Đăng bởi: Ngô Minh | 26.08.2016

NGÔ MINH- ĐỨA CON CỦA CÁT

 IMG_8193

ĐỌC BỘ SÁCH “NGÔ MINH TÁC PHẨM”, TẬP4:

       NGÔ MINH- ĐỨA CON CỦA CÁT 

 

        Văn Cầm Hải

 

Mỗi con người đều cho ta một cuộc đời và mỗi cuộc đời lại cho ta một miền quê với những sắc màu văn hoá. Tất cả những gì hiện hữu trên cỏi đời này đều có ngọn nguồn khai sinh, với Ngô Minh – Anh tự cho mình là Đứa con của cát.

Như đời một viên sa khoáng được tạo hoá hình thành qua bao bước đường tôi luyện bao chất màu đất đá và thời gian, hơn mấy chục năm qua, bằng những suy tư và kinh nghiệm sống – Đứa con của làng biển Thượng Luật đã mang đến cho thi ca một nhịp điệu mới, một chân dung mới nhưng không xa lạ với cuộc đời bởi những gì anh sáng tạo đều gắn bó máu thịt với nơi mình sinh ra và lớn lên, nơi quê Quảng Bình – miền Trung của đất Việt vốn giàu sóng biển và mưa nắng bộn bề. (Đọc tiếp…)

Sách mới: Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam Kỳ

new doc20160823095444733 (1) (1)-page-001Công ty CP Sách Tao Đàn trân trọng giới thiệu tới Quý Nhà Sách tựa sách mới “Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam Kỳ” – tác giả Đào Trinh Nhất, phát hành tháng 08/2016. Thông tin chi tiết về tựa sách, anh/chị vui lòng xem file đính kèm.

Đôi nét về tác phẩm

    Lịch sử sự đọc vẫn chưa quên, ở vào thời điểm “Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam kỳ” xuất hiện, đã từng gây nên một “best-seller lộn kèo”, sách vừa ra đến tiệm thì các nhómKhách trú đã thuê sẵn người, mua vét cho kỳ hết mà đem đốt. Một phản ứng dội ngược, quyết liệt mang tính tự vệ tiêu cực của kẻ bị đánh trúng điểm yếu huyệt, thay vì phản biện lại bằng một công trình khoa học mang tính đối thoại, thì những người Hoa, một cách quen thuộc, lại sử dụng “chiêu trò” sức mạnh đồng tiền và khủng bố để bôi xóa sự thật.

    “Dân Tầu ở châu Á không khác gì dân Do Thái ở châu Âu, hễ gầm giời này, chỗ nào có thể kiếm ăn được, là thấy có gót chân họ, một người Hoa kiều ở Nam Dương quần đảo nói rằng: “Người đời chỉ nói phàm chỗ có ánh sáng mặt trời chiếu đến, không chỗ nào không có ngọn cờ nước Anh, ta cho rằng phàm chỗ có nước bể chảy đến, không chỗ nào không có người Hoa kiều”. Thật ra thì cái gót chân người Tầu, chẳng những thấy những chỗ có nước bể chảy đến mà thôi, tức chí hoang cắc như Tây Bá Lợi Á, xa xôi như mấy nước Nga, nước Áo ở giữa châu Âu cũng tìm thầy họ, có người nói: Hoa kiều rải rác ra các địa vực, rộng bằng người Anh, sức giàu có bằng người Do Thái, chịu khó như người Ấn Độ, nhanh nhẹn như người Nhật Bản, đến như cái số kiều dân của họ ở đâu cũng đông, thì không kiều dân nước nào bì kịp được.”

Đôi nét về tác giả

Đào Trinh Nhất (1900-1951), tự Quán Chi, là nhà văn, nhà báo hàng đầu Việt Nam giữa thế kỷ 20. Khi viết văn, viết báo, ông ký nhiều bút hiệu: Nam Chúc, Viên Nạp, Hậu Đình, Tinh Vệ, Bất Nghị, Vô Nhị, Hồng Phong, Anh Đào, XYZ,… Ông được người trong giới cầm bút đánh giá là người có cách làm việc nghiêm túc, thận trọng và là người đã biết dùng ngòi bút nghệ thuật làm sống lại nhiều tư liệu đã mai một trong lịch sử cận đại Việt Nam.

Tác giả Đào Trinh Nhất
Nhà xuất bản Hội Nhà Văn
Khổ sách 13 x 20,5 cm
Số trang 228
Giá bìa 68.000
Ngày xuất bản Tháng 08/2016
ISBN 978-604-53-6602-8
Thể loại Khảo cứu

Nếu quan tâm tới tựa sách, anh/chị vui lòng liên hệ theo email info@sachtaodan.vn hoặc SĐT 04 2214 9698, Tao Đàn sẽ liên lạc lại và cung cấp thêm thông tin.

Xin chân thành cảm ơn!

Trân trọng,

CÔNG TY CP SÁCH TAO ĐÀN

12C Hàng Than, Ba Đình, Hà Nội

04 2214 9698 | www.sachtaodan.vn | info@sachtaodan.vn

đôi lời phi lộ…

Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam kỳ là quyển sách đầu tay, cũng là quyển sách cao tay của Đào Trinh Nhất.

Như là một cặp ứng đối khá cân xứng, quyển sách triển khai trên nền hai vấn đề lớn, đối chọi nhau: 1/ trình bày về thế lực khách trú với cái nguy hại của nó gây ra cho xã hội Việt Nam, và 2/ viết về sự khẩn thiết cần phải di dân vào Nam kỳ, như một giải pháp vừa tình thế hiệu quả, vừa gốc rễ sâu bền trước quốc nạn “khách trú”. Quyển sách như thế, lần đầu tiên, hai vấn đề quan trọng của xã hội Việt Nam cận hiện đại gồm mối quan hệ Việt – Hoa và di dân cùng được đặt ra một cách có hệ thống, ngay từ những năm 1924.

Bàn về sự nghiệp phong phú trong số phận ngắn ngủi của Đào Trinh Nhất, người ta thấy, mảng sách về chủ đề quốc kế dân sinh, chấn hưng dân tộc nhằm gây cái sức lực tự cường cho quốc gia là một chủ đề lớn, mà quyển Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam kỳ luôn được yết lên đầu bảng. Tuy thế, với quyển sách này, người đời trước lẫn người đời nay, ít nhiều đều cấn cái ở cái “tâm lý bài Hoa” trong tác phẩm. Chính ở đấy, quyển sách đã gây nên một sự hấp dẫn bất ngờ, không thể không đọc, cho bất cứ ai quan tâm đến vận mệnh dân tộc. Lịch sử sự đọc vẫn chưa quên, ở vào thời điểm mà nó xuất hiện, đã từng gây nên một “best-seller lộn kèo”, sách vừa ra đến tiệm thì các nhóm khách trú đã thuê sẵn người, mua vét cho kỳ hết mà đem đốt. Một phản ứng dội ngược, quyết liệt mang tính tự vệ tiêu cực của kẻ bị đánh trúng điểm yếu huyệt, thay vì phản biện lại bằng một công trình khoa học mang tính đối thoại, thì những người Hoa, một cách quen thuộc, lại sử dụng “chiêu trò” sức mạnh đồng tiền và khủng bố để bôi xóa sự thật![1]

Sự hấp dẫn ấy lại lên cao khi Đào Trinh Nhất, mà như Vũ Bằng nhận xét, người ta tìm đọc “vì tài liệu súc tích, mà một phần cũng vì ông đã khéo làm những cái tít khiến cho độc giả giựt gân, muốn đọc xem trong bài ông nói gì” (Bốn mươi năm nói láo, Phạm Quang Khai xb, 1969, Sài Sòn, tr.142). Chính vì muốn gây chú ý, tạo điểm nhấn mà “thế lực khách trú” được lựa chọn thay vì một cụm từ khác chính xác hơn là “thế lực Hoa kiều”. Như chúng ta biết, người Hoa ở Việt Nam, về cơ bản có 5 nhóm xếp theo ngôn ngữ, kể theo số lượng từ nhiều đến ít gồm: nhóm Quảng Đông; nhóm Triều Châu; nhóm Phúc Kiến; nhóm Hakka [Hà Cá/ Hẹ] hay còn gọi khách gia, khách trú; và nhóm Hải Nam. Luôn có một sự mờ nghĩa nhất định khi gọi là khách trú. Nguyên lai, “khách trú” có thể là từ do người Quảng Đông dùng để gọi các di dân đến bắc Quảng Đông và nam Phúc Kiến, nhưng sang Việt Nam, nó lại mang hàm nghĩa chỉ “những người khách ở tạm thời”. Đầu tiên , nó dành để gọi nhóm Hakka, sau đó, là để chỉ chung cho Hoa kiều ở Việt Nam. Đào Trinh Nhất không lí giải gì về cách gọi khách trú, mà mặc định sử dụng như một “quán tính tâm lý” được ông và người đương thời – hiểu như chủ nhân của mảnh đất này – cùng chỉ mặt, gọi tên người Hoa như những kẻ chỉ đến và ở lại tạm. Họ không phải là chủ. Họ là khách. Đã là khách thì có đến, phải có đi.

Đấy chính là chỗ mà cái đọc ngày nay, sau gần ngót nghét một thế kỷ khi ấn bản đầu tiên quyển sách này ra đời ở nhà Thụy Ký, mà giờ đây, nhà Tao Đàn cho in trở lại dưới hình thức phục nguyên một ấn bản độc lập, độc giả hiện đại cần lựa chọn một “chiến lược đọc” khác. Đặc biệt, phải thường xuyên phản tỉnh với quán tính chủ nghĩa dân tộc thường dễ bốc lên cao trong bối cảnh hiện tại. Để từ sách, chúng ta có thể thâu nhận lấy nhiều lớp nghĩa bổ ích. Đầu tiên, bạn đọc sẽ nhận thấy đôi chỗ trong tác phẩm này, Đào Trinh Nhất sử dụng ngôn ngữ có phần “mạnh quá” khi chỉ về các mặt tiêu cực nói chung của “khách trú”. Để hiểu đúng, cần phải đặt các phát ngôn của ông trong cá tính người cầm bút, và cái thời điểm đầu thế kỷ XX, khi mà “hệ thống tranh luận” thường sử dụng các ngôn từ gay gắt với lối viết gần gũi ngôn ngữ bình dân, văn nói và có phần “giựt gân”, kêu gọi, cốt sao cho điều mà sách viết ra đến với gần nhất, và đông nhất quảng đại quần chúng mà học thức hãy còn khá thấp trong một xã hội thuộc địa đa phần nông dân mù chữ. Không để những tình cảm bột phát cuốn đi dễ dàng, chúng ta sẽ có thể thưởng thức ở Đào Trinh Nhất một thứ văn phong rất hấp dẫn, gần gũi mà lôi cuốn theo lối hội thoại: anh em Nam gọi, anh em Bắc, Trung hô đáp: có tôi đây!

Tiếp nữa, toàn thể cuốn sách này là sự lo toan cho vận mệnh quốc gia, và tìm một đường thoát cho Việt Nam thuộc địa thông qua chủ nghĩa dân tộc kinh tế mà Đào Trinh Nhất và lớp thương gia yêu nước thời đó cố gắng xây dựng, và được thể hiện rõ qua tác phẩm. Vì thế, một thái độ gay gắt với những thế lực làm suy kiệt nền kinh tế, sinh kế của con dân An Nam mà Hoa kiều là một “thủ phạm chính”, nghiễm nhiên trở thành đối tượng cần phải đưa lên đài công kích. Chủ nghĩa dân tộc trong một quốc gia bị thực địa đến hèn yếu nhằm tạo sức đề kháng tập thể sẽ có lí do để tồn tại. Điều đó khác biệt hẳn với thời hiện đại, thời mà chúng ta đang sống, chủ nghĩa dân tộc sẽ dễ dàng bị lợi dụng vào những tình cảm quá khích làm cản trở hội nhập toàn cầu. Đọc Đào Trinh Nhất, do đó, cần phải đặt lại tác phẩm vào đúng thời điểm mà nó sinh thành, có như thế, mới không rơi vào ngộ giải một tác phẩm nhiều giá trị như Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam kỳ.

Sau đến, cần phải hiểu căn rễ văn hóa rộng lớn của lý do Đào Trinh Nhất viết về “thế lực của các chú”, không đơn giản chỉ hiểu ở đấy là một tâm lý “bài Hoa” được thể hiện ở một trí thức lớn, thông qua một quyển sách lớn. Bởi vì, như những gì mà Đào Trinh Nhất thể hiện, để có thể giành lại nền thương mại, miếng cơm manh áo cho người dân Việt Nam, thì không chỉ cần đánh đổ nền thương mại do mấy chú Chệt [Hoa kiều] nắm giữ, mà về lâu dài còn hạ cả Nhật – những đối thủ thương mại nguy hiểm, lẫn quét sạch các chú Chà [Ấn Độ] ra khỏi nền kinh tế Việt Nam. Dẹp thế lực kinh tế Hoa kiều, vì thế, chỉ là một trong nhiều biện pháp mà người Việt Nam cần phải làm để gây lấy cho quốc gia một nền kinh tế vững mạnh. Vì không hẳn là bài Hoa, nên trong quyển sách này, chúng ta sẽ gặp những đoạn phân tích thấu đáo về các ưu điểm của người Hoa và công cuộc làm ăn của họ. Từ đó, Đào quân kêu gọi dân trong nước học hỏi người Hoa ở những ưu điểm để tự hoàn thiện dân tộc. Đồng thời, so sánh với người Hoa, ông đã chỉ ra bản chất ích kỷ, vị lợi và thiếu đoàn kết của thương gia người Việt, những phẩm chất xấu đã làm ảnh hưởng cuộc phát triển dân tộc.

Sau khi bàn khá thấu đáo về vấn nạn kinh tế bị người Hoa thâu tóm hết mối lợi, làm dân tộc Việt Nam suy kiệt. Đào Trinh Nhất đi vào phần giải pháp, muốn khắc phục, cần tiến hành di dân Bắc, Trung vào Nam kỳ. Di dân để: một là, vừa tránh họa nhân mãn mà các đồng bằng châu thổ cũng đã quá tải từ lâu, mà P.Gourou đã cho những số liệu rất sinh động; đồng thời, di dân lại gây được nguồn nhân lực trong miền Nam giàu có nhằm giành lại nền thương mại từ tay Hoa kiều. Những đoạn bàn về các biện pháp di dân trong quyển sách này, mà tôi không dẫn lại để trọn vẹn cho bạn đọc hiện đại cái thú phát hiện của sự đọc, sẽ cho thấy toàn bộ tâm sự chất chứa của một trí thức trẻ mới 24 tuổi khi viết quyển sách này. Xuất thân trong một danh gia, con trai của Đình Nguyên Hoàng giáp Đào Nguyên Phổ, gia tộc mà cả cha và con đều đã vì quốc gia dân tộc mà tận hiến. Đào Trinh Nhất đã dành nhiều tâm lực, trí nghĩ vào việc đề ra các biện pháp nhằm thực hiện công cuộc di dân thành công như giảm giá vận chuyển, miễn giấy thông hành, yêu cầu các chế độ đảm bảo người lao động từ nhà nước bảo hộ… Những lập luận, vừa gãy gọn, súc tích, vừa khẩn thiết mà ở đó, có một sự “nhún mình” trước nước “đại Pháp” nhằm kêu gọi chính phủ thuộc địa hậu thuẫn cuộc di dân thành công. Ở đây, chúng ta hiểu rằng, vì lợi ích quốc gia dân tộc, Đào Trinh Nhất đã có những ứng xử thông minh nhằm đạt được mục đích vấn đề, khi cần, có đôi lúc ông đã ca tụng “nhà nước bảo hộ”. Còn thực chất, thái độ của Đào Trinh Nhất là cứng rắn trong ứng xử với thế lực Pháp, điển hình như lần đối đầu qua đối đáp với bọn “nó” là tên trưởng tòa người Pháp, khiến người Pháp phải ban hành luật thay đổi cách thức xưng hô cho tôn trọng dân bản xứ. Điều ấy, vào thời ấy, đã làm nức lòng làng báo và dân Việt Nam.

Sau nữa, đọc Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam kỳ, chúng ta còn bắt gặp tình cảnh xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX hiện lên sinh động. Thông qua tác phẩm mà hoàn cảnh một đất nước bị chia ba kỳ đã ngăn trở sự đi lại, sinh hoạt, tâm lý của người dân từ đó được tái hiện. Do đó, việc đề xuất một chương trình di dân Bắc và Trung kỳ vào Nam cũng chính là một mũi tên nhằm hai ba đích, vừa giải quyết nạn nhân mãn, chống độc quyền kinh tế Hoa kiều, lại khiến quốc gia bị thực dân chia cắt, có thể kết nối lại và giao lưu với nhau, giảm thiểu (hay chống lại) tình trạng một khúc rột bị cắt làm ba. Điều này làm chúng ta không thể không nghĩ đến kế “mượn thuyền tá tiễn” cao tay của Đào lang thuở nào, tìm những lối đi, tạo những mối nối, gây cái tiềm lực cho quốc gia, đồng thời, “thống nhất” đất nước bằng kết nối dòng người di dân giữa ba miền [bị/buộc] chia cắt. Địa lý nhân văn xác định: sự kiện trung tâm của địa lý là con người. Nên, chỉ cần con người được thống nhất, giao lưu với nhau thì ý đồ chia ba kỳ sẽ bị giải lãnh thổ.

Quyển sách, đi xa nữa khi còn bàn đến những động hướng chiều sâu trong thực hiện di dân người Việt, mà đến giờ, vẫn còn nguyên giá trị. Đào Trinh Nhất một cách sinh động đã tái hiện lại tình cảm định cư thâm căn cố đế của người nông dân Việt Nam, như, trường hợp người nông dân nếu buộc phải ra đi còn cố mang theo bên mình cục đất quê hương. Vì thế, để có thể di dân, từ cấu trúc chiều sâu của tình cảm gia đình, làng mạc, Đào Trinh Nhất đề xuất muốn đảm bảo cho kế hoạch di dân thì cần phải di dân hộ gia đình. Văn hóa Việt Nam, với những phản ứng mang căn tính của nó, từ đó, cũng hiện lên trong các dòng suy tư của Đào Trinh Nhất mà bạn đọc hiện đại sẽ tìm thấy được trong quyển sách này.

Cuối cùng, để dần khép lại lời phi lộ, chúng ta cần nhận thấy những căn rễ về mặt dân tộc học của tâm lý “bài Hoa” mạnh mẽ, tồn tại khắp Đông Nam Á, và bây giờ là khắp thế giới. Câu trả lời, không có gì sáng rõ hơn đọc sâu chính quyển sách của Đào Trinh Nhất. Người ta thường tự hỏi, vì sao, ở khắp nơi người Hoa đến định cư, đính kèm với nó lại luôn là tâm lý thù ghét người Hoa, với những “phong trào” bài Hoa đầy hệ lụy? Ví dụ, ở Việt Nam ngay trước khi Đào lang viết quyển sách này, năm 1919 đã nổ ra một phong trào bài Hoa mạnh mẽ mà báo chí thời đó giữ một vai trò quan trọng, tập trung nhất là tờ La tribune Indigène. Trong quá khứ, duy chỉ có một lần sử liệu ghi nhận [dù con số dường như đã bị phóng đại], nhà Tây Sơn đã tàn sát hơn 10.000 người Hoa vào năm 1782. Ở Đông Nam Á, các học giả nghiên cứu người Hoa còn cho biết những con số bi đát hơn rất nhiều, ví dụ như ở Philippines, năm 1603 gần 25.000 người Hoa sống ở Pampanga bị xua đuổi và phần lớn bị sát hại; năm 1639, chợ tơ lụa Parian bị người Tây Ban Nha đốt cháy và có khoảng hơn 22.000 người Hoa bị tiêu diệt, lịch sử Philippines còn ghi thêm nhiều trang đẫm máu với người Hoa. Ở Indonesia, năm 1740, chính quyền thực dân Hà Lan đã tàn sát gần 10.000 người Hoa trong cuộc bạo động ở Batavia. Có thể dẫn thêm vô cùng nhiều dẫn chứng cho thấy, đến trước khi Đào Trinh Nhất viết Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam kỳ, Việt Nam và nhiều quốc gia Đông Nam Á đã có những “kinh nghiệm” lịch sử đầy đau thương với người Hoa. Những trang đáng xấu hổ của lịch sử nhân loại này sẽ còn tiếp nối dài thêm, và trầm trọng hơn trong thời hiện đại, làm thành nỗi ám sợ với người Hoa (Sinophobia) trong thế giới hiện đại. Tâm lý bài Hoa, vì thế, là một vấn đề nổi cộm trong lịch sử thế giới, mà tốt hơn vì né tránh, chúng ta cần đối mặt với những sự thật, dù sự thật là đau lòng và không mong muốn.

Như một học giả người Hoa Tsai Maw Kuey, gốc Phúc Kiến – Chợ Lớn, trình luận án về chủ đềNgười Hoa ở Nam Việt Nam (Les Chinois au Sud-Vietnam, Bibliothèque Nationale, Paris, 1968), “từ cái nhìn bên trong”, tự nhận thức về tộc người, Tsai Maw Kuey nhận thấy ở mặt văn hóa tộc người, người Hoa luôn tự coi mình là trung tâm thế giới, là quốc gia/tộc người văn hiến mà bao quanh là các tộc người man mọi mà họ khinh bỉ. Nhận định này, không quá đặc biệt, nhưng nó quan trọng, vì nó thêm phần củng cố một tín điều đã vững chắc mà thế giới đã nhận ra về não trạng Hoa tâm của dân tộc Trung Hoa. Giờ đây, được xác tín chính bởi một nhà dân tộc học Hoa kiều Chợ Lớn. Vì luôn coi mình là đẳng cấp tối ưu, nên người Hoa đi đâu, đến những quốc gia, vùng đất khác tộc người của mình, họ vẫn không dễ bị đồng hóa, điều mà nhiều người nhận thấy và ca ngợi ở người Hoa, dù lưu vong nhưng không dễ mất bản sắc. Thiết chế bang hội, và các hội kín đưa các khối người Hoa, dù lang thang khắp nơi, vẫn có thể tụ lại thành một tổng thể rắn, không dễ phá vỡ. Vì thế, dù ở đâu, họ cũng có sự cố kết cực vững chắc, nâng đỡ và cùng nhau tiến dần lên, xây dựng “một thế giới Hoa” với tất cả những lợi thế mà chỉ một mình chủng tộc của họ được thụ hưởng. Vì thế, người Hoa mau chóng thâu tóm lấy tất cả các mối lợi về mình, đẩy các người dân bản xứ – là chủ nhân của vùng đất họ đến xin cư trú vào thế khốn khó. Để làm giàu, vơ vét mọi nguồn có lợi cho riêng chủng tộc, người Hoa, quả thật đã duy trì một nền thương mại chèn ép, với nhiều mưu sâu kế hiểm để triệt hạ không thương tiếc các đối thủ. Để hiểu các mưu chước làm ăn không lành mạnh của Hoa kiều, chúng ta lại phải đọc kỹ Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam kỳ, ở những phần đầu tiên. Không ai có thể hơn Đào Trinh Nhất đã miêu tả lại sống động và chân thực mọi mưu sâu, kế quỉ trong thương mại vị chủng tộc người. Đào Trinh Nhất với lối làm việc luôn được đảm bảo bởi sự chính xác của các dẫn chứng, bảng thống kê và những con số cụ thể đã thuyết phục được người đọc. Từ đó, quyển sách hé lộ dần cội nguồn của những bất mãn Hoa kiều trong thương mại và dần dần, dẫn đến các bất mãn văn hóa, xã hội khác của dân bản xứ. Sự bất mãn kinh tế ở cái hiện tại, cộng thêm với mối lo thường trực về “đội quân phương xa” của thiên triều, các quốc gia Đông Nam Á, nơi mà thân phận địa chính trị đã luôn phải gánh chịu thường trực sự xâm lược Trung Hoa nên rất dễ bị kích động thành tâm lý bài Hoa.

Đọc Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam kỳ trong thời hiện đại, để hiểu hơn về xã hội Việt Nam trong quá khứ, đồng thời, còn là nhằm kiến thiết một hiện tại. Chúng ta không mong chờ gì ở thái độ bài Hoa có thể đem đến những điều tốt đẹp, nhưng chúng ta cũng hiểu rằng, chừng nào não trạng Hoa tâm còn tồn tại – cái tồn tại bất bình đẳng bản chất – thì, thế giới khó có thể giải tâm lý bài Hoa. Để có thể tiến tới một thế giới nhân bản hơn, các dân tộc có thể quan hệ với nhau bình đẳng hơn, cần một sự nỗ lực từ cả hai phía: một là, từ phía các tộc người phi Hoa, cần đề phòng và giải trừ tâm lý bài Hoa; hai là, từ phía tộc người Hoa, chính họ cũng phải từ bỏ di sản cựu truyền của một chứng bệnh tập thể thuộc phức cảm tự tôn phì đại về niềm tin một chủng tộc thượng đẳng với lòng vị kỷ chủng tộc đã lỗi thời trong thời toàn cầu hóa. Chừng nào người Hoa không từ bỏ thói tật hoa tâm tộc người, thì chừng ấy, nguy cơ về sự trỗi dậy của nạn bài Hoa vẫn là một hiện thực nhãn tiền, dù muốn hay không.

Đọc Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam kỳ trong những ngày rất nóng, của một mùa hè không dễ ra biển, quá khứ trôi qua không phải để xếp vào bảo tàng những kí ức. Quá khứ, luôn sống động, vì cần thiết cho hiện tại, để hiện tại rút ra những bài học. Học thuật của Đào Trinh Nhất, dẫu gần một thế kỷ trôi qua, vẫn nóng bỏng, vẫn khiến độc giả ngay nay “giựt gân”, bất chấp những hạt bụi, cả vô tình lẫn hữu ý, đã không ngừng bôi xóa./.

2016, mùa biển nóng

Nguyễn Mạnh Tiến

[1] Để so sánh, chúng ta biết Đào Trinh Nhất cũng viết một quyển sách lên án đạo Cao Đài (Cái án Cao Đài, Imprimerie commerciale Sài Gòn, 1929, in lần đầu trên báo Công Luận, 1928 bằng bút danh Trương Văn Thu). Tuy thế, tín đồ Cao Đài đã không phản ứng xấu như người Hoa mua gom đem đốt hay đe dọa, khủng bố và lập mưu vu cáo. Để ngay sau đó, bằng những công trình khác, các tác giả như Băng Thanh (Cải án Cao Đài, không đề nơi, năm in) và La Laurette – Vilmont (Le Caodaisme, Saigon, 1932) đã viết phản biện lại Đào Trinh Nhất, từ đó, đưa ra cái nhìn hợp lý hơn về trường hợp đạo Cao Đài. Như thế, có thể tạm suy ra, khác với trường hợp viết về đạo Cao Đài còn nhiều thiên kiến, bất cập, nên đã bị phản biện lại ngay sau đó; viết về người Hoa, với những “thế lực” và thủ đoạn đen tối của họ, quyển sách của Đào Trinh Nhất là không dễ phản biện, vì đơn giản, nó hợp lí. Người Hoa, để chống đối lại một lập luận, thực chất là, đã chỉ đúng bản chất của họ, chỉ có thể dùng biện pháp trấn áp và khủng bố quen thuộc. Điều này, thời hiện đại, lại lặp lại, ví dụ như phản ứng của nhà cầm quyền Bắc Kinh với quyển sách Death by China (Chết bởi Trung Quốc) của P.Navaro và G.Autry, một quyển sách kinh điển đã chỉ ra bản chất đích thực của “thế lực Trung Quốc” hiện đại. Chết bởi Trung Quốc không thể không làm ta gợi nhớ đến quyển sách tiền phong của Đào Trinh Nhất.

( Nguồn: VV)

NHÀ THƠ TRẦN ĐĂNG KHOA TRẢ LỜI PHỎNG VẤN BÁO ĐẠI ĐOÀN KẾT: SỢ NHẤT NHỮNG ANH TRẺ MÀ LẠI TẺ NHẠT

Nhà thơ Trần Đăng Khoa: Thơ ca chẳng là cái gì ghê gớm đến nỗi cả bố với con đều phải đam mê. Gia đình tôi chỉ có ông anh tôi, nhà thơ Trần Nhuận Minh và tôi kẽo kẹt văn chương đến trọn kiếp. Còn hai cô con gái tôi và ba đứa cháu tôi, con nhà thơ Trần Nhuận Minh đều chẳng có đứa nào theo nghiệp văn chương. Thậm chí chúng đều nhìn bố với bác như hai lão già hâm hâm.

Hồng Thanh Quang:

– Ngày 21/3 từ không chỉ một năm nay đã được UNESCO công nhận là Ngày Thơ thế giới. Thế nhưng, xem ra ở ta, vào ngày đó đã không có hoạt động gì đáng kể để kỷ niệm ngày này. Anh nghĩ thế nào về chuyện đó?

Trần Đăng Khoa:

– Cám ơn anh đã cho biết thông tin này. Như thế thơ ca đã thành lễ hội mang tầm vóc Quốc tế. Ở ta có Ngày thơ tổ chức vào đúng Rằm tháng Giêng. Càng ngày càng bài bản hơn, sinh động hơn. Nhiều nước đã biết đến mỹ tục này của chúng ta và họ đã đặt vấn đề với Hội Nhà văn và cử nhà thơ đến tham gia. Rằm tháng Giêng vừa rồi có hai nhà thơ Pháp và Bỉ đến dự và đọc thơ với các nhà thơ ta ở sân Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Họ đánh giá rất cao Lễ hội Thơ của chúng ta. Họ bảo ở nước nào thơ ca cũng được yêu mến, nhưng tổ chức thành Lễ hội trên phạm vi toàn quốc và làm rất hay, rất sinh động thì chỉ có Việt Nam. Tôi nghĩ chúng ta làm được điều đó vì thơ ta có rất nhiều phương thức thể hiện, người ta có thể ngâm thơ, đọc thơ, hát thơ-hát theo làn điệu chèo, chầu văn, ca trù, bài chòi. Rồi hát hiện đại, là những bài thơ được các nhạc sĩ phổ nhạc. Ấy là chưa kể còn nhiều biến tấu khác từ thơ thành các trò chơi rất sinh động. Ở các nước thơ chỉ có đọc. Nếu chỉ đọc không thôi thì tẻ lắm. Hoặc cùng lắm họ hát những bài thơ được phổ nhạc. Không thể sinh động phong phú như chúng ta được. Có lẽ vì có riêng một Ngày thơ tưng bừng như thế, nên chúng ta ít có những hoạt động hưởng ứng Ngày thơ Thế giới. Nhưng cũng có thể chúng ta chưa nắm được thông tin. Hội Nhà văn ta cũng nên hưởng ứng Lễ hội này. Ví như ta có thể có những hình thức nào đó giới thiệu những thành tựu của thi ca thế giới, hay các xu hướng phát triển của thi ca nhân loại chẳng hạn. Sẽ rất hay.

Dịch là phản. Thơ không thể dịch được. Đó là hai quan niệm phổ biến trên thế giới. Nếu những điều đó là đúng thì làm sao để nối liền được những nền thơ khác nhau, theo anh?

– Có chuyện “Dịch là phản” thật. Bởi có những bản dịch so với nguyên bản, hoá ra chúng chẳng có họ hàng gì với nhau, thậm chí chúng còn là kẻ thù không đội trời chung của nhau. Nhưng đó là những bản dịch tồi của các dịch giả tồi. Còn với những bản dịch hay, chúng lại là hai tấm gương cùng soi vào nhau và cả hai cùng sáng lấp lánh. Chúng ta có rất nhiều bản dịch như thế, đặc biệt các cụ ta dịch thơ Đường chẳng hạn. Nhiều bản dịch hay không thua nguyên bản, thậm chí có câu thơ dịch còn hay hơn. Ví như câu thơ trong bài thơ nổi tiếng thế giới Hoàng Hạc Lâu: “Nhật mộ hương quan hà xứ thị”, (Trời tối rồi mà không biết quê hương ở đâu), cụ Tản Đà dịch thành “Quê hương khuất bóng hoàng hôn” thì tài vô cùng. Câu thơ rất ảo. Tôi cho rằng, để có được bản dịch hay, người dịch phải hội tụ được đủ ba yếu tố: Phải rất giỏi ngoại ngữ. Giỏi tiếng Việt. Không phải người Việt nào cũng giỏi tiếng Việt đâu. Và yếu tố thứ ba là phải có tài thơ. Thiếu một trong ba yếu tố này thì dịch sẽ thành phản. Thơ nước ngoài đến với chúng ta rất tốt, vì chúng ta có rất nhiều dịch giả tuyệt vời. Nhưng thơ ta hầu như vẫn chưa ra được với thế giới, không phải vì thơ ta không hay, mà chúng ta chưa có được những bản dịch tốt. “Ánh sáng và phù sa” của Chế Lan Viên, dịch sang tiếng Nga thành “Ánh sáng và bùn”. Bài thơ “Nhớ” rất hay của Phạm Tiến Duật: “Cái vết thương xoàng mà đưa viện/ Hàng còn chờ đó, tiếng xe reo/ Nằm ngửa nhớ trăng, nằm nghiêng nhớ bến/ Nôn nao ngồi dậy nhớ lưng đèo…”. Bài thơ này, sang tiếng Nga, nếu dịch ngược lại, theo thật sát nghĩa: “Cái vết thương xoàng. Tôi vào bệnh viện. Tôi nhớ trung đoàn/ Nằm bằng lưng, trăng nhìn vào mặt tôi/ Nằm bằng bụng, những bờ bến xa đốt trong tim tôi ngọn lửa”. Chẳng còn thấy ông Duật đâu. Có câu lại rất ngớ ngẩn. Dịch là chuyển cái tinh thần, cái hồn vía của thơ, từ một ngôn ngữ này, sang một ngôn ngữ khác, chứ không phải dịch chữ ra chữ. Câu thơ rất ấn tượng của nhà thơ Nguyễn Duy miêu tả sự tinh khiết, trinh trắng của tuyết: “Ngoài kia gò đống phập phồng/ Bao nhiêu con gái ngủ trong tuyết dày”. Khi sang tiếng Nga: “Nơi xa kia có nhiều gò đống/ Bao nhiêu cô gái đẹp đang ngủ ở đấy”. Rất sát nghĩa nhé. Nhưng câu thơ không còn tả tuyết nữa mà thành tả nghĩa địa mất rồi. Thế đấy!

– Thời anh đi học ở trường viết văn Gorky, Moskva, anh có những mối quan hệ  thân hữu nào với các bạn đồng nghiệp tới từ các quốc gia khác không? Ai là người mà hiện nay anh vẫn duy trì được quan hệ?

– Tôi có nhiều bạn bè nước ngoài cùng học với tôi và chúng tôi vẫn “gặp” nhau trên thư điện tử, như nhà văn, nhà viết kịch Đemit Đeonhin, người Ethiopia, nhà thơ Bulgari Elena Elecova, nhà thơ Mông Cổ Batomur Patosi. Vừa rồi, tôi qua Mông Cổ, gặp lại ông bạn vàng này. Ông bạn cũng như tôi: Trưởng ban Văn nghệ Đài phát thanh Truyền hình Mông Cổ. Vui nhất là anh bạn nhà thơ Triều Tiên. Anh này tôi biết nhưng không thân, vì học trước tôi một năm. Vừa rồi tình cờ gặp lại nhau ở Thái Lan. Anh hỏi: “Các cậu đánh Mỹ thế nào rồi? Bao giờ thì giải phóng Miền Nam”. Khi tôi bảo, chúng tớ đã thống nhất đất nước gần nửa thế kỷ rồi, anh bạn vẫn nghĩ tôi nói đùa…

– Có người nói Việt Nam là cường quốc thơ ca. Anh đồng tình với ý kiến này không?

– Cường quốc thơ ca thì không phải. Nhưng quả có rất nhiều người làm thơ và có cả những người bị thơ làm. Ngày xưa ra ngõ gặp anh hùng. Bây giờ đi đâu cũng gặp nhà thơ. Nhà văn Nguyễn Khắc Trường có bài thơ chế tác rất tếu: “Nhà nhà làm thơ/ Người người làm thơ/ Khéo vè sẽ thắng/ Thơ đành chào thua”.

Tôi nói chuyện này không phải để nịnh anh mà chỉ muốn kể lại một sự thật. Tôi đã không chỉ một lần bị rơi vào tình huống này: tới một vùng nông thôn nào đó, gặp các bà các chị. Thấy tôi, họ ồ lên ngay, anh đúng là nhà thơ có phải không? Tôi cười cười chưa kịp trả lời thì có người trong số họ khẳng định ngay: Anh đúng là nhà thơ Trần Đăng Khoa rồi!… (cười). Xin nói với anh là câu chuyện như thế đã diễn ra không chỉ một lần với tôi, ở không chỉ một vùng quê… Thế mới biết cái tên Trần Đăng Khoa và câu chuyện thơ của đời anh đã in hằn vào cảm nhận của người Việt như thế nào…

– Bây giờ có rất nhiều Trần Đăng Khoa. Gần đây, anh bạn Trần Đăng Khoa rất đẹp giai là Giám đốc một công ty truyền thông, kiêm nhà dịch giả, nhà hùng biện có rất nhiều người hâm mộ, đến gặp tôi, tặng tôi mấy cuốn sách rất ăn khách mà anh đã dịch: “Tôi tài giỏi, bạn cũng tài giỏi”. Anh bảo: “Mẹ cháu ngày xưa mê thơ bác lắm, nên lấy tên bác đặt cho cháu. Thế là cháu thành Trần Đăng Khoa. Có mấy lần cháu diễn thuyết, mọi người đến đông lắm, lại tưởng cháu là bác, đến nơi hoá không phải. Cháu bảo: Không, tôi là Khoa khác, tôi trẻ hơn, đẹp giai hơn. Bác Khoa nhà thơ già lắm rồi!”. Tôi bèn ứng tác tặng anh bạn ấy một bài thơ ghi lại cuộc trò chuyện giữa Khoa già với Khoa trẻ:

Trần Đăng Khoa với Trần Đăng Khoa

  • Mẹ cháu lấy tên bác

Đặt tên cho cháu mà

  • Cháu là Chính Khoa nhé

Còn bác là…Phụ Khoa.

 

Thế bây giờ, trên cương vị sự vụ hiện nay, nhà thơ Trần Đăng Khoa còn bao nhiêu thời gian để dành cho sáng tác thơ mỗi ngày?

– Tôi vẫn kẽo kẹt mỗi ngày. Nhưng chủ yếu là viết văn xuôi. Thơ cũng vẫn viết, nhưng ít hơn. Bây giờ cả nước làm thơ thì mình lại phải viết văn xuôi cho bạn đọc đỡ tẻ

– Anh làm thơ sớm, thành công sớm và cũng phải gánh trên vai những vinh quang từ rất sớm. Nhìn từ một góc độ, đó là điều may mắn lớn. Nhưng nhìn từ góc độ khác, có thể chưa hẳn đã vậy. Anh chọn góc độ nào để nhìn vào cảnh huống riêng tư này của đời mình?

– Cuộc sống nhiều khi giản dị lắm. Nó chỉ rắc rối khi người ta cứ làm cho nó rắc rối. Vì “Trái đất quay” mà. Và đó cũng là quy luật của tự nhiên:

Cái đến thì sẽ đến

Cái qua thì phải qua

Chẳng cần chi phấn đấu

Ta cũng thành cụ già”…

Tôi cũng đồng cảm với ý tưởng của thi sĩ Nguyễn Duy: “Cứ chìm nổi với đám đông/ Riêng ta xác định ta không là gì”. Khi mình đã xác định mình “không là gì”, thì chẳng nên quan tâm đến những chuyện xa lăng lắc lại ở ngoài mình, là niềm vinh quang hay sự bất hạnh. Vinh quang hay bất hạnh thì cũng chỉ là một sự quan niệm mang tính chủ quan. Cuộc đời nhiều khi giản dị lắm.

Anh có nhớ lần đầu tiên được ra Hà Nội và lần đầu tiên được đưa vào gặp nhà thơ Tố Hữu không? Nếu bây giờ để lại kể lại những gì anh đã kể về nhà thơ Tố Hữu trong tập “Chân dung và Đối thoại”, anh thấy có cần phải làm rõ thêm chi tiết gì không?

– Ấn tượng trong lần gặp đầu tiên với Tố Hữu, tôi đã viết trong bài thơ “Kính tặng chú Tố Hữu” rồi. Còn chuyện “Tố Hữu với bài thơ Hoan hô chiến sĩ  Điện Biên” ở “Chân dung và Đối thoại” thì tôi cũng đã kể trong cuốn sách rồi. Không có gì phải nói thêm nữa. Tôi cũng hơi ngạc nhiên và thấy rất buồn cười khi có người lại bảo tôi phủ nhận hoặc hạ thấp thơ Tố Hữu. Tố Hữu cũng như mọi nhà thơ khác thôi. Nghĩa là ông có nhiều bài hay và cũng có cả bài dở, câu hay và câu dở. Nhưng trong bài viết này, tôi không bàn chuyện hay dở ở thơ Tố Hữu, nên không có chuyện đề cao hay phủ nhận. Tôi chỉ bàn về một bài thơ viết về Điện Biên của Tố Hữu thôi. Lúc đó, chúng ta đang kỷ niệm 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ. Nhà văn Nguyễn Trí Huân, TBT tạp chí VNQĐ có giao tôi đến phỏng vấn Tố Hữu về bài thơ này. Nếu như mọi nhà báo khác, tôi chỉ cần hỏi chuyện Tố Hữu. Ông nói sao thì ghi lại. Thế là xong. Nhưng tôi không làm một cách tẻ nhạt như thế. Nhân một bài thơ cụ thể của Tố Hữu, tôi bàn về thơ ông, về nghệ thuật tạo dựng tác phẩm của ông. Tôi rất thú vị biết Tố Hữu viết bài thơ này khi ông chưa hề đến Điện Biên. Vậy mà tại sao ông lại viết về Điện Biên hay như thế. Tôi cũng nói rằng, có rất nhiều người đến Điện Biên, thậm chí chiến đấu ở Điện Biên và viết về Điện Biên, nhưng vẫn không vượt qua được bài thơ của ông? Vấn đề là tài năng chứ không phải thực tế. Nhiều khi chính thực tế lại khuôn bó chúng ta, cầm tù chúng ta trong một hiện thực cụ thể, khiến chúng ta không thể bay lên được bằng đôi cánh tưởng tượng. Phùng Quán khi viết Vượt Côn Đảo cũng có biết Côn Đảo ở đâu đâu. Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ có ca khúc rất hay “Tiếng hát giữa rừng Pắc Bó” nhưng ông vẫn chưa hề đến Pắc Bó. Phạm Tiến Duật có chùm thơ đặc sắc giành Giải Nhất báo Văn Nghệ, và đến nay cũng vẫn là cái Giải thưởng chuẩn xác nhất, sang trọng nhất: “Lửa đèn”, “Nhớ”, “Gửi em cô thanh niên xung phong”. Cả ba bài thơ này, ông lại viết ở… Hà Nội. Viết trong lán phòng không của Đỗ Chu ven vùng Hồ Tây. Sau đó ông chép chùm thơ này vào sổ tay Xuân Quỳnh, tặng chị vì thấy chị thích mấy bài thơ ấy. Sau đó ông trở lại chiến trường. Khi có cuộc thi thơ ở báo Văn Nghệ, Xuân Quỳnh đem chùm thơ này tham dự và giành Giải Nhất. Mãi sau này qua Đài Tiếng nói Việt Nam tường thuật buổi trao giải, ông mới biết mình dự thi và giành được giải cao. Chuyện bếp núc sáng tác, nhiều khi thú vị thế đấy.

Ngay cả đối với một người đã trưởng thành, việc được xung quanh đặt vào mình niềm kỳ vọng lớn cũng tạo ra sức ép tâm lý rất không dễ chịu. Với một cậu bé như “thần đồng thơ Trần Đăng Khoa” của những năm 60-70 của thế kỷ trước thì có lẽ mọi chuyện càng trở nên khó khăn hơn. Bây giờ nhớ lại, anh nghĩ thế nào?

– Tôi thấy tất cả đều rất bình thường. Tôi sống rất hồn nhiên và không hề ảo tưởng về mình. Tôi cũng đã làm được nhiều việc, viết được nhiều cuốn sách mà thuở bé tôi cũng không dám nghĩ đến. Giả sử nếu cậu Khoa không viết gì thêm, mà dừng lại như bạn bè của cậu, như Hoàng Hiếu Nhân, Chu Hồng Quý, Cẩm Thơ, Nguyễn Hồng Kiên…thì cậu ấy cũng đã xong tốt đẹp nhiệm vụ của cậu ấy rồi. Nhưng cậu ấy không dừng lại ở đấy mà vẫn tiếp tục đi, tiếp tục mở ra nhiều nhánh khác và lại còn tưng bừng, ầm ĩ hơn thời cậu ấy còn là trẻ con. Thế thì còn mong gì hơn nữa.

– Tôi không phải là người tò mò nhưng với tư cách là người yêu thơ anh và yêu quý anh, tôi rất muốn cùng độc giả của mình biết thêm về cuộc sống của anh hiện nay. Anh có cảm giác anh là một người may mắn và hạnh phúc trong đời sống gia đình không?

– Trong đời sống riêng tư, tôi là người hạnh phúc. Hạnh phúc vì tôi không có tham vọng gì cả. Tiền bạc, chức vụ và cả danh tiếng, với tôi đều vô nghĩa. Trong bài thơ tặng ông anh trai mình, là nhà thơ Trần Nhuận Minh, tôi có nói:

Giờ thì em đã chán

Những vinh quang hão huyền

Chỉ muốn làm mây trắng

Bay cho chiều bình yên…

Tôi lấy vợ rất muộn nhưng được cái bà lão nhà tôi sống cũng rất đơn giản. Lại rất chỉn chu công việc gia đình. Vợ chồng tôi chênh nhau rất nhiều về tuổi tác, lại rất khác nhau về tính cách sở thích, nhưng chúng tôi chưa từng nói nặng với nhau một lời, chứ đừng nói đến chuyện cãi nhau. Sợ nhất vớ phải bà vợ ham tiền, ham danh vọng, lại cứ muốn chồng làm to thì thật kinh khiếp. Ngay vớ phải bà mê văn chương, mê thơ, cứ suốt ngày đọc thơ như ve thì cũng hãi lắm. Tôi hãi nhất về nhà vợ chồng lại đàm đạo văn chương, rồi lại tranh luận với nhau câu này hay, câu kia dở. Thật kinh hoàng.

– Anh có kỳ vọng gì đặc biệt vào tương lai của hai cô con gái của mình không? Nếu các cháu muốn nối nghiệp thi ca của bố thì anh nghĩ như thế nào?

– Thơ ca chẳng là cái gì ghê gớm đến nỗi cả bố với con đều phải đam mê. Gia đình tôi chỉ có ông anh tôi, nhà thơ Trần Nhuận Minh và tôi kẽo kẹt văn chương đến trọn kiếp. Còn hai cô con gái tôi và ba đứa cháu tôi, con nhà thơ Trần Nhuận Minh đều chẳng có đứa nào theo nghiệp văn chương. Thậm chí chúng đều nhìn bố với bác như hai lão già hâm hâm.

Có người bảo, không có gì tẻ nhạt hơn một nhà thơ về già. Anh có cảm thấy thế không? Cá nhân tôi thì tôi thấy tôi đang trở nên tẻ nhạt hơn theo năm tháng. Vì không còn được cảm hứng say đắm như xưa, vì nhát hơn xưa dưới gánh nặng công vụ, vì đỡ lãng mạn hơn vì phải đối diện với trăm mối tơ vò của cuộc sống đời thường… Anh có bí quyết gì để duy trì sức thanh  xuân trong tâm hồn như hiện nay?

– Người già mà tẻ nhạt thì có gì phải buồn. Vì nó là quy luật của tự nhiên. Sợ nhất những anh trẻ mà lại tẻ nhạt. Tẻ nhạt mà có sức khỏe thì kinh lắm. Vì cái nhạt ấy sẽ rất khủng khiếp. Điều đó cũng đáng sợ như những lão già mà lại không chịu già. Tôi chẳng có bí kíp gì để giữ độ thanh xuân trong tâm hồn mình. Tôi thấy mình đã là một lão già. Già từ khi còn bé. Tôi đi trên đường. Cái xe máy cứ rì rì vừa đi vừa ngửi đất. Các cô gái mặc sooc lửng cắt vút qua: “Đi cẩn thận nhé bố già nhé!”. Tôi cũng hét lên: “Ừ bố nhớ rồi! Bố cũng hãi chết lắm!”

Anh đã có điều kiện trực tiếp gặp gỡ, trò chuyện, thậm chí là gần gụi với không ít những nhà thơ lớn của thời hiện đại. Nhiều người trong số họ nay đã trở thành người thiên cổ. Bây giờ, sau những khoảng lùi thời gian, liệu anh cho thể giúp cho độc giả và những người yêu thơ hiện nay có được thêm những cảm nhận và hiểu biết về họ được không? Thí dụ, anh nhớ gì nhất về nhà thơ Xuân Diệu, người mà chúng ta vừa mới kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông?

– Tôi tiếp xúc với khá nhiều nhà thơ, trong đó có nhiều nhà thơ rất lớn. Xuân Diệu là thày dạy nghề của tôi, là một trong những tác giả tôi đề cập đến trong cuốn “Chân dung và Đối thoại” với lòng tôn kính và ngưỡng mộ sâu sắc. Tôi cũng đã viết khá nhiều về ông ở nhiều thời điểm khác nhau.

– Có người lo rằng cảm xúc yêu đương như trong thơ Xuân Diệu có thể sẽ trở nên không hợp nữa với tình yêu của lớp trẻ bây giờ. Anh nghĩ như thế nào?

– Đúng vậy. Người phát hiện rất sớm điều này không phải chúng ta mà là nhà phê bình Trần Đăng Suyền. Ngay từ đầu những năm 80 của thế kỷ trước, ông Suyền đã chê thơ Xuân Diệu cổ, không còn phù hợp với tư duy hiện đại. Xuân Diệu bực lắm: “Cái cậu Suyền ấy, cậu ấy chẳng biết gì. Giả sử bây giờ bà Chúa Chè bà ấy sống lại, bà ấy mặc cái yếm thắm đi thỗn thện trước mặt các cậu, liệu các cậu có mê không? Trong tình yêu làm gì có chuyện cổ hay không cổ. Gớm tôi chỉ mong cổ để thành cổ điển đây!”. Xuân Diệu rất giỏi đánh tráo khái niệm. Cổ với cổ điển là hai khái niệm khác nhau. Trong tình yêu, có thể không có chuyện cổ hay không cổ, nhưng thơ thì có đấy. Đây là thơ về tình yêu chứ không phải tình yêu. Xuân Diệu làm thơ tình. Ông tạo ra một thế giới yêu đương. Thế giới ấy là của riêng ông, do ông tưởng tượng chứ đời sống có khi lại không phải như thế. Chúng ta thấy thơ ông không còn phù hợp với lớp trẻ bây giờ cũng là bình thường. Mà không phải lớp trẻ, ngay cả người già cũng không yêu như ông yêu và làm thơ về tình yêu như ông. Đấy là một thế giới tưởng tượng của riêng ông. Ngày Xuân Diệu qua đời, tôi dường như tê liệt mọi cảm xúc. Trên mộ Xuân Diệu chất đầy hoa. Một núi hoa. “Vô cùng thương tiếc nhà thơ lớn Xuân Diệu”. “Kính viếng Viện sĩ Xuân Diệu”…Bao nhiêu lời thương tiếc ông. Tên ông luôn gắn với chức danh: “Nhà thơ”, “Nhà thơ lớn”. “Viện sĩ”…Chỉ duy nhất một vòng hoa trắng. Trắng đến tinh khiết. Đó lại là vòng hoa của Nghệ sĩ nhân dân Bạch Diệp , người vợ yêu của ông. Trên đó, không có chức danh. Cũng không có tên ông.  Chỉ vẻn vẹn ba chữ “Vĩnh biệt Anh” trên vòng hoa trắng. Khi người ta ấp vòng hoa đặc biệt ấy lên mộ ông, thú thực, tôi đã khóc. Nói lại điều này, ta chỉ thấy thương ông thôi. Thương vô cùng …

 

– Với nhà thơ Huy Cận, anh có những kỷ niệm gì sâu sắc?

– Huy Cận ở với Xuân Diệu một nhà. Huy Cận ở tầng trên. Xuân Diệu ở tầng dưới. Tôi hay đến chơi với Xuân Diệu, thi thoảng gặp Huy Cận. Có lần Xuân Diệu tặng tôi tuyển thơ. Tôi trêu ông: “Tập thơ chú thiếu quá nhiều bài hay và thừa không ít bài… chưa hay”. Xuân Diệu bảo: “Cái cậu này buồn cười nhỉ. Đây có phải tuyển đâu. Rồi sau này thời gian nó sẽ tuyển. Còn bây giờ mình cứ đưa ra đã. Cậu đang cháy nhà. Nhà đang cháy thì có cái thúng, cái nia, cái váy đụp gì cũng cứ quăng ra đã, rồi sau mới chọn lọc lại. Nhà cậu đang cháy mà cậu lại còn lẩn mẩn so đo chọn cái này hay chọn cái kia à?”. Đúng thế thật. Tôi thấy mình ngu quá. Xuân Diệu rất tài trong việc ứng biến. Trước ông, tôi thấy mình hoàn toàn u mê. Đạp xe đi một đoạn, tôi mới tỉnh ra và nhận thấy rằng, cháy nhà và tuyển thơ là hai việc hoàn toàn khác nhau. Nhà Xuân Diệu đâu có cháy. Tôi lộn trở lại. Muốn nói to lên với Xuân Diệu điều ấy, nhưng thấy Xuân Diệu ra mở khóa cổng: “Có chuyện gì thế? Vào đây!”. Ông niềm nở. Thế là đầu óc tôi lại mụ mị: “Cháu, cháu có quên cái…mũ ở đây không?”. Xuân Diệu phì cười: “Thế cậu đang đội cái gì trên đầu đấy?”. Đúng lúc ấy, Huy Cận ở Hội Liên hiệp về. Xuân Diệu bảo: “Cận ơi, Cận xem có cách gì giúp Khoa mua một cái vé xe ô tô về Hải Dương?”. Huy Cận xé một tờ lịch bàn, rồi viết vào phía sau: Kg các đồng chí phụ trách Bến xe Bến Nứa! Giới thiệu với các đồng chí, người cầm giấy này là cháu Trần Đăng Khoa, nhà thơ “hậu sinh khả úy”. Các đồng chí tạo điều kiện giúp cháu, cho cháu mua một vé về Hải Dương”. Rồi ông ký tên: Cù Huy Cận, lại còn mở ngoặc “Thứ trưởng Bộ Văn hóa”. Rồi ông giải thích cho tôi hiểu “hậu sinh khả úy” có nghĩa như thế nào. Ông bảo: “Cháu đưa mảnh giấy này cho người phụ trách bến xe. Tất nhiên, nếu họ hiểu thì sẽ rất tốt. Nếu không chịu đọc thì họ cũng sẽ chẳng biết Trần Đăng Khoa là ai và Huy Cận là ai!”. Tôi tìm đến Ban điều hành bến xe Bến Nứa. Ông phụ trách mừng quýnh, không bắt tôi phải chờ mà đưa thẳng tôi ra chiếc xe đang xếp khách. Bác lái xe không lấy tiền, lại xếp tôi ngồi ở ghế phụ. Rồi bác khoe với cả xe, lại bắt tôi đọc thơ cho mọi người nghe. Tôi đọc hết bài này đến bài khác, cứ nhem nhẻm như anh bán thuốc hôi nách. Mới biết Huy Cận có sức mạnh thật!

Khi nhắc lại tình bạn thơ giữa Xuân Diệu và Huy Cận, có người thở dài và than rằng, hình như ngày xưa các nhà thơ đối xử với nhau chân tình và tử tế hơn thời hiện đại. Anh có đồng ý với nhận định đó không? Cá nhân tôi cũng nghĩ rằng, thời nào cũng có cái hay và cái chưa hay. Thời nào cũng có những người cầm bút tốt và những người không tốt. Thời trước đã thế. Thời nay cũng thế. Có điều, bây giờ, cách thể hiện tình cảm của các nhà thơ đối với nhau cũng đã khác. Và cách kết bạn của họ cũng thế. Bây giờ, nếu tự nhìn lại, nhà thơ Trần Đăng Khoa thấy mình có những bạn thân nào trong giới làm thơ? Họ là ai, nếu không phải là điều bí mật?

– Tình bạn giữa Huy Cận và Xuân Diệu thì tôi cũng đã kể nhiều lần rồi. Đúng là ngày xưa các cụ đối với nhau rất đẹp. Tôi có nhiều bạn thân là các nhà văn nhà thơ. Nhưng tôi cũng còn có rất nhiều những người bạn rất thân mà họ không dính dáng gì đến văn chương chữ nghĩa. Những người ấy cũng đông lắm, không thể kể hết được…

Tôi biết anh hiện nay đang giữ một cương vị quan trọng trong Hội Nhà văn Việt Nam. Theo anh, còn cần phải làm gì hơn nữa để nâng cao vai trò và độ hữu ích của cơ quan Hội đối với đời sống văn học nước nhà?

– Đây là câu hỏi rất lớn. Trả lời câu hỏi này, phải là nhà lãnh đạo cao nhất của Hội Nhà văn, là nhà thơ Hữu Thỉnh. Còn tôi chỉ là người giúp việc cho bác ấy. Người giúp việc thì chỉ biết những chuyện loong toong thôi..

Dự dịnh tương lai gần và xa của nhà thơ Trần Đăng Khoa?

– Ối giời, làm sao bàn chuyện xa xôi thế. Thay cho trả lời, tôi xin gửi đến bạn đọc bài thơ này; “Trái đất quay”: Chẳng có gì mới lạ/ Trái đất tít mù quay/ Nóng chán rồi sẽ lạnh/Buồn vui đều thoảng bay/  Cái đến rồi sẽ đến/  Cái qua thì phải qua/ Chẳng cần chi phấn đấu/Ta cũng thành… cụ già/ Coi đời như cát bụi/ Muốn yên mà chẳng yên/ Thế giới còn chao đảo/ Thì có chi vững bền? / Hãy làm một việc thiện/ Kịp trao nhau lúc này/  Ngày mai nào ai biết/ Cõi người mù mịt quay…

Xin cảm ơn anh!

Nguồn: Báo Đại đoàn kết – Hồng Thanh Quang (thực hiện)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 26.08.2016

Muôn vẻ Cái Hài trong cuộc sống

Muôn vẻ Cái Hài trong cuộc sống

  •   DƯƠNG QUỐC VIỆT

Tính hài hước là một thuộc tính quý của con người, và việc nhìn ra những cái hài sau mỗi sự vật hiện tượng, sẽ góp phần giúp người ta có nhận thức chủ động hơn, đầy đủ hơn, cân bằng hơn, và bản chất hơn về chúng. Cái hài xuất hiện ở khắp nơi, thậm chí nằm cả trong pháp luật, như có một ai đó đã nói: “bản chất của cuộc đời là hài hước”. Dường như cái hài, chính là cái trái với tự nhiên trong những hành xử của con người. Nhưng cấp độ nhìn ra cái hài trong mỗi sự vật hiện tượng là không như nhau. Nó phụ thuộc vào văn hóa, tín ngưỡng, nhận thức và độ trải nghiệm… của mỗi cá nhân.  Và có lẽ con người càng tự  do thì càng có nhiều điều kiện nhìn thấy cái hài.

Một sĩ quan đồn trưởng người Đức, bị truy tố về tội không báo cáo kịp thời về cái chết của một quân nhân dưới quyền ông ta, khi anh này bị rơi từ đỉnh tháp cao xuống mặt đất. Tại sao anh ta ngã tử dỉnh tháp cao bị chết mà ông không báo cáo ngay-viên quan tòa hỏi người đồn trưởng. Dạ thưa ngài, vì tôi cho rằng: việc anh ta ngã từ đỉnh tháp cao xuống mà chết, ấy là chuyện bình thường, nên tôi để báo cáo sau. Ngược lại giá mà anh ấy không chết, thì tôi đã báo cáo ngay rồi, vì đó mới là cái sự không bình thường-thưa ngài! Đó, phát hiện ra cái hài trong một vụ việc, như vụ án trên, đã dường như làm giảm đi tính trầm trọng của nó! Như vậy, ngay cả những chốn tưởng như nghiêm trang nhất, có lý nhất, nơi thượng tôn pháp luật nhất, cái hài chẳng vẫn tồn tại đó sao?! Vấn đề là nó cần được phát hiện như thế nào?

Mọi sự vật và hiện tượng vốn không trường tồn, nhưng người ta cố làm, cố mong ước, hay cố chứng minh cho sự bất diệt của chúng,  đó cũng là những cái hài, thậm chí đôi khi còn là bi hài. Truyện kể rằng: Tề Cảnh Công (547 TCN-490 TCN) nhìn cảnh nước Tề tươi đẹp, mà nước mắt chứa chan, tỏ ý với quần thần về sự tiếc nuối khi một ngày nào đó ngài phải rời xa ngai vàng. Thưa đức vua, nếu một triều đại cứ được phép tồn tại mãi,  hay một người được làm vua mãi, chẳng hạn như vua Nghiêu vua Thuấn mà giữ được ngai vàng cho đến bây giờ, thì giờ này chắc tôi và ngài, chỉ là những kẻ chăn vịt, đội nón lá đứng ngoài đồng-một quan cận thần đã tâu với nhà vua như vậy. Thật may mắn trong cái cơn cuồng si quyền lực của vị vua ấy, còn có một vị quan liêm chính thấu hiểu lẽ trời, nhìn thấy cái hài, mà kéo ngài ra khỏi cơn mê.

Một anh chàng làm việc xuất sắc, nhưng không may anh ta phải sống trong một đám người ghen ghét và rất có mánh lới-mồm miệng đỡ chân tay. “Hữu xạ tự nhiên hương”- khỏi lo cậu ạ. Vâng thưa các anh, xạ thì có hạn, nhưng lại bị đặt vào miệng cái ống cống thì còn ai ngửi thấy hương (!?) Hóa ra dù là chân lý, nhưng phát ra từ miệng của những kẻ dối trá, cũng sẽ trở thành điều không nghiêm túc, trở thành hài. Chúng ta cũng đã chứng kiến bao cái hài, như người ta đã từng phát động một mùa thi nghiêm túc, đổi mới rồi tiếp đến một mùa thi thực sự nghiêm túc, thực sự đổi mới. Rồi chẳng thế mà đã có khái niệm tối ưu, nhưng  người ta vẫn phải thêm cái “nhất” để thành cái “tối ưu nhất”. Biết bao bản thành tích giả dối, mãi đến nhiều năm sau người ta mới làm được một phần như thế, để rồi kho tàng tiếu lâm được bổ sung thêm thể loại “tạm ứng trước thành tích”  đó sao?!

Lại còn cái cảnh người ta ra sức bảo vệ cái không tồn tại, cái không phải là của mình, mà cũng không phải của cha ông mình, cũng như cái cảnh “đống mối ngỡ mồ cha”, chẳng đã bi hài lắm sao !? Gặp đại hạn, lũ cóc nhái tìm cách vượt cái quan, vì cái ao nơi chúng ở sắp cạn kiệt. Cóc cụ phán rằng: nếu chúng bay không biết cách chuồn, mà cứ nghễu nghện qua đường, thì sẽ bị đánh chết hết. Thế rồi ba ba-cóc-lươn phối hợp, quấn chặt vào nhau như một quái vật ba đầu, hình thù kỳ dị, nghênh ngang qua đường. Chúng chẳng những tẩu thoát, mà còn được cả dân làng vái lạy, vì họ cho rằng đã gặp được “linh vật” giáng trần, để cứu họ qua đại hạn. Đã thế dân làng còn lập đền thờ để ghi tạc sự tích, hàng năm cúng tế vào ngày đó, với văn bài ca tụng công đức của “linh vật” này. Nghe nói người ta bảo vệ cái đền đó, như một lẽ sống của cả làng, tới mức ai đó không tin, hay có ý nghi hoặc, dân làng sẵn sàng tiêu diệt(!)

Dường như những người mắc thói quan trọng hóa, bệnh thành tích, hãnh tiến, bịp bợm…, rất không ưa cái hài. Bởi cái hài dường như sẽ làm lộ tẩy bản chất, thu nhỏ sự vật, giảm thiểu sự linh thiêng…  Nhưng rõ ràng những ai có óc hài hước bị hạn hẹp, hay không biết – không chịu nhận diện cái hài, chắc nhận thức cũng khó bề linh hoạt. Có người nào đó đã nói: “Tự trào là đỉnh cao của hài hước”. Thực tế đã chứng minh “tự trào” có tác dụng xây dựng, hoàn thiện cá nhân, tổ chức, xã hội, và dân tộc. Và có lẽ đức tính này, cũng là một trong những đức tính quý giá, mà mọi người nên có!

( Nguồn: VHNA)

Bí ẩn gì trong căn hầm ở Tây Bắc khiến đàn ông Việt ‘sốt sùng sục’ kiếm tìm?

Thời gian gần đây, giới nam nhi cả nước xôn xao với loài nấm có tên ngọc cẩu (theo người Dao Đỏ thì đây là một dòng của nấm tỏa dương), còn gọi là nấm “tan cửa nát nhà”.

Chuyện về đại gia… phục hồi ‘sinh lực’
Sở dĩ, loài nấm này được người Dao Đỏ gọi là ‘nấm ngọc cẩu’, là bởi vì, nếu phụ nữ dùng nấm này, sẽ hồi xuân mạnh mẽ, sinh lý tăng lên, nên nếu chồng không đáp ứng được, dễ dẫn đến ngoại tình. Đàn ông dùng nấm này thường xuyên, thì dễ năm thê bảy thiếp, mà dẫn đến nát cửa tan nhà.
Ông langSau khi VTC News đăng tải bài viết về thứ nấm kỳ lạ ấy, đã nhận được thông tin từ một đại gia trong TP.HCM. Đại gia này kể rằng, anh đã dùng thứ rượu nấm ấy mấy năm nay, và quả thực, thấy thể lực sung mãn, khí thế đàn ông hừng hực.

Anh cũng tiết lộ rằng, người cung cấp thứ rượu “tan cửa nát nhà” ấy cho anh, là một ông lang kỳ lạ, đã có nhiều đời nghiên cứu về thứ nấm ấy và sở hữu một hầm rượu nấm ngọc cẩu có thể nói là lớn nhất Việt Nam, tới 10 tấn. Điều lạ lùng, là những “bể rượu” ấy đã lưu trữ hàng chục năm và được ông lang giấu kỹ trong hầm.

Theo lời vị đại gia này, mới 40 tuổi, song anh bị gút (gout) rất nặng, đầu các khớp tay, chân sưng vù, trông như củ khoai u mấu. Thời gian bệnh nặng, lại gặp lúc trái gió trở trời, chân tay đau nhức, đi không nổi, chỉ muốn chặt béng đi.

Thế nhưng, nhờ một người giới thiệu, anh đã tìm ra Bắc, lên tận Tuyên Quang, gặp ông lang người Giáy, tên là Lục Xuân Út. Người Giáy ở vùng Đồng Văn (Hà Giang) còn được gọi là người Thổ, nên dân bản địa gọi ông lang này là Út Thổ.

Dùng những cây thuốc thô mộc được một thời gian, thì những u cục biến mất sạch sẽ, những cơn đau do gút gây nên cũng không còn nữa. Cứ mỗi tháng, anh lại đi xét nghiệm máu, nước tiểu một lần và thấy các chỉ số đều đẹp.

1. Hầm rượu vạn lít của ông lang Út được ngâm bởi rượu ngon và thảo dược quý có tác dụng cường dương
Hầm rượu vạn lít của ông lang Út được ngâm bởi rượu ngon và thảo dược quý có tác dụng cường dương

Điều tuyệt vời, là hồi bị gút nặng, anh hỏng hẳn chuyện chăn gối, nhưng sau khi khỏi gút, lại được ông lang Út cấp cho mấy thang thuốc giải độc, tăng cường chức năng gan, thận, rồi đặc biệt là một can rượu thuốc kỳ lạ, anh đã lấy lại phong độ đàn ông, lúc nào cũng hừng hực khí thế như thời trai trẻ.

Nghe vị đại gia này tiết lộ về hầm rượu vạn lít, đã ngâm ủ với những thảo dược kỳ quái hai chục năm nay, tôi đã lần theo địa chỉ anh cung cấp, để tìm lên làng Vinh Quang (xã Thái Bình, Yên Sơn, Tuyên Quang).

Nhà ông lang Út nằm trên mỏm một quả đồi thấp, nhô lên giữa cánh đồng. Bước chân lên nhà sàn, tôi choáng ngợp, khi cả một gian phòng rất rộng, có tới cả trăm tải thuốc, chất ngất.

Thấy tôi kêu thuốc gì mà chất như núi thế này, ông lang Út bảo còn cất giữ nhiều ở chỗ khác nữa. Theo ông lang Út này, thì có tới 6 tấn thảo dược đã sơ chế, là lượng nguyên liệu chuẩn bị sẵn cho bệnh nhân. Giời ạ! Đến bệnh viện đông y của một tỉnh cũng không tiêu thụ lượng thảo dược lớn khủng khiếp như thế này.

Ông lang Út bảo: “Cậu nhìn xem, xe to xe con từng đoàn kéo nhau lên chở thuốc thế này, thì mấy tấn kia được mấy ngày thì hết. Mỗi huyện có một ông quan chức bị gút biết đến mình và uống thuốc của mình khỏi, thì lập tức quan chức cả huyện ấy tìm lên. Để tiết kiệm thời gian, công sức, các ông ấy phân công một người lên lấy cho tổng thể”.

Rượu quý phục vụ vua Mèo

Ông lang Lục Xuân Út sinh năm 1964, là người Giáy chính cống. Tổ tiên sống ở vùng biên giới Trung Quốc và Việt Nam. Hiện tại, nhà thờ tổ nằm ở huyện Phú Linh (Vân Nam), bên kia Trung Quốc, cách biên giới có 6km, từ phía Phó Bảng (Đồng Văn) đi lên.

Các cụ kể lại, ngày trước, cộng đồng người Giáy sinh cư ở vùng biên giới, còn chưa phân biệt được lãnh thổ một cách rõ ràng. Vì thế, giờ đây, dòng họ của thầy lang Lục Văn Út sinh cư ở cả hai bên biên giới, vẫn đi về thường ngày.

Mỗi thùng rượu chứa tới 300 lít
Mỗi thùng rượu chứa tới 300 lít

Dòng họ Lục của ông lang Lục Xuân Út có nghề thuốc gia truyền từ xa xưa. Các cụ kể lại, thì họ Lục có nhiều bài thuốc quý. Mỗi ông lang có uy tín trong gia đình sở hữu một bài thuốc đặc trị, bốc thuốc cho nhân dân trong vùng. Trong số những bài thuốc đó, nổi bật là các bài giải độc, trị các bệnh về gan, tiêu u, thoái hóa xương khớp, đĩa đệm và gút.

Ông lang Út cho biết: “Ngày xưa, bệnh gút chưa phổ biến, nên mặc dù dòng họ của mình có bài thuốc trị gút tốt, song ít được dùng đến. Chủ yếu quan lang mắc gút, chứ nhân dân ít bị căn bệnh này. Chữa bệnh gút giỏi, nên tổ tiên mình giao du với tầng lớp quan lại nhiều. Ông nội, rồi đến bố mình không chỉ là thầy lang chữa gút giỏi, mà còn là thầy thuốc riêng của Vua Mèo ở Đồng Văn”.

Bố đẻ của ông lang Lục Xuân Út là cụ Lục A Hủi được bác Hồ giác ngộ, trở thành Việt Minh, tham gia tiễu phỉ. Ông cũng có công động viên, thuyết phục Vương Chí Sình theo cách mạng. Khi Đồng Văn Giải phóng, ông Lục A Hủi được giữ chức Chủ tịch huyện Đồng Văn.Sau này, Lục Xuân Út lang thang trong rừng hái thuốc, lưu lạc xuống tận Na Hang (Tuyên Quang), quen thôn nữ Phan Thị Thu Hiền, nên duyên vợ chồng, rồi về làng Vinh Quang (xã Thái Bình, huyện Yên Sơn) để sinh cư, hành nghề thuốc.

Theo lời ông lang Lục Xuân Út, không chỉ có nghề bốc thuốc, mà tổ tiên xa xưa của ông lang Út đã có những bài thuốc ngâm rượu bí truyền, nhằm tăng cường sinh lực cho đàn ông, bồi bổ gân cốt.

Ông lang Út và đống thảo dược khổng lồ chứa trong nhà
Ông lang Út và đống thảo dược khổng lồ chứa trong nhà

Nhiệm vụ của ông nội, rồi đến bố đẻ của ông lang Út không chỉ bốc thuốc, chăm sóc sức khỏe cho nhà Vương, mà còn nghiên cứu, tạo ra những loại rượu đặc biệt, dành riêng cho quan lại, “vua chúa” xứ Đồng Văn.

Ông lang Út kể: “Hồi ông nội, rồi bố mình phục vụ cho nhà Vương thì mình chưa ra đời, nhưng ngày bé, mình thường xuyên được bố kể cho nghe về thời kỳ ông phục vụ vua Mèo. Ông kể rằng, ngày đó, ngoài bốc thuốc, thì ông chuyên tâm nghiên cứu về rượu.

Quan lại nhà Vương đều rất giàu có, tiền bạc phải dùng xe ngựa chở, lại thích uống rượu ngon, nên bắt bố và ông nội tôi phải nghiên cứu. Ông nội và bố tôi đã chế ra cả trăm loại rượu, nhưng vua Mèo và quan lại trong nhà Vương thích nhất thứ rượu ngâm nấm tỏa dương cùng những vị thuốc bổ máu. Loại rượu đó là bài thuốc bổ dương gia truyền của dòng họ bên Trung Quốc nhà tôi, đã dùng nhiều đời rồi”.

Theo các cụ kể lại, thì để có được rượu ngon, phải nấu bằng gạo ủ men lá. Cầu kỳ hơn nữa, là nồi rượu phải được nấu trên đỉnh núi cao, có mây mù che phủ. Nước để nấu rượu cũng phải được lấy ở khe trên đỉnh núi cao nhất. Rượu được chưng cất ít nhất hai lần, rồi đóng vào chum sành, để trên đỉnh núi vài năm trước khi đem ngâm với thuốc.

Nguyên liệu chính là một dòng quý nhất của họ nấm tỏa dương. Thứ nấm này chỉ mọc từ rễ của một số loài cây quý trên núi cao, quanh năm lạnh giá.

Theo lời ông lang Út, thì chỉ dùng mũ của loài nấm đó, đem phơi khô, xao đến khi hơi cháy, thì hạ thổ, rồi trút vào rượu. Mặc dù thứ nấm này là nguyên liệu chính tạo nên loại rượu tiến vua, nhưng nếu chỉ ngâm mỗi nấm tỏa dương, thì tác dụng chưa được như ý muốn.

Rượu tỏa dương phải được ngâm kèm với một số thảo dược bí truyền, trong đó, có những thảo dược có tác dụng bổ máu, bồi bổ gan thận. Nấm tỏa dương không chỉ có tác dụng tăng cường sinh lực, mà còn là chất dẫn thuốc cực kỳ hiệu nghiệm.

Ông lang Út bốc thuốc cho người bệnh
Ông lang Út bốc thuốc cho người bệnh

Chính vì thứ rượu này rất ngon, rất bổ, rất quý, nên vua Mèo đã cho xây dựng một căn hầm lớn, rộng cả trăm mét vuông, để chứa rượu.

Những cây thông khổng lồ, hàng trăm năm tuổi được đốn hạ, rồi những thợ mộc tài hoa đục đẽo thành những chiếc chum đẹp để ngâm rượu. Rượu quý đựng trong bình gỗ thông già càng tăng thêm mùi vị thơm, ngon.

Trong những ngày trọng đại, mời khách quý, vua Mèo mới đem rượu ngon ra thết đãi. Những bữa tiệc linh đình, thịnh soạn, say nghiêng ngả đất trời ở nhà Vương không thể thiếu món rượu đặc biệt này. Cũng chính vì sử dụng loại rượu này, mà các quan lang người Mông ở Đồng Văn có thể đáp ứng năm thê, bảy thiếp, con đàn cháu đống, thậm chí đến tuổi già vẫn hừng hực khí thế.

Tận mắt hầm rượu khổng lồ

Theo lương y Lục Xuân Út (xóm Vinh Quang, Thái Bình, Yên Sơn, Tuyên Quang), hồi nhà Vương sụp đổ, ông Lục A Hủi, bố đẻ ông được phân làm Chủ tịch huyện Đồng Văn, rồi sau đó bị giáng chức xuống Phó chủ tịch vì không biết chữ quốc ngữ, ông Hủi vẫn bốc thuốc và ngâm loại rượu bí truyền từng phục vụ nhà Vương. Sau, ông lang Hủi truyền lại những bài thuốc quý cùng bài thuốc ngâm rượu này cho con trai là ông lang Lục Xuân Út.

Mấy chục năm nay, ngoài việc bốc thuốc, thì hễ kiếm được nấm quý, thảo dược quý, ông lang Út lại đem ngâm rượu. Ông lang Út cũng chế biến rượu quý cầu kỳ như công thức mà cha ông vẫn làm.

Ông lang Út đi rừng lấy thuốc
Ông lang Út đi rừng lấy thuốc

Ông lang Út mở cánh cửa dưới tầng hầm, nơi cất giữ rượu quý mấy chục năm nay. Tôi thực sự choáng ngợp, khi hai căn phòng trong tầng hầm của ngôi nhà sàn lớn tràn ngập rượu quý. Thứ rượu ấy được chứa trong những chiếc vại khổng lồ, to như bể nước mà vua chúa ngày xưa thường đổ nước vào bơi lội, tắm táp.

Sách “Biển thước tâm thư” được bác sĩ Phó Đức Thuần dẫn lại: “Đông y dùng tỏa dương để bổ thận tráng dương, ích tinh huyết, mạnh tình dục, bổ tỳ vị, nhuận tràng, thông tiểu. Chủ trị yếu sinh lý, liệt dương, lãnh cảm, đau lưng, mỏi gối, biếng ăn. Già lão thì khí suy nên chân tay không ấm, nguyên khí ở đan điền bị hư tổn, hoạt động ngày càng chậm chạp, khó khăn; dương khí toàn thân không có đầy đủ thì nơi xa nhất như đầu ngón chân tay mỏi, bị lạnh, tê nhức với cảm giác kiến bò trong xương (không phải phong thấp). Để bổ sung dương khí lúc này nên dùng tỏa dương.

Ông lang Út với chiếc muôi đục bằng gỗ, sục xuống chum rượu, múc lên một muôi cho tôi nếm. Nhấp ngụm rượu, mà cảm giác như vừa uống thuốc chứ không phải uống rượu. Mùi thảo dược từ chiếc vại khổng tỏa ra thơm lừng cả tầng hầm.

Theo lời ông lang Út, có những thùng rượu ông đã ngâm ủ từ 20 năm trước. Thùng mới nhất cũng đã phải 5 năm rồi. Mấy năm nay, hầm nhà chật chội, vả lại số rượu này dùng đến mấy đời nữa cũng chưa hết, lại bị vợ phản đối vì mất quá nhiều tiền cho việc chơi rượu, nên ông lang Út chưa bổ sung thêm. Theo ông lang Út, ông đã chi hàng tỷ đồng cho hầm rượu quý này rồi.

Ông lang Út bảo: “Cả đời tớ chỉ uống thứ rượu này thôi, chứ không uống rượu gì khác đâu. Cậu lên nhà tớ mà xem, rượu Tây xếp ngập mấy tủ, toàn bệnh nhân tặng, rồi mật gấu, cao hổ các đại gia tặng, nhưng tớ có dùng đâu. Các loại rượu Tây chỉ để cho người làm thuê uống.

Thứ rượu này là tuyệt hảo, không rượu nào sánh được. Rượu ủ lâu, lại bị một loại thảo dược khử hết độc tố, nên không hại gì cho gan thận nữa, nó chỉ còn tác dụng dẫn thuốc nhanh hơn thôi.

Tớ đã mang rượu này đi xét nghiệm, và tuyệt đối không có thứ độc chất nào cả. Cả người uống được rượu lẫn người không biết uống rượu bao giờ cũng dùng được. Ông nào uống rượu này, cũng lừng tờ phừng. Ông nào yếu, uống rượu này đều đặn, đảm bảo dần dần sẽ sung mãn. Còn nếu hỏng hẳn, thì phải điều trị tăng cường chức năng gan, thận, rồi mới dùng rượu được”.

Tôi hỏi: “Sức anh uống được bao nhiêu mà ngâm nhiều thế này?”. Ông lang Út bảo: “Quả thực, cả đời tớ chắc chỉ uống hết được một thùng mà thôi. Mỗi thùng 300 lít đấy. Nhưng thứ rượu quý này là do cha ông truyền lại, nên tớ cứ phải làm để bảo tồn thôi. Rượu này ủ càng lâu càng quý. Trăm năm sau, nó sẽ là thứ rượu vô giá, không rượu nào có thể sánh được”.

Theo ông lang Út, mấy năm trước, trong hai hầm của ông chứa tổng cộng 10 ngàn lít, tức 10 tấn rượu, tuy nhiên, mấy anh bạn là đại gia trong TP. Hồ Chí Minh, rồi Hà Nội nài nỉ nhiều lần, nên ông đã bán mất 2 ngàn lít, do đó hiện chỉ còn 8 ngàn lít rượu quý mà thôi.

Theo ông lang Út, sắp tới, ông sẽ bổ sung thêm 2 ngàn lít rượu thuốc này nữa, để làm tròn con số 1 vạn lít rượu. Tuy nhiên, để kiếm được nguyên liệu ngâm rượu quả thực rất khó khăn. Nấm tỏa dương thì vẫn còn nhiều trong rừng, nhưng chỉ có một dòng tỏa dương trong số mấy chục loài là có tác dụng tốt, sử dụng ngâm rượu được, mà loài này thì bị săn lùng ráo riết.

Để kiếm được vài kg nấm tỏa dương xịn, mà người Dao gọi là nấm “tan cửa nát nhà” những người thợ đi rừng có khi mất cả tuần.

Những cây thuốc bổ máu, bổ dương sử dụng trong bài thuốc ngâm rượu này đều chưa có trong sách thuốc ở Việt Nam, chưa được người Việt biết đến, thế nhưng, người Trung Quốc lại thu mua ráo riết từ hàng chục năm trước, nên gần như tuyệt chủng.

Để kiếm được vài tạ thuốc, ngâm ủ trong 2 ngàn lít rượu, ông lang Út phải bỏ ra cả trăm triệu đồng để thuê người đi thu hái. Những thảo dược ấy chỉ xuất hiện ở trong rừng sâu, trên những vách đá dựng đứng, ẩn hiện trong mây mờ.

Người bị dương khí hư do hoạt động tình dục quá mức đến nỗi dương vật không còn sức cương được nữa, phải dùng đến thuốc thì dùng tỏa dương. Trong đó, nguyên khí hư kết hợp nhân sâm, trung khí hư kết hợp bạch truật, vệ khí hư kết hợp hoàng kỳ…

Muốn ôn bổ thận dương nên tư bổ thận âm, nhằm quân bình âm dương. Ở trường hợp này tỏa dương và nhục thung dung có tác dụng giống nhau thì tỏa dương mạnh hơn nhưng lại gây ôn táo. Còn nhục thung dung tráng dương yếu hơn nhưng lại có tác dụng ích âm và sinh huyết. Có ý kiến có thể thay tỏa dương và nhục thung dung cho nhau nấu cháo ăn rất tốt. Khi tư âm mà do địa hoàng gây nê trệ có thể dùng tỏa dương là vị tư âm trợ dương.

Về phương diện bổ thận tráng dương, thì tỏa dương chữa liệt dương, xuất tinh sớm (tảo tiết), chưa kịp giao hợp tinh đã xuất. Ngoài ra tỏa dương được dùng để bổ máu, ăn ngon miệng, hồi phục sức khỏe, ốm dậy, sau sinh đẻ, chữa tê mỏi chân, tay, lưng, gối”.

Sau khi đăng bài viết này, tòa soạn VTC News nhận được hàng trăm mail, cuộc gọi từ độc giả xin địa chỉ thầy lang. Chúng tôi xin gợi ý một vài địa chỉ được chúng tôi xác nhận là tin cậy của ông lang Út, độc giả có thể liên hệ tư vấn và lấy thuốc: Số 12 ngõ 8, Phố Bùi Ngọc Dương (phường Bạch Mai, Q. Hai Bà Trưng, Hà Nội), số ĐT:  0915.330535 – 0979.184263

( Nguồn: VTC new)

Đăng bởi: Ngô Minh | 26.08.2016

Hậu quả việc Hội Nhà văn nợ 700 triệu

 

Hậu quả việc Hội Nhà văn nợ 700 triệu

(Góc nhìn văn hóa) – Luật “X+” của Hội Nhà văn Việt Nam hoạt động không có nguyên tắc nên tùy theo “cảm hứng” mà người ở, người về.

Ban Biên tập và bộ phận tài vụ đã thông báo công khai điều này trong cuộc họp cơ quan, và lý do 2 tháng nay anh em trong cơ quan chưa được nhận lương có liên quan trực tiếp đến nguyên nhân này.

Nghe đâu cả các tháng sau nhiều khoản chi phí khác cũng đang trông chờ vào đó. Song nếu bảo đó là nguyên nhân khiến tờ báo trở nên khó khăn thì tôi không dám khẳng định. Chẳng lẽ chỉ có chừng đó tiền mà có thể làm nên khó khăn hay thuận lợi cho cả một tờ báo được hay sao?

Người giữ được “ghế” lâu chưa hẳn vì năng lực

PV: Trước đây ở báo Văn nghệ có anh Trương Vĩnh Tuấn làm kinh tế rất giỏi nhưng vừa đến tuổi đã nhận được quyết định nghỉ hưu luôn. Trong khi đó, hiện tại trong cơ quan có nhiều người đã quá tuổi nghỉ hưu nhưng vẫn còn tại vị, đảm nhiệm chức vụ 2 – 4 khóa liên tiếp.

Trong khi đó, nhà văn Hữu Ước đã từng nói với Đất Việt vào năm 2015 rằng: Khi mới nhậm chức sẽ dễ dàng đưa ra sự đổi mới, nhưng sang khóa thứ 2 sự đổi mới, sáng tạo sẽ bắt đầu khác đi, chưa nói tuổi tác kéo theo sự mệt mỏi, trước hết là chất xám, con người chất xám không phải năng lượng vô tận. Còn quan điểm của anh về vấn đề này như thế nào?

Lương Ngọc AnNhà thơ Lương Ngọc An: Chuyện nhà văn Trương Vĩnh Tuấn là chuyện của báo Văn nghệ. Còn những điều nhà văn Hữu Ước nói là chuyện của Hội Nhà văn Việt Nam, cần phải rạch ròi 2 nội dung này.

Ở báo Văn nghệ, đúng là trước đây anh Trương Vĩnh Tuấn, cũng là cấp phó nhưng là người tháo vát trong vấn đề kinh tế, nên anh em cũng được nhờ. Nói “anh em” ở đây là tôi nói cả cán bộ trong cơ quan, nghĩa là cấp dưới của anh Tuấn, lẫn cấp trên, là Tổng Biên tập nữa. Vậy nên anh Tuấn giỏi một thì người biết dùng anh Tuấn phải là người giỏi mười. Nhiều người cũng đồng tình với tôi điều này.

Còn chuyện của Hội Nhà văn Việt Nam và những điều anh Hữu Ước nói thì tôi không muốn bàn đến, vì nó xa quá. Tôi chỉ nghĩ một điều, rằng chúng ta cần phải nhìn Hội Nhà văn ở hai lĩnh vực rất khác nhau.

Thứ nhất là một tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, và thứ hai là là một cơ quan hành chính thuần túy. Cái tính đặc thù của Hội cũng chính là ở chỗ này, và hai lĩnh vực song hành này cũng có những đòi hỏi về công tác quản lý rất khác nhau, rất tách biệt nhau thì mới được…

PV: Nhân nói về tính đặc thù, xin anh nói rõ hơn về khái niệm này. Nó có liên quan gì đến khái niệm kéo dài tuổi nghỉ hưu theo kiểu X+… ở Hội Nhà văn mà dư luận đang bàn tán gần đây?

Nhà thơ Lương Ngọc An: Thú thực là tôi không muốn nói về việc này. Chuyện cộng thêm tuổi làm việc cho một số đối tượng là cán bộ công tác ở các cơ quan Hội Nhà văn trước đây vẫn có, nhưng nghe đâu đã bỏ lâu rồi, không hiểu sao nay lại đem ra áp dụng lại và áp dụng theo nguyên tắc nào thì tôi không rõ, nhất là lại trong bối cảnh gần đây xã hội đang nói nhiều, thì lại càng là điều khó hiểu.

Tôi chỉ nghĩ đơn giản thế này, rằng kéo dài tuổi làm việc cho một người nào đó, chưa hẳn đã là khẳng định năng lực, phẩm chất của người đó, mà có khi đấy lại là một câu chuyện khác…

PV: Tình trạng này không chỉ xảy ra ở báo Văn nghệ mà còn ở rất nhiều cơ quan cấp 2 của Hội Nhà văn Việt Nam khiến dư luận nghi ngờ có “tình cảm riêng tư” của Ban chấp hành với một số cán bộ thân thiết, tạo ra sự bất công. TBT Khuất Quang Thụy cũng nhận định cách hành xử của Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam như thế là bất thường. Là người gắn bó nhiều năm với báo Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam, theo anh thì Ban chấp hành Hội Nhà văn cần phải làm gì để lấy lại lòng tin cho hội viên, người dân?

Nhà thơ Lương Ngọc An: Câu hỏi của bạn ngay trong nó đã hàm chứa câu trả lời rồi. “Riêng tư” là câu chuyện của “tình cảm”, còn “nguyên tắc” là yêu cầu của “công việc”.

Khi đem “riêng tư”, đem “tình cảm” vào “công việc” thì chắc chắn “nguyên tắc”, nặng thì sẽ bị phá vỡ, nhẹ thì sẽ bị đánh tráo bằng những khái niệm mỹ miều khác. Chuyện ứng xử của Hội Nhà văn có bất thường hay không cứ nhìn vào đó mà đo thì biết ngay.

Cảm ơn anh đã trao đổi thẳng thắn với Đất Việt!

Thanh Tâm (thực hiện)

( guồn: Google)

Đăng bởi: Ngô Minh | 25.08.2016

ĐẶNG NHẬT MÌNH : TRUYỆN HAY HƠN PHIM?

 ĐẶNG NHẬT MÌNH : TRUYỆN HAY HƠN PHIM?

                                                                 Ngô Minh

 

Đặng Nhật Minh1

NSND- đạo diễn điện ảnh Đặng Nhật Minh (ĐNM) gửi tặng tôi tập truyện vừa Hoa nhài của anh vừa được NXB Dân trí mới ấn hành với lời đề tặng lạ:” Mến tặng Ngô Minh để đọc lại Bao giờ cho đến tháng 10”. Tập sách có 3 truyện: Hoa nhài, Nhà điều dưỡng nước khoáng và Bao giờ cho đến tháng 10. Tôi đã hai lần xem phim Bao giờ cho đến tháng 10 (BGCĐT10). Lần nào cũng xúc động rưng rưng. Tôi cũng đã đọc Hồi ký điện ảnh của ĐBM nên biết rất rõ sự ra đời khá vất vả của bộ phim danh giá này. Phải qua 13 lần duyệt, cả tổng bí thư đảng Trường Chinh cũng được mời duyệt phim. Tôi cũng đọc rất nhiều đánh giá trên thông tin đại chúng : BGCĐT10 là một bộ phim đã được bình chọn là một trong những bộ phim kinh điển của nền điện ảnh Việt Nam.  CNN ( Mỹ): “Bao giờ cho đến tháng Mười” là một trong 18 bộ phim châu Á xuất sắc mọi thời đại, là một bộ phim mang nhiều bản sắc dân tộc, một bộ phim thành công của điện ảnh Việt Nam những năm đầu thập niên 1980”. Bộ phim đã làm nên thương hiệu  nữ diễn viên gạo cội Lê Vân trong vai Duyên. Phim nổi tiếng thế, sao anh ĐNM còn dặn đọc lại BGCĐT10 ? Anh muốn nhắn điều gì? (Đọc tiếp…)

Giờ ở quần đảo Hoàng Sa là giờ Trung Quốc hay giờ Việt Nam?

Hoàng Dũng

Một người bạn cho tôi xem ba tấm ảnh chụp (bằng điện thoại di động) màn hình trên một chuyến máy bay Vietnam Airlines đi từ Hongkong về Việt Nam ngày 17 tháng 1 năm nay.

Hình 1 cho thấy máy bay đang trên không phận quần đảo Hoàng Sa, lúc 16g08.

Hình 2 sau đó hai phút, 16g10, hiển thị độ cao, vận tốc máy bay và nhiệt độ bên ngoài.

Hình 3 chụp cũng vào lúc 16g10 cho biết giờ địa phương tại Hongkong, giờ địa phương tại TP Hồ Chí Minh và giờ địa phương tại vị trí hiện thời, tức quần đảo Hoàng Sa.

Vấn đề là: giờ địa phương tại Hongkong và giờ địa phương tại quần đảo Hoàng Sa đều được ghi 5g10, còn giờ địa phương tại TP Hồ Chí Minh là 4g10.

Xin hỏi Vietnam Airlines: Tại sao tính giờ ở Hoàng Sa theo giờ của Hongkong (Trung Quốc), mà không theo giờ của Việt Nam?

Đăng bởi: Ngô Minh | 25.08.2016

Trách nhiệm pháp lý của chính phủ Lào

Trách nhiệm pháp lý của chính phủ Lào

Biểu tình phản đối dự án đập Don Sahon

Chính phủ Lào luôn mong muốn trở thành “bình ắc quy của khu vực Đông Nam Á” vì nếu làm được như vậy, họ có điều kiện để phát triển nền kinh tế của họ.

Để đạt được mục tiêu này, Lào có kế hoạch xây dựng khoảng 70 đập thủy điện trên cả dòng chính lẫn dòng nhánh của sông Mekong.

Tuy nhiên, có rất ít hoặc gần như không có quy hoạch về môi trường trong kế hoạch phát triển thủy điện của Chính phủ Lào. Điều này đã gây ra tranh cãi về những mâu thuẫn giữa một bên là chính sách phát triển kinh tế của Lào với một bên là việc gìn giữ, bảo vệ môi trường đối với khu vực hạ lưu sông Mekong.

Năm 2011, Chính phủ Lào đã cho xây dựng đập Xayaburi – con đập đầu tiên được xây dựng trên dòng chính sông Mekong. Trong dự án xây đập Xayaburi này, Chính phủ Lào đã “phớt lờ” các nghĩa vụ quy định trong luật pháp quốc tế, khu vực cũng như của chính quốc gia này về việc phải thực hiện những đánh giá đầy đủ liên quan đến tác động môi trường sinh thái, cũng như tác động đối với các vấn đề kinh tế – xã hội tại khu vực hạ lưu khi mà con đập ở phía thượng lưu sông Mekong được xây dựng.

Cũng giống như đập Xayaburi, đập Don Sahong đang được tiến hành xây dựng mà không có sự đánh giá môi trường thích hợp hoặc biện pháp bảo vệ môi trường và cũng không thực hiện yêu cầu tham vấn khu vực.

Bài viết này nhằm chỉ ra những tác động của Don Sahong, đồng thời chỉ các nghĩa vụ pháp lý mà chính phủ Lào phải thực hiện trước khi cho phép xây dựng các dự án đập Don Sahong, bởi hai lý do: thứ nhất, đây là một đập nằm trên dòng chính của sông Mekong, nên buộc phải thực hiện quá trình tham vấn khu vực theo Hiệp định Mekong năm 1995, thứ hai, các quyền con người phải được tôn trọng trong suốt quá trình xây dựng và hoạt động của dự án này.

Ảnh hưởng môi trường

Theo kế hoạch xây dựng thủy điện của Chính phủ Lào, vị trí của đập Don Sahong nằm trong khu vực Siphandone của Nam Lào. Con đập sẽ được đặt ở vị trí cách hơn 2 km về phía thượng nguồn biên giới Lào – Campuchia và ở cuối hạ lưu của kênh Hou Sahong. Theo đề xuất của Lào, con đập này sẽ có độ cao 32 mét và sử dụng dòng chảy tự nhiên của thác Khôn để cung cấp nguồn thủy điện có công suất 32 MW.

Các công trình trên sông sẽ ảnh hưởng tới môi trường

Bằng cách ngăn chặn toàn bộ kênh Hou Sahong, đập Don Sahong đe dọa một trong những khu vực di cư quan trọng nhất của nhiều loài cá trong lưu vực sông Mekong. Con đập này cũng sẽ ảnh hưởng nhiều đến tiềm năng thủy sản vùng Nam Lào, đe dọa sinh kế cũng như nguồn thực phẩm cho những người dân sống dựa vào nguồn nước của sông Mekong ở Lào, Campuchia, Việt Nam và Thái Lan.

Công ty thực hiện việc xây dựng dự án Don Sahong đến từ Malaysia là Mega First Corporation Berhad (MFCB). Dự án lúc khởi đầu là do Công ty điện Don Sahong, Ltd (DSPC) thực hiện. Công ty này có 70% cổ phần do MFCB nắm giữ và 30% còn lại do IJM Corporation Berhad nắm giữ.

Tuy nhiên, vào tháng 9/2010, MFCB đã mua lại toàn bộ số cổ phần tại DSPC của IJM và trở thành cổ đông duy nhất của dự án. Cho đến nay, chưa có hợp đồng mua bán điện nào của dự án này đã được ký kết, tuy nhiên cũng có những thông tin khác nhau về công ty mua điện của dự án Don Sahong. Chính phủ Lào tuyên bố rằng “dự án thủy điện này sẽ cung cấp điện cho toàn bộ khu vực Champasak và các tỉnh lân cận, để đáp ứng cho việc gia tăng nhu cầu điện trước những yêu cầu của việc phát triển kinh tế” và “dự án Don Sahong là một trong những dự án thủy điện đầu tiên mà Chính phủ Lào đang khuyến khích các nhà đầu tư để sản xuất năng lượng sạch cho tiêu dùng trong nước”.

Image captionTrung Quốc đã xây nhiều đập trên thượng nguồn

Như vậy đang có sự mâu thuẫn giữa một bên là mục tiêu bảo vệ môi trường và một bên là mục tiêu phát triển các dự án thủy điện trong chính sách phát triển của Lào.

Nếu muốn thực hiện được điều này, Chính phủ Lào cần phải hợp tác chặt chẽ với các nước trong khu vực trong việc đánh giá tác động về môi trường của các dự án xây đập thủy điện, cũng như đưa ra các giải pháp, bao gồm cả dự án Don Sahong này.

Việc đánh giá tác động môi trường, cũng như các thông tin của nó cần phải được công khai và minh bạch đối với các quốc gia bị tác động như Việt Nam, Campuchia để giảm thiểu tối đa tác hại đến môi trường, đồng thời có thể tăng cường hợp tác trong việc phát triển bền vững.

Gần hai thập kỷ trước đây, năm 1995, bốn quốc gia hạ lưu sông Mekong bao gồm Campuchia, Lào, Thái Lan, và Việt Nam đã ký kết Hiệp định về Hợp tác vì sự phát triển bền vững sông Mekong (gọi tắt là Hiệp định Mekong).

Hiệp định Mekong thành lập Ủy hội sông Mekong (MRC), được giao nhiệm vụ thực hiện các thỏa thuận và phát triển thủ tục đối thoại liên chính phủ.

Các quốc gia ven sông Mekong đã đồng ý thực hiện việc thông báo, tham khảo ý kiến và tìm kiếm thỏa thuận với nhau trước khi thực hiện một hành động mà sẽ có tác động đáng kể đến dòng chảy chính của sông Mekong.

MRC đã ban hành thủ tục Thông báo, Tham vấn trước và Thỏa thuận (PNPCA) theo đó thiết lập cách thức mà thông tin phải được chia sẻ trước khi một quốc gia ven sông thực hiện một dự án sử dụng nguồn nước của Mekong.

Theo quy định của Hiệp định Mekong, nếu dự án xây đập thỏa mãn yêu cầu như một “đề xuất sử dụng nước” trong lưu vực của dòng chính Mekong vào mùa khô, thì Chính phủ Lào phải bắt đầu quá trình tham vấn trước với bốn quốc gia thành viên của MRC. Một dự án thủy điện như Don Sahong sẽ chuyển hướng dòng nước trong suốt cả năm, nên bắt buộc phải có quá trình tham vấn trước.

Image copyrightGETTY IMAGES

Chính phủ Lào luôn đưa ra quan điểm rằng dự án Don Sahong nằm trên dòng nhánh, chứ không phải nằm trên dòng chính. Đối với dự án đề xuất sử dụng nước trên dòng nhánh, chỉ cần thông báo cho các nước thành viên khác của MRC mà thôi. Tuy nhiên, trong Bản đánh giá môi trường chiến lược (SEA) do MRC thực hiện năm 2010 và trong Bản đánh giá tác động môi trường (EIA) đối với các con đập do Ban thư ký MRC soạn thảo đã nói rõ dự án Don Sahong không phải là nằm ở dòng nhánh, và việc xây dựng dự án này phải thực hiện quy trình PNPCA.

Vì thế, việc xây dựng đập Don Sahong mà không có thỏa thuận trước với các quốc gia thành viên của Hiệp định Mekong là vi phạm nguyên tắc thiện chí, minh bạch thông tin được quy định trong quy trình PNPCA. Việc xây dựng Don Sahong như vậy cũng vi phạm tinh thần “hợp tác và tương trợ lẫn nhau” mà Chính phủ Lào đã cam kết khi tham gia ký kết Hiệp định Mekong năm 1995 và trong Hội nghị thượng đỉnh 4 quốc gia khu vực hạ lưu Mekong năm 2010.

Nếu Chính phủ Lào cho xây dựng Don Sahong mà không thực hiện quy trình PNPCA thì rõ ràng chính phủ Lào đã vi phạm nghĩa vụ thiện chí được quy định rõ ràng cả trong Công ước Vienna về luật điều ước quốc tế năm 1969 , cũng như trong các luật tập quán quốc tế về sử dụng các nguồn nước quốc tế.

Chính phủ Lào cho biết, hiện nước này đang trong quá trình tiến hành đánh giá tác động môi trường (EIA) và đánh giá tác động xã hội (SIA) cho đập Don Sahong. Tuy nhiên, các tài liệu này đã không được công bố công khai.

Theo luật pháp quốc tế cũng như luật pháp Lào và Malaysia, các công ty và Chính phủ Lào phải chuẩn bị sẵn sàng những đánh giá, bao gồm các cộng đồng bị tác động và các bên liên quan có cơ hội để tham gia vào việc đánh giá tác động này. Tuy nhiên, cho đến nay, Chính phủ Lào và chủ đầu tư xây đập Don Sahong đều chưa thực hiện những yêu cầu trên.

Luật Chất lượng môi trường của Malaysia (EQA) năm 1974 yêu cầu các dự án như đập thủy điện, có những tác động đáng kể đến chất lượng môi trường phải tuân thủ Hướng dẫn chi tiết thực hiện EIA trong đó nêu rõ phải bao gồm cả sự tham gia của cộng đồng cũng như các ý kiến phản biện. Một phần của các thủ tục này bao gồm việc phát hành các báo cáo EIA cho công chúng. Tương tự như vậy, Luật Bảo vệ môi trường của Lào yêu cầu EIA phải có sự tham gia của chính quyền địa phương, các tổ chức quần chúng, và người dân sống trong vùng có khả năng bị ảnh hưởng khi dự án hoạt động. Người dân sống trong vùng bị ảnh hưởng cũng có quyền tham gia vào các cuộc họp tham khảo ý kiến các cấp về đánh giá môi trường.

Tác động của Don Sahong đối với khu vực hạ nguồn là rất lớn. Vì vậy, việc xây dựng dự án này cần phải có một Đánh giá tác động môi trường (EIA) xuyên biên giới. Đây là một phần trong nghĩa vụ không gây hại của một quốc gia đối với các quốc gia khác trong việc sử dụng nguồn nước quốc tế như Mekong.

Cho đến nay, không có đánh giá xuyên biên giới nào đã thực hiện cho dự án Don Sahong, mặc dù đó là yêu cầu cần thiết của cả luật pháp quốc tế cũng như luật quốc gia của Lào và Malaysia.

Khía cạnh nhân quyền

Ủy ban Nhân quyền của Malaysia (viết tắt là SUHAKAM), được công nhận bởi Ủy ban Điều phối quốc tế liên quốc gia của Liên hiệp quốc và thẩm quyền của Ủy ban này được quy định bởi Đạo luật SUHAKAM năm 1999 của Malaysia, trong đó cho phép Ủy ban này điều tra các khiếu nại về nhân quyền, bao gồm cả khiếu nại về hoạt động kinh doanh liên quan đến vấn đề nhân quyền.

SUHAKAM đã tuyên bố vào tháng 6 năm 2013 rằng các vấn đề nhân quyền liên quan đến các dự án kinh doanh là một trong năm chương trình nghị sự chính của họ. Ủy ban này đã nhận được 39 khiếu nại đối với các công ty từ năm 2007 đến năm 2012, bao gồm cả các khiếu nại chống lại việc “xâm phạm và làm ảnh hưởng đến đất đai bản địa của các công ty khai thác gỗ, việc không cho công nhân có ngày nghỉ, chậm trả lương cho công nhân của người sử dụng lao động, cũng như sa thải công nhân vì lý do họ bị bệnh tật hoặc đang mang thai”.

Cộng đồng dân cư bản địa đã nộp đơn khiếu nại đối với các công ty và chính phủ liên quan đến việc xây dựng đập thủy điện và việc bồi thường tái định cư cho việc xây dựng đập đó. SUHAKAM cũng đang điều tra các khiếu nại về tham nhũng trong một bộ phận của chính phủ liên quan đến trách nhiệm của họ trong việc cấp phép xây dựng thủy điện với các cáo buộc hối lộ, cưỡng bức và không bồi thường thỏa đáng trong việc giải tỏa đất đai cho dự án thủy điện.

Như vậy, có khả năng MFCB vi phạm đến một số quyền con người theo các lĩnh vực mà SUHAKAM đã tuyên bố. Ngày 10/10/2014, 06 tổ chức phi chính phủ đã gửi đơn khiếu nại về sự vi phạm nhân quyền của công ty tiến hành đầu tư dự án xây đập Don Sahong.

Trong các quy định của luật pháp quốc tế về sử dụng và chia sẻ các nguồn nước quốc tế, cũng như của Hiệp định Mekong năm 1995 đều quy định Chính phủ Lào phải có trách nhiệm pháp lý cho bất kỳ thiệt hại nào có thể gây ra từ việc xây dựng hoặc vận hành đập thủy điện như Don Sahong đối với các quốc gia láng giềng.

Hiệp định Mekong là một Hiệp định mà trong đó đã kết hợp các nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế về sử dụng các nguồn nước xuyên quốc gia, đã quy định trách nhiệm của một quốc gia đối với các thiệt hại gây ra cho một hoặc nhiều quốc gia ven sông khác.

Vi phạm các nghĩa vụ không gây hại tức là đã tạo ra nghĩa vụ phải bồi thường cho những thiệt hại của bên kia từ phía bên gây hại. Cả chính phủ Lào và MCFB sẽ vi phạm các nghĩa vụ được quy định trong luật sử dụng các nguồn nước quốc tế cũng như luật pháp của Chính phủ Lào hoặc của Malaysia nếu dự án đập Don Sahong được tiến hành theo cách như vậy.

Còn nếu không, dự án đập Don Sahong cần phải được tạm dừng lại để các bên có cơ hội thực hiện một đánh giá tác động môi trường một cách đầy đủ, bao gồm cả các tác động xuyên biên giới, cũng như các bước tiến hành của quy trình PNCPA phải được tuân thủ.

Chính phủ Lào hoàn toàn có cơ hội để trở thành một nước phát triển và xuất khẩu điện năng hàng đầu ở khu vực, nhưng phải là điện năng được sản xuất một cách bền vững.

Tuy nhiên, muốn làm được như vậy, Chính phủ Lào và các nhà đầu tư thủy điện trên đất Lào cần phải tuân thủ các quy định của luật pháp quốc tế, Hiệp định Mekong năm 1995 cũng như chính các quy định trong luật pháp về môi trường của quốc gia này.

Bài phản ánh văn phong và quan điểm của tác giả, chuyên gia luật quốc tế tại TP HCM.

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 25.08.2016

Hun Sen và bầu cử Campuchia

Hun Sen và bầu cử Campuchia

Nhà nghiên cứu Campuchia bình luận thủ tướng Hun Sen ”giương cao lá cờ chủ nghĩa dân tộc” vì cuộc bầu cử sắp tới

Một nhà nghiên cứu chiến lược Campuchia nói Thủ tướng Campuchia Hun Sen sẽ “cứng rắn” về vấn đề biên giới với Việt Nam do cuộc bầu cử sắp tới.

Hôm 23/8, Thủ tướng Campuchia Hun Sen công bố kế hoạch xây một con đường dọc biên giới và yêu cầu quan chức các tỉnh biên giới nỗ lực đưa người dân đến sống tại các khu vực gần phía biên giới Việt Nam, tờ Khmer Times đưa tin.

Tổng tuyển cử ở Campuchia sẽ diễn ra tháng Bảy 2018 và Thủ tướng Hun Sen dự định tranh cử nhiệm kỳ thứ năm.

Tờ này cũng trích lời ông Hun Sen nói: “Tôi đã chỉ đạo chủ tịch tỉnh Take [tên Lay Vannak] và những lãnh đạo các tỉnh biên giới khác là cách tốt nhất để bảo vệ biên giới là đưa người Campuchia đến sống gần các biên giới phía đông, tây và bắc đất nước”.

Trả lời BBC Tiếng Việt, Chủ tịch Viện nghiên cứu Chiến lược Campuchia (CISS) Vannarith Chheang nhận định: “Có vẻ vấn đề an ninh biên giới lại nổi lên sau khi căng thẳng ở biên giới với Việt Nam ba tuần trước.

“Ba tuần trước, Bộ Ngoại giao Campuchia gửi một công hàm ngoại giao để phản đối Việt Nam trong trường hợp xây dựng mương trong khu vực biên giới mà cả hai nước chưa phân định,” ông nói.

Nhưng ông cũng nhận định việc Campuchia muốn xây đường xá và đưa dân cư tới các tỉnh biên giới giáp Việt Nam không phải “chiến lược mới”.

Ông nói: “Tăng dân cư sống ở khu vực này có nghĩa là cần đưa làng mạc và người dân Campuchia đến đó, vì khu vực gần biên giới Việt Nam có rất ít dân cư sinh sống vì thế nông dân Việt Nam tới thuê đất và thu hoạch trong khu vực.

“Ông Hun Sen cũng đưa ra chính sách không cho phép công ty Việt Nam hay cộng đồng người Việt thuê đất nông nghiệp dọc theo biên giới.”

Các tỉnh Campuchia giáp Việt Nam hiện chưa có đường xá dọc biên giới là Rattanakiri, Mondulkiri, Kratie và Takeo, mà theo một quan chức từ Ủy ban Biên giới Campuchia nói vì thiếu đường xá mà “bất ổn”.

Nhà nghiên cứu Vannarith cũng nhận định vốn đầu tư xây các hệ thống đường xá và thị trấn dọc biên giới này sẽ đến từ Trung Quốc với vai trò “có lẽ sẽ là nhà đầu tư chính”.

Image copyrightGETTY
Image captionCampuchia ngày càng thể hiện mối quan hệ xích lại gần Trung Quốc

Ông lý giải: “Trung Quốc cũng sẽ là nhà đầu tư chính ngày càng quan trọng hơn với Campuchia, đặc biệt là với đảng cầm quyền của thủ tướng Hun Sen.”

“Bởi vì ông Hun Sen nhìn nhận Trung Quốc là đối tác chiến lược chính, không chỉ là đối tác kinh tế mà là cả đối tác chiến lược. Bởi vì chính phủ Campuchia hiện tại không có quan hệ tốt với Hoa Kỳ, vì thế Trung Quốc là đối tác thay thế cho sự tồn vong của chế độ và để duy trì sự ổn định. Campuchia cũng cần sự hỗ trợ từ Trung Quốc.”

Ông nói sự đầu tư này là “sống còn với Campuchia”.

“Ông Hun Sen tin rằng Trung Quốc có thể bảo vệ lợi ích của Campuchia hơn. Đó là tính toán chiến lược của thủ tướng Hun Sen và Campuchia dưới chế độ của ông sẽ có quan hệ rất thân cận với Trung Quốc.”

Chủ nghĩa dân tộc

Nhà nghiên cứu Vannarith cũng nói “chủ nghĩa dân tộc” ở Campuchia đang là một “lá bài”.

Ông nhận định: “Quan hệ giữa người Việt Nam và người Campuchia luôn luôn căng thẳng. Quan niệm của đa số người Campuchia về người Việt Nam khá tiêu cực, vì thế sự kiện này cũng bị khơi lên một phần vì chính trị nội bộ của Campuchia về vấn đề chủ nghĩa dân tộc. Tôi nghĩ chủ nghĩa dân tộc là lá bàn quan trọng để có thể thắng cuộc bầu cử.”

“Trong quá khứ, vị trí của đảng lãnh đạo Campuchia rất mạnh, nhưng giờ tôi nghĩ đảng cầm quyền cũng phải dùng đến lá bài chủ nghĩa dân tộc. Bởi vì kỳ bầu cử sắp đến vào năm tới, và cuộc tổng tuyển cử 2018 sắp tới. Vì thế nó cũng thể hiện chiến lược chính trị, bằng cách tăng cường chính sách dân tộc.”

“Ông Hun Sen cần phải chứng minh ông là người bảo vệ lãnh thổ và chủ quyền vì thế bất cứ điều gì mà ông nghĩ xâm phạm chủ quyền Campuchia, ông sẽ phản đối. Lần này ông rất cứng rắn. Trước đây ông thỏa hiệp và xuống giọng khi nói đến vấn đề biên giới với Việt Nam. Nhưng bây giờ tôi nghĩ ông sẽ rất, rất cứng rắn.”

Quan hệ với Việt Nam

Ông Vannarith nhận định quan hệ song phương Việt Nam – Campuchia sẽ phải “đối mặt với nhiều thách thức hơn trong tương lai”.

Image copyrightREUTERS
Image captionThủ tướng Việt Nam và Campuchia trong một lễ khai trương cột mốc biên giới

“Cho tới giờ, ngoại giao trong yên lặng có tác dụng nhưng tôi không biết sự tin tưởng và tự tin của lãnh đạo hai nước với nhau ra sao. Bởi vì đảng lãnh đạo Campuchia có mối quan hệ rất gần gũi với Đảng Cộng sản Việt Nam nên họ vẫn duy trì rất nhiều kênh ngoại giao.

“Tôi nghĩ ngoại giao trong yên lặng có thể có tác dụng.”

Ông Hun Sen công bố thông tin xây đường và đưa dân đến các tỉnh biên giới giáp Việt Nam tại hội nghị bảo vệ và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên ở Phnom Penh hôm thứ Hai 22/8/

(Nguồn: BBC)

Đinh Thị Thu Vân – những câu thơ em viết mất linh hồn

Trần Mạnh Hảo

Chúng tôi xin mượn câu thơ: “Những câu thơ em viết mất linh hồn” của nhà thơ Đinh Thị Thu Vân, trong tập thơ “Một ngày ta ngoái lại” của chị, do NXB Long An ấn hành năm 2005 làm tiêu đề cho bài viết này.

 

Đinh Thị THu VânNhà thơ Đinh Thị Thu Vân

Xin quý độc giả đọc nơi xuất thân của câu thơ trên, vì câu thơ cũng như người, nhiều khi nó cũng cần phải có đôi có cặp, nó cũng có gia đình, chòm xóm của nó, đất nước của nó là khổ thơ, bài thơ, tập thơ:

“Câu thơ nào em viết cho anh
xin vĩnh viễn đi vào kỷ niệm
dẫu mai này lòng không còn nguyên vẹn
những câu thơ em viết mất linh hồn!”

(Ru…) (Đọc tiếp…)

Thảm họa Minamata ở Nhật: Nỗi đau 50 năm vì biển bị đầu độc

Hoàng Hương

Hình ảnh cá chết hàng loạt ở ven biển Việt Nam.

Đúng vào thời kỳ phát triển kỳ diệu của Nhật Bản, nước này phải đối diện với nỗi kinh hoàng mang tên thảm họa Minamata do 1 vụ nhiễm độc chất thải chứa thủy ngân trên diện rộng

Vụ cá chết hàng loạt ở ven biển miền Trung, Việt Nam: Nỗi lo thảm họa lặp lại

Về vụ cá chết hàng loại ở ven biển miền Trung, Việt Nam, tuy rằng cơ quan chức năng chưa đưa ra kết luận về nguyên nhân, nhưng có thể khẳng định đây là một nguy cơ rất lớn về môi trường.

Song song với việc điều tra nguyên nhân, nhiều người đặt ra mối lo ngại cho sức khỏe của người dân ở những vùng bị nhiễm độc. Nếu nguồn nước biển và thủy sản đã bị nhiễm độc, thì sức khỏe của người dân sẽ có những ảnh hưởng lâu dài.

Trên một diễn đàn, GS Nguyễn Huy Nga, nguyên Cục trưởng Cục YTDP và Cục Quản lý Môi trường Y tế, Bộ Y tế đã liên tưởng sự kiện này với thảm họa vịnh Minamata ở Nhật.

Ông Nga đặt ra giả thiết: “Nếu lặp lại sự kiện Vịnh Minamata thì là thảm họa. Vịnh Minamata ở Nhật bị công nghiệp xả nước thải có chứa thủy ngân, thủy ngân xâm nhập vào sinh vật thủy sinh rồi vào cá tạo thành hợp chất thủy ngân hữu cơ.

Người ăn cá từ vịnh này bị ngộ độc thần kinh với những hậu quả vô cùng thảm khốc.

Sau hơn 50 năm, Nhật Bản vẫn có nhiều trẻ em sinh ra với dị tật do thủy ngân và hàng ngàn người hiện nay vẫn bị nhiễm độc thần kinh làm tiêu tốn rất nhiều triệu đô la của nhà nước.

Đấy là cái giá phải trả cho sự buông lỏng kiểm soát môi trường trong phát triển”.

Chúng tôi xin giới thiệu câu chuyện về thảm họa Minamata diễn ra cuối những năm 50 thế kỷ XX tại Nhật Bản để người đọc thêm một lần nữa nhìn rõ những hậu quả thảm khốc khi con người coi nhẹ việc bảo vệ môi trường.

Chân dung một nạn nhân của thảm họa Minamata

Khi nghe tin người dân ở Vịnh Minamata, Nhật Bản giờ đây có thể ăn cá được nuôi ở chính địa phương này, Kazumitsu Hannaga đã gầm gừ và không ngừng rên rỉ. Những ngón tay xương xẩu cào cấu trong không trung để bày tỏ sự phản đối.

Nhưng không ai hiểu chính xác ông Hannaga đang cố gắng nói điều gì. Ông bị câm. Ông bị dị tật bẩm sinh do ngộ độc bào thai, bởi mẹ ông khi mang thai đã ăn cá nhiễm thủy ngân.

Bị mẹ bỏ rơi khi còn nhỏ, ông Hannaga ở với người bố bị liệt cũng do ăn cá nhiễm chất độc này.


Bức ảnh chụp bác sĩ Hiroyuki Moriyama và ông Kazumitsu Hannaga, một bệnh nhân Minatama ở bệnh viện địa phương vào năm 1991.

Bức ảnh chụp bác sĩ Hiroyuki Moriyama và ông Kazumitsu Hannaga, một bệnh nhân Minatama ở bệnh viện địa phương vào năm 1991.

42 năm qua, ông sống trong bệnh viện là chủ yếu. Cổ không cứng nên đầu thường bị nghiêng bên này bên nọ, đôi chân bị teo lại nên ông chỉ biết di chuyển bằng xe lăn.

Niềm đam mê duy nhất của ông Hannaga là chụp ảnh. Vì thế, mỗi lần muốn ghi lại một khoảnh khắc đẹp, ông đều phải gồng mình, lấy hết sức để giữ chiếc máy ảnh không bị rung.

Ông Hannaga được chẩn đoán là mắc bệnh Minamata, một căn bệnh khủng khiếp đã gây ra nỗi kinh hoàng cho cả nước Nhật Bản trong những năm cuối thập kỉ 60 đầu 70 của thế kỷ trước, đúng vào thời kì phát triển kinh tế “kì diệu” của nước này.


Bức ảnh chụp mẹ đang tắm cho con gái mắc bệnh Minamata (Ảnh của nhà báo nổi tiếng William Eugene Smith).

Bức ảnh chụp mẹ đang tắm cho con gái mắc bệnh Minamata (Ảnh của nhà báo nổi tiếng William Eugene Smith).


Bức ảnh đặc tả ánh mắt của người mẹ khi tắm cho cô con gái Tomoko Uemura, 16 tuổi, bị nhiễm độc thuỷ ngân ở Minamata từ lúc còn là bào thai. Đây là một trong những tác phẩm đầu tiên của thể loại ảnh báo chí về ô nhiễm môi trường.

Bức ảnh đặc tả ánh mắt của người mẹ khi tắm cho cô con gái Tomoko Uemura, 16 tuổi, bị nhiễm độc thuỷ ngân ở Minamata từ lúc còn là bào thai. Đây là một trong những tác phẩm đầu tiên của thể loại ảnh báo chí về ô nhiễm môi trường.

Mối họa mang tên bệnh Minamata

Minamata là tên một thành phố xinh đẹp thuộc tỉnh Kumamoto, phía nam Nhật Bản nhưng nó cũng là tên một căn bệnh xuất phát từ thành phố này.

Ngày 21-4-1956, một bé gái 5 tuổi được đưa vào bệnh viện địa phương với những triệu chứng kỳ lạ như khó đi, khó nói và co giật. 2 ngày sau, em của cô bé này cũng bị các triệu chứng tương tự.

Đến đầu tháng 5-1956, giám đốc bệnh viện báo cáo với giới chức y tế địa phương rằng đã phát hiện một căn bệnh chưa từng được biết đến. Ngay lập tức, chính quyền thành phố Minamata đã thành lập một ủy ban điều tra căn bệnh lạ này.

Đến tháng 11.1956, các nhà khoa học Trường Đại học Kumamoto phát hiện căn bệnh này là một loại nhiễm độc kim loại nặng được truyền qua các loại hải sản như cá và sò,

Đó là bệnh do nhiễm độc thủy ngân gây hủy hoại hệ thống thần kinh, chủ yếu là thần kinh trung ương.


Hình ảnh bộ não của người bị mắc bệnh Minamata.

Hình ảnh bộ não của người bị mắc bệnh Minamata.

Lúc đó, dù bị nằm trong diện tình nghi liên quan đến vụ này, Công ty hóa chất Chisso, chuyên sản xuất chất acetaldehyde từ năm 1932 phủ nhận mọi trách nhiệm về vụ việc và tiếp tục xả chất thải ra Vịnh.

Người dân địa phương vẫn tiếp tục đánh bắt và chế biến các món ăn từ những loại hải sản nhiễm độc đó trong thực đơn hằng ngày.

Năm 1965, một vụ nhiễm độc trên diện rộng ở tỉnh Nigata, trên đảo Honshu, cách Kumamoto khoảng 1.000 km cũng xảy ra tương tự như ở Minamata và thủ phạm tình nghi cũng là chất thải chứa thủy ngân của một công ty khai khoáng trên địa bàn.

Đến năm 1968, các chuyên gia mới xác định được bệnh Minamata do metyl thủy ngân gây ra. Hợp chất độc hại này do Công ty Chisso ở Minamata và Công ty Showa Denko ở Niigata tạo ra trong quá trình sản xuất acetaldehyde.

Nhà máy của hai công ty này đã xả chất thải không qua xử lý ra sông. Thông qua chuỗi thức ăn, độc chất được tích tụ trong cá và sò và truyền sang cư dân địa phương.

Năm 2001, có khoảng 1.700 trong số 2.200 người bị chết vì bị ảnh hưởng bởi độc chất từ nhà máy hóa chất ở miền Nam Nhật Bản, là do bị ngộ độc vì ăn cá ở địa phương.

Hậu quả kinh hoàng của bệnh Minamata

Bệnh Minamata để lại nhiều hậu quả kinh hoàng tùy theo mức độ nhiễm độc.

Những người bệnh nặng thường rú lên vì đau đớn, thường xuyên co giật và bị liệt. Một số bệnh nhân bị mù, điếc hoặc mất trí và nhiều người bị nhẹ hơn thì tay chân run, mất cảm giác, mất thăng bằng.

Phụ nữ nhiễm metyl thủy ngân khi mang thai sẽ có nguy cơ sinh con liệt não, bị điếc, bị mù hoặc đầu quá nhỏ, lớn lên thì tâm trí phát triển chậm.


Bà mẹ này khi mang thai đã ăn cá nhiễm thủy ngân.

Bà mẹ này khi mang thai đã ăn cá nhiễm thủy ngân.

Giờ đây, Vịnh Minamata đã trong sạch trở lại. Sau bao nhiêu cuộc chiến pháp lý, cuối cùng, công ty Chisso cũng đã bỏ hàng chục tỉ yên để bồi thường và chính phủ Nhật Bản cũng có nhiều động thái hỗ trợ bệnh nhân Minamata.

Tuy nhiên, sau hơn 50 năm, căn bệnh khủng khiếp này vẫn còn hành hạ biết bao nhiêu người.

Công ty Chisso đã từng góp phần phát triển thành phố Minamata và tạo công ăn việc làm cho dân địa phương nhưng hậu quả mà công ty này gây ra không gì bù đắp được.

Bài học đau xót của Thảm họa Minamata vẫn còn đó, như là minh chứng tiêu biểu nhất của việc phát triển kinh tế đưa tới những tác hại xấu về môi trường cho con người.

Shinobu Sakamoto, sinh ra đã bị tổn thương não, hiện cũng đang được chăm sóc và điều trị ở bệnh viện Minamata. Chị gái của bà, lúc 4 tuổi, cũng chết do ngộ độc thủy ngân khi ăn cá.

“Chừng nào chúng tôi còn sống, căn bệnh Minamata sẽ không bao giờ kết thúc”, Shinobu Sakamoto khẳng định.

* Tổng hợp từ nhiều nguồn

( Nguồn: google)

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.08.2016

TÔI VIẾT SÁCH “TƯỚNG GIÁP TRONG TÔI”

Nhân ngày sinh lần thứ 106 của Đại tướng Võ Nguyên Giáp ( 25/8)

Bia%20Ngo%20Minh

TÔI VIẾT SÁCH “TƯỚNG GIÁP TRONG TÔI  

 

   Ngô Minh

 

Tướng giáp trong tôi là cuốn truyện ký tôi viết riêng về Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Người anh cả của Quân dội nhân dân Việt Nam, do nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành tháng 6/2013. Từ năm 1995, sau Đaị hội Nhà văn Việt Nam lần thứ V, tôi bắt đầu viết hàng chục bài về Đại tướng. Khi thì một truyện lý, ghi chép, khi thì bài thơ, hay bài giới thiệu trường ca đầu tiên về Tướng Giáp của Hoàng Bình Trọng, bài bình về hai câu thơ cách tân của nhà thơ Bút Tre :Hoan hô Đại tướng Võ Nguyên / Giáp ta thắng trận Điên Biên trở về…”, hay vai trò của Đại tướng là linh hồn của Đường Hồ Chí Minh trên biển.v.v.. Tôi là người khái tính, không quen viết những cái ngoài mình. Tôi chưa bao giờ làm thơ ca ngợi bất cứ một vị lãnh tụ nào ngoài Đại tướng Võ Nguyên Giáp.  Sau tết âm lịch Quý Tỵ, tôi bỗng có linh cảm Đại tướng sẽ đi xa mãi mãi không biết lúc nào, vì ông đã 103 tuổi, đại thượng thọ, vị tướng còn sống duy nhất trong 50 vị tướng thiên tài mọi thời đại của nhân loại , đã nằm Bệnh viện quân y 108 suốt mấy năm nay. Vì thế tôi đã sửa chữa, nâng cấp các bài viết, thơ, tập hợp lại thành cuốn sách Tướng Giáp trong tôi. Lúc đầu tôi lấy tên sách là Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong tôi, nhưng như thế nghe khách sáo quá. Thực tình thì tôi đã  hai lần gặp Đại tướng, đã đến thăm nhà, chụp ảnh chung với Đại tướng và đã đọc thơ cho ông nghe. Tôi coi Đại tướng như một người Chú (đại tướng thua ba tôi 8 tuổi), hơn nữa tôi là một người lính của ông , nên lấy tên sách Tướng Giáp trong tôi sẽ gần gụi, thân mật hơn. Tôi phải ấn hành cuốn sqách khi ông đang còn sống, nếu không người ta sẽ nghĩ rằng:”Người chết rồi thì nói thế nào mà chẳng được!” (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.08.2016

THÊM MỘT CÁCH ĐỌC NGƯỢC TRUYỆN KIỀU

THÊM MỘT CÁCH ĐỌC NGƯỢC TRUYỆN KIỀU

Trần Quốc Toàn (thực hiện)

VanVN.Net – Nhà Kiều học – thầy giáo toán Phạm Đan Quế lại có thêm một sách chuyên khảo Truyện Kiều, mang tên “Truyện Kiều đọc ngược của Cổ nhân” , khác với sách “Truyện Kiều đọc ngược” ông đã đưa tới bạn đọc từ năm 2002. Nhân việc này chúng tôi có cuộc phỏng vấn ông Phạm Đan Quế.

PV: Thưa ông, “Truyện Kiều đọc ngược” – tên một cuốn sách do ông biên soạn, chỉ là tên sách ấy, hay còn là tên một lối chơi chữ từ Truyện Kiều, kiểu như tập Kiều, đố Kiều, nhại Kiều…?

Ông Phạm Đan Quế: Chúng ta hoàn toàn không có tư liệu gì về cách mà cổ nhân đã thực hiện khi đọc ngược Truyện Kiều, từ chữ cuối tới chữ đầu. Trong cuốn “Truyện Kiều đọc ngược” (NXB Thanh niên  2002) chúng tôi đã dành 50 trang nghiên cứu vấn đề này và khẳng định, cũng có vô số bản Truyện Kiều đọc ngược đấy, nhưng chỉ là đọc theo lối tập Kiều, là lối chơi chữ theo cách lựa chọn một số câu Kiều ở những chỗ khác nhau trong 3254 câu của Truyện Kiều, những câu có thể nối vần với nhau để tạo thành bài lục bát mới, theo một chủ để nhất định nào đó. Nếu theo chủ đề đảo ngược thời gian, thì Truyện Kiều được “đọc ngược”, từ đoạn “tái hồi Kim Trọng”:

3253. Lời quê chắp nhặt dông dài,

Mua vui cũng được một vài trống canh.

3145. Nàng rằng: Phận thiếp đã đành,

Có làm chi nữa cái mình bỏ đi!

3185. Chở che đùm bọc thiếu gì,

Trăm năm danh tiết cũng vì đêm nay.

3209. Tẻ vui bởi tại lòng này,

Hay là khổ tận đến ngày cam lai?

3241. Ngẫm hay muôn sự tại Trời,

Trời kia đã bắt làm người có thân….

Theo cách này, trong tác phẩm trên, chúng tôi đã dùng lại toàn bộ 3254 câu thơ của Nguyễn Du – dùng nguyên văn – để viết lại thành một câu chuyện có trình tự thời gian đi ngược lại câu chuyện nguyên tác, như đã thực hiện một cuốn phim quay ngược (nội dung thì không có gì mâu thuẫn với nguyên bản). Khi làm sách này, chúng tôi đã cho rằng chuyện người xưa có thể đọc ngược Truyện Kiều từ cuối trở lên đầu không cần giở sách là thậm xưng và có thể chỉ là truyền thuyết hay giai thoại. Nhưng sau khi sách ra mắt được ít lâu, qua nhiều ngày đêm nghiền ngẫm, chúng tôi nhận thấy, nhận định như trên không chính xác vì còn có cách đọc ngược Truyện Kiều khác nữa, rất đơn giản, thú vị và tự nhiên hơn nhiều mà có thể các cụ ta xưa đã làm.

Ông Phạm Đan Quế

PV: Xin ông giới thiệu cách đọc ngược này!

Ông Phạm Đan Quế: Đọc ngược cách này cực kỳ đơn giản: giữ nguyên câu lục, và hoán vị 4 chữ cuối của câu bát và đọc từ dưới lên trên. Mời bạn đọc nghe thử, Truyện Kiều đọc từ 8 âm tiết cuối cùng:

3524. Mua vui cũng được trống canh một vài

3253. Lời quê góp nhặt dông dài

Chữ tâm kia với chữ tài bằng ba

3251. Thiện căn ở tại lòng ta

Cũng đừng trách lẫn đất xa, trời gần

3249. Đã mang lấy nghiệp vào thân

Chữ tài liền với một vần chữ tai

3247. Có tài mà cậy chi tài

Chữ tài chữ mệnh cả hai dồi dào

3245. Có đâu thiên vị người nào

Cho thanh cao mới thanh cao được phần

3243. Bắt phong trần phải phong trần

Trời kia đã bắt có thân làm người

3241. Ngẫm hay muôn sự tại trời

Vườn xuân một cửa muôn đời để bia….

Theo cách đọc trên, chúng tôi vừa biên soạn xong cuốn Truyện Kiều đọc ngược “của Cổ nhân” với đủ 3.254 câu. Cuốn mới này sẽ ra mắt trong quý IV-2016. Chúng tôi xin được nói qua về cuốn sách mới này. Với chữ “của Cổ nhân” trong ngoặc kép chúng tôi muốn  nhấn mạnh,  đây không phải là văn bản sưu tầm từ thư tịch cổ, mà là cuốn sách do chúng tôi biên soạn, nhưng có thể  người xưa  đã nghĩ ra và từng thực hiện. Khi đọc ngược thơ lục bát như thế này, nội dung cơ bản không thay đổi bao nhiêu, thậm chí có trường hợp đọc ngược lại thuận nghĩa hơn, và có lý hơn như câu “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”, thì ta phải hiểu là “Trời xanh quen thói đánh ghen má hồng”, đúng như câu bát đọc ngược này. Và chúng ta lại càng thấy Truyện Kiều tuyệt vời biết bao khi đọc ngược cả quyển thơ dài tới 3.254 câu mà chỉ có 17 câu bát chưa thật thuận tai (11 chỗ là do từ láy bị tách đôi và 6 chỗ do văn lý). Như trường hợp câu 0005 “Lạ gì bỉ sắc tư phong/ Những điều trông thấy đớn lòng mà đau”. Gặp trường hợp này chúng tôi mạn phép động bút đổi thành “mà lòng đớn đau”.

Từ cách đọc ngược Truyện Kiều có thể suy ra, mọi bài thơ lục bát đúng cách đều có thể đọc ngược như thế. Điều này chính là một minh chứng hùng hồn cho sự kỳ diệu của ngôn ngữ Việt và lại là một cách vinh danh tuyệt vời cho thể thơ lục bát dân tộc của chúng ta. Mong rằng sau khi quyển sách này ra đời sẽ có nhiều bạn trẻ thuộc Kiều tới mức có thể đọc ngược Truyện Kiều ở bất cứ đoạn nào nếu không phải là toàn truyện.

PV: Nhân nói tới các bạn trẻ, nói tới tuổi học sinh, xin được hỏi các thầy cô giáo dạy văn nên dùng sách này như thế nào?

Ông Phạm Đan Quế: Rất mong các thầy cô đón đọc sách này. Và tôi nghĩ, các buổi ngoại khóa môn Văn ở nhà trường  có thể tổ chức thi đọc ngược những đoạn Kiều đã học hoặc những đoạn hay khác được chọn cho thêm phần hào hứng, bởi với quyển sách này trong tay, bạn nào cũng có thể đọc ngược một đoạn Kiều dù chỉ mươi, mười lăm câu. Tất nhiên để thuộc được đoạn đọc ngược nào, ta phải hiểu và thuộc được đoạn đọc xuôi tương ứng trong Truyện Kiều trước. Chắc chắn bạn nào say mê và quyết tâm sẽ có thể đọc ngược được khá nhiều đoạn Kiều mà mình thích, rồi có thể tiến xa hơn để có thể đọc ngược toàn bộ Truyện Kiều từ cuối trở lên đầu như các cụ ta ngày xưa. Nếu đúng là cổ nhân đọc theo kiểu này thì quả là quá tuyệt vời – Một phương pháp đọc ngược đơn giản và rất dễ nhớ, dễ thuộc mà cổ nhân vì yêu mến Truyện Kiều đã nghĩ ra. Thật là một sáng tạo, thú vị không ngờ mà mọi người yêu Kiều nên biết.

PV: Xin hỏi câu cuối cùng, là nhà Kiều học, ông có ý kiến gì về việc học Kiều trong nhà trường vào dịp ngành giáo dục đang tiến hành soạn thảo bộ sách giáo khoa mới trong đó có sách văn học?

Ông Phạm Đan Quế: Hiện nay khi dạy Truyện Kiều, sách giáo khoa đã chọn sẵn một số đoạn trích giảng nên giáo viên khó thoát khỏi những ràng buộc giấy trắng mực đen như thế. Nên chăng sách giáo khoa mới, ngoài mấy bài quy định, nên cho giáo viên tự chọn một số đoạn mà mình tâm đắc rồi truyền đạt cho học sinh để bài giảng có hồn hơn, cuốn hút hơn. Truyện Kiều đặc biệt ở chỗ đoạn nào giảng cũng tìm được nhiều cái hay, nếu làm như vậy thì thày trò sẽ cùng nhau tìm ra được nhiều cái hay của Truyện Kiều mà sự áp đặt theo lối cũ chưa thấy được.

Xin cảm ơn ông!

( Nguồn: vanvn.net)

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.08.2016

BẠO CHÚA MAO TRẠCH ĐÔNG – THƠ

BẠO CHÚA MAO TRẠCH ĐÔNG – THƠ

NHÂN 40 NĂM NGÀY MẤT CỦA BẠO CHÚA MAO TRẠCH ĐỘNG ( 9-9-1976 —9-9-2016). Tần Thủy Hoàng, Hitle, Stalin… còn phải gọi Mao bằng cụ vì mức độ gây tội ác. Ai đã bắt dân tộc Việt Nam tôn thời chủ nghĩa Maoist trong mấy chục năm qua ?

Mao

MAO TRẠCH ĐÔNG

Thơ Trần Mạnh Hảo.

Trán Người cao hơn nghìn núi sọ 
Mặt Người mênh mông hơn niềm hư vô thần linh 
Tháng chạp Hồ Nam tuyết rắc đầy lông cáo 
Sông Dương Tử ám như ma dìm chết đuối Động Đình

Người pha tư tưởng thành máu mực 
Loãng tâm hồn cháo huyết Trung Hoa 
Xã tắc đựng vừa tay nải 
Hành khất máu xương hề 
Người cái bang hề vĩ đại 
Cân hàng triệu sinh linh trên một chiếc cân ruồi

Vĩ nhân Diên An 
Đâu những đám mây ròng ròng phép lạ 
Có lời Người bàn 
Cá cũng hoá thành chim

Giang Thanh – Em – Nền Văn Nghệ mới 
Duy vật đôi mông nàng là biện chứng mù sương 
Lịch sử – con chiến mã Người phi nước đại 
Quất ngọn roi giai cấp hoá thiên đường

Cách Mạng là công cuộc bắt bướm 
Bắt sạch bướm trong giấc mơ thiên hạ 
Khinh bọn mây trắng phi lập trường, phi hiệu quả 
Con trâu điếc Lão Đam mê đàn Đông Phương Hồng 
Người xin thề với mênh mông: 
– Không đi chung đường cùng chim sẻ!

Vầng trăng Hạ Cơ điên đầu trời bể 
Thích thằng Cuội thủ dâm tư tưởng chị Hằng 
Người – bông lau đen đêm quạ trắng 
Người đếm cát Gô-Bi trong bão thốc trường thành 
Bão tuyết nuôi bạc đầu Bột Hải 
Thèm đập vỡ sọ người tìm mâu thuẫn trời xanh!

Máu Trung Hoa trắng rợn da ngựa 
Cho thuỳ dương xoã hết tóc Đường Thi 
Người mắc bệnh nghi mình là tượng 
Cả Trung Hoa lên cơn nghiền lý tưởng 
Người cầm cơn hồng vệ binh như cầm một tách trà 
Hoàng Hà đỏ đổ từ trời như bị cắt tiết

Tư duy là trò chơi chán chết 
Làm mặt trời hay hơn làm thơ 
Thử lấy máu tạo phản trò nước mắt 
Tiếc không Tần Thuỷ Hoàng toạ một ván cờ 
Buồn trời đất chỉ sinh mình Gia Cát 
Cười mẩu đại bàng cao hơn Thái Sơn

Đêm hồn Người chớp liên hồi như đạn hoả mai Thái Bình Thiên Quốc 
Đêm Hồ Nam khét lẹt tiếng mèo gào 
Phải ăn sạch giấc hoè thiên hạ 
Tuyết trái mùa làm đất mọc lông mao…

Sài Gòn 27-2-1994

T.M.H.

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.08.2016

NHỮNG NGƯỜI LÀM GIÁO DỤC PHẢN GIÁO DỤC

 

NHỮNG NGƯỜI LÀM GIÁO DỤC PHẢN GIÁO DỤC

fb Đỗ Minh Tuấn
(Comment của Congtrung Nguyen)

Có lẽ tình báo của Trung Quốc cài cắm được trong đầu não của bộ giáo dục nên ngành đã tuyển và chọn những người làm giáo dục nhưng thực chất là phản giáo dục qua biết bao nhiêu là vụ việc từ trước đến nay,cứ định hướng loanh quanh cải tiến, cải lùi chắc chỉ nhằm mục đích phá hoại nền giáo dục là cái gốc của văn hoá dân tộc Việt Nam ? Mất cảnh giác đến nổi ngay trước hiểm họa của Trung Quốc đang ngày càng xâm lấn chủ quyền, bờ cõi tổ tiên thì chẳng những không củng cố,tăng cường môn lịch sử để hun đúc, khơi dậy,giáo dục lòng yêu nước cho giới trẻ – thế hệ chủ tương lai của đất nước thì lại muốn tích hợp lằng nhằng, rối rắm, tan hoang rồi để xoá? Có kẻ muốn rắp tâm dạy phổ cập tiếng Trung Quốc cho toàn thể học sinh.. Nhớ rằng sách giáo khoa Việt Nam trước đây từng in bậy bạ từ bỏ về chủ quyền biển đảo để bây giờ Trung Quốc đã dùng làm bằng chứng mà thấy đau đớn, căm phẫn vô cùng.

Phải chăng bọn nô tài,Hán gian đã, đang tiếp tay cho kẻ thù truyền kiếp giết hại thế hệ trẻ Việt Nam? Anh Đỗ Minh Tuấn từng đau đáu, phẫn uất : ” Có một siêu chiến lược hủy diệt nhân tính Việt đằng sau tất cả những vụ việc kiểu này. Sách giáo khoa không chỉ một lần dạy trẻ bằng những bài viết về tội ác, về cái chết, về những chuyện nhảm nhí không hề mang một chút nào dù nhỏ hàm lượng nhân văn và trí tuệ. Hãy cảnh giác! Ai đạo diễn tất cả các vụ đánh úp các thế hệ tương lai kiểu này? Chúng đặt hàng ngầm? Chúng hối lộ để lấy giấy phép cho những sản phẩm giáo dục kiểu này? Đây là một kiểu đầu độc dân tộc Việt giống như cho chất độc vào trong sữa trẻ em mà chúng ta đã biết từ nhiều năm nay. Hãy tỉnh táo ngăn chặn các mưu đồ thâm hiểm này để dân tộc Việt Nam nhân ái, tử tế và đôn hậu tiếp tục tồn tại trên trái đất khổ đau khốn kiếp này! “.

” Hiện nay người ta chán ghét học văn, học sử là vì dạy văn thì có thật sự dạy văn đâu, mà là dùng văn để dạy chính trị, chủ yếu để dạy chính trị. Sử cũng hoàn toàn như vậy “- Nhà văn Nguyên Ngọc đã nói như vậy về việc dạy và học sử. Còn ông Đinh Kim Phúc một nhà nghiên cứu lịch sử thì nói :” Người ta đã biến một bộ môn khoa học trở thành một bộ môn chính trị để tuyên truyền, để minh họa cho đường lối chính sách của nhà nước chứ không phải cho một ngành khoa học. Vấn đề dạy và học lịch sử hiện nay đã bị bóp méo. Nó được xây dựng trên một nền tảng không khoa học. Chính vì vậy nên thầy không muốn dạy mà trò thì không muốn học “..

Hậu quả đã tan nát như hôm nay, với minh chứng vài thống kê trên báo Tuổi trẻ ngày 26/7/2011 cách đây 5 năm là: Trường đại học Tôn Đức Thắng chỉ có duy nhất 1 bài được điểm 5, tất cả số bài còn lại đều dưới trung bình với tỷ lệ là 99,6%;trường đại học Đà Nẵng có 477 bài thi bị điểm 0, bài thi dưới điểm 5 là 2448 chiếm 99,6 %.. Ai ai cũng đau lòng với kết quả này nhưng có một người rất bình thản,rất ráo hoảnh một cách tàn nhẫn :” Điểm lịch sử thấp là vấn đề của thời đại “. Thật đau,khi đây không phải là phát biểu của một tuyên truyền viên của tình báo Hoa Nam mà là của người đứng đầu Bộ giáo dục.

Cách biện hộ này đúng không khi so với chỉ một vụ khủng bố mà thanh niên Pháp hừng hực thi nhau tình nguyện gia nhập quân đội còn thanh niên Việt Nam lại vô tư trước hiểm họa chủ quyền, ngư dân bị đánh đập, bắn giết..? Chưa kể không ghi cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống năm 1979, Gạc ma…Một nền giáo dục, một nền văn hoá hủy hoại niềm tin biến sự dâng hiến của anh hùng liệt sĩ thành kẻ ngu ngốc, chết để làm gì, chết cho ai? Đó là hiểm họa mất nước mà không biết lo.

Nền giáo dục cần quay lại cách giáo dục cho con trẻ việc nhân bản,khai phóng, đề cao vai trò gia đình và bỏ nhồi nhét chính trị giáo điều như quá đề cao tình yêu mù quáng vào CNXH viễn vông, không có thật như từng yêu cuồng những vĩ nhân ác ôn Stalin độc tài hay yêu cả kẻ thù của đất nước Việt Nam là đồ tể Mao Trạch Đông.

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.08.2016

TRUNG QUỐC SẮP ĐỔI THỂ CHẾ?

TRUNG QUỐC SẮP ĐỔI THỂ CHẾ?

FB Đinh Văn Chinh


Văn ChinhĐinh Văn Chinh

Phó chủ tịch Quân ủy TW, Trưởng ban Kiểm tra Đảng Cộng sản Trung Quốc Vương Kỳ Sơn đã chết cách đây 3 tháng vì bệnh ung thư. Trước khi chết, Vương đã dặn Tập Cận Bình: Có trên 440 tướng lên chức vừa qua đã phải đút lót cho ông ta và những người khác. Chỉ có Lưu Nguyên (con trai Lưu Thiếu Kỳ) và Lưu Á Châu (con rể nguyên Chủ tịch nước Lý Tiên Niệm) là không hối lộ để lên tướng. Vương Kỳ Sơn đã nộp danh sách đưa tiền, danh sách nhận tiền (trung bình 500.000 USD / người) và nộp số tiền mà ông ta đã nhận. Sự vụ này đã được thông báo trong Hội nghị Bắc Đới Hà, kết thúc 14 tháng 8. Hội nghị đã có thông cáo báo chí, đại lược:
Đại hội sang năm 2017 sẽ thực hiện 20 chính sách cải tổ lớn về chính trị kinh tế văn hóa giáo dục:
1, Miễn phí y tế giáo dục toàn bộ
2, Bỏ đặc quyền đặc lợi quan chức.
3, Bỏ xe công, nhà công
4, Xóa bỏ toàn bộ các DN nhà nước xóa bỏ, tiến hành tư nhân hóa các công ty quốc doanh. Xóa bỏ triệt để hình thức nhà nước làm kinh tế.
5, Tự do báo chí, tự do ngôn luận
6, Tư pháp sẽ độc lập với hành pháp và với đảng
7, Phấn đấu tăng gấp đôi thu nhập đầu người
8, Có 7 thường vụ Bộ Chính trị nhiệm kỳ sau chỉ giữ 2 là Tập và Lý Khắc Cường
v.v…
Trong đó nói rõ, còn 5 việc chưa thể nói lúc này; trong đó có việc sẽ nói sau cuộc gặp 
gặp Tổng thống Mỹ ở Hàng Châu trong tháng 10, tháng 11.
Hội nghị Bắc Đới Hà nhận được sự đồng thuận cao; duy Trưởng ban Tuyên giáo TW Lưu Văn Sơn chống lại đường lối này.

Vũ khí Việt Nam uy hiếp lớn ở Biển Đông hơn cả chiến hạm Mỹ

Giáo sư Úc Carlyle Thayer nhận định, nếu Việt Nam triển khai hệ thống vũ khí mới sẽ là một mối đe dọa tiềm tàng lớn với các đường băng và cơ sở quân sự nước ngoài trên các đảo nhân tạo bồi đắp phi pháp tại Trường Sa. Nguy cơ từ vũ khí Việt Nam còn lớn hơn cả mối đe dọa đến từ chiến hạm Mỹ.
An Công – /Thứ Ba, ngày 23/8/2016 – 07:30
Tên lửa Extra của hải quân Việt NamTên lửa Extra của hải quân Việt Nam

Theo giáo sư Thayer thuộc Học viện Quốc phòng Úc, các động thái của Việt Nam mang dấu hiệu của một phản ứng hoàn toàn tự vệ để đối phó với việc nước ngoài củng cố cơ sở hạ tầng trên các đảo nhân tạo bồi lấp, xây dựng phi pháp ở Biển Đông, trong đó có việc xây dựng nhiều nhà chứa máy bay có khả năng tiếp nhận chiến đấu cơ đa nhiệm Su-30, máy bay ném bom, máy bay tiếp tế nhiên liệu và máy bay cảnh báo sớm và điều khiển.

Chuyên gia Thayer nhận định, hành động tự vệ của Việt Nam đã phức tạp hóa kế hoạch của người láng giềng khổng lồ với tham vọng độc chiếm Biển Đông. Ba đường băng mới xây dựng trái phép trên các Đá Chữ Thập, Đá Xu Bi, Đá Vành Khăn đã trở thành mục tiêu dễ bị hệ thống tên lửa của Việt Nam gây tổn hại. Lý do là tên lửa Việt Nam là một mối đe dọa thường trực, trong lúc các chuyến tuần tra của hải quân Mỹ chỉ mang tính chất thoáng qua.

Giới quan sát cho rằng, diễn biến tình hình Biển Đông hiện nay chứng minh cho nhận định rằng các hành động của Trung Quốc đã kích động một phản ứng ngược lại, hay chính là điều mà giới phân tích an ninh gọi một chu kỳ «động lực-phản động lực».

Ông Thayer nêu rõ, tình hình ở quần đảo Trường Sa sẽ căng thẳng thêm lên nếu Trung Quốc đột ngột triển khai máy bay quân sự trên ba đường băng mà Bắc Kinh đã xây dựng phi pháp, một khi các nhà chứa máy bay được hoàn thành.

Cận Đá Vành Khăn đã bị Trung Quốc bồi lấp, xây đảo nhân tạo trái phép với đường băng, nhà chứa máy bay và các công trình quân sự ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Giáo sư Thayer đánh giá, Trung Quốc sẽ không có khả năng tuyên bố một vùng nhận dạng phòng không trên Biển Đông và buộc nước khác tuân thủ chừng nào nước nay chưa xây dựng đủ các bể chứa nhiên liệu, và các cơ sở bảo trì và sửa chữa rộng lớn. Tuy nhiên, Trung Quốc có thể triển khai một phi đội máy bay chiến đấu và máy bay ném bom, hoạt động xoay vòng trong thời gian ngắn, làm căng thẳng gia tăng trong khu vực. Điều này sẽ có tính cách hù dọa các nước ven biển.

Theo giới quan sát quốc tế, Việt Nam đã và đang xây dựng một chiến lược chống tiếp cận riêng ở Biển Đông dựa vào các loại vũ khí hiện đại mua của Nga và phương Tây. Không chỉ có các tên lửa đời cũ như Redut P-35 Shaddock hay Scud, Việt Nam hiện sở hữu hàng loạt các loại tên lửa tối tân như Bastion-P, Club-S, Kh-35, Extra…

Quan trọng hơn cả là Nga đã chuyển giao nhiều công nghệ cho Việt Nam, nhờ đó sản xuất hàng loạt tên lửa và tàu chiến theo giấy phép của Nga.  Nga thậm chí còn bán cho Việt Nam các tên lửa hành trình hạm đối đất tiên tiến giúp hải quân Việt Nam có thể tấn công lãnh thổ kẻ địch. Quan hệ giữa Việt Nam và Ấn Độ cũng cho phép tiếp cận loại tên lửa chống hạm Brahmos đáng sợ nhất thế giới.

Theo thông tin đã được công khai, năm 2014 Việt Nam đã mua 10 giàn phóng tên lửa dẫn đường và tên lửa đất đối đất Extra của Israel. Trong cuộc diễu binh ngày 2/5/2015 kỷ niệm 60 năm thành lập Quân chủng Hải quân Nhân dân Việt Nam tại quân cảng Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa, lần đầu tiên người xem được thấy một loại tên lửa đạn đạo mới trong biên chế của Quân đội Việt Nam.

Extra có thể dùng trong các cuộc tấn công chuẩn xác nhắm vào tàu chiến hay các cơ sở trên đất liền trong một bán kính từ 20 đến 150 km. Tên lửa này có độ chính xác cao, và sai số so với đích nhắm chỉ khoảng mười mét. Tên lửa có thể mang một đầu đạn thuốc nổ cực mạnh, hay nhiều quả bom nhỏ. Đầu đạn thuốc nổ có thể gây tổn hại cho một tàu chiến, hoặc tạo nên một hố lớn trên một đường băng, còn bom nhỏ có thể gây thương vong hàng loạt trong một khu vực nhất định, phá hủy máy bay nằm đưới đất, các trung tâm chỉ huy và thông tin liên lạc, và các cơ sở hậu cần và cơ sở hạ tầng giao thông vận tải.

Khẩu đội tên lửa chống hạm Bastion P của hải quân Việt Nam

Sự xuất hiện của tên lửa Israel trong biên chế của Hải quân Việt Nam đã tạo ra nhiều tranh luận về mục đích sử dụng của loại tên lửa này. Rõ ràng tên lửa không phải là loại tên lửa chống tàu mà là đạn pháo phản lực bắn loạt chống mục tiêu là binh lực và sinh lực tập trung. Đạn tên lửa Extra được đánh giá tương đương với pháo phản lực Nga Smerch BM-30.

Một điều đáng chú ý là, trong phóng sự truyền hình nói trên có cảnh các chiến sĩ Đoàn 685 lắp ráp và triển khai UAV loại Orbital 2. Đây là máy bay do hãng ADS (Israel) sản xuất. Loại máy bay này dùng để trinh sát mục tiêu và hướng dẫn hỏa lực nhắm bắn chính xác.

Tên lửa chống hạm KCT-15 Việt Nam tự chế tạo theo giấy phép của Nga

Giới quan sát hiện đang cố gắng tìm hiểu xem có phải Việt Nam triển khai các vũ khí uy lực tại Trường Sa. Cũng không phải lần đầu tiên có tin đồn đoán Việt Nam tăng cường vũ khí hiện đại ra Trường Sa (Với truyền thống hòa hiếu, Việt Nam không hề và không bao giờ chạy đua vũ trang nhưng hoàn toàn có quyền tự vệ chính đáng trước những mối đe dọa và các thách thức an ninh, cũng như sẵn sàng bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Việc triển khai vũ khí ở đâu, vào thời gian nào trên lãnh thổ của Việt Nam là điều hoàn toàn bình thường).

Ông Gregory Poling, Giám đốc Tổ chức Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế Mỹ (CSIS) nhận xét: “Rõ ràng là căng thẳng đã leo thang ở Biển Đông, nhưng không phải bởi vì Việt Nam đã triển khai hay không triển khai thứ gì ra Trường Sa, mà căng thẳng leo thang là bởi vì Trung Quốc tăng cường quân sự hóa các đảo, đá và bãi cạn một cách quy mô ở khu vực Biển Đông”.

( Nguồn: Google)

Người tử tế thì không vì danh lợi của mình mà làm hại bạn bè, cho dù bạn đó chỉ là 1 con vật!

 
 
 
Cô Adelinde Cornelissen, người Hòa Lan gốc Đức, là 1 vận động viên môn cưỡi ngựa nghệ thuật rất nổi tiếng. Cô đã đoạt nhiều giải cao quý bao gồm Huy chương vàng quốc tế trong bộ môn này. Trong suốt những lần thi đấu đó, chú ngựa thân yêu Parzival của cô đã biểu diễn rất xuất sắc, chú luôn cố gắng vượt bực và đã giúp cô giành được thắng lợi.
Để chuẩn bị cho kỳ Thế Vận Hội năm nay tại Rio, cô Adelinde và chú ngựa Parzival đã khổ luyện suốt 4 năm. Ngày nào họ cũng giành ra 7-8 tiếng để tập luyện, và cô là người được dư luận tin tưởng là sẽ đoạt được huy chương vàng.
Thế nhưng ngay trước ngày thi đấu, cô Adelinde phát giác ra chú ngựa của cô bị bệnh lạ: 1 bên đầu bị sưng, mắt bị sưng và bị số . Các thú y đi theo đoàn vội chẩn bệnh, thử máu, chụp quang tuyến cho ngựa, thì phát giác chú ngựa Parzival bị nhện độc cắn, chất độc lan vào máu làm cho sưng và sốt.
Sức của 1 chú ngựa đua bình thường rất khỏe, 1 vết cắn như vậy chỉ cần uống thuốc trụ sinh, chữa trị vài ngày là hết. Nhưng ngặt cái hôm sau là ngày thi đấu, nếu chất độc chưa được trị hết, trong lúc thi đấu chạy nhảy quá nhiều có thể khiến cho chất độc dồn vào tim gây ra đột quỵ bất ngờ.
Cô Adelinde xin Ban Tổ Chức Thế Vận Hội thay đổi lịch thi, cho người khác thi trước và cô thi sau 2 ngày, nhưng không được chấp thuận.
 
Suốt đêm cô Adelinde trằn trọc đắn đo suy nghĩ không biết có nên thi không. Rút ra thì quá uổng công tập luyện suốt 4 năm và mất đi cơ hội giành huy chương vàng. Nhưng nếu thi đấu rủi chú ngựa bị độc công tâm thì sẽ không cứu được.
Sáng ra, các thú y khám lại lần nữa và cho biết chất độc đã giảm đáng kể, cô có thể thi đấu. Cô Adelinde dẫn ngựa ra sân mà trong lòng lo lắng, không yên. Thi đấu qua vòng đầu, cô Adelinde được số điểm rất cao, nhưng cô để ý thấy chú ngựa Parzival có vẻ mệt mỏi, mặc dù nó vẫn cố gắng hết sức và tuyệt đối tuân theo các mệnh lệnh của cô.
 
Bắt đầu vòng thi thứ 2 cô thấy chú ngựa thở có vẻ nặng nhọc hơn. Ngay lập tức, cô dừng ngựa, xuống xin lỗi Ban Giám Khảo, xin lỗi các cổ động viên, và vừa khóc vừa giải thích tại sao cô quyết định rút khỏi cuộc thi.
Cô nói nếu cô tiếp tục, thì Parzival sẽ phải cố gắng quá sức và mặc dù cô có thể thắng huy chương vàng nhưng chú ngựa có thể phải hy sinh. Cô không đành lòng làm như thế! Cô nói chú ngựa Parzival là bạn tốt của cô đã nhiều năm, đã giúp cô đạt đến đỉnh cao, nên cô không thể vì danh lợi của mình mà hy sinh bạn của mình, cho dù có phải hy sinh huy chương vàng, cho dù đó chỉ là 1 con súc vật.
Cô Adelinde và chú ngựa Parzival đã rời trường đua trong tiếng vỗ tay vang dội của cổ động viên và của cả Ban Giám Khảo.
 
 Nhiều người nói “Cô ấy tuy rút ra khỏi cuộc thi, nhưng đối với tôi cô ấy đã giành được huy chương còn quý giá hơn huy chương vàng, đó là huy chương của lòng nhân ái, của tình bạn giữa người và 1 chú ngựa” .
( Nguồn: Google)
Đăng bởi: Ngô Minh | 23.08.2016

104 KIỂU HỐI LỘ KHÔNG THỂ NHẬN !

 104 KIỂU HỐI LỘ KHÔNG THỂ NHẬN !

 

        Ngô Minh

                              Mình thiệt, lợi dân, DÂN gắn bó

                             Đẽo dân ,mình béo, DÂN căn hờn

                             Hờn căm, gắn bó tùy ta cả

                             Duy chữ THANH, THANH đối thế nhân 

                                    (Đặng Huy Trứ)

Đặng Huy TRứCụ Đặng Huy Trứ

Đó là bốn đề từ cho cuốn sách có một không hai trong lịch sử nước ta :TỪ THỤ YẾU QUY (không thể nhận và có thể nhận). Đặng Huy Trứ  (1825- 1874) là ông quan nổi tiếng triều Nguyễn về đức thanh liêm. Không chỉ liêm khi đương chức, về cuối đời, khi đang bệnh nặng ở Trung Quốc, ông đã dốc hết trí tuệ và sinh lực  để soạn cuốn sách  dày 650 trang  bàn về nạn hối lộ và đức thanh liêm của người làm quan, gọi là Từ thụ yếu quy , rồi tự bỏ tiền túi ra in năm 1868, mong để lại cho đời sau những điều tâm huyết: Muốn làm quan phải luôn luôn tâm niệm có 104 thứ hối lộ không thể nhận. Cuốn sách cũng đưa ra những điển tích, những tấm gương sáng của người xưa về đức thanh liêm (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.08.2016

Đã đến lúc cần phải đối thoại

Chu Hảo

Chu Hảo

Đấy là cuộc Đối thoại công khai giữa Ban lãnh đạo đảng cầm quyền và nhà nước với đại diện những người có ý kiến bất đồng ôn hòa, xây dựng ở trong đảng và mọi tầng lớp nhân dân ở trong và ngoài nước.

Vì chưa có điều kiện xuất hiện những tổ chức chính trị đối lập, cũng như chưa hình thành được một xã hội dân sự đủ mạnh để làm đối trọng với chính quyền, nên cuộc Đối thọai này phải do phía đảng độc quyền lãnh đạo chủ động mời gọi để tránh một cuộc xung đột không được kiểm sóat không thể không xảy ra nếu có thêm nhiều tiếng súng nữa tương tự như 9 tiếng mới phát nổ ở Yên Bái vừa qua.

Tiếng súng ở Yên Bái không phải chỉ phơi bày tình trạng tha hóa tột độ trong nội bộ đảng cầm quyền, mà còn chứng tỏ mức độ bất ổn chính trị – xã hội ở nước ta đã đến hồi nguy hiểm. Nguy hiểm cho sự lãnh đạo tuyệt đối của đảng và của chế độ thì đã đành, nhưng đó không phải là mối quan ngại của những người lâu nay công khai bày tỏ ý kiến bất đồng đối với những đường lối, chủ trương, chính sách sai trái của đảng và nhà nước. Những người này, trong đó có chúng tôi, âu lo về sự an nguy của dân tộc khi xảy sự bạo loạn ngoài tầm kiểm soát.

Đã đến lúc thể chế chính trị hiện này phải được thay đổi tận gốc rễ, nhưng thay đổi bằng bạo lực là điều chúng tôi không mong muốn, vì nó lại gây ra cảnh máu cháy đầu rơi trên đất nước này. Để tìm ra lối thoát một cách hòa bình, để tránh tình trạng bạo loạn vô chính phủ, chúng tôi nhận thấy chỉ còn có cách lãnh đạo đảng và nhà nước sớm chủ động đối thoại với khối quần chúng có ý kiến bất đồng ngày càng trở nên đông đảo.

Nguyên nhân gốc rễ của mọi ý kiến bất đồng, mọi bức xúc và phẫn uất đều nắm trong những điều bất cập, phản khoa học, phản tiến bộ, phản dân chủ của Cương lĩnh Đảng Cộng sản Việt Nam và Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Chừng nào hai văn kiện chính trị ấy không được thay đổi thì chừng đó con đường phát triển của đất nước ta vẫn không có lối ra. Hai văn kiện lạc hậu ấy đang gây ra điểm tắc nghẽn, tạo ra mọi bê bối trong các lĩnh vực, bóp nghẹt mọi tiềm năng và cơ hội phát triển của dân tộc ta.

Đó chính là nội dung cốt lõi của cuộc Đối thoại nói trên. Cuộc Đối thoại đã đến lúc phải đặt ra ở tầm hệ thống (để tìm ra lỗi hệ thông) như vậy thì mới đáp ứng được yêu cầu cứu nguy dân tộc ở thời điểm khắc nghiệt này. Nếu chỉ nói vòng vo theo kiểu “không thể nóng vội, phải có lộ trình”, “chỉ bàn những cái có tính khả thi”… thực chất là né tránh những điều gốc rễ cốt lõi, thì lại một lần nữa chúng ta để mất cơ hội, cơ hội lần này là do tiếng súng Yên Bái tạo ra.

Về phỉa lãnh đạo đảng và nhà nước chúng tôi kiến nghị cử người đại diện từ cấp cao nhất cùng các cơ quan chuyên trách lý luận của đảng như Hội đồng Lý luận Trung ương, Học viện Chính trị Hồ Chí Minh, Ban Tuyên giáo Trung ương. Về phía những người có ý kiến bất đồng chúng tôi đề nghị mời đại diện những người đã tham gia ký Kiến nghị của 72 nhân sĩ – trí thức về Hiến Pháp (19-1-2013) và Thư ngỏ của 61 đảng viên về Cương lĩnh (28-7- 2014).

Đối thoại sẽ là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, được tổ chức công khai, trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng sự khác biệt, tuân thủ chuẩn mực học thuật, và với tinh thần bao dung.

Chúng tôi tin tưởng sâu sắc rằng kết quả của cuộc Đối thoại lịch sử này không gì khác là mở đầu một thời kỳ mới, thời kỳ tiếng nói xây dựng, khách quan và trách nhiệm của những người bất đồng chính kiến, của cả xã hội dân sự đang lớn mạnh, được lắng nghe, được thảo luận nhằm tháo gỡ điếm tắc nghẽn hiện nay, mở đường cho đất nước đi lên.

Đà Nẵng ngày 19 tháng 8 năm 2016

C. H.

( Nguồn: Google)

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.08.2016

Chữ “Dân” trong di sản Hồ Chí Minh

Chữ “Dân” trong di sản Hồ Chí Minh

  •   BÙI ĐÌNH PHONG

Có nhiều cách hiểu và ứng xử với chữ “dân”. Chữ DÂN trong di sản Hồ Chí Minh hoàn toàn không phải theo chủ nghĩa dân túy; cũng không giống Khổng giáo. Quan điểm Hồ Chí Minh về dân thể hiện bản chất khoa học, cách mạng, nhân văn, mục đích vì dân chúng và động lực do dân chúng

Lãnh tụ từ nhân dân, sống trong lòng dân, trở về với nhân dân

Bác Hồ

Cả cuộc đời Bác cống hiến cho dân, cho nước, cho Tổ quốc chỉ với một ham muốn duy nhất, tột bậc, đó là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Sự cống hiến của Bác là cực đại, vô cùng to lớn, nhưng với bản thân mình Người không đòi hỏi gì, không có một chút gì riêng tư cho mình. Sau khi hoàn thành có nhiệm vụ nhân dân và Tổ quốc giao phó, trên ngực áo không có một tấm huân chương, Hồ Chí Minh chỉ muốn về với dân, làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc, câu cá trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi.

Trước khi viết Di chúc, Bác về Chí Linh, Hải Dương đọc Nguyễn Trãi, lục tìm trong truyền thống dân tộc những giá trị vĩnh hằng, mà một trong những giá trị đó là DÂN: “Chở thuyền là dân, lật thuyền là dân. Lật thuyền mới biết dân như nước”. Khi viết tài liệu “Tuyệt đối bí mật”, Hồ Chí Minh nói rõ ý định của mình sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, sẽ đi thăm đồng bào, chiến sĩ cả nước, bầu bạn khắp năm châu. Di chúc không bàn về cái chết nhưng Người cũng ý thức rất rõ rằng “người thọ 70 xưa nay hiếm”. Và Người cũng nói đến việc qua đời, tro chia và bỏ vào ba hộp sành, mỗi miền chọn một quả đồi thoáng mát để chôn cất. Quy luật sinh, lão, bệnh, tử là không thể khác được, đúng với mọi người. Biết rõ điều đó, Hồ Chí Minh muốn rằng sau khi qua đời vẫn được trở về với dân, sống trong lòng dân.

Sinh ra từ nhân dân, lớn lên cùng nhân dân, được dân chúng chở che đùm bọc, Hồ Chí Minh hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Người nói và làm theo quan điểm “từ Chủ tịch nước đến Bộ trưởng, thứ trưởng đều là đày tớ trung thành của nhân dân”. Trong giờ phút lâm chung, Người lại muốn về với dân, sống trong lòng dân. Người muốn uống một ngụm nước dừa để mang theo tình cảm của đồng bào miền Nam về nơi chín suối. Người muốn nghe một câu hò xứ Huế, nơi đầy ắp kỷ niệm tuổi trẻ. Người muốn nghe một câu hò xứ Nghệ, nơi chôn rau cắt rốn. Người muốn nghe một đôi làn quan họ trước khi về với thế giới người hiền.

Được lòng dân là có tất cả. Mất lòng dân là mất hết

Chữ DÂN là của báu trong kho tàng tư tưởng Hồ Chí Minh, bởi trước hết Người cho ta hiểu một nguyên lý giản đơn: có dân là có có tất cả. Mất dân là mất hết. Triết lý đạo Khổng, triết lý phương Tây đều nói đến dân, nhưng chỉ đến Hồ Chí Minh thì chữ DÂN mới được hiểu và dùng đúng nghĩa của từ này. Theo Người, DÂN là một ngôi lớn của văn hóa phương Đông được sánh cùng TRỜI và ĐẤT. Di sản Hồ Chí Minh cho thấy không có gì quý bằng nhân dân; không có gì mạnh bằng sức mạnh đoàn kết của nhân dân; không có gì chống lại được dân chúng; không có gì phá vỡ được bức tường đồng của dân chúng; không ai thông minh, trí tuệ, sáng tạo bằng dân chúng; không ai tốt như dân chúng; không ai hăng hái như dân chúng; không ai dũng cảm bằng dân chúng; không ai nhìn thấu bằng dân chúng; không ai nghe nhiều như dân chúng; của cải trong dân chúng; quyền lực thuộc dân chúng. Bác nói rằng: không có nhân dân thì không có Bác. Câu nói ngắn gọn, đầy đủ, chính xác. Dân chúng có một vũ khí vô địch, đó là lòng tin. Nói “có dân” hay “mất dân” là nói đến LÒNG TIN của dân. Nuôi dưỡng và giữ được lòng tin của dân, chúng ta sẽ có tất cả, sẽ thành công. Đánh mất lòng tin của dân chúng là mất tất cả, sẽ thất bại.

79 mùa xuân của Bác là bảy chín năm Người nuôi dưỡng, đắp bồi, làm việc, cống hiến bằng lòng tin của dân chúng. Bác tin dân, trọng dân, quý dân, nên dân tin Bác, yêu Bác. Di sản Hồ Chí Minh cho thấy dân sinh thành ra Đảng, đồng hành cùng Đảng; Đảng sống trong lòng dân, được dân nuôi nấng, che chở, đùm bọc. Đảng từng ngày lớn lên nhờ được uống nguồn sữa từ dân tộc. Cách mạng, kháng chiến thành công là nhờ sức mạnh và lòng tin của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Chuyện kể rằng cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền về tay nhân dân, nước Việt Nam mới Dân chủ Cộng hòa ra đời, Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền. Có cán bộ cao cấp hỏi Bác có điều gì làm Bác lo ngại không? Người trả lời một cách thân tình, ngắn gọn, rõ ràng, dứt khoát: “Nhìn chung thì không có điều gì đáng lo ngại vì ta có dân, chính quyền về tay nhân dân, Đảng ta là Đảng cầm quyền. Lo nhất là các chú làm bậy, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo, nhũng lạm, lãng phí để dân mất lòng tin. Mà mất lòng tin của dân là mất tất cả!”.

Những ngày “ngàn cân treo sợi tóc” sau Cách mạng Tháng Tám, khi kẻ thù quyết tiêu diệt cộng sản, đánh vào Việt Minh, Bác chủ trương lập Chính phủ liên hiệp, có những Bộ mà người đứng đầu không đảng phái. Người không muốn “Chính phủ của các chú đỏ quá!”. Có những ý kiến băn khoăn, lo ngại liệu những nhân sĩ trí thức yêu nước có cộng tác với Chính phủ không? Với lòng tin vững chắc vào nhân dân, Người nói “nếu chúng ta lấy lòng “chí công vô tư” mà làm việc, luôn luôn đặt lợi ích của Tổ quốc và nhân dân lên trên hết, trước hết, thì chắc chắn người ta sẽ vui vẻ nhận lời, sẵn sàng cộng tác với Việt Minh”. Diễn trình của cách mạng Việt Nam sau mùa Thu Tháng Tám năm 1945 hoàn toàn đúng như những điều tiên tri, tiên lượng của Bác.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ. Bộ đội, dân công “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt, máu trộn bùn non, gan không núng, chí không mòn”. Khơi nguồn sức mạnh từ dân chúng, Bác nói “người trước súng sau”. Có dân ủng hộ, giúp sức, việc khó mấy cũng làm được; không có dân ủng hộ, việc dễ mấy cũng khó hoàn thành. Bác đã nhiều lần nhắc đi nhắc lại lời của dân: “Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần, dân liệu cũng xong”. Kháng chiến, kiến quốc thành công là nhờ dân chúng. Đó là cuộc kháng chiến toàn dân, chiến tranh nhân dân của tất cả đàn ông, đàn bà, người già người trẻ, không phân biệt tôn giáo, đảng phái, giàu nghèo quý tiện. Đó là sự quật khởi, vùng dậy của lòng yêu nước, của tinh thần dân tộc, của ý chí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!” của hơn ba mươi triệu con Lạc cháu Hồng, con Rồng cháu Tiên.

Kể lại một câu chuyện thời chống Pháp để thấy bài học vô cùng sâu sắc cho hôm nay. Đó là câu chuyện về vụ án của Đại tá Trần Dụ Châu. Khi bộ đội và nhân dân đang dốc lòng, dốc sức, dốc của cho cuộc kháng chiến thì Cục trưởng Cục quân nhu, Đại tá Trần Dụ Châu lại bớt xén của bộ đội và nhân dân để phục vụ cho cuộc sống ăn chơi phè phỡn, trác táng của cá nhân. Với tội danh của Trần Dụ Châu, toà phán quyết tử hình. Trần Dụ Châu xin Chủ tịch nước xem xét, giảm án. Suy nghĩ nhiều ngày đêm, cuối cùng Bác vẫn giữ nguyên án tử hình như tòa đã quyết. Lý do Bác y án là vì “con sâu làm rầu nồi canh”; hành động của một cán bộ cao cấp như Trần Dụ Châu đã làm xói mòn lòng lòng tin của đảng viên, cán bộ, bộ đội và nhân dân vào Đảng, nếu không xử nghiêm thì ảnh hưởng rất lớn đến cuộc kháng chiến trong giai đoạn cam go, quyết liệt. Vụ việc kết thúc, Bác yêu cầu phải nói rõ trên báo chí để cho nhân dân và bè bạn quốc tế hiểu rõ Đảng ta là một Đảng cầm quyền quang minh, chính đại, vì dân vì nước, không bao giờ dung túng, bao che cho những hành động tham ô, tham nhũng, ảnh hưởng xấu đến sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Bài học quý giá, sâu sắc cho hôm nay chính là thái độ của Đảng và Nhà nước với cả “bầy sâu”, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tha hóa, biến chất, “ăn không từ cái gì của dân, bán cũng không từ cái gì”, đang làm xói mòn lòng tin của nhân dân,  của đảng viên, cán bộ vào Đảng, Nhà nước và chế độ. Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng nói rõ “đất nước không có kỷ cương thì sẽ loạn”. Chúng ta phải thấm nhuần, thấu triệt lời dạy của Lênin mà Bác nhắc lại năm 1952 rằng “Không xử bắn lũ ăn của đút lót, mà xử một cách pha trò, mềm mỏng, nhẹ nhàng như vậy, đó là một điều xấu hổ cho những đảng viên cộng sản, cho những người cách mạng. Cần phải nêu những đồng chí đã ăn hối lộ ra để cho dư luận quở trách và cần phải đuổi họ ra khỏi Đảng”. Phải chặn đứng hành động của nhóm lợi ích đang tìm cách chăng lưới, bủa vậy, dàn trận theo kiểu “liên ngành” để gây khó khăn cho quyết tâm chống tham nhũng của Đảng, Chính phủ và nhân dân. Muốn vậy, cách làm tốt nhất, có hiệu quả nhất theo lời dạy của Bác và thực tiễn cách mạng là phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó biện pháp hay nhất, có hiệu quả nhất là dựa vào dân. Hồ Chí Minh dạy rằng “Đảng phải tin dân và dựa vào dân chúng để kiểm soát quyền lực. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết. Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa. Dựa vào dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta. Phải dựa vào dân chúng, tạo nên một làn sóng gớm ghét, khinh bỉ, phỉ nhổ bọn người tham nhũng, nhóm lợi ích. Dựa vào dân chúng mà giám sát công việc của Chính phủ”.

Với bọn người tham nhũng, vô trách nhiệm, vô cảm trước đời sống của dân chúng thì rất khó và không thể nói chuyện tự phê bình và phê bình. Tham nhũng là biểu hiện của một loại giặc – giặc nội xâm. Loại giặc này nguy hiểm hơn giặc ngoại xâm vì nó không có hình thù, không có gươm súng, nhưng phá ta từ trong phá ra, là đồng minh, chỗ dựa vững chắc của giặc bên ngoài. “Diễn biến hòa bình” chỉ có thể sống được là nhờ dựa vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Vì tham nhũng là giặc nên chúng ta phải dùng những biện pháp mạnh để đối xử với giặc, biện pháp tốt nhất, hiệu quả nhất là sức mạnh của dân chúng, của lòng dân.

Chúng ta đang mắc những căn bệnh trầm kha mà không biết, đó là chỉ thấy Đảng mà không thấy dân; mọi khâu của công tác cán bộ và giám sát công việc của Chính phủ không có sự tham gia của dân chúng; nâng cao dân trí mà không nâng cao đảng trí; dân học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, còn cán bộ lãnh đạo chủ chốt, đứng đầu thì không học; chú trọng quy trình, quy hoạch mà thiếu quy chuẩn; trách nhiệm tập thể, thành tích cá nhân, có vấn đề xảy ra thì lẩn vào tập thể. Khi phát hiện ra những sai phạm, mới giải quyết ngọn mà chưa xử lý gốc; mới đụng đến cá nhân mà không thể phanh phui đường dây, hệ thống.

Vấn đề là phải dựa vào trí tuệ, lòng yêu nước, bản chất tốt đẹp của dân chúng để ngăn chặn từ đầu, từ gốc nạn tham nhũng quyền lực, bắt đầu từ khâu công tác cán bộ. Nếu chúng ta không dựa vào dân chúng mà vẫn làm đúng quy trình như cách làm hiện nay, thì dù có kiên quyết, kiên trì đến mấy; dù có quyết tâm xây dựng một Chính phủ kiến tạo, liêm chính, hành động bao nhiêu; xây dựng một Quốc hội đoàn kết, hành động, thì giỏi lắm cũng chỉ chặt được vài cái ngọn, còn gốc thì vẫn nguyên, mà gốc còn thì ngọn vẫn tiếp tục mọc ra. Ngọn là những con người phạm tội cụ thể như Trịnh Xuân Thanh, Phó Chủ tịch tỉnh Hậu Giang. Nếu chỉ diệt con sâu đó, chặt cái ngọn đó mà không diệt gốc đẻ ra nó thì nhiều con sâu khác lại được đẻ ra. Ai cũng biết một mình Trịnh Xuân Thanh không thể làm thất thoát hơn 3 ngàn tỷ đồng, không thể tự luân chuyển (chỉ có thể tự chuyển hóa, tự chuyển biến), không thể tự có biển số xanh… Formosa là gì? Là ai? Nhà 8B Lê Trực, Hà Nội là ai? Là cái gì? Cần phải đặt ra và trả lời chính xác được những câu hỏi đại loại như vậy, rồi xử lý dứt điểm, không bao che, không vùng cấm, không sợ đụng chạm, không sợ động rừng, không sợ vỡ bình, thì may mới có hy vọng tìm ra lối thoát. Những đường dây, hệ thống tổ chức đằng sau và liên quan đến những con người và sự việc đó, đặc biệt là những người ký quyết định chính là gốc. Phải tìm cho được những cái gốc đó và phải “đào tận gốc, trốc tận rễ” thì may ra mới xoay chuyển được tình thế, lấy lại được lòng tin của dân với Đảng, mới giữ được chế độ.

Chúng ta đang quyết tâm chữa bệnh, nhưng thiếu trí tuệ, bản lĩnh và phương thức, không dựa vào dân để chữa từ gốc, chữa tận gốc nên bệnh không khỏi. Những con bệnh đang nhờn thuốc. Nhóm lợi ích và cơ chế đang tạo ra những tiền lệ xấu để bịt tất cả những con đường đi đến xóa tận gốc tham nhũng. Phải trở lại với nguyên lý của cuộc sống mà Hồ Chí Minh đã tổng kết, luôn luôn nhấn mạnh và thực thi trong thực tiễn cách mạng. Theo Người, xưa và nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, có được dân chúng ủng hộ, giúp sức, việc gì cũng làm được; không được lòng dân, việc dễ mấy cũng thất bại.

Đảng, Nhà nước, những người có trách nhiệm cao nhất trong bộ máy của Đảng và Nhà nước, trong hệ thống chính trị phải lắng nghe lòng dân, nghe những tiếng nói tâm huyết của dân, của báo chí, của các nhà khoa học về các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc biệt là những vụ việc nóng như công tác cán bộ. Bác dạy rằng “phải sáng suốt, mới khỏi bị bọn vu vơ bao vây, mà cách xa dân chúng và cán bộ tốt”. Chúng ta phải thấm sâu lời dạy của Bác “nếu dân chúng nói mười điều mà chỉ có một vài điều xây dựng, như thế vẫn là quý báu và bổ ích”.

Ba mươi năm đổi mới, hàng trăm vụ việc xấu bị phát hiện, chặn đứng đều nhờ tiếng nói tâm huyết, có trách nhiệm của dân chúng. Trên 80% vụ việc tiêu cực được phanh phui, ngăn chặn, đẩy lùi, đưa ra ánh sáng công lý là nhờ tiếng nói của nhân dân, các nhà báo, các nhà khoa học, những cán bộ, đảng viên tốt, có tâm huyết, có trách nhiệm với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Trong khi đó, hầu như chưa có một trường hợp tiêu cực, tham nhũng, lãng phí nào được phát hiện từ các cuộc sinh hoạt đảng. Đây là một thực tế cần được giải mã, nghiên cứu thấu đáo để thấy sức mạnh của trí dân, lòng dân và sự hạn chế, tê liệt của không ít tổ chức đảng và tổ chức công quyền. Nghiên cứu, khám phá dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh để lấy lại lòng dân, củng cố niềm tin của dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ như Đảng ta đã nhiều lần nhấn mạnh, khẳng định lại trong các nghị quyết về dân vận, về xây dựng Đảng. Đừng để dân quay lưng lại với Đảng, Chính phủ và chế độ. Nếu Đảng không tin dân, không ở trong lòng dân, không dựa chắc vào dân để đổi mới công tác tổ chức, cán bộ và sửa đổi những gì chưa phù hợp trong nghị quyết như lời dạy của Bác thì chẳng khác gì chúng ta đứng lơ lửng giữa trời, nhất định thất bại. Hồ Chí Minh chỉ rõ “dân chúng chính là những người chịu đựng cái kết quả của sự lãnh đạo của ta”. Vì vậy, nếu chúng ta quan liêu, xa dân, không hiểu dân, không học dân, không hỏi dân, nghị quyết, chính sách không xuất phát từ nguyện vọng của dân và thuận lòng dân; đóng cửa lại mà đặt kế hoạch, viết chương trình, bắt dân chúng theo; làm công tác cán bộ đúng quy trình mà không đúng tiêu chuẩn, thì về chính trị là thất bại. Chính trị thất bại tức là mất hết lòng dân./.

( Nguồn: VHNA)

Nữ đại gia mang 300 đầu heo đến chùa, dâng lễ hay là sát sinh?

Phật tử và người dân địa phương đã “sốc” khi một nữ tín chủ phải sử dụng đến 2 chiếc xe tải cỡ lớn để chở số đầu heo khổng lồ đến chùa. Nữ đại gia này chắc chưa phân biệt được đâu là sát sinh, đâu là lễ Phật

Hầu hết người đi lễ chùa thường dâng hương hoa, vàng mã, bánh kẹo để cầu sức khỏe, may mắn cho một năm. Thế nhưng, một phụ nữ Thái Lan lại “chơi trội” khi dâng hẳn 300 đầu heo lên chùa.
Cảnh tượng 300 đầu heo được xếp ngay ngắn khiến nhiều người choáng váng.
Người phụ nữ này cho biết: “Trước đây tôi làm ăn thua lỗ lại bị khách nợ đầm đìa, tôi đã đến chùa này cầu thần linh phù hộ sớm vượt qua khó khăn về tài chính. Vài năm sau, tôi không những thu hồi được các khoản nợ mà còn làm ăn phát đạt, nên năm nay đến chùa làm lễ tạ ơn”.
300 đầu heo được bày biện khá công phu.
Cảnh tượng gây “sốc” trước của ngôi chùa Thái Lan, năm 2015.
Được biết nữ tín chủ là một người buôn bán hoa quả chuyên cung cấp cho các khách sạn và các địa phương phía Nam Thái Lan.
Sau buổi lễ, những chiếc đầu heo được phân phát cho dân làng gần đó và những người quen biết.
Theo Phật giáo, con người phải biết sống chan hòa, mà muốn sống hòa ái thì phải có hiểu biết. Khi hiểu biết rõ ràng, thì sẽ buông bỏ vật chất phù phiếm và tìm hiểu ý nghĩa thực sự của cuộc đời. Sự thật là dù cho ăn ngon, mặc đẹp, giàu sang đến mấy thì con người cũng sẽ chết mà không mang theo được thứ gì.
Thiết nghĩ, chúng ta phải trân quý giá trị tốt đẹp của sự sống, suy nghĩ tích cực và cảm thấy hạnh phúc. Ngoài ra, không gây đau khổ cho người chính là không tạo “nhân” gây khổ cho mình.
Hạn chế sát sinh (nhất là không nên sát sinh để cúng dường trong chùa chiền), hại vật, hại người,… chính là cách thức giúp con người sinh khởi lòng từ bi, sống chan hòa và có hiểu biết.
Đăng Hào (TH).Ảnh internet

( Nguồn: Internet)

Không chấp nhận sửa tuổi của Đảng viên để chống việc… chạy tuổi

QTXM; TÔI HOAN NGHÊNH CHỦ TRƯƠNG NÀY. GIAN LẬN TUỔI ĐÃ ĐẾN HỒI BÁO ĐỘNG,ĐÂY LÀ MỘT LOẠI THAM NHỮNG TRẮNG TRỢN. CÓ NGƯỜI ĐÃ ĐÊN TUOOI9R HƯU (60) VẪN LÀM VIỆC THÊM HÀNG CHỤC, THẬM CHÍ 15 NĂM NỮA…

Văn bản của Ban chấp hành Trung ương Đảng nêu rõ, những năm gần đây, việc sửa lại tuổi của một số cán bộ, đảng viên, nhất là vào thời điểm chuẩn bị đại hội Đảng, bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp hoặc trước khi xem xét quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử và khi cán bộ chuẩn bị đến tuổi nghỉ hưu… đã gây ra những khó khăn, vướng mắc, bất cập đối với các cấp uỷ, tổ chức đảng và cơ quan, đơn vị ở các cấp trong công tác cán bộ; đồng thời tạo ra dư luận không tốt trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Để bảo đảm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ theo quy định của Điều lệ Đảng, đồng thời phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của đảng viên, thực hiện lời thề khi vào Đảng và kịp thời chấn chỉnh tình trạng nêu trên, tại phiên họp ngày 16/8/2016, Ban Bí thư đã xem xét đề nghị của các cơ quan liên quan về quan điểm, chủ trương và phương án xem xét, xác định tuổi của cán bộ, đảng viên.

Trước mỗi kỳ Đại hội Đảng, bầu cử... lại có hiện tượng xin điều chỉnh, chạy tuổi lãnh đạo.
Trước mỗi kỳ Đại hội Đảng, bầu cử… lại có hiện tượng xin điều chỉnh, “chạy tuổi” lãnh đạo.

Ban Bí thư thảo luận, thống nhất quan điểm chỉ đạo, kể từ ngày 18/8/2016, không xem xét điều chỉnh tuổi của đảng viên mà thống nhất xác định tuổi của đảng viên theo tuổi khai trong hồ sơ Lý lịch đảng viên (hồ sơ gốc) khi được kết nạp vào Đảng. Đây là căn cứ, cơ sở để các cấp uỷ, tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét khi quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử; bố trí, sử dụng và thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ là đảng viên.

Ban Bí thư giao cho Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp với UB Kiểm tra Trung ương và các cơ quan liên quan tiến hành rà soát, đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến việc xác định tuổi của đảng viên; đôn đốc, kiểm tra, giám sát, bảo đảm thực hiện nghiêm túc kết luận.

P.Thảo

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.08.2016

1 tuần 3 tướng Trung Quốc tự tử

1 tuần 3 tướng Trung Quốc tự tử

TTO – Số vụ quan chức Trung Quốc tự tử lại tăng mạnh thời gian gần đây khi chiến dịch chống tham nhũng trong quân đội của Chủ tịch Tập Cận Bình đã bắt đầu đợt hai.

TướngTQ

Tướng Trần Kiệt từng được Bắc Kinh cử tới Hong Kong trong lễ bàn giao về Trung Quốc năm 1997.

South China Morning Post ngày 19-8 đưa tin tướng Trần Kiệt, một quan chức cấp cao trong Quân đội giải phóng nhân dân (PLA) Trung Quốc, đã uống thuốc ngủ tự tử hồi đầu tháng này. Tướng Trần là quan chức thứ ba tự tử trong vòng một tuần đầu tháng 8-2016.

Quan chức thứ nhất tự tử là lãnh đạo văn phòng chính trị của Bộ chỉ huy chiến trường miền nam ở Nam Kinh. Tiếp theo là hình ảnh người đứng đầu Trung tâm quản lý các doanh nghiệp hậu cần thuộc hải quân Trung Quốc nhảy lầu tự tử hôm 12-8 lan truyền khắp mạng xã hội.

Các vụ tự tử trên diễn ra sau khi quân đội mở cuộc điều tra tham nhũng đối với tướng Điền Tu Tứ, cựu chính ủy không quân Trung Quốc và cũng là ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Hồi đầu tháng 6-2016, ít nhất hai quan chức Trung Quốc cũng tự sát gồm phó bí thư tỉnh ủy Quảng Đông Lưu Tiểu Hoa và bà Tiêu Bích Ba, người đứng đầu cơ quan bảo mật khu Diêm Điền, Thâm Quyến.

Tự tử trước khi được thăng chức một ngày

“Ông Trần là một ngôi sao đang lên. Ông ấy chết chỉ một ngày trước khi được thăng chức. Ông ấy đã uống một lượng lớn thuốc ngủ vào ngày 5-8 ở khu ký túc xá một trung đoàn ở Thâm Quyến. Thật đáng tiếc” – một nguồn tin giấu tên cho biết.

Viên tướng 54 tuổi này, một trong số ít quân nhân Trung Quốc tham gia tổ chức lễ bàn giao Hong Kong về Trung Quốc năm 1997, là chính ủy một đơn vị lớn thuộc Bộ chỉ huy chiến trường miền nam của PLA.

RIA Novosti dẫn lời giới phân tích cho rằng vụ tướng Trần tự tử có thể liên quan đến chiến dịch điều tra tham nhũng trong quân đội. Tuy nhiên các nguồn tin từ Trung Quốc cho biết hiện vẫn chưa có bằng chứng chắc chắn.

“Các vụ tự tử trên là hệ quả của các cuộc điều tra mạnh mẽ gần đây nhằm vào các quan chức cấp cao như tướng Điền Tu Tứ. Nhiều quan chức đã bị phát hiện có liên hệ mật thiết với các công ty bất động sản trong cuộc truy quét gần đây đối với các dịch vụ có doanh thu của quân đội” – một nhà phân tích quân sự tại Hong Kong nhận định, nhắc đến tuyên bố của PLA hồi tháng 3-2016 yêu cầu các đơn vị quân đội và cảnh sát phải chấm dứt các dịch vụ thu tiền trong vòng 3 năm.

Các nhà kho và doanh trại sẽ không còn được phép cho thuê. Trước đó, việc thiếu kiểm tra và quản lý sát sao đã khiến nhiều cán bộ quân đội cấp cao thông đồng với các công ty bất động sản để nhận những khoản tiền khổng lồ trong bối cảnh thị trường 
bất động sản tăng vọt.

Chết là hết

Từ lâu việc các quan chức Trung Quốc bị cáo buộc tham nhũng tự tử đã được hiểu là một hành động nhằm bảo vệ gia đình và tài sản bởi các vụ điều tra thường bị khép lại sau đó.

Theo các luật sư Trung Quốc, nhiều quan chức chọn con đường tự sát trước khi bị Ủy ban kỷ luật trung ương (CCDI) thẩm vấn để tránh chịu những nỗi đau “hơn cả cái chết”.

“Đối với những người bị buộc tội hay thậm chí chỉ bị nghi ngờ tham nhũng, tự tử là một cách tốt để bảo vệ gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp khỏi sự thẩm vấn” – một quan chức giấu tên nói.

Theo South China Morning Post, luật Trung Quốc quy định tòa án, thay vì CCDI, là cơ quan duy nhất được quyền phán quyết một viên chức bị tình nghi có phạm tội hay không. Nếu viên chức này chết trước khi xét xử, việc truy tố sẽ bị hủy ngay lập tức.

“Khi nghi phạm được xác định đã chết, cơ quan công tố sẽ hủy bỏ việc điều tra trách nhiệm hình sự của người đó, đóng hồ sơ hoặc hủy bỏ xét xử” – tờ này trích luật hình sự của Trung Quốc.

Hàng trăm quan chức bị bắt

Bộ Công an Trung Quốc ngày 18-8 cho biết đã bắt giữ hơn 400 quan chức tham nhũng lẩn trốn ở nước ngoài kể từ khi khởi động chiến dịch Săn cáo 2016 vào tháng 5-2016.

Cụ thể, 272 quan chức bị bắt ở nước ngoài và 137 quan chức chấp nhận tự trở về nước, theo Tân Hoa xã. Trong số đó có 38 người bị cáo buộc phạm tội liên quan đến trách nhiệm và 14 người phạm tội buôn lậu. Hàng chục người đã lẩn trốn hơn 5 năm, thậm chí 10 năm.

Trong chiến dịch năm nay, Bộ Công an Trung Quốc đã tung ra 33 nhóm truy bắt “cáo” ở 61 quốc gia trên thế giới như Madagascar, Thái Lan, Peru, Philippines, Ecuador, Hàn Quốc, Campuchia, Tây Ban Nha… Năm ngoái, chiến dịch đã tóm hơn 850 quan chức 
đào thoát ở nước ngoài.

“Chết bất thường”

Từ bảy quan chức tự tử năm 2013, thời điểm ông Tập Cận Bình tung ra chiến dịch diệt tham nhũng, số quan chức “chết bất thường” trong ba năm qua đã vượt 120 người.

Đến nay đã có tổng cộng 40 quan chức PLA bị truy tố trong các cuộc điều tra, trong đó có Quách Bá Hùng và Từ Tài Hậu là nhân vật từng có vị trí lớn thứ hai và thứ ba trong quân đội.

Chuyên gia quân sự Antony Wong Dong của Macau cho rằng đợt truy quét lần này là nhằm triệt tiêu tận gốc sức ảnh hưởng của ông Quách và ông Từ.

Bằng chứng là đầu tháng này có tin hai cựu thành viên Quân ủy trung ương là tướng Lý Kế Nại – nguyên chủ nhiệm Tổng cục Chính trị và thượng tướng Liêu Tích Long – nguyên chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần – cùng các sĩ quan thân cận cũng bị điều tra.

TRẦN PHƯƠNG

 

Vụ thảm sát Yên Báy và lời nói độc của một bác nông dân…

Luu Trọng Văn

NM, Nguyễn Quang Hà, Lưu Trọng VĂn, Mai Văn Hoan
Lưu Trọng VĂnrọng Ninh, Trọng Hải, Trọng Văn, Ý Nhi bên chân dung cha bằng tượng gốm. Ảnh: Nguyễn Đình Toán

(Rút từ facebook của Lưu Trọng Văn)

Cha gã kể, thời học Quốc học Huế, cha gã và nhà văn Hoài Thanh đã kéo nhau ra bờ Sông Hương để cùng khóc khi nghe tin Nguyễn Thái Học và các đồng chí đảng viên Quốc dân đảng của ông bị bắn chết, cuộc Khởi nghĩa Yên Báy bị dìm trong biển máu.

Cha gã và thế hệ của ông không gọi “Yên Bái” mà “Yên Báy”.

Gã từng đến mộ của nhà yêu nước, yêu dân Nguyễn Thái Học nghiêng mình trước câu nói bất hủ của ông trước khi chết: Không thành công cũng thành Nhân.

Yên Báy, nơi sông Hồng chảy qua mùa này cuồn cuộn, ngầu đỏ, 8 tiếng súng vang lên, ba đảng viên Cộng sản gục ngã.

Chả biết có ai trong họ có thành Nhân không?

***

Mấy ngày mưa bão vừa rồi gã lang thang cùng những người nông dân ở Lâm Đồng tìm cách cứu đất khỏi chết vì “kính thưa tất cả các đồng chí… chất độc hóa học” gã ngạc nhiên khi đẩu đâu cũng nghe các bác nông dân bàn tán vụ thảm sát ở Yên Báy. Đến nỗi nghe hoài, đưa đẩy chuyện này hoài một lão nông gốc Huế bực mình nói: Chuyện đất mình chết, chuyện chính nông dân mình chết không lo cứ lo chuyện mấy ông lãnh đạo chết đâu đâu!

Nghe lão nông nói, mọi người im thin thít. Nhưng rồi gã thấy một bác chuyên trồng bắp cải vỗ đít cái phạch nói: Thế cụ nghĩ là chuyện mấy ổng trên đó bắn nhau chết không liên quan tới đất của mình , không liên quan đến nông dân mình đang bị chất độc giết chết à? Liên quan đó! Liên quan lắm đó!

***

Hơn mươi ngày nay gã chả viết gì rồi. Nghe câu nói của bác trồng bắp cải gã ngẫm, gã nghĩ, nông dân mình coi vậy mà nói… “độc” thật, gã xin chép lại vậy.

(Đọc tiếp…)

MÔI TRƯỜNG VÀ NHÂN TÍNH: TỰ SỰ CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ TRONG “CÁNH ĐỒNG BẤT TẬN”

Đoàn Ánh Dương

Trong số những cây bút trẻ mới xuất hiện gần đây, Nguyễn Ngọc Tư sớm gây được ấn tượng bởi giọng văn đậm chất Nam Bộ với lối viết hồn nhiên chân chất.

Từ tập truyện đầu tay Ngọn đèn không tắt đến các tập Biển người mênh môngGiao thừa và Nước chảy mây trôi,điểm dễ thấy là Ngọc Tư thường viết về những câu chuyện nhỏ nhẹ, man mác buồn. Những chuyện ấy đều kể thật giản dị, chân thành cuộc đời, thân phận, nhỏ hơn nữa là niềm vui, nỗi buồn, ước mong… của những con người nhỏ bé, thân thuộc đang vất vả mưu sinh giữa cuộc đời thường. Nhưng đến truyện ngắn Cánh đồng bất tận trong tập truyện cùng tên, người đọc thực sự ngỡ ngàng trước sự bứt phá của tác giả. Tác phẩm kết thúc một bước quá độ dài để khẳng định sự trưởng thành của ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư, đồng thời cũng là một tín hiệu đáng mừng cho đời sống văn học đương đại. Có lẽ sẽ là quá sớm để xếp cho truyện ngắn này một “chỗ ngồi” trang trọng, trong bối cảnh đời sống văn học đang có nhiều chuyển biến mau lẹ và hứa hẹn, nhưng hiện giờ, việc tìm hiểu những “phẩm chất” thẩm mỹ của nó thực sự là cần thiết, như một “bài học văn chương”([i]).

Cánh đồng bất tận là một câu chuyện mở, một tác phẩm được dệt bởi sự đan cài giữa xúc cảm và suy tưởng của nhân vật chính trên phông nền là cuộc sống của những kiếp người nhọc nhằn, tủi cực. Dựa vào sự vận động của tâm lý nhân vật, hành trình khám phá tác phẩm là sự bóc tách từ bình diện ngôn ngữ trần thuật đến bình diện những tri nhận, ẩn ức đã lắng đọng thành các biểu tượng ám ảnh đời sống nội tâm nhân vật.

1. Câu chuyện biểu tượng

Tiếp cận với truyện ngắn, dễ thấy cánh đồng là biểu tượng trong truyện, cái cần quan tâm ở đây là nó mang đặc trưng của thành tố nào trong hệ thống: cánh đồng bất tận, cánh đồng này [với cái tên của chị], cánh đồng miên viễn, cánh đồng khơi, cánh đồng chia cắt, cánh đồng trở thành đô thị, cánh đồng ngoa ngoắt thay đổi vị của nước, cánh đồng vắng bóng người… Đây là vấn đề rất có ý nghĩa khi khám phá tính chất biểu trưng của tác phẩm. Biểu tượngcánh đồng ở đây có ý nghĩa tự thân hay gắn kết với các hệ thống biểu tượng khác? Nếu gắn kết thì là gắn kết ở phương diện nào? Chuyển tải ý đồ nghệ thuật gì?… Đó là những câu hỏi cần được giải quyết một cách thoả đáng khi tìm hiểu cách sử dụng biểu tượng của Ngọc Tư trong truyện ngắn này.

Khảo sát hệ thống các biểu tượng hiện diện trong tác phẩm, chúng tôi tìm thấy một hệ thống biểu tượng nữa được sử dụng một cách có ý đồ rõ rệt. Có thể dễ dàng nhận thấy, có là hệ thống tên nhân vật (hẳn nhiên là sẽ bao hàm cả đặc tính của nhân vật đó). Trong rất nhiều nhân vật, trực tiếp xuất hiện: người cha (út Vũ), người mẹ (út Hai), tôi – người chị (Hai – Nương), người em (Điền), cô gái điếm (Sương), chị chủ nhà thuê đóng tủ, nhân vật đám đông… gián tiếp xuất hiện: người vừa bán xong cái quán nhỏ của mình, người vừa nói xong những lời dứt tình với chồng con, người vừa phũ phàng chia xong gia sản, cô gái sắp về nhà chồng… duy nhất có Điền là nhân vật được gọi têncòn lại không có tên hoặc tên gọi theo đặc điểm của nhân vật: út Vũ (gắn với khuôn mặt rắp tâm), Nương (con gái nói chung: Mỵ Nương…), Sương (ăn sương)… Đó là một chi tiết quan trọng. Bởi đặt cho nhân vật tên là Điền (nghĩa Hán Việt là ruộng, gần gũi với cánh đồng), tác giả đem đến một dụng ý nghệ thuật sắc sảo.

Nhân vật Điền, vì vậy, là một biểu tượng chứa đựng ẩn ý của tác giả trong quá trình khái quát hóa nghệ thuật.

Tôi muốn tiến hành ở đây một thao tác liên hệ giữa hai hệ thống biểu tượng đó. Trước nhất, với hệ thống biểu tượng là tên nhân vật, tác phẩm có nhiều chi tiết giàu ý nghĩa. Chẳng hạn, tác giả để nhân vật tôi thổ lộ: “Tôi nhớ Điền, bao gồm nhớ một đồng loại (còn tôi là đồng – loại còn lại), nhớ một cách trò chuyện (đọc thấu lòng nhau), nhớ người nghe được tiếng tim mình (điều này thì con vịt mù làm được, nhưng nó đã chết rồi), nhớ một người che chở (công việc này đáng nhẽ của ba, má tôi)”. Đó chính là “đặc trưng” của Điền: biết trân trọng, thấu hiểu, có tình yêu thương, ý thức che chở giúp đỡ người khác nên là biểu tượng cho tình yêu thương, giá trị nhân bản. Với các cánh đồng đã được đặt tên như đã nói ở trên, cũng có một thao tác tương tự trong bút pháp của Ngọc Tư. Cái cần chú ý ở đây là cánh đồng bất tận được lựa chọn làm tên truyện, nghĩa là một thành tố được gọi tên trong hệ thống, giống như Điền trong hệ thống nhân vật, ý nghĩa của biểu tượng được lẩy ra ở đây liệu có sự khác biệt? Nó có liên hệ gì với cách xây dựng biểu tượng dựa trên sự song trùng đặc điểm, tính chất giữa tên truyện và tên nhân vật trong các sáng tác của Ngọc Tư? (Bởi có thể thấy, thủ pháp này không chỉ là nét riêng của truyện ngắn Cách đồng bất tận, thậm chí, có thể coi là một đặc điểm thi pháp của Nguyễn Ngọc Tư. Giở ngay tập truyện Cánh đồng bất tận, dễ thấy sự xuất hiện của cách thức này như: Cải và Cải ơi, Giang, Thủy và Nhớ sông… Đó là một điểm khá lý thú khi tiếp cận tác phẩm của chị).

Thực tế cho thấy, trong sáng tạo văn chương, đi liền với việc muốn tạo nên một ấn tượng thẩm mỹ, tác giả phải tiến hành mã hóa đối tượng miêu tả, triển khai ý tưởng thành thế giới nghệ thuật, biểu tượng là kết quả của sự phóng chiếu thái độ của tác giả đối với đối tượng trong mô hình nghệ thuật đã được xây dựng lên mã ngôn ngữ. Vì vậy, mỗi tác phẩm là một hệ thống gồm rất nhiều biểu tượng. Biểu tượng của tác phẩm (biểu tượng chủ đạo) là sự quy chiếu các biểu tượng thành tố lên một một biểu tượng mang tính trội trong hệ thống. Ý nghĩa của biểu tượng này sẽ được lẩy ra từ những nét nghĩa của các đơn vị cấu thành. Ở đây, nhân vật Điền và cánh đồng bất tận giữ vai trò là thành tố chủ đạo, là biểu tượng mang tính trội như thế. Nội hàm của biểu tượng cánh đồng, vì thế, sẽ có được khi tiến hành lý giải mối tương quan giữa nhân vật Điền và cánh đồng, hệ thống nhân vật và hệ thống cánh đồng, hệ thống biểu tượng và mô hình nghệ thuật… thậm chí còn cần đối chiếu với cách xây dựng biểu tượng ở các truyện khác nữa. Và theo chúng tôi, nội hàm của biểu tượng cánh đồng ở đây, trước nhất, xét ở mặt những khía cạnh tương đồng với tính bản thể của nhân vật Điền (biểu hiện rõ trong quan hệ với Nương – vì chỉ với Nương, Điền mới là một đồng loại, nghĩa là chỉ trong quan hệ này, Điền mới thể hiện được vẻ khác biệt, riêng cócủa mình), chính là lòng yêu thương, tình nhân ái, sự trân trọng giá trị con người. Có thể coi đó là lớp nghĩa thứ nhất của biểu tượng.

Nhưng ở một khía cạnh khác, để biểu tượng có sức ám ảnh người đọc, Nguyễn Ngọc Tư đã chú tâm xây dựng qua một nhân vật không hoàn thiện: Điền không được “trở thành người đàn ông thực thụ”. Bởi không phải ngẫu nhiên, tác giả để cho nhân vật Điền từ ngày “ngủ kẹt bồ lúa” mắc phải chứng bệnh chảy nước mắt. Nhìn qua làn nước mắt chứng nhân cho một ngày đau đớn, nhục nhã khi phải chứng kiến cái xấu, cái “bậy”, rồi phải cô độc để “tự học lấy cách sống”, Điền đã phản kháng bằng cách “trút sạch” những cái gì nó cho là ác, là xấu… thậm chí “tự kìm hãm bản năng trỗi dậy mạnh mẽ ở tuổi dậy thì bằng tất cả sự miệt thị, giận giữ, căm thù”. Buộc phải tự tìm lấy con đường đi, bằng xúc cảm và trải nghiệm, làm sao có thể tránh được ngộ nhận nên có khi đủ thấu hiểu một điều gì đó thì đã “phải trả một giá cao”. Đến khi sửng sốt trước sự hoan lạc của bầy vịt “đầy ắp một thứ tình – yêu”, “tuyệt không có gì là thô tục, cưỡng đoạt, gạ gẫm” như những gì đã biết, Điền chới với, “nghi hoặc lan ra như những vòng sóng”. Và khi Sương xuất hiện, thì trong Điền “chỉ là một nỗi ân hận giày vò”. Điền yêu chị nhưng “tình yêu ấy đã bị khiếm khuyết mất rồi”, sau giấc ngủ dài, “bản năng nó không trở dậy”… Vì vậy, dù là hiện thân của tình yêu thương, có tình yêu thương nhưng Điền không thể trao gửi tình cảm ấy cũng như không thể đem lại hạnh phúc cho người mình yêu. Do đó, ngoài ý nghĩa là đại diện cho cái tốt, Điền còn là một cá nhân khiếm khuyết. Rõ ràng, khi Điền bị đẩy vào một thế giới tha hoá, cái tốt đẹp đã bị cái xấu xa vây kín. Điền đơn độc trên hành trình bảo toàn cho căn tính tốt đẹp của mình. Có chăng trong những thảng hoặc nào đó, Nương có thể đồng cảm với cậu nhưng tuyệt nhiên có những điều mà Điền không thể chia sẻ với chị được. Vấn đề tính dục chẳng hạn. Bởi đó không chỉ là vấn đề “tế nhị”, khó nói với người khác giới, mà chủ yếu là do nó là nỗi đau mà hai chị em muốn né tránh (từ khi nhìn thấy hành động trao đổi của mẹ với người bán vải). Biểu tượng cánh đồng có sự hô ứng với nhân vật này. Ở chỗ, phẩm tính vốn có của đất mẹ là ban tặng của cải và bao bọc con người. Con người được sinh ra từ mẹ đất rồi kết thúc cuộc đời ngắn ngủi ở trần thế này cũng được trở về với đất mẹ. Nhưng những đứa con đã đáp đền công ơn sinh dưỡng ấy như thế nào? Hẳn tình trạng ô nhiễm môi trường và khai thác cạn kiệt tài nguyên như hiện nay là một cách ứng xử trả lời cho ta thái độ của con người. Nghĩa là đã có một sự tha hoá, con người được sinh ra từ một bản tính thiện nhưng không phải ai cũng giữ được phẩm cách ấy theo suốt cuộc đời. Cái tốt hiển nhiên bị lép vế trước cái xấu và cái ác. Đó thực sự là một tình trạng nhân sinh đáng nghi ngại.

Vậy điều gì ẩn sau biểu tượng ám ảnh của tác phẩm, nơi Điền và cách đồng đã cùng cất lên một lời hô ứng? Con người sẽ phải làm gì trước thảm trạng môi trường hiện nay? Cái gì ngăn cản con người hướng thiện? Và nữa, thân phận Điền có gì đồng vọng với những cánh đồng đã có thời “miên viễn” mà nay “trở thành đô thị”, “ngoa ngoắt thay đổi vị của nước”, đang “nhớ đau nhớ đớn bàn chân xưa nghẽn trong bùn quánh giờ đang vất vơ kiếm sống ở thị thành”? Nói cách khác, các cánh đồng đã bị khai thác đến kiệt quệ, bị xâm thực, bị lãng quên… đã nghiễm nhiên bị tước mất khả năng dâng hiến cho con người những mùa màng bội thu. Đứng trước hiện thực những cánh đồng miền Nam một thời mỡ màu, trù phú đang chịu những tác động thô bạo bởi lòng tham và sự mù quáng của con người… có cần gióng lên tiếng chuông báo động? Bỏ qua những hiện tượng như: mại dâm, cúm type A H5N1, bạo ngược, mù chữ,… được thể hiện khá nhiều trong truyện, ý nghĩa thời sự của Cánh đồng bất tận phải chăng một phần được đọng lại ở cách xây dựng biểu tượng như thế?

Cái độc đáo của việc xây dựng biểu tượng ở đây, cũng là dấu hiệu của sự tìm tòi và thể nghiệm cái mới, là tác giả đã tiến hành khái quát hóa dựa trên sự đan bện của cả quan hệ tương đồng và quan hệ đối lập trong khát vọng thể hiện một thế giới đa chiều, đa diện. Nghĩa là tác giả đã làm mờ nhòe lằn ranh giữa cái Thiện và cái Ác, cái Tốt và cái Xấu, cái đáng trân trọng và cái đáng lên án… Trong thế giới ấy có sự tồn tại đan xen đồng thời những phạm trù đối lập, cái nhân bản buộc phải chung sống và chứng nhận đau đớn sự tha hóa, băng hoại. Biểu tượng của tác phẩm không trực hiện mà ẩn sâu trong tâm trạng giằng xé trước hiện thực cuộc sống bộn bề. Tác phẩm thể hiện một thế giới bất định, hơn thế cái xấu cái ác lại có phần lấn lướt. Ở đó, tác giả đã dùng thủ pháp đòn bẩy, nghĩa là càng thể hiện sâu đậm cái bất thiện, chỉ mặt gọi tên cái bất thiện, thì khao khát hướng thiện càng mãnh liệt, và kéo theo nó bi kịch bị cự tuyệt quyền được sống thiện càng giằng dai, nhức nhối. Đó chính là bình diện ý nghĩa ở bề sâu, phái sinh, là biểu tượng được xây dựng bằng mã tín hiệu khác: tên nhân vật. Do đó, ý nghĩa rút ra từ biểu tượng chính là sự khát khao, lòng mong mỏi đến thiết tha, cháy bỏng (bất tận) rằng hãy bảo vệ, giữ gìn những giá trị người, hãy chống lại sự tha hóa con người. Đó cũng là chiều sâu nhân bản của tác phẩm.

Bằng thủ pháp song trùng và đan bện các hệ thống biểu trưng, Ngọc Tư đã xây dựng thành công biểu tượng nghệ thuật có sức ám ảnh và day dứt tâm can người đọc. Với biểu tượng, người đọc được đặt vào vị thế của một người đứng nhìn vọng ra, thấu thị những va đập của đời rồi bừng ngộ mà so xét lại chính mình. Và khi ấy, tác phẩm đặt ra được câu hỏi nhân sinh nhức nhối, con người sẽ tồn tại ra sao trước những xung lực khốc liệt của hiện hữu đang vây bọc; con người cần phải làm gì trước hiện trạng nhức nhối của môi trường và nhân tính;… Con người phải thế nào trên “cánh đồng bất tận”?

2. Mô hình tự sự

Sử dụng thủ pháp đòn bẩy để thực hiện khát vọng khám phá đời sống bất định ở phương diện chất nhân bản phổ quát, con người sẽ tồn tại thế nào trước những xung lực khốc liệt của hiện hữu đang vây bọc, tác phẩm mang trong mình phẩm chất của một tiểu thuyết. Một câu hỏi được đặt ra là tác giả đã tiến hành xử lý như thế nào để vẫn có thể bao chứa trong khuôn khổ một truyện ngắn? Đó là vấn đề lựa chọn cấu trúc tự sự.

Tác phẩm chia làm 8 đoạn, mỗi đoạn có tính độc lập tương đối với toàn hệ thống, được gắn kết thành chỉnh thể dựa vào ba hệ hình: chuỗi sự kiện nhân quả, thời gian tuyến tính và dòng chảy tâm lý nhân vật. Để thuận lợi trong việc chỉ ra mô hình tự sự của truyện, chúng tôi tạm chỉ ra sự kiện cơ bản của từng đoạn:

Đoạn 1: Hai chị em cứu cô gái điếm

Đoạn 2: Cuộc sống của gia đình khi có thêm cô gái

Đoạn 3: Ký ức về ngày bà mẹ bỏ đi

Đoạn 4: Cuộc sống lang thang sau ngày bà mẹ bỏ đi

Đoạn 5: Cuộc sống ở Bàu Sen, cuộc tình của người cha với chị chủ nhà

Đoạn 6:

– Ký ức về những cuộc tình khác của người cha

– Ký ức về sự “bất thường” của Điền

– Cuộc sống của hai chị em từ ngày phát hiện ra tiếng Vịt

Đoạn 7:

– Cuộc “trao đổi” của Sương để cứu gia đình

– Cuộc sống sau ngày Sương và Điền bỏ đi

Đoạn 8: Cuộc đối đầu với bọn cướp vịt

Nếu quan niệm hệ thống sự kiện là yếu tố cốt lõi của cốt truyện thì trục vận động chính của cốt truyện là quan hệ nhân quả, “sau cái này tức là nguyên nhân của cái này”([ii]). Từ hệ hình này, tức tính logic của quan hệ nhân quả và trật tự thời gian trong chuỗi sự kiện, thì cốt truyện của Cánh đồng bất tận có thể được sắp xếp như sau: đoạn 3 – 4 – 5 – 6 – 1 – 2 – 7 – 8. Điều này cho thấy, bình diện sự kiện đã bị đẩy xuống vai trò thứ yếu. Nếu xét ở bình diện dòng chảy tâm lý nhân vật: những ký ức chợt đến khi Nương kể với Sương câu chuyện gia đình mình, cốt truyện còn: đoạn 1- 2 – 3 – 4 – 5 – 6 – 7 (đoạn 1 được coi là bối cảnh, không có sợi dây lên kết với đoạn 8). Điều này cho thấy từ đoạn 1 đến đoạn 7 là một hệ thống hoàn chỉnh, đoạn 8 là sự tiếp nối theo trật tự thời gian tuyến tính (tức là có sự tham gia của một hệ thống tự sự nữa).

Như vậy, tác giả đã lồng ghép hai hệ thống tự sự với ba mô hình cốt truyện trong Cánh đồng bất tận. Trực diện với tác phẩm, cốt truyện sự kiện đã ít nhiều bị phân rã và cốt truyện tâm lý đã có phần lấn lướt. Truyện như một bức tranh ghép mảnh những mảng ký ức chắp nối, đứt đoạn của nhân vật, rộng ra là sự lắp ghép những thân phận, mảnh đời của các nhân vật. Ở đó nhân vật tan chảy thành dòng xúc cảm hỗn độn giữa quá khứ và hiện tại, tâm cảnh và ngoại cảnh… mà một sự phục dựng đầy đủ chỉ có được khi người đọc đã lật đến trang cuối cùng. Điều này đem đến cho người đọc cái hứng thú được thể nghiệm “một hiện thực chưa hoàn kết”, được cùng theo đuổi và trải nghiệm với nhân vật, tức là gia tăng sự tham gia của người đọc vào câu chuyện. Đó là khuynh hướng tự sự giàu tính hiện đại([iii]).

Theo logic của sự vận động cốt truyện sự kiện, Nguyễn Ngọc Tư viết gì trong Cánh đồng bất tận? Một người đàn ông bị vợ phụ tình đâm ra căm ghét đàn bà và say mê trong những ý định trả thù những người phụ nữ bước qua đời ông ta mà quên đi trách nhiệm của mình với hai đứa con rứt ruột đẻ ra. Đến một ngày, có một cô gái điếm len chân vào cuộc đời họ, làm xáo lộn cuộc đời họ: thằng con đuổi theo hình bóng của cô gái không chịu được sự bạc ác của người cha; đứa con gái trong tận cùng của tủi nhục và đau đớn gắng chìa tay ra để kéo người cha về phía thế giới của mình nhưng vô vọng. Hai cha con gần sát nhau trong cơn hoạn nạn mà vẫn thuộc về hai thế giới xa cách. Mỗi người là khối cô đơn tuyệt đối không chỉ đối với thế giới của người khác mà ngay cả ở thế giới của chính mình.

Xét riêng ở góc độ cốt truyện như thế, tự nó chẳng thể hứa hẹn đem đến một câu chuyện hay. Chẳng có gì để viết trong cái cốt truyện ấy nếu không muốn mang đến một câu chuyện lên gân hay giáo huấn cứng đờ. Nhưng Nguyễn Ngọc Tư đã viết rất thành công. Dấu hiệu của ý định tối giản cốt truyện đến mức gần như không đủ sức để xâu chuỗi mạch truyện được thể hiện khá rõ. Có lẽ là để phù hợp với khuôn khổ của một truyện ngắn: cắt bớt tình tiết bằng việc đẩy các nhân vật từ bình diện có thể xuất hiện trực tiếp sang gián tiếp như các cuộc tình sau của người cha (đoạn 7), sự lấn lướt của ngôn ngữ tâm trạng so với ngôn ngữ miêu tả,… Nhưng quan trọng hơn là sức hút của mạch tâm trạng. Phải chăng, bị cuốn theo mạch tâm tư mà tác giả đã lược quy nó thành ra như vậy. Bởi đến lượt người đọc, hầu như họ cũng quên bẵng cái cốt truyện ấy. Họ cũng bị cuốn theo cái dòng chảy miên man của cảm xúc. Họ tự nguyện nín lặng đuổi theo những ý nghĩ cứ từ từ dồn đến rồi nghẹt cứng, căng đầy, ứ mọng đến ngộp thở. Bởi họ cảm thấy, như đang sống cuộc sống của chính họ, rằng Ngọc Tư đang dẫn mình đi trên sợi dây căng mảnh như dây đàn, bước mạnh sẽ đứt, bước chậm sẽ mất thăng bằng, sơ ý sẽ ngã, và như thế là tự loại mình ra khỏi trò ú tim của khát vọng được theo đuổi để khám phá cái mặt khuất của chính mình. Như vậy, kỹ thuật tự sự đã được đẩy sang bình diện mới, nghĩa là cốt truyện sự kiện đã bị phân rã và thay thế vào đó là một cốt truyện khác – cốt truyện tâm lí. Không khí truyện của Ngọc Tư, vì thế, ẩn chứa bên trong sự dồn nén cái sức mạnh của bộc phá. Người đọc dễ dãi không đọc được Ngọc Tư, người yếu bóng vía, nhất là người không dám sống thật với lòng mình không thể đọc văn chị được. Đòi hỏi sự chân thành từ phía người đọc, đó là bài học nhân sinh đầu tiên của người nghệ sỹ chân chính nên cũng là giá trị nhân bản trước nhất của một tác phẩm nghệ thuật.

Nói Ngọc Tư khi viết Cánh đồng bất tận bị cuốn theo cảm xúc không đồng nghĩa với việc hạ thấp vai trò sáng tạo của chị, càng không thể coi là sự duy cảm trơn tuột. Chị là nhà văn có trách nhiệm với công việc của mình. Tôi tin là chị đã trăn trở xây dựng đề cương cho câu chuyện. Đọc đoạn chị viết về cánh đồng: “Những cánh đồng trở thành đô thị; những cánh đồng ngoa ngoắt thay đổi vị của nước, từ ngọt sang mặn chát; những cánh đồng vắng bóng người, và lúa rày mọc hoang nhớ đau nhớ đớn bàn chân xưa nghẽn trong bùn quánh giờ đang vất vơ kiếm sống ở thị thành. Những cánh đồng đó, đã hất hủi cây lúa (và gián tiếp từ chối đàn vịt). Đất dưới chân chúng tôi bị thu hẹp dần. Nhưng ngay từ đầu, chúng tôi đã tự làm quẩn chân mình, vì không thể quay lại những cánh đồng cũ (với người quen cũ). Tôi đã từng trở ngược về những nơi đó theo cách của tôi, bằng mường tượng. Tôi gặp nhiều đứa trẻ tên Hận, tên Thù mang khuôn mặt rắp tâm của cha tôi, với đôi mắt sâu và chiếc mũi thẳng. Những đứa trẻ nhàu úa, cộc cằn, cắm cẳn, chỉ tiếng chửi thề là tươi rói, nhảy ra xoi xói ở đầu môi… Đơn giản là ngay bây giờ, trên cánh đồng này, cũng đang lảng vảng những thằng Hận, chúng lớn hơn, cũng thất học, hung hãn…” dễ thấy tính luận đề được bộc lộ một cách rõ ràng: chị muốn viết một câu chuyện của ngày hôm nay, mang tính thời sự. Đó một phần là phương diện “câu chuyện”, tính mục đích của kết thúc như đã nói ở trước. Nhưng mặt khác, ở phương diện vô thức, “huyền thoại”, khi đặt bút viết, những con chữ cựa quậy bởi sự thôi thúc của một cảm thức xa xưa, một sự lắng lọc siêu cá thể, bộ khung cốt rạn vỡ, ý tưởng đuổi theo ý tưởng và một câu chuyện mới ra đời, như một thực thể độc lập đã mờ nhòe đi yếu tố thời sự cụ thể, riêng trị để hòa vào cuộc đấu tranh hoàn thiện nhân cách con người. Thực ra vấn đề sẽ khác nếu Ngọc Tư không đặt bút ở đề tài cánh đồng mà ở thành thị, gia đình, tình yêu,… cả tình dục đi chăng nữa. Bởi chính những hạt phù sa màu mỡ của chằng chịt kinh rạch từ bao đời lắng lại thành “cánh đồng bất tận” miền Nam; và cũng từ bao đời người dân Nam Bộ đã phải chọn kiếp sống trôi dạt theo sông nước… đã tạo nên cái “chất người Nam Bộ” trong Ngọc Tư. Nên khi vô tình (hay hữu ý), Ngọc Tư chọn cho mình chủ đề cánh đồng, thì chị đã chạm vào cái vỉa sâu nhất của trầm tích văn hóa vùng này, và lập tức chất người xa xưa ấy, cái tiềm thức tưởng như ngủ quên ấy được đánh thức và chảy ra theo ngòi bút, đưa cái cánh đồng “luận đề” thành cánh đồng đời, chất thời sự thành chất vĩnh cửu bởi tính người sâu xa của nó. Nhà văn Nguyên Ngọc đã có những ý kiến thật xác đáng: “Mấy năm nay chúng ta đều rất thích Nguyễn Ngọc Tư. Cô ấy như một cái cây tự nhiên mọc lên giữa rừng tràm hay rừng đước Nam Bộ vậy, tươi tắn lạ thường, đem đến cho văn học một luồng gió mát rợi, tinh tế mà chân chất, chân chất mà tinh tế, đặc biệt “Nam Bộ” một cách như không, chẳng cần chút cố gắng nào cả như các tác giả Nam Bộ đi trước… Tác phẩm quá đậm chất tiểu thuyết! Nó bày ra đấy một thế giới kỳ lạ, trong đó ai còn lẩn thẩn đi tìm, đi nói chuyện chuẩn mực giá trị gọi là “đạo đức”, “đạo lý” này nọ, đều trở thành ngớ ngẩn, vô duyên, thậm chí ngu độn. Vậy đó thôi, một thế giới rất người, vô cùng là người, đau khổ đến tận cùng, đến mênh mang bất tận, một nỗi đau nhân thế, tại ai nhỉ, chẳng tại ai cả, thậm chí kẻ nào ngớ ngẩn đi tìm thủ phạm thì đều là chẳng hiểu gì về cuộc đời này cả. Chẳng có “tiêu cực” nào hết, cũng chẳng tội ở “cơ chế” nào cả. Thế đấy thôi, cuộc đời này. Đã trót làm người thì phải chịu, biết kêu ai! Mà cũng có lẽ cuộc đời này đáng, rất đáng sống chính vì nó là như vậy đấy, hạnh phúc tận cùng ở trong đau khổ tận cùng…”([iv]).

Cái hay của Cánh đồng bất tận, chất kết dính mạch tự sự tâm lý, chính là cái cảm thức lưu lạc của con người Nam Bộ bàng bạc tác phẩm. Sẽ không là tất cả, nhưng đây chính là cái mã tốt nhất để mở cánh cửa bước vào thế giới Nguyễn Ngọc Tư. Đó chính là cái chất người xa xưa, cái tiềm thức làm “bệ phóng” đưa chị đến thành công trongCánh đồng bất tận. Không phải văn chương các tác giả đồng hương với chị không có yếu tố này, nó cũng bàng bạc trong tác phẩm của Mạc Can, Nguyễn Lập Em,… và trước nữa là một dòng mạch từ Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam, Đoàn Giỏi,… nhưng không đậm đặc và day dứt như trong tác phẩm của chị. Sự khác biệt trong những biểu hiện của “chất người” này giữa Ngọc Tư với các tác giả đi trước, ở phương diện tạo nên nét đặc sắc nghệ thuật, chính là sự ưu tiên thể hiện giữa thời gian và không gian trong việc cảm nhận sự lưu lạc của con người. Ở các tác giả khác, như Đoàn Giỏi chẳng hạn, Đất rừng phương Nam của ông là một thiên tiểu thuyết đặc sắc trên phương diện nghệ thuật hóa những cuộc “phiêu lưu” của nhân vật, một cuộc mưu sinh vất vả theo những gánh hát ngang dọc miền Nam. Sự ưu tiên cho những thay đổi không gian cũng là biểu hiện của nhiều tác giả miền Nam khác như Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam, Nguyễn Quang Sáng,… làm nên tính chất “vùng miền” trong sáng tác của họ bên cạnh lượng phương ngữ đậm đặc. Nếu cần tìm một nguyên nhân cơ bản dẫn tới sự ưu tiên này, chúng tôi nghĩ tới lối viết truyền thống với việc chú trọng xây dựng cốt truyện sự kiện, đeo đuổi số phận con người qua sự phát triển của tính cách, những biến cố và các tác động của hoàn cảnh… Đến Mạc Can, với những thể nghiệm đổi mới lối viết, ở Tấm ván phóng dao, nhờ chú ý đến những dòng ý thức miên man của nhân vật, cảm thức về thời gian đã được thể hiện khá đậm nhưng vẫn chưa được khai thác triệt để. Những phân đoạn độc thoại của nhân vật thường gắn liền với những buổi chiều “ngâm ván” trôi nổi theo dòng thủy triều là sự gặp gỡ giữa hai chiều không – thời gian của sự lưu lạc làm thức dậy những ám ảnh về thân phận con người… Ngọc Tư đã vừa sống trong tâm thế thường trực chung của cộng đồng vừa được thừa hưởng cả một mạch văn đặc biệt như thế để xây dựng thế giới nghệ thuật của mình. Tiếp thu có sáng tạo, cảm thức lưu lạc trong Cánh đồng bất tận nghiêng về khía cạnh khai thác những ám ảnh về thời gian. Có lẽ do khuôn khổ truyện ngắn và sự lựa chọn cốt truyện tâm lý đã khiến tác giả xoáy sâu vào cảm nhận của nhân vật ở bình diện này. Không trôi theo những thay đổi không gian mà bám đuổi vào mạch cảm xúc và suy tưởng của nhân vật, thời gian trong tác phẩm là sự đột hiện của những mảng ký ức chắp nối, rời rạc. Những mảng đời, những số phận, những kỷ niệm… đồng hiện, đứt nối làm cho thời gian nhòe đi tính biên niên nên không khí truyện bị kéo căng ra, ngột ngạt, bức bối. Điều đó làm cho sự ý thức về số phận, thân phận con người giằng xé hơn, day dứt và đau đớn hơn.

Trong tác phẩm, cuộc đời ba cha con nuôi vịt chạy đồng thì lưu lạc là quá rõ rồi. Nhưng hơn thế, tất cả những con người trong truyện đều chịu những kiếp sống lưu lạc, mỗi người chỉ dạt vào câu chuyện một chốc lát, nhiệt thành thể hiện khát vọng sống mạnh mẽ bằng sự chấp nhận và đánh đổi, rồi lại dạt trôi đến một phương trời khác. Chỉ một chút đó thôi, họ cũng kịp vẽ lên trong hình dung người đọc một vấn đề nhân sinh nhức nhối. Cánh đồng bất tận thu hút người đọc chính là nhờ cái cốt truyện này. Truyện ngắn như một chuỗi dài những phiến đoạn tâm lí. Ở đó cứ le lói những khát khao được sống một cuộc sống đời thường, được gặp người quen cũ, nhưng dù họ có đánh đổi, có cá cược bằng tất cả những gì họ có thì họ vẫn bị trơ ra, gạt ra và trở thành những nỗi cô đơn “bất tận”. Mỗi phiến đoạn là một sân ga ghi dấu nỗi xót xa tê tái mà con tàu thời gian chỉ dừng đủ cho một thân phận tấp vào trong tấp tểnh hi vọng để rồi khi vừa kịp nhận ra đó không phải là “bến đợi” thì tàu đã lăn bánh, “con đường quay về bị bịt kín”; là một thoáng chốc bàng hoàng, sực tỉnh trong khát vọng được hòa vào cuộc sống bình thường rồi cứ lịm dần lịm dần đến tê liệt cả bản năng và khát vọng người. Nhưng số phận dù có tủi cực đến đâu thì cái khát vọng ấy vẫn không bị tuyệt diệt, nó chỉ khuất lặn đâu đấy nơi đáy sâu tâm hồn đã bị cái xấu và cái ác đày đọa đến hoang lạnh. Còn gì nhân sinh hơn sự đón nhận đến rớt nước mắt cái khát vọng xây lại cuộc đời từ những đứa con tên Thương, Nhớ, Dịu, Xuyến, Hường… sinh ra bởi nỗi đau đớn uất nghẹn của người mẹ và bởi những hành động thú tính của những kẻ mang dáng dấp người, mang những cái tên Hận, Thù,… thất học và hung hãn. Vì vậy, bao trùm Cánh đồng bất tận là nỗi khắc khoải về số phận con người.

Đó là tài năng và cũng là tấm lòng Ngọc Tư. Chị đã xử lí thành công sự lồng ghép của hai hệ thống tự sự trên nền cảm xúc và suy tưởng của nhân vật chính. Chị đã gia giảm đến mức tối đa cốt truyện sự kiện và gia tăng thật thành công cốt truyện tâm lý. Từ điểm nhìn nhân vật, triết luận nhân sinh được đưa ra không mang tính khiên cưỡng mà thật cụ thể, sinh động, đa diện theo dòng chảy của cảm xúc nội tâm.

3. Ngôn ngữ trần thuật

Thật sự sẽ là chưa đủ nếu khẳng định thành công của tác phẩm mà không đề cập đến đóng góp của ngôn ngữ. Nhân vật chính vừa như kể chuyện vừa như đang mải miết theo đuổi dòng tâm tư của mình nên ngôn ngữ rất giản dị, mộc mạc, thành thật đến kinh ngạc. Tạo cho mạch tâm trạng nhân vật một nền tảng, một bệ đỡ là dấu ấn địa văn hoá, lọc lựa lấy cái hồn đất chất người, cố nhiên Ngọc Tư đã tìm đến phương ngữ. Sử dụng đậm đặc phương ngữ trở thành một yêu cầu nghệ thuật bắt buộc, chỉ sử dụng nó thật thành công thì tác giả mới có thể làm nổi bật tâm lí nhân vật, mới khắc họa được chân thật và sâu sắc chân dung nhân vật. Nguyễn Ngọc Tư đã làm được điều này, mà làm được một cách xuất sắc. Vì thế, bên cạnh sự lựa chọn mô hình tự sự, lối viết theo “chính cách nói tiếng An Nam ròng”, một thứ ngôn ngữ đời sống đích thực, lại là một phương diện thành công khác của tác phẩm. Có được điều đó, một phần như đã nói là do cách lựa chọn cấu trúc tự sự, phần khác là sự tiếp thu truyền thống văn học Nam Bộ, theo hướng văn có hình thức “mùa nước lên” như Thu Tứ đã khái quát: “Khởi đầu, trầm trồ lối viết lưu loát nhẹ nhàng như mây trôi nước chảy của các nhà văn nhà thơ miền Bắc. Vào miền Trung, bị cái nội dung hướng ra “ngoài” của thứ văn chương nơi xứ trọ trẹ, xứ nẫu ám ảnh, suýt quên mất khái niệm động. Tiếp tục Nam tiến, qua đất Ðồng Nai của nhà văn Nai Ðồng (tức Bình Nguyên Lộc), qua Sài Gòn tạp pín lù của “nhà… chơi” Vương Hồng Sển, về “miệt Vườn văn minh” bờ sông Tiền, xuống “Cần Thơ gạo trắng nước trong” bờ sông Hậu, xuống tận cõi U Minh, đâu đâu lời ăn tiếng nói nghe cũng mượt mà trôi chảy quá chừng, cũng lưu thủy hành vân “tới bến”, “sức mấy” mà nhịn “cha nội” ở bất kỳ miệt nào! Mà nói làm sao thì viết y làm vậy (nghĩa là dùng ngôn ngữ đời sống, phương ngữ – chúng tôi nhấn mạnh)”([v]). Ngôn ngữ trong tác phẩm, vì thế, là một sự kế thừa và phát triển, một nỗ lực không nhỏ của tác giả để cống hiến cho người đọc những trang văn chân chất, sống động, thật như đời sống. Kể chuyện từ ngôi xưng thứ nhất bằng ngôn ngữ như vậy, một mặt tác giả có điều kiện thuận lợi để đào sâu thế giới nội tâm nhân vật và mặt khác tạo được cảm giác gần gũi, chân thành, tin tưởng đối với người đọc. Tất sẽ có người không hiểu được hết phương ngữ mà chị sử dụng. Nhưng khi thật sự trải nghiệm cùng nhân vật và ngụp lặn trong bầu không khí đặc quánh chất Nam Bộ trong truyện của chị thì một vài mắc mớ về phương ngữ, trong sự mê hoặc của quy luật lây lan tâm lí, nghĩa là người đọc cảm nhận bằng tâm lí nhân vật, sẽ tự được giải tỏa hoặc bị đẩy xuống hàng thứ yếu.

Để có một giọng văn chân thật, một mặt như đã nói, tác giả rời chuyển ngôi kể từ người kể chuyện sang nhân vật chính, cho nhân vật “nói” bằng ngôn ngữ cảm xúc, suy tưởng; mặt khác, đẩy ngôn ngữ đối thoại, ngôn ngữ của nhân vật khác lọc qua lăng kính tâm lý của nhân vật chính, đưa nó vào trường cảm nhận của nhân vật chính. Nhân vật tôi, vì vậy, là người biết hết, hiểu hết, cảm hết, những gì mình nói ra. Hơn thế, sự kể vừa như kết quả của những tác động bên ngoài (những câu hỏi của Sương), vừa như sự thúc bách nội cảm, tức nhu cầu muốn phơi trải để được nhẹ lòng trước không khí ngột ngạt bao bọc bởi cảm giác một sự báo ứng đang dần tới, thứ ngôn ngữ tự nói với mình ấy là yếu tố cơ bản tạo nên tính chân chất của văn phong Ngọc Tư.

Hầu hết ngôn ngữ đối thoại trong tác phẩm đều gián tiếp xuất hiện sau những lời dẫn của tôi, như: Chị hỏi, Điền nói, tôi nói, người con trai bảo,… hoặc lồng trong những lời đánh giá, những cảm nhận của nhân vật: Chị ngạc nhiên; mắt chị nhìn cha đầy khiêu khích, “cuộc đeo đuổi vẫn còn dài, cưng à”; thằng Điền đổ quạu; má tôi nguýt dài; má bỗng nhiên bồn chồn,… Sau mỗi đối thoại như thế, một dòng cảm nghĩ, suy tưởng lại chen vào làm ngắt quãng cuộc thoại và câu chuyện lại chìm trong xúc cảm của nhân vật, rồi thỉnh thoảng lại cuộn lên, sực tỉnh khi có một câu hỏi, một giọng nói khác chen ngang. Vì vậy, đối thoại hiện lên phần nào mất tính đa giọng để chìm sâu vào tâm cảm nhân vật, làm nên giọng trầm buồn day dứt. Từ cái nền nhất giọng, đẩy sâu thêm một nấc nữa, Ngọc Tư đem đến cho người đọc một cuộc thoại của hai chị em mà “hỏng nói tiếng – người”, một đối thoại không phát ra tiếng: “Có lần, hai chúng tôi ngồi trên một bờ đất, xung quanh đấy những người thợ gặt đang ăn cơm. Nắng giữa trưa nóng rát. Tôi nói, chỗ khác nắng có dữ dằn vầy không ha. Thằng Điền nói, mùi cá kho quẹt thơm dễ sợ. Ừ, tôi gật đầu, nhưng cái mùi nghèo quá. Vậy cái mùi gì giầu, thằng Điền hỏi vặn lại. Tôi cười, thịt kho tầu. Rõ ràng hai đứa tôi có cãi qua cãi lại, vậy mà sau đó một người thợ gặt tỏ vẻ ngạc nhiên, “Hai đứa bây ngồi chù ụ cả buổi trời, không nói câu nào, vậy mà cũng chịu nổi sao?…”. Đó có đơn giản là cuộc đối thoại bằng ý nghĩ của hai “đồng loại”, hai đứa trẻ “kỳ dị” có “vẻ mặt rất bình thản” và trong lòng, một đứa thì “nước mắt khô rốc” còn đứa kia thì “ở đó, đang có bão tơi bời, gió quất điên cuồng vào trái tim nhỏ chi chít vết đau”? Gạt ra bình diện kỹ thuật tự sự, vốn là một thử nghiệm táo bạo, tác giả đặt câu hỏi cái gì đã làm cho Nương và Điền đánh mất đi tiếng nói của loài người? Sự “cố gắng hết sức để sự giận dữ, chán chường không bùng cháy” hay do bị “đẩy trượt dài vào nỗi thiếu thốn triền miên” cả về vật chất và tinh thần, mà chủ yếu là tinh thần, từ những cái nhỏ nhặt như: quyền được đưa tiễn, được xao xuyến nhìn những cái vẫy tay, nhận món quà quê, lời dặn dò quyến luyến, được học hành, được yêu thương, săn sóc đến sự thiếu vắng con người, tình người trên những “cánh đồng bất tận”? Cái gì làm nên sự đổ vỡ này?… Hàng loạt những câu hỏi được Nguyễn Ngọc Tư đặt ra và nhường cho người đọc quyền trả lời, như một thôi thúc phản tỉnh. Vì vậy, dù câu chuyện đã lược đi những đối thoại trực hiện để thành dòng chảy nhất phiến của tâm lý nhân vật, tính chất đối thoại ở chiều sâu tư tưởng vẫn làm cho giọng kể không đều đều, đơn điệu. Trái lại, cho nhân vật từ chợt ý thức đến day dứt về một sự báo ứng, trừng phạt, nghĩa là sự thức nhận về cái xấu, cái ác, những ký ức nhức nhối, ê chề cứ vút lên, xoáy sâu làm cho nền tâm trạng, nếu coi như một mặt phẳng, có những trồi sụt mà mạch truyện nếu giống một dòng chảy qua nó ắt sẽ có những khúc êm ả, thác ghềnh, dáng xoáy… Một dòng sông chứa lắm sóng ngầm.

Di chuyển điểm nhìn sang nhân vật, đắm chìm trong những xúc cảm nội tâm, ngôn ngữ trong Cánh đồng bất tận là một thứ ngôn ngữ giàu cảm giác. Đó là ngôn ngữ đã được lọc qua tâm lí nhân vật nên mang đậm màu sắc chủ quan, một thứ ngôn ngữ sống dậy từ những ký ức đau buồn càng tạo cảm giác tê tái, nhức buốt: “tôi ngồi quẹt tay lau nước mắt đi, kỹ càng, để gương mặt an nhiên, ráo hoảnh. Tôi quyết không để cha thấy mình buồn, quyết không để cha bật ra cái câu: Chịu hết nổi cái cảnh sống này rồi hả? Chừng nào đi?”; “Tôi đã chờ nó đến khi mùa mưa đổ xuống cánh đồng Chia Cắt (tôi tạm gọi vậy) một trời sao. Chờ chơi vậy, chứ tôi biết Điền chẳng quay về. Tôi nhớ nó (và nhớ chị) không thôi. Những lần dọn cơm tôi hay lấy chén đũa cho cả bốn người. Cha tôi rất khó chịu, ông ngán ngẩm đứng dậy. Tôi ngồi một mình, chan nước vào chén cơm như chan nỗi trống trải khủng khiếp”… Từ chỗ cố gắng nén cảm xúc để tránh phải sống lại những ký ức đau buồn, không ngờ sự nín nhịn phải kéo dài dằng dặc đến nỗi ngay cả trước những đau đớn thực tại, nhân vật cũng đón nhận một cách dửng dưng, cảm xúc đã chết trong sự đày đọa, bỏ rơi. Hơn thế, nỗi đau đớn và sự cô đơn khiến hai chị em hầu như đã đánh mất ngôn ngữ giao tiếp thông thường mà có thể “đọc” được suy nghĩ của nhau, “nghe” được tiếng vịt và khi kể lại câu chuyện thì “những kí ức chắp vá, đứt đoạn được chúng tôi kể khá chậm, một phần vì đã lâu không dùng cách giao tiếp bằng lời, một phần do vài chi tiết khiến chúng tôi phải dừng câu chuyện lại, vì thấy nhói ở đâu đó”. Ngôn ngữ kể chuyện, vì vậy, là một sự hồi nguyên của cảm xúc từ lâu đã lặng tận đáy lòng, thứ ngôn ngữ sống lại cùng với và trước hết trong những xúc cảm rất người – ngôn ngữ cảm giác, suy tưởng.

Đồng thời với sự thức dậy của cảm giác, cảm xúc là sự cảm nhận thực tại trong nỗi khắc khoải của một sự “báo ứng” ngày càng gần khiến cho ngôn ngữ hồi cố vừa giàu cảm giác vừa sắc lạnh trong cảm nhận, như một sự xét lại để định mức báo ứng. Đó là giọng nói sắc sảo của đứa con gái nhỏ về người mẹ đang “rạo rực, bồn chồn, mừng quýnh”: “Tôi muốn khóc quá chừng, má con xa lạ với nhau mà sao lại mừng?”. Là những giấc mơ (vừa mong ngóng vừa kinh sợ) về người mẹ trong nỗi thắc thỏm về cái cảnh đổi chác. Là cái dáng đứng tần ngần và nỗi “thèm muốn bên đường” của thằng bé khi gặp những ông già ngồi chơi với cháu: “Phải chi ông nầy là ông nội mình, thương đỡ chơi, nghen Hai?” nghe đến tội nghiệp. Và sự phản ứng gay gắt, cay đắng khi nó lớn: “Cha làm việc đó thì cũng giống như mấy con vịt đạp mái…”, nhưng lạnh lùng và đau đớn hơn ở người chị: “Nhưng tận đáy lòng, tôi cũng nghĩ, cha hơi khác con – người. Nhạt nhẽo hơn cả quan hệ theo mùa, theo bản năng, trong cha tôi không còn một chút cảm xúc nào, nét mặt tràn ngập những rắp tâm”. Đau đớn đến nghẹn lòng trong câu hỏi buột ra ngơ ngác của đứa con gái vừa bị làm nhục đến nhàu nhừ: “Không biết con có bị có con không, hả cha?”… Tất cả là những nỗi đau xót đến tận cùng được thể hiện bằng một ngôn ngữ vừa chân thực, vừa lạnh lùng, tê tái.

Và một giọng điệu đan cài khi phẫn uất, khi dửng dưng, khi chán chường, khi sâu lắng làm cho câu chữ rã rượi, vỡ òa trong nỗi xót xa thương cảm trước những nỗi đau quặn thắt, sự cô đơn đến hoang lạnh, nỗi buồn đến cùng cực của thân phận con người. Cả tác phẩm là một bè trầm bởi những nét “nhòe” (chữ dùng của Đỗ Đức Hiểu) của các giọng điệu. Giọng của người kể chuyện nhòe với giọng của nhân vật, giọng độc thoại nhòe với giọng đối thoại, giọng hiện hữu nhòe với giọng suy tưởng, giọng con người nhòe với giọng loài vật,… làm nên một hòa âm trầm buồn trước thế thái nhân tình. Nó là tiếng hợp âm của mênh mông, lững lờ cả ngầm xoáy và giăng mắc như sông nước miền Nam.

Trên cái bè trầm với “cảnh không đổi, người cũng không, cứ ngồi ngoáy mãi vết thương cũ, nhỏ nước mắt” dù đang sống mà “giống như mấy cái mả ngồi”, chợt chộn rộn những “tiếng vịt lao xao”. Tiếng Vịt đã đem đến cho hai đứa trẻ một sự đổi khác, biết “thảng thốt”, “hớn hở” rồi cả “khẽ hát” trước thế giới của bầy vịt, một thế giới “không ghen tuông, hờn giận” và “chỉ đủ yêu thương”. Đắm chìm trong thế giới ấy, học cách yêu thương bầy vịt, chấp nhận những đánh đổi để miễn “tạm quên được nỗi buồn của cõi người”, “hi vọng sẽ không bị đau như yêu thương một – con – người nào đó”, hai chị em đang kiếm tìm tình yêu thương hay trốn chạy thực tế? Học cách yêu thương và thực sự đã chăm chút yêu thương, trong thế giới vịt, họ đã được đáp đền: con vịt đui đã không chỉ phân biệt được giọng hát mà còn nghe được cả tiếng trái tim cô bé “Quen lắm. Chập chờn, thút thít, đòng đưa như sắp rụng…”, rồi cả thắc mắc và quả quyết “thử đui rồi khắc biết”… Cái tiếng Vịt như vậy, đã cất lên thật rành rọt, nó là tiếng nói của một thế giới khác, nhưng cũng xôn xao như thế giới người: có tin yêu, hoài nghi, ghét bỏ… trong lời nói thậm chí cả trong hành động nữa (chúng “mổ vào chân chị”). Nó đâu có khác với thế giới người nên Nương mới bất giác “nhắm mắt để nghe lại tiếng tim mình”. Tiếng Vịt tưởng đã được cất lên khác tiếng người, nào ngờ chúng vẫn “nhoè” với nhau, đẩy nhân vật vào sâu hơn trong bi kịch kiếm tìm tình nghĩa. Quả thật, nó đã hé lộ trong sự gặp gỡ giữa những cái dị thường, không hoàn bị: con người thì thiếu tình yêu thương (không hoàn bị về tinh thần), con vịt thì bị mù (không hoàn bị về thể xác)… và cả trong niềm hi vọng có sự sẻ chia giữa những kiếp thiếu thốn, bất hạnh: con người bị đánh đập tàn tạ (Sương) mới đầu đã bị đàn vịt đói từ chối (bằng hành động “mổ vào chân”) vẫn không thôi tin tưởng “mai mốt những con vịt quỷ này sẽ quý chị, mấy hồi”… Cách thức miêu tả này cũng đã được Ngọc Tư sử dụng trong truyện ngắn Cái nhìn khắc khoải để cho tình yêu thương lên tiếng giữa người phụ nữ bị chồng bỏ rơi “quá giang” vào cuộc sống của ông Hai cô đơn và con vịt Cộc… Rõ ràng sự xuất hiện của tiếng Vịt đã phần nào nâng đỡ con người có niềm tin vào sự tồn tại của tình yêu thương. Nhưng cái giọng được cất lên từ một bộ phận vốn đã đáng thương và cần được yêu thương lại đẩy tình thương vào một bi kịch sâu hơn: thế giới bình thường vẫn loại họ ra và mọi nỗ lực của họ đều không thành, không đủ sức kêu gọi sự đoái hoài chứ chưa nói đến hành động chống phá sự vô nhân tính của con người. Đó chỉ là sự sẻ chia của con vịt Cộc bằng hành động cọ mỏ vào chân ông Hai mà chia sẻ nỗi nhớ, nỗi mong ngóng người ấy quay về mà không có cách nào níu kéo dù khát vọng đã đau đáu trong “cái nhìn khắc khoải”; là sự lạc lõng của Điền giữa những tiếng cười “ha hả” của những người “càu cạu” đi chôn vịt; là sự cầu cứu vô vọng của Nương khi nhận ra tiếng của con vịt mù “xuyên qua lớp đất bầy nhầy”; là tiếng khóc hức của hai chị em; là cái xác còng queo sủi bọt miệng của một người chăn vịt bên mép hố… Và biết đâu, chẳng sẽ có một lúc nào đấy, họ nhận ra tình yêu thương như thế lại không đẩy họ dấn sâu thêm vào bi kịch để rồi phải tiếc nuối, hối hận, đau đớn giằng dai hơn như sự hối hận của hai chị em khi cứu Sương vậy? Do đó, tiếng Vịt không chỉ đem đến một xạ ảnh tiếng người, một thế giới huyền bí, tâm linh mà còn là một tiếng chuông cảnh tỉnh. Con người sẽ ra sao, tình yêu thương liệu sẽ còn khi mỗi con người bị loại ra khỏi cộng đồng, bị cái ác và cái xấu đày đoạ buộc phải đơn côi đến đánh mất cả tiếng người, nghĩa là phương tiện để giao tiếp, giúp người ta hiểu nhau, cảm thông và chia sẻ với nhau, cũng đồng nghĩa với việc con đường hoà nhập vào cõi người bị bịt kín. Truyện ngắn, vì thế, đặt ra được một câu hỏi nhân sinh nhức nhối, trong một bút pháp vừa tài hoa vừa dung dị, đầy kỹ thuật mà vẫn chân chất, mà vẫn nói như trước, con người phải làm sao trước “cánh đồng bất tận”?.

Trên đây là một cách tiếp cận truyện ngắn Cánh đồng bất tận từ góc nhìn cấu trúc – ký hiệu học; là hành trình thử đi ngược từ “cánh đồng lưu lạc” trở về chỗ đứng nhìn vọng ra, đặng tìm hiểu phần nào tâm ý của tác giả. Tất sẽ còn nhiều cách đọc khác nữa, và vẻ đẹp của tác phẩm chắc cũng không chỉ dừng ở vậy. Song dù với cách tiếp cận nào, vẫn có một điều luôn được khẳng định là nếu không có sự day dứt trước thân phận con người thì Ngọc Tư không thể viết được những trang văn thành thật như thế, chân chất như thế! Và phải chăng đây là bài học cuối cùng có thể rút ra từ Cánh đồng bất tận, bài học về nhân cách của tác giả, sự dũng cảm dấn thân hướng tới Chân – Thiện – Mỹ. Một sự vượt lên bao giờ cũng tiềm ẩn trong nó ít nhiều bi kịch; Ngọc Tư còn hứa hẹn những thành công mới, càng đi xa chị sẽ càng cô đơn nhưng đấy là cái duyên nghiệp của chị. Cô đơn thì chị có thể gắng chịu được bởi chị đã chấp nhận dấn thân nhưng làm sao đừng để chị phải “lưu lạc” trên “cánh đồng đọc”! Chị đã chẳng kêu thương cho sự lưu lạc của con người trong Cánh đồng bất tận đó sao!

 

Vanhaiphong-rút từ Đoàn Ánh Dương: Không gian văn học đương đại (phê bình vấn đề và hiện tượng văn học), Nxb. Phụ nữ


[i] Tiểu luận này không có ý định trao đổi trực tiếp với tác giả Bùi Việt Thắng về những nhận định của ông trong Bài học văn chương từ Cánh đồng bất tậnNghiên cứu văn học (Hà Nội, s.7/2006). Nếu có ý kiến nào của tác giả mà chúng tôi chưa thật đồng tình, chúng tôi sẽ chua thêm ở phần chú thích. Ở đây mượn ý tưởng “bài học văn chương” của tác giả, chúng tôi muốn nhấn mạnh tới sự tác động của tác phẩm tới đời sống sáng tác hiện thời, như Phạm Thanh Khương chẳng hạn, là một minh chứng khá rõ ràng cho bộ phận tiếp nhận ảnh hưởng của tác phẩm.

[ii] Trịnh Bá Đĩnh, Chủ nghĩa cấu trúc và văn học, H.: Trung tâm nghiên cứu Quốc học  và Nxb. Văn học, 2002, tr.79.

[iii] Thực ra nếu chỉ ra một khiếm khuyết của Nguyễn Ngọc Tư, có thể thấy ở điểm này: chưa đi đến tận cùng của sự thể nghiệm đổi mới. Truyện ngắn Cánh đồng bất tận có thể hoàn toàn dừng lại khi hết đoạn 7 (và người đọc sẽ có một truyện hay hơn truyện hiện có). Bởi đoạn 8 thực chất là sự phá vỡ cấu trúc tự sự đã hoàn chỉnh, là dựa theo tâm lý nhân vật. Ở đoạn 8, nhân vật không cất tiếng mà tác giả nói hộ nhân vật, nên nó bị khiên cưỡng, bị gò ép để “kết thúc có hậu”. (Nhưng chưa chắc đã có hậu hơn khi kết ở đoạn 7). Tuy nhiên, không vì thế mà triết luận nhân sinh rút ra từ tác phẩm bị cột với nhận định của tác giả ở đoạn này, hay như cách tác giả Bùi Việt Thắng chỉ ra, nó tỏ ra khiên cưỡng khi soi chiếu vào tác phẩm. (Phải chăng vì cảm giác này mà tác giả băn khoăn khi được gợi ý viết thêm đoạn 8 như đã từng tâm sự?). Bản chất của vấn đề theo Iu.Lotman: Sự mô hình hóa một đối tượng vô hạn bằng những công cụ của văn bản hữu hạn dẫn đến kết quả là trong tác phẩm tồn tại hai phương diện: phương diện câu chuyện và phương diện “huyền thoại”. Mỗi tác phẩm vừa thể hiện một phần đối tượng vừa bao hàm toàn thể đối tượng. Mở đầu hướng đến mã hóa đối tượng còn kết thúc thể hiện tính mục đích của tác phẩm. Tác phẩm là một sinh thể nghệ thuật có tính độc lập tương đối với tác giả. Cái đích đến cuối cùng, vì thế, phải ở phương diện “huyền thoại” của tác phẩm. Xin xem: Trịnh Bá Đĩnh, Chủ nghĩa cấu trúc…, Sđd, tr.187-301.

( Nguồn: vanvn.net)

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.08.2016

Tổng thống Philippines dọa bỏ LHQ

Tổng thống Philippines dọa bỏ LHQ

BBC

Ông Duterte gọi các chuyên gia của LHQ phản đối chiến dịch chống tội phạm ma túy của ông là ‘ngu ngốc’

Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte dọa sẽ “tách” khỏi Liên Hiệp Quốc sau khi tổ chức này chỉ trích cuộc chiến chống ma túy của ông là hành động tội phạm theo luật quốc tế.

Ông Duterte nói ông có thể sẽ yêu cầu Trung Quốc và các nước Châu Phi thành lập ra một cơ quan khác. Ông cũng cáo buộc Liên Hiệp Quốc là đã thất bại trong việc chống lại chủ nghĩa khủng bố, chống tình trạng đói khát và chấm dứt các cuộc xung đột.

Ông Duterte, người được bầu lên hồi tháng Năm, đã chuẩn thuận việc tử hình các đối tượng vận chuyển ma túy, nhằm xóa sổ tình trạng buôn bán bất hợp pháp loại chất bị cấm này.

Liên Hiệp Quốc đã lặp đi lặp lại việc lên án các vụ tử hình, và gọi đó là hành vi vi phạm nhân quyền.

Khoảng 900 nghi phạm vận chuyển ma túy đã bị giết chết kể từ khi ông Duterte được bầu lên làm tổng thống Philippines, 9/5.

Hồi tuần trước, hai chuyên gia về nhân quyền của Liên Hiệp Quốc nói rằng việc ông Duterte ra chỉ thị cho cảnh sát và công chúng giết chết các nghi phạm vận chuyển ma túy là “xúi giục bạo lực và giết chóc, một hành vi tội ác theo luật quốc tế”.

Trong lời công kích Liên Hiệp Quốc hôm Chủ Nhật, ông Duterte gọi các chuyên gia này là “ngu ngốc” và nói họ cần phải tính đến con số những người vô tội bị mất mạng do ma túy.

Image copyrightAFP
Image captionNgười dân Manila đứng ở hiện trường nơi xảy ra một vụ bắn súng khiến hai nghi phạm buôn bán ma túy thiệt mạng

“Tôi không muốn sỉ nhục quý vị. Nhưng có lẽ chúng tôi sẽ phải quyết định tách ra khỏi Liên Hiệp Quốc,” ông nói.

“Nếu quý vị thô lỗ tới mức đó, thì chúng tôi phải ra đi.”

“Cho nên hãy bỏ chúng tôi ra khỏi tổ chức của quý vị. Quý vị chả làm gì hết. Lần cuối cùng quý vị có mặt tại đây là khi nào? Chả khi nào hết. Chỉ có lên tiếng chỉ trích thôi,” ông nói.

Ông Duterte nói Liên Hiệp Quốc cần phải hoàn trả khoản đóng góp của Philippines “để chúng tôi có thể ra đi”.

Ông Duterte nói Liên Hiệp Quốc đã không thể chống lại tình trạng đói khát, chủ nghĩa khủng bố, và đã thất bại trong việc chặn đứng các vụ giết hại dân thường tại Iraq và Syria.

“Nay, quý vị Liên Hiệp Quốc, nếu quý vị có thể nói một điều tồi tệ về tôi thì tôi có thể nói 10 điều [về quý vị]. Tôi nói cho mà biết, quý vị [vô tích sự]. Bởi nếu quý vị thực sự thành thật với sứ mệnh của mình, thì quý vị đã có thể chặn đứng được các cuộc chiến tranh, các cuộc giết chóc đó.”

Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-moon và Văn phòng Phòng chống Ma túy và Tội phạm của Liên Hiệp Quốc (UNODC) đều lên tiếng chỉ trích lời nói của ông Duterte là “rõ ràng đang ủng hộ cho các vụ giết người bên ngoài khuôn khổ pháp lý, vốn là điều bất hợp pháp và vi phạm các quyền căn bản cũng như tự do của con người”.

Ông Duterte tuyên thệ nhậm chức hồi tháng Sáu, sau khi giành chiến thắng long trời lở đất ở cuộc bầu cử tổng thống.

Trước đó, ông là thị trưởng thành phố lớn thứ ba của Philippines, Davao, trong thời gian 22 năm. Cách tiếp cận cứng rắn cùng những bình luận gây tranh cãi của ông trong thời gian đó khiến ông được mệnh danh là “Người Trừng phạt”.

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.08.2016

Lào xây đập ‘gây hại cho Mekong’

Lào xây đập ‘gây hại cho Mekong’

BBC

Hình ảnh chụp tại Don Sahong tháng 7/2016 và con đập đang xây

Dự án thủy điện Lào vừa khởi công “có khả năng cản đường cá đi”, gây tác động xấu tới nguồn cá và hệ sinh thái dòng chảy sông Mekong, Tiến sỹ Lê Anh Tuấn, chuyên gia về nghiên cứu biến đổi khí hậu nói với BBC Tiếng Việt.

Dự án Don Sahong chính thức khởi công tại tỉnh Champassak hôm 16/8, Thông tấn xã Lào KPL tường thuật.

Giới khoa học gia cho rằng đập thủy điện Lào đang xây trên một trong những nhánh chính của sông Mekong sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới nguồn nước và sinh thái các quốc gia ở hạ lưu như Campuchia và Việt Nam.

“Vị trí Don Sahong cách Campuchia chỉ 2km hoặc ít hơn một chút. Đó là tuyến đường cá đi và sinh sản hàng năm và điều đó khiến nhiều nhà môi trường và thủy học quan tâm. Cá đi ngược lên sông Mekong qua tuyến đó. Khi làm một cái đập chắn ngang như vậy, có khả năng nó sẽ cản đường cá đi,” Phó Viện trường Viện nghiên cứu biến đổi khí hậu thuộc Đại học Cần Thơ bình luận.

“Các nhà làm môi trường ở Campuchia và Việt Nam cũng phản đối dự án này.”

Bản tin của KPL dẫn lời Phó Thủ tướng Lào Sonexay cho biết dự án sẽ đem lại tác động tích cực cho sự phát triển kinh tế và góp phần vào công tác giảm nghèo của nước này.

KPL cũng khẳng định: “Trước buổi lễ, các nhà phát triển dự án xác nhận việc xây đập không ảnh hưởng tới sự di cư của cá thậm chí ngay cả khi đập được xây ở Housahong, vốn là nơi cho nguồn thủy sản di cư ở sông Mekong, vì có rất nhiều nhánh sông khác như Housadam, Housangpheuk cho cá”.

Tuy nhiên, vị chuyên gia người Việt cho lập luận trên là không có căn cứ khoa học.

“Phía Lào nói dòng chảy từ tỉnh Champasak đổ xuống đi qua nhiều nhánh, cá không đi từ nhánh này sẽ đi qua nhánh khác,” Tiến sỹ Tuấn nói, “nhưng chúng tôi không tin là cá biết chọn lựa đường đi như vậy.”

“Hiện cũng chưa có một nghiên cứu khoa học nào chứng minh được là cá không đi đường này sẽ tìm đường khác để đi.”

“Có một số nhà nghiên cứu nói đường đi qua Housahong rất thuận lợi cho đường đi của cá. Các dòng chảy khác không thuận lợi như vậy. Khi mà đường đi khó khăn hơn, thì chắc chắn cá sẽ không đi được như mọi năm chúng vẫn đi.”

Dự án gây tranh cãi

Don Sahong là công trình thủy điện trên dòng chính sông Mekong tại Lào, sau đập Xayaburi.

Image copyrightGETTY IMAGES
Image captionNhững nhà hoạt động môi trường phản đối công trình thủy điện này vì nó được xây ngay trên dòng chính sông Mekong, nơi dòng cá di cư qua

Dự án nằm ở khu vực Siphandone (gần thác Khone), miền Nam Lào, cách biên giới Lào – Campuchia 2km, với con đập nằm ở khu vực gần 4000 hòn đảo, xây trên dòng Hou Sahong.

Về mùa khô, nhánh sông này là dòng chảy duy nhất để hàng ngàn loài cá di cư và sinh sản.

Hiện có quan ngại là việc xây đập tại đây thậm chí có thể sẽ làm biến mất loài cá heo nước ngọt Irrawaddy tại hồ Kratíe bên dưới dòng chảy.

“Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam đã từng ra tuyên bố báo chí về con đập này. Các tờ báo trong nước cũng đề cập đến nó. Chúng tôi cũng tổ chức ra nhiều hội thảo cũng nêu vấn đề về Don Sahong,” ông Tuấn nêu quan điểm của các nhà hoạt động và nhà khoa học ở Việt Nam.

Tờ Bangkok Post hồi tháng 7/2016 đăng bài của tác giả Kate Ross chuyên trách chương trình Mekong của International Rivers, trong đó có đoạn viết: “Chính phủ Campuchia, Thái Lan và Việt Nam đều đã nêu những quan ngại chính thức về đập Don Sahong, bao gồm cả đề nghị có thêm nghiên cứu về đánh giá tác động xuyên biên giới và chứng cở ủng hộ cho biện pháp giảm thiểu tác động được đề xuất, đặc biệt với đường di cư của cá.”

“Tuy nhiên, vẫn chưa có bất cứ chỉ dấu nào cho thấy quan ngại mà chính phủ các quốc gia Mekong nêu lên được giải thích, hay liệu có bất cứ nghiên cứu nào được tiến hành theo yêu cầu kể trên,” bài báo này nói.

Hình ảnh từ Tổ chức Sông ngòi Quốc tế (International Rivers) cung cấp cho BBC cho thấy có vật liệu xây dựng được tập trung về khu vực sẽ thi công thủy điện.

Trên trang Fanpage Pathedlao của hãng tin KPL cũng đăng ảnh công trường xây dựng tại Don Sahong.

Đập thủy điện này đã được bắt đầu thi công vào tháng 10/2015. Hiện công trình đã được hoàn thành 8% và người ta trông đợi nó sẽ hoàn tất vào năm 2019.

Công ty đầu tư cho dự án thủy điện trị giá 500 triệu đô la Mỹ gây tranh cãi này là Mega First (từ Malaysia), nắm 80% cổ phần dự án.

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.08.2016

THƯ GIÃN CHỦ NHẬT: 5 NGƯỜI ĐẸP NUDE

Đẹp7Phục hưng19

THƯ GIÃN CHỦ NHẬT: 5 NGƯỜI ĐẸP NUDE

Gái đẹp7Gái đẹp112987007_125017354568019_4575581425369107341_n

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.08.2016

ẨM THỰC PHÙNG QUÁN

 

ẨM THỰC PHÙNG QUÁN

       Ngô Minh

 

         PQNhà văn Phùng Quán

Mỗi nhà văn có một “gu” ẩm thực riêng , không lẫn . Vũ Bằng, Nguyễn Tuân  sinh ra và lớn lên ở Hà Nội , nên rất sành ăn và viết rất hay về các món ăn tinh tế và đài các của Thủ Đô . Nhà văn Phùng Quán cũng có một cá tính ẩm thực rất đặc biệt, rất “CHƠI”. Phùng Quán đã mang ẩm thực Huế đi suốt cuộc đời chiến sĩ của mình. Cũng có thể các món ăn quê hương đã giúp nhà văn vượt qua những chông gai của  số phận !

Phùng Quán sinh ra ở làng quê Thủy Dương , ngoại ô Huế. Anh kể rằng, thuở nhỏ từng đi chăn trâu cắt cỏ, mò cua bắt ốc với lũ trẻ trong làng. 14 tuổi đã trốn mẹ đi  làm liên lạc cho Vệ Quốc Đoàn . Bộ đội kháng chiến thì  gian lao, khổ cực tất nhiên rồi .Từ sau thời “ Nhân Văn ” Phùng Quán còn khổ hơn . Cho đến  năm cuối đời ( 1-1995 ), anh vẫn chưa có một ngày sống an nhàn  . Anh phải bao nhiêu năm lăn lộn , làm đủ mọi việc để kiếm sống, nuôi con và viết văn . Bởi thế mà trong thơ thơ anh viết : Trong trăm nghìn nỗi đói  / Tôi nếm trải cả rồi  !

Nhưng trong hoàn cảnh sống đó , anh đã tạo ra một lối ẩm thực :  nghèo mà lịch lãm , tinh tế , ít tiền vẫn làm ra được món ăn ngon, sang trọng . Đó đích thực là cái chất của ẩm thực theo lối Huế ! Nhưng  ngoài hoàn cảnh  , Phùng Quán  còn có một một quan niệm về  ẩm thực cao cả hơn , nhân văn hơn , tôi tạm gọi là Ẩm thực Phùng Quán. Ví dụ ,từ chuyện thi hào Đỗ Phủ ( thời Đường, Trung Quốc) chạy giặc trên chiếc đò nhỏ trên sông Tương , nhịn đói đã 10 ngày. Sau đó được chức sắc trong vùng biết tin, đem rượu thịt mời. Ông ăn uống no say rồi bị “ thương thực”  lăn ra chết. Gọi là chết no ,nhưng htực chất là chết đói. Phùng Quán đã làm bài thơ tuyệt tác “ Đêm Nghi Tàm đọc ĐỖ Phủ cho vợ nghe “  : …Em ơi, nếu Đỗ Phủ / Vai khoác áo lông cừu / Bụng no đến muốn mửa / Viết sao nổi câu thơ / Nghìn năm cháy như lửa / Cửa son rượu thịt ôi / Ngoài đường xương chết buốt…

Bởi thế … Đã đi với nhân dân , Thì thơ không thể khác !  Dân ta thì bảy tám  phần  nghèo đói, thi sĩ “ăn” ngon sao đành : “ Tôi có quyền gì được no hơn nhân dân tôi một miếng ăn ?” ( Tự Vấn) . Đó là đạo lý ẩm thực Phùng Quán!

Sống ở Hà Nội , nhưng gia đình anh Quán vẫn ba bữa nấu lấy ăn. Nên anh Quán rất thạo nấu nướng các món Huế cũng như các món Hà Nội. Sáng thì bánh cuốn ăn với nước nắm chanh ớt, hay bát cháo cá câu được ở Hồ Tây hồi đêm, bỏ thêm rau thì là thái nhỏ , hạt tiêu thơm lựng ăn với lá tía tô, cà pháo, rất Hà Nội.  Bữa ăn chính bao giờ cũng theo mùa  với các món “chủ lực” như dưa cải chua, cà pháo chị Bội Trâm muối rất thiện nghệ, rau muống luộc chấm tương Bần , lấy nước làm canh sấu , hay canh rau đay, canh măng vòi.v.v..thêm miếng cá kho nghệ vàng rộm hay đĩa thịt kho tôm nhỏ.  Khi có khách là bạn văn , tôi thấy anh Quán thường giành phần đi chợ Châu Long thay chị Bội Trâm . Tùy theo số lượng khách mời ,anh thường mua con cá chép, hay cá gáy to hay nhỏ, cộng thêm vài cân bún sợi nhỏ xây thành nắm, rồi măng chua, vài bìa đậu phụ , rau giá và chục lọn nem. Đi chợ về anh xắn tay áo lên làm bếp. Anh làm bếp rất nhanh .Chỉ một thoáng thôi, anh đã khệ nệ bưng lên “Chòi ngắm sóng” một mân tiệc thịnh soạn. Xin kể : Con cá anh làm sạch , tách lòng ra riêng rồi rán sơ  nguyên con hoặc cắt đôi , sau đó bỏ vào nồi nấu canh măng chua . Anh khéo léo vớt con cá ra  dọn ra  đĩa, làm món cá luộc chấm tiêu muối . Đĩa cà pháo chấm với ruốc biển Quảng Bình, mà bao giờ anh cũng có sẵn do bạn bè gửi cho ; đĩa đậu phụ “sống” chấm mắn tôm chanh ớt . Đĩa rau sống, đĩa rau mùi.  Nhậu xong , khách chủ dùng món bún chan canh cá chua, gọi là “ nóng nóng nước nước” ! Một bữa “ tiệc” mời bốn năm người thịnh soạn , rôm rả như thế chỉ hết vài chục ngàn đồng tiền chợ! Trong khuôn viên nhà anh có miếng đất nhỏ anh trồng đủ thứ rau gia vị như tía tô, rau mùi tây, rau răm, húng, quế, hành tỏi, thì là, diếp cá, nên các loại rau mùi rất sẵn. Anh người Huế,  ăn ớt nhiều  mới đã , nên ớt trồng đến mấy cây liền.v.v… Mỗi lần bạn văn Huế gửi ra cho một thẩu tôm chua với xâu vả , ngày đó là một ngày “linh đình” đối với Phùng Quán ! Anh gọt vả, ngâm nước, rồi đi mua thịt lợn ba chỉ, luộc “ hồng đào” thận như mấy “Mệ” Huế dặn, rồi đạp xe đi gọi các tiên sinh  Hoàng Cầm, Lê Đạt, Tào Mạt, Lê Huy Quang , Trẫn Vũ Mai, v.v.. tới nhấm rượu. Anh gắp từng con tôm chua , giơ lên rưng rưng ngắm , rồi mới bỏ vào bát từng vị kèm thêm lát vả, miếng thịt ba chỉ , nhấm tý rượu rồi ngậm miệng nhai thật chậm như để ngậm mà nghe ! Mỗi lần vô Huế , baogiờ anh cũng giành bạn bè đi chợ, rồi vợ cặm cụi nhặt rau, mổ cá , xắn tay áo chiên xào ,nấu nướng rất thiện nghệ . Nhưng trong các cuộc vui đó  , Phùng Quán bao giờ cũng bàn luận và đọc thơ , nhiều hơn ăn.   Có lần tại nhà tôi, Phùng Quán và Hoàng Phủ Ngọc Tường  uống rượu  và “tranh luận” tới … một ngày ròng ! Bắt đầu từ 9 giờ sáng đến 9 giờ tối, mà chỉ có đĩa lòng lợn, mấy đĩa trìa và nồi cháo cá ! Hai “ông” nhâm nhi rồi gợi lên đủ thứ đề tài về văn chương kim cổ thế giới để tranh luận rất hấp dẫn . Đến nỗi Nguyễn Quang Lập đã đặt tên hai người là “Hoàng Mâu – Phùng Thuẫn”!. Phùng Quán  bảo tôi :” Cái ăn cái uống chỉ là cái cớ để gặp gỡ, giải bày, cho nên rượu- ẩm thực cũng ví như tờ giấy để mình đề thơ hay viết văn lên đó “!

Khi anh Quán còn sống, mỗi lần tôi ra Hà Nội đều tá túc tại Chòi ngắm sóng của anh. Khi tôi và anh uống rượu, bao giờ chị Bội Trâm cũng bưng ra một tô nước dưa chua đã bỏ vị tinh vào, bảo :” Hai anh em uống thứ này cho giã rượu ”. Anh Quán tỉnh bơ :” Người ta uống rượu cốt để say, lại uống nước dưa giải say thì phí cả rượu”. Nói thế , nhưng thỉnh thoảng anh vẫn nhấp một ngụm nước dưa làm mồi .Những ngày đó, anh dẫn tôi đi ăn các món Bắc Hà mà anh thích như gỏi cá ,ốc bung, ốc nhồi Hồ Tây, chả cá Lã Vọng, thịt chó Nhật Tân.v.v..Anh vừa đèo tôi sau chiếc xe cuốc cao lêu nghêu, giải thưởng của truyện ngắn Như con cò vàng trong cổ tích, vừa mô tả tỉ mỉ cách làm từng món, cách đánh giá ngon dở ra sao . Khi tôi trở vô Huế , anh bao giờ cũng thức suốt đêm nấu cơm, chặt lá chuối , hơ lửa để nắm cơm bới cho thằng em. Anh làm cơm nắm rất nghề,  nắm cơm rất chặt, nhưng lát cắt thị mịn mà dẻo !  Rồi anh rang mè làm muối cho vào túi ni lon, vót cật tre thật sắc để làm dao cắt cơm  . Anh gói ghém xong mọi thứ , 5 giờ sáng  thức tôi dậy, uống cùng anh chén rượu sớm chia tay, xong mới xe đạp đèo tôi ra bến xe. Trên đường vô Huế, tôi cắt từng lát cơm nắm của anh bới cho, chấm muối vừng ăn ngon miệng như một đứa con đi xe được mẹ  bới cho mo cơm nắm!  Ở Hà Nội, tôi hay rủ anh đi ăn phở, vì tôi rất thích phở. Anh bảo phở ngon là ngon ở nước phở , nên mua bát phở rồi húp hết nước, rồi “ cho xin ít nước nữa !”. Bao giờ người bán phở cũng sẵn lòng. Ăn uống chỉ cốt cái chất , đừng mất thời gian vì ăn! Thế mà khi có người hỏi anh :” Ông uống rượu với bạn suốt ngày thế,  thời gian đâu mà viết nhiều tác phẩm thế ?” . Anh lại trả lời tỉnh queo :” Chơi mới mất thời gian, viết thì mấy !”. Thì ra với anh, những “cuộc ẩm thực” đây đó chỉ là những cuộc chơi!

Khi  vô Huế chơi , ở nhà tôi  hay nhà Lâm Thị Mỹ Dạ , anh cũng giành phần đi chợ và làm đồ mồi và làm món “ nóng nóng nước nước”.Anh rất hạp với các món cháo bánh canh cá lóc cá, cơm hến, cháo cá ,cháo tôm, cháo lòng, ốc bươu , bánh bèo, bánh nậm Huế. Hạp nhất là món tiết canh, lòng lợn . Dường như các nhà thơ nhà văn già ở Hà Nội ai cũng ghiền tiết canh lòng lợn . Vì đó là thứ vừa để nhâm nhi đàm đạo dài dài lại vừa khoái khẩu, rẻ tiền . Phùng Quán ăn uống từ tốn ,chậm rãi, nhấm rượu bao giờ cũng nâng chén ngang mày, rất trang trọng .

Phùng Quán không chỉ giỏi nấu món Huế, mà còn rất thạo chế biến món ăn Hà Nội. Anh khoe đã có lần ở thành phố Hồ Chí Minh, tại nhà kiến trúc sư Nguyễn Trọng Huấn , anh đã tự đi chợ mua các thứ về chế biến món chả cá Lã Vọng Hà Nội để đãi nữ văn sĩ Nguyễn Thị Hoàng . Đầu năm 1992,  bác sĩ Nguyễn Tích Ý, một người rất thân thiết với anh Quán đã hồi hưu, mời sinh nhật ông ở làng Tiên Nộn, một làng rất đẹp bên sông Gia Hội ở bên kia phố cổ Bao Vinh. Dọc đường  đi, thấy ở chợ Bao Vinh có bán ốc bươu rẻ, anh mua luôn một rổ và ít lá tía tô, chuối chát . Anh hể hả: “Chuyến này Phùng Quán sẽ đãi các bạn món ốc bung Hà Nội, chắc người Huế ít được ăn món này!”. Nói rồi anh khệ nệ  xách giỏ ốc xuống đò. Khi sang tới nhà anh Ý, anh Quán ra ngay bể nước ngâm ốc bươu vào chậu nước vo gạo. Nhậu xong chầu rượu, anh ra bến sông nơi bể nước cắm cúi ghè đít ốc để  chuẩn bị nấu món ốc bung. Không ngờ, ngày đó là ngày đầu tháng người Huế ăn chay, không sát sinh . Thế là chị Điểm, em gái bác sĩ Ý , giật rổ ốc đổ  xuống sông để phóng sinh . Còn anh Quán thì đứng cười bẽn lẽn như một cậu học trò chưa học thuộc bài !Chỉ tiếc hôm đó tôi không được thưởng thức món ốc bung Hà Nội do anh Quán làm. Nhiều khi tôi nghĩ, nếu anh Quán mà viết về ẩm thực Huế chắc hay lắm, vì anh hiểu sâu xa văn hóa ẩm thực từ  nỗi cơ hàn đạm bạc của cuộc đời mình.

Ở Huế, nhiều cơ quan, bạn bè mời anh những cuộc tiệc  sang trọng ở các nhà hàng khách sạn lớn.  “Tháp tùng “ anh đi dự những cuộc tiệc  ấy, tôi thấy anh thực sự lúng túng và khổ sở khi phải “ trăm phần trăm” bia, rượu ngoại ,hay ăn những món “cao lương mỹ vị” như chim quay, bồ câu tiềm.. Những lúc ấy, anh chỉ cầm ly rượu, đứng lên đọc thơ ! Đã đi với nhân dân thì thơ không thể khác…

Đối với Phùng Quán, rượu là “tiên tửu”, ăn là “ tiên thực”. Vâng, anh râu tóc bạc trắng, dài chấm ngực, áo nâu sòng , ngồi xếp bằng bên mâm rượu trông rất giống một ông tiên trong cổ tích !

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.08.2016

Về Hà Tĩnh xem “Thằng Phò”

Về Hà Tĩnh xem “Thằng Phò”

  •   BÙI VIỆT THẮNGgiảm kích thước chữ tăng kích thước chữ
Về Hà Tĩnh xem "Thằng Phò"

Tại Hội nghị Lý luận phê bình văn học lần thứ IV do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức tại Tam Đảo tháng 6 – 2016, nhà văn Hoàng Quốc Hải đã đặt câu hỏi “hướng về đâu văn học?” làm cả khán phòng của Hội đồng văn xuôi xao động và kích thích tranh luận. Cũng chính ông, ngay trong những ngày hội nghị, đã trực tiếp đặt vấn đề với nhà thơ Hữu Thỉnh – Chủ tịch Hội NVVN – về việc cần thiết cử các nhà văn đi vào “tuyến lửa” Hà Tĩnh, mảnh đất khởi sự thảm họa môi trường bởi Formosa gây nên. Ngay lập tức Chủ tịch Hội NVVN đồng ý và động viên các nhà văn tham gia chuyến đi thực tế này.

Về Hà Tĩnh thời điểm này có muộn không? Không bao giờ là muộn, và thậm chí muộn vẫn hơn không, như cổ nhân nói. Về Hà Tĩnh lúc này không phải là một cuộc ngao du, thăm quan, mà là về với đời sống của nhân dân cần lao đang trải qua “lửa đỏ và nước lạnh”.

Đoàn nhà văn Việt Nam về Hà Tĩnh thực tế lần này có trưởng lão Hoàng Quốc Hải; Trần Nhương ; Văn Chinh; Bùi Việt Thắng và Kiều Mai Sơn. Đoàn xuất phát từ Hà Nội lúc 8h30p, đến Hà Tĩnh lúc 17 h ngày 18-7-2016.

*

*      *

Những ngày ở Hà Tĩnh tôi thường nghĩ đến ba màu Đỏ, Xám và Xanh. Sẽ có người căn vặn về ba màu này mà tôi trình ra trong bài viết không biết xếp vào thể loại gì của mình. Đỏ thường được gắn với lửa, với sức nóng mặt trời, với máu. Đỏ cũng đồng nghĩa với báo động (“bùn đỏ” chẳng hạn). Cũng là hiếm hoi khi thi sỹ Nguyễn Mỹ xúc cảm tràn trề mà viết bài thơ Cuộc chia ly màu đỏ khiến nhiều thế hệ nhập tâm. Chỉ với thi sỹ Nguyễn Mỹ thì mới có một “cuộc chia ly màu đỏ” mà thôi. Nhưng khi về Hà Tĩnh, mỗi lần nghĩ đến, hay nhìn thấy màu đỏ là tôi lại có cái ấn tượng, cái cảm giác về độ nóng. Độ nóng của mặt trời thiêu đốt dải đất hẹp nhất cả nước vào mùa hè. Lại thêm gió Lào. Là dân gốc Hà Tĩnh, xa quê hơn 60 năm, nhưng mỗi lần trở về đúng dịp tháng 6, 7 hàng năm thì chính tôi lại cũng có cái cảm giác bị nung chảy ra, đừng nói người xứ Bắc vào đây công tác hay nghỉ ngơi khi biển chưa chết như bây giờ (trẻ con vùng này hát chế “biển ngày xưa chưa chết như bây giờ”). Cái nóng của đất trời dù có khốc liệt thì cũng chỉ vài ba tháng hè mà thôi. Nhưng Hà Tĩnh đang có một cái nóng khác, không đo được bằng nhiệt kế, nhưng sức nung, sức hủy của nó thì khủng khiếp hơn nhiều. Đó là “phát triển nóng”. Dân ở đây gọi chệch Formosa đi là “thằng Phò” và ngay từ cuối tháng 4 họ đã chỉ đích danh nó kẻ gây nên thảm họa cá chết/biển chết ở 4 tỉnh miền Trung. Phát triển nóng là phát triển theo lối “tư bản hoang dã”, chỉ nhăm nhăm đến lợi nhuận mà quên đi đến sự mất còn của môi trường sống và cuối cùng là hủy diệt sự sống, hủy diệt văn hóa và văn minh, văn hiến. Không cần phải tưởng tượng ghê gớm lắm thì cũng đã có thể nghĩ đến cảnh 70 năm tới, nếu ngay từ bây giờ không ra tay cứu biển, không riêng gì Hà Tĩnh, mà cả một dải đất miền Trung, đặc biệt là biển của 4 tỉnh, từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên – Huế, sẽ là biển chết. Và nữa, nếu 1.000 tấn rác thải khô của “thằng Phò” vừa lộ diện không được xử lý theo đúng quy trình thì sẽ tiếp tục tạo ra những vùng đất chết mới. Trên bờ, dưới nước đều chết vì phát triển nóng. Viết đến đây tôi chợt nhớ tới một tác phẩm Kẻ ám sát cánh đồng của nhà văn Nguyễn Quang Thiều. Bây giờ ở miền Trung không chỉ có “ám sát”, là bắn, đâm lén môi trường mà là chúng đã ra tay tàn sát, hủy diệt công khai, lộ liễu, ngang ngược, dã man như bọn khủng bố.

Formosa, và không chỉ Formosa, mà có cả một bọn người cùng nó đã vượt đèn đỏ, đem lại hậu họa cho không chỉ một người khác, mà cả đồng loại triệu người. Vì kém cỏi hay vì lòng tham? Đúng như cổ nhân nói “tham đĩa bỏ mâm”. Nóng trong nhân tâm vì “thằng Phò” còn chĩnh chệ “ghế trên ngồi tót sỗ sàng”, tọa lạc ở mảnh đất này đến 70 năm. Chao ôi, bảy mươi năm là cả một đời người sống lâu (“nhân sinh thất thập cổ lai hy”). Ở Hà Tĩnh, nóng từ người này sang người khác, nóng từ vùng này sang vùng khác, không chừa ai, không chừa nơi nào.

Sáng 19-7, được sự giúp đỡ của Ủy ban nhân dân Tỉnh Hà Tĩnh, đoàn có điều kiện thâm nhập sâu vào “hang ổ” của Formosa. Vì nhiều lý do, đoàn cũng chỉ được phép ngồi trên xe “cưỡi ngựa xem hoa’ một góc “thằng phò”, không quay phim chụp ảnh, đi theo sự hướng dẫn của một nhân viên đối ngoại củaFormosa. Đồng hồ chỉ tất cả 16km ghi nhận hành trình của đoàn nhà văn đi và nhìn cái công trình đại công nghiệp “khủng”. Formosa chiếm giữ hơn 3.300ha cả trên cạn (hơn 2.025ha) và cả trên mặt biển – cảng Sơn Dương (hơn 1.293ha), là một không gian màu xám xịt với những kho bãi khổng lồ, những ống khói cao chất ngất của khu luyện, cán thép; những băng chuyền dằng dặc như vòi bạch tuộc, hàng chục km đường rải nhựa hắt lên tuyền một màu đen nóng sực, nhức mắt. Tôi cứ hình dung cái khối màu đen – xám khổng lồ này như bóng một con “khủng long sắt thép” thời hiện đại, ngoác cái miệng đầy nanh, ăn tươi nuốt sống không từ thứ gì. Và miệng nó nhuốm đầy máu.

Đoàn chúng tôi đã đi thăm một khu tái định cư ở Kỳ Anh, đến một làng chài cheo leo ở Vũng Áng, đến Bến Cá ở Thiên Cầm, vào một xóm ngư dân ở Cẩm Nhượng để tìm hiểu đời sống thực của nhân dân sau thảm họa Formosa. Một phụ nữ, chủ nhân một ngôi nhà sát biển ở xã Cẩm Nhượng kinh doanh hải sản, cho biết, mọi năm doanh thu của gia đình thường dao động từ 5 đến 7 tỷ đồng. Vậy mà năm nay cho đến cuối tháng 7 cũng mới chỉ được khoảng 200 triệu. Chị bức xúc như là đay nghiến, “Tất cả chỉ tại thằng Phò”. Nghe tiếng thở dài của chị, tôi chợt nhớ đến con số 96 tỷ VNĐ thu được từ 3.300ha Đất – Nước mà quan chức Hà Tĩnh cho “thằng Phò” thuê suốt 70 năm!

Nhưng phải nói đến màu Xanh. Tham gia giao thông, nếu nhìn thấy đèn Xanh là tín hiệu an toàn. Đi được. Không nguy hiểm. Biển Thiên Cầm dạo nọ tôi đến cách đây mấy năm xanh ngăn ngắt. Người Pháp coi đây là bãi biển đẹp nhất Trung Bộ. Phát triển Xanh là phát triển bền vững, là phát triển tính đến không gian sống toàn diện của con người như là trung tâm vũ trụ. Màu Xanh là màu của Hòa Bình, Sự Sống. Biển Thiên Cầm vẫn xanh như bao đời, nhưng hầu như không có ai xuống tắm. Chiều 19-7, khi đoàn nhà văn quyết định ở lại đây, để “trăm lần nghe không bằng một lần thấy”, chỉ lác đác vài người chưa đủ đếm trên đầu ngón tay, dám tắm. Khi chúng tôi hỏi, mọi người ở đây đều bảo, từ đầu mùa đến nay đều như vậy cả. Không gì bằng trực quan sinh động. Nhà văn sẽ viết thế nào nếu không trải nghiệm. Nhà văn có là người bạn đường của nhân dân nếu chỉ ru rú chốn thư phòng rồi tha hồ bịa đặt và hư cấu vô lối và tùy tiện?! Bài học thu hoạch được từ Hà Tĩnh lần này, với chúng tôi là vô giá. Có người ở Hà Nội, vào facebook mà tỏ ý ghen tỵ với đoàn chúng tôi. Tôi trả lời “Thế vì sao anh/chị không đi vào đây như chúng tôi?!”. Câu hát “Trời mô xanh bằng trời Can Lộc/Nước mô xanh bằng dòng nước sông La” cứ văng vẳng bên tôi, cứ váng vất bao nhiêu tâm sự rất khó diễn tả. Có một nhà văn trẻ từ Hà Nội nhắn tin cho tôi, hỏi cảm xúc như thế nào khi ở Hà Tĩnh, khi vào trong lòng “thằng Phò”? Tôi trả lời: “Vào đây bỗng thấy những trang viết của chúng ta vừa qua là còn rất hời hợt, rất nông nổi, rất nông cạn và rất ốm yếu trước nỗi đau của nhân dân cần lao và vĩ đại, trước cuộc đời vốn chất đầy “những điều trông thấy mà đau đớn lòng”. Nói thế có quá cảm thán?!

*

*    *

Trở về Hà Nội vào hồi 17h ngày 21-7. Người thân, bạn bè hỏi han rất nhiều nhưng dường như chưa trả lời kịp. Chỉ biết hứa, sẽ viết để giãi bày. Viết để chia sẻ. Viết để thu hoạch được một cái gì đó, dù rất nhỏ nhoi. Chỉ biết là buồn nhiều, nhiều lắm, mặc dù cũng có những niềm vui gặp gỡ với bạn bè văn chương ở quê… Tôi chợt nhận ra mình và công việc của mình vô cùng bé nhỏ, thậm chí vô nghĩa trước đời sống rộng lớn, dữ dội, phức tạp.

Mấy hôm nay theo dõi thời sự VTV1 thấy Bộ TN&MT vào làm việc ở Hà Tĩnh, với formosa. Bây giờ chuyện đã vỡ ra tung tóe rồi mới thấy Bộ này kiên trì bám địa bàn và vào cuộc “quyết liệt”!? Giá như sớm hơn nhỉ, thì nhân dân được nhờ! Lại nghe Bộ này tuyên bố sẽ giám sát Formosa trong vòng 3 năm liền tới?! Sao lại chỉ có 3 năm? “Thằng Phò” này nó còn “ăn dầm nằm dề” 70 năm cơ mà. Thế thì đến mấy đời Bộ trưởng nhỉ? Chắc nhiều nhiều, không tính xuể. Mọi chuyện về “thằng Phò” nay đã bạch hóa kể từ buổi chiều lịch sử 30-6-2016, sau 84 ngày chờ đợi trong hỏa mù, trong sự đua nhau chém gió của các quan chức quan liêu liên quan, khi Chính phủ họp báo tuyên bố nguyên nhân cá chết ở bốn tỉnh miền Trung. Cũng chẳng thể thở phào được, cũng không thể “xả xu-páp” như dân sửa xe máy nói chơi được. Nhân Dân cần biển sạch. Câu nói từ tâm can của bất kỳ người dân nào mà chúng tôi đã được nghe khi ở Hà Tĩnh, dù chỉ hai ngày

( Nguồn: VHNA)

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.08.2016

Cảnh báo… về một loại cường hào mới ở nông thôn

Sường N Minh

(Rút từ facebook của Sương Nguyệt Minh)

S.N.M: Thật không thể nào tin nổi các loại thu phí, quỹ vô tội vạ ở nông thôn: “quỹ thôn là 30 nghìn đồng/ khẩu, quỹ thanh thiếu niên 30 nghìn đồng/ khẩu, quỹ xây dựng hội trường 200 nghìn/ khẩu…” Đứa trẻ vừa lọt lòng cũng phải đóng: quỹ làng văn hóa, quỹ khuyến học, quỹ vì người nghèo, quỹ chăm sóc người cao tuổi, quỹ an ninh quốc phòng,… Không nộp thì… bị lùng sục, biên phạt, tịch thu… như trấn lột.

* “CÁI ĐÊM HÔM ẤY… ĐÊM GÌ?”
Cách đây 31 năm, tôi có đọc phóng sự “Cái đêm hôm ấy… đêm gì?” của nhà văn Phùng Gia Lộc trên báo Văn Nghệ về chuyện bắt nợ – thu sản ở Thanh Hóa chẳng khác gì nạn thu tô bắt thuế thời thực dân đế quốc. Tiếng kẻng liên hồi giục giã, tiếng loa phóng thanh hết cỡ, rồi: “Gần một giờ sáng, công an, dân quân đã ập đến các nhà nợ thóc. Tiếng chó sủa vang, tiếng lợn kêu èng ẹch như bị chọc tiết ở các nhà gần quanh…” Xe đạp, phích, xô, lợn gà, bàn tủ, chum vại… bắt hết. Đến cả lúa giấu trong áo quan “các cháu phải nhịn để dành bữa sau cúng cỗ bà, làm ma bà!” và lúc “bà con thương mà chạy đến để ăn lưng cơm sốt”, cán bộ xã cũng không tha. Lương tâm nhà văn lên tiếng, đòi hỏi, Phùng Gia Lộc đã “không còn có thể che giấu nỗi đau của nhân dân bất hạnh”. Xót xa và phẫn nộ, nhiều người tỏ thái độ muốn băm vằm đám cường hào mới xuất hiện ở nông thôn. Xã hội càng phát triển, văn minh, chuyện bất công ngang trái làm sao qua mắt được thế giới truyền thông, thì chuyện đóng góp phí, quỹ vô lý, lạm thu, tận thu bất công với cả “mùa sưu thuế kinh hoàng” từ hơn 30 năm trước tưởng rằng đã tiệt nọc và chỉ còn là nỗi buồn trôi về dĩ vãng, thì chuyện tương tự ở nông thôn Thanh Hóa vẫn cứ ngang nhiên xảy ra ngay đầu thế kỷ 21 này.

* CHƯA HẾT “CÁI ĐÊM HÔM ẤY… ĐÊM GÌ?”
Thì đây, ở huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa: “thông báo của thôn Thái Hòa, xã Hưng Lộc, gửi cho chủ hộ Đ.T.S, thôn đã liệt ra tất thảy 20 khoản thu mà gia đình phải đóng. Gia đình bà S. có 6 khẩu, lần thu này bà phải nộp hơn 2,8 triệu đồng”. Có những gia đình nộp đến 4 – 5 triệu đồng quỹ, phí. Nông dân nghèo nuôi con ăn học, lấy đâu tiền đóng các loại “sưu thuế hãi hùng” ấy? Không đóng thì bắt nợ, tịch thu đồ đạc, đưa lên loa truyền thanh bêu riếu tên tuổi. “tại xã Trường Sơn, huyện Nông Cống, ngay cả gia đình liệt sỹ do khó khăn, không đủ tiền đóng góp nên bị xã cắt hộ nghèo”. Gia đình liệt sỹ thuộc diện chính sách, lẽ ra phải được ưu tiên, được quan tâm chăm sóc. Song họ nhẫn tâm lạnh lùng với cả gia đình có người đổ xương máu cho độc lập tự do của Tổ Quốc. Tôi đồ rằng trong chiến tranh, cái đám lý trưởng mới này không trốn lính thì cũng đào ngũ. Đúng là trẻ không tha già không thương, đường đường là gia đình liệt sỹ cũng chẳng được nể nang, sẵn sàng biên phạt!
Còn chị Toàn ở làng Thành Liên, xã Trường Sơn, Nông Cống, Thanh Hóa trồng lúa cả năm trên 2 sào ruộng, nếu nhịn ăn, bán sạch thóc cũng chỉ được 3 triệu đồng, nhưng đóng góp cho thôn xã 2 triệu đồng, số còn lại chi tiêu cho giống má, phân gio liệu có đủ? Bày ra các loại phí, quỹ rồi lùng xục, tịch thu tất, nếu như không nộp đủ: “Đoàn công tác đã quyết định “xuống tay”. Mấy người chạy bổ vào nhà xục xạo, tuy nhiên, chẳng có vật dụng gì đáng tịch thu”. Nếu anh Dậu giữa mùa sưu thuế nhảy ra khỏi những trang tiểu thuyết Tắt Đèn cũng phải ngạc nhiên vì lại bắt gặp trương tuần, lý trưởng ở ngoài đời. “Không tìm được cái gì đáng giá, mấy người ấy chực quay ra thì ông trưởng thôn lại lao vào. Ông ấy tháo chiếc giường mà vợ chồng cùng hai con của tôi đang nằm”. Cái giường cũ duy nhất khi vợ chồng chị Toàn bị cánh tuần đinh mới tịch thu thì vợ chồng con cái chỉ còn cách trải chiếu nằm đất. Mùa hè còn chịu được, chứ mùa đông bị nhiễm lạnh không viêm phổi thì cũng chết vì giá rét. Nếu trong nhà không có vật dụng quý nhất là cái giường, thì vợ chồng người nông dân đáng thương này có bị đám tuần đinh mới xông vào trói gô cổ như anh Dậu không?

* THU PHẠT KHÔNG Y]F MỘT THỨ GÌ?
Ở Hải Lộc, Hậu Lộc “có gia đình còn bị “tổ công tác đặc biệt” bốc mất mấy tấm ván canh.” Tấm ván canh là gỗ mua sẵn dành cho người già chết thì đóng quan tài. Cái thời 31 năm về trước trương tuần của “Cái đêm hôm ấy… hôm gì?” chỉ trấn lột thóc, để lại cái áo quan cho mẹ nhà văn Phùng Gia Lộc, xem ra vẫn còn nhân đạo hơn bọn cường hào mới bây giờ lấy cả tấm ván canh lo hậu sự của người già. Ông Lê Văn Cuông – cựu đại biểu Quốc Hội cũng xót xa: “… mùa sưu thuế hãi hùng ở Hậu Lộc cho thấy đang có sự xuất hiện trở lại của bộ phận cường hào, ác bá thời phong kiến ở nông thôn trong thời kỳ văn minh”. Ông Cuông kể một câu chuyện người dân khốn khổ: “… do không đóng đủ tiền giao thông nông thôn, 1 chị nông dân đã bị chính quyền thôn, xã đến cưỡng bức bắt con bò mới mua để cày ruộng, sau đó bán cho người khác. Con chị đó đến ngăn thì bị họ đánh, phải đi bệnh viện”. Chuyện khó tin mà đã là sự thật ở làng quê Việt Nam.

* XUẤT HIỆN MỘT LOẠI CƯỜNG HÀO MỚI.
Ở đây chính quyền thôn xã có hai cái sai: Một là, áp đặt ra quá nhiều khoản thu quỹ, phí nặng nề, vô lý. Người nông dân è cổ còng lưng gánh các loại phí thực ra là bị bóc lột một cách ngọt ngào, tinh vi mà không biết. Chúng ta đang phấn đấu đến một xã hội sống và làm việc theo pháp luật tiến bộ. Chắc hẳn những người lãnh đạo ở thôn xã phải hiểu luật hơn người dân bình thường. Hiểu luật mà làm trái luật sẽ sinh ra nhũng nhiễu, phiền hà, hành xử tùy tiện. Hai là, áp đặt lạm thu, tận thu không đạt được kết quả thì cưỡng chế, ép buộc bằng các biện pháp mạnh chả khác gì trấn lột. Người dân nghèo, chân yếu tay mềm, không có khả nặng tự vệ bị “đè đầu cưỡi cổ”, kêu trời trời chẳng thấu, kêu đất đất chẳng hay. “Họ đến đông lắm, cả trưởng làng, phó làng cùng các cán bộ ở làng. Có cả các anh công an xã nữa”, chị Toàn kể lại. Thấy đoàn cán bộ ai nấy mặt lạnh như băng bất ngờ xuất hiện ở nhà mình.” Ông Lê Như Tiến, đại biểu Quốc hội khóa 12, 13, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội khóa 13 đau xót kêu lên: “… có lẽ đang hình thành tầng lớp giống như lý trưởng, chánh tổng ngày xưa, đó là cường hào mới ở nông thôn. Chỉ có cường hào mới thì mới o ép dân đến như thế.” Người nông dân ở làng tắt lửa tối đèn, cưu mang giúp đỡ lẫn nhau. Phép công nhưng còn nghĩa tình. Phép công hỏng mà tình nghĩa cũng không còn, dân nổi can qua thì cái đám công bộc này cứ liệu đi hành tinh khác mà sống.

*LẬT THUYỀN CŨNG LÀ… DÂN.
Nhà triết học khai sáng của nước Pháp Rousseau nói rằng: “Trong mọi trường hợp, sự trừng phạt thường xuyên là dấu hiệu yếu ớt và chểnh mảng của chính quyền”. Xã hội thối nát thì nhà tù nhiều hơn trường học, bạo lực cũng đồng nghĩa với… bất lực. Xã hội đại đồng là thôn cùng xóm vắng cũng vang tiếng hát cười, chứ không phải tiếng khóc than. Cái cách tận thu, lạm thu và trấn lột, trừng phạt của chính quyền xóm xã một số nơi ở Thanh Hóa là một minh chứng cho sự yếu ớt và bất lực. “Chiến thắng” nhân dân bằng bắt bớ, thu phạt vô lý chỉ làm cho nỗi bất bình, mâu thuẫn làng quê tăng cao. Bần cùng hóa cũng bắt đầu từ sự bóc lột tinh vi này. Nhà triết học Hy Lạp cổ đại Aristotle phán rằng: “Nghèo đói là cha đẻ của cách mạng và tội ác”. Anh em nhà Tây Sơn lãnh đạo nông dân khởi nghĩa ở Đàng trong rồi kéo ra Đàng ngoài làm sụp đổ giường mối hai nhà Trịnh – Nguyễn cũng bởi sự hà khắc của chính quyền và người dân bị sưu cao thuế nặng đến kiệt quệ. Chó cùng thì cắn dậu, còn con giun xéo mãi cũng quằn. Nhà thơ ngụ ngôn La Fontaine nói rằng: “Một cái bụng đói không thể lắng nghe”. Sức mạnh tiềm tàng của nông dân không thể đo đếm được. “Cơn gió to quét sạch lá khô. Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ”. Tất cả đều là những cảnh báo không thừa đối với bất cứ nhà cầm quyền nào.
Mâu thuẫn, bất đồng để lâu sẽ như khối u càng ngày càng nung mủ, sẽ đến lúc vỡ tung. Nguyễn Trãi nói đại ý rằng: “Lật thuyền mới biết sức dân như nước – đẩy thuyền đi là dân mà lật thuyền cũng là dân.” Lại có câu, nghe nói là của nhà thơ Thanh Tịnh: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong.” Dường như các ông chánh tổng, lý trưởng, tuần đinh mới mọc mũi sủi tăm ở thời buổi hiện đại chưa học chữ nghĩa của Thánh hiền, hay học rồi mà cố ý hành hạ dân đen?

* CHỜ ĐỢI VÀ HY VỌNG.
Lạm thu, tận thu, bày đặt ra nhiều loại phí nhưng ai biết hiệu quả sử dụng sẽ ra sao? Hay chỉ là trấn lột rồi chia chác? Sự việc nghiêm trọng đến mức ông ông Trịnh Văn Chiến, Ủy viên TƯ Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa đã yêu cầu Bí thư huyện ủy Hậu Lộc kiểm tra ngay, và báo cáo. Ông Chiến khẳng định: “Quan điểm của lãnh đạo tỉnh là phải bãi bỏ ngay những khoản thu không đúng các quy định của Nhà nước. Đối với các tổ chức, cá nhân nếu phát hiện có vi phạm trong việc này thì sẽ phải xử lý theo quy định của pháp luật”. Trống pháp đình đã điểm rồi. Tiếng trống ấy có vang đến tai đám cường hào mới ở nông thôn Thanh Hóa hay không? Có cất lên cùng lúc với lưỡi dao cẩu đầu trảm hay chỉ là đánh trống bỏ dùi thì vẫn còn phải chờ đợi. Chờ đợi và hy vọng!

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.08.2016

ĐOÀN VĂN CỪ, NGƯỜI LƯU GIỮ HỒN QUÊ

ĐOÀN VĂN CỪ, NGƯỜI LƯU GIỮ HỒN QUÊ

Đoàn Văn CừNhà thơ Đoàn Văn Cừ
VŨ QUẦN PHƯƠNG
 Thuở ấy, giữa lúc chín rộ của phong trào Thơ mới, thi đàn tràn ngập thơ lãng mạn tình ái thị thành, Đoàn Văn Cừ chủ trương một lối thơ hiện thực và chuyên về đề tài nông thôn.

Chợ quê- ảnh minh họa (nguồn:Internet)

Quanh đề tài này còn quần tụ Nguyễn Bính, Bàng Bá Lân, và sau một chút là Anh Thơ. Nông thôn trong thơ Nguyễn Bính là nông thôn của cõi mộng với những mối tình trai gái e lệ đẹp như mơ. Nông thôn của Đoàn Văn Cừ là nông thôn của đời thực với chuyện gặt hái lam làm, ma chay, cưới xin, chợ búa, rồi cháy nhà, bắt cướp, với những ông lái, ông đội, bác bán thuốc ê, cả những đàn trâu, đàn vịt… Bút pháp tả thực của Đoàn Văn Cừ kết hợp được cả quan sát lẫn tưởng tượng. Quan sát  tinh tế, sắc sảo, lại hóm hỉnh. Ông rất mạnh về cảm quan thị giác, rất thích màu sắc, ở bài Chợ tết đếm được hai mươi ba màu. Hoài Thanh, trong Thi nhân Việt Nam, ví thơ ông là nụ cười ngũ sắc có lẽ vì ông hóm và cái thị hiếu “cu-lơ” đó.

 

Thơ ông, dày đặc chi tiết, cụ thể, chính xác như phóng sự báo chí, nhưng đọc không thấy rậm vì những quan sát ấy đầy phát hiện Có những cảnh ai cũng thấy, cũng quen, nhưng dưới bút ông nó mới mẻ như lần đầu người ta được thấy. Ông tả phiên chợ tết có đủ cảnh đi chợ, họp chợ và vãn chợ. Cảnh nào cũng có những nét bất ngờ thú vị. Cho nên kể việc mà không khô khan, cảnh quen mà gây sửng sốt. Tả  chợ đang đông rất dễ rậm lời. Vậy mà chỉ với hai mươi ba câu thơ ông tả được không những cái đông đúc, ồn ào, nhốn nháo thượng vàng hạ cám, lại cho thấy rõ hình ảnh từng loại người, từng loại tâm lý tính cách, đến cả phong tục tập quán, lối sống của một thời.

Thơ Đoàn Văn Cừ có thể góp vào việc nghiên cứu nông thôn với tư cách là những tư liệu tin cậy. Những tư liệu được nhìn với con mắt thơ. Con mắt biết tìm ra cái ý vị của đời. Đây cụ lý, ông to nhất làng, đi chợ:

Áo cụ lý bị người chen sấn kéo

Chợ mà, nó có chừa ai, lên đến chức cụ lý rồi nó vẫn không tha. Nó chơi cụ bằng ba cái động từ rất chợ búa chen, sấn, kéo đến nỗi cái thứ nghiêm chỉnh nhất trên đầu cụ là cái khăn cũng không yên:

Khăn trên đầu đang chít cũng tung ra.

Chỉ là tả thực mà đã có sức lôi cuốn, đã tạo được chất thơ, đấy là tài quan sát của Đoàn Văn Cừ. Cao hơn nữa, ông đưa tưởng tượng vào  trong quan sát:

Con trâu đứng vờ dim hai mắt ngủ,

Để  lắng nghe người khách nói bô bô

Trâu dim mắt, người bô bô nói là tả thật, là quan sát tinh. Nhưng nối được hai quan sát ấy vào với nhau lại là tưởng tượng của Đoàn văn Cừ: Trâu dim mắt vờ ngủ để lắng nghe người bộc lộ chân tướng. Thế là trâu thành bậc hiền triết ngẫm nghĩ về sự tham tiền của cái thằng người nông cạn, nói bô bô.

Tưởng tuợng trong thơ Đoàn Văn Cừ chính là phút thăng hoa của quan sát, từ quan sát mà thành. Đang tả thực những người mua người bán nét nọ tiếp nét kia, bút pháp nhẩn nha như người đi bộ đường trường bỗng nhiên ông cất cánh:

Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ

Nước thời gian gội tóc trắng phau phau

Vẫn là tả nhưng đã có cái nhìn ảo về một việc thực. Người đọc được tiếp nhận một triết lý về năm tháng đời người rất trực giác. Ai bây giờ đang chủ trương “khó hiểu” mới là thơ thì nên ngẫm nghĩ về câu thơ dễ hiểu và không dễ làm này của Đoàn Văn Cừ mà luận ra ưu thế bút pháp cho tư duy hiện đại.

Tôi đã đọc nhiều bài viết khen thơ ông. Lời khen nghiêng về các bài trước 1945. Tôi có ngẫm nghĩ về sự khác biệt này. Sao thơ ông phần Ngày xưa viết trước cách mạng lại nhiều bài hay mà phần sau, câu hay thì có mà bài hay lại không nhiều.

Phải chăng phần trước ông viết như lưu giữ lại kỷ niệm. Phần sau ông viết để ca ngợi hiện tại và tương lai. Xưa nay trước những vẻ đẹp sắp không còn, lòng người thường lưu luyến, tình cảm thường lắng lại, sâu sắc. Lợi thế ấy  được ông phát huy bằng những quan sát tinh tế, hóm hỉnh làm bật lên những nét lạ, nét vui. Thơ ông khi ấy đóng vai một bảo tàng tâm hồn mà ông là người sưu tầm hiện vật tài năng, độc đáo. ở chặng sau, hiện tại và cả tương lai trong hình dung của ông lại chung nét đặc thù với văn báo chí, cổ động. Ông không phát huy được sở trường khám phá của thị giác, khứu giác, thính giác và cả linh giác như trước kia. Cảm quan hiện thực ở thơ ông, cả chi tiết lẫn hơi văn, ngỡ như quen gặp ở đâu rồi. Phải chăng do quá quyến luyến với bút pháp từ thuở ban đầu, đôi khi ông như nhập vào hồn xưa, níu lại cách cũ mà nhìn cảnh mới:

Năm nay xuân mới quê bà

Trời thôn cờ đỏ dệt hoa sao vàng

Đu ai bổng ngọn tre làng

Gió nô tíu tít áo nàng, áo anh

Đoàn Văn Cừ đã không tận dụng được lợi thế của những cách tân thơ trong nước và thế giới. Đặc biệt là cách cấu tứ mở rộng tầm khái quát, tạo tư tưởng cho thơ, như Chế Lan Viên, Huy Cận từng làm, hầu như không được ông vận dụng.

Ông lành quá, ông kiêng khem quá, cứ quanh quẩn “tương cà gia bản” mà nuôi thơ nên thơ mới gầy guộc, hay do ông nặng tai, yếu chân, nên nghe không thấu, đi không xa để thấy được đủ chuyện đời mà làm phong phú cho thơ.

Ngay từ những bài thơ đầu Đoàn Văn Cừ đã bộc lộ cái tình sâu đậm của ông với thôn quê. Các bài Trăng hè, Đường về quê mẹ…đã cho thấy chính cái tình tạo nên hồn của cảnh.

Bên giếng dăm cô gái xứ quê

Từng đàn vui vẻ rủ nhau về,

Trên vai nạng trĩu đôi thùng nước,

Kĩu kịt đi vào lối cổng tre.

Cái tình tạo nên ma lực níu giữ lòng người ngay ở nhưng câu thơ miêu tả rất chân phương:

Tôi nhớ đi qua những rặng đề,

Những dòng sông trắng lượn quanh đê,

Cồn xanh bãi tía kề liên tiếp

Người xới cà ngô rộn bốn bề

Một điều lưu ý: tình cảm quê hương trong thơ Đoàn Văn Cừ có xu hướng vươn tới khoảng rộng truyền thống của tình tự dân tộc. Đề tài có thể khuôn trong tình cảm riêng tư  nhưng khi bài thơ phát triển thì tình cảm cá thể nhường chỗ cho tình cảm dân tộc. Bài thơ Đường về quê mẹ là một điển hình. Ban đầu hình ảnh người mẹ là kỷ niệm riêng của tác giả. Nhưng rồi người mẹ cụ thể ấy chuyến dần thành người mẹ khái quát, người phụ nữ Việt Nam truyền thống. Trong bốn câu thơ

Thúng cắp bên hông nón đội đầu

Khuyên vàng yếm thắm áo the nâu

Trông u chẳng khác thời con gái

Mắt sáng môi hồng má đỏ au

Chỉ hai câu trên là tả bà mẹ cụ thể của tác giả, hai câu dưới đã chuyển sang tả bà mẹ khái quát. Chứ con tả mẹ, ai lại mang giọng khen bằng vai phải lứa thế. Hai câu cuối bài thơ càng xác nhận tính khái quát ấy:

Dẫu phải theo chồng thân phận gái

Đường về quê mẹ vẫn không quên

Đó không còn là tình mẹ con nữa mà đúng hơn đã là lời bình luận của ông nhà thơ, nhà văn hóa biểu dương người phụ nữ Việt Nam truyền thống trong môi trường gia đình, họ hàng nội ngoại. Sự chuyển hướng trong tình cảm ấy nhiều khi tác giả không ngờ tới. Nó đã thuộc vào tạng cảm xúc.

Ai trò chuyện với ông Cừ cũng có ấn tượng ông hiền, chất phác, có phần ngây thơ nữa. Lần đầu tôi được diện kiến ông, tới nay đã hơn nửa thế kỷ. Hồi ấy ông làm biên tập ở nhà xuất bản Phổ thông, phố Tô Hiến Thành, Hà Nội.  Tôi là sinh viên ngành Y đang tập làm thơ, đến chơi với Tô Hà, Nguyễn Mỹ, cũng làm ở đấy, mà được gặp ông. Thơ ông dạo ấy chủ yếu ca ngợi nông thôn mới, Giếng xây, đường gạch, cây đa .Tường tô khẩu hiệu, chim ca rộn ràng. Ông hay trực tiếp biểu lộ cảm xúc bằng những câu trữ tình cảm thán Lòng ơi!  (kiểu như: Còn không lòng hẹn với lòng / Đánh Tây quyết giữ đến cùng thôn Vân). áp tết, cơ quan mổ lợn liên hoan, ngồi vào mâm, Nguyễn Mỹ nhìn đĩa lòng lợn, đọc với Tô Hà, trêu ông Cừ: Lòng ơi! lòng hẹn với lòng / Có gan có tiết mà không có dồi. Ông Cừ nghe đủ nhưng không nói gì. Bọn kia tưởng hay, cười ha hả. Hôm sau tôi đến, Tô Hà làm như kết tội Nguyễn Mỹ để có cớ đọc lại. Lại thích chí cười. Ông Cừ cũng ngồi đấy. Thấy tôi e dè, không cười theo hai tên kia, ông nhìn tôi vẻ đồng tình và lắc đầu: Bọn này nó không hiểu thơ trữ tình. Sợ tôi cũng không hiểu, ông giải thích: Thơ trữ tình chứ không phải thơ tình yêu đâu. Nó là “lia rích”. Bọn này…Ông Cừ lại lắc đầu nhìn hai ông trẻ kia đang cười, tỏ ý thất vọng. Còn tôi lúc ấy chỉ thấy mừng vì được gặp, được nghe ông Đoàn Văn Cừ. Chả là năm 12 tuổi (1952), khi học lớp nhất trường tiểu học, tôi đã được học thuộc lòng bài Đường về quê mẹ. Năm lớp đệ lục trung học lại được nghe giảng bài Chợ tết. Tôi thích cả hai bài thơ và cứ tưởng tượng về người viết ra nó. Hôm đó, với tôi, ông Cừ như người trong cổ tích bước ra. Nghe ông Cừ trò chuyện, tôi lại ngạc nhiên về sự thật thà đến ngây thơ của ông. Sau này nghe Tô Hà kể về cách ứng xử luôn luôn đôn hậu, kính cẩn của ông đối với bất cứ ai, thì tôi nhận ra tính nghiêm cẩn rất “kẻ sĩ” của ông đối với việc, với người và với chính bản thân ông. Ông tự hào với những gì mình đạt được nhưng ông cũng rất khiêm nhường. Cả tự hào lẫn khiêm nhường đều hồn nhiên, chân thật, rất cảm động. Các bạn trẻ đến thăm ông, bằng tuổi con rồi bằng tuổi cháu ông, ông coi họ như bạn và tự xưng là Cừ: Cừ mới viết bài này…, Cừ rất lúng túng về việc đó…Với thơ, ông cũng luôn thành kính, trân trọng, rụt rè như thuở ban đầu cầm bút. Đó là một ưu điểm, một sự trọng nghề nhưng cũng có phần gây trở ngại cho sự thể nghiệm, cho những đổi thay thi pháp.

Tạng cảm xúc Đoàn Văn Cừ rất mạnh tình cảm công dân. ở chặng sáng tác trước tình cảm ấy không nói ra thành văn mà bàng bạc trong cảm xúc. ở chặng sau ông biểu lộ rõ bằng câu chữ. Lập trường công dân, nhiệt tình công dân được xác định nhưng có lẽ vì thế mà sức mê hoặc của câu thơ lại vơi đi.

Cái tình trong các bài thôn ca trước 1945 thường mang mang một hơi hướng đặc trưng thời cuộc. Không gian nông thôn nước ta hồi ấy, trong cảnh sắc, trong con người luôn luôn chất chứa nỗi gì như lo âu, như phiêu bạt, ly tán. Nhà thơ có cái nhìn hóm, hay tìm ra nét vui, nét ngộ của đời nhưng ẩn trong ngay nét ngộ nghĩnh, hóm hỉnh ấy người đọc vẫn nghe ra tiếng thở dài buồn thảm. Bốn câu thơ tả điệu bộ mấy ông kèn sáo đám ma, khôi hài mà thê thàm, vô cảm mà thật sự bi thương:

Bọn người cử nhạc lạnh lùng đi

Thỉnh thoảng dừng chân ngoái cổ nghe

Kẻ ghé nghiêng mồm đưa tiếng sáo

Người phồng má thổi giọng tò te

Khôi hài, vô cảm là ở nhân vật trong thơ. Nhưng thê thàm, bi thương là tình thế của cuộc đời,nó trùm lên tất cả.

Sau cách mạng nét buồn ấy không còn, thơ Đoàn Văn Cừ là tiếng reo vui. Có điều niềm reo vui này của Đoàn Văn Cừ hơi đơn giản. Ông reo nhưng người đọc chưa thấy vui để reo cùng. Hồi trẻ thơ ông hóm:

Mấy cô gái ôm nhau cười rũ rượi,

Cạnh anh chàng bán pháo dưới cây đa

Đúng là tâm lý các cô gái choai, muốn xác định sự có mặt của mình bên anh chàng bán pháo, chuyện chả đáng cười cũng rũ rĩ mà cười. Bút pháp hóm, hồn nhiên, hài hước nhưng không ác ý. Cái hóm khi ấy rất hàm súc trước chuyện đời. Sau này, không biết có phải do tuổi lớn hay do nếp sống của xã hội đổi thay, ưa đạo mạo nghiêm trang, thơ ông Cừ mất đi dáng đùa vui mà đâm ra long trọng. Ông long trọng thì lại không hợp. Cốt lõi của hồn ông là gần đời, là hồn nhiên, là kế thừa triết lý sống bình dân nghịch ngợm mà sâu sắc.

Vui, hóm là một đặc sắc của nòi thi sỹ Thành Nam, tính từ Tú Xương. Một bạn thơ ông đã phát hiện trong chữ Cười có trọn vẹn tiếng gọi tên ông: Cừ ơi! viết liền lại thì thành Cười. Để mất nét cười, nét vui, nét hóm là làm mất một khía cạnh trữ tình đặc sản ở nơi ông.

Từ khi nghỉ hưu, về sống lại với căn nhà xưa mà ông gọi là thảo lư sông Ngọc, ông nghiền ngẫm nhiều về thi pháp nhưng vẫn trong quỹ đạo xưa, nghi lễ cũ. Tấm lòng thành kính trân trọng với đời, với thơ của ông làm chúng ta xúc động.

Vận hội Đổi mới có làm câu thơ ông tươi lên Lòng ơi sao lạ thế lòng Bỗng nhiên đi nhớ người không nhớ mình nhưng ông biết, chính ông tự biết:

Còn như một tập thi ca

Là ghi tích cũ nói ra thêm buồn

Từ ngày vắng bạn tâm hồn

Thơ ta cũng mất cả nguồn vui xưa.

Nhưng trên nỗi buồn ấy lại là niềm vui, niềm tự hào trước những gì ông để lại. Không nhiều nhưng đặc sắc. Bà Huyện Thanh Quan sống mãi với hậu thế chỉ bằng sáu bài thơ mà hai bài còn trong diện tồn nghi. Một nhà thơ đồng tuế, đồng thời với Đoàn Văn Cừ là Vũ Đình Liên, chúng ta vừa kỷ niệm trăm năm, vẫn đồng hành với hậu sinh chỉ  bằng một bài Ông Đồ. Đoàn Văn Cừ có cả  một tập, Còn như một tập thi ca. Hơn thế, những gì ông lưu giữ và trao lại cho chúng ta lại thuộc về những thứ gia bảo ngày càng quý hiếm. Nó là hoài niệm của nhiều thế hệ bạn đọc, càng xa càng nhớ. Thơ ông đã là bảo tàng tâm hồn của mọi người Việt nặng lòng hồi cố, nhớ quê, thương lại cội nguồn. Mạch bút Thôn ca góp phần làm giàu văn mạch thi ca dân tộc.

Nguồn Báo Văn nghệ 

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.08.2016

VÀI NÉT VỀ ÔNG NGUYỄN HỮU ĐANG năm 1952, 1953

VÀI NÉT VỀ ÔNG NGUYỄN HỮU ĐANG năm 1952, 1953

Theo FB Phạm Tố – Phan Kế toại

Nguyễn Hữu Đang1Ô NHĐ

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, tỉnh Thanh Hóa là vùng tự do. Một số địa phương trong tỉnh là nơi đóng của nhiều cơ quan, trường học từ vùng địch hậu tản cư vào. Quanh các phố Đu, phố Hậu Hiền thuộc huyện Thiệu Hóa, có các trường Nguyễn Thượng Hiền, lớp Dự bị Đại học, trường Nguyễn Văn Luyện…
Năm 1952, tôi học lớp 6 tại trường Nguyễn Văn Luyện. Nhiều thầy giáo của trường là trí thức từ Hà Nội vào. Do bố tôi có quen biết các thầy nên ngoài giờ ở lớp, tôi gọi các thầy là bác. Thầy Đặng Thúc Hãng nhận đỡ đầu hai anh em tôi, cho ở cùng với thầy trong một nhà dân. Từ đó, chúng tôi được biết ông Nguyễn Hữu Đang ( chúng tôi cũng gọi ông Đang là bác ). Thầy Hãng cho chúng tôi biết vài nét chung chung về ông Đang : Ông là cán bộ cấp cao của Nhà nước, đã từng là Trưởng ban tổ chức Lễ Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945 tại Hà Nội.
Ông Đang có một tủ sách gửi tại nhà chúng tôi trọ. Ông cho chúng tôi mượn đọc một số truyện nhưng bắt phải ngồi đọc ở bàn, không được nằm đọc, phải giữ gìn sách thật cẩn thận. Tôi hiểu là ông muốn chúng tôi phải quý trọng sách, quý trọng tác giả và quý trọng những điều hay lẽ phải trong sách.
Ông ĐangÔ Đag ( người chống batoong) 1953

Năm 1953, thầy Hãng tập hợp mấy học sinh quê huyện Xuân Trường (Nam Định) thành một tập thể, dựng nhà cạnh nông giang gần phố Hậu Hiền, trồng rau, nuôi thỏ, phân công nhau tăng gia sản xuất, tự nấu lấy ăn. Thầy cho hai anh em tôi (quê Thái Bình) ở cùng.
Ông Đang cũng ở gần đó. Mỗi tuần lễ, ông dành 2 tiếng đồng hồ để giảng cho chúng tôi về Duy vật lịch sử. Có lúc ông còn viết báo tường cho tờ báo của tập thể chúng tôi. Bài báo của ông có tranh minh họa rất sinh động. Có lần ông ra một vế đối “Gái Hậu Hiền vừa xinh vừa hiền hậu”, chẳng ai đối được. Tôi là thằng nhóc bé nhất ở đấy (15 tuổi), “điếc không sợ súng”, đối nhăng một câu “Trai Xuân Trường đã giỏi lại trường xuân”. Ông bảo :“Cũng khá đấy, nhưng hai chữ ĐÃ và LẠI đối chưa thật chỉnh với hai chữ VỪA”. Thực ra, hôm ấy ông cũng chưa có vế đối lại. Đúng là “Xuất đối dị, đối đối nan” !
Một lần khác, ông “phác thảo” (bằng lời nói chứ không viết ra giấy) vở “Quả dưa hấu”, giao cho anh ruột tôi đóng vai Mai An Tiêm. Nhân dịp có nhà thơ Quang Dũng ghé thăm, ông bảo :“Nhờ Quang Dũng viết cho mấy câu để vai Mai An Tiêm hát cho vui !”. Ông Quang Dũng ngồi viết được bốn câu :
Này đây là luống dưa hồng
Nay mai ta bế ta bồng, dưa ơi !
Nông dân làm chủ cuộc đời
Em ơi, hạnh phúc ở nơi tay mình !
(Hồi ấy, ở Thanh Hóa đã bắt đầu thực hiện “giảm tô giảm tức” nên bốn câu thơ của tác giả “Bài ca Tây Tiến” mới có tính thời sự như vậy. Lúc ấy, tôi chú ý khía cạnh khác của câu thơ. Tôi nghĩ bụng : DƯA HẤU khác hẳn DƯA HỒNG chứ, nhưng chắc là bị bó buộc bởi vần thơ lục bát nên ông Quang Dũng mới viết thế. Tôi nghĩ vậy nhưng không dám nói).
Ở vở kịch ấy, ông Đang đóng vai vua Hùng . Khi diễn, lúc cầm quả dưa ngắm nghía, ông ứng khẩu một câu :“Chà chà ! Đây là loại quả mà già ăn trẻ lại, gái ăn đắt chồng đây !”. Mấy cô gái đứng xem, ôm nhau cười khúc khích !
*
Đầu năm 1954, hai anh em tôi tạm biệt các thầy và các bạn, ra Ninh Bình học lớp 8 tại trường Phổ thông cấp 3 Cù Chính Lan.
Những năm sau, tôi có dịp gặp lại ông Nguyễn Hữu Đang nhiều lần nữa. Tôi cũng đã về xã Vũ Công, huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình thăm ông, chứng kiến những cảnh đúng như nhà thơ Phùng Quán đã viết trong “Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập”.

18 – 8 – 2016

 

Không phải mê tín: Các nhà khoa học vừa thừa nhận chính thức có thế giới bên kia

Vntinnhanh.vn – Cái chết là một phần tất yếu của cuộc sống, nhưng các nhà khoa học tin rằng “chết chưa phải là hết”.


Nhiều chuyên gia khẳng định rằng cuộc sống ở thế giới bên kia có tồn tại, vì ý thức của nhiều người vẫn tiếp tục tồn tại cho dù tim họ đã ngừng đập.

Sau khi khảo sát 2000 người, các nhà khoa học Anh khẳng định suy nghĩ vẫn tồn tại sau khi chết. Họ cũng tìm được nhiều băng chứng thuyết phục về những trải nghiệm ngoài thân xác của những người chết lâm sàng.

Một nghiên cứu từ ĐH Southampton cũng cho thấy những người đã chết tiếp tục nhận thức xung quanh thêm 3 phút nữa.

Bình luận về phát hiện này, trưởng nhóm, tiến sĩ Sam Parnia cho biết trái với nhận thức, cái chết không phải là một dấu mốc cụ thể, mà nằm trong quá trình lớn hơn. Nếu đi kèm với việc các nội tạng tim, phổi ngừng hoạt động thì được gọi là “ngưng tim”. Còn nếu sau cố gắng cấp cứu mà bệnh nhân không tỉnh lại thì mới là “chết” hoàn toàn.

Có 2060 bệnh nhân từ Áo, Mỹ tham gia nghiên cứu. Tất cả họ đều đã trải qua trụy tim, và 40% cho biết có thể nhớ lại những gì đã diễn ra trong thời điểm họ chết lâm sàng. Số còn lại có thể đã mất ký ức đó do ảnh hưởng của chấn thương não hoặc thuốc an thần vào khu vực khơi gợi trí nhớ.

Chỉ 2% số bệnh nhân mô tả mình có trải nghiệm hoàn toàn ngoài thân xác, quan sát được toàn bộ những gì xung quanh khi họ đã chết. Một nửa số người lại cho biết mình khá sợ hãi với những gì đã thấy.

Kỳ lạ nhất là trường hợp của một người đàn ông 57 tuổi. Sau khi ngừng tim, ông vẫn nhận thức và kể lại toàn bộ những gì diễn ra xung quanh mình với độ chính xác tới kinh ngạc.

Tiến sĩ Parnia cho rằng đây là điều rất quan trọng, vì trước kia người ta thường cho rằng các kinh nghiệm cận tử là do ảo giác hay hoang tưởng trước khi tim ngừng đập. Kể cả việc nhận thức và ý thức tiếp tục tồn tại 3 phút cũng chứng minh khả năng tồn tại thế giới bên kia, do não thường không hoạt động chỉ 30 giây sau khi tim ngừng đập.

Quan trọng hơn, những hồi ức của bệnh nhân rất khớp với thực tế.

Tuyết Thanh (Theo Daily Telegraph

//

//

// //

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.08.2016

TRANG THƠ PHÁI ĐẸP- THƠ ĐỖ THỊ TẤC

TRANG THƠ PHÁI ĐẸP- THƠ ĐỖ THỊ TẤC

Đỗ Thị Tấc người Hưng Yên, lên Lai Châu từ thuở lên ba, điệu thức những bài ca cổ sơ của Tày Thái, của Hà Nhì đã vận vào để, chẳng những làm nên điệu tâm hồn, nó còn góp phần làm nên thi pháp của nhà thơ tương lai. Hãy nghe Đỗ Thị Tấc nói về thói quen bước của người miền núi, chỉ một câu, thân phận lam lũ một đời người đã hiện ra: “Đầu gối mẹ đi không thẳng/ Đất bằng/ bước chân nào cũng hẫng”…Thơ Đỗ Thị Tấc tả cái nghèo khổ, cái gan góc của người miền núi cứ nhẹ nhõm như không. Nhưng đóng góp lớn nhất của Đỗ Thị Tấc cho thơ miền núi là ở chỗ đã đưa quan tâm của thơ vượt khỏi số phận riêng rẽ, nhúc nhích đến cái quen thuộc của Con Người nói chung.

 

Đỗ THị Tấc

Đỗ Thị Tấc

DÁNG TRE

Cha cho măng dáng đứng

Mẹ cho măng áo mặc

Lớn lên bung áo chật

Dáng thẳng vẫn vươn cao.

 

Vươn cao đến một ngày

Biết mình là con núi

Biết mình là cháu trời

Cho nên đầu tre cúi.

 

NHỮNG CÁNH ĐỒNG

Con sinh ra trên cánh đồng mùa đông

Đất nứt đôi gốc rạ

Đất nứt như gót chân ông, bà

Trâu thở ra khói

Người nói ra sương

Ơi con quý, con thương

Cha cho con lửa ấm

Mẹ cho con sữa thơm

Ông bà cho con dao để đầu giường.

Cha dắt con ra cánh đồng mùa hạ

Mẹ gieo thóc giống

Dâng niềm hy vọng lên trời.

Những hạt thóc như mỏ gà trống

Gõ vào núi,

Vào mây

Vào bóng mẹ, lung linh trong lòng ruộng

Con reo cười trong tiếng ếch uồm uôm.

Mẹ dắt con ra cánh đồng mùa thu

Dáng người mang hình bông lúa

Niềm vui theo lưng ngựa về nhà.

Niềm vui ngả vàng trước sân

Niềm vui nghiêng chật trong bồ

Niềm vui…

Con thành thiếu nữ.

Có chàng trai dắt con ra cánh đồng mùa xuân

Mùa xuân theo hoa đào lên núi

Hát gọi người ơi

Hát gọi tình ơi

Tình no lời theo gió

Tình khát tình không lạc.

Hát đi con

Hát cả phần mẹ cha chưa kịp hát.

Hát gọi trăng lên

Hát đợi mặt trời

Rồi dắt nhau đi trên những cánh đồng vui.

 

MƯỜI BA BẬC CẦU THANG

Cầu thang lên nhà sàn mười ba bậc

Sáu mươi năm nhẵn bóng gỗ sồi.

Ngày mẹ bé bỏng

Bà dắt tập lên

Ngày con lẫm chẫm

Bà dắt tập lên

Mỉm cười bà khen:

– Giỏi lắm!

 

Giờ tóc mẹ bạc

Con cũng lớn khôn

Lưng bà còng gập

Chân run, mắt loà.

Cầu thang lên nhà

Mười ba bậc dốc

Cháu nâng bước bà

Bà khóc!

 

VÔ ĐỀ

Lá khóc

Nắng và gió lau khô mắt lá

Đá khóc

Những bước chân trần đi qua lau khô mắt đá

Anh đi qua em

Em khóc không nước mắt

Ai nào lau được.

 

SỮA ĐÁ

Sữa người trắng

Sữa đá trong

Quê tôi nhìn xuống thấy mây cuốn gió

Nhìn ngang gặp sao trời

Những ngôi nhà trình tường ẩn trong lòng đá

Mài đá giữa nhà làm bàn

Mài đá trước sân phơi hạt

Cây ngô, cây kê mọc lên từ lách đá

Cây lúa, cây rau mọc lên từ kẽ chân của đá

Những tiếng cựa quậy làm lên sự sống

Những tiếng động của sự chết

Muôn loài

Đều ngấm vào đá

Sữa đá thành dòng

Sữa đá nhỏ giọt

Cũng chỉ có mùa hè

Chín tháng vượt dốc

Người ngựa từng đoàn đi cõng nước nguồn xa.

Nước dựng bờm ngựa lên trời

Nước ấn mặt người xuống gần mặt đá

Ngàn đời

Cực nhọc vẫn sinh sôi.

Rồi cả nhà tôi theo cha rời núi

Đầu gối mẹ đi không thẳng

Đất bằng

bước chân nào cũng hẫng.

Bà nội mang chày đá giã hạt nhát gừng

Chốn cũ sương mờ rưng rưng.

Dặn rằng khi nào bà theo tiên tổ

Hãy đưa bà về bản cũ với ông

Dạy rằng

Sữa người trắng

Sữa đá trong

Quê nghèo

Các con nhớ đem theo mà sống.

 

KHÈN TÌNH

Khèn tình mỗi người một giọng

Chỉ một người biết thổi

Chỉ một người biết nghe

Trai gái bản tôi yêu nhau ngàn đời như thế

Tìm nàng nghe kèn lá

Tìm chàng nghe khèn bè

Khèn tình

Chỉ một người biết thổi

Chỉ một người biết nghe

Ông không truyền

Cha không dạy

Biết yêu trời mách cho.

 

TRẦU SAY

Giữa hai cột hiên nhà

Dây võng nghiến vào gỗ.

Đong đưa con ngủ

Kẽo kẹt tiếng võng

In hằn móng ngựa

Miết trên đường làng

Cỗ xe khát vọng.

Con có ở trên đời

Như sợi khói chui ra từ cọng rạ

Cay mắt mẹ đun độ mưa dầm.

Ngày không

Con khóc lặng

Mẹ khóc thầm

À ơi…

Cái cò đi đón cơn mưa

Nước dâng ngập bến cò xưa không về.

Lời ru bay lên

Ngọn tre làng cong ngàn dấu hỏi.

Lời ru run lên

Nghê đá đình làng nhe răng không nói.

Lời ru ra cánh đồng

Lúa ngậm đòng hết thì con gái.

Lời ru trở về bên cánh võng

Liềm cùn

Mẹ không gặt con trên cánh đồng tình yêu

Mẹ không gặt con trên cánh đồng hoan lạc

Mẹ không gặt con trên cánh đồng người.

Cánh đồng thứ nhất lá trầu

Cánh đồng thứ hai trái cau

Cánh đồng thứ ba vôi trắng

Mẹ đã trao một người ra trận.

Để rồi hai mươi năm sau

Mẹ gặt con trên cánh đồng trớ trêu số phận.

Trầu say

Có ấm mẹ chăng tháng ngày tủi cực

Chẳng thể nuôi con bằng những miếng trầu

Cánh phượng bay trong tầm tã mưa mau.

Bỏ lại hàng cau

Bỏ lại giàn trầu

Bỏ lại bình vôi

Mẹ bồng con lên núi

Không dám đợi hòa bình.

Bây giờ

Những năm tháng cuối

Trông chiều đưa bóng núi

Mẹ têm trầu

Cánh phượng muốn bay.

 

NGƯỜI ƠI

Người ơi rượu chưa cạn

Người ơi tình còn vơi

Lẩu sơ trong như gió

Lẩu sơ sáng cánh trời

Tay ta tay nắng

Chân ta chân gió

Có duyên tìm nhau.

Nhà tôi ở lưng đồi

Bé nhỏ nốt ruồi núi

Chiếu hẹp đủ ngồi

Bát con đủ rượu

Tiếp khách đủ lòng

Gặp nhau trao câu hát.

Pí sẽ giục lời

Tình sẽ ướm lời

Buồn vui trông ánh mắt.

Người ơi rượu chưa cạn

Người ơi tình còn vơi

Tim tôi không ai nhìn thấy

Đang đập nơi bàn tay trong tay bạn đêm này

Đốt lửa cháy lên

Gọi lửa bùng lên

Ngả nghiêng vòng xòe

Vòng xòe

Như tay bản ôm trăm người

Như tay mường ôm vạn người

Ngàn đời

Không lẽ

tay ta chỉ ôm một người.

 

ANH BƠI TRÊN ĐỆM TÌM EM

Cha mẹ nghèo

Cho anh con dao

Anh tra vào bao tre

Về nhà em ở rể.

Nhà em

bạc hũ

Nhà em

Trâu đàn, lợn lũ

Ruộng gần, nương xa

Quanh năm

Đi dẵm gà

Về dẵm quạ

Anh vẫn vui lòng

Anh vẫn say tình

Ngủ đệm cùng em

Đêm qua, em quên lời tổ tiên

Ngủ đệm đừng nói chuyện tình xưa.

Anh bỗng sững sờ

Trong vòng tay anh, em lại mơ về người tình cũ

Thác lũ cuốn hồn anh

Cuốn cơn khát trong tình anh

Cuốn em đi rồi.

Anh bơi trên đệm tìm em

Ôm phải tình xưa của người đàn ông khác.

Đ.T. T

nguồn: Website Hội nhà văn VN

TIẾNG NÓI NHÀ VĂN:

GIẢI THƯỞNG ĐỪNG LÀ NỖI BUỒN KHÔNG ĐÁNG CÓ

LƯU KHÁNH THƠ
 Trong thời gian qua, xung quanh việc xét trao Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước đã gây băn khoăn, bức xúc không nhỏ trong suy nghĩ của nhiều văn nghệ sĩ, trí thức.

Nhà phê bình văn học Lưu Khánh Thơ

Một số người đã lên tiếng, bày tỏ quan điểm qua trả lời phỏng vấn báo chí. Nhà văn Bảo Ninh khi trả lời phóng viên báo An ninh thế giới đã chia sẻ: “Nói không buồn thì không đúng, vì tôi buồn. Tôi không nói cái buồn chỉ của riêng tôi mà tôi buồn cả về việc những người bạn, nghe nói, không được trong dịp này. Họ là những nhà văn tên tuổi trong thế hệ văn bút thời tôi: Văn Lê, Nguyễn Phan Hách, Hồ Anh Thái… Mặt khác, nói nhiều về nỗi buồn của chúng tôi thì vô hình trung lại là đang xúc phạm những nhà văn sẽ đoạt giải, trong số các anh chị mà tôi biết, theo tôi, rất xứng đáng”. Về điều này báo chí truyền thông cũng đã lên tiếng khá mạnh mẽ.

Ở đây chỉ xin đề cập đến mảng văn học nghệ thuật và khoa học xã hội nhân văn, là hai lĩnh vực tôi quan tâm và có sự hiểu biết nhất định. Văn học nghệ thuật và khoa học xã hội là di sản văn hóa phi vật thể thuộc lĩnh vực tinh thần, mà sự đóng góp thật khó đong đếm, xác định một cách cơ học. Trong một xã hội, các lĩnh vực, các ngành khoa học đều có tầm quan trọng, nhưng nói như một chính khách Pháp “văn hóa là cái còn thiếu khi có tất cả, là cái còn lại khi tất cả đã mất”.

Việc một số nhà văn có thành tựu, có tác phẩm được đồng nghiệp cùng giới chuyên môn, được bạn đọc trong nước và quốc tế đánh giá cao không được giải thưởng đợt vừa rồi (do không đủ số phiếu bầu ở vòng cuối cùng) là một sự thiệt thòi không chỉ cho riêng cá nhân nhà văn, mà còn là sự tổn thất trong việc tôn vinh những giá trị đích thực của nền văn hóa dân tộc. Người sáng tạo không kì vọng viết ra để đạt giải này hay giải kia. Nhưng cớ sao những người nước ngoài có cách nhìn, cách đánh giá về một tác giả Việt Nam lại công bằng hơn, chính xác hơn những người có trách nhiệm “cầm cân nảy mực” đánh giá, xếp hạng giá trị của nền văn học chúng ta?

Mục đích của giải thưởng là trao cho những người thực sự xứng đáng, nhằm ghi nhận tâm huyết và thành quả sáng tạo của người nghệ sĩ, của nhà khoa học, tôn vinh những đóng góp của họ đối với xã hội, đồng thời kích thích sức sáng tạo của cộng đồng. Chính giá trị của những người đoạt giải làm nên giá trị của giải thưởng. Một khi giải thưởng để sót những người xứng đáng sẽ gây ra sự bất bình, hoài nghi trong giới chuyên môn và xã hội. Chắc chắn sẽ làm ảnh hưởng đến uy tín của giải thưởng.

Cách thức tiến hành qua 4 cấp Hội đồng với quy định tỷ lệ phiếu 90% là một con số quá cao. Và có nhất thiết phải duy trì tỷ lệ này ở các cấp không. Đặc biệt ở cấp thứ tư với nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau được cấu tạo vào chung một Hội đồng, thì tỷ lệ này chắc chắn sẽ gây thiệt thòi cho nhiều người xứng đáng. Việc phủ nhận hoàn toàn kết quả bỏ phiếu của 3 cấp (cơ sở, viện, trường và chuyên ngành) là điều nên xem xét lại. Việc xét giải thưởng cần lưu ý đến những tác phẩm đỉnh cao, đồng thời cũng cần xét đến cả quá trình đóng góp cho chuyên ngành khoa học trong tư cách chuyên gia của các ứng viên. Do đó, rất cần phải tôn trọng ý kiến của Hội đồng chuyên ngành, là nơi tập trung những người am hiểu lĩnh vực chuyên môn sâu. Theo tôi được biết, các tác giả được đề nghị xét giải thưởng ở lĩnh vực khoa học xã hội, đều là những người suốt đời gắn bó với hoạt động chuyên môn của mình. Họ đã cống hiến cho khoa học xã hội và nhân văn từ 40 đến trên 60 năm và đã có nhiều công trình khoa học được công bố. Các công trình đưa vào hồ sơ chỉ là một phần nhỏ theo quy định của giải thưởng.

Như trên đã nói, giải thưởng không chỉ dành cho cá nhân người được nhận mà còn liên quan đến cả đội ngũ văn nghệ sĩ trí thức, các nhà khoa học hoạt động trên lĩnh vực văn hóa tinh thần của xã hội. Quy chế, quy định do con người đặt ra. Do đó những điểm chưa hợp lý thì cần thay đổi. Hiến pháp, luật pháp cũng còn phải có sự sửa đổi, điều chỉnh cho phù hợp.

Nguồn: Báo Văn Nghệ 

Sẽ ra sao nếu tháo dỡ toàn bộ Chùa Cầu Hội An?

  •   NGUYỄN HUỲNH MAI

Tất cả những ai yêu Hội An cũng sẽ giật mình khi nghe tin sẽ tháo dỡ toàn bộ rồi sẽ trùng tu và ghép lại như thế nào.

Nếu Chùa Cầu xuống cấp thì có thể cấm khách tham quan đi bộ qua cầu, có thể bảo tồn bằng những phương thức hiện đại mà vẫn giữ cây cầu hiện nay. Còn cần nữa thì xây lồng kính thật to để bảo vệ toàn thể Chùa Cầu, một loại Bảo tàng viện xây chung quanh một di tích vô giá. UNESCO sẽ sẳn sàng tài trợ những công trình bảo vệ gia tài của nhân loại như thế.

Không ai đi tháo hết và xây lại thành Forum La Mã ở Roma để trùng tu hay dỡ các Lâu đài ở sông Loire bên Pháp để làm mới rồi ráp lại.

Ta chưa quên vụ trùng tu thành Mạc ở Tuyên Quang, một thành cổ xưa hơn bốn trăm tuổi, với hai ảnh dưới đây

Một góc thành trước khi trùng tu

và thành Mạc thành …lò gạch sau trùng tu

Hai ảnh này và bài viết có thể đọc được ở đây – bài của Nguyễn Thúy Quỳnh:

http://www.danchimviet.info/archives/18277/thanh-nha-m%E1%BA%A1c-t%E1%BB%AB-450-tu%E1%BB%95i-thanh-cai-lo-gach-1-tu%E1%BB%95i/2010/09

Ở miền Nam, thành Biên Hoà trùng tu cũng không giỏi hơn. Nhìn toàn cảnh sau khi trùng tu ta có cảm tưởng như một tòa nhà mới,  sạch sẻ và tươm tất nhưng vô hồn.

Ngôi nhà trước trùng tu

Và đây cũng ngôi nhà đó, sau trùng tu

Nguồn của hai ảnh này ở đây – tác giả: Dương Thế Dũng

http://www.nguoidothi.vn/vn/news/hon-pho/di-san/4674/thanh-xua-con-lai-chut-nay-.ndt

Chả nhẽ các nhà trùng tu của ta thích xây mới hơn là bảo tồn di sản ? Bảo tồn từng miếng gạch vụn, viên ngói vở hay hàng kèo cũ xưa. Dấu ấn của thời gian cũng là vết tích của lịch sử.

Xin đừng nói rằng Hàn quốc cũng xây mới nhiều cung điện ở Seoul. Đó là chuyện xãy ra cách đây nửa thế kỷ, lúc khảo cổ học chưa phát triển nhiều. Hàn quốc đã “hối tiếc” việc đó và đã  bù lại, trong chừng mức có thể, bằng cách mang về Bảo tàng Quốc gia ở Seoul, những hiện vật mà họ đã “cứu” được trong các di tích.

Cũng xin đừng nói rằng ta sẽ dùng kỹ thuật anastylose – tái xây dựng y như nguyên bản – vì hiện ta chưa đủ nghệ nhân để làm chuyện đó. Nước Bỉ nhỏ bằng một phần mười nước ta, nhưng có cả một trường đào tạo thợ chuyên môn trùng tu giỏi nghề mộc, nghề hồ và chạm đá, … có khả năng trùng tu những di tích đúng như thiết kế và kỹ thuật đã dùng lúc các di tích này được xây dựng.

.Sẽ ra sao nếu tháo dỡ toàn bộ Chùa Cầu Hội An?

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.08.2016

Khởi tố vụ án giết người ở Yên Bái

Khởi tố vụ án giết người ở Yên Bái

BBC

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc có mặt ở bệnh viện ở Yên Bái

Báo Công an nói Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Yên Bái đã chính thức khởi tố “vụ án giết người đặc biệt nghiêm trọng”.

Vụ bắn chết Bí thư Tỉnh ủy và Chủ tịch HĐND kiêm Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy Yên Bái gây rúng động dư luận ngày 18/8.

Trước đó có tin công an không khởi tố vụ án “do cả hung thủ và nạn nhân đều đã chết”.

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc đã nhanh chóng có mặt tại Yên Bái để chỉ đạo công việc.

Lúc 14h30 chiều, lãnh đạo tỉnh Yên Bái đã tổ chức họp báo về vụ giết người xảy ra tại trụ sở Tỉnh ủy.

Sau đây là những thông tin được cho biết tại buổi họp báo.

Vụ bắn xảy ra khi nào?

Bà Phạm Thị Thanh Trà (Chủ tịch UBND tỉnh), chủ trì họp báo, cho biết ngày 18/8 dự kiến khai mạc kỳ họp thứ hai HĐND tỉnh lúc 8h sáng. Các đại biểu có mặt sớm, thường là khoảng 7h45 để chuẩn bị.

Khoảng 7h sáng, Chi cục trưởng Kiểm lâm Đỗ Cường Minh đến xin gặp và được cho vào phòng làm việc Bí thư Tỉnh ủy Phạm Duy Cường, Tai đây, ông Minh dùng súng quân dụng K59 bắn ông Cường.

Sau đó ông Minh di chuyển sang phòng của Chủ tịch HĐND kiêm Trưởng ban Tổ chức Tỉnh uỷ Ngô Ngọc Tuấn, cách đó 150 mét, dùng súng bắn ông Tuấn, rồi tự sát tại đây.

Ba người được đưa lên Bệnh viên Đa khoa tỉnh cấp cứu. Tỉnh Yên Bái liên lạc với các cấp lãnh đạo trung ương, gồm cả Bộ trưởng Y tế, mời các bác sĩ Bệnh viện Bạch Mai, Việt Đức về Yên Bái cứu chữa.

Đến 13h05, hai ông Phạm Duy Cường và Ngô Ngọc Tuấn qua đời.

Ông Đỗ Cường Minh cũng tắt thở lúc 15h26, theo thiếu tướng Đặng Trần Chiêu (Giám đốc Công an tỉnh).

Phản ứng của tỉnh Yên Bái

Image copyrightEPA
Image captionThủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc họp tại Yên Bái ngày 18/8

Theo bà Phạm Thị Thanh Trà, ngay sau khi vụ việc xảy ra, bà gọi cho Bộ trưởng Y tế, và trực tiếp liên hệ Bệnh viện Bạch Mai, Việt Đức để mời các bác sĩ cấp cứu.

Yên Bái báo cáo tình hình cho Văn phòng Trung ương Đảng, Thủ tướng, Chủ tịch nước, Quốc hội, Bộ công an, Ủy ban kiểm tra trung ương, Ban tổ chức trung ương, Ban tuyên giáo trung ương. Bà Trà cũng nói chuyện với Bộ trưởng Thông tin – Truyền thông.

Bà nói ưu tiên của tỉnh là tập trung huy động lực lượng chuyên môn cứu chữa cho cả ba người.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chỉ đạo điều động một trực thăng, và yêu cầu ngành y tế có hỗ trợ, gồm cả ban chăm sóc sức khỏe trung ương.

Chính quyền phong tỏa các khu vực trọng yếu, gồm nơi xảy ra thảm án, và một số nơi khác.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc có mặt tại Yên Bái, họp với Tỉnh ủy. Ông Phúc cũng gặp các bác sĩ.

Tỉnh Yên Bái cho biết vợ của ông Đỗ Cường Minh cũng là một ủy viên ban chấp hành tỉnh ủy. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc được dẫn lời là đã động viên các gia đình, không chỉ nạn nhân mà cả gia đình ông Minh.

Yên Bái thành lập hai ban tang lễ cho Bí thư Tỉnh ủy và Chủ tịch HĐND kiêm Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy. Dự kiến vào tối 18/8 sẽ tiến hành khâm liệm Bí thư Tỉnh ủy, trong lúc vào thời điểm ra họp báo, chưa có giờ khâm liệm với ông Tuấn vì chờ ý kiến gia đình

Một thứ trưởng công an và một phó trưởng ban tổ chức trung ương cũng đến Yên Bái.

Nguyên nhân vụ việc?

Một phóng viên hỏi vụ việc có liên quan chuyện tình ái, hay làm ăn không? Có người hỏi liệu có liên quan công tác tổ chức?

Tỉnh Yên Bái trả lời công tác điều tra vẫn đang diễn ra, chưa khẳng định có nguyên nhân vì mâu thuẫn. Công an chưa phát hiện thư tuyệt mệnh hay trăn trối của ông Minh.

Ông Minh được nói là con rể một cựu Bí thư Yên Bái. Tuy vậy, bà Thanh Trà nói ông “rất hiền, luôn cố gắng hoàn thành nhiệm vụ”, chứ không cậy là con lãnh đạo.

“Trong gia đình, hay đối nhân xử thế không có vấn đề gì,” bà Trà nói.

“Nhưng có thể do tâm lý, diễn biến nội tâm, không làm chủ được, nên có thể đã có hành động như vậy, chứ bản chất đây không phải người xấu.”

Sáp nhập cơ quan

Một chi tiết được quan tâm là Sở Nông nghiệp – Phát triển Nông thôn Yên Bái đã có chủ trương sáp nhập chi cục kiểm lâm (nơi ông Minh làm việc) và chi cục phát triển lâm nghiệp.

Liệu điều này có tác động đến ông Minh?

Bà Thanh Trà giải thích Bộ Chính trị Đảng Cộng sản có nghị quyết 39 tinh giản biên chế, chính phủ có quyết định 1228 về sắp xếp biên chế.

Yên Bái “làm việc này chặt chẽ, bài bản, đúng nguyên tắc”.

Bà xác nhận có chủ trương sáp nhập chi cục kiểm lâm và chi cục phát triển lâm nghiệp.

“Nhưng chưa có quyết định chính thức, chưa bàn đồng chí nào sẽ làm giám đốc khi sáp nhập. Nhưng bản thân đồng chí Minh đã gặp đồng chí Bí thư tỉnh, được làm công tác tư tưởng.”

“Nhưng đồng chí Bí thư cũng chỉ mới nói rằng đang tiếp tục xem xét. Quá trình phải do tập thể quyết định. Vì thế chưa đến độ vì có quyết định mà dẫn đến việc này.”

Bà Thanh Trà cho biết tại Yên Bái đã hoàn tất “căn bản” về tổ chức bộ máy biên chế.

“Chỉ có Sở Nông nghiệp, vì số lượng công chức, viên chức rất lớn, nên cần kết hợp tái cơ cấu nông lâm nghiệp để cơ cấu lại bộ máy.”

“Vì thế tại đây chậm hơn một bước vì cần tái cơ cấu trước, xem đó là trọng điểm.”

“Nhưng việc này làm rất cặn kẽ, chặt chẽ, quan tâm tuyên truyền, nâng cao nhận thức để hợp lòng dân. Địa bàn rất ổn định, không có việc gì lớn. Nên không có cơ sở để nói liên quan công tác tổ chức.”

Nguồn gốc khẩu súng?

Công an tỉnh Yên Bái cho biết khẩu súng gây án là của ông Minh, được bộ nông nghiệp cấp cho kiểm lâm, và kiểm lâm đề nghị cấp cho ông Minh.

Đây là súng K59, là vũ khí quân dụng, trang bị cho chính ông Minh, có giấy phép sử dụng. Súng không có hệ thống giảm thanh.

Tại hai nơi xảy ra vụ bắn, công an tìm thấy mỗi nơi còn bốn viên đạn – súng đã bắn hết đạn.

Giám đốc Công an tỉnh cũng giải thích phòng làm việc của Bí thư Tỉnh ủy cách phòng Trưởng ban Tổ chức tỉnh ủy 150 mét, là phòng kín. Súng K59 lại có tiếng nổ không lớn nên ban đầu chưa ai phát hiện ông Cường bị bắn.

Khi ông Minh đến phòng của ông Tuấn, nhiều người xung quanh đều nhìn thấy, “nghĩ rằng anh em cán bộ gặp nhau bình thường”. Chỉ đến khi nghe tiếng nổ, mọi người gần đó mới chạy vào phát hiện.

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.08.2016

HỆ LỤY BÚT DANH CỦA CÁC NHÀ VĂN

HỆ LỤY BÚT DANH CỦA CÁC NHÀ VĂN

Phong Nhi

VanVN.Net – Không ít nhà văn đã chọn một bút danh mang ý nghĩa nào đó, thay cho tên khai sinh của mình khi cầm bút sáng tác. Nhiều người trong số đó đã hoàn toàn bị “biến mất” tên thật, bởi bạn đọc chỉ biết đến tên gọi của nhà văn gắn với những tác phẩm để đời. Đã có nhiều câu chuyện cười ra nước mắt khi nhà văn gặp phải hệ lụy bút danh…

Giới tính bị thay đổi

Nhà văn Y Ban thuở ban đầu bước vào làng văn chương lấy bút danh Phạm Xuân Ban (tên thật là Phạm Thị Xuân Ban). Hồi đó đăng những tác phẩm đầu tiên trên tạp chí Văn nghệ quân đội danh tiếng, cá tính sáng tạo và văn phong độc đáo của Phạm Xuân Ban đã gây được sự chú ý đặc biệt với các biên tập viên khó tính. Muốn gặp gỡ, trao đổi sâu hơn với tác giả về đời sống sáng tác, biên tập viên (BTV) đã viết thư mời tác giả lên Hà Nội. Đúng ngày giờ đã hẹn, Phạm Xuân Ban đến gõ cửa phòng BTV. Cánh cửa phòng văn mở ra cùng vẻ mặt ngạc nhiên cực độ của nhà văn quân đội khó tính: “Chị là…?” Cô gái mũm mĩm môi đỏ má hồng, ăn mặc chuẩn mốt thời đó: áo phông đỏ và quần jean trắng bốp, tươi cười đáp: “Em là Phạm Xuân Ban đây ạ”. Nghe câu giới thiệu, vẻ ngạc nhiên chuyển sang bối rối, nhà văn luống cuống: “Vâng vâng, à à… Tôi lại cứ tưởng chị là đàn ông”. Sau này, khi vững tay bút hơn, Phạm Xuân Ban đã đổi thành Y Ban, thoạt nghe như tên một người dân tộc thiểu số vùng cao nhưng thực tế chỉ đơn giản là “Ban dạy trường Y” – nhà văn muốn gắn nghề dạy học tại trường Cao đẳng Y tế vào bút danh của mình.

Nhà văn Võ Thị Xuân Hà (ảnh: internet)

Khi đang còn là sinh viên khoa toán trường Đại học Sư phạm Hà Nội, cái tên Võ Xuân Hà luôn được ghi trong danh sách là “nam sinh”. Vào danh sách nam sinh đồng nghĩa với việc hàng tháng sẽ bị cắt khoản phụ cấp đặc biệt dành riêng cho chị em phụ nữ, Võ Xuân Hà bèn thêm chữ “Thị” để khẳng định giới tính của mình. Sau này, từ biệt nghề dạy học để chuyển hẳn sang nghiệp viết văn, Võ Thị Xuân Hà trở thành bút danh duy nhất của nhà văn. Bạn đọc nhiều năm qua luôn ấn tượng với những tiểu thuyết, truyện ngắn lãng mạn nhưng cũng không kém phần dữ dội của nhà văn Võ Thị Xuân Hà mà ít người biết tên thật của chị không có “Thị”.

Nhà văn Y Ban (bên trái) và nhà văn Sương Nguyệt Minh (ảnh: facebook Y Ban)

Sương Nguyệt Minh là bút danh của đại tá Nguyễn Ngọc Sơn (tạp chí Văn nghệ quân đội). Cách đây hơn 20 năm, khi còn đang công tác tại Bệnh viện quân đội 103, Nguyễn Ngọc Sơn đã bén duyên văn chương và có một số truyện ngắn được chú ý. Vì rất yêu gia đình, tác giả muốn lấy bút danh là tên ghép của mình (Sơn), tên vợ (Nguyệt – tức nhà văn Vũ Minh Nguyệt sau này) và con (Minh) nhưng khi gửi bản thảo viết tay đến một tờ báo văn nghệ, nhân viên đánh máy đã gõ nhầm Sơn Nguyệt Minh thành Sương Nguyệt Minh. Ban đầu cũng thấy khó chịu, bực bội nhưng rồi đọc đi đọc lại, thấy bút danh này cũng có một âm hưởng là lạ, vậy là quyết định chọn theo lỗi đánh máy. Tuy nhiên từ đó, nhà văn Sương Nguyệt Minh không ít lần nhận được những lá thư của bạn đọc hâm mộ ghi ngoài phong bì: “Kính gửi bà Sương Nguyệt Minh”, “Yêu mến gửi em Sương Nguyệt Minh” “Thân gửi chị Sương Nguyệt Minh”… Cho đến những năm gần đây giới tính của nhà văn mới được “cải chính” nhờ mạng internet phủ sóng toàn cầu, hình ảnh nhà văn luôn được đăng kèm tác phẩm hoặc các bài báo in kèm ảnh nhân vật.

 

Nhà văn Ma Văn Kháng

Chờ dài cổ khi đi khám bệnh

Nhà văn Ma Văn Kháng đi khám bệnh ở Bệnh viện Hữu nghị, sẵn có một bác sĩ quen biết ở đó, ông gọi điện trước để bác sĩ ưu tiên khám sớm. Vốn là người yêu văn chương và mến mộ tài năng của nhà văn, bác sĩ hồ hởi: “Em đã dặn nhân viên rồi ạ, anh cứ vào xưng tên là các cô ấy biết người nhà của bác sĩ H., sẽ xếp anh vào khám trước. Em đợi anh ở phòng khám đây ạ.” Vì đã “đặt gạch” trước, sáng hôm đó nhà văn ung dung vào viện mà không cần phải đi từ sớm tinh mơ để lấy số thứ tự. Đến phòng hành chính, nhà văn đưa sổ khám bệnh ghi rõ họ tên cho nhân viên làm thủ tục, vào sổ xong, cô nhân viên lễ phép bảo: “Mời bác ra ghế ngồi đợi đến lượt khám ạ” Nhà văn lại ung dung ngồi ngay hàng ghế đầu…đợi. Gần đến trưa mới nghe gọi tên mình, nhà văn rã rượi bước vào phòng khám. Vừa gặp, bác sĩ sốt sắng hỏi: “Giờ anh mới đến ạ. Em cứ đợi anh suốt từ sáng”, nhà văn nhíu mày: “Tôi cũng ngồi ngoài kia đợi chú suốt từ sáng đến giờ mới được gọi”. Bác sĩ sửng sốt: “Sao lại thế ạ? Em đã dặn đi dặn lại các cô ấy là khi nào nhà văn Ma Văn Kháng đến thì đưa ngay vào cơ mà? Em còn mấy lần gọi điện ra ngoài đó hỏi nhà văn đến chưa, các cô bảo chưa thấy đến. Thế này là thế nào? Em phải cho mấy cô này một trận…” Nhà văn xua tay: “Thôi thôi, giờ chú cứ khám cho tôi đi đã” Sau một hồi đo huyết áp, nhịp tim, nghe phổi, kiểm tra các chỉ số sức khỏe, bác sĩ lấy bút ghi kết luận vào sổ khám bệnh của nhà văn. Vừa giở cuốn sổ, bỗng dưng ông rũ người ra cười ngặt nghẽo: “Ôi trời ơi là trời. Sổ khám bệnh anh ghi tên thật là Đinh Trọng Đoàn, thảo nào các cô ấy cứ đợi nhà văn Ma Văn Kháng đến để…ưu tiên mà mãi không thấy đâu cả.”

 

Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đến thăm nhà văn Tô Hoài (ảnh: P. Lan)

Không ai biết là ai

Những tháng cuối đời, nhà văn Tô Hoài bị ốm nặng phải vào nằm tại phòng điều trị đặc biệt của Bệnh viện Hữu nghị. Lúc vào viện, nhà văn không nói được, suốt ngày phải nằm truyền dịch và thở oxy. Cùng phòng bệnh có nhiều quan chức cao cấp đã nghỉ hưu như cụ Đặng Nghiêm Hoan (nguyên Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Trung Quốc), cụ Mai Ký (nguyên Bộ trưởng Ủy ban Dân số kế hoạch hóa gia đình)… Các bác sĩ điều trị chỉ biết tên bệnh nhân nằm ở giường số 1 là Nguyễn Sen. Một buổi sáng chủ nhật, Bệnh viện được thông báo là có Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đến thăm nhà văn Tô Hoài. Tìm trong đống hồ sơ bệnh nhân không biết Tô Hoài nằm ở phòng nào, khoa nào mà giờ Chủ tịch nước đến thăm lại quá gần nên cán bộ, nhân viên của viện không kịp chuẩn bị đón tiếp. Đúng 8h15p, Chủ tịch nước đến cổng viện, nhà thơ Hữu Thỉnh (Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam) đã đến thăm trước đó nên vẫn nhớ số phòng, nhanh chóng đưa Chủ tịch Trương Tấn Sang đến đúng giường nhà văn Tô Hoài đang nằm. Thấy lãnh đạo cao cấp nhất của Nhà nước đến tận giường bệnh, sờ trán, cầm tay, lại đội mũ len cho bệnh nhân Nguyễn Sen, các bác sĩ rất ngạc nhiên và tò mò hỏi nhau đó là ai mà được quan tâm đặc biệt như vậy. Nhận thấy những ánh mắt ngạc nhiên đó, nhà thơ Hữu Thỉnh liền giới thiệu: “Đây là nhà văn Tô Hoài, hôm nay Chủ tịch nước đã dành thời gian đến thăm và động viên ông”. Lúc này, từ Phó giám đốc bệnh viện đến các y tá mới ồ lên đầy ngưỡng mộ, hóa ra cả tháng nay mình trực tiếp điều trị cho tác giả “Dế Mèn phiêu lưu kí” mà không hề biết. Từ hôm đó, giường bệnh của nhà văn Tô Hoài được quan tâm nhiều hơn, không chỉ có các bác sĩ điều trị qua lại thăm khám mà cả người nhà của các bệnh nhân cùng phòng cũng đều muốn ghé lại động viên ông Dế Mèn. Tuy nhiên, do tuổi cao sức yếu, nhà văn Tô Hoài đã qua đời sau đó một thời gian..

Trung Quốc ‘chết lặng’ vì tuyên bố Biển Đông sắc lạnh của đối thủ không ngờ

Lâu nay, nhắc đến tranh chấp Biển Đông, người ta không nói đến Indonesia bởi cường quốc Đông Nam Á này luôn khẳng định không có tranh chấp ở vùng biển chiến lược này với bất kỳ nước nào. Thực tế này là lý do khiến nhiều người không khỏi ngạc nhiên về tuyên bố cứng rắn vừa được Nhà lãnh đạo Indonesia đưa ra ngày hôm qua (16/8). Bản thân Trung Quốc chắc cũng không thể ngờ được có một ngày họ nhận được thông điệp sắc lạnh từ một đối thủ mà họ chưa bao giờ lường đến ở Biển Đông.

Indonesia đang có thấy một lập trường không ngại đối đầu với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông

Indonesia đang có thấy một lập trường không ngại đối đầu với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông

Trong bài phát biểu trước toàn quốc được truyền hình trực tiếp, Tổng thống Joko Widodo đã lên tiếng thề sẽ bảo vệ “từng tấc đất và tấc biển” của Indonesia ở Biển Đông. Ông Widodo còn nói thêm rằng, Indonesia sẽ “tham gia tích cực” vào tiến trình tìm kiếm một giải pháp hòa bình cho các cuộc tranh chấp ở Biển Đông.

“Chúng tôi đang tập trung vào mục tiêu phát triển các khu vực như Entikong, Natuna, và Atambua để thế giới có thể thấy rằng Indonesia là nước lớn và mỗi tấc đất hay tấc biển của chúng tôi đều được quan tâm thực sự”, Tổng thống Widodo nhấn mạnh trong bài phát biểu của mình. Dù không đả động trực tiếp đến cái tên Trung Quốc, ông Widodo rõ ràng đang ám chỉ đến cường quốc Châu Á – nước đang có tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải ở Biển Đông với một loạt quốc gia láng giềng.

Sở dĩ người ta có thể hiểu ngay được thông điệp trên là dành cho Trung Quốc bởi nó được đưa ra trong bối cảnh căng thẳng vì tranh chấp ở Biển Đông giữa Bắc Kinh và Jakarta chưa bao giờ leo cao như hiện tại, nhất là sau khi xảy ra một cuộc va chạm tàu thuyền giữa hai nước ở vùng lãnh hải quanh quần đảo Natuna ở Biển Đông hồi tháng Sáu.

Không giống như nhiều nước láng giềng Đông Nam Á khác, Indonesia từ lâu luôn khẳng định nước này không có tranh chấp với Trung Quốc ở Biển Đông. Tuy nhiên, Jakarta phản đối đường 9 đoạn hay còn gọi là đường lưỡi bò của Trung Quốc – một yêu sách đòi chủ quyền đến gần như toàn bộ Biển Đông. Đường 9 đoạn của Trung Quốc chồng lấn lên vùng đặc quyền kinh tế của Indonesia ở xung quanh Natuna – một dãy đảo chứa đựng nguồn cá dồi dào nằm ở vùng cận tây bắc của Indonesia.

Trong quá trình cấp tập thực hiện các bước đi nhằm tiến tới tham vọng độc chiếm Biển Đông, Trung Quốc bắt đầu cho tàu thuyền xâm phạm vào vùng lãnh hải quanh quần đảo Natuna. Điều này khiến cho Indonesia đặc biệt tức giận. Vì thế, những vụ đụng độ, va chạm giữa tàu thuyền hai nước Trung Quốc và Indonesia gần đây đang gia tăng. Indonesia cho thấy một lập trường vô cùng cứng rắn và quyết liệt trong việc đối đầu với Trung Quốc ở Biển Đông.

Mới đây nhất, hồi tháng Sáu, Hải quân Indonesia cho biết họ đã chặn và bắt giữ một tàu cá của Trung Quốc cùng 7 ngư dân do đánh bắt cá bất hợp pháp trong vùng lãnh hải của Indonesia. Theo tố cáo của Trung Quốc, Hải quân Indonesia đã không ngại ngần bắn tàu cá của Trung Quốc, khiến một ngư dân bị thương và con tàu bị hư hỏng. Ít nhất đây là lần thứ ba kể từ hồi tháng Ba Indonesia quyết liệt chặn tàu cá Trung Quốc ở ngoài khơi quần đảo Natuna. Hồi tháng Năm, một tàu khu trục Indonesia đã bắn hàng loạt phát súng khi một tàu cá của Trung Quốc không chịu ngừng đánh bắt cá trong khu vực. Sau đó, Indonesia đã bắt tàu cá này cùng 8 ngư dân đi trên đó. Một cuộc đụng độ tương tự giữa Indonesia và Trung Quốc cũng đã xảy ra hồi tháng Ba

Sau cuộc đụng độ hồi tháng Sáu, Tổng thống Widodo đã đích thân đến thăm quần đảo Natuna trên một chiếc tàu chiến. Bộ trưởng Quốc phòng Indonesia kể từ đó đã vạch ra các kế hoạch tăng cường tên lửa đất đối không, máy bay không người lái và vũ khí quân sự hạng nặng đến quần đảo của họ ở Biển Đông nhằm sẵn sàng đối phó với Trung Quốc.

Trung Quốc có lý do phải lo ngại trước những động thái quyết liệt của Indonesia bởi giờ đây cuộc tranh chấp ở Biển Đông đã lôi kéo sự dính líu của thêm một nước lớn trong khu vực Đông Nam Á. Không chỉ phải đối mặt với một loạt nước láng giềng xung quanh, Trung Quốc còn phải đương đầu với sự lên án gay gắt của cộng đồng quốc tế vì những hành động hung hăng trong tranh chấp biển đảo ở khu vực.

Biển Đông được xem là một trong những những điểm nóng nhất ở Châu Á hiện giờ. Các cuộc tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải nóng bỏng ở đây mang theo nguy cơ có thể vượt ra khỏi tầm kiểm soát bất kỳ lúc nào, và có thể leo thang thành xung đột.

Trung Quốc đòi chủ quyền đối với gần như toàn bộ khu vực Biển Đông chiến lược và giàu tài nguyên, thậm chí cả với những khu vực nằm giáp với bờ biển của nhiều nước Đông Nam Á. Đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc dựa vào yêu sách đường 9 đoạn hay còn gọi là đường lưỡi bò. Nhiều khu vực nằm trong bản đồ đường 9 đoạn phi lý của Trung Quốc cách xa nơi gần nhất thuộc đại lục Trung Quốc đến cả hơn 1.000km và nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của các nước láng giềng. Mới đây, Tòa án Trọng tài Thường trực đã ra phán quyết bác bỏ đường 9 đoạn của Trung Quốc, giáng một đòn choáng váng vào tham vọng biến Biển Đông thành “ao nhà” của cường quốc Châu Á.

( Nguồn:Google)

Yến Linh
Đăng bởi: Ngô Minh | 19.08.2016

11 bức ảnh đi vào lịch sử thế giới

11 bức ảnh đi vào lịch sử thế giới

 

Một bức ảnh đôi khi còn có sức mạnh hơn cả ngàn lời nói. Nó có thể gây ám ảnh và khiến người xem không thể nào quên được. 11 bức ảnh dưới đây là những ví dụ điển hình.

Động đất, sóng thần Nhật Bản năm 2011

image003

Một em bé khoảng vài tháng tuổi được cứu sống kỳ diệu sau một trận động đất ở Nhật Bản. (Ảnh: Imgur.com)

Cuộc đoàn tụ gia đình

Cậu bé 2 tuổi người Kosovo được đưa qua hàng rào dây thép gai để đoàn tụ với gia đình. Tác giả bức ảnh là Carol Guzy trở thành người phụ nữ đầu tiên trên thế giới đoạt giải ảnh báo chí Pulitzer năm 2000. (Ảnh: Carol Guzy)

Cậu bé 2 tuổi người Kosovo được đưa qua hàng rào dây thép gai để đoàn tụ với gia đình. Tác giả bức ảnh là Carol Guzy trở thành người phụ nữ đầu tiên trên thế giới đoạt giải ảnh báo chí Pulitzer năm 2000. (Ảnh: Carol Guzy)

Cuộc gặp mặt hai miền Triều Tiên

Cuộc chiến Triều Tiên – Hàn Quốc (1950 – 1953) kết thúc trong sự chia cắt, người thân ly tán. Đến năm 2010 với sự nỗ lực của Hàn Quốc, một cuộc gặp mặt ngắn ngủi đã diễn ra. Rất nhiều người sau hàng chục năm xa cách mới được gặp mặt.

image005

Hình ảnh 2 anh em, một người người ở Triều Tiên, một người ở Hàn Quốc đoàn tụ sau hàng chục năm xa cách vào năm 2010. Trong ảnh là giây phút chia ly của hai người khi trở về đất nước làm xúc động lòng người. (Ảnh: Imgur.com)

Nạn đói Uganda 1980

image006

Tấm ảnh này được chụp tại Uganda năm 1980 trong trận đói lịch sử nơi đây, đã làm thế giới phải “rúng động”. Thay cho những câu chữ, bức hình đã nói lên tất cả về sự kinh hoàng của trận đói này. (Ảnh: Pinterest)

Quả bom nguyên tử “Fat Man” nổ trên bầu trời thành phố Nagasaki, Nhật Bản, 1945

Đám mây hình nấm trên bầu trời Nagasaki vào ngày 9 tháng 8 năm 1945 này đã giết chết hơn 80 ngàn người và đã trở thành nỗi ám ảnh đe dọa cho hòa bình nhân loại. (Ảnh: Pinterest)

Cô gái nắm tay sưởi ấm cho bà cụ ăn xin

image009

Thời gian gần đây, trên các trang mạng Trung Quốc đang nóng lên câu chuyện làm việc tốt của một cô gái nhỏ 14 tuổi – Trương Khả. Cư dân mạng truyền tay nhau bức ảnh có tên “Cô bé tay ấm”. Trong ảnh là Trương Khả, mặc áo khoác hồng đang nắm chặt hai tay một bà cụ ăn xin, dùng chính tay mình để sưởi ấm tay cho bà cụ khi ngoài trời lạnh 2 độ C. Bên cạnh là một cốc cháo chưa ăn và một chàng trai cũng ngồi xuống trò chuyện cùng bà cụ.

Tấm lòng của Trương Khả đã làm lay động trái tim hàng triệu người Trung Quốc vốn đã trở nên vô cảm, nhiều người nhìn nhận rằng tấm lòng của cô bé, nghìn tiền vạn bạc cũng không thể mua được.

Nạn đói ở Châu Phi

Dưới dây là bức ảnh “Kền kền chờ đợi”. Bức ảnh này đã đoạt giải Pulitzer 1994.

Năm 1993, khi nạn đói hoành hành tại Sudan, Kevin Carter chụp cảnh tượng một bé gái đang cố bò về phía trại cứu trợ, trong khi phía sau em, một con kền kền chờ đứa trẻ chết đói để ăn thịt. Bức ảnh đem lại danh tiếng cho Kevin những cũng khiến anh hứng chịu nhiều chỉ trích.

Năm 1993, khi nạn đói hoành hành tại Sudan, nhiếp ảnh gia Kevin Carter đã chụp cảnh một em bé đang cố bò về phía trại cứu trợ, trong khi phía sau em, một con kền kền chờ đứa trẻ chết đói để ăn thịt. Mặc dù nhận được giải thưởng danh giá, nhưng chủ nhân của tấm hình này đã phải chịu đựng vô vàn sự chỉ trích khi “không đưa tay giúp đỡ em bé đang sắp chết vì đói, mà chỉ canh để chộp được khoảnh khắc hoàn hảo”. Cuối cùng, vị nhiếp ảnh gia này đã quyết định tự sát chỉ vài tháng sau đó. (Ảnh: Flickr)

Bức tranh “Nước mắt của một cô nhi”

Bức tranh sơn dầu này đang được triển lãm tại các bảo tàng lớn trên thế giới. Chính sách đàn áp môn tập luyện khí công là Pháp Luân Công của chính quyền Trung Quốc đã gây biết bao tang thương, đổ vỡ cho hàng triệu gia đình ở Trung Quốc.

image012

Bức tranh “Nước mắt của một Cô nhi” mô tả một em bé đang ôm thi hài của cha mẹ đã bị hỏa tang thành tro, cha mẹ em đã bị bức hại đến chết bởi ĐCS Trung Quốc. Cố cầm giữ nước mắt, tâm hồn em chứa đầy đau khổ và em không biết ngày mai sẽ ra sao. Chiếc áo khoác kỷ vật của cha bao bọc lấy thân hình bé nhỏ, trông thật không tương xứng, nhưng đó lại là vật duy nhất có thể trấn an động viên cho cô bé vào lúc này.

Bức tranh miêu tả sự thật tàn khốc này đang diễn ra tại Trung Quốc. Trong một cuộc triển lãm ở Canada, Nghị sỹ Marston đã phát biểu rằng, ông biết tường tận về cuộc bức hại Pháp Luân Công tại Trung Quốc, bao gồm cả tội ác mổ cướp tạng từ các học viên Pháp Luân Công còn sống nhằm kiếm lời, ông cũng cho rằng triển lãm này đóng vai trò quan trọng trong việc truyền bá sự thật cuộc bức hại.

image013

Ông Ros Bowyer chăm chú ngắm nhìn bức họa “Nước mắt cô nhi” trong một cuộc triển lãm. Ông nói rằng, bức họa này rất cảm động. Ông có thể nhìn thấy sự bi thương và thắc mắc không thể lý giải nổi hiện trên khuôn mặt cô bé, cô bé không hiểu được tại sao cha mẹ cô bé lại bị chết bởi cuộc bức hại.

Thảm họa núi lửa Nevado del Ruiz ở Colombia ngày 13/11/1985

Đôi mắt đã ám ảnh người xem này là của cô gái 13 tuổi Omaya Sánchez trong thảm họa núi lửa Nevado del Ruiz ở Colombia ngày 13/11/1985, đã giết chết 25 nghìn người. Trong ảnh, Omaya đã kiệt sức vì bị mắc kẹt gần 3 ngày đêm trước sự bất lực của lực lượng cứu hộ. Cuối cùng, mọi người đã ở bên cạnh em và cùng cầu nguyện đến khi em không còn cầm cự được sau 60 giờ. Bức ảnh được chụp bởi Frank Fournier.

Sự kiện Thiên An Môn – 1989

Bức ảnh của Jeff Widener được mang tên là “Người nổi loạn vô danh”, với hình ảnh một người đang đứng cản trước đoàn xe tăng của Quân đội  Trung Quốc đang tiến vào để đàn áp cuộc biểu tình của hàng chục ngàn sinh viên Trung Quốc tại Quảng trường Thiên An Môn.

Khoảnh khắc biểu tượng kinh tế nước Mỹ bị khủng bố

Khoảnh khắc biểu tượng kinh tế nước Mỹ – Tòa tháp đôi New York bị hai máy bay dân sự đâm vào. Mỹ đã lao vào cuộc chiến với Osama Bin Laden, sau vụ khủng bố khiến cả nước Mỹ bàng hoàng.

Khoảnh khắc biểu tượng kinh tế nước Mỹ – Tòa tháp đôi New York bị hai máy bay dân sự đâm vào (11/09/2001). Mỹ đã lao vào cuộc chiến với Osama Bin Laden, sau vụ khủng bố khiến cả nước Mỹ bàng hoàng.

( Nguồn: Google)

Bí ẩn con tàu lạ mang số hiệu 139 bắn tên lửa nổ tung dàn khoan HD 981 của Trung Quốc chấn động Biển Đông 

Bí ẩn con tàu lạ mang số hiệu 139 bắn tên lửa nổ tung dàn khoan HD 981 của Trung Quốc chấn động Biển Đông sáng nay

Sáng nay, nhiều tàu cá hoạt động ở khu vực biển Đông, bị chấn động bởi một loạt tên lửa hành trình được xác định khai hỏa tại tọa độ 167o vĩ bắc 129o kinh đông. mục tiêu của loạt tên lửa này nhắm vào dàn khoan HD 981 của Trung Quốc trên biển Đông. Nhiều thông tin cho rằng có một con tàu lạ mang số hiệu 139 đã nã đạn tên lửa nói trên.

Ngay sau đó, Trung Quốc đã huy động lực lượng cứu hộ lơdn nhất từ trước đến nay để cứu hộ nhưng sự việc xảy ra quá đột ngột nên tỏng òng 30 phút, toàn bộ dàn khoan đã bị cháy rụi.
Hiện con tàu mang số hiệu 139 vẫn mang là một ẩn số. Trung Quốc đã treo thuơrng 5 triệu nhân dân tệ cho người cung cấp thông tin về con tàu này.

( Nguồn: Google)

Đại học Fulbright từ chối đưa Chủ nghĩa Marx, tư tưởng Hồ Chí Minh vào chương trình giảng dạy

Cuối cùng thì cái đuôi con cáo cũng đã lộ ra, mọi lý lẻ lưà bịp của Đại học Fulbright tự giới thiệu, là một Đại học kiểu mới, một mô hình Đại học phi lợi nhuận, độc lập, tự do về học thuật, sáng tạo trí thức, giúp sinh viên độc lập suy nghĩ đã bị sổ toẹt vì Đại học Fulbright từ chối đưa Chủ nghĩa Marx, tư tưởng Hồ Chí Minh vào chương trình giảng dạy của mình.

US Secretary of State Hillary Clinton (R) speaks during an event to celebrate the 10th anniversary of the Fulbright program in Vietnam at the Foreign Trade University in Hanoi on July 10, 2012. Clinton is visiting Vietnam during a multiple stop tour of Asia where she is expected to meet with leaders and others to strengthen US economic and strategic interests. AFP PHOTO / POOL / Brendan SMIALOWSKI / AFP PHOTO / POOL / BRENDAN SMIALOWSKI

US Secretary of State Hillary Clinton (R) speaks during an event to celebrate the 10th anniversary of the Fulbright program in Vietnam at the Foreign Trade University in Hanoi on July 10, 2012. Clinton is visiting Vietnam during a multiple stop tour of Asia where she is expected to meet with leaders and others to strengthen US economic and strategic interests. AFP PHOTO / POOL / Brendan SMIALOWSKI / AFP PHOTO / POOL / BRENDAN SMIALOWSKI

Chính giới Việt và những người đang mong chờ một mô hình đào tạo mới đã ba lần bị Fulbright cho leo dây. Lần thứ nhất ấy là chiếc bánh vẽ về nguồn tài chính để xây dựng và hoạt động Đại học Fulbright, hóa ra đấy là tiền mà chính phủ CHXHCNVN đành bỏ ra để trả nợ Mỹ thay cho chính quyền VNCH về các khoản vay trong chiến tranh. Lần thứ hai, khi mà Đại học Fulbright công bố trước mắt chỉ mở các khóa học về khoa học xã hội, chính sách công mà không có các khoa học công nghệ làm giới trẻ Việt thất vọng. Và lần này, họ từ chối đưa vào nội dung nghiên cứu về Marx và Hồ Chí Minh theo luật giáo dục Việt Nam.
Nghiên cứu khoa học xã hội thì trước hết và quan trọng nhất là phải nghiên cứu các trường phái triết học, các hệ tư tưởng (những cái thuộc về thượng tầng kiến trúc) để nhận thấy tính ưu việt và hạn chế của chúng, từ đó mà khuyến khích tìm kiếm sáng tạo, ngăn ngừa sai lầm. Hiện tại, trong các trường đại học của Việt Nam có nghiên cứu,giới thiệu, giảng dạy các trường phái triết học phương Đông, phương Tây hà cớ gì Fulbright từ chối Marx.
dai-hoc-fulbright-viet-nam-chinh-thuc-hoat-dong
Học thuyết Marx ra đời đến nay đã hơn 1 thế kỷ. Từ đó đến nay, trong chương trình đào tạo của nhiều trường đại học phương Tây và cả ở Mỹ cũng có môn học về học thuyết Mác chứ đâu chỉ có ở Việt Nam. Trước năm 1975, môn học về Chủ nghĩa Mác đã được giảng dạy tại Đại học Văn khoa Saigon của Việt Nam Cộng hòa. Nước Đức, quê hương của Karl Marx dẫu không thực hành chủ nghĩa Marx nhưng Học thuyết của Mác vẫn được giảng dạy trong một số trường đại học cùng với một số học thuyết khác.
Bấy nay, nhân sự sụp đổ của Liên Xô và ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, truyền thông phương Tây cứ ra rả về sự sụp đổ của một học thuyết mà lãng tránh sự thật rằng, học thuyết ấy đã lôi cuốn nửa phần trái đất đứng lên làm cách mạng đập tan tư bản bóc lột và thực dân. Kể cả ngày nay, không ít nước phương Tây vẫn ứng dụng các nguyên lý của Marx trong quản lý xã hội hiện đại theo hướng CNXH. Rất nhiều nhà khoa học và nhà triết học phương Tây đã nghiên cứu các nguyên tác của Karl Marx và đã công bố nhiều khám phá có giá trị thực tiễn quan trọng. Nhiều khái niệm triết học của Marx vẫn được dung phổ biến ở phương Tây như vấn đề chủ nghĩa tư bản thị trường.
Mọi học thuyết đều do con người tạo ra. Nó thuộc về thượng tầng kiến trúc. Khi hạ tầng cơ sở đã thay đổi thì nó hoặc không còn tồn tại hoặc phải thay đổi để không trở thành vật cản đối với sự phát triển của xã hội. Những tư tưởng của Nho giáo, Khổng giáo không còn phù hợp với ngày nay cũng đang dần thay đổi, thích ứng. Thậm chí nhiều học thuyết tôn giáo cũng bị thách thức phải biến đổi, thích ứng qua cuộc phân chia dòng, phái trong lịch sử và ngày nay.
Từ chối đưa học thuyết Marx, tư tưởng Hồ Chí Minh vào chương trình giảng dạy hóa ra Đại học Fulbright Viet Nam đã bất chấp cả luật pháp của Hoa Kỳ đòi hỏi Fulbright “Thiết lập một chính sách giáo dục tự do” và “Cấm kiểm duyệt các tư tưởng bất đồng hoặc quan điểm chỉ trích một cách xây dựng”.
Thế mới thấy tự do, dân chủ chỉ là ngôn từ đầu môi chót lưỡi của kẻ mạnh mà thôi.
Chiềng Chạ

Bí thư và Chủ tịch HĐND tỉnh Yên Bái bị bắn chết, nghi phạm tử vong

TTO – Một vụ án nghiêm trọng xảy ra sáng 18-8 tại Yên Bái. Bí thư Tỉnh ủy Phạm Duy Cường và Chủ tịch HĐND tỉnh, kiêm trưởng Ban tổ chức tỉnh ủy Yên Bái Ngô Ngọc Tuấn bị bắn đã tử vong vào trưa cùng ngày.

* Bí thư tỉnh ủy Phạm Duy Cường và Chủ tịch HĐND Ngô Ngọc Tuấn đã tử vong tại BV Đa khoa Yên Bái. Nghi phạm Đỗ Cường Minh, chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Yên Bái, tự bắn vào đầu tự tử.

Bí thư và Chủ tịch HĐND tỉnh Yên Bái bị bắn chết, nghi phạm tử vong
An ninh được thắt chặt ở khu vực bệnh viện, nơi đang cấp cứu cho các nạn nhân sau vụ nổ súng – Ảnh THÂN HOÀNG

Video clip VTV đưa tin về vụ việc trưa 18-8

Các nạn nhân đã được cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Yên Bái. Nghi phạm dùng súng bắn vào hai lãnh đạo tỉnh Yên Bái là Đỗ Cường Minh, chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Yên Bái.

Lúc 11g trưa nay, cả ba người đang nằm tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Yên Bái. Phía ngoài cổng bệnh viện, tình hình an ninh được thắt chặt, lực lượng công an, cảnh sát cơ động, kiểm soát quân sự thiết lập nhiều vòng bảo vệ. Liên tiếp các xe biển xanh của trung ương và của tỉnh Yên Bái ra vào bệnh viện. Người dân tập trung hai bên đường cũng rất đông…

Trước đó, trong sáng 18-8, ngay sau khi nhận được thông tin, Bộ Y tế đã điều kíp bác sĩ của Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Việt Đức lên Yên Bái, do đánh giá tình hình không thể chuyển bệnh nhân về Hà Nội.

Khoảng 10g sáng, hai kíp bác sĩ này đã trực tiếp tham gia ca mổ cho các bệnh nhân. Nhưng tình hình được đánh giá là rất nguy kịch và không bắt được mạch.

Kíp bác sĩ Bệnh viện Việt Đức do ông Trịnh Hồng Sơn, PGĐ bệnh viện chủ trì.

Kíp bác sĩ Bệnh viện Bạch Mai bao gồm ông Nguyễn Đạt Anh, trưởng khoa cấp cứu A9.

Ngoài ra còn có ông Dương Đức Hùng trưởng đơn vị C4, Viện Tim mạch quốc gia.

Trưa cùng ngày, thượng tướng Nguyễn Văn Thành, thứ trưởng Bộ Công an, đã có mặt tại Yên Bái để trực tiếp chỉ đạo xử lý vụ việc.

Xác nhận với Tuổi Trẻ lúc 13g chiều cùng ngày, một lãnh đạo tỉnh Yên Bái cho biết khoảng 12g30, ông Ngô Ngọc Tuấn đã tử vong vì vết thương quá nặng. Trước đó, ông Phạm Duy Cường cũng đã tử vong.

Theo nguồn tin riêng của Tuổi Trẻ, hai nạn nhân đều bị bắn 2-3 phát đạn. Một bị bắn vào ngực, bụng và đầu. Một bị bắn vào ngực xuyên lên cổ và vào đầu.

Riêng nghi phạm Đỗ Cường Minh tự sát bằng cách bắn vào đầu. Ông Cường và ông Tuấn tử vong trước khi đến bệnh viện. Kíp bác sĩ Hà Nội lên tích cực hồi sức nhưng không hiệu quả.

Tin từ cuộc họp báo chiều 18-8 tại Yên Bái, ông Đỗ Cường Minh cũng đã tử vong sau đó.

Bí thư và Chủ tịch HĐND tỉnh Yên Bái bị bắn chết, nghi phạm tử vong
Khu vực phòng làm việc của bí thư Tỉnh ủy, chủ tịch HĐND tỉnh Yên Bái đã được Công an phong tỏa, khám nghiệm điều tra nguyên nhân vụ việc – Ảnh: THÂN HOÀNG

Hủy kỳ họp thứ 2 HĐND tỉnh Yên Bái

Theo dự kiến kỳ họp sẽ được khai mạc chính thức vào 8g sáng nay 18-8. Lý do hủy kỳ họp vào phút cuối theo một lãnh đạo tỉnh Yên Bái cho biết vì lý do trên.

Bí thư và Chủ tịch HĐND tỉnh Yên Bái bị bắn chết, nghi phạm tử vong
Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái Phạm Duy Cường

Theo nguồn tin của Tuổi Trẻ, vụ việc rúng động này vừa xảy ra vào sáng nay, ông Phạm Duy Cường – bí thư tỉnh ủy và ông Ngô Ngọc Tuấn – chủ tịch HĐND kiêm trưởng ban tổ chức tỉnh Yên Bái bị chi cục trưởng chi cục kiểm lâm của tỉnh này dùng súng bắn.

Bí thư và Chủ tịch HĐND tỉnh Yên Bái bị bắn chết, nghi phạm tử vong
Ông Ngô Ngọc Tuấn – chủ tịch HĐND tỉnh Yên Bái

Sáng nay, ông Phạm Duy Cường và ông Ngô Ngọc Tuấn đến trụ sở tỉnh ủy từ sớm để chuẩn bị dự buổi khai mạc kỳ họp HĐND.

Tuy nhiên trước khi kỳ họp diễn ra, khoảng ngoài 7g, ông Đỗ Cường Minh, chi cục trưởng chi cục kiểm lâm tỉnh Yên Bái đi vào trụ sở tỉnh ủy. Ông Minh vào phòng làm việc của ông Cường và rút súng bắn vào đầu bí thư tỉnh ủy. Sau đó ông Minh đóng cửa phòng của ông Cường lại rồi đi sang phòng ông Tuấn và tiếp tục bắn ông Tuấn.

Ngay sau khi bắn hai lãnh đạo của tỉnh Yên Bái, ông Minh dùng súng tự sát ngay tại phòng ông Tuấn. Xác nhận vụ việc trên với Tuổi Trẻ, một lãnh đạo tỉnh Yên Bái cho biết hiện cả ba ông đã được đưa vào bệnh viện tỉnh cấp cứu trong tình trạng nguy kịch. Vị lãnh đạo này cũng cho biết không thể di chuyển ba ông xuống Hà Nội cấp cứu được, các bác sĩ từ Hà Nội đang cấp tốc lên Yên Bái.

Bí thư và Chủ tịch HĐND tỉnh Yên Bái bị bắn chết, nghi phạm tử vong
Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Yên Bái Đỗ Cường Minh

Được biết, ông Minh được bổ nhiệm làm chi cục trưởng chi cục kiểm lâm tỉnh Yên Bái từ tháng 3-2014.

Hiện các cơ quan chức năng đã phong tỏa hiện trường để khám nghiệm, điều tra.

Dự kiến 14g30 chiều nay, 18-8, tỉnh Yên Bái sẽ tổ chức họp báo về vụ việc này. TTO sẽ chuyển tải nội dung cuộc họp báo, mong bạn đọc đón xem.

Ông Phạm Duy Cường, Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái khóa XVII tái đắc cử chức Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái khóa XVIII, nhiệm kỳ 2015 – 2020.

Ông Phạm Duy Cường sinh ngày 9-12-1958 tại xã Ninh Sở, Thanh Trì, Hà Nội.

Ông là Thạc sĩ Quản trị kinh doanh; Kỹ sư Vật liệu xây dựng. Ông Cường từng giữ các chức vụ Giám đốc Nhà máy xi măng Yên Bái; Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Yên Bái; Phó Chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái.

Ông Ngô Ngọc Tuấn – Chủ tịch HĐND tỉnh, kiêm Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy Yên Bái sinh ngày 18-8-1964.  Quê quán: xã Tiên Tân, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Trình độ chuyên môn: Đại học Nông nghiệp chuyên ngành Kinh tế, Đại học Luật

Ông hiện là Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh khóa XVIII, nhiệm kỳ 2016 – 2021 kiêm Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy.

Luật quốc tế và “luật rừng” về biển Đông

  •   HẢI ĐĂNG
Luật quốc tế và "luật rừng" về biển Đông

Cho dù niềm hy vọng vào một trật tự thượng tôn luật pháp sau phán quyết 12/7 của PCA chưa hề thuyên giảm, Việt Nam và phần còn lại của thế giới văn minh vẫn không thể không nâng cao cảnh giác trước những cái đầu nóng ở Trung Nam Hải.

Ngày 1/8/2016, lần đầu tiên kể từ khi Tòa quốc tế tuyên án, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã lên tiếng chính thức ủng hộ phán quyết lịch sử, mang ý nghĩa xuyên thế kỷ của Tòa Trọng tài Thường trực (PCA). Tổng thống Obama khẳng định qua cuộc trả lời phỏng vấn tờ “Thời báo Eo biển” (Singapore) rằng, với vụ kiện, “Philippines đã nỗ lực giải quyết tranh chấp với Trung Quốc trên Biển Đông một cách hòa bình và hợp pháp, thông qua việc sử dụng một cơ quan tài phán được thành lập theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982)”. Trong khi đó, Trung Quốc tiếp tục “chiêu” thị uy và gia ân. Một mặt, tuyên dương Camphuchia là quốc gia “đúng đắn và trung thực”, mặt khác tuyên bố sẽ đánh “sặc mồm” những nước nào gây khó khăn cho Trung Quốc. Cho dù niềm hy vọng vào một trật tự thượng tôn luật pháp sau phán quyết 12/7 của PCA chưa hệ thuyên giảm, Việt Nam và phàn còn lại của thế giới văn minh vẫn không thể không nâng cao cảnh giác trước những cái đầu nóng ở Trung Nam Hải. Phán quyết của Tòa Trọng tài quốc tế vừa qua đã “vạch đường phân thủy”, giữa một bên là tôn trọng UNLOS 1982, còn bên kia là phủ định Bản Hiến chương do chính mình từng tham gia đàm phán và đặt bút ký.

Xiển dương “luật rừng”

Bản tin ngày 2/8/2016 của hãng AP cho biết, nhân cuộc chiêu đãi được tổ chức tại Bắc Kinh để chào mừng 89 năm ngày thành lập quân đội Trung Quốc (1/8), Tướng Thường Vạn Toàn, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng vẫn tuyên bố: nhân dân và quân đội Trung Quốc cương quyết bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải, bảo vệ an ninh và quyền lợi của quốc gia. Vị Tướng ba sao này nói với quan khách có mặt trong buổi tiếp tân là chủ quyền và lợi ích của Trung Quốc sẽ được bảo vệ bằng mọi giá. Cũng trong bản tin nói về buổi chiêu đãi này, Tân Hoa Xã còn cho hay, Bộ trưởng Thường Vạn Toàn cũng nói rằng Trung Quốc chẳng bao giờ sợ chiến tranh, nhưng chắc chắn mong muốn thấy hòa bình. Bản tin của AP tiết lộ, chính Bộ Trưởng Quốc Phòng Trung Quốc là người chủ trương cải tạo các bãi đá, xây dựng căn cứ và phi trường ở những hòn đảo nằm trong vùng 9 đoạn, còn được gọi là vùng lưỡi bò, mà Trung Quốc tự vẽ ra và nói chủ quyền thuộc về họ. Vẫn theo AP, Tướng Thường Vạn Toàn còn là chỗ rất thân cận với lãnh tụ Tập Cận Bình, sẵn sàng ủng hộ chính sách cứng rắn nếu ông Tập muốn thực hiện trong cuộc tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông.

Trong bản tin đánh đi từ Bắc Kinh dịp này, hãng thông tấn Reuters trích dẫn những nguồn tin thân cận với giới lãnh đạo và quân đội Trung Quốc nói rằng hiện có xu hướng muốn phản ứng mạnh hơn với Hoa Kỳ và các nước đồng minh của Mỹ trong khu vực, bất chấp chuyện va chạm quân sự có thể xảy ra. Một trong những nguồn tin này tiết lộ, quân đội đã sẵn sàng để “đánh sặc mồm” những nước đang gây khó khăn cho Trung Quốc, tương tự như hồi 1979 lãnh tụ Đặng Tiểu Bình đã ra lệnh mở cuộc chiến với Việt Nam. Cũng theo Reuters, mặc dù có xu hướng muốn phản ứng mạnh như vừa nói trong quân ngũ, nhưng các nhà lãnh đạo Trung Quốc đang cân nhắc rất kỹ trước khi đưa ra quyết định. Một nhà ngoại giao đang làm việc tại Bắc Kinh cho rằng điều Trung Quốc lo ngại là sẽ gặp phản ứng mạnh của thế giới, một nguồn tin khác lại nói với Reuters là hải quân Trung Quốc không đủ sức để đối đầu với hải quân Hoa Kỳ. Nguồn tin này nói thêm nếu chiến tranh bùng nổ thì chính người dân Trung Quốc sẽ bị thiệt thòi, do đó, chiến tranh là điều khó có thể xảy ra. Khi được hỏi liệu quân đội có thể thúc đẩy các nhà lãnh đạo đảng và chính phủ phải có phản ứng mạnh hơn ở Biển Đông hay không, phát ngôn viên Dương Vũ Quân của Bộ Quốc Phòng Trung Quốc chỉ nói là quân đội sẵn sàng bảo vệ chủ quyền và quyền lợi lãnh hải bằng mọi giá.

Vẫn theo Reuters, có thể Bắc Kinh sẽ loan báo dựng Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) tại Biển Đông, đặt những hệ thống hỏa tiễn và máy bay ném bom có khả năng bắn hạ những mục tiêu ở Philippines và Việt Nam, đồng thời tiếp tục thực hiện những cuộc tập trận trong vùng biển mà Bắc Kinh tự nhận là có chủ quyền. Reuters trích dẫn một nguồn tin thân cận với thành phần lãnh đạo đảng ở Bắc Kinh, nói thêm rằn Trung Quốc tin rằng hải quân Hoa Kỳ sẽ tiếp tục hiện diện tại Biển Đông, nên chuyện va chạm có thể xảy ra. Bản tin cũng trích dẫn lời một nhà ngoại giao đang làm việc tại Bắc Kinh cho rằng từ giờ đến tháng Chín tình hình tạm yên ắng, vì Trung Quốc không muốn tạo căng thẳng trước khi tổ chức Thượng Đỉnh G-20 tại Hàng Châu, nhưng có thể Bắc Kinh sẽ có quyết định hành động trong khoảng thời gian sau ngày thượng đỉnh G-20 kết thúc và trước đầu tháng 11/2016, là thời điểm bầu cử tổng thống Mỹ. Theo hai nhà phân tích Ben Blanchard và Benjamin Kang Lim, phe chủ chiến trong quân đội đang gây sức ép với chủ tịch Tập Cận Bình phải hành động. Trên thực tế, Tập chủ tịch không sợ áp lực vì qua chiến dịch thanh lọc hàng ngũ tướng lãnh ông đã kềm chế được quân đội. Nay là lúc chủ tịch Tập Cận Bình cần thời gian và không gian yên bình nên chưa muốn gây chiến.

Phán quyết PCA

Trả lời truyền thông Việt Nam, sáng 1/8/2016, ông Norifumi Kondo, chuyên gia cao cấp thuộc Vụ Chính sách An ninh, Bộ Ngoại giao Nhật Bản đã bày tỏ lo ngại cho số phận của phán quyết về vụ Philippines kiến Trung Quốc mà Tòa PCA đã công bố hôm 12/7 tháng trước. Theo Bộ Ngoại giao Nhật Bản, Trung Quốc có thể sẽ phớt lờ phán quyết của Tòa Trọng tài, đồng thời tìm mọi cách để giảm thiểu hiệu lực của phán quyết và đẩy mọi việc chìm vào quên lãng. Tất nhiên, về tầm nhìn ngắn hạn, trước mắt, điều này chưa thể xẩy ra ngay, nhưng Trung Quốc sẽ có nhiều “chiêu” để làm giảm tính hiệu lực của các phấn quyết. Cụ thể, Trung Quốc sẽ tiếp tục những việc họ đã và đang làm để dư luận quốc tế quên đi các quyết định mang tính pháp lý quan trọng như chúng ta đã biết. Bộ Ngoại giao Nhật Bản khẳng định rằng, nếu phải đưa các vấn đề biển đảo (quần đảo Senkaku/Điếu Ngư) ra Tòa án quốc tế, thì chắc chắn phần thắng sẽ thuộc về Nhật Bản. Tuy nhiên, Nhật Bản lo lắng nhiều hơn đến vấn đề an ninh Biển Đông. Nhấn mạnh tầm quan trọng của Biển Đông đối với Nhật Bản, chuyên gia cao cấp này kêu gọi cộng đồng quốc tế cần chứng minh trước công luận cách Trung Quốc giải thích luật pháp như lâu nay là sai trái và bất hợp pháp!

Về phần mình, chính quyền Obama ngay từ đầu đã xem phán quyết 12/7 của PCA là một cột mốc quan trọng, giúp các nước ngồi lại để cùng giải quyết cuộc tranh chấp. Ngoài thông điệp chuyển tới Trung Quốc, kêu gọi quốc gia này cũng như các bên yêu sách khác ở Biển Đông hãy nỗ lực giải quyết bất đồng trên tinh thần xây dựng, ông Obama còn bác bỏ tuyên bố của Trung Quốc, cho rằng Philippines lợi dụng vấn đề pháp lý để thực hiện các mục tiêu chính trị, hoặc “đổ vấy” cho Mỹ đã dấy lên căng thẳng ở Biển Đông. Ngay sau khi phán quyết có hiệu lực, Hoa Kỳ đã cử Bà Cố vấn An ninh Quốc gia Susan Rice sang tận Bắc Kinh, kêu gọi Trung Quốc không nên có những hành động hay tuyên bố có thể tạo thêm căng thẳng. Đề phòng Trung Quốc manh động, khi Tòa trọng tài chuẩn bị đưa phán quyết, Mỹ đã điều hai cụm tàu sân bay tới vùng biển Philippines. Đây được xem là một cảnh báo từ nước này. Các cường quốc khác trong khu vực như Nhật Bản, Ấn Độ, Australia cũng đã bày tỏ quan điểm và yêu cầu các bên tôn trọng phán quyết của PCA và UNCLOS 1982. Đó cũng là điều Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry đưa ra ở Vientaine, khi có mặt dự hội nghị ASEAN mở rộng.

Cuộc chiến pháp lý xung quanh phán quyết của PCA sẽ góp phần quyết định số phận của trật tự pháp lý quốc tế được các nước trong và ngoài khu vực tuân thủ do Hiến chương LHQ bảo đảm. Trật tự pháp lý này đặt nền tảng trên sự “bình đẳng về chủ quyền”. Mọi quốc gia, bất kể lớn nhỏ, mạnh yếu, dân đông hay dân ít đều bình đẳng như nhau về “chủ quyền”. Sự bình đẳng về chủ quyền đã được thể hiện trong bộ Công ước Quốc tế về Biển 1982 (UNCLOS 1982). Theo đó, một nước ven biển, bất kỳ lớn nhỏ đều được hưởng như nhau 12 hải lý (tính từ bờ, hay đường cơ bản) hải phận gọi là “lãnh hải” và 200 hải lý hải phận gọi là vùng “kinh tế độc quyền”. UNLOS 1982 là “trật tự về biển” mà các nước trên thế giới đã ký kết và tuân thủ. Phán quyết của Tòa PCA ngày 12/7 là việc giải thích UNLOS 1982, là “trật tự về Luật Biển”, áp dụng cho Biển Đông. Trung Quốc đã ký Công ước này. Bây giờ Trung Quốc tuyên bố không nhìn nhận thẩm quyền của Tòa (vốn được LHQ chỉ định) và cho biết sẽ không tuân thủ thi hành phán quyết này. Ta thấy bóng dáng một “trật tự pháp lý” do Trung Quốc áp đặt như một thứ “luật rừng”. Theo đó “chủ quyền” không còn là đơn vị tối thượng, mà “nước lớn” quyết định việc phân chia biển. Vấn đề là các những “nước lớn” khác, đã khai sinh ra “trật tự pháp lý” văn minh, có chấp nhận cách hành xử này hay không?

( Nguồn: VHNA)

Còn nhiều dư âm sau khi Formosa ‘nhận tội’ ở Việt Nam

  • Ralph Jennings

Người biểu tình xuống đường phản đối vụ cá chết hàng loạt tại các tỉnh miền Trung, Hà Nội, ngày 1/5/2016.

Người biểu tình xuống đường phản đối vụ cá chết hàng loạt tại các tỉnh miền Trung, Hà Nội, ngày 1/5/2016.

Nhà máy Formosa ở Hà Tĩnh, do Đài Loan đầu tư, đã bị cáo buộc xả chất thải độc hại gây ô nhiễm đại dương vào tháng 4, khiến 80 tấn cá chết trắng trên bờ biển. Vụ việc này được xem là một trong những thảm họa môi trường nghiêm trọng nhất của Việt Nam. Nhưng những nhà quan sát và những nhà hoạt động tại Việt Nam nói rằng mức tiền phạt kỷ lục đối với Formosa không những không đền bù đủ cho tất cả những người bị thiệt hại mà cũng không phát đi một cảnh báo đủ nghiêm khắc đối với những công ty sản xuất hàng xuất khẩu khác.

Vào tháng Sáu, chính phủ Việt Nam phạt nhà máy Formosa tại khu công nghiệp Vũng Áng ở tỉnh Hà Tĩnh 500 triệu đôla. Đây được coi là khoản tiền lớn nhất từ trước tới giờ nhắm vào một công ty hoạt động ở Việt Nam vì vụ cá chết hàng loạt dọc theo 200 kilômét bờ biển miền Trung. Nhà máy sản xuất thép này cũng đã tạ lỗi và đồng ý xử lý hệ thống nước thải.

Việc chính phủ Việt Nam đi xa tới đâu trong vụ cá chết sẽ gửi đi một tín hiệu đến hàng ngàn nhà đầu tư nước ngoài đã thành lập những nhà máy sản xuất hàng xuất khẩu tại Việt Nam, nơi có chi phí sản xuất thấp, và nhờ đó đã giúp nền kinh tế của Việt Nam tăng trưởng 30 phần trăm trong 5 năm qua để đạt mức GDP 193 tỉ đôla trong năm 2015.

Luật sư Lê Công Định từ Thành phố Hồ Chí Minh nhận định với Đài Tiếng nói Hoa Kỳ:

“Chúng tôi muốn dùng trường hợp của Formosa để cảnh báo mọi doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam. Chúng tôi không muốn họ vì lợi nhuận mà bất chấp việc bảo vệ môi trường cũng như sinh mạng của người dân. Vì thế, chúng tôi muốn họ tuân thủ luật pháp và đáp ứng điều kiện về môi trường.”

Hồi tháng Sáu, Bộ trưởng Tài Nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà nói với truyền thông trong nước rằng khoản tiền đó chỉ đủ trang trải những thiệt hại vật chất trực tiếp, chưa kể tới những thiệt hại tâm lý đối với ngư dân bị mất thu nhập. Ông gọi khoản tiền này là “quá nhỏ.”

Chia sẻ tâm trạng đó, người Việt Nam sinh sống tại Đài Loan tuần trước đã lên tiếng đòi chủ đầu tư nhà máy thép này, Tập đoàn Nhựa Formosa, rời khỏi Việt Nam.

Ông Trần Bang, người nghiên cứu vụ việc vào tháng 4, nói: “Khi xuất hiện thông tin về vụ cá chết hàng loạt ở miền trung, vì tôi là kỹ sư, nên tôi biết vấn đề đó xuất phát từ hệ thống xả thải của Formosa ra biển. Nếu không có công nghệ tốt để kiểm soát chất thải thì rất nguy hiểm cho môi trường.”

Còn theo lời nhà báo độc lập Trương Minh Đức, thành viên của Hội Anh Em Dân chủ, chính quyền Việt Nam cần phải hành động nhiều hơn vì khoảng năm triệu người bị ảnh hưởng bởi vụ cá chết hàng loạt và một số người vẫn chưa hồi phục được.

Ông Đức và những nhà hoạt động khác nói rằng ngư dân đánh bắt ở vùng biển gần nhà máy thép đang thu được chỉ bằng một phần năm số lượng mà họ có thể có vào thời điểm này một năm trước, và những nhà sản xuất nước mắm đang bị nghi sử dụng cá chết bất hợp pháp.

Những cơ quan môi trường cần kiểm tra chất lượng nước của đại dương đã bị ô nhiễm, theo lời ông Trần Bang, một kỹ sư và nhà hoạt động tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ông cho biết một báo cáo độc lập cho thấy hàm lượng sáu loại hóa chất cao quá mức.

Tuy nhiên, Đà Nẵng hồi tháng Tư nói với truyền thông địa phương rằng biển của họ an toàn và có thể tắm được.

Một số người ngờ rằng chính phủ đã nương tay với Formosa để bảo vệ khoản đầu tư 10,5 tỷ đôla của công ty này.

Doanh số hải sản đã giảm trên khắp cả nước, nhưng ông Oscar Mussons, chuyên viên tư vấn kinh doanh quốc tế thuộc công ty tư vấn Dezan Shira & Associates tại thành phố Hồ Chí Minh, nói rằng rất nhiều người đã ngưng nói về chuyện ô nhiễm biển vì “đã tìm ra thủ phạm là một công ty nước ngoài”.

( Nguồn: VOA)

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.08.2016

Lời từ chối lịch sự

Lời từ chối lịch sự

Vũ Kim Hạnh

Ảnh minh họa.

   Tối chủ nhật từ Cần Thơ trở về, trên xe, tôi định viết vội những ghi nhận và cảm xúc của mình từ lễ bế giảng khóa học “quản trị kinh doanh hội nhập” tổ chức cho các tỉnh Mekong. Nhưng khi lướt qua các tin nóng ngày chủ nhật cuối tuần, tôi phải dừng lại với dòng tin thật khó tin: 6 tàu cá của ngư dân Quảng Nam bị Trung Quốc từ chối cho lên một đảo của quần đảo Hoàng Sa để tránh sóng gió dữ dội.

Bên cạnh tin này là hàng loạt tin dồn dập từ Olympic. Tưởng như những dòng tin từ Biển Đông và từ Olympic xa xôi không ăn nhập gì với nhau, vậy mà rồi cũng phải quay lại một điểm trùng…

Từ Biển Đông…

Tin từ Biển Đông, lần này có điều mới là không  do ngư dân tả tơi về thông báo mà từ Ủy ban Quốc gia tìm kiếm cứu nạn. Khoảng 9 giờ 50 phút sáng 12.8, 6 tàu cá tỉnh Quảng Nam với khoảng 259 lao động đang hoạt động ở vùng biển cách đảo Bông Bay, quần đảo Hoàng Sa khoảng 40 hải lý thì bị sóng lớn, gió mạnh cấp 6 – 7 đe dọa.

Các chủ tàu đề nghị vào tránh trú tại đảo. Ủy ban Quốc gia tìm kiếm cứu nạn có đề xuất Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao Việt Nam liên lạc, thông báo cho phía Trung Quốc tạo điều kiện thuận lợi cho việc tránh trú và hỗ trợ cứu nạn khi có yêu cầu.

Tuy nhiên, mãi đến 22 giờ, Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao ta nhận được tin, cơ quan chức năng Trung Quốc từ chối, cho là đảo Bông Bay thuộc quần đảo Hoàng Sa KHÔNG THÍCH HỢP ĐỂ TRÚ và đề nghị 6 tàu Việt Nam (giữa sóng to gió lớn) hãy quay trở về.

Dù cơ quan ngoại giao VN chính thức nhờ giúp thì cơ quan chức năng TQ vẫn từ chối. Và bây giờ 6 con tàu VN cứ thả phao lênh đênh giữa vùng biển gần Hoàng Sa đầy sóng gió, cầu trời…

Nghĩ tới hai tiếng Hoàng Sa, nhiều khi không khỏi “uất ức” cắn răng nghĩ lại chuyện cũ, kẻ xấu tính, mình nhờ giữ giùm đảo mà chiếm đoạt luôn và giờ thẳng cánh đuổi mình, cấm mình, từ chối cả việc cho tá túc lánh nạn.

…Đến Olympic

Thế giới nhìn về Biển Đông mà ngao ngán. Bây giờ, họ đang nổi tiếng cả ở một đấu trường khác là Olympic. Lạ lùng vậy sao, thoạt nghe tôi phải cảnh giác kiểu đánh giá quá khích của tinh thần dân tộc cực đoan. Đây là cuộc chơi của thể thao mà? Thể thao mà, nơi tuyệt đối tôn vinh tinh thần thương võ, trung thực, nhân ái mà?

Tôi lần dò xem và đọc nhiều nguồn, cả báo chí phương Tây. Vô địch bơi lội Sun Yang đánh vận động viên nữ, quậy không cho người khác tập và nói năng cùng thái độ thô lỗ. Cả siêu sao bơi lội Asian Games non choẹt 18 tuổi Chen Xunyl cũng vừa dính doping.

Ấn tượng doping mạnh đến nỗi nhiều đoàn tẩy chay không chịu xếp cùng hàng. Vận động viên Pháp Camille Lacourt nói trên đài phát thanh Pháp: “Sun Yang à, nước tiểu của anh ta màu tím”.

Yang từng dính doping nhưng được giới hữu trách TQ giấu nhẹm, có lần bị cấm thi đấu 3 tháng.

Thực tế là khi đoàn Trung Quốc vô địch, chỉ có cổ động viên của họ mừng, tất cả còn lại tỏ thái độ dửng dưng. Mọi người nồng nhiệt cổ vũ các vận động viên của đoàn tị nạn, thậm chí hết sức vỗ tay khích lệ những người về chót các cuộc đua thật xa vì quí mến nỗ lực (trong tuyệt vọng) của họ nhưng hầu như họ không vỗ tay cho đoàn Trung Quốc.

Một nhà báo Thụy Điển kiên nhẫn giải thích: họ mạnh, có nhiều huy chương, rất muốn viết về họ nhưng khó quá vì… phải chờ kết quả kiểm tra doping rất lâu mới biết kết quả đó có trung thực hay không.

Lời từ chối LỊCH SỰ của số đông các đoàn tham dự Olympic (không vỗ tay, không dám đưa tin, viết chân dung, không dám kết thân) phải chăng vì Trung Quốc có quan niệm khác với phần còn lại của thế giới (ngay cả) về đấu trường Olympic? Là phải chiếm hết, giật hết mọi thành tích cao nhất bất chấp tinh thần giá trị cốt lõi của Olympic.

Nên họ bị từ chối, lời từ chối lặng lẽ, lịch sự. Từ chối vì chính tinh thần Olympic.

Rồi tôi lại nghĩ về lời từ chối cứu giúp ngư dân của Trung Quốc. Cách từ chối lần này có vẻ là lời từ chối… LỊCH SỰ hiếm hoi phải không? Vì nói chuyện ngoại giao chính thức nên từ chối mà không bắn giết, đâm tàu, cướp cá, đánh người.

Lịch sự mà tàn ác. Và thương biết bao nhiêu, ngư dân mình vẫn đang ra khơi bám biển.

Nguồn: http://motthegioi.vn/chuyen-hom-nay-c-155/loi-tu-choi-lich-su-40692.html

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.08.2016

CHUYỆN VỀ HƯU CỦA NHÀ VĂN TRUNG TRUNG ĐỈNH

CHUYỆN VỀ HƯU CỦA NHÀ VĂN TRUNG TRUNG ĐỈNH

(Nhà thơ Trần Đăng Khoa trả lời phỏng vấn báo Tuổi trẻ)
QTXM NHÀ VĂN TRUNG TRUNG ĐỈNH SIHN NĂM 1949, TUỔI VỚI NGÔ MINH, NAWMNAY ĐÃ 67 TUỔI, ĐÁNG LẼ VỀ HƯU 7 NĂM RỒI. SAOLAIJ SỢ VỀ HƯU HƠN SỢ CHẾT VẬY, BẠN CỦA TÔI ƠI?

Nhà thơ Trần Đăng Khoa, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam

Vanvn.net – Mấy ngày qua, trên một số tờ báo giấy và báo mạng có đăng bài về chuyện về hưu của nhà văn Trung Trung Đỉnh, Giám đốc NXB Hội Nhà văn với nhiều ý kiến trái chiều nhau. Để rộng đường dư luận và làm rõ chính kiến của Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam về vấn đề này, Vanvn.net xin đăng bài trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ của nhà thơ Trần Đăng Khoa, Phó chủ tịch Hội nhà văn VN, phụ trách công tác tổ chức của Hội.

– PV Tuổi Trẻ: Với tư cách là phó chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam và là người mang quyết định bàn giao công việc cho giám đốc NXB Hội nhà văn Trung Trung Đỉnh, xin nhà thơ Trần Đăng Khoa cho biết lý do vì sao Hội nhà văn Việt Nam có quyết định được cho là “khá gấp gáp” như vậy?

-Nhà thơ Trần Đăng Khoa:  Xưa nay cứ đến tuổi hưu thì nghỉ hưu. Cả nước có hàng triệu người nghỉ hưu. Ở Hội nhà văn cũng có bao nhiêu nhà văn nghỉ hưu. Nào có gì đâu. Ai chả đến lúc như vậy. Tuổi hưu theo luật công chức là 60 với nam và 55 với nữ. Quy định của nhà nước như vậy. Hội nhà văn là Hội nghề nghiệp, nên có sự du di, thành X+2. Nghĩa là tuổi hưu cộng thêm 2 năm nữa. Nam là 62,  nữ là 57. Ban Chấp hành đã thống nhất như vậy. Nhà văn Trung Trung Đỉnh sinh năm 1949. Như thế, năm nay, anh đã 67 tuổi. Quyết định Nghỉ hưu của anh Đỉnh vừa rồi không phải là quyết định đầu tiên. Cách đây 6 năm, ngày 1-4-2010, Chủ tịch Hữu Thỉnh đã ký quyết định cho anh Đỉnh về hưu. Nhưng rồi, anh Thỉnh đã rút lại. Hiện quyết định vẫn được lưu trong công văn ở Ban Tổ chức cán bộ.

– Về việc nhà văn Trung Trung Đỉnh trả lại Quyết định của Hội nhà văn, ông có bình luận gì về điều này? Quan điểm của Hội nhà văn về việc này ra sao?

– Với câu hỏi như trên, bạn đọc rất dễ hiểu lầm anh Đỉnh tham quyền cố vị. Anh ấy hoàn toàn không phải là một người như thế. Chính anh ấy cũng đã vài lần chủ động đề xuất về việc này, gần đây nhất là một văn bản  như một  thư ngỏ, gửi Ban Chấp hành và Chủ tịch Hữu Thỉnh, xin được nghỉ hưu. Và như thế là rất đàng hoàng. Trong đó, anh cũng đã đề xuất những người thay thế anh ấy. Và  anh Đỉnh cũng yêu cầu cùng nghỉ hưu với anh Đỉnh là anh Trần Quang Quý, Phó giám đốc và chị Nguyễn Thị Anh Thư. Chính vì bức thư này, Đảng uỷ Hội nhà văn, rồi Ban chấp hành Hội nhà văn đã họp, thảo luận, bàn bạc và bỏ phiếu kín. 100%  đảng uỷ viên của Đảng bộ, 100% thành viên Ban chấp hành đã đồng ý, để anh nghỉ theo nguyện vọng của anh. Ban chấp hành cũng đồng ý với đề xuất của anh, đồng ý để chị Thư nghỉ hưu từ 1-10 này, vì chị cũng đã 57 tuổi, đúng tuổi X+2 theo quy định của Ban chấp hành. Trước đó, Nhà xuất bản Hội nhà văn cũng đã nhận con chị Thư vào làm việc. Ứng xử như thế là rất phải.  Anh Quý cũng nghỉ hưu, nhưng thời gian chỉ lui lại mấy tháng. Anh Quý sinh tháng 2-1955. Như thế theo X+2, thì tháng 3-2017 anh Quý mới đến tuổi nghỉ. Trong Quyết định, Chủ tịch Hữu Thỉnh cũng đã nói rõ: “Quý II năm 2017, anh Quý sẽ nhận Quyết định của Ban chấp hành”. Quyết định ấy là quyết định nghỉ hưu cũng như anh Đỉnh, chị Thư. Tôi cũng đã nói rõ ý Ban chấp hành như thế trong buổi chuyển Quyết định của Ban chấp hành do Chủ tịch Hữu Thỉnh ký ở Nhà xuất bản. Anh Đỉnh cứ hỏi: “Tại sao tôi với chị Thư có quyết định nghỉ hưu mà anh Quý lại không có quyết định nghỉ hưu”.  Câu trả lời tôi đã nói ở trên, còn 7 tháng nữa anh Quí mới đến hạn. Không ai lại ký trước quyết định nghỉ hưu cho người vẫn còn thời hạn làm việc đến 7 tháng.

– Xung quanh việc về hưu của nhà văn Trung Trung Đỉnh, trong thời gian tới, Hội nhà văn sẽ có hướng giải quyết như thế nào?

– Nếu “có hướng giải quyết như thế nào”về việc trên thì là Quyết định của Ban chấp hành và Chủ tịch Hội.  Việc nghỉ hưu của anh Đỉnh, Chủ tịch Hội cũng đã kí rồi. Ai trong chúng ta rồi cũng đến lúc nghỉ. Anh em nhà văn còn vung vinh thêm đến hai năm. Chỉ trừ Ban Chấp hành do Đại hội bầu, nên không tính tuổi theo tiêu chuẩn ấy. Nhưng ngay cả Ban Chấp hành, có người cũng đã nhận sổ hưu. Anh em tín nhiệm bầu thì họ gánh vác công việc của Hội. Họ làm việc của Hội, nhưng có lương của Hội đâu. Chỉ có chút phụ cấp. Vậy thôi. Ngay anh Đỉnh, chị Thư, nếu Nhà xuất bản yêu cầu,  vẫn có thể mời làm hợp đồng một số công việc cụ thể. Hôm chuyển quyết định cho anh Đỉnh, tôi cũng đã gặp trước anh ở tại phòng anh, hỏi nguyện vọng của anh, và tôi cũng đã nhã ý mời anh làm biên tập cho cổng điện tử Văn Việt.nét mà Hội giao cho tôi phụ trách. Nhưng anh bảo, anh đã nghỉ là nghỉ. Trong tâm tư, tôi lấy làm tiếc về việc đó, nhưng tôi tôn trọng quyền được nghỉ của anh.

– Nhưng nhà văn Trung Trung Đỉnh không muốn bàn giao cho anh Trần Quang Quý mà chỉ bàn giao cho Ban Chấp hành…

– Tôi nghĩ, nếu Ban chấp hành có 15 người như khóa trước thì BCH có thể nhận bàn giao của anh rồi cử 1 ủy viên về phụ trách. Nhưng hiện nay BCH chỉ có 7 người, trong số đó, anh Nguyễn Bình Phương trụ ở Văn nghệ Quân đội, anh Trần Văn Tuấn ( mới được bổ sung) trụ ở TP Hồ Chí Minh, nên các việc cụ thể hằng ngày, trông vào chỉ có 5 người. Cái hạn chế này về số người lại mở một khả năng mới là tạo điều kiện cho anh em ngoài BCH tham gia vào công việc quản lí một số cơ quan cấp 2 của Hội, bởi Hội là của tất cả các hội viên. Chả lẽ chúng ta có hơn ngàn hội viên mà không tìm được người đảm trách ư? Ban giám đốc, anh Đỉnh nghỉ thì còn hai người, anh Quý và chị Hằng. Anh Quý làm chuyên môn một thời gian nữa rồi đến tuổi nghỉ thì nghỉ,  còn chị Hằng là kế toán. Công việc của NXB văn chương nếu không giao cho nhà thơ Trần Quang Quý đương kim Phó giám đốc phụ trách thì chả lẽ giao cho cô kế toán ư? Dù việc chị Hằng hiện đang làm là một chuyên môn riêng, rất vất vả, cũng là chuyện “sinh tử” của NXB. Anh Quý vẫn còn 7 tháng nữa, và hiện vẫn đang là Phó giám đốc. Trưởng giao cho Phó là đúng quá. Rồi trong 7 tháng, thì tìm Giám đốc mới. Đấy là việc của Ban chấp hành và của Chủ tịch Hữu Thỉnh. Tất nhiên nếu tìm được người trẻ ở lứa tuổi 40, 50, hay ít nhất cũng một khóa là tuổi 55 đối với nam, hay 50 đối với nữ thì tốt nhất. Nếu trẻ hơn thì càng hay. Nếu họ làm tốt thì bồi dưỡng để họ gánh vác công việc của Hội, chứ không phải chỉ dừng lại ở đấy. Tôi nghĩ, các bạn báo Tuổi trẻ, báo Thanh niên, hay Tiền phong cần ủng hộ chủ trương này của Ban Chấp hành Hội nhà văn. Đừng đấy nó  lên thành một chuyện bất thường. Cũng đừng dị biệt hóa Hội nhà văn. Vì thực chất, nó không phải như vậy.

– Chân thành cám ơn nhà thơ Trần Đăng Khoa. 

PV: Vũ Viết Tuân, báo Tuổi Trẻ. 

( Nguồn: Tuổi trẻ)

Older Posts »

Danh mục