Đăng bởi: Ngô Minh | 23.01.2017

NHỚ TẾT TRƯỜNG SƠN

NHỚ TẾT TRƯỜNG SƠN

 Ngô Minh

                                                tieu-doi   
                                                 Tiểu đội của Ngô Minh trước khi vượt Trường Sơn

 

Đầu năm 1973, sau 3 tháng gùi gạch leo đèo ở Thái Nguyên, Bắc Cạn, Tuyên Quang, chúng tôi được lệnh vào B ( ký hiệu chiến trường miền Nam). Chị Nguyễn Thị Quỳnh, vợ Võ Văn Đảm vừa mới cưới, đạp xe từ Cửa hàng Bách hóa thành phố Thái Nguyên về Lương Phú, Phú Bình nơi chúng tôi đóng quân để chia tay chồng và anh em . Chị bảo, gần Tết rồi, nên hôm nay mời mọi người ăn bữa cơn Tết Thái Nguyên. Nghĩa là chúng tôi được ăn Tết sớm ở đất Thái Nguyên, đất của Tây Bắc lừng danh cách mạng. Chị Quỳnh mang về từ “thủ đô” Thái Nguyên mấy món gọi là “đặc sản Thái Nguyên”, con gà, măng…Chả phải mất công đi chợ. Chị lật từng thứ ra rồi giới thiệu. toàn món có cái tên rất lạ, tôi chưa từng thấy, chưa từng ăn bao giờ. Đó là bánh chưng Bờ Đậu . tôi hỏi sao lại tên Bờ Dậu, thì chị cười; “ Xưa nay gọi thế!”. Chị bảo bánh này được làm từ gạo nếp nương của vùng Định Hóa và thịt lợn của người dân tộc.  Rồi bánh Coóc Mò của người Tày gói bằng lá chuối và có hình chóp dài. Cái tên Coocs Mò ấy chắng là một tên làng bản . Bữa Tết tiễn đưa ấy toàn anh em tiểu đội tôi từ Trường Đại học Thương Mại đi bộ đội, cả thằng Nguyễn Quốc Tiến, ở Trung đội 3, người Phổ Yên, Thái Nguyên, học khóa 5, cũng được gọi sang. Sau  bữa cơm vui vẻ đó chiều là chúng tôi lên đườn. Bây giờ, Nguyễn Quốc Tiến , phó hiệu trưởng Trường Cao đẳng Thương mại Thái Nguyển vừa về hưu cứ điện thoại nhắc hoài bữa cơm ấy. tTến bảo:” Anh Ngô Minh tranh thủ lên chơi  để Tiến và chị Quỳnh mời bữa Tết Thái Nguyên đậm đà hơn, rồi đưa đi chơi hồ Ba Bể …” (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.01.2017

Sang năm về Jerusalem! Sang năm về Hoàng Sa!

Sang năm về Jerusalem! Sang năm về Hoàng Sa!

Vũ Kim Hạnh

Tối 19/1, trên đường từ Đồng Tháp về, trong xe, tối đen, tôi ghi vội mấy chữ vào sổ tay và định về sẽ viết một đoạn trên face:”Sang năm về Hoàng Sa”. Vậy mà mấy hôm nay bận liên miên, chưa viết được. Sáng nay chợt nhận được một món quà Tết. Ngồi xuống lặng im hồi lâu và lại nhớ… “Sang năm về Hoàng Sa”.
Quà lạ. Bên ngoài túi giấy trắng vỏn vẹn mấy chữ: Đại sứ quán Israel. Bên trong, một hộp giấy đơn giản. Qua lớp giấy kiếng, thấy: chà là sấy khô Israel. Những trái chà là khô nâu sậm, to hơn tất cả trái chà là thường thấy. Chánh hiệu sa mạc Israel. Nó nhắc rằng đất nước Israel toàn là sa mạc, toàn là cát với đá và báu vật của sa mạc đó vừa được gửi tới Sài Gòn. Xin cám ơn người bạn quí, bà Đại Sứ Meirav Eilon Shahar đã mấy năm cùng nhau tổ chức các cuộc thi khởi nghiệp của Bộ ngoại giao Israel cho thanh niên Việt Nam, đưa tác giả “Quốc gia khởi nghiệp” Saul Singer đến Việt Nam, cùng BSA [Trung tâm Nghiên cứu Kinh doanh và Hỗ trợ Doanh nghiệp – Văn Việt] thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp trong thanh niên nông thôn Việt Nam.
Israel luôn nhắc tôi nghĩ về Hoàng Sa. Khi đến Jerusalem, vào thăm Bảo tàng diệt chủng Yad Vashem, tôi lạnh người khi đứng giữa căn phòng mà trần nhà là vòng xoáy nhiều tầng đầy chân dung sống động những nạn nhân diệt chủng. Ở căn phòng nhỏ trưng bày hiện vật, bên cạnh quần áo, giày dép, và xương người chồng chất trong số 6 triệu người Do Thái bị Đức Quốc Xã giết trong Thế Chiến II, có vạt áo cũ của ai nguệch ngoạc mấy chữ ”Next year, in Jerusalem!”.

“Sang năm về Jerusalem!” gợi nhớ câu chuyện về Israel trong cuốn sách “Bài học Israel” của Nguyễn Hiến Lê. Thầy Nguyễn Hiến Lê kể rằng từ năm 70, bị Đế Quốc La Mã xâm chiếm, xóa tên trên bản đồ thế giới, biến thủ đô Jerusalem thành bình địa, trong gần 2.000 năm vô tổ quốc, tha hương, bị săn đuổi, diệt chủng, thì khi gặp nhau, dù chỉ hai người, họ luôn chia tay bằng câu “Sang năm về Jerusalem!”. Ý chí đó không là giấc mơ hão huyền mà truyền đời, mấy ngàn năm chiến đấu, hành động. Họ tái lập quốc gia và bây giờ Israel là một nước nhỏ, dân số ít nhưng mạnh, giàu. Một phần tư nhà khoa học được giải Nobel là người Israel. Mới tái lập quốc gia năm 1948, dân số hơn 8 triệu mà GDP đầu người đã là 36.500 USD và bây giờ đang đứng top đầu “Quốc gia khởi nghiệp” của thế giới.
“Sang năm về Hoàng Sa”. Hãy truyền đời vậy, năm nay, 5 năm, 10 năm, 100 năm sau vẫn quyết về Hoàng Sa. Về chứ không phải tới. Của mình thì mình về. Mới 5 năm trước, gặp Mai Phụng Lưu và nhiều ngư dân khác của đảo Lý Sơn, họ vui vẻ kể chuyện, năm nào, Tết, họ cũng lên đảo nhỏ Bạch Quy của Hoàng Sa, xúc cát trên đảo về đổ vào lư hương thờ. Mai Phụng Lưu còn đem về một gốc mai, ông gọi là cây phong ba.
Và mới đây, báo Thanh Niên ngày 19/1/2017, tường thuật cuộc gặp tại Đà Nẵng, của Ủy ban Nhân dân Huyện Hoàng Sa với các chiến sĩ bảo vệ Hoàng Sa còn sống sót, ông Bùi Văn Tiếng, chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Đà Nẵng đã nói rất đúng: “Đà Nẵng giải phóng cách đây 43 năm nhưng chúng tôi chưa bao giờ coi là Đà Nẵng “hoàn toàn giải phóng” vì còn nguyên một huyện đảo Hoàng Sa bị quân đội nước ngoài chiếm đóng trái phép. Trách nhiệm chúng ta là luôn nhắc cho các thế hệ con cháu nhớ rằng: Hoàng Sa là của chúng ta”.
Đà Nẵng không phải là Việt Nam sao, cũng vậy, Việt Nam chưa bao giờ hoàn toàn giải phóng vì còn bị cưỡng chiếm Hoàng Sa.
“Sang năm về Hoàng Sa!”. Bao nhiêu năm cũng về …

clip_image001

Chân dung nạn nhân diệt chủng Do Thái tại bảo tàng Yad Vashem.

clip_image002

Nghệ sĩ Trung Dân cùng các doanh nhân Hàng Việt Nam Chất lượng cao trò chuyện với sói biển Mai Phụng Lưu tại nhà anh trên đảo Lý Sơn, năm 2012, bên cây phong ba đem từ Hoàng Sa.

clip_image003

Gói quà chà là khô Israel

Nguồn: FB Vũ Kim Hạnh

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.01.2017

NHỮNG LÁ THƯ CỦA NÀNG- KATE CHOPIN

NHỮNG LÁ THƯ CỦA NÀNG- KATE CHOPIN

Kate Chopin (1851 – 1904), tên thật Katherine O’Flaherty, là tác giả viết tiểu thuyết và truyện ngắn nổi tiếng người Hoa Kì. Bà là người tiên phong cho những sáng tác ủng hộ nữ quyền của văn học cổ điển thế kỉ 20.

Minh họa của Lê Minh Hải

Các sáng tác của bà đa phần thể hiện sự giằng xé mãnh liệt trong nội tâm, những diễn biến phức tạp và đầy mâu thuẫn ở nhiều góc độ khác nhau của con người, đặc biệt là ở phụ nữ. Trong các tác phẩm của bà dù tiếp cận nhân vật từ góc độ nào, cách thể hiện nào cũng đều sáng lên tính nhân văn cao cả và lòng nhân hậu của một nhân cách lớn.

1.
Nàng ra lệnh rằng không muốn mọi thứ bị xáo trộn và khóa sập cửa phòng.
Căn nhà thật tĩnh lặng. Mưa cứ đều đặn tuôn ra từ vòm trời nặng trịch không một tia chớp, không vết nứt, không lời hứa hẹn. Một thanh củi lửa rực sáng trong chiếc lò sưởi rộng rãi và soi tỏ những căn hộ xa xỉ ở góc xa hơn.
Người đàn bà lôi ra một mớ thư dày trong một xó xỉnh nào đó ở bàn làm việc đã được buộc chặt lại bằng những dây bện thô, chắc và đặt nó trên cái bàn giữa căn phòng.

Nàng phải tự đấu tranh cho những dự định sắp làm hàng tuần. Có một cuộc giằng xé khốc liệt hiện lên trên những đường nét của một khuôn mặt gầy gò và nhạy cảm; đôi bàn tay nàng quá dài, quá mỏng mảnh và gân guốc.
Sợi dây cột những lá thư bung rạc sau nhát kéo của nàng. Những con chữ được giải thoát trượt dài trên bàn và nàng, trong chớp mắt đã miết những ngón tay vào giữa, tráo loạn xạ những trang giấy phủ kín mặt bàn rộng.

Trước mặt nàng là đủ các phong bì với kích thước và hình dáng khác nhau, tất cả chúng đều có ghi địa chỉ viết tay của một người đàn ông và một người đàn bà.  Chàng đã gửi trả lại tất cả những lá thư của nàng khi nàng yêu cầu vào một ngày nàng bệnh vì nỗi khiếp sợ vào những khả năng. Có nghĩa rằng nàng muốn thiêu rụi tất cả chúng, của chàng và của nàng. Đã bốn năm trôi qua, nàng vẫn luôn phải gặm nhấm những lá thư một mình kể từ đó – nàng tin rằng chúng phải chịu đựng nàng, và cứu rỗi tinh thần nàng từ sự hủy diệt hoàn toàn.

Nhưng hiện tại những ngày này lại ập tới khi sự linh cảm về nguy hiểm không còn ai để ý đến nữa. Nàng biết rằng trước nhiều tháng đã qua, nàng sẽ phải rời xa kho báu của mình, đã không còn người bảo vệ nó. Nàng quặn lại trong những nỗi đau khi phát hiện ra những lá thư này được gửi đến đến những người khác – tới một người mà trên tất cả, vô cùng gần gũi với nàng, phong thái dịu dàng và những năm tháng ái mộ anh ta đã quá đỗi thân thương với nàng.
Nàng bĩnh tĩnh chọn một lá thư ngẫu nhiên từ đống giấy kia và quăng nó vào lửa thiêu rào rạo. Lá thứ hai ném xuống gần như vẫn bình tĩnh, lá thư ba trên tay bắt đầu run rẩy; và trong phút bấn loạn cực độ nàng đã ném lá thứ tư, thứ năm, thứ sáu vào ngọn lửa đang ngộp thở.

Sau đó nàng dừng lại và bắt đầu thở hổn hển – nàng cố tỏ ra mạnh mẽ, nhìn chằm chằm vào ngọn lửa với ánh mắt đầy đau khổ và man dại. Ồ, nàng đã làm những gì! Đã không làm được những gì! Nàng bắt đầu bới tìm trong những lá thư trước mặt với sự sốt sắng tột độ. Những lá thư mà nàng hủy hoại tàn nhẫn, quá tàn nhẫn đã bị quăng đạp ra khỏi sự tồn tại của nàng. Thiên đàng đâu phải là tối thượng, điều tối thượng được viết ra trước khi họ học được chúng rồi, hoặc dám nói cùng nhau “Anh yêu em”. Không, không; nó vốn dĩ là vậy, đã đủ an toàn. Nàng nở nụ cười mãn nguyện và giữ nguyên nụ cười trên bờ môi. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu một thứ quý giá nhất và bị khinh suất nhất mất đi! Trong từng con chữ của nỗi đam mê đã nguội lạnh ăn mòn tâm não nàng từ lâu, nó dấy lên từng ngày trong nàng như thể đã từng làm hàng trăm lần trước đó mỗi khi nàng nghĩ tới. Nàng đã nghiền nát nó trong lòng bàn tay khi tìm ra nó. Rồi nàng lại hôn đi hôn lại. Nàng xé từng góc của mảnh thư bằng hàm răng trắng nhởn sắc nhọn, nơi những cái tên được viết lên, nàng cắn các mảnh vụn rồi nếm nó trên môi và lưỡi như thể nuốt miếng bánh trời ban.

Lòng biết ơn vô bờ khiến nàng cảm thấy dường như không thể thiêu rụi được chúng! Làm thế nào có thể khỏa lấp nỗi hoang liêu và trống trải từng ngày không có chúng; chỉ với những suy nghĩ ấy thôi, những suy nghĩ mơ hồ rằng nàng không thể giữ chúng trên đôi tay, trên bầu má và trong trái tim như nàng đã từng.

Người đàn ông này đã biến mạch nước trong huyết quản nàng thành rượu vang, hương vị của nó đã khiến cả hai mê sảng. Tất cả đã thành quá khứ, những lá thư mà nàng đã từng bao bọc trong vòng tay. Nàng lại thở nhẹ và mãn nguyện, ngả gò má nóng bừng lên chúng.

Nàng đang nghĩ cách giữ lại chúng mà không làm tổn thương hết mức có thể đến một ai khác khi bị chúng đâm vào tàn nhẫn hơn một lưỡi dao sắc ngọt.

Cuối cùng nàng đã tìm ra cách. Cách này đã khiến nàng khiếp sợ và hoang mang lúc đầu, nhưng nàng đã đạt được bằng cách khấu bỏ sự cầu toàn để chấp nhận hoài nghi. Tất nhiên, có nghĩa là nàng đã thiêu rụi chúng trước khi cái kết xảy ra. Nhưng cái kết đã xảy ra thế nào và khi nào? Ai có thể nói cho nàng? Nàng sẽ chống lại khả năng xảy ra tai nạn bằng việc để chúng phải chịu trách nhiệm lên từng lá thư mà nên được tha thứ cho một diễn giải trong nội dung của chúng.

Nàng đánh thức mình khỏi những suy nghĩ vẩn vơ và gom những lá thư rải rác lại một lần nữa, cột chúng lại với nhau bằng một sợi dây dai chắc. Nàng gói gọn chúng trong mảnh giấy dày màu trắng bóng loáng. Sau đó nàng viết bằng mực lên trên phía sau nó, những chữ cái thật to, tròn vành:
“Tôi để lại gói kiện này để tỏ lòng quan tâm đến người chồng của tôi. Bằng lòng tin tuyệt đối về sự chân thành và tình yêu của chàng, tôi đề nghị chàng hãy thiêu hủy những gì chưa mở.”

Nó không được niêm kín, chỉ buộc bằng sợi dây thừng gói lại, nàng có thể bỏ đi và thay thế tại bất cứ thời điểm nào cơn hài hước đến với nàng để vượt qua một giờ trong giấc mơ say đắm về những ngày nàng cảm thấy mình còn sống.

2.
Nếu chàng đến mở gói thư trong niềm xúc động đầu tiên của niềm cay đắng thì sẽ không có một sự do dự nào cả. Để thiêu hủy nó kịp thời và không cần thắc mắc có vẻ như một sự thể hiện đón chào một lòng sùng mộ – một cách để tiếp cận nàng, khóc to tình yêu của chàng với nàng trong khi thế giới vẫn tràn ngập ảo ảnh về sự hiện diện của nàng. Nhưng nhiều tháng đã trôi qua kể từ mùa xuân họ thấy nàng sõng soài trên sàn nhà, tay nắm chặt chìa khóa bàn làm việc, thứ duy nhất mà nàng dường như đã cố nắm lấy khi Thần Chết đem nàng đi.

Ngày này cũng giống như ngày cách đây một năm, khi những chiếc lá bắt đầu rơi và mưa vẫn đều đặn tuôn ra từ vòm trời nặng trịch không một tia chớp, không lời hứa hẹn. Chàng bỗng dưng quờ vào gói kiện trong một góc bàn làm việc của nàng. Và cũng như nàng đã làm cách đây một năm, chàng mang nó đặt lên cái bàn, đứng đó, và nhìn chăm chăm với một ánh mắt hoang mang tột độ trước cái dòng tin:
“Tôi để lại gói kiện này để tỏ lòng quan tâm đến người chồng của tôi. Bằng lòng tin tuyệt đối về sự chân thành và tình yêu của chàng, tôi đề nghị chàng hãy thiêu hủy những gì chưa mở.”

Nàng đã không sai, từng đường nét trên gương mặt chàng – không còn trẻ nữa – nói lên lòng chân thành và trung thực, và ánh mắt của chàng cũng thủy chung như ảnh mắt của con cún và đầy thương yêu. Chàng là một người đàn ông cao lớn và mạnh mẽ, đứng đó trong ánh lửa, với đôi vai khom khom, mái tóc mỏng màu xám, và khuôn mặt khác lạ, chỉ đẹp trai khi chàng cười. Nhưng chàng vẫn chậm rãi. “Thiêu hủy những gì chưa mở”, chàng đọc to lại, “nhưng tại sao lại chưa mở?”

Chàng cầm lại gói thư trên tay, xoay xoay và cảm nhận nó, phát hiện rằng nó được bọc bởi nhiều lá thư chồng lên nhau.
Vì vậy đây là những lá thư mà nàng đã yêu cầu chàng thiêu hủy khi chưa mở. Dường như trong suốt cuộc đời nàng chưa bao giờ có nổi một bí mật từ chàng. Chàng biết nàng tỏ ra lạnh lùng và thiếu cuồng nhiệt, nhưng thực chất luôn quan tâm đến sự thoải mái và hạnh phúc của chàng. Có thể chàng không thể nắm giữ trong tay bí mật của một ai khác, mà đã tâm sự với nàng và nàng hứa sẽ bảo vệ nó? Nhưng không, nàng đã cho thấy một thực tế bằng những dòng chữ khác. Bí mật là của riêng nàng, những điều ẩn chứa trong những lá thư này, nàng muốn nó được chết theo mình mãi mãi.

Nếu chàng có thể tưởng tượng về nàng như trên bờ vực mờ ảo phía xa đang đợi chàng trong nhiều năm dang rộng tay đến và ôm nàng lần nữa, chàng sẽ không do dự. Chàng từng nghĩ một cách đầy hi vọng “trong một khoảnh khắc gặp gỡ kì diệu của thời gian, những linh hồn gặp nhau, nàng sẽ nói với tôi tất cả, cho tới khi tôi có thể chờ đợi và tin tưởng”. Nhưng chàng đã không thể tưởng tượng ra nàng trong bất cứ thiên đường xa xôi nào đang chờ mình. Chàng cảm thấy không có những phần nào dù nhỏ nhất của nàng trên vũ trụ này hơn là cảm giác trước đó nàng đã được sinh ra trên trái đất. Còn nàng đã thể hiện bản thân với những ý nghĩa khủng khiếp trong một ước muốn vô hình, được thốt ra khi sự sống vẫn chạy trong huyết quản của nàng; biết rằng có thể chạm tới chàng khi sự hủy diệt của cái chết diễn ra giữa họ, nhưng thốt lên với tất cả niềm tin vào sức mạnh và tiềm năng của nó. Chàng đã xúc động vô cùng trước sự táo bạo huy hoàng, sự vĩ đại của hành động, đồng thời tôn vinh chàng và nhấc chàng lên trên cái đầu của con người bình thường khác.

Vậy bí mật nào một người phụ nữ đã chọn để chết cùng nàng ấy? Những gợi ý nhanh chóng ập đến tâm trí chàng, nhanh chóng đeo bám những ám ảnh trong tâm can con người bản năng. Những ngón tay chàng tù túng trên cái gói thư, và chàng chìm trong cái ghế bên cạnh chiếc bàn. Sự nghi ngờ khổ sở mà có lẽ bàn tay khác chia sẻ cùng chàng những suy nghĩ của nàng, tình thương của nàng, cuộc sống của nàng đã tước đoạt chàng ngay tức khắc danh dự và lí trí. Chàng thọc ngón tay cái bên dưới sợi dây mà chỉ một vòng có thể bung ra – “Với lòng tin tuyệt đối vào lòng chân thành và tình yêu của chàng”. Nó không được viết lên bằng các kí tự nhảy múa trước mắt, nó dường như là một lời thầm thì với tâm hồn chàng. Với những cơn chấn động của nỗi đau chàng gập đầu xuống những lá thư.

Chàng lúc này như một nhà thấu thị giữ một lá thư trước trán và dường như làm thế để khám phá nội dung bức thư. Chàng tự hỏi trong phút giây man dại rằng nếu một món quà bày tỏ một sức mạnh của ước muốn như vậy, có thể nó không đến với chàng. Nhưng lúc này chàng chỉ có ý thức duy nhất về bề mặt giấy mịn màng, cái lạnh rờn rợn trên đôi lông mày, giống như cách với tới bàn tay một người đàn bà đã chết.

Nửa giờ trôi qua, chàng ngẩng đầu lên. Một cuộc xung đột không tả xiết đã bùng nổ trong chàng, nhưng lòng chân thành và tình yêu của chàng đã chinh phục được. Khuôn mặt chàng xanh xao và sâu hoắm những đau khổ, nhưng không có bất cứ sự do dự nào trên đó.

Chàng không cho một giây phút nào nghĩ về gói thư dày dặn bị liếm bởi những lưỡi lửa, và cháy đen, tiết lộ một nửa bí mật tới đôi mắt của chàng. Đó không phải những gì nàng muốn. Chàng đứng dậy, và cầm một cái chặn giấy bằng đồng từ chiếc bàn, buộc nó chắc chắn vào cái gói thư. Chàng bước đến cửa sổ và nhìn xuống dưới đường. Bóng tối trùm các nẻo và trời vẫn mưa. Chàng có thể nghe thấy tiếng mưa tí tách ngoài cửa sổ, và có thể nhìn thấy nó rơi qua mép cửa màu vàng xỉn ánh lên bởi đèn đường.

Chàng chuẩn bị đi ra ngoài, và hoàn toàn sẵn sàng rời khỏi ngôi nhà nhét cái gói thư nặng vào sâu trong túi áo choàng.
Chàng không vội vã trên con phố như bao người, chậm rãi bước từng bước dài và thận trọng, có vẻ như không để tâm đến gió lạnh và mưa đang tấp vào mặt bất chấp sự che chắn của chiếc ô.

Chỗ ở của chàng không xa khu buôn bán kinh doanh của thành phố; và đó không phải khoảnh khắc lí tưởng trước khi chàng nhận ra mình tại đầu cầu vắt sang bên kia sông – con sông sâu, rộng, nước xiết, đen ngòm chia hai tiểu bang. Chàng đã đi trên quá nửa cây cầu. Gió thốc dữ dội và quyết liệt. Bóng đêm nơi chàng đứng là bất khả xâm phạm. Hàng ngàn ánh đèn trong thành phố như những ngôi sao dày đặc trên bầu trời, chìm vào một chân trời xa xôi bí ẩn nào đó, bỏ mặc chàng một mình trong vũ trụ vô biên đen ngòm.

Chàng rút gói thư từ túi và tựa vào lan can bằng đá trên cây cầu, quăng nó xuống lòng sông. Nó rơi thẳng và mau lẹ từ bàn tay của chàng. Chàng không thể dõi theo nó trong bóng tối, không nghe thấy bất cứ âm thanh nào của nó khi chìm xuống nước sâu. Nó đã lặng lẽ tan biến trong cái không gian đen kịt huyễn mộng. Chàng cảm nhận như thể nó đã quay về với nàng trong một thế giới mơ hồ nơi nàng đã đi xa.

3.
Một hoặc hai giờ sau đó chàng đã ngồi tại bàn trong công ti của một số người mà chàng đã mời dùng bữa cùng hôm đó. Một cảm giác vô hình đè nặng lên tâm trí chàng, một xác tín rằng có thể có một bí mật nào đó mà người đàn bà đã chọn để chết theo nàng ấy. Suy nghĩ này ám ảnh chàng, nó chiếm toàn bộ tâm não chàng. Nó bóp nghẹt trái tim chàng, khiến từng hơi thở phải tồn tại trong những phút giây đau đớn còn tươi ngời ngợi.

Những người đàn ông đối với chàng đã không còn là những người bạn của ngày hôm qua, trong mỗi người chàng đều phân biệt được một kẻ thù rình rập. Chàng đã không nói chuyện với một ai trong số họ. Chàng đang cố nhớ lại cách này tự thực hiện từng thứ một, cố gắng gợi nhắc các cuộc thoại, biểu hiện vi diệu trên gương mặt có thể cho thấy chàng không nghi ngờ lúc này, những sắc thái biểu đạt của ngôn từ dường như chỉ là sự trao đổi thông thường trong những tiện nghi xã hội.

Chàng dẫn dắt cuộc đối thoại theo chủ đề về phụ nữ, thăm dò ý kiến và kinh nghiệm của những người đàn ông này. Không có ai chỉ ra sức mạnh công hiệu để điều khiển tình yêu thương của bất kì người đàn bà nào anh ta mến chọn. Chàng đã nghe những lời tự hào rỗng tuếch trước đó từ cùng nhóm người và đã luôn tỏ ra khinh miệt chế giễu. Nhưng đêm nay, từng lời nói tưởng chừng rỗng tuếch, ngớ ngẩn đó lại có khả năng tiết lộ những ý nghĩa mới mà chàng xưa nay chưa bao giờ nghĩ tới.

Chàng mừng vì họ đã đi. Chàng muốn được ở một mình, không phải có ý định ngủ. Chàng đã sốt sắng muốn giành lại căn phòng của nàng, căn phòng mà nàng đã sống cả một quãng đời dài ở đó, cũng là nơi chàng tìm thấy những lá thư này. Chắc chắn chúng còn ở một nơi nào khác, chàng nghĩ, một số mảnh thư bị bỏ quên, một số tâm trạng được viết ra mà không được bao bọc bởi một lệnh bất khả xâm phạm nào.

Vào lúc mà chàng thường đã đi nghỉ vào ban đêm chàng vẫn ngồi trước bàn làm việc của nàng lục tìm trong các ngăn kéo, hộc bàn, góc xó. Chàng không bỏ qua bất cứ mảnh giấy nào chưa đọc. Nhiều lá thư chàng tìm thấy đã cũ: một số chàng đã đọc trước đó, một số thì mới. Nhưng chàng vẫn chưa tìm được chứng cớ mong manh nào về người vợ của chàng không phải một người đàn bà trung thực và chân thành mà chàng luôn tin rằng vậy. Đã gần trọn đêm trước khi cuộc tìm kiếm không có kết quả kết thúc. Cuối cùng, một giấc ngủ muộn phiền mà chàng giành lại vài giờ ngày càng tăng lên những giấc mơ quái đản, cuồng nhiệt, chàng có thể nghe và nhìn thấy lờ mờ dòng sông đen ngòm đang ào ạt lấy đi trái tim, khát vọng và cuộc sống của mình.

Nhưng không phải là nỗi cô đơn trong những lá thư mà người đàn bà lừa dối cảm xúc của họ, chàng nghĩ. Điều này chàng biết, đặc biệt là trong tình yêu, việc đánh dấu các đoạn ẩn chứa tình cảm trong một cuốn sách thơ hay văn xuôi cũng tiết lộ một phần suy nghĩ che giấu trong họ. Có thể nàng đã làm như vậy không?

Sau đó bắt đầu một nhiệm vụ thứ hai mệt mỏi và khó khăn hơn trước, lật giở từng trang một, tất cả đống khổng lồ trong căn phòng của nàng – sách tiểu thuyết, thơ, triết học. Nàng đã đọc tất cả chúng; nhưng không nơi nào có một dấu hiệu mà chàng có thể tìm thấy tác giả lặp lại bí mật về sự tồn tại của nàng – những bí mật mà chàng đã giữ trên tay và quăng nó xuống lòng sông.

Chàng bắt đầu thận trọng và dần dần đặt câu hỏi về từng thứ một, cố gắng tìm hiểu một cách gián tiếp những suy nghĩ của nàng. Trước hết chàng hiểu nàng không dễ tha thứ bởi vẻ lạnh lùng của nàng. Một phần ngưỡng mộ trí tuệ của nàng, thành tích của nàng, vẻ đẹp của nàng trước khi bệnh. Tuy nhiên, vẻ đẹp của nàng thiếu hơi ấm của màu sắc và sự biểu hiện. Nàng được ca ngợi về vẻ dịu dàng và đôn hậu bởi những người thông minh và khéo léo khác. Ồ, thật vô ích khi cố gắng khám phá bất cứ điều gì từ người đàn ông! Chàng có thể đã biết. Những người đàn bà sẽ nói về những gì họ biết.

Họ đã nói chuyện, không dè dặt. Hầu hết họ đều yêu mến nàng, những người đã không giữ nàng trong sự tôn thờ và kính trọng.

4.
Thế nhưng, “có một bí mật mà người đàn bà đã chọn để chết cùng nàng ấy”, suy nghĩ này lại tiếp tục ám ảnh và giày vò chàng trong những ngày còn lại. Những ngày và đêm bất trắc bắt đầu từ từ khiến chàng suy nhược và bị tra tấn. Một sự bảo đảm tồi tệ nhất mà chàng rất sợ là yêu cầu chàng phải được bình yên, thậm chí ngang mức hạnh phúc.

Dường như không còn khoảnh khắc nào nên đến và đi, giảm hoặc tăng trên thế giới, cười và chết. Còn ý nghĩa gì nữa nếu tiền bạc đến với chàng bởi một vòng cơ hội và né tránh chàng. Sự trống rỗng và vô nghĩa khiến chàng dường như là một công cụ cho những trò giải trí mà thế giới đòi hỏi. Đồ ăn thức uống bày trước chàng đã không còn hương vị gì nữa. Chàng đã không còn quan tâm đến ánh nắng mặt trời hay những đám mây sà xuống chàng. Một điều độc ác đã đánh gục chàng tại những điểm yếu nhất, làm tan vỡ toàn bộ con người chàng, bỏ mặc chàng ở lại với một khát muốn trong tâm hồn, muốn biết được bí ẩn chàng đã nắm giữ trong tay và quăng nó xuống lòng sông.

Một đêm khi không còn những ngôi sao lấp lánh, chàng đi lang thang không ngừng trên con phố. Chàng đã không còn cảm nhận được những gì người đàn ông và người đàn bà dám hoặc không dám nói với chàng. Chỉ dòng sông hiểu. Chàng đã đi và đứng trên cây cầu hàng giờ kể từ đêm khi bóng tối khép lại và bao trùm quanh chàng.

Chỉ dòng sông hiểu. Nó cất tiếng bi bô, và chàng lắng nghe nó, nó không nói gì cả, nhưng nó hứa tất cả. Chàng có thể nghe nó hứa với âm thanh êm ái, yên bình và ngọt ngào nhất. Chàng có thể nghe thấy bản nhạc của nước mời gọi chàng.
Khoảnh khắc sau cùng chàng đã ra đi để tìm nàng, để nắm lấy nàng và bí mật sâu thẳm của nàng trong mênh mông vô tận.

LINH ĐAN dịch từ nguyên bản tiếng Anh
(Nguồn: Văn nghệ Quân đội)

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.01.2017

Tết sớm ở nhà giàn DK1

Tết sớm ở nhà giàn DK1

TTO – Đã thành thông lệ, cứ vào dịp chuẩn bị Tết đến, Vùng 2 (Quân chủng Hải quân) lại tổ chức đoàn công tác ra thăm và chúc tết cán bộ, chiến sĩ, nhân viên đang công tác trên nhà giàn DK1.

Tết sớm ở nhà giàn DK1
Những cành mai vàng cùng những thùng quà được chuyển lên tàu để chuẩn bị đến với nhà giàn DK1

Năm nay cũng vậy, hơn 200 thùng quà, được bao gói cẩn thận, có nhiều chủng loại như: Ti vi, đầu thu vệ tinh cùng các loại thực phẩm chè, mứt, gạo nếp, lá dong, đậu xanh, mì, miến, bầu bí, hành tỏi bánh kẹo, đặc biệt là cả những cành đào miền Bắc, chậu mai vàng miền Nam đã được chuyển đến nhà giàn Dk1.

Đây còn là tình cảm, là hơi ấm của quân và dân cả nước gửi đến bộ đội nhà giàn DK1 vào dịp Tết Đinh Dậu 2017.

Tuổi Trẻ gửi đến bạn đọc hình ảnh những món quà Tết đến với bộ đội nhà giàn DK1 và không khí đón xuân sớm nơi biển, đảo tiền tiêu của Tổ quốc này.

Tết sớm ở nhà giàn DK1
Những bó lá dong được chuẩn bị và mang lên tàu để đến với nhà giàn DK1
Tết sớm ở nhà giàn DK1
Tàu 264 Vùng 2 Hải quân tiếp cận để chuyển quà và hàng hóa lên nhà giàn
Tết sớm ở nhà giàn DK1
Buộc quà trước khi kéo lên nhà giàn
Tết sớm ở nhà giàn DK1
Sóng lớn, cán bộ, chiến sĩ Tàu 264 chuyển quà lên nhà giàn bằng ròng rọc
Tết sớm ở nhà giàn DK1
Đại tá Nguyễn Quốc Văn – Phó chính ủy Vùng 2 chúc Tết bộ đội nhà giàn thông qua hệ thống thông tin trên tàu khi sóng lớn, đoàn không lên nhà giàn được
Tết sớm ở nhà giàn DK1
Khi sóng nhỏ hơn, tàu tiếp cận tốt thì đoàn công tác được lên nhà giàn bằng hệ thống cẩu
Tết sớm ở nhà giàn DK1
Đoàn công tác đang từ xuồng lên chúc Tết nhà giàn DK 1/21
Tết sớm ở nhà giàn DK1
Quà được chuyển từ xuồng lên nhà giàn DK 1/21
Tết sớm ở nhà giàn DK1
Đoàn công tác chúc thăm và chúc Tết cán bộ, chiến sĩ nhà giàn DK 1/8
Tết sớm ở nhà giàn DK1
Cán bộ, chiến sĩ nhà giàn DK 1/8 trang trí Tết ngay sau khi những cây mai vàng từ đất liền được chuyển lên
Tết sớm ở nhà giàn DK1
Nhà giàn DK 1/21 gói bánh chưng đón Tết
Tết sớm ở nhà giàn DK1
Nhà giàn DK 1/8 chuẩn bị rau xanh đón Tết

12 loại cây cảnh mang tài lộc vào nhà ngày Tết

Tết Nguyên Đán tới gần cũng là thời điểm các gia đình dọn dẹp, trang trí nhà cửa để đón những ngày đầu tiên của năm mới. Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều đồ trang trí đẹp nhưng một vật trang trí không thể thiếu trong mỗi gia đình người Việt trong những ngày Tết là những ch

Ý nghĩa các loài hoa và cây cảnh trong ngày tết

1. Đào

Hoa đào

Hoa đào được coi là tinh hoa của ngũ hành, là biểu tượng cho sự sinh sôi, nảy nở, nhân duyên, lễ cưới. Theo phong thủy, hoa đào có thể trị bách quỷ. Chính vì vậy, trong năm mới ở các gia đình người Việt ở miền Bắc thường có bày cây hoặc cành hoa đào với mong muốn cầu xin may mắn, thuận lợi cả năm.

2. Mai vàng

Hoa mai

Màu vàng của hoa mai tượng trưng cho sự thịnh vượng, phát triển. Theo quan niệm của người xưa, hoa mai nở vào ngày Tết sẽ đem lại may mắn, sức khỏe dồi dào, làm ăn phát đạt, tấn lộc tấn tài.

3. Cây quất

Cây quất

Cây quất tượng trưng cho sự may mắn, bình an, sức khỏe, trường thọ, niềm vui, hút tài lộc. Chính vì vậy, trong những ngày Tết, hầu hết các gia đình, công ty, cửa hàng kinh doanh đều chọn cây quất để trưng bày.

4. Cây sung

Cây sung

Cây sung là biểu tượng cho sự sung mãn, tròn đầy nên cây sung rất được người Việt ưa chuộng trồng làm cảnh. Cây sung còn được xếp đứng đầu trong bộ tam đa, là biểu tượng của phúc (cây sung) cùng với lộc (cây lộc vừng), thọ (vạn tuế). Quả sung cũng được nhiều người lựa chọn để bày trên mâm ngũ quả cúng tổ tiên ngày Tết.

5. Hoa cúc

Hoa cúc

Trong dân gian, hoa cúc là loài hoa quý nằm trong tứ quý “tùng, cúc, trúc, mai”, tượng trưng cho sự trường thọ, phúc lộc dồi dào. Theo phong thủy, hoa cúc mang lại may mắn, cuộc sống bình yên cho gia chủ. Bởi vậy, đây là một trong những loại hoa không thể thiếu trong mỗi gia đình người Việt mỗi dịp Tết đến xuân về, có thể là một chậu hoa cúc nhỏ đặt trước nhà hoặc những bông hoa cúc trên bàn thờ tổ tiên.

6. Cây phát tài, phát lộc

Cây phát tài, phát lộc

Đây là loài cây mang lại may mắn, tài lộc sung túc cho cả gia đình. Theo phong thủy, số lượng cây phát tài, phát lộc được trồng trong một chậu sẽ có ý nghĩa khác nhau.

  • 2 cây: Tình duyên và hôn nhân
  • 3 cây: Mang đến 3 loại may mắn: hạnh phúc, trường thọ, sự giàu có
  • 5 cây: Sức khỏe
  • 8 cây: Thịnh vượng, phát tài
  • 9 cây: May mắn

7. Hoa hải đường

 Hoa hải đường

Hoa hải đường là loài hoa tượng trưng cho mùa xuân. Trong phong thủy, loài hoa này mang lại phú quý, làm ăn tấn tới, may mắn cho gia đình. Ngoài ra, hoa hải đường còn tượng trưng có tình cảm anh em hòa hợp, cuộc sống vui vậy và tình bạn thân thiết.

8. Hoa trạng nguyên

 Hoa trạng nguyên

Cây trạng nguyên là biểu tượng cho sự thành đạt, đỗ đạt trong con đường học hành. Với màu sắc đỏ thắm, cây trạng nguyên vừa mang lại hạnh phúc, may mắn vừa mang lại thành công cho các thành viên trong gia đình. Đặc biệt, những gia đình có con cháu sắp bước vào những cuộc thi cử quan trọng đều chọn cây hoa trạng nguyện bày trong nhà với hy vọng con cháu học giỏi, đỗ đạt cao.

9. Hoa lan

Hoa lan

Loài hoa “nữ hoàng” này tượng trưng cho sự giàu có, sang trọng, quý phái. Trong phong thủy, hoa lan mang lại nhiều may mắn, vượng khí cho gia chủ. Chính vì vậy, với vẻ đẹp sang trọng, màu sắc rực rỡ, loài hoa này thường được bày ở trong phòng khách mỗi dịp xuân về.

10. Nụ tầm xuân

Nụ tầm xuân

Nụ tầm xuân có ý nghĩa sinh sôi, nảy lộc, mang lại nhiều may mắn. Cùng với hoa đào, cây quất, hoa tầm xuân là vật trang trí không thể thiếu trong nhiều gia đình trong dịp Tết.

11. Hoa đồng tiền

Hoa đồng tiền

Hoa đồng tiền mang lại nhiều may mắn, sức khỏe, tuổi thọ mà giá thành khá rẻ nên được nhiều gia đình lựa chọn để chơi hoa trong ngày Tết. Bạn có thể đặt một chậu hoa đồng tiền trước cửa nhà, trong phòng khách hoặc cắm thành lọ trang trí như một lời chúc ý nghĩa cho gia đình trong ngày đầu năm mới.

12. Hoa thủy tiên

Hoa thủy tiên

Loài hoa tượng trưng cho sự may mắn, trường thọ, giàu sang phú quý, tài lộc sung túc. Theo phong thủy, hoa thủy tiên có tác dụng khử tà, mang lại cát tường, tăng thêm tài khí cho gia chủ. Chính vì vây, hoa thủy tiên được rất nhiều gia đình lựa chọn trang trí trong

Lưu ý khi dùng hoa, cây cảnh trong ngày Tết

Lưu ý khi dùng hoa, cây cảnh trong ngày Tết

Không nên sử dụng quá nhiều hoa với nhiều màu sắc trong nhà sẽ gây rối mắt, cần chọn những cây hoa có màu sắc hài hòa với không gian ngôi nhà.

Trong phòng bếp, phòng ăn nên chọn những cây nhỏ gọn, tránh vướng víu.

Những chậu cây có kích thước lớn sẽ phù hợp với không gian như sân, hai bên cửa phòng khách, lối vào nhà,…

Những chậu cây nhỏ, lọ cắm hoa thích hợp với phòng khách, bàn ăn hoặc cửa sổ,…

Việc giữ cho hoa tươi lâu là rất quan trọng trong những ngày Tết, vì vậy bạn nên chú ý tới việc chăm sóc các chậu cây, lọ hoa đúng cách: lượng nước tưới phù hợp với từng loại cây, thay nước cho lọ hoa, đặt chậu/lọ hoa ra sân vào buổi tối, đảm bảo ánh sáng cho những cây trồng trong chậu….

Hé lộ chuyện gia đình ít người biết của nhạc sĩ Tô Hải

BBC

Câu chuyện về nhạc sĩ lão thành Tô Hải có diễn biến mới khi BBC được cho biết về một góc đau buồn trong quan hệ gia đình của ông.

Ảnh chụp nhạc sĩ Tô Hải ở nhà ngày 16/1Bản quyền hình ảnhTÔ HÀ
Image captionẢnh chụp nhạc sĩ Tô Hải ở nhà ngày 16/1

Một người con gái của vợ đầu của ông Tô Hải khẳng định với BBC bố bà “đã hết bệnh nên bệnh viện mới cho về”, và bày tỏ lo ngại ông bị người vợ sau “khống chế”.

Trước đó, người vợ hiện nay của nhạc sĩ Tô Hải, bà Lâm Thị Ái, nói với BBC rằng bà “hoang mang” khi bệnh viện cho chồng về và ám chỉ có sức ép của công an.

Nhưng hôm 18/1, trả lời BBC, bà Tô Hà, một trong ba người con của vợ đầu ông Tô Hải, nói bố bà đang hồi phục.

Sau khi được biết về phản ứng của bà Tô Hà, nhạc sĩ Tô Hải nói với BBC rằng bà Tô Hà là con gái nhưng xem bố như “kẻ thù”.

Vào viện

Tô Hải từng là một nhạc sĩ cách mạng nổi tiếng ở miền Bắc Việt Nam. Nhưng những năm gần đây, sống ở TP. HCM, ông bày tỏ thái độ ly khai với Đảng Cộng sản.

Trong cuốn “Hồi ký của một thằng hèn”, hoàn thành năm 2007, ông tự gọi mình là “một trong những tên bồi bút bất đắc dĩ đắc lực nhất”.

Ông cũng duy trì trang blog với các bài viết mang tính phê phán về xã hội, chính trị Việt Nam.

Những ngày đầu năm 2017, nhạc sĩ Tô Hải nhập viện ở một bệnh viện tư ở TP Hồ Chí Minh, Hoàn Mỹ.

Hôm 14/1, ông được bệnh viện cho về, nhưng người vợ hiện nay của ông, bà Lâm Thị Ái, nói với BBC hôm 16/1 rằng chồng bà “chưa khỏe mà sao đã cho về”.

Hôm 17/1, bà Tô Hà, người con của vợ đầu của ông Tô Hải, liên lạc với BBC, cho biết sau khi có bản tin đầu trên BBC, bà đã chất vấn bà Ái.

“Trưa hôm 16/1, tôi đến nhà thăm bố, thấy bố đã ngồi dậy được, còn nói tiếng Pháp làu làu – tôi chụp rất nhiều hình – và hỏi cô Ái tình hình có thật là công an gây sức ép để bệnh viện trả bố về không?”

“Cô ấy bảo thấy mấy cô hộ lý hỏi ‘nhà chị có người làm bên công an hay sao mà lắm công an hỏi thăm thế?'”

“Tôi trả lời họ nói thế có gì ác ý đâu, mình không có bằng chứng thì sao lại phao tin như vậy, không nên làm ầm ĩ chuyện này lên. Mà nếu có việc đấy, tôi nói sẽ đến bệnh viện làm việc, hay đưa bố sang bệnh viện khác, thì cô ấy cản.”

“Tôi yêu cầu xem hồ sơ bệnh án, cô ấy thoái thác, chỉ bảo bố bị viêm phổi. Nhưng thực tế, sau hai ngày cấp cứu, ông đã khỏe lại (chúng tôi đến đột xuất đang thấy ông chuẩn bị ăn trưa như trong hình). Nhưng sau đó trên mạng lại đưa tin ông nguy kịch, là không đúng, bình thường khi hết bệnh rồi thì bệnh viện cho về nhà để tĩnh dưỡng, tránh lây nhiễm tréo.”

Nhạc sĩ Tô Hải có ba người con với vợ đầu, con trai cả sinh năm 1954, hai con gái là bà Tô Hà sinh năm 1956 và người con út 1958.

Theo lời kể của bà Tô Hà, từ tháng Năm 1975, khi nhạc sĩ Tô Hải vào Nam, ông “cắt đứt” quan hệ với gia đình, tuy chỉ chính thức ly dị mẹ bà năm 1998.

“Có những éo le nên tôi không muốn nói nhưng lần này tôi muốn lên tiếng rằng chúng tôi không hài lòng với cô Ái.”

“Tôi cho rằng cô ấy nói dối rằng ‘bệnh viện trả về dù nguy kịch’. Tôi muốn cải chính là bố tôi không nguy kịch, ông đang hồi sức.”

“Tôi lo cho bố tôi, vì với thông tin của bà Ái, có thể các bệnh viện sẽ ngại không dám nhận bố tôi khi có chuyện, và bà ấy đã nói rằng sẽ không cho bố tôi đi viện nữa dù có bất cứ việc gì xảy ra.”

Bà Tô Hà, hiện sống ở cả Việt Nam và Pháp, nói thông điệp bà muốn chuyển đến những người quan tâm nhạc sĩ Tô Hải là: “Việc ngày hôm nay là do ông suy dinh dưỡng, không được chăm sóc tốt, chứ không có bệnh.”

Ảnh chụp nhạc sĩ Tô Hải ngày 7/1 trong bệnh viện Hoàn MỹBản quyền hình ảnhTÔ HÀ
Image captionẢnh chụp nhạc sĩ Tô Hải ngày 7/1 trong bệnh viện Hoàn Mỹ

“Nếu ai đó nghĩ đây là tranh chấp gia đình, đây không phải là vậy. Anh em chúng tôi đều là những người thành đạt, chúng tôi không có ý kiến gì về chuyện tài sản mà chỉ muốn nói sự thật và không muốn ai dùng ông để trục lợi về kinh tế hay chính trị,” bà Tô Hà nói với BBC.

‘Không bịa đặt’

Khi BBC liên lạc, bà Lâm Thị Ái vẫn khẳng định những gì bà nói trước đó “không hề bịa đặt”.

“Lúc đầu, chồng tôi chưa bớt mà bệnh viện đã cho về. Chồng tôi cũng không muốn về, nhưng ông biết là bị buộc phải về nên mới bảo ‘thôi về đi, anh hiểu rồi.'”

“Không hiểu sao cô Tô Hà rất thù hận tôi, nhưng tôi không thêm bớt điều gì, chỉ nói những gì tôi chứng kiến.”

“Tôi không muốn nói những điều không hay về cô Hà, nhưng chỉ kể vài chi tiết để người bên ngoài gia đình nhận xét.”

“Cô Hà một năm ghé thăm bố cô ấy không quá ba lần.”

“Mới đây, khi ông Hải vào viện, cô ấy đưa được 5 triệu rồi đi mất.”

“Tôi sống với ông Hải 30 năm rồi chứ không phải đợi đến khi ông già yếu mới đến để trục lợi như cáo buộc của cô Hà.”

“Tôi không phủ nhận chuyện vợ chồng tôi bây giờ sống khó khăn. Hàng tháng phải nhờ bạn bè giúp thêm vì từ khi ông ấy bị chính quyền cho là phản động thì họ đã cắt hết các khoản tiền của ông ấy.”

Bà Ái cũng chuyển máy cho BBC nói chuyện với nhạc sĩ Tô Hải, người tâm sự rằng sức khỏe của ông “không bằng hai tuần trước”.

Kể lại chuyện vào bệnh viện Hoàn Mỹ, ông Tô Hải nói lúc mới vào, “họ nói bác phải chuyển sang phòng chăm sóc đặc biệt”.

Qua điện thoại, ông nói từng tiếng đứt quãng với hơi thở nặng nhọc: “Chúng tôi đóng thêm tiền hôm ấy thì ngay hôm sau họ lại bảo cho về.”

“Chính tôi thắc mắc. Vợ chồng tôi đã nghĩ tôi còn nằm đây đến hết Tết, nhưng họ lại bảo hết bệnh rồi, rằng tôi như ngọn đèn hết dầu, lúc nào cũng có thể tắt, nên về.”

“Tôi phải về bằng xe cấp cứu. Vì thế những gì bà xã tôi nói với BBC là đúng 100%.”

Giọng gay gắt, ông xác nhận bà Tô Hà là con gái của vợ đầu nhưng nói bà Tô Hà “căm thù gia đình tôi 30 năm rồi, từ khi tôi xây dựng gia đình mới”.

“Nó bịa ra rất nhiều chuyện về gia đình tôi. Bây giờ nó giàu có, về đây kinh doanh nên dựa vào chính phủ này.”

Ông nói: “Có lẽ bây giờ nó muốn lấy điểm để làm ăn thuận tiện, nên thấy chúng tôi phát biểu không có lợi cho nhà nước nên quay lại đánh vợ chồng tôi.”

‘Sững sờ và đau lòng’

Khi được cho biết về những lời của bố, bà Tô Hà nói bà “không ngờ bố lại bị khống chế như vậy”, khẳng định ở đây chỉ để nói sự thật và không ngờ lại diễn biến quá xấu như vậy!

Bà trả lời bà không có hoạt động kinh doanh nào cả, và “không có gì phải lấy điểm với chính quyền”.

“Chưa có bất cứ một ai nhân danh chính quyền hay công an, liên hệ với tôi bao giờ cả!”

“Chuyện giúp đỡ kinh tế từ ngày bố tôi còn ở Nha Trang thì tự bố tôi và cô Ái và gia đình tôi biết nhưng bây giờ không có biên nhận, thì muốn nói sao cũng được!”

“Hôm 16/1, bố tôi nói về nhà khoẻ ra nhiều! Như vậy là bệnh viện cho về là giải pháp đúng chứ không phải trong tình trạng nguy kịch.”

Bà Tô Hà nói không muốn nói thêm về “chuyện buồn” của gia đình mà chỉ muốn làm rõ có phải bố của bà bị bệnh viện cho về sớm do áp lực của chính quyền hay không.

“Năm ngoái chính tôi tổ chức sinh nhật cho bố, và ông nói xin lỗi, các con hãy bỏ qua tất cả.”

“Tôi rất sững sờ và đau lòng trước phát biểu của bố tôi chỉ vì tôi muốn nói sự thật nhưng tôi chưa bao giờ lại xem bố là kẻ thù tuy bố bỏ rơi chúng tôi từ ấu thơ.”

“Chúng tôi vẫn tự nhủ, không có chỗ dựa nào về tinh thần lẫn vật chất, chúng tôi mới thành đạt được. Khi không lên thăm được bố tôi, tôi nhờ các bạn bè đến thăm.”

“Từ hai hôm nay, cô Ái lu loa khắp nơi nhất là họ hàng bên Mỹ và dọa sẽ bỏ đi, vất bố tôi lại một mình nên chắc vì thế, bố tôi mớí có những lời phát biểu như vậy.”

“Dù sao tôi cũng mừng vì ông đã khỏe, mới mắng con khỏe như vậy,” bà Tô Hà phát biểu.

ga-tuu

THƯ GIÃN CHỦ NHẬT : GÀ CÓ ĐÔI GÒ BỒNG ĐẢO SƯƠNG CÒN NGẬM 

Đi xem triễn lãm GÀ TÂN DẬU – ĐẬU NÓC DINH tại nhà riêng Sông Như của họa sĩ Đặng Mậu Tựu ở Huế, Ngô Minh chụp được bức tranh gà đang ti nf tự. Chị gà mái có ĐÔI GÒ BỒNG ĐẢO SƯƠNG CÒN NGẬM / MỘT LẠCH ĐÀO NGUYÊN SUỐI CHỬA THÔNG ( HỒ XUÂN hƯƠNG). Đúng là GÀ HIỆN SINH!

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.01.2017

TẾT TRÊN NHỮNG CON TÀU TÀU KHÔNG SỐ

tau-khong-so-may-bay-my-chupTàu không số ( ảnh máy bay Mỹ chụp)

TẾT TRÊN NHỮNG CON TÀU TÀU KHÔNG SỐ

                                                                      Ngô Minh

         Để đảm bảo bí mật bất ngờ, các tàu không số của  ta đi trên Đường Hồ Chí Minh trên biển năm xưa thường xuất phát vào dịp Tết hoặc khi biển động , sóng to cấp 5 cấp 6. Dịp Tết cũng là thời gian  hay có gió mùa đông bắc. Dịp Tết , là khi sĩ quan, lính tráng của các tàu chiến, máy bay của Chính quyền Sài Gòn “bận” ăn Tết với vợ con.  Hay vào những lúc động biển, sóng to, gió lớn chúng lại đinh ninh là “tàu Việt Cộng“ nhỏ,  không dám ra biển. Tàu ta do xưởng 3 Hải Phòng đóng là tàu cỡ chịu sóng cấp 5, cấp 6, vậy mà có tàu đi gặp bão cấp 12. Tàu vượt sóng, khắp thân tàu kêu răng rắc, có lần sập cả hầm hàng xuống. Bão dữ thế nên  bọn địch sợ, “suy bụng ta ra bụng người” , chúng không ra khơi kiểm soát biển, nên các chuyền tàu không số xuất phát vào những dịp như thế thường an toàn, gây bất ngờ cho địch. Sau đây tôi xin kể về những chuyến vượt biển trong  Tết Nguyên Đán của thủy thủ trên những con tàu không số

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.01.2017

CON GÀ CỤC TÁC LÁ… VĂN

CON GÀ CỤC TÁC LÁ… VĂN

Vanvn.net – Đã cúng ông Táo, đã tiễn ông lên trời nghỉ Tết. Rất nhiều báo giấy đã đóng của tòa soạn, nghỉ theo. Đây là lúc các báo mạng tăng tốc phục vụ bạn đọc theo công thức 24/365 – không ngưng nghỉ một ngày nào. Trang mạng của Hội Nhà văn Việt Nam mở thời mục CON GÀ CỤC TÁC LÁ… VĂN nhằm giới thiệu tới bạn đọc những tác phẩm thuộc 7 bộ môn nghệ thuật (văn chương. hội họa, âm nhạc, nhiệp ảnh, điện ảnh…) khởi hứng từ vật linh năm Kỉ Dậu 2017 – con gà.

Tranh gà của họa sĩ Thành Chương

Chúng tôi mong muốn nhận được cả những tác phẩm mới hoàn thành và những tác phầm đã công bố trên báo chí trung ương và địa phương. Bài vở, tranh ảnh…xin gửi về 2 địa chỉ : vanvn.net@gmail; nguyenvietchien1952@gmail.com. Mở đầu là ghi chép hoạt kê của nhà văn Trần Quốc Toàn cùng những bức tranh gà trong triển lãm mới nhất của họa sĩ Thành Chương.

Ngày 20-1-2017, tại Trung tâm nghệ thuật Hanoi Creative City (số 1 Lương Yên, Q.Hai Bà Trưng, Hà Nội) đã khai mạc triển lãm với 60 tác phẩm tranh “GÀ” – Xuân 2017 của hoạ sỹ Thành Chương. Theo Ban tổ chức thì đây là sự kiện Hot nhất chào đón TÊT ĐINH DẬU 2017 tại Hanoi Creative City. Những người đam mê nghệ thuật tạo hình có cơ hội trải nghiệm một hội chợ nghệ thuật đẳng cấp có thể là chưa từng có ở Hà Nội trong nhiều năm qua. Họa sĩ Thành Chương cho biết: “Tôi phải khai thác hết tất cả cảm nhận và trí tưởng tượng của mình về con gà, cũng như là đưa đời sống người dân vào trong đó để không bức tranh nào giống bức tranh nào. Nhìn những bức tranh này thì những người anh em bạn bè của tôi đều cho biết rõ ràng là không bức nào giống nhau và vẫn nhận ra đấy là tranh của tôi”. Được biết, từ năm lên 8 tuổi, họa sĩ nhí Thành Chương đã đoạt Giải vàng tranh thiếu nhi quốc tế tại Anh với bức tranh “Chú gà tồ Đông Cảo”.

Họa sĩ Thành Chương tại triển lãm tranh gà Xuân Đinh Dậu

TỨ BÌNH KIM KÊ

1.Ưng Bình Thúc Dạ Thị dạy quan Tây  đọc thơ gà ta

Hồi đầu thế kỉ 20 chánh mật thám Trung kì là Sô Nhi nhận được mật báo, có câu thơ rất đáng ngờ. Có thể là một kế họach khởi lọan theo kiểu sấm truyền:

Nực cười hai bảy mười ba

Trời làm trận gió tám gà chết thiêu

Sô Nhi giải mã hàng tháng trời vẫn không thể hiểu ra, hai bảy phải 14 chứ sao 13? Trận gió nào thiêu chết được gà? Tại sao  chỉ chết 8 con, không nhiều hay ít hơn? Càng nghĩ càng bí, Sô Nhi đành tìm tới bậc túc nho là thi sĩ Ưng Bình Thúc Dạ Thị mà thưa rằng:

–          Thưa cụ, tôi nghĩ câu này chẳng phải câu hát tầm thường! Chắc có điều bí mật trong đó. Tôi đã biết trước đây ông Trần Cao Vân có bài thơ vịnh cái tầu hỏa, nhưng trong cái vỏ ngâm vịnh bọc một mật lệnh hẹn giờ động binh.

Nhà thơ của chúng ta cả cười mà rằng:

–          Ngài bị lầm bởi sự méo mó nhà nghề. Chẳng có mật lệnh nào, trong đó chỉ có chuyện buồn của quí quốc. Để tôi cắt nghĩa ngài hay. Chắc ngài còn nhớ, năm ngóai, theo âm lịch là năm nhuận hai thánh bảy. Một năm mà hai tháng bảy năm ấy phải là năm có 13 tháng, thưa ngài! Lại xin lỗi để được nhắc với quan lớn về cái tang mà chính phủ bảo hộ phải chịu năm ngoái. Chắc quan lớn chưa quên, năm 1933 quan tòan quyền Paxkiê ( Pasquier) đáp máy bay về Pháp, máy bay chở ngài bốc cháy khiến ngài tử nạn. Người Nam chúng tôi đọc chữ Pasquier là bát kê, theo kiểu Hán ngữ có nghĩa là 8 con gà. Vậy câu lục bát ấy thật đơn giản, năm nhuận 1933 ngài Bat Kê được hỏa táng trên trời. Thưa quan lớn!

Theo dân gian mà đàm tiếu thì: Trời xanh nổi lửa bất bình  / truyền cho hỏa táng theo hình…gà quay!

( Theo 12 con giáp NXB Hội nhà văn – Hà Nội 1998)

 

2.Năm gà Nguyễn Bính chọi chữ

Tết ấy cũng năm Dậu. Nhân năm con gà có người đưa một vế đối hóc hiểm đã lưu truyền từ lâu ra thách đối Nguyễn Bính:

Chuồng gà kê áp chuồng vịt

Vế thách đối hóc ở chỗ, theo Hán ngữ kê là gà mà áp là vịt, một vế phải đối thành hai nghĩa. Biết vậy, Nguyễn Bính thưa:

– Đối được! Nhưng xin đối bằng pháp văn. Trong tiếng Pháp rat ( đọc là ra) là con chuột mà boeuf ( đọc là bớp)  là con bò, vậy thì :

Chuồng gà kê áp chuồng vịt

                  Chú chuột ra bớp chú bò

Cũng theo kĩ thuật chuyễn ngữ như thế nhưng độc hơn, không đầu Hán đuôi Tây mà là đầu a na mít…đít phú lãng sa, Nguyễn Bính có cặp liễn rất vui tai và ngon miệng:

Ba ba đã chín

                  Cát cát đầy xe

Trong lúc trà dư tửu hậu tiết xuân, đọc đôi dòng văn chương trên, lại học được 2 bài bài toán pháp 3×3=9 và 4(quatr đọc là cát) x4= 16 ( seize đọc là xe)

3.Chế Lan Viên bàn chuyện đá gà

Sổ tay thơ  là một bài thơ nhưng có thể coi đây là một tác phẩm lí luận hình tượng, ngắn gọn mà sâu sắc,  một tham luân khoa học về thơ viết bằng chính thể lọai này, một cẩm nang sáng tác vừa như lôi kéo người ta vào công việc văn chương, bằng vinh quang của thành đạt “Thơ hay như người đẹp, ở đâu, đi đâu cũng lấy được chồng” lại như răn đe, đừng lấy vinh quang ấy làm bả phù hoa cho chính mình. Sổ tay thơ của Chế Lan Viên có đọan:

Con gà không đối thủ

Để dương oai diễu võ

Tự đá mình trong gương

Thảm thương nhà thơ ấy

Bản ngã vờn bản ngã

Lấy mình làm văn chương

Tự đá mình trên giấy

Viết theo kiểu “tự đá mình trên giấy” thì chữ như gà bới là cái chắc. Đã gà què ăn quẩn cối xay lại còn con gà tức nhau tiếng gáy như thế thì dễ gáy trật nhịp sinh học vì vội vàng và thi sĩ, cả trống, lẫn mái dễ thành …gà mờ!

 

4.Nguyễn Quang  Sáng kể chuyên con gà mù

Truyện Con gà trống  của nhà văn Nguyễn Quang sáng đã được chuyển thành phim. Ông kể về con gà diễn viên trong phim này:

“Đã là gà trống thì phải gáy. Nhưng vì bảo vệ bí  mật cho căn cứ, con gà trống không được gáy…Ngày ấy, để không có tiếng gà, chúng tôi đưa con gà xuống hầm rồi đậy nắp lại. Từ dưới lòng đất, tiếng gáy của nó như bị ấm ức lại vang lên. Cách nào đây? Chúng tôi phát hiện rằng, khi nó muốn gáy, nó phải rướn cái cổ cao lên. Được rồi, không cho nó gáy thì may cái cổ nó lại. Nó vẫn mổ, vẫn ăn, nhưng không thể cất cái cổ lên để ó o. Tưởng vậy là yên, nhưng không. Khi mắc gáy nó vẫn cất cổ, cổ bị rách máu ròng ròng theo tiếng gáy của nó, thương đứt ruột. Đó là con gà thật hồi chiến tranh, còn bây giờ con gà trống trong phim có diễn lại được hay không?”

Ông Sáng kể tiếp, đạo diễn Nguyễn Quang Dũng đi tìm một nhà dạy thú nhờ dạy con gà diễn viên gáy theo hiệu lệnh. Anh trở về, mặt buồn xo vì học phí phải đóng cho gà quá cao, một khóa học những  20 triệu, không thể chấp nhận. Cái khó ló cái khôn, đòan làm phim thu tiếng gà gáy vào băng, khi cần diễn viên gà lên tiếng thì mở máy phát lại, theo tập tính “gà ganh tiếng gáy” nó cất tiếng. Đóng riến rồi có nghề,   chỉ cần đạo diễn vỗ tay là nó gáy. Con gà diễn giỏi đến mức cả lòai gà được tôn vinh, những ngày làm phim, người trong đòan “không ai được ăn thịt gà, ăn thịt gà có nghĩa là ăn thịt đồng đội”. Thế rồi, trong cảnh quay “Một tiếng nổ long trời, con gà bay lên cùng ngọn lửa, lông rụng tả tơi. Rồi từ ngọn cây nó rơi xuống, nằm bẹp, xác xơ”. Con gà trống trọng thương nhưng nó chưa chết. Sáng hôm sau người ta mang cơm tới cho gà, đầu nó lắc lắc không thấy đường mổ thức ăn, nó đã mù. Và con gà mù lại gáy theo lệnh vỗ tay, lại vào vai gà trống bảnh trai cho tới cảnh quay cuối cùng.

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.01.2017

Tết Hòa Hợp

Tết Hòa Hợp

  •   HOÀNG HỒNG – MINH
Tết Hòa Hợp

Tết về, mong mỏi về sự hoà hợp giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa hiện tại với quákhứ, giữa hiện tại với tương lai cũng lặng lẽ nhen lên.

Mong mỏi ấy thật tự nhiên.

Và Tết nào mà chẳng làm được phần nào như thế.

Và ta hy vọng, vàta cóquyền hy vọng, vàta cùng một tay để vun xới, cho một cái Tết đặc biệt sẽ đến, « Tết Hoà Hợp ».

**

Có những điều xảy ra mang trong chúng độ dư chấn rất lớn, và thường chỉ với thời gian, với kinh nghiệm, với suy nghiệm, với sự thông thái trưởng thành lên, con người mới dần dần nhận ra ngày một tường minh hơn về chúng.

Một đất nước đã đi qua mấy chục năm chiến tranh dữ dội, những dư chấn ấy vô cùng lớn lao mà nhiều khi một đời người chưa đủ để nhìn thấy chúng ngày càng rõ ràng hơn hết.

« Hoà hợp »là chữ gần như hiển nhiên sau mấy thập kỉ chiến tranh tàn khốc xảy ra trong cộng đồng. Hiển nhiên trong cảm giác, nhưng không phải là hiển nhiên trong hiểu biết sâu xa.

« Hoà hợp »chứa trong nó trước hết sự« hoà giải », để rồi tiến vượt lên phía trên của « hoà giải », để không còn những vết lằn của chia li, của phân biệt, của này và kia, của thắng và thua; để không còn phải « hoà giải ».

Nhưng « hoà hợp » không có ýnghĩa nhiều, nếu như nó là một khẩu hiệu, thậm chí là một « ý tốt », là một « tấm lòng », và ngay cả khi là những hành động thiện nguyện rời rạc.

Nó phải trở thành một « bắt buộc », được thẩm thấu qua tất cảmọi chính sách, mọi hành vi, mọi ngôn từ trong đời sống, và con người hay tổ chức xã hội nào vi phạm nó sẽ phải bị trừng phạt.

**

Tôi đang muốn nói điều gì?

Tôi đang muốn nói đến việc rồi sẽ phải ra được « Bộ Luật Hoà Hợp », cái được thảo luận từ tốn, kĩ càng, rồi thông qua ở nghị viện.

Phải suy nghĩ đàng hoàng, rộng lớn, căn bản, chỉn chu, đầy trách nhiệm cho công việc này, và trước hết cho đạo luật này.

Như thế, rồi sẽ không còn những ngôn từ gây chia rẽ được xả ra bừa bãi trong đời sống.

Như thế, rồi sẽ không còn những bài vở sách báo cấu xé phải lòng người.

Như thế, rồi sẽ không còn những cư xử  phân hạng, chia loại công dân.

Như thế, Hoà Hợp trở thành phản ứng đầu tiên của mỗi người trước đất nước, trước hành động, trước mỗi người khác, trước cả chính mình.

Các giải pháp của « Bộ Luật Hoà Hợp » sẽ rộng lớn hơn nhiều nữa.

Trợ cấp cho những người già cả, những thương – phế binh, những nạn nhân chiến tranh sẽ được chăm sóc tối thiểu như thế nào.

Về phương diện quốc gia, sự kế thừa các quyền của chính thể cũ, ví dụ như đối với các đảo và mặt nước quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa ở ngoài Biển Đông  sẽ trở nên tự nhiên thế nào.

Vân vân.

**

Một ngày Tết Hoà Hợp, thực sự, rồi sẽ hình thành.

Con người như thế rồi sẽ tự mở thêm lòng mình để biết trân trọng nhau hơn, để biết tha thứcho nhau hơn, để biết yêu quý nhau hơn, và hơn hết, để biết cùng xây cuộc đời chung giàu mạnh, dân chủ, nhân hậu, tươi đẹp hơn lên trên đất nước của hoà hợp.

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.01.2017

Đôi nét về mẹ của Donald Trump

Đôi nét về mẹ của Donald Trump

BBC

Đến năm 1934, bà Mary Anne MacLeod đã là người New York quyến rũBản quyền hình ảnhMIRRORPIX
Image captionĐến năm 1934, bà Mary Anne MacLeod đã là người New York quyến rũ

Mẹ của ông Donald Trump, Mary Anne MacLeod, sinh ra, lớn lên ở đảo Lewis, Scotland, nhưng di cư đến New York.

Bà thuộc số hàng chục ngàn người Scotland đến Mỹ và Canada vào những năm đầu thế kỷ 20, tìm cách thoát khỏi khốn khó kinh tế.

Năm 1930, bà rời đảo Lewis đến New York, ở tuổi 18, làm người giúp việc nhà.

Sáu năm sau, bà kết hôn với doanh nhân bất động sản thành đạt Frederick Trump, là con trai di dân Đức.

Trọn vẹn diễn văn nhậm chức của Tổng thống Donald Trump

Donald Trump là con thứ tư trong tổng số 5 người con của họ.

Mary McLeodBản quyền hình ảnhMIRRORPIX
Image captionẢnh chụp khi Mary Anne MacLeod mới 14 tuổi

Ông Donald Trump vẫn còn ba người anh em họ ở đảo Lewis. Hai người trong đó vẫn sống trong ngôi nhà cổ của tổ tiên.

Mẹ ông Trump trở thành công dân Mỹ năm 1942 và qua đời năm 2000, ở tuổi 88.

Mary McLeodBản quyền hình ảnhMIRRORPIX
Image captionMary Anne trên đường sang Mỹ thập niên 1930
Mary Anne Trump thường xuyên quay lại đảo LewisBản quyền hình ảnhNEWSLINE MEDIA
Image captionMary Anne Trump thường xuyên quay lại đảo Lewis

Bà thường xuyên quay lại đảo Lewis và luôn nói tiếng Gaelic, ngôn ngữ bản địa của Scotland.

Ông Trump từng quay lại ngôi nhà của mẹ năm 2008. Khi đó, ông nói ông chỉ từng đến đảo Lewis một lần khi “ba, bốn tuổi” nhưng không nhớ gì mấy.

Donald Trump thăm Scotland năm 2008Bản quyền hình ảnhPA
Image captionDonald Trump thăm Scotland năm 2008
Đăng bởi: Ngô Minh | 22.01.2017

Ông Dzerzhinsky được dựng tượng ở VN là ai?

Ông Dzerzhinsky được dựng tượng ở VN là ai?

BBC

QTXM : Quá Lạ!

Lễ khánh thành tượng DzerzhinskyBản quyền hình ảnhHOC VIEN CANH SAT NHAN DAN
Image captionLễ khánh thành tượng Dzerzhinsky

Học viện Cảnh sát Nhân dân ở Hà Nội vừa khánh thành tượng ông Felix Dzerzhinsky, lãnh đạo đầu tiên của ngành công an Liên Xô.

Theo báo Việt Nam, buổi lễ có sự tham gia của các quan chức ngành công an Việt Nam và ông Vadim Bublikov, Tham tán Công sứ, Đại sứ quán Liên bang Nga tại Việt Nam và đại diện Trung tâm Văn hóa Nga tại Hà Nội.

Một bài trên báo Việt Nam viết:

“Ngày 20/01/2017, Học viện CSND đã long trọng tổ chức Lễ khánh thành Tượng nhà cách mạng Ph. D. Dgiec-zen-xki, người sáng lập cơ quan Công an Xã hội Chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới với câu nói nổi tiếng: “Người cán bộ Công an phải có cái đầu lạnh, trái tim nóng và đôi bàn tay sạch.”

Cách mạng và phản cách mạng

Theo Bách khoa Toàn thư Anh (Britannica) Felix Dzerzhinsky sinh năm 1877 tại Kaunas (Kovno, Lithuania, khi đó thuộc Đế chế Nga) trong gia đình quý tộc nghèo người Ba Lan.

Cũng tại đây ông gia nhập Đảng Xã hội Dân chủ năm 1895 và bị cảnh sát Nga hoàng bắt vì hoạt động lật đổ.

Ông bị đầy đi Siberia nhưng bỏ trốn và tham gia Cách mạng Nga 1905.

Trở thành lãnh tụ của Đảng Xã hội Dân chủ Ba Lan-Lithuania và thuyết phục được đảng này hợp nhất với đảng cùng tên ở Nga.

Trong thời gian nổ ra Cách mạng Nga tháng 2/1917, ông vẫn đang bị cầm tù nhưng sau được thả và đóng vai trò trọng yếu trong Cách mạng tháng Mười.

Ngày 20/12/1917 ông được Lenin bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Uỷ ban chống phản cách mạng và phá hoại trên toàn Nga. Cái tên hiền lành này được rút gọn là Cheka, và chính là bộ máy công an của Liên Xô thời kỳ đầu.

Cheka đã giúp Lenin giữ gìn nền độc tài bằng các cuộc xử tử tùy thích bất cứ ai chính quyền Xô Viết coi là kẻ thù, theo Britannica.

TBT Trọng: ‘Công an phải bảo vệ Đảng’

Dzerzhinsky cũng là người đầu tiên lập ra các trại tập trung ở Nga, và có tiếng là “một lãnh đạo cộng sản không khoan nhượng, không tham nhũng và cuồng tín”.

Theo Stephen Dalziel, phóng viên chuyên về Nga của BBC News, trong giai đoạn ngay sau khi Lenin lên nắm quyền ở Nga, “ít nhất nửa triệu người đã bị xử tử”.

Britannica viết rằng trong cuộc chiến Liên Xô đánh Ba Lan năm 1919-20, ông Dzerzhinsky được giao nhiệm vụ lập ra Ủy ban Cách mạng Ba Lan để về lập chính quyền Bolshevik nếu Hồng quân thắng lợi.

Nhưng sau thất bại của họ, kế hoạch đó không thành và Dzerzhinsky rời ngành an ninh sang nắm vị trí Chính ủy Giao thông năm 1921.

Sang năm 1922, trong nỗ lực hạn chế quyền hành của Cheka mà lúc đỉnh cao có trên 250 nghìn quân, chính quyền Liên Xô trao lại ngành an ninh cho Cục Chính trị Quốc gia GPU.

Sau khi Lenin qua đời, Dzerzhinsky ủng hộ Stalin nhiệt thành và giữ chức Chủ tịch Hội đồng Kinh tế Tối cao Liên Xô.

Ông bị đột quỵ và chết khi đang dự họp Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô năm 1926.

Tượng Dzerzhinsky nay bị kéo về một công viên ở Moscow
Image captionTượng Dzerzhinsky nay bị kéo về một công viên ở Moscow

Ba Lan đánh giá khác Nga

Tại Ba Lan thời phụ thuộc vào Liên Xô (1945-1989), tên của Dzerzhinsky được đặt cho nhiều đường phố.

Nhưng sau 1990, các tên phố và tượng đài Dzerzhinsky bị bỏ.

Ngày nay, quan điểm khá phổ biến tại Ba Lan coi ông Dzerzhinsky là kẻ phản lại quyền lợi dân tộc Ba Lan và là ‘Đồ tể Đỏ’.

Ngoài chuyện đem quân Liên Xô đánh Ba Lan năm 1920, Dzerzhinsky được cho là đóng vai trò chính trong các vụ tàn sát người Nga bị quy kết là ‘phản cách mạng’.

Theo một bài trên trang của Đài Tiếng nói Ba Lan về lịch sử:

“Tháng 10/1918, những công nhân tại Moscow đình công và bị vây bắt, quy kết là phản cách mạng và xử bắn bằng súng máy. Tại Petrograd, nhiều người bị lĩnh án tử hình, tay họ bị trói cùng nhau, và đến đêm bị đẩy lên các xà lan gỗ, đem ra ném xuống Vịnh Phần Lan. Người ký các lệnh đó chính là Felix Dzerzhinsky.”

‘Biết ơn Gorbachev đã khiến Liên Xô sụp đổ’

Nhưng cũng có sự tìm tòi giải thích vì sao người Ba Lan này lại trở thành nhân vật duy nhất có vị trí cao trong hệ thống Xô Viết và có hành động như vậy.

Giáo sư Pawel Wieczorkiewicz trong loạt bài ‘Các nhân vật của Thế kỷ 20’ giải thích Dzerzhinsky luôn “phục tùng hoàn toàn Lenin” trong các chiến dịch khủng bố và sẵn sàng làm tất cả để chế độ Xô Viết không mất quyền.

Làn sóng trấn áp được Dzerzhinsky đẩy lên cao độ năm 1918 sau vụ Lenin bị ám sát không chết.

Mặt khác, trong một bài trên trang tin Wiadomosci (10/11/2012), bà Marta Tychmanowicz tìm lại các sử liệu mới nhất nói ông Dzerzhinsky đã cưới vợ ở nhà thờ trong một buổi lễ của Công giáo La Mã.

Bài báo ‘Cuộc đời hai mặt của Felix tay đẫm máu – người Ba Lan nhưng là cha đẻ của chủ nghĩa khủng bố Xô Viết’ cho rằng ông Felix Dzierzinsky và bà Zofia Muszkat đã quỳ xuống trước cha đạo nhận lời ban phước trong nhà thờ Thánh Mikolaj ở Krakow ngày 10/11/1910.

'Dzerzhinsky phục tùng hoàn toàn Lenin trong các chiến dịch khủng bố'
Image caption‘Dzerzhinsky phục tùng hoàn toàn Lenin trong các chiến dịch khủng bố’

Các tài liệu mới nhất về cuộc đời ông Dzerzhinski do Giáo sư sử học Michal Glowinski mô tả đây là một người xuất thân từ gia đình quý tộc sa sút vùng biên địa (Ba Lan – Lithuania) và có đời nhiều thất bại.

“Ông ta không học hành đến nơi đến chốn, bằng tú tài cũng không có, và bỏ học để trở thành nhà cách mạng chuyên nghiệp.”

Năm 1920 sau khi đã là thành viên Đảng Xã hội Chủ nghĩa Ba Lan, ông bỏ sang theo Liên Xô và gia nhập Hồng quân.

Ông Dzerzhinsky cuối cùng “đã trở thành người lãnh đạo tàn bạo của tổ chức đứng đằng sau làn sóng khủng bố Bolshevik”, theo giáo sư Glowinski.

Còn bà Zofia, sinh ra tại Warsaw và có bằng đại học âm nhạc, đã sang Liên Xô sống cùng ông Dzerzhinsky cho đến khi qua đời năm 1968 và chỉ quay về thăm Ba Lan một vài lần.

Tượng 11 tấn của ông Dzerdzinsky từng đứng trước Bộ Công an Liên Xô nhưng sau bị kéo đi và đưa vào một công viên năm 1991.

Tuy thế, nước Nga hiện nay không chia sẻ quan điểm lên án ông Dzerzhinsky như tại Ba Lan, quê hương của ông.

Hồi giữa năm 2015, một số nhóm cộng sản ở Nga lên tiếng đòi đưa bức tượng trở lại lên bệ, theo phóng viên BBC Sarah Rainsford từ Moscow.

Bức tượng Dzerzhinsky tại Học viện Cảnh sát Nhân dân ở Hà Nội có cơ hội trở thành tượng mới nhất của ông được dựng trên thế giới sau khi Liên Xô sụp đổ.

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.01.2017

TẾT TRÊN VAI MẠ

 

   nm1Mạ NgôMinh

TẾT TRÊN VAI MẠ  

 

    Ngô Minh

Cứ mỗi đận Tết về tôi lại nôn nao nhớ hình ảnh mạ tôi xưa suốt  mấy chục năm kẽo kẹt triêng gióng, gánh Tết trên vai.. Làng Thượng Luật quê tôi ở vùng cát biển nam Quảng Bình. Làng tôi đánh giặc thì giỏi lắm, có Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy anh hùng bắn cháy tàu chiến giặc những năm đánh Mỹ, nhưng làng tôi rất nghèo . Có câu hát nhại ca từ Hoàng Vân :‘ Quảng Bình khoai khoai toàn khoai”, hẳn là hát về làng tôi. Khi tôi bảy tuổi thì ba tôi mất. Chị đầu đi lấy chồng, bốn anh em tôi còn nhỏ. Thế là gia đình không thuyền lưới, không có người đi biển. Sau một thời gian phải cầm rổ đi xin từng con cá dọc biển bờ chang chang nắng gió, rồi đi mót từng củ khoai hà, mạ tôi quyết định  chuyển sang nghề chạy chợ. Mạ tôi phải tần tảo chạy chợ mấy chục năm liền kiếm gạo nuôi con. Hồi đó ở miền Bắc ngoài cửa hàng Mậu dịch và Hợp tác xã mua bán, không ai được mở cửa hàng tư, vì thế ‘của hàng’ của mạ là đôi  triêng gióng trên vai, không ai bắt phạt được. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.01.2017

Trang thơ người đẹp – thơ Lan Hoàng Miên

Trang thơ người đẹp – thơ Lan Hoàng Miên

Tôi không biết bắt từ đâu, từ khi nào mà văn chương ám ảnh tôi, đeo đẳng tôi dai dẳng và riết róng thế. Có lẽ, từ khi là một sinh viên khoa Ngữ văn, cứ mỗi chủ nhật lại giam mình trong thư viện nghiến ngấu cả đống sách; cũng có thể là khi trưởng thành, chịu đựng mọi nỗi bất hạnh của cuộc đời, văn chương trở thành người bạn đồng hành, chỗ dựa tin cậy để sẻ chia, an ủi (Lan Hoàng Miên)

 Nhà thơ Lan Hoàng Miên, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam

 

THƠ LAN HOÀNG MIÊN

 

DẤU VẾT

 

 

Em đã thuộc về Anh

Từ cái đêm

Răng sún mắt trong vắt tóc lơ thơ chân trần

chạy qua nỗi sợ hãi

trốn mẹ

một mình đi xem hát

 

Ám ảnh cả một thời con gái

Rằng bất chợt Anh sẽ đến

Em vừa làm tất cả mọi việc

vừa nghe ngóng.

Quét nhà

nhà không sạch

Nấu cơm

cơm khê

Đi chợ

quên gừng cay muối mặn

Luống cuống

Ngơ ngác

Hy vọng và thất vọng

Nỗi đợi chờ

Thâm quầng cả vầng trăng.

 

Trăng cùng.

Em nghẹn ngùng sang sông

Chiếc áo cưới thành áo lông ngỗng

Lạnh trắng Đường Thời Gian.

 

 

 

HÃY CHỈ CHO EM MỘT DẤU HIỆU

Em chẳng biết đi đâu, làm gì

Chán nản mệt mỏi

khi không có anh.

 

Xin hãy chỉ cho em một dấu hiệu.

Kìa đại dương xanh thẳm

Nơi mọi người tụ tập reo hò bơi lội và lướt sóng

Thích thú dầm mình trong nước hay phơi nắng trên bãi cát

Rồi xây cất những lâu dài trong chốc lát

Lẽ nào anh ở trong số họ?

 

 

Kia là vùng núi cao

Rừng bị tàn phá như tấm áo choàng rách nát

Những hang động không còn vẻ linh thiêng huyền bí

Bởi vô số những tấm bảng chỉ đường và đèn điện giăng mắc

Làm thế nào em nhận ra anh?

 

Thành phố ồn ào

Mùi các món nhậu và những lời nói dối

Bốc lên tận mây xanh

Sao em biết được anh đang ở nơi nào?

 

 

                  ĐỢI

Mắt đỏ sao khuya

Trầm mình hồ lạnh

Cây khóc đợi gió

Chết khô trong trời.

 

Lời nói gió bay

Xưa rồi chẳng cũ

Lời lời dạo chơi

Bia hơi góc phố

Mê mải danh lợi.

 

Trăng đuối sông rồi

Mặt hồ tối đen

Đêm mở hội

Tang lễ.

 

 

NHỮNG GIỜ NHỮNG PHÚT

 

Những giờ, những phút say sưa nói về tình yêu

Về cuộc gặp gỡ mà anh hằng chờ đợi

Em đã biết từ trước

Rằng nó không thể kéo dài.

 

Quá quen thiết với những gì ồn ào

Những lời đẩy đưa bóng bẩy

Anh sẽ sớm thấy buồn chán

Vì sự gần gũi giản dị và lặng lẽ nơi em.

 

Em lại một mình đi dọc triền sông

Ngắm những bông hoa cỏ li ti phủ vàng mặt đất

Sung sướng khi nghe tiếng cá quẫy

Và tiếng thì thầm đáp lại dưới lòng sâu.

 

 

ĐỪNG BƯỚC VÀO THẾ GIỚI CỦA EM

 

Đừng bước vào thế giới của em

Nếu không cảm nhận được

niềm hoan lạc trào dâng

của dòng nhựa chảy

dưới lớp vỏ xù xì nứt nẻ

mỗi độ xuân về.

 

Đừng bước vào thế giới của em

Khi chưa nhận ra hương vị nồng say

của những loài thảo mộc

trong từng centimet không khí.

 

Đừng bước vào thế giới của em

Nếu không nghe được

lời thì thầm yêu thương

và nỗi đau

không thể diễn tả của nhịp đập con tim.

 

Đừng bước vào thế giới của em

Nếu không cảm nhận được

khát vọng mãnh liệt của sự dâng tặng.

 

 

 

                 NHƯ TRONG MƠ

 

Không âm thanh chói tai của các loại động cơ

Không màu sắc nhức mắt bởi các biển quảng cáo

Không san sát các tòa nhà chọc trời

Không thời tiết buốt lạnh của xứ sở phương Bắc

Không bụi độc tấm gương vỡ của quỷ(*)

Mình hẹn gặp nhau

Dưới bầu trời phương Nam.

 

Lần đầu tiên em tự cho mình được hạnh phúc

Dẫu thế giới của anh cao trong như trời

sâu rộng như nước

Em không thể chạm tới.

 

Thì đã có chan hòa ánh sáng

Và vòng tay anh ấm áp, dịu dàng

Và ngàn con sóng mang nỗi buồn em

Giấu vào lòng biển khơi.

 
                             (*) Theo truyện “Nữ Chúa Tuyết” của H.C Andersen.

NGƯỜI THOÁNG HIỆN

Mệt mỏi, đau ốm, thất vọng

Tôi đóng kín ngôi nhà của mình

Như con ốc

náu trong lớp vỏ

Tránh xa mọi sự ô nhiễm.

 

Bỗng có tiếng chim gù vọng đến

Gọi thức một miền đất bình yên.

 

Bầu trời cao rộng màu thanh thiên

Vòm cây mướt xanh

Ủ ngọn khói thơm mùi thảo quả

Ánh dương nồng ấm

Vầng trăng vàng ươm trước sân nhà.

 

Mọi dòng sông vẫn đổ về biển cả.

Hoa vẫn nở đẹp xinh mọi nẻo.

 

Người – Thoáng  – Hiện

Mở toang cánh cửa

Ngôi – Nhà – Lặng – Im.

 

 

 

 

 

 

    VÀO GIỜ MÌNH CHÀO ĐỜI

 

 

 

Vào giờ mình chào đời

Có thanh âm tĩnh lặng vô tận của thinh không

Có ngọn gió cuối thu lạc loài

ngủ quên trong vòm lá

Và những giọt sương trĩu nặng

như nước mắt của Trời.

 

Vào giờ mình chào đời

Những loài hoa khiêm nhường chỉ nở về đêm

Vắt kiệt hương thơm dâng hiến

Và những cơn bão muộn

Chỉ chực bùng lên ở cuối chân trời.

 

 

                                          Lan Hoàng Miên

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

           CÂY NGẬP NƯỚC

 

 

 

Thành phố mùa mưa

Hàng cây dầm trong nước bẩn

Con mắt lá sưng mọng lên vì bội thực nước

Đường phố thành dòng sông nước thải

Những cái cây rùng mình khó thở

Chẳng ai hay.

 

Những cành tay chìa ra cầu cứu

Rung lên bần bật

Người lớn bảo: đấy gió thổi

Trẻ con phụ họa: cành lá vẫy chào.

 

Mấy ai biết

Những cái cây đang chết.

 

 

                                  Lan Hoàng Miên

 

 

 

 

 

                      KON TUM

 

 

Nỗi ám ảnh Kon Tum canh cánh

Kon Tum

Vùng đất u hoài, hiu hắt

Trầm lặng như người những trăm năm.

 

Sông Đăk Bla chưa mùa hung dữ

Cồn bãi nổi

như những vết thương lâu ngày thành sẹo

Đôi bờ mơn mởn tươi non

Em – Cô gái Giẻ-T’riêng xinh đẹp

Kon Tum trẻ trung cặp mắt đen tròn.

 

Tôi lạc giữa dọc ngang phố núi

Hồn mải rong chơi với mây trời

 

Hình như tôi dẫm lên dấu chân người

(Người lại đã từng dẫm lên

vết chân người ngày trước)

Những dấu vết chẳng bao giờ nhìn thấy được

Chỉ mãi còn

đất – trời – mây – gió – núi Kon Tum.

 

 

 

( Nguồn: vanvn.net)

 

 

Chủ nghĩa khoái lạc ở dạng dung tục nhất của nó

vuong-tri-nhan

Vương Trí Nhàn

Sau 1991, đờì sống tinh thần của những người Nga hay sau 1976, người Trung Hoa đã thay đổi ra sao? Tôi thường quan tâm tới vấn đề này để hiểu người Việt thời nay, bởi lẽ tuy cái xác cũ vẫn nguyên, nhưng trong lòng mỗi chúng ta mấy chục năm nay đã biết bao đổ vỡ, chẳng khác chi dân mấy nước mà ta từng coi là mẫu. Về người Trung Hoa, có lẽ chỉ cần đọc cuốn “Huynh đệ” của nhà văn Dư Hoa là chúng ta biết hết. Còn về Nga, chưa tìm được cuốn nào tập trung, tôi chỉ mới đọc được những bài báo nhỏ. Sau đây là những ý tưởng của một nhà văn hóa Nga là Sergei Averintsev mà cũng chỉ đi vào một khía cạnh nhỏ:

Những sai lầm của quá khứ, kết quả của những nhà tư tưởng đáng giá hồi cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đã bị truất ngôi cùng với những hệ tư tưởng cực quyền. Việc truy tìm gốc rễ của cái xấu ở thời xa xưa trong lịch sử tư tưởng đang được theo đuổi ráo riết.

Tuy nhiên vẫn còn những lý do để lo âu. Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta nhận ra những dấu hiệu của một chủ nghĩa khoái lạc rất phàm tục.

Ở một nước còn rất thiếu hàng hóa như nước Nga, cái chủ nghĩa khoái lạc này càng trở nên dữ dội vì người ta đã bị bỏ khát quá dài và giờ đây đuổi theo khoái lạc bao nhiêu cũng luôn luôn cảm thấy chưa thỏa.

Thứ đến là là sự biến mất tăm của nền văn hóa với đặc trưng là ý thức liêm sỉ hoặc thói quen biết xấu hổ.

Và cuối cùng là sự xuất hiện một chủ nghĩa phi lý hẩu lốn trộn nháo nhào các giá trị tư bản chủ nghĩa và mác xít.

Rồi một thứ nữa không phải là dung hợp càng không phải tổng hòa mà chẳng qua là một sự nhập cục cơ học cả Ford, Freud, lẫn Marx trong cùng một cấp độ trong một thế giới không thượng đế.

Dục năng (libido) đang xâm chiếm đời sống, không phải chỉ là một thứ dục năng nhục thể mà – lạ thay – cứ như là máy móc đang trở nên đầy thèm khát hoặc bản chất con người đang biến dạng để trở nên máy móc vậy.

Ngày nay ở nước Nga thật khó nói đến một ý thức biết xấu hổ.

Kể cũng cần thiết là việc người ta sổ toẹt cả một loạt quy phạm phẩm hạnh giả dối mà trước đây người ta áp đặt cho họ. Nhưng rồi người ta đi tới đâu?

Cũng có thể nói là người ta trở lại với một tình trạng trống trơ của trẻ con, nhưng đó chỉ là bề ngoài, những đứa trẻ con này đã bị làm hỏng để trở nên thối rữa tự bên trong.

Đã đành những quy phạm ứng xử thời Xô viết chỉ là biếm họa của một thứ văn hóa liêm sỉ đích thực. Nhưng từ bỏ nó, không phải là người ta tới được sự cao thượng về tâm hồn. Thay thế vào đó, chỉ là những lệch lạc mới, chẳng hạn thói đạo đức giả và nhất là xu thế chạy theo khoái lạc tầm thường mà người ta tưởng là biểu trưng của tự do.

Trong trường hợp này phải nói bản chất tự nhiên của con người cũng bị đe dọa.

Nguồn: FB Vương Trí Nhàn

TIN THÊM VỀ VIỆC NHÀ THƠ XUÂN QUỲNH TRƯỢT GIẢI THƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VHNT

Sự việc nhà thơ Xuân Quỳnh trượt Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học, nghệ thuật (VHNT) đợt năm 2016 (mặc dù trước đó tại Hội đồng cấp Nhà nước, nhà thơ đã đủ điều kiện về tỷ lệ phiếu bầu đồng ý từ 90% trở lên của tổng số thành viên Hội đồng) đang nhận được sự quan tâm của dư luận. Nhiều người cho rằng nhà thơ Xuân Quỳnh hoàn toàn xứng đáng nhận được Giải thưởng Hồ Chí Minh.

Cố nhà thơ Xuân Quỳnh

Mới đây, gia đình nhà thơ Xuân Quỳnh cũng đã gửi thư ngỏ đến một số cơ quan báo chí với mong muốn có được câu trả lời rõ ràng từ phía các cơ quan chức năng về kết quả trên đây. Đại diện gia đình gồm PGS, TS Lưu Khánh Thơ (em chồng nhà thơ) cùng 2 con của nhà thơ là Lưu Tuấn Anh và Lưu Minh Vũ cho biết: Về phía gia đình rất bất ngờ vì quá trình xét Giải thưởng trong gần một năm qua, ở mỗi vòng xét chọn, bỏ phiếu, gia đình được biết nhà thơ Xuân Quỳnh đều đạt số phiếu quy định là trên 90%.

Tháng 4-2016, hồ sơ của nhà thơ Xuân Quỳnh đã vượt qua ba vòng xét duyệt và có tên trong danh sách các hồ sơ đủ điều kiện mà Bộ VH-TT&DL trình Hội đồng cấp Nhà nước xét tặng giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng nhà nước về VHNT năm 2016. Danh sách này cũng được đăng tải công khai trên cổng thông tin điện tử Bộ VH-TT&DL để lấy ý kiến rộng rãi nhân dân trước khi trình Hội đồng cấp nhà nước. Theo đó, nhà thơ Xuân Quỳnh được Bộ VH-TT&DL đề nghị xét tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT với hai tập thơ là “Lời ru trên mặt đất” và “Bầu trời trong quả trứng” (Giải thưởng chính thức về Văn học thiếu nhi của Hội nhà văn Việt Nam năm 1982 – 1983).

Thư của gia đình nhà thơ Xuân Quỳnh khẳng định: “Người thân của chúng tôi mất đã gần 30 năm, gia đình không tìm được Giấy chứng nhận Giải thưởng, nhưng Hội nhà văn Việt Nam đã có công văn xác nhận Giải thưởng và trong tập Kỷ yếu Nhà văn Việt Nam hiện đại, phần về nhà thơ Xuân Quỳnh (trang 1240) cũng hiển thị điều này. Nhà thơ Xuân Quỳnh cũng như những người sáng tạo khác, không kì vọng viết ra để đạt giải này hay giải kia. Bằng tâm huyết và tài năng của mình, họ lặng lẽ góp phần vào thành tựu chung của nền văn học nước nhà.

Tác phẩm của nhà thơ Xuân Quỳnh đã được người đọc nhiều thế hệ và đồng nghiệp ghi nhận, đánh giá cao.

Vì tất cả những điều trên, chúng tôi mong muốn nhận được sự trả lời chính thức từ các cơ quan có thẩm quyền về lý do nhà thơ Xuân Quỳnh không có tên trong danh sách được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt năm 2016”.

Để tìm hiểu về vấn đề này, phóng viên báo điện tử Đài tiếng nói Việt Nam (VOV.vn) đã gửi câu hỏi đến đại diện Bộ VHTT&DL. Trong công văn trả lời, ông Nguyễn Thái Bình, người phát ngôn chính thức của Bộ VHTT&DL khẳng định: Tại Tờ trình số 168/TTr-HĐGT ngày 31/8/2016 của Hội đồng cấp Nhà nước xét tặng “Giải thưởng Hồ Chí Minh”, “Giải thưởng Nhà nước” nhà thơ Nguyễn Thị Xuân Quỳnh có trong danh sách đề nghị.

Tuy nhiên, đại diện Bộ VHTT&DL cho biết thêm: Hiện nay dư luận đang có sự nhầm lẫn giữa hai khái niệm: Hội đồng cấp Nhà nước và cơ quan nhà nước. Hội đồng cấp Nhà nước được thành lập căn cứ vào Điều 17, Chương III, Nghị định số 90/2014/NĐ-CP ngày 29/9/2014 của Chính phủ. Nghị định về “Giải thưởng Hồ Chí Minh”, “Giải thưởng Nhà nước” về VHNT. Còn cơ quan Nhà nước được thành lập theo Luật Tổ chức Chính phủ.

Sự việc nhà thơ Xuân Quỳnh và một số tác giả văn học bị trượt giải thưởng Hồ Chí Minh một cách đáng tiếc, có ý kiến cho rằng, nguyên nhân xuất phát từ quy chế chấm giải đang có nhiều bất cập. Theo đó, Giải thưởng Hồ Chí Minh nên là giải thưởng dành cho toàn bộ sự nghiệp tác giả chứ không phải chỉ dành riêng cho từng tác phẩm hay cụm tác phẩm trong khoảng thời gian nhất định. Về vấn đề này, ông Nguyễn Thái Bình cho rằng, “Giải thưởng Hồ Chí Minh”, “Giải thưởng Nhà nước” về VHNT dành để xét tặng cho các tác phẩm, cụm tác phẩm, công trình, cụm công trình xuất sắc của tác giả chứ không phải giải thưởng của toàn bộ sự nghiệp tác giả.

Đại diện Bộ VHTT&DL cũng khẳng định, các thành viên trong Hội đồng cấp Nhà nước xét tặng “Giải thưởng Hồ Chí Minh”, “Giải thưởng Nhà nước” về VHNT đều là các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực VHNT.

Về số phiếu bình chọn của Hội đồng xét duyệt cấp Nhà nước giải thưởng Hồ Chí Minh dành cho tác giả Xuân Quỳnh, ông Nguyễn Thái Bình cho biết: “Tại Hội đồng cấp Nhà nước, nhà thơ Nguyễn Thị Xuân Quỳnh đủ điều kiện về tỷ lệ phiếu bầu đồng ý từ 90% trở lên của tổng số thành viên Hội đồng”. Theo ông Nguyễn Thái Bình, công văn trả lời hoàn toàn là nội dung do ông Phùng Huy Cẩn, Vụ trưởng Vụ thi đua Khen thưởng, Bộ VHTT&DL cung cấp. Tuy nhiên, chiếu theo các câu hỏi mà phóng viên VOV.vn nêu ra, nội dung trả lời của công văn không đáp ứng hết. Bởi vậy, cho đến nay, câu hỏi về việc vì sao nhà thơ Xuân Quỳnh trượt giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT, vẫn chưa thực sự được giải đáp một cách rõ ràng.

TUYÊN HÓA tổng hợp

(Theo VOV và TTO)

Gần 600 đảng viên ở Hà Tĩnh bị kỷ luật trong năm 2016

Trong số gần 600 đảng viên bị thi hành kỷ luật, có 14 người bị cách chức và 37 người bị khai trừ đảng.

Tỉnh ủy Hà Tĩnh vừa ban hành báo cáo tổng kết về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng. Theo đó, trong năm 2016, 556 đảng viên ở tỉnh này bị kỷ luật, trong đó có 434 người bị khiển trách, 71 người bị cảnh cáo, 14 người bị cách chức và 37 người bị khai trừ đảng.

gan-600-dang-vien-o-ha-tinh-bi-ky-luat-trong-nam-2016

Ông Nguyễn Văn Bổng (đứng giữa, nguyên Chủ tịch UBND huyện Kỳ Anh) là người bị khai trừ đảng và lĩnh án 12 năm tù do sai phạm trong đền bù dự án Formosa. Ảnh: Đức Hùng

Nhiều trường hợp chịu thi hành kỷ luật còn bị xử lý về mặt pháp luật như ông Nguyễn Văn Bổng (nguyên Chủ tịch UBND huyện Kỳ Anh), Phạm Huy Tường (nguyên trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Kỳ Anh), Lê Sỹ Bình (nguyên Chủ tịch UBND xã Thuần Thiện, Can Lộc) với tội danh Cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng.

Ngoài ra, cấp ủy các cấp trên địa bàn tỉnh đã kiểm tra, giám sát đối với 1.337 đảng viên, gần 1.600 tổ chức đảng, giải quyết khiếu nại kỷ luật một trường hợp…

Tỉnh ủy Hà Tĩnh đánh giá công tác kiểm tra, giám sát góp phần quan trọng vào việc giữ gìn kỷ luật, kỷ cương, ngăn ngừa sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống… của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Hiện Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh có khoảng trên 94.000 đảng viên, sinh hoạt ở 755 tổ chức cơ sở đảng.

Đức Hùng

( Nguồn: VNEXSPRESS_

Cựu công an không nhận gây oan cho ông Chấn, khẳng định ‘kết tội chuẩn’

Cả hai cán bộ hầu tòa do làm sai lệch hồ sơ khiến ông Chấn bị tù oan trong lời khai sáng nay đều nói “có niềm tin để kết tội”, “các chứng cứ đều chuẩn”.

Sáng 19/1 tại phiên xét xử bị cáo Đặng Thế Vinh (nguyên trưởng phòng 10, VKSND tỉnh Bắc Giang), Trần Nhật Luật (nguyên phó trưởng Công an huyện Việt Yên) với cáo buộc làm sai lệch hồ sơ vụ án, cáo trạng của VKS xác định thời điểm thụ lý vụ sát hại chị Nguyễn Thị Hoan, ông Luật được cử tham gia cùng ông Nguyễn Hữu Tân (đã chết) và một số người. Ông Vinh làm kiểm sát viên kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử.

Từ ngày 23 đến 27/9/2003, ông Nguyễn Thanh Chấn bị triệu tập lên trụ sở công an do tình nghi. Không nhận là thủ phạm, ông Chấn bị ông Tân dùng dép đánh vào mang tai, đá vào người, bắt nhận tội.

Chiều 28/9/2003, ông Chấn phải viết đơn tự thú, thừa nhận giết chết chị Hoan. Ông Chấn được các công an cho học, thực hành động tác giết người để khi thực nghiệm hiện trường “diễn” cho thành thục.

Quá trình khám nghiệm hiện trường, cảnh sát thu được dấu vết bàn chân dính máu nghi do hung thủ để lại. 16 vết bàn chân được giám định (trong đó có ông Chấn) nhưng không trùng với chứng cứ thu tại hiện trường. Tuy nhiên, ông Luật không báo cáo kết quả giám định cho thủ trưởng điều tra mà đo kích thước bàn chân của ông Chấn, lập biên bản đưa vào hồ sơ làm thay đổi bản chất vụ án.

TAND phúc thẩm sử dụng tài liệu này để nhận định mẫu vân chân của ông Chấn gần giống với bàn chân tại hiện trường, làm chứng cứ kết tội.

Khi hồ sơ được hoàn tất để chuyển tới tòa án, kiểm sát viên Vinh bị cáo buộc tự ý rút 2 biên bản hỏi cung ngày 2 và 3/2/2004 có nội dung phản ánh ông Chấn kêu oan và tố cáo bị bức cung nhục hình.

Qua nhiều phiên tòa, ông Chấn liên tục kêu oan song không được xem xét, phải mang án tù chung thân và ngồi tù 10 năm sau mới được minh oan.

can-bo-dieu-tra-danh-ep-ong-chan-nhan-toi-oan-nhu-the-nao

Bị cáo Vinh tại phiên tòa ngày 19/1.

Trước cáo trạng buộc tội được công bố tại tòa, ông Luật đã phủ nhận, cho rằng không tham gia khám nghiệm hiện trường. “Việc cáo buộc tôi biết được việc dấu vết chân nghi phạm mà không báo cáo, đề xuất là không đúng. Tôi chỉ làm ở hiện trường”, bị cáo nói và thừa nhận đồng nghiệp có báo cáo thu được vết chân ở hiện trường nhưng không đủ điều kiện giám định. Việc đề xuất giám định không phải trách nhiệm của bị cáo.

Ông Luật cũng phủ nhận cáo buộc in vết chân của ông Chấn đưa vào hồ sơ để buộc tội. “Tôi không lấy vết chân đó làm chứng cứ mà cơ quan điều tra căn cứ vào hàng loạt các chứng cứ khác để buộc tội ông Chấn”, bị cáo khai, nói đã làm hết trách nhiệm được giao.

“Đến giờ tôi cũng chưa biết ông Chấn oan như thế nào. Các chứng cứ đều rất chuẩn từ giờ giấc, nhân chứng…”, ông Luật nói.

Tương tự, ông Vinh cũng phủ nhận cáo buộc, cho rằng không có hằn thù với ông Chấn hay tư lợi, tiêu cực gì trong vụ án này. Khi ông Chấn phản cung, bị cáo đã vào trại tạm giam để phúc cung. Tuy nhiên, hai văn bản phúc cung và phản cung đều không được đưa vào hồ sơ vụ án.

Cựu điều tra viên này cho rằng: “Có niềm tin ông Chấn phạm tội. Việc đưa hay không đưa, không có ý nghĩa để chứng minh có phạm tội hay không. Việc này cũng không ảnh hưởng đến kết quả điều tra vụ án vì tại các phiên tòa ở hai cấp đều tranh luận công khai, quyền kết tội thuộc về tòa án. Nếu cấp phúc thẩm huỷ hồ sơ, trả điều tra lại thì chúng tôi mới sai”.

Việc ông Chấn khai bức cung, nhục hình, bị cáo cho rằng không có cơ sở và tập thể lãnh đạo Viện kiểm sát cũng đồng quan điểm.

Trả lời về việc khi tham gia giám sát vụ án, có yêu cầu cơ quan điều tra làm những gì để sáng tỏ vụ án, bị cáo Vinh nói thấy ông Chấn khai nhận phù hợp với các chứng cứ, không thiếu sót gì nên không yêu cầu.

Chiều nay, phiên tòa tiếp tục làm việc.

Việt Dũng

Trung Quốc làm lễ tưởng niệm tử sỹ Hoàng Sa

BBC

Lễ tưởng niệm tổ chức cuối tuần trướcBản quyền hình ảnhPEOPLE’S DAILY
Lễ tưởng niệm tổ chức cuối tuần trước

Tư lệnh hải quân Trung Quốc Ngô Thắng Lợi hôm 25/11 vừa tới tham dự lễ tưởng niệm tử sỹ trận đánh tháng 1/1974 với hải quân Việt Nam Cộng hòa để chiếm Hoàng Sa mà nước này gọi là Tây Sa.

Nhân dân Nhật báo đăng video clip chiếu hình Tư lệnh Ngô mặc quân phục tới đặt vòng hoa trước đài tưởng niệm 18 lính Trung Quốc đã thiệt mạng trong trận hải chiến.

Lễ tưởng niệm hôm 25/11 cũng diễn ra với nhiều nghi thức trang nghiêm, theo báo Trung Quốc.

Đài tưởng niệm này đặt trên đảo Quang Hòa thuộc Hoàng Sa, mà sau trận đánh năm 1974 Trung Quốc đã chiếm hoàn toàn.

Trong trận hải chiến tàn khốc, Việt Nam Cộng hòa mất 74 chiến sỹ.

Hiện ở Việt Nam bắt đầu có kêu gọi vinh danh các tử sỹ VNCH cùng những liệt sỹ khác đã “hy sinh vì Tổ quốc” tuy nhiên vẫn là hoạt động tự phát.

Hôm 17/1/2016 ở đảo Lý Sơn Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và chính quyền địa phương đã tổ chức lễ đặt viên đá khởi công Khu tưởng niệm Nghĩa sỹ Hoàng Sa, trong đó có các chiến sỹ VNCH.

đoàn Tây Sa’

Sư đoàn Tây SaBản quyền hình ảnhTA KUNG PAO
Binh lính Trung Quốc tuần tra ở Tây Sa (Hoàng Sa)

Các phương tiện tuyên truyền của Trung Quốc cho tới nay vẫn nói rằng trận hải chiến Tây Sa (Hoàng Sa) là nhằm đánh đuổi hải quân VNCH “chiếm đóng trái phép” đảo của Trung Quốc.

Nhân dân Nhật báo hôm 25/11 viết hải quân Trung Quốc đã “giành chiến thắng, đánh chìm một tàu và phá hỏng ba tàu chiến của quân đội miền Nam Việt Nam”.

Nhân dịp này, các báo Trung Quốc đăng nhiều thông tin về ‘sư đoàn Tây Sa’, đã được hình thành từ tháng 6/2012 trên quần đảo này.

Sau một thời gian im ắng, sư đoàn này được nói đã hoạt động mạnh, trong bốn năm qua đã đánh đuổi hàng trăm “tàu bè nước ngoài vi phạm vùng biển chủ quyền của Trung Quốc”.

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.01.2017

CHUYỆN LẠ VỀ NGƯỜI LÍNH GIÀ HUYỀN THOẠI

img_8195

ĐỌC BỘ SÁCH “NGÔ MINH TÁC PHẨM”, TẬP 3:

      CHUYỆN LẠ VỀ NGƯỜI LÍNH GIÀ  HUYỀN THOẠI  

       Ngô Minh

             img_6400Ông Đặng Văn Việt

Hôm 12/4/2014, vừa  bay vào Huế người lính già Đặng Văn Việt đã nhờ Ban liên lạc Trường Thanh niên tiền tuyến Huế mời bạn bè đến gặp gỡ. Tôi cũng được mời vì tôi quen thân với anh Phan Tân Hội, con cụ Phan Anh, hiệu trưởng Trường Thanh niên tiền tuyến thời ấy. Thế là lần đầu tiên tôi được bắt tay, trò chuyện với người lính lừng danh thời chống Pháp, như là bắt tay, trò chuyện với nhân vật lịch sử bằng xương bằng thịt. 95 rồi mà bàn tay ông rắn chắc. Từ Hà Nội vào ông mang theo 3 thùng sách nặng để tặng bạn bè. Ông bảo ông được UBND Thừa Thiên Huế mời dự lễ khai mạc Festival Huế  2014. Ông mừng lắm vì có mời mới được bao vé, bao ăn ở. Chứ ông rút hết cái sổ tiết kiệm còm của mình không đủ một chuyến vào Huế. Được vào Huế dự Festival ông coi như “về nhà”. Vì mình là “người Huế gốc Nghệ”( ông sinh năm 1920 ở làng Nho Lâm, xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An). Về Huế, mình được ngắm lại Cột cờ Phu Văn Lâu, nơi mình đã ra lệnh cho lính triều đình treo là cờ đỏ sao vàng lên 69 năm trước”. 3 tuổi ông đã theo gia đình vô ở Huế. Lớn lên học trường Quốc học Huế. Đậu tú tài Tây, ra Hà Nội  học y khoa Đông Dương. Đang học năm thứ 3 y khoa thì Nhật đảo chính Pháp, trường đóng cửa, lại vô Huế theo Việt Minh kháng chiến… (Đọc tiếp…)

Tại sao ông Công, ông Táo cưỡi cá chép lên chầu trời?

Không phải những con vật khác như trâu, ngựa… mà cá chép lại trở thành phương tiện đưa ông Công ông Táo lên chầu trời trong ngày 23 tháng Chạp.

Tại sao ông Công, ông Táo cưỡi cá chép lên chầu trời? - 1

Cá chép là phương tiện duy nhất đưa ông Công ông Táo lên chầu trời. Ảnh minh họa.

Ngày 23 tháng Chạp hằng năm, mọi gia đình đều sắm sửa mâm cơm thịnh soạn để làm lễ cúng tiễn ông Công ông Táo lên chầu trời. Lễ vật cúng ông Công ông Táo gồm mâm cỗ mặn, bánh kẹo, rượu, trầu cau, hoa quả, quần áo vàng mã… đặc biệt, không thể thiếu một con cá chép.

Theo nghi lễ cổ truyền của dân tộc Việt Nam, cá chép là “ngựa” để ông Công ông Táo cưỡi, bay về trời báo cáo công việc trong gia đình của một năm cũ.

Tuy nhiên, nhiều người thắc mắc, tại sao ông Công ông Táo lại cưỡi cá chép mà không phải là một con vật khác và tại sao cá chép lại có thể bay được?

Về vấn đề này, GS Kiều Thu Hoạch – Nghiên cứu viên cao cấp của Viện nghiên cứu văn hóa dân gian cho hay, tục cúng ông Công ông Táo ở Việt Nam bắt nguồn từ Trung Quốc.

Theo tài liệu cổ ghi lại, đời Tống (Trung Quốc), người dân cúng một con ngựa giấy làm phương tiện cho ông Công ông Táo cưỡi và có 2 con cá (không nói rõ cá gì), một thủ lợn linh nhừ làm đồ ăn cho Táo.

Tại Việt Nam, theo tài liệu của ông Phan Kế Bính ghi lại năm 1915 cho biết, người Việt Nam cúng ông Công ông Táo một con cá chép để làm “ngựa” cho Táo lên trời.

“Trong tiềm thức dân gian người Việt xưa, cá chép có thể hóa rồng và bay lên được. Vì vậy, người Việt đã việt hóa phong tục cúng ông Công ông Táo và chọn cá chép làm phương tiện để táo bay lên trời”, giáo sư Hoạch nói.

Giáo sư Trần Lâm Biền – Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Việt Nam cho biết thêm, trong âm dương, cá chép tượng trưng cho tính âm, đồng nhất với mặt trăng lên có thể bay lên được.

Ngoài ra, dân gian vẫn tương truyền sự tích “cá vượt vũ môn” để nói đến việc cá chép hóa thành rồng bay lên trời. Cá chép hóa rồng còn mang ý nghĩa của sự thăng hoa, biểu tượng của tinh thần vượt khó, sự kiên trì, bền chí và tượng trưng cho nhân cách thanh cao, tiềm ẩn, hướng đến một kết quả tốt đẹp.

“Dân gian đã nhận thức như thế, vì vậy chỉ có cá chép mới có thể cõng ông Công ông Táo lên chầu trời. Những con vật khác đều không có năng lực”, giáo sư Biền nói.

Theo Triệu Quang (Dân Việt

TÌNH BẠN CỦA BÍCH KHÊ VỚI HÀN MẶC TỬ, QUÁCH TẤN, CHẾ LAN VIÊN VÀ YẾN LAN

Lâm Bích Thủy-Năm 1935, khi còn ở Phan Thiết, Hàn Mặc Tử quen cô cháu gọi Bích Khê bằng cậu. Từ sự đam mê thơ Tử, cô đem khoe với cậu và ngược lại lấy thơ cậu cho Tử xem. Ban đầu, người này đọc thơ người kia, không ai phục ai. Đến khi, đọc “Hương thơm và mật đắng” của Tử thì Bích Khê đã thốt lên: “Hàn Mặc Tử đã đi trước ta quá xa, đây hẳn là thiên tài!”.

Nhà thơ Bích Khê (nguồn: Internet)

Bích Khê với Hàn Mặc Tử

Hàn Mặc Tử tên thật Nguyễn Trọng Trí, sinh năm 1912 mất vào ngày 11.11. 1940; quê Quảng Bình, nhưng sống và qua đời tại Qui Nhơn – Bình Định. Đã xuất bản tập thơ “Gái quê” (1936). Bích Khê sinh ngày 24.3.1916 tại xã Phước Lộc, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Ông là con thứ chín trong một gia đình nho học yêu nước, có ông nội là Lê Trọng Khanh đỗ Cử nhân năm Tự Đức thứ 21 (1868), làm quan đến chức Viên ngoại lang Viện cơ mật.

Năm 1935, khi còn ở Phan Thiết, Hàn Mặc Tử quen cô cháu gọi Bích Khê bằng cậu. Từ sự đam mê thơ Tử, cô đem khoe với cậu và ngược lại lấy thơ cậu cho Tử xem. Ban đầu, người này đọc thơ người kia, không ai phục ai. Đến khi, đọc “Hương thơm và mật đắng” của Tử thì Bích Khê đã thốt lên: “Hàn Mặc Tử đã đi trước ta quá xa, đây hẳn là thiên tài!”.

Còn Tử, đầu năm 1938 được Bích Khê gởi tặng ba bài thơ  “Thi tứ”, “Ảnh ấy”, “Thời gian” liền nhận ra ở Bích Khê một tài năng thơ hiếm thấy, khiến người đọc đê mê da diết. Hàn liền biên thư để khích lệ bạn làm được bài nào gửi ra bài ấy. Song, Hàn thất vọng, vì không chọn được bài nào trong số đó, bèn trả lại kèm thư chọc quê Khê, cốt để bạn tự ái mà viết hay hơn.

Quả nhiên, sau khi đọc thư Hàn; Bích Khê trút giận vào các tập thơ, xé nát không chút luyến tiếc. Cơn giận lui, Bích Khê tự thách thức: “Trong sáu tháng sẽ trở thành một thi sĩ phi thường, bằng không, sẽ không bao giờ làm thơ nữa.” Nhưng, chỉ ba tháng sau, một khát vọng sống, khát vọng yêu và khát vọng thi ca đã làm cho nguồn thơ vô tận từ trái tim Bích Khê tràn ra đầu ngọn bút. Ông hoàn tất đúng như ý nguyện. Mỗi chữ, mỗi câu thơ đều thể hiện tình yêu đôi lứa mạnh như bom tấn; chân thật mà lãng mạn, mãnh liệt mà không sáo rổng, mang sắc thái của dòng thơ mới, rất lạ và độc đáo. Ông gửi vào cho Hàn. Quả nhiên, sau khi đọc hết tập thơ, Tử không có chỗ nào để chê bạn được nữa. Bằng sự trân trọng và ngưỡng mộ, Hàn viết lời tựa tập thơ: “Một bông hoa lạ nở hương, thứ hương quí trọng thơm đủ mọi mùi phước lộc”.

Bích Khê đến với Hàn, lúc Hàn đang mang căn bệnh quái ác, nhưng Tử không thấy mặc cảm với Bích Khê, vì Khê đối xử với Hàn quá ư triều mến, chân thành. Thật tiếc, đôi bạn tài hoa và nặng tình ấy, gần nhau chưa tới ba mùa xuân thì Tử vào nhà thương Qui Hòa.  Thương nhớ bạn, Bích Khê viết bài “Hàn Mặc Tử” được bác Quách Tấn và chú Chế cho là giai tác. Bài thơ chưa kịp đến an ủi Tử, thì Bích Khê nhận hung tin Tử qua đời. Thơ nhớ thành thơ điếu bạn!

Bích Khê với Quách Tấn

Năm 1941, qua giới thiệu của Tử, Bích Khê đến Nha Trang tìm gặp bác Tấn. Duyên cớ gì mà mới gặp lần đầu hai người như đã biết nhau từ lâu. Nhà bác Tấn lúc đó là điểm hẹn văn hóa; các văn sĩ tứ xứ, ai đến đây nghỉ chân đều gửi lại Trường Xuyên (bút hiệu của Quách Tấn) văn, thơ và bản thảo. Vì lẽ đó, Bích Khê đã lưu lại đây một thời gian dài để nghiền ngẫm, nghiên cứu và giao lưu cùng bạn văn chương…

Từ nơi này, Bích Khê đã tiếp thu những tinh hoa của thơ Đường nhờ bác Tấn – nhà thơ đường cuối cùng của thế kỷ XX. Và cũng từ nơi này Bích Khê tiếp cận cả nền văn học Đông – Tây kim cổ. Đặc biệt hầu như toàn bộ những tác phẩm của Hàn, Yến, Chế đã xuất bản, đều có trên giá sách nhà này. Tuy bệnh tình hành hạ nhưng Bích Khê gắng lưu lại để nghiền ngậm và mong gặp những người mà Hàn đã giới thiệu.

Bác Tấn rất nặng lòng với Bích Khê. Nhìn Bích Khê lâm bệnh hiểm nghèo, ông lặng lẽ đi tìm thầy, tìm thuốc về nhà chữa cho bạn. Ít lâu sau, thấy bệnh mình không giảm, ông sợ phiền bạn nên tạm biệt để về quê. Bác Tấn khuyên ông hãy ở lại thành phố chữa khỏi bệnh rồi hãy về, nhưng Bích Khê vẫn một mực từ chối. Thời loạn lạc đến, bác Tấn tản cư về Trường Định. Ít tháng sau thì nhận được tin Bích Khê qua đời, thương bạn bác viết:

Ngắm vội trời Thiên Ấn

Cố Nhơn ơi cố nhơn

Bóng theo Hàn Mặc Tử

Tâm gửi Ngũ Hành Sơn

Danh vọng đài mây vút

Anh Ba biển sóng dồn

Đã hay nghìn tuổi thọ

Thương nhớ lụy đói cơn
Bích Khê với Chế Lan Viên

Năm 1937, Chế Lan Viên nổi tiếng trong cả nước với tập thơ “Điêu tàn”. Bích Khê sửng sốt thốt lên rằng: “Chế Lan Viên là một thần đồng”, ông tìm cách gặp Chế. Người ta bảo thơ Chế và Khê giống nhau; có cùng tâm thức và thịnh tình với các nhà thơ phương Tây như Valery, Bauderlaire, Edga…

Lúc Bích Khê đang điều trị ở viện bài lao Pasquier, nhà thơ Chế Lan Viên và Nguyễn Đình ra thăm bạn. Khi chia tay, Bích Khê buồn bã nói qua làn nước mắt: “Bao giờ mình gặp lại nhau nữa! mà chắc gì chúng ta còn có dịp để gặp lại?

Cuối năm 1943 Bích Khê gửi tập “Tinh hoa” vào Nha Trang, nhờ Chế đề tựa sẵn, chờ có tiền sẽ xuất bản. Chú Chế nhận lời, đọc hết tập thơ. Một cảm giác lạ như có dòng điện chạy qua sống lưng, cảm giác hiếm hoi ở Chế khi đọc thơ bạn, mà bấy giờ chú đã dành những lời châu ngọc để ca ngợi về tài thơ của Khê, đã viết sẵn lời tựa. Song, cuộc đảo chính của Nhật hất Pháp; chiến tranh bùng nổ; cảnh ly biệt, Chế đành gác lại.  Rồi, Bích Khê qua đời! Món nợ với người quá cố đeo đẳng mãi trong Chế.

Đến năm 1987, bạn văn và gia đình Khê đã cất công tìm và tập hợp di cảo của Bích Khê giao lại cho chú Chế. Nhờ vậy, chú đã hoàn thành việc mà Bích Khê ký thác hơn nữa thế kỷ qua…
Bích Khê với Yến Lan

“Tiền và Hậu Ngũ hành sơn” là hai bài thơ nổi tiếng của Bích Khê được Chế Lan Viên đánh giá cao hơn bài “Chùa Hương” của Nguyễn Nhược Pháp. Nhà thơ Nguyễn Đình chép được khi cùng Chế đến thăm Bích Khê tặng lại cho ba tôi – nhà thơ Yến Lan. Xem thơ, ba tôi rất phục tài và mến mộ Bích Khê, ông mong có ngày gặp được bạn để tỏ tường. Một chiều thu, ba tôi đang trầm tư trước tờ giấy kẻ ô vuông với những câu thơ đang làm dở. Đột nhiên, một thanh niên xuất hiện với chiếc túi nhỏ trên vai. Tuy chưa xưng danh, nhưng ông nhận ra người lữ khách giang hồ gầy guộc, nước da xanh, thoảng húng hắng ho là tác giả những vần thơ:

Kim, Mộc, Hỏa, Thổ lạy

Trên, dưới, đất, trời chầu

Ông mừng rỡ, đỡ túi trên vai bạn rồi, đưa vào nhà Nghĩa tự chùa Ông – nơi trước đây đã gặp Hàn Mặc Tử và Nguyễn Công Hoan. Bích Khê lúc này trông rất mỏi mệt. Vì vậy ông chỉ ở lại với ba tôi vài ngày rồi cáo lỗi vào Nha Trang để tìm thầy chữa bệnh. Biết bạn đang mang bệnh hiểm nghèo (lúc đó bệnh lao là một trong ba loại bệnh khó chữa), ba tôi nghĩ chắc bạn cần giúp đỡ, nên sau khi tiễn bạn ra ga xe lửa, ông sắp xếp công việc ở chùa rồi vào Nha Trang để gặp bác Quách Tấn, bàn cách giúp Bích Khê. Trên tạp chí Kiến Thức Ngày Nay số 206/ 20.4.1996, bài viết: “Tiếng gọi đò trên Bến My Lăng” do Tô Đình Tuân thực hiện, có đoạn sẻ chia của ba tôi:

“Tôi quen Bích Khê khi anh lâm bệnh nặng. Lúc đó tôi dạy học cho trẻ em hàng xóm kiếm sống. Tôi thương Bích Khê và phục tài anh lắm. Tôi bàn với Quách Tấn đưa Bích Khê vào Nha Trang tìm cách nuôi nhau. Chúng tôi góp tiền thuê một nhà nhỏ ở phường Củi cho Bích Khê. Ở Nha Trang được một thời gian ngắn, Bích Khê bỏ ra đi, chúng tôi chia nhau tìm, nhưng không thấy. Sau đó, chính Nguyễn Đình đã vô tình gặp lại Khê. Bọn tôi, Quách Tấn, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình lại bàn đưa Bích Khê ra Huế chữa trị, an dưỡng. Về kinh tế tùy theo hoàn cảnh từng người giúp Bích Khê. Tôi chưa vướng bận vợ con, mỗi tháng góp 30đ, Chế Lan Viên phải nuôi cha mẹ già và hai chị, góp 10đ, Nguyễn Đình 20đ, Quách Tấn có vợ, con đông, góp 20đ. Chị Tấn đảm nhận việc thu rồi  gửi ra tận viện Pas- ki-ê cho Bích Khê.”

Một thời gian sau, tôi nhận được phong thư viết bằng bút chì. Ngoài bì thư đề:

Kính gửi : Ông Yến Lan

Yến Lan!

Mình rất cảm ơn cậu và các bạn đã chăm lo cho mình. Bây giờ mình không còn chịu đựng được nữa, mình đành vĩnh biệt cuộc sống, vĩnh biệt bạn bè!
Ký tên

Bích Khê”

Sở dĩ tôi trích bài báo này để minh chứng bài viết của tôi là có cơ sở “nói có sách, mách có chứng,” vì trong hồi ký của bác Tấn không có từ nào nói về điều này. Mà đây là vấn đề rất nhạy cảm. Gia đình ông khá giả, bà con đông hà cớ gì các bạn văn của xứ Nẫu lại phải chăm lo, đóng góp để nuôi Bích Khê như đã kể trên. Ba tôi là người trọng danh dự, không nhận những gì không phài mình làm ra hoặc chưa làm mà kể công Và tôi tin ở cha mình đã làm như lời ông tâm sự.

(Nguồn:Bích Khê 100 năm)

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.01.2017

Sài Gòn – Hoàng Sa, ngày 19/1

Sài Gòn – Hoàng Sa, ngày 19/1

Hoàng Dũng

Đang ngồi trò chuyện thân mật trên chiếc ghế đá trước hiên nhà với một cậu thanh niên mặt thường phục, trẻ măng, khuôn mặt đẹp trai, có hơi bầu bĩnh nữa – chung quanh còn có ba cậu khác, cũng mặc thường phục – anh Lê Công Giàu bật dậy, tươi tỉnh đón cái nón bảo hiểm tôi đưa, nói với tôi: “Giới thiệu với anh đây là các cháu công an huyện Bình Chánh đang làm nhiệm vụ”. Tôi vừa rùn vai giữ cho chiếc xe máy thăng bằng trong khi anh Giàu leo lên, vừa đùa: “Tụi mình đi biểu tình đây. Khi tụi mình hô “Đả đảo Trung Quốc xâm lược!”, các cháu phải hô theo đấy nhé!”.

Đi theo sát là hai cậu an ninh, tôi len lỏi qua hàng rào bằng tôn che chắn công trình Metro, hơi ngơ ngác tìm lối rẽ đến tượng Trần Hưng Đạo ở bến Bạch Đằng. Một cậu công an vọt lên nói: “Hướng này, chú”. Quả nhiên, Tượng Đức Thánh Trần sừng sững kia rồi.

Còn 20 phút nữa là đến 9g – giờ hẹn. Quảng trường vắng ngắt anh em, chỉ lố nhố sắc phục công an và tụm năm tụm ba những người thường phục, mà chỉ cần liếc qua cũng thừa biết là nhân viên an ninh.

Anh Lê Công Giàu không rời điện thoại, chốc chốc báo: “Huỳnh Tấn Mẫm bị chặn rồi!”, “Cả anh Tương Lai nữa!”, “Đến lượt Hạ Đình Nguyên”… Tôi đưa mắt: Nhà giáo Trần Minh Quốc đây rồi, nhà văn An Bình Minh kia, nhưng Tô Lê Sơn đâu? Kha Lương Ngãi? Sương Quỳnh? Phan Đắc Lữ? Phạm Đình Trọng? Huỳnh Ngọc Chênh?… Và Lê Phú Khải, một giờ trước còn điện nói đang một mình cô đơn trước tượng đài, giục tôi nhanh nhanh đến cho có bầu có bạn. Bao nhiêu anh chị em thân quen chưa thấy mặt. Lòng tê tái. Cả quảng trường mênh mông, mà chỉ có bốn năm anh “phe ta”.

imageNhưng chỉ trước 9g vài phút, hàng chục anh chị em từ đâu xuất hiện. Trần Bang đeo khẩu trang che kín mặt. Và ngay sau Trần Bang là chị Nguyễn Thị Kim Chi, diễn viên điện ảnh, với nụ cười quen thuộc. Diễn viên Ánh Hồng nữa, dáng nhanh nhẹn thế. Kia, nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc, nhà thơ Hoàng Hưng và cả nhà báo Lê Phú Khải.

Đồng loạt, các khẩu hiệu bung ra: “Anh hùng tử, khí hùng bất tử – Hoàng Sa – 19.1.1974”, “Khắc ghi ơn các anh hùng chiến sĩ đã bỏ mình để bảo vệ biển đảo Tổ quốc Việt Nam”, “Tưởng niệm 74 anh hùng tử sĩ đã ngã xuống vì Tổ quốc”, “Tổ quốc ghi ơn các tử sĩ”. Tôi đi ra phía trước tìm góc thích hợp để chụp ảnh, thấy một người mặc thường phục hơi chải chuốt, không cần giữ ý, đọc rất to các khẩu hiệu vào điện thoại, có lẽ cho thượng cấp nghe để nắm tình hình và chỉ đạo. Nhìn quanh, thấy an ninh rất đông nhưng chỉ lặng lẽ quan sát, có người quay phim hay chụp ảnh.

Anh Trần Bang sang sảng nói cho đồng bào nghe ý nghĩa của cuộc tưởng niệm và giới thiệu anh Lê Công Giàu phát biểu. Giọng của người cựu tù từng vào sinh ra tử Lê Công Giàu yếu và nhỏ nhưng vẫn rót vào tai người nghe vì giây phút này ai cũng lắng lòng. Mỗi người nhành hoa, một nén nhang, tưởng nhớ đến những anh hùng vị quốc vong thân.

Tôi đứng cạnh một bà cụ, áo quần nâu sồng, tay nải kiểu người nhà chùa, khuôn mặt như mếu máo, răng đã rụng một chiếc. Hỏi thì cụ cho biết cụ là dân oan, mất nhà mất cửa, được chùa Liên Trì ở quận 2 cho ở, nay đến lượt chùa Liên Trì bị triệt hạ, bơ vơ một lần nữa. Và cụ chỉ chị này, chị kia, chị kia nữa, đều là dân oan, nghe hôm nay có tưởng niệm liệt sĩ bỏ mình vì bảo vệ biển đảo, liền kéo nhau đến để thắp một nén hương cầu các anh phù hộ cho đất nước, cho người dân.

Gần một giờ sau, chúng tôi giải tán. Ở chỗ gửi xe máy, lại gặp hai cậu an ninh huyện Bình Chánh. Tôi vui vẻ nói: “Tụi mình đi cà phê đây! Các cháu có đi theo không?”. Một cháu đùa: “Chú và bác có mời không?”. Tôi trả lời ngay: “Mời chứ!”. Anh Lê Công Giàu hơi nháy mắt: “Không mời đâu. Chúng tôi đi làm việc công mà!”. Tôi cười to: “Thì các cháu đây cũng làm việc công đấy chứ! Nhưng hai “việc công” khác nhau!”.

Chở anh Lê Công Giàu đi vòng qua tượng Trần Hưng Đạo một lần nữa. Một hình ảnh đầy xúc động: Trên quảng trường vắng ngắt, hoa và hương dưới chân tượng vẫn còn đó, trong nắng trưa chói lóa, một cô gái áo trắng quần xanh giản dị, đang một mình chắp tay thành kính vái các anh hùng liệt sĩ!

Ngồi quán cà phê The Coffee Bean & Tea Leaf trước nhà thờ Đức Bà, nhìn qua bên kia vẫn thấy hai cậu an ninh cần mẫn đứng canh. Điện thoại reo, anh Lê Công Giàu nghe máy, trao đổi gì đó, rồi kể: “Cô bí thư chi bộ điện hỏi chú đang ở đâu. Mình trả lời đang cà phê với bạn thì cô nói chú xin nghỉ sinh hoạt đảng vì sức khỏe yếu, sao lại đủ sức khỏe đi biểu tình. Lại nói chú phải về ngay!”. Anh Lê Công Giàu thuật lại, vẻ bình thản. Hạng cháu chắt như cô mà dám nói như ra lệnh cho Lê Công Giàu – tôi nghĩ. Ví thử không phải là cô bí thư chi bộ, mà là bí thư thành phố Đinh La Thăng, thì ăn nói như thế liệu có “ép phê” gì đối với Lê Công Giàu hay không?

“Thôi ta về, anh”. Tôi nói với anh Giàu. Không phải thương cô bí thư đang ngồi chờ ở nhà anh, mà chính ra, là thương hai cậu an ninh vất vả đang đi theo như hình với bóng. Trưa rồi, hai cậu cũng cần về nhà nghỉ. Mà mình có về thì các cậu ấy mới nghỉ được.

H. D.

image

image

image

image

image

image

image

image

image

image

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.01.2017

Miên man ké hoa đào


Miên man ké hoa đào

Khi Trời Bắt Đầu Đôi Ba Đợt Nắng Quái Gay Gắt, Khi Cỏ May Cháy Vàng Chân Đê Cũng Là Mùa Ké Hoa Đào Đã Đến…

Không lỡ hẹn bao giờ. Cứ như một giấc mơ, khi ngày hôm qua, bạn đang đi trên đường vắng hoe với vài cành cây xương xương, khỏng khảnh chóc lên bên bờ giậu thì sáng nay đã phô ra những cụm hoa hồng đào đến kiêu sa làm sáng bừng cả con đường, làm níu lòng cả những người đã đi qua một thời nhung nhớ nhất.

Ai mà không đi qua tuổi thơ? Cũng như thế hệ tôi – những đứa trẻ miền Trung lam lũ trên vùng đất bán sơn địa cằn cỗi, chỉ có những trảng cây bụi, không ai không biết đến ké hoa đào. Loài hoa mà sách vở đã ưu ái gọi tên cho nó: Dã miên hoa – nghe như trong cổ tích xa xưa và vắng hoang nào đó.

Với tôi, ké hoa đào không là hoang vắng mà gần gũi và thân thương. Không ồn ã bon chen, chỉ dân dã bờ bụi mà đến mùa là bập bùng thắp lửa. Những nụ hoa hồng chúm chím như hoa đào cứ mặc nhiên bung nở giữa những đám bờ bụi, gai góc như một chứng nhân rõ nhất cho những năm tháng hồn nhiên và trong trẻo.

Ké hoa đào (ảnh: internet)

Tôi nhớ tôi. Nhớ con bé gầy queo, đen nhách thơ thẫn theo đám bạn lăn lê hết dọc bờ mương, mép hồ, trèo tường vào Nhà hát Nhân dân để xem cải lương mỗi khi có đoàn về biểu diễn. Cả sân khấu ngoài trời rộng rênh, giữa đồng cỏ bao la và những bụi ké hoa đào rực rỡ như khiến tôi ngộp thở. Cả thế giới là ở đó, trong những hình ảnh đẹp đẽ và yên bình. Không biết có phải bắt đầu từ những ngày xa xưa đó, tôi bắt đầu mơ về những giấc mơ có cánh sau này là có thể viết được ra những điều mình nghĩ, mình ao ước nhất.

Tôi nhớ tôi. Cái con bé phải cắt đi mái tóc đen nháy của mình chỉ vì những hạt ké hoa đào mà đám bạn vò lên tóc. Hồi đó, tôi khóc, khóc như mình mất đi một giấc mơ, khóc như mình mất đi một tí hi vọng về những đẹp đẽ tinh tế vừa chớm. Và cũng hồi đó, tôi nhớ về những ánh mắt hối lỗi, những cái nhìn đáng thương e dè của đám bạn trai cùng trang lứa.

Để rồi lớn dần lên.

Bây giờ, chúng tôi chọn mùa ké hoa đào để cùng nhau ôn lại những điều xưa cũ. Lại cứ xuýt xoa về cái màu hồng rực rỡ đến kiêu hãnh đó. Lại cứ bần thần khi nhớ về những năm tháng đã qua dẫu rằng bây giờ đang cùng nhau trở lại. Lại cùng cười, cùng khóc, cùng nhau vỗ vai mà ước ao: giá hồi đó mày bắt đền thì đến giờ tao sẽ không mang nợ nhớ mày mỗi mùa ké hoa đào nở!

(Nguồn: Báo Văn nghệ)

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.01.2017

Dân chủ & Nồi cơm

Dân chủ & Nồi cơm

  •   ĐOÀN HƯNG QUỐC

Nhà của một người bạn tôi rất tiêu biểu cho những gia đình Mỹ gốc Việt khác: ông ba về hưu nên quan tâm đến chính sách về hưu bổng và sức khỏe cho người lớn tuổi; có anh làm kỹ sư cho hảng quốc phòng thì sợ các chương trình vũ khí tốn kém bị cắt giảm; bạn tôi là kỹ sư cho hãng sản xuất điện thoại cầm tay nên chống hàng rào mậu dịch Mỹ-Trung; em gái bác sĩ nên chương trình Obamacare ảnh hưởng trực tiếp đến nghề nghiệp của cô.

Trong xã hội mỗi người phải tự bảo vệ nồi cơm, bởi vì trừ cha mẹ hy sinh cho con cái thì không có nhà nước hay ai khác lo cho mình và gia đình. Hiến Pháp Hoa Kỳ khởi đầu bằng câu văn “…mỗi cá nhân đều có quyền mưu cầu hạnh phúc…” nên vai trò của chính quyền là tạo môi trường thuận lợi đồng đều cho mọi người có cơ hội ngang nhau tìm miếng ăn.

Nhưng có ăn chưa đủ mà phải dành phần ngon – người Mỹ gọi là “bigger piece of the pie”. Xã hội chia ra nhiều phe phái và các khối lợi ích tranh giành quyền lợi lẫn nhau. Tôn giáo dạy con người nhường nhịn vị tha còn vai trò của nhà nước nhằm ngăn ngừa con người không vì giành giựt miếng ăn mà chém giết lẫn nhau. Dân chủ là môi trường để các khối lợi ích tranh giành quyền lợi trong tương nhượng thay vì tước đoạt miếng ăn bằng bạo lực, bởi vì người Mỹ tin rằng vừa cạnh tranh vừa hợp tác sẽ đẩy mạnh sức sáng tạo khiến mâm cổ ngày càng to ra (the pie grows bigger), xã hội thêm phồn thịnh và mọi người nhờ vào đó hưởng phần ngon hơn.

Nhưng thực tế không xảy ra hoàn toàn như vậy. Trường hợp thứ nhất khi những khối lợi ích đều muốn hưởng phần nhiều như người già đòi thêm quyền lợi hưu trí còn giới quân đội muốn tăng chi phí quốc phòng trong khi nhà nước không đủ tiền chi trả cả hai. Hai phe thay vì tương nhượng cắt bớt phần của mình cho phù hợp với ngân quỹ thì ngược lại vận động nhà nước… mượn thêm tiền để làm vui lòng cả hai bên. Nợ nần chồng chất thì đến đời con cháu lo vì khi đó mình đã qua đời còn bây giờ tụi nó chưa đủ tuổi đi bầu nên không có tiếng nói – người Mỹ gọi đây là kick the can down the road.

Trường hợp thứ nhì khi nhiều khối lợi ích tập trung vào hai nhóm lớn, tức là hai đảng phái chính trị với số phiếu ngang ngửa. Thay vì điều đình nhượng bộ thì hai đảng lại tranh giành phủ quyết lẫn nhau theo kiểu phe này không được theo ý mình thì chống phá ngăn cản không cho bên kia làm việc, lâu ngày khiến chính quyền bế tắc. Dân chúng phẩn nộ thấy nhà nước tê liệt nên dồn phiếu vào một gương mặt mới táo bạo, đột phá hứa hẹn đủ thứ là trường hợp chọn ông Donald Trump năm 2016.

Trường hợp thứ ba khi mâm cơm ngày càng lớn nhưng phần ngon chia không đều. GDP Mỹ và thế giới tăng nhanh trong giai đoạn toàn cầu hóa nhưng khoảng cách giàu nghèo ngày càng xa, một phần vì luật pháp bị dàn dựng có lợi cho phe nhà giàu nhưng mặt khác vì một thành phần dân chúng không bắt kịp với nhịp độ thương mại toàn cầu tăng vọt. Một thí dụ ở Hoa Kỳ khi người Mỹ vùng nội địa mất công ăn việc làm do cạnh tranh với giá lao động rẻ mạt từ Á Đông, trong khi dân chúng ở hai bờ biển Đông-Tây ngày thêm giàu có nhờ vào nhịp độ mua bán với Á-Âu. Trong xí nghiệp thì công nhân nào không thích ứng với các thay đổi sẽ bị chủ đuổi, nhưng một quốc gia không thể nào “sa thải” người dân nào cả mà phải trợ cấp hay giúp đỡ cho gia đình họ trải qua giai đoạn khó khăn. Tuy vậy những người bị thiệt thòi vẫn phẩn nộ và thể hiện sự tức giận của họ bằng lá phiếu chống đối.

Việc tranh giành quyền lợi không có gì hay ho nên Winston Churchill từng nhận xét “Dân chủ là một thể chế rất tồi tệ, chỉ có điều là các mô hình nhà nước khác đều đã được thử nhiều lần trước đó.” Dân chủ cho phép mọi người tự bảo vệ nồi cơm vì tin vào nhà nước hay ai khác lo cho mình thì sẽ có ngày đói.

( Nguồn: VHNA)

Chuyên gia Pháp : Trung Quốc rõ ràng đang quân sự hóa Biển Đông

mediaCác máy bay chiến đấu J-15 trên hàng không mẫu hạm Liêu Ninh tham gia tập trận tại Biển Đông ngày 02/01/2017.

Theo chuyên gia Jean-Pierre Cabestan, trưởng bộ môn khoa học chính trị của trường đại học Báptít Hồng Kông, Bắc Kinh rõ ràng đang quân sự hóa các đảo nhân tạo trên Biển Đông. Trên thực tế đã có sự thay đổi nguyên trạng về quân sự và chiến lược tại vùng biển quan trọng này. Trung Quốc diễu võ giương oai nhằm đe dọa các nước, lấn dần từng chút một để tránh nguy cơ đối đầu trực tiếp với Hoa Kỳ.

Báo chí Trung Quốc hôm 13/01/2017 đã đả kích ông Rex Tillerson, ngoại trưởng do tổng thống tân cử Mỹ Donald Trump bổ nhiệm, vì ông đưa ra ý kiến nên cấm Bắc Kinh đến các đảo đang kiểm soát tại Biển Đông. Hoàn Cầu Thời Báo cho rằng ý tưởng này là « kỳ quặc », trừ phi muốn xảy ra « một cuộc chiến tranh quy mô » giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. China Daily dọa nạt « một cuộc đối đầu hủy diệt » nếu chính quyền Trump, sẽ nắm quyền từ ngày 20/1, sử dụng đến biện pháp này.

Trước đó một hôm, ông Rex Tillerson trong cuộc điều trần trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ tuyên bố : « Chúng ta phải gởi một dấu hiệu rõ ràng đến Trung Quốc, cho họ biết rằng phải ngưng việc xây dựng trên các đảo (tại Biển Đông), và họ không còn được phép đi vào những đảo này ».

Loạt đại pháo được báo chí nhà nước Trung Quốc dồn dập nã vào ý đồ phong tỏa mang tính vô tiền khoáng hậu của ông Tillerson, chứng tỏ mức độ căng thẳng trong tranh chấp lãnh thổ hiện nay tại Biển Đông. Nhật báo Le Monde đã phỏng vấn nhà Trung Quốc học Jean-Pierre Cabestan, trưởng bộ môn khoa học chính trị của trường đại học Báptít Hồng Kông, tác giả cuốn « Chính sách quốc tế của Trung Quốc, giữa hội nhập và ý hướng đại cường ».

Trung Quốc liên tục biểu dương sức mạnh : chiếc hàng không mẫu hạm Liêu Ninh của họ hồi Noel lần đầu tiên đã đi qua eo biển Miyako ở ngoài khơi Okinawa để tiến ra Thái Bình Dương. Sau đó các máy bay ném bom nhiều lần bay lượn phía trên các eo biển trong khu vực, vòng quanh Đài Loan, dù trên không phận quốc tế. Các hành động ngày càng lặp đi lặp lại trên Biển Đông như thế nói lên điều gì ?

Các vụ xuất kích này là những hành động khoa trương, nằm trong ý đồ tạo ra một sự cân bằng lực lượng mới. Đó là một cách để trưng ra nhiều khía cạnh của sức mạnh quân sự Trung Quốc. Hàng không mẫu hạm vừa là đặc trưng vừa là biểu tượng của quyền năng. Hiện nay, Trung Quốc chỉ có mỗi một chiếc, cũng như Pháp có chiếc Charles De Gaulle : tàu sân bay có nhiều chức năng, được triển khai để mang đến một thông điệp vừa chiến lược vừa ngoại giao. Trung Quốc đã tiến được từng bước với chiếc Liêu Ninh : ban đầu họ tập dượt cách hoạt động tại Biển Hoa Đông, rồi đến Thái Bình Dương, sau đó đến địa điểm nhạy cảm là Biển Đông.

Không quân Trung Quốc cũng chứng tỏ khả năng bảo đảm được việc tiếp liệu trên không cho các phi cơ tiêm kích và oanh tạc cơ. Tuần duyên Trung Quốc nay được trang bị rất tốt. Trong quá khứ, chúng ta từng thấy dân quân biển can thiệp trong những vụ va chạm. Để xây dựng các đảo nhân tạo trên Biển Đông, Bắc Kinh đã huy động đủ loại đơn vị để nạo vét và cải tạo.

Đối với Trung Quốc, tầm quan trọng của việc biểu dương lực lượng là làm gia tăng rủi ro trong thời bình cho hải quân các nước khác tại Biển Đông, làm cho họ hiểu rằng can dự vào sẽ nguy hiểm, ngay cả việc đi qua vô hại. Chính trong logic này mà Bắc Kinh hồi tháng 12/2016 đã đoạt lấy một tàu ngầm tự hành phục vụ công tác giám sát của Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ.

Phía sau tất cả những điều đó, là ý định bảo vệ căn cứ tàu ngầm Tam Á (Sanya) trên đảo Hải Nam, bảo đảm cho các tàu ngầm nguyên tử phóng hỏa tiễn có thể được triển khai ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương mà không bị phát hiện. Bị kẹt giữa những chuỗi đảo, nhất là những đảo gần nhất đang do các đồng minh của Mỹ là Nhật Bản, Đài Loan, Philippines kiểm soát, vấn đề địa lý là tối quan trọng cho Trung Quốc. Trong bối cảnh đó, việc xích lại gần tổng thống Philippines, Rodrigo Duterte là cần thiết.

Tiếp đến, tất cả những động thái trên không phải là quyết định ngẫu nhiên, mà là phản ứng trước cuộc điện đàm giữa ông Donald Trump và tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn, cũng như tuyên bố của tổng thống tân cử Mỹ về chính sách « một nước Trung Hoa ». Trong những tháng tới, có lẽ Trung Quốc sẽ gây thêm áp lực quân sự lên Đài Loan.

Liệu có nguy cơ thực sự về các vụ va chạm hay xung đột ?

Có các rủi ro do tính toán sai lầm. Nhưng tôi nghĩ rằng Bắc Kinh bằng mọi giá cố tránh mọi sự cố dẫn đến xung đột vũ trang với Hoa Kỳ. Vụ cưỡng đoạt chiếc tàu ngầm tự hành là một tín hiệu cho tân chính phủ Mỹ. Cũng có các nguy cơ đối với Nhật Bản, cho dù Trung Quốc hành động một cách thận trọng, bối cảnh hiện nay có thể dẫn đến một sự cải thiện quan hệ nho nhỏ.

Hoa Kỳ và Trung Quốc cáo buộc lẫn nhau là quân sự hóa Biển Đông. Sự thể ra sao ?

Bắc Kinh hiển nhiên đang lao vào việc quân sự hóa các đảo nhân tạo trên Biển Đông. Họ nói rằng các thiết trí quân sự trên đó là khiêm tốn, mang tính phòng vệ – điều này thật khó tin, còn việc quân sự hóa thì không thể chối cãi. Hơn nữa, chúng ta sẽ chứng kiến cảnh các phi cơ và chiến hạm Trung Quốc cấp tập qua lại Biển Đông, thông qua các eo biển Đài Loan (giữa Trung Quốc với Đài Loan) và Ba Sĩ (giữa Đài Loan với Philippines). Tại Biển Hoa Đông, Bắc Kinh đã bảo Tokyo là cần phải làm quen với việc máy bay và tàu thuyền Trung Quốc thường xuyên đi qua.

Việc Trung Quốc tăng cường sức mạnh quân sự gây ra nhiều hậu quả khác nhau. Tại Đài Loan, bà Thái Anh Văn đã đưa ra chương trình đóng các tàu ngầm. Nhật Bản cải thiện các thiết bị nghe lén và giám sát trên đảo Ishigaki và Yonaguni, nằm cách Đài Loan 50 hải lý. Tokyo cũng tăng ngân sách quốc phòng, nhưng việc gia tăng này có giới hạn. Ngược lại, ngân sách dành cho lực lượng tuần duyên Nhật – vốn không trực thuộc quốc phòng – được tăng lên rất nhiều, đó là một lực lượng trang bị hùng hậu và hiệu quả. Giữa Đài Bắc và Tokyo, người ta quan sát thấy các dấu hiệu của một sự hội tụ lợi ích chiến lược. Người Nhật nay đã tiến hành đối thoại an ninh công khai hơn với Đài Loan, và mới đây đã đổi tên cơ quan đại diện tại Đài Bắc.

Trước sự leo thang của Trung Quốc tại Biển Đông, các nước khác phản ứng như thế nào ?

Về mặt ngoại giao, Trung Quốc đã thành công trong việc làm cho Việt Nam, vốn rất lệ thuộc vào người láng giềng phương Bắc về kinh tế, phải yên lặng. Manila thì đã thành đồ chơi trong túi Bắc Kinh – ngư dân Philippines được cho phép quay lại bãi cạn Scarborough, sau phán quyết của Tòa Trọng tài La Haye, và sự hòa giải với ông Duterte. Trung Quốc xích gần lại với Malaysia, cho dù hành động này mang tính cơ hội vì một phần nhờ thủ tướng Najib Razak bị rắc rối với tư pháp Mỹ. Dù vậy họ vẫn gặp trục trặc với Singapore, vốn rất kiên quyết dựa vào nguyên tắc trọng tài. Bắc Kinh trả đũa bằng cách tịch thu các xe bọc thép của Singapore quá cảnh ở Hồng Kông.

Nhìn chung, các quốc gia ven Biển Đông vô cùng thận trọng. Họ không có chọn lựa nào khác ngoài việc chấp nhận một sự hiện diện rộng khắp của Trung Quốc. Bắc Kinh tự xây lên các đảo riêng và không sáp nhập các lãnh thổ do các nước khác trấn đóng, trừ bãi cạn Scarborough năm 2012. Thế nhưng họ lại ký thỏa thuận với Philippines về quyền đánh cá. Đó là một động thái chính trị của Bắc Kinh, nhưng không đặt lại vấn đề yêu sách chủ quyền, vốn bất di bất dịch, bất chấp phán quyết trọng tài. Trung Quốc đang trong thế mạnh khi nói rằng không có việc thay đổi nguyên trạng. Sau năm 2012, thực tế không có thay đổi nguyên trạng về lãnh thổ tại Biển Đông, nhưng có sự thay đổi nguyên trạng về quân sự và chiến lược.

Còn người Mỹ thì sao ?

Họ thực sự bối rối. Trung Quốc đã tiến bước một cách hết sức cẩn trọng, chú ý không quân sự hóa trực tiếp các tranh chấp, tránh xâm phạm trực tiếp quyền của các nước láng giềng. Mỹ rất khó ngăn cản các động thái tằm ăn dâu này. Hoa Kỳ có thể tăng cường các hoạt động bảo vệ tự do hàng hải, kể cả khu vực gần các đảo nhân tạo, vốn không được luật pháp quốc tế coi là đảo. Nhưng sự việc dừng lại ở đó. Bắc Kinh để yên cho các hoạt động này, và dù sao đi nữa họ không thể phiêu lưu qua việc đánh lén người Mỹ.

Cảnh sát chặn, bắt người biểu tình chống TQ tại Hà Nội

BBC

Cảnh sát hôm thứ Năm đã chặn cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc, chỉ vài phút sau khi có buổi tưởng niệm vụ hải chiến Hoàng Sa giữa quân Trung Quốc và lính Việt Nam Cộng hòa hồi hơn 40 năm về trước.

Cuộc biểu tình tại Hà Nội khởi đầu bằng một lễ kỷ niệm ôn hòa nhằm tưởng nhớ hơn 70 binh sỹ Việt Nam Cộng hòa đã ngã xuống trong cuộc đối đầu hồi 19/1/1974, là sự kiện qua đó Trung Quốc chiếm trọn quần đảo Hoàng Sa.

Kể từ đó, Trung Quốc đã thiết lập quyền kiểm soát trên thực tế toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.

Có khoảng 100 người tụ tập tại khu vực Hồ Hoàn Kiếm, trung tâm Hà Nội. Tin tức nói cảnh sát đã lôi khoảng 20 người biểu tình lên xe buýt sau khi họ phớt lờ yêu cầu giải tán và bắt đầu tuần hành với các biểu ngữ, hô vang nhiều khẩu hiệu.

Các phóng viên có mặt được yêu cầu rời khỏi hiện trường và tắt máy quay, theo AFP.

Truyền thông trong nước không đưa tin về vụ việc, trong lúc chính quyền và cảnh sát từ chối bình luận, hãng tin Reuters nói.

AFP PHOTO / HOANG DINH NAMHOANG DINH NAM/AFP/Getty ImagesBản quyền hình ảnhAFP PHOTO / HOANG DINH NAMHOANG DINH NAM/AFP/GETTY
Người biểu tình tụ tập tại trung tâm Hà Nội hôm 19/1 để kỷ niệm 43 năm trận hải chiến Hoàng Sa

Lần căng thẳng nhất giữa hai quốc gia gần đây là hồi 2014, khi Trung Quốc hạ đặt giàn khoan tại vùng biển có tranh chấp, dẫn đến hàng loạt các cuộc biểu tình phản đối của người dân Việt Nam

Quan hệ giữa hai bên kể từ đó đã được cải thiện, tuy mỗi bên vẫn âm thầm tăng cường khả năng quân sự.

Hồi tuần trước, trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, hai nước đã cam kết sẽ kiểm soát bất đồng trên biển, bảo vệ hòa bình và ổn định ở Biển Đông.

Việt Nam và Trung Quốc có tranh chấp từ lâu nay tại Biển Đông, nơi mà Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền với hầu hết diện tích.

Ngoài ra, còn có bốn quốc gia khác, gồm Philippines, Malaysia, Brunei và Đài Loan, cũng tuyên bố chủ quyền tại vùng biển có tuyến hải hành quan trọng, với lượng hàng hóa trị giá chừng 5 nghìn tỷ đô la được vận chuyển qua lại mỗi năm.

Chủ đề Biển Đông trở thành điểm nóng toàn cầu hồi tuần trước, khi ứng viên được đề cử vào vị trí Ngoại trưởng Hoa Kỳ, Rex Tillerson nói trước Quốc hội Hoa Kỳ rằng Trung Quốc cần phải bị chặn, không cho tiếp cận các đảo nhân tạo mà Bắc Kinh đã bồi đắp ở vùng biển có tranh chấp.

AFP PHOTO / HOANG DINH NAMHOANG DINH NAM/AFP/Getty ImagesBản quyền hình ảnhAFP PHOTO / HOANG DINH NAMHOANG DINH NAM/AFP/GETTY

Chủ đề liên quan

20170118_105800

 NHÀ VĂN TRẦN HUYỀN SÂM ĐƯỢC QUỸ PHÙNG QUÁN TẶNG THƯỞNG TÁC PHẨM XUẤT SẮC 2016

nu-quyenNgày 18/1/2017 (tức ngày 21 tháng Chạp Bính Thân, ngày giỗ nhà văn Phùng Quán), tại Lặng mộ Phùng Quán, Quỹ Phùng Quán đã tổ chức Lê trao tặng thưởng tác phẩm văn học xuất sắc tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2016 cho nhà văn-tiến sĩ  Trần Huyền Sâm ( giảng viên Trường ĐH Sư phạm Huế) với tác phẩm” NỮ QUYỀN LUÂN Ở PHÁP VÀ TIỂU THUYẾT NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI”. Bằng tặng thưởng ghi :” ĐÂY LÀ TÁC PHẨM TRÍ TUỆ, HẤP DẪN VÀ CÓ ÍCH”

TGrong không khí thiêng liêng ngày giỗ Phùng Quán, Nhà văn Tô Nhuận Vỹ đại diện Quỹ Phùng Quán đã trao bằng chứng nhận tặng thưởng cho nhà văn Trần Huyền Sâm, nhà thơ Mai Văn Hoan, Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Vn tại Huế đã tặng hoa cho nhà văn Trần Huyên Sâm. Được biết tác phẩm” Nữ quyền luận…” của Trần Huyền Sâm cũng đã được giải thưởng của Hội nhà văn VIỆT NAM năm 2016, giải thưởng của LIÊN HIỆP các Hội VHNT Thừa Thiên Huế . QTXM xin chúc mừng nhà văn Trần Huyền Sâm!

Sau đây mời bạn đọc đọc bài biết của Ngô Minh về tác phẩm xuất sắc này của Trần Huyền Sâm : (Đọc tiếp…)

Đọc “Đạo quân Trung Quốc thầm lặng”, ngẫm về nghề viết phóng sự

Vĩnh Quyền

imageTôi là kẻ kiệm lời khen. Thế nhưng, suốt gần hai tháng đọc đối chiếu Anh Việt bản dịch trường thiên phóng sự China’s Silent Army (Đạo quân Trung Quốc thầm lặng)(*) trước khi xuất bản theo yêu cầu của NXB Hội Nhà văn khu vực phía Nam, trong đầu tôi thường xuyên bật lên câu tán thưởng ‘kỳ vỹ, kỳ vỹ… ’. Nôm na là lớn lao-mới mẻ-thú vị làm sao! Tôi cũng đã ngợi khen dịch giả – tiến sĩ Nguyễn Đình Huỳnh – ‘có mắt xanh’ lẩy ra một cuốn độc đáo giữa biển sách viết về Trung Quốc thời không còn giấu mình. Nhân dịp China’s Silent Army tái bản vào đầu năm 2017 tôi chia sẻ cùng bạn đọc Văn Việt những suy nghiệm về nghề viết phóng sự nhặt được từ tác phẩm báo chí bậc thầy này.

Phẩm chất và tư cách nhà báo

Tác giả China’s Silent Army là hai nhà báo người Tây Ban Nha chuyên về Trung Quốc và khu vực châu Á-Thái Bình Dương: Juan Pablo Cardenal và Heriberto Araújo. Năm 2003 Juan Pablo Cardenal thường trú tại Thượng Hải cho báo El Mundo, sau đó tại Singapore rồi Bắc Kinh cho báo El Economista. Heriberto Araújo thường trú tại Bắc Kinh từ năm 2007 cho AFP trang tiếng Tây Ban Nha. Sau khi xuất bản China’s Silent Army, Juan tác nghiệp ở Hồng Kông còn Heriberto trở thành phóng viên tự do cho các báo tiếng Pháp và Tây Ban Nha.

Juan và Heriberto có điểm chung về lý tưởng nghề nghiệp. Thường trú tại Bắc Kinh, trái tim và đầu não của Trung Quốc, hàng ngày họ được tiếp xúc khối lượng lớn thông tin về đất nước đang trỗi dậy thành gã khổng lồ châu Á, chứng kiến sức chuyển động âm thầm đồng thời mãnh liệt của thời kỳ đầu vươn mình khai cuộc chinh phục thế giới bằng cách riêng của Trung Quốc. Và cả hai thấy không thỏa đáng với công việc ở văn phòng thường trú: “Trong khi đó, ngày nào chúng tôi cũng chỉ viết về GDP và các biến số kinh tế vĩ mô khác của Trung Quốc. Không thể chịu đựng nổi điều này khi chúng tôi có thể nhìn thấy lịch sử đang đổi dòng ngay trước mắt mình, ở các giếng dầu Angola, các mỏ sắt Peru và những khu chợ Trung Á ngập hàng Made in China… Hãy trở lại với nghề báo thực sự, một tác phẩm báo chí chỉ có ý nghĩa và giá trị khi được thực hiện tại chỗ. Nói cách khác, chúng tôi phải đi đến tận những nơi nhìn được rõ nhất dấu chân của gã khổng lồ Trung Quốc. Đã đến lúc rời bỏ văn phòng với điều hòa không khí và các phương tiện truyền số liệu kinh tế để đi châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh, tự mình nhìn thấy, va chạm và nếm trải cách thức Trung Quốc trở thành một thế lực toàn cầu”.

Quan trọng hơn, Juan và Heriberto quyết định nghỉ việc tại nơi họ đang làm việc: báo El Economista và hãng tin AFP. Họ cũng quyết định không tìm nhà tài trợ mà dùng tiền tích lũy “đầu tư” vào hai năm di chuyển khắp thế giới và viết China’s Silent Army. Ứng xử nghề nghiệp này thường làm nóng các cuộc họp báo sau đó. Juan ngắn gọn giải thích, “chúng tôi cần độc lập tài chính để thiên điều tra được độc lập”.

image

Juan Pablo Cardenal (phải) và Heriberto Araújo (trái) – Ảnh TL

Bức tranh toàn cầu về khát vọng toàn cầu hóa

Juan và Heriberto cũng chia sẻ tâm trạng háo hức trước “đề tài thế kỷ” đầy thách thức. Vào thời điểm đó, tháng 12. 2009, Công ty phân tích truyền thông Mỹ Global Language Monitor công bố “trỗi dậy của Trung Quốc” là câu chuyện được theo dõi nhiều nhất trên báo chí, đài phát thanh, truyền hình và internet, thậm chí hơn cả sự kiện 9/11 hay ứng cử viên tổng thống da đen Obama thắng cuộc đua vào Nhà Trắng. Heriberto cho biết “đối với nghề báo không gì hạnh phúc hơn được theo đuổi câu chuyện liên quan đến an ninh toàn cầu dẫu biết rất nhiều thách thức và rào cản chờ đợi phía trước”.

Thách thức đầu tiên là việc xử lý thông tin khi hai nhà báo Tây Ban Nha đứng trước thực tế: không chân trời góc biển nào trên hành tinh này chưa có dấu chân Trung Quốc. Để lên một kế hoạch tác nghiệp hợp lý và hiệu quả như đi đến những đâu, manh mối nào tiếp cận nguồn tin, phỏng vấn những ai… họ phải làm việc bất kể ngày đêm, tham khảo hàng trăm ý kiến các chuyên gia.

Cuối cùng Juan và Heriberto đã lên đường với tiền túi của họ và với triết lý bất biến của nghề báo: “tận mắt chứng kiến điều đang xảy ra, tránh bẫy giai thoại, bày tỏ ý kiến với các diễn viên chính của vở kịch, và sử dụng kinh nghiệm nhiều năm làm báo ở Trung Quốc để giải thích hiện thực mới mẻ của thế giới”. Họ đã bay 80 chuyến qua 235.000 km. Đã vượt qua 11 biên giới đường bộ. Đã thực hiện hơn 500 cuộc phỏng vấn. Và đã dự đoán gần như chính xác: thường xuyên đối mặt thái độ ngờ vực, né tránh hoặc từ chối thẳng thừng yêu cầu cung cấp thông tin, trả lời phỏng vấn của các công ty Trung Quốc. Cũng không ít lần họ mạo hiểm sinh mạng trên những cung đường nguy hiểm bậc nhất thế giới ở Himalaya, Vân Nam hay nơi góc tối xã hội đen ở Congo hoặc chịu đựng kiểu ứng xử côn đồ tại các công trình xây dựng xa xôi…

Juan và Heriberto đã từ Bắc Kinh đi tàu lửa ngược lên phương Bắc, vào những cánh rừng Siberia để chứng kiến sức tàn phá môi trường của nhu cầu khai thác gỗ. Họ phỏng vấn Lebedev Vladimir Bojarnichov, chuyên gia môi trường tại Viện Địa lý Thái Bình Dương, người cho rằng “Trung Quốc và Nga cùng phải chịu trách nhiệm 50-50 cho những gì đang xảy ra trong các khu rừng Siberia”. Họ đi về phía nam, khảo sát cái chết của những mỏ ngọc bích và những cánh rừng gỗ quý của Myanmar. Lên thuyền xuôi dòng Mê Kông xuống Lào, Thái, Việt Nam để thấu hiểu hệ thống đập thủy điện Trung Quốc tác động thế nào đến môi trường khu vực. Họ lần lượt đi qua các nước dầu hỏa Turkmenistan, Sudan, Iran, Angola, Venezuela… để mô tả cuộc chinh phục “vàng đen” của Trung Quốc trên thế giới. Đến châu Phi, châu Mỹ Latinh quan sát cách Trung Quốc đầu tư cơ sở hạ tầng đổi tài nguyên giá rẻ. Họ gặp chủ tịch công đoàn Boyd Chibale ở Mozambique, người phản đối các công ty Trung Quốc đối xử phân biệt với lao động địa phương, gặp “Hổ mang chúa” Michael Sata ở Zambia, người tố cáo các công ty Trung Quốc hưởng lợi đầu tư bằng cách tạo điều kiện cho chính quyền địa phương tham nhũng. Và gặp hàng trăm nhân vật khác, từ anh thợ mỏ, viện sĩ đến ngài thủ tướng…

Hoa văn trên khẩu thần công

Là cách tôi nói về chất văn trong thể phóng sự báo chí. Chính là yếu tố khiến tôi không thấy mệt chán khi dõi theo bước chân hai nhà báo điều tra qua 400 trang khổ lớn 15x24cm. Thực ra, hiện có cả ngàn đầu sách cùng các vấn đề mà China’s Silent Army đặt ra, trong đó có những cuốn được giới nghiên cứu về Trung Quốc đánh giá rất cao, “không thể không đọc”. Nhưng tôi thuộc tạng người không đủ kiên nhẫn đọc trích dẫn nội dung văn kiện, lý thuyết kinh tế vĩ mô vi mô, biểu đồ, thống kê, dự báo… Trong khi đó, với China’s Silent Army, ngay câu mưỡu trước mỗi chương, trích từ các phát biểu sinh động, đã “vồ” lấy tôi, mang lại nụ cười dí dỏm. Như: “Không thể nhìn thấy người Trung Quốc… nhưng đâu cũng có.” (Một nhân viên bán hàng người Ai Cập ở Cairo nói về người nhập cư Trung Quốc trong thành phố); “Nếu một người Trung Quốc tham gia một cuộc đua xe đạp như Tour de France, anh ta sẽ về đích sau chót. Bạn biết vì sao không? Vì suốt cả đường đua anh ta chỉ nhìn vào làng mạc và thị trấn chung quanh, tự nghĩ: đâu là đất lành để cắm mốc lập nghiệp?” (Một doanh nhân Trung Quốc ở San Jose, Costa Rica nói về đồng hương)…

Giữa những trang đậm chất điều tra kinh tế, Juan và Heriberto thỉnh thoảng nghiêng ngó chung quanh, ghi lại cảnh quan và cảm xúc trên đường đi, làm cho China’s Silent Army có chất của một bút ký du lịch: Mặt trời vừa ló dạng trên đỉnh dãy Himalaya khi những con đại bàng bắt đầu vũ điệu hàng ngày độc đáo của chúng. Điều này luôn diễn ra vào lúc bình minh, khi ánh sáng vừa bắt đầu ùa vào ngôi làng Ấn Độ McLeod Ganj cạnh thị trấn Dharamsala. Chúng dang rộng đôi cánh và lượn tròn như đang tiến hành một nghi lễ, in bóng lên nền trời trong vắt một màu xanh tinh khiết nhất, như hiện ra từ tranh vẽ của trẻ thơ. Thỉnh thoảng, một con trong đàn hướng về mặt đất và đột ngột buông mình rồi lại bay vút lên rộn ràng, một lần nữa cắt đôi bầu trời trên mái nhà thế giới.

Nhưng theo tôi, China’s Silent Army thấm đẫm chất văn học vì trước hết nó là câu chuyện lớn về con người. Bên cạnh “đạo quân thầm lặng” là các công ty xây dựng, các ngân hàng đầu tư Trung Quốc, Juan và Heriberto quan tâm đến hàng triệu con người Trung Quốc bình thường dấn thân ra “bốn bể năm châu” tìm kiếm sự sống cho bản thân và gia đình, trở thành một “đạo quân thầm lặng” khác, góp phần không nhỏ vào cuộc chuyển động lịch sử của kinh tế Trung Quốc hiện nay.

China’s Silent Army dành một dung lượng đáng kể những câu chuyện về người lao động nghèo Trung Quốc và phẩm chất đặc biệt của họ trên con đường mưu sinh xứ người:

Chiếc taxi màu đen đã cũ đưa Lan Xing đến và sẽ quay lại vào lúc nửa đêm về sáng để đón cô về căn hộ ở cùng bốn người đồng hương. Nếu gặp rắc rối, cô sẽ đưa ra mẩu giấy ghi địa chỉ của cô bằng chữ Ả Rập giấu kỹ trong túi như một báu vật. Mẩu giấy đó là phao cứu sinh duy nhất của cô giữa cảnh huyên náo người Ả Rập xung quanh và thế giới quen thuộc của cô, giữa thực tại phô bày trước mắt và thực tại trong tâm trí cô. Với mái tóc dài để trần và đôi mắt hình quả hạnh, Lan hiện rõ là một người nước ngoài ở cái góc phố xưa cũ rộn ràng của Cairo cổ kính. Hành trình đến với đất nước này của cô là một cuộc dấn thân 8000 km vào vùng đất xa lạ, là một cố gắng làm lại cuộc đời khi bước vào tuổi bốn mươi. Với nỗ lực không ngừng để thành công, không có gì mà Lan không thể xoay xở. […] Len lỏi qua những phụ nữ mặc áo thụng đen che kín mặt, dáng vẻ xanh xao của Lan xuất hiện giữa đám đông như một thứ nổi bật. Quả quyết và đầy nghị lực, cô để lại sau lưng một vệt dài khi kéo giỏ hàng của mình dọc theo con đường cát. Hôm đó là thứ Sáu, ngày lễ và ngày nghỉ. […] Lan là một trong hàng ngàn đàn ông và phụ nữ Trung Quốc làm thành nhóm người được gọi là “shanta sini” – người bán dạo Trung Quốc – trong tiếng Ả Rập. Đội quân di cư này đến từ các vùng nghèo nhất Trung Quốc, phần lớn sống bất hợp pháp vì thị thực nhập cảnh hết hạn, đã xoay xở chinh phục thị trường hàng dệt may bán lẻ của Ai Cập chỉ với ý chí làm bằng được và quyết tâm thoát nghèo. Cùng nhau, họ là hiện thân của những phẩm chất đã làm cho người di cư Trung Quốc thành những người dám nghĩ dám làm nhất trên hành tinh này.

image

Người nhập cư Trung Quốc bán dạo trên đường phố New York – Ảnh TL

Juan và Heriberto hầu như tiếp xúc đủ hạng “người Trung Hoa lưu lạc”. Sau Lan Xing lang thang bán dạo ở Cairo, họ đưa chúng ta đến Dubai gặp Fei Zhen Xu, bà chủ chuỗi cửa hàng khổng lồ tại Chợ Rồng giữa sa mạc, đến Kinshasa thủ đô Congo nhấm nháp gin pha tonic với doanh nhân Zhang Qi, là đối tác và bạn thân tín của tổng thống nước này, đến thủ đô kinh tế của Ecuador uống trà hầu chuyện với Harry Sun Soria, hậu duệ Đại Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc Tôn Trung Sơn, cựu thị trưởng Guayaquil, để nghe ông ta nói về ADN Trung Hoa không bao giờ thay đổi trong dòng máu lưu dân qua các thế hệ:

“Tôi cảm nhận được mình là người Trung Quốc,” ông nói với chúng tôi tại văn phòng của ông trong một khu thương mại cao cấp Guayaquil. “Tôi yêu mến người Ecuador và tôi tôn trọng họ. Họ cho chúng tôi một bản sắc chúng tôi trước đây chưa có. Nhưng tôi cảm nhận được mình là người Trung Quốc”. Chỉ cần nhìn vào ông là đủ để tin những gì ông nói: ông đang mặc một bộ đồ truyền thống Trung Quốc may bằng lụa Quảng Đông màu nâu thêu các họa tiết màu đen nổi bật giữa thành phố nằm bên bờ đông Thái Bình Dương này.

*

China’s Silent Army nên là tài liệu hàng đầu cho sinh viên khoa báo chí.

VQ

_________________

(*) ĐẠO QUÂN TRUNG QUỐC THẦM LẶNG, Ts Nguyễn Đình Huỳnh dịch từ bản Anh ngữ, NXB Hội Nhà văn – 2015, 2017

THƯ NGỎ CỦA GIA ĐÌNH NHÀ THƠ XUÂN QUỲNH VÀ Ý KIẾN CỦA CÁC NHÀ THƠ, NHÀ VĂN VỀ CHUYỆN CỐ NHÀ THƠ XUÂN QUỲNH BỊ GẠT KHỎI GIẢI THƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Mấy hôm nay, thông tin về việc nhà thơ Xuân Quỳnh không có tên trong danh sách được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh đã gây băn khoăn, bức xúc không nhỏ trong suy nghĩ của nhiều văn nghệ sĩ và dư luận xã hội.

Nhà thơ Xuân Quỳnh

Thư ngỏ của gia đình nhà thơ Xuân Quỳnh:

Mấy hôm nay, thông tin về việc nhà thơ Xuân Quỳnh không có tên trong danh sách được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh đã gây băn khoăn, bức xúc không nhỏ trong suy nghĩ của nhiều văn nghệ sĩ và dư luận xã hội.Nhiều người đã lên tiếng chính thức trên các phương tiện truyền thông. Một số phóng viên báo chí đã hỏi ý kiến gia đình chúng tôi về việc này.

Về phía gia đình, chúng tôi cũng rất bất ngờ vì quá trình xét Giải thưởng trong gần một năm qua, ở mỗi vòng xét chọn, bỏ phiếu, chúng tôi được biết nhà thơ Xuân Quỳnh đều đạt số phiếu quy định(trên 90%). 10 giờ sáng ngày 30/3/2016, một cán bộ của văn phòng Hội nhà văn Việt Nam, gọi điện cho tôi (Lưu Khánh Thơ, em chồng nhà thơ Xuân Quỳnh và là người trực tiếp kê khai hồ sơ)yêu cầu phải bổ sung ngay Giấy thừa kế hợp pháp, chậm nhất là lúc 1g30 cùng ngày. Mặc dù thời gian rất gấp nhưng chúng tôi cũng đã đáp ứng kịp thời Giấy thừa kế với người đứng tên là anh Lưu Tuấn Anh, con đẻ nhà thơ Xuân Quỳnh. Sau đó khoảng 10 ngày, họ lại thông báo cùng hàng thừa kế với anh Lưu Tuấn Anh còn có anh Lưu Minh Vũ, nên yêu cầu phải có Giấy ủy quyền của anh Vũ. Tuấn Anh và Minh Vũ đã ra công chứng thực hiện thủ tục Ủy quyền theo quy định của pháp luật.

Tháng 4-2016, hồ sơ của nhà thơ Xuân Quỳnh đã vượt qua ba vòng xét duyệt và có tên trong danh sách các hồ sơđủ điều kiện(chúng tôi nhấn mạnh) mà Bộ VH-TT&DL trình Hội đồng cấp Nhà nước xét tặng giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2016. Danh sách này cũng được đăng tải công khai trên cổng thông tin điện tử Bộ VH-TT&DL để lấy ý kiến rộng rãi nhân dân trước khi trình Hội đồng cấp nhà nước.

Chiều ngày 16/1/2017, gia đình chúng tôi đã đến gặp nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam để hỏi lý do. Nhà thơ Hữu Thỉnh cho biết, ông cũng không hiểu vì sao và cũng không được thông báo gì. Ông còn cho chúng tôi biết thêm, ở vòng xét thứ 3, Bộ Trưởng Bộ VH-TT&DL Nguyễn Ngọc Thiện là Chủ tịch Hội đồng và ông là một trong số bốn Phó Chủ tịch Hội đồng thì nhà thơ Xuân Quỳnh vẫn đạt số phiếu bầu cao trên 90%.

Nhà thơ Xuân Quỳnh được Bộ VH-TT&DL đề nghị xét tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật với hai tập thơ là Lời ru trên mặt đất và Bầu trời trong quả trứng(Giải thưởng chính thức về Văn học thiếu nhi của Hội nhà văn Việt Nam năm 1982 – 1983). Người thân của chúng tôi mất đã gần 30 năm, gia đình không tìm được Giấy chứng nhận Giải thưởng, nhưng Hội nhà văn Việt Nam đã có Công văn xác nhận Giải thưởng và trong tập Kỷ yếu Nhà văn Việt Nam hiện đại, phần về nhà thơ Xuân Quỳnh(trang 1240) cũng hiển thị điều này.

Nhà thơ Xuân Quỳnh cũng như những người sáng tạo khác, không kì vọng viết ra để đạt giải này hay giải kia. Bằng tâm huyết và tài năng của mình, họ lặng lẽ góp phần vào thành tựu chung của nền văn học nước nhà. Tác phẩm của nhà thơ Xuân Quỳnh đã được người đọc nhiều thế hệ và đồng nghiệp ghi nhận, đánh giá cao. Vì tất cả những điều trên, chúng tôi mong muốn nhận được sự trả lời chính thức từ các cơ quan có thẩm quyền về lý do nhà thơ Xuân Quỳnh không có tên trong danh sách được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 2016, nhằm giải tỏa những băn khoăn bức xúc của gia đình, của giới văn nghệ sĩ và dư luận xã hội.

Lưu Khánh Thơ- Lưu Tuấn Anh – Lưu Minh Vũ

 

 

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Tú và nhà thơ Xuân Quỳnh tại sông Thạch Hãn năm 1972

Mấy ngày nay, nhiều người trong giới văn nghệ sĩ, gia đình đã rất bất bình khi nghe tin nhà thơ Xuân Quỳnh, trượt giải thưởng Hồ Chí Minh. Chúng tôi xin trích đăng ý kiến của một số nhà thơ, nhà văn:

 

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều – Phó Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam:

“Xuân Quỳnh – với tất cả sáng tạo từ những năm tháng chiến tranh đến sau hòa bình – đã để lại tài sản không nhỏ về thơ ca, là một trong những nhà thơ nữ xuất sắc của thơ ca hiện đại Việt Nam. Việc chị không được Giải thưởng Hồ Chí Minh là điều rất đáng buồn. Có một số quy chế trong việc việc xét giải thưởng Hồ Chí Minh hiện nay chưa thỏa đáng, như hai quy định bất cập: Thứ nhất những ai chưa được giải thưởng Hội Nhà văn hay giải thưởng tương đương như của Ủy ban Liên hiệp Văn học toàn quốc thì không được nhận Giải thưởng Nhà nước hay Giải thưởng Hồ Chí Minh. Thứ hai, những tác phẩm đăng ký Giải thưởng Nhà nước rồi sẽ không được đăng ký vào hồ sơ xét Giải thưởng Hồ Chí Minh nữa. Và một khi những quy chế này tồn tại, nếu không cẩn thận, giải thưởng sẽ không được trao cho người xứng đáng. Do vậy, quy chế cần đổi thay”.

 

Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến:

“Có thể nói, những bài thơ và các tập thơ của nhà thơ Xuân Quỳnh đã bay cao trên bầu trời thi ca chiến tranh những năm 60-70 của thế kỷ trước và những năm hòa bình sau đó như một giọng thơ nữ nổi trội và đặc biệt xuất sắc đã từng làm xúc động trái tim hàng triệu độc giả. Thi ca của chị đã vượt lên mọi giải thưởng và có đóng góp không nhỏ cho nền văn học đất nước trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc cách đây gần bốn chục năm. Chắc chắn tấm ảnh chụp nhà thơ Xuân Quỳnh và nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Tú bên bờ sông Thạch Hãn năm 1972 khi đón các chiến sĩ vừa chiến đấu ở thành cổ Quảng Trị trở về vẫn mãi mãi làm xúc động nhiều thế hệ sau này. Máu xương những người lính hy sinh ngày ấy còn nhắc nhở chúng ta về một thế hệ đã quên thân vì nền độc lập-tự do của dân tộc và đất nước. Không có lẽ chúng ta hôm nay lại lãng quên những nhà thơ-chiến sĩ đã có mặt ở tuyến lửa những năm tháng đau thương và oanh liệt ấy như nhà thơ Xuân Quỳnh, nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Tú, nhà thơ Thu Bồn và bao nhà văn khác? Lịch sử văn học đất nước này sẽ còn nhắc nhở những tên tuổi ấy!”.

 

Nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ:

“Tôi cũng đang muốn hỏi câu hỏi với những người có trách nhiệm là Hội đồng cấp Nhà nước chấm giải, là vì lý do gì mà họ loại nhà thơ Xuân Quỳnh? Họ cần phải trả lời đầy đủ, cụ thể lý do, để mọi người cùng biết. Chuyện họ không minh bạch hay bất đồng quan điểm, tôi không ở Hội đồng cấp Nhà nước nên không thể biết. Cũng nhân chuyện khá chấn động này, chúng ta có quyền đòi hỏi sự minh bạch và những câu trả lời thẳng thắn từ phía Hội đồng cấp Nhà nước. Tôi cũng không biết thành phần trong Hội đồng cơ cấu thế nào. Tôi hy vọng trong số họ không có người nhầm Xuân Quỳnh thành ông Quỳnh nghe quen quen nào đấy, hay chưa một lần biết đến vần thơ, chưa nghe một ca khúc phổ thơ của bà! Hay đơn giản do vô cảm, họ soi chiếu và gạch. Cá nhân tôi thì thấy, giải thưởng Hồ Chí Minh luôn cao quý, bởi giải đó mang tên Bác Hồ, chứ không phải nhà văn khi viết là tính xem sau này được giải này giải khác. Nhất là với thế hệ nhà văn, nhà thơ chống Mỹ, giữa sống và chết, tác phẩm của họ như liều thuốc tinh thần đi cùng triệu triệu người dấn thân bảo vệ Tổ quốc, chả ai biết sau này sẽ được xét giải đâu. Đặc biệt, với nhà thơ Xuân Quỳnh, bà không còn ở chốn thực này gần 30 năm, việc tôn vinh bà là để cho thế hệ của bà, của chúng tôi, và con cháu sau này – tức là dành cho người sống  thấy được những ghi nhận xứng đáng với người tài đức. Bà không được Giải thưởng Hồ Chí Minh, nhưng lớp lớp học sinh học và phân tích vẫn yêu thích những vần thơ của bà. Những người yêu thơ vẫn chép tặng nhau thơ tình của bà. Những ca sĩ vẫn da diết “Thuyền và biển”…Với thế hệ chúng tôi, Xuân Quỳnh là một thi sĩ vĩ đại!”.

 

Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý:

“ Nữ thi sĩ Xuân Quỳnh trượt giải thưởng Hồ Chí Minh là một điều đáng tiếc. Bởi ở thế hệ nữ nhà thơ chống Mỹ, nhà thơ Xuân Quỳnh đã có nhiều đóng góp cho nền văn học Việt Nam, đặc biệt giai đoạn chống Mỹ và sau chống Mỹ. Nữ thi sĩ Xuân Quỳnh đã có những tác phẩm để lại mang dấu ấn nhất định trong lòng bạn đọc, ví dụ những vần thơ viết về con, viết về gió Lào, cát nắng, về tình yêu…Vì vậy tôi cảm thấy quá tiếc khi nữ thi sĩ Xuân Quỳnh đã trượt giải thưởng Hồ Chí Minh. Tôi không hiểu tiêu chí của giải thưởng hay lý do vì sao chị ấy lại trượt giải thưởng Hồ Chí Minh. Nữ thi sĩ Xuân Quỳnh hoàn toàn xứng đáng giành thưởng Hồ Chí Minh”.

 

Nhà thơ Phan Hoàng – TPHCM:

“Tôi cảm thấy tiếc khi nghệ sĩ phía Nam không ai đạt giải thưởng nào, kể cả giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng Nhà nước. Trong khi rất nhiều người xứng đáng như: Nhà thơ Thu Bồn, nhà thơ Hoài Vũ, Trần Bạch Đằng, Việt Phương, Vũ Hạnh, nhà thơ – nhà văn Văn Lê. Đặc biệt với nữ thi sĩ Xuân Quỳnh thì càng xứng đáng, và đáng lý ra chị Xuân Quỳnh phải được xét duyệt từ đợt trước chứ không phải để đến đợt này và bị trượt. Còn với nữ thi sĩ Xuân Quỳnh, là nhà thơ tài hoa, người phụ nữ có nhân cách sống ảnh hưởng không nhỏ tới xã hội kể khi chị còn sống cho đến khi chị đã mất. Thơ của nữ thi sĩ Xuân Quỳnh là góc nhìn về thơ tình yêu, về nỗi đau đáu của người phụ nữ trước thời cuộc…với thông điệp và ý nghĩa trong những bài thơ của nữ thi sĩ Xuân Quỳnh như vậy, nên vần thơ của chị sẽ sống mãi với thời gian”.

P.V (tổng hợp)

3 ảnh: Nhà thơ Xuân Quỳnh; ảnh nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Tú và nhà thơ Xuân Quỳnh trên sông Thạch Hãn –Quảng Trị 1972; ảnh vợ chồng nhà thơ Lưu Quang Vũ- Xuân Quỳnh

( Nguồn: vanvietnan.net)

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.01.2017

Kinh tế Việt Nam khó thoát Trung

Kinh tế Việt Nam khó thoát Trung

VOA Tiếng Việt

clip_image002

Tổng Bí thư Việt Nam Nguyễn Phú Trọng hội đàm với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình ngày 12/01/2017 tại Bắc Kinh. (Ảnh: TTXVN)

Hơn phân nửa trong tổng số 15 văn kiện về “hợp tác kinh tế” mà Việt Nam vừa ký kết với Trung Quốc trong chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho thấy nền kinh tế của Việt nam càng ngày càng phụ thuộc vào Trung Quốc, từ lĩnh vực ngân hàng, hàng không cho đến nông nghiệp.

Theo thông cáo chung mà hai bên đưa ra trong chuyến đi của ông Trọng tới thăm Trung Quốc, Việt Nam sẽ kết nối với Trung Quốc trong khuôn khổ chương trình hợp tác kinh tế “Hai hành lang, một vành đai” và lên “phương án tổng thể xây dựng khu hợp tác kinh tế qua biên giới”. Theo phương án này, bảy tỉnh phía Bắc và 20 cửa khẩu của Việt Nam sẽ hoạt động tất bật hơn để đón lượng hàng hóa khổng lồ từ Trung Quốc. Chưa kể dự án đường sắt đô thị Cát Linh-Hà Đông và tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng cũng sẽ phục vụ cho mục tiêu này.

Ngoài ra, dân Việt Nam có khả năng sẽ trồng lúa Trung Quốc khi hai bên “tăng cường hợp tác trong lĩnh vực lai tạo các giống lúa”. Hơn nữa, không loại trừ khả năng Việt Nam nhận thanh toán xuất nhập khẩu của Trung Quốc bằng đồng nhân dân tệ thay vì đồng USD. Cuối cùng, ông Trọng kêu gọi các nhà đầu tư Trung Quốc xúc tiến các dự án hạ tầng tại Việt Nam.

Từ năm 2004 đến nay, Trung Quốc liên tục là “đối tác thương mại lớn nhất” của Việt Nam. Năm 2015, kim ngạch song phương đạt hơn 66,6 tỷ USD; 10 tháng năm 2016 đạt 57,6 tỷ USD (tăng 5% so với cùng kỳ năm 2015). Tuy nhiên, việc Việt Nam xuất khẩu hơn 17 tỷ USD, nhập khẩu hơn 40 tỷ USD phản ánh sự mất cân bằng trong trao đổi thương mại Việt – Trung.

Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, một chuyên gia về Chính trị và Bang giao Quốc tế của Đại học George Mason, đồng thời là một học giả của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quan hệ Quốc tế ở Thủ đô Hoa Thịnh Đốn (CSIS) nhận định về sự lệ thuộc về kinh tế của Việt Nam đối với Trung Quốc:

“Vấn đề kinh tế giữa Việt Nam với Trung Quốc thì nhiều người ở Việt Nam, kể cả các kinh tế gia đều phàn nàn về cán cân mậu dịch không cân bằng và lo là Việt Nam phụ thuộc rất nhiều trong tương lai với Trung Quốc”.

Theo giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, Việt Nam cần đa đạng hoá hơn nữa các quan hệ kinh tế quốc tế, bên cạnh mối quan hệ với Trung Quốc:

“Họ theo chính sách ngoại giao đa phương đa diện hóa, tìm cách quan hệ với các nước khác. Không có TPP (Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương) thì sức đẩy kinh tế bớt đi. Việt Nam có thể ký hiệp ước song phương với Mỹ, sử dụng những điều khoản thỏa thuận trong TPP. Đó là một giải pháp. Hoặc ký hiệp ước hợp tác với các nước Á Châu khác”.

Trung Quốc đang muốn tận dụng cơ hội Mỹ rút khỏi TPP để thúc đẩy hai hiệp định lớn khác để thay thế TPP, như Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) hay Hiệp định Thương mại Tự do châu Á-Thái Bình Dương (FTAAP).

Báo Kinh tế Đô Thị trích lời tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu – chuyên gia tài chính ngân hàng, nói rằng Việt Nam sẽ tăng cường quan hệ mậu dịch, xuất nhập khẩu sang thị trường Trung Quốc là tất yếu trong khi Mỹ sắp tới đây có thể tăng cường bảo hộ mậu dịch trong nước.

Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu nhận định rằng quan hệ mậu dịch giữa hai nước hiện nay chủ yếu dựa trên đồng USD, tuy nhiên, hiện đồng Nhân dân tệ (NDT) đã vào giỏ tiền tệ của IMF và đồng tiền này ngày càng mạnh. Vì vậy, trong thời gian tới, việc thanh toán xuất nhập khẩu của Trung Quốc có thể sẽ bằng đồng NDT thay vì USD.

Chương trình hợp tác kinh tế “Một vành đai, một con đường” được Việt Nam cho là tâm điểm của “chiến lược toàn diện giữa hai nước được nâng lên một tầm cao mới trong bối cảnh tình hình mới”. Nhưng trước thực tế địa lý Việt Nam và Trung Quốc “núi liền núi, sông liền sông”, giới quan sát nói rằng những gì trao đổi tại cuộc “trà đàm” kéo dài tới 80 phút giữa Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình trong tuần vừa rồi là một dấu hiệu cho thấy Việt Nam khó ‘thoát Trung’.

Nguồn: VietnamNet, Kinhtedothi

Nguồn: http://www.voatiengviet.com/a/kinh-te-vietnam-kho-thoat-trung/3679718.html

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.01.2017

Đổi mới 30 năm, VN thu nhập vẫn thua Kosovo

Đổi mới 30 năm, VN thu nhập vẫn thua Kosovo

BBC

Tuần hành thời Đông Đức còn theo chủ nghĩa xã hội
Tuần hành thời Đông Đức còn theo chủ nghĩa xã hội

Số liệu Ngân hàng Thế giới cho thấy các nước XHCN cũ ở Đông Âu và Cuba có thu nhập bình quân hơn Việt Nam mặc dù nước này đã thực hành công cuộc Đổi mới trên ba thập niên, từ 1986.

Sau chuyển đổi thể chế, các quốc gia Đông Âu tiếp tục có nền kinh tế tốt hơn Việt Nam, tính cả bằng tổng thu nhập quốc dân (GDP) và thu nhập bình quân đầu người (per capita), theo trang GDP Ranking của World Bank.

Không tính nước Đức gồm cả phần Đông Đức (DDR) có nền kinh tế khổng lồ (3,3 nghìn tỷ USD), ví dụ về GDP và dân số một số nước ở khu vực Đông Âu hậu cộng sản như sau:

Ba Lan: 545 tỷ USD; 38 triệu dân

Slovakia: 87,2 tỷ USD; 5,4 triệu dân

Hungary: 121 tỷ USD; 9,8 triệu dân

Cả ba nước này đều có thu nhập từ 13 nghìn đô la Mỹ mỗi đầu dân một năm trở lên

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.01.2017

Việt Nam ‘đổi mới nhưng không đổi màu’?

Việt Nam ‘đổi mới nhưng không đổi màu’?

BBC

TBT Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch Ban Thường vụ QH Trương Đức Giang ở Bắc Kinh hôm 13/01/2017Bản quyền hình ảnhXINHUA
TBT Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch Ban Thường vụ QH Trương Đức Giang ở Bắc Kinh hôm 13/01/2017

Tiếp tục chỉ trích ‘diễn biến hòa bình’, một cựu quan chức cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam cho rằng “Đòi từ bỏ chủ nghĩa xã hội là một sai lầm lớn”, trong bài trên tờ Quân đội Nhân dân trước Tết Đinh Dậu.

Ông Hà Đăng viết hôm 16/01/2017 về sự kiện khối cộng sản Đông Âu tan rã đầu thập niên 1990 như ‘cơn động đất chính trị’ của Thế kỷ trước.

Nhưng ông nêu lập luận rằng Công cuộc Đổi mới ở Việt Nam “không đi theo vết xe đổ của cải tổ và cải cách ở Liên Xô và Đông Âu”.

Theo ông, quá trình Đổi mới toàn diện do Đảng Cộng sản ở Việt Nam thực hiện đã có thành tựu to lớn và “làm cho Việt Nam càng vững bước đi lên trên con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”.

“Đánh đồng đổi mới của Việt Nam với cải tổ và cải cách ở Liên Xô và Đông Âu là một sai lầm có dụng ý.”

Mikhail Gorbachev có ân hận vì để mất Liên Xô?

‘Biết ơn Gorbachev đã khiến Liên Xô sụp đổ’

Theo ông, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, “đổi mới nhưng không đổi màu”, là nguyên tắc đầu tiên.

Ông Hà Đăng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Trưởng ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương cũng nhân đây đã thách thức giới chỉ trích:

“Tôi muốn đặt ra câu hỏi đối với các tác giả đòi chúng ta từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa, ý đồ thực sự của các vị phía sau đòi hỏi này là gì?”

Phản ứng lại lập luận của ông Hà Đăng, thạc sỹ Nguyễn Tiến Trung, một cựu tù nhân chính trị hiện sống tại TPHCM lên tiếng trên Facebook cá nhân:

“Tôi rất sẵn lòng lên đài truyền hình quốc gia VTV1 trao đổi và tranh luận với ông Hà Đăng. Nếu thật sự ông tự tin vào các lập luận và chính nghĩa của ông thì ông nên thúc giục VTV1 tổ chức ngay buổi đối thoại này.”

Câu hỏi về chủ nghĩa xã hội

Bộ máy văn hóa tư tưởng ở Việt Nam thường nhấn mạnh đến ý thức hệ xã hội chủ nghĩaBản quyền hình ảnhDAN TRI
Bộ máy văn hóa tư tưởng ở Việt Nam thường nhấn mạnh đến ý thức hệ xã hội chủ nghĩa

Từ nhiều thập niên qua, Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng tự nêu câu hỏi thế nào là ‘Định hướng xã hội chủ nghĩa’, nhất là khi Việt Nam đã vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và chấp nhận kinh tế thị trường.

Hơn 10 năm qua, hai kỳ Đại hội Đảng Cộng sản cũng có vẻ chưa giải quyết được vấn đề này.

Hồi giữa năm 2006, TS Đào Công Tiến, nguyên Hiệu trưởng ĐH Kinh tế TPHCM có bài trên báo Tuổi Trẻ, phân biệt ra con đường XHCN như là mục tiêu, hay là mô hình.

Ông cho rằng “chọn định hướng XHCN là mục tiêu phát triển xã hội” (phát triển, phồn vinh, công bằng, văn minh tiến bộ) là sự lựa chọn đúng…”

“Còn XHCN là mô hình tổ chức xã hội thì trên thực tế đã và đang không còn tồn tại với sự lựa chọn trong xu thế phát triển chung của thời đại, cũng như trong tiến trình đổi mới ở nước ta.”

“Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp…”

Thượng Đế và đấu tranh gia cấp mới

Có quan điểm tại Trung Quốc coi Marx là 'Thượng Đế' trong lĩnh vực niềm tin chứ không trong thực tiễnBản quyền hình ảnhXINHUA
Có quan điểm tại Trung Quốc coi Marx là ‘Thượng Đế’ trong lĩnh vực niềm tin chứ không trong thực tiễn

Việt Nam không phải là nước duy nhất phải suy tính về di sản nhập ngoại là chủ nghĩa Marx-Lenin.

Ngay từ năm 2009, tại Trung Quốc đã có các ý kiến phải làm gì với chủ nghĩa Marxist và một quan điểm nói cần đặt Marx vào phạm trù niềm tin hơn là nghị trình chính trị.

Từ Khuông Địch, cựu bí thư Thượng Hải, Phó Chủ tịch Chính Hiệp khi đó đã nói với nhà báo Daniel Gross (Newsweek 25/11/2009) rằng đường lối của Karl Marx, chỉ còn “đóng vai trò đạo đức ở Trung Quốc, tựa như Thượng Đế với người Thiên Chúa Giáo ở Âu Mỹ”.

Ông Từ Khuông Địch cũng nói tuy vậy, mô hình dân chủ với bầu cử tự do như Tây Phương là chưa thể áp dụng ở Trung Quốc vì dân số quá đông, sự khác biệt vùng miền, và nhất là thu nhập quá lớn.

Ông thẳng thắn nói nếu để bầu cử tự do, một ai đó hô lên khẩu hiệu ‘lấy của nhà giàu chia cho nhà nghèo’ sẽ được bầu chọn ngay và Trung Quốc sẽ rơi vào cuộc đấu tranh giai cấp mới (class warfare).

‘Tốt hơn cả các nước tư bản cùng mức’

Hồi năm 2012, khi sang thăm Cuba, TBT Nguyễn Phú Trọng đã đọc diễn văn nói về thành tựu 25 năm Đổi mới ở Việt Nam và cho rằng:

“Những thành tựu đổi mới tại Việt Nam đã chứng minh rằng phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa không những có hiệu quả tích cực về kinh tế mà còn giải quyết được các vấn đề xã hội tốt hơn nhiều so với các nước tư bản chủ nghĩa có cùng mức phát triển kinh tế.”

Ông Nguyễn Phú Trọng không nêu tên các nước ‘tư bản chủ nghĩa’ đó là gì nhưng khẳng định đây là bằng chứng cho “sự ưu việt, là sức sống thực tiễn của chủ nghĩa xã hội”.

Đến tháng 10/2016, sau khi đã tái đắc cử, TBT Nguyễn Phú Trọng lại nhấn mạnh đến công tác lý luận về định hướng xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam.

Ông cũng thừa nhận đây là công tác còn cần tiếp tục xây dựng, triển khai:

“Chúng ta cần tập trung đi sâu nghiên cứu và tổng kết nhằm tiếp tục phát triển và hoàn thiện lý luận về đổi mới, lý luận về chủ nghĩa xã hội Việt Nam và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam,,,”, theo tờ Quân đội Nhân dân 20/10/2016.

‘Từ chức là thắng lợi’

Hướng về Quảng trường Đỏ ngày Năm Mới: ông Gorbachev nói ông đã đem lại tự do cho người dân NgaBản quyền hình ảnhXINHUA
Image captionHướng về Quảng trường Đỏ ngày Năm Mới: ông Gorbachev nói ông đã đem lại tự do cho người dân Nga

Gần đây, trả lời phỏng vấn BBC nhân dịp kỷ niệm Liên Xô tan rã, ông Mikhail Gorbachev đã nhắc lại quan điểm rằng ông phải từ chức ngày 25/12/1991 vì đe dọa nội chiến:

“Chúng tôi tiến tới nội chiến và tôi muốn tránh nó.”

“Tôi không thể để điều đó xảy ra chỉ để bám níu quyền lực. Từ chức là thắng lợi của tôi.”

Trong diễn văn từ chức, Gorbachev nói nhờ chương trình cải tổ của ông, xã hội ở các nước Liên Xô cũ “đã có tự do”.

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.01.2017

PHÙNG QUÁN, CON NGƯỜI VIẾT HOA

22 NĂM NGÀY MẤT CỦA NHÀ VĂN PHÙNG QUÁN ( 22/CHẠP ÂM LỊCH 1995- 22/CHẠP ÂM LỊCH 2017):

pq11PHÙNG QUÁN, CON NGƯỜI VIẾT HOA

Ngô Minh 

( Bài viết khi nhà văn Phùng Quán qua đời)

 

Tin anh Phùng Quán đang trong giờ phút hấp hối do bạn bè văn nghệ Hà Nội điện về tối 21 tháng 1 năm 1995 ( tức ngày 21 Tháng Chạp, Giáp Tuất) làm tôi vô cùng sửng sốt. Anh mới ở Huế ra Hà Nội cuối năm 1994 đây mà. Lúc đó anh cường tráng lắm. Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ nức nở thở dài trên điện thoại :” Buồn quá. Chán quá Ngô Minh ơi. Anh Quán mần răng có thể mất được, vô lý, vô lý …!”. Suốt ngày 22 chúng tôi sống thấp thỏm, lo âu. Liên tục gọi điện hỏi Hà Nội. Và cái giờ buồn đau định mệnh đã đến. Ấy là lúc 16 giờ 30 , ngày 22 tháng 1 năm 1995 , tại căn nhà quen thân bên bờ Hồ Tây, anh Phùng Quán trút hơi thở cuối cùng khi mới 64 tuổi, tuổi sung sức nhất của bút lực! (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.01.2017

Thương nhớ Sông Hàn

Thương nhớ Sông Hàn

(Rút từ facebook của Ngô Thị Kim Cúc)

Cứ nhớ về Đà Nẵng là tôi lại nhớ sông Hàn, có lẽ bởi trên con đường ven sông đó, tôi đã đi lại không biết bao nhiêu lần, và hình ảnh con sông đã làm tổ trong trái tim tôi, sinh sôi nảy nở rồi cất tiếng, y hệt tiếng cu cườm những buổi trưa hè, vừa thân thiết êm đềm vừa vọng vang một nỗi thổn thức rất dịu dàng.

Ngày nhỏ xíu, mỗi lần theo chân người lớn đi dạo bờ sông, nhìn bảng tên đường bờ sông ghi hai chữ Bạch Đằng, tôi cứ đinh ninh con sông quê mình chính là sông Bạch Đằng. Không hiểu sao tôi cứ giữ kín điều ấy trong đầu, cho đến khi được học Việt Sử và địa lý, để biết sông Hàn mới là tên con sông quê mình.

Với đứa bé gái ít được ra khỏi nhà là tôi ngày ấy, sông Hàn quả là một ranh giới khó thể vượt qua. Nó cắt chia thành phố làm hai phần, và từ bờ bên này nhìn sang bờ bên kia, tôi thấy mọi thứ sao mà xa xôi diệu vợi, tôi không hình dung được ở phía bờ vô cùng cách trở ấy có những gì.
Sau này lớn lên, biết câu ca dao “Đứng bên ni Hàn ngó qua bên tê Hà Thân nước xanh như tàu lá/ Đứng bên tê Hà Thân ngó về bên ni Hàn phố xá nghinh ngang…”, tôi hiểu được rằng, người xưa đã từng ngóng vọng, cảm nhận về nhau rất nhiều khác biệt, chỉ bởi chiều rộng của dòng sông.

Quận Ba Đà Nẵng – vùng đất bên kia sông, dân phần lớn sống về nghề đánh cá, tiếng nói lờ lợ, chịu nhiều thiệt thòi vì luôn là người đầu tiên hứng chịu những cơn bão nhiệt đới, và đời sống của họ cũng không hơn dân ở vùng nông thôn là mấy. Cách trở đò giang là một trong những nguyên do.

Lớn thêm chút nữa, tôi khám phá thêm một bất ngờ đáng sợ: sự hung hãn của con sông và sức mạnh chết chóc của dòng nước.

Đó là khi tôi theo chân các chị, xắn cao quần, mặc áo mưa đi lội nước lụt. Sau khi đi hết con đường Hùng Vương xuyên qua chiều dài thành phố, xuống tới bờ sông, tôi kinh ngạc nhận ra một sông Hàn sôi sục khác hẳn ngày thường.

Sông tràn bờ, sóng cuồn cuộn đập vào nhà dân, còn giữa dòng là một thác lũ cuồng bạo đang gầm thét. Trên dòng nước hỗn mang điên cuồng ấy, những trâu bò bị cuốn theo đang khốn khổ cố ngóc đầu lên bên cạnh những cây cối bị bật gốc, và đáng sợ nhất là những mái nhà đã bị bứt khỏi mặt đất, xơ xác, nát bươm… Và tất cả mọi thứ đang vun vút lao về phía cửa biển.

Kinh hoàng nhất, trên những mái nhà tơi tả ấy vẫn còn sót lại vài người dân tận những thôn làng tít tắp phía thượng nguồn đang hãi hùng bám víu, cố quờ tay há miệng để cầu xin được cứu. Người trên bờ cuống cuồng cầm dây thừng hoặc những cây tre dài chạy tới chạy lui một cách tuyệt vọng, không biết làm cách nào để níu, vớt những đồng bào đang bị cuốn đi. Chỉ cần vài giây sau, khi trôi đến chỗ nước xoáy, những mái nhà ấy bị nhấn lộn nhào xuống dưới mặt nước đục ngầu bùn rác để rồi khi nổi lên ở đàng xa thì chẳng còn thấy người đâu nữa.

Đó là ký ức khủng khiếp trong tôi về trận lụt năm Thìn 1964, thiên tai trăm năm mới có một lần đã tàn phá tan hoang vùng đất Quảng Nam, chôn vùi dưới nước hơn 6.000 dân, xóa sổ rất nhiều làng mạc hai bên bờ các con sông Thu Bồn, Vu Gia.

Khi đã không còn bất cứ thứ gì trong tay để có thể phục hồi cuộc sống, hàng ngàn dân Quảng Nam đã phải nát lòng bỏ xứ ra đi, vào Sài Gòn lập “làng mới” ở nhiều khu vực, mà nổi tiếng nhất là làng dệt ngả tư Bảy Hiền.

Đến thời nữ sinh trung học xúng xính áo dài, ghế đá sông Hàn lại là chỗ “đóng đô” cho đám học trò tinh nghịch chúng tôi. Sau khi cúp cua những giờ học buồn ngủ, lẻn ra khỏi lớp khỏi trường là chúng tôi tếch luôn xuống bờ sông, chiếm dụng những chiếc ghế đá mát rượi có giàn hoa giấy tím buông rũ, ngồi dầm dề ở đó mút cà rem, tán phét, ngắm nước sông lững lờ trôi bên dưới và ngắm đỉnh Sơn Chà với dải mây trắng chơi vơi trên đỉnh cao…

Ngồi chán, khi nước triều lên làm sóng đập vào bờ văng nước lên người, chúng tôi đi dọc theo bờ sông không mục đích, không vướng bận, thả cái nhìn hớn hở vào những người bán hàng rong bận rộn trên mặt đường, vào những cặp trai gái chở nhau trên xe gắn máy hay đi bộ dọc bờ sông, thích thú nhận ra vẻ thẹn thùng của cô gái và sự e dè của chàng trai vẫn không át nổi niềm hạnh phúc tràn dâng trong mắt họ, trong cả con người họ. Bởi vì việc trai gái công khai xuất hiện sóng đôi giữa thanh thiên bạch nhật là một sự táo bạo đáng nể ở cái thị xã nhỏ, nơi mà mọi người hầu như đều quen biết hoặc nghe biết về nhau.

Có lần, khi đang cùng đám bạn lang thang bờ sông như vậy, bỗng một hình ảnh nổi bật đập vào mắt tôi. Một đôi mắt đen trên gương mặt trái soan và chiếc khăn voan đỏ thắt điệu đàng trên mái tóc dài. Hai tà áo dài voan nhung ép mỏng mảnh cũng màu đỏ rập rờn bay trong gió như những cánh bướm, sáng bừng lên, níu lấy những cái nhìn của người đi đường.

Tôi cũng quay nhìn. Rồi tôi kinh ngạc nhận ra người đẹp lộng lẫy đó chính là chị Bốn của mình, bà chị mà khi ở nhà tôi chưa bao giờ thấy đẹp. Vậy mà không hiểu sao ở đây, trên con đường bờ sông lộng gió đầy người qua lại này, chị tôi bỗng trở thành một nhan sắc khiến ai cũng ngoái nhìn. Tôi cười với chị Bốn cái cười cầu tài, trong bụng thầm lo không rõ chị có để ý rằng đang là giờ học và tôi đang cúp cua không. Thật may cho tôi, buổi tối về nhà tôi không hề bị chị gạn hỏi vặn vẹo bất cứ câu nào…

Một lần khác, vào dịp gần tết tây, ba chị em tôi xuống bưu điện để gởi thiệp cho bè bạn và người thân. Đó là một thông lệ hàng năm của chúng tôi. Đồng thời với việc gởi thiệp đi, chúng tôi cũng được nhận được rất nhiều thiệp chúc tết từ mọi người ở khắp nơi gởi về.

Lúc từ bưu điện trung tâm ven bờ sông bước ra, tôi trông thấy một đám lính Mỹ đang quẩn quanh ở vạt cỏ phía trước bưu điện. Những gương mặt măng sữa tóc vàng mắt xanh của các anh lính “quân dịch” non tơ thơ dại, trông chẳng khác gì đám bạn học cùng trường. Có hai người trong cái đám tóc vàng ấy đang nằm lăn trên cỏ và… khóc. Úp mặt xuống cỏ và sụt sùi nức nở y như những trẻ con đang bị ức hiếp.

Tôi dừng hẳn lại để quan sát. Rồi tôi nghĩ ngợi một chút và hiểu ra: những anh chàng măng sữa này đang nhớ nhà, nhớ cha mẹ. Giáng Sinh là dịp gia đình sum họp, quà cáp, vậy mà họ lại ở đây, trên một đất nước xa xôi đang bị chiến tranh nghiền nát, chỉ có thể gởi về người thân tấm thiệp thay cho sự có mặt của chính mình.

Tôi không rõ những anh chàng này, khi đi đánh nhau họ sẽ thế nào, nhưng ở đây, khi nhìn họ dâng trào nước mắt vì thương cha nhớ mẹ, tôi chỉ thấy họ gần gũi như thể bạn bè mình và chỉ muốn bày tỏ niềm thương cảm…

Nghĩ thì nghĩ vậy song tôi chẳng đủ bạo dạn để có bất cứ hành động nào. Trên đường về nhà, đầu óc tôi cứ quẩn quanh với suy nghĩ: tội nghiệp quá, họ đúng là những đứa trẻ đang phải xa lìa cha mẹ…

Và rồi cũng tới lúc tôi mười tám tuổi, lấy bằng tú tài, rời xa Đà Nẵng vào Sài Gòn học đại học.

Khi trở về Đà Nẵng vào mỗi cuối năm để ăn tết, trong mắt tôi bỗng hiện ra một Đà Nẵng quá nhỏ bé và khiêm tốn. So với Sài Gòn, Đà Nẵng chỉ bằng một quận loại trung bình. Vào những năm đầu thập niên 1970, chiến tranh Việt Nam đang bùng lên mạnh nhất có thể.

Cả hai phía đối địch đều muốn làm mọi cách để chiếm thế thượng phong trong những toan tính chiến lược, chuẩn bị cho việc chấm dứt cuộc chiến đã khiến cả thế giới rúng động và nước Mỹ vô cùng mệt mỏi.

Đà Nẵng trở nên xác xơ, tàn tạ hẳn. Đúng là khi có dịp lùi ra xa để ngắm kỹ, ta sẽ nhìn thấy một toàn cảnh rõ nét hơn, chính xác hơn và vì thế đau lòng hơn.

Một nhà văn Sài Gòn đã sử dụng cụm từ rất chua xót để mô tả thành phố của tôi: Đà Nẵng như một gái điếm về già.

Cây hai bên đường đều rụng hết lá vì ảnh hưởng thuốc khai quang, để lại những mặt đường bỏng rát trụi trơ dưới nắng. Mặt đường hầu như không còn lề và liên tục lở lói vì quá nhiều xe hạng nặng chạy qua mỗi ngày. Bụi mịt mù liên tục thốc lên sau những bánh xe nhà binh.

Là trung tâm của khu vực Bắc miền Trung, Đà Nẵng là nơi đóng quân của Bộ Chỉ huy Vùng I Chiến thuật, Bộ Tư lệnh Quân đoàn I, Cơ quan Đại biểu Chính phủ Bắc Trung phần, Nha Cảnh sát Bắc Trung nguyên Trung phần, chưa kể các cơ quan của địa phương: Toà Thị chính, Ty Cảnh sát, Bộ Chỉ huy Quân cảnh… Và còn chưa tính đến sự có mặt của binh lính nước ngoài: Mỹ, Úc, Tân Tây Lan, Đại Hàn…

Xe quân sự và áo nhà binh có thể được nhìn thấy ở khắp mọi nơi, từ phố phường, chợ búa, đến quán ăn, tiệm cà phê… Trong mỗi gia đình hầu như đều có người mặc áo lính, cho dù họ có cầm súng hay không cầm súng.

Chỉ cần ra tới ngoại ô Đà Nẵng là đã thấy bóng dáng thần chiến tranh chiếm ngự: hàng hàng lớp lớp kẽm gai vòng trong vòng ngoài ở các căn cứ quân sự Mỹ, bên cạnh đó là những khu tạm cư nhà cửa tạm bợ dành cho dân nông thôn bị bốc ra thành phố. Mái tôn lóe nắng nhức nhối chói lòa cả mắt, và trên mái tôn là vô số bao cát được chằn lên để không bị gió tốc bay khi có bão.

Đi trên những con đường Đà Nẵng ngày ấy, lòng tôi cứ đau nhói một cảm giác mất mát quá lớn. Đà Nẵng được gì trong cuộc chiến tranh này?

Không gì cả.

Đà Nẵng chỉ bị tàn phá, là nơi dung thân cho những người dân nông thôn bị bốc khỏi ruộng đồng, là nơi kiếm sống cho những cô gái ở các vùng bị chiến cuộc tàn phá trôi dạt lên thành phố, làm những nghề mà họ không bao giờ muốn cha mẹ anh chị em của mình biết được.

Đà Nẵng như thể đang rơi tự do…

***

Giờ đây, sau hơn bốn mươi năm chiến tranh chấm dứt, tôi vẫn đang phải sống cách xa Đà Nẵng cả ngàn cây số. Lần nào về Đà Nẵng làm giỗ cha mẹ, tôi cũng tìm cách đi lại nhiều lần trên bờ sông Hàn thân yêu của tuổi thơ mình, tìm lại mình trong mỗi cơn gió biển.

Đường Bạch Đằng vẫn giữ tên cũ, đó là điều may mắn, bởi nhiều tên đường mới đặt cứ khiến người dân ngẩn ngơ tự hỏi nhân vật lạ hoắc ấy là ai. Các ghế đá ven bờ đều đã được thay mới, nhiều hơn, đẹp hơn và văn minh hơn. Những hàng cây trồng lại cũng đã có được dáng cổ thụ, để vẻ đẹp bờ sông Hàn đạt một độ dày thời gian nào đó.

Trên bờ sông lúc nào cũng nườm nượp người đi bộ thể dục vào cả vào buổi sáng lẫn buổi chiều, là nét sinh hoạt hoàn toàn mới, trước đây chưa từng có. Nếu đi vào buổi đầu ngày, người ta có thể tranh thủ mua bán với những ngư dân đánh bắt gần bờ vừa mới trở về lúc sáng tinh mơ. Hàng của họ là những lũ tôm-cua-cá-mực tươi xanh mà buổi tối hãy còn bơi ngoài cửa biển để rồi buối trưa sẽ biến thành món ăn tươi tốt ngon lành trong một mâm cơm gia đình đầm ấm…

Giờ đây, câu ca dao “Đứng bên ni Hàn ngó qua bên tê Hà Thân nước xanh như tàu lá/ Đứng bên tê Hà Thân ngó về bên ni Hàn phố xá nghinh ngang…” có vẻ đã thật sự thuộc về thời quá khứ.
Bề rộng con sông không còn là sự ngăn cách khi đã có tới sáu cây cầu đẹp đẽ nối từ bờ bên này sang bờ bên kia sông Hàn.

Cầu Thuận Phước cho phép người ta chạy xe gần nhất đến chân núi Sơn Chà, để lên thắp hương viếng Phật Bà chùa Linh Ứng. Cầu sông Hàn ngay trung tâm thành phố mà mỗi khuya vẫn có người sẵn sàng chờ chực để xem cây cầu quay lấy chỗ cho các tàu lớn lưu thông trên sông. Cầu Rồng phun nước phun lửa buổi tối làm nao lòng những khách du lịch dễ thương, nhất là người tới từ các tỉnh trong nước. Cầu Trần Thị Lý đẹp một cách duyên dáng, thay thế cho cây cầu sắt thô ráp mà người Mỹ đã làm. Chưa kể cầu Nguyễn Văn Trỗi là cây cầu cũ, đổi từ tên Trình Minh Thế sang tên mới. Trình Minh Thế cũng là tên sau này, thay cho tên của viên tướng Pháp rất nổi tiếng trong cuộc chiến tranh Việt – Pháp: De Lattre. Và cây cầu cuối cùng, thứ sáu, mới hoàn thành gần đây: cầu Tiên Sơn, thu ngắn đáng kể quãng đường từ Đà Nẵng vào phố cổ Hội An.

Tôi vẫn thường tự hỏi: nếu không có sông Hàn, Đà Nẵng của tôi trông sẽ thế nào? Có lẽ giống một cô gái với gương mặt xinh xắn nhưng không hề có tóc, trụi lủi, trơ khấc, kém duyên…

Sông Hàn khiến Đà Nẵng hội đủ những gì cần có của một nơi sơn thanh thủy tú, sông vẽ một nét mềm mại dịu dàng lên bức chân dung của vùng-đất-mở về phía biển này, một Đà Nẵng hải cảng, phóng khoáng và thân thiện trong gió biển Đông…

Cho dù là một biển Đông đang liên tục dậy sóng…

—————

Bài này đã in trên báo NGƯỜI ĐÔ THỊ số tết Đinh Dậu.

clip_image002

Sông Hàn, năm 2014

clip_image004

Sông Hàn, năm 1989

clip_image005

Chị Bốn Ái Kim Ngô – người đẹp của tôi

clip_image007

Sông Hàn năm 2014.
Bình minh, khi thuyền đánh cá trở về…

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.01.2017

Chiếc bánh chưng kỳ lạ

Chiếc bánh chưng kỳ lạ

Cái rét tràn về trên khắp miền Bắc, rét khô khan, rét tái tê, buốt đến từng ngón chân ngón tay, rét đóng vảy trên bờ môi con gái, rét băm nát gót chân cụ già, rét tím tái bầu má trẻ thơ. Chỉ có mùa đông ở miền Bắc Việt Nam mới có cái rét như vậy, người ta nói rét chứ không phải lạnh. Khi cái rét luồn lách vào hết thảy mọi gia đình thì cũng là lúc người ta chuẩn bị đón một mùa xuân mới. Năm cũ sắp qua rồi, mà đón Tết tức là đón xuân, như thể đón một niềm hy vọng vào năm tới.

Tết ở Việt Nam là sự đúc kết của cái hồn dân tộc. Tết- ngoài những nghi thức truyền thống, còn là sự mong mỏi của những điều tốt đẹp. Gia đình mong sự đoàn tụ con cái, con cái mong bố mẹ khỏe mạnh bách niên giai lão, anh em mong sự hòa thuận, vợ chồng mong cơm lành canh ngọt. Hàng xóm láng giềng mong sự đoàn kết, mọi sai lầm xích mích đều bỏ qua cho nhau, tất cả hận thù đều mong được xí xóa. Ngày đầu năm mới người ta kiêng làm những việc xấu xa vì sợ cả năm xui xẻo, nên ai cũng trở nên thánh thiện hơn, thơm thảo hơn với tất cả mọi người.

Trong mâm cỗ tất niên của gia đình  người ta thường nhắc đến những kỷ niệm đã qua, niềm vui và cả nỗi buồn, nhớ về người thân đã mất hoặc đang ở xa chưa về. Đêm giao thừa của cái Tết Việt Nam mang một ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Đó là ý thức về nguồn. Chẳng có gia đình nào lại không có một bàn thờ gia tiên, người đang ở xa cũng ngóng về quê hương xứ sở. Đêm giao thừa gia đình nào sum họp đông đủ được coi là hạnh phúc nhất, ý thức gia đình dường như cũng được củng cố hơn trong đêm giao thừa.

Tết bao giờ cũng là niềm mong mỏi của trẻ con, vì trước hết chúng được nghỉ học, được đi chơi, được diện quần áo đẹp và được tiền mừng tuổi. Song, tết đối với trẻ con ngày xưa, cái thời chiến tranh còn khó khăn đói kém, thì Tết còn là một nỗi thèm khát được ăn một bữa ngon có thịt mỡ, bánh chưng…

Tôi nhớ một cái Tết xa xưa khi tôi còn là một đứa trẻ con. Đó là một cái Tết trong thời chiến tranh, vì bom đạn, máy bay địch bắn phá ác liệt, nên mọi thứ vật dụng sinh hoạt đều khan hiếm, nhất là lương thực thực phẩm. Nhưng đến ngày Tết thì mỗi gia đình cũng được nhà nước phân phối cho một ít thực phẩm để ăn Tết. Bố mẹ tôi đều đi làm nhà nước, nên có tiêu chuẩn Tết, nhưng phải đem về góp với bà nội tôi. Ngày 30 Tết hầu như tất cả họ hàng nhà tôi đều tập trung ở nhà bà nội (ông nội tôi đã mất), họ cũng mang đến mỗi người một chút quà để góp vào bữa cỗ tất niên. Trên chiếc sân gạch rộng mênh mông, mọi thứ được bày ra ngổn ngang, nào là bát đĩa, nồi niêu, gạo thịt rau đậu và một đống củi gộc, để chuẩn bị nấu bánh chưng ngay trên sân. Người lớn tất bật, trẻ con thì chạy lăng xăng nghịch ngợm, thỉnh thoảng lại bị người lớn quát, nên chúng tôi phải tránh xa chỗ người lớn đang làm cỗ tết. Nhưng dù có chạy chơi đâu thì tất cả anh chị em họ hàng chúng tôi đều háo hức đổ dồn về cái sân gạch ngập mùi ẩm thực ấy. Những đứa trẻ gầy gò xanh xao, đã hàng mấy tháng không biết đến mùi thịt lợn, chỉ cần tưởng tượng đến tối nay thôi sẽ được cắn một miếng bánh chưng dẻo quạnh, thơm ngậy mùi đỗ xanh, ngọt lịm vị thịt mỡ tan trong lưỡi, tứa ra nơi chân răng và cả vành môi nữa. Mới nghĩ thế, có đứa đã ứa khan nước bọt, cái bụng sôi lên ào ào. Chúng tôi cố chơi để quên thời gian, để chờ đến cái giây phút được gọi vào ăn cỗ. Đối với chúng tôi thời gian dài khủng khiếp nhất là chờ đợi mâm cơm cúng tàn hương. Vì nhìn thấy mâm cỗ nghi ngút khói thơm rồi mà vẫn phải nuốt nước miếng ngồi nhìn. Tất cả mọi người đợi trong cơn hối thúc của cái dạ dày đang bị tù hãm. Chỉ có bà nội tôi là vẫn bình thản động viên: “ Phải đợi ông bà ông vải ăn xong đã”.

Bánh chưng xanh (Ảnh: internet)

Khi cái dạ dày gần như đã chào thua rồi  thì mâm cơm cỗ mới được bưng xuống. Tất cả ngồi vào mâm. Trẻ con được ưu tiên ăn bánh chưng trước. Bà tôi xẻ chiếc bánh chưng làm tám miếng hình tam giác rồi gắp vào bát cho từng đứa cháu. Tôi háo hức cắn vội miếng bánh ngay giữa khúc nhân vàng vàng, hy vọng sẽ được nếm miếng mỡ đầu tiên cho đã cơn thèm, nhưng ôi thôi trong miệng là một vị ngòn ngọt khô khô, cắn thêm miếng nữa vẫn thế. Tôi vội hỏi bà, sao bánh chưng lại không có thịt, bà im lặng. Mẹ tôi vội nói: “Thịt ít quá, phải rán lấy mỡ  để ra giêng lấy cái xào rán, chỗ thịt còn lại thì làm cỗ đây rồi còn gì”, mẹ vội gắp cho tôi một miếng thịt kho mặn bảo ăn với bánh chưng cũng được, cần gì phải bánh chưng có thịt. Nhưng tôi thì chưng hửng vì tôi vẫn hy vọng một miếng bánh chưng có đầy đủ vị béo của thịt mỡ, bùi thơm của đậu xanh. Đến ngay chút nhân đậu vàng vàng cũng là lạ như khoai lang, mà té ra là khoai lang thật, mẹ an ủi: “Nhân khoai lang ăn cho dễ tiêu, lại ngọt đỡ phải chấm”. Dù đang đói nhưng tôi vẫn cảm thấy khó nuốt miếng bánh chưng kỳ lạ đó. Nó khác hẳn với mọi tưởng tượng của tôi, nên thất vọng quá, tôi òa khóc, rồi nức nở trách mẹ: “Ai bảo mẹ mang hết thịt về nhà bà, không để ở nhà gói bánh cho con ăn” Mấy đứa em họ tôi, cũng buông bát bần thần nhìn miếng bánh chưng mà không phải là bánh chưng. Chúng cũng đồng loạt cằn nhằn bố mẹ. Tôi không còn nhớ được lúc đó thái độ người lớn ra sao, chỉ nhớ bữa cỗ tất niên ấy trôi qua thật là ảm đạm.

Từ bấy đến nay đã qua bao nhiêu cái Tết rồi, tôi không phải ăn cái bánh chưng kỳ lạ ấy một lần nào nữa. Nhưng mỗi lần Tết đến nhìn những chiếc bánh chưng ngập thịt và đậu xanh, nhiều khi thịt nhiều quá, còn phát ngấy, tôi lại bỗng nhớ bà tôi xa xót. Bà tôi đã mất ngay trong những năm khó khăn ấy. Sau này cúng giỗ bà, chúng tôi đều dâng lên bàn thờ những chiếc bánh chưng ngon nhất, mong bà được thưởng thức chút hương hoa của mùi vị bánh chưng đúng với vị đặc trưng của bánh chưng dân tộc. Song có lẽ bà chẳng quan tâm đến điều đó, ánh mắt bà vẫn nhìn chúng tôi đầy thương cảm như hồi nào nhìn chúng tôi phải ăn miếng bánh chưng không thịt mỡ đậu xanh từ bàn tay bà gắp vào bát. Sau này chúng tôi biết bà thương chúng tôi lắm, nhưng lúc đó chẳng đứa nào thương bà.

 (Nguồn: Báo Văn nghệ)

Facebook ‘không có ý kiến về chặn thông tin xấu’

BBC

facebookBản quyền hình ảnhAFP

Image captionHơn 1/3 dân số Việt Nam sở hữu tài khoản Facebook

Facebook từ chối bình luận sau khi quan chức Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam lên tiếng Facebook, YouTube cần có nghĩa vụ “hợp tác chặn thông tin xấu”.

Ông Lê Quang Tự Do, Phó cục trưởng Cục Phát thanh truyền hình và thông tin điện tử, Bộ Thông tin và Truyền thông được VietnamNet hôm 13/1 dẫn lời nói: “Các thông tin xấu, độc tràn lan hiện nay trên mạng xã hội, gây nhiễu loạn, sai, xuyên tạc, bịa đặt cung cấp gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh – chính trị, trật tự an toàn xã hội, thậm chí đe doạ đến lợi ích quốc gia.”

“Đối với thông tin xấu đe dọa đến lợi ích quốc gia, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Việt Nam thì chúng ta có biện pháp để ngăn chặn ngay, sau đó mới yêu cầu họ có biện pháp khắc phục.”

“Hiện chúng ta đang cần cơ chế phối hợp với các doanh nghiệp, tổ chức nước ngoài khi cung cấp các dịch vụ, đặc biệt như dịch vụ mạng xã hội và các trang web vào Việt Nam.”

“Họ phải phối hợp với Việt Nam để xử lý các thông tin xấu độc đó. Thông tư 38 giải quyết vấn đề này.”

Trang mạng này nói trong tiêu đề bài báo rằng ông Tự Do ám chỉ “họ” ở đây cụ thể là Facebook và YouTube.

Thông tư 38 quy định chi tiết về việc cung cấp thông tin công cộng qua biên giới nhằm “quản lý chặt chẽ hơn các quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong và ngoài nước.”

Hôm 17/1, BBC nhận được email phản hồi của bà Đào Thùy Linh, công ty T&A Ogilvy, đơn vị đại diện truyền thông cho Facebook tại Việt Nam.

“Chúng tôi cảm kích vì quý đài hỏi ý kiến của chúng tôi về sự việc liên quan Thông tư 38 gần đây của Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam,” email viết.

“Tuy nhiên, chúng tôi không có bất kỳ ý kiến hoặc thông tin để chia sẻ vào thời điểm này.”

mạng xã hộiBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES

Việt Nam trong top 10 nước xem YouTube nhiều nhất thế giới

‘Mạnh miệng

Trả lời BBC từ TP Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Hồng Phúc, một chuyên gia công nghệ thông tin, nói: “Mỗi lần có một quan chức truyền thông mới lên thì lại có phát biểu mạnh miệng về việc chặn thông tin xấu trên mạng.”

“Thông tin xấu ở đây có thể hiểu là những nội dung mà lãnh đạo Việt Nam xem là nhạy cảm, không muốn thấy trên mạng xã hội.”

“Tuy vậy, những nội dung này không được các hãng Facebook hay Google [hãng thâu tóm YouTube] tạo ra mà do người dùng và được hiển thị theo thuật toán riêng của các hãng.”

“Vì thế, chính quyền muốn chặn nội dung thì buộc các hãng phải thay đổi thuật toán.”

“Điều này khó về mặt kỹ thuật.”

“Hơn nữa, thị trường Việt Nam quá nhỏ bé không đủ giá trị thương mại như Trung Quốc để những hãng này phải làm theo yêu cầu đó.”

“Mặt khác, cũng cần lưu ý rằng đến nay, cả Facebook lẫn Google đều không có văn phòng chính thức ở Việt Nam mà chỉ thông qua một số cá nhân nên mức độ chế tài họ rất ít.”

Facebook ‘giúp TQ công cụ kiểm duyệt’

Trao đổi với BBC từ Hà Nội, ông Nguyễn Đình Hà, luật gia, cựu ứng viên tự đề cử đại biểu Quốc hội, nói: “Theo tôi, Thông tư 38 chỉ mang tính quản lý hành chính trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, chứ khó có hiệu lực với các hãng có trụ sở ở nước ngoài, không đặt máy chủ trong lãnh thổ Việt nam như Facebook, Google trên thực tế.”

“Có thể quan chức đưa ra thông tin này chủ yếu để tạo cái cớ nhằm xử lý một số cá nhân hoạt động dân chủ đang có tài khoản Facebook và YouTube.”

“Cơ quan an ninh và Ban Tuyên giáo biết những người này và muốn các hãng tác động đến tài khoản mạng xã hội của họ để chặn những post và clip bị chính quyền cho là bất lợi, phản động.”

“Cho nên Thông tư 38 cũng giống như Điều 258 Bộ luật Hình sự thôi.”

“Đó là chưa kể xét ở khía cạnh khác, chặn thông tin của người dùng cũng là việc vi phạm nhân quyền.”

Theo luật nước ngoài, tài khoản mạng xã hội thuộc nhóm bí mật đời tư của cá nhân, được bảo vệ và bất khả xâm phạm.”

“Nếu muốn chặn thông tin của người dùng mạng xã hội, Việt Nam đang xâm hại quyền của khách hàng các hãng Facebook, Google.”

“Tôi nghĩ chính quyền nên bãi bỏ những luật, điều mơ hồ ảnh hưởng đến quyền tự do ngôn luận của người dân.”

“Thay vào đó, họ nên đối thoại để tiếp nhận những tiếng nói phản biện, đóng góp cho xã hội tốt đẹp hơn,” ông Hà nói với BBC

GS Ngô Bảo Châu: ‘Đại học Việt Nam làm ngược với thế giới’

Vị GS cho rằng, giáo dục đại học đã tụt hậu ngay với các nước trong khu vực, còn Bộ trưởng Nguyễn Quân nhận định, vấn đề nằm ở tự chủ tài chính, bản thân ông và Bộ trưởng Giáo dục cũng không quyết định được lương cho GS Châu.

“Việc xây dựng đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại các trường đại học ở Việt Nam đang làm ngược quy trình với thế giới ở tất cả các bước”, Giáo sư Ngô Bảo Châu nêu vấn đề tại Hội thảo về “Cải cách giáo dục đại học” diễn ra tại TP HCM ngày 31/7.

Ngo-Bao-Chau-ok-6204-1406862636.jpg

GS Ngô Bảo Châu: “Việt Nam đang đi ngược với thế giới”. Ảnh: Nguyễn Loan

Theo GS Châu, việc tạo nguồn nhân lực ở các đại học Việt Nam là bồi dưỡng sinh viên giỏi và đưa các em quay lại trường làm giảng viên. Trong khi đại học phương Tây hạn chế tối đa các ứng viên địa phương này.

“Đó là tư duy cũ kỹ, sai lầm vì việc tạo nguồn như vậy mang tính chủ quan, ưu tiên người mình đào tạo, không chủ động đi tìm nguồn khác, dẫn đến thiếu tính cạnh tranh. Một nhà khoa học trẻ ở Việt Nam hầu như không có lựa chọn khác ngoài tiếp tục làm ở nơi ông thầy hướng dẫn. Như vậy anh ta đánh mất đi cơ hội phát triển, sự độc lập khoa học với người thầy hầu như không có”, ông Châu nêu.

GS Ngô Bảo Châu cũng cho rằng, quy trình tuyển chọn cán bộ giảng dạy ở đại học Việt Nam mang nặng tính hành chính, theo quy trình tuyển chọn công chức, viên chức nhà nước mà không có tính đặc thù của môi trường hàn lâm. Trong khi đại học phương Tây, tiêu chí hàng đầu là khả năng nghiên cứu khoa học. Bên cạnh đó, việc bổ nhiệm giáo sư ở nước ta phụ thuộc vào một cơ quan cấp nhà nước.

“Gần đây, Hội đồng chức danh chỉ công nhận chức danh giáo sư, còn việc bổ nhiệm do các trường thực hiện. Tuy nhiên, tôi nghĩ nó còn phức tạp, các trường vẫn không thực sự được bổ nhiệm giáo sư. Không bổ nhiệm được một ‘ông tướng’ thì không thể tự chủ khoa học được”, GS Ngô Bảo Châu nói.

Về chế độ thu nhập, theo ông Châu, đây là vấn đề phức tạp, cá nhân ông không tìm ra lời giải đáp thấu đáo. “Lương giảng viên về mặt định lượng rất thấp đã đành, về cơ chế cũng rất cứng nhắc đưa đến sự phức tạp, thiếu minh bạch. Các giảng viên phải được hưởng chế độ đãi ngộ của tầng lớp trung lưu. Trong khi mức lương cố định hiện nay không phản ánh được điều đó”, GS Ngô Bảo Châu nói và đề xuất lấy thu nhập cán bộ khoa học giảng dạy làm tiêu chí để đánh giá, xếp hạng các trường đại học.

Cuối cùng, GS Châu nói về việc sử dụng nhân lực cao cấp. Ông dẫn chứng một GS nước ngoài nổi tiếng tự nguyện qua Việt Nam làm việc nhưng không được bất kì ưu đãi nào. Trong khi, các đại học Trung Quốc có một nguồn kinh phí lớn để khuyến khích, mời các giáo sư nước ngoài đầu ngành nghỉ hưu qua làm việc trong 3 hoặc 6 tháng.

Ngo-Bao-Chau-va-bo-truong-6870-140681224

Các đại biểu trao đổi bên lề cuộc hội thảo. Ảnh: Phan Linh

Bộ trưởng cũng không quyết định được lương

Hội thảo cũng dành nhiều thời gian để trao đổi về vấn đề quản trị và tự chủ trong các trường ĐH ở Việt Nam. Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Bùi Văn Ga cho rằng, Luật Giáo dục đại học đã giao cho các trường quyền tự chủ rất cao nhưng lãnh đạo các trường còn dè dặt trong việc thực hiện quyền, chưa thoát được tư duy bao cấp.

Đồng quan điểm, song Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Nguyễn Quân cho rằng, ngoài tư duy bao cấp còn do yếu tố cản trở từ cơ chế. Các trường luôn thuộc Bộ chủ quản, kinh phí cấp qua Bộ chủ quản thì không bao giờ tự chủ được. Không có tự chủ tài chính thì mọi tự chủ khác chỉ là hình thức.

“Ở một đất nước mà tôi hoặc anh Phạm Vũ Luận (Bộ trưởng Bộ Giáo dục) không ký được lương cho anh Ngô Bảo Châu là điều rất kì lạ. Lẽ ra lương của anh Châu phải do anh quyết định vì anh ấy là một Viện trưởng nghiên cứu cao cấp về Toán…”, ông Quân đưa ví dụ khiến cả hội trường vang tiếng cười.

Quay ra hỏi hệ số lương của GS Ngô Bảo Châu, ông Quân cười nói: “Lương hệ số 10 bằng lương bộ trưởng, nhưng các thầy ở đây bảo hệ số 10 sao đủ sống. Lương của một giáo sư mà các cơ sở và đến cả cấp bộ cũng không quyết định được thì nói gì đến cơ chế tự chủ”.

Bộ trưởng Nguyễn Quân cũng cho rằng, hệ thống luật của VN phức tạp nhất thế giới, ngành nào cũng giữ khư khư luật của mình. Luật Khoa học và công nghệ năm 2013 và Nghị định của Chính phủ đã yêu cầu Bộ Nội vụ giao biên chế nghiên cứu viên cho các đại học (hiện các đại học chỉ có biên chế giảng dạy).

“Chúng tôi đề xuất nhưng Bộ Nội vụ trả lời rất lạnh lùng rằng là chỉ giao biên chế theo đúng luật công chức và viên chức, không giao biên chế nghiên cứu từ năm 2003. Nhưng Luật Khoa học và công nghệ ra đời sau phải có hiệu lực hơn những luật ra đời trước. Bộ Nội vụ không giao biên chế nghiên cứu, làm sao Bộ Tài chính có căn cứ để cấp kinh phí cho các nhà nghiên cứu ở các trường đại học”, ông Quân nói.

Theo người đứng đầu ngành Khoa học, làm được cơ chế tự chủ cho đại học là một con đường chông gai và gian nan. Một mình Bộ Giáo dục không làm được mà đây là trách nhiệm của nhiều bộ và nếu không có hệ thống luật pháp đầy đủ, thông thoáng thì không làm được.

Các đề xuất của GS Ngô Bảo Châu về xây dựng đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu khoa học:

Quyết định của Hội đồng tuyển dụng cần được hiệu trưởng phê duyệt trên cơ sở báo cáo của Hội đồng khoa học và thư giới thiệu đến từ bên ngoài. Quyết định tuyển dụng và lý lịch khoa học của những người được tuyển phải được công bố công khai.

Lấy việc bổ nhiệm giáo sư làm trọng tâm cho việc thực hiện tự chủ khoa học của các trường đại học. Nhận thức rộng rãi giáo sư là một vị trí công tác chủ chốt, chứ không phải là một phẩm tước danh dự.

Nới lỏng hệ thống thu nhập: bên cạnh thu nhập thông thường theo thang lương công chức, cán bộ khoa học giảng dạy có thể được hưởng thu nhập đặc biệt với nguồn từ trong và ngoài ngân sách, do các trường đại học chủ động quyết định.

Trong kế hoạch đầu tư xây dựng trường, bên cạnh đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, cần chuẩn bị kinh phí để đầu tư xây dựng đội ngũ nghiên cứu và giảng dạy.

Thiết lập cơ chế và chính sách để “tận dụng nhân lực thời vụ cao cấp”. Lấy thành tích xây dựng và nâng cao chất lượng của đội ngũ nghiên cứu giảng dạy để đánh giá năng lực lãnh đạo trường đại học. Lấy thu nhập cán bộ khoa học giảng dạy làm một tiêu chí để đánh giá, xếp hạng các trường đại học

Phan Linh

Thế giới hoang mang trước ngày Donald Trump nhậm chức

Người Đức tức giận, người Trung Quốc phẫn nộ, các lãnh đạo NATO lo lắng, đối tác tại Liên minh châu Âu tỏ ra cảnh giác trước ngày Donald Trump nhậm chức tổng thống Mỹ.

the-gioi-hoang-mang-truoc-ngay-donald-trump-nham-chuc

Những bình luận trước ngày nhậm chức của tổng thống đắc cử Mỹ Donald Trump đang khiến cả thế giới hoang mang, lo lắng. Ảnh minh họa: New York Times

Chỉ vài ngày trước lễ tuyên thệ nhậm chức, tổng thống đắc cử Mỹ Donald Trump lại tiếp tục khiến cả thế giới chú ý bởi những phát ngôn của mình. Hàng loạt tuyên bố ông đưa ra, đôi khi ẩn chứa cả những mâu thuẫn, đang làm leo thang căng thẳng với Trung Quốc, đồng thời khiến đồng minh cũng như các tổ chức có ý nghĩa quan trọng với vị thế lãnh đạo của Mỹ ở phương Tây phẫn nộ. Không ai biết ông thực sự muốn gì, theo New York Times.

Giới chuyên gia nhận định sự khó đoán dường như là đặc điểm dễ đoán nhất ở ông Trump. Thế giới đang dần quen với các dòng bình luận đầy khiêu khích ông đăng tải trên mạng xã hội Twitter nhưng lại mù mờ trước câu hỏi những thông điệp từ Trump mang ý nghĩa gì? Định hướng chính sách, đánh giá cá nhân hay chỉ đơn giản là ý nghĩ bất chợt thoáng qua?

Tổng thống đắc cử Mỹ mới đây miêu tả Liên minh châu Âu (EU) “về cơ bản là một phương tiện cho Đức” và dự đoán rằng EU rồi sẽ phải chứng kiến các quốc gia khác nối gót Anh rời khỏi khối.

Ông cũng bình luận về Thủ tướng Đức Angela Merkel, chỉ ra rằng bà Merkel đã “phạm sai lầm nghiêm trọng” vì cho phép dòng người nhập cư đổ vào châu Âu.

Những phát ngôn về Anh và Đức của nhà tài phiệt New York đang khiến châu Âu giận dữ xen lẫn cảnh giác.

“Họ đã quá rõ quan điểm của tôi rồi”, bà Merkel hôm 16/1 phát biểu tại Berlin. “Tôi nghĩ châu Âu chúng ta đủ khả năng quyết định số phận của mình”.

Phản ứng dè dặt của Thủ tướng Đức được đưa ra trong bối cảnh giới quan chức cũng như các chuyên gia phân tích đang không biết nên diễn giải những bình luận từ ông Trump như thế nào cũng như nên phản hồi chúng ra sao.

Một số người cho rằng các phát ngôn của tổng thống đắc cử Mỹ mang đầy tính chiến thuật, nhằm mục đích dọn ra cho ông những lựa chọn mở trong tương lai. Tuy nhiên, đa phần đồng tình rằng Trump đang gây rắc rối, đặc biệt khi ông chỉ trích bà Merkel, bởi Thủ tướng Đức hiện có vai trò rất quan trọng đối với sự ổn định trên toàn châu Âu.

Giận dữ và hoang mang

Tỷ phú Mỹ hôm 13/1 tiếp tục chọc giận Bắc Kinh khi ông nói với Wall Street Journal rằng “mọi điều đang được thương lượng, gồm cả chính sách Một Trung Quốc”.

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Doanh hôm qua tuyên bố hành động dùng Đài Loan để làm đòn bẩy đàm phán với Trung Quốc không khác gì “tự lấy đá đập vào chân” và sẽ phải đối mặt với sự phản đối từ chính quyền, người dân Trung Quốc cùng cộng đồng quốc tế.

Tờ China Daily trong khi đó cảnh báo ông Trump đang “chơi đùa với lửa”, nhấn mạnh nếu Đài Loan bị đưa lên bàn đàm phán như lời nhà tài phiệt New York gợi ý, “Bắc Kinh không còn cách nào khác là phải tháo găng tay”.

Trung Quốc luôn coi Đài Loan là một phần lãnh thổ không thể tách rời, đang chờ thống nhất, kể cả bằng vũ lực nếu cần thiết.

the-gioi-hoang-mang-truoc-ngay-donald-trump-nham-chuc-1

Đáp lại những bình luận tiêu cực từ ông Trump, Thủ tướng Đức Angela Merkel cho hay điều quan trọng đối với bà là những gì nhà tài phiệt New York làm sau khi nhậm chức. Ảnh: NYTimes

Câu chuyện sự thống trị của Đức trong EU không phải đề tài mới mẻ song điều gây chú ý là việc một tổng thống Mỹ tương lai đưa ra bình luận có ý tứ tương tự về đồng minh thân cận, qua đó tạo cơ hội cho những đảng phái dân túy công phá hệ thống chính trị ở châu Âu, cây bút Steven Erlanger từ New York Times nhận xét.

Trong một bài phỏng vấn với tờ Bild của Đức và Times of London của Anh, ông Trump nhắc lại những lời chỉ trích trước đây rằng Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) “đang bị cô lập” vì cố tình không chống chủ nghĩa khủng bố.

Theo R. Nicholas Burns, cựu đại sứ Mỹ tại NATO, những bình luận từ ông Trump ” không khác gì đòn tấn công trực diện vào trật tự tự do chúng ta xây dựng nên từ năm 1945 và là sự khước từ ý tưởng Mỹ dẫn dắt phương Tây”.

“Nói NATO bị cô lập, công khai ủng hộ sự tan rã của EU rồi sau đó bôi nhọ bà Merkel”, ông Trump đã “phá vỡ những chính sách cũng như các suy tưởng chiến lược được người Cộng hòa ủng hộ từ thời Eisenhower đến nay”, giáo sư Burns nhấn mạnh.

Đáp lại những bình luận tiêu cực từ ông Trump, Thủ tướng Đức Merkel cho hay điều quan trọng đối với bà là những gì nhà tài phiệt New York làm sau khi nhậm chức.

“Tôi đang chờ đợi ngày tổng thống Mỹ tuyên thệ nhậm chức. Đó là cách mọi thứ hoạt động”, bà Merkel nói. “Tất nhiên, tôi sẽ hợp tác với ông ấy”.

Song ngoại trưởng Đức Frank-Walter Steinmeier tỏ ra không mấy lạc quan. Theo ông, các phát ngôn từ tổng thống đắc cử Mỹ “thực sự gây kinh ngạc và gây chấn động”.

Steinmeier cho hay ông đã có cuộc gặp mặt với tổng thư ký NATO Jens Stoltenberg và nhận thấy rằng những mối lo âu vẫn hiện hữu bên trong liên minh quân sự này.

Tuy nhiên, một số chuyên gia cũng lưu ý rằng không nên quá để tâm tới những lời nói của tổng thống đắc cử Mỹ, ít nhất ở thời điểm hiện tại. “Tôi nghĩ ông Trump đang cố gắng giữ cho mình những lựa chọn mở và tìm cách để không bị dồn vào chân tường thông qua việc chống lại các quan điểm chính sách hiện hữu”, Robin Niblett, giám đốc viên nghiên cứu Chatham House, trụ sở ở London, đánh giá.

Theo Ngoại trưởng Pháp Jean-Marc Ayrault, các bình luận của ông Trump thậm chí còn là động lực để giúp EU đoàn kết hơn. “Cách tốt nhất để bảo vệ châu Âu là duy trì đoàn kết thành một khối và không được phép quên rằng sức mạnh của người châu Âu nằm ở tinh thần đoàn kết”, ông quả quyết.

Vũ Hoàng

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.01.2017

Chuyện giỗ Phùng Quán

Nhân ngày giỗ nhà văn Phùng Quán ( 21 tháng chạp)

Chuyện giỗ Phùng Quán

                                   Ngô Minh

nm-pqMỗi người về cõi âm để lại cho gia đình, người thân một ngày giỗ, như là “kỷ niệm” cuối cùng! Thường thì ngày giỗ do người thân thiết nhất là bố mẹ, vợ, con nấu cúng. Riêng nhà văn Phùng Quán thì lại rất khác. Giỗ Phùng Quán cũng lạ lùng như văn chương và cuộc đời anh. Theo phong tục á Đông, ngày cúng giỗ là ngày sống, tức là cúng trước ngày chết một ngày. Ngày 21 tháng 12 âm lịch là ngày giỗ anh Quán, ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn, Đồng Hới… đều cúng. Nơi thì buổi sáng, nơi buổi chiều. ở Hà Nội thì chị Bội Trâm cùng các con cúng giỗ chồng, giỗ bố… Còn ở các tỉnh thì ai cúng?

Họ không phải là bà con họ hàng gì với anh Quán cả, chỉ là bè bạn văn chương, hay anh em quen biết, thế mà Phùng Quán mất đi là nỗi đau của họ, nên ai cũng nhớ ngày cúng giỗ. Đó cũng là một cách tồn tại riêng của Phùng Quán.

ở Hà Nội, ngày giỗ Phùng Quán bao giờ cũng có mặt hàng trăm anh em văn nghệ sĩ, y như là một cuộc tao ngộ, gặp gỡ định kỳ hàng năm. Năm nào chị Bội Trâm cũng phải tiếp khách cả buổi trưa và buổi chiều.

Những nhà văn, nhà thơ như Hoàng Cầm, Lê Đạt, Nguyễn Hữu Đang, Lê Huy Quang, Phùng Cung (khi chưa mất) v.v… bao giờ cũng có mặt từ rất sớm. Sau đó thì có thêm hàng chục nhà thơ, nhà văn, các giáo sư, tiến sĩ, những người bạn cùng câu cá Hồ Tây xưa kéo nhau đến thắp hương tưởng niệm.

Nhiều cuộc giỗ, dù bận việc, thế nào anh Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn cũng đến thắp hương cho anh Quán. Nếu không đến được hôm giỗ, thì thế nào hôm sau anh Thỉnh cũng đến thắp hương và thăm gia đình.

Vào ngày giỗ Phùng Quán, các nhà văn yêu anh từ Sài Gòn và các tỉnh lân cận đến Hà Nội công tác đều ghé thắp hương lên bàn thờ anh… Ai nhỡ quên việc đó thì áy náy cả năm!

Bữa giỗ, chị Bội Trâm chỉ nấu vài mâm, nhưng anh em đến thêm bát thêm đũa, mua thêm rượu, đồ mồi, thành ra cuộc tiệc rôm rả kéo dài, giống y chang lúc anh Quán còn sống, cuộc rượu mỗi lúc thêm đông! Đó là chuyện giỗ anh Quán ở Hà Nội.

Giỗ anh Quán ở các nơi mới thật sự thú vị. ở Sài Gòn, nhà văn Xuân Đài cho biết, năm nào anh cũng nấu giỗ Phùng Quán ở nhà mình. Xuân Đài là người rất am hiểu Phùng Quán, thân thiết với gia đình anh Quán từ những ngày sóng gió năm 1956-1958 đến nay.

Anh Xuân Đài là một trong bốn người bạn duy nhất được vợ chồng Phùng Quán – Bội Trâm mời dự bữa tiệc mừng đám cưới của hai người. Anh Xuân Đài viết cả một cuốn truyện dày vài trăm trang về cuộc đời Phùng Quán.

Năm nào giỗ Phùng Quán ở nhà Xuân Đài đều có rất nhiều bạn bè đến dự. Vợ chồng kiến trúc sư Nguyễn Trọng Huế – họa sĩ Anh Thơ cũng thường nấu giỗ Phùng Quán. Đơn sơ chỉ một bức ảnh, lư nhang, lọ hoa, nải chuối, chai rượu bày lên bàn…

Vái xong thì rót rượu chạm ly với anh Quán rồi bạn bè ngồi quây quần bên mâm rượu nói chuyện về Phùng Quán. KTS Nguyễn Trọng Huấn là người lính quen biết Phùng Quán từ những năm 1947-1948 thời chống Pháp, là một trong những người đã tổ chức cho anh Quán đi Đồng bằng sông Cửu Long, Bảo Lộc, Đà Lạt năm 1992, đó là những cuộc đi rất ấn tượng đối với Phùng Quán trong những năm cuối đời.

Nên cứ đến gần Tết Nguyên đán là vợ chồng kiến trúc sư Huấn lại nhớ đến ngày giỗ Phùng Quán. ở TPHCM còn có nhà sưu tầm đồ cổ Trần Huy Bách, có rất nhiều kỷ vật về Phùng Quán. Trong nhà anh Bách lập một bàn thờ Phùng Quán. Cứ đến ngày giỗ Phùng Quán, anh Bách lại thắp nhang, rót rượu…

ở Đồng Hới, Quảng Bình, giỗ đầu anh Quán, các nhà thơ như Lê Đình Ty, Hải Kỳ, Hoàng Vũ Thuật… tập trung ở nhà nhà thơ Hoàng Quang Đông ở Cộn. Anh em lập một bàn thờ dưới một gốc mít cổ thụ ở vườn nhà, treo ảnh Phùng Quán, mua con gà giò đơm theo kiểu cúng và các món vàng mã, xôi, rượu… y hệt một đám cúng theo tục lệ Quảng Bình.

Thắp nhang xong, chủ nhà khấn vái Phùng Quán : “Mong anh yên tâm nơi chín suối, vì bây giờ đất nước đã đổi mới, Đảng và nhân dân nhất định sẽ hiểu anh, thương anh hơn, tác phẩm của anh sẽ lưu truyền trăm năm…”. Rồi mọi người cầm nhang vái lạy.

ở Huế ngoài gia đình bên nội anh Quán ở Thủy Dương, còn có tới ba nơi nấu giỗ Phùng Quán suốt hai chục năm nay. Ở nhà Ngô Minh, thì năm nào cũng vậy, đến ngày giỗ anh Quán, từ sáng Ngô Minh đã lập một cái bàn thờ ở phòng viết của mình, có ảnh anh Quán mặc chiếc áo có nhiều chữ ký bạn bè do Nguyễn Đình Toán chụp, mà chị Bội Trâm tặng ngày anh mất. Rồi hoa quả, rượu. Bàn thờ thắp nhang thơm nghi ngút suốt buổi. Buổi trưa, Ngô Minh ra chợ Bến Ngự, chợ mà anh Quán thường đi, mua con gà giò, hoa quả, nấu xôi, chè và các món cúng khác. Rồi đi kiếm chai rượu Hiếu hoặc rượu Chuồn, thứ rượu anh Quán thích. Đến giờ cúng, các bạn thơ Mai Văn Hoan, Lâm Thị Mỹ Dạ, Vĩnh Nguyên, Nhất Lâm… kéo đến, thắp hương khấn vái, chạm ly rồi sụp lạy anh Quán. Sau đó mọi người vừa uống rượu vừa nói chuyện Phùng Quán đến chiều mới tan. Có năm Ngô minh còn “nối cầu điện thoại” với chị Bội Trâm ở Hà Nội, để biết giỗ anh Quán ở Hà Nội đông đúc như thế nào, và để cho chị Bội Trâm nói chuyện với các nhà thơ em anh Quán ở Huế.

Năm 2011, sau khi xây xong lăng mộ vợ chồng nhà thơ Phùng Quán- Bội Trâm, đồng thời trong nha thờ nhánh họ Phùng trong làng Thủy Dương, trên nền đất của ông nội anh Quán có xây một ngồi nhà, làm chỗ thờ tự từ ông nội trở xuống. Nhà thờ này do bác sĩ Phùng Phướn, em com chú của nhà thơ Phùng Quán quản lý, đã đưa bát nhang, di ảnh vợ chồng Phùng Quán- Bội Trâm về thờ ở đây. Ở đây có đặt bức tượng đồng bán thân Phùng Quán do nhà điêu khắc Phạm Văn Hạng tặng. Cứ đến giỗ  Phùng Quán, năm cháu Phùng Đỗ Quyền, con gái lớn từ Viên Chăn, Lào về thì cháu tổ chức nấu giỗ rất thịnh soạn, có khi đến cả chục mâm 10. còn bình thường thì Ngô Minh và Phùng Phướn tổ chức giỗ. Quỹ Phùng Quán do Ngô Minh sáng lập, hàng năm chị  tiền  cho vợ anh Phùng Phướn đi chợ mua đồ nấu gỗ, có năm anh em góp một người một vài trăm; có năm Ngô Minh bị bệnh nằm viện, nhà văn Tô Nhuận Vỹ chi tiền. Đến ngày giỗ, bạn bè văn nghệ sĩ ở Huế về mộ làm vệ sinh rồi cúng rượu hoa quả vàng mã ở mộ. Sau đó về cúng ở nhà thờ trong làng rồi ăn tiệc giỗ. Những người năm nào cũng tham gia giỗ Phùng Quán là nhà văn Tô Nhuận Vỹ, Ngô Minh, Mai Văn Hoan, Vĩnh Nguyên, Nhất Lâm, Hà Khánh Linh.v.v..

Giỗ Phùng Quán hàng năm cũng là dịp để  Quỹ Phùng Quán tổ chức trao thưởng cho một đến hai tác phẩm xuất sắc của các tác giả ở Huế “viết theo lối Phùng Quán”. Quỹ Phùng Quán do Ngô Minh sáng lập  bằng số tiền do văn nghệ sĩ và bạn bè hâm mộ Phùng Quán đóng góp năm 2010 theo lời “Kêu gọi góp cát đá xây lăng mộ Phùng Quán” của Ngô Minh. Số tiền  đóng góp, sau khi xây mộ còn thừa 100 triệu. Ngô Minh gửi vào ngân hàng và lấy tiền lãi để  trao thưởng học trò Thủy Dương, tác phẩm văn học xuất sắc của Huế, cúng giỗ Phùng Quán và tu sửa mộ chí.  Quỹ Phùng Quán hàng năm trao thưởng cho 10 đến 12 học sinh phường Thủy Dương ( Thị xã Hương Thủy) có thành tích học tập xuất sắc nhất. Danh sách học trò do phường xét duyệt. Quỹ Phùng Quán trao cho mỗi em xuất sắc một tấm Giấy chứng nhận khen thưởng của Quỹ Phùng Quán  và số tiền 500 ngàn đồng. Số tiền  500 ngàn đối với học sinh  làng quê nông nghiệp là rất quý, nên Quỹ có uy tín cao trong nhân dân Thủy Dương. Từ năm 2011 đến năm 2015, Quỹ Phùng Quán đã trao thưởng cho 56 em học sinh Thủy Dương và 5 tác phẩm văn học nghệ thuật xuất sắc ở Huế : Tiểu thuyết Vùng Sâu của Tô Nhuận Vỹ, tiểu thuyết Xa Hà Nội của Nhất Lâm, trường ca Gọi tìm xác đồng đội của Trần Vàng Sao, cuốn lý luận phê bình Truyện Kiều, đọc và suy ngẫm của Mai Văn Hoan, và năm 2015 là tập thơ Lục bát rời của Nguyên Quân. Tặng thưởng của Quỹ Phùng Quán về văn học rất được văn nghệ sĩ Huế tán đồng và phấn khích.

Khoảng 10 năm đầu, kể từ khi Phùng Quán mất, nhiều nơi cugnx có các hình thức để tưởng nhớ nhà thơ Phùng Quán nhân ngay giỗ. Gia đình nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ – Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng thường nấu giỗ Phùng Quán. Vì sinh thời, anh Quán vào Huế thường ở nhà này, có khi đến nửa năm trời. Đến ngày giỗ, chị Dạ đi chợ mua các loại thực phẩm về làm mâm cỗ, bày bàn cúng, thắp nhang rồi cùng bạn bè khấn vái, mong anh Quán “phù hộ” cho anh em “làm thơ hay!”.

Giỗ Phùng Quán trang trọng nhất ở Huế phải là giỗ ở nhà vợ chồng thầy giáo Lê Gia Ninh – Nguyễn Thị Thủy ở Thành Nội Huế. Lê Gia Ninh là nhà văn của Hội Nhà văn Thừa Thiên – Huế. Nhiều lần anh Phùng Quán vào Huế chơi, đã trú ngụ tại đây hàng mấy tháng trời.

Khi anh Quán bị bệnh, chị Thủy cũng đã ra Hà Nội chăm sóc anh Quán trong những ngày cuối đời. Từ mười năm nay, nhà anh Lê Gia Ninh lập một bàn thờ Phùng Quán ở bức tường phía cửa vào. Bàn thờ được gắn vào tường, có ảnh Phùng Quán, có bát nhang, lọ hoa, và luôn luôn được đơm hoa quả, thắp nhang hàng ngày.

Trước ngày giỗ anh Quán vợ chồng Ninh – Thủy đi chợ mua sắm các thứ anh Phùng Quán ưa thích như rượu Chuồn, cá chép, xôi, chè, bánh trái Huế, v.v… Ngày giỗ, anh Lê Gia Ninh mời hàng chục người bạn là thầy giáo Huế, các nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, bạn bè yêu mến Phùng Quán đến dự.

Anh khách nào đến trong tay cũng có chai rượu, túi hoa quả, thẻ nhang. Thắp nhang bàn thờ xong, Lê Gia Ninh bắt đầu khấn vái : “Anh Quán ơi, hôm nay ngày giỗ anh, anh có về Huế không? Huế vẫn nhớ anh lắm…”.

Khấn xong, Lê Gia Ninh sụp lạy, theo kiểu Phùng Quán lạy tạ làng quê. Rồi ngẩng lên, đọc “Lời mẹ dặn”: Yêu ai cứ bảo rằng yêu. Ghét ai cứ bảo là ghét. Dù ai cầm dao dọa giết. Cũng không nói ghét thành yêu… Anh đọc thuộc bài thơ, rồi nghiêm trang thắp thêm tuần nhang nữa…, sau đó là bạn bè thắp nhang vái và nâng cốc, rồi đọc thơ Phùng Quán!

Mới đây, bác Đặng  Sĩ Dự, một cán bộ hưu trí ở Huế, do yêu mến và cảm phục nhà văn, đã lập một am thờ Phùng Quán trong vườn nhà mình ở Hương Sơ. Bác dự định sẽ khai trương am thờ trong dịp giỗ Phùng Quán lần thứ 12 ở nhà bác và tổ chwucs cúng giỗ.

Nhiều nhà văn, nhà báo cũng “nấu giỗ Phùng Quán” theo cách riêng của mình. Như Tổng biên tập Tạp chí Sông Hương, năm nào đến kỳ giỗ Phùng Quán cũng làm một số tạp chí đậm hơn về anh.

Các nhà báo Ngô Quy Nhơn, Tổng biên tập báo Đà Nẵng, anh Dương Kỳ Anh, Tổng biên tập báo Tiền phong… năm nào cũng in bài về Phùng Quán vào ngày giỗ của anh hoặc số báo gần gần. Những số bài, bài báo đó làm cho độc giả càng hiểu đúng hơn về Phùng Quán, coi như một nén nhang thắp trong ngày giỗ anh!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.01.2017

Cảm nhận khi đọc bộ sách “Ngô Minh tác phẩm”:

NGÔ MINH VÀ NHỮNG ĐỐI THOẠI BỀ SÂU TRONG THƠ

 

   “những gì sâu thẳm ngoài vô tận/đều có cho ta giữa bạn bè” (Ngô Minh)

 

anh-tuan                                                                             YẾN THANH

( nhà văn- tiến sĩ Phan Anh Tuấn)

(Tặng nhà văn Nhất Lâm)

 

Thơ ca là thể lại luôn tìm kiếm những cuộc hồi đáp bất tận giữa người viết (thông qua cái tôi trữ tình) với người đọc, hoặc với những phóng thể của người đọc trong văn bản, dưới lốt những nhân vật trữ tình. Xuất phát từ khiếm khuyết không thể xây dựng nên những nhân vật hoàn chỉnh, có số phận, có tư tưởng, có tính cách, diện mạo như trong tự sự, đặc biệt là trong những tiểu thuyết có tính chất đa thanh mà Bakhtin đã chỉ ra, nên về thực chất bản chất thơ ca (trừ truyện thơ) không có những đối thoại hoàn chỉnh về mặt lời nói và cả về mặt tư tưởng, cũng như ý thức kiểu “con người trong con người”. Từ đó, thơ ca đã xây dựng cho mình những kiểu đối thoại đặc thù, mang bản sắc trữ tình. Nhà thơ, về cơ bản luôn kiếm tìm sự tri âm từ phía bạn đọc, kiểu Bá Nha – Tử Kỳ hay Nguyễn Khuyến – Dương Khuê. Thơ họ viết trước tiên hướng về những người đọc tri âm – lý tưởng, do đó, ta có thể thấy không một thể loại nào có những đề tặng nhiều hơn thơ ca. Có nhiều thi phẩm, tiêu biểu như Tơ sương của Hồ Thế Hà [Nxb Văn học, 2015], hầu như bài nào trong tập thơ cũng có đề tặng một ai đó, kể cả những người đã sống lẫn những người đã chết, cả với những người quen biết lẫn những tiền nhân. Bài thơ trong trường hợp này, như một tiếng nói cất lên để chờ đợi sự hồi đáp, hoặc đó là lời hồi đáp đối với những đối thoại trước đó của tha nhân. Người tri kỷ bao giờ cũng được đề tặng dưới tựa đề bài thơ, như một sự gọi mời đối thoại.

Cách đối thoại thứ hai, đó là đưa những chủ thể đối thoại vào trong văn bản thơ, biến họ trở thành những nhân vật trữ tình trực tiếp trò chuyện với cái tôi trữ tình, hoặc nương theo điểm nhìn của các nhân vật trữ tình ấy nhằm bộc lộ tâm tư tình cảm. Theo kiểu đối thoại này, bản thân những nhân vật được đưa vào trong thơ đã biến thành những “mã nghệ thuật”. Từ những nhân vật có thật trong đời sống, họ biến thành những phạm trù thẩm mỹ, những vấn đề tư tưởng, những hình tượng nghệ thuật. Đối thoại lúc này rõ ràng hơn, bởi vì nó hiển hiện lên trên bề mặt văn bản chứ không còn tồn tại dưới dạng thế năng như loại nói trên. Điều đó lại càng minh chứng rõ ràng cho chức năng giao tiếp của văn học. Viết nên một tác phẩm, nhất là tác phẩm trữ tình vốn nặng về tính tự biểu hiện, thì bao giờ nhà thơ cũng mong muốn hồi đáp, tri âm với độc giả. Nhà thơ càng lớn lại càng cảm thấy cô đơn như trường hợp của Nguyễn Du, do đó, nhu cầu đối thoại, giao tiếp lại càng khắc khoải trong tác phẩm văn học.

Trong nền văn chương Việt Nam đương đại, có thể nói hiếm có nhà văn nào có nhiều bạn bè và nhu cầu giao tiếp qua thơ với bạn bè như Ngô Minh. Đọc lại bộ Tuyển tập đồ sộ với năm tập [Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, xuất bản 2015] của ông, tôi lại càng thấy rõ đặc trưng này. Chỉ tính Tập 1 chuyên về Thơ, Ngô Minh đã dành riêng một phần dung lượng lớn dành cho bạn bè trong thi giới của mình. Thơ viết cho bạn bè như một sự tri âm đối thoại của Ngô Minh được để trong phần 3 (Thơ tặng) với lời đề từ: “Bạn ơi bạn ơi rượu hay nước mắt – cạn túi mươi đồng cạn cốc tặng nhau – cay đắng trong veo nồng nàn cũng trong veo – trong veo câu thơ thương người biết khóc”.

Phần thơ viết cho bạn bè của Ngô Minh bao gồm 48 bài [từ tr.222 đến tr.300] – đó là một dung lượng không hề nhỏ. Tìm hiểu đối tượng đối thoại cũng như nội dung đối thoại trong thơ Ngô Minh, chúng ta sẽ tìm ra cho mình cái chìa khóa để len lỏi vào trong cánh đồng mật ngữ và thế giới nghệ thuật đồ sộ của nhà thơ.

Tôi muốn chia những đối thoại đối thoại trong thơ Ngô Minh ra làm hai nhóm, nhóm thứ nhất bao gồm những tiền/danh nhân mà nhà thơ muốn thông qua cuộc đời, tư tưởng của họ để nói lên tâm tư, tình cảm và thế giới quan của mình. Những đối tượng đối thoại này do đó, chỉ là cái cớ để nhà văn hướng đến những đối tượng đối thoại đích thực là bạn đọc đương đại, hoặc là nhà thơ muốn tự vấn, phản tư, tự đối thoại với chính mình. Nhóm này xuất hiện hiển minh trên bề mặt văn bản (mà đặc biệt là hiện hữu ngay trên tựa đề) và được diễn đạt cụ thể bằng những câu chữ mà ta hiểu được. Nhóm thứ hai bao gồm những bạn bè của nhà thơ, những người mà ông có tiếp xúc trực tiếp và bài thơ như là một vật chứng chữ nghĩa cho sự tri âm, kỉ niệm của cả hai. Nhóm này đa phần chỉ được nhận diện thông qua những lời đề tặng chứ không xuất hiện trên bề mặt câu chữ hay tựa đề. Đọc những bài thơ này, chỉ một số dung lượng nội dung nhất định là có thể giúp chúng ta hiểu về quan hệ giữa tác giả và đối tượng đối thoại, còn việc giải mã trọn vẹn nội dung bài thơ thì có lẽ chỉ có những bạn đọc lý tưởng – tri âm, tức là những người được đề tặng mới có khả năng thực hiện trọn vẹn. Cả hai loại đối tượng trò chuyện này chuyển tải những mã nghệ thuật khác nhau, có vai trò tư tưởng khác nhau trong thơ Ngô Minh.

1.Mượn màu son phấn ra đi.

Tôi muốn đề cập trước tiên đến nhóm đối tượng đối thoại là những tiền/danh nhân, xuất hiện tường minh cụ thể trên bề mặt văn bản. Từ góc độ tư tưởng và quan niệm nghệ thuật của nhà thơ, rõ ràng nhóm này đóng vai trò quan trọng hơn. Bởi vì, việc lựa chọn người này chứ không phải người kia, người khác chứng tỏ nhà văn phải tìm thấy một điều gì đó, một vấn đề tư tưởng nào đó từ họ mà người viết đồng cảm, hoặc cảm thấy có thể dùng nó như một phương tiện nhằm đưa ra thông điệp, tuyên ngôn nghệ thuật của mình. Ví dụ, khi Ngô Minh chọn Nguyễn Du chứ không phải Nguyễn Công Trứ hay Nguyễn Trãi hay Trần Nhân Tông – những đại thi hào dân tộc khác là bởi Nguyễn Du mang thân phận trí thức bên lề, quan lại suy tàn và Truyện Kiều có sự quan tâm nhân đạo nhất đến tầng lớp người dưới đáy xã hội. Những nhà thơ còn lại không kém tài, nhưng họ là những người thành đạt, đứng ở vị trí trung tâm (hoặc chủ yếu cả sự nghiệp nằm ở vị trí trung tâm) trong chế độ phong kiến dùng Nho giáo làm hạt nhân tư tưởng. Thơ của họ là thơ ca ngợi/tụng ca, thơ hành đạo hoặc là thơ hưởng lạc, tài tử của kẻ đã thành đạt, ngất ngưởng (Nguyễn Công Trứ). Rõ ràng, Ngô Minh thấy đồng cảm với Nguyễn Du hơn, hoặc thông qua Nguyễn Du nhà thơ được nói lên tư tưởng của mình dễ dàng hơn, hoặc cả hai ý nghĩa ấy.

Một số những bài thơ có đối thoại kiểu này bao gồm các thi phẩm tiêu biểu như Bên thành nhà Hồ nghĩ về Hồ Quý Ly, Đi bộ với cụ Tú Xương, Nguyễn Minh Châu, Ngô Kha, chào anh, Ghi ở đường Kim Ngọc, Trần Dần cõi lặng, Nhớ ông Nguyễn Tuân, Lạy cụ Nguyễn Du, Tưởng niệm Văn Cao, Trước mộ cụ Phạm Quỳnh…Dù có từng cấp độ cống hiến/danh tiếng khác nhau đối với lịch sử dân tộc và lịch sử nghệ thuật, nhưng ta có thể nhận ra điểm chung của tất cả những đối tượng đối thoại này là họ đã đi vào thiên cổ và đã vượt qua được sự thử thách khắc nghiệt của thời gian. Đa phần trong số họ là những vĩ nhân, những anh hùng dân tộc, hoặc là những nghệ sĩ lớn, những người có công phát triển nền kinh tế, văn hóa, nghệ thuật nước nhà. Thông qua cuộc đối thoại với những tiền nhân này, Ngô Minh muốn gửi đến bạn đọc đương đại những thông điệp đang hiện hữu trong đời sống thực tại. Bởi một lẽ dĩ nhiên, chẳng ai lại đi nói chuyện với người chết. Ta có thể thấy qua cuộc trò chuyện với Nguyễn Du, Ngô Minh muốn nói về thực tại văn chương nước nhà, và rộng ra, là cả bối cảnh văn hóa nhiều biến động trong thời hội nhập. “lạy này xin cụ ngậm cười – văn chương trần thế chín mười đơn sai – chữ tâm rơi rớt dặm dài – chữ tài liền với chữ tai thôi thì” ( Ngô Minh tác phẩm (Tập 1 – Thơ), Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, tr.225 – Mọi trích dẫn thơ Ngô Minh từ đây về sau, nếu không có chú thích gì thêm thì đều từ nguồn này]. Qua cuộc đối thoại với Hồ Quý Ly, Ngô Minh thể hiện sự đồng cảm, ủng hộ, thương tiếc đối với những nỗ lực đổi mới, canh tân nước nhà trong cô đơn, bài thơ ra sức chiêu tuyết cho những hiểu nhầm (cố tình) của lịch sử về một triều đại soán ngôi, “ngụy” như triều Hồ. “Tôi thương ông đơn dộc – phát hành tiền giấy, dùng chữ Nôm – cải cách đo lường, cân, thước – ông đổi mới, nhưng chẳng ai nghe – trăm họ vinh thân trong cái cũ” [tr.300]. Thể hiện sự đồng cảm với nỗi cô đơn “canh tân trong đơn độc” của Hồ Quý Ly, về thực chất sâu xa hơn, Ngô Minh muốn cất một tiếng nói đồng cảm, ủng hộ với những người quyết tâm đổi mới nước nhà thời kì hội nhập quốc tế. Có thể thấy, nền văn học hậu hiện đại nước nhà từ tiểu thuyết lịch sử Hồ Quý Ly [Nxb Phụ nữ, 2000] của Nguyễn Xuân Khánh cho đến thơ ca Ngô Minh, bao giờ Hồ Quý Ly cũng là một mã nghệ thuật vượt ra ngoài ý nghĩa lịch sử, nhằm động chạm, đổ bóng lên những vấn đề đương đại, khi mà sự nghiệp đổi mới, cách tân ngày một trở nên bức thiết và tạo ra nhiều bước ngoặt. Do đó, đọc nhiều câu thơ trong thi phẩm ta hoàn toàn có thể nhận ra thông điệp đương đại mà Ngô Minh nhắc nhở mỗi người: “Hồ Nguyên Trừng bảo: “không sợ giặc – chỉ sợ lòng dân không theo – dân không theo thì triều đại nào cũng đổ – dù thành đá cao vững đến giờ” [tr.300]. Cái giới hạn, nhược điểm của một nhà canh tân, cải cách quân sự, kinh tế, văn hóa tài ba như Hồ Quý Ly là không được lòng dân. Bài học ấy, cho đến nay vẫn chưa hề cũ kĩ và ta không được phép sao nhãng một lúc nào.

Từ những ví dụ trên, ta có thể thấy đối thoại với tiền/danh nhân thực chất chỉ là cái khuôn khổ giả định mà thông qua đó, Ngô Minh đối thoại với bạn đọc đương đại, chuyển tải những thông điệp đương đại có tính cấp thiết. Thái độ trí thức và sự dụng hành của thơ ca với cuộc đời lúc này rõ ràng không bị mất đi khi trò chuyện với những người thiên cổ, mà ngược lại, càng được nhấn mạnh và làm dày lên. Từ một góc độ khác, thử lí giải tại sao Ngô Minh lại chọn một nhóm những tiền/danh nhân nhất định chứ không phải những người khác, vốn có thể còn nhiều cống hiến, thành tựu hoặc còn nổi tiếng hơn. Tại sao lại là những Hồ Quý Ly, Phạm Quỳnh, Nguyễn Tuân, Trần Dần, Phùng Quán, Phùng Cung, Trịnh Công Sơn, Hải Bằng, Văn Cao, Nguyễn Minh Châu, Kim Ngọc… lại được chọn để đối thoại chứ không phải những tượng đài, những lá cờ đầu như Lê Lợi, Sóng Hồng, Tố Hữu, Huỳnh Thúc Kháng, Huy Cận, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi, Đặng Thai Mai, Hữu Thỉnh…

Theo tôi, xâu chuỗi lại các đối tượng được chọn, ta đều có thể nhận ra dù bao phủ trên nhiều địa hạt khác nhau như chính trị, văn hóa, văn học, âm nhạc cũng như có không ít thành tựu nhưng họ đều là những trí thức bên lề, hoặc đã từng mang thân phận “trí thức chịu nạn”, từng nếm trải những biến cố lớn trong đời. Hồ Quý Ly là một nhà cải cách nhưng xuyên suốt lịch sử vẫn bị xem là “ngụy triều” bởi hành động “cướp ngôi” nhà Trần vào thời mạt kì. Lòng dân không theo khiến vương triều của nhà Hồ nhanh chóng đổ sụp, Hồ Quý Ly cùng con trai Hồ Hán Thương bị giặc Minh bắt sống giải về Trung Hoa và chết nơi đất khách quê người. Kim Ngọc (1917 -1979) là Bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phú. Ông là cha đẻ của chính sách khoán hộ hay còn gọi là “khoán mười”, là người mở đầu cho công cuộc đổi mới nền nông nghiệp Việt Nam những năm thuộc thập niên 60 của thế kỷ XX. Mặc dù là một người có công lao lớn đối với đất nước, giúp Việt Nam từ một quốc gia đói ăn trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới, người đã được cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp tri ân, nhưng cuộc đời Kim Ngọc trải qua nhiều biến cố buồn, sự cô lập và hiểu lầm một thời, bởi những cải cách của ông ở thời điểm nó được đề xuất còn quá mới mẻ, quá táo bạo và quan trọng hơn là quá khác so với cách nghĩ của phần đông lãnh đạo đương nhiệm. Kim Ngọc do đó, được lựa chọn không chỉ đơn thuần là trí thức canh tân, và là người cộng sản gần dân, dám đấu tranh vì cái đúng, mà còn bởi ông là trí thức chịu nạn, là người từng bị đẩy ra ngoại biên của đời sống chính trị. Cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh – con người tinh anh mở ra kỷ nguyên đổi mới từ sau đại hội VI (1986) của Đảng từng đánh giá cao công lao Kim Ngọc và mong muốn có một con đường mang tên ông từ năm 1988. Mấy chục năm sau, thi sĩ Ngô Minh khi đứng trước con đường mang tên Kim Ngọc ở thành phố Việt Trì, một trong hai con đường đẹp nhất ở đây đã viết nên những vầng thơ cho người xưa:

– Tên ông vừa được đặt cho con phố nhỏ

 nhưng 30 năm rồi

triệu triệu nông dân đã đặt tên ông

cho những thửa ruộng cứu mình

con đường mang tên ông nối dài muôn chân ruộng [tr.257].

Có thể nói, chính cái số phận “chui lủi” đi tìm sự thật, “lén lút” nửa đêm cày ruộng mình, được nhân dân “lén lút” khóc bởi bản thân ông bị kiểm điểm, bị cô lập của Kim Ngọc, đã khiến vị nguyên Bí thư tỉnh ủy được Ngô Minh lựa chọn để đối thoại. Đó cũng chính là điểm rất gần gũi của thân/số phận của Kim Ngọc so với những người còn lại như Phạm Quỳnh, Trịnh Công Sơn hay Văn Cao, Hồ Quý Ly… Phạm Quỳnh (1892 – 1945) cũng là một thân phận trí thức tiêu biểu khác gặp biến nạn trong cuộc đời. Là một trí thức nhà Nho yêu nước, với chủ trương chống Pháp bằng bất bạo động, Phạm Quỳnh từng là một nhà chính trị với nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình nhà Nguyễn, tiêu biểu là chức Thượng thư Bộ Lại và Thượng thư Bộ Học. Tuy nhiên, vai trò và cống hiến quan trọng của Phạm Quỳnh lại được thể hiện trên địa hạt văn chương bao gồm dịch thuật, khảo luận và du ký. Có thể nói, ông là nhà văn hóa lớn đầu thế kỷ XX, góp phần vào việc hiện đại hóa văn học nước nhà thông qua hoạt động khuyến khích sử dụng chữ quốc ngữ. Mặc dù có nhiều công trạng, nhưng số phận của Phạm Quỳnh lại rất long đong, với một cái chết oan khuất và bí ẩn. Một cái chết mang thân phận người trí thức canh tân lạc thời hoặc chưa hợp thời, một mất mát mà bản thân chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đầy chua xót, tiếc nuối. Từ những ý nghĩa ấy, Ngô Minh đã viết về Phạm Quỳnh khi đứng trước mộ của tiền nhân tại chùa Vạn Phước ở Huế. Cuộc đối thoại giữa Ngô Minh và Phạm Quỳnh lúc này được lấy cảm hứng từ câu nói nổi tiếng của cụ Phạm:

– Truyện Kiều còn

Tiếng ta còn

Tiếng ta còn

Nước ta còn

Từ đó, nhà thơ mở ra một đối thoại:

– Con xin cúi đầu bắt chước cụ…

Nước ta còn

Phạm Quỳnh còn [tr.259].

Đó là một lời khẳng định cho sự trường tồn, bất tử của những con người đã xả thân và chịu nhiều cay đắng trong những khúc quanh của lịch sử. Sự hi sinh của họ là không thể bù đắp, chữa lành, nhưng nó không hề vô ích và họ sẽ không bao giờ cô đơn, bởi thời gian sẽ trả lại cho Cesar những gì từng là của Cesar, nhân dân sẽ không bao giờ quên họ và sự bất tử của họ sẽ là món quà vĩ đại nhất mà mỗi kiếp người có thể nhận về.

Những trường hợp đối thoại còn lại như Nguyễn Tuân, Phùng Quán, Trần Dần, Văn Cao, Phùng Cung, Trịnh Công Sơn, Hải Bằng… đều là những văn nghệ sĩ lớn của dân tộc thời hiện đại, nhưng họ hoặc thuộc về nhóm Nhân văn giai phẩm, hoặc thuộc về nhóm những người cách tân, đổi mới từng chịu nhiều kì thị, cấm đoán. Trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, “vụ án” văn chương “Nhân văn giai phẩm” có lẽ là biến cố quan trọng nhất trong quản lí văn nghệ. Bỏ qua thái độ chính trị hoặc những hoạt động báo chí không đúng đắn mà chúng ta chưa/không bàn đến ở đây, có thể nói vụ việc “Nhân văn giai phẩm” là một mất mát lớn cho nền văn nghệ nước nhà, khi hàng loạt những văn nghệ sĩ lớn bị đẩy ra ngoại biên đời sống văn học, bị “treo bút” không được tham gia sáng tác (mà thực chất là không được công bố tác phẩm công khai) hoặc sinh hoạt hội văn nghệ nữa. Biến cố ấy đã gây nên trạng huống chấn thương sáng tạo trong sự nghiệp của rất nhiều nghệ sĩ lớn, khiến họ mưu sinh và sáng tác hết sức khó khăn, thậm chí bị/được rẽ ngang theo một hướng khác, suy tư khác trong nghệ thuật. Vượt qua những biến cố, tai biến đầy bi kịch ấy, dưới quan điểm đổi mới, đề cao dân chủ và nhìn nhận thẳng vào sự thật của Đảng từ sau đại hội VI, đa phần những văn nghệ từng một thời bị đẩy ra ngoại biên đã dần tìm lại được sự thừa nhận, tôn vinh đúng với tài năng, nhân cách và vị thế nghệ thuật của họ thông qua những giải thưởng Hội nhà văn, giải thưởng Hội nhà văn Hà Nội, giải thưởng Nhà nước hay giải thưởng Hồ Chí Minh. Những người kém nổi bật hơn như Phùng Cung thì mãi gần đây (2012) cũng đã được xuất hiện lại trên văn đàn với tập thơ Xem đêm (Nxb Hội nhà văn).

Đối với cuộc đời những nhà văn từng chịu thân phận bên lề, ngoại biên, Ngô Minh luôn tìm thấy ở họ sự lấp lánh của tài năng, sự dữ dội của tính cách và sự cô đơn bản thể thường trực của kiếp người. Với Nguyễn Tuân, trong bài Nhớ ông Nguyễn Tuân, đó là sự hiên ngang trước bão lớn của một nhân cách thị tài và niềm đam mê cái đẹp như một tôn giáo:

Không ai trùm che nổi ông

ông chẳng trùm che ai

bóng mát văn ông chim vể xây tổ…

…nói với tôi: Mình hãy cứ là mình

nếu mong đến một cái gì đích thực [tr.223]

Với Trần Dần, cuộc đối thoại thơ trong Trần Dần cõi lặng nghiêng về sự đồng cảm với thân phận bên lề của người “thủ lĩnh trong bóng tối” (Trần Ngọc Hiếu): “30 năm – lặng ngồi – lặng nghe – lặng du sổ bụi – 30 năm – lặng khóc – người bay khát bầu trời – tai ương như núi” [tr.237]. Cái tâm trạng sợ hãi, cô đơn, khắc khoải sáng tạo này ta cũng dễ dàng tìm thấy trong Một chút Phùng Cung, bởi nhà thơ đối thoại cùng Ngô Minh cũng là một trí thức trong Nhân văn giai phẩm: “gió quê – len lén – vén rèm… – thắc thỏm – trăng già tái mặt – phòng văn – vội khép – thở dài” [tr.246]. Cuộc sống mưu sinh gian khó giữa đời thường nhưng giản dị, gần gũi với nhân dân của Phùng Quán cũng được Ngô Minh khắc họa trong Phùng Quán II: “còn lại anh – nhân vật của chính mình – 30 năm – cá trộm – văn chui – rượu chịu – 30 năm – vịn câu thơ đứng dậy” [tr.256].

Những đối thoại thơ của Ngô Minh với những danh/tiền nhân trong trường hợp này không phải là sự chiêu tuyết, phục hưng, biện hộ hay giãi bày đối với những con người ít nhiều từng rơi vào vòng xoáy của sự bỏ rơi, bị đẩy ra ngoài lề đời sống văn học, mà thực ra, đó là sự đồng cảm chân thành trước những tài năng nghệ thuật lớn, những cá tính sáng tạo tiêu biểu của văn học Việt Nam thế kỷ XX. Cuối cùng, khi tất cả đã trôi qua, chỉ còn tác phẩm văn học là cái còn lại, và cũng chỉ có cái đẹp là bất tử trước thời gian. Người nghệ sĩ có thể sai lầm trên mọi phương diện, kẻ khiếm khuyết và thất bại trong đời sống và mọi lĩnh vực, nhưng chỉ cần họ còn để lại những tác phẩm bất hủ cho đời sau thì họ sẽ còn mãi bất tử trước thời gian.

  1. Rượu ngon đã có bạn hiền

Phàm ở đời, nhất là ở trong thơ, thật may mắn cho ai đó nếu tìm được một tiếng nói tri âm, tức một người đọc lý tưởng có thể hiểu mình như chính mình hiểu mình. Trong mối quan hệ đối thoại ấy, chúng ta trở thành/nên chính mình, như cái bản lai diện mục bề sâu bên trong. Chỉ với những người bạn tri âm, nhà thơ nói riêng và mỗi cá nhân nói chung mới được nhìn nhận đúng với bản nguyên như họ muốn/có. Triết gia Montaingne từng cho rằng chỉ thông qua mối quan hệ bằng hữu với người bạn La Boétie thì ông mới được phép trở nên là chính mình, tức được bộc lộ con người thực của ông ta. “Điều này cho thấy chúng ta chọn bạn bè không chỉ vì họ tử tế và thú vị, mà có lẽ quan trọng hơn là vì họ hiểu chúng ta như cách mà chúng ta nghĩ về bản thân mình”1. Có lẽ cũng chính vì lí do này, mà Ngô Minh đề tặng hay viết về rất nhiều bạn thơ đương thời của ông trong xuyên suốt sự nghiệp thơ ca dài hơi và có nhiều thành tựu.

Xem lại những bạn thơ từng được Ngô Minh tặng thơ hay viết về, ta cũng sẽ phần nào hiểu rõ hơn cái tôi sáng tạo và nhân cách nhà văn, bởi “đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy”. Nhưng sâu xa hơn, tìm hiểu những cuộc đối thoại, những mối quan hệ này, ta cũng sẽ phần nào phác thảo nên được chân dung một thế hệ trí thức, thế hệ văn nghệ sĩ đầu thế kỉ XX, trưởng thành trong/sau chiến tranh chống Mỹ.

Nhóm những đối thoại thơ thứ hai này nhìn chung đa dạng, phức tạp hơn so với nhóm đầu tiên. Nhiều người được đề tặng và đối thoại là những người đời thường, không có danh tiếng mà có lẽ chỉ có nhà thơ mới là người hiểu rõ về đối tượng đối thoại. Ta có thể kể ra hàng loạt trường hợp như “nhà thơ Tôn Phong bán chè ở ga Nha Trang”, Phan Luận – một nhà thơ trẻ của Quảng Trị, Phùng Thế Ủy, Trịnh Thanh Sơn, Hải Yến, Huy Tập, Lê Xuân Đố, Hà Nhật… Một số người đối thoại được Ngô Minh ghi chú thích ngắn gọn về tiểu sử, hoặc thể hiện trên tiêu đề để bạn đọc phổ thông biết được họ là ai, quan hệ gì với người viết. Một số người khác, có lẽ hữu ý hơn vô tình mà Ngô Minh không hề ghi chú về thân phận của họ. Có lẽ, nhà thơ muốn cất dấu riêng những kỉ niệm, những vật chứng không thể/nên đẽo tạc thành lời. Trong trường hợp này, thơ đúng là tiếng nói tri âm mà chỉ những người đồng bệnh/cảm/điệu mới hiểu được cho đến tận ngọn nguồn.

Xem xét lại những bạn thơ được đưa vào để đối thoại, chúng ta nhận ra một số đặc điểm như sau. Thứ nhất, Ngô Minh là nhà thơ đi nhiều, quảng giao rộng trong văn giới. Những bạn thơ đối thoại của ông gần như kéo dài trên mọi miền đất nước, từ Quảng Bình quê ông (Hoàng Vũ Thuật, Lê Đình Ty, Đỗ Hoàng, Đào Tư, Lâm Mỹ Dạ), cho đến Thừa Thiên Huế nơi ông cư trú (Minh Tâm – vợ ông và các con tác giả, Xuân Hoàng, Phương Xích Lô, Hải Bằng, Nhất Lâm, Nguyễn Khoa Điềm, Hoàng Phủ Ngọc Tường…), cho đến Nha Trang (Tôn Phong), Quảng Trị (Phùng Thế Ủy), Hà Nội (Lan Hương), Đà Nẵng (Phan Luận – cư trú tại Đà Nẵng), Vũng Tàu (Xuân Sách), Hòa Bình (Bùi Thị Tuyết Mai), Nam Định (Huy Tập, Hải Yến), Cà Mau (Nguyễn Trọng Tín)… Nhà thơ luôn là sinh thể cô đơn và xê dịch, bởi cô đơn nên càng xê dịch và do xê dịch nên lại càng thấy cô đơn. Ngô Minh đi nhiều nhưng hình như luôn buồn, không thấy đâu thực sự là quê hương. Một cách cắt nghĩa tâm lý bề sâu theo lối phân tâm học tác giả, nhân đọc lại tiểu sử ta mới hiểu rõ căn nguyên sáng tạo này. Sinh ra sau Cách mạng tháng Tám (1949), Ngô Minh gần như trọn trải/trọn cuộc đời thanh xuân đẹp nhất của mình trong khói lửa của hai cuộc chiến tranh vệ quốc chống Mỹ và chống Pháp thần thánh của dân tộc. Nhưng biến cố bố ông bị qui oan là địa chủ và bị tử hình trong cải cách ruộng đất đã để lại một chấn thương tâm lý bề sâu trong tâm thức Ngô Minh [xin xem trang 442 tập 1, sách Ngô Minh tác phẩm]. Đó là một chấn thương dai dẳng trong tâm lí bề sâu của Ngô Minh, một vết thương gần như không thể chữa lành theo thời gian giống như trường hợp nhà văn Nguyễn Khắc Phê. Đọc tiểu thuyết có tính chất tự truyện Biết đâu địa ngục thiên đường [Nxb Phụ nữ, 2010] của Nguyễn Khắc Phê, ta cũng có thể nhận ra chấn thương tâm lý mất cha từ cải cách ruộng đất đã ảnh hưởng lên tâm thức sáng tạo của người nghệ sĩ ra sao.

Chấn thương thiếu cha này, dưới góc độ phân tâm học đã cắt đứt sự lưu luyến, êm đềm của ông với quê hương Quảng Bình, bởi quê ông cũng là nơi cha nằm xuống. Cuộc đời và tâm thức Ngô Minh, có lẽ là một sự lưu đày, trốn chạy khỏi nỗi đau thiếu cha, mất cha oan khuất. Việc thoát ly đi bộ đội vào miền Đông Nam bộ năm 1973 lại càng khiến thói quen xê dịch, xa quê trong ông trở nên thường trực hơn. Hòa bình lập lại, ông trở về làm báo ở Bình – Trị – Thiên (Trưởng đại diện báo Thương Mại tại miền Trung), đó có thể xem như một cuộc hành hương về lại cội nguồn, một cuộc hòa giải với thực tại. Nhưng sau đó, quá trình chia tỉnh phút chốc lại biến ông trở thành kẻ xa quê, ngụ cư ngay trên mảnh đất nhà ông thực ra không hề dịch chuyển về mặt địa lý. Đọc lại bài Gió nồm tặng Hoàng Vũ Thuật – một nhà thơ đồng hương Quảng Bình với Ngô Minh, ta sẽ thấy khá rõ cái cảm thức ly hương mặc dù không xê dịch tí nào của Ngô Minh:

– người đã bỏ ta đi

sao gió còn trở lại?

gió nồm ơi

đêm có kịp về

đỡ buốt lòng

 tóc bao người bay rối [tr.271].

Đây là một bài thơ đặc biệt không chỉ trong câu từ, hình tượng, mà cụ thể hơn, nó được chính nhà thơ chú thích cuối bài rằng được viết trong hoàn cảnh, thời điểm: “Đồng Hới, ngày chia lại tỉnh” [tr.271]. Cộng với những hình tượng, tâm trạng có tính chất lưỡng phân, đối lập: “chạy trốn – hay tìm về – vẫn người bến cũ – ngọn lá rách bươm trên nóc kì đài” [tr.271] càng cho thấy cảm xúc hỗn độn của tâm thức kẻ ngụ cư (tại Thừa Thiên Huế) trên nơi ngày hôm qua vẫn còn là quê hương (Bình – Trị – Thiên) của Ngô Minh. Điều này càng thúc đẩy tôi nghĩ rằng, nếu không có cảm thức ly hương, nếu không có sự kiện chia tách tỉnh Bình – Trị – Thiên, thì Ngô Minh sẽ không cần phải tỏ bày, đối thoại với Hoàng Vũ Thuật. Giải đáp được câu hỏi tại sao lại tặng Hoàng Vũ Thuật – một nhà thơ Quảng Bình mà không phải bất kì ai khác, ở những nơi khác, ta sẽ hiểu tại sao nhà thơ cần tri âm trong thơ. Rộng ra, cái ham muốn, nhu cầu tự nhiên cần đối thoại trong thơ với những tri âm bạn bè, chỉ là sự phóng chiếu một tâm thức cô đơn và tâm thức lưu đày, ly hương trong vô thức sáng tạo của Ngô Minh.

Quay trở lại với việc khảo sát tính chất, cuộc đời, thân phận những bạn bè thơ của Ngô Minh, ta thấy rõ có một dụng ý/quan niệm nghệ thuật khá rõ của tác giả. Như đã nói ở trên, chủ yếu bạn bè đối thoại trong thơ của Ngô Minh là những người bình thường, thậm chí vô danh. Trừ một số rất ít văn nghệ sĩ thành danh là bạn nối khố tuổi ấu thơ của ông như Lâm Thị Mỹ Dạ, Bửu Chỉ, Hoàng Vũ Thuật, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trương Bé, Nguyễn Trọng Tạo… thì đa số bạn bè trong thơ của Ngô Minh là những người nghèo khó, thuộc tầng lớp bên lề của xã hội. Có thể kể ra Phương xích lô, Nhất Lâm, Tôn Phong bán chè, Phan Luận, Lại Đăng Thiện… Họ lựa chọn tâm thế, vị trí bên lề, dưới đáy không hẳn là do điều kiện kinh tế, mà chủ yếu như một thái độ sống, một triết lý về tồn tại, một cách ứng xử xuất thế, nhàn vi ở ẩn như những nhà Nho ngày xưa. Thơ Ngô Minh giới thiệu và đưa đẩy chúng ta quen biết để ngưỡng mộ những nhân cách lớn trong lớp bình dân như thế. Ví dụ Lại Đăng Thiện là một cựu chiến binh từng hai lần được truy điệu sống trước khi lái ca nô kích nổ bom ở Khu Bốn, nhưng sau đó không được ghi nhận, chế độ gì, sau này ông lại trở thành người đỡ đẻ cho 400 em bé [tr.297]. “ừ, thêm chén nữa, cười khan – đã truy điệu sống chưa tàn cuộc chơi – đỡ trăm em bé ra đời – trắng tay trắng mắt trắng trời… còn thơ” [tr.297].

Đó là một nhân cách đẹp giữa đời thường, lại hết sức hào sảng, vô vi, một CON NGƯỜI đúng nghĩa trong cách viết hoa của nó. Với Phương xích lô – một trường hợp đặc biệt trong làng thơ Huế đương đại, khi một người đạp xe xích lô có khi điên, khi tỉnh và đa phần là say đã trở thành một nghệ sĩ chân chính dành được sự yêu mến, trân trọng của gần như mọi trí thức, văn thân ở Huế, Ngô Minh đã phác họa nên một nhân cách, tài năng đáng yêu. Trong Vái Phương xích lô, Ngô Minh đã đối thoại với một tri âm chữ có số phận lầm than “ăn mày thơ” nhưng nhân cách cao cả. “Phương ơi – thế cũng là sang – hoa sen một đóa, bia vàng tuổi tên – tưởng không mà có mới nên – Phương nằm nghĩ chốn sinh linh, đừng buồn” [tr.260] (YT nhấn mạnh). Bài thơ này đậm tính đối thoại, dù là đối thoại với người đã khuất nhân ngày mở cửa mả của Phương xích lô. Chính tâm thế/trạng bên lề xã hội, dưới đáy giai cấp “đi ăn mày rượu nuôi thơ – ngắm sông Phương ngỡ nguồn xưa Rượu Trời” [tr.261] của Phương xích lô đã giúp Ngô Minh đưa ra quan niệm sống của ông: “đôi câu cũng đã có chi – còn hơn bao kẻ chết vì lợi danh” [tr.261].

Một trường hợp bên lề nổi tiếng khác của văn nghệ sĩ Huế là Nhất Lâm. Ai ở Huế có đi lại với văn/thi giới cũng đều ấn tượng với Nhất Lâm, một người nghệ sĩ già tóc dài trắng phau đạp xe tha thẩn trên phố như một cao nhân ở ẩn đã đạt ngộ, đã vượt lên mọi cám dỗ tầm thường của cuộc đời. Trong căn phòng chật chội, tối tăm trong chung cư, hoặc trong văn phòng ẩm thấp, cô quạnh Hội văn nghệ, Nhất Lâm vẫn lặng lẽ sống và viết như một nghệ sĩ bên lề. Tôi vẫn luôn ám ảnh với màu tóc trắng phau phau và giọng cười hào sảng của Nhất Lâm, như chính Ngô Minh từng cảm nhận. Trong bài thơ Với Nhất Lâm đêm trắng làng Thượng Luật, Ngô Minh viết: “trắng tay – trắng tóc – thì về – gối đầu sóng trắng – mà chia nõ nồm – trắng khuya – cạn chén biển buồn – thấy mình cùng lũ dã tràng – xe trăng” [tr.235]. Với nhà thơ Tôn Phong, một nghệ sĩ bình dân mà hai vợ chồng đều lam lũ đi bán nước chè tại ga Nha Trang. “trắng tay – mê chiếu mòn đêm – Nào ai chè chén? – vợ chồng lạnh hiên hàng xóm – còi tàu thổi tắt ái ân” [tr.275], Ngô Minh đã thể hiện sự đồng cảm sâu sắc trước trước đồng nghiệp thuộc lớp cần lao. Sở dĩ Ngô Minh luôn có xu hướng lựa chọn bạn bè đối thoại trong thơ là những người bình dân, dưới đáy xã hội là bởi cái nhìn nhân đạo, muốn đứng về phía nhân dân của ông. Một nghệ sĩ lớn phải là người đứng về phía lẽ phải, về phía cái toàn thể, về nhân dân đại chúng để cất lên tiếng nói về/cho họ. “Ngoại biên hóa” (marginal) trong trường hợp này là một khát vọng dân chủ, một tiếng nói nhân văn đầy trách nhiệm của người trí thức.

Vẫn có những người đối thoại trong thơ Ngô Minh vốn là những thiên tài, hoặc những vĩ nhân nằm ở vị trí trung tâm, là những anh hùng, chí sĩ cùng thời với thi nhân như đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhà thơ chiến sĩ Ngô Kha, nghệ sĩ điêu khắc thế giới Điềm Phùng Thị (Phùng Thị Điềm), nguyên ủy viên Bộ chính trị Nguyễn Khoa Điềm… nhưng tất cả họ đều được đặt trong lập trường đối thoại của nhân dân, vì nhân dân. Đại tướng Võ Nguyên Giáp là vị tướng thiên tài của dân tộc, người anh cả của quân đội nhân dân Việt Nam, người làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động năm châu vang dội địa cầu. Nhưng quan trọng nhất, ông là vị tướng của lòng dân, là biểu tượng chiến thắng của nhân dân Việt Nam trước chủ nghĩa đế quốc. Đám tang đại tướng Võ Nguyên Giáp thực sự là một sự kiện quan trọng và nhiều ý nghĩa của dân tộc. Đó là một cuộc kiểm chứng lòng yêu nước, thể hiện niềm tin vào tương lai đất nước, cũng như khẳng định ý thức về dân tộc tính trước sự đe dọa của chủ nghĩa đế quốc kiểu mới từ Trung Quốc. Đó cũng là sự nhắc nhở mỗi chúng ta ngày nay, nhất là những người cầm cân nảy mực về sức mạnh của lòng dân. Ngô Minh viết về đại tướng, nhưng kì thực là viết cho/dùm tình cảm của hàng triệu đồng bào bình dân Việt Nam:

 – khi Ông nằm xuống

dòng người viếng kín chật đất nước

già trẻ gái trai Kinh, Thái, Ê đê, Tày…

không quen biết vẫn bên nhau thổn thức

lặng lẽ dòng người chầm chậm vào lịch sử…

trăm triệu trái tim buốt nhức vọng về

biển Đông đêm 13 dậy bão [tr.252-252]

Trường hợp nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm lại nằm ở một góc độ khác. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm là một người làm thơ “thành đạt” hiếm hoi trong làng văn chương cách mạng Việt Nam, kể từ ngày Tố Hữu – một đồng hương xứ Huế của ông không còn làm lãnh đạo đất nước. Nhưng Ngô Minh viết tặng tác giả của trường ca Mặt đường khát vọng không dựa trên tư cách tặng một vị (nguyên) Ủy viên Bộ chính trị, hay (cựu) Bộ trưởng Bộ Văn hóa thể thao và du lịch. Cuộc đối thoại với nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm trong thi phẩm Người về vườn chuối thực chất là sự ngưỡng mộ với một vị quan đã thôi  quyền lực, quay về sống chan hòa với nhân dân. Chính cốt cách giản dị, kiệm lời, xem quyền lực chỉ nhẹ tựa lông hồng và hết sức gần dân, thân dân một cách hiền từ của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm mới là điểm mà Ngô Minh ngưỡng mộ, chia sẻ. “dường như ông không nghĩ mình từng là đại quan – nghỉ là thoát về ngôi nhà vườn chuối – dép quai mũ chìa giống người thôn Vỹ… – Bây giờ làm quan thật dễ – làm dân mới khó hơn nhiều – dường như ông không để ý – trước màu lá chuối nõn xanh…” [tr.245]. Như vậy, điểm Ngô Minh đồng cảm và ngưỡng mộ nhất ở nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm không nằm ở những kiệt tác văn học, cũng không phải ở những thành tựu, công trạng khi làm quan lớn, mà là ở sự thân dân, bình dân lặng lẽ trong trái tim nhà thơ dòng họ Nguyễn Khoa danh giá. Có lẽ cũng vì lí do tế nhị, tránh điều tiếng là làm thơ “nịnh” lãnh đạo, thơ ngoại giao, bốc thơm “người sang”, nên Ngô Minh chỉ đề tặng hết sức vắn tắt “Tặng nhà thơ N.K.Đ” [tr.245], đây cũng là đoạn đề tặng duy nhất mà người được tặng viết tắt tên trong toàn bộ sự nghiệp thơ Ngô Minh.

Thời gian sẽ thoáng chốc trôi qua, đời người cũng chỉ như ngọn đèn trước gió. Ngô Minh hiểu điều ấy. Bộ Ngô Minh tác phẩm của ông chưa phải là điểm dừng cho cả một sự nghiệp sáng tạo, nhưng cũng gần như là phần tinh hoa nhất mà ông để lại cho đời. Một đóa hoa mà tôi tin sẽ nở mãi không tàn ngay cả khi nhà thơ vẫy vào vô tận để bước chân vào cõi ta bà hoang vu. Có một điềm lạ, Ngô Minh thường viết thơ trò chuyện với bạn bè khi họ sắp bước chân qua thế giới khác (Hải Bằng, Hà Nhật, Hoàng Phủ Ngọc Tường) hoặc đã vĩnh viễn thuộc về cát bụi (Phương xích lô, Phùng Quán, Tạ Vũ, Bửu Chỉ, Trịnh Thanh Sơn, Lê Đình Ty, Điềm Phùng Thị…). Những cuộc đối thoại với người chết, hoặc sắp ra đi vĩnh viễn này dường như là một lời hẹn ước với cõi bất tử, vô thường. Nhưng, nhà thơ thì có thể chết đi, còn di sản thơ ca và những cuộc trò chuyện bất tận của họ với bạn thơ (người đề tặng và cả người đọc thơ) thì vẫn luôn vang vọng mãi. Như chúng ta vẫn cứ mãi trò chuyện với Tố Như, dẫu đã gần trọn hai thế kỷ trôi qua từ ngày đại thi hào dân tộc hóa thân thành cát bụi. Bao giờ còn người đọc, thông điệp thẩm mỹ và nhân văn còn được tiếp nhận, thì những cuộc trò chuyện trong thơ vẫn tiếp tục được phép cất lời, và nhà thơ, sẽ không bao giờ im lặng, ngừng đối thoại với chúng ta bất chấp những giới hạn nghiệt ngã khôn cùng của không gian và thời gian.

 

Y.T

Trường An, 10h33, ngày 3/11/2015

————–

 

1 Alain de Botton (2015), Sự an ủi của triết học, Nxb Thế giới, Hà Nội, tr.195.

 

 

Đừng để các thế hệ tương lai phải trả nợ!

Sinh viên Dược

Tác giả gửi tới Dân Luận

Theo thống kê của The Economist, vào năm 2010 đồng hồ nợ công điểm Việt Nam ở mức 45 tỉ USD (bằng 50% GDP), chia bình quân là đầu người 521 USD/người. Đến năm 2012 nợ công tăng lên 62,5 tỉ USD, bình quân 704 USD/người. Và đến những ngày đầu năm 2017, số nợ công của mỗi người dân Việt Nam đã đạt 94,85 USD (đạt mức trần an toàn 65%), chia bình quân đầu người 1.039 USD/người, mức gia tăng nợ là 9,3% /năm, gấp đôi trữ lượng vàng của Việt Nam. Mức tăng trung bình 5 năm qua của nợ công là 18,4%, gấp 3 lần tốc độ tăng trưởng kinh tế.

clip_image002

Nợ công của Việt Nam đã đạt mức báo động đỏ.

Còn theo báo cáo của Bộ Tài chính, đến cuối năm 2016 dư nợ công khoảng 64,73% GDP, dư nợ Chính Phủ khoảng 53,62%. Hai con số này đều đã tiến đến sát ngưỡng nợ không quá 65% GDP, nợ Chính phủ không quá 54% GDP trong Nghị quyết về kế hoạch tài chính quốc gia 5 năm giai đoạn 2016 – 2020.

Công khai dự toán ngân sách nhà nước năm 2016: tổng thu cân đối ngân sách nhà nước là 1.014.500 tỷ đồng; bao gồm thu nội địa 785.000 tỷ đồng, thu từ dầu thô 54.500 tỷ đồng, thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu 172.000 tỷ đồng, thu viện trợ 3.000 tỷ đồng.

Tổng chi cân đối ngân sách nhà nước là 1.273.200 tỷ đồng, trong đó số tiền dùng để “chi trả nợ và viện trợ” là 155.100 tỷ đồng (viện trợ chỉ chiếm 3.000 tỷ). Bội chi ngân sách đạt 254.000 tỷ đồng, đạt 4,95% GDP.

1. Quá nhiều ngân sách cho các đoàn, hội

Theo The Economist, muốn giảm nợ công thì Chính phủ phải chi tiêu có hiệu quả, chuyển giao các lĩnh vực không cần nắm giữ mà tư nhân có thể làm được. Tình trạng nước ta hiện nay, chi tiêu ngân sách quá nhiều, vô ích và nhảm nhí cho bộ máy chính trị, đặc biệt là các đoàn, hội. Theo thống kê tính đến tháng 12-2014 cả nước có 52.565 hội (483 hội hoạt động phạm vi cả nước và 52.082 hội hoạt động phạm vi địa phương).

Năm 2015, Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) cùng với Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện nghiên cứu “Ước lượng chi phí kinh tế cho các tổ chức quần chúng công ở Việt Nam. Thực hiện nghiên cứu, hệ thống hóa toàn cảnh sử dụng ngân sách của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và 5 tổ chức chính trị – xã hội, còn gọi là đoàn thể (Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Công đoàn) cùng 28 hội đặc thù theo quy định của Nghị định số 45/2010/NĐ-CP. Trong đó tổng số người hoạt động trong lĩnh vực tổ chức quần chúng công (có biên chế và không có biên chế), ước tính vào khoảng 338.000 người. Tổng chi phí kinh tế của xã hội cho các tổ chức quần chúng công dao động trong khoảng 45.670 tỷ đồng đến 52.700 tỷ đồng, ước tính bằng 1,7% GDP của cả nước (năm 2014): trong đó ngân sách nhà nước trợ cấp khoảng 14.023 tỷ đồng, phần còn lại là đóng góp của hội viên. Riêng nguồn ngân sách Trung ương dự toán dành cho Trung ương hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và năm tổ chức chính trị – xã hội đã là 1.261 tỷ đồng.

clip_image004

Biểu đồ ngân sách nhà nước cho Trung ương hội các tổ chức chính trị (VERP)

Tại hội thảo của Liên hiệp Các tổ chức khoa học kỹ thuật Việt Nam liên quan Luật về hội tháng 10/2016, TS Hoàng Ngọc Giao, Viện trưởng Viện Chính sách, Pháp luật và Phát triển cho biết, mỗi năm tổng chi phí cho các hội lên tới 68.000 tỉ đồng (chi phí kinh tế – xã hội, tức gồm cả đất đai, nhà cửa, xe cộ và các tài sản khác, chi phí cho toàn hệ thống các hội đoàn).

Chi ngân sách tốn kém nhất là chi cho bộ máy, biên chế với khoảng 338.000 người (2014) các cấp từ xã, huyện, tỉnh đến Trung ương. Ngân sách nhà nước chi cho các đoàn thể chính trị – xã hội thì lớn, tuy nhiên các hội quần chúng thì lại không.

clip_image006

Biểu đồ hỗ trợ ngân sách cho các tổ chức đặc thù (VERP)

Ngay trong trợ cấp cho các hội đặc thù lại có những nguồn chi khá kì lạ: Hội Nhà văn, Hội Luật gia, Hội Điện ảnh, Hội Nhạc sĩ, Liên đoàn Bóng đá Việt Nam, Phòng Thương mại và Phát triển Công thương… Những hội này đều có thể tự túc kinh phí, thậm chí ngoại trừ Hội Nhà văn, các hội khác có thể kiếm rất nhiều tiền; nhưng ngân sách nhà nước chi kinh phí nhiều cả hơn những hội mang tính chất từ thiện như Hội nạn nhân chất độc màu da cam.

Ở nước Mỹ, chính phủ dứt khoát không dùng tiền ngân sách tài trợ cho Khoa học, Văn hóa, Thể thao. Ở Việt Nam ta chưa có điều kiện kinh tế như Mỹ, lại còn suốt ngày trợ cấp linh tinh cho Liên đoàn Bóng đá, Hội Nhạc sĩ… tính ra trợ cấp đó còn nhiều hơn trợ cấp cho dân ở một huyện trong “thảm họa Formosa”.

Sự thiếu hụt ngân sách trong những năm gần đây, nhà nước buộc phải tăng các khoản thu, khoản phạt đặc biệt như phạt vấn đề giao thông; đặt ra nhiều loại thuế phí mới, gánh nặng đổ lên đầu người dân. Nợ nần chồng chất. Vậy tại sao phải tốn ngần nấy tiền để nuôi những tổ chức đoàn hội?

2. Khi không ai chịu trách nhiệm

Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng đưa ra phương án trong giai đoạn 2016 – 2020: thường xuyên theo dõi đánh giá mức an toàn nợ công, nợ Chính phủ; tăng cường quản lý, giám sát nợ Chính phủ bảo lãnh cũng như nợ của chính quyền địa phương; cơ cấu lại nợ trong nước, đa dạng hóa nguồn nợ nước ngoài… Tuy nhiên nếu chỉ ra phương án, nghị quyết mà không thực hiện thì chẳng có tác dụng gì; các bộ, ngành, địa phương không nghiêm túc, kỷ luật lỏng lẻo, đặc biệt là tham nhũng làm hụt tất cả các nguồn vốn đầu tư.

Tham nhũng và sự quản lý kinh tế yếu kém làm cho nền kinh tế suy thoái, điển hình như vụ việc Trịnh Xuân Thanh làm thua lỗ 3.300 tỷ đồng tại PVC vừa qua. Hoặc nhiều vụ án khác như vụ Vinashin nổi tiếng với khoản nợ trên 4 tỷ USD và là biểu tượng của chính sách “tập đoàn kinh tế” thua lỗ, cùng nhiều dự án đầu tư thua lỗ khác. Hầu hết các đại dự án trong năm 2015 – 2016 đều gây thua lỗ nặng nề, làm mất nhiều nghìn tỷ đồng của nhà nước.

Hoặc “Dự án khai thác Bô xít tại Tây Nguyên”, mỗi năm lỗ nặng nề hàng chục triệu USD lại gây ô nhiễm môi trường trước mắt và lâu dài. Theo ước tính của một số chuyên gia, giá bán alumin tại cổng nhà máy khoảng 340 USD/tấn, giá thành sản xuất 1 tấn alumin là 375 USD. Giá xuất khẩu alumin của Vinacomin ở cảng biển ước tính tối đa khoảng 345 USD/tấn. Tính chi phí tiêu thụ (vận chuyển, bốc dỡ, hao hụt) khoảng 25 USD/tấn và thuế xuất khẩu 20%, mỗi tấn alumin sẽ lỗ khoảng 124 USD, tổng số lỗ năm 2013 sẽ là 74,4 triệu USD. Nếu Vinacomin được miễn cả thuế xuất khẩu thì mỗi tấn alumin sẽ lỗ ít nhất 55 USD, mỗi năm tổng lỗ ít nhất 33 triệu USD. Điều này chưa tính đến sức khỏe của người dân các tỉnh Tây Nguyên và môi trường sinh thái. Trung bình lượng bùn đỏ thải ra là khoảng 10 tấn/năm, gây ô nhiễm cho vùng thượng lưu đồng bằng Nam bộ và Nam Trung Bộ. “Thảm họa Formosa” vừa qua cũng gây thiệt hại về tài sản lẫn sức khỏe người dân. Dù ngay trên VTV1 cũng đã đề cập đến vấn đề này, nhưng ai là người chịu trách nhiệm?

12 đại dự án thua lỗ vừa qua như dự án Nhà máy bột giấy Phương Nam, dự án Nhà máy gang thép Thái Nguyên giai đoạn 2, Nhà máy nhiên liệu sinh học bio-ethanol Dung Quất và Nhà máy đạm Ninh Bình… ai chịu trách nhiệm? Sai phạm nhiều thế nhưng hầu như không có ai chịu trách nhiệm hoặc xin từ chức, từ TW đến địa phương. Kỷ luật lỏng lẻo, khoa học lạc hậu, nợ nần chồng chất. Tất cả các công trình nói trên là tiền ngân sách, thực chất là tiền thuế của dân, nhưng không ai sử dụng thận trọng, suy tính cho hiệu quả, để rồi con cháu đời sau oằn lưng gánh nợ.

Đầu năm 2014, báo chí Nhật Bản đưa tin Tập đoàn tư vấn giao thông Nhật Bản (JTC) hối lộ 80 triệu Yen (782.640 USD) cho các cán bộ thuộc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam tại dự án đường sắt đô thị số 1 Hà Nội. Hoặc như vụ công ty y tế của Mỹ Bio-Rad thừa nhận hối lộ quan chức Việt Nam để mua sản phẩm của họ. Thế nhưng lãnh đạo Việt Nam hầu như không ai lãnh trách nhiệm, hoặc nếu có thì họ sẽ được cơ quan pháp luật Việt Nam bảo vệ bằng cách thay đổi tội khởi tố. Thay vì khởi tố với tội danh “nhận hối lộ”, họ sẽ được khởi tố với tội danh “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”…

Một năm ngoại hối của Việt kiều gửi về vào khoảng 13 – 14 tỷ USD, thế nhưng Chính phủ Việt Nam vẫn làm cho dân nợ ngập đầu. “Cha nợ thì con phải trả”, đó là điều tất yếu. Nhưng nợ ra sao, nợ như thế nào là điều quan trọng. Pháp luật Việt Nam không có điều nào quy định việc những người đang sử dụng những đồng tiền thuế nhân dân phải có trách nhiệm thông tin minh bạch, báo cáo kết quả công việc với nhân dân cả. Càng không có điều nào quy định việc thế hệ trước không được để lại nợ cho thế hệ sau cả. Chúng tôi – thế hệ sau – thì cứ chuẩn bị tư tưởng “Oằn lưng gánh nợ”, để đến lúc đó khỏi bị “Shock”.

Sinh viên Dược

__________

Tham khảo:

1. TS.Nguyễn Đức Thành, ThS. Nguyễn Khắc Giang, PGS.TS. Vũ Sỹ Cường, Ước lượng chi phí kinh tế cho các tổ chức quần chúng công ở Việt Nam, nhà xuất bản Hồng Đức, 2015.

2. Bộ Tài chính, Bản tin nợ công – số 4 (30/6/2016)

3. http://www.economist.com/content/global_debt_clock

Nguồn: https://www.danluan.org/tin-tuc/20170116/dung-de-cac-the-he-tuong-lai-phai-tra-no

Bạn nghĩ có nên phá hủy một di sản còn lâu đời hơn cả Canada?

Tổng lãnh sự quán Canada tại TP. Hồ Chí Minh

 

Trước thì san bằng Chùa Liên Trì, nay lại định giật sập Tu viện và Nhà thờ Thủ Thiêm có lịch sử tới 177 năm trước cả khi thực dân Pháp đến Việt Nam, chính quyền TP.HCM đang cho thấy vì tiền họ có thể cạn tàu ráo máng với lịch sử như thế nào.

Tệ hơn, việc phá hoại có tính hệ thống như trên cũng đã gián tiếp thể hiện tầm nhìn của họ về các khu đô thị mới là hoàn toàn không có chỗ cho cơ sở tôn giáo, bất luận là chùa chiền hay nhà thờ – nơi nâng đỡ và an ủi tinh thần con người (và cũng là một trong những nhu cầu thiết yếu của công dân). Trong khi đó, không khó để bắt gặp ngay trong những đô thị hiện đại văn minh bậc nhất thế giới – New York, Sydney hay Tokyo – những nóc giáo đường, đền, chùa nằm hài hòa giữa dày đặc các cao ốc và được nâng niu gìn giữ như là những nơi nắm giữ linh hồn đô thị.

Chẳng những thế, ở phương diện tinh thần, kéo sập di sản trăm năm của người Công giáo thì khác nào thách thức lòng tự tôn của họ. Chính quyền TP. HCM rõ ràng đang vì tiền mà bất chấp, sẵn sàng phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc và làm xói mòn mối quan hệ giữa nhà nước với tôn giáo.

‘Có nên phá hủy một di sản còn lâu đời hơn cả Canada?’ hẳn chỉ là một câu hỏi tu từ của Tổng lãnh sự quán Canada. Họ, đúng hơn, đang muốn diễn ra sự kinh ngạc của mình trước lòng tham của những người đang điều hành quốc gia này, theo một cách ngoại giao nhất có thể mà thôi.

PS: Lẽ ra nếu có một nền pháp trị nghiêm cẩn nơi quyền sở hữu đất đai của người dân và các tổ chức tôn giáo được bảo vệ thì khi xây dựng đô thị mới ở Thủ Thiêm, chính quyền TP.HCM và nhà đầu tư sẽ phải ngồi xuống với Giáo hội để tìm giải pháp làm sao vẫn giữ lại được tu viện và nhà thờ mà vẫn hài hoà với cảnh quan đô thị mới, hướng tới lợi ích cộng đồng. Đằng này, với việc cướp lấy quyền sở hữu đất đai của người dân, chính quyền có thể muốn đập là đập, muốn chiếm là chiếm bất kỳ mảnh đất, căn nhà, giáo đường, chùa chiền nào mà họ muốn. Liên Trì hay Thủ Thiêm chưa phải là cái tên cuối cùng.

Facebooker Nguyễn Anh Tuấn

 

Theo kế hoạch phát triển khu đô thị mới Thủ Thiêm tại Quận 2, chính quyền TP Hồ Chí Minh có dự định phá dỡ Tu viện Dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm và Nhà thờ Thủ Thiêm để nhường chỗ cho khu đô thị mới. Tu viện được thành lập tại Thủ Thiêm vào năm 1840, nghĩa là đã ở đó được 177 năm (trong khi Canada vừa bước sang tuổi 150 năm nay). Bạn nghĩ thế nào nếu chúng ta hòa nhập những công trình mang tính lịch sử như thế này vào các khu đô thị mới thay vì phá dỡ chúng?

Hãy cho chúng tôi biết ý kiến của bạn nhé!

—————^^—————
Do you think it’s a good idea to demolish something that is even older than Canada?

In the plans to develop the Thu Thiem New Urban Zone in District 2, Ho Chi Minh City authorities have indicated their intention to demolish the Thu Thiem Lovers of the Holy Cross Convent and Parish Church to make way for a modern township. The convent was established in Thu Thiem in 1840, i.e. it has been there for 177 years (whereas Canada turns 150 this year). What do you think about integrating historic buildings such as these into new urban developments rather than removing them?

Please let us know your opinion!

—————^^—————
Pensez-vous que c’est une bonne idée de démolir quelque chose qui est encore plus vieux que le Canada ?

Selon ses plans de développement de la zone urbaine de Thu Thiem dans le district 2, les autorités de Hô Chi Minh Ville ont montré leur intention de démolir le couvent Amoureux de la Sainte Croix de Thu Thiem et l’église paroissiale pour faire place à la zone urbaine moderne. Le couvent a été établi à Thu Thiem en 1840, c’est-à-dire qu’il est là depuis 177 ans (alors que le Canada a 150 ans cette année).
Que pensez-vous de l’intégration des édifices historiques tels que ceux-ci dans de nouveaux aménagements urbains plutôt que de les supprimer?

Faites-nous part de votre opinion !

 

Image may contain: sky and outdoor

Image may contain: 5 people, people standing, tree, plant, outdoor and nature

Nguồn: FB Tổng lãnh sự quán Canada tại TP. Hồ Chí Minh

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.01.2017

Ta cởi áo lội dòng sông ta hát

Ta cởi áo lội dòng sông ta hát

  •   KHUẤT BÌNH NGUYÊN

Ngày 21 tháng 2 năm 1900, trong thư của L.Tôn-xtôi gửi cho M.Gorki có viết: Tôi thích các tác phẩm của ông. Nhưng tôi thấy ông còn hơn các tác phẩm ấy. Lời chỉ dẫn này đã đưa tôi đến với nhà thơ Nguyên Hồng.

          nguyen-hongNhà văn Nguyên Hồng

Năm 1937. Khi tiểu thuyết Bỉ Vỏ ra đời. Lập tức làng văn Bắc Kỳ trải chiếu mời chàng Nguyên Hồng mới 19 tuổi bước vào cuộc hội ngộ mang dấu ấn rõ rệt nhất về điều mới mẻ của lịch sử văn chương Việt Nam là gây dựng và làm phong phú nền tiểu thuyết hiện đại. Tự lực Văn đoàn trao giải cho tiểu thuyết ấy. Các ông Thạch Lam và sau là Vũ Ngọc Phan biểu dương Bỉ Vỏ ra mặt và gọi ông Nguyên Hồng là một cái tài còn trẻ rất nhiều hứa hẹn và hy vọng. Kể từ đó về sau, Nguyên Hồng, nhà văn lam lũ mà tiết tháo ấy đã trở thành một trong những gương mặt đáng kể nhất của nền văn xuôi Việt Nam thế kỷ 20.

Phải gần 25 năm sau, khi Bỉ Vỏ ra đời, Nguyên Hồng mới cho in Trời Xanh. Tập thơ đầu tiên gồm các bài viết từ 1954 đến 1958. Vào năm 1960. Cả thảy có 10 bài. Lại phải gần 15 năm sau. Năm 1973 ông in tiếp tập thứ 2. Sông núi quê hương. Tập hợp 16 bài từ 1960 đến 1972. Trong Những nhân vật ấy đã sống với tôi – NXB Tác phẩm mới in năm 1978, thấy có nói Nguyên Hồng đương soạn Tập thơ Hoa Trái đất. Nhưng có nhẽ tập thơ ấy đã theo ông về bên kia hoàng hôn từ năm 1982 mất rồi. Vậy là cả đời thơ chỉ có 26 bài thôi. Bên cạnh một sự nghiệp văn xuôi đồ sộ mà đáng kể nhất là Bỉ Vỏ (1937).Những ngày thơ ấu. 1938. Cửa Biển. 1961 – 1976. Và Núi Rừng Yên Thế. 1981. Thơ Nguyên Hồng chỉ 26 bài mà trải dài suy ngẫm từ 1954 đến 1973 cũng đủ làm nên một phong cách thơ độc đáo của làng thơ hiện đại.

Trong lịch sử văn học thành văn 10 thế kỷ, từ 10 đến 20, có đến 9 thế kỷ thể loại Thơ như là một dòng chủ lưu và phát triển hoành tráng, rực rỡ nhất. Bên cạnh các thể thơ kế thừa của văn học Phương Bắc cùng với các thể văn như chế, chiếu, biểu, truyền kỳ… Truyện thơ và khúc ngâm đã mang lại ánh hòa quang không bao giờ tắt của thể loại thơ thuần Việt lục bát và song thất lục bát trong văn học trung đại. Chỉ đến thế kỷ 20, tiểu thuyết mới bắt đầu phát triển, mang lại một sắc thái tươi mới cho văn xuôi Việt Nam trải qua một nghìn năm dài đằng đẵng. Nguyên Hồng ở trong hàng ngũ dẫn đầu của nền tiểu thuyết ấy. Nhưng dường như cái ánh sáng huy hoàng 9 thế kỷ của dòng chảy văn vần mà có người gọi là vận văn tràn trề cảm xúc trữ tình của hồn dân nước Việt đã không quên in dấu ấn của nó lên nền tiểu thuyết hiện đại. Làm nên một số tiểu thuyết gia mà văn xuôi của họ thẫm đậm chất trữ tình của thi ca. Thơ ở trong văn xuôi. Thạch Lam. Nguyễn Tuân. Và trong một chừng mực không nhỏ. Nguyên Hồng. Nam Cao. Tô Hoài. Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng … Huy Cận bảo: Hồi 1939 đã yêu văn Nguyên Hồng có tâm hồn, một thứ lửa rạo rực bên trong… Chất thơ kín đáo toát lên từ cuộc đời. Hiện tượng này cũng gần giống như trong văn học Nga cuối thế kỷ 19 và đầu 20, khi mà văn xuôi của Puskin và Lecmontop mở ra cho thi ca con đường hành hương lặng lẽ trên những cánh đồng của văn xuôi Nga theo khuynh hướng trữ tình. Và văn xuôi của Pasternak là thứ văn xuôi như những giọt mưa sáng rực từ các đỉnh núi thi ca rơi xuống đặt mình trên những cánh đồng văn xuôi kỳ lạ của Nước Nga hoang vắng và u buồn. Cũng như thế. Trước khi viết thơ, Nguyên Hồng đã trở thành nhà thơ trên những dòng văn xuôi. TừNhững ngày thơ ấu, thật như chưa bao giờ thật được như thế, ở chương Tiếng kèn, nhặt bất kỳ một đoạn văn xuôi. Ngắt ra các câu và bỏ đi một đôi từ cho nhẹ bớt, đã thấy trên tay mình dường như có được một bài thơ. Những buổi chiều vàng lặng lẽ mùa đông, Những buổi chiều bụi mưa rét mướt, Như có tiếng van lơn thầm thì, Trong hơi gió vi vu. Lò lửa than rực rỡ vờn lên chân tường, Những áng mây hồng lấp lánh, Rủ rê tâm trí vào cõi nhớ buồn, Những buổi chiều làm tê tái mẹ tôi hơn hết.

Nếu dựa vào lý thuyết của Hêghen về việc con người nhân tính hóa hoàn cảnh và hoàn cảnh không giữ được tính độc lập của nó đối với con người thì văn xuôi của Nguyên Hồng, ít nhất là trong 4 tác phẩm sáng giá của ông. Bỉ Vỏ. Những ngày thơ ấu. Cửa Biển Núi rừng Yên Thế đã nhân tính hóa 3 vùng đất mà sinh thời Nguyên Hồng đã sống lâu nhất, nhiều kỷ niệm đắng cay và thử thách làm người nhất. Lần lượt là Nam Định, Hải Phòng. Núi rừng Yên Thế. Trong khoảng 16 năm (1918 – 1934), Nam Định đã in đậm vào Những ngày thơ ấu nơi chiếc bình nước phép bằng đá lúc nào cũng in ít nước ở nhà thờ chính xứ Nam Định, nơi Nguyên Hồng đã được rửa tội với tên thánh là Giu – Minh – Ghê; Những con dân của chúa lắm khi phải quyệt đi vét lại tận đáy bình để mong nhận được một chút an lành. Nó cạn kiệt như những ngày tuổi thơ cay đắng và tủi nhục của ông. Dù bây giờ đã nhiều đổi thay, mỗi khi ở Nam Định nghe được một đặc sản của thành phố này là tiếng còi tầm nhà máy dệt, tôi lại nhớ Nguyên Hồng trong sự trân trọng cái thành phố nửa cổ nửa kim mà đẹp nhất vẫn là nóc nhà thờ trầm mặc. Rồi Hải Phòng 9 năm (Quãng từ 1934 đến 1943 là thời gian tụ hội và đi về của những bậc danh nhân tài tử kiệt xuất Nguyên Hồng. Văn Cao. Nguyễn Huy Tưởng. Nguyễn Đình Thi. Hoàng Quý …) với cả giai đoạn Part-time sau này nữa, cái thành phố sau lưng chênh chếch một dải non cao vùng Đông Bắc nghiêng nghiêng hình cổ yếm lẫn vào mây trời và chập chùng rừng cây… còn phía trước là một vùng bàng bạc hồng hồng khi quang đãng lúc sương khói nghi ngút cả một vùng biển vịnh. Cái xứ sở có thứ thuốc lào khói vắt vào vai được ấy đã sống động trong ông ngay từ buổi đầu tiên Bỉ Vỏ đến Cửa Biển với những phận người đau đớn vật vã từ Sóng Gầm, Cơn bão đã đến, Thời kỳ đen tối đến Khi đứa con ra đời… và 9 năm kháng Pháp, (đầu 1947 – 1954) với 22 năm cuối đời ở ấp Cầu Đen Nhã Nam nơi suốt hai thập niên đêm ông viết văn, làm thơ dưới ánh lửa đèn dầu và nấu cơm bằng nước giếng, nơi thường xuyên đi về Hà Nội bằng chiếc xe đạp trẻ con cũ kỹ … đã làm nên Núi Rừng Yên Thế và phả vào trang viết hồn sông núi cả một nửa thế kỷ văn chương…

Nhưng trong thơ Nguyên Hồng lại không như trong văn xuôi, trong tiểu thuyết. Ba vùng đất ấy không hiện lên rõ mồn một như thế nữa. Dấu ấn để lại ít nhiều đậm nhạt trong vài bài thơ Hoàng Hoa Thám quê xưa, Những tầng khói xi măng… Với thơ ca, Nguyên Hồng mở rộng cánh cửa. Ông nhân tính hóa đất nước quê hương trên một không gian lịch sử và thời đại hoành tráng, trong cảm hứng thơ trải rộng mang âm hưởng sử thi. Hơi thơ hồ hởi đến mức hổn hển như chưa bao giờ được thấy. Đôi lúc không khỏi ồn ã một cách hồn nhiên. Cảm xúc thơ Nguyên Hồng trào ra như không gì kìm giữ được. Trào đến mức nó vượt qua khỏi con đập của quan niệm kết cấu thơ truyền thống trong 1 bài thơ, nhưng vẫn cảm thấy điều đó là hợp lý. Quan trọng nó vẫn cuốn hút người ta và không hiểu từ đâu cái chất hoang dại đã khoác lên chiếc áo choàng rộng rãi, phấp phới mà kiêu bạc trong những bài thơ hay nhất của Nguyên Hồng. Tiêu biểu là các bài. Cửu Long Giang ta ơi. Hồng Hà tên con dòng sông yêu dấu. Những tiếng hát khi mặt trời gần tắt. Ngày mùa Thu đưa con đi học…Thơ Nguyên Hồng ào ạt như một dòng sông. Tương phản thú vị với Chính Hữu mà tập Đầu súng trăng treo là tiêu biểu. Thơ Chính Hữu khúc triết như đóng đinh từng chữ, từng dòng. Kết cấu mỗi bài thơ thường rất hoàn chỉnh chặt chẽ. Thật kín đường gươm.

Cảm hứng thương mến và tự hào về hai dòng sông mẹ quê hương – Cửu Long Giang và Hồng Hà theo chân Nguyên Hồng tựa như tự do của mỗi cuộc đời ta vậy. Đây là câu thơ mang đậm đặc chất Nguyên Hồng.

Ta cởi áo lội dòng sông ta hát

Mê Kông chảy Mê Kông cũng hát

Rừng núi lùi xa

Đất phẳng thở chan hòa

Sóng tỏa chân trời buồm trắng…

Cửu Long Giang ta ơi – 1955

Nguyên Hồng viết thơ về tên con nhưng thực ra ông muốn tâm sự về quê hương, đất nước mình qua tiếng nói ân tình của một dòng sông nhiều đắng cay trăn trở năm tháng bên lở bên bồi như đời một con người ấp ủ bao ước mơ không tắt.

Dòng sông vang dội

Những nức nở khổ nghèo

Dòng sông có những cuộc đời

Mắt khôn nhắm vì một mái nhà và tiếng trẻ

Dòng sông mang từng trang lịch sử

Đêm đêm thức những linh hồn

Hồng Hà tên con dòng sông yêu dấu 1956 – 1957

Trong các nhà thơ Việt Nam, Nguyên Hồng là một trong số ít viết thơ về Cửu Long Giang và Hồng Hà đậm đà bản sắc và hồ hởi đến mức mê say như thế. Cảm hứng về nhiều dòng sông khác còn trở lại nhiều lần trong thơ Nguyên Hồng và ông đã làm mỗi câu thơ như mỗi dòng sông lấp lánh có hồn riêng.

Đó là dòng sông cồn cào gió thổi ngày mùa thu đưa con đi học Lô – Thao sóng vỗ cồn lau gió, Cửu Long khúc quân hành vang đâu đây.

Đó là dòng sông chảy trong hư vô siêu thực tâm hồn thi sỹ nặng lòng với đất Cảng. Có những con sông chảy rất sâu, rất xa trong tâm hồn – Sông Cấm của ta .

Đó là ba con sông vùng Kinh Bắc hiện lên trong một câu thơ Sông Thương, sông Đuống, sông Cầu… Ba sông làm sữa. Sữa cho đồng lúa. Sữa cho văn hóa làng quê nón thúng quai thao …

Thơ Nguyên Hồng trong mỗi bài thường trải rộng nhưng không phải là không quy tụ được những hình tượng thơ khái quát làm nên vẻ đẹp của một vùng đất và đáng quý hơn nữa là tâm hồn, khí phách hào hoa của sông núi quê nhà. Yên Thế Hạ thật đẹp dưới ngòi bút Nguyên Hồng.

Bát ngát Nhã Nam đôi mùa lúa chín

Bố Hạ cam vàng chíu chít

Đường xa mở hội sim mua

                          Hoàng Hoa Thám quê xưa. 1959

Hồi năm 1972 khi viết luận văn tốt nghiệp: Những tìm tòi nghệ thuật của thi ca Việt Nam hiện đại, tôi đã chọn câu thơ này của Nguyên Hồng đặt ngang tầm với câu kết trong bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi.

Việt Nam lại gạt máu bước lên

Ngực áo tả tơi đỏ rói trái tim

Ngọn tầm vông vươn tay lao thẳng

Ngày mùa thu đưa con lớn đi học 10-1966

Có một số bài mà giới làm thơ gọi là thơ đánh địch hồi những năm 1960, 1970 mà nhiều nhà thơ đều mắc phải lỗi thuyết giáo khô cằn thay cho cảm xúc và hình tượng thơ. Nguyên Hồng cũng có một số bài kiểu ấy có mặt trong tập Sông núi quê hương: Chúng nó trước sự sống và chân lý. Chúng nó đã đụng đến trái tim ta. Bài thơ gửi những anh em da đen nô lệ ở Mỹ… Những bài thơ ngồ ngộ kiểu này bảo rằng Nguyên Hồng ồn ào, chắc ông cũng chẳng thể phật lòng. Một thời đã qua nhưng đâu dễ làm lại được nữa; mà sao tiếng thanh la địa võng ấy vẫn để chúng ta bận lòng chẳng thể nào quên.

Vào giữa năm 1978, khi Nguyên Hồng tròn 60 tuổi, ông Nguyễn Tuân có bài ký sự. Con người Nguyên Hồng. Ông Tuân gọi Nguyên Hồng là Gorki của Việt Nam và thuật lại lời Nguyên Hồng kể: Lúc đạp xe là lúc hay làm thơ. Viết truyện đầu dễ bốc khói, thỉnh thoảng làm thơ ít câu, cho người nó nhẹ đi. Lời tâm sự này không hẳn không có lý. Nhà văn vẫn coi viết tiểu thuyết là công việc chính. Nhưng theo đuổi thơ, rõ ràng ông vẫn coi đó là một sự nghiệp. Và người đời trân trọng gọi nhà thơ Nguyên Hồng như là ghi nhận một đời nỗ lực không mệt mỏi của ông. Ông là thi sỹ đích thực với một phong cách thơ đặc biệt mà có lần Xuân Diệu đã nói một cách hóm hỉnh sau đây: Về văn thì phải vái anh ấy. Về thơ cũng phải vái. Thơ anh ấy đầu Ngô mình Sở. Không đầu không cuối mà tài hoa bay bổng. Anh ấy không giống ai mà cũng không ai bắt chước được.

Tôi đọc thơ Nguyên Hồng có cảm tưởng giữa thơ ông và con người ông có một sự khác biệt lạ lùng. Thơ ông sảng khoái và đầy khí phách. Còn ông đôi khi tôi không hiểu vì sao như thế? Lầu đầu tiên thấy Nguyên Hồng vào mùa đông năm 1968 ở thung lũng Đại Từ – Thái Nguyên. Khi ấy tập 2 của bộ Cửa Biển mang tên Cơn bão đã đến mới xuất bản trước đó một năm. Lần ấy ông khóc với các nhân vật trong truyện khiến tôi chưa hiểu được vì sao có nguồn cơn ấy? Sau này đọc Nguyễn Tuân. Tô Hoài. Kim Lân. Bùi Ngọc Tấn…tôi gặp nhiều lần ông khóc trong văn chương. Khóc cả khi ông nghe nhạc Moza mà liên tưởng tới tài năng Văn Cao. Lần khóc đầu tiên với tư cách là một nhà văn gây ấn tượng nhất có lẽ là vào năm 1958. Đoạn văn này của Tô Hoài, tôi đọc nhiều lần. Mỗi lần đọc lại thấy thương Nguyên Hồng và càng quý trọng nhân cách của ông.Nguyên Hồng xòe bàn tay lên chồng báo Văn, vuốt vuốt, mếu máo nói, nước mắt như trút… tôi thức đêm, thức hôm… tôi bỏ hết sáng tác, ngày đêm tôi chỉ nghĩ đến tờ báo… tôi không… tôi không… chẳng mấy chốc Nguyên Hồng lại khóc hu hu… Người ta có ý kiếnđưa Nguyên Hồng ra khỏi Ban chấp hành, ra khỏi Hội nhà văn. Nguyên Hồng khi ấy từng nói: Tao kiện lên anh cả… không dễ thịt nhau như thế… Tao không có điều gì không đúng… Nhưng việc kiện ấy đã không xảy ra. Nguyên Hồng quyết định tản cư một lần nữa giữa thời bình. Bỏ lại tất cả sự phồn hoa, phiền toái cũng như tiện lợi của kinh thành Thăng Long để mang gia đình trở lại ấp Cầu đen, Nhã Nam, nơi heo hút của làng văn nghệ cách mạng thời kháng chiến 9 năm. Trong cơn oan ức và bĩ cực. Tôi ngạc nhiên bởi thơ Nguyên Hồng sáng tác vào thời gian đó cũng như sau này, tuyệt nhiên không thấy dấu ấn gì của sự việc chua xót ấy; Chỉ thấy trời xanh mây trắng đầy khí phách. Không khi nào thấy Nguyên Hồng đọc thơ mà lại khóc. Ổng chỉ khóc về những nhân vật trong tiểu thuyết của mình… Tám Bính. Gái Đen, Mẹ La… phải chăng trong cái khóc cho thân phận cuộc đời đắng cay, tủi nhục của các nhân vật văn chương, Nguyên Hồng một phần nào đó cũng đã giải thoát cho nỗi buồn nhân thế của bản thân ông? Nếu điều đó có xảy ra đúng  như thế thì cũng hợp quy luật thôi mà. Ông Kim Lân bảo quyết định về Nhã Nam của Nguyên Hồng “hung tợn quá”, mấy ai dám nghĩ, dám làm như Nguyên Hồng. Tôi xin bổ sung thêm. Vì lẽ đó Nguyên Hồng đã trở thành số ít để giới văn nghệ trân trọng nhân cách của một nhà Văn. Đó là 1958. Sau 3 năm hòa bình.

Ở đây, tôi nghĩ đến định nghĩa về thơ – trong trường hợp Nguyên Hồng. Thơ là sự cứu dỗi và thanh lọc tâm hồn. Thơ cứu dỗi cái đẹp và sự trong sạch, thanh thản của lương tâm con người. Thơ là người bạn đồng hành của nhân loại trên con đường tìm đến khát vọng tự do để ca hát. Nguyên Hồng về Nhã Nam để tìm kiếm sự cô đơn chăng? – không, nghìn lần không? Để mai danh ẩn tích, lẩn tránh cuộc đời và trách nhiệm chăng? – Không. Hoàn toàn không? Con đường trở về nơi gian khó và heo hút ấy giống như con đường ông đến với thơ – để thanh lọc hóa tâm hồn cho sự tự do sáng tạo. Chính trong thời gian ấy, Nguyên Hồng tiếp tục vật lộn với chữ nghĩa, những dòng chữ như bị dằn xuống, ông viết như cào lên trên mặt giấy để Trời xanh, Sông núi quê hương và bộ Cửa Biển mà thời gian viết kéo dài 16 năm, dài đến mức Nguyễn Huy Tưởng nói đùa là Nguyên Hồng bị “chửa trâu”, cuối cùng cũng phải ra đời. Friedrich Nietzsche nói:Để sống một mình, người ta phải là một con vật hay một thần thánh – Aristote nói như vậy. Còn có trường hợp thứ 3 nữa: Người ta phải vừa là thú vật vừa là thần thánh – đó là triết gia. Vốn xưa nay ở chốn quan trường, tôi thường ngại Nietzsche. Nhưng khi bị cuốn ra ngoài đường phố, hòa với đám đông cát bụi của đời sống cộng sinh, trần trụi với bản thân mình mới ân hận manh nha cảm thấy cái hữu hình kỳ quái trong thế giới vô hình, cái thế giới chứng kiến không phải một lần sự phá giá của chân lý, tôi thấy Nietzsche không đáng sợ và cần thiết cho loài người. Trên tinh thần đó, xin giành chữ thần thánh cho Nguyên Hồng. Còn hai trường hợp kia tôi xin gửi lại Nietzsche với tất cả lòng biết ơn chân thành.

Nghĩa trang thơ không nói hết một cuộc đời đã vỡ; Giọt lệ nhỏ bên mồ đâu phải giọt văn chương.Đời ông lang bạt kỳ hồ Nam Định, Hải Phòng, Hà Nội… Nhưng đến với Nguyên Hồng mà không về lại Nhã Nam thì không đành lòng được. Ông đã ở đấy gần như liên tục đến hơn 30 năm. Đã mấy lần nấn ná mà chưa thực hiện, dù bây giờ đường xá phương tiện khác thời xưa rất nhiều mà vẫn xa thật là xa. Phải đợi sau cơn bão số 7, vào hạ tuần tháng 10, khi trời chỉ còn cách đôi ba ngày nữa sẽ đón cơn gió đầu mùa lạnh nhất trong năm. Đã qua tiết sương giáng độ một tuần, khoảng ít ngày nữa ở Bắc Bộ sẽ lập đông. Mùa Thu tan vào trong ta lúc nào không hay làm vơi đi bao nỗi buồn nhân thế. Mùa Thu lẳng lặng đã chín xong tự bao giờ trên đồng lúa vàng những thóc, vùng Nhã Nam chỉ còn trơ gốc rạ bơ phờ gió thổi. Đây đó ngô đã chĩa vào vụ đông được dăm lá non xanh. Cầu Đen vẫn còn đó. Đấy là cây cầu nhỏ làm từ thời Pháp thuộc hoặc đã lâu rồi mà vẫn theo lối cũ. Thực ra là cái đập xây bằng xi măng có dăm ba cọc sắt xoáy ốc dựng đứng gắn với cánh cửa ngăn giữ nước phía dưới được quyét hắc ín màu đen. Có thể vặn cọc sắt để cửa ngăn nước lên xuống được. Liền sát cạnh là cây cầu nhỏ xi măng dài chừng hai chục bước chân. Bề rộng vừa đủ chiếc xe bò kéo đi qua. Những thanh sắt hoen rỉ mà vẫn thi nhau giữ được màu đen không biết được cái vinh dự mà ai cũng biết cây cầu ấy được đặt tên cho ấp nhỏ cư ngụ trên quả đồi thấp ngay phía trên cầu. Đó là quả đồi  ngày xưa gọi là Núi Trắng, vào đầu 1947 vẫn còn cái nền của một đồn binh Pháp trên đó để kiềm chế nghĩa quân Đề Thám. Dưới đồi này thời xưa có nhiều cây xấu hổ đến nỗi ông Nguyên Hồng phân vân không biết ở vườn địa đàng của chúa có loại cây xấu hổ ấy chăng? Từ Nhã Nam lên rẽ tay phải đi một đoạn nữa là đến đồn Phồn Xương của quan Đề Thám; Rẽ tay trái là đến được nhà Nguyên Hồng. Ngôi nhà 3 gian một trái ở giữa đồi. Chỉ khác với thời Nguyên Hồng còn sống là những bức tường bằng đất nện nay được xây lại. Vỉa hè bó gạch và có một khoảng sân nhỏ lát gạch Bát Tràng. Hai cây khế và cây me cổ thụ to nhất vùng đồi xanh tốt và cao um tùm. Tôi nhảy lên bứt quả khế nửa xanh nửa vàng tách ra một múi. Chua dữ dội. Đúng là ông Nguyên Hồng rồi. Dưới gốc khế này, nhà thơ của chúng ta đã thở hơi cuối cùng ở đấy. Gục xuống trong cơn một mình đấm bốc với văn chương. Lúc ấy trong túi nhà văn chỉ còn sót lại hai hào. Tôi bảo anh em và người cháu, con trai thứ hai Nguyên Hồng, giờ làm đại úy ở Công an huyện Tân Yên, cho sửa một cái lễ nhỏ đặt lên bàn thờ có ảnh nhà văn. Những bông hoa cúc mang từ thị trấn Nhã Nam lên, tỏa một ánh sáng nhàn nhạt vàng. Khói của 3 nén hương buông lên trầm mặc khoảng trống vắng lặng trước mặt nhà văn. Tôi rót ly rượu trắng mang từ Hà Nội lên. Cái thứ nước cay truyền thống mà sinh thời Nguyên Hồng hay cất công mang từ Yên Thế Hạ, từ chính gian nhà này về Hà Nội hay Hải Phòng để đãi bạn bè văn chương vẫn phải giả vờ bỏ vỏ quýt vào nói là rượu thuốc để che mắt mấy cha phòng thuế khỏi gây phiền hà.

Ở phía tường gian chính ngăn với trái nhà bên phải đặt hai tủ đứng. Một bằng sắt. Một bằng gỗ. Cửa kính đóng kín. Tủ gỗ các ngăn chứa đầy những hộp giấy xanh xếp ngay ngắn đựng bản thảo. Sát kề đó, tủ sắt phía trên nóc có dựng một giá sách dựa vào tường, bằng gỗ đã xỉn màu mà không có sách. Ngăn trên cùng tủ sắt đựng đầy bản thảo nằm ngang chìa ra những mép giấy đã vàng khè. Ngăn thứ hai bên phải phía ngoài thấy úp chiếc mũ lá đã bẹp dúm một bên – Thứ mũ lá thường thấy của mấy anh chăn vịt ở làng quê hay của mấy ông xích lô thời Hà Nội đang còn chiến tranh phá hoại. Một lọ hoa màu kim loại xám chì trăng trắng – Cái sản phẩm giản đơn thời chiến làm bằng tay từ gang hoặc từ vỏ máy bay. Gọi là lọ hoa cho sang thôi. Cửa kính bên trái tủ, ngăn thứ 2 có đặt 4 hũ nhỏ hình tròn kiểu quả dưa hấu. Thấp. Màu da lươn. Chắc là đựng rượu thời ông Nguyên Hồng còn sống. Ngăn thứ 3 phía dưới cùng của tủ sắt đặt gọn vào một chõng tre nhỏ – bàn viết của Nguyên Hồng mà ông Kim Lân gọi là mâm viết. Trên mâm ấy đặt một túi da màu vàng méo mó mà lép kẹp. Tất cả đều cũ kỹ. Nhạt nhòa bụi bặm. Tường phía sau góc sát đó, phía trên cửa sổ, có treo bức họa Nguyên Hồng màu nâu sậm. Phía dưới đặt ngang một bức trướng nhỏ ghi bốn chữ nho: Lưu huyết thành văn. Của ai đã tặng.

Mang một trong những hộp giấy màu xanh đựng bản thảo ra hè. Mở ra. Trời ơi! Đó là bản thảo tiểu thuyết Bỉ Vỏ. Nguyên Hồng viết từ 1937, trên khổ giấy to hơn khổ A4 và một mặt đã dùng rồi. Tờ ngoài cùng đề hai chữ Bỉ Vỏ bằng chữ in mực tím. Đến nay ngót nghét đã 80 năm rồi. Cái tờ giấy võ vàng ấy đã mang tên tuổi Nguyên Hồng đặt vào vị trí trang trọng của văn chương Việt Nam hiện đại. Giờ đã gần một thế kỷ rồi. Nó vẫn nằm ở đây giữa vùng Yên Thế Hạ heo hút một thời hối hả tiếng vó ngựa của nghĩa quân Đề Thám và ri rỉ tiếng yêu thương của một đêm cô đơn nào đó dưới ánh đèn dầu muôn thuở phảng phất ưu tư của gương mặt Nguyên Hồng? Ông Nguyễn Vũ Giang, con trai thứ 2 nhà văn năm nay đã 70 tuổi để râu dài hao hao giống cha kể với tôi: Thời Nguyên Hồng còn sống hay uống rượu dưới gốc khế có lần nói:T.C bảo Thơ Nguyên Hồng như đấm vào tai, rồi nhà văn cười vỡ ra thật vạm vỡ. ha! ha! ha. Vâng! Thơ Nguyên Hồng như đấm vào tai thật. Còn thơ T.C ít người thích lắm.

Đã xế trưa, chúng tôi mới ra viếng mộ Nguyên Hồng. Nằm trên bờ suối còn heo hút hơn trên nhà, cách Cầu Đen độ nửa dặm. Mộ nhìn ra suối nhỏ, nước chừng như một đan không chảy được mà tẽ ra thành những vạt mỏng thờ ơ giữa cỏ và đá cuội xanh. Chẳng khác gì chiếc bình đá đựng nước thánh luôn luôn cạn đến đáy ở nhà thờ Nam Định thời ấy. Phía bên kia suối trải ra mặt cánh đồng rộng vùng trung du mây trắng cuối Thu xà xuống phía xa hút mắt. Loang lổ những màu vàng màu xanh bất tận ở đâu đó trong văn Nguyên Hồng? Ông bà Nguyên Hồng nằm cạnh nhau. Tôi đặt lên ngực hai ngôi mộ một bông cúc vàng lá vẫn còn xanh. Ở giữa phía sau dựng một bia đá thấp hình chữ nhật màu đen có khắc bức họa phảng phất mặt Nguyên Hồng râu ria và đôi mắt trầm lặng, phía chân bia gắn một phiến đá nhỏ màu trắng đục. Lấy lá tươi mài màu xanh lục lên mặt đá thấy hiện lên mấy dòng chữ: Nguyên Hồng – Ủy viên Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam. 5-11-1918g2-5-1982. Huân chương kháng chiến hạng 2. Huân chương độc lập hạng nhì. Tôi thắp 3 nén hương lầm rầm khấn. Ông Nguyên Hồng ơi! Đừng khóc nữa; Vườn địa đàng nào cũng còn cây xấu hổ ông ạ. Tám Bính đã đi đóng phim rồi. Hãy đọc thật to Cửu Long Giang ta ơi! Để đồng bằng Nam Bộ bớt ngày ngập mặn và khô hạn. Xin đừng soạn lại bản thảo Hoa trái đất nữa. Văn chương và cuộc đời ông là vẻ đẹp của một con người yêu tự do Ta cởi áo lội dòng sông ta hát, vẻ đẹp vô song của người Việt Nam tài năng, nhẫn nại, đức độ, giàu lòng yêu thương và coi trọng danh dự như là phẩm giá cao quý của lịch sử và thời đại chúng ta!

Thời gian vô hình vô ảnh cứ hiu hắt trôi đi giữa vùng Nhã Nam già không biết bao nhiêu thế kỷ mà chẳng khi nào dừng lại. Dường như nó không để ý đến cái gì đang xảy ra ở phía trước. Cái hữu hình đang đi tìm phần còn lại của cái vô hình. Ở vùng quê này, cứ đến thượng tuần tháng 4 âm lịch, nhiều người dân quanh đây vẫn vàng hương đến nhà Nguyên Hồng ấp Cầu Đen nhang khói. Nhân ngày giỗ nhà văn. Mặc dầu, tôi biết trong số những người quê mùa ấy có người chưa từng đọc một trang bộ tiểu thuyết đồ sộ 4 tập Cửa Biển của ông. Và Nguyên Hồng của chúng ta theo hai chiều của thời gian vẫn đi đi về về bằng chiếc xe đạp trẻ con, đầu đội mũ lá trên quãng đường Nhã Nam – Hà Nội./.

Nhã Nam, 28-10-2016   

Thủ tướng VN phê phán ‘lợi ích cục bộ’ trong bốn bộ

BBC

Thủ tướng Việt Nam, ông Nguyễn Xuân Phúc thăm Mông Cổ dự Hội nghị Thượng đỉnh Âu - Á tháng 7/2016Bản quyền hình ảnhREUTERS
Image captionThủ tướng Việt Nam, ông Nguyễn Xuân Phúc thăm Mông Cổ dự Hội nghị Thượng đỉnh Âu – Á tháng 7/2016

Thủ tướng Việt Nam, ông Nguyễn Xuân Phúc đã phê phán điều ông gọi là ‘lợi ích cục bộ trong quy hoạch’ ở bốn bộ thuộc quyền của ông.

Đó là Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Bộ Công thương.

‘Quy hoạch’ tức công tác lên đề án và kế hoạch, gồm cả nghị trình triển khai các nhiệm vụ công và chi tiêu ngân sách cho những công tác đó, là lĩnh vực được nhắc đến nhiều ở Việt Nam thời gian qua.

Công tác này bị phê phán nhiều, từ chuyện quy hoạch đô thị – vụ nhà 50 tầng ở Giảng Võ – cho đến quy hoạch tuyển chọn cán bộ cho bộ máy Đảng Cộng sản Việt Nam và chính quyền.

Nay, ông Phúc đề cao quyết tâm và nhấn mạnh: “Quy hoạch sẽ gặp nhiều va chạm”.

Ông cũng nói “Không đổi mới là chết”, theo lời trích trên trang Pháp luật 12/01/2017.

Có vẻ như Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc muốn định hướng lại cho công tác “làm kế hoạch, quy hoạch hiện nay” mà theo ông phải theo kinh tế thị trường.

“Thị trường đã là nhà lập kế hoạch tài ba… Quy hoạch phải trên tinh thần kiến tạo chứ không phải thuận tiện cho quản lý, kiểm soát, kìm hãm sự phát triển và tạo cơ hội xin-cho.”

Nhắc đến cơ chế xin- cho, ông Phúc đã nhắm thẳng vào quy trình ban phát quyền lợi, hợp đồng công từ nguồn quốc gia cho các ‘nhóm lợi ích’.

Các báo Việt Nam viết tiếp rằng “Thủ tướng lấy ví dụ về quy hoạch chỉ có 10 tỉnh được làm nông nghiệp công nghệ cao”.

“Tôi đã nói nhà nào, HTX nông nghiệp nào, tỉnh nào làm được nông nghiệp công nghệ cao thì làm. Đó là nguyên tắc thị trường. Không phải chỉ ngân hàng NN&PTNT mới cho vay nông nghiệp công nghệ cao mà tất cả ngân hàng đều phải có gói vay này. Phải cạnh tranh chứ. Nếu có một ngân hàng nông nghiệp cho vay thì chỉ có nước đi “lạy” ông ấy để vay, rồi chi phí phát sinh nữa. Phải theo kinh tế thị trường chứ,” ông Phúc phát biểu.

Nhu cầu thay đổi

Thủ ̉tướng Phúc đón Ngoại trưởng sắp mãn nhiệm John Kerry của Hoa Kỳ đến Việt NamBản quyền hình ảnhXINHUA
Image captionThủ ̉tướng Phúc đón Ngoại trưởng sắp mãn nhiệm John Kerry của Hoa Kỳ đến Việt Nam

Tuy nhiên, các báo Việt Nam không đưa tin Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc sẽ có biện pháp gì nếu những chỉ thị của ông không được cấp dưới thực hiện đến nơi đến chốn.

Hồi tháng 12 năm ngoái, ông cũng đã phát biểu nhấn mạnh đến nhu cầu ‘thay đổi thể chế’ chỗ nào không phù hợp trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao.

“Còn đối với những vấn đề thuộc thẩm quyền của Quốc hội và Trung ương sẽ trình cơ quan có thẩm quyền kiến nghị bãi bỏ.”

Báo Việt Nam hôm 26/12 trích lời ông Phúc cũng kêu gọi chính bộ máy không nên ‘sợ thể chế’:

“Thể chế là do chúng ta nghĩ ra nhưng chúng ta lại sợ nó; phải bãi bỏ vì dân vì nông nghiệp, nông thôn, đừng để các cơ chế chính sách đó ảnh hưởng, đây là nội dung quan trọng số một của Đảng, Nhà nước, các cấp chính quyền.”

“Tránh quy định lạc hậu mà bắt người dân thực hiện mãi”, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc được trích lời nói.

Nhưng dù các báo Việt Nam chạy tựa đề rất mạnh về ‘thể chế’, thực ra vấn đề được đề cập không phải là cải cách hệ thống chính trị mà chỉ là chính sách hạn điền đã nêu ra từ 2003 khi bàn về Luật Đất đai.

Trang Dân Trí (19/12/2016), tường thuật về một hội nghị ngành nông nghiệp đã nêu ra ví dụ nhà đầu tư không được phép làm chủ đất cho sản xuất nông nghiệp hiện đại, buộc phải nhờ người khác đứng tên.

Trong một bài đăng trên trang của Viện Kinh tế và Quản lý Thủy lợi tháng 12/2015, GS Đặng Hùng Võ đã nhận định:

“Trên thực tế, cũng có hai cách nhìn nhận về quy định hạn điền. Một luồng ý kiến cho rằng cần loại bỏ hạn điền nhằm khuyến khích kinh tế trang trại quy mô lớn. Một luồng ý kiến ngược lại, muốn tiếp tục quy định hạn điền để tránh xu hướng hình thành tầng lớp địa chủ mới và tầng lớp tá điền mới ở nông thôn.”

“Khi chuẩn bị dự thảo Luật Đất đai 2003, quy định xóa bỏ hạn điền được nhất trí khá cao. Khi thảo luận ở Quốc hội, đại biểu Dương Trung Quốc đã có ý kiến nghi ngờ việc xóa bỏ hạn điền với luận cứ rằng cha ông ta bao nhiêu đời mà chưa ai dám bỏ hạn điền. Thế là lại phải đưa hạn điền vào quy định của pháp luật.”

Dấu ấn của tân thủ tướng

Trong phát biểu mới nhất, ông Nguyễn Xuân Phúc nêu quyết tâm đổi mới:

“Tinh thần của Chính phủ là phải đổi mới, dù đổi mới không phải là dễ nhưng không đổi mới là chết”.

Hồi tháng 7/2016, trong bài viết đăng trên Diễn đàncủa BBC Tiếng Việt, Tiến sỹ Phạm Quý Thọ, từ Học viện Chính sách & Phát triển đã nhận định về các dấu ấn ban đầu của tân Thủ tướng:

“Ông Nguyễn Xuân Phúc đã làm việc với các bộ ngành, đi đến nhiều địa phương để nắm bắt tình hình, lựa chọn các điểm nhấn điều hành qua cuộc gặp gỡ với các doanh nghiệp toàn quốc nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, tháo gỡ khó khăn, phát động ‘phong trào khởi nghiệp’, và tuyên chiến với vấn đề mất vệ sinh, an toàn thực phẩm.”

Nhà máy Trina Solar, đầu tư của Trung Quốc tại Bắc GiangBản quyền hình ảnhXINHUA
Image captionNhà máy Trina Solar, đầu tư của Trung Quốc tại Bắc Giang

“Ông đã gây ấn tượng với phát ngôn ‘không hình sự hóa’ trong vụ quán cà phê ‘Xin chào’, ‘không đánh đổi môi trường lấy kinh tế’ ở vụ Formosa, hay ‘mong muốn nghe ý kiến’ khi đối thoại với đại diện công nhân của tám địa phương của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam…”

Nhưng tác giả cũng nêu ra các thách thức chính trị cho ông Phúc, đến một mâu thuẫn cơ bản:

“Mâu thuẫn nêu trên cần được coi là mâu thuẫn cơ bản cần nhận thức thấu đáo trong cải cách thể chế kinh tế và chính trị hiện nay ở Việt Nam.

Cuối cùng, đổi mới, phát triển kinh tế sẽ dẫn đến thay đổi thể chế, và bài học quan trọng nhất phải làm rõ nội dung dân chủ trong bối cảnh hiện nay để có nhận thức và hành động đúng của nhà nước của dân, do dân và vì dân.

Các quyền cơ bản của công dân được công nhận trong Hiến pháp năm 2013.

Tuy nhiên, dường như, có thế lực ‘vô hình’, nhóm lợi ích ‘vô hình’, song rất mạnh mẽ ngăn cản cụ thể hóa Hiến pháp bằng các văn bản pháp luật, cơ chế, chính sách để người dân được thực thi các quyền tự do ngôn luận, biểu tình, lập hội…mà không làm bất ổn chính trị xã hội và an ninh quốc gia…”

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.01.2017

Đến với bài thơ hay: HÀ NỘI QUÊ TÔI

Đến với bài thơ hay:

HÀ NỘI QUÊ TÔI

Lê Mai

Tôi là người lao động, thế thôi!
Nhưng quê tôi:
Hà Nội!
Nơi tôi có mẹ già, mảnh đông quê ngát hương đồng nội, thơm phố phường chật chội bon chen
Nơi tôi có người cha không quản phận nghèo hèn, gắng nuôi con không thua bè kém bạn.
Đất quê tôi không lũ cao nắng hạn
Chỉ chân trời trên nóc bếp cheo leo
Tuổi thơ tôi những năm tháng leo trèo
Bắt bọ ngựa,
dính ve,
trèo me,
ném sấu.
Lời rủ rê của lũ ve yêu dấu
Gọi hè về thúc nở những mùa chơi.
Cơm nguội vàng háo hức giục bàng rơi
Sông Hồng xoáy trong tôi dòng nước mát
Gió quê tôi đêm ngày vi vút nhắc:
Giếng Ngọc là của tôi
Giọt nước mắt tổ tông ngàn năm còn nhức nhối trong đời
Cho tôi hiểu vì sao người Hà Nội, huyền thoại rồi còn rời rợi yêu thương.
Văn Miếu là của tôi
Pho sách thơm cha ông tạc để đời, cho tôi hiểu vì sao người Hà Nội đốt trầm trong lúc đọc thơ.
Chùa Diên Hựu là của tôi!
Đóa sen tâm bừng nở ngát cõi người cho tôi hiểu vì sao người Hà Nội cấp gạo thuyền giặc chết khỏi tha hương.
Tháp Bút – Đài Nghiên là của tôi
Tả Thanh Thiên xao xuyến cả cõi trời, cho tôi hiểu vì sao người Hà Nội nâng cốm Vòng trong những lá sen tươi.
Hồ Tây là của tôi!
Tấm gương trong mây hất tóc dỗi trời, cho tôi hiểu tình yêu người Hà Nội vì đâu mà vợi vợi mênh mang.
Hồ Gươm là của tôi !
Lẵng hoa tươi thiên nhiên kết dâng người, thơm như môi con gái, mềm mại như tuổi dậy thì, liễu bên hồ chớp chớp làn mi, đẹp đến thế sao mang tên Hoàn Kiếm ? Lẵng hoa đời nền văn hiến trổ bông.
Đài liệt sĩ vô danh là của tôi !
Sắc xám xanh lánh lạnh ánh sao trời, cho tôi hiểu vì đâu trăng Hà Nội suốt bốn mùa rười rượi thanh thanh.
Nén nhang thắp trong mỗi gia đình là của tôi !
Nén nhang tươi nhức nhối nhỏ kiếp người , cho tôi hiểu vì sao sông Cái đỏ, những nụ đào hé tỏ ánh phù sa.
Và em là của tôi !
Sự sống thiêng liêng kết bằng máu thịt người, cho tôi hiểu mình lẽ đời giản dị ! Báu vật của đời được phép ví với em !
Tôi là người lao động,
thế thôi !
Nhưng quê tôi, Hà Nôi !

Lê Mai

le-mai

LỜI BÌNH CỦA NGUYỄN NGỌC KIÊN
Tôi đã đọc nhiều bài thơ viết về Hà Nội. Xưa nay có khá nhiều thơ hay viết về Hà Nội. Chẳng hạn Thăng Long hoài cổ của Bà Huyện Thanh Quan. Đọc xong ta có một cảm giác bâng khuâng hoài cổ. Hay buổi sớm mùa thu Hà Nội cứ man mác trong bài “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi thời kỳ kháng chiến:

Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy

Giờ đọc đến “Hà Nội Quê tôi”, cái cảm giác đọng lại trong tôi là rất lạ. Lạ về cảm xúc và cấu tứ! Những người lớn lên học hành rồi công tác ở Hà Nội thì nhiều. Nhưng không phải ai cũng là Hà Nội gốc. Lê Mai sinh ra và lớn lên ở Hà Nội. Đúng như lời tự sự của nhà thơ :
Tôi là người lao động, thế thôi!
Nhưng quê tôi:
Hà Nội!
Rồi những kỷ niệm của tuổi ấu thơ – ai chẳng có thời như thế. Lời thơ như những lời tâm sự thủ thỉ. Và chỉ có  những người Hà Nội gốc mới viết được như thế này:
Đất quê tôi không lũ cao nắng hạn
Chỉ chân trời trên nóc bếp cheo leo
Tuổi thơ tôi những năm tháng leo trèo
Bắt bọ ngựa,
dính ve,
trèo me,
ném sấu.
Lời rủ rê của lũ ve yêu dấu
Gọi hè về khúc nở những mùa chơi.
Còn “những mùa chơi” là mùa gì thì chỉ người trong cuộc mới hiểu được. Tiếp theo là cái điệp khúc “… là của tôi” được lặp đi lặp lại nhiều lần. Sau mỗi lần như vậy, tác giả như tự hỏi rồi lại tự trả lời. Thì ra kiến thức về Hà Nội của một người Hà Nội bị dồn nén bấy lâu, nay mới có dịp bung ra qua những lời thơ mộc mạc, giản dị. Đơn giản: Tôi là người Hà Nội
Thế thôi!
Điểm nhấn của bài thơ là những Giếng Ngọc, Văn Miếu, Tháp Bút, Chùa Diên Hựu, Hồ Gươm và Hồ Tây. Một Hà Nội thật tinh tế:
“Pho sách thơm cha ông tạc để đời cho tôi hiểu vì sao người Hà Nội đốt trầm trong lúc đọc thơ”. Và đây nữa: “Tả Thanh Thiên xao xuyến cả cõi trời, cho tôi hiểu vì sao người Hà Nội nâng cốm vòng trong những lá sen tươi.”
Hà Nội của ta nhân văn lắm: “Cho tôi hiểu vì sao người Hà Nội, huyền thoại rồi còn vời vợi yêu thương.”. Hà Nội cũng thật anh hùng, thật nhân đạo: “Đóa sen tâm bừng nở nát cõi người cho tôi hiểu vì sao người Hà Nội cấp gạo thuyền giặc chết khỏi tha hương”.
Có người cho rằng, chuyện cấp gạo thuyền và ngựa cho quân giặc Minh trở về là chuyện của toàn dân ta, là chính sách nhân đạo của Nguyễn Trãi,  sử sách cũng đã ghi. Chứ đâu phải chuyện của riêng Hà Nội. Người đọc dễ dàng cho qua câu thơ có tính “vơ vào” này vì tác giả quá yêu Hà Nội.
Tất cả “…là của tôi” để cuối cùng nhà thơ chốt lại: “Và em là của tôi !
Sự sống thiêng liêng kết bằng máu xương người, cho tôi hiểu mình lẽ đời giản dị !”
Tục ngữ Mường có câu: “Người ta là hoa của đất”. Trong phép tu từ tiếng Việt xưa nay chỉ thấy ví “người đẹp như hoa”. Người viết bài này chỉ duy nhất thấy cách ví : “Ở đây hoa cũng đẹp như người”, tức là so sánh đối tượng cần so sánh với vật so sánh. Và bây giờ lại thấy Lê Mai viết: “Báu vật của đời được phép ví với em!”
Tôi thì hiểu rằng đây là cách viết xuất thần của tác giả!
Tóm lại “Quê tôi Hà Nội” là một bài thơ hay cách viết rất độc đáo. Tác giả thay mặt cho những người lao động Thủ đô nói lên được những tâm tư, suy nghĩ và niềm tự hào chính đáng của mình. Bởi vì:
Tôi là người lao động,
thế thôi !
Hà Nội, 9/2016
Nguyễn Ngọc Kiên

Đăng bởi: Ngô Minh | 16.01.2017

CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGÔ MINH

img_8195

ĐỌC BỘ SÁCH “NGÔ MINH TÁC PHẨM”, TẬP 4:

CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGÔ MINH

 

  Thạc sĩ Nguyễn Thị Bích Kiều

 

Cái tôi trữ tình là chủ thể của hành trình sáng tạo thi ca, có vai trò quan trọng trong thơ với tư cách là trung tâm để bộc lộ lại tất cả suy nghĩ, tình cảm, thái độ được thể hiện bằng một giọng điệu riêng. Một cái tôi trữ tình phong phú tựa như viên nam châm luôn luôn có sức hút về phía mình sự giàu có của cuộc đời. Đặc điểm của cái tôi trữ tình phụ thuộc vào phong cách của mỗi nhà thơ, của các trào lưu, khuynh hướng. Chính vì vậy, mỗi thời đại có một kiểu cái tôi trữ tình đóng vai trò chủ đạo. Đi vào tìm hiểu cái tôi trữ tình trong thơ Ngô Minh, chúng tôi nhận thấy ở thơ ông chủ yếu ở các dạng thái: Cái tôi trữ tình ngợi ca- tự hào, Cái tôi trữ tình đời tư-thế sự, cái tôi trữ tình chiêm nghiệm-triết lí. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 16.01.2017

Thót tim mà hút khách

 

NHÀ VĂN NGUYỄN XUÂN KHÁNH: VIẾT VĂN LÀ MỘT ẢO TƯỞNG

NÔNG HỒNG DIỆU
Là một nhà văn có sự nghiệp cầm bút truân chuyên và rực rỡ, sau cuốn tiểu thuyết “Chuyện ngõ nghèo”, có thể coi như cuốn tự truyện của nhà văn, Nguyễn Xuân Khánh chủ trương gác bút. Bởi ông biết mỗi người đều có giới hạn của mình, đến lúc thấy “mòn”, thấy “cùn” thì cũng là lúc nên nghỉ ngơi.

Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh (nguồn:Internet)

Tôi đến thăm nhà văn Nguyễn Xuân Khánh khi ông vừa trải qua một cuộc phẫu thuật trở về. Ông gầy hơn nhưng vui vẻ và nhiệt huyết với văn chương vẫn sôi nổi. Những “đứa con” của Nguyễn Xuân Khánh mỗi khi chào đời thường gây xôn xao văn đàn, không phải vì chúng được Hội nghề nghiệp trân trọng trao giải thưởng, mà vì những lời thán phục cũng như bình luận râm ran của người trong giới. Trung Trung Đỉnh nhất định rằng: Nếu một nhà văn Việt xứng đáng với giải Nobel thì nên trao cho Nguyễn Xuân Khánh. Tác giả “Lính trận” lâu nay có bệnh về mắt nhưng vẫn không bỏ sót bất kể “đứa con” mới lọt lòng nào của Nguyễn Xuân Khánh, đặc biệt cuốn “Chuyện ngõ nghèo”. Nguyễn Xuân Khánh tâm sự về tác phẩm có thể là cuối cùng trong đời viết của mình: “Lúc bấy giờ cả nước có phong trào nuôi lợn, đó là một sáng kiến của nhân dân để cải thiện đời sống. Tôi thấy hiện tượng này hay nên dựa vào đó viết cuốn tiểu thuyết cho vui”. Ông kể về sự lận đận của “Chuyện ngõ nghèo”:  “Tôi đưa tới hai mấy nhà xuất bản nhưng chẳng nơi nào dám in”. Sau cùng trước khi nghỉ chức giám đốc NXB Hội Nhà văn, Trung Trung Đỉnh đã mạnh bạo “đỡ đầu” cho “đứa con” của Nguyễn Xuân Khánh. Có điều gì khiến cho tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh làm người ta e ngại? Nhà văn lí giải: “Tôi viết dưới dạng rất hiện thực, có thể sát mặt đất, chạm đến nhiều thứ. Nhưng rồi người ta nghĩ mãi thấy ghép tội cho nó cũng chẳng phải mà khen nó quá cũng không nên”.

Không bắt chước ai

Ông tâm sự thanh thản: Sẽ “giã từ” ngòi bút từ đây. Trong cuốn sách mới của ông, người ta vẫn thấy một Nguyễn Xuân Khánh còn tràn trề sáng tạo với bút pháp hậu hiện đại. Nhưng nhà văn lại phủ nhận những cố gắng của mình trong việc làm mới hình thức: “Tôi vui vì tâm sự của mình được nói ra. Do những nhu cầu về nội dung mà “đẻ” ra bút pháp như thế. Tôi viết có tính chất khoáng đạt, không giáo điều, khuôn mẫu, phá cách rất nhiều”. Từ khi dấn thân vào văn chương ông đã quan niệm: Phải viết khác, không tô hồng, không ảo tưởng với bức tranh hiện thực. Dù thế nào, người đọc cũng cần được gương mặt trung thực của thời đại. Nguyễn Xuân Khánh bắt đầu cầm bút trở lại từ những năm 90 của thế kỷ XX, bằng sự ra mắt của cuốn tiểu thuyết “Miền hoang tưởng”, rồi sau đó là sự ra đời của hàng loạt những tiểu thuyết buộc người ta phải thừa nhận Nguyễn Xuân Khánh đích thực là một nhà văn “đi nhẹ, nói khẽ”, gây chấn động lớn: “Hồ Quí Li”, “Mẫu thượng ngàn”, “Đội gạo lên chùa”. Thông thường mỗi tác phẩm ngốn của ông khoảng 5 năm làm việc liên tục. “Từ “Miền hoang tưởng” sang “Chuyện ngõ nghèo” tác giả cho thấy mình không chịu cũ như tuổi tác:  “Miền hoang tưởng” có tính chất hư ảo, “Chuyện ngõ nghèo”  sâu sắc, dung dị hơn. Cái này (tức “Chuyện ngõ nghèo”-pv) là tổng hợp nhiều truyện ngắn, truyện vừa hợp lại. Cốt truyện giải tán rất nhiều, phương pháp hiện đại. Tôi không bắt chước ai về hình thức mà nhu cầu của tác phẩm là như thế”.

 

Chinh phục kẻ “sành sỏi”

Sau chuỗi năm tháng long đong, Nguyễn Xuân Khánh trở lại rực rỡ, khi các tác phẩm của ông không chỉ được bạn đọc rộn ràng đón nhận mà còn giành những giải thưởng văn chương danh giá:  “Mẫu thượng ngàn” đoạt giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội năm 2006. “Đội gạo lên chùa”, dày gần 900 trang, nằm trong bộ ba tiểu thuyết kiến giải lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh, cùng “Hồ Quí Li”, “Mẫu thượng ngàn”. Tác phẩm nói về ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo trong đời sống người dân Bắc bộ thế kỷ 20. Cũng như tiểu thuyết “Hồ Quí Li”, “Đội gạo lên chùa” tiếp tục giành giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2010-2011, ở thể loại tiểu thuyết. Đối với Nguyễn Xuân Khánh mỗi một giải thưởng đều là niềm vui, niềm an ủi với người cầm bút. Sự ủng hộ của độc giả với tác giả cũng là nguồn khích lệ nhưng điều ông khao khát là cuộc chinh phục “những người sành sỏi trong xã hội chứ không phải cái lửa, rơm của xã hội đâu”.

“Tôi biết đan rổ, rá, biết tát nước, biết gói bánh chưng”. 

Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh

Nguyễn Xuân Khánh cũng đồng tình: Nhà văn là những kẻ cô đơn. Trên hành trình cầm bút có lúc họ được ủng hộ, có lúc họ bị bỏ rơi. Nhưng nhà văn không vì sự thích hay không của đám đông mà lung lay con đường mình lựa chọn: “Viết văn là một ảo tưởng và người ta sống bằng những ảo tưởng, tin vào những giá trị mà mình tôn vinh. Không thì sao viết được?”, Nguyễn Xuân Khánh bộc bạch.

Trong giới đồn: “Đứa con út” của Nguyễn Xuân Khánh là “đứa con” xuất sắc nhất của nhà văn. Còn bản thân người sinh ra “Chuyện ngõ nghèo” không nghĩ thế: “Tôi chỉ biết tôi đã hoàn thành công việc của mình. Còn mỗi tác phẩm có số phận riêng, đời sống riêng”. Theo ông, mỗi một cây bút  cần phải có một số lượng tác phẩm nhất định để nhìn ra “chất” của từng tác gia, mặc dù mỗi tác phẩm không quan trọng độ ngắn, dài.  Nguyễn Xuân Khánh quyết định  dừng bút với gia sản khoảng chục cuốn tiểu thuyết, truyện ngắn “Bởi vì không phát triển được nữa. Đến độ nào đó ai cũng cùn đi, chẳng ai giữ mãi được sự sáng tạo”. Ông nói: “Có những người cả đời không dựng được phong cách cho mình. Thông thường được 3, 4 cuốn phải ra được gương mặt tác gia, nếu không ra được thì chịu”.

Nhưng độc giả cũng không nên buồn khi Nguyễn Xuân Khánh không còn “nhả tơ”. Bởi chính ông cũng không biết chắc điều gì sẽ xảy ra trong tương lai: “Không thể qui định chấm hết cho một tác gia”. Biết đâu, một ngày đẹp trời, có cảm hứng sáng tạo người ta lại thấy Nguyễn Xuân Khánh ngồi vào bàn viết. Chẳng hạn, ông sẽ viết về Tết, vì chính ông thừa nhận, đây là mảng đề tài ông chưa có dịp chạm đến.

 

Anh chàng nửa quê, nửa phố

Mỗi khi nhớ đến Nguyễn Xuân Khánh tôi thường nhớ tới Nguyễn Trí của “Bãi vàng, đá quí, trầm hương”. Họ đều có một cuộc đời lên thác, xuống ghềnh theo cách khác nhau. Những năm bị “treo bút” về nghỉ mất sức, Nguyễn Xuân Khánh làm đủ nghề để sống. Ít ai nghĩ ông từng là một thợ may, từng là tay nuôi lợn… “Tôi sống thật sự bằng những nghề đó, chứ không phải cưỡi ngựa xem hoa”, nhà văn nhớ lại.

Tác giả “Đội gạo lên chùa” sinh ra và lớn lên ở Hà Nội. Quê ngoại ở làng Thanh Nhàn, nay chính là con phố Trần Khát Chân, nơi ông đang sống. Quê nội của ông ở làng Cổ Nhuế. Do cha mất sớm, Nguyễn Xuân Khánh theo mẹ về bên ngoại. Trong ký ức của ông, làng quê ngoại đẹp như một bức tranh yên ả: “Làng Thanh Nhàn ngày xửa, ngày xưa không theo nông nghiệp truyền thống, làng có ao thả cá, trồng sen, trồng rau muống, trồng ổi… Sự thực cái làng này là một làng của thành phố, phía bên kia đường đã là phố Lò Đúc, nội thành Hà Nội. Làng là nơi sinh sống của những thợ tiện, thợ nguội, một số viên chức nghèo, mấy ông tham, ông phán có những cái nhà vườn ở đây”. Nguyễn Xuân Khánh lớn lên trong gia đình viên chức: “Đàn ông đi làm thợ ở nhà máy đèn, phụ nữ thì buôn bán ở chợ Hôm. Nhà tôi chuyên bán măng vì có mối liên hệ giữa gia đình tôi và gia đình ở Thái Nguyên”.

Mỗi khi tết đến, Nguyễn Xuân Khánh lại về quê nội ở làng Cổ Nhuế. Tết ở Cổ Nhuế cũng như tết ở mọi làng quê khác, “có cây nêu, có mọi thứ”. Ông tự vẽ chân dung mình: “Cái làng Cổ Nhuế của tôi cũng là làng bán nông nghiệp, đàn ông cũng ra thành phố làm việc. Tôi là cái anh chàng nửa nông thôn, nửa thành thị”. “Chàng nửa nông thôn, nửa thành thị” ấy bật mí: “Tôi biết đan rổ, rá, biết tát nước, biết gói bánh chưng”. Đó là Nguyễn Xuân Khánh đã nói giảm. Những công việc trên ông đều có thể làm ở mức độ giỏi. Nhiều mùa tết đi qua, cả ngàn chiếc bánh chưng đã nở ra trên đôi tay của người cầm bút. Ông khoe: Nhiều người nhờ tôi gói bánh chưng hộ. Gia đình ông vẫn giữ truyền thống tết đến gói bánh chưng: “Trẻ con thích nhà đun bánh chưng. Nhà tôi từ nghèo khổ vẫn gói, bây giờ vẫn gói. Chúng tôi muốn giữ lại không khí của hội hè. Con người càng ngày càng thèm những ngày hội thực sự”. Con trai thứ hai của Nguyễn Xuân Khánh bây giờ thay cha gói bánh.

Nguồn: Nông Hồng Diệu – Tiền Phong

 

Cái gì qua đi là qua đi

Tết ở gia đình nhà văn “Đội gạo lên chùa” vẫn giữ được hầu hết những nề nếp cổ truyền song ông thừa nhận, tết truyền thống đang nhạt dần. Đó cũng là điều tất yếu. “Cái gì qua đi là qua đi, Hà Nội cũ không bao giờ trở lại” nên ông không mang cảm giác của “Thăng Long thành hoài cổ”: “Khi tôi viết về lịch sử, văn hóa, tất cả những âu lo, mong muốn của tôi đều thể hiện trong đó”. Nguyễn Xuân Khánh viết “Mẫu thượng ngàn” cũng là sự cố tình giữ lại nét đẹp của văn hóa Việt. Về “Mẫu thượng ngàn”, nhà văn Nguyên Ngọc đã không tiếc lời khen: “Nếu đi tìm một nhân vật chính cho cuốn tiểu thuyết này thì hẳn có thể nói nhân vật chính đó là nền văn hóa Việt, cái thực tại vô cùng hiện thực, vừa rất hư ảo, bền chặt, xuyên suốt, mà cũng lại biến hóa khôn lường, rất riêng và rất chung, rất bản địa mà cũng rất nhân loại”.

Gần tết bỗng nhớ Quê Choa và bạn văn cùng quê nghèo khổ(*)

lap

Nguyễn Quang Lập

Hè năm 2002, mình đến Hội văn nghệ Quảng Bình thăm cái Huế, thủ quĩ – văn thư của Hội. Hồi ở Huế, nó làm thủ quĩ – văn thư của Hội văn nghệ Bình Trị Thiên, anh em đồng hương đồng khói rất quí mến nhau, coi nhau như anh em. Khi nào nhậu kẹt tiền mình đều a lô cho nó, trăm lần như một nó đều lén lấy tiền Hội đem ra cho mình mượn. Quán rựợu chị Phước phía sau Hội, mình nhậu kí nợ ở đó thường xuyên, lâu lâu không thấy mình trả nợ, chị Phước chẳng thèm hỏi mình, cứ hỏi cái Huế là nó đưa liền. Anh em chí thiết như thế nên khi nào về Đồng Hới, người đầu tiên mình tới thăm là nó.

Hôm đó mình đến Hội Văn nghệ Quảng Bình, cái Huế đang bận đánh máy công văn, nói anh ngồi đó chờ em chút. Mình ngồi đợi, thấy tập hồ sơ xin kết nạp vào Hội bèn lấy xem qua. Chợt thấy cái tên Dương Ánh Dương, ông này thì mình biết, làm thơ cùng thời với mình. Chưa gặp ông nhưng đọc thơ ông nhiều, đa số đăng trên báo địa phương, nói như thằng Vinh (Nguyễn Quang Vinh) thơ Dương Ánh Dương đèm đẹp đường được ở đâu cũng có nhưng ở Quảng Bình thì thuộc diện quí hiếm. Nghe nói ông vừa đoạt giải nhất cuộc thi thơ hai năm của Hội văn nghệ Quảng Bình. Thế là khá rồi.

Lật hồ sơ Dương Ánh Dương, thấy ông ghi thế này: Họ và tên: Dương Thân Mật. Sinh năm 1950. Bút danh: Dương Ánh Dương. Nghề nghiệp: ăn mày… Mình bật cười. Mấy ông văn nghệ sĩ chỗ nào cũng tếu táo được. Hồ sơ lý lịch là chuyện nghiêm túc, các ông vẫn đùa như thường. Mục Đã đi nước ngoài lần nào chưa anh Lê Văn Thảo trả lời: dễ gì! Mục Chức vụ cao nhất đã kinh qua anh Đỗ Chu trả lời: Đàn anh Hữu Thỉnh. Vui nhất là Mục Quá trình tham gia cách mạng. Thằng Trung Dũng sinh sau đẻ muộn, lớn lên đã hết chiến tranh, suốt ngày chỉ đi học và vẽ, chẳng làm gì tốt cho cách mạng. Không biết ghi thế nào, nó ghi: Ngày Bác Hồ mất, gia đình có tổ chức khóc Bác. Hi hi.

Té ra không phải, Dương Ánh Dương không đùa, anh hành nghề ăn mày đã mấy chục năm rồi. Thằng Vinh nói oa chà, chuyện ông này đúng là một bi kịch rất đặc biệt. Vinh khoa chân múa tay kể, nói ông này xuất thân là giáo viên cấp 3. Năm 1975 đói quả bỏ dạy đem vợ vào Sài Gòn kiếm sống. Chưa đầy năm thì vợ bỏ anh theo bạn vượt biên. Buồn chán anh tìm về một làng chài ở Nha Trang làm thuê kiếm ăn qua ngày, làm được đồng nào thả vào hũ rượu đồng đó. Ngày đi đánh cá thuê, vá lưới thuê, xẻ mực thuê… tối về uống rượu làm thơ đọc thơ giải khuây. Có người thương lấy làm chồng, sinh được đứa con, vợ chồng sống đắp đổi qua ngày tạm gọi là hạnh phúc. Không ngờ anh đi tàu đánh cá, luýnh quýnh thế nào đó bị ngã cuốn vào chân vịt, gãy chân tay, chấn thương sọ não bán thân bất toại, nằm liệt giường hai năm. Sau vài năm ra sức chạy chữa cho anh, nợ nần chồng chất, bà vợ thấy cùng đường đành ôm con bỏ đi. Anh phải lê lết ăn mày từ đó.

Có lẽ ở nước ta không ông nhà thơ nào xách bị đi ăn mày như Dương Ánh Dương. Ngày lê lết xách bị đi khắp hang cùng ngõ hẻm, đêm về chui gầm cầu uống rượu làm thơ. Dân trú ngụ gầm cầu có một cô tên là Thị Chuỗm cũng dân Quảng Bình, đêm đêm nghe anh ngâm nga thơ phú thấy hay hay. Lúc đầu nằm xa xa, sau dịch lại gần gần, dịch lại nữa dịch lại nữa… và trở thành vợ anh từ khi nào không biết.

Họ kéo nhau về quê, dựng cái lều trên bãi cát làng Thị Chuỗm, sinh được hai đứa con. Chị buôn hàng vặt ở chợ quê, anh xách bị rời làng ăn xin, cứ vài tháng lại về nhà một lần. Người làng rất quí anh vì anh là nhà thơ, cả làng không ai làm thơ được như anh. Họ kháo nhau, nói ông này ghê lắm, thơ được đăng ở tạp chí Nhật Lệ, tờ báo của văn nghệ sĩ tỉnh không phải chuyện đùa, nhiều bài còn đăng ở báo Quảng Bình, báo Đảng hẳn hoi, kinh. Hi hi. Chẳng ai gọi anh là thằng ăn mày, hết thảy dân làng gọi anh là ông đi tìm họa may. Chả là anh có câu thơ:Tôi đành xách gói ra đi / Để họa may gặp những gì họa may… Nhà thơ ai lại đi ăn mày, họ đi trắc nghiệm xem cuộc đời xúi quẩy may mắn làm sao thôi mà, hi hi

Mỗi lần anh xách bị về làng, dân làng hồ hởi đón anh như nhà thơ tỉnh về làng vậy, người lớn có rượu, trẻ con có kẹo, tíu ta tíu tít rất vui. Trong khi anh ngồi uống rượu đọc thơ ngoài sân, Thị Chuỗm xổ mớ tiền lẻ trong bị ra đếm rồi le te đem tiền đi trả nợ. Hai đứa con anh cứ đinh ninh ba mình đi công tác về phép, chắc là làm to trên tỉnh, nếu không tại sao anh về dân làng kéo đến thăm hỏi đông thế. Hi hi. Mình bảo thằng Vinh, nói khi nào Vinh về làng ông ăn mày thi sĩ cho tôi đi với. Thằng Vinh nói ông ấy xã Hải Ninh huyện Quảng Ninh, phải lội bộ cả chục cây số cát, chân cẳng anh thế không đi được đâu. Mình nhắc với cái Huế, nói khi nào ông Ánh Dương đến Hội thì em ới anh nhé, anh muốn gặp ông này một lần xem sao. Sáng sau mình Huế chạy tới báo tin, nói Ánh Dương đang ăn xin ở Đồng Hới, tối ngủ ở Cầu Dài.

Tối mình mò tới liền. Ánh Dương đang nằm ngủ trong hốc cầu tối thui, chỉ có một chiếc chiếu rách, chẳng chăn màn gì. Nghe mình gọi, anh lồm cồm bò dậy, nói ai đó ai đó. Mình xưng tên, anh chụp lấy hai tay mình reo to, nói a Nguyễn Quang Lập – Tiếng Lục Lạc! Anh lấy cái nến nhỏ bằng ngón tay út, cháy gần hết chỉ còn chừng hai đốt, nói không mấy khi có khách phải đèn đóm cho đàng hoàng chơ. Rồi anh lôi trong bị ra chai nhựa Lavie lắc lắc, nói rượu đây rượu đây, may quá chiều ni tui vừa đổ thêm hai nghìn cho đầy be.

Mình rủ anh ra quán nhậu chơi, anh lắc đầu, nói quán xá không phải chỗ của ăn mày. Lỡ người thấy mình ăn nhậu lại nghĩ mình đi lừa người ta lấy tiền, ai còn cho mình nữa? Anh lật nắp chai rót rượu, đưa cho mình, nói tui biết anh uống đủ lọai rượu sang, ngồi với đủ loại khách sang, chừ ngồi với ăn mày, uống rượu ăn mày coi thử cảm giác ra răng. Mình uống với anh hết chừng nửa chai, nói sao anh không nghĩ kế gì kiếm sống, què quặt mà lang thang rày đây mai đó cực lắm. Anh cười hì hì, nói có cả ngàn người nói như anh rồi đó. Kể ra dựng quán rượu nhỏ bán chơi cũng kiếm sống được qua ngày, nhưng ngồi một chỗ răng làm thơ được. Tui nghiện đi tìm cảm giác rồi, không bỏ được. Nếu bỏ ăn mày thì thơ cũng tịt luôn.

Mình gật gù, nói anh tìm cảm giác chi nói nghe coi. Anh uống một nắp rượu, nói cảm giác bị thương hại, bị ghê tởm, bị khinh bỉ, bị làm nhục… đủ hết, vui lắm. Anh uống một nắp rượu, khà một tiếng rõ to, nói anh biết kiếp ăn mày sợ nhất là gì không? Mình nói là gặp bạn bè. Anh lắc đầu xua tay, nói không không, bạn bè chúng nó lánh mình hết, mình có gặp đâu mà sợ. Mình nói cảm giác gặp người yêu cũ. Anh lại lắc đầu xua tay, nói cũng không. Đa số các nàng thấy mình đều đánh mặt làm ngơ, coi như không hề quen biết. Mình cười, nói thế thì chịu.

Anh uống thêm vài nắp rượu, chùi mép nhìn mình rất lâu, nói tui nói ri anh có tin không, sợ nhất là gặp người quá tốt. Khi mô gặp một người ngày mô cũng tìm mình cho tiền, ngày một nhiều hơn là mình phải bỏ trốn người đó, thậm chí muốn bỏ nghề ăn mày. Ăn mày cậy vào lòng tốt của thiên hạ chứ không phải lợi dụng lòng tốt thiên hạ, đó là nguyên tắc ăn mày. Ai vi phạm điều đó thì kẻ đó không phải ăn mày chuyên nghiệp.

Mình bật cười vì cái nguyên tắc ăn mày của anh, nói thế thì dưới gầm trời này toàn ăn mày nghiệp dư, chỉ có Dương Ánh Dương mới là ăn mày chuyên nghiệp. Anh ngửa cổ cười kha kha kha, nói đúng đúng đúng, bởi vì Dương Ánh Dương là thi sĩ. Rồi anh rung đùi đọc câu thơ: Tôi đành xách gói ra đi. Để họa may gặp những gì họa may… Ăn mày thi sĩ là như rứa đó, đi kiếm họa may, chỉ kiếm họa may thôi Nguyễn Quang Lập à, thiệt đo thiệt đo.

Hôm qua chợt nhớ đến anh, gọi điện cho thằng Vinh, nói Dương Ánh Dương dạo này thế nào rồi? Thằng Vinh nói chết rồi. Mình ngạc nhiên nói ôi, sao thế? Vinh nói em cũng không rõ lắm, chắc là đời hết họa may.

N.Q.L.

Nguồn: FB Nguyễn Quang Lập

(*) Nguyên đầu đề là Gã ăn mày thi sĩ (https://quechoablog.wordpress.com/2012/05/30/ga-an-may-thi-si/). Tác giả đổi sang tên mới khi đem lên Facebook

Older Posts »

Danh mục