Đăng bởi: Ngô Minh | 25.05.2015

ẨM THỰC PHÙNG QUÁN

Nhà thơ Phùng Quán1954

  ẨM THỰC PHÙNG QUÁN

 Ngô Minh

            Mỗi nhà văn có một “gu” ẩm thực riêng , không lẫn . Vũ Bằng, Nguyễn Tuân  sinh ra và lớn lên ở Hà Nội , nên rất sành ăn và viết rất hay về các món ăn tinh tế và đài các của Thủ Đô . Nhà văn Phùng Quán cũng có một cá tính ẩm thực rất đặc biệt, rất “CHƠI”. Phùng Quán đã mang ẩm thực Huế đi suốt cuộc đời chiến sĩ của mình. Cũng có thể các món ăn quê hương đã giúp nhà văn vượt qua những chông gai của  số phận ! (Đọc tiếp…)

Nữ sĩ Ý Nhi

    Nhà thơ Ý Nhi: Không tin vào thứ văn học ‘được phép’

  Liêu Thái/Thực hiện

Lời Tòa Soạn: Hôm 11 tháng 5 vừa qua, 20 nhà văn, nhà thơ tại Việt Nam cùng tuyên bố từ bỏ Hội Nhà Văn Việt Nam, một cơ quan ngoại vi của đảng CSVN. Sự kiện này gây chấn động trong giới văn nghệ tại Việt Nam.  Một trong những lý do đưa ra là ‘nhận thấy tình trạng suy thoái của Hội đã trở nên không thể cứu vãn nếu không có sự thay đổi để thực sự là một tổ chức nghề nghiệp tập hợp những người viết muốn xây dựng một nền văn học Việt Nam đích thực, tự do, nhân bản.”
Để tìm hiểu thêm, báo Người Việt lần lượt phỏng vấn các nhà văn, nhà thơ về hành động này. Loạt bài phỏng vấn do Liêu Thái thực hiện.

Người Việt (NV): Thưa bà, bà vui lòng cho biết đã tham gia Hội Nhà Văn Việt Nam năm nào? Và những hoạt động thường niên của hội diễn ra như thế nào?

Nhà Thơ Ý Nhi (YN): Đây là câu hỏi hơi khó với tôi. Hôm gần đây, khi cùng một số anh chị tuyên bố từ bỏ hội nhà văn, họ có hỏi tôi về điều này nhưng tôi không sao nhớ được chính xác, chỉ nhớ cách nay khoảng trên ba chục năm gì đó.
Trong suốt khoảng thời gian dài dặc đó, tôi chỉ làm việc tại nhà xuất bản, không mấy khi tham gia các hoạt động của hội. Ngoại trừ việc tham gia hội đồng thơ trong một nhiệm khóa từ rất lâu rồi, tôi luôn ở ngoài mọi việc: không nhận tài trợ, không dự trại viết, không làm hồ sơ để nhận các loại giải thưởng… Mà đã ở ngoài thì làm sao biết họ hoạt động những gì và như thế nào.

NV: Là một nhà thơ sống ở phía Nam, ngay trung tâm thành phố Sài Gòn, nhịp sống người miền Nam có để lại dấu vết nào trong sáng tác của bà?

YN: Tôi mới vào Sài Gòn từ 1987. Tôi yêu quý người dân phương Nam, thích cách nhìn nhận đời sống nhẹ nhàng, thoải mái, không hơn thua của họ. Nhưng viết là một chuyện khác. Thơ và sau này, truyện ngắn của tôi, dường vẫn in đậm dấu vết của miền Bắc, hơi hướng của miền Bắc, nơi tôi đã lớn lên, đã trải qua nhiều buồn vui của cuộc đời mình, nơi khởi đầu của một công việc lâu dài.

NV: Bà có nhận xét gì về không khí sáng tác trước và sau 30 tháng 4 năm 1975? Cũng như không khí hoạt động của Hội Nhà Văn Việt Nam hiện tại so với không khí hoạt động những năm 1980 có gì thay đổi? Và thay đổi theo chiều hướng nào?

YN: Theo tôi thì 1975 không phải là một cái mốc đánh dấu sự thay đổi của văn học. Phải đến những năm 1980 người ta mới dần bứt khỏi các đề tài quen thuộc và cách viết quen thuộc. Điều này rõ rệt hơn vào khoảng 1986, khoảng thời gian mà người ta thường gọi là thời kỳ đổi mới. Dù vậy, tôi không tin vào thứ văn học “được phép.” Tôi nghĩ những tác phẩm như vậy không có giá trị lâu dài.

NV: Theo bà, đâu là sức hút đích thực của một hội nhà văn đối với giới cầm bút?

YN: Theo cách nghĩ thông thường thì một hội bao gồm những nội dung có tính nguyên tắc sau: Những người cùng nghề nghiệp. Những người này cùng thống nhất một tôn chỉ, mục đích hoạt động. Phải tự lo lấy kinh phí. Và phải bảo vệ các thành viên của mình và các sản phẩm do các thành viên sáng tạo nên.
Còn nhớ, năm 1995, khi sang Pháp, tôi có cuộc trả lời phỏng vấn của chị Thụy Khuê (Đài RFI). Khi bàn đến chuyện hội, đoàn, tôi có nói đại ý: Tôi nghĩ Hội nên tự lo lấy kinh phí để hoạt động, không nên nhận tiền của nhà nước. Đó là điều kiện cần để hội có quyền tự chủ về mọi mặt.
Về lại Việt Nam, tôi bị mấy tờ báo phê phán dữ lắm, họ cho rằng không nhận tiền của nhà nước là “từ chối sự ưu ái của nhân dân” (Đây là tựa đề của một bài báo phê phán tôi).
Khi từ chối tất cả các khoản tài trợ sáng tác lớn, nhỏ của Hội, tôi đã nói rõ, “Tôi nghĩ, mỗi nhà văn phải tự lo lấy đời sống cũng như công việc viết lách của mình. Tôi không nghĩ lao động nhà văn có gì đặc biệt đến độ chúng ta có quyền hưởng số tiền có được từ lao động của hàng triệu người khác, từ thuế của những người nông dân nghèo khó, những người buôn thúng bán bưng…” (trích bài trả lời phỏng vấn của báo Thanh Niên với tựa đề: Tôi không nhận số tiền này khi Hội nhà văn cho biết tôi có trong danh sách nhận “đầu tư sâu” 25 triệu VNĐ.

NV: Khi quyết định từ bỏ một thực thể nào đó đã gắn kết lâu năm với mình, đương nhiên người từ bỏ sẽ có những đắn đo và suy tư nào đó, từ bỏ Hội Nhà Văn cũng vậy, bà có những đắn đo và suy tư gì?

YN: Tôi gửi thư cho Ban Chấp Hành để ra khỏi hội nhà văn từ đầu năm 2002. Mặc dù không có hồi đáp, tôi tự coi mình không còn là một thành viên và không tham gia bất cứ hoạt động nào do HNVVN tổ chức. Phải nói thật, hồi trẻ, thấy vào hội là vui và vinh dự lắm. Nhưng càng từng trải thì nhận thấy sự “lệch pha” càng lớn, lớn đến độ không thể tiếp tục đồng hành. Chẳng có gì phải băn khoăn, day dứt trong việc này.

NV: Bà có tham gia Văn Đoàn Độc Lập? Bà có nhận xét nào về Văn Đoàn Độc Lập?

YN: Tôi tham gia Ban Vận Động Văn Đoàn Độc Lập, trước hết vì nó hội đủ các nội dung của một hội nghề nghiệp như tôi vừa trả lời. Tôi trân trọng cái slogan “Vì một nền Văn học Việt Nam Tự do, Nhân Bản của trang Văn Việt.”
Trong hơn một năm thành lập, chúng tôi đã làm đúng các nguyên tắc do mình đề ra. Phần khác, cũng quan trọng, đó là sự quý trọng với riêng nhà văn Nguyên Ngọc và với các bạn viết của mình trong Ban Vận Động.
Trong thực tế, không có hội đoàn nào có thể giúp một người bất tài thành người có tài, một người viết văn dở thành người viết văn hay. Mỗi nhà văn phải tự xoay xở với công việc của mình. Vì vậy, tham gia một hội đoàn, tán thành tôn chỉ mục đích của một hội đoàn còn là cách bày tỏ quan điểm của mình đối với các vấn đề xã hội và văn chương, là cách biểu hiện trách nhiệm của một công dân.

NV: Là thành viên Ban Giám Khảo nhiều giải thơ của Hội Nhà Văn Việt Nam, bà nhìn thấy điều gì trong vấn đề người cầm bút trẻ cũng như mối tương quan giữa một hội nhà văn có mô thức hoạt động tương đối cũ với những yêu cầu khá mới mẻ của các sáng tác đương đại?

YN: Câu hỏi làm tôi nhớ đến câu nói của Milan Kundera: Những quốc gia nhỏ bé lúc nào cũng đông chật các nhà thơ lớn. Việt Nam không nhỏ lắm nên các nhà thơ không đến nỗi “đông chật” nhưng cũng khá đông.

Người người lớp lớp nhà văn. Trong số đó, nhà văn trẻ chiếm một vị thế đáng nể. Họ đang tìm cho mình một lối đi mới. Dù vậy, những thành tựu vẫn còn khiêm tốn. Ta chờ đợi vậy.
Quan hệ của họ với hội nhà văn ư. Hình như số đông vẫn xếp hàng để tham gia (nghe nói lúc nào cũng có hàng trăm lá đơn đợi xét duyệt). Một số ít tự đứng được thì họ đứng ngoài, thấy hội là không cần thiết. Các nhà văn trẻ có ý thức về cá nhân mình hơn thế hệ chúng tôi.
Vì lớn tuổi, ít quan hệ với lớp trẻ nên thú thực tôi cũng không hiểu họ lắm. Anh nên hỏi trực tiếp các nhà văn trẻ.

NV: Với tư cách là một nhà văn gạo cội trong giới cầm bút Việt Nam, bà có dự đoán nào về tương lai văn học Việt Nam (kể cả chính thống và phi chính thống) trong những năm tới?

YN: Tương lai? Không nhiều hy vọng. Nhưng làm sao sống được hôm nay nếu không hy vọng vào những thành tựu của ngày mai?

NV: Dự tính cũng như những dự án sáng tác của bà trong những năm tới?

YN: Từ năm 2000 tôi đã cho in tuyển tập thơ của mình, coi như xong một công việc. Tôi nghĩ, nên dừng lại khi không thể viết hơn những gì đã viết. Hiện tôi viết truyện ngắn. Sẽ tiếp tục viết truyện ngắn, viết chân dung với một tốc độ vừa phải. Tôi vốn chậm, lại không được siêng năng.

NV: Xin cám ơn bà!

Nguồn: nguoi-viet.com

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.05.2015

Cơ quan nhà nước VN sẽ minh bạch hơn?

Cơ quan nhà nước VN sẽ minh bạch hơn?

  BBC

 

 Đoàn khảo sát thuộc Vusta thăm và trao đổi với BBC về luật tự do thông tin với báo chí, truyền thông tại Anh.

Bên lề cuộc tọa đàm tại BBC tuần này liên quan các quyền tự do thông tin và tiếp cận thông tin ở Anh, Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết, trưởng đoàn khảo sát thuộc Liên hiệp hội Khoa học & Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) cho BBC hay một Dự luật về Tiếp cận Thông tin sẽ sớm được đệ trình lên Quốc hội Việt Nam trong giữa năm nay.

Nguyên đại biểu Quốc hội Việt Nam nói: “Theo tôi được biết Dự thảo Luật này sẽ được trình ra Quốc hội Việt Nam tại kỳ họp sắp tới. Và theo thông lệ, Luật sẽ được quyết định thông qua hay không thông qua bằng bỏ phiếu vào kỳ họp cuối năm nay.

“Tôi cũng rất hy vọng luật sẽ sớm được thông qua để đảm bảo một trong những quyền con người hết sức cơ bản, đó là quyền tự do thông tin.”

Khi được hỏi giữa các phương án tên Dự luật là “Luật về Quyền tiếp cận thông tin” và “Luật về Quyền Tự do Thông tin”, phương án nào có ý nghĩa rộng hơn, Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết nêu quan điểm:

“Tôi tất nhiên thích cái tên là ‘Luật Tự do Thông tin’ hơn, còn tôi nghĩ rằng trong tiếng Việt, từ ‘tiếp cận’ không nói lên được hết tất cả nội dung của quyền tự do thông tin của người dân.

“Quyền tự do thông tin ấy là quyền tự do tiếp cận, tự do lưu giữ, tự do phổ biến và tự do sử dụng. Đấy là quyền tự do thông tin. Còn nói tiếp cận thì thực ra không thể hiện được hết tất cả ý nghĩa này.

“Tuy nhiên, Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam đã sử dụng từ “Quyền Tiếp cận Thông tin” và tôi nghĩ rằng việc sử dụng từ này trong Hiến pháp cũng không phải là thể hiện một quan điểm hẹp hòi gì trong việc thực hiện quyền tự do thông tin, mà chẳng qua là cách dịch tiếng Anh của một số anh em ở trong nước (Việt Nam) thôi.”

‘Khâu yếu nhất’

Ông Nguyễn Minh Thuyết bày tỏ mong muốn đạo luật sớm ra đời, nhưng trước hết, ông nhấn mạnh điều mà ông cho là ‘khâu yếu nhất’ thực thi luật pháp ở Việt Nam

Ông nói:

“Tôi cũng cảnh báo ở Việt Nam, thường chỗ yếu nhất không phải là việc xây dựng luật, mà yếu nhất là việc thi hành pháp luật.

“Cho nên tôi cũng rất mong muốn là sau khi Đạo luật đã được ra đời, các cơ quan nhà nước, các cơ quan sử dụng ngân sách nhà nước và cả những tổ chức có những thông tin quan hệ đến lợi ích của cộng đồng phải nhận thức cho đúng vai trò của quyền tự do thông tin.

“Và về phía người dân thì cũng cần nhận thức cho đầy đủ quyền của mình để thực thi cho tốt.

“Chúng ta cũng không hy vọng có được 10 điểm ngay, bởi vì như nước đầu tiên mà có Luật Tự do thông tin là Thụy Điển, thì họ đã có gần 300 năm rồi.

“Chúng ta bây giờ mới bắt đầu ban hành ‘Luật Tự do Thông tin’, hay là ‘Luật Tiếp cận Thông tin’ theo thuật ngữ của Việt Nam,

“Tôi chắc quá trình này cũng còn phải là một quá trình cũng không đơn giản, một quá trình khá là vật vã,” nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Xã hội và Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng Việt Nam, nói với BBC.

Được biết, từ ngày 18/5 đến 22/5/2015, Đoàn khảo sát thuộc Vusta, do Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết làm trưởng đoàn, đã làm việc với một cơ quan của Anh như Cao ủy Thông tin Vương quốc Anh, một số cơ quan chính quyền, tòa án địa phương ở một số nơi như London, Manchester, Glasgow.

Trong chuyến đi này, đoàn cũng đã tới khảo sát và học hỏi kinh nghiệm tại BBC về việc thực hiện quyền tiếp cận và truyền bá thông tin của báo chí, truyền thông.

( Nguồn: BBC)

 

Ông George Soros

 “Mỹ đang bên bờ Thế chiến III với Trung Quốc”

Tỷ phú đầu tư George Soros nói, tình trạng kinh tế Trung Quốc khiến ông nghĩ tới khả năng thế chiến mới có thể bùng phát.

   Chi tiêu quân sự ở Trung Quốc tăng vọt khi nước này cố gắng chuyển từ kinh tế xuất khẩu sang nền kinh tế theo hướng phục vụ nhu cầu trong nước, ông Soros phát biểu tại hội nghị của Ngân hàng Thế giới.

Nếu bước đi đó thất bại, các lãnh đạo Trung Quốc có khả năng sẽ xúc tiến một cuộc xung đột với nước ngoài, có thể là với một đồng minh của Mỹ, để giữ sự đoàn kết quốc gia và giữ vững quyền lực, báo Sputnik của Nga dẫn lời ông Soros.

“Nếu có một cuộc xung đột giữa Trung Quốc và một đồng minh quân sự của Mỹ, ví dụ như Nhật Bản, thì sẽ không phải là phóng đại khi nói chúng ta đang ở ngưỡng một thế chiến thứ 3″, tờ Market Watch trích lời ông Soros cho hay.

Tỷ phú này kêu gọi Mỹ đưa ra một sự nhượng bộ lớn và cho phép Nhân dân tệ gia nhập nhóm các đồng tiền của Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Và theo đó, Nhân dân tệ trở thành đối thủ tiềm năng với đô la Mỹ, với tư cách là đồng tiền dự trữ toàn cầu.

Đổi lại, Trung Quốc cũng phải nhượng bộ trong cải tổ kinh tế, ví dụ, chấp nhận các quy luật, ông Soros nói.

Việc cho phép đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc trở thành đồng tiền thị trường sẽ tạo nên mối quan hệ ràng buộc giữa hai hệ thống, tỷ phú này lập luận. Một thỏa thuận như vậy rất khó song giải pháp thay thế có thể là thảm họa với thế giới.

“Nếu không có điều này, có mối nguy thực sự xảy ra. Đó là Trung Quốc sẽ liên kết với Nga về chính trị, quân sự và từ đó mối nguy Thế chiến 3 trở nên thực tế hơn và điều này rất đáng lo”.

Hoài Linh

 Soros Sees World War III With China

Global conflict has increased in recent years, with much of the Mideast in flames and historic rivalries rising to the surface in parts of Europe and Asia too.

Hedge fund legend George Soros is concerned that it all could end in catastrophe — another world war. And China might prove to be the flashpoint, the chairman of Soros Fund Management said at the Bretton Woods Committee Annual Meeting at the World Bank, MarketWatch reports.

If the Asian titan fails in its attempt to shift the economy’s focus to domestic demand from exports, Soros sees a “likelihood” that Chinese leaders will resort to foreign conflict to keep themselves in power and prevent the country from falling apart.

And if China chooses the wrong adversary, look out. “If there is conflict between China and a military ally of the United States, like Japan, then it is not an exaggeration to say that we are on the threshold of a third world war,” Soros stated.

The solution: the United States should let China’s yuan join the International Monetary Fund’s basket of currencies, he argued. And in return, China should reform its economy, including acceptance of the rule of law.

Without such an agreement, “there is a real danger that China will align itself with Russia politically and militarily, and then the threat of third world war becomes real, so it is worth trying.”

Meanwhile, only six years after the end of the worst financial crisis since the 1930s, some experts are worried another one may be on its way.

They are “warning that the global community has failed to learn the lessons of the Greek debt crisis — or even of Argentina’s default in 2001, the consequences of which are still being contested furiously in courts on both sides of the Atlantic,” writes The Guardian’s Heather Stewart.

Some of the concern stems from the soaring dollar, plunging oil prices and the Federal Reserve’s preparation to raise interest rates.

The dollar reached multi-year highs against a range of currencies in recent months, oil prices have hit six-year lows and many economists expect a Fed rate move later this year.

“We’re going to have another financial crisis,” Ann Pettifor, director of Policy Research in Macroeconomics, told Stewart.

“Brazil’s already in great trouble with the strength of the dollar; I dread to think what’s happening in South Africa; then there’s Malaysia. We’re back to where we were, and that for me is really frightening.”

Borrowing by developing countries soared 40 percent to $17.3 billion in 2013, according to World Bank data.

Related Stories:

Fareed Zakaria: We Ignore China at Our Own Peril

L. Todd Wood: ‘Dollar Is Cleanest Shirt in Dirty Pile’

© 2015 Newsmax Finance. All rights reserved.

Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/quoc-te/238749/-my-dang-ben-bo-the-chien-iii-voi-trung-quoc-.htm

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.05.2015

Những tấm huân chương

Những tấm huân chương

  Mai Khắc Ứng

( Bài gửi từ Canada)

Ngày mồng 7 tháng 5 năm nay, nhân kỷ niệm năm mươi năm kết thúc trận đánh tại Điện Biên Phủ (1954 – 2004), tôi được đi cùng hai cụ trong hội Cựu Chiến Binh đến giao lưu với thầy trò một trường Đại Học tại nhà Văn hóa thành phố Huế. Lúc đầu bộ phận tổ chức định sắp xếp giao lưu chung giữa ba chúng tôi với tập thể giáo viên và sinh viên nhà trường. Nhưng sau khi một vị trong Ban Tổ chức tuyên bố lý do chương trình mạn đàm xong thì ngay lập tức có một khoảnh khắc hội ý của Ban Giám hiệu với Ban Tổ chức rồi thay đổi hình thức giao lưu sang báo cáo riêng dưới dạng từng người kể chuyện. (Đọc tiếp…)

NHÀ VĂN NGÔ THỊ LIM CÚC TRẢ LỜI PHỎNG VẤN VỀ ĐẠI HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM LẦN 9 

  *Thưa bà, bà vui lòng cho biết đã tham gia Hội Nhà Văn Việt Nam năm nào? Và những hoạt động thường niên của hội này diễn ra như thế nào?

-Tôi vào Hội Nhà văn Việt Nam năm 1983, sau khi tốt nghiệp khóa I Trường Viết văn Nguyễn Du- Hà Nội 1982. Mối liên hệ giữa hội và tôi là tôi nhận được các loại báo biếu: Văn Nghệ, tạp chí Thơ, tạp chí Văn và tạp chí Văn học Nước ngoài theo định kỳ. Mỗi năm, tôi nhận thư Hội yêu cầu đề xuất những tác phẩm (của tất cả hội viên) mà mình cho rằng có thể đưa vào xét giải thưởng. Các trại sáng tác tổ chức không định kỳ, hội viên có thể ghi tên tham dự. Có các khu  nhà sáng tác (ở Hà Nội, Nha Trang, Đà Lạt…) để hội viên có thể đến đấy ngồi viết (nếu có kế hoạch) và sẽ được tài trợ một số tiền gọi là đầu tư sáng tác. Tôi chưa tham gia các hoạt động này bao giờ.

*Những hoạt động của Hội Nhà Văn Việt Nam trong quá trình bà đang là hội viên tạo ra những tương tác nào trong sáng tác của bà?

-Với tôi, điều đó không nhiều. Từ khi vào Hội đến nay, tôi chỉ ngồi ở nhà sáng tác Đại Lải- Hà Nội một lần và một mình trong một tuần (không phải dự trại đông người, có tài trợ) vào năm 1983, để viết mấy truyện ngắn.

Làm việc ở các nhật báo chính trị xã hội (Tuổi Trẻ, Thanh Niên) rất bận rộn, tôi ít có thời gian để tham gia thường xuyên các hoạt động hội như những nhà văn ở các hội văn nghệ địa phương. Hầu hết sáng tác của tôi được viết một cách riêng rẽ, cá nhân. Do công việc ở báo (biên tập viên văn học), tôi luôn đọc nhiều (cả bản thảo và sách in) nên nắm rõ chuyện viết lách và tác phẩm của các nhà văn, thường xuyên có sự kết nối với từng người. Song việc này lại không liên quan đến hội.

 

*Hiện tại, vẫn có rất nhiều cây bút ở các Chi hội Văn Học nghệ thuật tỉnh vẫn đang cố gắng in nhiều tác phẩm để đủ chuẩn thành hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam. Bà nghĩ gì về khuynh hướng nỗ lực tham gia Hội Nhà Văn Việt Nam của số đông các cây bút này?

-Phải hiểu rằng Hội Nhà văn Việt Nam là tổ chức duy nhất “cấp thẻ chuyên nghiệp” cho các nhà văn. Những cây bút ở các địa phương luôn “phấn đấu” để đạt tiêu chuẩn đươc xét kết nạp: có hai đầu sách in (trên lý thuyết là sách “đạt chất lượng”) và được 2 hội viên cũ giới thiệu. Danh hiệu Hội viên Hội Nhà văn VN như một sự “cầu chứng tại tòa” để người viết cảm thấy mình đã trở thành nhà văn chuyên nghiệp ở-cấp-quốc-gia. Từng có người sau khi vào Hội Nhà văn VN đã nhanh chóng đề nghị những ai chưa phải hội viên thì không được dùng danh xưng “nhà văn” mà chỉ được phép xưng là “cây bút” (sic). Dẫu có vẻ khó khăn trầm trọng thế nhưng vẫn có những  hội viên mà các đồng nghiệp không hề biết họ từ đâu mà xuất hiện.

 

*Theo bà, đâu là sức hút đích thực của một hội nhà văn đối với giới cầm bút?

-Tôi cho rằng một hội nhà văn đích thực phải là nơi khiến các nhà văn cảm thấy tin cậy và hứng khởi để có thể tháo tung năng lượng sáng tạo của mình mà không lo bị kiềm chế hay kiểm duyệt. Nó sẽ gồm những đồng nghiệp cầm bút biết chia sẻ khó khăn của nhau và biết tôn vinh những tài năng thực sự như lẽ công bằng phải vậy. Nó giúp cho nhà văn yên tâm viết lách nhờ những tương tác hoàn toàn vô vị lợi và thực sự có trách nhiệm.

 

*Với trải nghiệm lâu năm của một nhà văn là hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam, bà cảm thấy những hoạt động cũng như cơ chế của hội này có tạo ra được sinh quyển sáng tạo để từ đó nhà văn có thể tự do phóng bút theo dòng cảm xúc đương đại?

-Quá nhiều sự việc đã và đang xảy ra cho thấy không có điều đó. Lãnh đạo Hội Nhà văn VN đương nhiệm đang muốn xác quyết chỉ mình là tổ chức duy nhất có quyền hoạt động nghề văn và không ai được “cạnh tranh” thế độc quyền này . Liệu có thể xem đây là cách làm đúng đắn của một hội nghề nghiệp, nơi tập hợp những người cầm bút?

 

*Khi quyết định từ bỏ một thực thể nào đó đã gắn kết lâu năm với mình, đương nhiên người từ bỏ sẽ có những đắn đo và suy tư nào đó, từ bỏ Hội Nhà Văn cũng vậy, bà có những đắn đo và suy tư gì?

-Đã từ lâu, những hoạt động thường xuyên của hội cứ ngày một trở nên “có vấn đề” hơn. Không phải chỉ hội viên phản ứng mà báo chí (chính thống) cũng như các trang mạng đều đã nhiều lần đề cập. Hiện tượng Hoàng Quang Thuận, việc kết nạp hội viên mới, việc trao giải tùy tiện… khiến nhiều hội viên ngán ngẩm. Có người lên tiếng, cũng có người im lặng. Nhiều người đã lẳng lặng từ bỏ sinh hoạt hội mà không nói rõ lý do.

Khi xảy ra việc lãnh đạo Hội Nhà văn VN công khai kêu gọi gạch tên những đồng nghiệp trong Ban Vận động Văn Đoàn Độc Lập, họ đã bộc lộ rõ ý định “thanh trừng”, không cho phép các nhà văn này có mặt trong đại hội, để mình trở thành kẻ phát ngôn độc quyền, duy nhất vể mọi chuyện. Với những đồng nghiệp như thế thì còn phải đắn đo, băn khoăn gì nữa…

*Cấu trúc và cơ chế hoạt động của Hội Nhà Văn Việt Nam hiện tại, theo bà, có những bất cập nào và tính hợp lý của nó nằm ở đâu?

-Xã hội đã có rất nhiều thay đổi. Công chúng giờ đây rất thông thái, am hiểu tỏ tường mọi chuyện đang xảy ra qua vô số thông tin hằng ngày trên mạng. Nhiều độc giả giỏi hơn các nhà văn, không dễ dàng bắt họ phải “thưởng thức” những thực đơn độc quyền mà Hội Nhà văn VN dọn ra cho họ. Chẳng rõ lãnh đạo Hội Nhà văn VN có biết điều này hay không…

*Bà có tham gia Văn Đoàn Độc Lập? Bà có nhận xét nào về Văn Đoàn Độc Lập?

-Tôi tham gia Ban Vận động Văn Đoàn Độc lập một cách bình thường, bởi tôi tán thành và chia sẻ các quan niệm về nghề văn với những người cùng đứng tên: Vì một nền văn học Việt Nam tự do, nhân bản.

Điều khác biệt đáng kể của Ban vận động Văn Đoàn Độc Lập so với Hội Nhà văn VN là các thành viên phải tự bỏ tiền túi ra để hoạt động chứ không nhận tài trợ từ bất cứ đâu. Đó là điều kiện tiên quyết/căn bản để không bị lệ thuộc.

*Với tư cách là một nhà văn thuộc lớp gạo cội trong giới cầm bút Việt Nam, bà có dự đoán nào về tương lai văn học Việt Nam (kể cả chính thống và phi chính thống) trong những năm tới?

-Tôi xin được từ chối danh từ “nhà văn gạo cội” trong câu hỏi. Theo hiểu biết của tôi, cho dù đang có vô vàn khó khăn, vẫn đang xuất hiện thêm những nhà văn mới và những tác phẩm mới giá trị. Những nhà văn này không tự cấm đoán mình dù trong nội dung hay hình thức tạo nên tác phẩm. Họ sẽ là lớp đầu tạo bước chuyển cho văn học Việt Nam tương lai.

Nguồn: http://www.nguoi-viet.com/

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.05.2015

THƠ VỀ CAMPUCHIA

Nhà thơ Vĩnh Nguyên

THƠ VỀ CAMPUCHIA 

 Vĩnh Nguyên

 CAMPUCHIA – CÂU HỎI CÒN ĐỂ NGỎ

 Đất ruộng Campuchia bằng phẳng

Người dân Campuchia hiền lành

93% theo đạo Phật

Họ tiếp nối tu nghiệp trong 4 ngàn ngôi chùa

Cớ chi Pôn Pôt nổi lên cường quyền diệt chủng

Pôn Pôt quê Kompongcham, dân Kompongcham càng bị giết nhiều hơn

Pôn Pôt có điên không?

 

Chế độ Pôn Pôt từ năm 1975 đến năm 1979

Cụ  thể hơn: ba năm, tám tháng, hai mươi ngày

Hai triệu người chết bị đập đầu

Pôn Pôt tâng công với ai?

 

Người dân Campuchia nổi giận bung lông nhím – lá cây thốt nốt

Bốn mươi triệu cây thốt nốt – bốn mươi triệu bộ lông nhím vẫn không chống nổi

thuổng, cuốc và báng súng

Đập đầu!

 

Ba năm, tám tháng, hai mươi ngày

Hai triệu người bị giết

Mỗi ngày một ngàn bốn trăm người chết

Năm mươi tám giây – một người dân bị đập đầu (*)

 

Pôn Pôt chết – đất nước Campuchia hòa bình

Trước phiên tòa, phe lũ Pôn Pôt cúi gằm mặt

Hai triệu chiếc đầu lâu há hốc ngẩng lên trời

Ba năm, tám tháng, hai mươi ngày

Năm mươi tám giây – một người dân Campuchia bị giết

Pôn Pôt – nhân danh ai?

Siêm Riệp, 10/04/2015

—————

(*) Lời Kim Dara hướng dẫn du lịch người Campuchia nói tiếng Việt (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.05.2015

CHÙM THƠ NGÔ MINH- KÝ HỌA HÈ

Hoa bàng vuông

 CHÙM THƠ NGÔ MINH

  TIẾNG VE ĐÊM

 em em em em em em em…

oi bức tiếng ve tung chăn tung gối

ra rả ve tìm thao thao ve gọi ?

 

em em em em em em em…

tiếng ve màu trắng tiếng ve màu tro

nôn nao tiếng ve khát mùa rượu đói

 

 em em em em em em em…

chớm hè còn nhớ hay lập xuân quên

lên chốn thông xanh về nơi bếp lẩu

bao nhiêu bên nhau chẳng thành yêu dấu…?

 

em em em em em em em…

rồi lo rồi nhớ rồi hóa ve sầu

ong ong tên gọi mà người thấy đâu ?

                               Huế, 19-4-1999

KÝ HỌA HÈ

 phượng rơi về đất

ve ve lên cành

 

ve ve gọi lửa

phượng bầm gót chân

 

cành khô con chuồn đậu

như giọt thời gian quên…

 

        10.6.1993

NHỊP VE

 không dưng

mà nhánh phương gầy

bởi ve ve

réo

bởi ngày

thèm đêm

 

ve sầu

nhàu phía không em

đỏ bầm lối phượng

nhớ quên

hai bờ

 

bập bùng ve

lửa trong tro

bây giờ

mà ngỡ

bao giờ

râm ran…

Nhà thơ Hữu Thỉnh

NHÀ THƠ HỮU THỈNH TRẢ LỜI VỀ VIỆC MỘT SỐ HỘI VIÊN RA HỘI

Lương Ngọc An ( thực hiện)

 VanVN.Net – Trong những ngày vừa qua, trên một số trang mạng xã hội và từ cá nhân một số nhà văn xuất hiện nhiều thông tin về một số hội viên Hội Nhà văn Việt Nam tuyên bố rút tên ra khỏi Hội. Có người trình bày lý do cặn kẽ, có người chỉ tuyên bố chung chung. Có người chỉ rút tên khỏi Hội Nhà văn Việt Nam, có người lại xin rút khỏi tất cả các tổ chức hội đoàn mà mình đang tham gia…

Để bạn đọc có cái nhìn toàn diện và khách quan hơn về vấn đề này, Tuần báo Văn nghệ đã có cuộc trao đổi với Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam. Đây cũng có thể xem là quan điểm chính thức của Hội Nhà văn Việt Nam đối với những tuyên bố của một số hội viên trong thời gian qua (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.05.2015

Ngẫu hứng Trần Tiến 27 – SÀI GÒN TRONG TÔI

SÀI GÒN TRONG TÔI

Là nụ cười hảo hán và dáng đi nghiêng nghiêng của anh Cầu, nhạc sỹ Phạm Trọng Cầu, trái chôm chôm biết hát của hội nhạc thành phố. Là anh Sơn, nhạc sỹ Trịnh Công Sơn, người ốm nhưng bước chân khoan thai quí tộc,vai gày nhưng ngực vươn như kiếm khách. Nghe ai kể chuyện gì cũng “Tội rứa. Chi mà tội rứa…”

Là sân 81 Trần Quốc Thảo dưới những tán cây hoa đại, suốt đêm vang tiếng cười, tiếng hát, giọng ngâm hào sảng và tiếng cụng ly của văn nghệ giang hồ tứ chiếng. Vài đĩa đậu phộng, vài khô cá khoai và can bia hơi là đủ thơ, đủ nhạc. Ở đây tôi chưa bao giờ nghe họ nói xấu về một người vắng mặt. Quanh ly bia, ai cũng là bạn, ai cũng là nghệ sỹ.

Sài Gòn trong tôi

 Cho đến hôm nay gần bốn mươi năm, đi hoài chưa biết hết phố, hết hẻm. Có một người thiếu phụ tôi yêu, đến giờ vẫn không hiểu, nàng có yêu tôi không. Có lẽ đến chết, tôi cũng không đi hết những khúc quanh bí ẩn của nàng. Như phố, như phường, hẻm hóc nơi đây.

Sài Gòn là Sỹ Thanh, ca sỹ đã khuất xa vì rượu. Chẳng có ai hát bài “Những đôi mắt mang hình viên đạn” và “Điệp khúc tình yêu” của tôi hay hơn thế. Anh lúc đó chỉ là một chàng trai đón chào quân giải phóng, không biết gì về cách mạng.

Là Thanh Lan, người chuyên hát nhạc Pháp nổi tiếng và đẹp như một quí bà Pa-ri-diên. Nàng hát tất cả những bài ca cách mạng hay hơn những người sinh ra trong nôi cách mạng mà tôi biết. Chả hiểu vì sao… Nhiều lắm, những ca sỹ ở đây hát, ít nhất là hay hơn tôi, một người tốt nghiệp đại học Thanh nhạc ngoài Hà Nội.

Sài gòn trong tôi

Ngoài chợ vỉa hè, tôi kiếm được nhiều cuốn sách thay đổi đời mình, và một chiếc quần bò, mặc đẹp đến mức… chưa bao giờ tôi đẹp trai thế.Thấy tôi không mang đủ tiền cô bán bảo lúc nào có thì mang đến. Cho đến giờ, tôi không thể tìm được người bán để trả tiền. Chợ “chồm hổm” như cơn mưa phương nam, chợt đến, chợt bay đi. Tôi mắc nợ em, mắc nợ Sài Gòn.

Sài Gòn chẳng bao giờ hỏi tôi là ai, làm nghề gì. Cần là giúp, thích là mời vô nhậu, ghét sự trả ơn. Thấy đúng là chở che, như các bà mẹ chợ Bàn Cờ che giấu cách mạng. Thấy ghét, thì chính các chị lên phường, chỉ tay mắng người mình chở che làm điều thất đức với nhân dân.Thành phố của những người lao động năng nổ, làm thì hết mình, nhậu thì hết gaz. Thẳng thắn, bộc trực, bất khuất như chiến binh Cần Giuộc. Thương nước, thương người như Đồ Chiểu. Lãng mạn như câu hò ngàn năm với tiếng đàn kìm, man mác buồn trên sông …

Sài Gòn không thơ mộng như quê tôi, Hà Nội. Nhưng có gì đó tôi có thể ở đây mà không thấy cô đơn.Thậm chí đôi khi, còn hạnh phúc.

( Nguồn: VV)

 

Thượng nghị sĩ Mỹ: Cứ tiến vào 12 hải lý, Trung Quốc không dám làm gì đâu

  Hồng Thủy

  (GDVN) – Trung Quốc sẽ ít có khả năng phản ứng khi Mỹ tuần tra quân sự trong khu vực này so với những nỗ lực tương tự của các nước láng giềng Đông Nam Á.

Tờ Financial Times ngày 20/5 đưa tin, kế hoạch tuần tra quân sự trong phạm vi 12 hải lý xung quanh các đảo nhân tạo Trung Quốc xây dựng (bất hợp pháp) ở Trường Sa (thuộc chủ quyền Việt Nam) của Lầu Năm Góc được một Thượng nghị sĩ hàng đầu của đảng Dân chủ ủng hộ hết mình. Ben Cardin, Thượng nghị sĩ trong Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ cho rằng thực hiện tuần tra trong phạm vi 12 hải lý sẽ là một bước tiến tích cực.

Ông cho rằng Trung Quốc sẽ ít có khả năng phản ứng khi Mỹ tuần tra quân sự trong khu vực này so với những nỗ lực tương tự của các nước láng giềng Đông Nam Á: “Những gì đang làm là ngăn chặn một sự kiện hoặc một hành động khiêu khích từ Trung Quốc. Nếu một trong những quốc gia Trung Quốc tranh chấp lãnh thổ tuần tra, có nhiều khả năng Bắc Kinh sẽ có hành động. Nhưng nếu đó là Hoa Kỳ, tôi nghĩ rằng ít có khả năng họ dám hành động”.

“Tôi cho rằng thực sự ít có gì gọi là khiêu khích khi Hoa Kỳ nâng cao lá cờ của mình. Tôi không nghĩ Trung Quốc muốn tạo ra một vấn đề với Hoa Kỳ”, ông Cardin cho biết tại một sự kiện ở Christian Sience Monitor. Tuần trước trong phiên điều trần tại Ủy ban Đối ngoại Thượng viện, Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Daniel Russel thúc giục ông Cardin không bỏ về sau khi vị Thượng nghị sĩ này phàn nàn: “Chúng tôi thực sự không thấy bất kỳ phản ứng nào với những kiểu hành động khiêu khích ngoài việc ra thông cáo báo chí”.

“Và tôi nghĩ rằng chúng tôi muốn làm nhiều hơn nữa. Chúng tôi muốn đồng minh của chúng ta biết rằng chúng ta đứng về phía họ rất nhiều để chống lại các hành động khiêu khích”, ông Cardin nói với Russel. Tổng thống Obama quyết định xoay trục chiến lược sang châu Á năm 2012, triển khai tỉ lệ hải quân lớn ở Thái Bình Dương để giúp chống lại sự bành trướng của Trung Quốc. Tuy nhiên nhiều nước trong khu vực, đặc biệt là Philippines vẫn phàn nàn Mỹ nói nhiều hơn làm.

Các nhà phê bình chỉ ra rằng, tháng 4/2012 khi Trung Quốc cưỡng chiếm quyền kiểm soát bãi cạn Scarborough từ Philippines dẫn đến một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng trong khu vực nhưng Mỹ đã không phái bất kỳ tàu hải quân nào đến khu vực này. Mỹ lo sợ leo thang căng thẳng với Trung Quốc. Nhưng một số chuyên gia cho rằng động thái này báo hiệu cho Bắc Kinh thấy nó cứng rắn hơn cũng sẽ không vấp phải một thách thức nào.

Mỹ và Trung Quốc đã cố gắng công khai xoa dịu một số căng thẳng vào cuối tuần qua khi Ngoại trưởng John Kerry đến Bắc Kinh. Nhưng Vương Nghị, người đồng nhiệm Trung Quốc nhấn mạnh cái gọi là “quyết tâm sắt đá” của Bắc Kinh trong bảo vệ yêu sách chủ quyền (vô lý, phi pháp) của họ. Biển Đông cũng đã đi vào cuộc chạy đua bầu cử Tổng thống Mỹ. Marco Rubio, Thượng nghị sĩ Mỹ gốc Cuba ra tranh cử Tổng thống, tuần trước nói rằng Mỹ cần có lập trường cứng rắn hơn với Trung Quốc, bao gồm vấn đề Biển Đông.

Theo phản ánh của Reuters ngày 20/5, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Antony Blinken phát biểu tại một hội nghị ở Jakarta: Hoạt động bồi lấp xây dựng (bất hợp pháp) của Trung Quốc ở Biển Đông đang phá hoại tự do và ổn định, có nguy cơ kích động căng thẳng, thậm chí có thể dẫn đến xung đột. Khi Trung Quốc tìm cách đòi chủ quyền và vẽ lại biên giới trên biển, nó đang làm xói mòn lòng tin trong khu vực, làm xói mòn niềm tin của các nhà đầu tư.

“Hành vi của họ đe dọa thiết lập một tiền lệ mới, trong đó các nước lớn có thể tự do đe dọa những nước nhỏ hơn và kích động căng thẳng, bất ổn, thậm chí có thể dẫn đến xung đột”, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ quan ngại. Tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông đang là một trong những điểm nóng nguy hiểm nhất châu Á, gây ra rủi ro có thể dẫn đến xung đột, đối đầu giữa các quốc gia có yêu sách ở vùng biển này

( Nguồn: GDVN)

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.05.2015

Thế giới quanh tôi

Cờ Can ada với biểu tượng lá phong

 Thế giới quanh tôi

 Mai Khắc Ứng

( Bài gửi từ Canada)

Sáng ngày 22 tháng 4 năm 2014 sau khi đo huyết áp, điện tâm đồ, lấy máu xét nghiệm, tôi được chuyển lên phòng D5. Phòng này có 4 giường dành cho bệnh nhân, ngăn bởi 4 tấm rèm vải hình chữ L góc tù gần giống 4 cánh cung. Giường dành cho tôi đặt về phía cửa sổ.

Trời Montreal tháng 4 năm 2014 cao xanh vời vợi. Tôi thích thú được ngự tại vị trí này. Nhìn da trời tinh anh. Nhìn những làn mây trắng chầm chậm trôi rồi nhìn lên đỉnh núi Mont­Royal với tòa Thánh đường Saint­Joseph trầm mặc lòng tôi tự nhiên xốn xang.

Tôi là một Phật tử, quy y tại chùa Thiên Mụ, thành phố Huế (Việt Nam) với Pháp danh Nguyên Quang. Thượng tọa Thích Trí Tựu, Giám tự ngôi danh lam này làm lễ quy y cho tôi tại điện Đại Hùng, nơi an tọa ba pho tượng quá khứ, hiện tại, vị lai của Đức Phật xong, nói rằng số tôi đã sáng. Pháp danh Nguyên Quang là nguồn sáng. Bạch Thầy, tôi lễ phép thưa, Thầy cố ý chọn cho con hay đến lượt theo tuần tự. Ngẫu nhiên mới quý. Thầy Giám tự trả lời. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.05.2015

TUÂN NGUYỄN, KẺ MƠ MỘNG

Nhà văn Tuân Nguyễn

Một nhà văn không vào hội:

TUÂN NGUYỄN, KẺ MƠ MỘNG

 Hà Nhật

Vào bệnh viện Chợ Rẫy thăm Tuân rồi đưa Tuân đến nghĩa địa Gò Dưa bên Thủ Đức, cúng “mở cửa mả” cho Tuân, những chuyện ấy dồn dập xảy ra cứ như là không có thật. Buổi chiều ấy, ngồi nói chuyện với Cao Xuân Hạo về Tuân Nguyễn, Hạo buông một câu nghe mà lạnh người :

– Tuân Nguyễn sinh ra ở đời là để đóng cái vai trò này : khi có ai đó muốn kêu lên “trời ơi, sao mà tôi khổ thế ?”, thì nhìn vào Tuân Nguyễn, sẽ thấy mình chưa phải là người khổ.

Tôi tình cờ mà quen rồi trở thành bạn thân của Tuân Nguyễn. Ấy là vào tháng 8 năm 1959, tôi phải dự một cuộc chỉnh huấn một tháng, gồm tất cả giáo viên cấp 2 và cấp 3 toàn miền Bắc, cùng tất cả sinh viên sư phạm mới tốt nghiệp. Nơi họp là trường Bổ túc công nông đóng tại Giáp Bát, cách phía nam Hà Nội mấy cây số. Ai đã từng dự những cuộc chỉnh huấn trong 2 cái năm 1958, 1959, nhất là những ai là văn nghệ sĩ và sinh viên văn khoa, thì chắc mãi mãi chẳng bao giờ có thể quên. May mắn là mỗi buổi chiều, ăn cơm xong, chưa đến giờ học tập hay kiểm thảo buổi tối, chúng tôi có được chút thời gian để trò chuyện mà không phải lên gân góp ý hay kiểm điểm lẫn nhau. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.05.2015

TRƯỚC TƯỢNG THẦN VỆ NỮ

TRƯỚC TƯỢNG THẦN VỆ NỮ

 Ngô Minh

hỡi sự khuyết tật tuyệt mỹ

bao đời trên ngôi báu trị vì

con người dẫu bay đến ngoài vô tận

vẫn chẳng hiểu gì về cành ngọc đã mất đi

 

ở tư thế nào hỡi hai cánh ngà kia ?

cái đẹp không lời lặng im vĩnh cửu

cái đẹp  không cần che dấu

nỗi buồn đau trên cơ thể trắng trinh (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.05.2015

NHỮNG GIAI THOẠI VỀ HỒ CHÍ MINH

Chủ tịch Hồ Chí Minh

NGUYỄN TRỌNG TẠO: Câu chuyện “giai thoại dòng họ cụ Hồ” này tôi đã nghe Giáo sư Trần Quốc Vượng nói hồi tôi làm học trò của ông, và cũng nghe nói một lần đến Mỹ ông đã kể chuyện này nên bị “đì” một thời gian. Nhà văn Sơn Tùng viết nhiều sách về cụ Hồ cũng nói chuyện này, nhưng cũng chỉ là nói chuyện hoặc viết thành bài rồi lưu truyền. Ở nước ngoài, người ta in chuyện này vào sách cũng đã lâu. Nhưng ở Việt Nam thì chuyện này chỉ lưu truyền không chính thức. Gần đây, lần đầu tiên tôi thấy một Website của Nhà nước công bố chuyện này, đó là Website của huyện Nam Đàn quê cụ Hồ: http://www.namdan.gov.vn/ . Đó là câu chuyện cụ Hồ mang họ Hồ (Quỳnh Đôi) chứ không phải họ Nguyễn Sinh (Kim Liên). Vì thế mới có chuyện ông Nguyễn Sinh Hùng (hồi còn làm Bộ trưởng Tài chính) và ông Hồ Xuân Hùng (hồi còn làm Chủ tịch Nghệ An) đã “bí mật” đưa mộ bà nội của cụ Hồ là bà Hà Thị Hy lên núi Động Tranh trên dãy Đại Huệ gần Lăng mộ mẹ cụ Hồ là bà Hoàng Thị Loan. Tôi nghe Hồ Xuân Hùng kể chuyện xây mộ bà Hà Thị Hy, và khi cùng đến thắp hương cho bà, Hồ Xuân Hùng đã nói với Nguyễn Sinh Hùng: “Tôi mới là cháu thật của Bác Hồ”…

Nay thì trong Gia phả họ Hồ, đã thấy ghi tên Chủ tịch Hồ Chí Minh.

NHỮNG GIAI THOẠI VỀ HỒ CHÍ MINH

TRẦN QUỐC VƯỢNG

“… câu chuyện tôi sắp kể dưới đây thì chưa từng ai viết. Chỉ là lời truyền miệng dân gian… phạm vi lan truyền và số người biết câu chuyện này phải nói là hạn hẹp. Vì người ta SỢ.

… Đến đây tôi sẽ khép (lại) bài kể lể đã khá dài dòng của mình bằng câu chuyện một người tuy có tên tưổi nhưng không lấy gì làm nổi tiếng lắm, hay đúng hơn cả là đã trở nên có tên tuổi nhờ gắn bó máu thịt với một người có tên tuổi (nhưng từ đầu đến cuối câu chuyện của tôi đều nói về các nhà Nho, các vị thái học sinh, tiến sĩ, bảng nhãn hay là phó bảng cả).

Đó là câu chuyện về cụ thân sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc hay Nguyễn Sinh Huy.

Phó bảng là một học vị dưới tiến sĩ, chĩ mới xuất hiện ở Việt Nam từ đời vua Minh Mạng nhà Nguyễn (1830-31).

Trong một lá đơn bằng tiếng Pháp gởi Bộ Thuộc địa Pháp, Nguyễn Tất Thành (sau là Hồ Chí Minh) đã khéo dịch tên học vị của phụ thân mình là sous docteur [1] như ngày nay ta gọi là phó tiến sĩ.

Quê hương cụ, là làng Kim Liên, tên Nôm là làng Sen huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An. Nhưng đậu phó bảng rồi cụ đã làm Thừa biện Bộ Lễ ở Huế rồi Tri huyện Bình Khê (Bình Định). Rồi bỏ quan (hay bị mất chức quan), cụ phiêu dạt về Sài Gòn, ngồi bắt mạch kê đơn ở tiệm thuốc bắc Hoa kiều, để có chút cơm rượu… Lại phiêu lãng nữa, tới miền Tây Nam bộ, và cuối cùng mất ở Cao Lãnh (Sa Đéc, nay thuộc tỉnh Đồng Tháp). Mộ cụ phó bảng được xây lại cuối năm 1954 sau sự kiện Genève tạm thời chia đôi đất nước Việt Nam.

Người ta làm như thế vì cụ Hồ. Cũng như mộ bà Hoàng Thị Loan vợ cụ phó bảng và là thân mẫu Hồ Chí Minh mới được dời xây lại vài năm nay ở Nam Đàn, Nghệ An. Người ta làm thế cũng vì cụ Hồ. Hai ngôi mộ này, cũng như bản thân Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh giữa lòng Ba Đình, Hà Nội, đều hiện hữu ngoài ý thức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông Hồ vốn được xem là người giản dị, khiêm nhường…

Cũng đã có dăm cuốn sách nói về gia thế cụ Hồ Chí Minh, nhưng câu chuyện tôi sắp kể dưới đây thì chưa từng ai viết.

Chỉ là lời truyền miệng dân gian, ở Kim Liên, Nam Đàn, ở một số người gốc Nghệ hiện sống tại Hà Nội và nhiều nơi khác trên mảnh đất Việt Nam. Nếu trong Folklore, có hiện tượng mà các nhà nghiên cứu gọi là lan truyền thì từ lâu câu chuyện này cũng đã lan truyền từ làng Kim Liên ra khắp huyện Nam Đàn rồi khắp tỉnh Nghệ Anh rồi rộng ra hơn nữa … Nhưng phạm vi lan truyền và số người biết câu chuyện này phải nói là hạn hẹp. Vì người ta SỢ.

Sợ động chạm đến cụ Hồ. Một cái sợ vô nghĩa nhưng người ta cứ gán cho nó cái ý nghĩa chính trị giả tạo. Vì như bà Trịnh Khắc Niệm viết trong cuốn truyện bằng tiếng Anh Life and Death in Shanghai, [2] đã được dịch ra tiếng Việt: Ở xã hội xã hội chủ nghĩa, cuộc đời của các lãnh tụ cộng sản được coi là “bí mật quốc gia”.

Nhưng đây không phải là chuyện cụ Hồ, tuy cũng có dính dáng đến cụ Hồ. Mà vì đây là chuyện cụ thân sinh ra cụ Hồ, cụ Nguyễn Sinh Huy, mà cũng là chuyện truyền miệng thôi, nghĩa là thuộc phạm trù giai thoại, Folklore, chứ không thuộc phạm trù lịch sử, như tôi đã nói từ đầu bài này.

Người dân Kim Liên đồn rằng Nguyễn Sinh Huy không phải là thuộc dòng máu mủ của dòng họ Nguyễn Sinh làng này. Mà là con của một người khác: ông đồ nho, cử nhân Hồ Sĩ Tạo.

Cử nhân Hồ Sĩ Tạo thuộc dòng họ Hồ nổi tiếng ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An (đây là quê gốc của Hồ Quý Ly, nhân vật lịch sử cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, đây cũng là quê gốc của anh em Tây Sơn thế kỷ XVIII, vốn họ Hồ ở xứ Nghệ, đây cũng là quê hương Hoàng Văn Hoan, người đồng chí thân cận một thời của cụ Hồ Chí Minh, được cụ Hồ giao phụ trách công tác đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thời kháng chiến chống Pháp và là Đại sứ Việt Nam đầu tiên ở Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, hiện sống lưu vong ở Trung Hoa, có viết một tài liệu về lịch sử làng Quỳnh Đôi, quê ông. Bà vợ nhà văn lớn Đặng Thai Mai, người một thời làm Bộ trưởng Giáo dục trong chính phủ của cụ Hồ 45-46 rồi làm Viện trưởng Viện trưởng Viện Văn học, là Hồ Thị Loan, cũng thuộc dòng họ Hồ này ở làng Quỳnh Đôi). Khoảng đầu những năm 60 của thế kỷ trước (thế kỷ XIX) cử nhân Hồ Sĩ Tạo có thời gian ngồi dạy học ở một nhà họ Hà, người làng Sài, cùng một xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, với làng Sen (Kim Liên). Đó là một nhà nghệ nhân dân gian, trong nhà có “phường hát ả đào”.

Nhà họ Hà có cô con gái tên là Hà Thị Hy, tài hoa, nhan sắc, đàn ngọt, hát hay, múa khéo, đặc biệt là múa đèn (đội đèn trên đầu, để đèn trên hai cánh tay, vừa hát vừa múa mà dầu trong đĩa không sánh ra ngoài) nên người làng thường gọi là cô Đèn. Người ta thường bảo: má hồng thì mệnh bạc. Như Đặng Trần Côn viết mở đầu khúc ngâm chinh phụ: “Hồng nhan đa truân” (Gái má hồng nhiều nỗi truân chuyên). Hay như Nguyễn Du than thở giùm người đẹp tài hoa trong truyện Kiều: “Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”, “Rằng hồng nhan tự thuở xưa, Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu”).

Và ở thời ấy, dưới chế độ quân chủ nho giáo, lấy tứ dân (Sĩ, Nông, Công, Thương) làm gốc, người ta vẫn xem thường nghề ca xướng và con nhà ca xướng (“xướng ca vô loài”).

Cô Đèn, Hà Thị Hy tài hoa nhan sắc là thế mà rồi ba mươi tuổi vẫn chưa lấy được chồng. Mà trong nhà thì lại luôn có bậc văn nhân: ông cử Hồ Sĩ Tạo. “Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén” là lẽ thường theo tâm lý dân gian, huống chi là giữa văn nhân – tài tử – giai nhân. “Trai tài ggái sắc” mà! Và cô Hà Thị Hy bỗng dưng “không chồng mà chửa”. Mà ông cử Tạo thì đã có vợ, có con rồi! Lệ làng ngày trước phạt vạ rất nặng nề, sỉ nhục hạng gái “chửa hoang”, hạng “gian phu dâm phụ”. Để tránh nỗi nhục cho con gái mình và cho cả ông cử Tạo đang làm “thầy đồ” được hết sức kính trọng trong nhà mình, họ Hà phải bù đầu suy tính…

Lúc bấy giờ ở làng Sen cùng xã có ông Nguyễn Sinh Nhậm, dân cày, tuổi cao mà góa vợ (bà vợ trước đã có một con trai là Nguyễn Sinh Thuyết, và người con trai này cũng đã có vợ).

Nhà họ Hà bèn cho gọi ông Nguyễn Sinh Nhậm đến điều đình, “cho không” cô Hy làm vợ kế ông này, như một người con gái xướng ca, quá lứa, lỡ thì, lấy ông già góa vợ, mong ém nhém việc cô gái đã “to bụng”.

Công việc rồi cũng xong. Cô Hy ôm bụng về nhà chồng, có cưới có cheo cẩn thận. Việc phạt vạ của làng không thể xảy ra. Nhưng cô gái tài hoa nhan sắc thì bao đêm khóc thầm vì bẽ bàng, hờn duyên tủi phận. Và ông lão nông dốt nát tuy được không cô gái đẹp nhưng cũng buồn vì đâu có đẹp đôi, lại cắn răng chịu đựng cái tiếng ăn “của thừa”, “người ăn ốc (ông cử Tạo), kẻ đổ vỏ (cụ lão nông Nhậm)”. “Miệng tiếng thế gian xì xầm”, ai mà bịt miệng nổi dân làng. Mà trước hết là lời “nói ra, nói vào”, lời chì chiết của nàng dâu vợ anh Thuyết, vốn nổi tiếng ngoa ngoắt, lắm điều. Ông Nhậm đành cho con trai và vợ anh ta ra ở riêng, và mình ở riêng với bà vợ kế.

Chỉ ít tháng sau, bà vợ kế này đã sinh nở một mụn con trai, được ông đặt tên là Nguyễn Sinh Sắc, lấy họ ông mặc dù ông biết rõ hơn ai hết đó không phải là con ông, con nhà họ Nguyễn Sinh này. Nàng dâu ông càng “tiếng bấc, tiếng chì” hơn trước, vì ngoài việc bố chồng “rước của tội, của nợ”, “lấy đĩ làm vợ” thì nay còn nỗi lo”: Người con trai này – được ông nhận làm con, lớn lên sẽ được quyền chia xẻ cái gia tài vốn cũng chẳng nhiều nhặn gì của một gia đình nông phu thôn dã. Việc ấy xảy ra vào năm Quý Hợi, đời vua Tự Đức thứ 16 (1863).

Vì trọng tuổi, lại vì lo phiền, vài năm sau cụ Nhậm qua đời và cũng chỉ ít lâu sau đó, bà Hy cũng mất. Nguyễn Sinh Sắc trở thành đứa trẻ mồ côi. Lên bốn, về ở với người anh gọi là “cùng cha khác mẹ” mà thật ra là “khác cả cha lẫn mẹ”, cùng với bà chị dâu ngoa ngoắt, khó tính, lúc nào cũng chỉ muốn tống cổ cái thằng “em hờ” của chồng này đi cho “rảnh nợ”.

Không cần nói, ta cũng hiểu Nguyễn Sinh Sắc khổ tâm về tinh thần, khổ cực về vật chất như thế nào trong cái cảnh nhà Nguyễn Sinh như vậy. Ta cảm thấy vô cùng thương xót một đứa trẻ mồ côi sớm chịu cảnh ngang trái của cuộc đời. Bên ngoại thì ông bà đều đã mất, họ Hà chẳng còn ai chịu cưu mang đứa trẻ có số kiếp hẩm hiu này.

May có ông tú đồ nho Hoàng Xuân Đường, người làng Chùa (Hoàng Trù) gần đó, xót thương đứa trẻ, dù sao cũng là hòn máu rơi của một nhà nho khác, lại có vẻ sáng dạ, nên đã đón về làm con nuôi, cho ăn học. Và đến khi Nguyễn Sinh Sắc 18 tuổi, ông bà đồ họ Hoàng lại gả cho cô con gái đầu lòng, Hoàng Thị Loan, mới 13 tuổi đầu, cho làm vợ, lại làm cho căn nhà tranh ba gian ở ngay làng Chùa, để vợ chồng Nguyễn Sinh Sắc ăn ở riêng.

Ta dễ hiểu vì sao Nguyễn Sinh Sắc gắn bó với họ hàng làng quê bên vợ, làng Chùa, hơn là với làng Sơn “quê nội”, quê cha “hờ”. Con cái ông, từ người con gái đầu Nguyễn Thị Thanh, qua người con trai đầu Nguyễn Sinh Khiêm (tục gọi là ông cả Đạt) đến người con trai thứ Nguyễn Sinh Côn (hay Nguyễn Tất Thành, sau này là Nguyễn Ái Quốc rồi Hồ Chí Minh) đều được sinh ra và bước đầu lớn lên ở làng Chùa bên quê mẹ hay là quê ngoại. Khi cụ Tú Hoàng (Hoàng Xuân Đường) mất, vợ chồng con cái Nguyễn Sinh Sắc lại về ăn ở chung với bà đồ Hoàng. Các cháu đều quấn quít quanh bà ngoại.

Qua giỗ đầu cụ Tú Hoàng, Nguyễn Sinh Sắc đi thi Hương khoa Giáp Ngọ và đậu cử nhân (1894). Ông được nhận ruộng “học điền”, ruộng công của làng Chùa chia cho những người có học (nhằm khuyến khích việc học) để học thêm – chứ không phải nhận ruộng học của làng Sen. Khoa thi Hội Ất Mùi (1895), ông thi trượt.

Nhờ sự vận động gửi gấm của ông Hồ Sĩ Tạo, người cha thực của Nguyễn Sinh Sắc, với các quan lại đồng liêu quen biết ở triều đình Huế, Nguyễn Sinh Sắc được coi như ấm sinh, để được nhận vào học Quốc Tử Giám ở kinh đô. (Ai cũng biết: để được nhận vào học Quốc Tử Giám và làm giám sinh phải là con cháu của những gia đình có thế lực, gọi là “danh gia tử đệ”. Nếu không có sự can thiệp của ông Hồ Sĩ Tạo là bậc khoa bảng cao quan thì làm sao Nguyễn Sinh Sắc được nhận? Thế là dù sao Hồ Sĩ Tạo vẫn còn có một “cử chỉ đẹp” với đứa con mà mình không dám nhận). Nguyễn Sinh Sắc, đổi tên là Nguyễn Sinh Huy, đem vợ và hai con trai vào Huế và đi học Quốc Tử Giám. Khoa thi Hội Mậu Tuất (1898), ông lại trượt.

Ngày 22 tháng Chạp năm Canh Tý (10-2-1901) bà Hoàng Thị Loan ốm mất ở kinh đô Huế, sau khi sinh đứa con trai út (đứa con trai này ít ngày sau cũng chết). Nguyễn Sinh Côn (Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh ngày sau) trở thành con trai út.

Nguyễn Sinh Huy đem hai con trai về làng Chùa gửi mẹ vợ nuôi nấng chăm sóc giùm rồi trở vào Kinh thi Hội. Khoa Tân Sửu (1901) này, ông đậu phó bảng và được “vinh quy bái tổ” về làng. Theo thể thức triều đình, lễ vinh quy này phải diễn ra ở quê nội, dù là quê nội danh nghĩa, tức là làng Sen – Kim Liên. Hội đồng hương lý và dân xã đã dựng nhà tranh năm gian (chứ không phải nhà ngói) trên một khoảnh đất vườn làng Sen, để đón quan phó bảng tân khoa Nguyễn Sinh Huy về làng.

Thế là buộc lòng ông phải về “quê nội”. Ông cũng đón hai con trai về ở cùng ông. Lần đầu tiên Nguyễn Sinh Côn (Hồ Chí Minh ngày sau) về ở quê nội nhưng thân ông, lòng ông vẫn hướng về quê ngoại là cái gì “đích thực” và gắn bó với tuổi thơ ông. Ông phó bảng có đến thăm cụ Hồ Sĩ Tạo.

Nhưng gia đình ông phó bảng cùng hai con trai cũng không ở lâu tại Kim Liên. Chưa đầy ba năm! Sau khi mẹ vợ mất, ông vào kinh đô nhận chức quan (1904) ở Bộ Lễ, đem theo hai con trai vô Huế học. Năm 1907, ông bị đổi đi Tri huyện Bình Khê … Rồi sau khi bỏ quan (hay mất quan), khoảng 1910, ông phiêu bạt vô Sài Gòn rồi Lục tỉnh Nam Kỳ. Không bao giờ ông về làng Sen trở lại nữa…

Ở làng Sen sau này, chỉ có bà Thanh và ông Cả Đạt (Khiêm), cả hai đều không lập gia đình riêng.

Người ta bảo lúc sau, khi cụ Hồ Sĩ Tạo đã qua đời, năm nào bà Thanh cũng qua Quỳnh Đôi góp giỗ cụ Hồ Sĩ Tạo. Thế nghĩa là cái “bí mật” về cội nguồn của cụ phó bảng Huy, trong số các con cụ, ít nhất có bà con gái đầu biết. Người ta bảo: ông Cả Đạt cũng biết, tuy không bao giờ ông sang Quỳnh Đôi nhận họ.

Còn Nguyễn Sinh Côn – Nguyễn Tất Thành – có biết không? Từ khoảng 11 đến 14 tuổi, ông ở làng Sen, có nhẽ nào không ai nói cho ông biết? Hay là trước đó nữa, khi ông ở làng Chùa quê ngoại gần gặn làng Sen! Hay là sau đó nữa chả lẽ không khi nào cụ phó bảng Huy hay bà Thanh hay ông Cả Đạt lại không kể với ông về “bí mật” của gốc tích thân phụ mình?

Không có chứng cớ gì về việc ông Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – biết hay không biết chuyện này… Sau này, khi hoạt động cách mạng, ông còn mang nhiều tên khác nữa. Nhưng đến đầu thập kỷ 40 của thế kỷ này, thì người ta thấy ông mang tên Hồ Chí Minh.

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, khi tên tuổi Hồ Chí Minh trở thành công khai thì cũng bắt đầu từ đó dân gian Việt Nam, từ trí thức đến người dân quê, lại âm thầm bàn tán: vì sao Nguyễn Ái Quốc lại đổi tên là Hồ Chí Minh? Và tên này cụ giữ mãi cho tới khi “về với Các Mác, Lê-nin” năm 1969.

Cuộc đời thực của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh – còn quá nhiều dấu hỏi chứ phải đâu riêng gì một cái tên! Và biết làm sao được khi cụ Hồ, tôi nói lại một lần nữa theo cảm thức của người Ấn Độ, đã trở thành “huyền thoại”. Huyền thoại Hồ Chí Minh được hình thành trong vô thức dân gian mà Carl Gustav Jung gọi là vô thức tập thể. Nhưng nó cũng có phần được hình thành một cách hữu thức, bởi một số cán bộ gần gụi cụ Hồ. Nghĩa là một phần cuộc đời cụ Hồ đã được huyền thoại hóa.

Ngay sau Cách mạng tháng Tám, người ta còn in cả cuốn sách (mỏng thôi) về sấm Trạng Trình có những câu vận vào cụ Hồ và sự nghiệp Cách mạng tháng Tám. Và sấm Trạng Trình vẫn được vận vào cụ Hồ còn lâu về sau nữa, ở miền Nam Việt Nam và hiện nay ở một số người Việt lưu vong, dù là với hậu ý không ưa gì cụ Hồ… Nhưng đó lại không phải là chủ đề của bài viết này.

Trở lại với cái tên Hồ Chí Minh, lời truyền miệng dân gian bảo rằng: Nguyễn Ái Quốc sau cùng đã lấy lại họ Hồ vì cụ biết ông nội đích thực của mình là cụ Hồ Sĩ Tạo, chứ không phải cụ Nguyễn Sinh Nhậm.

Và dân làng Sen cũng bảo: Thì cứ xem, lần đầu tiên về thăm quê hương, sau cách mạng, sau mấy chục năm xa quê (15-6-1957), từ thị xã Vinh, tỉnh lỵ Nghệ An, cụ Hồ đã về làng Chùa trước, rồi sau mới sang làng Sen “quê nội”! [3]

Riêng tôi nghĩ, thì cũng phải thôi. Vì như ở trên ta đã thấy, cả một thời thơ ấu của cụ Hồ là gắn bó với quê ngoại làng Chùa, nơi cụ sinh ra và bước đầu lớn lên. Chứ đâu phải làng Sen, là nơi cụ chỉ ở có vài năm, lại là khi đã bắt đầu khôn lớn?

Tôi không muốn có bất cứ kết luận “khoa học” gì về bài viết này. Vì nó không phải là một luận văn khoa học. Đây chỉ là việc ghi lại một số lời truyền miệng dân gian về nỗi bất hạnh hay là cái khổ tâm, hay là cái “mặc cảm” của một số nhà trí thức Nho gia từ đầu thế kỷ XIV (Trương Hán Siêu, Chu Văn An) đến đầu thế kỷ XX (Nguyễn Sinh Huy) đối với làng quê. [4]

Còn viết lách, thì bao giờ chẳng là chuyện: “Thư bất tận ngôn, ngôn bất tận ý”. (Viết không [bao giờ] hết lời nói, Lời nói không [bao giờ] hết ý!).

(trích: Trong cõi. Nxb Trăm Hoa, California, 1993, tr. 252-259)

 

Nhà văn Lại Nguyên Ân

VÀI NÉT VỀ KHÔNG KHÍ VĂN ĐÀN NƯỚC TA HIỆN TẠI

Lại Nguyên Ân trả lời phỏng vấn

 
Văn đàn nhiều chuyển động, Hội vẫn quá phụ thuộc vào cấp trên
(Không khí văn đàn Việt Nam gần đây qua một số ghi nhận của nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân)

RFI : Xin ông cho biết một số nét về không khí văn học tại Việt Nam trong thời gian gần đây, đặc biệt là vai trò của Hội Nhà văn Việt Nam đối với vấn đề tự do sáng tác.

Lại Nguyên Ân : Sáng tác trong nước hiện nay ngày càng trở nên đa dạng hơn, và rốt cuộc thì văn học, nói chính xác hơn là sách văn học, cũng đã trở thành một thị trường (nhiều loại hình khác như nghệ thuật tạo hình, ca nhạc đã trở thành thị trường sớm hơn, ngay đầu thời đổi mới, đầu những năm 1990s; văn chương thì muộn hơn, và cũng chỉ hình thành thị trường ở một số thể tài sách in chứ không phải toàn bộ văn học). Công chúng bây giờ là một thế hệ khác, có những quan tâm và thị hiếu khác trước; đối với công chúng bây giờ, ngay các tác phẩm có giá trị của những tên tuổi lớn của văn học thời 1930-45 cũng không hấp dẫn họ bao nhiêu, nói gì đến những tác phẩm thời chiến mà nay chỉ còn được in mới trong các bộ tuyển làm bằng ngân sách bao cấp, làm xong chỉ để biếu tặng. Tất nhiên cũng có chuyện “thị hiếu lệch lạc” − theo một số người quan sát nào đó, − và đó là chỗ cho những cây bút đầu cơ kiếm tiền. Nhưng nên thừa nhận: phải có tài mới chinh phục được công chúng; kiếm tiền từ việc người ta mua sách của mình không phải là việc dễ (nạn in sách lậu hay đánh cắp bản quyền là câu chuyện rất nan giải cần được bàn thêm vào dịp khác – Lại Nguyên Ân). Chung quy là chỉ những người thực sự có tài mới nổi lên được; văn học đang trở lại tình trạng đó là sáng tác của những cá nhân. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.05.2015

HỒ CHÍ MINH, NHỮNG NGÀY SINH VÀ 1 LÁ SỐ TỬ VI

HỒ CHÍ MINH, NHỮNG NGÀY SINH VÀ 1 LÁ SỐ TỬ VI

NGUYỄN THÀNH

Sắp đến 19/5 lại thấy báo chí, truyền hình bắt đầu “nhớ về Bác”.  Xét lại thì thấy mình chưa viết một bài nào về ông cụ bởi bất cứ bài nào viết về ông cụ dù là bất cứ ai viết và viết kiểu thì gì ở dưới cũng có rất nhiều tranh cãi thậm chí cắn xé lẫn nhau. Mình không thích viết ra để người ta tranh cãi nên vẫn chưa viết. Hôm nay thử viết một bài về cụ theo cách tiếp cận mới “ít tranh cãi” mà lại gắn với “sự kiện” xem sao. 

Ngày 19/5 cách đây 74 năm một tổ chức tên không hề lạ là Việt Minh đã ra đời tại Pác Bó Cao Bằng, song cho đến nay chẳng mấy ai chú ý tới cái ngày thành lập tổ chức này, tuy vậy không phải vì thế mà ngày  19/5 bị lãng quên mà nó đã trở nên quá quen thuộc với người Việt Nam với ý nghĩa là ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh.  Liệu rằng đây có phải là một sự  trùng hợp ngẫu nhiên của lịch sử giống như ngày mất của ông trùng với ngày quốc khánh?  Khi nói về cái ngẫu nhiên thường người ta bỏ qua luôn lý do xuất hiện của nó vì đơn giản nó xảy ra một cách “không cố ý” tuy nhiên lịch sử lại chưa đầy những hành động có chủ ý của con người. Và một trong những chủ ý như thế của Hồ Chí Minh đã tạo ra một “ngày sinh nhân tạo” cho  mình.

Sinh nhật chính trị 

Sẽ là không ngoa chút nào  khi nói ngày sinh nhật 19/5 của chủ tịch Hồ Chí Minh là là  sinh nhật chính trị vì nó tạo ra hoàn toàn vì mục đích chính trị.

Bây giờ chúng ta quay về thời điểm lịch sử xung quanh tháng 5/1946.Vào ngày  6/3/1946 Hồ Chí Minh cùng Jean Sainteny đã ký kết hiệp định sơ bộ Pháp-Việt. Theo đó Pháp thừa nhận Việt Nam là một quốc gia tự do (état libre), có chính phủ riêng, nghị viện riêng và tài chính riêng trong Liên Bang Đông Dương  và trong khối  Liên Hiệp Pháp. Việt Nam sẵn sàng tiếp đón quân đội Pháp đến thay thế quân đội Trung Hoa Dân Quốc để giải giáp quân đội Nhật . Hiệp định này được xem là một nước cờ chính trị của cả hai bên nhằm mưu đồ lợi ích riêng. Chính vì thế mà nó bị các đảng phái khác ra sức công kích dữ dội xem nó là “Hiệp ước bán nước” khiến ông Hồ phải đứng ra thề trước quốc dân đồng bào trong một cuộc mit tinh ở Nhà hát lớn: “Hồ Chí Minh không bán nước!”  Những diễn biến này đặt ông trước những tình thế nhạy cảm tiếp theo.

Sau Hiệp định Sơ bộ, quân Pháp bắt đầu vào miền Bắc và sớm gây sự. Quân Tưởng rút dần nhưng chậm. Cao ủy Pháp D’Argenlieu đề nghị gặp Hồ Chí Minh trên Vịnh Hạ Long. Cuộc gặp gỡ đi đến các thỏa thuận: Mở cuộc đàm phán trù bị ở Đà Lạt. Khi trù bị kết thúc sẽ mở đàm phán chính thức ở Paris. Phía Pháp đồng ý mời một đoàn đại biểu Quốc hội Việt Nam sang thăm Pháp. Cùng dịp này, Chính phủ Pháp mời Hồ Chí Minh sang thăm Pháp với danh nghĩa thượng khách của nước Pháp. Đây là cơ hội lớn để đề cao vị thế của Việt Nam, tranh thủ dư luận Pháp, tranh thủ đấu tranh về vấn đề Việt Nam trực tiếp với Chính phủ Pháp, tránh giáp mặt với thực dân Pháp ở Đông Dương.

Trong lúc Hồ Chí Minh  chuẩn bị chuyến đi thì Cao ủy  Pháp D’Argenlieu, mở cuộc kinh lý khu vực phía bắc vĩ tuyến 16 từ ngày 14/5/1946.  D’Argenlieu đến Vientiane ngày 17/5/1946, đến Hà Nội  chiều ngày 18/5/1946. Trên danh nghĩa, D’Argenlieu là cao uỷ, đại diện chính phủ Pháp tại Đông Dương. Việt Nam là một quốc gia trong Liên Bang Đông Dương nên theo nghi thức ngoại giao, để đón tiếp cao ủy, phía  Việt Nam phải treo quốc kỳ trong ba ngày để đón D’Argenlieu.  Dư luận trong  nước thì vẫn còn đang sôi sục vì Pháp đã chiếm lại Nam Bộ, quả này mà dân thấy treo cờ ra với lý do chào đón “toàn quyền”  thì thể nào “bọn  phản động” cũng  có cớ sẽ làm rùm beng lên công kích chính phủ Việt Minh bán nước cho mà xem :D. Đúng là một bài toán khó cho ông Hồ và các đồng chí của mình.

Quân đội Pháp thì muốn tổ chức lễ đón D’Argenlieu thật long trọng để phô trương thanh thế và khẳng định sự quay trở lại của Pháp. Họ mời  Hồ Chí Minh tới dự vào ngày 19/5/1946. Ngày 18 sau khi nhận được giấy mời ông Hồ liền cử bộ trưởng Phan Anh tới dự và sau đó yêu cầu thư ký Vũ Đình Huỳnh mời các lãnh đạo trong chính phủ và các đoàn thể tới Bắc Bộ Phủ dự lễ sinh nhật mình vào ngày hôm sau. Theo Hồi ký  “Tháng tám cờ bay” của Vũ Đình Huỳnh có đoạn:

“Khi tôi báo tin về ngày sinh của Bác, mọi người cằn nhằn sao nước đến chân mới nhảy. Anh Trường Chinh nói rằng tôi đã biết ngày sinh của Bác mà không nói trước. Tôi thưa lại: Bác vừa bảo thì tôi đến đây ngay”.

Chi tiết này  cho thấy ngày sinh nhật đùng một cái được đẻ ra này chắc đến 100% là sinh nhật giả. Vì đâu mà ông Hồ lại sinh khéo thế  đúng vào dịp có “việc phải xử lý”.Hôm sau, cả Hà Nội bừng lên màu cờ, biểu ngữ chúc mừng sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tối 19/5, lễ mừng chính thức được tổ chức trọng thể tại Bắc Bộ Phủ. Không khí tưng bừng, quan khách tấp nập. Các đoàn thiếu nhi gõ trống ca vang trong phủ. Trong không khí rộn ràng đó, Cao ủy D’Argenlieu và Ủy viên Cộng hòa Sainteny mang hoa đến “chúc mừng sinh nhật Hồ chủ tịch”.

Hiệu quả của  việc lựa chọn ngày sinh cho mình của Hồ Chí Minh đã giúp ông đi một nước cờ ngoại giao có ý nghĩa cả về mặt đối nội và đối ngoại.  Đối với dân chúng ông đã tìm được một lý do để treo cờ “đón giặc Pháp” là để mừng thọ “cha già dân tộc”, tạo thêm hậu thuẫn cho bản thân và Việt Minh, đo được sự ủng hộ của dân chúng đối với mình, cũng như kiềng mặt các đảng phái đối lập. Đối với các đồng chí là cơ hội biểu dương lực lượng chào mừng ngày thành lập Việt Minh.  Còn đối với Pháp ông đã đảo ngược thế cờ, đổi vị thế chủ và khách với phía Pháp, tránh không đến dự buổi lễ phía Pháp tổ chức mà lại kéo hai đại diện chính của nước Pháp đến chào mình,  nói theo kiểu vẫn thấy trong phim Trung Quốc là “hạ thấp oai phong của địch nâng cao uy  thế của ta”, tạo bước đệm tốt cho chuyến thăm của ông sang Pháp sắp tới.  Nói chung là một mũi tên trúng nhiều con chim và từ sau sự kiện đó thì ngày 19/5 được chính thức hóa trở thành ngày sinh Hồ Chí Minh.

Tự vẽ rồng

Từ những dữ kiện trên có đủ kết luận là ngày 19/5 thực tế là một ngày sinh nhật chính trị, vậy còn những dữ kiện nào khác về ngày sinh Hồ Chí Minh đã được biết tới trong các hồ sơ lưu trữ?

 

Căn cứ theo lá thư Nguyễn Tất Thành tại Marseille ngày 15/9/1911 gửi tổng thống Pháp để xin vào học trường thuộc địa tại Paris  lấy từ cuốn  Ho Chi Minh: A Life của William J.Duiker  thì phía dưới lá thư ký: Nguyễn Tất Thành, Sinh tại Vinh, 1892 con trai ông Nguyễn Sinh Huy (tiến sĩ văn chương) sinh viên tiếng Pháp và Trung Quốc. 

Theo Jacques Dalloz trong cuốn ” Les Vietnamiens dans la Franc-Maçonnerie coloniale ” ( Người Việt trong hội tam điểm thuộc địa ) thì trong đơn xin vào Hội Tam Điểm (Franc-Maçonnerie) vào đầu năm 1922, Hồ Chí Minh, lúc đó có tên là Nguyễn Ái Quốc, ghi trong phiếu cá nhân rằng ông sinh ngày 15/2/1895.  

Trong tờ khai của ông tại Đại sứ quán Liên Xô ở Berlin, vào tháng 6 năm 1923, thì ngày sinh là 15/2/1895 ( trùng với ngày khai ở trên ).  

Hộ chiếu Tổng lãnh sự quán Trung Hoa tại Singapore cấp ngày 28/4/1930 cho Tống Văn Sơ ghi năm sinh là 1899.

Còn theo sử gia  Daniel Hémery, dựa theo các nguồn của kho lưu trữ của chính phủ Pháp có một tờ khai tại sở cảnh sát Paris năm 1902, Hồ Chí Minh lại  khai là sinh ngày 15/01/1894.

Cũng theo ông này thì có một nguồn tin khác nữa là khai sinh của Hồ Chí Minh được những người làm chứng ở Kim Liên xác nhận đã được cơ quan mật thám xác lập năm 1931 (tức khoảng 40 năm sau) thì chỉ ra ngày sinh của Nguyễn Sinh Cung vào tháng 03 năm Thành Thái thứ 6, tức khoảng tháng 04 năm 1894.

Trong cuốn truyện “những mẩu chuyện về cuộc đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch” dưới bút danh Trần Dân Tiên ông Hồ đã nêu ra một triết lý:

Một nhà họa sĩ vẽ giỏi không bao giờ vẽ nguyên cả một con rồng, mà vẽ con rồng khi ẩn, khi hiện giữa những đám mây”.

 Có lẽ ông đã sử dụng nguyên lý này để chỉ đạo các hành động của mình nên đã chủ động tạo ra rất nhiều đám mây xung quanh bản thân mình cả trong điều kiện phải lẩn tránh sự theo dõi chú ý của kẻ thù cũng như xây dựng hình ảnh vị lãnh tụ tối cao trong dân chúng. Qua sự sai khác giữa các thông tin trong các hồ sơ mà ông tự khai cho thấy từ khi còn rất sớm ông đã có ý thức “bảo mật thông tin” của một “điệp viên” khá rõ rệt.

Dữ liệu mà một điệp viên tự khai thì độ tin cậy không thể cao vì mục đích của thông tin đó tự thân nó không phải cung cấp sự thật. Vì thế muốn biết ngày sinh thực của Hồ Chí Minh thì giải pháp tốt nhất là tìm kiếm gián tiếp qua thông tin của những người thân cận với ông.

Dữ liệu từ những ký ức

Khi nghiên cứu lịch sử ngoài các hồ sơ lưu trữ, các tư liệu được giải mật thì các cuốn hồi ký cũng là một nguồn tư liệu hết sức quan trọng. Trong số các cuốn hồi ký hot thì gần đây nhất là “Đèn cù” của Trần Đĩnh cũng có nhắc đến chi tiết về năm sinh của Hồ Chí Minh:

“Tháng 3, Tố Hữu triệu tập mấy người lập nhóm viết tiểu sử Hồ Chí Minh với danh nghĩa Ban nghiên cứu lịch sử đảng. Gồm Tố Hữu, Phạm Bình (Ban nghiên cứu lịch sử đảng), Nguyễn Huy Tưởng, Hoài Thanh và tôi. Hai nhà văn vào tận quê Cụ sưu tầm tài liệu. Phạm Bình cung cấp tài liệu. Tôi viết. Cố nhiên cũng sưu tầm cả tài liệu. Hai nhà văn trở ra với nhiều điều giật gân. Cụ sinh năm 1891! Cụ Khiêm, anh trai Cụ nói thế, có bằng chứng hẳn hoi trong gia đình và họ hàng. Báo cáo với Cụ thì Cụ nói của người ta thế nào thì cứ để thế không sửa gì hết. Hai nhà văn và tôi bảo nhau: Bác muốn dân dễ nhớ nên lấy tròn 1890″.

Điểm lưu ý trong đoạn trên là Trần Đĩnh khẳng định “có bằng chứng hẳn hoi trong gia đình và họ hàng” vậy bằng chứng đó là gì? Chúng ta có thể tìm thấy một sự tương thích về mặt nội dung trong thông tin của Trần Đĩnh và thông  tin từ một người họ hàng  của Hồ Chí Minh là nhà văn Sơn Tùng.

Trong ký lục về buổi nói chuyện của Sơn Tùng ngày 27/4/2001 tại Trường Cán bộ Quản lý Giáo dục Đào tạo có đoạn:

” Thế kỷ 19, Bác Hồ sinh ra năm 1891, tôi nói đây là nói nghiên cứu từ gốc. Bây giờ nói Bác sinh năm 1890, nhưng tôi nghiên cứu tử vi của Bác thì Bác sinh năm 1891. Bác đi làm cách mạng, Bác khai 1890, nhiều người chúng ta khi đi học, đi hoạt động cũng khai bớt hoặc thêm tuổi như thế. Bác sinh năm 1891. 1895 Bác vào Huế, tuổi ta là 5 tuổi, tuổi bắt đầu có trí nhớ, tuổi mà người ta dễ nhớ nhất là tuổi này, tuổi lên 5 đến lên 10. Bác 5 tuổi đi theo cha mẹ vào Huế khi ông Nguyễn Sinh Khiêm đưa cho tôi cuốn “Tất Đạt tự ngôn” là tháng 6-1950. Sau đó ít tháng thì cụ qua đời. Trong “Tất Đạt tự ngôn” thì cụ có ghi ba bài thơ về thời niên thiếu của em trai mình, tức Bác Hồ.”

Ông Sơn Tùng có nhắc đến cả tử vi của Hồ Chí Minh như vậy thì ngoài chi tiết về năm sinh 1891 thì ông chắc chắn còn biết cả ngày tháng thâm chí là giờ sinh ( không biết thì không thể lập được là số tử vi ). Lá số tử vi này do ai lập? Ngay trong đoạn sau của bài nói chuyện trên cũng có đề cập thêm một lần nữa về lá số tử vi của Hồ Chí Minh qua lời kể của ông cả Khiêm trực tiếp kể cho ông ( Sơn Tùng) nghe:

“Lúc đến chân Đèo Ngang, đường lúc đó có đoạn sát với biển, không như đường ô tô bây giờ. Đến chân Đèo Ngang, có bãi cỏ rất bằng, mẹ bác mới đặt gánh xuống, cha bác xếp ô lại bảo: chỗ này phằng phiu, nghỉ lại đây ăn cơm nắm, để rồi leo đèo, Bác ngồi xuống thì ôm bàn chân rộp, còn chú Thành thì nhảy chơi, mới hỏi cha:

 -Thưa cha, cái gì ở trên kia mà đỏ, lại ngoằn ngèo như rứa? Cha bác nói:

 Đó là con đường mòn vắt qua đèo, tí nữa ta phải đi leo trèo lên đó, lên cái đường mòn đó.

 Thế rồi chú Thành mới ứng khẩu luôn một bài thơ. Sau này bác ghi lại trong cuốn sách “Tất Đại tự ngôn” này:

 “Núi cõng con đường mòn

Cha thì cõng theo con

Núi nằm ì một chỗ

Cha đi cúi lom khom

Đường bám lì lưng núi

Con tập chạy lon ton

Cha siêng hơn hòn núi

Con đường lười hơn con”

Nói về văn, thơ, tôi là anh thanh niên năm 1950 tiếp xúc với bài thơ này trong cuốn “Tất Đại tự ngôn” của người anh ruột Bác Hồ viết lúc 5 tuổi thì tôi hơi sững sờ. Ông Khiêm nói tiếp:

 Lúc đó, cha bác mới mở cái ví vải lấy lá số tử vi của con ra xem, bác mới biết cha đã lấy tử vi cho các con. Cha bác nói với mẹ:

 Với thiên tư này, thằng bé sẽ khó nuôi, có lẽ, quan Đào Tấn với ông ngoại đã nói như thế không nhầm.

Như  vậy là ông Nguyễn Sinh Sắc đã lập là số tử vi cho cậu con trai của mình. Điều này cũng không có gì là khó hiểu bởi Nguyễn Sinh Sắc vốn là bậc túc nho, nói đến Nho là nói đến “Tứ thư, ngũ kinh”, trong mấy sách này “Dịch quán quần kinh chi thủ” đứng đầu bảng là Kinh Dịch vốn là cha đẻ của mệnh lý học. Từ cái gốc Dịch thì tỏa ra là các môn lý số khác như Tử vi, Thái Ất, Phong Thủy etc.., tầng lớp sĩ phu có danh vọng hồi xưa có lẽ ông nào cũng thông thạo Nho, Y, Lý,  Số cả. Cái tên chữ “Tất Thành” ông đặt cho con trai phải chăng là đã ước đoán được con đường của cậu con trai mình qua sơ đồ mệnh lý “Đa gian truân, hựu tất thành”?

Theo Thiếu Lăng Quân ( tên thật là Nguyễn Tài Tư , còn có một tên khác là Hồ Chí Trung  cũng là họ hàng gọi  Hồ Chí Minh  bằng bác, tác giả của “Ba mươi năm mong đợi Bác về tập hồi ký 400 trang viết tay chưa xuất bản”) kể về  vế lá số Tử Vi của cậu bé Nguyễn Sinh Cung là:

“Cụ Nguyễn Sinh Sắc có lấy lá số Tử Vi ngay và  cụ Sắc cũng có đưa lá số này ra để giải đoán với các bạn bè như cụ Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý”.

Sau này ông Khiêm cải táng mộ cho mẹ là bà Hoàng Thị Loan về núi Đại Huệ, người biết về Phong Thủy sẽ luận ra viễn án của ngôi mộ bà Loan là dãy núi Hồng Lĩnh như một đàn ngựa đang rong ruổi,  minh đường là dòng sông Lam vắt qua, tiền án là ngọn rú Dầu, phân tích này chứng tỏ là ông Khiêm cũng được truyền lại các kiến thức Phong Thủy từ cha mình và các bậc tiên nho khác.

Tư duy dịch lý phương đông

Là một người có gốc cựu học vững vàng Hồ Chí Minh có lẽ còn giỏi dịch lý hơn cha và anh trai mình. “Dĩ bất biến ứng vạn biến”  là câu nói khá nổi tiếng mà ông dặn dò một nhà nho khác là Huỳnh Thúc Kháng trước khi lên đường sang Pháp dự Hội nghị Fontainebleau đã khắc họa sâu sắc nguyên lý dịch học “Bất dịch, Biến dịch và Giản dịch”. Ông cũng đã vận dụng điều này qua những phát biểu khác nhau, có nhiều cái bất biến được ông khẳng định như:

“Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn núi có thể mòn nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi”.

“Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng quyết phải giành cho được độc lập”.

“Không có gì quý hơn độc lập tự do”. 

Rõ ràng là với ông những khái niệm “Tự do, Độc lập, Thống nhất” ở trong ông là những khái niệm bất di bất dịch, trong khi đó ông lại khá sức uyển chuyển ( biến dịch ) trong sách lược chính trị ngoại giao cũng như cách ứng xử. Vì đã đi khắp nơi, uống cả mực Tàu và mực Tây nên trong số đồ nghề ông sử dụng có đầy đủ các thể loại Anh, Pháp, Mỹ, Nga, Hoa và ông cũng không đề cao duy nhất một loại mực nào.  Ông thường làm những điều tưởng chừng như rất nghịch lý nhưng đem lại hiệu quả khá cao:

Dùng chủ nghĩa cộng sản làm phần mềm để xây dựng và tập hợp lực lượng nhưng lại customize nó bằng cách viết ra một cương lĩnh mang màu sắc dân tộc chủ nghĩa khi  thành lập Đảng  cộng sản Đông Dương khiến ông bị các đồng chí của mình là Hà Huy Tập, Trần Phú phê phán gay gắt là “chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh” kéo theo việc ông bị mất ảnh hưởng trong đảng của mình thời gian sau đó. Tuy nhiên sau này nhờ vào đường lối dân tộc và bộ máy tổ chức kiểu cộng sản mà ông giành được mục tiêu của mình còn những người đã từng phê phán ông thì đều đi vào con đường thất bại và chết sớm.

Ông  trích dẫn Tuyên ngôn độc lập Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền dân quyền Pháp vào Tuyên ngôn độc lập Việt Nam  chứ không phải lời nói nào đó của Marx hay Lenine. Theo hồi ký “Con rồng An Nam” thì Hồ Chí Minh  nói với Bảo Đại là ông cho mấy lời đó vào để “làm đẹp lòng người Pháp và người Mỹ” , ông cũng có lần đề nghị Bảo Đại phục vị còn  ông sẽ đứng sau làm thủ tướng với lý do mà ông thổ lộ với Bảo Đại là  người Pháp, người Mỹ họ không tin ông vì “họ  thấy tôi quá đỏ” ông sẵn sàng lùi lại sau để phương Tây thấy chính phủ của ông “bớt đỏ đi” . Trước khi chết Bảo Đại còn trả lời nhà sử học Frédéric Mitterand  ( cháu của Tổng thống François Mitterand )  trong một cuộc phỏng vấn trực tiếp được phát trên truyền hình Pháp nhiều lần  trong đó có đoạn:

Bảo Đại: “Vâng, xin đừng quên rằng cụ Hồ xuất thân từ một gia đình quan lại. Và cụ đã đối xử với tôi như tôi còn làm vua. Cụ cấm những người xung quanh cụ gọi tôi bằng đồng chí, bằng những tên gọi của giai cấp vô sản, và luôn luôn gọi tôi là Hoàng thượng”

Gửi thư cho cả 2 ông trùm của 2 phe thù địch là Truman và Stalin đề nghị công nhận độc lập của Việt Nam.

Hợp tác với sĩ quan OSS của Mỹ và sau này là đi dây với cả Liên Xô và Trung Quốc .

Về đối nội thì ông không thể hợp những người “đồng chí cộng sản” Trotskyist khác đường lối như Tạ Thu Thâu nhưng lại sẵn sàng sử dụng cựu đảng viên Quốc dân đảng như Nguyễn Bình làm tư lệnh thống nhất các lực lượng vũ trang miền Nam.

Trong buổi phỏng vấn ngày 25/6/1946, Hồ Chí Minh đã trả lời đảng viên Xã hội Daniel Guérin về cái chết của Tạ Thu Thâu như sau: Ce fut un patriote et nous le pleurons… Mais tous ceux qui ne suivent pas la ligne tracée par moi seront brisés. Tạ Thu Thâu  là một nhà ái quốc, chúng tôi đau buồn khi hay tin ông mất… Nhưng tất cả những ai không theo con đường tôi đã vạch đều sẽ bị tiêu diệt ).

Trong “Tứ trụ triều đình”: Giáp, Duẩn, Đồng, Chinh thì hai người có vẻ thân thiết với ông hơn là Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng đều là người của “Tân Việt cách mạng đảng” trước rồi thành đảng viên CS sau chứ không phải đi theo CS ngay từ đầu như các ông Trường Chinh và Lê Duẩn.

Ông có thể một phát phong ngay cho một anh giáo Võ Nguyên Giáp hàm đại tướng tổng tư lệnh trong khi sẵn sàng bỏ qua không cần dùng một anh “thừa tướng” đã từng trải qua “Vạn lý trường chinh” như  Nguyễn Sơn. Ông cũng đặt tên lại cho ông Võ-Nguyên Giáp là Văn, phải chẳng đó chính là vì ông muốn nhắc nhở vị tướng của mình một nguyên lý của Dịch là “Trong văn có võ, trong võ có văn”, “trong quân sự có chính trị, trong chính trị có quân sự” và kẻ cầm quân không hiểu đạo lý này sẽ không thể thành tướng tài được.

Tất cả những việc ông làm đều cho thấy ông là người thực dụng không câu nệ hình thức, cái gì cũng có thể sử dụng được cốt sao được việc, cốt sao đạt được những mục tiêu bất biến của mình, và qua mỗi hành động đó đều có một nguyên lý nhất quán xuyên suốt mà ông cố gắng vận dụng và thực hành đó là ” dung thông những cái trái khoáy, đối lập nhau, khai thác những sự đối lập đó  theo khía cạnh có lợi nhất trên toàn cục thay vì độc tôn một mặt nào đó, loại bỏ cái còn lại”.

Người  ta có thể lý giải cho những hành đông này của ông bắt nguồn từ phép biện chứng của chủ nghĩa Marx vì chính Engels đã từng nói “Everthing exists in pair”  (mọi thứ tồn tại ở thế lưỡng trị) tuy nhiên theo tôi có lẽ nó bắt nguồn từ lối tư duy  “lưỡng tại song hành” đẻ ra từ học thuyết âm dương thì đúng hơn, bởi phép biện chứng của Marx không nhấn mạnh rằng các mặt đối lập có chứa đựng các yếu tố của của mặt đối lập kia như học thuyết âm dương “Trong âm có dương và trong dương có âm” dù nó có đề cập đến việc chuyển hóa lẫn nhau giữa các mặt đối lập.

Những dẫn chứng hơi dài dòng vừa rồi của tôi là để chứng minh một niềm tin là Hồ Chí Minh là người am tường dịch lý một cách sâu sắc và có vận dụng dịch học vào công việc của mình. Điều này chưa từng đề cập đến trong các tài liệu nghiên cứu về ông do giới sử học trong và ngoài nước tiến hành, có lẽ bởi với hệ thống  lý luận XHCN thì dịch lý là sản phẩm  của chế độ phong kiến nên không thể đưa nó vào tài liệu nghiên cứu chính thống, còn với giới nghiên cứu phương Tây thì “học thuật của phương Đông”  không phải là thứ được đánh giá cao.

Nếu không thừa nhận điều này thì sẽ khá khó khăn trong việc lý giải tại sao Hồ Chí Minh có khả năng tiên đoán trước một số điều ( vốn đã được kiểm chứng bằng dữ liệu chính xác ) . Ở đây tôi xin trích ra một đoạn trong hồi ký của Nguyễn Đăng Mạnh, một cuốn hồi ký cũng từng gây xôn xao văn đàn và xã hội cả ảo lẫn thực.

Một bí ẩn nữa là vì sao Hồ Chí Minh đoán rất chính xác mấy thời điểm lịch sử quan trọng: năm 1945, chấm dứt Đại chiến Thế giới thứ hai và Cách mạng tháng Tám thành công; năm 1954 chiến thắng giặc Pháp (đoán từ năm 1950); năm 1975 chiến thắng giặc Mỹ (đoán năm 1960).

Theo Trần Quốc Vượng, vì ông có tử vi.Năm 1943, khi Hồ Chí Minh viết câu kết bài “Diễn ca lịch sử nước ta”: “Bốn nhăm sự nghiệp hoàn thành”, thì ở Hội nghị Téhéran, thủ lĩnh ba siêu cường trong phe Đồng Minh là Stalin, Churchill, Roosevelt đoán, chiến tranh chấm dứt năm1946.Không lẽ gì Hồ Chí Minh ở Việt Bắc, với một cái đài bán dẫn rất thô sơ, lại đoán thời cuộc thế giới chính xác hơn ba tay trực tiếp chỉ đạo cuộc chiến tranh chống phát-xít với những thông tin phong phú, cập nhật và những dữ kiện đầy đủ. Mà ba tay này đâu có dốt nát gì!

Trần Quốc Vượng kết luận: cụ Hồ có tử vi. Vượng cũng là tay rất sành sỏi tử vi. Anh nói, ở Thư viện Quốc gia có cuốn Tử vi phú đoán của Lê Quý Đôn đã dịch. Vượng đến mượn. Cô thủ thư nói sách không còn. Bố Trần Quốc Vượng có quen cụ Xước là giám đốc thư viện, Vượng đến hỏi, cụ Xước nói: Ông Hoàng Minh Giám đến lấy cho cụ Hồ đọc rồi. Sách đang ở chỗ cụ Hồ.

Anh Từ Sơn có tặng tôi tập Di bút của Hoài Thanh (bản đánh máy lúc chưa xuất bản thành sách). Trong đó có đoạn viết: “Năm 1945, khi quân Tưởng đã kéo vào dày đặc ở miền Bắc và quân Pháp đã bắt đầu đánh phá ở miền Nam, anh Tố Hữu có dịp được gặp Bác. Anh thưa với Bác:

‘Thưa cụ, một bên thì Tây, một bên thì Tàu, bên nào đáng sợ hơn?’

‘Tây cũng không đáng sợ. Tàu cũng không đáng sợ. Đáng sợ nhất là các chú.’ Ông Hồ trả lời như vậy”.

Ngẫm ra đây cũng là một tiên đoán thiên tài của Hồ Chí Minh. Ngày nay Pháp, Mỹ đều rút hết rồi. Đất nước nếu còn khốn khổ thì đúng là do “các chú”.

Chi tiết nói về khả năng tiên đoán tương lai của Hồ Chí Minh không phải chỉ một mình Nguyễn Đăng Mạnh nhắc đến mà nó được nhiều người khác từng tiếp xúc với ông nhắc lại nhiều lần trên các phương tiện thông tin chính thống, chỉ có thông tin về việc ông Hồ Nghiên cứu tử vi là lần thông tin mới .Dù rằng “môn dự đoán dựa trên dịch học” chưa được xác lập là một môn khoa học thực sự  bởi cái mã nguồn  của nó vẫn chưa được mở để trở thành open source mọi  người cùng nghiên cứu nhưng có một thực tế là công chúng vẫn đã và đang thừa nhận năng lực này ở một số  nhân vật lịch sử  được tôn xưng là “Thượng thông thiên văn, hạ tường địa lý, trung tri nhân sự, huyền cơ  tham tạo hóa” như Thiệu Ung ở Trung Quốc và Nguyễn Bình Khiêm ở Việt Nam.  Khác với Thiệu Ung chuyên tâm vào học thuật, chú trọng soạn thảo  các trước tác dịch học, Nguyễn Bỉnh Khiêm không để lại trước tác dịch học nào cả ( có một số tác phẩm để được cho là của cụ nhưng chưa có bằng chứng xác thực, có thể người đời sau tạo ra mượn danh cụ để lấy uy ) nhưng ông lại được xem là người đã sắp xếp thế các thế lực chính trị tạo nên cục diện lịch sử Việt Nam thế kỷ 16 qua việc “chỉ dẫn” cho các tập đoàn  Lê, Mạc, Trịnh, Nguyễn. Cũng có những ví dụ khác về những “trí thức cổ trang” có bản lĩnh  “Chọc trời khuấy nước, khuynh đảo thiên hạ” là “bậc thầy của đế vương” từng dùng cái năng lực “thần cơ diệu toán” của mình can dự một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào lịch sử lập nên các triều đại kéo dài mấy trăm năm như  Trương Lương, Gia Cát Lượng, Lưu Bá Ôn mà học thuật của mấy đồng chí này không gì khác ngoài mấy món “Âm dương dịch lý, ngũ hành vật luận”.

Bất kể ai xuất phát từ quan điểm chính trị nào mà nói mọi người đều phải thừa nhận rằng Hồ Chí Minh cũng là một nhân vật “hùng tài đại lược” có tầm ảnh hưởng  toàn cầu, căn cứ vào những hệ quả mà ông tạo ra đối với lịch sử ( tôi không nói về việc nó là tiêu cực hay tích cực, cái này tùy quan điểm lập trường của các phe phái  theo các xu hướng chính trị khác nhau, tôi chỉ nói về mức độ sâu và rộng của ảnh hưởng đó )  thì bản lĩnh của ông so với các nhân vật đã nêu cũng không kém chút nào, thì không có gì là phi lý nếu cho rằng bản lĩnh ấy một phần bắt nguồn từ học vấn về dịch lý cũng như năng lực thực hành nó của ông.

Quay trở lại với chủ đề về ngày sinh,  tôi  đồng tình với kết luận của Giáo sư Trần Quốc Vượng qua lời kể của Nguyễn Đăng Mạnh,  vì như tôi như đã dẫn chứng ở trên, tôi tin rằng  Hồ Chí Minh có  căn bản dịch lý vững vàng và theo logic đó ông cũng  không am hiểu tư vi,  tất nhiên ông là người biết rõ về ngày tháng năm sinh của mình, chỉ có điều ông không muốn người khác biết.  Song không phải là không ai biết thông tin đó. Ngoài những người trong gia đình ông Hồ thì trong giới nghiên cứu tử vi lý số Việt Nam nhiều người có biết những thông tin này. 

Giai thoại và thực tế

Có một lần tôi đọc được đâu đó trên một trong các diễn đàn lý số mà người viết ( có lẽ đã cao tuổi và đang sống ở hải ngoại ) kể được cụ Ba La ( người được xem là vua tử vi rất nổi tiếng ở Sài Gòn trước 1975 lấy tên làng Ba La ( Hà Ðông ) làm tên hiệu, không ai biết được tên tuổi thật của cụ, vốn là sĩ phu thế hệ Cần Vương, Duy Tân sau khi thất bại  chạy sang Tàu cụ Ba La sau lại về ngồi xem số ở chợ Hà Đông trước 1954 ) trực tiếp thuật  lại là:

“Nhà tôi có vườn rộng, các ông ấy  ông Võ -Nguyễn Giáp  và ông Nguyễn – Hồ Chí Minh  vẫn tới chơi xem số “,  ” các ông ấy xuất thân ở miền đất xấu, gặp nhiều tai ương, chẳng được lâu, đất Việt ta thời xưa từ Thanh Hóa trở ra đất rộng sông dài, dựng nghiệp lâu dài được, miền Nghệ Tĩnh đất hẹp, bốc lên rồi tắt rất nhanh, chẳng quá hai ba giáp”.

Dữ kiện  bỏ qua phán đoán của cụ Ba La thì có thể củng cố thêm khả năng Hồ Chí Minh có nghiên cứu tử vi  của chính mình để ứng dụng nó vào sự nghiệp của mình là rất cao và có lẽ ông đã khá thành công trong việc này.

Một lá tử vi  mẫu trong sách

Vậy rốt cuộc thì Hồ Chí Minh sinh ngày nào và lá số tử vi của ông ra sao?

Trong cuốn “Tử Vi Đẩu Số Tân Biên” của một nhân vật tên tuổi trong làng tử vi là Vân Đằng Thái Thứ Lang ở phần phụ lục có 4 lá số mẫu dành cho những người nghiên cứu học cách lập đoán trong đó có 2 lá số làm cho người ta chú ý bởi cách ám chỉ của tác giả. Dù không nói trắng ra nhưng những thông tin mà tác giả đưa ra dường như khẳng định 100% rằng đó là lá số của Bảo Đại và Hồ Chí Minh.  Thái Thứ Lang vốn là người cùng quê Nam Đàn với Hồ Chí Minh và cha của ông còn được cho là bạn của Nguyễn Sinh Sắc nên đó là lý do mà những người đọc sách này tin tưởng rằng nguồn tin của ông là chân thực. Ngoài ra còn một lý do nữa mà người ta tin vào thông tin của Thái Thứ Lang vì ông này là nhà sư, người xuất gia thì sẽ không phạm giới luật vọng ngôn, tức là ông sẽ nói những thông tin mà ông nghĩ trong đầu là đúng chứ không bịa đặt ( dù có thể điều ông ấy nghĩ chưa chắc đã đúng :D ) . Đây là là số của Hồ Chí Minh do tôi chụp lại từ cuốn sách xuất bản năm 1956 tại Sài Gòn này.

Theo những thông tin trên đó thì Hồ Chí Minh sinh vào giờ Mão ngày 6/6 (Âm Lịch ) năm Tân Mão ( 1891).

Lá số này có một số điểm khá tương hợp với  miêu tả của Thiếu Lăng Quân về băn khoăn của các ông Nguyễn Sinh Sắc, Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý khi  họ luận đoan lá số của Nguyễn Sinh Cung rằng họ đều thừa nhận đây là lá số Tử Vi của một con người không bình thường,  song các ông không lý giải được vì sao với một con người an thủ Mệnh, Tài, Quan là các chính tinh: Tử, Phủ, Vũ, Tướng, Liêm, Phá… như vậy mà Cung Điền trạch lại Vô chính diệu.

Thực tế sau này đã cho thấy  cho thấy Hồ Chí Minh uy quyền bao trùm thiên hạ mà trong tay lại không có tài sản gì, cung Điền Sản rất mờ nhạt thì có thể giải thích được băn khoăn ở trên.

Luận đoán thêm một chút là thấy cung Thiên Di có phá quân thủ tọa đắc địa có vẻ ứng với cuộc đời suốt đời làm chuyện canh cải, bôn ba khắp năm châu bốn biển đầy sóng gió của ông Hồ nhưng ông đều vượt qua được.

Khả năng vượt khó của ông cũng thể hiện trong sự nghiệp chính trị của mình. Nếu  xem xét toàn bộ thế tam hợp của 3 cung: Mệnh, Tài, Quan  thì cái thế tam hợp này là thế lấn lướt tình thế.

 

Thế tam hợp trong Tử vi có 4 thế: Thế bình thuận, an hòa, Thế đối nghịch ; Thế bị lấn át và Thế lấn lướt ( hoàn cảnh ). Từ lý “Quan phương thập dụ” ( mười nguyên tắc căn bản khi luận đoán lá số tử vi ) mà xét thì lá số này có bản phương  “Do nội tự cường” ( Mạnh từ bên trong, lực từ gốc rễ mà ra ) là thế của người bản lĩnh rất cao cường  luôn chủ động lấn lướt  mọi hoàn cảnh, tức là không phụ thuộc hoàn cảnh để nó khuất phục  mà còn có khả năng áp đặt hoàn cảnh…Ở trên có mấy ví dụ về cách ông Hồ ứng biến với tình thế hay nhìn thấy trước được cục diện chiến tranh.

Kết

Song đối với Tử vi mà nói thì cùng một lá số nhưng mỗi ông luận một kiểu tùy vào trình độ, nhất là luận về mấy ông làm chính trị thì yếu tố tình cảm yêu ghét, sùng bái hận thù các kiểu lại chi phối rất nhiều, và có nhiều cách luận giải khác thì lại chỉ ra những điểm không tương thích với vận mệnh của ông Hồ.  Cá nhân tôi thì tuy không khẳng định 100% nhưng đánh giá rằng thông tin về ngày sinh của chủ tịch Hồ Chí Minh là 6/6 âm lịch 1891 có độ chân thực với xác suất khá cao.

Dù vậy nếu có được thêm các dữ kiện đầy đủ hơn để có câu trả lời chính xác hơn nữa thì càng tốt, bởi tìm kiếm sự thật là nhu cầu vốn có của con người, thông tin về một nhân vật lịch sử có tầm ảnh hưởng toàn cầu như Hồ Chính Minh không đơn giản chỉ là ngày giờ ông đến với thế giới này mà nó còn liên quan đến rất nhiều sự kiện lịch sử khác trước đây và sau này nữa.

Chính vì lý do đó nên hôm nay tôi  viết bài này với mong muốn cung cấp thêm một số thông tin vốn dĩ chưa được hoặc ít được nhắc tới về Hồ Chí Minh xem như một thao tác xử lý hình ảnh “xóa mờ, khử nhiễu” bức  chân dung của ông để những ai có cùng mối quan tâm có thể thảo luận. Hy vọng các bạn yêu thích nghiên cứu lịch sử hay lý số dịch học và tử vi sẽ cung cấp thêm cho tôi một số thông tin khác mà các bạn có, chẳng hạn như lá số được cho là của Hồ Chí Minh mà 2 ông Sơn Tùng và Thiếu Lăng Quân đang giữ. Tôi đã tìm thông tin liên lạc của họ trên mạng nhưng không tìm được để hỏi trực tiếp.

 

P/S: Đối với các bạn chưa tìm hiểu về dịch học và tử vi, các bạn có thể bỏ qua các các đoạn dẫn giải của tôi về các nội dung này, không cần focus nhiều vào chúng bởi các bộ môn này được xếp vào loại huyền học chứ không phải khoa học, nó có cách tư duy và phương pháp luận hoàn toàn khác với phương pháp luận của khoa học hiện đại.  Dưới con mắt của khoa học còn rất nhiều điều về các môn huyền học chưa được làm sáng tỏ. Dù sao với đại đa số mọi người mà nói thì chúng ta chỉ nên tin vào những thứ mà mình đã hiểu rõ và lấy nó làm căn cứ cho nhận thức của mình. Đối với cái ta chưa hiểu hãy xem nó có giá trị tham khảo. Ở đây là giá trị tham khảo hữu ích mà nó mang lại là có một logic dẫn đến dữ kiện về ngày sinh thực sự của Hồ Chí Minh, đó có thể là mối quan tâm chung của nhiều người ./.

( Nguồn: nhathonguyentrongtao…)

 

Nhà văn Nguyễn Đắc Xuân

Một vài khía cạnh trong cuộc đời cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tâm thức một người cầm bút xứ Huế

  Nhà văn Nguyễn Đắc Xuân trả lời phỏng vấn của nhà thơ Từ Quốc Hoài

Nhân sinh nhật lần thư 125 của Chủ tịch Hồ Chí Minh,nhà thơ Từ Quốc Hoài và nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân đã có cuộc trao đổi thẳng thắn về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh. Sau đây là nội dung cuộc trao đổi.

1. Từ Quốc Hoài.- Là nhà nghiên cứu đã dành nhiều công  sức tìm hiểu về Hồ Chí Minh, ông đánh giá thế nào vai trò của Hồ  Chí Minh trong công cuộc giành độc lập cho dân tộc? (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.05.2015

Chế Lan Viên với ba bài thơ “sám hối”

Chế Lan Viên với ba bài thơ “sám hối”

 

     QTXM-   Trong thơ Di cảo Chế Lan Viên có 3 bài thơ rất hay. Đó là các bài :“Ai ? Tôi!”  –  “Bánh vẽ”  và “Trừ đi”… Có người bảo đây là  những sự trở trăn, lật trái lại mặt sau của cuộc đời. Nói đúng hơn đây là ba bài thơ sám hối của một nhà thơ đã ngộ ra sớm hơn nhà văn Nguyễn Khải ”đi tìm lại cái tôi đã mất”,đến mười năm. Tại sao nhà thơ cách mạng nổi tiếng họ Chế phải “nhìn lại”, “sám hối?”Xin bạn đọc, nhất là các nhà quản lý văn nghệ hãy đọc ba bài thơ và tự bình luận, tự trả lời câu hỏi!

AI? TÔI?

 

Mậu Thân 2.000 người xuống đồng bằng
Chỉ một đêm, còn sống có 30
Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2.000 người đó?
Tôi! Tôi – người viết những câu thơ cổ võ
Ca tụng người không tiếc mạng mình trong mọi cuộc xung phong
Một trong ba mươi người kia ở mặt trận về sau mười năm
Ngồi bán quán bên đường nuôi đàn con nhỏ
Quán treo huân chương đầy, mọi cỡ
Chả huân chương nào nuôi được người lính cũ!
Ai chịu trách nhiệm vậy?
Lại chính là tôi!
Người lính cần một câu thơ giải đáp về đời
Tôi ú ớ
Người ấy nhắc những câu thơ tôi làm người ấy xung phong
Mà tôi xấu hổ
Tôi chưa có câu thơ nào hôm nay
Giúp người ấy nuôi đàn con nhỏ
Giữa buồn tủi chua cay vẫn có thể cười
1987 (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.05.2015

THƯỜNG KHI RẤT BẤT NGỜ, TA ĐỌC MỘT CÂU HAY

Nhà vănNguyên Ngọc
THƯỜNG KHI RẤT BẤT NGỜ, TA ĐỌC MỘT CÂU HAY
thanh thảo

Kẻ nào thực sự quên mình trong cuộc sống thì lại được cuộc sống trả lại cho tất cả” (Nguyên Ngọc).

Tôi đọc câu này trong… Bản Đề dẫn được đọc trong hội nghị… đảng viên của Hội nhà văn Việt Nam do nhà văn Nguyên Ngọc chấp bút. Hội nghị này diễn ra tháng 3 năm 1979 tại Hà Nội. Thời điểm ấy tôi cũng được coi là nhà văn, nhưng không được họp và nghe trực tiếp Bản Đề dẫn, do tôi… không phải đảng viên. Hóa ra, là đảng viên có lợi thật! Chả trách, mãi 36 năm “sự kiện Đề dẫn” tôi mới được đọc tài liệu này, một tài liệu mà chính tác giả của nó là nhà văn Nguyên Ngọc cũng phải thú nhận, là “Đọc lại rất hay, nhưng cũng rất buồn cười, nhiều chỗ hồi ấy mình còn cứng quá chừng!” (trích thư Nguyên Ngọc gửi Lại Nguyên Ân)[i]. “Cứng” như thế mà còn bị phê phán, còn bị đánh cho tơi tả, nữa là “mềm” như tôi hồi ấy. Thú thật là cũng có lúc tôi rất hăng hái, nhưng sao không ‘cứng” được, mà nó cứ… mềm mềm. Trách gì không được vào Đảng. Còn nhớ, lúc bấy giờ mấy anh em chúng tôi còn đang ở Trại sáng tác quân khu Năm, đóng trụ sở tại số 10 Lý Tự Trọng – Đà Nẵng. Tôi hoàn toàn không biết gì về cuộc “Hội nghị đảng viên” này. Cả về Bản Đề dẫn, mặc dù nổi tiếng như thế nhưng tôi cũng chưa từng được đọc. Một thời gian sau hội nghị, tôi chỉ được nghe tin vỉa hè, không mấy chính xác về Bản Đề dẫn này. Hồi đó, chúng tôi nghe là thủ trưởng của chúng tôi – nhà văn Nguyễn Chí Trung – ban đầu có tham gia tích cực vào việc hình thành văn bản này, thậm chí tôi còn nghe là Bản Đề dẫn do ông Trung chấp bút, ông Ngọc chỉ “định hướng tư tưởng”. (Đọc tiếp…)

Bảy lý do Trung Quốc sẽ phát động một cuộc chiến từ nay tới 2017

David Archibald 

Đâu là những nguyên nhân chính có thể dẫn đến một cuộc chiến do Trung Quốc phát động? Nhật Bản và Mỹ cần chuẩn bị những gì để đối phó nếu như kịch bản này xảy ra?

 1. Tính chính danh của Đảng cộng sản Trung Quốc

Tính chính danh của Đảng Cộng sản Trung Quốc dựa trên cơ sở sự cải thiện liên tục về các điều kiện sống của phần lớn người dân Trung Quốc. Trong trường hợp không có sự cải thiện về kinh tế, một số lý do khác phải được đưa ra nhằm làm cho người dân tập hợp xung quanh sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Điều này có thể giải thích cho việc bất ngờ xây dựng các căn cứ tại quần đảo Trường Sa bắt đầu vào tháng 10/2014.

Nợ công của Trung Quốc đã tăng từ 7.000 tỷ USD vào năm 2007 lên 28.000 tỷ USD vào năm 2014. Đây là khoản nợ của một nền kinh tế có GDP 10.000 tỷ USD/năm. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong vòng 7 năm qua chỉ đơn giản là được xây dựng dựa trên tài trợ của các khoản nợ. Nền kinh tế thực sự của Trung Quốc nhỏ hơn nhiều.

Chính phủ Trung Quốc nhiều khả năng thấy được nền kinh tế của mình đang thu hẹp và nhận ra rằng việc phát hành thêm nợ sẽ không có ảnh hưởng lên việc duy trì hoạt động kinh tế. Vì vậy, việc xây dựng các căn cứ đã được đẩy nhanh nhằm cho phép lựa chọn phát động chiến tranh của họ. Đây là vấn đề sống còn đối với giới tinh hoa lãnh đạo đảng. Họ đang đặt cược tất cả vào điều này. Nếu canh bạc này không phát huy tác dụng thì sau đó nhiều khả năng sẽ có một sự thay đổi chế độ khá hỗn loạn.

2. Vết thương chưa lành

Nhật Bản đã đối xử với Trung Quốc như dân tộc nhược tiểu trong thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai. Trước đó, Nhật Bản bắt đầu xử tệ với Trung Quốc bằng cách tấn công nước này vào năm 1895, không lâu sau khi Nhật Bản bắt đầu tiến hành công nghiệp hóa. Tiếp theo đó là 21 yêu cầu của Nhật Bản đối với Trung Quốc vào năm 1915. Chính quyền Quốc Dân Đảng ở Trung Quốc bắt đầu xác định ngày Quốc nhục vào những năm 1920. Tiếp theo đó là sự kiện Mãn Châu (Mukden Incident) vào năm 1931 và Trung Quốc bắt đầu tham gia Chiến tranh thế giới thứ hai năm 1937.

Trong suốt thời kỳ nghèo khó của những năm tháng dưới chế độ Mao Trạch Đông, người Nhật Bản đã được tha thứ (về những hành động của họ trong Chiến tranh thế giới thứ hai). Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình là những con người thực dụng. Hai người đã nói rằng Nhật Bản không thể bị trừng phạt mãi mãi. Sự thịnh vượng của Trung Quốc gần đây đã cho phép xu hướng bài Nhật sống lại như một hình thức tôn giáo của nhà nước. Ngày Quốc nhục một lần nữa được xác định là ngày 18/9. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã chỉ đạo truyền hình quốc gia nêu bật chủ đề về cuộc xâm lược của Nhật Bản. Ngày nay, 70% thời lượng “giờ vàng” của truyền hình Trung Quốc là các bộ phim về Chiến tranh thế giới thứ hai. Có ít nhất 100 bảo tàng ở Trung Quốc được dành để trưng bày kỷ vật về sự xâm lược của Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ hai.

Chế độ tại Trung Quốc đang tạo ra và duy trì tình cảm chống Nhật nhằm cho mình một lựa chọn để đi đến chiến tranh.

3. Được công nhận như là cường quốc số một

Trung Quốc là một dân tộc đầy tự hào. Người dân Trung Quốc thực sự phẫn nộ với thực tế rằng Mỹ được coi là quốc gia số một trên hành tinh. Trung Quốc cũng nhận ra rằng để được công nhận là số một, họ phải đánh bại quốc gia số một hiện tại trên chiến trường. Đây là lý do tại sao Trung Quốc sẽ không chỉ từng bước leo thang gây hấn. Nước này cần một cuộc chiến vì lý do tâm lý của riêng mình.

Điều này có nghĩa rằng Trung Quốc sẽ tấn công Mỹ vào cùng thời điểm mà nước này tấn công Nhật Bản. Do các cuộc tấn công bất ngờ nhiều khả năng thành công hơn nên cuộc tấn công của Trung Quốc sẽ là một cuộc tấn công bất ngờ vào các căn cứ của Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương, có lẽ còn xa hơn thế. Cuộc tấn công này nhiều khả năng sẽ bao gồm các cuộc tấn công mạng vào hệ thống tiện ích và thông tin liên lạc của Mỹ.

Trung Quốc đã cơ cấu lực lượng vũ trang của mình để có khả năng đáp ứng một cuộc chiến tranh ngắn, cường độ cao. So với bất kỳ quốc gia nào trên hành tinh này, Trung Quốc có thể là nước có sự chuẩn bị kỹ lưỡng nhất cho chiến tranh. Nước này có dự trữ ngũ cốc đảm bảo tiêu dùng trong một năm và thậm chí có cả dự trữ thịt lợn chiến lược. Trung Quốc vừa lấp đầy dự trữ dầu mỏ chiến lược của mình với trữ lượng khoảng 700 triệu thùng dầu.

Cuộc chiến tranh của Trung Quốc không liên quan gì đến việc đảm bảo các nguồn tài nguyên hay duy trì an toàn cho các tuyến đường thương mại của họ. Một số nhà phân tích phương Tây đã đưa ra các quan điểm đó nhằm giải thích cho những gì mà Trung Quốc đang làm. Bản thân người Trung Quốc đã không đưa ra lời bào chữa nào. Đối với Trung Quốc, sự toàn vẹn lãnh thổ là trên hết. Điều đó là thiêng liêng và không phải là với lý do thương mại tầm thường.

4. Làm bẽ mặt các nước láng giềng

Tầm quan trọng của quần đảo Trường Sa và yêu sách “đường chín đoạn” của Trung Quốc là nó phân chia châu Á.

Trung Quốc tuyên bố rằng toàn bộ vùng biển nằm trong yêu sách của Trung Quốc là lãnh thổ Trung Quốc mà không phải chỉ là những hòn đảo. Khi Trung Quốc tìm cách thực thi tuyên bố đó, các tàu buôn và máy bay nước ngoài sẽ phải xin phép để đi qua vùng biển này. Các tàu chiến và máy bay quân sự không phải của Trung Quốc sẽ không được phép đi vào vùng biển này. Yêu sách của Trung Quốc mở rộng xuống tới 4 độ Nam, gần như tới đường xích đạo.

Quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất sẽ là Việt Nam, nước sẽ bị bao bọc trong vòng 80 km của đường bờ biển của mình. Nhật Bản nhận ra rằng các tàu thuyền của mình từ châu Âu và Trung Đông sẽ phải đi xa hơn về hướng Đông trước khi chỉ hướng Bắc qua Indonesia và Đông Philippines. Singapore sẽ bị ảnh hưởng xấu do thương mại qua nước này sẽ không còn.

Nhật Bản sẽ trở nên tương đối bị cô lập do máy bay của mình sẽ phải hướng xuống qua Philippines tới gần xích đạo trước khi bay về phía Tây.

Trung Quốc xếp hạng các quốc gia trên thế giới trên phương diện sức mạnh tổng hợp quốc gia, điều mà người Trung Quốc xem là sức mạnh để gây áp lực. Đây là sự kết hợp của sức mạnh quân sự, sức mạnh kinh tế và sự gắn kết xã hội. Khi nó được thực thi, yêu sách “đường chín đoạn” của Trung Quốc sẽ gây rất nhiều áp lực lên các nước láng giềng của nước này.

5. Cửa sổ chiến lược

Các chiến lược gia Trung Quốc nhìn thấy một cửa sổ cơ hội chiến lược cho Trung Quốc vào đầu thế kỷ 21, mặc dù họ không công khai chỉ ra cơ sở của quan điểm đó. Tuy nhiên, chúng ta có thể làm rõ điều này. Thứ nhất, quan niệm chiến tranh là không thể tránh khỏi có ý nghĩa rất quan trọng để chiến thắng các trận chiến. Trong bối cảnh Trung Quốc được coi là có một nền kinh tế mạnh, đang tăng trưởng thì quan niệm về sự bất khả kháng này dẫn đến các cuộc phiêu lưu quân sự của Trung Quốc. Với nhận thức đó, Trung Quốc phải tấn công trước khi nền kinh tế của nước này thu hẹp do vỡ bong bóng bất động sản. Điều này giải thích sự gấp rút hiện nay của Trung Quốc trong việc xây dựng các căn cứ tại quần đảo Trường Sa.

Một vấn đề khác đặt ra với Trung Quốc là sự hung hăng và gia tăng chi tiêu quân sự đã làm cho các nước láng giềng của Trung Quốc phải tái vũ trang và thiết lập các liên minh. Sẽ là tốt hơn cho Trung Quốc nếu tấn công trước khi các nước láng giềng của mình vũ trang ngày càng lớn hơn.

Một khía cạnh cân nhắc khác là chu kỳ bầu cử tổng thống Mỹ. Tổng thống Obama được xem là một tổng thống yếu và Trung Quốc nhiều khả năng sẽ tấn công trước khi nước Mỹ có tổng thống mới. Chủ nghĩa thu hồi lãnh thổ đã mất của Trung Quốc và nhận thức về cuộc chiến sắp tới với Trung Quốc vẫn còn khá phổ biến trong giới quân sự Mỹ. Tổng thống Obama đã gây ra một số tranh cãi khi có một số chính sách không nhất quán dẫn đến hỗ trợ Trung Quốc. Trong khi một nền kinh tế mạnh là cần thiết để chống lại Trung Quốc thì chính quyền của ông Obama đang làm hết sức mình để bóp nghẹt nền kinh tế Mỹ với các quy định về cắt giảm lượng khí thải CO2.

Tổng thống Obama đã trải qua thời thơ ấu ở Indonesia và có thể đã chứng kiến rất nhiều thái độ bài Hoa (người Trung Quốc đã và đang là các thương gia và chủ tiệm thành công hơn) trong chính những năm tháng đầu đời. Cũng giống như thời thơ ấu của Valerie Jarrett ở Iran, điều này sẽ ảnh hưởng đến chính sách của ông.

6. Bệnh tự kỷ nước lớn

Đây là một thuật ngữ được tạo ra bởi chiến lược gia Edward Luttwak để mô tả một thực tế rằng Trung Quốc dường như không quan tâm gì về tác động của các hành động của mình đối với các nước láng giềng. Trung Quốc tự coi mình là trung tâm của thế giới và hoàn toàn nhìn qua lăng kính lợi ích của riêng mình. Điều này dẫn đến hệ quả thực tế là Trung Quốc không thể chấp nhận được khả năng của những điều không diễn ra theo cách mà nước này muốn. Luttwak cũng cho rằng người Trung Quốc phóng đại tư duy chiến lược của riêng mình.

7. Chủ tịch Tập Cận Bình

Mặc dù việc chuẩn bị cho cuộc chiến này đã được bắt đầu vào những năm 1980, song sự hung hăng gia tăng gần đây được thực hiện dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Tập Cận Bình, người được coi là Thái tử đảng trong những năm đầu sự nghiệp, đã bị ấn tượng bởi cách cuộc chiến tranh với Việt Nam năm 1979 đã được sử dụng để củng cố quyền lực trong Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc. Chủ tịch Tập Cận Bình đã tập trung được nhiều quyền lực hơn bất kỳ nhà lãnh đạo Trung Quốc nào kể từ thời Đặng Tiểu Bình. Ông đang sử dụng chiến dịch chống tham nhũng để thanh trừng đối thủ chính trị. Được biết các nhà lãnh đạo Trung Quốc sẽ chỉ cầm quyền trong vòng mười năm trước khi rời chính trường. Chỉ trong hai năm trên cương vị Chủ tịch nước, những người ủng hộ Tập Cận Bình đã làm dấy lên khả năng phục hồi vị trí chủ tịch đảng (từng bị bãi bỏ bởi Đặng Tiểu Bình nhằm không để tái hiện một Mao Trạch Đông khác) nhằm giúp Tập Cận Bình có thể tiếp tục cầm quyền từ vị trí đó. Chủ tịch Tập Cận Bình đã trải qua một thời kỳ khắc nghiệt làm cho ông trở nên cứng rắn qua những sự từng trải trong cuộc sống. Ở tuổi 15, ông được gửi đến sống và làm việc với nông dân tại một vùng quê khô cằn sỏi đá sau khi cha của ông bị thanh trừng. Ông sống trong một cái hang. Người chị của ông đã tự vẫn trước sức ép của lực lượng Hồng vệ binh.

Nhật Bản

Nhật Bản nhận thấy rằng cuộc chiến tranh này đang được đẩy về phía mình và nước này đang tiếp cận nó với sự tiên lượng trước. Nhật Bản coi cuộc chiến này là không thể tránh khỏi, mặc dù gần đây Thủ tướng Abe đã diễn ra yêu cầu gặp Chủ tịch Tập Cận Bình ở Indonesia. Cuộc gặp đã diễn ra căng thẳng do Chủ tịch Tập Cận Bình muốn hàng chục nghìn người dân đất nước của Thủ tướng Abe phải trả giá. Thủ tướng Abe đã phát biểu trước lưỡng viện Quốc hội Mỹ như là một phần của nỗ lực của ông nhằm đảm bảo rằng Mỹ và Nhật Bản sát cánh đối phó và đẩy lùi cuộc tấn công của Trung Quốc.

Mỹ

Mỹ tin rằng một trật tự thế giới dựa trên luật lệ cần phải được duy trì vì an ninh và thịnh vượng toàn cầu, trong đó có thịnh vượng của riêng Mỹ, vì điều đó dựa phần lớn vào thương mại thế giới. Vì vậy đối với Mỹ, cuộc chiến này sẽ xoay quanh việc duy trì sự tiếp cận đối với các lợi ích chung toàn cầu. Quân đội Mỹ đã không cập nhật cho công chúng nước này về tất cả sự chuẩn bị của Trung Quốc đối với chiến tranh, có lẽ bởi vì họ không muốn bị coi là làm leo thang căng thẳng. Tuy nhiên, quân đội Mỹ không còn nghi ngờ rằng Trung Quốc sẽ bắt đầu một cuộc chiến. Vấn đề chưa rõ chỉ là thời điểm.

Sự hung hăng của Trung Quốc hóa ra lại là may mắn đối với Hải quân Mỹ, một lực lượng trước đó đã thiếu một mối đe dọa đáng tin cậy và phải đối mặt với sự cắt giảm liên tục. Hiện có một xu hướng nhấn mạnh đến tính hiệu quả của các hệ thống vũ khí của đối phương. Người Trung Quốc có thể đã đọc được các báo cáo của Hải quân Mỹ về các hệ thống vũ khí của họ, điều có thể đã làm họ càng củng cố quyết tâm hơn nữa.

Cuộc chiến này sẽ được thực hiện như thế nào

Sẽ có hai chiến trường chính: Biển Hoa Đông ở phía Bắc của Đài Loan và Biển Đông ở phía Tây của Philippines.

Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Senkaku (lần cuối cùng bị Nhật Bản chiếm đóng khoảng 100 năm trước đây) và toàn bộ chuỗi Ryuku từ quần đảo Yaeyama ở cực Nam tới đảo Okinawa ở phía Bắc. Nếu Trung Quốc chiếm được quần đảo Senkaku, nước này cũng đồng thời có thể nắm giữ được quần đảo Yaeyama. Để đạt được điều đó, Trung Quốc đang xây dựng một căn cứ quân sự tại quần đảo Nam Kỷ cách quần đảo Senkaku khoảng 300 km về phía Tây. Căn cứ này có thể tiếp nhiên liệu với 10 đường bay cho trực thăng cất cánh. Điều này cho thấy cuộc tấn công khởi đầu sẽ do trực thăng thực hiện bay vượt trên các tàu tuần duyên của Nhật Bản xung quanh quần đảo Senkaku.

Trung Quốc có một hạm đội tàu đánh cá khá lớn và tàu buôn với sức vận chuyển lên tới 70 triệu tấn. Nước này đã sử dụng đội tàu đánh cá của mình để quấy rối lực lượng Cảnh sát biển Nhật Bản xung quanh quần đảo Senkaku và tới tận phía Đông quần đảo Osagawa, trong đó có đảo Iwo Jima. Điều này cho thấy các tàu đánh cá có thể được sử dụng để đổ bộ các lực lượng đặc nhiệm của Trung Quốc nhằm tấn công các căn cứ của Nhật Bản trên một phạm vi rộng, điều được coi là hậu phương vững chắc cho tiền tuyến. Những lực lượng này sẽ được sử dụng như vật hiến tế để gây ra tình trạng lộn xộn tối đa nhằm làm nhụt chí lực lượng quốc phòng Nhật Bản. Ở phía Bắc, cách thức của Trung Quốc sẽ là chiếm giữ và cầm cự chống lại sự phản công của Nhật Bản và Mỹ.

Tại Biển Đông, Trung Quốc đang xây dựng 7 pháo đài khổng lồ và một đường băng. Các pháo đài được thiết kế với tháp pháo phòng không đứng ở các góc nhằm giúp mỗi tháp pháo đều có phạm vi hỏa lực ít nhất là 270 độ. Các pháo đài dường như được thiết kế nhằm tấn công trừng phạt với cường độ lớn và cầm cự cho tới khi chúng được giải vây. Trung Quốc sẽ thắng nếu vẫn giữ được các pháo đài này cho tới thời điểm cuối cuộc chiến.

Trung Quốc nhiều khả năng sẽ bắt đầu cuộc chiến ở phía Nam với các cuộc tấn công nhằm vào các căn cứ của các nước khác trong quần đảo Trường Sa cũng như các căn cứ của Mỹ tại khu vực về phía Đông tới tận đảo Guam. Một cuộc chiến kéo dài sẽ có hại cho Trung Quốc do trên tuyến đường tiếp vận từ đảo Hải Nam tới quần đảo Trường Sa, tàu thuyền và máy bay rất dễ bị tấn công. Việt Nam đã và đang nâng cấp hệ thống radar của mình và nước này hy vọng tất cả các nước tham chiến không phải Trung Quốc sẽ chia sẻ thông tin mục tiêu. Hệ thống kiểm soát và cảnh báo sớm (AWACS) của Mỹ tại Philippines sẽ có thể theo dõi các mục tiêu Trung Quốc được trao đổi từ phía Việt Nam. Singapore nhiều khả năng sẽ vận hành các máy bay F-15 của mình ngoài khơi vịnh Cam Ranh. Máy bay Trung Quốc sẽ ở vào cuối tầm bay khi tới được quần đảo Trường Sa.

Lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ đã nâng số lượng các căn cứ tại Philippines với mục đích gia tăng sức mạnh tấn công nhằm đánh bật Trung Quốc khỏi các pháo đài mới xây dựng của họ. Một số hệ thống vũ khí của Mỹ như tàu USS Zumwalt có thể sẽ phải được triển khai để đạt được mục tiêu này.

Trong bức tranh lớn hơn, Nhật Bản và Trung Quốc sẽ cố gắng để phong tỏa nhau, chủ yếu là bằng lực lượng tàu ngầm của mỗi nước. Hải quân Nhật Bản có chất lượng cao hơn Trung Quốc và rất nhiều khả năng sẽ giành chiến thắng trong cuộc chiến phong tỏa lẫn nhau này.

Ngành công nghiệp trên toàn châu Á sẽ bị ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc chiến này. Đặc biệt, ngành công nghiệp Trung Quốc nhiều khả năng sẽ bị đình trệ nhanh chóng, điều mà cuối cùng sẽ dẫn đến bất ổn xã hội. Cuộc chiến càng kéo dài thì vị thế tương đối của Trung Quốc sẽ càng tồi tệ. Thịt sẽ biến mất khỏi khẩu phần ăn của người Trung Quốc. Đậu tương không bán được sẽ chất đống trong các kho của Mỹ.

Việc loại bỏ các căn cứ của Trung Quốc tại quần đảo Trường Sa sẽ cho phép một giải pháp hòa bình dành cho bất cứ ai cuối cùng cầm quyền ở Trung Quốc. Đây sẽ là một trong những cuộc chiến tranh vô nghĩa, ngu ngốc và hủy diệt nhất trong lịch sử, song đó là những gì đang đến.

David Archibald thuộc Viện Chính trị Thế giới (IWP) tại thủ đô Washington. Bài viết được đăng trên American Thinker.

Văn Cường (gt)

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/quan-h-quc-t/4894-bay-ly-do-trung-quoc-se-phat-dong-mot-cuoc-chien-tu-nay-toi-2017

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.05.2015

Tự do ngôn luận và đức tin tôn giáo

Bìa TC CHARLIE HEBDO Pháp

Tự do ngôn luận và đức tin tôn giáo

Phan Thành Đạt

QTXM: Một bài viết rất hay, giúp người đọc hiểu thêm để ứng xử tốt hơn trong việc bảo vệ tự do của con người và đức tin tôn giáo.

  Tự do ngôn luận và tự do về tư tưởng là những quyền con người cơ bản được Hiến pháp, Tuyên ngôn về quyền con người năm 1948 và Công ước châu Âu về quyền con người năm 1950 bảo vệ. Nhà luật học Jean Rivero phân chia quyền con người thành ba loại: Quyền tự nhiên, quyền tham gia vào các hoạt động chính trị xã hội, quyền được hưởng từ các chính sách của Nhà nước nhằm chăm lo cho con người. Quyền con người thuộc thế hệ thứ nhất là những quyền tự nhiên nếu thiếu chúng, tự do, hạnh phúc của con người sẽ không được đảm bảo. Quyền được sống, tự do đi lại, tự do ngôn luận, tự do tôn giáo là các quyền cơ bản thuộc thế hệ thứ nhất. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.05.2015

Nhân loại trong tay ta

Tranh Picaso

Nhân loại trong tay ta

 Trần Mạnh Ngôn

Giữa thập kỷ sáu mươi của thế kỷ XX, Hội đồng Tương trợ Kinh tế (CEB) của phe Xã hội Chủ nghĩa có một cuộc họp quan trọng được tổ chức tại Beclin, thủ đô nước Cộng Hoà Dân Chủ Đức. Ta thường gọi rút gọn là Đông Đức. Vì là Hội đồng Tương trợ Kinh tế nên chủ yếu bàn về kinh tế. Tính ưu việt của nền kinh tế chỉ huy bao cấp thì đã rõ không cần tranh cãi nữa. Không ưu việt thì làm sao mà đánh bại được phát xít Đức. Đến như một anh đế quốc to như Mỹ cũng phải sợ không dám đến gần. Liên xô đảm đương sứ mạng lịch sử : “tiêu diệt chủ nghĩa phát xít Đức Ý Nhật cứu nhân loại khỏi nạn diệt vong” ­ sử ta dạy thế. Đánh bại được phát xít Đức thì không có điều gì không làm được. Năm đó Việt Nam chưa phải là thành viên chính thức nên được chiếu cố tham dự với tư cách quan sát viên. Một đoàn chuyên gia thượng thặng tháp tùng vị Bộ trưởng không bộ quản lý Phủ Thủ tướng tham dự hội nghị này. Với tư cách quan sát viên phái đoàn ta chỉ nghe mà không nói. Không nói hóa hay. Ê pô xi là cái “đinh” của hội nghị này. Người phe ta bàn sôi nổi lắm. Ê pô xi là chất kết nối cực kỳ vững chắc, cực kỳ nhanh chóng, tiện lợi. Nó có thể thay bu loong, đinh tán nối các giầm cầu bằng sắt thép, nối cá bệ phóng vệ tinh lên quỹ đạo, nối các bộ phận cơ yếu của phi thuyền. Ê pô xi không chỉ là chất keo gắn kết quan trọng của công cuộc xây dựng mà đã trở thành vật liệu chiến lược cho an ninh quốc phòng. Phe tư bản đang ráo riết tìm kiếm. Chúng nó tập trung toàn nhà khoa học đầu ngành ra sức phát minh sáng chế mà chưa đâu vào đâu. Phải mất vài ba thập kỷ nữa thậm chí hết thế kỷ XX chưa chắc đã có. Trong tình hình hiện nay ai làm chủ ê pô xi là người đó làm chủ nhân loại. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.05.2015

Ngẫu hứng Trần Tiến 25:Trần Hiếu, anh tôi

NSND Trần Hiếu

Ngẫu hứng Trần Tiến 25

 Trần Hiếu, anh tôi

Nhạc sĩ Trần Tiến

Khán giả hâm mộhay lẫn giữa tôi và anh tôi, càng tuổi xế chiều hai anh em càng giống nhau. Thực ra nếu anh ấy không hứng lên, để râu chơi, giống em cho vui thì đâu đến nỗi. Suốt ngày chúng tôi phải trả lời ai là Trần Tiến, ai là Trần Hiếu. Tôi nhỏ hơn cả giáp, mà họ vẫn lẫn lộn. Hóa ra mình già thế ư,vừa cay cú, vừa mệt lại buồn cười. Nhớ ngày cách đây cũng đến 40 năm,tôi đang diễn ở rạp Đống Đa Hà Nội, một đêm diễn nhớ đời vì mình mới vào nghề, ra sân khấu hát có hai bài mà phải đi ra, đi vào sáu lần trong tiếng vỗ tay “bis” cổ vũ, dưới khán giả có người lên sân khấu nói vào micro, mời anh Trần Tiến xuống phân giải dùm cuộc đánh lộn của hai cậu bé bơm xe. Tôi xuống thì một cậu bé mếu máo hỏi “anh là Trần Hiếu hay Trần Tiến”, “anh là Tiến, thì sao?” “thế là em mất một ngày bơm xe rồi” “ thôi anh bù cho, đừng khóc nữa. Bận sau đừng dại cá cược nhé, Trần gì thì kệ cha nó, em bơm xe, cứ nhớ mặc quần là được rồi”.

Ngày nhỏ, anh Hiếu là thần tượng của tôi. Anh chống sào nhảy qua những hố cát lớn ngoài bến sông Hồng như Tặc-giăng, tôi cũng bắt chước, một lần bị trẹo chân. Về nhà anh bị bố dần cho một trận. Anh nhảy xuống bơi qua sông, tôi cũng nhảy theo. Sức yếu nên tôi bị sóng cuốn xuống gầm bè nứa dài ngoẵng, may có một đụn cỏ đáy sông cứu thoát. Anh khoái làm cái việc dị hóa ngoài đồng, hương lúa thơm ngào ngạt. Tôi cũng sung sướng làm theo,có lẽ đó là một khám phá lãng mạn nhất thuở ấu thơ anh tặng tôi . Vậy mà khi anh theo nghề hát, nổi tiếng khắp miền Bắc, bảo tôi đừng học sáng tác, theo anh đi hát dễ nổi tiếng hơn. Thì tôi lại không theo anh, đó là lần đầu tiên tôi chống lại anh, ngọn núi sừng sững chắn ngang con đường đời của tôi.

 Anh và chị Thúy Huyền , vợ mới cưới của anh sống mơ mộng như cặp tình nhân thường thấy trên phim Liên xô ngày đó. Về nhà, cứ lên cầu thang là ô ố luyện thanh rất hồn nhiên. Hàng xóm phàn nàn, mẹ mắng. Thế là anh chị bỏ vào sống trong khu tập thể trường nhạc. Anh Trần Hiếu, chị Thúy Huyền và anh Qúi Dương là những người thầy dạy hát đầu tiên của nhạc viện Hà Nội, ngày ấy gọi là trường nhạc Ô chợ Dừa. Nơi đây là cái nôi của bao nhiêu ca nhạc sỹ tài danh ngày đó, mà bây giờ ít người vượt qua được giá trị nghệ thuật của họ. Nói chính xác hơn, thế hệ chúng tôi ngưỡng mộ họ một cách thành kính, hơn bây giờ fan hâm mộ ca sỹ thời thượng nhiều.

Giọng anh Hiếu không dễ chấp nhận bằng giọng anh Qúy Dương. Trời cho anh Dương một vẻ đàn ông quý tộc sang trọng và một giọng hát ngọt ngào quyến rũ bao nhiêu, thì lại cho anh tôi một chất giọng trầm thô (mà chỉ người trong nghề mới biết là quí hiếm) và một vẻ ngoài giống võ sĩ hơn là ca sỹ. Thế mà hai anh ấy thay nhau cháy sáng sân khấu ngày đó, mỗi người một vẻ và hình như họ thân nhau lắm. Tôi nhớ không lầm thì, lứa ca sỹ mang hơi thở nền thanh nhạc hiện đại ở Việt Nam hồi đó, ngoài bậc thầy lớn tuổi đời và tuổi nghề như Quốc Hương, Mai Khanh là đến hai chàng ca sỹ học trong nước, trẻ trung , sáng tạo và đầy tâm hồn: Qúi Dương – Trần Hiếu. Tiếp theo là một loạt ca sỹ học từ các nước trở về ồ ạt, gây náo động nhà hát và làn sóng phát thanh ngày đó, như Trung Kiên, Quang Hưng, Lô Thanh, Gia Khánh… đều là những giọng ca đáng nể, bọn trẻ chúng tôi thi nhau tìm kiếm nơi các anh hát, mắt sáng lên hóng hớt, sung sướng nuốt từng câu hát.

Các anh ấy đều là bậc trí thức trong âm nhạc, ngoài việc được chuyên gia nước ngoài đào tạo bài bản, còn là sự cố gắng tự học ghê gớm để áp dụng phương pháp hát opera vào ca khúc Việt, mày mò từng bước khi âm nhạc xứ ta còn quá thô sơ, lạc hậu. Họ là những người đặt viên gạch đầu tiên xây dựng nền móng thanh nhạc chính thống Việt Nam. Trần Hiếu, Qúi Dương, Ngọc Dậu là những ca sỹ đóng vai chính trong những vở opera đầu tiên của Việt Nam: Epgheni Oneghin, Cô Sao…Cho đến nay cũng chẳng còn vở nào để chúng ta được biết đến.

Anh Hiếu nhà tôi giỏi bốn năm ngoại ngữ, học võ, học vẽ, học văn như điên. Thi vào Đại học toàn đỗ thủ khoa, vậy mà bỏ đi theo nghề mẹ mắng là “xướng ca vô loài”. Sau này anh nổi tiếng, có chút tiền góp vào đỡ đần mẹ nuôi các em nhỏ, trong đó có tôi. Mẹ đỡ hờn giận hơn, nhưng chẳng bao giờ cười. Mẹ lấy bố tôi vì bố tôi hát hay, nhảy claquette giỏi, nhưng trước hết là một nhà giáo đáng kính, một quí ông trường Tây, vì mẹ là tiểu thư con nhà giàu có tiếng Hà thành. Cái thời ấy nó vậy.

Lần đi biểu diễn mấy tháng trời ở Châu Mỹ về, các em xúm đông xúm đỏ nghe anh trai kể chuyện, anh hứng lên hát mấy bài diễn thành công bên đó. Bài “Con voi” làm mẹ cười rung bụng. Lần đầu tiên thằng con “xướng ca vô loài” giải được lời nguyền của mẹ, lấy làm sướng lắm, máu lên chơi luôn bài “Cuba kes linda”. Các em gái trố mắt thán phục vì ông anh được Mỹ nuôi, bụng béo, mông cong, nhảy “samba” cực chuẩn và hát tiếng Latin thì thôi rồi, đúng nghề của chàng. Mẹ chỉ buột miệng “cha nào con nấy ” rồi ngồi khóc, các chị phải xúm vào an ủi dỗ dành, ba mươi năm bố mất, là ba mươi năm mẹ ngồi khóc một mình .

Có lần anh kể bố mình và bác Giáp (Võ Nguyên Giáp ) học cùng trường, chuyên đá cầu với nhau, rất thân thiết. Bác rủ bố lên chiến khu, bố không đi vì đẻ tám đứa con lận, bố là hiệu trưởng Hàng Than ngày đó suốt ngày nói chuyện yêu nước với học sinh bị bọn Tây ghét lắm. Chuyện này tôi không được kiểm chứng vì hai cụ đã mất. Nhưng chuyện anh đánh nhau với Nguyễn Cao Kỳ thì có. Họ học chung trường Chu Văn An. Kỳ hay bắt nạt học sinh lớp dưới, bạn bè cử anh đến đánh nhau với Kỳ. Sau này Tướng Cao Kỳ về thăm quê, vì ông ta thích nhạc tôi do Hà Trần hát bên Mỹ, nên tôi có dịp hỏi ông. Tướng Kỳ chỉ cười cười bảo, hồi đó mình khoái đánh nhau thật, nhưng không nhớ có đụng Trần Hiếu không. Ông này to con lắm, lại giỏi quyền Anh nữa.

Anh tôi không cao lắm nhưng cái lưng to bè giống mẹ, khỏe vô địch. Nhà hát mỗi lần chuyển đàn piano là phải đợi có anh, một mình một đầu thay sức bốn người. Thần tượng của anh là anh hùng Samson nào đó thời ấy. Đại loại là một anh chàng có sức mạnh vô địch, vai u, thịt bắp kiểu phim hành động Mỹ bây giờ, chống lại bất công, bênh vực người nghèo, được người đẹp ngưỡng mộ đem lòng xi mê, đại loại vậy.

Cái hình anh vẽ Samson rất đẹp, choán nguyên bức tường cao 5m ngoài sân ngôi nhà cổ của chúng tôi ở phố Ngõ Gạch. Bố đặt tên anh Trần Trung Hiếu, đứa con thứ hai trong nhà thế mà như số phận. Bố mất sớm, chỉ có anh gánh vác thay bố bên mẹ nuôi chín miệng ăn ngày tản cư, loạn lạc 1947. Mẹ kể: Anh gánh hai thúng muối to đùng vượt qua bốt đồn Tây về được vùng tự do, bán đi mua gạo nuôi cả nhà. Phố Ngõ Gạch ngày đó, các bà tiểu thương đói hàng, lại phải gọi Thằng Hiếu con bà Đốc học về Hải Phòng vùng tạm chiếm, xì xồ tiếng Tây để mua xi măng về cứu cả phố.

Vậy thôi, mà trong anh có một phần dũng cảm thì lại có thêm ba phần… ngốc. Cái thời ấy, thanh niên Hà Thành trí thức đầy mình, quyết tử cho tổ quốc quyết sinh, ôm bom ba càng lao vào xe tăng Pháp dũng cảm là thế, mà khi Thủ đô giải phóng xong,cái lứa các anh đều ngốc giống nhau. Chỉ biết ăn cơm nhà,vác tù và hàng tổng, cụ thể là vác đàn accordeon đi hát chùa khắp nơi. Cuộc sống gia đình rớt xuống tận đáy của đói nghèo, họ cũng chẳng biết làm gì cứu vãn. Họ không có khả năng tự nuôi sống mình cho đến tận bây giờ. Họ khinh thường tiền bạc,chức tước,danh vọng. Cách mạng lấy nhà, họ tự nguyện hiến dâng. Lớn lên có vợ con không có chỗ ở, vui vẻ về ở khu tập thể văn công, nhà lá dột nát. Suốt ngày các chàng trai của chế độ mới lang thang ngoài phố, ngoài các câu lạc bộ thành đoàn, hát những bài ca lãng mạn Nga. Anh Hiếu còn mắng tôi, sao cứ đi kéo xe ba gác ngoài sông kiếm sống, mà không tham gia thanh niên tình nguyện, lên xây dựng nông trường như bài hát xô viết “Nông trường ơi, đắm say mênh mông trong lòng ta, lớn lên như bao nhiêu lời ca…”. Nhà nghèo, mẹ muốn bán chè xanh trước cửa kiếm vài ba xu mua gạo, anh cũng không bằng lòng, sợ mất danh giá nghệ sỹ của nhân dân. Nghĩ lại thấy anh mình ba phần ngốc, chỉ một phần dũng cảm, còn lại là. . . cuồng tín.

May mà không nghe lời người anh hùng của cả nhà.

Anh chẳng biết gì về cuộc sống xung quanh ngoài việc luyện thanh, dạy học và hát phục vụ nhân dân.

“Hiếu mặc quần thủng đít” là cái tên thời ấy bạn bè trêu anh. Trừ bộ quần áo diễn lúc nào cũng được giặt ủi phẳng phiu, một đôi giày diễn bóng lộn và cây đàn được lên giây chính xác. Còn lại là cuộc sống rách rưới, bụi đời như người lính. Nơi nào cần tiếng hát là có anh. Từ nơi có ba anh lính xạ thủ cheo leo trên nóc cầu Long Biên, đối mặt với hàng chục phản lực Mỹ ném bom, anh cũng tới làm… người thứ tư, không phải để bắn, mà để. . . hát.

Công trường, nông trường, chiến trường, biên giới, hải đảo, sân khấu hợp tác xã, sân khấu trường đại học, sân khấu khắp ngũ châu, lục địa đều có mặt Trần Hiếu. Anh đi hát cho chính sách ngoại giao của cụ Hồ. Hát cho nhân dân anh yêu quí với đồng lương đói rách. Ai cũng yêu anh vì “Chú voi con ở bản Đôn”, “anh quân bưu vui tính”. Báo Nga ca ngợi anh “Hò kéo thuyền trên sông Vonga” hát hay hơn đại danh ca Saliapin nước họ. Đồng nghiệp thì phục anh khúc tự sự “Con quỉ Mefistopheles”, ngoài Trần Hiếu không ai hát nổi khúc opera kinh điển này.

Chắc chắn lúc đó anh đã quên cô con gái Trần Thu Hà bé bỏng, giọng như mèo kêu ở nhà, mẹ mất sớm không ai dạy dỗ chăm sóc. Anh chỉ biết có hát. Hát có lẽ là hạnh phúc duy nhất của anh. Thế giới của anh là tiểu thuyết, phim ảnh , và những giai điệu,lời ca đẹp. Ngoài ra không còn gì nữa. Chỉ đến khi an ninh đến sờ gáy vì bài hát thời xét lại “Người Nga không muốn chiến tranh” anh mới giật mình. Mới đây thần chết suýt lôi anh đi, anh mới giật mình. Samson khỏe như thế rồi cũng ngã bệnh, kiếm cầm không nổi. Lương của anh họ bớt xén, danh hiệu Nghệ sỹ nhân dân họ lờ đi, mãi sau này, không thể không trao, họ mới “thí” cho. Anh tôi không biết nịnh, không biết làm hồ sơ xin xỏ, chức giáo sư cũng vuột khỏi tay vì không có tiền. Số tiền cuối cùng còn lại trong sổ tiết kiệm, anh lo thuốc cứu vợ lâm bệnh nặng. Vợ mất là trắng tay.

Bây giờ anh mới chợt hiểu, ngoài Tổ quốc, nhân dân và sự nghiệp âm nhạc cách mạng , anh còn có hai con, còn có mộ chị Huyền, mộ bố mẹ ngoài cánh đồng quê nhà. Còn có các em gái ruột thịt, fan cuồng của anh, tóc đã bạc trắng, bệnh tật đầy mình, còn có thằng em Trần Tiến xa cách mấy chục năm trời,vẫn trực bên giường bệnh anh. Giây phút yếu đuối nhất, cận kề cái chết, lần đầu tôi thấy anh khóc: “Tiến ơi,nhà giờ chỉ còn hai anh em”. Bây giờ anh mới giật mình và chợt hiểu vào cái tuổi 80 với vài giọt nước mắt đắng cay muộn màng, chảy dài. Dù sao, cũng chẳng ai trách anh. Anh chẳng có lỗi gì ngoài việc Trời bắt anh là kẻ lãng mạn cuối cùng của thế kỷ trước.

Anh vẫn còn trong trái tim ngàn triệu con người đi cùng đường với anh, thế kỷ mộng mơ ấy.

Nhân dân yêu anh vì anh ngốc, cả lứa các anh những nghệ sỹ hồn nhiên và ngốc, suốt đời chỉ có âm nhạc và một trái tim nhỏ nhoi, vắt hết giọt máu cuối cùng tặng nhân dân. Nhân dân đi theo quan tài của những người yêu họ. Nhạc sỹ Trịnh công Sơn, ca sỹ Qúi Dương, bạn anh và nhiều, nhiều người như thế. Những dòng người tiễn biệt dài vô tận như tiếng tơ lòng của các anh: day dứt,dai dẳng. Không nỡ chia lìa cõi thế gian đẹp đẽ này.

…. .

Anh vẫn là anh hùng Samson của cả nhà, là đứa con hiếu thảo của mẹ.

Là người trung với nước đúng như bố đặt tên anh: Trần Trung Hiếu,

Nghệ sỹ nhân dân Trần Hiếu, anh tôi.

Vũng tàu 6-11-14

T.T.

Trần Trung Hiếu (nghệ danh Trần Hiếu). Sinh 1936 tại Hà Nội. Quê quán Hà Tây. Tốt nghiệp đại học thanh nhạc năm 1959 tại Nhạc viên Hà Nội. Nghiên cứu sinh tại Bungary năm 1981 bằng tương đương Thạc sỹ Âm nhạc.

Giảng viên khoa Thanh nhạc Nhạc viện Hà Nội, nhạc viện TP. Hồ chí Minh 1959 đến 2014.

Ca sỹ chính Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam 1959-2000.

Nhà nước trao tặng Danh hiệu nghệ sỹ nhân dân đợt 3 năm 198.

Những ca khúc trình bày được nhân dân yêu thích: “Con voi” (sáng tác: Nguyễn Xuân Khoát và Đỗ Nhuận). “Anh quân bưu vui tính” (sáng tác: Đàm Thanh). “Chú voi con ở bản Đôn” (sáng tác: Phạm Tuyên) .

Vai chính trong vở opera “Epgheni Oneghin” từ tác phẩm Thơ Puskin. Opera “Cô Sao” và “Núi rừng lên tiếng” tác phẩm Đỗ Nhuận.

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.05.2015

Ba người lỗi lạc

Ba người lỗi lạc

  Xâm Tuyên

  QTXM- Bạn đọc thân mến. QTXM nhận được bài viết ký tên Xuân Tuyên, nhưng câu chuyện lại xảy ra từ ba mươi năm trước. Chắc tác giả viết đã lâu rồi nhưng không dám không bố. Câu chuyện về ba ông quan tỉnh tìm mọi cách để chiếm nhà, chiếm đất, để lê chức lên quyền rất thú vị. Chuyện tham nhũng, tiêu cực của quan chức chính quyền xứ ta không thể kể hết. Đăng bài này, QTXM muốn các nhà văn, nhà báo, các độc giả tiếp tục viết về “những người lỗi lạc” để cho nhân dân biết chân dung bọn chúng. Nghĩ vậy, nên chuyện cũ QTXM vẫn đăng. Còn tác giả thì QTXM không biết là ai.Chắc là một nhà văn nào đó, vì viết ở TRại viết Vũng Tàu. Còn  Còn địa chỉ email của quán ngoài phố…

Thật ra những người lỗi lạc trên đất nước ta thì nhiều. Không chỉ có ba người.Nhưng với kiến thức, trình độ hạn hẹp lại đứng ở một góc xép tỉnh lẻ như tôi, biết được ba người lỗi lạc cũng đã bưa lắm rồi.

Người lỗi lạc 1

Người thứ nhất là một vị quan to. Ai ai cũng biết là quan đầu tỉnh. Nghe nói thời còn trong bóng tối, thời còn trên chiến khu, thời còn xông pha trận mạc chống đế quốc phong kiến, miệng quan có gang có thép. Sau ngày 26 tháng 3 năm 1975 về thành quan ta oai nhất tỉnh. (Đọc tiếp…)

Bìa 3 tập NGÔ MINH TÁC PHẨM 1,3,5 do nhà thơ Nguyễn Trong Tạo vẽ

 VỀ BỘ SÁCH ”NGÔ MINH TÁC PHẨM”( Thông báo lần 3)

 NGÔ MINH

   Bạn đọc và bạn bè văn nghệ sĩ cả nước thân mến.

         Vì có nhiều  bạn bè điện thoại, nhắn tin hỏi thăm, nên Ngô Minh xin thông báo về bộ sách tuyển NGÔ MINH TÁC PHẨM như sau : (Đọc tiếp…)

Nhà thơ Việt Phương

BIÊN BẢN CUỘC HỌP VỀ TẬP THƠ “CỬA MỞ” CỦA VIỆT PHƯƠNG

 Lời BBT báo Thơ: Cuối năm 1970, nhiều cửa hàng sách sau khi bán tập thơ Cửa mở của Việt Phương (Nxb Văn học – 1970), liền phải đi thu hồi sách về, nhưng rốt cuộc chỉ thu hồi được từ các thư viện, chứ không thể thu hồi được sách đã bán cho khách “vãng lai”. Nhưng theo nhiều nguồn tin, kể cả từ tác giả, thì Cửa mởkhông hề bị cấm. Tuy vậy, tập thơ đã được nhiều người chuyền nhau đọc, hoặc chép tay, học thuộc… 18 năm sau Cửa mở được tái bản và bán hết veo trong một thời gian ngắn. Ðể bạn đọc hiểu rõ hơn những “bí mật” phía sau Cửa mở, báo Thơ xin giới thiệu Biên bản cuộc họp quan trọng về tập thơ này tại Nxb Văn học ngày 12-11-1970, với sự tham gia của nhiều nhà thơ, nhà nghiên cứu phê bình, nhà quản lý và cán bộ xuất bản, phát hành thời bấy giờ như: Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hoàng Trinh, Vũ Ðức Phúc, Hoàng Xuân Nhị, Nông Quốc Chấn, Huyền Kiêu, Lưu Trọng Lư, Thanh Tịnh, Vũ Tú Nam, Nguyễn Văn Hạnh, Hoàng Trung Thông, Hoài Thanh, Xuân Tửu, Tế Hanh, Bùi Hiển, Vũ Khiêu, Phan Cự Ðệ, Phạm Hổ, Khái Vinh, Hoàng Ước, Hồng Long (thay đồng chí Phan Hiền); Trần Dũng Tiến (Văn Giáo), Việt Phương (tác giả), v.v… Có một số người được mời nhưng vắng mặt: Nguyễn Ðình Thi, Hà Xuân Trường, Nguyễn Bắc… Cuộc họp do Như Phong, giám đốc Nxb chủ trì. Dưới đây là nguyên văn các ý kiến phát biểu trong cuộc họp. (NGUYỄN TRỌNG TẠO). (Đọc tiếp…)

NHÀ VĂN KHÔNG MANG THẺ VẪN CÓ TÁC PHẨM HAY

Nguyễn Khắc Phê

   Hơn 10 ngày rồi không đưa dòng nào lên mạng, mặc dù trên văn đàn chuyện “vô-ra” Hội Nhà văn đang được nhiều người quan tâm. Có rất nhiều cách phán xét. Có một bạn yêu văn chương ở Sài Gòn viết thư cho tôi có câu: “Không phải ai cũng nghĩ người ra Hội là tốt, người ở lại là xấu.” Đây cũng là một cách nghĩ phải chăng. Tôi cũng định lên tiếng, nhưng bàn chuyện này cho thấu đáo thì phải viết hẳn một tiểu luận 5-10 trang. Quá mất công và có lẽ trong “cơ chế” này, hình như mọi lời bàn bạc “phải trái” dù rất tâm huyết đều vô ích, như “gió vào nhà trống” vì… “đã có trên chỉ đạo rồi”! Đã thế thì để thì giờ làm việc khác có ích hơn, ví như viết bài giới thiệu một cuốn sách hay mà chưa phải ai cũng biết … (Đọc tiếp…)

ông Tom Malinowski

Tom Malinowski: “Vào TPP, lợi ích Việt Nam hưởng sẽ vượt xa rủi ro”

Đoan Trang thực hiện

Chiều thứ hai, 11/5, ông Tom Malinowski, trưởng phái đoàn Mỹ tham gia Đối thoại Nhân quyền Mỹ-Việt lần thứ 19 (diễn ra tại Hà Nội trong hai ngày 7-8/5) đã dành riêng cho giới báo chí độc lập ở Việt Nam một cuộc phỏng vấn xoay quanh chủ đề “TPP, khả năng tham gia của Việt Nam và những lợi ích, rủi ro đối với Việt Nam”.

Ông Tom Malinowski là một quan chức cao cấp của Bộ Ngoại giao Mỹ, phụ trách vấn đề dân chủ, nhân quyền và lao động. Báo chí Việt Nam vẫn thường dịch chức vụ của ông, “Assistant Secretary of State”, sang tiếng Việt là “trợ lý Ngoại trưởng”, nhưng thực ra, đó là một cương vị cao hơn nhiều so với “trợ lý”. Có thể coi như ông mang hàm tương đương thứ trưởng ở Việt Nam.

Trọng tâm là cải cách tư pháp

Đoan Trang: Câu hỏi đầu tiên xin dành cho ông là: Ông có thể thuật lại nội dung cuộc đối thoại nhân quyền giữa hai nước Hoa Kỳ và Việt Nam không?

  Tom Malinowski: Về phía chúng tôi, đó là một phái đoàn rất lớn, gồm đại diện Bộ Ngoại giao, Đại diện Thương mại Mỹ, USAIDS, và Nhà Trắng. Còn về phía Việt Nam, có Bộ Ngoại giao và cả Bộ Công an tham dự.

Hai bên đã bàn về nhiều vấn đề nghiêm trọng và quan trọng, bao gồm: cải cách tư pháp, quyền tự do biểu đạt, quyền lao động, quyền của người khuyết tật, và tự do tôn giáo ở Việt Nam.

Tôi muốn nói rằng đó là một cuộc thảo luận rất cởi mở, chân thành và có hiệu quả. Hai bên đã xác định rõ những gì mà phía Mỹ cho là thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực nhân quyền, nhưng cũng chỉ ra các mặt cụ thể cần phải được cải thiện.

Có lẽ chúng ta không có thời gian để đi vào từng khía cạnh cụ thể, vì chúng tôi đã mất tới hai ngày làm việc với chính phủ Việt Nam để có thể đề cập đến mọi vấn đề. Nhưng tôi muốn nhấn mạnh rằng có lẽ, vấn đề quan trọng nổi bật trong cuộc đối thoại là CẢI CÁCH TƯ PHÁP. Chính quyền Việt Nam đã cam kết sẽ sửa đổi luật pháp cho phù hợp với Hiến pháp Việt Nam và các công ước quốc tế. Chính quyền đã thừa nhận rằng cần phải làm nhiều hơn nữa để đạt được mục tiêu đó, và mục tiêu đó là vì lợi ích của Việt Nam.

Chúng tôi dành nhiều thời gian nói về việc triển khai cải cách tư pháp trên thực tế. Chẳng hạn, chúng tôi thảo luận rất nhiều về sửa đổi Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng Hình sự. Chúng tôi cũng bàn thảo rất nhiều về một số những điều khoản gọi là “an ninh quốc gia” trong Bộ luật Hình sự – những điều khoản vốn được sử dụng thường xuyên để truy tố người dân vì đã thực thi quyền tự do biểu đạt, chỉ trích nhà nước trên mạng, vân vân. Chúng tôi bày tỏ hy vọng rằng kế hoạch sửa đổi Bộ luật Hình sự sẽ đi thẳng vào những khía cạnh quan trọng của Bộ luật này, để chính quyền có thể thực hiện được mục tiêu mà họ đã tuyên bố, là tuân thủ đầy đủ Hiến pháp Việt Nam và các chuẩn mực về nhân quyền quốc tế.

   Lộ trình cải cách vẫn mơ hồ

Họ có đưa ra một lộ trình cụ thể nào cho việc cải cách tư pháp không? Bao giờ thì họ tiến hành sửa đổi Bộ luật Hình sự?

Chúng tôi chưa làm rõ hoàn toàn việc đó. Chúng tôi có đề nghị chính quyền Việt Nam định ra một lộ trình, và cả một kế hoạch soạn thảo luật về lập hội. Chúng tôi hỏi chính quyền dự tính khi nào làm tất cả những việc này. Cuối cùng thì Chính phủ và Quốc hội Việt Nam sẽ là nơi quyết định lộ trình, chứ đó không phải là vấn đề mà Hoa Kỳ có thể lên tiếng, bởi như thế không thích hợp. Nhưng chúng tôi nghĩ, điều quan trọng là chính quyền phải tham vấn đầy đủ khối xã hội dân sự ở Việt Nam, phải quan tâm đến những băn khoăn của họ, và đảm bảo rằng những phần quan trọng của Bộ luật Hình sự – những gì không tuân thủ triệt để chuẩn mực quốc tế – phải được sửa đổi.

“Tham vấn đầy đủ khối xã hội dân sự”. Ông nghĩ nhà nước có tính đến những tổ chức dân sự độc lập, không đăng ký, ở Việt Nam không?

Tôi nghĩ chính quyền phải lưu tâm đến các tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam, bất kể địa vị pháp lý của họ là gì.

Tại cuộc đối thoại nhân quyền vừa rồi, phái đoàn Mỹ có gắn những đòi hỏi về nhân quyền với việc Việt Nam và TPP không?

Việc gia nhập TPP, đối với bất kỳ quốc gia nào, đều được gắn chặt với một yêu cầu là phải tuân thủ các tiêu chuẩn đã được quốc tế công nhận về quyền lao động. Và, một trong những điều quan trọng nhất, là tiêu chuẩn về lao động và quyền tự do lập hội. Đó là một đòi hỏi bắt buộc đối với tất cả các nước muốn tham gia TPP, và cũng là một phần trong cuộc thương thảo của chúng tôi với chính phủ Việt Nam.

Một trong những điểm chúng tôi nêu rõ với chính quyền Việt Nam là: Nhiều công nhân ở Việt Nam thật ra đã lập hội rồi. Họ thực sự đang thực thi sáng kiến thành lập các công đoàn lao động ở địa phương để bảo vệ quyền của mình. Có điều họ đang làm như vậy mà không được pháp luật công nhận. Họ không được pháp luật bảo vệ. Cụ thể hơn, tất cả những gì chúng tôi đề nghị Việt Nam làm chỉ là công nhận những thực tế đã và đang diễn ra ở Việt Nam rồi. Công nhân Việt Nam cần được pháp luật bảo vệ. Chúng tôi nghĩ điều đó rất, rất có lợi cho nhà nước, vì nó củng cố quan hệ ổn định giữa công nhân và giới chủ, đồng thời cũng giúp Việt Nam vào TPP.

Ngoài vấn đề quyền lao động, Quốc hội Mỹ cũng rất quan ngại về các vấn đề nhân quyền khác ở Việt Nam. Triển vọng Việt Nam vào TPP là có thật nếu nhà nước tiếp tục có các biện pháp cải thiện nhân quyền, như trả tự do cho tù nhân lương tâm và tiến hành cải cách tư pháp.

Việt Nam sẽ gia nhập TPP sớm chứ?

Tôi không biết chuyện gì sẽ xảy ra, nhưng tôi lạc quan. Bởi vì tôi nghĩ rằng các lợi ích kinh tế, lợi ích chiến lược của việc Việt Nam tham gia TPP là lớn hơn rất, rất nhiều so với bất kỳ rủi ro nào mà nhà nước Việt Nam có thể phải đối mặt nếu họ chấp nhận các yêu cầu của TPP.

   Để giảm nguy cơ “nhà nước thất hứa”…

Ông biết đấy, trong quá khứ, chính quyền Việt Nam có xu hướng nuốt lời hứa. Tôi không nói đó là truyền thống, nhưng nhà nước Việt Nam đã nhiều lần hứa hẹn rồi không thực hiện, mà ta có thể kể một vài trường hợp điển hình như Hiệp định Geneva 1954, Hiệp định Hòa bình Paris 1973, và gần đây nhất là hồi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007. Ông có nghĩ lịch sử rồi sẽ lặp lại với TPP? Có khả năng nào nhà nước Việt Nam lại thất hứa không?

Tôi muốn nói thế này: Chúng ta đều biết rằng cam kết và hứa hẹn, tất cả những cái đó chỉ là sự khởi đầu. Điều quan trọng hơn cả là thực hiện cam kết, và tôi nghĩ, mọi người đều tin tưởng rằng một khi TPP được thông qua thì sẽ có rất nhiều cơ chế để khuyến khích một nhà nước thực thi và tuân thủ các cam kết của họ.

Chúng ta không mong mọi việc sẽ dễ dàng. Thay đổi bao giờ cũng khó khăn và luôn luôn có những thế lực chống lại sự thay đổi. Nhưng chúng tôi chỉ nghĩ đơn giản rằng TPP là một cơ hội để nâng cao năng lực và hỗ trợ cho những người đã và đang nỗ lực tạo ra sự thay đổi, cải cách.

Ngoài hứa hẹn và cam kết ra thì, trong thời gian trước mắt, chính quyền Việt Nam sẽ có hành động gì cụ thể để chứng tỏ thiện ý của mình? Ví dụ, họ sẽ thả tù nhân lương tâm nào, hay là sẽ giảm án cho người nào, sẽ chấp nhận tổ chức công đoàn độc lập nào?

Bạn đang nói là “trong thời gian trước mắt”. Nhưng chúng tôi mới chỉ nói về TPP, về hiện tại, về những gì đang diễn ra thôi. Trong quá trình đối thoại, chúng tôi đã nói rất rõ, về những gì mà chúng tôi cho là luôn luôn đúng, đúng trong mọi trường hợp. Đó là: Bất kỳ hành động tích cực nào của chính quyền Việt Nam đều sẽ vô cùng có lợi cho triển vọng vào TPP, và bất kỳ hành động tiêu cực nào đều sẽ có hại.

Giới đấu tranh dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam nên làm gì để đảm bảo rằng chính quyền sẽ thực thi các cam kết TPP của họ?

Nếu Việt Nam được chấp thuận vào TPP thì sẽ có một hiệp định, với những cam kết cụ thể, đặc biệt về vấn đề quyền lao động và quyền lập hội. Tôi nghĩ, nhờ đó, người dân Việt Nam và xã hội dân sự ở Việt Nam sẽ có thể nhìn vào từng cam kết cụ thể và tuyên bố rõ rằng họ muốn chính quyền phải tuân thủ cam kết nào.

Tôi có thể khẳng định là Hoa Kỳ sẽ tiếp tục tham vấn rất, rất chặt chẽ khối xã hội dân sự Việt Nam trong quá trình chúng tôi giám sát việc Việt Nam thực thi các cam kết sau khi vào TPP, nếu hiệp định kia được ký kết. Do đó, tiếng nói của những người đang đấu tranh vì nhân quyền và nhà nước pháp quyền ở Việt Nam là một tiếng nói vô cùng mạnh mẽ. Nó đã vươn xa ra ngoài Việt Nam, được cả thế giới lắng nghe, và sẽ tiếp tục được lắng nghe.

Hành hung blogger Anh Chí là “vô cùng ngu dốt”

Nhìn trở lại cuộc đối thoại, ông nói rằng hai bên đều xác định rõ những thành tựu Việt Nam đạt được trong lĩnh vực nhân quyền. Ông có thể cho biết cụ thể các thành tựu đó là gì không? Và cả những điều Việt Nam đã vi phạm?

Về mặt thành tựu, từ cuộc đối thoại năm ngoái tới nay, chính quyền Việt Nam đã phê chuẩn hai điều ước quan trọng về nhân quyền, đó là Công ước chống tra tấn và Công ước về quyền của người khuyết tật. Họ cũng đã trả tự do cho một số tù nhân lương tâm. Không nhiều như lẽ ra họ phải thả, nhưng cũng là đã thả một vài người rồi. Tổng số tù nhân lương tâm đang theo xu hướng giảm dần trong ba năm qua. Trong vài tháng đầu năm 2015, chúng ta gần như không thấy vụ khởi tố mới nào nhằm vào những người thực thi quyền tự do biểu đạt hay những nhà hoạt động chính trị ôn hòa. Chính quyền cũng đã cam kết sẽ sửa đổi Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng Hình sự, cũng như các luật khác, cho nhất quán với tiêu chuẩn quốc tế. Đó là một số thành tựu đạt được.

Còn các vấn đề tồn đọng? Chúng tôi biết là vẫn còn rất nhiều nhà hoạt động bị sách nhiễu trên diện rộng. Hiện nay, vẫn còn rất nhiều người bị đàn áp, bị đe dọa, thậm chí bị tấn công bằng vũ lực, như chúng tôi vừa thấy sáng nay là trường hợp blogger Anh Chí. (Blogger Nguyễn Chí Tuyến, tức Anh Chí, ở Hà Nội, bị côn đồ hành hung gây thương tích, sáng 11/5 – PV).

Tôi muốn nói vụ việc của Anh Chí là một vấn đề cả từ giác độ nhân quyền lẫn chính trị: Thật là một việc làm vô cùng ngu dốt khi mà nó xảy ra đúng vào thời điểm quốc tế đang rất chú ý đến nhân quyền ở Việt Nam.

Ông nói rằng gia nhập TPP mang lại cả lợi ích và rủi ro cho Việt Nam, tuy rằng lợi ích lớn hơn nhưng vẫn là có rủi ro. Đó là các lợi ích và rủi ro gì vậy?

Lợi ích thì rõ ràng rồi. Người dân Việt Nam sẽ được hưởng lợi ích kinh tế, nếu đất nước này là một thành viên của TPP. Tôi nghĩ có cả những lợi ích chiến lược khi Việt Nam là thành viên trong một cộng đồng các quốc gia mà ở đó có mặt Mỹ. Việt Nam sẽ được an toàn hơn, sẽ được công nhận tầm quan trọng cao hơn trong khu vực. Đấy là lợi ích lớn cho cả chính quyền nữa.

Về rủi ro thì, bạn biết đấy, muốn làm thành viên của TPP, đòi hỏi chính quyền phải thực hiện một số cải cách. Và có những nhân vật trong chính quyền Việt Nam cho rằng cải cách sẽ đưa đến rủi ro lớn cho đất nước, sẽ làm nhà nước mất dần khả năng kiểm soát. Nhưng như tôi đã nói, tôi tin rằng lợi ích – không chỉ cho đất nước mà cho cả chính quyền Việt Nam nữa – sẽ vượt xa rủi ro. Tôi tin những cải cách mà Việt Nam đang được yêu cầu tiến hành theo đòi hỏi của TPP sẽ giúp Việt Nam mạnh hơn, ổn định hơn, an toàn hơn, và thịnh vượng hơn. Từ giác độ lợi ích quốc gia mà nói, sẽ chỉ có lợi ích chứ không phải là một sự cân bằng giữa rủi ro và lợi ích. Thế nhưng có một số người trong chính quyền lại chỉ trông thấy rủi ro.

Theo ông, trong quá trình đối thoại và đàm phán, điều gì là điều mà chính quyền Việt Nam khó nhượng bộ nhất?

Tôi không muốn nói nhiều về quá trình đàm phán. Tôi chỉ muốn nói rằng, các yêu cầu đều đã rất rõ ràng: Tất cả các thành viên của TPP đều phải đáp ứng những đòi hỏi nhất định, trong đó, có việc tôn trọng các quyền lao động theo chuẩn quốc tế.

Do đó, mỗi thành viên TPP đều phải tự quyết định xem họ có chấp nhận các đòi hỏi đó không. Còn tôi thì tôi nghĩ những đòi hỏi ấy chỉ có ích cho chính quyền và người dân Việt Nam mà thôi. Cho nên, cuối cùng thì chắc chắn chúng ta sẽ đạt được một thỏa thuận cho Việt Nam vào TPP.

Nguồn: http://www.phamdoantrang.com/2015/05/tom-malinowski-vao-tpp-loi-ich-viet-nam.html

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 15.05.2015

VĨNH MAI-PHƯƠNG CHI,ĐỒITHÔNGCHUNG MỘ

VĨNH MAI-PHƯƠNG CHI,ĐỒITHÔNGCHUNG MỘ

                                                                        Ngô Minh

      QTXM- Nhân đại hội Nhà văn VN, Chúng tôi xin in lại bài viết về một nhà thơ kỳ lạ, một nhân cách hiếm thấy trong lòng văn Việt Nam 

Hàng năm, cứ đến Rằm Nguyên Tiêu- Ngày Thơ Việt Nam, anh em văn nghệ sĩ Huế lại đi “Viếng mộ thi nhân”. Đồi thông Tự Hiếu là một trong những địa điểm có nhiều mộ văn nhân, thi sĩ. Ở đây có một ngôi mộ mà đi viếng lần nào tôi cũng bồi hồi xúc động. Đó là ngôi mộ chung của hai vợ chồng nhà thơ Vĩnh Mai và nữ sĩ Phương Chi. Ngôi mộ chung này có từ năm năm rồi, bắt đầu từ năm 2009. Dưới mộ chung tro cốt, tấm bia chung in ảnh hai người chụp chung và khắc tên mỗi người cùng các tác phẩm thơ, văn dựng ở đầu mộ. Thắp nhang viếng mộ, tôi cứ  bâng khâng tự  hỏi: Không biết ở trên thế giới này có nơi nào có ngôi mộ vợ chồng chung như thế không ? Đúng là chung thủy cho đến tận ngày nằm dưới huyệt. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 15.05.2015

Một thời để nhớ

Một thời để nhớ

Mai Khắc Ứng
( Bài gửi từ Canada)

Trong đời làm công chức nhà nước mà thời ta gọi cho oai là cán bộ, tôi có  hai điều ước. Một là được phân nhà. Hai là được mua xe đạp Thống Nhất theo giá cung cấp. Là bộ đội chuyển ngành, sống độc thân, tôi có tên trong danh sách ưu tiên .Thời đó tổng số thành viên Viện tôi ngót 50 người. Trên mười người đã của Ban Đời sống Công đoàn từ tháng 12 năm 1965. được cấp hoặc mua xe giá rẻ. Bốn mươi người còn chờ. Trong số bốn mươi người này non một nữa có thâm niên từ tiền khởi nghĩa đã bị tù tây, tù ta vài ba bận. Đối với họ, chiến sĩ Điện Biên Phủ của tôi chẳng đáng gì. Yên chí mà chờ thôi. Chín năm thành tâm chờ rồi cũng đến lượt. Tôi mừng quýnh lên. Cầm được tấm phiếu cung cấp xe là mở cuộc vận động vay mượn và đúng ngày giờ ghi trên phiếu đến cửa hàng Điện Máy phố Tràng Thi, nộp tiền, lấy xe. kèm lạc rang Cổ Tân.

Sắp hàng uống bia hơi vốn dĩ đã là nguồn vui quên đói của bàn dân. Uống bia khi được cầm chắc trong tay tấm phiếu mua xe đạp Thống Nhất cung cấp như tôi, vui còn nhân lên gấp bội. Chẳng có niềm vui nào bằng. Uống bia xong, chúc mừng nhau rồi chia tay. Tôi ra cửa hàng xếp hàng trả tiền, nhận xe. (Đọc tiếp…)

GS Hoàng Ngọc Hiến

“TAI NẠN VĂN CHƯƠNG”: “VỤ 79”- “HIỆN THỰC PHẢI ĐẠO” CỦA HOÀNG NGỌC HIẾN

Lại Nguyên Ân

Về bài của Hoàng Ngọc Hiến

Đây là bài báo nổi tiếng nhất trong đời văn của Hoàng Ngọc Hiến, cũng là bài báo đem lại cho ông một tai họa vào loại nặng nề nhất.

Cần lưu ý rằng, bài báo của ông xuất hiện vào thời mà xã hội bao cấp đã phân hóa ở mức đáng kể; ngay xã hội viên chức cũng tự phân đôi: hầu hết viên chức đều ứng xử theo cách: nói năng “theo nghị quyết” ở nơi họp hành chính quy, nói năng “theo hiểu biết riêng” ở các xúc tiếp riêng tư, tin cậy. Vì thế, một mặt, bài báo của Hoàng Ngọc Hiến khiến ông bị đối xử tàn tệ trong cơ chế quan chức, trong xã hội viên chức; song, mặt khác, bài báo lại khiến ông càng được kính trọng hơn trong các giao tiếp mang tính cá nhân, dân sự, đời thường, không chỉ ở giới chuyên môn hẹp của những người nghiên cứu xã hội nhân văn, giới sáng tác văn nghệ, mà cả giới trí thức nói chung.

Đây là một tiểu luận mỹ học xuất sắc.

 Tác giả đã đem thực trạng các sáng tác văn nghệ xã hội chủ nghĩa ra soi rọi dưới ánh sáng của các nguyên lý mỹ học cổ điển, chỉ ra cho người ta thấy ở văn nghệ này “sự miêu tả cái phải tồn tại lấn át sự miêu tả cái đang tồn tại”, và do vậy, “chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa ở ta trong giai đoạn vừa qua mang khá đậm dấu ấn của cái cao cả (le sublime)”.

Theo lập luận của nhà mỹ học Hoàng Ngọc Hiến, “loại hình quan hệ lấn át của một loạt cặp phạm trù hết sức cơ bản mô tả những mâu thuẫn cốt yếu nhất thúc đẩy sự phát triển nội tại của nghệ thuật vừa được nêu lên là đặc trưng khái quát nhất của cái cao cả. Đến lúc quan hệ lấn át chuyển hóa thành quan hệ cân bằng, hài hòa thì sự vận động của nghệ thuật tiếp cận với cái đẹp như là lý tưởng”.

Một sự luận chứng đầy chất hàn lâm, cũng đầy sự trọng thị (đối với đối tượng luận bàn là văn nghệ xã hội chủ nghĩa) như vậy, vì sao lại gây nên những phản ứng mạnh mẽ của nhiều người trong giới nhà văn, nhất là nhiều người trong giới những cán bộ quản lý tư tưởng-văn hóa-văn nghệ?

Những lý do sẽ phần nào được thấy, khi ta đọc lại những bài viết của Tô Hoài, Hà Xuân Trường, Trần Độ, Phan Cự Đệ, Chế Lan Viên, Chính Hữu.

Nhưng, có thể, giọt nước làm tràn ly không hẳn nằm ở hệ thống lập luận kể trên, mà lại nằm ở đoạn diễn dịch này:

“Đứng ở bình diện cái phải tồn tại, người nghệ sĩ dễ bị cuốn hút theo xu hướng miêu tả cuộc sống “cho phải đạo”, còn đứng ở bình diện cái đang tồn tại thì mối quan tâm hàng đầu là miêu tả sao cho chân thật. Đọc một số tác phẩm chúng tôi thấy tác giả dường như quan tâm đến sự phải đạo nhiều hơn tính chân thật. Có thể gọi loại tác phẩm này là “chủ nghĩa hiện thực phải đạo”. Thực ra, ngay trong đời sống thực tại, do quy luật của sự thích nghi sinh tồn, dần dần được hình thành những kiểu người “phải đạo” với những cung cách suy nghĩ, nói năng, ứng xử được xem là “phải đạo”. Khái quát những hiện tượng hết sức thực tại này vẫn sản sinh ra chủ nghĩa hiện thực phải đạo”. (trích bài Hoàng Ngọc Hiến)

“Phải đạo” không phải một tổ hợp gồm 2 từ mà chỉ là một từ; ngay “Đại Nam quấc âm tự vị” (1895-96) đã ghi nhận “phải đạo” như một từ mà hàm nghĩa là “phải phép, phải lẽ, phải việc, bổn phận”; hàm nghĩa của từ này, ở các giới xã hội người Việt, sau đó sẽ còn tiến triển.

Tôi biết, khá nhiều nhà văn, khá nhiều cán bộ trong ngành tư tưởng, văn hóa đương thời những năm 1960-80, vốn ít nhiều đã từng là học trò dăm bảy năm của nhà trường Pháp-Việt, họ đủ biết những câu chữ tiếng Pháp tương đương với “phải đạo” là gì. − Là “comme il faut”, là “conformiste”, “conformisme”. Rồi lại có thể hiểu (dịch) ngược lại ra tiếng Việt là “tùy thời”, “xu thời”!

Đem định ngữ này (“phải đạo” hay “tùy thời”, “xu thời”) gắn cho văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, vốn được cả một lớp người (nhà-văn-cán-bộ, cán bộ văn nghệ) khi ấy xem như (và bắt cả xã hội phải xem như) thứ nghệ thuật phụng sự một sự nghiệp cao cả thiêng liêng (giải phóng giai cấp! giải phóng dân tộc! giải phóng nhân loại!) – đối với họ, gắn định ngữ “phải đạo” cho văn nghệ này là một sự sỉ nhục, thóa mạ, báng bổ, cũng có thể xem một sự vạch mặt, lột trần chân tướng, mà tính đến lúc ấy chưa ai trong hàng ngũ họ dám làm!

Tất nhiên, cái “giọt nước tràn ly” kia không hề làm giảm ý nghĩa nghiêm túc của lập luận mỹ học chủ đạo ở tác giả, xem văn nghệ xã hội chủ nghĩa chủ yếu như là nền nghệ thuật của cái cao cả (le sublime).

Người ta biết, Hoàng Ngọc Hiến viết bài này ở đương thời chiến tranh lạnh, thời của hai hệ thống giá trị và ý thức hệ đối lập nhau trên quy mô thế giới, theo đó, văn nghệ XHCN được đặt trong thế đối lập với nghệ thuật suy đồi và/hoặc hiện đại chủ nghĩa. Trong thời ấy, mọi suy nghĩ và phát ngôn của nhà lý luận đứng ở phía thế giới XHCN như Hoàng Ngọc Hiến là luận chứng cho tính chính đáng của “bên mình” so với “bên kia”.

Ông cũng đã đem lý luận về sự lấn át áp dụng đảo ngược cho những văn nghệ gọi là “tư sản hiện đại”, “suy đồi”, “văn nghệ thực dân mới”, dù chỉ làm qua loa chiếu lệ.

Đáng lưu ý nữa là bài của Hoàng Ngọc Hiến bắt đầu nói đến kiểu văn nghệ của “cách mạng văn hóa” trên đất Trung Hoa, đến việc những người kế tục “Người cầm lái vĩ đại” của họ “tính kế vay mượn phấn son của văn nghệ tư sản phương Tây hiện đại”. Phải chăng ranh giới thép của thời đại đang biến đổi, phải chăng chính ngay nửa thế giới “bên mình” cũng có vấn đề? Những điều ấy Hoàng Ngọc Hiến khi đó có thể đã bắt đầu ít nhiều cảm thấy, nhưng còn khá xa mới đến lúc có thể luận bàn. Bài báo của ông, vì thế, vẫn hoàn toàn thuộc về văn nghệ phê bình (hoặc phê bình văn nghệ) thời… bao cấp, dù nó chính là một trong những biểu tượng nổi loạn đối với nền văn nghệ quan liêu – bao cấp – chỉ huy.

Về văn bản.

Điều hơi ngạc nhiên là tìm trên mạng internet hiện nay không thấy bài báo này, tức là từ khi có internet thì hầu như chưa hề có ai tiếp cận bài này ở bản đăng báo (?). Cũng không thấy tác giả đưa bài này vào tập sách mang tính sơ tuyển: “Hoàng Ngọc Hiến, Tác phẩm chọn lọc” (Tạ Duy Anh biên tập, Nxb. Hội Nhà Văn, 2008).

Cùng với việc xem lại bản đánh máy sao cho đúng với bản đăng báo, tôi (LNA) có “can dự” hai điều vào văn bản: một là xuống dòng cho một số đoạn (bởi bản in báo Văn Nghệ năm 1979 dường như quá tận dụng diện tích giấy in nên cả cột báo gần 100 dòng không hề xuống dòng); hai là viết lại mấy tên riêng Âu châu trong bài theo dạng latin để tiện cho việc tra cứu.

20/04/2015

  VỀ MỘT ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN HỌC VÀ NGHỆ THUẬT Ở TA TRONG GIAI ĐOẠN VỪA QUA

HOÀNG NGỌC HIẾN

(Văn Nghệ, Hà Nội, s. 23, thứ bảy, 9/6/1979, tr. 2-3)

Để xác định những đặc điểm của văn học, nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua, chúng tôi xuất phát từ một số quan niệm và thị hiếu văn học có ảnh hưởng sâu rộng trong công chúng Việt Nam được nêu trong bài “Viết về chiến tranh” của Nguyễn Minh Châu. Theo ý chúng tôi, đó là một trong những bài phê bình văn học đáng chú ý nhất thời gian gần đây. “Hình như – Nguyễn Minh Châu viết – trong ý niệm sâu xa của người Việt Nam chúng ta, hiện thực của văn học có khi không phải là cái hiện thực đang tồn tại mà là cái hiện thực mọi người đang hy vọng, đang mơ ước”. (1)

Đây là một vấn đề cổ điển của lý luận văn học. Aristoteles đã từng nói đến hai phương thức miêu tả trong nghệ thuật: “miêu tả sự vật như nó vốn tồn tại và đang tồn tại … hoặc miêu tả sự vật như nó phải tồn tại”. Aristoteles có dẫn ra những tác giả tiêu biểu cho hai phương thức (hoặc phong cách) nghệ thuật nói trên: “Sophokles … miêu tả con người như họ phải tồn tại còn Euripides miêu tả con người như họ đang tồn tại”. (2) “Polignotus miêu tả những con người tốt hơn [thực tế – H.N.H.] … còn Dionysus miêu tả những con người thông thường [như trong thực tế – H.N.H.]” (3)

Phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa không đặt vấn đề lựa chọn hoặc phương thức này hoặc phương thức kia, hoặc Sophokles hoặc Euripides. Vấn đề đặt ra là kết hợp cả hai phương thức (hoặc bình diện) mô tả. Dường như chúng ta chưa tìm được một mức độ thoả đáng cho sự kết hợp. Nhìn chung trong sáng tác hiện nay, sự miêu tả cái phải tồn tại lấn át sự miêu tả cái đang tồn tại. Và chúng tôi tán thành ý kiến của Nguyễn Minh Châu cho rằng sự lấn át này đương là một cản trở “trên con đường đi đến chủ nghĩa hiện thực”, đặc biệt trong thể loại tiểu thuyết. Đứng ở bình diện cái phải tồn tại, người nghệ sĩ dễ bị cuốn hút theo xu hướng miêu tả cuộc sống “cho phải đạo”, còn đứng ở bình diện cái đang tồn tại thì mối quan tâm hàng đầu là miêu tả sao cho chân thật. Đọc một số tác phẩm chúng tôi thấy tác giả dường như quan tâm đến sự phải đạo nhiều hơn tính chân thật. Có thể gọi loại tác phẩm này là “chủ nghĩa hiện thực phải đạo”. Thực ra, ngay trong đời sống thực tại, do quy luật của sự thích nghi sinh tồn, dần dần được hình thành những kiểu người “phải đạo” với những cung cách suy nghĩ, nói năng, ứng xử được xem là “phải đạo”. Khái quát những hiện tượng hết sức thực tại này vẫn sản sinh ra “chủ nghĩa hiện thực phải đạo”.

Chủ nghĩa hiện thực chân chính đòi hỏi người nghệ sĩ phải biết phân biệt đâu là những hình thức “phải đạo”, và đâu là nội dung chân lý phù hợp với quy luật phát triển cách mạng của bản thân cuộc sống. Sự lấn át của bình diện cái phải tồn tại đối với bình diện cái đang tồn tại trong sự phản ánh nghệ thuật là một đặc trưng của cái cao cả (le sublime) như là một phạm trù mỹ học. Với ý nghĩa này, có thể nói rằng chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa ở ta trong giai đoạn vừa qua mang khá đậm dấu ấn của cái cao cả. Nguyễn Minh Châu mới chỉ nêu lên những biểu hiện của cái cao cả trong phương thức miêu tả nghệ thuật. Thực ra trong đời sống văn học nghệ thuật của ta hiện nay, cái cao cả còn biểu hiện một cách phổ quát ở nhiều mặt khác: cấu trúc của chủ thể và khách thể mỹ học, đặc điểm của cấu trúc hình tượng và tác phẩm nghệ thuật, đặc điểm cấu trúc của hình tượng con người mới và cuộc sống mới được phản ánh vào tác phẩm…

Trong lĩnh vực mỹ học mang dấu ấn của cái cao cả thì tương ứng với sự lấn át của bình diện cái phải tồn tại đối với bình diện cái đang tồn tại trong phương thức miêu tả nghệ thuật là sự lấn át của cấp lý tính đối với cấp cảm tính trong sự nhận thức của chủ thể mỹ học, sự lấn át của nội dung đối với hình thức trong cấu trúc của hình tượng và tác phẩm nghệ thuật, sự lấn át của lý trí đối với cảm xúc trong hình ảnh con người mới, cũng như sự lấn át của bản chất đối với hiện tượng trong hình ảnh cuộc sống mới được phản ánh vào tác phẩm… Loại hình quan hệ lấn át của một loạt cặp phạm trù hết sức cơ bản mô tả những mâu thuẫn cốt yếu nhất thúc đẩy sự phát triển nội tại của nghệ thuật vừa được nêu lên là đặc trưng khái quát nhất của cái cao cả. Đến lúc quan hệ lấn át chuyển hóa thành quan hệ cân bằng, hài hòa thì sự vận động của nghệ thuật tiếp cận với cái đẹp như là lý tưởng.

Xác định giai đoạn vừa qua của nền văn nghệ ta bằng phạm trù cái cao cả, chúng tôi muốn nêu lên những mâu thuẫn nội tại cần phải giải quyết và quy luật phát triển của nó đi từ cái cao cả đến cái đẹp.

Song song với những biểu hiện của cái cao cả trong văn học nghệ thuật thì ngay trong đời sống hàng ngày của chúng ta, trong lối sống và cách cảm nghĩ, trong tác phong công tác và sinh hoạt ở những lĩnh vực phi nghệ thuật có thể dễ dàng tìm thấy những hiện tượng tương tự. Ở trên chúng tôi có nói đến sự biểu hiện của cái cao cả trong nhận thức của chủ thể mỹ học: đó là sự lấn át của cấp lý tính (khái niệm, biểu tượng, tri giác) đối với cấp cảm tính (cảm giác), cụ thể hơn, đó là xu thế cấp nhận thức cao lấn át cấp nhận thức thấp: khái niệm lấn át biểu tượng, biểu tượng lấn át tri giác, tri giác lấn át cảm giác… Với một xu thế nhận thức nghệ thuật như vậy, không ít tác phẩm đã ra đời chủ yếu như là kết quả của sự suy nghĩ bằng trí óc (Maiakovsky gọi đó là những tác phẩm “làm bằng đầu”) và trong sự sản xuất thơ ca hiện nay chẳng hạn có những bài khiến ta nghĩ rằng thời buổi này làm thơ hà tất phải có cảm xúc phong phú và cảm giác tinh nhạy.

Cũng từ xu thế nhận thức nghệ thuật này, thông tin mỹ học của những tác phẩm nghệ thuật có xu hướng xích gần lại thông tin lý thuyết mà đặc trưng đáng chú ý ở đây là tính chất đơn trị, tính chất đơn nghĩa. Chúng ta biết rằng sự nhận thức nghệ thuật đích thực trong bản chất của nó có tính toàn vẹn, có nghĩa là mọi cấp của nhận thức đều tham gia vào đó và giao lưu với nhau, hơn nữa mọi cấp đều quan trọng như nhau, không có sự cố định ưu tiên ở một cấp nào cả. Do sự giao lưu giữa các cấp nhận thức, hình tượng nghệ thuật chân chính thường lung linh lấp lánh vô vàn sắc thái ý nghĩa, sự phong phú ý nghĩa của nó dường như vô tận, mỗi độc giả phát hiện ở nó một ý nghĩa riêng, mỗi thế hệ khám phá ở nó những ý nghĩa mới mẻ tương ứng với thời đại mình. Đó là nguồn gốc của tính đa trị, đa nghĩa của hình tượng nghệ thuật và thông tin mỹ học. (4)

Với xu hướng cao cả trong nhận thức nghệ thuật (còn có thể gọi là xu hướng lý thuyết), chủ thể mỹ học (ở người sáng tác) có khuynh hướng dướn lên những cấp cao của nhận thức và cố định ở đó. Nói theo ngôn ngữ của toán học hiện đại, đối tượng nhận thức được quy vào những tập hợp cao của nó và chủ yếu được nhận thức ở cấp độ của những tập hợp này. Tương ứng với cách sáng tác này là cách cảm thụ dửng dưng với máu thịt của hình tượng, cố công quy nó vào những khái niệm, phạm trù.

Chúng tôi lấy sự miêu tả nhân vật trong tiểu thuyết là ví dụ. Nhân vật tiểu thuyết sinh động nhất thiết phải là một cá nhân con người. Mỗi cá nhân, như chúng ta biết, bao giờ cũng gắn với nhiều tập hợp, những tập hợp quen thuộc trong số này thường vẫn được nêu lên trong lý lịch văn học dưới các mục: thành phần giai cấp, dân tộc, tôn giáo, giới tính, nghề nghiệp, Đoàn, Đảng … Nhân vật được nghiên cứu và xây dựng từ cấp độ cố định những tập hợp nói trên cách này cách nọ được gán cho những thuộc tính bản chất của những tập hợp đó. Nhưng, như chúng ta biết, số cộng những thuộc tính đó không tạo ra được cá nhân con người, không thuyết minh được cá tính riêng, bản lĩnh độc đáo và bộ mặt đặc sắc của nó. Tác giả bài báo đã dẫn đặt vấn đề vì sao trong các tác phẩm viết về chiến tranh ở ta “nhân vật mờ nhạt” và đưa ra giả thiết là “các nhân vật đã bị sự kiện lấn át”. Chúng tôi tán thành nhận định của tác giả nhưng muốn xem xét vấn đề từ một giác độ khác.

Nhân vật bị mờ nhạt vì nhân vật không được nhìn nhận và xây dựng như là một cá nhân và sở dĩ như vậy là do cách nhìn cao cả của chủ thể mỹ học như đã nói ở trên. Thực ra, trong đời sống hàng ngày, chúng ta cũng thường hay nhìn nhận sự vật như vậy. Tìm hiểu và đánh giá một con người, ta quan tâm đến những tập hợp bao gồm con người đó hơn là bản thân nó, cuối cùng ta biết được những thuộc tính chung của thành phần giai cấp, thành phần nghề nghiệp, của cộng đồng dân tộc, cộng đồng tôn giáo… của nó, nhưng chính bản thân nó, tức là cá tính và bản lĩnh của nó, những sở trường sở đoản của nó, sự tự nhận thức của nó… thì ta lại không nắm được. Cung cách nhận thức này rất gần với phương pháp nhận thức “tiên thiên” đã từng được F. Engels phê phán và định nghĩa như sau: những đặc điểm của sự vật như vậy cũng là cơ sở của bệnh sính lý luận khá phổ biến hiện nay mà thực chất là sự coi thường việc tìm hiểu sự vật ở cấp độ sự kiện, cấp thực chứng, là sự thoát ly thực tiễn đời sống thực tại để chơi vơi trong cõi mông lung của những tập hợp mênh mông, những phạm trù mơ hồ.

Tóm lại, cách nhìn “cao cả” trong văn học, nghệ thuật cùng một thanh khí với phương pháp “tiên thiên” và phong cách lý luận “chung chung” trong công tác và sinh hoạt thường ngày. Sự lấn át của nội dung đối với hình thức mà chúng tôi nêu lên ở trên như là đặc trưng của hình tượng cao cả biểu thị một trạng thái không cân xứng. Một mặt, cuộc sống của đất nước và dân tộc được phản ánh vào những tác phẩm của ta có thể chưa lớn ở quy mô bên ngoài nhưng mang một nội dung tinh thần tuyệt vời do quy mô bên trong của nó: đó là ý chí quật cường bất khuất của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, đó là nhân phẩm cao đẹp của những con người sẵn sàng xả thân vì độc lập tự do, tóm lại, đó là những sức mạnh tinh thần cao quý nhất của người Việt Nam tích tụ trong bốn nghìn năm lịch sử và được phát huy tới những đỉnh cao rạng rỡ tuyệt vời trong một cuộc cách mạng vô cùng gian khổ và oanh liệt với những cuộc chiến tranh thần thánh có ý nghĩa lịch sử thế giới to lớn. Nhưng, mặt khác, các nghệ sĩ của ta hầu như chưa tìm và chưa sáng tạo ra được những hình thức tương xứng. So với nội dung tinh thần tuyệt vời được khẳng định trong tác phẩm thì những hình thức diễn đạt nó còn đơn sơ, vụng về thậm chí thô thiển. (5) Có những nguyên nhân dễ thấy: thiếu thời gian, tiềm lực văn hóa yếu, thiếu phương tiện và cả sức lực vật chất nữa. Nhưng ở đây, theo ý chúng tôi, còn có những nguyên nhân sâu xa. Đối chiếu với đời sống thực tế, tình trạng không cân xứng giữa nội dung và hình thức trong hình tượng và tác phẩm nghệ thuật tương đồng với tình trạng tương phản giữa đời sống tinh thần và đời sống vật chất của nhân dân ta trong những năm chiến đấu vô cùng gian khổ và oanh liệt vừa qua.

Vấn đề cuối cùng là sự phản ánh “cao cả” con người mới và cuộc sống mới. Trong tác phẩm nghệ thuật “đẹp”, thế giới hiện tượng phong phú và phức tạp được mô tả trong tác phẩm tự nó bộc lộ đầy đủ và sinh động bản chất ưu việt của cuộc sống mới. Nhưng trong nhiều tác phẩm nghệ thuật của ta mang dấu ấn của cái cao cả mà đặc trưng đáng chú ý ở đây là sự lấn át của bản chất đối với hiện tượng – thế giới hiện tượng dường như được đơn giản hóa cho phù hợp với bản chất của cuộc sống mới, hơn nữa, bản chất này còn được tác giả khẳng định ở bên ngoài và bên trên các hiện tượng nữa, quá một mức độ nào đó xu hướng này đẻ ra chủ nghĩa minh họa.

Trong đời sống thực tại cũng có tình trạng tương tự. Bản chất tốt đẹp của chế độ mới là điều hiển nhiên, không một ai nghi ngờ. Nhưng thế giới hiện tượng ngoài cuộc đời quá ư phức tạp, rối ren. Nhiều khi đứng trước những hiện tượng không lý giải nổi, chúng ta bèn vội vàng khẳng định bản chất bằng những câu nói quen thuộc: căn bản là tốt, ưu điểm là căn bản, bản chất là tốt đẹp, v.v. và v.v. Điều này đã trở thành một tác phong thường thấy, nhất là ở những cán bộ có nhiệm vụ làm công tác tư tưởng. Ở hình ảnh con người mới được phản ánh trong những tác phẩm nghệ thuật của ta, đặc trưng cao cả biểu hiện ở sự lấn át của lý trí đối với cảm xúc. Tác giả thì quá dè xẻn, nhân vật thì quá dè dặt trong sự biểu hiện cảm xúc. Ngoài đời sống cũng thấy những cách ứng xử như vậy.

Đến đây, tổng kết lại sự đối chiếu song song một loạt biểu hiện của cái cao cả trong văn học nghệ thuật và một loạt hiện tượng tương đồng trong đời sống thực tại, chúng tôi muốn nhìn thấy ở cái cao cả một xác định rộng lớn vượt ra ngoài phạm vi mỹ học. Nói như Hegel, cái cao cả chính là “trạng thái nhân thế” của xã hội ta trong giai đoạn vừa qua. Nói tóm lại, chúng ta viết văn như vậy, làm nghệ thuật như vậy và “thế thái” cũng phảng phất như vậy. Từ đó để cắt nghĩa xu hướng cao cả, không thể chỉ vin vào thị hiếu nghệ thuật, cần đi tìm căn nguyên của nó ngay trong đời sống xã hội thực tại.

Xu hướng cao cả được chúng tôi xác định như là khuynh hướng mỹ học chủ đạo trong văn học nghệ thuật của ta giai đoạn vừa qua, dĩ nhiên không phải định mệnh. Sự thực hiện của xu hướng này trong sáng tác có những mức độ rất khác nhau, điều này phụ thuộc vào cá tính sáng tạo và sự tự nhận thức của người nghệ sĩ mà bài báo của Nguyễn Minh Châu là một ví dụ. Trong những thành tựu văn học nghệ thuật giai đoạn vừa qua, những tác phẩm trong đó xu hướng lấn át như đã xác định ở trên được dừng lại ở mức độ thỏa đáng. Tức là những tác phẩm cao cả đẹp hoặc là đẹp một cách cao cả không phải là ít. Nhìn chung, xu hướng cao cả mà quan hệ lấn át như đã được nêu lên ở trên là đặc trưng tiêu biểu có thể phát triển theo hai chiều hướng: chiều hướng quan hệ lấn át chuyển hóa thành quan hệ cân bằng hài hòa, tiếp cận với cái đẹp như là lý tưởng. Và chiều hướng quan hệ lấn át vượt quá mức độ mà nghệ thuật có thể chấp nhận được để biến thành phản nghệ thuật. Phát triển quá trớn theo chiều hướng thứ hai, trong cấu trúc của hình tượng chẳng hạn, nội dung có thể lấn át hình thức tới mức không còn là hình tượng nghệ thuật nữa, hoặc giả ở nhân vật, lý trí sẽ lấn át cảm xúc tới mức nhân vật không còn là một con người sống nữa.

Hai chiều hướng nói trên đồng thời cũng là hai con đường được đặt ra trên bình diện mỹ học cho sự lựa chọn của những người làm công tác văn học nghệ thuật ngày nay. Nền văn học nghệ thuật của ta có những điều kiện hết sức căn bản để xu hướng cao cả phát triển theo chiều hướng lành mạnh, hoàn thiện. Ngăn ngừa chủ nghĩa sơ lược, bệnh công thức, chủ nghĩa minh họa, phê phán những quan niệm dung tục về văn nghệ, coi trọng những đặc trưng của sáng tác nghệ thuật, là những điều thường xuyên được chú ý trong sự lãnh đạo văn nghệ của Đảng ta.

Mặt khác, ngay trong những năm trước đây, khi chân tướng phản bội và phàm tục của tư tưởng và đường lối của tập đoàn phản động Bắc Kinh chưa lộ hẳn ra, trong tuyệt đại đa số trí thức sáng tác ở ta, kể cả những người đã lĩnh hội sâu sắc tinh hoa của văn hóa Hoa Hạ, thị hiếu nghệ thuật chưa bao giờ ngả về phía nền văn học nghệ thuật mang dấu ấn của cuộc “đại cách mạng văn hóa”.

Đáng chú ý hơn là ảnh hưởng tiêu cực của xu hướng cao cả tới thị hiếu đông đảo công chúng ở ta. Một ý quan trọng trong bài báo đã dẫn là tác giả cho ta thấy rằng áp lực của công chúng tới người sáng tác nhiều khi cũng độc đoán và ghê gớm lắm, không đơn giản như ta tưởng. Bằng chứng có thể thấy ngay được là lời lẽ thưa gửi giãi bày của chính Nguyễn Minh Châu trước khi ngỏ lời khai chiến với thị hiếu của độc giả (mà tác giả xin nhận là của chính mình).

Không phải là định mệnh, xu hướng cao cả càng không phải là yếu tố quyết định giá trị tư tưởng và giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Chỉ ra quy luật vận động của nghệ thuật từ cái cao cả đến cái đẹp, chúng tôi hoàn toàn không muốn nói rằng tác phẩm tiếp cận với cái đẹp thì đẹp hơn tác phẩm mang dấu ấn của cái cao cả. Tất cả phụ thuộc vào tài năng, vốn sống, giác quan về “mức độ” và những nhân tố khác trong cá tính và bản lĩnh của người nghệ sĩ, như chúng ta đều biết. Một nhân vật kiểu người cao cả (lý trí lấn át cảm xúc) vẫn có cái đẹp riêng của nó, cũng như một hình tượng cao cả (nội dung lấn át hình thức) có thể có giá trị nghệ thuật rất độc đáo. Biết đâu, có những tác phẩm thời đại nghệ thuật chúng ta trở nên bất hủ chính vì chúng mang dấu ấn của cái cao cả, chính vì chúng mang những giá trị tư tưởng-nghệ thuật độc đáo mà những thời đại nghệ thuật sau không thể tạo ra được vì “trạng thái nhân thế” tương ứng không còn nữa.

Xác định xu hướng cao cả như là một đặc tính phổ quát của nền văn học nghệ thuật của ta hiện nay, chúng tôi muốn khẳng định rằng nền văn nghệ của ta đương ở giai đoạn trưởng thành. Những mâu thuẫn ở dạng quan hệ lấn át như đã được mô tả (bình diện cái phải tồn tại lấn át bình diện cái đang tồn tại, cấp nhận thức lý tính lấn át cấp nhận thức cảm tính, lý trí lấn át cảm xúc, bản chất lấn át hiện tượng, nội dung lấn át hình thức…) có thể quy vào loại mâu thuẫn trong đó cái chung lấn át cái đặc biệt, có nghĩa là thuộc loại mâu thuẫn hình thức không đối kháng và chúng có tiềm năng phát triển tới sự thống nhất trong quan hệ cân bằng và hài hòa. Đó là mâu thuẫn của sự hình thành. Khái quát một cách triết học, chuyển từ quan hệ lấn át đến quan hệ hài hòa có nghĩa là chuyển từ giai đoạn hình thành (devenir) đến giai đoạn tồn tại (étre).

Trong những nền nghệ thuật suy đồi, quan hệ lấn át bị đảo ngược lại và trước mắt ta cũng những mâu thuẫn ấy, nhưng đó là những mâu thuẫn hình thức đối kháng mà sự phát triển chỉ có thể dẫn tới sự suy thoái mà giới hạn là phi tồn tại (non-étre). Trong nghệ thuật tư sản hiện đại chẳng hạn, là một nền nghệ thuật đương suy thoái một cách toàn diện và nghiêm trọng, sự lấn át của cấp nhận thức cảm tính tới cấp nhận thức lý tính để sản sinh ra nào là nghệ thuật “pốp”, nào là “âm nhạc cụ thể”, “trữ tình cụ thể”…, sự lấn át của hình thức đối với nội dung đã đẻ ra đủ các loại chủ nghĩa hình thức, sự lấn át của cảm xúc đối với lý trí cuối cùng đã phi nhân hóa nhân vật, sự lấn át của hiện tượng đối với bản chất đã mở đường cho chủ nghĩa tự nhiên, nó cũng là một dấu hiệu sự suy đồi của nghệ thuật. Tóm lại, các thứ “phi” này “phi” nọ, các thứ “phản” này “phản” nọ, được tung ra loạn xạ trong nghệ thuật tư sản hiện đại là triệu chứng của quá trình suy thoái của nền nghệ thuật này đương dẫn tới sự phủ định bản thân nghệ thuật.

Đứng trước những hiện tượng suy đồi có vẻ “là lạ” của văn nghệ thực dân mới được tạo ra dưới chế độ Mỹ-ngụy, liên tưởng đến những biểu hiện tiêu cực của xu hướng cao cả trong nền văn nghệ cách mạng ở ta, do sự tương phản của những quan hệ lấn át, dễ lầm tưởng rằng ở đây có thể có quan hệ bổ sung. Thực ra như đã phân tích so sánh ở trên, đó là những biểu hiện của những mâu thuẫn bản chất hoàn toàn khác, của những quá trình trái ngược hẳn với nhau. Không thể lấy cái “màu mè” của chủ nghĩa hình thức để bổ sung cho sự lấn át của nội dung đối với hình thức, cũng như không thể lấy cái “ướt át” của sự buông lỏng bản năng và tình cảm để bổ sung cho sự lấn át của lý trí đối với cảm xúc. Lẽ nào lại đi lấy những biểu hiện bệnh hoạn của một quá trình suy thoái, tan rã để “sửa sang” cho những non yếu của một quá trình trưởng thành. Chỉ những “người cầm lái” cũ và mới của tập đoàn phản động Bắc Kinh hiện nay mới phải tính kế vay mượn phấn son của văn nghệ tư sản phương Tây hiện đại – gần đây được họ bỗng dưng mở rộng cửa đón nhận về hết sức vồ vập – để hóa trang cho cái bộ mặt quá ư ngán ngẩm và gớm ghiếc mà tự họ đã tạo ra dưới triều đại của “Người cầm lái vĩ đại”.

Chú thích

(1) Nguyễn Minh Châu: Viết về chiến tranh // Văn nghệ quân đội, H., s. 11/1978, tr. 114

(2) Aristoteles: Thi pháp (bản tiếng Nga), M., 1967, tr. 177.

(3) Aristoteles: Thi pháp (bản tiếng Nga), M., 1967, tr. 44.

(4) Khái niệm hình tượng đa nghĩa được xác định từ một bình diện hoàn toàn khác với khái niệm biểu tượng hai mặt. Tính chất hai mặt của loại biểu tượng sau biểu thị tính chất lập lờ của nó; thực ra hình tượng hai mặt bao giờ cũng chỉ có một ý nghĩa hoàn toàn xác định, đó là ý nghĩa xỏ xiên. Dĩ nhiên cần phê phán nghiêm khắc loại biểu tượng này. Tuy vậy từ sự phê phán biểu tượng hai mặt mà suy ra rằng hình tượng nghệ thuật chỉ được phép có một mặt, một ý nghĩa, thông tin mỹ học phải có tính chất đơn nghĩa, tức là truyền đạt một ý nghĩa cố định như thông tin lý thuyết, − là hoàn toàn không đúng.

(5) Tình trạng nội dung lấn át hình thức thể hiện đặc biệt rõ trong văn nghiên cứu. Về nội dung có xu hướng đề cập đến những đề tài lớn, những vấn đề to, đưa ra những ý bao trùm, trong khi đó câu kéo lô-gich hình thức và bố cục thường cẩu thả và rất yếu.

( Nguồn: FB Lại nguyên Ân)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 14.05.2015

Anh Hùng

Anh Hùng

Huy Đức

Tôi không có đủ hồ sơ để đánh giá “những sai phạm” của ông Kim Quốc Hoa nhưng với những gì nêu trong bài này thì thấy rằng ông Hoa có khá nhiều sơ hở. Ông Hoa có thể rất khó chứng minh tất cả những người chống tham nhũng là “bọn biến chất”; có thể không có bằng chứng khi nói về “thị trường sao vạch”… Nhưng vấn đề là, buộc tội ông rồi dân có tin ở VN “không có thị trường sao vạch” không? Có tin những người chống tham nhũng là trong sạch không?

Về những bài báo “không phù hợp với quan điểm của Đảng”, “ảnh hưởng tới uy tín của Đảng, của cá nhân Tổng bí thư”… thì theo tôi không thể đặt nó trong phạm vi điều chỉnh của luật hình sự được. Mặt khác, trong một đất nước mà báo chí và dân không được quyền chỉ trích, quyền nói khác quan điểm của đảng cầm quyền (ngay cả những chỉ trích đó không chính xác) thì làm sao có thể coi đất nước đó có dân chủ”. Làm sao có thể “lợi dụng quyền tự do dân chủ” khi quyền đó không tồn tại.

  Nếu thực sự ông Kim Quốc Hoa đã cho đăng những bài báo sai sự thật thì hãy để những người có liên quan yêu cầu tờ báo trả lời, đính chính theo Luật Báo chí. Nếu tờ báo hoặc ông Kim Quốc Hoa không tuân thủ Luật Báo chí hoặc có những bài báo vu khống, xúc phạm danh dự nhân phẩm các tổ chức, cá nhân thì hãy để các tổ chức, cá nhân đó khởi kiện dân sự hoặc yêu cầu khởi tố theo Bộ Luật Hình sự.

Ông Hoa bị khởi tố vào ngày mà 7 năm trước đó hai nhà báo Tuổi Trẻ và Thanh Niên bị bắt trong vụ PMU 18. Nếu như trong vụ PMU 18, các báo thay vì bị bắt mà bị các ông Nguyễn Việt Tiến, Cao Ngọc Oánh kiện ra tòa vì đã đăng những thông tin bịa đặt vu khống, bôi nhọ họ. Thì, cho dù các nhà báo có chứng minh, họ vì quá ngây thơ nên đã bị những kẻ lưu manh như Tướng Quắc biến thành công cụ đâm thuê chém mướn trước đại hội của một số người, thì các nhà báo cũng phải nhìn ra lỗi lầm của mình.

Đành rằng báo chí Nhà nước đã từng nhiều khi rất lộng quyền (mà nạn nhân thường chỉ là người ngay), cách xử lý của chính quyền vẫn thường biến họ trở thành anh hùng thay vì, đôi khi, đáng lẽ họ phải ra đi xấu hổ.

H.Đ.

Nguồn: https://www.facebook.com/Osinhuyduc

Đăng bởi: Ngô Minh | 13.05.2015

Tung Chài- ảnh đẹp

Tung Chài- ảnh đẹp

alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
  ( Nguồn: VANDAN NNB)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 13.05.2015

Gặp nhà giáo lão thành nơi xứ lạnh

Ô.Mai Khắc Ứng

Gặp nhà giáo lão thành nơi xứ lạnh

  Mai Khắc Ứng

( Bài gửi QTXM từ Canada)

Vợ chồng nhà giáo già Chung Hữu Thế, Trần Thị Hiếu, quê ở tỉnh Bến Tre, nghỉ dưỡng già tại Appartement 6350 # 609 đường Terrebonne, quận Notre­Dame­de-Grace, thành phố Montreal, nước Canada đã 24 năm. 24 năm hưởng trợ cấp già của một đất nước mà cả hai chưa một ngày phụng sự.

 Chiều thứ 7, ngày 25 tháng 6 năm 2005, ông Trần Xuân Thu (em ruột Cố Thủ tướng Trần Văn Hữu), 75 tuổi, quê Vĩnh Long rủ tôi đến thăm vợ chồng thầy Thế. Tôi nhận lời liền. Đi thăm một nhà giáo lão thành có thâm niên giảng dạy ở trường Petrust Ký đồng thời là người sáng lập trường Trung học Tư thục Minh Tân, không vui sao được. Tuy đã qua “bát tuần đại khánh”, thầy Thế vẫn còn mạnh giỏi, minh mẫn lắm.Vồn vả, chân tình, chất phác, vốn dĩ là phong cách Nam Bộ ở Thầy chưa một nét mờ phai. Tôi muốn biết đôi điều về sinh hoạt hiện thời của cặp nhà giáo già nơi xứ lạnh. Thầy nói liền: (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 13.05.2015

PHẢI TRẢ LẠI DANH DỰ CHO TUẦN BÁO “VĂN”!

PHẢI TRẢ LẠI DANH DỰ CHO TUẦN BÁO “VĂN”!

Lại Nguyên Ân

QTXM- Nhà văn Lại Nguyên Ân viết bài nàynhân ngày kỷ niệm 55 năm Hội Nhà Văn Việt Nam ( 2012). Thấy bài viết đến nay vẫn còn nguyên giá trị, khi mà có rất nhiều hội viên HNVVN từ bỏ hội. QTXM xin in lại để bạn đọc cùng chia sẻ với văn chương ở xứ sở mình.

Trong năm 2012 này, cụ thể là đến đầu tháng 4/2012, sẽ là tròn 55 năm kể từ hội nghị thành lập Hội nhà văn Việt Nam, diễn ra trong vài ba ngày đầu tháng 4/1957 tại Câu lạc bộ Đoàn Kết, ngay cạnh sân Nhà hát Lớn Hà Nội.

Trong số những người cầm bút viết văn bằng tiếng Việt, hẳn đã và sẽ có không ít người hoặc ngấm ngầm hoặc công nhiên bày tỏ thái độ không thật sự kính trọng cái tổ chức mà suốt trên nửa thế kỷ tồn tại, tuy số thành viên ngày càng đông đảo, nhưng chưa bao giờ tỏ rõ ra được là một tổ chức độc lập, tự lập của nhà văn Việt Nam. Đây quả là một trong những vấn đề căn bản hiện tại và tương lai của tổ chức này. Song tại đây, xin tạm gác điều vừa nói để nêu một sự kiện thuộc lịch sử Hội nhà văn Việt Nam: vấn đề danh dự của tuần báo “Văn” (1957-1958).

Những thế hệ cầm bút mới bước vào văn đàn vài chục năm nay có thể thậm chí không có ý niệm gì về tờ báo này, hoặc thậm chí đã bị sang tai những lời giải thích nào đó ít nhiều bóp méo hình ảnh thật của nó.

 Tuần báo “Văn”, được xuất bản tại 51 Trần Hưng Đạo, Hà Nội, từ ngày 10/5/1957, hơn một tháng sau hội nghị thành lập Hội nhà văn Việt Nam; chủ nhiệm báo là Nguyễn Công Hoan (1903-1977), chủ tịch đầu tiên của Hội; thư ký tòa soạn là Nguyên Hồng (1918-1982), ủy viên thường vụ Ban chấp hành Hội.

Có thể nói, tuần báo “Văn” đã hoạt động trong sự phấp phỏng của giới cầm bút khi đó đang sống và viết ở miền Bắc vĩ tuyến 17, là vì từ cuối năm 1956 đến Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ hai họp ở Hà Nội hồi đầu năm 1957, những gì liên can đến báo “Nhân văn” và các cuốn “Giai phẩm” trong năm 1956 đã bị giới lãnh đạo lên án rất quyết liệt và nặng nề, nhưng từng cá nhân những người cầm bút dính líu đến các hoạt động ấy thì vẫn còn tạm thời chưa bị xử lý, vẫn còn tạm thời được sống và viết giữa những người cầm bút khác. Người ta phấp phỏng về một động thái gì đó giống như giọt nước tràn ly, sẽ gây tai biến, đổ vỡ. Và rồi điều không mong muốn ấy đã đến. Chỉ 2 tháng sau, trên tạp chí “Học tập” của Trung ương Đảng (tháng 7/1957) đã có bài phê phán tuần báo “Văn”, cho rằng những sáng tác đăng trên tờ tuần báo này không thể hiện được “con người thời đại” (!) và nêu tên phê phán một loạt tác phẩm đã đăng trên 10 số đầu, từ các bút ký như Phở (Nguyễn Tuân), Xiếc khỉ (Quang Dũng), các truyện ngắn Nhật ký người mẹ (Lê Minh), Bóng tối (Nguyễn Châu Viên), Căn nhà hạnh phúc (Nguyễn Hồng Điện), Bích-xu-ra (Thụy An), đến các bài thơ: Gió (Xuân Diệu), Yêu nhau (Lê Đạt), … “Tờ báo “Văn” hầu như xa rời thực tế, xa rời cuộc sống, tách rời những nhiệm vụ trung tâm của cách mạng”! – Những lời phê bình nặng nề và quá đáng này khiến cho cả những nhà văn đang làm việc tại tòa soạn lẫn những cây bút cộng tác với tuần báo “Văn” đều cảm thấy bất bình. Lên tiếng đầu tiên là thư ký tòa soạn Nguyên Hồng: ông không thể chịu đựng nổi kiểu phê bình đao to búa lớn, in đậm tác phong quan liêu, trịch thượng, mà nội dung phê bình lại hoàn toàn bộc lộ một tư duy giáo điều, công thức, sơ lược! Nguyên Hồng và không ít nhà văn khác, đã không hiểu được rằng đấy chỉ là cái bẫy đã gài sẵn. Lập tức tạp chí “Học tập” (tháng 8/1957) đáp lại, tiếp tục quyết đoán rằng tuần báo “Văn” đã “đi trệch đường lối”, và cảnh cáo “thái độ của một số cán bộ đảng viên phụ trách văn nghệ phạm khuyết điểm sai lầm được báo chí Đảng giúp đỡ phát hiện khuyết điểm sai lầm mà không chịu khiêm tốn kiểm điểm và thành tâm sửa chữa, trái lại, lại đả kích và mạt sát báo chí Đảng”! Giới nhà văn đứng sau tuần báo “Văn” cố nhiên không thể giữ được cái đầu lạnh, họ tiếp tục phản ứng, trong đó có tiếng nói của cả những người từng trải như Nguyễn Tuân (khi đó vẫn là một trong 8 phó chủ tịch Hội liên hiệp văn học nghệ thuật VN), lẫn của những cây bút khi đó vừa bước vào nghề như nữ nhà văn Lê Minh; cũng có đôi người như Nguyễn Văn Bổng tán đồng với phía phê phán, nhưng số người đồng tình với thái độ Nguyên Hồng vẫn nhiều hơn, trong số này có cả Nguyễn Tuân, thậm chí cả Nguyễn Đình Thi, khi đó là tổng thư ký Hội liên hiệp văn học nghệ thuật VN. Sự kiện mà sau đó Bộ chính trị trung ương Đảng gọi là “cuộc tranh luận giữa tạp chí “Học tập” và tuần báo “Văn” (nghị quyết số 30 ngày 06/01/1958 do Nguyễn Duy Trinh ký), rốt cuộc đã bị xử ép một bề: tuần báo “Văn” bị xử thua, bị đóng cửa sau số 37 (ngày 17/01/1958), mặc dù nội dung số Tết 1958 đã được chuẩn bị và đưa tin chi tiết trên một vài tờ báo hàng ngày ở Hà Nội. Vả chăng, việc quy tội cho tuần báo “Văn” cũng chỉ là cái cớ để người ta ra tay trừng phạt những nhà văn nhà báo đã từng liên can ít nhiều đến báo “Nhân văn” và các cuốn “Giai phẩm”, kết cục là có gần một chục người bị án tù với tổng cộng trên 50 năm tù giam và hàng chục năm bị quản chế; vài người bị buộc ra khỏi Ban chấp hành Hội, ba người bị khai trừ hội tịch vĩnh viễn, một số khá đông bị cảnh cáo; tất cả họ đều bị treo bút vài ba năm song trên thực tế thời gian cấm đăng tải bị kéo dài dường như vô hạn nếu không có thời đổi mới (1986-88).

Đến 25/05/1958, cũng tại 51 Trần Hưng Đạo, Hà Nội, báo “Văn học” ra đời với khẩu hiệu “Vì tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội” gắn cùng tên báo. Đây cũng là tờ báo của Hội nhà văn VN, do Nguyễn Đình Thi là thư ký tòa soạn, nhưng ngay từ đầu “Văn học” đã nói rõ nó không phải là sự tiếp tục tuần báo “Văn”; trái lại, chính báo “Văn học” ngay tại số đầu này, đã tuyên bố chối bỏ tờ báo đi trước, hơn thế, còn cao giọng kết án tuần báo“Văn” trước đây “đã bị tư tưởng Nhân văn lũng đoạn”, “đã đăng một số bài lệch lạc, chịu ảnh hưởng những tư tưởng thù địch hoặc đề cao chủ nghĩa cá nhân suy đồi, rơi vào những quan điểm của chủ nghĩa xét lại trong văn nghệ”, “những trang báo“Văn”  đã bị hoen ố vì những bài của nhóm “Nhân văn”,… “dùng mọi cách xảo trá để gieo rắc nọc độc phản lại tổ quốc, phản lại nhân dân, chống lại chủ nghĩa xã hội, chống chế độ và chống Đảng”… Thái độ chối bỏ này, đặt vào thời điểm 1958 ở miền Bắc, cũng là điều dễ hiểu.

Từ đó trở đi, ký ức về tuần báo “Văn” phai mờ dần trong giới cầm bút; tệ hơn thế, mỗi khi được nhắc lại bởi một số quan chức văn nghệ hoặc nhà phê bình, tờ tuần báo đầu lòng kia của Hội nhà văn VN lại hằn lên vì những lời nguyền rủa, xem nó như một vết đen đáng xấu hổ của giới cầm bút trong buổi đầu tập hợp nhau thành một Hội!

Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua. Nhiều điều tưởng đã là khuôn thước bất di bất dịch của một thời sáng thế mới, rốt cuộc đã không chịu đựng nổi thử thách của thời gian và sự thật. Những gì mà người ta từng phát ngôn như thể lời tuyên cáo đanh thép đối với các sáng tác thơ, luận, truyện, … trên một tờ tuần báo văn chương hiền lành thuở nào, giờ đây nếu ai có dịp đọc lại, sẽ thấy nó cứng quèo, khô xác và nực cười như lời của những vai hề; các tác giả của những phát ngôn ấy, nếu còn sống, chắc phải lấy làm ngượng, và nếu có lương thức lương tâm, họ sẽ phải ân hận khôn cùng.

Tuy thế, vẫn chưa có sự minh giải chính thức nào xung quanh những thiết án khi xưa đối với tuần báo “Văn”, – cái thực thể chỉ tồn tại trên giấy nhưng gói trong nó những kết quả sáng tạo tinh thần của rất nhiều người viết. Những người chịu trách nhiệm chính của tuần báo “Văn” là Nguyễn Công Hoan và Nguyên Hồng, đều đã được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (1996). Trong số những người từng đăng bài trên tuần báo đó, khá nhiều người cũng đã được trao giải thưởng Hồ Chí Minh hoặc giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Các cá nhân cầm bút đã được vinh danh. Chỉ có tuần báo “Văn” thuở nào là vẫn chưa được trả lại danh dự.

Đây không phải bài nghiên cứu để có thể đề cập chi tiết. Vượt qua những sự lên án đã tỏ ra là sai trái khi xưa, có thể nói tuần báo “Văn” tuy chỉ tồn tại trong 8 tháng, nhưng cũng đã chuyển tải được một phần đời sống văn nghệ đương thời trên miền Bắc hồi ấy. Đặt trong cái vòng kim cô kiểm soát văn hóa tư tưởng thuở ấy đang siết chặt dần, tuần báo“Văn” chẳng thua kém gì so với các tờ “Văn học”, “Văn nghệ” về sau. Tất nhiên đây là tờ tuần báo của những nhà văn nhà báo ở đầu thời đang bước vào văn chương minh họa nên nó mới chỉ làm tròn bổn phận này ở các bài mục “đánh địch” tức châm biếm, đả kích; còn lại, ở các phương diện khác, những người sáng tác vẫn chưa quên những chuẩn mực văn chương nhân bản thông thường, tuy rằng viết ra được tác phẩm hay bao giờ cũng là việc khó nhất. Trong số những tác phẩm đăng lần đầu ở đây, được nhắc nhở sau này là các tác phẩm như thơ: Hãy đi mãi (Trần Dần), Lời mẹ dặn (Phùng Quán), Bão (Tế Hanh), văn: Đống máy (Minh Hoàng), Ông Năm Chuột (Phan Khôi), Tiếng bạc cuối cùng (Hồ Dzếnh), là truyện dịch Phòng số 6 của Chékhov, là các tiểu luận Nguyễn Tuân về văn Thạch Lam, kịch Vi Huyền Đắc, hoặc, một số tranh trào lộng về tệ quan liêu của Trần Duy, v.v…

Tôi không nói tuần báo “Văn” (1957-1958) là tuyệt vời, tôi thấy chất lượng văn chương và báo chí của nó là thường thường bậc trung; đặt trong lịch sử loại báo chí văn chương ở Việt Nam từ xưa tới nay, nó không thể so sánh được với vai trò của rất nhiều tờ báo khác mà ở đây tạm không nên nhắc tên. Nhân nhớ tới lịch sử 55 năm thành lập Hội nhà văn Việt Nam, tôi chỉ nghĩ đến tuần báo “Văn” (1957-1958) như một cơ quan đầu lòng của riêng Hội này, cái cơ quan chỉ tồn tại được 8 tháng, và tuy đã đóng vai trò tấm gương soi đời sống văn học, đời sống của Hội nhà văn Việt Nam những tháng ngày ấy, nhưng ký ức về nó vẫn là một ký ức bị làm nhục, bị nguyền rủa. Vậy mà với thời gian, những gì in lên diện tích các trang của 37 số báo “Văn” (1957-1958) lại tự chứng tỏ nó đáng được nhớ tới với sự tôn trọng, với sự trân trọng.

Thiết nghĩ, nếu lịch sử Hội nhà văn Việt Nam vẫn được tính từ đầu tháng 4/1957 thì giai đoạn Hội có tuần báo “Văn” (1957-1958) không thể bị loại trừ! Trong dịp kỷ niệm 55 thành lập Hội, thiết nghĩ nên có một vài nghi thức cần thiết để trả lại danh dự cho tờ tuần báo “Văn” (1957-1958). Những người cầm bút đứng trong Hội hôm nay nên biết đến toàn bộ các giai đoạn lịch sử Hội mình từng trải qua.

12/03/2012

( Nguồn :VV)

 

 20 NHÀ VĂN TUYÊN BỐ TỪ BỎ HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM

 

QTXM:Chuyện 20 nhà văn rời bỏ Hội Nhà văn Việt Nam là một tổn thất lớn của Hội nhà văn VN. Ngô Minh rất ám ảnh khi nhận được thông tin này. Những người rời khỏi hội toàn nhà văn nổi tiếng: Nguyên Ngọc, Hoàng Minh Tường,Nguyễn Huệ Chi, Ý Nhi, Nguyễn Quang Lập…Tôi nghĩ rằng, vào Hội hay ra Hội là quyền tự do của mỗi người. Ở trong Hội cũng viết mà ra khỏi Hội cũng sáng tác. Nhà văn không còn việc gì làm ngoài trang viết. Chuyện tự do sáng tác, độc lập suy nghĩ là quyền bất khả xâm phạm của mỗi nhà văn, không ai cấm cản được. Cấm cản chỉ là hình thức, chỉ làm khó khăn cho đời sống nhà văn chỉ không ngăn cản được tự do sáng tác của nhà văn. Ai cấm được ông Trần Đĩnh viết và xuất bản ĐÈN CÙ? Thế mà ĐÈN CÙ vẫn đến được với hàng triệu độc giả Việt. Trong chuyện  20 hội viên giỏi ra Hội nhất định phải có duyên cớ từ Hội Nhà vắn, từ đường lối đối xử với trí thức, nhà văn của nhà nước ta. Thiễn nghĩ, nếu không tìm được tiếng nói chung, còn còn tìm cách để ngặn chặn tiếng nói phản biên, nhất định còn nhiều hội viên ra khỏi Hội. Ra khỏi Hội có thể họ  không được xuất bản tác phẩm trong nước ( vì NXB là của nhà nước). Nhưng họ vẫn viết và thời đại bây giờ xuất bản ở đâu mà chẳng được. QTXM xin đăng lại TUYÊN BỐ TỪ BỎ HỘI NHÀ VĂEN VIỆT NAM để bạn đọc thấy được nội tình văn học đất nước.

TUYÊN BỐ TỪ BỎ HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM

Là những người viết văn đã nhiều năm tham gia Hội Nhà Văn Việt Nam (HNVVN), đã góp sức xây dựng Hội qua thời chiến cũng như thời bình, đã đau xót trước sự xuống cấp ngày càng nghiêm trọng của Hội trong những năm gần đây và tích cực góp ý với Hội để khắc phục tình trạng ấy;
đến hôm nay, nhận thấy tình trạng suy thoái của Hội đã trở nên không thể cứu vãn nếu không có sự thay đổi nhiều điều căn bản trong điều lệ và tổ chức của Hội để Hội thực sự là một tổ chức nghề nghiệp tập hợp những người viết muốn xây dựng một nền văn học Việt Nam đích thực, tự do, nhân bản;
nhận thấy khả năng thay đổi trên càng không thể xảy ra khi lãnh đạo HNVVN đã tự tiện tước quyền tham gia Đại hội lần IX sắp tới của chúng tôi với lý do chúng tôi là thành viên của một ban vận động thành lập một văn đoàn tương lai – đó là việc làm vi phạm trắng trợn điều lệ hiện hành của HNVVN, tước bỏ một trong những quyền cơ bản của hội viên và công dân, xúc phạm nghiêm trọng danh dự của người cầm bút;
chúng tôi tuyên bố từ bỏ HNVVN kể từ ngày hôm nay, 11 tháng 5 năm 2015.

Bùi Minh Quốc (hội viên HNVVN từ năm 1977)
Đặng Văn Sinh
Đỗ Trung Quân (hội viên HNVVN từ năm 1987)
Hoàng Minh Tường (hội viên HNVVN từ năm 1981)
Lê Hiền Phương
Ngô Thị Kim Cúc
Nguyên Ngọc (hội viên HNVVN từ năm 1957)
Nguyễn Huệ Chi (hội viên HNVVN từ năm 1984)
Nguyễn Quang Thân (hội viên HNVVN từ 1977)
Phạm Đình Trọng
Thùy Linh
Vũ Thế Khôi
Ý Nhi

Ghi chú:
– Cùng tham gia tuyên bố, nhưng đã công bố cá nhân quyết định từ bỏ HNVVN trước ngày 11/5/2015:
Võ Thị Hảo
Dư Thị Hoàn
Trịnh Hoài Giang

– Đã tuyên bố rút khỏi HNVVN cùng các hội đoàn khác (kể cả Ban Vận động VĐ ĐL VN):
Nguyễn Quang Lập
Dạ Ngân
Nguyễn Duy
Trần Kỳ Trung

Đăng bởi: Ngô Minh | 12.05.2015

CHÙM LỤC BÁT NGÔ MINH

CHÙM LỤC BÁT NGÔ MINH

 

 HÀ NỘI MÙA ĐÔNG

 

đường dài bước tỉnh bước say

mùa đông Hà Nội chiều nay anh về

mắt ơi long lanh điều gì

buốt tê là tiếng thầm thì bên em

 

thơ Lầu Ngắm Sóng cầm lên

tóc vương như sợi rét mềm buộc nhau

một lời thưa với mai sau

chút tình đơn lẻ cũng giàu ngày đông

 

rồi mai chết giữa má hồng

lúm đồng tiền ạ se lòng phố xưa…

 

co ro đường sấu nhớ mùa

sông Hồng đắp áo nằm mơ dáng Kiều

hương se gió ngọt xiêu xiêu

cành đông Hà Nội trắng điều nhớ nhung

 

lạy trời anh được về cùng

phố Hương thường trú mùa đông đời mình… (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 12.05.2015

Lục bát – niềm kiêu hãnh của thơ Việt

 Lục bát – niềm kiêu hãnh của thơ Việt

 Chu Văn Sơn
Nếu chọn loài cây Việt tiêu biểu nhất, đó hẳn phải là cây tre.
Nếu chọn loài hoa Việt tiêu biểu nhất, đó hẳn là hoa sen.
Nếu chọn trang phục Việt tiêu biểu nhất, đó hẳn là chiếc áo dài.
Nếu chọn nhạc khí Việt tiêu biểu nhất, đó hẳn là cây đàn bầu…
Cũng như thế, nếu chọn trong nền thơ ca phong phú của ta một thể thơ làm đại diện đi dự cuộc giao lưu thơ toàn cầu, đó hẳn phải là Lục bát.
Người Âu Tây tự hào về thể Sonnê, người Trung Quốc tự hào về thơ Đường luật, người Nhật Bản tự hào về thơ Haiku…, thì người Việt Nam có quyền tự hào về thể Lục bát. Lục bát là niềm kiêu hãnh của thơ Việt. Nếu tâm hồn một dân tộc thường gửi trọn vào thi ca của dân tộc mình, thì lục bát là thể thơ mà phần hồn của dân Việt đã nương náu ở đó nhiều nhất, sâu nhất. Có thể nói, người Việt sống trong bầu thi quyển lục bát. Dân ta nói vần nói vè chủ yếu bằng lục bát. Dân ta đối đáp giao duyên, than thân trách phận, tranh đấu tuyên truyền, trào lộng giải trí chủ yếu bằng lục bát. Và dân ta hát ru các thế hệ, truyền nguồn sữa tinh thần của giống nòi cho lớp lớp cháu con cũng chủ yếu bằng lục bát… Lục bát là phương tiện phổ dụng để người Việt giải toả tâm sự, kí thác tâm trạng, thăng hoa tâm hồn. Gắn với tiếng Việt, gắn với hồn Việt, thơ lục bát đã thuộc về bản sắc dân tộc này.   (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 12.05.2015

QUÊ HƯƠNG NHƯ MỘT NGÔN NGỮ

QUÊ HƯƠNG NHƯ MỘT NGÔN NGỮ

(Bốn mươi năm thơ hải ngoại. Chương 2)

 Nguyễn Đức Tùng

( Gửi cho QTXM từ Canada)

Tháng Mười năm 1861, trong nội chiến Hoa kỳ, bác sĩ Alfred Lewis Castleman, sĩ quan quân y trung đoàn Năm, lữ đoàn Wisconsin tình nguyện, tường trình tổn thất nhân mạng đầu tiên của đơn vị. Không phải vì súng đạn kẻ thù. Ông viết: người lính bất hạnh này đã chết vì nhớ nhà, phát điên vì nhớ vợ con. Ông viết tiếp: trong quân đội, những tổn thất vì lòng hoài niệm rất hay gặp.(New York Times, Susan J. Matt article 19 Apr 2012)

Tháng Tư là tháng tàn nhẫn nhất.

Thế mà năm nay nó tới sớm.

Đi làm về khuya, tắt máy xe, đóng cửa garage, bạn sải bước vào nhà. Tới cửa sau, đút chìa khóa nhưng chưa xoay, thoảng nghe mùi hương lạ. Nhẹ đến nỗi, nửa tin nửa ngờ, bạn quay lại, lầm lũi ra vườn, nhưng chẳng tìm thấy nguyên cớ của nó đâu. Rồi bạn nhớ ra, à, tháng Tư. Sau trận mưa nhiều ngày, trời mới nắng hai bữa. Bạn cúi xuống thật gần, lấp loáng trong đám lá những tia li ti như ánh trăng, nhưng không phải trăng, vì chúng tím tím hồng hồng. Những nụ lấm tấm như hạt gạo, những chấm tử đinh hương thơm nức xô từng đợt sóng.Như nỗi nhớ. (April is the cruelest month, breeding lilacs out of the dead land, mixing /memory and desire, stirring/ dull roots with spring rain )

Tháng tư là tháng ác ôn

Đinh hương nở tím bồn chồn đất hoang

Mưa xuân, ký ức, mơ màng

Cùng lay rễ cứng bàng hoàng bật lên (T.S. Eliot trong The Waste Land). (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 12.05.2015

Báo động ngân sách và tiếng nói thanh niên

 Báo động ngân sách và tiếng nói thanh niên

Thạc sỹ Nguyễn Tiến Trung (Sài Gòn )

 QTXM- Số liệu năm 2014 của Bộ Tài chánh cho thấy văn phòng (VP) trung ương đảng CSVN có dự toán (?) là 1973 tỉ đồng (tương đương 98.6 triệu USD). Con số này cao gấp 10 lần dự toán cho VP Chủ tịch Nước (chỉ 195.9 tỉ đồng), cao hơn chi tiêu của 2 Đại học Quốc gia Hà Nội và Sài gòn. Lương cán bộ cơ quan đảng gấp đôi lương của công chức bên dân sự cùng hệ số.Những cán bộ sáng cắp ô đi tối cắp ô về mà lương cao hơn giáo sư tiến sĩ giảng dạy đại học thì thật vô lý. Những số liệu đó làm cho người dân đau lòng. Ai cũng mong mỏi Đảng phải giảm bớt bộ máy, giảm bớt cán bộ, giảm dớt chi tiêu tiền thuế của dân, để đất nước có vốn để phát triển hơn. In lại bài này chúng tôi không có gì khác ngoài sự mong mỏi đó.

Các Đại biểu Quốc hội Việt Nam nhiều lần kiến nghị cải cách quản lý, chi tiêu ngân sách công.

Tờ báo điện tử của Việt Nam Một Thế Giới mới đây phát động một chiến dịch gây sửng sốt cho không ít người, đó là công khai cổ vũ giới trẻ quan tâm đến vấn đề minh bạch ngân sách quốc gia, vốn được cho là “mật” đối với giới lãnh đạo Đảng Cộng sản.

Thậm chí chiến dịch còn có hẳn một trang Facebook Todocabi, nghĩa là “ Tớ đố cậu biết”, trong đó đăng một đoạn phim hoạt hình để giúp giới trẻ hình dung rõ ràng hơn về vấn đề ngân sách quốc gia, thuế… và trách nhiệm của người trẻ.

Đó thật sự là một nỗ lực sáng tạo để giúp thanh niên hiểu hơn về quyền và nghĩa vụ của mình. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 11.05.2015

Việt Nam xưa đẹp lạ trong tranh họa sĩ Pháp

Dân trí-Cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20, nhiều họa sĩ Pháp đã tìm tới Việt Nam như một điểm đến khơi nguồn cảm hứng hội họa.

Ở thời điểm này, nhiều bức tranh ấn tượng ghi lại vẻ đẹp đất nước – con người – văn hóa Việt Nam đã được các họa sĩ Pháp thực hiện:

Tranh của họa sĩ người Pháp
Tranh của họa sĩ người Pháp Joseph Inguimberty (1896-1971), trưởng khoa Hội họa của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.

Bức tranh sơn dầu “Janette, Dominique và bà vú em” của Joseph Inguimberty.
Bức tranh sơn dầu “Janette, Dominique và bà vú em” của Joseph Inguimberty.

Bức tranh sơn dầu “Janette, Dominique và bà vú em” của Joseph Inguimberty.

Bức tranh sơn dầu “Janette, Dominique và bà vú em” của Joseph Inguimberty.
Bức tranh khắc họa phụ nữ Việt Nam ở những thập niên đầu của thế kỷ 20, do họa sĩ Joseph Inguimberty thực hiện.

Bức tranh sơn dầu “Janette, Dominique và bà vú em” của Joseph Inguimberty.
Hai bức tranh tách biệt ở trên đã từng được Joseph Inguimberty đưa vào thành một bức sơn dầu khổ lớn, đặt tên là “Gia đình bên bờ ao”.

Bức tranh sơn dầu “Phụ nữ và trẻ em” vẽ năm 1934 của Inguimberty.

Bức tranh sơn dầu “Phụ nữ và trẻ em” vẽ năm 1934 của Inguimberty.
Bức tranh sơn dầu “Phụ nữ và trẻ em” vẽ năm 1934 của Inguimberty.

Bức “Những người phụ nữ gặp mặt”.
Bức “Những người phụ nữ gặp mặt”.

Bức “Họp mặt”.
Bức “Họp mặt”.

Bức “Đất và người miền Bắc”.
Bức “Đất và người miền Bắc”.

Bức “Người phụ nữ nằm võng”.
Bức “Người phụ nữ nằm võng”.

Bức “Cô gái miền Bắc” vẽ năm 1934.
Bức “Cô gái miền Bắc” vẽ năm 1934.

Bức “Đi chợ”.
Bức “Đi chợ”.

Bức “Ngôi chùa”.
Bức “Ngôi chùa”.

Bức “Những người phụ nữ” vẽ năm 1932 của Joseph Inguimberty.
Bức “Những người phụ nữ” vẽ năm 1932 của Joseph Inguimberty.

Joseph Inguimberty là một họa sĩ Pháp. Trong trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, ông vốn được học trò yêu mến bởi là người có phương pháp giảng dạy thực tế, ít tính hàn lâm, kinh viện.

Joseph Inguimberty rất hứng thú với văn hóa Việt Nam. Trong thời kỳ sinh sống tại đây, ông đã thực hiện nhiều tranh về đất nước – con người Việt Nam.

Joseph Inguimberty luôn khuyến khích các học trò của mình hãy thực hiện những bức tranh thể hiện đậm đặc màu sắc văn hóa quê hương, cùng với đó, ông đề cao cách thể hiện màu sắc và ánh sáng. Trong tranh của Inguimberty, người ta có thể cảm nhận thấy rõ đường đi của ánh sáng, đặc biệt, tranh ông sử dụng những gam màu dịu dàng, lãng mạn.

Joseph Inguimberty còn rất hứng thú với chất liệu sơn mài và đã khuyến khích học trò của mình thử nghiệm với tranh sơn mài để nâng tầm sơn ta, từ những món đồ mỹ nghệ thủ công, lên thành một thể loại tranh nghệ thuật.

Tại Pháp, Joseph Inguimberty đã từng theo học mỹ thuật và kiến trúc tại trường Nghệ thuật – Thiết kế Quốc gia Pháp (Paris). Inguimberty đã từng giành được một số giải thưởng hội họa ở Pháp trước khi tới Việt Nam hồi năm 1925 và được mời làm trưởng khoa Hội họa ở trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.

Có lẽ đóng góp lớn nhất của Inguimberty đối với mỹ thuật Việt Nam chính là việc ông đã cùng với các học trò của mình thử nghiệm ở dòng tranh sơn mài – dòng tranh đã trở thành điểm nhấn đặc biệt của hội họa Việt Nam đối với hội họa thế giới.

Bức “Những người phụ nữ” vẽ năm 1932 của Joseph Inguimberty.

Trên đây là một bức tranh sơn mài hai mặt được tạo thành từ 6 tấm gỗ ghép, một mặt khắc họa đoàn rước trong cung đình Huế và một mặt khắc họa cảnh quan mùa xuân. Tác phẩm do thầy trò Joseph Inguimberty cùng thực hiện ở trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.

Bức tranh đã từng được đem bán đấu giá ở Hồng Kông và đạt mức giá 1.100.000 đô la Hồng Kông (3 tỉ đồng). Bức tranh chỉ đề là tác phẩm của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, vì vậy, có thể hiểu đây là một tác phẩm do thầy trò Joseph Inguimberty cùng thực hiện. Kích thước của tác phẩm này là 180x300cm, được thực hiện vào khoảng năm 1938-1940.

Ngay khi đặt chân đến Việt Nam năm 1925, Inguimberty đã bị choáng ngợp bởi vẻ đẹp và chất lượng của những món đồ mỹ nghệ sơn mài của Việt Nam, trong 20 năm giảng dạy ở trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, Inguimberty đã cùng đồng hành với nhiều thế hệ học trò để sáng tạo và phát triển một trường phái tranh sơn mài của Việt Nam.

Những họa sĩ nổi tiếng trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam như Tô Ngọc Vân, Phạm Hậu, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Khang, Trần Văn Cẩn, Trần Quang Trân đều đã từng học về nghệ thuật vẽ tranh sơn mài trong ngôi trường này. Tác phẩm trên đây là một ví dụ độc đáo về những kỹ thuật cao tay, điêu luyện mà thầy trò nhà trường đã đạt tới.

Nếu mặt thứ nhất lấy nền màu đỏ thì mặt thứ hai lấy nền màu vàng. Bức này khắc họa một con phượng hoàng, bên cạnh nó còn có hai con sếu, bay giữa những bông hoa mai, hoa cúc, những cây tùng, cây trúc, trong phong cảnh mùa xuân. Đây vốn là những hình ảnh ước lệ, tượng trưng, mang nhiều ý nghĩa biểu đạt trong văn hóa Á Đông.

Sự đối lập giữa hai bức tranh ở hai mặt thể hiện nỗ lực đạt tới sự cân bằng, hài hòa. Tác phẩm có thể coi là một ví dụ tiêu biểu về thời kỳ thầy trò trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương cùng nhau nghiên cứu, thực hiện tranh sơn mài.

Bức “Những người phụ nữ” vẽ năm 1932 của Joseph Inguimberty.

 

Bức sơn mài này cũng được thực hiện bởi thầy trò trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương hồi năm 1940. Tác phẩm khắc họa hình ảnh chim phượng hoàng, bên cạnh đó còn có hình ảnh một vài con sếu trong quang cảnh mùa xuân.

Tác phẩm đã được bán đấu giá ở Hồng Kông và đạt mức 687.500 đô la Hồng Kông (1,9 tỉ đồng). Bức tranh được ghép thành từ 10 tấm gỗ với tổng kích thước 170x300cm.

 

Bức “Dân tộc vùng cao” vẽ bằng phấn màu và màu bột trên giấy, do họa sĩ người Pháp
Bức “Dân tộc vùng cao” vẽ bằng phấn màu và màu bột trên giấy, do họa sĩ người Pháp André Maire (1898-1984) thực hiện năm 1949.

Bức “Cảnh Hà Nội” do họa sĩ Pháp
Bức “Cảnh Hà Nội” do họa sĩ Pháp Gaston Roullet (1847-1925) thực hiện năm 1885.

Bức “Cảnh Hà Nội” do họa sĩ Pháp
Bức “Hải Phòng” do Gaston Roullet thực hiện đã được bán đấu giá với mức giá 56.250 đô la Hồng Kông (158 triệu đồng).

Bức “Cảnh Hà Nội” do họa sĩ Pháp
Bức tranh khắc họa quang cảnh Huế của Gaston Roullet, thực hiện hồi năm 1886. Tác phẩm đã được bán với giá 81.250 đô la Hồng Kông (228 triệu đồng).

Bức tranh khắc họa quang cảnh kênh Tàu Hủ ở Sài Gòn năm 1939, do họa sĩ người Pháp
Bức tranh khắc họa quang cảnh kênh Tàu Hủ ở Sài Gòn năm 1939, do họa sĩ người Pháp Léo Craste (1887-1970) thực hiện. Craste từng cộng tác với tạp chí Đô Thành Hiếu Cổ tại Huế.

 

Bức tranh sơn dầu “Một đám rước ở Đông Dương” vẽ năm 1927 của họa sĩ người Pháp
Bức tranh sơn dầu “Một đám rước ở Đông Dương” vẽ năm 1927 của họa sĩ người Pháp René Bassouls – một người rất yêu mến đất nước – con người Việt Nam, ông đã từng thực hiện nhiều bức tranh ghi lại những nét thẩm mỹ văn hóa độc đáo ở nơi đây. Qua những bức tranh của René Bassouls, người ta có thể cảm nhận thấy sự ngưỡng mộ và hòa mình của họa sĩ vào đời sống văn hóa đang trải ra xung quanh ông.

Bức “Chợ bên bến sông” - một bức tranh sơn dầu của họa sĩ người Pháp
Bức “Chợ bên bến sông” – một bức tranh sơn dầu của họa sĩ người Pháp Victor Tardieu (1870-1937), thực hiện vào khoảng năm 1924. Bức tranh đã được bán đấu giá với mức giá 150.000 đô la Hồng Kông (420 triệu đồng). Victor Tardieu chính là hiệu trưởng đầu tiên của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.

Bức “Chợ bên bến sông” - một bức tranh sơn dầu của họa sĩ người Pháp
Bức “Mẹ và con” của Victor Tardieu vẽ năm 1925, có giá 367.500 đô la Hồng Kông (1 tỉ đồng). Bức tranh được vẽ bằng than và phấn màu trên giấy.

Bích Ngọc
Tổng hợp

( Nguồn: dantri)

 

Hoạt động bồi đắp, lấn biển của Trung Quốc trên Biển Đông

Philippines quyết chặn đứng Trung Quốc cải tạo đảo

QTXM- Còn Việt Nam thì sao ? Trường Sa là của Việt Nam mà !Không ra tay quyết liệt, khi bọn Đại Hán xây xong căn cứ quân sự, Việt Nam không chỉ mất Trường Sa mà con không có đường ra biển!

 Philippines quyết th eo đuổi cách thức chặn đứng hoạt động cải tạo đảo của Trung Quốc trên Biển Đông.

Đó là tuyên bố của Tổng thống Philipines Benigno Aquino trong chuyến công du ở Canada được đăng tải trên tờ Inquirer của Philippines hôm 10/5 và Tuổi trẻ dẫn lại. Theo đó, ông Aquino cho biết,  ông sẽ mở một cuộc thảo luận về “lộ trình tiếp cận tiếp theo” ngay khi trở về Manila.

“Chúng tôi có thể làm gì khác? Có chứ. Nhưng tôi không được tự do nói ở thời điểm này vì tôi sẽ giúp phía bên kia biết cách đối phó với động thái tiếp theo của chúng tôi. Tôi nghĩ điều này sẽ rất khinh suất” – ông Aquino nói tại cuộc họp báo chung với Thủ tướng Canada Stephen Harper.

Các hình ảnh vệ tinh thời gian gần đây cho thấy Trung Quốc đang đẩy mạnh việc cải tạo đảo trái phép trên Biển Đông khiến cộng đồng quốc tế lo ngại về an ninh trên tuyến hàng hải chiến lược này.

Mặc dù nhiều nước ASEAN hối thúc Trung Quốc hợp tác để sớm hoàn tất bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông nhưng Bắc Kinh luôn cho rằng “thời gian chưa chín muồi”, theo Inquirer.

Ông Aquino cho biết phán quyết của Tòa án quốc tế về luật biển (ITLOS) về vụ kiện của Manila đối với tuyên bố chủ quyền vô lý của Bắc Kinh trên Biển Đông sẽ là chỉ dẫn cho tất cả các bên. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 11.05.2015

Gặp thơ Lê Đạt một thời

Nhà thơ Hà Nhật

Hà Nhật

Gặp thơ Lê Đạt một thời

 Lời giới thiệu của Talawas.Nhà thơ Lê Đạt (tên thật là Đào Công Đạt) sinh năm 1929, vừa qua đời tại Hà Nội rạng sáng ngày 21.4.2008. Là một trong những trụ cột của Nhân văn-Giai phẩm, tháng 7.1958 ông bị kỉ luật “khai trừ 3 năm, vẫn là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, quyền xuất bản cũng đình chỉ trong kỳ hạn đó” theo lời ghi của Trần Dần ngày 07.7.1958, và cùng với Trần Dần, Đặng Đình Hưng, Tử Phác và Hoàng Châu Ký, ngày 12.8.1958 ông bắt đầu chuyến đi “thực tế” mà thực chất là lao động cải tạo tại Nông trường Chí Linh, Hải Dương. Hình phạt 3 năm đã kéo dài 30 năm, cho đến năm 1988, khi ông được phục hồi tư cách hội viên Hội Nhà văn và quyền xuất bản. Sau tác phẩm Bài thơ trên ghế đá (1955), gần 4 thập kỉ sau ông đã cho công bố các tác phẩm: Bóng chữ (1994), Hèn đại nhân (1994), Ngó lời (1997), U75 từ tình (2007), và nhiều bài viết trên báo chí trong và ngoài nước. Tháng 2.2007, ông được nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật.

 Phải rất lâu sau Hà Nội giải phóng (1954) tôi mới bắt đầu biết đến thơ Lê Đạt. Là học sinh vùng địch tạm chiếm, tôi chỉ biết thơ kháng chiến có Tố Hữu, rồi Hoàng Cầm, Hữu (tức Hữu Loan), Quang Dũng… (Đọc tiếp…)

NHÀ THƠ NGUYỄN DUY TỰ XÓA TÊN KHỎI CÁC HỘI ĐOÀN

TUYÊN BỐ TỰ XÓA TÊN KHỎI CÁC HỘI ĐOÀN VĂN NGHỆ
Cần thoát mọi vướng buộc để có thể được thảnh thơi làm một người tự do,
tôi tuyên bố xóa tên khỏi các hội đoàn mình đang là thành viên:
1- Hội Nhà văn Việt Nam;
2- Hội Nhà văn Tp Hồ Chí Minh;
3- Ban Vận động thành lập Văn Đoàn Độc Lập Việt Nam.

Sài Gòn, 09 tháng Năm, 2015
NGUYỄN DUY

TNc:Trong tháng Năm này đã có 5 nhà văn rời khỏi Hội Nhà văn VN là: Võ Thị Hảo, Nguyễn Duy, Dạ Ngân, Dư Thị Hoàn, Trịnh Hoài Giang. Thời gian trước có Ý Nhi, Nguyễn Quang Lập

Đăng bởi: Ngô Minh | 10.05.2015

Ngẫu hứng Trần Tiến 22

Ngẫu hứng Trần Tiến 22

Thưa Bác

Sáng nay con đi tập thể dục. Có hai thằng cha ghét nhau, chỉ muốn giết nhau, đã ngồi hút thuốc cạnh nhau bên bờ bãi trước. Những ngón tay cứ khum khum che lửa, ngón tay của dân một đời sóng gió. Chắc họ tha thứ cho nhau trước Bác và trước Biển.

Thưa Bác,

Cả ngày con ngồi xem người Việt tiễn Bác trên ti vi. Mặc dù 20 năm nay con không xem Tivi, kể cả bọn Holywood làm phim, con mê lắm, chúng nó bỗng trở nên nhạt nhoà.

Cả nước hình như cũng vậy. Suốt ngày ở đây chỉ có tiếng nhạc cầu siêu thiêng liêng và những khúc ca một thời hào hùng. Lần đầu tiên, con được sống trong âm nhạc thanh khiết ở Vũng Tàu. Những người khoẻ mạnh đều về thành phố tiễn Bác. Con bệnh quá không đi được, đành ngồi với mấy cựu chiến binh già. Chẳng ai còn giọt nước mắt nào chảy xuống. Nhưng ở đâu, sâu thẳm trong lòng, chúng con đều có một dòng chảy ngược lên.

 Sống trên đời, nếu có thể, hãy làm một điều tốt nào đó cho người khác. Nhiều hơn cho mình.

Đêm qua, Bác về đỉnh núi nơi ở của đại bàng, lặng ngắm biển quê hương. Trên dãy núi Lớn ở đây, sáng nay, mây đen quần vũ. Thương đại bàng nơi này không có vinh hạnh ở bên Bác.

Có cậu doanh nhân cứ điện thoại cho con bằng được, để nhờ viết bài hát cầu siêu Bác. Họ đã chung tiền nhau làm một tượng lớn như đức Thánh Trần, như Quan Công của Trung Quốc. Họ bảo,còn yêu Bác hơn. Bác là vị thánh của người Việt, linh hơn, lại gần gũi hơn.

– Tôi không viết được đâu, nhờ người khác đi.

– Chúng tôi thấy hình anh ngồi chơi đàn với Đại tướng, đăng đầy trên mạng này.

– Nhưng tim tôi quá bé, không chứa nổi một nhân cách quá lớn như Bác đâu.

Con chợt nhớ bản giao hưởng “Anh hùng” của Beethoven gửi tặng Napoleon. Nhưng tác giả đã xé đi lời tặng, khi biết tin quân Pháp tràn sang Đức, quê hương. Về binh pháp và nhân cách, Napoleon còn thua xa Bác Giáp nhà mình. Con nghĩ vậy,chả biết có đúng không.

Ngày được gặp Bác, con run quá, hát câu nọ sọ câu kia. Bác ngồi lặng yên nghe. Chẳng nói gì. Rồi cả nhà bừng lên, khi cháu nội Bác bi bô bài ca Đồi Him Lam gì đó. Mắt Bác lúc đó mới thấy vui. Bác chỉ vui khi nhớ lại một thời đẹp đẽ. Cái thời dành lại độc lập sao đẹp thế, Bác nhỉ. Viết đến đây con muốn khóc. Cái thời người Việt hi sinh tất cả để có Độc lập. Sao đẹp đến thế. Bác ơi.

Cô Đặng Anh Đào dạy văn con, một hôm bảo “Tiến đến hát cho anh Văn nghe bài “Tôi cô đơn như một ngọn cờ đi”, anh Văn thích nghe bài đó lắm”. Cô là em Đại tướng phu nhân, nên con tin.

Đại tướng đệm đàn cho nhạc sỹ Trần Tiến hát “Tôi cô đơn như một ngọn cờ”.

Bây giờ, Bác xa rồi, con vẫn nhớ đôi mắt lặng yên của Bác khi nghe bài hát về nỗi cô đơn của người anh hùng. (Bài hát tôi viết, khi đọc những dòng chữ cuối cùng trong nhật ký của bác sỹ Đặng Thuỳ Trâm)

Tôi cô đơn như một ngọn cờ

Ngọn cờ bão giông

Ngọn cờ khát khao

Ngọn cờ xé nát nát trong lòng đạn thù

Ngọn cờ quấn quanh thi hài người lính

Ngọn cờ vút bay trong niềm khao khát Tự do…

Bác có giây phút nào cô đơn không. Chắc là không. Con người Bác lớn hơn nỗi cô đơn thường tình của người anh hùng nhiều lắm. Bác là Thánh rồi. Những ngày nằm bệnh, Bác vẫn thầm thì căn dặn. Tưởng như quanh mình, vẫn còn đó bóng đồng đội thân yêu, áo trấn thủ sờn rách, chân đi dép cao su run run cơn sốt rét.

“… Bôxit,Bô xít… Tây nguyên,… Tây nguyên.

Đừng để kẻ thù nhòm ngó nước ta…”

Bác ơi,con lại khóc rồi.

Những vị anh quân, những vua hiền như Bác, như Cụ Hồ, … cứ suốt đời lo cho người khác thế ư.

Con người có nhiều cách sống riêng.

Con thường trọng những người sống từng ngày cho người khác… Nhiều hơn cho mình.

 

 Những Toan Tính của Trung Quốc ở Biển Đông Từ 41 Năm Qua Sẽ Thất Bại

 Tác giả: Leszek Buszynski

Liêm Nguyễn lược dịch

Mặc dù chúng ta chỉ cảm thấy sốc và ngạc nhiên với những động thái hung hăng gần đây của Trung Quốc ở Biển Đông, hành vi của nước này thực ra khá liên tục trong suốt nhiều thập kỷ qua.

Lần đầu tiên Trung Quốc dùng võ lực trong khu vực là vào tháng Giêng năm 1974 khi quân đội nước này cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa từ miền Nam Việt Nam. Rồi vào tháng Ba năm 1988, Hải quân Trung Quốc lại đụng độ với tàu Việt Nam để chiếm đoạt thêm 7 hòn đảo trong quần đảo Trường Sa.

Năm 1995, Trung Quốc chiếm luôn rạn đá Vành Khăn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Philippines. Rồi họ bắt đầu xây dựng và gia cố các công trình xây dựng trên các rạn san hô lân cận. Tháng Tư năm 2012, Trung Quốc lại đụng độ với Philippines rồi lấy luôn bãi cạn Scarborough. Trung Quốc sau đó lại lăm le Bãi Cỏ Mây. Tháng Ba năm 2014, tàu cảnh sát biển Trung Quốc ngăn cản tàu chở hàng Philippines tiếp tế cho nhóm thủy quân lục chiến đồn trú trên một xác tàu nằm ở đó.

Tháng Tư năm 2014, Trung Quốc lại mang giàn khoan dầu Hải Dương 981 vào vùng chủ quyền của Việt Nam. Việc này đã tạo ra những xung đột gay gắt với Việt Nam và những rắc rối chỉ được giải quyết khi cái giàn khoan này được mang đi trước thời hạn.
Từ cuối năm 2014, Trung Quốc đã khởi công những dự án cải tạo mở rộng ở 8 địa điểm thuộc quần đảo Trường Sa. Việc nạo vét ở đảo ngầm Chữ Thập là đặc biệt đáng quan tâm. Những tàu hút cát của Trung Quốc đã đổ những lượng cát khổng lồ lên rạn san hô, nâng độ cao của nó lên trên mực nước biển, để cho phép xây dựng một đường băng dài 3.000 mét dọc theo chiều dài của đảo. Sân bay này sẽ hỗ trợ cho các hoạt động quân sự của Trung Quốc tại quần đảo Trường Sa. Với sự hỗ trợ không quân cho cảnh sát biển, Trung Quốc có thể đe dọa an ninh của Việt Nam và Philippines.

Với sự gia tăng hiện diện ở quần đảo Trường Sa, Trung Quốc hy vọng có thể áp đặt các giải pháp có lợi cho họ với các bên tranh chấp trong khối ASEAN. Điều đó có thể đưa tới một sự đầu hàng tự nguyện từ các nước ASEAN, và rồi họ sẽ phải công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên toàn Biển Đông. Bắc Kinh hy vọng có thể dụ dỗ các nước này bằng các mối quan hệ hữu hảo và các lợi ích thương mại và đầu tư thông qua các dự án cơ sở hạ tầng của cái Ngân hàng Đầu tư Châu Á (AIIB) mới được thành lập gần đây.

Mặc cho những áp lực mà Trung Quốc đang áp đặt lên các nước có tranh chấp trong khối ASEAN, có vẻ họ sẽ không đạt được mục tiêu đề ra. Lý do là chính những hành động của Trung Quốc đã dẫn tới sự can dự ngày càng gia tăng của các nước lớn vào các tranh chấp ở biển Đông. Cả Việt Nam và Philippines đã tìm đến Mỹ để hỗ trợ việc chống lại Trung Quốc.

Philippines và Mỹ có một lịch sử hợp tác quân sự lâu dài. Vào năm 1999, một Hiệp định Thăm viếng Quân sự đã được ký kết và vào tháng Tư năm 2014, khi Tổng thống Obama đến thăm Manila, Hiệp định Hợp tác Quốc phòng nâng cao đã được hoàn thành. Thỏa thuận này cho phép Hải quân Mỹ tăng cường tiếp cận các hải cảng của Philippines và tạo điều kiện cho sự có mặt của quân nhân Mỹ thông qua các căn cứ quân sự và sân bay của họ ở đó.

Việt Nam cũng đã phát triển quan hệ an ninh với Mỹ trong thập kỷ qua, trong nỗ lực làm cân bằng trong mối quan hệ với Bắc Kinh. Do bị giới hạn bởi sự gần gũi với Trung Quốc, Việt Nam sẽ không thể tạo dựng một mối quan hệ an ninh chặt chẽ hơn với Mỹ, nhưng chính phủ Việt Nam hy vọng rằng mối quan hệ với Mỹ sẽ có tác động kiềm chế Trung Quốc.

Malaysia và Indonesia trước đây đều đứng ngoài cuộc, nhưng những động thái gần đây của Trung Quốc trong khu vực đã làm họ phải lo lắng. Malaysia thực sự đã rúng động khi các cuộc tuần tra hải quân của Trung Quốc tiến tới bãi ngầm James, điểm cực nam của của đường chín đoạn nằm trong lãnh hải Malaysia. Trong khi ngoài mặt các nhà lãnh đạo Malaysia vẫn tiếp tục làm ngọt với Trung Quốc, các quan chức quốc phòng của họ đã thực sự cảm thấy lo lắng. Malaysia dự định xây dựng một căn cứ hải quân ở Bintulu thuộc bang Sarawak, nằm gần bãi ngầm James; và Bộ Quốc phòng Malaysia cũng đang muốn người Mỹ giúp trong việc huấn luyện để phát triển một quân đoàn thuỷ quân lục chiến theo mô hình của Mỹ.

Indonesia trước đây chỉ muốn đóng vai trò trung gian hòa giải, đứng ngoài các tranh chấp. Nhưng gần đây, nước này cũng đã bắt đầu lo lắng về chủ quyền trên quần đảo Natuna. Tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc mâu thuẫn sâu sắc với học thuyết “trục hàng hải toàn cầu” của Indonesia. Bộ trưởng Quốc phòng Indonesia, tướng Moeldoko, đã cảnh báo về khả năng bất ổn ở Biển Đông và cho biết sẽ có thêm các đơn vị không quân Indonesia được triển khai đến quần đảo Natuna.

Những biến cố này có liên quan gì tới nước Úc của chúng ta? Một số người vẫn cho rằng Úc nên tránh dính líu vào các vấn đề của Đông Á có thể dẫn đến xung đột giữa Mỹ và Trung Quốc. Tôi thì cho rằng nước Úc nên chấm dứt việc giới hạn quá mức các mối quan tâm chiến lược, bởi vì những bất ổn ở Biển Đông sẽ dẫn đến những hậu quả cho chính môi trường an ninh của Úc.

Áp lực không ngừng của Trung Quốc lên các nước ASEAN sẽ thu hút không chỉ có Mỹ, mà còn Nhật Bản, nước cũng có mối quan tâm riêng về động thái của Trung Quốc ở Biển Hoa Đông, và đặc biệt là xung quanh quần đảo Senkaku. (Nhật Bản đã tìm cách giúp tăng cường khả năng hàng hải của cả Việt Nam và Philippines). Sự tham gia ngày càng tăng của các lực lượng quân sự bên ngoài vào biển Đông có khả năng gây mất đoàn kết trong ASEAN – tổ chức đã bị chia rẽ trong các tranh chấp ở Biển Đông do các nước không có tranh chấp như Campuchia và Thái Lan ưu tiên quan hệ với Trung Quốc. ASEAN sẽ vẫn tồn tại, nhưng sự thiếu năng lực của tổ chức này đang trở nên rõ ràng hơn.

Một hậu quả nữa là sự phân cực trong khu vực, giữa Trung Quốc và vài nước đồng minh, với liên quân Mỹ-Nhật với sự tham gia của các nước nhỏ bị Trung quốc chèn ép hoặc lo sợ trước những tham vọng của nước này.

Tình trạng này có thể được ngăn chặn nếu các cường quốc bên ngoài lên tiếng, bày tỏ mối quan ngại của họ về Biển Đông, và thúc ép Trung Quốc phải chấm dứt các hành động khiêu khích và đàm phán các quy tắc ứng xử với ASEAN. Trong quá khứ, cách làm này đã cho thấy hiệu quả. Khi phải lo sợ về sự tham gia của các nước bên ngoài, Trung Quốc đã phải điều chỉnh hành vi của nó. Ví dụ, Trung Quốc đã phải rút giàn khoan dầu trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam trong tháng Bày năm 2014 sau khi Việt Nam phát động một chiến dịch làm cho Trung quốc phải mắc cỡ trên trường quốc tế, khi cho thấy các hành động sai trái của Trung Quốc. Thật vậy, nước Úc nên đóng góp tiếng nói của mình cho công cuộc này trong việc thừa nhận rằng chúng ta muốn thấy một khối ASEAN đoàn kết.

( Nguồn: Internet Úc)

 

Nhà văn Nguyên Ngọc

Hội thảo khoa học kỷ niệm 100 năm sinh Nguyễn Đổng Chi (1915-2015)

Làng Ba-Na trong sách Người Ba-Na ở Kontum của Nguyễn Kinh Chi-Nguyễn Đổng Chi

Nguyên Ngọc(*)

Năm 2008 tôi có tham gia việc xuất bản sách Rừng người thượng của Henri Maitre, viết năm 1912, được coi là công trình khảo sát Tây Nguyên công phu và toàn diện nhất cho đến tận ngày nay. Sách do Viện Viễn Đông bác cổ ở Hà Nội phối hợp với Nhà xuất bản Tri thức ấn hành. Người dịch là Lưu Đình Tuân, tôi nhận phần hiệu đính và viết “Phàm lệ”. Có một Ban khoa học được thành lập để xử lý những vấn đề khoa học liên quan đến việc dịch và in sách. Chúng tôi gặp ngay một vấn đề: trong nguyên bản tiếng Pháp, sách có tên là Les jungles moi, có thể dịch là Rú mọi hay Rừng mọi. Ban khoa học cân nhắc, thấy để từ mọi ngay trên bìa sách sẽ dễ gây sốc, nên quyết định bản dịch ra tiếng Việt sẽ có tên trên bìa là Rừng người thượng; tuy nhiên bên trong sách thì giữ nguyên từ mọi đúng như nguyên bản, và sẽ nói rõ lý do trong “Phàm lệ”. Được giao giải thích điều này trong “Phàm lệ”, tôi đã viết rằng theo tôi từ mọi vốn ban đầu không hề có ý nghĩa xấu. Nó bắt nguồn từ từ tơmoi trong tiếng Ba-na (Bahnar), có nghĩa là khách. Tôi đã biết từ này khi sống ở vùng Ba-na. Cẩn thận, tôi tìm tra thêm Từ điển Bahnar – Pháp của Guilleminet; theo Guilleminet tơmoi được dịch sang tiếng Pháp có các nghĩa sau: hôte (khách), invité d’un autre village (khách được mời từ một làng khác đến), étranger (lạ, người lạ), ennemi (thù, kẻ thù), pays étranger (nước khác, ngoại quốc). Những người phương Tây đầu tiên lên Tây Nguyên là các Linh mục Thiên chúa giáo; khi bị Triều đình nhà Nguyễn truy đuổi họ tìm đường lên vùng cao nguyên miền Tây để tránh khủng bố, và truyền đạo vào người bản địa nhằm xây dựng cơ sở lâu dài. Sau nhiều nỗ lực thất bại, họ đến được vùng người Ba-na ở Kon Tum, lập xứ đạo Kon Tum, là xứ đạo Thiên chúa giáo đầu tiên tại đây, đến nay vẫn là xứ đạo Thiên chúa lớn nhất và quan trọng nhất ở Tây Nguyên. Bấy giờ những người Ba-na Kon Tum đến gặp các nhà truyền giáo thường xưng là tơmoi, là khách. Các nhà truyền giáo lại hiểu rằng đấy là họ tự giới thiệu tên tộc người của họ. Về sau dần dần tiền tố bị rớt đi, còn lại moi, moi nghiễm nhiên trở thành tên gọi người bản địa.

Người Pháp gọi là moi, người Việt gọi là mọi, hoàn toàn là một danh xưng. Mọi chỉ mang ý nghĩa xấu khi quan hệ giữa người Việt với người bản địa Tây Nguyên nhuốm màu sắc khinh miệt, và ghép với rợ là từ Hán Việt thành mọi rợ… Khi Rừng người thượng ra đời, đọc “Phàm lệ”, một số nhà dân tộc học ở Hà Nội bảo rằng tôi là người duy nhất giải thích nguồn gốc của từ mọi như vậy. Họ có một giả thuyết khác, theo họ mọi bắt nguồn từ từ mol trong tiếng Mường có nghĩa là người. Tôi không phải là nhà dân tộc học hay nhà ngôn ngữ học, tôi chỉ xin nêu câu hỏi: nếu mọi xuất phát từ từ mol của người Mường, một tộc người sống ở phía Bắc, thì tại sao các tộc người thiểu số miền núi như Tày, Nùng, Dao, Thái, Lô Lô, Sán Dìu, v.v. cùng sống ở phía Bắc, gần người Mường hơn nhiều, ít nhất về địa lý, không bao giờ được gọi là mọi, mà chỉ có các tộc người bản địa Tây Nguyên xa tít ở phía Nam mới mang tên mọi?

Tôi đọc Người Ba-na ở Kon Tum từ mấy chục năm trước. Như ta đều biết, khi đó nó có tên nguyên gốc là Mọi Kontum. Khi được Viện Viễn Đông bác cổ ở Hà Nội phối hợp với Nhà xuất bản Tri thức tái bản năm 2011, nó cũng có một Ban khoa học, và cái ban ấy cũng gặp vấn đề đúng như ở Rừng người thượng sáu năm trước. Mọi Kontum được đổi tên thành Người Ba-na ở Kon Tum. Lần này tôi cũng được tham gia Ban khoa học nhưng không phải viết giải thích gì trong “Phàm lệ” nữa, vì đã có hai người đầy đủ uy tín về thực tế và khoa học hơn tôi rất nhiều trả lời, từ năm 1937, nghĩa là trước đấy đến những… 74 năm. Đó là Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi, hai nhà dân tộc học “tài tử” mà cực kỳ tài năng. Ngay trong tác phẩm Mọi Kontum của mình, đặc sắc đến mức ngày nay đọc lại không khỏi khiến chúng ta kinh ngạc, các ông đã bày tỏ ý kiến về chuyện này. Các ông viết như sau ở một chú thích đầu chương Nhân dân: “Chữ ‘Mọi’ ở đâu ra? Xét trong tiếng nói của người Ba-na có tiếng ‘tơmoi’ nghĩa là khách. Người Ba-na dùng tiếng ấy để chỉ những người làng khác hoặc bộ lạc khác đến làng hoặc bộ lạc mình. Ví dụ người Djarai hoặc Xơđang đến xứ Bahnar thì người Bahnar kêu là tơmoi Djarai, tơmoi Xơdang nghĩa là khách Djarai, khách Xơdang. Người Annam đến xứ họ, họ cũng kêu là tơmoi. Vậy theo thiển kiến chúng tôi thời tiếng mọi có lẽ ở trong tiếng tơmoi của người Bahnar mà ra, chứ không phải một tiếng mà người Annam đặt ra để chế nhạo giống người ở trên rừng núi, như nhiều người nói. Có lẽ khi người Annam mới giao thiệp với người Bahnar, thường nghe những thứ tiếng tơmoi Djarai, tơmoi Xơdang, v.v., bèn bắt chước mà nói theo. Lần lần lại bỏ tiếng ‘tơ’ mà chỉ giữ lấy tiếng ‘moi’ (vì tiếng mình là tiếng độc âm). Sau lâu ngày tiếng ‘moi’ hóa ra một tiếng chỉ tên chung cho cả dân thổ trước ở trên rừng về phía Nam, cũng như những tiếng ‘Mán, Mường’ ở ngoài Bắc. Hai tiếng này cũng là tiếng của thổ nhơn mà ta dùng theo. Còn như ngày nay người Annam dùng những tiếng: Mọi, Mán, Mường để chỉ người hoặc việc có tính chất khờ dại thì không khác chi người Pháp dùng tiếng ‘chinoiserie’ để chỉ những việc kỳ quặc khó hiểu”[1].

Mấy mươi năm trước đọc Mọi Kontum, tôi đã không chú ý đến chú thích này, chỉ rất thích thú với những khảo sát chính xác, tỉ mỉ và mô tả hết sức sống động của các tác giả về người Ba-na, xã hội và đời sống của họ. Ngày nay đọc lại Người Ba-na ở Kon Tum, gặp chú thích này, tôi mừng thấy hai tác giả từng trải có ý kiến gần gũi mình về gốc tích từ mọi. Đúng ra sau khi đã tìm thấy gốc của mọi từ tơmoi, cách giải thích tiếp của hai ông có khác tôi: tôi cho rằng các Giáo sĩ phương Tây là những người đầu tiên nhầm từ tơmoi ra moi, rồi mọi. Hai ông thì cho rằng chính những người Việt (bấy giờ là những thương lái đi buôn bán ở miền núi) nghe người Ba-na gọi người Gia-rai (Djarai) , Xơ-đăng (Sedang) … là tơmoi, từ đó mà dẫn đến từ mọi… Nay nghĩ lại tôi thấy có lẽ cách giải thích của hai ông đúng hơn. Ở bản đồ Đàng Trong của Alexandre de Rhodes đã thấy ghi Ke Moi, Kẻ mọi, trên vùng đất nay là Tây Nguyên. Ta biết A. de Rhodes đến Đàng Trong sớm hơn thời gian các nhà truyền giáo bị Triều đình Huế khủng bố phải chạy lên vùng Ba-na ở Kon Tum. Rất có thể Rhodes bấy giờ ngồi ở Hội An, nơi ông làm chữ quốc ngữ, đã nghe những người thương lái Quảng Nam chuyên đi buôn ở miền thượng nói về vùng mọi trên các dãy núi phía Tây… Nhận xét của Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi, chỉ riêng về một chi tiết rất nhỏ là cách gọi tên người Tây Nguyên thôi, cho thấy các ông đã quan sát, suy nghĩ rất kỹ và có nhận xét rất tinh tế.

Tuy nhiên đối với từ tơmoi, vấn đề không chỉ có thế. Hãy trở lại với cách giải thích từ này của Guilleminet. Guilleminet dịch nó sang tiếng Pháp là hôte (khách), invité d’un autre village (khách được mời từ một làng khác đến), tức rất thân thiện. Đồng thời ông cũng chỉ ra một nghĩa khác, hoàn toàn ngược lại: tơmoi cũng có nghĩa là ennemi, thù, kẻ thù. Có điều gì chung giữa hai nghĩa trông chừng rất đối nghịch này? Có. Ấy là, và Guilleminet đã cũng chỉ ra: tơmoi còn có nghĩa, và hẳn đây là nghĩa gốc, căn bản của nó: étranger, lạ, kẻ lạ, (nước) lạ, (nước) ngoài. Trong tất cả các nghĩa khác nhau của tơmoi, khách, thù, đều có chung yếu tố này: lạ, ngoài, không phải mình. Đây chính là một khái niệm nhân sinh rất quan trọng trong quan hệ giữa những con người hay những tập đoàn người với nhau: khái niệm lạ, khác. Người lạ, người ngoài, người khác. Không phải ta, khác ta, ở ngoài ta. Khác ta có thể là bạn, cũng có thể là thù. Không thể không chợt nghĩ đến câu nói nổi tiếng của Jean Paul Sartre trong vở kịch Huis clos (Xử kín): L’enfer, c’est les autres, Địa ngục, ấy là kẻ khác. Đối với ta, kẻ khác là địa ngục. Trong một môi trường xã hội đạo đức nào đó, kẻ khác là hoàn toàn xa lạ, đối kháng, tăm tối, bất khả tri. Tất nhiên ta hiểu, đây là cái “ta”, cái “tôi” được định hình đến cao độ, đến tuyệt đối của phương Tây hiện đại… Người Ba-na, người Tây Nguyên cũng có một từ nhiều nghĩa để biểu hiện quan niệm này. Vậy quan niệm đó của người Tây Nguyên, người Ba-na là như thế nào? Có lẽ một trong những chương quan trọng nhất, hay và cũng thú vị nhất của sách Mọi Kontum là chương Hương thôn giao tế, trong đó hai tác giả nói về Làng Ba-na. Các ông viết, bỗng bằng một giọng khẳng định dứt khoát và hồ hởi: “Dầu to hay nhỏ, mỗi làng Ba-na là một tiểu quốc gia hoàn toàn độc lập, không phục tùng dưới quyền thống trị nào khác”[2]. Chương này, ý tưởng này, khám phá này sẽ là trung tâm của toàn bộ công trình, những chương sau, cách này cách khác đều gắn với nó, tiếp tục triển khai, cụ thể hóa ý tưởng trung tâm đó. Các ông khẳng định: trong xã hội Ba-na, không có gì ở trên làng, làng không phục tùng quyền uy nào cao hơn chính nó. Đối với người Ba-na, làng là đơn vị xã hội cao nhất. Nhân đây cũng xin nói thêm, trong tất cả các ngôn ngữ của các tộc người Tây Nguyên, không tìm thấy từ chỉ đơn vị cao hơn làng (Trong tiếng Gia-rai có từ t’ring chỉ liên minh một số làng, nhưng đây chỉ là liên minh nhất thời khi có nhu cầu cùng đối phó với một thách thức nào đó; khi thách thức đó qua rồi thì t’ring cũng tan. T’ring không phải là một đơn vị xã hội, không có lãnh thổ và tổ chức hành chính tương ứng).

Nếu làng là đơn vị xã hội cao nhất, bên trên nó không còn có gì khác, vậy bên dưới nó thì sao? La cà trong các làng Kon Tum và sống cùng họ (sau đây ta sẽ nói về sự la cà độc đáo này), Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi kể cho chúng ta biết về cuộc sống thực của người Ba-na. Lời kể nhẹ nhàng, một cái nhìn vui vẻ và thân mật, một quan sát cứ như thoáng qua, nhưng lại chạm tới một tính chất sâu sắc, đến mức cơ bản của xã hội này. Các ông viết: “Bất luận là bà con hay người dưng, người Bahnar đã ở chung một làng thì họ đối đải (đãi) với nhau thân mật lắm. Lúc vui mừng, khi hoạn nạn đều cùng nhau san sẻ. Lại có một lối tình cảm liên lạc dân làng với nhau một cách huyền bí. Ngày nay còn thấy một đôi dấu vết. Ví dụ như trong làng có một đôi trai gái chưa thành vợ thành chồng mà ăn nằm với nhau thời cả làng đều bị lây jơlâm jơlu (ô uế về tinh thần). Tại sao vậy? Là vì người Bahnar coi xã hội mình như thân thể người ta. Mỗi cá nhân là một phần tử của đoàn thể cũng như ngũ quan tứ chi, v.v… là phần tử của thân người. Nếu một phần tử phạm đều (điều) không tốt thời không khác gì đoàn thể phạm vào đều ấy và các phần tử khác phải chịu lây ảnh hưởng xấu.

Cũng bởi một lẽ đó mà một người ở đoàn thể này làm hại một người ở đoàn thể kia thời họ coi như cả đoàn thể trước làm hại đoàn thể sau. Cái thù riêng của mỗi người trở thành cái thù chung cả bọn và họ có thể rửa thù vào một phần tử nào bên nghịch cũng được không cần đợi người có lỗi…”[3].

Vậy đó, bên dưới làng cũng không có gì nữa, không còn có gì thấp hơn làng. Không có đơn vị xã hội nào nữa. Cá nhân không phải là một đơn vị xã hội, nó hòa tan trong làng, tự đồng nhất với làng, đồng nhất số phận của mình với số phận của làng. Một sự đồng nhất đến tuyệt đối, đến mức hễ một người đau, một người gây ô uế, thì cũng như một phần tử nào đó của “ngũ quan tứ chi” đau hay nhiễm độc, cả cơ thể tức cả làng đều đau, đều nhiễm độc. Đồng nhất đến mức khi một người, tức một phần tử của ngũ quan tứ chi bị xâm phạm thì tức cả làng bị xâm phạm, và trả thù vào bất cứ phần tử nào của ngũ quan tứ chi bên kia cũng được rồi! Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi dùng tính từ “huyền bí”[4], nghĩa là nó, tức làng, yếu tố làng, tinh thần và cảm quan về làng, ăn rất sâu đậm, tận trong căn cốt của xã hội, trong máu thịt của từng con người, đến thành bản năng, bản chất, vượt qua cả ý thức. Cũng chính nó tạo nên sự gắn kết không gì lay chuyển được, sức mạnh bền vững và trường tồn của xã hội Ba-na.

Nhận ra một cách sâu sắc và sinh động tính chất này của xã hội Ba-na, từ đó hai tác giả mô tả và giải thích rất thuyết phục một loạt hiện tượng xã hội lớn nhỏ ở đây. Chẳng hạn quan niệm của người Ba-na về luật pháp, về tội phạm và hình phạt. Như đã thấy, Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi nhắc đến khái niệm jơlâm jơlu, ô uế về mặt tinh thần[5]. Người Ba-na hết sức coi trọng jơlâm jơlu. Đối với người Ba-na, tội phạm là gì? Một hành vi bị coi là phạm tội khi nó gây ra jơlâm jơlu cho cộng đồng làng[6]. Cụ thể hơn nữa người ta nói rằng nó làm ô uế đất làng, ô uế môi trường sống của con người, ô uế tự nhiên nơi con người sống, tức là làng, bao gồm nơi cộng đồng làng cư trú và các loại rừng núi họp thành không gian làng (cái mà UNESCO đã rất tinh tế nhận ra khi công nhận di sản văn hóa thế giới của Tây Nguyên, không phải là cồng chiêng, cũng không phải là âm nhạc cồng chiêng, mà là không gian văn hóa cồng chiêng, tức không gian làng, với rừng của làng). Khi tự nhiên, tức không gian văn hóa, không gian sinh tồn ấy của con người bị ô uế thì dòng chảy vốn hài hòa của nó bị rối loạn, sẽ gây ra tai họa và đau khổ cho “ngũ quan tứ chi” của làng, của mọi con người, mỗi con người trong làng. Quan niệm về tội như vậy, nên quan niệm về hình phạt cũng khác thường. Khi tòa án của làng xử tội thì không phải nhằm trừng trị một cá nhân nào, mà mục đích quan trọng nhất và duy nhất là tẩy đi sự ô uế đã nhiễm lên làng, nhằm khôi phục sự trong sạch và dòng chảy hài hòa của tự nhiên. Cho nên, đúng như các tác giả Mọi Kontum nhận xét, tòa án làng bao giờ cũng đi đến hòa giải, cả làng cùng làm lễ xin lỗi các yang, tức xin lỗi tự nhiên. Đương nhiên người đã gây ra ô uế phải đóng góp nhiều hơn trong lễ hiến sinh tạ lỗi này. Và còn có điều quy định: sau đó, không ai được nhắc lại chuyện cũ nữa. Hài hòa được khôi phục hoàn toàn…[7] Một nền tư pháp như vậy nhân bản, tốt đẹp biết bao. Chăm chú quan sát, trân trọng và không một chút định kiến, ngày ấy Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi đã phát hiện ra và ngạc nhiên vì tính chất nhân bản thâm thúy ấy, chân thành cảm phục một nền đạo đức xã hội, một nền văn minh cao đẹp đến vậy ở những con người vẫn bị coi là mọi rợ. Và đấy là động cơ chính của công trình đáng kinh ngạc hai ông để lại cho chúng ta ngày nay.

Ở đây còn có điểm nên chú ý: ở trên ta thấy có một chỗ Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi nhắc đến bộ lạc, nhưng rồi chỉ một lần ấy, hai ông không trở lại với chuyện bộ lạc nữa[8]. Các ông đã cảm nhận ra một điều quan trọng: Bộ lạc có tồn tại, đương nhiên, nhưng không thành một đơn vị xã hội. Không có thiết chế của bộ lạc và bộ máy để duy trì, vận hành thiết chế đó (Ở tộc người Gia-rai – có thể cả Ê-đê (Rhadé) – thì có, với hệ thống thị tộc chặt chẽ và phức tạp, mà phản ánh vào thiết chế xã hội là hệ thống Pötao…). Trong ý thức, và trong thực tế, làng đậm hơn, quan trọng hơn bộ lạc. Nó là trung tâm của đời sống Ba-na. Ngoài làng là tơmoi, là moi, mọi. Đến đây có thể có một nhận xét hơi buồn cười: như vậy trong cách nghĩ và đúng theo cách nói của mình, người Ba-na coi (và gọi) người Việt – và người thuộc các tộc người khác – là tơmoi, mọi, trong khi ta nhầm lẫn coi và gọi ngược lại!

Theo tôi, về vấn đề trung tâm này, hai tác giả Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi, qua tác phẩm Mọi Kontum, đã đi trước hơn nửa thế kỷ. Các tác giả Pháp cùng thời với các ông chưa ai tỏ ra thật quan tâm và nói rõ về điều này. Henri Maitre có nhận thấy Tây Nguyên gồm các làng độc lập rời rạc. Nhưng thấy rõ tính chất của quan hệ bên trên và nhất là bên dưới của nó thì chưa, nên cũng chưa nhận ra tính chất và vai trò tế bào của làng trong cơ cấu xã hội Tây Nguyên, chưa nhìn rõ được tính chất của quan hệ làng với cá nhân. Còn các nhà dân tộc học ta nói chung, theo chỗ tôi được biết, hơn nửa thể kỷ sau mới đi đến khẳng định làng là đơn vị xã hội cơ bản và duy nhất, là tế bào cơ bản của toàn bộ cấu trúc xã hội Tây Nguyên cổ truyền. Cũng xin nói rõ: cái được gọi là “cổ truyền” đó thực tế còn kéo dài đến tận năm 1975. Chính nó là yếu tố quan trọng nhất tạo nên sức mạnh bền vững kỳ lạ của Tây Nguyên, cả trong chiến tranh chống Mỹ, đặc biệt ác liệt ở chiến trường trọng điểm Tây Nguyên. Trong chiến tranh, làng ở đây bị đánh phá dữ dội, nhiều khi đến tan nát, có làng bị bứng đi xa hàng nhiều trăm cây số, nhưng rất kỳ lạ, làng không chết, cơ cấu làng vẫn còn, làng vẫn phát huy trọn vẹn tác động của nó. Xã hội vẫn đứng vững. Xin nói rõ điều này: cho đến năm 1975 cơ cấu xã hội Tây Nguyên về cơ bản còn nguyên vẹn. Đổ vỡ là về sau…

Nhân đây cũng xin nói đến một quan sát và khẳng định chính xác của hai tác giả Mọi Kontum, mà tận cho đến ngày nay những người xây dựng và thực thi chính sách ở Tây Nguyên vẫn còn nhầm lẫn: theo các ông, người Ba-na không hề du cư (và cũng không du canh). Các ông viết nhất quyết: “Họ ăn ở nhất định, chứ không rày đây mai đó!”[9]. Buồn thay, suốt 40 năm qua chính nhận định hời hợt và giáo điều coi người Ba-na (và Tây Nguyên nói chung) du cư du canh đã là cơ sở cho một chính sách hàng đầu và lớn nhất được thực hiện ráo riết khắp Tây Nguyên: ép buộc định canh định cư, thực tế là dồn dân dồn làng, không ít khi đến tàn bạo! Thêm một tác động sai trái làm xáo trộn và đổ vỡ cấu trúc làng. Không ai chịu đọc lại Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi cẩn thận một chút trước khi bước chân lên Tây Nguyên và ra tay “cải tạo” cuộc sống cho những “người mọi lạc hậu” trên ấy để quyết dẫn dắt họ đến “văn minh” cho bằng ta!…

Trong thực tế, từ sau năm 1975, việc nhận thức chậm trễ, sai lạc, không hiểu và không coi trọng vai trò, vị trí và cơ cấu làng, không thận trọng xử lý đối với vấn đề này trong phát triển, đã dẫn đến phá vỡ tế bào làng ở Tây Nguyên, làm đổ vỡ cả cấu trúc chung của xã hội, lại chính trong lúc Tây Nguyên đang phải đối mặt với thách thức chưa từng có của hiện đại hóa và thị trường, đưa nó vào thế bị tấn công cả hai phía, có thể nói khiến xã hội này lâm vào jơlâm jơlu, rối loạn đến độ khó quay trở lại.

Quả là trong Mọi Kontum, các tác giả chưa nói nhiều và kỹ đến nền tảng vật chất và kinh tế của làng, vấn đề sẽ được các nhà dân tộc học trong nước về sau nghiên cứu và xác định rõ hơn. Nền tảng đó là quyền sở hữu tập thể của cộng đồng làng đối với đất và rừng. Rừng là của làng, từng làng, cụ thể và chặt chẽ. Ở Tây Nguyên vốn không hề có rừng vô chủ, không một tấc rừng nào là vô chủ. Làng tồn tại bền vững trên cái chân đế sở hữu này. Quốc hữu hóa toàn bộ đất, rừng Tây Nguyên, tức là bứng đi mất cái chân đế đó, đưa thực thể làng vào thế treo lơ lửng trên một khoảng trống không nguy hiểm, khiến nó tất sụp đổ. Làng trở thành tơmoi của chính nó, xa lạ với chính nó. Văn hóa tất cũng không thể còn, nếu không phải là một thứ văn hóa cũng không có chân, văn hóa giả, suy tàn và khô cằn.

Có lúc tôi đã nghĩ, có thể vớ vẩn chăng: giả như hôm nay Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi trở lại với các làng Ba-na thân thiết của các ông, la cà cùng bà con như hơn 70 năm trước, các ông sẽ cảm thấy thế nào? Chắc tất cả những ai từng sống ở Tây Nguyên đều có thể hình dung: một cảm giác buồn nặng nề. Làng đìu hiu, lúng túng và ngơ ngác. Bản in Người Ba-na ở Kon Tum đã giới thiệu một sưu tập ảnh người Ba-na thời Kinh Chi và Đổng Chi. Nhìn lại mà xem, họ thật đẹp. Vạm vỡ, rắn chắc, tươi tắn, và nhất là bình tĩnh, tự tin. Ấy là khi họ còn hoàn toàn làm chủ cuộc sống của họ, trong làng của họ, giữa rừng của họ, trước thiên nhiên của họ. Hồi ấy – khi hai nhà dân tộc học nghiệp dư và tài tử của chúng ta đến với họ –, họ còn nghèo, chưa giàu, cũng chưa “văn minh” như hôm nay, làng của họ chưa có điện, thậm chí có thể chưa biết điện là gì, nói chi đến truyền thanh truyền hình và các thứ tân thời hôm nay…, nhưng rõ ràng họ hoàn toàn chủ động, rất đàng hoàng trong cuộc sống tự chủ và tự do của họ. Và hạnh phúc. Đến Ba-na, đến Tây Nguyên hôm nay, không thể tự giấu đi cảm giác và suy nghĩ: ta đã làm như thế nào đó, với tất cả sự giúp đỡ chăm chỉ, cặm cụi, tận tụy của chúng ta, thậm chí như chính ta nói: “cầm tay chỉ việc” cho họ… vì họ “mọi rợ” lạc hậu lắm, … để rồi sau bao nhiêu năm, sau 40 năm kể từ 1975, họ trở thành thụ động, ngơ ngác trông chờ, mất hết tự tin… giữa một tự nhiên đã bị tàn phá đến thảm hại, trong ngôi làng mà họ không còn làm chủ được đất và rừng của mình cho nên các thiết chế đã đảm bảo sức mạnh, sự bền vững trường tồn của nó, nếu còn thì cũng chỉ là hình thức, giả, đánh lừa, vô hiệu quả…

Khác biết bao nhiêu thời Mọi Kontum của Nguyễn Kinh Chi – Nguyễn Đổng Chi! Đọc Mọi Kontum, không thể không bị lôi kéo vì niềm hào hứng tươi rói của người viết. Hẳn vì sức trẻ, niềm vui tìm tòi, khám phá hăm hở và đầy thương yêu của họ. Cũng hẳn vì niềm hạnh phúc tỏa ra từ chính đối tượng mà họ quan sát và khám phá. Họ được chính đối tượng ấy, sức sống rạng rỡ tỏa ra từ đối tượng ấy chinh phục. Thoạt tiên là Nguyễn Kinh Chi (1899 – 1986), vị Bác sĩ trẻ được gửi lên làm việc ở miền thượng du xa xôi. Không ít lần nghề y đã dẫn đến dân tộc học, như là hai ngành họ hàng. Vì chúng đều chăm chú vào con người. Riêng ở Tây Nguyên đã từng có Bác sĩ Jouin, người phụ trách y tế ở Đắc Lắc, là nhà Tây Nguyên học say mê và uyên thâm, người đã gợi ý cho Georges Condominas đi vào tộc người Mnông Gar (M’non Gar) để rồi chúng ta có được tác phẩm Chúng tôi ăn rừng tuyệt vời; cũng là người hướng dẫn cho nhà nữ toán học Anne de Hautecloque-Howe đi vào nghiên cứu hệ thống thị tộc và bào tộc phức tạp, tinh tế của Ê-đê để cho ra đời cuốn sách độc đáo Người Ê-đê, một xã hội mẫu quyền. Có thể chắc chắn việc tiếp xúc với các bệnh nhân Ba-na và làm việc với các y tá Ba-na, song song với việc đọc các sách viết về người Ba-na, đặc biệt của Giáo sĩ Dourisboure, cùng những lần đi vào tận các làng xa rải rác trong núi chữa bệnh cho dân, đã kích thích trí tò mò của Bác sĩ Kinh Chi. Từ tò mò, đến ngạc nhiên, rồi cảm phục, ông thấy cần được thông truyền đến mọi người, trước hết đến đồng bào người Việt của ông niềm tâm đắc và tình yêu mới của ông. Ông quyết định khởi xướng một công trình nghiên cứu thật sự nghiêm túc về một nền văn minh anh em hết sức đáng trân trọng, mà ông thấy cần có sự cộng tác của người em Đổng Chi năm ấy mới 18 tuổi, còn ở dưới quê. Ông gọi Đổng Chi lên, và hai anh em cùng bắt tay vào công việc.

Họ thành một cặp đôi thật tuyệt. Có thể hình dung mà không sợ quá sai: Bác sĩ Kinh Chi chia sẻ với em những suy nghĩ về người Ba-na và dự tính của mình. Anh thanh niên Đổng Chi tiếp nhận và nhập cuộc rất nhanh. Cứ như anh được sinh ra để làm chính công việc này. Anh sẽ là người chủ yếu làm việc trên thực địa, miệt mài say mê thu gom tư liệu, để hai anh em cùng căm cụi phân tích, đánh giá, chiêm nghiệm, nhận định, tổng hợp… Ta biết trong quan sát và điều tra dân tộc học có một điều rất tế nhị: phải làm thế nào để sự hiện diện của nhà dân tộc học, là người ngoài, người lạ đến quan sát, điều tra, không làm biến dạng, làm méo mó một cách tất yếu hiện thực được quan sát, điều tra. Nói một cách nôm na, người đến quan sát, điều tra phải có cách, có tài tự triệt tiêu đến tối đa tư cách tơmoi của mình trong mắt, trong cảm nhận của đối tượng bị quan sát, điều tra. Tự xóa mình đi đến tối đa. Tự quên mình đến tối đa. “Bất vụ lợi” đến tối đa. Để có thể nhìn, hiểu và cảm nhận đối tượng không còn từ bên ngoài vào, từ bên trên xuống, mà là sâu từ bên trong, “theo chiều ngang”, đồng đẳng. Để cho cái quan sát và nhìn thấy không còn chỉ là nhìn thấy, mà thành trải nghiệm và cảm nhận sống… Đồng thời lại vẫn phải là nhà dân tộc học, người quan sát, điều tra chăm chú, tỉnh táo, sắc sảo, khách quan, thậm chí lạnh lùng khi cần thiết, “vụ lợi” đến tối đa vì mục đích quan sát, điều tra của mình. Những nhà dân tộc học từng trải và tài năng đã nói về điều này, mỗi người một cách, dường như để cố diễn đạt đặc điểm thiết yếu này của “nghề”, hay “nghiệp” dân tộc học. Georges Condominas chiêm nghiệm: L’ethnologie, c’est un genre de vie, mà tôi muốn dịch thành: Dân tộc học, ấy là một loại hình sống (chứ không phải một cách, một kiểu sống). Jacques Dournes thì thống thiết: “Nếu phải hiểu để mà có thể yêu, thì lại phải yêu để mà có thể hiểu”. Hơn ở đâu hết, trong nghiệp dân tộc học, không thể hiểu nếu không thiết tha yêu, và là yêu với một sự kính trọng sâu xa, chân thành nhất.

Ở trên tôi đã dùng đến hai từ “nghiệp dư” và “tài tử” khi nói về hai tác giả của Mọi Kontum. Rõ ràng hai ông không hề được đào tạo về dân tộc học, thậm chí cả về nghiên cứu khoa học nói chung. Nhưng đọc kỹ Mọi Kontum, cũng rõ ràng họ nắm rất vững phương pháp nghiên cứu khoa học, nghiêm túc, chặt chẽ, chủ động và sáng tạo; và họ theo dõi rất kịp thời, rất chắc những tri thức dân tộc học mới nhất đương thời. Những người nghiệp dư làm việc rất chuyên nghiệp.

Còn “tài tử” ư? Cho phép tôi nói điều này: theo tôi, trong chiều sâu của mỗi nhà dân tộc học chân chính, đều có một người nghệ sĩ. Có lẽ Georges Condominas cũng có ý nói về khía cạnh này của nghề dân tộc học khi ông gọi dân tộc học là “một loại hình sống” (un genre de vie). Quả vậy, ở đấy, hẳn là khác với ở mọi ngành khoa học khác, và rất gần với nghệ thuật, nhà chuyên môn “chơi” toàn bộ cuộc đời mình, đắm mình đến cùng, không chừa lại chút nào hết. Trong cặp đôi tác giả Mọi Kontum, cũng có lẽ điều này biểu hiện rõ hơn ở Nguyễn Đổng Chi (1915 – 1984), người trực tiếp làm việc hàng ngày trên thực địa. Trong lời giới thiệu bản in Người Ba-na ở Kontum, Andrew Hardy có nói rằng anh thanh niên Nguyễn Đổng Chi đi vào các làng Ba-na, la cà cùng bà con, và “vừa làm vừa chơi, vừa chơi vừa làm”, làm bằng cách chơi, chơi để làm. Sau này ta sẽ gọi đó là “quan sát tham dự”. Xin nói thật, tôi không thích cách nói này lắm, không thích bằng. “Tham dự” thì vẫn còn là khách, như là đi dự tiệc vậy! “Chơi” cho đến hoàn toàn tự nhiên mới là nhập cuộc đến cùng. Chỉ có chơi, làm bằng cách chơi, chơi hết mình, đến quên mình đi, rất khoa học lại rất nghệ sĩ, thì mới không còn là tơmoi, là khách, là người lạ, người ngoài. Nguyễn Đổng Chi rất giàu đức tính tự nhiên đó. Cũng chính Georges Condominas nói: “Để biết một món ăn Mnông Gar có ngon không, thì phải là một người Mnông Gar”. Phải bằng lưỡi của người Mnông Gar để nếm và đánh giá một món ăn Mnông Gar. Phải bằng chính hệ giá trị Mnông Gar mà đánh giá các giá trị Mnông Gar trong thực tế cuộc sống của họ. Nhìn và hiểu thực tế Mnông Gar, thực tế Ba-na bằng chính hệ giá trị Mnông Gar, hệ giá trị Ba-na. Làm như một cuộc chơi tạo nên sự vô tư thật sự, thật sự đưa được mình vào bên trong cùng đối tượng quan sát, nghiên cứu của mình – công việc và tư thế nhất thiết của một nghệ sĩ. Đồng thời lại biết cùng lúc tỉnh táo đứng ra bên ngoài, tránh về một bên đôi chút, để có được một so sánh sáng suốt với các giá trị phổ quát. Cũng là một đặc điểm tinh tế của hành vi nhận thức nghệ thuật. Thật tuyệt vời là nhà dân tộc học “nghiệp dư” và “tài tử” Nguyễn Đổng Chi cũng có được điều đó, một cách nhẹ nhàng mà đồng thời lại rất chuyên nghiệp trong những cuộc la cà say mê – tỉnh táo ở các làng Ba-na của anh. Thật tuyệt vời là Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi đã làm được điều đó, gần như hoàn chỉnh trong Mọi Kontum, tác phẩm dân tộc học đầu tiên của tác giả Việt Nam. Có thể nói như Corneille nói về Don Rodrigue: Coup d’essai, coup de maître, Đường kiếm thử đầu tiên đã là đường kiếm bậc thầy!

Đã gần trọn ba phần tư thế kỷ kể từ ngày Mọi Kontum ra đời. Đọc lại, giật mình không chỉ vì nó sớm một cách khác thường. Mà còn vì nó vẫn mới mẻ, thậm chí rất thời sự. Không chỉ ở những tri thức đặc sắc và căn bản về Ba-na, về Tây Nguyên, còn vô cùng cần thiết cho một sự phát triển bình ổn trên vùng đất này ngày hôm nay. Có lẽ còn quan trọng hơn nữa, là cách nhìn Ba-na, nhìn Tây Nguyên của các tác giả. Hai ông viết, thấm thía: “Tục lệ của họ chẳng những không mọi rợ chút nào mà trái lại có nhiều điều còn thuần túy hơn ta nữa kia”[10]. Đến Ba-na, đến Tây Nguyên, Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi thấy mình gặp một nền văn minh, mà các ông muốn được học, cho chính mình, và cho cả đất nước. Viết Mọi Kontum, hai ông mong đem về cho văn minh Việt những giá trị ấy, “còn thuần túy hơn ta nữa kia”.

Đọc Người Ba-na ở Kontum hôm nay, không thể không nghĩ: Giá như 40 năm qua, từ sau 1975, ta cũng đến được với Tây Nguyên bằng một tâm niệm như thế, khiêm nhường, chân thành và tha thiết như thế. Thì chắc mọi sự ở đây hôm nay đã khác rất nhiều.

Tháng Giêng Ất Mùi

N.N.

(*) Nhà văn – Đại học Phan Châu Trinh.

[1] Nguyễn Kinh Chi – Nguyễn Đổng Chi, Người Ba-na ở Kon Tum, in lần đầu do Mộng Thương Thư trai, Huế, 1937, dưới nhan đề Mọi Kontum. Viện Viễn Đông bác cổ Pháp Hà Nội dịch sang tiếng Pháp và phối hợp cùng NXB Tri thức in song ngữ, H, 2011; tr.137. Các trích dẫn sau đều dựa vào bản in lần này. Do trong bản gốc các tác giả diễn đạt bằng ngôn từ miền Trung, bản in 2011 tôn trọng cách viết đó, nên khi trích dẫn, chúng tôi giữ nguyên các dấu hỏi ngã khác biệt với cách viết phổ thông hiện nay.

[2] Nguyễn Kinh Chi – Nguyễn Đổng Chi, Người Ba-na ở Kontum, Sđd; tr.193.

[3] Nguyễn Kinh Chi – Nguyễn Đổng Chi, Người Ba-na ở Kontum, Sđd; tr.192.

[4] Nguyễn Kinh Chi – Nguyễn Đổng Chi, Người Ba-na ở Kontum, Sđd; tr.192.

[5] Nguyễn Kinh Chi – Nguyễn Đổng Chi, Người Ba-na ở Kontum, Sđd; tr.176, 182.

[6] Nguyễn Kinh Chi – Nguyễn Đổng Chi, Người Ba-na ở Kontum, Sđd; tr.192.

[7] Nguyễn Kinh Chi – Nguyễn Đổng Chi, Người Ba-na ở Kontum, Sđd; tr.192-201.

[8] Nguyễn Kinh Chi – Nguyễn Đổng Chi, Người Ba-na ở Kontum, Sđd; tr.137.

[9] Nguyễn Kinh Chi – Nguyễn Đổng Chi, Người Ba-na ở Kontum, Sđd; tr.191.

[10] Nguyễn Kinh Chi – Nguyễn Đổng Chi, Người Ba-na ở Kontum, Sđd; tr.129.

( Nguồn: BVN)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 09.05.2015

KÍNH THƯA ÔNG PUTIN

KÍNH THƯA ÔNG PUTIN

Trần Nhương

Diễn văn nhân 70 năm thắng quân phát xít
Ông kính thưa các công dân Nga đầu tiên
Tôi tưởng ông nhầm lẫn
Bao nhiêu lãnh đạo cấp cao
Bao nhiêu quan khách nước ngoài
Vậy mà Công dân Nga được ông kính thưa trước nhất

Ông là Tổng thống đứng đầu đất nước
Mà kính thưa dân
Tôi thấy ông có một

Tôi không là công dân Nga
Mà lòng rất sướng
Kính thưa ông Putin
Tôi yêu ông lắm đó !

(Ngẫu hứng khi xem tường thuật diễu binh tại Quảng trường Đỏ chiều 9-5-2015)

 
( Nguồn: trannhuong.com)
Nhà thơ Vĩnh Nguyên

  TÁC PHẨM HAY NHẤT THƯỜNG LÀ NÓ ĐƯỢC NHÀ VĂN GIẢI QUYẾT THỎA ĐÁNG NHỮNG MỐI MÂU THUẪN LỚN NHẤT, NGHIỆT NGÃ NHẤT

Tham luận của nhà thơ Vĩnh Nguyên

       QTXM-Bạn đọc thân mến. Đại hội nhà văn Miền Trung và Tây Nguyên ở Đà Nẵng diễn ra chỉ trong ngày 7-5-2015 với nhiều việc cấp tập. Nhưng Đại hội vẫn dành khá nhiều thời gian để hội viên tham luận và phát biểu về nhiều vấn đề của tổ chức nhà văn và mối quan tâm xã hội. QTXM xin đăng bài tham luận của nhà thơ Vĩnh Nguyên về việc nhà văn quan tâm như thế nào, sáng tác như thế nào trước việc Trung Quốc liên tục xâm phạm lãnh Việt Nam. Tham luận tuy rất ngắn, nhưng được đại hội vỗ tay tán thưởng nhiệt liệt, không có ý kiến nào phản đối.

       Những tiểu thuyết Chiến tranh và hòa bình của L. N. Tônxxtôi, Bác sĩ Zhivago của Boris Pasternak v.v…được nhiều độc giả đánh giá hay ở đỉnh cao… bởi nó được hai ông nhà văn giải quyết thỏa đáng các mối mâu thuẫn diễn ra trong bối cảnh xã hội mà họ chính kiến.

Chỉ cần nêu hai tác phẩm nổi tiếng trên, hơn ai hết các nhà văn chúng ta đã hiểu hết nội dung của nó, những mâu thuẫn và cách giải quyết những mâu thuẫn ấy nên khỏi phải đưa ra bàn ở đây. (Đọc tiếp…)

Tàu chiến TQ

Trung Quốc bất ngờ bị Cuba “dội gáo nước lạnh”

 Tham vọng thọc vào “sân sau” Mỹ của Trung Quốc đã bị dội nước lạnh khi Cuba cấm cửa chiến hạm Trung Quốc triển khai tại nước mình.

Cuba nói thẳng

Ngày 20/5, tờ Yomiuri Shimbun (Nhật Bản) đưa tin cho biết, Cuba quyết định từ chối thỏa thuận đã ký kết với Trung Quốc hồi cuối năm 2014 về việc triển khai các tàu của Hải quân Trung Quốc ở nước mình.

Cụ thể, việc Cuba đưa ra quyết định trên là nhờ “tiến bộ lớn đã đạt được trong việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ” thúc đẩy Cuba đến bước đi này.

Tờ Yomiuri Shimbun lưu ý rằng từ năm 2012, phía Cuba đã chủ động đề xuất Trung Quốc đặt các tàu của họ trong vùng biển Caribbe cũng như tiến hành các cuộc tập trận chung. (Đọc tiếp…)

Older Posts »

Danh mục