img_8195

ĐỌC BỘ SÁCH “NGÔ MINH TÁC PHẨM”, TẬP 5: 

“NHỚ MẠ”- NÉN NHANG THƠM THẢO CỦA “ĐỨA CON XỨ CÁT”

 

                                                                MẠNH LÊ

                                                            ( Tác giả đã mất)

 

            Nắng, mưa, gió, cát không chỉ là kí ức thiêng liêng của người quê Quảng Bình mà còn là nỗi ám ảnh của mọi người ở những vùng quê biển khác. Với Ngô Minh, ký ức về người mẹ làng Thượng Luật quê anh mang một vẻ đẹp riêng:

Nhớ mạ mỗi sớm mặt trời

                             Thơm như miếng trầu đỏ thắm.

Thời gian, không gian mở đầu và kết thúc bài thơ từ bình minh của một ngày cho đến cuối chiều. Có một đứa con xa mạ về quê tìm mạ, người mạ xưa đã mất. Từ một hình ảnh sinh động đã in hẳn trong ký ức nhà thơ về quê tìm mẹ, lần theo những dấu vết của quê hương còn lưu lại hình ảnh của mẹ đã bừng thức trong anh những tình cảm mà anh đã vùi sâu trong tâm khảm: (Đọc tiếp…)

So với Nhật Bản, điểm thua kém của khoa học Trung Quốc

  •   LỖ BẠCH
    ( ĐH Bắc Kinh, TQ)

Sau sự kiện nhà khoa học Nhật Bản Yoshinori Ohsumiđược giải Nobel Y học 2016, dường như có hiện tượng tranh luận trong học giới Trung Quốc, so sánh khoa học Trung Quốc và Nhật Bản. Từ góc nhìn văn hóa, Lỗ Bạch (鲁白, Lubai), giáo sư khoa học thần kinh nổi tiếng Trung Quốc thuộc Đại học Thanh Hoađã tìm câu trả lời cho câu hỏi: Tại sao trong những năm qua Nhật Bản vượt trội so với Trung Quốc về giải Nobel? Bài viết đăng trên trang“Giới trí thức” (知识分子, Zhishifenzi) do tác giả chủ biên.

Bàn về khoa học công nghệ chấn hưng đất nước người ta thường lấy nước Mỹ làm chuẩn, chú trọng thảo luận về chính sách, pháp lệnh, cơ chế, phương pháp của người Mỹ, vì Mỹ là nước phát triển khoa học công nghệ hàng đầu thế giới. Nhưng là một nước Tây phương điển hình, về bản chất người Mỹ có tinh thần thực chứng và theo đuổi chân lý mạnh mẽ, cộng thêm truyền thống thích khám phá, tìm tòi cái mới, vì thế việc nước Mỹ phát triển hùng cường là dễ hiểu. Ngoài ra, Mỹ là đất nước dân di cư, xã hội Mỹ rất dễđón nhận những nhân tài từ nơi khác đến.Đây là những nét khác biệt khá lớn với truyền thống và văn hóa Trung Quốc.

Vì thế, việc so sánh với Nhật Bản, nước láng giềng gần gũi về văn hóa và địa lý với Trung Quốc, mang nhiều ý nghĩa hơn. Tình cảm của người Trung Quốc đối với người Nhật Bản rất phức tạp, tuy hai dân tộc gần gũi về nhân chủng, thói quen sống, cách tư duy và văn hóa, nhưng Trung Quốc lại không muốn thẳng thắn nhìn nhận sự nổi lên của Nhật Bản. Cho dù từng bị Nhật Bản đánh bại nhưng dường như người Trung Quốc chưa dành sự tôn trọng đúng mức với Nhật Bản.

Trong những năm qua, khoa học công nghệ Nhật Bản có những tiến bộ nhảy vọt, liên tục giành giải Nobel, từ Vật lý, Hóa học, đến Y sinh học, (năm 2010 hai nhà khoa học Nhật được giải Nobel Hóa học; năm 2014 ba nhà khoa học Nhật giành Nobel Vật lý; Nobel Y học 2012 thuộc về nhà khoa học Anh và Nhật – ND), còn giải Nobel Y học năm nay cho giáo sư Yoshinori Ohsumi là người chỉ được học sau tiến sĩ vài năm ở Mỹ. Khoa học Nhật Bản giành giải Nobel không chỉ giúp người Nhật Bản thêm niềm kiêu hãnh về địa vị của họ trước thế giới, cũng góp phần thúc đẩy kinh tế Nhật Bản phát triển mạnh hơn.

Trung Quốc cần học kinh nghiệm, cách làm của Nhật Bản để phát triển khoa học giáo dục, chấn hưng đất nước. Tôi muốn nói về cách nhìn của mình theo vài phương diện sau:

1. Vai trò chủ đạo của nhà khoa học trongxây dựng quyết sách khoa họcquan trọng

Ví dụ, để đáp trả “Dự án đại não loài người” (Human Brain Project, HBP) của chính phủ Obama, Nhật Bản cho ra đời “Dự án não” của Nhật Bản (MIND). Cũng tương tự như chính phủ Mỹ, chính phủ Nhật Bản chỉ nói “phải làm” dự án khoa học não chứ không xác định “làm gì” hay “làm như thế nào”.

Điều này do tập thể các nhà khoa học lão luyện, sau quá trình lấy ý kiến của giới khoa học thần kinh, qua nhiều lần thảo luận rồi trình dự án cho chính phủ, từ đó biến kế hoạch thành hành động thực tế. Chính phủ chỉ có thể quyết định “làm và không làm”, không thể tùy tiện thay đổi “làm gì” và “làm như thế nào”. Trái lại, cơ quan quản lý khoa học của Trung Quốc thì vô cùng tích cực trong chuyện “làm gì” và “làm như thế nào”, thậm chí thường xảy ra tình trạng cách nghĩ của nhà quản lý khác với ý kiến của nhà khoa học, vì thế cho thay đổi hàng loạt nhà khoa học để thảo luận lại, đến khi nào phù hợp cách nghĩ của nhà quản lý.

Đối với chính sách khoa học công nghệ, bao gồm lĩnh vực và hướng nghiên cứu, kinh phí đầu tư, kết quả kỳ vọng như thế nào, chỉ có nhà khoa học mới hiểu rõ nhất, thế nhưng trong việc xây dựng và cải cách những chính sách khoa học quan trọng ở Trung Quốc, vai trò của nhà khoa học rất bị hạn chế.

Ở đây còn có vấn đề niềm tin vào nhau giữa nhà khoa học và giới chức nhà nước.

Có người chất vấn, nhiều nhà khoa học khi đề xuất kiến nghị thường nghĩ đến lợi ích của cá nhân hoặc đơn vị mình. Tư tưởng này là một thực tế ở Trung Quốc hiện nay, cũng có lý do của nó. Nhưng từ nhu cầu phát triển lâu dài, cần tham khảo kinh nghiệm của các nước có nền khoa học tiên tiến (như Mỹ, Nhật…), khi xây dựng chính sách khoa học công nghệ cần có “người trong nghề”, tức quyết định cần thuộc về nhà khoa học.

Một trong những cách làm hay là giao trọng trách cho “nhà khoa học chiến lược” (là người nắm được những tiến bộ hàng đầu của khoa học, có tiếng trên quốc tế và có tầm nhìn chiến lược, có lòng công tâm, uy tín, dám gánh vác trách nhiệm, có cái nhìn toàn cuộc). Nhà khoa học chiến lược là những người chí công vô tư, suy nghĩ và việc làm của họ dựa trên lợi ích chung, không vì tư lợi cá nhân.

Dĩ nhiên, tiến cử chỉ là bước đầu tiên trong công tác nhân tài, làm sao để nhân tài được tiến cử phát huy được khả năng mới quan trọng.

2. Đầu tư cho khoa học cơ bản

Chính sách hỗ trợ khoa học cơ bản của Nhật Bản từng có giai đoạn trục trặc, họ cũng từng giống như Trung Quốc hiện nay chỉ nóng vội lợi ích trước mắt, quá xem trọng nghiên cứu ứng dụng, chuyển hóa thành tựu khoa học công nghệ để trả công cho việc đầu tư… Sau này họ mới nhận ra không nên quá công lợi như thế. Có nhiều phát hiện khoa học quan trọng ban đầu không nhận ra được ý nghĩa ứng dụng gì, nhưng rồi sau đó mới thấy đó là phát hiện mang tính cách mạng. Hơn nữa, sự hùng mạnh của một quốc gia nằm ở mức độ tiên tiến về khoa học cơ bản, đó là tinh thần tìm tòi khoa học do thúc đẩy của lòng hiếu kỳ trí thức, là biểu hiện của văn minh loài người.

Chính phủ Nhật Bản đã dốc toàn lực đầu tư cho khoa học cơ bản. Từ thập niên 1960 – 1970, tổng chi phí cho nghiên cứu khoa học của Nhật Bản đã tăng khoảng 6 lần; đến thập niên 1980, chính phủ Nhật Bản đưa ra chính sách “kỹ thuật lập quốc”, chi kinh phí nghiên cứu khoa học lên đến 180 tỷ Yên; đến thập niên 1990, Nhật Bản phê chuẩn dự toán “Ủy ban Khoa học và Công nghệ” đột phá với số kinh phí đến 500 tỷ Yên. Vì sự đầu tư lâu dài này, giới khoa học Nhật Bản, đặc biệt là những nhà khoa học ưu tú có thể an tâm theo đuổi tìm tòi khám phá khoa học cơ bản, không phải canh cánh lo lắng đi xin kinh phí.

3. Chế độ và nền văn hóa thu hút “chất xám bên ngoài”

Với nguồn lực của Trung Quốc ngày nay, điều kiện cứng dành cho nghiên cứu khoa học không hề thua kém nước khác. Nhưng nhiều nhân tài khoa học được đào tạo ở các nước tiên tiến Âu Mỹ khi về nước lại cảm thấy “không hợp thủy thổ”, điều này liên quan nhiều đến “điều kiện mềm” của môi trường xã hội. Vì thế phải cố gắng nâng cấp “điều kiện mềm” để thu hút nhân tài nước ngoài về nước làm việc.

Mức độ quốc tế hóa của Nhật Bản rất cao, họ rất thân thiện (friendly) với người nước ngoài. Ví dụ như Viện Nghiên cứu Riken có nhiều nhà khoa học thuộc những chủng tộc khác nhau, họ được hỗ trợ rất tốt về cuộc sống và công việc. Những con người khác nhau về quốc tịch, chủng tộc, văn hóa nhưng có thể dễ dàng chung sống cùng, tương tác với nhau mạnh mẽ nên tạo ra những thành tựu nghiên cứu bất ngờ, đóng vai trò rất quan trọng cho tiến bộ khoa học. Nhà bình luận chính trị nổi tiếng Thomas Freedman đã tổng kết năm trụ cột quan trọng giúp nền kinh tế Mỹ không ngừng phát triển, một trong số đó là chính sách di dân của Mỹ, đặc biệt là đối với nhân tài khoa học công nghệ cao. Hiện nay chính sách thu hút nhân tài khoa học của Trung Quốc chỉ chú trọng kêu gọi người Trung Quốc về nước, rất hạn chế đối với nhân tài khác chủng tộc.

Sau khi thu hút nhân tài trở về phải quan tâm giúp họ nhanh chóng hội nhập vào môi trường xã hội một cách thuận lợi nhất, trong đó việc cơ bản nhất là đơn giản hóa các thủ tục phức tạp, tạo môi trường thông thoáng.

4. Tính chăm chỉ, nghiêm cẩn và kiên trì của người Nhật Bản

Nhiều người cho rằng, tính sáng tạo với những ý tưởng đột phá thường không phải điểm mạnh của giới nghiên cứu khoa học Nhật Bản. Họ không giàu trí tưởng tượng và sáng tạo, không giỏi sáng kiến hoặc khai phá lĩnh vực khoa học mới, giới khoa học Nhật Bản cũng không mạnh về tinh thần mạo hiểm và tinh thần phê phán. Thành tựu của khoa học Nhật Bản chủ yếu dựa vào tính nghiêm cẩn, chăm chỉvà kiên trì.

Thực tế chứng minh, những đức tính này cũng có thể giúp người ta làm được những công việc lớn lao tầm cỡ thế giới. Nhiêu Nghị (饶毅, Raoyi) [**] từng chỉ ra: “Tỷ lệ thành quảđột phá là rất thấp trong một quần thể người chỉ dựa vào tính cần cù, để có một lượng nhỏ thành quả đột phá với quần thể như vậy thì cần một số lượng người thật đông đảo tham gia vào.Theo quan điểm này, một người bình thường mà có thể đạt được giải Nobel nhờ lao động chăm chỉ cho thấy quốc gia này có rất nhiều người đang cần mẫn làm nghiên cứu khoa học, cho thấy hoạt động khoa học kỹ thuật của quốc gia này mang tính phổ biến”.

Tính chăm chỉ, nghiêm cẩn và kiên trì của người Nhật Bản có quan hệ rất lớn với truyền thống văn hóa và lịch sử của Nhật Bản. Dân tộc Nhật Bản thích theo đuổi sự hoàn mỹ, như chúng ta thường ví là tinh thần nghệ nhân. Chúng ta thường thấy nhiều người Nhật Bản bỏ cả đời để làm một việc, đưa công việc lên đến trình độ chí cao. Muốn chứng minh một hiện tượng hoặc nguyên lý khoa học cần phải làm lặp đi lặp lại nhiều lần, xem xét kỹ lưỡng bằng các phương pháp khác nhau. Với người Nhật, công bố một thành quả nghiên cứu cẩu thả, bị trùng lặp hoặc sai lầm là đáng hổ thẹn. Tác phong làm việc chăm chỉ, cẩn trọng và kiên trì là đặc điểm phổ biến của giới khoa học Nhật Bản. Ngược lại, đối với giới khoa học Trung Quốc ngày nay, tiêu chí thời thượng là “ngắn và nhanh”, nhiều thứ được công bố chỉ thực hiện trong vài tháng, cách làm mang tính công lợi này khiến nhiều thành quả công bố có độ tin cậy hạn chế, về lâu dài tác động rất tiêu cực với phát triển khoa học Trung Quốc.

Tôi biết nhiều nhà khoa học Nhật Bản không hoan nghênh cái gọi là “đi tắt đón đầu”, họ không tùy tiện vứt bỏ một đề tài, càng không tùy tiện thay đổi đề tài, điều này rất khác với Trung Quốc hiện nay. Vì thếnhà khoa học thần kinh nổi tiếng Nakanishi Shigetada chia sẻ với tôi, ông vô cùng thận trọng trong việc chọn đề tài. Theo quan sát của tôi, họ thường chọn những vấn đề rất khó, cần sự chuyên tâm và công phu. Khi làm nghiên cứu cũng đặc biệt trọng tinh thần kỷ luật, mỗi bước đi đều nghiêm cẩn làm theo trình tự và kiên trì trong thời gian lâu dài.

5. Thượng tôn văn hóa trung thực

Francis Fukuyama là học giả người Mỹ gốc Nhật, là tác giả cuốn “Sự cáo chung của lịch sử và con người cuối cùng” (The End of History and the Last Man) nổi tiếng thế giới. Trong cuốn sách “Niềm tin: Mỹ đức xã hội và sự thịnh vượng” (Trust:The Social Virtues and the Creation of Prosperity) ông chia xã hội loài người thành hai kiểu: một kiểu là “xã hội có độ trọng chữ tín cao”, tiêu biểu là Mỹ và Nhật Bản; một kiểu là “xã hội có độtrọng chữ tín thấp”, tiêu biểu là Trung Quốc và Ý.

Xã hội Nhật Bản là xã hội có độ trọng chữ tín cao, mang lại rất nhiều lợi ích đối với khoa học. Nghiên cứu khoa học là hoạt động sáng tạo, yêu cầu cơ bản nhất đối với khoa học chính là thành tín, không thể chấp nhận dù chỉ một chút gian dối. Trong khám phá khoa học cần tinh thần thực sự cầu thị, việc công bố kết quả khoa học cũng phải tôn trọng thực tế, không được khoa trương, mập mờ, cả hai trường hợp đều nguy hại cho khoa học.

Mối quan hệ giao lưu giữa các nhà khoa học cũng cần sự thành tín. Giới khoa học Nhật Bản rất có niềm tin vào nhau, vì thế họ hợp tác với nhau dễ dàng. Việc nghi ngờ, giấu diếm, hoặc nói dối là hiện tượng hiếm thấy. Môi trường như vậy giúp họ tránh được nhiều chuyện phức tạp, thúc đẩy hiệu quả cao trong nghiên cứu khoa học. Còn xã hội Trung Quốc là xã hội có độ trọng chữ tín quá thấp, hiện tượng giả dối, ăn cắp, phóng đại, cướp quyền tác giả diễn ra liên miên.

Xã hội Nhật Bản là xã hội trọng liêm sỉ, người giả dối phải trả giá nặng nề hơn nhiều so với các xã hội khác. Ví dụ, trong chuyện Haruko Obokata phát hiện tế bào toàn năng mới (tế bào STAP), sau khi tạp chí Nature của Anh đăng tải kết quả nghiên cứu (năm 2014) đã gây chấn động giới nghiên cứu tế bào quốc tế. Tuy nhiên sau đó có thông tin chỉ raHaruko Obokata gian dối trong nghiên cứu khiến toàn xã hội Nhật Bản lên tiếng chất vấn chữ tín của nhóm nghiên cứu, hệ quả là tất cả những học giả từng tham gia hợp tác phải chịu áp lực khủng khiếp của xã hội.

Có thế thấy, cảm thức về danh dự và liêm sỉ của người Nhật Bản rất mạnh mẽ. Sau khi Haruko Obokata đứng ra xin lỗi trước công chúng không bao lâu thì người thầy hướng dẫn Yoshiki Sasai đã tự sát để tạ tội. Ý thức về danh dự khiến ông Yoshiki Sasai cho rằng chỉ có cái chết mới rửa sạch được nỗi nhục. Một xã hội có ý thức về liêm sỉ cao độ như thế là tiền đề quan trọng hình thành môi trường nghiên cứu khoa học nghiêm cẩn và cầu thực. Còn bầu không khí khoa học Trung Quốc ngày nay đầy phù phiếm và nôn nóng. Nhiều người bất chấp thủ đoạn không công chính, miễn sao ai làm được thì kẻ đó là anh hùng. Nhưng về lâu dài, điều này là trở ngại nghiêm trọng cho không khí hợp tác và giao lưu học thuật ở Trung Quốc.

…..

Đoàn Đức Thanh (lược dịch)

 [*] Giáo sư Đại học Bắc Kinh, đồng chủ biên trang Giới trí thức.

( Nguồn: VHNA)

Thương tiếc Lý Tiến Dũng, thương tiếc một tài hoa

(Rút từ facebook của Ngô Thị Kim Cúc)

Có mặt ở nhà riêng của vợ chồng Lý Tiến Dũng – Nông Thanh Vân cùng với Đào Hồng Hạnh và con trai vào tối ngày 4 tháng 12, tôi vẫn còn nguyên nỗi bàng hoàng sửng sốt đến mức không thể khóc nổi. Ở đó, tôi nhìn thấy đông đủ các anh chị em của Dũng và Vân; con trai và con gái của hai em; và nhất là mẹ Dũng, người cũng vừa chịu tang chồng – giáo sư Lý Chánh Trung – vào tháng 3 vừa rồi. Trên gương mặt của tất cả mọi người là một nỗi chết lặng đầy chịu đựng, trước nỗi đau mà họ đã phải làm quen suốt một năm qua, khi bệnh của Dũng bắt đầu bộc phát.

Tôi không biết sớm chuyện buồn được giữ kín này. Gần đây, thỉnh thoảng đọc những stt của Vân trôi trên dòng thời gian, tôi cảm thấy có chuyện gì đó rất nặng nề đang chiếm tâm trí em, nhưng tôi không nghĩ đó lại là điều mà ít ai ngờ tới: mạng sống của Lý Tiến Dũng. Suốt thời gian ấy, Vân tất tả ngược xuôi lo thang thuốc cho chồng, kể cả chuyến đi Anh với hy vọng cuối sẽ tìm được cách để Dũng có thể đi tiếp cùng vợ con trong cõi sống đang đầy những hiểm nguy này. Vậy mà chiều ngày 4 tháng 12, Dũng đã lặng im, mãi mãi không tỉnh dậy sau khi hôn mê sâu…

Nhìn gương mặt như đã hóa đá của Vân, tôi cảm thấy mọi lời lẽ đều vô nghĩa. Tất cả bạn bè đều biết rất rõ tình yêu em dành cho chồng, một mối tình trọn vẹn, mê đắm và vô điều kiện. Nếu ngoài xã hội, Dũng có bao điều để nghĩ ngợi, buồn đau, căm giận, thì trong gia đình, Dũng là người chồng người cha hoàn toàn hạnh phúc, với người vợ đẹp giỏi giang và hai đứa con xinh đẹp thông minh đủ trai đủ gái.

Tôi không biết phải viết gì ngoài nỗi tiếc thương quá lớn về con người tài hoa Lý Tiến Dũng, em không chỉ là nhà báo đầy năng lực và dũng khí, em còn có một trái tim thổn thức của người nghệ sĩ, luôn đập chung với nhịp đập của hàng triệu người đang sống quanh mình…

Xin chép lại một đoạn về Lý Tiến Dũng trong bài viết về sự ra đi của giáo sư Lý Chánh Trung cha em:

“Vào đầu thập niên 1990, khi làm việc ở báo Tuổi Trẻ, đánh bạn với các bạn ở báo Phụ Nữ mà tòa soạn đối diện nhau, tôi được biết Lý Tiến Dũng con trai ông, chàng đại úy trẻ mới trở về từ chiến trường Kampuchia, đang bắt đầu “học việc” làm báo sau khi ra quân. Ấy là bởi anh đã “bật lại” một ông tướng trong cuộc họp sĩ quan ở quân khu 7, khi ông này nhắc tới cha anh như một người cần phải “cảnh giác”. Từ một phóng viên, Lý Tiến Dũng đã học “nhảy lớp” rất nhanh, rất giỏi, trở thành cây viết sắc sảo phụ trách mảng chính trị xã hội của báo Phụ Nữ. Khi tổng biên tập Thế Thanh “rời khỏi chức vụ”, phó tổng biên tập Minh Hiền chuyển về báo Đại Đoàn Kết, Lý Tiến Dũng cũng ra đi. Chính ở báo Đại Đoàn Kết, sau thời gian dài khẳng định bằng công việc rồi được giao trách nhiệm tổng biên tập, Lý Tiến Dũng một lần nữa lại làm điều mà không phải ai cũng dám. Anh đã cho đăng bức thư đại tướng Võ Nguyên Giáp góp ý kiến về việc phá bỏ hội trường Ba Đình để xây mới sau khi nhiều tờ báo đã từ chối không đăng. Cộng thêm một số việc rất “cả gan” đúng khí chất dân Sài Gòn, Lý Tiến Dũng cũng đã được “thôi giữ chức” tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết”.

Xin Nông Thanh Vân, hai cháu và gia đình hãy nguôi bớt nỗi đau, xin hãy góp tay làm điều gì đó để những gia đình khác không phải chịu đựng mất mát tổn thương từ hiểm họa quá đáng sợ này: căn bệnh ung thư đang treo lơ lửng trên đầu mỗi chúng ta.

Xin nguyện cầu cho Lý Tiến Dũng về gặp cha mình – Giáo sư Lý Chánh Trung và anh em mình – Lý Anh Dũng, Lý Trung Dũng, với nỗi bình yên có thật ở một cõi vĩnh hằng an lạc…

clip_image002

Đã “tử biệt” em rồi, người đồng nghiệp yêu quý của mọi người…

clip_image004

Gương mặt em, đầy trăn trở…

clip_image006

Và cũng đầy miệng cười con trẻ…

clip_image008

Dũng đang nghĩ gì?

clip_image010

Giữa rất đông đồng nghiệp: với Bùi Nguyễn Trường Kiên, Nguyễn Thế Thanh, Ba Kiem MaiNguyễn Ngọc Hải.

clip_image012

Với Bùi Nguyễn Trường Kiên, Nguyễn Thế ThanhBa Kiem Mai.

clip_image014

Hát với cựu tổng biên tập Thế Thanh trong khi Đỗ Ngọc Dona tác nghiệp

clip_image016

Hai chị em Minh Hiền – Tiến Dũng giờ lại gặp nhau rồi

Đăng bởi: Ngô Minh | 06.12.2016

NỮ PHÓNG VIÊN CHIẾN TRANH NGÀY ẤY…

NỮ PHÓNG VIÊN CHIẾN TRANH NGÀY ẤY…

MAI NAM THẮNG

 

Như Vanvn.net đã đưa tin, Thượng tá, nhà văn Nguyễn Thị Như Trang đã từ trần tại Hà Nội ngày 5-12-2016, hưởng thọ 77 tổi. Trước khi nghỉ hưu, chị là biên tập viên văn xuôi của tạp chí Văn nghệ Quân đội; là tác giả của 14 đầu sách bao gồm tiểu thuyết, truyện ngắn và bút ký. Chị đã từng giành Giải Nhì truyện ngắn báo Văn nghệ năm 1967; Giải Nhất kịch ngắn của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam năm 1994; Giải A bút ký của Bộ Tư lệnh Hải quân năm 1994; Giải thưởng Bộ Quốc phòng về văn học nghệ thuật 5 năm 1989-1994; Giải thưởng Nhà nước về VHNT năm 2012…

Thượng tá, nhà văn Nguyễn Thị Như Trang (1939-2016)

Với một người cầm bút thì khối lượng tác phẩm và “bộ sưu tập giải thưởng” như thế là là chứng chỉ của sự thành đạt. Vậy mà mới đây đến thăm chị, khi tôi nhắc lại nhận xét nêu trên, Nguyễn Thị Như Trang lại tâm sự rất thật lòng: “Viết văn xuôi là một công việc nhọc nhằn, người viết thì chẳng mấy lúc tự bằng lòng mình, nhưng đấy vẫn là một công việc vô cùng lý thú. Tuy nhiên, tôi không cho rằng công việc này là quá ư quan trọng. Nghề văn không thay đổi được xã hội, có chăng nó chỉ làm cho con người sống tốt đẹp hơn, cuộc sống có ý nghĩa hơn. Được thế đã là quý lắm rồi…”.

Cách nay 5 năm, tôi đến thăm chị tại nhà riêng của chị trên đường Phan Đình Phùng-Hà Nội. Khi tôi hào hứng kể về chuyến công tác mới đây của tôi đến một vị bộ đội đóng ở Quảng Ninh, được nghe một số cán bộ ở đấy khoe trước đây từng đón chị về thăm đơn vị, chị bỗng trầm ngâm: “Mấy chục năm làm tạp chí Văn nghệ Quân đội, cũng là công biệc làm báo, nhưng là làm “báo văn”. Cuộc đời tôi chỉ có hơn 3 năm làm báo thực sự, đó là thời kỳ tôi làm phóng viên báo Quân Bạch Đằng, bây giờ là báo Quân Khu Ba. Chỉ hơn 3 năm thôi, nhưng đó là một quãng thời gian đặc biệt quan trọng, khởi đầu sự nghiệp cầm bút của tôi…”.

Nguyễn Thị Như Trang (mặc áo măng tô) trò chuyện cùng đồng nghiệp năm 1995.

Và thế là dòng hồi ức về những ngày làm báo Quân Bạch Đằng được khơi mạch. Nguyễn Thị Như Trang hào hứng kể cho tôi nghe về giai đoạn “khởi đầu sự nghiệp cầm bút” với giọng nói đã hơi khó khăn do tuổi già và hậu quả của một lần bị tai nạn giao thông chấn thương sọ não…

Năm 1966, đang là học viên khóa 2 Trường bồi dưỡng viết văn Quảng Bá, Nguyễn Thị Như Trang được ông Mai Vui, Thư ký tòa soạn báo Quân Bạch Đằng lên tuyển về làm phóng viên bản báo. Lúc bấy giờ tòa soạn đã có các anh: Mai Vui, Đình Khản, Triệu Bôn, Kim Chuông và Lê Lựu. Xét về “giới tính” thì cả cơ quan chỉ mỗi Như Trang là nữ. Xét về “chức tước” thì mấy anh kia đều là sĩ quan, “lẹt đẹt” như Lê Lựu cũng là thượng sĩ chính qui, chỉ mỗi mình chị là công nhân viên thường phục, lương tháng ba mươi bảy đồng năm hào. Thế nhưng trong công việc làm báo thì cô phóng viên xinh đẹp 26 tuổi quyết không thua kém cánh sĩ quan mày râu. Bất kể nắng mưa, bất chấp bom đạn, hễ ở đâu có sự kiện là Nguyễn Thị Như Trang lại lóc cóc xe đạp bám gót hôm thì Lê Lựu, hôm thì Triệu Bôn, hôm thì… thân gái dặm trường vào tận cầu Hàm Rồng viết về trung đội nữ dân quân Yên Vực bắn rơi máy bay. Nhà báo Nguyễn Thị Như Trang là một trong những người đầu tiên viết về Ngô Thị Tuyển, người nữ dân quân Hàm Rồng đã vác những hòm đạn nặng gấp đôi trọng lượng cơ thể, chạy băng băng dưới làn mưa bom lên các trận địa phòng không…

Cuộc chiến đấu trên các đảo còn nguy hiểm và gian khổ gấp bội các trận địa trên đất liền, nhưng Nguyễn Thị Như Trang vẫn không quản ngại. Chị theo thuyền 12 mã lực ra với bộ đội đảo Hòn Mê ở Thanh Hóa. Chị vượt sóng gió cấp 6, cấp 7 trên những con tàu chỉ vài trăm tấn để ra với các chiến sĩ đang canh giữ đảo Bạch Long Vỹ. Nghe tin ở “đảo đèn” có ông đảo trưởng gan dạ, năng động… chị theo thuyền đánh cá ra Long Châu viết bài tuyên truyền góp phần xây dựng điển hình tiên tiến Lại Văn Sầm thành Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân…

Chao ơi những năm tháng làm báo Quân Bạch Đằng gian khổ, khó khăn, nguy hiểm… nhưng sao mà hào khởi và lãng mạn thế! Cơ quan chị 6 người thì có tới 3 ông say mê viết truyện và làm thơ là Mai Vui, Lê Lựu và Kim Chuông. Cái không khí văn chương ấy đã cuốn Nguyễn Thị Như Trang theo. Vừa viết báo, vừa say mê sáng tác. Truyện ngắn, truyện dài, bút ký… đăng báo nhà, báo bạn và báo trung ương. Năm 1967, truyện ngắn “Màu tím hoa mua” của chị đoạt Giải Nhất cuộc thi 2 năm 1966-1967 của báo Văn nghệ. Cho đến nay, giới chuyên môn vẫn cho rằng đó là một trong những cuộc thi văn chương sang trọng bậc nhất của tuần báo Văn Nghệ, với sự phát hiện một loạt những cây bút sau này trở thành những tác giả nổi tiếng, như: Phạm Tiến Duật, Lâm Thị Mỹ Dạ, Vương Trọng, Đỗ Chu, Lê Lựu, Nguyễn Thị Như Trang… Chính từ cuộc thi này mà sau đó Nguyễn Thị Như Trang được rút lên tạp chí Văn nghệ Quân đội, một “ngôi đền văn chương” trên phố nhà binh ở Hà Nội.

( Nguồn: vanvn.net)

Phó Tổng biên tập báo Thanh Niên bị thu thẻ nhà báo

BBC

  • Sản xuất nước mắmGETTY IMAGES
Thông tin sai sự thật về nước mắm có thạch tín đã ảnh hưởng đến nước mắm truyền thống

Phó TBT báo Thanh Niên Đặng Việt Hoa bị Bộ Thông tin Truyền thông thu thẻ nhà báo sau khi báo này bị phạt nặng vì “thông tin sai về nước mắm”.

Theo quyết định số 2184/QĐ-BTTTT được Bộ Trưởng Trương Minh Tuấn ký ngày 5/12, ông Đặng Việt Hoa (tên thật là Đặng Ngọc Hoa) bị thu thẻ nhà báo vì đã bị xử lý kỷ luật cảnh cáo.

Nguyên Ủy viên Ban Biên tập, Tổng thư ký tòa soạn Võ Văn Khối cũng bị thu thẻ nhà báo theo quyết định số 2185/QĐ-BTTTT ký cùng ngày.

Ông Khối trước đó đã bị xử lý kỷ luật cách chức.

Báo Thanh Niên hôm 21/11 cùng 49 cơ quan báo chí khác đã bị xử phạt hành chính trong vụ điều tra “các cơ quan báo chí đăng thông tin sai sự thật về việc nước mắm có hàm lượng thạch tín vượt ngưỡng quy định”.

Báo này bị phạt mức cao nhất là 200 triệu đồng.

Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam lúc đó nói Báo Thanh Niên, và sau đó là Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam (Vinastas), vào tháng 10 đã công bố thông tin “mập mờ” về tỷ lệ nhiễm thạch tín trong nước mắm, không giải thích loại nào là độc hại, loại nào là không độc hại.

Từ hai nguồn này, hàng chục cơ quan báo chí Việt Nam đã đăng “170 tin, bài công bố kết quả khảo sát có nội dung sai sự thật từ báo Thanh Niên và Vinastas”.

Báo Thanh Niên trước đó đã đăng lời cáo lỗi và gỡ bỏ 5 bài viết về nước mắm ra khỏi trang mạng của họ.

Đăng bởi: Ngô Minh | 06.12.2016

Li-fi 100 lần nhanh hơn Wi-Fi

Giáo sư Harald Haas từ Đại học Edinburgh đã phát minh ra một công nghệ truyền tin mới, “Li-Fi”:
 Li-fi 100 lần nhanh hơn Wi-Fi

 
 
100 fois plus rapide que le Wi-fi, le Li-fi
Giáo sư Harald Haas từ Đại học Edinburgh (Đại học Edinburgh) 


Từ các nhà hàng tới nhà ga, những mạng không dây Wi-Fi được lắp đặt khắp nơi trong thành phố. Với sự phổ biến ngày càng tăng của các trang web video, một số người muốn truy cập internet với tốc độ nhanh hơn nữa. Một trong những công nghệ này là “Li-fi”, cho phép truyền với tốc độ 100 lần nhanh hơn Wi-fi.


Li-Fi do Harald Haas, giáo sư tại Đại học Edinburgh, Vương quốc Anh, phát minh ra. Sự khác biệt lớn nhất so với mạng Wi-Fi sử dụng sóng vô tuyến điện không dây đó là Li-Fi sử dụng quang phổ điện từ của ánh sáng nhìn thấy được, có phổ tần số rộng hơn 10.000 lần sóng vô tuyến. Điều này cung cấp khả năng truyền tin với tốc độ cực cao với hiệu quả sử dụng điện tuyệt vời.


Nguyên tắc của nó tương tự như mã Morse. Ánh sáng đảm bảo truyền tin thay vì các tín hiệu kỹ thuật số. Với công nghệ này, ví dụ dùng ánh sáng của một bóng đèn LED với một tốc độ cao của nano giây (một nhấp nháy quá nhanh để có thể nhìn thấy bằng mắt thường), một lượng lớn dữ liệu có thể được truyền cực nhanh. Nó không có bất kỳ tác động nào lên cơ thể con người như sóng vô tuyến, chúng ta có thể nói rằng đây là một chuẩn truyền tin không dây an toàn.


Ánh sáng không thể xuyên qua các bức tường, do đó phạm vi của mạng bị hạn chế. Tuy nhiên điều đó cũng cung cấp một bảo mật cao hơn so với các tiêu chuẩn của truyền tin Wi-Fi thông thường Ưu điểm lớn nhất của Li-Fi là tốc độ của nó. 


Trong những năm gần đây, khi tốc độ mạng cáp quang đã đạt tới 100 Gbps (gigabyte) cho mỗi giây, thì Li-fi cho phép một tốc độ cực cao là 224 Gbps mỗi giây. Về lý thuyết, tốc độ tải về của Li-fi cho một bộ phim dài 2 tiếng 1.5GB sẽ là 18 giây.


Hãng Velmenni của Estonia đã bắt đầu cung cấp lắp đặt  công nghệ Li-Fi trong các môi trường khác nhau, và nó đã được chứng minh rất hữu dụng. Giám đốc điều hành công ty Deepak Solanki tuyên bố “hiện nay đang tiến hành thử nghiệm trong các cơ quan và các khu công nghiệp và văn phòng.”


Li-Fi nhanh hơn và rẻ hơn so với Wi-Fi. Việc sử dụng đèn LED cũng có lợi thế là điện năng thấp và thân thiện với môi trường hơn so với bóng đèn thông thường.
( Nguồn: Google)
Đăng bởi: Ngô Minh | 05.12.2016

ĐÃ ĐI VỚI NHÂN DÂN THÌ THƠ KHÔNG THỂ KHÁC

    ĐÃ ĐI VỚI NHÂN DÂN THÌ THƠ KHÔNG THỂ KHÁC

 (Tham luận không được đọc của Ngô Minh tại Đại hội Hội Nhà văn VIII, 2010)

ngo-minhNgôMinh

Đỗ Phủ là nhà thơ đời Đường, cùng với Lý Bạch được coi hai nhà thơ vĩ đại nhất Trung Quốc. Bản thân ông 15 năm cuối đời là người bần hàn, khốn khó, đói rách. Một lần Đỗ Phủ chạy giặc trên chiếc đò nhỏ trên sông Tương, nhịn đói đã 10 ngày. Sau đó chức sắc trong vùng biết tin, đem rượu thịt mời. Ông ăn uống no say rồi bị “thương thực”, lăn ra chết. Gọi là chết no, nhưng thực chất là chết đói. Vì thế thơ ông thấm đẫm nỗi đau của người dân cùng khổ. Nói về Đỗ Phủ, trong bài thơ “Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe” của Phùng Quán có khúc thơ rất thống thiết: Đã đi với nhân dân / Thì thơ không thể khác/ Dân máu lệ khốn cùng / Thơ chết áo đắp mặt… Tôi muốn nhân chuyện thơ Phùng Quán  viết về Đỗ Phủ để nói vài ý kiến ngắn về lối đi của nhà văn trên con đường văn chương thăm thẳm để có tác phẩm đích thực mà người đọc luôn mong đợi. Gần mực thì đen/Gần đèn thì sáng. Nhà văn đi với ai thì sẽ viết ra thứ văn chương đó. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 05.12.2016

Chao ôi là buồn

CHUYỆN GIÓA SƯ, TIẾN SĨ Ở vIỆT NAM:

Chao ôi là buồn

(Rút từ facebook của Đỗ Ngọc Thống)

Nhân một comment gần đây của GS Trần Đình Sử: “…Mày giáo sư thì tao cũng giáo sư”.

Tôi có dịp may và cũng không may là được/ phải tiếp xúc với nhiều người có học hàm, học vị. Có người giỏi thật, tôi cứ nghĩ mình học suốt đời không hết chữ ông ấy. Nhưng cũng có nhiều người không hiểu sao có được chức danh này. Rồi cứ lẩm nhẩm nhại theo câu thơ của Bảo Sinh:
Đêm nằm nghĩ mãi không ra
Tại sao tay ấy lại là giáo sư?


Thì đây, một ông có tên tuổi trong lĩnh vực giáo dục, luôn nghĩ mình giỏi, chẳng chịu tìm hiểu gì, cứ oang oang tuyên bố với báo chí: làm gì có dạy học dự án; cả Bộ Giáo dục có vài dự án lấy đâu ra cho học sinh cả nước tham gia. Té ra ông ấy hiểu dự án là phải có việc đầu tư hàng trăm triệu đô. Trong khi cái mà người ta đang bàn là dạy học dự án (project-based teaching), một phương pháp/ hình thức trong dạy học rất phổ biến ở các nước có nền giáo dục phát triển. Một ông GS khác khi phản biện luận án liên quan đến chương trình đánh giá học sinh quốc tế PISA; chẳng hỏi, chẳng xem và cũng chẳng đọc, phán một câu xanh rờn: Tại sao văn chương lại gắn với thứ bánh của Tây? Rồi mới mấy hôm trước một bà GS lịch sử cao giọng tuyên bố rất hùng hồn: “Chỉ những người làm lịch sử mới có tầm nhìn xa, trông rộng, hơn hẳn người làm khoa học tự nhiên…”. Một ông thứ trưởng cũng được gọi là GS, đã về hưu hơn chục năm rồi, nhưng rất hay lên tiếng phê phán giáo dục. Theo ông nhà trường hiện nay nhìn vào đâu cũng thấy hỏng, trình độ giáo viên yếu kém, đạo đức học sinh xuống cấp, tầm nhìn cán bộ quản lý hạn chế… Không hiểu sao khi còn đương chức không thấy ông ấy lên tiếng, bây giờ về hưu rồi toàn đổ lỗi cho người khác… Hình như ông ấy là GS Vật lý, nhưng tôi đã nghe nhiều người bảo: ông này cái gì cũng biết trừ vật lý…
Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du từng viết: “Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường”. Hóa ra câu ấy đúng cho rất nhiều lĩnh vực, chẳng cứ gì chữ trinh,“GS kia cũng có ba bảy đường”. Gặp các vị ấy rồi, thấy nản quá. Lại nghĩ đến comment của thầy Trần Đình Sử.
Chao ôi là buồn.

Đăng bởi: Ngô Minh | 05.12.2016

VĂN HÓA TÂM LINH TÀY TRONG VĂN CHƯƠNG Y PHƯƠNG

VĂN HÓA TÂM LINH TÀY TRONG VĂN CHƯƠNG Y PHƯƠNG

NGUYỄN HUY BỈNH
 Tín ngưỡng ma quỷ, thần linh ở người Tày vốn tồn tại và lưu truyền từ xa xưa. Hệ thống tín ngưỡng này có ảnh hưởng trực tiếp đến ý niệm, hành vi và ứng xử của người Tày một cách sâu sắc.

Nhà thơ Y Phương

Y Phương là người am tường văn hóa truyền thống của người Tày, ông đã vận dụng, truyền tải tất cả các hình thức văn hóa tâm linh này vào trong trang viết của mình một cách sinh động, gần gũi. Đặt vấn đề tìm hiểu tín ngưỡng ma quỷ và thần linh của người Tày trong văn chương của Y Phương, bài viết hướng đến làm rõ ý niệm và thực hành nghi lễ ma quỷ, thần linh vốn đã tồn tại từ bao đời nay trong văn hóa tâm linh của người Tày, trên cơ sở đó lý giải sự ám ảnh tín ngưỡng này trong các sáng tác của ông. Điều đó vừa bao hàm việc phục dựng tín ngưỡng ma quỷ, thần linh người Tày từ góc nhìn của dân tộc học, vừa làm rõ giá trị nghệ thuật trong sáng tác của Y Phương qua việc sử dụng yếu tố văn hóa này.

Trong thực tiễn, ở người Tày xuất hiện niềm tin vào ma quỷ, thần linh như là một hiện tượng, một tín điều phổ quát và bền vững. Theo nhà văn Y Phương thì hầu như ở người Tày ai ai cũng chỉ tin vào ma quái, thần thánh: một thế giới ma quái bao bọc lấy đời sống xã hội người Tày. Bất kể chỗ nào cũng có ma. Ma trong nhà. Ma ngoài sân. Ma rừng thiêng. Ma nước độc. Ma hòn đá. Ma vực sâu. Ma thuồng luồng. Ma gốc cây. Ma trẻ con. Ma hành khất. Ma bà lão. Thế giới ma ngự trị đời sống tinh thần, từ khi con người sinh ra đến lúc chết đi. Mọi rủi ro đến với con người, họ đều cho rằng ma làm. Ma bắt đứa trẻ kia bị ốm. Ma làm cho bà già kia phải chết. Ma đẩy anh kia xuống vực. Ma làm cho con bé năm tuổi người Nùng biết nói tiếng Kinh…Nghĩa là mọi sự diễn ra bất thường, đều có bàn tay điều khiển của ma. Vậy con ma là gì? Nó như thế nào? Chẳng một ai nhìn thấy. Ma là một thế lực đầy quyền uy. Đối với người trần mắt thịt, những gì trông thấy, kể cả hổ báo, người ta không sợ. Chỉ sợ ma![1]. Y Phương đã chỉ ra được một cách sống động niềm tin vào ma quỷ của người Tày, ma quỷ xuất hiện mọi lúc, mọi nơi và trong mọi sự vật hiện tượng trên thế gian này, thậm chí là trong cả giấc mơ, trạng thái tình cảm của con người. Có thể nói, đối với người Tày, ma quỷ đã thấm sâu vào trong não trạng của họ và tồn tại một cách vô thức – một dạng của vô thức tập thể.

Trong tín ngưỡng của người Tày, “phi” (tức “ma” theo nghĩa tiếng Việt) có nghĩa rất rộng, chỉ tất cả các thần thánh, ma quỷ có mặt trên trời dưới đất, dưới nước như: ma trời (Phi fạ), ma đất (Phi đin), ma rừng (Phi pá) ( Không phải Phi pá mà là Phi đông), ma núi cao rừng già (Phi slấn) (Slấn là thần linh chứ không phải ma), ma thuồng luồng (Phi Nguộc)  Phi ngưởc), những người chết bất đắc kỳ tử (Phi slương), ma thề nguyền (Phi mang), ma thiên lôi (Phi lòi), ma thành hoàng, ma thổ công, ma tổ tiên (Phi pẩu pú), ma người chết (Phi thai), ma người sống (Phi đíp)[2]… Trong tản văn của mình, Y Phương đã nói lên được hiện thực về tín ngưỡng ma quỷ. Ông đã chỉ ra niềm tin “vạn vật hữu linh” (mọi vật đều có linh hồn) của người Tày một cách sinh động, ông viết: “Kể cả anh, cả tôi, cả các bạn đông tây nam bắc, đều chưa một ai biết con ma hình thù nó như thế nào. Nhưng với người miền núi quê tôi, con ma có mặt hầu hết mọi nơi mọi chỗ. Từ lúc con người sinh ra, đến ngày về núi, vẫn bị con ma điều hành, chi phối. Mở mắt ra là có ma. Nhắm mắt vào ngủ cũng có ma chầu chực. Ngồi trong nhà hay ra ngoài rừng đều có ma đi theo sau lưng. Vì thế, người vùng cao chúng tôi không bao giờ dám quay lưng ngoảnh mặt”[3]. Như vậy, trong tâm thức người Tày, ma là loài không có hình thù, xuất hiện ở khắp trong không gian, trong nhà hay ngoài rừng. Trong suốt đời người, từ khi con người sinh ra cho đến khi chết đi ma đều hiển hiện. Ma tồn tại trong khi con người ta thức và cả khi con người ta ngủ… Điều đó cho thấy, ý niệm về ma quỷ đã thực sự ăn sâu trong hành vi và suy nghĩ của đồng bào dân tộc Tày.

Trong tản văn Y Phương, ông đã mô tả được không gian quỷ ma tồn tại và trú ngụ, đó là những nơi gần gũi như trên cơ thể con người và những nơi quen thuộc và gắn bó với người dân: “Người ta nói con ma nấp ở trong tóc. Trong xống áo. Trong xó bếp. Trong góc nhà. Ở đuôi sàn phơi thóc. Ở bên trong gốc cây sung cây ổi. Ở ngã ba ngã tư quốc lộ hay đường rừng. Nhất là ở những nơi nghĩa địa”. Thậm chí, ngay cả trong lá hoa của người xưa truyền lại rằng, ở đó có những con ma chuyên đi bắt vía người lười biếng. Ông cũng chỉ ra được một số đặc tính của ma quỷ trong ý thức của người Tày: “Chúng tụ tập thành làng thành tổng. Nhưng ma thường hay xuất hiện vào lúc ban đêm tối trời. Ma kỵ ánh sáng ban ngày và ngọn lửa đang rực cháy. Ma trú ngụ ở những vùng có nước xoáy và vực sâu. Ma ngủ không có tiếng kêu. Nhưng nó có bóng. Bóng của ma nhọp nhẹp lởn vởn. Nó in hình cái đầu hói lên vách nhà, lấp ló đằng sau cánh cửa[4].

“Phi” – ma có sức ám ảnh ghê gớm đến tâm lý của người Tày, mọi hành vi bất bình thường của con người và vạn vật xung quanh họ đều do “phi” gây ra. Y Phương mô tả lại quan niệm về sự chi phối của ma quỷ đối với trẻ con. Khi những đứa bé khó ngủ thì người ta cho rằng: “Nó nhìn thấy những con ma lạ hoắc. Con mặt đỏ. Con râu vàng. Con đầu trọc. Nên cứ nhắm mắt vào là thấy, làm nó sợ. Trẻ khóc suốt đêm là vì vậy. Mãi đến gần sáng nó mới hết khóc và thiếp dần vào giấc ngủ”[5]. Vì thế để đứa trẻ không bị sợ hãi ma thì người ta phải thực hành các  nghi thức ma thuật để đuổi ma đi. Họ khấn trời khấn phật, khấn mẹ Hoa và đặt những con dao đã yểm bùa xuống dưới chiếu ở bốn góc giường. Những con dao đó theo Y Phương thì nó vẫn còn mới tinh, được người ta làm từ thép già, chưa một lần dính máu. Những con dao nhọn này quay về bốn hướng để diệt bốn loại ma khác nhau, dao nhọn chĩa mũi về hướng đằng Đông vì nơi ấy loài ma có nước da màu xanh nước biển; dao quay mũi về đằng Tây vì nơi ấy ma quỷ có bộ mặt đỏ quạch; dao chĩa mũi nhọn về phía Nam vì nơi ấy có ma quỷ đầu bẹt xanh như đít nhái, giọng nói khàn khàn vịt đực; dao nhọn quay mũi về phía Bắc vì nơi ấy là nơi ở của ma quỷ có cặp mắt trắng dã, môi thâm xì. Họ tin rằng nếu làm như vậy sẽ chế ngự được các loài ma.

Không chỉ kể chung chung về các loài ma, Y Phương đã miêu tả cụ thể về một số ma, có những loại ma của người Tày mà ông nhắc đến rất hiếm khi nghe thấy ở các tộc người khác như ma xay thóc và ma gà. Ma xay thóc vốn là linh hồn của những đứa trẻ, chẳng may mà chết. Chúng nó đùa nghịch hơn thuở còn ở trên dương thế. Trời đất quay cuồng trong tiếng hét hú. Loài ma này có quyền lực ngang tựa ông trời, không biết sợ ai, chúng có quyền lực vô hình và vô hạn: “Ma xay thóc là lực lượng quyền uy trên cả ông giời. Nên ông giời buộc phải chào thua. Ông giời phải để dành riêng một khoảnh rừng phi eng làm nơi răn dạy loài người”[6]. Vì thế, những biểu hiện của thiên nhiên, mà người Tày tin là do trời tạo ra như hiện tượng mưa, gió, sấm, chớp thì họ cũng nghĩ ngay đến là do con ma xay thóc đã chọc giận trời: “Người làng tôi nói trên con ma là đến ông giời. Nghĩa là nó chỉ kém ông cao xanh có một bậc. Nay con ma dám trêu tức ông giời thế này là lụt to rồi. Quả nhiên trời mưa như trút. Mưa nghe như thác đổ. Làng xóm chìm trong mưa trắng xóa. Thóc lúa ngoài đồng chìm nghỉm trong nước trắng băng băng. Sấm chớp xé rách nát bươm cả bầu trời, mặt đất”[7]. Trong cộng đồng, người ta tin rằng, con người phải biết phục tùng ma, ma bảo gì thì phải nghe đấy, và đã làm người thì phải biết sợ con ma. Có thể nói, với người Tày, ý niệm về loài ma xay thóc – vốn là linh hồn của những đứa trẻ chết bất đắc kỳ tử đã có từ xa xưa, nó là minh chứng cho sự sợ hãi của con người trước hiện tượng của tự nhiên đã ăn sâu trong suy nghĩ và trong đời sống tâm linh của họ. Ma xay thóc còn có nghĩa tung hoành trời đất chẳng sợ ai, loài ma có quyền lực, có sức mạnh, có khả năng siêu phàm, nó có thể tác động đến trời đất, con người ở nhiều phương diện của cuộc sống. Loài ma này tồn tại phổ biến trong tâm trí của cộng đồng.

Một loại ma cũng rất đặc biệt tồn tại trong tâm thức của người Tày đó là ma gà, loài ma này còn có tên gọi khác nhau: “phi cáy”, “phi gjống” “phi phẳn”, “phi Phạm Nhan”, “phi đằm cằm”,… Theo quan niệm của người Tày thì những nhà có ma gà do từ ngày xưa truyền lại. Nghĩa là từ đời cụ, đời ông,… có ma thì đời con cháu, chết sau này cũng trở thành gia đình có “ma”[8]. Tín ngưỡng ma gà xuất hiện từ khi nào, mặt mũi nó ra sao thì không ai hay biết, người Tày chỉ biết là sinh ra và lớn lên là đã nghe nói có loài ma này, Y Phương viết: “Không những người làng tôi, mà cả vùng núi Việt Bắc, Tây Bắc, ai ai cũng đồn đại xung quanh chuyện con ma gà. Nó thổi từ tai người nọ sang tai người kia. Nó truyền từ miệng người này, nhả sang miệng người khác. Tin đồn loang nhanh như ao bèo tấm. Thực hư chả biết. Nhiều người ghê khiếp ma gà”. Họ khiếp sợ ma gà bởi nó có thể nhập vào người và tồn tại trong người đó, thậm chí nó còn di truyền từ đời này sang đời khác. Ma gà có sức mạnh ghê gớm, nó làm hại người, hại vật: “Người có ma gà, nhìn vào đâu cũng làm cho muôn vật bị thui chột. Lời nói của họ như nhựa cây sơn. Dính vào liền bị ngứa khắp người. Nó sẽ làm héo úa cây rau, thối cây hoa. Làm xanh máu. Làm teo cơ. Trong người khó ở. Trâu, bò, lợn, gà bỗng dưng biếng ăn…”. Những người chẳng may bị ma gà nhập vào thì bị điên, bị dại. Con ma gà biến người ấy đã biến những hành vi lời nói từ con người trở thành con vật. Do vậy, ma gà đã ám vào ai thì người ấy bị cả cộng đồng chối bỏ: “Ra đường không dám mở miệng chào ai. Vào làng, không dám chào trâu bò lợn gà. Không dám khen trẻ nhỏ. Không dám hỏi thăm người già. Khi đi làm đồng, hay lên rừng kiếm củi, lũi cũi đi một một mình. Không có ai bước chân đi cùng. Giữa đường, chẳng may gặp mưa to gió lớn, người có ma gà không dám đứng trú chân. Chỉ sợ người nào nhìn thấy. Người ấy liền réo tên vạch mặt, ông trời nghe tiếng. Ông trời lập tức sai thần sét đánh chết”[9]. Như vậy, người nào bị coi là có ma gà thì cả cuộc đời bị cô lập hoàn toàn, họ sống bi kịch khủng khiếp, họ luôn ở trong trạng thái tâm lý tự ti, sợ hãi. Sự tự ti và sợ hãi ấy ám lấy con người như một thứ vô hình luôn hiện hữu mọi lúc, mọi nơi. Nó trở thành nỗi ám ảnh kinh hoàng mà con người phải chịu đựng.

Trong thực tế, đối với những gia đình mang tiếng có ma gà, bà con hàng xóm thường không đến vay mượn hoặc lấy của cải nhà ấy. Vì họ cho rằng nếu vay mượn hoặc lấy của cải mà không trả đúng thời hạn thì con “ma” nhà ấy sẽ đến đòi nợ bằng cách “ma” nhập vào vía người sống, nhất là trẻ con mới sinh, người trong gia đình sẽ bị ốm yếu, rồi “ma” sẽ ăn gan,… Vì vậy, những nhà mang tiếng “có ma” trở thành nguy hiểm đối với bà con hàng xóm, mặc dầu họ không biết gì về ma thuật, không bao giờ có ý nghĩ làm hại người khác. Trái lại, họ hết sức tránh tiếng là người có ma[10]. Y Phương đã lý giải hiện tượng ma gà rất độc đáo, ông không tin đó là loài ma có thật, nó chỉ là loài ma do con người tưởng tượng ra, về sau nó biến tướng và trở thành mối nguy hại vô cùng lớn đối với con người, ông cho rằng, người ta để làm hại nhau thì họ vu cho người bị làm hại ấy là có ma gà: “những ai sủi tăm hơn người một chút, liền bị gán cho có ma gà. Khi không ưa ai, thiên hạ cũng quàng lên cổ người ta hai chữ ma gà. Ma gà như vòng kim cô ở nơi nhạt muối. Ở những người thiếu tình thương đồng loại. Cái sự ác tâm, làm thành lời đồn… Lời đồn đại ấy, vô tình làm cho nhiều gia đình lâm vào cảnh khốn đốn”[11]. Như vậy, ma gà vốn xuất phát từ tín ngưỡng dân gian, nó là hiện tượng văn hóa tâm linh độc đáo của người Tày, người Nùng. Về sau, hiện tượng này đã bị biến tướng, nó trở thành một vấn nạn lớn đối với con người trong cộng đồng.

Không chỉ mô tả về tín ngưỡng thờ cúng ma quỷ, Y Phương còn sử dụng hiện tượng văn hóa tâm linh này như một phương tiện nghệ thuật nhằm truyền tải trạng thái cảm xúc của mình đối với những đồng đội, người thân, người lính đã tử trận trong chiến tranh, trong Khúc mở: Khêu đèn lên soi tỏ nàng Trăng Y Phương mô tả: Đêm nay giữa trời trăng ngồi/ Tôi chợt thấy nước mắt trăng loác loác/ Tưới đẫm bao người/ Đang ngủ vùi trong đất/ Giờ đây/ Họ biến thành cây/ Thành cỏ/ Thành hoa/ Thành quả/ Thành hồ nước/ Thành cua/ Thành cá/ Thành khói mây/ Thành hơi thở cho chúng ta ngày nay… Tôi mời bạn/ Thư thư tôi kể/ Những chuyến hành hương kiếm tìm/ Linh hồn người lưu lạc[12]. Trong cảm nhận của Y Phương, những người chiến sĩ hy sinh, họ đang ngủ trong lòng đất, họ biến thành cỏ cây, hoa trái, hồ nước, khói mây,… họ trở thành nguồn sống cho con người thực tại; rồi những hồn ma ấy khi hiện lên, họ hóa thân làm đàn đom đóm, lân tinh: Từ đâu/ lập lòe/ Đàn đom đóm/ Như đám lân tinh/ Những hạt sáng bay bay/ Rồi lặng im/ Tắt phụt/ Tự dưng thấy đau đầu tức ngực/ Ù tai/ Này/ Những hồn ma/ Hát nữa đi/ Múa nữa đi/ Hát bừa phứa chơi chơi/ Múa bừa phứa chơi/ Chiến trường cần tiếng cười/ Chết đâu phải là hết[13]. Những đàn đom đóm, lân tinh với những vạt sáng tượng trưng cho hình ảnh của người đã chết còn lang thang không biết lối về, chưa tìm được quê hương làng bản của mình. Vì vậy, để tìm những hồn ma đó trở về, người ta thực hành những nghi lễ tìm kiếm theo các nghi thức truyền thống, trong Khúc ca: Hành trình kiếm tìm, Y Phương viết: Hồn vía các chàng trai binh nhất binh nhì hạ sỹ thiếu úy/ Bị nàng tiên áo hồng áo chàm áo tím áo nâu giữ lại/ Giữ lại để chơi con dê kéo cày…/ Hồn vía các chàng trai binh nhất binh nhì hạ sỹ/ thiếu úy còn bị ma núi/ Ma sông/ Ma đồng bằng/ Ma rừng thiêng giữ lại/ Giữ lại để thi phi ngựa bắn cung/ Thi đố vui lày cỏ/ Chia hai bên ném còn/ Ai ném trúng hồng tâm/ Sẽ được cưới nàng tiên áo hồng áo vàng áo nâu áo chàm/ Tùy chọn/ Nên hồn vía quên mọi đường về/ Hồn chưa về/ Người làng tôi buồn đau/ Lúc đầu chỉ bằng hạt vừng/ Về sau to mãi dần lên thành quê hương miền núi/ Họ thắp hương/ Cúng con gà giò mỏ đỏ lông vàng/ Bên mâm xôi trứng kiến/ Bói xem/ Đoán xem/ Hồn người nhà trú ngụ nơi đâu/ Rú…r..ú…r…ú…r…ú/ Cuốc xẻng bằng đất sét. Đất sét/ Se sẽ chạm vào người…[14]. Trong cách miêu tả của Y Phương, hồn vía những người lính hy sinh trong chiến tranh chưa trở về quê hương bản quán bởi họ còn bị những loài ma sông, ma núi, ma đồng bằng, ma rừng thiêng giữ lại cùng nhau vui đùa nên quên đường về, khiến cho người làng buồn đau, nỗi đau ban đầu bằng hạt vừng, về sau lớn lên thành quê hương miền núi. Vì thế, muốn linh hồn những người lính trở về, họ thực hành nghi lễ bằng cách chuẩn bị con gà, mâm xôi trứng kiến rồi bói xem hồn người nhà trú ngụ nơi đâu để mời gọi, để kiếm tìm.

Trong thế giới tâm linh của người Tày, ma quỷ là những linh hồn của người và của vật. Họ có niềm tin vạn vật đều có linh hồn – linh hồn tồn tại cả ở người, con vật, đồ vật và cây cối. Khi con người chết đi linh hồn và thể xác rời xa nhau, linh hồn người lang thang sẽ trở thành các loài ma: người Tày phân biệt hai loại ma, ma lành và ma dữ tức là phúc thần và hung thần. Đồng bào thờ ma lành ở trong nhà hay ở miếu thổ công, thành hoàng. Đối với loài ma dữ, đồng bào không thờ cúng. Nhưng khi thầy bói hay thầy cúng phát hiện ra con ma nào gây ra ốm đau, tai họa thì phải cúng con ma ấy, tùy từng loại ma to nhỏ mà liệu lễ vật,… Loại ma lành ban ơn ban phúc cho người trần, nhưng cũng trừng phạt người trần nếu làm trái ý hoặc lo việc cúng bái không chu đáo. Ngay cả ma tổ tiên cũng quấy rầy con cháu không kém các loại ma dữ, nếu không vừa ý. Muốn cho khỏi bệnh, muốn cho tai qua nạn khỏi lại phải cúng tế tạ tội[15]. Có thể nói, việc thờ cúng ma quỷ của người Tày nhằm chế ngự sự sợ hãi của con người trước những hiểm họa của cuộc sống như ốm đau, bệnh tật, chết chóc,…; mặt khác, họ thờ cúng ma quỷ còn cầu mong các lực lượng siêu nhiên này ban phúc lành cho người dân.

Bên cạnh việc mô tả lại ý niệm và thực hành nghi lễ ma quỷ của người Tày, trong sáng tác của Y Phương còn xuất hiện tín ngưỡng thần linh – một tín ngưỡng đã ăn sâu trong tâm thức cộng đồng người Tày. Trong vũ trụ luận người Tày, thế giới phân ba tầng tương ứng với ba mường, mường Trời, mường Đất và mường Nước. Ở mỗi mường ấy với một hệ thống thần linh riêng, khá đồ sộ[16]. Xuất phát từ ý niệm này cho nên trong đời sống tâm linh người Tày, họ thờ cúng nhiều vị thần linh khác nhau, đại diện cho thế giới ba tầng và những khát vọng của con người. Một hiện tượng tín ngưỡng được mọi gia đình đều quan tâm đó là tín ngưỡng thờ Mẹ Hoa – vị thần bảo hộ cho việc sinh nở. Nhà văn Y Phương viết về tín ngưỡng này như sau: “Từ khi các cháu bé lọt lòng mẹ, Ngọc Hoàng thượng đế đã cắt cử Hoa Vương Thánh Mẫu làm người trực tiếp chăm sóc, cai quản phần hồn các cháu. Người Tày gọi đó là mẻ bjooc mẻ woa – Mẹ Hoa. Bất kể trong nhà người Tày nào, dù định cư ở đâu, họ cũng đều lập bàn thờ Mẹ Hoa. Bàn thờ đặt vào nơi trang trọng nhất. Mùng một hôm rằm hoặc lễ tết, người nhà phải thắp hương cúng khấn. Mẹ Hoa không những là người cai quản mà còn phân phối chia đều con trai con gái cho từng nhà từng người. Ai hiếm muộn phải lập đàn chay cúng khẩn thỉnh cầu Mẹ Hoa. Mẹ cho đậu mới được đậu. Mẹ Hoa là người có một vị trí vô cùng quan trọng trong thế giới tâm linh của người Tày Nùng”[17]. Có thể nói, trong thực tiễn tín ngưỡng thờ Mẹ Hoa đã ăn sâu, bám chắc trong tâm lý và hành vi của người Tày hết sức sâu sắc. Tín ngưỡng này đã trở thành biểu tượng văn hóa của người Tày, nó đại diện cho khát vọng về một cuộc sống đông con nhiều cháu trong mỗi gia đình người Tày, mặt khác đó còn là niềm tin về một thế giới tâm linh đang bao bọc và chi phối đến con người nơi trần gian. Y Phương mô tả cụ thể về thực hành nghi lễ của người dân đối với Mẹ Hoa, Bố Trời như sau: Ngày đầy tháng con/ Đầy tháng mẹ/ Ba mâm hương bày ra/ Bảy mâm đèn đặt tới/ Cỗ bàn lao xao khói/ Liền đấy/ Bố Trời cưỡi ngựa hồng/ Mẹ Hoa cưỡi hạc trắng/ Đỗ xuống bờ sông/ Dàn nhạc khèn tấu lên/ Cờ phướn tung bay đón/ Mời bố Trời đặt tên/ Bố Trời cười khà khà/ Khẽ nháy sang mẹ Hoa/ Mẹ Hoa cầm quạt phất/ Bố Trời nói/ Con là một hạt đất/ Mẹ Hoa nói? Không? Con là một hạt người/ Hãy để người đặt tên[18]... Đối với người Tày, mường Trời là nơi ngự trị của các thần linh tối cao, đó là nơi trú ngụ của linh hồn con người sau khi chết. Mường Trời là nơi ngự trị của vua quan, thần phật có quyền năng quyết định mọi vấn đề sinh tử và số mệnh con người, ở đó bao gồm Ngọc Hoàng, Phật Bà Quan Âm, vua Hành Khiển, vua Số và Mẹ Hoa (Mẻ Bioóc/ Mẻ Va). Ngoài ra, ở mường Trời còn có tướng lĩnh dưới quyền Ngọc Hoàng, các nàng tiên, các loài quỷ thần có phép lạ[19]. Xuất phát từ ý niệm đó, Y Phương đã diễn đạt được hình ảnh Bố Trời cưỡi ngựa hồng, Mẹ Hoa cưỡi hạc trăng xuống trần gian gặp gỡ chia vui với gia đình và che chở đứa bé mới chào đời. Hình ảnh ấy hết sức gần gũi và mang đầy tính nhân văn, nhân ái đối với con người nơi trần gian.

Trong tâm thức của người Tày đã và đang tồn tại một hệ thống tín ngưỡng dân gian hết sức đồ sộ, đó là tín ngưỡng vật linh đa thần giáo. Xuất phát từ tín ngưỡng này của người Tày cho nên ý niệm ma quỷ, thần linh đã thực sự chi phối cuộc sống thường nhật của họ. Y Phương viết: “Làng tôi có đến ba bốn ngôi đền thờ Thổ Công xây bằng đá hộc. Mỗi xóm có một ngôi đền trấn giữ ma quỷ. Đằng sau và hai bên tả hữu ngôi đền có năm sáu cây cổ thụ, các vị đều thọ trên trăm năm tuổi. Nương theo tâm linh, những chòm cây cổ thụ, đó chính là hình ảnh các bậc tiền nhân. Các cụ ngôi chơi xơi rượu, đánh cờ”[20]. Trong cách miêu tả của Y Phương đã diễn tả niềm tin của con người vào việc sùng bái Thổ Công – vị thần linh trong làng luôn được người dân thờ ở ngôi đền xây bằng đá hộc; còn ở mỗi xóm lại thờ các thần trấn giữ ma quỷ; những chòm cây cổ thụ là nơi các bậc tiền nhân hiện về…Tất cả đã nói lên được niềm tin vào thế giới siêu nhiên, kỳ bí nhưng cũng rất gần gũi với cộng đồng cư dân ở nơi nhạt muối.

Như vậy, tín ngưỡng ma quỷ, thần linh của người Tày trong văn chương Y Phương hiện lên một cách cụ thể và thực chứng từ những điều mắt thấy tai nghe. Những yếu tố văn hóa tâm linh được Y Phương đề cập đến bao gồm ý niệm và thực hành nghi lễ về ma quỷ, thần linh vốn là những vấn đề cốt yếu của tín ngưỡng này. Do vậy, đọc văn chương Y Phương chúng ta có thể thấy được phần nào hiện trạng thờ cúng ma quỷ, thần linh – một hiện tượng văn hóa tâm linh hết sức đặc thù của người Tày. Có thể nói, mặc dù chưa thể phục dựng được toàn bộ diện mạo và bản chất của tín ngưỡng ma quỷ, thần linh của người Tày, nhưng bằng bút pháp nghệ thuật văn chương hấp dẫn, bằng vốn tri thức hiểu biết cặn kẽ của mình, Y Phương đã dẫn/đưa người đọc trở về quá khứ, trở về với văn hóa “gốc” của người Tày trong các trang viết đầy mê hoặc của ông. Chính vì vậy, đọc những sáng tác văn chương Y Phương, người đọc không chỉ thưởng thức giá trị thẩm mỹ mà loại hình nghệ thuật ngôn từ mang lại, mà ở đó còn chứa đựng những yếu tố văn hóa đặc thù của người Tày – tộc người mà Y Phương đã gắn bó suốt cả cuộc đời.

(“Nguồn: In trong cuốn Thế hệ nhà văn sau 1975 (kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia do Trường Đại học Văn hóa Hà Nội tổ chức ngày 18/4/2016), NXB Hội nhà văn, 2016)”)

Đăng bởi: Ngô Minh | 05.12.2016

Di sản

Di sản

  •   HOÀNG HỐNG MINH

fidel

Có những nhân vật trước khi ra đi đã nhắn lại được những điều thật sáng sủa, làm cho người đời phải phải suy ngẫm và thán phục.

Ông Lưu Bị thời Tam Quốc trước khi chết đã nhắn lại “chớ thy điu thin vì nh, mà bỏ thôi làm; chớ thy điu ác vì nh, mà cứ làm ba. ”

Ông Fidel Castro “mun tên tui và hình nh ca ông không được sử dng trong các cơ quan, đường ph, công viên và các công trình công cng sau khi ông qua đi; không xây dng các tượng đài và công trình tưởng nim ông” – AP dẫn lời chủ tịch Raul Castro. (http://vietnamnet.vn/vn/the-gioi/fi…) Điều đầu tiên mà chính quyền Cuba đã thực hiện được, là hoả thiêu thi hài ông Fidel Castro và không xây lăng tẩm cho ông.

Từ việc nhắn lại được, cho đến đám đông kế tục họ sau đó có làm được như thế không, cũng vô cùng chuyện.

Ở Cuba, đồng chí và nhân dân của fidel Casro đã tổ chức tang lễ ông rất đơn giản nhưng nghiêm trang và công bố những lời ông dặn.

Đây mới là việc đáng ngẫm, đáng bàn. Phải chăng đây là một di sản lớn của Fidel Castro.

(Nguồn: VHNA)

Đăng bởi: Ngô Minh | 05.12.2016

Biển Đông : Việt Nam thách thức Trung Quốc

Biển Đông : Việt Nam thách thức Trung Quốc

mediaẢnh vệ tinh chụp nhà để máy bay mà Việt Nam đang xây ở Trường Sa.@csis/amti

Với việc nâng cấp phi đạo duy nhất của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa và xây dựng các nhà để máy bay mới tại địa điểm này, Hà Nội đáp lại việc Trung Quốc trong thời gian qua đã ồ ạt xây dựng các cơ sở quân sự tại khu vực đang tranh chấp này ở Biển Đông.

Các hình ảnh vệ tinh do Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược (CSIS) công bố vào tuần trước cho thấy là Hà Nội đã mở rộng phi đạo và xây hai nhà chứa máy bay lớn trên một đảo của Trường Sa để có thể tiếp nhận những phi cơ mới của không quân Việt Nam, như máy bay giám sát biển PZL M28B và máy bay vận tải CASA C-295. Để mở rộng phi đạo, Việt Nam đã bồi đắp đảo cho lớn hơn, tương tự như việc Trung Quốc xây các đảo nhân tạo, tức bồi đắp các đá thành những đảo thật sự.

Thật ra thì quy mô của công trình mở rộng phi đạo của Việt Nam chẳng thấm vào đâu so với các công trình của Trung Quốc ở Trường Sa, vì các chiến đấu cơ phản lực chỉ có thể sử dụng một cách hạn chế phi đạo vừa được mở rộng. Nhưng theo ghi nhận của dự án Sáng Kiến Minh Bạch Hàng Hải Châu Á (AMTI), thuộc trung tâm CSIS, hành động nói trên cho thấy là ngay cả khi căng thẳng ngoại giao với Trung Quốc giảm bớt, Việt Nam vẫn tiếp tục hiện đại hóa quân đội và thắt chặt quan hệ an ninh với các nước Nhật, Mỹ, Ấn Độ, để chuẩn bị đối phó với những hành động khác của Trung Quốc trong tương lai nhằm áp đặt chủ quyền của họ ở Biển Đông.

Hãng tin Reuters tháng 8/2016 tiết lộ rằng Việt Nam đã bắt đầu triển khai các dàn tên lửa địa đối không ở quần đảo Trường Sa. Hà Nội đã không xác nhận thông tin này, nhưng theo nhận định của AMTI, hành động đó không có gì là đáng ngạc nhiên khi chúng ta thấy tiềm lực không quân rất mạnh mà Trung Quốc chẳng bao lâu nữa sẽ triển khai ở vùng Trường Sa.

Theo AMTI, Việt Nam có thể sử dụng phi đạo mở rộng và nhà để máy bay mới cho việc tuần tra khu vực Trường Sa. Cho dù tiềm lực quân sự của Việt Nam không thể so với của Trung Quốc, nhưng Hà Nội có vẻ quyết tâm nâng cao khả năng giám sát hoặc khả năng bảo vệ chủ quyền, nếu thông tin về việc triển khai tên lửa là đúng.

Hôm thứ sáu tuần trước, phát ngôn viên bộ Ngoại giao Trung Quốc đã yêu cầu Việt Nam ngưng xây dựng « trên lãnh thổ Trung Quốc », nhưng chắc là Hà Nội sẽ không làm theo yêu cầu này của Bắc Kinh.

Dầu sao thì với nguy cơ chiến tranh tái diễn với Trung Quốc do vấn đề Biển Đông, Việt Nam không có con đường nào khác hơn là phải tiếp tục hiện đại hóa quân sự, một mặt nâng cao khả năng sẳn sàng chiến đấu của quân đội, mặt khác đầu tư phát triển ngành công nghiệp quốc phòng, cùng với việc mua thêm vũ khí và thiết bị quân sự từ nhiều nguồn khác nhau.

Ý kiến: Thủ tướng Phúc có thể tạo nên sự khác biệt?

  • Vietnam Prime Minister Nguyen Xuan PhucImage copyrightSTR/AFP/GETTY
Image captionÔng Nguyễn Xuân Phúc nhậm chức Thủ tướng từ đầu tháng 4/2016

Kể từ khi chính thức tuyên thệ nhậm chức vào ngày 7/4/2016 tại Kỳ họp thứ nhất Khóa 14 Quốc hội, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã và đang tạo ra phong cách chỉ đạo điều hành quyết liệt, cụ thể, kịp thời với sự ‘đôn đốc’ của tổ công tác để tăng cường thực thi các nghị quyết, chỉ đạo của chính phủ.

Các nhà quan sát chính trị trong và ngoài nước quan tâm đang dõi theo những động thái của chính phủ, trước hết là người đứng đầu.

Nhiều tuyên bố, đặc biệt là quyết tâm xây dựng một chính phủ liêm chính, phục vụ, kiến tạo, đã tạo được ấn tượng mạnh về sự mạnh mẽ và khác biệt trong điều hành, những ‘chỉ đạo’ của thủ tướng đã và đang gây ấn tượng và thu hút được sự chú ý của công luận và người dân.

Trong một cuộc họp chính phủ ông có nói đại ý rằng từ trước đến nay ‘chúng ta bắn lên trời’ nhiều rồi, nghĩa là các hành động trước kia không cụ thể, không có địa chỉ.

Phải chăng những chỉ đạo liên tục của Thủ tướng là những hành động cụ thể, kịp thời và là minh chứng cho việc ‘lời nói đi đôi với việc làm’?

Sự chỉ đạo nổi bật của Thủ tướng, trước hết, về vụ việc quán cafe Xin chào, được xem là ‘sự chỉ đạo cụ thể đầu tiên’, sau khi ông nhậm chức nửa tháng.

Một người dân bình thường ở huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh, mở quán café Xin chào để làm ăn…và bị khởi tố hình sự. Báo chí phản ánh ‘dồn dập’, và, như nhiều báo, giật tít ngày 21/4/2016:

“Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã trực tiếp gọi điện cho Chủ tịch UBND TPHCM – ông Nguyễn Thành Phong – yêu cầu dừng ngay việc khởi tố vụ án hình sự chủ quán cà phê Xin Chào.”

Như đã biết, các cơ quan chức năng ‘làm rõ’ và ‘báo cáo’ Thủ tướng đây là vụ án ‘oan sai’… Kết quả là một số cán bộ, công an bị ‘xử lý’, trong đó có trưởng công an và phó viện trưởng Viện KSND huyện bị cách chức…

Đọc báo chẳng rõ người ta mừng vì một số lãnh đạo làm sai bị mất chức hay mừng là chủ quán café lại tiếp tục được làm ăn!

Gần đây nhất, trong cuộc họp Chính phủ ngày 28-29/11/2016 Thủ tướng đã có những chỉ đạo quyết liệt:

“Yêu cầu Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam kiểm tra việc chi phí để làm quà tặng (logo) tại Tập đoàn này; Yêu cầu Thanh tra CP kiểm tra vụ việc và không để cán bộ phát ngôn theo kiểu ‘xấu xa đậy lại’; Yêu cầu kiểm tra lại hiện tượng bổ nhiệm ở các bộ ngành khiến dư luận bức xúc trong thời gian vừa qua; Yêu cầu các địa phương không được về Hà Nội chúc tết, tặng quà cho Thủ tướng, các phó thủ tướng, bộ trưởng mà hãy dành thời gian chủ động tập trung chăm lo Tết cho nhân dân…”

‘Rào cản thể chế’

VietnamImage copyrightCHRIS JACKSON/GETTY IMAGES

Các chỉ đạo của Thủ tướng dường như càng ngày càng có ‘độ phức tạp’ lớn hơn, trong đó sự ‘nhảy cảm’ và khó khăn thực thi chính là ‘quy trình thể chế’.

Thủ tướng thẳng thắn nhận định rằng “còn khá phổ biến tình trạng ‘trên bảo, dưới không nghe'”, và “các cơ quan quản lý giải trình thực hiện ‘theo đúng quy trình’, nhưng vẫn gây bức xúc dư luận”.

Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Nội vụ làm việc ngay với Ban Tổ chức Trung ương rà soát lại các quy định về cán bộ để tránh tình trạng bổ nhiệm quá số lượng, người nhà… mà vẫn đúng quy trình.

Đặc biệt, Thủ tướng giao Bộ Nội vụ thực hiện ngay việc nghiên cứu, đề xuất thể chế về từ chức – một đề xuất được Quốc hội chấp nhận trong kỳ họp thứ 2 khóa 14 vừa diễn ra tại Hà Nội.

Sự quyết tâm của Thủ tướng đang vướng các rào cản thể chế. Có lẽ ông hiểu điều đó nên trước mỗi ‘chỉ đạo’ luôn nhấn mạnh rằng Chính phủ vì nhân dân và phục vụ nhân dân.

Như đã biết, vụ Trịnh Xuân Thanh (cán bộ cấp trung), ngay sau đó là Vũ Đình Duy đang bị điều tra về hành vi thiếu trách nhiệm làm thất thoát tài sản nhà nước hàng ngàn tỷ đồng, thì bỏ trốn ra nước ngoài trót lọt kiểu ‘con voi chui lọt lỗ kim’- như một đại biểu Quốc hội phát biểu.

Ông Vũ Huy Hoàng, cựu bộ trưởng Bộ Công thương, cấp trên của hai nhân vật nêu trên, bị Ủy ban Kiểm tra trung ương điều tra và có kết luận rằng các vi phạm, khuyết điểm của ông ta trong thời gian làm bộ trưởng đã gây hậu quả nghiêm trọng. Đảng đã tuyên bố cách chức Bí thư Ban cán sự đảng Bộ Công thương trong thời gian 2011 – 2016 đối với ông này ngày 2/11 vừa rồi.

Cách chức một cá nhân khi không còn chức, rõ ràng hình thức kỷ luật trên mang tính ‘biểu tượng’, ‘đạo đức’ hoặc ‘mang tính răn đe’, song chính vì vậy mà đã hơn một tháng nay, Quốc hội và Chính phủ vẫn không thể vận dụng được, thậm chí chưa sửa được quy trình thể chế hiện hành để phán xét và xử lý đúng ‘tội’ khi ông Hoàng đã nghỉ hưu.

‘Sự bất lực’

A Ho Chi Minh poster in HanoiImage copyrightHOANG DINH NAM/GETTY IMAGES

Người ta nói về ‘sự bất lực’ xuất phát từ ‘lỗi’ hệ thống.

Muốn kỷ luật một cán bộ lãnh đạo nào đó, trước hết đảng phải ‘có ý kiến chỉ đạo’, xử lý về đảng, sau mới đến chính quyền. Cơ chế này đang có vấn đề qua các vụ việc nêu trên.

Rõ ràng phải đổi mới đảng cầm quyền trước tiên.

Nguyên phó thủ tướng Vũ Khoan cho rằng một trong những đổi mới chính trị ở Việt Nam thời gian qua là đảng Cộng sản dần không can thiệp vào công việc của chính phủ, tuy nhiên thể chế nào để lấp vào khoảng trống quyền lực đó thì chưa được rõ.

Nhà nước Việt Nam hiện nay được tổ chức theo cấu trúc thứ bậc với quyền lực tập trung trong tay đảng Cộng sản nhằm thực thi luật lệ trong các lĩnh vực, đang thay đổi theo hướng pháp trị và chịu sức ép trước hội nhập quốc tế và nhu cầu xã hội dân sự về nghĩa vụ giải trình và chịu trách nhiệm chính trị, nơi mà chính phủ hành động phù hợp với thể chế kinh tế thị trường và phải có trách nhiệm trước nhân dân.

Nhà nước luôn có xu hướng tập trung quyền lực, còn thể chế pháp quyền và giải trình và chịu trách nhiệm chính trị thì lại đặt ra những hạn chế theo cách ngăn ngừa tha hóa quyền lực, và chính quyền cần phải được kiềm soát bởi pháp luật và chịu trách nhiệm giải trình trước nhân dân.

Điều này chưa được đặt ra cụ thể và thỏa đáng trong cải cách thể chính trị ở Việt Nam do ý thức hệ bảo thủ và quan niệm giáo điều về chủ nghĩa xã hội.

Mặt khác, Việt Nam không thể học theo kinh nghiệm của Trung Quốc mặc dù hai nước tương đồng về chế độ chính trị, về cách chống ‘quốc nạn’ tham nhũng.

Tham nhũng và quyền lực là cặp bài trùng. Trung Quốc chọn việc tập trung quyền lực cao hơn để chống tham nhũng, và sự tranh giành quyền lực là không tránh khỏi.

Vietnam Prime Minister Nguyen Xuan Phuc in Beijing, Nov 13, 2016Image copyrightLINTAO ZHANG/GETTY IMAGES
Image captionÔng Nguyễn Xuân Phúc gặp Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trong chuyến thăm Bắc Kinh hồi tháng 9/2016

Ở Trung Quốc chủ tịch Tập Cận Bình, được coi là ‘kiến trúc sư’ chiến dịch ‘đả hổ giệt ruồi’. Mới đây tại Hội nghị trung ương 6 khóa 18 đảng Cộng sản, cho biết trong 3 năm 2013-2016 của nhiệm kỳ đầu tiên cầm quyền của ông, hơn 1,01 triệu quan chức bị điều tra tham nhũng, trong đó có hàng nghìn cán bộ cao cấp, như Bạc Hy Lai, Chu Vĩnh Khang… bị kết tội.

Cũng trong Hội nghị trên chủ tịch Tập được đảng trao danh hiệu ‘lãnh đạo hạt nhân.’ Ông là nhân vật thứ ba có danh hiệu này sau Chủ tịch Mao và Đặng Tiểu Bình.

‘Danh hiệu’ nêu trên, lần đầu tiên được nhắc đến chính là Đặng Tiểu Bình, khi nói rằng ‘một nền lãnh đạo tập thể phải có một hạt nhân; không có hạt nhân thì không thể chế nào có thể đủ vững mạnh.’

Các nhà quan sát chính trị cho rằng đây là ‘biểu tượng quyền lực’, vì nó mở đường cho việc tháo dỡ dần những quy tắc và chuẩn mực bất thành văn của đảng Cộng sản vốn điều chỉnh hành vi của giới tinh hoa và quá trình chuyển giao lãnh đạo trong gần ba thập niên qua ở Trung Quốc.

Ở Việt Nam, liệu có cần quy hoạch hay bồi dưỡng ai đó trở thành ‘lãnh đạo hạt nhân’ trong quá trình chuyển giao tổng bí thư – chức vụ cao nhất của đảng Cộng sản sắp tới? Liệu có thể xoay chuyển tình hình ‘trên bảo dưới không nghe’?

Sự bất ổn kinh tế và xã hội trong thời gian qua đã xé rách những luật lệ với những quy trình hiện có, báo hiệu một thời kỳ khó dự đoán về sự thay đổi thể chế chính trị để vượt qua những khó khăn phía trước, đưa đất nước phát triển

Đảng Cộng sản Việt Nam liệu đã rút ra những bài học gì qua sự kiện ‘phê bình đồng chí X không thành tại Hội nghị trung ương 6 khóa 11 của Đảng Cộng sản’? Có lẽ không phải vấn đề cá nhân các lãnh đạo, giữa đảng và chính phủ, mà là vấn đề thể chế!

Trong bối cảnh ấy liệu Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc có tạo nên sự khác biệt so với người tiền nhiệm?

Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của PGS.TS Phạm Quý Thọ, khoa Nghiên cứu Chính sách Công, Học viện Chính sách và Phát triển.

  • fidel

    Không tượng đài, tên đường mang tên Fidel Castro

 (NLĐO) – Chủ tịch Cuba Raul Castro ngày 3-12 tuyên bố dự luật mới theo di nguyện của cố lãnh tụ Fidel Castro là sẽ không dùng tên này đặt cho đường phố, xây tượng đài, công viên…
 

Cố lãnh tụ Fidel Castro làm thế vì không muốn sùng bái cá nhân lan tỏa ở Cuba. Ông từng viết trong tự truyện: “Đàn ông và phụ nữ lãnh đạo đất nước này đều là con người, không phải thánh thần”.

Fidel Castro không muốn được tạc tượng, vinh danh bằng tên đường, công trình kiến trúc, công viên
Fidel Castro không muốn được tạc tượng, vinh danh bằng tên đường, công trình kiến trúc, công viên

Em trai ông là Raul Castro nhấn mạnh: “Cuba không có tên đường, tượng đài hoặc công viên được đặt tên Fidel Castro vì di nguyện của ông là không muốn tôn sùng cá nhân”. Dẫu không tạc tượng hay đặt tên đường nhưng cái tên Fidel được xem là tượng đài vững chắc trong trái tim người dân Cuba. Nhiều hoạt động tưởng niệm đã được tổ chức để tiễn biệt lãnh tụ tài hoa trong lòng họ.

“Với chúng tôi, ông ấy không bao giờ chết” – Maria de la Caridad, tham dự tưởng niệm lãnh tụ của mình, chia sẻ. Theo kế hoạch, tro cốt của lãnh tụ Fidel Castro sẽ được an táng ở nghĩa trang Ifigenia tại Santiago.

Di nguyện của lãnh tụ Fidel Castro dẫn đến hai luồng tranh luận trên mạng, một số ca ngợi ông khiêm nhường, tự trọng, một tư tưởng lớn. Tuy nhiên, số khác cho rằng các vĩ nhân, các nhà văn hóa lớn nên được tạc tượng, vinh danh để truyền cảm hứng tích cực cho thế hệ sau.

M.Khuê (Theo Telegraph)

lang-lon

THƯ GIÃN CHỦ NHẬT: NGƯỜI VIỆT MÌNH ĐẶT TÊN SEX LẮM!

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 04.12.2016

CHUYỆN “…NGƯỜI YÊU NƯỚC MÌNH ”

img_8195

ĐỌC BỘ SÁCH “NGÔ MINH TÁC PHẨM”, TẬP 2:

CHUYỆN “…NGƯỜI YÊU NƯỚC MÌNH ”

 Ngô Minh

 

mẹ tôi nuôi tôi mười mấy năm không lấy chồng

                             thương tôi nên ở góa nuôi tôi

                             … mẹ thương con nên cách trở sông đò

                             hàng gánh nặng phải qua cầu xuống dốc

                             đêm nào mẹ cũng khóc

                             đêm nào mẹ cũng khấn thầm

                             mong con khôn lớn cất mặt với đời…

 

Thế hệ thanh niên yêu thơ những năm chống Mỹ ở miền Bắc ai cũng xúc động khi đọc “Bài thơ của một người yêu nước mình”, “bài từ miền Nam gửi ra” của Trần Vàng Sao. Với tôi, bài thơ như viết cho hoàn cảnh  riêng của mình, có lẽ cũng là hoàn cảnh riêng của nhiều người Việt Nam trong thời binh đao tao loạn. Ba tôi bị giết oan khi tôi mới  bảy tuổi. Mạ tôi ở góa, đi mót khoai hà, đội nón mê đi ăn xin tôm cá dọc biển, rồi buôn thúng bán bưng chạy chợ suốt ba chục năm ròng nuôi năm đứa con khôn lớn nên người. Nên mỗi lần  đọc lại Bài thơ của người yêu nước mình của Trần Vàng Sao, tôi đều ứa nước mắt…. tôi yêu đất nước này xót xa… tôi yêu đất nước này cay đắng… tôi yêu đất nước này áo rách…tôi yêu đất nước này rau cháo… tôi yêu đất nước này lầm than… tôi yêu đất nước này chân thật… Cái điệp khúc “ tôi yêu đất nước này…” lúc cất lên như tiếng nấc, lúc chìm sâu như nỗi nghẹn ngào, khi nghe như tiếng vọng của tâm linh thăm thẳm. Thật may cho tôi, hơn 30 năm nay, ở Huế, nhiều lần cùng nâng chén, chuyện trò với nhà thơ mà mình ngưỡng mộ. Bùi Minh Quốc từ Đà Lạt về Huế, tôi lại chở về Vỹ Dạ thăm Trần Vàng Sao, Nguyễn Trọng Tạo vô Huế lại rủ tôi xuống Trần Vàng Sao, Nguyễn Quang Lập, Phạm Xuân Nguyên từ Hà Nội vào cũng rủ tôi mò xuống thăm Trần Vàng Sao… Tôi thấy ở nhà Lâm Thị Mỹ Dạ có loại rượu quê Tuy Lộc, Lệ Thuỷ cực ngon, tôi lại năn nỉ xin một chai nhỏ mang xuống cho Trần Vàng Sao…Nhiều lần tiếp xúc với nhà thơ nổi tiếng không biết Hội Nhà văn là gì này, tôi mới nghiệm ra một chân lý: Càng “yêu nước mình” Trần Sao càng khổ, càng bị hất ra ngoài rìa cuộc sống !… (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 04.12.2016

VẪN CÒN ĐÂY MỘT TPP KHÔNG CÓ MỸ

VẪN CÒN ĐÂY MỘT TPP KHÔNG CÓ MỸ

Theo đánh giá của các chuyên gia, nếu Hoa Kỳ rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), điều này tất yếu sẽ ảnh hưởng đến chiến lược xoay trục sang châu Á của Mỹ và có thể tạo cơ hội để Trung Quốc tăng cường vị thế đối với thương mại khu vực và toàn cầu.

 

Ngày 27/11/2016, phát biểu với truyền thông trong nước, nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan, vị lãnh đạo cấp cao của Việt Nam từng đặt chân vào Nhà Trắng để đàm phán và ký kết Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ trước đây (BTA), khẳng định: “TPP là một mắt xích quan trọng của quá trình tự do hóa thương mại toàn cầu. Với việc ông Trump đã chính thức tuyên bố sẽ rút khỏi TPP, quá trình tự do hóa toàn cầu ấy chịu một sức ép không nhỏ”. Cũng theo ông Vũ Khoan, giờ đây một số người lại nói có hay không có TPP cũng không vấn đề gì. Nếu nói như vậy, hãy đặt lại câu hỏi: Vậy thì anh vào TPP làm gì, cố công đàm phán bao nhiêu năm trời, thậm chí có rất nhiều kỳ vọng, nhiều dự đoán lạc quan để làm gì. Theo ông Vũ Khoan, nếu rồi đây, TPP không còn nữa, hay nó sẽ thay đổi đi, thì ta phải tính toán, thích nghi với tình hình đó. Từ khi ta tham gia WTO, ta đã dùng các thỏa thuận về tự do hóa mậu dịch để mở rộng thị trường, có thêm đầu tư, đồng thời cũng dùng nó để thúc đẩy quá trình đổi mới ở trong nước. Quá trình này sẽ tiếp tục với việc ta hội nhập quốc tế và tham gia nhiều Hiệp định Thương mại tự do (FTA) khác nhau, nhưng nó sẽ phải điều chỉnh trong trường hợp không có TPP.

 

Mọi chuyện không đơn giản

Ngày 28/11/2016, theo nhiều chuyên gia, việc Mỹ rút khỏi Hiệp định TPP sẽ mở đường cho Nga và Trung Quốc nắm vị trí chủ chốt trong khu vực Thái Bình Dương. Quyết định rời TPP của ông Trump đã khiến không ít nhà lãnh đạo các nước thành viên của hiệp định thất vọng. Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe bày tỏ lo ngại trước nguy cơ hiệp định bị tan vỡ và “TPP sẽ trở nên vô nghĩa nếu như không có Mỹ“. Trong khi đó, một số nhà lãnh đạo khác lại đưa ra hướng đi tương lai mới. Cuối tuần trước Tổng thống Peru Pablo Pedro Kuczynski đã chủ trì hội nghị APEC trong đó có tổng thống Obama, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cùng với một số nhà lãnh đạo các nước khu vực Mỹ La Tinh và Châu Á Thái Bình Dương. Một ngày sau hội nghị, khi hay tin tổng thống đắc cử Donald Trump tuyên bố Mỹ sẽ rút khỏi TPP, Tổng thống Kuczynski nhận định “Một hiệp định mới sẽ được thay thế cho TPP trong đó sẽ không có Mỹ tham gia. Thay vào đó Trung Quốc và Nga sẽ là hai nước thành viên chủ chốt trong hiệp định mới này“.

Sau 8 năm đàm phán, Hiệp định TPP đã được 12 quốc gia trên hai bờ Thái Bình Dương, từ những nước vừa và nhỏ như Việt Nam, Brunei, đến các quốc gia hùng mạnh như Hoa Kỳ, Nhật Bản, kí kết vào tháng 2/2016. Peru cũng nằm trong số các quốc gia đó. Tuy nhiên, giống như nhiều thành viên khác, TPP vẫn phải cần Quốc hội của nước này phê chuẩn. Ở Peru, không phải ai cũng có cùng quan điểm với Tổng thống Kuczynski. Tuần trước đã có một số cuộc biểu tình chống lại TPP diễn ra ở ngay trên đất nước Peru. Đối với những người phản đối TPP, tuyên bố của ông Trump được xem như “ánh bình minh” đang ló dạng phía chân trời. Trong suốt chiến dịch tranh cử của mình, ông Trump bền bỉ theo đuổi lập trường của mình. Đối với vị tổng thống vừa đắc cử, các thỏa thuận thương mại tự do, về mặt lý thuyết, là cái gì đó cao quý, nhưng trên thực tế, nó đã cướp đi rất nhiều việc làm của người dân Mỹ.

Thượng đỉnh Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC) ở Peru từ ngày 17—20/11/2016 đã quy tụ 21 nguyên thủ quốc gia và người đứng đầu chính phủ. Trong tuần lễ APEC ấy, việc tân Tổng thống Trump tái khẳng định sẽ xóa bỏ các thỏa thuận thương mại tự do đã trở thành chủ đề chính tại Hội nghị, dù ông Trump không có mặt. Các nguyên thủ dường như đều muốn truyền đạt thông điệp của họ tới người sẽ chính thức trở thành Tổng thống thứ 45 của Mỹ vào tháng 1/2017. Tổng thống nước chủ nhà Peru Kuczynski đã cảnh báo về những tác động tiêu cực có thể xảy ra nếu Mỹ có bất kỳ động thái nào nhằm ngăn chặn hàng nhập khẩu. Ngoài ra, ông vẫn tiếp tục lên tiếng ủng hộ TPP.

Việc Mỹ rút khỏi TPP đã vô tình tạo chỗ trống lớn trong khu vực xuyên Thái Bình Dương. Theo đánh giá của các chuyên gia, nếu Hoa Kỳ rút khỏi Hiệp định TPP, điều này tất yếu sẽ ảnh hưởng đến chiến lược xoay trục sang châu Á của Mỹ và có thể tạo cơ hội để Trung Quốc tăng cường vị thế đối với thương mại khu vực và toàn cầu. Trung Quốc đang đấy mạnh tiến trình hoàn thiện hiệp định mới có tên Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) trong đó bao gồm các nước thành viên thuộc hiệp định TPP như Úc và Nhật Bản. Nếu RCEP được ký kết thành công, vị thế của Trung Quốc trong khu vực sẽ mạnh hơn, nhất là đối với các nước Châu Á. Bên cạnh đó, Trung Quốc còn kêu gọi các nước Châu Mỹ La Tinh tham gia hiệp đinh RCEP nhằm giảm dần tầm ảnh hưởng của Mỹ đối với khu vực này- nơi được coi là “sân sau” của Mỹ. Trong những năm gần đây cả Trung Quốc và Nga đang đẩy mạnh đầu tư các nước Châu Mỹ La Tinh. Kể từ năm 2005, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc đã “bơm” 120 tỷ USD vào khu vực này. Năm 2008, Nga đã gửi quân đội đến một số quốc gia như Venezuela, Brazil và một số nước khác trong khi cắt giảm ký kết khai thác dầu ở Mexico.

 

Quốc tế vẫn chống bảo hộ

Hội nghị thượng đỉnh Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) vừa kết thúc tại thủ đô Lima của Peru có thể sẽ là một trong những hội nghị APEC nổi bật nhất trong lịch sử của thế kỷ 21, khi nó chứng kiến một sự chuyển dịch kịch tính đối với các xu hướng chủ đạo của nền kinh tế toàn cầu. Mỹ, quốc gia sở hữu nền kinh tế số một thế giới, đang trở thành tâm điểm của sự chỉ trích khi tuyên bố chung của hội nghị đã chỉ đích danh nước Mỹ như một điển hình của xu hướng bảo hộ thương mại sau khi Donald Trump đắc cử tổng thống. Trong khi đó, nền kinh tế số hai thế giới là Trung Quốc lại đang nổi lên như quốc gia ủng hộ mạnh mẽ nhất cho tự do thương mại toàn cầu. Chưa bao giờ vị thế của nước Mỹ, của nền kinh tế Mỹ lại trở nên suy yếu và bị nghi ngờ nhiều đến thế trong một hội nghị thượng đỉnh hàng đầu như APEC.

Có thể nói, những gì diễn ra tại hội nghị thượng đỉnh APEC tại Peru vừa qua là phản ứng quyết liệt và dữ dội nhất của các nền kinh tế hai bờ Thái Bình Dương trước kết quả bầu cử tổng thống Mỹ 2016, nơi ứng cử viên có xu hướng bảo hộ và phản đối tự do thương mại Donald Trump là người đắc cử. Lãnh đạo 21 nước thành viên APEC đã kết thúc hội nghị thượng đỉnh diễn ra hàng năm này với lời kêu gọi chống lại chủ nghĩa bảo hộ trong bối cảnh sự hoài nghi về tự do thương mại đang ngày càng gia tăng, mà điển hình là việc Donald Trump đắc cử tổng thống Mỹ. Nó được thể hiện rõ ở tuyên bố chung của các nước thành viên hội nghị: “Chúng tôi tái khẳng định cam kết sẽ mở cửa các thị trường nội địa của mình và chiến đấu chống lại tất cả các hình thức của chủ nghĩa bảo hộ”.

Tuyên bố chung này là đòn phản công của quốc tế đối với chiến thắng của ông Trump, khi nó đồng nghĩa với một thông điệp chung: Tất cả các nền kinh tế ở hai bờ Thái Bình Dương phản đối và không ủng hộ lập trường bảo hộ và chống lại tự do thương mại của vị tân tổng thống Mỹ. Bài phát biểu sau đó của tổng thống nước chủ nhà Peru Kuczynski càng làm nổi bật hơn vấn đề: “Chủ nghĩa bảo hộ trên thực tế là một sự phản ánh về tình trạng khó khăn mà các nền kinh tế đang gặp phải. Đây là một điều đáng lo ngại khi kết quả bầu cử tại một số nền kinh tế lớn nhất thế giới thời gian qua đã phản ánh xu hướng chống lại thương mại tự do”. Ông Kuczynski cho rằng, kết quả bầu cử tổng thống Mỹ 2016 và nước Anh bỏ phiếu Brexit rời khỏi EU theo xu hướng bảo hộ là một sự trái ngược với thực tế rằng hầu hết các nền kinh tế trên khắp thế giới đều đang chung tay hỗ trợ thúc đẩy thương mại toàn cầu để lấy lại sự thịnh vượng trước đây.

 

Quan hệ thương mại Mỹ – Việt

Sau khi hiệp định TPP được coi là “chết lâm sàng”, luật sư Sesto Vecchi của hãng luật quốc tế Russin & Vecchi trong một bài viết cho tờ The Hill có trụ sở ở Washington DC đã khuyến nghị, Mỹ nên tập trung vào một hiệp định thương mại song phương với Việt Nam với các điều khoản đã được thương lượng về cắt giảm thuế và bảo hộ lao động trong TPP. Ông Vecchi, với hơn 35 năm kinh nghiệm hành nghề luật, coi Việt Nam là một trường hợp đặc biệt để Mỹ xem xét trong bối cảnh Trung Quốc đang tìm cách theo đuổi một hiệp định thương mại khác với các nước trong khu vực để thay thế TPP. TPP là một trong 3 hiệp định thương mại và đầu tư lớn nhất mà Mỹ từng thương lượng trong kỷ nguyên hậu chiến tranh. Hiệp định này xóa bỏ 18.000 loại thuế đối với các mặt hàng và dịch vụ của Mỹ và do đó sẽ làm tăng lượng hàng xuất khẩu và đầu tư của Mỹ vào châu Á.

Theo lập luận của luật sư hàng đầu của hãng luật có nhiều văn phòng trên toàn cầu, Việt Nam là một thị trường phát triển nhanh nhất đối với hàng xuất khẩu của Mỹ. Năm 2015, lượng hàng xuất khẩu từ Mỹ sang Việt Nam có mức tăng 24%/năm với tổng doanh thu lên tới 7.1 tỷ đô la và với các các loại thuế bảo hộ được xóa bỏ, theo các điều kiện thương lượng trong TPP, thì con số này sẽ tăng gấp đôi vào năm 2020. Hơn thế nữa, Mỹ là thị trường lớn nhất cho hàng xuất khẩu của Việt Nam. Việt Nam xuất khẩu gần 16 tỷ đô la hàng may mặc và giày dép vào Mỹ năm 2015 với các nhãn hàng nổi tiếng của Mỹ như Nike, Ralph Lauren và Calvin Klein. Mặc dù phải chịu mức phí lớn hơn do tiêu chuẩn về môi trường và lao động cao hơn, như các điều kiện của TPP đã được thương thảo, nhưng các nhà xuất khẩu của Việt Nam sẽ có những lợi ích lớn khi được hưởng thuế suất thấp hơn vào Mỹ và gia tăng thị phần trên thị trường Mỹ.

Tuy nhiên, nhà nghiên cứu Trần Trường Thủy của Học viện Ngoại giao lại cho rằng với một hiệp định thương mại song phương như trên, Việt Nam sẽ không có nhiều lợi ích như Mỹ. Trên trang Twitter của mình, ông Thủy viết khi phản ứng về nhận định của luật sư Vecchi rằng: “Một TPP song phương sẽ làm thay đổi quan hệ thương mại Mỹ theo hướng là chỉ có lợi cho người Mỹ”. Còn trong bài viết của mình, luật sư Vecchi nói một hiệp định thương mại song phương sẽ làm thay đổi mối quan hệ thương mại Việt-Mỹ theo hướng sẽ có lợi cho cả 2 bên nhưng cũng có người bị thiệt thòi. Theo phân tích của ông, công nhân Mỹ sẽ là những người được hưởng lợi nhiều nhất, vì hàng nghìn việc làm với mức lương cao sẽ được tạo ra nhờ vào việc xuất khẩu của Mỹ sang Việt Nam trong tương lai và Việt Nam sẽ có được những tiêu chuẩn bảo vệ cao hơn cho môi trường và người lao động trong nước. Người bị thiệt thòi nhất, theo ông Vecchi là các nhà xuất khẩu Trung Quốc, vì họ sẽ mất đi thị phần và công việc do sự cạnh tranh tăng cao của Việt Nam./.
Nguồn Văn nghệ số 49/2016

Cuộc hội ngộ của hai kẻ cựu thù tại Paris năm 1895

  •   LÊ NGUYỄN tăng kích thước chữ
Vua Hàm Nghi những năm cuối đờiVua Hàm Nghi những năm cuối đời

Trong lịch sử gần 100 năm thuộc Pháp, vua Hàm Nghi là vị hoàng đế duy nhất đã rời bỏ kinh thành để mưu cuộc kháng chiến, với sự phò tá của những quan lại giàu lòng yêu nước như Tôn Thất Thuyết và hai con (Tôn Thất Đạm, Tôn Thất Thiệp), như Lê Trực, Nguyễn Phạm Tuân…, những con người luôn coi sự tồn vong của đất nước quan trọng hơn sự an nguy của gia đình mình.

***
Kể từ cái ngày được sử gọi là “thất thủ kinh thành” 5.7.1885 đến ngày cựu hoàng Hàm Nghi rơi vào tay giặc (2.11.1888), một thời khoảng hơn 3 năm đã trôi qua, lời hịch Cần vương đã khơi dậy những phong trào chống Pháp sôi nổi: Phan Đình Phùng ở Hà Tĩnh, Đinh Công Tráng ở Thanh Hóa, Cai Kinh, Hoàng Hoa Thám ở Lạng Giang và Yên Thế, Nguyễn Thiện Thuật ở Hưng Yên… Riêng vùng rừng núi Quảng Bình, cái “nôi” của phong trào Cần vương, có ba nhóm quân kháng chiến chống Pháp: một nhóm của Tôn Thất Đạm, được vua Hàm Nghi cử làm Khâm sai nên tướng sĩ vẫn quen gọi là Khâm Đạm, giữ nhiệm vụ chính là hậu cần cho quân kháng chiến trong vùng và hoạt động trong khu vực phía Bắc Quảng Bình, giáp với Hà Tĩnh để chiêu mộ thêm nghĩa sĩ. Gần nhà vua hơn, có hai nhóm kháng chiến chủ lực, một của Tá sự Nguyễn Phạm Tuân (được vua Hàm Nghi phong hàm Thượng thư) hoạt động trong phạm vi huyện Tuyên Hóa, một của Đề đốc Lê Trực, được người dân thời đó gọi một cách thân thiết là Đề Lê, hoạt động quanh khu vực làng Thanh Thủy, phủ Quảng Trạch là quê của ông (nay thuộc xã Tiến Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, nơi có mộ phần của ông).

Vua hàm Nghi khi mới bị Pháp bắt

 

Trong thời gian trước cuối năm 1886, hoạt động của nghĩa quân trong khu vực Quảng Bình-Hà Tĩnh là một mối bận tâm lớn của thực dân Pháp, họ phải nhờ sự giúp sức của hàng giáo sĩ Pháp tại địa phương, tiêu biểu là giáo sĩ Tortuyaux, một điềm chỉ viên rất đắc lực của Pháp. Cuối năm 1886, cuộc đối kháng Việt-Pháp tại Quảng Bình có những chuyển biến mới. Một sĩ quan Pháp là đại úy Mouteaux đã đưa quân ngược dòng sông Gianh (tên ghi trong các sử liệu cổ là Linh giang), thiết lập một đồn bót mới tại Minh Cầm, nằm phía trên làng Thanh Thủy, khống chế các đường liên lạc, tiếp tế của hai nhóm nghĩa quân Nguyễn Phạm Tuân và Lê Trực. Chiến thuật của Mouteaux quả đã gây khó khăn rất nhiều cho hai cánh quân trên. Ngày 8.4.1887, do sự phản bội của một thủ hạ, Nguyễn Phạm Tuân cùng binh sĩ thuộc quyền bị quân của đại úy Mouteaux tấn công bất thần tại làng Yên Hương, ông chỉ kịp quơ vội thanh gươm lệnh, chiếc tráp dựng ấn tín của vua Hàm Nghi cùng một số giấy tờ của viện Cơ Mật rồi tìm đường thoát chạy. Nhưng không kịp nữa, Nguyễn Phạm Tuân trúng một viên đạn của giặc vào mạng sườn và qua đời hơn một ngày sau. Mất chủ tướng, lực lượng của Nguyễn Phạm Tuân tan rả dần. Với Đề đốc Lê Trực, Mouteaux áp dụng một chiến thuật khác: dùng lời lẽ thuyết phục ông bãi binh. Thư qua thư lại nhiều lần giữa hai người, song cuối cùng Mouteaux vẫn không làm xoay chuyển được ý chí kiên quyết chống Pháp của Lê Trực. Dù sao lịch sử chống Pháp cũng ghi nhận một mối quan hệ thú vị giữa hai kẻ thù khác màu da, mỗi người có một trách nhiệm không thể nào dung hòa với nhau được, nhưng vẫn đối xử với nhau bằng sự lịch sự, hòa nhã và tôn trọng nhau bằng một thứ tình cảm phóng khoáng nhất. Về sau, trong những giấy tờ do Mouteaux để lại, người ta tìm thấy gần đầy đủ những bức thư trao đổi giữa ông ta và Đề đốc Lê Trực (L. Cadière – Quelques papiers du capitaine Mouteaux-Bulletin des Amis du Vieux Hue (BAVH) No 1-1-2/1944). Chúng giúp làm sáng tỏ nhiều điều trong cuộc kháng chiến chống Pháp của vua Hàm Nghi cùng tướng sĩ vào những năm 1886-1887 tại Quảng Bình.
Có thể đánh giá Mouteaux là sĩ quan Pháp đã gặt hái được nhiều thành công trong việc làm suy yếu khả năng đề kháng của các lực lượng nghĩa quân chống Pháp trong phạm vi Quảng Bình, cái nôi của phong trào Cần vương. Song bên cạnh niềm vui đó, ông ta vẫn còn ray rứt mãi về chuyện đã không thực hiện được mục tiêu tối hậu của chiến dịch tại Quảng Bình là bắt sống vua Hàm Nghi. Ngày 7.10.1887, Mouteaux rời đồn Minh Cầm, bàn giao công việc lại cho đại úy Troupel, lòng ray rứt mãi với hồi ức về một buổi sáng hành quân trong thời gian ông ta còn ở Quảng Bình. Đó là buổi sáng một ngày tháng 7.1887, Mouteaux dẫn quân từ đồn Minh Cầm lên Khe Ve, bao vây cả xóm Thằng Cuộc, rồi ngược dòng sông Rào Nậy (một chi nhánh của sông Gianh), tìm Trương Quang Ngọc, một trong những thủ hạ gần gủi nhất của vua Hàm Nghi có tin là đang ở xóm Chà Mạc. Trên đường đi, thuyền của Mouteaux chạy ngược dòng với thuyền do một người phụ nữ đứng tuổi chèo, trên thuyển có một thiếu niên độ 15-16 tuổi ăn mặc trông nghèo nàn nhưng áo quần sạch sẽ. Viên đại úy Pháp ra lệnh dừng chiếc thuyền đó lại và lục soát. Người phụ nữ chèo thuyền và người thiếu niên lộ vẻ bối rối, song vẫn tỏ ra thân thiện với toán lính Pháp. Mouteaux từng nghe kể rằng vua Hàm Nghi luôn mang theo mình một ống điếu hút thuốc bằng gỗ có khảm hoa văn nên ra lệnh lục soát kỹ nhưng không tìm thấy gì. Sợ rằng dây dưa lâu sẽ làm trễ nãi cuộc hành quân, ông ta cho thả thuyền đi. Nhưng khi tới Chà Mạc, Mouteaux gặp toán quân của thượng sĩ Bosché đã đến trước và biết rằng Trương Quang Ngọc vừa trốn khỏi nơi ở, bỏ lại tại nơi ở nào giáo mác, nỏ, tên độc, bàn đèn thuốc phiện…( L. Cadière sách dẫn trên, trang 81 và Ch. Gosselin – L’Empire d’Annam – Paris 1904, trang 295). Viên đại úy Pháp giật mình, linh cảm rằng ông ta vừa để thoát vua Hàm Nghi, tức chàng thiếu niên trên chiếc thuyền mà ông ta vừa cho lục soát.

Khi rời Minh Cầm, Mouteaux mang theo nỗi ám ảnh về chàng thiếu niên 15-16 tuổi mà ông ta đã gặp trong cuộc hành quân vào một ngày tháng 7. Không lâu sau ngày 2.11.1888, tức ngày thực dân Pháp bắt được vua Hàm Nghi tại một ngôi nhà nhỏ trên thượng nguồn sông Gianh, báo chí Pháp tại Paris in hình nhà vua được chụp lén trong thời gian bị áp giải từ Quảng Bình về cửa Thuận An, coi như đó là một thắng lợi quan trọng trong nỗ lực dập tắt các phong trào kháng chiến tại Việt Nam. Mouteaux đã có dịp nhìn xem bức ảnh nhà vua trên báo và không rõ do mối ám ảnh cũ hay từ một linh cảm xác thực, ông ta tin rằng chàng thiếu niên mình đã gặp trên sông dạo nào chính là vua Hàm Nghi.
Năm 1895 (Ch. Gosselin ghi là năm 1893), Mouteaux tình cờ được giới thiệu với cựu hoàng Hàm Nghi tại Câu Lạc Bộ Quân đội trên đại lộ Opéra của thành phố Paris (Pháp). Ông từ Alger sang thăm thủ đô nước Pháp. Hai kẻ cựu thù từng nghe nói về nhau từ lâu, nay mới gặp mặt. Mouteaux coi đấy là dịp may nghìn năm một thuở có thể giúp ông ta giải tỏa nỗi ám ảnh đã đeo đẳng trong hơn 7 năm trời. Cựu hoàng ngồi nghe ông ta kể lại chi tiết vụ “chạm trán” với chàng thiếu niên trên sông vào một buổi sáng tháng 7 năm 1887 bằng một thái độ chăm chú và nụ cười nhẹ nhàng, nhưng cuối cùng ông đã làm cho Mouteaux thất vọng khi tránh không trả lời thẳng vào câu hỏi ông có đúng là chàng thiếu niên đó không. Thái độ xử sự ấy không chỉ với riêng Mouteaux mà theo những người Pháp đã quen biết với cựu hoàng Hàm Nghi trong thời gian ông sống lưu đày ở Alger, ông luôn ít nói, đặc biệt không bao giờ nhắc lại hay trả lời những câu hỏi liên quan đến năm tháng trị vì và quảng thời gian hơn ba năm trời bôn ba trong vùng rừng núi Quảng Bình.

****
Tháng 11 năm 1904, cuộc sống lưu đày của cựu hoàng Hàm Nghi lật sang một trang mới. Ông cưới cô Marcelle Laloe, con gái ông chánh án tòa thượng thẩm Alger. Trong cảnh sống lưu đày, không chút hi vọng trở về quê hương, ông đã chấp nhận cuộc hôn nhân này như một định mệnh. Một trong những điều đáng quý nhất ở ông là trong suốt cuộc sống lưu đày 55 năm nơi xứ người (1889-1944), hầu như không bao giờ ông rời bỏ chiếc khăn đội đầu và bộ y phục thuần Việt. Vào giữa thập niên 1990, trong những dịp tiếp xúc với ông Nguyễn Phúc Vĩnh Cầu, con trai út cựu hoàng Thành Thái, sinh năm 1924 tại đảo Réunion, người viết bài này được nghe ông kể rằng vào khoảng năm 1935-1936, bữa nọ có một người khách phương xa ghé lại đảo Réunion tìm thăm cựu hoàng Thành Thái. Sau những giây phút bỡ ngỡ đầu tiên, người nhà mới được biết người khách lạ đó chính là cựu hoàng Hàm Nghi. Xét về vai vế trong hoàng tộc nhà Nguyễn, cựu hoàng Hàm Nghi (Ưng Lịch) ở vào hàng chú của cựu hoàng Thành Thái (Bửu Lân), hàng ông của cựu hoàng Duy Tân (Vĩnh San). Phút trùng phùng thật cảm động, vì cả ba cựu hoàng đều là những ông vua yêu nước đang sống cảnh lưu đày. Trong buổi gặp đó, cựu hoàng Thành Thái có ý muốn để cựu hoàng Duy Tân sang Alger sống cùng ông chú, song cựu hoàng Hàm Nghi ngần ngừ, không trả lời dứt khoát. Từ đó cho đến ngày ông nhắm mắt trên xứ người, quê hương vẫn là một hình ảnh luôn hiện diện trong trái tim ông; điều đó thể hiện trong cung cách ông giáo dục ba người con mang hai dòng máu Việt-Pháp: hai công chúa Như Mai, Như Lý và ông hoàng Minh Đức.

 

 

Nguồn:fb Lê Nguyễn

Đăng bởi: Ngô Minh | 04.12.2016

Lòng Dân

Lòng Dân

  •   KHÁNH LINH giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ

Gần cuối buổi Liên hoan gia đình văn hóa tiêu biểu của Phường, cô nhân viên vui vẻ đưa cho tôi 10 ngàn đồng kèm lời giải thích gửi chú tiền chế độ họp sáng nay. Thú thật là tôi hơi giật mình vì đã lâu lắm rồi tôi không biết đến chế độ hội họp như thế này.

May mà trước đó quan sát thấy bà con khối xóm ai cũng đón nhận tờ bạc nhỏ xíu và mỏng manh với thái độ rất trân trọng nên tôi không thể có thái độ gì khác.

Bây giờ nhớ lại, tôi vẫn thấy tự ngượng cho bản thân. Cái con người tôi đã quá nhiều lần tham dự các cuộc hội nghị long trọng của hàng tỉnh. Rồi đi họp báo, khai trương, động thổ … hoa hòe giăng mấy dãy, cờ đèn phủ rợp trời. Ra về được gửi cái túi quà trong đó kiểu gì cũng có vài bài báo quảng bá ring rang, ít hiện vật và cái phong bì. Riêng cái phong bì nhẩm ra có khi còn hơn cả chục, thậm chí cả trăm lần cái chế độ mà cô nhân viên phường đã gửi.

Tôi để ý thấy trong suốt buổi Liên hoan, bà con không nói những chuyện cao siêu, không GDP, CPI, không Tái cấu trúc, không Tập đoàn kinh tế gì hết. Họ nói những chuyện trong nhà họ và chuyện bên cạnh họ. Một công chức đã nghỉ hưu, cộng thu nhập của hai vợ chồng chưa đầy 5 triệu đồng nhưng nghĩ mình là đảng viên nên bấm bụng chắt chiu dàn mỏng số tiền để nuôi mẹ già và 2 con ăn học. Một doanh nhân lên báo cáo điển hình mà chân thật như lời tự thú vợ chồng nhờ khôn khéo vận dụng được cơ chế nhà nước nên có tiền làm từ thiện giúp người nghèo để thanh thoát nội tâm. Rồi mọi người đua nhau hát say sưa những bài ca ngợi Đảng, ca ngợi Bác Hồ và quê hương đất nước. Không khí thật hồn nhiên và trong sáng vô cùng.

Họ đều là những đại biểu nhận 10 ngàn đồng chế độ như tôi.

Tôi kể câu chuyện này với một số đồng nghiệp. Mấy đứa bảo tôi dở hơi, thời buổi này ai thừa công để ý tới chuyện vặt vãnh nơi đầu phố cuối ngõ vậy.

Tôi lại nghĩ điều khác, nghĩ về tấm lòng của người dân.

Sáng ra ngồi quán nước, gặp mấy bác cựu chiến binh đang đợi nhau đi thăm đồng đội. Câu chuyện lan man từ Triều Tiên và Ấn Độ phóng tên lửa rồi quay về xăng đã tăng giá, hàng trăm doanh nghiệp đang chết lâm sàng và mấy lâu nay Trung ương 4 có vẻ lại mất lửa Diên Hồng rồi. Mỗi người một câu, ồn ào, có lúc tranh luận lên như cao trào, căng lắm. Căng nhưng lại rất hòa đồng vì xem ra nỗi niềm ai cũng giống ai.

Thời nào cũng vậy, tấm lòng của người dân không có gì màu mè, nó bộc trực và rải dọc suốt cuộc sống thường ngày. Nếu chịu khó lắng nghe thì ở bất kỳ đâu cũng có thể bắt sóng được đủ tâm trạng và đủ sự suy tư của đủ loại thảo dân.

Trong đám bạn học cấp 3 dạo trước, nay chỉ mình tôi là có dính một tý vào ghế quan trường. Thỉnh thoảng gặp nhau mấy anh doanh nghiệp tư nhân là nổ mạnh nhất. Có đứa còn chỉ vào mặt tôi loại đảng viên có chức có quyền như mày mới thường có những suy nghĩ bẩn thỉu thôi, thảo dân họ đàng hoàng lắm, tốt lắm. Tôi cũng choáng luôn. Nhưng kể ra nó chửi thế cũng không oan. Ngẫm lại tôi thấy có lúc mình đúng là không được người lớn như đám bạn bè, bụng dạ cũng đầy những toan tính mờ ám về điều này chuyện nọ và tiền hậu cũng lắm khi bất nhất. Họp hành cứ nói liên miên về tu dưỡng đạo đức, rèn luyện phẩm chất… nhưng nói vậy mà có làm được vậy đâu. Nó giống như câu chuyện người Mông nóiCái Đảng ở trên cây (ý chỉ cái loa phát thanh) thì mình rất thích  nghe nhưng cái Đảng ở dưới đất (ý chỉ các đảng viên cụ thể) thì mình chưa theo được gì cả.

Bây giờ Đảng đang triển khai Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI). Tôi thấy cái sự lạ là không ai tổ chức nhưng người dân cũng đang tự làm Trung ương 4 theo tấm lòng của họ. Không tài liệu, không loa đài, không báo cáo viên mà họ cứ đau đáu những tâm sự lo cho Đảng khó mà chống được suy thoái, lo cho Đảng bị bộ phận không nhỏ thao túng lộng quyền. Tôi lại nhớ sáng hôm ngồi ở quán nước, bà chủ quán bỗng nhiên nẩy ra điều ước giá như Cụ Hồ mà sống lại thì loại tặc quan đó chắc chắn phải tìm lỗ nẻ mà chui. Rồi trở lại chuyện của Nghệ An, ông cựu Đại tá khen bài phát biểu của Bí thư Tỉnh ủy quán triệt Nghị quyết 4 rất hay nhưng vẫn xa xôi quá, chung chung quá. Lòng dân đang muốn làm Trung ương 4 là phải làm rất cụ thể. Không làm được nhiều thì cũng phải tập trung vào một số chuyện đã và đang gây ra những nghi hoặc trong dư luận nhân dân. Ví như chuyện nếu có quan chức nào lỡ làm sân sau cho một số dự án hoặc quan chức để vợ con đi vay cả hàng trăm tỷ kinh doanh bất động sản bị vỡ nợ thì cũng phải sớm có cơ chế mà chấn chỉnh. Nói thì nghe khó chịu là vậy nhưng người dân lại rất nhân từ và độ lượng, chỉ mong sau Trung ương 4 Đảng ta và cán bộ đảng viên được tốt hơn lên.

Sàng đi lọc lại, tôi nhận ra cái tấm lòng đầy trăn trở và cái khát vọng vô cùng chính đáng của người dân trước thời khắc khó khăn của Đảng và dân tộc.

Muôn đời lòng dân vẫn trong sáng thế. Và lòng dân càng sáng thì trách nhiệm của chúng ta càng phải nặng nề thêm để thảo dân một lần nữa có được chỗ mà vững tâm neo đậu niềm tin.at

Đăng bởi: Ngô Minh | 04.12.2016

Hà Nội và tiếng leng keng tầu điện xưa

Hà Nội và tiếng leng keng tầu điện xưa

Thu Hằng– RFI
Hà Nội và tiếng leng keng tầu điện xưa

Tầu điện trên phố Đinh Tiên Hoàng năm 1979.Flickr.com

Trong suốt nhiệm kỳ toàn quyền (1897-1902), Paul Doumer bỏ nhiều công sức để cải tiến cấu trúc thuộc địa và phát triển cơ sở hạ tầng tại Đông Dương. Dù bị chỉ trích vì cách quản lý độc đoán và sau này bị triệu về Pháp để giảm bớt căng thẳng với Anh Quốc trong tranh chấp biên giới tại Vân Nam (Trung Quốc), Paul Doumer đã khởi xướng hay cho hoàn thiện rất nhiều công trình quan trọng làm thay đổi cảnh quan Việt Nam.

Cũng trong giai đoạn này, Hà Nội trở mình mạnh mẽ để đóng vai trò trung tâm hành chính của Đông Dương. Cũng nhờ Paul Doumer, lúc đó là một trong số nhà quản lý của Tổng Công ty Điện lực (Compagnie général d’électricité, trước đó là Công ty Điện lực Normandie (Société normande d’électricité), do Pierre Azaria thành lập tại Pháp), nên Hà Nội trở thành đô thị đầu tiên tại châu Á có điện thắp sáng. Năm 1897, công suất cơ học của nhà máy điện là 300 mã lực được nâng lên thành 850 mã lực để đáp ứng nhu cầu sử dụng của người đặt mua và của thành phố.

Đây cũng là điều kiện tiên quyết để phát triển hệ thống xe điện nối trung tâm Hà Nội với các vùng lân cận. Chính quyền thuộc địa hy vọng phương tiện này đáp ứng được nhu cầu đi lại của dân cư mỗi ngày một đông. Hà Nội được mở rộng gấp 10 lần so với khu phố cũ và phát triển xứng tầm với một đô thị quan trọng cùng với hệ thống thoát nước, xe điện và nhiều công trình có quy mô lớn.

Theo cuốn Thành phố Hà Nội (Ville de Hanoi) do Chính phủ Đông Dương phát hành năm 1905 (Hanoi, Imprimerie G. Taupin et Cie, 1905), một công ty vô danh có vốn 2.750.000 franc đã nhận được hợp đồng nhượng quyền xây dựng và khai thác một hệ thống xe điện dài 12 km nối trung tâm Hà Nội và vùng ngoại ô. Hợp đồng được ký ngày 02/05/1899 giữa chính quyền bảo hộ Bắc Kỳ, thành phố Hà Nội cùng với các ông Courret, Krug và anh em nhà Durant.

Đến năm 1902, doanh nghiệp này thuộc quyền sở hữu của Công ty Điền địa Đông Dương (Société foncière de l’Indochine), trụ sở ở Paris, nhưng có chi nhánh kinh doanh và nhà máy sửa chữa đầu máy, đóng toa xe ở Thụy Khê (Hà Nội) từ năm 1901. Năm 1929, một lần nữa được đổi tên thành Công ty Xe điện Bắc Kỳ (Compagnie des Tramways du Tonkin) và trở thành Công ty Giao thông công cộng vùng Hà Nội (Transports en commun de la région de Hanoi) năm 1951 (L’Eveil économique de l’Indochine (Thức tỉnh kinh tế Đông Dương), 02/08/1931).

Tầu điện trên phố Hàng Đào năm 1940.Flickr.com

Trên dự án, thành phố Hà Nội có ba tuyến xe điện, xuất phát từ quảng trường Négrier (quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục ngày nay) với tổng chiều dài là 13.101,08 m, gồm: Tuyến A: Quảng trường Négrier (Bờ Hồ) – Bạch Mai (3.524,50 m) ; Tuyến B: Quảng trường Négrier – làng Giấy (5.433,67 m) ; Tuyến C: Quảng trường Négrier – Thái Hà Ấp (Kinh Lược) (4.131,91 m).

Trong cuốn hồi ký Tình hình xứ Đông Dương thuộc Pháp (Situation de l’Indochine française, Paris, Vuibert et Nony, Editeurs, 1905), toàn quyền Paul Doumer cho biết ngay năm 1900, công việc xây dựng nhà máy, lắp đặt đường ray và máy móc nhanh chóng được tiến hành và một phần hệ thống đã được khai thác. Hợp đồng cuối cùng được toàn quyền Đông Dương ký trước khi trở về Pháp là tuyến Bờ Hồ – Cầu Giấy (đường Sơn Tây, route de Sontay) vào tháng 11/1901.

Hợp đồng này nằm trong kế hoạch kéo dài thêm 8.100 m đường sắt, được thành phố Hà Nội lên kế hoạch vào năm 1905. Tuyến A được kéo dài từ Bạch Mai đến đường vành đai (route circulaire, ngã tư Đồng Lầm, nay là ngã tư Đại Cồ Việt-Lê Duẩn). Tuyến B được nối thêm từ Thụy Khuê lên chợ Bưởi. Tuyến C được kéo dài từ Thái Hà vào Hà Đông. Nhiệm vụ duy nhất của chính quyền là xây một cây cầu lớn bằng sắt bắc qua sông Nhuệ thay cho cây cầu gỗ cũ kĩ và không chịu được trọng tải của xe điện. Quá trình phôi thai đoạn kéo dài này mất tận 10 năm. Nhưng đến năm 1915, tuyến xe Hà Nội-Hà Đông vẫn nằm bên kia cầu mà không vào được trung tâm thị xã. Thay vì xây một cây cầu mới, Sở Công Chính lại chỉ cho gia cố bằng xi măng cây cầu cũ, thậm chí làm cả đường ray trên cầu.

Năm 1930, thành phố Hà Nội thông qua dự án xây một tuyến đường mới, dài khoảng 5.500 m, nối hai đầu đường Quan Lộ (Route Mandarine, một đoạn của đường Lê Duẩn ngày nay) từ ngã tư Đại Cồ Việt ngày này đến Yên Phụ, đi qua các phố Thiên Tân (rue Tientsin, nay là phố Hàng Gà) và Hàng Than. Như vậy, tính đến thời điểm này, Hà Nội có 5 tuyến tầu điện, với khoảng 27 km đường sắt, nối từ trung tâm Bờ Hồ với vùng ngoại ô : Bờ Hồ – Cầu Giấy, Bờ Hồ – Hà Đông, Bờ Hồ – Chợ Bưởi, Bờ Hồ – Chợ Mơ và một tuyến không qua Bờ Hồ là Yên Phụ – Bạch Mai.

Tầu điện, từ xa xỉ đến thân quen

Trong suốt 13 năm đầu khai thác, công ty luôn bị thua lỗ vì mua vé đi tầu điện vẫn là một điều xa xỉ với người dân nghèo. Họ thà đi bộ 2 km hơn là trả thêm 1 xu. Doanh thu từ xe điện chỉ tăng dần trong khoảng những năm 1920-1930, giữa hai cuộc Thế Chiến. Người dân dư giả hơn một chút và người nông dân sẵn sàng trả hai xu để tránh đi bộ 1 hoặc 2 km.

Thời Pháp thuộc, mỗi đoàn tầu chỉ có hai hoặc ba toa. Theo thống kê năm 1905, có 22 toa lái và 15 toa xe moóc. Xe điện hoạt động được nhờ một chiếc cần sắt dài, trên đầu có một cái ròng rọc để tiếp xúc với đường dây dẫn điện mắc ở phía trên song song với đường tầu. Thiết bị điện ở mỗi toa gồm hai động cơ lớn, mỗi chiếc có công suất 25 sức ngựa.

Đường sắt rộng một mét, giống hệ thống đường sắt Đông Dương. Mọi chi phí xây dựng và để tuyến đường đi vào hoạt động đều do nhà thầu chịu trách nhiệm. Hợp đồng nhượng quyền khai thác kéo dài 60 năm, sau đó sẽ thuộc về chính quyền thuộc địa, trừ thiết bị di động vẫn là tài sản của công ty. Chi phí và rủi ro trong quá trình khai thác hoàn toàn phụ thuộc vào nhà thầu, chính phủ không cấp bất kỳ khoản hỗ trợ nào.

Tầu điện và xe kéo, phố Hàng Bông (rue du Coton) và vườn hoa Cửa Nam (place Neyret), năm 1925.Flickr.com

Từ năm 1927, Công ty Tài Chính Pháp và Thuộc địa (Société financière française et coloniale, SFFC) của Octave Homberg sở hữu phần lớn cổ phiếu của Công ty Điền Địa, nhà thầu hệ thống xe điện Hà Nội, vì vậy vốn của công ty được tăng lên. Thương vụ này được công luận đánh giá cao vì cuối cùng, những toa tầu cũ từ gần 30 năm kêu ầm ĩ ngoài phố sẽ được tân trang và hiện đại hóa. Nhiều đường ray nhẹ được thay thế bằng đường ray nặng và các thiết bị cũ mòn được thay thế bằng thiết bị mới.

Theo tài liệu lưu trữ quốc gia Pháp về thế giới lao động (tại Roubaix, Pháp), năm 1951, vốn của Công ty Giao thông công cộng vùng Hà Nội (Transports en commun de la région de Hanoi) tăng lên thành 45,9 triệu franc và 114,7 triệu franc vào năm 1953. Đến ngày 01/06/1955, công ty ngừng hoạt động sau khi Pháp thất bại tại Đông Dương. Chính phủ nước Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam cam kết bồi thường cho công ty 300 triệu franc trong vòng 25 năm. Thế nhưng, ngay giữa năm 1959, các khoản nợ đã được thanh toán hết. Công ty Giao thông công cộng vùng Hà Nội giải thể vào năm 1962.

Từ năm 1968, tầu điện được phục hồi và phát triển để trở thành phương tiện công cộng quan trọng của thành phố phục vụ hơn 30 triệu lượt khách mỗi năm. Cho đến cuối những năm 1980, xe đạp và tầu điện vẫn là những phương tiện quen thuộc của người dân thủ đô.

Năm 1991, từ khi tuyến đường cuối cùng bị ngừng hoạt động, xe máy dần dần tràn ngập Hà Nội (chiếm 78% số lượng phương tiện giao thông) cùng với mức đô thị hóa và phát triển kinh tế xã hội cũng như dân số. “Hà Nội không vội được đâu” trở thành câu nói quen thuộc mỗi khi nhắc đến tình trạng tắc nghẽn giao thông.

Theo Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) tại Hà Nội, kể từ năm 2001, hệ thống xe buýt được tổ chức lại và được hy vọng là giải pháp thay thế cho phương tiện cá nhân, song vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu ngày càng tăng của giao thông nội đô. Trước tính cấp bách của tình trạng “khủng hoảng giao thông đô thị”, năm 2008, thành phố Hà Nội đã thông qua một kế hoạch chỉ đạo, trong đó dự kiến thiết lập một mạng lưới 5 tuyến tàu điện ngầm (dự kiến hoàn thành vào năm 2030). Cơ quan Phát triển Pháp tham gia tài trợ cho tuyến tầu điện ngầm số 3 từ ga Hà Nội đi Nhổn và được đánh giá là tuyến thí điểm.

Nhân chứng vụ bắt cóc đổi mạng tử tù Nguyễn Văn Trỗi

BBC

Nguyễn Văn Trỗi ra pháp trườngImage copyrightVNA
Image captionNguyễn Văn Trỗi bị xử bắn ngày 15/10/1964

Năm 1964, du kích cánh tả ở Caracas, Venezuela đã bắt cóc đại tá Michael Smolen, tùy viên quân sự Hoa Kỳ, nhằm đổi mạng tử tù Nguyễn Văn Trỗi.

Người chiến binh Việt Cộng này lúc đó đang chờ ngày bị tử hình vì đặt mìn mưu sát Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara trên cầu Công Lý ở Sài Gòn.

Phi vụ đổi người của du kích Caracas bất thành nhưng đã gây tiếng vang trong dư luận quốc tế lúc bấy giờ.

Mưu sát bất thành

Tháng 5/1964, biệt động nội thành Nguyễn Văn Trỗi nhận nhiệm vụ đặt mìn ở cầu Công Lý nhằm vào phái đoàn quân sự cao cấp của Chính phủ Hoa Kỳ do Bộ trưởng quốc phòng Robert McNamara dẫn đầu.

Nhiệm vụ này bại lộ, Nguyễn Văn Trỗi bị bắt tối 9/5/1964 và bị kết án tử hình.

Vụ ám sát McNamara qua báo chí đã đến với các thành viên phong trào cánh tả có cảm tình với Việt Cộng ở Mỹ Latin.

Nhân chứng vụ bắt cóc đổi mạng tử tù Nguyễn Văn Trỗi

Trong khi chờ đợi ngày ra pháp trường, du kích ở Caracas, Venezuela, thực hiện phi vụ bắt cóc đại tá Mỹ Michael Smolen nhằm đổi mạng cho Nguyễn Văn Trỗi vào hôm 9/10/1964.

Nhân chứng duy nhất của vụ bắt cóc đổi mạng năm 1964, Carlos Argenis Martínez Villalta, 72 tuổi, kể lại:

“Sự việc xảy ra vào buổi sáng ngày 9/10/1964. Một nhóm bốn người, trong có đồng chí David Salazar, đồng chí Carlos Rey Gómez và tôi lái xe đến phố Los Mangos và chờ bên ngoài khu căn hộ của nhân viên CIA cao cấp, đại tá Michael Smolen, tùy viên sứ quán Mỹ tại Venezuela.

Sáng đó ông ta đi làm muộn hơn thường lệ vì có ăn sáng với sếp của ông ta là Đại tá Henry Lee. Khoảng 8 giờ, thấy ông ta và Lee bước ra. Khi họ chuẩn bị lên xe thì xe của chúng tôi áp lại gần và tôi hô lớn: Đứng lại! Đây là giải phóng quân!

Henry Lee chạy mất nhưng chúng tôi đã bắt được Smolen, kéo lên xe của chúng tôi và chở đi.

Buộc phải thả

“Chúng tôi giữ ông ta ba ngày trong một căn hộ gần Đại lộ El Porvenir. Trên đường đi chúng tôi phải ngụy trang ông ta, cho đeo kính râm và đổi xe hơi ở Sabana Grande trước khi đến địa điểm cuối cùng.

Chúng tôi không tra tấn hay hành hạ gì ông ta. Chúng tôi cho ông ta ăn uống đầy đủ, chỉ khám người và có một nhóm canh gác ông ta. Chúng tôi nói với ông ta về cuộc chiến phi nghĩa của Hoa Kỳ ở Việt Nam, về các trận ném bom, về Nguyễn Văn Trỗi, tại sao chúng tôi lại thực hiện phi vụ này để đổi mạng ông ấy.

Phim 'Nguyễn Văn Trỗi' năm 1966Image copyrightXƯỞNG PHIM TRUYỆN HÀ NỘI
Image captionNguyễn Văn Trỗi đã đi vào nhiều tác phẩm nghệ thuật và tuyên truyền của miền Bắc

Sự kiện đã gây tiếng vang rất lớn, các báo đài đều nói về việc đại tá Mỹ bị bắt, dư luận rất nhiều. Thế nhưng có kẻ mật báo với cảnh sát về chúng tôi, chúng tôi bị truy lùng và buộc phải thả Smolen trước khi chúng tôi bị phát hiện. Chúng tôi chở ông ta bằng xe hơi và thả ông ta tại gần địa điểm mà chúng tôi bắt ông ta.”

Trong ba ngày, phe du kích Caracas không trực tiếp thương lượng được với chính phủ Hoa Kỳ về việc đổi mạng, nhưng thông tin về vụ bắt đại tá Michael Smolen, mà báo Mỹ nói là do “khủng bố Venezuela” thực hiện đã khiến việc tử hình Nguyễn Văn Trỗi tạm ngưng.

Đọc tin trên báo New York Times ngày 10/10/1964 ‘Khủng bố Venezuela bắt cóc đại tá Mỹ và đe dọa ông ta’

Tuy nhiên ngay sau khi du kích Venezuela, lúc đó còn hoạt động bí mật, buộc phải thả Smolen, chính quyền Sài Gòn đã mang Nguyễn Văn Trỗi ra pháp trường ngày 15/10/1964.

Năm đó biệt động viên này 19 tuổi và trước khi bị bắt mới lấy vợ được gần 20 ngày.

Sau đó hình tượng Nguyễn Văn Trỗi được sử dụng nhiều trong các tác phẩm nghệ thuật và tuyên truyền của miền Bắc.

Carlos Argenis Martínez Villalta nói: “Tôi rất buồn khi nghe tin Nguyễn Văn Trỗi bị tử hình, nhưng ông ấy không bao giờ chết. Ông ấy sống mãi. Người chiến đấu vì sự sống không bao giờ chết cả. Khi biết tin ông ấy vẫn bị xử tử, tôi rất đau đớn vì thực sự chúng tôi đã hy vọng là có thể thay đổi được tình hình.

Tất nhiên, nếu được làm lại tôi sẽ vẫn làm như vậy. Việc bắt cóc đại tá Mỹ là hành động đoàn kết với Việt Nam, với thế giới tiến bộ. Và để cứu mạng người muốn đặt bom giết McNamara. ”

Đăng bởi: Ngô Minh | 03.12.2016

TRANG THƠ NGƯỜI ĐẸP- THƠ BẠCH DIỆP

Bach DiệpNữ sĩ Bạch Diệp

TRANG THƠ NGƯỜI ĐẸP- THƠ BẠCH DIỆP  

QTXM: BẠCH DIỆP VẪN XINH ĐẸP NHƯ XƯA. THƠ VẪN HAY NHƯ XƯA NAY. THƠ CHỊ ĐÃ IN TRÊN CÁC  BÁO VÀ TẠP CHÍ : VĂN NGHỆ, NHÀ VĂN VÀ TÁC PHẨM, SÔNG HƯƠNG. QTXM XIN GIỚI THIỆU CHÙM THƠ MỚI NHẤT CỦA CHỊ

BẠCH DIỆP

Ở ĐÂY NÀNG KHÔNG CÔ ĐỘC

Nàng mang nỗi buồn từ xứ sở rét mướt
Phơi dưới nắng dã quỳ
Sau lưng là phố cũ mùa đông
Một mình giữa phòng chờ 
Một mình với chuyến bay xa lạ.

Những thiên thằn ca hát nơi thánh đường đá nâu
Thành phố như vòng tay ôm hoa
Những ngón tay ngọt ngào mùi quả chin 
Ở đây nàng không cô độc

Nàng hát thì thầm trong ngôi biệt thự cũ
Đọc một cuôn sách trong căn phòng tiểu thư con gái Chef ga
Ngắm mình trong chiêc gương của nàng
Nghe tiếng còi tàu trăm năm vọng về
Tím một nhành hoa thạch thảo

Ở đây nàng không cô độc
Đường lên dốc chợ bày đầy trái chín hoa tươi
Mùi đậu nành thơm ấm một góc đường
Những con dốc ngắn
Cho những ngôi nhà bên những hàng cây
Nương tựa.

Ngày đến đây nàng không còn khóc
Gió vén tóc ngọt ngào
Nắng dã quỳ dịu dàng trên vai
Như trẻ thơ êm trong giấc mơ ngàn hoa
Như người tình trong vòng ôm tin cậy

Một ngày có bốn múa
Xuân hạ thu đông cho ngày mai lại xuân
Nàng không một mình trên chuyến bay trở về
Mặt trời cao nguyên ấm bàn tay nhỏ (Đọc tiếp…)

Gò bồng đảo và lạch đào nguyên trong thơ Hồ Xuân Hương

 mai-van-hoanMai Văn Hoan

 

Trong thơ ca Việt Nam từ xưa đến nay có hai bức tranh phác hoạ vẻ đẹp thân thể của người phụ nữ được mọi người hết sức quan tâm. Chung quanh hai bức tranh này có rất nhiều lời bình phẩm, nhận xét, đánh giá khác nhau. Ở bài viết này, tôi muốn trao đổi thêm đôi điều về bức tranh Thiếu nữ ngủ ngày của Hồ Xuân Hương.

Khi đề cập đến bức tranh Thiếu nữ ngủ ngày, giáo sư Nguyễn Lộc có nhắc đến Nguyễn Du: Nguyễn Du tả cảnh Thuý Kiều tắm. Nhà thơ gọi cơ thể của Thuý Kiều là một toà thiên nhiên trong trắng ngọc ngà. Nhưng nhà thơ vẫn kiểu cách bày biện ra cái buổi tắm ấy “ Thang lan rủ bức trướng hồng tẩm hoa” chứ Hồ Xuân Hương thì không cần bày biện gì hết… (Hồ Xuân Hương. Tuyển thơ và bình – Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1986). Nguyễn Du nghiêng về vẻ đẹp hình thể, tổng quát. Thân thể của nàng Kiều “rõ ràng” mà không thật “rõ ràng” vì thiếu những “điểm nhấn”cần thiết. Ở bức tranh Thiếu nữ ngủ ngày, Hồ Xuân Hương đã bổ sung  thêm hai điểm nhấn hết sức quan trọng, càng tôn thêm vẻ đẹp tuyệt mỹ của thân thể người phụ nữ. Vì thiếu nữ “nằm chơi quá giấc nồng” giữa ban ngày ban mặt, lại vô ý để cho chiếc yếm đào “trễ xuống dưới nương long” nên mới lộ ra : Đôi gò Bồng Đảo sương còn ngậm / Một lạch Đào Nguyên suối chửa thông” ! Đúng là một vẻ đẹp thần tiên. Chỉ cảnh tiên mới có Bồng Đảo, mới có Đào Nguyên. Gò Bồng Đảo đã đẹp rồi “sương còn ngậm” lại càng đẹp hơn nữa. Lạch Đào Nguyên đã hấp hẫn rồi “suối chửa thông” lại càng hấp dẫn hơn. Tất cả hãy còn trinh nguyên! Cho dù nhà thơ vẫn sử dụng cách nói ẩn dụ nhưng cách nói ẩn dụ ở đây trực tiếp hơn, khác với cách nói ẩn dụ ở  các bài thơ Bánh trôi nước, Đèo Ba Dội, Hang Cắc Cớ… “Đôi gò Bồng Đảo” dẫu sao thì tôi cũng đã từng thấy đây đó ở các bức phù điêu, các bức tranh dân gian còn cái “lạch Đào Nguyên” trong thi ca và cả trong hội hoạ, điêu khắc trung đại Việt Nam thì quả thật tôi mới thấy lần đầu. Chỉ có Hồ Xuân Hương mới bạo dạn đặc tả cái “lạch Đào Nguyên” hết sức ấn tượng và tuyệt vời đến như vậy. Nhưng dù táo bạo đến mấy  thì Hồ Xuân Hương lẫn Nguyễn Du đều mang phong cách Á Đông. Người phụ nữ Phương Đông nói chung rất ít khi chủ động phô vẻ đẹp thân thể của mình cho mọi người nhìn ngắm. Dưới các triều đại phong kiến, điều đó càng ít xảy ra. Thuý Kiều tắm một mình, nàng đâu ngờ có chàng Thúc Sinh đang ngắm trộm. Thiếu nữ vì “ngủ chơi quá giấc nồng” nên  mới vô tình để lộ “đôi gò Bồng Đảo”, “một lạch Đào Nguyên”. Nàng đâu biết có chàng “quân tử” đang “dùng dằng đi chẳng dứt / Đi thì cũng dở ở không xong”. Vì Nguyễn Du để cho chàng Thúc đứng ở góc khuất nên ít ai chú ý, tội nhất là chàng quân tử trong Thiếu nữ ngủ ngày của Hồ Xuân Hương. Tôi không hiểu vì sao người đời cứ  chê bai, dè bỉu chàng. Có một số vị còn quả quyết rằng Hồ Xuân Hương đã “trói chàng vào đây để cho chàng ê mặt cả bên ngoài lẫn bên trong”. Tôi thì tôi không nghĩ như vậy. Quả tình nữ sĩ có cười chàng quân tử thật. Nhưng là cái cười đầy rộng lượng và thông cảm. Mấy ai may mắn có được cái cơ hội trời cho như vậy! Đôi gò Bồng Đảo và một lạch Đào Nguyên đẹp như thế, trinh nguyên như thế ai mà không muốn nhìn, muốn ngắm. Chàng quân tử đang rơi vào một tình thế hết sức khó xử: đi thì quá tiếc nhưng cứ đứng nhìn mãi thì sợ bị người ta phát hiện mình đang nhìn trộm. Vì thế nên chàng mới “dùng dằng”. Hồ Xuân Hương rất hiểu tâm trạng của chàng. Đứng trước đôi gò Bồng Đảo, một lạch Đào Nguyên đẹp như vậy, nguyên trinh như vậy mà không biết chiêm ngưỡng mới là sự lạ, mới là bệnh hoạn. Không chỉ chàng quân tử ở trong bài thơ này mà ngay cảì những bậc hiền nhân, quân tử, những bậc anh hùng, vua, chúa trong các bài thơ Vịnh cái quạt, Đèo Ba Dội tôi cũng không hề thấy Hồ Xuân Hương mỉa mai, chế diễu họ. Đó là nụ cười của một người đàn bà từng trải, quá thấu hiểu bản tính của giới mày râu. Những bậc”hiền nhân, quân tử” thời nay đứng trước vẻ đẹp của “Đèo Ba Dội” thì cũng thế thôi “mỏi gối, chồn chân vẫn muốn trèo”. Chỉ có những kẻ hách dịch, luôn làm ra vẻ đạo mạo mới đáng chế diễu : Ban ngày quan lớn như thần / Ban đêm quan lớn tần mần như ma. Tác giả (thơ Nguyễn Công Trứ được dân gian hóa) tỏ thái độ khinh miệt hết sức rõ ràng : ban ngày – ban đêm, như thần – như ma đối nhau chan chát. Động tác “tần mần” của các vị quan này đã nói lên tất cả. Mà đâu chỉ thời phong kiến, các vị quan như thế ở thời nào mà chẳng có. Hai cách nói với hai mục đích khác nhau. Cách nói của Hồ Xuân Hương trong các bài Thiếu nữ ngủ ngày, Vịnh cái quạt, Đèo Ba Dội là nhằm tôn vinh cái đẹp trời cho của người phụ nữ. Còn cách nói  trong bài “Ban ngày quan lớn…” là nhằm vạch trần bản chất dâm ô của những vị tai to mặt lớn cường hào, hách dịch. Lối phê bình áp đặt có một thời khá thịnh hành ở nước ta và đến nay không phải là đã chấm hết.

Mấy năm lại đây, trong xu thế đổi mới, hoà nhập một vài cây bút trẻ có những cách nói khá táo bạo, gây ra không ít lời khen, tiếng chê. Riêng tôi, tôi vẫn thích Hồ Xuân Hương. Mặc dù hơn hai thế kỷ đã trôi qua  nhưng gò Bồng Đảo và lạch Đào Nguyên của Hồ Xuân Hương vẫn còn làm bao chàng quân tử dùng dằng… đi thì cũng dở ở không xong !

M.V.H

Cần thích ứng với một xã hội đa dạng về tư tưởng và lối sống

Mạc Văn Trang

Chúng ta đang sống trong thời đại toàn cầu hóa, hội nhập với các nền văn hóa, các thể chế chính trị, các lối sống khác nhau của các dân tộc, quốc gia trên toàn thế giới. Điều đó đòi hỏi ta phải có hiểu biết rộng mở, có thái độ tôn trọng, thân thiện với những sự khác biệt, vừa học hỏi vừa giữ được cốt cách độc đáo riêng của mình. Hướng ra bên ngoài đã như vậy, thì bản thân trong lòng xã hội của chúng ta cũng phải thay đổi theo hướng đó.

Xã hội ta hiện nay đã rất đa dạng, phức tạp, nhiều khác biệt về hệ tư tưởng, niềm tin, thái độ chính trị, lối sống, chứa đựng nhiều mâu thuẫn. Hiện trạng này đang diễn biến ngày một gia tăng. Nếu xảy ra những biến cố xã hội, những mâu thuẫn tiềm ẩn có thể sẽ bùng phát thành những xung đột xã hội nguy hiểm. Để phòng ngừa tình trạng đó, CHÍNH QUYỀN VÀ MỖI NGƯỜI DÂN đều cần thích ứng ngày càng cao hơn, ứng xử phù hợp với sự đa dạng, khác biệt, phức tạp về nhiều mặt của các tổ chức và cá nhân trong xã hội, nhằm hướng đến sự đồng thuận vì lợi ích chung của đất nước, của toàn dân.

1. Tôi thấy Chính quyền đã và đang thích ứng…

Về đối ngoại, chính quyền đã thích ứng rất linh hoạt với những đối tác có các thể chế, quan điểm… rất khác nhau để tìm một điểm chung nào đó, chẳng hạn:

– Đối với cựu thù “đế quốc mỹ xâm lược”, chính quyền cũng tay bắt mặt mừng, nâng lên hàng hợp tác toàn diện. TBT Nguyễn Phú Trọng sang Mỹ, hội đàm cùng TT Obama chia sẻ những điều quốc gia đại sự; Thường trực Ban bí thư Đảng CSVN Đinh Thế Huynh hội đàm cùng Ngoại trưởng Mỹ, ông này từng nói “Ở Việt Nam không thấy dấu vết của chủ nghĩa cộng sản, chỉ thấy chủ nghĩa tư bản cuồng nhiệt”… Ông Huynh chả cãi, vẫn tươi cười, bắt tay thân thiện…

– Đối với ông bạn Trung Hoa, dù chiếm Hoàng Sa, Gạc Ma của ta, gây hấn ở biển Đông, lòng dân oán hận, nhưng chính quyền vẫn hợp tác chiến lược toàn diện; TT Nguyễn Tân Dũng có lúc tuyên bố “Không đánh đổi chủ quyền lấy tình hữu nghị viển vông”, nhưng rồi gặp nhau lại ôm hôn, vỗ lưng nhau “bộp bộp”…

– Ông bạn Campuchia, thỉnh thoảng lai về hùa với Trung cộng, “chọc sườn” Việt Nam một cái, nhưng họ với ta gặp nhau vẫn ôm hôn thắm thiết, luôn thề thốt, sống chết có nhau, không quên ơn cứu khỏi họa diệt chủng…

– Còn với các doanh nhân đến từ khắp mọi nơi trên thế giới, mang theo hệ tư tưởng, quan điểm chính trị, niềm tin, động cơ, lối sống khác nhau, chính quyền đều “rải thảm đỏ” đón mời, thậm chí còn ưu ái quá mức, như đối với tập đoàn Formosa Đài Loan. Trong số họ có nhiều người ghét cộng sản, cười khẩy cái CNXH, “nói xấu” chính quyền dốt nát, nhiễu nhương, tham nhũng… nhưng họ vẫn được đối đãi như khách quý…

Vậy mà với đồng chí, anh em, bà con ta ở trong nước, khi không tin vào hệ tư tưởng Mac- Lê, không tin có CNXH, không thích cộng sản, phê phán chính quyền tham nhũng, thì bị ghét bỏ, thậm chí bị khủng bố, bị tù đầy, là sao? Người xưa dạy: “Khôn ngoan đối đáp người ngoài, gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”, sao chính quyền làm ngược lại? Bực thì nói vậy, nhưng nghĩ lại, chính quyền cũng đang có những chuyển biến về đối nội, thích ứng dần với xu thế xã hội, ví dụ như:

– Thử hỏi còn mấy đảng viên, quan chức có niềm tin vô thần cộng sản? Họ công đức xây đình, chùa, đền, miếu, cầu cúng thánh thần rất nhiệt tâm; họ xem tướng số, phong thủy, ngày tốt, giờ đẹp… công khai; họ có tin gì chủ nghĩa xã hội đâu, họ thi đua làm giàu bằng kinh tế tư nhân cá thể; họ chỉ muốn gửi con đi du học ở các nước tư bản, không phải học chủ nghĩa Mac – Lê, CNXH khoa học, đường lối chính sách của Đảng; học toàn hệ tư tưởng tư sản, về nước vẫn trọng dụng cơ cấu vào các cấp chính quyền. Như thế là chính quyền chấp nhận sự khác biệt đa nguyên về hệ tư tưởng, quan điểm, niềm tin… ngay trong bộ máy của mình, chứ còn gì nữa.

– Nhiều nhân sĩ trí thức ký tên gửi kiến nghị lên lãnh đạo cấp cao và công bố rộng rãi, rằng cần phải đổi mới thể chế chính trị, tránh độc quyền lãnh đạo, vì “quyền lực tuyệt đối, dẫn đến tha hóa tuyệt đối”; phải tam quyền phân lập, phải phát triển xã hội dân sự… chính quyền cũng tiếp nhận, tuy chưa làm theo, nhưng cũng không phản ứng tiêu cực…

– Hiện nay các tổ chức phi chính phủ (NGO) cũng khá phát triển; rồi đã có hàng chục hội, đoàn hoạt động độc lập có tính xã hội dân sự, chính quyền vẫn để yên, tuy Luật về Hội chưa được Quốc hội thông qua…

– Các trang mạng xã hội đăng nhiều tin bài phản biện mạnh mẽ, thậm chí có bài quá đáng, nhưng chính quyền cũng để yên. Nhớ cách đây hơn một năm, có cô giáo viết bình luận trên FB “ghét cái mặt kênh kiệu của chủ tịch tỉnh”, ông này đã lệnh cho “toàn hệ thống chính trị địa phương quyết liệt vào cuộc”, làm to chuyện: kiểm điểm cô giáo và những người like lời bình luận đó, còn phạt mỗi người 5 triệu đồng, ra chỉ thị răn đe… Nhưng Chính phủ đã yêu cầu dẹp ngay vụ đó, Chủ tịch tỉnh phải xin lỗi cô giáo… Chính quyền cũng phạt những trạng mạng đăng tin thất thiệt gây hại cho tổ chức hay cá nhân, như vụ đăng nước mắm truyền thống có chất gây ung thư… Dù sao, mạng xã hội ở ta đã và đang phát triển mạnh. Nhiều quan chức cũng có trang cá nhân trên mạng xã hội. Dư luận xã hội trên mạng đang là một kênh thông tin được chính quyền quan tâm cả mặt tích cực, lẫn tiêu cực. Đó là xu hướng tốt.

– Gần đây nhiều cuộc biểu tình đã được chính quyền đối xử ôn hòa hơn, các lực lượng chức năng không dùng bạo lực đàn áp, thì người biểu tình cũng biểu thị ôn hòa. Đây là điều hết sức quan trọng, chính quyền, nhất là các lực lượng an ninh càng cần thích ứng cao, để ứng xử ôn hòa với người biểu tình, tránh gây bạo lực để rồi kích động bạo lực tràn lan. Xu thế chuyển động của xã hội càng cho thấy Luật biểu tình ra đời lúc này rất cần thiết. Cả chính quyền và người dân đều phải tập luyện ứng xử với hành vi xã hội từ thấp lên cao, để thích ứng với các tình huống xã hội phức tạp, gay cấn, tránh xảy ra xung đột đáng tiếc.

Tóm lại, nhìn khái quát, thấy chính quyền đã và đang có chuyển biến để thích ứng với sự đa dạng, khác biệt, phức tạp về hệ tư tưởng, thái độ chính trị, niềm tin, lối sống của một xã hội đang phát triển năng động…

2. Mỗi cá nhân càng cần tự thay đổi để thích ứng…

Người ta nói, nhiều người “bảo hoàng hơn nhà vua” quả không sai. Chẳng hạn một số ông già viết bài phê phán, phản biện, gửi cho chính quyền, chính quyền vui vẻ tiếp nhận. Nhưng trong dân chúng lại có người chửi bới “mấy thằng già phản động”! Chỉ cần lướt qua các bình luận trên FB sẽ thấy ngay dân ta nhiều người vẫn đầu óc cứng nhắc, chứa đầy những định kiến nặng nề từ mấy mươi năm nay!

– Nhiều người vẫn còn tư duy “TA và ĐỊCH”, hễ ai khác “Ta”, ngược với “Ta” là “Địch” là “phản động”, quyết đấu tranh, lên án, loại bỏ… Đối với kẻ “phản động” thì phải “căm thù” đấu tố, bới móc, mạt sát như thời đấu địa chủ, đấu Nhân văn giai phẩm với thái độ hằn học, lời lẽ, hành vi thô lỗ… Họ chỉ biết mạt sát, chẳng đưa ra được lý lẽ gì để tranh biện một cách khách quan, trung thực, ôn hòa, tìm điểm tương đồng…

– Ngược lại, nhiều người trọng lòng vẫn chứa chất hận thù cộng sản, chưa thoát được lòng sân hận rất sâu xa, nên bất cứ cái gì liên quan đến cộng sản, bất chấp đúng, sai, phải trái là nguyền rủa, là sổ toẹt, bất hợp tác… Đây là bi kịch lớn của dân tộc ta. Nếu chúng ta không vượt qua được lòng sân hận, khép lại quá khứ, để đoàn kết, hợp tác, thì dân tộc ta cứ hận thù, chia rẽ mãi sao? Tôi đã thấy ở bên Đức, những người Việt biểu tình mang cờ đỏ sao vàng và cờ vàng ba sọc đỏ cùng hợp lại, hô vang khẩu hiệu chống Trung Cộng gây hấn ở Biển Đông… Đó là tín hiệu tốt đẹp. Vừa qua anh “Hùng Cửu Long” làm một thử nghiệm mạo hiểm và thú vị, anh mặc áo dài đỏ có ngôi sao vàng trước ngực xuất hiện tại Little Saigon bên Mỹ, nhiều bà con vốn là thuyền nhân tị nạn tại đây, đã phản ứng dữ dội, nhưng chưa đến nỗi bạo lực; cảnh sát Mỹ luôn bảo vệ an toàn cho anh. Anh muốn kêu gọi sự hòa hợp dân tộc và đây là một phép thử phản ứng thú vị. Để chấp nhận sự khác biệt, hòa hợp dân tộc, đòi hỏi một quá trình thay đổi nhận thức, thái độ, xóa bỏ định kiến, thoát khỏi lòng sân hận từ tất cả các bên, có khi phải qua một thế hệ; khi đó mọi người mở rộng lòng bao dung, vì tình yêu đất nước, ứng xử với nhau hòa hợp, thân thiện, văn minh…

– Còn nhiều người khác lại quen áp đặt chủ quan, chê bai, bài xích tất cả những ai khác với suy nghĩ, tình cảm của mình, nhiều khi khá thô bạo. Điều đó cũng rất bất lợi cho xu thế phát triển một xã hội dân chủ, tôn trọng quyền tự do biểu đạt suy nghĩ, tình cảm, thái độ, niềm tin, lối sống khác nhau, đa dạng, phức tạp trong một xã hội dân sự. Chẳng hạn như, một số bạn mắng mỏ những người xếp hàng vào sứ quan Cu Ba viếng Fidel Castro là “lũ ngu lâu”, là “bầy cừu”! Như vậy là xúc phạm đến quan điểm, tình cảm của họ. Bạn không thích, thậm chí rất ghét Fidel, nhưng không được gây thù nghịch với họ như vậy. Họ từng học tại Cu Ba, từng yêu quý Cu Ba và Fidel… đó là quyền bầy tỏ tư tưởng, tình cảm của con người, cần được tôn trọng.

Có bạn đi du lịch Hàn Quốc về, viết bài so sánh Việt Nam – Hàn Quốc mấy chục năm trước phát triển ngang nhau, nay Hàn Quốc như thiên đường…, bạn khác liền bình luận: “Cút mẹ mày sang thiên đường mà ở, ở đây làm gì”! Sao có thể thô lỗ như vậy. Đất nước này là của mọi người dân Việt do Tổ tiên tất cả chúng ta ngàn đời xây đắp nên, để lại cho các thế hệ con cháu, bạn có quyền gì mà đuổi người khác đi?

Khi GS Ngô Bảo Châu viết một câu cũng chẳng xúc phạm gì Cụ Hồ, thế mà mấy người xúm vào chửi té tát, bảo nhờ có Đảng, chế độ tạo điều kiện cho ăn học, nay “ăn cháo đá bát” (?). Ô, thế ở những nước không có đảng, chế độ này, người ta không thành tài sao? Mà nếu có “ăn” thì cũng là ăn vào tiền thuế của dân, chứ đảng có làm ra đồng nào? Bản thân đảng, chính phủ cũng đều ăn vào dân cả. Nếu có điều gì đó cần trao đổi, thì thiếu gì cách diễn đạt, sao chỉ quen đấu tố, thóa mạ nhau!

Ngay bài tôi viết “Xem Trump “cơ cấu” nhân sự”, vừa đưa lên FB, có trích một câu của ông Trương Tấn Sang …, một bác bình luận: “Không phải người Mỹ đừng viết về Trump; không phải ruột rà của ông Trương Tấn Sang, đừng có trích câu ông ấy nói”… (?).

Những cách ứng xử như vậy là trở ngại lớn cho sự đồng thuận, đoàn kết dân tộc theo xu hướng chấp nhận sự đa dạng, khác biệt, ngày càng phức tạp hơn về hệ tư tưởng, niềm tin, thái độ chính trị, quan điểm, lối sống của mỗi người, mỗi nhóm người trong xã hội. Vì vậy mỗi người chúng ta đều cần tự thay đổi để thích ứng một cách tích cực với xu thế đó. Ngày nay mạng xã hội chính là một trường học lớn để chúng ta tự học, tự thay đổi, nâng mình lên thích ứng với trào lưu tiến bộ của nhân loại. Dân giác ngộ đến đâu, chính quyền sẽ buộc phải thay đổi đến đấy!

Ngày 1/12/2016

MVT

Nguồn: FB Mạc Văn Trang

HOÀNG NGỌC HIẾN- TRIẾT HỌC ẨN DẬT TRONG VĂN HỌC

chu-van-son
CHU VĂN SƠN
 Tôi đọc ông sớm, biết ông cũng sớm. Nhưng phải đến lần cùng vào phương Nam trong mấy chuyến lưu giảng cho giáo viên đồng bằng sông Cửu Long các kì hè đầu những năm 2000, tôi mới có dịp được trò chuyện sâu cùng ông.

Nhà văn, nhà phê bình Hoàng Ngọc Hiến (nguồn Internet)

Đoàn chúng tôi gồm những nhà văn, nhà lý luận và giảng viên đại học, phần lớn vào từ Hà Nội. Tôi nhớ những ngày ở khách sạn Chương Dương Mỹ Tho, cứ dạy về, đoàn lại tản thành từng nhóm nhỏ, vừa tản bộ trong hoa viên trước sảnh, vừa nói đủ thứ chuyện trên giời dưới biển. Một chiều, khi chỉ còn hai chúng tôi, chuyện vãn thành tâm tình, tôi mới nói nhận xét của mình. Đại ý rằng tôi đã đọc ông hồi còn là học trò chuyên văn, từ cái Triết lý Truyện Kiều, có khi đó là cái đầu tay của ông cũng nên. Và sau đó, bất cứ cái gì ông viết tôi đều đọc hết. Rằng hồi ông còn dạy ở Nguyễn Du, tôi cũng đến nghe ké rất nhiều. Rằng tôi đã cố hết sức để định danh cho mình Hoàng Ngọc Hiến là ai. Rằng tôi thấy các danh xưng quen thuộc mà người ta vẫn dùng gọi ông: nhà lí luận văn học, nhà phê bình văn học, nhà nghiên cứu văn học… đều không hợp, không ra. Riêng tôi, tôi thấy dù văn học là điểm nhấn, nhưng hoạt động của ông chả bó riêng gì trong văn học, mà ra nhiều lĩnh vực khác nhau của văn hoá, và tôi luôn thấy cảm hứng bao trùm mọi cái viết của ông là triết học. Cái tạng ấy dường như đã được phát lộ ngay từ cái đầu tay đó. Vì thế phải gọi ông là nhà triết luận mới đúng, mới đủ, chứ các danh xưng kiểu kia chả đâu vào đâu. Ông gật gù và chỉ nói “có lẽ thế”. Khi ấy tôi nghĩ: vẻ tán thưởng này chỉ là giao đãi để làm hài lòng người trò chuyện, chứ ông chả để tâm, chắc sẽ quên ngay thôi. Nào ngờ, mấy tuần sau, khi ra Hà Nội rồi, một hôm ông gọi điện rủ tôi ra chơi. Cách tiếp trịnh trọng khiến tôi ngỡ ngàng. Ông bảo: sau khi cậu nói, mình mới xem xét toàn bộ những gì mình viết và thấy cậu rất có lí, cậu đã giúp mình hiểu rõ mình hơn. Tôi quá bất ngờ. Làm sao ngờ được nhận xét của mình lại được một người như ông lưu tâm đến thế. Rồi ông rủ luôn đi ăn cháo vịt Vân Đình. Phải nói là tôi sướng rơn, cả hãnh diện nữa. Nhất là, chỉ ít lâu sau, ông cho xuất bản một cuốn sách, mà những khái niệm tôi trao đổi cùng ông đã được đặt làm nhan đề: Triết lí văn hoá và triết luận văn chương. Kể từ bấy, viết bài gì ông cũng chuyển cho tôi qua đường mail, in cuốn nào ông cũng dành cho tôi. Và tôi vẫn đọc ông chăm chỉ bằng tâm thế một học trò như thế. Sau cái lần làm xong Tuyển tập Nguyễn Đăng Mạnh, tôi tỏ ý muốn làm Tuyển tập Hoàng Ngọc Hiến. Thế là ông liền cung cấp cho tôi tất cả những tài liệu tôi cần. Đến nay, công việc đã hòm hòm, dù chưa xong hẳn.

 

Người khởi đầu giới nghiên cứu Minh triết Việt

Tìm hiểu một tác giả nào đó, người ta thường ngược về quá khứ để tìm những mầm mống dự báo thiên hướng và tương lai của tác giả, đặng lí giải sự nghiệp ông ta. Khỏi phải nói là tôi cũng tuân theo lề lối ấy. Tôi tin hôm nay ông trở thành người khởi xướng và đứng đầu giới nghiên cứu Minh triết Việt là một tất yếu. Cái xu hướng này dường như đã nằm sẵn đâu đó trong tố chất của ông. Tôi đã được nghe kể về bệnh ham lí giải của cậu học trò Hiến. Gặp cái gì cũng muốn giải thích ngay, giải thích bằng được, dù chả phải lúc nào cũng thuyết phục, cứ lí giải cốt để tư duy được khởi động, vận hành. Mà lí sự thì rặt bằng những phạm trù nọ, phạm trù kia, do vận dụng nhanh cũng có, do vừa lóe ra cũng có. Tôi cũng được biết thuở còn học trung học phổ thông, cuốn sách mà cậu học trò này ôm cả vào trong giấc mộng chính là cuốn triết của trường dòng, mà trong đó triết học còn bao gồm cả mỹ học, lô gíc, đạo đức chứ chưa phân hoá chuyên ra như bây giờ. Và tất nhiên, cậu cũng chưa ý thức đầy đủ đó là triết. Tôi cũng biết sau này khi theo học đại học, không phải ngẫu nhiên mà trong các giáo sư thời bấy giờ, ông phục Trần Đức Thảo và Cao Xuân Huy hơn cả, dù có lúc chưa phải lắm với họ. Tư duy triết học của các bậc thầy này đã mê hoặc ông cũng như ảnh hưởng đến thiên hướng tư duy của ông không ít. Tiếc rằng, thời ấy, tư duy triết học ở ta không được khuyến khích lắm. Nếu khác đi, con đường học thuật của ông hẳn đã khác nhiều…

Nhưng, xem ra, cái mầm sau này mọc thành cây, chính là nếp nghĩ theo triết học, sống theo khoa học kiểu riêng của ông. Tôi rất ấn tượng về câu chuyện của ông Lâm, một bác sĩ kì cựu, từng được học Hoàng Ngọc Hiến những ngày tò te làm cậu giáo giữa đám trò quê. Chuyện rất vui. Thuở ấy tụi họ tuổi đều sêm sêm, cả học lẫn chơi đều chung chạ tất. Có lần cùng nhau tắm truồng, đang tồng ngồng từ dưới sông lên, thì gặp một toán phụ nữ. Đám học trò đứa nào đứa nấy cứ cuống cuồng lấy tay che phần dưới, dúi dụi vào nhau, bước không nổi. Chỉ riêng cậu giáo Hiến thì úp hai bàn tay che mặt và bước rất thản nhiên. Cả bọn ngơ ngác. Hỏi, thì cậu giáo trẻ bảo: cái dưới thì ai chả giống ai, nhìn nó làm sao nhận ra đứa nào, chỉ có cái mặt mới khác nhau thôi, có bị lộ mặt thì mới lộ mình… Ra thế, cả bọn lại ồ lên, ngớ ra. Cái pha ngộ nghĩnh thời cận thành niên ấy mách bảo tôi một điều nghiêm túc: biết đâu từ cái triết lí “truổng cời” đó Hoàng Ngọc Hiến đã là nhà minh triết rồi.

Ai đã tiếp xúc với ông chắc sẽ ấn tượng ngay về một thói quen kì kì. Đó là giới thiệu những trải nghiệm về sức khoẻ và thuốc thang của mình một cách rất khoa học và… li kì. Thường những cuộc như thế đều y như một bài thuyết trình công phu và tâm huyết. Tôi đã được biết về tính năng nhiều thứ thuốc từ ông. Cái lần ông quảng bá cho hoạt huyết dưỡng não là thế. Ông kể rất đinh ninh: có một dược sĩ cao cấp của ta nổi tiếng về các công trình nghiên cứu nhân sâm đã được hội những người nghiên cứu nhân sâm quốc tế mời tham gia một dự án lớn. Họ đã đem tất cả những loại sâm thượng thặng như nhân sâm Trung Quốc, Triều Tiên, nhân sâm Xibêri… đến để nghiên cứu. Còn nhà dược sĩ ta thì đem theo củ đinh lăng. Họ cùng nhau làm một thí nghiệm, đó là cho chuột bạch ăn, mỗi con ăn một thứ trong cùng một khoảng thời gian. Đến kì hạn, họ quẳng tất lũ chuột xuống bể nước và quan sát. Kết quả là: tất cả những con ăn các loại sâm khác cứ dần dần theo nhau chìm hết. Duy có một con vẫn chống chọi cầm cự, hàng tiếng đồng hồ sau nữa mới chịu chìm. Cậu biết con nào không, thật bất ngờ, đó là con ăn đinh lăng. Rồi hăng hái: hiện nay, đinh lăng là một bí mật, một dược liệu chiến lược của ta. Hoạt huyết dưỡng não được chế từ đinh lăng theo một công thức bí truyền. Vô cùng hiệu quả. Cậu nên dùng, nên dùng. Còn ông thì nghiện hẳn rồi. Tôi chắc, nếu chỉ đọc nhãn thuốc không thôi, ông chả mê thế đâu, dù nó hay ho đi nữa. Ông bị cám dỗ chỉ bởi cái thí nghiệm rất chi là khoa học kia thôi. Phần mình, tất nhiên là tôi bị đánh gục và bắt đầu xài luôn từ trưa hôm ấy.

Thế mà có lần, đang ở khách sạn Sóc Trăng, ông gọi lễ tân mang cho một chai nước. Cô phục vụ mang lên thì thấy một ông già trên giường, đầu cắm xuống gối, chân chổng ngược lên trần nhà, mặt đỏ gay, tay lẩy bẩy chống đỡ thân mình, cặp giò lúc nghiêng phải, lúc ngoẹo trái, cứ chực đổ. Cô ta hoảng quá, chẳng hiểu ra làm sao. Còn ông, cứ nguyên tư thế ấy mà ra hiệu đặt nước lên kệ, ra hiệu cám ơn, ra hiệu tạm biệt. Mặt rất căng thẳng. Té ra, ông trồng cây chuối. Một bài tập cho máu dốc lên não. Ô hay, đã có hoạt huyết rồi mà. Bài tập dồn huyết này muốn phủ định bài thuốc hoạt huyết kia chăng? Đâu có. Cái này đâu phủ định cái kia. Quan hệ của chúng là cộng sinh. Nhà triết luận của chúng ta hoàn toàn tin thế.

Người ta vẫn kháo rằng đằng sau người đàn ông thành công bao giờ cũng có bóng dáng một người phụ nữ. Tôi cũng nghĩ thế. Và tin rằng: Hoàng Ngọc Hiến đi vào triết, chắc chắn là nhờ cả công… vợ. Bà Tố Nga là một phụ nữ thật đặc biệt. Bà có cái thú rất nổi tiếng là “nói xấu chồng”. Hễ có khách đến, bà thường ra tiếp trước. Và, trong lúc đợi ông xuống, thể nào bà cũng tố với khách đủ cái “ngu dại” của chồng, chì chiết say sưa, giọng thì đầy hứng khởi, lời lẽ thì đến là đáo để, gai góc. Thế nhưng, ai lại dại mồm vào hùa với bà để kể xấu ông thật, thì bà tống ra cửa ngay lập tức. Lần sau thì đừng có mà vác mặt đến. Thì ra, “tố Hiến” là một cái thú lạ, là tiết mục độc quyền của “tố Nga”. Ấy là cách yêu chồng độc nhất vô nhị của bà. Người hiểu thì thấy rất thú vị, và chả dại gì mà chêm vào hay xía vào. Vì thế, lần nào đến chơi, nghe chuyện bà, tôi cũng thầm nhớ đến cái câu chuyện cổ Hy Lạp ấy. Chuyện một cậu học trò định lấy vợ đã đến xin thầy mình là nhà hiền triết một lời khuyên. Nhà hiền triết đã khuyên rằng: con cứ kết hôn đi, đằng nào thì con cũng được, nếu được vợ hiền, con sẽ là người hạnh phúc; còn gặp phải vợ dữ thì con sẽ thành… một nhà triết học!

 

Triết lý sống độc đáo của một triết nhân

Một người có “máu” triết học thì tất phải có một thái độ triết học trong đời sống. Thiếu điều này, triết nhân sẽ chỉ là một thường nhân thôi. Là một học giả có cỡ được không ít nơi trên thế giới biết đến, nhưng đến nay nhiều người vẫn cứ băn khoăn vì sao ông Hiến không có những học hàm như Giáo sư, danh vị như Nhà giáo nhân dân giống bao nhiêu vị khác. Ông chỉ có một hàm vị duy nhất là Tiến sĩ. Thực ra là Phó tiến sĩ. Bảo vệ ở Nga hồi còn Liên Xô. Mà thấy ông chả có vẻ sốt ruột hay bất mãn gì. Lúc nào ông cũng thản nhiên. Dù quanh ông, người ta cứ nhao lên,  nhộn nhạo lên với những danh này vị nọ. Lạ. Giữa cái thời chủ nghĩa duy lợi lên ngôi, thói cầu danh áp đảo thế này, sống được thế, tất ông phải có một quan niệm, một triết lí sống độc đáo nào đó ? Đoán vậy, có lần tôi đã hỏi. Thì ông cũng chả giấu diếm gì: điều mình tâm đắc và lấy làm phương châm sống suốt đời là ý tưởng ở câu cuối cùng trong Đạo đức kinh của Lão Tử: Thánh nhân chi đạo vi nhi bất tranh. Đạo của thánh nhân là làm mà không tranh giành với ai. Ngẫm ra, tôi thấy ông đã sống trong đời đúng như vậy, không riêng gì thái độ đối với danh vị.

Nhưng quả là cuộc đời này vẫn có những công bằng riêng của nó. Nó vẫn luôn biết ai là ai. Lần vị hiệu trưởng trường Nguyễn Du là Huỳnh Khái Vinh được phong học hàm giáo sư đã diễn ra một việc thú vị. Đám học viên Nguyễn Du hồi ấy toàn những cây bút, những nhà văn đã thành danh cả. Họ đã chuẩn bị sẵn hai bó hoa để chúc mừng. Khi lễ mừng tặng diễn ra, họ đã mời cả Huỳnh Khái Vinh và Hoàng Ngọc Hiến cùng lên sân khấu. Người đại diện tặng hoa cho thầy Vinh trước với lời chúc mừng “Đây là vị giáo sư do nhà nước phong”. Rồi quay sang tặng hoa và ôm hôn thầy Hiến thật hoan hỉ : “Đây là vị giáo sư do nhân dân phong”. Cả hội trường vỗ tay ầm ĩ. Thầy Vinh ôm hôn thầy Hiến đầy phấn khích. Còn thầy Hiến sau một phút ngỡ ngàng, vẻ vẫn rất thản nhiên. Lạ hơn, bây giờ trên các phương tiện truyền thông đại chúng, mỗi khi giới thiệu ông, bao giờ người ta cũng cứ kèm danh vị giáo sư. Công chúng chẳng ai ngạc nhiên. Còn ông thì vẫn thản nhiên.

Tôi cứ ngỡ ông là người thờ ơ, hoàn toàn không để ý gì đến những chuyện ồn ào vặt. Nhưng không hẳn. Một lần đang trò chuyện vui vẻ, mặt ông bỗng đỏ gay, lời lẽ hết sức bức xúc, chỉ vì nhớ ra hôm qua xem ti vi, bắt gặp Nguyễn Đình Thi trên hình. Tôi chắc, trong cảnh đó, Nguyễn Đình Thi đã nói một điều gì đó đại loại như cao giọng quá đà trước anh em hay hạ giọng quá mức trước bề trên chăng. Nghe ông kể, thì không phải. Té ra, chỉ bởi Nguyễn Đình Thi đã đi đi lại lại bên hồ Gươm, rồi làm bộ làm tịch đang suy tư xa xăm cho camera ghi hình, thế thôi. Vậy mà, ông thất vọng không thể chịu nổi: vì sao một người như Nguyễn Đình Thi mà lại đi diễn trò, một thứ trò vớ vẩn như thế. Tôi còn nhớ, không kiềm được phản ứng của mình, ông đã văng tục ra nữa. Cứ như vừa bị mất một cái gì rất lớn. Thoạt tiên, tôi rất buồn cười, vì thấy phản ứng của ông có vẻ thái quá. Trò diễn ấy cho qua được mà. Ngẫm lại, thì hiểu ông hơn. Là người chân thật đến … kì cục, ông ghét cay ghét đắng thói diễn. Bậc cao nhân lại càng không nên diễn. Thì ra, ông luôn có một nguyên tắc sống, một quan niệm về giá trị sống nào đó, chứ đâu phải ơ hờ.

 

Khi hình dung về một triết gia, ta có cái thói đòi hỏi người ấy phải là tác giả của một triết thuyết nào đấy; nếu không sản sinh được một hệ thống triết học nào, thì khó mà được thừa nhận là nhà triết học. Điều này xem chừng có thể trở thành một đòi hỏi vô lối ở thời đại chúng ta. Hãy nghe Foukault – một triết gia lớn của thế kỉ XX – nói:  “Thời đại chúng ta chẳng thể sinh ra được một hệ thống triết học lớn nào cả” và chỉ nhất nhất hiểu theo cái nghĩa xa xưa của nó, thì xem chừng “triết học đã “chết” rồi”. Nhận xét của đại gia này khiến chúng ta phải xem lại cách hiểu về triết học và triết gia đương đại. Hình như, không phải lúc nào triết thuyết cũng hiện diện như một hệ thống kinh viện, không phải lúc nào nó cũng tồn tại lộ thiên. Và không phải cứ nói thẳng chuyện triết học và say sưa xây dựng các triết thuyết thì mới là triết gia thì phải.

Trong một lần sang hội thảo về triết học tại Hà Nội, Francoi Jullien có đưa ra một nhận xét rất tinh: ở Việt Nam, triết học lẩn vào văn học. Không hẳn là nhận định về tình trạng sơ khai của triết ở ta, mà có lẽ là về cách tồn tại đặc biệt (cũng là thân phận ?) của triết Việt. Điều này trước hết ứng với Hoàng Ngọc Hiến, nếu như không muốn nói rằng nó được rút ra từ chính ông.

Sự khốn đốn của một số triết gia là bậc thầy gần gũi hồi Nhân văn Giai phẩm và Xét lại đã khiến cho nhiều người ham mê triết học đã chùn bước. Trong khi tuyên truyền Mác Lê thành chuyên nghiệp và hùng hậu, thì tư duy triết học lại thưa thớt và nghiệp dư. Không ít mầm non triết học đã phải âm thầm nảy nở trong bóng đêm, thành một thứ triết học du kích, hoặc rẽ sang hướng khác, hoặc bứng trồng vào mảnh đất khác (ví như Trần Đình Hượu bỏ triết học sang nghiên cứu văn chương). Hoàng Ngọc Hiến cũng thế chăng? Nhưng, nếu hoàn cảnh hoàn toàn thuận lợi thì Hoàng Ngọc Hiến có thể trở thành một triết gia không nhỉ? Hình như cái tạng của ông cũng không phải là một triết gia thuần túy. Có lẽ ông thuộc “tạng hai trong một” – tạng “văn triết bất phân”. Nghĩa là một nhà nghiên cứu văn học, văn hoá trên tinh thần triết học, hoặc một nhà triết luận suốt đời bấn bíu với văn hóa, văn học. Điều này ở ông khiến triết lẩn vào văn vừa như một thân phận vừa như một định mệnh.

Tuy nhiên chính điều này đã làm nên đặc sắc Hoàng Ngọc Hiến. Ông sẽ đi vào các lĩnh vực văn hoá với cảm hứng triết học, sẽ nhìn nhận các vấn đề từ văn học đến văn hoá bằng con mắt triết nhân, ông sẽ đem những công cụ của tư duy triết học để tường giải những vấn đề của văn hoá, văn học. Đây chính là nét khác biệt của học thuật Hoàng Ngọc Hiến so với nhiều hiện tượng khác cùng thời. Có thể nói triết luận Hoàng Ngọc Hiến là một dạng triết học lui về ở ẩn trong văn học.

Đắc đạo sau những cuộc chơi triết học

Ai biết Hoàng Ngọc Hiến đều thấy ông say mê các triết thuyết và đã miệt mài suốt đời mình với triết Tây, triết Đông. Ông đã đọc và khảo hầu khắp các triết gia cổ kim đông tây. Mà đâu chỉ có triết theo nghĩa hẹp, ông còn đam mê triết theo nghĩa rộng nhất. Tức là say mê cả đạo đức học, tâm lí học, mỹ học nữa. Ông dịch “Đạo đức học” của Banzelatde, ông giảng “Phân tâm học” của Freud, ông nói về “các phạm trù mỹ học của Đông Á cổ”, ông dịch “Những phạm trù văn hóa trung cổ” của Gurêvich… Một thời ông rất say mê Mác. Từ năm 1949, ông đã trở thành hội viên trẻ của hội những người nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở khu IV mà đứng đầu là Nguyễn Chí Thanh rồi. Có lẽ người được ông trích nhiều hơn cả trong các công trình của mình là Mác. Mác thực sự đã để lại dấu ấn sâu đậm trong nhỡn quan của ông cho đến mãi sau này. Cái hồi ông viết bài “Phải đạo”, nhiều người không hiểu lòng ông đã qui kết ông là phi Mácxit. Nhưng chính trong cái buổi hội thảo nghiêng hẳn về qui kết ấy, sau một hồi lắng nghe ý kiến của ông và những người phản bác ông, chính Lê Đức Thọ đã tỏ ra rất tỉnh đời khi kết luận: “Anh Hiến là người Mácxit”. Và nhờ kết luận này mà các ý kiến công kích hăng tiết đã… ngãng dần ra.

Hoàng Ngọc Hiến rất tâm đắc với nhận xét này của Robert N. Bellah về một sử gia, đồng thời là chính trị gia và là nhà xã hội học người Pháp Alexis de Tocqueville (1805 -1859): Khoa học xã hội của Tocqueville là một loại triết học vị công (public philosophy). Nghĩa là nó quan tâm đến công ích, và coi trọng công luận khi nêu ra những vấn đề khoa học của mình. Có thể nói, triết luận của Hoàng Ngọc Hiến cũng là thứ triết học vị công như thế. Ai đã đọc ông đều không mấy khó khăn để nhận ra điều này. Xem xét từng bước đường, thấy đam mê triết của ông có những giai đoạn lớn. Hồi đầu ông say mê tìm hiểu tư tưởng Nga Xô, rồi lại say mê tìm hiểu tư tưởng Pháp, đến cuối những năm 80 ông lại say mê nghiên cứu tư tưởng và văn hóa Mỹ. Gần đây, tưởng chừng triết gia đương đại Pháp là F. Jullien đã hoàn toàn hớp hồn ông, khiến những năng lượng học thuật cuối cùng của ông sẽ bị hiện tượng triết học này vắt kiệt. Nào ngờ, lại thấy ông bày “cuộc chơi triết học” mới, đầy đam mê, là quay về nghiên cứu minh triết Việt. Không biết những người khác thế nào, còn tôi thấy trong đó một hành trình nhất quán, và thấy càng ngày ông càng “đắc đạo” hơn. Ông nghiên cứu cái gì cuối cùng cũng chỉ để tìm ở đó những bài học có ích cho nước nhà. Không phải ngẫu nhiên mà sau mỗi một hồi triết luận về vấn đề nào đó mình khơi ra, nêu lên, bao giờ ông cũng có ngay những đề xuất khá kịp thời. Có không ít những đề xuất ở tầm vĩ mô, ví như về chiến lược văn hóa trong phát triển, về giáo dục đào tạo, về việc nghiên cứu minh triết, về coi trọng việc dạy văn chương đối với bồi dưỡng nhân cách thế hệ trẻ, hay chiến lược ngoại ngữ cho hiện tại và tương lai… Hồi Nga Xô đang hưng thịnh, việc tiến hóa bấy giờ được xem như Nga hóa, ông muốn biết thực chất nó thế nào. Rồi ngày nay, khi Mỹ đang là một siêu cường với tầm ảnh hưởng toàn cầu của nó, đến nỗi hình thành trào lưu Mỹ hóa ở nhiều nơi trên thế giới, ông cũng muốn xem nó thực chất ra sao… Ông muốn biết mỗi mô hình ấy về mặt tư tưởng có điều gì khả thủ. Và ông say mê nghiên cứu các triết thuyết không phải để truy tìm cho mình chỉ một triết thuyết độc tôn, rồi cứ thế mà dùng nó làm một thứ công cụ tư duy vạn năng đến mức làm nô tài cho nó như bao người khác. Trái lại, ông là người thủy chung với một tinh thần năng động triết học, chứ không phải giam mình trong một thói nô lệ triết học như những ai kia. Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà trong các định nghĩa triết học, ông tâm đắc nhất với định nghĩa của Thomas Carlyle, khi triết gia lớn này phát biểu: “Triết học là gì, phải chăng là một cuộc chiến liên tục chống lại tập quán: một nỗ lực luôn luôn đổi mới nhằm vượt siêu cầu trường của tập quán mù quáng?”. Có thể, sau này ông mới gặp định nghĩa này. Nhưng toàn bộ hoạt động của đời ông đối với triết học đã thực sự là một minh chứng cho định nghĩa ấy. Nói khác đi, hành trình của ông dường như đã được dẫn dắt bởi định nghĩa kia một cách vô thức. Cả đời ông là một cuộc chiến không mệt mỏi để chống lại tập quán mù quáng, mỗi bài viết dù trực tiếp về triết học hay về văn hóa, văn học đều là một nỗ lực đổi mới mình trong nhận thức, tư tưởng nhằm vượt siêu cầu trường của những nhận thức hời hợt bị bóng đè bởi một đức tin mù quáng. Mà điển hình nhất chẳng phải là bài “Về một đặc điểm của văn học Việt Nam trong giai đoạn vừa qua”, vẫn được gọi nôm là bài “phải đạo” đó sao ? Một tinh thần năng động triết học đó là phẩm chất đáng kể của học thuật Hoàng Ngọc Hiến.

Sau những cuộc thám hiểm triết học, ông đã trở về bến quê, về lại mái nhà xưa để nâng niu gia tài minh triết của ông cha mình. Những cuộc phiêu lưu ấy đã đủ khiến ông tự tin hơn khi nhìn ngắm cái di sản minh triết độc đáo của tổ tiên. Nếu, sau những chuyến đi xa vào những xứ sở triết học khác để rồi trở về khinh rẻ vốn hương hỏa quí báu của tiên tổ, liệu có phải là người đã đạt đạo không ? Tôi nghĩ, điều đáng trân trọng ở hành trình triết học này của ông chính là ở chỗ: nó nâng ông lên một tầm mới để có thể thấy được vàng ngọc trong minh triết truyền thống và thấy cần thiết phải xây dựng một đội ngũ cho công cuộc khai thác minh triết tiềm ẩn trong nền văn hóa Việt. Cầu mong cho ông luôn đủ sức khỏe để tiếp tục theo đuổi sự nghiệp cao quí này và truyền cảm hứng cho những người đi sau.

Khi viết “Triết lý Truyện Kiều”, cái tạng triết luận ở ông mới khởi lên những nét đầu tiên thôi, còn chưa thật sắc nét. Nhưng càng về sau, thiên hướng triết luận càng ngày càng nắm vị thế chủ đạo trong các luận giải văn chương và văn hóa của ông. Đề cập bất cứ sự kiện văn học nào, dù đó là tác phẩm như Truyện Kiều, Ơ đip làm vua, Đăm San…hay đó là tác giả như Nguyễn Du, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Maiacôpxki, Eptusenkô, Văn Cao, Trịnh Công Sơn, Hữu Thỉnh, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Trọng Tạo, Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà… nghĩa là cả những tác gia kinh điển lẫn những cái tên mới nổi, dù đó là một giai đoạn văn học như Văn học Việt Nam thời chống Mỹ, văn chương Việt ở Hải ngoại, hay đi sâu vào một bình diện nào đó của văn chương như thể loại, thể tài, giọng điệu nghệ thuật hay ảnh hưởng của vô thức trong sáng tạo v.v… bao giờ ông cũng muốn truy nguyên vào bản chất, vào bản thể, bao giờ ông cũng muốn tìm cho ra những qui luật của sáng tạo, nhất là lật lên những bình diện triết học của mỗi hiện tượng ấy. Truy tìm vào bản chất sâu xa, săn tìm những qui luật phổ biến, lật tìm những ý nghĩa triết học và luận giải cho kì nổi bật mới thôi, đó chẳng phải là cảm hứng triết học hay sao ! Ông viết bài “Phải đạo” luận về những bình diện mỹ học và triết học khiến sản sinh nên cái đặc điểm của văn học Việt Nam suốt ba mươi năm chiến tranh (viết về “cái hiện thực phải có” hơn là “cái hiện thực đang có”) là theo tinh thần ấy, ông viết bài “Âm Dương”, muốn dùng những phạm trù triết học cổ phương Đông để luận giải và tiên đoán về mạch vận động của văn học ta qua bước ngoặt hậu chiến là theo tinh thần ấy. Ông khảo về những thể loại văn học như bi kịch, trường ca, tiểu luận, trào phúng là theo tinh thần ấy. Ông tường giải sáng tạo chân chính bao giờ cũng là sự giao cắt giữa cái tuyệt đối và cái hiện tại là theo tinh thần ấy. Ông luận về nguyên tắc tính nữ (thường gọi là thiên tính nữ) trong sáng tác Nguyễn Huy Thiệp cũng theo một tinh thần như thế…

Một thủ lĩnh trận tiền trong đổi mới văn học

Những ai quan tâm đến việc sáng tạo văn học Việt Nam đều thấy Hoàng Ngọc Hiến có một tầm ảnh hưởng không nhỏ đối với không ít cây bút đương đại. Đó không hẳn là kiểu ảnh hưởng của một tay viết bậc thầy lão luyện nghề chữ, cũng không hẳn kiểu ảnh hưởng của một học giả uyên bác uyên thâm. Mà có vẻ là kiểu ảnh hưởng khác: truyền niềm thiết tha với văn hóa, nhiệt hứng sáng tạo, nhiệt hứng tư tưởng, tinh thần trí thức, kích thích tư duy. Mà trùm lên tất cả vẫn là ảnh hưởng từ cái phẩm chất năng động triết học đó. Nếu Trần Dần được xem là thủ lĩnh trong bóng tối, thì cũng có thể xem Hoàng Ngọc Hiến là một thủ lĩnh ngoài trận tiền.

Ai đọc Hoàng Ngọc Hiến cũng thấy ở ông cái sở thích đối lập. Ông thường xây dựng hoặc sử dụng những phạm trù đối lập với tham vọng đạt đến tầm phổ quát nhất cho những những khái quát của mình: âm và dương, vi và vô vi, vị và vô vị, ý và vô ý, ngã và vô ngã, văn hóa và văn minh, minh triết phương Đông và triết học phương Tây, xây dựng Dự án và nương nhờ vào Thế, chủ nghĩa hiện đại và chủ nghĩa cổ điển mới, tính dân tộc và tính hiện đại, trí thức tinh hoa và trí thức bình dân, bi kịch và lạc quan, hiện thực và tuyệt đối, cái phải tồn tại và cái đang tồn tại, có đáy và không có đáy, viết cho bõ hờn và viết để thỏa chí, kể nội dung và viết nội dung, lý thuyết và nghiệm sinh, trí tuệ của trí tuệ và trí tuệ của trái tim, danh và thực, có và là… Sự phân lập kiểu này là sản phẩm rất đặc trưng của tư duy triết học. Lối đối lập này dần lâu dường đã thành một thứ thương hiệu Hoàng Ngọc Hiến. Ông còn đặc biệt tinh nhạy về những khía cạnh triết học của ngôn ngữ và giỏi mài rũa cái mặt triết tiềm ẩn nào đó để mỗi từ ngữ sáng lên vẻ đẹp triết học của mình. Ít ai không nhớ lần ông nói về các phương pháp khoa học bằng một chữ đích đáng, lần ông luận về quan niệm nhân cách của người Việt qua một chữ hẳn hoi, hay lần ông tranh luận với một cây bút hải ngoại xung quanh chữ moment trong tiếng Anh… Nhiều trường hợp, ông đưa ra những đối chọi chữ nghĩa khiến chúng cũng ánh lên những tia sáng triết luận triết lí bất ngờ nào đó. Ví như ông xem phê bình là làm sáng giá và sang giá cho những sáng tạo văn học, hay ông chọi chữ có và là như một cách đối lập giữa danh và thực, vốn là một mâu thuẫn phổ biến trong cõi người ta. “Một mâu thuẫn oái oăm trong “cõi người ta”- ông viết – là mâu thuẫn giữa “có” và “là”. Có thể có vợ, nhưng không là một người chồng, có thể có con nhưng không là một người cha, có thể có học hàm nhưng không là một người thầy, có thể có học vị, nhưng không là một trí thức,… có thể có tất cả nhưng không là gì cả”. Có thể nói năng lực ngôn ngữ của một nhà văn đã giúp ông diễn đạt sắc bén những suy tư triết lí của một nhà triết luận. Và có thể thấy lối phân lập ráo riết kia trong từ ngữ của ông là khá bén nhạy và nhuần nhuyễn, nó đã thực sự trở thành một nét thuộc phong cách triết luận của ông. Dù không khỏi có lúc cực đoan, nhưng bao giờ sự phân lập ấy cũng gây hứng thú và có khả năng truyền cảm hứng tư duy cho người đọc, thậm chí có lúc đã thực sự gây sốc. Không phải vô cớ mà người ta đã xem Hoàng Ngọc Hiến là người khơi mào, gây hứng thú tranh luận, đối thoại cho người khác hơn là người nói lời kết luận cho các vấn đề.

 

*

 

Hoàng Ngọc Hiến là một người uyên bác mà trẻ trung, là người nhất quán mà năng động, là người thâm thúy mà rất đỗi hồn nhiên… Hình như tuổi tác cứ biến ông thành người già, nhưng tinh thần và tư duy của ông không bao giờ chịu già. Ai gần ông đều thấy cái vẻ lão hóa trong cơ thể muốn biến ông thành người già nua. Nhưng cái tinh thần trẻ trung và tích cực trong ông luôn cưỡng lại. Cái run run của tay chân, cái rè rè của giọng nói cứ muốn phanh ông lại, nhưng tư duy đầy chất trẻ trong ông lại luôn dấn ga để tạo nên một chất sống băng về phía trước, muốn vượt siêu cầu trường của trì trệ. Có lẽ ít ai ở vào tuổi ấy vẫn còn say sưa với mọi công nghệ hiện đại, mọi phương tiện tối tân để cập nhật tri thức nhân loại một cách hiệu quả như vậy. Ít ai vào tuổi ấy vẫn say sưa với những dự án dài hơi về tri thức về nghiên cứu và đào tạo như vậy. Ít ai vào tuổi ấy vẫn còn chơi với những người trẻ thoải mái hồn nhiên như vậy. Hồn nhiên, luôn đổi mới mình, luôn muốn người khác cùng đổi mới, luôn muốn cuộc đời đổi mới, có phải đó là những phẩm chất hiển nhiên của một người thực sự có cốt cách triết nhân ?

Trong sự nghiệp của ông, người ta luôn thấy triết học ẩn dật trong văn học và văn học sóng sánh cùng triết học. Nó là sự nghiệp “hai trong một” của một văn nhân – triết nhân.

Dù cảm nhận của tôi được ông chia sẻ và tâm đắc, nhưng tôi luôn nghĩ ông vẫn là một giá trị lớn mà hôm nay chưa dễ gì hiểu hết được.

 

Hà Nội, 2010

 

Lời thêm:

Do một linh tính nào đó mà tôi đã ép mình kịp hoàn thành bài viết này để gửi ông trước khi đi một chuyến công tác đặc biệt phải cách biệt hoàn toàn với bên ngoài. Và, may thay, ông đã kịp đọc nó ba ngày trước khi lên bàn mổ. Nếu không, hẳn là tôi phải ân hận suốt đời. Theo nhà văn Văn Giá, thì có thể nó là bản thảo cuối cùng ông đọc được trước lúc vào viện. Đến ngày được ra khỏi chốn cách biệt đó, tôi đến viện thăm ông thì ông đã hôn mê sâu rồi. Thật oái oăm ! Trong bài viết, khi nói đến tâm huyết của ông đối với sự nghiệp nghiên cứu minh triết Việt, tôi có một lời: “Cầu mong cho ông luôn đủ sức khỏe để tiếp tục theo đuổi sự nghiệp cao quí này và truyền cảm hứng cho những người đi sau”. Khi viết thế, tôi vẫn đinh ninh tuổi ông tuy đã cao, nhưng sức ông cũng chưa đến nỗi nào. Đâu ngờ, trọng bệnh đã đem ông đi vĩnh viễn mất rồi !

Biết bao giờ cuộc đời mới lại có được một Hoàng Ngọc Hiến nữa đây !

Viện Viễn Đông Bác Cổ, EFEO và kho sách quý hiếm về Việt Nam

Thu Hằng– RFI
Viện Viễn Đông Bác Cổ, EFEO và kho sách quý hiếm về Việt Nam

Một số tranh khắc trong bộ sưu tầm của nhà nghiên cứu Maurice Durand, EFEO, Paris.RFI / Tiếng Việt

Ngay năm 1886, khi vừa được bổ nhiệm làm tổng công sứ Trung-Bắc Kỳ, Paul Bert đã có ý tưởng thành lập Bắc Kỳ Hàn Lâm Viện (Académie tonkinoise) nhằm tạo bầu không khí hữu hảo và kiềm chế sự chống đối của người dân Bắc Kỳ vừa bị đặt dưới chế độ bảo hộ Pháp.

Dù bị thất bại « ngay trong trứng nước », nhưng kế hoạch trên trở thành cơ sở cho các sáng lập viên của Viện Viễn Đông Bác Cổ (Ecole française d’Extrême-Orient, EFEO), thuộc Viện Hàn Lâm Văn Khắc và Văn Chương Pháp (Académie des Inscriptions et Belles-Lettres).

Hơn một thế kỷ vì châu Á

Ban tiếng Việt đài RFI đã có dịp trao đổi với chị Magali Morel, cán bộ thư viện phụ trách kho sách Đông Nam Á, về sự ra đời của Viện Viễn Đông Bác Cổ :

« Ban đầu, người ta muốn lập một Hội Nghiên cứu Khảo cổ châu Á. Giám đốc đầu tiên của Viện Viễn Đông Bác Cổ, Louis Finot, muốn thành lập một ngôi trường Pháp, theo mẫu trường đã được thành lập ở Roma hay Athens. Thời gian đầu, ông muốn trường tập trung nghiên cứu về Ấn Độ, nhưng kế hoạch không thành. Lúc đó Paul Doumer đang làm toàn quyền Đông Dương lại bị dự án này cuốn hút và cuối cùng, Viện Viễn Đông Bác Cổ được thành lập ở Hà Nội ».

Tiền thân của Viện là Hội Nghiên cứu Khảo cổ Đông Dương (Mission archéologique d’Indo-Chine) được thành lập tại Sài Gòn năm 1898 với hai nhiệm vụ chính : khuyến khích các nhà nghiên cứu Pháp đến thực địa tại châu Á và phụ trách thống kê cũng như bảo quản di sản văn hóa Đông Dương.

Năm 1900, theo quyết định của toàn quyền Paul Doumer, tên gọi và cơ cấu của hội được thay đổi, trở thành Viện Viễn Đông Bác Cổ. Theo nhận xét của bán nguyệt san La Quinzaine coloniale (n° 101, 10/03/1901), quyết định này đánh dấu tính thường trực và đề cao vai trò quan trọng của Viện trong việc « nghiên cứu và phổ biến kiến thức về lịch sử các công trình và chữ tượng hình của các dân tộc Đông Dương mà quá khứ còn xa xưa hơn lịch sử của chúng ta vẫn chưa tiết lộ hết những bí mật ».

Từ năm 1902, trụ sở của Viện được chuyển ra Hà Nội với các nhiệm vụ chính : thăm dò khảo cổ học, sưu tập bản thảo, bảo tồn các công trình, thống kê nhân chủng học các tộc người, nghiên cứu di sản ngôn ngữ, lịch sử các nền văn minh phương Đông, từ Ấn Độ đến Nhật bản.

Để hỗ trợ cho kế hoạch nghiên cứu khoa học đầy tham vọng này, một thư viện và một viện bảo tàng (sau này trở thành Bảo tàng Lịch sử Việt Nam) được thành lập. Thư viện ở Hà Nội trở thành kho dữ liệu quan trọng của các nhà nghiên cứu của Viện Viễn Đông Bác Cổ.

Bìa cuốn sách Mối quan hệ của phái đoàn các Cha dòng Tên với Vương quốc Nam Kỳ, xuất bản năm 1631, EFEO, Paris.RFI / Tiếng Việt

Ngày 27/11/1909, trong bài diễn văn nhân dịp khai mạc phiên họp của Hội đồng Tối cao, toàn quyền Đông Dương Antony Klobukowski đã cho biết về kho sách quý giá này : « Thư viện của Viện Viễn Đông Bác Cổ ngày càng phong phú hơn nhờ 100 tập sách do Quốc Sử Quán(triều Nguyễn) in ấn và được Hoàng đế An Nam trao tặng. Ngoài ra, còn có rất nhiều tác phẩm đến từ Trung Quốc và các bản sao chép tác phẩm quý hiếm của Việt Nam nhờ các vị quan hay nho sĩ cho mượn. Vì vậy, có thể nói đây là thư viện về nghiên cứu Đông phương đầy đủ nhất thế giới ».

Trong suốt thế kỷ XX, kho sách của thư viện ngày càng thêm phong phú về số lượng và chất lượng nhờ đặt mua, trao đổi và được di tặng. Trong cuốn Một thế kỷ vì châu Á. Viện Viễn Đông Bác Cổ, 1898-2000, tác giả Catherine Clémentin-Ojha Manguin cho biết, sau hiệp định Geneve 1954, một phần kho sách, được đóng thành 500 kiện, đã rời Hà Nội vào cuối tháng Bẩy cùng năm để sang Phnom Penh (Cam Bốt), Vientiane (Lào) và một chi nhánh mới của Viện Viễn Đông Bác Cổ ở Sài Gòn. Trung tâm tại Hà Nội tiếp tục hoạt động đến 1957 để sao chụp các bộ sưu tập sách của thư viện, chủ yếu là các bản viết tay, nhằm phục vụ cho các trung tâm khác và trụ sở ở Paris, như lời giải thích của chị Magali Morel :

« Kho sách Việt Nam gốc hiện đang được bảo quản tại Nhà Châu Á (Maison de l’Asie) ở Paris đến từ thư viện được thành lập ở Hà Nội. Các bộ sưu tập được thu thập tại đó, liên quan rất nhiều đến Đông Dương. Sau đó, chúng được chuyển đi sau loạt sự kiện trong những năm 1950 tại Việt Nam.

Những bộ sưu tập này được phân chia sang các nước thuộc Đông Dương cũ là Việt Nam, Cam Bốt, Lào, nhưng cũng có cả Thái Lan. Rất nhiều kiện sách (318 kiện) được gửi từ Việt Nam đến Cam Bốt, rồi từ Cam Bốt đến Pondichéry và cuối cùng đến Paris trong những năm 1950.

Trung tâm của kho sách Đông Dương, đặc biệt là của Việt Nam, ban đầu chính là các bộ sưu tập tài liệu được hình thành ở Đông Dương vào đầu thế kỷ XX ».

Kho sách cổ với tác phẩm có từ thế kỷ XVII

Một trong những tài liệu quý hiếm giúp thư viện của Viện Viễn Đông Bác Cổ Paris trở thành một trong những trung tâm quan trọng trong giới nghiên cứu về Đông Dương và Việt Nam là bộ sưu tầm 20.000 ván khắc Hán Nôm. Đây là kho tài liệu quan trọng giúp tái dựng cổ sử Việt Nam.

Ngoài ra, còn phải kể đến bộ sưu tập tranh dân gian Việt Nam với khoảng 400 bức tranh do nhà nghiên cứu Maurice Durand thu thập. Được bảo quản trong điều kiện tốt, bộ sưu tập đa dạng và phong phú về nhiều đề tài khác nhau : cuộc sống thường nhật, các ngành nghề nhỏ, chúc tụng và những tấm bùa hộ mệnh, tôn giáo và tín ngưỡng, lịch sử, văn học, giáo dục, tục ngữ, ngạn ngữ…

Cuối cùng, còn có hơn 3.000 đầu sách về Việt Nam, trong đó có rất nhiều sách cổ, trên tổng số gần 33.000 tác phẩm thuộc kho Đông Nam Á. RFI đã có dịp được ngắm hai tác phẩm cổ liên quan đến Việt Nam, được in năm 1631 và 1646, hiện không còn phục vụ độc giả.

Bìa cuốn sách Lịch sử Vương quốc Bắc Kỳ, xuất bản năm 1646, EFEO, Paris.RFI / Tiếng Việt

« Tôi mang ra đây mấy cuốn sách cổ để giới thiệu. Cuốn sách nhỏ này có từ thế kỷ XVII, có tựa đề Relations de la nouvelle mission des Pères de la Compagnie de Jésus au Royaume de la Cochinchine (tạm dịch : Mối quan hệ của phái đoàn các Cha dòng Tên với Vương quốc Nam Kỳ). Tác phẩm được dịch từ tiếng Ý và là một trong số những cuốn sách cổ nhất của bộ sưu tập được thu thập ở Hà Nội. Hầu hết bộ sưu tầm được hình thành từ những cuốn hồi ký du lịch hay những cuốn sách của các nhà truyền đạo miêu tả Nam Kỳ thời kỳ đó.

Còn đây là một cuốn khác, Histoire du Royaume de Tonquin (Lịch sử Vương quốc Bắc Kỳ), cũng là một tác phẩm có từ thế kỷ XVII. Chúng tôi có nhiều tác phẩm về những tiếp xúc đầu tiên của phương Tây với Đông Dương và Việt Nam. Tiếp theo, còn có những kho sách liên quan đến nghiên cứu Đông Dương từ lúc Viện Viễn Đông Bác Cổ được thành lập ở châu Á, trong đó có rất nhiều nghiên cứu khảo cổ, nhân chủng học và triết học đáng quý ».

Viện Viễn Đông Bác Cổ nằm trong quần thể Nhà Châu Á (Maison de l’Asie), tọa lạc trong quận 16 nổi tiếng của Paris, ngay gần Trocadéro và quảng trường Nhân Quyền (Parvis des droits de l’homme) nhìn ra tháp Eiffel. Đây cũng là trụ sở của nhiều trung tâm nghiên cứu về châu Á khác thuộc các trường Nghiên cứu nâng cao về Khoa học Xã hội (EHESS) và trường Cao Đẳng Thực Hành (EPHE), như trung tâm nghiên cứu Ấn Độ, Trung Hoa hiện đại và đương đại, Đông Nam Á (CASE) và Tây Tạng, cũng như thư viện của những cơ sở này.

Dù độc giả đến đây có thể tra cứu được các kho sách của cả ba trường trên (EFEO, EPHE và EHESS), nhưng số lượng người đọc không nhiều so với các thư viện khác. Chị Magali Morel giải thích :

« Vì Viện Viễn Đông Bác Cổ là một cơ quan chuyên biệt. Chúng tôi đón sinh viên cao học, các nhà nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực trọng điểm, rất đặc biệt. Hiện chúng tôi đang cố trao đổi nhiều hơn nữa với bên ngoài vì cần phải tiếp nhận những công nghệ mới và trao đổi với mạng xã hội… Đây cũng là dự án mà chúng tôi đang làm để mở rộng hơn một chút và có thể để lập một địa điểm năng động hơn. Đúng là chúng tôi là một cơ quan chuyên biệt, nhưng dù sao cũng mở rộng với tất cả ».

Ngoài trụ sở tại Paris, Viện Viễn Đông Bác Cổ có mặt tại Pondichéry, Ấn Độ. Trong khu vực Đông Nam Á có các trung tâm hoặc chi nhánh ở Lào, Việt Nam, Cam Bốt, Thái Lan và Indonesia. Riêng Miến Điện mới chỉ có một đại diện. Cuối cùng, Viện Viễn Đông Bác Cổ cũng có mặt ở Nhật Bản và mới đây một văn phòng đã được mở ở Trung Quốc.

Phòng đọc thư viện của EFEO, Paris.

19 GIỜ HÔM NAY: INDONEXIA- VIỆT NAM

AFF Cup 2016 : Tuyển Việt Nam toàn thắng vòng bảng, nhưng vẫn còn ở xa đích

rfi
AFF Cup 2016 : Tuyển Việt Nam toàn thắng vòng bảng, nhưng vẫn còn ở xa đích

Đội tuyển Việt Nam trong một trận đấu giải SEA Games.REUTERS

Đến ngày 26/11/2016, đội tuyển quốc gia bóng đá Việt Nam vừa hoàn thành thắng lợi một tuần thi đấu vòng đấu bảng AFF Suzuki Cup 2016, tại Miến Điện, với kết quả thắng cả 3 trận, chiếm ngôi đầu bảng B. Thành công ở chặng đầu này của đội tuyển đang làm dấy lên không khí lạc quan trong người hâm mộ Việt Nam, giấc mơ đoạt chiếc Cúp Đông Nam Á như đang trở nên gần hơn với bóng đá Việt Nam.

Bước vào giải đấu một cách tự tin, đội tuyển Việt Nam đã lần lượt hạ chủ nhà Miến Điện 2-1, Malaysia 1-0 và cuối cùng là đội tuyển Cam Bốt 2-1. Trước mặt thầy trò huấn luyện viên Nguyễn Hữu Thắng bây giờ mới là những thách thức thực sự lớn hơn nhiều. Đó là đội tuyển Indonesia của huấn luyện viên người Áo Alfred Riedle, người đã từng dẫn dắt đội tuyển quốc gia Việt Nam, khi Hữu Thắng còn là trung vệ của đội.

Chỉ là hai trận đấu (lượt đi và về), nhưng đó là một sự chờ đợi rất dài với những cổ động viên đội tuyển. Thầy trò huấn luyện viên Nguyễn Hữu Thắng còn nhiều việc phải hoàn thiện trong những ngày tới để đến được trận chung kết trong mơ, khép lại mùa thi đấu, cho đến lúc này đang khá thành công của bóng đá Việt Nam.

Chương trình hôm nay chúng ta cùng với chuyên gia bóng đá Trần Duy Ly, nhìn lại hành trình vòng bảng của đội tuyển Việt Nam.

 

Nhà báo bị đình chỉ vì Facebook post về Castro ‘độc tài’

BBC

nhà báoImage copyrightOTHER
Image captionÔng Phùng Hiệu đang công tác tại báo Nhà báo & Công luận

Tin cho hay một nhà báo ở TP Hồ Chí Minh bị đình chỉ do viết Facebook post về Castro ‘độc tài, bảo thủ’.

Ông Phùng Hiệu, người đang công tác tại cơ quan phía Nam của báo Nhà báo & Công luận, đã bị đình chỉ công tác.

Nhà báo & Công luận là cơ quan thuộc Hội Nhà báo Việt Nam.

Do công văn kỷ luật ông Hiệu được cho là “đang trên đường chuyển từ Hà Nội vào TP Hồ Chí Minh” nên BBC không có điều kiện tiếp cận.

Vụ việc liên quan đến một Facebook post trên trang cá nhân của ông Hiệu với nội dung: “Sau gần 50 năm cai trị đất nước Cuba với sự độc tài, bảo thủ và tôn thờ chủ nghĩa Marx một cách mê muội, ông Fidel Castro đã để lại một Cuba nghèo nàn, lạc hậu.”

“Hy vọng sau khi ông mất người dân Cuba sẽ hòa nhập vào thế giới tiến bộ của con người.”

Hôm 2/12, trả lời BBC từ TP Hồ Chí Minh, ông Hiệu nói: “Tôi đã gỡ cái post đó.”

“Tôi viết cái post trong lúc say rượu, mới đi đám cưới về và đang trong tình trạng vô thức.”

Khi BBC hỏi về rắc rối liên quan đến cái post này, ông nói: “Anh thông cảm, tôi đang mệt mỏi, không muốn trả lời về vấn đề này”.

‘Bày tỏ quan điểm’

Cùng ngày, ông Nguyễn Ngọc Niên, Tổng Biên tập Nhà báo & Công luận nói với BBC: “Ông Hiệu viết Facebook bày tỏ quan điểm cá nhân vi phạm quan điểm nên phải xử lý và bị đình chỉ công tác rồi.”

“Việc này không chỉ ảnh hưởng đến ông ấy mà còn đến cấp trên, những người đứng đầu nữa.”

Ông cũng cho hay ông Hiệu “chỉ là phóng viên, và chưa được cấp thẻ hội viên Hội Nhà báo” và “không phải là quyền phụ trách cơ quan phía Nam của tờ báo như thông tin trên mạng xã hội”.

Vụ kỷ luật ông Hiệu được cho là diễn ra ngay tại buổi giao ban báo chí định kỳ đầu tháng của Bộ Thông tin – Truyền thông Việt Nam.

Tống Văn Công ‘về già mới chợt tỉnh’

Hôm 30/11, trả lời BBC từ bang California, Mỹ, nhà báo Tống Văn Công, cựu tổng biên tập báo Lao Động nói: “Thách thức lớn nhất đối với những người đang tâm huyết với nghề báo tại Việt Nam là không có quyền tự do báo chí.”

“Báo chí phải viết theo chỉ đạo của Ban Tuyên huấn Đảng cộng sản.”

“Dù Việt Nam có báo chí tư nhân nhưng nếu vẫn bị Ban Tuyên huấn chỉ đạo thì vẫn không có tự do báo chí.”

Dịp 2/9/2015, Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam loan báo thu hồi thẻ nhà báo của ông Đỗ Văn Hùng, thường được biết với tên Đỗ Hùng.

Báo Thanh Niên đã miễn nhiệm chức vụ Phó Tổng Thư ký tòa soạn Báo điện tử Thanh Niên với ông Hùng.

Quyết định của Bộ Thông tin và Truyền thông không nêu nguyên do, nhưng giới nhà báo trong nước tin rằng nó xuất phát từ một đoạn ngắn trên Facebook cá nhân.

Hôm 2/9/2015, trong lúc Việt Nam đánh dấu 70 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh, ông Hùng đăng một đoạn trên Facebook nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Giọng văn hài hước của ông Hùng sau đó bị một số người trên mạng lên án là giễu cợt Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Quyết định nhanh chóng của báo Thanh Niên và của Bộ Thông tin và Truyền thông dường như cho thấy giới chức xem đây là vấn đề nghiêm trọng.

Đăng bởi: Ngô Minh | 02.12.2016

LINH HỒN CỦA ĐOÀN TÀU KHÔNG SỐ

 co-tich

LINH HỒN CỦA ĐOÀN TÀU KHÔNG SỐ

 

                                                              Ghi chép của Ngô Minh

QTXM: NĂM 2010, BỘ QUỐC PHÙNG VÀ BINH CHỦNG HẢI QUÂN CHUẨN BỊ KỶ NIỆM 50 NĂM MỞ ĐƯỜNG HCM TRÊN BIỂN ĐÃ XUẤT BẢN CUỐN SÁCH “HUYỀN THOẠI TÀU KHÔNG SỐ” CỦA NHÀ VĂN ĐÌNH KÍNH DO BỘ TƯ LỆNH HẢI QUÂN ĐẶT HÀNG, CUNG CẤP TƯ LIỆU. SÁCH ĐÃ KHÔNG CÓ MỘT DÒNG VIẾT VỀ TỔNG TƯ LỆNH VÕ NGUYÊN GIÁP, NGƯỜI ĐÃ KHAI SINH RA ĐOÀN TÀU KHÔNG SỐ. VIẾT NHƯ THẾ LÀ  BÔI NHỌ LỊCH SỬ.  BUỘC TÔI PHẢI VIẾT CUỐN SÁCH “CỔ TÍCH TÀU KHÔNG SỐ” ( NXB HỘI NHÀ VĂN 2011), ĐỂ NÓI RÕ VAI TRÒ CỦA TƯỚNG GIÁP . ĐÂY LÀ MỘT CHƯƠNG TRONG CUỐN SÁCH ẤY.

(Đọc tiếp…)

Về 10 đặc tính người Việt do Viện Xã hội học Mỹ nêu ra

Trần Đình Sử

Trần Đình Sử

1.10 đặc điểm ấy đều chính xác, tuy nhiên chưa phải là đầy đủ.

2. Cách nêu trong thế so sánh ngầm với tư duy phương Tây. Chỉ người phương Tây mới nhìn ra 10 đặc điểm này.

3. Các đặc điểm đều có hai mặt. Ta thường tự khẳng định chỉ có một mặt, thiếu biện chứng VÀ THIẾU KHOA HỌC.

4. Nó không ngợi ca theo kiểu đề cao “bản sắc Việt Nam”, “tính dân tộc”, cũng không theo kiểu “người Việt xấu xí” học mót của Bá Dương, cho nên có vẻ khách quan.

5. Xét Các đặc điểm đó với thực tế nghèo khổ, lạc hậu, tụt hậu của VN thì thấy rất đúng. Nước nông nghiệp lạc hậu, tư duy theo mùa vụ, lấy đâu ra tầm nhìn dài lâu? Lại theo chế độ trách nhiệm nhiệm kì lấy đâu ra nhìn xa. Nói tầm nhìn cho có vẻ oai thế thôi, chứ ai thực hiện? Ai cũng mong hạ cánh nhẹ nhàng thôi. Tầm nhìn người Việt không xa hơn cái ghế. Câu chuyện tầm nhìn là xa xỉ đối với người Việt hiện đại. Cứ nhìn thực tế vá víu ở VN thì thấy rõ chẳng có ai có tầm nhìn. Tầm nhìn XHCN là giả tạo. Tầm nhìn TBCN không có. Chỉ mỗi việc công nghiệp hoá mà ì ạch mãi, công nghiệp hoá theo kiểu Vũ Huy Hoàng thì chỉ đớp cho ngập miệng mà thôi.

6. Tôi thấy người Việt có tính a dua, hay học đòi. Thấy thế giới có gì hay thì học đòi, tham gia ngay, nhưng do thiếu hiểu biết, nên làm không đúng nghĩa. Ví dụ thấy di sản văn hoá thế giới là đăng kí tới tấp, cái gì cũng muốn cho thỏa cơn khát sĩ diện, nhưng có suy nghĩ để bảo tồn đâu?

7. Người Việt hiện nay thiếu một trung tâm đoàn kết lớn cho cả dân tộc. Hạt nhân đoàn kết trong thực tế không lôi kéo được người dân. Cho nên làm gì cũng nửa vời. Cái gì cũng làm theo lối diễn, không làm thật bao giờ, cho nên mọi mặt không phát triển. Cả xã hội là một show diễn vĩ đại, hoành tráng từ cấp cao nhất cho đến cấp thấp (ngoại trừ một số hoat động chuyên môn). Rất ít ai làm thật một điều gì. Chỉ một vụ Vũ Huy Hoàng là thấy người ta đang nghĩ cách để diễn cho đẹp mặt, chứ không muốn qua đó mà chấn chỉnh lại xã hội. Thằng Vũ Huy Hoàng đã phá hoại sự nghiệp công nghiệp hoá của đất nước mà không xử tội, lại còn huân chương độc lập, đồng chí đồng rận… Họ không muốn từ bỏ loại CÁN BỘ KIỂU VŨ HUY HOÀNG. Do không mấy ai làm thật các sự nghiệp xã hội, cho nên xã hội không chiu phát triển. Lấy vị dụ về giáo dục. Biết bao khẩu hiệu, biết bao quốc sách, biết bao dự án tiêu bạc tỉ đô, mà mấy ai làm thật?

8. Cho nên chỉ khi nào có người muốn làm thật, không biểu diễn thì đất nước mới có cơ hội phát triển. Người Mỹ không phát hiện ra khả năng biểu diễn của người Việt chúng ta. Nếu họ hiểu có thể họ sẽ không viện trợ nữa. Cho nên cần giấu kĩ đặc tính này và phải biểu diễn cho i hệt như thật.

9. Người Việt có lối tự tôn ngầm mù quáng rất tai hại. Nước Nhật chẳng hạn, thấy mình thua nước nào thì học ngay nước đó để bằng họ. Người Việt thấy mình thua người ta thì tìm một cái khác của mình để đối trọng ra điều ta chẳng thua, vì thế mà cứ thua mãi. Ví dụ tự hào về chế độ của mình.

10. Muốn tiến bộ cần học tập tư duy phương Tây. Chớ nên dựa vào bản sắc dân tộc mà ảo tưởng và tụt hậu, Thời đại đã khác xưa rồi.

T.Đ.S.

Nguồn: FB Trần Đình Sử

TIẾNG NÓI NHÀ VĂN: VỀ BI KỊCH ĐỌC KHÔNG VỠ CHỮ VĂN CHƯƠNG…

NGUYỄN THỊ MINH THÁI
 Trong các loại hình văn nghệ, thì nghệ thuật văn chương đứng riêng ra một lối, ở tính đặc thù của ngôn ngữ loại hình. Đó là tính phi vật thể của ngôn ngữ văn học, bởi văn học hiện diện với tư cách là nghệ thuật của ngôn từ.

Nhà văn Nguyễn Thị Minh Thái

Nói trắng ra theo cách diễn nôm, văn học là nghệ thuật viết chữ của từng nhà văn, trong cái viết riêng tư đặc trưng, dẫn tới tác phẩm văn học là sự tổ chức đặc thù của con chữ, nên bản thảo của nhà văn phải được in ấn, xuất bản thành sách văn học và, đương nhiên, phải dẫn đến cái đọc của độc giả.

Chưa đến đáy cùng của chữ

Cho nên, quan hệ lớn nhất và duy nhất của tác phẩm văn học là quan hệ giữa cái viếtcái đọc, giữa nhà văn và người đọc, đã chỉ thông qua… chữ và chữ. Và tất cả bản chất quan hệ này chỉ có thế và thế thôi. Vì thế, mối bận tâm lớn nhất, đặc trưng nhất của cả hai bên, nhà văn và bạn đọc, chính là việc viết chữ văn chương thế nào và đọcchữ văn chương ra sao? Ấy là chưa kể đến nghệ thuật chữ của từng nhà văn nhà thơ, nhất là nhà thơ, như Lê Đạt, ông thấy chữ thơ có thể tỏa bóng rợp mát cả một vùng tâm linh người đọc, ông thấy chữ có thể lay động và in bóng trên mặt sóng dưới chân cầu, nên cả nghĩ mà đặt tên tập thơ mình là “Bóng chữ”. Trên tinh thần triết học về lao động thi sĩ, chưa ai như Lê Đạt, tự gọi cái nghề làm thơ của mình là nghề làm “phu chữ”.

 Kinh nghiệm đọc và phân tích văn chương kịch của ít nhiều năm chăm chỉ miệt mài làm cố vấn văn học kịch (theo tôi, cũng là kiểu “phu chữ”, trên tinh thần Lê Đạt) cho Nhà hát Tuổi Trẻ và Nhà hát Kịch Việt Nam, khiến tôi tin chắc rằng, chữ văn chương là thứ chứa chất nhiều hồn vía “phi vật thể” nhất so với sự hiển thị “vật thể”: thành hình tượng nhân vật bằng xương bằng thịt của diễn viên sắm vai nhân vật trên sân khấu, trong phim truyện, hoặc tạo hình trong nghệ thuật múa hoặc nghệ thuật ca hát… Chữ không những có hồn vía, mà có thể là bóng lay động, đa mang trong lòng nó nhiều nghĩa ở bên ngoài chữ, trong lòng chữ và thậm chí lặn thật sâu ở dưới đáy chữ, khiến người đọc hầu như không biết bao giờ mới dò tới tận đáy thẳm của nó…

Trải nghiệm cá nhân cho tôi biết, có những sách văn học đọc đi đọc lại suốt quãng đời dài của đời sống hữu hạn mà vẫn chưa thể đi đến đáy cùng của con chữ. Chính điều ấy khiến tác phẩm văn chương thứ thiệt luôn xuyên qua thời gian, không gian, để còn mãi với thời gian, không gian và luôn thách thức cái đọc trong sự hữu hạn đời sống trần thế của người đọc. Hẳn các nhà văn chúng ta đã xem tiểu thuyết Người đọc và bộ phim chuyển thể từ tiểu thuyết này, mà không nghĩ rằng, rất nhiều tác phẩm thuộc các ngôn ngữ vật thể khác, do được khởi nguyên từ ngôn ngữ văn học mà được sáng giá, lên giá, treo cao giá ngọc cho các ngôn ngữ hữu hình được chuyển thể từ cái vô hình của văn chương “phi vật thể”…

Vậy thì, chỗ của nhà phê bình văn chương ở đâu, và tại sao nhà phê bình cần có chỗ trong quan hệ thẩm mỹ rất căn cơ giữa nhà văn và bạn đọc, ( chính là quan hệ giữa cái viếtcái đọc) thông qua những con chữ rất “phi vật thể” này, để xác lập tư cách người đọc đặc thù, chính là nhà phê bình, người chuyên trị đọc/phải đọc “vỡ chữ”?  Theo tôi, chỗ của nhà phê bình văn học là đứng giữa tác phẩm văn chương và người đọc, với tư cách người bình giá, thẩm định, môi giới cái đẹp của con chữ nhà văn đến với độc giả. Cũng vì thế, nhà phê bình đương nhiên phải thông hiểu cả hai nghệ thuật tạo nên mối quan hệ thẩm mỹ đặc thù giữa cái viếtcái đọc này, với một bên là nghệ thuật viết văn của nhà văn và một bên là nghệ thuật đọc văn chương của người đọc.

Ở chỗ đứng rất đặc biệt này, có thể rất nhiều khi/ít khi, nhà phê bình phải đương đầu và phải vượt thoát một bi kịch thường hay xảy ra đối với cái đọc tác phẩm văn chương, đó là bi kịch đọc không vỡ chữ. Thậm chí việc giải quyết bi kịch này có thể là việc cấp thiết nhất, cần đặt ra thường hằng đối với những ai đã mang lấy nghiệp phê bình văn học vào thân, nếu không muốn nói, đây cũng chính là vượt thoát của cả nền văn học Việt Nam trong suốt tiến trình hiện đại hóa của nó, đã, đang, và sẽ diễn ra dài dài suốt từ thế kỷ XX cho đến thế kỷ XXI hôm nay…

Cũng chính vì buộc phải vượt thoát bi kịch này mà các nhà phê bình hôm nay luôn phải đương đầu với bi kịch “đọc không vỡ chữ”, nhất là đối với các tác phẩm mới, các nhà văn mới xuất hiện.Ta từng chứng kiến cách đọc văn như đọc báo trong tác phẩm Cánh đồng bất tận của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, cùng sự quá lời đến mức xúc phạm nhà văn, khi một vài cán bộ văn nghệ ở tỉnh Cà Mau đã kết tội nữ nhà văn này một cách thô bạo và khiên cưỡng trên báo chí…

 

 

Dịch thuật không vỡ chữ

Ngày gần đây, 8.5.2013, tại Trung tâm văn hóa Pháp 24 Tràng Tiền, Hà Nội, đã diễn ra cuộc thảo luận về dịch thuật và phê bình dịch thuật. Tôi cho rằng căn cơ của việc thảo luận này vẫn không ra ngoài việc đọc và dịch tác phẩm văn chương nước ngoài hiện nay, trong ít nhiều trường hợp, vẫn chưa thoát khỏi việc đọc chưa vỡ chữ của nguyên tác, dẫn đến việc dịch cũng không vỡ chữ thành tiếng Việt từ nguyên tác. Và thực trạng việc dịch văn chương ấy liệu có liên quan mật thiết đến việc đọc và dịch văn chương một cách có văn hóa không, và thực sự, đang có vấn đề về văn hóa đọc của nhà phê bình và văn hóa dịch của các dịch giả hay không? Và, cả văn hóa đọc lẫn văn hóa dịch này có liên quan đến văn hóa đọc văn chương hôm nay hay không?

Không hề ngẫu nhiên, trong nền dịch thuật Việt hôm nay, đã xuất hiện những nhà phê bình “ném đá” vào dịch giả, cùng những lời lẽ đánh đập thô bạo, quá lời, khiến một số dịch giả phải kêu lên “chưa có không khí phê bình dịch thuật lành mạnh”. Song, phải thấy rằng, không phải lúc nào, tác phẩm nào của dịch giả cũng sáng láng trong cách đọc vỡ chữ tiếng nước ngoài và cách uyển chuyển “Việt hóa” của người dịch am tường, thấu hiểu tiếng Việt, khiến cho, có lúc, dịch thuật văn chương nước ngoài sang tiếng Việt đã được gọi tên là “thảm họa dịch thuật”.

Việc đọc của nhà phê bình văn chương hôm nay đối với tác phẩm văn học, vì thế, đương nhiên, được/phải diễn ra trên hai loại tác phẩm: loại tác phẩm được viết bằng tiếng Việt, tiếng mẹ đẻ, và loại khác, được dịch từ tiếng nước ngoài sang tiếng mẹ đẻ là tiếng Việt. Như đã nói, việc đọc của nhà phê bình văn học dịch là người Việt, chắc chắn phải dựa trên sự đọc “vỡ chữ” từ nguyên bản (tiếng Anh, Pháp, Nga, Đức, Trung Quốc… chẳng hạn) và cái sự đọc này chắc hẳn phải ngang bằng với sự đọc “vỡ chữ” và diễn đạt tử tế bằng tiếng mẹ đẻ là tiếng Việt, của chính người dịch Việt. Các bản dịch hay nhất của những dịch giả người Việt từ nền văn chương của các quốc gia trên thế giới đã và đang nằm trên giá sách của người Việt yêu văn chương thế giới từ trước đến nay, đã chứng tỏ điều đó. Những thảo luận về sai sót trong dịch thuật hôm nay chỉ chứng tỏ rằng, trong tình cảnh lộn xộn, bát nháo, vội vã, thậm chí chộp giật, của thị trường xuất bản sách dịch hôm nay, đã xảy ra rất nhiều lỗi văn hóa trong dịch thuật, liên quan đến lỗi văn hóa trong cái đọc, và tất nhiên, đi liền với nó là cái viết bình luận bằng tiếng Việt trong dịch thuật, trước hết là của nhà phê bình văn chương nói chung và nói riêng, là của nhà phê bình dịch thuật… Chính dịch giả Trịnh Lữ (Cuộc đời của PiĐại gia Gasbi cũng đã phải nhận thực trên báo Thanh Niên: nguy hiểm nhất của nghề dịch là cái sai về văn hóa. Bởi người dịch vốn được coi là người vận chuyển và người thương lượng giữa hai nền văn hóa. Dich giả Trần Đình Hiến dịch Báu vật của đời cũng đồng thuận: dịch thực chất là giao lưu giữa hai nền văn hóa mà nhiều khi yếu tố văn hóa cho một dịch phẩm thành công quan trọng hơn ngôn ngữ. Văn hóa rất quan trọng với người dịch, cần phải có phông văn hóa sâu rộng của cả hai nền văn hóa. Trong ký ức riêng, tôi cất giữ kỷ niệm về một dịch giả bậc thầy hào hoa phong nhã dịch truyện ngắn cổ điển tiếng Nga  của I.Bunhin sang tiếng Việt, khi cùng qua con phố nhỏ gần đồi đại học Tổng hợp Lomonosov ở Maxcơva, năm 1984, ông nói: Để dịch một chi tiết về cái phố nằm trên triền đồi dông dốc với những khúc lượn rất dễ thương này của Maxcơva, tôi đã phải đi qua đi lại đây hàng trăm lần, ngắm nghía, thưởng thức nó trong mấy năm đại học và cả khi quay trở lại làm nghiên cứu sinh…

 

 

Khó nhất là vỡ chữ thơ

Trong các thể loại mà nhà phê bình văn chương lấy làm đối tượng để bình giá, để phê bình, tôi thấy việc đọc “vỡ chữ” thơ (thẩm thơ) là điều khó khăn, phức tạp nhất và cho dù thế nào, cũng khó có ai thuộc thế hệ sau Hoài Thanh có thể “qua mặt” ông trong việc bình thơ, dù thơ của thế kỷ XXI rất khác với thơ của thế kỷ XX. Nhưng thế kỷ nào thì cũng cần thơ hay, cũng có thơ hay và những bài thơ hay trong ngôn ngữ của quốc gia này vẫn được dịch thật hay sang ngôn ngữ quốc gia khác. Về dịch thơ, tôi nghĩ bản dịch Đợi anh về của thi sĩ người Nga Simonov được nhà thơ Tố Hữu dịch sang tiếng Việt, hoặc bài thơ Không đề của Olga Bergol, nữ sĩ người Nga, được nhà thơ Bằng Việt dịch sang tiếng Việt, rồi Hoàng Hạc Lâu của thi sĩ Trung Hoa Thôi Hiệu đời Đường được thi sĩ Tản Đà dịch sang tiếng Việt… đã là những thí dụ sáng giá nhất về dịch thơ.

Về Thơ Mới, có lẽ không thể thiếu sự bình giá đích đáng của Hoài Thanh, như một tri âm lãng mạn nhất, có phép ứng xử văn hóa nhất với Thơ Mới trong giai đoạn đầu quá trình hiện đại hóa văn học Việt thế kỷ XX, trong bối cảnh hiện đại Việt Nam giao lưu văn hóa với phương Tây.

 Việc đọc vỡ chữ Thơ Mới của Hoài Thanh, đương nhiên, đã gắn kết biện chứng, “liền ruột” với cách diễn đạt tiếng Việt của ông, cũng thật là mẫu mực về sự trong sáng, uyển chuyển và tinh tế trong cái viết của một nhà phê bình thơ. Vì vậy, có khi phải là một nhà văn mới có thể viết bình luận về một nhà văn, và nhà văn sáng tác tác phẩm văn chương và nhà văn bình luận tác phẩm văn chương là hai công việc cùng bản chất sáng tạo và, đương nhiên, tác phẩm của cả hai đều bình đẳng dưới ánh sáng mặt trời. Xin chú ý một đoạn thôi, khi Hoài Thanh viết về Thế Lữ, người khởi đầu Thơ Mới ở những năm 30 của thế kỷ XX, trong Thi nhân Việt Nam, với sự phát hiện đúng là của một kẻ tri âm về cái mới, mang tính tiền phong của thơ Thế Lữ: “Độ ấy Thơ Mới vừa ra đời, Thế Lữ như vầng sao đột hiện ánh sáng chói khắp cả trời thơ Việt Nam. Dầu sau này danh vọng Thế Lữ có mờ đi ít nhiều, nhưng người ta không thể không nhìn nhận cái công của Thế Lữ đã dựng thành nền Thơ Mới ở xứ này. Thế Lữ không bàn về Thơ Mới, không bênh vực Thơ Mới, không bút chiến, không diễn thuyết, Thế Lữ chỉ lặng lẽ, chỉ điềm nhiên bước những bước vững vàng mà trong khoảnh khắc cả hàng ngũ thơ xưa phải tan vỡ. Bởi không có gì khiến người ta tin ở Thơ Mới hơn là đọc những bài thơ mới hay. Mà thơ Thế Lữ về thể cách mới không chút rụt rè, mới từ số câu, số chữ, cách bỏ vần, cho đến kết cấu âm thanh. Thế Lữ đã làm rạn vỡ những khuôn khổ ngàn năm không di dịch. Chữ dùng lại rất táo bạo. Đọc đôi bài, nhất là bài“Nhớ rừng”, ta tưởng chừng những chữ bị xô đẩy, bị dằn vặt bởi một sức mạnh phi thường”.

Tưởng không có lời nào huy hoàng, đích đáng hơn Hoài Thanh, khi viết về sức mạnh riêng của con chữ thơ Thế Lữ, với vai trò thi sĩ tiền phong, khởi đầu trào lưu Thơ Mới.

 

Di chuyển từ kịch bản lên sàn diễn

Như thế, hoàn toàn không ngẫu nhiên, việc đọc vỡ chữ của nhà văn làm nghề phê bình văn chương, còn liên quan đến một công việc sáng tạo vô cùng quan thiết với các loại hình nghệ thuật khác, khởi đi từ văn chương, thí dụ nghệ thuật sân khấu, điện ảnh, âm nhạc… là chuyển từ ngôn ngữ phi vật thể của kịch bản văn học sang ngôn ngữ vật thể của vở diễn trên sàn diễn, hoặc của bộ phim trên màn ảnh phim truyện. Về chuyện di chuyển đầy sáng tạo và cũng đầy thú vị này, tôi tin vào một bậc trưởng thượng của giới sân khấu, đó là NSND Nguyễn Đình Nghi, con trai trưởng của NSND Thế Lữ. Hai cha con họ chiếm hai vị trí nửa đầu và nửa cuối thế kỷ XX về công cuộc đưa nghề đạo diễn từ châu Âu vào Việt Nam và kiến tạo nghề này vững chãi ở Việt Nam.

Đạo diễn là một nghề mang tính chỉ huy tổng thể đối với tác phẩm sân khấu. Muốn làm cái nghề đưa tác phẩm văn học kịch lên sân khấu này, theo Nguyễn Đình Nghi, việc đầu tiên của đạo diễn là phải chứng tỏ quyền năng hành nghề ở khâu đầu tiên, hoàn toàn liên quan đến văn chương, đó là “đọc cho vỡ chữ” văn bản kịch. Nghĩa là đạo diễn có quyền lựa chọn kịch bản văn học, có khả năng làm hỏng một kịch bản hay, hoặc làm hay hơn một kịch bản trung bình. Một khi đạo diễn đã tìm được cách đọc kịch bản và cách dàn dựng trên sân khấu thì cả tác giả kịch lẫn diễn viên kịch đều khó bề cưỡng chống. Đạo diễn phải là người hiểu, cắt nghĩa, giải thích tác phẩm theo cách riêng của mình, khi ấy văn bản kịch sẽ mang ánh sáng của riêng người đạo diễn. Cùng một kịch bản văn chương, mỗi đạo diễn sẽ có cách ứng xử văn hóa riêng, càng riêng càng độc đáo. Tất nhiên, riêng ở đây không có nghĩa là phản bội tinh thần của người viết kịch. Nguyễn Đình Nghi nhấn mạnh rằng, đạo diễn kịch phải là người hiểu kịch bản, “tiêu dùng” nó như một khám phá, để làm bệ đỡ cho một ngôn ngữ khác, đó là dàn dựng vở diễn, chứ không phải hề đồng lóc cóc chạy theo nhà viết kịch. Và ông dẫn ra một thí dụ rất hay từ một bài thơ tình trong kho tàng thơ cổ Trung Hoa. Theo trí nhớ của ông, bài thơ có nguyên văn chữ Hán: Quân tri thiếp hữu phu/ Tặng thiếp song minh chu/ Cảm quân triền miên ý/ Hệ tại hồng la nhu/ Hoàn quân minh chu song lệ thủy/ Hận bất tương phùng vị giá thì… Ông tạm dịch nghĩa: Chàng biết thiếp có chồng, vẫn tặng thiếp đôi ngọc minh châu. Cảm cái tình sâu nặng của chàng, thiếp đeo ngọc trong áo lót mình màu phấn đỏ. Nhưng nghĩ mình là gái đã có chồng, không muốn phụ lời vàng đá với chồng, đành rơi lệ mà trả chàng đôi ngọc, hận vì không gặp chàng khi còn là gái chưa chồng. Khi bài thơ được dịch sang tiếng Việt, ông Nghi thấy ai cũng dịch thật sát nguyên văn cái hình ảnh đẹp nhất của bài thơ: thiếu phụ ấy đã khóc mà trả lại đôi ngọc minh châu cho người tặng. Ông Nghi cũng hiểu y chang như thế, ngay cả khi đọc bài thơ nguyên bản chữ Hán. Bỗng nhiên ông được đọc bài thơ ấy bằng tiếng Pháp, do một người gốc Trung Quốc dịch. Người đó dịch: Em xin trả lại chàng đôi ngọc. Đấy là hai giọt nước mắt em rơi xuống. Ông Nghi lập tức thấy vỡ ra một điều gì đó giống như một phát hiện. Bài thơ bỗng lạ hẳn, mới hẳn, hay hơn hẳn và rực sáng như khuôn mặt đẹp lúc xuất thần. Từ đó, ông liên tưởng đến sức mạnh tư duy của người đạo diễn sân khấu, và khẳng định: Hệt như dịch giả Trung Quốc trong bài thơ này, người đạo diễn phải có sức khám phá, phát hiện riêng, phải đẩy cho được kịch bản lên một tầm cao mới, trong ngôn ngữ vở diễn trên sân khấu. Bởi vậy, tự thân kịch bản văn chương đòi người đạo diễn sân khấu buộc phải có sức biện biệt về văn học. Sức biện biệt này càng mạnh, càng lớn, thì người đạo diễn càng hay, càng độc đáo. Vì thế, khi tôi đối thoại với ông về nghề đạo diễn cách đây đã vài chục năm, ông Nghi từng thú nhận cảm giác rợn ngợp khó tả của ông khi đứng trước… chữ của văn bản kịch, y như trước cánh cửa khép kín, mà thoạt đầu không thể tìm thấy ngay chìa khóa mở cửa. Là người tự trải nghiệm sâu sắc về văn hóa đọc… chữ kịch bản để chuyển sang cái dàn dựng sân khấu, Nguyễn Đình Nghi không bao giờ tin một kịch bản hay lại lồ lộ phơi trần tất cả ý nghĩa của nó ngay lần đầu chạm mặt. Bao giờ kịch bản hay cũng mang trong lòng nó những ý chìm sâu, lắng đọng mà chừng nào ông Nghi chưa tìm ra nó, thì chưa thể yên tâm bắt tay vào dàn dựng. Song, là người đọc tinh tế, ông cũng không bao giờ muốn kết luận thô thiển: tác phẩm văn học kịch chỉ nên viết vừa phải, để dành khoảng trống cho đạo diễn và diễn viên bù đắp, khi chuyển ngữ sang vở diễn sân khấu. Theo ông, một kịch bản đích thực là văn chương không phải là nơi để nhà đạo diễn sân khấu thêm thắt, bù đắp, mà chính là một kho báu cho đạo diễn phát hiện, đào bới mãi cũng chưa đi hết giới hạn văn chương cuối cùng của nó. Chính vì thế, dù cho Shakespeare đã viết kịch bản Hamlet kỹ lưỡng đến thế về văn chương kịch, thì hoàn toàn vẫn còn rộng chỗ cho đạo diễn và diễn viên trên toàn cầu sáng tạo ngôn ngữ sân khấu và điện ảnh. Trên thực tế, đã có hàng trăm bản dựng của hàng trăm đạo diễn và cũng thế, hàng trăm vai diễn Hamlet khác nhau trên sân khấu và điện ảnh toàn cầu. Càng gặp đạo diễn và diễn viên có tài thì chàng hoàng tử Đan Mạch ấy càng lộ diện nhiều khuôn mặt và số phận nghệ thuật phong nhiêu trên sân khấu và màn ảnh thế giới. Cuối cùng, Nguyễn Đình Nghi cho rằng việc khám phá chữ nghĩa của văn bản kịch phụ thuộc vào việc đạo diễn phải đặt mình vào trạng thái sáng tạo của nhà viết kịch, nghĩa là trạng thái… viết của người tạo con chữ trên mặt giấy, để cố gắng sống lại tâm ý của người viết, khi tạo nên tác phẩm kịch, rồi mới làm được việc tiếp nối của đạo diễn là đưa các con chữ lên, “vật thể hóa” nó trên sàn dựng và sàn diễn. Và chỉ khi nào người đạo diễn tìm ra trong công việc ấy một niềm hạnh phúc sáng tạo thì việc dàn dựng vở diễn mới có thể bắt đầu. Ông Nghi, khi nói những điều này, cũng hiểu rõ: một tác giả kịch không chỉ thể hiện bộ mặt tinh thần của mình chỉ qua một tác phẩm. Vậy, đấy lại là điều nhà đạo diễn phải tìm kiếm, thí dụ qua vài chục vở kịch, Lưu Quang Vũ muốn nói điều gì canh cánh và xuyên suốt với công chúng Việt vào mấy thập niên cuối thế kỷ XX ở Việt Nam chẳng hạn? Từ đó, Nguyễn Đình Nghi đã tìm được một định nghĩa đích đáng về nghề đạo diễn kịch, trên một căn bản triết lý về sức biện biệt văn học, đối với nghề này, như một đảm bảo bằng vàng cho việc sáng tạo vở diễn kịch. Theo ông:

*Đạo diễn sân khấu = người giải thích tác phẩm văn học

*Đạo diễn sân khấu = bội số của tác phẩm văn học

*Đạo diễn sân khấu = giấc mơ về tác phẩm văn học

Tôi và chúng tôi, những người làm công việc bình luận những vấn đề đặt ra từ sự phát triển đang hết sức phức tạp, đa dạng, bộn bề của nền văn nghệ Việt hôm nay đã đi đến thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, và đang gắng sức nhận thực, phân tích hiện trạng văn hóa đọc hôm nay, đặng tìm cách chuồi ra, thoát khỏi bi kịch “đọc không vỡ chữ”, từ những kinh nghiệm, bài học của tiền nhân, của đồng nghiệp và của những trải nghiệm từ bản thân việc viết phê bình của mình. Và đây là một cố gắng nhỏ nhoi của tôi và cũng là phát biểu có tính trải nghiệm cá nhân về công việc bình luận văn nghệ từ chính mình, không có ý nào khác…

( Nguồn: vanvn.net)

Đăng bởi: Ngô Minh | 02.12.2016

Bàn về liên hệ “Nguyên nhân – hậu quả”

Bàn về liên hệ “Nguyên nhân – hậu quả”

  •   NGUYỄN HUỲNH MAI

Lướt qua vài tựa báo trên mạng hôm nay, ta có thể thấy những tựa bài rất … câu khách.

Phụ nữ có vòng 3 lớn hơn sẽ thông minh và khỏe mạnh hơn

Phụ nữ ngực càng to càng thông minh.

Nguy cơ suy thận do ngủ không đủ giấc.Đàn ông lấy vợ thông minh sống lâu hơn.

.Các bài báo thường bắt đầu bằng “Một nghiên cứu của trường Đại Học X, Y , … đã cho thấy rằng …” như để chính thống hóa thông tin nhưng không cho biết xuât xứ rõ ràng của nghiên cứu, tức là đã đăng trên tạp chí khoa học nào, số mấy và năm nào. Không có nguồn gốc thì thông tin không khả tín được.

Thông minh và giấc ngủ là hai …”sở trường” của tác giả bài này vì cá nhân đã làm việc ở một Trung tâm giấc ngủ (Sleep Center, ULg) và có nhiều liên kết với Trung tâm Thần kinh (GIGA, Center for Nero Sciences, ULg) của Đại học Liège trong gần hai mươi năm.

Nhưng bài này không nói về nội dung mà đặt vấn về về phương pháp, về các cách kết luận, các khẳng định “nhân-quả” giữa hai hiện tượng.

Thật vậy, liên hệ giữa hai hiện tượng có thể

– là một liên hệ giống nhau theo hình thức, theo quá trình cấu thành liên hệ giữa hai hiện tượng hay theo diễn tiến – tức là những điều quan sát được, kiểm tra được.

– là một liên hệ phụ thuộc. Vì b là cấu thành của a chẳng hạn

– là một liên hệ ảnh hưởng lẩn nhau (khi a tăng thì b giảm, hay ngược lại)

– là một liên hệ thời gian (xãy ra cùng một lúc chẳng hạn)

– cũng là một liên hệ thời gian nhưng hiên tượng này đi trước hiện tượng kia

– cũng trong thời gian, hiện tượng a có thể tự biến đổi mà không có can thiệp của bất cứ yếu tố ngoại lai nào, kể cả hiện tượng b đối diện mà ta đang quan sát

– bất cứ hiện tượng nào, nhất là các hiện tượng xã hội, đều có nhiều liên hệ với nhiều hiện tượng khác, cùng một lúc, chằng chịt.

Nhưng có một liên hệ mà tất cả các nhà khoa học đều rất thận trọng trước khi kết luận : liên hệ nhân quả hay liên hệ nguyên nhân và hậu quả (lien de causalité).

Vì làm sao minh chứng được rằng a là nguyên nhân hay hậu quả của b trong khi a và b, trong môi trường và trong cuộc sống, bị “bao vây” và có nhiều liên hệ phức tạp với nhiều hiện tượng khác cùng lúc ?

Vài thí dụ:

X và Y ly dị nhau vì Y không đoan trang hiền thục. Biết bao nhiêu cặp đôi trong đó bà vợ không khác gì … sư tử Hà Đông vẫn sống cùng nhau tới già kia mà. Có thể còn yếu tố hoàn cảnh, liên hệ ngoài luồng, … chen vào trong trường hợp của X và Y ở đây.

X học giỏi vì X thông minh ? – Còn tùy thể chế và hệ thống trường học, ta vẫn nói “trong xứ người mù thì ông chột là vua” mà. Còn tùy cá nhân của X, chuyên cần, lại được cha mẹ khuyến khích và đầu tư đầy đủ hay, hiếm hơn nhưng vẫn có thể, X học giỏi vì X muốn được cha mẹ yêu, tức là do một vấn đề về tâm thần nội tại của X.

Thiếu ngủ cho nhiều hệ lụy, điều đó không ai chối cải dù y khoa hiện cho thấy là ngủ nhiều nguy hiểm hơn là ngủ ít. Nhưng theo các kết quả hiện thời của y khoa – qua các Hội nghị về giấc ngủ gần đây nhất- chưa có nghiên cứu nào cho thấy là thiếu ngủ kéo theo suy thận – thiếu ngủ tới chừng mực nào?, trong bao nhiêu năm ? Suy thận cở nào? Làm sao cách biệt ra được các nguyên nhân khác về di truyền hay về vệ sinh thường thức của cuộc sống của các cá nhân mà nghiên cứu quan sát ?

Còn mông hay ngực to và thông minh trong chừng mực nào đó, có thể đúng. Có thể vì những phụ nữ với mông và ngực to được xã hội vinh danh nhiều hơn, được nhiều stimulis (kích thích) hơn nên …thông minh hơn nhưng tới bây giờ, chưa có một nhà khoa học nào dám khẳng định điều đó vì thế nào là thông minh vẫn còn đang bị tranh cải, Chỉ số IQ không được nhất trí đồng thuận vì cách đo có nhiều biais hay trục trặc khiếm khuyết. Vã lại thông minh ở đây là thông minh loại nào, vì hiện giới khoa học đồng tình ít nhất ở một điểm: ta có nhiều loại thông minh…

Thế có nghĩa là liên hệ nguyên nhân – hậu quả giữa mông hay ngực to và thông minh là một liên hệ hiện chưa chứng minh được.

Cuối cùng, cũng theo các tựa bài dẫn ở trên, bài nói về sự trường thọ của những người đàn ông lấy vợ thông minh được mang về từ một địa chỉ thương mại http://iheartintelligence.com/, mà dò theo các posts, ta có thể đọc, chẳng hạn, rằng các chất gây nghiện tốt cho não (!)

tức là nguồn này còn tệ hơn những tờ báo lá cải, xin miễn bàn.

Đăng bởi: Ngô Minh | 02.12.2016

Thân thế tân vương Vajiralongkorn Thái Lan

Thân thế tân vương Vajiralongkorn Thái Lan

BBC

  • Ông sẽ chủ trì các nghi thức tang lễ cầu kỳ và kéo dài cho cha mình.Image copyrightREUTERS
Image captionÔng sẽ chủ trì các nghi thức tang lễ cầu kỳ và kéo dài cho cha mình.

Tân vương Thái Lan Vajiralongkorn sinh ngày 28 tháng 7 năm 1952, là con trai đầu và đứa con thứ hai của Hoàng hậu Sirikit và Vua Bhumibol Adulyadej.

Sau nhiều thập niên có những trắc trở về việc kế ngôi, việc có một người nam thừa kế được coi là quan trọng đối với chế độ quân chủ, tại một thời điểm khi tính ưu việt của nó trong hệ thống chính trị của Thái Lan bị nghi ngờ. Chế độ quân chủ tuyệt đối đã bị lật đổ vào năm 1932, tiếp theo là việc thoái vị vào năm 1935, và 11 năm đất nước không có vua trị vì.

Khi còn nhỏ, vua Vajiralongkorn theo học tại một trường của hoàng cung ở Bangkok. Ở tuổi 13, ông được gửi đến hai trường tư thục ở Vương quốc Anh trong 5 năm, và sau đó học năm cuối tại một trường ở Sydney, Australia. Bốn năm sau đó ông đã được đào tạo tại Trường Quân sự Hoàng gia, Duntroon, tại Canberra.

Theo ghi chép riêng của mình, ông khá chật vật theo học trong trường và đổ lỗi cho việc mình được dạy dỗ nuông chiều trong cung điện. Ông cũng không đạt được điểm cao tại Duntroon. Ông tiếp tục được đào tạo quân sự nâng cao tại Thái Lan, Anh, Mỹ và Úc, và trở thành sĩ quan trong lực lượng vũ trang Thái Lan. Ông có bằng phi công dân sự và quân sự và tự lái máy bay Boeing 737 của mình khi ra nước ngoài.

Ông được cha mình chính thức trao tước hiệu Thái tử trong một buổi lễ sự nhậm chức vào năm 1972, khiến ông trở thành người thừa kế chính thức. Nhưng vào thời điểm đó câu hỏi đã được đặt ra là liệu ông có xứng với cương vị người thừa kế ngai vua hay không.

Ông không tỏ ra có chút nhiệt tình nào với người em gái là Công chúa Sirindhorn đối với các dự án phát triển của cha mình và có nhiều lời đồn rằng ông là người lăng nhăng, cờ bạc và kinh doanh phi pháp.

Năm 1981 mẹ ông, Hoàng hậu Sirikit, ám chỉ đến những vấn đề này, và mô tả con trai bà là “hơi có một chút lãng tử” và nói rằng ông ưa dành các ngày cuối tuần với mỹ nữ hơn là phải thực hiện bổn phận của mình.

Thái tử Vajiralongkorn trong nghi lễ lên ngôiImage copyrightEPA
Image captionThái tử Vajiralongkorn trong nghi lễ lên ngôi

Trước cuộc tiếp xúc với hiếm hói với các nhà báo Thái Lan vào năm 1992, ông đã bác bỏ những tin đồn rằng ông có dính líu với các nhân vật giống mafia và doanh nghiệp xã hội đen.

Năm 1977 ông kết hôn với người em họ của mình là công chúa Soamsawali và họ có đứa con đầu lòng, công chúa Bajarakitiyabha, vào tháng 12 năm 1978. Tuy nhiên, vào lúc đó thì ông đã đi lại với một nữ diễn viên trẻ, Yuvadhida, người đã sinh cho ông 5 người con từ năm 1979 đến năm 1987. Ông kết hôn với cô vào năm 1994, nhưng vào năm 1996 đã công khai lên án cô và từ bỏ bốn người con trai của mình vốn theo học tại Vương quốc Anh.

Ông kết hôn với người vợ thứ ba là Srirasmi vào năm 2001, và đã có một con trai, Hoàng tử Dipangkorn, với người vợ này vào năm 2005.

Trong năm 2014 Srirasmi đã bị tước danh hiệu hoàng gia cùng chín người họ hàng của mình, kể cả cả cha mẹ cô đã bị bắt vì tội khi quân với cáo buộc họ đã lạm dụng các liên hệ của mình với thái tử. Một sĩ quan cảnh sát có quen biết gia đình chết ở trong tù sau khi ngã từ cửa sổ xuống.

Tội trạng, lợi dụng tên ông, cũng là tội gán cho những người khác từng thân quen với Thái tử, phải kể đến là một thầy bói nổi tiếng, cùng với một sĩ quan cảnh sát, đã chết sau khi bị bắt hồi cuối năm ngoái. Đồng thời, vệ sĩ cá nhân của Thái tử đã bị cách chức vì “bất tuân lệnh của hoàng gia” và “đe dọa chế độ quân chủ bằng cách theo đuổi lợi ích riêng của mình”. Ông đã mất tích và được cho là đã chết.

Vua Vajiralongkorn vào lúc này thường đi với một cựu tiếp viên hàng không Thai Airways, Suthida, người đã được phong hàm Trung tướng trong Cận vệ Hoàng gia. Ông cũng từng thăng hàm tướng Không quân cho chó cưng Fu-Fu của mình.

Vua Vajiralongkorn tham gia hai sự kiện đi xe đạp để tỏ lòng tôn kính cha mẹ mình vào năm ngoáiImage copyrightEPA
Image captionVua Vajiralongkorn tham gia hai sự kiện đi xe đạp để tỏ lòng tôn kính cha mẹ mình vào năm ngoái

Mức độ nghiêm trọng của pháp luật về tội khi quân đã ngăn cản bất kỳ cuộc thảo luận mở nào đối với sự phù hợp của vị tân vương bên trong Thái Lan. Nhưng ở chỗ riêng tư, khả năng Vajiralongkorn truyền lại cho em gái Sirindhorn hiếu thảo và được mến mộ hơn đã thường được nói tới, nhất là khi tước hiệu hoàng gia của Sirindhorn được nâng lên trong năm 1978 và bằng việc thay đổi trong luật của hoàng gia Thái cho phép một phụ nữ có thể lên ngôi.

Nhưng điều đó chỉ có thể khi không có người nam thừa kế, và Vua Bhumibol không bao giờ ủng hộ cho giải pháp nào thay thế cho con trai mình.

Khi sức khỏe của Quốc vương Bhumibol giảm, Thái tử Vajiralongkorn xuất hiện thường xuyên hơn trước công chúng, và thay mặt cha mình cử hành các nghi lễ hoàng gia truyền thống.

Trong quá khứ đã có những tin đồn về mối quan hệ làm ăn giữa ông và cựu Thủ tướng Thaksin Shinawatra, ông trùm viễn thông mà đảng của ông thắng cử từ năm 2001 và cũng là chính khách bị đa số người trong chóp bu hoàng gia xem là một mối đe dọa.

Nhưng sau cuộc đảo chính vào năm 2014, theo đó lật đổ chính phủ của em gái Thaksin Shinawatra là Yingluck, giới lãnh đạo quân đội mới dường như làm việc với Thái tử để đảm bảo cho ông kế nhiệm. Họ giúp tổ chức các sự kiện như đi xe đạp qui mô, trong đó ông và con gái của mình tham gia, nhằm tạo ít hình ảnh bình dân hơn của vị vua tương lai trong mắt công chúng.

Vajiralongkorn sẽ là vị vua kiểu gì là điều khó đoán.

Mặc dù là quân chủ lập hiến, nhà vua sẽ sử dụng sức mạnh đáng kể mà khó có ai ở Thái Lan có thể bác bỏ.

Ông cũng có tiếng nói quyết định đối với Cục Quản lý Bất động sản Hoàng gia, cơ quan giàu có nhất Thái Lan, với tài sản có giá trị từ 30-40 tỉ USD, và tạo cho cung điện thu nhập khoảng 300 triệu USD hàng năm nhưng gần như không bị đánh thuế. Và ông chỉ huy trung đoàn Vệ binh Hoàng gia của mình với khoảng 5.000 quân.

Một lợi thế ông sẽ không có là uy tín to lớn và sự tôn trọng được xây dựng bởi người cha của mình hơn 70 năm tại vị, là thứ mà mà các chuyên gia về hoàng gia Thái Lan nói là phải trả bằng mồ hôi chứ không phải của thừa kế. Vajiralongkorn, ở tuổi 64, sẽ không có quá nhiều thời gian để tô điểm cho chế độ quân chủ. Nhưng ông đã có nhiều thập niên quan sát và học hỏi từ các luồng chảy phức tạp bao quanh quốc vương.

Ông sẽ chủ trì các nghi thức tang lễ cầu kỳ và kéo dài cho cha mình, điều tạo cho ông một cơ hội để nâng cao vị thế của mình trong quá trình này.

Ông cũng có thể dựa vào sự tôn kính kéo dài mà người ta dành cho cha mình để củng cố vai trò trung tâm của chế độ quân chủ trong xã hội Thái.

Đăng bởi: Ngô Minh | 02.12.2016

Tranh cãi xung quanh quốc tang Fidel ở Việt Nam

Tranh cãi xung quanh quốc tang Fidel ở Việt Nam

BBC

  • Ông Fidel Castro ăn cơm nắm ở Củ Chi, trong chuyến thăm Việt Nam năm 1995 HOANG DINH NAM/GETTY IMAGES
Fidel Castro: Chuyến thăm Việt Nam cuối cùng và Tướng Giáp

Tuy nhiên, ý kiến phản đối quốc tang tranh luận rằng, có lẽ sự giúp đỡ của Cuba chỉ có nhiều ý nghĩa với miền Bắc Việt Nam.

Facebooker Châu Đoàn viết:

“Để quốc tang Fidel Castro một ngày, chính quyền Việt Nam muốn thể hiện cho nhân dân Việt Nam và cả thế giới thấy tình hữu nghị giữa hai nước, tình cảm trước sau như một với một lãnh tụ đã tuyên bố “vì Việt Nam Cu Ba sẵn sàng hiến dâng đến cả máu của mình” trong cuộc chiến về ý thức hệ giữa 2 miền khi Trung Quốc, Liên Xô chống lưng phía Bắc, Mỹ chống lưng phía Nam.

“Do vậy, nếu nói chính xác thì là vì miền Bắc Việt Nam, chứ không phải vì cả Việt Nam.”

Nhà báo tự do Phạm Đoan Trang chia sẻ quan điểm này trên Facebook, trong đó có đoạn:

“Thời chiến tranh, một nửa đất nước không phải là bạn của Cuba và không nhận được gì từ Cuba.

“…Trong thời đại ngày nay, bày trò khóc thương một nhà độc tài (bất chấp luật pháp và lòng dân) là cách làm tốt nhất để thể hiện cho dân chúng và cộng đồng quốc tế thấy mình lạc hậu và lạc lõng như thế nào.”

Lễ viếng Chủ tịch Fidel Castro ở Hà Nội

Ý kiến khác còn cho rằng việc thực hiện quốc tang cho một cựu lãnh đạo nước ngoài có thể trái pháp luật Việt Nam, và viện dẫn Nghị định 105/2012/ND-CP quy định về các chức danh được tổ chức quốc tang và luật về cán bộ công chức.

Bài viết trên Facebook của Nguyễn Anh Tuấn giải thích: “Nghị định 105/2012/ND-CP quy định việc lễ quốc tang cho cá nhân chỉ áp dụng trong những trường hợp sau:

– Bốn vị trí cao nhất trong hệ thống chính trị: TBT, Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc Hội.

– Bộ Chính trị quyết định quốc tang cho CÁN BỘ CẤP CAO khác, có công lao đặc biệt, uy tín quốc tế to lớn.

“Mà một trong những điều kiện để là CÁN BỘ, theo Luật Cán bộ Công chức 2008, phải là ‘công dân Việt Nam'”.

Truyền thông Việt Nam đưa tin, trong ngày 04/12, các cơ quan, công sở tại Việt Nam và các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài “treo cờ rủ, có dải băng tang như quy định, không tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí công cộng”.

Ngoài Việt Nam, một số quốc gia khác cũng tổ chức quốc tang cho ông Fidel Castro, như Bắc Triều Tiên, Venezuela. Nicaragua cũng để quốc tang bằng thời gian ở Cuba, 9 ngày, Algeria để tang 8 ngày.

Mời quý vị theo dõi chương trình trực tiếp trên BBC Tiếng Việt lúc 19h30 giờ Việt Nam, thứ Năm 01/12 tại: https://www.facebook.com/BBCVietnamese/?fref=ts

Đăng bởi: Ngô Minh | 01.12.2016

Ngô Minh – nhà thơ của biển đảo quê hương

img_8195

ĐỌC BỘ SÁCH “NGÔ MINH TÁC PHẨM”, TẬP 5:

Ngô Minh – nhà thơ của biển đảo quê hương

Bùi Ánh

ngo-minh Hẳn ai đã từng đọc thơ Ngô Minh sẽ không thể quên những miền “cát trắng tinh”, từng lớp sóng vỗ ru hay những cảnh tượng biển với đủ kiểu trạng thái lúc dữ dằn ghê rợn, lúc lãng mạn trữ tình, lúc đau thương tột cùng cũng có lúc đằm thắm chất chứa yêu thương đã dệt nên một hồn thơ tha thiết với quê hương, với biển đảo mà như ông đã từng ao ước: “Những câu thơ như vỏ sò vỏ ốc/ Với mênh mông tiếng biển trong lòng”. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 01.12.2016

Người hùng quá đát

Người hùng quá đát

(Nhân đang hội thảo về bạo hành)

chu-van-sonnv Chu Văn Sơn

(Rút từ facebook của Chu Văn Sơn)

Rốt cục, sau hơn nửa thế kỉ chung sống, người phụ nữ ấy đã thoát khỏi cuộc hôn nhân thứ hai của mình.

Cuộc trước, hẳn nhiên, là một địa ngục.
Vị hôn phu thứ hai này ngày ấy đã lập được một chiến tích: đánh đuổi cái gã cai ngục ấy đi, đồng thời hứa hẹn xây dựng một thiên đường cho người đẹp mình vừa giải cứu. Nhưng rồi, người anh hùng của nàng không biết rõ mặt mũi của cái thiên đường ấy ra sao, nên, tất nhiên, cũng không biết cách gì để xây cất được nó. Thế là, ngày một ngày hai gã đã tái lập cái địa ngục kia với những tô vẽ mới mà không hay, cũng như đã trở thành cai ngục tân kì mà không tự biết. Không chỉ để vợ con đói khổ đến vô phương chống đỡ, gã còn phong tỏa, cấm đoán mọi cựa quậy của họ. Suốt ngày gã chỉ tự huyễn hoặc bằng cái vinh quang từ quá nửa thể kỉ trước, dùng công trạng xưa lấp liếm mọi tội trạng nay, với đinh ninh: bằng chiến tích nọ, gã có quyền hưởng suất anh hùng trọn đời, trọn gói. Thực ra, bậc anh hùng khi quá đát đã tự chuyển biến, tự chuyển hoá thành bạo chúa mà đâu hay. Độc đoán đến lạnh lùng, hà khắc đến tàn nhẫn. Ân nhân một đỗi hoá tội nhân một đời. Sắc đẹp vào tay gã ngày nào, sau bao điêu đứng đành đã điêu tàn. Người vợ vì nệ chút ơn xưa mà đã cắn răng chặc lưỡi. Nhưng, nhiều đứa con không chịu nổi, thì đã lén bỏ hắn mà đi.

Nay thì, “người chồng ấy đã ra đi, như chưa hề có cuộc chia ly”.
Sau cảm xúc goá bụa của mấy ngày tang chế, hẳn nàng sẽ “về điểm phấn tô son lại” mà “ngạo với nhân gian một nụ cười” thôi. Làm sao khác được đây.

Thế mà, ta vẫn buồn.
Buồn vì… quá muộn.
Và, vì một số người hùng như thế vẫn… chưa chịu ra đi.

29.11.2016

TIẾNG NÓI NHÀ VĂN: THÓI HÁO DANH VÀ VĨ CUỒNG CỦA TRÍ THỨC

VƯƠNG TRÍ NHÀN
Thói háo danh và căn bệnh vĩ cuồng, từ xưa trong hoàn cảnh nhược tiểu nhiều người đã mắc, tới nay trong hoàn cảnh chớm hội nhập với thế giới, bệnh lại trầm trọng hơn trong một bộ phận trí thức…

Nhà văn Vương Trí Nhàn (nguồn: Internet)

Bệnh sùng bái danh hiệu, chức vụ… trong giới trí thức vừa được Đặng Hữu Phúc xem như một quốc nạn. Chỉ có thể chia sẻ với một khái quát như thế nếu người ta nhận ra những gì đứng đằng sau cái căn bệnh có vẻ dễ thương đó là sự liên đới của nhiều “chứng nan y“ cùng là sự tha hoá của giới trí thức cũng như của nhiều lớp người khác.

 

Nhìn người bằng… chức danh

 

Nửa cuối thế kỷ thứ XVII, có một trí thức Trung Quốc là Chu Thuấn Thuỷ trên  bước đường chống Thanh phục Minh nhiều lần đến Việt Nam. Lần ấy, khoảng 1657, nghe Chúa Nguyễn có hịch chiêu mộ những ai biết chữ để giúp vào việc nước, Chu ra trình diện. Nhưng ông cảm thấy chung quanh không hiểu mình, không thi thố được tài năng, lại bị làm phiền, nên bỏ sang Nhật. Sau ông đóng góp rất nhiều vào viêc phát triển xã hội Nhật.

 

Chu không phải là loại người đọc sách xa lánh sự đời. Một học giả Nhật đã viết về Chu “Cái học của  tiên sinh nhấn mạnh về “kinh bang tế thế”. Giả sử nếu cần biến một vùng đất hoang thành phố thị, phải tập hợp sĩ nông công thương, thì một tay tiên sinh có thể cáng đáng để xây dựng nên phố thị. Thay vì “ thi thư lễ nhạc” tiên sinh thích nghiên cứu và tìm hiểu sâu sắc về cách canh tác ruộng nương và cách xây dựng nhà cửa, cách làm rượu làm tương… Tiên sinh có thể dạy người ta bất cứ việc gì” .(1)

 

Riêng chuyện bộ máy chính quyền Đàng Trong không thể chấp nhận một người như trên, đủ cho ta hiểu trình độ của bộ máy đó là như thế nào.

 

Trong tập ký sự của mình, Chu Thuấn Thuỷ kể khi trình diện nhà cầm quyền địa phương, gặp chuyện buồn cười là người Việt Đàng Trong bắt ông ứng khấu ngay một bài thơ rồi viết trên giấy. Tiếp đó câu đầu tiên bị hỏi là “Cống  sĩ với cử nhân và tiến sĩ, bên nào hơn ?“.

 

Khi biết Chu chỉ là cống sĩ, viên quan địa phương có ý xem thường, cho học lực của Chu không thể nào đọ được các vị khoa bảng nhà mình.

 

Từ câu chuyện về Chu Thuấn Thuỷ tới câu chuỵên về nghệ sĩ Nga Vladimir Ashkennazy mà Đặng Hữu Phúc vừa kể, như là có sự nối tiếp. Hoặc có thể nói cả hai phối hợp với nhau làm nên một đôi câu đối khá chỉnh. Một bên thì không thể hiểu người nổi tiếng lại không có một chức danh nào, còn bên kia thì không cần biết trước mặt mình là người đã được hoàng đế nhà Minh mời ra giúp nước, chỉ nghe cái bằng cống sĩ đã bĩu môi chê bai – giữa  người ngày xưa với người ngày nay, sao mà có sự ăn ý  đến thế!

 

Từ háo danh tới vĩ cuồng

 

Đặng Hữu Phúc đã nói tới cái khó chịu khi phải nghe đám người “mở miệng là họ nói tới chức tước “ – tức đám người háo danh – trò chuyện với nhau. Ai đã sống trong giới trí thức ở ta hẳn thấy chuyện đó chẳng có gì xa lạ.

 

Anh A và anh B vốn cùng nghề và cùng cơ quan, họ cùng dự buổi họp nhỏ, chứ không phải đăng đàn diễn thuyết trước bàn dân thiên hạ gì.

 

Thế mà cứ động phát biểu  thì từ miệng anh A, vang lên nào là  “như giáo sư B đã nói” (gọi đầy đủ cả tên họ),  nào là “tôi hoàn toàn đồng tình với các luận điểm giáo sư B. vừa trình bày“ (Thực ra có luận điểm khoa học gì đâu mà chỉ là mấy nhận xét vụn). Và B cũng đáp lại bằng cách nói tương tự.

 

Khi phải dự những cuộc hội thảo ở đó cách xưng hô và nói năng giữa các thành viên theo kiểu như thế này, tôi chỉ có cách ráng chịu một lúc rồi lảng. Tôi không sao nhớ nổi họ nói với nhau điều gì. Và tôi đoán họ cũng vậy. Vì mỗi người trong họ có vẻ còn mải để ý xem người phát biểu đã gọi người khác đúng chức danh chưa, hay để sót, chứ đâu có chú ý tới nội dung các phát biểu. Không khí nhang nhác như những buổi họp quan viên trong các làng xóm xưa, mà Ngô Tất Tố hay Nam Cao đã tả.

 

Tại sao chúng ta khó chịu với lớp người háo danh này? Đơn giản lắm, ta thấy họ ấu trĩ, non dại, thực chất họ thấp hơn cái vị thế mà họ chiếm được, không xứng với chức danh họ nhăm nhăm mang ra khoe.

 

Ai đã thử quan sát tình trạng tinh thần của đám người mê tín hẳn biết, người càng thiếu lòng tin, thì khi vào cuộc mê tín càng cuồng nhiệt.

 

Giới trí thức cũng vậy, cái sự thích kêu cho to chẳng qua là một cách để xoá bỏ mặc cảm. Kẻ yếu bóng vía lấy cái mã bên ngoài để làm dáng che đậy cho sự trống rỗng bên trong.

 

Mấy thói xấu mà Đặng Hữu Phúc nêu lên chỉ đáng để người ta cười giễu, ghét bỏ, thương hại. Song ác một nỗi chính nó lại là dấu hiệu đầu tiên của nhiều chứng nan y khác chẳng hạn căn bệnh mà Cao Xuân Hạo trong một bài viết ở cuốn Tâm lý người Việt nhìn từ nhiều góc độ (2) gọi là bệnh vĩ cuồng ( me’ganomanie).

 

Cao Xuân Hạo kể một chuyện mà thoạt nghe chắc chẳng ai dám tin. Hàng năm cơ quan lưu trữ nước mình thường phải thanh lý hàng tấn những hồ sơ “sáng kiến phát minh“ gồm toàn đề nghị viển vông do người trong nước ùn ùn gửi tới. Cao Xuân Hạo nói thêm điều đáng lo là ở chỗ phần đông chúng ta khi nghe những điều quái gở ở đây đều thấy bình thường, cùng lắm thì là loại sai lầm dễ tha thứ; còn ai tỏ ý kinh hoàng thì bị mọi người coi là bệnh hoạn vô đạo đức vì đã không tin vào khả năng sáng tạo của những người bình thường.

 

Cần phải gộp cả thói háo danh và bệnh vĩ cuồng nói trên để phân tích vì giữa chúng có một điểm chung là đều xuất phát từ những người và nhóm người sống trong tình trạng cô lập, không có khả năng tự nhận thức, đứng ngoài nhịp phát triển tự nhiên của thế giới.

 

Tình hình lại cần được xem là tệ hại bởi nó bám rễ vào bộ phận tinh hoa của xã hội.

 

Trí thức là bộ phận mũi nhọn của một cộng đồng, của những thể nghiệm làm người của cộng đồng đó. Những nhược điểm của trí thức chẳng qua chỉ là phóng to nhược điểm của cộng đồng. Và nếu như những nhược điểm này đã thâm căn cố, đế trở thành một sự tha hoá, thì tình trạng của người trí thức sẽ là một phòng thí nghiệm hợp lý để nghiên cứu về tình trạng tha hoá nói chung. Phải nghiên cứu kỹ lưỡng thì may ra mới có cơ hội chữa chạy hay ít nhiều cũng giảm thiểu tình hình nguy hại.

 

VƯƠNG TRÍ NHÀN/TVN

 

Ghi chú:

 

(1) Chu Thuấn Thuỷ Ký sự đến Việt Nam năm 1657 (An Nam cung dịch kỷ sự), Vĩnh Sính dịch và chú thích, Hội khoa học lịch sử Việt Nam 1999, tr.11

 

(2)  Trung tâm nghiên cứu tâm lý dân tộc — Tâm lý Người Việt nam nhìn từ nhiều góc độ, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh,2000, tr.82-87

Đăng bởi: Ngô Minh | 01.12.2016

Một cái tết không “phong bì, phong bao”

Một cái tết không “phong bì, phong bao”

 

Thủ tướng yêu cầu không chúc Tết Thủ tướng, bộ trưởng

 

Tôi yêu cầu không chúc Tết Thủ tướng, lãnh đạo Chính phủ, lãnh đạo các bộ, ngành. Yêu cầu các tỉnh không về Hà Nội chúc Tết. Ở các địa phương cũng vậy. Cần thực hiện nghiêm việc này. Chính phủ cần làm gương, từng thành viên Chính phủ thực hiện nghiêm chỉ đạo của Thủ tướng”.
Chỉ đạo trên được Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đưa ra trong kết luận phiên họp thường kỳ của Chính phủ, chiều 29/11. Ngay lập tức thông điệp này đã nhận được sự đồng thuận của dư luận xã hội cho thấy đây không chỉ là hành động gương mẫu của bản thân Thủ tướng Chính phủ mà còn biểu hiện sự quyết tâm thực hiện nghiêm túc nghị quyết Trung ương IV khóa XII của Chính phủ nhiệm kỳ mới.

Trên thực tế, kỳ họp Chính phủ thường kỳ tháng 11 đã là thời điểm tiệm cận với tết nguyên đán, nên dù nói hay làm cũng đều không thể vượt ra ngoài những quy tắc chung, đó là nhìn lại quá trình điều hành nền kinh tế một năm để thấy rõ những khó khăn trong ngắn, trung và dài hạn nhằm đưa ra những giải pháp hữu hiệu trong đó không loại trừ cả những giải pháp tức thời, như giảm chi tiêu công, khoán kinh phí, giảm thủ tục hành chính, hình thành Chính phủ điện tử, chính quyền cơ sở xuống từng nhà dân thực hiện các thủ tục hành chính… gỡ nút thắt đẩy con thuyền kinh tế đạt kế hoạch đề ra.

Chính vì vậy, không khó để nhận thấy nền kinh tế đang có những dấu hiệu chuyển biến tích cực, cho phép chúng ta có quyền hy vọng sự bứt phá của nền kinh tế trong những tháng cuối năm có thể đạt ngưỡng 6,3%. Dù rằng, đây không phải là mức tăng trưởng mà Quốc hội, Chính phủ và người dân mong đợi và đặt ra kế hoạch trước đó. Có nhiều nguyên nhân để buộc chúng ta phải điều chỉnh mức tăng trưởng, đó là tác động của suy thoái kinh tế thế giới, của thiên tai tại khu vực Tây Nam bộ, Nam trung bộ và những khoản vay nước ngoài của Chính phủ, do Chính phủ đứng ra bảo lãnh để đầu tư cho phát triển đã đến hạn trả nợ. Chính phủ vì thế đã buộc phải trọn giải pháp là thắt lưng buộc bụng để từng bước đưa nền kinh tế vượt qua khó khăn. Kết quả là các nhiệm vụ về kinh tế – xã hội được Chính phủ giao cho các bộ ngành, địa phương đang gấp rút được hoàn thành. Song cũng phải thừa nhận tình hình tham nhũng lãng phí vẫn còn phổ biến, nghiêm trọng, Nhiều  khoản chi ngầm vẫn mặc nhiên tồn tại giống như một quy luật bất thành văn mà một cá nhận, doanh nghiệp muốn bước chân vào thị trường, tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh cũng đều phải trải qua  và thỏa hiệp. Thủ tướng yêu cầu “phải kiên quyết xử lý, không loại trừ bất cứ tổ chức, cá nhân nào, không có vùng cấm trong đấu tranh phòng chống tham nhũng” phải chăng cũng vì lẽ đó.

Để chấm dứt tình trạng này, dù chỉ trên bề nổi của tảng băng chìm, Thủ tướng đề nghị ngay trong dịp Tết Nguyên đán sắp tới, tất cả hệ thống hành chính không chúc Tết lãnh đạo, không biếu xén, không phong bao, phong bì. Bản thân Thủ tướng khi được Quốc hội phê chuẩn chức danh Thủ tướng Chính phủ cũng đã  có văn bản yêu cầu các địa phương, bộ ngành không đến tặng hoa, chúc mừng Thủ tướng, các phó Thủ tướng và Bộ trưởng, cho thấy thái độ cương quyết chống  tham nhũng của Chính phủ nhiệm kỳ mới đã rất rõ ràng.

Hẳn có sẽ không ít quan điểm cho rằng, tham nhũng không nhất thiết cứ phải là phong bao, lại quả, thậm chí có thể biến tướng dưới nhiều hình thức tài trợ du lịch, tài trợ xuất học bổng, xin – cho dự án, tặng quà người thân lãnh đạo hẵn sẽ không dễ từ chối và phát hiện. Chính vì vậy, để lộ diện những cá nhân tham nhũng, tổ chức tham nhũng cần phải tăng cường giáo dục phẩm chất chính trị cho mỗi cá nhân trong tổ chức Đảng, tăng cường sự giám sát của đoàn thể, người dân để lộ diện cá nhân tham nhũng làm nghèo quốc gia, làm hổ danh dân tộc Việt. Hiện các cơ quan được giao đang xây dựng quy chế để giám sát những việc này cũng như giám sát quyền lực, giám sát người đứng đầu. Đây cũng là một hành động thiết thực để thực hiện Chính phủ liêm chính.

Ông Võ Kim Cự bị ‘kiểm tra sai phạm’ vụ Formosa

BBC

Ông Võ Kim Cự là nguyên Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh Hà TĩnhImage copyrightTUOI TRE
Image captionÔng Võ Kim Cự là nguyên Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh

Cựu lãnh đạo Hà Tĩnh, ông Võ Kim Cự hiện đang bị Đảng Cộng sản Việt Nam “kiểm tra sai phạm” liên quan đến vụ Formosa.

Các báo Việt Nam hôm 30/11 đồng loạt trích lời ông Đinh Thế Huynh, Thường trực Ban Bí thư của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam cho hay “Ủy ban Kiểm tra Trung ương đang kiểm tra mức độ vi phạm của ông Võ Kim Cự”.

Công tác này đồng thời diễn ra với việc “Ban cán sự Đảng và UBND tỉnh Hà Tĩnh cũng bị kiểm tra, đặc biệt là quá trình lắp đặt hệ thống xả thải của Formosa”, theo trang VnExpress hôm thứ Tư 30/11.

Những tháng qua, báo chí Việt Nam liên tiếp đang tải các tin khác nhau về ông Võ Kim Cự, nguyên Bí thư tỉnh ủy Hà Tĩnh, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh, nơi xảy ra thảm họa môi trường Formosa do công ty Đài Loan có nhiều vốn Trung Quốc xả thải chất độc thẳng xuống biển.

Chẳng hạn hôm 29/07/2016, báo Việt Nam trích lời quan chức Quốc hội, ông Nguyễn Hạnh Phúc nói “ông Võ Kim Cự đã nhận thấy việc sai của tỉnh.”

“Khi còn là người đứng đầu địa phương là tỉnh Hà Tĩnh thì ông Võ Kim Cự có để xảy ra việc cho doanh nghiệp Formosa thuê đất 70 năm. Việc này Thanh tra Chính phủ khi thanh tra xác định không đúng thẩm quyền địa phương và ông Cự nhận thấy việc sai của tỉnh”, ông Nguyễn Hạnh Phúc nói.

Nhưng vài hôm trước đó, bản thân ông Võ Kim Cự lại nói rằng khi cấp phép cho Formosa, “ông không có gì sai,” theo VnExpress (24/07).

Còn theo các văn bản của chính phủ Việt Nam và tỉnh Hà Tĩnh đăng trên trang Thư viện Pháp luật thì nhiều lãnh đạo cao cấp nhất ở Việt Nam đã tham gia chỉ đạo việc chuẩn bị đón nhận đầu tư và triển khai công trình của tập đoàn Hưng Nghiệp, Đài Loan vào Vũng Áng ngay từ giai đoạn đầu.

Trong các văn bản này, vai trò của Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Tĩnh và Đảng ủy tỉnh không phải là nổi bật.

Trang thuvienphapluat.vn còn lưu lại quyết định hồi năm 2007 (145/2007/QĐ-TTg) phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành Thép Việt Nam giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025 do Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng ban hành, gồm cả công trình tại Hà Tĩnh.

Sang năm 2009, có văn bản số: 169/TB-VPCP (25/05) thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng sau buổi làm việc ngày 11/05 với lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh.

Một phần nội dung này viết:

“Về đầu tư hạ tầng kỹ thuật khu kinh tế Vũng Áng (hệ thống giao thông, điện, nước, tỉnh đẩy mạnh thu hút thông qua xã hội hóa đầu tư, Trung ương hỗ trợ một phần;

“Về vốn thực hiện dự án bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư dự án Khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương Formosa: Tỉnh chỉ đạo giải ngân số vốn đã được tạm ứng theo công văn số 2654/VPCP-KTTH ngày 24 tháng 4 năm 2009 của Văn phòng Chính phủ. Trường hợp cần phải ứng thêm vốn để đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án, Tỉnh báo cáo Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư xem xét, trình Thủ tướng Chính phủ.”

Sang năm 2013, Văn phòng Chính phủ có văn bản số: 177/TB-VPCP (24/04) thông báo ý kiến của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải tại buổi tiếp Công ty TNHH Gang Thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh.

Văn bản này chỉ ghi nhận sự hiện diện của ông Võ Kim Cự là người “cùng dự”.

Ông Võ Kim Cự và TBT Nguyễn Phú TrọngImage copyrightAFP
Image captionÔng Võ Kim Cự và TBT Nguyễn Phú Trọng tại kỳ họp Quốc hội

Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã có ý kiến như “Đánh giá cao nỗ lực và quyết tâm của Công ty trong việc triển khai các hạng mục của Dự án Khu liên hợp gang thép Formosa Hà Tĩnh (Dự án) theo các nội dung Công ty đã cam kết.”

Và đối với các kiến nghị của Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh, ông Hoàng Trung Hải đã có chỉ thị thực hiện các việc sau:

“UBND tỉnh Hà Tĩnh làm việc với các bộ: Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để sớm có phương án xử lý nguồn vốn đầu tư cho dự án cấp nước Khu liên hợp gang thép Formosa Hà Tĩnh.

“Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan khẩn trương nghiên cứu về các cơ chế chính sách bảo vệ ngành công nghiệp thép trong nước, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét trong năm 2013.

“Ngân hàng Nhà nước xem xét nhu cầu sử dụng Ngoại tệ của Công ty, đề xuất hướng xử lý báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Bộ Công an nghiên cứu giải quyết yêu cầu sử dụng lao động người nước ngoài có tính đặc thù của Dự án theo quy định.

Văn phòng Chính phủ xin thông báo để các cơ quan biết, thực hiện.”

Cũng năm 2013, một Phó Thủ tướng khác, ông Nguyễn Thiện Nhân đã có mặt và ra ý kiến chỉ đạo “tại Hội nghị sơ kết công tác đào tạo nhân lực cho Khu vực Kinh tế Vũng Áng” (Thông báo 258/TB-VPCP).

Các lãnh đạo cao cấp của Việt Nam cũng vào cuộc tích cực sau khi xảy ra thảm họa môi trường năm 2016 mà tập đoàn Formosa nhận trách nhiệm.

Cũng văn bản chính thức cho hay ngày 29/08/2016, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình (nhiệm kỳ Quốc hội mới) đã chủ trì cuộc họp tại Hà Nội về tiến độ triển khai công tác xác định, bồi thường thiệt hại và hỗ trợ khắc phục hậu quả, khôi phục sản xuất, chuyển đổi nghề cho người dân bị ảnh hưởng bởi sự cố môi trường biển”.

Đó là về phía chính quyền, còn về phía Đảng Cộng sản, người lãnh đạo cao nhất của tổ chức này, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đã thăm và “kiểm tra tiến độ dự án Formosa” hôm 22/04/2016.

Ông Nguyễn Phú Trọng và đoàn công tác đã đến thăm một số công trình, nhà máy thuộc dự án khu liên hợp gang thép và cảng nước sâu Sơn Dương Formosa Hà Tĩnh, theo trang VietnamNet.

Báo này cũng đăng ảnh ông Trọng thăm Formosa và nói đây là dự án có tổng mức đầu tư giai đoạn 1 hơn 10,5 tỷ USD.

Tuy nhiên, người tiếp ông ở Hà Tĩnh đã là ông Lê Đình Sơn – Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh;

Vào thời điểm tháng 4/2016, ông Võ Kim Cự không còn nắm chức vụ cao nhất tại Hà Tĩnh và cũng không còn là Trưởng ban Quản lý Khu kinh tế Vũng Áng (từ 2008).

Đăng bởi: Ngô Minh | 30.11.2016

CHÚNG TÔI XÂY LĂNG MỘ PHÙNG QUÁN

imgp8144NM và cháu Phùng Quân (con trai PQ) bên lăng mộ

CHÚNG TÔI XÂY LĂNG MỘ PHÙNG QUÁN   

                                                              Ngô Minh

         pq

Xây lăng mộ Phùng Quán –Bội Trâm có nhiều chuyện cảm động lắm. Nghèo như Phùng Quán, 30 năm cá trộm văn chui rượu chịu  mà có ngôi mộ vợ chồng sang trọng đàng hoàng, quả là chuyện hiếm bây giờ. Có lẽ cuộc đời Phùng Quán trải quá nhiều tai ương, đau khổ, nhưng anh vẫn  giữ vững bản lĩnh một nhà văn Vệ Quốc Đoàn :“ Ngay thẳng tột cùng/ sự ngay thẳng thuỷ chung/ của mỗi dòng chữ viết”. Anh đã để lại hàng chục tác phẩm được nhiều thế hệ bạn đọc mến mộ, trong đó những bài thơ Lời mẹ dặn, Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe, tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội, cuốn tạp văn  Ba phút sự thật… là những tác phẩm để đời. Năm 1955, lúc 25 tuổi, Phùng Quán đã được tặng Giải thưởng Văn học đầu tiên của Cách mạng : Giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu với tiểu thuyết Vượt Côn Đảo . Năm 2007, anh được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Nhà nước về VHNT.  Bài thơ Lời mẹ dặn được độc giả bình chọn trong là một trong 100 bài thơ Việt hay nhất thế kỷ XX. Chỉ chừng ấy thôi, Phùng Quán xứng đáng được tôn vinh suốt đời, xứng đáng có một  nơi an nghỉ vĩnh hằng đẹp như vậy. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 30.11.2016

Tạ Từ – thơ

maiung

Mai Khắc Ứng

 

Tạ Từ

 

Tôi chưa ngả mà đứng lên không nỗi,

Quen sự ghìm năm tháng đã cong lưng.

Đang thảng thốt bổng Huế cao tiếng gọi.

Bỏ Hà thành vội vả dựa sông Hương.

 

Là thuyền rách bởi từng qua sóng gió.

Biết phận mình tìm bến vắng buông neo.

Bên mép nước gần bờ tre bãi cỏ.

Cùng bàn dân êm ấm sáng trưa chiều.

 

Ngày vui với cánh cò mang gió nội,

Đêm trắng trăng gối thấm đẫm hương đồng.

Chuông gióng giả cửa Thiền đang mở lối.

Lòng bâng khuâng man mác cõi hư không.

 

Những năm tháng xa xưa từng tựa Huế

Mai một rồi, đau thế kỷ thương đau.

Thấp thoáng đó đây hình hài “Thiên lý”

Giữ cô liêu làm chứng nhắc mai sau.

 

Tri ân Huế nặng hạt cơm của “Huế,

Một Thuở Kinh Đô” viết tại quê người.

Phút tạ từ trãi lòng vào nhân thế,

Với Triều Sơn cát bụi giữa đất trời.

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 30.11.2016

Con gái Fidel Castro kể chuyện cha mình

Con gái Fidel Castro kể chuyện cha mình

  •   ALINA FERNANDEZ REVUELTA
Con gái Fidel Castro kể chuyện cha mình

Ngày 19/12/1993, con gái Chủ tịch Cuba Fidel Castro Ruz là Alina Fernandez Revuelta 37 tuổi cải trang trốn ra nước ngoài, sống lưu vong ở Mỹ và im hơi lặng tiếng. Thế nhưng trước ngày FidelCastro phải vào bệnh viện để làm một ca phẫu thuật ruột khá phức tạp (7/2006), Alina bỗng dưng đồng ý để tuần báo « Luận chứng và sự kiện » (Argumenty i Fakty, củaNga) phỏng vấn. Lần đầu tiên bà công bố một số chuyện chưa ai biết về cha mình.

TUỔI THƠ ẤU HẠNH PHÚC

Từ bé tôi đã gọi cha mình bằng tên của ông – Fidel. Sau này khi biết ông là cha đẻ mình, tôi cũng chưa bao giờ trướcmặt ông gọi ông là « bố » ; vì tôi đã quen gọi cái tên Fidel, nếu gọi khác đi tôi thấy ngường ngượng thế nào ấy.

Năm lên 3 tuổi, lần đầu tiên tôi gặp Fidel. Hôm ấy một người đàn ông lạ mặt cao lớn oai vệ, râu ria xồm xoàm, miệng ngậm xì-gà xuất hiện trong nhà tôi. Ông nhả khói um nhà, mới đầu tôi còn chưa nhìn rõ mặt ông – vì nó bị một làn khói xanh che mất. Ông bảo mẹ tôi 1: « Em xem này, con bé xinh ghê ! Trông cứ như một cuộn lông cừu ấy ! » Rồi ông dúi vào tay tôi chiếc hộp, cười bảo : « Đây là quà tặng con Mặt Trời của ta. » Trong hộp có một con búp bê bằng nhựa mặc quân phục màu xanh ô-liu, mặt đầy râu. Bà ngoại tôi tỏ vẻ không vừa lòng bảo mẹ tôi: « Fidel lấy tượng mình làm quà cho trẻ con, anh ta thật quá đề cao mình đấy. » Chẳng hiểu tại sao tôi cũng không thích con búp bê nhựa ấy nữa. Thế là tôi bèn xông đến túm lấy bộ râu của ông. Vì chuyện này, tôi bị mẹ mắng cho một trận nên thân.

Trong mắt Fidel, tôi là vầng mặt trời của ông ấy. Từ đó trở đi, mỗi lần gặp tôi, bao giờ ông cũng âu yếm gọi tôi là « Mặt trời của ta ».

Mẹ tôi cùng Fidel hoàn toàn đắm chìm trong tình yêu thương nhau. Dĩ nhiên, bác sĩ Orlando Fernandez chồng mẹ tôi biết tất cả những chuyện ấy. Thực ra mối quan hệ vợ chồng giữa hai người lâu nay chỉ còn hữu danh vô thực. Nhưng họ đành gắng chịu đựng, vì hai người đều theo đạo Ki-Tô, ly dị bị coi là điều không thể tưởng tượng được. Sau cùng họ cãi nhau rồi chia tay. Mẹ tôi say mê làm công tác cách mạng, Fernandez cũng dốc sức vào việc chữa chạy các thương binh.

Cho tới năm tôi lên 10 tuổi, mẹ tôi mới cho tôi biết Fidel là cha đẻ của tôi. Đến lúc ấy tôi mới hiểu tại sao Fidel lại quý tôi như vàng. Lần nào đến nhà, ông cũng mang cho tôi đủ thứ quà và bế tôi ngồi lên lòng. Những lúc ấy mẹ tôi lại nhìn hai cha con chúng tôi với ánh mắt trìu mến. Dần dà tôi bắt đầu quyến luyến ông, không muốn rời ông một bước, lần nào tôi cũng không cho ông đi. Tôi còn nhớ ông mỗi khi lâu ngày không thấy ông đến. Nhưng sau này thì tôi chẳng cần nhớ ông làm gì nữa, vì hình ảnh ông hầu như lúc nào cũng xuất hiện trên màn hình. Có lần Fidel diễn thuyết liền một mạch 12 tiếng đồng hồ !

Fidel (trái), Che Guevara và Aleida (s. 1960, con gái của Che); 

 

Fidel rất thích dỗ tôi chơi. Ông khéo tay, hay lấy quân bài làm trò, hoặc lấy các miếng gỗ xếp thành nhà, hoặc dán diều cho tôi chơi. Có lần tôi khóc ầm ỹ đòi : « Mẹ ơi, mẹ gọi điện thoại cho Fidel bảo ông ấy mau đến nhà mình đi, con muốn Fidel sống cùng với mẹ con mình ! » Nhưng mẹ tôi chỉ lạnh nhạt trả lời là Fidel bây giờ đã thuộc về nhân dân rồi.

Những người hiếu kỳ hay hỏi tôi: « Cháu là con gái rượu của lãnh tụ cao nhất nước, như vậy cháu có được hưởng đặc quyền gì không ? » Lần nào tôi cũng trả lời ngay là không. Thế nhưng nếu hai việc sau đây có thể gọi là đặc quyền, thì có lẽ cũng chỉ có hai việc đó mà thôi.

Việc thứ nhất. Sau ngày cách mạng thắng lợi, có một thời gian nhà tôi không có gì để ăn, hầu như đến bữa chẳng phải nấu nướng nữa. Nhưng mẹ tôi là người khí khái, xưa nay chưa bao giờ ngửa tay xin bố tôi thứ gì. Một hôm bố tôi về nhà đúng lúc mẹ đang bắt tôi phải ăn món đậu hạt, còn tôi thì khóc ầm ỹ không chịu ăn. Fidel không ngờ chúng tôi lại thiếu thực phẩm như vậy. Ông hỏi : « Alina sao thế ? Con bé hồi này trông nhợt nhạt quá, hay là ốm rồi ? » Cuối cùng ông hiểu ra mọi chuyện. Sau đấy lập tức có người mang sữa cho chúng tôi – đây là sữa sản xuất tại nông trại của cha tôi.

Việc thứ hai. Fidel kiếm cho mẹ con tôi một căn hộ trong khu nhà của những người giàu và một chiếc ô tô. Có điều, nhà tôi từ trướccách mạng đã có một tòa nhà rất to. Ngoài ra chúng tôi chưa được hưởng bất cứ đặc quyền nào khác.

LẤY CHỒNG MẤY LẦN, BỐ KHÔNG CHỊU ĐƯỢC

Khi lần đầu tiên tôi ngỏ ý muốn lấy chồng, cha tôi rất không vui. Ông tìm mọi cách ngăn cản, thậm chí còn mắng tôi một trận. Sau đó tôi bình tâm nghĩ lại, thấy cha làm như thế cũng có lý, vì tôi mới 16 tuổi còn bạn trai tôi thì đã 30.

Fidel rất không ưa người tôi chọn. Ông tức giận bảo: “Con còn là một đứa trẻ miệng chưa hết hơi sữa mà đã vội lấy chồng để làm gì hả ? Nếu không chịu nghe lời bố thì sau này con không còn là con gái của bố nữa !” Nhưng tôi nhất quyết lấy chồng, cuối cùng ông đành chịu thua, phảy tay nói: “Thôi vậy, con muốn làm gì thì làm !

Fidel và Alina trong ngày cưới Alina năm 1973

 

Cha tôi chưa bao giờ tỏ ra thô lỗ, cau mày trợn mắt với tôi. Giận thì có giận, nhưng hôm cưới, cha không những đến dự mà còn đem rượu hảo hạng và thức nhắm ngon đến. Lần đầu gặp ông, chồng tôi sợ im thin thít, chỉ cắm cúi uống rượu cho tới lúc say mềm. Lúc tan tiệc cưới, Fidel không nhịn được tức giận có móc máy một câu: “Ít lâu nữa, bao giờ con đòi ly dị thì nhớ gọi điện báo cho bố biết nhé !” Câu nói ấy thế mà đúng. Một năm sau hai vợ chồng tôi chia tay mỗi người một ngả.

 

Chồng thứ hai của tôi là một chiến sĩ đặc công, từng chiến đấu ở Congo (Công-gô). Fidel rất thích anh. Nhưng chúng tôi cũng chẳng chung sống được bao lâu, vì tôi nhanh chóng đòi ly dị. Cha tôi lại một lần nữa bực lắm.

Sau đấy ông ra lệnh cho anh bạn trai mới của tôi phải viết một bản lý lịch. Tưởng là sẽ bị cơ quan an ninh nhà nước bắt giam, anh ấy trốn vào sứ quán Mexico ở Cuba.

Khi sắp cưới lần cuối cùng, tôi có nói cho Fidel biết. Lúc ấy ông thậm chí chẳng hỏi gì, cứ tiếp tục nói câu chuyện đang dở. Cha tôi thích nói nhưng không thích nghe. Khoảng một giờ sau, chợt nhớ lại việc tôi vừa nói, cha sầm mặt hỏi: “Con có thể cho bố biết, vật hy sinh tiếp theo của con là ai không ?

Fidel Castro Ruz và Alina Fernandez Revuelta 

 

VÌ BẤT ĐỒNG CHÍNH KIẾN MÀ TRỐN RA NƯỚC NGOÀI

Cuba từng có một thời gian quan hệ vô cùng khăng khít với Liên Xô, cho nên hồi ấy tôi quyết định học tiếng Nga. Khi tôi ra trường, thấy tôi nói thạo tiếng Nga, Fidel mừng rỡ bảo: “Hay quá, bố gửi con đi Moskva học hóa học nhé !” Nhưng tôi thích học y khoa. Cuối cùng cha tôi đành nhượng bộ, song rõ ràng việc này khiến ông không vui. Từ đó trở đi nghề gì tôi cũng làm, thậm chí làm cả người mẫu chụp ảnh. Đây là nghề cha tôi ghét nhất. Một tờ báo nước ngoài đưa tin tôi làm nghề này dưới đầu đề chạy suốt trang báo: “Con gái riêng của Castro ăn nên làm ra”. Biết việc ấy, Fidel càng không thích tôi làm người mẫu.

Cũng từ đó trở đi hai cha con tôi bất đồng ý kiến với nhau trên nhiều vấn đề. Tôi hay tranh cãi với cha và cảm thấy như luôn có người nghe lén điện thoại của mình. Nhiều người nói bóng nói gió là nếu tôi không chịu ngừng nói những lời chống chủ nghĩa xã hội thì tôi sẽ bị đưa vào nhà thương điên.

Trong hoàn cảnh như vậy, tôi chỉ chờ dịp trốn ra nước ngoài. Vì đã biết rõ hệ thống theo dõi của cơ quan an ninh nên tôi hoàn toàn có thể “chơi” lại họ. Tôi chuẩn bị rất kỹ: trướchết kiếm một tấm hộ chiếu Tây Ban Nha giả, đồng thời tôi tập nói giọng nặng như người Castilia 2, và ăn nhiều cho tăng cân. Sau đó tôi trang điểm phấn son hệt như một mệnh phụ quý phái rồi lên máy bay ở sân bay Havana. Các nhân viên kiểm tra chẳng ai nhận ra tôi. Nhờ đó tôi đi thoát. Trướchết tôi xuống sân bay Madrid, sau đó bay đến Mỹ.

Cha tôi khó lòng tin được rằng cô con gái rượu của mình lại có thể bỏ ông ra đi bằng cách ấy. Điều làm ông đau lòng hơn là nó lại trốn sang đất nước ông coi là kẻ thù chính – nước Mỹ. Fidel nổi cơn lôi đình. Ngày thứ hai sau hôm tôi bỏ trốn, toàn bộ nhân viên liên quan ở sân bay Havana bị bắt giam.

NHỚ LẠI TÌNH CHA CON

Chẳng ai không biết cái tên Fidel, nhưng rất ít người biết ông còn một cái tên nữa là Alexandro. Tất cả các con ông đều có hai tên, trong đó chữ cái đầu tiên của tên thứ hai đều bắt đầu bằng chữ A. Đây là truyền thống cổ xưa của gia tộc Castro. Nghe nói chữ A có thể đem lại sự may mắn và thành công. Ngoài ra người ta còn kính trọng gọi Castro là Tư lệnh.

Fidel chính thức thừa nhận có 7 người con, trong đó có tôi và 5 người con ông có hồi thập niên 80 với bà Dalia Valle 3.

Báo đài Cuba thườngnói Castro hiến dâng cả đời mình cho cách mạng cho nên không có thời gian lo chuyện gia đình, nhắc quá nhiều về cuộc sống riêng của ông sẽ tổn hại tới hình ảnh cách mạng của ông.

Dân chúng đồn đại Fidel có 50 người con riêng – điều này tôi không tin lắm. Tôi từng đọc một số bức thư tình cha mẹ tôi gửi cho nhau. Năm 1953, Castro mới 26 tuổi dẫn đầu 134 thanh niên tấn công trại lính Moncada định cướp vũ khí để tiến hành khởi nghĩa vũ trang trên toàn quốc. Do lực lượngquá chênh lệch nên phần lớn các chiến sĩ đã hy sinh. Castro cũng suýt nữa bị giết. Trong nhà tù, ông viết cho mẹ tôi nhiều bức thư thấm đậm tình yêu tha thiết nồng nàn. Cuối mỗi bức thư ông đều nắn nót viết: “Người yêu em”, và hôn lên bức thư trướckhi gửi đi.

Fidel nói chuyện dí dỏm, hay pha trò và do đó được mọi người mến mộ. Khi trò chuyện với con cái thỉnh thoảng ông cũng đùa cợt. Dĩ nhiên các buổi nói chuyện nghiêm chỉnh thì vẫn nhiều hơn.

Một lần tôi hỏi ông tại sao bây giờ dù các cửa hiệu nhập khẩu rất nhiều loại giày nhưng vẫn chẳng thể mua được đôi giày vừa chân. Nghe xong cha bảo: “Mặt trời của ta, bố lãnh đạo cả một quốc gia chứ đâu có quản lý công tác thương mại.” Lúc đó tôi chẳng biết nói gì hơn.

Một lần khác, tôi kể cho cha biết nạn chợ đen hoạt động rất mạnh, ngay cả công an cũng chịu bó tay. Biết thế, cha tôi rất không vui. Ông thích nghe những tin rỉ tai. Không chỉ một lần ông hỏi tôi người ta bàn tán về ông như thế nào, nhưng ông không quan tâm lắm tới những lời bàn tán cụ thể.

Fidel rất chú trọng giữ sức khỏe, không phải cứ sẵn rượu là uống thỏa thích. Ông có cách dưỡng sinh riêng. Tuy trướcđây ông nghiện thuốc lá nặng (đã cai từ lâu), nhưng rượu thì uống rất điều độ. Chưa bao giờ tôi thấy ông say rượu, kể cả khi ăn tiệc. Cho nên Fidel hy vọng có thể sống tới 90 tuổi. Ông luôn chú ý đến đồ ăn thức uống, rất kỹ tính, không ăn thứ có chứa hóa chất. Cha tôi thích ăn ngon, rượu ngon; sau ngày cách mạng thắng lợi ông vẫn không bỏ được hai cái thú đó. Ông thườngxuyên tập thể dục thể thao. Fidel coi thườnglối sống xa xỉ và hưởng lạc, ông sống trong một căn nhà rất bình thường.

Hồi tôi học tiểu học, Fidel từng nói về ý định muốn xây dựng Cuba thành một viện điều dưỡng quốc tế. Có thể nói ông đã thực hiện được lý tưởng đó – Cuba có hệ thống y tế tốt nhất thế giới. Hàng năm nhiều người nước ngoài đến đây chữa bệnh, họ đều khen ngợi tay nghề cao siêu của các thày thuốc Cuba. Cha tôi cho rằng đây là một trong những thành tựu lớn nhất của ông.

Fidel có sức thu hút rất lớn. Nếu trò chuyện với ông một lúc là bạn sẽ mê ông ngay –bẩm sinh Fidel đã như một thanh nam châm. Trong các cuộc mít tinh có nhiều người chống đối ông, khi cha tôi nói xong, ai nấy đều điên cuồng hô to: “Chủ nghĩa xã hội hay là chết !” Sở dĩ suốt 50 năm qua Castro được đông đảo dân chúng ủng hộ và đương đầu thắng lợi với Mỹ chính là do ông có sức thu hút quần chúng rất mạnh.

Trong cuộc khủng hoảng tên lửa vùng biển Caribbe năm 1962, Fidel chủ trươngtrướchết phải tấn công Mỹ đã, vì thế khi thấy Khrushchev thi hành sách lược mềm dẻo với Mỹ, ông rất ngạc nhiên và bất mãn. Dĩ nhiên nếu Mỹ đánh trả thì Cu ba sẽ có thể hoàn toàn biến mất khỏi bản đồ, nhưng Fidel chẳng hề nghĩ tới chuyện ấy. Nhớ lại khi còn nhỏ, có lần tôi nói trướcmặt ông rằng Khrushchev là đồ ngốc, Fidel chỉ cười không nói gì./.

 

Ghi chú của người dịch:

 

1.          Alina Fernández Revuelta (s.19/3/1956)là con gái của Fidel với bà Natalia Revuelta Clews[Natalia « Naty » Revuelta], một nữ du kích hồi thập niên 50 khi Fidel chiến đấu trên núi Sierra Maestra. Hồi ấy ông đã li dị với người vợ thứ nhất là bà Mirta Diaz Balart (cưới tháng 10/1948; hai người có một con trai là Fidelito, là Chủ tịch Ủy ban Năng lượngNguyên tử Cuba thời gian 1980-1992 – theo tư liệu của Phil Davison). Năm 1998, Alina viết Castro’s Daughter: An Exile’s Memoir of Cuba, kể lại quãng đời ở Cuba. Alina có một chương trình phát thanh tên là Simplemente Alina (Simply Alina) ở Miami (Mỹ). Bà có một con gái. Trong lần trả lời phỏng vấn của tạp chid Foreign Policy, Alina nói bà gần gũi với chú mình là Raul Castro hơn là với cha mình.

2.          Người Cuba nói tiếng Tây Ban Nha. Castilia là dân tộc đông người nhất tại Tây Ban Nha.

3.          Sau ngày cách mạng thành công, Fidel sống với bà Dalia Soto del Valle, một cô giáo trung học, được coi là vợ chính thức hiện nay (cưới không công khai) và có 5 con trai  là  Andro, Antonio, Alexis, Angel và Alex.

 

Nguyễn Hải Hoành lược dịch từ bản tiếng TQ.

Vấn đề “hạt nhân Tập Cận Bình”

  •   KHẮC TRUNG tăng kích thước chữ
Vấn đề “hạt nhân Tập Cận Bình”

Ngày cuối cùng của Hội nghị TW6 (ngày 27/10/2016) xác định “ …toàn thể Hội nghị đánh giá cao độ thành tựu giành được toàn diện từ nghiêm trị đảng, cho rằng từ Đại hội XVIII đến nay, TW đảng lấy đồng chí Tập Cận Bình làm hạt nhân …” (Thông báo Hội nghị TW6/XVIII đảng CSTQ ngày 27/10/2016). Đây là vấn đề mà các nhà quan sát theo dõi tình hình chính trị Trung Quốc trong và ngoài Trung Quốc cho là nội dung quan trọng nhất của Hội nghị TW6, đã có nhiều ý kiến phân tích từ nhiều góc độ khác nhau đối với vấn đề “hạt nhân Tập Cận Bình”.

Vấn đề “hạt nhân” trở thành “thuyết hạt nhân, lý luận hạt nhân” trong cơ cấu quyền lực tầng cao đảng Cộng sản Trung Quốc như thế nào ?

“Hach tâm = hạt nhân” với nghĩa đen  là chỉ “cái hạt” của loại trái cây có 1 hạt; hoặc là chỉ “cái lõi”, “cái nòng cốt”, “cái trung tâm” của một sự vật sự việc, với tính chất bền chắc, vững vàng, cứng cỏi, không dễ phá vỡ, hư hỏng, lay chuyển, biến dạng trước những tác động của lực bên ngoài. Nó thể hiện sự kết tinh bản chất, tính chất, năng lượng, sức mạnh của một sự vật, sự việc. Chính vì vậy mà nó có vai trò trụ cột, chủ đạo trong quá trình phát sinh, tồn tại, phát triển của sự vật sự việc.

Từ hàm nghĩa ban đầu đó, mà Đặng Tiểu Bình đã vận dụng vào cơ cấu quyền lực lãnh đạo tầng cao, trải qua thực tiễn lãnh đạo của mình từ năm 1978 đến năm 1989 rút ra “bất cứ một tập thể lãnh đạo nào đều cần có một hạt nhân, sự lãnh đạo không có hạt nhân là không thể dựa vững chắc được” mà về sau gọi là “hạt nhân luận” của Đặng Tiểu Bình.

Vậy tại sao Đặng Tiểu Bình lại đưa ra “thuyết hạt nhân” vào lúc đó ? (ngày 16/6/1989, tức 12 ngày sau khi vụ “lục tứ” xẩy ra, Đặng đã nói câu nói trên khi Đặng hội kiến với những người lãnh đạo mới Trung Cộng gồm Dương Thượng Côn, Vạn Lý, Giang Trạch Dân, Lý Bằng, Kiều Thạch, Diêu Y Lâm, Tống Bình, Lý Thụy Hoàn). Thời Mao Trạch Đông, không thấy Mao nêu “hạt nhân Mao Trạch Đông” ? Hơn  nữa trong Điều lệ đảng CSTQ qua các thời kỳ đều không có mục nào ghi rõ điều kiện như thế nào thì được gắn danh hiệu “hạt nhân”, ai gắn cho, và giá trị, vai trò, quyền hạn, trách nhiệm của “hạt nhân” là thế nào ?

Phải chăng gắn cái “mác” hạt nhân là thể hiện người lãnh đạo đó đã nắm được quyền lực cao độ trong tay mình, cho nên ai lên làm lãnh đạo đảng CSTQ đều muốn có được cái “mác” đó. Nhưng trước đây, Mao Trạch Đông không có gắn cái “mác” hạt nhân đó, mà Mao vẫn nắm trong tay quyền lực cá nhân cao độ, trở thành kẻ độc tài, chuyên quyền đã gây bao tai họa cho đảng CSTQ và nhân dân TQ qua các phong trào “tam phản”, “ngũ phản”, “chống phái hữu”, “đại nhảy vọt”, vân vân cho đến đỉnh cao là “đại cách mạng văn hóa”. Chẳng lẽ các nhà lãnh đạo Trung Cộng hiện nay đã quên những tai họa do độc tài quyền lực của Mao đã gây ra, nên nay ai cũng muốn nắm được tối đa quyền lực vào tay mình, nên rất say sưa với cái “mác” “hạt nhân”.

Có ý kiến cho rằng, Đặng Tiểu Bình lên nắm quyền là không chính danh, không phải là Chủ tịch đảng, không phải là Chủ tịch nước, mà chỉ là Chủ tịch quân ủy TW trong 3 khóa XI, XII và XIII, nhưng đã thể hiện vai trò “hạt nhân”, “trung tâm” của TW đảng CSTQ trong thời kỳ khó khăn giải quyết hậu quả của đại cách mạng văn hóa để lại và  mở ra thời kỳ phát triển mới của đảng CSTQ và đất nước Trung Hoa, nên Đặng Tiểu Bình đưa ra “thuyết hạt nhân” nói trên và tự phong cho mình là “hạt nhân” sự lãnh đạo của đảng thế hệ II, và truy phong cho Mao là hạt nhân sự lãnh đạo của đảng thế hệ I, đồng thời Đặng Tiểu Bình cũng ban cho Giang Trạch Dân là hạt nhân sự lãnh đạo của đảng thế hệ III. Như vậy “hạt nhân” lãnh đạo của 3 thế hệ I, II, III đều do Đặng Tiểu Bình gắn cho, không phải do Hội nghị TW nào, cấp Tổ chức đảng nào quyết định cả.(Nội tình đằng sau, có ý kiến cho rằng, Đặng Tiểu Bình mạo xưng là “hạt nhân” thế hệ II là không đúng, vì Đặng là hoạt động cùng thời với Mao, đâu phải thế hệ II. Đây chính là Đặng đã cướp đi vai trò của thế hệ II là Hoa Quốc Phong, Hồ Diệu Bang, Triệu Tử Dương. Còn việc Đặng gắn cho Giang là “hạt nhân” thế hệ III là với dụng ý, để Giang không lật lại vụ đàn áp “lục tứ” Thiên An Môn năm 1989. Nhưng không ngờ Giang lại lợi dụng cái “hạt nhân” này để lộng quyền.)

Như vậy không nhất thiết cứ là người với cương vị đứng đầu của đảng là được gắn cái mác “hạt nhân”, hoặc không phải là người đứng đầu của đảng vẫn có thể là “hạt nhân” của tập thể lãnh đạo của đảng. Nhất là với thuyết “súng đẻ ra chính quyền”, thì cương vị Chủ tịch quân ủy TW, trên thực tế, quyền lực quyền uy còn lớn hơn, mạnh hơn nhiều quyền lực, quyền uy của Chủ tịch nước, thậm chí của cả Tổng Bí thư. Tiêu chuẩn ở đây, tuy không có qui định rõ bằng văn bản nào cả, nhưng trên thực tế được hiểu là, người lãnh đạo đó có bản lĩnh, năng lực, đưa ra những quyết sách làm thay đổi cục diện một giai đoạn nhất định của đảng, của đất nước, có đủ quyền uy, nhất hô bá ứng, tập họp được sức mạnh trong tập thể ban lãnh đạo của đảng, và được sự ủng hộ, đồng thuận trong đảng, trong nhân dân. Người lãnh đạo như vậy coi như là “lãnh tụ” của đảng. (Lãnh tụ, theo ý nghĩa đen ban đầu là từ hai chữ Lĩnh là cái cổ áo, Tụ là cái cổ tay áo. Đây là hai bộ phận của áo thường bị mòn rách nhất và ở vị trí nổi bật nhất, người xưa rất chú trọng may hai phần này của áo rất cẩn thận, từ chất liệu, đến kiểu cách để  thể hiện được vừa bền vừa đẹp vừa cao sang. Từ ý nghĩa đen ban đầu đó mà ngày nay, khi nói đến xác lập hạt nhân lãnh đạo của một tổ chức, trên thực tế coi như xác lập một lãnh tụ mới.)

Với các yêu cầu này, thì Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình, dù không cấp tổ chức đảng nào ra quyết định về “hạt nhân”, nhưng trong hành động thực tế của họ đã thể hiện được là vai trò “hạt nhân” lãnh đạo của đảng.

Với Giang Trạch Dân, “hạt nhân” có được, không phải tự mình xây dựng nên, mà là do bên ngoài (Đặng Tiểu Bình gắn cho) không đúng thực chất về yêu cầu của “hạt nhân” nói trên, nên đã gây tai họa cho đảng CSTQ và nhân dân TQ lâu nay.

Còn Hoa Quốc Phong, Hồ Diệu Bang, Triệu Tử Dương, Hồ Cẩm Đào do có những lý do khác nhau, nên không có điểu kiện thể hiện được các yêu cầu cần có của “hạt nhân”.

Mặt khác, cơ chế vận hành quyền lực của Trung Cộng là “trước dân chủ, sau tập trung”. Cái gọi là “trước dân chủ” là trước tiên cần lắng nghe, trưng cầu rộng rãi ý kiến của các bên làm sáng tỏ. Còn “sau tập trung” là sau đó do lãnh đạo đưa ra quyết đoán cuối cùng. Trung Cộng khi chưa nắm chính quyền, quán triệt rất tốt nguyên tắc này, nhưng sau khi đã nắm được quyền, nguyên tắc này đã thay đổi. Lúc đó Mao đã được tâng bốc lên là như “thần”, ông ta là “vĩ đại, quang vinh, đúng đắn”, không còn cần đến dân chủ kiểu lắng nghe mọi ý kiến, thậm chí không cho phép có bất kỳ một ý kiến nào khác, nếu ai có ý kiến khác, cho dù đó là ý kiến đúng đắn của những chiến hữu cùng vào sinh ra tử với nhau trước đây, cũng đều bị hãm hại hết sức bi thảm. Sau khi thời đại Mao kết thúc, Đặng Tiểu Bình, Trần Vân, Lý Tiên Niệm và một số lão đồng chí khác còn sống sót  sau đại thảm họa Đại cách mạng văn hóa đã thấm thía và cho rằng trong đảng nên tăng cường dân chủ, cần có sự ràng buộc đối với quyền lực của người lãnh đạo cao nhất của đảng, trong đảng không thể có lặp lại kiểu “nhất ngôn đường”, lặp lại vết xe xủa Mao, Trung ương cần thực hiện “lãnh đạo tập thể”. Đây cũng là điều mà Đặng Tiểu Bình muốn dùng để ràng buộc Giang Trạch Dân, nhưng lại chỉ thấy mặt tích cực mà không thấy mặt trái của nó ở chỗ người ta lợi dụng “lãnh đạo tập thể” để vô hiệu hóa vai trò người đứng đầu, như Giang đã làm đối với Hồ Cẩm Đào. Thể chế chính trị của Trung Cộng thực chất là “thể chế kẻ mạnh” không phải là một “thể chế người bình thường”. Chế độ “lãnh đạo tập thể” chỉ thích hợp với một nhân vật kiểu bàn tay sắt, người lãnh đạo như thế mới có đủ quyền uy để làm cho ý chí của mình được quán triệt. Còn chế độ “lãnh đạo tập thể” là một chế độ uốn nắn cái sai, có thể làm cho người đứng đầu không phạm hoặc ít phạm sai lầm. Đến thời đại “người bình thường” như Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào cầm quyền, chế độ “lãnh đạo tập thể ” đã cản trở Trung Cộng trị lý có hiệu quả đối với xã hội. Điều này là do “người bình thường” vừa thiếu quyền uy mà quyền lực lại bị ràng buộc, thì không thể có được hiệu quả trong trị lý đất nước.

Chính từ mặt thể chế vận hành quyền lực này, mà người lãnh đạo cao nhất của đảng CSTQ đều muốn có được cái mác “hạt nhân” để tạo quyền uy mạnh mẽ cho mình.

Với quan niệm cần có cái “hạt nhân” này của đảng CSTQ, cũng thể hiện quan niệm rất coi trọng về nhân trị. Còn các nước dân chủ khác trên thế giới, người đứng đầu đất nước không phải không cần quyền uy, mà là rất có quyền uy, quyền uy của họ là do thể chế pháp trị, luật pháp của đất nước, của những lá phiếu của cử tri trao cho họ, là chỗ dựa vững chắc cho quyền uy của họ, chứ không phải do đảng họ gắn cho họ.

Giang Trạch Dân đã lợi dụng uy quyền “hạt nhân” như thế nào ?

Có người đặt câu hỏi, quyền lực “hạt nhân” của lãnh đạo Trung Cộng cuối cùng là lớn mức độ nào ? Đồng thời người đó trả lời là, cứ xem việc làm của Giang trong thời kỳ ông ta cầm quyền thì rõ.

Năm 1999, Chu Dung Cơ hai lần tranh biện với Giang Trạch Dân tại hội nghị Thường vụ Cục chính trị, cho rằng nếu không thận trọng xử lý vấn đề Pháp luân công sẽ gây ra mâu thuẫn. Giang cho rằng, 10 năm vụ “lục tứ” đang đến là thời kỳ hết sức nhạy cảm, nhất định phải dùng biện pháp cứng rắn với Pháp luân công, nếu không sẽ vong đảng vong quốc. Ngày 25 tháng 4  năm 1999, cả vạn học viên Pháp luân công biểu tình hòa bình ở Bắc Kinh, trong 7 ủy viên Thường vụ Cục chính trị, chỉ có một mình Giang Trạch Dân kiên trì trấn áp, còn lại 6 ủy viên đều phản đối, ngay cả Lý Bằng cũng không đồng ý trấn áp. Tại cuộc họp Thường vụ Cục chính trị, cả Chu Dung Cơ, Hồ Cẩm Đào đều bỏ phiếu chống lại kiến nghị trấn áp Pháp luân công của Giang. Mặc dầu 6 ủy viên Thường vụ phản đối (Lý Bằng, Chu Dung Cơ, Lý Thụy Hoàn, Hồ Cẩm Đào, Úy Kiện Hành, Lý Phong Thanh). Lúc đó Giang ở vào thế hết sức cô lập, nhưng Giang đã vận dụng quyền quyết định cuối cùng của “hạt nhân” để tiến hành trấn áp Pháp luân công. Ngày hôm sau, 26/4, Chu Dung Cơ hội báo tình hình sau khi Chu trực tiếp đối thoại với học viên Pháp luân công với Hội nghị Thường vụ Cục chính trị, Chu vừa nói đến “để cho bà con về luyện tập …”, thì Giang Trạch Dân liền đứng phắt dậy tay chỉ vào mũi Chu Dung Cơ và nói xối xả : “hồ đồ ! hồ đồ ! hồ đồ ! như thế là sẽ vong đảng vong quốc ! biết không ?” Cái mũ và cái gậy quá lớn, Chu Dung Cơ không thể chịu nổi.

Giang Trạch Dân thực sự nói mạnh “thuyết hạt nhân” là từ sau tháng 7/1999, tức sau khi Đặng Tiểu Bình qua đời, vì trước đó ảnh hưởng “hạt nhân” Đặng còn rất lớn.

Tháng 11/1999, trong cuộc Giang nói chuyện với tầng cao bên quân đội, đột nhiên cao giọng nói về vai trò “hạt nhân” của mình, và nói Trung Cộng “cần có một hạt nhân, đây là một qui luật lịch sử”. Giang còn đặc biệt nhấn mạnh, “hạt nhân” của ông ta là Đặng Tiểu Bình định cho. Đó là vì, trước đó ngày 20/7/1999, Giang tự mình quyết định phát động chiến dịch trấn áp Pháp luân công, kế hoạch trong 3 tháng diệt sạch Pháp luân công. (Pháp luân công là một loại luyện công để chữa bệnh, tăng sức khỏe bắt nguồn từ thành phố Trường Xuân từ năm 1992 do ông Lý Hồng Chí hướng dẫn, có hiệu quả kỳ diệu, nên đã lan truyền rộng khắp trong cả Trung Quốc. Đến năm 1999 đã có khoảng 100 triệu học viên tham gia luyện tập. Lúc đó người thân gia đình các ủy viên Thường vụ, Cục chính trị, cả người nhà Giang Trạch Dân đều tham gia luện Pháp luân công, nên đều phản đối chủ trương của Giang.)

Sau 3 tháng không diệt trừ được Pháp luân công, từ ủy viên Thường vụ, ủy viên Cục chính trị, đến cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đều tiêu cực. Tăng Khánh Hồng, quân sư của Giang hiến kế 3 điều : “1) Thực hiện chế độ người đứng đầu phụ trách của các cấp, nếu số lượng người Pháp luân công đi khiếu kiện quá mức số lượng nhất định, cách chức người đứng đầu; 2) số người ở Sơn Đông đi lên khiếu kiện nhiều nhất, báo cho Ngô Quan Chính, nếu dân vẫn lên nhiều, thì cách chức Bí thư tỉnh và cả chức ủy viên Cục chính trị, nếu trấn áp mạnh mẽ sẽ xem xét vào Thường vụ cục chính trị Đại hội 16 của ông ta; 3) thái độ Hồ Cẩm Đào rất ẩm ờ, vốn chúng ta định chọn Lý Trường Xuân trấn áp ở Quảng Đông, người lãnh đạo thế hệ 5, nhưng cũng không đắc lực. Chúng ta cần có biện pháp.”

Thế nên, sau tháng 11/1999, Giang Trạch Dân một mặt bắt đầu dùng lợi ích dụ dỗ các quan địa phương muốn thăng quan tiến chức thì theo Giang bức hại Pháp luân công; mặt khác bắt đầu tung ra mạnh cách nói về “thuyết hạt nhân” để uy hiếp “chư hầu” các bên chỉ có thể nghe một tiếng nói của Giang trên những vấn đề chính trị trọng đại. Sau đó cách diễn đạt của quan phương Trung Cộng đều nêu “Trung ương đảng lấy Giang Trạch Dân làm hạt nhân.”

Trước đó, từ năm 1992, Đặng Tiểu Bình rõ dần chân tướng Giang Trạch Dân, không phải là người đi theo con đường cải cách của Đặng, nên năm 1992, khi Đặng đi thị sát phía nam đã công khai nói ra “ai không cải cách, người đó sẽ xuống” và định loại bỏ Giang. Nhưng Trần Vân khuyên Đặng bình tĩnh : “sự bất quá tam”, anh không nên liên tục thay Tổng Bí thư, Hồ, Triệu, nay Giang là khó thuyết phục nội bộ. Đặng đành để Giang cho hết nhiệm kỳ, và điều Hồ Cẩm Đào đang là Bí thư Tây Tạng về TW làm Bí thư Ban Bí thư, đưa vào Thường vụ Cục chính trị, và công bố rõ Hồ Cẩm Đào là hạt nhân Trung Cộng thế hệ IV. Nhưng sau đó, nhất là sau khi Đặng qua đời, Giang đã không thực hiện bàn giao lại vai trò hạt nhân, Chủ tịch quân ủy TW cho Hồ Cẩm Đào như Đặng đã quyết, mà còn vô hiệu hóa vai trò Tổng Bí thư của Hồ Cẩm Đào bằng cơ chế “9 con rồng trị thủy” của Giang, Tăng bày ra.

Hai lý do cơ bản mà Giang sợ Hồ Cẩm Đào lên thay, đó là :

Thứ nhất, về chính trị, từ năm 1999 đến 2002, Giang và tập đoàn người ngựa của Giang đã vi phạm pháp luật, điên cuồng bức hại Pháp luân công, như nhiều tài liệu đã công bố tội ác của Giang và đồng bọn, liên quan đến tội chống lại loài người.

Thứ hai, về kinh tế, Giang thực hiện phương châm trị quốc “ngậm miệng phát tài to”. Dưới sự lôi kéo của Giang, toàn thể đảng viên Trung Cộng bắt đầu lăn xả vào kiếm tiền, kéo cả xã hội tất cả hướng về tiền (Tiền ở đây, thời kỳ trước là chỉ hướng tiến lên phía trước, còn nay là hướng về đồng tiền.) thậm chí giết người hại mệnh, cờ bạc, buôn bán ma túy chất độc đều thịnh hành dậy lên. Hồ Cẩm Đào liêm khiết không tham nhũng hủ bại, Giang sợ Hồ lên sẽ vạch các tội lỗi này của chúng, nên bằng mọi cách cản trở Hồ Cẩm Đào trở thành Tổng Bí thư, nhất là trở thành hạt nhân của Trung Cộng.

Đằng sau việc xác lập “hạt nhân” Tập Cận Bình.

Hội nghị TW6 vừa rồi, cuối cùng cũng đã xác lập vị trí “hạt nhân” của Tập Cận Bình trong Ban chấp hành TW đảng CSTQ. nhiều góc nhìn nhận khác nhau về sự kiện này.

Các báo chí nước ngoài, như Nhật báo Bình quả (Hồng Kông), Trung Quốc Thời báo (Đài Loan), Guardian (Anh quốc), Thời báo NewYork (Mỹ) đều mô tả : “xác lập chính thức “hạt nhân Tập” vị trí ngang với Mao Đặng”, hoặc “vị trí “hạt nhân” của Tập là do Tập tự làm nên từ thực tiễn hành động của mình, là rất xứng đáng.”, vân vân …

Cũng có ý kiến cho rằng, Tập đã tập trung quyền lực mọi mặt trong tay rồi, còn muốn cái mác “hạt nhân” này nữa là với ý đồ gì đây ? và đứng trên tầm của một tổ chức lãnh đạo để giải thích rằng, một số việc quan hệ đến giải quyết vấn đề quan trọng đến toàn cục, bức thiết cần có một “tập thể lãnh đạo trung ương và hạt nhân lãnh đạo” kiên cường và kiên trì “từ nghiêm trị đảng” toàn diện.

Lại có ý kiến với góc nhìn khác, giải thích cho rằng người lãnh đạo cao nhất Trung Cộng sợ rằng đến Đại hội 19, nếu TW6 không xác lập được vị trí “hạt nhân” là đánh mất cơ hội phát huy “quyền quyết định cuối cùng” về bố cục nhân sự tầng cao, về các vấn đề trọng đại trong đảng, nhất là về quyền uy chủ đạo Đại hội 19. Hoặc nếu không xác lập được “hạt nhân Tập” thì cũng khó loại trừ ảnh hưởng của “hạt nhân Giang”, biết đâu một số tàn dư thế lực Giang nhân cơ hội, trổi dậy lại, rất có thể làm cho cục diện chính trường thêm phức tạp.

Cho nên, mặc dầu Tập trong gần 4 năm chiến đấu đã đem lại thành tựu lớn về cải cách quân đội, về đánh hổ, nhất là đánh bại “tứ nhân bang mới”, các bang phải khác và các thành tựu khác không ai có thể phủ nhận, nhưng về mặt xác lập “hạt nhân Tập” không phải là việc giản đơn, mà là cả một quá trình chiến đấu quyết liệt với thế lực Giang Trạch Dân, Tăng Khánh Hồng.

Ngay từ tháng 01 năm nay, 3 từ “hạt nhân Tập” đã bắt đầu đưa ra nổi bật trên báo chí quan phương. Sau đó, ngày 11 đến ngày 15/1/2016 đã có ít nhất 15 Bi thư tỉnh ủy bày tỏ “kiên quyết ủng hộ hạt nhân Tổng Bí thư Tập Cận Bình”. Đến tháng 8/2016, Lật Chiến Thư, Chủ nhiệm Văn phòng TW đảng CSTQ, trong khi phát biểu với quan chức cơ quan trực thuộc TW, từng nêu lên cần ủng hộ “hạt nhân Tập”. Lúc đó có dư luận cho rằng, Lật Chiến Thư đưa ra “hạt nhân Tập” trước khi Hội nghị Bắc Đới Hà là có mục đích rất rõ. Đến gần Hội nghị TW6, quan phương tạo thế “hạt nhân Tập” đột nhiên càng dồn dập.

Có phân tích của báo chí HồngKông hoặc như Lý Thiên Tiếu, nhà bình luận thời sự chính trị thuộc Đại học Colombia Mỹ cho rằng “từ nghiêm trị đảng”, “hô hoán hạt nhân” đã trở thành chủ đề quan trọng tại Hội nghị TW6 lần này, đã từ đằng sau màn ám thị chính trị bước ra trước sân khấu tỏ rõ chính trị. “Hô hoán hạt nhân” là để thanh trừ triệt để thế lực phái Giang trong đảng, thanh toán tội ác bức hại pháp luân công của Giang Trạch Dân và thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa biến cách thể chế tạo dựng quyền uy. Vấn đề “hạt nhân Tập” được đưa ra, trên thực tế là đã tổng kết sự cầm quyền của Tập vừa qua,   trong quá trình chống tham nhũng đánh Giang, cái “hạt nhân” này đã được hình thành tự nhiên rồi mà xác nhận thêm thôi, chứ không phải đặc biệt vì cái gì đó mà đưa ra. Sự xác nhận này trên thực tế không phải đơn giản là vì để chống tham nhũng mà chống tham nhũng, cái chống tham nhũng hơn 3 năm qua, kỳ thực chỉ là thủ đoạn, trên thực tế của mục đích sâu xa là thanh trừ toàn diện tập đoàn tội phạm Giang Trạch Dân. Hiện nay, Tập cần cái “hạt nhân” này không phải để tăng thêm quyền lực, vì đã quá đủ rồi, mà Tâp muốn mượn cái khái niệm “hạt nhân” này để thúc đẩy hơn nữa quá trình thanh trừ Giang, và tiến hành biến cách toàn diện chính trị ở Trung Quốc, sau khi đã thanh trừ Giang.

Còn ScottKennedy Phó Chủ nhiệm Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc thuộc Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế của Mỹ bình luận rằng, vị trí hạt nhân lãnh đạo của Tập Cận Bình có ý nghĩa tượng trưng quan trọng, địa vị của Tập hiện nay thực sự cao hơn tất cả những người lãnh đạo khác, thực chất Tập có được cái quyền phủ quyết, tuy phía quan phương không nói thế nhưng trong thao tác thực tế, khi quyết định về nhân sự và chính sách, Tập có quyền phủ quyết trong tầng cao lãnh đạo, nhất là đối với Đại hội19 sắp tới. Đến lúc đó có thể lại đưa ra “Tư tưởng Tập Cận Bình” như các vị tiền nhiệm đã từng đưa ra. (Tư tưởng Mao Trạch Đông, Lý luận Đặng Tiểu Bình, Thuyết ba đại diện Giang Trạch Dân, Phát triển có khoa học Hồ Cẩm Đào,)

Nhưng cũng có cách nhìn khác về “hạt nhân Tập” :

Báo chí các địa phương Trung Quốc, sau Hội nghị TW6, nhất loạt không đưa tin vấn đề TW đảng CSTQ nhất trí Tập là “hạt nhân” lãnh đạo của TW đảng, mà chỉ đưa tin đã thông qua hai văn kiện “Chuẩn tắc”, “Điều lệ” và quyết nghị thời gian Đại hội 19. Chỉ có một tờ báo nhỏ “Báo tin nhanh hiện đại” trên trang đầu với tựa đề “Tổng Bí thư Tập Cận Bình đã trở thành hạt nhân toàn đảng”, cũng chẳng được dư luân để ý tới. Vậy ai đứng đằng sau chỉ đạo đồng loạt các báo chí địa phương có hành động này ?

Nhà phân tích chính trị Trần Phá Không cho rằng “hạt nhân Tập” ra lò được, đó là sản phẩm tổng hợp của sự uy hiếp, thỏa hiệp và mặc cả qua lại.

Nói làuy hiếp, trước Hội nghị TW6, một loạt động tác tung gươm múa kiếm của thế lực Tập Vương sắp đặt từ “Thành báo” Hồng Kông công khai khiêu chiến Trương Đức Giang, Lưu Vân Sơn, ủy viên Thường vụ Cục chính trị, phái Giang; Ủy ban Kỷ luật TW điều tra Văn phòng Hồng Kông Ma Cao và Văn phòng Ban liên lạc đối ngoại TW do Trương Đức Giang chủ đạo; Ủy ban Kỷ luật TW đưa lên màn hình bộ phim chống tham nhũng 8 tập “mãi mãi đi trên đường”, gấp rút chiếu xong trước 2 ngày khi vào Hội nghị TW 6, với dụng ý là gây kinh động tinh thần tầng cao. Ngụ ý các động tác múa kiếm của Tập Vương là : Tập Cận Bình phải được gọi là “hạt nhân”, kẻ phản đối sẽ gặp lưỡi kiếm của Ủy ban Kỷ luật TW.

Còn thỏa hiệp và mặc cả, là ẩn hiện xen trong các dòng chữ của bản Thông báo Hội nghị TW6, như các đoạn văn ghi :

“Thực hiện kết hợp lãnh đạo tập thể với phân công cá nhân phụ trách với nhau, là bộ phận hợp thành quan trọng của chế độ tập trung dân chủ, cần phải trước sau kiên trì.” Tiếp sau đó, dùng liền 3 từ “bất cứ” để tạo một câu : “bất cứ tổ chức và cá nhân nào trong bất cứ tình hình nào đều không cho phép lấybất cứ lý do nào đi ngược chế độ này”. Đoạn văn này chỉ có thể hiểu là để ràng buộc Tập Cận Bình. Đó phải là phái Giang, như Trương Đức Giang, Trương Cao Lệ, Lưu Vân Sơn đề ra, với hàm ý là : nếu muốn chúng tôi tiếp nhận anh là “hạt nhân”, chúng tôi có điều kiện là, tiếp tục kiên trì phân công thường vụ, mỗi người quản một mảng. Như vậy Tập không thể làm được như Đặng Tiểu Bình là đã phá bỏ Chuẩn tắc kiểu này thời năm 1980, buộc Tập phải thỏa hiệp và mặc cả với đối phương : “chỉ cần các anh đồng ý tôi làm “hạt nhân”, tôi sẽ hết sức đáp ứng điều kiện của các anh”. Thế nên mới họp ở khách sạn Kinh Tây, cửa nặng khóa sâu, canh gác cẩn mật, các bên đấu đá tranh cãi quyết liệt, từng câu từng chữ, ăn miếng trả miếng cả ngày suốt đêm. Rất có thể trực tiếp thảo văn bản này là hai Sơn họ Vương và họ Lưu, bên chống bên đỡ, nhiều phen đọ sức, bỏ để, tổng hợp, nhượng qua nhượng lại, cuối cùng mới có được bản Thông báo đầy ắp sự thỏa hiệp mặc cả đôi bên, thể hiện ở nhiều đoạn khác nữa như : “Công việc quyết sách, chấp hành, giám sát trong đảng, cần phải chấp hành nguyên tắc và trình tự dân chủ của Điều lệ đảng, qui chế đảng xác định, bất cứ tổ chức đảng và cá nhân nào đều không được áp chế dân chủ trong đảng, phá hoại dân chủ trong đảng.” Hoặc về phần lựa chọn đề bạt cán bộ, nhấn mạnh : “ngũ hồ tứ hải”, ám chỉ không thể để “quân nhà Tập” một mình chiếm lĩnh. Hoặc về hệ thống lý luận hai lần nhấn mạnh: “kiên trì lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Mao Trạch Đông, lý luận Đặng Tiểu Bình, tư tưởng quan trọng 3 đại diện, quan điểm phát triển có khoa học làm chỉ đạo, đi sâu quán triệt tinh thần một loạt lời nói quan trọng của Tổng Bí thư Tập Cận Bình”. Đúng ra không cần nhấn mạnh đến hai lần, nhưng dụng ý của phái đối lập với Tập là yêu cầu Tập không được phủ nhận tư tưởng và vai trò lịch sử của từ Mao, Đặng đến Giang, Hồ, trọng điểm là phải bảo vệ chặt Giang Trạch Dân (“3 đại diện” là đại danh từ của tư tưởng Giang). Mao, Đặng, Hồ không là vấn đề đối với Tập, mà Giang mới là vấn đề khó xử đối với Tập, mà Tập đang gấp rút muốn xóa đi. Hai Trương một Lưu nói bảo vệ Giang, cũng là để tự bạo về mình trước hết. Như vậy ở đây, Tập buộc phải thỏa hiệp, hoặc là tạm thời thỏa hiệp, thỏa hiệp có tính sách lược. Trong hành động cụ thể, Tập đã phải đưa Thư ký của Giang trước đây lên nhận nhiệm vụ mới, em gái Giang lộ diện trong tham gia một số hoạt động quốc tế.

Đối với vai trò và công năng Ủy ban Kỷ luật TW, trong Thông báo đầy rẫy những câu chữ có tính ràng buộc chặt chẽ, cũng là những câu chữ của hai Trương một Lưu chèn chặt vào. Đối với công tác giám sát trong đảng, Thông báo nhấn mạnh : “cần xây dựng kiện toàn sự lãnh đạo thống nhất của TW đảng”, “Ban chấp hành TW, Cục Chính trị TW, Ban Thường vụ Cục chính trị TW lãnh đạo toàn diện công tác giám sát trong đảng. Cấp ủy đảng, Ban cán sự đảng chịu trách nhiệm chủ thể trong giám sát trong đảng, Bí thư là người chịu trách nhiệm thứ nhất, ủy viên Thường vụ cấp ủy, thành viên Ban cán sự đảng và cấp ủy viên thực hiện chức trách giám sát trong phạm vi chức trách của mình. Ủy ban kiểm tra kỷ luật các cấp của đảng cần thực hiện chức trách giám sát chấp hành kỷ luật và hỏi trách nhiệm.” Hoàn toàn không đề cập gì đến vai trò trách nhiệm Ủy ban Kỷ luật TW   đối với lĩnh vực giám sát trong toàn đảng, có phải là gián tiếp loại vai trò Vương Kỳ Sơn.

Tập có được “hạt nhân”, đúng là một thắng lợi, nhưng chỉ là thắng lợi một nửa, một phần, không phải là thắng lợi hoàn toàn. Hoặc như La Vụ nói, đó chỉ là hư danh. Điều này cũng dễ hiểu, vì Ban chấp hành TW khóa 18 này, không phải đa số là người của Tập, mà là của Giang, Tăng và các bang phái khác, người thực sự của Tập, Vương là số ít. Trong tình thế này, trong so sánh lực lượng này, Tập Vương lấy ít đọ nhiều, khổ chiến gần 4 năm, thực hiện phá vòng vây chính trị, đạt được như vậy, tuy chưa trọn vẹn, nhưng là một thắng lợi lớn. Bước tiếp theo, đặt hy vọng ở cuộc chiến cài cắm nhân sự trong thay nhiệm kỳ ở các đảng bộ địa phương, bộ ngành, nhân sự Đại hội 19, làm thế nào “quân nhà Tập” chiếm cho được trên 60%, lúc đó “hạt nhân Tâp” mới là thực sự./.

(Tổng hợp từ mạng chính thống và phi chính thổng ở Trung Quốc, cung cấp tham khảo.)

( Nguồn: VHNA)

NHÀ VĂN KIM LÂN: CÂY BÚT ĐỘC ĐÁO VÀ XUẤT SẮC VỀ NÔNG THÔN

PHAN HOÀNG
Tôi nhớ sinh thời tác giả của Bỉ vỏ từng “phán” về đồng nghiệp của mình rằng: Kim Lân là nhà văn một lòng đi về với “đất” với “người” với “thuần hậu nguyên thuỷ” của cuộc sống nông thôn. Thật không chê vào đâu được lời “truyền thần” ấy của nhà văn Nguyên Hồng! Sự nghiệp và những quan niệm về văn chương của tác giả Vợ nhặt qua những lần chúng tôi tiếp xúc và ghi lại đáng để những người đi sau suy ngẫm.

Nhà văn Kim Lân

CHẤT LIỆU SỐNG TỪ BẢN THÂN, GIA ĐÌNH VÀ QUÊ HƯƠNG

Giống như Đoàn Chuẩn trong âm nhạc, Kim Lân là nhà văn viết ít nhưng hầu như truyện ngắn nào của ông cũng để lại dấu ấn nhất định trong lòng bạn đọc. Ngày 1-8-2016 vừa qua sinh nhật lần thứ 95 của nhà văn Kim Lân, một bậc tài hoa của làng Chợ Giàu thuộc thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Từ khoảng năm 1940, ông có truyện ngắn đầu tiên Đứa con người vợ lẽ đăng ở tờ Trung Bắc Chủ nhật. Từ đó, truyện của Kim Lân đăng khá đều trên tuần báo này cùng với tờ Tiểu thuyết thứ bảy, đề tài chủ yếu là chuyện về thú chơi tiêu khiển gà chọi, chó săn, chim bồ câu…, những sinh hoạt văn hoá truyền thống ở thôn quê. Ngoài bối cảnh là ngôi làng Chợ Giàu quê hương, thì nhân vật trong những truyện ngắn đầu tiên ông viết đều nói về bản thân mình, gia đình mình. “Truyện Làngtôi viết về làng Chợ Giàu, nhưng chẳng có ai là Lão Hai cả. Lão Hai chính là tôi. Viết đi viết lại hình như cuối cùng câu chuyện cũng là mình. Khỉ thế! Từ tình cảm đến lời ăn tiếng nói, tính nết, cách xử sự việc đời của nhân vật, đều chính là mình” – sinh thời nhà văn thổ lộ với chúng tôi.

 

Ngay cả truyện ngắn đầu tiên Đứa con người vợ lẽ, nhà văn Kim Lân cũng phản ánh chính nỗi cơ cực tủi hờn của mẹ con mình. Khi truyện in báo, ông anh Cả (con bà Cả) đọc được cứ mãi theo chất vấn hạch sách Kim Lân. Nhà văn nhớ lại: “Mẹ tôi là vợ ba của bố tôi, lại là dân ngụ cư quê gốc ở Kiến An, Hải Phòng làm thợ cấy phiêu bạt khắp nơi. Cho nên mẹ bị gia đình chồng hết sức coi thường. Mẹ phải hầu hạ như một vú em trong nhà. Không ai xem mẹ là vợ của bố cả! Những người con hai bà lớn của bố tôi đều gọi mẹ tôi là “chị Tam”. Hồi nhỏ, tôi cứ đinh ninh Tam là tên thật của mẹ, chứ không hề biết do mẹ tôi là bà Ba. Sau Cách mạng tháng Tám, tôi mới biết mẹ tên là Náng (ông ngoại tôi tên Nếnh), còn dì tôi tên Mủng. Dì Mủng cũng chính là nhân vật dì Hân trong truyện Người chú dượngcủa tôi. Nếnh, Náng, Mủng – chỉ cái tên thôi cũng thấy cái thân phận thấp hèn, trôi nổi của dân ngụ cư lúc đó”.

Có thể nói việc khắc hoạ thành công hình tượng người phụ nữ với những tính cách, số phận điển hình trong những hoàn cảnh điển hình chính là yếu tố quan trọng giúp nhà văn Kim Lân dựng nên những truyện ngắn đặc sắc. Điều thú vị là trong số những hình tượng phụ nữ được ông xây dựng thành công với nguyên mẫu chủ yếu là người thân của mình. Trong truyện ngắn tiêu biểu nhất của Kim Lân là Vợ nhặt thì nhân vật bà cụ Tứ chính là hình ảnh của mẹ ông. Còn người vợ trong truyện cũng có nguyên mẫu chủ yếu là vợ ông, nhưng giống hoàn cảnh thôi, còn vợ ông ngoài đời được cưới xin đàng hoàng chứ không phải… vợ nhặt!

Nhà văn Kim Lân cho biết, thời trẻ ông là con nhà nghèo ở trong một cái làng giàu, người lại gầy gò xấu xí, nên dù mê nhiều cô gái nhưng ông không dám tỏ bày. Say mê người đẹp, nhưng vì mặc cảm ông thường lánh họ, càng mê càng lánh, càng ít dám trò chuyện, thậm chí không dám nhìn vào mắt họ. Kim Lân hay đến chơi nhà người bạn thân là Nguyễn Đăng Bảy, một người cũng có máu văn nghệ ở làng Chợ Giàu, sau này trở thành người tham gia sáng lập xưởng phim truyện Việt Nam đầu tiên, được phong Nghệ sĩ Nhân dân. Bấy giờ, ông Nguyễn Đăng Bảy có người em gái ruột khá xinh xắn, Kim Lân thấy thích nhưng không dám nói. May mà, theo lời ông: “Bà ấy chắc cũng thích tôi nên chuyên môn dúi cho tôi… mận! Sau anh Bảy biết, anh ấy “ghép” cho, thế là chúng tôi nên vợ nên chồng. Nhưng cũng phải mất gần bốn năm tôi mới cưới được bà. Bà ấy giúp tôi rất nhiều. Bà ấy cũng con nhà nghèo, nghèo lắm, nên dễ thông cảm. Tôi đi kháng chiến, viết văn, còn chuyện gia đình thì phó thác cho bà. Bà làm đủ thứ nghề, từ buôn bán hàng rong với từng quả mận quả cau quả bí quả bầu tới may vá, mở hàng bán nước kiếm từng đồng từng cắc để nuôi chồng nuôi con. Chúng tôi được bảy đứa con, mà hết năm là hoạ sĩ. Tôi nghiệm thấy vợ các nhà văn đều tốt, lại “nghiện” chồng lắm. Điển hình như bà Nguyên Hồng, bà Nguyễn Tuân, nhất là bà Tuân”.

SÁNG TẠO TRÊN CÁI NỀN HIỆN THỰC ĐỜI SỐNG

Đối với nhà văn Kim Lân, cách mạng không chỉ mang lại sự thay đổi cuộc sống của bản thân và gia đình, mà còn giúp đổi thay sự nghiệp cầm bút của ông. Khi tham gia hoạt động văn hoá cứu quốc, ông được gặp và trao đổi nghề nghiệp với các nhà văn Nguyên Hồng, Nam Cao, Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài,… Từ đó, cách viết của nhà văn Kim Lân bắt đầu đổi khác, như lời ông nói: Trình độ một anh nhà quê viết theo bản năng, cảm tính mới dần dần thấy được công việc thực sự của người viết văn chuyên nghiệp. Và bài học mà ông rút ra: “Theo kinh nghiệm của tôi, những chuyện thật mà tôi ghi lại được thì đều nhạt nhẽo và khô cứng. Nhưng sự thật cũng có giá trị của sự thật, rất giá trị, rất cần thiết nữa. Tất cả những truyện Vợ nhặt, Ông lão hàng xóm, Con chó xấu xí đều dựa trên cái nền là sự thật. Còn những truyện khác, kể cả Làng, hầu hết là tôi bịa. Bịa cả nhân vật lẫn tình tiết. Bởi không có sự thật nào như thế cả. Nhưng cái bịa ấy là cái điều mà chính tác giả muốn nói. Và chính tác giả muốn nói nên mới sinh ra cái bịa. Gọi là bịa chứ kỳ thực chính là sáng tạo”.

Cái bịa hay sáng tạo trong tác phẩm văn học đôi khi lại trở nên thực, thậm chí rất thực hơn đời thường. Đó cũng chính một điểm mấu chốt thể hiện tài năng của nhà văn. Hiện thực chỉ là chất liệu thô, qua lăng kính nhà văn thì hiện thực được thăng hoa. Như nhà văn Kim Lân lý giải: “Vì sao phải bịa? Người viết muốn nói một việc gì, một ý nghĩ gì thì chuyện đời thường hàng ngày tự thân đã có tiếng nói riêng của nó, còn tiếng nói của chính tâm linh người viết chỉ có bịa mới ra được. Nhưng như vậy không có nghĩa là nó tách rời hoàn cảnh xã hội, tách rời đời sống, mà hình như nó thực hơn. Chính vì vậy mà tôi cũng thường nói bịa lại thực hơn. Vì nó thực với chính mình trước tiên. Và kỳ lạ khi mình bịa ấy, mình viết say mê hơn nhiều. Không biết khi mình say sưa bịa ấy có phải là những giây phút thăng hoa nhất của người viết không?”.

Một điều nữa mà nhà văn Kim Lân trăn trở khi trò chuyện với chúng tôi, đó là trong mấy mươi năm nhiều cây bút thường viết chạy theo thời sự, nói về chính sách hay một cuộc chiến đấu nhằm cổ vũ cho chính sách hay cuộc chiến đấu đó. Nếu so với hàng ngàn năm lịch sử dân tộc trước đây chỉ có một số ít bài thơ yêu nước và thể hiện tinh thần chiến đấu chống ngoại xâm của Lý Thường Kiệt, Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Đình Chiểu,… thì trong khoảng nửa sau thế kỷ XX văn học Việt Nam xuất hiện cả một bề dày tác phẩm đồ sộ viết về đề tài này. Ông nói: “Theo tôi, kháng chiến và mọi chính sách chỉ nên quan niệm là cái nền của con người đang sống. Con người vẫn là quan trọng. Ngòi bút của tôi hướng về cái đời thường, diễn ra hàng ngày, về quan hệ vợ chồng, con cái. Qua đó, tôi cũng có thể thấy được chính sách hay cuộc chiến đấu nó có tác động vào đời sống như thế nào”.

Từ quan niệm như trên, nhà văn Kim Lân tỏ ra không thích kiểu dùng lý lẽ trong những trang viết mang tính thời sự, một căn bệnh mà một số nhà văn từng mắc phải. Theo ông: “Dùng lý lẽ để thuyết phục trong văn chương cũng là một thứ cưỡng chế. Những lý lẽ ma giáo ấy nhiều khi nó làm cho người ta không giữ được chính mình. Nói một cách khác hết sức mềm mại thì người cầm bút phải viết như chơi, viết thoải mái bằng tấm lòng của mình, hướng vào cái thật, cái đẹp, giúp cho con người sống thật, sống đẹp với nhau. Và khi nhà văn gặp cái gì trái với cái thật, cái đẹp thì phải biết bất bình, phải dám lên tiếng nữa”.

NGẪM CƯỜI TAI NẠN VĂN CHƯƠNG

Vào năm 1958, nhà văn Kim Lân viết truyện ngắn Ông lão hàng xóm để nói về những sai lầm trong cải cách ruộng đất. Vốn là người trong cuộc, hiểu được những khuất tất sai trái đằng sau vấn đề này mà ông đã quyết tâm thể hiện bằng văn học. Nhà văn cho hay: “Tôi viết về cái sự thật ấy nhưng khác mọi người. Người ta viết như hằn học, thù ghét cái sai lầm, còn tôi thì thể hiện sự đau lòng! Vì cái sai ấy là cái sai của Đảng mình. Tôi viết với tinh thần sửa sai chứ không hằn thù. Lúc tôi mới cho ra mắt Ông lão hàng xóm, dĩ nhiên có không ít cái nhìn giận ghét, coi mình như là một người không vững vàng, thậm chí như một kẻ bôi đen chế độ”.

Ngoài truyện ngắn Ông lão hàng xóm của nhà văn Kim Lân, thì hai nhà văn khác lúc bấy giờ là Nguyễn Huy Tưởng và Đoàn Giỏi cũng có tác phẩm bị “đánh” tơi bời. Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng viết Một ngày chủ nhật, tái hiện hình ảnh đi dạo hồ Gươm một ngày chủ nhật thấy nó luộm thuộm rác rưởi do con người thiếu ý thức. Còn nhà văn Đoàn Giỏi viết truyện Thao thức thể hiện tình cảm của một người miền Nam trằn trọc nghĩ ngợi về quê hương đang bị chia cắt. Điều thực tế mà bây giờ nhìn vào tưởng bình thường nhưng bấy giờ lại không bình thường và bị giới phê bình văn học phê phán nặng nề. Nhà văn Kim Lân cười vui nhớ lại: “Cả ba đều bị đập tới số. Vì thế tôi mới viết một vế đối, thách ai đối được thì tài: Một ngày chủ nhật, ông lão hàng xóm, thao thức. Tưởng, Kim Lân, Giỏi. Như vậy đủ biết chúng tôi sợ những nhà phê bình như thế nào”.

Nhân dịp nói đến giới phê bình văn học, nhà văn Kim Lân còn nhìn nhận: “Các nhà phê bình gần đây đỡ hơn các nhà phê bình thời bao cấp. Nhưng đỡ thôi, chứ thật tình mà nói nhà phê bình đích thực thưởng thức được cái hay cái đẹp của văn chương một cách sâu sắc mà tôi thấy lại không phải chính các nhà phê bình, mà là các nhà văn, như anh Nguyễn Tuân chẳng hạn. Những bài anh Tuân viết về Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng làm cho người ta thấy được cái hay cái đẹp của con người và tác phẩm của nhà văn đó nhiều hơn các nhà phê bình. Nhà phê bình ngày xưa quá thiên về quan điểm giai cấp, tư tưởng, lập trường phục vụ chính sách khô cứng. Nhà phê bình bây giờ hơn trước, là dám nói thẳng, nói theo lòng mình…”. Rồi ông ra vẻ trầm tư: “Tôi nghĩ các nhà phê bình trước hết phải là người sành thưởng thức. Thưởng thức cái hay cái đẹp, cũng như không bằng lòng cái xấu cái dở. Nhà phê bình không hẳn chỉ là nhà lý luận. Nhà phê bình cũng phải có cái bản lĩnh thưởng thức rất riêng của mình thì bài phê bình viết ra mới có ý vị. Các nhà phê bình thời trước cứ đè người ta ra mà chửi, nâng người ta lên mà khen. Nghe ngóng ý kiến của người khác mà khen hay chê. Ví dụ truyện Con chó xấu xí của tôi nhé, chẳng qua tôi nói một cách thảm hại: Tôi xấu xí xoàng xĩnh nhưng tôi trung thành, trung nghĩa. Chả thế mà có anh đã bảo: “Cái thằng này dại bỏ mẹ, tự ví mình là con chó xấu xí”.

Trong câu chuyện với chúng tôi, nhà văn Kim Lân luôn nhắc tới thế hệ nhà văn tinh hoa như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân… mà theo ông là những người từng viết hay trong cơ chế thị trường. Tác giả Vợ nhặt bảo rằng: “Nếu như bản thân các ông ấy không vượt qua cái cơ chế thị trưòng, thì còn là cái gì? Cơ chế thị trường không hề làm hỏng nhà văn. Vấn đề là anh có tài hay không. Các ông ấy viết văn là để bán nuôi mình, nuôi gia đình đấy chứ! Nhưng vẫn rất hay. Mà càng hay thì càng bán được. Vì độc giả họ chấp nhận, họ bỏ tiền mua. Tất nhiên, cũng phải loại trừ những thứ văn chương… mì ăn liền mà độc giả chóng ngán chóng quên. Còn bây giờ, xoá bỏ bao cấp chuyển qua cơ chế thị trường, mọi sự cứ như rối xoè ra. Hơi một tí là đổ tại cơ chế thị trường. Nhiều anh bán cái linh hồn mình cho tiền quá. Không được, cơ chế nào thì cơ chế, nhà văn cũng phải có thiên chức, có nhận thức về vai trò chính mình”.

Nguồn Văn nghệ 

Nguyễn Thiện Đạo: Âm nhạc đương đại và ngưỡng vọng dân tộc

Nguyễn Thiện Đạo: Âm nhạc đương đại và ngưỡng vọng dân tộc

Nhạc sĩ Nguyễn Thiện Đạo cùng với Olivier Messiaen tại Liên Hoan Metz năm 1980.Nguồn : nguyenthiendao.com

  • Nguyễn Thiện Đạo, nhà soạn nhạc người Pháp gốc Việt, được thế giới đánh giá như một bậc canh tân âm nhạc đáng kính của trường phái cổ điển đương đại. Thế giới âm thanh của ông là nơi giao hòa giữa hai dòng thủy lưu : đó là nhịp đập của con tim nước Pháp và tâm hồn quê hương Việt Nam, được biểu hiện nhuần nhuyễn qua bút pháp phương tây và triết lý sống phương đông.

Gặp gỡ Olivier Messiaen

Tuy được sinh ra trên mảnh đất rồng tiên nước Việt, nhưng Nguyễn Thiện Đạo đã sớm từ biệt quê nhà sang Pháp để học nghành y theo ý nguyện của cha. Thế nhưng niềm đam mê âm nhạc mãnh liệt đã khiến ông trở thành đứa con « bất hiếu ». Ông chối từ màu áo blouse trắng để theo học sáng tác tại Nhạc Viện Quốc Gia Paris và may mắn được Olivier Messiaen, là một trong số nhà soạn nhạc lớn nhất của thế kỉ XX, nhận làm học trò. Từ đây nhạc sĩ đã nhanh chóng nhận sự khơi gợi cũng như ủng hộ của thầy Olivier Messiaen về con đường sáng tác.

Chính từ cái nôi này, tinh hoa âm nhạc tây phương từ từ bén rễ, để rồi làm hồi sinh trong tâm thức người học trò Đạo những âm sắc, tiếng nói về cội nguồn. Vậy nên, gia sản tinh thần mà ông để lại phần lớn là những tác phẩm đề cập đến quê hương như : Mỵ Châu – Trọng Thủy, Phù Đổng, Thành Đồng Tổ Quốc, Trương Chi… Với việc đan kết giữa lối biểu hiện Tây Âu và chất liệu trong âm nhạc dân tộc Việt Nam, Nguyễn Thiện Đạo đã mang hồn cốt nước Việt đến với thế giới.

Trong cuốn « Musique et couleur » (Âm nhạc và màu sắc) Messiaen đã có lời đánh giá về người học trò của mình như sau « Tôi coi Đạo như một nhà soạn nhạc đặc biệt, cái ngày mà tôi nghe Koskom của ông ấy, tôi đã nghĩ rằng đây quả là một tác phẩm lớn của thế kỉ. Đó là bản nhạc có tầm cỡ, tốn nhiều công sức (…) là giấc mơ của Đạo, một nhạc sĩ Việt Nam tại Paris … ».

Ngưỡng vọng dân tộc

Năm 1978, Nguyễn Thiện Đạo vượt ngưỡng bằng vở opéra mang tên Mỵ Châu – Trọng Thủy, đánh dấu tên tuổi trong làng âm nhạc cổ điển thế giới đương đại. Mỵ Châu – Trọng Thủy là vở nhạc kịch đầu tiên của Việt Nam được thế giới biết đến như một tác phẩm mang tiếng nói dân tộc đặc sắc và thủ pháp biểu hiện mới mẻ.

Phần lớn những đứa con tinh thần của ông là niềm ngưỡng vọng về quê cha đất tổ. Nơi có miền kí ức tuổi thơ trải rộng theo những cánh đồng bát ngát, lắng nghe lời ca dao mẹ hát, những trò chơi đuổi bắt với gió, với mây và sự tĩnh lặng xuyên thấu tâm hồn.

Vậy nên, nhịp điệu, tiết tấu trong những tác phẩm của ông không đồng hành cùng nhịp tim của con người, điều mà người ta hay gặp trong âm nhạc phương tây, chúng thường có tốc độ cực nhanh. Thêm nữa cường độ luôn ở hai đỉnh điểm, từ âm độ vô cùng nhỏ, rồi vỡ òa tới tột cùng, như thể chúng muốn vượt khỏi giới hạn để đạt đến miền vô cực. Điều này khởi nguyên từ quan niệm vũ trụ trong triết học phương đông và khuynh hướng biểu hiện mới trong thủ pháp sáng tác âm nhạc thế kỉ XX.

Hay chăng những giai điệu trở nên lạ lùng dưới ngòi bút của ông, cho dù ta đã từng nghe khi còn nằm nôi. Nguyễn Thiện Đạo quả rất khéo léo thêu vào trong đó những vi quãng ( quãng nhạc cực kì nhỏ), gam ngũ cung hay lối hát vuốt giọng vốn đã tồn tại lâu đời trong kho tàng dân ca Việt Nam. Nhạc cụ truyền thống từ đây ,được khoác trên mình tấm áo đa sắc hơn nhờ ngôn ngữ biểu hiện theo trường phái tiên phong và nhạc chuỗi mà ông đã du nhập từ âm nhạc đương đại Tây Âu.

Tâm thế trong những tác phẩm của ông còn là sự tĩnh lặng đạt tới nhập định. Trước mặt đây, những bức tượng trầm ngâm, lắng nghe tiếng thở từ trong sâu thẳm tâm hồn, mặc nhìn thời gian lướt nhanh. Âm thanh trong nhạc Nguyễn Thiện Đạo như cánh cửa diệu kì mà ta có thể đi qua giữa hai thế giới : tâm thức và thực tại. Giống như chính tác giả đã từng nói với chính mình « Tôi cố gắng tự đặt mình ra khỏi dòng chảy của thời gian và không gian mà tôi đang sống. Dù ở bất cứ đâu, tôi không sống với cái thời gian và không gian nhất định đó ; và sự tĩnh lặng đưa tôi vào trong tâm thức ».

Trong một buổi phỏng vấn của đài RFI tiếng Việt, nhạc trưởng Laurent Boer, người chỉ huy những buổi hòa nhạc nhằm tưởng nhớ một năm ngày mất của nhà soạn nhac Nguyễn Thiện Đạo, tháng tư tại Paris và tháng mười vừa qua tại thành phố Hồ Chí Minh, khi được hỏi về màu sắc Á Đông trong nhạc của Nguyễn Thiện Đạo, ông nói : « Về những gì thuộc về Á Đông, trong tác phẩm « Linh Giác » mà chúng tôi biểu diễn, đó là thủ pháp sử dụng tính cộng hưởng (…) ví dụ như cồng là loại nhạc cụ gõ ở Việt Nam, mà khi đánh lên, trường độ cộng hưởng còn lớn hơn cả trường độ của chính nốt đó. Cái này chúng ta thấy rất rõ trong Linh Giác. Những lối chơi này đặc biệt được trao cho bộ gõ, những nốt nhạc ngân dài trên âm vực cao và âm hưởng của hợp âm (…) Đó là sự kéo dài nhịp đập của trái tim… ».

Xa quê gần trọn một đời người, những năm cuối đời ông đã dành rất nhiều chuyến về Việt Nam để thực hiện một vài dự án âm nhạc tại quê nhà, cốt cũng để thỏa lòng nhớ thương cội rễ. Một tác phẩm khá đồ sộ của Nguyễn Thiện Đạo, được dàn dựng ở Việt Nam gần đây nhất là vở Giấc Mơ Kiều. Đây là tác phẩm kết hợp nhiều loại hình sân khấu chở mang tấm tình quê hương, được biểu hiện hài hòa giữa hai dòng nhạc Á – Âu.

Đúng một năm, nhà soạn nhạc tài hoa Nguyễn Thiện Đạo đã đi xa, dấu tích mà ông đã để lại cho dân tộc Việt Nam là những bản nhạc khổ lớn nặng mang những giai điệu soi bóng hồn Việt. Những dòng nhạc uốn lượn lúc thưa lúc nhặt, có khi co cụm lại như vẽ nên bức tranh làng quê, là cái ao làng dưới bóng trăng yên bình, một khu vườn tĩnh mịch hay khúc lẩy Kiều xa xôi đâu đó vọng về. Quê hương ôm ông vào lòng, người đàn ông nhỏ bé với khát khao mang hồn cốt âm nhạc Việt Nam ra bể lớn.

Hé lộ thông tin sức khỏe Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung

BBC

Lễ khánh thành có sự tham dự của nhiều lãnh đạo cao cấp của Việt Nam HANOI.GOV.VN
Lễ khánh thành có sự tham dự của nhiều lãnh đạo cao cấp của Việt Nam

Thành viên Ban Chăm sóc Sức khỏe Trung ương bình luận với BBC về tin Hà Nội có trung tâm tầm soát ung thư đường tiêu hóa giá rẻ.

Lễ khánh thành Trung tâm kĩ thuật cao và tiêu hoá (Bệnh viện Xanh Pôn, Hà Nội) hôm 27/11 diễn ra trong lúc có tin đồn Chủ tịch Ủy ban Nhân dân TP.Hà Nội Nguyễn Đức Chung bị ung thư.

Trang web chính thức của Ủy ban Nhân dân TP.Hà Nội cho biết ý tưởng xây dựng trung tâm bắt đầu từ tháng Giêng 2015.

Ông Nguyễn Đức Chung, khi đó là Giám đốc Công an Thành phố, “gặp gỡ nhóm giáo sư hàng đầu thế giới trong lĩnh vực nội soi và phẫu thuật nội soi tiêu hóa”, do giáo sư người Pháp Joel Leroy dẫn đầu

Từ đó ông “nung nấu ý tưởng đưa mô hình tổ chức, tiếp nhận chuyển giao kỹ thuật tiên tiến này về Việt Nam”, theo trang web của thành phố Hà Nội.

Còn trang VietnamNet dẫn lời ông Chung tại buổi lễ rằng ba tháng sau, vào tháng Tư, ông “là một bệnh nhân được chính bàn tay GS Leroy khám, chữa. GS có một bàn tay như 1 con mắt thứ 3. Và kết quả đó đã thôi thúc tôi phải làm điều gì đó để đưa những công nghệ này về Việt Nam.”

‘Thông tin’

Hôm 28/11, trả lời BBC từ Hà Nội, Giáo sư Phạm Gia Khải, thành viên Ban Chăm sóc Sức khỏe Trung ương, nói: “Tất nhiên, khi một lãnh đạo xuất hiện trong một sự kiện y tế như thế này, người dân nghĩ ngay đến mối liên hệ của ông ấy với căn bệnh.”

Giáo sư cũng cho hay: “Năm 2015, trong một dịp tình cờ gặp, ông Chung có nói với tôi rằng ông ấy mới đi Pháp chữa bệnh về nhưng không nói rõ kết quả thế nào.”

“Tôi được biết thời điểm ấy ông Chung bị polyp đại tràng nhưng đấy chưa phải là ung thư và sau đó tôi không có thêm thông tin.”

“Do ông Chung là lãnh đạo ngành công an và bên đấy họ có hệ thống bảo vệ sức khỏe riêng nên tôi cũng rõ bệnh tình của ông ấy.”

“Tuy vậy, theo tôi, lâu nay việc truyền thông nhà nước đưa thông tin về sức khỏe lãnh đạo theo kiểu kín kín hở hở là không khoa học.”

“Tôi không tán thành cách này,” Giáo sư Phạm Gia Khải nói.

“Các nhà lãnh đạo ở ta khi bị ung thư hoặc bệnh hiểm nghèo mang tính ‘tế nhị’ thường giấu biệt, ngay cả những bác sĩ không liên quan cũng không được biết.”

“Họ thường chọn cách đi chữa bệnh ở nước ngoài và đến khi bệnh trở nặng, khó qua khỏi thì thông tin mới được công khai phần nào,” giáo sư Khải nói với BBC.

Việc Chủ tịch UBND TP.Hà Nội Nguyễn Đức Chung chia sẻ ông từng là bệnh nhân của giáo sư người Pháp được đánh giá là cử chỉ hiếm có trong giới chính khách Việt Nam.

Theo truyền thông Việt Nam, giá chẩn đoán sớm bệnh ung thư đường tiêu hóa tại trung tâm này chỉ là 63.200 đồng/lần.

Đăng bởi: Ngô Minh | 29.11.2016

LỤC BÁT NGÔ MINH

99-van-cu

LỤC BÁT NGÔ MINH

mai-van-hoanNhà thơ Mai Văn Hoan

Trước mặt tôi là tập thơ 99 vần cũ của Ngô Minh (Nhà xuất bản Thuận Hóa, 2016). Với 99 bài thơ được tuyển chọn trong hàng trăm bài thơ viết theo thể lục bát chứng tỏ sức sáng tạo khá dồi dào của anh. Khác với một vài bạn bè từ bỏ lục bát để theo đuổi lối viết hiện đại, Ngô Minh vẫn thử nghiệm lối viết hiện đại nhưng không từ bỏ lục bát. Có điều lục bát anh không bị chìm lấp trong hàng ngàn câu thơ vần vè, đơn điệu, mòn sáo. (Đọc tiếp…)

NHÀ VĂN SƠN NAM-ẤN TƯỢNG CỦA TÌNH ĐẤT, TÌNH NGƯỜI

Nguyễn Thanh
 Sơn Nam (1926-2008) tên thật : Phạm Minh Tài, quê làng Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Ông là nhà văn có vị trí đặc biệt ở Nam bộ, cùng thế hệ với các văn nghệ sĩ kháng chiến: Lý Văn Sâm, Kiên Giang, Thẩm Thệ Hà.

Ông học Tiểu học ở Rạch Giá, trung học ở Cần Thơ và tốt nghiệp bậc Thành chung. Từng tham gia giành chính quyền năm 1945 ở địa phương, công tác ở hội Văn hóa Cứu quốc, phòng Văn nghệ Ban Tuyên huấn Xứ ủy Nam bộ. Sau hai tập thơ: Lúa reoCho lòng em vui  là hai truyện ngắn: Bên rừng Cù lao Dung và Tây đầu đỏ, cả hai truyện đều đoạt giải nhất, nhì trong chiến khu. Viết báo ở Sài Gòn, Sơn Nam bị vào tù hai lần trong chế độ Mỹ Diệm. Là nhà văn duy nhất gốc Nam bộ được Trung ương mời ra Bắc để sống và viết. Ông viết các báo tiến bộ ở Sài Gòn : Nhân loại, Công lý, Ánh sáng, Lẽ sống, Tiếng chuông…và viết trên 60 truyện, tiểu thuyết, biên khảo, tiêu biểu có: Hương rừng Cà Mau (1962), Chim quyên xuống đất, Văn minh miệt vườn, Từ U Minh đến Cần Thơ, Tìm hiểu đất Hậu Giang, Lịch sử khẩn hoang miền Nam…Sơn Nam được gọi là “Nhà Nam bộ học”… và là Hội viên hội Nhà văn Việt Nam. Như Nguyễn Khoa Điềm, Nguyên Ngọc, Sơn Tùng, trước khi mất, Sơn Nam dặn lại gia đình từ chối Giải thưởng Nhà nước với lý do ông viết văn để kiếm sống và đi vào lòng người đọc, chứ không màng đến giải thưởng, danh vọng.

 

Nhà văn Sơn Nam quê quán tại Cù lao Ông Chưởng (Long Xuyên, nay là An Giang), giữa một vùng sông nước trù mật nhiều cây trái cá tôm: Chiều chiều quạ nói với diều / Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm. Xuất thân từ một gia đình lao động, từ đầu thế kỷ trước, ông nội của Sơn Nam đã đưa cả gia đình từ cù lao Ông Chưởng ở Long Xuyên đến lập nghiệp ở ven rừng U Minh Cà Mau, nơi phần lớn người Khmer sinh sống. Thuở nhà văn còn bé, người mẹ không đủ sữa nên cho con bú thép (1) ở một bà mẹ người Khmer, nên khi bắt đầu viết văn, ông đặt bút danh Sơn Nam, đứng đầu chữ Sơn vốn là một họ của phần đông người Khmer, ngụ ý nhớ ơn người mẹ dân tộc đã nuôi sữa cho mình. Còn Nam là để luôn nhớ mình là người phương Nam. Sơn Nam lớn lên trong rừng rậm khai hoang tại U Minh với muôn vàn cỏ cây, hoa lá, chim muông, sống gần gũi với những gia đình của người Việt, Khmer, và Hoa (đa số là người Tiều) nơi miền đất mới. Do vậy, Sơn Nam am tường hầu hết những nét đặc thù của không gian thiên nhiên còn in đậm nét hoang sơ với từng phấn lá hương rừng. Cả sinh hoạt thường nhật cùng những tập quán, lời ăn tiếng nói đặc biệt của người dân địa phương. Nhà văn Nguyễn Trọng Tín, một bạn văn cũng là người ngưỡng mộ Sơn Nam, coi ông là một trong số rất ít người hiểu biết nhiều về Nam bộ và khẳng định: “Truyện ngắn Hương rùng Cà Mau được xếp ở vị trí cao trong số những tác phẩm văn học đặc sắc nhất của Nam bộ”. Yêu quê hương đất nước tức là yêu tổ quốc dân tộc. Sau Cách mạnh Tháng Tám, khi thực dân Pháp lật lọng trở lại xâm chiếm miền Nam, Sơn Nam hăng hái hoạt động theo sở trường và kiến thức của mình trên lĩnh vực văn hóa nghệ thuật ở Quân khu 8. Thành tựu đầu tiên trong nghề cầm bút của Sơn Nam là hai tập thơ viết về công tác địch vận : Lúa reo (1948) và Cho lòng em vui (1950). Nhưng không lâu sau, chắc Sơn Nam đã ngộ ra điều gì đó về con đường nghệ thuật của mình nên ông “đoạn tuyệt” hẵn với nàng Thơ để viết văn xuôi. Và nhà văn đã thành công ngay khi mới chân ướt chân ráo bước sang lĩnh vực văn học mới. Hai truyện ngắn : Bên rừng Cù lao Dung (1951) và Tây đầu đỏ (1951) của Sơn Nam đã chiếm ngay giải nhất và giải nhì của Giải thưởng Văn nghệ Cửu Long trong cuộc thi do Ủy ban Kháng chiến-Hành chánh Nam bộ tổ chức. Cuối thời kháng chiến chống Pháp, một vinh dự lớn đến với Sơn Nam là nhà văn duy nhất chính gốc Nam bộ này được Trung ương mời ra Bắc để sống và viết, nhằm bảo vệ một tài hoa văn chương trong hoàn cảnh ác liệt của chiến tranh. Tuy nhiên, Sơn Nam vì quyến luyến với mảnh đất chôn nhau cắt rún nên từ chối không đi. Nhờ ở lại gắn bó với quê hương Nam bộ, và biết nghe lời khuyên của bậc đàn anh nhà văn Bình Nguyên Lộc (1914-1987) là “nên viết sâu về đất và người vùng châu thổ sông Cứu Long”, Sơn Nam có cơ hội viết được những tác phẩm văn học có giá trị cao như : Hương rừng Cá Mau, Chim quyên xuống đất, Văn minh miệt vườn, Tìm hiểu đất Hậu Giang,.. Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Vạch một chân trời…

 

Về chân dung Sơn Nam, ông có thói quen giống nhà văn Pháp Jean Jacques Rousseau (1712-1778) ngày trước là hay đi bộ. Bởi một lẽ đi bộ ông dễ la cà, ngồi quán uống cà phê, nhâm nhi vài ly bia để nghe biết và cập nhật nhiều thông tin mới làm chất liệu sáng tác. Đi bộ một mình nhất là trong không gian tĩnh lặng, giúp nhà văn cơ hội tốt để tư duy sâu sắc về đề tài sáng tác. Sơn Nam chỉ thích giao du với người lao động nghèo, gặp anh em bè bạn chỉ nói chuyện văn chương, nghe ai nói gì khác thì lạnh lùng bảo : “ Ôi, hơi đâu” rồi tìm cách bỏ đi. Sơn Nam ăn mặc xuề xòa, nói năng thật thà chơn chất, không ba hoa lời lẽ với ai, cũng ít hay khen hoặc chê ai bao giờ nhưng có thói quen hút thuốc và nói suốt ngày nghỉ khi gặp ai. Người hạp tính thì hay gần gũi, tới lui như trường hợp của nhà báo Đào Tăng, người bạn văn đã cho Sơn Nam ở chung nhà hơn mười năm vì hai người có nhiều điểm giống nhau trong cung cách sống. Khi đã là nhà văn với nhiều giải thưởng ở chiến khu, Sơn Nam có thái độ chân tình với với người bạn nhỏ tuổi hơn có ý định viết văn : Nguyễn Quang Sáng (1932-2014) – tác giả “Mùa gió chướng” lúc chưa cầm bút : “Mày cũng có chữ nghĩa, viết đi ! ” Nhờ biết nghe lời bậc đàn anh, Nguyễn Quang Sáng về sau trở thành nhà văn có vị trí uy tín trên văn đàn. Người ta còn nhận ra nét bén nhạy và phóng khoáng của một Sơn Nam trong quan hệ tình cảm với phụ nữ, được một bạn thơ thân thiết tặng cho nhà văn mấy nét ký họa vui tiêu biểu trong hai câu lục bát : Tới đâu thấy vịt cũng lùa/ Thấy duyên cũng kết/ Thấy chùa cũng tu. Đó là lý do khiến nhà văn có nhiều bến đỗ tình yêu. Nhà thơ Phan Hoàng kể lại chuyện Sơn Nam từng sống hơn tình nghĩa vợ chồng, trong một ngôi nhà thuê ở Gò Vấp, với một người phụ nữ nghèo bán bia nhỏ hơn nhà văn 30 tuổi cho tới lúc nhà văn qua đời. Dù đời văn không giàu, tính Sơn Nam vẫn hào hiệp, xài tiền rộng rãi, thấy ai nghèo túng thì hay cho tiền. Nhà thơ Kiên Giang có lúc thay anh em, hỏi vui Sơn Nam vì sao đến với văn chương, Sơn Nam chân tình : “Xứ mình nghèo quá, mình được đi học và mình phải làm cho người ta biết đến xứ mình như thế nào”. Và lý do tại sao Sơn Nam viết được thành công, thì “Nhà văn miệt vườn”cũng thành thật, mà xem ra như một “bí quyết” cho giới cầm bút : “ Tụi nhà văn chúng mình phải biết la cà”. Do vậy, suốt cả đời mình, chiếc thuyền văn Sơn Nam đã đỗ hết bến này đến bến nọ, luôn cả bến tình …để viết nên tên tuổi nhà văn thực sự được trang trọng trước bạ trên văn đàn.

 

Sự nghiệp văn chương của Sơn Nam, ngoài hai tập thơ : Lúa reo (1948) và Cho lòng em vui  (1950) được coi mở đầu cho cuộc đời cầm bút của Sơn Nam, những tiểu thuyết tiêu biểu : Chim quyên xuống đất (1963), Vọc nước giỡn trăng (1965), Hai cõi U Minh (1965), Ngôi nhà mặt tiền (1992)…người đọc không mấy để ý. Chỉ thể loại truyện ngắn sau đó là biên khảo, công chúng văn học mới có sự quan tâm đặc biệt. Sơn Nam viết khá nhiều truyện ngắn được đánh giá là xuất sắc : Hương rừng Cà Mau (NXB Phù sa,1962), gồm 18 truyện. Sách được tái bản hơn chục lần. Khi in lại vào năm 2001, ngoài “Hương rừng Cà Mau – tập 1 giống như bản đầu tiên, nhà xuất bản Trẻ -TP. Hồ Chí Minh còn tuyển chọn và cho in thêm hai tập nữa : “Hương rừng Cà Mau – tập 2, “Hương rừng Cà Mau – tập 3. Tiếp theo là những truyện ngắn tiêu biểu: Chuyện xưa tích cũ (NXB Khai Trí-1958), Truyện ngắn của truyện ngắn ((NXB Phù sa-1967), Xóm Bàu láng (Gái đẹp – 1968), Bà Chúa Hòn (Kỷ nguyên-1969)…Về biên khảo, tác phẩm tiêu biểu có thể kể : Nói về miền Nam (1967), Lịch sử khẩn hoang miền Nam (1973),Tìm hiểu đất Hậu Giang (1974), Gia Định xưa (1984), Văn minh miệt vườn (1992), Biển cỏ miền Tây (1993)…Trong toàn bộ tác phẩm, đáng lưu ý nhất và cũng làm cho Sơn Nam có một vị trí cao trong văn học Nam bộ là cuốn Hương rừng Cà Mau (NXB Phù sa, 1962) – tác phẩm được coi như lấy nền tảng từ cuốn Tìm hiểu đất Hậu Giang (1974) hay ngược lại.

 

Hương rừng Cà Mau là tập truyện ngắn hay nhất của Sơn Nam. Trong tác phẩm, tác giả vẽ lại đời sống cơ cực của người dân ở miền Cà Mau, Phú Quốc. Họ sống giản dị mà can đảm trong một không gian xa lạ giữa núi cao biển cả mà không có lũy tre xanh bao bọc yên lành hay tập quán lâu đời như vẫn thường gặp trong truyện, tiểu thuyết xưa nay ở Bắc và Trung. Nhân vật ở đây có khi là người sống một mình trên hoang đảo, vì không muốn thấy cảnh Tây bóc lột đồng bào. Họ chỉ có một bộ quần áo mà “nghĩ cũng hơi dư” (Hòn Cổ Tron), có khi là một tay cướp biển ở hải phận Hà Tiên (Đảng Cánh buồm đen) chuyên đánh ghe Tây đen và thuyền buôn Hải Nam đi ngang qua vịnh Thái Lan.

 

Cảnh vật ở đây có thể là cảnh “ len ”trâu (tức là tháo ra, cởi ra có nguồn gốc từ tiếng Campuchia : “Len Krabey” nghĩa là “ tháo cho trâu chạy ra. Hồi xưa trâu nhiều, mà người thương trâu như bạn, giăng mùng cho trâu ngủ để khỏi muỗi chích, mùa nước nổi phải dắt trâu lên núi tránh nước”. Trong truyện “Mùa len trâu”, được dưng thành phim chiếu trên thế giới – cùng với truyện ngắn “Cây Huê xà”- Sơn Nam cho thấy từng đàn năm bảy trăm con mỗi lần lội từ núi Ba Thê đến miệt Thất Sơn trông đen đầu đặc nước, oai vệ hơn đàn voi, đàn cọp nhiều ! Có khi, là cảnh nguời đứng trên ghe xem hát bội, dưới nước xung quanh rào, cá sấu ghếch mỏ nhìn vào và trên bờ cọp ngồi trông xuống : “U Minh, Rạch Giá, thị quá Sơn Trường/ Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua” (Hát bội giữa rừng)… Đất đai ở đây cũng có những tên nghe rất lạ tai : Xóm Cà Bây Ngọp, rạch Khoen Cà Tưng, rạch Cà Bơ He…, và những địa danh thường nghe mà khó giải thích : Cái Răng, Cái Cui, Cái Nai…, Chắc Băng, Chắc Cà Đao…

Ta hãy làm quen với cái tên “Xóm Cà Bây Ngọp” (nghĩa là Xóm Trâu chết) trong “Tình nghĩa giáo khoa thư”. Truyện kể một phái viên nhà báo ở Sài Gòn xuống thu tiền một độc giả ở tận một miền quê heo hút dưới Rạch Giá. Hai người xa lạ mới gặp nhau lần đầu. Sau buổi cơm chiều, vì xứ muỗi nhiều, độc giả chủ nhà vội vã giăng mùng, mời thầy phái viên cùng chun vào trò chuyện cho vui. Thầy phái viên ngượng nghịu nhưng rồi cũng rón rén giở mí mùng chun lẹ vô vì sợ bị muỗi đột nhập vào. Hai người cùng thuộc làu nhiều đoạn trong sách Quốc văn giáo khoa thư. Người này đọc “Chốn quê hương đẹp hơn cả”, người kia đọc tiếp “Ai bảo chăn trâu là khổ”. Cả hai thích thú, tâm đồng ý hợp như đôi bạn chí thân tự thuở nào…Cả hai xúc động trong niềm hạnh phúc gặp lại nhau ở tuổi thơ cắp sách đến trường qua trang sách giáo khoa, rối “không ai bảo ai, hai người lại nằm xuống lim dim”…mơ màng vì họ giờ đã ở tuổi xế chiếu của đời người ! (the evening of life). Sơn Nam không được nhắc đến bằng thơ, nhưng ở truyện này và nhiều truyện khác trong “Hương rừng Cà Mau” như “Hương rừng”, “Cây Huê xà”, “Mùa len trâu”… người đọc rất dễ nhận ra hồn thơ, cái thi vị thấm đẫm trong từng nội dung trang viết. Vẫn trong tác phẩm chủ lực này, tác giả muốn nói lên nỗ lực chinh phục thiên nhiên của mhững người dân vùng đất mới và tinh thần chiến đấu anh hùng để bảo vệ quê hương của họ, Từ đó, Sơn Nam gián tiếp phản ánh lòng căm thù giặc ngoại xâm sâu sắc ăn theo bởi những tên tay sai gian ngoan như xã Nê trong “Ông già xay lúa” bên trên là bộ mặt của  những tên  thực dân hống hách như Rốp trong “Sông Gành Hào”. Ông cha ta xưa nay có nhiều cách đấu tranh chống áp bức xâm lược. Bị đẩy tới bước đường cùng, người dân Rạch Giá đã không ngại cởi truồng nằm tênh hênh ở ven biển để làm áp lực trước chính sách “bần cùng hóa’ nhân dân ta của thực dân… Sau truyện ngắn, Sơn Nam có viết biên khảo, tức là có lúc đi cùng một con đường với các nhà văn, học giả :Nguyễn Hiến Lê (1912-1984),Vương Hồng Sẽn (1902-1996), Nguyễn Văn Hầu (1922-1995), Nguyễn Bá Thế (1925-1996),… nhưng chính sự vượt trội ở những truyện ngắn của Sơn Nam đã làm cho người đọc hầu như không còn quan tâm đến dòng tác phẩm biên khảo của nhà văn nữa.

 

Trên cơ sở những tác phẩm giá trị, cộng với sự cống hiến không ngừng nghỉ của nhà văn, đóng góp cho văn học nước nhà, nhiều người mến mộ gọi Sơn Nam là : “ông già đi bộ”, “ông già Nam bộ”, “ông già Ba Tri”, “nhà Nam bộ học”, “nhà văn hóa Nam bộ” hoặc “pho từ điển sống về Nam bộ”. Nhưng xét kỹ ra, gọi thế nào cũng chưa đủ ý nghĩa, và biểu lộ lòng kính trọng Sơn Nam bằng gọi ông là “nhà văn miệt vườn”. Vì lẽ Sơn Nam trong đời thường là người khiêm tốn giản dị, không thích được tôn xưng cũng chẳng màng danh vọng. Đó mới là cách minh họa đúng nhất phong cách độc đáo của Sơn Nam theo đời sống và trong tác phẩm của ông. Từ sự nghiệp và hoạt động của nhà văn, nhiều người coi Sơn Nam là một khuôn mặt lớn trên văn đàn phương Nam – sau nhà văn Hồ Biểu Chánh (1885-1958) (2), Bình Nguyên Lộc (1914-1987) (3) và trước nhà văn Anh Đức (1935-20) (4), Nguyễn Quang Sáng (1932-2014) và gần đây là Nguyễn Ngọc Tư (sinh năm 1976) – một ngòi bút có phong cách đặc biệt, khó có thể nhầm ông với một nhà văn nào khác. Trong khi Hồ Biểu Chánh được coi là một tiểu thuyết gia (theo Vũ Ngọc Phan ) chuyên viết chung về tính cách, phong tục của người Nam bộ, Bình Nguyên Lộc sung sức về truyện ngắn xoay quanh chuyện lấn đất khai hoang ở miền Đông Nam bộ trên bước đường Nam tiến, Sơn Nam cũng xuất sắc ở thể truyện ngắn nhưng tập trung ở đề tài con người nhiều sắc tộc với ngôn ngữ, tập quán, và vùng đất Tây Nam bộ đầy u minh chướng khí, và nhiều thú dữ trong thời khẩn hoang mở cõi của dân tộc.

 

Với quan niệm “Văn tức là người” (Le style, c’est l’homme), bút danh của Sơn Nam trước tiên đã minh họa cho ta thấy được không ít chân dung đặc thù của nhà văn : sâu nặng nghĩa tình với con người và quê hương đất nước. Chưa nói đến mảng biên khảo chiếm một vị trí quan trọng trong sự nghiệp văn chương của Sơn Nam, trong truyện dài, truyện ngắn, lời văn Sơn Nam bao giờ cũng giản dị, tự nhiên, cốt truyện hiện thực cảm động, rất đời thường mà nói lên được tâm lý sâu sắc ý vị, đầy sức thuyết phục người đọc. GS. Trần Hữu Tá đã nhận xét đầy đủ và tinh tế về Sơn Nam : tác phẩm của Sơn Nam – mà đỉnh cao là tập truyện ngắn “Hương rừng Cà Mau” đã đem lại cho nhiều thế hệ người đọc những xúc cảm thẩm mỹ bổ ích, những gợi ý chân thành cao quý về đất nước và tình người ”. Nghĩ lại cuộc đời la cà phảng phất nét lãng tử của Sơn Nam, ta có thể hiểu thêm một lần nữa hồn cốt của “nhà văn miệt vườn”qua chính vần thơ ý nhị, giàu hình tượng của tác giả : Phong sương mấy độ qua đường phố/ Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê.

Nguồn: Văn Nghệ

(1) Bú nhờ khi mẹ ruột ít sữa hoặc vắng nhà

    (2) Hồ Biểu Chánh (1885-1958), quê ở Gó Công, tiểu thuyết gia Nam bộ, viết rất sớm. Tác phẩm tiêu biểu :

Cay đắng mùi đời (1923, phóng tác), Nhơn tình ấm lạnh (1925), Ngọn cỏ gió đừa (1926, phóng tác), Cha

con nghĩa nặng (1929), ……có tên trong bộ sách Phê bình văn học “Nhà văn hiện đại” (Hà Nội,1951) của

Vũ Ngọc Phan.

(3) Bình Nguyên Lộc (1914-1987) , quê ở Biên Hòa. Nhà văn viết truyện dài nhưng nổi tiếng ở nhiều truyện

ngắn với tác phẩm tiêu biểu : Nhốt gió (1959)Đò dọc (1960), được giải thưởng), Ký  thác (1963)….

(4) Anh Đức (1935-2014), tên thật là Bùi Đức Ái, quê ở Long Xuyên, nhà văn lớn trong kháng chiến hai thời

kỳ. Là tác giả được nhà văn Nguyễn Tuân ưu ái. Tác phẩm của Anh Đức được đưa vào chương trình Giáo

khoa THPT : Hòn đất (1966), Đứa con của đất (1976), Một truyện chép ở bệnh viện (1958, được quay

thành phim : Chị Tư Hậu), Bức thư Cà Mau (1965)… Là nhà văn Việt Nam

(5) Nguyễn Quang Sáng (1932-2014), quê ở An Giang. Là  nhà văn kháng chiến, tác giả : Chiếc lược ngà

(1966), Dòng sông thơ ấu (1985), Mùa gió chướng (1975)… và gần 10 kịch bản phim

(6) Nguyễn Ngọc Tư (sinh 1976), Giải thưởng Hội Nhà văn, tác giả : Ngọn đèn không tắt (2000), Cánh đồng

bất tận (2005, được giải thưởng và dựng thành phim…

 

Tài liều tham khảo:

 

– Văn nghệ Miền Tây số 5 – Xuân 1970, bài « Sơn Nam và Kiên Giang » – Nguyễn Thanh

– Hường rừng Cà Mau- Sơn Nam (NXB. Phù Sa , 1962)

– Văn minh miệt vườn, Sơn Nam (NXB. Phù Sa , 1962)

– Tìm hiểu đất Hậu Giang – Sơn Nam ((NXB.  Phù Sa , 1962)

– Các tác phẩm khác của Sơn Nam.

– Nhà văn hiện đại- Vũ Ngọc Phan (NXB. Vĩnh Thịnh, 1951

– Từ điền Văn học – bộ mới (NXB Thế Giới, 2004)

– Từ điền Văn học, nơi miền đất mới- Nguyễn Q. Thắng (NXB Văn học, 2004)

Đăng bởi: Ngô Minh | 29.11.2016

Thời của cây bút trẻ

Thời của cây bút trẻ

 

Trong Khi Không Ít Cây Bút Văn Học Mạng Ăn Xổi, Chạy Theo Xu Thế Đáp Ứng Nhu Cầu Thị Trường, Thì Một Bộ Phận Nhà Văn Trẻ Vẫn Cần Mẫn Khẳng Định Mình Bằng Dòng Văn Học Chính Thống. Họ Khẳng Định Mình Bằng Những Sáng Tạo Nghiêm Túc, Có Sự Xúc Động Thật Sự, Và Nhiều Nhà Phê Bình Đánh Giá Là Có Chất Văn.

                

Các Tác Giả Tham Dự Hội Nghị Viết Văn Trẻ Toàn Quỗc Lần Thứ IX

 

Nhiều Gương Mặt

Nhà Văn Trẻ Ở Thời Điểm Này, Được Xác Định Là Những Người Sinh Năm 1980 Trở Lại, Tức Là Thế Hệ 8X, 9X. Một Loạt Tên Tuổi Đã Tham Gia Góp Mặt Vào Diện Mạo Văn Học Trẻ Như Nguyễn Văn Học, Lữ Thị Mai, Văn Thành Lê, Nguyễn Minh Nhật, Lê Minh Nhựt, Đinh Phương, Chu Thị Minh Huệ, Vũ Thị Huyền Trang, Fan Tuấn Anh, Nguyễn Quang Hưng, Yến Linh, Lê Quang Trạng… Nhiều Tác Giả Đã Có Nhiều Tác Phẩm Xuất Bản, Như Nguyễn Văn Học Có Một Loạt Tiểu Thuyết: “Rơi Xuống Vực Sâu”, “Khi Vết Thương Nằm Xuống”, “Hỗn Danh”, “Hoa Giang Hồ”; Văn Thành Lê Có “Biết Khi Nào Mưa Thôi Rơi”, “Con Gái Tuổi Dần”, “Thừa Ra Một Người”; Đinh Phương Có “Chờ Đến Lượt”, “Nhụy Khúc”; Chu Thị Minh Huệ Có “Dốc Chín Khoanh”; Diễm Trác Có “Hồn Lau Trắng”; Nguyễn Quỳnh Trang Có Tiểu Thuyết “Nhiều Cách Sống”, “Mất Ký Ức”, “1981”; Hồ Huy Sơn Có “Cơm Nhà, Cơm Người”, “Ngày Lạ”…

Nhiều Nhà Văn Trẻ Tâm Sự Rằng, Họ Sáng Tác Vì Thấy Cần Phải Sáng Tạo Như Một Nhu Cầu Tự Thân, Không A Dua Chạy Theo Dòng Văn Học Mạng, Ngôn Tình, Đam Mỹ (Cận Văn Học) Để Câu Khách. Có Những Người Tuyên Bố Không Bao Giờ Dính Dáng Đến Truyện Sến Dù Cuộc Sống Khó Khăn. Theo Nhà Văn Di Li, Đó Là Dòng “Văn Học Thời Trang” Và Chỉ Rộ Theo Mốt, Không Thể Lâu Dài Được. Còn Tác Giả Nguyễn Văn Học Tâm Sự: “Mỗi Người Có Một Quan Niệm Sáng Tác Khác Nhau. Có Người Lựa Chọn Chiều Lòng Độc Giả. Có Người Hướng Tới Cái Hay, Cái Mỹ Và Cả Chất Nhân Văn Cũng Như Tầm Tư Tưởng. Và Tôi Cố Gắng Học Tập, Rèn Luyện Để Viết Được Những Tác Phẩm Mà Mình Ưng Ý”.

Chung Tâm Sự Ấy, Nhà Phê Bình Văn Học Trẻ Fan Tuấn Anh Cho Rằng, Văn Học Trẻ Với Tính Chất Chính Thống Đang Cố Gắng Xác Lập Giá Trị. Nhiều Trong Số Đó Vừa Phải Mưu Sinh, Vừa Cố Gắng Khẳng Định Mình. Với Niềm Đam Mê, Sự Cầu Tiến, Nhiều Người Sẽ Tiến Bộ.

Khó “Nắn Dòng”

Thế Nhưng Cũng Phải Nói Rằng, Hiện Nay Nhiều Cây Bút Trẻ Sáng Tác Văn Học Thị Trường Trở Nên Rất Ăn Khách. Thậm Chí Số Lượng Phát Hành Lớn, Thu Được Lợi Nhuận Mà Nhiều Nhà Văn Hàn Lâm Phải Mơ Ước. Điều Đó Nói Lên Vấn Đề Gì? Có Thể Nói, Sự Nhập Cuộc Của Lực Lượng Cây Bút 8X, 9X Đã Mang Lại Không Khí Mới Cho Văn Đàn. Nhưng Vấn Đề Đặt Ra Là, Với “Gu” Đọc Dễ Dãi Như Hiện Nay, Nhiều Cây Bút Trẻ Đang Viết Theo Xu Thế Để Chiều Nhu Cầu Thực Tại Mà Đôi Khi Cũng Khiến Những Cây Bút Dòng Chính Thống Thấy Nản Lòng. Cũng Bởi, Những Chiêu PR Hơi Quá Đà Đã Phần Nào Làm Nên Sự Nhộn Nhạo Của Một Dòng Văn Học Theo Kiểu “Mì Ăn Liền”. Và Các Cây Bút Chính Thống, Dù Muốn Hay Không Thì Vẫn Phải Chọn Cách Sống Chung. Một Số Muốn Gạn Đục Khơi Trong, Nhưng Không Đủ Sức.

Có Một Lý Do Khác, Những Nhà Văn Có Tên Tuổi, Chuyên Nghiệp Đã Ít Viết, Ít Có Tác Phẩm Mới. Thế Hệ 7X Cũng Đã Phần Nào Mệt Mỏi Với Những Cuộc Mưu Sinh, Không Mặn Mà Viết Lách Và Nhiều Người Cùn Bút Không Thể Viết Được Nữa, Chỉ Còn Một Số Người Thường Xuyên Xuất Hiện. Vậy Là Nhường Chỗ Cho Các Cây Bút Trẻ Lạ Hoắc Tung Hoành, Với Những Cái Bút Danh Vừa Hời Hợt Vừa Buồn Cười. Những Tác Phẩm Nhạt Nhẽo Kiểu Tình Tay Ba, Tay Tư, Hay Những Tản Văn Mô Tả Các Cuộc Tình Sướt Mướt Trong Đêm Mưa Gió, Có Hình Ảnh Những Cô Tiểu Thư Mít Ướt Thích Nuôi Chó Nuôi Mèo. Rồi Cả Sự Xuất Hiện Của Dòng Tản Văn Giống Với Những Bài Viết Tư Vấn Tình Cảm Trên Mặt Báo, Phụ Họa Cho Những Sinh Hoạt Của Đời Sống Tình Yêu, Tình Dục. Lại Có Những Tập Truyện Được Thu Thập Từ Những Trang Blog Cá Nhân, Những Chuyện Chia Sẻ Trên Facebook Và Được Kết Cấu Lại. Rất Nhiều Nhà Sách Tư Nhân Với Những Biên Tập Viên, Kỹ Thuật Viên Thông Thạo Mạng Xã Hội, Săn Tìm Bản Thảo, Đã Kết Nối Với Những Cây Bút Thích Nổi Tiếng Và Họ Hợp Với Nhau. Nhu Cầu Trang Trí Mình Bằng Một Vài Cuốn Sách Có Thể Xảy Ra Ở Bất Cứ Ai. Đã Có Những Cô Gái Lên Facebook Thể Hiện Niềm Vui Sướng Đến Không Thể Cưỡng Lại, Rằng Mình Chỉ Viết Đơn Giản, Bằng Chính Chuyện Vụn Vặt Của Mình Trong Hai Năm Yêu Và Bị Tình Phụ, Chẳng Ngờ Một Ngày Nó Lại Có Thể Biến Thành Sách.

Sẽ Là Vô Nghĩa Và Chẳng Biết Bao Giờ Mới Có Nền Văn Học Mạnh, Khi Người Viết Trẻ Ngày Nay Cứ Mạnh Ai Nấy Làm. Họ Không Có Những Bà Đỡ Hoặc Người Đi Trước Nhiệt Huyết Định Hướng, Giúp Đỡ. Các Cuộc Thi Văn Chương Của Một Số Nhà Xuất Bản, Nhà Sách Cũng Như Các Tổ Chức, Với Hy Vọng Sẽ Tìm Ra Được Tác Phẩm Mới, Tuy Nhiên Đó Vẫn Chủ Yếu Nhằm Kinh Doanh. Nhà Văn Nguyễn Văn Học Bày Tỏ, Các Cơ Quan Chức Năng Cần Coi Trọng Hơn Đội Ngũ Sáng Tác Trẻ, Nhất Là Những Cây Bút Dám Dấn Thân, Tìm Tòi, Sáng Tạo. Bởi Họ Là Những Người Sẽ Cho Ra Đời Những Tác Phẩm Đủ Lay Thức Lòng Người, Nhân Thêm Cái Đẹp Trong Cuộc Sống.

 

Nguồn Văn Nghệ Số 48

TQ bất ngờ loan tin Tư lệnh Hải quân ra Hoàng Sa, tuyên bố thông điệp hiếu chiến

Hải Võ

clip_image001

Tướng Ngô Thắng Lợi (Ảnh: SCMP)

Đài truyền hình trung ương Trung Quốc (CCTV) tối 25/11 đưa tin về hoạt động (phi pháp) của Tư lệnh Hải quân Trung Quốc Ngô Thắng Lợi ở quần đảo Hoàng Sa, thuộc chủ quyền Việt Nam.

Theo CCTV, Ngô Thắng Lợi đã tới đảo Quang Hòa (thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, bị Trung Quốc chiếm trái phép – PV) để tham gia hoạt động tưởng niệm (phi pháp) các binh lính mà Bắc Kinh tuyên bố là “hy sinh anh dũng” trong cuộc xâm chiếm Hoàng Sa vào năm 1974.

Tờ Thời báo Hoàn Cầu chỉ ra, đây là lần đầu tiên truyền thông nhà nước Trung Quốc công khai đăng tin về hoạt động này của người đứng đầu hải quân.

Theo Hoàn Cầu, thời điểm mà Bắc Kinh lựa chọn để công bố thông tin trên có một “sự trùng hợp về thời gian”, khi Quân ủy trung ương Trung Quốc triệu tập hội nghị cải cách từ ngày 24 đến 26/11 để bố trí “các nhiệm vụ cải cách quân đội và quốc phòng”.

Hải quân Trung Quốc được cho là đang đứng trước cơ hội tăng cường sức mạnh lớn nhất kể từ khi ông Tập Cận Bình khởi động cuộc cải tổ quân đội lớn nhất lịch sử nước này. Bắc Kinh tỏ rõ tham vọng hải quân sẽ “đảm nhận nhiều chức trách và sứ mệnh hơn” trong tương lai.

Trong chuyến đi phi pháp tới đảo Quang Hòa và tôn vinh những binh sĩ Trung Quốc từng xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa, Đô đốc Ngô Thắng Lợi còn đưa ra tuyên bố hiếu chiến:

“Yêu cầu binh lính và sĩ quan trên đảo kiên quyết tuân theo chỉ huy của Chủ tịch Tập [Cận Bình] và Quân ủy trung ương, tập trung chuẩn bị cho chiến trận, rèn luyện trở thành lực lượng tinh nhuệ trên biển ‘đánh tốt, thủ giỏi’, dùng thành tích xuất sắc để chào mừng Đại hội khóa XIX của Đảng Cộng sản Trung Quốc (2017) tổ chức thắng lợi”.

clip_image002

Đô đốc Ngô Thắng Lợi tham gia hoạt động tưởng niệm phi pháp trên đảo Quang Hòa của Việt Nam, được đài trung ương CCTV của Trung Quốc đưa tin công khai (Ảnh chụp màn hình).

2016 là thời điểm Bắc Kinh kỷ niệm 70 năm cái mà nước này tuyên bố trắng trợn là “hải quân Trung Quốc bắt đầu thu phục quần đảo Trường Sa (thuộc chủ quyền Việt Nam – PV)”.

Trên đảo Phú Lâm thuộc chủ quyền Việt Nam mà Bắc Kinh chiếm trái phép, Trung Quốc cũng lập phi pháp “bia kỷ niệm ngày hải quân thu phục quần đảo Hoàng Sa” với thời gian đề ngày 24/11 năm thứ 35 thời kỳ Trung Hoa Dân quốc (1946).

Bình luận về hoạt động vừa qua của Ngô Thắng Lợi, chuyên gia quân sự Trung Quốc Lý Kiệt nói với tờ Hoàn Cầu rằng mặc dù tình hình biển Đông giai đoạn hiện tại “tương đối ổn định”, nhưng vấn đề biển Đông tồn tại nhiều biến số khó xác định bởi Tổng thống đắc cử Mỹ Donald Trump còn chưa nhậm chức.

Lý cho rằng, lãnh đạo Hải quân Trung Quốc muốn dùng hành động này để “nắn gân” chính quyền Trump về yêu sách chủ quyền phi lý mà Bắc Kinh đang áp đặt ở biển Đông, cũng như cảnh báo về sức mạnh ngày càng gia tăng của hải quân nước này.

Lý Kiệt nói, Ngô Thắng Lợi lộ diện (trái phép – PV) ở quần đảo Hoàng Sa cũng là lời cảnh cáo của Chính phủ Trung Quốc đối với các quốc gia trong khu vực “không hành động lỗ mãng”.

Nói về chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa, người phát ngôn Bộ ngoại giao Lê Hải Bình ngày 3/10 nhấn mạnh Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, các hành động phi pháp của Trung Quốc không thể thay đổi sự thực về chủ quyền của Việt Nam.

Theo Thời đại

Nguồn: http://soha.vn/tq-bat-ngo-loan-tin-tu-lenh-hai-quan-ra-hoang-sa-tuyen-bo-thong-diep-hieu-chien-20161128011344148.htm

Đăng bởi: Ngô Minh | 29.11.2016

‘VN hãy nhìn xa và hoàn toàn độc lập’

‘VN hãy nhìn xa và hoàn toàn độc lập’

Tiến sỹ Vũ Quang Việt
Tiến sỹ Vũ Quang Việt nói về đối sách của Việt Nam ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương và Biển Đông trong tình hình có thay đổi vị thế, chiến lược từ Mỹ và Trung Quốc.

Trước khả năng Trung Quốc có thể gia tăng vị thế ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, bao gồm Biển Đông và Đông Nam Á, trong bối cảnh hậu bầu cử Mỹ 2016, Việt Nam cần có chính sách ‘độc lập hoàn toàn’, và phải có tính toán sách lược ‘rất dài hạn’, theo một học giả và nhà quan sát bang giao quốc tế, khu vực từ Hoa Kỳ.

Trả lời câu hỏi của BBC Việt ngữ về việc Việt Nam cần đối phó thế nào nếu Mỹ thay đổi, thuyên giảm vai trò, ảnh hưởng ở khu vực, trong lúc Trung Quốc nhân đó nâng cao hơn nữa vị thế vốn đã rất cạnh tranh hiện nay về an ninh, quân sự, hôm 26/11, từ New York, nhà nghiên cứu Việt Nam học, cựu chuyên viên cao cấp về thống kê của Liên Hợp Quốc, Tiến sỹ Vũ Quang Việt nói:

“Việt Nam bây giờ ở thế là muốn giữ cân bằng, trong suốt thời gian dài muốn có cân bằng, muốn có vị thế đối với Mỹ và để cân bằng như thế, TPP (Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương) là một hình thức Việt Nam ‘giả vờ’ là mình dân chủ hơn, ‘giả vờ’ này nọ kia khác, để được đưa vào TPP.

“Nhưng TPP giờ không có nữa, thì Việt Nam chỉ có một con đường thôi, đó là hoàn toàn phải độc lập, cũng phải xây dựng quân sự để có cơ sở bảo vệ chính mình.

“Ít nhất là Trung Quốc mà động đến Việt Nam, thì không giống như là Philippines, là họ sẽ phải trả giá khá đắt chứ không phải là nhỏ, vì con đường hàng hải là con đường lớn.

“Nếu Việt Nam đi vào vấn đề cuộc chiến tranh gây ra, tấn công thường xuyên tàu bè của Trung Quốc đi lại, tàu buôn, thì Trung Quốc phải trả giá không phải là nhỏ, dĩ nhiên là Việt Nam sẽ trả giá cực lớn, và điều đó Việt Nam không bao giờ muốn, tôi nghĩ không ai muốn chuyện đó. Do đó, Việt Nam bắt buộc phải ở thế độc lập, phải tự bảo vệ mình.

“Còn nếu đi theo Trung Quốc, trong tương lai, ông (Donald) Trump, tôi nghĩ, một Tổng thống như vậy mà không thay đổi chính sách (như lúc tuyên bố khi tranh cử), thì cũng chỉ được một thời gian và lúc khác nước Mỹ sẽ khác.

“Do đó Việt Nam không thể tính đường ngắn hạn trước mặt được mà phải là đường rất là dài, mà đường rất dài thì bắt buộc phải độc lập.”

‘Mua chuộc và sập bẫy’?

Tổng thống đắc cử Mỹ Donald TrumpAP/HIROKO MASUIKE
Mỹ có thể có những thay đổi mạnh và khác biệt lớn so với chính quyền trước về chính sách ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương dưới nhiệm kỳ của ông Donald Trump, theo giới quan sát và bình luận.

Liên quan điều chỉnh chiến lược, chiến thuật có thể có tới đây của Trung Quốc, cường quốc đang lên ở khu vực và quốc tế, trong bối cảnh hậu bầu cử Mỹ 2016, học giả từ New York tiếp tục đưa ra ý kiến riêng mang tính dự đoán:

“Dĩ nhiên trong thời gian sắp tới, nếu Trung Quốc khôn khéo ra, thì họ sẽ áp (lực), giống như họ xây một vài cái (công trình) ở ngoài biển, họ chiếm một vài hòn đảo, xây lên, Mỹ bản thân cũng không dám làm gì.

“Phải tính cách khác vì đem tàu đánh nhau thì dĩ nhiên Mỹ không muốn. TPP là một trong các đối pháp của Mỹ. Hiện tại, Trung Quốc ‘khôn ra’, thì họ bắt đầu ‘mua chuộc’ (?). Họ ‘mua chuộc’ bằng nhiều hình thức, tức là bắt đầu ông (Rodrigo) Duterte ở Philippines, họ đã có tính chất họ ‘mua chuộc’ rồi, tức là họ hứa sẽ đầu tư.

“Họ để cho Philippines đánh cá ở khu vực tranh chấp, mặc dù họ vẫn nói rằng khu đó của họ (Trung Quốc), nhưng họ cho Philippines được tới đánh cá, sắp tới, nếu khôn ra, họ sẽ làm đủ mọi cách ‘mua chuộc’ Việt Nam như vậy.

“Vấn đề của Việt Nam là có rơi vào ‘cái bẫy’ đó hay không, đề rồi cuối cùng bị lệ thuộc, cơ bản là Việt Nam hiện tại lệ thuộc rất nhiều vào Trung Quốc về mặt nhập khẩu hàng ở Trung Quốc. Nhưng nhập khẩu, thì nếu có chính sách tốt, có thể chuyển đổi nhập khẩu từ nơi khác.

“Và chính sách tốt hơn nữa là nâng cao chất lượng, lúc bấy giờ không cần phải nhập những hàng (hóa) hay những máy móc rất tệ hại của Trung Quốc – chỉ có hại cho mình.

“Trong trường hợp như hiện tại của Việt Nam, nếu nhìn kỹ ra, nhập khẩu máy móc và làm ăn với Trung Quốc bây giờ là thiệt, chứ không phải là lợi, Việt Nam phải suy nghĩ cái đó, dĩ nhiên phải có chính sách, nếu không chỉ nhìn trước mắt, thì họ (Việt Nam) sẽ làm ăn với Trung Quốc, miễn sao có tiền để trả cho Trung Quốc.

“Đây là một điều mà tôi nghĩ Việt Nam cho đến bây giờ không bao giờ nhìn dài lâu cả,” Tiến sỹ Vũ Quang Việt đưa ra nhận xét từ quan điểm riêng.

Ai khác ngoài Trung Quốc?

Nhà báo Ngô Ngọc VănPHUONG NGO
Nhà báo Ngô Ngọc Văn, BBC World Service (trái), nói với Bàn tròn thứ Năm về khả năng thay đổi trong vị thế và sức mạnh của Trung Quốc ở châu Á – Thái Bình Dương hậu bầu cử Mỹ 2016.

Mới đây, trong một trao đổi với Bàn tròn thứ Năm tuần này của BBC Việt ngữ, nhà báo Ngô Ngọc Văn (Yuwen Wu), từ Thế giới vụ BBC, nguyên Biên tập viên thời sự thuộc BBC Tiếng Trung, bình luận với Tọa đàm hôm 24/11 về khả năng Trung Quốc tăng vị thế ở khu vực và Biển Đông sau khi ông Donald Trump đánh bại bà Hillary Clinton của đảng Dân chủ để trở thành Tổng thống đắc cử thứ 45 của Hoa Kỳ.

Trả lời câu hỏi liệu với việc Tổng thống Trump chuẩn bị lên nhậm chức thay ông Barack Obama, Hoa Kỳ đang ‘chuyển giao’ vị thế cường quốc ‘dẫn đầu’ khu vực sang tay Trung Quốc hay không, bà Ngô Ngọc Văn nói:

“Tất nhiên chúng ta phải xem Chính phủ mới của Mỹ của Donald Trump sẽ làm gì, các chính sách chính xác liên quan tới châu Á ra sao.

“Nhưng có một điều thú vị khi chúng ta xem một phát biểu gần đây của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đưa ra tại cuộc họp thượng đỉnh của APEC (Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương) ở Peru hồi tuần trước.

“Ông đã tỏ ra hài hước khi nói có một số loại cây bắt rễ ở một chỗ rồi sau đó lan ra, Trung Quốc luôn luôn có gốc rễ ở châu Á – Thái Bình Dương. Nhận xét đó đưa ra với các đại biểu dường như để nhắc nhở rằng Trung Quốc luôn luôn là một quốc gia châu Á – Thái Bình Dương.

“Những người khác có thể đến và đi, nhưng Trung Quốc luôn cắm rễ ở đó.

“Do đó, thông điệp đó có nghĩa là ở đâu mà sức mạnh của châu Á là một sức mạnh lớn, chúng tôi (Trung Quốc) sẽ thực thi sự kiểm soát chính đáng của chúng tôi và theo cách thức của chúng tôi, đưa khu vực hợp lại với nhau trong sáng kiến của chúng tôi.

“Tôi đã nói về chiến lược “Một vành đai – Một con đường”, sáng kiến đó đang hình thành, nó sẽ liên kết không chỉ các quốc gia ở vùng chấu Á – Thái Bình Dương, mà còn với cả các nước ở Trung Á và cả các quốc gia châu Âu nữa.

“Như thế Trung Quốc có tham vọng và với sức mạnh kinh tế và quân sự, tôi nghĩ Trung Quốc đang cảm thấy tự tin hơn rất nhiều để có một vai trò mạnh mẽ, chủ động hơn.

“Và vào thời điểm này, nếu Hoa Kỳ rút lui về mặt nào đó khỏi châu Á, hay là rút đi sự can dự của họ khỏi nơi này, thì ai khác sẽ lấp vào chỗ trống đó ngoài Trung Quốc đây?”, nhà báo Ngô Ngọc Văn nói với Bàn tròn thứ Năm của BBC Việt ngữ hôm 24/11.

Older Posts »

Danh mục