ĐỌC “40 NĂM EM”- TẬP THƠ TẶNG VỢ CỦA NGÔ MINH (Kỳ cuối)

Ngô Minh

VỢ TÔI NHÂM THÌN  

 

Nhâm Thìn nuôi lợn, sửa nhà

Nhâm Thìn trong cõi ta bà xở xoay

mẹ cha xa tận trời mây

nhớ thương gom nhặt vơi đầy nước non

 

( Ngô Minh- Nhâm Thìn em)

 

1-Vợ tôi, NGUYỄN THỊ MINH TÂM sinh năm Nhâm Thìn (1952) là con đầu của ông Nguyễn Trọng Ngọ và bà Vũ Thị Trọng, ở Làng Sẻ, xã Nghĩa Đồng, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An. (Đọc tiếp…)

Giáo dục cần thoát khỏi lối định nghĩa áp đặt

Nhà giáo Phạm Toàn

(GDVN) – Khái niệm Giáo dục tưởng như dễ định nghĩa, kỳ thực rất khó. Định nghĩa theo cung cách coi thường người học thì rất dễ.

LTS: Nhà giáo Phạm Toàn gửi đến Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam bài viết tiếp theo của ông, giới thiệu về cách làm giáo dục của nhóm Cánh Buồm.

Tòa soạn trân trọng giới thiệu đến quý bạn đọc bài viết này. Văn phong, nội dung bài viết thể hiện quan điểm của tác giả.

Mở đầu – Góc nhìn Giáo Dục

Chúng ta thử gõ cụm từ này vào trang công cụ Google “Bàn về Cải cách nền Giáo dục Việt Nam”, chỉ sau 0.56 giây, ta có 1.710.000 kết quả.

Nếu gõ cụm từ này nữa “Bàn về định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”, cũng chỉ trong 0.63 giây, ta được 984.000 kết quả.

Con số kết quả đó cho thấy ít nhất hai điều: một là mối quan tâm to lớn đến cuộc đổi mới sự nghiệp Giáo dục nước nhà;

Và hai là, mọi việc trên đời này không có gì là hoàn hảo, giỏi lắm là tìm cách giảm thiểu những điều còn có thể sai để tới được điều tốt đẹp hơn.

clip_image002

Nhà giáo Phạm Toàn, ảnh do tác giả cung cấp.

Để có thể đổi mới căn bản, toàn diện công cuộc Giáo dục, có lẽ trước hết cần biết Sứ mệnh của Giáo dục là gì, và Nhiệm vụ của nền Giáo dục phổ thông là gì.

Trả lời được câu hỏi gốc đó, thì sẽ tìm thấy những việc phải làm, việc nọ tiếp diễn sang việc kia, cho tới khi hoàn thành những đòi hỏi to tát.

Cần thoát khỏi lối định nghĩa áp đặt

Khái niệm Giáo dục tưởng như dễ định nghĩa, kỳ thực rất khó. Định nghĩa theo cung cách coi thường người học thì rất dễ.

Có những cung cách coi thường người học như sau:

Cách lão trị – lấy người già làm trung tâm: cứ nhiều tuổi hơn thì coi là có thể làm thày được.

“Bảy mươi học bảy mốt”; “Con ơi muốn nên thân người, lắng tai nghe lấy những lời mẹ ru”; “trứng không thể khôn hơn vịt”… đó là những thái độ lão trị, dựa trên tuổi tác để xếp hạng thày-trò.

Cách đức trị – lấy người có “đạo đức” làm trung tâm – lấy cái Đức của người già, người bề trên và người thành đạt làm tầm gương cho người khác noi theo.

Trong một nước thì vua là bề trên, trong gia đình thì người đàn ông “chủ gia đình” là bề trên, ở trường thì thày giáo là bề trên. Các bề trên đều mặc định là có đạo đức cao hơn bề dưới.

Ta công nhận có những bề trên có đạo đức; nhưng áp đặt đạo đức bề trên cho bề dưới có thể phản lại tinh thần thời đại.

Cách pháp trị – lấy pháp lý làm trung tâm – dùng những quy định, kể cả những quy định không phù hợp với quyền lợi người dân, để “giáo dục” người dân phải theo.

Tất cả các phương thức giáo dục áp đặt đều có chung một mẫu số mơ hồ: dạy con em “nên người”.

Khẩu hiệu “Tiên học Lễ hậu học Văn” thể hiện cái đòi hỏi “nên người” mơ hồ đó. Bài báo của thạc sĩ Võ Thanh Vân giúp chúng ta phân tích tỉ mỉ vấn đề này [1]. “Lễ” trước, “học làm người” trước…

Làm sao có con người thoát ly khỏi sự nên người qua các tri thức? Làm sao nên người nhờ biết tư duy lại có thể thoát ly khỏi sự nên người qua cách tư duy khoa học, tư duy nghệ thuật và tư duy sống chung trong xã hội?

Cần một định nghĩa khác

Xã hội lâu nay đã quen với khái niệm lấy trẻ em làm trung tâm trong tổ chức công cuộc Giáo dục.

clip_image004

Trò chuyện cùng nhóm Cánh Buồm: Cải cách nhà cải cách – ưu tiên của mọi ưu tiên

(GDVN) – Khó khăn nhất không phải là thiếu tiền – có nhiều tiền đến độ tiêu không hết vẫn có thể đưa cuộc Cải cách giáo dục vào chỗ bế tắc.

Đó là một cách nhìn tôn trọng trẻ em – tôn trọng con người – hoàn toàn khác với cách nhìn trẻ em – người học – đối tượng hưởng thụ Giáo dục của một thời đã qua.

Khi đi tìm một định nghĩa tổng quát nhất cho sứ mệnh (hoặc nhiệm vụ) của hệ thống Giáo dục phổ thông trong công cuộc Giáo dục quốc dân, chúng ta sẽ chú ý đến người học trên cả ba phương diện sau:

Người học sinh mang tư cách người với địa vị cao quý trong muôn loài;

Người học sinh trong tư cách người học với sự phát triển tự nhiên nhất của nó;

Người học sinh trong tư cách người vào đời trước vô vàn ẩn số trên đường đời.

Với tư cách là con người, ta cần chú ý đến bản chất tự do của nó. Tự do của con người không ai ban cho hết – tự do của con người do chính nó tự có từ khi lọt lòng. Nhưng cái tự do đó lại cần thiết được cảm nhận và sử dụng có ý thức.

Về mặt này, có lẽ tư tưởng của đại văn hào triết gia Nga Lev Tonstoi có thể giúp chúng ta ở nhiều mặt. [2] Luận điểm quan trọng trung tâm của Lev Tonstoi là:

Con người tự do nhất trong muôn loài, nó không bị cầm tù trong không gian như giới thực vật, nó không tự do tương đối trong không gian như giới động vật.

Nó hoàn toàn tự do trong không gian, và nhất hạng là nó tự do trong thời gian, và còn quan trọng hơn nữa, con người có thể chủ động tổ chức sự sống của nó trong thời gian, kể cả sau khi nó chết – và đó là ý nghĩa thâm sâu của khái niệm tâm linh người.

Một sự nghiệp giáo dục thực sự tôn trọng con người cần chú ý đến bản chất tâm linh tự do đó của trẻ em với tư cách là người học.

Ý nghĩa sâu xa nhất của tự học chính là cái bản chất tự do tâm linh đó của học sinh. Tự học không phải là một phương tiện để “vươn lên” mà là bản chất của việc học trong tư thế con người.

Ngay cả ý nghĩa của việc học của trẻ em trong tư thế người vào đời cũng không thể xem xét theo lối “kỹ trị” qua định nghĩa “Giáo dục chuẩn bị nhân lực cho đất nước” như có lúc đã được dư luận bàn tán và ủng hộ.

Chính vì thế, trong phạm vi một nền Giáo dục phổ thông lành mạnh và hiện đại trong sự nghiệp Giáo dục quốc dân, một định nghĩa cần được xem xét có lẽ nên là:

Giáo dục có sứ mệnh tổ chức sự trưởng thành của thanh thiếu niên cả dân tộc.

Theo định nghĩa này, giáo dục sẽ tôn trọng người học. Giáo dục không làm công việc “dạy dỗ dân” theo quan điểm Khổng Nho.

clip_image006

Giáo dục tạo nên sự trưởng thành về tư duy của thanh thiếu niên

(GDVN) – Giáo dục cũng không tạo ra nổi những tài năng. Nhưng có thể có những tài năng, nhiều tài năng nảy sinh nhờ một nền Giáo dục tử tế.

Giáo dục dù cao quý đối với dân với nước, nhưng không có quyền tự coi mình đứng trên mọi con người mà về bản chất “sinh ra đã là tự do”.

Định nghĩa này quy định cách hành xử của Giáo dục là làm công việc tổ chức sự HỌC của con người chứ không phải là làm công việc DẠY con người.

Để tổ chức việc học của con em thì sẽ phải đi tìm cơ chế tâm lý của việc học, cụ thể hóa thành nhiều cách học, để cuối cùng, người học đạt tới khả năng tự học.

Khi đó, “tự học” không phải là một lời khuyên mà là một phương pháp, một lối sống, một thói quen, một thành phần của năng lực người.

Tổ chức được công việc tự học cũng đồng thời là làm công việc tổ chức cái nền của con người đủ năng lực tự lập và có lối sống tự lập.

Cuộc Hội thảo khoa học lần thứ ba khi Cánh Buồm ở tuổi lên ba (năm 2011) mang tên Tự học – Tự giáo dục là có ý nghĩa đó.

Cuối cùng, định nghĩa lại Giáo dục là nhằm vào mục đích tổ chức sự trưởng thành của người học, và những người học đó chỉ giới hạn trong lớp thanh thiếu niên cả dân tộc.

Sự trưởng thành của thanh thiếu niên không được đo bằng những kỳ thi, những khối lượng kiến thức, cùng những “kỹ năng” đủ loại khác.

Sự trưởng thành của một trang thanh niên nằm ở tư duy – một cái đầu biết học, biết làm, biết sống.

Sự trưởng thành của một trang thanh niên không nhất thành bất biến. Nếu đã là trưởng thành, thì con người đó sẽ tiếp tục phát triển, “càng ngày càng phát triển”.

Đó là cái lý thúc đẩy nghề sư phạm không thể đời đời vững như bàn thạch với những giáo lý và cách làm việc giáo điều, xơ cứng, những giáo trình chép đi chép lại.

Đó cũng là cái lý thúc đẩy nghề sư phạm không thể hành động cẩu thả.

clip_image008

Thầy phải là người bạn lớn, bình đẳng, đồng hành cùng học trò đi tìm chân lý

Không thể nhặt nhạnh kinh nghiệm dù tốt đẹp ở đâu đâu về áp dụng ở quê ta sau vài ba chỉ thị áp đặt.

Đó nhất thiết phải là cái lý thúc đẩy nghề sư phạm nghiên cứu sâu vào con em Việt Nam để xây dựng nền giáo dục Việt Nam của nền văn hóa Việt Nam ở đây, và ngay lúc này.

Đó là những điều của thực tiễn Việt Nam, một thực tiễn cần có một lý lẽ cốt lõi để diễn biến lành mạnh. Mục tiêu thực tiễn của người thanh thiếu niên trưởng thành sẽ là những con người tự lập, tự học, tự giáo dục.

Con đường đi đến trưởng thành là thông qua phương thức nhà trường hoặc nói cách khác là thông qua cách học bắt đầu với những thiết chế sẵn có và qua các nội dung môn học.

Điều căn bản rút ra từ định nghĩa mới về Giáo dục chung quy là việc xây dựng một kiểu nhà trường khác với cách học khác và những chuẩn mực đánh giá khác.

Theo đường lối thể hiện trong bộ sách Cánh Buồm là tự đánh giá thay vì bị đánh giá.

Cần phải có cách học khiến con người tôn trọng sự tự do của mình. Đó là cách học để người học bị cuốn hút tự nhiên vào con đường học cho mình và xây dựng dần dần được tinh thần học vì Tôi – học vì Chúng Ta.

Một định nghĩa lại cho khái niệm giáo dục đủ để chữa chạy nền Giáo dục đang xuống cấp –“Giáo dục và khoa học xuống cấp không chỉ vì nghèo”, giáo sư Hoàng Tụy đã bộc bạch như vậy. [3]

Định nghĩa này cũng mở ra một lối thoát đúng đắn và giúp cho nhà giáo dục giỏi tay nghề hơn và do đó cũng yêu nghề hơn.

Nhà giáo dục sẽ có một tư duy khác trong việc làm mỗi ngày, và niềm vui càng được củng cố khi thấy rõ con em học giỏi một cách tự nhiên.

Tài liệu tham khảo:

[1]  Nguyễn Thị Lan Hương, Vay 77 triệu đô la Mỹ cho đổi mới Giáo dục phổ thông và Quyền được thông tin http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/Vay-77-trieu-do-la-My-cho-doi-moi-giao-duc-Pho-thong-va-Quyen-duoc-thong-tin-post173983.gd

[2]  Phạm Vĩnh Cư tuyển chọn, giới thiệu, chú giải, cùng các dịch giả Nguyễn Thị Kim Hiền, Vũ Thế Khôi, Từ Thị Loan và Lã Nguyên, Lev Tonstoi, Đường sống – Văn thư nghị luận chọn lọc, Tri thức xuất bản, Hà Nội, 1181 trang.

[3]  Nhiều tác giả, Bàn về Giáo dục, Hoàng Tụy, “Một số vấn đề khoa học và giáo dục; góc nhìn trong cuộc”, trang 9.

Nhà giáo Phạm Toàn

Nguồn: http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/Giao-duc-can-thoat-khoi-loi-dinh-nghia-ap-dat-post174555.gd

Phan Khôi, người Việt Nam đầu tiên đưa tin sự sụp đổ một thuyết Lysenko trong ngôn ngữ học xô-viết

Lại Nguyên Ân

Cụ Phan Khôi

Đây là có lẽ là cả một sự kiện rất hiếm có ở thời kháng chiến chín năm (1946-54) tại chiến khu Việt Bắc, nhưng đương thời ít ai ý thức được. Không phải sự kiện quân sự hay chính trị, chỉ là chuyện văn hóa, thậm chí hẹp hơn, chuyện chỉ liên can đến lý thuyết ngữ học, nhưng lại là sự kiện có quy mô quốc tế, hay ít nhất, quy mô phe dân chủ nhân dân (về sau sẽ gọi là phe XHCN), hoặc hẹp hơn nữa: quy mô Việt-Trung-Xô!

Nguyên là vào ngày 20.6.1950 báo “Pravda” tại Moskva đăng bài báo của Stalin nhan đề “Chủ nghĩa Mác và ngôn ngữ học”, được coi là động thái của nhà lãnh đạo tối cao Liên bang Sô viết và đảng Cộng sản Liên Xô trợ giúp một số nhà ngôn ngữ học trẻ nhằm lật đổ “học thuyết mới về ngôn ngữ” của Viện sĩ đã quá cố Nikolay Yakovlevich Marr (1865-1934) mà một trong những nội dung chính của thuyết này là khẳng định “bản chất giai cấp” của ngôn ngữ, do vậy đã dành được sự ủng hộ chính thống tại Liên Xô suốt từ khi được đề xuất (1923) đến thời điểm đó (1950).

Chỉ một tháng sau, bài của Stalin đã có bản dịch Hoa văn đăng báo “Đại Công” (số ra ngày 21.7.1950) ở Hương Cảng, khi đó đang thuộc quyền quản lý của Anh quốc, nhưng dịch giả là một cán bộ cấp cao Trung Quốc lục địa, Lý Lập Tam (1899-1967).

Ở Việt Nam, tại “thủ đô gió ngàn” Việt Bắc, ngay trong năm ấy, thường trực Ban ngôn ngữ văn tự của Hội Văn hóa Việt Nam đã nhận được số báo “Đại Công” Hương Cảng kể trên. Người phụ trách Ban ngôn ngữ văn tự lúc ấy là Phan Khôi đã bắt tay dịch ngay bài báo trên của Stalin ra tiếng Việt. Vừa lúc dịch xong, ông lại nhận được một bản dịch chữ Pháp đã đánh máy bài kể trên của Stalin, không ghi tên người dịch; ông đã đối chiếu một số điểm và thêm một vài chú thích vào bản dịch của mình.

Bản dịch của Phan Khôi được công bố dưới dạng sách in, đứng tên xuất bản là Ban Văn học Vụ Văn học nghệ thuật, Bộ Quốc gia Giáo dục. Sách in xong và phát hành ngay trong năm 1951 tại Việt Bắc.

Một thông tin học thuật về một lĩnh vực tri thức tương đối hẹp là ngữ học, mà được lan truyền từ Moskva qua Hồng Kông đến một vùng rừng núi Việt Bắc trong thời gian ngắn như trên, quả là việc hiếm thấy.

Tất nhiên, người ta biết, đương thời, uy danh của nhà lãnh đạo tối cao Liên Xô là cực lớn, hầu như mọi động thái phát ngôn của ông đều được truyền tin khắp Liên Xô và “phe” XHCN, lại cũng được các giới báo chí, truyền thông các nước phương Tây tư bản chủ nghĩa chú ý khai thác, đưa tin, bình luận. Bởi thế, có thể đoan chắc rằng tài liệu về phát ngôn này của Stalin cũng được các phái viên hải ngoại của nước Việt Nam kháng chiến ở Hồng Kông nhanh chóng phát hiện và gửi về trung ương.

Học giả Phan Khôi biết và được can dự công việc dịch thuật bài báo này của Stalin, chỉ vì khi đó ông đang làm việc tại Ban Ngôn ngữ văn tự Hội Văn hóa Việt Nam, đóng tại Việt Bắc.

***

Đến đây buộc phải tìm hiểu đôi nét tình hình học thuật Nga và Liên Xô liên quan đến việc Stalin đưa ra bài báo về ngữ học nói trên.

Có thể nói sự việc chủ yếu liên quan đến tên tuổi và hoạt động của một người cũng xuất thân từ nước Gruzia (như Josef Stalin), đó là Nikolay Yakovlevich Marr (1865-1934).

Đây là con trai của một người đàn ông Scottland già tên là James (hoặc Jamescob) Marr, sống ở vùng Kapkaz và lập ra vườn thực vật Kutaisi, với một phụ nữ Gruzia trẻ là Agafia Magularia.

Tốt nghiệp trung học tại Kutaisi, Nikolay Marr đến kinh đô Petersburg của đế chế Nga và sống đến tận cuối đời ở đấy.

Tại đại học Petersburg, N. Marr học đồng thời tất cả các ngành của khoa Đông phương học, cũng học tất cả các ngôn ngữ được dạy tại khoa này. Năm 1888 ông tốt nghiệp và trở thành một trong những nhà Đông phương học của Nga ở thời gian chuyển tiếp giữa hai thế kỷ, có những đóng góp được coi là đáng kể vào các ngành sử học, khảo cổ, dân tộc học về Gruzia, Armenia và vùng Kapkaz, đào tạo nhiều chuyên gia Đông phương học, trong đó có những người xuất sắc.

Tại Đại học Petersbug, N. Marr được bầu làm giáo sư (1902), trưởng ngành (1911) của Khoa Đông phương học. Tại Viện Hàn lâm Đế chế Nga ở Petersburg, N. Marr từ vị trí trợ tá ngành lịch sử ngữ văn (từ 1909), được bầu làm Viện sĩ đặc cách (14.1.1912), rồi Viện sĩ bình thường (từ 1.7.1912). Ông còn là trưởng xứ đạo; tham gia khối giáo sư cánh tả. Từ năm 1914 ông là cố vấn nhà nước thực thụ.

Sau cách mạng tháng 10.1917, N. Marr tiếp tục là giáo sư đại học, viện sĩ Viện Hàn lâm Nga. Những năm 1920-1930, N. Marr có uy tín lớn trong giới trí thức Liên Xô; ông sáng lập Viện nghiên cứu Japhetic tại Petrograd (sau là Viện ngôn ngữ và tư duy mang tên ông); tháng 3.1930 ông được bầu làm Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô; ông là chủ tịch hội hữu nghị Nga-Palestin (1929-1934); được tặng huân chương Lenin nhân 45 năm hoạt động khoa học (1933).

Trong di sản học thuật của N. Marr có một bộ phận mà nội dung và giá trị bị tranh luận kịch liệt, đó là “học thuyết mới về ngôn ngữ” do ông đề xuất ở thời kỳ hoạt động khoa học sau cách mạng 1917.

Vốn dĩ từ những năm đầu hoạt động khoa học, N. Marr đã quan tâm đến vấn đề liên hệ nguồn gốc giữa các ngôn ngữ vùng Kapkaz và đề xuất một loạt giả thuyết về sự thân thuộc giữa chúng về ngữ nghĩa, từ vựng. Ông đặt cho “gia đình ngôn ngữ” này một cái nhãn là thuật ngữ “những ngôn ngữ Japhet”, theo tên Japhet, con trai thứ ba của Noah, người mà, theo Kinh Thánh đạo Thiên Chúa, đã được chúa trời chỉ bảo nên đã cùng cả gia đình thoát khỏi nạn đại hồng thủy, cứu thoát loài người và phục sinh muôn loài trên mặt đất.

Người ta cho rằng, thế chiến thứ nhất (1914-18) và cách mạng (1917) đã tách N. Marr khỏi công việc khảo cổ thực địa ở Kapkaz, khiến ông chuyển trọng tâm sang hoạt động lý thuyết. Tháng 11.1923, ông công bố “học thuyết mới về ngôn ngữ”; thuyết này sẽ được N. Marr và một số học trò đồng thời là môn đồ của “chủ nghĩa Marr” (Marrizm) trình bày và diễn giải suốt nhiều năm sau, kể cả sau khi N. Marr đã qua đời (20.12.1934). Thuyết này còn được nhắc đến với những tên gọi: “thuyết Japhetic”, “Japhetologia”, “Marrizm”, “thuyết về tính giai đoạn”; nói gọn lại thì đó là lý thuyết về nguồn gốc, lịch sử và “bản chất giai cấp” của ngôn ngữ.

Xin nêu mấy nội dung chính của thuyết này, theo những lược thuật của một số nhà nghiên cứu Nga.

1/ Các ngôn ngữ Japhetic. Marr cho rằng có tồn tại cái mà ông gọi là “những ngôn ngữ Japhetic” (đặt theo tên Japhet, con trai thứ ba của Noah như nói trên); ông xếp và đây những thứ tiếng như tiếng Gruzia (là bản ngữ của ông và ông buộc học trò phải học) cùng với các ngôn ngữ Kartvelian vùng nam Kapkaz, rồi một số ngôn ngữ như Burushaki, Basque, v.v. Các ngôn ngữ Japhetic được Marr lý giải như một giai đoạn phát triển ngôn ngữ, hiện diện trên toàn thế giới, gắn với cấu trúc giai cấp của xã hội.

2/ Bản chất giai cấp của ngôn ngữ. Thuyết này khẳng định, ngôn ngữ có bản chất giai cấp, do nó là “thượng tầng” bên trên “hạ tầng” là các quan hệ kinh tế xã hội. Có thể phân chia ra các giai đoạn ngôn ngữ gắn với các giai đoạn phát triển xã hội theo chủ nghĩa Mác: xã hội tiền giai cấp, chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ quân chủ phong kiến, chủ nghĩa tư bản; và do vậy, sẽ cần phải nảy sinh một ngôn ngữ mới của xã hội cộng sản chủ nghĩa, đó sẽ là “ngôn ngữ mới và duy nhất, ở đó cái đẹp đẽ cao nhất được hòa quyện với sự phát triển trí tuệ cao nhất”. Những ngôn ngữ đơn lập được cho là thuộc những giai đoạn sơ khai, những ngôn ngữ có biến hình là thuộc những giai đoạn cao hơn; trong quá trình chuyển giai đoạn này sang giai đoạn khác sẽ hình thành các bộ phận của ngôn từ và các phạm trù ngữ pháp. Các môn đồ học thuyết Marrizm còn muốn xác lập một biên niên về sự nảy sinh các bộ phận từ vựng (danh từ, sau đó là đại từ, sau đó là động từ, v.v.).

3/ Nguồn gốc của ngôn ngữ. Các ngôn ngữ đều có nguồn từ “những tiếng kêu trong lao động”, do “cách mạng âm thanh” và gắn với ngọn nguồn hoạt động lao động của con người. Nó có trước ngôn ngữ ra hiệu (ngôn ngữ cử chỉ). Mọi từ vựng của mọi ngôn ngữ đều chung nguồn gốc xuất xứ (monogenesis), đó chính là 4 yếu tố vốn là những tiếng kêu khởi đầu lao động: SAL, BER, ION, ROSH (thoạt tiên “không có bất cứ hàm nghĩa gì” và nhắm tới các mục đích ma thuật); bộ môn gọi là “cổ sinh học ngôn ngữ” có thể quy bất cứ từ vựng nào vào một trong số 4 yếu tố ấy.

Trái ngược hoàn toàn với những quan niệm thông thường về lịch sử ngôn ngữ, theo đó, một ngôn ngữ nguyên sơ (proto-language) duy nhất phân rã dần dần thành những ngôn ngữ đơn lẻ nhưng có liên hệ thân thuộc nhau về nguồn gốc; Marr cho rằng sự phát triển ngôn ngữ đi theo hướng ngược hẳn lại: từ đa dạng, đa bội đến thống nhất, duy nhất. Theo ông, các ngôn ngữ nảy sinh độc lập nhau: chẳng những tiếng Ukraina và tiếng Nga từ xa xưa không hề thân thuộc họ hàng với nhau, mà đến mỗi phương ngữ, biệt ngữ tiếng Nga trong quá khứ cũng đều là những ngôn ngữ nảy sinh độc lập. Về sau sẽ diễn ra quá trình gặp gỡ, giao cắt, lai ghép nhau, khi hai ngôn ngữ do những tương tác lẫn nhau mà biến thành một ngôn ngữ thứ ba, mới, là con cháu của hai ngôn ngữ kia; ví dụ tiếng Pháp là do ngôn ngữ Japhetic và ngôn ngữ Latin lai ghép nhau. Do nhiều giao cắt, lai ghép mà số lượng ngôn ngữ giảm dần xuống và đến xã hội cộng sản thì quá trình này hoàn tất bằng việc tạo ra một ngôn ngữ toàn thế giới, khác với mọi ngôn ngữ đã tồn tại. (1)

Trong học thuyết của Marr còn nhiều nội dung khác nữa, ở đây tạm không đề cập.

Các luận điểm do N. Marr đề xuất, hoặc đã không được củng cố bằng các luận chứng, hoặc chỉ dựa vào những sự khẳng định khó đứng vững trước sự phê bình; khối tài liệu rộng lớn các ngôn ngữ xứ lạ, tuy gây ấn tượng mạnh cho người không phải chuyên gia, song thực ra lại chứa đựng rất nhiều sai lầm, gượng gạo, thậm chí là hư ngụy. Các công trình của Marr thường có lối trình bày rối rắm, lại hay lướt từ đề tài này qua đề tài kia. Đôi khi những điều đó lại còn gắn với bệnh trạng tâm lý của Marr nữa. Thế nhưng cùng với những cái đó, trong các công trình của ông cũng bộc lộ những tư tưởng về tầm quan trọng cuả nghiên cứu đồng đại đối với ngôn ngữ, về loại hình học ngôn ngữ, xã hội học ngôn ngữ, v.v.

Tuy vậy, nhìn chung, “học thuyết mới về ngôn ngữ” của N. Marr hoàn toàn không xác đáng, xét theo quan điểm khoa học. Vậy mà trong nhiều năm nó đã dành được sự ủng hộ mang tính nhà nước, trở thành học thuyết chính thống.

Ngay sau khi học thuyết này xuất hiện (1923), nó lập tức thu được sự chú ý đặc biệt của nhiều quan chức cấp cao các ngành khoa học và giáo dục Liên Xô. Trong số những quan chức đã lên tiếng ủng hộ lý thuyết này ngay trong những năm 1920s có: A. Lunacharsky, M. Pokrovsky, P. Lebedev-Polyansky, V. Friche, V. Bryusov, v.v. Dân ủy (bộ trưởng) giáo dục A. Lunacharsky viết rằng, “bộ óc sáng tạo hiệu quả của nhà ngữ văn vĩ đại nhất Liên bang chúng ta và có lẽ là vĩ đại nhất trong số những nhà ngữ văn đang còn sống” chính là N. Marr. Nhà vật lý, viện sĩ hàn lâm Abram Ioffe thì truyền bá giai thoại rằng N. Marr có thể, trong một ngày, học xong một ngôn ngữ trước đó ông chưa biết. Chính giám đốc đại học MGU khi đó là A. Vyshinsky đã yêu cầu đưa học thuyết của Marr vào giảng dạy.

Đáp lại sự quan tâm của giới chức đầu ngành, từ cuối những năm 1920s, N. Marr bắt đầu đưa các trích dẫn Marx và Engels vào các bài viết của mình; sau đó, N. Marr đi đến chỗ khẳng định học thuyết của mình chính là “ngôn ngữ học Mác-xít”, quay lại lên án các bộ môn ngữ học đang có ở Tây Âu (mà chính N. Marr từng chịu ảnh hưởng), ví dụ, ngữ học so sánh lịch sử là “khoa học tư sản”, học thuyết về ngữ hệ Ấn-Âu là “sự hỗ trợ về tư tưởng cho chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa chủng tộc”. Trước những ý kiến phản đối, Marr và những môn đồ phái này thường đáp trả bằng sự đả kích thô bỉ, dùng lời lẽ quy kết chính trị, hơn là biện giải khoa học.

Năm 1930, N. Marr lên đọc báo cáo tại Đại hội 16 Đảng CSLX và ngay sau đó vào đảng; ông là viện sĩ duy nhất trong số các viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học đế chế cũ gia nhập đảng cộng sản, lại là trường hợp rất hiếm, được miễn thời gian là đảng viên dự bị. Kể từ đó, “học thuyết mới về ngôn ngữ” chẳng những được ủng hộ bởi những cá nhân lãnh đạo cấp cao mà còn được tuyên truyền tích cực khắp Liên Xô và được vận dụng như “một lý thuyết duy nhất đúng đắn về mặt giai cấp”. Cũng có những nhà khoa học tỏ ra xem thường thuyết này, hoặc tìm cách hạn chế trích dẫn thuyết này. Học giả N.S. Trubetzkoy từ nơi lưu vong lên tiếng đả kích kịch liệt lý thuyết này, nhưng nói chung giới khoa học châu Âu hoàn toàn im lặng lảng tránh nó, mặc dù N. Marr có một vài chuyến sang Tây Âu. Trong lúc đó, xung quanh N. Marr hình thành “trường phái” những người tuyên truyền học thuyết này, hay đúng hơn là tuyên truyền những khẩu hiệu giả danh Mác-xít. Các thành viên này hầu hết là những kẻ háo danh, những “chuyên gia trẻ” xuất thân công nhân, hoặc đến từ các vùng biên xa xôi; họ đôi khi không có chút học vấn nào về ngữ học, họ cũng không làm nghiên cứu mà chỉ chú trọng viết phỉ báng những ai phản đối lý thuyết của Marr bằng những quy chụp chính trị (“bọn theo Trotzkist”, “tư sản buôn lậu”, v.v.). Tiếc rằng vẫn có một số nhà khoa học có trình độ cao tỏ ra đồng tình với đám tuyên truyền viên này.

Cuối năm 1929 xuất hiện một bản báo cáo kịch liệt phê phán học thuyết ngữ học của N. Marr, do một học giả Nga, E.D. Polivanov viết, nhưng không được đồng nghiệp ủng hộ, hơn nữa, vì báo cáo này, ông bị phái đi Trung Á rồi tại đấy ông bị bắt, bị xử bắn (1938). Vụ hãm hại này là dấu hiệu đầu tiên cho thấy học thuyết của N. Marr trở thành một học thuyết bị áp đặt từ trên xuống. Một ý đồ nữa chống học thuyết của N. Marr là của nhóm “Mặt trận ngôn ngữ” (của T. Lomtev, P. Kuznetzov) nhưng đến đầu 1932 thì bị các môn đồ học thuyết Marr đè bẹp.

Những năm 1937-38, cả những người phê phán học thuyết Marrizm (E. Polivanov, N. Durnovo, G. Ilinsky, G. Danolov) lẫn những người tích cực “truyền bá” học thuyết này (V. Aptekar, S. Bykovsky, L. Bashindzhagian) đều trở thành nạn nhân các vụ thanh trừng.

Sau khi Marr qua đời (20.12.1934), và nhất là vào những năm 1940s, những người tự coi là học trò và kế tục Marr (I. Meshchaninov, S. Katznelson, M. Gukhman, v.v.) trên thực tế đã vứt bỏ những nét khả ố ở “học thuyết mới về ngôn ngữ” của ông thầy, từ bỏ việc dán nhãn chính trị, và trong phạm vi khoa học, đã phát triển các nghiên cứu loại hình ngôn ngữ, lý thuyết cú pháp, mô tả các ngôn ngữ thiểu số các dân tộc trong Liên bang. Một số luận điểm được cho là “diễn giải chưa hoàn chỉnh” của Marr, được họ tuyên bố bảo lưu; một số luận điểm đã lộ rõ là hoang tưởng thì họ đem gán cho không phải Marr mà là một số “kẻ dung tục” vô danh. Trong việc biên tập cho in lại các công trình của N. Marr, tuy những người kế tục không dám vi phạm các luận điểm của Marr, nhưng họ cũng bớt đi khá nhiều trích dẫn.

Trong phạm vi cuộc đấu tranh gọi là “chống chủ nghĩa thế giới” (“Kosmopolitizm”, chiến dịch chính trị diễn ra những năm 1948-1953, nhắm vào lớp trung lưu trí thức, bị coi là đại diện xu hướng hoài nghi và thân phương Tây), khá đông tuyên truyền viên của học thuyết Marrizm (như F. Filin, G. Serduchenko) đã mở chiến dịch chống “những kẻ giả danh của lý thuyết tư sản” trong ngữ học, trên thực tế, đây là đòn tấn công nhắm vào tất cả các nhà ngữ học lớn (V. Vinogradov, D. Bubrikh, thậm chí cả những người kế tục học thuyết của Marr). Lúc này, học thuyết Marrizm được coi như một lý thuyết “yêu nước”, các công trình của Marr được đưa vào dạy ở bậc đại học, thậm chí cả ở trường phổ thông.

Đầu năm 1950, Viện HLKHLX lập ra một ban trù bị cho việc kỷ niệm 15 năm mất N. Marr; một số người phản đối học thuyết của Marr bị buộc thôi việc (S. Bernstein, B. Serebrenikov, v.v.). Nhưng chiến dịch này bất ngờ bị đình chỉ “từ trên xuống” và chuyển hướng ngược lại.

Trong hai tháng 5 và 6.1950, nhật báo “Pravda” mở cuộc thảo luận công khai về “học thuyết mới về ngôn ngữ” của N. Marr. Mở đầu cuộc thảo luận là bài của A. Chikobava (lúc đó đang phụ trách khoa nghiên cứu Kapkaz, đại học Tbilisi), kịch liệt phê phán học thuyết Marrizm; cùng theo hướng đó là các ý kiến của L. Bulakhovsky, G. Kapantzyan, B. Serebrenikov. Báo cũng đăng các ý kiến bảo vệ học thuyết ấy (I. Meshchaninov, N. Chemodanov, F. Filin, V. Kudryavtzev), và những ý kiến nhân nhượng, điều hòa (V. Vinogradov, G. Sanzheev, A. Popov, S. Nikiforov).

Vào gần lúc kết thúc cuộc thảo luận thì xuất hiện bài báo của người đứng đầu đảng và nhà nước Liên Xô, J. Stalin. Ngày 20.6.1950 báo đăng bài có nhan đề “Về chủ nghĩa Mác trong ngữ học”; cuộc thảo luận thực ra đã kết thúc ngay từ hôm đó, mặc dù còn kéo dài vài tuần nữa. Ngày 4.6 báo đăng đoạn văn Stalin trả lời nữ phóng viên E. Krasheninnikova; ngày 2.8 báo đăng đoạn văn Stalin trả lời thư một bạn đọc. Sau đó, tất cả các phần đăng tải này được soạn thành một văn bản dưới nhan đề “Chủ nghĩa Mác và vấn đề ngữ học”, được xuất bản với số lượng in lớn và được tuyên bố là “tác phẩm thiên tài”.

Trong bài báo của Stalin, ý tưởng xem ngôn ngữ là “kiến trúc thượng tầng”, “tính giai cấp của ngôn ngữ” do N. Marr đề xuất, đều bị bác bỏ; ngôn ngữ được xem như công cụ giao tiếp toàn dân; “học thuyết mới về ngôn ngữ” của Marr được khẳng định “không phải là ngữ học Mác-xít”.

Người ta nhận ra rằng, từ 20 năm trước, việc để cho N. Marr trực tiếp đọc báo cáo trước đại hội 16 ĐCSLX, sau đó J. Stalin trong phát biểu tại đó có trích một số luận điểm của N. Marr (“…ngôn ngữ mới sẽ không phải tiếng Đại Nga, không phải tiếng Đức, mà là một ngôn ngữ hoàn toàn khác…”), – là sự kiện đã đóng vai trò chính thống hóa học thuyết này trong khoa học trên toàn Liên Xô. Đến lúc này, J. Stalin (có sự tư vấn của Chikobava) đã phê phán gay gắt “học thuyết mới về ngôn ngữ” của N. Marr, chỉ ra tính chất phản khoa học ở các luận điểm của nó, chỉ ra sự liên hệ máy móc giản đơn của nó với chủ nghĩa Mác.

Người ta cho rằng, cuộc thảo luận là do Stalin trù định như đoạn dạo đầu để ông phát biểu ý kiến của mình. Chikobava sau này kể lại rằng bài của ông đăng báo “Pravda” là do Stalin chỉ thị cho ông viết.(2) Trước đó Chikobava có thư gửi Stalin khi ông bị một số môn đồ học thuyết Marrizm săn đuổi. Sau nữa lại rõ ra rằng chính bức thư ấy là đề xuất của Bí thư thứ nhất BCH ĐCS Gruzia Kandid Nesterovich Charkviani (1907-1994) và qua ông ta được gửi cho Stalin. Vậy có thể đây là sáng kiến của Charkviani, người che chở nhà ngữ học Chikobava; trong trường hợp này, Chikobava chỉ thực hiện vai trò một chuyên gia.

Về lý do Stalin can thiệp sâu vào ngữ học như vụ này, người ta nêu ra vài giả thuyết. Một là với việc này ông có thể củng cố vinh dự một lý thuyết gia của chủ nghĩa Mác. Hai là tư tưởng của Marr vốn nhắm vào tâm trạng những năm 1920s, đã không còn tương thích với đường lối chính trị của Stalin thời hậu thế chiến.

Từ sau lúc xuất hiện bài báo của J. Stalin, hầu như mọi công trình ngữ học ở Liên Xô đều buộc phải trích dẫn bài báo này, đồng thời “học thuyết mới về ngôn ngữ” của N. Marr chính thức bị coi là phản khoa học và lập tức biến khỏi vũ đài. Những người là môn đồ của thuyết Marrizm tuy cũng bị đả kích đôi lúc quá đà, có người bị buộc thôi việc, hoặc buộc phải đi tỉnh lẻ tìm việc, nhưng nhìn chung không có sự trừng phạt nặng nề.

Hàng loạt nhà ngữ học theo các khuynh hướng khác nhau, tại Liên Xô và cả nước ngoài, trong đó có cả những người vốn không có thiện cảm với chế độ Liên Xô thời Stalin, đều đánh giá sự kiện này như sự giải cứu ngành ngữ học Xô-viết khỏi cái ách những lý thuyết ý thức hệ hóa phi lý. Song sự kiện này vẫn chưa làm cho ngành ngữ học Xô-viết được lành mạnh hóa một cách bình thường. Tạp chí “Language” của Mỹ nhận định rằng, với vụ việc này, “ngành ngữ học Xô-viết đã bước được một bước theo hướng đúng, nhưng vẫn còn chưa bước khỏi bóng tối để ra ánh sáng, bởi vì tư tưởng Stalin, bất kể nội dung nào của nó, vẫn là giáo điều được tuyên ngôn bằng văn kiện chính thống”.(3)

Một mặt, cái huyền thoại đang thống trị đã bị tan tành chỉ trong một ngày, phương pháp nghiên cứu so sánh lịch sử thôi bị coi là “phản động”, nhưng đồng thời, tính chất của mối quan hệ giữa chính quyền và khoa học vẫn không thay đổi. Mặc dù Stalin nói trong khoa học cần có tự do ý kiến, nhưng hệt như trước, từ phía chính thống vẫn áp dụng sự phân giới giữa khoa học “đúng đắn”, “mác-xít” với mọi khuynh hướng còn lại, bị coi là “tư sản”, “lệch lạc về tư tưởng”. Đến khi đó hầu như mới chỉ khôi phục quyền cho ngữ học thế kỷ XIX, chủ yếu là nghiên cứu so sánh lịch sử, trước hết là khoa học Nga trước cách mạng. Còn lại, khoa học tiên tiến phương Tây, nơi ngự trị các khuynh hướng khác nhau của chủ nghĩa cấu trúc, đều bị cự tuyệt, chính trong những năm 1948-1950 ấy. Tất nhiên điều này còn liên quan đến tình trạng “chiến tranh lạnh” chia thế giới làm hai phe đối đầu nhau về rất nhiều mặt, từ chính trị, quân sự, kinh tế đến tư tưởng, văn hóa, khoa học.

Từ sau đại hội 20 ĐCSLX (1956), việc bàn luận về học thuyết Marrizm mất hẳn tính thời sự. Vào những năm 1960s, liên quan đến việc phê phán Stalin cũng xuất hiện một số ý đồ phục hồi học thuyết Marrizm, nhưng không có kết quả gì. Người ta càng thấy rõ, khi không còn sự ủng hộ từ phía chính thống, học thuyết này sẽ biến mất khỏi chân trời khoa học. Một số môn đồ cũ của học thuyết Marrizm mau chóng thích ứng với hoàn cảnh mới (như Filin, những năm 1960 trở thành viện sĩ thông tấn, rồi đứng đầu Viện nghiên cứu tiếng Nga và tạp chí “Vấn đề ngữ học” đến tận khi mất, 1982).

Nói gọn lại, “học thuyết mới về ngôn ngữ” của N. Marr hoàn toàn không xác đáng về khoa học, nhưng chính nó lại khiến giới nghiên cứu ngữ học đương thời thấy không thể thỏa mãn với bộ môn nghiên cứu so sánh lịch sử, và thấy cần nghiên cứu tính quy luật đồng đại của ngôn ngữ, xã hội học ngôn ngữ, loại hình học ngôn ngữ.

Chính sự ủng hộ mang tính nhà nước đối với học thuyết này đã cản trở sự phát triển của khoa ngữ học Xô-viết. Có thể so sánh tác hại của thuyết này với tác hại của thuyết Lysenko trong sinh học và nông học Liên Xô.

***

Trở lại câu chuyện Phan Khôi dịch bài báo của Stalin tại Việt Bắc hồi 1950-51.

Có thể thấy, như Phan Khôi đã bộc lộ ít nhiều trong lời phụ thêm cuối bản dịch, ông không có thông tin nào khác ngoài bản dịch chữ Hán và một vài lời dẫn của Lý Lập Tam cũng ở bản dịch Hán ngữ ấy. Theo đó, người ta biết có cuộc thảo luận về vấn đề ngôn ngữ học trên báo “Pravda” (mà Phan Khôi dịch từ chữ Hán là báo “Chân lý”), về một vài vấn đề lý luận dường như cốt yếu, như có thể coi ngôn ngữ như “thượng tầng kiến trúc” bên trên “hạ tầng cơ sở” hay không? Ngôn ngữ có “bản chất giai cấp” hay không?

Thời gian đó, vùng Việt Bắc do phía Việt Nam dân chủ cộng hòa kiểm soát, tức là do đảng cộng sản Đông Dương lãnh đạo (tuy đã rút vào bí mật). Song trong điều kiện kháng chiến, các nội dung hệ tư tưởng cộng sản còn chưa được thiết lập đầy đủ.

Bản thân Phan Khôi, trong hoạt động viết báo và dạy học từ những năm 1910s cũng đã có những nghiên cứu cụ thể, so sánh một số nội dung ngữ pháp của tiếng Việt với chữ Hán, tiếng Pháp (ví dụ những bài giảng “Hán văn độc tu”, 1932, 1936-37, mục “Quốc văn nghiên cứu” trên báo “Sông Hương” 1936-37, v.v.) song, nghiên cứu ở phạm vi các quy luật khái quát về lịch sử ngôn ngữ, thì hầu như ông vẫn còn chưa quen biết. Về đôi nét xã hội Liên Xô thì qua báo chí dư luận trước 1945, Phan Khôi cũng có ít nhiều thông tin. Song đến đầu những năm 1950s, sống tại vùng mà chính quyền có liên lạc mật thiết với nước Trung Hoa mới và thông qua đó với Liên Xô, những học giả có “vốn sống” cũ như ông cố nhiên phải tự điều chỉnh các quan niệm của mình.

Quả thật, thái độ nhất quán của Phan Khôi trong và sau khi dịch bài này là cần rất mực thận trọng, rất mực dè dặt. Ông nhắc lại điều này ở lời ghi thêm cuối tập sách: “nhất là bạn nào để tâm về ngôn ngữ học nên đọc thật kỹ”.

Báo chí ở vùng kháng chiến thường chú trọng nhiều sự kiện và vấn đề khác, quan thiết hơn các chuyện học thuật, nên ta khó tìm thấy phản hồi nào về tập sách dịch này. Dù sao, Phan Khôi cũng đã thực hiện được một thông tin về một sự kiện hệ trọng đời sống học thuật mà khá lâu về sau người ta mới biết đến.

28/2/2017

LẠI NGUYÊN ÂN

Chú thích:

(1) Xem: V.M. Alpatov, Marr, Marrizm, Stalinism [Marr, học thuyết Marr, chủ nghĩa Stalin] // Filosofskiye Issledovahiya [Nghiên cứu triết học], 1993, № 4, tr. 271-288 [chữ Nga]

(2) Chikobava, A.S., Điều đó xảy ra lúc nào và như thế nào. // Niên giám Ngữ học Iberiisk-Kapkaz, XII, Tbilisi, 1985. [chữ Nga]; theo Alpatov, bài đã dẫn.

(3) Rubinstein H. The Recent Conflict in Soviet Linguistics.// Language. V.27, 1951, № 3. [chữ Anh]; theo Alpatov, bài đã dẫn.

Nguồn: FB Lại Nguyên Ân

Sơn Đoòng lọt top 15 hang động đẹp nhất thế giới


Tạp chí du lịch nổi tiếng CnTraveler (Mỹ) vừa công bố danh sách 15 hang động đẹp nhất thế giới, trong đó có hang Sơn Đoòng của Việt Nam.

Hang Sơn ddooong lọt top 15 hang động đẹp nhất thế giới. Ảnh Internet

Theo đó, trang CNN từng nhận xét: “Hang Sơn Đoòng khiến người ta không khỏi thốt lên kinh ngạc bởi nó chứa đựng cả những khu rừng, suối nước ngầm và có khí hậu riêng biệt. Mây từ Sơn Đoòng thoát ra ngoài chính là dấu hiệu để những nhà thám hiểm đầu tiên nhận thấy sự hùng vĩ của hang động này”.

Trên hành trình chinh phục hang Sơn Đoòng kỳ vĩ và ngoạn mục, du khách sẽ phải vượt qua hàng loạt địa hình hiểm trở với sự trợ giúp của các dụng cụ chuyên dụng. Ngoài việc sở hữu sức khỏe tốt và tinh thần vững vàng, du khách cũng phải tuân thủ các quy định nghiêm ngặt về kỷ luật và an toàn trong suốt hành trình.

Trong danh sách “15 hang động đẹp nhất thế giới” của CnTraveler còn có nhiều cái tên nổi tiếng khác như hang Sáo Sậy (Trung Quốc), Phraya Nakhon (Thái Lan), Ajanta (Ấn Độ), Devetashka (Bulgaria)…  Hang Sơn Đoòng (tỉnh Quảng Bình) là hang động tự nhiên lớn nhất được khám phá trên thế giới. Tháng 5-2015, những thước phim về hang Sơn Đoòng lần đầu được phát sóng trực tiếp trên kênh truyền hình Mỹ ABC đã khiến cả thế giới ngỡ ngàng trước vẻ đẹp hoang sơ, hùng vĩ và có phần siêu thực tại nơi này.   TL

Thủ tướng yêu cầu kỷ luật việc bổ nhiệm người nhà

BBC

Thủ tướng Nguyễn Xuân PhúcBản quyền hình ảnhTUOI TRE
Image captionThủ tướng Nguyễn Xuân Phúc

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa yêu cầu chủ tịch UBND các tỉnh thành xem xét, xử lý kỷ luật đối với cá nhân vi phạm pháp luật trong tuyển dụng, bổ nhiệm.

Lâu nay tại một số địa phương diễn ra tình trạng quan chức bổ nhiệm người thân vào các vị trí trong bộ máy chính quyền.

Trang tin Chính phủ cho hay ông Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu các tỉnh thành báo cáo thủ tướng Chính phủ trước ngày 30/4/2017 về việc xem xét kỷ luật sai phạm trong lĩnh vực này.

Riêng biệt, ông yêu cầu Bộ trưởng Bộ Tài chính xem xét có hình thức kỷ luật đối với cá nhân vi phạm pháp luật trong công tác tuyển dụng, bổ nhiệm tại Cục Thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và báo cáo trước ngày 30/4.

Khi Tổng thống phong cho vợ làm phó

Những chính sách tích cực từ chính phủ Việt Nam?

Truyền thông trong nước từng đưa tin tại Cục Thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, vị cục trưởng đưa vợ vào làm trưởng phòng thanh tra và sau đó cũng đề nghị quy hoạch bà này làm cục phó, trong khi em vợ cục trưởng cũng giữ vị trí kiểm tra thuế viên…

Trước đó cũng có cáo giác Bí thư Tỉnh ủy Hà Giang đưa người thân giữ vị trí chủ chốt trong các cơ quan của tỉnh, điều ông bí thư bác bỏ.

Trong khi đó, bà Phạm Thị Thanh Trà, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Yên Bái, bị cáo buộc bổ nhiệm chức Giám đốc Sở Tài nguyên – Mội trường cho em bà là ông Phạm Sỹ Quý.

Bà Trà cũng phản bác rằng “đây là quyết định của tập thể Thường trực Tỉnh uỷ và Thường vụ Tỉnh uỷ tỉnh Yên bái, theo quy trình cực kỳ chặt chẽ” và không ưu ái em bà.

Đây không phải lần đầu Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chỉ đạo về việc bổ nhiệm sai nguyên tắc trong cơ cấu chính quyền.

Ngay từ khi mới nhậm chức, tháng 8/2016 ông đã nhấn mạnh không để chính phủ tai tiếng vì công tác cán bộ: “Việc tuyển chọn, bổ nhiệm là để tìm ra người tài chứ không phải tìm người nhà.”

Cũng từ lúc đó, ông đã yêu cầu: “Ta đã bắn chỉ thiên quá nhiều, không trúng vào ai cả, bây giờ phải bắn có địa chỉ, không thể nói xong là xong việc. Ngay ngày hôm nay phải thành lập tổ công tác theo dõi kết luận của Thủ tướng và các Phó Thủ tướng thực hiện đến đâu.”

Kẻ ‘dụ dỗ’ Đoàn Thị Hương là con cựu đại sứ Bắc Hàn tại VN

VOA

Đoàn Thị Hương là một trong hai nữ nghi phạm đã ra tay sát hại anh trai lãnh tụ Bắc Triều Tiên.

Đoàn Thị Hương là một trong hai nữ nghi phạm đã ra tay sát hại anh trai lãnh tụ Bắc Triều Tiên.

Với vốn tiếng Việt lưu loát, con trai của một cựu đặc sứ Bắc Triều Tiên tại Việt Nam đã dụ dỗ được Đoàn Thị Hương tham gia vụ ám sát ông Kim Jong Nam, anh trai của lãnh tụ Bắc Hàn Kim Jong Un, truyền thông quốc tế cho biết hôm 22/3.

Nghi phạm Ri Ji-hyon, 33 tuổi, là con trai của cựu đại sứ Bắc Triều Tiên tại Hà Nội. Ri đã sống tại Việt Nam khoảng 10 năm. Trước đó vào tháng 11/2009, Ri đến Đại sứ quán Bắc Triều Tiên ở Việt Nam làm việc khoảng 1 năm với tư cách là một nhà ngoại giao tập sự. Ngoài ra, Ri còn là một thông dịch viên. Tờ Yonhap nói với vốn tiếng Việt lưu loát, Ri đã thuyết phục được Đoàn Thị Hương tham gia giết ông Kim Jong Nam.

Đoàn Thị Hương và Siti Aishah, người Indonesia, bị buộc tội giết ông Kim Jong Nam bằng cách bôi chất độc thần kinh VX vào mặt ông, khi ông đang chờ chuyến bay tại phi trường Kuala Lumpur, Malaysia, hôm 13/2, giết chết ông này chỉ sau khoảng 20 phút. VX là một loại hóa chất bị Liên Hiệp Quốc xếp loại là vũ khí hủy diệt hàng loạt.

Ri Ji-hyon là một trong bốn nghi phạm Bắc Triều Tiên đã trốn khỏi Malaysia vào ngày ông Kim Jong Nam bị ám sát. Cả 4 người đều được cho là đã trở về Bình Nhưỡng.

Cảnh sát Malaysia đã công bố danh sách 8 người Bắc Triều Tiên bị tình nghi có liên quan đến vụ sát hại ông Kim Jong Nam. Ngoài những nghi phạm đã trốn khỏi Malaysia, cảnh sát nước này tin có 3 nghi phạm đang ẩn náu trong Đại sứ quán Bắc Triều Tiên ở Kuala Lumpur, trong đó có nhà ngoại giao Hyon Kwang-song.

Ri và Ri Jae-nam, một nghi phạm Bắc Triều Tiên khác, 57 tuổi, được cho là đã đến Việt Nam hồi tháng 12 năm ngoái để tìm một người Việt tham gia âm mưu giết ông Kim Jong Nam.

Hãng tin Yonhap trích dẫn các nguồn tin cho biết nhóm này đã có một chuyến đi Campuchia cùng với Hương để diễn tập, điều mà Hương tin là một trò chơi truyền hình nhưng kết cục lại là một vụ ám sát.

Đài truyền hình Nhật NHK cho biết O Jong-gil, một nghi phạm Bắc Triều Tiên 55 tuổi, có lẽ là Bí thư thứ hai tại Đại sứ quán Bắc Triều Tiên ở Indonesia.

Nữ nghi phạm Indonesia cũng đã diễn tập ở một nơi khác tại Campuchia sau khi bị thuyết phục tham gia vào âm mưu giết ông Kim Jong Nam. Tin cho hay ông O cũng là một người thông thạo tiếng Indonesia.

Hai nữ nghi phạm bị bắt tại Malaysia đều khai rằng họ tưởng đang tham gia vào một trò chơi khăm trên truyền hình. Nhưng cảnh sát Malaysia nói hai nghi can biết rõ việc họ làm và đã đi rửa tay ngay sau khi sát hại ông Kim Jong Nam vì biết đó là chất độc.

Theo Yonhap, IB Times

ĐỌC TẬP THƠ ” 40 NĂM EM” (TIẾP)

Ngô Minh

TÌM TÔI TÌM HUẾ

 

           ( Trích)

 

tôi ở đâu rơi về góc Huế

mười năm có lẻ buồn vui

một vợ hai con có bìa hộ khẩu

có một làng quê mong ngóng phía mặt trời

mà sao tôi chẳng là tôi

khi hèn mọn đánh rơi mình vào quên lãng

*

tôi tìm tôi lang thang

đêm nào lã chã trăng như nước mắt

trầm ngâm tôi với Ngự Bình

trước mộ đứa con trai sinh thiếu tháng (*)

cháu là người ngoài cuộc đời

chỉ được nhìn Huế năm ngày qua lồng kính!

*

tôi tìm tôi khuya khoắt

lập loè lửa nhang gốc phượng sương mờ

nhấp nháy hoài như mắt cây mắt gió

bên những người xe thồ, xích lô gác chân lên

trời nằm đợi khách

 

khẽ hát về “Đêm tàn Bến Ngự”

vâng, cho đến tàn đêm tôi mới gặp được lời của phố

nỉ non vệ cỏ bên đường

——-

 

(*): Tôi có đứa con trai sinh thiếu tháng năm 1980. Đã đặt tên cháu là Ngô Hải Sơn. Nhưng cháu chỉ sống được 5 ngày  trong lồng kính ở Bệnh viện TW Huế. Hiện mộ cháu ở nghĩa trang Phía Nam Huế

 

*

 

 

tôi tìm tôi lửa đốt

mỏi rời chân đêm đứng chờ vợ đẻ

cửa hạnh phúc đầy tiếng rên la

bắt chước ai tôi cắm nén nhang bên gốc xà cừ

cầu bình an cho con

bình an cho mẹ

sao lại không nguyện cầu cho bình an

Huế trăm năm lớp lớp oan hồn

chính tôi một oan hồn còn sống…

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.03.2017

Chỗ của nhà văn: ở giữa bạn đọc

Chỗ của nhà văn: ở giữa bạn đọc

(Rút từ facebook của Ngô Thị Kim Cúc)

Cuộc “Trò chuyện với nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ” diễn ra vào lúc 17 giờ, chiều chủ nhật 19 tháng 3/2017, ở Bookcafe Phương Nam – Đường Sách Sài Gòn.

Trời lắc rắc mưa vào lúc sắp bắt đầu nhưng sau đó, không rõ do tốt bụng hay vì cũng ưng hóng chuyện văn chương, mà ông trời bỗng dưng ngưng hột.
Ngay từ lúc xuất hiện, nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ đã phải đảm đương một trọng trách mà không ai có thể làm thay chị: ký trên các bản sách mà độc giả mua ngay tại bookcafe.

Điều rất vui là không chỉ có người lớn tuổi, độc giả trung thành của chị từ trước 1975, mà rất nhiều các em tuổi hai mươi cũng có mặt, cũng ôm cả chồng sách xếp hàng xin chữ ký.
Tất cả sách đều đã được độc giả “dọn” sạch, và chị Thụy Vũ, trừ thời gian dùng để “đối thoại”, thì tay chị không lúc nào được ngưng nghỉ… Ai cũng muốn có chữ ký tác giả trên những bản sách đáng quý này…

Sáu đầu sách tái bản đợt này (Cho trận gió kinh thiên, Chiều xuống êm đềm, Ngọn pháo bông, Mèo đêm, Chiều mênh mông, Như thiên đường lạnh) và bốn đầu sách đã tái bản đợt trước (Khung rêu, Nhang tàn thắp khuya, Thú hoang, Lao vào lửa) đều được độc giả “chiếu cố” nồng nhiệt…

Có khá đông nhà văn và giảng viên đại học ngồi lẫn vào các hàng ghế. Và trong những bạn đọc bình thường, có những người khá đặc biệt.

Một phụ nữ gầy, tóc bạc trắng, tự giới thiệu mình chỉ kém chị Thụy Vũ hai tuổi, từ miền bắc vào Sài Gòn sau 1975, nhưng đã đọc rất nhiều tác phẩm các nhà văn miền nam mà theo chị, đó là những tác giả cực kỳ tài năng với những cách viết khác nhau, tạo nên một thế giới văn chương đa dạng. Thụy Vũ là một trong những nhà văn mà chị hâm mộ.
Vào cuối buổi trò chuyện, một người đàn ông trên sáu mươi tuổi tự giới thiệu mình từ Bến Tre lên, do đọc được bài trên báo Tuổi Trẻ về cuộc gặp gỡ này. Ông kể, khi còn là học sinh tú tài, đã đọc truyện của chị Thụy Vũ, và rất yêu những nhân vật của chị. Không chỉ vậy, ông còn yêu luôn tác giả, cho dù tuổi tác rất chênh lệch. Với hy vọng lần đầu được diện kiến “người trong mộng” của mình, ông đã mua vé xe đò đi từ Bến Tre lên Sài Gòn để được thỏa nguyện…
Một bạn đọc tuổi hai mươi kể rằng, thiền sư Thích Nhất Hạnh sau khi đọc truyện ngắn Lòng Trần của Nguyễn Thị Thụy Vũ (một trong những truyện ngắn hay nhứt của chị), đã nói, nếu ông là tác giả, ông sẽ cho nhân vật ni cô ấy uống muỗng nước mắm rất “bí ẩn” kia… Và bạn trẻ đã đặt câu hỏi cho nhà văn: “Bà nghĩ vì về ý kiến ấy? Giờ đây, sau rất nhiều thăng trầm trong cuộc sống, bà có sẽ cho nhân vật ni cô ấy uống muỗng nước mắm như ý kiến thầy Nhất Hạnh hay không?”… Và câu trả lời của chị Thụy Vũ là: “Không, không có gì thay đổi cả…”.
Một bạn nữ trẻ, lại đặt câu hỏi: “Nhà văn có ý định đề cao nữ quyền hay không, khi viết về những nhân vật nữ rất đặc biệt như vậy?”. Chị Thụy Vũ đã trả lời: “Tôi không có chủ ý đó. Tôi chỉ viết theo những gì mình nghĩ, một cách tự nhiên”.

Nhiều bạn tôi, trong giới viết văn viết báo, khi cuộc chuyện trò đã chấm dứt, tới bảo nhỏ với tôi rằng: “Cảm động quá. Đẹp quá…”.
Tôi có thể đoán được vì sao…
Đó là, cuộc hội ngộ giữa một nhà văn đã ở tuổi tám mươi, sau hơn bốn mươi năm buộc phải xa rời văn đàn do những biến động xã hội, trong cuộc trùng phùng với những bạn đọc của mình, đã khiến cho thời gian như ngưng lại, như quay lại.
Tình yêu thương không thay đổi. Sự quý trọng không thay đổi. Giá trị của văn chương đích thực không thay đổi.
Tất cả vẫn tồn tại nguyên vẹn, không hề suy suyển…
Và tôi nghĩ, việc tái bản mười đầu sách trước 1975 của nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ, có thể xem như một báo hiệu tốt đẹp cho dù muộn màng, về việc cần thiết để văn chương được tự đến với người đọc, và để người đọc được quyền chọn lựa, đánh giá cái hay dở lẫn tình cảm yêu ghét của mình, không qua bất cứ sự chỉ định/gợi ý nào…
Hãy cứ để văn chương đi thẳng tới độc giả, và để nhà văn được “bầu chọn” từ chính những người đọc của họ.

Trong hình ảnh có thể có: 6 người, mọi người đang cười, mọi người đang đứng

Nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ quá bận rộn với độc giả của mình. Sách cứ xếp hàng trước mặt chị để xin chữ ký, chẳng lúc nào ngơi…
Trong ảnh; TS Võ Văn Nhơn, nhà văn Lý Lan, TSNguyen Thi Thanh Xuan, giảng viên Hoang Kim Oanh, Kim Cúc Ngô Thị.

Trong hình ảnh có thể có: 4 người, mọi người đang cười, mọi người đang ngồi và ngoài trời

Cùng với Thụy Vũ

Trong hình ảnh có thể có: 4 người, trong nhà

Trong hình ảnh có thể có: 6 người, mọi người đang cười, mọi người đang ngồi

Cùng với Thụy Vũ

Trong hình ảnh có thể có: 16 người, mọi người đang ngồi

Cùng với Thụy Vũ

Trong hình ảnh có thể có: 4 người, mọi người đang ngồi, máy ảnh và trong nhà

Cùng với Thụy Vũ

Trong hình ảnh có thể có: văn bản

Trong hình ảnh có thể có: văn bản

Không có văn bản thay thế tự động nào.

Không có văn bản thay thế tự động nào.

Không có văn bản thay thế tự động nào.

Trong hình ảnh có thể có: văn bản

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.03.2017

TRONG CĂN PHÒNG ẨM MỐC THỜI GIAN

TRONG CĂN PHÒNG ẨM MỐC THỜI GIAN

Nguyễn Quang Thiều
Như nhịp chảy của những dòng sông miền Trung quê ông đầy ồn ào dữ dội, nhưng trong đục rạch ròi; cái cá tính gai góc nhiều khi đến thành khó chịu của Võ Thanh An lại cũng là chiếc áo để che đi một tâm hồn đa cảm và hiếu nghĩa. Ông là người luôn coi trọng tình cảm, coi trọng chữ tín.

Nhà thơ Võ Thanh An

Võ Thanh An chỉ là bút danh, được ghép lại từ 3 chữ trong tên quê hương ông: Võ (Võ Liệt) Thanh (Thanh Chương) An (Nghệ An) mà thành. Còn tên thật của ông là Trần Quang Vinh, sinh năm 1942. Cầm tinh con ngựa (tuổi Nhâm Ngọ), trong những câu chuyện vui với bạn bè, ông thường kể ra tên một loạt các nhà văn đồng niên rồi kết luận: Tất cả những người tuổi Nhâm Ngọ, dù làm gì đi nữa, thì bao giờ cũng là những người đoàng hoàng… Đoàng hoàng, theo cách của Võ Thanh An có nghĩa là người quyết liệt, yêu ghét đúng sai rõ ràng. Chính vì vậy mà ông luôn có nhiều bạn bè thực sự hết lòng yêu quý, nhưng cũng từng làm không ít người mếch lòng bởi sự bộc trực nhiều khi đến lạnh lùng của mình. Nhưng có lẽ chính cái sự bộc trực đầy “chất Nghệ” (An) ấy lại là thứ để Võ Thanh An tự lựa chọn nên những người bạn tri kỷ của mình…

Như nhịp chảy của những dòng sông miền Trung quê ông đầy ồn ào dữ dội, nhưng trong đục rạch ròi; cái cá tính gai góc nhiều khi đến thành khó chịu của Võ Thanh An lại cũng là chiếc áo để che đi một tâm hồn đa cảm và hiếu nghĩa. Ông là người luôn coi trọng tình cảm, coi trọng chữ tín. Đã từng có chuyện Võ Thanh An bỏ công suốt hơn 40 năm để tìm lại một người bạn đã từng sẻ chia tấm áo ấm cho ông thời đi học. Tìm được bạn, ông mời bạn ra Hà Nội chơi, và rồi hai ông bạn già ôm nhau khóc… Ân đền nghĩa trả như trong một câu chuyện cổ dân gian vậy…

Trước khi về công tác tại tuần báo Văn nghệ, Võ Thanh An từng có thời gian công tác tại Bộ Điện và Than. Hơn 20 năm làm biên tập viên trang thơ của tờ báo văn chương này, ông tự nhận mình là người “đa sầu, đa cảm, ham vui, ham bạn…”. Thế nhưng chính cái đa sầu, đa cảm, ham vui, ham bạn ấy của ông đã góp phần phát hiện và tạo đà cho nhiều nhà thơ thế hệ sau này.

 

Nói chung, ông là một người có rất nhiều góc khuất mà không phải ai cũng có thể nhận ra. Nhưng ông cũng không quan tâm nhiều đến chuyện ấy…

 

Đã lâu lắm rồi tôi không đến trụ sở báo Văn nghệ. Mấy tháng trước cùng với một người bạn ở xa về ghé qua vào một buổi trưa. Mọi người đang nghỉ. Cả tòa nhà nhiều tầng yên ắng. Tôi đứng ở sảnh chờ đến giờ làm việc và chợt thấy lòng xao động. Tôi đã làm việc ở báo Văn nghệ 15 năm. Một khoảng thời gian không ít và có nhiều kỷ niệm buồn vui với nơi này. Thời gian đổi thay quá nhiều. Nhớ khi tôi được giao nhiệm vụ tổ chức để ra mắt tờ Văn nghệ Trẻ tôi còn rất trẻ. Bây giờ tôi đã già. Gần 60 tuổi là già thật rồi. Tờ Văn nghệ Trẻ cũng không còn nữa. Sau khi được phân công “trông coi” Văn nghệ Trẻ một năm đầu tiên, tôi chuyển sang làm biên tập thơ. Giữa tòa nhà cao tầng hiện đại bây giờ tôi thấy nhớ cái phòng của ban thơ vô cùng. Một cái phòng nhỏ nằm ở tầng một chứa đầy bản thảo. Và giữa hàng núi bản thảo thơ lưu cữu luôn thoảng mùi ẩm mốc của thời gian là một nhà thơ ngồi một mình im lặng. Ông là Võ Thanh An, Trưởng ban Thơ của báo Văn nghệ. Ngày đầu tiên đến nhận việc ở Ban thơ, tôi đã nhìn thấy nhà thơ Võ Thanh An ngồi như thế. Tôi bước vào chào ông. Nhưng ông im lặng nhìn tôi một hồi lâu. Đấy cũng là một trong những lý do làm cho tôi mỗi khi nhớ đến ông là hình ảnh đó lại hiện lên. Những năm tháng sau này, tôi vẫn thỉnh thoảng nhìn thấy ông ngồi như vậy. Cách ngồi ấy nó khác hoàn toàn sự sôi nổi của ông thường thấy. Ông là một người sắc sảo, thẳng thắn và mạnh mẽ. Ông có một giọng nói trầm vang và đôi mắt nhìn như xuyên qua óc người đối diện. Hồi mới về báo Văn nghệ, nhìn ông với tóc dài, ria mép rậm, quần áo bò, giọng nói quyết liệt, mắt nhìn thẳng… tôi cảm thấy sờ sợ. Vì thế, tôi e dè và cẩn trọng mỗi khi ngồi trước ông. Nhưng khi tôi nhìn thấy ông ngồi một mình trong căn phòng của ban Thơ như không có ai thì tôi đã bắt đầu hiểu ra một phần con người ông. Đặc biệt là tôi đã từng chứng kiến con người ông trước những bất công, những nghịch lý nào đấy trên cõi đời mà ông biết, đôi mắt ông đầy nước trong khi giọng nói ông rung lên với sự nổi giận của lương tâm. Ai đã từng quen biết ông đều dễ dàng nhận ra một điều: Võ Thanh An không bao giờ làm ngơ trước những gì chướng tai gai mắt. Ông không sợ hãi kẻ nào và cũng không xu nịnh bất cứ ai. Bởi thế mà ông đã viết những câu trong bài thơ Thằng Bờm nổi tiếng:

Trọn đời không nợ nần ai

Không quyền chức để gọi ngài xưng ông

Không sang trọng, chẳng bần hàn

Không mưu mánh, đừng ai mong phỉnh phờ

Đúng là ông không nợ nần ai. Ông không “mưu mánh” gì. Ông đã sống sòng phẳng. Bởi thế mà sau khi về hưu, ông để lại nhiều kỷ niệm đẹp trong lòng bạn bè. Tôi nhớ cách đây rất nhiều năm, tôi tổ chức hai trang báo về nhà thơ Xuân Quỳnh. Nghe tin đó, con trai nhà thơ Xuân Quỳnh đã gặp tôi và đề nghị cho anh xem tất cả những bài viết về mẹ anh trước khi in báo. Tôi không đưa cho anh xem những bài báo đó và đã nói với anh nguyên văn như sau: “Nếu mẹ anh, nhà thơ Xuân Quỳnh, mua hiện tại bằng “lá chuối” thì tương lai sẽ trả lại cho mẹ anh bằng lá chuối. Còn nếu mẹ anh mua hiện tại bằng kim cương thì tương lai sẽ trả mẹ anh bằng kim cương”. Và tương lai đã và đang trả cho bà bằng kim cương. Bởi bà đã sống chân thành, đẹp đẽ và biết hy sinh cho người khác. Cuộc đời luôn công bằng. Nếu cuộc đời chưa kịp công bằng với sự chân thành và lòng tốt của ta thì cuộc đời sẽ trả lại sự công bằng cho ta sau khi ta từ giã cuộc đời hoặc con cháu ta. Đấy là sự thật. Đấy là chân lý.

Nhà thơ Võ Thanh An là người không giấu được con người mình trong giọng của ông khi vang lên và trong đôi mắt của ông khi mở nhìn. Ngồi với ông và chơi với ông là ta được sống trong sự an toàn. Ta chẳng phải ý tứ gì, chẳng phải khôn khéo gì và chẳng phải giả vờ gì khi làm bạn với ông. Cái giá trị lớn nhất trong quan hệ giữa người với người là sự an toàn như thế. Tôi là người đã tìm thấy sự an toàn trong những năm tháng làm việc với ông. Và như vậy, ông chính là người được sống một cuộc sống thực trong cuộc đời của mình, được sống trong những lý do làm người đích thực. Ông được quyền yêu đắm đuối, được quyền nổi giận, ông được quyền ngang tàng và được quyền tĩnh lặng.

Trong những câu thơ của ông tôi thích, có một câu thơ vẫn thường đến với tôi: Trước vườn rộng vẫn thấy mình trống trải. Khi biết câu thơ đó thì tôi mới hiểu cái không gian và thời gian những lúc ông ngồi im lặng một mình trong căn phòng của Ban thơ luôn thoảng mùi ẩm mốc của bản thảo lưu cữu. Câu thơ ấy như một người thầy, như một người tri kỷ đến và nói cho tôi nghe về một điều trong cuộc đời này. Chỉ sau này đã già đi, tôi mới thấy câu thơ đó là một trải nghiệm sâu sắc và là một sự thật. Sự thật ấy là trong cuộc đời này, nhiều khi ta ngồi giữa đám đông cười nói mà lòng ta trống vắng. Con người sống giữa bảy tỉ người mà đâu dễ dàng tìm thấy kẻ tri âm. Và đó cũng là khoảng thời gian mà con người, cụ thể ở đây là nhà thơ Võ Thanh An, hiểu được cái phù phiếm, cái hư vô của cuộc đời này. Nhưng để nhận ra điều đơn giản ấy có khi ta phải đi hết cả cuộc đời, phải trả giá đau đớn có khi bằng chính cái chết ta mới nhận ra.

Võ Thanh An không phải nhà thơ của trí tưởng tượng, của những cảm xúc đa đoan, mơ hồ, của phép tu từ cầu kỳ, của một cấu trúc phức tạp… Ông là nhà thơ của lý trí, của rành mạch, của thái độ và của những trải nhiệm thấu đáo và cả đau đớn về cuộc đời. Có những lúc tôi chứng kiến ông đứng trước một hành vi nào đó, một người nào đó mà ông coi thường nhưng ông lại không nổi giận như ông từng nổi giận. Ông khẽ lắc đầu và bỏ đi. Ông bỏ đi như một sự thất vọng, như một sự không thể chịu đựng hơn nữa. Và trong cái dáng lưng bước đi của ông lúc đó, tôi thấy có cả một gánh nặng buồn bã. Nhớ lại hình ảnh đó, tôi lại thấy những câu thơ của ông vang lên:

Dẫu biết rằng “Một sự nhịn là chín sự lành”

Dạ thưa thầy, con đã nhịn đến quên mình

Sao sự lành hiếm thế?

Những câu thơ ấy là một tiếng kêu, là bản công bố về một trong những sự thật cuộc đời, là một bài học triết lý nhân sinh mà khi con người càng sống thì càng có cơ hội nhận ra. Nhưng những câu thơ kia lại không phải là sự nổi giận. Nó làm hiện lên một con người là Võ Thanh An chịu đựng những bất công, những nghịch lý như một kẻ tu hành. Có lẽ thế mà trong những năm tháng sống với ông trong căn phòng chật chội đầy mùi ẩm mốc của bản thảo lưu cữu, thi thoảng ông lại nói với tôi: “Đời có luật nhân quả em ạ. Đừng bao giờ nghĩ mình thua thiệt mà sinh tức tối, đừng ham hố quá mà sinh độc ác. Mày nghe lời anh”. Tôi đã nghe lời ông. Nhưng cũng phải thú nhận rằng: Để thực hiện được điều đó đâu có dễ dàng gì. Bởi có quá nhiều cám dỗ vây bủa quanh ta, có quá nhiều bất công dội vào ta, có quá nhiều điều làm lòng ta nổi giận. Nhưng khi ta có ý thức nghiêm túc về điều đó thôi thì lòng ta đã bớt đi một phần ham hố, bớt đi những mưu mô với con người rồi.

Nhà thơ Võ Thanh An về hưu đã nhiều năm nay. Tôi rất ít khi được gặp ông. Và ông hầu như không đến những nơi nhộn nhạo, ồn ào luôn chứa đựng thị phi, không thì thào về chuyện này, chuyện nọ, về người này hay người kia. Ông sống lặng lẽ trong ngôi nhà của mình. Với tôi thật dễ hiểu bởi ngay khi còn làm việc ở một tờ báo mà các nhà văn, nhà thơ thường xuyên qua lại luận bàn chuyện văn chương ồn ã thì tôi đã thấy những khoảnh khắc ông chìm vào tĩnh lặng trong căn phòng chất đầy bản thảo thơ luôn thoảng mùi ẩm mốc, hút thuốc triền miên, mắt mở nhìn bất động như cố tìm kiếm một điều gì đó, như cố lấp đi một khoảng trống rỗng trong cuộc đời. Và trên gương mặt phong trần, rắn rỏi như của một võ sỹ của ông, tôi chợt nhìn thấy một đám mây đa cảm trôi qua.

Trong ngôi nhà giản dị của mình trong những năm tháng nghỉ hưu, ông đọc sách Phật nhiều hơn, suy ngẫm nhiều hơn về cái giá thực của một đời người. Và tôi tin chắc rằng, thi thoảng ông lại nhếch mép cười một ai đó trong chúng ta. Mỗi khi nhớ về báo Văn nghệ, nhớ về ông, tôi chỉ thấy hiện lên giữa tòa nhà cao tầng một căn phòng chật chội của Ban thơ ở tầng một ngôi nhà 17 Trần Quốc Toản, nơi luôn thoảng mùi ẩm mốc của bản thảo lưu cữu. Và trong căn phòng ấy có một người sau những nổi giận chân thành có lúc tưởng cực đoan lại chìm vào tĩnh lặng và trống vắng như một phép thiền định.

Nguồn Văn nghệ 

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.03.2017

Bàn tròn về Triết lý giáo dục

Bàn tròn về Triết lý giáo dục

  •   PHAN VĂN THẮNG VÀ CÁC KHÁCH MỜI
    ( VHNA)

Lời Tòa Soạn:  Từ nhiều năm nay Giáo dục là lĩnh vực mà dư luận quan tâm và có thể nói là bàn bạc, kêu ca nhiều nhất. Đương nhiên, vì đây là lĩnh vực có mối liên hệ  với tất cả các thành viên xã hội, trực tiếp hoặc gián tiếp, hiện tại hay trong quá khứ và tương lai. Xã hội bàn nhiều chuyện, trong đó có vấn đề về triết lý giáo dục. Nhưng xem ra chưa có sự đồng thuận, vẫn còn nhiều ý kiến trái ngược nhau. Bởi vậy, VHNA xin phép được trở lại câu chuyện này.

Phan Văn Thắng:Thưa các quý vị. Như chúng ta biết, khi bàn về nền giáo dục nước nhà hiện nay, người ta thường nói về triết lý giáo dục, cho rằng triết lý giáo dục, có hoặc chưa có, đều là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tình trạng khủng hoảng giáo dục hiện nay. Để trao đổi về triết lý giáo dục Việt nam, điều đầu tiên mà chúng tôi muốn được các vị trao đổi là khái niệm về Triết lý giáo dục.

Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng: Trước hết phải làm rõ triết lý là gì. Theo tôi, đó là lĩnh vực sinh hoạt của trí tuệ, tư duy về hiện hữu, cùng đích, tổng hợp những giá trị đạo đức, vai trò của con người trong thế gian và vũ trụ.

Và, triết lý giáo dục là mục đích, hướng đi trong sinh hoạt đào tạo tri thức, tư duy và chuyên môn của dân chúng.

Triết lý giáo dục là nền tảng cho toàn bộ sinh hoạt giáo dục từ đầu tới cuối, từ hướng đào tạo thầy đến sự chọn lựa nội dung giáo trình, phương pháp giảng dạy, chương trÌnh học vấn nhất là kết quả đầu ra…

Phó Giáo sư Phan Huy Dũng:Khái niệm triết lý giáo dục được nhắc tới thường xuyên trong khoảng hơn chục năm lại nay thể hiện ít nhất mấy điều: 1. Nhu cầu “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo” đã trở nên bức thiết; 2. Người ta dần nhận ra: việc thiếu một triết lý giáo dục rõ ràng (và sáng suốt) là nguyên nhân chính khiến những lần cải cách giáo dục từng thực hiện rơi vào tình trạng chắp vá, nửa vời; 3. Những quan điểm chỉ đạo xuất phát từ các Nghị quyết của Đảng chưa đủ bẻ dòng hoạt động của giáo dục đào tạo để tạo nên một cuộc chấn hưng giáo dục thực sự… Như vậy, việc nêu vấn đề triết lý giáo dục trong bối cảnh hiện nay không phải chuyện vu khoát của những người thích đại ngôn mà thiếu thực tế.

Tôi không rõ thuật ngữ triết lý giáo dục có phải được dịch từ thuật ngữ Philosophy of  Education trong tiếng Anh hay không, nhưng rõ ràng nội dung của nó – theo văn cảnh sử dụng – có khác với nội dung của Philosophy of  Education vốn phải được hiểu chính xác là triết học giáo dục. Như vậy, bất kể nguồn gốc thuật ngữ triết lý giáo dục đến từ đâu, hiện tại, khó có thể đồng nhất triết lý giáo dục với triết học giáo dục. Ở ta đang thiếu cả triết học giáo dục lẫn triết lý giáo dục mang tính chính danh. Triết học giáo dục cần được hiểu là một bộ môn nghiên cứu hoạt động giáo dục từ góc độ triết học, còn triết lý giáo dục có thể được được tạm hiểu là những mệnh đề tổng quát mang tính triết học về giáo dục, gần gũi với những cái gọi là phương châm giáo dục, nguyên tắc giáo dục, tất nhiên, đây là những mệnh đề được nảy sinh từ một nghiên cứu triết học cơ bản, thấu đáo về giáo dục. Không có triết học giáo dục thì cũng không có triết lý giáo dục, bởi triết lý giáo dục không phải là những phát ngôn cảm tính hay mang nặng tính chính trị về giáo dục.

TS Phạm Thị Ly:Theo tôi, Triết lý giáo dục có thể được diễn đạt dưới hình thức một tuyên ngôn, hay một khẩu hiệu ngắn gọn, ví dụ như “nhân bản, dân tộc, khai phóng”.Tuy nhiên cái tuyên ngôn đó có được thể hiện trong thực tế hay không thì lại là vấn đề khác.

Tôi vẫn nghĩ rằng, có những triết lý ngầm ẩn trong cách chúng ta thiết kế hệ thống giáo dục và xây dựng chính sách, dù những nguyên tắc đó có được phát biểu ra thành lời hay là không. Những nguyên tắc chi phối cách chúng ta quản trị hệ thống, xây dựng chương trình đào tạo, đánh giá kết quả học tập, tuyển chọn và đãi ngộgiới quản lý hay giảng viên, v.v có ý nghĩa quan trọng hơn nhiều so với những tuyên ngôn có thể rất hay, rất đúng, nhưng không có mối liên hệ nào với thực tế đang diễn ra ở các trường.

Phan Văn Thắng:Các quý có thể cho biết những triết lý giáo dục nổi bật trên thế giới?

Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng:  Theo tôi biết thìkhông có nhiều. Chỉ có triết lý giáo dục đang phổ biến ở hầu hết các nước phát triển, phát xuất từ những đề xuất trong thời kỳ Phục hưng trội nổi nhất là của ERAMUS, COMENUS, LOCKE, ROUSSEAU..đưa giáo dục vươn lên thoát khỏi sự kèm kẹp của nhà thờ và phong kiến, lấy con người làm cứu cánh, mới là đáng kể.

Phó Giáo sư Phan Huy Dũng:Có nhiều trường phái triết học nên cũng có nhiều triết học giáo dục khác nhau; theo đó, cũng có nhiều triết lý giáo dục khác nhau từng tồn tại trong lịch sử. Nếu không áp đặt cứng nhắc những tiêu chuẩn hiện đại đối với sự ra đời/ tồn tại của một khoa học, có thể nói rằng nền tảng của các triết học giáo dục, triết lý giáo dục đã được “đặt” từ thời cổ đại, chứ không đợi đến giữa thế kỷ XX mới được xây dựng. Dĩ nhiên, theo sự phát triển của nhận thức, tư duy, của đời sống xã hội, ở từng thời đại khác nhau, con người đều phải không ngừng suy tư, cải tạo lại các triết học giáo dục, triết lý giáo dục đã có. Ở thời đại mà người ta đang hướng tới những giá trị toàn cầu, giá trị nhân loại phổ quát hiện nay, các triết học giáo dục, triết lý giáo dục đang có cuộc giao thoa để tìm kiếm tiếng nói chung. Ở Việt Nam, việc dịch thuật, phổ biến các tư tưởng triết học giáo dục, triết lý giáo dục của những nước có nền giáo dục phát triển (và tạo được những hình mẫu đáng noi theo) trong thời gian qua phản ánh xu thế tích cực đó. Hoàn toàn có thể nhận ra sự tiếp thu đáng kể các triết lý giáo dục tiên tiến trong Nghị quyết 29 của BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI (dĩ nhiên là tiếp thu “có chọn lọc”!). Dù sao, đây cũng là một “cách đi” khá khôn ngoan, trước tình trạng chúng ta từng “bỏ quên” việc nghiên cứu về triết học giáo dục trong một thời gian dài. Rõ ràng, ta đang ở bước đầu của việc xây dựng bộ môn triết học giáo dục, thông qua việc vay mượn và “nối kết”, “lắp ghép” những tư tưởng giáo dục tiến bộ từ các trường phái, các hệ thống triết học giáo dục khác nhau trên thế giới.

Phan văn Thắng:Hiện nay, Việt Nam có Triết Lý Giáo Dục không? Nếu có, nội dung, bản chất và hiệu ứng văn hoá xã hội của nó là gì?”

Tiến sỹ Phạm Thị Ly:Nhiều người nói Việt Nam hiện nay không có triết lý giáo dục. Tôi không tán thành nhận định ấy.

Socrates nói: “Triết lý bắt đầu bằng sự suy tư”. Khi chúng ta tự hỏi, mục đích của giáo dục là gì? Nền giáo dục này mong muốn tạo ra những con người như thế nào và để làm gì? Bản chất của giáo dục và của kiến thức là gì và bằng cách nào chúng ta đạt được mục đích tạo ra hình ảnh được mong đợi với tư cách là kết quả của giáo dục, đó là lúc chúng ta đang nghĩ về triết lý giáo dục.

Vậy thì, triết lý giáo dục hiện đang tồn tại trong nhà trường Việt Nam là gì?Nếu chọn một cụm từ vắn tắt để diễn tả, có lẽ có thể dùng ba chữ “hồng và chuyên”.Cụm từ này có thời rất phổ biến, hiện nay không mấy ai nhắc đến nữa, nhưng nó vẫn tồn tại trong thực tế dưới vô vàn hình thức.

“Hồng và chuyên” nói lên mong muốn của hệ thống giáo dục hiện tại, là tạo ra những người có khả năng chuyên môn trong một lĩnh vực nghề nghiệp, đồng thời là những người kiên định với lý tưởng xã hội chủ nghĩa.

Nhưng, như Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói, xã hội xã hội chủ nghĩa là thứ ta chưa có, và đến cuối thế kỷ này cũng không biết có hay chưa, cho nên việc kiên định với một hình ảnh chưa ai biết rõ trong tương lai đã làm nảy sinh nhiều vấn đề trong thực tế hiện tại.

 

Bản chất của việc học tập và nghiên cứu chính là một quá trình khám phá không có điểm dừng. Tất cả mọi phát minh, sáng kiến, khám phá, v.v. đều nảy sinh trên cơ sở nghi vấn những gì đã có và đang có, kể cả việc lý giải những hiện tượng tự nhiên, lẫn thẩm quyền hay chuẩn mực.Việc buộc phải chấp nhậnmột chân lý bất kể nội dung chân lý ấy là gì đã triệt tiêu động lực khám phá, vốn là bản chất cốt lõi của việc học.

Vì thế, tư duy phản biện, vốn đã không phải là điểm mạnh của truyền thống văn hóa châu Á, lại càng trở nên thứ yếu trong mục tiêu giáo dục của chúng ta. Và vì được huấn luyện để chấp nhận một chân lý có sẵn, học sinh của chúng ta được mong đợi trở thành con ngoan (cha mẹ bảo gì nghe đó), trò giỏi (lặp lại đúng những gì được thầy cô truyền đạt), lúc nhỏ được cha mẹ, thầy cô nghĩ thay, lớn lên đi làm được cấp trên nghĩ thay, bước ra xã hội có chính quyền nghĩ thay, họ không được đào tạo cách suy nghĩ, không thấy cần phải suy nghĩ, và cuối cùng là không còn khả năng suy nghĩ.

Hệ quả của điều này là, học sinh của chúng ta bị đào tạo theo lối rập khuôn như sản xuất một con ốc trong cỗ máy. Thầy cô giáo không có không gian để suy nghĩ và sáng tạo trong cách dạy.Có rất ít cơ chế giúp cá nhân hóa quá trình học tập, và giúp khám phá tiềm năng khác nhau của từng em.Kết quả là nhiều em vào đại học vẫn không biết mình là ai, sống để làm gì, có những khả năng và mơ ước gì, có thể làm được điều gì. Vì không có ý thức rõ rệt về giá trị của bản thân và về mục đích sống, họ rất dễ rơi vào chỗ học hành theo lối được chăng hay chớ, cốt để lấy tấm bằng kiếm việc nuôi thân. Ítai dám nghĩ khác, nói khác, làm khác, trong lúc chính những thứ đó là nguồn gốc tạo ra thay đổi và tiến bộ.

 Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng:Tôi cũng nghĩ là Việt nam chúng ta đang có triết lý giáo dục, nền giáo dục của chúng ta đang có triết lý. Đó làtriết lý giáo dục xã hội chủ nghĩa.

Có triết lý nhưng có sự nhầm lẫn giữa tuyên truyền và giáo dục, coi thường quan điểm đa chiều,tự do trong nội dung tri thức, cần thiết cho việc đào tạo nhân cách…

Phó Giáo sư Phan Huy Dũng:Hiện nay, Việt Nam có triết lý giáo dục không? Nếu nói không, hóa ra giáo dục Việt Nam lâu nay phát triển thiếu định hướng? – Đây là điều các nhà lãnh đạo đất nước cũng như lãnh đạo ngành giáo dục không thể chấp nhận và không ít giáo viên thấy khó xác quyết. Nếu nói có, vậy thì nó là cái gì? Câu hỏi thứ phát này quả thật không dễ trả lời. Bảo rằng nó là Nghị quyết 29, chẳng qua đó chỉ là cách trả lời chống chế, thêm nữa, được đưa ra trên cơ sở người nói chưa hiểu đúng về khái niệm triết lý giáo dục. Nghị quyết có thể chứa đựng/ đề cập/ chạm đến triết lý giáo dục, nhưng không thể đánh đồng nghị quyết với triết lý giáo dục được. Cũng nhiều ý kiến dẫn ra một loạt phương châm, khẩu hiệu như Tiên học lễ, hậu học văn; Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội; Học để làm việc, làm người làm cán bộ. Học để phục sự Đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại… để cho rằng triết lý giáo dục đã có. Thực ra, từng phương châm/ khẩu hiệu nói trên chưa có được tầm bao quát rộng để trở thành triết lý giáo dục (ở đây chưa nói đến chuyện phù hợp hay chưa phù hợp với giáo dục hiện nay), mà việc cộng ghép chúng với nhau thì lại càng không được, bởi mỗi phương châm/ khẩu hiệu như thế được đề xuất từ những góc độ rất khác nhau và đôi khi mang nặng tính thực dụng. Vì những lẽ trên, có thể nghiêm túc nói rằng triết lý giáo dục quả thật là cái chúng ta đang thiếu. Xin nói thêm: để trả lời trực diện cho câu hỏi triết lý giáo dục Việt Nam hiện nay là gì, ta không thể thực hành một cuộc tra cứu, trích dẫn lòng thòng. Triết lý đó phải là cái sáng rõ, được phát biểu trong một hình thức cô đọng, khái quát, đủ sức hướng đạo cả một nền giáo dục và thống nhất mọi hoạt động giáo dục cụ thể.

PGS Chu Hảo: Theo tôi, lại khác với quan điểm của Tiến sỹ Phạm Thị Ly. Cũng như trong nhiều lĩnh vực khác, từ xưa đến nay những vấn đề lý luận nền tảng của giáo dục chưa bao giờ được chúng ta đặt ra và nghiên cứu một cách bài bản và cẩn trọng. Phần nhiều làm theo kinh nghiệm và duy ý chí. Thay vì phải cung cấp các kiến thức cơ bản và phổ quát của triết học, trong các nhà trường của chúng ta chỉ dạy chính trị. Có lẽ cũng vì vậy mà triết lý giáo dục cũng được thay bằng các khẩu hiệu chính trị.

Mặc cho các lời hay ý đẹp về quan điểm (hay triết lý) giáo dục từng được nói lên trong nhiều văn kiện, nhưng trong thực tiễn nền giáo dục của chúng ta không nhằm đào tạo ra những con người được phát triển toàn diện với đầy đủ phẩm giá: có nhân cách, và có khả năng tư duy phê phán độc lập, sáng tạo. Nền giáo dục này đang thực hành kiểu nhồi nhét kiến thức như “chất vào kho”; và khuyến khích sự thụ động, khuôn sáo và tinh thần khoa cử. Điều này trái hẳn với triết lý Giáo dục nhân văn và sáng tạo của nền văn minh hiện đại.

Nền giáo dục quốc dân của chúng ta vẫn đang cần có một cuộc cải cách triệt để mang tính cách mạng. Các phong trào mà Bộ Giáo dục phát động gần đây tuy có làm cho bộ mặt của nền giáo dục có vẻ khởi sắc hơn, nhưng đó chỉ là bề nổi. Ở bề sâu, nhìn từ tổng thể, cái bất cập tồn tại hàng chục năm nay vẫn còn nguyên đó:

1. Hệ thống GDQD của chúng ta không đồng bộ, không liên thông, mất cân đối trầm trọng.

2. Nội dung giáo dục (chương trình, sách giáo khoa) của chúng ta bất cập về mặt khoa học, rất nặng nề về thời lượng và nhiều nội dung không thiết thực.

3. Phương pháp dạy và học ở các cấp đều lạc hậu, cơ sở vật chất và kỹ thuật quá thiếu thốn.

4. Công tác quản lý giáo dục yếu kém thể hiện ở ba mặt: Tài chính công được sử dụng kém hiệu quả và không minh bạch; Thiếu vắng hẳn đội ngũ chuyên gia về páht triển chương trình giáo dục; Không coi trọng hệ thống đo lường, trắc nghiệm để đánh giá giáo dục một cách khách quan và thường xuyên.

5. Chưa đủ hệ thống pháp luật để đảm bảo hành lang pháp lý cho các hoạt động giáo dục. Chẳng hạn chưa có văn bản luật pháp điều chỉnh hoạt động của các trường tư bất vụ lợi, là loại trường tư cần được khuyến khích, trong khi đó đã có quy định cụ thể cho các trường tư (cổ phần) vì lợi nhuận, là loại trường chưa hẳn đã nên được khuyến khích thành lập tràn lan dưới danh nghĩa “xã hội hóa”

Có điều hết sức lạ lùng là mặc cho dư luận xã hội có vẻ như ngày càng bức xúc, nhưng mọi việc vẫn đâu ở đấy làm mọi người đâm nản. Nhiều người cho rằng có lẽ phải làm lại từ đầu, từ khâu thay đổi tư duy về giáo dục của toàn xã hội và của những người hoạch định chính sách giáo dục. Nhưng thay đổi tư duy trên cơ sở triết lý giáo dục nào? Có lẽ những bất cập mà chúng ta đã liệt kê có cội nguồn sâu sắc từ chỗ bấy lâu nay nền giáo dục quốc dân của chúng ta đã không được xây dựng và phát triển trên cơ sở một nền tảng lý luận vững chắc, mà trên cơ sở kinh nghiệm chắp vá và duy ý chí. Nền tảng lý luận mà chúng ta cần phải dựa trên một triết lý giáo dục hiện đại phản ánh đầy đủ mục tiêu và các nguyên lý căn bản của giáo dục.

Phó Giáo sư Phan Huy Dũng:Triết lý giáo dục đóng vai trò trực tiếp tác động vào hoạt động giáo dục, từ chi phối việc xác định mục tiêu giáo dục tới “chỉ đạo” việc thiết kế nội dung, chương trình giáo dục và định hướng toàn bộ tiến trình cải cách giáo dục với các bước đi cụ thể của nó. Nếu hiểu như thế, cần thấy rằng việc xác định triết lý giáo dục là việc phải được nghĩ tới, được thảo luận trước tiên, khi chúng ta muốn thực hiện một cuộc cải cách giáo dục thực sự. Nhưng có một vấn đề nảy sinh: triết lý giáo dục mà chúng ta muốn đề xướng đó nảy sinh trên nền tảng triết học giáo dục nào? Phải chăng phải bắt tay xây dựng triết học giáo dục trước đã rồi mới tính chuyện đề xuất triết lý giáo dục? Theo logic thì đúng như thế, nhưng đòi hỏi cấp thiết của cuộc sống buộc ta không thể chần chừ thêm nữa. Từ điểm này nhìn lại, có thể thấy một khoảng trống lớn trong việc nghiên cứu về triết học giáo dục, mà kiểu miêu tả lịch sử giáo dục theo hình thức giản lược, kiểu trình bày các nguyên tắc giáo dục mang tính phổ quát do bộ môn Giáo dục học đảm nhiệm (trong chương trình giáo dục, đào tạo ở các trường Đại học, Cao đẳng sư phạm) không thể bù lấp được. Có vẻ như nền giáo dục của chúng ta đã ủy thác công việc hệ trọng này cho các ban soạn thảo Nghị quyết của Đảng ở các nhiệm kỳ khác nhau!

Phan Văn Thắng:Đúng là như tôi đã nói, đây là câu chuyện rất khó đạt được đồng thuận, thống nhất. Giữa các vị đã và đang có quan điểm khác nhau.

Thưa các vị, vậy  trong lịch sử giáo dục Việt Nam đã từng có triết lý giáo dục chưa?

Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng: Thời Phong kiến Nho giáo ngự trị nội dung hạn hẹp nhưng có ưu điểm là chọn lựa nhân tài qua thi cử khá nghiêm túc, không phân biệt giai cấp thành phần. Thời Pháp thuộc là áp dụng nền giáo dục của mẩu quốc qua thuộc địa Đông Dương. Có ưu điểm là tính đa chiều của nội dung tri thức, tính nghiêm túc của thành phần giáo chức. Điểm đáng chú ý là năm 1945 GS Hoàng Xuân Hãn đã Việt hóa chương trình giáo dục, sau này áp dụng cho miền Nam với tinh thần của giáo dục tiên tiến Âu-Mỹ.

Phan Văn Thắng: Hình như đó là đặc điểm của các nền giáo dục của các thời kỳ lịch sử khác nhau chứ không phải là triết lý giáo dục.

Thưa tiến sỹ Phạm Thị Ly, ở trên bà có nói triết lý của giáo dục Việt nam hiện tại là Hồng và Chuyên. Vậy, theo bà, và các quý vị,triết lý đó có phù hợp với văn hoá Việt Nam, triết lý giáo dục truyền thống của Việt Nam cũng như điều kiện, định hướng và nhu cầu phát triển nền giáo dục nước nhà trong bối cảnh giáo dục thế giới hiện nay, và tương lai?

TS Phạm Thị Ly:Triết lý trên đây sở dĩ bám rễ dễ dàng trong thực tiễn giáo dục Việt Nam, là vì nó khá gần với ngàn năm văn hóa Khổng Mạnh trên đất nước ta, trong đó mọi bài giảng thường bắt đầu bằng “Tử viết…”, tức lời dạy của thánh nhân, một chân lý bất khả tư nghị. Nền văn hóa này đề cao sự phục tòng, đè nén bản sắc cá nhân, thích hợp để duy trì sự ổn định của các cấu trúc xã hội cũng như địa vị thống trị của giai cấp cầm quyền.

Tuy nhiên, triết lý giáo dục này chủ yếu sản sinh ra những người vâng lời, thiếu khả năng thích ứng với bối cảnh thường xuyên thay đổi.Mà bối cảnh hiện nay thì thay đổi càng lúc càng nhanh, với tốc độ chóng mặt chưa từng có trước đây.Smartphone, mạng xã hội mới chỉ có mặt chưa đầy một thập niên, nhưng đã làm thay đổi cuộc sống và cách giao tiếp, cách làm việc của chúng ta như thế nào, mọi người đều đã thấy.Vì vậy, triết lý này cần được thay đổi.

PGS Chu Hảo:  Chúng ta đề ra nhiều khẩu hiệu, mà nhầm lẫn là triết lý giáo dục, nhưng trong thực tiễn nền giáo dục của chúng ta vẫn không tạo được niềm hạnh phúc khi tới trường. Ngày nay đi học là một gánh nặng, nhất là ở cấp học phổ thông.Đối với rất nhiều em tới trường là một nỗi nhọc nhằn, khổ sở; tuổi thơ của các em đang bị “đánh cắp” bởi một chương trình giảng dạy nặng nề, nhàm chán và không thiết thực.Điều này trái hẳn với triết lý Hạnh phúc giáo dục của nền văn minh hiện đại.

Trong thực tiễn nền giáo dục của chúng ta không tạo dựng được sự Công bằng về cơ hội học tập cho mọi người, đặc biệt là cho trẻ em ở tuổi nhà trẻ và mẫu giáo.Hàng năm nước ta có khoảng 8 triệu trẻ em dưới 6 tuổi; trong số đó chỉ có khoảng hơn 3 triệu em được đến nhà trẻ, lớp mẫu giáo. Ngay cả các em được đến lớp ấy cũng chưa chắc gì được nuôi dạy một cách chu đáo như chúng ta được chứng kiến những hình ảnh bạo hành trẻ ở nhiều nhà trẻ, trường mầm non. Vậy mà lứa tuổi cần được hưởng sự công bằng về cơ hội học tập nhất lại là lứa tuổi từ dưới 1 đến 5.Đặc biệt là khuynh hướng thương mại hoá giáo dục đang là nỗi ám ảnh khôn nguôi đối với xã hội.Điều này trái hẳn với triết lý Công bằng giáo dục của nền văn minh hiện đại.

Trong thực tiễnnền giáo dục của chúng ta áp dụng một hệ thống quản lý tập trung quá mức, Nhà nước ôm vào mình những chức năng không cần có, làm mất quyền chủ động, linh hoạt của các cấp cơ sở.Quyền tự quản không được thực thi, đặc biệt là ở các trường Đại học. Ngay trong nhà trường sự mất dân chủ giữa người dạy và người học đã trở thành thâm căn cố đế. Điều này trái hẳn với triết lý Dân chủ giáo dục của nền văn minh hiện đại.

Từ những nhận xét trên đây chúng ta có thể thấy rằng một cuộc cải cách toàn diệnvà triệt để hệ thống giáo dục của nước ta là một yêu cầu cấp bách, không thể nấn ná được nữa, không thể tiếp tục tiến hành những Đề án Đổi mới chắp vá và thiếu hiệu quả như ba mươi năm vừa qua được nữa. Một giải pháp tổng thể và đồng bộ nhằm chấn hưng (hay là làm lại?) nền giáo dục nước nhà không thể được đề xuất trong một thời gian ngắn (dưới 6 tháng), và chỉ bởi các chuyên gia trong nội bộ ngành giáo dục hoặc một nhóm chuyên gia độc lập nào. Phải coi đây là một Công trình lớn của quốc gia, phải được chuẩn bị chu đáo một vài năm, với sự tham dự của các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực khác nhau và dưới sự lãnh đạo của một Tổng công trình sư tài giỏi, công tâm và chuyên trách (chứ không kiêm nhiệm, làm “tay trái” như lâu nay vẫn thường xảy ra). Trước hết cần phải có một triết lý giáo dục căn bản cho nền giáo dục nước nhà.

Phan Văn Thắng:Những yêu cầu đặt ra cho một triết lý giáo dục mới tương thích với trình độ khoa học giáo dục của nhân loại và hài hoà tích cực trong văn hoá Việt Nam theo định hướng phát triển và hội nhập?

GS Nguyễn Đăng Hưng: Đổi mới triệt để giáo dục. Trở về với tính nhăn văn. Lấy con người làm cứu cánh theo hướng thịnh hành hiện nay của đa số 95% các nước trên hành tinh, đặc biệt các nước phát triển.

TS Phạm Thị Ly:Triết lý giáo dục mới cần phù hợp với bối cảnh của Việt Nam, nghĩa là có tính tới những yếu tố thực tế như trình độ phát triển về chính trị và kinh tế, cũng như gốc rễ văn hóa Á Đông. Tuy nhiên, vì thế giới đã trở thành một ngôi làng toàn cầu, triết lý đó phải hướng tới việc đào tạo ra những con người có thể thích ứng với ngôi làng toàn cầu này.

PGS Phan Huy Dũng: Rất gần đây, có bài trên báo điện tử Giáo dục Việt Nam dẫn ý kiến khẳng định rằng chúng ta đã xác định được triết lý giáo dục phổ thông, đó là thực học – thực nghiệp và đảm bảo tính dân chủ. Theo tôi, đây là một nỗ lực xác định triết lý giáo dục rất đáng hoan nghênh, dù chẳng qua nó cũng chỉ là sự thâu tóm, đúc rút (và phát biểu lại, theo một cấu trúc ngôn ngữ khác) những điều mà từ lâu nhân loại đã biết, khẳng định và thực hành. Như vậy, vấn đề không hẳn là phải đưa ra một triết lý giáo dục hoàn toàn mới, vượt lên trên những triết lý giáo dục đã có, mà điều quan trọng, cái chúng ta xem là triết lý giáo dục đó có phù hợp với thực trạng đất nước, thực trạng giáo dục hiện nay và có “thuận” với xu thế phát triển chung của nhân loại hay không? Không nên “tự ái” nếu phải dùng lại/ nêu lại/ tán đồng những triết lý giáo dục từng được nêu lên trước đây, xuất phát từ bất kỳ nền giáo dục nào, nếu thấy nó vẫn đảm bảo tính thời sự và khoa học. Tuy nhiên, tôi không hiểu có phải do dân chủ là từ “nhạy cảm” hay không mà người xướng xuất triết lý giáo dục (phổ thông) nói trên phải đưa thêm vào cụm từ đảm bảo tính… ở đằng trước. Rõ ràng, kiểu diễn đạt này đã làm cho cái được gọi là triết lý giáo dục (phổ thông) kia đã hiện diện một cách khá rụt rè, thiếu tự tin. Vả lại, theo cách nói đầy cân nhắc trong bài báo, đây chỉ mới là triết lý giáo dục phổ thông thôi, không phải là triết lý giáo dục nói chung. Ở đây xuất hiện một vấn đề: triết lý của một bộ phận hoạt động lại được đề xuất trước khi triết lý của toàn bộ hệ thống hoạt động được xác định? Không thể nói khác: chúng ta vẫn đang còn loanh quanh, lúng túng, bị động trên vấn đề rất hệ trọng này!

Phan Văn Thắng:Chúng ta có thể đề xuất một triết lý giáo dục phù hợp nhất cho Việt Nam hôm nay?

GS Nguyễn Đăng Hưng:Theo giáo dục Âu-Mỹ áp dụng thành công tại châu Á gần đây tại Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan. Đơn giản và ít tốn kém nhất là dùng chương trình Hoàng Xuân Hãn làm cơ sở, kiện toàn và hiện đại hoá cho ngày nay.

Phan Văn Thắng:Giáo sư giải mã triết lý đó từ cả góc độ hàn lâm và thực tiễn như thế nào?

GS Nguyễn Đăng Hưng:Lấy người đi học, học sinh, sinh viên làm chủ thể. Tạo điều kiện để người dân có thể hấp thụ một chương trình giáo dục nhân văn, đa chiều, các tri thức đề cao tính dân chủ tự do, không kỳ thị chủng tộc, giai cấp, tôn giáo, chính kiến.

TS Phạm Thị Ly:Trở lại với vấn đề triết lý nào cho giáo dục Việt Nam, tôi cho rằng kinh tế tri thức khiến năng lực tư duy trở thành vấn đề sống còn, và thời đại thừa thãi thông tin đòi hỏi chúng ta phải biết chọn lọc, đánh giá, và sử dụng thông tin. Kinh tế tri thức cũng khiến cho khoa học trở thành liên ngành, xuyên ngành nhiều hơn.Trong mọi lĩnh vực của đời sống, cần hơn bao giờ hết khả năng làm việc cùng nhau. Mà khả năng làm việc cùng nhau đòi hỏi người ta phải dựa trên những nền tảng giá trị vững chắc, cũng như phải có sự trưởng thành về nhận thức và cảm xúc

Vì vậy, giáo dục ngày nay phải chú trọng huấn luyện năng lực tư duy độc lập, phát triển tiềm năng của từng cá nhân, và xây dựng những giá trị nhân bản, trong đó có ý thức công dân. Tất cả những điều này đều quan trọng, nhưng nếu có điều gì cần nhấn mạnh trong bối cảnh hiện tại của Việt Nam, tôi muốn nhấn mạnh lòng biết ơn, sự khoan dung và tinh thần tôn trọng sự khác biệt. Bởi vì đó là những thứ chúng ta đang rất thiếu.

PGS Chu Hảo: Để bàn về một triết lý giáo dục cho Việt Nam, tôi muốn đi xa hơn một tý khi đề cập đến vấn đề này ở bình diện phổ quát toàn thế giới. Như chúng ta biết,loài người vẫn đang trên một hành trình bất tận để hiểu được “Ta là ai?Từ đâu tới?Đi về đâu? Và tại sao?”.Trên hành trình gian khổ ấy vấn đề giáo dục nổi lên như một phạm trù cốt lõi của sự tiến bộ xã hội. Ngay từ thế kỷ 4 trước công nguyên Plato là người đầu tiên chủ tâm giảng giải cho nhân loại biết thế nào giáo dục: Một xã hội ổn định khi mỗi cá nhân làm công việc phù hợp với những năng khiếu tự nhiên theo cách anh ta có ích cho những người khác (hay đóng góp cho cái toàn thể mà anh ta thuộc về); và nhiệm vụ của nền giáo dục là phát triển những năng khiếu tự nhiên này và huấn luyện chúng dần dần cho mục đích xã hội. Triết lý cao sang này, tiếc thay lại là điều không tưởng vì nó dựa trên giả thiết rằng đã có một tổ chức xã hội công bằng – dân chủ lý tưởng (cái chưa bao giờ tồn tại trong lịch sử loài người).Ở đó chỉ thấy vai trò của các giai tầng xã hội mà không thấy có các cá nhân tự do. Tuy nhiên triết lý của Plato vẫn là ngọn hải đăng giáo dục cho mọi tổ chức xã hội cho đến tận thế kỷ 18 với quan niệm cho rằng: Sứ mạng của giáo dục là chuẩn bị cho người học gia nhập vào một xã hội nhất định nào đó để phục vụ cho xã hội ấy[1].

Đến giữa thế kỷ 18 J.J Rouseau đã đưa ra ý tưởng mới mang tính cách mạng: Con người sinh ra là thiện, mọi xã hội đều có xu hướng làm hỏng cái thiện có sẵn ấy trong con người; và vì vậy sứ mạng chủ yếu của giáo dục là làm cho cái bản tính tốt đẹp tự nhiên của con người được duy trì và phát triển, chứ không phải là đào tạo con người theo lợi ích của xã hội (đã bị chính con người làm cho tha hóa); và rằng con người chỉ có một nghề duy nhất là “Làm người”. Triết lý “vị cá nhân” mang tính “phòng vệ (negative)” này, tiếc thay cũng gặp phải một trở ngại lớn: “Môi trường tự nhiên” cần thiết cho đứa trẻ đi học có thể phát huy được cái “thiện” của mình chỉ sản phẩm thuần túy tư duy của Rouseau mà thôi[2]

Muộn hơn một chút, vào cuối thế kỷ 18 E.Kant lại có một cách nhìn nhận khác hẳn: Nhân loại bắt đầu lịch sử của mình trong tình trạng bị tự nhiên khống chế – chứ không phải với tư cách con người là một sinh vật có lý trí, trong khi đó tự nhiên chỉ cung cấp bản năng và lòng ham muốn. Vì vậy theo Kant: “Con người là tạo vật duy nhất cần phải được giáo dục” hay “Con người là những gì được giáo dục tạo nên”. Và như vậy lúc đầu triết lý giáo dục của thế kỷ 18 mang nặng tính cá nhân chủ nghĩa Rouseau, nhưng sau đó Kant và những người khác (Fiche, Hegel…) đã bổ sung thêm yếu tố “nhân loại” thông qua vai trò điều hành và giám sát của xã hội – nhà nước để dung hòa hai mục tiêu cơ bản của giáo dục: hoàn thiện con người vì bản thân con người và cung cấp kỹ năng để phục vụ xã hội – nhà nước[3].

Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 cùng với sự xuất hiện trào lưu thực dụng luận (Pragmatism) trào lưu tân giáo dục đã ra đời ở Mỹ mà người khởi xướng là John Dewey. Theo ông “Triết lý giáo dục là lý luận giáo dục xét như một thực tiễn được thực hiện một cách có chủ tâm”[4]. Bởi vậy triết lý giáo dục nào cũng phải chứa đựng những điều cốt lõi sau đây: mục tiêu tối hậu của giáo dục là gì? Và để đạt mục tiêu ấy cần phải hành động theo phương châm nào? Và bằng phương pháp nào? Ở thời đại của Dewey, cứu cánh của giáo dục có lẽ không khác mấy so với một thế kỷ trước: Hoàn thiện con người và phục vụ xã hội. Nhưng màu sắc “thực dụng vị kỷ” đã bắt đầu nhuốm vào giáo dục như một xu thế. Đến nỗi Einstein người cùng thời với Dewey đã phải cảnh báo: “Dạy cho con người một chuyên ngành thì chưa đủ. Bởi bằng cách đó, anh ta tuy có thể trở  thành một cái máy khả dụng nhưng không thể trở thành một con người với đầy đủ phẩm giá. Điều quan trọng là anh ta phải được dạy để có được một cảm thức sống động về cái gì là đáng để phấn đấu trong cuộc đời.Anh ta phải được dạy để có được một ý thức sống động về cái gì là đẹp và cái gì là thiện. Nếu không, với kiến thức được chuyên môn hóa của mình, anh ta chỉ giống như một con chó được huấn luyện tốt hơn là một con người được phát triển hài hòa. Anh ta cần phải học để hiểu những động cơ của con người, hiểu những ảo tưởng và những nỗi thống khổ của họ để tìm được một thái độ ứng xử đúng đắn với từng con người đồng loại của mình cũng như với cộng đồng”[5].

Thế nhưng các nguyên lý cơ bản về phương châm, phương pháp giáo dục của Dewey mới thực sự đã làm nên một cuộc cách mạng mới trong giáo dục.Tư tưởng “Tân giáo dục” của Dewey phủ nhận hoàn toàn nền giáo dục truyền thống đã từng được áp dụng từ thời Plato cho đến thời điểm đó. Bắt nguồn sâu xa từ các thuyết nhị nguyên (chia cắt các cặp phạm trù tưởng như đối lập như con người – tự nhiên, tư duy – hành động, lý thuyết – thực nghiệm, học – hành.v.v…). Nền giáo dục truyền thống đã tách biệt một cách phản dân chủ giữa nhà trường và xã hội, giáo dục và cuộc sống, thày giáo và học trò. Dewey chủ trương: Giáo dục không chỉ như là quá trình truyền đạt mà chính là bản thân cuộc sống; nhà trường không tách rời khỏi xã hội; và học trò là trung tâm của quá trình giáo dục. Ngày nay những nguyên lý giáo dục này vẫn là ngọn đuốc soi đường cho giáo dục ở các xã hội dân chủ.

Từ cuối thế kỷ 20 đã xuất hiện hai khuynh hướng mới trong giáo dục đáng được quan tâm. Đó là khuynh hướng “Tân tự do” và khuynh hướng “Tân phòng vệ”. Hai khuynh hướng này đối chọi nhau về mặt triết lý. Khuynh hướng “Tân tự do” coi giáo dục chủ yếu là hàng hóa, đầu tư cho việc học tập là đầu tư cho “vốn con người” cực kỳ vị kỷ vì nó được coi là của cải tư, mang đến lợi tức cho người có cái vốn đó[6]. Khuynh hướng “Tân phòng vệ” coi giáo dục chủ yếu là công ích, nhằm đào tạo những con người của và vì xã hội – nhân loại, trùng hợp với quan điểm của Rouseau về một nền giáo dục “phòng vệ”. Nhưng “Tân phòng vệ” không đặt nhà trường “bên ngoài” xã hội như Rouseau, mà ngay trong xã hội phức hợp, đa dạng và bất định và coi mục đích cuối cùng của giáo dục hiện đại là[7]:

1. Hình thành những khối óc được rèn luyện tốt; đào tạo những con người có đủ năng lực tổ chức và liên kết các trí thức để mưu cầu hạnh phúc cho bản thân mình và cho toàn xã hội chứ không phải nhồi nhét kiến thức theo kiểu chất vào kho.

2. Giáo dục về hoàn cảnh con người, làm cho mọi người có ý thức sâu sắc thế nào là một con người. Dạy cho thế hệ trẻ cách sống, chuẩn bị cho họ biết cách đối mặt với những khó khăn và những vấn đề chung của cả loài người.

3. Thực tập tư cách công dân của đất nước và của toàn thế giới; có năng lực đối thoại, khoan dung trong thế giới phức hợp và đa dạng.

Phải chăng chúng ta cần tham khảo và nghiên cứu, chọn lọc và tiếp nhận những vấn đề cơ bản này của giáo dục thế giới.Chúng không nên và không thể một mình đi một đường được.

Phan Văn Thắng: Thưa PGS, vậy ông có đề xuất một triết lý cho giáo dục Việt Nam?

PGS Chu Hảo: Theo tôi,nếu dám (và nên) bỏ qua những định kiến không còn hợp thời thì nên dùng lại triết lý giáo dục đã từng có ở nước ta là : Nhân bản, Dân tộc và Khai phóng.

Tôi tin rằng triết lý ấy sẽ trường tồn cùng các thế hệ người Việt Nam.

Tôi mong được sự tán thành các anh chị trong bàn tròn này.

Phan Văn Thắng: Các quý vị có đề xuất một triết lý khác cho giáo dục Việt Nam không ạ?

Giáo sư  Nguyễn Đăng Hưng: Tôi đề nghị Việt Nam nên thay đổi triết lý, hay là nhận thức về phát triển nền giáo dục của mình, từ hơn 70 năm nay, đó là triết lý hồng đi trước chuyên đi sau như TS Phạm Thị Ly đã nhắc! Việt Nam nên khiêm tốn trở lại với nền giáo dục nhân văn lấy con người làm cứu cánh, tôn trọng mục đích chân thiện mỹ trong tri thức, tôn trọng những giá trị căn bản trong giáo dục: tự do học thuật, công bằng trong lựa chọn các phương tiện, dân chủ trong việc đề đạt người thầy và cách ban phát bổng lộc. Việt Nam cần trở về với truyên thống đạo lý làm người, quan niệm thực học “nhất nghệ tinh nhất thân vinh”, tính trung thực trong mọi lĩnh vực khoa học… Để phát triển bền vững nền giáo dục nước nhà, chúng ta cần bỏ qua những nhận thức, hoặc là triết lý lỗi thời để  hướng tới và thực hành với triết lý giáo dục chân chính, hiện đại và phổ quát!

Phan Văn Thắng: Chúng ta đã trao đổi khá nhiều xung quanh triết lý giáo dục  và triết lý cho giáo dục Việt Nam. Từ quan sát và nghiên cứu của mình, các quý vị có thể cho biết khoảng cách giữa triết lý và hành động, triết lý và thực tiễn vẫn động của nền giáo dục có quá xa không? Với Việt Nam, làm cách gì để triết lý giáo dục trở thành hiện thực sinh động, đem lại những kết quả, hiệu quả thiết thực với nền giáo dục và với xã hội?

Tiến sỹ Phạm Thị Ly: Tôi là một người lạc quan, và triết lý sống của tôi là “tin ở hoa hồng” (cười). Anh thấy đấy, chỉ riêng cái việc chúng ta ngồi ở đây để thảo luận về triết lý giáo dục và tìm kiếm những gì tốt hơn cho tương lai cũng đã là một việc đáng phấn khích, cho dù từ cái chúng ta nghĩ, đến cái chúng ta nói và làm, và kết quả thực tế ngoài xã hội, khoảng cách có xa vời vợi chăng nữa thì bản thân cái việc “hoa hồng” vẫn còn đó cũng nói lên một điều gì có ý nghĩa. Tôi tin chắc không chỉ những người trong bàn tròn này thao thức về những vấn đề nêu trên, mà rất nhiều người cũng đang nghĩ tương tự. Đã và đang có rất nhiều người nhận ra những khiếm khuyết của nền giáo dục hiện tại, cũng như những vấn đề nảy sinh do thiếu vắng một triết lý giáo dục thích hợp với bối cảnh và thời đại. Đã và đang có nhiều người làm những việc trong tầm tay họ để thức tỉnh những người có trách nhiệm với số phận của thế hệ trẻ và tương lai của giáo dục. Nhưng nỗ lực cá nhân thì tác động cũng hạn chế.Triết lý nói có hay cỡ nào, mà chính sách không đi cùng với nó, thì cũng vô ích. Vì thế, tất cả cuối cùng vẫn nằm ở năng lực xây dựng chính sách.

Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng:  Trong giáo dục quảng cách gữa lý thuyết và hành động sẽ không xa nếu có chính sách nhất quán và sự chọn lựa toàn diện và dứt khoát.Chỉ cần chọn lựa một công trình sư tài ba và bản lĩnh, giao cho công trình sư này toàn quyền đứng ra tổ chức cải tổ, chọn lựa chính sách và nhân sự thực hiện theo triết lý giáo dục chân chính, thì hiện thực sinh động của việc đổi thay, hiệu quả thiết thực sẽ thấy ngay trong khoản thời gian vài học kỳ (từ 5 đến 10 năm).

Ngay từ ngày khởi xướng, sự chọn lựa công trình sư ta sẽ thấy ngay thực chất của quyết tâm thay đổi.

PGS Phan Huy Dũng: Để giáo dục Việt Nam hiên nay đạt được bước phát triển mới theo hướng hội nhập quốc tế, việc đề xuất một triết lý giáo dục đủ tầm bao quát, theo các ý kiến đã trao đổi,rõ ràng là vấn đề có tính tiên quyết. Tuy nhiên, cái gọi là đề xuất này không đồng nghĩa với việc “nghĩ ra” một cái gì khác thường, chưa ai nói hoặc chưa ai phát biểu như thế cả (sự thực, đây là việc bất khả, vì như trên đã nói, ở ta lâu nay vẫn đang thiếu một sự nghiên cứu nghiêm túc, chuyên nghiệp về giáo dục ở tầm triết học). Rất có thể, nội dung chính củacông việc này là cân nhắc, tham khảo, vận dụng lại những triết lý giáo dục đã có và đang phát huy tác dụng tích cực ở những nền giáo dục tiên tiến, miễn sao, cuối cùng, triết lý giáo dục được lựa chọn/ tán đồng cho thấy cái đích vươn tới của xã hội ta cùng với đòi hỏi của nó về một mẫu người phù hợp– phù hợp hiểu theo nghĩa là biết tham gia kiến tạo xã hội mơ ước,biết vận hành nó một cách có hiệu quả, trên cơ sở giải phóng triệt để năng lượng sáng tạo của cá nhân và theo đuổi tinh thần tận hiến. Hiện nay, thật ngây thơ khi tin rằng đề xuất về triết lý giáo dục của một cá nhân hoạt động độc lập, riêng lẻ nào đó lại được lựa chọn, do vậy, vấn đề phải được giải quyết bởi một tập thể các nhà khoa học có uy tín và được xã hội ủy thác làm công việc hệ trọng này (theo tôi quan sát, hình như chúng ta mới chỉ có những hội đồng các nhà giáo dục thực hiện một số công việc cụ thể như xây dựng chương trình đào tạo, biên soạn sách giáo khoa… – những công việc dĩ nhiên là hết sức quan trọng, nhưng dù sao, chúng chỉ có thể đạt kết quả tốt nếu có được định hướng sáng rõ ở tầm vĩ mô).

Có triết lý giáo dục phù hợp và sáng suốt chưa phải là tất cả. Việc diễn giải nó nhất thiết cũng phải được thực hiện một cách công phu, tạo cơ sở cho việc xác định mục tiêu giáo dục ở nhiều cấp độ sẽ được tiến hành sau đó, đảm bảo cho mọi mục tiêu đều phục tùng sự thống nhất chỉnh thể của hoạt động giáo dục trong một quốc gia. Như vậy, sự diễn giải này sẽ đòi hỏi/ khiến chúng ta, dần từng bước, thực sựđi sâu nghiên cứu, xây dựng những nền tảng của bộ môn triết học giáo dục – việc lẽ ra phải làm trước nhất, như ở trên đã nói. Có thể nói đây là một quy trình ngược, nhưng điều may mắn là chúng ta có thể tiếp thu được nhiều tư tưởng giáo dục hiện đại của thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay để “quy trình ngược” này chỉ “ngược” trong một giai đoạn ngắn, do những ràng buộc khó gỡ của lịch sử.Trên thực tế, nhiều trường đại học và thậm chí là trung học phổ thông cũng tuyên bố “triết lý giáo dục” của mình. Điều nàycho thấy: vấn đề triết lý giáo dục quả là vấn đề nóng, và mỗi trường đang cố vượt thoát những rào cản để đưa hoạt động đào tạo, giáo dục, giảng dạy của mình đi đúng đường ray của thế giới văn minh, hiện đại. Tất nhiên, như ta đã từng kiểm chứng, việc “nhanh chân chạy trước” vấp phải không ít khó khăn, biểu hiện đầu tiên và dễ thấy nhất là không ít“triết lý giáo dục” được tuyên bố thực chất chỉ là mục tiêu đào tạo, mà việc thực hiện chúng không dễ dàng chút nào vì những vấn đề thuộc về sự trục trặc ở hệ thống lớn.Chuyện mạnh ai “triết lý” nấy sẽ khiến cho vấn đề triết lý giáo dục vốn rất nghiêm túc sẽ không còn được nghiêm túc nữa!

Phan Thắng: Trân trọng cảm ơn các quý vị đã tham gia cuộc trao đổi. Tôi nghĩ  là câu chuyện của chúng ta vẫn chưa kết thúc vì vấn đề vẫn còn tồn tại và không dễ gì kết thúc. Hy vọng chúng ta lại tiếp tục câu chuyện về vấn đề này vào một dịp khác.

 


[1] Jonh Dewey, Dân chủ và giáo dục, NXB Tri thức 2008, trang 114 – 117

[2] J.J. Rouseau, Emile hay là về giáo dục, NXB Tri thức 2008, xem lời giới thiệu của Bùi Văn Nam Sơn

[3] Jonh Dewey, sđd, trang 118 – 126

[4] Jonh Dewey, sđd, trang 390

[5] A. Einstein, Thế giới như  tôi thấy, NXB Tri thúc 2007, trang 48

[6] Cao Huy Thuần, Tạp chí thời đại mới số 14, http://www.tapchithoidaimoi.org

[7] Edgar Morin, Liên kết Tri thúc, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.03.2017

Nghi phạm Bắc Hàn là con trai cựu đại sứ

Nghi phạm Bắc Hàn là con trai cựu đại sứ

BBC

Nghi phạm Ri Ji Hyon (người đội mũ) cùng hai nghi phạm khác là Ri Jae Nam và Song Hak Hong (áo đỏ)Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Nghi phạm Ri Ji Hyon (người đội mũ) cùng hai nghi phạm khác là Ri Jae Nam và Song Hak Hong (áo đỏ)

Các nguồn tin cho hay một trong các nghi phạm Bắc Hàn đang bị Interpol truy nã vụ sát hại Kim Jong-nam là con trai cựu đại sứ Bắc Hàn tại Hà Nội.

Ông Ri Ji Hyon, 33 tuổi, là con trai của ông Ri Hong, người từng làm đại sứ ở Hà Nội thời kỳ đầu những năm 2000.

Lần duy nhất ông Ri Hong xuất hiện trên báo chí là hồi tháng 6/2002, khi tiếp nhận 5.000 tấn gạo mà Chính phủ Việt Nam viện trợ cho CHDCND Triều Tiên từ Quỹ Dự trữ Quốc gia. Trước đó ông cũng tháp tùng Chủ tịch nước Việt Nam Trần Đức Lương trong chuyến thăm đầu tiên của ông tới Bình Nhưỡng tháng 5/2002.

Thông thường một đại sứ Bắc Triều Tiên ở Việt Nam có nhiệm kỳ bốn năm.

Video bí ẩn của con trai Kim Jong-nam

Kim Jong-nam: câu hỏi chưa có giải đáp

Giải mã chất độc giết hại Kim Jong-nam

Con trai đại sứ Ri Hong, Ri Ji Hyon, được cho là ở Việt Nam cả sau khi cha đã kết thúc nhiệm kỳ, học và nói tiếng Việt thành thạo.

Ri Ji Hyon được cho là đã thực tập tại đại sứ quán CHDCND Triều Tiên ở Hà Nội khoảng một năm hồi năm 2009, tức là dưới thời đại sứ Ma Chol Su, và cũng làm luôn công việc phiên dịch.

Yonhap dẫn nguồn giấu tên nói ông này có thể đã lôi kéo và tuyển mộ cô Đoàn Thị Hương tham gia vụ sát hại ông Kim Jong-nam ở Kuala Lumpur hôm 13/2.

Cô Hương và nữ nghi phạm Indonesia Siti Aisyah bị cáo buộc đã bôi chất độc thần kinh VX lên mặt ông Kim Jong-nam nhưng họ khai là tưởng mình tham gia một trò chơi cho show truyền hình thực tế.

Ông Ri Ji Hyon là một trong bốn nghi phạm Malaysia đã nhờ Interpol truy nã, tuy khả năng cao là cả bốn người này đã nhanh chóng rời Malaysia về Bình Nhưỡng ngay sau vụ sát hại.

Nghi phạm Bắc Hàn duy nhất bị bắt trong vụ này, Ri Jong Chol, đã được thả vì thiếu chứng cứ.

Cảnh sát Malaysia còn truy lùng ba người khác, được tin vẫn còn ở trong nước này, trong đó có Hyon Kwang Song, bí thư thứ hai tại đại sứ quán Bắc Hàn ở Kuala Lumpur.

Đang bị giam

  • Đoàn Thị Hương, 28 tuổi, người Việt Nam, được cho là nữ nghi phạm mặc áo thun có chữ ‘LOL’ trong băng ghi hình CCTV
  • Siti Aisyah, 25, người Indonesia. Cơ quan chức năng Indonesia cho biết cô này khai rằng cô nghĩ mình đang tham gia một show hài tình huống trên TV

Đang truy tìm

  • Hyon Kwang Song, 44 tuổi, Bí thư thứ hai tại Sứ quán Bắc Hàn ở Kuala Lumpur, được tin rằng vẫn đang ở Malaysia.
  • Kim Uk Il, 37 tuổi, nhân viên hãng hàng không Bắc Hàn Air Koryo, được tin rằng vẫn đang ở Malaysia.
  • Ri Ju U, 30 tuổi, người Bắc Hàn có tên khác là “James”, được tin rằng vẫn đang ở Malaysia.
  • Ri Ji Hyon, 33 tuổi, người Bắc Hàn, được cho là đã trốn về Bình Nhưỡng.
  • Hong Song Hac, 34 tuổi, người Bắc Hàn, được cho là đã trốn về Bình Nhưỡng.
  • O Jong Gil, 55 tuổi, người Bắc Hàn, được cho là đã trốn về Bình Nhưỡng.
  • Ri Jae Nam, 57 tuổi, người Bắc Hàn, được cho là đã trốn về Bình Nhưỡng.
Đăng bởi: Ngô Minh | 23.03.2017

BF là gì ?

BF là gì ?

 ( Bài nhà văn TRần Thùy Mai cung cấp)

Một cậu bé nói với một cô bé: – Tớ là BF của cậu!

Cô bé hỏi:

– BF là gì?

Cậu bé cười hì hì trả lời:

– Nghĩa là Best Friend (Bạn tốt nhất) đấy.

Sau này họ hẹn hò, chàng trai lại nói với cô gái:

– Anh là BF của em!

Cô gái dựa nhẹ vào vai chàng trai, thẹn thùng hỏi:

– BF là gì hả anh?

Chàng trai trả lời:

– Là Boy Friend (Người yêu) đấy!

​​

Vài năm sau đó họ kết hôn….

Khi những đứa con thật xinh xắn ra đời, người chồng lại cười và nói với vợ rằng:

– Anh là BF của em!

Người vợ dịu dàng hỏi chồng:

– BF là gì hả anh?

Anh chồng nhìn đàn con  và hạnh phúc trả lời:

– Là Babies’ Father.(Bố của các con)
​​​

Khi họ già, họ cùng nhau ngồi ngắm hoàng hôn trước hiên nhà,

ông lão lại nói với vợ:

– Bà nó à! Tôi là BF của bà đấy!

Bà lão cười với những nếp nhăn trên mặt:

– BF là gì hả ông?

Ông lão mỉm cười thật hạnh phúc và trả lời 1 cách thật thần bí:

– Là Be Forever! (Mãi mãi)

Khi ông lão hấp hối cũng nói :

– Tôi BF bà nha.

Bà lão trả lời với giọng buồn:

– BF là gì vậy ông??

Ông lão trả lời rồi nhắm mắt:

– Là Bye Forever! (Chia tay mãi mãi)

Vài ngày sau, bà lão cũng ra đi, trước khi nhắm mắt, bà lão nói nhỏ bên mộ ông lão:

– Beside Forever (Bên nhau mãi mãi) nha ông!

Nữ đại gia U60 tuyển chồng kém 34 tuổi, đủ sức ‘yêu’ 28 lần/ngày gây ‘SỐC’

Phụ Nữ Today

Trong những ngày gần đây, câu chuyện về một nữ doanh nhân giàu có Thái Lan đăng tin tuyển chồng… lần thứ 9, với những yêu cầu vô cùng khắt khe đã khiến cư dân mạng được một phen hoảng hốt.

Nu dai gia U60 tuyen chong kem 34 tuoi, du suc 'yeu' 28 lan/ngay gay 'SOC' - Anh 1

Bà Leena Jungjanya, là một nữ doanh nhân cực kỳ giàu có người Thái Lan.

Được biết, bà Leena Jungjanya, 58 tuổi, là một nữ doanh nhân cực kỳ giàu có người Thái Lan. Tuy đường sự nghiệp thành công rực rỡ, thế nhưng bà Leena lại gặp nhiều trắc trở trong chuyện hôn nhân.

Người phụ nữ thành đạt này mới chia tay người chồng thứ 8 cách đây không lâu, nguyên nhân được bà Leena đưa ra là: chồng cũ không thỏa mãn được nhu cầu sinh lý của bản thân.

Nu dai gia U60 tuyen chong kem 34 tuoi, du suc 'yeu' 28 lan/ngay gay 'SOC' - Anh 2

Chân dung người chồng thứ 8 của bà Leena.

Chưa kịp cảm nhận nỗi đau từ cuộc hôn nhân tan vỡ, người ta đã thấy bà Leena đăng tin “kén chồng” trên Facebook. Điều kiện mà nữ doanh nhân giàu có đưa ra khiến nhiều người không khỏi choáng váng: dưới 25 tuổi, cao trên 1,8m, nặng dưới 70kg, cơ bụng 6 múi… cùng hàng loạt những yêu cầu khắt khe khác. Trong đó, điều quan trọng nhất mà bà Leena tìm kiếm ở người chồng mới là: thể lực phải tốt, đủ đáp ứng nhu cầu của vợ lên đến 28 lần/ngày.

Cuối cùng, trong số 60.000 trai đẹp ứng tuyển, nữ đại gia đã chọn được người chồng thứ 9 đủ sức yêu 28 lần/ngày, kém 34 tuổi có tên Rangsee Saransiriborriruk.

Nu dai gia U60 tuyen chong kem 34 tuoi, du suc 'yeu' 28 lan/ngay gay 'SOC' - Anh 3

Chân dung người chồng thứ 9 của bà Leena.

Thông tin kết hôn của nữ doanh nhân nhận được nhiều sự quan tâm của dư luận. Để thỏa mãn sự tò mò của mọi người, mới đây bà Leena và Rangsee đã cùng nhau xuất hiện một chương trình truyền hình.

Trên sóng truyền hình, họ thẳng thắn chia sẻ về những vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm của dư luận, cũng như niềm hạnh phúc khi tìm được người bạn đời phù hợp, bất chấp khoảng cách tuổi tác lên đến 34 tuổi.

Bà Leena không ngại ngần tiết lộ, sau khi kết hôn, Rangsee không cần phải đi làm bất cứ việc gì mà chỉ việc ở nhà chăm sóc, chiều chuộng và thỏa mãn nhu cầu của vợ.

Nu dai gia U60 tuyen chong kem 34 tuoi, du suc 'yeu' 28 lan/ngay gay 'SOC' - Anh 4

Sau khi kết hôn, Rangsee không cần phải đi làm bất cứ việc gì.

Còn về phía người chồng trẻ tuổi, bên cạnh màn cởi áo khoe cơ bụng, anh ta thổ lộ rất “tán thưởng vẻ đẹp mạnh mẽ cực lạ” của vợ – người luôn được mệnh danh là một “nữ cường nhân”. Đồng thời, anh ta cũng dành rất nhiều lời có cánh cho người vợ giàu có của mình, khiến bà Leena không nén nổi những giọt nước mắt xúc động.

Cặp đôi dành nhiều cử chỉ quan tâm săn sóc cho nhau, nữ đại gia rơi nước mắt vì hạnh phúc và hào hứng với cuộc hôn nhân mới còn anh chồng trẻ thì có cử chỉ rất dịu dàng, biết nghe lời, không chỉ lau nước mắt, chỉnh lại lớp trang điểm cho vợ mà còn quỳ gối bên vợ nữa.

Nu dai gia U60 tuyen chong kem 34 tuoi, du suc 'yeu' 28 lan/ngay gay 'SOC' - Anh 5

Nu dai gia U60 tuyen chong kem 34 tuoi, du suc 'yeu' 28 lan/ngay gay 'SOC' - Anh 6

Cặp đôi dành cho nhau nhiều cử chỉ âu yếm.

Sau khi câu chuyện này được chia sẻ rầm rộ trên mạng, nhiều người quan tâm đều có một câu hỏi chung là “liệu anh chàng này có phải là bến đỗ cuối cùng của bà Leena hay không?”.

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.03.2017

Hạ Lũng -một làng hoa sắp mất

Hạ Lũng -một làng hoa sắp mất

 Nguyễn Khôi
 Ngày hôm nọ tôi nhận được thư của anh Nguyễn Khôi về Hạ Lũng, một làng hoa sắp mất.  Qua thư này anh chia xẻ hai bài thơ nịnh vợ của anh ấy với bạn bè.  Thành thực mà nói, tôi thấy hai bài thơ này cũng bình thường thôi, không gây cho tôi nhiều ấn tượng đáng chú ý.  Nhưng ta hãy dẹp chuyện bình thơ sang một bên nhé vì như anh Nguyễn Khôi đã thấy và có kinh nghiệm gần đây, việc bình thơ thường đưa đến nhiều chuyện cãi vã bá vơ không đâu vào đâu nhức cả đầu.  Trở lại việc anh Nguyễn Khôi làm thơ nịnh vợ, tôi có vài nhận xét như sau.  Thứ nhất đây là một việc làm rất đáng khen.  Hành động này chứng tỏ anh Nguyễn Khôi là người rất tân tiến, ga lăng, biết nịnh đầm.   Quý anh chị và các bạn thử ngẫm lại mà xem, trong đám anh em chúng mình có mấy ai đã làm thơ nịnh vợ?  Khi còn trong giai đoạn cua bồ thì có thể ta còn chịu khó làm thợ thơ mà rặn ra vài câu nịnh nọt để chứng tỏ ta đây cũng tình tứ lãng mạn một bầu thơ phú.  Nhưng một khi ván đã đóng thuyền rồi thì thôi chứ, sức người có hạn chả lẽ ta cứ đóng vai thợ thơ hoài?  Đâu phải ai cũng đầy một bầu thơ như anh Tâm Hàn, có phải thế không nào.  Nhưng nói cho cùng dường như anh Tâm Hàn cũng chỉ làm thơ nịnh những ai đâu đâu thôi chứ chả bao giờ anh ấy làm thơ nịnh vợ cả.  Thế có chết không.  Nếu tôi nói sai thì xin anh Hàn cải chính dùm … hi hi.  Tôi xin nói thêm cho rõ.  Câu “chả bao giờ làm thơ nịnh vợ cả”  phải được hiểu là “chả bao giờ làm thơ nịnh vợ gì cả” chứ tôi hoàn toàn không có ngụ ý chuyện vợ cả với vợ lẽ ở đây đâu nhá.  Xin quý anh chị và các bạn chớ cố tình hiểu nhầm.  Thành thử so với anh em chúng mình anh Nguyễn Khôi có hai bài thơ nịnh vợ thì đấy là một điều rất đáng khen, không phải ai cũng làm được.  Đáng khen nhưng cũng hơi  … đáng chê, vì đã ga lăng thì ta ga lăng cho trót luôn, ta nịnh vợ mỗi ngày chứ cớ sao anh ấy chỉ có vỏn vẹn hai bài thơ nịnh vợ thôi.  Không những thế anh Nguyễn Khôi lại … hơ hơ … hơi bủn xỉn trong việc ga lăng của anh ấy.  Làm xong được bài đầu, hơn bốn muơi năm sau anh ấy mới có bài thứ hai!  Thế có chết không!  So với thi sĩ Tú Xuơng tôi thấy anh Nguyễn Khôi chưa tân tiến, ga lăng bằng.  Vì tuy thi sĩ Tú Xuơng mới 37 tuổi đã mất nhưng trong khoảng thời gian này ông đã nhiều lần nhắc tới vợ trong thơ của tác giả.  Giọng điệu có vẻ bỡn cợt, tự mỉa mai mình, nhưng đằng sau câu thơ khôi hài, trào phúng là một sự tri ân thuơng sót vô bờ cho người vợ đảm đang đã lấy nhầm một anh chồng chẳng làm nên công cán gì.  Để làm sáng tỏ điều tôi vừa nói, tôi xin mời quý anh chị và các bạn đọc bài tiểu luận Mối Tình Tú Xương của Cô Tư Sài Gòn dưới đây.  Mấy ảnh minh họa và vài lời chú thích trong bài viết của Cô Tư Sài Gòn là do tôi thêm thắt vào cho bài viết thêm mắm muối:
 

(nguồn: https://vietbao.com/a262385/moi-tinh-tu-xuong)

 
Đẹp nhất trong thơ Tú Xương là gì? Hãy thử suy nghĩ về điều này… Đó là một hình ảnh rất nữ quyền, rất thơ mộng… khi một cụ Tú của thế kỷ thứ 19 làm thơ tặng vợ. Hãy hình dung, đó là một thời quý bà phải ngồi dưới bếp, trong khi quý ông ngồi ngâm thơ và uống rượu khề khà với nhau. Chỉ có cụ Tú Xương mới tôn vinh hình ảnh vợ tới mức độ phải làm văn tế sống vợ… Trang trọng tới thế là cùng.

Và năm nay, năm 2017, là đúng 110 năm… tính tới năm cụ Tú Xương ra đi.

Nhà thơ Tú Xương tên thật là Trần Tế Xương, tự Mặc Trai, hiệu Mộng Tích, Tử Thịnh. Ông sinh ngày 5 tháng 9 năm 1870, ở làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định (hiện nay là phố Minh Khai, phường Vị Xuyên, thành phố Nam Định). Ông mất ngày 29 tháng 1 năm 1907. Ông thi nhiều lẫn nhưng chỉ đỗ Tú tài (nên có bút hiệu Tú Xương), và luôn sống trong cảnh thiếu thốn. Tuy vậy, ông được xem là một trong những Đại thi hào của dân tộc, như Xuân Diệu viết về ông:

Ông nghè ông thám vô mây khói
Đứng lại văn chương một tú tài

Tự điển Bách khoa Mở ghi rằng Trần Tế Xương sinh ra vào ngày 5-9-1870 (tức 10 – 8 AL) tại số nhà 247 phố Hàng Nâu thành phố Nam Định với tên húy là Trần Duy Uyên. Ông thuộc dòng dõi nho gia, vốn là họ Phạm, đổi thành họ Trần là bởi vào đời Nhà Trần lập công lớn được phong quốc tính (vua cho đổi theo họ nhà vua). Ông nội Trần Tế Xương tên là Trần Duy Năng. Thân sinh của Trần Tế Xương là cụ Trần Duy Nhuận cũng là một nhà nho, thi nhiều khoa không đậu, sau làm Tự thừa ở dinh đốc học Nam Định, sinh được 9 người con, 6 trai, 3 gái, Tú Xương là con trưởng. Trong tất cả các tài liệu nói về Tú Xương đều không thấy có ảnh, nhưng dáng hình cụ Tú được người bạn học là hạc phong Lương Ngọc Tùng viết trong bài thơ “Nhớ rõ hình dung…”

Cùng làng, cùng phố, học cùng trường
Nhớ rõ hình dung cụ Tú Xương,
Trán rộng, tai dày, da tựa tuyết,
Mồm tươi, mũi thẳng, mắt như gương.
Tiếng vàng sang sảng ngâm thơ phú,
Gót ngọc khoan khoan dạo phố phường.
Mấy chục năm trời đà vắng bóng,
Nghìn năm còn rạng dấu thư hương.

 
 
Chú thích 1: tác giả Cô Tư Sài Gòn viết  “Trong tất cả các tài liệu nói về Tú Xương đều không thấy có ảnh” nhưng nếu Cô Tư chịu khó lục lọi trên mạng thì sẽ thấy hình chân dung thi sĩ Tú Xuơng như sau.  Tú Xuơng thực sự có giống như trong hình không thì tôi không dám quả quyết:
 
 
Inline image 7
 
Ông đi học sớm và cũng sớm nổi tiếng thông minh. Hồi mới lên 10 tuổi, nhà có khách đến chơi, thấy trước nhà có một dãy chậu hoa, khách bèn ra cho bé Uyên một câu đối: “Đình tiền ngũ sắc hoa” (trước sân có hoa năm sắc), Uyên liền chỉ vào lồng chim khướu treo ở hiên và đối: “Lung trung bách thanh điểu” (trong lồng có chim trăm tiếng). Khách nghe đối tấm tắc khen nhưng lại thở dài “đời thằng bé lại luẩn quẩn như chim nhốt trong lồng”. Ông học chữ Hán cụ kép làng Thành Thị, tên là Trần Chấn Thái, ngồi bảo học ở thành Nam.

Cuộc đời ngắn ngủi có 37 năm của ông đã nằm gọn trong một giai đoạn bi thương nhất của đất nước. Trước lúc ông ra đời 3 năm thì 6 tỉnh nam kỳ mất trọn cho Pháp. Tú Xương lên 3 thì Bắc Kỳ trong đó có Nam Định bị tấn công lần thứ nhất. Tú Xương 12 tuổi, Bắc Kỳ, Nam Định bị tấn công lần thứ 2 và mất nốt. Hiệp ước Harmand 1883 rồi hiệp ước Patenôtre 1884 thừa nhận quyền thống trị của Pháp trên đất Việt Nam. các phong trào kháng chiến chống Pháp diễn ra sôi nổi nhưng lần lượt thất bại. Tú Xương sinh ra và lớn lên trong bối cảnh sục sôi và bi thương đó.

Tú Xương lấy vợ năm 16 tuổi, vợ ông là bà Phạm Thị Mẫn.

Ông đi thi từ lúc 17 tuổi, đó là khoa Bính Tuất (1886). Các tài liệu khác chép nhầm là khoa Ất Dậu (1885).

Bà Phạm Thị Mẫn sinh cho ông được 8 người con, trong đó có 6 trai và 2 gái. Bà Tú là một phụ nữ tiêu biểu cho phụ nữ Việt Nam xưa ở nhiều phương diện như tần tảo, thương chồng, thương con, nhẫn nại quên mình. Công việc kiếm sống cho gia đình của bà là buôn bán nhỏ (tiểu thương). Điều đặc biệt là chính bà đã đi vào thi phẩm của ông chồng như một nhân vật điển hình hấp dẫn.

Khi mất ngôi nhà số 247 phố Hàng Nâu của ông nội và bố để lại. Gia đình ông Tú chuyển đến nhà số 280 cùng phố mà sau này địa phương đã xếp hạng là di tích lưu niệm Tú Xương chính là do mẹ vợ nhà thơ (bà Hai Sửu) chia cho con gái.

Inline image 8
Chú thích 2: đây là nhà vợ chồng Tú Xuơng

 
 

…Tú Xương rất trân trọng vợ mình. Cuộc đời ông chỉ sống được có 37 năm, nhưng học hành thi cử đến 8 lần mới đỗ Tú Tài, mọi việc ở nhà đều là một tay của bà Tú gánh vác. Chính vì vậy, ông viết về vợ như một sự tri ân.

Thương vợ
Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công.
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không.

 

Inline image 1

 
Chú thích 3: đây là cảnh một bến đò đâu đó ở Việt Nam

 
 
Sự trân trọng, tri ân ấy còn được ông nâng lên đến mức làm hẳn một bài “Văn tế sống vợ” như sau.

Văn tế sống vợ
Con gái nhà dòng, lấy chồng kẻ chợ
Tiếng có miếng không, gặp chăng hay chớ
Mặt nhẵn nhụi, chân tay trắng trẻo, ai dám chê rằng béo rằng lùn?
Người ung dung, tính hạnh khoan hoà, chỉ một nỗi hay gàn hay dở!
Đầu sông bãi bến, đua tài buôn chín bán mười
Trong họ ngoài làng, vụng lẽ chào dơi nói thợ
Gần xa nô nức, lắm gái nhiều trai
Sớm tối khuyên răn, kẻ thầy người tớ
Ông tu tác cửa cao nhà rộng, toan để cho dâu
Anh lăm le bia đá bảng vàng, cho vang mặt vợ
Thế mà:
Mình bỏ mình đi, mình không chịu ở
Chẳng nói chẳng rằng, không than không thở.
Hay mình thấy tớ: nay Hàng Thao, mai phố Giấy mà bụng mình ghen?
Hay mình thấy tớ: sáng Tràng Lạc, tối Viễn Lai, mà lòng mình sợ?
Thôi thôi
Chết quách yên mồ
Sống càng nặng nợ
Chữ nhất phẩm ơn vua vinh tứ, ngày khác sẽ hay
Duyên trăm năm ông Nguyệt xe tơ, kiếp này đã lỡ
Mình đi tu cho thành tiên thành phật, để rong chơi Lãng Uyển, Bồng Hồ
Tớ nuôi con cho có rể có dâu, để trọn vẹn đạo chồng nghĩa vợ.

Hình như chưa nhà thơ nào làm thơ tặng vợ trân trọng như thế? Tới mức tự trách mình là “hờ hững” và tới mức làm văn tế sống… Đầu năm, đọc lại chữ nghĩa một thời, mới biết cụ Tú Xương có mối tình thơ mộng với vợ như thế, rất là nữ quyền.

Inline image 9
Chú thích 4: Làm bài văn tế sống tặng vợ trân trọng như thế nên hẳn sau đó thi sĩ mới bị bà Tú dùng nữ quyền mà … tế cho một vài trận.  Sử sách không nói rõ nữ quyền này là Thái Cực Quyền hay Hồng Gia Quyền, vân vân nhưng mới 37 tuổi mà thi sĩ Tú Xuơng đã tếch hạc quy tiên:
Tớ bỏ tớ đi, tớ không dám ở
Chẳng nói chẳng rằng, không than không thở
Chết quách yên mồ, sống càng nặng nợ
 
Hình trên là ảnh chụp ngôi mộ thi sĩ trong công viên Vị Xuyên thuộc thành phố Nam Định.  Không thấy nói mộ bà Tú nằm ở đâu
 
 
 

Đấy, quý anh chị và các bạn thấy thi sĩ Tú Xương đối với vợ có tình tứ hay không.  Quý anh và các bạn còn đợi chờ gì nữa.  Quý anh và các bạn hãy ráng làm thợ thơ mà rặn ra một bài tặng chị nhà ngay ngày hôm nay nhá.  Nhưng … nhưng …  rút kinh nghiệm từ thi sĩ Tú Xương tôi đề nghị quý anh và các bạn chớ làm văn tế sống ai đấy nhé, kẻo không chưa gì quý anh và các bạn lại theo gót tiền nhân thì khốn.  Tôi đề nghị quý anh và các bạn làm một bài thơ tặng vợ nhưng riêng về phần tôi thì đề nghị đó không cần thiết.  Lý do là vì cách đây khoảng 10 – 20 năm chi đó, tôi đã làm một bài thơ nịnh vợ rồi.  Đó là bài thơ có tựa đề Mười Thương.  Tôi không nhớ tôi đã viết những gì nhưng lời thơ cũng nhảm nhí nhăng cuội theo kiểu Tú Xuơng.  Chắc cũng vì thế nên mới đây tình cờ tôi thấy trong hộc tủ quần áo một bài thơ viết tay của nhà tôi.   Bài thơ ấy như sau:   

 
 
Bà đây nhà dòng, lấy chồng kẻ chợ   
Mặt chồn mày chuột, rằng chồng hay chớ?
Đầu râu nhẵn nhụi, mặt trơ như thớt, chẳng béo cũng chả lùn
Tính tình lông bông, ăn nói ba hoa, đã gàn lại thêm dở
Đầu đường xó chợ, chữ nghĩa thánh hiền học một quên mười
Trong làng ngoài phố, tài cao học rộng tưởng thầy té thợ
Gần xa biết tiếng, dại gái mặt chai
Sớm tối khoan thai, dáng thầy như tớ
……
 

Chưa đọc hết bài thơ của nhà tôi mà mắt tôi đã hoa lên … tôi choáng váng mặt mày …Ối ối ối … chết tôi rồi quý anh chị và các bạn ơi  !!!!   Nhà tôi đanh đá thế này thì có chết tôi không!!!????

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.03.2017

ĐỌC “40 NĂM EM”- THƠ TẶNG VỢ CỦA NGÔ MINH

ĐỌC “40 NĂM EM”- THƠ TẶNG VỢ CỦA NGÔ MINH

Ngô Minh

KHI CON TẬP ĐI

 

     Viết cho con trai đầu lòng

 

Ba tháng đã lật

sáu tháng đã ngồi

nay tròn bảy tháng

con men đi rồi

 

Hai tay con vịn

cửa sổ đứng lên

trời xanh ngơ ngác

trong mắt con nhìn

 

Tay con với với

thành ghế mép bàn

trang sách, lọ mực

rung rinh, rung rinh

 

Ba ngồi con vịn

con trèo lên vai

ba như giàn giáo

con là thợ xây

 

Đã nghe con cười

phía trên cao ấy

từ buổi con tôi

vịn giường, đứng dậy…

 

 1978 (Đọc tiếp…)

Tỉ lệ ủng hộ ông Trump xuống mức thấp kỷ lục

TTO – Tỉ lệ người ủng hộ Tổng thống Mỹ Donald Trump xuống mức thấp kỷ lục mới: 37% theo kết quả khảo sát do công ty chuyên về khảo sát Gallup tiến hành và công bố ngày 19-3 (giờ Mỹ).

Tỉ lệ ủng hộ ông Trump xuống mức thấp kỷ lục
Tổng thống Mỹ Donald Trump – Ảnh: AFP

Cuộc khảo sát được Gallup tiến hành trên 1.500 người Mỹ trưởng thành trên toàn quốc, với sai số là 3%.

Cụ thể, CNBC dẫn lại kết quả kháo sát của Gallup cho thấy có tới 58% người được hỏi tỏ ra không hài lòng đối với những việc ông Trump đang làm trên cương vị Tổng thống. Đây cũng là mức cao nhất kể từ khi ông Trump nhậm chức ngày 20-1.

Chỉ có 37% người tham gia khảo sát ủng hộ Tổng thống Trump, mức thấp nhất kể từ cuối tháng 1-2017 đến nay.

Theo CNBC, trong khi sự lạc quan của người dân vào nền kinh tế dưới thời ông Trump đã giảm vào tháng này, chi tiêu tiêu dùng lại tăng thêm 16USD, lên mức 111USD/người/ngày.

Kết quả khảo sát của Gallup được công bố đúng vào thời điểm các hạ nghị sĩ Cộng hòa đang chuẩn bị lật lại Đạo luật chăm sóc sức khỏe và bảo vệ bệnh nhân với giá cả phải chăng (Obamacare) của cựu Tổng thống Barack Obama. Họ cũng xúc tiến cho việc thông qua một đạo luật chăm sóc sức khỏe khác của ông Trump để thay thế Obamacare.

Một số tin đồn cũng xuất hiện cho rằng, chính quyền Trump đang chuẩn bị cải tổ hệ thống thu thuế và mức đánh thuế mặc dù Nhà Trắng nói rằng sớm nhất cũng cuối mùa xuân hoặc đầu mùa hè năm nay.

Một vấn đề khác cũng khiến ông Trump trở thành đề tài bàn luận là cáo buộc gây tranh cãi nói ông Obama đã chỉ đạo nghe lén. Vụ này cả phe Dân chủ lẫn Cộng hòa ở lưỡng viện đều nói ông Trump nên giải thích rõ ràng và xin lỗi vì không có bằng chứng nào cho cáo buộc nói trên.

Dự kiến khoảng 10h sáng 20-3 (giờ Mỹ), tức khoảng 21h đêm (giờ Việt Nam), Ủy ban tình báo Hạ viện Mỹ sẽ tổ chức phiên điều trần công khai đầu tiên về điều tra các cáo buộc người Nga can thiệp vào bầu cử Mỹ và mối quan hệ giữa chiến dịch tranh cử của ông Trump với Matxcơva.

Giám đốc Cục điều tra liên bang Mỹ (FBI) James Comey và Giám đốc Cơ quan an ninh quốc gia Mỹ (NSA) Mike Rogers sẽ xuất hiện tại buổi điều trần hôm nay, theo Reuters.

Duy Linh

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.03.2017

PHẠM DUY VIẾT VỀ HOÀNG CẦM

PHẠM DUY VIẾT VỀ HOÀNG CẦM

( Theo FB Lê Quang Vinh)

(Bài do Thi sĩ – Thầy giáo Viễn Giao Lý (Nguyễn Bình) – gửi cho LQV. Rất cảm ơn anh Nguyễn Bình !)

NS Phạm Duy và nhà thơ Hoàng Cầm

Trong một đoạn đời u uất của kiếp ca nhân trên đường lữ thứ, tôi đã được cứu rỗi bằng hình ảnh lá diêu bông, vườn ổi, cỗ bài tam cúc, con bê vàng lạc mẹ… của người bạn thi sĩ mang tên Hoàng Cầm.
Mối duyên kỳ ngộ
Từ sau Cách mạng tháng Tám, Hoàng Cầm, Văn Cao với tôi đã trở thành bạn thân, lúc nào, ngày nào cũng có nhau, khiến nhiều người gọi chúng tôi là “bộ ba bất khả ly”. Văn Cao với tôi xưng là “ông” – “tôi”, còn tôi và Hoàng Cầm thích gọi nhau là “tao” – “mày” vì tuổi chúng tôi chỉ chênh nhau vài tháng.
Kháng chiến chống Pháp nổ ra, tôi ở Lào Cai với Văn Cao ít lâu rồi khoác ba lô ra đi, chọn con đường làm kẻ hát rong.
Cuối năm 1947 đó, tôi và nhạc sĩ Ngọc Bích từ tỉnh lỵ Thái Nguyên bị tiêu hủy hoàn toàn đi bộ qua Bắc Giang, tìm về làng Lan Giới thuộc khu Nhã Nam, Yên Thế (Bắc Giang) để gia nhập đội Văn nghệ kháng chiến của Hoàng Cầm. Lúc ấy, đội văn nghệ chỉ có 7 – 8 người nhưng chúng tôi đi lưu diễn khắp những nơi có Vệ Quốc Đoàn đóng quân trong ba tỉnh Cao – Bắc – Lạng.

​Thi sĩ Hoàng Cầm (1922-2010)
Tôi và Hoàng Cầm tính trái ngược nhau, trong khi tôi thích đùa giỡn thì anh giống như một ông đồ non, lúc nào cũng ngồi hút thuốc lào, rung đùi, trầm ngâm.
Lúc ấy, anh đang sống chung với Tuyết Khanh – người sinh ra Kiều Loan mà sau này duyên kỳ ngộ đã trở thành con gái đỡ đầu của tôi bên Mỹ. Cầm mơ mộng, nặng tình. Cho đến giờ tôi vẫn nhớ đêm vợ chồng Cầm – Khanh chia tay nhau để Cầm lên đường đi lưu diễn vùng kháng chiến, lần bên nhau cuối cùng của họ.
Trong bữa cơm đạm bạc tại Phố Nỉ (Bắc Giang), Hoàng Cầm ngồi rung đùi ngâm thơ bên cạnh người vợ mà sau đấy rồi đây anh sẽ không bao giờ gặp lại nữa, giọng ngâm buồn rười rượi…
Hồn thơ tranh đấu…
Với tôi, chỉ có thơ của Hoàng Cầm mới làm cho miền đất Kinh Bắc lung linh và hiển hách hơn bất cứ một giọng thơ nào khác. Thơ kháng chiến của anh không chỉ có hình ảnh Vệ Quốc Quân mà còn rất quan tâm tới người dân thường như người mẹ già, người vợ hiền, cô hàng xén răng đen, đàn trẻ nhỏ sột soạt quần nâu… Khi những bài thơ đó được ngâm lên, ai mà không muốn chiến đấu để gìn giữ cảnh vật và những con người thân yêu đó?
Những bài thơ kháng chiến như vậy đã được Hoàng Cầm và tôi diễn ngâm trong rừng sâu, trên đồi cao hay trong những hang đá dưới ánh đuốc bập bùng… Trong ba lô của bất cứ một Vệ Quốc Quân nào cũng có những bài thơ chép tay của Hoàng Cầm.
Tôi không có tham vọng đóng vai trò một nhà khảo cứu phê bình, tôi chỉ muốn hoá giải một nỗi buồn thương trong tôi mỗi khi nhớ tới Hoàng Cầm. Tôi muốn nói rằng: Trước hết, trong thi ca Việt Nam có một giai đoạn được gọi là ”thời kỳ kịch thơ” thì ai cũng phải công nhận đó là thời kỳ của Hoàng Cầm. So với các thi sĩ khác, kịch thơ của Hoàng Cầm chói lọi nhất (mặc dù về sau, kịch thơ không còn đất đứng).
Năm 2000, trở về Hà Nội, người tôi đến thăm đầu tiên là Hoàng Cầm. Khi tôi thổ lộ ý định muốn trở về định cư trên đất Mẹ, anh bảo dù cho còn chút hơi tàn cũng cố ký vào lá đơn để tôi trở về, vì người nghệ sĩ không thể nào sống thiếu quê hương. Anh đã sống một đời thơ như thế, câu nào, chữ nào cũng chan chứa hương vị quê hương.

​Hoàng Cầm & Phạm Duy sau bao năm xa cách
Giờ đây phải vĩnh biệt anh, tôi càng thấm thía câu chuyện mà chúng tôi đã nói cùng nhau vào lúc cả hai đều gần đất xa trời, rằng rốt cuộc đều thấy đời mình chỉ là một cuộc chơi!
Cuộc chơi đã đưa hai đứa lên rất cao, rồi cũng đã dìm hai thằng xuống rất sâu nhưng cả hai kẻ lãng tử này đều được cứu rỗi bởi một sợi dây bí ẩn. Đó là sợi dây cảm nhận, rung động và sáng tạo nghệ thuật – nó làm cho chúng tôi, sau nhiều cơn vật vã vẫn có thể gạn đục khơi trong rồi làm ra những vần thơ điệu nhạc lung linh sức sống kỳ diệu của con người.
Vâng! Nghệ thuật đã rửa hồn chúng tôi, như Hoàng Cầm đã nói: “Ton art purifie ton âme” và đã giúp anh đi nốt con đường đã chọn: CON ĐƯỜNG TÌNH, tình nước, tình người.
Nhà thơ Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh năm 1922 tại làng Lạc Thổ, nay là xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh. Năm 1957, ông là một trong số những hội viên tham gia sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam.
Những tác phẩm chính trong sự nghiệp sáng tác của ông: Trương Chi (xuất bản năm 1993), Bên kia sông Đuống (thơ, 1948), Kinh Bắc (thơ, 1959), Men đá vàng (truyện thơ, 1973), Mưa Thuận Thành (thơ, 1959), Lá diêu bông (thơ, 1959), Đến từ hư không (thơ, 2000)…
Năm 2007, Hoàng Cầm được trao Giải thưởng Nhà nước về văn học Nghệ thuật. Ông qua đời lúc 9 giờ 30 ngày 6-5-2010 tại Hà Nội sau một cơn bạo bệnh, hưởng thọ 89 tuổi.
Phạm Duy

​Nhạc sĩ Phạm Duy (1921-2013)

Thêm một sếp lớn của dầu khí đi nước ngoài mất hút, 3 tuần chưa về

Bác lại đi chữa bệnh ạ? Không biết ‘bệnh’ của bác thì chữa ở đâu nhỉ?

Lê Trung Dũng, Phó Tổng giám đốc Tổng công ty Điện lực dầu khí (PV Power) – một doanh nghiệp lớn thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đã xin nghỉ phép, đi việc cá nhân ở nước ngoài hơn 3 tuần nay vẫn chưa về.

Thêm một sếp lớn của dầu khí đi nước ngoài mất hút, 3 tuần chưa về

Thêm một sếp lớn của dầu khí đi nước ngoài mất hút, 3 tuần chưa về

Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2, một công trình được cho là có nhiều dấu hiệu sai phạm trong quá trình đầu tư

Nguồn tin trên cho biết, hiện nay Bộ Công Thương cũng đã yêu cầu PVN báo cáo rõ về trường hợp này. Những thông tin ban đầu cho thấy, ông Dũng xin nghỉ phép với lý do cá nhân và đi nước ngoài bằng hộ chiếu phổ thông.

Tuy nhiên, việc ông này 3 tuần qua chưa về mà không báo cáo việc kéo dài thời gian nghỉ (ngoài chế độ) là điều rất bất thường và vi phạm quy định của Nhà nước.

Một nguồn tin khác cho biết, ông Dũng được cho là có liên quan trách nhiệm đến những sai phạm trong triển khai dự án Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2, khi ông này còn làm ở Tổng công ty Cổ phần xây lắp dầu khí (PVC), thời kỳ ông Trịnh Xuân Thanh làm Chủ tịch và ông Vũ Đức Thuận làm Tổng giám đốc.

Thêm một sếp lớn của dầu khí đi nước ngoài mất hút, 3 tuần chưa về

Lê Trung Dũng, Phó Tổng giám đốc Tổng công ty Điện lực dầu khí (PV Power)

Sự trùng hợp kỳ lạ vụ ông Trịnh Xuân Thanh bỏ trốn, phải chăng là dự đoán được trước mọi chuyện ?
Chẳng biết đây là sự trùng hợp kỳ lạ hay là 2 người này đã biết trước được hậu quả rồi bỏ trốn không nữa?Vụ án Cố ý làm trái quy định Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng xảy ra tại Tổng công ty CP Xây lắp dầu khí Việt Nam…

( Nguồn: Google)

‘Tâm thư’ gửi Thủ tướng VN về dự án Sơn Trà

BBC

sơn tràBản quyền hình ảnhSONTRA.DANANG.VN
Image captionBán đảo Sơn Trà là khu bảo tồn thiên nhiên đa dạng

Những ngày qua, truyền thông Việt Nam và mạng xã hội xôn xao tin có 40 biệt thự xây không phép trong khu tổ hợp khách sạn, biệt thự nghỉ dưỡng với quy mô hơn 100 phòng tại khu vực bán đảo Sơn Trà.

Dự án của Công ty Cổ phần biển Tiên Sa nằm trong khu vực rừng cấm Sơn Trà. Đây là rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đã được kiểm đếm và Thủ tướng đã có quyết định quy hoạch tổng thể kế hoạch đến năm 2025 sẽ trở thành công viên quốc gia.

Hôm 21/3, ông Huỳnh Tấn Vinh, Chủ tịch Hiệp hội du lịch Đà Nẵng gửi ‘tâm thư’ đến Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đề nghị xem xét lại quy hoạch tổng thể phát triển khu du lịch quốc gia Sơn Trà đến năm 2025 “để tránh các hệ lụy về sau”.

Khi doanh nghiệp ‘tặng xe cho lãnh đạo’

Phạt fanpage ‘xúc phạm lãnh đạo Đà Nẵng’

Thư viết: “Để xây một công trình khách sạn mất vài năm, nhưng để có một khu rừng như Sơn Trà phải mất hàng trăm năm.”

“Xin kiến nghị giữ nguyên hiện trạng, không xây mới các cơ sở lưu trú ở Sơn Trà; Chỉ quy hoạch Sơn Trà thành nơi tham quan giải trí để bảo tồn cảnh quan tự nhiên với sự đòi hỏi nghiêm ngặt về quy chế ứng xử của du khách.”

“Hạn chế triển khai các dự án ở thềm bờ biển tiếp giáp với núi Sơn Trà làm tăng nguy cơ phá hủy rặng san hô ven bờ…”.

Trong thư, ông Vinh còn nhắc lại phát ngôn của ông Phúc rằng “không đánh đổi môi trường lấy kinh tế, gây ảnh hưởng cuộc sống bình yên của người dân”.

Hôm 21/3, bình luận với BBC từ Đà Nẵng, ông Nguyễn Trung Dân, cựu Phó tổng biên tập báo Du lịch, nói: “Vụ việc tại Sơn Trà giống như bát nước tràn, miếng đất cuối cùng chia nhau để giành khu vực đẹp nhất nhì của cả bán đảo này.”

“Do ông Phúc từng làm giám đốc Sở Du lịch Đà Nẵng nên ông ấy hiểu được Sơn Trà phải được quy hoạch thế nào.”

“Tôi tin là ông ấy sẽ dừng dự án đang khai thác tại Sơn Trà.”

‘Phép thử’

Cùng ngày, một nhà hoạt động môi trường, ông Nguyễn Anh Tuấn, nói với BBC: “Thư của ông Huỳnh Tấn Vinh là động thái rất tích cực của người làm du lịch Đà Nẵng.”

“Những kiến nghị nêu trong thư có sức nặng ở chỗ nó đến từ chính người đang trực tiếp làm du lịch ở Đà Nẵng, phản ánh tầm nhìn trong việc giải bài toán giữa phát triển du lịch và bảo vệ môi trường.”

“Hiệp hội du lịch Đà Nẵng chọn đứng về xu hướng của thế giới là ưu tiên các loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên gắn với bảo vệ môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học trong tinh thần phát triển bền vững.”

“Thư cũng đã được gửi đến đúng địa chỉ là Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vì chính ông có phần liên đới trách nhiệm đối với những gì đang xảy ra ở Sơn Trà hôm nay.”

“Đây sẽ là phép thử đối với Thủ tướng Phúc và việc ông phản ứng với thư này sẽ cho công chúng thấy cách mà ông đối mặt với cam kết của chính mình trong quá khứ ra sao.”

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.03.2017

Việt Nam tham nhũng thứ hai châu Á?

Việt Nam tham nhũng thứ hai châu Á?

BBC

Một phiên tòa xử tham nhũng ở TP HCMBản quyền hình ảnhAP
Image captionMột phiên tòa xử tham nhũng ở TP HCM

Tạp chí Forbes hôm 13/3 đăng bài của cộng tác viên Tanvi Gupta dựa trênphúc trình về tình trạng tham nhũng ở Á châu của tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International) đặt Việt Nam vào vị trí số hai trong danh sách 5 nước tham nhũng nhất châu lục, chỉ sau Ấn Độ.

Phúc trình được thực hiện trong 18 tháng này cho thấy bức tranh khá ảm đạm về nạn hối lộ ở các nước châu Á.

Minh bạch Quốc tế phỏng vấn 22.000 người ở 16 quốc gia châu Á-Thái Bình Dương, và kết quả là hơn 1/4 số người được hỏi cho hay họ đã phải hối lộ khi sử dụng dịch vụ công.

5 nước tham nhũng nhất theo Minh bạch Quốc tế là:

1. Ấn Độ: tỷ lệ hối lộ 69%

2. Việt Nam: tỷ lệ hối lộ 65%

3. Thái Lan: 41%

4. Pakistan: 40%

5: Myanmar: 40%

Phần về Việt Nam nói người Việt Nam coi tham nhũng là đại dịch. Trong số 16 quốc gia được phỏng vấn thì người Việt Nam cùng người Malaysia tỏ ra bi quan nhất về tình hình chống tham nhũng trong nước, với 60% cho rằng chính phủ không hiệu quả trong hoạt động này.

Tỷ lệ người nói họ phải hối lộ khi tiếp cận dịch vụ giáo dục là 57% và y tế là 59%. Trên 61% cho hay họ phải hối lộ công an.

Ấn Độ, tuy là quốc gia bị cho là tham nhũng nhất, lại cho kết quả khả quan hơn về chống tham nhũng.

53% người được hỏi cho là Thủ tướng Narendra Modi đang khá thành công trong việc diệt trừ căn bệnh này.

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.03.2017

Ảnh chụp từ những khoảnh khắc nghẹt thở

Ảnh chụp từ những khoảnh khắc nghẹt thở

 ( Bài viết do Nhà văn Trần Thùy Mai cung cấp)



Hình ảnh khai quật được đó là xương của một cặp đôi đã chết khoảng năm 800 TCN và họ đang hôn nhau.
hinh
                                                          anh1
Khoảnh khắc ngọn sóng lớn chồm lên bên cạnh bờ biển
hinh
                                                          anh2
Khu nhà ổ chuột của những người dân nghèo ở Iran
hinh
                                                          anh3
Cả một đám mây lớn chằng chịt tia sét ngang dọc
hinh
                                                          anh4
Khoảnh khắc tên lửa xuyên qua tầng mây
hinh
                                                          anh5
Cây dừa uốn một đường cong lớn như trò chơi cảm giác mạnh trên không trung.
hinh
                                                          anh6
Người lái thuyền liệu có biết phía dưới đang có một chú cá mập chuẩn bị nổi lên không?
hinh
                                                          anh7
Hình ảnh tuyệt đẹp của một phi hành gia khi xuyên qua tầng mây.
hinh
                                                          anh8
Chú cá voi vô tình đội cả chiếc tàu du lịch lên, hậu quả sau đó sẽ thế nào?
hinh
                                                          anh9
Khoảnh khắc máy bay hạ cánh xuống mặt biển
hinh
                                                          anh10
Phía dưới là vực thẳm, bạn thực sự không sợ rơi xuống sao?
hinh
                                                          anh11
Thạch nhũ tự nhiên, bạn có dám đi vào trong không?
hinh
                                                          anh12
Ngọn hải đăng vẫn đứng nguyên trong giông bão
hinh
                                                          anh13
Vòi rồng gặp cầu vồng
hinh
                                                          anh14
Thác nước trên bờ biển cao, bạn dám đứng sát lại xem không?
hinh
                                                          anh15
Hình ảnh con sóng lớn chồm lên đường quốc lộ
hinh
                                                          anh16
Khi núi lửa phun trào từ trong lòng núi tuyết
hinh
                                                          anh17
Hình ảnh người ngồi ở mép núi đua ra để ngắm cảnh
hinh
                                                          anh18
Hình ảnh các tầng mây trên ngọn núi Phú Sĩ, đây là hình ảnh thật không phải photoshop.
hinh
                                                          anh19
Bên cạnh khu nhà ở chính là một vực thẳm
hinh
                                                          anh20
Hình ảnh các dòng sông băng ở Greenland, băng đang tan chảy tràn ra ngoài.
hinh
                                                          anh21
Một chiếc máy bay bị chìm xuống đáy biển từ rất nhiều năm.
hinh
                                                          anh22
Tư thế này đảm bảo cô gái sẽ không bị rơi xuống sao?
hinh
                                                          anh23
Hình ảnh chiếc cây bị trúng sét
hinh
                                                          anh24
Làm xiếc bên bờ vực
hinh
                                                          anh25
Bất ngờ gặp được một đàn cá
hinh
                                                          anh26
Hình ảnh đàn cá đuối bơi cùng nhau
hinh
                                                          anh27
Hình ảnh ngọn sóng lớn cao hơn 10 mét
hinh
                                                          anh28
Trước thiên nhiên hùng vĩ, con người thật nhỏ bé và cuộc sống thật mong manh. Chẳng biết ngày mai sẽ ra sao, chúng ta hãy trân trọng những thời khắc của hiện tại, sống có ý nghĩa hơn, cho đi nhiều hơn, bao dung hơn. Đừng để thời gian qua đi vô nghĩa, để không bao giờ  hối hận khi thời gian không còn nữa.
Đăng bởi: Ngô Minh | 21.03.2017

40 NĂM EM – THƠ VỀ QUÊ VỢ

40 NĂM EM – THƠ VỀ QUÊ VỢ

 

Ngô Minh

BÊN CỘT MỐC SỐ 0

 

 Anh 100 ngày vượt Trường Sơn

Lại về Cột mốc số 0, khởi nguồn

Ơi Tân Kỳ, Lạt, Sông Con…

Cưới em trời đất Nghĩa Đồng thành quê

 

Một vòng Đất nước anh đi

Đạn bom, giặc giã…Bỗng về gặp em

Vòng định mệnh. Cột nhân duyên

Cùng em đi tận nhớ quên cõi này!

                          Lạt, hè      
(Đọc tiếp…)

Tuyên ngôn của một người làm thơ cựu chiến binh

(Rút từ facebook của Bùi Chí Vinh)

Quý vị muốn làm gì thì làm
Muốn mị dân muốn yêu nước muốn bán nước bằng mồm thây kệ
Tôi không thù người Tàu cũng chẳng ghét xứ Trung Hoa
Nhưng đứa nào xâm lược nước tôi là chết ngay tại chỗ

Quý vị cứ việc đi đêm cứ việc sửa lại bản đồ lịch sử
Cứ việc quên bẵng ải Nam Quan cho Nguyễn Trãi đội mồ
Nhưng đứa nào bứt của thân nhân tôi sợi tóc
Là tôi đập nát đầu chứ không đập bằng thơ

Quý vị cứ việc chơi gôn cứ việc sắm sửa phi cơ
Cứ đầu cơ địa ốc cứ kiếm tiền vi vút
Nhưng đứa nào bắt dân ngu cu đen thay quý vị ở tù
Là tôi đào mả ba đời quý vị lên trét cứt

Quý vị cứ chà đạp lên quyền làm người xuất sắc
Cứ hung hăng như Gaddafi trước khi rúc vô ống cống đê hèn
Quý vị cứ việc xem dân nghèo như rơm như rác
Nhưng lúc đường cùng đừng năn nỉ tôi nghen!

Quý vị cứ việc rửa tiền qua ngân hàng Thụy Sĩ cực êm
Cứ tậu nhà dưỡng lão ở Bắc Kinh, sắm điền trang ở Mỹ
Quý vị cứ thăng thiên cùng giá điện giá xăng
Bất chấp thôn nữ thiếu ăn phải bán thân làm đĩ

Quý vị phải như vậy mới là quý vị
Vô cảm vô lương vô đạo đức vô thần
Tôi rách rưới như một thằng thi sĩ
Nhưng hiểu thế nào là sức mạnh nhân dân!

Tháng 8-2012
BCV

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.03.2017

Người Nhật phát triển hán ngữ hiện đại

GS.TS. Hồ Sĩ Quý: Nhìn thấy nỗi đau thực của mình, con người sẽ hạnh phúc hơn thay vì giấu diếm để thêm lo lắng.

  •   HỒ SĨ QUÝ – VŨ VIẾT TUÂN
GS.TS. Hồ Sĩ Quý: Nhìn thấy nỗi đau thực của mình, con người sẽ hạnh phúc hơn thay vì giấu diếm để thêm lo lắng.

PV: Hôm nay, ngày 20/3 – ngày Quốc tế về Hạnh phúc, vậy theo ông, hạnh phúc trong con mắt người Việt chúng ta hiện nay như thế nào?

GS. TS Hồ Sĩ Quý: Do mới bắt tay vào nghiên cứu khoảng hai năm gần đây, nên tất cả những nghiên cứu đánh giá xem người VN suy nghĩ thế nào về hạnh phúc đến giờ vẫn chưa có kết quả cuối cùng. Vậy nên nói gì về hạnh phúc của người Việt hiện nay thì cơ bản vẫn là cảm tính. Có rất nhiều ý kiến khác nhau quanh việc quan niệm về hạnh phúc của người VN.

Không nhiều người đánh giá tích cực về mức độ hạnh phúc của người VN hiện nay. Những vấn đề nan giải diễn ra trong đời sống kinh tế – xã hội, những căng thẳng trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo, những tiêu cực hàng ngày trong đời sống, những bất hạnh cụ thể mà một số người đã trải qua… đã ảnh hưởng lớn đến quan niệm chung của người VN về hạnh phúc. Nhưng lại có nhiều tổ chức quốc tế đánh giá chỉ số hạnh phúc của người VN cao hoặc rất cao.

PV: Hạnh phúc của người Việt Nam theo đánh giá của các tổ chức quốc tế là cao hoặc rất cao?

GS.TS. Hồ Sĩ Quý:

Theo đánh giá của NEF (New Economics Foundation, Anh) về chỉ số hạnh phúc hành tinh – HPI (Happy Planet Index) thì 2006 VN đứng thứ 12 trên 178 nước, trên cả Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, Mỹ … Năm 2012 còn đứng thứ 2, năm 2016 đứng thứ 5 về chỉ số hạnh phúc so với các nước khác. Với Hiệp hội điều tra và nghiên cứu thị trường (Win/Gallup International) thuộc WB thì Việt Nam 2016 cũng là nước hạnh phúc thứ 4 trên thế giới với chỉ số hạnh phúc là 78%, chỉ sau Fiji, Trung Quốc và Philippines. Những đánh giá quá cao này không làm cho người Việt vui mừng, ngược lại còn gây hoài nghi, hoang mang.

Có lẽ hợp lý hơn cả là Báo cáo Hạnh phúc thế giới (World Happiness Report) của Sustainable Development Solutions Network thuộc LHQ phối hợp với các trường ĐH British Columbia, ĐH Columbia… thực hiện. Theo báo cáo này, năm 2015, Việt Nam đứng thứ 75 trên 157 nước. Năm 2016, Việt Nam đứng thứ 96. Hôm nay, ngày Quốc tế về hạnh phúc 20/3, WHR 2017 sẽ được công bố. Nhưng đến giờ này chúng tôi vẫn chưa có thông tin. Chúng ta chờ xem vị trí của VN năm nay sẽ ở mức nào trong bản đồ hạnh phúc thế giới.

Nói chung nhiều tổ chức quốc tế, do nhiều nguyên nhân, có thể đã đo đạc chỉ số hạnh phúc của VN không thật chính xác. Nhưng vẫn nên tham khảo.

Dư luận xã hội ở ta hiện nay thường nghĩ rằng chỉ số hạnh phúc của người Việt hiện thời kém hoặc rất kém. Với tôi thì tâm lý đó cũng có căn nguyên của nó. Rõ ràng hiện nay rất nhiều người không bằng lòng với thực tế đời sống (chỉ có số rất ít bằng lòng với cuộc sống của họ, chứ không phải với trật tự toàn xã hội), nhưng những người nghĩ mình bất hạnh có lẽ cũng không nhiều, chỉ là những trường hợp cụ thể.

Với đời sống kinh tế, ít người nghĩ rằng ngày mai sẽ tệ hơn hôm nay. Người ta không bằng lòng với hiện thực, chủ yếu là mong muốn, đáng ra phải tốt hơn. Nhìn chung, theo tôi, quan niệm của người Việt về hạnh phúc, ở tất cả các tầng lớp, kể cả người thành đạt và không thành đạt, người giàu và người nghèo… đều có cái nhìn tương đối thực tế. Nếu nói là thực dụng thì cũng chưa chắc đã sai. Khấn vái khắp nơi nhưng không quá tin vào thánh thần. Nhét tiền vào miệng tượng Phật, nhưng chỉ là tiền lẻ. Hiểu rõ giá trị tinh thần nhưng vẫn không quên kinh tế, tiền bạc. Háo danh nhưng vẫn chỉ coi danh là công cụ, là phương tiện, thậm chí cũng chỉ để làm vui vậy, chứ vẫn không lẫn danh với thực.

Vì vậy, có thể hiểu tại sao người ta lại hoài nghi những đánh giá quá cao về chỉ số hạnh phúc của VN. Người VN lo lắng không biết đến bao giờ mình mới bằng nước này, nước kia là chuyện có thật. Nhưng người VN nhìn nhận cuộc sống của mình tốt hơn quá khứ cũng là chuyện có thật. Hai sự thật này có trong đầu tất cả mọi người, nên tâm trạng về hạnh phúc lúc lạc quan lúc bi quan… thì cũng chẳng có gì đáng ngờ.

PV: Vậy theo ông, có giải pháp gì để Việt Nam chúng ta dần nâng cao chỉ số hạnh phúc?

GS.TS. Hồ Sĩ Quý:

Để trực tiếp nâng cao chỉ số hạnh phúc của người VN, ở tầm vĩ mô, giải pháp cần có nhất vào lúc này, theo tôi, là phải đẩy mạnh công khai, minh bạch và dân chủ trên tất cả các lĩnh vực, các mặt của đời sống xã hội.

Tôi nghĩ rằng tất cả những gì không thuộc bí mật quốc gia thì cần thiết phải công khai, minh bạch trước người dân, kể cả sự yếu kém về kinh tế, sự phụ thuộc về nguồn lực, tình trạng nợ công, mức độ bẩn của môi trường, những khó khăn về thực thi chủ quyền biển đảo, v.v… để toàn dân hiểu được tình hình, được góp ý, được tham dự cùng với các nhà quản lý.

Nếu tất cả những thuận lợi, khó khăn, thậm chí yếu kém… của đất nước được dân thấu hiểu một cách minh bạch, thì chắc chẳng cần giàu có như Singapore hay Nhật Bản người dân cũng thấy dễ chịu, hạnh phúc.

Công khai, minh bạch và dân chủ để toàn dân có thể nhìn nhận đúng thực trạng của đất nước hiện nay – điều ấy tốt cho xã hội, tốt cho công tác quản lý. Nhìn thấy nỗi đau thực của mình, con người sẽ hạnh phúc hơn thay vì giấu diếm để thêm lo lắng.

PV: Cám ơn ông!

GS.TS. Hồ Sĩ Quý:

Cám ơn, Gửi lời chúc tốt đẹp nhất tới bạn đọc nhân ngày Quốc tế về Hạnh phúc. Chúc mọi người, mọi nhà Hạnh phúc!

( Nguồn: VHNA)

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.03.2017

Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long thăm Việt Nam

Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long thăm Việt Nam

BBC

Một nhà quan sát bình luận với BBC rằng chuyến thăm của Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long chứng tỏ “Singapore rất chú trọng quan hệ với Việt Nam”.

Thủ tướng Lý Hiển LongBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionThủ tướng Lý Hiển Long gặp Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng trong chuyến thăm tháng 9/2013 tại Hà Nội

Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long sẽ có chuyến thăm Việt Nam bốn ngày ở Việt Nam từ ngày 21 đến 24/3.

Hôm 20/3, Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp từ Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (Iseas) ở Singapore nói với BBC: “Chuyến đi này đáng chú ý vì cuối tháng 9 sẽ diễn ra thượng nghị APEC ở Việt Nam, cho nên ông Lý Hiển Long sẽ đến Việt Nam hai lần trong năm nay.”

“Điều này cũng cho thấy Singapore rất chú trọng Việt Nam và quan hệ hợp tác với Việt Nam,” ông Hiệp nói thêm.

“Có một điểm đáng lưu ý ở đây là về tình hình tranh chấp ở Biển Đông, quan điểm của Việt Nam và Singapore ngày càng có nhiều điểm tương đồng. Đây có thể là mẫu số chung cho sự phát triển mối quan hệ song phương,” ông Hiệp bình luận.

Thủ tướng Lý Hiển Long vẫn muốn TPP không có Mỹ?

Quan hệ quốc tế: Singapore khác VN thế nào?

BBC hôm 20/3 đã tìm cách liên hệ với Đại sứ Việt Nam tại Singapore Nguyễn Tiến Minh nhưng không liên lạc được.

Nhưng ông Nguyễn Tiến Minh trước đó có nói với VietnamNet rằng chuyến thăm của ông Lý Hiển Long là để trao đổi những cơ hội mới về đầu tư kinh doanh giữa hai nước.

Đối tác quan trọng

Singapore là đối tác lớn thứ sáu của Việt Nam và thứ hai trong khối ASEAN.

Singapore cũng là nhà đầu tư lớn thứ ba ở Việt Nam, chỉ sau Nhật Bản và Nam Hàn, với tống giá trị đầu tư là 40 tỉ đôla.

“Trong chuyến thăm này, thủ tướng dự kiến sẽ có buổi nói chuyện với Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và các lãnh đạo Việt Nam để củng cố mối quan hệ hợp tác song phương,” Đại sứ Việt Nam nói thêm.

Ông cũng sẽ gặp gỡ cộng đồng doanh nghiệp Singapore tại thành phố Hồ Chí Minh.

Ông Lý Hiển Long qua thăm cùng đợt với lễ ra mắt sách Hồi Ký Lý Quang Diệu diễn ra ở Hà Nội ngày 23/3.

Thủ tướng quốc đảo sư tử đã từng thăm Việt Nam rất nhiều lần từ khi còn giữ chức vụ Phó Thủ tướng.

Chuyến thăm gần đây nhất của ông là vào tháng 9/2013, theo lời mời của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhân kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Singapore.

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.03.2017

NGẪU HỨNG DÂN CA XỨ NGHỆ

NGẪU HỨNG DÂN CA XỨ NGHỆ

Nhà thơ Vương Trọng

Ở nước ta, nhiều vùng quê có làn điệu dân ca riêng, nhưng có lẽ Quan họ Bắc Ninh và Dân ca Nghệ Tĩnh được nhiều người yêu thích nhất. Và khi hai làn điệu dân ca này trở thành Di sản Văn hóa phi vật thể của nhân loại thì đáp ứng nguyện vọng của số đông thính giả. Cái mạnh của Quan họ Bắc Ninh là trữ tình, duyên dáng…còn Dân ca Nghệ Tĩnh sâu lắng, đầy lòng thương cảm, nặng tình nặng nghĩa. Khi nói chuyện về Truyện Kiều, tôi thường lưu ý với bạn đọc rằng, một trong những yếu tố tạo nên thiên tài của Nguyễn Du là bản thân ông được giao hòa dòng máu của hai vùng văn hóa chứa hai làn điệu dân ca nổi tiếng của quê bố Nghệ Tĩnh và quê mẹ Bắc Ninh.Nhiều câu thơ viết như rút ruột của tác giả Truyện Kiều rất gần với chất thương cảm trong dân ca Nghệ Tĩnh : “ Thiếp từ ngộ biến đến giờ / Ong qua bướm lại đã thừa xấu xa/ Bấy chầy gió táp mưa sa / Mấy trăng cũng khuyết, mấy hoa cũng tàn…” . Hoặc: “Phận bèo bao quản nước sa/ Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh”…”Chất thương cảm” này không chỉ đối với đại thi hào Nguyễn Du, mà còn là thế mạnh của nhiều nhà thơ xứ Nghệ khác. Đấy là vì từ trong dòng máu, từ trong nôi, người dân Nghệ Tĩnh đã tiếp thu đặc trưng của làn điệu dân ca quê mình, phần nhiều thể hiện qua các câu Ví, Giặm. Về thể loại, các nhà thơ Xứ Nghệ ảnh hưởng nhiều ở thể Giặm, thơ năm chữ, và với nhiều nhà thơ vùng này, tác phẩm xuất sắc nhất của họ cũng được sáng tác theo thể này, như “Thăm lúa” của Trần Hữu Thung và “Đêm nay Bác không ngủ” của Minh Huệ. Mặc dù chưa có số liệu thống kê chính xác, nhưng theo cảm nhận của tôi, bên cạnh thể lục bát, các nhà thơ Xứ Nghệ là những người thích sáng tác thể thơ ngũ ngôn hơn các nhà thơ của vùng quê khác. Ngay như khi đã có tuyệt tác Truyện Kiều theo thể lục bát rồi, có người còn viết lại tác phẩm này bằng thơ ngũ ngôn, gọi là “Kiều Giặm”!
Nhân đây tôi muốn trở lại một vấn đề mà nhiều bạn đọc quan tâm là DẶM hay GIẶM, vì trong nhiều văn bản khác nhau, từ này thường được viết khác nhau như thế. Ta biết rằng, dân ca, xuất xứ là thể hát truyền khẩu từ người này qua người khác, khi chưa hề có văn bản. Sau đó người ta mới ghi lại để có văn bản, nghĩa là âm có trước, chữ có sau. Trong tiếng Việt hai phụ âm D và GI chỉ dùng để ghi một âm như nhau, vì vậy DẶM và GIẶM đều được cả. Tuy nhiên, tôi đồng ý với giáo sư Tô Ngọc Thanh, trong trường hợp này, ta nên chọn GIẶM, vì từ DẶM vốn đã có nghĩa là một đơn vị chiều dài rồi. Và trong hồ sơ tôn vinh của UNESCO, cũng được viết là VÍ, GIẶM, chúng ta nên dựa vào. Còn tại sao lại gọi là hát Giặm? Trong ngôn ngữ Nghệ Tĩnh, giặm là động từ mang ý nghĩa chèn vào, thêm vào chỗ trống, chỗ thưa. Khi ruộng lúa cấy xong bị cua cắn mất nhiều bụi, người ta phải cấy bổ sung vào, được gọi là “cấy giặm”. Trong hát giặm, lời gồm nhiều khổ thơ ngũ ngôn, mỗi khổ thường năm câu, trong đó câu thứ năm được nhắc lại nguyên xi hoặc thay vài từ của câu thứ tư, coi như câu thứ năm được giặm vào phần cuối của khổ thơ bốn câu. Đó là đặc trưng của hát giặm và trở thành tên gọi của làn điệu này.
Cũng như nhiều người con sinh ra, lớn lên ở Xứ Nghệ, bài dân ca đầu tiên tôi được nghe là bài “Phụ tử tình thâm”. Đây là một bài hát giặm, không ai rõ tác giả và có từ thời nào, nhưng hầu như bà mẹ nào cũng thuộc để ru con, lời ru là lời thủ thỉ tâm sự dạy con luôn phải nghĩ đến công lao, tình cảm bố mẹ để lớn lên tìm cách ăn ở , cư xử cho hợp đạo làm con:
Phụ tử tình thâm
Công thầy nghĩa mẹ
Con đừng tiếng tăm nặng nhẹ
Đừng tiếng tăm nặng lời
Đừng cả tiếng dài hơi
Nói mẹ cha sao nên
Cãi mẹ thầy sao phải…
Đặc điểm của bài hát ru này, dựa chính vào điệu giặm, nhưng không cứng nhắc thể thơ ngũ ngôn và câu giặm không nhất thiết phải nằm cuối mỗi khổ thơ. Nghĩa là trong dân gian, làm điệu giặm cũng đa dạng, phong phú lắm.
Nhưng dân ca không chỉ đến với trẻ thơ bằng lời ru của mẹ, của bà…nghĩa là có những lời ca không phải sinh ra dưới mái nhà, mà đến từ phía ngoài lũy tre. Làng tôi khá gần sông Lam, ngày còn bé tí, chưa đến tuổi cắp sách đến trường, có những đêm khuya thanh vắng chợt vọng về lời hát, mà sau này tôi mới biết đó là Ví đò đưa:
Đò anh xuôi, em có muốn xuôi không
Qua Đò Rồng anh đợi, tới Vực Cung anh chờ!
Đó là câu hò của chàng trai làm nghề đò dọc. Đò ngang là đò đưa khách qua sông, đò dọc là đò đưa khách dọc theo dòng sông, có khi đi dài từ Bến Thủy đến tận Con Cuông. Khi đò ngược sông, thợ đò phải chống nên rất khó hò dài hơi với làn ví như thế, vậy nên nghe tiếng hò này là người lớn ai cũng biết đò đang xuôi dòng. Những câu hò khuya khoắt như thế cứ xa dần, xa dần và đưa tôi chìm sâu vào giấc ngủ.
Có người nhận xét rằng, tính cách người Nghệ rất quyết liệt, không thích lưng chừng, đã làm điều gì thì làm đến tận cùng, đã nói thì nói sao cho thật hết ý mình, không giữ gìn, tránh né…Tính quyết liệt này đã có sẵn trong dân ca từ ngày xưa, không vùng nào có lời bộc bạch tình yêu quyết liệt như dân ca Xứ Nghệ:
Thương anh lắm, anh ơi
Nhớ anh lắm, anh ơi
Thương đáo để khúc nhôi
Nhớ ngao ngán, trần đời
Miếng cơm ăn chẳng được
Bưng nước uống nỏ trôi…
Cầm đũa thì đũa rớt
Cầm đọi thì đọi rơi
Ra trông đất ngó trời
Ra nhìn ngược nhìn xuôi
Bởi vì em thương anh vô kể
Thiếp nhớ chàng vô kể…
Hay:
Em thương anh cha mẹ nỏ ưng
Chặn em đi cửa trước, em lại vòng cửa sau…
Dù đập em chín chục, một trăm
Đập rồi em đứng dậy vẫn nhất tâm lấy chàng!
Mấy ai trong tình yêu, nhất là trong dân ca, có được những lời gan ruột như thế!
Người Nghệ sống giữa quê hương gần gũi với các làn điệu dân ca như cơm ăn, nước uống và khí trời, quen đến mức có khi dường như quên đi sự tồn tại của nó! Người Nghệ xa quê thì ngược lại, trong nỗi nhớ quê có nỗi nhớ dân ca. Một người Nghệ điển hình, đạt kỷ lục về số năm xa quê là Bác Hồ, những ngày bôn ba tìm đường cứu nước cũng như khi sống ở Thủ đô với cương vị Chủ tịch nước, Bác luôn nhớ quê hương. Những năm ở chiến khu Việt Bắc, nhớ nhà không thể về được, Bác bèn trồng hai cây bông bụt, thứ cây quen thuộc của nhà Bác ở Kim Liên, bên cạnh phòng làm việc, để ngoài giờ làm việc, nhất là những buổi chiều hôm, Bác ngồi một mình nhìn cây cho vơi nỗi nhớ nhà. Còn khi ở Thủ đô, nhiều khi nhớ quay quắt một làn điệu dân ca, Bác cho mời các ca sĩ của Xứ Nghệ ra hát ở Phủ Chủ tịch. Nữ nghệ sĩ Song Thao của đoàn văn công Nghệ An là người được nhiều lần hát phụ vụ Bác, chị kể rằng có khi đang hát, nhìn khuôn mặt Bác thấy những giọt lệ tụ đầy khóe mắt, làm cho mắt chị cũng rưng rưng. Cách đây trên bốn mười năm, khi nghe chuyện kể này, tôi đã viết bài thơ “Đêm nay Bác nghe dân ca Xứ Nghệ” mở đầu như sau:
Câu đò đưa khi ấy cất lên
Ngôi nhà quen bất chợt hóa con thuyền
Tán cây rậm trong vườn Chủ tịch
Những cánh buồm phút chốc bay lên…
Văn nghệ sĩ quê Nghệ sống ở Thủ đô, không ai không yêu dân ca quê mình, nhưng yêu được như nhà thơ Võ Văn Trực thì xem ra cũng hiếm. Bình thường mỗi ngày ông nghe dân ca Nghệ Tĩnh hai lần, trước giờ ngủ trưa và ngủ đêm. Nếu ngày quá bận không có điều kiện nghỉ trưa thì nhất thiết phải nghe trước giờ nghỉ đêm, vì nếu không được nghe thì trằn trọc không ngủ được. Ông có chiếc máy casset nhỏ đi đâu cũng mang theo. Tôi nhớ năm 2003, ông cùng Trần Đăng Khoa và tôi vào Đà Nẵng làm chung khảo cuộc thi thơ. Có một đêm giao lưu tận khuya mới về khách sạn, tôi và thần đồng Khoa lên giường ngủ ngay, còn ông cũng lên giường nhưng để mở casset! Không may cho ông, casset hết pin, ông nằm lặng yên một lúc lâu, không thể ngủ được, liền nhẹ nhàng ngồi dậy, rồi lặng lẽ mở cửa đi ra phố để mua pin. May cho ông còn cửa hàng mở cửa dù đã sau mười hai giờ đêm, ông thỏa mãn về nhà, lại nhẹ nhàng lên giường nằm xuống, cắm tai nghe và ngủ ngon lành!
Có người nhận xét rằng dân ca Nghệ Tĩnh làn điệu không phong phú như Quan họ Bắc Ninh. Không phải là người sành lĩnh vực này, tôi không biết nhận xét đó chính xác đến mức nào, nhưng với tôi, những làn điệu đã có, dân ca Xứ Nghệ đã chở được các cung bậc tình cảm của người Nghệ, đặc biệt để thể hiện nỗi nhớ niềm thương. Và theo thời gian, làn điệu dân ca Xứ Nghệ cũng phong phú thêm, trước hết là công của các nhà sưu tầm, và tiếp đến là người sáng tác. Nhà nghiên cứu Ninh Viết Giao, một người con Xứ Thanh, đã có nhiều thành tựu trong việc sưu tầm Dân ca Xứ Nghệ, đặc biệt về ngôn từ. Người sáng tác thêm làn điệu dân ca thành công nhất, có lẽ là ông Nguyễn Trung Phong, nguyên trưởng đoàn Văn công Nghệ An. Đó là điệu “Giận mà thương”. Rất tiếc là hơn nửa thế kỷ nay, chúng ta chưa thật công bằng trong việc ghi công ông, khi chỉ giới thiệu “Giận mà thương là dân ca Nghệ Tĩnh”. Giới thiệu như vậy không sai, nhưng không đủ. Sự thật bất cứ một làn điệu dân ca nào cũng do con người cụ thể sáng tác ra, rồi theo năm tháng được cộng đồng nâng cấp lên. Khi không biết được ai là tác giả thì chúng ta chỉ giới thiệu chung là dân ca. Còn điệu “Giận mà thương” thì khác. Năm 1958, miền Bắc thành lập các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp nên các phương tiện thông tin đại chúng có nhiều hình thức tuyên truyền cho việc này. Có lẽ sau đấy không lâu, Nguyễn Trung Phong sáng tác vở ca kịch “Khi ban đội vắng nhà”, phần lớn dùng các giai điệu dân ca đã có, nhưng riêng đoạn người vợ khuyên chồng không nên nhân khi ban đội vắng nhà, không ai giám sát, bỏ bê công việc của hợp tác mà lên Đô Lương (ngược lường) để đi buôn( thường là buôn chè) thì ông sáng tác ra một làn điệu hoàn toàn mới, trước đó chưa từng có:
Vì thương anh nên em bàn với mẹ
Phải ngăn anh không đi chuyến ngược Lường
Giận thì giận
Mà thương thì thương…
Vì không biết xuất phát từ nội dung của ca kịch này, nên có nhiều ca sĩ không hiểu “ngược lường” là gì, nên đã hát thành “ngược đường”. Còn nhạc sĩ Đỗ Nhuận cũng không biết làn điệu này “có chủ” nên ông mới sáng tác bài “ Trông cây lại nhớ đến người” mà hơn chín mươi phần trăm là giai điệu của Nguyễn Trung Phong!
Như vậy, Nguyễn Trung Phong là người sáng tác thêm giai điệu cho Dân ca Xứ Nghệ thành công nhất. Về sau, nhiều nhạc sĩ phát triển Dân ca Xứ Nghệ để sáng tác những ca khúc đương đại. Theo nhạc sĩ Huy Thục, nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên sử dụng chất liệu dân ca Xứ Nghệ khi sáng tác ca khúc là Nguyễn Tài Tuệ, với bài hát “Xa khơi”. Sau đó nhiều nhạc sĩ khác đã thành công trong công việc này như Trần Hoàn, Thuận Yến, An Thuyên…
Có công lớn trong việc đưa dân ca đến cộng đồng, về tập thể là các đoàn dân ca của Nghệ Tĩnh, về cá nhân thì tiêu biểu là các nghệ sĩ biểu diễn như Song Thao, Hồng Lựu, Tiến Dũng, Lệ Thanh, Hồng Năm, Xuân Năm…
Trong dịp UNESCO tôn vinh Dân ca Ví Giặm, tôi cũng đã có lời đề nghị hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh cần ghi công những người sáng tác cũng như biểu diễn dân ca, đặc biệt là tác giả điệu “Giận mà thương”.
Với tôi, một nhà thơ, có sáng tác được một số bài thơ thấm đẫm tình người, được bạn đọc thuộc lòng và tâm đắc, tôi biết rằng những bài thơ đó có nguồn cội sâu xa từ Dân ca Xứ Nghệ.

30.4.2016
VƯƠNG TRỌNG

Chỉ một cái chòi vịt 35m2 mọc lên không xin phép đã có tới 15 cơ quan ở TP.HCM tham gia, với 10 quyết định của các cơ quan có thẩm quyền đề nghị truy tố hình sự tội danh xây nhà trái phép. Nực cười thay, ngay giữa lòng Thủ đô Hà Nội – nơi tập trung các cơ quan đầu não của đất nước, người ta vẫn ngang nhiên xây dựng trái phép tòa cao ốc sừng sững lên tới 18 tầng bất chấp chính quyền sở tại nhiều lần lập biên bản vẫn không có dấu hiệu dừng lại. Đúng là ở Việt Nam, công lý chỉ như một diễn viên hài…

Cứ tưởng sai phạm của chủ đầu tư dự án 8B Lê Trực là ghê gớm ở Thủ đô, nào ngờ “đẳng cấp” của ông chủ FLC Trịnh Văn Quyết còn vượt xa hơn rất nhiều. Dự án FLC Garden City ở phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm (Hà Nội), do Công ty CP Đầu tư Địa ốc ALASKA, một thành viên của Tập đoàn FLC làm chủ đầu tư đã minh chứng cho điều đó.

Hiện dự án FLC Garden City (Đại Mỗ) mới được Sở Xây dựng Hà Nội cấp phép xây dựng đối với tòa nhà HH02. Nhưng chủ đầu tư lại cho thi công tòa nhà HH01 đến tầng 17, máy móc, công nhân hoạt động hết công suất, không có dấu hiệu ngừng nghỉ, còn tòa nhà HH02 được chủ đầu tư cho tạm “ngủ đông”.

Am hiểu về luật pháp, doanh nhân gốc luật đang chễm chệ thách thức các cơ quan chức năng Hà Nội bằng dự án xây dựng trái phép

Tòa nhà HH01 được phê duyệt là nhà ở xã hội, nhưng FLC đã cho mình cái quyền tự ý thay đổi mục đích sử dụng. Không những vậy FLC đã tự cho mình cái quyền được phép thi công đến 17 tầng mà không thèm đếm xỉa đến sự quản lý giám sát của chính quyền cấp sở tại. Khi thi công chưa xin cấp phép xây dựng của Sở Xây dựng Hà Nội. Với ý đồ đẩy các cấp chính quyền vào thế đã rồi, và đến lúc “tặc lưỡi” bỏ qua?

Theo đó, dự án được UBND huyện Từ Liêm (trước đây) phê duyệt, quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/500 tại Quyết định số 5979/QĐ-UBND ngày 06/07/2011 và UBND quận Nam Từ Liêm chấp thuận điều chỉnh phương án kiến trúc sơ bộ dự án tại Văn bản số 1537/UBND-QLĐT ngày 20/10/2015.

Dự án có quy mô 7,895 ha với tổng mức đầu tư là 3.500 tỷ đồng. Dự án này gồm khu nhà liền kề, biệt thự và chung cư cao tầng. Khi đó, để giảm thủ tục cho doanh nghiệp, khu nhà liền kề, biệt thự, theo quy định được miễn giấy phép xây dựng. Tuy nhiên, đối với khu nhà cao tầng phải có giấy phép xây dựng.

Tuy không có giấy phép xây dựng nhưng tòa nhà HH01 được Công ty Cổ phần Xây dựng Faros một thành viên khác của Tập đoàn FLC, nổi danh với cái tên rất kêu: “Ông vua tốc độ thi công lên sàn”, thi công rất nhanh.

Ngày 29/02/2016, Công ty Alaska đã gửi thông báo đến cơ quan chức năng về việc khởi công xây dựng công trình hạng mục thấp tầng và hạ tầng thuộc khu chức năng đô thị Đại Mỗ – giai đoạn 1. Trong thông báo ghi rõ giấy phép xây dựng: Công trình thuộc diện miễn phép xây dựng.

Tuy nhiên, đến ngày 07/3/2016, Đội Thanh tra xây dựng quận Nam Từ Liêm đã xuống kiểm tra, lập biên bản số 29/BB-VPHC về việc vi phạm hành chính và yêu cầu ngừng thi công xây dựng công trình vi phạm. Cụ thể, chủ đầu tư dự án đã có hành vi sai phạm là xây dựng không phép,đang thi công tầng hầm khu vực HH-01; Đang thi công khoan cọc nhồi đại trà khu vực HH-02.

Trước sai phạm trên, Đội Thanh tra xây dựng quận Nam Từ Liêm không những không cưỡng bức ngừng thi công mà còn “ưu ái” yêu cầu chủ đầu tư dự án hoàn thiện hồ sơ, giấy phép xây dựng của cấp có thẩm quyền trong thời hạn 24 giờ kể từ khi lập biên bản. (?!!!)

Ngày 08/07/2016, Đội Thanh tra xây dựng quận Nam Từ Liêm lại tiếp tục lập biên bản vi phạm hành chính và yêu cầu ngừng thi công công trình vi phạm số 132/BB-VPHC với hành vi tái vi phạm. Khi đó, khu HH01 đang thi công ở tầng số 9.

Biên bản xử lý vi phạm hành chính và yêu cầu ngừng thi công xây dựng công trình vi phạm do Đội Thanh tra xây dựng lập đối với Công ty Alaska.

Do công trình này tiếp tục được xây dựng nên ngày 3/10/2016, Đội Trật tự xây dựng quận Nam Từ Liêm đã lập biên bản số 196/BB-VPHC với hành vi tái vi phạm. Ngày 3/12/2016, Tổ công tác quản lý đất đai trật tự xây dựng phường Đại Mỗ đã lập biên bản khi công trình HH-01 thi công không phép ở tầng 16.

Tiếp đó, ngày 09/01/2017, UBND quận Nam Từ Liêm, UBND phường Đại Mỗ đã ra quyết định số 02/QĐ-TGTVVP về việc tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với Công ty AlasKa. Lý do tạm giữ là do công ty này không chấp hành những yêu cầu của UBND phường Đại Mỗ tại Quyết định số11/QĐ-UBND ngày 18/01/2016 của Chủ tịch UBND phường Đại Mỗ. Tang vật, phương tiện vi phạm hành chính tạm giữ gồm 03 xe cải tiến chở vật liệu xây dựng cũ đã qua sử dụng.

Được biết, trước đó phía Đội Thanh tra xây dựng quận Nam Từ Liêm đã phạt tổng cộng là 120 triệu đồng đối với chủ đầu tư. Trong đó, 80 triệu đồng là hành vi xây dựng không phép ở tòa HH-01, 40 triệu đồng đối với việc xây dựng tòa HH-02.

Ngày 20/02/2017, trao đổi với phóng viên, ông Chu Văn Đức, Đội trưởng Đội Thanh tra xây dựng quận Nam Từ Liêm cho hay: “Hiện nay chúng tôi đã chuyển toàn bộ hồ sơ về việc sai phạm của Công ty Alaska đến Sở Xây dựng rồi, mọi việc xử lý phải chờ cơ quan cấp trên”.

Như vậy, có thể thấy chủ đầu tư Dự án khu chức năng đô thị Đại Mỗ là Tập đoàn FLC, trực tiếp là Trịnh Văn Quyết, đã quá coi thường pháp luật, từ một dự án chưa được cấp giấy phép xây dựng nhưng đến nay đã cho xây lên đến 18 tầng việc này khiến không ít người dân vô cùng bức xúc và phẫn nộ. Chưa kể, bất chấp dự án không phép, FLC vẫn tự cho bản thân quyền hợp tác với các sàn bất động sản để rao bán căn hộ thương mại trái phép, coi thường pháp luật và khách hàng khi không thể đảm bảo cho người mua quyền sở hữu hợp pháp.

Phiếu thu cho thấy hoạt động mua bán, đặt cọc các căn hộ tại tòa nhà HH01 thuộc dự án FLC Garden City vẫn đang diễn ra, bất chấp việc tòa nhà này vẫn chưa được cấp phép xây dựng

Rồi đây, ai sẽ bảo vệ quyền lợi của các khách hàng mua nhà của FLC khi chính bản thân dự án đang tồn tại trái phép, gây chướng tai gai mắt người dân và chính quyền sở tại, có thể bị cưỡng chế đập bỏ bất cứ lúc nào? Nghe nói, dự án đang được rao bán rầm rộ trên các sàn giao dịch với hàng trăm căn nhà, giúp Trịnh Văn Quyết thu về hàng nghìn tỷ đồng? Nếu dự án bị cưỡng chế thu hồi, số phận những khoản tiền mua nhà của người dân có được hoàn trả hay cũng chỉ là giấy tờ mua bán thiếu căn cứ, tiền mất tật mang? Giá trị một căn nhà vài tỷ đồng đối với người đàn ông “vàng” này chỉ bé như cái móng tay, nhưng với người dân lao động thì đó là cả một gia tài dành dụm. Đạo đức kinh doanh của Tập đoàn FLC, cụ thể là Trịnh Văn Quyết, ở đâu?

Phía sau những buổi lễ động thổ, khởi công hoành tráng của những dự án nhiều tỷ đồng là chân dung một FLC coi thường luật pháp. Khi họ tự cho mình cái quyền thi công không cần giấy phép xây dựng, mặc cho các quyết định đình chỉ ban hành, FLC vẫn cho thi công lên tầng, nâng chiều cao công trình ngay trước mắt các cấp chính quyền sở tại và thành phố Hà Nội. Kỳ lạ thay mỗi quyết định đình chỉ thi công ban ra, là ngay lập tức FLC đáp lễ lại bằng việc tổ chức cho thi công rầm rộ công trình được nâng lên vài tầng.

Đại diện cho mối liên kết QUYỀN – TIỀN tại Thanh Hóa đang đẩy người dân vào cảnh khốn cùng. Việc này đang tái diễn tại Hà Nội?

Như vậy, sự thách thức và coi thường pháp luật của FLC Garden City hay nói đúng hơn là phong cách làm việc “bừa, ẩu” của Tập đoàn FLC thể hiện rất rõ. Bất chấp các cấp chính quyền ra quyết định đình chỉ thi công, xử phạt hành chính… yêu cầu khắc phục hậu quả, chấm dứt hành vi vi phạm và thực hiện đúng các quy định của Pháp luật nhưng Công ty cổ phần đầu tư Địa ốc Alaska thuộc Tập đoàn FLC vẫn bỏ ngoài tai, tự tung tụ tác, coi trời bằng vung, tự mình cho quyền đứng ngoài Pháp luật. Phải chăng tinh thần 8B Lê Trực đang được UBND quận Nam Từ Liêm bỏ qua với sai phạm của FLC? Hay một lần nữa, Trịnh Văn Quyết đang chứng minh quyền lực của mình ngay chính tại trung tâm đầu não của đất nước? Một Trịnh Văn Quyết tươi cười khoác vai Bí thư Thanh Hóa Trịnh Văn Chiến đã khiến người dân lạnh tóc gáy với những chiêu trò sau mối liên kết TIỀN – QUYỀN, đẩy người dân vào cảnh đường cùng. Nay mối liên hệ đó lại đang diễn ra ngay chính Thủ đô Hà Nội sao?

Thiên Anh

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.03.2017

VIẾT BÊN TỦ SÁCH GIA ĐÌNH

ĐỌC TẬP “BỐN MƯƠI NĂM EM”- THƠ TẶNG VỢ CỦA NGÔ MINH

VIẾT BÊN TỦ SÁCH GIA ĐÌNH

 

Gửi hai con trai

 

Khi ba già nua không còn nữa trên đời

Những cuốn sách vẫn còn trẻ lắm

Trẻ như biển như tiếng gà gọi sớm

Như câu ru và chuyện cổ mùa đông

Là người dẫn đường thông thái của thời gian

Sách sẽ thay ba cùng con kết bạn

Trang sách mở buồn vui câu chuyện

Triệu cuộc đời về dưới mái nhà ta

Thời ba lớn lao việc nước việc nhà

Bao đoàn tụ chia ly nước mắt

Máu mồ hôi đọng thành trang sách

Thành người dẫn đường lặng lẽ bên con

 

Mai sau con lớn khôn

Có thể những buồn vui sẽ khác

Những thư viện tí hon chứa triệu nghìn trang sách

Của thời con chưa ai biết bao giờ

 

Hẳn có nhiều người máy làm thơ

Làm tiểu thuyết đóng hòm xuất khẩu

Nhưng đắng ngọt tình yêu ướt đầm vạt áo

Đất nước muôn đời vẫn mới mẻ nghe con

 

Con hãy đi với người dẫn đường

Để đến chân trời tình yêu đích thực

Người dẫn đường trẻ trung thông thái nhất

Đêm đêm thầm nhắc tên con…

 

 

 

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.03.2017

Nguyễn Lưu đúng…

Nguyễn Lưu đúng…

Lưu Trọng Văn

Sài Gòn nắng, 1giờ 40 phút bay, Hà Nội phùn. Gã trở lại ngôi nhà cổ ba gian bên sông Hồng, sân đầy hoa bưởi rụng. Nhòm trên cây, trái thu trước cùng hoa xuân. Cuộc đời cứ vậy muôn vẻ. Đúng là thế nào? Trái rụng hết, rồi mới ra hoa vụ mới. Nhưng cây bưởi nhà gã không thích thế thì sao?

Đúng là thế nào?

Gã vào mạng ì xèo thiên hạ ném đá Nguyễn Lưu, nhà báo, nhà bình luận thể thao, nhạc sĩ, con trai của nhà khoa học Nguyễn Xiển. Gã nghĩ oan cho Nguyễn Lưu quá …

Hồi nhỏ gã nhớ, tại ngôi nhà của cha gã bên Văn Miếu, ông Nguyễn Xiển bạn cha gã thỉnh thoảng có ghé chơi. Ông lịch lãm, nhà khoa học chuyên về phán đoán và dự báo thời tiết đồng thời là lãnh tụ của Đảng xã hội tập hợp giới trí thức mà.

Mỗi lần ông đến mạ gã thường hỏi đùa, hôm nay nắng hay mưa để chọc ông thỉnh thoảng dự báo thời tiết nắng hóa mưa hoặc mưa hóa nắng thành chuyện tiếu lâm cho dân Hà Nội cười chơi.

Ông luôn cười hiền hậu và bảo: Với anh chị thi sĩ thì ngày nào mà không đẹp giời.

Đúng, thế nào là đúng?

Thôi vòng vo quá, gã xin toẹt, đúng hay trật ở đây là cái chuyện con ông Nguyễn Xiển bị dân mạng ném đá vì ủng hộ quyết liệt, ủng hộ chân thành cái việc dẹp bỏ những ca khúc có nhắc đến anh lính cộng hòa. Thế rồi dân mạng nhân tiện móc ra bài viết của con ông Nguyễn Xiển viết đập Phạm Duy te tua vì từng viết bài hát chống cộng.

Đã móc chuyện cũ thì gã cũng xin móc luôn, đó là ngay khi bài viết của Nguyễn Lưu in trên báo Đầu tư, gã có viết một bài phản kích lại bênh ông bạn già, nhạc sĩ tài năng mê phở và gái xinh, của gã. Lập tức gã nhận được hai cú điện thoại.

Một, của Nguyễn Lưu, ông thanh minh rằng ý của ông viết dựa theo ý của nhà văn Chu Lai và ý của nhiều nhạc sĩ tên tuổi bất bình chuyện tung hê quá mức Phạm Duy trong khi bao nhạc sĩ cách mạng tên tuổi khác chả ai tổ chức các sô diễn tôn vinh, chứ thực ra ông cũng rất mê một số bài hát của Phạm Duy.

Hai, của chính Phạm Duy. Ông nhạc sĩ bảo, cậu bênh tôi làm đếch gì? Nguyễn Lưu nó viết đúng đấy.

Gã hỏi, đúng là đúng thế nào ạ?

Tôi thích thằng ấy vì nó dám bảo vệ cái thể chế cộng sản mà nó thích, nó tin vào cái thể chế cộng sản mà nó coi nó và thể chế cộng sản ấy là một. Đó là một thái độ đường hoàng. Còn…

Còn sao ạ?

Nếu cậu có dịp gặp Nguyễn Lưu chỉ cho tôi nhắn một điều thôi…

10 năm trôi qua cái vèo, gã chưa có dịp nào được gặp Nguyễn Lưu để chuyển lời nhắn của nhạc sĩ Phạm Duy, thì hôm nay có sự kiện Nguyễn Lưu bị ném đá vì chống lại những ca khúc có dính đến lính cộng hòa chống cộng sản, chống lại cái gọi là “con đường em đi…” gã xin nhân tiện gửi lại lời nhắn của nhạc sĩ Phạm Duy:

Cậu Nguyễn Lưu à, cậu rất đúng khi cậu dũng cảm và kiên quyết bảo vệ cái thể chế mà cậu yêu thích chống lại bất cứ ai làm tổn hại đến cái thể chế ấy. Cậu có quyền đồng nhất cậu với thể chế ấy nhưng chỉ xin cậu đừng đồng nhất cậu và thể chế của cậu với dân tộc và đất nước.

Gã xin nói leo thêm:
Thế nào là đúng đây? Vẫn đúng nếu thể chế ấy được dân tộc và đất nước chọn đồng hành với mình. Và ngược lại vẫn đúng nếu thể chế ấy chọn dân tộc và đất nước chính là cái đích mà mình phụng sự.

Còn lại, thế nào là không đúng?
Hê gã không phải chuyên gia dự báo thời tiết…

Nguồn: https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=1818995701758992&id=100009457401127

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.03.2017

THỊ MẦU

THỊ MẦU

TRUYỆN NGẮN CỦA TRẦN CHIẾN

Cánh đồng làng Bùng Thượng đứng từ xa trông như một tổ ong lớn. Bầy ong đen, nâu, có chỗ cả đỏ, vàng và biêng biếc tím tụ lại nghìn nghịt quanh chỗ con chúa nằm, tức đình Trinh Liệt. Dễ cả ngàn vạn người, làng xã lân cận cũng kéo sang. Mùa gặt vừa xong. Những cánh ruộng lô nhô gốc rạ bị dày xéo bẩn thỉu.

Ảnh minh họa: Internet

Đám trẻ con được dịp nô thoả sức, lúc tụ ùn ùn, lúc tản tác lưa thưa. Có đứa dẫm cứt thối hoăng, chùi qua loa vào chân rạ rồi lại lăn vào cuộc chơi.

Cắc tùng tùng tà rà tùng tùng tùng

Cắc tùng tùng tà rà tùng tùng tùng!

Trống dẹp đám khua đến lần thứ mấy mươi, làm rúng động đám đông đang bắt đầu mỏi mệt vì đợi chờ, cuộc hành lễ  mới bắt đầu. Các bà tế nữ quan vuốt tóc mai xiêm áo, sửa lại vành khăn, mặt mũi nghiêm nghị. Cụ Nhận thọ nhất làng được dắt ra khỏi cơn gà gật, nhấp hớp nước sâm hãm cố ngồi cho ngay lưng. Con bé cháu ngoại sau lưng cụ chăm chú đấm khẽ vào vai, vào lưng bà, chốc chốc cười một mình. Chả là Thắm vừa xem ti vi, thấy mình giống thị nữ đấm lưng cho thái hậu. Thế thôi, còn đoạn lườm nguýt đứt đôi người chàng thị vệ thì chả biết.

Những ông đông xướng, tây xướng khăn xếp áo the, sau khi đằng hắng mãi, đã ngân nga:

– Khởi chinh cổ!

– Củ soát tế vật!

– Nghênh thần cúc cung bái!

Bẩy tám lệnh được xướng ra, lâu quá làm cụ Nhận lại li bi thiếp đi, thì chủ tế mới đến lượt. Xấp giấy ông cầm trong tay là bản văn quan trọng nhất của lễ hội, cần phải được bố cáo rõ ràng, to tát, cho thấu đến tai quần chúng, cả bọn trẻ đang nô như giặc ngoài kia. Giáo dục truyền thống mà! Bởi thế, èm èm một hồi vào micrô, ông mới mở nó ra.

“Bùng Thượng thôn, Bảo Chung xã, Lương Nhan huyện, Sơn Nam tỉnh, Việt Nam xã hội chủ nghĩa công hoà quốc. Nhằm ngày mười tháng mười tết Cơm mới năm Đinh Mão tức mười sáu tháng mười một năm hai nghìn không trăm… Được sự lãnh chỉ đạo của đảng uỷ, uỷ ban nhân dân, mặt trận Tổ quốc xã cùng sự phối kết hợp tham gia của các đoàn thể thanh niên, phụ lão, cựu chiến binh, nông dân tập thể. Bản chức hương xã cùng giai cấp nông dân Bùng Thượng dọn mình sạch sẽ, kính cẩn dâng hương…”

“Bà Chúa Chuối Buồng, tên nôm Thị Mầu, tức Ngọc Nga quận chúa, tức Chiêu Hương liệt nữ, sinh ra trong một gia đình bần cố nông nghèo túng, cả nhà đắp chung tấm chiếu, kiếm ăn rất chi lần hồi. Khi mẹ lâm bồn, bỗng nhiên thân cây chuối ngoài vườn oằn xuống, buồng quả to vụt lên đánh thốt, dậy mùi thơm ơi là thơm. Bèn được đoán định một tương lai nẩy nở, tốt nái, sinh mắn như gà, như hoa quả đơm bông. Bà gào to lắm, hễ không được mẹ nhét tấm vú vào mồm thì còn làm điếc tai cả tổng. Đến nỗi mà…”

Trong hậu cung, ban thờ thành hoàng bỗng rực lên. “Cháy…! Cháy…!”. Ông chấp sự hô líu lưỡi. Người đổ xô lại. Nhưng vầng sáng, như viên sét hòn lượn đi lượn lại, đã vụt qua lớp ngói dầy bay lên cao.

*

Trên đầu là khoảng xanh vời vợi, thăm thẳm, nhìn đắm con mắt. Dưới kia, bầy ong đông đúc lúc tăm tắp, lúc nhốn nhao theo lệnh trống chiêng. Và ta, bay lượn ở giữa, như con chim chiện cứ treo mình từ nghìn đời, hót mà chả ai lắng nghe. Ta là ai? Sinh ra lúc buồng chuối cựa mình chín tới thì đúng rồi. Nhưng những “quận chúa” với “liệt nữ” khó nghe quá. Thực tình ta muốn là cô bé Thị Mầu tóc đỏ đuôi gà đang  chắt chuyền nghển nghển trong đám đông chứ chả phải treo mình thế này.

Ngày ta sinh ra có tràng hoa cuốn cổ. “Con bé không đanh đá nhưng đa đoan”, thầy bói phán ta có tương lai gieo neo. Mẹ ta cù mì như củ khoai ngất đi. Còn bố, thỉnh thoảng có dòm vào giường cô hàng xóm, quay ra chỗ khác. Bên ấy vừa lọt lòng con Thị Kính, phận phải bị đổ oan tình.

*

Bài văn tế dừng lại, chẳng hiểu theo thể thức nào, nhưng chắc có phần để người đọc nghỉ lấy hơi. Trống chiêng rộn lên, đoàn tế nữ tiến hai lùi một cung kính. Thừa lúc ai nấy đều nghển cổ, Kễnh quỳ xuống chắp hai bàn tay xỉa rất mạnh vào đít thằng Cộ đứng đằng trước. Rất kinh hoàng, nó thấy tay mình ướt sũng, thối hoăng. Đám đông tán loạn.

Giọng đọc đã cất lên làm trật tự trở lại. “Vào thời Bà Chúa chào đời, Bùng Thượng là vùng đất bờ sôi ruộng mật. Hạt thóc lép vãi xuống cũng trỗ cờ đâm bông oằn thân lúa. Hẳn là vì hấp thụ được linh khí trời đất mà tuy chỉ ăn rặt hương hoa, Bà Chúa vẫn lớn nhanh như thổi. Mười bốn tuổi, mình mẩy vươn thẳng như dóng tre, chúm chím đôi chũm cau, da dẻ ngọt lịm như phù sa sông Bùng. Mười sáu thì nhất làng rồi…”

*

Mỗi khi ta ra giếng làng kín nước, đám đàn ông có vợ dán mắt vào bắp chân ta nâu hồng. Lũ trai tân thật ngộ, đứa hấp háy thảng thốt, đứa ngây ngây vào đám bèo ong. Chị Nhài con dâu ông lý Mùi bảo “xưa chị nhất làng, giờ thì em ăn đứt…”. Ta cười ngượng. Chị Nhài hai mốt, đã ba con mà môi ăn giầu cắn chỉ, răng đều tăm tắp, mắt sâu như lòng giếng. Nhưng chị buồn, ta biết, vì phải ông chồng cao to đen hôi vầy vợ như vần cối, chắc chẳng bao giờ được ôm ấp nâng niu. Và lũ em chồng. Sao mà những mũi xanh mắt ghèn tanh hôi. Sao mà những tám đứa. Mẹ chồng chị mềm oặt như manh giẻ, chùi chân còn phát khiếp. Dẫu sao, Nhài là chỗ mong ước của khối chúng chị em.

Ta với Thị Kính trèo lên cây cậy lấy nhựa phất diều. Cu Đán cầm lồng chim qua, bảo có đổi lấy diều. Ta bảo chả báu, chim trong lồng còn gì là quý, Kính tụt xuống ngắm mãi con sáo đá, “thương nhỉ thương nhỉ” mãi.

Đến thúc sưu, nhìn ta đập lúa ngoài sân, lý Mùi bảo:” Con gái lưng dài như chó liếm cối, lồn bằng lá tre, gả chồng đi thôi. Để ta nói với cụ đồ Phan sang hỏi. Có ưng không?”. Cha ta ấp úng: “Dạ, con đang tính chưa ra…”. Mẹ chạy vào: “Được chòi mâm son lại còn tính. Dạ, ông cứ đặt đâu chúng con ngồi yên không vẫy tai”. Ta giằng mạnh cái néo, quăng ôm lúa ra rõ xa.

Ông đồ họ Phan có con trai là Thiện Sĩ mặt trắng ẻo lả, tướng trói gà không chặt, suốt ngày nói chữ Thánh hiền. Đi giữa đàng thấy mảnh giấy bẩn có chữ  Nho, anh ta rửa tay, giũ áo kính cẩn nhặt lên đem đốt, bảo không để gót phàm phu xéo vào. Chúng ta đang cấy dưới ruộng ới “xuống đây với chúng em cậu ơi”, thì đăm chiêu rằng “tôi chả dám. Đang học để sang năm nữa đi trường Nam thi Hương. Các chị nghịch lắm, để mà rơi mất chữ à.”

Thiện Sĩ được nhà giao phận sự thi đỗ, làm quan cho vinh hiển. Chả biết có quyết chí? Vì ta thấy ngủ nhiều, thỉnh thoảng ho khan, da bủng, nói năng không giống kinh sách thì cũng đối tỷ những câu không đâu vào đâu, cứ như thằng ấm đầu. Ta thích nho sinh như Đức Trường hơn, chẳng chăm chỉ lắm nhưng mắt nghịch ơi là nghịch. Giá thử Trường chưa có vợ… Nhưng ta là gái, có thế đã làm được gì sất?

Dầu sao Tết năm ấy ta đã ăn sêu của nhà đồ Phan. Thiện Sĩ có thích ta? Chắc là có! Mơn mởn thế này mà.

Sao mà ta chẳng biết mình có thích cậu chàng một téo…

*

Chả hiểu tung toé đâu vào con gà mái già. Cậu trống choai theo sau lấy giọng bấy bớt hát đứt quãng, chạy vòng quanh rồi nhẩy lên rất khó khăn. Cảnh ấy làm đám tế bớt trang nghiêm. Ông com lê com táo trịnh trọng hấp háy với ông răng thuốc lào hoành tráng: “Mái già thế mà chê thanh niên, nhể”.

*

Ra giêng ta đi hội Sủi làng bên. Đang nô với chúng chị em thì gặp Thiện Sĩ tay cắp ô tay cầm quạt. Ai nấy tản ra làm cả hai lúng túng. Ta “chào cậu” rồi đứng yên, chỉ nghe tiếng phành phạch. Bỗng nhiên hỏi “cậu có thích chèo Trương Viên không?”. Thiện Sĩ rạp người vái lên sân trò rồi quay lại ấp úng: “Nôm na mách qué ta không rành. Còn chị sao sắn cao quần hổn hển làm vậy. Đức Khổng Tử dậy đàn bà con gái phải giữ lễ…”, mắt cụp xuống. Má ta đang rực cả lên, sao có cái giống không nhìn? Ta đứng ra bề chịu lời nhưng nghĩ  đến mục quang của Đức Trường, sao mà sáng, phát lộ bề bề.

Chèo Trương Viên vui ơi là vui, xong rồi thì buồn, làm ta cười rưng rức. Những hề mồi, hề gậy dẹp đám, những cu Sứt cu Khoèo, giá cuộc đời chỉ toàn thế; một ngày Tết kéo dài cho đến lúc người ta lụ khụ rồi nhắm mắt xuôi tay, vui thế mới vui…

*

Theo một thể lệ trong cuốn “Quy định về lễ hội” sở văn hoá mới phát ra, cuộc cúng tế chỉ bắt đầu ở đình Trinh Liệt, rồi dẫn rượu qua những nơi xẩy ra các sự kiện trọng đại trong đời Bà Chúa. Lếch thếch, nhem nhuốc theo cỗ kiệu rước bài vị, cả ngàn người lèn trên con đường ra cánh đồng Đơm. Chen chúc quá, đến nỗi có người rớt xuống sông tiêu. Số giẫm cứt trâu nhiều vô kể.

“Hiến Tông là một vì vua anh minh cao cả, thường vi hành trong dân gian để thị sát chúng sinh, xem chức sắc hương xã lãnh chỉ đạo thế nào. Nhằm ngày… ấy nọ, Ngài vi hành về Bùng, lập hành cung trên cánh đồng Đơm…”.

*

Ngày ấy nọ làm sao ta nhớ nổi. Chỉ biết lúc ấy đất trời đẹp vô tả. Ngoài đê sông tiêu, buồm nâu trôi lững thững. Những con bách thanh lắm điều tranh nhau đống cứt. Lúa trỗ thơm ngậy ngà đến rạo rực, đánh thức một cái gì rất khó nói. Ta vừa nhổ cỏ vừa đoán xem “nó” là cái gì, cái ta muốn màu hồng hay biêng biếc, mông chổng lên mà đầu phải gằm xuống, rất là không thích thế. Thì thầy lý Mùi dẫn một quan viên áo gấm thêu hoa thêu chữ tới, gọi cả bọn dưới ruộng lên.

– Ngài Ngự thích ăn chuối tiêu chín tới. – Vị quan viên cất giọng the thé – Nhà các chị ai có?

Ta mau mắn dẫn hai vị về nhà. Hiềm vì cây chuối mọc sát chuồng tiêu, thơm ngon đấy nhưng dễ uế tạp. Ông lý rất băn khoăn, nhưng vị quan viên gạt đi. “Trong cung có kén được hoa thơm quả ngọt mọc ở đâu đâu!”

Vậy là ta bươn bả bưng buồng chuối mười sáu nải, đúng bằng tuổi ta. Đồng Đơm rạp cờ phướn võng lọng, hương xã và các chú lệ tất bật căng lều dựng hành cung. Ta xăm xăm xông vào đám, thì vị quan viên “họ” lại, bảo xuống ao khoả chân lấm với lại vuốt lại đám tóc mai ướt rượt mồ hôi đi. Ta đặt buồng chuối xuống, dù khẽ khàng mà một quả buồng sau vẫn rụng, toả hương bồng bềnh.

Có con đỉa bám vào bắp chân. Đương chổng lên, đắp nước bọt vào miệng nó thì có tiếng thét: “Không được quay lại! Quỳ xuống!”. Ta luống cuống ngâm nửa người xuống làn nước trâu đầm, nghe nhồn nhột vài con nữa ở đùi, ở bụng. Mặt gằm sát nước, chỉ biết sau lưng có tiếng hia bước khe khẽ, dao mác thậm thịch. Một tẹo thì họ trở lui. Chả ai bảo sao, cơ mà ta phải ngâm chốc nhát nữa mới dám lên.

*

“Chính tại nơi đây, chỗ chúng ta đang dừng chân, tức cánh đồng Đơm, đã diễn ra cuộc trùng phùng với đấng quân vương. Bà Chúa được lâm hạnh…”

*

Buổi chiều ta đang đẽo chạc ổi cho em Tam thì họ đến. Truyền rằng: “Thị Mầu con Binh Lượng ra hành cung hầu hạ!”. Mẹ ta cuống lên bứt xơ mướp bảo cọ sạch chỗ nhựa cậy, xin phép cho cháu tắm gội tý chút ạ. Gì gì đều gạt đi, rằng không cần, nhà chị có phúc lắm mới được gọi vậy.

Ta tất tả đi. Mẹ khóc, không hiểu sao. Cha mặt cứ đuỗn ra, rít chín thôi thuốc lào ngã chổng kềnh. Nhác thấy sau búi tre đồ Phan và Thiện Sĩ, bố con đều nhàu nhĩ, thảng thốt. Ta không muốn. Hình như chả ai muốn. Nhưng nỗi sợ đã làm tất cả hoá đá.

Vị the thé bảo ta bước lại chỗ màn quây, bên trong có chum có gáo, bắt tắm rửa. Rồi lính khiêng đến thùng gỗ lớn kín đầy nước nóng, bỏ vào hương nhu, lá bưởi, xả nhánh, rễ hương bài, những thứ mẹ xông cho ta lúc nóng sốt. Trong buồng quây chỉ còn vị quan viên, ông bắt ta cởi hết xống áo bước vào ngâm. Thẹn đến chín người, mà ông ta như đứng trước thân cây xoan.

Truyền rằng Mầu ngươi được đức Thánh thượng chọn. Hãy làm Ngài vui lòng, ngâm nước thơm cho bớt mùi nông phu đi. Không được làm gì uế tạp cho xú khí khỏi vương vào da dẻ. Vì thế mà ta muốn đi tiểu đến chết mà chẳng dám. Nhưng tránh sao được vài giọt nhểu ra.

Một người đàn bà, có lẽ là cung nữ gì đấy, quấn ta lại bằng vuông lụa bạch mát ơi là mát, chỉ để hở mặt mũi. Ba người lính nâng ta bê sang một “căn phòng” khác, cũng chỉ bằng mùng quây lại, đặt nằm ngay xuống đất. Quay sang trái rồi sang phải, té ra là triền đê sông tiêu, chỗ ta hay cắt cỏ và nô nghịch, có khi lăn tròn từ mái xuống dệ. Bên trên, trời xanh ơi là xanh, chẳng gợn vảy mây. Ta khát khô cổ, chẳng dám kêu.

Rồi Đức Kim Thượng bước vào, bóc tấm vải bọc thân ta trần truồng, ngắm nghía giờ lâu mới ấp mặt hít hà. Tay ngài khô và lạnh, bộ râu lưa thưa quét trên da chẳng dễ chịu. Ngượng ngùng và sợ hãi, ta cứ nhắm nghiền mắt, cứng hết người. Mình rồng phủ lên người ta nhưng không đi vào, chỉ hít hà đám tóc rối, dụi trên cần cổ. Nhột nhạt không chịu nổi. Lủng lẳng giữa hai chân Ngài là đám bèo nhèo, mềm oặt. Được một khắc Ngài nhỏm dậy mặc lại long bào. Ta thu lu trong tấm lụa, gục đầu xuống gối chẳng dám nhìn.

– Cô là thôn nữ ở Bùng à? Da không mịn nhưng mình mẩy thơm lắm.

Đức Vua lẩm bẩm, không rõ là có nói với ta. Lấy hết can trường, ta ngẩng lên nhìn vào Ngài. “Bệ hạ có vừa lòng không ạ?”.

-Trẫm xong rồi. Nhà ngươi vẫn là trinh nữ.

*

“Bà Chúa đã đem thân thể trinh nguyên, hun đúc tú khí những hoa trái tươi ngon, bờ xôi ruộng mật, tiếng trống chèo rộn rã, mái rạ bốc khói chiều hôm của một nơi thôn ổ bình dị, của cả quê hương dâng lên trọn vẹn cho Đức Vua.  Trên đồng Đơm, chỗ triền đê này, long thể đã chấp nhận chúng, hun đúc lại, như một cuộc giao hoà giữa đất và trời, trên và dưới, âm và dương, lòng dân với ý thánh tôn cao cả. Nó cho thấy sự bình dị của ngôi sang, sự vươn tới thánh thiện của kẻ dưới…”

Giọng  chủ tế ngân nga. Ông trưởng ban văn hoá xã, người soạn bản văn đứng cách mấy bước gật gù: “Có thế chứ. Đọc có hồn lắm!”.

*

“Người vẫn là trinh nữ!”. Khỏi nói thì ta cũng dư biết điều ấy. Đức Ngài đã xốc xống áo, lấy lại vẻ cao vời bước ra khỏi buồng quây. Để lại cho ta một phận đàn bà (ta đã mất cái ấy rồi, trong mắt thiên hạ) với bao đa đoan, mình không còn là mình. Và là ai, thì chưa  biết.

Trong chung chiêng, ta không được ở lại căn nhà có mẹ hiền đảm, bố củ mỉ cù mì và lũ em hôi hám. Ta không được như chị Nhài, sang hai nhăm đã năm đứa. Căn buồng bà đẻ kín mít, tanh tưởi, có thúng tro để các thức bẩn thỉu dưới gậm giường, nhưng chị được an phận là mình, làm con gà mái sòn sòn đến hết trứng chứ chả chung chiêng như ta.

Làng Bùng, rồi cả tổng Diêu Canh xúm lại dựng ngôi nhà cho cô gái đã thọ lộc vua. Tre pheo, lợp lá gồi, nhưng nó thoáng rộng, có kiểu cách chứ không bí rị như nơi cha mẹ. Bộ trường kỉ tre, cái sập gụ, lồng chim trước hiên, thật là thích. Ta ăn trắng mặc trơn, có một người tớ gái sàn sàn tuổi luôn “tâu lệnh bà”, dằn dỗi mãi thì rằng làng bắt thế. Mãi mới chuyển sang “thưa cô” được, mà chỉ lúc hai đứa với nhau. Thiện Sĩ chả còn là gì. Cái hôm anh ta tuân lệnh chánh tổng viết đôi câu đối đem đến treo, ta nắm tay (chả gì ta cũng có hơi trai rồi) hỏi: “Cái việc của em với chàng thì sao?”. Sĩ rụt vội, mặt xanh xám nhìn quanh: “Phận ấy kể như không có. Coi là tôi mất phần sêu hai Tết”. Khinh khi anh chàng hèn hạ, ta chợt nhận thấy từ nay kinh khủng biết bao.

*

“Bà Chúa có lòng nhân từ, hay giúp giập người xung quanh. Trong khi chờ đức Hiến Tông cho kiệu về rước lên kinh, nàng chữa bệnh cho trẻ, dậy dân nghề canh cửi. Một dải ven sông tiêu mướt bờ dâu, cả tổng lách cách tiếng thoi đưa. Hiềm vì mình rồng ở xa quá…”

*

Từ nay ta là kẻ trên trong làng, hơn hẳn bà chánh vàng đeo đầy người. Lũ vợ đám lý trưởng, lý mua càng không là gì. Sang thế mà xa cách, trống toang toàng toàng. Có đứa trẻ sài đẹn, ta mài miếng quế thanh cho uống. Sang nhà Nhài gỡ đám tơ rối, hăng hái, cậm cụi kẻo phát điên. Đêm về nhà như cái lồng hổng thênh thang mỗi bóng mình. Ta chạy về chốn cũ, ngả người trên chiếc giường con gái, nó ngắn ngủn để không thể nằm ngửa. Cha mẹ  ra xua.

-Con lậy mẹ cho con về. Cám khoai mặc lòng, còn hơn nằm xuống lại nghĩ đến ma. Con còn con gái, chẳng nhẽ không được lấy chồng, hoa nguyệt rồi chửa đẻ nữa sao?

– Phỉ phui con ơi. Gì thì cũng đã rồi, không chữa được.

Chánh tổng, lý trưởng, cả đồ Phan đến, dõng dạc: “Cô nương đã là riêng của đức Kim Thượng, không thể tự nhiên như đám nụ cà hoa mướp ngoài kia nữa”. Ta lủi thủi về “nhà” theo chú dõng, mở lồng cho những sáo sậu vàng anh bay ra.

Nhà Thị Kính có đám hỷ. Anh chàng đã sêu Tết ta xống áo nghênh ngang đón cô ấy về. Chả hay đã quên ta hẳn…

*

“Bà Chúa là người đức hạnh, ở vậy đợi chờ, một lòng chỉ tưởng đến Quân Vương. Ngài Ngự ở xa, trăm công nghìn việc toàn đại sự, chưa đoái lại nơi thôn dã từng dừng chân, qua đêm trên cánh đồng Đơm. Đến bữa Bà Chúa xới hai lưng cơm, một dâng lên Ngài Ngự đang ở xa, một cho mình…”

*

Ăn không ngồi rồi rực mỡ, ta hệt mấy vợ lính vắng chồng, đêm đổ thóc ra xay, vần cối huỳnh huỵch, mồ hôi nhoẹt dải yếm mà không thể ngủ. Trời rét chết đám cải mới vãi mà phải ra ao trầm mình cho lũ bèo mơn man. Thân ta nóng ran khi nghĩ đến bàn tay người ấy mân mó đôi nhũ hoa, dù nó lạnh ngăn ngắt. Đức Vua không mạnh, điều ấy rõ, nhưng vẫn có hơi lạ khi phủ lên ta, mở ra một cõi  chưa từng trải, chỉ có thể bước vào chứ không quay lại được. Ta tưởng sang đôi tay Thiện Sỹ lóng ngóng treo câu đối hôm nào, chả biết nó có nóng. Trời đất ạ, ta không được quyền tơ tưởng nhục thể kia mà.

Trong tốp thợ đến dựng nhà ngang có Đức Trường, trượt thi hương nên vứt bút  lông sang cầm đục chạm. Chàng cởi trần cột nóc, không vai u thịt bắp mà mảnh mai, săn chắc. Lưng ấy chắc “đục” phải biết. Lúc Trường tra xong con xỏ, tụt xuống, ta bưng bát chè tươi lại,  sóng sánh: “Uống cho đỡ khát, bác phó”. Chàng uống tự dưng, mắt không cụp, trong khi ta bất giác rụt tay lại. Rồi vắt vẻo trên cây đà mà hát.

Bớ cây xoan đào

sao cứ đu đưa

có biết con chiện

đã mỏi cánh rồi

Mỏi cánh rồi thì phải bay thôi…

Ới làng nước ơi

có thấu chăng cái nỗi bay bay…

Ta trở vào, hình như sắc mặt có dậy, ngồi trong nghe tiếng gõ khoan nhặt mà đoán người đang làm gì. Làm gì chả biết. Có một lúc lại vén ống quần lá toạ dí vào gốc chuối. Bố láo bố toét đến thế là cùng!

Đêm, đang lọc xọc cài then thì có bàn tay chặn lại. Đức Trường lách vào, sừng sững nhìn. Đương khi mắt ta lảng tránh thì xấn lại ôm thin thít. Ta xây xẩm như phải cảm, trong đầu có đám rối không cho chống đỡ. Cho đến lúc Trường xìu xuống, hổn hển trên người ta, ta mới hết cả hồn. May, là con “thị nữ” đang tuổi ăn tuổi ngủ đã pho pho.

*

“Những đêm vò võ, ngày khắc khoải chờ mong không làm mòn lòng thuỷ chung. Bà Chúa một mực chỉ hướng về Chúa Thượng. Nàng thường dừng tay đưa thoi, nhủ con hầu rằng “ấy, Ngài đang rong ruổi trên mình ngựa, chả bình Chiêm thì cũng là dẹp động Mán thôi”.

*

Ôi chao là những run rẩy đợi chờ. Nghĩ đến là nóng ran. Gặp nhau là mê man rồ dại, điên cuồng ghì xiết. Mắt ta long lanh, môi khô ráo, má dậy rực rỡ đến nỗi con hầu ngạc nhiên: “Sao hôm nay chị nhuận sắc thế?”. Được cái là nó tốt giấc, chập tối đã díp mắt, ta bảo để bát đĩa đấy là lên giường không vẫy tai.

Đêm sau Trường đến muộn, khi đám dõng đã sát phạt trong điếm. Đẩy cánh cửa không cài then, chàng lách vào, đứng áp tường nhìn ta đăm đắm.

– Có chuyện gì ư? – Ta hỏi.

– Tôi chả ngờ cô nương vẫn còn trinh tiết.

– Em chỉ là của rơi của vãi của bề trên. Đức Kim Thượng có biết làm gì đâu. Có đâu như chàng. Em trọn vẹn là của chàng.

– Điều ấy làm tôi sợ. Bề nào tôi cũng đã có vợ, cô nương gì gì cũng vẫn là của cải của  Vua. Đức Ngài đã rờ đến thì không thể chạm vào như hút cái điếu chung.

Ta chan hoà nước mắt. Sự khai mở vừa dồi dào đã vụt tắt. Sao Trường không thể coi ta như con Thị Mầu hái đỗ bẻ ngô bình thường. Nhưng chàng đã đặt tay lên vai ta: “Thôi nào, đây nhớ đấy cả ngày, nước mắt mất cả vui”.

Sự thể còn hân hoan hơn hôm đầu. Ta đã dạn dĩ, chủ động hơn trong dâng hiến. Ta cũng kiếm tìm chàng, lắng nghe những đợt sóng của mình, biết chờ đợi, dâng nó lên đúng lúc. Ta đã là một đàn bà thành thục, tỏ rằng mọi bổn phận, đức hạnh đều chỉ là mớ rau con tép so với niềm vui này. Còn gì lớn hơn, trọn vẹn, thần thiêng hơn là đôi bên trọn vẹn trao gửi, dìu nhau đến tột đỉnh sung sướng, nó làm ta phải cố mà kìm lại tiếng rên dài. Mái nhà, con mèo cái ném tiếng tru vào đêm đen.

*

“Trong hàng xóm có bao nhiêu vợ lính vắng chồng là bấy nhiêu nhà được Bà Chúa đến thăm, nhủ rằng phải gìn giữ tấm thân trinh liệt. Bà Chúa là tấm gương cho cả tổng Diêu Canh, có 142 đàn bà đêm ngày tằm tơ canh cửi cho chồng đang chiến trận hay sôi kinh nấu sử tận kinh đô”.

*

Rồi ta tắt tháng, nôn khan. Chúm nhũ hoa thâm đen, đến kì không còn bẩn mình. Một đêm vuốt ve xuống dưới, Đức Trường ngẩn người thảng thốt. Chàng đã không còn hăng hái, hỏi chả bảo sao.

Mấy hôm không sang. Ta gọi lý trưởng bảo thay khung cửa, hình như tre ngâm dối mà chóng mọt. Đến đục đẽo là ông lão sáu mươi, bảo Trường đã bê vợ con làm ăn nơi xa, khéo đang kéo cưa lừa xẻ trên tận Hưng Hoá. Nghĩa là rừng xanh nước độc rồi…

Mình dưới lên lùm lùm. Làng mang đến những lá lẩu chết tiệt, bảo uống cho ra thai. Ta chẳng bỏ con. Nó chẳng những là máu thịt, mà còn là hồn cốt, kỉ niệm của những ngày đẹp nhất trong đời ta – mãi ta mới ngộ ra thế. Con của Trường ra đời sau những bẽ bàng, cô quạnh, nhưng thật xinh đẹp. Ta rờ rỡ vén yếm cho con bú, bầu vú thây lẩy, mọc gai gạo không còn gọn ghẽ, hề gì. Bảo làng rằng làm gì thì làm, ta tình cờ gặp bố nó trong buổi thăm vườn dâu. Gọt đầu bôi vôi lột quần áo dong đi khắp chạ, cứ việc!

Hương câm đồ điếc bàn mãi, mất ba chum rượu với lũ lỹ lòng lợn thịt chó, không nhất định được. Chả ai dám phạt quý cô nương đã được thọ ân sủng từ ngôi cao tót vời. Nhưng ta bị cướp mất con, đưa sang chùa. Ngực ta rừng rực tức, đêm tru như con chó cái. Con hầu cũ phải đòn vọt, đổi đi. Ngoài kia, người ta vuốt lại cho phẳng sự tình, yết với chúng dân là Bà Chúa đổ bệnh vì mong chờ Ngài Ngự lâu quá.

Được cái người nuôi con là tiểu Kính, bỏ lên chùa vì có chuyện gì đấy với nhà chồng.

*

“Bà Chúa bắt đầu nhận con nuôi. Năm đứa trẻ vô thừa nhận được đem về, tắm táp khỏi tanh hôi, vận áo mới. Căn nhà sơ sài đầu làng sáng bừng lên trong tiếng ầu ơ bi bô, mặt mũi bà mẹ rạng rỡ vì bận việc công đức”.

“ Chẳng bao lâu chúng lớn lên, bay nhẩy, giúp bao việc có ích cho đời. Nhưng đi đâu về đâu thì vẫn nhớ về tấm lòng bao dung…”.

*

Ta đã bẩn mình, người gọn ghẽ trở lại, dù da bụng có những vết rạn như sóng bể. Gái một con long lanh, ta làm tức mắt đám đàn ông trong làng. Thật tội nghiệp, họ hau háu vào gáy, vào lưng, bắp chân ta, nhưng trước mặt phải “tâu lệnh bà”, mắt mũi cụp xuống. Cũng có gã táo tợn chằm chằm như sắp nuốt sắp vồ nhưng chẳng dám tiến xa hơn. Bố bảo chẳng dám dùng chung với Vua.

Nghĩ càng giận và thương Đức Trường. Chàng thật táo gan ăn cắp phẩm oản trên ban thờ, đánh thức nơi thiêng liêng những điên cuồng rồ dại. Bỏ mà đi thật hèn hạ! Nhưng chàng phải bảo mạng sống chứ! Không sống còn đâu hưởng những hoạ phúc trên đời. Ở nơi xa, trong lán xẻ giữa rừng sâu, chàng còn nhớ những đêm tưng bừng. Ơ này, giọt máu của chàng đang trong tay Thị Kính, cô nàng an phận cũng chả được số mạng tha nào…

Giờ thì ta đẹp cho ai, óng ả, ròn nẩy cho chó đực nào? Hẳn chẳng phải cho quân vương, cái gã người chả ra ngợm bèo nhèo một dúm vô tích sự, cái thằng nghìn lần đáng chết khiến ta nhớ đến phải nghiến răng kèn kẹt. Chị Nhài đã đẻ đứa thứ bẩy, hôi như cú, vú thòng quá cạp quần, mà ta còn chẳng được bằng.

Thiện Sĩ lại sang, phết phẩy gì đó trên bức hoành, cụp mắt khi ta bước lại. “Chàng quên hẳn em rồi à?”, ta nắm tay mềm thượt trêu, Sĩ lúng túng giật ra rồi ù té chạy.

Giận đứa thư sinh mặt trắng. Muốn đấy, tiếc lắm mà chẳng dám nói ra. Ta lấy mai đào chỗ đất Sĩ đứng đổ chuồng trồ. “Choang!”. Thẳng tay ném cối đá xuống sân, kình lực mạnh khiến nó vỡ đôi. Ta khoẻ thế ư?

Ngoài kia gươm khua. Đám khố đỏ khố xanh ra trận. Hương dõng làng cũng đi sạch. Những căn nhà trống toang. Đàn bà đêm đêm ra ao ngâm. Thơ giết giặc của Thiện Sĩ  thật hào sảng.

*

“Giặc đến. Bà Chúa nấu cơm trộn muối vừng nắm lại, bọc lá chuối chia cho quân sĩ ra trận, như muốn gửi lòng mình đến nơi đức Quân Vương đang xông pha”.

*

Ta xuống tóc, bôi mặt, giận giầy cỏ xung vào một đội lính. Việc khiêng vác, lăn lê huỳnh huỵch có coi vào đâu, chỉ tội nằm chung với mấy chú trống choai ngửi mồ hôi và rắm rít.  Vui lắm, khi nghe câu  “da mịn nhỉ, đằng ấy là gái đố thoát khỏi tay tớ”. Ta lui lại kịp khi bàn tay vô tư kia định thộp vào ngực. Cậu bé ấy ỉa đống cứt đến là lực lưỡng, hay hát những câu bông lơn như Đức Trường.

Tướng quân họ Đỗ xuống bếp khi ta đang lúi húi bên vại cà. “Ta biết cậu là ai”, nói rồi dằn xuống mạnh tợn. Ta đẩy ra nhưng mắt sâu râu rậm cứ ập vào nhột nhạt không thể tả. Xong rồi người ấy xuống lệnh “tối tối lên hầu ta ở quân doanh”.

– Nhà ngươi không sợ chết ư?

– Chết vì đàn bà là sướng nhất! – Họ Đỗ vuốt râu – Đất nước này lịch sử do ở tay đàn bà cả.

– Thế còn lính tráng, những người mở mang biên cương?

– Mở mang xong chả biết làm gì cả.

– Còn kẻ sĩ với  những câu thơ để đời…

– Hạng ấy càng không đáng nói đến!

Được mươi đêm vui thú thì tong. Nhát gươm giặc xẻ tướng quân làm đôi, chỗ dưới bụng còn nằng nặng cứng cỏi. Ta quá sợ hãi không dám vào chỗ mai táng, nhìn xuống dưới hỏi liệu có ra thằng con rậm râu nữa…

Trên sức xuống,  rằng tên Mầu ở đội hoả đầu phải xuất ngũ về quê. Chia tay với những mộc mạc mến thương chân chất và những đôi chân quấn xà cạp mùi rất nặng. Chú lính vồ trượt ngực ta hôm nào trao cái cối trầu, dặn “của mẹ tôi đưa để ngửi hơi, cậu đem về hộ, sợ rằng cũng không sống được lâu”.

*

“Đồng Đơm để trống. Buồm ngoài sông tiêu xếp lại. Làng xóm toàn khăn tang, những tiếng hờ ai oán”.

*

Chùa làng chả còn tiếng  trẻ. Kính Tâm, đã lên sư bác, bảo “đã thành con Bụt rồi là lẫn vào bụi trần. Còn chút máu thịt của chị, chỉ cần biết nó còn đang yên lành trên đời là được rồi. Mà Mầu chả được cái tích sự gì cả, chỉ làm mọi sự rối tinh lên. Tôi đã khuyên Mầu an phận rồi kia mà”.

Gươm khua mãi, người ngựa đều đã mỏi. Quân sĩ máu me đầy mình lê bước qua làng, mặt mày không đau đớn thì cũng buồn  rượi. Trong những cơ đội lên thế chỗ có những gương mặt quá trẻ làm ta nao lòng. Khi thúng xôi, khi nong cà, ta tìm cách tiếp sức cho họ, để được mau trở về quê hương hoà bình. Giấc mơ hiền hoà yên ổn luôn xát muối vào lòng mỗi người dân. Cứ thế này thì bao giờ câu ca tiếng hát mới tỉnh tình tinh, những nhân tài bình tĩnh ngồi nghĩ việc lớn cho đời?

Có những chiến thương vào tá túc, được ta chạy thuốc, phục sức. Cậu lính cụt tới háng khóc rưng rức: “Chị ơi, đời đẹp vậy mà em ra vậy”. “Trẻ thì đây, chị cho biết sự đời”, ta nói sau hồi trầm ngâm. Chúng ta nhập vào nhau thật tự nhiên, không kiểu cách, như là để bù đắp những thất thiệt cho cả hai. Xong cậu bé roi rói tươi “giờ thì em chết được rồi”.

Một hai đận thế. Rồi thương binh không được dừng ở ngôi nhà tre gần đường cái quan nữa. Nhưng lính lên phía trước vẫn đi qua. Ta giao hoà với các cậu trẻ măng, mặt búng ra sữa được. Trẻ, khoẻ và vụng về trong ân ái, họ nâng niu ta lắm. Muốn thì chị cho, tiếc làm gì cái thuộc về người ta mà người ta không muốn giữ.

Những đêm hân hoan bi thảm. Chân cẳng chạy vội ngã dúi dụi trước nhà. Ấp a ấp úng, nhút nhát mà cuống quýt, vui không tả nổi. Xong rồi lại vội về với cơ đội kẻo mà lộ chuyện bị đấm đá đạp. Dầu vậy  họ không thể nín miệng. Giấc mơ về ngôi nhà có người đàn bà đẹp một mình ám ảnh cả đạo binh lên phương Bắc.

Làng họp, tất nhiên chỉ toàn hương chức. Hương câm, đồ điếc ai nói nấy nghe. Lý Mùi lẩy bẩy. Đồ Phan bình tĩnh tách bạch: “Bà Chúa đã quá mệt nhọc với việc chăm sóc quân sĩ, nên nghỉ ngơi cho nhàn hạ, kẻo mà Chúa Thượng trở về phải nhọc lòng trước nhan sắc tàn phai”.

Tiểu Kính Tâm đã hoá. Con ta lẫn vào đám trần gian. Đương khi đau đớn tơi bời, ta bị gọi ra trước đám kì mục kì nát chứng kiến cuộc khấn vọng. Rằng, chúng thần bất tài vô hạnh, cố giữ cho tổng một tấm gương trinh liệt mà không được. Tâu Đức Hiến Tông đang chạy giặc nơi xa, sức đã cùng, lực đã kiệt, chúng thần phải quả quyết một chọn lựa mạnh tợn, kẻo rồi mai này bị quở.

Còn chưa thủng thì bị ghì xuống, lột ra. Đồ Phan, chính là lão già đủ nho y lý số ấy, quết vào cửa mình ta thứ nhựa sền sệt, đâu như để trám thuyền. Chân đè tay ghì, những lực lưỡng không cho giãy giụa, đến khi nhựa khô hẳn. Ta không đi nhanh được nữa, mỗi bước cất lên đau đớn vô cùng.

– Đồ chó má các ngươi. Độc ác, tàn ngược quá quỷ dạ xoa!

Ta điên tiết gào lên, nghĩ đến cái của nợ nó cắt tất cả mọi sinh lực, vui thú, làm mình ra tàn tật. Đồ Phan kính cẩn:

– Cô nương sẽ quen dần. Tôi đã để một lỗ làm chỗ bài tiết.

– Cha con đẻ mẹ chúng mày. Ta mắc tội gì mà khiến bạo hành?

– Chúng tôi chỉ là con chó giữ của cho Chúa Thượng. Cô nương dùng hoang phí quá phải bít lại.

– Ta là đàn bà. Ta muốn sống như buồng chuối kia qua thì chát xanh thời chín tới chứ không phải cái thây đi lại nói năng.

– Chúng tôi đã nhiều lần khuyên ngăn, cô nương chẳng thủng. Phàm đã được thọ lộc của Chúa Thượng thì phải giữ lòng son, làm tấm gương sáng cho chúng dân soi vào.

– Chúa Thượng nào? Nó chỉ là con chó không có dái, trèo lên bụng ta còn lẩy bẩy.

Hương chức thất sắc xông lên bịt mồm ta, lấy chỉ buồm ra khâu, để lại một chỗ đổ nước cháo. Đẵn cành dâu rấp kín chỗ ta đứng, chúng quay vào đám lòng lợn tiết canh, lâu lâu nhảo ra ngó.

Canh giữ là mấy chú hương dõng, có dao mác nhưng chả oai hùng gì. Dù vậy thì ta cũng hết sức làm loạn. Máu đổ ra các cửa. Ngực đỏ bầm cương lên rỉ sữa máu. Dưới đùi chốc chốc một dòng âm ấm, nhặng bu vào mà ta không thấy tanh.

Sáng ra có tiếng năn nỉ “Lệnh bà không uống tí nước cháo thì chết chúng con”. Ta đứng lên chuệnh choạng ra cửa đình. Trước mặt là đống bãi tươi non, sáo sậu líu lo, những câu trai gái ve nhau, vạn vật trong cơn sinh nở bất diệt.

*

“Bà Chúa thăng khi mới hai mốt tuổi, sau một cơn bạo bệnh, hai ngày đêm không ăn gì, hớp cháo cầm hơi cũng bỏ.Đến lúc mê sảng chỉ một mực đòi gặp Chúa Thượng. Làng làm ma  nghiêm nghị, táng ở núi Sam, mối đùn mỗi ngày mỗi to”

“Văn biểu nhận tội trình lên kinh do họ Phan chấp bút, rằng đã không chăm sóc, yên ủi được người con gái đã được thọ ân sủng của Đức Vua, xin chịu mọi hình phạt. Im phăng phắc chờ. Rồi có tờ sức về miễn tội cho chức dịch, nhủ cần đem tấm gương trinh liệt, trung thành với Đức Ngài của Bà Chúa soi sáng cho dân theo”

“Bấy giờ đất nước đã yên hàn. Thanh bình trở lại. Làng kêu xin bộ Lễ, bộ Lễ trình lên ngôi cao vời. Đức Hiến Tông chả tiếc gì người con gái đã tận tuỵ vì mình, phong cho Bà Chúa Trinh Liệt tước Trung đẳng Linh thần”

“Suốt mươi năm làng quay đi quay lại, thấy chả còn ai dũng cảm hy sinh, chả ai đi xa học nghề truyền lại, mà rặt những loại nông phu chăm chỉ, thầy đồ ăn giỗ trẻ. Bèn cật sức kêu xin nữa, thì được phong Thượng đẳng Tối linh thần cho Bà Chúa, làng được thờ phụng làm thành hoàng, ghi rõ trong sổ bộ Lễ. Bấy giờ mới cậy sức dân đóng góp xây nên ngôi đình Trinh Liệt nguy nga tráng lệ như ngày nay”.

*

Phần lễ đến đây là hết. Hội dâng lên rùng rùng những trống chèo, lênh khênh đám cà kheo. Cộ muốn trả thù Kễnh,  tranh thủ lúc nó dướn lên xem  tụt quần  xuống đầu gối lộ con chim đã mọc năm xu thuốc lào.

Cụ Nhận mệt, sai Thắm đưa về. Ông di tích gọi nó vào lấy lộc, bảo ôm cam quýt với chuối với sung vào lậy tạ Bà Chúa. Trong hậu cung, Thắm thất kinh thấy pho tượng nhuốm máu toàn thân, giỏ cả vào chân nó.

2006

Con trai cố ký giả Đạm Phong: ‘Bố tôi làm cho CIA’

Ông Nguyễn Thanh Tú
Ông Nguyễn Thanh Tú (trái) và nhà báo Trần Nhật Phong trả lời phỏng vấn của BBC hôm 17/3/2017 từ Nam California, Hoa Kỳ.

Con trai của cố ký giả Đạm Phong, người bị sát hại ở Houston, Texas, Hoa Kỳ 35 năm trước nói với BBC cha ông từng làm việc cho CIA, Cục Tình báo Trung ương Mỹ, trong thời của chính thể Việt Nam Cộng Hòa.

Bình luận của đồng sáng lập ‘Mặt Trận’ về vụ K9 và cố Ký giả Đạm Phong

BBC phỏng vấn ông Nguyễn Thanh Tú

Câu hỏi về ‘Khủng bố ở Little Saigon’

Tại sao tôi phản đối Tom Hayden?

‘Khủng bố ở Little Saigon’ có giá trị không?

Nick Út, người chụp Kim Phúc, cô bé Napalm, sẽ về hưu

‘Tôi từng viết mà không được xuất bản’

‘Khủng bố ở Little Saigon’ tiết lộ gì?

“Bố tôi ngày xưa, thời Việt Nam Cộng Hòa, làm cho tình báo CIA, rồi qua bên đây (Hoa Kỳ)… nhưng tình bạn với những người CIA Mỹ ở bên đây, vẫn tiếp tục giữ tình bạn đó.”

Trước câu hỏi nếu đúng cố ký giả Đạm Phong là cựu nhân viên của cơ quan trên, thì ông có được bảo vệ hay không và như thế nào ở Mỹ, ông Nguyễn Thanh Tú giải thích thêm:

“Bố tôi làm việc cho CIA lúc thời Việt Nam Cộng Hòa, nhưng khi qua bên Mỹ không còn làm cho CIA nữa, nhưng vẫn giữ tình bạn của những người đồng nghiệp ngày xưa ở Mỹ.

“Còn chuyện tại sao không bảo vệ, chuyện đó không có, bởi vì lúc đó CIA biết những người giết bố tôi và đưa những cái tên đó cho FBI (Cục Điều tra Liên bang Mỹ).

“Cái người mà không bảo vệ không phải là CIA mà là FBI thì đúng hơn,” ông Tú đưa ra quan điểm riêng của ông.

Nhà báo Đỗ Thông MinhBản quyền hình ảnhPHUONG NGO
Nhà báo Đỗ Thông Minh bình luận với BBC hôm 19/3 về các thông tin mới mà ông Nguyễn Thanh Tú mới công bố với truyền thông về người cha của ông, cố Ký giả Đạm Phong.

Bình luận với BBC hôm 19/3 về một số ‘thông tin mới’ con trai Ký giả Đạm Phong loan bố mới đây với truyền thông tiếng Việt ở Nam California, từ Nhật Bản, nhà báo Đỗ Thông Minh, người tự giới thiệu với BBC là một trong ba thành viên sáng lập tổ chức Mặt Trận Quốc gia Thống nhất Giải phóng Việt Nam, nói:

“Trong cuộc họp báo mà anh Tú cho hay là sẽ có nhiều thông tin sau một thời gian dài anh ấy thu thập, mà những thông tin ‘mới’, nhưng mà những gì anh nói trong cuộc họp báo này, chúng tôi thấy nó liên quan một số tổ chức, một số cá nhân có thể đã từng liên quan trong quá khứ hoặc một vài cá nhân có những ý kiến không tán đồng lắm về cuốn phim ‘Terror in Little Saigon’.

“Tuy nhiên, mỗi điều anh đưa ra, mỗi điều anh đều nhắc tới, thì nói nửa chừng. Nửa chừng có nghĩa là sau đó chuyện đi về đâu, có một kết luận cụ thể nào thì không rõ,” ông Đỗ Thông Minh nhận xét.

Khi được hỏi liệu có thể biết ai là thủ phạm gây ra vụ sát hại cố Ký giả Đạm Phong 35 năm về trước, cựu thành viên sáng lập Mặt Trận Thống nhất Giải phóng Việt Nam, tiền thân của tổ chức Việt Tân, nói:

“Đây là một vấn đề rất khó, những người điều tra, kể cả ông cảnh sát, anh Thanh Tú, hoặc là anh AC Thompson (nhà sản xuất bộ phim ‘Terror in Little Saigon’) suốt một năm trời kể cả (ở) đất Mỹ và qua tận Thái Lan, kể cả phỏng vấn một số nhân vật Thái Lan v.v…, thì cũng đã không có kết luận, thì cá nhân chúng tôi, thứ nhất là đã rời Mặt Trận từ đầu năm 1985, và đồng thời K9, nếu là một ‘tổ chức ám sát’, tất cả những chuyện bí mật, thì chúng tôi, nói thật không thể trả lời được là ai là thủ phạm.

“Mặc dù ba nhân vật mà chúng tôi nói, có thể coi như là cái đích để có thể bị tấn công, đều là những người viết những bài luận thuyết đả kích Mặt Trận thời bấy giờ, thành ra ai cũng nghĩ rằng Mặt Trận đã làm việc đó, nhưng bây giờ điều mong muốn nhất là người ta đi tìm chứng cớ, thì vẫn chưa có ai đưa ra một chứng cớ cụ thể,” ông Đỗ Thông Minh nêu quan điểm riêng của mình.

Lý do họp báo

Cố ký giả Đạm PhongBản quyền hình ảnhNGUYEN ANH TU
Cố ký giả Đạm Phong (phải) từng là chủ biên của tờ báo ‘Tự Do’ trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt trên ba thập niên về trước.

Chia sẻ với BBC lý do vì sao có cuộc họp báo của ông Nguyễn Thanh Tú ở Nam California vào thời điểm sau một thời gian khá dài bộ phim ‘Nỗi kinh hoàng ở Little Sài Gòn’ (The terror in the Little Saigon) được công bố có liên quan tới cố ký giả Đam Phong, nhà báo Trần Nhật Phong, người hiện diện tại cuộc họp báo hôm thứ Sáu nói với BBC:

“Ngày 17/3, anh Tú có mặt tại California để mở ra một cuộc họp báo để tường trình với mọi người thứ nhất về mục tiêu của anh đi là tìm hiểu cái chết của cha anh, ai là người giết.

“Thứ hai, là thực hiện chí nguyện của cha anh là tiếp tục làm sao cho cộng đồng được khỏe mạnh, được trong sạch hơn và làm rõ hơn những chuyện ở trong quá khứ… và do đó anh đã có cuộc họp báo.

“Và điều thứ ba là anh cho biết tiến trình anh đi tìm công lý cho cha anh đã đến mức độ nào, đó là ý nghĩa của cuộc họp báo.”

Về phản ứng tại chỗ của giới truyền thông người Việt ở cuộc họp báo, nhà báo Trần Nhật Phong nói thêm:

“Theo ghi nhận của cá nhân tôi, tôi thấy là họ đến họ nghe nhiều hơn, họ nghe những thông tin mới từ phía anh Tú nhiều hơn.

“Đương nhiên cũng có một số nhà báo đặt câu hỏi liên quan đến tổ chức mà anh Tú trình bày…

“Và họ cũng đòi hỏi anh Tú cung cấp thêm những thông tin mà anh Tú cho rằng còn một số cơ quan truyền thông khác Việt ngữ ‘cũng có liên hệ’ tới tổ chức này’ và có người của tổ chức này hoặc cảm tình viên của tổ chức này, thì họ cũng đặt ra một số câu hỏi.

“Ở đây, tôi không muốn nói ra những tổ chức nào, trên diễn đàn của BBC do vấn đề pháp lý mà chúng ta cũng phải tôi trọng…,” nhà báo Trần Nhật Phong chia sẻ với BBC từ quan điểm riêng của ông.

Được biết, nhà báo Đạm Phong, tên đầy đủ là Nguyễn Đạm Phong từng là chủ biên của tờ báo Tự Do, một tờ báo địa phương trong cộng đồng người Việt Nam ở Mỹ gần bốn thập niên về trước. Ông bị sát hại năm 1982 tại nhà riêng ở Houston, Texas.

Ông Nguyễn Anh TúBản quyền hình ảnhFRONTLINE/PROPUBLICA
Ông Nguyễn Anh Tú xuất hiện trong bộ phim ‘Nỗi Kinh hoàng ở Little Saigon’

Vụ việc của ông đã được chính quyền Mỹ điều tra, tuy nhiên hồ sơ đã được khép lại mà theo phản ánh của truyền thông Mỹ là do ‘chưa đủ chứng cớ’ đối với các cơ quan, tổ chức nghi can.

Sự việc đã được làm nóng trở lại sau khi chương trình phóng sự điều tra Front Line và hãng truyền thông ProPublica công bố bộ phim ‘Nỗi kinh hoàng ở Little Sài Gòn’ sau hàng chục năm sự việc ‘lắng xuống’.

Mời quý vị bấm vào đường dẫn này để theo dõi cuộc trao đổi của BBC với ông Nguyễn Thanh Tú và nhà báo Trần Nhật Phong và bình luận của Nhà báo Đỗ Thông Minh, một trong những người tham gia sáng lập Mặt Trận Quốc gia Thống nhất Giải phóng VN về K9, cố Ký giả Đạm Phong và thông tin mới về ký giả này.

BBC cũng đang tìm cách liên hệ với một số tổ chức, cá nhân được nhắc tới trong cuộc trao đổi hôm 17/3, từ ý kiến riêng của các khách mời, với hy vọng có thể có thêm phản hồi, thông tin từ các cá nhân, tổ chức đó, phục vụ sự tham khảo của các khán, thính và độc giả và mở rộng đường dư luận.

Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, thực tế trong nhiều trường hợp không biết ai là “Nhà nước” thực sự, do đó dẫn đến các quan chức lạm quyền trong việc thu hồi đất, xâm hại quyền lợi của người dân rồi chuyển vào tay các nhóm lợi ích, khiến cả quyền lợi của người dân lẫn lợi ích quốc gia bị xâm hại. Hậu quả là trong một số trường hợp đất đai sẽ được chuyển từ người dân nghèo sang tay “các đại gia” với giá rất thấp. Đồng thời, “các đại gia” này lại bán đất ra với giá cao cho người dân. Không ít trường hợp đất đai bị thu hồi để rồi bỏ hoang, bởi những dự án “treo” không có điểm dừng, đi kèm là cái ‘mất’ của hàng ngàn người dân bị mất sinh kế, tạo nên nỗi bức xúc lớn cho xã hội. Đất đai là là ổ tham nhũng lớn nhất Việt Nam khi Nhà nước không có thiết chế kiểm soát và để thị trường nhà đất rơi vào tay các đại gia. Đó là cả một vấn nạn.

Năm 2016 được coi là năm nhiều triệu phú tiền đô la ở Việt Nam xuất đầu lộ diện.

Truyền thông trong nước tường thuật rằng trong năm qua, đã có nhiều tên tuổi mới sở hữu ngàn tỷ đồng.

Với sự phát triển nhanh chóng của thị trường chứng khoán Việt Nam trong những năm qua, những người giàu nhất Việt Nam chủ yếu là những đại gia của sàn chứng khoán. Theo công bố của Ủy Ban Chứng Khoán Nhà Nước (UBCKNN) trong năm qua, Việt Nam đã lọt vào Top 5 thị trường chứng khoán Đông Nam Á tăng trưởng cao nhất. VNMedia trích lời chủ tịch UBCKNN Vũ Bằng cho biết mức vốn hóa của thị trường chứng khoán Việt Nam đạt hơn 1.76 triệu tỉ đồng trong năm 2016, tương đương với 42% GDP.

Theo đánh giá của kinh tế gia Lê Đăng Doanh, “số tỷ phú Việt Nam gần đây đã xuất hiện đông đảo hơn và tất cả họ đều liên quan đến bất động sản.”

Nguyên viện trưởng viện Quản Lý Kinh Tế Trung Ương còn cho rằng nhiều người giàu lên nhanh nhờ vào chứng khoán bằng những cách thức rất “khôn ngoan.”

“Cách của họ là họ lập ra nhiều công ty sân sau của chứng khoán – nhiều công ty con. Các công ty đó lại phát hành chứng khoán rồi họ mua bán lẫn nhau – tức là công ty mẹ mua ở công ty con, công ty con mua ở công ty mẹ. Vì vậy số tài sản, số cổ phiếu mà họ sở hữu đã tăng lên một cách rất nhanh chóng và đó cũng là một mẹo để họ làm giàu nhanh.”

Top 10 người giàu nhất sàn chứng khoán Việt Nam năm 2016, theo báo Pháp Luật, có 4 đại gia lần đầu tiên được ghi tên trên danh sách tỷ phú đô la. Một nửa trong số những người này là những doanh nhân kinh doanh bất động sản và số còn lại trong ngành thép, bán lẻ, thủy sản, ô tô…

Nổi bật trong năm qua là sự thăng tiến của chủ tịch Hội Đồng Quản Trị tập đoàn FLC Trịnh Văn Quyết, chiếm lĩnh ngôi vị cao nhất trên sàn chứng khoán Việt Nam, đánh bật chủ tịch tập đoàn Vingroup Phạm Nhật Vượng ra khỏi vị trí này. Tổng tài sản thính theo trị giá cổ phiếu của ông Quyết, theo truyền thông trong nước, ước tính lên tới hơn 33.800 tỷ đồng. Với hàng loạt dự án bất động sản, tập đoàn FLC được xem là một trong số ít công ty kinh doanh đình đám nhất trên thị trường địa ốc tại Việt Nam.

Ông Phạm Nhật Vượng là tỷ phú đầu tiên của Việt Nam được tạp chí Forbes đưa vào danh sách những người giàu nhất thế giới khi có tổng tài sản trị giá 1,5 tỷ đô la vào năm 2013.

Tiến sỹ Doanh nhận định rằng “những tỷ phú Việt Nam là những người khôn ngoan trong việc vun đắp các mối quan hệ với giới quyền lực để chia sẻ “địa tô”, tức chênh lệch giá đất, khai thác khoáng sản, đốn gỗ phá rừng.” Ông Doanh nói:

“Họ làm giàu bằng bất động sản, tức là họ ăn chênh lệnh giá đất. Rồi họ được thuê với giá đất tương đối thuận tiện. Rồi họ đầu tư bất động sản và họ ăn lãi. Điều đó có liên quan đến việc đất đai là sở hữu toàn dân mà toàn dân không phải là pháp nhân. Và nhà nước thực hiện quyền người sử dụng và vì vậy cho nên bộ máy nhà nước có thể thu hồi đất của nông dân với một giá rất thấp rồi dùng quyền của mình biến đất đó trở thành đất xây dựng và trao lại cho người là nhà đầu tư và nhà đầu tư đó chắc sẽ phải có một động thái gì đó để làm vừa lòng phía chính quyền.”

Một người kinh doanh bất động sản đã có “bước nhảy ngoạn mục” trong năm qua để lọt vào Top 10 người giàu nhất trên sàn chứng khoán Việt là chủ tịch HĐQT kiêm tổng giám đốc Công ty Cổ phần Đầu Tư Dịch Vụ Tài Chính Hoàng Huy, ông Đỗ Hữu Hạ. Theo báo Pháp Luật, tổng tài sản chứng khoán của ông Hạ lên tới hơn 2.430 tỷ đồng.

Mặc dù một số tỷ phú mới nổi của Việt Nam được đánh giá là có góp phần đẩy mức tăng trường của thị trường chứng khoán và bất động sản ở Việt Nam, nhưng theo kinh tế gia Lê Đăng Doanh, “những tỷ phú mới giàu lên rất nhanh nhưng không có đóng góp gì vào công nghệ, “họ không có bằng sáng chế, phát minh”, và năng lực cạnh tranh quốc tế của họ “rất hạn chế.”

Ông Doanh cho rằng “họ là sản phẩm của thể chế hiện hành, của chủ nghia tư bản hoang dã”, “khác hẳn với Bill Gates hay Elon Musk.”

“So họ với Bill Gates, so họ với Elon Musk, thì rõ ràng Bill Gates là người có bản quyền có sáng chế và phần mềm Microsoft là một đóng góp rất quan trọng cho tiến bộ của xã hội. Còn Elon Musk, với ô tô Tesla và với nhiều dự án khác như SolarCity của anh ta thì cũng có những đóng góp rất là quan trọng. Đấy là 2 loại hình (giữa tỷ phú thế giới và tỷ phú Việt Nam) rất xa nhau và rất khác nhau.”

Theo tạp chí Forbes, Việt Nam quyết tâm trở thành một “con hổ kinh tế” mới của châu Á và Việt Nam đã trở thành nước có mức thu nhập trung bình với mức thu nhập bình quân đầu người ít nhất là 1.200 đô la Mỹ, theo Ngân Hàng Thế Giới.

Nhưng Tiến sĩ Lê Đăng Doanh lưu ý về mức chênh lệch giàu nghèo ở Việt Nam hiện rất cao và sẽ ngày càng tăng nếu không có thay đổi liên quan tới “bất động sản và quyền sở hữu đất đai” và không kiểm soát được “chế độ tư bản thân hữu.” Khoảng chênh lệch giàu nghèo quá lớn, theo ông Doanh, “sẽ dẫn đến những diễn biến rất phức tạp”.

Phạm Nhật Vượng (bên trái), Trịnh Văn Quyết và Bùi Thanh Nhơn (chụp từ trang CafeF.vn)

Mừng hay lo về tỷ phú bất động sản ở Việt Nam?

Các chuyên gia kinh tế, nhà báo bình luận với BBC về việc tỷ phú bất động sản chiếm một nửa top 10 người giàu nhất sàn chứng khoán Việt Nam năm 2016.

Truyền thông Việt Nam ghi nhận top 10 người sàn giàu nhất sàn chứng khoán năm 2016 có tổng tài sản khoảng 99.132 tỷ đồng, tăng gấp đôi so với mức 48.993 tỷ đồng của năm 2015.

Người giàu hoạt động trong lĩnh vực bất động sản áp đảo top 10 năm nay, khi chiếm một nửa danh sách, với tổng tài sản đạt 80.122 tỷ đồng, chiếm hơn 80% tổng tài sản top 10, theo VnEconomy.

Những tỷ phú bất động sản được nhắc đến trong top nêu trên là Trịnh Văn Quyết – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn FLC, Phạm Nhật Vượng – Chủ tịch Tập đoàn Vingroup, Bùi Thành Nhơn – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn Novaland… Trong đó, ông Trịnh Văn Quyết đã mua chuộc, cấu kết với các quan chức các tỉnh thành như Thanh Hóa, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Bình Định,… để thu hồi (thực ra là cướp) đất đai của nông dân để làm các dự án biệt thự sân golf.

Người dân Thanh Hóa phản đối thu hồi đất tại Sầm Sơn

‘Bất ổn’

Hôm 4/1, trả lời BBC từ TP Hồ Chí Minh, ông Mai Quốc Ấn, cựu phóng viên báo Sài Gòn Tiếp Thị, nói: “Hơn một thập kỷ qua có rất nhiều người giàu mới nổi tại Việt Nam nhờ bất động sản. Tuy nhiên, tôi nghĩ đó là sự giàu có thiếu bền vững nếu nhìn vào đa số.”

“Rất nhiều tỷ phú đã trắng tay khi bong bóng bất động sản vỡ và rất ít người trụ lại được và thành công.”

“Nhưng tựu trung, việc làm giàu nhờ bất động sản mà có yếu tố chênh lệch giá nhờ cơ chế thì tôi không đánh giá cao.”

“Lấy ví dụ việc người dân khởi kiện quyết định hành chính của Ủy ban Nhân dân tỉnh về việc lấy đất làm dự án nhà nước với mức giá đền bù nhà nước rồi giao đất ấy lại cho doanh nghiệp tư nhân.”

“Cuộc thương lượng đáng ra phải có giữa doanh nghiệp tư nhân và người dân bị lấy đất đã “biến mất”.

“Điều này gây tốn kém tiền bạc, thời gian khi người dân phải khiếu kiện đòi quyền lợi chính đáng. Thậm chí, nó có thể gây bất ổn xã hội kiểu như vụ nổ súng ở Đak Nông làm 3 người chết, nhiều người bị thương hồi tháng 10/2016.”

“Tôi rất mong Đảng và Chính phủ Việt Nam nhìn nhận vấn đề này và có các điều chỉnh phù hợp về Luật Đất đai.”

“Bản thân đất đai là một loại tài nguyên có hạn. Đổi đất lấy hạ tầng là một biện pháp đặng chẳng đừng. Ngân sách nên được tăng bởi các doanh nghiệp đầu tư sản xuất và tri thức.”

“Các lỗ hổng về Luật Đất đai cần phải được điều chỉnh bằng thực tế xã hội.”

“Việc tràn ngập chung cư ở các nội đô gây kẹt xe có thể điều chỉnh bằng cách yêu cầu doanh nghiệp đầu tư hạ tầng đi kèm như đường sá, cầu cống và phương tiện giao thông công cộng như là một điều khoản của hợp đồng.”

“Miếng bánh lợi nhuận của nhà đầu tư tư nhân cần phải được tính toán lại bởi họ có quá nhiều ưu đãi, lợi thế.”

“Thị trường bất động sản cần phải minh bạch và đúng giá trị thật của nó”, ông Ấn nói.

Hải Phòng: 800 hộ dân dựng lều phản đối việc thu hồi đất

‘Lỗi chính sách’

Hôm 4/1, từ Đại học Strasbourg, Pháp, Tiến sĩ Nguyễn Văn Phú, chuyên ngành kinh tế, nói với BBC: “Tôi nghĩ là ở Việt Nam nếu có các tập đoàn bất động sản lớn thì tốt thôi.”

“Đơn thuần đây là các hoạt động kinh doanh, nếu hợp pháp thì sẽ đóng góp nhiều cho kinh tế.”

“Tuy vậy, nếu các doanh nghiệp này quá lớn thì dẫn đến khả năng thị trường bị độc quyền sẽ không có lợi cho người tiêu dùng.”

“Do đó nhà nước phải có luật để kiểm soát. Việc để các doanh nghiệp lũng đoạn thị trường bất động sản thì trước tiên là lỗi chính sách.”

“Mà có lẽ lý do đầu tiên là vấn đề quyền sỡ hữu đất đai được quy định tại Việt Nam.”

“Và thứ nữa là luật về trưng thu đất đai cho các dự án kinh tế.”

“Giá cả đất đai khu bị trưng dụng không được ước tính theo cơ chế thị trường, nên các doanh nghiệp cấu kết với chính quyền (đây chính là ‘lợi ích nhóm’) sẽ hưởng lợi nhiều nhất. Người dân nhượng quyền sử dụng đất bị thiệt thòi nhiều nhất.”

“Việt Nam cần thay đổi luật đế các doanh nghiệp bất động sản không thể tận dụng chính sách để trục lợi.”

“Khi đó khu vực bất động sản sẽ đóng góp to lớn cho nền kinh tế, và cả cho vấn đề xã hội, ví dụ nhà ở cho người thu nhập thấp, chính sách tái định cư…”

Hàng trăm người dân tập phản đối thu hồi đất

‘Quan hệ thân hữu’

Cùng ngày, trao đổi cùng BBC, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho hay: “Trong khi các nước khác đều phát triển kinh tế trên nền tảng công nghiệp, Việt Nam lại để lợi ích bất động sản lấn át khu vực các ngành công nghiệp, dịch vụ khác.”

“Tình trạng này khiến mục tiêu trở thành một nước công nghiệp hóa năm 2020 không có cách nào đạt được.”

“Có thể thấy các doanh nghiệp bất động sản lớn tại Việt Nam đều phải có ‘quan hệ thân hữu’ thì mới tiếp cận được chính sách quy hoạch đất đai mà những doanh nghiệp bình thường rất khó tiếp cận.”

“Nhà nước còn giúp những người kinh doanh bất động sản thu hồi đất với giá thấp rồi sau đó bán lại cho khách hàng với giá cao gấp mấy trăm lần nên dễ hiểu tại sao họ kiếm lời rất nhanh và hình thành những tỷ phú, triệu phú trong lĩnh vực này.”

“Không thể phủ nhận các doanh nghiệp bất động sản có đóng góp nhất định, nhất là tại các khu vực đô thị trong bối cảnh Nhà nước chưa đáp ứng được nhu cầu về nhà ở của người dân.”

“Tuy vậy, tôi quan ngại hơn đến việc doanh nghiệp bất động sản đang hút hết nguồn lực xã hội, tạo ra môi trường kinh doanh không bình đẳng, khiến các ngành cốt lõi như công nghiệp, nông nghiệp thua thiệt và chững lại.”

“Do vậy mà cái ‘được’ của ngành bất động sản đi kèm cái ‘mất’ của hàng ngàn người dân bị mất sinh kế, tạo nên nỗi bức xúc lớn cho xã hội.”

“Hầu hết những vụ khiếu kiện đất đai đến nay đều là đất thu hồi để kinh doanh chứ không phải cho các công trình công cộng.”

“Đất đai cũng là ổ tham nhũng lớn nhất Việt Nam khi Nhà nước không có thiết chế kiểm soát và để thị trường nhà đất rơi vào tay các đại gia.”

“Đó là cả một vấn nạn”, bà Phạm Chi Lan nói

(Theo BBC, VOA)

“MÙA ĐÔNG” – BÀI THƠ HAY 
VÀ MỘT “SỰ CHƠI” ĐỘC ĐÁO
TRON
G THƠ…
Lê Quang Vinh
11 giờ 30’ – ngày 9/11/2016, tôi bất chợt đọc được bài thơ “MÙA ĐÔNG” của Lâm Thị Tú (trên FB “Lam Thi Tu”). 
Như mọi lần đọc “thơ FB”, có lẽ ai cũng thế, chỉ lướt qua rất nhanh; nhưng những con chữ trong bài thơ này dường như có “ma lực” (duyên thơ?), níu lòng tôi lại để rồi phấn chấn theo những dòng thơ rất giàu cảm xúc, từ câu đầu đến câu cuối.
Lâm Hồng Tú
MÙA ĐÔNG
Khi niềm tin thành mây khói 
Tôi đi như bóng vật vờ
Khi không còn gì để nói
Tôi về lặng lẽ câu thơ
Có chi phía trước đang chờ
Mặt trời nhập nhoà trên đó
Dòng sông nỗi buồn màu đỏ
Mây đen về phía cuối trời
Mịt mù bóng chiếc xa xôi
Con chim chiều tàn gãy cánh
Mùa đông mưa vùi gió lạnh
Nắng trời ngoảnh mặt quay lưng
Câu thơ dừng lại lưng chừng
Lưng chừng tiếng cười câu hát
Lưng chừng mùa đông lạnh ngắt
Lưng chừng tóc hãy còn xanh
Nỗi niềm xám xịt hao hanh
Mùa đông màu mây xoã tóc
Giọt lệ đọng màu khó nhọc
Rơi vào thăm thẳm mùa đông …
LHT
Ngay lập tức, tôi viết mấy lời post liền lên trên trang chính FB “Lam Thi Tu” (cho “đã”), chứ không ở phần “bình luận” (comment) thông thường phía dưới bài thơ, như mọi người.
Lê Quang Vinh‎ đến Lam Thi Tu
12 h • (9/11/2016):
“LQV vừa đọc cả hai phiên bản bài thơ “MÙA ĐÔNG” của bạn. Thật là một sự “chơi” độc đáo.
Trên thế giới FB, từ lâu đã bị “nghẽn mạch” do cái gọi là “thơ”; nhưng Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, lại có lần nói với LQV là: do cả triệu người “ngộ nhận”, nên cứ cho là “thơ” đó thôi. Vì thế LQV cũng ít khi đọc “thơ FB”. Thế mà giữa “biển thơ” ấy, gặp được một đôi áng thơ hay, thật là quý vô cùng.
Xin chúc mừng!”.
Hơn 6 giờ sau, (9 Tháng 11 – 2016 lúc 20h:36’), tác giả hồi tin:
Lam Thi Tu: “Thật cảm động khi đọc những lời khen của bạn. Có thể gọi đây là món quà cho tôi, tăng thêm sự khích lệ cho niềm đam mê của tôi.
Cám ơn bạn rất nhiều Lê Quang Vinh”.
Cùng “lời đẹp” của Người đẹp, tôi còn được nhận thêm một bông hồng trêm chùm lá tươi xanh xum xuê, cắm trong lọ thủy tinh nhỏ rất xinh xắn (hình ảnh gửi kèm theo comment trả lời của Lam Thi Tu).
Sau chưa đầy 10’ (9 Tháng 11 2016 lúc 20h:45′), tôi có comment đáp từ:
Lê Quang Vinh: “Bông hồng đẹp rứa, chỉ nên dành cho Lam Thi Tu thôi. Bạn có bao giờ vô FB “Lê Quang Vinh” chưa? Có lẽ chỉ “kết bạn” cho đông vui thế thôi, chứ khó mà có thời gian ghé qua hè? Khi nào rỗi rãi, ta gặp nhau nhé. Chúc thật khỏe, hạnh phúc…”.
***
Bài thơ dung lượng trung bình, tả “MÙA ĐÔNG”, nhưng thực ra là “tả” nỗi buồn của lòng người với bao nguyên cớ rất cụ thể mà… lại “không cụ thể” chút nào – “TRỪU TƯỢNG CÙNG CỰC” của thân phận con người, kiếp người và… “duyên lứa” (trắc trở), như muôn vàn cuộc tình trên thế gian. Bài thơ lại là “tiếng lòng” cực kỳ…”riêng tư”, như “chính ngay của tác giả”. Có lẽ thế. Nếu không, làm sao câu thơ, bài thơ, ý thơ đạt tới độ chuẩn xác và thâm sâu đến vậy?
Có thể thống kê ra được các loại “vật liệu” làm nên “MÙA ĐÔNG” Lam Thi Tu: “niềm tin”, “mây khói”, “bóng vật vờ”, “Mặt trời nhập nhoà”, “nỗi buồn màu đỏ”, “Mây đen về phía cuối trời”, “bóng chiếc xa xôi”, “Con chim chiều tàn gãy cánh”, “mưa vùi gió lạnh”, “Nắng trời ngoảnh mặt quay lưng”, “Câu thơ dừng lại lưng chừng / Lưng chừng tiếng cười câu hát / Lưng chừng mùa đông lạnh ngắt / Lưng chừng tóc hãy còn xanh”, “Nỗi niềm xám xịt hao hanh”, “Giọt lệ đọng màu khó nhọc”…
“Khi niềm tin thành mây khói” – Ngay câu “phá đề” của bài thơ, chúng ta “bị giáng” một đòn quay cuồng tại “điểm hẹn” đầu tiên rồi. “Niềm tin” là mỹ từ, tôn quý lắm…; thế mà thành ra “mây khói” thì nó đã nằm trong “đài hóa thân hoàn vũ” mất rồi. Một cặp từ đối lập triệt để, như “trắng” và “đen”, như “lửa” và “nước”… Câu thơ 6 chữ chắc chắn, đăng đối rất chuẩn xác. Hậu quả là “Tôi đi như bóng vật vờ”. Hình ảnh “bóng vật vờ”, đây đã là một “người điên” trong cuộc đời con người ta rồi. Khủng khiếp quá. Từ láy “vật vờ” được dùng khá đắt, gợi hình lắm; rất phù hợp với “bóng” của người “mất hồn” đi lang thang vô định mọi chân trời góc biển…
“Khi không còn gì để nói / Tôi về lặng lẽ câu thơ” – Câu thơ tài hoa. Hay. Tôi thực sự thán phục câu sau: “Tôi về lặng lẽ câu thơ”. Đây là motif “Chặt đôi câu thơ, bẻ đôi câu thơ”, trong “Ca dao em và tôi” của Nhạc sĩ An Thuyên. Nhờ tứ ấy mà bài hát lan tỏa, lôi cuốn bao người yêu nhạc. Ở đây (“MÙA ĐÔNG”), rõ ràng “câu thơ” trở nên như một con người, một lòng người…; cảm nhận được tất cả mọi mất mát vừa xẩy ra. Nhưng câu thơ phía trước “Khi không còn gì để nói”, thật ráo hoãnh, dứt khoát; ngỡ như “chẳng đau đớn gì” – Đó là nghệ thuật “nói giảm” nhằm dồn “trọng lực” (dung lượng cảm nhận nỗi đau) cho câu tiếp theo, như vừa phân tích.
Khổ thơ thứ 2, có 2 câu thơ cực kỳ chuyên nghiệp: “Mặt trời nhập nhoà trên đó / Dòng sông nỗi buồn màu đỏ”. Tôi nói “chuyên nghiệp” là biểu lộ sự thán phục của thi hứng Lam Thi Tu
Một nữ Bác sĩ, thời gian đâu để học hành “kỹ thuật sáng tác”, có lẽ cũng ít có điều kiện tiếp xúc các giáo trình về “lý luận văn học”; thế mà dùng những từ – ngữ khá điêu luyện, chẳng khác chi Thi sĩ “già rơ” (Thi sĩ Tài): “Mặt trời nhập nhoà”, “nỗi buồn màu đỏ” kéo dài như một “dòng sông máu”, thì quả là “tuyệt tác” (độ khéo trong câu thơ) khi tả tâm trạng “tình duyên đã chết” của con người ta trên đời.
Ai nhìn thẳng vào “mặt trời” được? Không ai cả, bởi sẽ bỏng mắt mất. Thế mà “mặt trời” trong câu thơ này lại “nhập nhoà”, chẳng còn ánh sáng nữa, hoặc là “rất yếu ớt” do lớp “mây” buồn đau phủ quá dày…
“Mịt mù bóng chiếc xa xôi
Con chim chiều tàn gãy cánh
Mùa đông mưa vùi gió lạnh
Nắng trời ngoảnh mặt quay lưng”
Khổ thơ này từ hơi thơ đến hình ảnh, cấu tứ vừa cổ kính, vừa nhẹ nhàng mà lại “rất mới”, do lối thơ 6 chữ thanh thoát, cộng hưởng mà mang lại.
“Mịt mù bóng chiếc xa xôi” là như trong “Chinh phụ ngân khúc” của Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm; “Con chim chiều tàn gãy cánh / Mùa đông mưa vùi gió lạnh” là “chất” của “Phong trào thơ mới – lãng mạn” (1930 – 1945); “Nắng trời ngoảnh mặt quay lưng” thì hiện đại vô cùng. Nó giống “câu thơ dịch” của Tây.
Những hình ảnh: “bóng chiếc xa xôi”, “Con chim chiều tàn gãy cánh”, “mưa vùi gió lạnh”… thật buồn nhưng rất “đắt” – Đúng theo quy luật tri giác (tâm lý) trong Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu / Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”… Đó cũng là những hình ảnh ví von rất chuẩn, giống tạng thơ Thi sĩ Ngô Minh: “… những biện pháp tu từ kiểu “ví von”, “ẩn dụ”, “nhân cách hóa”… nhưng hoàn toàn phi truyền thống (không “song đối” rõ ràng, mà “ẩn” (giấu) rất khéo, rất kín vế “được ví”, “được đối” – đa phần chủ thể là “người”; đến mức gần như… phi lý, siêu thực…); nên mức độ trừu tượng để tạo ra được đầy đủ các yếu tố “nội hàm” (bản chất của hình tượng thơ) cho một “biểu trưng” (khái quát hóa nội dung sâu xa, tột cùng cần chuyển tải), là vô cùng cao. Biện pháp này chỉ xuất hiện khi trái tim, trí não người nghệ sĩ đạt tới sự thăng hoa như “thần thánh” (khác thường trong nghệ thuật, ở nghệ sĩ “bình bình” không thể có): sáng tạo mà như vô thức (rất say, mà lại rất tỉnh – tâm hồn cực kỳ bay bổng, cùng bản lĩnh, kỹ năng sáng tác). Sự đặc biệt và hiếm hoi ấy, không phải nhà văn, nhà thơ (nói chung là nhà “nghệ sĩ”) nào cũng có, mà phụ thuộc gần như 100% tài năng, kiến thức, kinh nghiệm được tích tụ trong quá trình học tập và thực tiễn cuộc sống. Thế nhưng, nó luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro; như “con dao hai lưỡi”, không giỏi “xoay xở” (không tinh khôn) là câu thơ, bài thơ, tác phẩm văn học, bản nhạc, bức tượng… dễ bị tắc tị, sa vào “hũ nút” ngay.” (“TƯỢNG VÀNG DÂNG MẸ” QUA BÀI THƠ “NHỚ MẠ” CỦA NGÔ MINH” – Lê Quang Vinh).
“Câu thơ dừng lại lưng chừng
Lưng chừng tiếng cười câu hát
Lưng chừng mùa đông lạnh ngắt
Lưng chừng tóc hãy còn xanh”
Tác giả dùng chỉ một hình dung từ “lưng chừng” tới 4 lần ở cả 4 câu thơ. Thông thường, đây là “điều tối kỵ” trong thơ. Nhưng Lam Thi Tu rất “ranh khôn” (giỏi), khi dùng “hình dung từ trừu tượng” này để dẫn dụ những hình ảnh cụ thể, nên tứ thơ trở nên hợp lý và hay: “Câu thơ dừng lại”, “tiếng cười câu hát”, “mùa đông lạnh ngắt”, “tóc hãy còn xanh”.
Cái đặc biệt ở đây là cả một khổ thơ “chuyên trách” chỉ để “thống kê” sự vật (thường khô khan, giản đơn…), nhưng sức biểu cảm (trữ tình) lại rất là sâu đậm do nữ Bác sĩ chuyển sang hình ảnh tươi mới, trẻ trung, không chút u sầu nữa. Rõ ràng Lam Thi Tu dừng sự u uất, buồn đau “tình đoạn tuyệt” đúng lúc, đúng chỗ; khéo léo đến độ…”tinh xảo” của thơ rồi đấy.
“Nỗi niềm xám xịt hao hanh
Mùa đông màu mây xoã tóc
Giọt lệ đọng màu khó nhọc
Rơi vào thăm thẳm mùa đông …”
Đây là “khổ thơ kết”, gói lại những tâm trạng, nỗi buồn đau đã mở, đã giải bày. Đương nhiên, tác giả phải “nhấn lại” những gì mình vừa trút bỏ – nhưng nào “trút bỏ” được “sạch sành sanh” đâu? Khó lắm. Nó như “duyên phận” đó mà: “Nỗi niềm xám xịt hao hanh”, và như “Mùa đông màu mây xoã tóc / Giọt lệ đọng màu khó nhọc / Rơi vào thăm thẳm mùa đông …”.
Chữ “hao hanh” là hay. Sao người Quảng Bình (“Bọ Zin”) mà thấu hiểu để dùng rất khéo từ “rành Bắc” ni ở đây?
Có một cô giáo người miền Bắc chính cống (Ninh Giang – Hải Dương), còn khá phân vân về câu thơ “Nỗi niềm xám xịt hao hanh” này, đã viết cho tôi như sau:
“… Nhưng thường “nắng hanh” vào mùa thu chứ thầy. Mùa đông cũng có thể có “nắng hanh” nhưng thời tiết trong khổ thơ cuối bài không thế. Mà “Nỗi niềm xám xịt hao hanh” có được không ạ? Đã “xám xịt” là có hơi nước làm sao “hao hanh” được ạ? Em thấy chỗ này chưa hợp lí.
Em xin lỗi vì hơi nhiều chuyện thầy ạ. Chúc thầy buổi chiều vui vẻ và phát hiện nhiều bài thơ hay trên diễn đàn facebook.”.
(“Bùi Thị Loan” – đến Le VInh <vinhhoaninh@yahoo.com>)
Khổ thơ này có mấy cặp ví cũng tuyệt hay như khổ thơ thứ 2: 
“Mùa đông” – ” màu mây xoã tóc”; “Giọt lệ – “đọng màu khó nhọc” (đăng đối về hình ảnh lẫn ngữ nghĩa). Cái cụ thể, ví với cái ước lệ đến “phi lý” (siêu thực) là rất khó hợp lý, thế mà Lam Thi Tu thu xếp, dàn hòa được hết.
Nhân đây, xin trích thư của tôi trả lời cô giáo Bùi Bùi Thị Loan, giải đáp điều cô ấy nên ra như phần trích ở trên:
“Đọc thơ phải trăn trở thế mới học được của người ta nhiều thứ.
Trên FB, cả mấy tháng mới có được một bài như vậy.
Cô giáo Loan có thấy, mình khen “thơ FB” bao giờ chưa? 
Tác giả Lam Thi Tu này (mình không quen biết) đón nhận “lời khen” vô tư của mình với tâm thế “có hiểu biết về thơ”, nên mới biểu lộ sự hứng khởi như vậy. Do đó, phải khen – chê đúng. Khen – chê không đúng là làm hại người ta.
Khen – chê những bài thơ hay và không hay của các nhà thơ giỏi, chuyên nghiệp mà người ta chịu; bạn đọc thấy bài phê bình nâng được hiểu biết của họ lên thì mới nên… “khen – chê”. Không là họ coi mình như rác luôn.
Cô giáo đừng để ý đến những lời khen “vô thưởng vô phạt”. Ngay trong “lời khen” đã thấy sự thiếu hiểu biết thì vui gì – phải không?
Những nhà thơ như Nguyễn Trọng Tạo, Ngô Minh, Mai Văn Hoan và hàng trăm nhà thơ khác – hiện đang nổi tiếng và sung sức, mỗi năm người ta chỉ đưa ra công chúng một – hai bài thôi. Có thể họ cũng làm được nhiều hơn, nhưng để đạt được “thẩm mỹ thơ” cho công chúng, là ít vậy đấy. 
Trong khi các “nhà thơ FB”, ngày nào cũng có…”thơ”! Vì sao thế? Đa phần người ta…ngộ nhận. 
Nhưng đó là việc riêng của người ta, chỉ đăng trên trang cá nhân để mình và bạn bè đọc. Bạn bè thông thái thì người ta thấy cái được và chưa được; nhưng làm gì có các phản hồi “chê” đâu. Chỉ toàn tâng bốc ghê gớm. Đó là sự nguy hại đã liên tục làm hại các “nhà thơ FB”.
Nhân dịp Ngày nhà giáo VN 20/11, xin chức cô giáo cùng anh chị em giáo viên trong trường thật khỏe, hạnh phúc! – LQV”.
(Le VInh – Ðến Bui Loan 15 tháng 11 lúc 8:03 AM)
***
Như đã nói, “Bài thơ dung lượng trung bình”, chỉ 20 câu với vẻn vẹn có 120 từ ngữ, thế mà câu chuyện về “MÙA ĐÔNG” được chuyển tải, mở ra với biết bao số phận cá biệt; mà lại điển hình đến mức ngỡ như trong chúng ta, ai ai cũng đã từng – đang và sắp sửa “nếm trải” (đủ mọi mùi vị ngọt bùi, đắng chát “khổ tận trần ai” – có thể “chết người” được).
Tác giả khá cao tay, khi chọn thể thơ “6 chữ” thường rất khó thoát ý, không khéo sẽ dễ hụt hẫng; nhưng ưu thế là “đi thẳng” (trực tiếp) đến điều cần biểu đạt, khiến mạch thơ dứt khoát; tránh được “từ thừa” do phải “lựa vần” (gieo vần) trong câu thơ, khổ thơ. Đọc bài thơ, ta thấy “thi pháp” rất mới là thế. Các Thi sĩ chuyên nghiệp, cũng rất “kiêng kỵ” lối thơ này.
***
Lam Thi Tu còn độc đáo khi chuyển thể bài thơ “MÙA ĐÔNG” sang kiểu thơ “lục bát”. 
Thật thú vị.
Lúc này trên màn hình đã đã 23 giờ 15′ (19/3/2017) rồi. Xin hẹn bạn đọc sẽ gặp lại bài “MÙA ĐÔNG – LỤC BÁT” của Lam Thi Tu vào một dịp sau.
MÙA ĐÔNG 
(chuyển thể lục bát)
Niềm tin thành khói thành mây
Tôi đi như bóng như thây vật vờ
Còn chi mà nói mà chờ
Về thôi lặng lẽ câu thơ nhói lòng
Lạnh lùng cay đắng mùa đông
Nhập nhoà trên đó vừng hồng còn đâu
Dòng sông xanh hoá đỏ nâu
Mây đen phía trước phía sau cuối trời
Mịt mù bóng chiếc xa xôi
Bóng chim gãy cánh chiều rơi mảnh chiều
Mưa tuôn gió dập tiêu điều
Nắng trời ngoảnh mặt, ráng chiều quay lưng
Lời thơ dừng lại lưng chừng
Tiếng cười câu hát bỗng ngừng chơi vơi 
Mùa đông lạnh lẽo xám trời
Lưng chừng mái tóc nửa vời còn xanh
Nỗi niềm xám xịt hao hanh 
Áng mây xoã tóc dỗ dành cô đơn
Quay đi giấu giọt lệ hờn
Rơi vào thăm thẳm nỗi buồn mùa đông…
LHT
 
Hà nội, 23 giờ 51′ – ngày 19/3/2017
LQV.
( Tác giả gửi cho QTXM)
Đăng bởi: Ngô Minh | 19.03.2017

ĐỌC SÁCH “40 NĂM EM”- TẬP THƠ TẶNG VỢ CỦA NM

Ngô Minh

BÊN GIƯỜNG BỆNH CHA

                              Kính dâng cha Nguyễn Trọng Ngọ

 Cha nằm như xác thời gian

ăn bằng hồ bơm qua lỗ mũi

tiểu bằng ống ra toàn mùi thuốc tây

mạng sống tính từng ngày…

 

Cha ơi, 79 tuổi đời cách mạng

đèo núi rừng sâu giặc giã xem thường

mình đi Campuchia, con trai vào bộ đội

hồi hưu tay trắng, lại ruộng vườn

 

Mấy chục năm làm quan huyện chỉ biết lo dân

Nghĩa Đàn, Tân Kỳ đói no đồng đất

bây giờ dân thương đến thăm chật phòng bệnh viện

cha như vị Bồ Tát hiện hình

 

 Nhìn cha hôn mê lòng con đau buốt

phận người còn một chút lắt lay

con gái con trai con dâu cháu chắt

không làm sao gọi lại được nụ cười

 

Nhưng con tin cha là người sống mãi

bằng chữ TÂM để lại cho đời

bằng cốt cách không màng danh lợi

bằng cháu con biết sống làm người !

 

Cha như cõi vô minh trong sạch

giữa cõi đời ô nhiễm bủa vây…

 

Lạt-Huế,  28-6-2008

                           Con rể của cha

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.03.2017

Ý KIẾN VỀ CẤM CON ĐƯỜNG XƯA EM ĐI

Ý kiến ngắn trên FB

Nhà văn Phạm Ngọc Tiến

Ý KIẾN VỀ CẤM CON ĐƯỜNG XƯA EM ĐI

Nhẽ không nói gì về cái chuyện cấm mấy bài hát trong đó có bài “Con đường xưa em đi” nhưng hôm nay mạng lại dậy sóng khi ông nhạc sĩ Nguyễn Lưu trả lời phỏng vấn nói cụ thể con đường trong bài hát nên không thể không nói. Khá nhiều ý kiến phản ứng lại cách nghĩ của vị nhạc sĩ này. Tôi thấy mình cũng cần lên tiếng với tư cách một người lính tham gia chiến tranh. Xưa rồi các vị, cuộc chiến đã kết thúc 42 năm. Họ, những người lính Cộng hòa đã kết thúc sứ mạng và thân phận chiến cuộc của họ. Chúng tôi cũng thế. Chiến tranh đã lùi xa giờ chỉ còn là ký ức. Nếu có khơi gợi lại thì đó chỉ là những ký ức đủ mọi trạng thái nhưng tuyệt nhiên không còn thù hận. Thù hận gì nữa. Những người lính cộng hòa thua cuộc năm xưa giờ gia đình họ cũng đã dần lãng quên chính sự thua cuộc ấy. Họ nếu ở nước ngoài thì khi trở lại là những Việt kiều. Đừng khơi gợi thù hận nữa. Người Việt cần sự nắm tay nhau để dựng xây đất nước để chống ngoại bang xâm lược. Tôi thấy sự ấu trĩ tiểu khí của ông Nguyễn Lưu. Và cả sự cứng nhắc, tầm tư tưởng quá thấp của những vị ra lệnh cấm bài hát “con đường xưa em đi” này. Tôi chỉ thấy đây là một bản tình ca đẹp. Rất đẹp. Con đường nào ư, chính tôi là một người lính trong cuộc chiến cũng không bao giờ cần biết nó là con đường nào. Tin là bài hát sẽ sớm thoát khỏi bản án không đáng có này.

FB Phạm Ngọc Tiến

https://www.facebook.com/ngoctien.pham.37/posts/10209089457101191

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.03.2017

KINH DỊCH SOI SÁNG HÀNH TRÌNH VĂN CHƯƠNG

KINH DỊCH SOI SÁNG HÀNH TRÌNH VĂN CHƯƠNG

XUÂN CANG
Kinh Dịch là một tinh hoa trong văn hóa phương Đông. Nhà văn là một ánh lấp lánh trong đời sống cộng đồng. Văn chương là bản sao của hành trình số phận.

Nhà văn Xuân Cang

Nhà văn cũng như tất cả mọi người sinh ra trong một thời điểm nào đó (gồm năm, tháng, ngày, giờ sinh) đều mang trong mình một cấu trúc Kinh Dịch có tác động xuyên suốt cả đời người, nó quyết định những bước đường đời, ranh giới và biên độ hành lang đường đời, những cảm xúc tự nhiên, thiên hướng con người, những vinh thăng và hiểm họa con người sẽ có thể trải qua. Tại sao có sự ứng nghiệm lạ lùng như thế? Còn nhiều điều huyền bí chưa làm sáng tỏ được. Chỉ biết rằng cái giờ khắc con người ra đời là thời điểm con người tiếp cận với trời đất, với tiết khí, ánh sáng, ngày đêm, nóng lạnh, không gian, không khí, từ trường giao thoa trong một trường sinh học, tạo ra một thế giới tâm linh, một đời sống tâm hồn… Tất cả những yếu tố đó xâm nhập mạnh mẽ vào cơ thể người, cùng với yếu tố di truyền học, tạo nên thể chất người, khí chất người, tính cách người, và những tính chất này sẽ đi với con người và chi phối con người đến tận cùng cuộc đời theo một nhịp điệu có tính chu kì, chung cho cả vũ trụ, trái đất và con người. Người đời đã sáng tạo ra một danh từ dùng trên khắp thế giới để thể hiện khái niệm trên: số phận con người.

Trong thế giới văn chương, cấu trúc Kinh Dịch và hiện thực văn chương dành cho mỗi nhà văn có mấy điểm đồng nhất sau đây. Nhờ vào cấu trúc Kinh Dịch mà nhận ra dấu ấn hành trình và hành lang văn chương của từng nhà văn. Hành trình ở đây là những bước thăng trầm, thời kì thăng hoa, thời kì xuống cấp trong lịch trình sáng tạo. Hành lang ở đây là thiên bẩm, thiên hướng, bản sắc, diện mạo, khí chất, tài năng văn chương, xu hướng tìm tòi đề tài, chủ đề, sự gắn bó với mảng thiên nhiên, cuộc sống, những đặc điểm yêu ghét, những thói quen miêu tả… Tóm lại văn chương chính là bản sao hành trình số phận của nhà văn, một khái niệm có tính tổng kết, mang dấu ấn khám phá của người viết bài này. Dấu ấn đầu tiên của bản sao thiêng liêng đó là cấu trúc Kinh Dịch, gồm hai quẻ Dịch. Một quẻ gọi là Tiên thiên, là quẻ giời cho khởi nguồn từ năm tháng ngày giờ sinh, bao trùm lên một số năm của đời người gọi là tiền vận. Quẻ thứ hai gọi là Hậu thiên thuộc về hậu vận nhờ luật Phản phục mà tìm ra, quẻ này tích hợp những năm tháng “giời cho” với sự trải nghiệm thực tế trong cuộc sống nhân gian tạo nên những năm tháng còn lại của đời người. Sự liên kết chặt chẽ và hài hòa của hai quẻ này tạo nên một cấu trúc đời người, đối với nhà văn cũng chính là cấu trúc văn chương, soi sáng và phản ánh toàn diện hành trình và hành lang văn chương của mỗi người. (Ngoài hai quẻ chính còn hai quẻ phụ hỗ trợ, tiềm ẩn soi sáng thêm cho hai quẻ chính). Đối với các nhà văn có mệnh quẻ Cấn, tượng là Núi, những hình ảnh về núi hoặc gần gũi với núi thường hiện diện trong tác phẩm của họ. Nhà văn Nguyễn Tuân là một trường hợp nổi bật. Nguyễn Tuân có mệnh Thuần Cấn. Những tác phẩm Trên đỉnh non Tản, Cô Dó, Sông Đà… để lại dấu ấn đẹp trong danh mục tác phẩm của ông. Nhưng với Nguyễn Thị Minh Thái cũng được quẻ Thuần Cấn thì khác. Nghĩa của quẻ Cấn là “ngừng”. Lời quẻ Thuần Cấn có câu: Ngừng ở cái lưng (tĩnh như cái lưng) không thấy được thân mình, đi ở trước sân, không thấy có người, không có lỗi. Tượng Núi dường như chưa xuất hiện một lần trong các tác phẩm của chị, nhưng dấu ấn người Thuần Cấn vẫn cứ hiển hiện trong cảm xúc, cảm nhận của chị về cái đẹp, cái “chí thiện” trong nghệ thuật sân khấu. Ta hãy xem chị tả Thế Lữ trong vai “ông Ký Cóp” trong vở kịch cùng tên: “Thế Lữ quay lưng ra phía khán giả, dùng bàn tay và lưng diễn tả ông Ký Cóp đang nát óc suy nghĩ, cứu vãn một tình huống đã cùng đường, cụt ngõ. Cái lưng còng, dáng đổ nghiêng về phía trước, bất động. Hai bàn tay bắt chéo sau lưng. Những ngón tay co duỗi đuổi nhau, tính kế. Im lặng, căng thẳng. Các nhân vật khác ngồi im, như hóa đá, chờ đợi. Cả sân khấu chỉ còn cái lưng chết lặng và những ngón tay cử động, vẽ nên một cảnh suy nghĩ rất lung…”. Tô Hoài được quẻ Trạch Phong Đại Quá. Tượng quẻ là Đầm nước và Gió (cũng là Cây). Khí chất thiên nhiên thấm nhuần vào cảm xúc văn chương Tô Hoài là chính cái đầm nước mà ông tả trong Dế Mèn phiêu lưu kí cùng những dân cư của nó sống trên bờ và dưới nước, những dế choắt, dế trũi, cò, sếu, vạc, cốc, le le, sâm cầm, vịt trời, bồ nông, mòng két, những nhà trò, bọ muỗm, bọ ngựa, cào cào, châu chấu voi… Trong đó nhân vật Dế Mèn hiện lên với tính cách phi thường, “đại quá” (quá lớn). Không phải ngẫu nhiên mà các bậc cha mẹ đặt tên ông là Sen, Nguyễn Văn Sen, một loài cây mọc trong đầm. Ắt phải có gì xui khiến. Để rồi sau đấy ông lấy bút danh Tô Hoài, để nhớ dòng sông Tô, nhiều đoạn về sau đã thành đầm.

Dấu ấn thứ hai của cấu trúc Kinh Dịch nổi bật trong văn chương là tượng thiên nhiên trong các quẻ Dịch, gọi tắt là chữ Tượng. Người xưa đã mượn cái hữu hình là tượng thiên nhiên để làm sáng tỏ cái vô hình là khái niệm quẻ Dịch. Có 8 tượng thiên nhiên tiêu biểu được dùng cho 8 quẻ Dịch là Trời, Đất, Nước, Lửa, Núi, Sấm, Gió, Đầm (hồ), lại có 64 cấu trúc tượng thiên nhiên (ví dụ cấu trúc đất-trời, trời-đất, nước-lửa, lửa-nước). Mỗi tượng và cấu trúc tượng mang theo nghĩa lí, xu thế, bản sắc của từng mảng thiên nhiên và cuộc sống. Tượng và cấu trúc tượng thiên nhiên in dấu lên văn chương của nhà văn cho ta nhận ra cái bản sắc văn chương, thiên hướng văn chương, nguồn cảm xúc văn chương của mỗi người. Nhà thơ Trịnh Thanh Sơn có quẻ giời cho Lôi Thiên Đại Tráng. Tượng quẻ là Sấm ở trên trời. Thơ anh tự nhiên hướng về những khoảng không thiên nhiên, giông bão, sấm chớp, trời xanh. Ta đã sống hồn nhiên như cây cỏ/ Mặc bao nhiêu giông tố nát thân mình/ Một ngày kia về trong lòng đất/ Hóa thân thành muôn đọt non xanh (Tự bạch).  Em bảo thơ anh khúc khuỷu gồ ghề/ Chân đất đầu trần dưới đám mây tích điện/ Sấm sét bão giông rồi sẽ đến/ Mình biết trốn vào đâu (Lời cuối cho em). Thơ Trần Đăng Khoa nổi bật với quẻ tiên thiên (tiền vận) là Phong Địa Quán, quẻ hậu thiên là Địa Thiên Thái. Tượng thiên nhiên của quẻ là Gió, Đất và Trời. Thơ anh nhuần thấm những vẻ đẹp và những khí chất thiên nhiên đó. Tập thơ đầu cũng là tác phẩm hay nhất của anh cho đến nay mang tên Góc sân và khoảng trời. Góc sân chính là Đất. Còn cái bầu trời sau này sẽ trùm lên trong hậu vận của anh (quẻ Địa Thiên Thái) thì ở tuổi thơ mới hiện lên lấp lánh trăng sao và xanh biếc. Góc sân nho nhỏ mới xây/ Chiều chiều em đứng nơi này em trông/ Thấy trời xanh biếc mênh mông/ Cánh cò chớp trắng trên sông Kinh Thầy (Góc sân và khoảng trời). Mặt trời lặn xuống bờ ao/ Ngọn khói xanh lên lúng liếng/ Vườn sau gió chẳng đuổi nhau/ Lá vẫn bay vàng sân giếng/ Xóm ngoài nhà ai giã cốm/ Làn sương lam mỏng rung rinh/ Bạn nhỏ cưỡi trâu về ngõ/ Tự mình làm nên bức tranh (Khi mùa thu sang). Câu Tự mình làm nên bức tranh là câu thơ của định mệnh.

Một dấu ấn nữa cũng vô cùng quan thiết là chữ Thời trong sáng tác của nhà văn. Người xưa nói: toàn bộ Kinh Dịch suy cho cùng tóm lại chỉ một chữ Thời. Cấu trúc Kinh Dịch của mỗi người cho ta biết cái thời riêng của người ấy. Nhờ dấu ấn chữ Thời mà ta biết sứ mạng văn chương của nhà văn, sự hòa nhập hay xung khắc với cộng đồng, vai trò của văn chương trong thời thế chung. Có thời còn có vận. Vận là cái thời nhỏ trong cái thời lớn mang tên thời. Như thời Bĩ là thời bế tắc, không thông thuận, có 6 vận bĩ gắn với 6 hào quẻ Thiên Địa Bĩ. Hào 1 – bĩ về cơ hội; hào 2 – bĩ về thế lực; hào 3 – bĩ đến cùng cực; hào 4 – có cơ hội thoát bĩ; hào 5 – đến vận thoát bĩ; hào 6 – đánh đổ cái bĩ, bĩ sang thái. Có 64 thời lớn, 384 thời nhỏ, dấu ấn chữ Thời trong văn chương vô cùng phong phú. Nhờ chữ Thời còn biết quá trình sáng tác của nhà văn lúc lên lúc xuống, lúc thăng lúc trầm, thời điểm nào văn chương khởi sắc và ngược lại. Nhà văn Vũ Trọng Phụng sinh giờ Dần ngày 11-9 năm Nhâm Tý (20-10-1912). Mệnh giời cho ông là quẻ Lôi Thủy Giải, quẻ thứ 40 trong 64 quẻ Dịch. Chúng tôi gọi là Thời Lôi Thủy Giải. Lôi là Sấm, Thủy là Nước, nước ở trên trời nên Thủy ở đây là Mưa. Giải là giải trừ hoạn nạn, giải quyết, giải tỏa. Như vậy, người quẻ Giải có một sứ mạng to lớn trước hết là giải trừ những tệ gây ra hoạn nạn trong nhân dân, sửa đổi phong tục, tập quán cho nhân dân, cho đất nước yên lành. Vũ Trọng Phụng được quẻ Giải đã đẹp, còn được chủ mệnh là hào 2 quẻ Giải cũng rất đẹp: Săn được ba con cáo, được mũi tên vàng, giữ chính bền thì tốt. Ý nói sẽ giải quyết làm tan biến những tệ nạn trong xã hội (tượng là ba con cáo), bản thân sẽ đạt tới vinh quang (tượng là mũi tên vàng, màu vàng là màu sang trọng nhất trong các màu), nhưng phải bền bỉ giữ gìn cho chính đáng (gọi tắt là chính bền) thì mới tốt. Sự nghiệp văn chương Vũ Trọng Phụng là như thế. Không biết giời đất đã xui khiến ông thế nào, toàn bộ tác phẩm trong cuộc đời ngắn ngủi của ông (ông từ trần năm 27 tuổi, năm 1939) tập trung phát hiện, khám phá, lấy ngòi bút làm mũi tên, bắn phá vào những tệ nạn xã hội, những hiện tượng văn hóa suy đồi trong một thời văn minh Âu hóa tràn vào nước ta với vai trò đồng tiền là chúa tể. Đó là những tiểu thuyết Giông tố, Vỡ đê, Làm đĩ, Số đỏ và nhiều phóng sự nổi tiếng. Người mệnh Lôi Thủy Giải phát tiết anh hoa giải cứu cho đời là một đặc điểm văn chương Vũ Trọng Phụng dưới ánh sáng Kinh Dịch. Nhà văn đã giải cứu cho đời bằng cách nào? Bằng tiếng cười. Giải cứu và khoan dung, không diệt trừ sát hại mà chỉ gây cười, để tháo cởi, buông bỏ.

Con người là động vật có linh. Số mệnh là thuộc về trời đất, là bản thể giời cho. Khác với những người bình thường, nhà văn (và nghệ sĩ, và nhiều học giả) còn biết lấy sức mạnh tinh thần vận dụng vào thực tế sáng tác và thực tế cuộc đời, làm hơn lên, làm hay lên, đổi mới và khám phá vượt lên tất cả, tạo ra một năng lượng mới, một trời đất mới, những giá trị mới trong bầu trời văn chương của chính mình. Đó là hai chữ Thể, Dụng. Có Thể còn có Dụng. Nhà văn là một ánh lấp lánh trong đời sống cộng đồng. Trong đời sống văn chương, nhiều nhà văn trở thành những gương sáng trong cái hành trình Thể và Dụng. Nhà thơ Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến được quẻ giời cho là Thủy Phong Tỉnh. Tỉnh là Tĩnh (an tĩnh), Tỉnh còn là cái Giếng. Làng đổi giếng không đổi, Kinh Dịch khái quát một câu về đạo Giếng như thế. Người làng có thể đi lập nghiệp nơi khác nhưng giếng thì ở lại. Giếng ở lại với những kỉ niệm sinh sôi, từ thời niên thiếu đến tuổi già. Vì thế, người quẻ Tỉnh đặc biệt gắn bó với quê hương, với cái gì yên tĩnh sâu thẳm trong lòng. Nguyễn Khuyến là như thế. Năm Tân Mùi (1871) ông đỗ đầu thi Hội và thi Đình. Vua Tự Đức ban hai chữ Tam nguyên (vì trước đây đã đỗ đầu thi Hương ở Hà Nội), ban cờ biển. Năm 1884, trước nguy cơ đất nước rơi vào tay thực dân Pháp, Nguyễn Khuyến cáo quan trở về làng quê Yên Đổ. Một bước ngoặt quyết định làm nên một nhà thơ lớn của dân tộc. Giữa những thất bại của giới sĩ phu trên con đường cứu nước (nhiều người hi sinh, tuẫn tiết) và sự khuất phục của triều đình, Nguyễn Khuyến lựa chọn con đường riêng của mình: trở về vườn Bùi với thân phận làm dân, làm người bình thường, với cái thú quê: Năm nay cày cấy vẫn chân thua/ Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa. Với không gian mùa thu đẫm màu sắc Việt và man mác cái buồn mất nước: Ao thu lạnh lẽo nước trong veo/ Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo. Với cuộc thăm chùa trên núi: Chùa xưa ở lẫn cùng cây đá/ Sư cụ nằm chung với khói mây.

Cũng được quẻ giời cho Thủy Phong Tỉnh, nhà văn Phạm Duy Nghĩa, một cách tự nhiên, lựa chọn cho mình một lối đi riêng. Là người Kinh theo cha mẹ lập nghiệp trên miền núi Lào Cai, hai chữ thủy phong nhập vào anh. Thủy là Nước. Phong là Gió, cũng hiểu là Cây. Tượng quẻ bây giờ là nguồn nước lan thấm trong cây. Văn anh tả con người hòa nhập với rừng, cây, cỏ, hoa biến thành truyện ngắn đặc sắc Cơn mưa hoa mận trắng. Bản thân cái tên truyện là hình ảnh “trên cây có nước”, “nước trong lòng cây”. Quả thật nhìn bên ngoài cây, rất ít người cảm thấy cái nguồn nuôi sống cây, là dòng nước trong thân cây. Người Thủy Phong Tỉnh có cái nhìn tinh xảo về những bí ẩn bên trong ấy. Nên mới có cái truyện ngắn tả hai giáo viên cắm bản trên vùng cao, một nam một nữ nằm hai giường cách nhau một lối đi nhỏ, mà không một lần hai cơ thể quấn lấy nhau. Chỉ có “cơn mưa hoa mận trắng” mới kể lại cái bí ẩn bên trong của mỗi người một cách thuyết phục, để tác phẩm chiếm giải nhất trong một cuộc thi. Các truyện ngắn khác của Phạm Duy Nghĩa cũng thấm đẫm cái góc nhìn Thủy Phong Tỉnh ấy và tạo nên một phong cách riêng. Nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ được quẻ Thiên Địa Bĩ. Bĩ là bế tắc. Bĩ cũng là cái Thể của nhà văn, nhưng cái Dụng thì khác hẳn. Đọc những truyện ngắn như Mi-nu xinh đẹp, Hình bóng cuộc đời, Cát đợi, Còn lại một vầng trăng, Những đêm thắp sáng, Kí ức, ta sẽ thấy văn chương Nguyễn Thị Thu Huệ là tiếng nói, là niềm an ủi lớn cho những thân phận bĩ. Như thể giời đất trao cho nhà văn cái quẻ Thiên Địa Bĩ ấy là để gánh lấy sứ mạng đi sâu vào những thân phận bĩ, an ủi họ và vạch cho họ con đường thoát bĩ, đánh đổ cái bĩ, để cho bĩ cực thái lai.

Bốn điểm đồng nhất giữa số phận và hiện thực văn chương trên đây (văn chương bản sao của hành trình số phận, chữ Tượng, chữ Thời, chữ Thể và Dụng) cũng là bốn tiêu chí để nhận biết một tác phẩm của nhà văn dưới ánh sáng Kinh Dịch. Tác phẩm nào hội đủ bốn tiêu chí trên có thể gọi là tác phẩm mệnh mang tên nhà văn. Số phận hình thành từ lúc con người lọt lòng mẹ. Số phận chi phối từng đường đi nước bước của con người cho đến phút chót cuộc đời. Nhưng không phải nhà văn nào cũng biết số phận mình. Vậy mà tại sao số phận vẫn có tiếng nói của nó trên khắp các nẻo đường văn chương của một nhà văn? Là vì Văn tức là Người. Đời sống văn chương, nghệ thuật trước hết là đời sống tinh thần, đời sống tâm hồn của mỗi nhà văn (hay nghệ sĩ). Hơn ai hết họ rất nhạy cảm trước mỗi làn hơi thở của số phận. Có thể nói câu này mà không sợ quá lời: Tất cả các tác phẩm của một nhà văn đều mang dấu ấn của số phận, nói cách khác là dấu ấn của mệnh. Nhưng không phải tất cả các tác phẩm ấy đều được gọi là tác phẩm mệnh. Bởi, công bằng mà xem xét, có những tác phẩm chỉ mang dấu ấn nhạt nhòa, có chữ Tượng mà không có chữ Thời, hoặc có Thể mà không có Dụng, hoặc quá lạm dụng mà làm mờ mất cái bản thể. Nói một cách khoa học là không đủ tiêu chí cho một tác phẩm được gọi là tác phẩm mệnh. Và như vậy số lượng và tỉ lệ tác phẩm mệnh của mỗi nhà văn tùy thuộc vào từng người, đây cũng chính là một dấu ấn trên hành trình văn chương. Ngôi thứ trong chiếu làng văn là ở đây.
Nguồn: Văn nghệ Quân đội

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.03.2017

Giật mình sau…”Tháng ăn chơi”

Giật mình sau…”Tháng ăn chơi”

  •   TRANG ĐOAN

Tháng Giêng kết thúc.Sau một tháng “tất bật”, và có thể nói là “chạy sô” tham dự các lễ, lễ hội; từ đồng bằng, lên miền núi, xuống miền biển trên địa bàn tỉnh Nghệ An; không biết có mấy ai nhìn lại và nhận ra điều gì đó? Tất nhiên, tôi không nói đến những buổi họp tổng kết công tác tổ chức lễ hội, những buổi giao ban rút kinh nghiệm mà là một điều gì đó trong tư duy của mỗi người.Lẽ dĩ nhiên, đi hội thì bao giờ cũng vui và cả…mệt nữa.Mệt vì mật độ dày đặc các sự kiện và quãng đường di chuyển.Nhưng nếu là người có trách nhiệm với việc bảo tồn, phát huy những giá trị văn hoá thì chắc chắn sẽ phải có nhiều cảm xúc hơn thế.Với tôi, dù không tham dự hết tất thảy các sự kiện văn hoá, lễ, lễ hội diễn ra trong tháng Giêng trên địa bàn tỉnh nhưng khi nhìn lại cũng đủ khiến…giật mình. Giật mình không phải vì nuối tiếc một tháng ăn chơi, hội hè đã qua đi. Giật mình không phải bởi thời gian trôi nhanh thế mà giật mình bởi “những điều trông thấy”…

Chuyện lãng phí hay tốn kém thời gian, tiền bạc không phải là điều gì mới mẻ, lâu nay nó đã được nhắc tới nhiều, song lần nào đi, chứng kiến lễ, lễ hội tôi đều không khỏi giật mình. Người đi lễ sẵn sàng chịu chi không nhỏ để cầu an, cầu tài lộc đầu năm đã đành; các bên liên quan, tổ chức lễ, lễ hội cũng tốn kém. Đó là chi phí đi lại, tổ chức.Từ việc dựng sân khấu, âm thanh anh sáng đến chi phí cho các tiết mục biểu diễn. Đó là chi phí cho các đoàn đại biểu về tham dự.Những bữa cơm thịnh soạn, khách sạn hoành tráng cho hàng trăm đại biểu dự lễ khai mạc ngắn ngủi.Dù người ta có nói đó là kinh phí xã hội hoá, là của bên này bên kia bỏ ra đi chăng nữa thì rút cục cũng là tiền của của nhân dân. Trong khi đó, cái chi ấy nhân dân được hưởng bao nhiêu?Tiền ấycó chi vì dân? Hay sự hiện diện của đại biểu là niềm vinh hạnh của nhân dân?!

Điều thứ hai khiến tôi giật mình có lẽ là ở sự mê tín đến mù quáng của người dân hiện nay.Những ngày đầu năm, các đền, chùa đông nghẹt người.Đến đâu cũng thấy người ta thắp hương nghi ngút, sì sụp khấn vái, xin quẻ, xin xăm, cầu an, giải hạn. Người xếp hàng dài, chen lấn, xô đẩy nhau để xin cho được chút lộc mà không biết ý nghĩa, giá trị thực của nó. Tôi tự hỏi từ bao giờ người dân mình lại trở nên cả tin, mù quáng đến vậy?Đáng lẽ khi xã hội càng phát triển, thì đời sống càng văn minh, nhận thức của con người ngày một cao. Vậy mà thực tế hiện nay, người ta ít tìm hiểu kiến thức để nắm được tinh thần của các tôn giáo, tín ngưỡng, hiểu được lịch sử văn hoá của đền, chùa mình đến…Điều duy nhất họ quan tâm khi tới đây chỉ là cầu được cho mình, cho gia đình tài lộc, may mắn. Chính sự mù quáng, tư tưởng đó của người tham gia, một phần khiến cho tình trạng các lễ hội trở nên lộn xộn, biến tướng. Tuy nhiên có một câu hỏi đặt ra là: Vậy vai trò của các cơ quan quản lý văn hoá ở đâu?Liệu chúng ta có thực sự vô can?Phải chăng bởi xã hội đang thiếu vắng niềm tin? Phải chăng bởi con người đang ngày càng xuống cấp về đạo đức, vụ lợi hơn? Phải chăng chúng ta đã giáo dục, tuyên truyền không đúng hướng, chưa đến nơi đến chốn nên mới dẫn đến sự mù quáng và xu hướng ngày càng mê tín này?Chúng ta không thể chỉ đổ lỗi cho tư duy, nhận thức hay tâm nguyện của nhân dân.Người làm văn hoá phải có trách nhiệm hướng cho người dân đến những giá trị tốt đẹp, đến một môi trường văn hoá, văn minh.

Vậy mà thay vào đó, một số người tỏ ra đầy hân hoan khi đánh giá nhờ lễ hội, tâm linh mà du lịch đầu năm có xu hướng tăng so với năm ngoái. Các điểm đến như Đền Cờn, chùa Đại Tuệ, đền Hoàng Mười,… đông nghịt khách cả trong và ngoài tỉnh. Đó cũng là điều khiến tôi giật mình. Có thể thấy, xu hướng hiện nay, đầu năm người dân thường kéo đi hành hương, lễ chùa, đền cầu may nên các hãng lữ hành đã khai thác triệt để tour du lịch tâm linh. Chính tư duy làm du lịch chi phối mà chúng ta đã và sẽ tiếp tục sai phạm nếu không dừng lại để nhìn nhận vấn đề.Trong bài viết trước đây về du lịch tâm linh[1], tôi đã chỉ rõ khái niệm và bản chất của loại hình du lịch này nên xin không nhắc lại ở đây; chỉ muốn một lần nữa nhấn mạnh rằng: Về bản chất, Du lịch tâm linh (Spiritual tourism) thực chất là một loại hình du lịch văn hóa, lấy yếu tố tâm linh làm cơ sở và cũng là mục tiêu. Chúng ta không thể vì lợi nhuận mà tác động làm biến tướng, méo mó các giá trị văn hoá tâm linh.Nói cách khác, không nên lấy tâm linh để kinh doanh.Cách làm này chẳng khác gì lợi dụng lòng tin, sự mù quáng của người dân cả. Có thể thấy những lùm xùm trong dịp sau Tết tại Nghệ An đều xuất phát từ chính tư duy nóng vội khai thác cho du lịch. Những dòng người chen lấn, xô đẩy trong lễ phát “Thẻ ấn -Quang Trung linh từ” (ngày 01/02/2017); tắc đường dài hàng km trong lễ khai bút đầu Xuân tại chùa Đại Tuệ (05/02/2017), hay việc dâng bánh chưng 7 tạ lên mộ Hoàng Thị Loan, dâng bánh 5 tạ tại chùa Đại Tuệ,…đều đang minh chứng cho điều đó. Đáng buồn hơn, khi trả lời với báo chí, ông Hoàng Trung Châu, Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Nghệ An nói về việc dâng bánh chưng lên mộ bà Hoàng Thị Loan: “Mục đích thứ hai là từng bước tạo ra sản phẩm du lịch mới, du lịch tâm linh đầu năm để thu hút thêm khách du lịch về với quê Bác Hồ.”[2]Chắc chắn, việc tổ chức phát thẻ ấn tại Đền thờ Hoàng đế Quang Trung cũng xuất phát từ tư duy này. Điều đó khiến Nghệ An đã phải đối mặt với không ít phản ứng từ dư luận cả nước trong thời gian qua. Nếu chúng ta không lắng nghe để sớm thay đổi mà vẫn khăng khăng giữ suy nghĩ trên khi làm du lịch và văn hoá thì chắc chắn chúng ta sẽ còn chứng kiến nhiều sai phạm đáng buồn trong tương lai.

Điều giật mình sau cùng có lẽ chính là thái độ của một số cơ quan chức năng.Dường như họ còn thờ ơ, thiếu trách nhiệm. Trách nhiệm ở đây không phải là việc lo đón tiếp chu đáo, tổ chức thật hoành tráng các lễ, lễ hội diễn ra mà là trách nhiệm với di sản, với giá trị văn hoá và với nhân dân. Với hàng chục cơ quan báo chí trong tỉnh và trung ương thường trú tại địa phương, không tính đến những báo ít dám phản biện, thì đến nay đã có không biết bao nhiêu bài phản ánh về sự lãng phí, tốn kém, về cách làm chưa đúng, về những sai phạm liên quan song tình hình không thay đổi là mấy. Nếu không có niềm tin vào báo chí thì khi liên tục tham gia, kiểm tra các lễ, lễ hội trên địa bàn, chúng ta chắc hẳn cũng nhận thấy các giá trị văn hoá đang được khai thác không đúng cách; các lễ hội đang dần đánh mất đi bản sắc của nó bằng chính cách tổ chức của ta; hay chí ít cũng thấy mệt mỏi ra sao khi phải tổ chức chỉ để hoàn thành đầu công việc.

“Tháng ăn chơi” đã kết thúc nhưng mùa lễ hội sẽ vẫn còn rộn ràng trên xứ Nghệ. Chúng ta sẽ lại tham gia, quan sát và cả kiểm chứng điều tôi nói trên đây. Dẫu cho đến khi viết những dòng cuối của bài này, tôi vẫn không tin ý kiến của mình được lắng nghe, tiếp nhận một cách thiện chí nhưng tôi hy vọng nó sẽ để lại ở đâu đó, trong ai đó, dù nhỏ nhoi thôi, một chút giật mình.


[1] Du lịch tâm linh là gì?, VHNA số 306, phát hành ngày 10/12/2015.

[2]Ông Hoàng Trung Châu trả lời Phỏng vấn trong bài báo “Nghệ An sẽ không dâng bánh chưng 700kg Tết 2018”, http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/tin-moi-nghe-an-se-khong-dang-banh-chung-700kg-tet-2018-354869.html.

( Nguồn: VHNA)

Vụ Formosa : Ngư dân Nghệ An cũng muốn được đền bù

Vụ Formosa : Ngư dân Nghệ An cũng muốn được  đền bù

Người dân Việt Nam biểu tình phản đối nhà máy Formosa gây hiện tượng cá chết hàng loạt ở miền trung Việt Nam. Ảnh chụp tại Hà Nội, ngày 01/05/2016.REUTERS

 

Mặc dù chính quyền Việt Nam đã thông báo sẽ kỷ luật những quan chức chịu trách nhiệm trong vụ công ty Formosa Hà Tĩnh xả thải gây ô nhiểm biển khiến cá chết hàng loạt ở các tỉnh miền Trung vào tháng 4 năm ngoái, nhưng hồ sơ này tiếp tục gây xáo trộn ở một số địa phương, do ngư dân vẫn bất bình về chuyện đền bù thiệt hại cho họ.

Ngày 22/02/2017, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông báo sẽ xem xét, thi hành kỷ luật 11 quan chức bị coi là có những “sai phạm” trong vụ Formosa gây ô nhiễm. Bị xem là chịu trách nhiệm chính trong vụ này là ông Võ Kim Cự, nguyên chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh Hà Tĩnh. Trong số 11 quan chức bị kỷ luật, còn có một cựu bộ trưởng Môi trường, ông Nguyễn Minh Quang.

Hiện giờ chưa biết là các quan chức nói trên sẽ bị kỷ luật như thế nào, nhưng đây là lần đầu tiên chính quyền nêu rõ tên tuổi các quan chức chịu trách nhiệm về vụ Formosa, 11 tháng sau khi xảy ra vụ này.

Qua việc thông báo xem xét kỷ luật các quan chức nói trên, giới lãnh đạo Hà Nội hy vọng sẽ làm dịu phần nào nỗi bất bình của dư luận về vụ Formosa, thảm họa môi trường trầm trọng nhất từ trước đến nay ở Việt Nam. Chính bộ Môi trường Việt Nam đã nhìn nhận rằng phải mất ít nhất một thập niên nữa môi trường biển của những vùng bị ảnh hưởng mới có thể trở lại như trước.

Đây còn là một thảm họa về kinh tế vì nó ảnh hưởng đến đời sống của biết bao ngư dân các tỉnh miền Trung bị ô nhiễm biển. Công ty Formosa Hà Tĩnh đã buộc phải chấp nhận đền bù tổng cộng 500 triệu đôla. Thế nhưng, việc đền bù vẫn chưa được thỏa đáng đối với nhiều ngư dân và họ tiếp tục kiện công ty Formosa Hà Tĩnh.

Tháng 9 năm ngoái, ngư dân huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An đã nộp đơn kiện Formosa lên Tòa án Nhân dân Thị xã Kỳ Anh, nhưng tòa án này sau đó đã trả lại các đơn kiện, với lý do là những người “ khởi kiện không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh về những thiệt hại thực tế “ do vụ ô nhiễm Formosa.

Ngày 14/02 vừa qua, hàng trăm ngư dân giáo xứ Song Ngọc, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, dưới sự hướng dẫn của linh mục quản xứ Nguyễn Đình Thục, đã đi đến Tòa án Nhân dân Thị xã Kỳ Anh để nộp đơn kiện công ty Formosa một lần nữa. Nhưng trên đường đi, các ngư dân này đã bị công an tỉnh Nghệ An ngăn cản và đàn áp thô bạo. Hàng chục người dân đã bị công an đánh đập và bắt giữ. Văn phòng Tòa Giám mục Giáo phận Vinh ngày 20/02 vừa qua đã ra một thông báo lên án vụ đàn áp này là một sự “vi phạm nghiêm trọng quyền của con người, quyền công dân đã được Công ước Quốc tế, Hiến pháp và Pháp luật Việt Nam bảo vệ.”.

Cũng trong ngày 20/02/2017, tổ chức Ân xá Quốc tế đã ra một thông cáo kêu gọi có hành động khẩn cấp về vụ nói trên, yêu cầu chính quyền Việt Nam điều tra và đưa ra tòa những kẻ đã tấn công ngư dân khiếu kiện, yêu cầu chấm dứt sách nhiễu những người biểu tình ôn hòa, đồng thời tạo điều kiện cho ngư dân nộp đơn kiện Formosa.

Báo chí chính thức thì cho rằng chính giáo dân Quỳnh Lưu đi khiếu kiện đã bị kích động, xúi giục, gây mất trật tự công cộng, gây cản trở giao thông, thậm chí một số người, bị xem là “phần tử quá khích”, đã ném đá vào lực lượng an ninh, buộc họ phải giải tán đám đông, bắt tạm giũ một số người. Nhưng trả lời RFI Việt ngữ ngày 24/02 vừa qua, linh mục Nguyễn Đình Thục, quản xứ Song Ngọc, khẳng định là các ngư dân trên đường đi nộp đơn kiện đã di chuyển rất ôn hòa:

“ Việc làm của chúng tôi là đúng theo Hiến pháp và pháp luật. Chúng tôi đi kiện Formosa là vì họ đã xả thải và gây ô nhiễm biển nặng nề và điều đó gây thiệt hại cho những người dân ở đây, là những người làm nghề biển. Chúng tôi đã gởi đơn lên chính phủ đòi bồi thường cho chúng tôi sau khi chính phủ nhận 500 triệu đôla ( tiền đền bù của Formosa ).

Từ mấy tháng nay ,chúng tôi vẫn chờ, nhưng chính phủ không trả lời và chính phủ đã ra quyết định chỉ bồi thường cho 4 tỉnh từ Hà Tĩnh trở vào, còn Nghệ An thì không được bồi thường, cho nên người dân rất bức xúc và họ đi đòi sự công bằng.

Khi kiện thì chúng tôi phải đến thị xã Kỳ Anh để kiện, vì đó là do pháp luật quy định: nơi có thẩm quyền thụ lý vụ án phải là nơi mà tội phạm gây ra tội ác. Kỳ Anh chính là nơi mà Formosa ở đó và gây ra thảm họa. Bảo rằng chúng tôi đi đông người, đó cũng là vì pháp luật quy định điều đó, nghĩa là không được khiếu kiện tập thể, mà mỗi người phải viết đơn, 619 hộ gia đình viết đơn kiện thì phải có ít nhất 619 người đi nạp đơn kiện.

Chúng tôi đã thuê xe ôtô, nhưng công an đã ngăn chận bằng mọi cách, vừa dọa dẫm, vừa làm rất mạnh, thành ra chủ xe không thể nào đến với chúng tôi để đưa dân chúng tôi đi được. Vì không thuê được ôtô, nên chúng tôi phải đi xe máy. Một số người không có xe máy thì phải đi bộ. Chúng tôi đi rất là ôn hòa, không cản trở giao thông mà cũng không có một hành động bạo lực nào.”

Theo báo chí chính thức thì sau vụ này Phó chủ tịch tỉnh Nghệ An Lê Xuân Đại cho biết ban lãnh đạo tỉnh này sắp tới sẽ làm việc với Tòa Giám mục để vận động các chức sắc và giáo dân trong toàn Giáo phận “tin tưởng vào chủ trương giải quyết sự cố môi trường biển miền Trung của Đảng, Nhà nước”, không để tái diễn sự việc như vừa qua.

Phó chủ tịch Nghệ An cũng cam kết rằng lãnh đạo tỉnh Nghệ An sẵn sàng mời đại diện những người có đơn vào trụ sở tiếp công dân của UBND tỉnh để nộp đơn và bản thân ông “sẽ làm trung gian nhận đơn để trực tiếp gửi tới Tòa án Nhân dân thị xã Kỳ Anh, đồng thời theo dõi kết quả xử lý từ phía TAND thị xã Kỳ Anh để truyền tải tới cho công dân thông qua Tòa giám mục”.

Vấn đề là không biết đơn kiện của ngư dân có sẽ được thụ lý hay không và nếu được thụ lý thì tòa sẽ giải quyết ra sao. Ngư dân Song Ngọc vẫn không chấp nhận việc họ không được chính phủ chia tiền đền bù, vì tuy không nằm ở những vùng biển bị ô nhiễm nặng, họ vẫn bị thiệt hại lây, như giải thích của cha Nguyễn Đình Thục:

“ Ở Nghệ An, chúng tôi cũng thiệt hại nặng nề như những nơi khác là bởi vì khi người dân đánh bắt về thì hải sản không bán được. Trong một thời gian dài, hàng mấy tháng trời họ mất công ăn việc làm, phải bán đi những chiếc thuyền của họ, được mua với giá rất cao nhưng được bán với giá rẻ mạt. Những người còn giữ lại thuyền thì cũng không làm gì được, thì nghề nghiệp của họ bất ổn, không có thu nhập như trước đây nữa.

Ngoài những người đi đánh cá, những người làm những công việc liên quan, như buôn cá hay làm đá để ướp cá, may vá lưới và cả những người làm nghề muối, đều bị thiệt hại rất là nặng, cho nên họ đã đi kiện vì không nhận được sự bồi thường nào hết.

Cả một thời gian dài ngư dân Nghệ An không bán được cá. Bây giờ tuy bán được, nhưng rất khó khăn. Số người ăn cá biển bây giờ rất ít. Những người có điều kiện thì chẳng còn dám ăn cá biển, vì họ thừa biết là cá biển không an toàn, chẳng biết là cá đó được bắt ở vùng biển nào.

Chính phủ Việt Nam không quan tâm là cá đó bắt từ vùng nào và họ sẳn sàng cấp phép cho bán, thậm chí khuyến khích ngư dân trong vùng bị ô nhiễm biển đi đánh cá và cấp giấy chứng nhận cá sạch. Chính vì thái độ vô trách nhiệm như thế mà những người ở những nơi khác cũng bị vạ lây, tức là cá đánh bắt ở những nơi khác khi được đem đi bán thì người dân cũng nghi ngờ, không biết là cá này được bắt ở vùng biển không bị ô nhiễm, nên họ ngại, không dám mua về ăn.

Chúng tôi làm theo sự hướng dẫn của ban hỗ trợ các nạn nhân ô nhiễm biển, do giám mục giáo phận thành lập để hướng dẫn chúng tôi. Về mặt pháp lý, chúng tôi đang chờ sự hướng dẫn tiếp, nhưng người dân ở đây rất quyết tâm, vì cuộc sống của họ bất ổn và bây giờ họ cần đấu tranh để có sự công bằng. Điều mà họ mong muốn nhất đó là Formosa phải rời khỏi Việt Nam để trả lại cho họ môi trường biển trong sạch, lành mạnh, để cuộc sống và nghề nghiệp của họ được ổn định.”

 Như vậy là bên cạnh việc giải quyết những hậu quả về môi trường của vụ Formosa làm ô nhiễm biển, chính quyền Việt Nam đang phải đối đầu với sự bất bình của những ngư dân các vùng không bị ảnh hưởng trực tiếp, cũng muốn được đền bù vì những thiệt hại gián tiếp của thảm họa này.

Nick Út, người chụp Kim Phúc, cô bé Napalm, sẽ về hưu

BBC

Nick Út đứng cạnh bức ảnh Em bé Napalm tại triển lãm ảnh AP ở Hà NộiBản quyền hình ảnhAP
Nick Út đứng cạnh bức ảnh Em bé Napalm tại triển lãm ảnh AP ở Hà Nội

Nick Út, người từng là phóng viên chiến trường cho hãng AP tại Việt Nam vào những năm 1960, mà tên tuổi gắn liền với bức ảnh Em bé Napalm, sẽ về hưu vào cuối tháng Ba năm 2017 sau một sự nghiệp trải dài 51 năm.

Trả lời BBC Tiếng Việt, ông Nick Út cho biết, ở tuổi 65 và sau 51 năm làm việc cho hãng AP, ông thấy đã tới lúc cần nghỉ ngơi để làm các việc của gia đình (như trông cháu ngoại) và dành thời gian cho các hoạt động xã hội khác.

Tuy nhiên ông sẽ tiếp tục cầm máy như một cộng tác viên cho AP.

“Cô bé Napalm”

Nhớ lại những gì diễn ra vào ngày 8/6/1972, ông kể, buổi sáng hôm đó ông theo một cánh quân của sư đoàn 25 của miền Nam tới thị xã Trảng Bàng và hàng ngàn người bỏ chạy vì bom đạn từ cả hai phía.

Khi đó ông đã chụp được rất nhiều cảnh ném bom, rốc két, người dân bỏ chạy, bị thương, chết chóc và đang chuẩn bị về lại Sài Gòn gấp để gửi hình thì trên đường quốc lộ 1 chợt để ‎ý thấy một anh lính sư đoàn 25 thải một khối màu chỉ điểm ném bom nên ông quyết định chờ.

Vừa đúng lúc 4 chiếc phi cơ Mỹ ném bom Napalm xuống ngôi làng và ông nghĩ rằng không còn ai trong làng nữa vì người dân đã bỏ chạy hết rồi.Nick Út: Về hưu nhưng sẽ tiếp tục cầm máy

Khi khói tan dần thì thấy có nhiều người chạy ra, trong đó có Kim Phúc, ông bà của Kim Phúc cùng một số trẻ em khác, có em đã chết trên tay của ông bà các em.

Sau khi chụp bức ảnh, ông bỏ máy ảnh chạy tới giúp bé Phúc rồi đưa cô đi bệnh viện và cô đã được cứu sống. Năm đó ông 21 tuổi.

Ông nói bức ảnh này đã làm thay đổi không chỉ cuộc đời ông và cuộc đời Kim Phúc và góp phần làm thay đổi cái nhìn về cuộc chiến. Ông nói:

“Thực sự bức ảnh đó đã làm thay đổi rất nhiều. Khi làm việc tại Los Angeles, tôi cập những trong quân đội Mỹ từng chiến đấu tại Việt Nam.

“Họ nhìn bức hình Kim Phúc, họ ôm tôi, cám ơn và khóc. Họ nói họ được về Mỹ sớm và còn sống nhờ bức hình đó.

“Còn những người chưa từng chiến đấu tại Việt Nam, khi thấy bức hình đó, họ nói họ không muốn chết, tôi còn ở đây là nhờ bức hình đó,” ông nói.

Nick Út và Kim PhúcBản quyền hình ảnhREUTERS
nÔng Nick Út và Kim Phúc tiếp tục giữ liên lạc thường xuyên và thân thiết nhiều năm trời kể từ khi gặp lại lần đầu năm 1989.

Lần đầu tiên ông Nick Út gặp lại Kim Phúc là vào năm 1989 khi cô sang học tại Cuba và sau này Kim Phúc định cư tại Canada, hai người vẫn giữ liên lạc mật thiết và thường xuyên từ đó đến nay.

Theo bước anh trai

Bức ảnh nổi tiếng đó tuy vậy chỉ là một phần nhỏ những điều khủng khiếp của cuộc chiến mà ông đã từng chứng kiến. Ngay từ khi 15 tuổi ông thường anh trai cho xem những bức hình anh trai chụp cảnh chết chóc, cha mẹ mất con cái, làng mạc bị tàn phá do chiến tranh.

Là người con thứ 11 trong gia đình có 12 người con, ông ngưỡng mộ anh trai mình, ông Huỳnh Thanh Mỹ, người là phóng viên chiến trường cho hãng AP. Ông đã chứng kiến anh trai ông rất buồn khi hàng ngày phải chứng kiến nhiều cảnh chiến tranh, chết chóc.

“Anh Mỹ nói anh rất buồn khi hàng ngày phải chứng kiến nhiều cảnh chiến tranh, chết chóc và anh muốn tìm được một bức hình mang lại hòa bình, chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Anh nói anh muốn tôi trở thành phóng viên.

“Tôi nhớ kỷ niệm năm 1963, sau cuộc đảo chính ông Tổng thống Ngô Đình Diệm, tôi được theo anh phụ anh chụp ảnh quanh Dinh Gia Long. Năm 1965 anh mất ở Cần Thơ và cả ngàn phóng viên tới dự đám tang anh,” ông kể lại.

Nhiếp ảnh gia Đức Horst Faas (trái) và Nick Út, tại Sài Gòn ngày 28 tháng Tư năm 2005, ba mười năm sau khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc.Bản quyền hình ảnhHOANG DINH NAM
Nhiếp ảnh gia Đức Horst Faas (trái) và Nick Út, tại Sài Gòn ngày 28 tháng Tư năm 2005, ba mười năm sau khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc.

Tuy nhiên khi ông tới xin việc tại AP, Horst Faas, trưởng văn phòng AP ở Sài Gòn, một phóng viên chiến trường có tên tuổi từng hai lần đoạt giải Pulitzer, đã từ chối và bảo ông về đi học vì còn trẻ quá.

Nhưng sau nhiều tuần bị “quấy nhiễu”, cuối cùng Faas đã nhận ông vào làm ở phòng tối ngày 1/1/1966, với quy định nghiêm ngặt: Không được mang máy ảnh vào vùng chiến sự trong bất cứ hoàn cảnh nào. Năm đó ông 15 tuổi.

“Ông Horst Faas không muốn tôi ra chiến trường vì anh tôi đã mất ở đó và không muốn gia đình tôi mất một người thứ hai nữa. Nhưng ông đã không thể cấm tôi được vì tôi mê chụp hình. Và cuối cùng tôi bỏ phòng tối đi chụp ảnh chiến trường,” ông nhớ lại.

Năm 1968 ông bỏ phòng tối và trở thành phóng viên chiến trường sau một lần chiến sự xảy ra gần nhà và ông đã chụp được những bức ảnh có giá trị. Kể từ đó chàng thanh niên 17 tuổi đã có mặt ở rất nhiều chiến trường miền Nam và đã từng bị thương bốn lần trong thời gian cuộc chiến.

Thời kỳ hậu chiến

Tên thật là Huỳnh Công Út, nhưng ông được biết đến với cái tên Nick Út, tên do phóng viên chiến trường người Pháp Henri Huet đặt cho vì tên ông khó gọi với các đồng nghiệp người nước ngoài tại văn phòng.

Henri Huet qua đời tháng Giêng năm 1971 sau khi thay thế Nick Út lên chiếc phi cơ chở phóng viên đi đưa tin về cuộc chiến và chiếc phi cơ đã bị bắn rơi khi đang trên đường bay sang Hạ Lào.

“Vì thế tôi giữ cái tên Nick Út để cả đời tôi nhớ tới một người bạn thân,” ông nói.

Sau khi cuộc chiến kết thúc năm 1975, ông rời khỏi Việt Nam như hàng ngàn người Việt khác. Và sau đó ông được hãng AP cử đi làm việc tại Văn phòng của hãng ở Tokyo, Nhật Bản. Tại đây, ông gặp người sau này là vợ ông và hai người chuyển tới Los Angeles năm 1977 khi ông bắt đầu giai đoạn chuyên chụp Hollywood trong sự nghiệp nhiếp ảnh của mình.

Giai đoạn này người ta biết tới ông với những bức hình các nhân vật nổi tiếng như Michael Jackson đang nhảy trên nóc một chiếc xe hơi bên ngoài tòa án sau khi được tha bổng về các cáo giác tội sờ sẩm trẻ em.

Có lẽ bức ảnh nổi tiếng nhất trong số này là bức chụp Paris Hilton đầy nước mắt khi bị bỏ tù vì phạm luật lái xe. Bức ảnh được chụp ngày 8/6/2007, đúng 35 năm sau ngày ông chụp bức “Napalm Girl”.

Nhà sử học Lê Văn Lan:

Một xã hội không chuộng trí thức là một xã hội gặp nguy hiểm

16:35 11/03/2017

Vừa nhập viện hơn chục ngày trở về. Vẫn mái đầu xù lên như tổ quạ, thứ “đặc sản” rất “Giáo sư Lan” mà đến cả phòng hóa trang trước khi lên hình của TH Việt Nam cũng chưa có ai được sờ vào mái tóc ông mỗi khi ông “lên sóng”.

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.03.2017

40 NĂM EM – TẬP THƠ TẶNG VỢ ( TIẾP)

40 NĂM EM – TẬP THƠ TẶNG VỢ ( TIẾP)

Ngô Minh

NGƯỜI KÉO CÁP PHÀ SEN

Tháng năm ơi

mấy chuyến phà sang

bên bến sông Con em đi lấy chồng

riêng các anh những người kéo cáp

một thời trai neo giữa lòng đường

 

Những chuyến phà xuyên năm lửa bom

xe gạo đạn và trai làng ra trận

những chuyến phà ngày đêm thầm lặng

cam nông trường nắng đọng về xuôi

 

Chưa kịp hỏi thăm đã gặp nụ cười

gặp dưới dòng sâu dáng người kéo cáp

dáng núi Vực Lồ bão mưa không đổi khác

dẫu tâm tư sương tím chiều chiều

 

Bên lở bên bồi nhịp điệu tình yêu

xe mong sang và người mong gặp gỡ

không ca-nô tim anh làm máy nổ

tay cuộn săn nắm sợi lửa nóng bừng

 

Giữa núi rừng người kéo cáp Phà Sen

đang nói cùng tôi về một thời đất nước

trong khó nghèo lặng thầm sức lực

nối đôi bờ hạnh phúc, thời gian

 

Giữa núi rừng người kéo cáp Phà Sen (*)

như cây nguồn sông Con nảy lộc

cho tôi hái câu thơ xanh biếc

sớm xuân về mừng tuổi bạn dưới xuôi

 

Nghĩa Đồng, Tết Giáp Tý.

               Lần đầu theo vợ  ra quê ra mắt ông bà

———

(*): Phà Sen: Từ Nghĩa Hợp bắc qua sông Con

sang Nghĩa Đồng. Bây giờ đã có Cầu S en vĩnh cửu (Đọc tiếp…)

NHỮNG CHUYỆN CHƯA KỂ VỀ 14-3-1988 – KỲ 4:

Máy bay chiến thuật bay ra Gạc Ma sau ngày 14-3-1988

TTO – Khi quân Trung Quốc dùng vũ lực chiếm Gạc Ma ngày 14-3-1988, trong đất liền tại Tân Sơn Nhất – căn cứ của trung đoàn không quân vận tải 918 – chuyển sang trạng thái báo động chiến đấu cấp 1.

Máy bay chiến thuật bay ra Gạc Ma sau ngày 14-3-1988
Cựu phi công Đoàn Hồng Quân đã từng lái máy bay AN-26 bay chuyến đầu tiên ra Gạc Ma để chụp ảnh, giám sát tình hình – Ảnh: MY LĂNG

Trung đoàn 918 lập tức nhận lệnh điều hai máy bay vận tải chiến thuật An-26 cất cánh đi Phan Rang trực để sẵn sàng bay ra Trường Sa. Còn ở Tân Sơn Nhất, hai máy bay An-26 cũng trực sẵn sàng cất cánh.

10 chuyến bay khẩn

Ngày 16-3-1988, máy bay An-26 do phi đội trưởng phi đội 1 Đoàn Hồng Quân lái chính đã cất cánh từ căn cứ Tân Sơn Nhất ra Trường Sa trinh sát, chụp ảnh các tàu Trung Quốc, nắm tình hình đối phương tại khu vực đảo Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma.

Ngay từ sáng 14-3, tàu HQ604 và 605 đã bị bắn chìm. Ngoài đảo lúc này chỉ còn tàu HQ505 đã kịp ủi lên Cô Lin và trở thành công sự thép khẳng định chủ quyền. Nhiệm vụ của tổ bay không chỉ chụp các tàu Trung Quốc tại khu vực vừa xảy ra chiến sự mà còn chụp cả HQ505.

Chuyến bay đầu tiên của An-26 cất cánh ra Trường Sa sau ngày 14-3 do phi công Đoàn Hồng Quân thực hiện. Thượng tá Đoàn Hồng Quân (hiện đang ở huyện Bình Chánh, TP.HCM, nguyên tham mưu phó trung đoàn 918) khi đó là một trong những phi công giỏi của trung đoàn 918.

Thượng tá Quân cho biết từ Tân Sơn Nhất ra đảo hơn 400km, vì đảo Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma quá xa đất liền nên lúc đó một máy bay An-26 khác cũng cất cánh để làm nhiệm vụ bay chuyển tiếp trên không.

Máy bay này bay đến đoạn giữa quãng đường từ Tân Sơn Nhất ra đảo, làm cầu nối liên lạc giữa chiếc An-26 bay ra đảo làm nhiệm vụ với Sở chỉ huy ở đất liền.

Thượng tá Trần Xuân Đô, một trong những thành viên của tổ bay An-26 cất cánh ra khu vực Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma sau ngày 14-3-1988, kể:

“Lúc đi chúng tôi đã biết Trung Quốc vừa cướp đảo của mình. Bộ đội mình ngoài đảo báo về có nhiều tàu chiến Trung Quốc xung quanh đảo. An-26 ra trinh sát để xem có bao nhiêu tàu Trung Quốc, tàu ở vị trí nào so với đảo của mình… để cấp trên có phương án ứng phó. Trên yêu cầu phải quay được rõ số hiệu các tàu Trung Quốc”.

Những ngày khẩn cấp đó, máy bay An-26 của trung đoàn không quân 918 đã thực hiện 10 chuyến bay ra Trường Sa quan sát chụp ảnh, thông báo tình hình đối phương trên biển về sở chỉ huy, thả dù hàng…

Máy bay chiến thuật bay ra Gạc Ma sau ngày 14-3-1988
Tàu HQ505 lao lên ủi bãi, bảo vệ được Cô Lin. Ảnh chụp từ máy bay tháng 3-1988 – Ảnh: tư liệu

Quay rõ số hiệu tàu Trung Quốc

Thượng tá Nguyễn Văn Dương – nguyên chủ nhiệm bay trung đoàn 918 – cũng là một trong những phi công tham gia chuyến bay ra Trường Sa trong những ngày nóng bỏng đó, ông là một trong các phi công dày dạn kinh nghiệm của trung đoàn 918.

“Khi bay ra đó tôi là lái chính, còn anh Thao lái phụ. Khi giao nhiệm vụ, cấp trên yêu cầu bay qua các đảo trong đó có Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma đang có tàu, nhiệm vụ là vừa chụp ảnh vừa quan sát kỹ Gạc Ma.

Khoảng 9h sáng chúng tôi đã có mặt ở khu vực đảo Gạc Ma. Khi hạ thấp độ cao xuống 2.000m, thấy có tàu Trung Quốc cách đảo 1-2 hải lý.

Có mấy tàu đậu quanh đảo nhưng thấy rõ nhất một tàu Trung Quốc với cờ hiệu và 2-3 chiếc khác ở phía nam đảo Gạc Ma. Sau này về anh em phòng ảnh rửa hình nói rằng ảnh rất rõ nét, nhìn thấy hình tàu và cờ hiệu Trung Quốc”.

Từ đề nghị của Quân chủng hải quân, trong những chuyến bay đó mỗi tổ bay còn có thêm sĩ quan tác chiến hải quân đi cùng. Để đảm bảo an toàn, bay từ Tân Sơn Nhất ra Phan Rang nạp dầu rồi bay ra đảo. Khác với những chuyến bay ra Trường Sa chụp ảnh trước đó, trong chuyến bay này còn có thêm người quay phim.

Nhiệm vụ đó được giao cho phi công lái phụ đảm nhiệm. Thượng tá Trần Xuân Đô kể:

“Bay ở Cô Lin và Len Đao thì không có vấn đề gì. Nhưng lúc đó Gạc Ma đã bị quân Trung Quốc cướp rồi nên không thể bay gần và tổ bay phải tránh bay đè lên đảo. Dưới biển quân Trung Quốc tưởng mình uy hiếp sẽ bắn tên lửa lên ngay.

Chúng tôi bay chếch chếch bên hông đảo Gạc Ma. Khi cách Gạc Ma khoảng 2km, phi công hạ thấp độ cao xuống 1.000m. Khi bay vào vị trí gần đảo, tổ bay thông báo chuẩn bị chụp ảnh thì mới chụp được. Lái phụ Hiền chĩa máy quay qua cửa sổ quay ở góc 45 độ.

Tôi phụ trách chụp ảnh. Ở độ cao 1.000m, quan sát bằng mắt thường và ống nhòm, tôi nhìn thấy rõ mấy chiếc tàu cờ hiệu Trung Quốc ở xung quanh Gạc Ma. Những hình ảnh này sư đoàn đưa cho quân chủng để chuyển lên cho Bộ Tổng tham mưu”.

Thượng tá Trần Xuân Đô cho biết hằng ngày mỗi tổ bay một chuyến ra khu vực vừa xảy ra chiến sự để quay phim, chụp ảnh, trinh sát tình hình. Ông Đô tham gia ít nhất ba chuyến.

Sau đó, An-26 còn bay ra đảo thả quân tư trang cho bộ đội đang bám trụ giữ đảo Cô Lin trên con tàu HQ505 đã bị bắn cháy. Cựu chiến binh Võ Tá Du (thuyền phó chính trị, bí thư chi bộ tàu HQ505) kể:

“Sau 14-3 mấy ngày, máy bay An-26 của không quân bay ra đảo Sinh Tồn thả những gói hàng quân tư trang cho chúng tôi. Không có dù, máy bay phải thả hàng rơi xuống cách mép đảo 400 – 500m.

Chúng tôi bơi ra kéo vào. Quân nhu của đảo Sinh Tồn quản lý số quân tư trang này rồi phát lại cho anh em tàu. Lúc tàu bị Trung Quốc bắn, cháy hết, quần áo cũng không còn.

Trên người chỉ còn cái quần đùi. Chúng tôi trực giữ đảo Cô Lin không có chỗ ở, quần áo không có mặc nên trong bờ phải chuyển quân tư trang ra”.

Chụp ảnh quần đảo Trường Sa từ năm 1982

Cựu phi công Nguyễn Văn Dương cho biết:

“Không phải sau sự kiện 14-3-1988 chúng tôi mới bay ra Trường Sa. Từ năm 1982, An-26 đã bay ra quần đảo Trường Sa chụp ảnh các đảo và động viên bộ đội mình ngoài đó. Các đảo nổi khi đó hoang sơ lắm.

Thuyền chài thủy triều lên chỉ thấy một dải nước rộng xanh mướt, khi thủy triều xuống mới thấy bãi cạn nhô lên. Đảo Chữ Thập phần ngầm rất rộng. Hồi đó chỉ có Trường Sa và An Bang có cây cối, toàn cây tự nhiên chứ không do bộ đội trồng như sau này. Khi đến đảo nào, qua tần số anh em ở đảo nghe giọng của không quân vui lắm, cứ bảo các anh nói thêm với chúng em nữa đi.

Khi bay ngang qua các đảo, chúng tôi đều hạ thấp độ cao từ 4.200-4.500m xuống 100m, 200m tùy địa hình, để anh em được nhìn máy bay gần hơn. Thấy cờ đỏ sao vàng trên máy bay anh em rất mừng. Anh em từ trong lán chạy ra đứng vẫy tay, hò reo. Đối không ở đảo nói qua tần số:

“Các anh ơi, bay thêm một vòng nữa cho chúng em xem với. Lúc đó chúng tôi đã bay thường xuyên ra Trường Sa, có lúc tuần nào cũng bay, chỉ bay trên không cổ vũ tinh thần bộ đội chứ không có sân bay để hạ cánh xuống”.

_______________

Khi Len Đao bị bao vây, có một chiến đấu cơ từ sân bay Phan Rang cất cánh. Diễn biến cực kỳ căng thẳng.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.03.2017

“Khắc khỏai” nhìn ra biển Đông

“Khắc khỏai” nhìn ra biển Đông

 

Biển Đông sẽ có hòa bình và ổn định hay xung đột và đối đầu? Biển Đông vẫn là tuyến hàng hải huyết mạch của thương mại toàn cầu, tài sản chung của nhân loại, hay nó sẽ biến thành ao nhà của Trung Quốc? Tất cả phụ thuộc rất nhiều vào tương quan Trung – Mỹ cũng như chính sách của Hoa Kỳ và của Trung Quốc. Các diễn biến liên quan đến vùng biển gây nhiều tranh cãi này trong tuần đầu tháng Ba vừa qua khiến dư luận không khỏi băn khoăn và lo ngại.

 

Về việc Trung Quốc ngang nhiên tuyên bố lệnh cấm đánh bắt cá trên Biển Đông từ 12h ngày 1/5 đến 12h ngày 16/8 năm nay, nhà báo Trần Đăng Khoa vừa kể lại mẩu chuyện sau đây trên “phây”[1]: Một vị lãnh đạo truyền thông Trung Quốc nói lại: “Chúng ta là nhà báo thì phải vì đại cục, viết cái gì cũng vì tình hữu nghị đằm thắm giữa hai nước, đừng kích động nhân dân, đừng để dân hiểu lầm”. Trần Đăng Khoa trả lời: “Chúng tôi cũng chỉ mong vậy và luôn giữ đúng cam kết, thậm chí là nín nhịn. Nhưng chúng tôi phải bảo vệ chủ quyền của chúng tôi trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế. Có điều tại sao các anh lại đi kích động nhân dân. Một loạt bài của báo Hoàn Cầu nói sẽ tấn công Việt Nam, với vũ khí đặt ở Hoàng Sa, Trường Sa có thể san phẳng thành phố Hồ Chí Minh chỉ trong vòng hai tiếng đồng hồ. Nhà báo Trung Quốc: “À, đấy chỉ là báo thị trường”.

 

Tiếng gươm khua…

 

Một cách tương tự, Việt Nam và các nước ASEAN khác đều có thể chất vấn Ngoại trưởng Vương Nghị khi ông này vừa tuyên bố những lời có cánh: Tình hình Biển Đông đang dịu đi, thậm chí căng thẳng giảm và giảm một cách đáng kể (?!) Làm thế nào mà tình hình có thể dịu đi khi mà bất chấp phán quyết của Tòa trọng tài La Hay (PCA), phớt lờ sự phản đối của nhiều nước, Trung Quốc vẫn cố sống cố chết quân sự hóa những hòn đảo đã cướp được ở Biển Đông; Trung Quốc vẫn tìm mọi cách biến những hòn đảo thuộc chủ quyền của nước khác thành những kho thuốc súng của mình, thành những trận địa hạt nhân, châm ngòi cho các đụng độ có thể xẩy ra bất cứ lúc nào. Làm thế nào mà căng thẳng trên Biển Đông có thể thuyên giảm khi mà đích thân Thủ tướng Lý Khắc Cường vừa kêu gọi Quốc hội Trung Quốc cho tăng thêm quân tiếp viện, tăng thêm sự hiện diện ở các vùng biển mà Bắc Kinh từng đơn phương tuyên bố chủ quyền (một cách phi pháp).

 

Tàu sân bay USS Carl Vinson của hải quân Hoa Kỳ tham gia tuần tra Biển Đông hôm 1922017.  Ảnh AFP

 

Phát biểu trong cuộc họp báo bên lề Quốc hội hàng năm, Ngoại trưởng Vương Nghị nói: “Tại thời điểm này, nếu ai đó cố gắng khuấy động hay gây rắc rối, họ sẽ không được ủng hộ, trái lại họ sẽ phải đối mặt với sự phản đối của cả khu vực. Ngay cả Trung Quốc và Hoa Kỳ, nếu chúng ta thay đổi ý tưởng của mình, các vùng biển rộng lớn sẽ trở thành môi trường rộng lớn cho hợp tác… Chúng tôi chắc chắn sẽ không cho phép tình trạng ổn định này bị phá hoại hoặc cản trở”. Nhưng ai khuấy động Biển Đông khi chính Trung Quốc vừa tiếp tục ban hành bất hợp pháp lệnh cấm đánh bắt cá trong một phạm vi biển bao trùm lên toàn bộ khu vực quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Bắc Kinh cũng vừa nới rộng “thẩm quyền xét xử” ra cả vùng Biển Đông đang tranh chấp, theo bản báo cáo của Toà án Nhân dân Tối cao Trung Quốc. Mới đây nhất, Trung Quốc công khai tuyên bố, nước này vừa đóng xong giàn khoan lớn hơn giàn khoan HD-981 nhiều và có thể sẽ kéo xuống Biển Đông. Chưa kể những thông tin về việc xây nhà máy điện sử dụng năng lượng hạt nhân hay lắp đặt các thiết bị quan trắc dưới lòng biển xuất hiện dày đặc trong thời gian gần đây[2]

Từ này 27/2, Trung Quốc và ASEAN vừa nhóm họp để đàm phán về Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (COC). Dự kiến các bên sẽ tiến hành một hội nghị nữa tại Philippines trong tháng 6 tới. Mục tiêu là vào cuối năm nay có thể chính thức hóa một bộ luật ứng xử có tính ràng buộc về pháp lý để kiểm soát những tranh chấp tại Biển Đông. Tuy nhiên, tại cuộc họp vừa qua vẫn tiếp tục nảy sinh nhiều câu hỏi hơn là câu trả lời. Trên thực tế, các bên liên quan chưa bao giờ nhất trí được việc xác định những thực thể nào tại Biển Đông là có tranh chấp, chủ yếu là do Trung Quốc đưa ra tuyên bố chủ quyền đối với gần như toàn bộ vùng biển. Ngoài ra, ASEAN cũng gặp nhiều khó khăn trong việc đề ra một chiến lược đoàn kết để phản bác yêu sách phi pháp của Trung Quốc. Trong khi đó, Bắc Kinh đang dùng quân bài kinh tế để chia rẽ nội bộ ASEAN. Và trên hết, Trung Quốc mới chỉ bắt đầu theo đuổi tham vọng nắm quyền kiểm soát rộng hơn đối với toàn bộ Biển Đông. Theo Giáo sư Luật Hàng hải Jay Batongbacal, từ Đại học Philippines, nếu COC chỉ mới đạt được cái khung bộ quy tắc thì hoàn toàn chưa đủ. Đó chỉ là phần “mục lục của một cuốn sách”. Không phải ngẫu nhiên, chưa thấy có nước nào trong ASEAN cho đến nay, ra tuyên bố về kết quả của cuộc đàm phán nói trên.

 

Dấu hiệu tăng nồng độ

 

Cuộc đọ sức giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ cùng các nước đồng minh đang có dấu hiệu tăng thêm nồng độ. Từ đầu tháng Ba, tình hình Biển Đông trở nên căng thẳng. Tổng thống mới của Hoa Kỳ Donald Trump tuy đang gặp một số khó khăn về nội bộ nhưng cũng đã có tuyên bố khá rõ ràng về các chính sách đối nội và đối ngoại, nêu bật chủ trương cứng rắn với Trung Quốc về kinh tế, tài chính, quốc phòng. Về Biển Đông, các Bộ trưởng Quốc phòng và Ngoại giao của chính quyền Trump còn tỏ ra mạnh mẽ hơn cả Tổng thống trong việc đối đầu với Bắc Kinh. Bộ trưởng Quốc phòng James Mattis nhiều lần khẳng định giữ nguyên và củng cố liên minh quân sự với các nước châu Âu và châu Á như Nhật Bản, Ấn Độ, Philippines, Indonesia… kiên quyết bảo vệ tự do thông thương hàng hải và hàng không quốc tế trong vùng, kiên quyết chống lại việc độc chiếm và biến các đảo nhân tạo thành căn cứ quân sự. Bộ trưởng Ngoại giao Rex Tillerson từng mạnh mẽ tuyên bố không cho ai được cưỡng chiếm các đảo nhân tạo trong vùng biển quốc tế, vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc tế.

Truyền thông từ đầu tháng qua cũng đã nhất loạt đưa tin về chuyến thăm thị sát siêu hàng không mẫu hạm USS Gerald R. Ford của Tổng thống Mỹ hôm 3/3 tại Virginia[3]. Ông chủ Nhà Trắng cam kết sẽ xốc lại sức mạnh quân sự Mỹ. Trong bài diễn văn phát biểu trên tàu sân bay USS Gerald R. Ford, vị Tổng thống doanh nhân này cảnh báo đối thủ tiềm tàng của Hoa Kỳ: “Chớ có dại đối đầu với nước Mỹ, hậu quả sẽ rất nghiêm trọng!”. Tuy ông không nêu đích danh đối thủ này là nước nào, nhưng theo tờ Đa Chiều, không có gì nghi ngờ việc Trung Quốc là một trong những đối thủ tiềm tàng lớn nhất của Mỹ. Trong chuyến thị sát vừa qua, ông Donald Trump đã công bố với thế giới rằng, sức mạnh quân sự Hoa Kỳ là không nước nào sánh nổi và nó sẽ còn lớn mạnh hơn nữa, vì ông sẽ đề nghị Quốc hội tăng thêm 10% ngân sách quốc phòng để đóng mới vũ khí trang bị. Ông Trump không dấu diếm: “Hàng không mẫu hạm này và những tàu sân bay lớp Gerald R. Ford trong tương lai sẽ thể hiện sức mạnh quân sự Mỹ trên các đại dương. Chúng sẽ thực hiện các sứ mệnh quan trọng. Hy vọng chúng ta không phải sử dụng đến sức mạnh quân sự, nhưng một khi chúng ta phải dùng đến quân đội, phiền phức cho đối thủ sẽ rất lớn!”

Tổng thống Trump cùng các Bộ trưởng Quốc phòng, Ngoại giao, các tướng lĩnh Ngũ Giác Đài, Tư lệnh Hạm đội 7 đều cùng chung một luận điểm “hòa bình thông qua sức mạnh”. Chính quyền mới khẳng định mạnh mẽ: Hoa Kỳ và các nước đồng minh có quyền thực hiện tự do hàng hải và hàng không phù hợp với pháp luật quốc tế ở mọi vùng biển quốc tế, mà Biển Đông là một trong số những địa bàn quan trọng nhất do sự tấp nập dày đặc của hàng hải thế giới. Ngày 28/2/2017, tàu sân bay USS Carl Vinson vừa kết thúc một lịch trình hải hành như các cuộc diễn tập từng xẩy ra trước đây. Đô đốc James Kilby chỉ huy Cụm tàu này nói đây là một hoạt động FONOP thông thường. Tuy nhiên, các nhà quan sát quân sự đều cho rằng đây là một hành động nhằm thăm dò, nắn gân Bắc Kinh xem phản ứng của Bắc Kinh ra sao khi một Cụm tàu tác chiến hiện đại Hoa Kỳ tiến sát vào các hòn đảo nhân tạo trong quần đảo Trường Sa mà Trung Quốc đã củng cố thành căn cứ quân sự suốt mấy năm nay. Trong 12 tháng qua, Trung Quốc đã mở rộng và kéo dài thêm các đường băng, xây dựng thêm hải cảng, đặt nhiều bệ phóng tên lửa tầm ngắn và khi cần có thể thay bằng tên lửa tầm trung, cùng với nhiều căn cứ radar, doanh trại, nhà nghỉ cho khách du lịch.

*

Ngày 13/3/2017, Hãng tin Reuters trích ba nguồn tin khác nhau, cho biết Hải quân Nhật Bản cũng sẵn sàng triển khai vào mùa Xuân này một chiến hạm lớn nhất tại Biển Đông. Đây sẽ là việc thể hiện sức mạnh chưa từng có của Nhật Bản trong khu vực kể từ sau Thế Chiến II. Tàu khu trục sân bay trực thăng Izumo sẽ ra khơi vào tháng 5/2017 và sẽ ghé các nước Singapore, Indonesia, Philippines và Sri Lanka trước khi tham gia các cuộc tập trận chung vào tháng Bẩy với Hải quân Mỹ và Ấn Độ ở Ấn Độ Dương. Tàu Izumo dài 249 mét (816.93 ft), lớn bằng những chiếc hàng không mẫu hạm thời Thế chiến thứ Hai của Nhật Bản. Tàu có thể chứa đến chín chiếc trực thăng. Izumo cũng tương tự như những chiếc hàng không mẫu hạm tấn công đổ bộ của Thủy quân lục chiến Mỹ, nhưng không có khoang cho tàu và máy bay hạ cánh. Nhật Bản trong những năm gần đây, đặc biệt là dưới thời Thủ tướng Shinzo Abe, đã và đang cố gắng điều chỉnh Hiến pháp của Nhật thời bình và hậu chiến. Nước này quy định tàu Izumo là một khu trục hạm, vì hiến pháp cấm mua vũ khí tấn công. Con tàu sẽ giúp cho Nhật Bản phô diễn sức mạnh quân sự vượt ra khỏi lãnh thổ của mình. Người Nhật không nói nhiều và cũng không đòi hỏi chủ quyền ở Biển Đông, nhưng gần đây đã chủ động nhận nhiều trọng trách hơn trong viêc làm giảm tiếng “trống trận” trên các vùng biển châu Á.

Trở lại câu hỏi ở bài viết này, “Biển Đông sẽ có hòa bình ổn định hay xung đột và đối đầu?” Chắc chắn mọi người dân Việt Nam ta đều muốn Biển Đông lặng sóng. Nhưng rất có thể “cây muốn lặng gió chẳng dừng”. Vì thế, tâm thế của mọi người dân Việt Nam hôm nay vẫn luôn bồn chồn, khắc khoải khi nhìn ra Biển Đông. Mong sao, chỉ nghe tiếng gió reo, song vỗ chứ không bao giờ phải nghe thấy tiếng gươm khua, tiếng trống trận./.

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.03.2017

“Không chỉ để ăn mà còn để suy nghĩ”[1]

“Không chỉ để ăn mà còn để suy nghĩ”[1]

  •   BÙI VĂN NAM SƠN
&quot;Không chỉ để ăn mà còn để suy nghĩ”[1]

“Để ăn”, tất nhiên là thế giới động và thực vật. Nhưng, để “suy nghĩ” về nóthì có lẽ quan niệm mạnh mẽ nhất là cho rằng có mối quan hệ thân thuộc hay thần bí giữa con người với một loại động vật hay thực vật nào đó. Thực thể ấy thường được gọi là “vật tổ” (totem), được sử dụng hay tôn thờ như là danh hiệu hay biểu trưng.Từ đó, “định chế vật tổ” (totemism) trở thành đối tượng nghiên cứu hấp dẫn đối với nhiều thế hệ những nhà nhân học Tây phương, vì họ nghĩ rằng có thể tìm thấy trong đó những nét sơ khai của tín ngưỡng tôn giáo và tổ chức xã hội nơi những tộc người “nguyên thủy” với nền kinh tế truyền thống dựa chủ yếu vào săn bắn hái lượm hay bắt đầu pha trộn với canh tác và chăn nuôi gia súc. Nhiều công trình điền dã chi ly với sự phân loại phức tạp các loại hình khác nhau của định chế tôtem (tôtem tộc người vàtôtem cá nhân v.v.) nối nhau ra đời cùng với vô số những lý thuyết nhằm minh giải hiện tượng ấy. Tuy khác nhau không ít trongcách diễn giải về nguồn gốc,hình thức và tính chất, nhìn chung, các nhà nhân học (trước đây thường gọi là nhà dân tộc học) hầu như đều thừa nhận định chế này là “có thật” trong lịch sử, thậm chí như là chìa khóa để giải mã nhiều hiện tượng cổ sơ. Nhưng, sự việc, một lần nữa, cần được “suy nghĩ” lại! Người ghi dấu ấn đặc biệt ấylà Claude Lévi-Strauss, nhà nhân học nổi tiếng người Pháp, trong “Định chế tôtem hiện nay” (Le Totémismeaujourd’hui)(1962), qua bản dịch công phu và đầy thẩm quyền của dịch giả Nguyễn Tùng, nhà xã hội học và nhân học làm việc lâu năm tại Pháp (NXB Tri Thức, 2017).

Là đại diện chủ chốt của thuyết cấu trúc, Lévi-Strauss cho rằng cần phải tiếp cận “định chế tôtem” vốn khó khăn và phức tạp này từ giác độ nghiên cứu về cấu trúc tiềm ẩn của nó. Điểm mới mẻ: Lévis-Strauss phủ nhận “thực tại” của định chế tôtem, thậm chí xem nó là “ảo tưởng” vìnhững thiên kiến và ngộ nhận có khi không tự giác của giới nghiên cứu Tây phương khi đi tìm những lối giải thích phù hợp với nhãn quan …“ bá quyền văn hóa” của chính mình. Không phải ngẫu nhiên khi đối tượng nghiên cứu chủ yếu là các tộc người gọi là “nguyên thủy” ở các lục địa lạc hậu. Trong bối cảnh ấy, “Đinhchế tôtem ngàyhiện nay” không chỉ lý thú và bổ ích đối với giới chuyên môn nhân học!

“KHÔNG CÓ VỰC THẲM GIỮA “NGƯỜI NGUYÊN THỦY” VÀ “NGƯỜI VĂN MINH””

Khác với nhiều nhà nhân học đi trước, Lévi- Strauss cho rằng nếu hiểu định chế tôtem như là sự tôn thờ thú vật và cây cối, hay ít ra có quan niệm về quan hệ thân thuộc giữa con người và thế giới không phải con người, thì không khác gì lẫn lộn các ranh giới giữa tự nhiên và văn hóa; và do đó, chính kháiniệm vật tổ trở thành cơ chế thiết lập một vực thẳm giữa người “nguyên thủy” và người “văn minh”. Trái lại, theo ông, định chế này phơi bày đặc điểm cơ bản và phổ quát của tư duy biểu trưng nói chung, hiểu giới tự nhiên như là mô hình để tư duy về những mối quan hệ xã hội, vì giới tự nhiên cung cấp một hệ thống những sự phân biệt có thể dễ dàng trực quan được để “đánh dấu” những sự khác biệt về văn hóa-xã hội, mà chưa cần dùng tới tư duy khoa học, khái niệm. Những quan hệ xã hội rắc rối, trừu tượng được trình bày một cách dễ hiểu, trực quan, bằng hình ảnh, chẳng hạn bộ lạc “chim ưng” phân biệt với bộ lạc “gấu”. Chúng không hề có nghĩa là nguồn gốc xuất thân tự nhiên của bộ lạc cho bằng cung cấp cho con người một “bộ từ điển” hay một “bộ ngữ pháp” dành cho tư duy biểu trưng.Nói cách khác, sự phân biệt giữa các nhóm người và các nhóm động thực vật là cơ sở khái niệm cho những khác biệt xã hội. Định chế tôtem, theo nghĩa ấy, là “ảo tưởng”, là “lôgíc của sự phân loại”, tức của sinh hoạt văn hóa mà thôi: cấu trúc của những quan hệ xã hội được phóng chiếu vào những hiện tượng tự nhiên, chứ không phải ngược lại.

Với quan niệm như thế, Lévi-Strauss đã đề xướng hai luận điểm quan trọng. Thứ nhất, về mặt lịch sử, “định chế tôtem” cho thấy là một ngộ nhận của các nhà nghiên cứu khi gán cho người “nguyên thủy” lòng tin rằng mình là hậu thân hay xuất thân từ thú vật hay cây cối. Theo ông, ngộ nhận này là dễ hiểu, nhưng có hàm ý (dù vô tình) rằng xã hội hiện đại tự xem mình là đỉnh cao của sự phát triển văn hóa, mà các xã hội nguyên thủy đã không bắt kịp bởi không muốn hay không thể. Với luận điểm này, ông khôi phục lại vị trí của họ trong thế giới hiện đại, mặc dù không thể chối bỏ những sự khác biệt giữa thần thoại và khoa học, ma thuật và kỹ thuật, mê tín và lý tính. Thêm vào đó là não trạng dai dẳng của nhà nghiên cứu nhìn các tộc người gọi là “nguyên thủy” không chỉ là xa xôi trong không gian mà cả mịt mù về thời gian! Nguy hiểm hơn nhiều nếu nấp đàng sau não trạng ấy là động cơ muốn biến người khác trở thành cái gì xa lạ, quái gở( qua thuật ngữ khá đặc biệt trong tiếng Anh: “Othering”) để dễ thi thố chính sách kỳ thị và tự xoa dịu lương tâm, chối bỏ trách nhiệm. Một nguy cơ có thật và đang hiển hiện khắp nơi!

Thứ hai, câu hỏi gợi ra: làm sao phân biệt cấu trúc của tư duy biểu trưng và tư duy khoa học, mà không nhất thiết quy kết cái trước là lạc hậu. Chính vấn đề này đã dẫn Lévi-Strauss đến chỗ không xét đến tư duy của những người hoang dại (pensée des sauvages) nữa, mà về “tư duy hoang dại” (pensée sauvage) nói chung (cũng là tên quyển sách của ông, cùng năm 1962). Ta nhớ đến câu nổi tiếng của ông trong Cấu trúc của thần thoại: “Lô gíc của tư duy thần thoại, về cơ bản, tỏ ra không khác gì với tư duy thực chứng cả. Vì sự khác biệt không phải ở trong phẩm chất của những thao tác trí tuệ cho bằng trong bản tính của những sự vật mà những thao tác ấy nhắm vào”. Và trong “Định chế tôtem hiệnnay”, ông nhấn mạnh: “… giữa lôgic của tư duy tôn giáo và lôgic của tư duy khoa học, không có một hố thẳm” (tr 262).

Cuộc thảo luận về “định chế tôtem” vẫn còn tiếp tục, và lý giải nặng về khía cạnh văn hóa-xã hội của Lévi-Strauss – cũng như nhiều vấn đề thuộc khoa học xã hội và nhân văn khác – tất nhiên không phải là giải đáp sau cùng. Nhưng cách đặt vấn đề của ông vẫn còn mang tính thời sự, và đúng như dịch giả Nguyễn Tùng, trong Lời giới thiệu đã viết: “Dù thuyết cấu trúc từ lâu đã thoái trào, cho đến nay giới trí thức Pháp nói chung vẫn đều khâm phục sự nghiệp khoa học đồ sộ và nghiêm túc của ông”. Lời giới thiệu công phu của dịch giả kèm thư mục dày dặn (riêng của tác giả đã đến hơn 50 quyển sách và hàng trăm bài viết!) luôn mời gọi giới nghiên cứu và người đọc Việt Nam.

Thêm nhiều tin vui: tủ sách Tinh Hoa của NXB Tri Thức, trong tháng đầu năm 2017, còn cho ra mắt hai dịch phẩm kinh điển quý giá: “Bộ công cụ mới” (Novum Organum) của Francis Bacon do Đỗ Minh Hợp và Nguyễn Trọng Chuẩn dịch, và “Ngẫu nhiên và Tất yếu” của Jacques Monod do hai dịch giả Hà Dương Tuấn và Đặng Xuân Thảo thực hiện.

Bài đã đăng trên Người Đô Thị, Bộ mới, 23.02.2017. Bản tác giả gửi VHNA.


[1]Claude Lévi-Strauss: Định chế tôtem hiện nay, tr 247

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.03.2017

Thử thách mới cho YouTube và Facebook?

Thử thách mới cho YouTube và Facebook?

BBC

Nhiều hãng ở Việt Nam tạm ngừng quảng cáo trên YouTubeBản quyền hình ảnhLIONEL BONAVENTURE/GETTY IMAGES

Các mạng xã hội như YouTube và Facebook dường như đang gặp thử thách mới khi chính phủ một số nước đưa ra yêu cầu phải kiểm soát nội dung do người sử dụng đưa lên.

Văn phòng Nội các muốn Google Inc., công ty mẹ của YouTube, đảm bảo rằng các thông điệp mà chính phủ muốn đưa ra, sẽ phải được hiển thị “một cách an toàn và phù hợp”.

Trong khi đó, chính phủ Pakistan nói họ yêu cầu Facebook giúp điều tra những “nội dung có tính phỉ báng” do người Pakistan đưa lên mạng xã hội này. Hồi đầu tuần này Thủ tướng Pakistan Nawaz Sharif lên tiếng ủng hộ việc trấn áp trên diện rộng những nội dung mang tính phỉ báng trên mạng xã hội.

Chính phủ Anh gỡ bỏ quảng cáo trên YouTube

Chính phủ VN gây áp lực lên YouTube

Facebook nói gì về vụ VN ‘chặn thông tin xấu’?

Ở Việt Nam, từ tháng Hai, chính phủ thực hiện chiến lược mới để gây sức ép với các doanh nghiệp hoạt động trong nước, đồng thời với YouTube và Facebook để đòi gỡ bỏ những clip có nội dung ‘độc hại’ chống nhà nước. Kết quả là nhiều thương hiệu lớn trong nước và quốc tế ở Việt Nam đã cam kết tạm ngừng quảng cáo trên YouTube.

Gây áp lực thông qua hoạt động quảng cáo

Chuyện các chính phủ phàn nàn với Google và Facebook về những nội dung được phát hành trên mạng không phải là điều mới.

Tuy nhiên, các chuyên gia trong ngành cho rằng hiếm khi có một nhà nước gây sức ép với họ qua những doanh nghiệp đặt quảng cáo như trường hợp ở Việt Nam.

Liên minh Internet Á Châu (Asia Internet Coalition), là tổ chức mà cả YouTube và Facebook đều là thành viên, nói Việt Nam và các doanh nghiệp đã hưởng lợi rất nhiều nhờ tiếp cận Internet.

“Điều tối quan trọng cho Chính phủ Việt Nam là bảo vệ tính chất mở của mạng internet, và xây dựng những điều khoản phù hợp để khuyến khích đầu tư và ủng hộ cải tiến,” hãng Reuters dẫn lời ông Jeff Paine, giám đốc điều hành của tổ chức này.

Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông Trương Minh Tuấn chiều 16/3 yêu cầu các doanh nghiệp, thương hiệu lớn ngừng quảng cáo trên YouTube, Facebook và các mạng xã hội khác cho đến khi các hãng này tìm được giải pháp để chặn được những clip có nội dung “độc hại” chống nhà nước.

Facebook và Google chiếm hơn 70% thị phần quảng cáo trên mạng ở Việt NamBản quyền hình ảnhDAN KITWOOD/GETTY IMAGES
Facebook và Google chiếm hơn 70% thị phần quảng cáo trên mạng ở Việt Nam

Đại diện các doanh nghiệp có quảng cáo trên Youtube như Vinamilk, Vietnam Airlines, Unilever, Honda, Ford… đã cam kết sẽ tạm ngừng quảng cáo trên YouTube và Facebook cho đến khi các mạng này tìm được giải pháp để xử lý tình trạng này, hãng tin Reuters cho hay.

Các quảng cáo trên YouTube được một hệ thống máy tính chọn qua thuật toán để hướng vào nhóm khán giả thích hợp. Các công ty đăng quảng cáo thường không biết hoặc không có kiểm soát trực tiếp về những video clip mà các quảng cáo xuất hiện kèm.

Theo con số của Bộ Thông tin và Truyền thông, cho đến ngày 15/3, có hơn 8.000 clip có nội dung ‘phản động’ với 500 triệu lượt xem trên YouTube, nhưng Google mới chỉ chặn, không cho 42 clip xuất hiện ở thị trường Việt Nam thay vì gỡ bỏ hoàn toàn. Những clip này vẫn có thể tiếp cận được từ nước ngoài.

“Hôm nay chúng tôi kêu gọi tất cả các doanh nghiệp không tiếp tay cho họ nhận phí quảng cáo của các hãng để chống lại chính phủ Việt Nam,” Bộ trưởng Tuấn được truyền thông dẫn lời nói tại cuộc họp.

“Chúng tôi cũng kêu gọi tất cả người sử dụng Internet lên tiếng với Google và Facebook để ngăn chặn những nội dung độc hại, bôi nhọ vi phạm pháp luật Việt Nam trên môi trường trực tuyến.”

Thư phản hồi chính thức Google gửi các cơ quan truyền thông có đoạn viết: “Chúng tôi có những chính sách rõ ràng đối với yêu cầu gỡ bỏ video của các chính phủ trên toàn thế giới. Chúng tôi dựa vào các chính phủ để thông báo cho chúng tôi những nội dung mà họ cho là bất hợp pháp bằng thủ tục chính thức. Nếu thấy hợp lý, chúng tôi sẽ hạn chế những nội dung này sau khi xem xét kỹ lưỡng.”

Facebook hiện chưa có phản hồi.

Chính quyền Trump tuyên bố chấm dứt chiến lược xoay trục sang châu Á

Quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ tuyên bố chính sách tái cân bằng ở châu Á, còn được gọi là xoay trục sang châu Á của chính quyền Obama “chính thức chấm dứt”. 

“Xoay trục, tái cân bằng, đó là từ ngữ được dùng mô tả chính sách với châu Á của chính quyền trước. Tôi nghĩ các bạn có thể kỳ vọng chính quyền hiện tại sẽ có chiến lược riêng. Chúng tôi chưa đi vào chi tiết chiến lược mới”, DefenseNews hôm 14/3 dẫn lời quyền trợ lý ngoại trưởng Mỹ Susan Thornton.

Được hỏi về tương lai của sự tái cân bằng ở châu Á, bà Thornton cho biết chính quyền Tổng thống Donald Trump có kế hoạch riêng cho khu vực, ngay cả khi kế hoạch này chưa hình thành.

Tuyên bố của bà Thornton được đưa ra trước khi Ngoại trưởng Rex Tillerson có chuyến công du đầu tiên tới châu Á Thái Bình Dương, nhấn mạnh việc chính quyền Trump vẫn duy trì các cam kết của Mỹ với khu vực.

“Chúng tôi sẽ tiếp tục tham gia tích cực ở châu Á. Nền kinh tế châu Á rất quan trọng với sự thịnh vượng và phát triển của Mỹ, chúng tôi sẽ tiếp tục với các vấn đề như thương mại công bằng, thương mại tự do và các thách thức an ninh như Triều Tiên. Mỹ cũng sẽ tiếp tục thúc đẩy hòa bình và ổn định ở châu Á”, Thornton nói.

Euan Graham, giám đốc Chương trình An ninh Quốc tế tại Học viện Chính sách Quốc tế Lowy, Australia, cho biết còn quá sớm để đánh giá mối quan hệ giữa chính quyền Trump với các nước châu Á.

Ông Graham cảnh báo có thể có sự không chắc chắn xuất hiện trong “khoảng trống chính sách” vì đội ngũ nhân viên của Trump còn thiếu kinh nghiệm.

Chiến lược xoay trục sang châu Á của Mỹ được cựu tổng thống Barack Obama khởi xướng nhằm thắt chặt quan hệ với các nước trong khu vực châu Á Thái Bình Dương.

Văn Việt

Phản ứng của Công ty Văn hóa Phương Nam sau bài viết về nhạc sĩ Phạm Duy

LTS: Bài báo Không thể tung hô của tác giả Nguyễn Lưu đăng trên Báo Đầu tư ngày 13.3 đang gây nhiều phản ứng trong dư luận. Nhằm giúp bạn đọc có thông tin để tự bình luận, chúng tôi xin đăng lại toàn văn bài báo của tác giả Nguyễn Lưu và văn bản của Công ty Văn hóa Phương Nam gửi tới các cơ quan có liên quan của Trung ương và TP.HCM bày tỏ ý kiến của mình xung quanh bài báo này.

Bài trên Báo Đầu tư

Không thể tung hô

Có thể nói, một trong những niềm tự hào, tự tôn của dân tộc Việt Nam là triết lý “đánh kẻ chạy đi, không đánh người chạy lại”. Tuy nhiên, “không đánh kẻ chạy lại” cần được hiểu thêm rằng, kẻ chạy lại là ai, và “không đánh” có nhất thiết đồng nghĩa với việc xem người ấy là thần tượng, là nhân vật tiêu biểu để đón rước trọng thể…?  Tôi muốn nói đến trường hợp của nhạc sĩ Phạm Duy, người mới được xưng tụng sau đêm nhạc “Ngày trở về” (diễn ra tại Nhà hát Hòa Bình, TP.HCM). Một người bạn, nhà văn Chu Lai đã tỏ ra tâm đắc với ý tưởng này và cho biết, Tạp chí Thế giới mới số mới nhất có đăng một bài viết, với nội dung gói gọn: “Một người từng bỏ kháng chiến theo thực dân Pháp, khi Pháp rút lại theo Ngô Đình Diệm và khi ngụy quyền sụp đổ lại chạy qua Mỹ. Và tại đó, đã viết hàng loạt bài kêu gọi chống Cộng, với giọng điệu “sặc mùi” hiếu chiến. Nay, thấy Việt Nam vươn lên mạnh mẽ, lại xin trở về! Hà cớ gì phải tung hô, xưng tụng đến như thế!”.

Đất nước đang đổi mới, chúng ta chấp nhận việc khép lại quá khứ để xây dựng tương lai, nhưng điều ấy không đồng nghĩa với việc bỏ quên tất cả, từ những hy sinh gian khổ đến những bài học máu xương… Chúng ta cũng không quên tổ tiên ta luôn tỏ rõ nghĩa khí, quyết không sợ xâm lăng và cũng không trù dập kẻ thất trận. Tù binh giặc còn được cấp lương, thuyền để chúng “ra đến bể chưa thôi trống ngực” hay “về đến nhà còn đổ mồ hôi” (Cáo bình Ngô). Nhưng cái khái niệm ân nghĩa bốn bể ấy cũng có những nguyên tắc và với trường hợp của Phạm Duy, chúng ta lại càng cần phải hiểu cho rõ ngọn nguồn.

Nửa thế kỷ trước, khi còn là một “chú nhóc” tại trường Thiếu sinh quân chuẩn bị qua Trung Quốc học tập, ở Việt Bắc, tôi đã cùng bè bạn trong đơn vị hát những ca khúc rất hay của Phạm Duy, khi ấy đang là một trong những cán bộ văn hóa của chính quyền cách mạng. Tôi đã thuộc lòng câu hát “Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời…” và sau này, lớn lên một chút mới hiểu ra rằng, cái tứ ấy, có gì giống với luận điểm của Nguyễn Văn Vĩnh (truyện Kiều còn thì tiếng ta còn, mà tiếng ta còn thì nước ta còn – cách nói ấy là để biện minh cho việc ôm chân giặc xâm lược của Nguyễn Văn Vĩnh và bè lũ bán nước). Phạm Duy có những tác phẩm làm say đắm lòng người, như Thiên Thai, Trương Chi, Nhạc tuổi xanh, Quê nhà em… Rồi sau đó là các bài như Thuyền viễn xứ, Bà mẹ Gio Linh, Cây đàn bỏ quên, Nghìn trùng xa cách… Khai thác chất liệu dân ca đồng bằng Bắc Bộ, khó có ai qua mặt Phạm Duy. Bài Ru con, Phạm Duy viết ở Việt Bắc có câu “Mấy đời bánh đúc có xương, mấy đời giặc Pháp có thương dân mình”, chuyển từ điệu “thứ” qua “trưởng” thật đắt, còn nhịp ba trong Quê nhà em lại rất hay, dí dỏm và tố cáo giặc đốt nhà, phá đường…

Nhưng, ngay trong thời kỳ ấy, chất lãng mạn tiểu tư sản, sợ khổ, sợ chết đã bộc lộ qua sáng tác của Phạm Duy. Khi ấy, dù còn bé, song tôi đã biết bài Bà mẹ Gio Linh bị cấm, bởi có những câu mà khi hát lên, liệu còn ai, còn bà mẹ nào dám để con đi bộ đội. Và chất đa tình cố hữu, ta thường thấy ở giới nghệ sĩ, ở Phạm Duy được xem là nhược điểm. Và cái phải đến đã đến, Phạm Duy “dinh tê”, bỏ kháng chiến vào thành, lập ra ban nhạc “Đêm màu hồng” với Thái Thanh, Thái Hằng, có cả Phạm Đình Chương, Duy Quang… Và từ đó trở thành tên tuổi hàng đầu trong đám văn nghệ sĩ chống Cộng.

“Đỉnh cao” sự nghiệp chống Cộng của Phạm Duy là bài Mùa thu chết. Ở đó, tác giả đã công khai tư tưởng chống Cộng của mình. Ông ta đã từ bỏ tình yêu với Tổ quốc bằng một bút pháp thật sâu cay, đểu giả và ít ai quên cái mùa thu trong ca khúc ấy chính là Cách mạng mùa thu, là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Khi đất nước bị chia cắt, Phạm Duy đã vào Nam theo chính quyền Ngô Đình Diệm, lần lượt đi sâu vào con đường chống Cộng và lên đến chức Bộ trưởng Văn hóa. Nhưng, sự nghiệp âm nhạc của ông ta vẫn càng lún vào “vũng bùn” phản quốc. Bài Ru con đã thay câu cuối cùng bằng “Mấy đời Cộng sản biết thương dân mình”. Nhạc tuổi xanh đã bị biến chất để đi ngược lại điều đã ấp ủ của cả một thế hệ văn nghệ sĩ Việt Nam đang lên đường đổi cả sinh mạng lấy tự do, độc lập. Và để khẳng định mình, Phạm Duy liên tiếp cho ra đời những tác phẩm vừa chống Cộng, vừa bệnh hoạn.

Ngày miền Nam mới giải phóng, tôi có gặp TS Nguyễn Văn Trung, nguyên giảng viên Đại học Sài Gòn. Trước khi di tản đi Mỹ, ông Trung bất đắc chí đã kể cho tôi nghe nhiều chuyện, trong đó có lời miệt thị một nhạc sĩ có tài là Phạm Duy mà lại đi viết cả những bài hát để ủng hộ sự loạn luân!? Chính TS Trung đã qua Mỹ dạy học, còn nhạc sĩ Phạm Duy di tản sang Mỹ để trốn chạy trước sự trở về của những người đã từng chung một chiến hào với ông ta. Tại Mỹ, Phạm Duy làm nhiều người (trong đó có tôi) sôi sục căm thù, khi viết bài kêu gọi các nam thanh, nữ tú đất Việt hãy xông lên, lấp sông Bến Hải, giải phóng Việt Nam khỏi tay Cộng sản… Và bây giờ, khi đã sắp đến lúc nhắm mắt xuôi tay, ông ta muốn trở về trong sự đón tiếp nồng hậu của những người từng bị ông chà đạp về tinh thần!

Tôi đọc Nam Cao và tâm đắc với nhận xét: “Những thằng chuyên ác chỉ có thể hết làm việc ác nếu chúng không còn đủ sức để làm ác”. Bây giờ, với Phạm Duy cũng là như vậy. Một Việt Nam đang vươn lên, môi trường này đang sống động và có vị thế mới đã có thể làm mềm lòng mọi kẻ vốn kỳ thị với dân tộc này, tất nhiên đủ sức làm “kẻ chạy đi” mong được trở về, song, như đã nói trên, không thể có sự trở về như một người hùng. Chia sẻ điều này, nhạc sĩ Tân Huyền cho hay, đó là điều kỳ lạ, hiếm thấy, tuy ông bảo: “Bây giờ, tư nhân cũng có thể làm ra một trang web để tôn vinh mình, nói gì…”. Và tôi hiểu, tác giả Cỏ non thành cổ làm sao chấp nhận sự trở về trong thứ vinh hoa kiểu ấy, nó làm cho sự hy sinh của những đồng đội, những nấm mồ liệt sĩ kia có thêm những nỗi đau thế thái.

Có một lần, nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn trả lời báo chí, ông khẳng định, không bao giờ đánh giá một nhạc sĩ dám dâng hiến tuổi trẻ trong đội ngũ những người chiến sĩ, ngang bằng một tác giả không dám lâm trận và chỉ ngồi trong lòng địch để than thân trách phận, hay ngợi ca một hạ trắng, thu vàng, chứ đừng nói đến một tác giả đã nhảy vào lòng địch để chống Cộng, rồi sau này, khi hết “đát” lại nói lời xí xóa. Tôi cam đoan không một nhạc sĩ cách mạng Việt Nam nào không vui mừng trước nghĩa cử đầy nhân ái của đất nước, song tất cả họ đều chung một suy nghĩ, rằng người trở về đâu phải ai cũng như ai. Lời nói ấy của người nhạc sĩ – chiến sĩ, đã giúp tôi có thêm nghị lực, để nghĩ, để nói và để thể hiện chính kiến, để không bị hòa tan trong những đợt sóng vàng vọt đâu đây.

Ai muốn coi Phạm Duy là thần tượng, tùy ý, còn tôi, trước sau xin nói không!

Nhạc sĩ Nguyễn Lưu

Văn bản của Công ty Phương Nam

TP Hồ Chí Minh, ngày 16.3.2006

             Kính gửi: – Ban Tư tưởng – Văn hóa TW

                            – Bộ Văn hóa – Thông tin

                            – UBTW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

                            – Bộ Kế hoạch và Đầu tư

                            – Cục Bảo vệ an ninh văn hóa tư tưởng

                            – Ban biên tập Báo Đầu tư

Đồng kính gửi: – UBMTTQ TP Hồ Chí Minh

                            – Ban Tư tưởng – Văn hóa Thành ủy TP.HCM

                            – Sở Văn hóa – Thông tin TP.HCM

                            – Phòng Bảo vệ an ninh văn hóa tư tưởng Công an TP.HCM

                            – Các cơ quan thông tin đại chúng

Trên số báo Đầu tư số ra ngày thứ hai 13.3.2006 có đăng bài Không thể tung hô của nhạc sĩ Nguyễn Lưu viết về “trường hợp của nhạc sĩ Phạm Duy, người mới được xưng tụng sau đêm nhạc Ngày trở về” diễn ra tại Nhà hát Hòa Bình, TP Hồ Chí Minh. Mặc dù trong bài viết của mình, tác giả không đề cập gì đến Công ty Văn hóa Phương Nam là đơn vị tổ chức biểu diễn, nhưng với tư cách là người mua bản quyền khai thác các tác phẩm hợp pháp của nhạc sĩ Phạm Duy, với trách nhiệm của đơn vị tổ chức đêm nhạc Ngày trở về, chúng tôi xin bày tỏ một số ý kiến:

1. Đường lối đổi mới của Đảng trong hai thập niên qua đã mang lại những thành tựu to lớn đầy sức thuyết phục. Chủ trương đại đoàn kết dân tộc theo tinh thần Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị đang thổi một luồng sinh khí mới, động viên tinh thần yêu nước của tất cả mọi người Việt Nam không phân biệt tôn giáo, chính kiến ở trong cũng như ngoài nước để cùng hướng tới mục tiêu “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Những luận điệu chống cộng cực đoan ở hải ngoại ngày càng trở nên lạc lõng. Nhiều người bỏ nước ra đi nay lần lượt trở về góp phần xây dựng đất nước dưới hình thức này hoặc hình thức khác. Ông Nguyễn Cao Kỳ, Phó tổng thống chính quyền Sài Gòn cũ đã trở về. Đó là những minh chứng hùng hồn cho tính đúng đắn của chủ trương đại đoàn kết dân tộc.

Đối với những kẻ thù xâm lược, chúng ta cũng đang xếp lại quá khứ để cùng hướng tới tương lai, nhưng đọc bài báo của nhạc sĩ Nguyễn Lưu, nhiều người hẳn sẽ băn khoăn tự hỏi tại sao việc “xếp lại quá khứ” đối với một bộ phận người Việt lại khó khăn đến thế ? Khép lại quá khứ hoàn toàn không đồng nghĩa với việc “bỏ quên tất cả” như ông Nguyễn Lưu nói. Và cũng không thể xếp lại quá khứ theo kiểu lôi hết “ngọn nguồn” của một người để phơi bày trên mặt báo như ông Nguyễn Lưu đã làm ! Dù nhắm tới một đối tượng cụ thể là nhạc sĩ Phạm Duy, nhưng khi ông Nguyễn Lưu (dẫn lời nhà văn Chu Lai) nói rằng “Nay, thấy Việt Nam vươn lên mạnh mẽ, lại xin trở về” chắc chắn sẽ làm những người đã hoặc đang có ý định trở về chạnh lòng và cảm thấy bị xúc phạm. Đó là lối nói kiêu ngạo vô trách nhiệm, gây mất lòng tin vào đường lối, chủ trương của Đảng.

2.Việc Công ty Văn hóa Phương Nam tổ chức đêm nhạc Ngày trở về là một hoạt động bình thường của một đơn vị kinh doanh trên lĩnh vực văn hóa, không nhân danh một sự kiện gì, không nhằm tôn vinh thần tượng và cũng chẳng tổ chức “đón rước trọng thể”. Ai có nhu cầu thì mua vé vào xem. Thế thôi. Mọi hoạt động kinh doanh của Công ty Văn hóa Phương Nam liên quan đến nhạc sĩ Phạm Duy đều tuân thủ đúng pháp luật.

Chúng tôi không chỉ tổ chức đêm nhạc Ngày trở về mà trước đó đã từng tổ chức những chương trình biểu diễn nghệ thuật khác. Cũng như vậy, chúng tôi không chỉ liên kết xuất bản và phát hành những tác phẩm của Phạm Duy được Bộ Văn hóa – Thông tin cho phép mà chúng tôi còn từng liên kết với các nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Công an Nhân dân và một số nhà xuất bản khác để tổ chức những tủ sách với hàng trăm tác phẩm viết về cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, trong đó có cả những tác phẩm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Văn Tiến Dũng và các tướng lĩnh khác như Nguyễn Quyết, Trần Văn Trà; của các nhà văn hóa lớn như Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Văn Huyên, Ngô Tất Tố, Huy Cận, Hà Văn Tấn, Trần Văn Khê; gần trọn bộ tác phẩm của các nhà văn thuộc nền văn học cách mạng như Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Nguyễn Quang Sáng… và cả một số tác phẩm của nhà văn Chu Lai.

Bài viết của nhạc sĩ Nguyễn Lưu không mang tính phê bình học thuật, lại đăng tải trên một tờ báo chuyên về đầu tư, vì vậy, từ góc độ kinh doanh, chúng tôi có quyền nghi ngờ đây là một sự cạnh tranh không lành mạnh.

3.Một điều đáng tiếc nữa là trong lúc dẫn dắt người đọc “hiểu cho rõ ngọn nguồn” trường hợp Phạm Duy, nhạc sĩ Nguyễn Lưu lại đưa người đọc lạc vào những lỗ hổng kiến thức của chính mình. Lỗi tác giả một phần, một phần do lỗi của tòa soạn trong khâu biên tập. Chúng tôi xin nêu một vài thí dụ: Nhạc sĩ Nguyễn Lưu viết: “… Ở Việt Bắc, tôi đã cùng bè bạn trong đơn vị hát những ca khúc rất hay của Phạm Duy… Tôi đã thuộc lòng câu hát “Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời…” và sau này, lớn lên một chút mới hiểu ra rằng, cái tứ ấy, có gì giống với luận điểm của Nguyễn Văn Vĩnh (Truyện Kiều còn thì tiếng ta còn, mà tiếng ta còn thì nước ta còn – cách nói ấy là để biện minh cho việc ôm chân giặc xâm lược của Nguyễn Văn Vĩnh và bè lũ bán nước)”.

Thứ nhất, câu nói nổi tiếng (và cũng bị nhiều tai tiếng): “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn” không phải của Nguyễn Văn Vĩnh mà là của Phạm Quỳnh (thân sinh của nhạc sĩ Phạm Tuyên, tác giả ca khúc nổi tiếng Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng). Bài viết của Phạm Quỳnh được đăng trên tạp chí Nam Phong, về sau được in lại trong Thượng Chi văn tập. Tuy tiếng Việt của Phạm Quỳnh là tiếng Việt của đầu thế kỷ 20 nhưng không có lối hành văn “thì mà là” như tiếng Việt của nhạc sĩ Nguyễn Lưu ở đầu thế kỷ 21!

Thứ hai, nếu chỉ nói quá đơn giản như Nguyễn Lưu thì nhiều học sinh ngày nay sẽ không thể nào hiểu được vì sao Truyện Kiều được tôn vinh như là một kiệt tác của văn học Việt Nam, nhưng khen Truyện Kiều thì lại mắc cái tội “biện minh cho việc ôm chân giặc xâm lược”? Ai cũng biết rằng, sinh thời Nguyễn Du là người theo phò nhà Lê thời Lê Chiêu Thống, chống lại Tây Sơn, đã từng bị quân Tây Sơn bắt giam 3 tháng ở Nghệ An, sau theo phò Gia Long, ra làm quan với triều Nguyễn, nhưng điều đó lại không liên quan gì đến việc đề cao Truyện Kiều “là để biện minh cho việc ôm chân giặc xâm lược”. Cũng như vậy, làm sao con cháu chúng ta có thể hiểu được “Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời…” mà lại bị ghép vào tội… phản quốc ?

Ở một đoạn khác, nhạc sĩ Nguyễn Lưu viết: “Đỉnh cao sự nghiệp chống Cộng của Phạm Duy là bài “Mùa thu chết” (…) Ông đã từ bỏ tình yêu với Tổ quốc bằng một bút pháp thật sâu cay, đểu giả và ít ai quên cái mùa thu trong ca khúc ấy chính là Cách mạng mùa thu, là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam”.

Độc giả, đặc biệt là những người từng ở miền Nam trước năm 1975 ai cũng biết rằng bài Mùa thu chết rất nổi tiếng của nhạc sĩ Phạm Duy là phổ thơ Apollinaire, một nhà thơ Pháp sinh năm 1880 và chết năm 1918. Bài thơ của Apollinaire vỏn vẹn chỉ có 5 câu, mang tựa đề L’Adieu (Giã biệt), chúng tôi xin ghi lại nguyên văn:

J’ai cueilli ce brin de bruyère
L’automne est morte souviens-t’en
Nous ne nous verrons plus sur terre
Odeur du temps brin de bruyère
Et souviens-toi que je t’attends

Tạm dịch:

Ta ngắt một cành thạch thảo
Em hãy nhớ cho mùa thu đã chết rồi
Chúng ta không còn được nhìn nhau nữa trên đời
Mùi thời gian đẫm hương thạch thảo
Em hãy nhớ rằng ta vẫn chờ em

Nội dung bài thơ chỉ có thế, khi phổ nhạc vẫn giữ gần như nguyên vẹn, chẳng liên quan gì đến cuộc Cách mạng tháng Tám của dân tộc chúng ta xảy ra sau khi tác giả của nó đã qua đời 27 năm! Nếu lập luận theo kiểu Nguyễn Lưu thì mọi người sẽ nghĩ sao về trường hợp Văn Cao với bài Buồn tàn thu và Phạm Trọng Cầu với bài Mùa thu không trở lại ?

Trước đây, ngay ở miền Nam, bên cạnh những người ca ngợi Phạm Duy cũng có không ít người không đồng tình với một số việc làm của Phạm Duy, thậm chí có người đã viết cả một cuốn sách để phê phán Phạm Duy. u đó cũng là chuyện bình thường. Ngay cả Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng có lắm người khen, kẻ chê “Bạc phận chẳng lầm người tiết nghĩa/Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm” hay “Đàn ông chớ kể Phan Trần/Đàn bà chớ đọc Thúy Vân Thúy Kiều” đó sao ? Nhưng suy diễn đến mức như ông Nguyễn Lưu thì chưa hề có !

Là những người hoạt động kinh doanh trong một lĩnh vực gắn liền với văn hóa, nhiều khi chúng tôi không khỏi âu lo khi thấy trong sinh hoạt học thuật của nước nhà, một số người vẫn quen dùng vũ khí suy diễn, xuyên tạc, chụp mũ chính trị để đẩy đối phương vào chỗ chết thay vì cùng tranh luận minh bạch để tiếp cận chân lý. Văn hóa muốn phát triển cần có một nền học thuật. Cái cách phê bình “cả vú lấp miệng em” như vậy đang gây ô nhiễm nặng môi trường học thuật của chúng ta. Quá trình hội nhập của đất nước đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, vì vậy cần thiết phải loại ra khỏi đời sống học thuật những cách ứng xử thiếu văn minh như thế.

Ngoài ra, trong bài viết của nhạc sĩ Nguyễn Lưu còn một số chi tiết khác không chính xác, chẳng hạn: trong sáng tác của nhạc sĩ Phạm Duy không hề có bài Quê nhà em, Phạm Duy chưa bao giờ được làm Bộ trưởng Bộ Văn hóa của chính quyền Sài Gòn, ở Sài Gòn trước năm 1975 không hề có cái gọi là “ban nhạc Đêm màu hồng”, GS Nguyễn Văn Trung cũng chẳng phải di tản đi Mỹ mà đi Canada theo diện đoàn tụ gia đình sau 1975, và GS Nguyễn Văn Trung cũng không hề dạy học ở Mỹ.

Cuối cùng, chúng tôi nghĩ rằng báo Đầu tư là tờ báo chủ yếu dành cho các doanh nhân, trong đó có những doanh nhân là người Việt ở nước ngoài, một trong những đối tượng mà chúng ta đang mời gọi. Việc đăng một bài báo có nội dung mạt sát một Việt kiều muốn về quê hương và đã được phép trở về như nhạc sĩ Phạm Duy có thể sẽ làm một số người khác giật mình phân vân trước sự chọn lựa nên hay không nên trở về để khỏi phải chuốc lấy những phiền toái như trường hợp của nhạc sĩ Phạm Duy.

Trân trọng.

Tổng giám đốc Công ty Văn hóa Phương Nam
Phan Thị Lệ

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.03.2017

40 NĂM EM – TẬP THƠ TẶNG VỢ (tiếp)

40 NĂM EM – TẬP THƠ TẶNG VỢ (tiếp)

Ngô Minh

NGƯỜI BÁN MẶT NẠ

 

người bán mặt nạ quanh quẩn phố

cùng trẻ con và lá rơi vàng

những mặt khỉ mặt heo mặt chó

nhăn nhở cười đỏ xanh

 

người bán mặt nạ gầy nhom áo vá

người mua mặt nạ mặt khó đăm đăm

những mặt khỉ mặt heo mặt chó

vênh vang nhìn

 

a ha… nhịn rau nhịn mắm

Trung thu con mẹ Rằm đêm vui

cho bõ tháng ngày bao gương mặt

nhàu nát như chưa biết nụ cười

 

 

người bán mặt nạ chiều trở về

dắt bóng mình men hoàng hôn lợt

mặt nạ bán hết còn lại mình

AI HỎI HAN CHI THẰNG MẶT THẬT !

 

1979

 

 

 

 

 

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.03.2017

Ai là vua?

Ai là vua?

FB Lưu Trọng Văn

Trước đêm tạm xa Sài Gòn, gã lò dò vào rạp xem phim Kong. Mùi bắp bung cứ làm khó cho cái mũi của gã vốn ưa mùi cỏ dại, mùi hoa dại. Biết làm sao được khi tụi trẻ vào rạp phim bây giờ đã bị ghiền vừa ngó màn ảnh vừa rào rạo nhai bắp bung.

Hình như cả rạp chỉ có mình gã là khọm. Bọn trẻ làm chủ ở cuộc chơi này, và mùi bắp bung cũng là mùi vua của không gian này. Đành chấp nhận thôi.

Kong.

Gã bị cuốn hút vào Kong lần đầu tiên xuất hiện bên những núi núi non non, trên biển cả, rừng rú quê hương Việt của gã. Nói thật đó chính là lý do mà gã đến rạp.

Gã thú nhận rằng gã quá bị lụy chuyện cảnh đẹp quê nhà. Nhưng, xem xong gã tự hỏi điều gì cuốn hút hàng triệu người xem trên thế giới đem tới doanh thu tuần đầu tiên hơn 140 triệu đô cho Kong?

Điều gì đã đưa Kong trở thành bộ phim bom tấn đứng hạng nhất về lượt người xem trong tuần đầu tiên ra mắt ấy?

Và điều gì đã làm cho các rạp chiếu ở VN nghìn nghịt người đi xem phim, xếp hàng dài chờ mua vé?

Gã đọng lại ba hình ảnh.

-Bức tượng tổng thống Nich xơn của Hoa Kỳ –
người ra lệnh thả bom B-52 hủy diệt quê hương gã trước cảnh tàn phá muôn loài, tàn phá thiên nhiên nhân danh những giá trị của riêng mình bị biến thành hình nộm xoay như chong chóng.

– Cô gái phản chiến, phản cái ác do Brie Larson đóng nằm gọn lỏn, nhỏ bé và thánh thiện trong bàn tay lông lá khổng lồ của Kong.

– Kông tức quá đấm ngực thùm thụp rồi ngoác mồm gầm thét lên vì con người hủy diệt thế giới thiên nhiên thánh thiện của mình, một thế giới mà Kong yêu và chiến đấu quyết liệt trước bọn ma quỷ để bảo vệ nó.

Nước mắt. Nỗi đau. Sự xấu hổ.

Kong của Jordan Vogt – Roberts gầm thét lên thay cho chính Jordan.

Có thể với ai đó Kong cuốn hút bởi hình ảnh phim sống động, đẹp một cách gai người cùng những kỹ xảo tuyệt vời của Hollywood.

Với gã Kong chinh phục gã ở sự căm giận những kẻ ngu xuẩn, tham lam, độc ác không biết mình là ai giữa Trời đất, vũ trụ hay mỗi xứ sở bản địa này mà láo lếu tự cho mình là vua của muôn loài là chủ của thế giới là chúa của một quốc gia để áp đặt tất cả theo ý thích và quyền lợi bẩn thỉu của mình.

Chủ đề tư tưởng của phim được Jordan đẩy đến cao trào giữa giữ dội lửa ngút trời, giữa tiếng kêu thảm thiết của thế giới thiên nhiên, trong ánh mắt căm thù của viên trung tá chỉ huy chiến dịch tiêu diệt Kong, chinh phục thế giới do Samuel Jackson đóng tuyên chiến: Ta sẽ cho Kong biết ai là vua?

Ai là vua?

Con người sẽ còn gây khổ đau cho nhau, khi kẻ này tự cho mình là vua được quyền ngồi chồm hỗm trên đầu những kẻ khác.

Và, loài người sẽ còn chìm trong sự bất hạnh khi tự cho mình là vua được quyền ngồi chồm hỗm lên thế giới Thiên nhiên do Tạo hóa tạo ra mà không hòa vào Thiên nhiên như một đứa con ngoan của Trời đất.

Nguồn: FB Luu Trong Van

Older Posts »

Chuyên mục