Đăng bởi: Ngô Minh | 30.08.2016

NHẤT LÂM- SỐNG LÀ TẬN HIẾN

 IMG_0373

NHẤT LÂM- SỐNG LÀ TẬN HIẾN

( Đọc tự truyện SÔNG ĐỂ CHẾT của Nhất Lâm)

QTXM: BẠN ĐỌC THÂN MẾN. QTXM VỪA NGHE HUNG TIN:NHÀ VĂN NHẤT LÂM ĐÃ QUA ĐỜI TẠI BỆNH VIỆN TW HUẾ VÌ BỆNH TIM. HÔM QUA NM ĐIỆN THOẠI MỜI ANH DỰ GIỖ MẠ NM HÔM NAY. THẾ MÀ BÂY GIỜ ANH ĐÃ THÀNH NGƯỜI THIÊN CỔ! NHẤT LÂM LÀ NHÀ VĂN ĐAM MÊ,TRUNG THỰC VÀ QUYẾT LIỆT.  NM VÀ QUÀ TẶNG XỨ MƯA CÚI ĐẦU VĨNH BIỆT ANH! MỜI BẠN ĐỌC ĐỌC BÀI VIẾT  MỚI  NHẤT CỦA NM VỀ ANH NHẤT LÂM:

Ngô Minh

       NHẤT lÂMNHÀ VĂN NHẤT LÂM

Nhà văn Nhất Lâm vừa tặng tôi cuốn tự truyện Sống để chết (*) co chữ 11 nhỏ xíu mà dày gần 300 trang. Đây là tập văn xuôi thứ 11 và tập sách thứ 17 của anh được xuất bản ( 6 tập thơ). Tôi dọc một mạch, những cuộc cuộc đời nhà văn tỉ tê bộc bạch, rất thú vị. Mới hay cuộc đời anh không phải Sống để chết mà là Sống để tận hiến cho người, cho đời. Một cuộc đời không chức tước gì nhưng đầy nỗi niềm, đầy can trường, dũng khí và rất thi sĩ! Nhà văn Nhất Lâm là người rất khác người. Anh là nhà văn đầu tiên ở nước ta hiến xác cho ngành y. Trong túi áo anh luôn có 3 cái thẻ: thẻ Hội viên Hội nhà văn Thừa Thiên Huế, thẻ hiếm xác và cái chứng minh thư kỳ lạ. Cái chứng minh nhân dân ( CMND) của Nhất Lâm 90 triệu người Việt Nam không ai có: sinh ngày 32/13/1936. Nghĩa là ngày không có, tháng không có trong lịch thời gian. Nhưng cái CMND là có thật, anh vẫn sử dụng.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 30.08.2016

Vì sao người Trung Quốc ngu thế?

Vì sao người Trung Quốc ngu thế?

  •   LI MING [TRUNG QUỐC]
 Lời người dịch:

Ai cũng biết văn minh Trung Hoa có đóng góp quá nhỏ (xét về tỷ lệ số dân toàn thế giới) vào thành tựu của văn minh nhân loại, về KH tự nhiên cũng như KH xã hội. Tìm ra căn nguyên của tình trạng này là một vấn đề có tầm quan trọng đối với Trung Quốc (TQ), từng được một vài học giả phương Tây, hoặc phương Tây gốc Hoa bàn luận (xem http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=62&CategoryID=32&News=1049 và  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=62&CategoryID=41&News=4501), nhưng dường như giới học giả TQ lại thiếu quan tâm, có lẽ vì họ không muốn nói tới các mặt tiêu cực của thể chế chính trị-văn hóa nước họ. Trong tình hình đó, cuốn “Vì sao người TQ ngu thế?” của triết gia TQ LiMing (Lê Minh, xuất bản 2003) thu hút được sự chú ý của dư luận. Dưới đây là bài nói của LiMing tại ĐH Bắc Kinh giới thiệu về nội dung sách trên.  Bài gồm 6 phần: 1) Vì sao người Trung Quốc [TQ] là một dân tộc vô “học”?  2) Vì sao sự ngu dốt của người TQ là kết quả tất nhiên của sự lựa chọn không ngừng xuất phát từ lợi ích tự thân của kẻ thống trị các đời trước. 3) Vì sao người phương Tây trong xã hội cận đại lại trở nên thông minh? 4) Nghi ngờ về sự “thông minh” của người phương Tây trong thế kỷ XXI. 5) Tình trạng ngu dốt và thông minh hiện nay của người TQ. 6) Sau thế kỷ XXI, người TQ nên trở nên thông minh như thế nào? Sau đây xin lần lượt giới thiệu các phần, bắt đầu từ phần một.

 

Trong cuốn “Người Trung Quốc xấu xí”, ông Bá Dương đã xúc phạm mạnh đồng bào TQ, và bị họ chửi cho mất mặt, giờ đây tôi lại lấy thuyết “ngu dốt” ra để gây sự lần nữa thì chẳng phải là tự chuốc lấy quả đắng đấy ư? Thực ra không phải tôi thích gây sự, mà là do cổ họng tôi bị hóc xương, không lấy xương ra thì khó chịu. Lại còn một lý do nữa là TQ từ xưa tới nay có quá nhiều văn nhân tự khoe mình thông minh, làm cho những người TQ bình thường lâu nay cũng thường xuyên rơi vào đám sương mù dầy đặc tự cho mình là thông minh, mọi người đều mơ giấc mơ người TQ “thông minh”, dường như người nước ta đúng là đặc biệt có gene thông minh. Tiếc thay, mơ mộng rốt cuộc chỉ là mơ mộng. Trên thực tế, người TQ có đúng là thông minh như thế không? Song le thông minh là gì, ngu dốt là gì?

Tôi cho rằng đó chỉ là kết luận rút ra được từ sự so sánh với các chủng người khác. Quan điểm của tôi là: trong sự so sánh đó, chủng người nào có thể cung cấp cho nền văn minh của nhân loại những nhà tư tưởng lớn, nhà khoa học lớn, nhà công nghệ lớn, nghệ sĩ lớn đẳng cấp thế giới, thì chủng loại người ấy là thông minh. Ngược lại, là chủng loại người ngu dốt.

Nói cách khác, qua so sánh, chủng loại người nào giỏi hơn về khám phá các quy luật mới (về tự nhiên, xã hội, tâm lý loài người), về phát minh công nghệ mới (tư duy, công cụ, máy móc), sáng tạo các tri thức mới (về khoa học, nghệ thuật), thì thuộc về chủng loại người thông minh. Ngược lại chủng loại người nào không giỏi, thậm chí không có thể khám phá quy luật mới, phát minh công nghệ mới, sáng tạo tri thức mới thì là không thông minh.

Dĩ nhiên, thông minh hoặc không thông minh, ngu dốt hoặc không ngu dốt đều mãi mãi ở trong quá trình biến động. Vì thế nên nói không có chủng loại người nào có số phận an bài là thông minh, cũng không có ai số phạn an bài là ngu dốt. Nhưng nếu mọi người tự mình kiên trì mãi mãi không biến đổi thì “ngu dốt” cũng có thể trở thành một loại số phận. Tôi vô cùng lo ngại người TQ trong tình hình trường kỳ kiên trì giữ một truyền thống lịch sử “bất biến” sẽ thực sự có số phận như vậy.

Người TQ có thực sự thông minh không? Nếu người TQ thực sự thông minh như thế thì trong dòng sông lịch sử dài dằng dặc rốt cuộc họ đã cống hiến cho nền văn minh nhân loại được bao nhiêu nhà tư tưởng lớn, nhà khoa học lớn, nhà công nghệ lớn, nghệ sĩ lớn cấp thế giới, cung cấp được bao nhiêu khám phá lớn về quy luật, phát minh lớn về công nghệ và nghệ thuật, sáng tạo lớn về tri thức?

Nếu người TQ thực sự thông minh thì tại sao trong hơn 100 năm gần đây về nhân cách chính trị lại luôn luôn bị người nước khác bắt nạt, về  kinh tế toàn là bị người ta bóc lột, về văn hóa học thuật toàn là bị người ta phân biệt đối xử ? Cái “thông minh” tự tâng bốc mình có thể biến thành thông minh thực sự được chăng? Rõ ràng không thông minh mà cứ tự tâng bốc mình thông minh, điều đó nên nói là ngu dốt thực sự.

Socrates ở thời cổ Hy Lạp được nhiều người cho là người thông minh nhất. Nhưng cái ông thích được tâng bốc hơn cả lại không phải là sự thông minh của mình, mà ông bao giờ cũng tự xưng: “Tôi biết sự vô tri của mình”. Cho nên Socrates là thủy tổ của phép biện chứng. Ông hiểu sâu sắc thực chất của sự việc con người sở dĩ “thông minh” không phải là ở bản thân sự thông minh mà là ở chỗ thực sự nhận thức được sự vô tri của mình và biết cách vượt qua sự vô tri đó. Trong lịch sử TQ có bao nhiêu sĩ đại phu và văn nhân dám công khai thừa nhận mình vô tri? Lại có bao nhiêu người đã nghiêm chỉnh khắc phục được sự vô tri của mình? Trên ý nghĩa này thực sự có thể nói chính là giới sĩ đại phu văn nhân trong các đời trước đã liên tục tạo ra sự ngu dốt của người TQ. Sở dĩ hôm nay tôi phải lớn tiếng tuyên bố về sự “ngu dốt” của người TQ ngày xưa và ngày nay, thực ra là tôi vô cùng mong muốn người TQ trong tương lai sẽ trở thành “thông minh”.

Lịch sử mấy nghìn năm của TQ thực ra là lịch sử các sĩ đại phu văn nhân tự khoe “thông minh”. Các sĩ đại phu văn nhân “thông minh” trong các thời đại trước đây đã để lại cho người TQ ngày nay những trước tác có tới hàng tỷ chữ, trong đó nổi tiếng nhất có bộ Nhị thập tứ (25, 26, 27……) sử, Tư trị Thông giám, Vĩnh Lạc đại điển, Tứ khố toàn thư v.v… Tiếc thay nếu dùng chiếc cân tri thức lý tính của con người hiện đại mà cân đo lượng văn bản lớn ấy thì phần tri thức của nó nhẹ tới mức làm người TQ cảm thấy đau khổ, chỉ đáng một phần vạn lượng tri thức ngày nay. Có một điểm càng làm cho người ta không thể không ghi nhớ là nếu ai hiện nay vẫn vùi đầu vào núi văn bản ấy thì người đó sẽ được nhân bản thành một vị văn nhân tự khoe “thông minh’ của TQ. Các vị văn nhân tự khoe “thông minh’ của TQ trong các thời đại trước đây chính là được nhân bản từ núi thư tịch ấy. Chính vì thế mà xã hội và lịch sử TQ cũng được nhân bản lặp đi lặp lại vô cùng giống như thời xưa, thậm chí như nhau. Chỉ trong một trăm năm gần đây mới có chút thay đổi, nhưng phần cốt lõi thì vẫn khá cứng — tức giới văn nhân TQ cho đến nay vẫn chưa nhận thấy sự vô tri của mình và tại sao lại vô tri, khắc phục sự vô tri như thế nào. Điều này đúng là thực sự ngu dốt.

Sự ngu dốt của người TQ trước hết, hoặc về căn bản, vẫn là sự ngu dốt của giới sĩ đại phu văn nhân nước này. Văn nhân các triều đại trước đây đã làm ra rất nhiều thư tịch có hàm lượng tri thức cực nhỏ —Kinh, Sử, Tử, Tập. Văn nhân TQ ngày nay vẫn tiếp tục làm ra rất nhiều văn bản loại ấy, tạo ra một lượng lớn rác rưởi văn tự trong toàn bộ nền văn minh TQ. Trước kia Lỗ Tấn từng đau khổ cảnh báo thanh thiếu niên TQ cần bớt đọc thậm chí không đọc sách do văn nhân TQ viết. Qua đây có thể thấy ông sớm hiểu rõ tính nghiêm trọng tồn tại trong núi rác văn tự của nền văn minh TQ. Chính là sự nhân bản lặp lại núi rác rưởi văn tự ấy đã lấp kín con đường trí tuệ của bao nhiêu thế hệ người TQ. Thứ đầu tiên được chế tạo với khối lượng lớn là sự ngu dốt của văn nhân TQ, sau đó nó khuếch đại thành sự ngu dốt của người TQ. Đó là số phận sự ngu dốt của người TQ trong hơn hai nghìn năm qua, nhất là trong 500 năm gần đây, đặc biệt là 200 năm nay.

I. VÌ SAO NGƯỜI TRUNG QUỐC LÀ MỘT DÂN TỘC “VÔ HỌC”?      

Tác giả đã sống được ngót 60 tuổi, làm học giả trong khoảng 20 năm, cho tới nay mới chợt tỉnh ngộ biết rằng “học” là gì. Sự tỉnh ngộ ấy cũng làm cho tôi bỗng dưng rơi vào một nỗi buồn sâu sắc: người TQ (dân tộc Trung Hoa) có lịch sử văn minh 5 nghìn năm mà chẳng lưu lại bao nhiêu thứ thực sự đáng để hậu thế học tập. Là một học giả hiện đại TQ tôi vô cùng đau khổ phát hiện thấy người TQ chúng ta vốn dĩ căn bản chưa hiểu thế nào mới là “học” đích thực, do đó mà đến nỗi hầu như vô “học”.

Điều đó thực ra không khó kiểm chứng. Chỉ cần mời mọi người đọc lại một lượt toàn bộ các giáo trình tiểu học, trung học, đại học, viện nghiên cứu sinh, xem xem trong số những kiến thức đáng gọi là “học” dạy cho học sinh, rốt cuộc có bao nhiêu cái là do người TQ chúng ta khám phá, phát minh và sáng tạo.

Kết quả ra sao? Có thể nói, ngoại trừ những thứ như ngữ văn TQ, y dược TQ, sân khấu, thư, họa TQ — số lượng các kiến thức thổ sản ấy đã cực ít lại cũng khó có thể gọi là “học” mà chỉ có thể gọi là “thuật” — hầu như 9999 phần vạn các kiến thức còn lại đều là “sản phẩm du nhập qua đường biển” từ phương Tây. Trong các lĩnh vực như thiên văn, địa chất, địa lý, toán học, vật lý, hóa học, sinh vật, tâm lý, triết học, khoa học xã hội (chính trị học, kinh tế học, xã hội học, pháp học, luân lý học, tân văn học….) thì người TQ chúng ta có truyền thống 5000 năm lịch sử lâu đời và chiếm tỷ lệ số dân nhiều nhất thế giới, rốt cuộc sáng tạo được môn học nào, khoa học nào? Chúng ta lại có ưu thế rõ rệt ở lĩnh vực nào vậy? Thậm chí người Nhật cũng có thể cười chế nhạo chúng ta “Đôn Hoàng ở TQ nhưng Đôn Hoàng học thì lại ở Nhật”.

Bình tĩnh tự xét mình, nên thừa nhận là trong nền văn minh TQ 5000 năm, chúng ta có chữ “học” động từ (học hỏi, học ở chỗ hỏi, vậy hỏi ai? Hỏi trời, hỏi các đại nhân, hỏi các thánh nhân) mà không có chữ “học” danh từ (môn học, khoa học, những tri thức có năng lực sinh trưởng kéo dài, có sinh mạng riêng, tự làm thành hệ thống).

Nhìn tổng quát xưa nay, chúng ta có quan trắc thiên văn nhưng không có môn thiên văn học; có khảo sát địa lý (như Từ Hạ Khách du ký…) nhưng không có địa chất học, địa lý học; có trồng trọt thực vật, vận dụng thực vật nhưng không có thực vật học; có dạy thú và sử dụng động vật nhưng không có động vật học (phương pháp dùng trong các môn động vật học, thực vật học hiện nay vẫn dùng phương pháp phân loại hệ thống do người phương Tây phát minh); có tính toán con số cụ thể nhưng không có toán học trừu tượng; có Tứ đại phát minh nhưng không có vật lý học, hóa học; có kiến trúc cầu hầm nhà nhưng không có cơ học kiến trúc (vật liệu, công trình, kết cấu); thậm chí ta có ngôn ngữ, chữ viết, hội họa, âm nhạc, nhưng không có các môn học thành hệ thống như ngôn ngữ học, ngữ pháp học, tư từ học (Thuyết văn giải tự của Hứa Thận là một bộ tự điển, Mã thị văn thông là sản phẩm sau khi học ngữ pháp học của phương Tây, Lục thư pháp tắc chưa hình thành nguyên lý nghiêm chỉnh), mỹ thuật học (hội họa TQ không có thấu thị học, sắc thái học…), âm nhạc học (tuy rằng Chu Tải Dục đời Minh đầu tiên phát hiện thập nhị bình quân luật nhưng không làm nó trở thành hòa thanh học, âm luật học v.v…).

Sau hơn 20 năm làm học giả TQ, tới nay tôi mới bừng tỉnh dậy sau giấc mơ lớn: người TQ chúng ta tự xưng có nền văn minh truyền thống cổ xưa 5000 năm nhưng lại là một nền văn minh vô “học”.

Thưa đồng bào, chẳng lẽ quý vị không cảm nhận được điều đó ư?

Tứ đại phát minh của ta cố nhiên vĩ đại đấy nhưng đều chỉ là “thuật” mà thôi, hơn nữa lại là kỹ thuật khá thô sơ do tiền nhân thời xưa phát hiện và phát minh ra trong trải nghiệm cuộc sống trực tiếp tiếp xúc với thiên nhiên, những cái đó chưa được nâng lên thành “học”, cũng tức là chưa biến thành tư duy lý luận trừu tượng, thành học thuyết giải thích quy luật của sự vật. Chẳng hạn thuốc súng trong Tứ đại phát minh , thành phần vật chất (nguyên tố) của nó là gì? Tính chất hóa học thế nào? Nguyên lý gây nổ của nó là gì? Lại nói kim chỉ nam trong Tứ đại phát minh vì sao nó mãi mãi chỉ về phương Nam (hoặc Bắc), rốt cuộc từ tính là gì? Tất cả những cái đó đều phải chờ đến sau này khi người phương Tây tiến hành tư duy lý luận trừu tượng mới có được nhận thức. Trên tất cả các mặt, người TQ chúng ta hầu như chỉ dừng bước không tiến tiếp ở “thuật” mà thôi, vì thế nên thành tích trong lĩnh vực “học” cực kỳ nhỏ bé, quả thật có thể nói là vô “học”.

“Học” với ý nghĩa môn học, là gì vậy? Điều quan trọng là ở chỗ có lý luận trừu tượng cao độ, lý luận đó có thể giải thích hiện tượng đã có của sự vật, lại có thể mô tả một cách trừu tượng quy luật phát sinh của hiện tượng, vì thế không những có thể giải thích cụ thể sự vận hành thực tế lúc đó của sự vật mà còn có thể dự đoán trạng thái và sự biến đổi của sự vật trong tương lai, và được kiểm chứng hoặc chứng thực, hoặc chứng ngụy trong thực tiễn sau đó.

Một trong những tiền đề quan trọng nhất để xây dựng lý luận là phải nắm được quy luật tư duy logic cơ bản nhất. Hơn hai nghìn năm qua, nhất là 200 năm gần đây, nền giáo dục người TQ từ nhỏ được tiếp thụ chỉ có sự nhồi nhét Tứ thư Ngũ kinh, xưa nay chưa bao giờ biết logic là cái gì, sĩ đại phu-văn nhân còn như vậy, nói gì tới đông đảo dân chúng mù chữ. Tại TQ còn có một nông nỗi đặc biệt làm đứt đoạn nền văn minh — đó là sự tách rời hầu như tuyệt đối giữa người lao động phổ thông với tầng lớp văn nhân biết đọc biết viết. Những người TQ tiếp xúc với thiên nhiên, có kinh nghiệm lao động sản xuất hầu như toàn bộ đều không biết đọc biết viết, nhưng giới văn nhân TQ biết đọc biết viết lại hầu như căn bản không tiếp xúc với thiên nhiên. Nói khác đi nghĩa là cái đầu (tư duy) và cái tay (thực tiễn) của người TQ từa xưa tới nay hầu như bị tách rời tuyệt đối. Cộng thêm tư duy của văn nhân TQ lại về căn bản thiếu mất sự huấn luyện của tính quy luật logic có ý thức, qua đó tạo nên sự tách rời tuyệt đối giữa “thuật” với “học”. Do sự đứt rời song trùng ấy mà cho dù chưa xét tới còn có nhiều nhân tố khác vô cùng bất lợi như chế độ xã hội, tập tục… thì cũng đã ngăn trở vô cùng nghiêm trọng con đường phát triển trí tuệ của người TQ rồi. Đó dường như là số phận ngu dốt của người TQ trong mấy nghìn năm qua, nhất là trong 200 năm gần đây.

Sự tách rời giữa đầu óc với tay chân trong văn hóa truyền thống TQ, cũng tức là tách rời  giữa tư duy và thực tiễn, cùng sự xa lạ giữa tư duy với logic của văn nhân TQ, đã tạo ra sự “học” của người TQ: hầu như duy nhất chỉ có cái “học” hỏi mà căn bản không có sự học hiểu, suy luận, giải thích, càng chưa thể nói tới sự học sáng tạo kiến trúc cấu tạo của tư duy logic trừu tượng. Tứ thư Ngũ kinh và những thứ tràn ngập thành tai họa hơn nữa như Kinh, Sử, Tử, Tập, hầu như toàn bộ đều là sự học hỏi. Văn hóa truyền thống TQ chỉ có sự học-hỏi, cộng thêm sự tách rời giữa đầu (tư duy) với tay (thực tiễn) và tiếp tục tạo ra sự đứt rời giữa “học” đích thực với “thuật” đã nói ở trên, — sự đứt rời song trùng ấy trên thực tế đã tạo nên sự vô “học” của người TQ từ xưa tới nay.

Trải qua quá trình Tây học truyền vào TQ trong 100 năm gần đây, TQ ngày nay cũng chỉ có cái “học” đi theo cái “học” của phương Tây mà về cơ bản chưa có cái “học” của bản thổ. Chính vì thế mà các “học” nhân của TQ ngày nay, trong quá trình học sẽ cảm thấy một cách nặng nề rằng mình đã mắc phải chứng “mất tiếng nói”. Hầu như mọi từ ngữ, khái niệm về “học” đều du nhập từ phương Tây, mà không có liên quan chút nào với truyền thống văn hóa bản xứ của chúng ta. Miệng là của người TQ nhưng nội dung lời nói lại là những điều trải qua sự suy nghĩ nghiền ngẫm của người phương Tây. Giấy viết, sách vở, truyền thông là phương tiện của bản xứ (song máy móc làm giấy, làm sách và thiết bị truyền thông cũng có thể của phương Tây), nhưng mọi đạo lý, quy phạm, quy tắc, quy luật…  được sách báo truyền thông nói tới đều là những thứ người phương Tây phát hiện, phát minh và sáng tạo. Trong tình hình này chúng ta còn có thể nói người TQ không “ngu dốt” ư?  Nếu còn muốn tự khoe mình “thông minh” kiểu AQ thì chúng ta lại “thông minh” ở chỗ nào vậy?

Khi phân tích kỹ nền văn minh 5000 năm của TQ, có một môn tri thức có thể gọi là “học” được — đó là “Trung Y học” [Y học Trung Hoa]. Có lẽ cũng chỉ trong lĩnh vực “Trung Y học”, người TQ có thể để lại cho nhân loại một thứ duy nhất có thể gọi là “lý luận” của mình. Đó là lý luận “Âm dương ngũ hành”. Tiếc thay tuy đây là thứ lý luận duy nhất trên thế giới có thể gọi là lý luận của người TQ, thuộc loại sánh được với lý luận logic của phương Tây, nhưng kể từ khi nó xuất hiện cách đây hơn 2000 năm, trong quãng thời gian dài dằng dặc sau đó, thứ lý luận ấy không hề có chút tiến triển nào. Người TQ không hề nghĩ tới chuyện nên tiếp tục cải thiện, đẩy mạnh lý thuyết này, mà chỉ mù quáng sùng tín nó, làm theo nó. Cuối cùng lý thuyết ấy chẳng những chưa được cải thiện mà ngược lại ngày càng trở nên cũ rích, xơ cứng. Cho tới nay số người TQ tiếp thụ lý luận logic của phương Tây ngày càng tăng lên, họ chỉ có thể coi thường thuyết Âm dương Ngũ hành, phỉ nhổ thuyết đó, thậm chí vu khống nó, coi là thứ lạc hậu, mê tín, thuộc cùng loại với thuật phù thủy.

Thực ra thuyết Âm dương Ngũ hành không phải là mê tín, không phải là thứ siêu nhiên có liên quan tới quỷ thần, thuật phù thủy. Tác giả cho rằng đó là logic sáng tạo độc đáo của người TQ, là logic giao thoa đối xứng và tuần hoàn tự xoay khác hẳn với logic đối xứng nhị nguyên luận của người phương Tây. Trái với người đời, tác giả tuy thừa nhận sự “ngu dốt” hiện trạng và trong lịch sử của người TQ nhưng lại tỉnh táo nhận định thuyết Âm dương Ngũ hành là trí tuệ đặc hữu tổ tiên chúng ta để lại. Đây là một di sản vĩ đại của nhân loại, trong thế kỷ XXI và sau này, nó có thể bổ khuyết cho logic đối xứng nhị nguyên luận phương Tây, qua đó thúc đẩy trí tuệ loài người nhảy vọt lên một mặt bằng mới trong thời đại mới.

Trên điểm này, tác giả kế thừa thuyết đó và độc lập sáng tạo ra lý luận Âm dương Tam hành. Chính là trên cơ sở thuyết logic mới này, tác giả dám tuyên bố trước thế giới là tới hôm nay, triết học phương Tây đã chết rồi.

………. Tác giả hy vọng người TQ sau thế kỷ XXI sẽ có thể trở nên thông minh như người phương Tây, thậm chí có thể còn thông minh hơn một chút.

Xin trở lại vấn đề trước đây, đi tìm nguồn gốc tại sao người TQ trong lịch sử lại vô “học”. Hiện nay có thể đã rất rõ ràng, đó là do trong lịch sử dài lâu, người TQ chưa tự mình sáng lập được một cơ sở có thể đặt nền móng cho tất cả mọi thứ “học”, cái cơ sở mà người phương Tây cận-hiện đại dựa vào để xây dựng hầu như tất cả mọi thứ “học” — Logic đối xứng nhị nguyên luận.

Nói rõ hơn, tức là logic hình thức, logic hình học, logic số lý, logic biện chứng … được từng bước hoàn thiện kể từ Aristotle, Euclid… Về bản chất, các logic này đều là logic tính đối xứng và nhị nguyên luận. Triết học phương Tây từ Plato trở đi, từ bản thể luận tới nhận thức luận, thứ được các triết gia phương Tây ra sức hoàn thiện là bản thân phương pháp tư duy logic đối xứng nhị nguyên luận. Chính là sự không ngừng hoàn thiện, phát triển của phương pháp logic phương Tây (từ triết học cổ đại đến triết học cổ đại) và sự kết hợp hữu cơ với phương pháp thực nghiệm có lựa chọn trong thời cận đại, đã sinh ra và xúc tiến các khoa “học” trên mọi lĩnh vực, mọi tầng nấc của phương Tây thời cận-hiện đại.

Hegel nói người TQ “không có triết học”. Chẳng may người TQ bị ông nói trúng. Đúng là người TQ không có triết học, mà điều đó lại ở chỗ người TQ không có logic — dĩ nhiên là nói logic đối xứng nhị nguyên luận. Các văn nhân nhiều đời trước của chúng ta chưa từng bỏ công sức vào việc thăm dò quy luật của bản thân tư duy. Họ chỉ có duy nhất một phương pháp tư duy là độc đoán trực giác và trực giác độc đoán. Tư duy độc đoán trực giác ấy ngoài việc sản sinh những ý kiến đủ mọi màu sắc ra thì chẳng thể có được sự suy lý khuếch trương, kéo dài, càng không thể có sự kiến cấu sáng tạo trừu tượng. Cho nên những tư liệu do các văn nhân TQ viết, ngoài việc có ý nghĩa chất đống to bằng hạt cát ra thì căn bản không thể có giá trị lý luận kiến cấu hữu cơ. Điều đó làm cho văn nhân chúng ta bao đời qua chưa bao giờ hiểu được lý luận là gì. Về cơ bản, văn nhân TQ là một lũ người lùn văn hóa chẳng biết lý luận là cái gì, chỉ biết phát biểu ý kiến (ý khí chi kiến) mà thôi. Dựa vào những người ấy thì mãi mãi chẳng có thể xây đắp nên tòa lâu đài khoa học cận-hiện đại. Cho dù trên mặt sáng lập kỹ thuật và nghệ thuật thì phần lớn cũng chỉ có thể là những thứ bình thường, nông cạn, vô vị, thậm chí thấp hèn. Chính vì thế mà đã hình thành một lịch sử hầu như vô “học” hơn hai nghìn năm qua của TQ, qua đó tạo ra sự ngu dốt trên thực chất của văn nhân TQ rồi mở rộng ra thành sự ngu dốt của người TQ (nhất là trong 200 năm gần đây).

Trong tất cả các nguyên nhân làm cho người TQ thời cận đại bị đày đọa, nguyên nhân căn bản nhất là sự ngu dốt của họ — tình trạng này dần dần tích tụ mà thành trong lịch sử dài lâu. Do logic mà lạc hậu, nghèo khó. Do logic mà bị kẻ khác bắt nạt, bị đánh, bị kỳ thị. Chỉ có từ đó nhận thức được sự ngu dốt của mình và thoát ra khỏi sự ngu dốt ấy thì người TQ mới có thể thay đổi tất cả trong thế kỷ và thời đại mới.

Trên đây đã phân tích nguyên nhân tình trạng người TQ vô “học” , quy lại chủ yếu là hai điểm sau:

1- Trong lịch sử lâu dài, những người TQ biết chữ thì không làm công việc sản xuất; ngược lại, những người làm sản xuất thì không biết chữ — điều này đã tạo nên sự hoàn toàn tách rời giữa tư duy với thực tiễn. Nói gọn lại, tức sự hoàn toàn tách rời giữa “bộ não” và “cánh tay” của người TQ.

2- Trong lịch sử dài hơn 2000 năm, sự hoàn toàn tách rời giữa “bộ não” và “cánh tay”, giữa “học” và “thuật” của người TQ — sự tách rời song trùng này làm nên nguyên nhân lịch sử giải thích vì sao người chúng ta ngu dốt như thế. Vấn đề này phải được phân tích tiếp. Vì sao người TQ lại có căn nguyên lịch sử như thế? Đây chính là vấn đề cần được giải đáp trong phần sau.

Nguyễn Hải Hoành dịch và ghi chú

Nguồn: 

中国人为什么这么愚蠢?   黎 鸣

( Nguồn: VHNA)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 30.08.2016

Chuyện quốc tịch VN, quốc tịch nước ngoài

Chuyện quốc tịch VN, quốc tịch nước ngoài

BBC
Luật quốc tịch Việt Nam hiện tại thừa nhận chuyện song tịch

Việc hàng ngàn người thôi quốc tịch Việt Nam trong năm ngoái là “vấn đề quyền con người, rất bình thường”, một luật sư nói với BBC Tiếng Việt.

Thống kê của Bộ Tư pháp cho thấy trong năm 2015 có 15 người nhập quốc tịch Việt Nam, 14 người trở lại quốc tịch Việt Nam và số liệu chính thức thôi quốc tịch Việt Nam là 4.474 người.

Đây là “số liệu chính thức được quản lý tại Cục Hộ tịch, Quốc tịch và Chứng thực”, báo Dân Trí dẫn nguồn Bộ Tư pháp.

Hôm 27/8, luật sư Trần Quốc Thuận, cựu Phó Chủ nhiệm Thường trực Văn phòng Quốc hội Việt Nam, nói với BBC: “Theo tôi, con số 4.474 người thôi quốc tịch Việt Nam trong năm 2015 cũng là bình thường.”

“Việc ai đó quyết định thôi quốc tịch là quyền con người, quyền sống tự do.”

Hồi đầu năm 2014, báo Gia đình dẫn nguồn Bộ Tư pháp nói bố có 2.055 trường hợp thôi quốc tịch Việt Nam, tuy không nêu rõ đây là các trường hợp nộp đơn trong khoảng thời gian nào.

Vấn đề song tịch, đa tịch

“Thực tế là có hàng triệu người Việt đang định cư ở nước ngoài vẫn chưa từ bỏ quốc tịch Việt Nam,” luật sư Trần Quốc Thuận nói.

“Luật Quốc tịch Việt Nam hiện tại thừa nhận chuyện song tịch, tuy nhiên có thể một số quốc gia mà người Việt nhập tịch đòi hỏi phải bỏ quốc tịch cũ.”

Theo ông Thuận, có nhiều nguyên do khiến “những người Việt có điều kiện” tìm đường đi định cư nước ngoài.

“Một đồng nghiệp luật sư của tôi gần đây lên tiếng rằng do cuộc sống tại Việt Nam bây giờ không an toàn từ nhà ra ngoài đường, vì nỗi lo thực phẩm bẩn, ô nhiễm môi trường… nên những người có điều kiện kinh tế khá giả tìm đường ra đi.”

“Tôi chỉ mong rằng những người Việt ra nước ngoài làm ăn, sinh sống, đến một lúc nào đó sẽ quay về đóng góp cho quê hương,” ông Thuận nói với BBC.

Image copyrightOTHER
Image captionBà Nguyệt Hường bị tước tư cách đại biểu quốc hội do ‘phạm luật’

Truyền thông Việt Nam gần đây đưa tin về trường hợp một đại biểu quốc hội có thêm quốc tịch nước ngoài.

Hồi tháng Bảy 2016, bà Nguyễn Thị Nguyệt Hường bị phát hiện là có quốc tịch thứ hai, và đã nhanh chóng bị tước tư cách dân biểu do “phạm luật”.

Khi đó, Chánh Văn phòng Hội đồng Bầu cử Quốc gia Nguyễn Hạnh Phúc xác nhận với báo giới, bà Nguyệt Hường có quốc tịch thứ hai là của Cộng hòa Malta.

Trong khi ông Phúc nói nguyên nhân tước tư cách đối với đại biểu Hường là vì người ta “không trung thực trong kê khai hồ sơ” và “nói dối” thì ông cũng nói rằng: “Tôi không chắc chị Nguyệt Hường biết mình đăng ký quốc tịch thứ hai là vi phạm pháp luật hay không.”

Tuy nhiên, ông Phúc nói thêm rằng Luật Quốc tịch đã quy định “công dân Việt Nam chỉ có một quốc tịch” và rằng “muốn có quốc tịch thứ hai thì phải xin thôi quốc tịch của mình”.

“Trường hợp một người Việt Nam ra định cư ở nước ngoài, nếu quốc gia sở tại cho phép công dân có nhiều quốc tịch thì đương nhiên người đó có từ hai quốc tịch trở lên.”

“Vấn đề ở chỗ, cho dù một người có hai quốc tịch thì khi về Việt Nam chỉ được sử dụng một quốc tịch, chứ không thể cùng lúc hai quốc tịch.”

Tiến sĩ Nguyễn Quang A là một trong mười ứng cử viên giải Hoa Tulip về Nhân quyền của Hà Lan

Lời người dịch: Hoa Tulip về Nhân quyền (Human Rights Tulip) là giải thưởng hàng năm của Hà Lan tặng cho cho tổ chức hay nhà hoạt động nhân quyền xuất sắc. Năm nay, trong số 91 ứng cử viên có 10 ứng viên được chọn cho công chúng bình bầu trực tuyến bắt đầu từ 12g ngày thứ Hai 29/8 và kết thúc lúc 23g59 ngày thứ Tư 7/9: Tổ chức Nhân quyền Mwatana (Yemen), ông Pierre Claver Mbonimpa (Burundi), bà/cô Nighat Dad (Pakistan), Trung tâm El Nadim (Ai Cập), Trung tâm Nhân quyền cho Phụ nữ (Mexico), Cộng đồng bản xứ Santa Clara de Uchunya (Peru), Centro Prodh (Mexico), ông Nguyn Quang A (Vietnam), bà/cô Nahid Gabralla (Sudan) và Hội người Leban vì Bầu cử Dân chủ (LADE) (Lebanon).

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hà Lan Bert Koenders sẽ chọn một người trong số ba ứng viên cao phiếu nhất để trao giải, là một tượng đồng hình hoa tulip vào ngày Quốc tế Nhân quyền 10/12. Trị giá về tiền của giải là 100.000 euro, giúp người thắng giải có điều kiện để mở rộng hoạt động vì quyền con người.

Bạn có thể bình chọn tại đâyhttp://www.humanrightstulip.nl/candidates-and-voting.

Sau đây là bài trên trang mạng của tổ chức giải Hoa Tulip về Nhân quyền nói về lý do Tiến sĩ Nguyễn Quang A được đề cử (xem ở đây).

Hoàng Dũng

clip_image002

Bằng cách theo các quy tắc và thủ tục chính thức, ông Nguyễn Quang A cho thấy giới hạn của các quyền tự do chính trị ở Việt Nam.

Từ năm 2013, Việt Nam có một Hiến pháp mới, trang trọng ghi nhận công dân của mình có các quyền con người. Tuy nhiên, ở Việt Nam giữa các quyền được ghi trong Hiến pháp và thực tế cuộc sống có một khoảng cách. Bằng hành động, ông Nguyễn Quang A bóc trần khoảng cách này. Trên thực tế, các quyền tự do được Hiến pháp trang trọng ghi nhận bị giới hạn nghiêm trọng vì các thủ tục hành chính và các hành động đàn áp của chính quyền. Điều này khuyến khích và thúc đẩy dân chúng Việt Nam phải tự kiểm duyệt. Bằng cách đe dọa trên mạng và sách nhiễu các nhà chức trách cố gắng làm mất uy tín và làm các công dân không dám đòi hỏi quyền hợp pháp của họ. Tuy nhiên, ông Nguyễn Quang A từ chối tự kiểm duyệt và đứng lên đòi quyền của mình. Ví dụ, ông đã cố gắng ứng cử vào Quốc hội với tư cách là một ứng cử viên độc lập. Việc ông không vượt qua được quá trình rà soát đặt câu hỏi chính đáng về mức độ dân chủ tại Việt Nam. Cần lưu ý rằng ở Việt Nam thể hiện sự bất đồng quan điểm là chuyện rất kì lạ. Ông Nguyễn Quang A từ chối cúi đầu trước áp lực giấu mặt và công khai. Tuy nhiên, ông Nguyễn Quang A đang ngày càng chịu nhiều sách nhiễu như việc đi lại bị hạn chế, các thành viên gia đình bị đe dọa và gần đây thậm chí ông còn bị tạm giam nhiều lần.

Trên các phương tiện truyền thông lề trái ở Việt Nam các bài viết của ông ngày càng xuất hiện nhiều hơn và phản ánh một mức độ can đảm hiếm có. Bằng các hoạt động trên mạng và ngoài mạng, ông Nguyễn Quang A có thể truyền cảm hứng cho một số lượng lớn những người trẻ. Thành công của ông trong việc đòi quyền [con người] giúp các công dân khác khi đòi quyền con người có được những cơ hội lớn hơn, qua đó hỗ trợ một sự thay đổi trên toàn quốc để quyền con người được tôn trọng hơn.

Đăng bởi: Ngô Minh | 30.08.2016

Chủ tịch tỉnh Kon Tum xin từ nhiệm

Chủ tịch tỉnh Kon Tum xin từ nhiệm

05:54 AM – 10/06/2016 Thanh Niên
Ông Quý (giữa) kiểm tra công trình thủy điện Thượng Kon Tum  /// Ảnh: Văn Phương
Ông Quý (giữa) kiểm tra công trình thủy điện Thượng Kon TumẢNH: VĂN PHƯƠNG
“Đơn tôi đã gửi, đang chờ ban bí thư cho ý kiến. Tôi muốn có thời gian thăm lại người thân, bạn bè khi còn khỏe nhưng vì công việc mà lâu nay không có dịp…”, ông Đào Xuân Quý (58 tuổi), Chủ tịch UBND tỉnh Kon Tum, ngày 9.6 đã nói như vậy về chuyện ông xin nghỉ hưu sớm 2 năm.
Khi tỉnh Gia Lai – Kon Tum tách thành hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum (năm 1991), ông Quý lúc đó là cán bộ của Sở Tài chính được phân công lên công tác tại Sở Tài chính Kon Tum. Sau một thời gian, ông được tổ chức phân công đảm nhiệm Bí thư Huyện ủy Kon Plong, rồi Bí thư Huyện ủy Kon Rẫy. Đây là hai huyện khó khăn, đường vừa xa vừa khó đi.
Người dân vùng sâu vùng xa của những huyện này hẳn không thể nào quên được ông Quý khi ông không quản đường sá xa xôi, lội bộ vào những bản làng xa vắng, tìm hiểu cuộc sống của người dân. Hình ảnh ông cán bộ xắn quần, mồ hôi nhễ nhại vào tận nhà, ra tận nương rẫy trò chuyện với bà con đã trở thành quen thuộc.
Từ H.Kon Rẫy về, ông tiếp tục kinh qua các vị trí như Phó chủ tịch UBND tỉnh Kon Tum, Trưởng ban Dân vận, Phó bí thư Tỉnh ủy Kon Tum. Tháng 4.2015, ông được bầu giữ chức Phó bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Kon Tum. Ông nói vui rằng mình đã “ăn cơm khắp nơi” nên bây giờ chỉ muốn về ăn cơm nhà.
Vì chủ động xin từ nhiệm nên đợt bầu cử HĐND tỉnh vừa rồi (5.2016), ông Quý xin rút không tham gia ứng cử. Ông Quý chia sẻ: “Đơn xin nghỉ thì tôi đã gửi lên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh và Ban Thường vụ Tỉnh ủy rồi. Các anh bên ấy đã gửi ra ban bí thư nguyện vọng của tôi. Tôi thấy mình đã già, để anh em cán bộ trẻ lên thay thế. Họ trẻ, có khát vọng, có ý chí và có trình độ nữa. Nhiều lúc phải thừa nhận mình không bằng họ. Với lại tôi về nghỉ, ai lên thay sớm sẽ có điều kiện tiếp cận công việc thuận lợi hơn”.
Ông Quý cũng thẳng thắn nhìn nhận trong cương vị của mình vẫn có những khiếm khuyết, chưa thể giúp Kon Tum tiến nhanh để giảm tỷ lệ người dân đói nghèo.
“Khi nghe mình nói xin nghỉ sớm, bà xã đồng ý liền. Có thời gian nghỉ ngơi, thăm thú các nơi cũng là điều tốt. Mình còn mẹ già năm nay ngoài 80 tuổi nữa. Thời gian của cụ không còn bao năm. Mình muốn có thời gian gần mẹ, suốt bao năm nay quần quật lo việc công rồi”, ông Quý tâm sự.

Trần Hiếu

( Nguồn: Thanhnien onilne)

Tin Đặc Biệt: Vụ án Yên bái – các tình tiết không có trên báo giấy

 QTXM: Chúng tôi lấy tin này từ vanews.org, để bạn đọc hiểu thêm một góc khác của vụ án nghiêm trọng này. Có  thể có tình tiết suy đoán, không chính xác, cũng là một cách để suy nghĩ.

Vụ án Yên bái – các tình tiết không có trên báo đảng – hai trong những tên xã hội đen tai Yên bái vẫn được Cường sử dụng

Tin về vụ án mạng tại Yên bái ngày 18/8/2016 :

Cường – bí thư Yên Bái sử dụng nhiều băng nhóm xã hội đen để củng cố quyền lực, cướp đất, bảo kê tệ nạn, phá rừng và thâu tóm mọi lĩnh vực tại Yên bái.

Phòng làm việc của Cường ở tầng 2 được làm nội thất giống như phòng Karaoke, đây là lý do mà khi Cường bị bắn đã không ai nghe thấy tiếng súng. có thể Minh đã bắn Cường trước , lúc khoảng 7 giờ 15, sau đó Minh xuống tầng 1, vào phòng Tuấn và bắn, ngay lúc có một lái xe trong phòng. Lái xe đã bị công an Yên Bái bắt giữ từ hôm đó đến nay chưa thả, rất có thể bị giết để bịt đầu mối.

Ngày hôm qua vẫn họp HDND và phó được giao làm thay hai trưởng. Trước đó công an Yên bái đã khám phòng của Cường, thu được hơn 106 tỷ, nhiều vàng, đá quý. Số tiền này từ các nguồn bán ghế, bán đấu giá đất mà Cường cho xã hội đen bảo kê, cấm cửa các doanh nghiệp ngoài tham gia. Các nhà đầu tư như : tôn Hoa sen, Vincom đều do Cường thao túng, sau khi Cường bị bắn , tôn Hoa sen đã ngay lập tức rút ba dự án khỏi Yên bái.

  hai xe những tên xã hội đen sử dụng

Cường và Trà chủ tịch ủy ban thâu tóm toàn bộ đất vàng Yên Bái, em trai Trà được cho vào ghế giám đốc sở Tài nguyên môi trường để dễ bề thao túng.

Mới trước hôm xảy ra án mạng, Minh đã đi vay thêm hơn một tỷ để mang đến cho Cường, cả vợ chồng Minh đều được Tuấn ( đã nhiều lần đánh bạc bị bắt, Cường phải can thiệp sang công an để tha ) môi giới để chạy qua Cường, Hà vợ Minh chạy ghế phó chủ tịch tỉnh, Minh chạy tiếp ghế khi sáp nhập Kiểm lâm và Trồng rừng sau khi hoàn thành sáp nhập vào tháng 9.

Hiện có ba người nữa trong tỉnh cũng đã chạy ghế, gửi tiền cho Cường đầy đủ nhưng Cường lại chết, giờ mất tiền, không được việc nên rất đang cay cú, có thể sẽ tung ra hết vụ việc .

Cả hai vợ chồng Minh đều đã qua hai vòng bầu bán do Cường sắp xếp, nhưng vòng thứ 3 thì lại hỏng, vì mất quá nhiều tiền mà hỏng việc nên Minh rất cay cú mặc dù Minh rất hiền, vợ chồng rất tình cảm và đồng thuận mà giờ ra như vậy …

Máy tính tại nhà Minh ghi chép đầy đủ tư liệu về tiền , file ghi âm giao tiền cho vụ chạy ghế, đã bị công an Yên bái thu giữ ngay buổi trưa hôm 18/8. Toàn bộ súng của kiểm lâm viên cũng bị thu lại ngay chiều hôm đó.

Viên đạn thứ ba đã làm Cường gãy răng, vỡ hàm.

Các cộng tác viên tại Yên bái đang tiếp tục điều tra danh tính hai người bị Công an Yên bái giữ từ sáng 18/8 đến nay chưa thả, trong đó có một lái xe của Tuấn.

Nguyễn Xuân Việt
Blog Xuân Việt Nam

Nguyên Giám đốc Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh Võ Văn Thôn tuyên bố ra khỏi Đảng

Ngày 26/8/2016

Kính gởi chi bộ khu phố 4 phường 3 quận 3 TP. HCM

Tôi là Võ Văn Thôn 76 tuổi, 51 tuổi Đảng, trong kháng chiến là Phó Bí thư quận ủy quận 3B, sau 1975 đã qua các chức vụ: Chủ tịch Ủy ban Nhân dân quận 3 và Giám đốc Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh. Tôi được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập. Tôi xin báo cáo chi bộ về việc tôi bị ép buộc kiểm điểm về việc tôi đăng ký ứng cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Năm nay (2016), tôi có tự đăng ký ứng cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng Nhân dân Thành phố. Trước khi nộp đơn, tôi có báo xin ý kiến chi bộ, sau khi trao đổi ý kiến, bí thư chi bộ yêu cầu biểu quyết. Kết quả có 6 ý kiến đồng ý, không có ai biểu quyết không đồng ý. Có một số ý kiến đề nghị xin ý kiến cấp trên. Ngày hôm sau tôi nộp đơn ứng cử đại biểu quốc hội và Hội đồng Nhân dân Thành phố. Sau đó Đảng ủy Phường, Thường vụ quận ủy mời tôi ra Phường khuyên tôi nên rút đơn vì tuổi cao sức yếu. Sau đó Bí thư quận đến nhà đề nghị tôi có ý kiến về việc tự ứng cử để lập biên bản và cùng nhau ký biên bản. Sau đó Phường tổ chức lấy ý kiến cử tri và thông báo số phiếu là 16/55 đồng ý ứng cử Quốc hội và 18/55 đồng ý ứng cử Hội đồng Nhân dân Thành phố.

Ngày 16/8/2016, Đảng ủy phường mời tôi thông báo chỉ thị của quận ủy quận 3 đề nghị tôi kiểm điểm về việc tự ra ứng cử vì không chấp hành các qui định trong Đảng.

Việc tôi tự ứng cử là thi hành đúng qui định của luật pháp nhà nước Việt Nam và đã xin ý kiến chi bộ. Tôi được cơ quan bầu cử phát mẫu đơn và nhận đơn tự ứng cử của tôi, không hề đòi hỏi phải có ý kiến chấp thuận của tổ chức Đảng hay đoàn thể nào. Đảng ủy phường và quận ủy khi tiếp xúc với tôi cũng không hề nói là không cho phép mà chỉ khuyên tôi rút tên ứng cử vì tuổi già sức yếu. Khuyên thì tôi nghe và cám ơn sự quan tâm về sức khỏe nhưng tôi vẫn quyết định không rút đơn.

Nay quyết định kỷ luật tôi là thể hiện Đảng không tôn trong luật pháp nhà nước Việt Nam. Tôi không thể chấp nhận một tổ chức đoàn thể đang hoạt động trong đất nước Việt Nam mà không chấp hành luật pháp Việt Nam. Vì vậy tôi quyết định rời khỏi Đảng từ hôm nay 26/8/2016.

Tôi xin lỗi hai anh Hai Nghị và Chín Kế đã giới thiệu tôi vào Đảng và xin lỗi những anh chị em đã được tôi vận động và giới thiệu vào Đảng. Xin chào tất cả anh chị em trong chi bộ.

Võ Văn Thôn

Phụ lục:

BẢNG KIỂM ĐIỂM

Kính gởi chi bộ khu phố 4 phường 3 quận 3 TP. HCM

Tôi là Võ Văn Thôn 76 tuổi, 51 tuổi Đảng, trong kháng chiến là Phó Bí thư quận ủy quận 3B, sau 1975 đã qua các chức vụ: Chủ tịch Ủy ban Nhân dân quận 3 và Giám đốc Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh và được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập. Tôi xin báo cáo chi bộ về việc tôi bị ép buộc kiểm điểm về việc tự ứng cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

1- Sự việc: Năm nay (2016), tôi có nộp đơn tự ứng cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng Nhân dân Thành phố. Trước khi nộp đơn, tôi có báo cáo xin ý kiến chi bộ, sau khi trao đổi ý kiến, Bí thư chi bộ yêu cầu biểu quyết. Kết quả có 6 ý kiến đồng ý, không có ai biểu quyết không đồng ý. Có một số ý kiến đề nghị xin ý kiến cấp trên. Ngày hôm sau tôi nộp đơn ứng cử đại biểu quốc hội và Hội đồng Nhân dân Thành phố. Sau đó Đảng ủy Phường, Thường vụ quận ủy có mời tôi ra Phường khuyên tôi rút đơn vì tuổi cao sức yếu. Sau đó Bí thư quận ủy đến nhà đề nghị tôi có ý kiến về việc tự ứng cử để lập biên bản và cùng nhau ký biên bản. Sau đó Phường tổ chức lấy ý kiến cử tri và thông báo số phiếu ủng hộ là 16/55 đồng ý ứng cử Quốc hội và 18/55 đồng ý ứng cử Hội đồng Nhân dân Thành phố. Thế là tôi không có tên trong danh sách ứng cử.

Ngày 16/8/2016, Đảng ủy phường mời tôi thông báo chỉ thị của quận ủy quận 3 đề nghị tôi kiểm điểm về việc tự ra ứng cử vì không chắp hành các qui định trong Đảng.

Việc tôi tự ứng cử là thi hành đúng qui định của luật pháp nhà nước Việt Nam và đã xin ý kiến chi bộ và được chi bộ đồng ý với 6 phiếu thuận, không có phiếu chống. Hôm sau tôi đăng ký ứng cử.Tôi được cơ quan bầu cử phát mẩu đơn và nhận đơn tự ứng cử của tôi, không hề đòi hỏi phải có ý kiến chấp thuận của tổ chức Đảng hay đoàn thể nào. Đảng ủy phường và quận ủy khi tiếp xúc với tôi cũng không hề nói là không cho phép mà chỉ khuyên tôi rút tên ứng cử vì tuổi già sức yếu.

Tôi đã tôn trọng chi bộ nên phải chờ đến cuộc họp chi bộ, báo cáo xin ý kiến rồi mới nộp đơn. Tôi tự nhận xét là rất tôn trọng chi bộ, thực hiện đúng thủ tục. Dù là một đảng viên nhưng tôi cũng là một công dân, tôi chấp hành đúng Hiến pháp. Điểm 3 điều 4 Hiến pháp qui định: “Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.”

2- Kiểm điểm: Tôi tự xét việc tôi ứng cử Quốc hội và Hội đồng Nhân dân Thành phố là đúng luật, đúng Hiến pháp và có báo cáo xin ý kiến chi bộ trước khi nộp đơn. Chi bộ cho phép. Tôi tự thấy không có khuyết điểm.

Ngày 24/8/2016

Võ Văn Thôn

( Nguồn: Google)

 

Sự thật bất ngờ bên trong Học viện “mỗi ngày 1 tiến sĩ”

XUÂN TRUNG

(GDVN) – Chỉ riêng hai năm 2015-2016, trường có chỉ tiêu cho ra lò 700 tiến sĩ; thông tin bung ra, lãnh đạo nhà trường tìm mọi cách trốn tránh, loanh quanh.

Dư luận xã hội, thậm chí cả những nhà sư phạm mấy ngày qua đều tỏ ra bất ngờ với “năng suất” cho ra lò nhiều tiến sĩ tại Học viện Khoa học Xã hội (thuộc Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội Việt Nam).

Có những người tự tính toán cơ học từ chính nguồn là trang web của Học viện thì thấy rằng, tính trung bình “năng suất” năm 2015 là 1 ngày 3 giờ 55 phút sẽ có 1 tiến sĩ được bảo vệ thành công.

Cũng với thống kê chưa chính thức khác, năm 2016, kể từ đầu năm đến đầu tháng 4, Học viện đã tổ chức bảo vệ thành công cho 58 tiến sĩ, năng suất 1 ngày 01 giờ 15 phút/tiến sĩ.

Ý kiến trên của một vị chuyên gia giáo dục có uy tín, và ông lưu ý, có thể chưa phản ánh được bức tranh cả năm, vì có ý kiến cho rằng biết đâu đây là thời gian cấp tập bảo vệ tiến sĩ trong một năm?

Tần xuất cho ra lò tiến sĩ tại Học viện Khoa học Xã hội rất lớn.

Nhưng với những gì đã diễn ra trong năm 2015, từ 1/1/2015 đến 31/12/2015, Học Viện Khoa học Xã hội cho “ra lò” 165 tiến sĩ. Nếu chỉ tính ngày làm việc, năng suất năm 2015 là 01 ngày 03 giờ 55 phút cho ra lò 1 tiến sĩ.

Trên trang thông tin của Học viện có dữ liệu: Chỉ tiêu tuyển sinh đào tạo tiến sĩ 2016 tại cơ sở này là 350. Chỉ tiêu tuyển sinh năm 2015 cũng là 350.

Như vậy hai năm là 700 tiến sĩ.

Với chỉ tiêu này, vài năm sau (nếu tính rơi rụng 50 nghiên cứu sinh) ước chừng sẽ ra lò 300 tiến sĩ một năm, tức sẽ rất nhanh chóng vượt đích cho ra lò dưới 1 ngày làm việc một tiến sĩ.

Bên cạnh tần xuất cho ra lò nhiều thạc sĩ, tiến sĩ trong thời gian qua, trên mạng xã hội còn dẫn chứng nhiều hình ảnh cho thấy những đề tài mà học viên bảo vệ cấp tiến sĩ chỉ ngang với những bài tiểu luận ở bậc đại học, đề tài có tính phục vụ đại chúng không cao.

Đề tài đươc dư luận cho là ở tầm cỡ tiểu luận.

Các đề tài tiến sỹ nổi tiếng mà học viện này cho bảo vệ có thể kể đến như: Đặc điểm giao tiếp với dân của Chủ tịch UBND xã; Lời cầu khiến trong tiếng Anh (so với  tiếng Việt-Bình diện lịch sự); hay như “Câu bị động tiếng Anh và các phương thức dịch sang tiếng Việt”; Thần thoại về Mặt trời ở Việt Nam; Hành vi nịnh trong tiếng Việt…

Chứng kiến hiện tượng này, có người bình luận: “Nhìn chung sự thích có cái danh, cái uy lấn át cái thực tiễn cống hiến hay phụng sự cộng đồng. Việc bảo vệ luận án hầu như đều có chữ: …đã thành công ,chưa thấy ai bảo vệ không thành công.

Có lẽ do hội đồng phản biện chiếu lệ và đề tài cũng chung chung, nhỏ hẹp. Hình như có thống kê nào đó về so sánh số lượng bằng phát minh sáng chế, chúng ta nhiều tiến sĩ nhưng lại không có thứ đó”.

Để giải đáp cho những băn khoăn của dư luận, GS. TS Nguyễn Xuân Thắng – Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã có ý kiến trên Báo điện tử Infonet rằng, đây là đợt bảo vệ của 44 mã ngành, sau 3 năm làm luận án đến hạn bảo vệ chứ không phải như thông tin suy luận trên mạng xã hội.

Để tìm hiểu rõ hơn, ngày 20/4 phóng viên Báo điện tử Giáo dục Việt Nam có mặt tại trụ sở Học viện Khoa học Xã  hội, số 477 đường Nguyễn Trãi để trao đổi những vấn đề liên quan.

Tại đây PGS. TS Hồ Sỹ Sơn – Phó giám đốc Học viện từ chối tiếp vì chưa chuẩn bị nội dung liên quan (mặc dù trong giấy giới thiệu phóng viên đã đề rõ nội dung cần làm việc).

Sáng ngày 21/4, phóng viên tiếp tục có mặt tại trụ sở Học viện để trình nội dung làm việc, tại đây bà Trần Thị Xuân, Phó Chánh Văn phòng trực tiếp chuyển nội dung cho Trưởng phòng đào tạo Học Viện trực tiếp làm việc với phóng viên.

Học viện Khoa học Xã hội. Ảnh Xuân Trung

Tuy nhiên, chiều cùng ngày phóng viên có liên hệ với trưởng phòng đào tạo (bà Định) nhưng không được tiếp nhận và tiếp tục “đá bóng” sang cho Chánh văn phòng.

Ngày sau đó chúng tôi liên hệ với PGS. TS Hồ Sỹ Sơn nhưng vẫn chưa có thông tin mới và hẹn vào một buổi làm việc khác khi tập hợp được các báo.

Báo điện tử Giáo dục Việt Nam sẽ có buổi làm việc chính thức với Học viện Khoa học Xã hội về nội dung liên quan.

Trao đổi với phóng viên, khi nghe thông tin về những phép tính cơ học mà dư luận cho rằng Học viện Khoa học Xã hội cho ra lò tiến sĩ với tần xuất lớn trong một thời gian ngắn, bà Nguyễn Thị Kim Phụng, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học (Bộ GD&ĐT) cho rằng, hàng năm, Học viện Khoa học Xã hội xác định chỉ tiêu và báo cáo Bộ GD&ĐT theo quy định. Trong 3 năm gần đây, học viện xác định và tuyển sinh vào khoảng 350 nghiên cứu sinh/năm.

Học viện Khoa học Xã hội được thành lập năm 2010 trên cơ sở tổ chức lại 17 viện nghiên cứu thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (VASS) trước đó đã được cơ quan có thẩm quyền cho phép đào tạo trình độ tiến sĩ.

Như vậy, việc thành lập học viện không phải hình thành một cơ sở đào tạo mới mà là hợp nhất bộ phận quản lý đào tạo của các viện thuộc VASS với mong muốn công tác quản lý đào tạo được chuyên nghiệp và tiết kiệm hơn.

Chỉ tiêu của học viện hiện nay là tổng chỉ tiêu của 17 viện nghiên cứu, nếu tính bình quân thì số chỉ tiêu của mỗi cơ sở đào tạo không phải là quá lớn. Bộ GD&ĐT sẽ thực hiện hậu kiểm, xử lý những đơn vị xác định chỉ tiêu không đúng qui định” bà Phụng cho biết.

Xuân Trung

“Giật mình” trước báo cáo về môi trường của Bộ trưởng Trần Hồng Hà

“Hàng năm, có 100.000 tấn hoá chất bảo vệ thực vật được sử dụng, trong đó khoảng 80% lượng thuốc bảo vệ thực vật đang được sử dụng không đúng quy định…” – Bộ trưởng Trần Hồng Hà cho biết.

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) Trần Hồng Hà đã đưa ra những con số “giật mình” khi báo cáo Chính phủ tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc về bảo vệ môi trường sáng nay 24/8.

Cụ thể, Bộ trưởng Trần Hồng Hà cho biết, trên toàn quốc hiện có 283 khu công nghiệp với hơn 550.000m3 nước thải/ngày đêm; 615 cụm công nghiệp trong đó chỉ khoảng hơn 5% có hệ thống xử lý nước thải tập trung; các cụm công nghiệp còn lại, hoặc các cơ sở sản xuất tự xử lý nước thải hoặc xả trực tiếp ra môi trường.

Cùng với đó là hơn 500.000 cơ sở sản xuất trong đó có nhiều loại hình sản xuất ô nhiễm môi trường, công nghệ sản xuất lạc hậu; hơn 13.500 cơ sở y tế hàng ngày phát sinh hơn 47 tấn chất thải nguy hại và 125.000 m3 nước thải y tế; 787 đô thị với 3.000.000 m3 nước thải ngày/đêm nhưng hầu hết chưa được xử lý; lưu hành gần 43 triệu mô tô và trên 2 triệu ô tô tạo ra nguồn phát thải lớn đến môi trường không khí.

Hàng năm, có 100.000 tấn hoá chất bảo vệ thực vật được sử dụng, trong đó, khoảng 80% lượng thuốc bảo vệ thực vật đang được sử dụng không đúng quy định; hiệu suất sử dụng chỉ đạt 25-60%; công tác thu gom, lưu giữ và xử lý bao bì chưa được quan tâm, nhiều nơi thải bỏ ngay tại đồng ruộng gây phát sinh mùi, khí thải.

Bộ trưởng Bộ TN&MT phát biểu tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc về bảo vệ môi trường. (Ảnh: CTTĐT TN&MT)

Cùng với đó là hơn 23 triệu tấn rác thải sinh hoạt, 7 triệu tấn chất thải rắn công nghiệp, hơn 630 nghìn tấn chất thải nguy hại; hiện có 458 bãi chôn lấp rác thải, trong đó có 337 bãi chôn lấp không hợp vệ sinh; có hơn 100 lò đốt rác sinh hoạt công suất nhỏ, có nguy cơ phát sinh khí dioxin, furan…

Theo Bộ trưởng Trần Hồng Hà, đó là những nguồn tác động rất to lớn đến môi trường ở nước ta và môi trường nước ta vẫn đang đứng trước những thách thức to lớn và vấn đề cấp bách.

Trước hết, hoạt động khai thác khoáng sản ở nhiều địa phương thiếu sự quản lý chặt chẽ làm gia tăng các điểm nóng về ô nhiễm môi trường. Chất thải từ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của người dân khu vực nông thôn không được thu gom, xử lý đúng quy cách, hợp vệ sinh; tình trạng sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật tràn lan dẫn đến ô nhiễm môi trường nông thôn ngày càng gia tăng, một số nơi rất nghiêm trọng.

Nhiều làng nghề hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất đang gây ô nhiễm cao đối với môi trường như: tái chế nhựa, kim loại, ắc quy chì, chăn nuôi gia súc, sản xuất giấy…

Nước thải sinh hoạt ở hầu hết các đô thị, khu dân cư chưa được xử lý; rác thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp chưa được quản lý tốt, gây ô nhiễm môi trường. Nguồn nước mặt, nước dưới đất trong các đô thị, khu dân cư ở một số địa phương bị ô nhiễm nặng…

Bộ trưởng Trần Hồng Hà cho rằng, các vấn đề môi trường cấp bách nêu trên nếu không được giải quyết kịp thời sẽ những tác động tiêu cực ngày càng lớn đến việc thực hiện các mục tiêu về tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội cũng như tác động trực tiếp tới an toàn sức khỏe và sinh kế người dân.

Trước thực trạng môi trường nêu trên, theo Bộ trưởng Trần Hồng Hà có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, song chủ yếu từ những nguyên nhân chủ quan. Trước hết, đó là nhận thức, ý thức trách nhiệm về bảo vệ môi trường của chủ đầu tư, một số ngành, cấp chính quyền, tổ chức kinh tế, cộng đồng dân cư còn hạn chế; tình trạng chú trọng lợi ích kinh tế trước mắt, coi nhẹ công tác bảo vệ môi trường còn khá phổ biến, nhất là trong quá trình thẩm định, xét duyệt, thực hiện các dự án đầu tư.

Cùng với đó, cơ chế thu hút FDI được ưu tiên cao và chưa tính toán đầy đủ các chi phí cơ hội về môi trường.

“Khu vực FDI hiện đóng vai trò đầu tàu xuất khẩu của Việt Nam. Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài chiếm 71% xuất khẩu và 59% nhập khẩu của Việt Nam. Không thể phủ nhận vai trò của các nhà đầu tư nước ngoài, song chúng ta cũng cần tỉnh táo để đánh giá xem rằng các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam có phải vì môi trường đầu tư hấp dẫn, vì những lợi thế so sánh của đất nước do chúng ta tạo ra hay vì những lý khác. Tại sao FDI có chiều hướng dịch chuyển dòng vốn vào các ngành tiêu tốn năng lượng và tài nguyên, nhân lực giá rẻ, không thân thiện với môi trường như luyện kim, sửa chữa tàu biển, dệt may, da giày, khai thác và tận thu khoáng sản không gắn với chế biến sâu, sản xuất bột giấy, sản xuất hóa chất, chế biến nông sản thực phẩm…? Có phải do các quy chuẩn về bảo vệ môi trường của nước ta chưa theo kịp với các yêu cầu, diễn biến mới của quá trình hội nhập? Việc đẩy mạnh cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính nhưng chưa chú trọng đúng mức tới công tác kiểm tra, giám sát? Phải chăng lợi ích mà FDI mang lại cho chúng ta không đủ bù đắp những phí tổn về khí hậu và môi trường đang diễn ra?” – Bộ trưởng Trần Hồng Hà nêu lên hàng loạt câu hỏi.

Bộ trưởng cho rằng, đã đến lúc chúng ta phải xây dựng chỉ tiêu “GDP xanh” trong đánh giá tăng trưởng kinh tế thay vì khái niệm GDP đơn thuần như hiện nay, theo đó phải tính toán đến cả các chi phí tiêu dùng tài nguyên và mất mát về môi trường do các hoạt động kinh tế.

Chất lượng, hiệu lực, hiệu quả các công cụ, biện pháp quản lý nhà nước về môi trường còn bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu; hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước chưa cao, đặc biệt trong phòng ngừa, kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm môi trường.

Nhất là, đang xuất hiện ngày càng nhiều dự án đầu tư có quy mô lớn được cấp phép song thiếu tính toán về quy hoạch, chưa được đánh giá đầy đủ các tác động tới môi trường; việc kiểm soát, phòng ngừa, ứng phó với các sự cố môi trường trong các dự án đầu tư chưa được quan tâm thích đáng.

Liên quan đến các giải pháp tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời gian tới, Bộ trưởng Trần Hồng Hà đưa ra hàng loạt đề xuất, trong đó nhấn mạnh việc rà soát, sửa đổi, ban hành các quy chuẩn kỹ thuật về môi trường bảo đảm kiểm soát chặt chẽ, nghiêm ngặt đối với các ngành, lĩnh vực có khả năng gây ô nhiễm môi trường cao, quy chuẩn kỹ thuật về môi trường ngành phải nghiêm ngặt hơn các quy chuẩn kỹ thuật về môi trường nói chung, đặc biệt chú trọng các ngành nhuộm, thuộc da, sản xuất giấy, luyện thép từ quặng…

Tăng cường thanh tra, kiểm tra và kiểm soát đảm bảo việc tuân thủ quy định về bảo vệ môi trường đối với những dự án đã đi vào hoạt động, trước hết là các dự án có nguồn thải ra sông, ra biển..

Về giải pháp lâu dài, Bộ trưởng Trần Hồng Hà đề nghị tiếp tục nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện hệ thống chủ trương, chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường…, có các giải pháp phát huy hiệu quả hoạt động của lực lượng cảnh sát môi trường; tăng cường năng lực của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường từ Trung ương đến địa phương.

Kiến nghị Quốc hội tăng chi ngân sách cho sự nghiệp bảo vệ môi trường, tập trung giải quyết vấn đề môi trường bức xúc, tồn đọng kéo dài; thu hút mạnh đầu tư tư nhân, đầu tư nước ngoài vào phát triển ngành công nghiệp, dịch vụ bảo vệ môi trường trên nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, “người hưởng lợi từ môi trường phải chi trả”; sớm đưa các chế tài hình sự về môi trường vào áp dụng.

Ngoài ra, Bộ TN&MT đề nghị các địa phương bảo đảm bố trí không dưới 1% ngân sách của địa phương chi cho sự nghiệp bảo vệ môi trường.

Nguyễn Lê

( Nguồn: Infornet.vn)

Đăng bởi: Ngô Minh | 29.08.2016

Chỉ có ở Việt Nam !
quảng cáo, quảng cáo hài hước, biển quảng cáo ở Ninh Bình
Lần đầu tiên thấy loại vitamin có tên Gâu Gâu nhưng nghe xong thì dân nhậu ai cũng hiểu hàm ý là gì.
quảng cáo, quảng cáo hài hước, biển quảng cáo ở Ninh Bình
Khách hàng tưởng bở vì 3 chữ khuyến mãi khủng to đùng, ai ngờ ăn xong mới biết chỉ là khuyến mãi một trái ớt.
quảng cáo, quảng cáo hài hước, biển quảng cáo ở Ninh Bình
Đánh chìa khóa, sửa chìa khóa thì nghe nhiều rồi còn phô tô chìa khóa thì đúng là hàng độc và hiếm.
quảng cáo, quảng cáo hài hước, biển quảng cáo ở Ninh Bình
Cũng là đồ nướng nhưng biển hiệu có tên “Quán trốn vợ” thực sự khiến các ông chồng thích thú
quảng cáo, quảng cáo hài hước, biển quảng cáo ở Ninh Bình
Rốt cuộc là quán này bán thịt dê hay thịt chó?
quảng cáo, quảng cáo hài hước, biển quảng cáo ở Ninh Bình
Cửa hàng có đủ món từ chim từ chim nhỏ đến chim to.
quảng cáo, quảng cáo hài hước, biển quảng cáo ở Ninh Bình
Vừa quảng cáo bún chả chính hiệu của mình, vừa tranh thủ dìm quán bên cạnh.
quảng cáo, quảng cáo hài hước, biển quảng cáo ở Ninh Bình
Nghe tên món thôi đã muốn xông vào ăn thử rồi.
quảng cáo, quảng cáo hài hước, biển quảng cáo ở Ninh Bình
Bánh mì patê hết thời rồi, giờ phải bánh mì bốn tê mới đắt khách.
quảng cáo, quảng cáo hài hước, biển quảng cáo ở Ninh Bình
Dù chẳng nói đến điều cần phải chú ý và thứ cần phải quảng cáo là gì nhưng việc lặp lại 5 từ chú ý trong một biển hiệu đã đủ gây chú ý rồi.
quảng cáo, quảng cáo hài hước, biển quảng cáo ở Ninh Bình
Người yêu bạn có thể bỏ bạn bất cứ lúc nào nhưng bia thì chỉ cần bạn gọi là có.
quảng cáo, quảng cáo hài hước, biển quảng cáo ở Ninh Bình
Quán chè chỉ bán cho khách dùng để biếu sếp và bố vợ, còn những người khác thì còn phải xem đã.
quảng cáo, quảng cáo hài hước, biển quảng cáo ở Ninh Bình
Hàng có tem chống hàng giả thì xe ôm thời nay cũng có bảo hành xe ôm nghiêm túc của thanh niên nghiêm túc, đáng tin cậy.
quảng cáo, quảng cáo hài hước, biển quảng cáo ở Ninh Bình
Chủ cửa hàng phiên âm sẵn từ tiếng Anh ra tiếng Việt vì sợ khách hàng không biết mình bán gì?
quảng cáo, quảng cáo hài hước, biển quảng cáo ở Ninh Bình
Tên món ăn độc lạ khiến thực khách món nào cũng muốn thử.
quảng cáo, quảng cáo hài hước, biển quảng cáo ở Ninh Bình
Chủ cửa hàng làm thơ lục bát mời khách đến hát karaoke tăng 2 sau khi đã phê pha ở tăng 1.
quảng cáo, quảng cáo hài hước, biển quảng cáo ở Ninh Bình
Chàng trai nào chẳng muốn có nhiều cô gái chết mê chết mệt, chị em nào chẳng muốn chồng “phê” mình đến già. Vì vậy, có lẽ đã đặt chân tới quán thì chẳng ai nỡ bước chân ra về.
quảng cáo, quảng cáo hài hước, biển quảng cáo ở Ninh Bình
Lời quảng cáo bưởi hồ lô chế từ bài thơ về Tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật được vận dụng khéo léo. Từ “Không có kính không phải vì xe không có kính/Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi”, thành “Không có cuống không phải vì bưởi không có cuống/ Xe giật, xe rung cuống gẫy mất rồi”.
quảng cáo, quảng cáo hài hước, biển quảng cáo ở Ninh Bình
Cảnh báo kiểu này thì ai to gan dám để xe ngoài cổng?…
Theo Trithuctre

( Nguồn: Nhà Lê Vinh sưu tầm)

Đăng bởi: Ngô Minh | 29.08.2016

Mời đọc và suy ngẫm !
  Bà mẹ anh hùng
Một ngày, Thomas Edison về nhà và đưa một mảnh giấy cho mẹ. Cậu bé nói rằng: “Thầy giáo đưa cho con mảnh giấy này và dặn chỉ được đưa cho mẹ thôi”.
Người mẹ, mắt đẫm lệ, đọc to mảnh giấy lên cho cậu bé Edison nghe: Con bà là một thiên tài. Ngôi trường này quá bé nhỏ cho cậu ta. Xin bà hãy tự dạy dỗ cậu bé.
Nhiều năm sau, mẹ Edison đã mất và ông lúc này đã trở thành một nhà phát minh vĩ đại của thế kỷ. Một ngày, Edison trở về nhà cũ của mình để tìm một số kỷ vật cũ của gia đình. Ông phát hiện một tờ giấy bị gấp trong ngăn kéo. Ông mở nó ra và đọc: Con trai bà bị thiểu năng trí tuệ. Chúng tôi không thể để cậu bé tiếp tục học được nữa. 
Ông khóc hàng giờ sau đó và viết trong nhật ký: Edison là một cậu bé thiểu năng trí tuệ, mà nhờ có bà  mẹ anh hùng
của mình, đã trở thành một thiên tài của thế kỷ.
( Nguồn: Google)
Đăng bởi: Ngô Minh | 28.08.2016

THƯ GIÃN CUỐI TUẦN: THẤY ĐẸP LÀ MÊ

Đẹp

THƯ GIÃN CUỐI TUẦN: THẤY ĐẸP LÀ MÊ

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 28.08.2016

       212 NĂM CỬU VỊ THẦN CÔNG  

 

     Ngô Minh

 

. Thần công Thần công1Hai bên Quảng trường Ngọ Môn, dưới chân  Kỳ Đài Huế, có 9 khẩu đại bác cổ bằng đồng rất lớn,  bên phải 5 khẩu,  bên trái 4 khẩu . Đó là 9 khẩu súng thần công, mà người Huế thường gọi với một cái tên sang trọng là Cửu Vị Thần Công. Cửu Vị Thần Công ra đời trước Cửu Đỉnh hơn 20 năm, từ khi Gia Long mới lên ngôi 1802. Trên súng có ghi tước vị do Vua Minh Mạng phong cho súng : “ Thống lĩnh quân đội, uy dũng ngang hàng với thần linh, vô địch tướng quân, niên hiệu 15 Gia Long, ngày tháng tốt Bính Tý…’’. Đến xuân Kỷ Sửu này, Cửu vị Thần công có lịch sử đúng 205 năm và có nhiều huyền thoại linh liêng đáng được kể lại. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 28.08.2016

Việt Nam, cá đẹp, cá tuyệt vời

Việt Nam, cá đẹp, cá tuyệt vời

F.N. (Charlie Hebdo,)

H.H. dịch

Việt Nam tuẫn nạn. Đất nước sẽ đoạ toàn phần. Chế độ thực dân Pháp và cuộc chiến giành độc lập lần một (1946-1954). Cuộc chiến lần hai, lần này chống Mỹ (1962-1975), tụi đã quăng dioxin xuống hàng ngàn làng mạc. Chiến thắng của các môn đồ Stalin lô-can, những kẻ tự biến mình thành tư bản bất lương giống như bên Tàu. Bất kể một thứ chủ nghĩa dân tộc mặt tiền, tất cả đều được đem bán, và tất cả, hoặc hầu hết, sẽ được bán.

Cá chết

Ví dụ mới nhất: vụ Công ty Nhựa Formosa (fpc.com.tw/fpw). Cái sở Tàu Đài Loan rất ệ này đã từ lâu chuyên trị sản xuất plastic, cách thức chế tạo của nó đưa bệnh ung thư tuồn vào. Ở Việt Nam, tập đoàn hoá dầu này sở hữu một nhà máy thép, đang ở tâm điểm một xì-căng-đan tầm quốc gia. Vào mùa Xuân, bờ biển Việt Nam phủ đầy xác cá tôm nghêu sò chết. Đâu có gì phải “bật mí”: những chất xả thải ra biển của Formosa được nhận biết tại trận từ thuở nảo nao rồi. Ở cái xứ sở nằm trong bàn tay sắt này, những cuộc biểu tình chưa từng thấy nối tiếp nhau. Chẳng hạn người ta đọc thấy trên các tấm biển: “Chúng tôi chọn biển, chọn tôm cá. Formosa cút đi”. Hiển nhiên các quan Cộng sản phát hoảng, và tự lên tivi sụt sùi thề thốt đây là lần chót, “sẽ rút ra bài học”. Về phía mình, bọn đại đểu Formosa cũng trực tiếp xin lỗi, hứa hẹn chi 500 triệu đô bồi thường thiệt hại. Nhưng đất nước vẫn sẽ được đem bán.

clip_image001

Chúng tôi sẽ thay cá thật bằng cá nhựa. Quí vị sẽ thấy là tiện lợi hơn nhiều.

F.N.

( Nguồn: Google)

Đăng bởi: Ngô Minh | 28.08.2016

SỐNG Ở THẾ GIAN BẰNG LỤC BÁT

SỐNG Ở THẾ GIAN BẰNG LỤC BÁT

CHU VĂN SƠN
(Tựa cho tập lục bát Ở thế gian của Đỗ Trọng Khơi)

Nhà thơ Đỗ Trọng Khơi

Thi đàn thời nào cũng vậy, người yêu thơ thì nhiều, người sợ thơ thường ít. Mà chừng như, chưa biết sợ thơ là chưa thật tới thơ, thì phải.

Kẻ nặng nghiệp thơ sớm biết sợ hơn ai hết. Bởi hơn ai hết, họ thấm thía rằng gốc của thơ đâu phải chuyện chế câu tạo chữ, trái lại, thơ là phần người được gửi vào ngôn ngữ, là phận người cất thành tiếng, thậm chí, là mệnh người kí trú trong lời. Thơ đòi người thơ phải chưng cất chất người trong mình mà tinh luyện thành ngôn từ. Không thế, dù hoa mĩ đến đâu, cái làm ra cũng chỉ là mớ câu chữ yểu mệnh. Đã nặng nghiệp, thì dấn thân vào thơ hay trốn chạy khỏi thơ, đều khốn khổ như nhau.

Với Đỗ Trọng Khơi, dường như thơ mệnh hệ hơn thế cũng thiết thực hơn thế. Thơ là chiếc phao cứu sinh của anh. Thắt ngặt trong cõi đời, anh bơi vào cõi chữ. Cõi chữ hư huyền vô bờ bến lại là miền sống thực của Khơi. Chiếc phao ấy đã cùng anh lênh đênh suốt phận người trong thăm thẳm cõi chữ. Số mệnh khắc nghiệt với anh tới đâu, thơ lại bù chì cho anh tới đấy. Thơ không là chốn dung thân duy nhất, nhưng là cuộc gửi thân cuối cùng! Bấy nhiêu năm thầm lặng sống thơ, miệt mài làm thơ, hồn Khơi ở trọ trong chữ, thường trú nơi chữ, hay đã đồng thể với chữ ? Câu hỏi như thế liệu có cần đặt ra nữa không, một khi thơ và Khơi đã nương náu trong nhau tự bao giờ rồi ?

*

Thơ là trải nghiệm từ những lăn lộn, va xiết trong trường đời. Thơ còn là những chiêm nghiệm về thế sự nhân sinh. Thơ trải nghiệm thường giàu chất sống với những cảm giác, cảm xúc tươi nguyên nhựa đời. Thơ chiêm nghiệm lại nặng đồng cân bởi những suy tư thâm trầm nhằm kết lắng bao nỗi đời thành những lẽ đời. Thơ Khơi thuộc về chiêm nghiệm, suy nghiệm hơn là trải nghiệm. Đó là lựa chọn của một sở thích cũng là lựa chọn của một số phận. Chiêm nghiệm, suy nghiệm bằng thơ chính là cách thế sống của Khơi. Bằng cách ấy, Khơi đã xuôi ngược một đời trong cõi chữ.

Nhỏ nhoi trên chiếc xe lăn, tù túng ở chốn quê, quẩn quanh góc đời hẹp. Nhưng bằng mối bận tâm sâu xa, Khơi vẫn lặng lẽ mở hồn mình vào thế gian vô cùng, kiên nhẫn mở tầm nhìn bao quát cõi nhân sinh. Cái nhìn ấy từ cái tôi bé nhỏ đã giúp Khơi vượt lên sự bé nhỏ của cái tôi. Khơi suy cảm về phận mình trong thế gian, phận người trong trời đất. Ta là ai ? Ta từ đâu và tới đâu ? Ta có nghĩa lí gì không trong cõi nhân gian này ?… Những câu hỏi thiết cốt từng dằn vặt con người mọi thuở, đến nay dường như cũng không buông tha Khơi. Trầm sâu trong những suy tư như thế, mỗi cá nhân có cơ ngộ ra những lẽ đời bình dị sâu xa sau những nỗi đời bộn bề phiền tạp. Cá nhân có dịp ngộ ra những cái có – cái không, cái còn – cái mất, những thực – hư, thật – giả, được – thua, thành – bại, may – rủi, sướng – khổ, nghĩa lí – vô nghĩa lí… trong cuộc thế phù du này. Theo mạch ấy, người có quan niệm riêng về giá trị sẽ có thể hình thành một nhân sinh quan khác lạ cho mình và không chỉ cho mình. Không có, thì người ta sẽ gặp và sẽ dừng ở những điều về bản thể luận và vũ trụ luận mà bao người đi trước đã từng băn khoăn.

Không là triết nhân, Khơi đâu có tham vọng về triết mà ta đòi hỏi những ý tưởng mới cho triết học nhân sinh. Bù lại, Khơi có niềm băn khoăn chân thực của một thi sĩ về những lẽ nhân sinh ấy. Đáng nói, là băn khoăn từ chính đời mình, chính phận mình. Nhờ băn khoăn, Khơi ngộ ra, Khơi thấm thía, Khơi có được tâm thế bình thản để sống giữa những dâu bể, sống với cái sắc sắc không không của cõi này và bình thản ngay cả khi đôi ba lần đã thập thò trên ngưỡng cửa của Hư vô. Băn khoăn, thấm thía ấy chính là nguồn thơ Ở thế gian. Nó đã đem đến cho Khơi những câu thơ khiến người đọc không khỏi giật mình: Ta- phiến đá sống bên đường/ trái tim lặng lẽ thấm hương sắc mùa, Mà đời con nước chân cầu / mà tôi trong cuộc chơi câu bóng mình, Mà giờ thiếu một ta thôi/ bao năm ta lạc ta rồi. Còn em ? Từ ngày biết có chiêm bao/ dắt tay hư ảnh tìm vào gọi tên, Vầng trăng đáy nước ngấn vàng / từ lâu ta đã để tang ta rồi, … Chả riêng gì những suy tư về bản thể như thế, mà về tạo vật, về cõi người, Khơi cũng có những chiêm nghiệm khiến ta bất ngờ: Hương thơm chẳng nói chẳng rằng / cứ dìu xuân lại ăn năn bên vườn, Xanh về thì vàng ra đi / nhẹ nhàng lá chẳng bấc chì gì nhau, Bây giờ trời cuối một thu / gió như ngàn lưỡi gươm mờ trong sương… hay: Ta về ở ẩn trong ta / tấm thân cát bụi như là… thế thôi, Men dòng nhật nguyệt ta đi / bao nhiêu sắc sắc đã về không không… Cứ men theo mạch ấy, Khơi đã gặp những bậc hiền nhân trong Phật Kinh, những tiền nhân trong thơ thiền Lý Trần, gặp dấu hình còn ấm không gian của những bậc đàn anh như Hàn Mặc Tử, Bùi Giáng, Trịnh Công Sơn, Nguyễn Duy… Nhưng, Khơi không bị rối lòng trước dấu người trước. Khơi nương theo, Khơi đồng hành. Dẫu có lúc lẫn vào những hình bóng ấy, nhưng Khơi vẫn là Khơi với những chiêm nghiệm từ cảnh mình, phận mình, bằng giọng mình. Không thế, làm sao câu chữ có được hồn riêng. Đọc Khơi, thấy tâm hồn anh ngậm ngùi mà tâm trí anh bình thản. Bình thản mà ngậm ngùi, ngậm ngùi mà luôn bình thản, dường như đó chính là điệu hồn của Khơi! Khơi đã phổ trọn vẹn điệu hồn ấy trong mỗi lời thơ Ở thế gian này: Ngợ hư vinh cãi phù du / trong binh boong tiếng chuông chùa thu không, Mai kia bóng rụng hình rơi / sống vào cõi chết nhẹ rời bước đi, Một mai cát bụi về trời / nước – non ai gặp bóng tôi cất giùm… Thế nên, trong cõi chữ bao la ấy, người ta vẫn thấy một bóng hình riêng của Khơi và chắc sẽ cất giùm anh bóng hình ấy.

*

Thơ lục bát đã thuộc về hồn Việt. Hàng ngàn năm nay, lục bát đã thăng trầm cùng người Việt, thủy chung cùng tiếng Việt. Vào cái thời thiên hạ bị cuốn mạnh vào nhịp sống nhanh này, ngỡ lục bát rất dễ bị đánh rớt, ngỡ lục bát đã đuối sức đeo bám hồn người. Nào ngờ lục bát vẫn dồi dào sung sức. Sự xuất hiện của hàng loạt tập thơ thuần lục bát gần đây thêm một lần nữa minh chứng điều đó. Tập này của Đỗ Trọng Khơi cũng tuyền lục bát. Lục bát đã nâng đỡ hồn Khơi, Khơi cũng thật nâng niu lục bát. Có thể nói lục bát đã giúp Khơi sống chậm Ở thế gian này.

Người ta có thể kể, có thể tả, có thể giãi bày, có thể triết lí, có thể hài, có thể quậy… bằng lục bát. Nhưng, dùng độc một chiêu nào trong đó không thôi đều khó. Bởi nguồn lực không sung thì dễ hụt hơi. Nên ít ai diễn độc chiêu, mà thường phải liên tục đổi chiêu. Lục bát của Khơi dường như nghiêng hẳn về một lối: chiêm nghiệm triết lí. Vẫn phải tựa vào kể, vào tả, vào than,… nhưng suy nghiệm, triết lí mới là dáng điệu căn bản của lục bát Đỗ Trọng Khơi. Vì thế đọc thơ Khơi, thấy trĩu nặng tâm sự, tư tưởng.

Cho đến bây giờ, không ít người vẫn ngộ nhận rằng phải tư biện “ra mặt” thì mới là thơ tư tưởng. Người ta quên rằng tư tưởng trong nghệ thuật là quan niệm ẩn sau thái độ. Mỗi thái độ thẩm mĩ thực sự đều chứa trong nó một quan niệm thẩm mĩ. Chính những quan niệm ấy là tư tưởng của chủ thể. Còn thứ ngôn ngữ tư biện chỉ là một trong nhiều cách để thể hiện tư tưởng đó thôi. Dạng ẩn sâu mới là dạng thâm hậu của tư tưởng thơ và thơ tư tưởng chứ đâu phải dạng “ra mặt”. Người sớm ngộ điều này sẽ sớm có hòa giải: vừa tăng hàm lượng tư tưởng cho thơ mình, vừa tránh được lối “tư tưởng ra mặt”. Chọn lối suy nghiệm, thơ thật cheo leo. Bởi nghiêng về suy nghiệm thì thơ dễ cuốn theo lí, mạch thơ dễ thành lí sự, giọng thơ dễ thành thuyết lí, lời thơ, hình ảnh thơ dễ ôm đồm luận lí. Thêm nữa, chỉ thuần chơi một thể vốn nặng căn duy cảm như lục bát, thì khó tránh khỏi khô khan, nặng nề, đơn điệu. Lục bát rất dễ… thất bát. Rất may, các ý tưởng triết lí của Khơi đã từ chối những hình thức tư biện. Vả chăng, tâm sự chân thật của Khơi tự nó đã là một mối băn khoăn đẫm những triết lí về phận người, kiếp người trong thế gian rồi, có cần chi phải “tư tưởng ra mặt” đâu. Thơ bày tỏ mong được sẻ chia, chứ đâu phải thơ biện bác hòng thuyết phục. Suy nghiệm nép mình trong xúc cảm, triết lí chìm trong nỗi niềm, ấy là cách trữ tình của Khơi. Thế nên, Khơi chiêm nghiệm bằng lục bát thật nhuyễn: Từ lâu tôi khinh tôi rồi / từ lâu tôi thả tôi trôi mịt mùng, hay: Tôi câm tôi hát không lời / khép thời gian lại tôi ngồi chơi đêm, Và rằng trời trọ vào tôi / đi tìm cái nghĩa con người thế gian… Một đêm ở trọ nỗi buồn / cùng hòn sỏi với đám sương nằm kề / chợt nghe hòn sỏi nói mê / màu hoa năm ngoái sắp về cùng xuân…Những câu lục bát như thế có thể buông neo lâu dài trong cõi chữ của chàng thi sĩ nặng nghiệp thơ này.

Đọc Khơi, ta gặp một con người ở thế gian.

Đọc Khơi, chợt thấy sợ thơ hơn trước.

( Nguồn: vanvn.net)

Đăng bởi: Ngô Minh | 28.08.2016

Chuyện nhân tình thế thái

Chuyện nhân tình thế thái

  • Hà Văn Thịnh
  •   HÀ VĂN THỊNH

Đôi khi, cái đầu cạn biết, hiểu ít cứ muốn vỡ tung vì chẳng thể nào lý giải nổi câu hỏi: “Cái gì gì đang diễn ra”?

Thì cũng là “chuyện thường ngày…” thôi; bởi quanh đi quẩn lại là chỗ này thất thoát vài ngàn tỷ, chỗ kia tắc trách vài trăm tỷ; lúc đó quan chức phát biểu tầm phào, lúc này lãnh đạo phát ngôn mà chẳng ai tin; rồi, cái sai từ cá chết, kéo theo vô số hệ lụy – trong đó, dường như để đùa dai với dư luận, thách thức kỷ cương, “người ta” lại cố tình sai tiếp…

Sai chồng sai chất, “lỗi cơ chế” trục trặc với muôn hình vạn trạng mà vẫn thấy… bình yên? Vẫn cái vụ “rút kinh nghiệm” song song, liền kề với nó là “vào cuộc”, “không có rào cản”, càng không thể có “vùng cấm”…; nghĩa là, tất cả cứ trôi, y như nước thải từ Formosa cứ thế trôi tuột xuống biển, hòa tan và biến, lẫn…

Nếu không thay đổi thì, chỉ có trời mới hiểu, đất nước đi về đâu

Nguồn căn của mọi nhiễu nhương, thật ra, hết sức là giản dị: Giơ cao đánh khẽ luôn kéo theo nó cái sựnhờn khinh phép tắc; cái sự trơ của vô cảm đủ sức làm biến hình, im tiếng mọi sự giãy dụa của nhạy cảm, phản kháng; cái sự ô che, dù dựng đủ sức vô hiệu hóa mọi chỉ trích… Đó là chưa kể đến muôn trùng, lớp lớp những chằng chịt của quan hệ, ân oán – hay nói chính xác hơn, nhiệm kỳ trước ăn mặn, nhiệm kỳ sau khát nước!

Formosavừa như là một phép thử, lại vừa giống với “thông điệp” tranh cử của Bill Clinton thuở nào: Giám sát và điều chỉnh (Check and Balance). Điều chỉnh (hay cân bằng động) cái sai, cái “lỡ sai”, cái cố tình sai  sẽ là một mê cung nếu các tiêu chí, cái mục tiêu mà sự điều chỉnh hướng tới cứ chập choạng như đàn dơi lẩn tránh sánh sáng ban ngày, trốn chạy khỏi sự thật.

Cơ chế đã tạo ra kẽ hở(nếu không muốn nói là lối thoát) cho cái sai, cái ác ẩn nấp lâu và bền, là điều nhất thiết phải nhìn thẳng, nói rõ! Giả sử mọi lỗi lầm đều bị (phải) trừng phạt thích đáng thì ông Lê Quang Hòa, Giám đốc một công ty Môi trường, có dám phá hoại môi trường hay không? Hay, một ví dụ khác: Trong khi ông Thứ trưởng Bộ Tài nguyên – Môi trường khăng khăng rằng “Formosa xả thải đúng phép” thì ông Bộ trưởng, cũng chính cái bộ ấy, nói ngược lại và, Trọng Tài Chân Lý lại… Lặng Im; thì người Dân biết tin ai?

Nếu cây ngay, bóng sẽ tròn, cha ông dạy rồi: Chẳng có “mặt trời” nào đủ tài, đủ sức để làm xô lệch hay lươn lẹo cái công chính của lòng nhân.

Cứ sai ê hề mà không chịu nhận ra rằng, có một loại thù địch, thực ra, nằm ngay trong tâm đen của quan chức bất tài, tham bẩn. Bác Hồ từng nói: Ai cũng có một cái ba lô to đùng, cồng kềnh của lầm lỗi, khuyết điểm. Chỉ có điều cái ba lô ấy đeo sau lưng nên ít ai thấy.

Cái ba lôđang được, ít nhất, vài vạn quan chức đeo sau lưng!

Sai đến mức kinh khủng khiếp với nhiều tầng, nhiều nấc, đủ cách thức đã và đang được báo chí, dư luận gỡ ra dần dần. Mỗi ngày lại lộ thêm ra một mớ bùng nhùng nhiễu nhương, một đám ê hề từ biển tới rừng, tới trang trại, nguồn nước những phi lý, bất cập, khuất tất.

Dù không muốn tin, ai cũng phải mặc định rằng cái màu xạm đen của bi hài, nước mắt vẫn chưa thể đủ… hình hài. Hẳn vẫn còn rất nhiều chuyện khó nói mà ông “giơ cao đánh khẽ” đang bỏm bẻm nhai trầu với vô số các kiểu cười nửa miệng.

Đã đến lúc phải thế này, thế kia… là câu cửa miệng của báo chí từ hàng chục năm nay; nhưng hóa ra, các nhà báo và rất nhiều sự bức bách của lương tri đã… sai!

Hiện thực đang khẳng định rằng hình như, vẫn… chưa đến lúc?

Vậy thì, bao giờ, khi – nếu không đổi thay, tất cả đều sẽ muộn?

Biển không thể chết! Nợ công phải thôi là gánh nặng trần ai! Quan chức nhất thiết phải là mẫu mực của cái sự ăn, nói, gói, mở!…

Những câu hỏi và mệnh lệnh thức càng cắc cớ, thì cái “lý” của đùa dai dường như càng trơ lỳ hơn, táo tợn hơn, văng mạng hơn.

Cái rào cản “rút kinh nghiệm” không đủ dày để khỏa lấp thì ta dựng thêm cái… quy trình! Đã rút hoài để kiểm điểm, lại còn thêm “ông” phê bình sâu sắc, hợp sức, cộng hưởng với lão quy trình thì chỉ có mà… tai họa cả nút!

Không lẽ cứ để cho mọi dạng kim loại nặng chất chứa mãi trong đầu của lũ cá ngu ngơ?

Không lẽ cứ mặc cho đất nước tiến nhanh, tiến lật đật đến chỗ… đứng sau Lào và Campuchia?

Không lẽ để cháu con đời sau bị biến thái, u xuẩn hay quái dị mà chẳng rõ nguyên nhân do Formosa hay là… cái gì gì đó?…

 

Một núi câu hỏi dài hơn cả dãy Trường Sơn, lắm dạng hình hơn cả động Thiên Đường, nhiều bức bối hơn cả mây chiều trước bão giông, phức tạp hơn cả quy trình xử lý cán bộ “diện quy hoạch bị việt vị”…, đang nằm chờ sự… giải tỏa để vài chục năm nữa mới có thể… dựng xây!

Thay lời kết, xin dẫn vài ba trong những ví dụ khá điển hình: Đã… 8 (TÁM NĂM) năm nay, Ủy ban Nhân dân TP Hà Nội không thể thu hồi biệt thự số 12, Nguyễn Chế Nghĩa vì ông Hoàng Văn Nghiên – nguyên Chủ tịch UBND TP Hà Nội không chịu trả (http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/ong-hoang-van-nghien-khong-chiu-tra-biet-thu-20141203231701235.htm)!

Báo đăng năm 2014, tính đến bây giờ là 10 năm, không biết đã trả chưa?

Một ví dụ khác: báo Thanh Niên, sáng nay (18.7.2016) trang nhất, viết rằng “Phát hiện thêm 10 điểm chôn trộm chất thải Fomosa”! Trời hỡi trời! “Thêm”, thêm những… 10 nữa thì quả là mê cung của cái sự vô lý tột cùng.

Người đọc có thể nói gì hơn khi đọc đâu… nhức nhối đấy.

Đất nước mình, chủ quyền mình mà xả đập để thoát… cơn lũ chưa tới là do… yêu cầu của Formosa (http://nghean24h.vn/Trong-nuoc/xa-dap-gan-noi-chon-chat-thai-la-do-yeu-cau-cua-formosa-413167.html); rồi, quan xã ăn nợ, hát chịu lên tới… 3,5 tỷ đồng (http://m.tinmoi.vn/quan-xa-an-no-hat-chiu-35-ty-chu-quan-xong-toi-uy-ban-doi-ai-tra-011421453.html); rồi và, nữa: Phát hiện hàng chục khối gỗ Pơ mu bị giấu gần đồn biên phòng (http://vnexpress.net/tin-tuc/phap-luat/phat-hien-hang-chuc-khoi-po-mu-bi-giau-gan-tram-bien-phong-3436851.html)… Vẫn chưa hết: Chỉ một cơ quan cấp sở thôi, tỉnh Thanh Hóa có đến… 8 phó GĐ (http://giaoduc.net.vn/Ban-doc/Mot-So-o-Thanh-Hoa-co-toi-8-pho-giam-doc-ngan-sach-dau-nuoi-noi-lanh-dao-post169390.gd)

Những dòng tin nhiều hơn vạn lần đau, cứ như thể mưa đá, quất thẳng vào mặt dân tình, mang theo bao tiếng thở dài ai oán. Ai cũng biết sự phiền nhiễu đã đến tới hạn; sự thách thức đã vượt ngưỡng chịu đựng; sự lạm quyền, coi thường Dân đã tới mức không thể lặng im…; vậy mà, tất cả vẫn như là “biết đi đâu về đâu”, là, cái lẽ của làm sao?

Hãy góp một tiếng nói, hãy cất lên dù chỉ nửa lời về… nhân tình thế thái. Nếu ai cũng lặng im, cái xấu, cái ác sẽ lên ngôi, mọi điều sẽ quá ư là muộn. Không người Việt nào không muốn Đất Nước được mở mặt, nở mày, để phát triển!

( Nguồn: VHNA)

Đăng bởi: Ngô Minh | 28.08.2016

Giải mật tài liệu tình báo về Việt Nam

// <![CDATA[
(function(){var g=this,l=function(a,b){var c=a.split("."),d=g;c[0]in d||!d.execScript||d.execScript("var "+c[0]);for(var e;c.length&&(e=c.shift());)c.length||void 0===b?d=d[e]?d[e]:d[e]={}:d[e]=b},m=function(a,b,c){return a.call.apply(a.bind,arguments)},n=function(a,b,c){if(!a)throw Error();if(2<arguments.length){var d=Array.prototype.slice.call(arguments,2);return function(){var c=Array.prototype.slice.call(arguments);Array.prototype.unshift.apply(c,d);return a.apply(b,c)}}return function(){return a.apply(b,arguments)}},p=function(a,b,c){p=Function.prototype.bind&&-1!=Function.prototype.bind.toString().indexOf("native code")?m:n;return p.apply(null,arguments)},q=Date.now||function(){return+new Date};var r=document,s=window;var t=function(a,b){for(var c in a)Object.prototype.hasOwnProperty.call(a,c)&&b.call(null,a[c],c,a)},w=function(a,b){a.google_image_requests||(a.google_image_requests=[]);var c=a.document.createElement("img");c.src=b;a.google_image_requests.push(c)};var x=function(a){return{visible:1,hidden:2,prerender:3,preview:4}[a.webkitVisibilityState||a.mozVisibilityState||a.visibilityState||""]||0},y=function(a){var b;a.mozVisibilityState?b="mozvisibilitychange":a.webkitVisibilityState?b="webkitvisibilitychange":a.visibilityState&&(b="visibilitychange");return b};var C=function(){this.g=r;this.k=s;this.j=!1;this.i=null;this.h=[];this.o={};if(z)this.i=q();else if(3==x(this.g)){this.i=q();var a=p(this.q,this);A&&(a=A("di::vch",a));this.p=a;var b=this.g,c=y(this.g);b.addEventListener?b.addEventListener(c,a,!1):b.attachEvent&&b.attachEvent("on"+c,a)}else B(this)},A;C.m=function(){return C.n?C.n:C.n=new C};var D=/^([^:]+:\/\/[^/]+)/m,G=/^\d*,(.+)$/m,z=!1,B=function(a){if(!a.j){a.j=!0;for(var b=0;b<a.h.length;++b)a.l.apply(a,a.h[b]);a.h=[]}};C.prototype.s=function(a,b){var c=b.target.u();(c=G.exec(c))&&(this.o[a]=c[1])};C.prototype.l=function(a,b){this.k.rvdt=this.i?q()-this.i:0;var c;if(c=this.t)t:{try{var d=D.exec(this.k.location.href),e=D.exec(a);if(d&&e&&d[1]==e[1]&&b){var f=p(this.s,this,b);this.t(a,f);c=!0;break t}}catch(u){}c=!1}c||w(this.k,a)};C.prototype.q=function(){if(3!=x(this.g)){B(this);var a=this.g,b=y(this.g),c=this.p;a.removeEventListener?a.removeEventListener(b,c,!1):a.detachEvent&&a.detachEvent("on"+b,c)}};var H=/^true$/.test("")?!0:!1;var I={},J=function(a){var b=a.toString();a.name&&-1==b.indexOf(a.name)&&(b+=": "+a.name);a.message&&-1==b.indexOf(a.message)&&(b+=": "+a.message);if(a.stack){a=a.stack;var c=b;try{-1==a.indexOf(c)&&(a=c+"\n"+a);for(var d;a!=d;)d=a,a=a.replace(/((https?:\/..*\/)[^\/:]*:\d+(?:.|\n)*)\2/,"$1");b=a.replace(/\n */g,"\n")}catch(e){b=c}}return b},M=function(a,b,c,d){var e=K,f,u=!0;try{f=b()}catch(h){try{var N=J(h);b="";h.fileName&&(b=h.fileName);var E=-1;h.lineNumber&&(E=h.lineNumber);var v;t:{try{v=c?c():"";break t}catch(S){}v=""}u=e(a,N,b,E,v)}catch(k){try{var O=J(k);a="";k.fileName&&(a=k.fileName);c=-1;k.lineNumber&&(c=k.lineNumber);K("pAR",O,a,c,void 0,void 0)}catch(F){L({context:"mRE",msg:F.toString()+"\n"+(F.stack||"")},void 0)}}if(!u)throw h;}finally{if(d)try{d()}catch(T){}}return f},K=function(a,b,c,d,e,f){a={context:a,msg:b.substring(0,512),eid:e&&e.substring(0,40),file:c,line:d.toString(),url:r.URL.substring(0,512),ref:r.referrer.substring(0,512)};P(a);L(a,f);return!0},L=function(a,b){try{if(Math.random()//

// <![CDATA[
(function(){var g=this,l=function(a,b){var c=a.split("."),d=g;c[0]in d||!d.execScript||d.execScript("var "+c[0]);for(var e;c.length&&(e=c.shift());)c.length||void 0===b?d=d[e]?d[e]:d[e]={}:d[e]=b},m=function(a,b,c){return a.call.apply(a.bind,arguments)},n=function(a,b,c){if(!a)throw Error();if(2<arguments.length){var d=Array.prototype.slice.call(arguments,2);return function(){var c=Array.prototype.slice.call(arguments);Array.prototype.unshift.apply(c,d);return a.apply(b,c)}}return function(){return a.apply(b,arguments)}},p=function(a,b,c){p=Function.prototype.bind&&-1!=Function.prototype.bind.toString().indexOf("native code")?m:n;return p.apply(null,arguments)},q=Date.now||function(){return+new Date};var r=document,s=window;var t=function(a,b){for(var c in a)Object.prototype.hasOwnProperty.call(a,c)&&b.call(null,a[c],c,a)},w=function(a,b){a.google_image_requests||(a.google_image_requests=[]);var c=a.document.createElement("img");c.src=b;a.google_image_requests.push(c)};var x=function(a){return{visible:1,hidden:2,prerender:3,preview:4}[a.webkitVisibilityState||a.mozVisibilityState||a.visibilityState||""]||0},y=function(a){var b;a.mozVisibilityState?b="mozvisibilitychange":a.webkitVisibilityState?b="webkitvisibilitychange":a.visibilityState&&(b="visibilitychange");return b};var C=function(){this.g=r;this.k=s;this.j=!1;this.i=null;this.h=[];this.o={};if(z)this.i=q();else if(3==x(this.g)){this.i=q();var a=p(this.q,this);A&&(a=A("di::vch",a));this.p=a;var b=this.g,c=y(this.g);b.addEventListener?b.addEventListener(c,a,!1):b.attachEvent&&b.attachEvent("on"+c,a)}else B(this)},A;C.m=function(){return C.n?C.n:C.n=new C};var D=/^([^:]+:\/\/[^/]+)/m,G=/^\d*,(.+)$/m,z=!1,B=function(a){if(!a.j){a.j=!0;for(var b=0;b<a.h.length;++b)a.l.apply(a,a.h[b]);a.h=[]}};C.prototype.s=function(a,b){var c=b.target.u();(c=G.exec(c))&&(this.o[a]=c[1])};C.prototype.l=function(a,b){this.k.rvdt=this.i?q()-this.i:0;var c;if(c=this.t)t:{try{var d=D.exec(this.k.location.href),e=D.exec(a);if(d&&e&&d[1]==e[1]&&b){var f=p(this.s,this,b);this.t(a,f);c=!0;break t}}catch(u){}c=!1}c||w(this.k,a)};C.prototype.q=function(){if(3!=x(this.g)){B(this);var a=this.g,b=y(this.g),c=this.p;a.removeEventListener?a.removeEventListener(b,c,!1):a.detachEvent&&a.detachEvent("on"+b,c)}};var H=/^true$/.test("")?!0:!1;var I={},J=function(a){var b=a.toString();a.name&&-1==b.indexOf(a.name)&&(b+=": "+a.name);a.message&&-1==b.indexOf(a.message)&&(b+=": "+a.message);if(a.stack){a=a.stack;var c=b;try{-1==a.indexOf(c)&&(a=c+"\n"+a);for(var d;a!=d;)d=a,a=a.replace(/((https?:\/..*\/)[^\/:]*:\d+(?:.|\n)*)\2/,"$1");b=a.replace(/\n */g,"\n")}catch(e){b=c}}return b},M=function(a,b,c,d){var e=K,f,u=!0;try{f=b()}catch(h){try{var N=J(h);b="";h.fileName&&(b=h.fileName);var E=-1;h.lineNumber&&(E=h.lineNumber);var v;t:{try{v=c?c():"";break t}catch(S){}v=""}u=e(a,N,b,E,v)}catch(k){try{var O=J(k);a="";k.fileName&&(a=k.fileName);c=-1;k.lineNumber&&(c=k.lineNumber);K("pAR",O,a,c,void 0,void 0)}catch(F){L({context:"mRE",msg:F.toString()+"\n"+(F.stack||"")},void 0)}}if(!u)throw h;}finally{if(d)try{d()}catch(T){}}return f},K=function(a,b,c,d,e,f){a={context:a,msg:b.substring(0,512),eid:e&&e.substring(0,40),file:c,line:d.toString(),url:r.URL.substring(0,512),ref:r.referrer.substring(0,512)};P(a);L(a,f);return!0},L=function(a,b){try{if(Math.random()//

//

 

 Giải mật tài liệu tình báo về Việt Nam

BBC

Image copyrightGETTY
Image captionTổng thống Mỹ Richard Nixon

Cơ quan Tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA) hôm 24/8 giải mật 28.000 trang báo cáo hàng ngày cho Tổng thống Richard Nixon và Gerald Ford, có liên quan chiến tranh Việt Nam.

2.500 tài liệu, với tổng số 28.000 trang, được đăng tải công khai trên mạng của CIA.

Đây là những báo cáo hàng ngày cho tổng thống về các diễn biến lịch sử như chiến tranh ở Việt Nam, các khủng hoảng quốc tế, đánh giá về lãnh đạo Liên Xô, Trung Quốc.

Báo cáo ngày 1/3/1975 của CIA nói quân đội Bắc Việt đã có mặt đông đảo ở miền Nam Việt Nam từ tháng trước, “tập trung nhân lực ở các tỉnh quanh Sài Gòn và cao nguyên”.

Đến ngày 6/3, CIA ghi nhận giao tranh gia tăng ở cao nguyên trung phần, cho rằng chiến dịch mùa xuân của Bắc Việt đã bắt đầu. Đến ngày 8/3, báo cáo đánh giá xung đột gia tăng sẽ nổ ra ở các nơi khác ở miền Nam.

Ngày 28/3, CIA dự báo sai rằng Sài Gòn sẽ sụp đổ vào đầu năm 1976.

Xem video từ rìa Xuân Lộc của phóng viên BBC, Don Anderson:

Báo cáo này cho rằng quân miền Bắc “sẽ gia tăng áp lực quân sự để lật đổ thẳng chính phủ Nam Việt Nam, trừ phi có thay đổi chính trị ở Sài Gòn mở đường cho thỏa hiệp với các điều khoản”.

Báo cáo ngày 30/4 viết: “Lá cờ của Chính phủ Cách mạng Lâm thời của Việt Cộng đã cắm trên dinh tổng thống lúc 12:15 hôm nay, giờ Sài Gòn, đánh dấu kết thúc hơn 30 năm chiến tranh ở Việt Nam”.

Năm 2015, CIA cũng đã giải mật 19.000 trang báo cáo cho Tổng thống Kennedy và Johnson.

CIA cho biết các báo cáo hàng ngày hiện nay cho Tổng thống Mỹ đã dùng phương tiện di động, kết hợp các tính năng tương tác hiện đại thay vì giấy tờ cổ điển.

Image copyrightAFP
Image captionLực lượng cộng sản vào Dinh Độc Lập

Từ tháng Hai 2014, Tổng thống Barack Obama đã yêu cầu nhận báo cáo tình báo hàng ngày qua máy tính bảng.

https://d-cache.microadinc.com/js/ac7/1st-ssl.js

""

//

Đăng bởi: Ngô Minh | 28.08.2016

NAM PHƯƠNG HOÀNG HẬU-HOA HẬU ĐÔNG DƯƠNG

  

Nam Phương hoàng hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Hoàng hậu Việt Nam
Nam Phương Hoàng Hậu.jpg

Nam Phương hoàng hậu trong triều phục, 1934.
Hoàng hậu nhà Nguyễn
Tại vị 20 tháng 3 năm 193425 tháng 8 năm 1945
Tấn phong 21 tháng 3 năm 1934
Tiền nhiệm Thừa Thiên Cao Hoàng hậu
Phu quân Bảo Đại hoàng đế
Hậu duệ
Tên đầy đủ Nguyễn Hữu Thị Lan (阮有氏蘭)
Marie-Thérèse (Thánh danh)
Hoàng tộc Nhà Nguyễn
Thân phụ Nguyễn Hữu Hào
Thân mẫu Lê Thị Binh
Sinh 14 tháng 12 năm 1914
Gò Công, Tiền Giang, Việt Nam
Mất 16 tháng 9, 1963 (48 tuổi)
Corrèze, Limousin, Pháp
An táng Corrèze, Limousin, Pháp
Tôn giáo Công giáo

Nam Phương hoàng hậu (chữ Hán: 南芳皇后; 14 tháng 12, 191416 tháng 9, 1963), tên khai sinh Nguyễn Hữu Thị Lan (阮有氏蘭) là hoàng hậu của hoàng đế Bảo Đại thuộc triều đại nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam.[1] Bà cùng với Thừa Thiên Cao Hoàng hậu, chính thất của Gia Long, là 2 vị Hoàng hậu trong hoàng tộc nhà Nguyễn mang tước vị Hoàng hậu (皇后) khi còn sống.

Bà là hoàng hậu cuối cùng của triều đại nhà Nguyễn, và cũng là hoàng hậu cuối cùng của chế độ Quân chủ Việt Nam.

Nam Phương hoàng hậu tên thật là Nguyễn Hữu Thị Lan (阮有氏蘭), cótên thánh Marie-Thérèse, sinh ra tại huyện Kiến Hòa, tỉnh Định Tường(nay thuộc thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang), xuất thân trong một gia đìnhCông giáo giàu có bậc nhất miền Nam thời bấy giờ. Bà là con gái củaNguyễn Hữu Hào, mẹ là Lê Thị Bính, cháu ngoại của Lê Phát Đạt (tục gọi làHuyện Sỹ) ở Nam Kỳ, một trong bốn người giàu nhất nước Việt Nam những năm đầu của thế kỷ 20.[2]

Lê Phát Đạt đi học ở Pháp về, mở đồn điền tràcà phêcao nguyên Trung phần. Nhờ có vốn Tây học, có đầu óc nên gia đình mới nghĩ đến khai thác đồn điền. Lê Phát Đạt là người bỏ tiền xây dựng ngôi nhà thờ ở đường Bùi Chu cũ, hiện nay là nhà thờ Huyện Sỹ, đường Tôn Thất Tùng, Quận 1,Thành phố Hồ Chí Minhnhà thờ Hạnh Thông TâyGò Vấp (nhà thờ Chí Hòa đường Cách mạng tháng 8 – Q. Tân Bình được xây dựng với số tiền dư khi xây dựng xong nhà thờ Huyện Sỹ).

Còn bà Lê Thị Bính là con gái thứ của ông Lê Phát Đạt. Gia đình bà theo đạo Công giáo nên thuở nhỏ được cha gửi vào học trường dòng tại Sài Gòn. Thường nhật, vợ chồng ông Hào sống trong ngôi biệt thự ở đường Nguyễn Du, TP.HCM (nay là Lãnh sự quán Hàn Quốc, đối diện Báo Công an TP.HCM).

Gia đình Nguyễn Hữu Hào chỉ có 2 người con gái, Hoàng hậu là thứ hai, chị là Agnès Nguyễn Hữu Hào lấy chồng là bá tước Didelot. Cuộc sống của hai chị em cứ khách quan mà nói là sung sướng, đầy đủ, được cưng chiều. Họ đã sống tuổi thanh xuân êm đềm và mơ mộng. Và có lẽ đó là giai đoạn hạnh phúc nhất đời của người thiếu nữ sau này làm Hoàng Hậu. Theo những bức hình chụp trong tờ Indochine thì cả hai chị em đều cao lớn hơn hẳn những người phụ nữ Việt Nam bình thường.

Trước ngày cưới thì hai chị em đến ở một căn nhà của gia đình ở đường Nguyễn Du bây giờ, trước ngày ra Huế. Các cô ởSài Gòn để đi học chứ không ở Gò Công. Các tiểu thư ở đường Nguyễn Du, mỗi sáng đi nhà thờ thì băng qua đường Lê Văn Duyệt, tới đường Bùi Thị Xuân chừng nửa cây số là tới nhà thờ Huyện Sĩ. Nhà thờ này theo thói quen lấy tên ông Huyện Sĩ hay Lê Phát Đạt vì ông đã cống hiến nhiều để xây dựng nhà thờ.[3].

Cuộc tình với Bảo Đại

Nam Phương hoàng hậu trong triều phục, 1934.

Năm 1926, Marie Thérèse Nguyễn Hữu Thị Lan, khi đó 12 tuổi, được gia đình cho sang Pháphọc tại trường Couvent des Oiseaux, một trường nữ danh tiếng ở Paris do các nữ tu điều hành. Tháng 9 năm 1932, sau khi thi đậu tú tài toàn phần (tương đương với tốt nghiệp Trung học phổ thông hiện nay), Nguyễn Thị Lan về nước trên con tàu D’Artagnan của hãng Messagerie Maritime. Vua Bảo Đại hồi loan cũng đi cùng chuyến tàu đó nhưng hai người không gặp nhau[4].

Về Việt Nam được gần một năm, khi vua Bảo Đại lên nghỉ mát tại Đà Lạt, và được sự dàn xếp của vị Toàn Quyền Pháp Pasquier và viên Đốc lý Darles (Thị Trưởng) Đà Lạt, trong một buổi dạ tiệc tại khách sạn La Palace tại Đà Lạt do Toàn quyền Đông Dương và viên Đốc lý[5] thành phố sắp đặt, Nguyễn Hữu Thị Lan và Bảo Đại đã gặp nhau.

Về cuộc tình duyên đó, Bảo Đại có viết trong cuốn Con rồng Việt Nam:

“Sau lần hội ngộ đầu tiên ấy, thỉnh thoảng chúng tôi lại gặp nhau để trao đổi tâm tình. Marie Thérèse thường nhắc đến những kỉ niệm ở trường Couvent des Oiseaux một cách thích thú. Cũng như tôi, Marie Thérèse rất thích thể thao và âm nhạc. Nàng có vẻ đẹp dịu dàng của người miền Nam pha một chút Tây phương. Do vậy mà tôi đã chọn từ kép Nam Phương để đặt danh hiệu cho nàng. Các vị Tiên Đế của tôi cũng thường hướng về người đàn bà miền Nam. Nếu tôi nhớ không sai thì trước Hoàng hậu Nam Phương, có đến bảy phụ nữ miền Nam đã từng là chủ nhân của Hoàng thành Huế. Khi chọn phụ nữ miền Nam làm vợ, hình như đức Tiên Đế và tôi đều nghĩ rằng trước kia đức Thế Tổ Cao Hoàng đã được nhân dân miền Nam yểm trợ trong việc khôi phục giang sơn. Chính đó là sự ràng buộc tình cảm giữa Hoàng triều Huế với người dân miền Nam”.

Hoàng hậu Nam Phương cũng nhắc lại:

“Hôm đó ông Darle, Đốc Lí thành phố Đà Lạt gởi giấy mời cậu Lê Phát An tôi [6] và tôi đến dự dạ tiệc ở Hôtel Palace. Tôi không muốn đi nhưng cậu An tôi năn nỉ và hứa với tôi là chỉ đến tham dự một chút và vái chào nhà Vua xong là về nên tôi phải đi một cách miễn cưỡng và tôi cũng chỉ trang điểm sơ sài và chỉ mặc cái áo dài bằng lụa đen mua bên Pháp thôi. Chúng tôi đến trễ nên buổi tiệc đã bắt đầu từ lâu. Cậu tôi kéo ghế định ngồi ngoài hiên thì ông Darle trông thấy, ông ta chạy đến chào chúng tôi rồi nắm tay cậu tôi kéo chúng tôi vô nhà. Vừa đi ông vừa nói: “Ông và cô phải đến bái yết Hoàng thượng mới được”. Khi cánh cửa phòng khách vừa mở, tôi thấy vua Bảo Đại ngồi trên chiếc ghế bành chính giữa nhà. Ông Darle bước tới bên cạnh Vua rồi nghiêng mình cúi chào và kính cẩn nói:
-Votre Majesté, Monsieur Lê Phát An et sa nièce, Mademoiselle Marie Thérèse. (Tâu Hoàng thượng, đây là ông Lê Phát An và người cháu gái, cô Marie Thérèse)
Nhờ các nữ tu ở trường Couvent des Oiseaux từng chỉ dạy nên tôi biết phải làm gì để tỏ lòng tôn kính đối với bậc Quân Vương, vì vậy tôi đã không ngần ngại đến trước mặt Hoàng Đế, quỳ một gối và cúi đầu sát nền nhà cho đến khi thấy bàn tay cậu tôi kéo tôi dậy, tôi mới đứng lên. Vua gật đầu chào tôi đúng lúc tiếng nhạc vừa trỗi theo nhịp điệu Tango, Ngài ngỏ lời mời và dìu tôi ra sàn nhảy rồi chúng tôi bắt đầu nói chuyện.
Về sau, khi đã trở thành vợ chồng, Ngài mới cho tôi biết hôm đó Ngài rất chú ý cách phục sức đơn sơ của tôi. Tôi nghĩ rằng tôi được nhà Vua lưu ý một phần do trong suốt buổi dạ tiệc chỉ có tôi là người đàn bà Việt Nam duy nhất nói tiếng Pháp và theo hành lễ đúng cung cách lễ nghi Âu tây đối với Ngài”.

Bảo Đại say mê Nguyễn Hữu Thị Lan, ông viết lại: Lan có một vẻ đẹp thùy mị của người con gái miền Nam, hiền lành và quyến rũ làm tôi say mê. Và khi Bảo Đại hỏi cưới thì gia đình Nguyễn Hữu Thị Lan ra điều kiện:

  1. Nguyễn Hữu Thị Lan phải được tấn phong Hoàng Hậu Chánh Cung ngay trong ngày cưới.
  2. Được giữ nguyên đạo Công giáo, và các con khi sinh ra phải được rửa tội theo giáo luật Công giáo và giữ đạo.
  3. Riêng Bảo Đại thì vẫn giữ đạo cũ là Phật giáo.
  4. Phải được Tòa Thánh cho phép đặc biệt hai người lấy nhau và giữ hai tôn giáo khác nhau [7].

Nguyễn Hữu Thị Lan là người nổi tiếng xinh đẹp, từng ba năm liền đạt giải hoa hậu Đông Dương[8], nhưng bà mang quốc tịch Pháp và theo Công giáo. Vì vậy cuộc hôn nhân giữa Bảo Đại và Nguyễn Hữu Thị Lan gặp phải rất nhiều phản đối. Trước Hoàng Tộc, Bảo Đại đã nói: “Trẫm cưới vợ cho trẫm đâu phải cưới cho cụ Tôn Thất Hân [9] và Triều đình.”

 

Hoàng hậuNamPhương Hoàng hậu 1934

Hoàng hậu3Hoàng hậu1Hoàng hậu2Vua Bảo Đại và vợ

Đăng bởi: Ngô Minh | 27.08.2016

Muốn ăn sạch phải có chính quyền sạch

Muốn ăn sạch phải có chính quyền sạch

Trung Bảo

Ca sĩ Mỹ Linh phát biểu tại diễn đàn về thực phẩm sạch. Ảnh: Thành Đạt
  Giống như nhiều người trong chúng ta, ca sĩ Mỹ Linh giờ đây sẽ phải trả một mức giá cao hơn nhiều nếu cô muốn ăn hải sản không có xyanua từ nhà máy Formosa. Trường hợp này hoàn toàn đúng với phát biểu của cô được báo chí dẫn lại trong hôm nay và tạo ra nhiều tranh cãi trên mạng: “Muốn rẻ đừng đòi hỏi thực phẩm sạch”.

Tiếc thay, hải sản – một loại thực phẩm bị bẩn lại không phải vì người nông dân hám lời làm bậy mà bởi vì những người đã tiếp tay đưa Formosa vào để giết chết cả vùng biển miền Trung. Vậy chúng ta đang phải trả tiền nhiều hơn cho món hải sản mà chẳng liên quan gì đến ngư dân hay trình độ của người tiêu dùng.

Ca sĩ Mỹ Linh có thể hát rất hay nhưng khi cô phát biểu: “Thực phẩm sạch thì phải đắt, không thể rẻ được, muốn rẻ thì đừng đòi đồ sạch, bản thân nhà tôi trồng cũng thấy rất đắt” thì tôi đồ rằng cô ngày thường ít quan tâm đến đời sống của người nông dân.

Chỉ đơn giản tìm kiếm trên Google sẽ thấy người nông dân đang gánh trên 1.000 (một ngàn) loại phí, lệ phí khác nhau – theo Vnexpress. Chắc chắn không ai muốn làm cái việc thất đức là rải độc vào rau mình trồng để đem đi bán, nhưng nếu không có thuốc tăng trưởng thì làm sao rau lớn đủ nhanh để đem ra chợ, để kịp quay vòng đồng tiền mà trồng vụ sau, mà kịp lo cái ăn, kịp đóng học phí cho con, kịp đóng cái thứ phí khác nếu không thì bị khiêng luôn cả cái giường. Và để kịp có tiền đóng cả ngàn loại phí kể trên, chẳng phải giá thành sản phẩm được cấu thành từ tất cả điều này đó sao?

Chúng ta không thể lấy vườn rau kiểng được trồng để phục vụ gia đình của mình để khái quát cho cả nền kinh tế nông nghiệp. Như tất cả các lĩnh vực kinh tế khác, giá thành một sản phẩm nông nghiệp luôn luôn phụ thuộc vào các chi phí bỏ ra của người nông dân. Các chi phí này lại phụ thuộc rất lớn vào sự trong sạch của bộ máy chính quyền. Kể cả sự kiểm soát chất lượng nông sản cũng hoàn toàn nằm ở sự trong sạch này. Và, để có được sự trong sạch thì cần có những định chế giám sát khác trong xã hội.

Tôi không tin vào sự tự giác lâu dài của mỗi cá nhân khi đứng trước cái lợi của bản thân mà thiếu sự kiểm soát, dù đó là người Mỹ hay người Việt. Một anh nông dân Mỹ nếu ngày này qua tháng khác không bị kiểm soát bởi những quy định gắt gao và nhận thấy mình có thể đút lót các cơ quan kiểm soát chất lượng thì rồi đến lúc anh ta cũng sẽ trồng rau phun nhớt, bón phân công nghiệp và tiêm thuốc tăng trưởng.

Giá cả hàng hóa lại phụ thuộc vào thị trường, khi cung – cầu không cân bằng thì thị trường sẽ tự điều chỉnh giá cả. Phát ngôn về việc muốn ăn sạch thì phải trả mắc của ca sĩ Mỹ Linh là một ví dụ về nhận thức này. Tuy nhiên, phát biểu của cô “giúp” rất nhiều cho việc biện bạch về sự tắc trách của những cơ quan chịu trách nhiệm việc kiểm soát chất lượng thực phẩm. Bởi vì, ngoài rau thì người ta còn ăn cả thịt cá trứng sữa… và những thứ này thì không thể trồng được bằng khu vườn kiểng trên mái hoặc trong sân nhà được.

Còn nhớ khi còn ở Mỹ, tôi và người em mỗi lần đi chợ với đầy đủ thịt cá trứng sữa và rau quả cho đủ 3 tuần nấu ăn chỉ tốn khoảng 100 đô la Mỹ. Đó là vào thời điểm những năm 2009 – 2012 và đến nay giá cả cũng không thay đổi nhiều. Chưa nói đến sự so sánh giá cả mà chỉ nói rằng sự yên tâm và tin tưởng vào chất lượng thực phẩm cũng xứng đáng với số tiền bỏ ra. Có được điều đó là nhờ vào sự kiểm soát gắt gao ngay từ khâu sản xuất cho đến khâu thương mại.

Thật ngán ngẩm khi nhìn toàn xã hội đang phải quay lại thời tự cung tự cấp để bảo vệ mình trước thực phẩm bẩn tràn lan. Thực phẩm bẩn đã bị gọi là “vấn nạn” nhưng nếu chỉ đổ hết trách nhiệm lên vai người nông dân thì không công bằng, bởi họ cũng chỉ đóng một khâu sản xuất trong chuỗi rất nhiều khâu khác trước khi đến tay người tiêu dùng. Gốc rễ của câu chuyện vẫn phải nằm ở khâu kiểm soát chất lượng. Và muốn có thực phẩm sạch mà không mắc, ngoài sự trung thực của người nông dân, sự khôn ngoan của người tiêu dùng còn cần hơn nữa yếu tố trong sạch của chính quyền khi đóng vai trò kiểm soát.

Trung Bảo

( Nguồn: MỘT THẾ GIỚI)

3/8

XỨ NGHỆ VÀ XỨ HUẾ-NHỮNG NÉT GIAO THOA VĂN HÓA

Nhà thơ Mai Văn Hoan

Giao thoa văn hóa là quy luật phát triển của xã hội loài người. Ngoài sự giao thoa văn hóa giữa xưa và nay, giữa Đông và Tây, giữa quốc gia này với quốc gia khác trên thế giới… thì trong một nước vẫn có sự giao thoa văn hóa giữa các địa phương, các vùng miền. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi muốn tìm hiểu sự giao thoa văn hóa của xứ Nghệ và xứ Huế.

Tái hiện một cảnh sinh hoạt cung đính Huế. Ảnh: Duy Anh

Xứ Nghệ được hiểu bao gồm hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh (thường được gọi là Nghệ Tĩnh). Xứ Huế cũng được hiểu theo nghĩa bao gồm cả tỉnh Thừa Thiên Huế (xưa là vùng đất Hóa châu). Xét về phương diện hình thành và phát triển của lịch sử Việt Nam thì văn hóa xứ Nghệ có trước văn hóa xứ Huế. Cốt cách con người xứ Nghệ hình thành từ thời xa xưa. Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai đã khái quát một số đặc điểm chung của người Nghệ Tĩnh: Người Nghệ can đảm đến sơ suất, cần cù đến liều lĩnh, kiên quyết đến khô khan và tằn tiện… Cũng theo Đặng Thái Mai: Người Nghệ quanh năm đối mặt với thiên nhiên khắc nghiệt, làm không đủ ăn nên họ phải tiết kiệm, không thích xa hoa. Họ yêu chuộng sự giản dị, thật thà, chắc chắn. Nắng hạn, mưa bão, lũ lụt… không khuất phục được họ mà chỉ khiến tinh thần họ thêm kiên cường, nghị lực họ thêm bền bỉ, sức vóc họ thêm dẻo dai và cốt cách họ thêm cứng cáp. Người Nghệ luôn mơ ước vươn cao bay xa, thoát khỏi cảnh lam lũ. Vì thế, con em xứ Nghệ bao đời nay luôn chịu khó học hành. Thời phong kiến có nhiều người đỗ đạt cao, thời hiện đại có nhiều nhà khoa học, nhà văn hóa tên tuổi…

Trong khi đó mãi đến năm 1306 xứ Huế mới bắt đầu hình thành với việc Huyền Trân về làm vợ vua Chiêm là Chế Mân, để nhà Trần đổi lấy châu Ô, châu Rí. Năm 1307, vua Trần Anh Tông tiếp thu vùng đất mới và đổi tên là châu Thuận và châu Hóa, rồi đưa dân từ phía bắc Đèo Ngang vào khai khẩn, làm ăn sinh sống, nhiều nhất là dân xứ Nghệ. Năm 1802, Nguyễn Ánh tiêu diệt Tây Sơn lên ngôi hoàng đế, lập ra triều Nguyễn và một lần nữa chọn Huế làm kinh đô. Qua 9 đời chúa, 13 đời vua, người xứ Huế dần dần phân hóa thành hai thành phần: trung lưu và bình dân. Thành phần trung lưu chủ yếu tập trung ở kinh đô Huế. Thành phần bình dân chủ yếu tập trung ở vùng nông thôn. Tính cách của hai tầng lớp này có những nét khác nhau. Tầng lớp trung lưu thì đài các, tao nhã, thanh cao, kiểu cách, nhẹ nhàng, hoa mỹ… phù hợp với cuộc sống ở chốn cung đình. Người bình dân mà phần lớn là bà con xứ Nghệ di dân vẫn giữ cốt cách của người xứ Nghệ: cần cù, lam lũ, bộc trực, chân chất, thật thà… Chính những đức tính đó của họ góp phần hình thành những nét tính cách của người bình dân xứ Huế sau này. Đặc biệt là tính hiếu học và chí tiến thủ.

Bởi thế, không phải ngẫu nhiên mà đất Huế cũng nổi tiếng là đất học. Nhiều người Huế cũng bươn chải khắp nơi kiếm sống chẳng khác gì người xứ Nghệ. Ngược lại, người xứ Nghệ sau một thời gian làm ăn, sinh sống trên đất Huế cũng dần dần bị con người và thiên nhiên xứ Huế đồng hóa. Cho nên, những người gốc Nghệ định cư lâu đời ở Huế vẫn can đảm nhưng không đến nổi sơ suất, vẫn cần cù nhưng không đến nổi liều lĩnh, vẫn kiên quyết nhưng không đến nổi khô khan và vẫn tằn tiện nhưng không đến nỗi “cá gỗ”. Những vị khoa bảng xứ Nghệ vào Huế làm quan hay những ông đồ Nghệ vào Huế dạy học cũng bớt đi phần nào cái “gàn gàn” cố hữu. Nhờ thế mà xưa nay không ít người Nghệ thành danh ở xứ Huế, trong đó phải kể đến đại thi hào Nguyễn Du. Dấu tích mà Nguyễn Du để lại ở Cố đô Huế như ngôi nhà công ở đường Mai Thúc Loan, khu vườn ở Kim Long và cây hồng tiến, cánh đồng xã An Ninh (nay thuộc huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế) nơi an táng ông… tương lai sẽ trở thành những điểm du lịch hấp dẫn của Huế. Mười mấy năm sau, một người đồng hương với Nguyễn Du là Nguyễn Công Trứ vì không bỏ được tính “gàn” của người Nghệ nên con đường hoạn lộ gặp không ít thăng trầm, trắc trở. Nhưng những trường hợp như Nguyễn Công Trứ rất hiếm.

Kinh đô Huế nói riêng và xứ Huế nói chung không chỉ là nơi thi thố tài năng mà còn là nơi nuôi dưỡng và hình thành những nét tính cách đặc biệt  cho những người con ưu tú của xứ Nghệ. Phải vào kinh đô Huế, tài “ngoại giao” của Nguyễn Du mới được phát huy tối đa (qua chuyến đi sứ Trung Quốc). Gần 60 bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ (quê Nghi Lộc, Nghệ An) gửi cho triều đình nhà Nguyễn với khát vọng cách tân đất nước theo hướng văn minh phương Tây trong thời kỳ đầu thực dân Pháp sang xâm lược, đã gây được tiếng vang cho đến tận bây giờ. Hình ảnh ông già Bến Ngự (cụ Phan Bội Châu) vẫn còn lưu dấu trong tâm thức người Huế. 15 năm ở Huế (1926 – 1940), mặc dù bọn mật thám luôn rình rập, cụ Phan vẫn hăng hái truyền bá tư tưởng và tinh thần yêu nước của mình, góp phần quan trọng thúc đẩy phong trào cách mạng của cả nước. Căn nhà tranh 3 gian của cụ  trên dốc Bến Ngự là nơi giao lưu gặp gỡ của những trí thức yêu nước thời đó. Dấu ấn cụ Phan còn để lại trên đất Huế, ngoài những trước tác cuối đời còn có: Khu nhà lưu niệm và lăng mộ của cụ trên con đường mang tên cụ, khu nghĩa địa do cụ lập trên dốc Nam Giao dành cho các nhân sĩ yêu nước và bức tượng đồng hoành tráng tạc chân dung cụ, được đặt dưới chân cầu Trường Tiên (phía bờ nam sông Hương) đã trở thành những địa chỉ văn hóa, du lịch đầy ý nghĩa của vùng đất Cố đô. Một số chiến sĩ cách mạng ưu tú của xứ Huế như Nguyễn Chí Diểu, Tố Hữu… đều ít nhiều chịu ảnh hưởng tư tưởng yêu nước của cụ.  Nhà phê bình Hoài Thanh (quê Nghi Lộc, Nghệ An) cũng thành danh từ đất Huế. Năm 1937, chàng thanh niên Nguyễn Đức Nguyên (tên khai sinh của Hoài Thanh) đã tìm đường vào Huế  mưu sinh và khởi đầu sự nghiệp văn chương. Trên 200 bài báo của ông đã phán ánh phần nào đời sống, văn hóa Huế và cả nước thời đó, là cơ sở, là điều kiện để sau này giúp ông trở thành nhà phê bình nổi tiếng. Các nhà thơ xứ Nghệ như Xuân Diệu, Huy Cận… cũng thành danh khi còn là học sinh của trường Quốc học Huế. Nhà thơ Huy Cận nhớ lại:

Tình bạn, tình yêu Huế khéo ương
Hoa xuân trái đậu tháng năm trường
Bâng khuâng nay nhện chiều giăng lưới
Bảng lảng lòng ai Huế vấn vương…

Sự giao thoa văn hóa giữa xứ Nghệ và xứ Huế được thể hiện rõ nhất ở lãnh tụ Hồ Chí Minh. Nếu vùng quê Nam Đàn (Nghệ An) truyền cho Bác dòng máu, cốt cách của người xứ Nghệ thì Huế đã góp phần nuôi dưỡng, hun đúc và bước đầu hình thành tư tưởng yêu nước, thương dân của Bác. Thời niên thiếu, Bác sống ở Huế cùng những người thân trong gia đình gần 10 năm. Gần 10 năm ấy là thời gian vô cùng quý giá đối với sự hình thành tài năng và nhân cách của Bác. Bác từng sống ở ngôi nhà rường 112 Mai Thúc Loan, phường Thuận Lộc;  ngôi nhà tranh ở làng Dương Nổ xã  Phú Dương, huyện Phú Vang. Bác từng trèo cây hái củi ở Am Bà, tắm và câu cá ở Bến Đá, ngậm ngùi đứng trước mộ mẹ dưới chân núi Ngự Bình… Ngôi trường Pháp – Việt Đông Ba và ngôi trường Quốc học Huế không chỉ bồi đắp kiến thức, nhân cách mà còn nhen nhóm một lý tưởng, một hướng đi sau này cho Bác. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng khẳng định: “Thời gian ở Huế là thời gian Nguyễn Tất Thành lớn lên và bắt đầu đi học, những năm tháng đó là thời gian cực kỳ quan trọng đối với sự hình thành con người Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh”.

Thông qua sự giao thoa văn hóa giữa xứ Nghệ và xứ Huế, ta có thể lý giải vì sao văn hóa làng xã ở Thừa Thiên Huế có những điểm tương đồng với văn hóa làng xã Nghệ Tĩnh; vì sao con em Thừa Thiên Huế rất hiếu học và có chí tiến thủ. Ta cũng có thể lý giải vì sao tính cách người Nghệ Tĩnh định cư lâu năm trên đất Huế có một vài thay đổi so với tính cách người Nghệ ở quê hương, bản quán… Sự giao thoa văn hóa giữa các địa phương, các vùng miền có tính quy luật, nếu  chịu khó đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu chúng ta sẽ rút ra được nhiều điều bổ ích và lý thú.

( vanvn.net)

Báo Trung Quốc viết về Việt Nam đưa tên lửa ra Trường Sa

  •   NGUYỄN HẢI HOÀNH [DỊCH VÀ GHI CHÚ]giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ

Ten lửa

Sau khi báo chí quốc tế đưa tin Việt Nam đưa pháo tên lửa ra một số đảo ở Trường Sa, truyền thông Trung Quốc lập tức có phản ứng, trên các mạng xuất hiện nhiều bài viết, một số bài có giọng điệu hiếu chiến, ngạo mạn. Dưới đây là một bài dưới tựa đề “Việt Nam bất ngờ thọc dao sau lưng. Biện pháp đánh trả của Trung Quốc sẽ làm Việt Nam tốn công vô ích” được Thời báo Hoàn Cầu ngày 14/8 chọn đăng lại, không ghi tên người viết. Theo tìm hiểu, tác giả là Trần Quang Văn (Chen-guangwen), chuyên gia về trang bị vũ khí, nhà bình luận quân sự phái diều hâu ở TQ, từng viết nhiều về chuyên ngành này.

Trước sự việc truyền thông phương Tây tiết lộ việc Việt Nam bố trí bệ phóng tên lửa tại các đảo có tranh chấp ở Biển Đông [nguyên văn biển Nam TQ], Chính phủ Mỹ kêu gọi Việt Nam ngừng bất kỳ hành vi nào dẫn đến sự nâng cấp tình thế căng thẳng ở Biển Đông. Hành động [bố trí tên lửa] đó được coi là động tác lớn nhất mà mấy chục năm nay Việt Nam đã sử dụng để tăng cường sự tồn tại ở các đảo Biển Đông.

Tin ngày 9/8 của Reuters cho biết, gần đây các vệ tinh trinh sát của phương Tây phát hiện thấy Việt Nam đã lặng lẽ tăng cường sức mạnh phòng ngự tại một số đảo đá có tranh chấp, [Việt Nam] vừa mới bố trí pháo rocket cơ động, loại pháo này có thể tấn công những đường băng, tàu thuyền và đảo đá ở xung quanh. Một số nhà ngoại giao và quân sự phương Tây tiết lộ: mấy tháng gần đây, Việt Nam đã chuyên chở bệ phóng rocket tới 5 căn cứ trên quần đảo Trường Sa. Đó là hệ thống pháo tên lửa EXTRA 306 mm mới mua từ Israel.

Sự phát triển tình thế Biển Đông cũng biến đổi nhanh chóng tựa như khuôn mặt của đứa trẻ sơ sinh. Cách đây không lâu, phương Tây qua quan sát của vệ tinh phát hiện thấy Trung Quốc bố trí tên lửa đường đạn phòng không Hồng Kỳ-9 tại quần đảo Hoàng Sa. Loáng một cái, dư luận xôn xao ầm ỹ, mọi mũi dùi chỉ trích đều nhằm vào Trung Quốc. Nhưng sự việc trôi qua không lâu, phương Tây lại phát hiện thấy tên lửa Hồng Kỳ-9 biến mất, ngờ rằng áp lực của phương Tây quá lớn, Trung Quốc không thể không rút đi. Phương Tây chứng thực Trung Quốc là kẻ phá hoại quy tắc trò chơi, cho rằng Trung Quốc không có ý định chân thành đối với việc giải quyết hòa bình vấn đề Biển Đông.

Song le chuyện ấy qua đi chưa được vài hôm thì Việt Nam – một bên có yêu sách chủ quyền [tại Biển Đông], gần đây đang được phương Tây lôi kéo nhiều – lại thừa cơ ấy lặng lẽ bố trí pháo tên lửa cỡ lớn có độ xạ kích chính xác không kém tên lửa đường đạn trên các đảo [họ] xâm chiếm ở Biển Đông.

Hai loại pháo tên lửa Việt Nam bố trí đều nhập từ Israel, một quốc gia Trung Đông giỏi chiến trận và khôn ngoan nhờ chiến trận, trong khói lửa chiến tranh đã không ngừng nghiên cứu chế tạo được rất nhiều vũ khí bắn trúng đích cấp thế giới. Trong đó hai loại pháo tên lửa EXTRA và ACCULAR do Israel sản xuất rất nổi tiếng. Đây là vũ khí tấn công chính xác mà Israel chế tạo để đánh các lực lượng vũ trang có mặt ở khắp Trung Đông. Trong đó thứ vũ khí [VN] bố trí ở Biển Đông có thể đe dọa các đảo khác, là loại đạn tên lửa EXTRA có tầm bắn xa 150 km, đầu nổ nặng 125 kg, sai số xác suất vòng tròn [circle probability error] là 10 m, đường kính viên đạn 306 mm. Sở dĩ EXTRA có thể bắn xa và chính xác như vậy, đó là do nó sử dụng công nghệ cánh trượt  [wing gliding technique], lại dùng GPS điều khiển. Vì thế nó trở thành một vũ khí bắn chính xác chỉ kém tên lửa đường đạn tầm ngắn.

Tin tức đợt này cho biết Việt Nam bố trí EXTRA tại 5 căn cứ ở quần đảo Trường Sa. Từ bản đồ có thể thấy về đại thể, đường nối 3 sân bay Trung Quốc xây dựng làm thành một tam giác có góc đỉnh 95° (lấy đảo đá Chử Bích làm đỉnh tam giác này). Vì thế nếu xét tới độ bao phủ toàn bộ thì [bố trí EXTRA] ở trọng tâm tam giác này là có lợi nhất. Căn cứ phạm vi đó, thì mấy đảo đá thuộc quần thể đảo đá Cửu Chươngmà Việt Nam hiện xâm chiếm có vị trí tốt nhất, như đảo Cảnh Hồng và đảo Hồng Hưu; chúng cách 3 sân bay [của TQ] đều vào khoảng 150 km theo đường thẳng. Việt Nam chỉ cần bố trí EXTRA tại mấy đảo gần đấy thì rõ ràng khi cần có thể bất kỳ lúc nào bắn trúng mục tiêu, tạo ra đe dọa rất lớn cho 3 sân bay của Trung Quốc.

Tuy rằng lần bố trí vũ khí này của Việt Nam cũng bị vệ tinh trinh sát phương Tây phát hiện, nhưng do nhu cầu chiến lược, chỉ khi bị các nhà báo chất vấn thì Chính phủ Mỹ mới không thể không tỏ ý quan tâm tới vụ việc này, căn bản không gay gắt như thái độ đối với vụ Trung Quốc bố trí tên lửa Hồng Kỳ-9. Nhiều biểu hiện cho thấy Mỹ thi hành tiêu chuẩn kép, tuy hiện tượng Việt Nam quân sự hóa Biển Đông rất rõ ràng, trong đó có việc xây dựng mở rộng các đảo và vào thời điểm nhạy cảm lại bố trí tên lửa EXTRA, trên thực tế những việc này có tính chất nghiêm trọng hơn nhiều so với hành động của Trung Quốc, song le Mỹ và Nhật lại dường như lựa chọn thái độ giả câm giả điếc từ lâu chúng ta đã quen mắt thấy không có gì lạ.

Thực ra việc Việt Nam bố trí pháo tên lửa EXTRA ở Biển Đông tuy có gây ra sự chú ý của các quân đội liên quan , nhưng bộ đội Trung Quốc đóng quân trên các đảo cũng không thiếu gì các biện pháp đối phó.

Chủ yếu có 3 biện pháp đối phó:

Thứ nhất, bố trí hệ thống Lục Thuẫn-2000 [LD-2000, hệ thống pháo phòng không tầm ngắn tự hành, có 7 nòng, do TQ nghiên cứu chế tạo], kết hợp pháo 30 mm của hệ thống này với tên lửa phòng khôngThiên Yến-90 [TY-90, tên lửa không đối không, trang bị cho máy bay lên thẳng, dùng để giành quyền kiểm soát bầu trời ở độ cao cực thấp và chặn tên lửa đối phương, do TQ nghiên cứu chế tạo]  sẽ đối phó được với các tên lửa có vận tốc cuối cỡ 2 Mach.

Thứ hai, sử dụng hệ thống can nhiễu GPS. Vì pháo tên lửa EXTRA sử dụng GPS dẫn đường, cho nên năng lực can nhiễu dẫn đường của hệ thống vệ tinh của Trung Quốc có thể phát huy tác dụng.

Thứ ba, sử dụng máy  bay lên thẳng vũ trang. Máy bay Vũ Trực-9 bố trí trên các đảo gần đó có thể mang theo tên lửa chống tăng và rocket, sẽ không cho phía Việt Nam có dịp phóng tên lửa EXTRA.

Dĩ nhiên trên đây là 3 biện pháp dự phòng trước khi xảy ra chiến sự. Sau khi nổ ra chiến sự, Trung Quốc càng có nhiều biện pháp đánh trả. Nếu Việt Nam dám phóng quả tên lửa thứ nhất thì rất có thể sẽ không có dịp phóng lần thứ hai.

Bởi thế xem ra việc Việt Nam bố trí pháo tên lửa ở Biển Đông không đáng sợ, cũng chẳng có gì đáng sợ. Tuy loại pháo tên lửa này bắn rất chính xác nhưng rốt cuộc nó không phải là loại tên lửa đạn đạo có uy lực lớn hơn, vì thế có rất nhiều cách đối phó.

Nhưng điều chúng ta cần cảnh giác là trong lúc các bên liên quan đang giảm nhiệt cho Biển Đông thì Việt Nam lại ra sức xây dựng đảo và quân sự hóa, đây mới là điều có ý nghĩa quan trọng của vấn đề.

Nguồn:
越南突然背后捅刀中国反制手段让其功亏一篑

http://bbs.huanqiu.com

( Nguồn: VHNA)

Đăng bởi: Ngô Minh | 27.08.2016

VN ‘không xây dựng trên đất Campuchia’

VN ‘không xây dựng trên đất Campuchia’

BBC

Có ý kiến cho rằng chính trị đảng phái ở Campuchia trước các kỳ bầu cử thường sử dụng lá bài ‘quốc gia chủ nghĩa’, trong đó có vấn đề biên giới, lãnh thổ với láng giềng.

Việc Việt Nam và Campuchia gặp nhau và đối thoại về các vấn đề biên giới, lãnh thổ là điều hết sức ‘cần thiết’, theo lời một cựu quan chức, Trưởng Ban biên giới Chính phủ Việt Nam.

Ý kiến này được Tiến sỹ Trần Công Trục đưa ra hôm 26/8/2016 khi bình luận với BBC Tiếng Việt về việc Bộ Ngoại giao Campuchia kêu gọi Việt Nam ‘chấm dứt xâm phạm biên giới’ và gửi thư cho Hà Nội cáo buộc Việt Nam ‘vi phạm’ lãnh thổ Campuchia ở một số khu vực thuộc miền Đông, như các tỉnh Kandal và Takeo.

Ngày 29/8, hai quốc gia láng giềng ở Đông Nam Á theo kế hoạch sẽ có phiên họp về vấn đề này.

Từ Hà Nội, Tiến sỹ Trần Công Trục phỏng đoán về diễn biến và kết quả của cuộc họp:

“Để cầu thị, tôi nghĩ rằng hai bên cần phải gặp nhau. Tôi cho rằng giữa Việt Nam và Campuchia đã có một cơ chế đàm phán, trong quá trình nếu có những vấn đề tranh chấp thì việc hai bên gặp nhau là một chuyện hết sức cần thiết.”

“Chắc chắn trong lần gặp nhau đó, người ta sẽ nêu ra những nơi mà phía Campuchia nói rằng Việt Nam đã xây dựng và vi phạm Hiệp ước về quản lý biên giới, còn Việt Nam sẽ bảo vệ và chứng minh những điều mình làm [là đúng]”

“Nếu như quá trình đó mà thấy ai mà làm sai thì bên đó phải thay đổi, sửa đổi, thực hiện cho đúng hiệp ước đã ký kết, tức là Hiệp ước quản lý biên giới trong vùng hiện nay, trước khi có đường biên giới mới…”

“Trong thực tế giải quyết những vấn đề biên giới giữa những nước láng giềng, Việt Nam cũng làm điều tương tự, giống như giữa Việt Nam và Trung Quốc, hay đường biên giới trên bộ giữa Việt Nam – Lào cũng thế.”

“Rõ ràng trong quá trình thực hiện việc phân giới, cắm mốc và quản lý biên giới đó, không tránh đi những hiểu lầm, thậm chí không tránh đi những tranh chấp do lợi ích của các địa phương, các đơn vị cụ thể đó, cho nên vai trò của nhà nước và chính phủ của hai bên cử ra những đoàn đàm phán chính phủ để giải quyết, tôi cho đó là điều hết sức cần thiết.”

‘Không trên đất Campuchia’

Về quan điểm của Campuchia mới đây cho rằng Việt Nam đã ‘xâm phạm biên giới’ và yêu cầu phải ‘chấm dứt’ hành động này, trong đó có liên quan tới ‘việc đào 9 hồ chứa nước, xây dựng các tòa nhà và đường xá ở phía đông nước này (Campuchia), cũng như xây một tiền đồn ở tỉnh Kandal và một cửa khẩu trên đất Campuchia trong tỉnh Takeo”, Tiến sỹ Trần Công Trục bình luận:

“Tôi khẳng định rằng tất cả những công trình Việt Nam đang làm, những nhà cửa đang xây, những công trình thủy lợi đang làm rõ ràng là hoàn toàn nằm trên đất Việt Nam, chứ không phải nằm trên phía đất của Campuchia.”

Tuy nhiên cựu lãnh đạo Ban biên giới lãnh thổ Việt Nam cũng nói thêm:

“Tôi cũng xin nói rằng là thật sự một cách cầu thị và khách quan, hiện nay công tác phân giới, cắm mốc trên thực tế chưa hoàn thiện một cách toàn tuyến, chưa thông tuyến.”

“Nghĩa là đường biên giới mà hai bên đã có và chỉ ra trên thực địa cũng như đã phân giới, cắm mốc, thì chưa thông tuyến. Tức là đường biên giới đó và mốc giới đã cắm [được quản lý] theo tình hình thực tế và theo Hiệp ước quản lý biên giới trước khi hai bên thực hiện việc giải quyết phân định biên giới. Nghĩa là trước đây bên nào quản lý đến đâu, thì bây giờ bên đó cứ tiếp tục quản lý đến đấy cho đến khi hoàn thành công tác phân giới cắm mốc.”

“Trên thực tế đã có những nghị định thư xác định kết quả của phân giới cắm mốc thì hai bên mới bắt đầu tiến hành quản lý trên cơ sở của đường biên giới mới và mốc biên giới mới.”

“Cho nên đây cũng là một yếu tố để nảy sinh những quan điểm khác nhau, những nhận thức khác nhau về khu vực mà họ quản lý trước đây,” Tiến sỹ Trần Công Trục nói với BBC.

Trước đó, hôm 23/8, Thủ tướng Campuchia, ông Hun Sen đã công bố kế hoạch xây một con đường dọc biên giới Campuchia – Việt Nam và yêu cầu giới chức các tỉnh biên giới nỗ lực đưa người dân đến sống tại các khu vực gần phía biên giới Việt Nam, theo tờ báo Khmer Times.

Tổng tuyển cử ở Campuchia sẽ diễn ra tháng Bảy 2018 và Thủ tướng Hun Sen dự định tranh cử nhiệm kỳ thứ năm.

Tờ này cũng trích lời ông Hun Sen nói: “Tôi đã chỉ đạo chủ tịch tỉnh Take [tên Lay Vannak] và những lãnh đạo các tỉnh biên giới khác là cách tốt nhất để bảo vệ biên giới là đưa người Campuchia đến sống gần các biên giới phía đông, tây và bắc đất nước”.

‘Lần này rất cứng rắn’

Hai thủ tướng Campuchia và Việt Nam trong một sự kiện về biên giới lãnh thổ giữa hai nước vào năm 2015.

Trả lời BBC Tiếng Việt trong một phỏng vấn gần đây, Chủ tịch Viện nghiên cứu Chiến lược Campuchia (CISS) Vannarith Chheang nhận định: “Có vẻ vấn đề an ninh biên giới lại nổi lên sau khi căng thẳng ở biên giới với Việt Nam ba tuần trước.

“Ba tuần trước, Bộ Ngoại giao Campuchia gửi một công hàm ngoại giao để phản đối Việt Nam trong trường hợp xây dựng mương trong khu vực biên giới mà cả hai nước chưa phân định,” ông nói.

Nhưng ông cũng nhận định việc Campuchia muốn xây đường xá và đưa dân cư tới các tỉnh biên giới giáp Việt Nam không phải “chiến lược mới”.

Ông nói: “Tăng dân cư sống ở khu vực này có nghĩa là cần đưa làng mạc và người dân Campuchia đến đó, vì khu vực gần biên giới Việt Nam có rất ít dân cư sinh sống vì thế nông dân Việt Nam tới thuê đất và thu hoạch trong khu vực. Ông Hun Sen cũng đưa ra chính sách không cho phép công ty Việt Nam hay cộng đồng người Việt thuê đất nông nghiệp dọc theo biên giới.”

Các tỉnh Campuchia giáp Việt Nam hiện chưa có đường xá dọc biên giới là Rattanakiri, Mondulkiri, Kratie và Takeo, mà theo một quan chức từ Ủy ban Biên giới Campuchia nói vì thiếu đường xá mà “bất ổn”.

Nhà nghiên cứu Vannarith cũng nhận định vốn đầu tư xây các hệ thống đường xá và thị trấn dọc biên giới này sẽ đến từ Trung Quốc với vai trò “có lẽ sẽ là nhà đầu tư chính”, trong khi ông cũng cho rằng có việc chính trị đảng phái ở Campuchia trước các kỳ bầu cử sử dụng ‘lá bài’ dân tộc chủ nghĩa.

Ông nhận định: “Quan hệ giữa người Việt Nam và người Campuchia luôn luôn căng thẳng. Quan niệm của đa số người Campuchia về người Việt Nam khá tiêu cực, vì thế sự kiện này cũng bị khơi lên một phần vì chính trị nội bộ của Campuchia về vấn đề chủ nghĩa dân tộc. Tôi nghĩ chủ nghĩa dân tộc là lá bàn quan trọng để có thể thắng cuộc bầu cử.”

“Trong quá khứ, vị trí của đảng lãnh đạo Campuchia rất mạnh, nhưng giờ tôi nghĩ đảng cầm quyền cũng phải dùng đến lá bài chủ nghĩa dân tộc. Bởi vì kỳ bầu cử sắp đến vào năm tới, và cuộc tổng tuyển cử 2018 sắp tới. Vì thế nó cũng thể hiện chiến lược chính trị, bằng cách tăng cường chính sách dân tộc. Ông Hun Sen cần phải chứng minh ông là người bảo vệ lãnh thổ và chủ quyền vì thế bất cứ điều gì mà ông nghĩ xâm phạm chủ quyền Campuchia, ông sẽ phản đối. Lần này ông rất cứng rắn.

“Trước đây ông thỏa hiệp và xuống giọng khi nói đến vấn đề biên giới với Việt Nam. Nhưng bây giờ tôi nghĩ ông sẽ rất, rất cứng rắn,” nhà nghiên cứu chiến lược từ Campuchia nói với BBC.

Đăng bởi: Ngô Minh | 27.08.2016

Lâm Chi Khanh từ chàng trai thành thiếu nữ

Một sự lột xác tuyệt vời !

 

Lâm Chi Khanh từ chàng trai thành thiếu nữ

Sinh ra trong hình hài một người đàn ông nhưng Lâm Chí Khanh lại mang tâm hồn của một người phụ nữ. Sau 3 năm kiên trì phẫu thuật chuyển giới, anh đã được sống đúng với giới tính thật của mình.

 Anh Lam Chi Khanh tu chang trai thanh thieu nu hinh anh 1
Khoảng đầu những năm 2000, Lâm Chí Khanh là một trong những ca sĩ trẻ tạo được sự chú ý của công chúng yêu nhạc.
 Anh Lam Chi Khanh tu chang trai thanh thieu nu hinh anh 2
Anh nổi tiếng với mức độ chịu chơi khi liên tục đổi 12 chiếc xe hơi hạng sang trong một thời gian ngắn. Bên cạnh đó, Lâm Chí Khanh cũng tổ chức hai liveshow riêng với tên gọi Những Bước nhảy đầu tiên và Trái tim không bình thường.
Tối 20/7, một nhiếp ảnh gia tên Hiếu Trần bất ngờ chia sẻ bức ảnh nude trần trụi của ca sĩ chuyển giới Lâm Chi Khanh trên trang cá nhân. Chỉ ngay khi đăng tải, hình ảnh mới nhất của nữ ca sĩ đã nhanh chóng nhận được sự quan tâm chú ý của cư dân mạng.
Nhiếp ảnh gia Hiếu Trần gây sốt cộng đồng mạng khi đăng tải tấm ảnh nude trần trụi của ca sĩ chuyển giới Lâm Chi Khanh. 
Kèm với hình ảnh vừa đăng tải, nhiếp ảnh gia Hiếu Trần còn gây sốc khi chia sẻ về nét đẹp hoàn hảo của nữ ca sĩ: “Chỉnh sửa lại sự sai lệch của tạo hoá cô gái này đúng là có nét đẹp hoàn hảo”.
Liên lạc với Lâm Chi Khanh, ca sĩ chuyển giới thừa nhận đây là những hình ảnh của mình được chụp cách đây nửa năm để kỷ niệm tuổi thanh xuân: “Đây là 1 trong số những khoảnh khắc do nhiếp ảnh gia Hiếu Trần chụp với ý tưởng giống như 1 bức tượng được vẽ lên.
Thực tế, hình ảnh này là nude nghệ thuật và tôi chỉ muốn giữ làm kỉ niệm cho riêng mình chứ không chia sẻ với công chúng.
Tuy nhiên, nhiếp ảnh gia Hiếu Trần nói trong số những người mẫu anh từng chụp nude, bức hình của tôi là nghệ thuật và đẹp nhất nên mới chia sẻ với bạn bè trên trang cá nhân…”
Trước hình ảnh phản cảm của nữ ca sĩ, bên cạnh những lời khen thì không ít ý kiến cho rằng đây chỉ là một cách tạo scandal để gây sự chú ý đối với công chúng của nữ ca sĩ.
Được biết, Lâm Chi Khanh từng nhiều lần khiến công chúng nhức mắt với loạt ảnh nude quá gợi cảm và nóng bỏng.
Lâm Chi Khanh từng khiến khán giả “bỏng mắt” khi khoe loạt ảnh bán nude đầy khiêu khích.
Hình ảnh gây “choáng váng” của nữ ca sĩ.
Nữ ca sĩ cũng thường xuyên diện trang phục mát mẻ, tạo dáng sexy mỗi lần xuất hiện trước ống kính.
Lâm Chi Khanh vừa tung bộ ảnh chụp với nội y rất gợi cảm.Lâm Chi Khanh vẫn mơ về một mái ấm hạnh phúc cho riêng mình.
Mới đây, Lâm Chi Khanh đã gây xôn xao dư luận khi tung ra một loạt ảnh diện váy cô dâu lộng lẫy. Hành động này thực sự gây tò mò cho các fan hâm mộ bởi vào cuối tháng 4 vừa rồi, nữ ca sĩ chuyển giới đã chia tay bạn trai 3 năm tên Nguyễn Cường, dù trước đó, cả 2 đã bàn tính đến chuyện kết hôn.
Liên hệ với Lâm Chi Khanh, cô cho biết hiện tại vẫn cảm thấy rất buồn sau khi chia tay bạn trai. Cô vẫn mơ ước về một đám cưới, và trong ngày vui ấy, người đẹp được khoác lên mình chiếc váy cô dâu trắng muốt. Bởi với Lâm Chi Khanh, đó mới chính là hạnh phúc trọn vẹn của người con gái.
Cùng xem loạt ảnh cô dâu của Lâm Chi Khanh:
Lâm Chi Khanh đẹp lộng lẫy với váy cưới
Lâm Chi Khanh đẹp lộng lẫy với váy cưới
Lâm Chi Khanh đẹp lộng lẫy với váy cưới
Lâm Chi Khanh đẹp lộng lẫy với váy cưới
Lâm Chi Khanh đẹp lộng lẫy với váy cưới
Lâm Chi Khanh đẹp lộng lẫy với váy cưới
Lâm Chi Khanh đẹp lộng lẫy với váy cưới
Hình ảnh nội tuyến 1
Thân hình siêu chuẩn của người đẹp chuyển giới khiến nhiều người ước ao. 

( Nguồn: Google)

Đăng bởi: Ngô Minh | 26.08.2016

NGÔ MINH- ĐỨA CON CỦA CÁT

 IMG_8193

ĐỌC BỘ SÁCH “NGÔ MINH TÁC PHẨM”, TẬP4:

       NGÔ MINH- ĐỨA CON CỦA CÁT 

 

        Văn Cầm Hải

 

Mỗi con người đều cho ta một cuộc đời và mỗi cuộc đời lại cho ta một miền quê với những sắc màu văn hoá. Tất cả những gì hiện hữu trên cỏi đời này đều có ngọn nguồn khai sinh, với Ngô Minh – Anh tự cho mình là Đứa con của cát.

Như đời một viên sa khoáng được tạo hoá hình thành qua bao bước đường tôi luyện bao chất màu đất đá và thời gian, hơn mấy chục năm qua, bằng những suy tư và kinh nghiệm sống – Đứa con của làng biển Thượng Luật đã mang đến cho thi ca một nhịp điệu mới, một chân dung mới nhưng không xa lạ với cuộc đời bởi những gì anh sáng tạo đều gắn bó máu thịt với nơi mình sinh ra và lớn lên, nơi quê Quảng Bình – miền Trung của đất Việt vốn giàu sóng biển và mưa nắng bộn bề. (Đọc tiếp…)

Sách mới: Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam Kỳ

new doc20160823095444733 (1) (1)-page-001Công ty CP Sách Tao Đàn trân trọng giới thiệu tới Quý Nhà Sách tựa sách mới “Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam Kỳ” – tác giả Đào Trinh Nhất, phát hành tháng 08/2016. Thông tin chi tiết về tựa sách, anh/chị vui lòng xem file đính kèm.

Đôi nét về tác phẩm

    Lịch sử sự đọc vẫn chưa quên, ở vào thời điểm “Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam kỳ” xuất hiện, đã từng gây nên một “best-seller lộn kèo”, sách vừa ra đến tiệm thì các nhómKhách trú đã thuê sẵn người, mua vét cho kỳ hết mà đem đốt. Một phản ứng dội ngược, quyết liệt mang tính tự vệ tiêu cực của kẻ bị đánh trúng điểm yếu huyệt, thay vì phản biện lại bằng một công trình khoa học mang tính đối thoại, thì những người Hoa, một cách quen thuộc, lại sử dụng “chiêu trò” sức mạnh đồng tiền và khủng bố để bôi xóa sự thật.

    “Dân Tầu ở châu Á không khác gì dân Do Thái ở châu Âu, hễ gầm giời này, chỗ nào có thể kiếm ăn được, là thấy có gót chân họ, một người Hoa kiều ở Nam Dương quần đảo nói rằng: “Người đời chỉ nói phàm chỗ có ánh sáng mặt trời chiếu đến, không chỗ nào không có ngọn cờ nước Anh, ta cho rằng phàm chỗ có nước bể chảy đến, không chỗ nào không có người Hoa kiều”. Thật ra thì cái gót chân người Tầu, chẳng những thấy những chỗ có nước bể chảy đến mà thôi, tức chí hoang cắc như Tây Bá Lợi Á, xa xôi như mấy nước Nga, nước Áo ở giữa châu Âu cũng tìm thầy họ, có người nói: Hoa kiều rải rác ra các địa vực, rộng bằng người Anh, sức giàu có bằng người Do Thái, chịu khó như người Ấn Độ, nhanh nhẹn như người Nhật Bản, đến như cái số kiều dân của họ ở đâu cũng đông, thì không kiều dân nước nào bì kịp được.”

Đôi nét về tác giả

Đào Trinh Nhất (1900-1951), tự Quán Chi, là nhà văn, nhà báo hàng đầu Việt Nam giữa thế kỷ 20. Khi viết văn, viết báo, ông ký nhiều bút hiệu: Nam Chúc, Viên Nạp, Hậu Đình, Tinh Vệ, Bất Nghị, Vô Nhị, Hồng Phong, Anh Đào, XYZ,… Ông được người trong giới cầm bút đánh giá là người có cách làm việc nghiêm túc, thận trọng và là người đã biết dùng ngòi bút nghệ thuật làm sống lại nhiều tư liệu đã mai một trong lịch sử cận đại Việt Nam.

Tác giả Đào Trinh Nhất
Nhà xuất bản Hội Nhà Văn
Khổ sách 13 x 20,5 cm
Số trang 228
Giá bìa 68.000
Ngày xuất bản Tháng 08/2016
ISBN 978-604-53-6602-8
Thể loại Khảo cứu

Nếu quan tâm tới tựa sách, anh/chị vui lòng liên hệ theo email info@sachtaodan.vn hoặc SĐT 04 2214 9698, Tao Đàn sẽ liên lạc lại và cung cấp thêm thông tin.

Xin chân thành cảm ơn!

Trân trọng,

CÔNG TY CP SÁCH TAO ĐÀN

12C Hàng Than, Ba Đình, Hà Nội

04 2214 9698 | www.sachtaodan.vn | info@sachtaodan.vn

đôi lời phi lộ…

Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam kỳ là quyển sách đầu tay, cũng là quyển sách cao tay của Đào Trinh Nhất.

Như là một cặp ứng đối khá cân xứng, quyển sách triển khai trên nền hai vấn đề lớn, đối chọi nhau: 1/ trình bày về thế lực khách trú với cái nguy hại của nó gây ra cho xã hội Việt Nam, và 2/ viết về sự khẩn thiết cần phải di dân vào Nam kỳ, như một giải pháp vừa tình thế hiệu quả, vừa gốc rễ sâu bền trước quốc nạn “khách trú”. Quyển sách như thế, lần đầu tiên, hai vấn đề quan trọng của xã hội Việt Nam cận hiện đại gồm mối quan hệ Việt – Hoa và di dân cùng được đặt ra một cách có hệ thống, ngay từ những năm 1924.

Bàn về sự nghiệp phong phú trong số phận ngắn ngủi của Đào Trinh Nhất, người ta thấy, mảng sách về chủ đề quốc kế dân sinh, chấn hưng dân tộc nhằm gây cái sức lực tự cường cho quốc gia là một chủ đề lớn, mà quyển Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam kỳ luôn được yết lên đầu bảng. Tuy thế, với quyển sách này, người đời trước lẫn người đời nay, ít nhiều đều cấn cái ở cái “tâm lý bài Hoa” trong tác phẩm. Chính ở đấy, quyển sách đã gây nên một sự hấp dẫn bất ngờ, không thể không đọc, cho bất cứ ai quan tâm đến vận mệnh dân tộc. Lịch sử sự đọc vẫn chưa quên, ở vào thời điểm mà nó xuất hiện, đã từng gây nên một “best-seller lộn kèo”, sách vừa ra đến tiệm thì các nhóm khách trú đã thuê sẵn người, mua vét cho kỳ hết mà đem đốt. Một phản ứng dội ngược, quyết liệt mang tính tự vệ tiêu cực của kẻ bị đánh trúng điểm yếu huyệt, thay vì phản biện lại bằng một công trình khoa học mang tính đối thoại, thì những người Hoa, một cách quen thuộc, lại sử dụng “chiêu trò” sức mạnh đồng tiền và khủng bố để bôi xóa sự thật![1]

Sự hấp dẫn ấy lại lên cao khi Đào Trinh Nhất, mà như Vũ Bằng nhận xét, người ta tìm đọc “vì tài liệu súc tích, mà một phần cũng vì ông đã khéo làm những cái tít khiến cho độc giả giựt gân, muốn đọc xem trong bài ông nói gì” (Bốn mươi năm nói láo, Phạm Quang Khai xb, 1969, Sài Sòn, tr.142). Chính vì muốn gây chú ý, tạo điểm nhấn mà “thế lực khách trú” được lựa chọn thay vì một cụm từ khác chính xác hơn là “thế lực Hoa kiều”. Như chúng ta biết, người Hoa ở Việt Nam, về cơ bản có 5 nhóm xếp theo ngôn ngữ, kể theo số lượng từ nhiều đến ít gồm: nhóm Quảng Đông; nhóm Triều Châu; nhóm Phúc Kiến; nhóm Hakka [Hà Cá/ Hẹ] hay còn gọi khách gia, khách trú; và nhóm Hải Nam. Luôn có một sự mờ nghĩa nhất định khi gọi là khách trú. Nguyên lai, “khách trú” có thể là từ do người Quảng Đông dùng để gọi các di dân đến bắc Quảng Đông và nam Phúc Kiến, nhưng sang Việt Nam, nó lại mang hàm nghĩa chỉ “những người khách ở tạm thời”. Đầu tiên , nó dành để gọi nhóm Hakka, sau đó, là để chỉ chung cho Hoa kiều ở Việt Nam. Đào Trinh Nhất không lí giải gì về cách gọi khách trú, mà mặc định sử dụng như một “quán tính tâm lý” được ông và người đương thời – hiểu như chủ nhân của mảnh đất này – cùng chỉ mặt, gọi tên người Hoa như những kẻ chỉ đến và ở lại tạm. Họ không phải là chủ. Họ là khách. Đã là khách thì có đến, phải có đi.

Đấy chính là chỗ mà cái đọc ngày nay, sau gần ngót nghét một thế kỷ khi ấn bản đầu tiên quyển sách này ra đời ở nhà Thụy Ký, mà giờ đây, nhà Tao Đàn cho in trở lại dưới hình thức phục nguyên một ấn bản độc lập, độc giả hiện đại cần lựa chọn một “chiến lược đọc” khác. Đặc biệt, phải thường xuyên phản tỉnh với quán tính chủ nghĩa dân tộc thường dễ bốc lên cao trong bối cảnh hiện tại. Để từ sách, chúng ta có thể thâu nhận lấy nhiều lớp nghĩa bổ ích. Đầu tiên, bạn đọc sẽ nhận thấy đôi chỗ trong tác phẩm này, Đào Trinh Nhất sử dụng ngôn ngữ có phần “mạnh quá” khi chỉ về các mặt tiêu cực nói chung của “khách trú”. Để hiểu đúng, cần phải đặt các phát ngôn của ông trong cá tính người cầm bút, và cái thời điểm đầu thế kỷ XX, khi mà “hệ thống tranh luận” thường sử dụng các ngôn từ gay gắt với lối viết gần gũi ngôn ngữ bình dân, văn nói và có phần “giựt gân”, kêu gọi, cốt sao cho điều mà sách viết ra đến với gần nhất, và đông nhất quảng đại quần chúng mà học thức hãy còn khá thấp trong một xã hội thuộc địa đa phần nông dân mù chữ. Không để những tình cảm bột phát cuốn đi dễ dàng, chúng ta sẽ có thể thưởng thức ở Đào Trinh Nhất một thứ văn phong rất hấp dẫn, gần gũi mà lôi cuốn theo lối hội thoại: anh em Nam gọi, anh em Bắc, Trung hô đáp: có tôi đây!

Tiếp nữa, toàn thể cuốn sách này là sự lo toan cho vận mệnh quốc gia, và tìm một đường thoát cho Việt Nam thuộc địa thông qua chủ nghĩa dân tộc kinh tế mà Đào Trinh Nhất và lớp thương gia yêu nước thời đó cố gắng xây dựng, và được thể hiện rõ qua tác phẩm. Vì thế, một thái độ gay gắt với những thế lực làm suy kiệt nền kinh tế, sinh kế của con dân An Nam mà Hoa kiều là một “thủ phạm chính”, nghiễm nhiên trở thành đối tượng cần phải đưa lên đài công kích. Chủ nghĩa dân tộc trong một quốc gia bị thực địa đến hèn yếu nhằm tạo sức đề kháng tập thể sẽ có lí do để tồn tại. Điều đó khác biệt hẳn với thời hiện đại, thời mà chúng ta đang sống, chủ nghĩa dân tộc sẽ dễ dàng bị lợi dụng vào những tình cảm quá khích làm cản trở hội nhập toàn cầu. Đọc Đào Trinh Nhất, do đó, cần phải đặt lại tác phẩm vào đúng thời điểm mà nó sinh thành, có như thế, mới không rơi vào ngộ giải một tác phẩm nhiều giá trị như Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam kỳ.

Sau đến, cần phải hiểu căn rễ văn hóa rộng lớn của lý do Đào Trinh Nhất viết về “thế lực của các chú”, không đơn giản chỉ hiểu ở đấy là một tâm lý “bài Hoa” được thể hiện ở một trí thức lớn, thông qua một quyển sách lớn. Bởi vì, như những gì mà Đào Trinh Nhất thể hiện, để có thể giành lại nền thương mại, miếng cơm manh áo cho người dân Việt Nam, thì không chỉ cần đánh đổ nền thương mại do mấy chú Chệt [Hoa kiều] nắm giữ, mà về lâu dài còn hạ cả Nhật – những đối thủ thương mại nguy hiểm, lẫn quét sạch các chú Chà [Ấn Độ] ra khỏi nền kinh tế Việt Nam. Dẹp thế lực kinh tế Hoa kiều, vì thế, chỉ là một trong nhiều biện pháp mà người Việt Nam cần phải làm để gây lấy cho quốc gia một nền kinh tế vững mạnh. Vì không hẳn là bài Hoa, nên trong quyển sách này, chúng ta sẽ gặp những đoạn phân tích thấu đáo về các ưu điểm của người Hoa và công cuộc làm ăn của họ. Từ đó, Đào quân kêu gọi dân trong nước học hỏi người Hoa ở những ưu điểm để tự hoàn thiện dân tộc. Đồng thời, so sánh với người Hoa, ông đã chỉ ra bản chất ích kỷ, vị lợi và thiếu đoàn kết của thương gia người Việt, những phẩm chất xấu đã làm ảnh hưởng cuộc phát triển dân tộc.

Sau khi bàn khá thấu đáo về vấn nạn kinh tế bị người Hoa thâu tóm hết mối lợi, làm dân tộc Việt Nam suy kiệt. Đào Trinh Nhất đi vào phần giải pháp, muốn khắc phục, cần tiến hành di dân Bắc, Trung vào Nam kỳ. Di dân để: một là, vừa tránh họa nhân mãn mà các đồng bằng châu thổ cũng đã quá tải từ lâu, mà P.Gourou đã cho những số liệu rất sinh động; đồng thời, di dân lại gây được nguồn nhân lực trong miền Nam giàu có nhằm giành lại nền thương mại từ tay Hoa kiều. Những đoạn bàn về các biện pháp di dân trong quyển sách này, mà tôi không dẫn lại để trọn vẹn cho bạn đọc hiện đại cái thú phát hiện của sự đọc, sẽ cho thấy toàn bộ tâm sự chất chứa của một trí thức trẻ mới 24 tuổi khi viết quyển sách này. Xuất thân trong một danh gia, con trai của Đình Nguyên Hoàng giáp Đào Nguyên Phổ, gia tộc mà cả cha và con đều đã vì quốc gia dân tộc mà tận hiến. Đào Trinh Nhất đã dành nhiều tâm lực, trí nghĩ vào việc đề ra các biện pháp nhằm thực hiện công cuộc di dân thành công như giảm giá vận chuyển, miễn giấy thông hành, yêu cầu các chế độ đảm bảo người lao động từ nhà nước bảo hộ… Những lập luận, vừa gãy gọn, súc tích, vừa khẩn thiết mà ở đó, có một sự “nhún mình” trước nước “đại Pháp” nhằm kêu gọi chính phủ thuộc địa hậu thuẫn cuộc di dân thành công. Ở đây, chúng ta hiểu rằng, vì lợi ích quốc gia dân tộc, Đào Trinh Nhất đã có những ứng xử thông minh nhằm đạt được mục đích vấn đề, khi cần, có đôi lúc ông đã ca tụng “nhà nước bảo hộ”. Còn thực chất, thái độ của Đào Trinh Nhất là cứng rắn trong ứng xử với thế lực Pháp, điển hình như lần đối đầu qua đối đáp với bọn “nó” là tên trưởng tòa người Pháp, khiến người Pháp phải ban hành luật thay đổi cách thức xưng hô cho tôn trọng dân bản xứ. Điều ấy, vào thời ấy, đã làm nức lòng làng báo và dân Việt Nam.

Sau nữa, đọc Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam kỳ, chúng ta còn bắt gặp tình cảnh xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX hiện lên sinh động. Thông qua tác phẩm mà hoàn cảnh một đất nước bị chia ba kỳ đã ngăn trở sự đi lại, sinh hoạt, tâm lý của người dân từ đó được tái hiện. Do đó, việc đề xuất một chương trình di dân Bắc và Trung kỳ vào Nam cũng chính là một mũi tên nhằm hai ba đích, vừa giải quyết nạn nhân mãn, chống độc quyền kinh tế Hoa kiều, lại khiến quốc gia bị thực dân chia cắt, có thể kết nối lại và giao lưu với nhau, giảm thiểu (hay chống lại) tình trạng một khúc rột bị cắt làm ba. Điều này làm chúng ta không thể không nghĩ đến kế “mượn thuyền tá tiễn” cao tay của Đào lang thuở nào, tìm những lối đi, tạo những mối nối, gây cái tiềm lực cho quốc gia, đồng thời, “thống nhất” đất nước bằng kết nối dòng người di dân giữa ba miền [bị/buộc] chia cắt. Địa lý nhân văn xác định: sự kiện trung tâm của địa lý là con người. Nên, chỉ cần con người được thống nhất, giao lưu với nhau thì ý đồ chia ba kỳ sẽ bị giải lãnh thổ.

Quyển sách, đi xa nữa khi còn bàn đến những động hướng chiều sâu trong thực hiện di dân người Việt, mà đến giờ, vẫn còn nguyên giá trị. Đào Trinh Nhất một cách sinh động đã tái hiện lại tình cảm định cư thâm căn cố đế của người nông dân Việt Nam, như, trường hợp người nông dân nếu buộc phải ra đi còn cố mang theo bên mình cục đất quê hương. Vì thế, để có thể di dân, từ cấu trúc chiều sâu của tình cảm gia đình, làng mạc, Đào Trinh Nhất đề xuất muốn đảm bảo cho kế hoạch di dân thì cần phải di dân hộ gia đình. Văn hóa Việt Nam, với những phản ứng mang căn tính của nó, từ đó, cũng hiện lên trong các dòng suy tư của Đào Trinh Nhất mà bạn đọc hiện đại sẽ tìm thấy được trong quyển sách này.

Cuối cùng, để dần khép lại lời phi lộ, chúng ta cần nhận thấy những căn rễ về mặt dân tộc học của tâm lý “bài Hoa” mạnh mẽ, tồn tại khắp Đông Nam Á, và bây giờ là khắp thế giới. Câu trả lời, không có gì sáng rõ hơn đọc sâu chính quyển sách của Đào Trinh Nhất. Người ta thường tự hỏi, vì sao, ở khắp nơi người Hoa đến định cư, đính kèm với nó lại luôn là tâm lý thù ghét người Hoa, với những “phong trào” bài Hoa đầy hệ lụy? Ví dụ, ở Việt Nam ngay trước khi Đào lang viết quyển sách này, năm 1919 đã nổ ra một phong trào bài Hoa mạnh mẽ mà báo chí thời đó giữ một vai trò quan trọng, tập trung nhất là tờ La tribune Indigène. Trong quá khứ, duy chỉ có một lần sử liệu ghi nhận [dù con số dường như đã bị phóng đại], nhà Tây Sơn đã tàn sát hơn 10.000 người Hoa vào năm 1782. Ở Đông Nam Á, các học giả nghiên cứu người Hoa còn cho biết những con số bi đát hơn rất nhiều, ví dụ như ở Philippines, năm 1603 gần 25.000 người Hoa sống ở Pampanga bị xua đuổi và phần lớn bị sát hại; năm 1639, chợ tơ lụa Parian bị người Tây Ban Nha đốt cháy và có khoảng hơn 22.000 người Hoa bị tiêu diệt, lịch sử Philippines còn ghi thêm nhiều trang đẫm máu với người Hoa. Ở Indonesia, năm 1740, chính quyền thực dân Hà Lan đã tàn sát gần 10.000 người Hoa trong cuộc bạo động ở Batavia. Có thể dẫn thêm vô cùng nhiều dẫn chứng cho thấy, đến trước khi Đào Trinh Nhất viết Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam kỳ, Việt Nam và nhiều quốc gia Đông Nam Á đã có những “kinh nghiệm” lịch sử đầy đau thương với người Hoa. Những trang đáng xấu hổ của lịch sử nhân loại này sẽ còn tiếp nối dài thêm, và trầm trọng hơn trong thời hiện đại, làm thành nỗi ám sợ với người Hoa (Sinophobia) trong thế giới hiện đại. Tâm lý bài Hoa, vì thế, là một vấn đề nổi cộm trong lịch sử thế giới, mà tốt hơn vì né tránh, chúng ta cần đối mặt với những sự thật, dù sự thật là đau lòng và không mong muốn.

Như một học giả người Hoa Tsai Maw Kuey, gốc Phúc Kiến – Chợ Lớn, trình luận án về chủ đềNgười Hoa ở Nam Việt Nam (Les Chinois au Sud-Vietnam, Bibliothèque Nationale, Paris, 1968), “từ cái nhìn bên trong”, tự nhận thức về tộc người, Tsai Maw Kuey nhận thấy ở mặt văn hóa tộc người, người Hoa luôn tự coi mình là trung tâm thế giới, là quốc gia/tộc người văn hiến mà bao quanh là các tộc người man mọi mà họ khinh bỉ. Nhận định này, không quá đặc biệt, nhưng nó quan trọng, vì nó thêm phần củng cố một tín điều đã vững chắc mà thế giới đã nhận ra về não trạng Hoa tâm của dân tộc Trung Hoa. Giờ đây, được xác tín chính bởi một nhà dân tộc học Hoa kiều Chợ Lớn. Vì luôn coi mình là đẳng cấp tối ưu, nên người Hoa đi đâu, đến những quốc gia, vùng đất khác tộc người của mình, họ vẫn không dễ bị đồng hóa, điều mà nhiều người nhận thấy và ca ngợi ở người Hoa, dù lưu vong nhưng không dễ mất bản sắc. Thiết chế bang hội, và các hội kín đưa các khối người Hoa, dù lang thang khắp nơi, vẫn có thể tụ lại thành một tổng thể rắn, không dễ phá vỡ. Vì thế, dù ở đâu, họ cũng có sự cố kết cực vững chắc, nâng đỡ và cùng nhau tiến dần lên, xây dựng “một thế giới Hoa” với tất cả những lợi thế mà chỉ một mình chủng tộc của họ được thụ hưởng. Vì thế, người Hoa mau chóng thâu tóm lấy tất cả các mối lợi về mình, đẩy các người dân bản xứ – là chủ nhân của vùng đất họ đến xin cư trú vào thế khốn khó. Để làm giàu, vơ vét mọi nguồn có lợi cho riêng chủng tộc, người Hoa, quả thật đã duy trì một nền thương mại chèn ép, với nhiều mưu sâu kế hiểm để triệt hạ không thương tiếc các đối thủ. Để hiểu các mưu chước làm ăn không lành mạnh của Hoa kiều, chúng ta lại phải đọc kỹ Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam kỳ, ở những phần đầu tiên. Không ai có thể hơn Đào Trinh Nhất đã miêu tả lại sống động và chân thực mọi mưu sâu, kế quỉ trong thương mại vị chủng tộc người. Đào Trinh Nhất với lối làm việc luôn được đảm bảo bởi sự chính xác của các dẫn chứng, bảng thống kê và những con số cụ thể đã thuyết phục được người đọc. Từ đó, quyển sách hé lộ dần cội nguồn của những bất mãn Hoa kiều trong thương mại và dần dần, dẫn đến các bất mãn văn hóa, xã hội khác của dân bản xứ. Sự bất mãn kinh tế ở cái hiện tại, cộng thêm với mối lo thường trực về “đội quân phương xa” của thiên triều, các quốc gia Đông Nam Á, nơi mà thân phận địa chính trị đã luôn phải gánh chịu thường trực sự xâm lược Trung Hoa nên rất dễ bị kích động thành tâm lý bài Hoa.

Đọc Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam kỳ trong thời hiện đại, để hiểu hơn về xã hội Việt Nam trong quá khứ, đồng thời, còn là nhằm kiến thiết một hiện tại. Chúng ta không mong chờ gì ở thái độ bài Hoa có thể đem đến những điều tốt đẹp, nhưng chúng ta cũng hiểu rằng, chừng nào não trạng Hoa tâm còn tồn tại – cái tồn tại bất bình đẳng bản chất – thì, thế giới khó có thể giải tâm lý bài Hoa. Để có thể tiến tới một thế giới nhân bản hơn, các dân tộc có thể quan hệ với nhau bình đẳng hơn, cần một sự nỗ lực từ cả hai phía: một là, từ phía các tộc người phi Hoa, cần đề phòng và giải trừ tâm lý bài Hoa; hai là, từ phía tộc người Hoa, chính họ cũng phải từ bỏ di sản cựu truyền của một chứng bệnh tập thể thuộc phức cảm tự tôn phì đại về niềm tin một chủng tộc thượng đẳng với lòng vị kỷ chủng tộc đã lỗi thời trong thời toàn cầu hóa. Chừng nào người Hoa không từ bỏ thói tật hoa tâm tộc người, thì chừng ấy, nguy cơ về sự trỗi dậy của nạn bài Hoa vẫn là một hiện thực nhãn tiền, dù muốn hay không.

Đọc Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam kỳ trong những ngày rất nóng, của một mùa hè không dễ ra biển, quá khứ trôi qua không phải để xếp vào bảo tàng những kí ức. Quá khứ, luôn sống động, vì cần thiết cho hiện tại, để hiện tại rút ra những bài học. Học thuật của Đào Trinh Nhất, dẫu gần một thế kỷ trôi qua, vẫn nóng bỏng, vẫn khiến độc giả ngay nay “giựt gân”, bất chấp những hạt bụi, cả vô tình lẫn hữu ý, đã không ngừng bôi xóa./.

2016, mùa biển nóng

Nguyễn Mạnh Tiến

[1] Để so sánh, chúng ta biết Đào Trinh Nhất cũng viết một quyển sách lên án đạo Cao Đài (Cái án Cao Đài, Imprimerie commerciale Sài Gòn, 1929, in lần đầu trên báo Công Luận, 1928 bằng bút danh Trương Văn Thu). Tuy thế, tín đồ Cao Đài đã không phản ứng xấu như người Hoa mua gom đem đốt hay đe dọa, khủng bố và lập mưu vu cáo. Để ngay sau đó, bằng những công trình khác, các tác giả như Băng Thanh (Cải án Cao Đài, không đề nơi, năm in) và La Laurette – Vilmont (Le Caodaisme, Saigon, 1932) đã viết phản biện lại Đào Trinh Nhất, từ đó, đưa ra cái nhìn hợp lý hơn về trường hợp đạo Cao Đài. Như thế, có thể tạm suy ra, khác với trường hợp viết về đạo Cao Đài còn nhiều thiên kiến, bất cập, nên đã bị phản biện lại ngay sau đó; viết về người Hoa, với những “thế lực” và thủ đoạn đen tối của họ, quyển sách của Đào Trinh Nhất là không dễ phản biện, vì đơn giản, nó hợp lí. Người Hoa, để chống đối lại một lập luận, thực chất là, đã chỉ đúng bản chất của họ, chỉ có thể dùng biện pháp trấn áp và khủng bố quen thuộc. Điều này, thời hiện đại, lại lặp lại, ví dụ như phản ứng của nhà cầm quyền Bắc Kinh với quyển sách Death by China (Chết bởi Trung Quốc) của P.Navaro và G.Autry, một quyển sách kinh điển đã chỉ ra bản chất đích thực của “thế lực Trung Quốc” hiện đại. Chết bởi Trung Quốc không thể không làm ta gợi nhớ đến quyển sách tiền phong của Đào Trinh Nhất.

( Nguồn: VV)

NHÀ THƠ TRẦN ĐĂNG KHOA TRẢ LỜI PHỎNG VẤN BÁO ĐẠI ĐOÀN KẾT: SỢ NHẤT NHỮNG ANH TRẺ MÀ LẠI TẺ NHẠT

Nhà thơ Trần Đăng Khoa: Thơ ca chẳng là cái gì ghê gớm đến nỗi cả bố với con đều phải đam mê. Gia đình tôi chỉ có ông anh tôi, nhà thơ Trần Nhuận Minh và tôi kẽo kẹt văn chương đến trọn kiếp. Còn hai cô con gái tôi và ba đứa cháu tôi, con nhà thơ Trần Nhuận Minh đều chẳng có đứa nào theo nghiệp văn chương. Thậm chí chúng đều nhìn bố với bác như hai lão già hâm hâm.

Hồng Thanh Quang:

– Ngày 21/3 từ không chỉ một năm nay đã được UNESCO công nhận là Ngày Thơ thế giới. Thế nhưng, xem ra ở ta, vào ngày đó đã không có hoạt động gì đáng kể để kỷ niệm ngày này. Anh nghĩ thế nào về chuyện đó?

Trần Đăng Khoa:

– Cám ơn anh đã cho biết thông tin này. Như thế thơ ca đã thành lễ hội mang tầm vóc Quốc tế. Ở ta có Ngày thơ tổ chức vào đúng Rằm tháng Giêng. Càng ngày càng bài bản hơn, sinh động hơn. Nhiều nước đã biết đến mỹ tục này của chúng ta và họ đã đặt vấn đề với Hội Nhà văn và cử nhà thơ đến tham gia. Rằm tháng Giêng vừa rồi có hai nhà thơ Pháp và Bỉ đến dự và đọc thơ với các nhà thơ ta ở sân Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Họ đánh giá rất cao Lễ hội Thơ của chúng ta. Họ bảo ở nước nào thơ ca cũng được yêu mến, nhưng tổ chức thành Lễ hội trên phạm vi toàn quốc và làm rất hay, rất sinh động thì chỉ có Việt Nam. Tôi nghĩ chúng ta làm được điều đó vì thơ ta có rất nhiều phương thức thể hiện, người ta có thể ngâm thơ, đọc thơ, hát thơ-hát theo làn điệu chèo, chầu văn, ca trù, bài chòi. Rồi hát hiện đại, là những bài thơ được các nhạc sĩ phổ nhạc. Ấy là chưa kể còn nhiều biến tấu khác từ thơ thành các trò chơi rất sinh động. Ở các nước thơ chỉ có đọc. Nếu chỉ đọc không thôi thì tẻ lắm. Hoặc cùng lắm họ hát những bài thơ được phổ nhạc. Không thể sinh động phong phú như chúng ta được. Có lẽ vì có riêng một Ngày thơ tưng bừng như thế, nên chúng ta ít có những hoạt động hưởng ứng Ngày thơ Thế giới. Nhưng cũng có thể chúng ta chưa nắm được thông tin. Hội Nhà văn ta cũng nên hưởng ứng Lễ hội này. Ví như ta có thể có những hình thức nào đó giới thiệu những thành tựu của thi ca thế giới, hay các xu hướng phát triển của thi ca nhân loại chẳng hạn. Sẽ rất hay.

Dịch là phản. Thơ không thể dịch được. Đó là hai quan niệm phổ biến trên thế giới. Nếu những điều đó là đúng thì làm sao để nối liền được những nền thơ khác nhau, theo anh?

– Có chuyện “Dịch là phản” thật. Bởi có những bản dịch so với nguyên bản, hoá ra chúng chẳng có họ hàng gì với nhau, thậm chí chúng còn là kẻ thù không đội trời chung của nhau. Nhưng đó là những bản dịch tồi của các dịch giả tồi. Còn với những bản dịch hay, chúng lại là hai tấm gương cùng soi vào nhau và cả hai cùng sáng lấp lánh. Chúng ta có rất nhiều bản dịch như thế, đặc biệt các cụ ta dịch thơ Đường chẳng hạn. Nhiều bản dịch hay không thua nguyên bản, thậm chí có câu thơ dịch còn hay hơn. Ví như câu thơ trong bài thơ nổi tiếng thế giới Hoàng Hạc Lâu: “Nhật mộ hương quan hà xứ thị”, (Trời tối rồi mà không biết quê hương ở đâu), cụ Tản Đà dịch thành “Quê hương khuất bóng hoàng hôn” thì tài vô cùng. Câu thơ rất ảo. Tôi cho rằng, để có được bản dịch hay, người dịch phải hội tụ được đủ ba yếu tố: Phải rất giỏi ngoại ngữ. Giỏi tiếng Việt. Không phải người Việt nào cũng giỏi tiếng Việt đâu. Và yếu tố thứ ba là phải có tài thơ. Thiếu một trong ba yếu tố này thì dịch sẽ thành phản. Thơ nước ngoài đến với chúng ta rất tốt, vì chúng ta có rất nhiều dịch giả tuyệt vời. Nhưng thơ ta hầu như vẫn chưa ra được với thế giới, không phải vì thơ ta không hay, mà chúng ta chưa có được những bản dịch tốt. “Ánh sáng và phù sa” của Chế Lan Viên, dịch sang tiếng Nga thành “Ánh sáng và bùn”. Bài thơ “Nhớ” rất hay của Phạm Tiến Duật: “Cái vết thương xoàng mà đưa viện/ Hàng còn chờ đó, tiếng xe reo/ Nằm ngửa nhớ trăng, nằm nghiêng nhớ bến/ Nôn nao ngồi dậy nhớ lưng đèo…”. Bài thơ này, sang tiếng Nga, nếu dịch ngược lại, theo thật sát nghĩa: “Cái vết thương xoàng. Tôi vào bệnh viện. Tôi nhớ trung đoàn/ Nằm bằng lưng, trăng nhìn vào mặt tôi/ Nằm bằng bụng, những bờ bến xa đốt trong tim tôi ngọn lửa”. Chẳng còn thấy ông Duật đâu. Có câu lại rất ngớ ngẩn. Dịch là chuyển cái tinh thần, cái hồn vía của thơ, từ một ngôn ngữ này, sang một ngôn ngữ khác, chứ không phải dịch chữ ra chữ. Câu thơ rất ấn tượng của nhà thơ Nguyễn Duy miêu tả sự tinh khiết, trinh trắng của tuyết: “Ngoài kia gò đống phập phồng/ Bao nhiêu con gái ngủ trong tuyết dày”. Khi sang tiếng Nga: “Nơi xa kia có nhiều gò đống/ Bao nhiêu cô gái đẹp đang ngủ ở đấy”. Rất sát nghĩa nhé. Nhưng câu thơ không còn tả tuyết nữa mà thành tả nghĩa địa mất rồi. Thế đấy!

– Thời anh đi học ở trường viết văn Gorky, Moskva, anh có những mối quan hệ  thân hữu nào với các bạn đồng nghiệp tới từ các quốc gia khác không? Ai là người mà hiện nay anh vẫn duy trì được quan hệ?

– Tôi có nhiều bạn bè nước ngoài cùng học với tôi và chúng tôi vẫn “gặp” nhau trên thư điện tử, như nhà văn, nhà viết kịch Đemit Đeonhin, người Ethiopia, nhà thơ Bulgari Elena Elecova, nhà thơ Mông Cổ Batomur Patosi. Vừa rồi, tôi qua Mông Cổ, gặp lại ông bạn vàng này. Ông bạn cũng như tôi: Trưởng ban Văn nghệ Đài phát thanh Truyền hình Mông Cổ. Vui nhất là anh bạn nhà thơ Triều Tiên. Anh này tôi biết nhưng không thân, vì học trước tôi một năm. Vừa rồi tình cờ gặp lại nhau ở Thái Lan. Anh hỏi: “Các cậu đánh Mỹ thế nào rồi? Bao giờ thì giải phóng Miền Nam”. Khi tôi bảo, chúng tớ đã thống nhất đất nước gần nửa thế kỷ rồi, anh bạn vẫn nghĩ tôi nói đùa…

– Có người nói Việt Nam là cường quốc thơ ca. Anh đồng tình với ý kiến này không?

– Cường quốc thơ ca thì không phải. Nhưng quả có rất nhiều người làm thơ và có cả những người bị thơ làm. Ngày xưa ra ngõ gặp anh hùng. Bây giờ đi đâu cũng gặp nhà thơ. Nhà văn Nguyễn Khắc Trường có bài thơ chế tác rất tếu: “Nhà nhà làm thơ/ Người người làm thơ/ Khéo vè sẽ thắng/ Thơ đành chào thua”.

Tôi nói chuyện này không phải để nịnh anh mà chỉ muốn kể lại một sự thật. Tôi đã không chỉ một lần bị rơi vào tình huống này: tới một vùng nông thôn nào đó, gặp các bà các chị. Thấy tôi, họ ồ lên ngay, anh đúng là nhà thơ có phải không? Tôi cười cười chưa kịp trả lời thì có người trong số họ khẳng định ngay: Anh đúng là nhà thơ Trần Đăng Khoa rồi!… (cười). Xin nói với anh là câu chuyện như thế đã diễn ra không chỉ một lần với tôi, ở không chỉ một vùng quê… Thế mới biết cái tên Trần Đăng Khoa và câu chuyện thơ của đời anh đã in hằn vào cảm nhận của người Việt như thế nào…

– Bây giờ có rất nhiều Trần Đăng Khoa. Gần đây, anh bạn Trần Đăng Khoa rất đẹp giai là Giám đốc một công ty truyền thông, kiêm nhà dịch giả, nhà hùng biện có rất nhiều người hâm mộ, đến gặp tôi, tặng tôi mấy cuốn sách rất ăn khách mà anh đã dịch: “Tôi tài giỏi, bạn cũng tài giỏi”. Anh bảo: “Mẹ cháu ngày xưa mê thơ bác lắm, nên lấy tên bác đặt cho cháu. Thế là cháu thành Trần Đăng Khoa. Có mấy lần cháu diễn thuyết, mọi người đến đông lắm, lại tưởng cháu là bác, đến nơi hoá không phải. Cháu bảo: Không, tôi là Khoa khác, tôi trẻ hơn, đẹp giai hơn. Bác Khoa nhà thơ già lắm rồi!”. Tôi bèn ứng tác tặng anh bạn ấy một bài thơ ghi lại cuộc trò chuyện giữa Khoa già với Khoa trẻ:

Trần Đăng Khoa với Trần Đăng Khoa

  • Mẹ cháu lấy tên bác

Đặt tên cho cháu mà

  • Cháu là Chính Khoa nhé

Còn bác là…Phụ Khoa.

 

Thế bây giờ, trên cương vị sự vụ hiện nay, nhà thơ Trần Đăng Khoa còn bao nhiêu thời gian để dành cho sáng tác thơ mỗi ngày?

– Tôi vẫn kẽo kẹt mỗi ngày. Nhưng chủ yếu là viết văn xuôi. Thơ cũng vẫn viết, nhưng ít hơn. Bây giờ cả nước làm thơ thì mình lại phải viết văn xuôi cho bạn đọc đỡ tẻ

– Anh làm thơ sớm, thành công sớm và cũng phải gánh trên vai những vinh quang từ rất sớm. Nhìn từ một góc độ, đó là điều may mắn lớn. Nhưng nhìn từ góc độ khác, có thể chưa hẳn đã vậy. Anh chọn góc độ nào để nhìn vào cảnh huống riêng tư này của đời mình?

– Cuộc sống nhiều khi giản dị lắm. Nó chỉ rắc rối khi người ta cứ làm cho nó rắc rối. Vì “Trái đất quay” mà. Và đó cũng là quy luật của tự nhiên:

Cái đến thì sẽ đến

Cái qua thì phải qua

Chẳng cần chi phấn đấu

Ta cũng thành cụ già”…

Tôi cũng đồng cảm với ý tưởng của thi sĩ Nguyễn Duy: “Cứ chìm nổi với đám đông/ Riêng ta xác định ta không là gì”. Khi mình đã xác định mình “không là gì”, thì chẳng nên quan tâm đến những chuyện xa lăng lắc lại ở ngoài mình, là niềm vinh quang hay sự bất hạnh. Vinh quang hay bất hạnh thì cũng chỉ là một sự quan niệm mang tính chủ quan. Cuộc đời nhiều khi giản dị lắm.

Anh có nhớ lần đầu tiên được ra Hà Nội và lần đầu tiên được đưa vào gặp nhà thơ Tố Hữu không? Nếu bây giờ để lại kể lại những gì anh đã kể về nhà thơ Tố Hữu trong tập “Chân dung và Đối thoại”, anh thấy có cần phải làm rõ thêm chi tiết gì không?

– Ấn tượng trong lần gặp đầu tiên với Tố Hữu, tôi đã viết trong bài thơ “Kính tặng chú Tố Hữu” rồi. Còn chuyện “Tố Hữu với bài thơ Hoan hô chiến sĩ  Điện Biên” ở “Chân dung và Đối thoại” thì tôi cũng đã kể trong cuốn sách rồi. Không có gì phải nói thêm nữa. Tôi cũng hơi ngạc nhiên và thấy rất buồn cười khi có người lại bảo tôi phủ nhận hoặc hạ thấp thơ Tố Hữu. Tố Hữu cũng như mọi nhà thơ khác thôi. Nghĩa là ông có nhiều bài hay và cũng có cả bài dở, câu hay và câu dở. Nhưng trong bài viết này, tôi không bàn chuyện hay dở ở thơ Tố Hữu, nên không có chuyện đề cao hay phủ nhận. Tôi chỉ bàn về một bài thơ viết về Điện Biên của Tố Hữu thôi. Lúc đó, chúng ta đang kỷ niệm 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ. Nhà văn Nguyễn Trí Huân, TBT tạp chí VNQĐ có giao tôi đến phỏng vấn Tố Hữu về bài thơ này. Nếu như mọi nhà báo khác, tôi chỉ cần hỏi chuyện Tố Hữu. Ông nói sao thì ghi lại. Thế là xong. Nhưng tôi không làm một cách tẻ nhạt như thế. Nhân một bài thơ cụ thể của Tố Hữu, tôi bàn về thơ ông, về nghệ thuật tạo dựng tác phẩm của ông. Tôi rất thú vị biết Tố Hữu viết bài thơ này khi ông chưa hề đến Điện Biên. Vậy mà tại sao ông lại viết về Điện Biên hay như thế. Tôi cũng nói rằng, có rất nhiều người đến Điện Biên, thậm chí chiến đấu ở Điện Biên và viết về Điện Biên, nhưng vẫn không vượt qua được bài thơ của ông? Vấn đề là tài năng chứ không phải thực tế. Nhiều khi chính thực tế lại khuôn bó chúng ta, cầm tù chúng ta trong một hiện thực cụ thể, khiến chúng ta không thể bay lên được bằng đôi cánh tưởng tượng. Phùng Quán khi viết Vượt Côn Đảo cũng có biết Côn Đảo ở đâu đâu. Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ có ca khúc rất hay “Tiếng hát giữa rừng Pắc Bó” nhưng ông vẫn chưa hề đến Pắc Bó. Phạm Tiến Duật có chùm thơ đặc sắc giành Giải Nhất báo Văn Nghệ, và đến nay cũng vẫn là cái Giải thưởng chuẩn xác nhất, sang trọng nhất: “Lửa đèn”, “Nhớ”, “Gửi em cô thanh niên xung phong”. Cả ba bài thơ này, ông lại viết ở… Hà Nội. Viết trong lán phòng không của Đỗ Chu ven vùng Hồ Tây. Sau đó ông chép chùm thơ này vào sổ tay Xuân Quỳnh, tặng chị vì thấy chị thích mấy bài thơ ấy. Sau đó ông trở lại chiến trường. Khi có cuộc thi thơ ở báo Văn Nghệ, Xuân Quỳnh đem chùm thơ này tham dự và giành Giải Nhất. Mãi sau này qua Đài Tiếng nói Việt Nam tường thuật buổi trao giải, ông mới biết mình dự thi và giành được giải cao. Chuyện bếp núc sáng tác, nhiều khi thú vị thế đấy.

Ngay cả đối với một người đã trưởng thành, việc được xung quanh đặt vào mình niềm kỳ vọng lớn cũng tạo ra sức ép tâm lý rất không dễ chịu. Với một cậu bé như “thần đồng thơ Trần Đăng Khoa” của những năm 60-70 của thế kỷ trước thì có lẽ mọi chuyện càng trở nên khó khăn hơn. Bây giờ nhớ lại, anh nghĩ thế nào?

– Tôi thấy tất cả đều rất bình thường. Tôi sống rất hồn nhiên và không hề ảo tưởng về mình. Tôi cũng đã làm được nhiều việc, viết được nhiều cuốn sách mà thuở bé tôi cũng không dám nghĩ đến. Giả sử nếu cậu Khoa không viết gì thêm, mà dừng lại như bạn bè của cậu, như Hoàng Hiếu Nhân, Chu Hồng Quý, Cẩm Thơ, Nguyễn Hồng Kiên…thì cậu ấy cũng đã xong tốt đẹp nhiệm vụ của cậu ấy rồi. Nhưng cậu ấy không dừng lại ở đấy mà vẫn tiếp tục đi, tiếp tục mở ra nhiều nhánh khác và lại còn tưng bừng, ầm ĩ hơn thời cậu ấy còn là trẻ con. Thế thì còn mong gì hơn nữa.

– Tôi không phải là người tò mò nhưng với tư cách là người yêu thơ anh và yêu quý anh, tôi rất muốn cùng độc giả của mình biết thêm về cuộc sống của anh hiện nay. Anh có cảm giác anh là một người may mắn và hạnh phúc trong đời sống gia đình không?

– Trong đời sống riêng tư, tôi là người hạnh phúc. Hạnh phúc vì tôi không có tham vọng gì cả. Tiền bạc, chức vụ và cả danh tiếng, với tôi đều vô nghĩa. Trong bài thơ tặng ông anh trai mình, là nhà thơ Trần Nhuận Minh, tôi có nói:

Giờ thì em đã chán

Những vinh quang hão huyền

Chỉ muốn làm mây trắng

Bay cho chiều bình yên…

Tôi lấy vợ rất muộn nhưng được cái bà lão nhà tôi sống cũng rất đơn giản. Lại rất chỉn chu công việc gia đình. Vợ chồng tôi chênh nhau rất nhiều về tuổi tác, lại rất khác nhau về tính cách sở thích, nhưng chúng tôi chưa từng nói nặng với nhau một lời, chứ đừng nói đến chuyện cãi nhau. Sợ nhất vớ phải bà vợ ham tiền, ham danh vọng, lại cứ muốn chồng làm to thì thật kinh khiếp. Ngay vớ phải bà mê văn chương, mê thơ, cứ suốt ngày đọc thơ như ve thì cũng hãi lắm. Tôi hãi nhất về nhà vợ chồng lại đàm đạo văn chương, rồi lại tranh luận với nhau câu này hay, câu kia dở. Thật kinh hoàng.

– Anh có kỳ vọng gì đặc biệt vào tương lai của hai cô con gái của mình không? Nếu các cháu muốn nối nghiệp thi ca của bố thì anh nghĩ như thế nào?

– Thơ ca chẳng là cái gì ghê gớm đến nỗi cả bố với con đều phải đam mê. Gia đình tôi chỉ có ông anh tôi, nhà thơ Trần Nhuận Minh và tôi kẽo kẹt văn chương đến trọn kiếp. Còn hai cô con gái tôi và ba đứa cháu tôi, con nhà thơ Trần Nhuận Minh đều chẳng có đứa nào theo nghiệp văn chương. Thậm chí chúng đều nhìn bố với bác như hai lão già hâm hâm.

Có người bảo, không có gì tẻ nhạt hơn một nhà thơ về già. Anh có cảm thấy thế không? Cá nhân tôi thì tôi thấy tôi đang trở nên tẻ nhạt hơn theo năm tháng. Vì không còn được cảm hứng say đắm như xưa, vì nhát hơn xưa dưới gánh nặng công vụ, vì đỡ lãng mạn hơn vì phải đối diện với trăm mối tơ vò của cuộc sống đời thường… Anh có bí quyết gì để duy trì sức thanh  xuân trong tâm hồn như hiện nay?

– Người già mà tẻ nhạt thì có gì phải buồn. Vì nó là quy luật của tự nhiên. Sợ nhất những anh trẻ mà lại tẻ nhạt. Tẻ nhạt mà có sức khỏe thì kinh lắm. Vì cái nhạt ấy sẽ rất khủng khiếp. Điều đó cũng đáng sợ như những lão già mà lại không chịu già. Tôi chẳng có bí kíp gì để giữ độ thanh xuân trong tâm hồn mình. Tôi thấy mình đã là một lão già. Già từ khi còn bé. Tôi đi trên đường. Cái xe máy cứ rì rì vừa đi vừa ngửi đất. Các cô gái mặc sooc lửng cắt vút qua: “Đi cẩn thận nhé bố già nhé!”. Tôi cũng hét lên: “Ừ bố nhớ rồi! Bố cũng hãi chết lắm!”

Anh đã có điều kiện trực tiếp gặp gỡ, trò chuyện, thậm chí là gần gụi với không ít những nhà thơ lớn của thời hiện đại. Nhiều người trong số họ nay đã trở thành người thiên cổ. Bây giờ, sau những khoảng lùi thời gian, liệu anh cho thể giúp cho độc giả và những người yêu thơ hiện nay có được thêm những cảm nhận và hiểu biết về họ được không? Thí dụ, anh nhớ gì nhất về nhà thơ Xuân Diệu, người mà chúng ta vừa mới kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông?

– Tôi tiếp xúc với khá nhiều nhà thơ, trong đó có nhiều nhà thơ rất lớn. Xuân Diệu là thày dạy nghề của tôi, là một trong những tác giả tôi đề cập đến trong cuốn “Chân dung và Đối thoại” với lòng tôn kính và ngưỡng mộ sâu sắc. Tôi cũng đã viết khá nhiều về ông ở nhiều thời điểm khác nhau.

– Có người lo rằng cảm xúc yêu đương như trong thơ Xuân Diệu có thể sẽ trở nên không hợp nữa với tình yêu của lớp trẻ bây giờ. Anh nghĩ như thế nào?

– Đúng vậy. Người phát hiện rất sớm điều này không phải chúng ta mà là nhà phê bình Trần Đăng Suyền. Ngay từ đầu những năm 80 của thế kỷ trước, ông Suyền đã chê thơ Xuân Diệu cổ, không còn phù hợp với tư duy hiện đại. Xuân Diệu bực lắm: “Cái cậu Suyền ấy, cậu ấy chẳng biết gì. Giả sử bây giờ bà Chúa Chè bà ấy sống lại, bà ấy mặc cái yếm thắm đi thỗn thện trước mặt các cậu, liệu các cậu có mê không? Trong tình yêu làm gì có chuyện cổ hay không cổ. Gớm tôi chỉ mong cổ để thành cổ điển đây!”. Xuân Diệu rất giỏi đánh tráo khái niệm. Cổ với cổ điển là hai khái niệm khác nhau. Trong tình yêu, có thể không có chuyện cổ hay không cổ, nhưng thơ thì có đấy. Đây là thơ về tình yêu chứ không phải tình yêu. Xuân Diệu làm thơ tình. Ông tạo ra một thế giới yêu đương. Thế giới ấy là của riêng ông, do ông tưởng tượng chứ đời sống có khi lại không phải như thế. Chúng ta thấy thơ ông không còn phù hợp với lớp trẻ bây giờ cũng là bình thường. Mà không phải lớp trẻ, ngay cả người già cũng không yêu như ông yêu và làm thơ về tình yêu như ông. Đấy là một thế giới tưởng tượng của riêng ông. Ngày Xuân Diệu qua đời, tôi dường như tê liệt mọi cảm xúc. Trên mộ Xuân Diệu chất đầy hoa. Một núi hoa. “Vô cùng thương tiếc nhà thơ lớn Xuân Diệu”. “Kính viếng Viện sĩ Xuân Diệu”…Bao nhiêu lời thương tiếc ông. Tên ông luôn gắn với chức danh: “Nhà thơ”, “Nhà thơ lớn”. “Viện sĩ”…Chỉ duy nhất một vòng hoa trắng. Trắng đến tinh khiết. Đó lại là vòng hoa của Nghệ sĩ nhân dân Bạch Diệp , người vợ yêu của ông. Trên đó, không có chức danh. Cũng không có tên ông.  Chỉ vẻn vẹn ba chữ “Vĩnh biệt Anh” trên vòng hoa trắng. Khi người ta ấp vòng hoa đặc biệt ấy lên mộ ông, thú thực, tôi đã khóc. Nói lại điều này, ta chỉ thấy thương ông thôi. Thương vô cùng …

 

– Với nhà thơ Huy Cận, anh có những kỷ niệm gì sâu sắc?

– Huy Cận ở với Xuân Diệu một nhà. Huy Cận ở tầng trên. Xuân Diệu ở tầng dưới. Tôi hay đến chơi với Xuân Diệu, thi thoảng gặp Huy Cận. Có lần Xuân Diệu tặng tôi tuyển thơ. Tôi trêu ông: “Tập thơ chú thiếu quá nhiều bài hay và thừa không ít bài… chưa hay”. Xuân Diệu bảo: “Cái cậu này buồn cười nhỉ. Đây có phải tuyển đâu. Rồi sau này thời gian nó sẽ tuyển. Còn bây giờ mình cứ đưa ra đã. Cậu đang cháy nhà. Nhà đang cháy thì có cái thúng, cái nia, cái váy đụp gì cũng cứ quăng ra đã, rồi sau mới chọn lọc lại. Nhà cậu đang cháy mà cậu lại còn lẩn mẩn so đo chọn cái này hay chọn cái kia à?”. Đúng thế thật. Tôi thấy mình ngu quá. Xuân Diệu rất tài trong việc ứng biến. Trước ông, tôi thấy mình hoàn toàn u mê. Đạp xe đi một đoạn, tôi mới tỉnh ra và nhận thấy rằng, cháy nhà và tuyển thơ là hai việc hoàn toàn khác nhau. Nhà Xuân Diệu đâu có cháy. Tôi lộn trở lại. Muốn nói to lên với Xuân Diệu điều ấy, nhưng thấy Xuân Diệu ra mở khóa cổng: “Có chuyện gì thế? Vào đây!”. Ông niềm nở. Thế là đầu óc tôi lại mụ mị: “Cháu, cháu có quên cái…mũ ở đây không?”. Xuân Diệu phì cười: “Thế cậu đang đội cái gì trên đầu đấy?”. Đúng lúc ấy, Huy Cận ở Hội Liên hiệp về. Xuân Diệu bảo: “Cận ơi, Cận xem có cách gì giúp Khoa mua một cái vé xe ô tô về Hải Dương?”. Huy Cận xé một tờ lịch bàn, rồi viết vào phía sau: Kg các đồng chí phụ trách Bến xe Bến Nứa! Giới thiệu với các đồng chí, người cầm giấy này là cháu Trần Đăng Khoa, nhà thơ “hậu sinh khả úy”. Các đồng chí tạo điều kiện giúp cháu, cho cháu mua một vé về Hải Dương”. Rồi ông ký tên: Cù Huy Cận, lại còn mở ngoặc “Thứ trưởng Bộ Văn hóa”. Rồi ông giải thích cho tôi hiểu “hậu sinh khả úy” có nghĩa như thế nào. Ông bảo: “Cháu đưa mảnh giấy này cho người phụ trách bến xe. Tất nhiên, nếu họ hiểu thì sẽ rất tốt. Nếu không chịu đọc thì họ cũng sẽ chẳng biết Trần Đăng Khoa là ai và Huy Cận là ai!”. Tôi tìm đến Ban điều hành bến xe Bến Nứa. Ông phụ trách mừng quýnh, không bắt tôi phải chờ mà đưa thẳng tôi ra chiếc xe đang xếp khách. Bác lái xe không lấy tiền, lại xếp tôi ngồi ở ghế phụ. Rồi bác khoe với cả xe, lại bắt tôi đọc thơ cho mọi người nghe. Tôi đọc hết bài này đến bài khác, cứ nhem nhẻm như anh bán thuốc hôi nách. Mới biết Huy Cận có sức mạnh thật!

Khi nhắc lại tình bạn thơ giữa Xuân Diệu và Huy Cận, có người thở dài và than rằng, hình như ngày xưa các nhà thơ đối xử với nhau chân tình và tử tế hơn thời hiện đại. Anh có đồng ý với nhận định đó không? Cá nhân tôi cũng nghĩ rằng, thời nào cũng có cái hay và cái chưa hay. Thời nào cũng có những người cầm bút tốt và những người không tốt. Thời trước đã thế. Thời nay cũng thế. Có điều, bây giờ, cách thể hiện tình cảm của các nhà thơ đối với nhau cũng đã khác. Và cách kết bạn của họ cũng thế. Bây giờ, nếu tự nhìn lại, nhà thơ Trần Đăng Khoa thấy mình có những bạn thân nào trong giới làm thơ? Họ là ai, nếu không phải là điều bí mật?

– Tình bạn giữa Huy Cận và Xuân Diệu thì tôi cũng đã kể nhiều lần rồi. Đúng là ngày xưa các cụ đối với nhau rất đẹp. Tôi có nhiều bạn thân là các nhà văn nhà thơ. Nhưng tôi cũng còn có rất nhiều những người bạn rất thân mà họ không dính dáng gì đến văn chương chữ nghĩa. Những người ấy cũng đông lắm, không thể kể hết được…

Tôi biết anh hiện nay đang giữ một cương vị quan trọng trong Hội Nhà văn Việt Nam. Theo anh, còn cần phải làm gì hơn nữa để nâng cao vai trò và độ hữu ích của cơ quan Hội đối với đời sống văn học nước nhà?

– Đây là câu hỏi rất lớn. Trả lời câu hỏi này, phải là nhà lãnh đạo cao nhất của Hội Nhà văn, là nhà thơ Hữu Thỉnh. Còn tôi chỉ là người giúp việc cho bác ấy. Người giúp việc thì chỉ biết những chuyện loong toong thôi..

Dự dịnh tương lai gần và xa của nhà thơ Trần Đăng Khoa?

– Ối giời, làm sao bàn chuyện xa xôi thế. Thay cho trả lời, tôi xin gửi đến bạn đọc bài thơ này; “Trái đất quay”: Chẳng có gì mới lạ/ Trái đất tít mù quay/ Nóng chán rồi sẽ lạnh/Buồn vui đều thoảng bay/  Cái đến rồi sẽ đến/  Cái qua thì phải qua/ Chẳng cần chi phấn đấu/Ta cũng thành… cụ già/ Coi đời như cát bụi/ Muốn yên mà chẳng yên/ Thế giới còn chao đảo/ Thì có chi vững bền? / Hãy làm một việc thiện/ Kịp trao nhau lúc này/  Ngày mai nào ai biết/ Cõi người mù mịt quay…

Xin cảm ơn anh!

Nguồn: Báo Đại đoàn kết – Hồng Thanh Quang (thực hiện)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 26.08.2016

Muôn vẻ Cái Hài trong cuộc sống

Muôn vẻ Cái Hài trong cuộc sống

  •   DƯƠNG QUỐC VIỆT

Tính hài hước là một thuộc tính quý của con người, và việc nhìn ra những cái hài sau mỗi sự vật hiện tượng, sẽ góp phần giúp người ta có nhận thức chủ động hơn, đầy đủ hơn, cân bằng hơn, và bản chất hơn về chúng. Cái hài xuất hiện ở khắp nơi, thậm chí nằm cả trong pháp luật, như có một ai đó đã nói: “bản chất của cuộc đời là hài hước”. Dường như cái hài, chính là cái trái với tự nhiên trong những hành xử của con người. Nhưng cấp độ nhìn ra cái hài trong mỗi sự vật hiện tượng là không như nhau. Nó phụ thuộc vào văn hóa, tín ngưỡng, nhận thức và độ trải nghiệm… của mỗi cá nhân.  Và có lẽ con người càng tự  do thì càng có nhiều điều kiện nhìn thấy cái hài.

Một sĩ quan đồn trưởng người Đức, bị truy tố về tội không báo cáo kịp thời về cái chết của một quân nhân dưới quyền ông ta, khi anh này bị rơi từ đỉnh tháp cao xuống mặt đất. Tại sao anh ta ngã tử dỉnh tháp cao bị chết mà ông không báo cáo ngay-viên quan tòa hỏi người đồn trưởng. Dạ thưa ngài, vì tôi cho rằng: việc anh ta ngã từ đỉnh tháp cao xuống mà chết, ấy là chuyện bình thường, nên tôi để báo cáo sau. Ngược lại giá mà anh ấy không chết, thì tôi đã báo cáo ngay rồi, vì đó mới là cái sự không bình thường-thưa ngài! Đó, phát hiện ra cái hài trong một vụ việc, như vụ án trên, đã dường như làm giảm đi tính trầm trọng của nó! Như vậy, ngay cả những chốn tưởng như nghiêm trang nhất, có lý nhất, nơi thượng tôn pháp luật nhất, cái hài chẳng vẫn tồn tại đó sao?! Vấn đề là nó cần được phát hiện như thế nào?

Mọi sự vật và hiện tượng vốn không trường tồn, nhưng người ta cố làm, cố mong ước, hay cố chứng minh cho sự bất diệt của chúng,  đó cũng là những cái hài, thậm chí đôi khi còn là bi hài. Truyện kể rằng: Tề Cảnh Công (547 TCN-490 TCN) nhìn cảnh nước Tề tươi đẹp, mà nước mắt chứa chan, tỏ ý với quần thần về sự tiếc nuối khi một ngày nào đó ngài phải rời xa ngai vàng. Thưa đức vua, nếu một triều đại cứ được phép tồn tại mãi,  hay một người được làm vua mãi, chẳng hạn như vua Nghiêu vua Thuấn mà giữ được ngai vàng cho đến bây giờ, thì giờ này chắc tôi và ngài, chỉ là những kẻ chăn vịt, đội nón lá đứng ngoài đồng-một quan cận thần đã tâu với nhà vua như vậy. Thật may mắn trong cái cơn cuồng si quyền lực của vị vua ấy, còn có một vị quan liêm chính thấu hiểu lẽ trời, nhìn thấy cái hài, mà kéo ngài ra khỏi cơn mê.

Một anh chàng làm việc xuất sắc, nhưng không may anh ta phải sống trong một đám người ghen ghét và rất có mánh lới-mồm miệng đỡ chân tay. “Hữu xạ tự nhiên hương”- khỏi lo cậu ạ. Vâng thưa các anh, xạ thì có hạn, nhưng lại bị đặt vào miệng cái ống cống thì còn ai ngửi thấy hương (!?) Hóa ra dù là chân lý, nhưng phát ra từ miệng của những kẻ dối trá, cũng sẽ trở thành điều không nghiêm túc, trở thành hài. Chúng ta cũng đã chứng kiến bao cái hài, như người ta đã từng phát động một mùa thi nghiêm túc, đổi mới rồi tiếp đến một mùa thi thực sự nghiêm túc, thực sự đổi mới. Rồi chẳng thế mà đã có khái niệm tối ưu, nhưng  người ta vẫn phải thêm cái “nhất” để thành cái “tối ưu nhất”. Biết bao bản thành tích giả dối, mãi đến nhiều năm sau người ta mới làm được một phần như thế, để rồi kho tàng tiếu lâm được bổ sung thêm thể loại “tạm ứng trước thành tích”  đó sao?!

Lại còn cái cảnh người ta ra sức bảo vệ cái không tồn tại, cái không phải là của mình, mà cũng không phải của cha ông mình, cũng như cái cảnh “đống mối ngỡ mồ cha”, chẳng đã bi hài lắm sao !? Gặp đại hạn, lũ cóc nhái tìm cách vượt cái quan, vì cái ao nơi chúng ở sắp cạn kiệt. Cóc cụ phán rằng: nếu chúng bay không biết cách chuồn, mà cứ nghễu nghện qua đường, thì sẽ bị đánh chết hết. Thế rồi ba ba-cóc-lươn phối hợp, quấn chặt vào nhau như một quái vật ba đầu, hình thù kỳ dị, nghênh ngang qua đường. Chúng chẳng những tẩu thoát, mà còn được cả dân làng vái lạy, vì họ cho rằng đã gặp được “linh vật” giáng trần, để cứu họ qua đại hạn. Đã thế dân làng còn lập đền thờ để ghi tạc sự tích, hàng năm cúng tế vào ngày đó, với văn bài ca tụng công đức của “linh vật” này. Nghe nói người ta bảo vệ cái đền đó, như một lẽ sống của cả làng, tới mức ai đó không tin, hay có ý nghi hoặc, dân làng sẵn sàng tiêu diệt(!)

Dường như những người mắc thói quan trọng hóa, bệnh thành tích, hãnh tiến, bịp bợm…, rất không ưa cái hài. Bởi cái hài dường như sẽ làm lộ tẩy bản chất, thu nhỏ sự vật, giảm thiểu sự linh thiêng…  Nhưng rõ ràng những ai có óc hài hước bị hạn hẹp, hay không biết – không chịu nhận diện cái hài, chắc nhận thức cũng khó bề linh hoạt. Có người nào đó đã nói: “Tự trào là đỉnh cao của hài hước”. Thực tế đã chứng minh “tự trào” có tác dụng xây dựng, hoàn thiện cá nhân, tổ chức, xã hội, và dân tộc. Và có lẽ đức tính này, cũng là một trong những đức tính quý giá, mà mọi người nên có!

( Nguồn: VHNA)

Bí ẩn gì trong căn hầm ở Tây Bắc khiến đàn ông Việt ‘sốt sùng sục’ kiếm tìm?

Thời gian gần đây, giới nam nhi cả nước xôn xao với loài nấm có tên ngọc cẩu (theo người Dao Đỏ thì đây là một dòng của nấm tỏa dương), còn gọi là nấm “tan cửa nát nhà”.

Chuyện về đại gia… phục hồi ‘sinh lực’
Sở dĩ, loài nấm này được người Dao Đỏ gọi là ‘nấm ngọc cẩu’, là bởi vì, nếu phụ nữ dùng nấm này, sẽ hồi xuân mạnh mẽ, sinh lý tăng lên, nên nếu chồng không đáp ứng được, dễ dẫn đến ngoại tình. Đàn ông dùng nấm này thường xuyên, thì dễ năm thê bảy thiếp, mà dẫn đến nát cửa tan nhà.
Ông langSau khi VTC News đăng tải bài viết về thứ nấm kỳ lạ ấy, đã nhận được thông tin từ một đại gia trong TP.HCM. Đại gia này kể rằng, anh đã dùng thứ rượu nấm ấy mấy năm nay, và quả thực, thấy thể lực sung mãn, khí thế đàn ông hừng hực.

Anh cũng tiết lộ rằng, người cung cấp thứ rượu “tan cửa nát nhà” ấy cho anh, là một ông lang kỳ lạ, đã có nhiều đời nghiên cứu về thứ nấm ấy và sở hữu một hầm rượu nấm ngọc cẩu có thể nói là lớn nhất Việt Nam, tới 10 tấn. Điều lạ lùng, là những “bể rượu” ấy đã lưu trữ hàng chục năm và được ông lang giấu kỹ trong hầm.

Theo lời vị đại gia này, mới 40 tuổi, song anh bị gút (gout) rất nặng, đầu các khớp tay, chân sưng vù, trông như củ khoai u mấu. Thời gian bệnh nặng, lại gặp lúc trái gió trở trời, chân tay đau nhức, đi không nổi, chỉ muốn chặt béng đi.

Thế nhưng, nhờ một người giới thiệu, anh đã tìm ra Bắc, lên tận Tuyên Quang, gặp ông lang người Giáy, tên là Lục Xuân Út. Người Giáy ở vùng Đồng Văn (Hà Giang) còn được gọi là người Thổ, nên dân bản địa gọi ông lang này là Út Thổ.

Dùng những cây thuốc thô mộc được một thời gian, thì những u cục biến mất sạch sẽ, những cơn đau do gút gây nên cũng không còn nữa. Cứ mỗi tháng, anh lại đi xét nghiệm máu, nước tiểu một lần và thấy các chỉ số đều đẹp.

1. Hầm rượu vạn lít của ông lang Út được ngâm bởi rượu ngon và thảo dược quý có tác dụng cường dương
Hầm rượu vạn lít của ông lang Út được ngâm bởi rượu ngon và thảo dược quý có tác dụng cường dương

Điều tuyệt vời, là hồi bị gút nặng, anh hỏng hẳn chuyện chăn gối, nhưng sau khi khỏi gút, lại được ông lang Út cấp cho mấy thang thuốc giải độc, tăng cường chức năng gan, thận, rồi đặc biệt là một can rượu thuốc kỳ lạ, anh đã lấy lại phong độ đàn ông, lúc nào cũng hừng hực khí thế như thời trai trẻ.

Nghe vị đại gia này tiết lộ về hầm rượu vạn lít, đã ngâm ủ với những thảo dược kỳ quái hai chục năm nay, tôi đã lần theo địa chỉ anh cung cấp, để tìm lên làng Vinh Quang (xã Thái Bình, Yên Sơn, Tuyên Quang).

Nhà ông lang Út nằm trên mỏm một quả đồi thấp, nhô lên giữa cánh đồng. Bước chân lên nhà sàn, tôi choáng ngợp, khi cả một gian phòng rất rộng, có tới cả trăm tải thuốc, chất ngất.

Thấy tôi kêu thuốc gì mà chất như núi thế này, ông lang Út bảo còn cất giữ nhiều ở chỗ khác nữa. Theo ông lang Út này, thì có tới 6 tấn thảo dược đã sơ chế, là lượng nguyên liệu chuẩn bị sẵn cho bệnh nhân. Giời ạ! Đến bệnh viện đông y của một tỉnh cũng không tiêu thụ lượng thảo dược lớn khủng khiếp như thế này.

Ông lang Út bảo: “Cậu nhìn xem, xe to xe con từng đoàn kéo nhau lên chở thuốc thế này, thì mấy tấn kia được mấy ngày thì hết. Mỗi huyện có một ông quan chức bị gút biết đến mình và uống thuốc của mình khỏi, thì lập tức quan chức cả huyện ấy tìm lên. Để tiết kiệm thời gian, công sức, các ông ấy phân công một người lên lấy cho tổng thể”.

Rượu quý phục vụ vua Mèo

Ông lang Lục Xuân Út sinh năm 1964, là người Giáy chính cống. Tổ tiên sống ở vùng biên giới Trung Quốc và Việt Nam. Hiện tại, nhà thờ tổ nằm ở huyện Phú Linh (Vân Nam), bên kia Trung Quốc, cách biên giới có 6km, từ phía Phó Bảng (Đồng Văn) đi lên.

Các cụ kể lại, ngày trước, cộng đồng người Giáy sinh cư ở vùng biên giới, còn chưa phân biệt được lãnh thổ một cách rõ ràng. Vì thế, giờ đây, dòng họ của thầy lang Lục Văn Út sinh cư ở cả hai bên biên giới, vẫn đi về thường ngày.

Mỗi thùng rượu chứa tới 300 lít
Mỗi thùng rượu chứa tới 300 lít

Dòng họ Lục của ông lang Lục Xuân Út có nghề thuốc gia truyền từ xa xưa. Các cụ kể lại, thì họ Lục có nhiều bài thuốc quý. Mỗi ông lang có uy tín trong gia đình sở hữu một bài thuốc đặc trị, bốc thuốc cho nhân dân trong vùng. Trong số những bài thuốc đó, nổi bật là các bài giải độc, trị các bệnh về gan, tiêu u, thoái hóa xương khớp, đĩa đệm và gút.

Ông lang Út cho biết: “Ngày xưa, bệnh gút chưa phổ biến, nên mặc dù dòng họ của mình có bài thuốc trị gút tốt, song ít được dùng đến. Chủ yếu quan lang mắc gút, chứ nhân dân ít bị căn bệnh này. Chữa bệnh gút giỏi, nên tổ tiên mình giao du với tầng lớp quan lại nhiều. Ông nội, rồi đến bố mình không chỉ là thầy lang chữa gút giỏi, mà còn là thầy thuốc riêng của Vua Mèo ở Đồng Văn”.

Bố đẻ của ông lang Lục Xuân Út là cụ Lục A Hủi được bác Hồ giác ngộ, trở thành Việt Minh, tham gia tiễu phỉ. Ông cũng có công động viên, thuyết phục Vương Chí Sình theo cách mạng. Khi Đồng Văn Giải phóng, ông Lục A Hủi được giữ chức Chủ tịch huyện Đồng Văn.Sau này, Lục Xuân Út lang thang trong rừng hái thuốc, lưu lạc xuống tận Na Hang (Tuyên Quang), quen thôn nữ Phan Thị Thu Hiền, nên duyên vợ chồng, rồi về làng Vinh Quang (xã Thái Bình, huyện Yên Sơn) để sinh cư, hành nghề thuốc.

Theo lời ông lang Lục Xuân Út, không chỉ có nghề bốc thuốc, mà tổ tiên xa xưa của ông lang Út đã có những bài thuốc ngâm rượu bí truyền, nhằm tăng cường sinh lực cho đàn ông, bồi bổ gân cốt.

Ông lang Út và đống thảo dược khổng lồ chứa trong nhà
Ông lang Út và đống thảo dược khổng lồ chứa trong nhà

Nhiệm vụ của ông nội, rồi đến bố đẻ của ông lang Út không chỉ bốc thuốc, chăm sóc sức khỏe cho nhà Vương, mà còn nghiên cứu, tạo ra những loại rượu đặc biệt, dành riêng cho quan lại, “vua chúa” xứ Đồng Văn.

Ông lang Út kể: “Hồi ông nội, rồi bố mình phục vụ cho nhà Vương thì mình chưa ra đời, nhưng ngày bé, mình thường xuyên được bố kể cho nghe về thời kỳ ông phục vụ vua Mèo. Ông kể rằng, ngày đó, ngoài bốc thuốc, thì ông chuyên tâm nghiên cứu về rượu.

Quan lại nhà Vương đều rất giàu có, tiền bạc phải dùng xe ngựa chở, lại thích uống rượu ngon, nên bắt bố và ông nội tôi phải nghiên cứu. Ông nội và bố tôi đã chế ra cả trăm loại rượu, nhưng vua Mèo và quan lại trong nhà Vương thích nhất thứ rượu ngâm nấm tỏa dương cùng những vị thuốc bổ máu. Loại rượu đó là bài thuốc bổ dương gia truyền của dòng họ bên Trung Quốc nhà tôi, đã dùng nhiều đời rồi”.

Theo các cụ kể lại, thì để có được rượu ngon, phải nấu bằng gạo ủ men lá. Cầu kỳ hơn nữa, là nồi rượu phải được nấu trên đỉnh núi cao, có mây mù che phủ. Nước để nấu rượu cũng phải được lấy ở khe trên đỉnh núi cao nhất. Rượu được chưng cất ít nhất hai lần, rồi đóng vào chum sành, để trên đỉnh núi vài năm trước khi đem ngâm với thuốc.

Nguyên liệu chính là một dòng quý nhất của họ nấm tỏa dương. Thứ nấm này chỉ mọc từ rễ của một số loài cây quý trên núi cao, quanh năm lạnh giá.

Theo lời ông lang Út, thì chỉ dùng mũ của loài nấm đó, đem phơi khô, xao đến khi hơi cháy, thì hạ thổ, rồi trút vào rượu. Mặc dù thứ nấm này là nguyên liệu chính tạo nên loại rượu tiến vua, nhưng nếu chỉ ngâm mỗi nấm tỏa dương, thì tác dụng chưa được như ý muốn.

Rượu tỏa dương phải được ngâm kèm với một số thảo dược bí truyền, trong đó, có những thảo dược có tác dụng bổ máu, bồi bổ gan thận. Nấm tỏa dương không chỉ có tác dụng tăng cường sinh lực, mà còn là chất dẫn thuốc cực kỳ hiệu nghiệm.

Ông lang Út bốc thuốc cho người bệnh
Ông lang Út bốc thuốc cho người bệnh

Chính vì thứ rượu này rất ngon, rất bổ, rất quý, nên vua Mèo đã cho xây dựng một căn hầm lớn, rộng cả trăm mét vuông, để chứa rượu.

Những cây thông khổng lồ, hàng trăm năm tuổi được đốn hạ, rồi những thợ mộc tài hoa đục đẽo thành những chiếc chum đẹp để ngâm rượu. Rượu quý đựng trong bình gỗ thông già càng tăng thêm mùi vị thơm, ngon.

Trong những ngày trọng đại, mời khách quý, vua Mèo mới đem rượu ngon ra thết đãi. Những bữa tiệc linh đình, thịnh soạn, say nghiêng ngả đất trời ở nhà Vương không thể thiếu món rượu đặc biệt này. Cũng chính vì sử dụng loại rượu này, mà các quan lang người Mông ở Đồng Văn có thể đáp ứng năm thê, bảy thiếp, con đàn cháu đống, thậm chí đến tuổi già vẫn hừng hực khí thế.

Tận mắt hầm rượu khổng lồ

Theo lương y Lục Xuân Út (xóm Vinh Quang, Thái Bình, Yên Sơn, Tuyên Quang), hồi nhà Vương sụp đổ, ông Lục A Hủi, bố đẻ ông được phân làm Chủ tịch huyện Đồng Văn, rồi sau đó bị giáng chức xuống Phó chủ tịch vì không biết chữ quốc ngữ, ông Hủi vẫn bốc thuốc và ngâm loại rượu bí truyền từng phục vụ nhà Vương. Sau, ông lang Hủi truyền lại những bài thuốc quý cùng bài thuốc ngâm rượu này cho con trai là ông lang Lục Xuân Út.

Mấy chục năm nay, ngoài việc bốc thuốc, thì hễ kiếm được nấm quý, thảo dược quý, ông lang Út lại đem ngâm rượu. Ông lang Út cũng chế biến rượu quý cầu kỳ như công thức mà cha ông vẫn làm.

Ông lang Út đi rừng lấy thuốc
Ông lang Út đi rừng lấy thuốc

Ông lang Út mở cánh cửa dưới tầng hầm, nơi cất giữ rượu quý mấy chục năm nay. Tôi thực sự choáng ngợp, khi hai căn phòng trong tầng hầm của ngôi nhà sàn lớn tràn ngập rượu quý. Thứ rượu ấy được chứa trong những chiếc vại khổng lồ, to như bể nước mà vua chúa ngày xưa thường đổ nước vào bơi lội, tắm táp.

Sách “Biển thước tâm thư” được bác sĩ Phó Đức Thuần dẫn lại: “Đông y dùng tỏa dương để bổ thận tráng dương, ích tinh huyết, mạnh tình dục, bổ tỳ vị, nhuận tràng, thông tiểu. Chủ trị yếu sinh lý, liệt dương, lãnh cảm, đau lưng, mỏi gối, biếng ăn. Già lão thì khí suy nên chân tay không ấm, nguyên khí ở đan điền bị hư tổn, hoạt động ngày càng chậm chạp, khó khăn; dương khí toàn thân không có đầy đủ thì nơi xa nhất như đầu ngón chân tay mỏi, bị lạnh, tê nhức với cảm giác kiến bò trong xương (không phải phong thấp). Để bổ sung dương khí lúc này nên dùng tỏa dương.

Ông lang Út với chiếc muôi đục bằng gỗ, sục xuống chum rượu, múc lên một muôi cho tôi nếm. Nhấp ngụm rượu, mà cảm giác như vừa uống thuốc chứ không phải uống rượu. Mùi thảo dược từ chiếc vại khổng tỏa ra thơm lừng cả tầng hầm.

Theo lời ông lang Út, có những thùng rượu ông đã ngâm ủ từ 20 năm trước. Thùng mới nhất cũng đã phải 5 năm rồi. Mấy năm nay, hầm nhà chật chội, vả lại số rượu này dùng đến mấy đời nữa cũng chưa hết, lại bị vợ phản đối vì mất quá nhiều tiền cho việc chơi rượu, nên ông lang Út chưa bổ sung thêm. Theo ông lang Út, ông đã chi hàng tỷ đồng cho hầm rượu quý này rồi.

Ông lang Út bảo: “Cả đời tớ chỉ uống thứ rượu này thôi, chứ không uống rượu gì khác đâu. Cậu lên nhà tớ mà xem, rượu Tây xếp ngập mấy tủ, toàn bệnh nhân tặng, rồi mật gấu, cao hổ các đại gia tặng, nhưng tớ có dùng đâu. Các loại rượu Tây chỉ để cho người làm thuê uống.

Thứ rượu này là tuyệt hảo, không rượu nào sánh được. Rượu ủ lâu, lại bị một loại thảo dược khử hết độc tố, nên không hại gì cho gan thận nữa, nó chỉ còn tác dụng dẫn thuốc nhanh hơn thôi.

Tớ đã mang rượu này đi xét nghiệm, và tuyệt đối không có thứ độc chất nào cả. Cả người uống được rượu lẫn người không biết uống rượu bao giờ cũng dùng được. Ông nào uống rượu này, cũng lừng tờ phừng. Ông nào yếu, uống rượu này đều đặn, đảm bảo dần dần sẽ sung mãn. Còn nếu hỏng hẳn, thì phải điều trị tăng cường chức năng gan, thận, rồi mới dùng rượu được”.

Tôi hỏi: “Sức anh uống được bao nhiêu mà ngâm nhiều thế này?”. Ông lang Út bảo: “Quả thực, cả đời tớ chắc chỉ uống hết được một thùng mà thôi. Mỗi thùng 300 lít đấy. Nhưng thứ rượu quý này là do cha ông truyền lại, nên tớ cứ phải làm để bảo tồn thôi. Rượu này ủ càng lâu càng quý. Trăm năm sau, nó sẽ là thứ rượu vô giá, không rượu nào có thể sánh được”.

Theo ông lang Út, mấy năm trước, trong hai hầm của ông chứa tổng cộng 10 ngàn lít, tức 10 tấn rượu, tuy nhiên, mấy anh bạn là đại gia trong TP. Hồ Chí Minh, rồi Hà Nội nài nỉ nhiều lần, nên ông đã bán mất 2 ngàn lít, do đó hiện chỉ còn 8 ngàn lít rượu quý mà thôi.

Theo ông lang Út, sắp tới, ông sẽ bổ sung thêm 2 ngàn lít rượu thuốc này nữa, để làm tròn con số 1 vạn lít rượu. Tuy nhiên, để kiếm được nguyên liệu ngâm rượu quả thực rất khó khăn. Nấm tỏa dương thì vẫn còn nhiều trong rừng, nhưng chỉ có một dòng tỏa dương trong số mấy chục loài là có tác dụng tốt, sử dụng ngâm rượu được, mà loài này thì bị săn lùng ráo riết.

Để kiếm được vài kg nấm tỏa dương xịn, mà người Dao gọi là nấm “tan cửa nát nhà” những người thợ đi rừng có khi mất cả tuần.

Những cây thuốc bổ máu, bổ dương sử dụng trong bài thuốc ngâm rượu này đều chưa có trong sách thuốc ở Việt Nam, chưa được người Việt biết đến, thế nhưng, người Trung Quốc lại thu mua ráo riết từ hàng chục năm trước, nên gần như tuyệt chủng.

Để kiếm được vài tạ thuốc, ngâm ủ trong 2 ngàn lít rượu, ông lang Út phải bỏ ra cả trăm triệu đồng để thuê người đi thu hái. Những thảo dược ấy chỉ xuất hiện ở trong rừng sâu, trên những vách đá dựng đứng, ẩn hiện trong mây mờ.

Người bị dương khí hư do hoạt động tình dục quá mức đến nỗi dương vật không còn sức cương được nữa, phải dùng đến thuốc thì dùng tỏa dương. Trong đó, nguyên khí hư kết hợp nhân sâm, trung khí hư kết hợp bạch truật, vệ khí hư kết hợp hoàng kỳ…

Muốn ôn bổ thận dương nên tư bổ thận âm, nhằm quân bình âm dương. Ở trường hợp này tỏa dương và nhục thung dung có tác dụng giống nhau thì tỏa dương mạnh hơn nhưng lại gây ôn táo. Còn nhục thung dung tráng dương yếu hơn nhưng lại có tác dụng ích âm và sinh huyết. Có ý kiến có thể thay tỏa dương và nhục thung dung cho nhau nấu cháo ăn rất tốt. Khi tư âm mà do địa hoàng gây nê trệ có thể dùng tỏa dương là vị tư âm trợ dương.

Về phương diện bổ thận tráng dương, thì tỏa dương chữa liệt dương, xuất tinh sớm (tảo tiết), chưa kịp giao hợp tinh đã xuất. Ngoài ra tỏa dương được dùng để bổ máu, ăn ngon miệng, hồi phục sức khỏe, ốm dậy, sau sinh đẻ, chữa tê mỏi chân, tay, lưng, gối”.

Sau khi đăng bài viết này, tòa soạn VTC News nhận được hàng trăm mail, cuộc gọi từ độc giả xin địa chỉ thầy lang. Chúng tôi xin gợi ý một vài địa chỉ được chúng tôi xác nhận là tin cậy của ông lang Út, độc giả có thể liên hệ tư vấn và lấy thuốc: Số 12 ngõ 8, Phố Bùi Ngọc Dương (phường Bạch Mai, Q. Hai Bà Trưng, Hà Nội), số ĐT:  0915.330535 – 0979.184263

( Nguồn: VTC new)

Đăng bởi: Ngô Minh | 26.08.2016

Hậu quả việc Hội Nhà văn nợ 700 triệu

 

Hậu quả việc Hội Nhà văn nợ 700 triệu

(Góc nhìn văn hóa) – Luật “X+” của Hội Nhà văn Việt Nam hoạt động không có nguyên tắc nên tùy theo “cảm hứng” mà người ở, người về.

Ban Biên tập và bộ phận tài vụ đã thông báo công khai điều này trong cuộc họp cơ quan, và lý do 2 tháng nay anh em trong cơ quan chưa được nhận lương có liên quan trực tiếp đến nguyên nhân này.

Nghe đâu cả các tháng sau nhiều khoản chi phí khác cũng đang trông chờ vào đó. Song nếu bảo đó là nguyên nhân khiến tờ báo trở nên khó khăn thì tôi không dám khẳng định. Chẳng lẽ chỉ có chừng đó tiền mà có thể làm nên khó khăn hay thuận lợi cho cả một tờ báo được hay sao?

Người giữ được “ghế” lâu chưa hẳn vì năng lực

PV: Trước đây ở báo Văn nghệ có anh Trương Vĩnh Tuấn làm kinh tế rất giỏi nhưng vừa đến tuổi đã nhận được quyết định nghỉ hưu luôn. Trong khi đó, hiện tại trong cơ quan có nhiều người đã quá tuổi nghỉ hưu nhưng vẫn còn tại vị, đảm nhiệm chức vụ 2 – 4 khóa liên tiếp.

Trong khi đó, nhà văn Hữu Ước đã từng nói với Đất Việt vào năm 2015 rằng: Khi mới nhậm chức sẽ dễ dàng đưa ra sự đổi mới, nhưng sang khóa thứ 2 sự đổi mới, sáng tạo sẽ bắt đầu khác đi, chưa nói tuổi tác kéo theo sự mệt mỏi, trước hết là chất xám, con người chất xám không phải năng lượng vô tận. Còn quan điểm của anh về vấn đề này như thế nào?

Lương Ngọc AnNhà thơ Lương Ngọc An: Chuyện nhà văn Trương Vĩnh Tuấn là chuyện của báo Văn nghệ. Còn những điều nhà văn Hữu Ước nói là chuyện của Hội Nhà văn Việt Nam, cần phải rạch ròi 2 nội dung này.

Ở báo Văn nghệ, đúng là trước đây anh Trương Vĩnh Tuấn, cũng là cấp phó nhưng là người tháo vát trong vấn đề kinh tế, nên anh em cũng được nhờ. Nói “anh em” ở đây là tôi nói cả cán bộ trong cơ quan, nghĩa là cấp dưới của anh Tuấn, lẫn cấp trên, là Tổng Biên tập nữa. Vậy nên anh Tuấn giỏi một thì người biết dùng anh Tuấn phải là người giỏi mười. Nhiều người cũng đồng tình với tôi điều này.

Còn chuyện của Hội Nhà văn Việt Nam và những điều anh Hữu Ước nói thì tôi không muốn bàn đến, vì nó xa quá. Tôi chỉ nghĩ một điều, rằng chúng ta cần phải nhìn Hội Nhà văn ở hai lĩnh vực rất khác nhau.

Thứ nhất là một tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, và thứ hai là là một cơ quan hành chính thuần túy. Cái tính đặc thù của Hội cũng chính là ở chỗ này, và hai lĩnh vực song hành này cũng có những đòi hỏi về công tác quản lý rất khác nhau, rất tách biệt nhau thì mới được…

PV: Nhân nói về tính đặc thù, xin anh nói rõ hơn về khái niệm này. Nó có liên quan gì đến khái niệm kéo dài tuổi nghỉ hưu theo kiểu X+… ở Hội Nhà văn mà dư luận đang bàn tán gần đây?

Nhà thơ Lương Ngọc An: Thú thực là tôi không muốn nói về việc này. Chuyện cộng thêm tuổi làm việc cho một số đối tượng là cán bộ công tác ở các cơ quan Hội Nhà văn trước đây vẫn có, nhưng nghe đâu đã bỏ lâu rồi, không hiểu sao nay lại đem ra áp dụng lại và áp dụng theo nguyên tắc nào thì tôi không rõ, nhất là lại trong bối cảnh gần đây xã hội đang nói nhiều, thì lại càng là điều khó hiểu.

Tôi chỉ nghĩ đơn giản thế này, rằng kéo dài tuổi làm việc cho một người nào đó, chưa hẳn đã là khẳng định năng lực, phẩm chất của người đó, mà có khi đấy lại là một câu chuyện khác…

PV: Tình trạng này không chỉ xảy ra ở báo Văn nghệ mà còn ở rất nhiều cơ quan cấp 2 của Hội Nhà văn Việt Nam khiến dư luận nghi ngờ có “tình cảm riêng tư” của Ban chấp hành với một số cán bộ thân thiết, tạo ra sự bất công. TBT Khuất Quang Thụy cũng nhận định cách hành xử của Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam như thế là bất thường. Là người gắn bó nhiều năm với báo Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam, theo anh thì Ban chấp hành Hội Nhà văn cần phải làm gì để lấy lại lòng tin cho hội viên, người dân?

Nhà thơ Lương Ngọc An: Câu hỏi của bạn ngay trong nó đã hàm chứa câu trả lời rồi. “Riêng tư” là câu chuyện của “tình cảm”, còn “nguyên tắc” là yêu cầu của “công việc”.

Khi đem “riêng tư”, đem “tình cảm” vào “công việc” thì chắc chắn “nguyên tắc”, nặng thì sẽ bị phá vỡ, nhẹ thì sẽ bị đánh tráo bằng những khái niệm mỹ miều khác. Chuyện ứng xử của Hội Nhà văn có bất thường hay không cứ nhìn vào đó mà đo thì biết ngay.

Cảm ơn anh đã trao đổi thẳng thắn với Đất Việt!

Thanh Tâm (thực hiện)

( guồn: Google)

Đăng bởi: Ngô Minh | 25.08.2016

ĐẶNG NHẬT MÌNH : TRUYỆN HAY HƠN PHIM?

 ĐẶNG NHẬT MÌNH : TRUYỆN HAY HƠN PHIM?

                                                                 Ngô Minh

 

Đặng Nhật Minh1

NSND- đạo diễn điện ảnh Đặng Nhật Minh (ĐNM) gửi tặng tôi tập truyện vừa Hoa nhài của anh vừa được NXB Dân trí mới ấn hành với lời đề tặng lạ:” Mến tặng Ngô Minh để đọc lại Bao giờ cho đến tháng 10”. Tập sách có 3 truyện: Hoa nhài, Nhà điều dưỡng nước khoáng và Bao giờ cho đến tháng 10. Tôi đã hai lần xem phim Bao giờ cho đến tháng 10 (BGCĐT10). Lần nào cũng xúc động rưng rưng. Tôi cũng đã đọc Hồi ký điện ảnh của ĐBM nên biết rất rõ sự ra đời khá vất vả của bộ phim danh giá này. Phải qua 13 lần duyệt, cả tổng bí thư đảng Trường Chinh cũng được mời duyệt phim. Tôi cũng đọc rất nhiều đánh giá trên thông tin đại chúng : BGCĐT10 là một bộ phim đã được bình chọn là một trong những bộ phim kinh điển của nền điện ảnh Việt Nam.  CNN ( Mỹ): “Bao giờ cho đến tháng Mười” là một trong 18 bộ phim châu Á xuất sắc mọi thời đại, là một bộ phim mang nhiều bản sắc dân tộc, một bộ phim thành công của điện ảnh Việt Nam những năm đầu thập niên 1980”. Bộ phim đã làm nên thương hiệu  nữ diễn viên gạo cội Lê Vân trong vai Duyên. Phim nổi tiếng thế, sao anh ĐNM còn dặn đọc lại BGCĐT10 ? Anh muốn nhắn điều gì? (Đọc tiếp…)

Giờ ở quần đảo Hoàng Sa là giờ Trung Quốc hay giờ Việt Nam?

Hoàng Dũng

Một người bạn cho tôi xem ba tấm ảnh chụp (bằng điện thoại di động) màn hình trên một chuyến máy bay Vietnam Airlines đi từ Hongkong về Việt Nam ngày 17 tháng 1 năm nay.

Hình 1 cho thấy máy bay đang trên không phận quần đảo Hoàng Sa, lúc 16g08.

Hình 2 sau đó hai phút, 16g10, hiển thị độ cao, vận tốc máy bay và nhiệt độ bên ngoài.

Hình 3 chụp cũng vào lúc 16g10 cho biết giờ địa phương tại Hongkong, giờ địa phương tại TP Hồ Chí Minh và giờ địa phương tại vị trí hiện thời, tức quần đảo Hoàng Sa.

Vấn đề là: giờ địa phương tại Hongkong và giờ địa phương tại quần đảo Hoàng Sa đều được ghi 5g10, còn giờ địa phương tại TP Hồ Chí Minh là 4g10.

Xin hỏi Vietnam Airlines: Tại sao tính giờ ở Hoàng Sa theo giờ của Hongkong (Trung Quốc), mà không theo giờ của Việt Nam?

Đăng bởi: Ngô Minh | 25.08.2016

Trách nhiệm pháp lý của chính phủ Lào

Trách nhiệm pháp lý của chính phủ Lào

Biểu tình phản đối dự án đập Don Sahon

Chính phủ Lào luôn mong muốn trở thành “bình ắc quy của khu vực Đông Nam Á” vì nếu làm được như vậy, họ có điều kiện để phát triển nền kinh tế của họ.

Để đạt được mục tiêu này, Lào có kế hoạch xây dựng khoảng 70 đập thủy điện trên cả dòng chính lẫn dòng nhánh của sông Mekong.

Tuy nhiên, có rất ít hoặc gần như không có quy hoạch về môi trường trong kế hoạch phát triển thủy điện của Chính phủ Lào. Điều này đã gây ra tranh cãi về những mâu thuẫn giữa một bên là chính sách phát triển kinh tế của Lào với một bên là việc gìn giữ, bảo vệ môi trường đối với khu vực hạ lưu sông Mekong.

Năm 2011, Chính phủ Lào đã cho xây dựng đập Xayaburi – con đập đầu tiên được xây dựng trên dòng chính sông Mekong. Trong dự án xây đập Xayaburi này, Chính phủ Lào đã “phớt lờ” các nghĩa vụ quy định trong luật pháp quốc tế, khu vực cũng như của chính quốc gia này về việc phải thực hiện những đánh giá đầy đủ liên quan đến tác động môi trường sinh thái, cũng như tác động đối với các vấn đề kinh tế – xã hội tại khu vực hạ lưu khi mà con đập ở phía thượng lưu sông Mekong được xây dựng.

Cũng giống như đập Xayaburi, đập Don Sahong đang được tiến hành xây dựng mà không có sự đánh giá môi trường thích hợp hoặc biện pháp bảo vệ môi trường và cũng không thực hiện yêu cầu tham vấn khu vực.

Bài viết này nhằm chỉ ra những tác động của Don Sahong, đồng thời chỉ các nghĩa vụ pháp lý mà chính phủ Lào phải thực hiện trước khi cho phép xây dựng các dự án đập Don Sahong, bởi hai lý do: thứ nhất, đây là một đập nằm trên dòng chính của sông Mekong, nên buộc phải thực hiện quá trình tham vấn khu vực theo Hiệp định Mekong năm 1995, thứ hai, các quyền con người phải được tôn trọng trong suốt quá trình xây dựng và hoạt động của dự án này.

Ảnh hưởng môi trường

Theo kế hoạch xây dựng thủy điện của Chính phủ Lào, vị trí của đập Don Sahong nằm trong khu vực Siphandone của Nam Lào. Con đập sẽ được đặt ở vị trí cách hơn 2 km về phía thượng nguồn biên giới Lào – Campuchia và ở cuối hạ lưu của kênh Hou Sahong. Theo đề xuất của Lào, con đập này sẽ có độ cao 32 mét và sử dụng dòng chảy tự nhiên của thác Khôn để cung cấp nguồn thủy điện có công suất 32 MW.

Các công trình trên sông sẽ ảnh hưởng tới môi trường

Bằng cách ngăn chặn toàn bộ kênh Hou Sahong, đập Don Sahong đe dọa một trong những khu vực di cư quan trọng nhất của nhiều loài cá trong lưu vực sông Mekong. Con đập này cũng sẽ ảnh hưởng nhiều đến tiềm năng thủy sản vùng Nam Lào, đe dọa sinh kế cũng như nguồn thực phẩm cho những người dân sống dựa vào nguồn nước của sông Mekong ở Lào, Campuchia, Việt Nam và Thái Lan.

Công ty thực hiện việc xây dựng dự án Don Sahong đến từ Malaysia là Mega First Corporation Berhad (MFCB). Dự án lúc khởi đầu là do Công ty điện Don Sahong, Ltd (DSPC) thực hiện. Công ty này có 70% cổ phần do MFCB nắm giữ và 30% còn lại do IJM Corporation Berhad nắm giữ.

Tuy nhiên, vào tháng 9/2010, MFCB đã mua lại toàn bộ số cổ phần tại DSPC của IJM và trở thành cổ đông duy nhất của dự án. Cho đến nay, chưa có hợp đồng mua bán điện nào của dự án này đã được ký kết, tuy nhiên cũng có những thông tin khác nhau về công ty mua điện của dự án Don Sahong. Chính phủ Lào tuyên bố rằng “dự án thủy điện này sẽ cung cấp điện cho toàn bộ khu vực Champasak và các tỉnh lân cận, để đáp ứng cho việc gia tăng nhu cầu điện trước những yêu cầu của việc phát triển kinh tế” và “dự án Don Sahong là một trong những dự án thủy điện đầu tiên mà Chính phủ Lào đang khuyến khích các nhà đầu tư để sản xuất năng lượng sạch cho tiêu dùng trong nước”.

Image captionTrung Quốc đã xây nhiều đập trên thượng nguồn

Như vậy đang có sự mâu thuẫn giữa một bên là mục tiêu bảo vệ môi trường và một bên là mục tiêu phát triển các dự án thủy điện trong chính sách phát triển của Lào.

Nếu muốn thực hiện được điều này, Chính phủ Lào cần phải hợp tác chặt chẽ với các nước trong khu vực trong việc đánh giá tác động về môi trường của các dự án xây đập thủy điện, cũng như đưa ra các giải pháp, bao gồm cả dự án Don Sahong này.

Việc đánh giá tác động môi trường, cũng như các thông tin của nó cần phải được công khai và minh bạch đối với các quốc gia bị tác động như Việt Nam, Campuchia để giảm thiểu tối đa tác hại đến môi trường, đồng thời có thể tăng cường hợp tác trong việc phát triển bền vững.

Gần hai thập kỷ trước đây, năm 1995, bốn quốc gia hạ lưu sông Mekong bao gồm Campuchia, Lào, Thái Lan, và Việt Nam đã ký kết Hiệp định về Hợp tác vì sự phát triển bền vững sông Mekong (gọi tắt là Hiệp định Mekong).

Hiệp định Mekong thành lập Ủy hội sông Mekong (MRC), được giao nhiệm vụ thực hiện các thỏa thuận và phát triển thủ tục đối thoại liên chính phủ.

Các quốc gia ven sông Mekong đã đồng ý thực hiện việc thông báo, tham khảo ý kiến và tìm kiếm thỏa thuận với nhau trước khi thực hiện một hành động mà sẽ có tác động đáng kể đến dòng chảy chính của sông Mekong.

MRC đã ban hành thủ tục Thông báo, Tham vấn trước và Thỏa thuận (PNPCA) theo đó thiết lập cách thức mà thông tin phải được chia sẻ trước khi một quốc gia ven sông thực hiện một dự án sử dụng nguồn nước của Mekong.

Theo quy định của Hiệp định Mekong, nếu dự án xây đập thỏa mãn yêu cầu như một “đề xuất sử dụng nước” trong lưu vực của dòng chính Mekong vào mùa khô, thì Chính phủ Lào phải bắt đầu quá trình tham vấn trước với bốn quốc gia thành viên của MRC. Một dự án thủy điện như Don Sahong sẽ chuyển hướng dòng nước trong suốt cả năm, nên bắt buộc phải có quá trình tham vấn trước.

Image copyrightGETTY IMAGES

Chính phủ Lào luôn đưa ra quan điểm rằng dự án Don Sahong nằm trên dòng nhánh, chứ không phải nằm trên dòng chính. Đối với dự án đề xuất sử dụng nước trên dòng nhánh, chỉ cần thông báo cho các nước thành viên khác của MRC mà thôi. Tuy nhiên, trong Bản đánh giá môi trường chiến lược (SEA) do MRC thực hiện năm 2010 và trong Bản đánh giá tác động môi trường (EIA) đối với các con đập do Ban thư ký MRC soạn thảo đã nói rõ dự án Don Sahong không phải là nằm ở dòng nhánh, và việc xây dựng dự án này phải thực hiện quy trình PNPCA.

Vì thế, việc xây dựng đập Don Sahong mà không có thỏa thuận trước với các quốc gia thành viên của Hiệp định Mekong là vi phạm nguyên tắc thiện chí, minh bạch thông tin được quy định trong quy trình PNPCA. Việc xây dựng Don Sahong như vậy cũng vi phạm tinh thần “hợp tác và tương trợ lẫn nhau” mà Chính phủ Lào đã cam kết khi tham gia ký kết Hiệp định Mekong năm 1995 và trong Hội nghị thượng đỉnh 4 quốc gia khu vực hạ lưu Mekong năm 2010.

Nếu Chính phủ Lào cho xây dựng Don Sahong mà không thực hiện quy trình PNPCA thì rõ ràng chính phủ Lào đã vi phạm nghĩa vụ thiện chí được quy định rõ ràng cả trong Công ước Vienna về luật điều ước quốc tế năm 1969 , cũng như trong các luật tập quán quốc tế về sử dụng các nguồn nước quốc tế.

Chính phủ Lào cho biết, hiện nước này đang trong quá trình tiến hành đánh giá tác động môi trường (EIA) và đánh giá tác động xã hội (SIA) cho đập Don Sahong. Tuy nhiên, các tài liệu này đã không được công bố công khai.

Theo luật pháp quốc tế cũng như luật pháp Lào và Malaysia, các công ty và Chính phủ Lào phải chuẩn bị sẵn sàng những đánh giá, bao gồm các cộng đồng bị tác động và các bên liên quan có cơ hội để tham gia vào việc đánh giá tác động này. Tuy nhiên, cho đến nay, Chính phủ Lào và chủ đầu tư xây đập Don Sahong đều chưa thực hiện những yêu cầu trên.

Luật Chất lượng môi trường của Malaysia (EQA) năm 1974 yêu cầu các dự án như đập thủy điện, có những tác động đáng kể đến chất lượng môi trường phải tuân thủ Hướng dẫn chi tiết thực hiện EIA trong đó nêu rõ phải bao gồm cả sự tham gia của cộng đồng cũng như các ý kiến phản biện. Một phần của các thủ tục này bao gồm việc phát hành các báo cáo EIA cho công chúng. Tương tự như vậy, Luật Bảo vệ môi trường của Lào yêu cầu EIA phải có sự tham gia của chính quyền địa phương, các tổ chức quần chúng, và người dân sống trong vùng có khả năng bị ảnh hưởng khi dự án hoạt động. Người dân sống trong vùng bị ảnh hưởng cũng có quyền tham gia vào các cuộc họp tham khảo ý kiến các cấp về đánh giá môi trường.

Tác động của Don Sahong đối với khu vực hạ nguồn là rất lớn. Vì vậy, việc xây dựng dự án này cần phải có một Đánh giá tác động môi trường (EIA) xuyên biên giới. Đây là một phần trong nghĩa vụ không gây hại của một quốc gia đối với các quốc gia khác trong việc sử dụng nguồn nước quốc tế như Mekong.

Cho đến nay, không có đánh giá xuyên biên giới nào đã thực hiện cho dự án Don Sahong, mặc dù đó là yêu cầu cần thiết của cả luật pháp quốc tế cũng như luật quốc gia của Lào và Malaysia.

Khía cạnh nhân quyền

Ủy ban Nhân quyền của Malaysia (viết tắt là SUHAKAM), được công nhận bởi Ủy ban Điều phối quốc tế liên quốc gia của Liên hiệp quốc và thẩm quyền của Ủy ban này được quy định bởi Đạo luật SUHAKAM năm 1999 của Malaysia, trong đó cho phép Ủy ban này điều tra các khiếu nại về nhân quyền, bao gồm cả khiếu nại về hoạt động kinh doanh liên quan đến vấn đề nhân quyền.

SUHAKAM đã tuyên bố vào tháng 6 năm 2013 rằng các vấn đề nhân quyền liên quan đến các dự án kinh doanh là một trong năm chương trình nghị sự chính của họ. Ủy ban này đã nhận được 39 khiếu nại đối với các công ty từ năm 2007 đến năm 2012, bao gồm cả các khiếu nại chống lại việc “xâm phạm và làm ảnh hưởng đến đất đai bản địa của các công ty khai thác gỗ, việc không cho công nhân có ngày nghỉ, chậm trả lương cho công nhân của người sử dụng lao động, cũng như sa thải công nhân vì lý do họ bị bệnh tật hoặc đang mang thai”.

Cộng đồng dân cư bản địa đã nộp đơn khiếu nại đối với các công ty và chính phủ liên quan đến việc xây dựng đập thủy điện và việc bồi thường tái định cư cho việc xây dựng đập đó. SUHAKAM cũng đang điều tra các khiếu nại về tham nhũng trong một bộ phận của chính phủ liên quan đến trách nhiệm của họ trong việc cấp phép xây dựng thủy điện với các cáo buộc hối lộ, cưỡng bức và không bồi thường thỏa đáng trong việc giải tỏa đất đai cho dự án thủy điện.

Như vậy, có khả năng MFCB vi phạm đến một số quyền con người theo các lĩnh vực mà SUHAKAM đã tuyên bố. Ngày 10/10/2014, 06 tổ chức phi chính phủ đã gửi đơn khiếu nại về sự vi phạm nhân quyền của công ty tiến hành đầu tư dự án xây đập Don Sahong.

Trong các quy định của luật pháp quốc tế về sử dụng và chia sẻ các nguồn nước quốc tế, cũng như của Hiệp định Mekong năm 1995 đều quy định Chính phủ Lào phải có trách nhiệm pháp lý cho bất kỳ thiệt hại nào có thể gây ra từ việc xây dựng hoặc vận hành đập thủy điện như Don Sahong đối với các quốc gia láng giềng.

Hiệp định Mekong là một Hiệp định mà trong đó đã kết hợp các nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế về sử dụng các nguồn nước xuyên quốc gia, đã quy định trách nhiệm của một quốc gia đối với các thiệt hại gây ra cho một hoặc nhiều quốc gia ven sông khác.

Vi phạm các nghĩa vụ không gây hại tức là đã tạo ra nghĩa vụ phải bồi thường cho những thiệt hại của bên kia từ phía bên gây hại. Cả chính phủ Lào và MCFB sẽ vi phạm các nghĩa vụ được quy định trong luật sử dụng các nguồn nước quốc tế cũng như luật pháp của Chính phủ Lào hoặc của Malaysia nếu dự án đập Don Sahong được tiến hành theo cách như vậy.

Còn nếu không, dự án đập Don Sahong cần phải được tạm dừng lại để các bên có cơ hội thực hiện một đánh giá tác động môi trường một cách đầy đủ, bao gồm cả các tác động xuyên biên giới, cũng như các bước tiến hành của quy trình PNCPA phải được tuân thủ.

Chính phủ Lào hoàn toàn có cơ hội để trở thành một nước phát triển và xuất khẩu điện năng hàng đầu ở khu vực, nhưng phải là điện năng được sản xuất một cách bền vững.

Tuy nhiên, muốn làm được như vậy, Chính phủ Lào và các nhà đầu tư thủy điện trên đất Lào cần phải tuân thủ các quy định của luật pháp quốc tế, Hiệp định Mekong năm 1995 cũng như chính các quy định trong luật pháp về môi trường của quốc gia này.

Bài phản ánh văn phong và quan điểm của tác giả, chuyên gia luật quốc tế tại TP HCM.

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 25.08.2016

Hun Sen và bầu cử Campuchia

Hun Sen và bầu cử Campuchia

Nhà nghiên cứu Campuchia bình luận thủ tướng Hun Sen ”giương cao lá cờ chủ nghĩa dân tộc” vì cuộc bầu cử sắp tới

Một nhà nghiên cứu chiến lược Campuchia nói Thủ tướng Campuchia Hun Sen sẽ “cứng rắn” về vấn đề biên giới với Việt Nam do cuộc bầu cử sắp tới.

Hôm 23/8, Thủ tướng Campuchia Hun Sen công bố kế hoạch xây một con đường dọc biên giới và yêu cầu quan chức các tỉnh biên giới nỗ lực đưa người dân đến sống tại các khu vực gần phía biên giới Việt Nam, tờ Khmer Times đưa tin.

Tổng tuyển cử ở Campuchia sẽ diễn ra tháng Bảy 2018 và Thủ tướng Hun Sen dự định tranh cử nhiệm kỳ thứ năm.

Tờ này cũng trích lời ông Hun Sen nói: “Tôi đã chỉ đạo chủ tịch tỉnh Take [tên Lay Vannak] và những lãnh đạo các tỉnh biên giới khác là cách tốt nhất để bảo vệ biên giới là đưa người Campuchia đến sống gần các biên giới phía đông, tây và bắc đất nước”.

Trả lời BBC Tiếng Việt, Chủ tịch Viện nghiên cứu Chiến lược Campuchia (CISS) Vannarith Chheang nhận định: “Có vẻ vấn đề an ninh biên giới lại nổi lên sau khi căng thẳng ở biên giới với Việt Nam ba tuần trước.

“Ba tuần trước, Bộ Ngoại giao Campuchia gửi một công hàm ngoại giao để phản đối Việt Nam trong trường hợp xây dựng mương trong khu vực biên giới mà cả hai nước chưa phân định,” ông nói.

Nhưng ông cũng nhận định việc Campuchia muốn xây đường xá và đưa dân cư tới các tỉnh biên giới giáp Việt Nam không phải “chiến lược mới”.

Ông nói: “Tăng dân cư sống ở khu vực này có nghĩa là cần đưa làng mạc và người dân Campuchia đến đó, vì khu vực gần biên giới Việt Nam có rất ít dân cư sinh sống vì thế nông dân Việt Nam tới thuê đất và thu hoạch trong khu vực.

“Ông Hun Sen cũng đưa ra chính sách không cho phép công ty Việt Nam hay cộng đồng người Việt thuê đất nông nghiệp dọc theo biên giới.”

Các tỉnh Campuchia giáp Việt Nam hiện chưa có đường xá dọc biên giới là Rattanakiri, Mondulkiri, Kratie và Takeo, mà theo một quan chức từ Ủy ban Biên giới Campuchia nói vì thiếu đường xá mà “bất ổn”.

Nhà nghiên cứu Vannarith cũng nhận định vốn đầu tư xây các hệ thống đường xá và thị trấn dọc biên giới này sẽ đến từ Trung Quốc với vai trò “có lẽ sẽ là nhà đầu tư chính”.

Image copyrightGETTY
Image captionCampuchia ngày càng thể hiện mối quan hệ xích lại gần Trung Quốc

Ông lý giải: “Trung Quốc cũng sẽ là nhà đầu tư chính ngày càng quan trọng hơn với Campuchia, đặc biệt là với đảng cầm quyền của thủ tướng Hun Sen.”

“Bởi vì ông Hun Sen nhìn nhận Trung Quốc là đối tác chiến lược chính, không chỉ là đối tác kinh tế mà là cả đối tác chiến lược. Bởi vì chính phủ Campuchia hiện tại không có quan hệ tốt với Hoa Kỳ, vì thế Trung Quốc là đối tác thay thế cho sự tồn vong của chế độ và để duy trì sự ổn định. Campuchia cũng cần sự hỗ trợ từ Trung Quốc.”

Ông nói sự đầu tư này là “sống còn với Campuchia”.

“Ông Hun Sen tin rằng Trung Quốc có thể bảo vệ lợi ích của Campuchia hơn. Đó là tính toán chiến lược của thủ tướng Hun Sen và Campuchia dưới chế độ của ông sẽ có quan hệ rất thân cận với Trung Quốc.”

Chủ nghĩa dân tộc

Nhà nghiên cứu Vannarith cũng nói “chủ nghĩa dân tộc” ở Campuchia đang là một “lá bài”.

Ông nhận định: “Quan hệ giữa người Việt Nam và người Campuchia luôn luôn căng thẳng. Quan niệm của đa số người Campuchia về người Việt Nam khá tiêu cực, vì thế sự kiện này cũng bị khơi lên một phần vì chính trị nội bộ của Campuchia về vấn đề chủ nghĩa dân tộc. Tôi nghĩ chủ nghĩa dân tộc là lá bàn quan trọng để có thể thắng cuộc bầu cử.”

“Trong quá khứ, vị trí của đảng lãnh đạo Campuchia rất mạnh, nhưng giờ tôi nghĩ đảng cầm quyền cũng phải dùng đến lá bài chủ nghĩa dân tộc. Bởi vì kỳ bầu cử sắp đến vào năm tới, và cuộc tổng tuyển cử 2018 sắp tới. Vì thế nó cũng thể hiện chiến lược chính trị, bằng cách tăng cường chính sách dân tộc.”

“Ông Hun Sen cần phải chứng minh ông là người bảo vệ lãnh thổ và chủ quyền vì thế bất cứ điều gì mà ông nghĩ xâm phạm chủ quyền Campuchia, ông sẽ phản đối. Lần này ông rất cứng rắn. Trước đây ông thỏa hiệp và xuống giọng khi nói đến vấn đề biên giới với Việt Nam. Nhưng bây giờ tôi nghĩ ông sẽ rất, rất cứng rắn.”

Quan hệ với Việt Nam

Ông Vannarith nhận định quan hệ song phương Việt Nam – Campuchia sẽ phải “đối mặt với nhiều thách thức hơn trong tương lai”.

Image copyrightREUTERS
Image captionThủ tướng Việt Nam và Campuchia trong một lễ khai trương cột mốc biên giới

“Cho tới giờ, ngoại giao trong yên lặng có tác dụng nhưng tôi không biết sự tin tưởng và tự tin của lãnh đạo hai nước với nhau ra sao. Bởi vì đảng lãnh đạo Campuchia có mối quan hệ rất gần gũi với Đảng Cộng sản Việt Nam nên họ vẫn duy trì rất nhiều kênh ngoại giao.

“Tôi nghĩ ngoại giao trong yên lặng có thể có tác dụng.”

Ông Hun Sen công bố thông tin xây đường và đưa dân đến các tỉnh biên giới giáp Việt Nam tại hội nghị bảo vệ và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên ở Phnom Penh hôm thứ Hai 22/8/

(Nguồn: BBC)

Đinh Thị Thu Vân – những câu thơ em viết mất linh hồn

Trần Mạnh Hảo

Chúng tôi xin mượn câu thơ: “Những câu thơ em viết mất linh hồn” của nhà thơ Đinh Thị Thu Vân, trong tập thơ “Một ngày ta ngoái lại” của chị, do NXB Long An ấn hành năm 2005 làm tiêu đề cho bài viết này.

 

Đinh Thị THu VânNhà thơ Đinh Thị Thu Vân

Xin quý độc giả đọc nơi xuất thân của câu thơ trên, vì câu thơ cũng như người, nhiều khi nó cũng cần phải có đôi có cặp, nó cũng có gia đình, chòm xóm của nó, đất nước của nó là khổ thơ, bài thơ, tập thơ:

“Câu thơ nào em viết cho anh
xin vĩnh viễn đi vào kỷ niệm
dẫu mai này lòng không còn nguyên vẹn
những câu thơ em viết mất linh hồn!”

(Ru…) (Đọc tiếp…)

Thảm họa Minamata ở Nhật: Nỗi đau 50 năm vì biển bị đầu độc

Hoàng Hương

Hình ảnh cá chết hàng loạt ở ven biển Việt Nam.

Đúng vào thời kỳ phát triển kỳ diệu của Nhật Bản, nước này phải đối diện với nỗi kinh hoàng mang tên thảm họa Minamata do 1 vụ nhiễm độc chất thải chứa thủy ngân trên diện rộng

Vụ cá chết hàng loạt ở ven biển miền Trung, Việt Nam: Nỗi lo thảm họa lặp lại

Về vụ cá chết hàng loại ở ven biển miền Trung, Việt Nam, tuy rằng cơ quan chức năng chưa đưa ra kết luận về nguyên nhân, nhưng có thể khẳng định đây là một nguy cơ rất lớn về môi trường.

Song song với việc điều tra nguyên nhân, nhiều người đặt ra mối lo ngại cho sức khỏe của người dân ở những vùng bị nhiễm độc. Nếu nguồn nước biển và thủy sản đã bị nhiễm độc, thì sức khỏe của người dân sẽ có những ảnh hưởng lâu dài.

Trên một diễn đàn, GS Nguyễn Huy Nga, nguyên Cục trưởng Cục YTDP và Cục Quản lý Môi trường Y tế, Bộ Y tế đã liên tưởng sự kiện này với thảm họa vịnh Minamata ở Nhật.

Ông Nga đặt ra giả thiết: “Nếu lặp lại sự kiện Vịnh Minamata thì là thảm họa. Vịnh Minamata ở Nhật bị công nghiệp xả nước thải có chứa thủy ngân, thủy ngân xâm nhập vào sinh vật thủy sinh rồi vào cá tạo thành hợp chất thủy ngân hữu cơ.

Người ăn cá từ vịnh này bị ngộ độc thần kinh với những hậu quả vô cùng thảm khốc.

Sau hơn 50 năm, Nhật Bản vẫn có nhiều trẻ em sinh ra với dị tật do thủy ngân và hàng ngàn người hiện nay vẫn bị nhiễm độc thần kinh làm tiêu tốn rất nhiều triệu đô la của nhà nước.

Đấy là cái giá phải trả cho sự buông lỏng kiểm soát môi trường trong phát triển”.

Chúng tôi xin giới thiệu câu chuyện về thảm họa Minamata diễn ra cuối những năm 50 thế kỷ XX tại Nhật Bản để người đọc thêm một lần nữa nhìn rõ những hậu quả thảm khốc khi con người coi nhẹ việc bảo vệ môi trường.

Chân dung một nạn nhân của thảm họa Minamata

Khi nghe tin người dân ở Vịnh Minamata, Nhật Bản giờ đây có thể ăn cá được nuôi ở chính địa phương này, Kazumitsu Hannaga đã gầm gừ và không ngừng rên rỉ. Những ngón tay xương xẩu cào cấu trong không trung để bày tỏ sự phản đối.

Nhưng không ai hiểu chính xác ông Hannaga đang cố gắng nói điều gì. Ông bị câm. Ông bị dị tật bẩm sinh do ngộ độc bào thai, bởi mẹ ông khi mang thai đã ăn cá nhiễm thủy ngân.

Bị mẹ bỏ rơi khi còn nhỏ, ông Hannaga ở với người bố bị liệt cũng do ăn cá nhiễm chất độc này.


Bức ảnh chụp bác sĩ Hiroyuki Moriyama và ông Kazumitsu Hannaga, một bệnh nhân Minatama ở bệnh viện địa phương vào năm 1991.

Bức ảnh chụp bác sĩ Hiroyuki Moriyama và ông Kazumitsu Hannaga, một bệnh nhân Minatama ở bệnh viện địa phương vào năm 1991.

42 năm qua, ông sống trong bệnh viện là chủ yếu. Cổ không cứng nên đầu thường bị nghiêng bên này bên nọ, đôi chân bị teo lại nên ông chỉ biết di chuyển bằng xe lăn.

Niềm đam mê duy nhất của ông Hannaga là chụp ảnh. Vì thế, mỗi lần muốn ghi lại một khoảnh khắc đẹp, ông đều phải gồng mình, lấy hết sức để giữ chiếc máy ảnh không bị rung.

Ông Hannaga được chẩn đoán là mắc bệnh Minamata, một căn bệnh khủng khiếp đã gây ra nỗi kinh hoàng cho cả nước Nhật Bản trong những năm cuối thập kỉ 60 đầu 70 của thế kỷ trước, đúng vào thời kì phát triển kinh tế “kì diệu” của nước này.


Bức ảnh chụp mẹ đang tắm cho con gái mắc bệnh Minamata (Ảnh của nhà báo nổi tiếng William Eugene Smith).

Bức ảnh chụp mẹ đang tắm cho con gái mắc bệnh Minamata (Ảnh của nhà báo nổi tiếng William Eugene Smith).


Bức ảnh đặc tả ánh mắt của người mẹ khi tắm cho cô con gái Tomoko Uemura, 16 tuổi, bị nhiễm độc thuỷ ngân ở Minamata từ lúc còn là bào thai. Đây là một trong những tác phẩm đầu tiên của thể loại ảnh báo chí về ô nhiễm môi trường.

Bức ảnh đặc tả ánh mắt của người mẹ khi tắm cho cô con gái Tomoko Uemura, 16 tuổi, bị nhiễm độc thuỷ ngân ở Minamata từ lúc còn là bào thai. Đây là một trong những tác phẩm đầu tiên của thể loại ảnh báo chí về ô nhiễm môi trường.

Mối họa mang tên bệnh Minamata

Minamata là tên một thành phố xinh đẹp thuộc tỉnh Kumamoto, phía nam Nhật Bản nhưng nó cũng là tên một căn bệnh xuất phát từ thành phố này.

Ngày 21-4-1956, một bé gái 5 tuổi được đưa vào bệnh viện địa phương với những triệu chứng kỳ lạ như khó đi, khó nói và co giật. 2 ngày sau, em của cô bé này cũng bị các triệu chứng tương tự.

Đến đầu tháng 5-1956, giám đốc bệnh viện báo cáo với giới chức y tế địa phương rằng đã phát hiện một căn bệnh chưa từng được biết đến. Ngay lập tức, chính quyền thành phố Minamata đã thành lập một ủy ban điều tra căn bệnh lạ này.

Đến tháng 11.1956, các nhà khoa học Trường Đại học Kumamoto phát hiện căn bệnh này là một loại nhiễm độc kim loại nặng được truyền qua các loại hải sản như cá và sò,

Đó là bệnh do nhiễm độc thủy ngân gây hủy hoại hệ thống thần kinh, chủ yếu là thần kinh trung ương.


Hình ảnh bộ não của người bị mắc bệnh Minamata.

Hình ảnh bộ não của người bị mắc bệnh Minamata.

Lúc đó, dù bị nằm trong diện tình nghi liên quan đến vụ này, Công ty hóa chất Chisso, chuyên sản xuất chất acetaldehyde từ năm 1932 phủ nhận mọi trách nhiệm về vụ việc và tiếp tục xả chất thải ra Vịnh.

Người dân địa phương vẫn tiếp tục đánh bắt và chế biến các món ăn từ những loại hải sản nhiễm độc đó trong thực đơn hằng ngày.

Năm 1965, một vụ nhiễm độc trên diện rộng ở tỉnh Nigata, trên đảo Honshu, cách Kumamoto khoảng 1.000 km cũng xảy ra tương tự như ở Minamata và thủ phạm tình nghi cũng là chất thải chứa thủy ngân của một công ty khai khoáng trên địa bàn.

Đến năm 1968, các chuyên gia mới xác định được bệnh Minamata do metyl thủy ngân gây ra. Hợp chất độc hại này do Công ty Chisso ở Minamata và Công ty Showa Denko ở Niigata tạo ra trong quá trình sản xuất acetaldehyde.

Nhà máy của hai công ty này đã xả chất thải không qua xử lý ra sông. Thông qua chuỗi thức ăn, độc chất được tích tụ trong cá và sò và truyền sang cư dân địa phương.

Năm 2001, có khoảng 1.700 trong số 2.200 người bị chết vì bị ảnh hưởng bởi độc chất từ nhà máy hóa chất ở miền Nam Nhật Bản, là do bị ngộ độc vì ăn cá ở địa phương.

Hậu quả kinh hoàng của bệnh Minamata

Bệnh Minamata để lại nhiều hậu quả kinh hoàng tùy theo mức độ nhiễm độc.

Những người bệnh nặng thường rú lên vì đau đớn, thường xuyên co giật và bị liệt. Một số bệnh nhân bị mù, điếc hoặc mất trí và nhiều người bị nhẹ hơn thì tay chân run, mất cảm giác, mất thăng bằng.

Phụ nữ nhiễm metyl thủy ngân khi mang thai sẽ có nguy cơ sinh con liệt não, bị điếc, bị mù hoặc đầu quá nhỏ, lớn lên thì tâm trí phát triển chậm.


Bà mẹ này khi mang thai đã ăn cá nhiễm thủy ngân.

Bà mẹ này khi mang thai đã ăn cá nhiễm thủy ngân.

Giờ đây, Vịnh Minamata đã trong sạch trở lại. Sau bao nhiêu cuộc chiến pháp lý, cuối cùng, công ty Chisso cũng đã bỏ hàng chục tỉ yên để bồi thường và chính phủ Nhật Bản cũng có nhiều động thái hỗ trợ bệnh nhân Minamata.

Tuy nhiên, sau hơn 50 năm, căn bệnh khủng khiếp này vẫn còn hành hạ biết bao nhiêu người.

Công ty Chisso đã từng góp phần phát triển thành phố Minamata và tạo công ăn việc làm cho dân địa phương nhưng hậu quả mà công ty này gây ra không gì bù đắp được.

Bài học đau xót của Thảm họa Minamata vẫn còn đó, như là minh chứng tiêu biểu nhất của việc phát triển kinh tế đưa tới những tác hại xấu về môi trường cho con người.

Shinobu Sakamoto, sinh ra đã bị tổn thương não, hiện cũng đang được chăm sóc và điều trị ở bệnh viện Minamata. Chị gái của bà, lúc 4 tuổi, cũng chết do ngộ độc thủy ngân khi ăn cá.

“Chừng nào chúng tôi còn sống, căn bệnh Minamata sẽ không bao giờ kết thúc”, Shinobu Sakamoto khẳng định.

* Tổng hợp từ nhiều nguồn

( Nguồn: google)

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.08.2016

TÔI VIẾT SÁCH “TƯỚNG GIÁP TRONG TÔI”

Nhân ngày sinh lần thứ 106 của Đại tướng Võ Nguyên Giáp ( 25/8)

Bia%20Ngo%20Minh

TÔI VIẾT SÁCH “TƯỚNG GIÁP TRONG TÔI  

 

   Ngô Minh

 

Tướng giáp trong tôi là cuốn truyện ký tôi viết riêng về Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Người anh cả của Quân dội nhân dân Việt Nam, do nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành tháng 6/2013. Từ năm 1995, sau Đaị hội Nhà văn Việt Nam lần thứ V, tôi bắt đầu viết hàng chục bài về Đại tướng. Khi thì một truyện lý, ghi chép, khi thì bài thơ, hay bài giới thiệu trường ca đầu tiên về Tướng Giáp của Hoàng Bình Trọng, bài bình về hai câu thơ cách tân của nhà thơ Bút Tre :Hoan hô Đại tướng Võ Nguyên / Giáp ta thắng trận Điên Biên trở về…”, hay vai trò của Đại tướng là linh hồn của Đường Hồ Chí Minh trên biển.v.v.. Tôi là người khái tính, không quen viết những cái ngoài mình. Tôi chưa bao giờ làm thơ ca ngợi bất cứ một vị lãnh tụ nào ngoài Đại tướng Võ Nguyên Giáp.  Sau tết âm lịch Quý Tỵ, tôi bỗng có linh cảm Đại tướng sẽ đi xa mãi mãi không biết lúc nào, vì ông đã 103 tuổi, đại thượng thọ, vị tướng còn sống duy nhất trong 50 vị tướng thiên tài mọi thời đại của nhân loại , đã nằm Bệnh viện quân y 108 suốt mấy năm nay. Vì thế tôi đã sửa chữa, nâng cấp các bài viết, thơ, tập hợp lại thành cuốn sách Tướng Giáp trong tôi. Lúc đầu tôi lấy tên sách là Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong tôi, nhưng như thế nghe khách sáo quá. Thực tình thì tôi đã  hai lần gặp Đại tướng, đã đến thăm nhà, chụp ảnh chung với Đại tướng và đã đọc thơ cho ông nghe. Tôi coi Đại tướng như một người Chú (đại tướng thua ba tôi 8 tuổi), hơn nữa tôi là một người lính của ông , nên lấy tên sách Tướng Giáp trong tôi sẽ gần gụi, thân mật hơn. Tôi phải ấn hành cuốn sqách khi ông đang còn sống, nếu không người ta sẽ nghĩ rằng:”Người chết rồi thì nói thế nào mà chẳng được!” (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.08.2016

THÊM MỘT CÁCH ĐỌC NGƯỢC TRUYỆN KIỀU

THÊM MỘT CÁCH ĐỌC NGƯỢC TRUYỆN KIỀU

Trần Quốc Toàn (thực hiện)

VanVN.Net – Nhà Kiều học – thầy giáo toán Phạm Đan Quế lại có thêm một sách chuyên khảo Truyện Kiều, mang tên “Truyện Kiều đọc ngược của Cổ nhân” , khác với sách “Truyện Kiều đọc ngược” ông đã đưa tới bạn đọc từ năm 2002. Nhân việc này chúng tôi có cuộc phỏng vấn ông Phạm Đan Quế.

PV: Thưa ông, “Truyện Kiều đọc ngược” – tên một cuốn sách do ông biên soạn, chỉ là tên sách ấy, hay còn là tên một lối chơi chữ từ Truyện Kiều, kiểu như tập Kiều, đố Kiều, nhại Kiều…?

Ông Phạm Đan Quế: Chúng ta hoàn toàn không có tư liệu gì về cách mà cổ nhân đã thực hiện khi đọc ngược Truyện Kiều, từ chữ cuối tới chữ đầu. Trong cuốn “Truyện Kiều đọc ngược” (NXB Thanh niên  2002) chúng tôi đã dành 50 trang nghiên cứu vấn đề này và khẳng định, cũng có vô số bản Truyện Kiều đọc ngược đấy, nhưng chỉ là đọc theo lối tập Kiều, là lối chơi chữ theo cách lựa chọn một số câu Kiều ở những chỗ khác nhau trong 3254 câu của Truyện Kiều, những câu có thể nối vần với nhau để tạo thành bài lục bát mới, theo một chủ để nhất định nào đó. Nếu theo chủ đề đảo ngược thời gian, thì Truyện Kiều được “đọc ngược”, từ đoạn “tái hồi Kim Trọng”:

3253. Lời quê chắp nhặt dông dài,

Mua vui cũng được một vài trống canh.

3145. Nàng rằng: Phận thiếp đã đành,

Có làm chi nữa cái mình bỏ đi!

3185. Chở che đùm bọc thiếu gì,

Trăm năm danh tiết cũng vì đêm nay.

3209. Tẻ vui bởi tại lòng này,

Hay là khổ tận đến ngày cam lai?

3241. Ngẫm hay muôn sự tại Trời,

Trời kia đã bắt làm người có thân….

Theo cách này, trong tác phẩm trên, chúng tôi đã dùng lại toàn bộ 3254 câu thơ của Nguyễn Du – dùng nguyên văn – để viết lại thành một câu chuyện có trình tự thời gian đi ngược lại câu chuyện nguyên tác, như đã thực hiện một cuốn phim quay ngược (nội dung thì không có gì mâu thuẫn với nguyên bản). Khi làm sách này, chúng tôi đã cho rằng chuyện người xưa có thể đọc ngược Truyện Kiều từ cuối trở lên đầu không cần giở sách là thậm xưng và có thể chỉ là truyền thuyết hay giai thoại. Nhưng sau khi sách ra mắt được ít lâu, qua nhiều ngày đêm nghiền ngẫm, chúng tôi nhận thấy, nhận định như trên không chính xác vì còn có cách đọc ngược Truyện Kiều khác nữa, rất đơn giản, thú vị và tự nhiên hơn nhiều mà có thể các cụ ta xưa đã làm.

Ông Phạm Đan Quế

PV: Xin ông giới thiệu cách đọc ngược này!

Ông Phạm Đan Quế: Đọc ngược cách này cực kỳ đơn giản: giữ nguyên câu lục, và hoán vị 4 chữ cuối của câu bát và đọc từ dưới lên trên. Mời bạn đọc nghe thử, Truyện Kiều đọc từ 8 âm tiết cuối cùng:

3524. Mua vui cũng được trống canh một vài

3253. Lời quê góp nhặt dông dài

Chữ tâm kia với chữ tài bằng ba

3251. Thiện căn ở tại lòng ta

Cũng đừng trách lẫn đất xa, trời gần

3249. Đã mang lấy nghiệp vào thân

Chữ tài liền với một vần chữ tai

3247. Có tài mà cậy chi tài

Chữ tài chữ mệnh cả hai dồi dào

3245. Có đâu thiên vị người nào

Cho thanh cao mới thanh cao được phần

3243. Bắt phong trần phải phong trần

Trời kia đã bắt có thân làm người

3241. Ngẫm hay muôn sự tại trời

Vườn xuân một cửa muôn đời để bia….

Theo cách đọc trên, chúng tôi vừa biên soạn xong cuốn Truyện Kiều đọc ngược “của Cổ nhân” với đủ 3.254 câu. Cuốn mới này sẽ ra mắt trong quý IV-2016. Chúng tôi xin được nói qua về cuốn sách mới này. Với chữ “của Cổ nhân” trong ngoặc kép chúng tôi muốn  nhấn mạnh,  đây không phải là văn bản sưu tầm từ thư tịch cổ, mà là cuốn sách do chúng tôi biên soạn, nhưng có thể  người xưa  đã nghĩ ra và từng thực hiện. Khi đọc ngược thơ lục bát như thế này, nội dung cơ bản không thay đổi bao nhiêu, thậm chí có trường hợp đọc ngược lại thuận nghĩa hơn, và có lý hơn như câu “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”, thì ta phải hiểu là “Trời xanh quen thói đánh ghen má hồng”, đúng như câu bát đọc ngược này. Và chúng ta lại càng thấy Truyện Kiều tuyệt vời biết bao khi đọc ngược cả quyển thơ dài tới 3.254 câu mà chỉ có 17 câu bát chưa thật thuận tai (11 chỗ là do từ láy bị tách đôi và 6 chỗ do văn lý). Như trường hợp câu 0005 “Lạ gì bỉ sắc tư phong/ Những điều trông thấy đớn lòng mà đau”. Gặp trường hợp này chúng tôi mạn phép động bút đổi thành “mà lòng đớn đau”.

Từ cách đọc ngược Truyện Kiều có thể suy ra, mọi bài thơ lục bát đúng cách đều có thể đọc ngược như thế. Điều này chính là một minh chứng hùng hồn cho sự kỳ diệu của ngôn ngữ Việt và lại là một cách vinh danh tuyệt vời cho thể thơ lục bát dân tộc của chúng ta. Mong rằng sau khi quyển sách này ra đời sẽ có nhiều bạn trẻ thuộc Kiều tới mức có thể đọc ngược Truyện Kiều ở bất cứ đoạn nào nếu không phải là toàn truyện.

PV: Nhân nói tới các bạn trẻ, nói tới tuổi học sinh, xin được hỏi các thầy cô giáo dạy văn nên dùng sách này như thế nào?

Ông Phạm Đan Quế: Rất mong các thầy cô đón đọc sách này. Và tôi nghĩ, các buổi ngoại khóa môn Văn ở nhà trường  có thể tổ chức thi đọc ngược những đoạn Kiều đã học hoặc những đoạn hay khác được chọn cho thêm phần hào hứng, bởi với quyển sách này trong tay, bạn nào cũng có thể đọc ngược một đoạn Kiều dù chỉ mươi, mười lăm câu. Tất nhiên để thuộc được đoạn đọc ngược nào, ta phải hiểu và thuộc được đoạn đọc xuôi tương ứng trong Truyện Kiều trước. Chắc chắn bạn nào say mê và quyết tâm sẽ có thể đọc ngược được khá nhiều đoạn Kiều mà mình thích, rồi có thể tiến xa hơn để có thể đọc ngược toàn bộ Truyện Kiều từ cuối trở lên đầu như các cụ ta ngày xưa. Nếu đúng là cổ nhân đọc theo kiểu này thì quả là quá tuyệt vời – Một phương pháp đọc ngược đơn giản và rất dễ nhớ, dễ thuộc mà cổ nhân vì yêu mến Truyện Kiều đã nghĩ ra. Thật là một sáng tạo, thú vị không ngờ mà mọi người yêu Kiều nên biết.

PV: Xin hỏi câu cuối cùng, là nhà Kiều học, ông có ý kiến gì về việc học Kiều trong nhà trường vào dịp ngành giáo dục đang tiến hành soạn thảo bộ sách giáo khoa mới trong đó có sách văn học?

Ông Phạm Đan Quế: Hiện nay khi dạy Truyện Kiều, sách giáo khoa đã chọn sẵn một số đoạn trích giảng nên giáo viên khó thoát khỏi những ràng buộc giấy trắng mực đen như thế. Nên chăng sách giáo khoa mới, ngoài mấy bài quy định, nên cho giáo viên tự chọn một số đoạn mà mình tâm đắc rồi truyền đạt cho học sinh để bài giảng có hồn hơn, cuốn hút hơn. Truyện Kiều đặc biệt ở chỗ đoạn nào giảng cũng tìm được nhiều cái hay, nếu làm như vậy thì thày trò sẽ cùng nhau tìm ra được nhiều cái hay của Truyện Kiều mà sự áp đặt theo lối cũ chưa thấy được.

Xin cảm ơn ông!

( Nguồn: vanvn.net)

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.08.2016

BẠO CHÚA MAO TRẠCH ĐÔNG – THƠ

BẠO CHÚA MAO TRẠCH ĐÔNG – THƠ

NHÂN 40 NĂM NGÀY MẤT CỦA BẠO CHÚA MAO TRẠCH ĐỘNG ( 9-9-1976 —9-9-2016). Tần Thủy Hoàng, Hitle, Stalin… còn phải gọi Mao bằng cụ vì mức độ gây tội ác. Ai đã bắt dân tộc Việt Nam tôn thời chủ nghĩa Maoist trong mấy chục năm qua ?

Mao

MAO TRẠCH ĐÔNG

Thơ Trần Mạnh Hảo.

Trán Người cao hơn nghìn núi sọ 
Mặt Người mênh mông hơn niềm hư vô thần linh 
Tháng chạp Hồ Nam tuyết rắc đầy lông cáo 
Sông Dương Tử ám như ma dìm chết đuối Động Đình

Người pha tư tưởng thành máu mực 
Loãng tâm hồn cháo huyết Trung Hoa 
Xã tắc đựng vừa tay nải 
Hành khất máu xương hề 
Người cái bang hề vĩ đại 
Cân hàng triệu sinh linh trên một chiếc cân ruồi

Vĩ nhân Diên An 
Đâu những đám mây ròng ròng phép lạ 
Có lời Người bàn 
Cá cũng hoá thành chim

Giang Thanh – Em – Nền Văn Nghệ mới 
Duy vật đôi mông nàng là biện chứng mù sương 
Lịch sử – con chiến mã Người phi nước đại 
Quất ngọn roi giai cấp hoá thiên đường

Cách Mạng là công cuộc bắt bướm 
Bắt sạch bướm trong giấc mơ thiên hạ 
Khinh bọn mây trắng phi lập trường, phi hiệu quả 
Con trâu điếc Lão Đam mê đàn Đông Phương Hồng 
Người xin thề với mênh mông: 
– Không đi chung đường cùng chim sẻ!

Vầng trăng Hạ Cơ điên đầu trời bể 
Thích thằng Cuội thủ dâm tư tưởng chị Hằng 
Người – bông lau đen đêm quạ trắng 
Người đếm cát Gô-Bi trong bão thốc trường thành 
Bão tuyết nuôi bạc đầu Bột Hải 
Thèm đập vỡ sọ người tìm mâu thuẫn trời xanh!

Máu Trung Hoa trắng rợn da ngựa 
Cho thuỳ dương xoã hết tóc Đường Thi 
Người mắc bệnh nghi mình là tượng 
Cả Trung Hoa lên cơn nghiền lý tưởng 
Người cầm cơn hồng vệ binh như cầm một tách trà 
Hoàng Hà đỏ đổ từ trời như bị cắt tiết

Tư duy là trò chơi chán chết 
Làm mặt trời hay hơn làm thơ 
Thử lấy máu tạo phản trò nước mắt 
Tiếc không Tần Thuỷ Hoàng toạ một ván cờ 
Buồn trời đất chỉ sinh mình Gia Cát 
Cười mẩu đại bàng cao hơn Thái Sơn

Đêm hồn Người chớp liên hồi như đạn hoả mai Thái Bình Thiên Quốc 
Đêm Hồ Nam khét lẹt tiếng mèo gào 
Phải ăn sạch giấc hoè thiên hạ 
Tuyết trái mùa làm đất mọc lông mao…

Sài Gòn 27-2-1994

T.M.H.

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.08.2016

NHỮNG NGƯỜI LÀM GIÁO DỤC PHẢN GIÁO DỤC

 

NHỮNG NGƯỜI LÀM GIÁO DỤC PHẢN GIÁO DỤC

fb Đỗ Minh Tuấn
(Comment của Congtrung Nguyen)

Có lẽ tình báo của Trung Quốc cài cắm được trong đầu não của bộ giáo dục nên ngành đã tuyển và chọn những người làm giáo dục nhưng thực chất là phản giáo dục qua biết bao nhiêu là vụ việc từ trước đến nay,cứ định hướng loanh quanh cải tiến, cải lùi chắc chỉ nhằm mục đích phá hoại nền giáo dục là cái gốc của văn hoá dân tộc Việt Nam ? Mất cảnh giác đến nổi ngay trước hiểm họa của Trung Quốc đang ngày càng xâm lấn chủ quyền, bờ cõi tổ tiên thì chẳng những không củng cố,tăng cường môn lịch sử để hun đúc, khơi dậy,giáo dục lòng yêu nước cho giới trẻ – thế hệ chủ tương lai của đất nước thì lại muốn tích hợp lằng nhằng, rối rắm, tan hoang rồi để xoá? Có kẻ muốn rắp tâm dạy phổ cập tiếng Trung Quốc cho toàn thể học sinh.. Nhớ rằng sách giáo khoa Việt Nam trước đây từng in bậy bạ từ bỏ về chủ quyền biển đảo để bây giờ Trung Quốc đã dùng làm bằng chứng mà thấy đau đớn, căm phẫn vô cùng.

Phải chăng bọn nô tài,Hán gian đã, đang tiếp tay cho kẻ thù truyền kiếp giết hại thế hệ trẻ Việt Nam? Anh Đỗ Minh Tuấn từng đau đáu, phẫn uất : ” Có một siêu chiến lược hủy diệt nhân tính Việt đằng sau tất cả những vụ việc kiểu này. Sách giáo khoa không chỉ một lần dạy trẻ bằng những bài viết về tội ác, về cái chết, về những chuyện nhảm nhí không hề mang một chút nào dù nhỏ hàm lượng nhân văn và trí tuệ. Hãy cảnh giác! Ai đạo diễn tất cả các vụ đánh úp các thế hệ tương lai kiểu này? Chúng đặt hàng ngầm? Chúng hối lộ để lấy giấy phép cho những sản phẩm giáo dục kiểu này? Đây là một kiểu đầu độc dân tộc Việt giống như cho chất độc vào trong sữa trẻ em mà chúng ta đã biết từ nhiều năm nay. Hãy tỉnh táo ngăn chặn các mưu đồ thâm hiểm này để dân tộc Việt Nam nhân ái, tử tế và đôn hậu tiếp tục tồn tại trên trái đất khổ đau khốn kiếp này! “.

” Hiện nay người ta chán ghét học văn, học sử là vì dạy văn thì có thật sự dạy văn đâu, mà là dùng văn để dạy chính trị, chủ yếu để dạy chính trị. Sử cũng hoàn toàn như vậy “- Nhà văn Nguyên Ngọc đã nói như vậy về việc dạy và học sử. Còn ông Đinh Kim Phúc một nhà nghiên cứu lịch sử thì nói :” Người ta đã biến một bộ môn khoa học trở thành một bộ môn chính trị để tuyên truyền, để minh họa cho đường lối chính sách của nhà nước chứ không phải cho một ngành khoa học. Vấn đề dạy và học lịch sử hiện nay đã bị bóp méo. Nó được xây dựng trên một nền tảng không khoa học. Chính vì vậy nên thầy không muốn dạy mà trò thì không muốn học “..

Hậu quả đã tan nát như hôm nay, với minh chứng vài thống kê trên báo Tuổi trẻ ngày 26/7/2011 cách đây 5 năm là: Trường đại học Tôn Đức Thắng chỉ có duy nhất 1 bài được điểm 5, tất cả số bài còn lại đều dưới trung bình với tỷ lệ là 99,6%;trường đại học Đà Nẵng có 477 bài thi bị điểm 0, bài thi dưới điểm 5 là 2448 chiếm 99,6 %.. Ai ai cũng đau lòng với kết quả này nhưng có một người rất bình thản,rất ráo hoảnh một cách tàn nhẫn :” Điểm lịch sử thấp là vấn đề của thời đại “. Thật đau,khi đây không phải là phát biểu của một tuyên truyền viên của tình báo Hoa Nam mà là của người đứng đầu Bộ giáo dục.

Cách biện hộ này đúng không khi so với chỉ một vụ khủng bố mà thanh niên Pháp hừng hực thi nhau tình nguyện gia nhập quân đội còn thanh niên Việt Nam lại vô tư trước hiểm họa chủ quyền, ngư dân bị đánh đập, bắn giết..? Chưa kể không ghi cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống năm 1979, Gạc ma…Một nền giáo dục, một nền văn hoá hủy hoại niềm tin biến sự dâng hiến của anh hùng liệt sĩ thành kẻ ngu ngốc, chết để làm gì, chết cho ai? Đó là hiểm họa mất nước mà không biết lo.

Nền giáo dục cần quay lại cách giáo dục cho con trẻ việc nhân bản,khai phóng, đề cao vai trò gia đình và bỏ nhồi nhét chính trị giáo điều như quá đề cao tình yêu mù quáng vào CNXH viễn vông, không có thật như từng yêu cuồng những vĩ nhân ác ôn Stalin độc tài hay yêu cả kẻ thù của đất nước Việt Nam là đồ tể Mao Trạch Đông.

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.08.2016

TRUNG QUỐC SẮP ĐỔI THỂ CHẾ?

TRUNG QUỐC SẮP ĐỔI THỂ CHẾ?

FB Đinh Văn Chinh


Văn ChinhĐinh Văn Chinh

Phó chủ tịch Quân ủy TW, Trưởng ban Kiểm tra Đảng Cộng sản Trung Quốc Vương Kỳ Sơn đã chết cách đây 3 tháng vì bệnh ung thư. Trước khi chết, Vương đã dặn Tập Cận Bình: Có trên 440 tướng lên chức vừa qua đã phải đút lót cho ông ta và những người khác. Chỉ có Lưu Nguyên (con trai Lưu Thiếu Kỳ) và Lưu Á Châu (con rể nguyên Chủ tịch nước Lý Tiên Niệm) là không hối lộ để lên tướng. Vương Kỳ Sơn đã nộp danh sách đưa tiền, danh sách nhận tiền (trung bình 500.000 USD / người) và nộp số tiền mà ông ta đã nhận. Sự vụ này đã được thông báo trong Hội nghị Bắc Đới Hà, kết thúc 14 tháng 8. Hội nghị đã có thông cáo báo chí, đại lược:
Đại hội sang năm 2017 sẽ thực hiện 20 chính sách cải tổ lớn về chính trị kinh tế văn hóa giáo dục:
1, Miễn phí y tế giáo dục toàn bộ
2, Bỏ đặc quyền đặc lợi quan chức.
3, Bỏ xe công, nhà công
4, Xóa bỏ toàn bộ các DN nhà nước xóa bỏ, tiến hành tư nhân hóa các công ty quốc doanh. Xóa bỏ triệt để hình thức nhà nước làm kinh tế.
5, Tự do báo chí, tự do ngôn luận
6, Tư pháp sẽ độc lập với hành pháp và với đảng
7, Phấn đấu tăng gấp đôi thu nhập đầu người
8, Có 7 thường vụ Bộ Chính trị nhiệm kỳ sau chỉ giữ 2 là Tập và Lý Khắc Cường
v.v…
Trong đó nói rõ, còn 5 việc chưa thể nói lúc này; trong đó có việc sẽ nói sau cuộc gặp 
gặp Tổng thống Mỹ ở Hàng Châu trong tháng 10, tháng 11.
Hội nghị Bắc Đới Hà nhận được sự đồng thuận cao; duy Trưởng ban Tuyên giáo TW Lưu Văn Sơn chống lại đường lối này.

Vũ khí Việt Nam uy hiếp lớn ở Biển Đông hơn cả chiến hạm Mỹ

Giáo sư Úc Carlyle Thayer nhận định, nếu Việt Nam triển khai hệ thống vũ khí mới sẽ là một mối đe dọa tiềm tàng lớn với các đường băng và cơ sở quân sự nước ngoài trên các đảo nhân tạo bồi đắp phi pháp tại Trường Sa. Nguy cơ từ vũ khí Việt Nam còn lớn hơn cả mối đe dọa đến từ chiến hạm Mỹ.
An Công – /Thứ Ba, ngày 23/8/2016 – 07:30
Tên lửa Extra của hải quân Việt NamTên lửa Extra của hải quân Việt Nam

Theo giáo sư Thayer thuộc Học viện Quốc phòng Úc, các động thái của Việt Nam mang dấu hiệu của một phản ứng hoàn toàn tự vệ để đối phó với việc nước ngoài củng cố cơ sở hạ tầng trên các đảo nhân tạo bồi lấp, xây dựng phi pháp ở Biển Đông, trong đó có việc xây dựng nhiều nhà chứa máy bay có khả năng tiếp nhận chiến đấu cơ đa nhiệm Su-30, máy bay ném bom, máy bay tiếp tế nhiên liệu và máy bay cảnh báo sớm và điều khiển.

Chuyên gia Thayer nhận định, hành động tự vệ của Việt Nam đã phức tạp hóa kế hoạch của người láng giềng khổng lồ với tham vọng độc chiếm Biển Đông. Ba đường băng mới xây dựng trái phép trên các Đá Chữ Thập, Đá Xu Bi, Đá Vành Khăn đã trở thành mục tiêu dễ bị hệ thống tên lửa của Việt Nam gây tổn hại. Lý do là tên lửa Việt Nam là một mối đe dọa thường trực, trong lúc các chuyến tuần tra của hải quân Mỹ chỉ mang tính chất thoáng qua.

Giới quan sát cho rằng, diễn biến tình hình Biển Đông hiện nay chứng minh cho nhận định rằng các hành động của Trung Quốc đã kích động một phản ứng ngược lại, hay chính là điều mà giới phân tích an ninh gọi một chu kỳ «động lực-phản động lực».

Ông Thayer nêu rõ, tình hình ở quần đảo Trường Sa sẽ căng thẳng thêm lên nếu Trung Quốc đột ngột triển khai máy bay quân sự trên ba đường băng mà Bắc Kinh đã xây dựng phi pháp, một khi các nhà chứa máy bay được hoàn thành.

Cận Đá Vành Khăn đã bị Trung Quốc bồi lấp, xây đảo nhân tạo trái phép với đường băng, nhà chứa máy bay và các công trình quân sự ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Giáo sư Thayer đánh giá, Trung Quốc sẽ không có khả năng tuyên bố một vùng nhận dạng phòng không trên Biển Đông và buộc nước khác tuân thủ chừng nào nước nay chưa xây dựng đủ các bể chứa nhiên liệu, và các cơ sở bảo trì và sửa chữa rộng lớn. Tuy nhiên, Trung Quốc có thể triển khai một phi đội máy bay chiến đấu và máy bay ném bom, hoạt động xoay vòng trong thời gian ngắn, làm căng thẳng gia tăng trong khu vực. Điều này sẽ có tính cách hù dọa các nước ven biển.

Theo giới quan sát quốc tế, Việt Nam đã và đang xây dựng một chiến lược chống tiếp cận riêng ở Biển Đông dựa vào các loại vũ khí hiện đại mua của Nga và phương Tây. Không chỉ có các tên lửa đời cũ như Redut P-35 Shaddock hay Scud, Việt Nam hiện sở hữu hàng loạt các loại tên lửa tối tân như Bastion-P, Club-S, Kh-35, Extra…

Quan trọng hơn cả là Nga đã chuyển giao nhiều công nghệ cho Việt Nam, nhờ đó sản xuất hàng loạt tên lửa và tàu chiến theo giấy phép của Nga.  Nga thậm chí còn bán cho Việt Nam các tên lửa hành trình hạm đối đất tiên tiến giúp hải quân Việt Nam có thể tấn công lãnh thổ kẻ địch. Quan hệ giữa Việt Nam và Ấn Độ cũng cho phép tiếp cận loại tên lửa chống hạm Brahmos đáng sợ nhất thế giới.

Theo thông tin đã được công khai, năm 2014 Việt Nam đã mua 10 giàn phóng tên lửa dẫn đường và tên lửa đất đối đất Extra của Israel. Trong cuộc diễu binh ngày 2/5/2015 kỷ niệm 60 năm thành lập Quân chủng Hải quân Nhân dân Việt Nam tại quân cảng Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa, lần đầu tiên người xem được thấy một loại tên lửa đạn đạo mới trong biên chế của Quân đội Việt Nam.

Extra có thể dùng trong các cuộc tấn công chuẩn xác nhắm vào tàu chiến hay các cơ sở trên đất liền trong một bán kính từ 20 đến 150 km. Tên lửa này có độ chính xác cao, và sai số so với đích nhắm chỉ khoảng mười mét. Tên lửa có thể mang một đầu đạn thuốc nổ cực mạnh, hay nhiều quả bom nhỏ. Đầu đạn thuốc nổ có thể gây tổn hại cho một tàu chiến, hoặc tạo nên một hố lớn trên một đường băng, còn bom nhỏ có thể gây thương vong hàng loạt trong một khu vực nhất định, phá hủy máy bay nằm đưới đất, các trung tâm chỉ huy và thông tin liên lạc, và các cơ sở hậu cần và cơ sở hạ tầng giao thông vận tải.

Khẩu đội tên lửa chống hạm Bastion P của hải quân Việt Nam

Sự xuất hiện của tên lửa Israel trong biên chế của Hải quân Việt Nam đã tạo ra nhiều tranh luận về mục đích sử dụng của loại tên lửa này. Rõ ràng tên lửa không phải là loại tên lửa chống tàu mà là đạn pháo phản lực bắn loạt chống mục tiêu là binh lực và sinh lực tập trung. Đạn tên lửa Extra được đánh giá tương đương với pháo phản lực Nga Smerch BM-30.

Một điều đáng chú ý là, trong phóng sự truyền hình nói trên có cảnh các chiến sĩ Đoàn 685 lắp ráp và triển khai UAV loại Orbital 2. Đây là máy bay do hãng ADS (Israel) sản xuất. Loại máy bay này dùng để trinh sát mục tiêu và hướng dẫn hỏa lực nhắm bắn chính xác.

Tên lửa chống hạm KCT-15 Việt Nam tự chế tạo theo giấy phép của Nga

Giới quan sát hiện đang cố gắng tìm hiểu xem có phải Việt Nam triển khai các vũ khí uy lực tại Trường Sa. Cũng không phải lần đầu tiên có tin đồn đoán Việt Nam tăng cường vũ khí hiện đại ra Trường Sa (Với truyền thống hòa hiếu, Việt Nam không hề và không bao giờ chạy đua vũ trang nhưng hoàn toàn có quyền tự vệ chính đáng trước những mối đe dọa và các thách thức an ninh, cũng như sẵn sàng bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Việc triển khai vũ khí ở đâu, vào thời gian nào trên lãnh thổ của Việt Nam là điều hoàn toàn bình thường).

Ông Gregory Poling, Giám đốc Tổ chức Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế Mỹ (CSIS) nhận xét: “Rõ ràng là căng thẳng đã leo thang ở Biển Đông, nhưng không phải bởi vì Việt Nam đã triển khai hay không triển khai thứ gì ra Trường Sa, mà căng thẳng leo thang là bởi vì Trung Quốc tăng cường quân sự hóa các đảo, đá và bãi cạn một cách quy mô ở khu vực Biển Đông”.

( Nguồn: Google)

Người tử tế thì không vì danh lợi của mình mà làm hại bạn bè, cho dù bạn đó chỉ là 1 con vật!

 
 
 
Cô Adelinde Cornelissen, người Hòa Lan gốc Đức, là 1 vận động viên môn cưỡi ngựa nghệ thuật rất nổi tiếng. Cô đã đoạt nhiều giải cao quý bao gồm Huy chương vàng quốc tế trong bộ môn này. Trong suốt những lần thi đấu đó, chú ngựa thân yêu Parzival của cô đã biểu diễn rất xuất sắc, chú luôn cố gắng vượt bực và đã giúp cô giành được thắng lợi.
Để chuẩn bị cho kỳ Thế Vận Hội năm nay tại Rio, cô Adelinde và chú ngựa Parzival đã khổ luyện suốt 4 năm. Ngày nào họ cũng giành ra 7-8 tiếng để tập luyện, và cô là người được dư luận tin tưởng là sẽ đoạt được huy chương vàng.
Thế nhưng ngay trước ngày thi đấu, cô Adelinde phát giác ra chú ngựa của cô bị bệnh lạ: 1 bên đầu bị sưng, mắt bị sưng và bị số . Các thú y đi theo đoàn vội chẩn bệnh, thử máu, chụp quang tuyến cho ngựa, thì phát giác chú ngựa Parzival bị nhện độc cắn, chất độc lan vào máu làm cho sưng và sốt.
Sức của 1 chú ngựa đua bình thường rất khỏe, 1 vết cắn như vậy chỉ cần uống thuốc trụ sinh, chữa trị vài ngày là hết. Nhưng ngặt cái hôm sau là ngày thi đấu, nếu chất độc chưa được trị hết, trong lúc thi đấu chạy nhảy quá nhiều có thể khiến cho chất độc dồn vào tim gây ra đột quỵ bất ngờ.
Cô Adelinde xin Ban Tổ Chức Thế Vận Hội thay đổi lịch thi, cho người khác thi trước và cô thi sau 2 ngày, nhưng không được chấp thuận.
 
Suốt đêm cô Adelinde trằn trọc đắn đo suy nghĩ không biết có nên thi không. Rút ra thì quá uổng công tập luyện suốt 4 năm và mất đi cơ hội giành huy chương vàng. Nhưng nếu thi đấu rủi chú ngựa bị độc công tâm thì sẽ không cứu được.
Sáng ra, các thú y khám lại lần nữa và cho biết chất độc đã giảm đáng kể, cô có thể thi đấu. Cô Adelinde dẫn ngựa ra sân mà trong lòng lo lắng, không yên. Thi đấu qua vòng đầu, cô Adelinde được số điểm rất cao, nhưng cô để ý thấy chú ngựa Parzival có vẻ mệt mỏi, mặc dù nó vẫn cố gắng hết sức và tuyệt đối tuân theo các mệnh lệnh của cô.
 
Bắt đầu vòng thi thứ 2 cô thấy chú ngựa thở có vẻ nặng nhọc hơn. Ngay lập tức, cô dừng ngựa, xuống xin lỗi Ban Giám Khảo, xin lỗi các cổ động viên, và vừa khóc vừa giải thích tại sao cô quyết định rút khỏi cuộc thi.
Cô nói nếu cô tiếp tục, thì Parzival sẽ phải cố gắng quá sức và mặc dù cô có thể thắng huy chương vàng nhưng chú ngựa có thể phải hy sinh. Cô không đành lòng làm như thế! Cô nói chú ngựa Parzival là bạn tốt của cô đã nhiều năm, đã giúp cô đạt đến đỉnh cao, nên cô không thể vì danh lợi của mình mà hy sinh bạn của mình, cho dù có phải hy sinh huy chương vàng, cho dù đó chỉ là 1 con súc vật.
Cô Adelinde và chú ngựa Parzival đã rời trường đua trong tiếng vỗ tay vang dội của cổ động viên và của cả Ban Giám Khảo.
 
 Nhiều người nói “Cô ấy tuy rút ra khỏi cuộc thi, nhưng đối với tôi cô ấy đã giành được huy chương còn quý giá hơn huy chương vàng, đó là huy chương của lòng nhân ái, của tình bạn giữa người và 1 chú ngựa” .
( Nguồn: Google)
Đăng bởi: Ngô Minh | 23.08.2016

104 KIỂU HỐI LỘ KHÔNG THỂ NHẬN !

 104 KIỂU HỐI LỘ KHÔNG THỂ NHẬN !

 

        Ngô Minh

                              Mình thiệt, lợi dân, DÂN gắn bó

                             Đẽo dân ,mình béo, DÂN căn hờn

                             Hờn căm, gắn bó tùy ta cả

                             Duy chữ THANH, THANH đối thế nhân 

                                    (Đặng Huy Trứ)

Đặng Huy TRứCụ Đặng Huy Trứ

Đó là bốn đề từ cho cuốn sách có một không hai trong lịch sử nước ta :TỪ THỤ YẾU QUY (không thể nhận và có thể nhận). Đặng Huy Trứ  (1825- 1874) là ông quan nổi tiếng triều Nguyễn về đức thanh liêm. Không chỉ liêm khi đương chức, về cuối đời, khi đang bệnh nặng ở Trung Quốc, ông đã dốc hết trí tuệ và sinh lực  để soạn cuốn sách  dày 650 trang  bàn về nạn hối lộ và đức thanh liêm của người làm quan, gọi là Từ thụ yếu quy , rồi tự bỏ tiền túi ra in năm 1868, mong để lại cho đời sau những điều tâm huyết: Muốn làm quan phải luôn luôn tâm niệm có 104 thứ hối lộ không thể nhận. Cuốn sách cũng đưa ra những điển tích, những tấm gương sáng của người xưa về đức thanh liêm (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.08.2016

Đã đến lúc cần phải đối thoại

Chu Hảo

Chu Hảo

Đấy là cuộc Đối thoại công khai giữa Ban lãnh đạo đảng cầm quyền và nhà nước với đại diện những người có ý kiến bất đồng ôn hòa, xây dựng ở trong đảng và mọi tầng lớp nhân dân ở trong và ngoài nước.

Vì chưa có điều kiện xuất hiện những tổ chức chính trị đối lập, cũng như chưa hình thành được một xã hội dân sự đủ mạnh để làm đối trọng với chính quyền, nên cuộc Đối thọai này phải do phía đảng độc quyền lãnh đạo chủ động mời gọi để tránh một cuộc xung đột không được kiểm sóat không thể không xảy ra nếu có thêm nhiều tiếng súng nữa tương tự như 9 tiếng mới phát nổ ở Yên Bái vừa qua.

Tiếng súng ở Yên Bái không phải chỉ phơi bày tình trạng tha hóa tột độ trong nội bộ đảng cầm quyền, mà còn chứng tỏ mức độ bất ổn chính trị – xã hội ở nước ta đã đến hồi nguy hiểm. Nguy hiểm cho sự lãnh đạo tuyệt đối của đảng và của chế độ thì đã đành, nhưng đó không phải là mối quan ngại của những người lâu nay công khai bày tỏ ý kiến bất đồng đối với những đường lối, chủ trương, chính sách sai trái của đảng và nhà nước. Những người này, trong đó có chúng tôi, âu lo về sự an nguy của dân tộc khi xảy sự bạo loạn ngoài tầm kiểm soát.

Đã đến lúc thể chế chính trị hiện này phải được thay đổi tận gốc rễ, nhưng thay đổi bằng bạo lực là điều chúng tôi không mong muốn, vì nó lại gây ra cảnh máu cháy đầu rơi trên đất nước này. Để tìm ra lối thoát một cách hòa bình, để tránh tình trạng bạo loạn vô chính phủ, chúng tôi nhận thấy chỉ còn có cách lãnh đạo đảng và nhà nước sớm chủ động đối thoại với khối quần chúng có ý kiến bất đồng ngày càng trở nên đông đảo.

Nguyên nhân gốc rễ của mọi ý kiến bất đồng, mọi bức xúc và phẫn uất đều nắm trong những điều bất cập, phản khoa học, phản tiến bộ, phản dân chủ của Cương lĩnh Đảng Cộng sản Việt Nam và Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Chừng nào hai văn kiện chính trị ấy không được thay đổi thì chừng đó con đường phát triển của đất nước ta vẫn không có lối ra. Hai văn kiện lạc hậu ấy đang gây ra điểm tắc nghẽn, tạo ra mọi bê bối trong các lĩnh vực, bóp nghẹt mọi tiềm năng và cơ hội phát triển của dân tộc ta.

Đó chính là nội dung cốt lõi của cuộc Đối thoại nói trên. Cuộc Đối thoại đã đến lúc phải đặt ra ở tầm hệ thống (để tìm ra lỗi hệ thông) như vậy thì mới đáp ứng được yêu cầu cứu nguy dân tộc ở thời điểm khắc nghiệt này. Nếu chỉ nói vòng vo theo kiểu “không thể nóng vội, phải có lộ trình”, “chỉ bàn những cái có tính khả thi”… thực chất là né tránh những điều gốc rễ cốt lõi, thì lại một lần nữa chúng ta để mất cơ hội, cơ hội lần này là do tiếng súng Yên Bái tạo ra.

Về phỉa lãnh đạo đảng và nhà nước chúng tôi kiến nghị cử người đại diện từ cấp cao nhất cùng các cơ quan chuyên trách lý luận của đảng như Hội đồng Lý luận Trung ương, Học viện Chính trị Hồ Chí Minh, Ban Tuyên giáo Trung ương. Về phía những người có ý kiến bất đồng chúng tôi đề nghị mời đại diện những người đã tham gia ký Kiến nghị của 72 nhân sĩ – trí thức về Hiến Pháp (19-1-2013) và Thư ngỏ của 61 đảng viên về Cương lĩnh (28-7- 2014).

Đối thoại sẽ là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, được tổ chức công khai, trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng sự khác biệt, tuân thủ chuẩn mực học thuật, và với tinh thần bao dung.

Chúng tôi tin tưởng sâu sắc rằng kết quả của cuộc Đối thoại lịch sử này không gì khác là mở đầu một thời kỳ mới, thời kỳ tiếng nói xây dựng, khách quan và trách nhiệm của những người bất đồng chính kiến, của cả xã hội dân sự đang lớn mạnh, được lắng nghe, được thảo luận nhằm tháo gỡ điếm tắc nghẽn hiện nay, mở đường cho đất nước đi lên.

Đà Nẵng ngày 19 tháng 8 năm 2016

C. H.

( Nguồn: Google)

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.08.2016

Chữ “Dân” trong di sản Hồ Chí Minh

Chữ “Dân” trong di sản Hồ Chí Minh

  •   BÙI ĐÌNH PHONG

Có nhiều cách hiểu và ứng xử với chữ “dân”. Chữ DÂN trong di sản Hồ Chí Minh hoàn toàn không phải theo chủ nghĩa dân túy; cũng không giống Khổng giáo. Quan điểm Hồ Chí Minh về dân thể hiện bản chất khoa học, cách mạng, nhân văn, mục đích vì dân chúng và động lực do dân chúng

Lãnh tụ từ nhân dân, sống trong lòng dân, trở về với nhân dân

Bác Hồ

Cả cuộc đời Bác cống hiến cho dân, cho nước, cho Tổ quốc chỉ với một ham muốn duy nhất, tột bậc, đó là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Sự cống hiến của Bác là cực đại, vô cùng to lớn, nhưng với bản thân mình Người không đòi hỏi gì, không có một chút gì riêng tư cho mình. Sau khi hoàn thành có nhiệm vụ nhân dân và Tổ quốc giao phó, trên ngực áo không có một tấm huân chương, Hồ Chí Minh chỉ muốn về với dân, làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc, câu cá trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi.

Trước khi viết Di chúc, Bác về Chí Linh, Hải Dương đọc Nguyễn Trãi, lục tìm trong truyền thống dân tộc những giá trị vĩnh hằng, mà một trong những giá trị đó là DÂN: “Chở thuyền là dân, lật thuyền là dân. Lật thuyền mới biết dân như nước”. Khi viết tài liệu “Tuyệt đối bí mật”, Hồ Chí Minh nói rõ ý định của mình sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, sẽ đi thăm đồng bào, chiến sĩ cả nước, bầu bạn khắp năm châu. Di chúc không bàn về cái chết nhưng Người cũng ý thức rất rõ rằng “người thọ 70 xưa nay hiếm”. Và Người cũng nói đến việc qua đời, tro chia và bỏ vào ba hộp sành, mỗi miền chọn một quả đồi thoáng mát để chôn cất. Quy luật sinh, lão, bệnh, tử là không thể khác được, đúng với mọi người. Biết rõ điều đó, Hồ Chí Minh muốn rằng sau khi qua đời vẫn được trở về với dân, sống trong lòng dân.

Sinh ra từ nhân dân, lớn lên cùng nhân dân, được dân chúng chở che đùm bọc, Hồ Chí Minh hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Người nói và làm theo quan điểm “từ Chủ tịch nước đến Bộ trưởng, thứ trưởng đều là đày tớ trung thành của nhân dân”. Trong giờ phút lâm chung, Người lại muốn về với dân, sống trong lòng dân. Người muốn uống một ngụm nước dừa để mang theo tình cảm của đồng bào miền Nam về nơi chín suối. Người muốn nghe một câu hò xứ Huế, nơi đầy ắp kỷ niệm tuổi trẻ. Người muốn nghe một câu hò xứ Nghệ, nơi chôn rau cắt rốn. Người muốn nghe một đôi làn quan họ trước khi về với thế giới người hiền.

Được lòng dân là có tất cả. Mất lòng dân là mất hết

Chữ DÂN là của báu trong kho tàng tư tưởng Hồ Chí Minh, bởi trước hết Người cho ta hiểu một nguyên lý giản đơn: có dân là có có tất cả. Mất dân là mất hết. Triết lý đạo Khổng, triết lý phương Tây đều nói đến dân, nhưng chỉ đến Hồ Chí Minh thì chữ DÂN mới được hiểu và dùng đúng nghĩa của từ này. Theo Người, DÂN là một ngôi lớn của văn hóa phương Đông được sánh cùng TRỜI và ĐẤT. Di sản Hồ Chí Minh cho thấy không có gì quý bằng nhân dân; không có gì mạnh bằng sức mạnh đoàn kết của nhân dân; không có gì chống lại được dân chúng; không có gì phá vỡ được bức tường đồng của dân chúng; không ai thông minh, trí tuệ, sáng tạo bằng dân chúng; không ai tốt như dân chúng; không ai hăng hái như dân chúng; không ai dũng cảm bằng dân chúng; không ai nhìn thấu bằng dân chúng; không ai nghe nhiều như dân chúng; của cải trong dân chúng; quyền lực thuộc dân chúng. Bác nói rằng: không có nhân dân thì không có Bác. Câu nói ngắn gọn, đầy đủ, chính xác. Dân chúng có một vũ khí vô địch, đó là lòng tin. Nói “có dân” hay “mất dân” là nói đến LÒNG TIN của dân. Nuôi dưỡng và giữ được lòng tin của dân, chúng ta sẽ có tất cả, sẽ thành công. Đánh mất lòng tin của dân chúng là mất tất cả, sẽ thất bại.

79 mùa xuân của Bác là bảy chín năm Người nuôi dưỡng, đắp bồi, làm việc, cống hiến bằng lòng tin của dân chúng. Bác tin dân, trọng dân, quý dân, nên dân tin Bác, yêu Bác. Di sản Hồ Chí Minh cho thấy dân sinh thành ra Đảng, đồng hành cùng Đảng; Đảng sống trong lòng dân, được dân nuôi nấng, che chở, đùm bọc. Đảng từng ngày lớn lên nhờ được uống nguồn sữa từ dân tộc. Cách mạng, kháng chiến thành công là nhờ sức mạnh và lòng tin của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Chuyện kể rằng cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền về tay nhân dân, nước Việt Nam mới Dân chủ Cộng hòa ra đời, Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền. Có cán bộ cao cấp hỏi Bác có điều gì làm Bác lo ngại không? Người trả lời một cách thân tình, ngắn gọn, rõ ràng, dứt khoát: “Nhìn chung thì không có điều gì đáng lo ngại vì ta có dân, chính quyền về tay nhân dân, Đảng ta là Đảng cầm quyền. Lo nhất là các chú làm bậy, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo, nhũng lạm, lãng phí để dân mất lòng tin. Mà mất lòng tin của dân là mất tất cả!”.

Những ngày “ngàn cân treo sợi tóc” sau Cách mạng Tháng Tám, khi kẻ thù quyết tiêu diệt cộng sản, đánh vào Việt Minh, Bác chủ trương lập Chính phủ liên hiệp, có những Bộ mà người đứng đầu không đảng phái. Người không muốn “Chính phủ của các chú đỏ quá!”. Có những ý kiến băn khoăn, lo ngại liệu những nhân sĩ trí thức yêu nước có cộng tác với Chính phủ không? Với lòng tin vững chắc vào nhân dân, Người nói “nếu chúng ta lấy lòng “chí công vô tư” mà làm việc, luôn luôn đặt lợi ích của Tổ quốc và nhân dân lên trên hết, trước hết, thì chắc chắn người ta sẽ vui vẻ nhận lời, sẵn sàng cộng tác với Việt Minh”. Diễn trình của cách mạng Việt Nam sau mùa Thu Tháng Tám năm 1945 hoàn toàn đúng như những điều tiên tri, tiên lượng của Bác.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ. Bộ đội, dân công “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt, máu trộn bùn non, gan không núng, chí không mòn”. Khơi nguồn sức mạnh từ dân chúng, Bác nói “người trước súng sau”. Có dân ủng hộ, giúp sức, việc khó mấy cũng làm được; không có dân ủng hộ, việc dễ mấy cũng khó hoàn thành. Bác đã nhiều lần nhắc đi nhắc lại lời của dân: “Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần, dân liệu cũng xong”. Kháng chiến, kiến quốc thành công là nhờ dân chúng. Đó là cuộc kháng chiến toàn dân, chiến tranh nhân dân của tất cả đàn ông, đàn bà, người già người trẻ, không phân biệt tôn giáo, đảng phái, giàu nghèo quý tiện. Đó là sự quật khởi, vùng dậy của lòng yêu nước, của tinh thần dân tộc, của ý chí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!” của hơn ba mươi triệu con Lạc cháu Hồng, con Rồng cháu Tiên.

Kể lại một câu chuyện thời chống Pháp để thấy bài học vô cùng sâu sắc cho hôm nay. Đó là câu chuyện về vụ án của Đại tá Trần Dụ Châu. Khi bộ đội và nhân dân đang dốc lòng, dốc sức, dốc của cho cuộc kháng chiến thì Cục trưởng Cục quân nhu, Đại tá Trần Dụ Châu lại bớt xén của bộ đội và nhân dân để phục vụ cho cuộc sống ăn chơi phè phỡn, trác táng của cá nhân. Với tội danh của Trần Dụ Châu, toà phán quyết tử hình. Trần Dụ Châu xin Chủ tịch nước xem xét, giảm án. Suy nghĩ nhiều ngày đêm, cuối cùng Bác vẫn giữ nguyên án tử hình như tòa đã quyết. Lý do Bác y án là vì “con sâu làm rầu nồi canh”; hành động của một cán bộ cao cấp như Trần Dụ Châu đã làm xói mòn lòng lòng tin của đảng viên, cán bộ, bộ đội và nhân dân vào Đảng, nếu không xử nghiêm thì ảnh hưởng rất lớn đến cuộc kháng chiến trong giai đoạn cam go, quyết liệt. Vụ việc kết thúc, Bác yêu cầu phải nói rõ trên báo chí để cho nhân dân và bè bạn quốc tế hiểu rõ Đảng ta là một Đảng cầm quyền quang minh, chính đại, vì dân vì nước, không bao giờ dung túng, bao che cho những hành động tham ô, tham nhũng, ảnh hưởng xấu đến sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Bài học quý giá, sâu sắc cho hôm nay chính là thái độ của Đảng và Nhà nước với cả “bầy sâu”, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tha hóa, biến chất, “ăn không từ cái gì của dân, bán cũng không từ cái gì”, đang làm xói mòn lòng tin của nhân dân,  của đảng viên, cán bộ vào Đảng, Nhà nước và chế độ. Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng nói rõ “đất nước không có kỷ cương thì sẽ loạn”. Chúng ta phải thấm nhuần, thấu triệt lời dạy của Lênin mà Bác nhắc lại năm 1952 rằng “Không xử bắn lũ ăn của đút lót, mà xử một cách pha trò, mềm mỏng, nhẹ nhàng như vậy, đó là một điều xấu hổ cho những đảng viên cộng sản, cho những người cách mạng. Cần phải nêu những đồng chí đã ăn hối lộ ra để cho dư luận quở trách và cần phải đuổi họ ra khỏi Đảng”. Phải chặn đứng hành động của nhóm lợi ích đang tìm cách chăng lưới, bủa vậy, dàn trận theo kiểu “liên ngành” để gây khó khăn cho quyết tâm chống tham nhũng của Đảng, Chính phủ và nhân dân. Muốn vậy, cách làm tốt nhất, có hiệu quả nhất theo lời dạy của Bác và thực tiễn cách mạng là phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó biện pháp hay nhất, có hiệu quả nhất là dựa vào dân. Hồ Chí Minh dạy rằng “Đảng phải tin dân và dựa vào dân chúng để kiểm soát quyền lực. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết. Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa. Dựa vào dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta. Phải dựa vào dân chúng, tạo nên một làn sóng gớm ghét, khinh bỉ, phỉ nhổ bọn người tham nhũng, nhóm lợi ích. Dựa vào dân chúng mà giám sát công việc của Chính phủ”.

Với bọn người tham nhũng, vô trách nhiệm, vô cảm trước đời sống của dân chúng thì rất khó và không thể nói chuyện tự phê bình và phê bình. Tham nhũng là biểu hiện của một loại giặc – giặc nội xâm. Loại giặc này nguy hiểm hơn giặc ngoại xâm vì nó không có hình thù, không có gươm súng, nhưng phá ta từ trong phá ra, là đồng minh, chỗ dựa vững chắc của giặc bên ngoài. “Diễn biến hòa bình” chỉ có thể sống được là nhờ dựa vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Vì tham nhũng là giặc nên chúng ta phải dùng những biện pháp mạnh để đối xử với giặc, biện pháp tốt nhất, hiệu quả nhất là sức mạnh của dân chúng, của lòng dân.

Chúng ta đang mắc những căn bệnh trầm kha mà không biết, đó là chỉ thấy Đảng mà không thấy dân; mọi khâu của công tác cán bộ và giám sát công việc của Chính phủ không có sự tham gia của dân chúng; nâng cao dân trí mà không nâng cao đảng trí; dân học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, còn cán bộ lãnh đạo chủ chốt, đứng đầu thì không học; chú trọng quy trình, quy hoạch mà thiếu quy chuẩn; trách nhiệm tập thể, thành tích cá nhân, có vấn đề xảy ra thì lẩn vào tập thể. Khi phát hiện ra những sai phạm, mới giải quyết ngọn mà chưa xử lý gốc; mới đụng đến cá nhân mà không thể phanh phui đường dây, hệ thống.

Vấn đề là phải dựa vào trí tuệ, lòng yêu nước, bản chất tốt đẹp của dân chúng để ngăn chặn từ đầu, từ gốc nạn tham nhũng quyền lực, bắt đầu từ khâu công tác cán bộ. Nếu chúng ta không dựa vào dân chúng mà vẫn làm đúng quy trình như cách làm hiện nay, thì dù có kiên quyết, kiên trì đến mấy; dù có quyết tâm xây dựng một Chính phủ kiến tạo, liêm chính, hành động bao nhiêu; xây dựng một Quốc hội đoàn kết, hành động, thì giỏi lắm cũng chỉ chặt được vài cái ngọn, còn gốc thì vẫn nguyên, mà gốc còn thì ngọn vẫn tiếp tục mọc ra. Ngọn là những con người phạm tội cụ thể như Trịnh Xuân Thanh, Phó Chủ tịch tỉnh Hậu Giang. Nếu chỉ diệt con sâu đó, chặt cái ngọn đó mà không diệt gốc đẻ ra nó thì nhiều con sâu khác lại được đẻ ra. Ai cũng biết một mình Trịnh Xuân Thanh không thể làm thất thoát hơn 3 ngàn tỷ đồng, không thể tự luân chuyển (chỉ có thể tự chuyển hóa, tự chuyển biến), không thể tự có biển số xanh… Formosa là gì? Là ai? Nhà 8B Lê Trực, Hà Nội là ai? Là cái gì? Cần phải đặt ra và trả lời chính xác được những câu hỏi đại loại như vậy, rồi xử lý dứt điểm, không bao che, không vùng cấm, không sợ đụng chạm, không sợ động rừng, không sợ vỡ bình, thì may mới có hy vọng tìm ra lối thoát. Những đường dây, hệ thống tổ chức đằng sau và liên quan đến những con người và sự việc đó, đặc biệt là những người ký quyết định chính là gốc. Phải tìm cho được những cái gốc đó và phải “đào tận gốc, trốc tận rễ” thì may ra mới xoay chuyển được tình thế, lấy lại được lòng tin của dân với Đảng, mới giữ được chế độ.

Chúng ta đang quyết tâm chữa bệnh, nhưng thiếu trí tuệ, bản lĩnh và phương thức, không dựa vào dân để chữa từ gốc, chữa tận gốc nên bệnh không khỏi. Những con bệnh đang nhờn thuốc. Nhóm lợi ích và cơ chế đang tạo ra những tiền lệ xấu để bịt tất cả những con đường đi đến xóa tận gốc tham nhũng. Phải trở lại với nguyên lý của cuộc sống mà Hồ Chí Minh đã tổng kết, luôn luôn nhấn mạnh và thực thi trong thực tiễn cách mạng. Theo Người, xưa và nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, có được dân chúng ủng hộ, giúp sức, việc gì cũng làm được; không được lòng dân, việc dễ mấy cũng thất bại.

Đảng, Nhà nước, những người có trách nhiệm cao nhất trong bộ máy của Đảng và Nhà nước, trong hệ thống chính trị phải lắng nghe lòng dân, nghe những tiếng nói tâm huyết của dân, của báo chí, của các nhà khoa học về các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc biệt là những vụ việc nóng như công tác cán bộ. Bác dạy rằng “phải sáng suốt, mới khỏi bị bọn vu vơ bao vây, mà cách xa dân chúng và cán bộ tốt”. Chúng ta phải thấm sâu lời dạy của Bác “nếu dân chúng nói mười điều mà chỉ có một vài điều xây dựng, như thế vẫn là quý báu và bổ ích”.

Ba mươi năm đổi mới, hàng trăm vụ việc xấu bị phát hiện, chặn đứng đều nhờ tiếng nói tâm huyết, có trách nhiệm của dân chúng. Trên 80% vụ việc tiêu cực được phanh phui, ngăn chặn, đẩy lùi, đưa ra ánh sáng công lý là nhờ tiếng nói của nhân dân, các nhà báo, các nhà khoa học, những cán bộ, đảng viên tốt, có tâm huyết, có trách nhiệm với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Trong khi đó, hầu như chưa có một trường hợp tiêu cực, tham nhũng, lãng phí nào được phát hiện từ các cuộc sinh hoạt đảng. Đây là một thực tế cần được giải mã, nghiên cứu thấu đáo để thấy sức mạnh của trí dân, lòng dân và sự hạn chế, tê liệt của không ít tổ chức đảng và tổ chức công quyền. Nghiên cứu, khám phá dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh để lấy lại lòng dân, củng cố niềm tin của dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ như Đảng ta đã nhiều lần nhấn mạnh, khẳng định lại trong các nghị quyết về dân vận, về xây dựng Đảng. Đừng để dân quay lưng lại với Đảng, Chính phủ và chế độ. Nếu Đảng không tin dân, không ở trong lòng dân, không dựa chắc vào dân để đổi mới công tác tổ chức, cán bộ và sửa đổi những gì chưa phù hợp trong nghị quyết như lời dạy của Bác thì chẳng khác gì chúng ta đứng lơ lửng giữa trời, nhất định thất bại. Hồ Chí Minh chỉ rõ “dân chúng chính là những người chịu đựng cái kết quả của sự lãnh đạo của ta”. Vì vậy, nếu chúng ta quan liêu, xa dân, không hiểu dân, không học dân, không hỏi dân, nghị quyết, chính sách không xuất phát từ nguyện vọng của dân và thuận lòng dân; đóng cửa lại mà đặt kế hoạch, viết chương trình, bắt dân chúng theo; làm công tác cán bộ đúng quy trình mà không đúng tiêu chuẩn, thì về chính trị là thất bại. Chính trị thất bại tức là mất hết lòng dân./.

( Nguồn: VHNA)

Nữ đại gia mang 300 đầu heo đến chùa, dâng lễ hay là sát sinh?

Phật tử và người dân địa phương đã “sốc” khi một nữ tín chủ phải sử dụng đến 2 chiếc xe tải cỡ lớn để chở số đầu heo khổng lồ đến chùa. Nữ đại gia này chắc chưa phân biệt được đâu là sát sinh, đâu là lễ Phật

Hầu hết người đi lễ chùa thường dâng hương hoa, vàng mã, bánh kẹo để cầu sức khỏe, may mắn cho một năm. Thế nhưng, một phụ nữ Thái Lan lại “chơi trội” khi dâng hẳn 300 đầu heo lên chùa.
Cảnh tượng 300 đầu heo được xếp ngay ngắn khiến nhiều người choáng váng.
Người phụ nữ này cho biết: “Trước đây tôi làm ăn thua lỗ lại bị khách nợ đầm đìa, tôi đã đến chùa này cầu thần linh phù hộ sớm vượt qua khó khăn về tài chính. Vài năm sau, tôi không những thu hồi được các khoản nợ mà còn làm ăn phát đạt, nên năm nay đến chùa làm lễ tạ ơn”.
300 đầu heo được bày biện khá công phu.
Cảnh tượng gây “sốc” trước của ngôi chùa Thái Lan, năm 2015.
Được biết nữ tín chủ là một người buôn bán hoa quả chuyên cung cấp cho các khách sạn và các địa phương phía Nam Thái Lan.
Sau buổi lễ, những chiếc đầu heo được phân phát cho dân làng gần đó và những người quen biết.
Theo Phật giáo, con người phải biết sống chan hòa, mà muốn sống hòa ái thì phải có hiểu biết. Khi hiểu biết rõ ràng, thì sẽ buông bỏ vật chất phù phiếm và tìm hiểu ý nghĩa thực sự của cuộc đời. Sự thật là dù cho ăn ngon, mặc đẹp, giàu sang đến mấy thì con người cũng sẽ chết mà không mang theo được thứ gì.
Thiết nghĩ, chúng ta phải trân quý giá trị tốt đẹp của sự sống, suy nghĩ tích cực và cảm thấy hạnh phúc. Ngoài ra, không gây đau khổ cho người chính là không tạo “nhân” gây khổ cho mình.
Hạn chế sát sinh (nhất là không nên sát sinh để cúng dường trong chùa chiền), hại vật, hại người,… chính là cách thức giúp con người sinh khởi lòng từ bi, sống chan hòa và có hiểu biết.
Đăng Hào (TH).Ảnh internet

( Nguồn: Internet)

Không chấp nhận sửa tuổi của Đảng viên để chống việc… chạy tuổi

QTXM; TÔI HOAN NGHÊNH CHỦ TRƯƠNG NÀY. GIAN LẬN TUỔI ĐÃ ĐẾN HỒI BÁO ĐỘNG,ĐÂY LÀ MỘT LOẠI THAM NHỮNG TRẮNG TRỢN. CÓ NGƯỜI ĐÃ ĐÊN TUOOI9R HƯU (60) VẪN LÀM VIỆC THÊM HÀNG CHỤC, THẬM CHÍ 15 NĂM NỮA…

Văn bản của Ban chấp hành Trung ương Đảng nêu rõ, những năm gần đây, việc sửa lại tuổi của một số cán bộ, đảng viên, nhất là vào thời điểm chuẩn bị đại hội Đảng, bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp hoặc trước khi xem xét quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử và khi cán bộ chuẩn bị đến tuổi nghỉ hưu… đã gây ra những khó khăn, vướng mắc, bất cập đối với các cấp uỷ, tổ chức đảng và cơ quan, đơn vị ở các cấp trong công tác cán bộ; đồng thời tạo ra dư luận không tốt trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Để bảo đảm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ theo quy định của Điều lệ Đảng, đồng thời phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của đảng viên, thực hiện lời thề khi vào Đảng và kịp thời chấn chỉnh tình trạng nêu trên, tại phiên họp ngày 16/8/2016, Ban Bí thư đã xem xét đề nghị của các cơ quan liên quan về quan điểm, chủ trương và phương án xem xét, xác định tuổi của cán bộ, đảng viên.

Trước mỗi kỳ Đại hội Đảng, bầu cử... lại có hiện tượng xin điều chỉnh, chạy tuổi lãnh đạo.
Trước mỗi kỳ Đại hội Đảng, bầu cử… lại có hiện tượng xin điều chỉnh, “chạy tuổi” lãnh đạo.

Ban Bí thư thảo luận, thống nhất quan điểm chỉ đạo, kể từ ngày 18/8/2016, không xem xét điều chỉnh tuổi của đảng viên mà thống nhất xác định tuổi của đảng viên theo tuổi khai trong hồ sơ Lý lịch đảng viên (hồ sơ gốc) khi được kết nạp vào Đảng. Đây là căn cứ, cơ sở để các cấp uỷ, tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét khi quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử; bố trí, sử dụng và thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ là đảng viên.

Ban Bí thư giao cho Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp với UB Kiểm tra Trung ương và các cơ quan liên quan tiến hành rà soát, đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến việc xác định tuổi của đảng viên; đôn đốc, kiểm tra, giám sát, bảo đảm thực hiện nghiêm túc kết luận.

P.Thảo

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.08.2016

1 tuần 3 tướng Trung Quốc tự tử

1 tuần 3 tướng Trung Quốc tự tử

TTO – Số vụ quan chức Trung Quốc tự tử lại tăng mạnh thời gian gần đây khi chiến dịch chống tham nhũng trong quân đội của Chủ tịch Tập Cận Bình đã bắt đầu đợt hai.

TướngTQ

Tướng Trần Kiệt từng được Bắc Kinh cử tới Hong Kong trong lễ bàn giao về Trung Quốc năm 1997.

South China Morning Post ngày 19-8 đưa tin tướng Trần Kiệt, một quan chức cấp cao trong Quân đội giải phóng nhân dân (PLA) Trung Quốc, đã uống thuốc ngủ tự tử hồi đầu tháng này. Tướng Trần là quan chức thứ ba tự tử trong vòng một tuần đầu tháng 8-2016.

Quan chức thứ nhất tự tử là lãnh đạo văn phòng chính trị của Bộ chỉ huy chiến trường miền nam ở Nam Kinh. Tiếp theo là hình ảnh người đứng đầu Trung tâm quản lý các doanh nghiệp hậu cần thuộc hải quân Trung Quốc nhảy lầu tự tử hôm 12-8 lan truyền khắp mạng xã hội.

Các vụ tự tử trên diễn ra sau khi quân đội mở cuộc điều tra tham nhũng đối với tướng Điền Tu Tứ, cựu chính ủy không quân Trung Quốc và cũng là ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Hồi đầu tháng 6-2016, ít nhất hai quan chức Trung Quốc cũng tự sát gồm phó bí thư tỉnh ủy Quảng Đông Lưu Tiểu Hoa và bà Tiêu Bích Ba, người đứng đầu cơ quan bảo mật khu Diêm Điền, Thâm Quyến.

Tự tử trước khi được thăng chức một ngày

“Ông Trần là một ngôi sao đang lên. Ông ấy chết chỉ một ngày trước khi được thăng chức. Ông ấy đã uống một lượng lớn thuốc ngủ vào ngày 5-8 ở khu ký túc xá một trung đoàn ở Thâm Quyến. Thật đáng tiếc” – một nguồn tin giấu tên cho biết.

Viên tướng 54 tuổi này, một trong số ít quân nhân Trung Quốc tham gia tổ chức lễ bàn giao Hong Kong về Trung Quốc năm 1997, là chính ủy một đơn vị lớn thuộc Bộ chỉ huy chiến trường miền nam của PLA.

RIA Novosti dẫn lời giới phân tích cho rằng vụ tướng Trần tự tử có thể liên quan đến chiến dịch điều tra tham nhũng trong quân đội. Tuy nhiên các nguồn tin từ Trung Quốc cho biết hiện vẫn chưa có bằng chứng chắc chắn.

“Các vụ tự tử trên là hệ quả của các cuộc điều tra mạnh mẽ gần đây nhằm vào các quan chức cấp cao như tướng Điền Tu Tứ. Nhiều quan chức đã bị phát hiện có liên hệ mật thiết với các công ty bất động sản trong cuộc truy quét gần đây đối với các dịch vụ có doanh thu của quân đội” – một nhà phân tích quân sự tại Hong Kong nhận định, nhắc đến tuyên bố của PLA hồi tháng 3-2016 yêu cầu các đơn vị quân đội và cảnh sát phải chấm dứt các dịch vụ thu tiền trong vòng 3 năm.

Các nhà kho và doanh trại sẽ không còn được phép cho thuê. Trước đó, việc thiếu kiểm tra và quản lý sát sao đã khiến nhiều cán bộ quân đội cấp cao thông đồng với các công ty bất động sản để nhận những khoản tiền khổng lồ trong bối cảnh thị trường 
bất động sản tăng vọt.

Chết là hết

Từ lâu việc các quan chức Trung Quốc bị cáo buộc tham nhũng tự tử đã được hiểu là một hành động nhằm bảo vệ gia đình và tài sản bởi các vụ điều tra thường bị khép lại sau đó.

Theo các luật sư Trung Quốc, nhiều quan chức chọn con đường tự sát trước khi bị Ủy ban kỷ luật trung ương (CCDI) thẩm vấn để tránh chịu những nỗi đau “hơn cả cái chết”.

“Đối với những người bị buộc tội hay thậm chí chỉ bị nghi ngờ tham nhũng, tự tử là một cách tốt để bảo vệ gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp khỏi sự thẩm vấn” – một quan chức giấu tên nói.

Theo South China Morning Post, luật Trung Quốc quy định tòa án, thay vì CCDI, là cơ quan duy nhất được quyền phán quyết một viên chức bị tình nghi có phạm tội hay không. Nếu viên chức này chết trước khi xét xử, việc truy tố sẽ bị hủy ngay lập tức.

“Khi nghi phạm được xác định đã chết, cơ quan công tố sẽ hủy bỏ việc điều tra trách nhiệm hình sự của người đó, đóng hồ sơ hoặc hủy bỏ xét xử” – tờ này trích luật hình sự của Trung Quốc.

Hàng trăm quan chức bị bắt

Bộ Công an Trung Quốc ngày 18-8 cho biết đã bắt giữ hơn 400 quan chức tham nhũng lẩn trốn ở nước ngoài kể từ khi khởi động chiến dịch Săn cáo 2016 vào tháng 5-2016.

Cụ thể, 272 quan chức bị bắt ở nước ngoài và 137 quan chức chấp nhận tự trở về nước, theo Tân Hoa xã. Trong số đó có 38 người bị cáo buộc phạm tội liên quan đến trách nhiệm và 14 người phạm tội buôn lậu. Hàng chục người đã lẩn trốn hơn 5 năm, thậm chí 10 năm.

Trong chiến dịch năm nay, Bộ Công an Trung Quốc đã tung ra 33 nhóm truy bắt “cáo” ở 61 quốc gia trên thế giới như Madagascar, Thái Lan, Peru, Philippines, Ecuador, Hàn Quốc, Campuchia, Tây Ban Nha… Năm ngoái, chiến dịch đã tóm hơn 850 quan chức 
đào thoát ở nước ngoài.

“Chết bất thường”

Từ bảy quan chức tự tử năm 2013, thời điểm ông Tập Cận Bình tung ra chiến dịch diệt tham nhũng, số quan chức “chết bất thường” trong ba năm qua đã vượt 120 người.

Đến nay đã có tổng cộng 40 quan chức PLA bị truy tố trong các cuộc điều tra, trong đó có Quách Bá Hùng và Từ Tài Hậu là nhân vật từng có vị trí lớn thứ hai và thứ ba trong quân đội.

Chuyên gia quân sự Antony Wong Dong của Macau cho rằng đợt truy quét lần này là nhằm triệt tiêu tận gốc sức ảnh hưởng của ông Quách và ông Từ.

Bằng chứng là đầu tháng này có tin hai cựu thành viên Quân ủy trung ương là tướng Lý Kế Nại – nguyên chủ nhiệm Tổng cục Chính trị và thượng tướng Liêu Tích Long – nguyên chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần – cùng các sĩ quan thân cận cũng bị điều tra.

TRẦN PHƯƠNG

 

Vụ thảm sát Yên Báy và lời nói độc của một bác nông dân…

Luu Trọng Văn

NM, Nguyễn Quang Hà, Lưu Trọng VĂn, Mai Văn Hoan
Lưu Trọng VĂnrọng Ninh, Trọng Hải, Trọng Văn, Ý Nhi bên chân dung cha bằng tượng gốm. Ảnh: Nguyễn Đình Toán

(Rút từ facebook của Lưu Trọng Văn)

Cha gã kể, thời học Quốc học Huế, cha gã và nhà văn Hoài Thanh đã kéo nhau ra bờ Sông Hương để cùng khóc khi nghe tin Nguyễn Thái Học và các đồng chí đảng viên Quốc dân đảng của ông bị bắn chết, cuộc Khởi nghĩa Yên Báy bị dìm trong biển máu.

Cha gã và thế hệ của ông không gọi “Yên Bái” mà “Yên Báy”.

Gã từng đến mộ của nhà yêu nước, yêu dân Nguyễn Thái Học nghiêng mình trước câu nói bất hủ của ông trước khi chết: Không thành công cũng thành Nhân.

Yên Báy, nơi sông Hồng chảy qua mùa này cuồn cuộn, ngầu đỏ, 8 tiếng súng vang lên, ba đảng viên Cộng sản gục ngã.

Chả biết có ai trong họ có thành Nhân không?

***

Mấy ngày mưa bão vừa rồi gã lang thang cùng những người nông dân ở Lâm Đồng tìm cách cứu đất khỏi chết vì “kính thưa tất cả các đồng chí… chất độc hóa học” gã ngạc nhiên khi đẩu đâu cũng nghe các bác nông dân bàn tán vụ thảm sát ở Yên Báy. Đến nỗi nghe hoài, đưa đẩy chuyện này hoài một lão nông gốc Huế bực mình nói: Chuyện đất mình chết, chuyện chính nông dân mình chết không lo cứ lo chuyện mấy ông lãnh đạo chết đâu đâu!

Nghe lão nông nói, mọi người im thin thít. Nhưng rồi gã thấy một bác chuyên trồng bắp cải vỗ đít cái phạch nói: Thế cụ nghĩ là chuyện mấy ổng trên đó bắn nhau chết không liên quan tới đất của mình , không liên quan đến nông dân mình đang bị chất độc giết chết à? Liên quan đó! Liên quan lắm đó!

***

Hơn mươi ngày nay gã chả viết gì rồi. Nghe câu nói của bác trồng bắp cải gã ngẫm, gã nghĩ, nông dân mình coi vậy mà nói… “độc” thật, gã xin chép lại vậy.

(Đọc tiếp…)

MÔI TRƯỜNG VÀ NHÂN TÍNH: TỰ SỰ CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ TRONG “CÁNH ĐỒNG BẤT TẬN”

Đoàn Ánh Dương

Trong số những cây bút trẻ mới xuất hiện gần đây, Nguyễn Ngọc Tư sớm gây được ấn tượng bởi giọng văn đậm chất Nam Bộ với lối viết hồn nhiên chân chất.

Từ tập truyện đầu tay Ngọn đèn không tắt đến các tập Biển người mênh môngGiao thừa và Nước chảy mây trôi,điểm dễ thấy là Ngọc Tư thường viết về những câu chuyện nhỏ nhẹ, man mác buồn. Những chuyện ấy đều kể thật giản dị, chân thành cuộc đời, thân phận, nhỏ hơn nữa là niềm vui, nỗi buồn, ước mong… của những con người nhỏ bé, thân thuộc đang vất vả mưu sinh giữa cuộc đời thường. Nhưng đến truyện ngắn Cánh đồng bất tận trong tập truyện cùng tên, người đọc thực sự ngỡ ngàng trước sự bứt phá của tác giả. Tác phẩm kết thúc một bước quá độ dài để khẳng định sự trưởng thành của ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư, đồng thời cũng là một tín hiệu đáng mừng cho đời sống văn học đương đại. Có lẽ sẽ là quá sớm để xếp cho truyện ngắn này một “chỗ ngồi” trang trọng, trong bối cảnh đời sống văn học đang có nhiều chuyển biến mau lẹ và hứa hẹn, nhưng hiện giờ, việc tìm hiểu những “phẩm chất” thẩm mỹ của nó thực sự là cần thiết, như một “bài học văn chương”([i]).

Cánh đồng bất tận là một câu chuyện mở, một tác phẩm được dệt bởi sự đan cài giữa xúc cảm và suy tưởng của nhân vật chính trên phông nền là cuộc sống của những kiếp người nhọc nhằn, tủi cực. Dựa vào sự vận động của tâm lý nhân vật, hành trình khám phá tác phẩm là sự bóc tách từ bình diện ngôn ngữ trần thuật đến bình diện những tri nhận, ẩn ức đã lắng đọng thành các biểu tượng ám ảnh đời sống nội tâm nhân vật.

1. Câu chuyện biểu tượng

Tiếp cận với truyện ngắn, dễ thấy cánh đồng là biểu tượng trong truyện, cái cần quan tâm ở đây là nó mang đặc trưng của thành tố nào trong hệ thống: cánh đồng bất tận, cánh đồng này [với cái tên của chị], cánh đồng miên viễn, cánh đồng khơi, cánh đồng chia cắt, cánh đồng trở thành đô thị, cánh đồng ngoa ngoắt thay đổi vị của nước, cánh đồng vắng bóng người… Đây là vấn đề rất có ý nghĩa khi khám phá tính chất biểu trưng của tác phẩm. Biểu tượngcánh đồng ở đây có ý nghĩa tự thân hay gắn kết với các hệ thống biểu tượng khác? Nếu gắn kết thì là gắn kết ở phương diện nào? Chuyển tải ý đồ nghệ thuật gì?… Đó là những câu hỏi cần được giải quyết một cách thoả đáng khi tìm hiểu cách sử dụng biểu tượng của Ngọc Tư trong truyện ngắn này.

Khảo sát hệ thống các biểu tượng hiện diện trong tác phẩm, chúng tôi tìm thấy một hệ thống biểu tượng nữa được sử dụng một cách có ý đồ rõ rệt. Có thể dễ dàng nhận thấy, có là hệ thống tên nhân vật (hẳn nhiên là sẽ bao hàm cả đặc tính của nhân vật đó). Trong rất nhiều nhân vật, trực tiếp xuất hiện: người cha (út Vũ), người mẹ (út Hai), tôi – người chị (Hai – Nương), người em (Điền), cô gái điếm (Sương), chị chủ nhà thuê đóng tủ, nhân vật đám đông… gián tiếp xuất hiện: người vừa bán xong cái quán nhỏ của mình, người vừa nói xong những lời dứt tình với chồng con, người vừa phũ phàng chia xong gia sản, cô gái sắp về nhà chồng… duy nhất có Điền là nhân vật được gọi têncòn lại không có tên hoặc tên gọi theo đặc điểm của nhân vật: út Vũ (gắn với khuôn mặt rắp tâm), Nương (con gái nói chung: Mỵ Nương…), Sương (ăn sương)… Đó là một chi tiết quan trọng. Bởi đặt cho nhân vật tên là Điền (nghĩa Hán Việt là ruộng, gần gũi với cánh đồng), tác giả đem đến một dụng ý nghệ thuật sắc sảo.

Nhân vật Điền, vì vậy, là một biểu tượng chứa đựng ẩn ý của tác giả trong quá trình khái quát hóa nghệ thuật.

Tôi muốn tiến hành ở đây một thao tác liên hệ giữa hai hệ thống biểu tượng đó. Trước nhất, với hệ thống biểu tượng là tên nhân vật, tác phẩm có nhiều chi tiết giàu ý nghĩa. Chẳng hạn, tác giả để nhân vật tôi thổ lộ: “Tôi nhớ Điền, bao gồm nhớ một đồng loại (còn tôi là đồng – loại còn lại), nhớ một cách trò chuyện (đọc thấu lòng nhau), nhớ người nghe được tiếng tim mình (điều này thì con vịt mù làm được, nhưng nó đã chết rồi), nhớ một người che chở (công việc này đáng nhẽ của ba, má tôi)”. Đó chính là “đặc trưng” của Điền: biết trân trọng, thấu hiểu, có tình yêu thương, ý thức che chở giúp đỡ người khác nên là biểu tượng cho tình yêu thương, giá trị nhân bản. Với các cánh đồng đã được đặt tên như đã nói ở trên, cũng có một thao tác tương tự trong bút pháp của Ngọc Tư. Cái cần chú ý ở đây là cánh đồng bất tận được lựa chọn làm tên truyện, nghĩa là một thành tố được gọi tên trong hệ thống, giống như Điền trong hệ thống nhân vật, ý nghĩa của biểu tượng được lẩy ra ở đây liệu có sự khác biệt? Nó có liên hệ gì với cách xây dựng biểu tượng dựa trên sự song trùng đặc điểm, tính chất giữa tên truyện và tên nhân vật trong các sáng tác của Ngọc Tư? (Bởi có thể thấy, thủ pháp này không chỉ là nét riêng của truyện ngắn Cách đồng bất tận, thậm chí, có thể coi là một đặc điểm thi pháp của Nguyễn Ngọc Tư. Giở ngay tập truyện Cánh đồng bất tận, dễ thấy sự xuất hiện của cách thức này như: Cải và Cải ơi, Giang, Thủy và Nhớ sông… Đó là một điểm khá lý thú khi tiếp cận tác phẩm của chị).

Thực tế cho thấy, trong sáng tạo văn chương, đi liền với việc muốn tạo nên một ấn tượng thẩm mỹ, tác giả phải tiến hành mã hóa đối tượng miêu tả, triển khai ý tưởng thành thế giới nghệ thuật, biểu tượng là kết quả của sự phóng chiếu thái độ của tác giả đối với đối tượng trong mô hình nghệ thuật đã được xây dựng lên mã ngôn ngữ. Vì vậy, mỗi tác phẩm là một hệ thống gồm rất nhiều biểu tượng. Biểu tượng của tác phẩm (biểu tượng chủ đạo) là sự quy chiếu các biểu tượng thành tố lên một một biểu tượng mang tính trội trong hệ thống. Ý nghĩa của biểu tượng này sẽ được lẩy ra từ những nét nghĩa của các đơn vị cấu thành. Ở đây, nhân vật Điền và cánh đồng bất tận giữ vai trò là thành tố chủ đạo, là biểu tượng mang tính trội như thế. Nội hàm của biểu tượng cánh đồng, vì thế, sẽ có được khi tiến hành lý giải mối tương quan giữa nhân vật Điền và cánh đồng, hệ thống nhân vật và hệ thống cánh đồng, hệ thống biểu tượng và mô hình nghệ thuật… thậm chí còn cần đối chiếu với cách xây dựng biểu tượng ở các truyện khác nữa. Và theo chúng tôi, nội hàm của biểu tượng cánh đồng ở đây, trước nhất, xét ở mặt những khía cạnh tương đồng với tính bản thể của nhân vật Điền (biểu hiện rõ trong quan hệ với Nương – vì chỉ với Nương, Điền mới là một đồng loại, nghĩa là chỉ trong quan hệ này, Điền mới thể hiện được vẻ khác biệt, riêng cócủa mình), chính là lòng yêu thương, tình nhân ái, sự trân trọng giá trị con người. Có thể coi đó là lớp nghĩa thứ nhất của biểu tượng.

Nhưng ở một khía cạnh khác, để biểu tượng có sức ám ảnh người đọc, Nguyễn Ngọc Tư đã chú tâm xây dựng qua một nhân vật không hoàn thiện: Điền không được “trở thành người đàn ông thực thụ”. Bởi không phải ngẫu nhiên, tác giả để cho nhân vật Điền từ ngày “ngủ kẹt bồ lúa” mắc phải chứng bệnh chảy nước mắt. Nhìn qua làn nước mắt chứng nhân cho một ngày đau đớn, nhục nhã khi phải chứng kiến cái xấu, cái “bậy”, rồi phải cô độc để “tự học lấy cách sống”, Điền đã phản kháng bằng cách “trút sạch” những cái gì nó cho là ác, là xấu… thậm chí “tự kìm hãm bản năng trỗi dậy mạnh mẽ ở tuổi dậy thì bằng tất cả sự miệt thị, giận giữ, căm thù”. Buộc phải tự tìm lấy con đường đi, bằng xúc cảm và trải nghiệm, làm sao có thể tránh được ngộ nhận nên có khi đủ thấu hiểu một điều gì đó thì đã “phải trả một giá cao”. Đến khi sửng sốt trước sự hoan lạc của bầy vịt “đầy ắp một thứ tình – yêu”, “tuyệt không có gì là thô tục, cưỡng đoạt, gạ gẫm” như những gì đã biết, Điền chới với, “nghi hoặc lan ra như những vòng sóng”. Và khi Sương xuất hiện, thì trong Điền “chỉ là một nỗi ân hận giày vò”. Điền yêu chị nhưng “tình yêu ấy đã bị khiếm khuyết mất rồi”, sau giấc ngủ dài, “bản năng nó không trở dậy”… Vì vậy, dù là hiện thân của tình yêu thương, có tình yêu thương nhưng Điền không thể trao gửi tình cảm ấy cũng như không thể đem lại hạnh phúc cho người mình yêu. Do đó, ngoài ý nghĩa là đại diện cho cái tốt, Điền còn là một cá nhân khiếm khuyết. Rõ ràng, khi Điền bị đẩy vào một thế giới tha hoá, cái tốt đẹp đã bị cái xấu xa vây kín. Điền đơn độc trên hành trình bảo toàn cho căn tính tốt đẹp của mình. Có chăng trong những thảng hoặc nào đó, Nương có thể đồng cảm với cậu nhưng tuyệt nhiên có những điều mà Điền không thể chia sẻ với chị được. Vấn đề tính dục chẳng hạn. Bởi đó không chỉ là vấn đề “tế nhị”, khó nói với người khác giới, mà chủ yếu là do nó là nỗi đau mà hai chị em muốn né tránh (từ khi nhìn thấy hành động trao đổi của mẹ với người bán vải). Biểu tượng cánh đồng có sự hô ứng với nhân vật này. Ở chỗ, phẩm tính vốn có của đất mẹ là ban tặng của cải và bao bọc con người. Con người được sinh ra từ mẹ đất rồi kết thúc cuộc đời ngắn ngủi ở trần thế này cũng được trở về với đất mẹ. Nhưng những đứa con đã đáp đền công ơn sinh dưỡng ấy như thế nào? Hẳn tình trạng ô nhiễm môi trường và khai thác cạn kiệt tài nguyên như hiện nay là một cách ứng xử trả lời cho ta thái độ của con người. Nghĩa là đã có một sự tha hoá, con người được sinh ra từ một bản tính thiện nhưng không phải ai cũng giữ được phẩm cách ấy theo suốt cuộc đời. Cái tốt hiển nhiên bị lép vế trước cái xấu và cái ác. Đó thực sự là một tình trạng nhân sinh đáng nghi ngại.

Vậy điều gì ẩn sau biểu tượng ám ảnh của tác phẩm, nơi Điền và cách đồng đã cùng cất lên một lời hô ứng? Con người sẽ phải làm gì trước thảm trạng môi trường hiện nay? Cái gì ngăn cản con người hướng thiện? Và nữa, thân phận Điền có gì đồng vọng với những cánh đồng đã có thời “miên viễn” mà nay “trở thành đô thị”, “ngoa ngoắt thay đổi vị của nước”, đang “nhớ đau nhớ đớn bàn chân xưa nghẽn trong bùn quánh giờ đang vất vơ kiếm sống ở thị thành”? Nói cách khác, các cánh đồng đã bị khai thác đến kiệt quệ, bị xâm thực, bị lãng quên… đã nghiễm nhiên bị tước mất khả năng dâng hiến cho con người những mùa màng bội thu. Đứng trước hiện thực những cánh đồng miền Nam một thời mỡ màu, trù phú đang chịu những tác động thô bạo bởi lòng tham và sự mù quáng của con người… có cần gióng lên tiếng chuông báo động? Bỏ qua những hiện tượng như: mại dâm, cúm type A H5N1, bạo ngược, mù chữ,… được thể hiện khá nhiều trong truyện, ý nghĩa thời sự của Cánh đồng bất tận phải chăng một phần được đọng lại ở cách xây dựng biểu tượng như thế?

Cái độc đáo của việc xây dựng biểu tượng ở đây, cũng là dấu hiệu của sự tìm tòi và thể nghiệm cái mới, là tác giả đã tiến hành khái quát hóa dựa trên sự đan bện của cả quan hệ tương đồng và quan hệ đối lập trong khát vọng thể hiện một thế giới đa chiều, đa diện. Nghĩa là tác giả đã làm mờ nhòe lằn ranh giữa cái Thiện và cái Ác, cái Tốt và cái Xấu, cái đáng trân trọng và cái đáng lên án… Trong thế giới ấy có sự tồn tại đan xen đồng thời những phạm trù đối lập, cái nhân bản buộc phải chung sống và chứng nhận đau đớn sự tha hóa, băng hoại. Biểu tượng của tác phẩm không trực hiện mà ẩn sâu trong tâm trạng giằng xé trước hiện thực cuộc sống bộn bề. Tác phẩm thể hiện một thế giới bất định, hơn thế cái xấu cái ác lại có phần lấn lướt. Ở đó, tác giả đã dùng thủ pháp đòn bẩy, nghĩa là càng thể hiện sâu đậm cái bất thiện, chỉ mặt gọi tên cái bất thiện, thì khao khát hướng thiện càng mãnh liệt, và kéo theo nó bi kịch bị cự tuyệt quyền được sống thiện càng giằng dai, nhức nhối. Đó chính là bình diện ý nghĩa ở bề sâu, phái sinh, là biểu tượng được xây dựng bằng mã tín hiệu khác: tên nhân vật. Do đó, ý nghĩa rút ra từ biểu tượng chính là sự khát khao, lòng mong mỏi đến thiết tha, cháy bỏng (bất tận) rằng hãy bảo vệ, giữ gìn những giá trị người, hãy chống lại sự tha hóa con người. Đó cũng là chiều sâu nhân bản của tác phẩm.

Bằng thủ pháp song trùng và đan bện các hệ thống biểu trưng, Ngọc Tư đã xây dựng thành công biểu tượng nghệ thuật có sức ám ảnh và day dứt tâm can người đọc. Với biểu tượng, người đọc được đặt vào vị thế của một người đứng nhìn vọng ra, thấu thị những va đập của đời rồi bừng ngộ mà so xét lại chính mình. Và khi ấy, tác phẩm đặt ra được câu hỏi nhân sinh nhức nhối, con người sẽ tồn tại ra sao trước những xung lực khốc liệt của hiện hữu đang vây bọc; con người cần phải làm gì trước hiện trạng nhức nhối của môi trường và nhân tính;… Con người phải thế nào trên “cánh đồng bất tận”?

2. Mô hình tự sự

Sử dụng thủ pháp đòn bẩy để thực hiện khát vọng khám phá đời sống bất định ở phương diện chất nhân bản phổ quát, con người sẽ tồn tại thế nào trước những xung lực khốc liệt của hiện hữu đang vây bọc, tác phẩm mang trong mình phẩm chất của một tiểu thuyết. Một câu hỏi được đặt ra là tác giả đã tiến hành xử lý như thế nào để vẫn có thể bao chứa trong khuôn khổ một truyện ngắn? Đó là vấn đề lựa chọn cấu trúc tự sự.

Tác phẩm chia làm 8 đoạn, mỗi đoạn có tính độc lập tương đối với toàn hệ thống, được gắn kết thành chỉnh thể dựa vào ba hệ hình: chuỗi sự kiện nhân quả, thời gian tuyến tính và dòng chảy tâm lý nhân vật. Để thuận lợi trong việc chỉ ra mô hình tự sự của truyện, chúng tôi tạm chỉ ra sự kiện cơ bản của từng đoạn:

Đoạn 1: Hai chị em cứu cô gái điếm

Đoạn 2: Cuộc sống của gia đình khi có thêm cô gái

Đoạn 3: Ký ức về ngày bà mẹ bỏ đi

Đoạn 4: Cuộc sống lang thang sau ngày bà mẹ bỏ đi

Đoạn 5: Cuộc sống ở Bàu Sen, cuộc tình của người cha với chị chủ nhà

Đoạn 6:

– Ký ức về những cuộc tình khác của người cha

– Ký ức về sự “bất thường” của Điền

– Cuộc sống của hai chị em từ ngày phát hiện ra tiếng Vịt

Đoạn 7:

– Cuộc “trao đổi” của Sương để cứu gia đình

– Cuộc sống sau ngày Sương và Điền bỏ đi

Đoạn 8: Cuộc đối đầu với bọn cướp vịt

Nếu quan niệm hệ thống sự kiện là yếu tố cốt lõi của cốt truyện thì trục vận động chính của cốt truyện là quan hệ nhân quả, “sau cái này tức là nguyên nhân của cái này”([ii]). Từ hệ hình này, tức tính logic của quan hệ nhân quả và trật tự thời gian trong chuỗi sự kiện, thì cốt truyện của Cánh đồng bất tận có thể được sắp xếp như sau: đoạn 3 – 4 – 5 – 6 – 1 – 2 – 7 – 8. Điều này cho thấy, bình diện sự kiện đã bị đẩy xuống vai trò thứ yếu. Nếu xét ở bình diện dòng chảy tâm lý nhân vật: những ký ức chợt đến khi Nương kể với Sương câu chuyện gia đình mình, cốt truyện còn: đoạn 1- 2 – 3 – 4 – 5 – 6 – 7 (đoạn 1 được coi là bối cảnh, không có sợi dây lên kết với đoạn 8). Điều này cho thấy từ đoạn 1 đến đoạn 7 là một hệ thống hoàn chỉnh, đoạn 8 là sự tiếp nối theo trật tự thời gian tuyến tính (tức là có sự tham gia của một hệ thống tự sự nữa).

Như vậy, tác giả đã lồng ghép hai hệ thống tự sự với ba mô hình cốt truyện trong Cánh đồng bất tận. Trực diện với tác phẩm, cốt truyện sự kiện đã ít nhiều bị phân rã và cốt truyện tâm lý đã có phần lấn lướt. Truyện như một bức tranh ghép mảnh những mảng ký ức chắp nối, đứt đoạn của nhân vật, rộng ra là sự lắp ghép những thân phận, mảnh đời của các nhân vật. Ở đó nhân vật tan chảy thành dòng xúc cảm hỗn độn giữa quá khứ và hiện tại, tâm cảnh và ngoại cảnh… mà một sự phục dựng đầy đủ chỉ có được khi người đọc đã lật đến trang cuối cùng. Điều này đem đến cho người đọc cái hứng thú được thể nghiệm “một hiện thực chưa hoàn kết”, được cùng theo đuổi và trải nghiệm với nhân vật, tức là gia tăng sự tham gia của người đọc vào câu chuyện. Đó là khuynh hướng tự sự giàu tính hiện đại([iii]).

Theo logic của sự vận động cốt truyện sự kiện, Nguyễn Ngọc Tư viết gì trong Cánh đồng bất tận? Một người đàn ông bị vợ phụ tình đâm ra căm ghét đàn bà và say mê trong những ý định trả thù những người phụ nữ bước qua đời ông ta mà quên đi trách nhiệm của mình với hai đứa con rứt ruột đẻ ra. Đến một ngày, có một cô gái điếm len chân vào cuộc đời họ, làm xáo lộn cuộc đời họ: thằng con đuổi theo hình bóng của cô gái không chịu được sự bạc ác của người cha; đứa con gái trong tận cùng của tủi nhục và đau đớn gắng chìa tay ra để kéo người cha về phía thế giới của mình nhưng vô vọng. Hai cha con gần sát nhau trong cơn hoạn nạn mà vẫn thuộc về hai thế giới xa cách. Mỗi người là khối cô đơn tuyệt đối không chỉ đối với thế giới của người khác mà ngay cả ở thế giới của chính mình.

Xét riêng ở góc độ cốt truyện như thế, tự nó chẳng thể hứa hẹn đem đến một câu chuyện hay. Chẳng có gì để viết trong cái cốt truyện ấy nếu không muốn mang đến một câu chuyện lên gân hay giáo huấn cứng đờ. Nhưng Nguyễn Ngọc Tư đã viết rất thành công. Dấu hiệu của ý định tối giản cốt truyện đến mức gần như không đủ sức để xâu chuỗi mạch truyện được thể hiện khá rõ. Có lẽ là để phù hợp với khuôn khổ của một truyện ngắn: cắt bớt tình tiết bằng việc đẩy các nhân vật từ bình diện có thể xuất hiện trực tiếp sang gián tiếp như các cuộc tình sau của người cha (đoạn 7), sự lấn lướt của ngôn ngữ tâm trạng so với ngôn ngữ miêu tả,… Nhưng quan trọng hơn là sức hút của mạch tâm trạng. Phải chăng, bị cuốn theo mạch tâm tư mà tác giả đã lược quy nó thành ra như vậy. Bởi đến lượt người đọc, hầu như họ cũng quên bẵng cái cốt truyện ấy. Họ cũng bị cuốn theo cái dòng chảy miên man của cảm xúc. Họ tự nguyện nín lặng đuổi theo những ý nghĩ cứ từ từ dồn đến rồi nghẹt cứng, căng đầy, ứ mọng đến ngộp thở. Bởi họ cảm thấy, như đang sống cuộc sống của chính họ, rằng Ngọc Tư đang dẫn mình đi trên sợi dây căng mảnh như dây đàn, bước mạnh sẽ đứt, bước chậm sẽ mất thăng bằng, sơ ý sẽ ngã, và như thế là tự loại mình ra khỏi trò ú tim của khát vọng được theo đuổi để khám phá cái mặt khuất của chính mình. Như vậy, kỹ thuật tự sự đã được đẩy sang bình diện mới, nghĩa là cốt truyện sự kiện đã bị phân rã và thay thế vào đó là một cốt truyện khác – cốt truyện tâm lí. Không khí truyện của Ngọc Tư, vì thế, ẩn chứa bên trong sự dồn nén cái sức mạnh của bộc phá. Người đọc dễ dãi không đọc được Ngọc Tư, người yếu bóng vía, nhất là người không dám sống thật với lòng mình không thể đọc văn chị được. Đòi hỏi sự chân thành từ phía người đọc, đó là bài học nhân sinh đầu tiên của người nghệ sỹ chân chính nên cũng là giá trị nhân bản trước nhất của một tác phẩm nghệ thuật.

Nói Ngọc Tư khi viết Cánh đồng bất tận bị cuốn theo cảm xúc không đồng nghĩa với việc hạ thấp vai trò sáng tạo của chị, càng không thể coi là sự duy cảm trơn tuột. Chị là nhà văn có trách nhiệm với công việc của mình. Tôi tin là chị đã trăn trở xây dựng đề cương cho câu chuyện. Đọc đoạn chị viết về cánh đồng: “Những cánh đồng trở thành đô thị; những cánh đồng ngoa ngoắt thay đổi vị của nước, từ ngọt sang mặn chát; những cánh đồng vắng bóng người, và lúa rày mọc hoang nhớ đau nhớ đớn bàn chân xưa nghẽn trong bùn quánh giờ đang vất vơ kiếm sống ở thị thành. Những cánh đồng đó, đã hất hủi cây lúa (và gián tiếp từ chối đàn vịt). Đất dưới chân chúng tôi bị thu hẹp dần. Nhưng ngay từ đầu, chúng tôi đã tự làm quẩn chân mình, vì không thể quay lại những cánh đồng cũ (với người quen cũ). Tôi đã từng trở ngược về những nơi đó theo cách của tôi, bằng mường tượng. Tôi gặp nhiều đứa trẻ tên Hận, tên Thù mang khuôn mặt rắp tâm của cha tôi, với đôi mắt sâu và chiếc mũi thẳng. Những đứa trẻ nhàu úa, cộc cằn, cắm cẳn, chỉ tiếng chửi thề là tươi rói, nhảy ra xoi xói ở đầu môi… Đơn giản là ngay bây giờ, trên cánh đồng này, cũng đang lảng vảng những thằng Hận, chúng lớn hơn, cũng thất học, hung hãn…” dễ thấy tính luận đề được bộc lộ một cách rõ ràng: chị muốn viết một câu chuyện của ngày hôm nay, mang tính thời sự. Đó một phần là phương diện “câu chuyện”, tính mục đích của kết thúc như đã nói ở trước. Nhưng mặt khác, ở phương diện vô thức, “huyền thoại”, khi đặt bút viết, những con chữ cựa quậy bởi sự thôi thúc của một cảm thức xa xưa, một sự lắng lọc siêu cá thể, bộ khung cốt rạn vỡ, ý tưởng đuổi theo ý tưởng và một câu chuyện mới ra đời, như một thực thể độc lập đã mờ nhòe đi yếu tố thời sự cụ thể, riêng trị để hòa vào cuộc đấu tranh hoàn thiện nhân cách con người. Thực ra vấn đề sẽ khác nếu Ngọc Tư không đặt bút ở đề tài cánh đồng mà ở thành thị, gia đình, tình yêu,… cả tình dục đi chăng nữa. Bởi chính những hạt phù sa màu mỡ của chằng chịt kinh rạch từ bao đời lắng lại thành “cánh đồng bất tận” miền Nam; và cũng từ bao đời người dân Nam Bộ đã phải chọn kiếp sống trôi dạt theo sông nước… đã tạo nên cái “chất người Nam Bộ” trong Ngọc Tư. Nên khi vô tình (hay hữu ý), Ngọc Tư chọn cho mình chủ đề cánh đồng, thì chị đã chạm vào cái vỉa sâu nhất của trầm tích văn hóa vùng này, và lập tức chất người xa xưa ấy, cái tiềm thức tưởng như ngủ quên ấy được đánh thức và chảy ra theo ngòi bút, đưa cái cánh đồng “luận đề” thành cánh đồng đời, chất thời sự thành chất vĩnh cửu bởi tính người sâu xa của nó. Nhà văn Nguyên Ngọc đã có những ý kiến thật xác đáng: “Mấy năm nay chúng ta đều rất thích Nguyễn Ngọc Tư. Cô ấy như một cái cây tự nhiên mọc lên giữa rừng tràm hay rừng đước Nam Bộ vậy, tươi tắn lạ thường, đem đến cho văn học một luồng gió mát rợi, tinh tế mà chân chất, chân chất mà tinh tế, đặc biệt “Nam Bộ” một cách như không, chẳng cần chút cố gắng nào cả như các tác giả Nam Bộ đi trước… Tác phẩm quá đậm chất tiểu thuyết! Nó bày ra đấy một thế giới kỳ lạ, trong đó ai còn lẩn thẩn đi tìm, đi nói chuyện chuẩn mực giá trị gọi là “đạo đức”, “đạo lý” này nọ, đều trở thành ngớ ngẩn, vô duyên, thậm chí ngu độn. Vậy đó thôi, một thế giới rất người, vô cùng là người, đau khổ đến tận cùng, đến mênh mang bất tận, một nỗi đau nhân thế, tại ai nhỉ, chẳng tại ai cả, thậm chí kẻ nào ngớ ngẩn đi tìm thủ phạm thì đều là chẳng hiểu gì về cuộc đời này cả. Chẳng có “tiêu cực” nào hết, cũng chẳng tội ở “cơ chế” nào cả. Thế đấy thôi, cuộc đời này. Đã trót làm người thì phải chịu, biết kêu ai! Mà cũng có lẽ cuộc đời này đáng, rất đáng sống chính vì nó là như vậy đấy, hạnh phúc tận cùng ở trong đau khổ tận cùng…”([iv]).

Cái hay của Cánh đồng bất tận, chất kết dính mạch tự sự tâm lý, chính là cái cảm thức lưu lạc của con người Nam Bộ bàng bạc tác phẩm. Sẽ không là tất cả, nhưng đây chính là cái mã tốt nhất để mở cánh cửa bước vào thế giới Nguyễn Ngọc Tư. Đó chính là cái chất người xa xưa, cái tiềm thức làm “bệ phóng” đưa chị đến thành công trongCánh đồng bất tận. Không phải văn chương các tác giả đồng hương với chị không có yếu tố này, nó cũng bàng bạc trong tác phẩm của Mạc Can, Nguyễn Lập Em,… và trước nữa là một dòng mạch từ Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam, Đoàn Giỏi,… nhưng không đậm đặc và day dứt như trong tác phẩm của chị. Sự khác biệt trong những biểu hiện của “chất người” này giữa Ngọc Tư với các tác giả đi trước, ở phương diện tạo nên nét đặc sắc nghệ thuật, chính là sự ưu tiên thể hiện giữa thời gian và không gian trong việc cảm nhận sự lưu lạc của con người. Ở các tác giả khác, như Đoàn Giỏi chẳng hạn, Đất rừng phương Nam của ông là một thiên tiểu thuyết đặc sắc trên phương diện nghệ thuật hóa những cuộc “phiêu lưu” của nhân vật, một cuộc mưu sinh vất vả theo những gánh hát ngang dọc miền Nam. Sự ưu tiên cho những thay đổi không gian cũng là biểu hiện của nhiều tác giả miền Nam khác như Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam, Nguyễn Quang Sáng,… làm nên tính chất “vùng miền” trong sáng tác của họ bên cạnh lượng phương ngữ đậm đặc. Nếu cần tìm một nguyên nhân cơ bản dẫn tới sự ưu tiên này, chúng tôi nghĩ tới lối viết truyền thống với việc chú trọng xây dựng cốt truyện sự kiện, đeo đuổi số phận con người qua sự phát triển của tính cách, những biến cố và các tác động của hoàn cảnh… Đến Mạc Can, với những thể nghiệm đổi mới lối viết, ở Tấm ván phóng dao, nhờ chú ý đến những dòng ý thức miên man của nhân vật, cảm thức về thời gian đã được thể hiện khá đậm nhưng vẫn chưa được khai thác triệt để. Những phân đoạn độc thoại của nhân vật thường gắn liền với những buổi chiều “ngâm ván” trôi nổi theo dòng thủy triều là sự gặp gỡ giữa hai chiều không – thời gian của sự lưu lạc làm thức dậy những ám ảnh về thân phận con người… Ngọc Tư đã vừa sống trong tâm thế thường trực chung của cộng đồng vừa được thừa hưởng cả một mạch văn đặc biệt như thế để xây dựng thế giới nghệ thuật của mình. Tiếp thu có sáng tạo, cảm thức lưu lạc trong Cánh đồng bất tận nghiêng về khía cạnh khai thác những ám ảnh về thời gian. Có lẽ do khuôn khổ truyện ngắn và sự lựa chọn cốt truyện tâm lý đã khiến tác giả xoáy sâu vào cảm nhận của nhân vật ở bình diện này. Không trôi theo những thay đổi không gian mà bám đuổi vào mạch cảm xúc và suy tưởng của nhân vật, thời gian trong tác phẩm là sự đột hiện của những mảng ký ức chắp nối, rời rạc. Những mảng đời, những số phận, những kỷ niệm… đồng hiện, đứt nối làm cho thời gian nhòe đi tính biên niên nên không khí truyện bị kéo căng ra, ngột ngạt, bức bối. Điều đó làm cho sự ý thức về số phận, thân phận con người giằng xé hơn, day dứt và đau đớn hơn.

Trong tác phẩm, cuộc đời ba cha con nuôi vịt chạy đồng thì lưu lạc là quá rõ rồi. Nhưng hơn thế, tất cả những con người trong truyện đều chịu những kiếp sống lưu lạc, mỗi người chỉ dạt vào câu chuyện một chốc lát, nhiệt thành thể hiện khát vọng sống mạnh mẽ bằng sự chấp nhận và đánh đổi, rồi lại dạt trôi đến một phương trời khác. Chỉ một chút đó thôi, họ cũng kịp vẽ lên trong hình dung người đọc một vấn đề nhân sinh nhức nhối. Cánh đồng bất tận thu hút người đọc chính là nhờ cái cốt truyện này. Truyện ngắn như một chuỗi dài những phiến đoạn tâm lí. Ở đó cứ le lói những khát khao được sống một cuộc sống đời thường, được gặp người quen cũ, nhưng dù họ có đánh đổi, có cá cược bằng tất cả những gì họ có thì họ vẫn bị trơ ra, gạt ra và trở thành những nỗi cô đơn “bất tận”. Mỗi phiến đoạn là một sân ga ghi dấu nỗi xót xa tê tái mà con tàu thời gian chỉ dừng đủ cho một thân phận tấp vào trong tấp tểnh hi vọng để rồi khi vừa kịp nhận ra đó không phải là “bến đợi” thì tàu đã lăn bánh, “con đường quay về bị bịt kín”; là một thoáng chốc bàng hoàng, sực tỉnh trong khát vọng được hòa vào cuộc sống bình thường rồi cứ lịm dần lịm dần đến tê liệt cả bản năng và khát vọng người. Nhưng số phận dù có tủi cực đến đâu thì cái khát vọng ấy vẫn không bị tuyệt diệt, nó chỉ khuất lặn đâu đấy nơi đáy sâu tâm hồn đã bị cái xấu và cái ác đày đọa đến hoang lạnh. Còn gì nhân sinh hơn sự đón nhận đến rớt nước mắt cái khát vọng xây lại cuộc đời từ những đứa con tên Thương, Nhớ, Dịu, Xuyến, Hường… sinh ra bởi nỗi đau đớn uất nghẹn của người mẹ và bởi những hành động thú tính của những kẻ mang dáng dấp người, mang những cái tên Hận, Thù,… thất học và hung hãn. Vì vậy, bao trùm Cánh đồng bất tận là nỗi khắc khoải về số phận con người.

Đó là tài năng và cũng là tấm lòng Ngọc Tư. Chị đã xử lí thành công sự lồng ghép của hai hệ thống tự sự trên nền cảm xúc và suy tưởng của nhân vật chính. Chị đã gia giảm đến mức tối đa cốt truyện sự kiện và gia tăng thật thành công cốt truyện tâm lý. Từ điểm nhìn nhân vật, triết luận nhân sinh được đưa ra không mang tính khiên cưỡng mà thật cụ thể, sinh động, đa diện theo dòng chảy của cảm xúc nội tâm.

3. Ngôn ngữ trần thuật

Thật sự sẽ là chưa đủ nếu khẳng định thành công của tác phẩm mà không đề cập đến đóng góp của ngôn ngữ. Nhân vật chính vừa như kể chuyện vừa như đang mải miết theo đuổi dòng tâm tư của mình nên ngôn ngữ rất giản dị, mộc mạc, thành thật đến kinh ngạc. Tạo cho mạch tâm trạng nhân vật một nền tảng, một bệ đỡ là dấu ấn địa văn hoá, lọc lựa lấy cái hồn đất chất người, cố nhiên Ngọc Tư đã tìm đến phương ngữ. Sử dụng đậm đặc phương ngữ trở thành một yêu cầu nghệ thuật bắt buộc, chỉ sử dụng nó thật thành công thì tác giả mới có thể làm nổi bật tâm lí nhân vật, mới khắc họa được chân thật và sâu sắc chân dung nhân vật. Nguyễn Ngọc Tư đã làm được điều này, mà làm được một cách xuất sắc. Vì thế, bên cạnh sự lựa chọn mô hình tự sự, lối viết theo “chính cách nói tiếng An Nam ròng”, một thứ ngôn ngữ đời sống đích thực, lại là một phương diện thành công khác của tác phẩm. Có được điều đó, một phần như đã nói là do cách lựa chọn cấu trúc tự sự, phần khác là sự tiếp thu truyền thống văn học Nam Bộ, theo hướng văn có hình thức “mùa nước lên” như Thu Tứ đã khái quát: “Khởi đầu, trầm trồ lối viết lưu loát nhẹ nhàng như mây trôi nước chảy của các nhà văn nhà thơ miền Bắc. Vào miền Trung, bị cái nội dung hướng ra “ngoài” của thứ văn chương nơi xứ trọ trẹ, xứ nẫu ám ảnh, suýt quên mất khái niệm động. Tiếp tục Nam tiến, qua đất Ðồng Nai của nhà văn Nai Ðồng (tức Bình Nguyên Lộc), qua Sài Gòn tạp pín lù của “nhà… chơi” Vương Hồng Sển, về “miệt Vườn văn minh” bờ sông Tiền, xuống “Cần Thơ gạo trắng nước trong” bờ sông Hậu, xuống tận cõi U Minh, đâu đâu lời ăn tiếng nói nghe cũng mượt mà trôi chảy quá chừng, cũng lưu thủy hành vân “tới bến”, “sức mấy” mà nhịn “cha nội” ở bất kỳ miệt nào! Mà nói làm sao thì viết y làm vậy (nghĩa là dùng ngôn ngữ đời sống, phương ngữ – chúng tôi nhấn mạnh)”([v]). Ngôn ngữ trong tác phẩm, vì thế, là một sự kế thừa và phát triển, một nỗ lực không nhỏ của tác giả để cống hiến cho người đọc những trang văn chân chất, sống động, thật như đời sống. Kể chuyện từ ngôi xưng thứ nhất bằng ngôn ngữ như vậy, một mặt tác giả có điều kiện thuận lợi để đào sâu thế giới nội tâm nhân vật và mặt khác tạo được cảm giác gần gũi, chân thành, tin tưởng đối với người đọc. Tất sẽ có người không hiểu được hết phương ngữ mà chị sử dụng. Nhưng khi thật sự trải nghiệm cùng nhân vật và ngụp lặn trong bầu không khí đặc quánh chất Nam Bộ trong truyện của chị thì một vài mắc mớ về phương ngữ, trong sự mê hoặc của quy luật lây lan tâm lí, nghĩa là người đọc cảm nhận bằng tâm lí nhân vật, sẽ tự được giải tỏa hoặc bị đẩy xuống hàng thứ yếu.

Để có một giọng văn chân thật, một mặt như đã nói, tác giả rời chuyển ngôi kể từ người kể chuyện sang nhân vật chính, cho nhân vật “nói” bằng ngôn ngữ cảm xúc, suy tưởng; mặt khác, đẩy ngôn ngữ đối thoại, ngôn ngữ của nhân vật khác lọc qua lăng kính tâm lý của nhân vật chính, đưa nó vào trường cảm nhận của nhân vật chính. Nhân vật tôi, vì vậy, là người biết hết, hiểu hết, cảm hết, những gì mình nói ra. Hơn thế, sự kể vừa như kết quả của những tác động bên ngoài (những câu hỏi của Sương), vừa như sự thúc bách nội cảm, tức nhu cầu muốn phơi trải để được nhẹ lòng trước không khí ngột ngạt bao bọc bởi cảm giác một sự báo ứng đang dần tới, thứ ngôn ngữ tự nói với mình ấy là yếu tố cơ bản tạo nên tính chân chất của văn phong Ngọc Tư.

Hầu hết ngôn ngữ đối thoại trong tác phẩm đều gián tiếp xuất hiện sau những lời dẫn của tôi, như: Chị hỏi, Điền nói, tôi nói, người con trai bảo,… hoặc lồng trong những lời đánh giá, những cảm nhận của nhân vật: Chị ngạc nhiên; mắt chị nhìn cha đầy khiêu khích, “cuộc đeo đuổi vẫn còn dài, cưng à”; thằng Điền đổ quạu; má tôi nguýt dài; má bỗng nhiên bồn chồn,… Sau mỗi đối thoại như thế, một dòng cảm nghĩ, suy tưởng lại chen vào làm ngắt quãng cuộc thoại và câu chuyện lại chìm trong xúc cảm của nhân vật, rồi thỉnh thoảng lại cuộn lên, sực tỉnh khi có một câu hỏi, một giọng nói khác chen ngang. Vì vậy, đối thoại hiện lên phần nào mất tính đa giọng để chìm sâu vào tâm cảm nhân vật, làm nên giọng trầm buồn day dứt. Từ cái nền nhất giọng, đẩy sâu thêm một nấc nữa, Ngọc Tư đem đến cho người đọc một cuộc thoại của hai chị em mà “hỏng nói tiếng – người”, một đối thoại không phát ra tiếng: “Có lần, hai chúng tôi ngồi trên một bờ đất, xung quanh đấy những người thợ gặt đang ăn cơm. Nắng giữa trưa nóng rát. Tôi nói, chỗ khác nắng có dữ dằn vầy không ha. Thằng Điền nói, mùi cá kho quẹt thơm dễ sợ. Ừ, tôi gật đầu, nhưng cái mùi nghèo quá. Vậy cái mùi gì giầu, thằng Điền hỏi vặn lại. Tôi cười, thịt kho tầu. Rõ ràng hai đứa tôi có cãi qua cãi lại, vậy mà sau đó một người thợ gặt tỏ vẻ ngạc nhiên, “Hai đứa bây ngồi chù ụ cả buổi trời, không nói câu nào, vậy mà cũng chịu nổi sao?…”. Đó có đơn giản là cuộc đối thoại bằng ý nghĩ của hai “đồng loại”, hai đứa trẻ “kỳ dị” có “vẻ mặt rất bình thản” và trong lòng, một đứa thì “nước mắt khô rốc” còn đứa kia thì “ở đó, đang có bão tơi bời, gió quất điên cuồng vào trái tim nhỏ chi chít vết đau”? Gạt ra bình diện kỹ thuật tự sự, vốn là một thử nghiệm táo bạo, tác giả đặt câu hỏi cái gì đã làm cho Nương và Điền đánh mất đi tiếng nói của loài người? Sự “cố gắng hết sức để sự giận dữ, chán chường không bùng cháy” hay do bị “đẩy trượt dài vào nỗi thiếu thốn triền miên” cả về vật chất và tinh thần, mà chủ yếu là tinh thần, từ những cái nhỏ nhặt như: quyền được đưa tiễn, được xao xuyến nhìn những cái vẫy tay, nhận món quà quê, lời dặn dò quyến luyến, được học hành, được yêu thương, săn sóc đến sự thiếu vắng con người, tình người trên những “cánh đồng bất tận”? Cái gì làm nên sự đổ vỡ này?… Hàng loạt những câu hỏi được Nguyễn Ngọc Tư đặt ra và nhường cho người đọc quyền trả lời, như một thôi thúc phản tỉnh. Vì vậy, dù câu chuyện đã lược đi những đối thoại trực hiện để thành dòng chảy nhất phiến của tâm lý nhân vật, tính chất đối thoại ở chiều sâu tư tưởng vẫn làm cho giọng kể không đều đều, đơn điệu. Trái lại, cho nhân vật từ chợt ý thức đến day dứt về một sự báo ứng, trừng phạt, nghĩa là sự thức nhận về cái xấu, cái ác, những ký ức nhức nhối, ê chề cứ vút lên, xoáy sâu làm cho nền tâm trạng, nếu coi như một mặt phẳng, có những trồi sụt mà mạch truyện nếu giống một dòng chảy qua nó ắt sẽ có những khúc êm ả, thác ghềnh, dáng xoáy… Một dòng sông chứa lắm sóng ngầm.

Di chuyển điểm nhìn sang nhân vật, đắm chìm trong những xúc cảm nội tâm, ngôn ngữ trong Cánh đồng bất tận là một thứ ngôn ngữ giàu cảm giác. Đó là ngôn ngữ đã được lọc qua tâm lí nhân vật nên mang đậm màu sắc chủ quan, một thứ ngôn ngữ sống dậy từ những ký ức đau buồn càng tạo cảm giác tê tái, nhức buốt: “tôi ngồi quẹt tay lau nước mắt đi, kỹ càng, để gương mặt an nhiên, ráo hoảnh. Tôi quyết không để cha thấy mình buồn, quyết không để cha bật ra cái câu: Chịu hết nổi cái cảnh sống này rồi hả? Chừng nào đi?”; “Tôi đã chờ nó đến khi mùa mưa đổ xuống cánh đồng Chia Cắt (tôi tạm gọi vậy) một trời sao. Chờ chơi vậy, chứ tôi biết Điền chẳng quay về. Tôi nhớ nó (và nhớ chị) không thôi. Những lần dọn cơm tôi hay lấy chén đũa cho cả bốn người. Cha tôi rất khó chịu, ông ngán ngẩm đứng dậy. Tôi ngồi một mình, chan nước vào chén cơm như chan nỗi trống trải khủng khiếp”… Từ chỗ cố gắng nén cảm xúc để tránh phải sống lại những ký ức đau buồn, không ngờ sự nín nhịn phải kéo dài dằng dặc đến nỗi ngay cả trước những đau đớn thực tại, nhân vật cũng đón nhận một cách dửng dưng, cảm xúc đã chết trong sự đày đọa, bỏ rơi. Hơn thế, nỗi đau đớn và sự cô đơn khiến hai chị em hầu như đã đánh mất ngôn ngữ giao tiếp thông thường mà có thể “đọc” được suy nghĩ của nhau, “nghe” được tiếng vịt và khi kể lại câu chuyện thì “những kí ức chắp vá, đứt đoạn được chúng tôi kể khá chậm, một phần vì đã lâu không dùng cách giao tiếp bằng lời, một phần do vài chi tiết khiến chúng tôi phải dừng câu chuyện lại, vì thấy nhói ở đâu đó”. Ngôn ngữ kể chuyện, vì vậy, là một sự hồi nguyên của cảm xúc từ lâu đã lặng tận đáy lòng, thứ ngôn ngữ sống lại cùng với và trước hết trong những xúc cảm rất người – ngôn ngữ cảm giác, suy tưởng.

Đồng thời với sự thức dậy của cảm giác, cảm xúc là sự cảm nhận thực tại trong nỗi khắc khoải của một sự “báo ứng” ngày càng gần khiến cho ngôn ngữ hồi cố vừa giàu cảm giác vừa sắc lạnh trong cảm nhận, như một sự xét lại để định mức báo ứng. Đó là giọng nói sắc sảo của đứa con gái nhỏ về người mẹ đang “rạo rực, bồn chồn, mừng quýnh”: “Tôi muốn khóc quá chừng, má con xa lạ với nhau mà sao lại mừng?”. Là những giấc mơ (vừa mong ngóng vừa kinh sợ) về người mẹ trong nỗi thắc thỏm về cái cảnh đổi chác. Là cái dáng đứng tần ngần và nỗi “thèm muốn bên đường” của thằng bé khi gặp những ông già ngồi chơi với cháu: “Phải chi ông nầy là ông nội mình, thương đỡ chơi, nghen Hai?” nghe đến tội nghiệp. Và sự phản ứng gay gắt, cay đắng khi nó lớn: “Cha làm việc đó thì cũng giống như mấy con vịt đạp mái…”, nhưng lạnh lùng và đau đớn hơn ở người chị: “Nhưng tận đáy lòng, tôi cũng nghĩ, cha hơi khác con – người. Nhạt nhẽo hơn cả quan hệ theo mùa, theo bản năng, trong cha tôi không còn một chút cảm xúc nào, nét mặt tràn ngập những rắp tâm”. Đau đớn đến nghẹn lòng trong câu hỏi buột ra ngơ ngác của đứa con gái vừa bị làm nhục đến nhàu nhừ: “Không biết con có bị có con không, hả cha?”… Tất cả là những nỗi đau xót đến tận cùng được thể hiện bằng một ngôn ngữ vừa chân thực, vừa lạnh lùng, tê tái.

Và một giọng điệu đan cài khi phẫn uất, khi dửng dưng, khi chán chường, khi sâu lắng làm cho câu chữ rã rượi, vỡ òa trong nỗi xót xa thương cảm trước những nỗi đau quặn thắt, sự cô đơn đến hoang lạnh, nỗi buồn đến cùng cực của thân phận con người. Cả tác phẩm là một bè trầm bởi những nét “nhòe” (chữ dùng của Đỗ Đức Hiểu) của các giọng điệu. Giọng của người kể chuyện nhòe với giọng của nhân vật, giọng độc thoại nhòe với giọng đối thoại, giọng hiện hữu nhòe với giọng suy tưởng, giọng con người nhòe với giọng loài vật,… làm nên một hòa âm trầm buồn trước thế thái nhân tình. Nó là tiếng hợp âm của mênh mông, lững lờ cả ngầm xoáy và giăng mắc như sông nước miền Nam.

Trên cái bè trầm với “cảnh không đổi, người cũng không, cứ ngồi ngoáy mãi vết thương cũ, nhỏ nước mắt” dù đang sống mà “giống như mấy cái mả ngồi”, chợt chộn rộn những “tiếng vịt lao xao”. Tiếng Vịt đã đem đến cho hai đứa trẻ một sự đổi khác, biết “thảng thốt”, “hớn hở” rồi cả “khẽ hát” trước thế giới của bầy vịt, một thế giới “không ghen tuông, hờn giận” và “chỉ đủ yêu thương”. Đắm chìm trong thế giới ấy, học cách yêu thương bầy vịt, chấp nhận những đánh đổi để miễn “tạm quên được nỗi buồn của cõi người”, “hi vọng sẽ không bị đau như yêu thương một – con – người nào đó”, hai chị em đang kiếm tìm tình yêu thương hay trốn chạy thực tế? Học cách yêu thương và thực sự đã chăm chút yêu thương, trong thế giới vịt, họ đã được đáp đền: con vịt đui đã không chỉ phân biệt được giọng hát mà còn nghe được cả tiếng trái tim cô bé “Quen lắm. Chập chờn, thút thít, đòng đưa như sắp rụng…”, rồi cả thắc mắc và quả quyết “thử đui rồi khắc biết”… Cái tiếng Vịt như vậy, đã cất lên thật rành rọt, nó là tiếng nói của một thế giới khác, nhưng cũng xôn xao như thế giới người: có tin yêu, hoài nghi, ghét bỏ… trong lời nói thậm chí cả trong hành động nữa (chúng “mổ vào chân chị”). Nó đâu có khác với thế giới người nên Nương mới bất giác “nhắm mắt để nghe lại tiếng tim mình”. Tiếng Vịt tưởng đã được cất lên khác tiếng người, nào ngờ chúng vẫn “nhoè” với nhau, đẩy nhân vật vào sâu hơn trong bi kịch kiếm tìm tình nghĩa. Quả thật, nó đã hé lộ trong sự gặp gỡ giữa những cái dị thường, không hoàn bị: con người thì thiếu tình yêu thương (không hoàn bị về tinh thần), con vịt thì bị mù (không hoàn bị về thể xác)… và cả trong niềm hi vọng có sự sẻ chia giữa những kiếp thiếu thốn, bất hạnh: con người bị đánh đập tàn tạ (Sương) mới đầu đã bị đàn vịt đói từ chối (bằng hành động “mổ vào chân”) vẫn không thôi tin tưởng “mai mốt những con vịt quỷ này sẽ quý chị, mấy hồi”… Cách thức miêu tả này cũng đã được Ngọc Tư sử dụng trong truyện ngắn Cái nhìn khắc khoải để cho tình yêu thương lên tiếng giữa người phụ nữ bị chồng bỏ rơi “quá giang” vào cuộc sống của ông Hai cô đơn và con vịt Cộc… Rõ ràng sự xuất hiện của tiếng Vịt đã phần nào nâng đỡ con người có niềm tin vào sự tồn tại của tình yêu thương. Nhưng cái giọng được cất lên từ một bộ phận vốn đã đáng thương và cần được yêu thương lại đẩy tình thương vào một bi kịch sâu hơn: thế giới bình thường vẫn loại họ ra và mọi nỗ lực của họ đều không thành, không đủ sức kêu gọi sự đoái hoài chứ chưa nói đến hành động chống phá sự vô nhân tính của con người. Đó chỉ là sự sẻ chia của con vịt Cộc bằng hành động cọ mỏ vào chân ông Hai mà chia sẻ nỗi nhớ, nỗi mong ngóng người ấy quay về mà không có cách nào níu kéo dù khát vọng đã đau đáu trong “cái nhìn khắc khoải”; là sự lạc lõng của Điền giữa những tiếng cười “ha hả” của những người “càu cạu” đi chôn vịt; là sự cầu cứu vô vọng của Nương khi nhận ra tiếng của con vịt mù “xuyên qua lớp đất bầy nhầy”; là tiếng khóc hức của hai chị em; là cái xác còng queo sủi bọt miệng của một người chăn vịt bên mép hố… Và biết đâu, chẳng sẽ có một lúc nào đấy, họ nhận ra tình yêu thương như thế lại không đẩy họ dấn sâu thêm vào bi kịch để rồi phải tiếc nuối, hối hận, đau đớn giằng dai hơn như sự hối hận của hai chị em khi cứu Sương vậy? Do đó, tiếng Vịt không chỉ đem đến một xạ ảnh tiếng người, một thế giới huyền bí, tâm linh mà còn là một tiếng chuông cảnh tỉnh. Con người sẽ ra sao, tình yêu thương liệu sẽ còn khi mỗi con người bị loại ra khỏi cộng đồng, bị cái ác và cái xấu đày đoạ buộc phải đơn côi đến đánh mất cả tiếng người, nghĩa là phương tiện để giao tiếp, giúp người ta hiểu nhau, cảm thông và chia sẻ với nhau, cũng đồng nghĩa với việc con đường hoà nhập vào cõi người bị bịt kín. Truyện ngắn, vì thế, đặt ra được một câu hỏi nhân sinh nhức nhối, trong một bút pháp vừa tài hoa vừa dung dị, đầy kỹ thuật mà vẫn chân chất, mà vẫn nói như trước, con người phải làm sao trước “cánh đồng bất tận”?.

Trên đây là một cách tiếp cận truyện ngắn Cánh đồng bất tận từ góc nhìn cấu trúc – ký hiệu học; là hành trình thử đi ngược từ “cánh đồng lưu lạc” trở về chỗ đứng nhìn vọng ra, đặng tìm hiểu phần nào tâm ý của tác giả. Tất sẽ còn nhiều cách đọc khác nữa, và vẻ đẹp của tác phẩm chắc cũng không chỉ dừng ở vậy. Song dù với cách tiếp cận nào, vẫn có một điều luôn được khẳng định là nếu không có sự day dứt trước thân phận con người thì Ngọc Tư không thể viết được những trang văn thành thật như thế, chân chất như thế! Và phải chăng đây là bài học cuối cùng có thể rút ra từ Cánh đồng bất tận, bài học về nhân cách của tác giả, sự dũng cảm dấn thân hướng tới Chân – Thiện – Mỹ. Một sự vượt lên bao giờ cũng tiềm ẩn trong nó ít nhiều bi kịch; Ngọc Tư còn hứa hẹn những thành công mới, càng đi xa chị sẽ càng cô đơn nhưng đấy là cái duyên nghiệp của chị. Cô đơn thì chị có thể gắng chịu được bởi chị đã chấp nhận dấn thân nhưng làm sao đừng để chị phải “lưu lạc” trên “cánh đồng đọc”! Chị đã chẳng kêu thương cho sự lưu lạc của con người trong Cánh đồng bất tận đó sao!

 

Vanhaiphong-rút từ Đoàn Ánh Dương: Không gian văn học đương đại (phê bình vấn đề và hiện tượng văn học), Nxb. Phụ nữ


[i] Tiểu luận này không có ý định trao đổi trực tiếp với tác giả Bùi Việt Thắng về những nhận định của ông trong Bài học văn chương từ Cánh đồng bất tậnNghiên cứu văn học (Hà Nội, s.7/2006). Nếu có ý kiến nào của tác giả mà chúng tôi chưa thật đồng tình, chúng tôi sẽ chua thêm ở phần chú thích. Ở đây mượn ý tưởng “bài học văn chương” của tác giả, chúng tôi muốn nhấn mạnh tới sự tác động của tác phẩm tới đời sống sáng tác hiện thời, như Phạm Thanh Khương chẳng hạn, là một minh chứng khá rõ ràng cho bộ phận tiếp nhận ảnh hưởng của tác phẩm.

[ii] Trịnh Bá Đĩnh, Chủ nghĩa cấu trúc và văn học, H.: Trung tâm nghiên cứu Quốc học  và Nxb. Văn học, 2002, tr.79.

[iii] Thực ra nếu chỉ ra một khiếm khuyết của Nguyễn Ngọc Tư, có thể thấy ở điểm này: chưa đi đến tận cùng của sự thể nghiệm đổi mới. Truyện ngắn Cánh đồng bất tận có thể hoàn toàn dừng lại khi hết đoạn 7 (và người đọc sẽ có một truyện hay hơn truyện hiện có). Bởi đoạn 8 thực chất là sự phá vỡ cấu trúc tự sự đã hoàn chỉnh, là dựa theo tâm lý nhân vật. Ở đoạn 8, nhân vật không cất tiếng mà tác giả nói hộ nhân vật, nên nó bị khiên cưỡng, bị gò ép để “kết thúc có hậu”. (Nhưng chưa chắc đã có hậu hơn khi kết ở đoạn 7). Tuy nhiên, không vì thế mà triết luận nhân sinh rút ra từ tác phẩm bị cột với nhận định của tác giả ở đoạn này, hay như cách tác giả Bùi Việt Thắng chỉ ra, nó tỏ ra khiên cưỡng khi soi chiếu vào tác phẩm. (Phải chăng vì cảm giác này mà tác giả băn khoăn khi được gợi ý viết thêm đoạn 8 như đã từng tâm sự?). Bản chất của vấn đề theo Iu.Lotman: Sự mô hình hóa một đối tượng vô hạn bằng những công cụ của văn bản hữu hạn dẫn đến kết quả là trong tác phẩm tồn tại hai phương diện: phương diện câu chuyện và phương diện “huyền thoại”. Mỗi tác phẩm vừa thể hiện một phần đối tượng vừa bao hàm toàn thể đối tượng. Mở đầu hướng đến mã hóa đối tượng còn kết thúc thể hiện tính mục đích của tác phẩm. Tác phẩm là một sinh thể nghệ thuật có tính độc lập tương đối với tác giả. Cái đích đến cuối cùng, vì thế, phải ở phương diện “huyền thoại” của tác phẩm. Xin xem: Trịnh Bá Đĩnh, Chủ nghĩa cấu trúc…, Sđd, tr.187-301.

( Nguồn: vanvn.net)

Đăng bởi: Ngô Minh | 29.08.2016

NGÔ MINH, HÀNH TRÌNH CÙNG THƠ

IMG_8193

ĐỌC BỘ SÁCH “NGÔ MINH TÁC PHẨM”, TẬP 4:

NGÔ MINH, HÀNH TRÌNH CÙNG THƠ

 

                                         Nguyễn Trongj Tạo      Nguyễn Trọng Tạo

Nhà thơ vốn là một đơn vị của xã hội, và khi họ thực sự thể hiện mình bằng thơ, tức là họ thể hiện các mối quan hệ tổng hoà giữa cá nhân và xã hội, giữa cái riêng và cái chung; họ đi từ một người đến mọi người. Dĩ nhiên, đấy là một hành trình không dễ dàng, đơn giản. Có những tác giả bị thơ họ bỏ rơi, đọc thơ họ không hình dung được họ. Có những tác giả gắn chặt với thơ như hình với bóng, đọc thơ là thấy cả chặng hành trình của cuộc đời tác giả. Thơ không phải là lý lịch hay tiểu sử của nhà thơ, nhưng thật thú vị khi thơ họ ngoài sự thể hiện cá nhân gắn liền với xã hội, còn mang đến cho người đọc những nét cơ bản về lý lịch, tiểu sử của mình. Đọc thơ Ngô Minh, tôi có cái cảm giác thú vị này, nghĩa là tôi có thể đoán biết anh sinh ra ở miền quê nào, hoàn cảnh gia đình cha mẹ anh em ra sao ( Đứa con của cát, Cát xanh), anh chừng bao nhiêu tuổi (Ba mươi sáu dây đàn), rồi bạn bè, tình yêu, công việc gắn liền với tưng bước chuyển mình của quê hương đất nước. Và cứ xét theo tính cách cảm hứng và  thể hiện thì có thể thấy tính” trữ tình riêng tư- công dân” là nét nổi bật và quán xuyến của thơ anh.

 

Cũng như nhiều nhà thơ hình thành từ cuộc chiến tranh chống Mỹ, Ngô Minh là người lính trong cuộc. Cuộc chiến đấu lớn lao của dân tộc đã nuôi dưỡng tâm hồn người lính của anh. Mối quan hệ gắn bó hữu cơ này tác động mạnh mẽ cho sự hình thành những nét chung của một thế hệ nhà thơ cùng thời. Chỉ tính trong huyện Lệ Ninh của Ngô Minh đã xuất hiện khá nhiều nhà thơ cùng lứa mà bạn đọc khá quen biết như Lâm Thị Mỹ Dạ, Hoàng Vũ Thuật, Thái Ngọc San…Nhưng so với những bạn thơ đã trưởng thành, Ngô Minh xuất hiện khá muộn. Mãi đến khi cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc, anh mới in bài thơ đầu tiên. Tuy xuất hiện muộn nhưng thơ anh viết chắc tay và sớm có bản sắc, đó là một tâm hồn nhạy cảm, say sưa nắm bắt những đổi mới của cuộc sống mà mình hoà nhập. Trong thơ anh, cái riêng và cái chung kết hợp khá nhuần nhuyễn được thể hiện với một bút pháp phóng khoáng chân thành, dễ thuyết phục. Và chỉ trong vòng mười năm, Ngô Minh đã dần khẳng định mình qua các giải thưởng thơ của báo Nhân Dân (1987) với bài Nón bài thơ và hương đất cao nguyên, giải của Trung ương Đoàn TNCSHCM (1981) với bài Gío tuổi hai mươi, tạp chí Văn nghệ quân đội (1985) với bài Ba mươi sáu dây đàn, và đặc biệt là qua tập thơ đầu tay Phía nắng lên gồm 35 bài vừa được xuất bản.

 

Thực ra, trong thời gian mười năm gắn bó với thơ, dồn tâm huyết cho thơ, Ngô Minh không chỉ viết có chừng ấy. Trong sổ tay của anh ( cũng như nhiều người làm thơ khác) còn có hàng trăm bài thơ chưa in. Đấy không phải là những bài “thơ bỏ túi” như có người vẫn quan niệm nhằm khêu gợi thính tò mò hoặc an ủi cho số phận hẩm hiu của một loại thơ ”thống thiết” nào đó, mà đấy là thơ của cuộc sống. Thơ anh viết về chị bán bánh canh, về bác Thuỷ phở hàng rong ngủvsau cùng, về tình yêu là Chúa của người yêu nhau… Có bài hoàn chỉnh, có bài còn ở dạng thể nghiệm, nhưng nói chung anh là một cây bút khá sung sức. Tập thơ Phía nắng lên giúp chúng ta nhận dạng được tác giả của nó, anh là người giàu tình cảm, hay hoài nhớ và suy ngẫm về những kỷ niệm gian khổ mà mình từng nếm trải hoặc chứng kiến. Kỷ niệm hầu như luôn hiện diện trong thơ anh với nhiều cung bậc tình cảm khác nhau, nó như những mảng màu tối nhằm loé sáng thực tại. Người lính nào đi chiến đấu lại không nhớ quê hương, nhưng quê hương của anh là quê cát, “hai chữ Quê Hương- trong tôi là hạt cát”, và nỗi nhớ quê của anh thật là sâu nặng, đấy là sự ám ảnh không nguôi, gây được xúc động mạnh:

   Mẹ không dặn một lời sao tôi lớn lên

             Đi đâu cũng nhớ về làng cát

   Năm ở chiến trường nửa đêm nóng ruột

 Biết gió mùa về cát buốt ngọn khoai

(ĐỨA CON CỦA CÁT)

Và quê hương của anh cũng là biển. Anh yêu biển thật cụ thể đến nỗi khi nhìn” Báng súng bóng thời gian” là liền nhớ ngay tới ”mái chèo đầm dặm biển”. Ngay cả khi làm thơ, anh cũng ước ao những câu thơ mình như vỏ sò ốc”lăn lóc” trên bờ bãi quê hương:

  Những câu thơ như vỏ sò vỏ ốc

Với mênh mông tiếng biển trong lòng

( NHỊP ĐIỆU)

Chính cái tiếng”mênh mông” ấy kêu gọi, thúc giục hồn thơ anh từ một làng quê bé nhỏ mở ra cùng đất nước rộng lớn với những lo toan trách nhiệm của một công dân. Thơ không chỉ vỗ tay ủng hộ mà phải thực sự ghé tai vào những công việc lớn lao của đất nước. Anh bắt đầu bằng sự nhận thức thế giới khách quan đó đến sự tự ý thức chủ quan về các vấn đề của cuộc sống: ”thơ là sự kết tinh của lửa. Từ lửa đến thơ còn chặng đường gian khổ… Ít nhiều ai cũng sẵn  lửa trong lòng nhưng mấy người có thơ- sản- phẩm?”. Anh quan niệm thơ như là một thứ ”sản phẩm” thực sự có ích mà nhà thơ đong góp cho xã hội. Với quan niệm đó, anh hăm hở lao vào cuộc sống săn tìm thơ và ít nhiều những cuộc săn tìm đó đã mang lại cho thơ anh một không khí mới mẻ, Ngô Minh biết kìm chế, cố gắng tránh để sự việc chi tiết lấn át trùm lấp cảm xúc. Anh biết chọn lọc, lắng mình lại để cảm nhận những gì lấp lánh của đời sống. Nhờ vậy, anh có những câu thơ cô đọng mà giàu âm vang:

Sông như bát nước đầy người như ô cửa mới

Hoặc:

Ngẩng đầu gặp núi, im lặng gặp sông

            Những câu thơ thật mới:

Núi như vừa tắm xong thảnh thơi tựa lưng

                                                                   trời ngắm biển

hoặc:

Chiếc lá rụng, trời xanh thêm chút nữa

Và có những câu thơ tài hoa:

Giọt mưa nào rơi phía chờ nhau

hoặc:

Sông ôm làng mà cứ ngỡ mình ôm

 

Nhưng có lẽ tâm huyết hơn cả là mảng thơ anh viết về chiến tranh. Hầu như mỗi khi chạm tới đề tài này, ngòi bút của anh bỗng run rẩy xúc động một cách khác lạ, nó như chạm vào một cái gì đó thiêng liêng lắm. Đó là những kỷ niệm sâu đẹp và dữ dội nhất trong quãng đời tuổi trẻ của anh, của những người lính cùng thế hệ. Đó chính là cái giai đoạn hiểm nghèo và oanh liệt nhất của số phận đất nước trên đầu lê mũi súng. Ở đây con người cá thểcon người công dân có sự gặp gỡ thật tự nhiên, và anh đã nhanh nhạy nắm bắt được sự gặp gỡ đó:

       Anh không có tuổi chơi tuổi ngủ

       Nhận khẩu súng núi xa gần lại

                 Mỗi ụ mối, gốc cây cũng Tổ quốc mất còn

                                                                        ( BA MƯỚI SÁU DÂY ĐÀN)

Một hình tượng thơ độc đáo, một ẩn chứa nhiều cung bậc rung cảm của người lính đã trải qua chiến tranh có tính khái quát cao, đó là hình tượng Ba mươi sáu dây đàn:

       Ba mươi sáu dây đàn

Ba sáu tuổi đời anh

Rung lên dưới tay anh gõ nhịp

Dây vắt qua đèo dây chuyền qua suối

Dây như rừng già cả trẻ trung

Dây võng đưa tiéng biển theo cùng

Dây như lá dệt hồn đất nước

Sự thông minh và trái tim luôn đau đáu thắc thỏm và những tháng ngày đất nước chiến tranh, giúp cho Ngô Minh có nhiều phát hiện sắc sảo và độc đáo về những vấn đề tưởng như bình thường trong cuộc sống. Trở lại thành phố mối tình đầu sau chiến thắng, bỗng thức dậy trong anh những tháng năm chiến trận “đích hành quân mong đến trước thư về”. Xem một bức tranh Ngựa đá và những bông hoa cỏ, anh lại nhìn thấy phía sau nó cả những gì mất mát thương cảm lẫn sự sống tin yêu sau cuộc chiến:

Biết tìm đâu người lính buổi xa xăm

Ai đang còn bạc phơ râu tóc

       Nấm cỏ vô danh- ai người đã khuất

       Nhớ cuồng chân ngựa hoá đá đứng chờ

Nếu như trong mảng thơ viết về chiến tranh, Ngô Minh mạnh vế sức sống, sức cảm, gây được ấn tượng độc đáo, thì mảng thơ viết về tình yêu của anh lại cuốn người đọc bởi chất men say, chất ấm nóng của lửa. Cái chất men, chất lửa ấy, chúng ta vẫn thường gặp trong thơ anh, trong thơ tình yêu nó được huy động tối đa:

Em có yêu không

                  Suốt đời ta mãi hỏi

        Biển trả lời

                  Ghềnh đá sóng tung

( NHỊP ĐIỆU)

Hai bài thơ văn xuôi Lại nói về ngọn lửaMưa Huế như được viết bởi một xúc cảm thật tràn đầy, mãnh liệt. Nhịp thơ được khởi mạnh từ đầu và cứ thế đẩy mãi lên: “Niềm vui lửa reo, nỗi buồn lửa dấu. Nước mắt cũng là tàn lửa em ơi”. Viết về lửa đã thế, khi anh viết về mưa, ta vẫn gặp cái ngọn lửa nồng nàn say người ấy:” Ôi, cơn mưa như ngọn lửa đốt lòng nhau muôn dặm nước non”. Cái say nồng thảng thốt của cảm xúc thương tạo ra sự mất cân bằng trong cách nhìn nhận cuộc sống đã quen thuộc. Thơ Ngô Minh thường xảy ra chính ở sự mất cân bắng đó, và nhờ thế nó mang tới những phát hiện mới mẻ, gây được bất ngờ:

         Hai xa lạ giữa dòng đời vô tận

                   Nếu không có mùa thu em đến

         Tôi vẫn đi như một sự vô tình

( MÙA THU LỐI PHỐ)

Ngô Minh khá quan tâm đến nhịp điệu của thơ. Anh mạnh dạn đẩy khỏi câu thơ những chữ vô thưởng vô phạt, tức là quyết không để cho nhịp thơ quen thuộc điều khiển ngôn từ. Điều đó chứng tỏ anh khắt khe với mình. Trong một bài phát biểu về thơ, anh cũng lớn tiếng đòi ”đuổi” những bài thơ “dởm” khỏi hàng ngũ thơ. Ý thức tôn trọng những giá trị thực của thơ hẳn sẽ đưa Ngô Minh tiếp tục cuộc hành trình tới bờ bến thơ tốt đẹp.

( Sách Văn chương Cảm& Luận, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội 1998)

Đăng bởi: Ngô Minh | 27.08.2016

TRANG THƠ PHÁI ĐẸP- THƠ CHỬ THU HẰNG

TRANG THƠ PHÁI ĐẸP- THƠ CHỬ THU HẰNG

Chữ Thu Hằng

Chử Thu Hằng.

NỬA

 

Cõi người nửa tỉnh, nửa mê
Lắm khi chẳng biết mình về hay đi

Nửa hững hờ, nửa cuồng si
Nửa khao khát nhớ, nửa thì muốn quên

Nửa chìm bóng tối ưu phiền
Nửa như lấp lánh trước đèn, kiêu sa.

Nửa lãng đãng cõi ta bà
Nửa đắm bể Ái, thiết tha gọi tình

Trời ơi
Mình chẳng hiểu mình.
Nửa trong
Nửa đục
Kết thành một Tôi. (Đọc tiếp…)

Older Posts »

Danh mục