhận được nhiều lời khen ngợi và có nhiều tài năng chẳng kém gì Nong Poy.
Nga ngua khi biet 3 my nu 'nong ruc' nay tung la dan ong - Anh 9

Hana lọt vào top 10 Miss Tiffany’s Universe 2015 và đã ký hợp đồng với công ty quản lý người mẫu Apple Model Management.
Nga ngua khi biet 3 my nu 'nong ruc' nay tung la dan ong - Anh 10

Tên tuổi của cô càng được chú ý khi tham dự The Face Thái Lan mùa thứ 3. Người đẹp sở hữu lượng fan “khủng” ngay từ khi cuộc thi còn chưa bắt đầu.
Nga ngua khi biet 3 my nu 'nong ruc' nay tung la dan ong - Anh 11

Giữa một dàn thí sinh xuất sắc, Hana không những không bị lu mờ mà còn được đánh giá cao về độ cá tính. Không ai nhận ra cô là người chuyển giới.
Nga ngua khi biet 3 my nu 'nong ruc' nay tung la dan ong - Anh 12

Với vẻ đẹp hoàn mỹ cùng đôi chân dài miên man, nhiều cư dân mạng cho rằng cô nắm cơ hội rất lớn để trở thành quán quân The Face.
Nga ngua khi biet 3 my nu 'nong ruc' nay tung la dan ong - Anh 13

Hình thể nuột nà, chuẩn nữ tính của Hana khiến nhiều cô gái ngưỡng mộ.
Nga ngua khi biet 3 my nu 'nong ruc' nay tung la dan ong - Anh 14

3. Chananchida “Blossom” Rungpetcharat cũng tham gia chương trình The Face Thái Lan mùa thứ 3. Đây là mùa đầu tiên mà các người đẹp chuyển giới được phép “tranh tài”.
Nga ngua khi biet 3 my nu 'nong ruc' nay tung la dan ong - Anh 15

Chananchida thường được biết đến với nghệ danh là Lady Blossom, từng giành ngôi vị Á hậu 1 cuộc thi Miss Tiffany’s Universe 2013.
Nga ngua khi biet 3 my nu 'nong ruc' nay tung la dan ong - Anh 16

Người đẹp 25 tuổi sở hữu vẻ đẹp dịu dàng nhưng gợi cảm. Cô từng biểu diễn trên nhiều sân khấu thời trang với phong thái tự tin và chuyên nghiệp.
Nga ngua khi biet 3 my nu 'nong ruc' nay tung la dan ong - Anh 17

Lady Blossom được khen ngợi bởi gu thời trang tinh tế, thời thượng.
Nga ngua khi biet 3 my nu 'nong ruc' nay tung la dan ong - Anh 18
Cô còn sở hữu dòng sản phẩm thời trang riêng được bán trên mạng, gọi là Say Nothing.
Nga ngua khi biet 3 my nu 'nong ruc' nay tung la dan ong - Anh 19
Lady Blossom cũng được đánh giá là một trong những ứng cử viên sáng giá cho ngôi vị quán quân The Face Thái Lan năm nay.
Nga ngua khi biet 3 my nu 'nong ruc' nay tung la dan ong - Anh 20
Hình ảnh người đẹp đăng quang ngôi vị á hậu cuộc thi nhan sắc dành cho người chuyển giới.
( BÀI VÀ ANH DO NHÀ VĂN XINH ĐẸP TRẦN THÙY MAI CUNG CẤP)
Đăng bởi: Ngô Minh | 20.02.2017

CÓ MỘT TRIẾT LÝ ẨM THỰC HUẾ

 CÓ MỘT TRIẾT LÝ ẨM THỰC HUẾ

 

                                                                 Ngô Minh

 

         sach-2

Huế trải hơn 350 năm lịch sử là thủ phủ Chúa Nguyễn Đằng Trong và Kinh Đô nước Việt triều Nguyễn, nhân dân lao động cả nước đã tạo nên Di sản văn hóa thế giới . Một trong những đặc trưng nổi bật của văn hóa Huế  là văn hóa ẩm thực. Món ngon xứ Huế là món ngon Chăm xưa kết hợp với món ngon Việt , món ngon dân gian Huế và món ngon cả nước do giao lưu , hòa quyện với linh khí đất Thuận Hóa mà thành. Văn hóa ẩm thực Huế có một cội nguồn triết lý riêng để mãi trường tồn với thời gian.

Vì thế món ăn Huế, cách ăn Huế trở nên nổi tiếng đến mức định hình như một chuẩn mực, một phong cách. Có tới 1300 món ăn xứ Huế. Cuốn sách dạy nấu ăn của bà Hoàng Thị Kim Cúc ở Vĩ Dạ , người khơi nguồn cho bài thơ nổi tiếng Đây thôn Vĩ Dạ của thi sĩ họ Hàn  , đã giới thiệu công phu 60 thực đơn bốn mùa với  600 món ăn “’nấu theo lối Huế’’ (125 món ăn chay, 300 món ăn mặn, 175 thứ chè, cháo dưa mắm…) . Âu cũng dễ giải thích, bởi Huế là nơi Phủ Chúa, Cung Vua, nơi hàng mấy trăm năm qui tụ tinh hoa khắp mọi miền đất nước . Món quê mùa dân dã lại theo người đẹp, người tài, người sành điệu xâm nhập  cung vua phủ chúa, rồi được dọn lên bàn yến tiệc , thành quốc túy quốc hồn … Nhiều lần Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường kể với tôi rằng, chính bà Từ Cung , mẹ vua Bảo Đại, xuất thân là cô gái bán cháo bò xinh đẹp ở làng Mỹ Lợi , Phú Lộc đã được vua Khải Định đưa vào cung và trở thành một bà phi trong triều . Hay ông Trần Mao một đầu bếp giỏi trong cung Nguyễn , cũng là một người xuất thân ở làng quê Phú Lộc .Ông nấu cho vua ăn, nhưng về đến nhà ông là “quan triều” về làng , ông lại ăn các món do làng và vợ nấu ! Khi làng cần ,ông lại bày cho cách nấu các món “ cơm vua” Món yến tiệc cung đình vượt “ Tử cấm thành” về các làng quê, thành ra món chung của mọi người. Dần dà theo thời gian , các món ngon được định hình, lưu truyền và nâng cao thành nét Huế riêng không thể lẫn . Triết lí ẩm thực Huế là  một thực thể văn hóa , hòa quyện với tính cách con người và đặc điểm phong thủy đất Kinh Đô trăm năm mà thành.

 

Triết lý ẩm thực Huế lấy CON NGƯỜI  làm trung tâm . Con người sáng tạo ra  các món ăn để phục vụ cuộc sống của mình, làm cho đời sống ngày càng văn hóa hơn . Ngược lại văn hóa ẩm thực phải phục vụ con người, làm cho con người ngày càng văn minh, mạnh khỏe cả về tâm hồn và thể chất. Cho nên nấu ăn là sáng tạo nghệ thuật, ăn uống là thưởng thức nghệ thuật .Ngay từ “ăn” các Mệ Huế ngày xưa gọi là “ thời”. “ Mời Mệ thời cơm”. Chữ “ thời” nghe rất sang trọng, lại gần gũi hơn chữ “ xơi” ở miền Bắc. Từ hơn trăm ngăm trước, bà Trương Thị Bích, con dâu của thi sĩ Tùng Thiện Vương Miên Thẩm , trong Lời thưa đầu  sách Thực phổ bách thiên đã quan niệm  rất chí lý rằng :“ nấu nêm vừa miệng là ngon”, “ đồ ăn không phải hễ cá thịt thì ngon, mà dưa rau thì dở; chi ngon cũng được mà chi dở cũng được; ngon dở nơi tay mình; chớ có tại gì nơi rau thịt…”, “ Biết nấu ăn mới biết đi chợ, mà có biết đi chợ mới biết nấu ăn ; thịt theo chợ mà cá theo mùa, tính đã mới mua, mua vừa kho nấu…” .Tức là món ăn nào thỏa mãn nhu cầu thưởng thức của con người nhất thì được gọi là ngon, là sang.

 

Nổi bật nhất trong một mâm cơm Huế , dù là bữa cơm cung đình mà ta hay gọi là’’Cơm vua’’, hay bữa cơm bình dân trong mỗi gia đình, là tính hài hòa . Món ngon Huế  không chỉ ăn bằng miệng ,mà trước hết phải thích nhìn bằng mắt, mũi ngửi thấy thơm, cảm giác thấy thèm , tai nghe những âm thanh quyến rũ , tức là ăn bằng ngũ quan ! Hài hòa về màu sắc, hương vị, hài hòa về âm – dương, nóng – lạnh,  hài hòa trong bố cục chén, đũa, bát, dĩa . Vâng, hài hòa như tự nhiên, thiên nhiên. Một đĩa rau sống Huế chứa đựng cả một thế giới chan hòa màu sắc. Trong cái nền xanh đơm đầy sự sống ấy , nổi lên những ngôi sao vàng màu khế, miếng cà chua như mặt trời rực rỡ, màu ngà vàng của lát vả thái hình nửa vành trăng khuyết, điểm những lát chuối sứ màu trắng nõn, tròn xoe…Bạn có thể gắp trăng sao rực rỡ ấy cùng với thịt (heo) ba chỉ luộc kẹp với tôm chua nổi tiếng – một miếng ngon ấy thôi cũng có đủ chua, cay, mặn , ngọt, chát, béo, bùi hòa quyện thành sự thích thú khoái cảm nhớ đời. Đối với người Huế, trong một mâm cơm, hay theo từng mùa, các món ăn phải đảm bảo đủ yếu tố âm (mát) , dương (nóng) . Mùa nóng thì tăng cường các món ăn tính âm, mùa lạnh thì ngược lại cho cân bằng hàn nhiệt cơ thể. Ăn uống theo mùa là nguyên tắc lớn trong triết lý ẩm thực Huế . Xuân, hạ, thu, đông mùa nào cũng có thực đơn riêng, ngon mà rẻ. Ví dụ thịt vịt mát nên ăn vào mùa hè khí hậu nóng, thịt ga ấm, thịt heo nóng thì thường ăn vào mùa đông. Cá tràu, lươn … hàn nên phải dùng ném để chế ngự ; vịt, ốc, hến .. .mát nên phải dùng gừng .Vị cay là cực dương nên phải điều hòa bằng vị chua là cực âm..

 

Các loại bánh Huế thường được làm nhỏ và mỏng. Dọn ra mâm người ăn bao giờ cũng có cảm giác sẽ ăn hết , tức là món ăn không áp đảo, chế ngự con người. Đó là nghệ thuật, là triết lý hài hòa của ẩm thực Huế.  Ngay đến việc sử dụng bát đĩa đơm bày các món ăn, hay đũa bát để ăn cơm người Huế cũng sử dụng nguyên tắc hài hòa. Bát đựng thức ăn, đĩa đựng món ăn dù sang, đẹp cũng không to quá, không ‘’lấn’’ thức ăn. Bát ăn cơm cho khách không được to hơn bát bày trong mâm. Người Huế thường dọn cơm tiệc hay tiếp khách bằng loại chén kiểu (chén xưa, nhỏ). Món ăn như thế, bát đĩa như thế nên người ngồi ăn cũng thật tự nhiên. Không cảm thấy bị cách bức , gò bó – ăn uống tự nhiên mà lịch sự, từ tốn. Trong cách ăn, người Huế thường ăn nhẩn nha, nhấp nháp. Ăn bún, ăn phở người Huế xưa chỉ dùng đũa, không dùng vừa đũa vừa thìa vừa khều vừa múc như người Sài Gòn, Hà Nội. Khi ăn họ thường hồn nhiên bưng bát bún lên để húp, và. Ăn trứng vịt lộn người Huế cầm tay bóc đầu vỏ trứng rồi đưa lên miệng hút nước, sau đó bóc tiếp vỏ rồi cắn ăn , không dùng cốc để đựng trứng , thìa để múc như người Hà Nội, Sài Gòn. Cách ăn của người Huế thể hiện  quan niệm miếng ngon ở đời phải được tiếp xúc trực tiếp, không qua trung gian, cách biệt chăng ?! Trong Đặc san Đồng Khánh , Châu Nhật Nam viết về món ăn và chỗ ngồi ăn của Huế xưa rất lý thú :” Bánh đúc, bánh bèo phải ngồi chõng. Cháo môn, chè nếp ngồi bàn độc. Khoai nướng phải ngồi cạnh bếp trấu hoặc duới đụn rơm. Chè hột sen ngồi tràng kỷ, chè hột sen bọc nhãn phải ngồi sấp gụ..”.

 

Một nét hài hòa cần được nhấn mạnh trong ẩm thực Huế là ăn uống phải hài hòa với thiên nhiên, phong cảnh. Người Huế thường thích dọn bữa trong vườn. Thời bao cấp ,tôi làm chuyên viên ở Sở Thương mại Bình Trị Thiên ( cũ), một lần tiếp khách bạn Lào và các quan chức Bộ Thương mại , anh Phan Đình Chi, giám đốc Sở , một người Huế lịch lãm và từng trải, giao cho Công ty Thực phẩm “ đăng cai” tiệc. Giữa chiều , anh xuống kiểm tra , thấy anh em dọn bàn tiệc trong phòng hội trường, trong lúc đó, vườn nhà Viễn Đệ , nơi công ty đóng là một vườn cảnh tuyệt vời với hàng trăm giống hoa quý, có hồ bán nguyệt, có lầu thưởng trăng , có cả mấy cây hoa hoàng lan đang mùa nở hoa thơm ngát. Thế là ông Chi quyết định dọn tiệc ra vườn . Sau bữa tiệc, những người khách cứ xuýt xoa khen hoài, vì họ vừa ăn vừa được ngắm hoa ,ngắm bồng lai tiên cảnh . Ở Huế hiện nay, có rất nhiều nhà vườn đẹp đang được sử dụng để làm quán phục vụ ẩm thực cho người sành điệu . Tịnh Gia Viên là một vườn hoa cảnh quý phái gồm hàng trăm loại xương rồng, hàng trăm loài hoa trái được trồng tỉa tót trong vườn, trong chậu kiểng rất độc đáo. Ngang mắt hoa khoe sắc, bên tai chim hót.  Giữa cảnh trí như vậy, con người lại được ngồi nhâm nhi thưởng thức các món Huế thì không có gì đắc đạo bằng ! Ẩm thực Huế hài hòa là thế . Hài hòa là bản chất của Cái Đẹp vậy!

 

Các món ăn Huế nổi tiếng như cơm hến, bún bò giò heo, nem Huế, tôm chua – thịt luộc hay các lọai bánh khoái Thượng Tứ, bánh nậm, bánh bèo v.v…đều thể hiện một triết lý sống người Huế : Nghèo mà sang ! Nói cách khác triết lý ẩm thực Huế là nghệ thuật làm cho các thực phẩm bình dân hàng ngày trở thành những món ăn nổi tiếng , quyến rũ du khách bốn phương ! Có lẽ trên thế giới chưa có nơi nào các món ăn nổi tiếng được ghi trong sách du lịch quốc tế lại rẻ như ở Huế : Theo giá ở thời điểm đầu thế kỷ 21, khi tác giả viết bài này , cơm hến một bát hai nghìn rưỡi ,bánh bèo , bánh nậm một đĩa hai đến ba nghìn, bánh khoái Thượng Tứ một suất 5 nghìn ( nếu tính ra tiền “đô” thì chỉ từ 0,15 đến 0, 3 USD ) . Như món cơm hến nguyên liệu toàn loại rẻ tiền, không còn là món điểm tâm của ngườ bình dân nữa mà khách du lịch sang trọng bất cứ người nước nào đều tìm ăn! Bí quyết ở đâu? Xin thưa ở bàn tay tài hoa của người Phụ nữ Huế, và ở sự hữu hiệu của triết lý ẩm thực ‘’nghèo mà sang’’ , không phải ăn để no béo, mà ăn để thưởng thức sự tinh túy của trời đất cây cỏ, một triết lý văn hóa ăn rất Việt Nam.

 

Triết lý ẩm thực Huế còn thể hiện ở tính hướng thiện, hướng về tâm linh trong các món ăn. Như trên đã nói trong một mâm cơm Huế luôn có món mát, món ‘’âm tính’’ cân bằng với món nóng , món dương. Các món ăn có nguồn gốc thực vật cân bằng với động vật. Ấy là tính hướng thiện, hướng tâm trong văn hóa ẩm thực Huế. Thể hiện sâu sắc nhất đặc điểm này là cơm chay. Cơm chay xuất phát từ nhà chùa. Nhưng hiện nay ,ba phần tư người Huế  ăn chay, cả những người không đi chùa cũng ăn chay . Không trường chay thì ăn chay tháng hai lần. Người Huế cho rằng người ăn chay lành tính, điềm đạm . Cho nên ai cũng muốn ăn chay để dưỡng tâm tính !

 

Với người Huế, nấu món ăn là để thể hiện sự đam mê nghệ thuật nấu ăn cũng như người Huế đam mê thơ vậy. Nghệ thuật là’’sự chơi’’ ở đời. Chơi nấu ăn ở Huế  có lẽ là ’’sự chơi’’ hơn cả! Rau giá, quả vả, bắp chuối, mít xanh cũng ’’chơi’’ thành món ăn có hạng! Đến muối, vâng, muối thật, người Huế cũng chơi thành bữa ’’Cơm muối’’ sang trọng với hàng chục món khác nhau. Với quan niệm “ăn” trước hết là “ ăn bằng mắt” , nên người phụ nữ Huế rất dụng công trong việc tạo hình các món ăn một cách nghệ thuật, tạo nên sự truyền cảm mạnh mẽ mỗi khi ngồi vào bàn tiệc. Một đĩa rau sống được bày biện với nhiều loại rau có màu sắc khác nhau trông giống như một đĩa hoa! Món gà tần rút xương được nhồi theo hình voi, hình thỏ, hình rùa… rất sống động . Đĩa bánh nậm – chả tôm bày lên bàn tiệc được trang trí thêm nhưng trái ớt, cây hành, cà rốt cắt được tỉa thành những cánh hoa cúc, hoa đồng tiền, những lát chả tôm hình thoi màu hồng ở trên mặt có điểm thêm những nốt trứng vàng rồi xếp thành hình hoa cánh sao, ở giữa là quả cà chua tỉa thành đóa hồng , trông rất “ngon mắt” . Chả tôm dọn ra đĩa được xếp thành hình con tôm, bánh phất sau khi chế biến xong bày trên đĩa theo hình rẽ quạt, chả phụng được chế biến và bày lên đĩa thành hình con chim phụng ( phượng) y như thật.v.v.. Tất cả những “tác phẩm” tạo hình đó đều được hình thành do cảm hứng của người đầu bếp, không có sách vở nào dạy hết được ! Sách Thực phổ bách thiên có bài Tổng luận mở đầu rất chí lý:

Có khi cá thịt có khi rau

                                                Nấu nướng chiên xào phải đủ màu…

 

Người phụ nữ Huế nấu ăn rất kỹ, nhưng khi hò mái nhì đối đáp trên sông Hương thì họ lại hò rất tếu rằng :

                              ” Sáng mai ăn một bụng cơm no,

                                      Xách cái rổ đi chợ bến đò ,

                                      Mua chín cái trách, xách chín cái lò,

                                      Đem về :

                                                Cái kho canh ngò ,

                                                Cái kho canh cải,

                                                Cái nấu nải chuối xanh ,

                                                Cái nấu canh rau má,

                                                Cái nấu cá chim chim,

                                                Cái kho rim thịt vịt ,

                                                Cái kho thịt con gà,

                                                Cái kho cà, đu đủ ,

                                                Cái kho củ môn tây.

                                      Trời chiều bóng xế trăng xây,

                                      Ham chơi lê lựu, bỏ chín cái trách này quên nêm

Ây là hò lên cái lòng mình đối với nghề “ đầu bếp”, nói cái tình mình với Cái Đẹp , chứ “ ham chơi lê lựu” làm sao mà nhớ được việc mua trách, lò rồi nguyên liệu, gia vị để nấu chín món dân gian rành rẽ ngon lành thế được! Vâng, chơi cũng là một nét của triết lý ẩm thực Huế !

                                               

Món ăn Huế mới nhìn thì rất giản dị nhưng ăn thì ngon đến thấm thía   rồi đi xa lại nhớ, lại thèm. Hình như món Huế  có một hương vị gì đó quyến rũ như giai nhân , nó “ gây nghiện”, như ma lực cuốn hút đối với người ăn mà có lẽ còn ít ’” nhà Huế học’’ lưu tâm nghiên cưú.

( Rút từ sách ĂN CHƠI XỨ HUẾ, Ngô Minh, NXBTH, 2000)

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.02.2017

Lời giới thiệu sách “Vua Gia Long & người Pháp”

Nguyên Ngọc

image (2)

Cuốn sách này [*] là nỗ lực của nhà nghiên cứu Thụy Khuê nhằm làm một công việc quan trọng, đòi hỏi công phu lớn và một sự phân tích chặt chẽ, sáng suốt, cả mới mẻ và dũng cảm nữa: điều tra (lại) một cách thẳng thắn, như chính lời chị nói, mối quan hệ giữa Pháp và Việt Nam trong thời cận đại, khi nước Pháp đang sốt ruột đi tìm một chỗ đứng xứng đáng cho đại đế chế của nó ở phương Đông, còn Việt Nam thì phải đối phó với nguy cơ chưa từng có đến từ một đối thủ mới hoàn toàn xa lạ, lại trong điều kiện chính trị, xã hội, kinh tế và cả văn hóa cũng phức tạp như chưa từng có. Mối quan hệ đó liên quan đến vô số người không chỉ có thân thế, tính cách, địa vị và hành tung khác nhau mà còn xuất phát và chịu sự chi phối của vô số động cơ hết sức khác nhau. Trong đó nổi bật lên nhân vật có lẽ cũng vào loại kỳ lạ nhất trong lịch sử Việt Nam xét về cuộc đời chìm nổi hiếm có, tài năng, số phận ly kỳ và sự nghiệp của ông: Nguyễn Ánh – Gia Long. Và nhân vật thứ hai: những người Pháp gọi là đến “giúp ông” trong sự nghiệp ấy. Xoay chung quanh họ là hàng trăm, hàng nghìn khuôn mặt cũng vô cùng đa dạng và phức tạp, tác động đến họ và đến nhau, ảnh hưởng không nhỏ đến dòng chảy quanh co của sự việc.

Thụy Khuê nói “điều tra” (và chúng tôi xin phép thêm trong ngoặc đơn “lại”; chị còn nói rõ “một cách thẳng thắn”, bởi vì khi bắt tay vào công việc này, thì chị đứng trước một khối mênh mông mà chị gọi rất hay là “huyễn sử”. Xin chú ý “huyễn” chứ không phải “huyền”. Bởi có cái gọi là huyền sử, lịch sử được thể hiện một cách mờ ảo, như huyền thoại, lịch sử được che giấu dưới hình thức mờ ảo của huyền thoại. Và ta biết, từ huyền thoại trong một chừng mực nào đó và với sự thận trọng cần thiết, có thể lần ra ít nhất một số nét bóng dáng của lịch sử. Ở đây là chuyện khác, là huyễn sử, tức nói thẳng ra: lịch sử bịa đặt. Và là bịa đặt mênh mông, lớp lang và thâm hiểm. Vì sao và để làm gì? Như ai cũng biết, lịch sử bao giờ cũng được viết bởi kẻ chiến thắng. Bởi vì người ta vất vả chiến thắng rồi không phải chỉ để mà “chơi”, mà là để sử dụng nó cho công cuộc thống trị tiếp theo của họ. Và còn để thanh minh về mọi thứ họ đã làm bất chấp tất cả để đạt được chiến thắng ấy.

Có điều lạ, là ba trăm năm sau, khi kẻ chiến thắng và huyễn hoặc xưa đã bị đánh bật ra ngoài cuộc rồi, huyễn sử do họ tạo nên lại vẫn đang được sử dụng. Vì cái điều được gọi là lợi ích của ý thức hệ. Thật lạ và thật nghịch lý, khi lợi ích đó, nhằm cho phù hợp cho nó, lại khiến người ta không thoát được đầu óc nô lệ, một mực chỉ tin và dùng huyễn sử được bịa theo quan điểm thực dân, không ai thậm chí nghĩ đến việc đối chiếu chúng ít ra với bộ chính sự biên niên của triều Nguyễn về bốn triều Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, để thử nghe tiếng nói của chính người trong cuộc mà soi lại, cố gắng tìm ra khuôn mặt thật của tiền nhân trong một giai đoạn có ý nghĩa bước ngoặt của số phận dân tộc.

Thụy Khuê nói: “Việc làm của chúng tôi với Gia Long chỉ là bước đầu dò dẫm, khám phá và cố gắng tìm kiếm một số sự kiện chúng ta tưởng như thế mà sự thật không phải như thế. Những gì còn lại là cả một không gian và thời gian lịch sử mênh mông trước mắt chúng ta, chưa hề được khám phá và tháo gỡ để hiểu đâu là sự thực…”

Nỗ lực tìm cho ra đúng sự thật.

Bởi vì chỉ học đúng từ sự thật của lịch sử được “giải huyễn” khỏi mọi xuyên tạc và bịa đặt, của bên kia hay bên này, ngày trước và bây giờ, mới giúp được ta ứng phó với thách thức mới hôm nay.

Chúng ta trân trọng cám ơn nhà nghiên cứu Thụy Khuê vì bước mở đầu, cũng là mở đường, quan trọng này của chị.

25-11-2016

N. N.


[*] Saigon Books và NXB Hồng Đức 2017

Tiếp tục đề nghị xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh cho hai tác giả Xuân Quỳnh và Thu Bồn

 Ngày 17/2, ông Nguyễn Thái Bình- người phát ngôn của Bộ VHTT&DL cho biết Bộ trưởng Bộ VHTT&DL Nguyễn Ngọc Thiện, Chủ tịch Hội đồng cấp Nhà nước xét tặng “Giải thưởng Hồ Chí Minh”, “Giải thưởng Nhà nước” về văn học nghệ thuật năm 2016 đã ký Tờ trình số 31/T.Tr-HĐGT đề nghị tiếp tục xét tặng “Giải thưởng Hồ Chí Minh” về văn học, nghệ thuật năm 2016 đối với hai cố tác giả là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh và Hà Đức Trọng (Thu Bồn).

Tại tờ trình Bộ VHTT&DL kính báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, trình Chủ tịch nước xét tặng “Giải thưởng Hồ Chí Minh” về văn học, nghệ thuật cho 2 cố tác giả Nguyễn Thị Xuân Quỳnh và Hà Đức Trọng (Thu Bồn) có hồ sơ đủ điều kiện và tỷ lệ phiếu bầu đồng ý từ 90% trở lên của tổng số thành viên Hội đồng cấp Nhà nước, tuy thiếu Giải thưởng theo quy định tại Khoản 3 Điều 9 Nghị định số 90/2014/NĐ-CP của Chính phủ; nhưng các tác phẩm này được Hội đồng đánh giá có giá trị rất cao về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật; Có tác dụng to lớn phục vụ sự nghiệp cách mạng, ảnh hưởng rộng lớn và lâu dài trong đời sống xã hội, tác dụng giáo dục và định hướng thẩm mỹ cao cho thanh, thiếu niên; góp phần quan trọng vào việc thay đổi nhận thức của nhân dân trong sự nghiệp phát triển văn học, nghệ thuật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.  Kính trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, trình Chủ tịch nước xét tặng “Giải thưởng Hồ Chí Minh” về văn học, nghệ thuật cho 2 tác giả nêu trên.

Trước đó, nữ thi sĩ Xuân Quỳnh và Thu Bồn không có tên trong danh sách được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh hồi trung tuần tháng 1 vừa qua.  Người phát ngôn Bộ VHTT&DL cũng cho biết thêm, dự kiến lễ trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước trong lĩnh vực Văn học – Nghệ thuật sẽ được tổ chức vào 11/3, tại Hà Nội.

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.02.2017

Thủ Thiêm và di sản kiến trúc tôn giáo

Thủ Thiêm và di sản kiến trúc tôn giáo

MTGBản quyền hình ảnhNGUYỄN VĨNH NGUYÊN
Tu viện dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm đang đứng trước nguy cơ bị đập bỏ

Đứng từ bến Bạch Đằng, quận 1, TP.HCM ngày nay nhìn sang bên kia sông Sài Gòn, vẫn còn có thể thấy tiền cảnh ngôi nhà thờ nhỏ xinh, có tháp chuông thấp và dãy nhà ngói cổ kính của Hội dòng Mến Thánh Giá gợi cảm giác yên bình. Nhưng kỳ thực, số phận của quần thể kiến trúc tôn giáo có tuổi đời một thế kỷ rưỡi này bị đe dọa từ khi đồ án xây dựng Thủ Thiêm được nhà chức trách phê duyệt.

Sẽ bị san bằng?

Những tuyến đường mới đã được ủi thông, những công trình mới được đổ móng trên khu vực bãi bồi Thủ Thiêm, vùng vệ tinh chiến lược của Sài Gòn, nơi mà lòng đất đầm lầy còn ôm trong mình nhiều di chỉ các xưởng đóng tàu thời nhà Nguyễn và phế tích cảng Bến Nghé, kiến trúc cảng thị cổ cư dân xóm Tàu Ô năm xưa.

Báo Thanh Niên thuật lại quá trình làm đường và xây móng của khu đô thị mới Thủ Thiêm theo kiểu coi rẻ di sản: “Hàng trăm các loại hình cọc gỗ, mảnh thuyền, trong đó đáng chú ý là hệ thống cọc gỗ có chiều dài 3-4 m, đường kính thân khoảng 40-50 cm được vót đầu nhọn mang dáng dấp của những cọc gỗ chiến trận Bạch Đằng hiện đang trưng bày trong Bảo tàng Lịch sử – TP.HCM. Đây có thể là những cọc gỗ được sử dụng trong các trận thủy chiến thời chúa Nguyễn đánh Chân Lạp và là chiến trận của Tây Sơn đánh nhau với Nguyễn Ánh – Gia Long. Hay những thân cây gỗ đường kính 50 cm, dài 5-6 m, trên một đầu có lỗ mộng đục hình chữ nhật như những cây cột cái của kiến trúc cổ, có dấu tích của những căn nhà cổ dọc bến sông, cùng với đó là nhiều dãy cọc gỗ đóng gia cố hệ thống bến xưa của Bến Nghé có cấu tạo theo hàng dọc chạy dài hàng chục mét cũng đã phát lộ”.

Và cũng để giải phóng mặt bằng, một cuộc quật mồ trên danh nghĩa “khảo cổ” rất chóng vánh đã diễn ra tại Lăng Thành Hoàng An Khánh, thuộc khuôn viên Đình An Khánh vào tháng 4-2014 do Trung tâm bảo tồn di tích TP.HCM phối hợp với Bảo tàng Lịch sử và Khoa Giải phẫu – Trường đại học Y Dược TP.HCM tiến hành. Di cốt của một vị thành hoàng, mà giới chuyên môn cho rằng có thể đó là một vị tướng quân triều Nguyễn đã có công khai hoang lập ấp, trấn giữ những đồn lũy và xưởng tàu thời đầu thực dân dọc cánh tả sông Bến Nghé đã được quật lên, phân tích và báo cáo kết quả đúng thủ tục và quy trình.

Như đã nói, cuộc khảo cổ đình An Khánh thực ra chỉ là một hình thức ngụy trang cho việc quật mồ vị thành hoàng này mang đi hoàn táng nơi khác, nên diễn ra rất chóng vánh, vội vàng. Một vài thông tin khảo cổ được ném ra công luận thiếu trách nhiệm và sự tường tận, thuyết phục; nên không tránh khỏi sự bất kính đối với tiền nhân.

Lịch sử, hồ sơ khoa học của vị tiền nhân có công đức với vùng đất tiếp tục rơi vào bóng tối không âm không vọng cho những công trình hãnh tiến mọc lên.

Tiếp sau đó là vụ cưỡng chế chùa Liên Trì, dãy trường nam (của các cha cố tổ chức từ thời Pháp) bên cánh trái nhà thờ Thủ Thiêm đã diễn ra một cách vô cảm, bất chấp phản ứng của những tín đồ và các tu sĩ.

Đến nhà thờ Thủ Thiêm

Trước tết Nguyên Đán, những thánh lễ ở nhà thờ giáo xứ Thủ Thiêm vẫn diễn ra bình thường. Trong các thánh lễ, cha xứ cũng không nhắc đến chuyện số phận của ngôi nhà thờ này. Nhưng có một không khí âm ỉ lan rộng trong lòng giáo dân và các vị tu sĩ ở đây. Trước đó, trên Facebook lan truyền một thông điệp của Tổng lãnh sự quán Canada tại TP.HCM, đặt ra câu hỏi (nhưng cũng là trả lời): “Bạn nghĩ có nên phá hủy một di sản còn lâu đời hơn cả Canada?”. Tổng lãnh sự quán Canada tại TP.HCM nêu lập luận và truy vấn: “Theo kế hoạch phát triển khu đô thị mới Thủ Thiêm tại quận 2, chính quyền TP Hồ Chí Minh có dự định phá dỡ Tu viện Dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm và nhà thờ Thủ Thiêm để nhường chỗ cho khu đô thị mới. Tu viện được thành lập tại Thủ Thiêm vào năm 1840, nghĩa là đã ở đó được 177 năm (trong khi Canada vừa bước sang tuổi 150 năm nay). Bạn nghĩ thế nào nếu chúng ta hòa nhập những công trình mang tính lịch sử như thế này vào các khu đô thị mới thay vì phá dỡ chúng?”

MTGBản quyền hình ảnhNGUYỄN VĨNH NGUYÊN
Image captionNhà thờ Thủ Thiêm nhìn về trung tâm TP.HCM

Một lần nữa, sau vụ đại sứ quán Phần Lan lên tiếng bảo tồn một số hạng mục nội thất của Thương xá Tax, thì tổ chức ngoại giao nước ngoài đặt tại TP.HCM quyết liệt lên tiếng bảo vệ những di sản Sài Gòn xưa.

Nhưng trong một cơn lên đồng đập phá từ não trạng phát triển đầy bệnh hoạn thì những cuộc đấu tranh trên cùng sức ép dư luận, giới chuyên môn không làm thay đổi được gì. Thậm chí, đã có những vụ việc can thiệp di sản mà báo chí chính thống bị chỉ đạo lờ đi, không được nhắc đến.

Số phận những dãy nhà Hội dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm cùng ngôi nhà thờ đã là nhân chứng, biểu tượng một thế kỷ rưỡi về đời sống thanh bình ở một vùng dân cư bên sông, giáp với quận trung tâm Sài Gòn chưa biết sẽ về đâu. Nhìn cái cách di dời Lăng Thành Hoàng An Khánh, chùa Liên Trì hay khu trường nam không gớm tay, thì nhiều người cho rằng, chuyện san bằng một công trình kiến trúc tâm linh hơn một thế kỷ thì không khó tránh khỏi.

Đô thị vô hồn, nhân bản vô tính

Mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển là vấn đề muôn thuở, ở nhiều quốc gia, nhiều thành phố, không riêng gì Việt Nam. Nhưng sự khác nhau nằm ở chỗ trình độ xử lý và tầm nhìn phát triển, trang bị hiểu biết nhân văn của chính quyền, giới quy hoạch và giới đầu tư mỗi nơi mỗi khác. Ở đâu chính quyền, nhà quy hoạch và giới đầu tư hãnh tiến, trọc phú, thiển cận, lạm quyền và tư lợi thì ở đó mâu thuẫn trên trở nên gay gắt một mất một còn (và mất, bao giờ cũng là di sản, bởi di sản, nói cho cùng, không sinh ra nhiều tiền cho bằng các trung tâm thương mại hiện đại). Nhưng ở đâu có sự tiến hóa, văn minh trong phát triển đô thị nhân văn, tôn trọng tiếng nói công luận và giới chuyên gia thì không những hóa giải được sự mâu thuẫn kể trên, mà còn kiến tạo được không gian đô thị bền vững, theo nghĩa, vừa sinh ra sự sung túc vật chất, vừa đảm bảo giàu có về yếu tố tinh thần cho cư dân, cho sắc vóc đô thị tương lai.

Nói đâu xa, nhìn qua Phú Mỹ Hưng, một đô thị kiểu mẫu ra đời trước Thủ Thiêm khoảng 20 năm để thấy bài học của những đô thị nhân bản vô tính là gì. Trên đồ án quy hoạch, Phú Mỹ Hưng hiện đại như những khu đô thị thời toàn cầu hóa mà ta có thể gặp ở Singapore, Thượng Hải, Đài Loan… Nhưng, Phú Mỹ Hưng ngay từ đầu không quy hoạch không gian tôn giáo cho cư dân, nên trong gần 20 năm qua, cư dân ở đô thị kiểu mẫu này đã phải đến những vùng lân cận để lễ chùa, đi lễ nhà thờ mỗi chủ nhật. Lâu dần, giáo dân đông, nhưng không có điều kiện lập nên giáo xứ, những người công giáo đã tìm cách thiết lập một nhà nguyện nhỏ nằm trong một trường học mầm non (Mỹ Phước) để lễ lạc cuối tuần. Những người tín đồ Tin Lành Hàn Quốc sang đây sinh sống, làm việc cũng lấy văn phòng công ty làm nhà thờ để tập trung sinh hoạt tôn giáo tạm bợ. Sự mở mang nhiều không gian thương mại xa xỉ nhưng thiếu vắng không gian tâm linh khiến những cư dân tưởng đủ đầy sung túc trở nên nghèo nàn trong sinh hoạt tinh thần. Phú Mỹ Hưng đã tốn rất nhiều chi phí cho việc đầu tư phục dựng không gian sinh hoạt mang tính bản địa như chợ phiên, đường hoa xuân… để người dân gắn bó với hồn nơi chốn.

MTGBản quyền hình ảnhNGUYỄN VĨNH NGUYÊN
Image captionHội dòng Mến Thánh Gía Thủ Thiêm có tuổi đời hơn một thế kỷ rưỡi

Từ đó cho thấy không phải là việc cứ bứng mô hình bất cứ một đô thị nhân bản vô tính rồi đặt vào đâu cũng được, mà cần có tầm nhìn sâu hơn về lịch sử, nhân văn, giá trị văn hóa bản địa.

Phú Mỹ Hưng lẽ ra là bài học để Thủ Thiêm rút kinh nghiệm trước khi quá muộn. Nhưng có vẻ như chính quyền, những nhà quy hoạch và giới đầu tư đô thị này đã không chịu thấy (cho dù việc rút kinh nghiệm ở Thủ Thiêm có vẻ như rất dễ dàng- những di tích như đình, nhà thờ có bề dày lịch sử đã sẵn, chỉ cần biết bảo tồn, không cần phải xây mới!).

Lạ lùng thay, bên cạnh ý định “giải phóng mặt bằng” các công trình di sản tôn giáo, văn hóa dân gian thì bản quy hoạch đô thị mới Thủ Thiêm cũng không có một công trình sinh hoạt tâm linh, tôn giáo nào cho cư dân cả.

Trở lại câu chuyện nhà thờ Thủ Thiêm và Hội dòng Mến Thánh Giá. Khi tôi ngồi viết những dòng này, thì có tin chính quyền thông báo cho xe đến kéo đổ ngôi trường nữ bên cánh phải nhà thờ (trước 1975 có tên là trường Trung học thánh Anna; sau 1975 chính quyền mượn cơ sở xây dựng làm trường Tiểu học Thủ Thiêm) thuộc phần đất của Hội dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm.

Tiếng kèn ma quái lại rúc lên trên phần đất tôn nghiêm bên những đầm lầy, lau sậy và những building đang lên móng, hiện thực hóa những bản quy hoạch đô thị vô hồn và vô tri.

Nói thêm, nhà thờ Thủ Thiêm có khoảng trên 2.000 phần tro cốt của giáo dân nhiều đời. Cuối năm rồi, khi hay tin nhà thờ sẽ bị giải tỏa, nhiều Việt kiều đã về nước xin rước di cốt người thân mang đi nơi khác, số còn lại chưa biết sẽ ra sao. Người sống phấp phỏng cùng người đã khuất.

Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả, là người đang sống ở TP.HCM.

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.02.2017

“Hô khoan… xin mời tất cả xố con”

“Hô khoan… xin mời tất cả xố con”

(SGGP)

Đấy là một điệu hò trong 9 mái hò khoan ở Quảng Bình. Bất cứ ở đâu có câu hò vang lên, nơi đó sẽ có hát hò dân ca. Về vùng sông nước Lệ Thủy, ngay những đứa trẻ tiểu học đã biết sanh phách, đàn nhị… và hát hò đối đáp các điệu giã gạo, đưa linh… Thú vị hơn, điệu hò bản địa ấy đã bát ngát vang xa diễn xướng tận trời Tây.

“Bảo tàng” hò khoan cổ

Lệ Thủy (Quảng Bình) được ví là vùng đất của gạo trắng nước trong bởi sông Kiến Giang và phá Hạc Hải. Con người dung dị hiền từ, điệu hò khoan dung dưỡng cuộc đời mỗi người lớn lên ở vùng đất này. Nhà giáo hưu trí Trần Văn Khởi (70 tuổi, ở thị trấn Kiến Giang) cho biết: “Hò khoan Quảng Bình diễn xướng tại các làng quê từ xa xưa, ngày nay đã đóng đinh thành hò khoan Lệ Thủy, bởi người ở đây hát hò khoan nhiều nhất, diễn ra trong mỗi gia đình. Cho nên, Lệ Thủy như bảo tàng sống của hò khoan xứ Quảng Bình – mà nhiều làng xã đã mai một đi. Bất cứ ai muốn biết hò khoan Quảng Bình thì địa chỉ ưu tiên nhất là Lệ Thủy, nơi này còn nhiều tấm lòng yêu vô cùng vô tận điệu hò mà nhạc sĩ Hoàng Vân đã đưa vào bài Quảng Bình quê ta ơi.

Cụ bà Đỗ Thị Hồng Minh (80 tuổi, ở Liên Thủy) là minh chứng hò khoan trở thành mạch nguồn và nhân cách sống từ nhỏ. 12 tuổi, thời làng quê không ánh điện, người ta đưa cối giã gạo ra bên bờ sông dưới ánh trăng, cụ theo phụ việc. Giã gạo ngày xưa khi ấy cứ thế hát hò. “Ngày xưa ít học, chữ nghĩa không có nhưng theo anh em, ba mẹ đi giã gạo thì hò khoan thấm dần, thấm dần mà lớn lên”, cụ Minh vừa nói vừa hát: Lệ Thủy gạo trắng trong/ Ai về Lệ Thủy thong dong con người…, rồi cụ xướng lên điệu cổ thuộc làu từ thời con gái: Thiếp xa chàng đêm mơ ngày tưởng/ Như ngọn gió nồm vất vưởng mùng vi/ Vì ai con hạc nọ lại phải xa quy/ Thôi em vuốt lá gan chịu chữ từ bi cho thấu trời/ Đã xa nhau thì xa cho mất/ Đã gần thì cho thành thất thành gia/ Đừng như con bướm nọ với hoa/ Lâu lâu đáo tới, dạ ta thêm buồn…

Hò khoan ở Lệ Thủy có đến 9 mái được tục truyền tên cổ từ xưa, gồm mái chè, mái nện, mái xắp, mái ba, mái ruổi, mái nhì, hò khơi, hò nậu xăm, hò lỉa trâu. “Hô khoan xin mời tất cả xố con” được cụ Trần Khởi giải thích từ “xố con” có nghĩa mời bà con cùng hò lên để động viên cho người hò chính có cảm hứng hát tiếp, nó cũng là cách truyền sức trong việc sáng tạo ra câu hò trong cuộc sống lao động, giao duyên từ vùng biển đến đồng bằng, trung du và miền núi. Đã ghé Lệ Thủy, nhất định phải nghe những điệu giao duyên hay khó tả. Nghệ nhân Nguyễn Thị Lý và nhóm của chị có 21 thành viên trong câu lạc bộ hò khoan địa phương, đây là câu lạc bộ tốt nhất trong trình diễn bởi chất giọng, sự cuốn hút, cách luyến láy truyền cảm hứng để người nghe cùng “hố khoan”.

Hò khoan Lệ Thủy trong một lần biểu diễn ở Bắc Ninh. Ảnh: TRẦN KHỞI

Người hát hò khoan ở Lệ Thủy còn xướng lên những câu rất hiếm gặp trong kho tàng dân ca ba miền: Con chim phụng hoàng bay ngang giữa chợ/ Nó hỏi chàng rằng đã có vợ hay chưa/ Hay là ôm duyên dạo miền sơn thủy/ Đi sớm về trưa một mình/ Con chim phụng hoàng bay qua hòn núi bạc/ Con cá ngư ông vọng nước ngoài khơi/ Tình thương đây đó đò ơi/ Long vân gặp bạn còn chờ bạn sang. Họ cứ hò qua hụi lại, xố con rồi xố lên theo điệu “khoan ơi hố khoan ơi là hố” đến đoạn cao trào: Gái xuân đi chợ Hạ mua con cá thu về chợ hãy còn đông/ Anh nói với em rằng em đã có chồng/ Tức mình em đổ cá xuống sông em về. Nghe vậy nam lại lên tiếng: Thầy mẹ bên nhà nói em đã có chốn xe dây/ Nay em tức mình đổ cá, đổ cá rứa hỏi mẹ thầy ăn chi?

Lạ nhất, hát cổ mà có những câu đắt như thế này: Gặp chàng đây nỉ năn trò chuyện/ Kẻo mấy lâu nay hiền viễn xôi xa/ Kể từ ngày sa lời hẹn, đêm thiếp nằm không ngủ/ Ngày cứ thiết tha với mối tình/ Là hỡi thiếp ơi lời chào cao hơn mâm cỗ/ Chàng gặp được thiếp như giữa chỗ vàng chôn/ Chứ có may đâu mà con trai lành lại gặp gái khôn/ Là như con cá gáy nằm giữa ao môn hóa rồng.

Toàn huyện phổ cập hò khoan

Ngày nay về Lệ Thủy, đi đâu cũng được nghe hò khoan, nó khác với ví dặm, quan họ Bắc Ninh hay vọng cổ miền Nam, đang lo lắng khó tìm đội ngũ kế cận sau này.

Hò khoan ở Lệ Thủy đã được phổ cập không chỉ ở vùng đồng bằng, miền biển mà ngay như người Vân Kiều vẫn hát được hò khoan một cách thuần thục. Ấy là bắt đầu từ một chiến lược bảo tồn từ cách đây 6 năm. Những nghệ nhân cao tuổi, những người tâm huyết với hò khoan đã đề đạt nguyện vọng đưa hò khoan vào giảng dạy trong trường học. Lãnh đạo huyện, HĐND huyện biểu quyết thông qua. Một chương trình dài hơi được hình thành. Phòng Giáo dục – Đào tạo huyện đã triển khai môn học dân ca dân vũ hò khoan từ bậc mầm non đến hết cấp 3, tạo ra một huyện rộng lớn phổ cập hết các làn điệu hò khoan trong hàng ngàn hàng vạn học sinh.

Ông Hoàng Đại Hữu, Chủ tịch Hội Văn hóa nghệ thuật huyện, đánh giá: “Hò khoan đã được tiếp sức để bám sâu vào cội rễ lòng người, đặc biệt là thế hệ trẻ. Nay làng nào cũng có câu lạc bộ hò khoan, hoạt động rất tốt. Bọn trẻ học trong trường, cuối tuần được truyền dạy bởi người già, chúng rất thích hò khoan vì chúng sinh ra và lớn lên ở đây, biết cách để bảo tồn hò khoan theo cách sống động nhất”. Từ đó mà con em Lệ Thủy, như chị Nguyễn Thị Phong Thủy vào Huế làm ở Đoàn Nghệ thuật cung đình Huế, hát hò khoan có tiếng cũng mang ca từ diễn xướng này đến các rạp diễn ở châu Âu như Pháp, Bỉ, Hungari… và được đón nhận nhiệt tình.

Các nhà nghiên cứu ở Viện Âm nhạc Việt Nam, các chuyên gia văn nghệ dân gian ở Hà Nội đang làm hồ sơ đệ trình hò khoan Quảng Bình lên UNESCO công nhận di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Nhà nghiên cứu ca dao dân ca Nguyễn Hùng Vĩ nói: “Trong một lần tôi được trò chuyện với GS-TS Trần Quang Hải, con trai cố GS-TS Trần Văn Khê, ông có nói rằng nếu như chỉ riêng một điệu Dạ cổ hoài lang được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể nhân loại thì đến hò khoan Lệ Thủy, chỉ điệu hò “mái xắp” cũng sẽ làm nên được điều kỳ điệu đó”.

Hò khoan Lệ Thủy đã vậy, hò khoan Quảng Bình còn bát ngát vang xa.

MINH PHONG

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.02.2017

Hộ khẩu đã hết thời của nó

Hộ khẩu đã hết thời của nó

 LÊ THANH PHONG ( Lao Động)

“Tại sao mại dâm, trộm cướp, ma túy vào đây các anh không quản lý hộ khẩu, không yêu cầu hộ khẩu mà những chuyên gia giỏi lại bắt hộ khẩu là sao?”, đó là vấn đề Bí thư Đinh La Thăng đưa ra tranh luận tại buổi làm việc với Sở Khoa học và Công nghệ TPHCM ngày 17.2.

Tranh luận được đặt ra là vì Sở Khoa học và Công nghệ đề cập đến việc tuyển dụng nhân sự phải có hộ khẩu TPHCM. Đến thời buổi này rồi mà vẫn còn tư duy lạc hậu như vậy thì ai cũng phải bức xúc, cái vòng kim cô hộ khẩu còn làm khổ dân đến bao giờ đây?

Thời của thế giới phẳng, thế giới cong; thời của hội nhập, của toàn cầu hóa được nói ra rả trên báo đài; thời của công dân toàn cầu với những người không phân biệt quốc gia, sắc tộc có thể xách túi đi làm việc xuyên lục địa, vậy mà TPHCM tuyển dụng con người vào cơ quan nhà nước làm việc thì đòi phải có hộ khẩu tại địa phương, thế thì nói đến văn minh và hội nhập sao được. Ông Nguyễn Việt Dũng – Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TPHCM – đề nghị bỏ quy định về hộ khẩu trong tuyển dụng công chức, người lao động là hoàn toàn phù hợp. Đến bây giờ mới đưa ra đề nghị này là quá muộn, nhưng muộn còn hơn không.

Bí thư Đinh La Thăng đưa ra ví dụ về các loại tệ nạn xã hội để nhấn mạnh rằng, hãy siết chặt quản lý cái đáng siết, còn thu hút nhân tài cần phải mở rộng cửa. Thời nay, các cơ quan nhà nước có một cuộc cạnh tranh nguồn nhân lực gay gắt với các đơn vị, tổ chức phi nhà nước. Người có thực tài không cần chạy chọt, họ có nhiều nơi để thi thố tài năng mà không cầm bám vào chiếc ghế công chức và quan chức. Doanh nghiệp tư nhân và các tổ chức khác sử dụng người có năng lực và chuyên môn cao, vậy thì nguồn nhân lực chất lượng thấp hơn lọt vào cửa nhà nước.

Đó là lý do tại sao doanh nghiệp nhà nước không cạnh tranh lại với doanh nghiệp tư nhân, đó cũng là lý do tại sao các sản phẩm quản lý của chính quyền một số nơi không theo kịp yêu cầu của người dân và doanh nghiệp, chính sách chạy theo sau những thay đổi của chính đời sống xã hội.

Bỏ ngay hộ khẩu trong tuyển dụng công chức viên chức, và tiến tới loại bỏ hoàn toàn quy định hộ khẩu. Người dân đã quá phiền hà vì hộ khẩu, người dân không muốn có sự tồn tại của hộ khẩu, người dân mong muốn có một hình thức quản lý công dân văn minh và hiệu quả.

Hộ khẩu đã hết thời của nó.

 Báo Lao Động

“Tại sao mại dâm, trộm cướp, ma túy vào đây các anh không quản lý hộ khẩu, không yêu cầu hộ khẩu mà những chuyên gia giỏi lại bắt hộ khẩu là sao?”, đó là vấn đề Bí thư Đinh La Thăng đưa ra tranh luận tại buổi làm việc với Sở Khoa học và Công nghệ TPHCM ngày 17.2.

Tranh luận được đặt ra là vì Sở Khoa học và Công nghệ đề cập đến việc tuyển dụng nhân sự phải có hộ khẩu TPHCM. Đến thời buổi này rồi mà vẫn còn tư duy lạc hậu như vậy thì ai cũng phải bức xúc, cái vòng kim cô hộ khẩu còn làm khổ dân đến bao giờ đây?

Thời của thế giới phẳng, thế giới cong; thời của hội nhập, của toàn cầu hóa được nói ra rả trên báo đài; thời của công dân toàn cầu với những người không phân biệt quốc gia, sắc tộc có thể xách túi đi làm việc xuyên lục địa, vậy mà TPHCM tuyển dụng con người vào cơ quan nhà nước làm việc thì đòi phải có hộ khẩu tại địa phương, thế thì nói đến văn minh và hội nhập sao được. Ông Nguyễn Việt Dũng – Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TPHCM – đề nghị bỏ quy định về hộ khẩu trong tuyển dụng công chức, người lao động là hoàn toàn phù hợp. Đến bây giờ mới đưa ra đề nghị này là quá muộn, nhưng muộn còn hơn không.

Bí thư Đinh La Thăng đưa ra ví dụ về các loại tệ nạn xã hội để nhấn mạnh rằng, hãy siết chặt quản lý cái đáng siết, còn thu hút nhân tài cần phải mở rộng cửa. Thời nay, các cơ quan nhà nước có một cuộc cạnh tranh nguồn nhân lực gay gắt với các đơn vị, tổ chức phi nhà nước. Người có thực tài không cần chạy chọt, họ có nhiều nơi để thi thố tài năng mà không cầm bám vào chiếc ghế công chức và quan chức. Doanh nghiệp tư nhân và các tổ chức khác sử dụng người có năng lực và chuyên môn cao, vậy thì nguồn nhân lực chất lượng thấp hơn lọt vào cửa nhà nước.

Đó là lý do tại sao doanh nghiệp nhà nước không cạnh tranh lại với doanh nghiệp tư nhân, đó cũng là lý do tại sao các sản phẩm quản lý của chính quyền một số nơi không theo kịp yêu cầu của người dân và doanh nghiệp, chính sách chạy theo sau những thay đổi của chính đời sống xã hội.

Bỏ ngay hộ khẩu trong tuyển dụng công chức viên chức, và tiến tới loại bỏ hoàn toàn quy định hộ khẩu. Người dân đã quá phiền hà vì hộ khẩu, người dân không muốn có sự tồn tại của hộ khẩu, người dân mong muốn có một hình thức quản lý công dân văn minh và hiệu quả.

Hộ khẩu đã hết thời của nó.

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.02.2017

Ông Lê Kiên Thành nói về cha và ngày 17/2/1979

Ông Lê Kiên Thành nói về cha và ngày 17/2/1979

Sáng 17 tháng 2 năm 1979, khi chúng ta vừa mới ra khỏi cuộc kháng chiến chống Mỹ, súng đã bất ngờ nổ đỏ dọc một rẻo đất hẹp ở biên giới phía bắc. Nhà cầm quyền Trung Quốc muốn chúng ta cảm nhận được sức nặng của một tỷ người đến cỡ nào. Trước sự ngoan cường của người Việt Nam, 3 tuần sau họ đã phải rút quân về nước.

 

Thiếu tướng Lê Mã Lương có nhận định rằng sau 1975, Tổng bí thư Lê Duẩn là người đầu tiên khẳng định Trung Quốc sẽ đánh Việt Nam, trong khi đó, nhiều tướng tá vẫn tin rằng khả năng này ít xảy ra. Sự nhận thức về khả năng xảy ra một cuộc chiến tranh của ông Lê Duẩn bắt đầu từ thời điểm nào, thưa ông?

Ông Lê Kiên Thành: Đấy là thời điểm xa hơn đấy rất nhiều, chắc từ những năm đầu thập niên 1960. Trong một chuyến đi thăm Trung Quốc, trong cuộc tiếp Mao Trạch Đông hỏi Việt Nam có bao nhiêu dân, ông Lê Duẩn trả lời là 30 triệu. Sau đó, Mao Trạch Đông hỏi về dân số của Lào, Campuchia, Thái Lan. Khi đó, Mao Trạch Đông nói “Thế thì ít quá, tôi sẽ dẫn 400 triệu bần nông xuống làm cách mạng ở Đông Nam Á”. Hồi đó dân số Trung Quốc vào khoảng 700 triệu.

Sau này có lúc Trung Quốc muốn đưa 200 xe ô tô tải giúp chúng ta chở hàng vào miền Nam với điều kiện lái xe là người Trung Quốc. Ông Ba kiên quyết không nhận cái xe nào. Giữa cuộc họp, ông đập bàn nói rằng thà không có còn hơn đưa sinh mệnh của đất nước vào sự nguy hiểm.

Thực ra, trong suốt cả cuộc kháng chiến, Trung Quốc ủng hộ mình bao nhiêu thì họ cũng luôn nghĩ về lợi ích của họ bấy nhiêu. Thế nhưng thiếu sự ủng hộ của họ, chúng ta cũng không chiến thắng được.

Ông Lê Kiên Thành nói về cha và ngày 17/2/1979
Ông Lê Kiên Thành (Ảnh do tác giả cung cấp)

Liệu có phải sự cảnh giác từ rất sớm đó góp phần khiến ông Lê Duẩn bị đánh giá là quá quyết liệt trong mối quan hệ với Trung Quốc thời kỳ sau 1975?

Ông Lê Kiên Thành: Ông ấy quyết liệt đủ đến độ để họ không thể hiện dã tâm từ đầu. Nhưng cũng ít đến độ họ vẫn phải tiếp tục ủng hộ mình. Nhiều người nói là vì ông găng quá nên xảy ra cuộc chiến. Nhưng tôi nghĩ điều đó sai.

Nếu nhìn về lịch sử từ xưa đến nay sẽ rõ. Cho nên đừng mơ hồ chuyện đó.

Có một hình ảnh rất hay là bầy sư tử khi ngủ, nó luôn quay về phía mà nó nghĩ là có kẻ thù mạnh hơn. Sư tử là kẻ mạnh nhất trong khu rừng mà còn cảnh giác đến độ như vậy huống hồ chúng ta.

Năm 1979, đất nước chúng ta vừa ra khỏi cuộc chiến tranh có 4 năm. Với chúng ta bây giờ bốn năm là một khoảnh khắc. Còn đối với một dân tộc vừa đi ra khỏi một cuộc chiến tranh hàng chục năm, trên người đầy vết thương, đầy tang tóc…bốn năm đó thực sự đáng giá.

Thế nhưng, súng đã nổ trên một rẻo đất hẹp ở biên giới phía Bắc. Trong tất cả lịch sử chiến tranh của đất nước chưa bao giờ có chuyện như thế. Nước Mỹ mang 500.000 ngàn quân nhưng phải trải qua một thời gian rất dài, trong một không gian rất rộng gồm cả miền Nam.

Nhà cầm quyền Trung Quốc muốn chúng ta cảm nhận được sức nặng của một tỷ người đến cỡ nào. Nhưng chúng ta đã chứng tỏ cho họ thấy điều đó là vô nghĩa. Từ biên giới vào có mười mấy cây số nhưng 1 tháng sau họ mới đặt chân được vào thành phố Lạng Sơn. Đó là điều ngay cả người Trung Quốc cũng không nghĩ tới.

Sau này, tướng tá Trung Quốc đều nói với phương Tây rằng họ không tưởng tượng được tổn thất có thể khủng khiếp như thế. Hồi đó, chúng ta chỉ có một sư đoàn đóng ở biên giới, còn lại là dân quân, tự vệ, bộ đội địa phương. Trong khi đó Trung Quốc sử dụng tới 600.000 quân, tức là 60 sư đoàn.

Ông Lê Kiên Thành nói về cha và ngày 17/2/1979
Hình ảnh thị xã Cao Bằng bị quân Trung Quốc bắn phá tan hoang do nhiếp ảnh gia Trần Mạnh Thường ghi lại. Ảnh tư liệu.

Một số tài liệu nói rằng, trong cả hai chuyến thăm Trung Quốc trên cương vị Tổng bí thư năm 1975 và 1977, ông Lê Duẩn đều rút ngắn thời gian và không tổ chức tiệc đáp lễ như truyền thống?

Ông Lê Kiên Thành: Đó là thông tin sai, tất cả những chuyến thăm ấy đều trọn vẹn.

Thật ra đến năm 1976 hoặc trước đó, ông có gặp Đặng Tiểu Bình và hai người vẫn nói chuyện với nhau vẫn rất tình cảm. Chính Đặng Tiểu Bình là người nêu vấn đề là chuyện mấy hòn đảo đừng nói của ai vội, đấy là vấn đề lịch sử mà chúng ta đều phải bình tĩnh nhìn nhận.

Đặng Tiểu Bình với ông Ba có những mối quan hệ cá nhân rất khăng khít. Sau này, khi Đặng Tiểu Bình bị cách mạng văn hoá vùi dập, mỗi lần đi thăm Trung Quốc, ông vẫn tìm cách liên lạc với Đặng Tiểu Bình.

Cho nên, chuyện năm 1979 đối với ông Ba là một sự phản bội cá nhân của tình cảm giữa hai người bạn.

Giai đoạn 1978, ông Đặng Tiểu Bình đi thăm nhiều nước và tuyên bố sẽ dạy cho Việt Nam một bài học. Khi đó, ông Lê Duẩn nghĩ gì?

Ông Lê Kiên Thành: Về mặt cá nhân thì tôi không rõ, nhưng hai con người đó cũng là hai con người có trách nhiệm với hai Tổ quốc. Chắc là họ cũng chỉ nghĩ nhiều về Tổ quốc hơn là nghĩ về cá nhân. Đặng Tiểu Bình sẽ nghĩ là làm thế nào cho Trung Quốc tốt nhất và ông Lê Duẩn sẽ nghĩ làm thế nào cho Việt Nam tốt nhất. Đối với những con người ở vị trí đó, cái cá nhân như chúng ta vẫn nói là thứ gì đó rất khác.

Nhưng tôi thấy một lần ông đọc báo Nhân Dân và khi thấy vẽ tranh biếm hoạ đả kích Đặng Tiểu Bình thì ông ấy nhăn mặt nói: “Ba không bao giờ muốn người ta đả kích nhằm vào cá nhân như vậy”. Cái đó một phần vì ông là bạn của Đặng Tiểu Bình.

Từ 1977, những văn kiện gửi cho quân khu Quảng Châu nhấn mạnh tinh thần phải chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh. Tại sao đến thời điểm đó, vẫn có rất ít người dự đoán được thời điểm Trung Quốc tấn công Việt Nam?

Ông Lê Kiên Thành: Trước chiến tranh nổ ra, có mời thư ký của ông Nguyễn Duy Trinh đến nói chuyện với cán bộ về tình hình và các khả năng. Ông nói hết tình hình, khả năng như nào, logic thì nó sẽ thế nào.

Vậy, những động thái từ phía Việt Nam để chuẩn bị cho một cuộc chiến ở phía Bắc thực ra đã bắt đầu từ thời điểm nào?

Ông Lê Kiên Thành: Có lẽ từ khi chúng ta giúp Campuchia tiêu diệt chế độ Polpot. Chúng ta vẫn nghĩ rằng chiến tranh nếu nổ ra chắc vẫn còn xa. Còn gần đến cỡ đó thì ít người nghĩ đến thật.

Chỉ hai tuần sau Tết, ngày  17/2, Trung Quốc bất ngờ nổ súng trên toàn tuyến biên giới phía Bắc?

Ông Lê Kiên Thành: Thật ra, ngày đó là ngày cưới của tôi. Tối hôm đó tôi cưới thì sáng Trung Quốc nổ súng đánh biên giới. Tối hôm đó vẫn rất bình thường. Sau này, có người nói sao đánh nhau lại còn cưới. Nhưng họ không hiểu rằng trong cuộc kháng chiến, có rất nhiều đám cưới trên chiến hào, trong hầm trú bom.

Bởi vì, cuộc kháng chiến của mình dài quá, nhiều trẻ em sinh ra trong tiếng bom nổ. Nếu chúng ta không tạo ra được cuộc sống bình thường trong cuộc chiến đấu này, chúng ta không thể duy trì cuộc chiến tranh dài đến thế.

Đấy cũng là lý do để sau này tôi muốn con tôi cháu tôi nhớ rằng cha mẹ, ông bà đã làm đám cưới trong một ngày trên biên giới phía bắc, tiếng súng của sự dã man và phản bội đã vang lên.

Tổng bí thư Lê Duẩn có tham dự đám cưới của con trai mình không?

Ông Lê Kiên Thành: Có chứ. Có cả ông Trường Chinh và nhiều thành viên Bộ Chính trị. Lãnh đạo đơn vị tôi cũng có mặt ở đó. Họ căng thẳng lắm khi nghe Trung Quốc đánh trên toàn tuyến. Nhưng khi đến đám cưới mọi người nói chuyện bình thường, nét mặt các ông lãnh đạo bình thường. Ở các ông già toát lên một sự tự tin ghê gớm.

Ừ thì cuộc chiến xảy ra sớm nhưng là điều mình nghĩ từ 10-20 năm. Thực tế đã xảy ra như thế. Một tháng sau người Trung Quốc mới đặt chân đến thị xã Lạng Sơn, cách biên giới có 12 km. Nếu đi bình thường chỉ mất 20 phút nhưng Trung Quốc với từng ấy quân lính, từng ấy xe tăng thì một tháng sau mới chiếm được thị xã nhỏ bé của mình. Đừng nghĩ sẽ đi đâu xa.

Ông Lê Kiên Thành nói về cha và ngày 17/2/1979
Xác xe tăng Trung Quốc bị bắn gục tại bản Sẩy (Hòa An, Cao Bằng). Ảnh tư liệu.

Sau khi Trung Quốc rút, ông Lê Duẩn là người quyết định không truy kích. Quyết định đó được đưa ra như thế nào?

Ông Lê Kiên Thành: Thực ra cái mình muốn nhất là Trung Quốc không đánh. Nhưng điều đó lại xảy ra rồi. Giết thêm 1-2 vạn quân nữa thì không có ý nghĩa, chỉ thêm nhiều người Trung Quốc căm thù người mình.

Cũng chính ông Lê Duẩn khi miền Nam giải phóng, có người đã xin xử bắn một số người kẻ ác phía hàng ngũ Việt Nam cộng hoà, ông không đồng ý. Những người ấy ác thật, họ mổ bụng, họ tra tấn đồng chí của mình thật. Trong chiến tranh, người ta có thể chấp nhận cái chết, nhưng trong hoà bình thì lại không thể chấp nhận được.

Còn ý kiến cho rằng Trung Quốc phát động cuộc chiến tranh biên giới là để thử khả năng phòng ngự của Việt Nam và khả năng Liên Xô sẽ giúp đỡ Việt Nam như thế nào?

Ông Lê Kiên Thành: Tôi không nghĩ Trung Quốc thử. Hiệp định Việt Nam ký với Liên Xô diễn ra là sau 17/2. Người Việt Nam đều hiểu chúng ta trông đợi nhất vào chính chúng ta thôi, khó có thể trông đợi người nào khác.

Tôi cũng không nghĩ Trung Quốc đánh để thử Liên Xô, vì đó là một trò chơi quá đắt tiền, quá mạo hiểm và quá dã man. Họ có những mưu đồ khác. Sâu xa nếu mà được là phải rút được quân Việt Nam ra khỏi Campuchia để cứu Pol Pot, nhưng điều đó không thực hiện được. Thứ hai là Trung Quốc muốn chứng tỏ điều Trung Quốc làm được mà Mỹ không làm được. Cuối cùng thì Trung Quốc cũng không làm được.

Ông Lê Duẩn có lường được rằng cuộc chiến tranh biên giới sẽ kéo dài đến 10 năm sau mới kết thúc không?

Ông Lê Kiên Thành: Ngay cả bây giờ, Trung Quốc vẫn muốn người Việt Nam không thích ông Lê Duẩn chỉ vì một vấn đề là ông ấy đại diện cho một ý chí của những người muốn cảnh giác với Trung Quốc.

Tôi lên biên giới, vào Mục Nam Quan (sau này đổi thành Hữu Nghị Quan), họ treo ảnh các lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc, trừ ông Lê Duẩn. Và tôi lại cảm thấy tự hào kinh khủng vì có một người ba hay thật, người mà đến khi chết vẫn nghĩ giữ nguyên vẹn đất nước Việt Nam này, không mua bán, không mặc cả. Nếu là anh em thì hoà thuận, còn không thì chết chúng tôi cũng giữ đất nước này.

Quốc Việtthực hiện

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.02.2017

Vài nhời trao đổi với con trai ông Lê Duẩn

Vài nhời trao đổi với con trai ông Lê Duẩn

luu-trong-van(Rút từ facebook của Lưu Trọng Văn)

Gã quý trọng tâm huyết và cả những tư duy cấp tiến của ông Lê Kiên Thành con trai của ông Lê Duẩn về hiện trạng và tương lai đất nước.

Gã quen biết nhiều con của các ông là lãnh đạo cấp cao nhất của đất nước một thời, rất buồn là đa số họ co vòi, hoặc lo làm ăn, hoặc bo bo yên phận với những gì đã có, hoặc bảo thủ bởi những vòng kim cô mà các phụ huynh để lại như một truyền thống, duy Lê Kiên Thành khác. Ông nồng nhiệt quan tâm vận nước và thẳng thắn lên tiếng đấu tranh với những gì trì kéo dân tộc, hăng hái đóng góp ý kiến cho con đường phát triển của dân tộc.

Tuy vậy cái khó của ông Thành là ông chưa dám nhìn thẳng vào sự thật của đất nước có căn nguyên cả từ thời cha ông là vua ngự trị đất nước này.

Gần đây ông Thành trả lời trên Tuần Việt Nam về những gì ông biết qua cha ông về sự kiện ngày 17 tháng Hai năm 1979 tạo nên một làn sóng không nhỏ trong dư luận nước nhà.

Điều rõ nhất là qua bài trả lời phỏng vấn, gã và người đọc tin tưởng ông Thành luôn đứng về phía dân tộc chứ không hề bao che, núp bóng những thế lực nào đó để biện minh cho kẻ thù dân tộc. Gã và người đọc tin rằng ông Lê Duẩn luôn đứng về dân tộc để chống lại bọn ngoại xâm.

Tuy vậy, có một sự thật khác, còn một sự thật khác mà vì là bổn phận người con kính yêu cha nên ông Thành không thể và có thể cả không đủ nhận thức để đánh giá đầy đủ vai trò của cha ông đối với vận nước, và con đường đi của đất nước.

Đó là ,nếu ông Thành cho rằng cha ông biết rất rõ âm mưu của Mao và Đặng Tiểu Bình từ trước cả năm 1975 sẽ tìm mọi cách thôn tính Việt Nam như trả lời của ông Thành trên báo thì tại sao, cha ông không hề có phương án chuẩn bị tốt nhất cho đất nước?

Chắc chưa ai quên ông Lê Duẩn đã tuyên bố hào hứng thế nào khi đất nước thống nhất 1975: Vĩnh viễn từ nay đất nước ta sạch bóng quân thù.

Nếu ông Lê Duẩn như ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu có tầm nhìn chiến lược về Trung Cộng ngay từ năm 1954, lo sợ VN sẽ bị Trung Cộng thôn tính, thì tại sao ông lại vội vã khẳng định “vĩnh viễn không còn kẻ thù” như thế?

Nếu ông Lê Duẩn có ý thức chiến lược về kẻ thù tiềm ẩn và nguy cơ bị xâm chiếm qua bài học năm 1974 Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa và năm 1972 Trung Quốc bắt tay với Mỹ bán rẻ VN vì lợi ích của Trung Quốc thì ông có chịu coi Đặng Tiểu Bình là người bạn thân thiết chí cốt của mình không để rồi sau này ông ngỡ ngàng về cái gọi là sự phản bội tình bạn ấy?

Liệu ông Lê Duẩn có dám cao ngạo cộng sản, cao ngạo kẻ chiến thắng để đưa đất nước vào cảnh bị cô lập trên thế giới, để dân tộc VN bị chia rẽ, hàng trăm ngàn người của chế độ cũ bị tù đày, ruồng bỏ, hàng ngàn trí thức của dân tộc, những tinh hoa làm nòng cốt cho sức mạnh dân tộc bị đẩy ra biển, vượt biên không?

Hơn ai hết là người kế thừa ông Hồ Chí Minh, ông Lê Duẩn thừa biết dân tộc đoàn kết mới có sức mạnh.

Ông Lê Duẩn là người am hiểu lịch sử Dân tộc,hơn ai hết ông biết nước mạnh về kinh tế, chính trị, đoàn kết thì không kẻ nào có thể xâm chiếm được.

Lòng dân thì tan hoang vậy.
Kinh tế thì ông Lê Duẩn kiên định và duy ý chí theo chủ thuyết “làm chủ tập thể và kinh tế tập trung bao cấp” phá bỏ mọi quy luật thị trường đã dẫn đến nghèo đói, sức dân, lực nước kiệt quệ mà di hại của nó còn đến tận bây giờ.

Sự thật phải là sự thật.
Gã tin cha của ông Thành là người yêu nước.
Nhưng gã không tin cha ông Thành là người sáng suốt và có tầm nhìn chiến lược, toàn diện về vận nước về kẻ thù và về con đường đi của đất nước.

Vì không sáng suốt nên mới chủ quan trước những cảnh báo về quân xâm lược, mới bị động hầu như không hay biết sẽ có 600.000 quân Trung Quốc tràn qua nước ta vào sớm 17.2.1979.

Đó là chưa kể có vấn đề khó hiểu về nhân tâm khi chính cái tối 17.2.1979, lúc nước sôi lửa bỏng như thế, khi mà hàng ngàn chiến sĩ, người dân bị Trung Quốc giết hại dã man, khi lãnh thổ thiêng liêng của Tổ Quốc bị dày xéo bởi quân xâm lược thì hầu hết lãnh đạo cao nhất của đất nước cùng ông Lê Duẩn tổng tư lệnh tối cao vẫn đến dự đám cưới của ông Thành, con trai ông Duẩn. Và, theo tường thuật của ông Thành thì các vị vẫn nói cười bình thường như chiến tranh chưa hề xảy ra.

Những người cha, người mẹ, người con, người vợ của những người bị quân xâm lược thảm sát sẽ nghĩ sao khi người thân và quê hương của họ chìm trong máu lửa thì những vị lãnh đạo có trách nhiệm cao nhất với đất nước vẫn dành thời gian cho một cuộc vui của con lãnh tụ?

Gã nghĩ lịch sử đã đến lúc cần lên án hành động thiếu nhân văn và trách nhiệm này.

Có thể đêm ấy có đám cưới của một người lính, rồi ngày mai người lính ra trận.Và có thể người lính sau đêm tân hôn vĩnh viễn không trở về.
Nhân dân vẫn chia vui cùng người lính ấy.

Ông Thành cũng là người lính lúc ấy.
Nhưng ông Thành còn là con của tổng tư lệnh. Hành động phải đạo nhất là chính ông Thành quyết định hoãn đám cưới ngày vui của mình để cha mình, tổng tư lệnh tập trung vào việc chỉ huy chiến trận trong lúc đất nước trong tình thế nguy nan này.

Nếu người con không sẵn sàng hoãn đám cưới thì chính người cha tổng tư lệnh phải đề nghị con hoãn đám cưới vì lúc này tình hình đất nước chưa cho phép.

Còn không thì, cứ đám cưới thật đơn giản người cha cùng dàn lãnh đạo tới có lời chúc mừng trong mấy phút rồi rút về vị trí chỉ huy của mình.

Nhưng sự thực qua lời kể của ông Thành thì đám cưới của ông không diễn ra theo kịch bản như gã vừa nêu.

Tiếc rằng sau 38 năm chính ông Thành cũng không nhận ra lỗ hổng nhân tâm này.

Câu chuyện ông Thành kể về sự kiện ngày 17.2.1979 theo gã vẫn nóng hổi bài học cho những ai đang cầm quyền và cho cả những nhà viết sử.

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.02.2017

NGUYỄN BÍNH – NHÀ THƠ HIỆN ĐẠI

NGUYỄN BÍNH – NHÀ THƠ HIỆN ĐẠI

Tiểu luận của Trần Mạnh Hảo – ( Nhân kỷ niệm 30 năm ngày mất của nhà thơ Nguyễn Bính 20-1-1996)

Nhân một buổi hội thảo thơ 1932-1945, một độc giả hỏi : “ Nếu cần phải chọn một câu thơ hay nhất để đại diện cho Thơ Mới ( thơ tiền chiến) , ông sẽ chọn câu thơ của ai ?”. Không do dự, tôi trả lời : “ Tôi xin chọn câu lục bát : “ Anh đi đấy, anh về đâu / Cánh buồm nâu cánh buồm nâu cánh buồm !” của Nguyễn Bính”. Lại hỏi : “nếu phải chọn một bài cho nền thơ ấy, ông chọn bài nào ?”. Trả lời : “ Tôi chọn bài Tống biệt hành của Thâm Tâm”. Lại hỏi : “nếu phải chọn một tập hay nhất của nền thơ ấy, ông chọn tập nào?” . Trả lời : “Tôi chọn tập “ Lửa thiêng” của nhà thơ quê Hà Tĩnh Huy Cận”. Lại hỏi : “nếu phải chọn một đời thơ tiêu biểu nhất của nền thơ ấy, ông chọn ai ?”. Tôi trả lời : “ Tôi chọn Nguyễn Bính !”.

Vâng, Nguyễn Bính, nhà thơ bị giời đầy : “ Mình tôi giời bắt làm thi sĩ !” Câu thơ ông viết từ những năm đầu của thập kỷ 40 đã vận vào ông : “Chung lưng làm một chuyến đi đầy”. Thậm chí ông còn nhắc con gái sau này : “Nhất kiêng đừng lấy chồng thi sĩ / Nghèo lắm con ơi bạc lắm con”.

Có lẽ, trong thơ tiền chiến, Hàn Mặc tử và Nguyễn Bính là hai nhà thơ có số phận ít được vận may chiếu cố. Hàn Mặc tử bị trăng hành. Còn Nguyễn Bính bị con bướm Trang Chu hành tới bến. Nếu Thế Lữ được biểu tượng thơ là con hổ, Lưu Trọng Lư là con nai, Chế Lan Viên là con ma Hời, Xuân Diệu là con chim ngứa cổ hót chơi…thì con bướm là biểu tượng cho thơ Nguyễn Bính :

“ Có ai điên dại như tôi nhỉ
Nuôi bướm làm con để nhớ người”

Hay :

“ Hồn trinh còn ở trần gian
Nhập về bướm trắng mà sang bên này”…

Trong thơ ông, bươm bướm bay nhiều quá, rượu và hoa nhiều quá, nhiều quá những cô gái đẹp chưa chồng. Nhưng bướm đã bay đi, rượu đã nhạt, hoa đã tàn, trinh nữ đã theo chồng hoặc đã chết, chỉ còn mình nhà thơ ngồi lại với phũ phàng và điên đảo :

“Mưa chiều nắng sớm người ta bảo
Cả đến ông giời cũng đổi thay” ( Giời mưa ở Huế)

Tháng chạp năm Nhâm Ngọ 1942, khi mới 24 tuổi, Nguyễn Bính đã viết được những câu thơ hay đến kinh hãi về nỗi buồn, nỗi cô đơn của kẻ lạc loài, của nỗi oán hận suồng sã phải thất tình thay cho con ong cái bướm :

“Uống say cười vỡ ba căn gác
Ném cái chung tình xuống đáy sông” ( Xuân tha hương)

Cùng “cái chung tình” ấy, nhà thơ hầu như đã ném tuổi trẻ mình xuống đáy sông của định mệnh, theo kiểu Thúy Kiều ném 15 năm lưu lạc xuống đáy Tiền Đường .

Nguyễn Bính mồ côi mẹ từ tấm bé. Ta hiểu vì sao nỗi bơ vơ ám ảnh suốt đời ông. Ta hiểu ngay từ lúc mới 13 tuổi, làm bài thơ đầu, ông đã thèm yêu, thèm sống, thèm khát ràng buộc với tất cả và chia tay tất cả. Ông đã vịn vào chuồn chuồn bươm bướm tập đi như vịn chính vào niềm hư vô của kiếp người. Theo Hoài Thanh, Nguyễn Bính chưa hề được đến trường ! ( Giống văn hào M. Goocki của Nga ?). Ông tự học theo người cha và người cậu. Thầy của ông là chim muông cỏ rả làng Thiện Vịnh xa xôi. Tuy nhiên, mọi thứ nào thay thế được mẹ ông.

Nguyễn Bính mồ côi mẹ nên đã mồ côi cả đất trời. Hình như ông đã lớn lên bằng cảm giác của Trần Tử Ngang – người đi dọc thơ Đường : “ Tiền bất kiến cổ nhân / Hậu bất kiến lai giả …( Trước không thấy người trước / Sau chẳng thấy người sau). Cảm giác ngồi một mình bơ vơ trên trái đất của Trần tiên sinh xưa không chỉ được Nguyễn Bính chia xẻ, mà đã thành phận số đời ông. Năm 1937, khi mới 19 tuổi, nhà thơ đã viết một bài thơ tuyệt vời “ Những bóng người trên sân ga” với tận cùng cô đơn kiếp người hay đến mức không còn có thể hay hơn nữa :

“ Chân bước hững hờ theo bóng lẻ
Một mình làm cả cuộc phân ly”

Câu thơ viết ra gần 60 năm rồi, đã sống và chết theo bao lớp người, theo bao trang giấy, qua bao nhiêu trào lưu hiện thực siêu thực, hiện sinh rồi cấu trúc, có vần với không vần, lạ thay, chưa có một ai nói về nỗi cô đơn kiếp người hay bằng câu thơ này của thần thơ Nguyễn Bính ? Hóa ra, cái hình ảnh giản dị và xúc động tận cùng kia, cái dáng người một mình đưa tiễn bóng mình kia, cho đến muôn đời vẫn cứ còn mới mãi, thấm thía và rung cảm mãi.

Nguyễn Bính với cảm quan thiên phú, một trực giác của thảo mộc chim muông, đã biết cách tiễn mình đi vào thi ca bằng lối đi của con bướm dưới gốc hòe Trang tử ! Cái dáng “Chân bước hững hờ theo bóng lẻ” kia không biết mình đang tiễn bóng hay bóng đang tiễn mình ? Với triết học bản thể, câu thơ “ một mình làm cả cuộc phân ly” không chỉ là biểu tượng sinh động, kỳ vĩ, mà còn là một khơi gợi, một phát hiện tâm linh trong hình trình nhập thể nhân loại. Chúng tôi tin rằng, câu thơ này của Nguyễn Bính còn theo ta tới cuối cuộc đời, đến nơi ta chia ly chính bản thân mình để vào vô tận.Viết được những câu thơ có thể sánh với bất cứ thơ Tây Tầu nào hay nhất, ai bảo thơ Nguyễn Bính không hiện đại ?

Thế mà từ năm 1941, năm ra đời cuốn “Thi nhân Việt Nam”của Hoài Thanh, đã có khá nhiều bài viết, nhiều khảo luận về thơ, khi nói về Nguyễn Bính, đều ăn theo lối kết luận phiến diện của Hoài Thanh Hoài Chân cho Nguyễn Bính là thơ nhà quê, chân quê, đồng quê, quê mùa…

Nói về Nguyễn Bính theo trường phái Hoài Thanh mới chỉ nhìn nhà thơ ở phần nổi, phần xác chữ nghĩa mà chưa đủ tầm đi sâu vào hồn thơ rất cổ điển, lại rất hiện đại của Nguyễn Bính làng Thiện Vịnh, huyện Vụ Bản, Nam Định kia ( huyện Vụ Bản còn là quê hương của một thiên tài thi nhạc khác đồng thời với Nguyễn Bính là Văn Cao)

Nguyễn Bính đi tận cùng dân tộc để thành hiện đại : thơ ông phần xác còn mang nâu sồng ca dao nhưng phần hồn đã vươn tới cõi hiện đại vô cùng nhân loại vậy ! Chúng tôi không muốn nói đến “chủ nghĩa hiện đại” phương Tây mà Việt Nam hầu như không có, nên không coi tính hiện đại của thơ chỉ lụy vào con chữ, vào cái bí hiểm cung quăng không thể hiểu, vào cái siêu thực nằm ngoài cảm nhận, mà chỉ đánh giá thơ qua cái sự hay, sự xúc cảm của nó, của nghĩa bóng thơ luôn cất cánh từ nghĩa đen như những câu thơ hay của thi hào Nguyễn Bính mà thôi !

Cho nên, với chúng tôi, hiện đại hay không hiện đại cốt ở hồn thơ, ở nỗi cảm nỗi hay của nó mà thôi. Những câu ca dao và thơ cổ hay nhất của văn học cha ông ta ai bảo không hiện đại nào ? “Gió đưa cây cải về trời / Rau răm ở lại chịu lời đắng cay” của ca dao hiện đại quá đi chứ ? “ Có thì có tự mảy may / Không thì cả thế gian này cũng không” của thơ Lý Trần hiện đại quá đi chứ ? “ Cái quay búng sẵn trên trời / Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm” của Ôn Như hầu hiện đại quá đi chứ ? “ Bắt phong trần phải phong trần / Cho thanh cao mới được phần thanh cao” của Nguyễn Du hiện đại quá đi chứ ? “ Hoa thì hay héo cỏ thường tươi” của Nguyễn Trãi hiện đại quá đi chứ ? “ Hồn cô cát bụi kinh thành / Đa đoan vó ngựa chung tình bánh xe” của Nguyễn Bính hiện đại quá đi chứ ?

Hầu hết thơ Nguyễn Bính dưới cái vỏ chân quê giản dị hiền lành như ca dao, nhưng giấu ẩn sức nghĩ, sức cảm, sức gợi vô cùng tận, hiện đại vì nó hay ở mọi lúc mọi thời. Viết về cái đẹp của sự trống vắng, gợi ra, vẽ ra được cái vẻ tôn giáo của hư vô tồn tại ngay trong lòng cái hữu hạn, phỏng có nhà thơ tiền chiến qua mặt được câu thơ này của Nguyễn Bính :

“Giếng thơi mưa ngập nước tràn
Ba gian đầy cả ba gian nắng chiều”

Nỗi trống vắng vô chủ của ba gian nhà trong câu thơ, đã được xúc cảm đẩy từ cái cụ thể thành cái vô biên : nỗi trống vắng và vô chủ của đất trời. Mượn nỗi hoang vu bé mọn của nắng chiều trong căn nhà nhỏ để tả nỗi hoang vu vũ trụ, cũng là nỗi hoang vu muôn thuở hồn người, lục bát Nguyễn Bính hiện đại lắm ru !
Khi Nguyễn Bính tả nỗi cô đơn đến rêu mốc bí mật của kinh thành Huế, cũng để nói vế vẻ huy hoàng tàn phai, hay chính là hồn suông thi nhân mượn cả hoàng thành mà hiu quạnh :

“Thâm u một giải hoàng thành
Đình suông con én không đành bay đi” ( Vài nét Huế)

Con én tân thời không nỡ bỏ cái hoang phế hoàng thành bay đi hay chính là cái níu kéo của hiện tại với quá khứ ? Cái chấm én mọc lên như một cái mầm, cái chồi của lẻ loi, khiến vẻ tàn phai càng tàn phai hơn nữa. Ngoảnh lại cố đô, con én thi ca mà Nguyễn Bính đính lên từ độ ấy, vẫn không đành đoạn bay đi, như thể loài chim thơ ấy vẫn còn là tình nhân bao thời đại đã đi qua !

Trí tuệ thơ Nguyễn Bính là trí tuệ sương mù, của hoa bướm của lửng lơ mây khói. Chất sang trọng hàn lâm giấu trong lục bát nâu sồng Nguyễn Bính như hồn sen giấu trong bùn, ghé mắt vào ta sẽ thấy hoa sen :

“ Hồn anh như hoa cỏ may
Một chiều cả gió bám đầy áo em”

“ Buồng hương bóng bóng mình mình
Gió hiu hiu hắt qua mành mành hoa”

Bên cạnh những bài lục bát nổi tiếng : “Tương tư”, “Lỡ bước sang ngang”, “Người hàng xóm”…ông còn những bài lục bát hiện đại khác : “”Lửa đò”, “ Vũng nước”, “ Qua nhà” và “Thời trước”…
Khi đánh giá thơ tiền chiến nói chung và Nguyễn Bính nói chung, người ta đã thừa nhận sự vượt trội của thơ lục bát Nguyễn Bính nhưng chưa thấy trong thể thơ bảy tám chữ, Nguyễn Bính cũng chẳng kém cạnh bất cứ thi nhân hàng đầu nào cùng thời với ông.Trong thể loại mượn cảnh tả tình, Nguyễn Bính đã có bài thơ vào hàng tuyệt tác là bài “Xuân về” có thể đứng ngang hàng với các bài hay nhất của Hàn Mặc tử và Huy Cận. Về thể hành, bài thơ “Hành phương Nam” của ông không hề hổ thẹn đứng bên cạnh bài tuyệt bút “Tống biệt hành” của Thâm Tâm. Viết về đất thần kinh xứ Huế, xưa nay chưa thấy bài nào hay bằng bài “Xóm Ngự viên” của Nguyễn Bính ? Ông đã làm sống lại thời vang bóng bằng câu thơ hay đến ma quái :

“ Sớm đào, trưa lý, đêm hồng phấn
Tuyết Hạnh, Sương Quỳnh, máu Đỗ Quyên”
Hai câu này có thể ngang với câu vi diệu của Xuân Diệu :

“Vì nghe nương tử trong câu hát
Đã chết đêm rằm theo nước xanh” ( Nguyệt Cầm)

Hãy đọc lại hồn thơ bi hùng ngang trời lệch đất Nguyễn Bính như “ Giời mưa ở Huế”, “Xuân tha hương”, “Oan nghiệt”…ta thả mình vào nỗi quằn quại như mất cả hình hài, đau thương dữ dội và đồng bóng, để chia xẻ với nỗi vong thân, vong quốc của lớp thanh niên trước 1945. Những bài thơ “ Cô hái mơ”, “Trường huyện”, “ Hoa và rượu”…là những bài thơ đẹp nhất thơ tiền chiến của Nguyễn Bính. Đâu đây ta nghe có hơi Huy Cận trong hồn thơ “ một trời quan tái” Nguyễn Bính :

“ Chênh vênh bóng ngả sầu lau lách
Chiều ngái hương rừng lối nhạt son”

Cái hơi Đường thi từ Huy Cận đi lạc vào Nguyễn Bính rất sang trọng, quý phái : “ Áo bào nguyệt bạch ngựa kim ô” hay đấy, siêu đấy nhưng không phải mạch chính của thơ ông. Cái hơi, cái hồn, cái vía Nguyễn Bính là ở những câu thơ rất Việt rất hay như :

“ Một con diều giấy không ăn gió
Õng ẹo chao mình xuống vệ đê”

Có hàng trăm người viết về tơ liễu từ thơ Đường đến Nguyễn Du, nhưng chưa ai hay bằng Nguyễn Bính tả liễu :

“Chiều về chầm chậm trong hiu quạnh
Tơ liễu theo nhau chảy xuống hồ”

Chỉ bằng từ “chảy”, Nguyễn Bính không chỉ hiện đại hóa thơ mình, ông còn làm mới cả hồn tơ liễu nghìn năm. Nguyễn Bính làm thơ rất bản năng, thậm chí như vô thức. Số lượng câu thơ hay của ông nhiều hơn bất cứ nhà thơ tiền chiến nào khác. Những câu thơ bất ngờ, hiện đại tới cùng này ai bảo Nguyễn Bính không mới :

“ Ở đây vô số những trời xanh”

Lối viết này Tây hơn cả Tây !

Hoặc quá ngạc nhiên khi ta đọc :

“ Xe ngựa chiều nay ngập thị thành
Chiều nay nàng bắt được trời xanh”

Hay :

“ Giời mờ ngao ngán một loài mây”

Xin lỗi, nếu ai trích được một câu của trường phái “tân con cóc” “ tân siêu thực” của Việt Nam hay ngang những câu này của Nguyễn Bính, tôi xin thưởng ba vạn chín nghìn con kiến,một trăm con voi !

Trong dòng thơ tiền chiến, chúng tôi bao giờ cũng biết cách tôn kính Thế Lữ, ngả mũ trước Xuân Diệu, thán phục Huy Cận, kinh ngạc trước Hàn Mặc tử, mơ mộng sầu thương cùng Lưu Trọng Lư, Hồ Dếnh…Nhưng chúng tôi bao giờ cũng dành cho Nguyễn Bính trọn niềm yêu mến, không chỉ là tấm lòng hậu sinh với bậc tiền bối, mà còn vì tình yêu của độc giả mấy chục năm trời với thơ ông.

Chỉ tính gần chục năm lại đây ( năm 1995khi
tác giả viết bài này) theo thống kê tạm thời của một số nhà xuất bản, thơ Nguyễn Bính đã in và phát hành tới số kỷ lục hàng triệu bản. Qua bao thăng trầm, Nguyễn Bính vẫn là nhà thơ số một được độc giả Việt Nam hâm mộ nhất sau Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Trãi).

Ba mươi năm đã qua kể từ năm Nguyễn Bính mầt buổi trưa ngày 30 tết ấy, có lẽ hình ảnh đọng lại trong mắt thi hào Nguyễn Bính là vườm thuốc nam nhà ông Tân Thanh hay một loài mây, hay loài bướm trắng nào vừa chìm xuống đáy ao trước khi ông bụng không hạt cơm ngã xuống trong hôn mê và trong cơn đói vĩnh cửu ? Chỉ biết rằng thi ca ông đã thành vị thuốc nam chữa lành nỗi đau và niềm hư vô kiếp người.

Ông không tìm lối xuyên tường đưa thơ Việt vào hiện đại như ai đó. Thơ ông thẩm thấu qua trời sương khói, qua hồn ca dao, qua Truyện Kiều đưa nâu sồng lục bát quê hương vào hiện đại. Xin đọc lại một câu thơ Nguyễn Bính :

“ Xót xa một buổi soi gương cũ
Thấy lệch bao nhiêu mặt chữ điền”

Ôi những mắt chữ điền bị thời gian xô lệch muôn năm cũ, xin về đây soi lại chiếc gương thi ca hiện đại muôn sau Nguyễn Bính.,.

( Nguồn: vanvn.net)

5 NGƯỜI QUẢNG BÌNH CHỐNG NHAU, LÀM KHUYNH ĐẢO CHÍNH TRƯỜNG VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

khac-thai

TS Nguyễn Khắc Thái

Điều lạ là bất cứ thời kỳ lịch sử nào cũng đều có người Quảng Bình tham gia và làm khuynh đảo chính trường (tôi đã có bài viết về điều này đăng trong tập sách Danh nhân Quảng Bình), nhưng đặc biệt là thời hiện đại, có 5 hào kiệt đứng ở 5 chiến tuyến, chống nhau, làm khuynh đảo chính trường hiện đại.
1. Võ Nguyên Giáp, quê Lệ Thuỷ, đại tướng, Tổng tư lệnh quân đội nhân dân Việt Nam, phe Cộng sản.
2. Ngô Đình Diệm, quê Lệ Thuỷ, tổng thống Việt Nam cộng hoà, phe chống Cộng.
Ông Giáp và ông Diệm cùng quê nhưng chống nhau quyết liệt ngay từ ngày đầu tham gia chính trường cho đến khi qua đời.
3. Thiền sư Thích Trí Quang, quê Đức Ninh, người đứng đầu phong trào Phật giáo chống chính quyền Ngô Đình Diệm và cũng chính là ngòi nổ để dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền này từ cuộc đảo chính của phái quân sự do Dương Văn Minh đứng đầu năm 1963.
4. Linh mục, giáo sư sử học Nguyễn Phương, quê ở Hoà Ninh, nhà sử học danh tiếng, người một thời biện minh cho chính quyền Ngô Đình Diệm nhưng cũng là người viết nhiều công trình sử học nổi tiếng ủng hộ sự hiện diện của Mỹ ở Đông Dương thời Pháp thuộc và thời Việt Nam Cộng hoà. Như vậy, ông vừa ủng hộ chính quyền Ngô Đình Diệm vừa có xu hướng thân Mỹ, chính là chính quyền bật đèn xanh lật đổ Ngô Đình Diệm. Hiện Thích Trí Quang đã rất yếu, theo phái tịnh khẩu, ở chùa Từ Đàm.
Về sử học, sử gia Nguyễn Phương có rất nhiều công trình nổi tiếng thế giới, trong đó có bộ sách cơ bản là “Phương pháp sử học”. Năm 1975, ngào vượt biên trên một chiếc thuyền nhỏ, may mắn sống sót và định cư ở Mỹ, là giáo sư của nhiều Trường đại học danh tiếng thế giới.
5. Tướng Đỗ Mậu (thực ra ông chỉ đại tá nhưng vị thế trong hàng tướng lĩnh VNCH, quê ở Quảng Thuận. Lúc đầu tham gia chính trường, ông có xu hướng theo Cộng sản, sau đó chuyển sang theo Pháp. Vào miền Nam ông phụ sự đắc lực cho chính quyền Ngô Đình Diệm nhưng sau đó lại tham gia phái đảo chính của Dương Văn Minh lật đổ Ngô Đình Diệm. Sau năm 1975 ông định cư ở Mỹ và viết hồi ký nổi tiếng “Việt Nam quê hương máu lửa” được nhà xuất bản Công an nhân dân tái bản (có lược bớt so với bản gốc). Trong cuốn sách này, ông dành chương đầu viết rất hay về quê hương Quảng Bình với tiêu đề “Quảng Bình quê hương định mệnh”. Ông là nhà chính trị sắc sảo và là học giả uyên thâm. Trong cuốn sách hồi ký, ông phân tích sâu sắc Nguyên nhân sụp đổ của chính quyền Việt Nam Cộng Hoà mà theo ông, Nguyên nhân chính là tham nhũng dẫn đến chia bè kéo cánh và sụp đổ. He he, tham nhũng và bè cánh sẽ có kết cục như thế.
Khoảng năm 2000 ông có về thăm quê, nghỉ ở khách sạn Phương Đông, khi đó mình đang viết bộ địa chí Quảng Bình nên muốn đến trình ông góp ý nhưng bên công an khuyên là không nên.

Rứa đó, ai cũng nổi tiếng, cũng là anh hùng hào kiệt nhưng người thì cộng sản, người kia thì ngược lại, chống cộng, người này Phật giáo, người kia lại theo Thiên chúa giáo.
Cả 4 người đều chống nhau cả trên quan điểm lẫn hành động.
Không biết ngày nay người Quảng Bình có thế không. Mình nghĩ là có.

( FB Khắc Thái)

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.02.2017

Thân phận một trí thức canh tân

Thân phận một trí thức canh tân

 MINH PHƯƠNG 

, Gia đình ông Ngô Đình Khải. Ảnh: TL

Phòng Khánh tiết trường Quốc Học Huế những năm 1956-1958 từng treo hai tấm biển gỗ sơn son, khắc bản dịch tiếng Việt chỉ dụ vua Thành Thái, Nghị định Toàn quyền Đông Dương về việc thành lập trường. Sau đó vì nhiều lý do, nó trôi nổi trên thị trường cổ vật.

Nhân kỷ niệm 120 năm Quốc Học (1896-2016), đã có những lời đề nghị được gửi tới người có trách nhiệm, những mong nó được trở về chốn cũ, nhưng đáng tiếc không được đáp từ. Khoảng lặng đó giúp chúng tôi lần giở những dòng tư liệu cũ, chợt giật mình trước thân phận một trí thức canh tân yêu nước đầu thế kỷ XX.Trong cuộc tiếp xúc văn hóa, văn minh Đông – Tây ở Huế từ nửa sau thế kỷ XIX, sau nhiều căng thẳng binh biến, vấn đề canh tân đất nước đã được cả triều đình Đại Nam lẫn phía Pháp rất quan tâm. Để giảm sốc sau những động thái vũ lực tang thương, hai bên đã có nhiều giải pháp thăng bằng, hướng tới canh tân xứ sở, nhất là từ văn hóa và giáo dục. Tinh hoa Hán học truyền thống kết hợp Tây học đã đem lại cho văn hóa Việt Nam sức sống mới, góp phần đưa đất nước hội nhập với thế giới hiện đại.

Vấn đề then chốt chính là ở tư tưởng và tinh thần yêu nước của vua Thành Thái khi biết chọn chỗ dựa phù hợp cho sứ mệnh canh tân nước nhà, đặc biệt là đội ngũ quan lại trí thức Tây học thuở ban sơ như Nguyễn Hữu Độ, Ngô Đình Khả, Nguyễn Hữu Bài… Nhờ đó mới xúc tiến mở trường Quốc Học (nam sinh) và Đồng Khánh (nữ sinh) – giáo dục phổ thông; rồi Trường Kỹ nghệ thực hành, Trường Canh Nông – đào tạo ngành nghề chuyên nghiệp…

Ngày 17 tháng 9 năm Thành Thái thứ 8 (23.10.1896), nhà vua ban dụ mở trường Quốc Học, nhấn mạnh tinh thần giáo dục quốc gia trong bối cảnh xã hội mới cần chú trọng sự liên tục, hài hòa giữa Cựu học và Tân học với nhiều bộ môn khác nhau, của nhiều nước để mở rộng quan hệ bang giao quốc tế. Sự học do vậy hướng đến việc nắm bắt kiến thức và hoàn thiện kỹ năng xử lý hiệu quả công việc hành chính, điều hành đất nước. (Công báo Đông Dương, số 11, phần 2, tr. 1453-1458). Ngoài việc duy trì nền tảng sâu rộng, uyên thâm của Cựu học, môi trường giáo dục cần cập nhật, tiếp thu văn minh phương Tây để bổ sung sự mất cân đối đó.

Trường Trung học Quốc gia – Quốc Học được thành lập tại Huế, giảng dạy chủ yếu bằng tiếng Pháp, chữ Hán. Hiệu trưởng do Hội đồng Cơ mật chuẩn thuận, Khâm sứ đề nghị và Toàn quyền bổ nhiệm, được trực tiếp liên hệ với Khâm sứ, Hội đồng Cơ mật và các Bộ. Triều đình Huế chịu chi phí nhân sự và xây dựng: tòa nhà chính, các lớp học, nhà ở, lương bổng, bồi dưỡng nhân sự, trợ cấp học sinh.

Điểm đặc biệt ở đây là vai trò tiên phong quan trọng của nhân vật lịch sử Ngô Đình Khả, vị Hiệu trưởng đầu tiên của Quốc Học và là người Việt duy nhất đảm đương trọng trách này trong giai đoạn 1896-1945. Văn bản số 908 ngày 6.11.1896 của Khâm sứ Trung kỳ gửi Toàn quyền Đông Dương cho biết sau khi có ý kiến chuẩn thuận của Hội đồng Phụ chính về chức danh Hiệu trưởng Quốc Học, quan Khâm sứ vinh dự giới thiệu ông Ngô Đình Khả, 40 tuổi, thông ngôn chính, một người có uy tín xứng đáng, với tư cách mẫu mực và kiến thức sâu rộng, tư duy vững chãi. Ông từng là thông ngôn cho Tổng trú sứ và được ông P.Rheinart đánh giá cao, luôn được Khâm sứ Trung kỳ tin tưởng. Bước vào hoạn lộ, ông được triều đình Huế phong Thái Thường Tự Khanh, hàm chánh tam phẩm… nên hội đủ tư cách, trí tuệ để đảm đương trọng trách điều hành một ngôi trường tân tiến đương thời, và “không thể có sự lựa chọn nào tốt đẹp hơn”.

Công trình được xây dựng và chính ông Khả được giao trọng trách tổ chức việc giảng dạy, trở thành Hiệu Trưởng đầu tiên (BAVH, 1942, tập III, Nxb Thuận Hóa, 2015, tr. 493-510). Không chỉ có vậy, khi làm quan Nam triều, duy nhất ông dám chống lại người Pháp khi vua Thành Thái bị bức hại và dân gian Huế đến nay vẫn lưu truyền câu ca: “đày vua không Khả…”.

Trong bối cảnh vỡ ra của xã hội truyền thống Việt Nam, cuộc đụng độ rồi giao lưu, tiếp xúc văn hóa, văn minh Đông – Tây diễn ra tất yếu trên nhiều lĩnh vực, khía cạnh đời sống xã hội. Ở đó, giáo dục đào tạo được coi là một vấn đề đặc biệt quan trọng gắn liền khát vọng, xu hướng canh tân từ triều đình Huế và nhu cầu xây dựng, phát triển xứ Đông Dương của người Pháp, mà Quốc Học, có thể coi là trường hợp điển hình. Phát huy tối đa sở trường, giảm thiểu sở đoản từ trong di sản truyền thống, kế thừa tinh hoa văn minh phương Tây phù hợp, để canh tân đất nước từ giáo dục đào tạo, là sứ mệnh, đặc điểm then chốt, bài học lịch sử cốt yếu từ Quốc Học.

Điểm đáng tiếc trong chu kỳ trăm năm, từ thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX, quá trình tiếp xúc văn minh phương Tây diễn ra mạnh mẽ nhưng đội ngũ quan lại trí thức chưa đủ mạnh, trở thành đa số để chuyển hóa trọn vẹn cuộc canh tân. Đầu thế kỷ XX, dư chấn của cuộc cách mạng phản đế phản phong đã gạt bỏ nhiều truyền thống dân tộc. Tính chính thống, ở nhiều trường hợp, càng làm nổi bật điều đó. Đài Chiến sỹ trận vong ở Huế là sản phẩm của một thời “thực dân”, lại chưa được công nhận là di tích nên bị bỏ qua, xem nhẹ. Nhân vật trí thức Tây học, vị hiệu trưởng Quốc Học đầu tiên, người Việt duy nhất từ năm 1896-1945, vị quan yêu nước Ngô Đình Khả và lăng mộ của ông vẫn ít được biết đến, nằm lặng lẽ, lạnh lẽo ở đồi Phủ Cam.

Lịch sử Việt Nam nổi bật tính bao dung, hòa hợp, giúp xóa bỏ trở lực, hòa giải mọi ngăn cách cho khát vọng thái hòa từ sức mạnh cố kết lòng người, bồi bổ phong khí quốc gia. Nhìn nhận phiến diện, bỏ qua nhiều trang sử quan trọng với công – tội phân minh, rõ ràng là hiện nay, chúng ta đang rất cần một thái độ ứng xử khoa học, nhân văn phù hợp, mới có thể phát triển.

( Nguồn: Lao Động)
Đăng bởi: Ngô Minh | 19.02.2017

Vì sao VN in sách ca ngợi Đặng Tiểu Bình?

Vì sao VN in sách ca ngợi Đặng Tiểu Bình?

Bản quyền hình ảnhREUTERS
Đặng Tiểu Bình (thứ hai, từ trái) là lãnh tụ của thời kỳ đổi mới thời kỳ hậu Mao của TQ, năm 1979 ông đã chỉ đạo mở một cuộc chiến để ‘dạy cho VN một bài học’.

Dư luận cả nước Việt Nam mới đây xôn xao về cuốn sách do Nhà xuất bản Lao Động ấn hành năm 2015, nhan đề “Đặng Tiểu Bình – một trí tuệ siêu việt.”

Tò mò, tôi tìm đọc và ngã ngửa bởi thấy thật hổ thẹn cho sự kém cỏi, u mê của mình: Cuốn sách thảm họa ấy thực ra là tái bản.

Cuốn tôi có trên tay do Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin in từ năm… 2003(!), dày 600 trang, giá 60.000 đồng. Các tác giả là Lưu Cường Luân, Uông Đại Lý; dịch giả là Tạ Ngọc Ái, Nguyễn Viết Chi.

Thế mới biết cái gọi là sự “quan tâm” đối với vận nước, nỗi nhà của trí thức thời nay (trong đó có tôi) đáng thất vọng đến mức nào…

Trước hết, phải ghi nhận rằng Đặng Tiểu Bình là một trong những nhân vật chính trị nổi bật của nửa sau thế kỷ XX, công lao và tài năng của ông ta “rất đáng được ca ngợi” – dĩ nhiên, khi kẻ dịch, kẻ cho in đều là người… Trung Quốc.

Vì tài năng của Đặng không phải là mục đích phân tích của bài viết này nên tôi sẽ nhìn nhận dưới góc độ của một độc giả – về cái tinh thần cốt lõi: ca ngợi kẻ thù của dân tộc, kẻ đã gây ra cuộc chiến tranh Biên giới năm 1979 và cũng là kẻ đã ra lệnh cho quân xâm lược tấn công, xâm chiếm Gạc Ma, thuộc Trường Sa năm 1988 – chủ quyền đương nhiên của Việt Nam là vì mục đích gì để, từ đó, thử xem việc nói tài năng của Đặng là “siêu việt” có thỏa đáng hay không?

Thú nhận bàng hoàng

Điều phải thú nhận đầu tiên đó là sự bàng hoàng: Một người đọc với ý định phê phán như tôi, cũng là một người có 40 năm giảng dạy lịch sử Trung Quốc mà vẫn bị cuốn hút, không ít khi bị đánh lừa bởi cách viết, cách dẫn chuyện thì, đối với những người “đọc cho biết, cho vui”, mức độ gây hại của nó sẽ ghê gớm đến mức nào!

Thứ nhất, tư tưởng xuyên suốt của cuốn sách ngoài chuyện tài năng của Đặng ra thì đó là ca ngợi hết lời về tài năng, bản lĩnh, sự không thể thay thế được, không có nó là không thể được của đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ). Nói như thế để thấy đã hiện ra đâu đó từ đường chân trời những giả định mịt mù của những người in sách: Họ bất chấp tất cả sự thật, bất chấp cái chết của hàng vạn con dân nước Việt do Đặng gây ra; chỉ cần bảo vệ một điều duy nhất, đó chính là sự ổn định trên cương vị lãnh đạo của ĐCSTQ…

Bất chấp những sai lầm khủng khiếp do Mao và ĐCSTQ làm chết cả 100 triệu người (tr. 483), các tác giả liên tục nhắc đi nhắc lại lời Đặng là sống chết gì cũng phải bảo vệ ĐCSTQ, rằng “mấu chốt là ở Đảng, ở người, ở lớp kế tục” (tr.484), rằng “…không được vứt bỏ Mác, không vứt bỏ Lê Nin, cũng không vứt bỏ Mao Trạch Đông, cụ tổ không được vứt đi nhé!” (tr.168).

Bản quyền hình ảnhGETTY
Image captionPháo binh của phía Việt Nam trong cuộc chiến biên giới 17/2/1979 đối phó với quân Trung Quốc.

Thứ hai, cuốn sách đã đạt đến mức thượng thừa của những kẻ có tài ngoa ngôn đến mức không còn sợ thị phi, không quan tâm đến sự thật lịch sử khi liên tiếp cố tình phạm các sai lầm logic để “chứng minh” tài Đặng là tuyệt luân, chấp cả hàng tỷ người trong thời ông ta sống.

Người viết khẳng định Đặng là người “… đã vượt lên trên tất cả các nhà kinh tế học phương Tây, với tinh thần sáng tạo và tính quyết đoán đáng kinh ngạc…” (tr 295, chúng tôi nhấn mạnh – HVT).

Người viết sàm ngôn và lú lẫn đến mức: Để ca ngợi Đặng, coi cái chết của 8.000 bộ đội Trung Quốc (tr. 483) trong chiến dịch Hoài Hải (1948) chỉ là tổn thất không đáng kể(!) so với việc tổ chức vượt sông cho cả “trăm ngàn hùng binh” chỉ nhằm đảm bảo cho chiến dịch thắng lợi(?) Thế mới biết mạng người dân đen trong tay nhào nặn của đảng cộng sản Trung Quốc e chưa bằng cỏ rác…

Thứ ba, Đặng – y chang đảng cộng sản Trung Quốc, tìm mọi cách để bôi đen lịch sử miễn là có lợi cho đảng để cầm quyền vững chắc. Đặng thừa nhận Mao có 27 năm cống hiến (1949-1976) cho nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, trong đó 7 năm đầu thành công, 10 năm tiếp theo 5 năm có công, 5 năm có tội; 10 năm tiếp nữa thì “không tính” (tội lỗi ngập tràn) nhưng không được phanh phui ra:

“Không nên viết quá về những sai lầm của Mao Trạch Đông. Nếu không, như thế thì sẽ bôi đen Mao Trạch Đông, đồng thời bôi đen cả Đảng và Nhà nước…” (tr.433). Đọc đến đây, ai cũng hiểu vì sao khoa học lịch sử trong một nhà nước cộng sản còn tệ hơn cả một tuồng hề.

Đặng đã biển lận khi trơ tráo cho rằng mặc dù tội nhiều, công lắm như thế nhưng Mao vẫn là người… siêu phàm: “Đồng chí Mao Trạch Đông phạm sai lầm, đó là một nhà cách mạng vĩ đại phạm sai lầm, là một người Mác-xít vĩ đại mắc sai lầm” (tr.435).

Tham quyền hay vì dân?

Thứ tư, các tác giả biện minh cho việc Đặng tham quyền cố vị khi “lui dần từng bước quyền lực” là vì… nhân dân(!); cố bào chưa bằng mọi giá cái chuyện dẫu đã về hưu vẫn còn đi thị sát, chỉ đạo miền Nam năm 1992, khi đã… 88 tuổi!

Những ngôn từ có cánh của loài hoa dại dọc đường tàu tha hồ bay bay đuổi theo con tàu bảo thủ, trì trệ cứ cố tăng tốc như để giễu cợt người đọc: Sau mỗi bước rút lui của ông thì sự nghiệp do ông sáng tạo lại tiến thêm một bước. Trí tuệ thật uyên thâm, chất nghệ thuật thật tuyệt diệu (tr. 490). Nói vậy rồi, chỉ trong 2 trang sau đó, những người viết lại tự mâu thuẫn rằng “Năm 1985, Đặng Tiểu Bình từ chức Phó Thủ tướng Quốc Vụ viện, và tiết lộ năm 1985 sẽ chỉ làm cố vấn “ (tr. 492).

Dối trá không có giới hạn hình như là nguyên tắc của cuốn sách này: Tại sao lại “quên” cái chuyện phải đến ngày 9.11.1989, sau khi thảm sát xong hàng ngàn sinh viên Trung Quốc ở Quảng trường Thiên An Môn, Đặng mới chính thức rời khỏi chức vụ Chủ tịch Quân ủy Trung ương?

Thứ năm, Đặng có thực tài trong biến hóa ngôn từ, biến cả cái của người ta thành của mình. Các tác giả đã khẳng định rằng, theo Đặng, cái thứ chủ nghĩa Mác của tất cả những người khác chỉ là “chủ nghĩa Mác trong khe núi” (tr. 123); còn Đặng, cái mà ông có, là “chủ nghĩa Mác chân chính”(?)

Bản quyền hình ảnhOTHER
Image captionSử gia Hà Văn Thịnh nêu 9 điểm phê phán cuốn sách ‘Đặng Tiểu Bình – một trí tuệ siêu việt’ mới tái bản ở Việt Nam.

Làm sao lý giải rằng đó là “chân chính” trong khi xây dựng, hướng tới “chủ nghĩa đại đồng” lại phát động chiến tranh xâm lược Nước Việt Nam XHCN năm 1979, rồi 9 năm sau lại đánh chiếm Gạc Ma, bắn chết 64 chiến sĩ công binh Việt Nam không được lệnh nổ súng? Làm sao “chân chính” khi đàn áp biểu tình năm 1989 bằng cái cách ngay cả Hitler cũng không dám (chỉ có cộng sản dám) là dùng xe tăng nghiền nát hàng trăm sinh viên trẻ trung, trong trắng?…

Thứ sau, có thể là vô ý, nhưng các tác giả đã cho người đọc biết rõ bộ mặt thật của những người cộng sản Trung Quốc khi đã làm “lóe lên” những tia sáng ít ỏi, hiếm hoi của sự thật; theo tôi, đây là cái TỐT đáng kể. Ở trang 390, các tác giả khẳng định rằng chủ ngĩa bè phái (lợi ích nhóm) dường như là thuộc tính của công sản: “trong nhiều đơn vị, không cầm quyền theo tính đảng mà là theo tính bè phái”.

Ghê gớm hơn, ở trang 483, cuốn sách cho người đọc biết rõ chuyện: Chỉ để chống lại một bí thư tỉnh ủy, “người ta” có thể làm chết vài vạn người: “Năm 1968, vụ án do Khang Sinh tạo ra nhằm chống lại Bí thư tỉnh ủy Vân Nam Triệu Kiến Dân làm chết 16.000 người, trong khi năm 1948, Đặng chỉ huy “trăm vạn hùng binh” vượt sông Hoài chỉ thương vong có… 8.000 (tr. 483). Tiếp đó, là chuyện Trần Bá Đạt chỉ vì… “nghi” đảng bộ Khu Ký Đông có liên hệ với Quốc dân đảng, mà tổng cộng 84.000 người đã bị bức hại, trong đó có 2.955 người chết chỉ nhằm mục đích… “trị loạn cứu ổn”?

Trời hỡi trời là câu người viết bài này phải thốt lên khi nghĩ, bàn về chuyện “cứu ổn định” cho chế độ cộng sản có thể làm tán gia bại sản, làm chết hàng vạn con người…

Biến hóa hay siêu việt?

Thứ bảy, cuốn sách của người viết cho người đọc biết rõ trong ba luận điểm nổi tiếng của Đặng được người đời truyền tụng là luận thuyết không tranh luận, luận thuyết mò đá qua sông, luận thuyết mèo trắng mèo đen thì có đến 2/3 là tư tưởng, ý nghĩ, hành động của Lưu Bá Thừa (tr. 507). Tài năng của Đặng so với Lưu chỉ bằng 1/3; 2/3 là biến hóa thì làm sao có thể gọi là siêu việt?

Đặng có thực tài đến cỡ siêu quần không khi cả ba lần lên – xuống, vào – ra Trung Nam Hải của ông ta đều có sự tài trợ của Chu Ân Lai? ( từ tr. 495 đến tr. 507)

Người xưa nói “quân tử cậy mình mà thành” nhưng Đặng thì đã biết cách lợi dụng người mà thành. Ca ngợi đó là trí tuệ siêu việt thì chẳng khác chi tiếp nối bước đi của Trạng Quỳnh vẽ 10 con vật sau 3 tiếng trống…

Tiếp theo, thứ tám, đọc cuốn sách này mới biết chuyện lan truyền trên mạng xây dựng CNXH đến cuối thế kỷ này có khi vẫn “chưa biết được” có thành công hay không, có xuất xứ từ Đặng nói. Chính Đặng đã khẳng định là xây dựng CNXH phải mất vài trăm năm: “Đường lối cơ bản (xây dựng CNXH) phải theo đuổi hàng trăm năm, không được dao động…” (tr. 357).

Cũng biết thêm rằng lời ‘đồn” về việc cho rằng Mao từng coi trí thức chỉ là cục phân là có thật. Các tác giả cuốn sách đã khẳng định điều này – chỉ có điều không hiểu nổi là vì sao những người dịch lại chuyển ngữ thành “sự thối tha”: “Mao Trạch Đông rõ ràng có cách nhìn không đúng với giới trí thức, những phần tử trí thức thành ‘thối tha’” (tr. 361)…

Sử gia Hà Văn ThịnhBản quyền hình ảnhFB HA VAN THINH
Image captionÔng Hà Văn Thịnh cho rằng Việt Nam không nên ‘vui mừng’ khi mà từ năm 2003 cuốn sách mà ông phê phán đã ‘thao túng’ hàng vạn người dân Việt.

Thứ chín và cũng là cuối cùng, những người dịch chắc hẳn nằm trong đội ngũ đặc thù vì họ phiên âm tên người nước ngoài một cách quái đản mà chỉ có trong nội bộ mới hiểu được. Ví dụ, Ngoại trưởng Mỹ Zbignew. Brzezinsky (1977-1981) thì được phiên âm là Brêzinsky 9tr. 71), TS H. Kissinger, ngoại trưởng Mỹ (1971-1974) thì được phiên âm là Kítxingiơ (tr. 63).

Chỉ có những người vừa ta đây “tân tiến” lại vô cùng bảo thủ mới có thể có cách phiên âm kì quặc thế. Thật tiếc là Nhà xuất bản không dám sửa?…

Có một lời bình trong cuốn sách chắc là phù hợp khi dẫn ra để kết thúc bài viết này: “…nếu bức tượng đồng Đặng Tiểu Bình có lý trí, hẳn cũng sẽ mỉm cười hài lòng” (tr 287).

Đặng sẽ sung sướng vô cùng ở nơi suối vàng khi biết Việt nam cho in cuốn sách, tái bản nhiều lần để ca ngợi kẻ đã CHÂM ngòi lửa chiến tranh, thôn tính dần đất nước Việt Nam.

Trong lịch sử loài người ít khi gặp những kẻ tội đồ trơ lì và ngạo ngược đến thế. Cách đây vài ngày, tôi có đọc được những sự tán tụng rằng đã có “lệnh miệng” cho thu hồi cuốn sách trên in năm 2015? Vui mừng cái nỗi gì khi từ năm 2003, cuốn sách độc hại này đã thao túng hàng vạn người dân Việt?

Thành thật xin lỗi mọi người vì lẽ: Tuy mang danh dạy sử mà chỉ biết đến sự thật trụi trần, dơ dáy này sau những… 13 năm(!)…

Bài viết thể hiện văn phong và phản ánh quan điểm riêng của tác giả, một nhà nghiên cứu và giảng dạy sử học từng có nhiều năm làm việc tại Khoa Lịch sử, Đại học Khoa học, Đại học Huế, Việt Nam.

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.02.2017

Tìm lại mình qua “Vần cũ”

img_8193

ĐỌC BỘ SÁCH “NGÔ MINH TÁC PHẨM”, TẬP 4:

Đến với bài thơ hay :

KHÁNH CHI

Tìm lại mình qua “Vần cũ”

 

Vần cũ

         Ngô Minh

 

Ta về

đêm cỏ kiếm tìm

non tây khuyết chén

đàn chìm nốt sương

 

uống đi

mấy kiếp đoạn trường

rượu suông nhấm với

tình suông ơ hờ

 

nát nhàu

vần cũ tờ thơ

trăng theo phù phiếm

gió chờ phù vân

 

uống đi

nghe vỡ tiếng đàn

nghe ta nằm với

muôn vàn

nín câm…

 

 LỜI BÌNH : (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.02.2017

TRANG THƠ PHÁI ĐẸP- THƠ HOÀNG VIỆT HẰNG

 

TRANG THƠ TỰ CHỌN CỦA NHÀ THƠ HOÀNG VIỆT HẰNG

Nhà thơ Hoàng Việt Hằng quê Hà Nội, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Các Giải thưởng văn học: 5 tập thơ: Những dấu lặng, Một mình khâu những lặng im, Vệt trăng và cánh cửa, Xóa đi và không xóa, Trăng vàng ngồi vớt trăng vàng được trao giải thưởng của Tổng liên đoàn lao động, Hội nhà văn Hà Nội, Liên hiệp các Hội VHNT VN, Hội liên hiệp VHNT Hà Nội ; Tặng thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam cho tiểu thuyết Một bàn tay thì đầy và Hội Nhà văn Hà Nội cho tập truyện ngắn Những lời chưa nói hết

Nhà thơ Hoàng Việt Hằng

THƠ HOÀNG VIỆT HẰNG

 

Trăng vàng ngồi vớt trăng vàng

 

vớt tôi lên vớt lên nào

phận như trăng khuyết tiêu dao cuối trời

nhìn giàn thiêu mỗi mảnh đời

thiêu thời gian sống thành người thiên thu

kìa ai phơi  áo xanh lơ

áo người trồng cải bây giờ đi đâu

mảnh đời áo. vợ người giầu

lấy chồng, lấy để mua sầu và sang

nuôi con chồng cũ. con đàn

lên giàn thiêu vẫn mơ màng gặp con

sông Hằng sông giấu héo hon

mà sao lẻ bóng lối mòn nước trong

gió đông thổi dạt chăn  bông

kẻ không chăn đắp nhảy trong đêm tàn.

tiêu thời gian tích tắc vàng

tro tàn thì vẫn tro tàn qua  sông

về nơi vợ phải cưới chồng

trên gầm sông dưới gầm sông mà về.

dịu dàng đem thả bến mê

dịu dàng NGƯỜI chẳng não nề kêu than

thuyền không người lỡ đò ngang

trăng vàng ngồi vớt trăng vàng vớt tôi.

 

Xòe bàn tay bấm ngón tay

 

hình như anh mới về nhà

vừa nâng ngang mặt chén trà vừa pha

bóng người lướt vệt cỏ hoa

chiêm  bao lỗi hẹn ngày  xa chưa về

thoắt mà biền biệt thu đi

mười năm có lẻ nẻo quê  sương mờ

bao lần em đếm bơ vơ

con thì nhỏ dại, nhà xơ xác nhà

em ngồi vớt bóng trăng già

nuôi con với  muối  xát qua nỗi buồn

mười năm không khóc. tủi hờn

chỉ mong không ngã  đường trơn mấy lần

gói vào vạt áo âm thầm

nỗi niềm hiu hắt chờ trăng anh về

hẹn gì với những đam mê

mà em bùa ngải viết  thuê lần hồi

kiếp này duyên  nợ trả rồi

xòe  tay em dám tung trời tiêu dao

tiêu ưu phiền  bấc đèn hao

ưu phiền đáo hạn thành cao nỗi buồn

sớm mai  khoác áo ngày thường

xòe bàn tay gặp con đường em đi.

 

Chùa Hang trong núi Lăng Tiêu

 

chùa Hang trong núi Lăng Tiêu

muốn đi hết phải một chiều mùa đông

học im lặng của con sông

học nguời đốn củi cành cong buông rìu

ngước nhìn dòng chữ phủ rêu

tiếng chim vẫn vọng đìu hiu nơi  này

hình như thớ đá nào đây

có người hay chữ ngủ say lâu ngày

hồn thì lẩn quất trên mây

chờ ta ở núi non này. chờ ta

năm nào cũng có người qua

núi Lăng Tiêu với sông Đà nuớc trong

để làm bạn với đá ong

để cười để khóc trong lòng biết thôi

nỗi buồn riêng của đời người

chẳng san sẻ chẳng chia phôi dễ dàng

xin làm lữ khách đa mang

thỉnh chuông một lậy chùa Hang không người…

 

Đối mặt với cánh cửa

 

một  ngày

chỉ có một ngày thôi

em nhìn thấy kim đồng hồ chết.

kim đồng hồ

sao lại chết

hay là em đã chết đi một phút

trong một ngày mệt mỏi chẳng ước ao

một lá vàng đậu tít ở cây cao

con vẫn hát nghêu ngao nơi  bậc cửa

bức tranh đẹp chẳng muốn nhìn thêm nữa

bản nhạc xanh êm dịu cũng quên rồi

em chỉ muốn ngồi một mình vậy thôi

với nỗi buồn khi chết rồi vẫn nhớ

ngày ngày em đối mặt với cánh cửa

với ấm lạnh trong tay với kim phút kim giờ

nhưng mà mẹ ơi con đói rồi

con ở đây con chờ

tiếng con gọi chạm vào giây cót

và thời gian phút chết lăn đi…

 

Lên Ngọa Vân

 

đi chậm thì leo đến non trưa

ngẩng nhìn cây tùng cổ rồi mơ

sớm nay leo núi qua hồ biếc

thấy trúc  che vàng một lối xưa

ngũ sắc ríu ran từ lau sậy

sư Tiến thổi cơm nuôi rắn ngày

đá cứ tịch u rồi thẫm lại

cho  chiều muộn lắm. vắng chân mây

nâu sồng đơn lẻ quen sương khói

ước cái chi chi hở đất trời?

nếu được xin NGƯỜI cho chữ tĩnh

thỉnh chuông rời rợi bóng một đời

làm đến Vua rồi còn giũ bụi

vịn đến non cao bạn với trời.

 

Ngược sông Mã

 

ngược dòng sông Mã mùa đông

nước sông trong nước sông trong nao lòng

hình như bờ đá rêu phong

để chân em dẫm mà không nói gì

này hoa lau nói gì đi

cô đơn bên núi, mấy khi giãi bầy?

chỉ toàn thấy lá khô bay

mùa hoa dổi tím còn đầy mặt sông

vượt ghềnh lũ xoáy gió giông

chân em lội ngược nước trong thầm thì

rẽ suối Mùn  hái quế chi

hoa lau vẫn thả bùa mê đôi bờ

xin rừng núi cứ hoang vu

để hoang vu

lại hoang vu tìm về …

 

Thác

xuống thác Voi dốc đứng

mỗi bước mỗi bước rêu

nước chín tầng trượt dốc

không ngừng nhìn tôi reo

 

đến thác tìm thấy rêu

rêu thật xanh thác trắng

có mỏng mảnh vệt trăng

hắt lên ngày cuối tháng

 

tôi một ngày xuống vực

lên đỉnh thác dễ gì?

dù đã vượt thác Thí

thác Khe Vằn Bình Liêu

 

lội thác Bà  hùng vĩ

sang Lào trèo Khoang Xi

năm tháng của chuyến đi

chọn hướng nào có thác

 

tôi ký  gửi mất mát

nhờ dòng thác xóa đi

 

tôi ký gửi nước mắt

nửa cuộc tình chia ly

 

dù cuộc đời sống gửi

ký thác xong… thác về.

 

Xóa đi và không xóa

 

giấy bút nào xóa đi cho được

một tên người một địa chỉ email

chỉ cần nhấn delete thì  xóa mãi

nhưng trái tim trong  ngực đang cãi

xóa đi người tử tế  dễ đâu

có thể là anh đang mỉm cười

ở góc chùa xa xa thành phố

tịnh vắng  lắm trời ơi tịnh vắng

chỉ nghe tiếng lá khô gõ cửa ngôi chùa

họa hoằn lắm người phương xa thắp lửa

trên đèn dầu cũ kỹ cuối chiều mưa

một bông trứng gà nở khuất ở phía trong

tìm bới mãi mới thấy hoa trắng xóa

ta thắp đèn cho hoa đừng quạnh qủa

bóng sư thầy xiêu vẹo cuối tam quan

có thể xóa đi lòng tốt của nhân gian

ai  đó sống suốt đời vì người khác

đã  tàn tro mà thời gian không tro tàn

 

trong hồn ta mỗi khi buồn hoang vắng

người ấy dắt ta đi về phía có trăng

 

Bài thơ tình bỏ sót

sau trận ốm chẳng bấu víu vào đâu

đuổi được con thạch sùng

đánh rơi  chồng  bản thảo

bỗng một bài thơ tình bỏ sót

anh viết từ đêm trăng

còn sáng  rỡ cho em

một lời ru nghẹn ngào

em không biết

một hạnh phúc bầm dập ngủ quên

anh đã  từng che chắn rét cho em

giấy úa vàng

mực tím  nhạt nhòa  xem

 

em trắng tay rồi

cuộc tình đã chết.

 

thơ nhắc lại một lời ru  chìm

con thạch sùng vẫn tắc lưỡi dưới đèn.

 

Phan Xi Păng  đỉnh núi

 

chân núi đang mùa hạ

vai núi đã sang thu

ngực núi đầy gió mùa

ù ù đỉnh gió hú

 

có một ngôi chùa cũ

ngói ta chìm trong sương

 

có bao thứ vô thường

khép hờ ngoài cánh cửa

 

không chinh phục ai cả

chỉ  nhìn ngang mây trôi

cúc áo xinh trước ngực

cùng ta lần rong chơi

 

vượt qua mình đâu dễ

trong  giông gió tái tê

biển người đông thế kia

cả khi chen lên núi

 

nhiều lần chân đi tới

tìm ý nghĩ đang trôi…

xuống biển rồi lên núi

cùng cúc áo buồn vui…

 

 

Em đã đốt thơ tình anh tặng

 

đúng là em đã đốt hết thơ tình

anh tặng em tuổi hai mươi trăng vỡ

những bài thơ nhìn tàn tro nín thở

thuộc đôi dòng lục bát giấu ngăn tim.

em không giữ bài thơ tình trong  tủ

Othello chồng em yêu dữ dội hơn nhiều

đành đốt đi

người cũ cũng như rêu

anh trượt khỏi đêm trăng

sang ngày khác.

em cũng như rêu không cho mình phận bạc

đã trăng vàng . vằng vặc ướp mưa thu

không hiện vật

không bảo tàng lưu giữ

em chẳng có gì

cả câu thơ cũ

ngoài mưa phùn gió bấc đem theo…

( Nguồn: vanvn.net)

SÚNG & HOA ĐÀO (Chiến sự 17-2-1979 qua lời kể của những nhân chứng đặc biệt)

(Rút từ facebook của Huy Đức)

image

Trên đường từ Thanh Hóa ra, sau một cuộc điện thoại, nhà thơ Nguyễn Duy quyết định, “Mai đi Lạng Sơn”; rồi từ đó, ông cứ nói một mình, “Chẳng còn dịp nào nữa đâu. Chẳng còn dịp nào nữa đâu”.

Người ở đầu dây bên kia, người khiến Nguyễn Duy đưa ra quyết định đó là Hoàng Thị Tú: một trong bốn “tự vệ” giáo viên của trường Đông Kinh Phố; là “Em, hoa đào muộn”; là một trong những “thường dân” cuối cùng cùng nhà thơ Nguyễn Duy rút khỏi Lạng Sơn vào ngày 24-2-1979.

Từ 1990, chị Tú định cư ở Mascova và vừa trở về thăm nhà. Nguyễn Duy gọi thêm hai cuộc điện thoại cho thầy Trương Hùng Anh và thầy Bạch Tiến Hạnh. Hai người đã nghỉ hưu, rất may, đang có mặt ở Lạng Sơn. Sáng 15-2-2017, khi gặp lại nhau ở Lạng Sơn, cả bốn người lần lượt ôm nhau, lặng đi. Trong cái đêm 23-2-1979, khi giặc Trung Quốc đã tới Tam Lung, khi tiếng pháo vẫn liên tục dội về từ Chóp Chài, khi Lạng Sơn sắp mất, họ thức trắng đêm với nhau trong thị xã.

Ngày 17-2-1979, ngay sau khi đài tiếng nói Việt Nam loan tin, “Trung Quốc đã nổ súng xâm lược nước ta trên toàn tuyến Biên giới”, báo Văn Nghệ lập ngay một tổ “phóng viên chiến trường” gồm 5 người, cả 5 vốn xuất thân từ lính, kể cả lái xe Đào Ngọc Chi. Nguyễn Duy vừa cùng gia đình từ Thanh Hóa ra Hà Nội chờ máy bay về lại Sài Gòn được bổ sung vào tổ. Năm ấy, ông 32 tuổi, vừa từ cuộc chiến Campuchia trở về.

Nguyễn Duy nhớ lại: “Chiếc Command car Rumani tòng tọc của chúng tôi hòa vào đoàn xe chở lính lên phía Bắc. Tối 18-2, tới thị trấn Đồng Mỏ, nhà ga đặc kín thương binh và đồng bào chạy giặc. Đường số Một tắc nghẽn… Đêm ấy, chúng tôi ngủ ở chợ Đồng Mỏ cùng với đồng bào. Tôi và Phạm Tiến Duật nằm chung cái bạt võng, trước vỉa hè nhà bưu điện. Anh Hoài An ngủ trên xe với Đào Ngọc Chi. Anh Hồng Phi cùng với Đỗ Chu leo lên cái bàn bán thịt trong lều chợ không có mái. Tiếng đại pháo từ Lạng Sơn vọng về ùng ình suốt đêm…”

Họ lên tới Lạng Sơn vào ngày 19-2: “Thị xã vắng ngắt. Trời se lạnh. Hoa đào phai thấp thoáng trong sương mù. Đại pháo đội sang từ phía Bằng Tường, tiếng đạn rít veo véo, tiếng nổ lộng óc. Xe chúng tôi băng qua cầu Kỳ Lừa, lao về hướng Đồng Đăng”.

Trung đoàn An Lão đang chặn giặc ở nam Đồng Đăng. Một chiến sĩ liên lạc của trung đoàn dẫn các nhà báo lên thẳng đó. “Ga Tam Lung hiện ra trước mặt. Chiếc xe hồng thập tự của bệnh viện Lạng Sơn vừa bị bắn lật, nữ bác sĩ Thủy tử thương. Tiếp theo, chiếc xe của xưởng phim quân đội trúng đạn, chiến sĩ Như Đạt, quay phim, hy sinh tại chỗ. Cối 81 của địch nhằm vào xe chúng tôi. Nhanh như cắt, Đào Ngọc Chi quặt xe vào con đường rẽ. Quân Trung Quốc từ các cao điểm gần đó nã cối theo tới tấp…”

Hầm chỉ huy trung đoàn An Lão nằm trên sườn cao điểm 417. Vừa gặp, anh Biền, chính ủy trung đoàn đã đề nghị: “Các nhà văn trở về Lạng Sơn ngay cho. Chiến sự đang ác liệt, đơn vị không thể bảo đảm an toàn cho các anh được…”. Các nhà văn, nhà thơ đưa mắt nhìn nhau. Đỗ Chu nói, “Tôi viết về chiến lược chứ không phải chiến thuật”. Phạm Tiến Duật “đồng ý với anh Đỗ Chu”. Hai người quay lại Lạng Sơn.

Hồng Phi nói với Chính ủy trung đoàn An Lão, “Chúng tôi đều con nhà lính, quen thuộc súng đạn cả. Chúng tôi sẽ ở đây theo dõi các trận đánh, và nếu có thể, xin các anh phát vũ khí…”

Chính ủy Biền, nói vắn tắt về tình hình chiến sự. Đêm ấy, trung đoàn An Lão đổi quân ở cao điểm 611, lấy lại được đồi Chậu Cảnh. Căng thẳng quá, sáng 20-2, Nguyễn Duy và Hồng Phi cho lái xe Đào Ngọc Chi xuống nhà khách Giao tế Lạng Sơn, nơi Đỗ Chu và Phạm Tiến Duật đang trú đóng.

Cuối giờ sáng 20-2, Nguyễn Duy lên chốt 417, Trung đoàn cho Tuyến, liên lạc dẫn đường. Tuyến dặn, “Đoạn này ta gài đầy mìn. Anh phải đi sau em 10m, để nhỡ mìn có nổ thì anh cũng không sao”. Gần trưa lên tới chốt, Nguyễn Duy nhanh nhảu cầm máy ảnh nhảy ra khỏi công sự chụp khẩu đội 12,7ly. Những người lính hét lên rồi kéo giật anh xuống hầm. Chỉ trong chưa đầy một phút, cối địch từ tứ phía bắn sang. Hai mảnh đạn cối văng xuống hầm, cắm ngay bên cạnh.

Giặc bắt đầu tổ chức tái chiếm 611. Nguyễn Duy viết: “Từ đỉnh đồi 417, dùng ống nhòm quan sát, thấy quân địch bò lên, đen kín cả sườn đồi, có súng cối và pháo tầm gần yểm trợ. Trên chốt, quân ta chỉ có chưa đầy ba chục chiến sĩ, đêm trước trung đoàn An Lão vừa bàn giao trận địa cho quân địa phương. Đúng giữa trưa thì giặc chiếm được ngọn đồi, chúng dồn hàng đống xác chết lại rải lên từng lớp xăng đặc đựng trong bình vải sơn, và đốt. Trời im ắng, cái im ắng ghê rợn sau trận đánh. Không một gợn gió. Ngọn lửa đốt xác đỏ lòm. Từ đỉnh cao 611, cột khói dựng thẳng đứng lên trời, tỏa ra thành hình cái nấm khổng lồ, đen kịt giữa bầu trời trắng bạc”(Văn Nghệ 2-1983).

Chiều muộn, Tuyến dẫn Nguyễn Duy trở lại sở chỉ huy Trung đoàn. Đêm ấy giặc lấy lại đồi Chậu Cảnh. Sáng 21-2-1979, trung đoàn An Lão được lệnh rút khỏi Tam Lung. Chính ủy Bên nói, “Các anh phải về thôi”. Nấn ná đến trưa, Hồng Phi và Nguyễn Duy vẫn phải men theo đường sắt. Họ lầm lũi bước giữa rải rác xác người và xác trâu, bò.

Trên đường từ Quán Hồ về thị xã, khoảng 6km, họ gặp 4 người lính xơ xác chui từ trong rừng ra. “Bọn em vừa lên thay quân ở 611 thì Tàu đánh lên. Như kiến. Anh em hy sinh hết chỉ còn mấy thằng em, hết đạn phải vất súng lăn xuống núi”. Trong số 4 người lính có một người đứng tuổi, đeo khẩu CKC không còn đạn. Anh nói, “Khẩu này theo tôi từ hơn 10 năm trước khi đánh nhau với quân Park Chunghee ở Bình Định. Không bỏ được”.

Nguyễn Duy và Hồng Phi vét túi còn mấy gói thuốc đưa hết cho họ rồi tiếp tục đi. Không chỉ có 4 người lính ở 611, thầy giáo Bạch Tiến Hạnh nhớ lại, “Thỉnh thoảng lại có những tốp bộ đội ta ngồi khóc hu hu, uất ức; quân giặc tràn lên như kiến mà súng không còn đạn”.

Năm ấy gần như toàn bộ quân chủ lực được dồn hết sang Campuchia. Quân đoàn II chỉ ra tới Bắc Giang, Quân đoàn III chỉ ra tới Thái Nguyên khi giặc Trung Quốc đã rút về bên kia Biên giới. Lực lượng tại chỗ thì bất ngờ. Chị Hoàng Thị Tú nói, “Dù xung đột đã ngấm ngầm xảy ra trước đó. Chúng tôi từng lên Đồng Đăng coi những cuộc chọi nhau bằng đá (vì cấm nổ súng) của cả hai bên. Chiều hôm trước Lạng Sơn vẫn sinh hoạt bình thường, Vậy mà, tờ mờ sáng đã chiến tranh. Chúng tôi được giao ở lại bảo vệ trường, được phát một khẩu K44, 10 viên đạn khi chưa được ai chỉ cho cách sử dụng”.

Nguyễn Duy và Hồng Phi qua cầu Kỳ Lừa thì gặp một thanh niên đi xe Mobylette, anh dẫn hai người về nhà khách giao tế, nơi 3 người còn lại của đoàn đang chờ.

Họ ở lại ba đêm. Ngay trong đêm 21-2-1979, Nguyễn Duy hoàn thành trang thơ Chiến tranh Biên giới cho tuần báo Văn Nghệ. Ông nhớ lại, “Chúng tôi không ngủ, trong nhà khách còn mấy két rượu táo. Chúng tôi uống và vào hang Phai Vệ đọc thơ. Người thanh niên đi xe Mobylette (Hắc Mô Đia, người Tây Nguyên, theo vợ là một cô giáo học chung trường sư phạm về Lạng Sơn) cũng đang dạy ở trường Đông Kinh Phố. Các nhà văn, nhà thơ gặp “tổ tự vệ trường”.

Thầy giáo Bạch Tiến Hạnh nói, “Tôi dạy văn sử, thật không ngờ trong tình huống như vậy, chúng tôi gặp được những người mà mình ngưỡng mộ”. Trong sổ tay của thầy Hạnh vẫn còn giữ bản tốc ký bài thơ ngắn làm tại mặt trận của Nguyễn Duy: ĐÊM Ở CHỐT 417, Thâm lũng, Tam lung… chìm nghỉm trong đen/ Bất chợt lại xanh lè đạn nổ/ Lửa đốt lòng ta những đêm không ngủ/ Là ánh đèn đã tắt dưới làng dân [Lạng Sơn, 22-2-1979].

“Ánh đèn đã tắt dưới làng dân…”

Thầy Hạnh nói, “Mặc dù nhà thơ Phạm Tiến Duật vẫn chép vào sổ tay của tôi bài Ý NGHĨ TRƯỚC TRẬN ĐẦU ĐÁNH THẮNG, với các câu thơ: “Đồng đội ơi, các anh đánh rất tài/ Nếu chúng chưa thật kinh hoàng, hãy cho thêm trận nữa/ Đến bằng lửa, chúng phải đi bằng lửa/ Lần này đến ống đồng chúng cũng chẳng kịp chui”; Nhưng, ông vẫn thừa nhận là ‘vội’, và nhấn mạnh, bài thơ được ông viết đêm 17, 18-2-1979 khi đang ở Hà Nội, khi chưa chứng kiến những gì diễn ra trên mặt trận Lạng Sơn” (đây hình như là bài thơ duy nhất của Phạm Tiến Duật về 17-2).

Do thiếu sự chuẩn bị, và do quân giặc quá đông, mặc dù những người lính và dân quân tự vệ đã chiến đấu vô cùng anh dũng, theo thầy Hạnh, “dùng từ chính xác là chạy chứ không phải rút”.

Khi vừa LÊN MẶT TRẬN, Nguyễn Duy đã thừa nhận: “Quân giặc tràn qua đèo Hữu Nghị/ Đồng Đăng thất thủ rồi/ pháo Bằng Tường dội sang xối xả/ dằng dặc dòng người sơ tán đổ về xuôi…” Ông nhìn thấy trong dòng người đấy, “Hiển hiện những ngày xưa loạn lạc/ Biên ải xưa giặc giã mới tràn vào/ Những gương mặt nghìn năm đanh sắt lại/ Máu lửa ngỡ cũ rồi mà vẫn mới/ Vẫn mới cả nón mê cả áo vá chân trần…” Đặc biệt là những đôi “Mắt trẻ con cứ tròn thao láo/ Như hòn sỏi ném theo đoàn quân đi”. Sáng 15-2-2017, khi đọc lại bài thơ này, Nguyễn Duy khóc, “Nó oán trách, nó giận hờn, phỉ báng (chúng ta) lắm”.

Năm 1979 ở Lạng Sơn hoa đào nở muộn, nào bạch, nào phai… nở rộ vô tư, vô tư như những thầy cô trong “tổ tự vệ” của trường Đông Kinh Phố. Năm ấy họ chỉ mới 23 tuổi. “Chúng tôi hoàn toàn không biết điều gì đang chờ mình”, thầy giáo Trương Hùng Anh nói.

Đêm 23-2-1979, ngoài “tổ tự vệ” còn có tổ công an vũ trang bảo vệ cơ quan Tỉnh ủy, nghỉ đổi ca. Nguyễn Duy, Phạm Tiến Duật chép thơ tặng, các chiến sỹ công an vũ trang của đoàn Thanh Xuyên ghi những dòng lưu bút thiết tha. Đêm, trưởng đoàn Thanh Xuyên cho biết, “Trung Quốc đã tràn qua Tam Lung, yêu cầu các nhà báo và các thầy cô giáo rút lui”. Thầy Hùng Anh kể, “Tổ tự vệ” đòi ở lại, Trưởng đoàn Thanh Xuyên quát, “Chúng mày nghĩ, với 10 viên đạn và khẩu K44 này chúng mày có thể làm được gì à, chưa kể không biết có mấy viên đạn lép. Đừng liều lĩnh một cách ngu ngốc”.

Thầy Hùng Anh nói, “Nếu không có nhóm anh Nguyễn Duy thì chúng tôi sẽ không đến chỗ khu Giao tế, không gặp các chiến sỹ công an vũ trang đoàn Thanh Xuyên và không được nhóm anh Duy thuyết phục thêm, có thể chúng tôi đã ở lại. Khi đó chúng tôi chỉ là những thanh niên”. Thầy Hạnh nói thêm, “Sau này nhớ lại, nghĩ, nhỡ khi đó mình chết, mọi người sẽ nghĩ mình là gì, một chiến sỹ tự vệ hay một kẻ quay lại hôi của. Tất cả đều có thể. Nhưng, chỉ nghĩ đến chuyện giặc nó sắp đến nhà mà phải bỏ chạy thì đau lắm”.

Sáng hôm sau, 24-2, mọi người quyết định rút. Người phụ trách nhà khách nói, “Còn nhiều thuốc, nhiều chè lắm các anh ạ”. Nhưng theo Nguyễn Duy, họ chỉ lấy một ít, dành chiếc command car để chở đào. Những cây đào trong khu giao tế đã sống hàng trăm tuổi bắt đầu bị chặt. Nguyễn Duy rất tiếc. Cô giáo Hoàng Thị Tú khóc, ngăn lại. Đỗ Chu nói, “Mảnh đất này sắp mất còn tiếc gì mấy cành đào”.

Hoàng Thị Tú là con gái Bí thư Tỉnh ủy Hoàng Trường Minh. Cô đã không về Đồng Mỏ sơ tán ngay trong sáng 17-2 cùng gia đình, cùng với những người dân thị xã. Cô chốt giữ trường và “chốt lại” mãi trong DẠ HƯƠNG: “Sẽ rất nhớ dáng người vừa thoáng gặp/ Chiều Lạng Sơn súng nổ rụng hoa đào/ Những giọt máu của vườn cây vung vãi/ Trường sơ tán rồi, cô giáo còn chốt lại/ Khẩu súng thép chéo lưng con gái/ Ôi tấm lưng kia ngỡ sinh ra để mà mềm mại…” [Nguyễn Duy, Lạng Sơn 22-2-1979].

Khi Nguyễn Duy đã về đến Hà Nội, Dạ Hương đã được đăng lên báo Văn Nghệ, cô giáo Hoàng Thị Tú còn có một hành động vô cùng bồng bột và quả cảm.

Chị Tú nhớ lại, “Khi ngồi trên xe quay về Đồng Mỏ, dù thị xã Lạng Sơn gần như không một bóng người, tôi vẫn luôn tự vấn, luôn có cảm giác như là mình đang bỏ chạy”. Gặp gia đình rồi mới chợt nhớ, toàn bộ hồ sơ của nhà trường, đặc biệt là học bạ, được “tổ tự vệ” mang vào giấu trong hang Phai Vệ vẫn còn đó. “Tôi chỉ nghĩ đơn giản, khi các em quay lại trường mà hồ sơ học bạ không còn thì sao. Tôi nhờ mấy người nhưng không ai đồng ý cùng quay trở lại. Chỉ có anh Chu, lái xe của ba tôi, sẵn sàng cùng đi. Hai anh em chạy chiếc xe Volga đen quay lại Lạng Sơn khi chiều bắt đầu xuống, không biết đó là một hành động cực kỳ nguy hiểm; pháo bắn đuổi theo xe ngay sau khi chúng tôi quay về, qua khỏi cầu Kỳ Cùng”. Toàn bộ hồ sơ, học bạ của trường Đông Kinh Phố đã được cô giáo Tú đem về Đồng Mỏ. Mấy ngày sau đó giặc cho nổ bộc phá phá hang Phai Vệ.

Ngày 6-3-1979, Trung Quốc tuyên bố rút quân.

Công thự mà gia đình Tú ở trong khu Tỉnh ủy bị bộc phá giật sập. Thầy Bạch Tiến Hạnh kể, “Khi chúng tôi về lại thị xã, vẫn còn nhìn thấy bộc phá gài trong hàng loạt ngôi nhà, lính Trung Quốc rút đi mà chưa kịp giật nổ”. Thầy Trương Hùng Anh nói, “Quân Trung Quốc biết từng địa chỉ trong thị xã này, tất cả nhà cán bộ đều bị giật sập, tất cả các cột điện đều bị cho nổ bằng bộc phá”.

Tháng 7-1979, nhà thơ Nguyễn Duy quay lại Lạng Sơn. Đường lên Lạng Sơn lúc đó không còn bị bỏ ngỏ như thời 17-2. Nhiều công sự đã được lập với những cái tên như “phòng tuyến sông Như Nguyệt; phòng tuyến sông Cầu…”

Ở Lạng Sơn, ông kể: “Tôi ngơ ngẩn trước cảnh đổ nát. Cả vườn đào cũng bị đánh bằng thuốc nổ, không còn một nhánh, những cục nhựa đào đông lại nơi gốc đào cụt trông như những cục máu bầm chưa khô. Các khu nhà sang trọng chỉ còn là cái đống gạch vụn. Vô vàn mảnh thủy tinh ruột phích nước rải lấp lánh dưới mặt đất. Vòm hang đá núi Phai vệ sập hẳn, có lẽ quân giặc đã phải dùng ít nhất là mười tấn thuốc nổ. Động Tam Thanh nổi tiếng bao đời nay cũng đen ngòm khói thuốc bộc phá, một cái hố rộng hoác, khét lẹt choán hết cả lòng động… Phố nhà, vườn tược, cỏ hoa cho đến cả hang động đều chung một số phận thảm sát”.

Lúc này, Nguyễn Duy chia tay Lạng Sơn, chia tay “tổ tự vệ”, chia tay cô giáo Tú không còn nhẹ nhàng như một thoáng dạ hương. Ông đã “gửi lại đây cái buồn vô cớ “. Còn cô giáo Tú thì “đưa tiễn” ông với “bước chân (vẫn) gìn giữ lắm/ hạt mưa dùng dằng ngọn cỏ ven đê” [Nguyễn Duy thú nhận, chỉ vì đây là một trạng thái “không rành mạch”; chỉ vì sông Kỳ Cùng thì không có đê mà bài thơ của ông được chính ông đổi thành Sông Thao dù “nỗi nhớ bâng quơ” mà ông mang về là từ sông Kỳ Cùng].

Năm 1985, Nguyễn Duy sang Mascova ba tuần theo lời mời của Hội Nhà văn Liên Xô. Ở Nội Bài khi vừa lên máy bay thì gặp Tú đã ngồi trong đó, cô cũng được đưa sang Puskin tập huấn về tiếng Nga…

Năm 1989, Nguyễn Duy ra Hà Nội đúng dịp kỷ niệm 10 năm chiến tranh Biên giới, tình cờ gặp, Tú nói, “Lạng Sơn mời chúng ta về, anh đã ra đây thì đi cùng nhé”. Rồi Tú lo xoay vé, 10 giờ đêm, cô tìm tới nhà em gái Nguyễn Duy ở khu tập thể Điện Lực, nói, 3 giờ sáng phải có mặt ở bến xe Gia Lâm.

Nguyễn Duy nhớ lại, trên xe hai người ngồi thu lu, dưới gầm là đồng, là chì… trên nóc xe là mèo, là lợn giống… Đường lên Lạng Sơn không còn nghe danh những phòng tuyến hào hùng, xe chạy qua những Phố Tráng, những Mủng, Mẹt… bắt đầu bị làm luật. “Lần đầu tiên tôi nghe từ làm luật”, Nguyễn Duy nhớ lại.

Cuộc chiến Biên giới kéo dài gần 10 năm, ở những khu vực như “Bình Độ 400…” của Lạng Sơn hay Vị Xuyên của Hà Giang, chiến sự xảy ra trong giai đoạn 1984-1987 là vô cùng khốc liệt.

Lúc ấy, chiến tranh cũng chưa phải là hoàn toàn kết thúc, nhưng Lạng Sơn, bên cạnh những đống gạch nát bắt đầu xuất hiện quán xá. Nông thổ sản, phế liệu được bán sang Trung Quốc, bia Vạn Lực được gùi về. Ở chợ Kỳ Lừa, cửu vạn Việt Nam, ngồi bên cửu vạn Trung Quốc cùng say túy lúy. “Giá như không có chiến tranh”, Nguyễn Duy viết: “Chợ trời bán bán buôn buôn tít mù/ Ta đầy một bị ưu tư/ Giá như cũng bán được như bán hàng/ Trớ trêu nỗi Hữu Nghị Quan/ Giá như máu chẳng luênh loang mặt đèo/ A. Q. túm tóc Chí Phèo/ Để hai bác lính nhà nghèo cùng thua…”

“Ta về thăm chiến trường xưa/ em – hoa đào muộn Kỳ Lừa mùa xuân/ gió đi để lạnh mưa dầm/ người đi để buốt dấu chân trên đường…” Hai người lang thang suốt hai ngày ở Lạng Sơn. “Tổ tự vệ” lúc đó còn có Bình. Trừ tổ cảnh vệ đoàn Thanh Xuyên, những người có mặt ở Lạng Sơn trong cái đêm 23-2-1979 về sau đều trở thành thân thiết.

Riêng Nguyễn Duy thì không thể nào nguôi nỗi lòng Tô Thị: “Giá như đừng biết ngày xưa làm gì/ Giá như đá chả vô tri/ Để ta hỏi lối trở về thiên nhiên/ Giá như ta chớ gặp em/ Để không mắc nợ cái duyên Kỳ Cùng/ Giá như em đã có chồng/ Để bòng bong khỏi rối lòng người dưng”.

Lạng Sơn 1989 là cuộc hội ngộ “sau cùng” của hai người. Năm 1990, Hoàng Thị Tú sang Liên Xô làm nghiên cứu sinh. Năm 1993, chị lấy chồng.

“Chẳng còn dịp nào nữa đâu. Chẳng còn dịp nào nữa đâu”. Tối khuya, về tới Hà Nội, chị, giờ đã bước qua tuổi 60, “đưa tiễn” anh vẫn với “bước chân gìn giữ lắm”. Trước đó, khi chị đòi trả tiền cơm, anh nói to, “Tú ơi, đừng trả, hôm nay em là khách của bọn anh”; chị trả lời rất khẽ, “Em biết, em lúc nào cũng là khách”.

PS: Ý NGHĨ TRƯỚC TRẬN ĐẦU ĐÁNH THẮNG: I. Tội ác chúng nghìn xưa ta những muốn quyên đi/ Nhưng giặc Tàu ngày nào lại hiện hình dáng cũ/ Sự độc ác và hợm hĩnh cổ truyền/ Đã dẫn xác đến đây nhờ ta đắp mộ/ II. Chút danh dự cuối cùng cũng tự vùi chôn/ Máu Đại Hán hồi này lại lên cơ huyết áp/ Ta đập nát bọn bá quyền xâm lược/ Cũng một phần vì hoa Biên giới mai sau/ III. Đồng đội ơi, các anh đánh rất tài/ Nếu chúng chưa thật kinh hoàng, hãy cho thêm trận nữa/ Đến bằng lửa, chúng phải đi bằng lửa/ Lần này đến ống đồng chúng cũng chẳng kịp chui [Phạm Tiến Duật, Hà Nội đêm 17, 18-2-1979. Kỷ niệm những ngày chung sống với các bạn ở lại thị xã Lạng Sơn trong tầm pháp bắn].

YẾU TỐ VÔ THỨC TRONG MỘT VÀI TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

NGUYỄN ĐỨC TOÀN
Yếu tố vô thức đã mở ra con đường lí tưởng dẫn vào địa hạt văn chương nhằm khám phá những gì thầm kín, bí ẩn nhất của bản thể người. Việc lựa chọn đưa vô thức vào sáng tác cũng đã tạo động lực thúc đẩy nhà văn đương đại tìm đến sự đổi mới bút pháp.

Phân tâm học ra đời đã chứng minh “cái tôi không phải là chủ nhân trong ngôi nhà của chính nó”, bởi lẽ, một bộ phận đáng kể những hành vi của con người thoát khỏi sự canh chừng của ý thức. Phạm trù vô thức gắn bó hơn cả với tên tuổi của vị bác sĩ người Áo, Sigmund Freud, thủy tổ của phân tâm học (psychoanalysis). Ông cho rằng, quá trình sáng tạo của nghệ sĩ cũng như cơ chế của một giấc mơ, chúng đều chứa đựng những miền tưởng tượng nhằm giải tỏa những ẩn ức, thỏa mãn những xung năng.

Sau 1986, sự đổi thay trong đời sống xã hội, bầu không khí đổi mới, “cởi trói” trong đời sống văn học, sự giao lưu văn hóa, văn học, việc tiếp xúc với các lí thuyết văn học hiện đại trên thế giới… đã dẫn đến hiện tượng đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người và nhu cầu cách tân lối viết của các nhà văn Việt Nam. Từ đây, vô thức trở thành đối tượng khám phá và phương tiện kiến tạo tác phẩm một cách tự giác trong nhiều tác phẩm của họ.

Tiểu thuyết Việt Nam đương đại xuất hiện kiểu không – thời gian của cõi vô thức – nơi chập chờn kí ức, bất định suy tư, hoang hoải giấc mơ… Kiên (Nỗi buồn chiến tranh – Bảo Ninh) luôn sống với những kỉ niệm, từ quãng đời bình yên rực rỡ bên Phương cho đến những tháng ngày trải nghiệm chiến tranh. Hoa, Khánh (Người sông Mê – Châu Diên) cũng không ngừng trở về với quá khứ, thậm chí trở về với những tiền kiếp xa xưa. Ở thế giới tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương, quãng đời tuổi thơ của Hoàn, những ngày ở thành cổ Quảng Trị của Thắng (Người đi vắng), mối tình với Kim của Khẩn (Ngồi)… đều là những miền ám ảnh của nhân vật. Khi nhà văn sử dụng kĩ thuật dòng ý thức, các sự kiện trong tác phẩm thường dàn trải, không có thắt nút, cao trào, mở nút; chúng chỉ là cái cớ, còn dòng ý thức, nhận thức, chiêm nghiệm của nhân vật hoặc của người kể chuyện mới là nội dung cơ bản. Kiên (Nỗi buồn chiến tranh) chìm sâu trong những cơn mơ, những hồi tưởng về quá khứ, một quá khứ đau thương và ngọt ngào. Cũng tạo dựng những suy tư đứt nối theo kí ức nhân vật nhưng tác giả Người sông Mê lại sử dụng yếu tố huyền ảo để làm cơ sở cho dòng nội cảm ở nhân vật được chảy trôi miên man, nửa mê nửa tỉnh cả khi họ còn sống hay đã chết. Dòng hồi ức ngẫu nhiên, tùy tiện cũng làm nên chân dung nhân vật chính trong các tiểu thuyết gần đây của Đoàn Minh Phượng. An Mi (Và khi tro bụi) luôn hiện diện qua những dòng độc thoại nội tâm đầy rối bời, mâu thuẫn. Chuỗi hồi ức, ảo giác, tưởng tượng đan xen, hòa quyện vào nhau làm cho ta có cảm giác cô lạc vào mê cung của những kỉ niệm, liên tưởng đứt đoạn, đổi hướng đang chảy miên man không thể sắp xếp được. Hồi ức về người chồng quá cố, về người cha nuôi, về những bức tường đá lạnh tuổi thơ, về những nốt nhạc, về chiến tranh… dường như cùng lúc sống lại với hiện tại đổ nát của An Mi. Những hồi tưởng bất định và bất tận như thế đã hé mở một hiện tại trống rỗng, đầy u ám của một người phụ nữ tuyệt vọng, không lối thoát. Ngoài những dòng hồi ức tự bạch, trong Và khi tro bụi ta còn bắt gặp những giấc mơ của An Mi – một dạng đặc biệt của hồi ức. Trong mơ, những cảm xúc, ấn tượng từ tầng sâu vô thức trở nên rõ nét. Anita hiện về trong giấc mơ của An Mi là một gương mặt mờ nhòe nhưng có lời nói, cử chỉ, hành động và có cả tâm trạng. Qua cuộc nói chuyện với linh hồn Anita, An Mi có thể thấy được sự cô độc, lạc loài, vô vọng của người đàn bà xấu số bị bỏ rơi, bị lãng quên. Giấc mơ ấy khiến cô chợt nhận ra thân phận của mình, cô khóc thương cho Anita cũng là khóc thương cho chính mình. Hồi ức về người cha nuôi là những kỉ niệm ngọt ngào xen lẫn cay đắng cũng giống như một giấc mơ lạ lùng… Tất cả không đem đến cho người đọc một hiện thực đáng tin nào hết nhưng dẫn dụ họ cùng suy ngẫm về ý nghĩa cuộc sống, về cái lạ lùng, đa đoan của thân phận người.
Như vậy, việc thâm nhập vào cõi vô thức đã mở ra con đường để các nhà văn lách sâu hơn nữa ngòi bút của mình vào đời sống bên trong của nhân vật, tìm thấy ở đó những trạng thái, những diễn biến tâm lí chứa đựng nhiều mâu thuẫn. Nhân vật được giản lược những yếu tố liên quan đến tiểu sử, nhân dạng, hành động nhưng được làm “dày hóa” về phương diện tinh thần, nhờ đó mà hình tượng con người hiện lên đa chiều, gần bản chất người hơn. Nhân vật trong tiểu thuyết đương đại có hiện tượng nhiều con người cùng tồn tại như những mảnh, những phiến đoạn vừa mâu thuẫn, vừa bổ sung cho nhau. Dù cùng được xây dựng như những con người phức hợp, đa bình diện, được khám phá ở góc độ tâm linh, vô thức nhưng các nhân vật này không hề trùng lặp mà vẫn có sắc diện riêng. Thí dụ, nhân vật Kiên (Nỗi buồn chiến tranh) hiện thân là một người lính được nhìn nhận ở bình diện đời tư, được quan tâm ở bi kịch cá nhân với những vết thương tinh thần không thể lành miệng, và để làm nổi bật điều đó, Bảo Ninh để Kiên tự thể hiện mình qua dòng hồi ức nhiều đứt gãy, xáo trộn. Các nhân vật Khánh, Hoa trong tiểu thuyết của Châu Diên lại được xây dựng là những con người trẻ tuổi có đời sống tinh thần lành mạnh, khỏe khoắn, tuy vậy, họ cũng rơi vào tình trạng nhớ quên lẫn lộn khi tác giả để họ sống với nhiều kiếp qua việc sử dụng yếu tố siêu nhiên huyền ảo. Nhân vật của Nguyễn Bình Phương cũng mang bi kịch tinh thần như Kiên, cũng hiện lên trong nhập nhòa thực – ảo như nhân vật của Châu Diên nhưng họ sống gần với bản năng, chất chứa nhiều dục vọng và mang những tính cách “phân rã”, không xác định. Những đổi mới trong nghệ thuật xây dựng nhân vật ở các tiểu thuyết kể trên là hình thức phù hợp nhất để đưa đến cho người đọc những cảm quan mới về văn chương, và gần gũi hơn nữa là về cuộc sống, về con người.

Ngôn ngữ được coi là “yếu tố thứ nhất của văn học”. Với sự khám phá vào cõi vô thức, một mặt các nhà văn cố gắng tìm tới những hình thức ngôn từ phù hợp nhất nhằm biểu hiện được tầng sâu trong tâm lí con người, mặt khác cũng phải thấy rằng có những khi, từ ngữ hoặc câu văn bất chợt ùa tới theo dòng trôi của cảm xúc, tư tưởng nơi chủ thể sáng tạo. Nỗi buồn chiến tranh đem đến cho người đọc một áng văn đẹp, đậm chất trữ tình được tổ chức một cách khá tự do, không tuân theo logic, trật tự thông thường. Với một lối viết như buông lỏng mà chặt chẽ, Người sông Mê lại gây chú ý nhiều hơn ở kiểu câu liệt kê bất tận và kiểu diễn đạt nước đôi. Ở Thoạt kì thủy, những từ ngữ quen thuộc khi miêu tả về trăng không được lặp lại, thay vào đó là những hình dung rất lạ nhuốm màu kì quái, bí hiểm nhưng cũng đậm chất thơ. Cũng với cách thức triển khai lớp ngôn từ đứt nối, nhà văn đã khai thác và sử dụng thành công ngôn ngữ độc thoại ở dạng thức đặc biệt của nó, đó là chuỗi lời câm. Trong chuỗi lời câm, tác giả cũng sử dụng rất nhiều từ tượng thanh tượng hình, diễn tả những trạng thái khá đa dạng và có phần siêu thực, phi lí ở một kiểu nhân vật tàn khuyết về tâm lí. Mật độ các cuộc thoại trong Người sông Mê xuất hiện dày hơn. Sự không ăn khớp trong các cuộc thoại của Hoa và Khánh là do họ lẫn lộn giữa các kiếp sống. Đang nói với Hoa, Khánh lại gọi tên Hương, một tiền kiếp của Hoa. Đang là lời Khánh kể với Hoa về bố của Khánh lại lẫn sang lời kể của chính bố Khánh với Hoa. Đây là một thủ pháp để tác giả chuyển mạch truyện và trao điểm nhìn cho những nhân vật khác nhau để họ tự kể về đời mình. Những cuộc thoại trên mang hình thức là ngôn ngữ đối thoại nhưng thực chất nó là biến thể đặc biệt của độc thoại nội tâm. Khi xây dựng những đoạn đối thoại này, các nhà văn đã tô đậm cái ngẫu nhiên, tính bất quy tắc của đời sống, và nhất là đã diễn tả được những trạng thái tinh thần chứa đựng nhiều ám ảnh, ẩn ức khiến cho lời nói phát ra không đi theo logic thông thường. “Khoảng trắng” giữa các dòng thoại, vì vậy, cũng là khoảng trống trong tâm hồn con người.

Sự khám phá yếu tố vô thức không chỉ cho phép các nhà văn tìm tòi những hình thức ngôn từ phù hợp để diễn tả, dẫn đến việc sáng tạo những tổ hợp ngôn từ mới hay việc triển khai lớp ngôn từ có nhiều đứt nối mà còn thúc đẩy họ tìm đến những cách hành văn độc đáo. Xuất hiện khá nhiều trong tiểu thuyết đương đại là những câu văn không đi theo cú pháp truyền thống, hoặc những câu văn cực ngắn, hoặc câu văn rất dài. Kiểu câu văn ngắn vừa là kết quả của việc đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ của bạn đọc thời hiện đại với quỹ thời gian hạn hẹp trong sự tương thích với dung lượng thường là không dài của một tác phẩm, mặt khác, nó cũng là sản phẩm của việc cố gắng diễn tả chiều sâu vô thức. Nó phù hợp với việc thể hiện trạng thái tâm hồn luôn có sự xê dịch với những ý nghĩ, những cảm xúc đến bất chợt, có khi là lộn xộn, rối rắm. Trong dòng hồi ức đau khổ và liên tục đứt gãy, xáo trộn của Kiên (Nỗi buồn chiến tranh), những kỉ niệm, cảm xúc luôn luôn là một sự chảy trôi bất tận với những ngã rẽ bất chợt, không đầu không cuối. Việc chen vào những câu văn ngắn giữa điệp trùng những câu văn dài có tác dụng đặc tả được vết thương tâm hồn nơi Kiên. Châu Diên cũng sử dụng khá nhiều câu văn ngắn trong Người sông Mê và kiểu câu này thường gắn với nhân vật Khánh với những suy tưởng khi còn sống và cả khi đã chết. Không giống như Bảo Ninh viết câu văn ngắn với tính từ chỉ cảm giác và không có chủ ngữ đi kèm, câu văn ngắn của Châu Diên thường vẫn hiện diện đầy đủ cả thành phần chủ ngữ và vị ngữ xen kẽ với những câu khuyết thiếu một thành phần ngữ pháp. Câu văn ngắn khiến cho mạch văn trở nên gấp gáp. Kiểu câu này xuất hiện với mật độ đậm đặc trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương và trở thành một nét phong cách ngôn ngữ của tác giả. Ở nhiều tác phẩm của nhà văn này, hầu hết các câu chỉ có một mệnh đề, một thông báo, trong đó loại câu không có chủ ngữ chiếm ưu thế. Trong Thoạt kì thủy, kiểu câu này chiếm vị trí chủ đạo. Mỗi câu là một thực thể độc lập, mối quan hệ giữa các câu văn đứng cạnh nhau lỏng lẻo khiến cho mạch văn xô lệch, diễn tả một khung cảnh hỗn mang với những con người chìm sâu trong đời sống bản năng dục vọng tăm tối. Đặc biệt, câu văn trong những chuỗi lời câm của Tính bao giờ cũng ngắn và sắp xếp lộn xộn, phản ánh rất chính xác cái rối loạn, cái phi logic trong tâm lí người điên.

Bên cạnh dạng câu văn ngắn đang khá thịnh hành trong lối viết hiện nay lại có những câu văn rất dài như đã nói. Đây vừa là một sự “cố tình của bút pháp”, vừa là sản phẩm của những khoảnh khắc người nghệ sĩ ngôn từ buông lơi lí trí để ngọn bút siêu thăng vào miền vô thức. Những câu văn kéo dài miên man diễn tả dòng ý thức trôi nổi bất định của nhân vật và cũng là sự thả nổi cảm xúc nơi nhà văn. Bảo Ninh đã viết Nỗi buồn chiến tranh bằng niềm yêu thương, đau khổ, nhớ nhung, day dứt từ chính những trải nghiệm đời mình. Câu văn trong tác phẩm luôn đong đầy cảm xúc, chứa chan nỗi niềm, chảy đều đều, lặng lẽ giống như nỗi buồn dằng dặc của nhân vật chính. Có những câu văn trập trùng hình ảnh, các hình ảnh có vẻ ngẫu nhiên tùy tiện, nhảy cóc không theo một trật tự nào và cũng không biết khi nào dừng lại. Dường như Bảo Ninh đã bỏ quên cấu trúc ngữ pháp thông thường để câu văn trở thành những lớp sóng ngôn từ lột tả dòng kí ức miên man, lột tả tiếng nói của vô thức.

Có thể thấy rằng, khi khám phá vào thế giới tâm hồn con người, trong đó vô thức là một bình diện được chú ý khai thác, các nhà văn đã cố gắng tìm ra những hình thức nghệ thuật phù hợp nhất để khắc họa trên trang sách của mình những “tấm phim âm bản” của mỗi cá thể người. Những nỗ lực ấy góp phần củng cố niềm tin của độc giả về sức sống của tiểu thuyết hôm nay và vai trò của nhà văn trong việc khơi mở những vùng hiện thực mới.
Nguồn: Văn nghệ Quân đội

Chiến lược lấn chiếm lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam của Trung Quốc: Thời điểm hành động và thông điệp

  •   HẠ MAI

Trung Quốc là quốc gia nhiều tham vọng; trong đó, tham vọng về mở rộng ảnh hưởng, mở rộng địa bàn hoạt động, mở rộng cương vực sinh tồn, lãnh thổ, đất đai là một trong những trục có tính xuyên suốt, nhất quán từ lịch sử tới hiện tại. Áp lực dân số và “ước mơ Trung Hoa” – “ước mơ” trỗi dậy một cách nhanh chóng, trở thành siêu cường có khả năng chi phối thế giới càng củng cố, thúc đẩy Trung Quốc thực hiện chiến lược “lấn dần”, “chèn ép”, tranh đoạt đất đai, sông biển của láng giềng, nhất là của các nước láng giềng nhỏ và yếu hơn.

1. Ngược dòng sự kiện

Là quốc gia thích “gây hấn”, thường xuyên “gây hấn” để đạt mục tiêu và mang lại lợi ích một cách tối đa nhất; đồng thời, cũng là quốc gia từng lâu đời cọ sát, đang tham gia giải quyết nhiều vấn đề trên chính trường quốc tế, Trung Quốc có kinh nghiệm lão luyện chuẩn bị, chọn và thúc đẩy thời điểm quyết định hành động. Có nhiều cách thức trong lựa chọn thời điểm bắt đầu của Trung Quốc, song cách phổ biến, cổ truyền và cũng hữu hiệu nhất vẫn là lựa khi quốc gia – đối tượng trong tình thế có những bất ổn nội bộ, gặp rắc rối hoặc có vị thế yếu trên trường quốc tế. Đó là lúc “trong không ấm, ngoài không êm” và nếu quốc gia bị Trung Quốc “nhòm ngó” có những quyết định đương đầu mạnh mẽ, dứt khoát, thì tác dụng, hiệu quả cũng bị hạn chế đáng kể – trong điều kiện đó, Trung Quốc đã kịp thời và nhanh chóng chớp lấy thời cơ thực hiện mục tiêu định sẵn.

Xâm lấn, đánh chiếm lãnh thổ các nước láng giềng, Trung Quốc không chỉ tính toán thời điểm hành động, mà còn tính toán kỹ càng mục tiêu hành động. Trung Quốc luôn hướng tới những mục tiêu kép, có nghĩa là bỏ “vốn” ít, song làm sao “lãi” lớn nhất – một hành động, nhiều mục đích, nhiều thông điệp.

Minh chứng cho nhận định trên, có thể dẫn dụ những vụ việc điển hình trong lịch sử Trung Quốc xâm lấn lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam.

Trước tiên là sự kiện Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa vào tháng 1-1974. Bối cảnh lúc đó nhìn tổng thể như sau: Từ tháng 2-1972, quan hệ Trung – Mỹ được cải thiện một bước đáng kể sau chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Mỹ R. Nicxon – một chuyến thăm như R.Nicxon hoan hỉ nhận xét: “Đây là một tuần lễ làm thay đổi thế giới”[1]; “hai nước chúng ta đã nắm tương lai của thế giới trong lòng bàn tay”[2]. Tháng 1-1973, Hiệp định Paris lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, Mỹ rút quân khỏi Việt Nam, theo đó, Hạm đội 7 rút khỏi khu vực quần đảo Hoàng Sa. Sau khi Mỹ rút, Việt Nam Cộng hòa gặp phải những khó khăn về kinh tế, quân sự và lúng túng trước những lục đục nội bộ, trước các phong trào phản chiến, trước các phong trào đấu tranh chính trị; đồng thời, phải căng mình chống đỡ các cuộc tiến công của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Về phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hiệp định Paris mở ra cơ hội thống nhất đất nước, miền Bắc Việt Nam dốc toàn lực chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công “một ngày bằng 20 năm”. Cũng từ năm 1973, Philippines tăng cường sự hiện diện ở khu vực Trường Sa, chính quyền Sài Gòn có những động thái tích cực trong xác định chủ quyền và khai thác tài nguyên, nếu không hành động, sau này việc chiếm đóng Hoàng Sa sẽ khó khăn thêm. Phân tích tình hình, Trung Quốc nhận thấy đây là cơ hội tốt để thực hiện quyết tâm độc chiếm quần đảo này. Đúng như Trung Quốc định liệu, khi hải chiến Hoàng Sa xảy ra, vì đang cần tranh thủ sự ủng hộ của Trung Quốc đối với công cuộc giải phóng miền Nam; đồng thời, bị trói buộc bởi “vòng kim cô” ý thức hệ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không lên tiếng (chỉ có Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra tuyên bố). Vừa cải thiện quan hệ với Trung Quốc, không mấy thiết tha với chính quyền Sài Gòn, hy vọng “sự kiện Hoàng Sa” trở thành “khúc xương” trong quan hệ giữa hai quốc gia cộng sản, Mỹ đã im lặng. Cuối cùng, chỉ còn Việt Nam Cộng hòa lên tiếng phản đối và đề nghị các quốcgia đồng minh đưa vấn đề Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa ra Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, song kết quả nhận được là hạn chế. Tiến hành cuộc đột kích đẫm máu, Trung Quốc không chỉ chiếm trọn quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, mà còn mở rộng cương vực hoạt động, khẳng định với các nước Đông Nam Á chiến lược hướng ra biển Đông với mục tiêu bất biến là trở thành một đế chế biển rộng lớn.

Năm 1979, sau một thời gian dài chuẩn bị, Trung Quốc đưa 60 vạn quân cùng với gần 800 xe bọc thép, xe tăng, trọng pháo và máy bay các loại đồng loạt tấn công 6 tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam. Vào thời điểm đó, tình hình kinh tế – xã hội Việt Nam đang gặp những khó khăn to lớn: Năm 1979, tổng sản phẩm xã hội, thu nhập quốc dân đều giảm[3]; thiếu lương thực gay gắt[4]; lạm phát diễn ra nghiêm trọng; thu chi ngân sách phải dựa vào vay và viện trợ nước ngoài, lòng tin của nhân dân đối với chế độ giảm sút, tâm trạng xã hội căng thẳng, nao núng. Cùng lúc, Việt Nam bị “sa lầy” tại Campuchia, vừa phải đối đầu với tàn quân Polpot, vừa gánh đỡ đất nước Campuchia sau thảm họa diệt chủng. “Vấn đề Campuchia” khiến Việt Nam cô đơn, lẻ loi hơn bao giờ hết trong quan hệ đối ngoại. Các nước lên án Việt Nam “xâm lược”, rút quan hệ, bao vây, cấm vận; thậm chínhững quốc gia trước đây là đồng minh, bạn bè cũng nhìn Việt Nam với con mắt nghi ngại, lạnh nhạt. Trong tình hình bất lợi đối với Việt Nam, Trung Quốc tiến hành chiến tranh xâm lược mà không cần nguyên do/nguyên cớ (trong khi năm 1964, Mỹ phải viện sự kiện Vịnh Bắc Bộ mới có thể đưa quân vào Việt Nam), tuyên bố “dạy cho Việt Nam một bài học”, viết nên “quyền” hành xử bất chấp luật lệ. Sau khi rút quân (5-3-1979), tuyên bố không tham vọng dù “chỉ một tấc đất của Việt Nam”, song trên thực tế, Trung Quốc đã chiếm giữ một số điểm cao có ưu thế quân sự, lấn sâu vào lãnh thổ Việt Nam. Tấn công Việt Nam, Trung Quốc không chỉ muốn đất đai và răn đe, làm suy yếu Việt Nam, mà còn nhằm nâng cao uy tín nước lớn, tuyên bốvới các quốc gia láng giềng, nhất là ở khu vực Đông Nam Á về khả năng, quyết tâm ngăn chặn ảnh hưởng, tham vọng của Việt Nam và Liên Xô. Trung Quốc còn sử dụng cuộc chiến tranh chống Việt Nam để giải quyết một số vấn đề nội bộ, phục vụ cho việc Đặng Tiểu Bình củng cố quyền lực sau khi trở lại “võ đài” chính trị chưa bao lâu.

Tháng 3-1988, Trung Quốc có hành động quyết liệt hơn, gây ra cuộc hải chiến đẫm máu gần cụm đảo Sinh Tồn (quần đảo Trường Sa) –“cuộc đụng độ hải quân trầm trọng nhất ở khu vực Trường Sa kể từ khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai”[5], khiến 3 tàu vận tải của Việt Nam bị bắn chìm, 20 người hy sinh và 74 người bị mất tích. Đây là thời điểm được Trung Quốc tính toán, cân nhắc kỹ lưỡng, vì Việt Nam vẫn chưa giải quyết dứt điểm “vấn đề Campuchia”, chưa thoát khỏi bao vây, cô lập, chưa gia nhập ASEAN, trong khi đang phải bận tâm với những khó khăn kinh tế – xã hội. Ngoài ra, Việt Nam vừa tiến hành đổi mới (1986), các nhà đầu tư nước ngoài có mặt ở Việt Nam còn ít ỏi; do vậy, khi xảy ra “tình huống có vấn đề”, sẽ không đánh động đến nhiều quốc gia. Cuối thập niên 80 (XX), nội bộ Trung Quốc diễn ra tranh chấp quyền lực giữa các phe phái, trong đó phái quân sự và chủ trương làm mạnh ở biển Đông đang thắng thế; do vậy, ngoài mục tiêu đặt chân lên quần đảo Trường Sa – điều mà Trung Quốc mơ đã từ lâu, đẩy mạnh hoạt động xâm lấn trên biển Đông, Trung Quốc còn muốn giải quyết những mâu thuẫn quyền lực trong nước; đồng thời, tuyên cáo “quyền sở hữu” đối với quần đảo, chứng minh “thực lực” bảo vệ chủ quyền trên biển, mở rộng khu vực hoạt động của tàu thuyền Hải quân Trung Quốc phủ khắp các đảo đá ngầm Việt Nam. Trung Quốc còn đặt mục tiêu “cố tình khiêu khích Việt Nam vào một cuộc chiến để xua đuổi các nhà đầu tư khỏi Việt Nam và ngăn cản mức tăng trưởng kinh tế cạnh tranh của Việt Nam”[6]. Lưu ý thêm rằng, năm 1987 – một năm trước khi Trung Quốc gây ra hải chiến Hoàng Sa, Việt Nam thông qua Luật đầu tư nước ngoài –bộ luật được các nhà đầu tư trên thế giới đón nhận và đánh giá là thông thoáng, có sức hấp dẫn. Qua một thời gian thực hiện, đã thu hút được tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào một số ngành và vùng kinh tế, đạt được những kết quả bước đầu đáng khích lệ- điều đó cũng đồng thời báo trước khả năng chuyển dòng của dòng vốn đầu tư vào Trung Quốc chảy đến một đất nước Việt Nam đang đổi mới và cởi mở hơn.

2- Câu chuyện giàn khoan Hải Dương 981

Ngày 2-5-2004, Trung Quốc ngang nhiên đưa giàn khoan Hải Dương 981 (HD- 981) vào hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, cách bờ biển Việt Nam khoảng 120 hải lý, cách đảo Lý Sơn 119 hải lý (221km) và cách phía nam đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa  của Việt Nam khoảng 18 hải lý. Trung Quốc liều lĩnh tiến thêm một bước trong việc hiện thực hóa đường lưỡi bò cũng như chiến lược khai thác dầu khí, ngày càng coi thường dư luận và luật pháp quốc tế, phô trương sức mạnh trên biển Đông. Hành động ngang ngược này của Trung Quốc diễn ra không lâu sau chuyến công du đến châu Á của Tổng thống Mỹ Barack Obama – chuyến thăm có mục đích tái khẳng định chính sách xoay trục an ninh và nhấn mạnh bảo đảm cam kết với các đồng minh trước sự hung hăng, lấn lướt của Trung Quốc tại khu vực này; tuy nhiên, trong chuyến thăm của Tổng thống Mỹ, Việt Nam không phải là điểm đến. Do vậy, Trung Quốc tính rằng khi Trung Quốc hành động, Mỹ sẽ không có phản ứng quyết liệt.

Xung quanh việc đối đầu Nga – Mỹở Ukraine, Nga ra sức tranh thủ sự ủng hộ của Trung Quốc. Kết quả là suốt tiến trình sự kiện, Bắc Kinh có thái độ khá trung dung và đã “tặng” V.Putin một tấm phiếu trắng trong cuộc họp của Đại hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc thông qua Nghị quyết về Crimea (15-3-2014). Trong điều kiện Mỹ và các nước phương Tây gia tăng lệnh cấm vận trừng phạt đối với Nga, hợp tác với Trung Quốc sẽ là một cứu cánh quan trọng, còn Trung Quốc cũng từ đó mà thu hái nhiều quyền lợi. “Mắc nợ”, đang đặt nhiều hy vọng và rất có thể sẽ xích lại gần Trung Quốc hơn nữa, liên kết kiềm chế Mỹ, chắc chắn, khi Trung Quốc “hành sự” ở biển Đông, nước Nga sẽ không lên tiếng hoặc nếu có lên tiếng thì cũng ở mức độ cầm chừng. Một điều không kém quan trọng là cách thức, mức độ phản ứng của Mỹ trước “cú đòn phủ đầu hung hăng” của V. Putin ở Crimea càng củng cố ảo vọng của Trung Quốc tại biển Đông với tính toán tái lập một kịch bản tương tự.

Quan hệ của Việt Nam với các nước ASEAN – theo như các tuyên bố, thì khá chặt chẽ; tuy nhiên, thực tế đã chứng minh ngược lại. Những lần Trung Quốc chèn ép Việt Nam trên biển Đông, thái độ của các nước ASEAN là thờ ơ và thiếu tương trợ. Các nước ASEAN đã không lên tiếng phản đối trước những sự kiện Trung Quốc giam cầm ngư dân Việt Nam đánh cá tại khu vực Hoàng Sa, gây áp lực lên tập đoàn dầu khí Ấn Độ ONGC Videsh để họ rút khỏi Lô 127 và 128, phá hoại thiết bị địa chấn các tàu khảo sát Việt Nam….Do có những lợi ích khác nhau đối với Trung Quốc và biển Đông, nên quan điểm, lập trường các nước ASEAN đối với tranh chấp tại khu vực này là không thống nhất, có phần chia rẽ[7]. Liên kết lỏng lẻo giữa các nước Đông Nam Á khiến Trung Quốc yên tâm và bình thản với “thẻ bài” HD- 981, biết trước rằng sẽ không có những hành động thực tế mạnh mẽ từ ASEAN.

Trung Quốc trái phép đưa giàn khoan HD -981 vào thềm lục địa Việt Nam đúng lúc Nhà nước Việt Nam đang rầm rộ kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ – chiến thắng có phần đóng góp của Trung Quốc. Trong dịp này, các đoàn viếng thăm Trung – Việt qua lại thường xuyên hơn, trên các báo chí và các diễn đàn chính thống Việt Nam đăng tải không ít những bài báo, bài phát biểu ca ngợi Trung Quốc, ca ngợi “tình hữu nghị Việt – Trung”. Những chi tiết tưởng chừng như nhỏ nhặt, song trong các giới hạn nhất định, lại có tác dụng hạn chế phản ứng của Việt Nam. Sau những cái bắt tay hữu hảo, sau những lời ca tụng, xướng vinh nồng thắm, Việt Nam có thể sẽ khó mở lời hơn khi phản đối, chần chừ khi phản kháng.

Ở thời điểm hiện tại, Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều vấn đề nội tại do tình hình kinh tế – xã hội sa sút, khủng hoảng, các cuộc khiếu kiện của người dân mất đất nổ ra ở nhiều nơi, tệ nạn tham nhũng trầm trọng, một bộ phận nhân dân thờ ơ với Nhà nước… Sự thiếu quyết đoán, nhân nhượng của chính quyền trước các tham vọng lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam của Trung Quốc trong nhiều năm qua vô hình trung trở thành yếu tố củng cố thêm quyết tâm hành động của Trung Quốc.

Tháng 11-2013, Đảng cộng sản Trung Quốc tổ chức Hội nghị Trung ương lần thứ 3 (khóa XVIII), nỗ lực cải cách theo chiều sâu, nhằm đưa Trung Quốc bước vào một khởi đầu mới trong quá trình phát triển – quá trình hoàn thiệnphát triển chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc, thực hiện “giấc mơ Trung Hoa”[8] phục hưng dân tộc. Về xã hội, để trấn an dư luận, Đảng cộng sản Trung Quốc nới lỏng chính sách một con, giảm án tử hình, xóa bỏ chế độ “lao cải”[9], tăng cường giám sát và kỷ luật đối với bộ máy chính trị, năng cao năng lực bộ máy hành chính công, nghiêm trị tham nhũng… Tuy nhiên, trong lĩnh vựcchính trị, vẫn chưa nhìn thấy những thay đổi mong đợi, nhằm hiện đại hóa đời sống chính trị một cách mạnh mẽ; do vậy, Trung Quốc vẫn đang phải đối diện với một cuộc “khủng hoảng tín nhiệm xã hội”[10].Theo thống kê của các nhà xã hội học Trung Quốc, mỗi ngày tại đất nước này “diễn ra khoảng 500 các vụ bạo loạn, phản kháng tập thể và đình công, tăng gấp bốn lần so với một thập kỷ trước”[11]. Dù chính quyền đã buộc phải nhượng bộ một số cuộc biểu tình – tranh chấp đất đai ở làng Ô Khảm (Quảng Đông), những cuộc đấu tranh liên quan đến môi trường ở Đại Liên (Liêu Ninh), Thập Phương (Tứ Xuyên) và Khải Đông (Giang Tô)…, song tình hình vẫn tiếp tục nóng lên từng ngày. Sự kiện Tân Cương, Tây Tạng, những vụ nổ bom, cuộc đấu đá phe cánh, nội bộ gay gắt từng ngày dù “con hổ Chu Vĩnh Khang”[12] đang đứng trước đoạn đầu đài, “vết thương” Thiên An Môn 25 năm chưa trám miệng… phản ánh mâu thuẫn, bất ổn và bất lực của hệ thống chính trị. Khi bạo lực của chính quyền không thể chống đỡ được khủng hoảng, “những người lãnh đạo thế hệ thứ năm của Trung Quốc bắt đầu lo lắng cho tương lai của Đảng cộng sản”[13]. Để giải quyết những lo lắng đó, trong điều kiện thay đổi cán cân quyền lực giữa Đảng cộng sản và xã hội Trung Quốc diễn ra “theo chiều hướng Đảng mất dần sự tín nhiệm và quyền kiểm soát, còn xã hội thì đang tích thêm sinh lực và sự tự tin”[14], lãnh đạo Trung Quốc hướng sự chú ý trong nước ra bên ngoài, đánh lạc hướng dư luận, tìm đến “giải pháp biển Đông”, nhằm tạo ra một đợt thủy triều dâng cao của chủ nghĩa dân tộc được sử dụng như một chất kết dính xã hội.Không phải ngẫu nhiên mà thời gian gần đây, trên các báo, tạp chí Trung Quốc  như Nghiên cứu Đông Nam Á, Nghiên cứu châu Á – Thái Bình Dương, tạp chí Quốc phòng, báo Giải phóng quân, Nhân dân Nhật báo…  đăng tải số lượng lớn các bài viết về chủ đề biển Đông. Các tít cổ xúy tinh thần dân tộc và kích động cực đoan được giật theo cách châm ngòi lửa: Các quốc gia xung quanh khai thác các nguồn dầu lửa ở Nam Sa của chúng ta như thế nào?“; “Kẻ nào đang xâm lược các vùng biển của chúng ta?”; “Trung Quốc không cho phép chà đạp lên chủ quyền lãnh thổ của mình!”; “Trung Quốc không thể để mất một tấc đất thiêng”…. Nhiều bài báo chĩa mũi nhọn vào Việt Nam, mô tả Việt Nam như một đối thủ hiếu chiến “đang thèm khát lãnh hải”, “cố gắng cướp đoạt toàn bộ tài nguyên của Trung Quốc bằng sức mạnh” (?!).Mới đây, truyền hình Nhà nước Trung Quốc đã phát sóng một bộ phim tài liệu dài tám tập ca ngợi lực lượng tuần duyên và ngư chính trong việc bảo vệ “chủ quyền và tài nguyên của Trung Quốc” trên biển Đông. Cảnh tàu Việt Nam “ngăn cản” tàu thăm dò của Trung Quốc một cách “điên cuồng” đã gây một ấn tượng mạnh. Bộ phim cũng tung hô lòng dũng cảm của Hải quân Trung Quốc khi mô tả “sự đối đầu không nao núng” và cuộc chiến đấu oanh liệt với đội tàu có vũ trang lớn hơn gấp nhiều lần của Việt Nam. Bằng cớ mới nhất là ngày 6-7-2014, khi sự kiện giàn khoan HD -981 đang ở vào điểm nóng rẫy, truyền hình Trung ương Trung Quốc đã bước tới đỉnh cao của sự man trá bằng một màn diễn gay cấn và lâm ly: Việt Nam câu kết với Mỹ, ASEAN, hung hăng gây hấn, tấn công tàu Trung Quốc, chiếm biển, trong khi Trung Quốc “nỗ lực” kêu gọi đàm phán song không được đáp từ (?!). Báo chí Trung Quốc tiếp tục đẩy chiến dịch “hâm nóng” tinh thần Đại Hán tiến thêm một bước dài bằng những tin, bài, phóng sự lật ngược sự kiện và khét lẹt mùi khói súng[15]. Màn “ảo thuật” truyền thông quả thực đã phát huy tác dụng – một bộ phận người dân Trung Quốc (nhất là khu vực dân trí thấp) đã tin vào những gì mà Nhà nước toàn trị bày ra trước mắt họ, nhồi nhét vào đầu óc họ. Bằng cách đó,Trung Quốc xoay chủ nghĩa dân tộc về phía biển Đông như là một phương thức để tái khẳng định vị thế, làm dịu dòng nham thạch phun trào từ “núi lửa phản kháng và hàn gắn rạn nứt xã hội. Rất có thể, giàn khoan HD- 981 là khởi đầu của cao trào đó.

Ngoài việc chọn thời điểm để đạt mục tiêu một cách an toàn và thuận lợi nhất, đưa giàn khoan HD -981 vào vùng biển Việt Nam, Trung Quốc còn muốn một chuyển tải một vài thông điệp quốc tế quan trọng.

Sau khi Tổng thống Barack Obama đặt chân đến Manila, ngày 28-4-2014, Mỹ và Philippines đã ký kết một Thỏa thuận quân sự (trong 10 năm) cho phép Mỹ tiếp cận với các căn cứ của Philippines, thúc đẩy an ninh khu vực. Điểm đặc biệt là sau khi ký kết,Thỏa thuận sẽ được Chính phủ Philippines ban hành với tư cách là một văn kiện hành pháp, cho phép có hiệu lực ngay, mà không cần phải thông qua thủ tục phê chuẩn tại Quốc hội. Trong bối cảnh tranh chấp lãnh hải ở biển Đông đang hết sức căng thẳng, Thỏa thuận này là bước quan trọng trong chiến lược “xoay trục” qua châu Á của Washington, biến Philippines trở thành một trụ cột quan trọng tại Đông Nam Á, tạo điều kiện cho Mỹ tăng cường sự hiện diện và tham gia vào các vấn đề của an ninh khu vực. Điều đó cũng nói lên rằng, trong các tranh chấp, đụng độ ở biển Đông, Trung Quốc sẽ không chỉ phải đối mặt với khả năng bị cô lập lớn hơn, mà còn phải tính toán đến những phản ứng quyết liệt của các quốc gia tranh chấp khi có Mỹ đứng đằng sau lưng. Do vậy, “sự kiện giàn khoan HD -981” còn mang đậm động cơ chính trị, một mặt, nhắn nhủ, đe dọa các nước có tranh chấp, vướng mắc với Trung Quốc ở biển Đông (đặc biệt là Philippinesvà Việt Nam) không ngả sang và thắt chặt quan hệ với Mỹ; mặt khác, thử phản ứng của Barack Obama, thách thức chiến lược xoay trục của Washington. Cần nói thêm rằng, sau cuộc lỗi hẹn tháng 10-2013, ngày 23-4-2014,  Tổng thống Barack Obama đến châu Á và liên minh Mỹ – Nhật tiếp tục được củng cố bằng những cam kết ủng hộ đất nước “Mặt trời mọc” trong tranh chấp quần đảo Senkaku/Điếu Ngư với Trung Quốc trên biển Hoa Đông. Dựa vào những cam kết đó, Nhật Bản hoàn toàn có thể định ra và thực hiện những đối sách cứng rắn chống lại các sức ép từ Trung Quốc đối với  vấn đề Senkaku/Điếu Ngư trong khi đẩy mạnh hợp tác với Ấn Độ, nhằm “bảo vệ các vùng chung toàn cầu”, hạn chế “chiến lược cơ bắp” và ngăn chặn, phá vỡ “chuỗi ngọc trai”[16] của Bắc Kinh. Từ trong lịch sử cho đến hiện tại, Nhật Bản luôn là “cái gai” trong mắt Trung Quốc, là nỗi hổ thẹn muốn quên xen lẫn uất hận canh cánh bên lòng Trung Hoa Thiên triều[17]. Với sức mạnh kinh tế, quân sự và quan hệ đồng minh với Mỹ, Nhật Bản không chỉ cạnh tranh trực diện với Trung Quốc, mà bắt đầu có chính sách kiềm chế, hạ thấp ảnh hưởng của Trung Quốc từ xa – trong khu vực Đông Nam Á và ở châu Phi[18]. Với ngần đó “oán thù” Trung – Nhật, “nắn gân”, thách thức “kẻ đứng sau” đất nước hoa Anh đào là điều cần thiết lúc này. Ngoài ra, Trung Quốc đủ thông minh để nhận thấy là theo lý thuyết “trung tâm – ngoại vi”, chiến lược trọng tâm của Mỹ là ở châu Âu – nơi được mệnh danh là “trái táo bất hòa” giữa hai cường quốc Nga – Mỹ trước đây và cả hiện tại. Đặc biệt, “thùng thuốc súng” Ukraine” và nguy cơ “lật cánh” trật tự địa – chính trị châu Âu càng khiến Mỹ khó lòng buông lỏng khu vực này; và như thế, chiến lược “xoay trục” có thể chỉ là một kết nối mang tính biểu tượng hơn là hiện thực – đó chính là điều mà Trung Quốc mong và chờ đợi.

Quan hệ Trung Quốc – Ấn Độ vốn là mối quan hệ rắc rối, phức tạp, “rất mong manh, rất dễ tổn thương và rất khó hàn gắn”, phủ bóng bởi cuộc chiến tranh biên giới năm 1962 và tà áo choàng Đức Đạt lai Lạt ma Tây Tạng. Những thập kỷ gần đây, Trung – Ấn có một số va chạm trên biển và Ấn Độ có thái độ cũng như phản ứng khá kiên quyết trước những lấn lướt của Trung Quốc. Ấn Độ đẩy mạnh hợp tác với các quốc gia trong khu vực có biên giới biển, với một số đối thủ của Trung Quốc (đặc biệt là một số quốc gia Đông Nam Á và Nhật Bản), gia tăng sức mạnh, kiềm chế Bắc Kinh. Việc công ty dầu khí Ấn Độ OLV ký kết với Việt Nam dự án thăm dò dầu khí ở hai lô 127 và 128- nơi mà Trung Quốc cho rằng “nằm bên trong hải giới truyền thống” của mình, khiến Trung Quốc không chỉ thấy bất an, mà còn coi đó như một sự thách thức. Khai thác hai lô 127, 128 là cách thức Ấn Độ can dự gián tiếp vào cuộc tranh cãi trên biển Đông và ngầm phản đối thái độ bá quyền của Trung Quốc. Nếu Ấn Độ khai thác dầu khí thành công có nghĩa là Việt Nam không chỉ có thêm đồng minh trong xung đột, đối đầu trên biển Đông, mà còn ấn định chủ quyền tại vùng tranh chấp, khi việc khai thác tài nguyên diễn ra êm thấm là một hình thức xác định cũng như khẳng định chủ quyền trên vùng biển đó. “Con bài” giàn khoan HD- 981 của Trung Quốc chính là một động thái gây áp lực và răn đe Ấn Độ. Nếu Việt Nam thất bại trong việc “đuổi” giàn khoan HD- 981, chắc chắc Trung Quốc sẽ bước tiếp, sẽ có những hành động hung hăng hơn, những yêu sách quyết liệt hơn, để các quốc gia đối tác của Việt Nam, nhất là Ấn Độ, phải rút khỏi biển Đông, nhường không gian tài nguyên mầu mỡ này cho Trung Quốc độc chiếm. Lúc đó, Việt Nam đã khó lại còn khó khăn hơn, trở nên yếu thế và đơn thương độc mã trước những đòi hỏi chủ quyền phi lý của một Trung Quốc ngược ngạo vùng vẫy trong “cơn khát” tài nguyên.

3- Thấy gì từ lịch sử và hiện tại?

Qua khảo cứu, phân tích những vụ việc điển hình xảy ra trong quá trình Trung Quốc thực hiện chiến lược xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải của Việt Nam, có thể thấy ngay rằng, đó là chiến lược nhất quán, ăn sâu vào máu thịt, vào não trạng của những thế hệ lãnh đạo Trung Quốc. Nó giống như một căn bệnh mãn tính, không thể chữa trị mang tên “bành trướng”, “bá quyền” âm ỉ trong cơ thể Trung Quốc. Chiến lược ấy của Trung Quốc được tính toán cẩn trọng, kỹ lưỡng, nhằm nuốt dần đất đai, sông biển Việt Nam. Chiến lược ấy cũng còn nhằm bào mòn sức mạnh nội ngoại lực, hút dần dinh dưỡng, làm cho Việt Nam rối loạn, yếu dần và chia rẽ. Một dân tộc chia rẽ là một dân tộc yếu – đó là nguyên lý. Từ yếu đến đớn hèn chỉ còn một bước ngắn. Khi đã đớn hèn khó tránh khỏi hòa tan.

Có lịch sử lâu đời 5.000 năm, tự hào là trung tâm văn minh Đông Á không ai sánh kịp, song điều đáng sợ là ở chỗ, những nhà lãnh đạo Trung Quốc lại đem niềm kiêu hãnh ấy nuôi giấc mộng khôi phục “địa vị ưu việt” bằng những phương thức cực đoan, quá khích, nhằm xóa đi cái quá khứ một “thế kỷ nhục nhã” bạc nhược, tổn thương, u tối và mất tự chủ.

Lịch sử đã vô tình, trớ trêu, thậm chí khắc nghiệt đặt dải đất hình chữ S bên cạnh một người láng giềng phương Bắc to lớn, rắc rối và tham vọng. Láng giềng không thể chọn lựa, Trung Quốc luôn tồn tại ở đó, bất trắc, khó lường, nguy hiểm. “Sự kiện giàn khoan HD- 981” là câu trả lời đầy đủ nhất, trung thực nhất, rõ ràng nhất về “phương châm 16 chữ vàng”, “tinh thần bốn tốt” và áp lực “Hán hóa” – một câu chuyện có thật, thường trực và chưa có hồi kết thúc.

Hiện diện ở biển Đông bằng vũ lực, trong “cơn mê sảng” quyền lực, trong “cơn thèm khát” lãnh hải, Trung Quốc đang bước tới sai lầmkhó gỡ, đang hủy hoại lòng tin, uy tín quốc tế và sự tôn trọng của các quốc gia xung quanh. Hành xử hung hăng theo kiểu côn đồ trên biển Đông, Trung Quốc không những khiến các đối thủ của mình sợ hãi, trái lại, hiện ra như một quốc gia đầy hiểm họa, ưa thích ức hiếp,tôn sùng các nguyên tắc ứng xử thời trung cổ, viết nên luật lệ của riêng mình trong một thế giới khi mọi quốc gia đang nỗ lực đi về phía văn minh.

Trung Quốc đang chơi một trò chơi nguy hiểm, đang biến “giấc mơ Trung Hoa” thành “cơn ác mộng Trung Hoa”. Có thể, nếu các quốc gia liên quan không có những hành động quyết liệt, không gom tụ lại, Trung Quốc sẽ thắng thế. Nhưng dù có thắng thế, dù có trỗi dậy, dù “giấc mơ Trung Hoa” có sớm thành hiện thực, song trong mắt nhân loại, trong mắt những quốc gia tử tế, trong thứ bậc thế giới, Trung Quốc mãi mãi chỉ là quốc gia dưới ngưỡng văn minh


[1]Marvin Kalb- Barnard Karbl: Đột phá khẩu Trung Quốc, Hội nghị cấp cao 1972, Tập 2, Viện Thông tin Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1979, tr. 67.

[2]Sđd, tr. 68.

[3]Trong kế hoạch 1976 – 1980, bình quân một năm tổng sản phẩm xã hội chỉ tăng 1,4 %, thu nhập quốc dân tăng 0,4 % (kế hoạch là 13-14%). Kết thúc kế hoạch 5 năm (1980), tất cả 15 chỉ tiêu chủ yếu đều không đạt, thậm chí một số sản phẩm công nghiệp và nông nghiệp quan trọng bình quân đầu người không giữ được mức của năm 1976. Hiệu quả của nền kinh tế rất thấp, tốc độ tăng không tương xứng với mức đầu tư xây dựng cơ bản; giá trị tài sản cố định tăng chỉ bằng 46,8 % tổng mức đầu tư xây dựng cơ bản; hiệu quả hoạt động của hệ thống cơ sở vật chất thấp, chỉ huy động được trên dưới 50 % công suất.

[4]Năm 1980, Nhà nước phải nhập 1,576 triệu tấn lương thực. Ngân sách thiếu hụt lớn, giá cả tăng hàng năm 20%, nhập khẩu nhiều gấp 4-5 lần xuất khẩu.

[5]Quần đảo Trường Sa: Liệu có còn thích hợp khi tranh cãi về vấn đề chủ quyền, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý quốc tế, Bản dịch, Lưu tại Thư viện Quân đội, tr.5.

[6]Valencia.M.J, Vandyke.J.M, Ludwig.N.A: Chia sẻ tài nguyên ở biển Nam Trung Hoa, Bản dịch, Lưu tại Thư viện Ban Biên giới Chính phủ, tr.70.

[7]Lào, Thái Lan và Myanmar không có lợi ích trực tiếp ở biển Đông; Campuchia có quan hệ kinh tế – chính trị gắn bó với Trung Quốc; Malaysia, Brunei tuy có yêu sách, không bị Trung Quốc đe dọa trực tiếp trên biển, có quan hệ gần gũi với Trung Quốc; Singapore và Indonesia đứng trung lập.

[8]Ngày 8-4-213, nội hàm “giấc mơ Trung Hoa” được Tập Cận Bình giải thích rõ trong phát biểu khai mạcDiễn đàn châu Á Bác Ngao (BFA) như sau: Vào giữa thế kỷ XXI, Trung Quốc sẽ trở thành một quốc gia xã hội chủ nghĩa hiện đại, thịnh vượng, hùng mạnh, dân chủ, văn hóa tiên tiến, hòa hợp và giấc mơ Trung Hoa, cụ thể là sự phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa sẽ thành hiện thực.

[9]Hệ thống trại cải tạo lao động ra đời từ năm 1957 để giam giữ những người phạm các tội danh không nghiêm trọng như trộm cắp, gây rối trật tự, mại dâm, sử dụng ma túy, giam giữ những người bất đồng chính kiến. Hệ thống này này tồn tại nhiều điều bất hợp lý nguy hiểm như chính quyền địa phương và công an có quyền ra lệnh giam giữ mà không cần ra tòa xét xử. Tuy nhiên, người ta cũng cho rằng,giới lãnh đạo Trung Quốc vẫn có thể tiếp tục sử dụng hệ thống lao cải với tên gọi khác, hoặc thậm chí không cần đặt tên cho hệ thống này.

[10]“Khủng hoảng tín nhiệm xã hội” có nghĩa là “chính quyền của dân” không nhận được sự tín nhiệm của người dân, trên thực tế người dân không còn coi chính quyền là người đại diện cho mình. Nói cách khác, đối với một bộ phận quần chúng nhân dân, chính quyền không còn đồng hành với họ, không thể hiện được ý chí của họ. Một cuộc khủng hoảng tín nhiệm xã hội sẽ gây ra sự nhiễu loạn về tư tưởng, gây mất niềm tin của dân chúng vào hệ tư tưởng hiện hành của xã hội.

[11]Minxin Pei: China’s Troubled Bourbons, Project Syndicate, 31-10-2012.

[12]Ngày 22-1-2013, trong buổi nói chuyện tại Ủy ban kỷ luật Trung ương Đảng, Tập Cận Bình đã nói đến chuyện “bắt hổ, diệt ruồi” và theo một logic có tính truyền thống, người ta liên tưởng tới chống tham nhũng tại Trung Quốc chủ yếu là “diệt ruồi”, còn “đánh hổ” thường mang dáng dấp của cuộc xâu xé quyền lực thượng tầng. Vụ Bạc Lai Hy và Chu Vĩnh Khang là những điển hình của các cuộc tranh giành quyền lực cấp cao.

[13]Minxin Pei: China’s Troubled Bourbons.

[14]Ibid.

[15]Các báo đài Trung Quốc đưa tin Việt Nam phái 6 tàu đâm vào tàu Trung Quốc khi giàn khoan HD-981 neo tại “lãnh hải Trung Quốc”, thông báo rằng, từ ngày 2 đến ngày 8-5-2014, 36 tàu thuyền võ trang Việt Nam đã liên tục tấn công và đâm vào tàu Trung Quốc 171 lần; ngoài ra, Việt Nam còn thả chướng ngại vật, lưới… nhằm gây cản trở hành hải.

[16]Thuật ngữ “chuỗi ngọc trai” là tên một kế hoạch triển khai an ninh hàng hải – quân sự của Trung Quốc xuất hiện lần đầu tiên trong báo cáo mật mang tên “Tương lai của năng lượng châu Á” được Mỹ đưa ra vào năm 2005. “Chuỗi ngọc trai” chỉ các căn cứ quân sự, cảng biển của Trung Quốc nằm rải rác như những hạt ngọc trai, chạy theo tuyến đường hàng hải trên biển bắt đầu từ đảo Hải Nam qua biển Đông, qua eo biển Malacca, sang Ấn Độ Dương… đến tận châu Phi (Somali) và vùng vịnh Persian, đặc biệt là các nước dọc vùng biển Ấn Độ Dương như Pakistan, Sri Lanka, Sudan…. giúp Trung Quốc bành trướng trên mọi hướng biển.

[17]Trong cuộc chiến tranh Trung – Nhật lần thức nhất (1894-1895), Nhật đánh bại Trung Hoa. Hiệp ước Shimonoseki đã buộc Trung Hoa nhường nhiều phần của Mãn Châu và đảo Đài Loan cho Nhật Bản, Hiệp ước cũng thiết lập quyền tối cao của Nhật Bản tại Trung Hoa trong 50 năm sau. Trong chiến tranh Trung – Nhật (1937-1945), Trung Quốc đã không thể thắng Nhật Bản trên lục địa châu Á. Người Nhật đã có mặt tại Trung Quốc , cướp đoạt và góp phần chia xẻ Trung Quốc thành tô nhượng, nhượng địa.

[18]Nhật tích cực xuất khẩu, viện trợ và giúp đỡ các quốc gia Đông Nam Á, xây dựng quan hệ chính trị tốt đẹp với Myanmar (thông qua chiến lược dịch chuyển đầu tư từ Trung Quốc sang và xóa nợ cho nước này, “đánh tập hậu” sân sau của Trung Quốc), nhằm bao vây, cô lập Trung Quốc. Nhật viện trợ nhiều tỷ USD cho các nước châu Phi dưới danh nghĩa “bảo đảm an ninh và chống khủng bố tại các nước châu Phi”, nhưng thực chất phục vụ mục tiêu xây dựng quan hệ chính trị, đẩy bật Trung Quốc ra khỏi nơi cung cấp dầu mỏ rất quan trọng cho nền kinh tế phát triển quá nóng của Trung Quốc.

( Nguồn: Văn hóa Nghệ An)

CUỘC CHUYỂN QUÂN THẦN TỐC THÁNG 2-1979

 Tháo ghế Boeing 707 và đường băng thắp đèn dầu

TTO – “Trong lịch sử hàng không dân dụng thế giới, tôi chưa đọc thấy một tài liệu nào nói dùng máy bay dân dụng để chở quân và cả vũ khí. Vậy mà lúc đó chiếc Boeing 707 không chỉ chở quân mà còn chở cả súng ống, đạn dược”.

Kỳ 2: Tháo ghế Boeing 707 và đường băng thắp đèn dầu
Ông Huỳnh Minh Bon bây giờ – Ảnh: My Lăng
Tôi bay nhanh lắm. Bay liên tục chỉ gần một tuần là xong nhiệm vụ. Lúc đó chuyển quân gấp mà. Tôi nói bay được là bay, dù mệt cũng bay
Ông Huỳnh Minh Bon

Ông Huỳnh Minh Bon (85 tuổi, cựu cơ trưởng – phi công của Đoàn bay 919, thuộc Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam) nói.

Tháo ghế Boeing 707

Boeing 707 thuộc dòng máy bay phản lực chở khách đầu tiên được sản xuất tại Mỹ, là máy bay chở khách lớn nhất lúc bấy giờ với sức chứa 181 hành khách, tốc độ 966km/h.

Năm 1979, Việt Nam chỉ có duy nhất một máy bay Boeing. Và người có thể lái Boeing lúc đó chỉ có duy nhất phi công Huỳnh Minh Bon – người của chế độ Sài Gòn được trưng dụng làm việc cho ngành hàng không Việt Nam lúc đó.

Trước năm 1975, ông Huỳnh Minh Bon là phi công của Công ty Hàng không Việt Nam (Air Vietnam).

“Mấy anh lãnh đạo gặp tôi và nói: tình hình bây giờ nếu chỉ chở quân bằng An-12, C-119, C-130… thì không kịp. Boeing là máy bay chở được nhiều khách nhất lúc đó. Họ hỏi tôi có thể dùng Boeing chở quân không. Tôi nói được.

Lúc đó thiếu tướng Trần Mạnh, đang là phó tổng cục trưởng Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam, hỏi tôi: anh có thể chở được cả vũ khí không vì tới nơi là chúng tôi phải chiến đấu ngay chứ không thể chờ 2-3 ngày, một tuần lễ sau mới có vũ khí chiến đấu.

Khi tôi học ở nước ngoài, vũ khí và chất nổ nghiêm cấm đưa lên máy bay dân dụng.

Tôi biết nhiệm vụ này rất nguy hiểm nhưng đất nước đang cần mình. Tôi trả lời: Tôi làm được! Trước khi về, anh Trần Mạnh dặn tôi: Đây là nhiệm vụ tuyệt mật, không nói cho người thứ hai, kể cả vợ con” – ông Bon kể.

Bình thường Boeing 707 có sức chở gần 200 người. “Tôi nghĩ phải làm sao chở được thật nhiều quân nhưng vẫn đảm bảo an toàn. Tôi đề xuất dỡ bỏ một lượng ghế trên máy bay. Tôi phải trực tiếp chỉ đạo cách tháo ghế. Chỉ tháo ở những vị trí được phép để đảm bảo độ cân bằng cho máy bay” – ông Bon nói.

Khoảng 50 ghế ở phần phía trước, khoang giữa và sau đuôi máy bay được tháo rời. Toàn bộ số ghế tháo rời được mang ra khỏi máy bay.

Những khoảng trống không có ghế được đan bởi những sợi dây. Bộ đội ngồi bệt dưới nền, đấu lưng vào nhau. Còn cột dây là để khi máy bay đi vào vùng thời tiết xấu, bị rung xóc, nghiêng ngả, bộ đội bám vào dây không bị dịch chuyển gây mất an toàn.

Nhờ sáng kiến này của phi công Huỳnh Minh Bon, mỗi chuyến chiếc Boeing 707 đã chở được 300 người của Quân đoàn 2. Phần nguy hiểm nhất là số lượng vũ khí mang lên máy bay. Đạn dược, súng ống đựng trong những thùng rất lớn. Nhân viên mặt đất phải cột dây lại cho thùng dính với ghế để không bị dịch chuyển.

“Các thùng vũ khí không để tập trung một chỗ mà rải rác khắp máy bay, hạn chế va chạm khi rung xóc vì có nguy cơ cháy nổ và thương vong rất cao” – cựu cơ trưởng chuyến bay đặc biệt cho biết.

Ông kể: “Bộ đội mang theo súng đạn, balô xếp thành từng phân đội, lên máy bay trong vài chục phút là tôi cất cánh được ngay”.

Lúc đó, Boeing 707 chỉ có duy nhất một tổ bay. Và cơ trưởng luôn luôn là ông Bon. Một ngày phi công Huỳnh Minh Bon cất cánh hai chuyến từ Tân Sơn Nhất ra Hà Nội.

Thắp đèn dầu ở đường băng

Nếu như các máy bay An-12 của Liên Xô hay C-119, C-130… bay ban ngày thì Boeing 707 lại chủ yếu bay ban đêm. Sau chuyến bay ngày đầu tiên Huỳnh Minh Bon đề xuất bay đêm.

Ông giải thích: “Tôi thấy ban ngày mình bay nhiều quá, cường độ bay rất lớn. Trong khi ban đêm lại không có chuyến nào. Nếu tận dụng khoảng trống ban đêm để chuyển quân thì sẽ nhanh hơn nhưng cái khó là sân bay của ta không sẵn sàng để bay đêm vì đường băng ở Tân Sơn Nhất và Nội Bài lúc đó không có đèn chạy dọc đường băng như bây giờ.

Tôi đề nghị đốt đèn dầu dọc đường băng, đường lăn và bến đậu nhưng đèn phải đảm bảo được độ sáng. Đèn không to quá cũng không nhỏ quá. Kiểu đèn tôi đề xuất phải chứa được 3 lít dầu chứ không cháy nhanh, mau hết dầu. Mà loại đèn đó thì không sản xuất sẵn, phải làm riêng.

Chỉ trong thời gian rất ngắn, các anh ấy đã đáp ứng được loại đèn dầu như yêu cầu. Khi nào thấy còn 15 phút nữa cất cánh, tôi báo “tôi sắp cất cánh” thì ở dưới đường băng mấy ảnh mới thắp đèn dầu.

Đèn để hạ cánh thì khác một chút. Lúc đó có một số xe tải của Liên Xô đèn rất sáng. Tôi đề nghị cần 10 xe tải Liên Xô. Khi chuẩn bị hạ cánh, ôtô phải bật đèn ngay đầu đường băng”.

Chuyến bay đêm đầu tiên của Boeing 707 cất cánh 
lúc 9h tối. Phi hành đoàn có 1-2 lái phụ đi cùng, trong 
đó có một người là phi công quân sự hàm đại tá.

Lúc 
đó Boeing 707 chỉ hạ cánh ở sân bay Nội Bài vì có 
đường băng dài hơn 3.000m. Sân bay Gia Lâm quá nhỏ, đường băng không đủ dài để Boeing cất hạ cánh.

Ông 
Bon nhớ lại: “Chuyến bay đêm đầu tiên mọi người rất lo lắng, nhất là anh Trần Mạnh. Anh ấy nói: Tôi ủng hộ anh bay đêm nhưng nếu anh bay không thành công tôi sẽ 
gặp khó khăn lớn”.

Trên thực tế, một số cựu phi công quân sự tham gia bay chở quân thời điểm cuối tháng 2, đầu tháng 3-1979 cho biết lúc đó mới tiếp thu máy bay nên trình độ của phi công chưa thể bay đêm.

Chuyến bay đêm đầu tiên của Boeing 707 hạ cánh thành công ở sân bay Nội Bài, xóa tan những lo lắng và hoài nghi của nhiều người về khả năng của phi công Huỳnh Minh Bon.

“Tôi bay nhanh lắm. Bay liên tục chỉ gần một tuần là xong nhiệm vụ. Lúc đó chuyển quân gấp mà. Tôi nói bay được là bay, dù mệt cũng bay” – ông Bon kể.

Lái máy bay từ thời Pháp và tới năm 1975 ông Bon có 25 năm kinh nghiệm lái máy bay dân dụng. Khi đất nước thống nhất, ông được mời tiếp tục làm việc, vừa bay vừa đào tạo phi công cho cách mạng.

Ông Bon kể: “Ngày 30-4-1975, tôi đang lái Boeing 707 chở khách chặng Sài Gòn – Hong Kong – Tokyo. Lúc dừng ở Hong Kong thì nghe tin Sài Gòn giải phóng. Lúc đó có nhiều hãng nước ngoài mời tôi ở lại bay cho họ nhưng tôi từ chối. Tôi muốn về nước. Gia đình, vợ con tôi ở Việt Nam. Đó là quê hương tôi. Tôi không đi vì tôi yêu Việt Nam”.

Kỳ 2: Tháo ghế Boeing 707 và đường băng thắp đèn dầu
Bộ đội xếp hàng chờ lên máy bay dân dụng ra Bắc chi viện cho chiến trường biên giới năm 1979 – Ảnh tư liệu

Ngoài Boeing 707, một số máy bay dân dụng khác cũng được huy động cho cuộc chuyển quân khẩn cấp bằng đường hàng không. Ông Huỳnh Minh Phương, 70 tuổi, hiện sống ở Hà Nội, là người đã lái máy bay TU-134 chở bộ đội từ sân bay Phnom Penh về sân bay Tân Sơn Nhất. TU-134 cũng được tháo ghế để có thể chở 100 quân thay vì 80 người như bình thường.

Một số người ‘bị câu lưu’ vì tưởng niệm 17/2

BBC

17/2Bản quyền hình ảnhFACEBOOK HUY TRAN
Nghệ sĩ Kim Chi bị đưa ra khỏi nơi tưởng niệm ở TP. Hồ Chí Minh sáng 17/2

Khoảng một chục người, trong đó có các nhà hoạt động và văn nghệ sỹ, cáo buộc đã bị câu lưu trong lễ tưởng niệm cuộc chiến biên giới Việt – Trung 17/2/1979 tại Hà Nội và TP. HCM.

Bên cạnh đó là cáo buộc xảy ra tình trạng phá đám, bắt cóc người trái pháp luật, phá rối những người đi tưởng niệm.

Hình ảnh và clip chia sẻ trên mạng xã hội cho thấy nữ diễn viên Kim Chi cùng những người khác bị các lực lượng mặc đồng phục đẩy ra khỏi nơi làm lễ tưởng niệm ở TP. Hồ Chí Minh.

Còn ở Hà Nội, có ghi nhận nhà chức trách dùng loa phóng thanh để kêu gọi đám đông giải tán.

Ngày 17/2 đánh dấu 38 năm Chiến tranh biên giới Việt – Trung.

 

Cuộc chiến đẫm máu diễn ra vào tháng 2/1979 khi Đặng Tiểu Bình cho quân đánh sáu tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam.

Cuộc chiến kéo dài chỉ ba tuần nhưng hàng chục nghìn người thiệt mạng.

‘Xót xa’

Hôm 17/2, trả lời BBC từ TP. Hồ Chí Minh, diễn viên Kim Chi, người từng từ chối bằng khen của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng năm 2013, cho hay bà cùng nhà thơ Hoàng Hưng, Phan Đắc Lữ và một số dân oan “mới xuất hiện tại khu vực tượng đài Trần Hưng Đạo, bến Bạch Đằng, quận 1 thì bị tống lên xe đưa về trụ sở Công an quận Bình Tân”.

“Nhưng sau hơn một giờ, họ để chúng tôi đi về mà không ngăn cản.”

“Chúng tôi xác định đã dấn thân thì việc bị hăm dọa, bắt bớ là chuyện bình thường. Bản thân tôi khi còn ở Hà Nội đã từng bị câu lưu nhiều lần”, bà nói.

“Chỉ có điều, tôi xót xa vì người của chính quyền hèn với giặc, ác với dân.”

17/2Bản quyền hình ảnhFACEBOOK THANH PHAM
Buổi lễ tưởng niệm ngày 17/2 tại Khu tượng đài Lý Thái Tổ, Hồ Gươm, Hà Nội

“Bằng cách ngăn người đi tưởng niệm, họ đã chà đạp quá khứ và vô ơn với những người đã ngã xuống.”

“Liên tục mấy năm qua, Đảng, nhà nước Việt Nam sợ Trung Quốc nên đã cho đục bỏ các bia tưởng niệm, ngăn chặn mọi sự tưởng niệm bằng đủ mọi cách.”

“Đó là hành động của những kẻ bán nước, cam tâm làm nô lệ. Chúng ta nhất định phải chống lại hành động đê hèn đó”.

BBC không liên hệ được một số người ở Hà Nội được tin là cũng bị câu lưu trong sự kiện này.

Đến 17:39 hôm 17/2, các nhà hoạt động tại Hà Nội thông báo họ đang có mặt tại công an phường Thịnh Quang, Đống Đa, để đòi trả tự do cho nhà hoạt động Nguyễn Lân Thắng, người đang bị câu lưu.

Cùng ngày, AP dẫn lời ông Phùng Thế Dũng, người tham dự buổi tưởng niệm tại tượng đài Lý Thái Tổ: “Tôi cảm động vì nhiều người đến đây thắp hương tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ đã hy sinh để bảo vệ biên giới tổ quốc.”

“Tuy vậy, tôi có cảm xúc lẫn lộn vì nhà chức trách cho thấy họ muốn hạn chế việc tưởng niệm sự kiện này ở nơi công cộng.”

Chính quyền không có hoạt động chính thức đánh dấu sự kiện này, nhưng khác với mọi năm, một số báo như VnExpress, Thanh Niên… đăng bài tưởng nhớ Chiến tranh biên giới Việt – Trung trên trang nhất và viết rằng “đây là dấu mốc không thể lãng quên”.

Bình luận về động thái này với BBC từ Hội An, nhà báo Trung Bảo nói: “Việc chính quyền mở rộng cho báo chí đưa tin về sự kiện 17/2 là chỉ dấu tốt.”

“Cho dù có thể không cởi mở hết nhưng cũng đáng mừng, nhất là trong bối cảnh sách giáo khoa môn lịch sử thì thông tin về cuộc chiến Việt – Trung hãy còn hạn hẹp, người dân muốn biết thêm thì chỉ còn cách tự tìm hiểu trên mạng.”

“Chí ít thì năm nay, báo chí chính thống cũng cung cấp được những thông tin cần thiết về sự kiện đó, dù còn ít ỏi.”

“Tôi cũng mong là tiếp đó, chính quyền cần có ứng xử phù hợp hơn với những người tham gia các hoạt động dân sự như tưởng niệm người hy sinh trong cuộc chiến Việt – Trung.”

“Vì rõ ràng những người này chỉ muốn bày tỏ lòng yêu nước trong một ngày quan trọng trong lịch sử Việt Nam mà thôi.”

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.02.2017

MÙA HỒNG CHIÊM

Ngô Minh

MÙA HỒNG CHIÊM

 hong-chiemLiệt sĩ Hồng Chiêm
Gương chiến đấu chống giặc Tàu xâm lược của Hồng Chiêm, cô mậu dịch viên ngành Thương nghiệp Quảng Ninh  2-1979 trên đỉnh Pò Hèn

Mùa Hồng Chiêm
đẹp sắc thơm hương
trên tuyến đầu Tổ Quốc
nhân mùa xuân bát ngát trăm miền

mùa xuân ơi chẳng thể nào quên
ngày  quê hương bỗng  đen ngòm bóng giặc
mỗi thế đứng đều mang hồn dân tộc
mỗi trái tim hóa điểm chốt trung kiên

Hồng Chiêm
tên em thành niềm tin
trong lòng đống bào đồng chí
đôi vai ấy và màu mắt ấy
dáng tảo tần như núi
lời ngọt  ngào như sông
chuyến  hàng em đi trong đên sương
giá rét ngày đông, cơn mưa ngày hạ
con suối Bình Liêu cuộn tràn mùa lũ
mùa quế cay say Pắc Xí,  Tùng Thìn…
em về rừng núi vui thêm
bữa cơm Pò Hèn mặn mòi  hột muối
cô em Thanh Y  áo hoa quần mới
bản làng trẻ lại
trăng ngát hương hồi…

Em gùi hàng lên chốt
người em yêu ở tuyến đầu
tình em như cột mốc
lòng em là khoảng trời trong vắt
tôi soi…

Hồng Chiêm
đất nước gọi tên em
người mậu- dịch- viên-dũng- sĩ
vai gùi hàng tay cầm vũ khí
yêu thương, căm thù vút đường đạn bay
khi sớm xuân nay
lũ Ô Mã, Thoát Hoát  cưỡi xe tăng lại đến
tiếng em thơ  khóc nghẹn trời biên giới
tro tranh cuốn lửa máu bời bời
209 (*)ơi, súng đã nổ rồi
tiếng súng của  tình yêu thứ nhất
Chiêm góp lửa dựng tường thành Đông Bắc
một tay bị thương, đau nhức
có hề chi !
còn một tay còn cầm được súng
AK đỏ nòng hết đạn
lớp giặc gục rồi lớp khác tràn lên
CKC đỏ nòng hết đạn
súng ngắn Hồng Chiêm tỉa từng tên
chiến hào chất chồng xác giặc
nơi tấc đất đầu tiên
phút viên đạn cuối cùng
trái tim Hồng Chiêm cháy nghìn độ lửa

Trái tim Hồng Chiêm
Hóa mặt trời rực rỡ
Thắp sáng từng ngọn cỏ nhành cây
Sáng muốn đời đất nước Việt Nam ơi !

Chúng tôi hát tên em
Khúc hát chuyển rung mạch đất
soi vào mắt nhau
chúng tôi gặp mắt em
chúng tôi gặp tình yêu
chúng tôi gặp ngọn lửa
ngọn lửa Hồng Chiêm
trên đỉnh Pò Hèn…

Tháng 2-1979

———-
(*) : Đồn biên phòng Pò Hèn, Quảng Ninh

ac8fb-hoangthihongchiemTượng đài Hồng Chiêm

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.02.2017

Thời gian lùi mà nỗi đau càng đậm …

Thời gian lùi mà nỗi đau càng đậm …

luu-trong-van

(Rút từ facebook của Lưu Trọng Văn)

Ngày 17 tháng hai năm 1979 càng lùi xa, ấy vậy nỗi đau thương về ngày quốc hận ấy lại không phai nhòa đi mà ngược lại. Khác hẳn với những tháng ngày lịch sử quốc hận khác mà dân Việt từng chịu nhưng cái đựng nỗi đau vơi dần, rơi rụng dần theo thời gian.

Vì sao?

Vì sao ư?

Gã nhớ 17 tháng hai năm 2014 gã thắp nén nhang trên mộ của những trai, gái Việt ngã xuống ở Bát Xát, Lao Cai đúng ngày ấy năm 1979. Gã thổn thức đau vì các chị, các anh hy sinh cho biên cương tổ quốc lúc quá trẻ nhưng nỗi đau của gã tăng lên gấp bội vì thấy sự thờ ơ của ai đó trong cộng đồng của chính cái tổ quốc này đối với những người ngã xuống kia.

Vì sao ư?

Mới đây thôi gã đến nghĩa trang và Đài tưởng niệm 29 chàng trai Việt cũng ngã xuống vì quân xâm lược Trung Quốc ở Lai Châu.
Các anh cũng quá trẻ.
Đau một.

38 năm rồi thời gian lùi xa nửa một đời người, nhưng không ít sĩ quan những người trong quân ngũ các anh, cả không ít quan chức đất nước này đến dâng lễ cho các anh tưởng nhớ các anh một phần, còn lại là cầu lộc cầu vinh, cầu chức vì họ tin rằng các anh chết trẻ rất thiêng.
Đau ấy là đau bao nhiêu hở giời?

Và gã được một người lính biên phòng cho coi ống nhòm chĩa qua biên giới. Người lính trẻ bảo: Chỗ mỏm đá ấy, chỗ lùm cây ấy, chỗ đỉnh cao ấy là súng của Trung Quốc chĩa sang đất mình đấy anh.

Đau ấy là đau thêm bao nhiêu nữa hở giời?

Và gã biết mỗi ngày 17 tháng hai này hàng năm những ai muốn thắp nhang tưởng nhớ những người con của đất nước này ngã xuống chống quân xâm lược Trung Quốc dã man luôn bị xô đẩy, ngăn chặn.

Chính gã thấy có những vòng hoa tưởng niệm bị hất đổ, bị dẫm nát.

Hy vọng ngày 17 tháng hai này sẽ không có cảnh xé ruột xé gan như thế.

Vết thương sẽ lành theo thời gian chỉ khi và chỉ khi nhân dân không còn nỗi ám ảnh có những kẻ đang phản bội nhân dân, phản bội sự hy sinh của nhân dân cho Độc lập, toàn vẹn của non sông.

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.02.2017

Quốc khánh viếng nghĩa trang liệt sĩ Vị Xuyên

Quốc khánh viếng nghĩa trang liệt sĩ Vị Xuyên

pham-ngoc-tien-3

(Rút từ facebook của Phạm Ngọc Tiến)

(Kính viếng hương hồn các liệt sĩ và thân tặng những người bạn đã tạo cho tôi cảm xúc này – Bài thơ được làm ở nghĩa trang Vị Xuyên, Hà Giang. Một nghĩa trang tôi mới chỉ biết ít năm gần đây dù tôi là một nhà văn từng khoác áo lính và luôn quan tâm đến những gì liên quan đến chiến trận nhất là mảng sáng tác về những linh hồn. Thôi chẳng cần cặn kẽ lý do làm chi, chỉ biết là không thể không nhắc một điều gì ở ngày 17/2 này. Xin được đăng lại bài thơ như một nén hương tâm viếng hương hồn các liệt sĩ chống giặc Trung Quốc xâm lược.)

Trẻ quá các em ơi
Sinh sáu mốt, sáu hai, sáu tư, sáu nhăm…
Chết tám nhăm, tám bẩy, tám tư, tám tám…
Có tên và không tên
Tuổi đôi mươi tung cánh đại bàng
Làm lá xanh nằm nơi núi khuất.

Lay lắt lá vàng bậu cửa mẹ ngóng con
Thanh Thủy, Vị Xuyên, Yên Minh…
Nụ cười Thành Đô 24 năm chưa tắt
Để bây giờ chết lịm khói nhang xưa.

Vị Xuyên nghĩa trang
Ngàn ngôi mộ nhấp nhô chẳng thể ngậm cười
Kẻ thù đâm sau lưng bằng mũi dao đồng chí
Tuổi đôi mươi của các em giờ là núi là sông là cỏ là cây bình dị
Thương đất nước cơ hàn trận mạc binh đao.

Anh đứng giữa các em
Nghe rõ tiếng lòng mình và ngọn gió lao xao
Cùng mây trắng với nắng vàng ứ nghẹn
Rưng rưng một chiều nay Vị Xuyên.

Núi khuất lá xanh
Thôi nhé các em nằm…!

2/9/2014
PNT

Chiến lược đối ngoại cân bằng của Việt Nam

Mai Vân- RFI

mediaViệt Nam nằm ở tâm điểm cuộc tranh chấp Biển Đông.Reuters

Trùng hợp với tháng đầu năm âm lịch của Việt Nam, tạp chí The Diplomat Magazine số tháng 2 năm 2017 đã có bài phân tích về chính sách đối ngoại đa phương mà Việt Nam đang theo đuổi, tìm kiếm thế cân bằng trong quan hệ với Trung Quốc, Hoa Kỳ, Ấn Độ và Nhật Bản.

Mở đầu bài báo, Nicholas Chapman, chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam tại Đại Hội Quốc Tế Nhật Bản, ghi nhận một loạt động thái ngoại giao của giới lãnh đạo Việt Nam trong tháng đầu năm 2017, nối tiếp theo những gì đã thực hiện năm 2016.

Sự kiện nổi bật đầu tiên là chuyến thăm Trung Quốc từ ngày 12 đến 15 tháng Giêng của tổng bí thư đảng Cộng Sản Nguyễn Phú Trọng. Trong chuyến đi này, Chapman chú ý đến chi tiết được nhắc lại trong bản thông cáo chung Việt -Trung, theo đó hai bên đồng ý «kiểm soát tốt bất đồng và giữ gìn hòa bình, ổn định ở Biển Đông », cũng như ghi nhận tầm quan trọng của việc giải quyết sự mất cân bằng trong thương mại.

Vào lúc ông Nguyễn Phú Trọng còn ở Trung Quốc, thì chính quyền Hà Nội đã đón tiếp ngoại trưởng Mỹ mãn nhiệm John Kerry, đến tạm biệt Việt Nam trong một chuyến thăm mang tính biểu tượng cao. Nhân dịp này, thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc, đã xác định lời mời tổng thống đắc cử Donald Trump đến thăm Hà Nội và tham dự hội nghị thượng đỉnh APEC sắp tới.

Theo nhận xét của Chapman, dù sự thành công của chính sách « xoay trục » qua châu Á của chính quyền Obama còn là vấn đề gây tranh cãi, nhưng điều chắc chắn là Việt Nam đã là một trong những điểm nhấn quan trọng của chính sách đó, với quan hệ song phương Việt-Mỹ ngày càng được củng cố kể từ khi hai nước đã ký kết một thỏa thuận đối tác trong năm 2013.

Sự kiện nổi bật thứ ba là chuyến thăm Việt Nam ngày 16 tháng Giêng của thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe, đánh dấu bằng lời hứa của Tokyo cấp cho Việt Nam sáu tàu tuần tra mới và tuyên bố ủng hộ mạnh mẽ chủ trương tăng cường năng lực thực thi pháp luật trên biển của Việt Nam.

Chiến lược sắp xếp các chuyến thăm ngoại giao

Đối với chuyên gia Chapman, các chuyến thăm trên đây hoàn toàn không ngẫu nhiên, và đó không phải là lần đầu tiên Việt Nam có chiến lược sắp xếp các chuyến thăm ngoại giao.

Tác giả đã nêu ví dụ của loạt sự kiện diễn ra cuối năm ngoái : Tháng Mười năm 2016, thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc thăm Trung Quốc. Nhưng trước đó Hà Nội đã đón thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi. Hai nước nâng cấp quan hệ lên hàng đối tác chiến lược toàn diện và New Delhi đã quyết định cấp 500 triệu đô la cho Hà Nội để mua thiết bị quốc phòng.

Và ngay sau khi ông Phúc đi Bắc Kinh, tổng thống Philippines Rodrigo Duterte đã đến thăm Việt Nam, và hai bên tái khẳng định những nỗ lực thúc đẩy hòa bình và an ninh ở Biển Đông. Dĩ nhiên, đó là trước khi ông Duterte có phát biểu nổi tiếng tại Bắc Kinh về ý định chia với Hoa Kỳ, điều đã khiến Hà Nội hết sức quan ngại.

Vào đầu năm 2016 cũng vậy. Ngay sau hội nghị thượng đỉnh lịch sử Mỹ-ASEAN Sunnylands vào tháng Hai, Việt Nam đã gửi một phái đoàn đến Trung Quốc, và đã được chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nhắc nhở rằng Trung Quốc và Việt Nam cùng chia sẻ một « số phận chung » và việc quản lý các tranh chấp, cũng như tăng cường hợp tác, là tối quan trọng đối với quan hệ song phương.

Cũng như thế, sau chuyến thăm lịch sử của tổng thống Obama tới Hà Nội vào tháng Năm 2016, ngoại trưởng Việt Nam Phạm Bình Minh đã gặp với người đồng cấp Trung Quốc Vương Nghị bên lề hội nghị đặc biệt các ngoại trưởng Trung Quốc-ASEAN.

Theo nhận định của Nicholas Chapman, với chiến lược cân bằng ngoại giao này, Việt Nam như muốn nói : « Vâng, chúng tôi sẵn sàng tăng cường hợp tác với quý vị, nhưng chúng tôi cũng có đối tác chiến lược khác mà chúng tôi cũng đang tăng cường hợp tác ».

Vừa thúc đẩy ngoại giao, vừa tăng cường phòng vệ chống Trung Quốc

Bài báo trên The Diplomat còn ghi nhận là song song với các nỗ lực ngoại giao, Việt Nam cũng có những biện pháp cụ thể để bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, chống lại một Trung Quốc ngày càng quyết đoán. và hàng rào chống lại một Trung Quốc quyết đoán.

Ấn Độ đã thông báo rằng họ đang cân nhắc việc bán tên lửa phòng không cho Việt Nam, một động thái chắc chắn làm cho Trung Quốc tức giận. Ấn Độ đã trở thành đối tác quan trọng của Việt Nam trong hợp tác quốc phòng và đào tạo nhân sự. Hai bên còn được cho là đang tiến gần đến thỏa thuận bán tên lửa hành trình BrahMos cho Việt Nam.

Việt Nam cũng được cho là đã đặt hệ thống pháo phản lực tối tân có độ chính xác cao EXTRA của Israel tại năm cơ sở ở quần đảo Trường Sa, đặt các phi đạo và cơ sở quân sự của Trung Quốc ở Trường Sa trong tầm bắn. Hơn nữa, hình ảnh vệ tinh mới đây cho thấy Việt Nam đã hoàn thành một phi đạo và xây dựng hai nhà chứa phi cơ tại Trường Sa Lớn.

Đối với chuyên gia Chapman, rõ ràng là Việt Nam đang lẳng lặng hiện đại hóa một cách tinh xảo lực lượng vũ trang của mình.

Tranh chấp Biển Đông, chính quyền Trump tại Mỹ, và sự xích lại gần Trung Quốc của Philippines hàm chứa nhiều điểm khó lường cho Việt Nam. Tuy nhiên, có một điều chắc chắn là Việt Nam sẽ tiếp tục trên con đường đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ ngoại giao, trong khi tiếp tục hiện đại hóa lực lượng vũ trang của mình dự phòng mọi rủ

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.02.2017

Cuộc chuyển quân thần tốc tháng 2-1979

Cuộc chuyển quân thần tốc tháng 2-1979 

TTO – Trong tháng 2-1979, Trung Quốc đưa quân tấn công các tỉnh biên giới phía Bắc của Việt Nam, một chiến dịch chuyển quân thần tốc với quy mô lớn chưa từng có từ Nam ra Bắc đã được triển khai.

Cuộc chuyển quân thần tốc tháng 2-1979 
Bộ đội Quân đoàn 2 chờ lên máy bay để chi viện gấp cho chiến trường miền Bắc – Ảnh tư liệu

Những trang tư liệu đặc biệt và những hồi ức về chiến dịch này đã được Tuổi Trẻ ghi lại…

Kỳ 1: Những chuyến không vận từ Nam ra Bắc

Các máy bay vận tải của trung đoàn 918 và máy bay chở khách của trung đoàn 919 đã thực hiện hàng trăm chuyến bay vận chuyển bộ đội chủ lực và vũ khí trang bị kỹ thuật của các quân đoàn chủ lực từ Nam ra Bắc. Một chiến dịch chuyển quân thần tốc với quy mô lớn chưa từng có từ Nam ra Bắc đã được triển khai.

Đã có 805 chuyến bay vận chuyển quân sự chở 8.900 lượt quân (cùng 1.000 tấn hàng) để điều chỉnh bố trí lại thế trận của Bộ Quốc phòng.

Tận dụng tối đa máy bay

“Sáng, phi công chúng tôi dậy tập thể dục thấy bộ đội nằm la liệt ngoài sân, ngoài hiên, ngoài vỉa hè… đông đặc khắp sân bay. Đêm họ về lúc nào mình không biết. Đi đông thế mà giữ trật tự, kín như bưng” – đại tá Trần Văn Tuyên, 70 tuổi, cựu giảng viên Học viện Phòng không không quân, nguyên chủ nhiệm bay trung đoàn 918, nhớ lại.

Đó là quân chủ lực của ta được điều về từ mặt trận Campuchia để chi viện cho biên giới phía Bắc. Trong đợt không vận lớn nhất lịch sử không quân Việt Nam này, phi công Trần Văn Tuyên mới hàm trung úy, là một trong hai lái chính tổ bay C-119 chở Quân đoàn 2 từ Tân Sơn Nhất ra Bắc.

Thượng tá Trần Xuân Đô, 60 tuổi, hiện ở TP.HCM, cho biết: “Quân đoàn 2 hành quân bằng ôtô từ Campuchia về đến Sài Gòn. Một số đặc công – lực lượng tinh nhuệ – đi trực thăng UH-1, CH-47, Mi-8, Mi-6 của trung đoàn 917. Trung đoàn 916 chở quân từ các nơi về sân bay Tân Sơn Nhất, Cần Thơ, Đà Nẵng. Sau đó, bộ đội hành quân ra Bắc bằng máy bay của trung đoàn không quân 918 và phi đội máy bay An-12 do các phi công Liên Xô lái”.

Lúc đó toàn bộ phi đội máy bay AN-12 khoảng 12 chiếc do Liên Xô khẩn cấp đưa sang đã tập trung về sân bay Tân Sơn Nhất. Riêng trung đoàn 918 có gần 40 máy bay thu được sau giải phóng nhưng chỉ hơn 10 chiếc còn dùng được.

“Lực lượng máy bay chủ lực chở Quân đoàn 2 ra Bắc là AN-12 do các phi công Liên Xô lái. Một ngày AN-12 bay hàng chục chuyến. Máy bay của họ tốt, tốc độ cao, chỉ khoảng hai tiếng là đã ra đến Hà Nội nên gần như sử dụng tối đa” – thượng tá Trần Xuân Đô nhớ lại.

Ở trung đoàn 918, loại máy bay chủ lực để vận chuyển là C-130 (bốn tổ bay, chở tối đa gần 100 quân, tốc độ nhanh nhất của trung đoàn 918) và C-119 (hai tổ bay, chở được 50 quân). Còn trực thăng vận tải hạng nặng C-47 chỉ chở được 30 người lại bay chậm (năm tiếng) nên ít được huy động, chỉ tham gia vài chuyến. Lúc đó trung đoàn 918 có khoảng sáu chiếc C-130 nhưng chỉ dùng được bốn. C-119 có bốn máy bay nhưng chỉ sử dụng được hai.

“Ngày đó máy bay ít. Máy bay và tổ bay được tận dụng tối đa. Mỗi chiếc C-130 một ngày bay 2-3 chuyến từ Tân Sơn Nhất ra Nội Bài. C-119 bay hơi chậm, hơn bốn tiếng mới ra đến nơi, có khi hơn nên mỗi ngày chỉ bay ra được một chuyến rồi vào, sáng sau bay tiếp” – thượng tá Trần Xuân Đô nói.

Cuộc chuyển quân thần tốc tháng 2-1979 
Đại tá Trần Văn Tuyên – phi công lái chính tổ bay C-119 tham gia đợt không vận năm 1979 chở Quân đoàn 2 từ Nam ra Bắc – Ảnh: MY LĂNG

Vượt qua khó khăn

Một số phi công tham gia đợt không vận ngày ấy chân thật kể rằng họ chỉ mới tiếp thu máy bay sau khóa học chớp nhoáng, kiến thức để sử dụng còn hạn chế. Ngày đó máy móc trợ giúp rất ít, không hiện đại như bây giờ. Rađa của máy bay C-119, C-47 rất kém. C-130 thì khá hơn.

“Sân bay Tân Sơn Nhất có hai đường băng song song rộng. Còn đường băng ở Nội Bài hố bom sứt sẹo. Mà thời tiết miền Bắc mùa đó phức tạp lắm, anh em bay rất vất vả. Mây dày và thấp, mưa phùn. Có cả dông. Tầm nhìn hạn chế. Toàn bay vào mây. Vừa bay vừa dự toán, bay theo cảm giác, kinh nghiệm” – đại tá Trần Văn Tuyên kể.

Từ Tân Sơn Nhất ra Nội Bài, mỗi chuyến bay của C-119 mất bốn tiếng vì phải tránh mây mù, dông, mưa. Đại tá Tuyên khẳng định: “Máy bay rung xóc như ngồi xe tải chạy trên ổ gà. Lên trời là tổ bay hoàn toàn độc lập “tác chiến”. Lực lượng dưới mặt đất không trợ giúp được gì. Tôi chở quân gần 10 chuyến. Có những chuyến bay trước mặt đen kịt không nhìn thấy gì. Cứ liều bay xuyên mây, vào mưa. Có chuyến mưa như người ta cầm xô nước đổ xuống đầu”.

“Nói không ai tin chứ máy bay C-119 tôi lái lúc đó bị dột. Anh Bích là nhân viên thông tin kiêm cơ giới phụ phải cầm tấm gỗ che mưa cho tôi bay. C-130 còn có buồng kín chứ C-119 thì không. Mưa, lạnh khủng khiếp. Đã thế lại phải bay vòng vo tránh mây tránh mưa. Sau gần năm tiếng mới đến nơi”.

Đại tá Tuyên cho biết ông bay liên tục hơn một tuần. Toàn bộ các tổ bay hoạt động với cường độ cao, cất cánh liên tục từ sân bay Tân Sơn Nhất, Biên Hòa, Cần Thơ bay thẳng ra Nội Bài. Nhiều tổ bay chỉ mới được phê chuẩn đã được giao nhiệm vụ bay vận chuyển đường dài.

Thượng tá Trần Xuân Đô kể: “Cả căn cứ không quân những ngày đó vô cùng khẩn trương, nhộn nhịp. Lúc nào ở cửa ga cũng có hàng chục máy bay đậu xếp hàng chờ đến lượt cất cánh. Tiếng động cơ máy bay cứ ầm ầm từ sáng sớm đến chiều tối. Một ngày có hàng chục máy bay cất cánh từ Tân Sơn Nhất. Cứ xếp quân lên là cất cánh. Máy bay dân dụng lúc đó rất ít, chủ yếu là máy bay quân sự mà bay nhiều nhất, chở được nhiều quân nhất là AN-12. Cường độ bay rất lớn”.

Các chuyến bay còn làm cả nhiệm vụ vận chuyển khí tài và trang bị kỹ thuật cho các trung đoàn không quân. “Tôi tham gia được mấy chuyến. Có chuyến chở khí tài máy bay tiêm kích F-5 của trung đoàn 935 và máy bay ném bom A-37 của trung đoàn 937 ra Nội Bài. Có chuyến chở cả thùng rocket, máy thông tin và thợ máy ra cho trung đoàn bạn lắp ráp vũ khí”.

“Tôi tham gia được 2-3 chuyến đi C-130 xuống Biên Hòa chở rocket ra Nội Bài để lắp ráp lên máy bay F-5. Lúc đó Nội Bài là sân bay quân sự. Bộ đội Quân đoàn 2 chở ra đó tập trung lực lượng đi ôtô ngay lên biên giới. Các loại vũ khí bom, đạn, tên lửa… đầy ở sân bay Nội Bài” – thượng tá Trần Xuân Đô cho biết.

Chỉ trong một thời gian ngắn kỷ lục, từ cuối tháng 2 đến đầu tháng 3-1979, tổ bay C-119 đã chở gần một trung đoàn bộ binh ra Bắc! Sách lịch sử của trung đoàn không quân 918 viết: Chỉ trong vòng một tháng, trung đoàn không quân 918 đã vận chuyển số lượng bộ đội và hàng quân sự xấp xỉ bằng cả năm 1978!

Cuộc chuyển quân thần tốc tháng 2-1979 
Máy bayAN-12 của Liên Xô – Ảnh tư liệu
Ngày 18-2-1979, chỉ một ngày sau khi Trung Quốc vượt qua biên giới Việt Nam, trung đoàn không quân 917 đã cơ động ba trực thăng UH-1 từ miền Nam ra sân bay Hòa Lạc làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu. Đến ngày 3-3-1979, trung đoàn 917 đưa thêm bảy trực thăng UH-1, ba máy bay trinh sát U-17 và một bộ phận cán bộ chiến sĩ ra Bắc sẵn sàng tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.

Từ ngày 22-2 đến ngày 3-3-1979, toàn bộ phi đội 10 máy bay tiêm kích F-5 của trung đoàn không quân 935, 10 máy bay ném bom A-37 của trung đoàn không quân 937 từ miền Nam đã tập kết ở sân bay Nội Bài.

( Nguồn: Tuổi trẻ)

Tổng Bí thư Trọng muốn làm rõ tài sản của Thứ trưởng Thoa

BBC

Mới đây Bộ Công Thương đưa ra thông tin về tài sản gia đình Thứ trưởng Thoa tại Công ty Cổ phần Bóng đèn Điện QuangBản quyền hình ảnhVNECONOMY
Mới đây Bộ Công Thương đưa ra thông tin về tài sản gia đình Thứ trưởng Thoa tại Công ty Cổ phần Bóng đèn Điện Quang

Tổng Bí thư Đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng vừa yêu cầu hàng loạt cơ quan thuộc Đảng và Chính phủ ‘làm rõ nội dung’ truyền thông đưa về khối tài sản hàng trăm tỉ đồng của một thứ trưởng Bộ Công thương.

Công văn từ Văn phòng Trung ương Đảng đề cập tới một loạt bài báo trong giai đoạn từ ngày 11 tới 16 tháng Hai đặt câu hỏi về khối tài sản của Thứ trưởng Bộ Công thương Hồ Thị Kim Thoa.

 

“Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu Ủy ban kiểm tra Trung ương chủ trì, phối hợp Ban tổ chức Trung ương, Ban nội chính Trung ương, Ban cán sự Đảng, Bộ Kế hoạch – đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Công thương, Thanh tra Chính phủ khẩn trương kiểm tra, thanh tra, xem xét, kết luận những nội dung mà các bài báo đã nêu và những vấn đề khác có liên quan và sớm báo cáo kết quả với Ban bí thư”.

“Yêu cầu Ban cán sự Đảng Chính phủ chỉ đạo các cơ quan chức năng nghiên cứu, rà soát các quy định của pháp luật có liên quan để sớm sửa đổi hoặc kiến nghị việc sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện các quy định, khắc phục những hạn chế trong công tác quản lý; lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành phòng, chống thất thoát tài sản của Nhà nước, ngăn ngừa tiêu cực, tham nhũng, lợi ích nhóm trong quá trình thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước,” truyền thông trong nước trích dẫn công văn này.

Mới đây Bộ Công Thương đưa ra thông tin về tài sản gia đình Thứ trưởng Thoa tại Công ty Cổ phần Bóng đèn Điện Quang theo đó cho biết trước khi được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Công Thương vào năm 2010, bà Thoa đã có 18 năm công tác tại công ty này.

Truyền thông trong nước mô tả số cổ phần (mã chứng khoán DQC của công ty Điện Quang) mà bà Thoa đang sở hữu là số cổ phần có được “từ trước khi được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Công Thương” và đã được “kê khai đầy đủ”.

Bà Hồ Thị Kim Thoa đang nắm giữ 1,6 triệu cổ phiếu DQC, tương ứng 91,1 tỷ đồng tính đến thời điểm Thời báo Kinh tế Việt Nam đưa tin vào ngày 10/2.

Tổng bí thư Trọng là Trưởng ban Trung ương về Phòng chống Tham nhũngBản quyền hình ảnhVIETNAMNET
Tổng Bí thư Trọng là Trưởng ban Trung ương về Phòng chống Tham nhũng

“Con gái lớn của bà Thoa là Nguyễn Thái Nga hiện là thành viên Hội đồng Quản trị, Phó giám đốc Điện Quang, nắm số cổ phiếu trị giá 223 tỷ đồng. Con gái thứ hai Nguyễn Thái Quỳnh Lê cũng nắm số cổ phiếu DQC tương ứng 120,4 tỷ đồng.

“Ông Hồ Quỳnh Hưng, em trai bà Thoa, hiện là Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng giám đốc Điện Quang, nắm số cổ phiếu trị giá 136 tỷ đồng. Bà Trần Thị Xuân Mỹ, mẹ của bà Thoa, cũng đang nắm số cổ phiếu trị giá 66 tỷ đồng.

“Ngoài ra, một anh trai của bà Thoa là ông Hồ Đức Lam cũng đang nắm giữ chức Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Nhựa Rạng Đông. Ông Lam sở hữu khối tài sản chứng khoán trị giá 290 tỷ đồng tại đây. Các con trai của ông Lam cũng giữ chức vụ quan trọng tại Nhựa Rạng Đông.

“Cả Điện Quang và Nhựa Rạng Đông đều đã thực hiện cổ phần hoá, bán vốn Nhà nước và niêm yết trên sàn chứng khoán,” báo này cho biết.

Đăng bởi: Ngô Minh | 16.02.2017

ĐẠO LÝ CÔNG CHỨC

ĐẠO LÝ CÔNG CHỨC

 

                                                          ngo-minh Ngô Minh

 

              Muốn quản lý xã hội nhất thiết phải có luật và quản lý theo luật. Nhưng luật pháp thì mỗi chính thể đều khác nhau. Có chính thể soạn ra luật , thực thi luật theo cách để bảo về  mình chứ không vì dân chủ, không vì cộng đồng nhân dân rộng lớn. Cuộc sống phát sinh hàng ngày. Nhiều điều luật năm trước đúng, năm sau không còn phù hợp nữa.v.v..Cho nên, ngoài luật, ông cha ta còn phải dựa vào đạo lý để phân xử phải trái.  Trên thực tế, đã  xuất hiện rất nhiều hiện tượng các công chức nhà nước gọi là làm theo pháp luật, nhưng thực chất là “hành dân”, họ bắt dân phải lo hết thủ tục vô lý này đến thủ tục vô lý khác; rồi lợi dụng  quyền hạn để ức hiếp dân, trấn lột dân… rất thiếu đạo lý, gây nên sự phẫn nộ, bất bình trong nhân dân. Cho nên ngoài xây dựng một nền pháp trị, chúng ta phải xây dựng một nền tảng “đạo lý công chức” thật căn bản để giáo dục dạy dỗ những người làm công chức, làm “nô bộc của nhân dân” (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 16.02.2017

NHÂN NGÀY THƠ VN,

NHÂN NGÀY THƠ VN,

đưa lại một nhận định của Phan Khôi về chuyện vua Việt khen thơ Việt:

“…Gần nay người ta còn truyền tụng hai câu thơ phê bình thi văn bản triều: 文 如 超 适 無 前 漢 , 詩 到 從 緌 失 盛 唐 “Văn như Siêu, Quát vô Tiền Hán, thi đáo Tùng, Tuy thất Thịnh Đường” mà nói là của vua Thiệu Trị hay của vua Tự Đức. Của vua nào cũng thế, cái công hiệu thổi phỉnh lòng tự khoa của người nước cũng chẳng kém mẩu chuyện vừa kể của Lê Thánh Tôn.
[…….]

Văn học chữ Hán đến triều Nguyễn, đáng gọi là thịnh hơn các triều trước; nhưng nếu bảo vượt quá cả Hán, Đường thì lố quá. Nguyễn Văn Siêu còn có Phương Đình văn tập truyền lại, thức giả còn có thể đem đọ với văn Tiền Hán thử ra sao. Tùng Thiện Vương có tập thi Thương Sơn, Tuy Lý Vương có tập thi Vĩ Giã, muốn biết giá trị nó đối với Thịnh Đường thế nào, đọc qua thì biết.
Tôi thì tôi tin quyết rằng Hán Đường là kẻ sáng tạo, Siêu, Quát, Tùng, Tuy là kẻ học đòi; không bao giờ kẻ học đòi lại vượt qua kẻ sáng tạo cho được.
Nói cho công bằng ra thì trong ngần ấy tác giả, duy có Cao Bá Quát, là cả thi lẫn văn đều đáng sắp ngang hàng với đệ nhất lưu tác giả ở Trung Quốc mà không hổ mà thôi. Rủi cho ông, vì mang tội “đại nghịch” nên tập không được in, tên họ bị vùi dập đi hơn nửa thế kỷ đến gần nay mới có người nhắc đến!

[…]
Mãi đến gần đây mới được một Cao Bá Quát. Ông này, theo thời luận thì nổi tiếng về văn, nhưng văn của ông ít truyền lắm, ngày nay chỉ còn bộ Cao Chu Thần thi thảo chép tay, ấy là thơ của ông, chừng được ba bốn trăm bài. Ba bốn trăm bài ấy giá ở bên Tàu thì nó đã được in ra, làm cho tác giả nhảy lên đứng ngang hàng với Đỗ Thiếu Lăng, Tô Đông Pha chẳng hạn, nhưng ở nước ta phải đành mai một!
Đọc Cao Chu Thần thi thảo, thấy cái thân thế, cái phẩm cách, cái tư tưởng của tác giả nó mà khiến mình trạnh lòng tương cảm ở sau sáu, bảy mươi năm. Con người ấy mà ở vào thời đại ấy trong đất nước này, nếu chẳng phải thi đỗ làm quan cho tột bực đi thì còn làm gì nữa mà không làm giặc!
[…]
PHAN KHÔI

Nguồn:
Khái luận về văn học chữ Hán ở nước ta // Tao Đàn, H., s. 2 (16/3/1939)

Nguồn: https://www.facebook.com/nguyenan.lai/posts/10210209209405535

Đăng bởi: Ngô Minh | 16.02.2017

HIỆN TƯỢNG THƠ BẰNG VIỆT

HIỆN TƯỢNG THƠ BẰNG VIỆT

ANH CHI
 Trong các nhà thơ thế hệ kháng chiến chống Mỹ, Bằng Việt là một trong những thi sĩ hàng đầu. Anh viết từ năm 1960, khi 19 tuổi. Năm 1964, đang là sinh viên ngành luật, tại Liên Xô (cũ), anh đã có những bài thơ được độc giả và giới quan tâm rất trọng thị.

Nhà thơ Bằng Việt

Bài Bêtôven và âm vang hai thế kỷ với cấu tứ bề thế, ngôn ngữ thơ giàu suy tưởng và có vẻ đẹp thật sang trọng; rồi tiếp đó là các bài Từ giã tuổi thơ, Trở lại trái tim mình, Về Nghệ An thăm con, Bếp lửa… giọng thơ tươi tắn hào hoa, tinh tế và đặc biệt có sức liên tưởng thật xa rộng, khiến đông đảo bạn đọc, nhất là giới sinh viên và những người trẻ tuổi rất yêu chuộng. Có thể nói, Bằng Việt vừa gia nhập làng thơ Việt Nam hiện đại đã trình làng một phong cách thơ mới lạ và đẹp đẽ!

 

Thơ Việt Nam ta, sau năm 1945, nhất là sau năm 1954, đã trở nên khá tỉnh táo. Các nhà thơ hầu như đều có thiên hướng làm một thứ thơ khỏe khoắn, dễ hiểu, cốt để thể hiện các đề tài công nông – nông – binh, nên hoàn toàn thiếu vắng xúc cảm bay bổng, say đắm. Do vậy, khi xuất hiện những bài thơ của Bằng Việt (và của Lưu Quang Vũ nữa), lập tức được bạn đọc vồ vập đón nhận. Cuối năm 1968, Bằng Việt có phần Bếp lửa xuất bản cùng Lưu Quang Vũ trong tập Hương cây – Bếp lửa. Tập thơ vừa ra đời đã trở thành hiện tượng văn học có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống văn chương đương thời. Ở đây, chỉ nói riêng về Bằng Việt, giới quan tâm đã coi anh là một nhà thơ có phong cách đặc sắc. Chẳng hạn, giáo sư Văn khoa Lê Đình Kỵ đã nhận định về Bằng Việt “Có một tâm hồn nhiều suy nghĩ và rung động tinh tế, một chủ nghĩa trữ tình xao động, bồi hồi, khi đậm đà duyên dáng, khi âm vang sâu thẳm…”.

Bằng Việt, tên thật là Nguyễn Việt Bằng, sinh năm 1941 tại Huế, do cha mẹ đã vào làm ăn sinh sống trong đó gần 15 năm, còn quê gốc của anh là Chàng Sơn, huyện Thạch Thất, nay thuộc Hà Nội. Năm 1961, anh được chọn đi du học tại Liên Xô (cũ), sau khi tốt nghiệp Đại học Pháp lý, về làm việc tại Viện Luật học. Nhưng, chỉ vài ba năm sau, Bằng Việt lại nổi lên như một tài năng thơ trẻ, được chọn in thơ trong Tuyển “Sức mới” cùng nhiều tập tuyển thơ khác của Nhà xuất bản Văn học, và nhất là sau khi xuất bản cùng Lưu Quang Vũ tập “Hương cây – Bếp lửa” (1968), thì gần như năng lực sáng tác của anh đã được khẳng định. Anh cũng như nhiều nhà thơ trẻ thời kỳ đó luôn sống với ý thức thường trực: Bám sát thực tế để sáng tác. Và, Bằng Việt đã quyết tâm dấn thân vào thực tế cuộc sống chiến đấu, lặn lội vào tuyến lửa khu IV, xin gia nhập vào đoàn quân xung kích của tuyến đường 559, “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” như những câu thơ thôi thúc một thời. Cũng vì nặng ý thức phục vụ các công tác tuyên truyền trước mắt, văn chương ta những năm này luôn được khuyến khích chỉ viết về biểu dương, ngợi ca. Cái “tạng” nặng về suy ngẫm và giàu liên tưởng như Bằng Việt hẳn là không mấy hữu dụng đối với dòng chủ lưu của văn chương Việt Nam những năm này. Được làm bạn với anh từ năm1971, cũng là người quan tâm nhiều đến Bằng Việt, chúng tôi biết, những năm 70 của thế kỷ trước, sau khi đã từ chiến trường Trường Sơn trở về với mái nhà văn học của Hội Nhà văn và tạp chí “Tác phẩm mới” ở 65 Nguyễn Du, Hà Nội (nay là tạp chí “Nhà văn  và Tác phẩm”), anh rất gắng sức trong sáng tác, nhiều lao tâm khổ tứ trong thể nghiệm, nhưng sau thời kỳ “Hương cây – Bếp lửa”, hiệu quả thơ ca vẫn chưa được như những người yêu quý thơ Bằng Việt mong đợi. Mùa hè năm 1977, anh vào Thanh Hóa chơi với chúng tôi. Một buổi tối, ngồi ở sân nhà tôi, có trăng sáng, anh đọc bài thơ mới viết cho chúng tôi nghe. Bài Chỗ đứng, ý và tứ thật vững vàng, tính bổn phận của nhà thơ công dân thật chắc, nhưng ngôn ngữ thơ không có sức cất cánh như thời anh viết Bếp lửa. Bây giờ, nhớ lại việc này, tôi hiểu, không chỉ riêng Bằng Việt như vậy, mà hầu hết các thi sĩ thời ấy thường gắng phải viết sao cho không xa rời dòng chủ lưu văn chương đương thời mà nhà thơ lớn Xuân Diệu luôn cổ vũ là “chân- chân – chân, thật – thật – thật”… Tôi nghĩ rằng, trên tiến trình thơ ca Việt Nam nửa sau thế kỷ XX, hiện tượng này là một bài học đáng nhớ!

Sau Bếp lửa, Bằng Việt đã xuất bản thêm bốn tập thơ nữa. Thực tế đời sống cho thấy, thơ ca phát triển theo quy luật khách quan của nó. Người đọc thơ cần những bài thơ mới hơn, thứ thơ chứa đựng cái hồn của đời sống thông qua cái tôi trữ tình của tác giả. Đòi hỏi này là chính đáng, và thực sự khắc nghiệt đối với tất cả những nhà thơ quen tay viết theo dòng thơ được coi là “chủ lưu” của một thời. Những năm 80 thế kỷ XX, Bằng Việt có tạt qua địa hạt khác một chút, đi viết một số tập văn xuôi, biên khảo và dịch nhiều thơ của các nhà thơ quốc tế. Và trong địa hạt này anh đã đạt được thành công đáng trân trọng!

Tuy nhiên, Bằng Việt là một tài thơ đích thực, chỉ những ai hiểu anh mới biết, thi sĩ này vẫn đi trên con đường số phận thi ca dành cho mình. Thực tế cho thấy đúng như vậy, sau gần hai mươi năm, đến mùa thu 2000, anh lại cho in chùm thơ 7 bài mới trên tạp chí Nhà văn. Chùm thơ ấy cho thấy vẫn là sự tiếp tiến của hồn thơ Bằng Việt hơn ba mươi năm trước. Chẳng hạn, xưa kia anh viết (bài Bêtôven và âm vang hai thế kỷ):

Em đừng mong khúc nhạc để vui tai

Đây là nhạc của châu Âu gầm thét

Tiếng kèn trận, người đi như nước xiết

Tiếng thác xô tung tóe bọt căm thù

Thơ ấy có sức liên tưởng sâu rộng, sức vang vọng mới lạ hơn người, nhưng có cái gì đó còn chưa chan hòa với đời sống người Việt và cuộc sống Việt Nam gian lao, mồ hôi nước mắt. Và, xưa kia anh viết (bài Trở lại trái tim mình):

Ở đây tôi bắt gặp hôm nay, tôi bắt gặp ngày qua

Tôi bắt gặp cả những ngày chưa tới

Trong những dáng người gặp vội

Đều chín muồi những dự định tương lai…

Thơ như thế có sức rung cảm người đang nhiều mộng ước, nhưng chưa khiến người đọc thương cảm những gì trong thực đời của họ, khiến họ thấm thía yêu thương cuộc đời. Nêu chút nhận xét này, chúng tôi muốn nói, đó là thơ rất hay trong thời của nó, và nó đẹp như là kỷ niệm về cái thời người Việt ta nhiều mộng tưởng nên hay giấu đi những khổ nhọc, buồn đau. Nêu nhận xét trên, chúng tôi chỉ muốn nhấn mạnh hơn rằng, thơ của Bằng Việt công bố năm 2000 đã chứa đựng những giá trị mới hơn, chất chứa những buồn vui, sướng khổ của đời thực sâu hơn: Vết thương cũ dẫu lành/ Lời hát còn đau tiếp…/ Thương sao là người hát/ Già đời còn thương vay… (bài Thương lại một thời). Xưa kia thơ anh hay bởi những xúc cảm to tát, giờ thơ anh thật hay khi viết về những điều sâu kín ngay trong cõi lòng mình, là cái hay tự tâm can, về nỗi buồn trần đời (bài Lặng lẽ):

Lặng lẽ ngồi nghe cây biết nói

Cây thấm hồn đêm, tĩnh lặng buồn

Lặng lẽ chờ tan cơn buốt nhói

Nỗi nhớ dần xa như khói sương…

Sau chùm thơ trên Tạp chí Nhà văn, Bằng Việt cho xuất bản tập thơ Ném câu thơ vào gió, gồm 45 bài, viết trên chặng đường thơ anh vừa đi qua. Một giọng thơ mềm mại, có thể nói là mềm mại hơn thơ anh trước kia nhiều; những tứ thơ sắc sảo và sức suy tưởng thâm trầm hơn xưa. Ném câu thơ vào gió lập tức gây tiếng vang trong đời sống văn chương. Bằng Việt lại được coi là một hiện tượng thơ, đến mức có nhiều người quan tâm đã nói rằng, đó là một dấu mốc Bằng Việt quay lại với thơ. Chúng tôi thì nghĩ, với cách riêng của mình, Bằng Việt vẫn đi trên đường thơ của mình, chứ có bỏ đi đâu, mà quay lại. Hai thập niên cuối thế kỷ XX, cuộc sống xã hội ta va đập vào những thử thách gay gắt. Nhất là đầu những năm 80, ngay ở Hà Nội, cái nghèo khó phơi ra trên phố xá hàng ngày. Những bộ quần áo bạc màu, có cả những miếng vá, những chiếc xe đạp hầu như tróc hết sơn, xích nhão kêu lạch xạch. Cán bộ, công nhân viên Nhà nước xếp hàng dài trước các cửa hàng thực phẩm để mua cho được từng lạng thịt, gói mỳ chính, những bánh đậu phụ rất bã… Do nghèo khó, cuộc sống tinh thần bế tắc, con người bon chen nhau, cốt kiếm lợi cho mình. Vậy nên đời sống tình cảm trở nên ốm yếu, méo mó, cái cao đẹp có nguy cơ bị vùi dập trước những tha hóa đang lan tràn trong xã hội. Đương nhiên, một nhà thơ như Bằng Việt đã phải nghĩ ngợi nhiều về thân phận của những trí thức nói chung và thi nhân nói riêng. Đó là những người vốn được gọi là kẻ sĩ, hiểu biết sự đời hơn người, nên cũng thật dễ bị tổn thương trước nỗi đời. Và Bằng Việt tài hoa, bay bổng xưa, nay lại có những câu thơ thật sự day dứt, buồn thấm thía về nỗi mệt mỏi trong đời sống thường nhật, cứ lặp đi lặp lại mãi ngay trên mặt đất này (bài Sự nhạy cảm không có chỗ):

Những nhà thơ mau chóng già đi

Trước việc kiếm ăn vo tròn đều đặn

Cây xanh hóa thờ ơ giữa mặt trời mọc lặn

Tiếng chim chuyền trên phố cũng thờ ơ…

Vâng, đọc Sự nhạy cảm không có chỗ khiến người ta thấy cần nhận thức thêm, nhận thức lại những giá trị đời sống. Trường hợp bài thơ Tạm bợ, ngôn ngữ thơ tinh giản, ý thơ thẳng thừng, gieo vào vào lòng người những day dứt khó chịu, khiến người ta muốn bứt phá, để vượt ra khỏi sự trì trệ, mòn mỏi tầm thường: Cái bàn gỗ tạp, cái ghế long chân/ ý nghĩ và việc làm đều vá víu…/ Cái tạm bợ nối thành một đời/ Cái tạm bợ đã thành vĩnh cửu!. Bài thơ này phần nào mang một nội dung triết học, viết năm 1985, ngay trước ngưỡng cửa của công cuộc Đổi mới. Nó là sự bổ sung cho thơ Bằng Việt có được tư tưởng, là bước đi thêm, là nấc cao hơn của phẩm chất thơ anh. Chắc hẳn chính anh cũng ý thức rõ điều đó, nên mới nhìn nhận lại một phần thơ thời trước (bài Lại nghĩ về thơ):

Hát suốt ba mươi năm điệu tâm hồn đã cũ

Bất quá chỉ như sự an ủi xuôi chiều

Lời an ủi dông dài cho những ai yếu đuối

Có thực hòa đồng với tuổi trẻ cần yêu?

Những năm Bằng Việt (cùng Lưu Quang Vũ) trở thành hiện tượng đặc sắc, trẻ trung của thơ chống Mỹ, anh từng hay viết về những gì dường như đẹp hơn cuộc sống thực. Chúng tôi xin nhấn mạnh, những câu thơ đẹp như lý tưởng ấy thực sự vẫn là những câu thơ được biết bao người đương thời yêu chuộng. Chẳng hạn: Tôi đi ngang những cuộc đời thường/ Biết ở đó chia nỗi lo nhân loại; hoặc: Anh nắm bàn tay em khi nói đến tương lai/ Thành phố đang cơn mưa ướt đẫm trong tiếng hát… Đó là thơ của người vẫn nghĩ rằng đường đời sẽ phải đầy thuận lợi, ẩn sau ngôn ngữ thơ cất cánh, bay cao đến mê hoặc, là sẽ đến một cái gì xa vời quá trong mộng tưởng. Nhưng đến chặng đường thơ sau này, Bằng Việt tài năng đã dần hạ xuống sát sườn cuộc sống thường tình với mọi buồn vui, sướng khổ thường tình và một hy vọng thật về một thứ hạnh phúc chỉ có thể đạt tới khi phải tự tay mình làm nên. Đó là một sự thay đổi có lý khiến thơ cần thiết hơn cho đời sống thật. Chúng tôi có nhận định rằng, xúc cảm thơ và trí tuệ thơ qua nhiều bài thơ trong tập Ném câu thơ vào gió là thơ của một tài năng đã rất từng trải. Bài Đọc lại Nguyễn Du thể hiện rõ cái tôi trữ tình đã thấm đẫm nỗi đau đời và cũng thật lịch lãm của anh. Đọc Nguyễn Du, là anh phải đọc câu “Nhất sinh từ phú tri vô ích/ Mãn giá cầm thư đồ tự ngu” (Một đời chuyên từ phú, biết rằng vô ích/ Đàn sách đầy giá chỉ tự mình làm ngu mình). Đọc câu ấy, để rồi anh viết về mình: Quá khuya, chợt thấy mình già/ Nhìn ra cửa sổ, mưa sa kín trời. Và đâu phải chỉ viết về cá nhân mình, mà là viết về trường đời, trong đó có số phận thi nhân:

Áo cơm se sắt mái đầu

Thương nhau mà giận, ngó nhau mà buồn,

Rạc dài chút phận văn chương

Cao sang nhòe lẫn tầm thường… ngẩn ngơ…

Những năm cuối thế kỷ XX, trong đời sống thơ Việt Nam hiện đại có nhiều nhà thơ trẻ và cả một số nhà thơ không còn trẻ nữa, bắt đầu làm cuộc đổi mới thơ. Phần lớn trong số họ theo xu hướng săn tìm hình thức mới cho ngôn ngữ thơ. Bằng Việt cũng có sự đổi mới thơ, nhưng là đổi mới nội dung, tư tưởng thơ. Không phải qua những tuyên ngôn, phát biểu về thơ, anh thể hiện điều đó bằng cái tôi trữ tình trong tác phẩm của mình. Bài thơ Tuổi giữa chừng, Bằng Việt trình bày thân phận mình đang bước trên đường đời, đến cái chặng giữa chừng: Mưa phùn… Đường bấm chân trơn/ Đi qua nhìn lại màn sương khuất rồi. Không phải đưa tay khoát rẽ màn sương nữa, nó ở phía sau rồi. Lời thơ không nói quá trình đi lên, nhưng đã ở tư thế trên cao. Và đã Tách mình ra một khung trời/ Nửa quên gánh nặng, nửa vơi nỗi buồn… Đây là xúc cảm có tính đại diện cho thế hệ những người như anh, đường đời, đến quãng giữa chừng rồi, thấy thể chất nửa như thấm mệt, còn phần hồn thì nửa như tiếc nuối, nửa còn đam mê chưa dứt. Thi sĩ còn nặng lòng với đời, đã thốt lên:

Chưa lên chót đỉnh chưa về

Nửa nhìn chưa thỏa, nửa nghe ngậm ngùi…

Hơn hẳn trước kia, bây giờ ngôn ngữ thơ lục bát của Bằng Việt thật dung dị mà khiến người đọc cảm động thấm thía. Và họ thấy, con người đang đi lên dốc đường đời những năm cuối thế kỷ XX, tuy phải nhiều gắng gỏi lắm, nhưng không nên gồng mình lên. Do nhìn rõ mình đang đi trên đường đời như thế nào, nên Bằng Việt tạo được vị thế thơ cho mình. Chính nhờ đạt được vị thế thơ ca của riêng mình, nhà thơ biết nhìn thế giới con người từ nhiều chiều, nhiều bình diện mà xưa trước anh chưa thể nhìn nhận. Vậy nên thơ Bằng Việt giờ đây còn có thêm môt chút Thiền, như trong bài Vườn Nhật Bản; lại có thêm giọng trào lộng bản thân, như những câu thơ trong các bài Ném câu thơ vào gió, Thương lại một đời, và cả bài thơ tình Lục bát cầu may. Bài Vườn Nhật Bản, những câu thơ tinh tế, mô tả một khu vườn đá ở Kyoto – cố đô Nhật; nhà thơ bày tỏ nỗi lòng mình khi đi vào ma trận của đá. Đá thì ngồi thiền, rêu lặng lẽ nhập thế và xuất thế, cuội thì như sóng vô cùng vô tận. Còn lòng người, đã bỏ được hết tham, sân, si ở ngoài cổng vườn hay chưa. Ý thơ thoát, hơi thơ trẫm tĩnh, trong mà sâu:

Cỏ hữu hạn xanh veo cùng bất tử

Lòng hoàn nguyên rửa sạch với thinh không

Sự tự tin đến với cõi lòng mình là nhờ vẻ trầm tĩnh, lắng sâu, có lẽ là do mục đích của người tạo nên vườn đá, và có lẽ cũng là mục đích thơ của Bằng Việt khi viết về khu vườn đẹp lạ thường đó. Còn trường hợp bài thơ Ngày đã đứng trưa, lòng tự tin trước cuộc đời của nhà thơ là do anh biết tự diễu mình qua những câu chữ tưng tửng, mà đau, sơ kết một chặng đời:

Đã đứng rồi ư? Sao ngày ngắn vậy

Nghĩ chưa xong, thời khắc điểm xong rồi!

Đã chín rồi ư? Sao đời ngắn vậy

Quay lại nhìn, bao việc vẫn buông xuôi…

Giữa những khe chữ như đùa diễu ấy, là canh cánh nỗi đời, và cũng là thăm thẳm lòng thương yêu cuộc đời: Trưa đang đứng, còn đời mình đang chín/ Giọt nắng vàng như mật sáng rưng rưng… Bút lực của thi sĩ mạnh hay yếu chính là khả năng truyền cho người đọc nhiều hay ít những tri thức về cuộc sống cùng tình thương yêu con người sâu hay nông. Bút lực của Bằng Việt đang dồi dào lắm. Qua bài Ném câu thơ vào gió, thấy rõ điều đó. Anh mở đầu bài thơ như sự vung bút nhanh và khoáng đạt, rất mới lạ:

Ném một câu thơ vào gió thổi

Lời bay đi, tôi nhớ lại đời mình

Cuộc đời riêng của nhà thơ, nhưng mang cái chung của nhiều người cùng thế hệ, có chút nực cười thời trẻ chưa hết tung tăng đã muốn bạc đầu; lại có cả nỗi đam mê một thời trang trọng/ lo nỗi lo khuôn thước của muôn nhà. Nhìn nhận lại cuộc sống của cả một thời, nó là vậy, Bằng Việt dùng ngôn ngữ thơ nhẹ nhõm, thật phóng túng. Đánh giá cuộc đời riêng mình, thấy nó chứa cái chung của bao cuộc đời cùng trang lứa với những giá trị tự nhiên, đẹp đẽ, những câu thơ thổn thức và trang trọng:

Nay lại ném câu thơ vào gió thổi

Tin, không tin… vẫn còn lại riêng mình,

Còn lại tấm lòng mong manh dễ vỡ

Cát đã ra lò, nay hóa thủy tinh.

Cát đã được tinh luyện, thành thủy tinh rồi, nhưng vẫn còn đó những xúc cảm mong manh, dễ vỡ! Lối vung bút khoáng đạt, xuất thần ấy không chỉ có trong bài Ném câu thơ vào gió, có thể thấy nhiều câu thơ như thế ở các bài Em và tôi, Rồi sẽ tới, Lục bát cầu may… Đọc Lục bát cầu may, ta thấy một hồn thơ phập phồng trong tình ái, có ái ngại và cũng bồn chồn hy vọng: Biết đâu say đắm vẫn còn/ Thoảng cơn gió lạ nắng dồn sang mưa…/ Biết đâu sau lớp tro vùi/ Ngón tay em có phép cời lửa lên. Đằng sau những biết đâu ấy là nỗi lòng yêu đương đến phấp phỏng, lo âu. Đích thực đó là thơ có nhựa sống, có hồn yêu, máu yêu. Nhiều thập kỷ qua, thơ tình của ta ít đi sâu vào nỗi lo sợ thành, bại của người đem lòng yêu khi bước vào cuộc yêu. Bài thơ này của Bằng Việt, âu lo đến mức muốn toại nguyện thì phải cầu may, phải nhờ trời, thậm chí bất chấp mọi rủi ro số phận:

Nếu làm mây, cứ như mây

Một mai tan xuống đất này, được không?

Nếu em là kiếp bềnh bồng

Thì tôi vĩnh viễn phải lòng phù du…

Là một nhà thơ sớm có thành tựu trong thơ tình hơn ba mươi năm trước, thời viết Bếp lửa với những bài như Tình yêu và báo động, Nghĩ lại về Pauxtopxky, Những đoạn thơ tình giữa hai cuộc chiến tranh… Nhưng chúng tôi nghĩ, đến chặng đường thơ này Bằng Việt mới có thơ tình ái đích thực. Mỗi bài thơ tình của anh đều có xúc cảm mạnh và ý tứ sâu lắng. Chẳng hạn bài Em và tôi, là thơ tình của người từng trải lắm rồi, nhưng may sao, sự từng trải lại nhường bước cho niềm say đắm, nên hơi thơ nồng nàn thế này:

Em có nét buồn sâu như ngọn gió

Thổi lang thang qua năm tháng hao gầy,

Tôi có chút buồn xa như vạt cỏ

Khuất chìm trong cát bỏng đến chân mây

Trong xúc cảm đắm say, thơ Bằng Việt tỏ rõ cái mạnh riêng là sức liên tưởng, khiến không gian tình yêu mở ra thật xa rộng mà đầy mỹ cảm. Lúc sáng tác bài thơ này, tài thơ cộng thêm sự thăng hoa vụt đến, nhà thơ đã cảm nhận ái tình dài lâu từ cõi sống thường tình sang cả cõi khác thường và to lớn, nó biến ảo như thiên nhiên:

Khi quay lại nhìn nhau trong khoảnh khắc

Gió qua truông thương cỏ cháy ven trời

Chỉ em biết, cỏ rồi xanh mút mắt

Chỉ một mình em biết – cỏ là tôi!

Chặng đường thơ hai mươi năm cuối thế kỷ XX của Bằng Việt, ta thấy những quan tâm thật sâu của nhà thơ tới cuộc sống với nhiều suy ngẫm, lo âu, và anh cũng yêu cuộc sống không mấy dễ dàng một cách chân thành, tha thiết. Trên chặng đường ấy, có lúc thảng thốt: Đời đột biến mà thơ đi quá chậm. Hoặc đang đi, nhà thơ bỗng giật mình, ngoái lại nhìn quá khứ, rồi thấy: Cây trám của ngày nao, giờ ngỡ cây trám dại, và anh muốn tạ lỗi cùng cây. Có lúc trước dòng đời chảy xiết, thốt lên một lời than và hạ ngay xuống như một tiếng thở dài: Nhanh quá thế, mà cũng buồn quá thế/ Chớp mắt xong, là đã một đời người. Và nhiều khi, một mình giữa rừng già rộng lớn, thấy tự tin, nhận biết được cái đẹp vừa nhẹ nhõm vừa sâu xa về lẽ mất và được, không và có trong cuộc đời này:

Có gì run rẩy tinh sương

Ru ta tới lẽ vô thường nhẹ không…

Những cung bậc cuộc sống, những buồn vui, sướng khổ trên quê hương hơn hai mươi năm qua, lọc qua tâm hồn Bằng Việt, thành thơ. Có thể nói, ngay khi bước vào làng thơ Việt Nam hiện đại, nhà thơ này đã thể hiện một bản lĩnh thơ đằm sâu, một chủ nghĩa trữ tình xao động, bồi hồi, khi đậm đà duyên dáng, khi âm vang sâu thẳm – như cách nói của giáo sư Lê Đình Kỵ. Rồi con đường thơ cuốn hút anh. Bằng Việt dấn thân, và đã tạo cho mình một tư thế thơ thật đẹp trong đời sống thơ ca hiện đại. Anh đang tiếp tục đi trên con đường của số phận mình!

Nguồn Văn nghệ

Đăng bởi: Ngô Minh | 16.02.2017

Xuân chơi cùng “Người về với Như”

Xuân chơi cùng “Người về với Như”

  •   CỔ MỘ
Xuân chơi cùng "Người về với Như"

Đối với người Việt, có lẽ không từ nào gây nôn nao và thương thiết như tiếng “về”, nhất là khi năm hết tết đến, giữa dòng người bát ngát như nước sông mùa xuân đang đổ về muôn ngả. “Về quê”, “về nhà” là về với quê hương – nơi ta sinh ra với hình hài nguyên sơ nhất, là về với mái nhà – tổ ấm của ta và cũng là nơi ta cởi bỏ mặt nạ xã giao để sống chân thành nhất với bản diện của mình.Có thể hiểu một cách đơn giản mà không hề hời hợt rằng, “Như” là “Nhà” và “Người về với Như” là “Người về Nhà”.

“Nhật Chiêu” là cái tên quen thuộc trong giới đại học, trong giới nghiên cứu và cả trong giới sáng tác văn học. Độc giả chưa hết ngạc nhiên về sự tinh tế, sâu sắc, tài hoacủa Nhật Chiêu trong Basho và thơ Haiku, Thơ ca Nhật Bản, Nhật Bản qua chiếc gương soi, Văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến năm 1868, Ba nghìn thế giới thơm, Câu chuyên văn chương phương Đông,… thì lại ngạc nhiên về một loạt tập truyện ngắn, thơ với phong cách nghệ thuật lạ lùng mà đầy hấp lực: Người ăn gió và quả chuông bay đi, Mưa mặt nạ, Viết tên trên nước, Lời tiên tri của giọt sương, Ân ái với hư không, Tôi là kẻ khác. Rồi gần hơn lànhững bài giảng, bài thuyết của Nhật Chiêu về nghệ thuật học, lý luận văn học hiện đại đương đại phương Tây trên giảng đường, viện nghiên cứu, salon học thuật cũng gây tiếng vang rộng rãi do cách lựa chọn và trình bày vấn đề của ông vừa mới mẻ, độc đáo lại khiến người nghe dễ tiếp nhận.

Nhưng gây ngạc nhiên nhất cho nhiều người có lẽ là tập Người về với Như mới ấn hành đầu năm mới này. Ngạc nhiên bởingười ta thường nghĩ rằng trong học thuật cái tên Nhật Chiêu gắn liền với “văn học Nhật Bản”, “văn học nghệ thuật nước ngoài”, “người tình của văn chương thế giới” mà ít ai nghĩ rằng ông cũng là một kẻ tình si của thơ ca Việt Nam suốt từ thời Lý Trần cho đến nay. Chính từ những hiểu biết rộng rãi và sâu sắc về văn học thế giới đã giúp cho Nhật Chiêu khám phá ra nhiều vẻ đẹp của thơ ca Việt Nam, bằng hình thức mà ông gọi là “tương chiếu”, tức ánh chiếu nhau, haymượn ngọn lửa của văn chương xứ người để soi sáng cho văn chương xứ minh, vượt qua cả không gian và thời gian.

Người về với Nhưlà tập tùy bút thơ ca bao gồm 34 bài viết, trong đó chiếm phầnchủ yếu là các thi hào thi bá lẫy lừng nhất trong lịch sử văn học Việt Nam, tuy tên tuổi quen thuộc, nhưng lại rất tân kỳ bởi được nhìn nhận, kiến giải từ những góc độ mới của một đôi mắt và ngọn bút luôn kiếm tìm, phát hiện ra những cái mới. Tập sách này cũng thể hiện rõ nét được tài năng đa diện của Nhật Chiêu: khảo cứu, dịch thuật, sáng tác – tất cả được kết tụ, hòa quyện vào nhau, mà cái độc đáo, cái hay, cái đẹp về ý tưởng, cấu tứ cho đến ngôn từ được thể hiện một phần ngay trên nhan đề của mục lục sách: Thiên hạ ai cười với Tố Như?, Cảm thức “buồn trông” trong Truyện Kiều, Những con sóng và chốn bình an, Linh sơn trong lòng ai, Ngồi nhìn mây trắng mọc, Hãy lắng nghe hoa, Như một chiếc thuyền không, Nghe tiếng vượn trầm, Vần thơ sinh tử của Vô Nhị Thượng Nhân, Xoay mình một cái thong dong, Về cõi vô tâm cưỡi chơi cánh diều, Đường hoa bên nắng bên râm, Người ảo hóa sự chiêm bao, Nguyễn Trãi: Mới hay kìa nước nọ hư không, Tùng cô tịch hát, Đi giữa cõi sen hồng, Gió mưa ngầm đổi người ca múa, Ai nói cười trong mây biếc, Đâu chỉ Đào nguyên có cội đào, Cực lạc là đây, Hồ Xuân Hương – Hoàng Chân Y và huyền thoại người nữ, Nằm trong hạt cải, Ngủ với phù vân, Rơi một hồi chuông, Về chơi bên ấy, Bước đi của núi, Lệ bóng hoa tan, Người ôm lấy muôn loài, Tâm linh và huyền bí sắc dục trong văn chương, Hàn Mặc Tử và Han Yong-un: Thơ ca của niềm im lặng, Bùi Giáng “chơi”, Triết lý Tarot và Truyện Kiều: từ ngây thơ đến thế giới, Huyền bí tranh Haiga, Người về với Như.

Ở đó, Nguyễn Du được Tuệ Trungcủa Việt Nam, Silessius và Holderlin của Đức, Vương Duy, Thôi Hiệu và Trương Duyệt của Trung Quốc, Han Yong-un của Hàn Quốc, Issa và Ikkyu của Nhật, Walt Whitman của Mỹ, Tarot của phương Tây soi sáng, làm bật lên “tiếng cười mang thinh không, bay suốt thiên thu”, “giải thoát cho sự vật”, “thâm trầm hơn giọt lệ” trong thơ chữ Hán và hé mở cái “buồn trông” “vừa hướng ra ngoài vừa vọng vào trong”, nhưng “ít bóng tối”, “nhắm hướng cái đẹp mà đi”, cái cảm thức “buồn nhưng ái ân với cuộc sống”trong Truyện Kiều của Tố Như.Tuệ Trung Thượng Sĩ được sư Thường Chiếucủa Việt Nam, Yajin và Shurin của Nhật Bản, Trang tử, Vương Duy, Sư Giới, Vương Xương Linh, Lý Bạch, Đỗ Phủ và Tạ Tam của Trung Quốc, Tagore của Ấn Độsoi sáng, làm lộ ra “hình ảnh một khách trần đang chơi, phiêu bồng với sóng”, “hình bóng Tuệ Trung như một cánh chim bay lượn trong khói sương trên nước, ngây ngất tiêu dao”, làm phát ra “âm thanh của đáy sâu”, “cái nguyên thanh của tâm hồn” trong thơ Trần Tung. Nguyễn Trãi được Vương Bột, Vương Duy, Đạo Nguyên, Lý Bạch của Trung Quốc,Nangai, Buson, Sesshi, Ryokan, Issa, Boncho, Shiki, Ryoroku, Kikaku, Sodo, Takakocủa Nhật,Bettt Drevniok và George Swede của Mỹ soi sáng, cho chúng ta thấy được “những chiêm bao tan vỡ và hình thành liên tục”, “cái nghi ngút mênh mông”, nghe được “tiếng nói cười trong mây biếc”, cảm nhận được “cái đẹp của hương và bóng” trong thơ Ức Trai.Hồ Xuân Hương được sư Thiền Lão của Việt, Hwang Chin-I của Hàn, Sei Shonagon của Nhật, Emily Dickinson của Mỹ soi sáng, làm ta có cái nhìn nhất nguyên về nghệ thuật nhị phân “cung Ma và cõi Phật”, “bóng tối” và “ánh sáng”, “vũng tang thương” và “mùa xuân cực lạc” cùng “cái nhan sắc” như “cái gì đó cụ thể, trần thế, va chạm” trong tác phẩm của Bà chúa thơ Nôm. Ngô Thì Nhậm được Vương Duy, Lý Bạch, Chora soi sáng, khiến người đọc như nghe được “tiếng lời của cái thấy”, “tiếng lời của dư vang”, “tiếng lời nguyên thanh” và “tiếng gọi ẩn giấu của trời đất” trong thơ phú Hải Lượng thiền sư. Hàn Mặc Tử được Hàn Long Vân soi sáng, làm hiển hiện “thứ ngôn ngữ đang tìm kiếm niềm im lặng”, “niềm im lặng của Ai”, “niềm im lặng của Trăng và Thơ”, “tình yêu của niềm im lặng” trong thơ Phong Trần. Bùi Giáng được Heidegger, Tản Đà soi sáng, làm phơi bày một “thế giới hỗn độn chập chờn”, một “phong cách du mục”, một “ngữ ngôn cuồng dại”, một “trò hài” “nghịch thơ”, một “giọng nói lố bịch” mà hiền minh của thi sĩ trung niên. v.v.Trên đây chỉ là một vài ví dụ dẫn ra từ tập Người về với Như cực kỳ phong phú đa dạng với hàng chục thi nhân khác, cả Việt Nam và Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc được Nhật Chiêu cảm mến, tìm gặp, tâm tình.

Và từ đó, vẻ đẹp của văn chương Việt Nam phát sáng, tỏa hương, lên nhan sắc làm say mê lòng người. Cũng có thể nói “Như” trong sách này là cái Đẹp, vậy “Người về với Như” cũng là “Người về với Cái Đẹp”, cái đẹp nguyênlành, thuần khiết, như thơ như ngây mà đầy quyến rũ thể hiện một cách vừa cụ thể vừa huyền ảo qua hình ảnh Linh sơn của Nguyễn Du, Đào nguyên của Ngô Thì Nhậm, đỉnh Vân Tiêu và cánh diều của Huyền Quang, con thuyền rỗng không của Tuệ Trung, qua âm thanh từ chiếc đàn không điệu của Trần Thánh Tông, qua tiếng suối của Nguyễn Trãi, tiếng cười của Hồ Xuân Hương,… Nó khiến những ai chưa từng yêu văn chương xứ ta cũng phải tự giận mình, còn những ai đã yêu lại càng thêm đắm đuối. Tất cả tình cảm, cảm xúc, ấn tượng ấy sẽ đến với những ai mang trong lòng hạt mầm tình yêu văn chương, vẻ đẹp tiếng Việt vàNgười về với Nhưsẽ là một tia nắng ấm, một dòng nước mát khiến cho hạt mầm ấy nảy chồi sinh sôi.

Tập sách này cũng sẽ làm hài lòng những người ưa vẻ đẹp thanh nhã, mỹ thuật bởi ngoài ảnh bìa đẹp đúng như tranhchạy dài qua cả hai bìathì bên trong còn được điểm xuyết bằng một số kiệt tác tranh Haiga của Nhật mang cái đẹp đặc hữu “giản ước, ẩn giấu và trống vắng” trong sự tương chiếu với thơ haiku của Issa, Shiki, Chora. Cả chữ và tranh đều được in trên nền giấy êm dịu ánh mắt và tê tái những ngón tay.

Học giả An Chi viết:“…

Lang bạt kỳ hồ” là một câu trong “Kinh Thi” của Trung Hoa. “Lang” là chó sói, “bạt” là giẫm đạp, “kỳ” là một đại từ thay thế cho danh từ “lang” còn “hồ” là cái yếm da dưới cổ của một số loài thú. Vậy “lang bạt kỳ hồ” là con chó sói giẫm lên cái yếm của chính nó (nên không thể bước tới được). Hán Việt tân từ điển của Nguyễn Quốc Hùng giảng và chú như sau: “Con chó sói giẫm lên cái phần da cổ của nó, lúng túng không biết làm sao. Chỉ sự lúng túng khó xử. Ta lại hiểu là sống trôi dạt đây đó (không rõ tại sao)”.

Điều mà quyển từ điển trên ghi “không rõ tại sao” chung quy cũng là do từ nguyên dân gian mà ra. Không biết được ý nghĩa đích thực của câu đang xét, người ta đã liên hệ các thành tố của nó với những yếu tố mà mình đã biết: “lang” với “lang thang”, “bạt” với “phiêu bạt”, “hồ” với “giang hồ”, chẳng hạn. Thế là thành ra cái nghĩa “sống lang thang rày đây mai đó”. Chẳng những thế, người ta còn lược bỏ hai tiếng “kỳ hồ” mà nói gọn thành “lang bạt” để diễn đạt cái nghĩa trên đây. Quả vậy, Từ điển tiếng Việt 1992 đã ghi nhận: “lang bạt: sống nay đây mai đó ở những nơi xa lạ”. Nhiều quyển từ điển khác cũng làm như thế vì hai tiếng “lang bạt” đã trở thành một đơn vị từ vựng thông dụng trong tiếng Việt.

…”

Nhà nghiên cứu – TS Nguyễn Ái Việt còn gay gắt hơn, ông đã móc nối sự nhầm lẫn này với “thói quen làm khoa học ếch ngồi đáy giếng” của người Việt, xin xem link:
http://aivietnguyen.blogspot.com/2014/11/lang-bat-ky-ho.html.

Đọc kỹ bài thì thấy cả học giả An Chi và TS Nguyễn Ái Việt đều lập luận rất logic, đặc biệt TS Nguyễn Ái Việt đã dẫn tư liệu sách chữ Hán hết sức phong phú.

Có điều tui thấy cả hai vị đều sơ suất ở một điểm, đó là chỉ trích dẫn mỗi câu đầu của bài Kinh Thi “Lang Bạt” 狼跋, ở thiên Mân Phong 豳風:

狼 跋 其 胡, 载 疐 其 尾 .
Lang bạt kì hồ, tải chí kì vĩ.
Nghĩa đen là “Con sói bước tới dẫm vào yếm lông trước cổ của mình, lui lại vấp phải cái đuôi của mình” (TS Nguyễn Ái Việt dịch)

Trong khi đó cả hai vị đều không đả động gì đến câu tiếp sau :
公孫碩膚、赤舄几几。
Công tôn thạc phu, xích tích kỉ kỉ

Đại ý là “Bậc đại nhân quý tộc, đi hài đỏ dáng yên bình, ổn định, chắc chắn”.

Để hiểu sâu ý nghĩa toàn bài “Lang bạt” cần phải phân tích kết hợp nghĩa của cả hai câu trên, rõ ràng chúng là những hình ảnh mang tính đối lập, ví von và giàu ẩn ý:

–       Một bên thì có bộ điệu cập rập lúng túng chân nọ đá chân kia, một bên thì đi đứng khoan thai, bình ổn.

–       Một bên vốn là giống vật hoang dã quen lang thang ngoài thảo nguyên hay trong rừng rậm, không có chỗ trú ẩn cố định, một bên là bậc quý tộc đại nhân, đi đứng khoan thai bình ổn trong điền trang hay dinh thự của mình…

Bản thân từ “lang thang” biết đâu cũng có thể xuất xứ từ chữ “lang” là con sói, do lối sống săn mồi của loài sói nên chúng không cố định hang ổ một chỗ, thường thì sói chỉ nằm ổ khi đẻ. Khi chưa phân tích kỹ lưỡng từ nguyên của từ “lang thang” thì chưa thể phê bình việc người xưa gắn “lang sói” với “lang thang” là một sự lầm lẫn được.

Theo tui muốn hiểu từ “lang bạt” cần phải hiểu trong toàn bộ bài Kinh Thi “Lang bạt”, và phải giải thích với cách nhìn khái quát sự vật vì Kinh Thi vốn dĩ rất hàm súc thâm thúy, chứ không thể cắt xén một câu hay một từ rồi giải thích theo nghĩa đen “Lang bạt” là “con sói tự dẫm lên yếm nó”, hay diễn giải xa hơn thành “mắc kẹt” như ý kiến của TS Nguyễn Ái Việt. Phải so sánh với cuộc sống của kẻ quý tộc trong lầu son gác tía “xích tích kỉ kỉ” mới thấm hiểu nỗi vất vả nhọc nhằn của những người lao động “lang bạt kỳ hồ” sống cuộc đời như súc vật ngoài thảo nguyên bao la !

Với cách nhìn khái quát đó việc người Việt hiểu “lang bạt” theo nghĩa “sống lang thang rày đây mai đó” có thể phê bình là “óc tưởng tượng hơi quá đà” nhưng bảo rằng hoàn toàn lầm lẫn (do ngu dốt, ít học), không có căn cứ gì thì tui thấy chưa thuyết phục !

Để tránh lặp lại cái lỗi trích dẫn không đầy đủ, tui xin copy/paste nguyên cả bài Kinh Thi “Lang bạt” dưới đây vì nó còn có 2 câu ở khổ dưới nữa.
狼跋

狼跋其胡、載疐其尾。
公孫碩膚、赤舄几几。

狼疐其尾、載跋其胡。
公孫碩膚、德音不瑕。

 

Lang bạt

Lang bạt kì hồ, tải chí kì vĩ
Công tôn thạc phu, xích tích kỉ kỉ

Lang chí kì vĩ, tải bạt kì hồ
Công tôn thạc phu, đức âm bất hà.

Do bài thơ có sự ví von ẩn dụ, 2 câu nói về con sói không thể hiểu đơn giản theo nghĩa đen nên tui không dịch, để người đọc tự cảm nhận, chỉ giải thích một số từ khó theo tự điển, chứ không bịa ra chữ nào cả:
– 疐Chí . (1): vướng chân. (2): ngã. (3): ngăn trở.
– 膚Phu :  (nghĩa thứ 3 trong tự điển Thiều Chửu): lớn, như: phu công  膚功-công lớn.
– 舄 Tích (nghĩa thứ 1 trong tự điển Thiều Chửu): giày hai lần đế, giày của vua đi gọi là xích tích  赤舄.
– 瑕Hà : vết ngọc, điều lầm lỗi của người ta gọi là hà tỳ  瑕疵.
– 几几kỉ kỉ :安和穩重的樣子 – an hòa ổn trọng đích dạng tử (theo zdic.net)

Ngoài ra tôi đề nghị người đọc trước khi tìm hiểu bài Kinh Thi đó thử cảm nhận 2 bài thơ này:
(BG)
Rong rêu ngày tháng rong chơi
Tìm xuân tinh thể chốn nơi nào là
Sưu tầm túy vũ cuồng ca
Hồn nhiên như thể như là hài nhi?
Chiêm bao tóc thuận tơ tùy
Tồn sinh nặng nhọc nhu mỳ ở đâu
Ngữ ngôn khép kín mặc dầu
Hùng tâm tim máu óc đầu mở ra
Dịu dàng cuối lá đầu hoa
Mười về châu lệ chín sa dòng dòng
Miêu Cương mạc ngoại hoài mong
Hồng hoang chín bệ tấm lòng đầu thai
Mùa xuân hiện giữa ngàn mai
Nguyên hình Nữ Chúa trên ngày phù du

(TS)
Đôi mắt ướt tuổi vàng cung trời hội cũ

Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn
Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng
Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ
Bụi đường dài gót mỏi đi quanh
Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ
Suối rừng xa ngược nước xuôi ngàn.

( Nguồn: VHNA)

Older Posts »

Danh mục