Nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân và công trình tập hợp các bài nghiên cứu của ông: Hoàng Sa – Trường Sa nghiên cứu từ sử liệu Trung Quốc. Ảnh: TL

“Tài liệu lịch sử biển Đông- chúng ta vẫn còn thua xa các nước”

 

Phạm Hoàng Quân

“Điều băn khoăn khó nói mà tôi cũng muốn chia sẻ là khi nhìn kỹ lại hoạt động học thuật sử học trong bối cảnh hiện nay, trình độ nghiên cứu lịch sử nói chung hoặc nghiên cứu chuyên sâu các đề tài lịch sử liên quan đến biển Đông nói riêng, chúng ta còn thua khá xa các nước, mà trong đó đáng ngại đáng lo nhất là chưa theo kịp trình độ của người Trung Quốc”, bộc bạch của nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân trong diễn từ nhân dịp nhận giải nghiên cứu của Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh lần thứ IX – 2015. Lễ trao giải vừa được tổ chức tối 24.3 tại TP.HCM.

Tôi có hơi bất ngờ khi những bài nghiên cứu lịch sử thuộc một chuyên đề rất khó đọc của một người có chuyên môn hẹp như tôi lại nhận được sự đánh giá tốt, được tiếp nhận rộng rãi thông qua giải thưởng này.

Được và mất của nhà nghiên cứu độc lập

Tôi được sinh ra trong một gia đình không có truyền thống nghiên cứu, bản thân lại không được may mắn học hành chính quy, chữ Hán và phương pháp nghiên cứu đều mài mò tự học. Ước nguyện của tôi lúc vào đời lại thiên về bộ môn mỹ thuật, một dịp tình cờ, tôi nhận viết một khảo cứu về lịch sử hội họa và thư pháp của Hoa kiều ở Sài Gòn- Chợ Lớn, những tưởng vì sự yêu thích nhất thời viết lách cho vui, không ngờ đó là điểm khởi đầu để tôi gắn với nghiệp nghiên cứu cho đến nay.

Có lẽ một phần do cá tính, một phần do ảnh hưởng bởi đặc thù của bộ môn mỹ thuật, tôi đã chọn nghiên cứu độc lập làm hướng đi cho mình. Nhân đây tôi xin chia sẻ với quý vị đôi điều về những thuận lợi và trở ngại của một người nghiên cứu đơn độc.

   Có 3 điều rất hay. Đầu tiên là tôi không phải dự các buổi họp, không phải giao tiếp lễ lạt, có nghĩa là dành được hết thì giờ cho việc đọc sách, giữ được mạch suy nghĩ không bị gián đoạn. Kế đến là luôn được làm việc trong trạng thái không bị áp lực, không bị khống chế bởi thời gian, tôi được chủ động điều độ thời gian trong việc làm của mình. Điều hay thứ ba là tôi được chọn lĩnh vực hoặc đề tài mà mình thích nhất, và trong đề tài ấy tôi lại được tự xác định việc nào cần phải làm trước. Ba điều đơn giản vậy thôi nhưng tôi cảm thấy thật là hạnh phúc khi giữ được chúng.

“Trở ngại vừa lớn vừa khó là việc tìm tài liệu ở thư viện công, nước ta trước giờ nói chung là khắt khe đối với những người không thuộc cơ quan nghiên cứu công, nên đã một thời gian dài tôi không được tham khảo nguồn này, gần đây tuy có được vài ngoại lệ, nhưng tiếc là những ngoại lệ này đến chậm”

Cũng có nhiều trở ngại. Nghiên cứu độc lập phải đương đầu với không ít khó khăn, thứ nhất là chuyện giải quyết nhu cầu cuộc sống cơ bản, giải quyết được vấn đề này thì kế đến là tài liệu sách vở, tư liệu không phong phú dồi dào thì kiến thức hạn hẹp, làm sao nghiên cứu sâu. Mua sách thì tốn kém vô biên, hoàn cảnh của tôi nhiều lúc khát sách tợ như doanh nghiệp khát vốn, tuy nhiên lần hồi tích góp, bè bạn yểm trợ và cộng thêm sự hào phóng của nhiều thư viện điện tử quốc tế, vụ này cũng tạm ổn. Trở ngại vừa lớn vừa khó là việc tìm tài liệu ở thư viện công, nước ta trước giờ nói chung là khắt khe đối với những người không thuộc cơ quan nghiên cứu công, nên đã một thời gian dài tôi không được tham khảo nguồn này, gần đây tuy có được vài ngoại lệ, nhưng tiếc là những ngoại lệ này đến chậm. Những trở ngại ấy tuy không thể làm nản lòng, nhưng có điều đáng tiếc là một số công trình phải chịu mất nhiều thời gian hơn dự tính.

Từ hoàn cảnh của mình, tôi thấy rằng dù cá nhân hay tập thể, muốn có thành tựu nghiên cứu tốt phải hội đủ 3 yếu tố là: sách, khả năng, và tinh thần khoa học, hay nói cách khác, sáchcùng với tài liệu là vốn liếng cơ bản, khả năng là tay nghề là trình độ và tinh thần khách quan khoa học là không thiên về cảm tính hoặc bị chi phối bởi tinh thần dân tộc.

Lo ngại nền học thuật thua khá xa các nước

Trong lúc nghiên cứu về lịch sử biển Đông, tôi chỉ đơn thuần vì mục đích muốn biết rõ sự thật, vì tò mò, tôi tìm hiểu, kê cứu, hệ thống và đối chiếu so sánh nguồn sử liệu Trung Hoa chỉ để thỏa mãn ham muốn riêng, muốn hiểu biết cặn kẽ và tường tận những ghi chép trong sử liệu thực. Lúc đọc hiểu tư liệu cũng như lúc phân tích chuỗi sự kiện, tôi không nghĩ mình là người dân của một quốc gia nào, lúc này chỉ có tính khách quan của khoa học dẫn dắt.

  Điều băn khoăn khó nói mà tôi cũng muốn chia sẻ là khi nhìn kỹ lại hoạt động học thuật sử học trong bối cảnh hiện nay, trình độ nghiên cứu lịch sử nói chung hoặc nghiên cứu chuyên sâu các đề tài lịch sử liên quan đến biển Đông nói riêng, chúng ta còn thua khá xa các nước, mà trong đó đáng ngại đáng lo nhất là chưa theo kịp trình độ của người Trung Quốc.

Mấy mươi năm qua, nền sử học nước ta đã để quá nhiều khoảng trống trong nghiên cứu cơ bản, riêng ở lĩnh vực nghiên cứu biển Đông, giới sử học trong nước hầu như chưa làm tròn trách nhiệm ở nhiều mặt, chỉ lướt qua công việc dịch thuật, mà sản phẩm của nó là nguồn căn cứ thiết yếu trong nghiên cứu đối sánh, đã thấy còn quá nhiều điểm đáng lo ngại.

“Sự thiếu hụt kiến thức bên ngoài đã dẫn đến tình trạng giới sử học cứ mãi nói chuyện trong nhà. Trong khi ở Trung Quốc hiện nay, học giới đã tiến đến hình thành nhóm chuyên gia “dịch bình”, quy tụ những người vừa có nghiệp vụ nghiên cứu vừa rất giỏi ngoại ngữ, chuyên lo chuyện đọc và phê bình các bản dịch sách nghiên cứu sau xuất bản”

Chúng ta chưa có một tổng tập bản dịch và chú giải tư liệu lịch sử Trung Quốc, nhằm để nắm rõ thực hư ý nghĩa của sử liệu;

Chưa dịch công trình nghiên cứu tiêu biểu nào của học giới Trung Quốc hiện nay, nhằm để coi họ sử dụng, dẫn dụng tư liệu sử có đúng hay không, tài năng khả năng của họ đã tới chừng mức nào,phương pháp nghiên cứu của họ mới hay cũ, họ tiếp thu nghiên cứu bên ngoài tới đâu, họ đánh giá và nhận định ra sao về nguồn sử liệu Việt Nam, cách thức và lập luận của họ trong phản biện các nghiên cứu mới ở Việt Nam; Lại cũng chưa dịch hoặc dịch quá ít ỏi các bài viết, các sách nghiên cứu về quan hệ Trung Quốc với Việt Nam, Trung Quốc với Đông Nam Á và phương Tây của các tác giả bên ngoài, kể từ thời Học viện Viễn Đông bác cổ đến nay, trong khi các nghiên cứu này chứa đựng rất nhiều chi tiết liên quan đã được phân tích,v.v;

Chưa dịch các sách công cụ cơ bản phục vụ cho nghiên cứu, cụ thể là các sách thư mục, từ điển địa danh, từ điển lịch sử, từ điển địa lý, v.v.. do người Trung Quốc soạn, và mặt khác, cũng chưa thấy dịch hoặc giới thiệu, phổ biến những sách công cụ đồng dạng nói trên bằng Anh ngữ do học giới phương Tây biên soạn.

Sự thiếu hụt kiến thức bên ngoài đã dẫn đến tình trạng giới sử học cứ mãi nói chuyện trong nhà. Trong khi ở Trung Quốc hiện nay, học giới đã tiến đến hình thành nhóm chuyên gia “dịch bình”, quy tụ những người vừa có nghiệp vụ nghiên cứu vừa rất giỏi ngoại ngữ, chuyên lo chuyện đọc và phê bình các bản dịch sách nghiên cứu sau xuất bản. Họ muốn những công trình nghiên cứu tầm cỡ bên ngoài phải đến tay học giới trong nước bằng một bản dịch thật chuẩn xác thật hoàn hảo. Trong khi ở Campuchia hiện nay, ở nhà sách ngoại văn số 1 đường Norodom tại Phnom Penh, sách nghiên cứu sử nổi bật trong nhiều loại sách nghiên cứu khác, nhẩm tính số lượng nhiều hơn ở Sài Gòn gấp 7 hoặc 8 lần.

Lịch sử học thuật sử học Việt Nam thật sự đã để lại nhiều khiếm khuyết, đã để xảy ra tình trạng thiếu hụt kiến thức nền trầm trọng đến mức báo động như hiện nay,mlỡ lầm này buộc những người nghiên cứu sử phải nhận trách nhiệm. Trách nhiệm này là trách nhiệm đối với học thuật.Chừng nào mỗi người tâm huyết cùng nỗ lực chung tay khắc phục khiếm khuyết của quá khứ, thì nềnsử học mới cóthểlấy lại thăng bằng, chừng nào người nghiên cứu sử – bất kể công hay tư- ngoài sự miệt mài dốc sức còn nghĩ thêm một điều lấy cạnh tranh học thuật với bên ngoài làm thú vui, thì lúc ấy học thuật sử học mới có đà phấn phát.

Theo kịp mặt bằng học thuật trong khu vực và thế giới có lẽ là mục tiêu không ngoài lý tưởng và ý nguyện của bậc tiền bối mà giải thưởng này vinh dự mang tên.Nên tôi nghĩ rằng, giải thưởng này đối với riêng tôi và học giới nói chung, ngoài sự biểu hiện mối cảm thông và sẻ chia trong tinh thần trách nhiệm của một bộ phận xã hội, nó còn là động lực thúc đẩy mỗi người đã chọn nghề nghiên cứu phải dốc tâm tận lực, nương theo khoa học để gặt hái tri thức cho mình và cho cộng đồng, để mỗi công trình được viết ra càng về sau càng có giá trị học thuật cao hơn và càng có tầm ảnh hưởng sâu rộng hơn.

Nguồn: http://nguoidothi.vn/vn/news/chuyen-hom-nay/binh-luan/3899/-tai-lieu-lich-su-bien-dong-chung-ta-van-con-thua-xa-cac-nuoc-.ndt

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 27.03.2015

Chợt thấy hoang vu quanh mình”

Chợt thấy hoang vu quanh mình”

  •   T.Q. Nam

 tăng kích thước chữ

Thương xá Tax [Sài Gòn] Thương xá Tax [Sài Gòn]

Nhớ lần đầu tiên bước tới toà tháp đôi Petronas cao nhất thế giới (lúc đó) lòng tôi dửng dưng tuy có ít  nhiều xao động về tài năng con người. Người Malay đã khéo chọn chổ cho tòa tháp để mọi người đến đặng mà tấm tắc. Thế nhưng tôi đến là đến, tôi đi là đi.Vậy thôi!

Nhớ lần đầu tiên bước chân trên những phiến đá mòn bóng quảng trường Đỏ, ngước nhìn điện Kremli, lăng Lénine, quay lại nhìn tòa nhà bách hóa MGU, lòng tôi run run xúc động. Bước chân trên các phiến đá đỏ đầu tôi vang lên giai điệu Chiều ngoại ô Matcơva. Đầu nầy quảng trường là ngôi giáo đường Tòa thánh Basil ,đầu kia là Viện bào tàng lịch sử Nga, trước mắt tôi hiển hiện những lời văn giàu hình tượng, nhẹ nhàng và du dương trong các truyện ngắn của Turgenhev. Tôi đến quảng trường lần đầumà tôi không xa lạ. Tôi đến quảng trường Đỏ lần đầu chính như một cuộc trở về. Tôi rời quảng trường Đỏ, tôi vẫn ở lại. Miền ký ức của tôi.

Nhưng lòng tôi như mưa nguồn gió biển

Vẫn trở về lưu luyến bến sông.

(Nhớ Con Sông Quê Hương – Tế Hanh)

Tình yêu là một xúc cảm tâm lý, nó đọng trong ta một nỗi niềm nhưng tình yêu không siêu hình. Tình yêu không là cảm xúc hữu thể, nó là một tri nhận vị nhân thế. Tình yêu luôn nở từ những gì xác định – một con người, một góc phố, một dòng sông, v.v. Tình yêu là một sự diệu kỳ riêng sinh ra từ con-người-xã-hội, cái cảm xúc phi hữu thể đó xác định mà không nhất thiết gắn với một vật thể mà có là một ý niệm, một lòng hoài mong, một tâm tưởng, ví dụ vậy. Người có khuất, vật có xa nhưng tình vẫn ở lại. Tình ở lại bởi tính phi hữu thể màvị nhân thế còn quanh đâu đó đây thôi mà. Bá Nha và Tử Kỳ thoạt kỳ thủy là hai kẻ xa lạ, gặp nhau một lần là mãi trong nhau ở một tiếng đờn, một tiếng lòng. Tình trong ta, tình tại miền ký ức. Tình yêu cũng như ký ức, dù có buồn và có dữ dội, nó là nguồn nuôi dưỡng tâm hồn, làm nên nhân cách và định danh con-người-xã-hội trong đẳng thức nghĩa vụ-quyềnlợi. Không còn ký ức, tình yêu phiêu dạc chốn nao? Không còn ký ức, ta là ai?

Mai sau dù có bao giờ,

Đốt lò hương ấy, so tơ phím này.

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Bạn tôi về thăm chiến trường xưa. Khi đi, bạn tôi háo hức nhiều với những mong. Bạn tôi mất ngủ đêm trước ngày lên đường. Khi về, bạn tôi tư lự – đâu rồi mô đất xưa, con mương cũ, rồi những “người xưa đâu tá?”, v.v. Trưng mấy tấm hình chụp chốn cũ với bạn bè, đồng đội, bạn tôi tư lự kể. “Chổ nầy tao từng…”. “Chổ nầy thằng G đã …”. “Ở đây tụi địch hay …”. Cả đám chia nhau xem hình và nhớ lại phần đời mình qua bóng đời bạn.Lòng rưng rưng! Đã về mấy ngày rồi mà bạn tôi vẫn thao thức đêm đêm, bạn tôi người cứ lơ lửng như ngày vừa cởi áo lính. Bạn tôi nhớ đất đã xa (cho dù là đất dữ), bạn tôi nhớ người đã vắng (ngay cả chẳng thân mấy). Ôi! Cái tuổi trẻ ùng ùng kéo về mà cơm áobấy lâu khuất lấp.

Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất bỗng hoá tâm hồn.

(Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên)

Sau một loạt bức tử, hổm rầy dồn dập nghe ba tin dồn cục: tượng Trần Nguyên Hãn, tượng Quách Thị Trang, thương xá Tax sẽ cuốn gói ra đi, tôi bật khóc. Ừ thì, tượng làm bằng vật liệu không bền vững. Ừ thì, giá trị mỹ thuật không cao (dù người thành phố thấy nó vẫn đẹp hơn nhiều bức tượng mới sau nầy – kịp và chưa kịp “hóa tâm hồn” chăng?). Ừ thì, tòa nhà không còn nguyên vẹn kiến trúc ban đầu. Ừ thì, thành phố cần hiện đại. Ừ thì, … Và, ừ thì, …Tôi chỉđôi lần vào ngồi quán Givral, màđã từ lâu lắm, rồi chỉ ngang qua, có đôi khi tình cờ nhìn vàorồi thôi. Grivral không còn, tôi mất đi những giá trị Givral riêng mang trong nó và từ đó nó cùng làm giàu cuộc sống, tôi thấy đời còn nhiều nghĩa tình nơi quán sang trọng ngaycả khi quán không dành cho mình. Cả khối phố không còn, cái rêu phong đã mất, cái hào nhoáng thay vào, tôi càng không muốn bước vô. Tôi thấy lành lạnh sống lưng với cái gạch đá mới.Cái đèn đêm sáng choang mới.Xa lạ sao!Rồi tôi  tự an ủi: ừ thì đời mình cũng qua như khối phố đã xa, tòa nhà mới tạo dựng vùng ký ức mới cho lớp người mới. Song, tôi không thể nào trả lời được câu hỏi vì cớ làm sao mà lớp người mới và lớp người cũ không thể chia sẽ chung sống một tình yêu, cùngdưỡngmột miền ký ức? Nếu cứ mãi “bể dâu-dâu bể” thì đời còn lại gì ở mai sau?

Còn chi nữa những mùi hương

Những màu sắc cũ trên trường mộng xưa

(Bùi Giáng)

Mọi sự đứt gẫy của cuộc sống đều tồi tệ, đời chông chênh đi… Hai người dù có tương diện vẫn nhìn nhau xa lạ, thậm chí họ nhìn nhau mà như trong suốt không thấy nhau.Dòng sông có chảy thẳng hay uốn khúc, con nước đoạn đục đoạn trong, dòng sông vẫn hòa vào biển cả. Dòng sông có còn là dòng sông nếu nó tù đọng loanh quanh mãi đâu đó. Cuộc đời có thịnh có suy, có loạn có an. Cuộc đời là cõi ta bà với những ai-ố-hỷ-nộ cùng sinh- lão-bệnh- tử. Nhưng cuộc đời vẫn phải là chốn đi về của mình với ta, của trước với sau..Cuộc đời tự bản nguyên đã là những truyền nối cho nhau , trước trao sau nhận, trước xây sau bồi. Không như vậy cấu trúc xã hội có đứng vững hay rồi gẫy đổ, cấu trúc văn hóa có được hun đúc hay rồi sẽ rã rời? Không gì để lại mai sau, mai nầy lấy gì đế (hay cần?) biết tới? Không trước với sau thì làm sao nhận ra bản lai diện mục? Rồi cái gọi là bản sắc có phải chỉ là sáo ngữ mụ mị mê sảng không khi mà không gì lưu truyền, bồi đắp cho mai sau, bởi mai sau? Ừ, thì cũng phôi pha theo vô thường nhưng nào có nghĩa không gì và không bao giờ bền vững trong tương quan của khoảnh khắc và vô tận, khoảnh khắc trong vô tận. Đập chắn nước làm dòng sông phẩn nộ và gây thảm họa sinh thái. Cuộc đời bị đứt gẩy –  lòng người ly tán. Lòng người ly tán thì không chỉ người nhìn người xa lạ mà đối diện dễ trở thành đối thủ, từ đối thủ càng dễ dàngchuyển sang tử thù bởi nguyên cớ vu vơ ngay giữa những máu cùng mủ với nhau…đâu xa lạ, ví dụ vậy. Thảm họa thế thái, một khải thị!

Từng mảnh tình yêu, từng miền ký ức gục ngã vì sự phát triển và hiện đại?

An sinh chỉ có nghĩa là cơm ngon, áo đẹpvà túi rổng rẻn đồng xu?

Rồi phải chăng, đến một ngày nào đó, người thành phố đi trên đường phố mà “chợt thấy hoang vu quanh mình” (Vết Lăn Trầm – Trịnh Công Sơn)?

( Nguồn:vanhoanghean)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 27.03.2015

“ANH MUA ĐẦY GÁNH NẮNG VÀNG”

Nhà thơ Nguyễn Văn Dùng

   “ANH MUA ĐẦY GÁNH NẮNG VÀNG”

Ngô Minh

                  (Đọc tập thơ Lục bát tặng mình của Nguyễn Văn Dùng(*) )

       Tập thơ “Lục bát tặng mình” của Nguyễn Văn Dùng in bìa cứng, giấy tốt, rất đẹp. Tôi đọc tựa tập thơ thấy đề tài giới hạn quá, cứ tưởng người viết sẽ lặp lại ý tứ, ngôn từ. Nhưng không. Thơ lục bát Nguyễn Văn Dùng nhuần nhuyễn và điêu luyện. Viết về Chợ quê, Nguyễn Văn Dùng có câu thơ lục bát ám ảnh: Anh mua đầy gánh nắng vàng/ Sưởi con tim lạnh dở dang bao điều. Thi sĩ đi chợ luôn ngất ngưởng như thế, dù là những phiên chợ thân thuộc với bao thứ đặc sản biển rừng vườn tược từng nuôi lớn mình. Thi nhân vẫn là người mua những thứ hư vô như vậy. Giống như nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đi chợ Tết: Người ta mua rượu mua hoa / Tôi đi mua tuổi làm quà tặng tôi. Hay Chợ đời bán nhớ cho quên/ Bán mưa cho nắng bán đêm cho ngày (Đồng Đức Bốn)… (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 26.03.2015

10 bức ảnh đắt giá nhất mọi thời đại

10 bức ảnh đắt giá nhất mọi thời đại

Dân trí- Những bức ảnh dưới đây đều có giá hàng chục tỉ đồng và đã lập kỷ lục trở thành những bức ảnh đắt giá nhất thế giới.

Khi những bức ảnh được nhìn nhận như những tác phẩm nghệ thuật, giá trị của nó sẽ tăng cao bất ngờ. Dưới đây là những bức ảnh đã đạt những mức giá kỷ lục:

Bức “Đôi tay của nữ họa sĩ Georgia O’Keeffe”

Bức “Đôi tay của nữ họa sĩ Georgia O’Keeffe”, do nhiếp ảnh gia người Mỹ Alfred Stieglitz chụp năm 1919, đạt mức giá 1.470.000 đô la (gần 32 tỉ đồng) hồi tháng 2/2006.

Trong sự nghiệp cầm máy suốt 5 thập kỷ của mình, nhiếp ảnh gia Alfred Stieglitz đã góp phần thay đổi mạnh mẽ những quan niệm về nhiếp ảnh, để bộ môn này được nhìn nhận như một môn nghệ thuật hiện đại.

Bức ảnh chân dung chụp nữ họa sĩ người Mỹ Georgia O’Keeffe (vợ của nhiếp ảnh gia Alfred Stieglitz) đạt mức giá cao như vậy là bởi nó đã được thực hiện bởi một tay máy tiên phong, về một nữ họa sĩ tiên phong – người được mệnh danh là đã “sản sinh ra trường phái nghệ thuật hiện đại kiểu Mỹ”.

Bức “Khỏa thân”

 

Bức “Khỏa thân”, do nhiếp ảnh gia người Mỹ Edward Weston thực hiện năm 1925. Bức ảnh được bán đấu giá hồi tháng 4/2008, đạt mức giá 1.609.000 đô la (35 tỉ đồng).

Edward Weston được đánh giá là “một trong những nhiếp ảnh gia người Mỹ có tầm ảnh hưởng lớn nhất đối với những cách tân trong nghệ thuật nhiếp ảnh”, là “một trong những nhiếp ảnh gia hàng đầu của thế kỷ 20”. Weston nổi tiếng nhất với những bức ảnh đặc tả chi tiết sự vật.

Bức “Pháo đài Tobolsk”

 

Bức “Pháo đài Tobolsk” do cựu Tổng thống Nga Dmitry Medvedev thực hiện hồi năm 2009. Bức ảnh được đấu giá hồi tháng 1/2010 tại thành phố Saint Petersburg và đạt mức giá 1.750.000 đô la (38 tỉ đồng). Bức ảnh do ông Medvedev chụp đã được đấu giá từ thiện để giúp đỡ những cựu chiến binh, những bệnh viện nhi…

Bức “Billy the Kid”

 

Bức “Billy the Kid” được thực hiện khoảng năm 1879-1880, không rõ danh tính người chụp. Bức ảnh được bán đấu giá hồi tháng 6/2011 và đạt mức giá 2.300.000 đô la (50 tỉ đồng).

“Billy the Kid” (Billy trẻ con) là biệt danh của một người đàn ông Mỹ có tên William Bonney (1859-1881), một tay găngxtơ có tài bắn súng thiện xạ, sống ở thế kỷ 19, đã tham gia vào những cuộc xung đột tranh giành biên giới giữa hai bang ở miền Tây nước Mỹ.

“Billy the Kid” dù là một găngxtơ nằm ngoài vòng pháp luật nhưng lại là một chiến binh nổi danh ngoài trận tuyến. Anh ta từng là một nhân vật nổi tiếng được báo chí và văn chương Mỹ thời bấy giờ khai thác, hư cấu. Đây là bức ảnh duy nhất chụp lại chân dung nhân vật này.

Bức “Vô đề số 153”

 

Bức “Vô đề số 153” do nữ nhiếp ảnh gia người Mỹ Cindy Sherman chụp năm 1985. Bức ảnh được đem đấu giá tháng 11/2010 và đạt mức giá 2.700.000 đô la (58,6 tỉ đồng). Sinh thời, Cindy Sherman nổi tiếng với những bức ảnh chân dung mang đầy tính nghệ thuật.

Bức “Ánh trăng trên hồ”

 

Bức “Ánh trăng trên hồ” do nhiếp ảnh gia người Mỹ Edward Steichen thực hiện năm 1904. Bức ảnh được đấu giá hồi tháng 2/2006 và đạt mức giá 2.928.000 đô la (63,6 tỉ đồng).

Từ năm 1923-1938, Steichen là một tay máy nổi tiếng trong lĩnh vực ảnh thời trang và ảnh quảng cáo. Ở thời điểm này, Steinchen là tay máy được trả “nhuận ảnh” cao nhất thế giới. Năm 1944, ông đạo diễn bộ phim tài liệu làm về chiến tranh “The Fighting Lady” và giành được giải Oscar cho Phim tài liệu xuất sắc nhất.

Bức “Ánh trăng trên hồ” là một trong những bức ảnh màu đầu tiên được thực hiện trên thế giới. Có 3 phiên bản của bức này còn tồn tại cho tới hôm nay, mỗi bức đều có những sắc độ khác nhau. Hai bức đã thuộc quyền sở hữu của các viện bảo tàng, còn bức thứ ba này đạt được mức giá kỷ lục chính là vì sự hiếm có của nó.

Bộ hai bức ảnh “99 Cent II Diptychon”

 

Bộ hai bức ảnh “99 Cent II Diptychon” do tay máy Andreas Gursky thực hiện năm 2001, được rao bán tháng 2/2007, đạt mức giá 3.346.456 đô la (72,7 tỉ đồng). Tay máy người Đức Andreas Gursky nổi tiếng với những bức ảnh có sự phối màu ấn tượng.

Gursky thường chụp những không gian rộng lớn, vô danh và “nhân tạo”, đó có thể là một tòa nhà văn phòng, một sàn chứng khoán, một siêu thị… – những nơi mà hiếm tay máy nào tìm thấy ở đó tính nghệ thuật. Hai bức ảnh được đem đấu giá đều có kích thước “khủng” – 2.07m x 3.37m.

Bức “Sau cuộc phục kích”

 

Bức “Sau cuộc phục kích” được chụp bởi nhiếp ảnh gia người Canada – Jeff Wall, ở làng Moqor, Afghanistan, mùa đông năm 1986. Bức ảnh được đấu giá tháng 5/2012, đạt mức giá 3.666.500 đô la (79,7 tỉ đồng).

Những bức ảnh của Jeff Wall luôn chứa đựng nhiều yếu tố nghệ thuật, đồng thời, Jeff Wall cũng thường sử dụng công nghệ chỉnh sửa ảnh. Sự tự nhiên của khoảnh khắc và tính “nhân tạo” do bàn tay con người tác động vào khiến bức ảnh của Jeff Wall hiện lên như một cảnh trong bộ phim điện ảnh.

Bức “Vô đề số 96”

 

Bức “Vô đề số 96” chụp năm 1981 bởi nữ nhiếp ảnh gia Cindy Sherman. Bức ảnh được đấu giá tháng 5/2011 và đạt mức giá 3.890.500 đô la (84,5 tỉ đồng). Ở trên, Cindy Sherman đã được nhắc tới với bức ảnh chân dung “Vô đề số 153” có giá gần 59 tỉ đồng.

Bức “Rhein II”

 

Bức “Rhein II” được nhiếp ảnh gia người Đức Andreas Gursky chụp năm 1999. Bức ảnh được rao bán tháng 11/2011 và có giá 4.338.500 đô la (94,3 tỉ đồng). Ở trên, Gursky đã có bộ hai bức ảnh chụp trong siêu thị, đạt mức giá gần 73 tỉ đồng.

Bức “Rhein II” này lại thể hiện một đề tài khác, cũng rất thường thấy trong ảnh của Gursky, đó là những bức tranh phong cảnh với màu sắc ấn tượng. Những chi tiết như hình ảnh con người, tòa nhà đã bị xóa khỏi bức ảnh bằng công nghệ chỉnh sửa.

Bích Ngọc
Theo What Culture

( Nguồn: Dân trí 16/3/2015

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 26.03.2015

Nhà thơ Phan Xuân Hạt lâm bệnh nặng

Thi sĩ Phan Xuân Hạt và vợ

Nhà thơ Phan Xuân Hạt lâm bệnh nặng

 

QTXM: Nhà thơ Phan Xuân Hạt tuổi “Mùi” (ông sinh năm 1931 – Tân Mùi). Sau Tết Ất Mùi vài tuần, Nhà thơ Phan Xuân Hạt vẫn khỏe mạnh, vui vẻ, nhiệt huyết khi gặp bạn thơ.

Thế nhưng ăn Rằm tháng Giêng xong là Thi sĩ sút cân do đau khớp chân và ăn uống kém hẳn. Con gái là Thầy thuốc Ưu tú – BS Phan Thị Xuân Hương, tích cực điều trị. Khớp chân gần như không còn đau. Nhưng tình hình thể trạng vẫn yếu dần.

Gia đình đã đưa Cụ Phan xuân Hạt nhập viện khoảng 10 ngày nay. Hiện Nhà thơ đang được nằm điều trị tích cực tại Khoa Hô hấp – Nhà số I (Phòng số 4, tầng 7), Bệnh viện Hữu Nghị (Việt Xô) Hà Nội. Chẩn đoán lâm sàng: sốt cao do viêm phổi; Phi lâm sàng (chụp cắt lớp xi ti 64 dãy): nghi có khối u ác tính (ung thư) di căn sang hạch “trung thất”. Do sức quá yếu, chưa thể có các thăm dò qua phân tích tế bào (sinh thiết).

Theo báo Xây dựng:” Nhà thơ Phan Xuân Hạt ở tuổi 83 vẫn khẳng khái: Viết điều trái ngược, bạn đọc sẽ thờ ơ! Nhà thơ Phan Xuân Hạt sinh năm 1931 tại làng Đông, xã Tràng Thành (nay là xã Hoa Thành), Yên Thành, Nghệ An trong một gia đình Nho học, một dòng họ khoa bảng và giàu truyền thống cách mạng, trong đó nổi tiếng là nhà cách mạng, nhà báo Phan Đăng Lưu.

        Phan Xuân Hạt tiếp thu nền tảng giáo dục từ gia đình lại được học ở ngôi trường Quốc học Huế danh tiếng nên biết chữ Hán, giỏi tiếng Pháp, tiếng Anh. Tổng thống Pháp Giắc- cơ Si-rắc đọc thơ ông từng gửi thư khen: “Xin ông hãy để cho tôi được nói với ông rằng, tôi thấy những bài thơ ấy là tuyệt vời. Tôi khích lệ ông về sự gắn bó đối với tiếng Pháp và sự chính xác mà ông đã nắm được một cách vững vàng”.

 Phan Xuân Hạt hầu như chỉ biết công việc cơ quan, đọc sách và làm thơ, chuyện làm kinh tế ông rất mô tê và hầu như không quan tâm. Cái chất Đồ Nghệ đậm đặc trong ông. Lạ là trong thời bao cấp, sống giữa Thủ đô đắt đỏ, vậy mà ông vẫn nuôi được 5 người con ăn học, phương trưởng, thành đạt. Tôi đem chuyện này thắc mắc, ông bảo: Tất cả là nhờ bà. Nghe ông nói vậy, tôi lại nhớ đến câu chuyện GS, VS Phan Cự Đệ kể hồi tôi là sinh viên Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội: Vào đầu những năm 50, Phan Cự Đệ và Phan Xuân Hạt cùng dạy văn ở Trường Trung học Diễn Châu (Nghệ An). Hồi đó Phan Xuân Hạt rất mê một cô gái hoa khôi ở làng gái đẹp Phượng Lịch, xã Diễn Hoa. Đi một mình thì ngại, Phan Xuân Hạt rủ Phan Cự Đệ đi cùng. Khốn nỗi “trâu ta ăn cỏ làng ta”, trai làng Phượng Lịch không chấp nhận một anh chàng ở “đất chợ Dinh, Yên Thành” xuống tán cô gái đẹp nhất làng, thế là mấy lần cả hai bị ném bùn. Bà Cao Thị Bạch Hường, phu nhân Phan Xuân Hạt có lần nói với tôi: Hồi ấy trí thức, con quan, con nhà giàu đủ cả, vậy mà bà chỉ ưng Phan Xuân Hạt chỉ vì mê thơ ông. Yêu ông, lấy ông, bà không đòi hỏi ở ông một điều gì. Cô gái xứ Nghệ theo chồng ra Hà thành, một mình bà bươn chải “lo đủ năm con” với một ông chồng thi sĩ.

  Có những người suốt cuộc đời làm thơ là liên tục những cuộc thử nghiệm. Phan Xuân Hạt không phải mất công loay hoay với trường phái này, xu hướng nọ. Làm thơ, với Phan Xuân Hạt, đơn giản là viết từ những bức xúc, thơ bật ra từ tâm trạng “Dây đàn căng thẳng”. Vì thế, nói đến Phan Xuân Hạt, tôi không nói tài thơ mà nói đến tâm thơ. Thơ ông hướng đến con người, trân trọng giá trị Người: Ở đời này chẳng có ai bé nhỏ/ Trên trái đất chung đứng một mặt bằng/ Thấp và cao có khác nhau chức vụ/ Giá con người có phải ở nấc thang?

Ngoài nỗi cô đơn về kiếp người như một câu hỏi trăn trở suốt một đời thơ, ở tuổi ngoài 80, Phan Xuân Hạt còn chịu nỗi cô đơn khác: Người con gái xứ Nghệ xinh đẹp, giỏi giang, hết mực vì chồng con ấy đã ra đi mãi mãi: Em đã về bên kia thế giới/ Chăn gối bâng khuâng lạnh nửa giường”…

Nhà thơ Phan Xuân Hạt năm nay bước sang tuổi 85 – Tuổi Trời cho “xưa nay hiếm”. Rất mong Nhà thơ của cúng ta sớm hồi phục sức khỏe để thêm tuổi thọ cùng vui vầy bên con cháu.

Nhằm chia sẻ nỗi lo lắng cùng gia đình,QTXM xin đăng một bài thơ hay của Nhà thơ viết cách đây 10 năm – khi Thĩ sĩ Phan Xuân Hạt 75 tuổi.

THƠ VIẾT Ở TUỔI BẢY LĂM

Thành thì ít, bại thì nhiều

Đời tôi những trải lắm điều gian nan

“Lửa cơ” cùng với “dao hàn”(*)

Đánh hai thằng giặc, miên man nửa đời

                               *

                      *                 *

Văn chương nhiều nỗi đầy vơi

Thơ xoàng mà vẫn có người đánh ghen…

Mũ ai chụp xuống “thơ đen”

“Hạnh phúc” thuở ấy mấy phen “khôn tròn” (**)

                               *

                      *                 *

Đẹp vợ mà ít khôn con

Tẻ kia, nếp ấy: Nợ còn chưa thông

Hai mâm nội, ngoại gọi ông

Mà già: Con cậy, con trông, con chờ…

                               *

                      *                 *

Vinh hoa: cái bả phỉnh phờ

Hất lên ném xuống, lửng lơ ghế ngồi

Bây giờ còn cái thân tôi

Được, thua…con mắt cả đôi nào mờ !

                               *

                      *                 *

Hình hài làm thiệt mộng mơ

Đã mang nghiệp chướng, ơi thơ một đời

Bảy lăm, reo với đất trời

Thơ còn viết tiếp, tạ người thế gian…

                                             5-4-2005

(*): Mượn chữ của Nguyễn Gia Thiều (Lửa cơ đốt ruột, dao hàn cắt da – Cung oán ngâm khúc).

(**): Bài thơ “Hạnh phúc khôn tròn” in trong tập “Thơ tình yêu” – Nhà xuất bản Thanh niên (1963) được minh oan ở Nguyệt san “Phụ nữ Xô Viết” – Matxcơva 1982.

(Thông tin từ con rể của Nhà thơ là Nhà báo Lê Quang Vinh)

Tượng BMVN bên tượng Mao Trạch Đông
Tượng BMVN  bên
tượng nhân sưTượng BMVN bên tượng Bà mẹ Nga

TỪ TƯỢNG ĐÀI MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG NHÌN RA THẾ GIỚI

QTXM- Tối qua, tại thành phố Tam Kỳ, Quảng Nam đã tổ chức Lễ khánh thành Tượng đài “Bà Mẹ Việt Nam anh hùng” rất hoành tráng. Coi ti-vi tôi thấy cụm tượng đài vô cùng đồ sộ, chưa từng có ở Việt Nam. THeo Người lao đông :”Tượng đài Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng lấy nguyên mẫu từ mẹ Nguyễn Thị Thứ (xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam), tọa lạc tại khu vực núi Cấm (xã Tam Phú, TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam). Công trình này được khởi công xây dựng từ tháng 7-2007 với tổng mức đầu tư hơn 411,2 tỉ đồng. Đây là công trình văn hóa cấp quốc gia. Toàn bộ tượng đài có kiến trúc truyền thống đậm chất Á Đông, trong đó diện tích đặt chân dung Mẹ là 16.500 m2. Tượng đài có chiều cao 18 m, dài theo hình cánh cung là 120 m, được tạc bằng 3.000 m3 đá hoa cương (tương đương khoảng 9.000 tấn đá), với hình ảnh mẹ dang tay ôm các con vào lòng”

    Xem truyền hình trực tiếp, tôi không  nghe giới thiệu ai là tác giả thiết kế tượng. Nhưng nhìn ra thế giới, tôi thấy Tượng đài Bà mẹ Việt Nam anh hùng, về mặt bố cục thiết kế hao hao giống với tượng Mao Trạch Đông ở Trung Quốc, tượng Nhân sư ở Ai Câp, Tượng Bà mẹ Nga ở Nga mà tôi xem trên nguyentrongtao…. Vậy có câu hỏi đặt ra :Ai giống ai ? Chả lẽ những tượng đài trên thế giới cách đây cả mấy chục năm, trăm năm, ngàn năm lại bắt chước Tượng Đài Bà mẹ VN mới khánh thành ? Mời bạn đọc xem ảnh trên và cùng trao đổi, phán xét, để biết thên giá trị một công trình xây cất hơn 400 tỷ đồng.

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.03.2015

THƯ CANADA

Anh Ưng Mái

THƯ CANADA

 QTXM: Bạn đọc thân mến. Nhà nghiên cứu văn hoa lịch sử Mai Khắc Ứng (mà ông tự gọi mình là Ưng Mái) sang thăm con cháu định cư ở Canada bị bệnh và vào bệnh viện ở xứ “tư bản rãy chết” nhiều lần. Sau đây là hai bức thư của ông gửi qua email cho Ngô Minh. Đăng lại đây để bạn đọc biết thêm về đối xử với  con người ở nước họ thế nào. Khôi ( Ngô Minh Khôi) là tên thật của Ngô Minh

  gày 21/3/2015

Anh Khôi ơi!

Năm 1990 mệ Vĩnh Cao chấm cho tôi 1 là số tử vi, báo trước năm Giáp Ngọ, 2014 tôi được “về” với cha mẹ tôi. Bởi vậy đầu năm 2013 tôi nhờ xây sẵn hai chổ nằm ngoài nghĩa địa Triều Sơn phía sau chùa Thiên Mụ. Điều đáng mừng là ở đó dường như không còn chổ. Vậy mà tôi vẫn được 1 đôi. Khi đào sâu xuống đủ mức nằm thì phát hiện có 3 hòn đá tự nhiên xếp thành 1 hàng dọc. Tôi nghĩ đó là hướng trời cho nên tôi không đào theo hướng anh Trần Đại Vinh chọn. Xây khuôn tỉnh đổ đầy cát là bay sang thăm con để dặn dò là bố có đi thì làng xóm lo cho phần cuối. Các con đừng về tốn kém mất công vô ích. Có cái gì bù đắp như thể báo hiếu thì tuôn hết ra. Thế là 4 đứa lôi về đủ thứ sơn hào hải vị bồi dưỡng cho bố mẹ để bố mẹ về mà “đi”. Không ngờ vừa chớm Giáp Ngọ thì tôi bị sỏi mật hành phải nhờ chuyên gia moi sỏi mật bậc Một của Montreal là bác sĩ Hồ Quang Nhân (Hải Phòng) ở bệnh viện Jean Talon. Tưởng thế là êm. Đúng ngày 02/9/2014 cái Tiền liệt tuyến tắc lại phải vào bệnh viện General Juif của người Do Thái  nạo vét. Tưởng yên. Ngày 14, tháng Chạp cuối Giáp Ngọ u bướu ruột chèn chặt đường lối thải bả. Phải mổ cấp. Lần này quả là đại phẩu.Bà bác sĩ Nancy Morin mà người ta coi là cây dao thần đã đặt tôi lên bàn mổ vào sáng 02/2/2015. Ngày 07/2 thấy ca mổ hoàn hảo b.v cho tôi về. Ngày 12/2 người của b.v đến nhà cắt bỏ 44 khuy kim loại khâu vết mổ coi như xong. (Đọc tiếp…)

Liệt nữ Tường Vy
LIỆT NỮ ĐINH KẾ THỊ TƯỜNG VI TRONG LÒNG CON CHÁU VÀ BẠN ĐỌC QUÀ TẶNG XỨ MƯA
QTXM: Bạn đọc thân mến. QTXM đã nhiều lần in bài về Liệt nữ Đinh Kế Thị Tường Vi Hôm nay, 4/2/Ất Mùi – Ngày Giỗ lần thứ 64. của  chị (ngày 4/2/Tân Mão ,khoảng 10 giờ trưa Chủ nhật 11/3/1951). Lần đầu tiên, gia đình giỗ Chị được đúng ngày; vì từ khi chị hy sinh, mọi thông tin đến với gia đình – kể cả “Giấy báo tử” và “Bằng Tổ quốc ghi công”, đều không chính xác. Nhân ngày Giỗ đặc biệt và thiêng liêng này, QTXM trân trọng giới thiệu những comment (phản hồi) của độc giả sau khi đọc bài báo “Kẻ tử tội của CCRĐ thoát chết nhờ Hồn thiêng Nữ Liệt sĩ Đinh Kế Thị Tường Vi?” (ngominh | 20 Oct, 2014, 07:41 | VĂN |) và “Chuyện người Liệt nữ “Nam tiến” làng Vĩnh Lộc Đinh Kế Thị Tường Vi”, 22 Dec, 2014, 08:04 .Đây là những nén nhang lòng của người thân, những bạn đọc tâm huyết tưởng nhớ và tri ân người Liệt nữ anh hùng đã sống – chiến đấu – hy sinh ngoan cường vì nước vì dân. 
ngominh | 20 Oct, 2014, 07:41 | VĂN | (1704 Reads) -  Đến 15 giờ 57’ ngày 23/3/2015, đã có 1704  bạn đọc truy cập.
[1] Tôi là cháu ruột (gọi Đinh Kế Thị Tường Vy là O ruột). Khi đọc bài này, tôi đã không cầm được nước mắt. Lần đầu tiên tôi mới biết được hoàn cảnh hy sinh của O tôi, cũng như Hồn thiêng của O giúp Ba tôi được sống trong cái chết gang tấc. Thay mặt gia đình, tôi thực sự cám ơn Nhà báo Lê Quang Vinh đã có những tư liệu quý giá để viết lên bài báo đầy cảm động này.  
[góp ý]| Viết bởi Đinh Quang Hiếu |21 Oct 2014, 10:17
Tôi đã đọc nhiều lần bài viết của Nhà báo Lê Quang Vinh và rơi nước mắt vì quá xúc động! Nhất là hình chị Tường Vy (giống ÔngNhậm lắm). Mong sao ý nguyện và truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta phải được thực hiện: Nhà nước và nhân dân cần nhìn nhận đúng mức sự cống hiến, sự hy sinh bi tráng của chị Tường Vi; địa phương là Xã Quảng Lộc, các cơ quan chức năng của huyện (nay là Thị xã Ba Đồn), tỉnh QB phải khẩn trương sưu tầm, tập hợp mọi nguồn tư liệu, sử liệu để làm các thủ tục theo quy định của chế độ chính sách đối với người có công nhằm đề nghị Nhà nước Truy phong Danh hiệu cao quý cho người Liệt Nữ Anh hùng này.
[góp ý]| Viết bởi Nguyễn Ba Sinh |22 Oct 2014, 10:37
                        Kính gửi Nhà báo Lê Quang Vinh
 Cháu chào chú! Cháu vừa đọc bài báo của chú. Câu đầu tiên cháu muốn nói: Cháu thực sự xúc động trước câu chuyện mà chú viết. Cháu xin được chia sẻ cảm xúc của một người trẻ tuổi, không chứng kiến những hoàn cảnh như trong chuyện, không là con cháu của những nhân vật mà chú nhắc tới; nhưng qua những lời chú kể, mọi thứ hiện ra rất rõ ràng, có những hình ảnh sẽ còn ám ảnh cháu chắc lâu dài trong suốt cuộc đới: Người con gái quả cảm kiên trung trước bầy quỷ hung bạo. Một mình chị trong vòng vây lũ vô lại dã man nhưng chị đã thắng ! Một chiến thắng vô cùng bi tráng, bất diệt; khiến muôn nghìn, triệu người phải đẫm nước mắt vì xót thương, khâm phục và căm hờn!
Cháu đã đọc những bài viết trước của chú về CCRĐ. Cháu thấy thời kì này thật đáng sợ, bất công, khiến nhiều người phải chịu oan uổng quá! Cũng qua các tác phẩm của chú mà cháu hiểu hơn về giá trị tình cảm gia đình, tình cảm anh em, đồng đội và tình yêu…Đúng là ngững con người xưa rất nâng niu, coi trọng và giữ gìn những tình cảm thiêng liêng ấy. Bức hình của  Đinh Kế Thị Tường Vi được người yêu là Chú Phầu (có lẽ với cháu, phải thưa là “Ông”, là “Bà”) lưu giữ suốt cả đời người rồi “tái hợp” theo con đường vô cùng bi thương nhưng nghĩa hiếu, thủy chung, nhân văn cao cả. Chúng cháu bây giờ không còn được như vậy nữa. Cháu cảm thấy chính mình đang hời hợt với cuộc sống!   CháuThuý                             
[góp ý]| Viết bởi Vũ Thị Thúy (Văn phòng TCty VIGLACERA)|22 Oct 2014, 12:41
 [4] Kính gửi: nhà báo Lê Quang Vinh
Đọc bài báo của bác em thực sự xúc động về lòng quả cảm và tinh thần yêu nước của nhân dân quê hương bác. Qua lời kể của bác, em mới hiểu rõ truyền thống đẹp đẽ của quê hương đã theo suốt chặng đường chiến đấu và xây dựng đất nước của những người con quê hương Quảng Bình nói chung và của bác, của anh trai Lê Phương của bác nói riêng. Rất khâm phục mảnh đất truyền thống tuy nghèo khổ nhưng vẫn sinh ra những người con quả cảm, và tài năng.
 [góp ý]| Viết bởi Mùa Thu Hà Nội (Trần Thu Hà) |22 Oct 2014, 13:16
Chị Đinh Kế Thị Tường Vi có Thân phụ là cụ Đinh Kế Tác – Một nhà thầu khoán có tiếng thời Pháp thuộc; rất yêu nước và có nhiều công lao đóng góp đối với quê hương. Cụ cùng nhà thấu khoán Đoàn Phiến cùng chung tiền của công sức xây dựng nên Trường tiểu học Élémenter Hoà Ninh cho con em mấy làng vùng Nam phủ Quảng Trạch thời đó có nơi học tập. Riêng với mảnh đất chôn rau cắt rốn là làng Vĩnh Lộc, cụ Đinh Kế Tác đã xếp đắp 2 con kè lớn bằng đá hộc lẫn đá sa thạch để ngăn luồng nước xiết chống xói lở phía Rào Đơờng. Nếu chiến tranh Pháp – Việt không nổ ra, cụ đã hoàn thành tâm nguyện xây dựng một cây cầu cho cả 2 làng Vĩnh Lộc – Hoà Ninh liền bờ. Chị Đinh Kế Thị Tường Vi là một cô nữ sinh rất hiếm hoi thời đó ở vùng quê nghèo Vĩnh Lộc, được bọ mạ gửi vào Kinh đô Huế cho ăn học tại Trường Đồng Khánh và đã học xong chương trình “trung học”. Hưởng ứng “Lời Hiệu triệu cứu nước” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hình ảnh cô em gái nhỏ nhắn, tóc dài, nước da trắng nõn nà nhưng bặm trợn khi lên vị trí diễn giả để tranh luận với đám thanh niên cũng đang hừng  hực khí thế “Nam Tiến”. Khi mấy cán bộ Việt Minh thấy rõ mồn  một chị Tường Vi  là cô gái còn quá nhỏ tuổi, thân hình lại “liễu yếu  đào tơ”, “chưa lấm bụi đời”, dứt khoát không tiếp nhận; chị liền nhảy phốc lên cướp lời mọi người, với giọng vô cùng dõng dạc, dứt khoát: “Ông cha ta đã dạy rồi, giặc đến nhà, đàn bà cũng phải đánh. Tui (tôi) tuy là “đàn bà con gái” nhỏ tuổi, nhỏ người nhưng ăn thua là ở cái tinh thần đánh giặc cứu nước chứ không phải vì con gái hay tuổi nhỏ, người nhỏ mà bỏ qua”. Thế là không ai còn cản được chị Đinh Kế Thị Tường Vi lên đường “Nam Tiến” cùng 3 trai làng khác. Sau 5 năm tham gia chiến đấu, năm 1951, chị Đinh Kế Thị Tường Vi đã hy sinh vô cùng quật cường trước lũ sói lang hung bạo (lời của bạn Vũ Thị Thúy trong comment số 4: Tôi cảm phục người bạn gái cùng quê đã anh dũng chống lại bọn lính gian ác khi chúng toan hãm hiếp chị. Chị đã bị bắn chết trên bãi cát, với thân thể lõa lồ, tang thương” (Lê Phương).
Đây chính là bức chân dung khá trọn vẹn về thân thế chị Tường Vi: Nền tảng gia đình tử tế, yêu nước; bản thân được học hành chu đáo và chắc chắn phải là người học giỏi mới học xong trung học trường Đồng Khánh. 16 tuổi (chị sinh khoảng 1930), còn quá ít tuổi vậy đã bộc lộ tình yêu và sự xả thân vì nước vô song. Nên khi sa cơ, chị đã hoàn toàn làm chủ mình để chiến đấu đến hơi thở cuối cùng và chị hy sinh trong sự sợ hãi của quân thù. Nếu lũ sói lang đó không run sợ chị, không bao giờ chúng giết chị dã man đến vậy.
Tôi xin gửi đến người anh trai – Đại tá Lê Phương và em của ông là Nhà báo Lê Quang Vinh, lòng biết ơn đã chuyển tải đến bạn đọc hôm nay hình ảnh một người con gái VN vô cùng tiêu biểu: Xinh đẹp, hiền thục, ham học; khi đất nước có giặc: không chút chần chừ xả thân cứu nước; trước quân thù: bất khuất, kiên trung giữ tròn phẩm hạnh. Chị có mối tình rất đẹp và đầy lãng mạn…  
 [góp ý]| Viết bởi Ngọc Anh |22 Oct 2014, 15:37
[6] Vào ngày 9:27 Thứ Tư, 22 tháng 10 2014
Kính gửi Anh Vinh,
E cảm phục anh, vì anh vẫn kiên định viết theo trái tim mình.
Mong anh mạnh khỏe, tiếp tục góp sức để xã hội tốt đẹp hơn phù hợp với điều kiện của mình.
Kính, Hà Huy Sơn
[
góp ý]| Viết bởi Luật sư Hà Huy Sơn |22 Oct 2014, 17:21
 [7] Gui cau Vinh
Toi la con ut cua ong Dinh Duyet va la chau gai goi nha bao Le Quang Vinh la cau ruot. Toi duoc sinh ra va lon len tai Quang Binh; the ma den ngay hom nay moi biet cau chuyen nay. Chau vo cung cam on cau. Cau oi ba chau la mot kho chuyen ve lich su ma chi co cau la nguoi co tam, co tai de viet lai cho con chau ve sau hieu de nho.
[góp ý]| Viết bởi Dinh Thi Van Dao (Đinh Thị Vân Đào) |22 Oct 2014, 18:53
 [8]
Liệt nữ Đinh Kế Thị Tường Vi và Đại tá Lê Phương đều sinh ra trong những gia đình khá giả và cùng tuổi. Hai người là bạn tiểu học trường làng Élémenter Hoà Ninh, sau này cùng đơn vị chiến đấu trên chiến khu Ba Lòng. Trong trận càn ấy, một người thì bị thương, một người thì hy sinh anh dũng. Hai gia đình này và các gia đình khác trong làng như gia đình cụ Nghè Cơ, ông Đoàn Phiến . . . có thể nói là những “tinh hoa” của làng, của quê hương vì có những đóng góp rất lớn cho quê hương như xây đình làng (gia đình cụ Ngô Nhật Tuyên ở Lộc Điền), xây trường học, xây kè đá chống xói lở. . . và cũng đóng góp nhiều trong kháng chiến cả về nhân lực và tài lực. Vậy mà đến năm 1954 thì các gia đình đó đều là đối tượng của CCRD. Đảng chủ trương phải “nhổ cỏ tận gốc”, cướp hết tài sản ruộng đất, con cái bị ghi lý lịch suốt đời, không được vào đại học . . . Vậy có “sửa sai” gì đâu hay chỉ “sửa bằng mồm” ?  

[
góp ý]| Viết bởi Sơn Tô Lê |22 Oct 2014, 22:42
 [9]
Tôi đọc đi đọc lại bài báo này của Nhà báo Lê Quang Vinh, lần nào cũng rưng rưng nước mắt. Nước mắt thì rơi dàn dụa và trái tim thì quặn đau bởi một suy nghĩ đơn giản sau đây, xin cùng chia sẻ với tác giả và bạn đọc.
Lứa tuổi của tôi, ai ai cũng thuộc lòng những gương hy sinh vì dân tộc vì đất nước của những người trẻ tuổi như Lê Văn Tám, Võ Thị Sáu, Kim Đồng, Vừ A Dính; gần đây là Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc (qua hồi ký – nhật ký và sáng tác văn thơ anh chị để lại). Riêng tấm gương Lê Văn Tám được xây dựng bằng trí tưởng tượng, gần đây được GS Phan Huy Lê – Chủ tịch Hội Sử học VN cho biết: “ tôi (GS Trần Huy Liệu) đã “dựng” lên câu chuyện thiếu niên Lê Văn Tám tẩm xăng vào người rồi xông vào đốt kho xăng địch cách đấy mấy chục mét. GS Trần Huy Liệu còn cho biết là sau khi ta phát tin này thì đài BBC đưa tin ngay, và hôm sau bình luận: Một cậu bé tẩm xăng vào người rồi tự đốt cháy thì sẽ gục ngay tại chỗ, hay nhiều lắm là chỉ lảo đảo được mấy bước, không thể chạy được mấy chục mét đến kho xăng.”. Với các Liệt sĩ khác như Võ Thị Sáu, Kim Đồng, Vừ A Dính…tư liệu và cứ liệu lịch sử còn khá mờ nhạt, rất khó kiểm chứng độ chân thực. Trường hợp chị Tường Vi mà ta được biết hôm nay là qua 2 nguồn tư liệu vô tư và khách quan: Hồi ký “Trên chiến khu Ba Lòng” của Đại tá Lê Phương (người trong cuộc viết ra vào thời điểm 1959 khi ông đang nằm viện 108). Đại tá Lê Phương cũng đã qua đời từ năm1992, nay hồi ký đó mới được công bố khiêm tốn từng phần rất nhỏ qua các Blog. Nguồn thứ 2 là do chính “nhân chứng sống” là Phó chủ nhiệm Việt Minh xã Vĩnh Trạch, một cán bộ chủ chốt tổ chức buổi mít tin cho thanh niên gia nhập lực lượng “Nam tiến” – cụ Đinh Duyệt, Lão thành CM nay đã 95 tuổi, kể lại tường tận về gia đình, tuổi trẻ và câu chuyện lên đường đi kháng chiến của chị Đinh Kế Thị Tường Vi.
Chừng ấy căn cứ rất cụ thể, chân thực, khách quan và thuyết phục (không vì mục đích “tuyên truyền” hay bất cứ chủ đích gì); để xã Quảng Lộc cùng các cơ quan chức năng của chính quyền cấp trên, lập hồ sơ đề nghị Nhà nước truy phong Danh hiệu cao quý cho người nữ Liệt sĩ tiêu biểu này.
 [góp ý]| Viết bởi Ngô Thanh Bình - Cần Thơ |23 Oct 2014, 09:51
 [10]
Những tư liệu chân thực và rất quý này được ghi lại và chia sẻ giúp chúng cháu, thế hệ sau này có thể hiểu hơn, tự hào và thêm yêu đồng bào, quê hương. Thật xúc động và xót xa khi xương máu của đồng bào ta đổ xuống oan nghiệt, nhưng chính việc nhìn vào sự thật này cháu nghĩ sẽ giúp ta có được những suy nghĩ đúng đắn.
[góp ý]| Viết bởi HienPL (Phạm Lê Hiền) |23 Oct 2014, 11:21  
[11] Kính gửi anh Lê Quang vinh!
Em đã đọc bài “
Kẻ tử tội của CCRĐ thoát chết nhờ Hồn thiêng Nữ Liệt sĩ Đinh Kế Thị Tường Vi? của anh. Chân thành mà nói, đây là bài viết rất hay của anh mà em được đọc. Hay cả về hành văn, ngôn ngữ, nội dung, cách trích dẫn…Việc mô tả hai con người với hai nghịc cảnh đau lòng đến cao độ: một là người em gái vì sự nghiệp cứu nước mà hy sinh cao cả; một là người anh trai sau đó suýt mất mạng vì oan sai do cách  làm “khoán theo chỉ tiêu” của CCRĐ. Hai con người, hai cuộc đời, hai sự kiện đó lại cùng trong một gia đình lài càng làm tăng độ bi ai, xót xa – cả ai oán, trong lòng người đọc hôm nay. Em đi công tác suốt, nên không comment sớm hơn; nhưng đọc những dòng chia sẻ của bạn đọc, chắc chắn nữ Anh hùng Liệt sĩ Đinh Kế Thị Tường Vi, cụ Đinh Kế Tác, Cụ Đinh Kế Nhậm và những người con ưu tú khác của quê hương Vĩnh Lộc…chắc cũng phần nào được chút ấm lòng khi con cháu đời sau vẫn luôn khâm phục và nhớ ơn các vị.
[góp ý]| Viết bởi Lê Thanh Đạt |24 Oct 2014, 09:43
 [12] Vào ngày 12:57 Thứ Sáu, 24 tháng 10 2014.
Dạo này bác Lê Quang Vinh hướng về quê hương Quảng Bình nhiều đấy.
Những tư liệu trong bài báo có độ chân thực rất cao, khiến ai được tiếp xúc đều rất cảm động và lòng đầy bi thương. Ngòi bút bác kể lại thật khéo cả về nội dung lẫn hành văn, ngôn từ…Đoạn hồi ký của bác Lê Phương (trích dẫn) ngắn gọn, hàm súc nhưng lột tả được sự bi hùng (bi tráng) về cái chết oanh liệt của hai nữ Liệt sĩ trong sự nghiệp cứu nước và cách mạng của nhân dân ta thời kỳ kháng chiến chống Pháp; khiến người đọc hôm nay phải quặn lòng vì quá xot xa…Chắc chắn hai chị sẽ còn sống mãi trong ký ức của nhiều thế hệ con cháu cũng như quê hương xứ sở . Càng đau đớn bội phần, vì Bác Lê Phương còn không thể nhớ lại nổi tên người nữ đồng chí ấy. Quá đau, quá thương cảm vì sự hy sinh mất mát đến tột cùng!Một Nữ Anh hùng “VÔ DANH”!
Cảm ơn bác Lê Quang Vinh đã cho em và độc giả được đọc bài viết hay và cảm động đế thế.
[góp ý]| Viết bởi Hoang Trong Chuong |24 Oct 2014, 14:20
 [13]
        Cuộc chiến đấu chống càn ở Phong Thu (Chiến khu Ba Lòng) thật ác liệt. Quân ta bị bao vây “như trong một cái túi từ trên trời, dưới sông, trên bộ: Trên Trời máy bay, sau lưng quân bộ, dưới sông ca nô”. Trong khi những người lính văn phòng, không một tấc sắt để chống cự”. Các chiến sĩ “chỉ kịp tiêu hao tài liệu, công văn”. Tổn thất là vô cùng lớn:“Bọn giặc trên máy bay bắn bị thương đồng chí Dung nằm cách tôi một thước. Tiếng Dung gọi: “Phương ơi, tao bị thương rồi”! Trong tay không có một cuộn băng nào, phải mau chóng đưa Dung vào nấp trong bụi rồi xé áo băng bó cho bạn. Tôi cảm phục người bạn gái cùng quê đã anh dũng chống lại bọn lính gian ác khi chúng toan hãm hiếp chị. Chị đã bị bắn chết trên bãi cát, với thân thể lõa lồ, tang thương. Tôi mến thương người chị gái nuôi quân (lâu ngày quên mất tên), lấy thân mình che đạn cho mẹ con một cháu bé. Chị hy sinh cách tôi không đầy một cánh tay”. Đây là một cuộc chiến không cân sức, được kể lại chân thực từng chi tiết. Vào thời ấy và cả mấy chục năm sau này khi 2 cuộc chiến đã kết thúc, những tư liệu thế này gần như được giữ kín, chúng ta chỉ tập trung tuyên truyền “chiến thắng”, không bao giờ  tự nhận “thất bại” – dù nhỏ nhất. Mặc dầu, gương hy sinh của “người bạn gái cùng quê”,“người chị gái nuôi quân lấy thân mình che đạn cho mẹ con một cháu bé” và của “đồng chí Dung” (bị thương) là vô cùng quả cảm, rất điển hình trong chiến tranh. Ở khía cạnh này, các anh chị đã chiến thắng cả đội quân hung hãn và hoàn thành sứ mạng của người chiến sĩ cứu quốc “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh!”.
       Có lẽ vì lý do đó, hồi ký “Trên Chiến khu Ba Lòng” của Đại tá Lê Phương viết từ năm 1959 của thế kỷ XX, nay mới được người em trai là Nhà báo Lê Quang Vinh công bố từng phần khá khiêm tốn trên một số Blog cá nhân (Theo giới thiệu của hai Nhà thơ Ngô Minh  Nguyễn Trọng Tạo). Các báo chí “chính thống” (lề phải), còn lâu mới chịu tiếp cận những tác phẩm rất có giá trị mà mỗi người dân đang rất cần được biết như thế này. 
       Trách nhiệm hiện nay của địa phương (quê hương những người con ưu tú đã hy sinh (thôn Vĩnh Lộc – xã Quảng Lộc) cũng như các cơ quan chức năng cấp trên (như của Thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình – quê hương nữ Liệt sĩ Đinh Kế Thị Tường Vi), là phải cập nhật những thông tin rất quý này để xác minh, làm rõ và lập hố sơ đề nghị Nhà nước xét duyệt tôn vinh xứng đáng công lao của các tiền liệt. Đó là cách làm thiết thực tốt nhất, để gìn giữ và giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau.
 [
góp ý]| Viết bởi Đặng Quốc Trung |25 Oct 2014, 09:45  
[14]
Cháu gọi liệt sỹ Đinh Kế Tường Vy là O.
Cảm ơn tác giả bài viết!
Sự hi sinh của O chính là tấm gương sáng để thế hệ chúng cháu noi theo, tu dưỡng và xây dựng quê hương.
O thực sự là một anh hùng! 
[góp ý]| Viết bởi Đinh Phúc Trang |27 Oct 2014, 19:13
 [15] Vào ngày 0:11 Thứ Hai, 27 tháng 10 2014, 
Kinh gửi Ông
Cháu đã đọc được bài viết của Ông. Một bài viết kể về sự xả thân và hy sinh ngoan cường cho Tổ quốc của con cháu làng Vĩnh Lộc – Cô Đinh Kế Thị Tường Vi.
Cháu chúc Ông luôn mạnh khỏe và cống hiến những bài viết những câu chuyện về những người con ưu tú như cô Tường Vi để chúng cháu học tập và noi theo.
Cháu chúc Ông sức khỏe ạ. (Cháu Đinh Duyên – từ TP. Hồ Chí Minh).
[góp ý]| Viết bởi Đinh Duyên |28 Oct 2014, 08:13
 [16]
            Câu chuyện về nữ liệt sĩ Đinh Kế Thị Tường Vi được kể lại bằng những nguồn tư liệu chân thực: Hồi ký của ông Lê Phương, người bạn học thuở nhỏ cùng quê hương vừa là đồng đội và là chiến sĩ cùng trận chống càn. Hồi ký viết từ năm 1959 và hiện chưa được công bố hoàn toàn. Ông Lê Phương thì cũng đã qua đời từ năm 1992. 
            Ông Nguyễn Bá Sinh người làng Vĩnh Lộc (xóm Vụng), phát hiện ra chị Tường Vi trong hồi ký Trên Chiến khu Ba Lòng”cũng tình cờ sau khi chắp nối lại những tình tiết từ thuở nhỏ khi chứng kiến con người chị Tường Vi qua lại nhà mình để cùng hoạt động cách mạng với chị gái Nguyễn Thi Ngọc Lan và mối tình dang dở giữa người chú họ tên Phầu với chị Vi. 
             Ông Đinh Duyệt năm nay đã 95 tuổi; nguyên Phó chủ nhiệm Việt Minh xã Vĩnh Trạch (tên Xã Quảng Lộc thời đầu kháng chiến chống Pháp) sau khi nghe con gái Đinh Thị Thu Thảo đọc cho nghe hồi ký Trên Chiến khu Ba Lòng”, trong đó có lời comment của ông Nguyễn Bá Sinh; thì câu chuyện thuở xưa cách nay đã 68 năm, được ông nhớ và kể lại rành mạch cho mọi người (trong đó có cậu em ruột vợ mình) cùng nghe. Rất may người em vợ này lại là một Nhà báo chuyên nghiệp, nên ông đã không “vô tình” mà bỏ qua câu chuyện thứ thiệt 100% này. Nhà báo Lê Quang Vinh đã nán lại quê nhà thêm vài ngày nữa để tìm hiểu thêm gia đình chị Đinh Kế Thị Tường Vi. 
            Như vậy, nguồn tư liệu trong bài báo “Kẻ tử tội của CCRĐ thoát chết nhờ Hồn thiêng Nữ Liệt sĩ Đinh Kế Thị Tường Vi? là hoàn toàn chân thực, vô tư, chưa qua lăng kính của công cụ “tuyên truyền”. Điều này làm nên sức hấp dẫn cũng như lô

cuốn trái tim người đọc hôm nay bởi gương chiến đấu hy sinh của chị Tường Vi và những đồng đội của mình là vô cùng linh thiêng.
 [góp ý]| Viết bởi Đinh Thị Thu Thảo |28 Oct 2014, 17:58
 [17]
           Sau khi bài báo được công bố, nhiều vị Lão thành tham gia kháng chiến chống Pháp cùng thời bác Lê Phương và chịTường Vi, có cho biết thêm chi tiết về sự hy sinh của của người nữ điệp báo này (Chị được tổ chức điều vào Phân khu Bình Trị Thiên làm công tác điện đài (mật mã)”. Ngay sau khi trận càn xẩy ra tại Phong Thu 1951, tổ chức thời đó đã nắm rất rõ vì sao chị Tường Vi hy sinh. Có mấy thông tin như sau: là phụ nữ, lại phụ trách điện đài. Khi giặc vây chặt tứ phía (“Tôi nhớ trận địch lùng ở Phong Thu, vì sơ hở mà của mất người hy sinh. Cả cơ quan bị bao vây như trong một cái túi. Trên Trời máy bay, sau lưng quân bộ, dưới sông ca nô. Chúng tôi – những người lính văn phòng – không một tấc sắt để chống cự; chỉ kịp tiêu hao tài liệu, công văn.”); theo lệnh cấp trên và phản ứng trách nhiệm chị phải hủy máy móc, tài liệu – đương nhiên thời gian sẽ tiêu tốn hơn, mất thời gian nhiều hơn so mọi chiến sĩ khác. Do đó, chị Tường Vi bị sa vào tay giặc là điều cực kỳ khó tránh khỏi.
Đăng bởi: Ngô Minh | 23.03.2015

Ngẫu hứng Trần Tiến 7

Ngẫu hứng Trần Tiến 7

 

Lập à!

Em nghĩ thế nào về văn chương chữ nghĩa, thi ca hò vè…?

Chả để làm gì, em ạ!

Từng đấy năm, sống chết đớn đau, rút xương, rút tủy vì nghề…

Chả để làm gì!…

Mẹ bảo: Xướng ca vô loài, con ơi!

Bây giờ, anh đã gần xấp xỉ cái tuổi lúc mẹ đi. Mới thấy mẹ anh nói đúng. Mình chả được cái tích sự gì…

Ngoài vườn có một bông hoa, không biết ra đời lúc nào sớm nay. Đẹp quá! Lại được chùm nắng đâu đó, xuyên qua vòm lá, đến gửi nàng một nụ hôn của mặt trời. Nàng rực rỡ hẳn lên. Cứ như có đạo diễn sắp đặt. Nàng đẹp quá!

Xướng ca vô loài ơi!

Nhiều lúc chẳng có việc gì, cũng chẳng cảm xúc rần rật, tâm hồn, tâm hiếc mẹ gì hết… Cứ vào trang giấy, trắng lạnh đến ghê người. Rồi soi mặt mình vào đó. Thế rồi con chữ ở đâu rủ nhau chạy về như rươi làm tình dưới mùa trăng mọc. Thế rồi, con triết, con đồ đứng đầy cả đấy, định lên mặt dạy đời, chửi đời…

Mình phải ngăn chúng lại. Đời mình chỉ được làm “sếp” duy nhất có lúc ấy thôi. Con chữ bay ra là cái mặt mình, đâu phải chuyện làm tình, chuyện dạy đời.

Thế rồi, sau khi vệ sinh sạch sẽ chữ nghĩa, sắp xếp kỹ càng cấu tứ, đọc lại, tự thấy mình hay, tự thấy nước mắt ở đâu bỗng trào ra như một kép cải lương tồi, tự thấy mình sướng…

Trời ban cho thôi! Sáng tạo là thế. Có gì ghê gớm lắm đâu? Mà cũng chẳng để làm gì. Vợ con vẫn đói thôi. Những thứ quà Trời cho ai biết mà mua. Thiên cơ bất khả lộ. Như bông hoa chợt nở sáng nay ngoài vườn. Bông hoa đãi người, mà người lại tìm hoa siêu thị. Nàng đi rồi…nắng thì đã tắt…

Xướng ca không để bán, thì vô loài là đúng thôi! Mẹ ơi…!

Chả nhẽ mẹ muốn con làm bác sỹ? Nhiều đứa bẩn lắm, dã man lắm.

Chả nhẽ mẹ muốn con đi buôn? Có được mấy kẻ giàu mà không lừa đảo, đẩy bạn hàng xuống vực?

Con làm thầy giáo ư? Thì cũng như bố thôi, có nuôi được mẹ đâu…

Hay con đi làm chính trị?… Hì…

Thôi, mẹ cứ để con làm xướng ca. Kiếm chẳng bao nhiêu, nhưng được cái, người ta trọng – nếu viết lách cho tử tế.

Anh em mình còn được cái thú khác của nghiệp cầm ca bạc bẽo này, mà ít người biết. Lập nhỉ?!

Viết chẳng để làm gì, nhưng mà… sướng.

  Sẽ có từ chức trong vụ Hà Nội ‘chặt cây’?

BBC

 

Một nhà phân tích chính sách công từ Việt Nam vừa đặt vấn đề chính quyền Hà Nội sẽ ‘chịu trách nhiệm giải trình’ ra sao, thậm chí có ai sẽ ‘từ chức’ không sau chiến dịch chặt cây xanh ồ ạt vừa mới bị đình chỉ ở thành phố này.

 Gỗ từ các cây xanh bị chặt sẽ có thể được 'bán đấu giá' sớm, theo một số tờ báo ở Việt Nam.

Trao đổi với BBC hôm 21/3/2015, PGS. TS. Phạm Quý Thọ, chuyên gia về chính sách công tại Viện Chính sách & Phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư của Việt Nam bình luận về phát biểu của một phó lãnh đạo ngành tuyên huấn của Thành ủy Hà Nội mới đây cho rằng không cần phải hỏi ý kiến người dân khi tiến hành chiến dịch chặt cây.

Ông nói: “Tôi hoàn toàn đồng tình với nhận định như vừa rồi, một người có trách nhiệm như thế, ông Phó Ban tuyên giáo mà ông ấy trả lời như thế, rõ ràng là bất chấp dư luận và bất chấp quần chúng, trong khi phong trào dân chủ cần được tôn trọng, thì ông đã có phát biểu như thế.

“Những người đó phải có trách nhiệm giải trình, đồng thời phải có trách nhiệm và có lương tâm, không những chỉ xin lỗi mà thậm chí mong muốn của dư luận là ông nên từ chức.

“Có như vậy thì mới giữ được một chút uy tín còn lại của những người làm chính sách, hoạch định chính sách.

“Khi mà hoạch định chính sách đó là phải hướng tới người dân, vì lợi ích của người dân, vì lợi ích cộng đồng, thì ngược lại ông bất chấp, làm việc đó, ra quyết định như vậy thì không xứng đáng là những người làm chính sách.

“Và cá nhân tôi cũng ủng hộ ông ấy và trong bộ máy này phải có người chịu trách nhiệm việc này, chứ không phải chỉ có một người đứng lên xin lỗi chung chung, rồi lại đâu vẫn vào đấy.

“Đấy là ý kiến rất đông đảo của người dân Hà Nội chứ không chỉ riêng của chúng tôi, mà tôi biết được đông đảo quần chúng mong muốn phải có những hành động gọi là dũng cảm trong nháy nháy của những người làm chính sách và của những phát ngôn như vậy, phải chịu trách nhiệm và phải từ chức,” Chủ nhiệm Khoa Chính sách Công của Học viện Chính sách & Phát triển nêu quan điểm.

‘Lợi ích nhóm?’

Mới đây xuất hiện một văn bản được cho là của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội do Chánh văn phòng Ủy ban Nhân dân, Nguyễn Thịnh Thành ký, cho biết chi tiết về các cơ quan, tổ chức và cá nhân đã “tham gia ủng hộ” cho việc chặt cây, trong đó riêng trên 17 tuyến phố thực hiện ở Hà Nội, có:

“Tập đoàn Vincom, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam thịnh vượng (VP Bank), Công ty Cổ phần Thương mại Công nghệ Bình Minh, Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư Xây dựng Hà Thành, Công an Thành phố và một số tổ chức, cá nhân khác.”

Bình luận về khả năng có ‘lợi ích nhóm’ nào không và ra sao đứng sau chiến dịch được cho là dự định chặt tới 6.700 cây xanh ở Hà Nội, mà trong đó có nhiều cây được tin là có giá trị cao riêng về mặt kinh tế, Phó Giáo sư Thọ nói:

“Các công ty này liệu có những lợi ích gì không trong việc tài trợ này? Và tài trợ như thế nào cũng chưa được sáng tỏ,” ông Thọ nói về vụ họp báo của Ủy ban Nhân dân TP Hà Nội do Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố, ông Nguyễn Quốc Hùng chủ trì mới đây, hôm 20/3 về vụ việc.

“Vì một số câu hỏi đặt ra chưa được làm rõ ở cuộc họp báo này.

“Cái thứ hai, khi Ủy ban Nhân dân Thành phố đã ngừng chặt cây xanh, thì dư luận vẫn đặt ra rằng thậm chí một số cây mà chặt trong đó người ta nghi ngờ có cả cây sưa rất quý hiếm, cũng như là một số cây nữa mà gỗ của nó đi đâu, thì hiện nay cũng là những câu hỏi chưa trả lời.

“Và thứ ba nữa là như thế liệu có những bàn tay nào để thúc đẩy việc này không, để làm cho chính quyền Hà Nội và cụ thể là Sở Xây dựng và công ty này dẫn đến một hành động gần như có nhiều phản tác dụng, bất chấp dư luận, không có ý thức mà cũng không có quy hoạch cây xanh, cũng như cả vấn đề môi trường nữa?

“Rõ ràng nhóm lợi ích ở đây người ta đương đặt ra câu hỏi lớn nhất mà hiện nay, trong cuộc họp báo này, chưa được giải thích”, Phó Giáo sư Phạm Quý Thọ nêu quan điểm với BBC.

‘Thảm sát cây’

Hôm thứ Bảy, một tờ báo Việt Nam, tờ Tin nhanh Năng Lượng Mới (PetroTimes) cũng nêu quan điểm chất vấn lãnh đạo Hà Nội về trách nhiệm liên quan chiến dịch chặt cây, mà tác giả bài viết với tựa đề “Có nên coi việc chặt cây xanh ở Hà Nội là “phá hoại có tổ chức” hay không?” gọi là một vụ “thảm sát cây”.

Bài báo của tác giả Nguyễn Như Phong có đoạn với nhiều câu hỏi đặt ra:

“Có rất nhiều khuất tất trong vụ chặt hạ cây xanh này.

“Chúng ta hoan nghênh tinh thần thẳng thắn của Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Thế Thảo, và rất mong ông Chủ tịch cho điều tra làm rõ trách nhiệm của những tập thể, cá nhân trong vụ ” thảm sát” cây này.

“Điều người dân muốn được biết một cách minh bạch là:

“Ai là người ký duyệt cho vụ thảm sát cây này? Trước đó, đã có nghiên cứu khoa học nào về việc thay cây này chưa?

“Một việc lớn đến như vậy mà tới Chủ tịch còn không biết, vậy phải chăng Phó Chủ tịch đã lộng quyền?

“Số tiền phải bỏ ra thay cây là bao nhiêu? Và số cây này được mua từ đâu? Và cuối cùng là số gỗ của 6.700 cây (nếu được chặt sạch theo đúng kế hoạch) thì sẽ sử dụng thế nào? Bán cho ai?

“Và trước những hậu quả đã trông thấy, phải coi đây là một cuộc “phá hoại tài sản, phá hoại môi trường có tổ chức,” tác giả Nguyễn Như Phong nêu quan điểm.

Được biết, hôm 20/3, lãnh đạo Thành phố Hà Nội đã mở một cuộc họp báo về vụ chặt cây xanh, do Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố, ông Nguyễn Quốc Hùng chủ trì, hàng loạt các câu hỏi của các phóng viên đã được đặt ra, tuy nhiên, ông Phó Chủ tịch đã không trả lời bất cứ câu hỏi nào tại chỗ, theo phản ánh của truyền thông Việt Nam trong cuộc họp diễn ra vỏn vẹn khoảng 10 phút này

( Nguồn:BBC)

 

 

Đến với bài thơ hay : 

CÙNG BẠN ĐỌC CẢM NHẬN VỀ CHỮ “HIẾU” TRONG BÀI THƠ “SIÊU ÂM TIM” CỦA NGÔ MINH

 Trần Lê Hạnh An

              Con người ta khi không may gặp phải những sang chấn thể xác lẫn tinh thần tột cùng ngay từ hồi thơ trẻ; những số phận như thế, đến tuổi 20 khó có thể dốc hết bình sinh để gánh vác được việc gì to tát cho cuộc đời này. Thế nhưng, Ngô Minh hoàn toàn khác, anh hăm hở hiện diện trong hàng ngũ của những con người ưu tú nhất ra trận. Suốt mùa chiến dịch, sau các trận đánh, trái tim anh lại nhiều lần tan vỡ trước bao mất mát của bạn bè, đồng đội. Về già, trong thanh bình rồi, lại vẫn không thể bình yên bởi bao nhức nhối nơi cõi nhân trần thế thái; nhưng Ngô Minh vẫn không ngơi nghỉ sáng tạo – mà lại rất táo bạo, độc đáo và sung sức nữa. Lịch sử con đường nghệ thuật của Nhà văn – Thi sĩ Ngô Minh hoàn toàn trải dài theo số phận của đứa trẻ bị vùi dập tận cùng, không thương tiếc dưới thời CCRĐ; lớn lên chút nữa, cậu học trò trên ghế học đường luôn bị thành kiến, kỳ thị, tổn thương do sự áp đặt “thành phần giai cấp” lại có cha là “tội đồ” bị xử bắn; trong chiến tranh vệ quốc với bao gian khổ hy sinh máu và nước mắt giữa cái chết và sự sống mong manh; trong thời bình đầy rẫy bất công và giối trá…Thấu hiểu điều này, người đọc mới nhận ra được tại làm sao Ngô Minh luôn đưa đến cho công chúng những tác phẩm thơ khác lạ, đầy bất ngờ rất “Ngô Minh”. (Đọc tiếp…)

NÓNG: PHILLIPINES THẮNG TRUNG QUỐC VỀ ĐƯỜNG LƯỠI BÒ

NGUYỄN THÙY TRANG 

TÒA ÁN QUỐC TẾ HAGUE PHÁN QUYẾT ĐƯỜNG 9 ĐOẠN LƯỠI BÒ CỦA TRUNG QUỐC “VÔ GIÁ TRỊ!”

Phiên xử kéo dài 3 tháng, vào ngày 10/3/2015.  Các thẩm phán của TÒA ÁN QUỐC TẾ HAGUE, trong đó có Thẩm phán Thomas A. Mensah (Chủ tịch), thẩm phán Jean-Pierre Cot, thẩm phán Stanislaw Pawlak, Giáo sư Alfred HA Soons, và Thẩm phán Rüdige, đã đưa ra PHÁN QUYẾT về Bản Đồ 9 đoạn mà Trung Quốc đưa ra ở Biển Đông (Biển Đông), hay còn được gọi là Biển Tây Philippines là VÔ GIÁ TRỊ đối với LUẬT LỆ Quốc Tế.

Bản án này rất quan trọng vì đã chứng minh rằng hành vi hung hăng của Trung Quốc trên biển Đông là bất hợp pháp. Trung Quốc đã vượt quá giới hạn của nước nầy để đơn phương đưa ra bản đồ gây tranh cãi cho các nước trong vùng. Quyết định của TÒA ÁN HAGUE đã gây tổn hại danh tiếng của Trung Quốc về cách ứng xử trong khu vực, đồng thời ảnh hưởng xấu với quốc tế về tính chất tiêu cực của nước nầy.

Việc không tuân thủ phán quyết của Tòa Án Trọng Tài Quốc Tế sẽ làm cho Cộng Đồng Quốc Tế thấy rằng Trung Quốc đang tiếp tục hành động như một quốc gia hiếu chiến.

Trong bản án mà Philippines đưa ra trước Hội Đồng Thẩm Phán, lên án Trung Quốc là một kẻ bắt nạt các nước láng giềng, Trung Quốc tìm cách cưỡng chiếm các nguồn tài nguyên của họ.

Tòa án cho biết hành động của Trung Quốc không những là khiêu khích mà có thái độ gây nguy hiểm cho Hòa Bình trong khu vực.

Sau khi Trung Quốc tranh lấn đảo Scarborough Shoal, thì Philippines đã không có cách nào khác và đã kiện Trung Quốc thông qua trọng tài quốc tế.
 
Dĩ nhiên, điều này không chỉ là một trận đấu tại tòa án giữa Trung Quốc và Philippines, nhưng quan trọng hơn là một thách thức đối với Luật của Liên Hợp Quốc, Luật Biển (UNCLOS) được xây dựng vào năm 1982 mà Trung Quốc đã KHÔNG tuân thủ.
 
Quyết định của tòa án mang ý nghĩa là bây giờ Hành Động TUYÊN BỐ ĐƠN PHƯƠNG của TRUNG QUỐC KHÔNG CÓ GIÁ TRỊ luật pháp QUỐC TẾ, các nước láng giềng trong khu vực Biển Đông có đầy đủ quyền hạn để theo đuổi và bảo vệ lợi ích của họ trên Biển Đông.
 
Nguyễn Thùy Trang
( Nguồn: nhathonguyentrongtao…)

Ba năm có tới 226 người chết trong trại tạm giam, tạm giữ

Cẩm Nguyên

(TNO) Sáng nay 19.3, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã họp đoàn giám sát “Tình hình oan, sai trong việc áp dụng pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự và việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật”.

 

 Tham gia phiên họp có Phó chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu, đại diện các Ủy ban của Quốc hội, đại diện các bộ: Công an, Quốc phòng, Tài chính, Nông nghiệp – Phát triển nông thôn, đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao, Tòa án Nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp.

226 trường hợp chết khi bị tạm giữ, tạm giam

Theo báo cáo của Bộ Công an do trung tướng Trần Trọng Lượng, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát Phòng chống tội phạm trình bày tại phiên họp, từ 2012 – 2014, số người bị bắt, tạm giữ hình sự lên tới trên 200 nghìn người. Tướng Lượng cũng cho biết trong giai đoạn từ tháng 10.2011 – 9.2014 (3 năm) đã xảy ra 226 trường hợp chết tại nhà tạm giữ, trại tạm giam trên toàn quốc. Nguyên nhân chủ yếu của các trường hợp tử vong này được Bộ Công an lý giải là do bệnh lý và do đối tượng bị tạm giữ, tạm giam tự sát.

Đại biểu Nguyễn Thái Học (Phú Yên), thành viên Ủy ban Tư pháp của Quốc hội đề nghị làm rõ hơn các số liệu được báo cáo. “Báo cáo của Bộ Công an cho biết có 226 đối tượng chết trong nhà tạm giữ, trại tạm giam, nguyên nhân chủ yếu là do bệnh lý, do đối tượng tạm giữ tạm giam tự sát. Vậy có nguyên nhân thứ yếu không? Nguyên nhân đó là gì?”, ông Học chất vấn.

Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Văn Hiện cũng ngờ vực: Lý do như đại diện Bộ Công an trình bày là không thuyết phục và phải xác định rõ thêm.

Trước câu hỏi đại biểu Nguyễn Thái Học đặt ra, trung tướng Trần Trọng Lượng vẫn chỉ nhắc lại con số 226 trường hợp chết tại nhà tạm giữ, trại tạm giam và khẳng định nguyên nhân do bệnh lý, tự sát.

Phó chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội Đỗ Mạnh Hùng đề nghị Bộ Công an làm rõ “điều kiện giam giữ như thế nào để dẫn đến số người bị tạm giam, tạm giữ chết nhiều như vậy, nhiều hơn cả bệnh lý”.

Lưu ý pháp luật đã có quy định khi bị tạm giữ, tạm giam thì cơ quan tạm giữ, tạm giam phải có trách nhiệm bảo đảm an toàn tính mạng sức khỏe cho người bị tạm giam, tạm giữ và đề nghị làm rõ thêm vấn đề này, ông Đỗ Mạnh Hùng tiếp tục “truy” đại diện lãnh đạo Bộ Công an: “Trong báo cáo các đồng chí có nêu về các trường hợp chết vì HIV và một số bệnh bất khả kháng khác thì không đặt vấn đề, nhưng còn có những bệnh khác liệu nếu không bị tạm giam, tạm giữ có chết không? Ví dụ trong này nêu chết vì bệnh vảy nến, chết vì suy nhược cơ thể. Nếu không bị tạm giam, tạm giữ có chết không? Rồi bệnh tim thì có thể đột tử. Nhưng nhiều trường hợp bệnh tim ở điều kiện thường có thể qua được khỏi được. Vậy trách nhiệm của cơ quan tạm giam, tạm giữ như thế nào?”.

Trung tướng Trần Trọng Lượng cho biết, hiện tại chưa có thông tin cụ thể và sẽ cho tìm hiểu bổ sung các vấn đề được nêu ra tại cuộc họp. Trong khi đó, ông Nguyễn Hải Phong, Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao cho biết cũng sẽ phối hợp với Bộ Công an để có báo cáo chính xác về các trường hợp tử vong tại nhà tạm giữ, trại tạm giam.

C. N.

Nguồn: http://www.thanhnien.com.vn/chinh-tri-xa-hoi/ba-nam-co-toi-226-nguoi-chet-trong-trai-tam-giam-tam-giu-542959.html

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.03.2015

Những hoa hậu từng vướng vào vòng lao l

Những hoa hậu từng vướng vào vòng lao lý

Danh hiệu Hoa hậu luôn gắn với những ý niệm đẹp đẽ, tuy vậy, cũng có những Hoa hậu đã không thể giữ mình để rồi vướng vào vòng lao lý.Gần đây một số “hóa hậu” Việt bị bắt giam. Trên thế giới cũng không ít hoa hậu dính vài tội ác phải ào tù. Tư liệu sau QTXM lấy trên VietNamNet và Dân trí phục vụ bạn đọc.

Hoa hậu người việt tại Nga năm 2007 Trương Hồ Phương Nga vừa bị bắt khẩn cấp vì bị tố cáo lừa đảo 16 tỷ

// //

Trương Hồ Phương Nga, Mỹ Xuân, Bùi Nguyễn Thị Trâm, Trương Thị Tuyết Nga

Mới đây, hoa hậu người việt tại Nga năm 2007 Trương Hồ Phương Nga vừa bị bắt khẩn cấp vì bị tố cáo lừa đảo 16 tỷ. Theo thông tin từ cơ quan điều tra, Phương Nga có quen với một doanh nhân ở Quận 7, TP.HCM. Trong thời gian đó, cô tự nhận mình có mối quan hệ trong ngành bất động sản, mua được nhiều nhà giá rẻ để bán lại kiếm lời nên có rủ người đàn ông này hùn vốn làm ăn. Sau nhiều lần đưa tiền cho nữ hoa hậu nhưng không nhận được nhà còn nữ hoa hậu thì viện mọi lý do để né tránh, người đàn ông đã tố cáo lên cơ quan điều tra. Tổng số tiền Phương Nga nhận từ người doanh nhân này lên đến hơn 16 tỷ. Trưa 19/3, cô và đồng phạm đã bị bắt tại căn hộ chung cư ở TP.HCM.

Trương Hồ Phương Nga, Mỹ Xuân, Bùi Nguyễn Thị Trâm, Trương Thị Tuyết Nga

Trương Hồ Phương Nga từng đoạt giải cao nhất trong cuộc thi hoa hậu người Việt tại Liên Bang Nga vào năm 2007. Sau cuộc thi tại Nga, Hoa hậu Phương Nga đã lọt top 5 thí sinh đại diện cộng đồng người Việt tại Nga đi Ukraina để tham gia cuộc thi Hoa hậu người Việt tại khu vực SNG. Có lối sống khá kín tiếng nên những thông tin về cô trên mạng không nhiều. Được biết, hiện cô đảm nhận nhiều công việc khác nhau như diễn viên, MC, người mẫu, kinh doanh… Sở hữu nhan sắc thanh tao nên cô được nhiều hãng mời làm gương mặt đại diện.

Mỹ Xuân đi tù vì cầm đầu đường dây bán dâm

Trương Hồ Phương Nga, Mỹ Xuân, Bùi Nguyễn Thị Trâm, Trương Thị Tuyết Nga

Hoa hậu Nam Mê Kông từng phải đối diện với bản án tù từ 3-10 năm vì tổ chức đường dây mại dâm cao cấp. Dựa vào mối quan hệ trong nghề với các mẫu nữ và nhiều người trong giới đại gia, nữ hoa hậu giới thiệu cho những người mẫu nữ này đi bán dâm với giá hàng nghìn USD. Vụ việc đã làm xôn xao dư luận trong khoảng thời gian scandal bùng nổ và khiến nhiều người có cái nhìn thiếu thiện cảm về nghề nghiệp được coi là làm đẹp cho xã hội này. Hiện tại, nữ hoa hậu đã tự do vì thời hạn tù đã hết. Tuy nhiên vừa ra tù, cô lại dính đến scandal lộ ảnh nóng khi quay video ca nhạc của một nam ca sĩ. Những bức ảnh lộ những điểm nhạy cảm được phát tán khiến scandal bán dâm của cô ngày nào được đào xới lại.

 

Trương Hồ Phương Nga, Mỹ Xuân, Bùi Nguyễn Thị Trâm, Trương Thị Tuyết Nga

Bên cạnh danh hiệu Quý bà thành đạt năm 2009, bà Nga cũng từng giảnh ngôi vị Á Hậu tại cuộc thi Hoa hậu Phu nhân Việt Nam toàn cầu 2012 tại Mỹ. Bà cũng là Tổng giám đốc công ty TNHH Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vũ Anh, Giám đốc công ty TNHH Đầu tư xây dựng Vũ Lan.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.03.2015

RA LỆNH CHẶT MÙA THU

RA LỆNH CHẶT MÙA THU

 Trần Mạnh Hảo

(Theo tin các tờ báo chính thống, chính quyền Hà Nội đang hạ lệnh tàn sát 6.700 cây xanh trong thành phố, không biết để làm gì, nghe nói để nhập mấy loài cây phương Bắc về trồng cho đồng bộ …?)

RA LỆNH CHẶT MÙA THU

Không còn cây sẽ không còn Hà Nội
Sẽ không còn lãng mạn nhạc và thơ
Có chính quyền nào tàn sát cây đến vậy ?
Hủy diệt cây để thực hiện mưu đồ…

Sương mù tháng ba để tang cây Hà Nội
Sao nỡ nào treo cổ cả trời xanh
Vì trời cũng mang màu xanh cây có tội
Hà Nội đau đứt ruột mỗi thân cành

Đừng chặt mùa thu gió heo may sẽ chết
Mất vàng mười Hà Nội hết vàng rơi
Chẳng còn cây che trời giông sấm sét
Hà Nội sôi thành chảo lửa nung trời

Xin cứ việc chặt mùa thu cách mạng
Chặt bóng râm hết chỗ trẻ con chơi
Cứ việc bê tông hóa cả chính quyền, cả đảng
Chặt cây xanh thà chặt trụi hồn người…

Các cuộc chiến tranh còn thương cây Hà Nội
Và bão bùng không tàn sát cây xanh
Hãy cứu lấy những đường cây vô tội
Hà Nội nghìn năm đang bị phá tan tành…

Sài Gòn ngày 19-3-2015

Nguồn: FB T.M.H.

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.03.2015

PHẢN ĐỐI VIỆC ĐỐN HẠ CÂY XANH Ở HÀ NỘI

GS Ngô Bảo Châu, GS Nguyễn Lân Dũng, NSH Dương Trung Quốc

PHẢN ĐỐI VIỆC ĐỐN HẠ CÂY XANH Ở HÀ NỘI

QTXM- Cây xanh đô thị là môi trường sống, là cảnh quan, là biểu tượng sinh thái, là văn hóa… sao bỗng dưng lại đốn hạ ồ ạt đến xót lòng dân cả nước đến vậy? Tôi không ở Hà Nội, tôi ở Huế, nơi người ta giữ từng chiếc lá xanh. Tôi phản đối việc đốn hạ cây xanh ồ ạt ở Hà Nội. Tôi cho đó là sự tàn phá môi trường Thủ Đô, cần phải chấm dứt ngay. Sau đây QTXM xin đăng tải một số ý kiến của trí thức về việc làm vô lý này. NGÔ MINH

GS Ngô Bảo Châu bất ngờ đặt câu hỏi rất khó về việc chặt cây ở Hà Nội

 1. Duy tu bảo trì cây, chặt cây mục ruỗng đề phòng nguy hiểm mùa mưa bão Câu hỏi:
 1a. Tại sao từ trước đến nay công ty công viên cây xanh vẫn thực hiện duy tu bảo trì mà không cần chiến dịch chặt cây?
 1b. Tại sao nhiều cây cao, thẳng khoẻ mạnh cũng bị chặt?
 1c. Có ở đâu, nơi nào, khi nào người ta duy tu bảo trì cây xanh bằng cách chặt cây hàng loạt hay không?
 
2. Cây trồng không đồng bộ, chặt đi trồng lại đồng bộ để đảm bảo mỹ quan thành phố

Câu hỏi:
2a. Nhiều khu phố, nhà Hà nội xây cất thiếu quy hoạch, phản mỹ quan, liệu có cần ủi đi xây lại không?
2b. Biển quảng cáo kích thước không đồng bộ, có cái khổng lồ, có cái mới treo trồng lên cái cũ, sao không có chiến dịch chế tài, gỡ hết đi cho đỡ nhem nhuốc bộ mặt thành phố?
2c. Cây mới trồng lại bao giờ mới lớn? Để chờ một có một hàng cây đồng bộ thẳng hàng, tổn thất cho dân là gì, có xứng đáng không?
2d. Nếu mỹ quan phố phường là việc quan trọng, thì việc chặt cây trồng cây mới có phải là việc cần ưu tiên hay không? Cây xanh có phải là cái làm xấu nhất bộ mặt thành phố không?

3.  Chặt cây để mở đường, xây dựng cơ sở hạ tầng

Câu hỏi:
3a. Phát triển thành phố đã có quy hoạch, tại sao bỗng dưng lại phải có chiến dịch chặt cây?
3b. Ngoài việc xây đường tàu, cải thiện giao thông công cộng ở Hà nội, mà theo tôi là một lý do hoàn toàn hợp lý để chặt cây, những quy hoạch khác là gì, có hợp lý không?
3c. Trong trường hợp có quy hoạch hạ tầng lợi ích công cộng là lý do hợp lý để chặt cây, quy hoạch đã có tiến độ chưa, có cần chặt cây ngay bây giờ không? Có cần chặt cây nhiều nơi và đồng loạt không?
Ngay sau khi những câu hỏi của GS Ngô Bảo Châu được đăng tải, nhiều người đã bày tỏ sự đồng cảm, thậm chí có người còn bổ sung thêm cả những câu hỏi của mình.
Một người có nickname Hải Đỗ viết: “Bổ sung thêm câu hỏi của GS. Trong 120.000 cây hiện có của Hà Nội thì đã có sự phân loại cây theo các tiêu chí đánh giá khác nhau chưa và 6.700 cây đang có kế hoạch thay đổi đó có nằm trong sự phân loại đó hay không?”.
Nickname Hank Tran thẳng thắn: “Chúng tôi chỉ cần hỏi lại, dự toán kinh phí chặt ngần ấy cây là bao nhiêu, rồi kinh phí trồng thay thế, duy tu bảo trì (chưa kể tái trồng 1 tỷ lệ nhất định cây được phép chết đúng quy trình) là bao nhiêu?”.

 

Nhà sử học Dương Trung Quốc: UBND TP Hà Nội cần minh bạch hóa kế hoạch đốn hạ 6.700 cây xanh

 

Liên quan đến việc đốn hạ 6.700 cây xanh, chia sẻ với phóng viên báo Ngày Nay Online, ĐBQH, nhà sử học Dương Trung Quốc cho rằng, UBND TP Hà Nội và các cơ quan chức năng cần minh bạch hoá kế hoạch nói trên để tránh gây hoang mang trong dư luận.

 

Thưa ông, mới đây UBND TP Hà Nội đã thông qua kế hoạch đốn hạ 6.700 cây xanh trên 190 tuyến phố nội thành Hà Nội khiến người dân vô cùng hoang mang và tạo ra một làn sóng sư luận rất mạnh mẽ, ông đánh giá như thế nào về điều này?

 

Thời gian gần đây, theo sự phê duyệt của UBND TP Hà Nội, nhiều hàng cây xanh cổ thụ bị chặt hạ trên các tuyến phố nội thành khiến người dân vô cùng lo lắng, tôi nghĩ điều này là hoàn toàn hợp lý. Vì bản thân những người thuộc thế hệ chúng tôi vẫn luôn tự hào Hà Nội là một “Thủ đô Xanh”. Vì vậy khi các hàng cây cổ thụ bị chặt hạ, tâm lý chung của người dân là nuối tiếc, lo lắng. Như tất cả mọi người đều biết, cây xanh có ý nghĩa vô cùng quan trọng với môi trường sinh thái và cuộc sống hàng ngày của người dân. Để trồng được một hàng cây xanh vấn đề không chỉ là tiền bạc mà còn là thời gian. Một hàng cây cổ thụ, có thể cần đến vài chục năm để trưởng thành vì vậy việc chặt hạ (kể cả thay thế) là cần phải cân nhắc rất kỹ xem việc làm này có chính đáng hay không, có cần thiết hay không. Và theo tôi khi chặt hạ một số lượng lớn cây xanh như thế thì phải hết sức quan tâm đến việc ảnh hưởng của môi trường sinh thái.
Có lẽ chính vì sự lo lắng đến việc ảnh hưởng môi trường sinh thái mà cư dân TP Hà Nội nói riêng vô cùng hoang mang thậm chí bất bình khi đại diện cơ quan có thẩm quyền cho biết việc đốn hạ này không cần thông qua ý kiến của người dân. Theo ông việc không thông qua ý kiến dân có thật sự hợp lý không? Theo tôi, việc trả lời như vậy là không hợp lý. Việc chặt hạ hàng nghìn cây xanh ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của người dân, vì vậy UBND TP Hà Nội và các cơ quan chức năng cần có câu trả lời thích đáng cho những phản hồi của người dân. Đó là nguyên nhân, lý do chặt hạ 6.700 cây xanh, kế hoạch chặt hạ và thay thế nếu có. Có như vậy người dân mới có thể yên tâm với chính sách này. Đồng thời theo tôi, các cơ quan có thẩm quyền cần lắng nghe ý kiến các chuyên gia các nhà khoa học về việc đốn hạ số lượng lớn cây xanh như trên. Kể cả việc đốn hạ được trồng mới (thay thế) cũng phải có cơ sở khoa học, hợp lý chứ không phải thực hiện ồ ạt theo kiểu đến một tuyến phố và đốn hạ toàn bộ cây xanh. Theo tôi nếu lý do hợp lý, chính đáng và dựa trên cơ sở khoa học thì người dân cũng cảm thấy yên tâm và ủng hộ.
 

GS Nguyễn Lân Dũng: Sai lầm khi chọn cây gỗ Vàng Tâm thay thế 6.700 cây xanh bị đốn hạ

 
Lan Chinh 
 

Để đưa ra những ý kiến đa chiều xung quanh việc đốn hạ 6.700 cây xanh trên 190 tuyến phố nội thành Hà Nội, phóng viên báo điện tử Ngày Nay Online đã có cuộc trao đổi với Chủ tịch Hội các ngành Sinh học Việt Nam, Nhà giáo nhân dân, GS Nguyễn Lân Dũng. Ông cho biết, theo ông việc đốn hạ số lượng rất lớn các cây xanh cần có sự lắng nghe ý kiến của các chuyên gia và sự thông qua của Quốc hội.

   

Thông tin 6.700 cây xanh bị đốn hạ trên 190 tuyến phố nội thành Hà Nội đang khiến cho dư luận hết sức quan tâm, với tư cách Chủ tịch Hội các ngành Sinh vật học Việt Nam, ý kiến của ông như thế nào?
Ngay sau khi thông tin UBND TP Hà Nội thông qua việc đốn hạ 6.700 cây xanh trên 190 tuyến phố nội thành Hà Nội, tôi cảm thấy rất lo lắng bởi trong đó có những hàng cây đã hàng trăm năm tuổi. Bởi theo tôi vẻ đẹp tiềm ẩn của thủ đô Hà Nội không nằm ở những nhà cao tầng, những công trình đồ sộ mà chính ở những hàng cây cổ thụ rợp bóng những cung đường. Đã đi qua rất nhiều nước trên thế giới từ Pháp, Thái Lan, Nhật Bản… tôi nhận thấy không có thành phố nào sở hữu những hàng cây xanh cổ thụ lớn và đẹp như ở Thủ đô Hà Nội. Có thể nói niềm tự hào lớn nhất của Thủ đô Hà Nội chính là cây xanh. Hà Nội là Thủ đô, là di sản vô giá của đất nước, thì những hàng cây xanh cũng là tài sản quốc gia không thể nào tuỳ tiện đưa ra những phương án đốn hạ một số lượng lớn và trên diện rộng như vậy. Với những lý do như ảnh hưởng đến quá trình thi công các công trình giao thông, tránh gãy đổ trong dịp mưa bão… tôi thấy khá vô lý. Chúng ta có rất nhiều các chuyên gia và nhiều phương án để tránh việc phải đốn hạ lượng lớn cây cổ thụ như vậy. Và nếu có phương án như thế thì chúng ta phải cố gắng hết sức để tuân thủ những phương án tránh ảnh hưởng đến cảnh quan của Thủ đô Hà Nội. Nếu có cây bị gãy đổ vì bão thì ta chỉ nên trồng thay thế cây đó chứ không phải là triệt hạ hàng loạt cây các tuyến đường nội thành. Nhiều ý kiến cho rằng việc đốn hạ hàng loạt các cây sẽ phá vỡ rất nhiều cảnh quan của Thủ đô Hà Nội, ông nghĩ sao về điều này?
Hơn thế nữa, theo tôi, việc đốn hạ này phá vỡ phần lớn cảnh quan của Thủ đô, làm thay đổi diện mạo của Hà Nội trong nhiều thập kỷ nên có ý nghĩa rất quan trọng. Điều này cần có ý kiến của các cơ quan cấp cao, thậm chí là Quốc hội, kế hoạch đốn hạ này diễn ra tại Hà Nội – Thủ đô của quốc gia, chứ không phải một thành phố nào khác. Việc này cần thêm các Bộ, Ban, ngành đưa ra ý kiến để tìm phương án tối ưu”. 

 

Lựa chọn cây gỗ Vàng tâm, một loại gỗ rất quý để thay thế các cây cổ thụ, theo ông đã hợp lý chưa?

Đồng thời trong kế hoạch này có một điểm tôi thấy khá vô lý là việc lựa chọn cây gỗ Vàng Tâm để thay là hoàn toàn không hợp lý. Bởi cây gỗ Vàng Tâm là cây gỗ rất quý có giá trị tương đương với cây sưa, giá trị cao thường mọc ở rừng sâu trong độ cao khoảng 100 – 700m. Cây gỗ nói trên ưa đất chua và lớn rất chậm đòi hỏi độ cao và không khí lạnh mới có thể phát triển. Hơn thế nữa, với loại cây gỗ quý này, chúng ta sẽ mất thêm rất nhiều công sức để bảo vệ khi cây đã trưởng thành tránh trường hợp bị “đốn trộm”. Với tất cả những lý do như vậy việc lựa chọn cây gỗ Vàng Tâm để trồng làm cây xanh lấy bóng mát là lựa chọn không hề hợp lý mà theo tôi lựa chọn này chưa được thông qua ý kiến của các chuyên gia

(Nguồn: VANDAN NNB)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.03.2015

THƠ MÙI BÙN ĐẤT

Nhà thơ Huỳnh Thúy Kiều

THƠ MÙI BÙN ĐẤT

( Đọc tập thơ KIỀU MÂY của Huỳnh Thúy Kiều, NXB Văn học, 2008 )

           Ngô Minh

         

 Ngắm tập thơ Kiều Mây của Huỳnh Thúy Kiều từ miền châu thổ Cà Mau gửi tặng, tôi cứ thẫn thờ. Sao lại Kiều Mây ? Cái tựa sách nghe nó như tên một vở cải lương! Nhưng khi đọc đi đọc lại 36 bài thơ , tôi mới nhận ra cái tên sách ấy có lý. Kiều Mây là sự bay bổng, là cõi tâm linh của Huỳnh Thúy Kiều. “ Nghiêng vạt gió hứng ánh trăng từ đỉnh trời rơi xuống… Thu vào mây bóng kinh thành buốt nụ sao hoa…”; “ Nước mắt sững sờ rơi choáng váng bờ hoang tưởng…”; “ Trăng ngoái đầu say tấm chăn mây”; “ Lẻ bạn tình nước mắt chảy trăng non” … Những câu thơ tôi nhặt  ngẫu hứng ở các bài trong tập thơ  nói lên cái chất Kiều Mây la đà ấy… (Đọc tiếp…)

Biểu đồ 1Biểu đồ 2 phân tích chi tiết chi tiêu của VP đảng CSVN.

Đọc dự toán ngân sách 2014: Chi phí cho đảng cao hơn cho 2 đại học quốc gia!

  Nguyễn Văn Tuấn

 

Ở VN người đóng thuế (kể cả tôi) phải “cõng” đến 3 hệ thống quan quyền: Nhà nước, Quốc hội, và đảng. Câu hỏi đặt ra là tình hình ngân sách dành cho 3 bộ máy này ra sao. Trên trang nhà của Bộ Tài chính có công bố “Dự toán chi ngân sách trung ương của từng bộ, cơ quan trung ương” cho năm 2014 (1,2). Báo cáo này có khá nhiều số liệu rất thú vị và có thể trả lời một phần cho câu hỏi trên. Ở đây, tôi chỉ đọc vài số liệu quan trọng để trước là làm tư liệu, sau là chia sẻ thông tin. (Có vài thông tin vì cách dùng chữ mù mờ, nên tôi để dấu hỏi).

Điều ngạc nhiên chi tiêu cho văn phòng trung ương đảng là cao nhất trong 4 văn phòng (Chính phủ, Chủ tịch Nước, Quốc hội, đảng). Số liệu năm 2014 cho thấy văn phòng (VP) trung ương đảng CSVN có dự toán (?) là 1973 tỉ đồng (tương đương 98.6 triệu USD). Con số này cao gấp 10 lần dự toán cho VP Chủ tịch Nước (chỉ 195.9 tỉ đồng). Sau VP đảng, hai cơ quan cũng “ngốn” khá nhiều tiền là VP Chính phủ (1290 tỉ đồng) và VP Quốc hội. Có thể xem Biểu đồ 1 để thấy sự khác biệt giữa các văn phòng.

Một số bộ / ngành cũng ngốn khá nhiều tiền là:

Viện kiểm sát: 3004 tỉ đồng

Toà án tối cao: 2850.3 tỉ

Bộ Ngoại giao: 2459.4 tỉ

Bộ Giao thông vận tải: 11912.1 tỉ

Bộ Y tế: 7682.6 tỉ

Bộ Giáo dục & đào tạo: 5905 tỉ

Bộ Thương binh xã hội: 34174.3 tỉ.

Có một số ban tôi không rõ là gì nên viết y như báo cáo. Trong các ban trực thuộc trung ương đảng, có 3 ban ngốn nhiều tiền nhất: Cục quản trị A (186.9 tỉ đồng), Cục QTTV (~112 tỉ đồng), và Ban Tuyên giáo (109.4 tỉ đồng). Ngạc nhiên là nhật báo Nhân Dân thậm chí có ngân sách còn cao hơn cả Ban Nội chính! Hội đồng lí luận (?) cũng ngốn tiền ngân sách gần 31 tỉ đồng năm 2014!

Hai đại học quốc gia HCM và HN cũng có ngân sách từ Chính phủ. Theo báo cáo 2014, ĐHQGHCM có dự toán là 833 tỉ đồng, cao hơn chút so với ĐHQGHN (709 tỉ đồng). Nhưng đó là tổng chi, trong đó chi thường xuyên thì ĐHQGHN (548 tỉ đồng) cao hơn ĐHQGHCM (400 tỉ đồng). Trong khi đó chỉ riêng Viện KHCN mà ngốn 877 tỉ đồng, cao hơn Viện KHXH (397.6 tỉ đồng).

Như vậy, dự toán cho VP trung ương đảng cao hơn cả 2 đại học quốc gia cộng lại!

( Nguồn: Blog nguyễn văn Tuấn)

Nhà văn Nguyễn Khắc Phê xuống đường phản đối TQ năm 2014 ở Huế

Từ “Gạc-ma 14/4/1988” đến những “Đảo bành trướng” ở Trường Sa 2015

Nguyễn Khắc Phê

Chúng ta vừa có những động thái tích cực tưởng niệm 64 chiến sĩ hải quân đã hy sinh ở Gạc-ma 27 năm trước; điều đó thật cần thiết nhất là lúc Trung Quốc vẫn ngang nhiên xây đắp những “Đảo bành trướng” ở Trường Sa. Về hành động phi pháp này, trước hết, xin nhắc, sau khi đọc bài báo đăng ngày 9/6/2014 của của một vị quan chức cấp cao, có câu: “Rút giàn khoan. Đó là đại hồng phúc của hai dân tộc…”, tôi đã gửi thư cho Tổng biên tập một tờ báo lớn, đề nghị dư luận cần tỉnh táo với “tư duy” nói trên, kẻo rồi khi Trung Quốc rút giàn khoan, chúng ta sẽ vỗ tay hoan hô “đại hồng phúc” mà thực chất là chào mừng Trung Quốc đã hoàn thành một bước đi ngoạn mục trong việc làm chủ Biển Đông, trong khi họ có thể đã xây xong sân bay và bến cảng ở Gạc Ma, một bước đi nguy hiểm hơn nhiều so với vụ HD981…

Một lão già ở tỉnh lẻ, gần như “ếch ngồi đáy giếng”, từ gần 1 năm trước đã nhận ra điều đó thì hẳn là những vị có trách nhiệm lớn với sự an nguy của Tổ Quốc càng hiểu rõ ý đồ thâm hiểm của lũ bành trướng trong việc mở rộng và kiên cố hóa các vùng đảo ở Trường Sa mà họ xâm chiếm của Việt Nam, cũng như mối đe dọa vô cùng to lớn đối với mọi hoạt động trên vùng biển vả trên cả đất liền của chúng ta; đó là chưa  nói đến hành động của họ thực chất là sự xâm lược, vì Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định “Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam”. (Đọc tiếp…)

Ông Nguyễn Bá Thanh

QTXM: Về cái chết của ông Nguyễn Bá Thanh trong dư luận xã hội có nhiều ý kiến khác nhau, những ý kiến cực đoan tạo nên những nghi vấn  vô lý. Thấy bài viết sau đây của TK Trần lập luận có lý,có tình, chúng tôi xin tải về đây để bạn đọc cùng chia sẻ.

ĐỂ CHẤM DỨT MỘT NGHI VẤN VỀ NGUYỄN BÁ THANH

TK Tran

 

Ông Nguyễn Bá Thanh đã mất hơn một tháng nay. Đối với người bình thường thì chết là hết. Hãy để người mất yên giấc ngàn thu. Hãy để gia đình họ nguôi ngoai nỗi nhớ niềm đau.

Nhưng ông Bá Thanh không phải là thường dân. Ông là người của xã hội, của công chúng. Ông đã là một cán bộ lãnh đạo hạng cao nhất nước thì cái chết của ông không thể bị dễ dàng quên đi, nhất là khi vẫn còn nghi vấn về sự mờ ám trong nguyên nhân gây ra cái chết của ông.

Chết bởi phóng xạ hay không? Có một vụ đầu độc bằng phóng xạ hay không?

Trước khi ông chết, thì câu hỏi này còn bỏ ngỏ như một bài toán chưa có đáp số (1) Song sau khi ông chết thì lại có một số hình ảnh chụp đám tang, có một số thông tin chung quanh đám tang đã hé lộ một số dữ kiện để thẩm đinh là có hay không có một vụ nhiễm độc phóng xạ?

Vì sao trong đám tang của ông tất cả mọi người, kể cả gia quyến và những cán bộ lãnh đạo cao nhất nước, không một ai dùng bất cứ một trang phục hay phương tiện bảo hộ chống phóng xạ nào?

Khi bài viết “Vấn đề đầu độc bằng phóng xạ và cái chết của ông Nguyễn Bá Thanh” (1) được phổ biến trên mạng, thì có ý kiến phản biện rằng, không nhất thiết là phải có yếu tố Trung Quốc, không nhất thiết là phải dùng Polonium để đầu độc, mà việc đầu độc có thể xẩy ra ở Việt Nam bằng những thanh Uranium có thể tìm mua được.

Quả là như vậy. Đã có lúc ở Việt Nam rộ lên những vụ buôn lậu Uranium có nguồn từ miền Nam. Năm 1975 người Mỹ đã đem theo Uranium khi họ rút khỏi Việt Nam, nhưng tới năm 1983 người Nga lại đem tới Việt Nam phóng xạ Uranium235 để khởi động lại lò nguyên tử Đà Lạt (2). Sau đó, quãng 1986 trở đi, đã xẩy ra những vụ buôn lậu phóng xạ, mà kẻ mua là những “người lạ” trả giá cao ngất ngưởng cho những thanh Uranium này, mà người bán tưởng chỉ là một kim loại đặc biệt gọi là những thanh “đồng lửa”. Đáng nói là từ kẻ buôn lậu cho tới Công An truy bắt buôn lậu đều phần lớn không biết “đồng lửa” chính là Uranium phóng xạ nguy hiểm. Năm 2013 Việt Nam chuyển giao lại Nga 16 kg “Uranium giầu” cuối cùng (2), có thể dùng làm bom nguyên tử, theo thỏa thuận với tổ chức nguyên tử quốc tế (IAEA). Song cũng không thể loại trừ khả năng là ở đâu đó còn chôn dấu vài thanh “đồng lửa” này.

Dùng Uranium để đầu độc thì có 2 phương cách: hoặc để một số lượng lớn Uranium gần nạn nhân, ví dụ ở phòng ngủ, trong một thời gian dài, hoặc là lừa nạn nhân, cho một lượng rất nhỏ vào thức ăn thức uống để đưa trực tiếp phóng xạ vào cơ thể nạn nhân.

Nếu dùng phương án thứ nhất, thì đây là một vụ đầu độc tập thể bởi vì phóng xạ Uranium235 phát ra tia xạ gamma có hiệu năng dữ dội, đi rất xa, hàng cây số, xuyên qua cơ thể, nhà cửa bình thường sẽ làm những người chung quanh nạn nhân cũng bị nhiễm xạ theo. Ở trường hợp ông Bá Thanh, thì chỉ có ông bị bệnh mà thôi. Không hề nghe nói tới hàng chục hàng trăm người quanh ông cũng bị „rối loạn tủy xương“. Nghĩa là đầu độc kiểu này khó lòng đã xẩy ra.

Nếu ông Thanh đã ăn uống phải phóng xạ Uranium thì cả thân thể ông đã trở thành nguồn phóng xạ, phát tán tia gamma ra chung quanh, ngay cả sau khi ông đã chết. Thế nhưng quan sát các hình ảnh chụp đám tang ông, chỉ thấy quan tài của ông là bằng gỗ bình thường,mặc dù chạm trổ cầu kỳ đắt tiền. Không có bề dầy hàng chuc cm của quan tài bằng chì, cần thiết phải có để ngăn tia phóng xạ gamma của Uranium (quan tài kẽm không ngăn được hiệu quả tia phóng xạ này). Đã vậy, quan tài còn được để ngỏ, không được đóng nắp lại, lúc quàn ở nhà riêng (3). Không thấy ai đứng chung quanh mặc trang phục gì đặc biệt ngăn chống phóng xạ.

Giả thuyết đầu độc bằng Uranium có thể được xem là không có cơ sở.

Nếu ông bị nhiễm độc Polonium 210: Bác sĩ nào cho phép ông Nguyễn Bá Cảnh, con trai ông, được ngồi lâu cạnh ông và thoa bóp chân ông, trong thời gian ông trị bệnh ở Mỹ? Cơ quan y tế nào cho phép cô Hoài An, con gái ông được ngồi ôm đầu ông, hôn ông ở nhà riêng khi ông mới mất?

Phóng xạ Polonium210 phát ra tia alpha. Khác với tia gamma của Uranium, tia alpha chỉ có hiệu năng trong vòng vài cm ở ngoài không khí. Tia alpha chỉ phát huy sự độc hại khi nó vào bên trong cơ thể. Một phần Polonium210 sẽ theo đường bài tiết: phân, nước tiểu, mồ hôi, nước mắt, nước mũi ra ngoài cơ thể , từ đó có thể gây nhiễm xạ cho người chung quanh. Việc va chạm trực tiếp vào bệnh nhân sẽ có nguy cơ bị lây nhiễm xạ, cần phải tránh. Nhất là đối với những người không trực tiếp chạy chữa, săn sóc bệnh nhân.

Trong vụ đầu độc bằng Polonium210 năm 2006 làm chết điệp viên Litwinenko, bà bác sĩ Nathaniel Cary phụ trách mổ xác điệp viên này đã nói tới vụ khám nghiệm một tử thi nguy hiểm nhất thế giới (the most dangerous post mortem in the world) mà bà phải phụ trách. Bà đã phải mặc 2 lớp áo choàng và dùng những găng tay bảo hộ khi tiếp cận với xác Litwinenko… (theo TheTimes London 28.01.2015)(4)

Không thể coi thường sự độc hại của phóng xạ Polonium 210. Thế nhưng gia đình ông Bá Thanh đã quan tâm hay không quan tâm tới vấn đề phóng xạ như thế nào?

Khi ông Thanh chết, con trai Nguyễn Bá Cảnh viết điếu văn khóc cha, đăng trên trang mạng DanangPlus Net. Ngoài những lời bày tỏ sư đau đớn của một người con mất cha, ông Cảnh nhắc tới những kỷ niệm của ông với ông Bá Thanh, trong đó đáng chú ý là chi tiết:

“con nhớ mấy tháng trước, khi ba đang điều trị ở nước ngoài…. Con ngồi rất gần xoa chân cho ba, mắt rưng rưng….” (5)

Ông Cảnh đã được ngồi cạnh cha, trực tiếp tiếp xúc với da thịt và xoa bóp chân của cha ông. Câu hỏi đặt ra ở đây là: nếu ông Thanh đã bị nhiễm xạ Polonium210 thì bác sĩ nào cho phép ông Cảnh làm như vậy?

Lại nữa. Ngày 13 tháng 2 ông Thanh được xe cứu thương đưa từ bệnh viện về nhà riêng. Khoảng 13 giờ, gia đình ông rút ống thở máy ra khỏi cơ thể ông. Và sau đó ông mất.

Trong trường hợp có nhiễm xạ Polonium210 thì tất cả các chất dịch trong cơ thể, bao gồm cả đờm, nước trong phổi đều chứa phóng xạ. Việc rút ống thở như vậy, đặc biệt là do người không chuyên môn y tế, có thể làm tung tóe chất phóng xạ ra ngoài, ảnh hưởng tới người chung quanh. Bác sĩ nào đã cho phép gia đình làm như vậy, nếu ông Thanh đã bị nhiễm phóng xạ Polonium?

Báo Thanh niên (6) thuật lại giây phút cuối cùng của ông Thanh:

“Lúc ông Thanh được đưa về nhà, thấy ông nằm thở rất khó khăn. Con cái ông Thanh ở xung quanh ông từng giờ, từng phút. Con gái ông Thanh khóc nhiều, liên tục ôm mặt cha hôn ông và gọi cha làm ai cũng ứa nước mắt….“

Tình cảm của người con đối với người cha như vậy là chân thành, rất đáng quí trọng. Song cô Hoài An có nghĩ tới việc cô có thể bị nhiễm xạ lây khi cô ôm mặt cha và hôn ông?

Hoặc là cô Hoài An , ông Cảnh và cả gia đình biết rõ là ông Bá Thanh không bị nhiễm xạ?

oOo

Việc cố gắng phân tích, lý giải những yếu tố khách quan nhằm góp phần tìm hiểu nguyên nhân căn bệnh của ông Bá Thanh không phải là vì những quan tâm riêng đối với cá nhân ông Thanh hay với gia đình của ông. Cố gắng này nhằm đáp ứng phần nào nhu cầu chính đáng của công luận, của người dân, là muốn được tiếp cận sự thật về mọi vấn đề đất nước, khi mà sự thật, trong thể chế hiện hành, đã trở thành một điều quý hiếm, khi mà mọi thông tin quan trọng đều bị bưng bít triệt để.

Việc tìm hiểu cặn kẽ nguyên nhân bệnh của ông Thanh cũng là vì mối quan tâm tới vấn đề lạm dụng phương tiện truyền thông, không phải nhằm mục đích thông tin khách quan, mà nhằm tung hỏa mù, sử dụng những chiêu thức hư hư thực thực, lẫn lộn sự thực và bịa đặt để cố ý lèo lái công luận đi theo hướng có chủ đích riêng. Cố gắng lý giải căn bệnh của ông cũng là để vạch ra những thủ đoạn gớm ghê của những phe phái tranh dành quyền lực, đấu đá lẫn nhau, mặc dù cùng hội cùng thuyền, cùng trong một đảng độc quyền chi phối đất nước.

Trong trường hơp Nguyễn Bá Thanh, khi những người thực sự quan tâm tới vận mệnh đất nước không để bị cảm tính lôi cuốn, bình tâm nhận định vấn đề thì sẽ không bị lợi dụng, không bị vô tình trở thành công cụ cho mưu tính của một nhóm lợi ích nào đó.

TKT

____

Tài liệu tham khảo:
(1) https://anhbasam.wordpress.com/2015/02/14/3394-van-de-dau-doc-bang-phong-xa-va-cai-chet-cua-ong-nguyen-ba-thanh-1953-2015/
(2) http://www.rfa.org/vietnamese/vietnamnews/vn-sen-uranu-t-russia-070320130
(3) http://soha.vn/xa-hoi/hang-van-nguoi-tien-ong-nguyen-ba-thanh-ve-noi-an-nghi-cuoi-cung-20150218084355123.htm
(4) http://www.thetimes.co.uk/tto/news/uk/crime/article4337219.ece
(5) http://danangplus.net/2015/02/buot-long-voi-loi-khoc-cha-cua-con-trai-ong-nguyen-ba-thanh.html

(6) http://thanhnien.com.vn/chinh-tri-xa-hoi/ong-thanh-ra-di-giua-nguoi-than-va-ba-con-chom-xom-533944.html

( Nguồn: Internet)

 

Các nhà văn Việt Nam, Mỹ, Cu Ba…viết thư gửi Tổng thống Mỹ và Chủ tịch Cuba: Im lặng lúc này là tội lỗi

 
(Thethaovanhoa.vn) – “Chúng tôi, tán thành và khuyến khích phá bỏ các rào cản, cùng việc mở cửa hướng tới sự hợp tác và trao đổi văn hóa giữa mọi dân tộc” là một câu trong bức thư đứng tên các tác giả như Nguyễn Quang Thiều, Lương Tử Đức, Nguyễn Bá Chung.

Thư đề ngày 7/3 năm nay, người nhận là Tổng thống Mỹ Barack Obama và Chủ tịch Cuba Raúl Castro. Ý tưởng viết thư là của một nhóm nhà thơ, nhà văn Việt Nam, Cuba, Mỹ và Colombia tham dự Liên hoan thơ Châu Á – Thái Bình Dương và Hội nghị quảng bá văn học Việt Nam vừa qua.
Họ viết thư bằng 3 thứ tiếng Việt, Anh và Tây Ban Nha để gửi lên 2 vị nguyên thủ của 2 quốc gia nhằm kêu gọi Chính quyền Mỹ nhanh chóng bình thường hóa quan hệ với Cuba. Khi hoàn thành, họ kêu gọi các nhà thơ, nhà văn khác ký ủng hộ bức thư bằng cách trả lời qua thư điện tử. Theo nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, sau một ngày gửi thư đi, đã có gần 100 nhà thơ Việt Nam và thế giới ký ủng hộ.
Thethaovanhoa.vn trao đổi với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều về bức thư này.

* Ý tưởng về bức thư có từ đâu, thưa ông?
- Tôi có những người bạn lâu năm là các nhà thơ Cuba, Mỹ và Colombia. Sau các sự kiện văn học ở Việt Nam vừa qua, tôi đã kết nối họ lại với nhau bởi một lý do rất đặc biệt: họ đang là công dân của những nước có quan hệ băng giá trong nhiều năm nay như Mỹ và Cuba.


Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, một trong những người khởi xướng và đứng ra kêu gọi ký tên cho bức thư
 

(Đọc tiếp…)

Tác phẩm Gôm 9 của Lê Bá Đảng

Đã tìm được đối tượng ăn cắp tác phẩm của họa sĩ Lê Bá Đảng

Ngày 17/3, tin từ Công an TP Huế cho biết đã tìm được đối tượng ăn cắp tác phẩm nghệ thuật của cố họa sĩ Lê Bá Đảng. Mục đích của người này lấy tác phẩm là do quá… yêu thích cố họa sĩ Lê Bá Đảng.

Đại Dương

Theo đó, người lấy tác phẩm là ông T.N.T (54 tuổi, trú đường Bùi Thị Xuân, TP Huế). Theo nhà văn Tô Nhuận Vỹ thì người này còn có bút danh Pan Xi Păng, một nhà báo tự do. Do camera tại trung tâm nghệ thuật Lê Bá Đảng đã ghi lại toàn bộ quá trình lấy cắp của ông T., dựa vào một số người quen thân với ông T. (do ông T. cũng quen biết trong giới văn nghệ sĩ) nhận diện, nên công an đã tìm ra nhanh chóng, mời ông T. lên làm việc.

  Nhờ vào camera ghi lại, thời điểm ông T. lấy cắp tác phẩm nghệ thuật là vào hơn 9h ngày 14/3

    Tại cơ quan công an, ông T. đã thừa nhận hành vi của mình là sai, nhưng vì quá yêu thích, đam mê các tác phẩm của cố họa sĩ Lê Bá Đảng nên đã tới trung tâm vào sáng 14/3, thừa lúc ít người rồi lấy tác phẩm Gốm 9. Trao đổi qua điện thoại với PV, ông T. cũng thừa nhận điều trên và mong mọi người bỏ qua cho ông vì hành động nông nổi nói trên.

  Hiện tác phẩm trên đã được công an thu hồi, chuẩn bị đưa về lại cho bảo tàng. Gốm 9 (làm bằng gốm nung làng cổ Phước Tích – Huế, cao 28cm, rộng 19cm, xuất xứ từ Pháp) là 1 trong 9 tác phẩm thuộc chùm tác phẩm gốm do họa sĩ Lê Bá Đảng làm ra đang có tại trung tâm nghệ thuật Lê Bá Đảng cùng với gần 400 tác phẩm tranh, sắp đặt, gỗ… khác. 

    Trước đó, vào ngày 14/3, khi nhiều cán bộ, nhân viên của trung tâm nghệ thuật Lê Bá Đảng đi dâng hương tưởng niệm ở lễ truy điệu họa sĩ Lê Bá Đảng do dòng họ Lê Bá tại làng Bích La Đông (xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong, Quảng Trị) tổ chức, do vắng người nên trung tâm đã bị mất cắp tác phẩm nghệ thuật Gốm 9.

  Tác phẩm nghệ thuật Gốm 9 đã được thu hồi

 ( Nguồn: Dân trí)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.03.2015

BẠN ĐỌC ƠI, TÔI YÊU BẠN, VÀ TÔI SỢ BẠN

BẠN ĐỌC ƠI, TÔI YÊU BẠN, VÀ TÔI SỢ BẠN

Nhà thơ NGUYỄN TRỌNG TẠO

NGUYỄN TRỌNG TẠO

(Tham luận đọc tại Liên hoan văn học ASEAN lần thứ 2 – Indonesia: Chủ nghĩa tiêu dùng với tác phẩm văn học)

“Không có sách thì không có tri thức”, “Nhà văn là giáo sư của tâm hồn”. Những câu nói ấy luôn luôn là chân lý.

Chúng ta là những nhà văn, học giả, nghệ sĩ, và cả những người thưởng thức văn học nghệ thuật đến với Liên hoan văn học ASEAN lần thứ 2 tại đất nước Indonesia giàu đẹp và có truyền thống văn hóa tỏa sáng lâu đời, tôi nghĩ rằng, chúng ta vô cùng biết ơn những sáng tạo tinh thần của nhau, và biết ơn những người thưởng thức nó, bởi người thưởng thức cũng chính là người sáng tạo thứ 2, sau những sáng tạo ban đầu của Nhà văn. 

Là một Nhà thơ từ Việt Nam đến đây, tôi muốn nói rằng, tôi vô cùng quan tâm đến độc giả văn học: tôi yêu độc giả của tôi, và tôi cũng rất sợ độc giả của tôi. Và đó cũng là điều tôi muốn nói trong cuộc thảo luận về “Chủ nghĩa tiêu dùng với tác phẩm văn học” này.

  1. Nỗi sợ đóng đinh vào “chủ nghĩa tiêu dùng”.

Có thể các bạn đã biết, Việt Nam chúng tôi có 64 nhà xuất bản sách, mỗi năm xuất bản gần 20.000 đầu sách với hàng trăm triệu bản sách. Nhưng sách văn học chỉ chiếm 10%, trong đó sách dịch của nước ngoài chiếm quá nửa. Và phần lớn độc giả bị rơi vào cái bẫy của chủ nghĩa tiêu dùng, mà chúng tôi gọi là “văn học thị trường” hay “văn học giải trí”, loại sách này ở Trung Quốc còn gọi mỉa mai là “văn học giấy vệ sinh”. Tôi không nghĩ đó là câu chuyện riêng của nước tôi, mà đó cũng là câu chuyện của những quốc gia khác. Đó là một vấn nạn trong văn hóa đọc, làm đau đầu các nhà văn luôn coi “Văn chương là ngôi đền thiêng”.

Tôi sợ những độc giả theo chủ nghĩa tiêu dùng khi họ tạo ra một làn sóng thị hiếu thấp, vì làn sóng ấy có thể đánh bại các nhà văn chân chính, đẩy các nhà văn chân chính vào chân tường trong cuộc chiến thị trường không cân sức.

Tuy nhiên, nhìn một phía nào đó cũng thấy “văn học thị trường” hay “văn học giải trí” cũng có phần tốt, nó làm cho văn học trở nên đa dạng và phong phú, nó đáp ứng nhu cầu giải trí của tầng lớp độc giả số đông là bình dân. Nhưng nó chỉ tạo ra diện rộng của văn học chứ không thể làm đỉnh của văn học.

Nhìn từ một phía khác, “văn học thị trường” hay “văn học giải trí” cũng tạo ra áp lực lớn cho nhà văn, anh phải chạy theo nó, hay anh phải thoát khỏi nó để sáng tạo ra những giá trị văn học thực sự mang tư tưởng thời đại và có sức sống lâu dài. Thực tế ở Việt Nam cũng đã có một số nhà xuất bản và nhà văn chạy theo thị hiếu tiêu dùng để kiếm tiền, một số đông tác giả khác không thành danh thì tự bỏ tiền ra in tác phẩm để kiếm tìm cảm giác “tự sướng”, và họ cũng ném vào thị trường văn học khá nhiều rác, khiến độc giả càng trở nên loạn chuẩn.

Nhà văn chân chính, phải hóa giải những nỗi sợ đó để tự vượt lên chính mình trong sáng tạo, nghĩa là nhà văn phải trung thành với tư tưởng nghệ thuật của mình, và văn chương của anh ngày càng phải hấp dẫn hơn, với hy vọng cải tạo, và giải thoát thị hiếu của tầng lớp độc giả đang đóng đinh vào “chủ nghĩa tiêu dùng”.

Biết vậy, nhưng các bạn biết không, tôi vẫn rất sợ những độc giả như thế.

  1. Tôi yêu độc giả – người sáng tạo thứ 2

Sợ, nhưng tôi luôn yêu độc giả của tôi. Dù họ chưa gặp tôi bao giờ, nhưng họ đã đọc tôi. Dù họ thích một câu thơ của tôi, một bài thơ của tôi, thậm chí họ không thích thơ tôi… nhưng họ đã đọc tôi. Hạnh phúc của Nhà văn là tác phẩm của mình có người đọc. Và mỗi người đọc lại có những ứng xử rất riêng với tác phẩm và tác giả của nó. Người khen và người chê, và có người im lặng. Người gặp tác giả nhờ giải thích một câu chưa hiểu hết. Người giảng giải cho tác giả sự thích thú của họ khiến tác giả bất ngờ. Người lại viết cả bài viết dài phân tích nội dung, phong cách nghệ thuật của tác giả. Vân vân và vân vân… Những người đọc như thế làm cho tác giả biết mình đang tồn tại, đang sống, đang được chia sẻ với chung quanh.

Có người nói rằng, “thi sĩ là người phá vỡ các thói quen của chúng ta”. Và tôi muốn nói thêm, độc giả có thể làm thay đổi sức sáng tạo của nhà văn. Đó là những độc giả luôn chờ đợi những tác phẩm mới của anh. Sự chờ đợi của độc giả, đặc biệt là độc giả tâm đắc, nó kích thích sự sáng tạo của nhà văn, khiến nhà văn không hài long với những gì đã có. Sự khó tính của độc giả cũng khiến nhà văn phá vỡ tính bảo thủ để vươn tới sự mới mẻ phía trước. Nhà văn sẽ thấy rõ hơn bao giờ hết trách nhiệm, thiên chức của mình trước nghiệp văn, trước độc giả và thời đại.

Có một câu chuyện làm tôi cảm động và nhớ mãi, đó là lần tôi công bố trên internet về một tuyển tập “Thơ và Trường ca” vừa xuất bản, thì có một độc giả người Việt Nam ở Ba Lan gửi 500 USD để mua 1 cuốn mà giá bìa chỉ 5 USD. Tôi muốn tặng thêm mấy cuốn nữa cho anh, nhưng anh không đồng ý. Đó là cuốn sách cao giá nhất trong cuộc đời sáng tác của tôi. Tôi hiểu, người độc giả ấy muốn chia sẻ để tỏ lòng yêu quý văn chương.

Mỗi nhà văn đều có những kỷ niệm khó quên với độc giả của mình. Có vui và có buồn. Nhưng điều nhạt nhẽo nhất là không vui cũng không buồn. Đó là thái độ dửng dưng của người đọc trước những sáng tạo của nhà văn. Thi sĩ Heinrich Heine cảm nhận thật sâu sắc về điều đó khi ông viết bài thơ đại ý thế này:

Người làm cuộc đời tôi
Khổ đau hơn cái chết
Là người không yêu tôi,
Và cũng không hề ghét.

Người đọc bài thơ đó, mỗi người một tâm trạng, một hoàn cảnh khác nhau, họ sẽ hiểu bài thơ như Heine đã yêu đơn phương, và có khi họ còn hiểu xa hơn thế nữa, đó là sự cay đắng trong xã hội vô tình. Chính vì vậy mà họ – bạn đọc – là người sáng tạo thứ 2 của bài thơ.

Nhà văn luôn cám ơn độc giả, vì nhờ họ mà tác phẩm của mình không nằm nguyên trên trang giấy.

 3. Tin hay không tin?

Dù những con sóng của chủ nghĩa tiêu dùng đang ào ạt xô bờ văn học, nhưng rồi cũng đến ngày nó sẽ êm đềm hơn. Bạn có tin điều đó sẽ xảy ra không?

Theo tôi, vấn đề quan trọng là nhà văn có tin những điều mình viết ra là sự thật, là nhân văn, là hấp dẫn người đọc và dẫn dắt tâm hồn, tư tưởng của họ hay không. Đó là điều không dễ dàng.

Tôi cũng đã nhiều lần nghiền ngẫm về điều đó. Tin hay không tin? Và tôi đã viết nó thành bài thơ “Tin thì tin không tin thì thôi”. Tôi xin đọc bài thơ này thay cho lời kết thúc bài phát biểu của mình:

 

TIN THÌ TIN KHÔNG TIN THÌ THÔI

bốn lăm bậc thời gian dốc ngược
tôi đã vượt qua
em cách một sợi tơ
tôi đã không qua được

tin thì tin không tin thì thôi

tôi đã tới hang động yến sào tôi đã thèm ăn yến
vậy mà chưa được nếm bao giờ
hàng quốc cấm
nghe nói từ xưa làm vua sướng lắm
mà đôi khi tôi cũng sợ làm vua

tin thì tin không tin thì thôi

có anh hề đã nói với tôi
– đời thằng hề buồn lắm anh ơi
và tôi đã khóc

tin thì tin không tin thì thôi

nhưng tôi người cầm bút, than ôi
không thể không tin gì mà viết.

tin thì tin không tin thì thôi!

                                         1991

BELIEVE OR DON’T BELIEVE IT´S ALRIGHT

forty-five steps of time upside down
I have overcome
you are just a fine line of silk away
I have not overcome

believe or don’t believe its alright

I have come to the bird’s cave, I have longed to eat the bird’s nest
but I have not tasted
the national forbidden food
I have heard from old time it’s great to be king
but sometimes I am afraid to be king

believe or don’t believe its alright

there is a clown who told me
– a clown’s life is so sad, my brother
and I have cried

believe or don’t believe its alright

but me, a writer, oh dear
I can’t write without belief.

Believe or don’t believe its alright!

                                                 1991

 ( Nguồn: nhathonguyentrongtao…)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.03.2015

VĂN CAO VÀ CON ĐÒ HUẾ

VĂN CAO VÀ CON ĐÒ HUẾ

 Ngô Minh

  Huế là người đẹp muôn thuở của thi ca. Chỉ riêng hình ảnh cô ca sĩ  ca Huế trên sông Hương cũng đã có không biết bao nhiêu bài thơ hay. Tố Hữu có bài thơ “Tiếng hát sông Hương”, Xuân Diệu có “Nguyệt Cầm”, “ Lời kỹ nữ”, Thế Lữ có “ Nghe đàn nguyệt”,v.v.. Bài thơ “ Một đêm đàn lạnh trên sông Huế” của nhạc sĩ – nhà thơ – họa sĩ tài danh Văn Cao là một trong những bài thơ đặc sắc viết về Huế và ca Huế trên sông Hương.

   Bài thơ đưa ta lạc vào thế giới của vẻ đẹp thanh tao nơi bồng lai tiên cảnh.Trên con đò như tình yêu bồng bềnh trôi trên dòng sông thời gian vĩnh hằng, có đôi trai gái say sưa đàn hát bên nhau. Chàng trai dạo đàn cô gái hát , tiếng đàn hát như tiếng tơ đồng tri âm tri kỷ của Bá Nha Tử Kỳ. Nẩy nẩy tơ đồng nhịp nhịp đôi / Lòng nâng ngòn ngọt lại đầu môi / Này em hát khúc tương tư nhé / ngân khẽ em ơi nhẹ nhẹ lời . Đây là lúc cảm xúc đang ngập hồn chàng chàng nhạc sĩ. Anh nghe hồn mình cũng đang “nẩy nẩy .. nhịp đôi” . Một tình cảm mới đang nẩy chồi,bén lửa, đang âm ỉ : Này em hát khúc tương tư nhé!. Đề nghị hát nhưng lại sợ tiếng hát làm xao động, làm bay mất, tan biến mất cái cảm giác tình yêu ngọt ngào đang dâng lên ngòn ngọt đầu môi, nên chàng phải vội vàng đề nghị “ ngâm khẽ em ơi nhẹ nhẹ lời..”. Đoạn thơ đã nói rất tinh tế, rất hay tâm trạng của chàng nhạc sĩ si tình xứ Bắc trước người ca nữ xinh đẹp và phong cảnh nên thơ xứ Huế.

            Nhạc sỹ Văn Cao sinh năm 1923 ở Hải Phòng, mất ngày 10/7/1995 .Tuổi trẻ của ông theo học Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương, tự học âm nhạc, sáng tác nhạc và viết văn làm thơ từ rất sớm. Năm 1940, lúc chưa tới tuổi hai mươi ông  có chuyến đi vào Huế. Chuyến đi đã để lại dấu vết sâu đậm trong các sáng tác quan trọng của đời ông .Bài thơ “ Một đêm đàn lạnh trên sông Huế” ông sáng tác vào dịp này. Ngoài bài thơ ông viết bản nhạc “ Sông Hương”.Cả những bài hát nổi tiếng, đỉnh cao trong dòng nhạc lãng mạn Việt Nam như Thiên Thai Suối mơ, Trương Chi.. viết trong những năm từ 1941 đến 1943 của ông có nguồn gốc cảm hứng từ thành quách,sông nước con người Huế trong đợt đi quan trọng ấy.Sinh thời vào năm 1986, trong một lá thư gửi cho Tạp chí Sông Hương ở Huế ông tâm sự:” Huế là nguồn sáng tạo của tôi trong những năm 40. Thơ và nhạc là điều tôi tìm nguồn từ ấy. Có lẽ lịch sử và cảnh vật của Cố Đô có những điều gây cảm xúc cho sáng tạo. Đối với nơi đó người ta phải suy nghĩ nhiều không về lịch sử mà về một nền văn hóa. Những người Huế sống tự hào và đầy sáng tạo. Có lẽ sự sáng tạo của người dân Huế đã giúp tôi làm được âm nhạc và thơ”. Mùa xuân1987, Huế lại được đón Văn Cao. Ông được các nhà thơ Huế mời xuống đò nghe lại “ Một đêm đàn lạnh trên sông Huế”, xuống làng Chuồn uống rượu đêm trên thuyền đánh cá với ngư dân Phá Tam Giang . Và ông đã có thơ, vẫn một thứ thi pháp Văn Cao ám ảnh, diệu nghệ :

                                      Tôi níu lấy mảnh lưới

                                       Lưới là cái cuối cùng

                                       Đang hắt tôi xuống biển

          Thơ Văn Cao xuất hiện sau nhạc, nhưng thơ cũng mang lại cho ông những thành công không kém nhạc và họa. Thơ Văn Cao, cũng như lời ca trong các bản nhạc của ông thường rất lạ về chữ, về tứ. Cảm về Quy Nhơn, ông viết :” Trời xanh rơi vài giọt Tháp Chàm”! Viết về cái còn lại của Thời gian, ông kết rất ấn tượng bằng chất liệu của hội họa :” Riêng những câu thơ / còn xanh / Riêng những bài hát / còn xanh / Và đôi mắt em / như hai giếng nước.”. Trong bài thơ “Một đêm đàn lạnh trên sông Huế ”, ngay cả cách chọn vị trí chủ thể thẩm mỹ trong bài thơ của ông cũng khác các nhà thơ  đương thời. Tất cả các bài thơ viết con đò trên sông Hương về ca Huế, đàn Huế, tác giả đều ở vị trí người quan sát, nhìn và cảm về Huế như Người kỹ nữ, Nguyệt cầm của Xuân Diệu, Tiếng hát Sông Hương của Tố Hữu.v.v… Với Đêm đàn lạnh trên sông Huế , vị trí chủ thể thẩm mỹ là nhà thơ chính là người trong cuộc, người tham gia làm nên tiếng đàn Huế, cái đẹp Huế: Như Tử Kỳ nghe nhạc Bá Nha / Em nghe anh dạo khúc thu xa .. cùng với Giọng hát sầu chi phấn nữ ơi / Từng canh trời điểm một sao rơi / Trăng tà trăng lặn hiu hiu gió / Ánh lửa chài xa thấp thoáng trôi..  Cuộc đàn hát quên thời gian cho đến lúc Tay nhấn tơ chùng đã ngấm sương.. Dòng Tiêu Kim thủy gà xao xác..(Tiêu Kim thủy là một tên gọi khác của Sông Hương ).Tức là đàn hát cho đến khi trời sắp sáng, cho đến lúc Em cạn lời thôi anh dứt nhạc . Là người trong cuộc mới thốt lên một nhịp thơ lạ với câu thơ gợi hỏi hai lần : Sao đàn u hoài gì mùa thu? Sao đàn u hoài gì mùa thu. Ở đây chính tác giả đã nhận ra tiếng đàn của mình đã khác đi, mềm đi nhưng không lý giải được điều sâu kín gì đã biến tiếng đàn thành nỗi u hoài mùa thu day dứt!

            Khi lòng đã mềm đi, tiếng đàn đã mềm đi, khi hai tâm hồn đã tri âm ,đồng vọng thì đêm vàng cũng trở nên lạc lõng. Để đến lúc chia tay, mới biết đau nhói nỗi biệt ly: Em cạn lời thôi anh dứt nhạc / Biệt ly đôi phách ngó đàn tranh / Một đêm đàn lạnh trên sông Huế / Ôi nhớ nhung hoài vạt áo xanh. Đây là cao trào của bài thơ. Thì ra bài thơ không chủ ý tả tiếng đàn, đêm đàn mà sâu xa hơn nói về một tình yêu ngấm sương với đủ các cung bậc của nó, mà cuối cùng là nỗi nhớ mang theo suốt đời: Ôi nhớ nhung hoài vạt áo xanh

            Tại sao lại là “một đêm đàn lạnh” mà không phải là” một đêm đàn “trên sông Huế? Chữ “ lạnh” nói lên điều gì ? Chữ lạnh là tâm trạng của nhà thơ sau đêm đàn. Một đêm đàn đầy xúc động và giao cảm, đầy tri âm và đồng vọng. Đêm đàn đã thấm vào nhau. Nhưng rồi phải chia ly, mỗi người đều mang lạnh trong lòng.” Lạnh” đây là sự trống trải của nhớ nhung cao độ , là cái lạnh của tình yêu nồng cháy. Đó cũng chính là cái tứ mạnh và bền vững của bài thơ. Văn Cao là người Hải Phòng mới vào Huế lần đầu, nhưng thơ ông đã nồng nàn từ ngữ, âm điệu Huế, hồn Huế  !

            Đã gần 60 năm kể từ khi ra được viết ra, bài thơ “Một đêm đàn lạnh trên sông Huế” vẫn mang hơi ấm của cuộc sống hôm nay. Bài thơ gợi lên nhiều điều trong cảm xúc, cấu tứ và kỹ thuật ngôn từ. Con đò Huế,cô gái Huế ,ngón đàn ca Huế vẫn còn đó, đêm đêm lại cất lên bồng bềnh luyến láy  làm say lòng du khách.  Những đêm thấm đẫm văn hóa Huế ấy người yêu thơ lại nhớ đến nhà thơ tài, nhạc sĩ tài danh Văn Cao, trong hồn lại vang lên những câu thơ tha thiết :

                                Em cạn lời thôi anh dứt nhạc

                              Biệt ly đôi phách ngó đàn tranh

                             Một đêm đàn lạnh trên sông Huế

                             Ôi nhớ nhung hoài vạt áo xanh…

Đăng bởi: Ngô Minh | 16.03.2015

Về một cách tiếp cận mới Truyện Kiều (1)

Về một cách tiếp cận mới Truyện Kiều (1)

ĐỖ LAI THÚY

Trong một vài năm gần đây, nhiều nhà phê bình và nghiên cứu văn học đã có những cố gắng đáng kể để thoát ra khỏi tình trạng tiếp cận văn học một cách xã hội học có phần dung tục, hướng đến cách tiếp cận mới xuất phát từ đặc trưng của chính bản thân văn học. Một trong nhiều đường hướng nghiên cứu có triển vọng đó là phong cách học.

Ảnh: internet

Cuốn Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều của Phan Ngọc là công trình chuyên khảo đầu tiên ở ta vận dụng phong cách học một cách có hệ thống để nghiên cứu phong cách của một tác giả qua một tác phẩm tất nhiên không phải đến Phan Ngọc thì phong cách tác giả mới được nghiên cứu, nhưng những công trình trước ông thường chỉ dựa vào cái định đề nổi tiếng của G.Buy-phông(2): phong cách là con người (Le style, c‘est l‘homme), tuy hết sức đúng đắn nhưng vì quá khái quát, nên khi vận dụng vào giải quyết những trường hợp cụ thể thì thường dẫn đến tình trạng chung chung hoặc tùy tiện. Vốn là một nhà ngôn ngữ học, Phan Ngọc đã nhạy bén tiếp thu được những thành tựu mới mẻ nhất của bộ môn phong cách học hiện đại của ngôn ngữ học thế giới để nghiên cứu phong cách Nguyễn Du. Quan niệm về phong cách của ông nhờ thế có lý luận, có cơ sở khách quan của ngôn ngữ, lại được cụ thể hóa bằng hệ thống các thao tác và sự vận hành chúng, phong cách theo ông, là một cấu trúc hữu cơ của tất cả các kiểu lựa chọn tiêu biểu hình thành một cách lịch sử, và chứa đựng một giá trị lịch sử có thể cho phép ta nhận diện một thời đại một thể loại, một tác phẩm hay một tác giả. (tr.22), và phong cách học là khoa học khảo sát các kiểu lựa chọn và giá trị biểu cảm của các kiểu lựa chọn ấy. (tr.15)

Quan niệm phong cách là kiểu lựa chọn cho phép tác giả đối lập một cách triệt để cái đã được Nguyễn Du lựa chọn trong Truyện Kiều với những cái ông không lựa chọn (cái chuẩn của thời đại, cái mà những người sống trước ông, cùng ông đã chọn để tìm ra giá trị nghệ thuật của nó.

Đối lập lớn nhất mà Phan Ngọc thực hiện trong công trình của ông là sự đối lập Truyện Kiều với truyền thống văn học Trung Quốc thông qua sự so sánh tác phẩm của Nguyễn Du với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Bằng cách chỉ ra những ứng xử nghệ thuật riêng của Nguyễn Du, ông đã chứng minh được một cách khoa học rằng Truyện Kiều không phải là một bản dịch ra thơ một tác phẩm văn xuôi của Trung Quốc mà là một sáng tạo độc đáo của văn học Việt Nam và của cá nhân Nguyễn Du. Đọc những trang phân tích chí lý của ông, chúng ta không còn thấy tiếc là một thiên tài như Tố Như mà không đưa được vào tác phẩm của mình bóng dáng một cây tre để cho có tính chất dân tộc, như một nhà thơ có tiếng trước đây đã than phiền(!).

Thiên tài Nguyễn Du đã cải biến câu chuyện tình và khổ nhàm chán thành câu chuyện của tài và mệnh vốn giàu chất triết lý và đang trở thành một kinh nghiệm nhân sinh sâu sắc của thời đại ông. Viết Truyện Kiều, Nguyễn Du đã phải chống lại cả cái áp lực của truyền thống tiểu thuyết chương hồi thiên về mưu mô và hành động với lối kết cấu xâu chuỗi những yếu tố độc lập để tạo ra một hướng đi mới: tiểu thuyết tâm lý với phương pháp phân tích tâm lý tàn nhẫn. Truyện Kiều, nhờ thế, đã trở thành một cuốn sách của một nghìn tâm trạng có sức mê hoặc lòng người. Và cũng nhờ thế mà toàn bộ hệ thống thi pháp Truyện Kiều cũng rẽ sang một nẻo khác, mới mẻ hơn chẳng những so với tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc mà cả với truyền thống truyện thơ nôm Việt Nam với bố cục của kịch, phương pháp tự sự không khách quan chủ nghĩa, nhân vật ngồi một mình… và sự xuất hiện của các phạm trù văn học mới như ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ nhân vật, ngôn ngữ thiên nhiên…

Đối lập lớn thứ hai của Phan Ngọc là so sánh Truyện Kiều với các truyện thơ và ngâm khúc của thời đại ông để chỉ rõ thêm cái bước đổi mới mà Nguyễn Du đã làm được trong nghệ thuật của mình. Đó là xu hướng dân chủ hóa trong nội dung tư tưởng, trong thể thơ, trong ngôn ngữ của Truyện Kiều. Xuất thân trong một gia đình quý tộc nòi, được đào luyện trong dòng văn chương bác học từ tấm bé, Nguyễn Du đủ sức viết lên những câu thơ kinh người với lối kiến trúc đối xứng, điêu khắc kỳ khu kiểu Cung oán ngâm khúc. Nhưng ông đã từ bỏ con đường đó để đến với tiếng nói của những người trồng dâu và trồng gai, để viết lên Truyện Kiều. Phan Ngọc đã gọi một cách rất đúng ứng xử đó của Nguyễn Du là hành động của con cá chép nhả bỏ viên ngọc quý để sức vượt vũ môn hóa rồng. Tuy vậy, con rồng đó vẫn mang bộ da có vảy cá chép, bởi vì “các nghệ sĩ thời quân chủ chỉ múa có một tay, một tay họ bị buộc chặt vào truyền thống (tr. 266). Có hiểu được sự trói buộc của thời đại như vậy chúng ta mới thấy hết được cái thống nhất trong sự mâu thuẫn của nghệ thuật Nguyễn Du: Chỗ này thì ước lệ, cổ điển, chỗ kia thì sinh động, hiện thực… Nhưng điều đáng nói là trên cái vũ đài chật hẹp đó, Nguyễn Du đã múa rất đẹp, và nhiều vũ điệu của ông đã đi trước thời đại, vượt thời gian.

Không dừng lại ở chỗ chỉ ra phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, Phan Ngọc còn tiến thêm một bước nữa là lý giải nó bằng những cơ sở kinh tế – xã hội và lịch sử văn hóa của thời đại bấy giờ. Nhân tố cơ bản, theo ông, là sự xuất hiện của tầng lớp thương nhân phong kiến trên cơ sở phát triển nội, ngoại thương thời Trịnh – Nguyễn. Đồng tiền thương nghiệp đã dần dà phá vỡ các khuôn mẫu nho giáo và tư tưởng công xã nông thôn để tạo nên một quan niệm sống mới – lối sống thị dân, và con người tài tử trở thành nhân vật trung tâm của thời đại thay thế cho kiểu người quân tử của thời đại trước. Bằng những tri thức sâu rộng có tính chất liên ngành, bằng một ngôn ngữ sôi nổi, đầy hứng khởi, lập luận sắc bén, Phan Ngọc đã thuyết phục được bạn đọc ở nhiều luận điểm.

Tuy nhiên, đọc Tìm hiểu… bạn đọc luôn rơi vào thế lưỡng đối gay gắt. Một mặt, bị thuyết phục bởi những khám phá mới mẻ, những ý tưởng lóe sáng của tác giả, mặt khác, “lý trí lành mạnh” của bạn luôn phản ứng chống lại những cực đoan máy móc mà tần số xuất hiện của chúng đậm đến nỗi tạo ra cái có thể gọi là “phong cách Phan Ngọc”. Giải phẫu cái cực đoan máy móc đó, của Phan Ngọc chúng tôi thấy nguyên nhân của nó, một mặt, chủ yếu ở những vấn đề có tính chất học thuật chưa được giải quyết sai lầm, mặt khác, phần nào ở cá tính của nhà nghiên cứu.

Lý thuyết về phong cách do Phan Ngọc trình bày là dựa trên cơ sở của ngôn ngữ học hiện đại. Đó chính là phong cách của ngôn ngữ văn học. Vậy mà ông đã vận dụng nó như là phong cách văn học, phong cách nghệ thuật, thậm chí cả phong cách đời sống là những lĩnh vực rõ ràng khác biệt nhau mà chưa giải quyết được về mặt lý luận tại sao lại có thể “vượt biên” như vậy được, tại sao lại có thể “mổ trâu bằng dao giết gà” như vậy được, phải chăng ngôn ngữ văn học, nghệ thuật đồng nhất với nhau ở bản chất ký hiệu hay tính hệ thống của chúng? chính vì sự “bỏ trắng” đó mà việc sử dụng phong cách học của Phan Ngọc chỉ đặc biệt thành công, hoàn chỉnh ở những chương có liên quan đến ngôn ngữ học như Ngôn ngữ Truyện Kiều, Câu thơ Truyện Kiều, Ngữ pháp Nguyễn Du hoặc ở nhưng chương phân tích về phương pháp tự sự, đặc điểm thể loại và bố cục của Truyện Kiều. Còn ở những chương bàn về tư tưởng hoặc nhận thức luận Truyện Kiều thì phong cách học tỏ ra lúng túng, gò ép hay sa vào máy móc cực đoan. Ví như phong cách học buộc Phan Ngọc phải chứng minh bằng được tư tưởng tài mệnh tương đối do bản thân Nguyễn Du sáng tạo ra thì thao tác lựa chọn đó mới có giá trị. Thế là tác giả phải lao vào chứng minh một điều không thể chứng minh được đó, đơn giản chỉ vì ông không tài nào dù thời gian đọc hết được thiên kinh vạn quyển sách cổ Trung Quốc và kinh Phật để cả quyết rằng Nguyễn Du không hề vay mượn tư tưởng này ở đâu cả. Thực ra trong giao lưu văn hóa, chuyện vay mượn tư tưởng là bình thường. Điều quan trọng là biến được một tư tưởng vay mượn, mòn sáo thành tư tưởng máu thịt ấm nồng hơi thở của bản thân mình và thời đại mình. Nguyễn Du đã làm được như vậy, và, với ý nghĩa đó, tài mệnh tương đối là tư tưởng của ông. Nếu cứ cố chấp mà chứng minh như vậy, e rằng trong khi chống chủ nghĩa Châu Âu trung tâm, Trung Quốc trung tâm lại sa vào tư tưởng Việt Nam trung tâm, thậm chí “Nguyễn Du trung tâm”. Hoặc nói Truyện Kiều là cuốn sách của ngàn tâm trạng thì rất hay, nhưng tiến thêm một bước nữa để khái quát văn học Việt Nam là văn học tâm trạng đối lập với văn học Trung Quốc và Ấn Độ là những nền văn học của những hình tượng kỳ vỹ thì cần phải thận trọng hơn. Tóm lại, khi áp dụng phong cách học vào văn học, một khi không đủ các dữ kiện khách quan, tác giả phải cầu viện đến các suy đoán chủ quan, đôi khi cả các uy tín chính trị, thì dẫn đến cực đoan, máy móc.

Cơ sở của thao tác luận của Phan Ngọc là ở chỗ ông coi quá trình sáng tạo văn học như là một quá trình sản xuất vật chất. Từ đó ông phân giải quá trình sáng tạo ra thành những thao tác lựa chọn giản đơn để nghiên cứu. Điều đó không có gì là sai lầm, nếu ông không đồng nhất hai quá trình đó với nhau. Làm như vậy, Phan Ngọc đã phá vỡ đặc trưng của văn học, đồng nhất sản phẩm sản xuất vật chất là thứ sản phẩm hàng loạt, phi cá tính với tác phẩm văn học là sản phẩm có tính chất duy nhất, in đậm dấu ấn của chủ thể sáng tạo, xét cho cùng, như vậy là vô hình dung Phan Ngọc đã phủ nhuận luôn cả lý do tồn tại của chính công trình của ông: tìm hiểu phong cách tác giả – chủ thể sáng tạo.

Cũng cần phải nói rõ là nhà phong cách học có quyền căn cứ vào tác phẩm như là kết quả cuối cùng của một quá trình sáng tạo để phân giải nó ra thành các thao tác lựa chọn nhằm hiểu sâu giá trị nghệ thuật của tác phẩm, nhưng trong thực tế sáng tác thì nhà văn tiến hành lựa chọn (tức sáng tác) chủ yếu bằng trực giác nghệ thuật chứ không kinh qua chuỗi lựa chọn duy lý như nhà nghiên cứu đã phân tích. Bởi thế nên tác phẩm văn học mới truyền được cho bạn đọc một sự tiếp nhận tức thì và trọn vẹn, và đồng thời không phải ai học được các thao tác nghệ thuật cũng tạo ra được tác phẩm nghệ thuật. Nếu gạt bỏ trực giác thì nghệ thuật khác gì thủ công, viết một tác phẩm văn học khác gì giải một bài toán. Đòi viết một thứ lịch sử văn học như lịch sử khoa học tự nhiên, tức là giai đoạn sau tiến bộ hơn giai đoạn trước, nhà thơ sau Nguyễn Du phải hơn Nguyễn Du, Phan Ngọc chẳng những đã máy móc coi văn học như khoa học mà còn cưỡng lại thực tế lịch sử của chính văn học.

Sau cùng, những cực đoan máy móc của Phan Ngọc, một mặt, do bản thân phương pháp nghiên cứu cứ phải quy tác phẩm vào một sơ đồ ít nhiều tiên nghiệm, mặt khác, do bản tính con người của tác giả. Người đọc có cảm tưởng rằng con người nghiên cứu trong Phan Ngọc đôi khi bị lấn át bởi con người tư tưởng trong ông, mà nhà tư tưởng thì vốn dĩ thích đẩy các ý tưởng, các suy nghĩ đến tận cùng và thể hiện chúng ra bằng các hình thái gây ấn tượng nhất. Cho nên, mặc dù có phương pháp khách quan, mong muốn khách quan, Phan Ngọc vẫn luôn luôn vi phạm cái bước duy nhất từ khách quan sang chủ quan. Nhiều chỗ tác giả đang phân tích rất khách quan thì bỗng như lạc ở đâu vào những câu bình luận rất chủ quan không ăn nhập gì với tình thế lô gích của lập luận. Như đang nói về hệ thống thi pháp của thơ mới thuộc phạm trù ý hệ tư sản tiến bộ hơn thơ luật thuộc phạm trù ý thức hệ phong kiến thì tác giả bỗng chen vào một bình luận không đâu “chính điều đó mới là cái cơ bản, cái đẩy họ tức là các nhà thơ mới) đến với cách mạng một cách khá thoải mái” (tr. 218). Thế là ông đã lẫn lộn văn học với chính trị. Vì thị hiếu thẩm mỹ và chính kiến chính trị không phải bao giờ cũng song hành với nhau. Hoặc đương phân tích rất hay về bố cục theo dạng kịch của Truyện Kiều thì ông lại hạ một câu rất cực đoan “Loài người vẫn tìm thấy ở đây (tức ở kịch) vô số những lời giải đáp cho vô số trường hợp trong cuộc đời của họ, tính tư tưởng của nó (tức của kịch) cao hơn hẳn mọi thể loại khác” (tr.183).

Những câu bình luận chủ quan, nhưng triết luận ngoại đề, những khái quát non… như vậy của Phan Ngọc, dẫu sao, cũng đã tạo nên một phần đặc sắc của cuốn sách. Nó đặt ra nhiều vấn đề rất đáng được bàn bạc, thảo luận như cá tính nhà phê bình nên thể hiện như thế nào trong công trình nghiên cứu, đâu là sự tiếp giáp giữa phê bình và sáng tác, nghiên cứu văn học cổ gắn với những nhu cầu bức xúc của thời đại như thế nào… Tuy nhiên, trong một công trình mà tác giả lấy tính khách quan làm mục đính như Tìm hiểu… thì đó là một khuyết điểm đáng phải nêu ra.

Tóm lại, Tìm hiểu… với tính cách là một cuốn sách mở đường cho một hướng tiếp cận văn học mới đã có nhiều đóng góp hết sức quý báu, nhiều gợi ý sâu xa, còn những nhược điểm của nó thì lại thuộc vào loại nhược điểm tạo ra được những phản đề thách đố sự suy nghĩ của người đọc. Dĩ nhiên khác với thưởng thức một tác phẩm văn học, đọc một công trình nghiên cứu mà bị buộc phải làm một “đồng sáng tạo” như vậy thì quá mệt, nhưng một khi lật lại được những phản đề đó thì bạn đọc bỗng thấy mình hiểu sâu sắc hơn vấn đề tác giả đang đề cập đến, năng lực tư duy của bạn được nâng cao hơn, sự khó nhọc được đền bù…

5.1987
Đ.L.T

——————
(1) Phan Ngọc – Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều – Khoa học xã hội, 11.1985
(2) G. Buy-phông (1707-1788), nhà văn, nhà tự nhiên học, người Pháp tác giả công trình “Luận về phong cách” nổi tiếng.

( Nguồn: TC SH)

 

 MUỐN ĐỔI MỚI THƠ

 

GS Tương Lai

Bài phát biểu của giáo sư Tương Lai tại lễ tưởng niệm Gạc Ma 14.3.15

Thưa các anh chị, các bạn,

Tôi vốn không định phát biểu mà nhường vinh dự thực hiện nghĩa vụ công dân hôm nay cho một anh chị khác. Nhưng, các bạn đã quyết định trao cho tôi vinh dự thực hiện nghĩa vụ công dân trong lễ tưởng niệm các chiến sĩ đã hy sinh tại Gạc Ma ngày 14.3.1988 tôi xin mạo muội thay mặt cho những người yêu nước có mặt hôm nay nói lên lòng biết ơn vô hạn với 64 liệt sĩ đã anh dũng hy sinh tại Gạc Ma, chống lại bọn Trung Quốc xâm lược.

  Máu của các anh đã nhuộm đỏ nước Biển Đông, dù ai đó có muốn làm mờ nhạt đi cũng không sao che được hình ảnh liệt sĩ Trần Văn Phương quyết giữ chặt cờ Tổ quốc, đã tự quấn lá cờ quanh thân mình, ưỡn ngực ra trước họng súng của kẻ thù đang nã đạn vào mình và đồng đội. Hình ảnh của chỉ huy tàu HQ 604 Vũ Huy Trừ, Lữ đoàn phó Trần Văn Thông, chỉ huy tàu Vũ Huy Lễ, người ra lệnh cho đồng đội lao thẳng lên bãi cát đảo Colin quyết hy sinh giữ đảo. Máu các anh đã loang trên Biển Đông. Máu người đâu phải là nước lã, máu các anh đã hòa vào nước biển, vỗ vào bờ biển Việt Nam, vỗ vào trái tim của mỗi người Việt Nam yêu nước.

Ai dám ngăn cản nhịp đập của trái tim yêu nước của các liệt sĩ đang hòa cùng nhịp đập của những trái tim Việt Nam? Vì thế chúng ta có mặt ở đây hôm nay. Cũng dịp này, hôm qua tại Khánh Hòa đã tổ chức lễ đặt viên đá đầu tiên xây đài tưởng niệm “Những người đã ngã xuống phía chân trời” để đời đời ghi nhớ những người con thân yêu của Tổ quốc đã hy sinh vì chủ quyền thiêng liêng của tổ quốc.

Những người đứng lại ở phía chân trời” đang nhắn nhủ, nhắc nhở chúng ta: kẻ thù đang thực hiện “chiến lược đảo nhân tạo” với lời tuyên bố ngạo ngược và trắng trợn của Vương Nghị, bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc: những công trình xây dựng của chúng là xây trên sân nhà chúng, không ai có quyền can thiệp. Đây là một thách thức mới đối với ‎ý chí Việt Nam, với truyền thống tự tôn dân tộc, phẫn nộ với chiến lược Biển Đông của Trung Quốc.

Xin nhắc ngài ngoại trưởng họ Vương, không hiểu ngài có phải là hậu duệ của Vương Thông, viên tướng chỉ huy quân xâm lược nhà Minh thế kỷ XV đã bị đánh cho tan tác kinh hồn bạc vía không? Dù có hay không cũng xin mời ngài nghe những lời Nguyễn Trãi trong “Đại Cáo Bình Ngô“: “Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển chưa thôi trống ngực. Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến Tàu còn đổ mồ hôi. Nó đã sợ chết cầu hòa, ngỏ lòng thu phục; ta muốn toàn quân là cốt, cả nước nghỉ ngơi“. Điều ấy nói lên rằng, hòa hiếu, hòa bình luôn là mong muốn của ông cha ta suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước.

Nhưng ngoại giao hòa hiếu không thể thực hiện nếu không có khí phách của tinh thần bất khuất như sứ thần Đỗ Khắc Chung đã trả lời viên tướng Ô Mã Nhi khi y hạch sách về hai chữ “Sát Thát” được khắc trên cánh tay tướng sĩ Việt Nam: “vì lòng trung phẫn mà họ tự thích chữ lên cánh tay, vua của tôi không biết việc đó. Tôi là trung thần, sao không có” nói đoạn, vén áo chìa cánh tay có hai chữ Sát Thát cho Ô Mã Nhi xem. Viên tướng xâm lược sau đó nói với tả hữu rằng “không nhục mệnh vua, chúng nó còn người giỏi, người tài, ta chưa dễ mưu tính được“, rồi sai người đuổi theo bắt để giết đi nhưng không kịp.

Để thấy rằng suốt mấy nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, ông cha ta có thừa kinh nghiệm đối phó với kẻ thù vì hiểu rất rõ chúng. Rõ ràng là một quá khứ gần và một quá khứ xa đang dồn dập tái hiện và hòa quyện vào trong thời điểm hiện tại của chúng ta. Quá khứ xa là tôi nói về cuộc chiến đấu của ông cha ta ở thế kỷ XIII, XV. Quá khứ gần là trận chiến ở Gạc Ma ở Trường Sa năm 1988 và trước đó là hải chiến Hoàng Sa năm 1974, tiếp theo là các cuộc chiến đấu đẫm máu chống quân xâm lược Trung Quốc trên nhiều trận tuyến.

Biển Đông đang dậy sóng. Chúng ta không thể nào ngồi yên, vì thế hôm nay chúng ta quy tụ lại ở đây. Để làm gì? Chỉ có một mục tiêu: Giương cao ngọn cờ yêu nước chống kẻ thù xâm lược, hỗ trợ cho những ai đang cùng chúng ta kiên quyết đấu tranh vạch trần mọi thủ đoạn của kẻ thù xâm lược.

Tôi nghĩ rằng, lòng yêu nước có nhiều cách biểu hiện, tuy nhiên, bao giờ chúng ta cũng lựa chọn con đường ôn hòa, con đường thuyết phục. Chính nghĩa nhất định thắng phi nghĩa, vì thế, thuyết phục để làm chuyển biến những đầu óc đang còn lú lẫn, ngu muội cả tin vào những lời đường mật của kẻ thù. Chỉ ra rằng không thể mơ hồ khi mà những toan tính của kẻ thù xâm lược đang rất trắng trợn chẳng hạn như “chiến lược đảo nhân tạo” của chúng. Không chỉ đe dọa chủ quyền lãnh thổ mà trước hết là buộc Việt Nam phải khuất phục để chúng thực hiện mưu đồ độc chiếm Biển Đông. Vì vậy, chúng ta ở đây phải hết sức cảnh giác và chúng ta kêu gọi mọi người phải cảnh giác với hành động mới của Trung Quốc ở Biển Đông.

Chính vì thế, Đài “Tưởng niệm những người đứng lại phía chân trời” phải thực hiện sứ mệnh cảnh giác đó. Cũng vì vậy, chúng hoan nghênh phát biểu của Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao Động Việt Nam tại buổi lễ nói trên: “Đây là công trình tưởng niệm của toàn dân tộc“. Cả dân tộc nhớ đến những người đã ngã xuống ở Gạc Ma tại Trường Sa, đã hy sinh trong trận hải chiến Hoàng Sa và trên Biển Đông để rồi đây còn phải đối phó với những âm mưu, thủ đoạn mới của kẻ thù. Tất cả những điều đó đòi hỏi chúng ta phải kết làm một, gắn bó với nhau vì một tiêu chống kẻ thù xâm lược. Đó là mục tiêu cao cả nhất vào lúc này, phải biết gạt bỏ những khác biệt đẻ hướng vào mục tiêu chung đó.

Nhân hôm nay, tôi kêu gọi mỗi chúng ta sẽ tham gia vào việc góp đá xây dựng tượng đài tưởng niệm ấy, và tôi xin thực hiện ngay phần đóng góp nhỏ nhoi của mình thêm một viên đá ấy.

Đề nghị bà con, anh chị em chúng ta để một phút mặc niệm những chiến sĩ đã hy sinh ở Trường Sa, ở Hoàng Sa, những người đã ngã xuống ở phía chân trời, máu của họ đã nhuộm đỏ Biện Đông. Phút mặc niệm bắt đầu.

Xin cám ơn.

 

Từ hải chiến Hoàng Sa (1974), Trường Sa (1988) đến căng thẳng ở Biển Đông hiện nay – Đôi điều về chiến lược biển của Trung Quốc và ứng phó của Việt Nam

  •   Hồ Khang

 

Hải chiến Hoàng Sa 1974 Hải chiến Hoàng Sa 1974

Nhìn từ lịch sử tới hiện tại, một điều dễ nhận thấy rằng, Trung Quốc luôn theo đuổi một chính sách nhất quán: Trỗi dậy, vươn lên trở thành một nước có địa vị thống trị thế giới. Trên con đường tiến tới tới “giấc mơ hoang”, Biển Đôngluôn chiếm giữ một vị trí quan trọng,không đơn thuần là công cụ, mà còn là yếu tố khẳng định giá trị, sức mạnh Trung Quốc – yếu tố nhận dạng quốc gia.Trung Quốc đặt mục tiêu sở hữu bằng được các quyền lợi sống còn của Biển Đông, nhằm mở rộng”không gian sinh tồn”, cương vực hoạt động, tạo thêm sức mạnh trong cán cân quyền lực ở châu Á – Thái Bình Dương và giải quyết các vấn đề liên quan đến nguồn lực trước sức ép phát triển.

1-Nhìn lại lịch sử

Việc tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Trung Quốc đối với Việt Nam có lịch sử từ trước khi Việt Nam – Trung Quốc đặt quan hệ ngoại giao chính thức. Năm 1909, Trung Quốc bắt đầu có tranh chấp quần đảo Hoàng Sa; năm 1930 tiến đến tranh chấp quần đảo Trường Sa.

Từ thế kỷ XVII, Triều đình phong kiến Việt Nam đã làm chủ hai quần đảo đó và cho đến đầu thế kỷ XX, không có bất kỳ nước nào tranh chấp chủ quyền tại đây. Đầu năm 1907, Nhật Bản chiếm Đông Sa (Pratas) khiến cho các nhà cầm quyền miền Nam Trung Quốc quan tâm đến các đảo trên biển Đông. Năm 1921, Chính quyền miền Nam Trung Quốc ra quyết định sát nhập quần đảo Hoàng Sa (mà họ gọi là Tây Sa) vào đảo Hải Nam. Từ đó có sự tranh chấp giữa Trung Quốc và Pháp về chủ quyền trên quần đảo Trường Sa. Năm 1935, lần đầu tiên Trung Quốc chính thức công bố một bản đồ coi cả 4 quần đảo trên biển Đông của là của Trung Quốc.

Đến năm 1939, Hoàng Sa và Trường Sa bị biến thành căn cứ hải quân của Nhật trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Lợi dụng tình hình thực dân Pháp rút khỏi Đông Dương và Việt Nam chưa tiếp quản hai quần đảo, năm 1956, CHND Trung Hoa cho quân đội ra chiếm đóng nhóm phía Đông quần đảo Hoàng Sa; Đài Loan cho quân đội ra chiếm đảo Ba Bình trên quần đảo Trường Sa.

Sau Hiệp định Geneva 1954, Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền, vĩ tuyến 17 là ranh giới quân sự tạm thời. Theo vị trí địa lý, các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều nằm dưới vĩ tuyến 17, do đó, các đảo này thuộc chủ quyền và sự quản lý hành chính của Chính quyền Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Ngày 13-7-1961, Chính quyền Nam Việt Nam ký Sắc lệnh số 174-NV, đặt quần đảo Hoàng Sa thuộc quản hạt hành chính tỉnh Quảng Nam (thay tỉnh Thừa Thiên). Ngày 13-7-1971, Ngoại trưởng Chính quyền Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên bố rằng, từ lâu đời, quần đảo Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam. Ngày 15-7-1971, Bộ Ngoại giao Chính quyền Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra thông cáo tái xác nhận chủ quyền chính đáng trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 6-9-1973, Tổng trưởng Nội vụ Chính quyền Cộng hòa miền Nam Việt Nam ký Nghị định số 420/BNV/HCĐP/26 sáp nhập một số đảo của quần đảo Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy (Đồng Nai).

Từ năm 1973, Philippines tăng cường sự hiện diện ở khu vực Trường Sa, cònChính quyền Cộng hòa miền Nam Việt Nam cũngcó những động thái tích cực trong xác định chủ quyền và khai thác tài nguyên. Trong khi đó, tháng 1-1973, Hiệp định Paris lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, Mỹ rút quân khỏimiền NamViệt Nam để lại một “khoảng trống quyền lực. Chớp thời cơ, tháng 1-1974, Trung Quốc cho lực lượng ra chiếm đóng và cắm cờ tại các đảo. Để bảo vệ chủ quyền, Chính quyền Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã có những động thái kiên quyết (yêu cầu Trung Quốc dừng các hoạt động phi pháp, họp báo phản đối, điều quân nhổ bỏ cờ Trung Quốc trên các đảo của Việt Nam, cho quân đội chiếm lại các đảo….). Cuộc chiến Hoàng sa đã diễn ra hết sức quyết liệt, Trung Quốc quyết tâm tận dụng cơ hội nhằm tạo chỗ đứng vững chắc hơn ở Biển Đông, cuộc chiến này như mô tả của Tân Hoa Xã (2009), do đích thân Mao Trạch Đông phê chuẩn, còn Chu Ân Lai và Diệp Kiếm Anh trực tiếp chỉ đạo. Huy động lực lượng áp đảo, kích động tinh thần tử chiến, cuối cùng Trung Quốc đã chiếm nốt phần còn lại quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, đặt chân vào bờ cõi của Việt Nam.

Sau đó một thời gian ngắn (từ tháng 6-1974), Bắc Kinh tiếp tục lấn tới trong những yêu sách về Biển Đông: Đòi phần lãnh thổ kéo dài trong vòng 20 dặm dọc theo hầu hết toàn bộ bờ biển Việt Nam cho tới bờ biển Xa-oắc của Malaixia.  Tháng 4-1983, Trung Quốc đặt lại tên cho các đảo, đá, bãi cạn thuộc quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và sát nhập hai quần đảo vào địa phận Hải Nam (Trung Quốc).

Tháng 3-1988, Trung Quốc có hành động quyết liệt hơn, gây ra cuộc hải chiến đẫm máugần cụm đảo Sinh Tồn (quần đảo Trường Sa), tấn công các đảo Gạc Ma, đá ngầm Cô Lin, Len Đao. Trung Quốc hạ lệnh bắn thẳng vào những chiến sĩ Việt Nam đang hòa bình xây dựng đảoGạc Ma. Từ ngày 14 đến ngày 16-3-1988, lực lượng Hải quân Việt Nam anh dũng trụ bám, quyết bảo vệ lãnh hải, chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Với lực lượng hùng hậu hơn hẳn, ngày 16-3-1988, Trung Quốc cưỡng chiếm Gạc Ma và chiếm đóng đến tận ngày hôm nay. Việt Nam giữ vững bãi đá ngầm Cô Lin. Trung Quốc đã bắn cháy, đánh chìm ba tàu của Việt Nam, 64chiến sĩ hy sinh, 11chiến sĩkhác bị thương, bắt giữ9 chiến sĩ khác (sau đã trao trả cho Việt Nam).

Ngay trong ngày 14-3-1988, Bộ Ngoại giao Việt Nam ra Tuyên bố, nêu rõ: “Sáng ngày 14-3-1988, các tàu chiến của Trung Quốc đang hoạt động trái phép ở vùng biển quần đảo Hoàng Sa đã ngang nhiên nổ súng vào hai tàu vận tải của Việt Nam đang hoạt động bình thường ở bãi đá ngầm Gạc Ma thuộc khu đảo Sinh Tồn. Tàu của ta đã buộc phải nổ súng để tự vệ. Trong khi đó họ lại đổi trắng thay đen vu cáo tàu của Việt Nam khiêu khích vũ trang tàu chiến của Trung Quốc”[1]. Thay mặt nhân dân và Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ Ngoại giao “kiên quyết lên án hành động khiêu khích quân sự của nhà cầm quyền Trung Quốc. Chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam một lần nữa khẳng định chủ quyển của mình đối với quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa”[2]; đồng thời yêu cầu “nhà cầm quyền Trung Quốc phải chấm dứt ngay các hành động khiêu khích quân sự, rút ngay các tàu chiến của họ ra khỏi vùng biển thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam”[3].Ngày 15-3-1988, Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi công hàm phản đối Trung Quốc, “nghiêm khắc lên án những hành động sai trái của phía Trung Quốc…”. Các tờ báo của Việt Nam như Nhân dân, Quân đội nhân dân, Lao động, Tuần tin Thanh niên… đồng loạt lên tiếng. Quốc tế lập tức có phản ứng đối với việc Trung Quốc đánh chiếm và chiếm đóng trái phép biển đảo của Việt Nam. Hãng tin Pháp AFP, áo Thụy Điển Xvenxca Đac-blađet, hời báo Ấn Độ, đài tiếng nói Hoa Kỳ…đều có bài, tin tức về vụ việc.

Tuy nhiên, bất chấp dư luận, Trung Quốc tiếp tục hành động. Tháng 4-1988, khi quân đội Việt Nam đang tiến hành xây dựng trên bãi đá Len Đao, với ý đồ lặp lại kịch bản Gạc Ma, Trung Quốc đưa bảy tàu chiến và nhiều xuồng nhỏ bao vây uy hiếp, hòng cưỡng chiếm thêm bãi đá này. Được chuẩn bị kỹ để đối phó với tình huống, 7 máy bay chiến đấu của Việt Nam lập tức cất cánh, hỗ trợ các chiến sĩ hoàn thành nhiệm vụ xây dựng đánh dấu chủ quyền trên bãi đá. Tàu chiến của Trung Quốc hoảng sợ tản ra và không dám nổ súng, Việt Nam hoàn thành nhiệm vụ, kết thúc xây dựng trên  bãi đá Len Đao.

Sau sự kiện 14-3-1988, Chính phủ Việt Nam đã nhiều lần gửi công hàm phản đối đến Bắc Kinh (Công hàm ngày 17 và 23, 26 tháng 3-1988), đề nghị Trung Quốc cử đại diện đàm phán, thương lượng để giải quyết những bất đồng liên quan đến quần đảo Trường Sa, cũng như những vấn đề tranh chấp khác về biên giới và quần đảo Hoàng Sa; đề nghị Trung Quốc trong khi chờ giải quyết tranh chấp, hai bên không dùng vũ lực và tránh mọi đụng độ để tình hình không phát triển xấu thêm. Việt Nam cũng thông báo cho Liên Hợp Quốc về tình hình này, tuy nhiên, phía Trung Quốc khước từ thương lượng, giữ quan điểm về “chủ quyền không thể tranh cãi” của mình đối với quần đảo Trường Sa (Nam Sa).

Nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải, Ngày 17- 10 -1988, Đảng cộng sản Việt Nam ra Nghị quyết 19/NQ-TƯ Về việc bảo vệ khu vực bãi ngầm trong thềm lục địa phía Nam; ngày 5-7-1989, Thủ tướng chính phủ ra chỉ thị số 180UT về việc xây dựng cụm dịch vụ kinh tế – khoa học – kỹ thuật thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xác định lại chủ quyền Việt Nam đối với khu vực thềm lục địa khu vực này. Từ năm 1989, Hải quân Việt Nam củng cố lực lượng, tuần tra, canh gác, xây dựng đánh dấu chủ quyền trên các đảo, bãi đá Trường sa.

2-Trung Quốc leo thang ở Biển Đông và hệ lụy

Chiếm một số đảo và bãi đá của Việt Nam năm 1988, Trung Quốc  chính thức đặt chân vào Trường sa – điều mà trước đó Trung Quốc luôn nhắm tới và quyết tâm thực hiện bằng được. Tuy nhiên, bấy nhiêu đó chưa là đủ với Trung Quốc,vị trí địa- kinh tế, địa quân sự và địa- chính trị vô cùng quan trọng của Hoàng Sa, Trường Sa và quá khứ 7 lần bị xâm lăng từ biển cũng như tham vọng lãnh thổ lãnh hải vốn ăn sâu trong máu thịt Trung Hoa khiến Trung Quốc không ngừng gia tăng leo thang trên Biển Đông.

Để thực hiện mục tiêu, Trung Quốc sử dụng nhiều chiến thuật khác nhau như “vết dầu loang”, “tằm thực”, “cắt lát salami”, “bóc cải”…, lấn dần từng bước theo kiểu “gặm nhấm Biển Đông”, tránh tạo ra các bất ổn phá vỡ mối quan hệ với ASEAN và tránh thúc đẩy Mỹ quay trở lại khu vực. Cùng với thời gian, các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông ngày càng quyết liệt hơn, nhất là từ thập niên 90 (XX) đến thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI – thời kỳ Trung Quốc coi là then chốt, dịp may lịch sử để giải quyết “cơn khát” lãnh hải. Cùng với sức mạnh tổng hợp tăng lên nhanh chóng khiến khoảng cách về kinh tế, quân sự, quốc phòng trong tương quan với Mỹ dần thu hẹp, Trung Quốc ngày càng “tự tin” hơn trong các động thái leo thang có tính toán ở Biển Đông, chuyển từ “giấu mình chờ thời” sang cạnh tranh trực diện, lợi dụng mọi cơ hội để thay đổi luật chơi. Từ năm 2009, Trung Quốc khẳng định yêu sách đường lưỡi bò, tăng cường các hoạt động trấn áp các quốc gia khác, khảo sát địa chấn, khoan tìm dầu khí trong các khu vực nước sâu ở lãnh hải và thềm lục địa của các quốc gia láng giềng. Nguy hiểm hơn, Trung Quốc cắt cáp tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam, buộc tàu thăm dò của Philipin phải rút ra khỏi Bãi Cỏ rong (Reed Bank), công khai mời thầu các lô dầu khí nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, áp đặt các lệnh cấm đánh bắt cá ở Biển Đông vào mùa đánh bắt cao điểm, kéo dài lệnh cấm đánh bắt. Trung Quốc nã súng vào một số thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam trong vùng biển gần Trường Sa, dùng  tàu ngư chính và tuần duyên đánh chìm các tàu cá, bắt giữ, đòi tiền chuộc nhiều tầu cá của Việt Nam, buộc các ngư dân ký vào các biên bản thừa nhận vi phạm chủ quyền của Trung Quốc… Trung Quốc không lớn tiếng xác định chủ quyền lãnh hải, lãnh thổ như trước đây mà ra tay trước để tạo nên thực tế không thể đảo ngược về lãnh thổ, lãnh hải; đồng thời, đẩy mạnh các biện pháp nhằm kiểm soát thực tế các vùng biển mà Trung Quốc yếu sách chủ quyền theo hướng chính thức. Bước đi “kịch tính” gần đây nhất là Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoanHYSY 981 trong vùng đặc quyền kinh tế, vùng thềm lục địa của Việt Nam, xây cất đảo nhân tạo, mở rộng phạm vi hoạt động.

Hành động hạ đặt giàn khoan của Trung Quốc không đơn giản như Trung Quốc tuyên bố mà nằm trong tính toán, lộ trình chiến lược lâu dài trong kế hoạch độc chiếm Biển Đông. Trung Quốc luôn nhất quán trong mục đích kiểm soát khai thác dầu mỏ, quản lý giao thương hàng hải, tàu thuyền qua lại và chiếm ưu thế địa chính trị trong khu vực. Việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan tại khu vực này sẽ là tiền đề để mở rộng hạ đặt giàn khoan ở các khu vực khác trong phạm vi “đường lưỡi bò”, tiến tới hiện thực hóa yêu sách chủ quyền đối với Biển Đông, tạo căn cứ “pháp lý” và “quản lý thực tế” đối với Hoàng Sa, củng cố lập luận “Hoàng Sa không có tranh chấp”, phá vỡ nguyên trạng Biển Đông”, tạo đột phá trong việc thăm dò, khai thác dầu khí tại các vùng biển có tranh chấp.

Bên cạnh đó, “sự kiện giàn khoan HYSY-981” còn mang đậm động cơ chính trị, một mặt, nhắn nhủ, đe dọa các nước có tranh chấp, vướng mắc với Trung Quốc ở biển Đông (đặc biệt là Philippinesvà Việt Nam) không ngả sang và thắt chặt quan hệ với Mỹ; mặt khác, thử phản ứng của Barack Obama, thách thức chiến lược “xoay trục” sang châu Á của Washington (biểu hiện tập trung qua Thỏa thuậnquân sự ký kết ngày 28-4-2014 với Philippines).

Đưa giàn khoan vào vùng thềm lục địa của Việt Nam, Trung Quốc đồng thời thực hiện chiến thuật “giương Đông, kích Tây”. Hạ đặt giàn khoan giá trị hơn 1 tỷ USD cùng hơn một trăm tàu các loại bảo vệ và hộ tống với chi phí lên đến gần 1.5 tỷ USD/ngày, tập trung sự chú ý ồn ã của dư luận vào sự kiện chính, ở đằng sau, Trung Quốc tiến hành một chiến dịch xây dựng quy mô lớn trên 6 đảo nhân tạo trong vùng quần đảo Trường Sa, mở rộng diện tích, phát triển các cơ sở hậu cần, đường băng dã chiến. Đến khi dư luận hiểu ra và thức tỉnh thì Trung Quốc một việc đã rồi, tiếp tục xúc tiến nốt những việc bên rìa còn lại và hoàn thành mục tiêu chính.

Hệ lụy những bước leo thang của Trung Quốc trên Biển Đông là vô cùng to lớn không chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với nhiều nước khác trong khu vực cũng như hòa bình, ổn định ở Đông Nam Á và châu Á – Thái Bình Dương.Sau xung đột ngày 14-3-1988, khu vực hoạt động của tàu thuyền Hải quân Trung Quốc được mở rộng, thậm chí có thể phủ khắp các đảo đá ngầm lân cận củaViệt Nam. Tháng 5-1988, tờ Nhật báoQuân đội nhân dân - tiếng nói chính thức của quân đội Trung Quốc đã có bài viết, trong đó tuyên bố: “Hiện nay Hải quân Trung Quốc có thể bảo vệ lãnh hải gần bờ Trung Quốc, cả chủ quyền trên quần đảo Trường Sa và biển khơi xa lục địa hàng trăm hải lý”. Trung Quốc ngầm tuyên bố lực lượng Hải quân có thực lực bảo vệ biên giới trên biển và hải đảo, cho dù quần đảo Nam Sa cách đại lục Trung Quốc tương đối xa.

Các lấn chiếm của Trung Quốc trên biển Đông không những sẽ hạn chế khả năng, triển vọng kinh tế của Việt Nam, mà còn làm cho Việt Nam rất dễ bị sức ép của Trung Quốc về phương diện quân sự. Xây dựng các đảo nhân tạo và căn cứ quân sự ở Trường Sa (Gạc Ma và Chữ Thập), Trung Quốc nhằm kết nối với căn cứ hải quân Du Lâm (Hải Nam) và Tam Sa (Hoàng Sa) mà tính theo đường chim bay căn cứ Du Lâm chỉ cách đặc khu kinh tế Vũng Áng hơn 350km (nơi có hơn 7.000 công nhân Trung Quốc làm việc); đồng thời chiếu đến dự án Đèo Hải Vân tạo ra một gọng kìm chiến lược khống chế và chia cắt 2 miền Bắc, hình thành một tam giác quân sự cả từ hướng biển và đất liền hết sức nguy hiểm.

Nhìn chung, Trung Quốc đang tiến tới áp đặt một vùng chiến lược độc quyền, kiểm soát khu vực, đặt toàn bộ vùng biển Đông và tất cả các đảo ở đó dưới tầm mắt của mình, mở rộng tuyến phòng thủ chiến lược tới cực Nam biển Đông, lách lưỡi dao vào bên sườn Việt Nam, khống chế Việt Nam từ hướng biển.

3- Chính sách “xoay trục” của Mỹ và tác động đối với Việt Nam

Sự trỗi dậy hung hăng của Trung Quốc đang đe dọa đến hòa bình, ổn định của khu vực,thế giới, đe dọa trực tiếp đến an ninh các đồng minh của Mỹ và tự do hàng hải cũng như việc sử dụng hợp pháp các vùng biển và vùng trời ở Châu Á – Thái Bình Dương. Mặc dù, Mỹkhông có yêu sách chủ quyền ở Biển Đông nhưng có lợi ích trong tự do hàng hải và sử dụng hợp pháp vùng biển, vùng trời ở Châu Á – Thái Bình Dương. Mỹ quan niệm rằng, tự do hàng hải và sử dụng hợp pháp vùng biển, vùng trời không phải là thứ mà quốc gia này có thể ban phát hoặc không ban phát cho quốc gia khác và nỗ lực đơn phương nhằm làm thay đổi nguyên trạng bằng vũ lực cũng như vi phạm Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) là thách thức trực tiếp đối với uy tín của Mỹ với tư cách là chiếc neo an ninh hoặc vị thế người đảm bảo an ninh khu vực. Vì thế, hiện Mỹ đã quyết định tái cân bằng lực lượng toàn cầu theo hướng ưu tiên khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, sử dụng tranh chấp Biển Đông như một công cụ để ngăn chặn sự trỗi dậy “không hòa bình” của Trung Quốc.

Trong thời gian tới, thay vì cân bằng tỉ lệ lực lượng hải quân 50-50 giữa Đại Tây Dương và Thái Bình Dương như hiện nay, Mỹ sẽ điều chuyển tới khu vực Thái Bình Dương 60% năng lực hải quân của mình. Mỹ đang tích cực củng cố quan hệ với các đồng minh trong khu vực, chuyển từ chính sách trung lập” sang “điều phối và can dự” trong các vấn đề liên quan đến Biển Đông. Mỹ đã lần lượt thông qua Nghị quyết 412 (7-2014), Nghị quyết H.Res-714 (12-2014) về Biển Đông và Biển Hoa Đông, trong đó có nêu đích danh vụ việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan HYSY 981 – đó làsự ủng hộ mạnh mẽ đối với Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống Trung Quốc xâm lấn trên biển.

Bên cạnh đó, một số nước lớn khác cũng quan tâm đến việc giải quyết vấn đề Biển Đông, điều này tạo ra một tập hợp lực lượng mới khiến Trung Quốc e ngại và không thể không quan tâm và suy tính để điều chỉnh hành động, thái độ cho thích hợp. Cần nói thêm rằng, can dự vào Châu Á – Thái Bình Dương, Đông và Đông Nam Á, Mỹ và các nước lớn khác không hình thành nên thế kiểm soát các vùng biển bằng biện pháp quân sự. Trong bối cảnh các siêu cường không quan niệm tăng ngân sách quốc phòng là tối ưu và tính toán kiểm soát Biển Đông, kiềm chế Trung Quốc sao cho“ít tốn kém” nhất; đồng thời vẫn đảm bảo ổn định của khu vực, Mỹ  nhắm tới mục tiêu quản lý các vụ việc bằng pháp luật, thúc đẩy quá trình đấu tranh hoặc thực thi pháp lý giữa các nước liên quan đến tranh chấp. Nhìn chung, Mỹ ủng hộ việc sử dụng các công cụ pháp lý quốc tế và luôn nhấn mạnh các yêu sách trên biển cần xuất phát từ các thực thể trên đất liền theo UNCLOS.

Sự can dự ngày càng tăng của Mỹ vào tranh chấp Biển Đông ở một chừng mực nhất định phù hợp với lợi ích chiến lược của Việt Nam trong đối phó với Trung Quốc. Là một nước nhỏ, tiềm lực hạn chế hơn Trung Quốc về mọi mặt, Việt Nam có lợi ích trong việc quốc tế hóa giải quyết các tranh chấp, lôi kéo càng nhiều càng tốt sự chú ý quốc tế đối với những leo thang của Trung Quốc trên Biển Đông. Vị trí địa – chính trị, địa – quân sự của Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc và khu vực khiến cho vai trò, vị thế của Việt Nam được nâng lên trong các tính toán chiến lược của Mỹ tại châu Á – Thái Bình Dương và Đông Nam Á.Sự quan tâm lớn hơn của Mỹ đối với Việt Nam cũng như sự phát triển ấn tượng của quan hệ Việt – Mỹ thời gian qua chính là kết quả những chuyển biến trong chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc và khu vực.

Bên cạnh đó, sự điều chỉnh chiến lược toàn cầu của Mỹ, việc Mỹ gia tăng can dự vào tranh chấp Biển Đông cũng mang lại cho Việt Nam một số rủi ro nhất định. Với tư cách là một nước láng giềng của Trung Quốc và là một bên tham gia tranh chấp Biển Đông, Việt Nam buộc phải xem xét lại chính sách đối ngoại cân bằng quan hệ và chính sách ngoại giao “ba không” trong điều kiện ràng buộc ý thức hệ vẫn còn đang khá chặt chẽ và những ân oán quá khứ chưa hoàn toàn nguôi ngoai. Ngoài ra, Trung Quốc chắc chắn sẽ không ngồi yên khi Mỹ tìm cách củng cố quan hệ với các nước nhắm vào việc bao vây, kiềm chế Trung Quốc. Với đặc điểm núi biển liền nhau như môi với răng, có mối quan hệ không thể chia cắt về địa dư, khi muốn răn đe,gây sức ép, Trung Quốc không thiếu lý do và điều kiện thực hiện: Chống phá Việt Nam từ bên trong, bao vây Việt Nam từ nhiều hướng (từ Trung Quốc, từ Lào, từ Campuchia…).Rất có thể Việt Nam sẽ rơi vào thế kẹt giữa hai nước lớn và bị luôn cuốn vào một hình thái chiến tranh không mong muốn, bị vạ lây bởi sự đối đầu giữa hai cường quốc. Tóm lại, sự can dự của Mỹ và các nước lớn mang lại cho Việt Nam những thuận lợi lẫn thách thức mới trong việc xử lý tranh chấp Biển Đông cũng như giải quyết quan hệ với các nước lớn, các nước láng giềng và khu vực. Tuy nhiên, phải khẳng định rằng, thuận lợi lớn hơn thách thức.

4- Một vài khuyến nghị

Từ khi CHND Trung Hoa ra đời (1949), đã có ba lần Trung Quốc ra quân lớn đánh Việt Nam: Chiếm quần đảo Hoàng Sa (1974), tấn công toàn tuyến biên giới phía Bắc (1979) và Trường Sa 1988. Nhìn lại lịch sử những lần Trung Quốc tấn công, xâm lược hoặc gây hấn đối với Việt Nam (và không loại trừ đối với cả những quốc gia khác), có thể nhận thấy rằng, Trung Quốc thường hành động khi ít nhất hội tụ đủ những yếu tố sau đây:

Thứ nhất, chọn khiquốc gia – đối tượng trong tình thế có những khó khăn bên trong,  gặp rắc rối hoặc có vị thế yếu trên trường quốc tế, “trong không ấm, ngoài không êm”. Do đó, quốc gia bị Trung Quốc “nhòm ngó” khó có thể chống đỡ, đáp trả hoặc nếu có những quyết định đương đầu mạnh mẽ, dứt khoát, thì tác dụng, hiệu quả cũng bị hạn chế đáng kể – trong điều kiện đó, Trung Quốc đã kịp thời và nhanh chóng chớp lấy thời cơ thực hiện mục tiêu định sẵn.

Thứ hai,các phản ứng và dư luận quốc tế trước hành động của Trung Quốc chỉ có thể ở mức thấp nhất hoặc xuất hiện khoảng trống quyền lực trong khu vực. Trung Quốc đã phân hóa được quốc gia – đối tượng với các nước khác, trung lập hóa những nước lớn hoặc khối nước – đó là lúc tương quan lực lượng thay đổi theo hướng có lợi nhất cho Trung Quốc, khiến Trung Quốc có thể hành động mà chịu ít rủi ro, thiệt hại nhất song vẫn có thể đạt mục tiêu đã định và đạt ở mức cao nhất.

Thứ ba, Trung Quốc đang gặp những bất ổn nội bộ (về phát triển kinh tế, về mâu thuẫn quyền lực, về giải quyết vấn đề xã hội…). Trong tình hình đó,  lãnh đạo Trung Quốc muốn hướng sự chú ý trong nước ra bên ngoài, đánh lạc hướng dư luận hoặc khơi dậy tinh thần dân tộc, sử dụng nó như một chất kết dính xã hội, như một phương thức xoa dịu, giải quyết một cách hình thực những vấn đề nội tại.

Như vậy, nhìn vào những yếu tố nêu trên cộng với phân tích yếu tố mở nước truyền thống, tham vọng mở rộng ảnh hưởng, mở rộng địa bàn hoạt động, mở rộng cương vực sinh tồn, lãnh thổ, đất đai vốn là một nét đặc trưng có tính xuyên suốt, nhất quán của Trung Quốc từ lịch sử tới hiện tại, có thể kết luận rằng, chiến lược “lấn dần”, “chèn ép”, tranh đoạt đất đai, sông biển của láng giềng, nhất là của các nước láng giềng nhỏ và yếu hơn là bất biến. Đặc biệt, khi tuyên bố về “giấc mộng Trung Hoa”, Tập Cận Bình cũng đồng thời kêu gọi xây dựng một quốc gia hùng mạnh với một quân đội hùng mạnh khiến người ta không khỏi không hình dung về sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, sô vanh nước lớn.

Tồn tại bên cạnh một láng giềng khổng lồ, có sức mạnh thống trị trong lịch sử thực sự là một áp lực cho Việt Nam. Đối với Việt Nam, Trung Quốc là một thực tế, là một câu chuyện “không bao giờ kết thúc”.Có tham vọng lãnh thổ, lãnh hải, song trong tình hình hiện nay, Trung Quốc cố gắng tránh những cuộc chiến tranh hay xung đột “hao người, tốn của” có thể lôi kéo sự tham dự của nhiều nước, nhất là những nước đối thủ mạnh của Trung Quốc. Để nuốt dần đất đai, sông biển Việt Nam, Trung Quốc tích cực sử dụng “quyền lực mềm” bào mòn sức mạnh bên trong và bên ngoài giống như hút dần dinh dưỡng, làm cho Việt Nam rối loạn, chia rẽ và yếu dần. Trong khi luôn cảnh giác với những khả năng gây va chạm, xung đột vũ trang, Việt Nam còn cần phải cẩn trọng gấp nhiều lần trước sự phụ thuộc quá sâu về kinh tế vào Trung Quốc, trước việc Trung Quốc trúng thầu tới 90% các công trình điện, khai khoáng, dầu khí, luyện kim, hóa chất… củacác dự án kinh tế Việt Nam trọng điểm, hoặc dự án thượng nguồn, liên quan mật thiết tới tài nguyên quốc gia và an ninh năng lượng (90% các công trình trúng thầu, tạicác địa bàn xung yếu về quốc phòng – an ninh  như Quảng Ninh, Vũng Áng, Cửa Việt,Tây Nguyên…),trước việcngười lao động Trung Quốc sang Việt Nam lập làng, thâm nhập sâu, thậm chí lấy vợ, sinh con, đồng hóa dân tộc… Trong tương quan giữa Việt Nam và Trung Quốc với các chỉ số so sánh quá cách biệt, mà sức nặng nghiêng về phía Trung Quốc, nếu cú đấm đằng trước đã là hết sức khó khăn để chống đỡ, thì cú đánh đằng sau lưng hoặc thọc ngang mạng sườn còn khủng khiếp hơn nhiều.

Hoạt động của Trung Quốc thời gian qua cho thấy áp lực dân số và “ước mơ Trung Hoa” – “ước mơ” trỗi dậy một cách nhanh chóng, trở thành siêu cường có khả năng chi phối thế giới đang thúc đẩy Trung Quốc thực hiện chiến lược lấn át láng giềng, chiếm trọn Biển Đông. Nhìn tổng quá, đối với Việt Nam, Trung Quốc đang sử dụng “chiến lược hai gọng kìm”- khống chế Việt Nam cả từ trên bộ, cả từ hướng biển.

Trong điều kiện bất ổn ở Biển Đông không ngừng leo thang dưới bàn tay đạo diễn của Trung Quốc, Việt Nam đang phải đối diện với những thách thức to lớn,đầy nguy cơ kể từ sau khi kết thúc chiến tranh (1975). Một lần nữa, dân tộc Việt Nam lại phải đối diện với ý đồ xâm lăng rõ rệt, trắng trợn của Trung Quốc trong một cuộc chiến không cân sức trong tình thế khá đơn độc. Việt Nam đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng kép không chỉ trên những thách thức kinh tế (khi nền kinh tế bị lệ thuộc quá nhiều và quá sâu vào Trung Quốc), mà còn ở vị thế tại khu vực (khi Trung Quốc thò bàn tay vào công việc các nước láng giềng của Việt Nam, vào quan hệ Việt Nam với láng giềng) và trong những đe dọa chủ quyền, lãnh thổ, lãnh hải. Đây là một giai đoạn lịch sử hết sức nhạy cảm, nếu Việt Nam không có chiến lược, đối sách phù hợp, rất có thể sẽ để lại những tác động bất lợi đối với tiền đồ dân tộc.

Để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải, bảo vệ từng tấc đất thấm máu cha ông, thấm máu những anh hùng liệt sĩ, Việt Nam quyết không lùi bước, lùi bước, đớn hèn là có tội với tiền nhân, có tội với lịch sử.Để có thể vượt qua khúc quanh của lịch sử, việc giải quyết tốt hai mặt đối nội, đối ngoại là yêu cầu sống còn nhằm quy tụ tối đa sức mạnh nội lực, quốc tế, tạo ra sức mạnh tổng hợp cần và đủ để Trung Quốc hiểu rằng không thể dễ dàng hành xử theo lối bất chấp và tự viết nên luật lệ của mình.

Về đối nội, cần ra sức xây dựng, củng cố đồng thuận xã hội,không ngừng xây dựng thực lực đất nước. Lợi ích quốc gia dân tộc được đảm bảo ở mức độ nào, tùythuộc vào đất nước mạnh hay yếu; thành công hay hạn chế trong quan hệ giữa các quốc gia phụ thuộc chủ yếu vào thực lực mỗi nước. Thực lực của một quốc gia tất nhiên phải được hiểu là sức mạnh tổng hợp cả về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật và công nghệ, địa vị, ảnh hưởng quốc tế…. Câu chuyện đầu tiên, trước mắt cấp thiết cần phải làm ngay là thực hiện đoàn kết dân tộc một cách chân thành ở cả trong và ngoài nước không phân biệt chính kiến, ý thức hệ, địa vị, thành phần, giai cấp… – Đó là yếu tố cốt lõi làm nên sức mạnh cất cánh của đất nước. Sự gắn kết bền chặt giữa người Việt với người Việt tạo ra sức mạnh bất khả chiến bại – sức mạnh của tinh thần dân tộc, ý chí dân tộc. Đây cũng là cơ hội để hòa hợp, hòa giải dân tộc, khép lại quá khứ, gạt bỏ hận thù, thành kiến, xóa đi vết sẹo chiến tranh 40 năm nay chưa kịp lên da non. Không có lý gì khi hai cựu thù Việt – Mỹ đã có thể ngồi cùng bàn đối thoại mà đồng bào “máu đỏ, da vàng” cùng chung một đất nước lại không thể nối vòng tay lớn để cùng chấn hưng quốc gia? Cũng muốn nói thêm rằng, điều đó phụ thuộc một phần không nhỏ vào chính sách hòa giải dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Về đối ngoại, Việt Nam phải thay đổi căn bản tư duy về quan hệ quốc tế, xem lại chính sách đối ngoại “ba không”. Chính sách “xoay trục” của Mỹ và sự quan tâm của nhiều nước trên thế giới đối với vấn đề Biển Đông đang tạo ra những thuận lợi nhất định cho Việt Nam. Việt Nam nhất định phải nắm lấy cơ hội, chuyển hóa tranh chấp của mình với Trung Quốc theo chiều hướng có lợi nhất, hóa giải các tác động tiêu cực.Việt Nam cần có cách tiếp cận mới trong việc thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ mọi mặt, kể cả quan hệ quân sự với Mỹ để đối phó với sự đe dọa từ phương Bắc. Cần bước qua những mắc mớ quá khứ và gạt bỏ cơn ám ảnh “diễn biến hòa bình” để nhìn thấy ở Mỹ một đối tác có chung lợi ích cùng ngăn cản một Trung Quốc đang trong“cơn khát” đất, khát lãnh hải và mê sảng quyền lực. Không chỉ có vậy, Việt Nam cũng cần có tư duy mới về bạn – thù, cần nhận thức rõ rằng, nền tảng của mọi mối quan hệ quốc tế đương đại là lợi ích, chỉ có lợi ích là vĩnh viễn,vì thế, Việt Nam cần nhìn nhận chính xác các mục tiêu, hoạt động của các nước Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, Nga, Mỹ trong khu vực và trong giải quyết vấn đề Biển Đông, không để tư duy bạn – thù cứng nhắc, nỗi lo sợ “diễn biến hòa bình” cản trở những quyết định tỉnh táo.

Việt Nam cần chủ động tạo nên cục diện các nước lớncó lợi ích kinh tế và an ninh ngày càng gia tăng, quấn bện trong quan hệ với Việt Nam,gắn lợi ích, gắn các chính sách của Việt Nam vào các hoạt động kinh tế và chính trị của mạng lưới khu vực rộng lớn. Việc việc đan xen lợi ích và chính sách như thế, một cuộc tấn công Việt Nam cũng sẽ bị coi như sự xâm phạm lợi ích của các nước khác. Ứng phó với Trung Quốc là cả một nghệ thuật, trong cương có nhu, trong nhu có cương, uyển chuyển giữa đối đầu – đối thoại và không loại trừ chính sách liên minh, tuyệt đối không đồng nghĩa liên minh với bè phái, với mất tự chủ hoặc mất độc lập; đồng thời, ghi nhớ rằng, liên minh không phải để tạo ra một tập hợp lực lượng chống Trung Quốc, mà để tự bảo vệ mình, ngăn ngừa Trung Quốc một cách chính đáng và hiệu quả.

Một cách tổng quát, một Việt Nam lớn mạnh, dân chủ, phát triển, coi tham nhũng và thiếu nhân quyền là kẻ thù, có sự ủng hộ, hậu thuẫn to lớn của quốc tế chắc chắn sẽ trở thành một pháo đài vững chắc kháng cự mọi thách thức, chép ép, đe dọa từ Trung Quốc.


[1]Tuyên bố của Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam, Báo Nhân dân, 15-3-1988.

[2]Như trên.

[3]Như trên.

( Nguồn; vanhoangheAN…)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 14.03.2015

TRƯỜNG SƠN-THƠ

Ngô Minh

TRƯỜNG SƠN

 con đi xa

lửa cười mạ khóc

nước mắt già rắn niềm cát đúc

âm thầm rơi giọt sương khuya

mạ ru con lớn khôn

mà biển chẳng ru được một giờ mạ ngủ

năm canh mọt nghiến kèo nhà

 

anh đi xa

em ngại soi gương

tờ lịch rơi mỗi ngày như tóc rụng

thư gửi đi không tin là đến

gặp mắt ai nhìn cũng bùng cháy nhớ mong

gió nồm gió nồm đập chi hoài cửa liếp

suốt mười năm em dễ chạnh chòng

 

suốt mười năm ta lên Trường Sơn

mạ và em đã chờ ta như thế

bạn bè ơi đạn bom đèo núi

một thời trai mấy lớp lá rừng

sao lúc trở về ta mới hiểu Trường Sơn

 

Trường Sơn

ấm áp bên vai mỗi ngày nương tựa

ta ngước lên tìm lại tuổi mình

trong dằng dặc thời gian bồi đắp

mãi cao vời bóng mạ, tình em

 

một Trường Sơn suốt đời không đi hết

vẫn nghiêng về trên trang viết đêm đêm

Tàu chiến TQ bắn vào tàu chiến ta ở Gạc Ma 1988

QTXM-Hôm nay ngày 14-3, là ngày mà năm 1988, chúng ta mất đảo Gạc Ma. Nỗi đau đó không thể nguôi ngoai. Điều đau đớn nhất là mất GạcMa không phải vì bộ đội ta yếu hay ít mà bộ đội ta đủ sức mạnh để đánh trả bọn xâm lược Đại Hán, vì những người lính ấy vừa qua khỏi cuộc chiến hơn 10 năm, đủ  ý chí và kinh nghiệm để diệt giặc. Nhưng họ đã tghanhf bia để cho bọn giặc Tàu ngắm bắn mà không được chống trẻ, chỉ vì lệnh từ đất liền”không được nổ súng!”.Bài viết sau đây giúp bạn đọc tìm hiểu ai đã ra cái lệnh phản quốc ấy. QTXM chỉ thông tin, không bình luận.

Ai ra lệnh không được nổ súng trong trận Gạc Ma?

Mặc Lâm

 Tàu chiến Trung Quốc trực xạ bắn vào tàu vận tải công binh của Việt Nam khiến 64 chiến sĩ Hải quân VN đã hy sinh cùng với lệnh không được nổ súng…

Mỗi năm vào ngày 14 tháng Ba, hình ảnh cuộc tàn sát 64 bộ đội công binh Quân đội Nhân dân Việt Nam lại ám ảnh gia đình họ và người có quan tâm. Những cái chết này là một sự kiện lịch sử cần phải làm rõ ai là thủ phạm trực tiếp, trói tay bộ đội bằng chính sách kềm chế trước đội quân hung hãn Trung Quốc.

Lệnh không được nổ súng

Từ đầu năm 1988 Trung Quốc đã có những hành động lấn chiếm các đảo đá thuộc quần đảo Trường Sa bằng cách đưa hai chiến hạm thị uy chung quanh khu vực. Trước hành động khiêu khích công khai ấy Việt Nam đã khởi động chiến dịch có tên Chủ quyền 88 viết tắt là CQ-88 bằng cách gửi bộ đội công binh mang vật liệu xây dựng tới nhóm đảo Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma để xây dựng các cơ sở tại đây nhằm khẳng định sự có mặt của Việt Nam trên nhóm đảo quan trọng này.

Tuy biết trước sự hiếu chiến và quyết tâm chiếm đảo của Trung Quốc nhưng bộ đội công binh Việt Nam lại không được trang bị vũ khí và quan trọng hơn nữa họ được lệnh không được bắn trả lính Trung Quốc. Chỉ một vài bộ đội trên tàu mang vũ khí cá nhân và nhóm bộ đội tiến vào cắm cờ trên đảo Gạc Ma đã tay không đối diện với giặc. Anh Nguyễn Văn Thống một người sống sót trong khi tiến vào Gạc Ma xác nhận với Đài Á Châu tự do lệnh không được nổ súng này:

-Bên mình lúc ra đi là quán triệt không được nổ súng bất kỳ giá nào cũng không được nổ súng.

Thượng tá Hoàng Hoan, Chỉ huy phó Chính trị trung đoàn công binh 83 kể lại với báo chí cái chết của trung úy Trần Văn Phương người đầu tiên ôm cờ bị lính Trung Quốc bắn chết trước mặt đồng đội. Thượng tá Hoan xác nhận đây là hành động kềm chế trước sự hung hãn của lính Trung Quốc:

Bên mình lúc ra đi là quán triệt không được nổ súng bất kỳ giá nào cũng không được nổ súng

Anh Nguyễn Văn Thống

-Sau một thời gian giằng co nhau quyết liệt và xảy ra việc Phương bị thương và sau chết tại đảo và Lanh thì bị thương nằm gục xuống rồi thì anh em cùng với nhau đối với bọn Trung Quốc đó, cuối cùng thì bọn nó nhanh chóng rút lui ra. Nhưng mà nó có cái chuyện, tức là nó nổ súng trước còn ta thì có thái độ kềm chế chủ yếu là mềm dẻo để giải quyết đúng đắn khẳng định rõ chủ quyền Việt Nam, tôi đã ở đây rồi! Thế nhưng phía Trung Quốc vẫn cứ nổ súng vào cán bộ chiến sĩ của xây dựng và đi giữ đảo.

Câu chuyện của 27 năm về trước vẫn nằm im trong những trang sử của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Lời kể của những bộ đội công binh không đủ sức thuyết phục dư luận cho đến khi chính một vị tướng chính thức lên tiếng về việc này. Ông là thiếu tướng Lê Mã Lương, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, từng giữ chức Giám đốc Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam nói trước cuộc tọa đàm kỷ niệm cuộc chiến Gạc Ma do Trung tâm Minh triết tổ chức vào năm ngoái, Tướng Lê Mã Lương cho biết:

-Nó có một câu chuyện như thế này: Có đồng chí lãnh đạo cấp cao ra lệnh bộ đội ta không được nổ súng nếu như đánh chiếm cái đảo Gạc Ma hay bất kỳ đảo nào ở Trường Sa. Không được nổ súng! Và sau này nó có một câu chuyện và nó đã được ghi vào tài liệu mà ta đã rõ rồi là khi trong một cuộc họp của Bộ Chính trị, đồng chí Nguyễn Cơ Thạch đập bàn và nói là ai ra lệnh cho bộ đội không được nổ súng?

Những người lính hy sinh đầu tiên ấy cộng thêm con số bộ đội bị quân Trung Quốc sát hại nâng lên 64 người là một vết thương lớn cho người lính bất cứ quân đội nào khi họ không được cầm súng chống lại quân thù, tướng Lê Mã Lương chia sẻ:

Ngài Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hồi bấy giờ là ngài Lê Đức Anh đã ra cái lệnh như vậy mà anh Lê Mã Lương đã tường thuật trong hội thảo tưởng niệm Gạc Ma của chính Trung tâm Minh Triết tổ chức ở Khách sạn Công đoàn năm ngoái, thì bây giờ ta phải công khai cái này.

Ông Nguyễn Khắc Mai

-Trong lịch sử của Hải quân Nhân dân Việt Nam chưa có trận nào mà hải quân ta chỉ có mấy phút thôi chúng ta chết đến hơn nửa đại đội. Không có chuyện lịch sử Hải quân, lịch sử của các đơn vị chiến đấu bộ binh chỉ trong mấy phút mà tiêu như thế, trừ bom, nó bỏ trúng đội hình đang hành quân hoặc là nó thả trúng đội hình đang đóng quân còn trong đánh nhau ta cũng trong thế chủ động thì không có chuyện đó. Cho nên đó là cái nỗi đau mà nỗi đau này nó âm ỉ và nó sẽ đi với người lính cho tới khi kết thúc sứ mệnh trên cái đất này.

TS Nguyễn Văn Khải người tham dự buổi hội thảo cho biết nhận xét của ông về việc tướng Lương công khai điều mà Bộ quốc phòng Quân đội Nhân dân Việt Nam giấu kín sau sự cố Gạc Ma:

-Câu đó của Lê Mã Lương là hoàn toàn đúng bởi vì những năm 80 tôi là TS Thiếu tá và có anh họ là Lê Ngọc Hiền là Thứ trưởng Quốc phòng, Lê Trọng Tấn là Tổng Tham mưu trưởng quân đội cho nên những chuyện này chúng tôi biết cả.

Bộ trưởng Quốc phòng, Lê Đức Anh

Ông Nguyễn Khắc Mai giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Văn hoá Minh Triết cho biết vai trò của ông Lê Đức Anh lúc ấy là Bộ trưởng Quốc phòng, người được xem là đã ra lệnh cho bộ đội không được nổ súng:

-Ngài Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hồi bấy giờ là ngài Lê Đức Anh đã ra cái lệnh như vậy mà anh Lê Mã Lương đã tường thuật trong hội thảo tưởng niệm Gạc Ma của chính Trung tâm Minh Triết tổ chức ở Khách sạn Công đoàn năm ngoái, thì bây giờ ta phải công khai cái này.

Một Bộ trưởng Quốc phòng thấy giặc nó xâm lấn bờ cõi của mình mà ra lệnh không được chống lại, đứng im như thế cuốn cờ lên người mình để cho nó nã súng nó bắn!

Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, một nhà ngoại giao kỳ cựu, am hiểu sâu sắc vấn đề Trung Quốc đánh giá quyết định không nổ súng của Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh:

-Tôi cho rằng lúc bấy giờ ông Lê Đức Anh được đưa lên làm Bộ trưởng Quốc phòng mà làm cái việc như thế là một việc phản quốc. Ra lệnh không được bắn lại để cho Trung Quốc nó giết chiến sĩ của mình như là bia sống thì tôi cho đó là một hành động phản động, phản quốc.

Ông Lê Đức Anh là cai đồn điền cao su của một người tình báo của Pháp chứ ông ta không phải tham gia cách mạng lâu dài gì đâu. Chẳng qua ông ấy khai man lý lịch rồi thì được lòng ông Lê Đức Thọ, ông Lê Đức Thọ cứ đưa ông ấy lên vù vù trở thành Bộ trưởng Quốc phòng, sau này thành chủ tịch nước. Cái điều đó những người biết chuyện như tôi lấy làm đau lòng lắm và cho là một nỗi nhục của đất nước.

Cho đến hôm nay 64 người anh hùng liệt sĩ ở Gạc Ma đấy nhiều người xác vẫn còn nằm dưới biển và cái ông Nông Đức Mạnh nguyên Tổng bí thư lại trả lời rằng thôi cứ để yên như thế! Đáng lẽ anh phải… tìm cách vớt và đưa thân xác của các liệt sĩ ấy về quê mẹ thì anh lại để im…

Ông Nguyễn Khắc Mai

Sau khi bị tàn sát, thi thể những người lính tay không súng ống ấy không phải đều được về nhà mà một số rất lớn đã trôi dạt khắp vùng biển quê hương bởi Bộ Quốc phòng Việt Nam không có một một cố gắng nào mang họ về đất liền như tất cả mọi quân đội khác trên thế giới phải làm. Ông Nguyễn Khắc Mai nhận xét:

(…)

Tại sao cứ im lặng? chỉ cho mấy cái anh cấp người phát ngôn Bộ Ngoại giao nói tới nói lui một điệp khúc nhàm chán vô cùng và bọn Trung Quốc nó không thèm đếm xỉa gì tới, nó coi đấy là cái chuyện tào lao thì đấy là cái đau, đấy là cái nhục về Gạc Ma.

Ngày 14 tháng Ba mỗi năm không những là ngày giỗ chung của 64 gia đình liệt sĩ nhưng còn là ngày mà lịch sử Việt Nam sẽ phải làm rõ ai là thủ phạm chính trong cuộc tàn sát này. Mặc dù nó được phóng lớn lên thành cuộc chiến Gạc Ma nhưng người trong cuộc biết rõ đó là một cuộc chiến mà bên bị hại không được nổ súng.

M.L.

Nguồn: http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/who-ord-no-fir-in-garma-03122015052720.html

THỬ TÌM MANH MỐI GIỮA “BÀI THƠ ĐỒNG CHÍ CỦA TÔI” CỦA VĂN CAO VÀ CUỘC HÀNH HÌNH CỤ NGHÈ CƠ THỜI CCRĐ?

                                         Trần Lê Hạnh An
 Miền Bắc những năm sau đại họa CCRĐ, lại tiếp đến “Nhân văn giai phẩm”. Văn Cao, Hoàng Cầm là những văn nghệ sĩ có dính ít nhiều đến vụ án này; nhưng rất may cho Văn Cao là không bị bắt giam như Hoàng Cầm. Một lớp văn nghệ sĩ trẻ như Nhà văn Văn Linh (tên thật Trần Ngọc Linh,  sinh ngày 1/1/930 tại phường Đại Nai, thị xã Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh) viết tiểu thuyết “Mùa hoa dẻ” (được NXB Thanh niên ấn hành năm 1957) bị đánh tơi bời trên báo chí CM. Đó là một tác phẩm hiếm hoi ở thập niên 1950 viết về một chuyện tình thời chiến với những xúc cảm hồn nhiên, chân thật mà rất đỗi nồng nàn, say đắm. Nhà thơ Phan Xuân Hạt, viết bài thơ “Hạnh phúc khôn tròn” (1962), bị quy kết “có vấn đề về tư tưởng”, “hữu khuynh”…Trong hoàn cảnh ấy, nhóm những VNS “có vấn đề” này như một sự “mặc nhiên” đã thường hay gần giủi, chơi thân với nhau. 
Nhà văn Văn Linh lấy vợ tên là Phạm Thị Hoa – người thôn Tiên Lệ, xã Quảng Tiên, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Bà Phạm Thị Hoa, thầy giáo Phan Văn Khuyến (người thôn Thọ Linh, xã Quảng Sơn, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình) và Trần Ngọc Linh (đích danh tác gỉa) là ba “nguyên mẫu” của bộ ba trai gái trong tiểu thuyết “Mùa hoa dẻ”. Trong CCRĐ, bà Phạm Thị Hoa lại là cán bộ của Hội Phụ nữ huyện Quảng Trạch. Phiên tòa “Nhân dân” xử tử cụ Nghè Cơ Nguyễn Bá Ky ngày 27 Tết Ất Mùi (thứ 4 ngày 8/2 -1956) là do bà Hoa làm “Chủ tòa”. Diễn biến câu chuyện tại phiên tòa “Nhân dân” đó được Nhà báo Lê Quang Vinh viết lại trong bài báo “Cuộc hành hình Cụ Nghè Cơ và bài thơ Đồng chí của tôi của Văn Cao”. 
Nhà thơ Phan Xuân Hạt đồng hương “Nghệ – Tĩnh” với Văn Linh nên có quan hệ rất gần gũi cả gia đình Nhà văn Văn Linh. Ông Phan Xuân Hạt hiện 85 tuổi, sống ở Hà Nội, khẳng định mối quan hệ thân thiết giữa Văn Cao và Văn Linh và cả nhóm văn nghệ sĩ “có vấn đề” thời những năm 60 – 70 thế kỷ trước; nhưng ông không chắc về sự “liên thông” giữa bài thơ của Văn Cao với phiên tòa xử tử cụ Ngè Cơ có phải do chính Văn Linh kể với Văn Cao hay không. Vì vậy, chắp nối các mối quan hệ cá nhân trên khi hầu hết mọi người trong các mối quan hệ ấy hiện đã qua đời, thì một câu hỏi vẫn chưa có sự rõ ràng: Không biết “nhân vật” trong bài thơ của Văn Cao có phải nguyên mẫu là Cụ Nghè Cơ do chính người bạn là Nhà văn Văn Linh đã kể lại với ông hay không để Thi sĩ Văn Cao lấy cảm hứng sáng tác nên bài thơ lột tả những giây phút cuối cùng thật kỳ lạ ở một con người rất đặc biệt ấy – Một nhà nho, một cán bộ Việt Minh, một đảng viên Cộng sản, một tử tội của CCRĐ? Một tác phẩm mà như Nhà Thơ Nguyễn Trọng Tao nhận định: “Bài thơ tràn đầy lòng tin vào chủ nghĩa xã hội mà cảnh tỉnh những sai lầm của hiện tại, nó là tiếng lòng thống thiết của người cộng sản bị xử bắn oan gửi tới các đồng chí của mình. Không trung thực với Đảng, không có lòng can đảm của một đảng viên, không chan chứa một trái tim nhân đạọ…không thể viết được một bài thơ rớm máu như thế ”. Còn nhà báo Lê Quang Vinh, trong “Cuộc hành hình cụ Nghè Cơ và Bài thơ đồng chí của tôi”: “Tôi cứ đọc đi đọc lại bài thơ, trong đầu cũng cứ nổi lên bao lần câu hỏi: Chẳng lẽ Thi sĩ Văn Cao chứng kiến hoặc nghe ai đó kể tường tận cho ông biết về cuộc hành hình của Đội CCRĐ xã Quảng Hòa, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đối với Thân sĩ yêu nước, đảng viên Đảng Lao động VN, Lão thành CM tiền khởi nghĩa Cụ Nghè Cơ – Nguyễn Bá Ky? Nếu không thế, để giờ đây con cháu hậu duệ Cụ Nghè Cơ và cả chúng ta, làm sao có được bức tranh vô cùng bi thương bằng thơ chi tiết, điển hình và chính xác đến từng hơi thở của nạn nhân mà Văn Cao xây dựng nên (vẻ lại) tài tình đến thế? 
Có điều, trong bài thơ của Văn Cao, một chi tiết có khác với thực tế tại cuộc hành hình cụ Nghè là:
 “Giống như một nữ đồng chí
Một anh hùng của Hà Tĩnh
Tôi sẽ phải

Như mọi chiến sĩ bị địch bắn
Đảng Lao động Việt Nam muôn năm
 
 Trong khi phiên tòa diễn ra tại Quảng Bình, cụ Nghè đã hô: “Hồ Chủ Tịch muôn năm!” đến 3 lần. Điều này cũng dễ hiểu và phổ biến trong sáng tạo nghệ thuật. 
Nhưng cuộc đời cũng có nhiều điều vô cùng ngẫu nhiên tựa như sự sắp đặt cố ý và có trường hợp đến mức thật trớ trêu. Bà quý phu nhân Nhà văn Văn Linh chính là em ruột bà Phạm Thị Liên. Bà Phạm Thị Liên lại là em dâu út (vợ em trai) của người con rể nổi tiếng vừa là “đồng chí” của cụ Nghè Cơ. Bà Phạm Thị Liên và bà Phạm Thị Hoa có người anh trai Phạm Phú Thang – Chủ hiệu ảnh “Phù Thăng” nổi tiếng một thời tại TP. Thanh Hóa.
                                                                                      21 giờ 52′ ngày 12/3/2015
                                                                                                         TLHA
ĐỒNG CHÍ CỦA TÔI
Người ta các đồng chí của tôi
Treo tôi lên một cái cây
Đợi một loạt đạn nổ
Tôi sẽ dẫy như một con nai con
Ở đầu sợi dây
Giống như một nữ đồng chí
Một anh hùng của Hà Tĩnh
Tôi sẽ phải kêu lên
Như mọi chiến sĩ bị địch bắn
Đảng Lao động Việt Nam muôn năm
Cho mọi người hiểu khi tôi chết
Vẫn còn là một đảng viên
Cho mọi người hiểu khi tôi chết
Máu của tôi vẫn còn là máu của Việt Nam
Ở dưới gốc cây có các cụ già các bà mẹ
đã nuôi cách mạng
Các em nhỏ từ ba tuổi đứng nhìn tôi
dẫy chết
Có mẹ tôi
Ba lần mang cơm đến nhà tù
Hãy quay mặt đi
Cho các đồng chí bắn tôi
Tôi sợ các cụ già không sống được
Bao năm nữa
Để nhìn thấy xã hội chủ nghĩa
Của chúng ta.
Chết đi mang theo hình đứa con
Bị bắn
Tôi sợ các em còn nhỏ quá
Sẽ nhớ đến bao giờ
Đến bao giờ các em hết nhớ
Hình ảnh tôi bị treo trên cây
Bị bắn
Hãy quay mặt đi
Cho các đồng chí bắn tôi…
Nước mắt lúc này vì Đảng nhỏ xuống
Dòng máu lúc này vì Đảng nhỏ xuống
Đảng Lao động Việt Nam muôn năm
Đảng Lao động…
                                              (1956)
( Tác giả gửi cho QTXM)

(Đọc tiếp…)

Nhà văn Nguyễn Đắc Xuân phỏng vấn Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng về vụ kiện của Hiệu trưởng Đại học Tôn Đức Thắng

  •   Nguyễn Đăng Hưng – Nguyễn Đắc Xuân

 

Gs Nguyễn Đăng Hưng Gs Nguyễn Đăng Hưng

VHNA: Vụ Hiệu trưởng Đại học Tôn Đức Thắng kiện Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng về tạp chí khoa học APJCEN  đã bắt đầu từ năm 2014. Ngày 17 tháng 3 này vụ kiện sẽ được Tòa án Nhân dân quận 9 – Tp Hồ Chí Minh xét xử. Sự thật, bản chất vụ việc chắc chắn sẽ được tòa xem xét và phân xử đúng sai. Hy vọng một phán quyết công minh, có lý, có tình của tòa án để góp phần làm lành mạnh hóa các sinh hoạt học thuật, thúc đẩy nền khoa học nước nhà phát triển.

VHNA đăng bài phỏng vấn Gs Nguyễn Đang Hưng của nhà văn, nhà nghiên cứu lịch sử và là nhà báo Nguyễn Đắc Xuân. Các ý kiến, quan điểm trong bài phỏng vấn này là của hai chủ nhân cuộc phỏng vấn.

 

Nguyễn Đắc Xuân. – Biết tôi có thân quen với anh từ lâu, vừa rồi anh em ở Huế gặp nhau buổi sáng ở cà-phê Sơn phía sau TTVHPG Liễu Quán, hỏi tôi “Vụ Hiệu trưởng Đại học Tôn Đức Thắngkiện GS Nguyễn Đăng Hưng ngã ngũ ra sao rồi?”, thú thật là tôi chỉ nghe loáng thoáng chứ không biết cụ thể ất giáp ra sao cả, nên không dám trả lời, vậy nhân tiện gặp nhau hôm nay anh có thể trả lời giúp tôi câu này được không? Nếu được tôi sẽ đưa lên trang Web gactholoc.net của tôi để cho bạn bè tôi được hiểu rõ một vấn đề đang được giới trí thức trong và ngoài nứơc quan tâm!

GS Nguyễn Đăng Hưng.- Như tôi có thông báo trên trang Facebook cá nhân, vụ kiện đã bị đình chỉ theo quyến định của Toà Án Q.9 Tp HCM ngày 22/8/2014. Phần tôi, dù có nhiều lý do chính đáng, dù bạn bè tâm huyết khuyên bảo là nên làm cho ra lẽ, tôi đã không phản tố. Tôi muốn trở lại với sự thanh thản, yên lành, với công việc nhẹ nhàng của một nhà giáo đang nghỉ hưu tại quê nhà…Tôi vẫn còn hằng ngày lo cho tạp chí khoa học APJCEN, đang tiếp tục sống vui, cống hiến và phát triển trên mạng, đóng vai trò thiết thực cho hôm nay: Giúp các nhà khoa học trẻ Việt Nam và Đông Nam Á có thể phổ biến nhanh và gọn công trình khoa học giá trị của mình ra quốc tế mà không phải trả phí…

Vụ tranh chấp khởi đầu từ cuối tháng tư trên không gian học thuật quốc tế rồi kéo về Việt Nam bằng việc vụ kiện ở Toà án Q9 Tp HCM, vụ tố giác hình sự song song tại Q7 Tp HCM. Mới đây nghĩa là sau gần 4 tháng bỏ lửng, Hiệu Trưởng ĐH Tôn Đức Thắng nộp lại đơn, tiếp tục kiện tôi và Tòa Án nhân dân Q9 vừa gởi cho tôi một giấy triệu tập. Vì đang ở Bỉ, tôi đã viết thư xin hoãn lại cho đến sau Tết, khi tôi đã về Việt Nam.Tôi dùng thời gian tại Bỉ để chuẩn bị một số bài phân tích có chứng cớ khoa học và có tính thuyết phục cao, dùng cho ngày tự biện hộ tại Tòa và kịp thời thông tin cho công luận là nội dung nguyên đơn không có cơ sở thậm chí còn có chỗ sai trái. Các tài liệu đã được đặt trên mạng. Chỉ cần bấm chuột tra cứu các đường dẫn thì sẽ thấy xuất hiện tài liệu minh chứng!

Nguyễn Đắc Xuân. – Qua anh Đặng Tiến ở Pháp, tôi biết anh nguyên là một GS đại học có tiếng ở Liège (Bỉ), một nhà khoa học đã đào tạo nên nhiều thạc sĩ, Tiến sĩ cho đất nước, trong đó có người con rể của tôi mà lại bị dính vào một vụ kiện kèm theo một vụ tố cáo với khả năng có thể thân bại danh liệt. Trong những ngày này, anh đang suy nghĩ gì về hoàn cảnh của anh hiện nay?

GS Nguyễn Đăng Hưng.- Việc tôi đã bỏ ra gần 20 năm cho Việt Nam, liên tục đi về để đề xướng và điều hành các Trung tâm đào tạo thạc sỹ tại TP HCM và Hà Nội. Việc này đã được đông đảo công luận biết tới. Từ ngày có vụ kiện, ta thấy xuất hiện trên mạng một kẻ xấu miệng bảo trong khoảng thời gian trên tôi đã làm “cò giáo dục”. Lời này rất ác độc vì nó phủ nhận công sức, nhất là tấm lòng nhân ái của gần 100 nhà khoa học cao cấp từ Bỉ, Pháp, Ý, Hà Lan, Thụy Diển .. cùng tôi về Việt Nam giảng dạy mà không hưởng lương. Đã có 318 thạc sỹ tốt nghiệp và trong đó 75 em đã bảo vệ luận án tiến sỹ thành công ở các nước tiến tiến. Trong 75 em này có 5 em làm luận án dưới sự hướng dẫn khoa học trực tiếp của tôi. Anh Đăng Tiến tử tế nói thế, chứ tôi nghĩ tôi chỉ là một giáo sư, một nhà khoa học thường thường bậc trung thôi anh ạ. Tôi không bao giờ dám nhận mình là nổi tiếng đâu. Nhất là tháng 8/2014 vừa qua cũng cái từ này mà nhà báo Lê Thanh Phong đăng trên tờ báo mà trước đây anh từng cộng tác lâu năm, báo Lao Động, một bài báo dùng thủ thuật khá tệ hại để bôi nhọ tôi [1]. Ông ta cố tình bỏ đi một dòng của một bài phỏng vấn (GS Hưng trên Dân Trí [2]) rồi “dựng lên chi tiết giả này (GS Nguyễn Đăng Hưng tự nhận mình là nhà khoa học lừng danh) và lặp đi lặp lại nhiều lần để gây ấn tượng phản cảm cho người đọc về cá nhân tôi! Tôi đã phải vất vả, nhờ nhà báo Kim Dung cho đăng tải một bài phản bác vạch trần thủ thuật tệ hại [3], nói lên sự thật. Sự thật là là các chuyên gia của nhà xuất bản Springer đã gắn từ ấy cho tôi qua một thư điện tử [4] nói lên lý do tại sao đã ủng hộ chúng tôi cho ra đời tạp chí APJCEN.

Để xét đoán một cách khách quan vị trí khoa học của một nhà nghiên cứu, ngày nay thế giới đã có những công cụ truy lùng thống kê đánh giá ảnh hưởng qua những chỉ số chuyên môn. Tuy đã lấy hưu trí 8 năm rồi, gần như không còn hoạt động nghiên cứu khoa học nũa, tên tuổi tôi vẫn còn được chú ý trên mạng sau 40 năm giảng dạy và làm khoa học tại Bỉ. Xin anh vào website [5] Researchgate.net, một công cụ của Đức hiện nay rất được các nhà khoa học đánh giá cao, sẽ thấy vị trí khách quan vô tư và khoa học về cá nhân tôi. Công cụ này đã tự động truy lùng trên mạng và tìm lại được 180 bài công bố khoa học của tôi, xác định chỉ số ảnh hưởng (Impact number) của tôi là 86.3, chỉ số điểm tổng hợp của tôi là 29,3 và xếp tôi cao hơn 85% các nhà khoa học trên thế giới được công cụ này chiếu cố. Ngạn ngữ Việt Nam có câu “Cây ngay không sợ chết đứng”, tôi không hề ưu tư lo ngại về sự tác hại tiêu cực của vụ kiện không có cơ sở này. Ngược lại, trong quá khứ gần đây và trong những ngày tháng sắp đến, vì phải hành động tự bảo vệ mình, tôi sẽ có dịp tỏ bày thêm cho công luận tấm lòng của tôi đối với việc phát triển giáo dục và khoa học nước nhà. Tôi không làm gì sai trái. Lương tâm tôi rất thanh thản anh Xuân ạ!

Nguyễn Đắc Xuân. – Từ những việc đã xảy ra, anh có ân hận gì về quyết định hồi hương của anh không?

GS Nguyễn Đăng Hưng.- Không ít người bảo tôi “Ai biểu về Việt Nam làm gì, ở bên Bỉ có yên lành hay hơn không”.  Nay anh cũng có ý đó. Thú thật tôi chưa có gì phải ân hận. Ngay những ngày đầu những năm 90 khi quyết định lao vào công việc giúp Việt Nam đào tạo nhân lực đại học, tôi đã chờ đợi sẽ gặp nhiều khó khăn, ách tắc. Và trên thực tế trong khoảng thời gian dài 12 năm quản lý và điều động các chương trình đào tạo thạc sỹ do chính phủ Bỉ và Liện Hiệp Châu Âu tài trợ, tôi đã phải đối mặt với rất nhiều lực cản. Nhưng tôi đã qua được và thu thập được nhiều kinh nghiệm có đắng cay nhưng vui là chính. Có lẽ lần này tôi sẽ phải đối mặt với những thách thức ghê gớm hơn. Nhưng tôi tin là mọi chuyện sẽ sáng tỏ, lòng tôi trong sáng, tôi không làm gì không đúng mà phải ân hận…

Nguyễn Đắc Xuân. - Lúc về thăm nhà riêng của anh ở Quận 9, tôi biết anh đang điều hành một công ty chuyên thiết kế máy bay thế hệ mới cho một nước nào đó ở châu Âu, thế tại sao anh lại bỏ Công ty ấy và khi nào anh chuyển qua cộng tác với trường ĐH TDT ? Anh hãy chia sẻ đôi nét về sự cộng tác này.

GS Nguyễn Đăng Hưng.- Tôi đã chuyển nhượng 95% Công Ty Hưng Việt cho người Đức. Chỉ còn giữ lại 5% làm nghiệp vụ cho thuê phần mềm thiết kế cấu trúc cơ khí phức tạp. Tôi bắt đầu làm cố vấn học thuật cho trường ĐH Việt Đức từ năm 2011 và làm cố vấn cao cấp cho ĐH Tôn Đức Thắng từ cuối 2012. Đây là những hợp đồng nhẹ nhàng, không phải có mặt thường xuyên, chỉ tư vấn, góp ý khi có yêu cầu.

Nguyễn Đắc Xuân.- Có lần chúng ta tâm sự với nhau – đặc biệt là sau những lần anh ngã bệnh nặng phải giải phẫu nầy nọ – rằng chúng mình tuổi đã cao phải biết chỗ dừng để lo hậu sự, vậy mà làm sao anh lại chưa chịu nghỉ, còn lao vào những hoạt động phức tạp như lăng xê tên tuổi mình làm tổng biên tập một tờ báo khoa học gì đó nữa?

GS Nguyễn Đăng Hưng.- Nếu có ý định lăng xê tên tuổi tại Việt Nam mà lao vào việc thành lập một tạp chí chuyên ngành như APJCEN thì quả là thiếu cân nhắc. Thậy vậy, đây là tạp chí chuyên ngành khá chật hẹp, độc giả là những nghiên cứu sinh. Cả nước có chừng chung quanh 200 người. Để so sánh, tôi có thể ghi ở đây là trang FACEBOOK của tôi có gần 5000 bạn bè thêm 3000 độc giả theo dõi. Thử hỏi không có vụ kiện thì ở Việt Nam có mấy ai biết đến tạp chí APJCEN? Không anh ạ. Tôi chỉ muốn tiếp tục đóng góp cho nền giáo dục và khoa học Việt Nam ở những hướng sở trường, làm nhịp cầu tiếp nối mà các bạn trẻ rất cần mà chưa có điều kiện nắm bắt. Thực hiện cho ra đời một Tạp chí quốc tế như APJCEN để được Nhà xuất bản tên tuổi Springer ủng hộ, việc đầu tiên là phải huy động cho được một Ban Biên Tập có đông đảo các nhà khoa học nổi tiếng tham gia. Khả năng này cần một cá nhân có bề dầy sinh hoạt khoa học lâu năm, có giao thiệp rộng rãi toàn cầu. Tôi may mắn có được ảnh hưởng này. Các học trò năng động nhất của tôi cũng phải chờ thêm nhiều năm mới làm được. Tôi muốn giúp các nhà khoa học trẻ Việt Nam sớm vươn ra quốc tế,giúp họ có điều kiện công bố nhanh gọn các công trình khoa học. Vả lại, làm Tổng Biên Tập tạp chí này không có thù lao, chỉ là tình yêu khoa học thuần túy thôi anh ạ. Ý định của tôi là hiện diện vài năm đầu, sau đó giao lại cho một nhà khoa học trẻ Việt

Nguyễn Đắc Xuân.-  Như một tờ báo nào đó đã viết về Hợp đồng anh đã ký với Đại học Tôn Đức Thắngcó nói đến việc ra báo mà Hiệu trưởng trường này muốn làm chủ một tờ báo. Khi đặt bút ký, anh có tiên liệu được những khó khăn về sau không?

GS Nguyễn Đăng Hưng.- Đúng là có một hợpđồngmà tôi đã ký với HT TDT nói là cố vấn cao cấp sẽ “lên kế hoạch với sự hỗ trợ của Đại học Tôn Đức Thắngđể thực hiện một tờ báo khoa học”. Vì không biết mặt mũi đứa con ra sao, không có chi tiết nào nói đến ai là sở hữu chủ, ai là Tổng Biên Tập (TBT). Chính tôi cũng bất ngờ được tin vui là nhà xuất bản Springer đồng ý ủng hộ và đầu tư toàn bộ, chỉ giao cho Ban Biên Tập toàn quyền về nội dung tạp chí. Trước thềm Tết Quý Tỵ, tôi đã thông tin ngay cho Hiệu trưởng Đạihọc Tôn Đức Thắngvề sự thành công sau khi thương thảo với Nhà xuất bản Springer. Ngày 7/2/2013, Ông Lê Vinh Danh (LVD) trả lời tôi [7] nói rõ APJCEN là không phù hợp và ông Lê Vinh Danh chỉ muốn “thành lập một tạp chí tiếng Anh có tầm quốc tế của Trường đại học Tôn Đức Thắng và tạp chí này thuộc về Trường đại học Tôn Đức Thắng”. Tôi đã ngồi viết một E-mail dài tối giao thừa (29 tết) [7] trong đó,sau khi giải thích cặn kẽ về giá trị của sự ra đời của tờ báo khoa học quốc tế, có sự ủng hộ quý giá của Springer, điều kiện tiên quyết cho tương lai tạp chí. Phần kết thư này tôi cũng đã thẳng thắng khẳng định: “Không ai dại gì gỡ bỏ một lâu đài trên vùng đất cao ráo có tầm nhìn ra thế giới để trở lại xây dựng một căn nhà lá vách đất trên nền đất yếu, chật hẹp”. Thành ra vấn đề không phải tôi không hoàn tất hợp đồng (hợp đồng chỉ nói lên kế hoạch) mà tôi đã thành công ra ngoài dự kiến: Ngay từ ngày ra mắt, APJCEN đã là một tạp chí quốc tế. Vấn đề đặt ra là Hiệu trưởng Đại học Tôn Đức Thắngđã bỏ qua những lời giải thích và tư vấn cặn kẽ của tôi, không thấy được lợi ích trước mắt là song hành cùng cố vấn cao cấp của mình để có được sự ủng hộ của Springer mà khăng khăng đòi làm chủ, làm nhà sáng lập có quyền bổ nhiệm TBT. Lập trường thiển cận này là nguyên nhân của sự đổ vỡ vì nó tạo ra một tranh chấp không đáng có cho tờ báo. Trên thực tế chủ nhân tờ báo đã được xác định qua hợp đồng sáng lập [8] đó là Nhà xuất bản Springer! Và TBT là do Ban Biên Tập tín nhiệm và Nhà xuất bản chấp nhận. Anh nói đúng, khi ký hợp đồng với họ, tôi đã không tiên liệu được vì trình độ nhận thức của đối tác, đã xuất hiện khó khăn và mâu thuẫn nảy sinh từ tham vọng làm chủ.

Nguyễn Đắc Xuân.- Tôi thật sự không hiểu tại sao anh lại đi chọn trợ lý là một người đã có tiền án, một hành động thiếu cảnh giác?

GS Nguyễn Đăng Hưng.- Phải xem xét kỹ các hồ sơ, tôi mới xác định hành động đáng thất vọng của người trợ lý ấy. Đó là hồ sơ trong giai đoạn sửa soạn cho ra đời tờ báo. Và tôi phải đi đến kết luận: “Vụ kiện đã phát xuất từ một sự ngộ nhận và trách nhiệm của tác giả đứng sau sự việc này đã được phơi bày với những chi tiết không thể phủ nhận được. Người đứng sau đó với tư cách chuyên gia khoa học của ông Hiệu trưởng Đại học Tôn Đức Thắnglà TS Lê Văn Út (LVU)”. . Khi chọn TS LVU làm trợ lý tôi có biết người này có tiền án ở Cần Thơ năm 2008. Tôi cũng nhận được thông tin về nội dung luận văn tiến sỹ mà TS LVU trình ở Phần Lan. Nhưng tôi đã bỏ qua tất cả vì tôi nghĩ đó là những sai lầm của thời trẻ, nên mở lối cho một thanh niên năng động, đam mê công việc. Đây đúng là một hành động thiếu cảnh giác, tôi xin nhìn nhận.

Nguyễn Đắc Xuân.- Cảm giác của anh như thế nào sau khi anh biết được Hiệu trưởng đại học Tôn Đức Thắngđã viết thư bài bác anh gởi cho các thành viên ban biên tập APJCEN cuối tháng tư vừa rồi?

GS Nguyễn Đăng Hưng. -Tôi rất bất ngờ và ngỡ ngàng. Các bạn khoa học của tôi cũng bất ngờ không kém. Trong thư ấy, Hiệu trưởng đại học Tôn Đức Thắngđã cố tình xúc phạm tôi khi viết: 1. Tôi đặt vấn đề về đạo đức và tính trung thực của Tổng Biên tập Nguyễn Đăng Hưng. 2. Tôi không chắc là về bằng cấp của Tổng Biên tập Nguyễn Đăng Hưng. Tôi chắc chắn là ông ta không có có bằng Tiến sỹ habil. Bằng tiến sỹ đặc biệt mà ông khoe trong lý lịch khoa học chẳng có ý nghĩa gì. Một vị Hiệu trưởng một trường Đại học viết thư cho gần 60 nhà khoa học của thế giới với nội dung nói xấu về cố vấn cao cấp của mình với những lời như thế đấy anh Xuân ạ. Tôi thật tình đã rất buồn khi một vị Hiệu trưởng lại có thể viết những lời một cách không có cơ sở như thế! Trong thư trả lời, tôi đã thành thật nói lên cảm tưởng chung của chúng tôi: “Phần phụ lục (trong thư Le Vinh Danh [8]) là một sai lầm hệ trọng. Nó không xứng đáng với vai trò Giám đốc TDDU của ông. Thật vậy, nó hạ thấp vị trí học thuật của ông!”

Nguyễn Đắc Xuân.- Trong thư này, Hiệu trưởng Lê Vinh Danhkhẳng định là anh chưa hề có bằng tiến sỹ đặc biệt?

GS Nguyễn Đăng Hưng.- Ông này không biết gì về chế độ bằng cấp tại Bỉ, nhờ “chuyên gia khoa học” truy lùng trên mạng tìm mãi không thấy tên bằng Special Ph.D. rồi phát biểu lung tung khẳng định là không có, không đúng…. Thật là một thái độ thiếu khoa học đáng chê trách. Gần một chục nhà khoa học cao cấp đã phản ứng, có người nói thẳng một cách khá lịch sự nhưng rất đau như trong hồ sơ dưới đây [9]. Riêng về bằng Tiến sỹ đặc biệt, xin anh tham khảo hai hồ sơ sau đây [10,11] có đầy đủ chi tiết ngay cả toàn bộ 800 trang luận án.

Nguyễn Đắc Xuân.- Có nhà báo bảo tôi rằng: Ông ta cũng bảo khả năng khoa học của anh rất hạn chế?

GS Nguyễn Đăng Hưng.- Đây phải chăng cũng là điều mà các “chuyên gia khoa học” gà nhà này mớm cho ông Lê Vinh Danh? Điều oái ăm là các nhà khoa học trong ban biên tập biết rất rõ về tôi, có người đã đọc công bố khoa học của tôi từ những năm 60, 70. Họ đã đồng loạt khẳng định sự tín nhiệm bất di bất dịch của mình đối với Tổng Biên Tập. Anh Xuân ạ, một người không phải là nhà khoa học, chưa hề nghiên cứu khoa học chuyên ngành của tôi làm gì có khả năng đánh giá về tôi? Việc này cuối cùng chỉ là làm các nhà khoa học thế giới chê cười mà thôi.

Nguyễn Đắc Xuân.- Có người bảo anh bảo vệ luận án TS khá trễ năm 1984 mà sao anh lại khai trên CV của anh là đã đi thuyết trình khắp nơi trong thập niên 70, 80 và còn được mời về thỉnh giảng dài hạn tại VN năm 1977?

GS Nguyễn Đăng Hưng.- Giải thích việc này hơi dài dòng. Nó phát xuất từ tính cách cá biệt của lịch trình thăng tiến trong quá trình làm nhà giáo đại học của tôi tại Liège. Có lẽ tôi cũng thuộc loại người giống như anh, thích nghiên cứu khoa học, nhưng không đặt chủ tâm vào chuyện bằng cấp! Thật vậy, tôi vốn là một người đam mê nghiên cứu khoa học và trong giai đoạn sung mãn nhất của cuộc đời khoa học, tôi cứ mải mê khám phá rồi nhanh chóng công bố ra quốc tế mà không chịu dừng lại để đúc kết và tổng hợp các công trình của mình thành luận văn tiến sỹ. Tôi lại được thầy tôi ưu ái một hai lần lập thẩm định quốc tế xem xét toàn bộ công trình khoa học của tôi, cho phép tôi được bổ nhiệm làm giảng viên thường trực năm 1972, tuy tôi chưa chính thức bảo vệ luận án tiến sỹ. Tôi đã đi làm khoa học hàng chục năm (thuyết trình tại các đại học, công bố tại các hội nghị, làm chủ đề tài nghiên cứu có tài trợ…) với tư cách ấy. Năm 1977 tôi được Ủy Ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước Việt Nam mời về thỉnh giảng tại Hà Nội và TP HCM cũng với tư cách ấy. Tôi giữ đến hôm nay cái thư mời chính thức này. Năm 1982 tôi được biệt phái đi thỉnh giảng dài hạn (3.5 năm) tại Congo (Bỉ) cũng với tư cách ấy. Mãi đến năm 1984, thời điểm thầy tôi GS Ch. Massonnet sắp lấy hưu trí và muốn tiến cử tôi lên làm giáo sư thực thụ, thay ông giảng dạy một số giáo trình. Tôi được thầy tôi triệu hồi gấp về Liège. Ông bắt tôi phải nhanh chóng trình luận văn tiến sỹ. Thấy đề cương luận văn của tôi quá phong phú, ông lần nữa lập một Hội đồng thẩm định gồm những nhà cơ học lừng danh thế giới của giai đoạn 1975-1980 như các giáo sư: D.C Drucker (Illinois-Urbana Champaign, Hoa Kỳ), G. Maier (Milan, Ý), M. Save (Mons, Bỉ) và chỉ sau hai tuần các báo cáo thẩm định được gởi về và đồng ý ra văn bản xác nhận tôi có trình độ tương đương cấp tiến sỹ qua thẩm định của các nhà khoa học chuyên ngành quốc tế. Thế là tôi trở thành người đầu tiên tại Liège, được bảo vệ bằng cấp sau tiến sỹ mà chưa hề bảo vệ bằng tiến sỹ bình thường như thông lệ. Tại Bỉ bằng sau tiến sỹ dành cho người nước ngoài như tôi có tên: Doctorat Spécial. Bằng này tương đương với bằng Doctorat Habilitation ở Pháp, Ba Lan hay ở Đức.

Theo định nghĩa, bằng Doctorat Spécial phải là bằng xác định trình độ nghiên cứu khoa học thâm sâu của ứng viên. Bằng này dành cho các nhà khoa học có thâm niên nhưng tích cực hoạt động liên tục và có những thành quả nghiên cứu được giới khoa học quốc tế công nhận.

Nguyễn Đắc Xuân.- Anh bị phê phán là thích nổ vì hay kê khai chức vị đầy đủ qua các e-mail?

GS Nguyễn Đăng Hưng.- Tôi làm nhiều việc, ở nhiều nơi, đi nhiều chỗ. Việc kê khai không phải để khoe mà là để tiện bề liên lạc với bạn bè bốn phương. Tuy đã nghĩ hưu, nhưng tôi vẫn phải thường xuyên tiến cử các học trò cũ giúp họ xin học bổng, xin việc postdoc. Muốn việc làm này hữu hiệu, điều tiên quyết là phải tự giới thiệu mình một cách trung thực và thuyết phục. Thí dụ khi tôi ghi chức danh tôi là “Giáo sư Danh dự Thực thụ” trường Đại Học Liège, tôi đã dịch nguyên văn chức danh này từ tiếng Pháp (Professeur ordinaire honoraire), một chức danh đã được Hội Đồng Quản Trị ĐH Liège ban cho tôi qua văn bản ngày 21/9/2006, trước ngày tôi về hưu một tuần và khuyến dụ tôi nên sử dụng chức danh này cho đến mãn đời. Tôi chỉ tự giới thiệu một cách chính xác cái gì mình có. Người đời không tin là quyền của họ. Nhưng khi chưa kiểm chứng nghiêm túc, xin đừng ác ý, gây phản cảm không hay cho tôi, bảo tôi tự phong, tự tung, tự tác, thích nổ. Đây là thái độ của những kẻ không tốt, hay chê bai, đố kỵ, mặc cảm… Thái độ thường nhật của tôi là bao dung cho qua, không quan tâm. Người Pháp có cân ngạn ngữ rất hay: Chó cứ sủa, đoàn người cứ đi qua …

Nguyễn Đắc Xuân.- Dư luận chung quanh anh về vụ kiện diễn tiến ra sao?

GS Nguyễn Đăng Hưng.- Điều này có lẽ anh nên hỏi người thứ 3 khách quan hơn. Riêng tôi qua các mạng xã hội như  FACEBOOK, tôi thấy tuy báo chí có đăng tải nguyên văn những cáo trạng năng nề về tôi, tuy có cả một trang chuyên chỉ đăng tải những bài bôi nhọ tôi, chẳng có mấy người tin. Và những người hiểu vấn đề càng có cảm tình với tôi hơn…Những người hoài nghi sau khi đọc những bài tôi viết có nội dung khoa học, có tính thuyết phục cao, có bằng chứng hẳn hoi chứ không chung chung như những bài báo mà ta đã biết, đã hiểu đâu là sự thật, đâu là lẽ phải…

Nguyễn Đắc Xuân. -  Vụ kiện có phản ứng tiêu cực đến báo APJCEN không?

GS Nguyễn Đăng Hưng.- Chẳng có ảnh hưởng nhỏ nào cả. Ban Biên Tập lại thêm quyết tâm sắp ra số đặc biệt. Vụ kiện đã quảng cáo tốt cho APJCEN và nhà xuất bản Springer!

Nguyễn Đắc Xuân. – Qua vụ này, việc gì làm anh thất vọng nhất?

GS Nguyễn Đăng Hưng.- Sự nông cạn về nhận thức khoa học và học thuật thường song hành với tính tham lam của con người.

Nguyễn Đắc Xuân. – Anh rút được bài học gì qua vụ này? Anh liệu có còn đủ sức lao tiếp vào những công việc mới nào nữa không?

GS Nguyễn Đăng Hưng.- Nếu tôi muốn cũng chẳng có cơ hội nữa anh ạ. Tôi sẽ rút về khu vườn riêng, hoàn thiện mấy trang bút ký và tìm cách xuất bản trước khi nhắm mắt xuôi tay. Bài học ư? Đừng hoang tưởng ai cũng như mình. Đằng sau hợp đồng rất có thể là cạm bẫy, nếu là hợp đồng gắn với những ham muốn không chính đáng và không bao giờ có thể đạt tới của một …

Nguyễn Đắc Xuân.- Tôi hoàn toàn không có khả năng theo anh trong vụ này, nhưng vì bạn bè trí thức nhiều, tôi mạo muội hỏi chuyện anh hôm nay để nhắc cho các bạn tôi hãy hết sức thận trọng cân nhắc kỹ lưỡng trước ký đặt bút ký hợp tác với một đối tác mà mình chưa biết rõ. Trong lúc hỏi chuyện không tránh được những việc anh không muôn nhắc đến, nếu đã làm phiền anh, mong anh thông cảm. Cám ơn anh.

GS Nguyễn Đăng Hưng.- Cám ơn anh đã tạo dịp để tôi tỏ bày. Anh đã thẳng thắn đặt tôi trước những câu hỏi khó. Tôi cũng đã không tránh né câu hỏi nào. Mong sao những câu trả lời làm anh thỏa mãn. Còn bài học của sự cố này, anh đã có kết luận rồi đấy. Chẳng những không ký thỏa thuận mà đừng bao giờ cộng tác. Ngay cả một hợp đồng nhẹ nhàng như một hợp đồng có vấn cao cấp cũng sẽ là cái bẫy cho người lương thiện dù cấp cao đến đâu…

Thành phố Hồ Chí Minh, 30/1/2015

 

Chú thích

[1] Tác giả: Lê Thanh Phong, Lao động, ngày 15/8/2014

https://kimdunghn.wordpress.com/2014/08/15/thai-do-ung-xu-cua-tri-thuc/

[2] GS Nguyễn Đăng Hưng lên tiếng về vụ kiện

http://dantri.com.vn/…/gs-nguyen-dang-hung-len-tieng-ve-vie…

[3] Phản hồi về một bài báo

https://kimdunghn.wordpress.com/…/phan-hoi-ve-mot-bai-bao…/…

[4] E-mail sáng lập của Springer

http://www.ndanghung.com/wp-content/uploads/e_mal-sang-lap.pdf

[5] Trang Research về GS Nguyen Dang Hung

https://www.researchgate.net/profile/H_Nguyen-Dang/reputation

[6] Hợp đồng ĐH TĐT – NĐH

http://www.ndanghung.com/wp-content/uploads/Hop-dong_TDT_NDH.pdf

[7] Thư điện tử đêm giao thừa

http://www.ndanghung.com/wp-content/uploads/e-mail-29-tet-cho-LVD.pdf

[8] Thư LVD gởi cho BBT APJCEN

http://www.ndanghung.com/wp-content/uploads/TDTU-Letter-to-APJCEN-Board1.pdf

[9] E-mail phản đối của 3 nhà khoa học quốc tế.

http://www.ndanghung.com/wp-content/uploads/e_mail-phan-doi-của-GS-Ponthot-De-saxce-va-Bordas.pdf

[10] Chuyện đặc biệt về bằng cấp và bằng tiến sỹ đặc biệt.

 http://www.ndanghung.com/bai-viet/2014/05/04/lay-bang-da-dac-biet-bang-cung-co-ten-dac-biet-thi-viec-du-luan-dat-cau-hoi-chang-co-gi-dac-biet-au-cung-la-cai-so-vay.html/#more-8571

[11] Thêm tài liệu về bằng tiến sỹ đặc biệt

http://www.ndanghung.com/bai-viet/2014/06/17/mong-thay-cac-ban-tre-rut-ra-bai-hoc-tich-cuc-cua-su-viec-vang-that-khong-bao-gio-so-lua-va-viec-lam-chan-that-luon-luon-duoc-nguoi-that-va-viec-that-bao-ve.html/#more-8743

( Nguồn: vanhoanghean…)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 13.03.2015

NGUYỄN QUANG LẬP: NHỚ ĐỒNG

NGUYỄN QUANG LẬP: NHỚ ĐỒNG

Báo Dân Sinh: Nhà văn Nguyễn Quang Lập vừa gửi cho baodansinh.vn một tác phẩm tùy bút mới viết về “màu tuổi thơ” mà ông đã được hưởng trên quê hương mình. Sau đây chúng tôi xin chia sẻ đến bạn đọc bài viết tái hiện tuổi thơ rất giản dị ấy của tác giả.

NGUYỄN QUANG LẬP

NHỚ ĐỒNG

Tôi chỉ có một cánh đồng để nhớ, đó là cánh đồng làng Đông. Quê tôi không có đồng, chỉ có dăm ba thửa ruộng, còn lại là sông và cát. Chỉ đến khi nhà tôi sơ tán lên làng Đông năm 1965, tôi mới thực sự biết đến cánh đồng.

Nhớ đồng…

Cánh đồng làng Đông rất lạ. Ở cái nơi bán sơn địa của miền Trung, đầu kê núi chân gác cát, lại có một cánh đồng màu mỡ, giống như một cánh đồng của Nam Bộ còn lưu lại sau cuộc di dời đất và nước vô tận của Tạo Hóa, có bãi tràm và rặng trâm bầu, có  mai vàng và lúa trời. Và cá ngập nước  và chim đầy trời…

Đến khi lớn lên, đọc đi đọc lại Đất rừng phương Nam, gặp được cụ Đoàn Giỏi, ngồi nói chuyện với cụ trong quán cóc đường Bà Triệu, tôi kể cho cụ nghe về cánh đồng quê tôi, cụ trố mắt ngạc nhiên, chép miệng nói đi nói lại lạ vậy ha, lạ vậy ha.

 Đồng làng Đông chỉ là một phần của cánh đồng mênh mông của bốn làng Phù Lưu, Trung Thuần, làng Đông và làng Xá. Nó rộng đến nỗi  đi một vòng quanh đồng phải mất trọn một ngày. Ấy là đi nhanh, nếu thong thả rông chơi cũng phải hết  ba ngày. Mặt trời mọc từ sau rặng trâm bầu kéo dài từ làng Đông đến làng Pháp Kệ và lặn ở cuối cánh đồng, sau dãy đồi đầy sim và ổi làng Trung Thuần. Thế giới tuổi thơ tôi là vậy. Giống như mọi đứa trẻ làng Đông, thế giới của tôi chỉ có ngôi làng và cánh đồng, chỉ có vậy thôi mà đi hoài không hết, sống hoài không chán. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 12.03.2015

BIA MỘ CHÓ CỦA CỤ PHAN BỘI CHÂU

0; i

Bia mộ con Vá và con Ky

   BIA MỘ CHÓ CỦA CỤ PHAN BỘI CHÂU

                                                            Ngô Minh

            Thời gian bị  thực dân Pháp giam lỏng ở ngôi nhà trên dốc Bến Ngự, Huế (bây giờ gọi là 92- đường Phan Bội Châu) từ 1925- 1940, cụ Phan Bội Châu có nuôi hai con chó. Cụ đặt tên là con Vá và con Ki. Cụ rất yêu hai chú chó vì chúng  thủy chung và dũng cảm. Khi hai chú chó bị đau yếu mà mất, cụ đều đắp mộ và đề bia mộ bằng chữ Hán, chữ Quốc ngữ. Hiện dưới chân phần mộ Phan Bội Châu ở nhà Lưu niệm cụ Phan  có mộ Con Vá ,Con Ki và 3 tấm tấm bia mộ chí, tấm bia chữ Hán và tấm bia chữ Quốc ngữ.

  Mộ con Vá là tấm bia “ Nghĩa dũng cẩu “Con Vá ”chi trủng” . Bia Quốc ngữ dịch như sau :” Vì có dũng, nên liều chết phấn đấu, vì có nghĩa nên trung thành với chủ. Nói thời dễ, làm thiệt khó, người còn vậy, huống gì chó. Ôi con Vá này , đủ hai đức đó, há như ai kia, mặt người lòng thú ; nghĩ thế mà đau , dựng bia mộ chó”. Giải thích tại sao phải đựng bia mộ con Vá,  trên tờ Trung kỳ tuân báo số 14,ngày 15-4-1936, cụ Phan Bội Châu có đăng bài kể về lịch sử con Vá  nghĩa dũng rất  sâu sắc. Con Vá mất ngày 21 tháng 5 năm Giáp Tuất ( 1934) . Cụ Phan thương chó, đắp mồ táng cho nó. Mồ cao rộng một thước tây, ở gần phía dưới chân sinh huyệt của cụ. Trên mộ chó có tấm bia cao một thước ta khắc 5 chữ “ Nghĩa dũng cẩu chi trung”. Một ông khách đến chơi, thấy cụ Phan dựng bia mộ chó, bảo “Ông sao quá đa sự, coi chó như người ?”. Cụ Phan trả lời : “Nhưng theo về nguyên tắc sinh lý thì người với cho có gì phân biệt  ; Mà sở dĩ phân biệt là chính ở  nơi tinh thần. Nếu tinh thần mà mất hết tri giác, thì người chẳng phải chó là gì ?”. Cụ Phan kể: “Con Vá do một ông bạn ở Bao Vinh cho khi nó mới 3 tháng tuổi. 5 tháng tuổi  chủ đi đâu cũng theo đi. Có lần nó đã  chiến đấu với một bầy dê, trong đó có con dê râu xồm dài lắm, sừng nhọn mà cong. Lúc đầu lũ dê xúm vào húc Vá. Thế mà một mình con Vá làm cho cả bầy dê phải hoảng hốt, chạy toán loạn. Có lần một đoàn chó Tây của các nhà giàu sang ùa vào cổng nhà cụ Phan. Con Vá một mình “ hồng hộc xông ra cắn”. Đánh nhau một lúc lâu, Vá  bị thương hai mù hai mắt. Lúc đó Vá được 7 tuổi. Đó là cái “dũng” của Vá. Vá còn là một con chó có “nghĩa” với chủ. Đối với cụ Phan con Vá như một vệ sĩ. Bọn thực dân suốt ngày đêm cho lũ mật thám theo dõi cụ. Con Vá đã cắn đuổi ít nhất hơn trăm người khách không mời mà tới đó. Nó ghét thứ nhất là những người thình lình vào buồng cụ . Thấy con Vá khôn ngoan, những “ trọc trèm nuôi muông đều để ý tới Vá”. Có lần Vá đưa ông bạn cụ Phan ra ga Huế, giữa đường nó bị bọn xấu bẫy. Vá vị bắt từ bảy giờ sáng đến tám giờ đêm mới thấy chạy về nhà thở ào ào, cổ bị buộc dây. Chắc là Vá phải  nhẫn nại cắn đứt dây buộc mới thoát được. Một lần con Vá vị bắt tới 4 ngày, mà nó cũng thoát được về, bụng đói meo vì không ăn uống gì. Chiến công đáng kể nhất của Vá là bắt kẻ trộm. Có lần mụ người ở tham lam, nhân cụ Phan ngủ say, lẻn vào buồng cụ lấy “bao giấy” ( tiền). Nhưng con Vá nằm dưới giường xông ra “hộc” một tiếng rất to, chụp vào chân mụ, buộc mụ phải vất bao giấy lại. Một lần có kẻ trộm đang đêm lẻn vào nhà lấy trộm  áo mũ của đứa cháu  treo ở móc áo ngoài nhà khách. Con Vá phát hiện ra, sủa vang đuổi theo, buộc tên trộm phải kinh hoàng vất áo mũ lại. Đó là oai linh con Vá. Cụ Phan kể rằng, đối với con Vá “duy chỉ có việc này thì ở trong chủng tộc chó e con Vá là “độc nhất vô nhị”, là nó thấy đồ ăn ở ngoài đường, hay chỗ nào mà trong tay của chủ nó  cho ăn, thì nó nhất định không chịu ăn”. Kể xong chuyện con Vá, cụ Phan kết luận:” Giá như người làm tôi dân một nước , vừa dũng, vừa nghĩa, vừa khôn, thảy hết sức giữ nước, cũng in như con Vá giữ nhà, thời từ xưa đến nay làm gì có vong quốc sử nữa ư ? “ Một con chó nghĩa dũng như thế , khi nó chết làm sao mà không thương nhớ, không đắp mộ cho nó !

  Còn bia mộ con Ki khắc bằng chữ Hán : ”Nhân trí cẩu “Ki” chi trủng” vào năm Đinh Sửu , tức là sau con Vá 5 năm. Bia mộ chữ Quốc ngữ cụ Phan đề như sau :

Người hơi có đức nhân thường kém về phần trí; người hơi có đức trí thường kém về phần nhân. Vừa trí vừa nhân thiệt là hiếm thấy ! Ai ngờ con Ki này lại đủ hai đức ấy.

Chung nhau thờ một chủ, thời xem là anh em, chẳng bao giờ như mèo với chó, thiệt là nhân đó. Thấy không phải chủ thời xem bằng cừu thù, chẳng bao giờ vì miếng cơm dẫn dụ, thiệt là trí đó. Trí vừa nhân. Nhân vừa trí, trong giống súc mà người, e đến mày mới thấy . Mày sao vội chết ! Hỡi trời ! Hỡi trời! Lòng ta đau đớn, phải tạc mấy lời. Đau đớn quá ! Đau đớn quá ! Kìa những hạng muông người!”

  Chuyện cụ Phan Bội Châu đắp mộ , dựng bia chó tử tế là chuyện có thật. Nhưng đằng sau sự thật đó là sự căm giận, phản ứng của cụ đối với “hạng muông người”, tức hạng người cầm thú, chuyên làm tay sai cho giặc, bán nước hại dân. Lấy chuyện chó nói chuyện người là vậy. Thời nay, bọn tham nhũng đang nảy nòi nhung nhúc khắp nơi mọi chốn. Chúng phá nước, hại dân chẳng khác gì “ hạng muông người” mà cụ Phan lên án. Đọc bia mộ con Vá, con Ki ta càng hiểu chiều sâu của lòng yêu nước thương nòi của cụ Phan, càng căm giận hạng người cầm thú !

 

Nhà văn NGUYỄN XUÂN KHÁNH: TÔI SẼ NGỪNG VIẾT VĂN

Nhà văn Nguyên Xuân Khánh sinh năm 1933 tại Hà Nội. Năm nay ông đã 83 tuổi.Ông tuyên bố sẽ ngừng viết ở tuổi 83, bởi vì ý tưởng đã cạn, những liên tưởng đã không còn bay cao, bay xa… Nhưng ông khẳng định, nếu trời cho, đến một lúc nào đó, biết đâu ông lại “bùng nổ” theo cách nào đó, biết thế nào được, bởi vì chưa bao giờ ông ngừng đọc, ngừng học hỏi, ngừng quan sát dù đã ngót bách niên trong cõi người này.

Nhà văn Nguyên Xuân Khánh sinh năm 1933 tại Hà Nội. Năm nay ông đã 83 tuổi.

'Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh ngày ra mắt tiểu thuyết Đội gạo lên chùaNhà văn Nguyễn Xuân Khánh ngày ra mắt tiểu thuyết “Đội gạo lên chùa”


Trần Hoàng Thiên Kim

 

Những ngày cuối năm, căn nhà ông ở trong con ngõ tấp nập người qua lại bán mua. Căn nhà ngày xưa đóng cửa làm phòng văn, nay được cô con dâu út kinh doanh hàng tạp hóa để kiếm thêm thu nhập, cũng là để cho bà Khánh có chỗ xum tụ bạn bè. Hàng xóm đến mua, có khi không mang tiền, mua chịu rồi khi khác trả. Bà Khánh thì tươi cười đon đả, nhanh nhẹn tháo vát, dù đã ở tuổi 75.
Người đàn bà chịu thương, chịu khó, bao nhiêu năm trời cùng đứng mũi chịu sào với nhà văn Nguyễn Xuân Khánh, cùng ông vượt qua những năm tháng lận đận với 4 người con trai kiếm từng bữa ăn gian khổ.
Bây giờ ngồi nhắc lại, ông bà vẫn xuýt xoa, rồi cười trong niềm sung sướng vì đã vượt qua được những chặng đường ấy một cách ngoạn mục, để giờ đây, sau nhiều thăng trầm, nhiều trải nghiệm, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh trở thành một tên tuổi trong văn chương Việt Nam, ông để lại những đỉnh cao văn học không dễ gì vượt qua được như: Hồ Quý Ly,Mẫu Thượng Ngàn, Đội gạo lên chùa…


Nếu nói rằng, mỗi người đều có một con đường đi do số phận sắp đặt, thì con đường trở thành nhà văn của Nguyễn Xuân Khánh đúng là một sự run rủi của số phận.
Đang học trường Y, ông xin đi bộ đội và bắt đầu những trang tiểu thuyết đầu tiên của mình năm 1959. Đó là một tiểu thuyết viết về làng quê, được Nhà xuất bản Quân đội nhân dân nhận in, nhưng lần lữa mãi, sửa chữa mãi, cuối cùng ông không chỉnh sửa kịp và bỏ dở cuốn tiểu thuyết đầu tay ấy. Ông cất vào một góc của ngăn kéo… và lăn lộn với chặng đường mưu sinh vất vả khó khăn gian khổ của cuộc sống, làm đủ nghề từ công nhân, nuôi lợn, làm thợ may… để nuôi các con ăn học nên người.
Cho đến một ngày, ký ức về làng, giấc mộng về làng đã thôi thúc trong ông, ông viết như lên đồng về văn hóa, bản sắc của làng quê Việt, cái làng của ông, cái làng của tôi, của bạn, cái làng có trong thôn quê Việt Nam với những tín ngưỡng văn hóa muôn đời đã hiện lên trên trang viết của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh như thôi miên bạn đọc…
Ông, bằng tất cả vốn tự học, tự đọc, tự nghiên cứu của mình, đã khẳng định: Văn hóa người Việt đứng vững bởi những nền tảng của văn hóa làng; đạo Nho, đạo Khổng và đạo Phật. Tín ngưỡng đạo Mẫu là riêng của Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Tín ngưỡng dân gian có những nét đẹp trường tồn qua không gian, thời gian. Đó là sức sống phồn thực, tính sinh sôi nảy nở của làng Việt Nam.
“Chúng ta đang ở một thế giới hiện đại, chúng ta đang mất đi những nét đẹp, thông thường chúng ta muốn chiếm đoạt. Tôi muốn nói con người nên quay lại, tôi không kêu gọi người ta đi theo Phật giáo, đi tu ở chùa mà cần có lối sống Phật giáo, phải làm hằng ngày, xây dựng văn hóa cho con người, “từ bi hỉ xả”. Tôi muốn người đọc tự nhận ra, không thuyết giảng. Bất cứ người Việt Nam nào, dù không tôn giáo cũng đều mang chút tính cách, tâm hồn của đạo Phật. Với người Việt, Phật giáo là một lối sống. Với văn chương, quan trọng nhất là những ý tưởng thể hiện, và những ý tưởng của tôi luôn có khuynh hướng đi về văn hóa. Văn hóa trong tiểu thuyết có thể là tập tục, nếp sống làng quê. Nếu không có nền tảng văn hóa thì tiểu thuyết không đứng vững được”.
Đã có biết bao nhiêu lời nhận xét, bao nhiêu hội thảo, luận văn, luận án về tác phẩm của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh. Nhiều người cho rằng, ông là số ít các nhà nhà văn Việt Nam đáng đọc nhất hiện nay bởi sức nghĩ và vốn sống dày dặn của ông đã viết nên những cuốn tiểu thuyết sống cùng lịch sử văn hóa dân tộc. Điều đáng nói là văn của ông mang tính lịch sử, nhưng lại có dáng dấp hiện đại, nó là một sự giao thoa văn hóa, lịch sử – văn hóa – phong tục cổ kim đan quyện vào nhau, bởi vậy mà tác phẩm của ông đã làm xiêu lòng nhiều độc giả trẻ.
Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh luôn khẳng định rằng, ngoài những duyên may, thì ông là một người không ngừng nghỉ tự học, tự đọc. Để viết được một cuốn tiểu thuyết, ông đã phải đọc rất nhiều cuốn sách về phong tục tập quán, về văn hóa, về phân tâm học, văn học cổ kim trong ngoài nước.
Cũng chính bằng phương pháp tự học, mà ông đã trở thành một dịch giả với những cuốn sách như Những quả vàng (tiểu thuyết của Nathalie Sarraute, NXB Phụ nữ, Hà Nội, 1996), Chuông nguyện cầu cho kẻ đã khuất (tiểu thuyết của Taha Ben Jelloun, Trung tâm Văn hoá – Văn minh Pháp và NXB Phụ nữ, Hà Nội, 1998), Bảy ngày trên khinh khí cầu (Jules Verne, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 1998), Hoàng hậu Sicile (tiểu thuyết của Pamela Schoenewaldt, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 1999),Tâm lý học đám đông (tiểu luận của Gustave le Bon, NXB Tri thức, Hà Nội, 2006) hay cuốn Sự hình thành biểu tượng ở trẻ nhỏ của tác giả Jean Piaget (Jean Piaget là một nhà tâm lý học và triết học người Thụy Sĩ, nổi tiếng về những nghiên cứu nhận thức luận với trẻ em).
Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã chia sẻ: “Khi đọc Piaget, tôi mới hiểu ra một điều rất cơ bản: Con người trong quá trình khám phá thế giới, đã tự mình tạo nên kiến thức, tự mình tạo nên thế giới của mình. Còn giáo dục chỉ là sự giúp đỡ để con người có thể tự học, để con người tự khai sáng cho mình. Những bạn trẻ ngày nay, muốn tiến xa, muốn có năng lực làm việc thì cũng phải thường xuyên tự học. Có tự học thì cái học mới sâu sắc. Thấy cần gì nhất thì học cái ấy. Tìm mọi cách để mà tìm hiểu. Nhu cầu tự nhiên do ta tự do chọn lựa sẽ cho ta một động cơ để ta lấp đầy những chỗ ta thiếu, để ta tự do tạo ra chính bản thân ta. Jean Piaget là người tự học vĩ đại – những người sáng tạo đều thế cả.
Ông hầu như đã đọc hết những sách quan trọng của thời đại ông sống. Trong sách của ông, ta thấy trích dẫn những tên tuổi như Groos, Wundt, Claparède, Binet, Wallon, Buytendijk, Freud, Siberer, Adler, Jung… cùng nhiều người khác. Không những ông chỉ đọc mà ông còn đối thoại để tán thành để phản biện. Đối với ông chân lý là tối thượng. Dù một tác giả có uy tín đến thế nào, nếu thấy không đúng cũng phải phản biện. Ông đã dành rất nhiều trang sách để đối thoại với Groos, với Freud, với Jung…
Chỉ với tinh thần khoa học, dân chủ, không giáo điều ấy, ông mới có thể sáng tạo. Bản thân ông, mới 12 tuổi đã đọc Tố Tâm, Thủy Hử, Tam Quốc… Những câu chuyện phiêu lưu kỳ thú, tạo óc tưởng tượng cho con người; những cuốn sách “vỡ lòng” của ông là cuốn chuyển ngữ Lá thu rơi của Tô Hoài. Chẳng phải đây là cuốn sách quá hay, nhưng khi đó tôi đọc thấy thương, còn khóc nức nở. Khi bị xúc động bởi một cuốn sách tức là mình đang trải nghiệm. Câu chuyện đánh vào cảm xúc của con người, tạo nên sự xúc động trong con người, đó là ý nghĩa của việc viết văn”.
Đứng ngoài mọi tiếng tăm, đứng ngoài tất thảy những giá trị trường tồn của những tác phẩm đã trở thành đỉnh cao, trở về căn nhà ấm áp của mình, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh là một “ông già” hay cười, vui vẻ, quan niệm đời sống giản đơn và yêu đời một cách kỳ lạ. Với ông, dường như chả có điều gì to tát, bởi thế lúc nào ông cũng cười “tít mắt” với những câu chuyện, với những con người xung quanh. Ông bảo, giờ đây, những người bạn của ông, phần lớn đều đã khuất bóng, tuổi ngoài 80 sống khỏe mạnh đã là một điều kỳ diệu, nữa là ông, trời cho một khả năng sáng tạo đều đặn, đọc sách đều đặn và chưa bao giờ ngừng tư duy, chiêm nghiệm trước một vấn đề, trước một câu chuyện nào đó thì thực sự là một điều may mắn.
Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh chỉ tiếc một điều, là thời xưa, vì đói khổ, vì phải chạy ăn từng bữa mà ông để cho các con mình “tự do” quá, không rèn giũa vào nền nếp gia đình nên bây giờ, dù các con ông đều đã trưởng thành, nhưng không có một định hướng cụ thể để có thể có một con đường tốt hơn cho các con. Họ biết cha mình là một nhà văn nổi tiếng, nhưng không phải ai cũng hiểu được công việc sáng tạo của ông. Người vợ hiền thảo kém ông 8 tuổi vẫn đôn đáo giục ông ăn uống, lo cho ông từ chiếc áo ấm đến đôi tất giữ sức khỏe hàng ngày là một điểm tựa cho ông sáng tác. Bà sống cũng giản đơn, không kìm tỏa chồng bởi những luật lệ. Bà đùa vui, ông đi đâu thì đi, văn chương kệ ông ấy, từ xưa đã thế rồi, cứ đem tiền về cho tôi nuôi con và tối ngủ ở nhà là được…
Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã liên tiếp nhận 3 giải thưởng danh giá của văn chương Việt Nam: Giải thưởng cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam 1998 – 2000; Giải thưởng Thăng Long của UBND TP Hà Nội 2002; Giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội 2001 – cho tiểu thuyết Hồ Quý Ly. Tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn nhận giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội 2006. Tiểu thuyết Đội gạo lên chùa đã giành vị trí cao nhất giải thưởng Hội Nhà văn 2011.
Với ông, văn chương là một cuộc trải nghiệm những ý tưởng đã được ngấm và lọc qua năm tháng cuộc đời mình. Ông tuyên bố sẽ ngừng viết ở tuổi 83, bởi vì ý tưởng đã cạn, những liên tưởng đã không còn bay cao, bay xa… Nhưng ông khẳng định, nếu trời cho, đến một lúc nào đó, biết đâu ông lại “bùng nổ” theo cách nào đó, biết thế nào được, bởi vì chưa bao giờ ông ngừng đọc, ngừng học hỏi, ngừng quan sát dù đã ngót bách niên trong cõi người này.
Dù ông có tuyên bố gì đi nữa thì tôi cho rằng, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh với sức khỏe của mình, với sự từng trải của mình, với sức đọc và sự ngẫm ngợi của mình, ông sẽ chẳng bao giờ ngừng lại. Bởi vì với ông, viết văn như một cuộc dạo chơi đầy hứng khởi, và giữa những ngày xuân, ông lão ngoài 80 vẫn thong thả bên cốc cà phê đen tỏa khói để nói về văn chương, nói về quá khứ, nói về bạn hữu, nói về những chi tiết tỉ mẩn trong cuộc đời mình một cách rành rẽ, minh mẫn đến vậy, thì tôi tin chắc rằng, ông sẽ lại khiến người đọc “sửng sốt” bởi một tác phẩm nào đó về văn hóa Việt trong một ngày không xa…

Trần Hoàng Thiên Kim

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 11.03.2015

CHÙM THƠ NGÔ MINH

 

CHÙM THƠ NGÔ MINH   

ĐÁ Ở PHONG NHA

 

thăm thẳm Phong Nha thăm thẳm đá

đá rùa đá hạc đứng chờ ai

đá người chen chúc cung vua chật

chuống đá ngân nga lối Phật đài

 

tí tách đá lớn tròn bầu bí

đụn gạo mâm tiền đá chắt chiu

vú sữa nghìn đời nguồn đá ngọt

non nước cưới nhau đá cột kèo

 

róc rách đâu đây lời  đá hát

đá cười đá khóc đá lặng im

ai vô cõi đá hồn đá hớp

trăm dáng trời trồng giữa Hang Tiên

 

thăm thẳm Phong Nha thăm thẳm đá

cõi âm mời gọi thế này sao ?

kìa em sơn cước Sông Son tắm

ngỡ đá Phong Nha lại quay vào ! (Đọc tiếp…)

Bữa ăn cá thối và lũ trẻ đánh hội đồng bạn học

 Đất Việt

Mi An

 

Cá điêu hồng thối được ướp hóa chất chở vào bếp ăn trường học

Một công ty cung cấp thức ăn bán thịt, cá thối vào trường học. Một lũ trẻ lớp 7 đánh hội đồng bạn học. Hai câu chuyện buồn…

Dư luận từ hôm qua đến nay đang xôn xao bởi hai câu chuyện liên quan đến trường học. Thứ nhất, đó là câu chuyện về Công ty TNHH Phú Nhật Hào (phường Khánh Bình, TX.Tân Uyên, Bình Dương) chở 12 kg thịt heo đã thối rữa và 72 kg cá diêu hồng bốc mùi hôi thối đến Trường tiểu học Long Bình (xã Long Nguyên, huyện Bàu Bàng) định cung cấp cho bữa ăn của học sinh vào ngày 05/03.

Nếu không có phụ huynh học sinh phát hiện ra số thịt, cá hôi thối bốc mùi này, ngăn không cho chuyển vào bếp ăn của trường và yêu cầu cơ quan chức năng đến lấy mẫu xét nghiệm, tiêu hủy thì sự việc đã trót lọt.

Trên báo Thanh Niên, bà Nguyễn Thị Mỹ Lệ- Trưởng phòng GD-ĐT huyện Bàu Bàng (Bình Dương) nói: “Thịt cá bị chảy nước vàng, bốc mùi chẳng qua là không được tươi sống, không đạt chất lượng thì đổi lại thôi, chuyện bình thường mà!”.

Bà Lệ nói thêm: “Hàng người ta nhập vào không đạt chất lượng thì trả lại, người ta vẫn ăn bình thường mà, không có sự cố gì đâu…”.

Trên một bản tin phát trên sóng VTV1, nháo nhác là cảnh cha mẹ học sinh đến đón con về nhà ăn trưa. Một bà mẹ cho biết: “Nhà tôi cách trường hàng chục cây số nhưng vẫn phải đón con về, chúng tôi đóng tiền ăn cho con mà không ngờ nhà trường cho con ăn thịt thối”.

Một phụ huynh khác kể thêm: “Con tôi hôm qua về nói chuyện, ba ơi, hôm nay trường cho con ăn món thịt gà chiên, mà sao thịt thối quá ba ạ. Tôi lại nghĩ trường này đạt chuẩn quốc gia không bao giờ có chuyện đó. Hôm nay mới biết có chuyện như vậy”.

Thầy hiệu trưởng Nguyễn Văn Hoàng nói: “Số 72 kg cá điêu hồng ươn đó, sau khi cơ quan test thì phát hiện có tẩm ướp hóa chất. Nhà trường đã đóng cửa nhà ăn và ngừng hợp đồng với nhà cung cấp”.

Học sinh lớp 7 đánh hội đồng bạn (ảnh cắt từ clip)

Một câu chuyện khác cũng gây xôn xao không kém, đó là ngày 10/03, trên mạng lan truyền một clip bạo hành học đường tại Trà Vinh. Một nữ sinh lớp 7 trường THCS Lý Tự Trọng, TP Trà Vinh, mặc đồng phục, đeo khăn quàng đỏ bị các bạn đánh hội đồng.

Với tư cách là một phụ huynh có con nhỏ đang đi học, tôi phải cố gắng hết sức mới dám xem clip kinh hoàng đó. Bé gái đang ngồi trên ghế, trong một góc lớp, những học sinh khác nhảy lên đánh em, đạp em, giật tóc, liên tục ném ghế nhựa vào đầu em, dùng ghế đập vào đầu.

Rất đông học sinh khác đứng xem bạn mình bị đánh hội đồng, nhưng không em nào vào can ngăn để cứu bạn.

Kinh khủng. Chắc cảnh tượng “đại bàng” xử các tù nhân khác trong tù cũng chỉ dã man đến thế mà thôi. Người cha người mẹ nào có con đang đi học mà chẳng không sốc đến nghẹn thở khi trông thấy cảnh tượng đó?

Nhà trường cho biết, vụ đánh nhau này xảy ra từ tháng 1, nhưng đến chiều 9-3 mới bị tung lên mạng, nên mới vỡ lở ra.

Xin quý bạn đọc hãy cùng tôi trả lời câu hỏi: Hai vụ việc này liệu có liên quan gì đến nhau? Một chuyện xảy ra ở Bình Dương. Một chuyện xảy ra ở Trà Vinh. Một vụ thực phẩm thối, một vụ bạo hành?

Tưởng không liên quan, nhưng hóa ra chúng lại liên quan đến nhau rất mật thiết đấy phải không thưa bạn đọc?

Khi người ta sẵn sàng mang thịt thối cá ôi tẩm ướp hóa chất vào trường học để chế biến thành món ăn cho trẻ ăn, thì bọn trẻ đánh hội đồng bạn học như kiểu giang hồ đầu gấu đầu mèo trong lớp cũng là chuyện “bình thường như cân đường hộp sữa”.

Bà Trưởng phòng GD- ĐT huyện Bàu Bàng trả lời: Thịt cá ôi không đạt chất lượng thì đổi lại thôi, chuyện bình thường có gì đâu. Còn sẽ liệu có ai đó ở Trà Vinh trả lời: Lũ trẻ đánh nhau trong lớp cũng là thường thôi, đánh không gây thương tích là được.

Thế đấy. Chúng ta đang sống ở trong thời kỳ mà mọi chuyện bất thường đều trở thành bình thường. Chúng ta đang sống trong một xã hội phần lớn mọi người đang lừa nhau để sống.

Công ty cung cấp thức ăn tuồn thịt thối cá ươn ướp hóa chất vào các bếp tập thể, nhà trường bán bữa ăn thịt thối cho học sinh. CSGT “bẫy” người vi phạm luật giao thông để kiếm “tờ rơi quảng cáo”.

Người nông dân bán thực phẩm có hóa chất trừ sâu cho người tiêu dùng. Người công nhân ăn bớt nguyên liệu. Công chức “cò quay” dân để ra tiền “bôi trơn”. Quan chức ngang nghiên ăn tiền phần trăm từ dự án ngàn tỷ.

Trong cái chuỗi bất thường ấy, chúng ta- những người lớn lại dám đòi hỏi trẻ con phải biết đối xử tử tế, nhân nghĩa, trung thực, đúng đạo lý với nhau được không? Chúng ta còn mặt mũi nào để yêu cầu và lên mặt dạy dỗ chúng điều đó?

Hãy nhìn cách bọn trẻ đang đối xử với nhau trong trường học để sửa lại mình trước khi quá muộn, hỡi những lớn ạ.

Chúng ta đã không đem đến cho chúng một xã hội lương thiện, tử tế, đầy tình nhân ái và tôn trọng con người. Thầy cô bắt chúng phơi nắng vì cha mẹ chúng nghèo chưa kịp đóng tiền mua bảo hiểm, vậy mà lại dạy bảo chúng phải thương người như thể thương thân được sao?

Sự dối trá, lừa lọc, sẵn sàng hãm hại nhau vì đồng tiền, vì mối lợi một khi đã tràn ngập xã hội và hủy hoại mối quan hệ giữa người với người, thì đừng mong sẽ có một tương lai với những thế hệ biết sống tử tế.

Vì thế, nhìn lũ trẻ đánh nhau như gấu chó trong trường học, những người lớn nào sẽ thấy xấu hổ và xót xa?

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 10.03.2015

THIẾU MÁU

THIẾU MÁU

  Ngô Minh

  1

Đi Đại hội Hội văn nghệ Quảng Bình đầu tháng 2-2015. Vừa xuống xe, Trần Khởi, Trác Diễm, Hoàng Vũ Thuật và các văn nghệ sĩ ở Đồng Hới đã kêu lên:” Ôi, sắc diện Ngô Minh xuống cấp quá!”,” Nước da xanh tái như người chết vậy?”.v.v…Sao mình ngày nào cũng soi gương mà không thấy nước da xanh ? Thôi rồi, con người không bao giờ nhìn rõ được mặt mình!

  Hoảng. bi quan. Thấy mình vẫn khỏe. Vẫn đi lại nói năng bình thường, sao sắc diện lại xanh tái đi như đất nước đang thời thiếu máu vậy? Bỗng nhiên lo lắng sức khỏe quá. Bỗng thấy phía trước nhòe mờ đi, vô định.

  Chiều họp nửa chừng, giục Chủ tịch hội Lê Phùng vào Huế thôi, đừng ăn liên hoan nữa. Lê Phùng cho xe chở ra quê làng Thương Luật thắp nhang Tiên Tổ trước Tết, thăm anh Ninh và lì xì các cháu rồi vào Huế ngay. Anh Ninh  không nhận ra gương mặt xanh xao của mình. Vì anh tưởng đứa em nhà thơ của mình lúc nào cũng khỏe mạnh. Cứ sợ sức khỏe sẽ không trụ nổi chặng đường dài trước mặt!

  Ngày 4-2-2015 đi Bệnh viện Trung ương Huế khám. Bác sĩ Nguyễn Vũ Quỳnh Thi bảo phải nằm viện ngay, nguy hiểm quá. Hồng cầu giảm chỉ còn một nửa. Chỉ còn 2,5 triệu! Lý do là loét dạ dày, máu chảy thấm ra đường phân thải, nên thiếu máu trầm trọng…Lại nghĩ đến đất nước thời thiếu máu. Thiếu máu vì u mê đức tin. Thiếu máu vì dạ dày bị loét, bị thủng. Tham nhũng thế không thủng kho thủng nồi sao được. Thiếu máu vì cái giả lên ngôi. Tưởng mình đang nuốt chất bổ hóa ra chất độc.

  Thế là lần điều trị loét dạ dày hai tháng trước đây cũng tại Khoa nội tổng hợp, Bệnh viện Trung ương Huế chẳng có hiệu quả gì cả. Máu không cầm. Dạ dày vẫn loét. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 07.03.2015

THƠ TẶNG NGƯỜI ĐẸP

 NHÂN NGÀY 8-3, QUÀ TẶNG XỨ MƯA XIN GỬI ĐẾN NỬA THẾ GIỚI MỀM NHỮNG LỜI CHÚC MỪNG THẮM THIẾT.CÓ ĐOẠN THƠ KHÔNG BIẾT CỦA AI, ĐỌC TỪ NHỎ VẪN NHỚ ĐẾN GIỜ : TA CA NGƯỜI PHỤ NỮ/ NHỮNG NGƯỜI MẸ HIỀN TỪ / CẢ THẾ GIỚI NƯƠNG NHỜ /DƯỚI HAI BẦU VÚ SỮA/ TRỜI KHÔNG ÁNH SÁNG HOA NÀO NỞ /DẠ VẮNG YÊU ĐƯƠNG CẢNH NHỮNG SẦU /ĐỜI THIẾU MẸ HIỀN KHÔNG PHỤ NỮ/ ANH HÙNG THI SĨ HỎI CON ĐÂU ?

NGÀY 83, QUÀ TẶNG XỨ MƯA XIN MỜI CÁC CHỊ VÀ CÁC ANH ĐỌC CHÙM THƠ TẶNG NGƯỜI ĐẸP CỦA NGÔ MINH. MỘT NGƯỜI MỘT BÀI. ĐỐ AI ĐOÁN ĐƯỢC THƠ TẶNG AI ?

    THƠ TẶNG NGƯỜI ĐẸP   

Ngô Minh

 

         HOA HỒNG MƯA

 

  ta về Bến Ngự mưa sa

thức cùng tí tách chuyện ba bông hồng

 

người mưa qua phố mưa buồn

gặp nàng tiên tặng đoa hồng cầm tay

hoa cười lúm nắng gọi say

mắt môi như rượu rót đầy hồn mưa

 

rồi theo về tận cổng chùa

tóc mưa thăm thẳm gót mưa bồng bềnh

xứ mưa mưa ngập cõi lòng

nàng cùng ba ngọn lửa hồng vút bay…

 

hoa hồng ơi hoa hồng gai

chuyện tình một đóa trên tay người cầm!

 

                             Huế, 15-11.98 (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 07.03.2015

“TÔI NHỚ VỢ TÔI LẮM”…

“TÔI NHỚ VỢ TÔI LẮM”…

Ngô Minh

              Phải có xúc cảm mạnh  tạo ra khoảng trống lớn và sự đột biến về tình cảm mới có th hay.  Thơ về bất cứ đề tài gì cũng vậy. Nhiều nhà thơ làm thơ tình hay vì họ dám “ chết vì yêu”. Thơ tặng vợ cũng là thơ tình , nhưng nó không chỉ là nụ hôn, nhớ nhung hờn giận, vì  giai đoạn “yêu đương” trai trẻ đó đã qua rồi , mà cao hơn, đó là tình nghĩa, trách nhiệm, bổn phận với tương lai gia đình. Mà cái đó thì người đàn ông nào cũng phải gánh vác . Vì thế  nhiều nhà thơ  cả đời không làm nổi  bài thơ tặng vợ , không phải vì không yêu vợ, mà vì cuộc sống diễn ra thường nhật không có những cảm xúc đột biến. Bởi thế mà tôi đọc tuyển tập “Thơ trữ tình Việt Nam thế kỷ XX” dày 983 trang của NXB Giáo dục ( 2004) với gần 600 bài thơ của  gần 500 nhà thơ , mà chưa đến chục bài thơ trực tiếp viết tặng vợ được tuyển . Tuyển Thơ Việt Nam 1945- 2000  Gia Dũng biên soạn ( NXB Lao động-  2001)  dày 1700 trang ,chọn gần 780 tác giả thơ với hơn  800 bài thơ trữ tình, mà chỉ có  bốn năm bài tặng vợ .Hẳn nhiên là tất cả các bài đều “đáng đồng tiền bát gạo”.  Thế mới biết làm thơ tặng vợ là một thách thức  đới với các nhà thơ. Tuy nhiên, tôi biết thơ tặng vợ của các nhà thơ  Việt trong thế kỷ 20 còn nhiều hơn thế.  Có người ở Hà Nội đã sưu tầm tuyển in thành tập “Thơ tình tặng vợ” dày với lời bình công phu để bán.  Chỉ riêng nhà thơ Nguyễn Duy thôi đã có hẳn một tập thơ tặng vợ có tựa đề rất mùi là “ Vợ ơi.” (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 06.03.2015

Rồi tất cả sẽ trở thành Đồ Sơn

Còn đâu cảnh tắm tiên ?

 Rồi tất cả sẽ trở thành Đồ Sơn

Đặng Hoàng Giang

  Từ sau khi đường cao tốc Hà Nội – Lào Cai khánh thành, lượng khách tới Sapa tăng đột biến. Dịp Tết Nguyên đán vừa rồi, ô tô và xe khách biển số 29 và 30 chen chúc nhau nhích từng tí một trên những con phố dốc và hẹp ở trung tâm, rú ga giữ máy, bấm còi inh ỏi.

Buổi tối, ở quảng trường nhà thờ, nhạc disco được mở to hết cỡ, tiếng bass làm vạt áo rung bần bật. Các buổi sáng, du khách chen lấn nhau để xuống thung lũng “thăm quan” các bản, lượng iPad nhiều hơn số lợn con nằm vầy đất ven đường.

Không còn nhìn thấy núi non gì nữa vì hai bên đường đã kín hàng quán bán đồ lưu niệm. Trẻ con Hmong xếp hàng đợi được phát bánh kẹo như là khỉ trong sở thú.

Những đứa bạo dạn hơn thì đi giật lùi trước mặt khách, chúng từ chối kẹo, chỉ nhận tiền, và đồng thanh kêu như những cái máy vô hồn, tiếng Kinh không sõi “cô cho hai nghìn, cô cho hai nghìn”. Một cộng đồng và một vùng thiên nhiên đã đánh mất nhân phẩm của mình vì du lịch.

Đi du lịch là một sở thích khá mới của người Việt. Tới tận giữa những năm 1990, Sapa vẫn còn là một thị trấn xanh, yên tĩnh và thanh bình, du khách chủ yếu là người nước ngoài. Hồi đó, không có một người Kinh nào quan niệm leo lên đỉnh Phan Si Pang là một việc đáng làm, đấy là việc chỉ người Hmong “phải” làm để mưu sinh.

Cũng giống như ở phương Tây sau chiến tranh thế giới thứ II, phong trào đi du lịch của người Việt dần dần lớn mạnh khi có đủ ba yếu tố hội tụ.

Thứ nhất, thu nhập đã vượt qua những nhu cầu tối thiểu. Thứ hai, quỹ thời gian rộng rãi hơn, người ta không phải đầu tắt mặt tối lo cho cuộc sống nữa. Thứ ba, cơ sở hạ tầng, nghĩa là phương tiện đi lại, dịch vụ khách sạn và ăn uống, đã tốt lên, để cho việc xê dịch không còn vất vả nữa.

Những yếu tố đó làm thay đổi thái độ của người ta với việc di chuyển, chuyển từ quan điểm “xểnh nhà ra thất nghiệp” tới chỗ coi việc ra khỏi nhà như một thú vui, một sự hưởng thụ.

Thậm chí, để thoát khỏi cái buồn chán của cuộc sống công sở hàng ngày ở một thành phố lớn, người ta còn tìm tới cái vất vả như một cuộc chạy trốn ngắn ngủi, tất nhiên bởi người ta biết là cái vất vả này là hữu hạn về mặt thời gian, và các rủi ro nằm trong vùng được kiểm soát. Các phong trào phượt, phong trào đạp xe, phong trào “leo Phan” ra đời.

Lũ lượt đi chơi

Cái đang xảy ra ở Sapa là sự hoành hành phá phách của hiện tượng du lịch đại trà (mass tourism) và chính sách phát triển phục vụ nó.

Giờ đây, tình hình đã khác hẳn. Năm ngoái có gần 4 triệu lượt người Việt đi du lịch nước ngoài, cộng với 40 triệu lượt khách nội địa, tổng lại là bằng một nửa dân số quốc gia. Nhìn xung quanh, ta thấy mỗi gia đình đều lên kế hoạch cho một vài chuyến đi trong năm. Với người Việt trung lưu, du lịch đã trở thành một sinh hoạt cơ bản, như mua sắm hay đi nhà hàng.

Khoảng khắc cho đồ đạc lên ô tô để lên đường bao giờ cũng là một trong những khoảnh khắc phấn khởi nhất của cả gia đình trong năm, và hình ảnh người bố trẻ lái xe trên xa lộ, người mẹ trẻ gọt hoa quả ở ghế bên cạnh, ở đằng sau là hai đứa con chụm đầu chơi iPad, truyền tải một trong những cảm giác sống viên mãn nhất của Việt Nam đầu thế kỷ 21.

Du lịch là con ngỗng đẻ trứng vàng với nhiều địa phương, họ giàu có lên trông thấy nhờ vào nguồn thu từ du khách, nếu “giàu có” được đo bằng số lượng nhà cao tầng mới xây và số ô tô chạy trên đường. Cái mất mát thì không ai lượng hoá được. Thờ ơ hoặc không ý thức được mặt trái xấu xí của du lịch, phần lớn các chính quyền địa phương tiếp tục cổ suý vô điều kiện cho “ngành công nghiệp không khói” này như một hướng phát triển văn minh và tiến bộ.

Cái đang xảy ra ở Sapa là sự hoành hành phá phách của hiện tượng du lịch đại trà (mass tourism) và chính sách phát triển phục vụ nó. Chính sách này có thể được gói gọn trong một mục tiêu: càng nhiều khách càng tốt. Để tiếp tục với ví dụ Sapa: số lượng khách tới đây vào năm 1991 là 2000.

Năm 2002, con số này là 60.000 người. Nhưng riêng trong đợt nghỉ Tết Nguyên đán 2015 vừa rồi số du khách đã là 50.000 người.

Sapa đang bị phá hủy vì cách làm du lịch?

Trong cuốn “Quá tải: kinh doanh du lịch bùng nổ”, tác giả Elizabeth Becker gọi du lịch là một ngành công nghiệp toàn cầu tàn bạo, một con dao hai lưỡi, hứa hẹn thu nhập và việc làm cho bên chủ nhà, và các trải nghiệm để đời cho bên khách, nhưng cùng lúc cũng có sức tàn phá khủng khiếp với môi trường, văn hoá và cộng đồng.

Số phận của các địa điểm du lịch tầm cỡ khác của Việt Nam cũng tương tự như Sapa. Ở vịnh Hạ Long, mỗi ngày 20.000 du khách được đưa đến và chuyển đi như gà con trên băng chuyền, sau khi trực tiếp xả thẳng phế thải của mình xuống dưới biển.

Ở Phú Quốc, mùi nắng gió, mùi nước mắm, các đồn điền tiêu, những làng chài, tâm hồn và cá tính của hòn đảo, đang biến mất dần. Thay vào đó là chi chít hàng quán, biển hiệu rối rắm, như một thị trấn vô hồn bất kỳ nào khác.

Người ta xẻ rừng quốc gia để đặt vào đó các lâu đài nhái kiểu cổ tích châu Âu chóp nhọn loè loẹt xanh đỏ, những cây thông và bãi cỏ ôn đới lạ lẫm với khí hậu địa phương, biến một thiên đường nhiệt đới tự nhiên thành một “thiên đường” bê tông nhân tạo.

Du lịch đại trà là một hiện tượng toàn cầu, nhưng nó gây ra tác hại nhiều nhất ở các nước đang phát triển, vì sức chống cự của những nước này, cả từ nguồn lực tài chính lẫn trình độ quản lý yếu kém hơn. Ở Angkor Wat, gần đây các ngôi đền bắt đầu bị lún vì mực nước ngầm hạ thấp do mức tiêu thụ nước của các khách sạn liên tục tăng lên.

Ám ảnh nhất với tôi là Vang Viêng ở Bắc Lào. Nằm bên bờ sông Nam Song, được vây xung quanh bởi các dãy núi đá vôi trùng điệp, cái làng nhỏ duyên dáng và xinh xắn này bỗng nhiên trở thành nơi các thanh niên phương Tây tập kết để ăn chơi như không có ngày mai. Họ tụ tập ở các bar trải dài 4 km dọc bờ sông, ăn pizza trộn với cần sa, nốc whisky đựng trong các bát ô tô nhựa, nhảy nhót trong tiếng nhạc rầm rầm, rồi nằm trong xăm ôtô lao mình xuống nước xoáy để tiêu khiển. Sau mấy chục ca tử vong chỉ trong vòng một năm, chính phủ Lào phải ra tay dừng cuộc vui lại.

Mức sống chung cao lên, các đường bay giá rẻ ra đời, càng tạo điều kiện cho du lịch đại trà phát triển. Thậm chí, người ta bắt đầu dùng tới thuật ngữ “du lịch siêu đại trà” (mega-mass tourism) để mô tả hiện tượng này.

Đầu thế kỷ 21, Giáo hoàng John Paul II phê phán du lịch đại trà là một hình thức bóc lột mới, nó “biến văn hoá, các nghi lễ tôn giáo, và các lễ hội dân tộc thành những sản phẩm tiêu dùng” khi khách du lịch tìm tới những cái mới lạ một cách hời hợt và không muốn tiếp xúc thực sự với văn hoá bản địa.

Thật vậy, trong trường hợp Sapa, điều quan trọng nhất với các du khách là câu hỏi ăn lẩu cá hồi ở đâu và mua rượu táo mèo chỗ nào. Không ít người lên đây vì bạn rủ đi để “có người uống cùng cho khỏi buồn” Văn hoá, thể hiện qua đám người dân tộc ăn mặc sặc sỡ và những cái ruộng bậc thang, sẽ chỉ là cái phông cho các bức selfie.

Chả ai bỏ công ra tìm hiểu về lịch sử, tín ngưỡng, xung đột xã hội, hoàn cảnh kinh tế của người dân ở đây. Có lẽ yếu tố “văn hoá” duy nhất mà khách quan tâm là cái chợ tình như là cái gì man di đáng yêu của “bọn nó”, nhưng đằng nào nó cũng biến mất từ nhiều năm nay rồi – cũng vì du lịch.

Đấy là chưa nói tới chuyện sắp tới sẽ có nhiều hội thảo, tập huấn, tổng kết, liên hoan v.v… được tổ chức ở Sapa, ngạch này gọi là du lịch – công việc (business tourism). Loại du khách này thường không đi cùng gia đình, nên chắc lúc đó sẽ mọc lên nhiều tiệm massage và karaoke thư giãn với các cô gái miền Tây Nam Bộ đổ về cạnh tranh với con gái địa phương.

Chầu rìa trên quê hương?

Nhìn những gì người ta đang tiếp tục làm với Sapa mà thấy đau lòng. Các khách sạn khổng lồ tám, chín tầng vẫn đang xẻ núi mọc lên, nhiều khi chỉ cách cái bên cạnh một con phố nhỏ, xe không quay được đầu.

Đảo qua một vòng trên báo chí, cũng thấy nhắc tới các “thách thức” du lịch ở Sapa, nhưng hoá ra đó chỉ là các vấn đề “cháy” phòng và khan hiếm chỗ đỗ xe. Chính quyền địa phương cam kết sẽ ưu tiên giải quyết để “Sapa ngày một vui hơn.”

Sắp tới, cáp treo sẽ làm hàng trăm người đang khuân vác phục vụ khách leo núi mất việc. Họ sẽ ra nhập đám vợ con họ đang lang thang hàng ngày ở thị trấn.

Cáp treo lên đỉnh Phan Si Pan cũng đang được thi công. Ở độ cao 3000 m, người ta đang phá đá để tạo ra một khu vực rộng gần 8 ha, một diện tích rất lớn ở độ cao chênh vênh đó. Quần thể ga đến sẽ có “khu dịch vụ du lịch, khu tham quan, công viên văn hoá tâm linh và một tượng Phật khổng lồ”.

Cáp treo có công suất 2000 người một giờ, nghĩa là khi đi vào hoạt động sẽ cho phép mười mấy nghìn người lên đỉnh núi mỗi ngày, quanh năm, ngày nào cũng như ngày nào, thay vì con số hiện nay chỉ là mấy chục người một ngày leo đường bộ, và chỉ trong 6 tháng mùa khô.

Còn những người dân tộc, những người thực ra là chủ từ bao đời của vùng núi này, họ được gì từ tất cả những cái này? Hiện nay, mỗi du khách tới Sapa sau khi bỏ ra 1 triệu đồng cho việc đi lại, khách sạn, ăn uống – tất cả chảy vào túi người Kinh, kể cả tiền cho một chai nước trắng – thì mới bỏ ra 10 nghìn mua mấy cái đồ thổ cẩm của người dân tộc. Thậm chí nhiều hướng dẫn viên du lịch còn dẫn khách tới các cửa hàng bán thổ cẩm nhập từ Trung Quốc vì họ được hoa hồng từ đây.

Người thiểu số đang ra rìa ngay trên quê hương họ

Và như vậy, những người Hmong, người Dao, người Tày, người Giáy, sẽ chủ yếu là đứng chầu rìa ở ngay trên quê hương họ. Sắp tới, cáp treo sẽ làm hàng trăm người đang khuân vác phục vụ khách leo núi mất việc. Họ sẽ ra nhập đám vợ con họ đang lang thang hàng ngày ở thị trấn.

Họ sẽ không để cho du khách yên, sẽ táo tợn, sẽ đeo bám quấy rầy cho tới khi khách mua hàng mới thôi, sẽ hét “no money, no photo.”

Buổi trưa, khi các đoàn khách bận rộn với món lợn mán nướng bên trong các quán ăn, họ sẽ ngồi trên bậc thềm bên ngoài, ngước nhìn lên để thấy ngọn “Hủa Xi Pan” của mình, một biểu tượng của thiên nhiên hùng vĩ, nóc nhà chung của họ từ hàng trăm năm nay, bỗng nhiên trở thành một điểm hành hương Phật giáo mới để cho những người ở đâu tới khấn lậy và nhét tiền vào tay tượng, xa lạ và thô bạo với không gian văn hoá của họ.

Có thể dừng lại cỗ máy khổng lồ mang tên “phát triển” này được không? Tôi không chắc. Bởi nó đang được đốt bởi lòng tham. Các doanh nghiệp thì say lợi nhuận. Chính quyền thì say tăng trưởng GDP.

Các du khách thì tham các trải nghiệm mì ăn liền, được tưởng thưởng mà không phải lao động. Họ muốn “chỉ cần 15 phút để lên nóc nhà Đông Dương”, chụp selfie giữa rừng già mà vẫn đi guốc cao gót được, nhẹ nhàng như vào Paris Deli.

Nhưng cũng như với mọi thứ khác trên đời, sự tham lam sẽ phá huỷ hết. Lòng tham sẽ biến con ngỗng vàng mang tên du lịch thành một con quái vật. Các nhà chuyên môn đã nói nhiều về cú nổ bong bóng của các điểm đến sau thời kỳ tăng trưởng nóng vô độ.

Với cách làm du lịch hiện nay, sẽ tới lúc Sapa giống muôn vàn những chỗ khác: vô bản sắc, ô hợp, nhân tạo và rẻ tiền. Rồi tất cả sẽ trở thành Đồ Sơn, một sự thảm hại cho cả người ở đó lẫn người tới thăm.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả từ Hà Nội. 

Đ.H.G.

Nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2015/03/150304_dang_hoanggiang_dulich_sapa

 

Việt Nam đứng thứ mấy châu Á về kích cỡ “cậu nhỏ”?

(Phòng the) – Bảng thống kê mới nhất về kích cỡ “cậu nhỏ” của 80 nước trên thế giới trong đó có Việt Nam được thực hiện bởi tố chức Body Rock.

Theo đó, nam giới ở Cộng hòa Congo sở hữu “cậu nhỏ khủng nhất” thế giới với kích thước trung bình khi “giương súng” là 17,93cm. Xếp hàng thứ hai là nam giới ở Ecuador với “cậu nhỏ lúc hùng dũng” dài 17,77cm, tiếp đó là Ghana 17,31cm và Colombia 17,03cm.

Nhìn chung, nam giới ở châu Phi được trời phú cho “cậu nhỏ” lớn nhất, với chiều dài trung bình là 16cm.

Đàn ông ở Đông Bắc Á thuộc dạng “súng ống” nhỏ nhất với kích thước trung bình là 10,67cm, trong đó số liệu công bố về chiều dài “cậu nhỏ” của đàn ông Việt Nam là 11,47cm, Trung Quốc là 10,89cm và Thái Lan 10,16cm. Có thể thấy Việt Nam cùng Indonesia , Iran , Iraq và Singapore là những nước có “cậu nhỏ” đứng top châu Á theo khảo sát của Body Rock.

Các quý ông ở Hàn Quốc và CHDCND Triều Tiên bị xếp chót bảng với kích thước “cậu nhỏ lúc giương nòng” vô cùng khiêm tốn, chỉ đạt 9,66cm.

Các nghiên cứu còn cho thấy thêm, chỉ 3% đàn ông trên thế giới có kích cỡ “cậu nhỏ” lớn hơn 20cm và 6% đàn ông trên thế giới cần đến loại bao cao su “cực lớn”.

( Nguồn: Đất Việt 6/3/2015)

Chuyện về người kiếm tiền bằng ‘thơ’ nhiều nhất Việt Nam

Nguyễn Việt Chiến ( thực hiện)


“Nhà thơ dân gian” Bảo Sinh.
 
  Nhiều năm qua, tên tuổi “nhà thơ dân gian” Bảo Sinh ở phố Trương Định, Hà Nội đã trở nên quen thuộc với nhiều người qua những câu thơ theo kiểu “hậu Bút tre” nửa trào phúng cười cợt, nửa trữ tình châm biếm.Có đôi lúc cao hứng, ông nói với bạn bè, thơ mình thuộc loại thơ “Lý trên bác học, tình thừa dân gian”.
Chuyện “thượng tầng cổng văn, hạ tầng cổng chữ”
Tuy biết tiếng nhau đã lâu, nhưng phải đến cuối năm 2014, tôi mới có dịp ghé thăm “vương quốc chó, mèo” của ông Bảo Sinh ở mạn đầu phố Trương Định (Hà Nội). Khu nhà cửa rộng rãi của ông ngự ở cuối một con ngõ nhỏ. 

Cái cổng vào nhà ông thật bề thế, nó không thua gì một cái cổng làng xưa nhất ở xứ Bắc Hà, nhưng đường nét tân-cổ-giao-duyên của nó lại hao hao giống phần dưới cái cổng thành oai phong Ô Quan Chưởng đã từng vang bóng trong lịch sử Hà thành.
Điều đặc biệt, chiếc cổng này ở phía trong gắn toàn “bia thơ Bảo Sinh” mà tôi thấy có hai câu thơ khắc trên một tấm bia mang đầy ngụ ý triết lý: “Bước qua cánh cửa vô lời/Đi vào vô thức thành người vô vi”. Nhưng rồi gắn bên nó là tấm bia mang danh “đạo bồ bịch” khắc hai câu thơ nghe thực nôm na: “Vợ là cửa cái nhà ta/Lại là cửa sổ thằng cha láng giềng”. Vậy là chỉ trên một chiếc cổng gạch, ông Bảo Sinh đã từ “thượng tầng cổng văn” rơi tõm xuống “hạ tầng cổng chữ” để trở thành “nhà thơ dân gian” vì biết rằng cái hài hước của thi ca thường sống lâu hơn cái nghiêm cẩn của văn chương.
Ngay ở bậc thềm của ngôi nhà chính, tôi gặp một nàng Kiều nõn nà đang ngồi cạnh một chiếc bàn “xếp đầy có ngọn” toàn thơ và sách của Bảo Sinh. Hóa ra nàng thơ được ông giao nhiệm vụ chăm nom công việc bán thơ, bán sách cho mình. Trong khu đất rộng nhà ông có cả một trang trại nuôi chó, mèo cùng một đội ngũ nhân viên chăm sóc chúng. Bên thềm một cái ao lớn là khu nghĩa địa chôn cất chó, mèo khá trang trọng, ngôi nào cũng có bia và bát hương tử tế. Ngồi bên chiếc đàn dương cầm còn bóng nước sơn, Bảo Sinh vỗ vai tôi thân mật: “Duyên kỳ ngộ, duyên kỳ ngộ, nghe tiếng tăm đã lâu, hôm nay gặp nhau, mình vui lắm”. Vậy là chúng tôi hỉ hả trò chuyện với nhau trong tiếng chó sủa lao nhao ở cái trang trại và khách sạn chó, mèo độc nhất vô nhị đất Hà thành. Sau đây là câu chuyện cởi mở giữa chúng tôi:
Nguyễn Việt Chiến: Nghe thiên hạ đồn thổi, bác là người kiếm nhiều tiền nhất bằng xuất bản thơ ở Việt Nam hiện nay, chuyện thực hư thế nào, thưa tiên sinh?
Ông Nguyễn Bảo Sinh: Không phải tôi là người kiếm nhiều tiền nhất bằng xuất bản thơ mà chính xác, tôi là người kiếm tiền bằng thơ nhiều nhất Việt Nam. Hai điều này khác hẳn nhau. Vì tôi không phải là người xuất bản thơ để kiếm tiền nhuận bút mà tôi dùng những bài thơ của tôi để viết thành một loại Á kinh siêu sinh tịnh độ cho chó, mèo.
Tôi là người chuyên kinh doanh chó, mèo và trong khu nhà của tôi ở phố Trương Định, Hà Nội, tôi là người đầu tiên ở Việt Nam xây dựng một khách sạn 6 tầng cho chó, mèo và có cả một nghĩa địa dành cho chúng. Và, mỗi một con, chó mèo khi được gia chủ đưa vào chôn ở nghĩa địa này đều có ban thờ, có ảnh, và được tôi đọc một bài thơ-kinh-tụng về chó, mèo khoảng 5 phút và họ trả nhuận bút cho mỗi bài thơ này của tôi là dăm triệu đồng. Đại khái là thế! Khi có nhiều người có nhu cầu đến đây làm lễ cầu siêu cho chó, mèo thì tôi phải viết thơ-kinh vì kinh nhà Phật hiện nay không có đoạn nào nói về chó, mèo, vì vậy, tôi phải sáng tác ra một bài kinh -thơ dựa trên uyên nguyên của Phật pháp nhưng mà viết cho chó mèo.
Nguyễn Việt Chiến: Bác kinh doanh chó, mèo được bao nhiêu năm rồi?
Ông Nguyễn Bảo Sinh: Tôi kinh doanh khoảng 45 năm. Có thể nói tôi là một trong vài người đầu tiên khai sáng cho dòng kinh doanh chó mèo ở Việt Nam.
Nguyễn Việt Chiến: Vậy là bác kinh doanh chó, mèo. Làm khách sạn rồi làm nghĩa địa cho chó mèo, rồi nay tự sáng tác kinh- thơ cho chó mèo. Thơ này viết theo thể loại gì, bác thử đọc một đoạn thơ kiểu này xem sao?
Ông Nguyễn Bảo Sinh: Khi đã viết loại thơ-kinh thì thường phải viết theo thể “song thất lục bát” nó mới thiêng, ví dụ như:
Khi mê người chỉ là người
Ngộ rồi mới biết trong người có con
Khi mê con chỉ là con
Ngộ rồi mới biết trong con có người
Kìa những kẻ tiểu nhi tấm bé
Những thú cưng lìa mẹ lìa cha
Lấy ai bú mớm xót xa
U ơ tiếng khóc xót xa trong lòng
“Tôi đã trở thành pháp sư cầu siêu cho chó mèo”
Nguyễn Việt Chiến: Hiện nay, những người nuôi thú cưng mang đến gửi ở khách sạn chó, mèo của bác khi họ phải đi công chuyện vắng nhà. Rồi khi chó, mèo chết, họ lại mang chúng đến làm lễ cầu siêu, chôn cất trang trọng ở nghĩa địa chó mèo của bác, số người ấy có nhiều không?
Ông Nguyễn Bảo Sinh: Số người này hiện nay khá nhiều. Tôi hay nói vui, họ thì nuôi chó sống còn tôi nuôi chó chết, nghĩa là tôi nuôi linh hồn của con chó. Tức là mình chuyển sang cảnh giới thứ hai, họ thì nuôi cái có, còn mình thì nuôi cái không. Chính vì thế nên tôi mới sáng tác loại kinh-thơ này và những khi hành lễ, tôi đã trở thành một “pháp sư cầu siêu cho chó, mèo” độc nhất vô nhị ở nước Việt Nam này. Khi làm lễ, tôi mặc áo pháp sư và sắp xếp trống, mõ rồi treo cờ, phướn, lọng lên và bày lễ cầu siêu…
Nguyễn Việt Chiến: Bác nhận xét gì về phong trào nuôi chó cảnh, mèo cảnh hiện nay đã thu hút nhiều người yêu quý các loài vật này?
Ông Nguyễn Bảo Sinh: Không thể tưởng tượng được hiện nay người ta yêu quý chó, mèo đến thế nào. Khi tôi đọc bài kinh cầu siêu cho chó, mèo thì nhiều người khóc, thậm chí có người bị ngất. Theo tôi, tình cảm ngày nay của con người đã thay đổi nhiều, không giống ngày xưa nữa. Ngày xưa, có con chó chết thì người chôn phải đứng canh vì sợ kẻ khác đến đào lên ăn thịt. Còn bây giờ, nhà giàu có khi chó chết, sẵn sàng bỏ ra cả chục triệu đồng để làm lễ mai táng cho chó cưng. Và những người thuộc diện này hôm nay không phải ít. Trong đó, có không ít các ca sỹ, nhạc sỹ, nghệ sỹ điện ảnh, nhà văn hóa nổi tiếng đã tới đây làm lễ cầu siêu chôn chó, mèo.
Cho đến nay phong trào nuôi chó cảnh ở Hà Nội phát triển mạnh mẽ. Với lớp trẻ, nuôi chó cảnh đã trở thành mốt, thành trào lưu. Thậm chí một cô gái đẹp tuổi teen đi chơi phải dắt theo một con chó đẹp mới được gọi là người đẹp sang trọng đẳng cấp theo kiểu: Bánh mỳ phải kẹp pa-tê/ Người đẹp phải có bẹc-giê bên người.
Nguyễn Việt Chiến: Ông thân sinh ngày xưa đã từng mắng bác: “Sau này chỉ có chó nó nuôi mày”, vậy lời tiên đoán ấy nay đã thành sự thực?
Ông Nguyễn Bảo Sinh: Hồi còn bé, tôi yêu chó lắm. Lên 5 tuổi, tôi chăm một con chó đẻ, bị nó cắn cả vào mặt. Vì tôi suốt ngày chơi với chó, lại lười học, nên bố tôi mắng: “Mày lớn lên chỉ có chó nó nuôi thôi!”. Lời mắng của bố đã nghiệm vào tôi. Đến hôm nay, gia sản cơ nghiệp nhà tôi đều có được nhờ kinh doanh chó. Mà cũng vì nuôi chó nên tôi trở thành người kiếm tiền bằng thơ nhiều nhất Việt Nam.
Nguyễn Việt Chiến: Thế là bác kinh doanh chó, mèo rồi làm thơ truyền khẩu dân gian, sau lại viết kinh – thơ phục vụ chó mèo để lấy tiền nuôi thơ, vậy thu nhập hàng năm từ kinh doanh chó, mèo và viết kinh-thơ được bao nhiêu?
Ông Nguyễn Bảo Sinh: Xin phép không công bố chuyện này, nhưng tháng nhiều nhất cũng được gần trăm triệu đồng. Tôi có thể ngồi ở nhà mà bán được khá nhiều sách (bát phố 1, bát phố 2) và thơ (các tập huyền thi) vì tôi là người hoạt động nghệ thuật dân gian, viết là để phục vụ yêu cầu của người dân và nhu cầu thị trường. Tôi sống bằng cách người dân họ có thích thơ tôi không? Nếu họ không thích thì thơ tôi không tồn tại nữa, vì tôi viết những điều gần gũi với đời sống người dân. Nên tất cả những thứ thơ và sách tôi viết đều bán chạy. Thị trường sách không biết tên tôi, không biết ông Bảo Sinh là ông nào nhưng người dân tới nhà tôi, trông thấy tôi, họ mua thơ, mua sách của tôi ngay.
Nguyễn Việt Chiến: Vậy, đúng là chó, mèo đã nuôi bác lại còn nuôi cả thơ bác, vậy bác là người hạnh phúc nhất trong số các nhà thơ không sống nổi bằng thơ hôm nay.
Chúng tôi chia tay nhau, ông Bảo Sinh đưa tôi một túi nặng cả yến thơ và sách với nụ cười: “Ông mang về dùng dần nhé, chẳng câu nào vứt đi đâu!”

( Nguồn:VANDAN NNB))

 

Về hiện tượng “tha hóa lễ hội” và “mù quáng tâm linh” hiện nay

  •   Nguyễn Quốc Tuấn – Phan Thắng
Ông Nguyễn Quốc Tuấn - Viện trưởng Viện nghiên cứu tôn giáo Ông Nguyễn Quốc Tuấn – Viện trưởng Viện nghiên cứu tôn giáo

[Trao đổi với  ông Nguyễn Quốc Tuấn – Viện trưởng Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam]

Phóng viên:Lễ hội là gì, nó biểu hiện cho cái gì? Nó có ý nghĩa hay là giá trị như một biểu trưng của văn hóa của các cộng đồng? Nó có có vị trí  như thế nào với đời sống của các cộng đồng?

Ông Nguyễn Quốc Tuấn:Về mặt từ nguyên, LỄ HỘI là một cách gọi ghép, chuyển dịch từ thuật ngữ Rite trong các ngôn ngữ Châu Âu. Lễ và Hội có nội hàm khác nhau, nhưng gắn bó với nhau trong một không gian và thời gian nhất định, nhất là trong trạng thái tồn tại của nó ở Việt Nam cho đến trước năm 1945. Thuật ngữ Rite là một từ chuyên của Kitô giáo, rồi dần mở rộng ra cả ngôn ngữ thông thường và rồi là khái niệm khoa học. Trong nghĩa ở chung, Rite có mấy nội dung:

– Lễ chuyển tiếp của một con người, một đời người (rites of passage)

– Lễ cộng đồng, cùng nhau thờ cúng (communal rite)

– Lễ cầu nguyện và hành hương của cá nhân (rites of personal devotion and pilgrimages)

Lễ nghi ở các tộc người và các nước đều có từ một, hai hoặc cả ba nội dung. Nội dung thứ nhất, ba liên quan chủ yếu đến vòng đời ở một con người. Nội dung thứ hai liên quan đến cộng đồng. Ở Việt Nam thì lễ nghi liên quan đến cộng đồng thực sự quan trọng, và là trung tâm của một hình thái biểu hiện sự tôn kính của một cộng đồng (theo quy mô làng cổ truyền) mà người Việt xưa gọi là HỘI.

Nhà dân tộc học trứ danh Từ Chi đã sơ đồ hóa mô hình Hội làng thành ba vòng tròn đồng tâm: vòng trong cùng là nghi thức tế (Lễ), vòng giữa là hội và vòng ngoài cùng là cộng đồng làng (hiểu theo nghĩa cả không gian làng và tập hợp dân cư trong đó).

Xã hội Việt Nam cổ truyền hằng nghìn năm gắn với nền văn minh nông nghiệp hay văn minh thực vật như một nhà dân tộc học Pháp nổi tiếng mệnh danh. Mô hình xã hội cơ bản của Việt Nam trong hằng nghìn năm đó là mối quan hệ: NHÀ (bao gồm cả dòng họ) – LÀNG (tập hợp của nhiều dòng họ, gia đình) – NƯỚC, do đó Lễ và Hội ở Việt Nam cũng đi theo mô hình xã hội đó. Tức là có Hội làng, Hội vùng và Hội do Nhà nước quân chủ tổ chức và chủ trì. Việc sùng bái thần linh trong chế độ nhà nước quân chủ cũng phải đi theo mô hình xã hội cơ bản đó: thần làng – thần vùng – thần quốc gia, theo một trật tự đẳng cấp: hạ đẳng thần – trung đẳng thần – thượng đẳng thần. Điều đáng lưu ý, vị thần ở làng được vua phong bằng sắc (sắc phong), và người nghiên cứu về sau gọi là thành hoàng làng. Thành hoàng làng là một tập hợp các vị thần có nhiều nguồn gốc khác nhau, có vị thần là do dân tự thờ (có nguồn gốc rất xa xưa và thường là các vị thần tự nhiên, cây, đá…), có vị thần là anh hùng cứu nước, người đỗ đạt cao, cũng có vị thành hoàng là một người có dấu hiệu đặc biệt nào đó có liên quan chặt chẽ với vận mệnh của làng… nhưng đều đã được nhà nước công nhận. Thành hoàng là một tên gọi có gốc Trung Quốc, vốn chỉ ở các thành thị, nhưng sang đến Việt Nam thì đã trở thành thần bảo hộ của môi trường nông thôn. Như vậy, cả hệ thống thần nói chung và thành hoàng làng nói riêng đã được tích hợp trong một hệ thống có tính thống nhất cao, phân rõ lớp lang với đẳng trật đã nói ở trên.

Nghi thức tế tự do đó sẽ đi theo một trật tự tiểu tự – trung tự – đại tự (nghi thức tế tự). Nói cách khác là nghi thức tế tự được tích hợp và thống nhất từ cấp làng lến đến cấp quốc gia. Nói cách khác nữa, cộng đồng làng sẽ mở rộng dần phạm vi và tính quy mô lên đến quốc gia. Hội làng có chung nhau bản chất và đặc trưng với hội quốc gia, chỉ khác nhau về mức độ và quy mô mà thôi.

Vậy Hội làng chính là biểu trưng cho tính cộng đồng, tính thống nhất và hướng thượng của cư dân Việt. Thành viên của một làng, cũng là của nước, thông qua hội, tạo ra niềm cộng cảm, giải tỏa ẩn ức và mâu thuẫn vì chung nhau tôn thờ một vị thần, một hệ thống thần thống nhất, không chia cắt.

Nói cách khác, chức năng của hội chính là liên kết cộng đồng, cố kết cộng đồng, trên cơ sở đó, liên kết xã hội, củng cố sự ổn định quốc gia.

Như vậy, cái mà chúng ta gọi là lễ hội thực chất theo truyền thống chính là các hội làng, hội vùng và hội mang tầm cỡ quốc gia.

Và đến đây, cần nói rõ ra điều này mà bấy lâu nay chúng ta vẫn nhầm lẫn và mập mờ, các hội lễ thời quân chủ là phần cốt lõi của hoạt động tâm linh, hướng thượng, lấy qui mô làng làm đơn vị cơ sở. Đó chính là hình thái tồn tại của cái mà người Phương Tây gọi là “tôn giáo”. Và quả thực, các nghiên cứu của họ đều dùng thuật ngữ tôn giáo để mô tả hiện thực hội lễ cổ truyền của Việt Nam. Vậy, ta có thể xem đây chính là tôn giáo của ông cha ta ngày xưa. Như thế, ta đã có thể hóa giải được câu chuyện lúng túng về có hay không “tôn giáo” của người Việt Nam, vốn hay được coi chỉ từ khi các tôn giáo bên ngoài du nhập mới đích thực là tôn giáo, còn người mình chỉ có “tín ngưỡng”, rồi lâu nay thêm “dân gian” và gọi là tín ngưỡng dân gian. Với tôi, đây là một nhầm lẫn tai hại vì nó là một trong những nguyên nhân phá vỡ tính thống nhất của hệ thống thần linh cổ truyền ở nước ta, dẫn đến sự tồn tại bị xé lẻ, vụn vặt của thần linh các làng, và đó là nguyên do dẫn đến sự hỗn loạn trong việc xác lập các loại hình lễ hội của thời nay. Ngoài ra, hội làng còn có chức năng trao truyền văn hóa, giáo dục bằng biểu tượng thiêng và niềm cộng cảm giữa các thành viên.

Phóng viên:Lễ hội phải gắn với niềm tin, với cái thiêng. Lâu nay chúng ta thấy rất nhiều hoạt động văn hóa, thể thao rầm rộ mà được gọi là lễ hội, lễ hội mới, nhưng không có tín điều, không có không gian thiêng, theo ông đó có phải là lễ hội?

Ông Nguyễn Quốc Tuấn:Vâng từ đây, ta có thể dùng từ lễ hội để nói chuyện mới. Lễ hội mới đương nhiên là không giống với hội làng cho đến hội quốc gia xưa kia.

Trên kia đã nói có một sự thống nhất về bản chất và biểu trưng trong các lễ nghi và hội cổ truyền từ cấp làng đến cấp quốc gia theo một tôn ti trật tự thần linh. Cái thiêng được biểu hiện dưới dạng thần linh là cốt lõi của hoạt động tâm linh theo sơ đồ: cái thiêng – thần thoại – niềm tin (tôn giáo) – nghi lễ – cộng đồng luân lý và đạo đức. Đó là tôn giáo cổ truyền của chúng ta.

Lễ hội mới lại không đi theo sơ đồ này. Có thể có sự thiêng liêng, nhưng không có niềm tin một cách tôn giáo vào sự thiêng liêng đó. Có thể có thiêng liêng nhưng không có thần thoại để giải thích. Có thể có nghi lễ, nhưng vì là nghi lễ không dựa trên một niềm tin có tính chất tuyệt đối đối với đối tượng tôn thờ, nên không thể gọi đó là niềm tin tôn giáo. Có thể tạo ra cộng đồng trong thời gian và không gian nhất định, nhưng đó không phải là cộng đồng luân lý và đạo đức giống như hội làng.

Xã hội hiện đại có nhu cầu trình diễn đông người về một sự kiện nào đó, nhưng đó không phải là hội làng, hội vùng và hội quốc gia. Nó không được xâu chuỗi bởi cảm giác tôn kính, thiêng liêng. Nó không tạo ra các chuẩn mực cho thế ứng xử dựa trên niềm tin tuyệt đối vào một hay nhiều vị thần linh như những quy ước chỉ dẫn tư duy, tình cảm và tâm lý. Nói cách khác, nó không có tính chất tôn giáo.

Cho nên, ta chỉ có thể gọi đó là lễ hội theo nghĩa trình diễn (festival) hơn là lễ hội theo nghĩa hội truyền thống.

Phóng viên:Sau nhiều chục năm cố tình lơ là “bỏ quên” nhu cầu sinh hoạt lễ hội, khoảng hơn hai chục năm trở lại đây, với nhận thức mới của Đảng, Nhà nước, các sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng trở nên công khai và rầm rộ hơn. Sự phục hưng này cơ bản là tín hiệu tốt đối với sinh hoạt văn hóa – tinh thần của người dân. Hầu hết các lễ hội cổ truyền được phục hồi, thậm chí còn xuất hiện nhiều lễ hội mới với hình thức như là cổ truyền. Tuy nhiên, từ nhiều năm nay đã có tình trạng “tha hóa” lễ hội. Nhìn từ các góc độ khác nhau, từ văn hóa, tâm linh, xã hội, đạo đức chúng ta đều có thể nhìn thấy điều đó. Với tư cách là một nhà nghiên cứu về tôn giáo – tín ngưỡng, ông có nhận định như thế nào về tình trạng lễ hội hiện nay?

Ông Nguyễn Quốc Tuấn:Tôi đồng ý với cách anh đặt ra khái niệm “tha hóa” lễ hội.

Chúng ta có thể thấy sự khởi sắc đến mức ồn ào của sự phục hưng lễ hội cổ truyền, nhưng như tôi đã nói, sự phục hưng đó là trên nền tảng chúng ta sau nhiều chục năm dưới chính thể mới đã tháo gỡ toàn bộ tính thống nhất của hệ thống cũ. Kết quả của sự xé lẻ đó đã dẫn đến sự phục hung một cách tự phát, mạnh nơi nào nơi đó làm. Có chỗ giữ được vì ký ức còn mạnh mẽ. Có chỗ đã cóp nhặt, bắt chước, đua đòi để hội của làng mình không thua chị kém em. Chưa kể, các yếu tố văn hóa mới đã xâm nhập vào phần hội, ồn ào, mất đi vẻ thuần khiết của sự ổn định tâm thức vui chơi cổ truyền. Đó là chưa kể sự đố kỵ, đua đòi, tính ích kỷ, cục bộ được dịp nổi lên. Và như thế, không gian thiêng, cái thiêng đã trở thành tự phát, không còn có tính uy nghi, hệ thống của khi xưa, tức là không tạo ra được cộng đồng, niềm cộng cảm, mà chỉ thấy như là có vẻ làm như cũ, nhưng tinh thần cũ đã mất đi.

Chúng ta bị mất mát rất nhiều từ những lễ hội phục hưng như thế. Từ văn hóa, tâm linh và đó dấu hiệu chỉ báo đạo đức xã hội có vấn đề.

Phóng viên:Chúng ta có thể giải thích như thế nào về tình trạng số lượng người quá mê tín, mê tín đến kệch cỡm, không chỉ của những người ít có điều kiện học hành mà của một bộ phận không nhỏ trí thức và nhất là quan chức? Phải chăng siêu nhiên lại trở thành thực tại vì cái thực tại, cái niềm tin đã trở nên mong manh, dễ vỡ?

Ông Nguyễn Quốc Tuấn:Ô, câu hỏi rất hay. Vâng, một khi cái thiêng chỉ còn là cái vỏ, không được giáo dục, mất chuẩn mực, cùng với sự ganh đua khốc liệt trong cuộc sống mưu sinh, thì dù họ có tập hợp nhau lại cũng không tạo ra sự cộng cảm. Chỉ là một cuộc đua bất tận để chiếm giữ ân huệ thần linh cho riêng mình, không kể người xung quanh thì mê tín đến mức kệch cỡm không là chuyện lạ. Cho tôi dùng khái niệm “mù quáng tâm linh” để chỉ tập hợp người hỗn tạp đó.

Nhân thể, xin nói niềm tin tôn giáo và tình cảm tôn giáo ở con người là có thật. Nhưng phải được giáo dục, truyền dạy. Người ta dù học vấn cao tới đâu, nhưng vẫn có khoảng “mù” về cái thiêng liêng. Một khi không giữ được tâm thế quân bình do nhiều nguyên do, điểm mù đó lớn dần và cái thiêng liêng bỗng trở thành nơi bám víu, và họ sẽ mê tín thôi. Hiện nay có một bộ phận rất đông trong cộng đồng là cùng lúc họ tin và thực hiện hành vi tôn giáo khác nhau. Chùa họ cũng đi, đền, phủ họ cũng đi. Thậm chí họ còn tin vào nhiều điều “lạ”. Một ngôi mộ, một hòn đá, một ông thầy không biết theo đạo nào cả họ cũng tin, vẫn theo… một cách mù quáng. Đó là chỉ báo về niềm tin không ổn định, là níu cái cái thói quen đa thần giáo, là sự cạnh tranh phi chuẩn, lệch chuẩn trong ứng xử đạo đức chi phối. Mặt khác, cái thực dụng trong lễ hội chịu tác động mạnh từ lối sống thực dụng của cơ chế thị trường và sự xô bồ bất ổn của đời sống xã hội hiện nay.

Sự tha hóa về lễ hội là một thực tế cần nhận rõ và cần được giải quyết.

Phóng viên:Những nguyên nhân nào đã dẫn đến tình trạng này, thưa ông?

Ông Nguyễn Quốc Tuấn:Câu hỏi anh khó quá, có lẽ cần nhiều nghiên cứu mới nêu rõ và đánh giá hết được. Trong phạm vi của cuộc phỏng vấn này, xin nói ba loại nguyên nhân: nguyên nhân từ thiết chế, nguyên nhân từ nhận thức và nguyên nhân quản trị xã hội.

Về thiết chế, trong một thời gian dài, chúng ta đã phá bỏ thiết chế và hệ thống cũ, nhưng chưa lập được hệ thống mới vì chúng ta nhầm lẫn giữa bản chất của hội cổ truyền và lễ hội mới. Thiết chế mới mà chúng ta cố lập là đưa cái mới vào cái cũ như là một trình diễn sự kiện hơn là một sinh hoạt tâm linh. Vả lại hệ thống nào chăng nữa cũng phải có tính đồng bộ và quan hệ chặt chẽ giữa các thành tố của nó, lễ hội mà chúng ta quan niệm đã không còn như cũ nhưng lại chưa tìm được hệ thống mới. Trước sự gia tăng thờ cúng và lễ hội ồn ào hiện nay, thiết chế mà ta mong muốn không thấy đâu, chỉ thấy sự hỗn độn, xô bồ nổi lên.

Về nhận thức, tôi cho rằng có hai loại nhận thức quan trọng là nhận thức khoa học và nhận thức quan phương. Nhận thức quan phương của chúng ta là cố gắng xây dựng lễ hội mới trên cơ sở kế thừa hội cổ truyền, nhưng không tạo ra sự gắn kết được là bởi bản chất hai loại không trùng nhau. Người lãnh đạo duy ý chí trong chuyện này. Đó là bởi nhận thức khoa học cũng chưa đi đến đâu. Nghiên cứu là phần cốt lõi của nhận thức khoa học nhưng nghiên cứu của chúng ta đa phần phụ họa chính sách, lý thuyết, phương pháp và cách tiếp cận không đúng nguyên tắc khoa học, thiếu khách quan, ăn xổi, người này sao chép của người kia, lâu dần tạo ra một loại nghiên cứu nhợt nhạt, thiếu tính phê phán, thừa số lượng nhưng thiếu chất lượng, chẳng dùng được vào hoạch định chính sách. Hai nhận thức này vô hình trung tạo ra một hỗn hợp nhận thức nửa quan phương, nửa khoa học mà phía quan phương áp đảo nên chỉ là các quyết sách chính trị, không phải là quyết sách trên nền tảng nhận thức sự vật như là nó cần.

Về quản trị xã hội, chúng ta thiếu cái nhìn của khoa học quản lý. Do không rõ ràng và tách bạch về vai trò và năng lực của chủ thể và đối tượng quản lý, nên không tạo ra được tính liên tục trong quản trị xã hội. Đây là chuyện tâm linh, nhưng nhà quản lý chỉ chăm chăm vào xiết lại hình thức của hội cổ truyền, đưa ra lễ hội mới không có quy chuẩn, thiếu hệ thống và không tương thích với hội cổ truyền nên lễ hội của ta nhom nhem, không đồng bộ và không hệ thống. Việc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa ra con số thống kê có hơn 8.000 lễ hội cả cũ lẫn mới là một thí dụ, mặc dầu cũng có phân tạm ra thành mấy loại, nhưng loại hình học không được áp dụng các tiêu chí phân loại rõ ràng, nên không rõ về chính sách và chắp vá chính sách. Kết quả là càng đưa ra chính sách và quy định, càng thấy thiếu hụt, bất cập và sửa đổi liên tục. Yếu kém thấy rõ.

Phóng viên:Theo ông, chúng ta cần chống lại sự “tha hóa” này như thế nào từ quan niệm, nhận thức và thực hành quản trị xã hội?

Ông Nguyễn Quốc Tuấn:Nhìn thấy nguyên nhân tức là chúng ta cũng đã nhìn thấy câu trả lời. Nhưng hỡi ôi, đó là một công việc dài hơi, có tính hệ thống. Sửa là sửa cả ba nguyên nhân của sự bất cập hiện nay.

Phóng viên:Điều kiện có tính chất tiên quyết để khắc phục tình trạng lễ hội vô cùng lộn xộn hiện nay là gì?

Ông Nguyễn Quốc Tuấn:Điều kiện tiên quyết à, khó nhỉ. Theo tôi, điều kiện tiên quyết bắt đầu từ chủ thể quản lý và các nhà khoa học. Chỉ có trong điều kiện nhà quản lý khắc phục sự yếu kém, thay đổi nhận thức triệt để để tạo điều kiện và lắng nghe nhận thức khoa học mới có thể tạo ra cú hích quyết định. Nhận thức khoa học phải được tiến hành một cách bài bản, khách quan và có tinh thần phê phán.

Vâng tôi mới chỉ nghĩ được có thế.

Phóng viên:Những nguyên nhân mà ông giải thích cũng như điều kiện tiên quyết mà ông đề ra, xét từ trong thực tiễn, tôi thấy là đúng, khách quan. Nhưng, cũng từ thực tiến, tôi thấy rằng để chống lại sự tha hóa này cần truy tìm bản gốc sâu xa hơn của nó từ trong kết cấu xã hội và nền tảng đạo đức – tri thức của nó. Tại sao chúng ta có cả một bộ máy truyền thông, văn hóa, giáo dục đồ sộ như thế mà không thể làm cho cộng đồng thông tỏ được một nhận thức khoa học hiển nhiên về sinh hoạt tín ngưỡng nói chung và lễ hội nói riêng. Sự tha hóa này có lẽ có nguyên nhân từ chính cái sĩ diện tiểu nông làng xã cộng với tính toan vụ lợi kiểu con buôn thời kinh tế thị trường đỏ đen nhộm nhạm hiện nay. Thực ra là về câu chuyện này đang rất cần được bàn thảo nhiều và tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau. Tôi, và chúng ta, hy vọng là các nhà quản lý sẽ quan tâm đúng mức về vấn đề này vì hình như nó đã ở gần giới hạn chót của sự biến thái, tha hóa. Cảm ơn ông nhiều về cuộc trao đổi và hy vọng sẽ có dịp được trao đổi thêm về vấn đề này.

Phan Thắng thực hiện

( Nguồn: VHNA)

 

Nhìn từ xa… Tổ quốc!

 NGUYỄN DUY

Ðối diện ngọn đèn
trang giấy trắng như xeo bằng ánh sáng

Đêm bắc bán cầu vần vụ trắng
nơm nớp ai rình sau lưng ta

Nhủ mình bình tâm nhìn về quê nhà
xa vắng
núi và sông
và vết rạn địa tầng

Nhắm mắt lại mà nhìn
thăm thẳm
yêu và đau
quằn quại bi hùng

Dù ở đâu vẫn Tổ Quốc trong lòng
cột biên giới đóng từ thương đến nhớ

*

Ngọn đèn sáng trắng nóng mắt quá
ai cứ sau mình lẩn quất như ma

Ai?
im lặng

Ai?
cái bóng!

A…
xin chào người anh hùng bất lực dài ngoẵng
bóng máu bầm đen sõng soài nền nhà

Thôi thì ta quay lại
chuyện trò cùng cái bóng máu me ta

*

Có một thời ta mê hát đồng ca
chân thành và say đắm
ta là ta mà ta vẫn mê ta 

Vâng – đã có một thời hùng vĩ lắm
hùng vĩ đau thương hùng vĩ máu xương
mắt người chết trừng trừng không chịu nhắm

Vâng – một thời không thể nào phủ nhận
tất cả trôi xuôi – cấm lội ngược dòng

Thần tượng giả xèo xèo phi hành mỡ
ợ lên nhồn nhột cả tim gan

*

Ta đã xuyên suốt cuộc chiến tranh
nỗi day dứt khôn nguôi vón sạn gót chân
nhói dài mỗi bước

Thời hậu chiến ta vẫn người trong cuộc
xứ sở phì nhiêu sao thật lắm ăn mày?

Ai?
không ai

Vết bầm đen đấm ngực

*

Xứ sở nhân tình
sao thật lắm thương binh đi kiếm ăn đủ kiểu
nạng gỗ khua rỗ mặt đường làng

Mẹ liệt sĩ gọi con đội mồ lên đi kiện
ma cụt đầu phục kích nhà quan

Ai?
không ai

Vết bầm đen quều quào giơ tay

*

Xứ sở từ bi sao thật lắm thứ ma
ma quái – ma cô – ma tà – ma mãnh…
quỉ nhập tràng xiêu vẹo những hình hài

Đêm huyền hoặc
dựng tóc gáy thấy lòng toang hoác
mắt ai xanh lè lạnh toát lửa ma trơi

Ai?
không ai

Vết bầm đen ngửa mặt lên trời

*

Xứ sở linh thiêng
sao thật lắm đình chùa làm kho hợp tác
đánh quả tù mù trấn lột cả thần linh

Giấy rách mất lề
tượng Phật khóc Ðức Tin lưu lạc
Thiện – Ác nhập nhằng
Công Lý nổi lênh phênh

Ai?
không ai

Vết bầm đen tọa thiền

*

Xứ sở thông minh
sao thật lắm trẻ con thất học
lắm ngôi trường xơ xác đến tang thương

Tuổi thơ oằn vai mồ hôi nước mắt
tuổi thơ còng lưng xuống chiếc bơm xe đạp
tuổi thơ bay như lá ngã tư đường

Bịt mắt bắt dê đâu cũng đụng thần đồng
mở mắt… bóng nhân tài thất thểu

Ai?
không ai

Vết bầm đen cúi đầu lặng thinh

*

Xứ sở thật thà
sao thật lắm thứ điếm
điếm biệt thự – điếm chợ – điếm vườn…

Điếm cấp thấp bán trôn nuôi miệng
điếm cấp cao bán miệng nuôi trôn

Vật giá tăng
vì hạ giá linh hồn

Ai?
không ai

Vết bầm đen vò tai

*

Xứ sở cần cù
sao thật lắm Lãn Ông
lắm mẹo lãn công

Giả vờ lĩnh lương
giả vờ làm việc

Tội lỗi dửng dưng
lạnh lùng gian ác vặt
Đạo Chích thành tôn giáo phổ thông

Ào ạt xuống đường các tập đoàn quân buôn
buôn hàng lậu – buôn quan – buôn thánh thần – buôn tuốt…
quyền lực bày ra đấu giá trước công đường

Ai?
không ai

Vết bầm đen nhún vai

*

Xứ sở bao dung
sao thật lắm thần dân lìa xứ
lắm cuộc chia ly toe toét cười

Mặc kệ cỏ hoang cánh đồng gái góa
chen nhau sang nước người làm thuê

Biển Thái Bình bồng bềnh thuyền định mệnh
nhắm mắt đưa chân không hẹn ngày về

Ai?
không ai

Vết bầm đen rứt tóc

*

Xứ sở kỷ cương
sao thật lắm thứ vua
vua mánh – vua lừa – vua chôm – vua chĩa
vua không ngai – vua choai choai – vua nhỏ…

Lãnh chúa sứ quân san sát vùng cát cứ
lúc nhúc cường hào đầu trâu mặt ngựa

Luật pháp như đùa – như có – như không có
một người đi chật cả con đường

Ai?
không ai

Vết bầm đen gập vuông thước thợ

*

?…
?…
?…

*

Ai?
Ai?
Ai?

không ai!

Tự vấn – mỏi
vết bầm đen còng còng dấu hỏi

*

Thôi thì ta trở về
còn trang giấy trắng tinh chưa băng hoại
còn chút gì le lói ở trong lòng

*

Đôi khi nổi máu lên đồng
hồn thoát xác
rũ ruột gan ra đếm

Chích một giọt máu thường xét nghiệm
tí trí thức – tí thợ cày – tí điếm
tí con buôn – tí cán bộ – tí thằng hề
phật và ma… mỗi thứ tí ti…

Khốn nạn thân nhau
nặng kiếp phân thân mặt nạ

Thì lột mặt nạ đi – lần lữa mãi mà chi
dù dối nữa cũng không lừa được nữa
khôn và ngu đều có tính mức độ

*

Bụng dạ cồn cào bất ổn làm sao
miếng quá độ nuốt vội vàng sống sít
mất vệ sinh bội thực tự hào

Sự thật hôn mê – ngộ độc ca ngợi
bệnh và tật bao nhiêu năm ủ lại
biết thế nhưng mà biết làm thế nào

Chả lẽ bây giờ bốc thang chửi bới
thấy chửi bới nhe giàn nanh cơ hội

Chả lẽ bốc thang cỏ khô nhai lại
lạy ông-cơ-chế lạy bà-tư-duy…
xin đừng hót những lời chim chóc mãi

Đừng lớn lời khi dân lành ốm đói
vẫn còng làm cho thẳng lưng ăn

Đổi mới thật không hay giả vờ đổi mới?
máu nhiễm trùng ta có thể thay chăng?

*

Thật đáng sợ ai không có ai thương
càng đáng sợ ai không còn ai ghét

Ngày càng hiếm hoi câu thơ tuẫn tiết
ta là gì?
ta cần thiết cho ai?

*

Có thể ta không tin ai đó
có thể không ai tin ta nữa
dù có sao vẫn tin ở con người

Dù có sao
đừng khoanh tay
khủng khiếp thay ngoảnh mặt bó gối

Cái tốt nhiều hơn sao cái xấu mạnh hơn?
những người tốt đang cần liên hiệp lại

*

Dù có sao
vẫn Tổ Quốc trong lòng
mạch tâm linh trong sạch vô ngần
còn thơ còn dân
ta là dân – vậy thì ta tồn tại

*

Giọt từng giọt
nặng nhọc

Nặng nhọc thay

Dù có sao
đừng thở dài
còn da lông mọc còn chồi nảy cây


Mátxcơva, tháng 5.1988
TP.Hồ Chí Minh 19.8.1988


Nguồn: Nguyễn Duy, Đường xa, NXB Trẻ, 1989

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 05.03.2015

RẰM NGUYÊN TIÊU VỀ HỘI LÀNG LỘC ĐIỀN

Đại tá Lê Phương
 
Gửi QUÀ TẶNG XỨ MƯA
Vài ngày nữa, Rằm tháng Giêng Ất Mùi, quê ngoại Lộc Điền của tôi Hội Làng. Hội Làng là từ muôn xưa, nhưng từ thời CCRĐ bị bỏ hẳn đến tận 3 – 4 năm trở lại đây mới được khôi phục. Hội làng Lộc Điền xưa to lắm. To nhất vùng đấy. Đình Lộc Điền cũng là Di tích Lịch sử – Văn hóa và Cách mạng đã được xếp hạng cấp tỉnh. Theo một số chuyên gia thuộc lĩnh vực này, nếu 2 cột nanh cổ không bị chính quyền tại địa phương do ấu trĩ mà hạ giải (đã vi phạm pháp luật vì xâm hại Di tích Lịch sử – Văn hóa và Cách mạng đã được Nhà nước xếp hạng), chắc chắn ngôi đình này sẽ được Bộ Văn hóa xem xét xếp hạng vì hội đủ mọi tiêu chí của một Di tích Lịch sử – Văn hóa và Cách mạng cấp Quốc gia như mấy nơi lân cận: làng Hòa Ninh, Lũ Phong, Vĩnh Lộc…

 Nhân ngày Hội làng quê Ngoại của tôi, xin đề nghị QTXM đăng bài thơ “Nhớ về quê ngoại Lộc Điền” của người anh trai đã khuất bóng nhưng thuở sinh thời, tình yêu đối với làng Lộc Điền luôn rạo rực trong tim anh – Đại tá Lê Phương (1932 – 1992). 

                                                                                         Lê Quang Vinh
 
Nhớ về quê ngoại Làng Phường
 
                                   Tưởng nhớ Ông Ngoại – Cụ Ngô Nhật Tuyên (*)
Ba chị em mình ra đời bên quê ngoại (**)
Một làng quê tuyệt đẹp ven sông
Nhà ngói ken nhau như phố như phường
Hàng phượng vĩ chạy dài theo kè đá
Mùa hoa nở làng chìm trong sắc đỏ
Soi bóng dòng sông xanh ngắt một mầu.
 
Bà con quê ngoại không quen cuốc bẫm cày sâu
Mà chạy chợ ngược xuôi rách mòn vai áo
Và đôi tay khéo léo giỏi giang
Nghề bún bánh độc đáo của đất Phường
Làm đồ chơi trẻ con bằng bột (tò he)
Tôi đã mê xem có khi quên cả giờ đến lớp
Những chú ngựa, voi … xanh đỏ xinh xinh
Gần 60 năm mà tôi vẫn nhớ như in
Nhớ từng bến tắm, gốc cây, đền đình, miếu mạo
Nhớ người dân Lộc Điền bán buôn mà tấm lòng nhân hậu
Ghi đậm trong tôi chẳng chút phai mờ.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 04.03.2015

TQ xây đảo để kiểm soát Biển Đông

TQ xây dựng ở đảo Gạc Ma

TQ xây đảo để kiểm soát Biển Đông

Nguyễn Xuân Vĩnh Gửi tới BBC từ Frankfurt, Đức

TQ đã tiến hành xây đảo nhân tạo tại nhiều điểm thuộc Quần đảo Trường Sa đang có tranh chấp

Từ vài năm nay giới quan sát về chính trị và quân sự ghi nhận là Trung Quốc tăng cường những nỗ lực để củng cố chủ quyền tại quần đảo Trường Sa.

Việc Trung Quốc xây dựng đồn quan sát cùng với bãi đáp trực thăng trên đảo Gạc Ma (Johnson South Reef) đã được chú ý và theo dõi từ năm 2012. Ngoài đảo Gạc Ma, hoạt động xây dựng còn có trên những đảo Việt Nam gọi là Đá Chữ Thập (Fiery Cross Reef), Đá Lạc (Gaven Reefs) và Đá Tư Nghiã (Hughes Reef).

Nhưng đầu năm 2015, hình chụp từ vệ tinh đã phát hiện ra một sự phát triển vô cùng nhanh chóng trong việc kiến thiết đảo nhân tạo trên những vùng này.

Ráo riết xây dựng

Những hình ảnh vệ tinh được công ty thông tin quân sự IHS Jane’s phân tích cho thấy là trên Đá Tư Nghiã, cái cấu trúc được xây trên mõm đá lú ra khỏi mặt nước đã tăng từ 380 mét vuông trong năm 2004 lên thành một đảo nhân tạo với diện tích là 75.000 mét vuông, một diện tích bằng khoảng 14 sân đá banh.

Sự phát triển còn rõ rệt hơn nữa trên Đá Lạc. Ở đây hình vệ tinh chụp vào cuối tháng Ba 2014 cho thấy một cái nền nhỏ trên bãi san hô, nhưng đến tháng Tám một đảo nhân tạo lớn đã thành hình kế bên đó, và cuối tháng Giêng 2015 một bãi đáp trực thăng đã được xây kế bên đảo nhân tạo đó cũng như những cái cầu nối cả ba cấu trúc với nhau.

Theo IHS Jane’s thì đảo nhân tạo lớn nhanh nhất là Đá Chữ Thập. Từ tháng Tám đến tháng Mười Một 2014, đảo này đã được bồi đắp thành một mảnh đất dài khoảng 3.000 mét và rộng khoảng 200 mét, đủ để xây một sân bay.

Các nước trong vùng, đặc biệt là Phi Luật Tân đã lên tiếng phản đối. Chính phủ Phi Luật Tân đã đệ đơn kiện đến Tòa án Quốc tế về luật biển của Liên Hiệp Quốc (International Tribunal for the Law of the See, ITLOS).

Việc xây đảo được TQ bắt đầu từ cuối thập niên 1990. Trong hình là cảnh chụp hôm 20/3/1999 cho thấy TQ đang xây cất trên Đá Vành Khăn (Rặng Mischief)

Hoa Kỳ cũng đã lên tiếng yêu cầu Trung Quốc dừng những hành động gây sự bất ổn này trong vùng, nhưng đến nay Trung Quốc không phản ứng.

Còn chính phủ Việt Nam thì vẫn im lặng.

Các quốc gia khác có sở hữu đảo trong vùng tuy cũng có những hoạt động kiến thiết, nhưng theo Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Daniel Russel thì việc xây đảo nhân tạo của Trung Quốc vượt xa tất cả những gì các nước này đã thực hiện từ xưa đến nay.

Sự phản đối có lẽ cũng vô ích vì kiến thiết ở bốn đảo nhân tạo tại vùng Trường Sa dường như thuộc vào một chương trình quy mô được bắt đầu sau khi ông Tập Cận Bình lên nắm quyền ở Trung Quốc năm 2012.

Theo báo Wall Street Journal thì việc xây dựng trên hai đảo Đá Chữ Thập và Đá Lạc đã được bắt đầu trong năm 2014, bất chấp những phản đối của các nước láng giềng, và song song với những lời tuyên bố có tính cách ôn hoà của chính phủ Trung Quốc.

Mục tiêu quân sự?

Theo các nhà phân tích quân sự thì cấu trúc của đảo nhân tạo trên Đá Lạc rất giống cấu trúc trên Đá Tư Nghiã, cho nên có thể cấu trúc trên Đá Tư Nghiã là mẫu cho những đảo nhân tạo khác sẽ được xây dựng hàng loạt.

Mục tiêu của Trung Quốc có thể là xây dựng một chuỗi những căn cứ trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa để bắt buộc các quốc gia khác từ bỏ những đòi hỏi chủ quyền trong vùng này.

Việc Trung Quốc kéo Giàn khoan 981 vào biển Đông hồi tháng 5/2014 khiến người dân VN ở trong và ngoài nước tiến hành nhiều cuộc biểu tình phản đối

Các đảo nhân tạo đều có đặc tính quân sự rõ rệt vì có trang bị radar và ổ súng phòng không. Các đảo này có thể được dùng để kiểm soát mặt biển và không phận của toàn vùng cũng như làm căn cứ hậu cần cho tàu hải quân để đi tuần sâu hơn về miền nam biển Đông.

Đặc biệt là Đá Chữ Thập cũng sẽ có một hải cảng vừa cho thuyền vận tải và chiến hạm lớn sử dụng.

Sân bay trên Đá Chữ Thập có thể được dùng để yểm trợ cho hoạt động của chiếc hàng không mẫu hạm Liêu Ninh trên biển Đông.

Quần đảo Trường Sa cách đảo Hải Nam hơn 1.100 km, quá xa để các khu trục cơ từ đất liền có thể yểm trợ hữu hiệu vì không quân Trung Quốc chưa có kỹ thuật tiếp xăng trong lúc bay như không quân của Hoa Kỳ hoặc các nước Âu Châu. Sân bay này có thể giúp Trung Quốc khắc phục nhược điểm đó.

Máy bay trinh sát hoặc chiến đấu đóng tại đây có thể tiến xa xuống miền nam. Và tất nhiên là các đồn này đều có thể được dùng để chứa quân và làm bàn đạp để tiến chiếm các đảo khác.

Với những đảo này, Trung Quốc nhấn mạnh những đòi hỏi chủ quyền trên Biển Đông. Một số nhà phân tích Hoa Kỳ cho rằng Trung Quốc có thể dùng những đảo này để thiết lập một Vùng Nhận diện Phòng không (Air Defense Identification Zone) trên biển Đông.

Mối đe dọa cho Việt Nam

Với sân bay trên Đá Chữ Thập và các đồn trên các đảo khác, Trung Quốc trong trường hợp xung đột có thể cắt đứt đường tiếp tế cho đảo Sinh Tồn một cách dễ dàng và có thể uy hiếp đảo Trường Sa.

Nhìn từ khía cạnh của Việt Nam, những hoạt động lập đảo của Trung Quốc là một điều đáng lo ngại.

Cái đồn trên Đá Gạc Ma nằm ở phía nam của Đảo Sinh Tồn (Sin Cowe Island), cách đảo này khoảng 30 km. Đồn Đá Lạc nằm cách Đảo Sinh Tồn khoảng 41 km về hướng tây bắc. Căn cứ và sân bay trên Đá Chữ Thập nằm khoảng 150 km về hướng tây nam đảo Sinh Tồn.

Đảo Sinh Tồn là một trong ba đảo lớn nhất của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa và như thế lại nằm ở giữa ba căn cứ quân sự của Trung Quốc. Đá Chữ Thập cũng nằm cách Đảo Trường Sa, đảo lớn nhất của Việt Nam tại đây, khoảng 160 km về hướng đông bắc.

Với sân bay trên Đá Chữ Thập và các đồn trên các đảo khác, Trung Quốc trong trường hợp xung đột có thể cắt đứt đường tiếp tế cho đảo Sinh Tồn một cách dễ dàng và có thể uy hiếp đảo Trường Sa.

Và có thể nói là tất cả các đảo của Việt Nam phiá bắc của đảo Sinh Tồn, trong đó có đảo Song Tử Tây (Southwest Cay), đảo lớn thứ nhì của Việt Nam, và đảo Nam Yết (Namyit Island), đảo lớn thứ năm, đều bị đe dọa qua những đảo nhân tạo của Trung Quốc.

Trong Thế chiến thứ hai, quân đội Hoa Kỳ đã áp dụng một chiến lược được gọi là “island hopping“, chiến lược nhảy từ đảo này sang đảo kia, để chiến thắng quân đội Nhật.

Hiện Trung Quốc đã có hàng không mẫu hạm Liêu Ninh hoạt động trên biển Đông

Các cánh quân Mỹ đã đánh chiếm những vùng đất liền và đảo của Nhật có vị trí chiến lược quan trọng, nằm gần những tuyến đường tiếp tế, nhưng chỉ có lực lượng phòng thủ nhỏ, thay vì đánh vào những căn cứ có lực lượng phòng thủ mạnh.

Quân đội Mỹ đã tránh thiệt hại lớn nhưng đã đưa Nhật vào thế bị động và khó khăn vì những đường dây tiếp tế bị cắt đứt. Những căn cứ phải thất thủ vì thiếu đạn dược và thực phẩm.

Những hoạt động xây đảo nhân tạo của Trung Quốc chung quanh các đảo của Việt Nam hiện hơi giống chiến lược nhẩy đảo đó.

Với một cái nhìn khách quan và theo logic thì Việt Nam bây giờ phải có một thay đổi cấp bách trong chính sách ngoại giao và quốc phòng.

Nhưng trong hậu trường chính trị Việt Nam, không ai biết được có những động lực gì thúc đẩy giới cầm quyền trong các chính sách với Trung Quốc.

Liệu người dân Việt Nam lại phải chuẩn bị tinh thần để chấp nhận hy sinh quân sĩ và lãnh thổ một lần nữa sau năm 1975 và 1988?

Bài viết thể hiện quan điểm và cách hành văn của tác giả, một kỹ sư hàng không hiện đang sống tại Cộng hòa Liên bang Đức.

N.X.V.

Nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2015/03/150302_dao_nhan_tao_trung_quoc_truong_sa

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 04.03.2015

Giáo dục gây tổn thương để đi tới

Giáo dục gây tổn thương để đi tới

Nguyên Ngọc

 Ngày mà ông cùng với một số nhà văn khác mở trường Nguyễn Du, lúc đó các ông đã nghĩ: làm sao mà dạy viết văn được?

ông thể dạy một người thành nhà văn, nhưng cần giúp các nhà văn trẻ có thể đi xa. Muốn vậy, cần cố gắng tạo cho họ gặp được những người giỏi nhất trong tất cả các lĩnh vực và nghe những người đó nói chuyện.

Các ông thầy lên lớp, hầu như chỉ làm mỗi một việc là kể chuyện, chuyện mình, chuyện người. Từ các câu chuyện ấy, các học viên về tự kể lại và mỗi người, bằng tài năng của mình, kể câu chuyện của chính mình nhận thức được với cuộc đời, vạn vật theo cách của mình thể hiện qua ngôn ngữ, bút pháp và tinh thần.

Ba mươi năm sau, ông quay trở lại với giáo dục, lần này, ông quản trị một trường đại học với mục tiêu của những con người đã đi vào lịch sử bằng sự khai sáng như Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu… Và cũng như sở học của mình, giờ thì ông hiểu mục tiêu của giáo dục chính là sự giải phóng cho con người, đúng hơn, giúp cho mỗi người tự giải phóng. Câu chuyện mà ông dẫn dắt chúng ta dưới đây sẽ đem lại cho các bạn, dù chỉ là một suy nghĩ mới hay nhận ra mình, cũng chính là điều ông muốn nói.

Xây dựng ý chí muốn học

Tôi thuộc loại người không có bằng cấp, không học xong phổ thông. Học đến nửa tú tài thì chiến tranh, đi đánh nhau. Nhìn lại đời mình, chỉ riêng về giáo dục, tôi nhớ và nghĩ rất nhiều về nền giáo dục Pháp ngày xưa, họ đã dạy thế nào đó để một người chưa xong tú tài như tôi vẫn thấy mình được học nhiều thứ rất cơ bản. Sau đó là quá trình tự học. Có lần tôi đã nói: “Tôi biết ơn nền văn hoá và văn học Pháp. Hạnh phúc cho ai được chịu ảnh hưởng tốt đẹp của nó”.

Tôi ra miền Bắc, tám năm sau lại trở vào chiến trường miền Nam cùng anh Nguyễn Thi. Những năm ấy tôi thấy mình học được nhiều và thay đổi nhiều. Tôi nhận ra chính là nhờ tôi được gặp được quen những người thật giỏi và… nghe họ nói. Nguyễn Đình Thi, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Tuân…, những Đặng Thai Mai, Vũ Ngọc Phan… Chắc họ không biết họ đều là thầy của tôi. Có lẽ tôi học được nhiều nhất là cách họ suy nghĩ, cảm nhận cuộc sống.

Hầu hết thế hệ tôi là như thế, đám nhà văn ở tuổi tôi ngoài Bắc chỉ duy nhất có một người được đi học đại học là ông Phan Tứ. Còn tất cả chúng tôi chỉ dở dang ở phổ thông.

Tới giờ tôi vẫn tự học. Cái gì cũng muốn học. Tôi rất say mê đọc vật lý. Tôi được bạn bè “khai phóng” và hiểu rằng vật lý hiện đại rất gần với triết học. Tôi hơi buồn thấy các nhà văn trẻ rất ít quan tâm đến vật lý. Người ta bảo sức tưởng tượng của vật lý còn hơn cả nghệ thuật. Nó động đến những vấn đề vô cùng sâu xa của triết học, của sự tồn tại, của con người giữa khôn cùng…

Hình như có một thời khá dài ta từng có một nền văn học không có triết học. Thật kỳ lạ và đáng sợ!

Khai phóng và thực học, giáo dục nền tảng của năm 2015

  Hiện nay tôi rất sợ ta hiểu thực học đơn thuần là học kỹ thuật, kinh tế, tin học. Tôi muốn nhắc lại về Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ. Vì sao Nguyễn Trường Tộ, người yêu nước vô cùng như thế lại thất bại với các bản điều trần của mình? Đương nhiên có lý do từ cơ sở xã hội nhưng nếu nói đến hai nhân vật này thì còn có sự khác biệt về con người. Nguyễn Trường Tộ chủ yếu vẫn thấy phương Tây hơn ta ở kỹ thuật, Yukichi khác, ông nhận rõ Nhật Bản thua phương Tây cả một nền văn minh. Học phương Tây là học nền văn minh đó, chứ không phải chỉ học kỹ thuật. Đến Phan Châu Trinh thì đã nói được: “Mình thua là tất yếu vì mình thấp hơn họ cả một thời đại”.

Hiện nay tôi đang có một trường đại học, mới có mấy khoá, và tôi nhận thấy rất ít các em sinh viên của chúng tôi ra đời có thể làm đúng với nghề mà các em học. Vậy nếu chỉ tập trung học kỹ thuật thì sẽ rất lúng túng vì không có nền tảng để xoay chuyển trong biến động. Tôi vừa mới đọc câu này và thấy nếu nghĩ như thế thì thật đáng lo: “Bây giờ người ta chi hàng tỉ đôla để một người đi lên mặt trăng trong khi vẫn còn có hàng tỉ người lại không có ăn”. Nghĩ về thực học như thế thì nguy hiểm lắm. Tôi nhớ tôi đã báo cho tất cả mọi người trong trường biết cái đêm tàu vũ trụ Rosetta của châu Âu lần đầu tiên thả một robot xuống sao chổi, để tìm thử nguồn gốc của sự sống trên trái đất có phải bắt đầu từ sao chổi không? Điều đó là vô cùng thực. Ham được biết điều đó cũng là thực học.

Tôi có lần nói với bà Nguyễn Thị Bình, nguyên bộ trưởng bộ Giáo dục, nguyên phó Chủ tịch nước, năm nay đã 89 tuổi: “Phải thật sự nghĩ lại về giáo dục miền Nam trước 1975, có lẽ cải cách giáo dục mình bây giờ cứ làm đúng như giáo dục miền Nam trước 1975 là được, hoặc ít nhất phải xem cho kỹ nền giáo dục đó để tham khảo”. Nền giáo dục nào tạo cho con người có cái quyền của mình, đấy là thực học. Người thực học là người có nền tảng để thúc đẩy ý chí tự mình dám đi tìm chân lý.

Giáo dục khai phóng đã có từ thời cổ đại. Người ta tin rằng tạo hoá sinh ra con người ai cũng có tiềm năng và đã thấy cần học những môn gì để có thể giúp cho con người tự giải phóng mình ra khỏi sự dốt nát, giải phóng những tiềm năng có sẵn của mình để giúp mình sống có hạnh phúc và có ích cho xã hội.

Tôi cũng tin và đã từng nói rằng giáo dục phải bắt đầu bằng niềm tin vào con người. Bởi ai cũng có những tiềm năng cần được giải phóng. Không có niềm tin đó thì thà đừng làm giáo dục.

Sau khi đọc một bài viết của tôi về điều đó, bạn tôi là anh Bảy Nhị, trước đây là chủ tịch tỉnh An Giang, viết thư kể với tôi: sau năm 1975 anh mới lấy vợ, hôm đó anh dẫn vợ đi chụp ảnh. Ông thợ ảnh bảo: “Tôi sẽ chụp chị rất đẹp vì tôi tin người phụ nữ nào cũng có nét đẹp của họ, ăn thua là mình biết nhìn ra vẻ đẹp đó chứ không phải cái máy ảnh này chụp đẹp hơn máy ảnh kia”. Anh Bảy Nhị nói: “Cái tay nhiếp ảnh này ngộ quá nhưng giờ tôi đọc bài của anh, tôi nhận ra ông nhiếp ảnh đó nói đúng”.

Chìa khoá để mở cửa tâm hồn

Tôi có đọc một bài viết của một nhà nữ triết học Mỹ nói về tính dễ bị tổn thương của con người. Giáo dục làm cho con người bị tổn thương. Vì sao? Vì việc đem lại tri thức làm cho con người thấy hoá ra còn bao nhiêu cái mình chưa biết, càng học càng thấy cái mình biết, cái mới vừa được biết thêm càng vô cùng nhỏ bé trước cái chưa biết, không biết còn lại mênh mông, vô tận. Cảm giác tổn thương đó là một cảm giác lành mạnh. Nó khiến con người thiết tha đi tới trên đường tự khai phóng.

Một cô sinh viên của trường tôi, gia đình rất nghèo, mẹ cô có 13 con bò, cô đi học bốn năm thì bà phải bán hết 12 con bò, chỉ còn mỗi một con. Hôm đi học tiếp ở một nơi khác, em đến thăm tôi và nói: Trước đây em đã từng nghĩ, khi em ra trường sẽ cố gắng kiếm việc làm có đồng lương nào đó để sống được, rồi trả nợ dần cho mẹ, rồi sẽ dẫn mẹ đi chơi một tua, rồi lấy chồng và sẽ có một cuộc sống yên ổn. Em nghĩ, nếu không gặp thầy, em sẽ sống một cuộc sống như thế đó nhưng giờ em giật mình và sợ hãi với suy nghĩ đó. Chỉ chút nữa thôi thì mình đã để cuộc đời mình chìm trong một hạnh phúc chật hẹp biết bao nhiêu… mà không hề hay biết!” Nghe lời em nói, tôi cũng giật mình nhìn lại mấy năm qua, hoá ra tôi đã khiến em bị tổn thương khi nhận ra: “Trời ơi, đời mình chỉ có chừng này thôi à?” và sau đó em đã khao khát biết những điều khác nữa lớn lao hơn ở thế giới.

Tôi nói với sinh viên, mình càng tìm biết, mình càng thấy còn có những cái biết lớn lao hơn nữa. Càng biết nhiều bao nhiêu thì càng nhận ra sự vô tận của cuộc sống và nhận ra sự dốt nát của mình. Rồi khi cô sinh viên vào Sài Gòn, đến những môi trường giáo dục khác, gặp những người cũng trẻ tuổi mà thành danh, cô đã oà khóc vì bị tổn thương. Từ đó cô quyết tâm tiếp tục tìm mọi cách học. Cô nhận ra rằng thế giới thật là mênh mông bể sở và cô khao khát được tiếp cận nó.

Tôi nói với các thầy và sinh viên ở trường rằng tôi không tin có học trò kém. Mỗi con người đều có thể giỏi một cái gì đấy. Sở dĩ mình thấy sinh viên kém là vì mình muốn mọi người đều giỏi cái mà mình muốn. Trong khi xã hội thì vô cùng đa dạng. Ví dụ mình muốn mọi người đều phải giỏi toán, nhưng nếu sinh viên đó không giỏi toán thì ngay lập tức mình nói: “Thằng này dốt!” Hay mình muốn sinh viên đều phải giỏi văn, nếu không giỏi thì mình bảo nó dốt. Vậy cái giỏi của người thầy chính là giúp cho sinh viên nhận ra cái giỏi thật sự của họ và từ đó họ tự khai phóng họ ở lĩnh vực đó. Phát triển bao giờ cũng là tự phát triển, không thể nào mình nắm đầu người ta kéo lên được cũng như cái cây nó mọc tự nhiên, sao bạn có thể nắm nó kéo lên cho cao được.

Trường đại học Phan Châu Trinh ở Hội An cũng đang chủ trương theo con đường này. Tạo nên một không gian tự do, không gian văn hoá, không gian học thuật để bốn năm đại học là bốn năm hạnh phúc nhất của con người. Đào tạo cho các em không chỉ để ngày mai có việc làm mà cho các em có thể tự sống cuộc đời mình hay nhất, đẹp nhất. Hội An cũng là một thành phố rất đặc biệt, chúng tôi muốn tìm mọi cách để thành phố văn hoá độc đáo này thật sự là “khu nội trú” của trường chúng tôi.

( nguồn:vanviet)

Đăng bởi: Ngô Minh | 04.03.2015

CHUYỆN ĐẠI SỰ CỦA NHÀ THƠ

Nhân Ngày thơ Việt Nam ( Rằm Nguyên Tiêu Ất Mùi)  

  CHUYỆN ĐẠI SỰ CỦA NHÀ THƠ

( Ngô Minh trả lời câu hỏi của bạn đọc báo Văn Nghệ Trẻ)

 

Làm báo như ăn cơm với vợ

                                                   còn thơ là uống rượu với bạn !( N.M)

 

      Nhà thơ Ngô Minh quý mến,

          Cháu sinh ra ở một làng biển miền Trung, rất mê thơ, nhưng lại theo học đại học báo chí. Hồi còn học phổ thông cháu đã thích thơ của chú “Mai rồi / Đời cát vùi quên/ Biển còn hột muối/ Nhặt lên/ Thưa rằng…”. Từ đó, thấy thơ chú là cháu dành đọc cho bằng được. Hiện nay trong tay cháu đã có đến 4 tập thơ của chú (Chân dung tự họa, Phía nắng lên, Chân sóng, Quà tặng xứ mưa). Cháu biết là còn thiếu mấy tập nữa (Nước mắt của đá…)

          Mấy năm vừa rồi, cháu còn được đọc rất nhiều bài báo của chú, đặc biệt là trên báo Thương mại. Tại sao chú đã là nhà thơ, lại còn đi làm báo, mà lại là báo Thương mại nữa (eo ôi!)? Chú có nghĩ rằng sẽ tới một lúc nào đó thơ chú sẽ bị tư duy báo chí và kinh tế lấn át hay không? Và khi cháu đã học nghề báo chí rồi, có bỏ thơ để làm báo, hay bỏ báo để làm thơ, hay làm cả thơ lẫn báo? Chú cho cháu một lời khuyên, chứ thực tình là cháu đang phân vân lắm.         

          Đọc thơ chú, thấy chú rất hay xúc động về cái nghèo, cái khổ, cái buồn : “Lục túi tìm mươi đồng bỏ vào mê nón mệ bên đường mà túi rỗng – Thơ không bán được mệ ơi !”, “Mặt nạ bán hết còn lại mình – Ai hỏi han chi thằng mặt thật”. Những bà mệ ăn xin, những người bán mặt nạ trong thơ chú cứ như là có thật trong đời chứ không phải hư cấu văn học. Và những người yêu trong thơ chú có phải chỉ là vợ chú hay không? Cháu tin thơ chú đều nói thật, bởi thơ chú giống một bản khai lý lịch đời mình bằng thơ. Và điều đó có hạn chế đến trí tưởng tượng trong thơ?…

          Lần đầu, thư cho chú, cháu không giám viết dài. Kính chúc chú thêm nhiều bài thơ hay. Và, nếu nhận được hồi âm của chú (thư riêng, hoặc trả lời trên Văn nghệ Trẻ) thì cháu vô cùng biết ơn.

                                        Thư ngõ của Lâm Hoàng Lan

                             (Khoa báo chí – Đại học Tổng hợp TP. HCM)

                        

           THƯ NGỎ GỬI BẠN LÂM HOÀNG LAN

          Bạn Lâm Hoàng Lan thân mến !

          Đọc lá thư của bạn do báo “Văn nghệ Trẻ” chuyển, tôi vừa xúc động, vừa lo, lại vừa … buồn! Xúc động vì biết ở tít tận ngàn cây số kia có một người trẻ quan tâm tới mình, “theo dõi” từng tác phẩm của mình và … “thích thơ” mình ! Cách đây bảy, tám năm tôi cũng có một lần được xúc động như vậy khi nhận thư của anh La Quốc Tiến, một nhà thơ miền Tây Nam Bộ. Anh La Quốc Tiến lúc đó chưa được giải thưởng thơ báo Văn Nghệ, chưa nổi tiếng như mấy năm rồi. Trong thư anh bảo rằng, anh đã mang thơ tôi, đặc biệt là bài “ Tìm tôi tìm Huế “ đi đọc ở khắp các cuộc thơ quảng trường , thơ xa-lông với bạn bè ở quê anh rất tâm đắc. Ấy là sự diệu kỳ của thơ. Thơ nó nối dài cuộc sống của mình, nó “nối vòng tay bé” của mình vào “Vòng tay lớn” những người tri âm, tri kỷ. Ấy là hạnh phúc lớn nhất của bất cứ người làm thơ nào, không riêng gì tôi ! Trong thời buổi người làm thơ “đông hơn” người đọc thơ như hiện nay, thư của Lâm Hoàng Lan với tôi không chỉ là sự tri âm, đồng cảm mà còn là sự cổ vũ, khuyến khích. Còn tại sao lại lo ư ? Lo vì thư hỏi nhiều chuyện khó quá, “chuyên môn” quá, mà mình lại “nhà thơ chưa qua trường Nguyễn Du, học lỏm mà thành “, biết trả lời sao đây ? Nào là “Có nên bỏ thơ để làm báo, hay bỏ báo để làm thơ“, nào là “sự thật và hư cấu” trong thơ, vân vân. Và gay go nhất là câu “Những người yêu trong thơ có phải chỉ là vợ hay chồng?” Hỏi như thế là bấm vào “tử huyệt” của người làm thơ đấy, Hoàng Lan ạ ! Nhưng nỗi lo “toát mồ hôi” không mần răng át được chút thoáng buồn vì trong thư bị gọi bằng … chú ! Thứ nhất, dù năm nay tôi tuổi Con Trâu – sắp “ngũ thập tri thiên mệnh” đi nữa cũng còn lâu mới có cháu lớn đến thế ! Thứ nữa, ai lại đi gọi thi sĩ là “chú” bao giờ ! Nghe kỳ lắm !

          Bây giờ xin đi vào chuyện “đại sự” mà bức thư của bạn Hoàng Lan “đặt vấn đề”. Báo và thơ ư ? Báo là nghề, thơ là nghiệp. Cái nghề nuôi cái nghiệp. Ở xứ ta từ xưa tới nay chẳng ai sống nổi bằng thơ cả. Hơn nữa thơ là thứ để tặng, để chơi chứ không phải để bán lấy tiền. Vì thơ mà từ xưa tới giờ, có rất nhiều nhà thơ , nhà văn Việt Nam như kiếm cơm hàng ngày bằng nghề viết báo. Mấy ông nhà văn nhà thơ mà tôi quen biết như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha, Đông Trình, Thanh Thảo … đều lấy nhuận bút báo làm nguồn thu chính. Nhà thơ – Nhạc sỹ Nguyễn Trọng Tạo, con người được mệnh danh là “Người ham chơi”, một năm cũng viết cả trăm bài báo đủ các đề tài để nuôi vợ con. Ông uống rượu  với bạn bè từ sáng tới tối, say thì ngủ một giấc, hai ba giờ sáng thức dậy lại ngồi vào bàn viết báo để trả tiền điện thoại, tiền gas nấu cơm, tiền nhà trẻ mẫu giáo cho con … hàng tháng! Nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường viết “nhân đàm” cho báo Thanh Niên đều đều, lại còn viết cả chuyện món ăn Huế cho tờ “Sài Gòn Tiếp Thị” của nhà báo Kim Hạnh. Thế vẫn chưa “oai” bằng nhà thơ Thanh Thảo còn viết bài báo quảng cáo rất diệu nghệ cho món hàng nước khoáng Thạch Bích Quảng Ngãi quê ông …Tôi ngày trẻ theo học Đại học Thương Mại, những mộng làm giàu hóa ra bị “thơ” ám, nghèo rớt mùng tơi. May có chút vốn sách vở học được, đi làm báo Thương Mại có lý quá còn gì! Tôi làm báo được đi đây đi đó luôn, nên gặp nhiều cảnh đời xúc động lắm. Các chuyến “đi viết báo” ấy đã cho tôi cả loạt bài thơ tâm đắc như “Tìm tôi tìm Huế“, “Mưa ở Buôn Ma…”, “Người bán chè chén ở Ga Nha Trang“, “Hà Nội mùa đông“, “Người bán kem chiều ba mươi Tết“…Có nghĩa là nghề báo cũng có ích cho văn chương thơ phú đấy chứ !

          Nói là nói vậy chứ làm báo “say máu” quá là nhiễm ngay cái “tư duy báo”. Cái cung cách, ngôn ngữ “ăn liền” ấy thấm vào quá trình sáng tác văn học, khả năng tư duy hình tượng sẽ suy giảm. Người ta nói thơ kỵ báo là nói khía cạnh đó. Thực tế cũng đã không ít nhà thơ, nhà văn “chết” vì báo hay bị “báo hóa”. Người giỏi là người biết phân thân, tức là mình tự biến thành hai “thằng mình” – “thằng thơ” và “thằng báo”. Còn lời khuyên “nên bỏ thơ làm báo hay bỏ báo làm thơ ” ư ? Khó quá. Trên đã nói, thơ là nghiệp. “Đã mang lấy nghiệp vào thân…” dù muốn bỏ cũng không được. Chỉ khi nào thơ nó bỏ mình coi như mới thoát nghiệp chướng !

          Bạn Lâm Hoàng Lan hỏi về những “nhân vật” trong thơ tôi như là có thật ngoài đời chứ không phải hư cấu văn học, ấy là  cái cảm thấy, cảm nhận. Đó chính là hiệu quả của sáng tác văn học. Một điều cần lưu ý là những “Cái như thật” ấy có thể có thật đâu đó hoặc không hoàn toàn có thật, nhưng “cái tôi tâm trạng” phải là cái có thật, không thể hư cấu ! Nhà thơ là nhân vật chính của thơ mình. Điều đó qui định diện mạo thơ riêng của từng nhà thơ. Đến nay tôi đã in năm tập thơ (Phía nắng lên-1985, Chân dung tự họa-1989, Nước mắt của đá-1991, Chân sóng-1995 và Quà tặng xứ mưa-1996) và sắp in tập thơ mới ” Đứa con của cát “, – tất cả dù thơ hay hay chưa hay, đều là cái tôi chân thật ấy ! Có lẽ vì thế mà Hoàng Lan tin “thơ chú đều nói thật…giống như một bản khai lý lịch đời mình bằng thơ“.

          Trở lại chuyện thơ và báo, có lần nhà thơ già Tôn Phong ở Nha Trang phỏng vấn tôi, cũng “gay cấn”chẳng khác gì Lâm Hoàng Lan về chuyện “làm thơ và làm báo”. Tôi đã trả lời một cách vui vẻ rằng: “Làm báo như ăn cơm với vợ, còn thơ là ưống rượu với bạn”. Bạn Hoàng Lan thân mến, cầu cho bạn ước gì được nấy, say thơ gặp thơ, muốn báo có báo…

                                                                     Huế ,tháng Giáp Thìn 1997

Mục THƯ NGỎ GỬI NHÀ VĂN Báo Văn nghệ trẻ số 13(44) 20-5-/1997

Đăng bởi: Ngô Minh | 03.03.2015

Từ đọc ngôn tình đến… viết ngôn tình!

Từ đọc ngôn tình đến… viết ngôn tình!

 

Nguyễn Đình Bổn

Nhiều người quan tâm đến văn hóa đọc trong nước cho rằng kể từ năm 2006, sau khi cuốn sách do Trang Hạ dịch có tên “Xin lỗi em chỉ là con đĩ” trở thành hiện tượng, đó cũng là dấu mốc để truyện ngôn tình Trung Quốc ào ạt xâm lấn thị trường Việt Nam. Hiện nay tuy nhiều người cho rằng thứ sách nhảm nhí này đã thoái trào nhưng thực sự chưa có một con số thống kê chính xác nào để biết được sách ngôn tình hiện đang chiếm tỉ lệ bao nhiêu phần trăm trong số các đầu sách văn học được xuất bản tại Việt Nam, chỉ biết rằng nó vẫn là những đầu sách áp đảo về số lượng trong các nhà sách từ Bắc chí Nam. Vì tiền, các nhà xuất bản, phần lớn là phía Bắc, đã bán giấy phép ào ạt để cho ra đời loại sách này, và cũng vì tiền, các nhà sách lớn nhỏ luôn trưng bày nó tại những nơi “bắt mắt” nhất mà không hề có một cảm xúc xấu hổ.

Cái gọi là sách ngôn tình của Trung Quốc, mà nhiều người mỉa mai đặt tên “sến Tàu” là một loại sách á văn học, đầy tính chất uỷ mị, viển vông và cả gợi dục nhưng lại được các nhà xuất bản, các người dịch trẻ biết Trung văn tung ra ào ạt, và như một hệ lụy hiển nhiên, các cây bút trẻ Việt Nam cũng bắt đầu viết theo thể loại này. Nó nhanh chóng được các đầu nậu đánh hơi và ngay lập tức tung hê lên thành một “hiện tượng” để bán sách. Như việc một nữ MC truyền hình tung ra một cuốn sách dán nhãn 18+ với hình bìa là ảnh hở vòng một của chính cô, rồi mới đây việc một tập thơ cũng của một tác giả nữ, mang cái tên dài và đầy hơi hướm ngôn tình “Anh ngủ nữa đi anh, em phải dậy lấy chồng”, ngôn ngữ bên trong đầy tính chất gợi dục khá trơ trẽn, lại được giới thiệu như một “phát hiện” từ những nhà báo con buôn, là một ví dụ sinh động.

Điều này tạo ra một nhận thức lệch lạc trong cách đọc của giới trẻ, bởi chỉ nói riêng về sáng tác của các nhà văn, nhà thơ Việt Nam, dù phải tiết chế dưới chế độ kiểm duyệt, không ít các tác phẩm rất đáng đọc, nhưng trước sự thờ ơ của báo chí, của các nhà phê bình, các tác phẩm đó gần như bị trôi tuột đi. Còn với những tác phẩm văn học, những tác giả lớn của thế giới, hầu như không có tác phẩm thơ nào được dịch và in, thậm chí nữ văn sĩ Alice Munro, người Canada chuyên viết truyện ngắn, đoạt giải Nobel Văn chương 2013, một cái tên lẫy lừng như vậy nhưng chỉ trừ những người quan tâm đến văn học đích thực, phần lớn các bạn trẻ Việt Nam, ngay cả tầng lớp sinh viên, không biết bà là ai!

Điều đáng nói, Việt Nam là một quốc gia có tỷ lệ người đọc sách thấp đến kinh ngạc. Theo thống kê hiện nay trung bình 1 người Việt Nam đọc 3 cuốn sách 1 năm – trong đó có 2,3 cuốn là sách giáo khoa. Như vậy số lượng sách tự chọn chỉ chưa đến 0,7 cuốn/1 người/1năm, trong khi đó tại Thái Lan, con số này rơi vào khoảng 5 cuốn/1 người/1năm – không tính sách giáo khoa, tức người Thái đọc gấp khoảng gần 10 lần người Việt!

Ai cũng biết để đánh giá tri thức của một quốc gia, người ta sẽ nhìn vào nền giáo dục, xuất bản, báo chí, tỷ lệ đọc sách… của đất nước đó. Về vấn đề này, thực tế cho thấy Việt Nam đang tụt hậu không chỉ với thế giới nói chung, mà tụt hậu cả với láng giềng cùng chung khối Đông Nam Á.

Ở miền Nam trước đây, có một cái “phong trào” rất dễ thương của người trẻ. Hồi đó sinh viên và học sinh đều “cặp nách” một vài cuốn sách triết của Phạm Công Thiện, hoặc các tác giả “hiện sinh” lẫy lừng như Henry Miller, hoặc đọc tiểu thuyết của Erich Maria Remarque. Ai muốn đọc Quỳnh Dao hay Bà Tùng Long đều dấm dúi vì sợ quê. Còn ngày nay, thử nhìn vào một căn nhà trọ của các bạn nữ sinh viên ngữ văn, ở đó chắc chắn có cả chồng sách ngôn tình Trung Quốc, và hiện nay là các tập sách, thơ mang hơi hướm ngôn tình Việt.

 

Nguồn: Blog Nguyễn Đình Bổn

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.03.2015

TRƯỚC BÀN VIẾT

VĨNH NGUYÊN

  TRƯỚC BÀN VIẾT

  Trước bàn viết của tôi

Tượng Phật A Di Đà thanh tịnh trang nghiêm

Tượng vũ nữ Chăm uyển chuyển ôm bình nước

Ảnh Nhà thơ Phùng Quán

Ảnh Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

Và bình hương, bình hoa với sáu bông vàng đỏ trắng mới cắm là vừa mút

mặt bàn

 

Ai cũng thấu uy danh các vị

Đức A Di Đà đau đáu trì độ chúng sanh

Vũ nữ múa nước mà chăm chắm sợ đổ nước

Quán cắm cúi viết Lời mẹ dặn, Chống tham ô lãng phí – những khúc xương

khó nhằn khi ấy chưa ai dám nhằn…

Sơn đeo kính gọng nâu lãng tử Như cánh vạc bay, Lời buồn thánh… đã

gióng hồi chuông cảnh tỉnh Một ngàn năm đô hộ giặc Tàu (*)

 

Thế gian nhiều trí thức, người tài

Nhưng đạt Thiện – trí – thức, Thiện – người – tài thì còn ít lắm!

Với những danh đức trên cũng vừa đủ cho tôi thệ nguyện hồi hướng về một

cõi Giác tha

 

Chẳng phải bàn viết tôi chật

Thật lòng là tôi không còn muốn bưng đặt thêm ai…

———–

 Sau pháo giao thừa Ất Mùi đến 2h 22 phút thì làm xong bài này

 

(*) Trong ca khúc “Gia tài của mẹ” của nhạc sĩ họ Trịnh.

 

( Tác giả gửi QTXM)

Older Posts »

Danh mục