Đăng bởi: Ngô Minh | 04.03.2015

TQ xây đảo để kiểm soát Biển Đông

TQ xây dựng ở đảo Gạc Ma

TQ xây đảo để kiểm soát Biển Đông

Nguyễn Xuân Vĩnh Gửi tới BBC từ Frankfurt, Đức

TQ đã tiến hành xây đảo nhân tạo tại nhiều điểm thuộc Quần đảo Trường Sa đang có tranh chấp

Từ vài năm nay giới quan sát về chính trị và quân sự ghi nhận là Trung Quốc tăng cường những nỗ lực để củng cố chủ quyền tại quần đảo Trường Sa.

Việc Trung Quốc xây dựng đồn quan sát cùng với bãi đáp trực thăng trên đảo Gạc Ma (Johnson South Reef) đã được chú ý và theo dõi từ năm 2012. Ngoài đảo Gạc Ma, hoạt động xây dựng còn có trên những đảo Việt Nam gọi là Đá Chữ Thập (Fiery Cross Reef), Đá Lạc (Gaven Reefs) và Đá Tư Nghiã (Hughes Reef).

Nhưng đầu năm 2015, hình chụp từ vệ tinh đã phát hiện ra một sự phát triển vô cùng nhanh chóng trong việc kiến thiết đảo nhân tạo trên những vùng này.

Ráo riết xây dựng

Những hình ảnh vệ tinh được công ty thông tin quân sự IHS Jane’s phân tích cho thấy là trên Đá Tư Nghiã, cái cấu trúc được xây trên mõm đá lú ra khỏi mặt nước đã tăng từ 380 mét vuông trong năm 2004 lên thành một đảo nhân tạo với diện tích là 75.000 mét vuông, một diện tích bằng khoảng 14 sân đá banh.

Sự phát triển còn rõ rệt hơn nữa trên Đá Lạc. Ở đây hình vệ tinh chụp vào cuối tháng Ba 2014 cho thấy một cái nền nhỏ trên bãi san hô, nhưng đến tháng Tám một đảo nhân tạo lớn đã thành hình kế bên đó, và cuối tháng Giêng 2015 một bãi đáp trực thăng đã được xây kế bên đảo nhân tạo đó cũng như những cái cầu nối cả ba cấu trúc với nhau.

Theo IHS Jane’s thì đảo nhân tạo lớn nhanh nhất là Đá Chữ Thập. Từ tháng Tám đến tháng Mười Một 2014, đảo này đã được bồi đắp thành một mảnh đất dài khoảng 3.000 mét và rộng khoảng 200 mét, đủ để xây một sân bay.

Các nước trong vùng, đặc biệt là Phi Luật Tân đã lên tiếng phản đối. Chính phủ Phi Luật Tân đã đệ đơn kiện đến Tòa án Quốc tế về luật biển của Liên Hiệp Quốc (International Tribunal for the Law of the See, ITLOS).

Việc xây đảo được TQ bắt đầu từ cuối thập niên 1990. Trong hình là cảnh chụp hôm 20/3/1999 cho thấy TQ đang xây cất trên Đá Vành Khăn (Rặng Mischief)

Hoa Kỳ cũng đã lên tiếng yêu cầu Trung Quốc dừng những hành động gây sự bất ổn này trong vùng, nhưng đến nay Trung Quốc không phản ứng.

Còn chính phủ Việt Nam thì vẫn im lặng.

Các quốc gia khác có sở hữu đảo trong vùng tuy cũng có những hoạt động kiến thiết, nhưng theo Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Daniel Russel thì việc xây đảo nhân tạo của Trung Quốc vượt xa tất cả những gì các nước này đã thực hiện từ xưa đến nay.

Sự phản đối có lẽ cũng vô ích vì kiến thiết ở bốn đảo nhân tạo tại vùng Trường Sa dường như thuộc vào một chương trình quy mô được bắt đầu sau khi ông Tập Cận Bình lên nắm quyền ở Trung Quốc năm 2012.

Theo báo Wall Street Journal thì việc xây dựng trên hai đảo Đá Chữ Thập và Đá Lạc đã được bắt đầu trong năm 2014, bất chấp những phản đối của các nước láng giềng, và song song với những lời tuyên bố có tính cách ôn hoà của chính phủ Trung Quốc.

Mục tiêu quân sự?

Theo các nhà phân tích quân sự thì cấu trúc của đảo nhân tạo trên Đá Lạc rất giống cấu trúc trên Đá Tư Nghiã, cho nên có thể cấu trúc trên Đá Tư Nghiã là mẫu cho những đảo nhân tạo khác sẽ được xây dựng hàng loạt.

Mục tiêu của Trung Quốc có thể là xây dựng một chuỗi những căn cứ trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa để bắt buộc các quốc gia khác từ bỏ những đòi hỏi chủ quyền trong vùng này.

Việc Trung Quốc kéo Giàn khoan 981 vào biển Đông hồi tháng 5/2014 khiến người dân VN ở trong và ngoài nước tiến hành nhiều cuộc biểu tình phản đối

Các đảo nhân tạo đều có đặc tính quân sự rõ rệt vì có trang bị radar và ổ súng phòng không. Các đảo này có thể được dùng để kiểm soát mặt biển và không phận của toàn vùng cũng như làm căn cứ hậu cần cho tàu hải quân để đi tuần sâu hơn về miền nam biển Đông.

Đặc biệt là Đá Chữ Thập cũng sẽ có một hải cảng vừa cho thuyền vận tải và chiến hạm lớn sử dụng.

Sân bay trên Đá Chữ Thập có thể được dùng để yểm trợ cho hoạt động của chiếc hàng không mẫu hạm Liêu Ninh trên biển Đông.

Quần đảo Trường Sa cách đảo Hải Nam hơn 1.100 km, quá xa để các khu trục cơ từ đất liền có thể yểm trợ hữu hiệu vì không quân Trung Quốc chưa có kỹ thuật tiếp xăng trong lúc bay như không quân của Hoa Kỳ hoặc các nước Âu Châu. Sân bay này có thể giúp Trung Quốc khắc phục nhược điểm đó.

Máy bay trinh sát hoặc chiến đấu đóng tại đây có thể tiến xa xuống miền nam. Và tất nhiên là các đồn này đều có thể được dùng để chứa quân và làm bàn đạp để tiến chiếm các đảo khác.

Với những đảo này, Trung Quốc nhấn mạnh những đòi hỏi chủ quyền trên Biển Đông. Một số nhà phân tích Hoa Kỳ cho rằng Trung Quốc có thể dùng những đảo này để thiết lập một Vùng Nhận diện Phòng không (Air Defense Identification Zone) trên biển Đông.

Mối đe dọa cho Việt Nam

Với sân bay trên Đá Chữ Thập và các đồn trên các đảo khác, Trung Quốc trong trường hợp xung đột có thể cắt đứt đường tiếp tế cho đảo Sinh Tồn một cách dễ dàng và có thể uy hiếp đảo Trường Sa.

Nhìn từ khía cạnh của Việt Nam, những hoạt động lập đảo của Trung Quốc là một điều đáng lo ngại.

Cái đồn trên Đá Gạc Ma nằm ở phía nam của Đảo Sinh Tồn (Sin Cowe Island), cách đảo này khoảng 30 km. Đồn Đá Lạc nằm cách Đảo Sinh Tồn khoảng 41 km về hướng tây bắc. Căn cứ và sân bay trên Đá Chữ Thập nằm khoảng 150 km về hướng tây nam đảo Sinh Tồn.

Đảo Sinh Tồn là một trong ba đảo lớn nhất của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa và như thế lại nằm ở giữa ba căn cứ quân sự của Trung Quốc. Đá Chữ Thập cũng nằm cách Đảo Trường Sa, đảo lớn nhất của Việt Nam tại đây, khoảng 160 km về hướng đông bắc.

Với sân bay trên Đá Chữ Thập và các đồn trên các đảo khác, Trung Quốc trong trường hợp xung đột có thể cắt đứt đường tiếp tế cho đảo Sinh Tồn một cách dễ dàng và có thể uy hiếp đảo Trường Sa.

Và có thể nói là tất cả các đảo của Việt Nam phiá bắc của đảo Sinh Tồn, trong đó có đảo Song Tử Tây (Southwest Cay), đảo lớn thứ nhì của Việt Nam, và đảo Nam Yết (Namyit Island), đảo lớn thứ năm, đều bị đe dọa qua những đảo nhân tạo của Trung Quốc.

Trong Thế chiến thứ hai, quân đội Hoa Kỳ đã áp dụng một chiến lược được gọi là “island hopping“, chiến lược nhảy từ đảo này sang đảo kia, để chiến thắng quân đội Nhật.

Hiện Trung Quốc đã có hàng không mẫu hạm Liêu Ninh hoạt động trên biển Đông

Các cánh quân Mỹ đã đánh chiếm những vùng đất liền và đảo của Nhật có vị trí chiến lược quan trọng, nằm gần những tuyến đường tiếp tế, nhưng chỉ có lực lượng phòng thủ nhỏ, thay vì đánh vào những căn cứ có lực lượng phòng thủ mạnh.

Quân đội Mỹ đã tránh thiệt hại lớn nhưng đã đưa Nhật vào thế bị động và khó khăn vì những đường dây tiếp tế bị cắt đứt. Những căn cứ phải thất thủ vì thiếu đạn dược và thực phẩm.

Những hoạt động xây đảo nhân tạo của Trung Quốc chung quanh các đảo của Việt Nam hiện hơi giống chiến lược nhẩy đảo đó.

Với một cái nhìn khách quan và theo logic thì Việt Nam bây giờ phải có một thay đổi cấp bách trong chính sách ngoại giao và quốc phòng.

Nhưng trong hậu trường chính trị Việt Nam, không ai biết được có những động lực gì thúc đẩy giới cầm quyền trong các chính sách với Trung Quốc.

Liệu người dân Việt Nam lại phải chuẩn bị tinh thần để chấp nhận hy sinh quân sĩ và lãnh thổ một lần nữa sau năm 1975 và 1988?

Bài viết thể hiện quan điểm và cách hành văn của tác giả, một kỹ sư hàng không hiện đang sống tại Cộng hòa Liên bang Đức.

N.X.V.

Nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2015/03/150302_dao_nhan_tao_trung_quoc_truong_sa

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 04.03.2015

Giáo dục gây tổn thương để đi tới

Giáo dục gây tổn thương để đi tới

Nguyên Ngọc

 Ngày mà ông cùng với một số nhà văn khác mở trường Nguyễn Du, lúc đó các ông đã nghĩ: làm sao mà dạy viết văn được?

ông thể dạy một người thành nhà văn, nhưng cần giúp các nhà văn trẻ có thể đi xa. Muốn vậy, cần cố gắng tạo cho họ gặp được những người giỏi nhất trong tất cả các lĩnh vực và nghe những người đó nói chuyện.

Các ông thầy lên lớp, hầu như chỉ làm mỗi một việc là kể chuyện, chuyện mình, chuyện người. Từ các câu chuyện ấy, các học viên về tự kể lại và mỗi người, bằng tài năng của mình, kể câu chuyện của chính mình nhận thức được với cuộc đời, vạn vật theo cách của mình thể hiện qua ngôn ngữ, bút pháp và tinh thần.

Ba mươi năm sau, ông quay trở lại với giáo dục, lần này, ông quản trị một trường đại học với mục tiêu của những con người đã đi vào lịch sử bằng sự khai sáng như Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu… Và cũng như sở học của mình, giờ thì ông hiểu mục tiêu của giáo dục chính là sự giải phóng cho con người, đúng hơn, giúp cho mỗi người tự giải phóng. Câu chuyện mà ông dẫn dắt chúng ta dưới đây sẽ đem lại cho các bạn, dù chỉ là một suy nghĩ mới hay nhận ra mình, cũng chính là điều ông muốn nói.

Xây dựng ý chí muốn học

Tôi thuộc loại người không có bằng cấp, không học xong phổ thông. Học đến nửa tú tài thì chiến tranh, đi đánh nhau. Nhìn lại đời mình, chỉ riêng về giáo dục, tôi nhớ và nghĩ rất nhiều về nền giáo dục Pháp ngày xưa, họ đã dạy thế nào đó để một người chưa xong tú tài như tôi vẫn thấy mình được học nhiều thứ rất cơ bản. Sau đó là quá trình tự học. Có lần tôi đã nói: “Tôi biết ơn nền văn hoá và văn học Pháp. Hạnh phúc cho ai được chịu ảnh hưởng tốt đẹp của nó”.

Tôi ra miền Bắc, tám năm sau lại trở vào chiến trường miền Nam cùng anh Nguyễn Thi. Những năm ấy tôi thấy mình học được nhiều và thay đổi nhiều. Tôi nhận ra chính là nhờ tôi được gặp được quen những người thật giỏi và… nghe họ nói. Nguyễn Đình Thi, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Tuân…, những Đặng Thai Mai, Vũ Ngọc Phan… Chắc họ không biết họ đều là thầy của tôi. Có lẽ tôi học được nhiều nhất là cách họ suy nghĩ, cảm nhận cuộc sống.

Hầu hết thế hệ tôi là như thế, đám nhà văn ở tuổi tôi ngoài Bắc chỉ duy nhất có một người được đi học đại học là ông Phan Tứ. Còn tất cả chúng tôi chỉ dở dang ở phổ thông.

Tới giờ tôi vẫn tự học. Cái gì cũng muốn học. Tôi rất say mê đọc vật lý. Tôi được bạn bè “khai phóng” và hiểu rằng vật lý hiện đại rất gần với triết học. Tôi hơi buồn thấy các nhà văn trẻ rất ít quan tâm đến vật lý. Người ta bảo sức tưởng tượng của vật lý còn hơn cả nghệ thuật. Nó động đến những vấn đề vô cùng sâu xa của triết học, của sự tồn tại, của con người giữa khôn cùng…

Hình như có một thời khá dài ta từng có một nền văn học không có triết học. Thật kỳ lạ và đáng sợ!

Khai phóng và thực học, giáo dục nền tảng của năm 2015

  Hiện nay tôi rất sợ ta hiểu thực học đơn thuần là học kỹ thuật, kinh tế, tin học. Tôi muốn nhắc lại về Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ. Vì sao Nguyễn Trường Tộ, người yêu nước vô cùng như thế lại thất bại với các bản điều trần của mình? Đương nhiên có lý do từ cơ sở xã hội nhưng nếu nói đến hai nhân vật này thì còn có sự khác biệt về con người. Nguyễn Trường Tộ chủ yếu vẫn thấy phương Tây hơn ta ở kỹ thuật, Yukichi khác, ông nhận rõ Nhật Bản thua phương Tây cả một nền văn minh. Học phương Tây là học nền văn minh đó, chứ không phải chỉ học kỹ thuật. Đến Phan Châu Trinh thì đã nói được: “Mình thua là tất yếu vì mình thấp hơn họ cả một thời đại”.

Hiện nay tôi đang có một trường đại học, mới có mấy khoá, và tôi nhận thấy rất ít các em sinh viên của chúng tôi ra đời có thể làm đúng với nghề mà các em học. Vậy nếu chỉ tập trung học kỹ thuật thì sẽ rất lúng túng vì không có nền tảng để xoay chuyển trong biến động. Tôi vừa mới đọc câu này và thấy nếu nghĩ như thế thì thật đáng lo: “Bây giờ người ta chi hàng tỉ đôla để một người đi lên mặt trăng trong khi vẫn còn có hàng tỉ người lại không có ăn”. Nghĩ về thực học như thế thì nguy hiểm lắm. Tôi nhớ tôi đã báo cho tất cả mọi người trong trường biết cái đêm tàu vũ trụ Rosetta của châu Âu lần đầu tiên thả một robot xuống sao chổi, để tìm thử nguồn gốc của sự sống trên trái đất có phải bắt đầu từ sao chổi không? Điều đó là vô cùng thực. Ham được biết điều đó cũng là thực học.

Tôi có lần nói với bà Nguyễn Thị Bình, nguyên bộ trưởng bộ Giáo dục, nguyên phó Chủ tịch nước, năm nay đã 89 tuổi: “Phải thật sự nghĩ lại về giáo dục miền Nam trước 1975, có lẽ cải cách giáo dục mình bây giờ cứ làm đúng như giáo dục miền Nam trước 1975 là được, hoặc ít nhất phải xem cho kỹ nền giáo dục đó để tham khảo”. Nền giáo dục nào tạo cho con người có cái quyền của mình, đấy là thực học. Người thực học là người có nền tảng để thúc đẩy ý chí tự mình dám đi tìm chân lý.

Giáo dục khai phóng đã có từ thời cổ đại. Người ta tin rằng tạo hoá sinh ra con người ai cũng có tiềm năng và đã thấy cần học những môn gì để có thể giúp cho con người tự giải phóng mình ra khỏi sự dốt nát, giải phóng những tiềm năng có sẵn của mình để giúp mình sống có hạnh phúc và có ích cho xã hội.

Tôi cũng tin và đã từng nói rằng giáo dục phải bắt đầu bằng niềm tin vào con người. Bởi ai cũng có những tiềm năng cần được giải phóng. Không có niềm tin đó thì thà đừng làm giáo dục.

Sau khi đọc một bài viết của tôi về điều đó, bạn tôi là anh Bảy Nhị, trước đây là chủ tịch tỉnh An Giang, viết thư kể với tôi: sau năm 1975 anh mới lấy vợ, hôm đó anh dẫn vợ đi chụp ảnh. Ông thợ ảnh bảo: “Tôi sẽ chụp chị rất đẹp vì tôi tin người phụ nữ nào cũng có nét đẹp của họ, ăn thua là mình biết nhìn ra vẻ đẹp đó chứ không phải cái máy ảnh này chụp đẹp hơn máy ảnh kia”. Anh Bảy Nhị nói: “Cái tay nhiếp ảnh này ngộ quá nhưng giờ tôi đọc bài của anh, tôi nhận ra ông nhiếp ảnh đó nói đúng”.

Chìa khoá để mở cửa tâm hồn

Tôi có đọc một bài viết của một nhà nữ triết học Mỹ nói về tính dễ bị tổn thương của con người. Giáo dục làm cho con người bị tổn thương. Vì sao? Vì việc đem lại tri thức làm cho con người thấy hoá ra còn bao nhiêu cái mình chưa biết, càng học càng thấy cái mình biết, cái mới vừa được biết thêm càng vô cùng nhỏ bé trước cái chưa biết, không biết còn lại mênh mông, vô tận. Cảm giác tổn thương đó là một cảm giác lành mạnh. Nó khiến con người thiết tha đi tới trên đường tự khai phóng.

Một cô sinh viên của trường tôi, gia đình rất nghèo, mẹ cô có 13 con bò, cô đi học bốn năm thì bà phải bán hết 12 con bò, chỉ còn mỗi một con. Hôm đi học tiếp ở một nơi khác, em đến thăm tôi và nói: Trước đây em đã từng nghĩ, khi em ra trường sẽ cố gắng kiếm việc làm có đồng lương nào đó để sống được, rồi trả nợ dần cho mẹ, rồi sẽ dẫn mẹ đi chơi một tua, rồi lấy chồng và sẽ có một cuộc sống yên ổn. Em nghĩ, nếu không gặp thầy, em sẽ sống một cuộc sống như thế đó nhưng giờ em giật mình và sợ hãi với suy nghĩ đó. Chỉ chút nữa thôi thì mình đã để cuộc đời mình chìm trong một hạnh phúc chật hẹp biết bao nhiêu… mà không hề hay biết!” Nghe lời em nói, tôi cũng giật mình nhìn lại mấy năm qua, hoá ra tôi đã khiến em bị tổn thương khi nhận ra: “Trời ơi, đời mình chỉ có chừng này thôi à?” và sau đó em đã khao khát biết những điều khác nữa lớn lao hơn ở thế giới.

Tôi nói với sinh viên, mình càng tìm biết, mình càng thấy còn có những cái biết lớn lao hơn nữa. Càng biết nhiều bao nhiêu thì càng nhận ra sự vô tận của cuộc sống và nhận ra sự dốt nát của mình. Rồi khi cô sinh viên vào Sài Gòn, đến những môi trường giáo dục khác, gặp những người cũng trẻ tuổi mà thành danh, cô đã oà khóc vì bị tổn thương. Từ đó cô quyết tâm tiếp tục tìm mọi cách học. Cô nhận ra rằng thế giới thật là mênh mông bể sở và cô khao khát được tiếp cận nó.

Tôi nói với các thầy và sinh viên ở trường rằng tôi không tin có học trò kém. Mỗi con người đều có thể giỏi một cái gì đấy. Sở dĩ mình thấy sinh viên kém là vì mình muốn mọi người đều giỏi cái mà mình muốn. Trong khi xã hội thì vô cùng đa dạng. Ví dụ mình muốn mọi người đều phải giỏi toán, nhưng nếu sinh viên đó không giỏi toán thì ngay lập tức mình nói: “Thằng này dốt!” Hay mình muốn sinh viên đều phải giỏi văn, nếu không giỏi thì mình bảo nó dốt. Vậy cái giỏi của người thầy chính là giúp cho sinh viên nhận ra cái giỏi thật sự của họ và từ đó họ tự khai phóng họ ở lĩnh vực đó. Phát triển bao giờ cũng là tự phát triển, không thể nào mình nắm đầu người ta kéo lên được cũng như cái cây nó mọc tự nhiên, sao bạn có thể nắm nó kéo lên cho cao được.

Trường đại học Phan Châu Trinh ở Hội An cũng đang chủ trương theo con đường này. Tạo nên một không gian tự do, không gian văn hoá, không gian học thuật để bốn năm đại học là bốn năm hạnh phúc nhất của con người. Đào tạo cho các em không chỉ để ngày mai có việc làm mà cho các em có thể tự sống cuộc đời mình hay nhất, đẹp nhất. Hội An cũng là một thành phố rất đặc biệt, chúng tôi muốn tìm mọi cách để thành phố văn hoá độc đáo này thật sự là “khu nội trú” của trường chúng tôi.

( nguồn:vanviet)

Đăng bởi: Ngô Minh | 04.03.2015

CHUYỆN ĐẠI SỰ CỦA NHÀ THƠ

Nhân Ngày thơ Việt Nam ( Rằm Nguyên Tiêu Ất Mùi)  

  CHUYỆN ĐẠI SỰ CỦA NHÀ THƠ

( Ngô Minh trả lời câu hỏi của bạn đọc báo Văn Nghệ Trẻ)

 

Làm báo như ăn cơm với vợ

                                                   còn thơ là uống rượu với bạn !( N.M)

 

      Nhà thơ Ngô Minh quý mến,

          Cháu sinh ra ở một làng biển miền Trung, rất mê thơ, nhưng lại theo học đại học báo chí. Hồi còn học phổ thông cháu đã thích thơ của chú “Mai rồi / Đời cát vùi quên/ Biển còn hột muối/ Nhặt lên/ Thưa rằng…”. Từ đó, thấy thơ chú là cháu dành đọc cho bằng được. Hiện nay trong tay cháu đã có đến 4 tập thơ của chú (Chân dung tự họa, Phía nắng lên, Chân sóng, Quà tặng xứ mưa). Cháu biết là còn thiếu mấy tập nữa (Nước mắt của đá…)

          Mấy năm vừa rồi, cháu còn được đọc rất nhiều bài báo của chú, đặc biệt là trên báo Thương mại. Tại sao chú đã là nhà thơ, lại còn đi làm báo, mà lại là báo Thương mại nữa (eo ôi!)? Chú có nghĩ rằng sẽ tới một lúc nào đó thơ chú sẽ bị tư duy báo chí và kinh tế lấn át hay không? Và khi cháu đã học nghề báo chí rồi, có bỏ thơ để làm báo, hay bỏ báo để làm thơ, hay làm cả thơ lẫn báo? Chú cho cháu một lời khuyên, chứ thực tình là cháu đang phân vân lắm.         

          Đọc thơ chú, thấy chú rất hay xúc động về cái nghèo, cái khổ, cái buồn : “Lục túi tìm mươi đồng bỏ vào mê nón mệ bên đường mà túi rỗng – Thơ không bán được mệ ơi !”, “Mặt nạ bán hết còn lại mình – Ai hỏi han chi thằng mặt thật”. Những bà mệ ăn xin, những người bán mặt nạ trong thơ chú cứ như là có thật trong đời chứ không phải hư cấu văn học. Và những người yêu trong thơ chú có phải chỉ là vợ chú hay không? Cháu tin thơ chú đều nói thật, bởi thơ chú giống một bản khai lý lịch đời mình bằng thơ. Và điều đó có hạn chế đến trí tưởng tượng trong thơ?…

          Lần đầu, thư cho chú, cháu không giám viết dài. Kính chúc chú thêm nhiều bài thơ hay. Và, nếu nhận được hồi âm của chú (thư riêng, hoặc trả lời trên Văn nghệ Trẻ) thì cháu vô cùng biết ơn.

                                        Thư ngõ của Lâm Hoàng Lan

                             (Khoa báo chí – Đại học Tổng hợp TP. HCM)

                        

           THƯ NGỎ GỬI BẠN LÂM HOÀNG LAN

          Bạn Lâm Hoàng Lan thân mến !

          Đọc lá thư của bạn do báo “Văn nghệ Trẻ” chuyển, tôi vừa xúc động, vừa lo, lại vừa … buồn! Xúc động vì biết ở tít tận ngàn cây số kia có một người trẻ quan tâm tới mình, “theo dõi” từng tác phẩm của mình và … “thích thơ” mình ! Cách đây bảy, tám năm tôi cũng có một lần được xúc động như vậy khi nhận thư của anh La Quốc Tiến, một nhà thơ miền Tây Nam Bộ. Anh La Quốc Tiến lúc đó chưa được giải thưởng thơ báo Văn Nghệ, chưa nổi tiếng như mấy năm rồi. Trong thư anh bảo rằng, anh đã mang thơ tôi, đặc biệt là bài “ Tìm tôi tìm Huế “ đi đọc ở khắp các cuộc thơ quảng trường , thơ xa-lông với bạn bè ở quê anh rất tâm đắc. Ấy là sự diệu kỳ của thơ. Thơ nó nối dài cuộc sống của mình, nó “nối vòng tay bé” của mình vào “Vòng tay lớn” những người tri âm, tri kỷ. Ấy là hạnh phúc lớn nhất của bất cứ người làm thơ nào, không riêng gì tôi ! Trong thời buổi người làm thơ “đông hơn” người đọc thơ như hiện nay, thư của Lâm Hoàng Lan với tôi không chỉ là sự tri âm, đồng cảm mà còn là sự cổ vũ, khuyến khích. Còn tại sao lại lo ư ? Lo vì thư hỏi nhiều chuyện khó quá, “chuyên môn” quá, mà mình lại “nhà thơ chưa qua trường Nguyễn Du, học lỏm mà thành “, biết trả lời sao đây ? Nào là “Có nên bỏ thơ để làm báo, hay bỏ báo để làm thơ“, nào là “sự thật và hư cấu” trong thơ, vân vân. Và gay go nhất là câu “Những người yêu trong thơ có phải chỉ là vợ hay chồng?” Hỏi như thế là bấm vào “tử huyệt” của người làm thơ đấy, Hoàng Lan ạ ! Nhưng nỗi lo “toát mồ hôi” không mần răng át được chút thoáng buồn vì trong thư bị gọi bằng … chú ! Thứ nhất, dù năm nay tôi tuổi Con Trâu – sắp “ngũ thập tri thiên mệnh” đi nữa cũng còn lâu mới có cháu lớn đến thế ! Thứ nữa, ai lại đi gọi thi sĩ là “chú” bao giờ ! Nghe kỳ lắm !

          Bây giờ xin đi vào chuyện “đại sự” mà bức thư của bạn Hoàng Lan “đặt vấn đề”. Báo và thơ ư ? Báo là nghề, thơ là nghiệp. Cái nghề nuôi cái nghiệp. Ở xứ ta từ xưa tới nay chẳng ai sống nổi bằng thơ cả. Hơn nữa thơ là thứ để tặng, để chơi chứ không phải để bán lấy tiền. Vì thơ mà từ xưa tới giờ, có rất nhiều nhà thơ , nhà văn Việt Nam như kiếm cơm hàng ngày bằng nghề viết báo. Mấy ông nhà văn nhà thơ mà tôi quen biết như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha, Đông Trình, Thanh Thảo … đều lấy nhuận bút báo làm nguồn thu chính. Nhà thơ – Nhạc sỹ Nguyễn Trọng Tạo, con người được mệnh danh là “Người ham chơi”, một năm cũng viết cả trăm bài báo đủ các đề tài để nuôi vợ con. Ông uống rượu  với bạn bè từ sáng tới tối, say thì ngủ một giấc, hai ba giờ sáng thức dậy lại ngồi vào bàn viết báo để trả tiền điện thoại, tiền gas nấu cơm, tiền nhà trẻ mẫu giáo cho con … hàng tháng! Nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường viết “nhân đàm” cho báo Thanh Niên đều đều, lại còn viết cả chuyện món ăn Huế cho tờ “Sài Gòn Tiếp Thị” của nhà báo Kim Hạnh. Thế vẫn chưa “oai” bằng nhà thơ Thanh Thảo còn viết bài báo quảng cáo rất diệu nghệ cho món hàng nước khoáng Thạch Bích Quảng Ngãi quê ông …Tôi ngày trẻ theo học Đại học Thương Mại, những mộng làm giàu hóa ra bị “thơ” ám, nghèo rớt mùng tơi. May có chút vốn sách vở học được, đi làm báo Thương Mại có lý quá còn gì! Tôi làm báo được đi đây đi đó luôn, nên gặp nhiều cảnh đời xúc động lắm. Các chuyến “đi viết báo” ấy đã cho tôi cả loạt bài thơ tâm đắc như “Tìm tôi tìm Huế“, “Mưa ở Buôn Ma…”, “Người bán chè chén ở Ga Nha Trang“, “Hà Nội mùa đông“, “Người bán kem chiều ba mươi Tết“…Có nghĩa là nghề báo cũng có ích cho văn chương thơ phú đấy chứ !

          Nói là nói vậy chứ làm báo “say máu” quá là nhiễm ngay cái “tư duy báo”. Cái cung cách, ngôn ngữ “ăn liền” ấy thấm vào quá trình sáng tác văn học, khả năng tư duy hình tượng sẽ suy giảm. Người ta nói thơ kỵ báo là nói khía cạnh đó. Thực tế cũng đã không ít nhà thơ, nhà văn “chết” vì báo hay bị “báo hóa”. Người giỏi là người biết phân thân, tức là mình tự biến thành hai “thằng mình” – “thằng thơ” và “thằng báo”. Còn lời khuyên “nên bỏ thơ làm báo hay bỏ báo làm thơ ” ư ? Khó quá. Trên đã nói, thơ là nghiệp. “Đã mang lấy nghiệp vào thân…” dù muốn bỏ cũng không được. Chỉ khi nào thơ nó bỏ mình coi như mới thoát nghiệp chướng !

          Bạn Lâm Hoàng Lan hỏi về những “nhân vật” trong thơ tôi như là có thật ngoài đời chứ không phải hư cấu văn học, ấy là  cái cảm thấy, cảm nhận. Đó chính là hiệu quả của sáng tác văn học. Một điều cần lưu ý là những “Cái như thật” ấy có thể có thật đâu đó hoặc không hoàn toàn có thật, nhưng “cái tôi tâm trạng” phải là cái có thật, không thể hư cấu ! Nhà thơ là nhân vật chính của thơ mình. Điều đó qui định diện mạo thơ riêng của từng nhà thơ. Đến nay tôi đã in năm tập thơ (Phía nắng lên-1985, Chân dung tự họa-1989, Nước mắt của đá-1991, Chân sóng-1995 và Quà tặng xứ mưa-1996) và sắp in tập thơ mới ” Đứa con của cát “, – tất cả dù thơ hay hay chưa hay, đều là cái tôi chân thật ấy ! Có lẽ vì thế mà Hoàng Lan tin “thơ chú đều nói thật…giống như một bản khai lý lịch đời mình bằng thơ“.

          Trở lại chuyện thơ và báo, có lần nhà thơ già Tôn Phong ở Nha Trang phỏng vấn tôi, cũng “gay cấn”chẳng khác gì Lâm Hoàng Lan về chuyện “làm thơ và làm báo”. Tôi đã trả lời một cách vui vẻ rằng: “Làm báo như ăn cơm với vợ, còn thơ là ưống rượu với bạn”. Bạn Hoàng Lan thân mến, cầu cho bạn ước gì được nấy, say thơ gặp thơ, muốn báo có báo…

                                                                     Huế ,tháng Giáp Thìn 1997

Mục THƯ NGỎ GỬI NHÀ VĂN Báo Văn nghệ trẻ số 13(44) 20-5-/1997

Đăng bởi: Ngô Minh | 03.03.2015

Từ đọc ngôn tình đến… viết ngôn tình!

Từ đọc ngôn tình đến… viết ngôn tình!

 

Nguyễn Đình Bổn

Nhiều người quan tâm đến văn hóa đọc trong nước cho rằng kể từ năm 2006, sau khi cuốn sách do Trang Hạ dịch có tên “Xin lỗi em chỉ là con đĩ” trở thành hiện tượng, đó cũng là dấu mốc để truyện ngôn tình Trung Quốc ào ạt xâm lấn thị trường Việt Nam. Hiện nay tuy nhiều người cho rằng thứ sách nhảm nhí này đã thoái trào nhưng thực sự chưa có một con số thống kê chính xác nào để biết được sách ngôn tình hiện đang chiếm tỉ lệ bao nhiêu phần trăm trong số các đầu sách văn học được xuất bản tại Việt Nam, chỉ biết rằng nó vẫn là những đầu sách áp đảo về số lượng trong các nhà sách từ Bắc chí Nam. Vì tiền, các nhà xuất bản, phần lớn là phía Bắc, đã bán giấy phép ào ạt để cho ra đời loại sách này, và cũng vì tiền, các nhà sách lớn nhỏ luôn trưng bày nó tại những nơi “bắt mắt” nhất mà không hề có một cảm xúc xấu hổ.

Cái gọi là sách ngôn tình của Trung Quốc, mà nhiều người mỉa mai đặt tên “sến Tàu” là một loại sách á văn học, đầy tính chất uỷ mị, viển vông và cả gợi dục nhưng lại được các nhà xuất bản, các người dịch trẻ biết Trung văn tung ra ào ạt, và như một hệ lụy hiển nhiên, các cây bút trẻ Việt Nam cũng bắt đầu viết theo thể loại này. Nó nhanh chóng được các đầu nậu đánh hơi và ngay lập tức tung hê lên thành một “hiện tượng” để bán sách. Như việc một nữ MC truyền hình tung ra một cuốn sách dán nhãn 18+ với hình bìa là ảnh hở vòng một của chính cô, rồi mới đây việc một tập thơ cũng của một tác giả nữ, mang cái tên dài và đầy hơi hướm ngôn tình “Anh ngủ nữa đi anh, em phải dậy lấy chồng”, ngôn ngữ bên trong đầy tính chất gợi dục khá trơ trẽn, lại được giới thiệu như một “phát hiện” từ những nhà báo con buôn, là một ví dụ sinh động.

Điều này tạo ra một nhận thức lệch lạc trong cách đọc của giới trẻ, bởi chỉ nói riêng về sáng tác của các nhà văn, nhà thơ Việt Nam, dù phải tiết chế dưới chế độ kiểm duyệt, không ít các tác phẩm rất đáng đọc, nhưng trước sự thờ ơ của báo chí, của các nhà phê bình, các tác phẩm đó gần như bị trôi tuột đi. Còn với những tác phẩm văn học, những tác giả lớn của thế giới, hầu như không có tác phẩm thơ nào được dịch và in, thậm chí nữ văn sĩ Alice Munro, người Canada chuyên viết truyện ngắn, đoạt giải Nobel Văn chương 2013, một cái tên lẫy lừng như vậy nhưng chỉ trừ những người quan tâm đến văn học đích thực, phần lớn các bạn trẻ Việt Nam, ngay cả tầng lớp sinh viên, không biết bà là ai!

Điều đáng nói, Việt Nam là một quốc gia có tỷ lệ người đọc sách thấp đến kinh ngạc. Theo thống kê hiện nay trung bình 1 người Việt Nam đọc 3 cuốn sách 1 năm – trong đó có 2,3 cuốn là sách giáo khoa. Như vậy số lượng sách tự chọn chỉ chưa đến 0,7 cuốn/1 người/1năm, trong khi đó tại Thái Lan, con số này rơi vào khoảng 5 cuốn/1 người/1năm – không tính sách giáo khoa, tức người Thái đọc gấp khoảng gần 10 lần người Việt!

Ai cũng biết để đánh giá tri thức của một quốc gia, người ta sẽ nhìn vào nền giáo dục, xuất bản, báo chí, tỷ lệ đọc sách… của đất nước đó. Về vấn đề này, thực tế cho thấy Việt Nam đang tụt hậu không chỉ với thế giới nói chung, mà tụt hậu cả với láng giềng cùng chung khối Đông Nam Á.

Ở miền Nam trước đây, có một cái “phong trào” rất dễ thương của người trẻ. Hồi đó sinh viên và học sinh đều “cặp nách” một vài cuốn sách triết của Phạm Công Thiện, hoặc các tác giả “hiện sinh” lẫy lừng như Henry Miller, hoặc đọc tiểu thuyết của Erich Maria Remarque. Ai muốn đọc Quỳnh Dao hay Bà Tùng Long đều dấm dúi vì sợ quê. Còn ngày nay, thử nhìn vào một căn nhà trọ của các bạn nữ sinh viên ngữ văn, ở đó chắc chắn có cả chồng sách ngôn tình Trung Quốc, và hiện nay là các tập sách, thơ mang hơi hướm ngôn tình Việt.

 

Nguồn: Blog Nguyễn Đình Bổn

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 03.03.2015

NHƯ TIẾNG THÌ THẦM VĨNH BIỆT

NHƯ TIẾNG THÌ THẦM VĨNH BIỆT

khi hay tin Lê Văn Ngăn mất,

Đinh Cường

Và người thi sĩ ấy đã rời xa bếp lửa
bếp lửa ngày xưa của mẹ
như Nguyễn Xuân Thiệp cũng luôn
nhắc đến bếp lửa ở Vỹ Dạ
thời thơ ấu và Vương Phủ

người thi sĩ ấy đã ra đi. tới phương trời nào
ôi những phuơng trời xưa
Huế, Đà Lạt đầy sương mù
chúng ta đã có một thời gặp nhau
để nghe người thi sĩ ấy
đọc những câu thơ như văn xuôi của mình

giờ gặp lại nhau chắc Xuyến sẽ không nhìn ra tôi nữa
con đường đi qua cầu nửa khuya bao giờ cũng gần
nhưng con đường đi qua dấu lửa binh
sẽ xa vời như nước mắt
như lời Xuyến nói trong gió
như bước chân Xuyến vũng nước mưa trên sân trường
như đôi guốc quai nhung đỏ
như tiếng thì thầm vĩnh biệt …[1]

với giọng Huế trầm buồn  rất Lê Văn Ngăn
dạo đó chàng hay mặc chiếc áo ka ki vàng
khuôn mặt luôn tư lự. dưới lớp da ngăm đen
cả những tháng ngày lang thang Đà Lạt
cùng Hoàng Đăng Nhuận .
Nhuận vẽ Những người đi mua không khí
khi chiều xuống Nhuận bán cà phê
trên mấy bậc cấp rạp xi nê Hoà Bình

người thi sĩ luôn đứng về phía những người nghèo khó
luôn làm những bài thơ ” Viết dưới bóng quê nhà
đã ra đi tại Qui Nhơn. Qui Nhơn thành phố mang nhiều
kỷ niệm của những bạn bè. Qui Nhơn và mây núi
bay xuống thấp. và sóng biển ru chàng ngủ.
người thi sĩ ấy đã rời xa chúng ta
để đi đến những con đưòng trong các xứ sở lạ mặt [2]

Virginia, February 3, 2015
Đ . C

[1]  Xuyến Và Vĩnh Biệt – Lê Văn Ngăn
trích trong Thơ Tự Do Mìền Nam – Thư Ấn Quán 2008
trang 231

[2] câu Bửu Ý trích của Rilke – Lê Văn Ngăn “Viết duới bóng quê nhà”
Ngày tháng thênh thang – Nhà xuất bản Văn Học 2011, trang 263

Lê Văn Ngăn sinh ngày 15.1.1944 tại Thừa Thiên Huế

Đăng bởi: Ngô Minh | 03.03.2015

CÂY SÀI GÒN

Nhà văn Nguễn Đức Tùng

CÂY SÀI GÒN

Nguyễn Đức Tùng

 

  Tất cả cây cối ở Sài Gòn, trước Nhà hát Lớn và trên các đại lộ Hàm Nghi, Tự Do, Nguyễn Huệ, Nguyễn Du, Trần Quốc Toản, công trường Lam Sơn, dọc bến Bạch Đằng, công viên Gia Định, một khi bị đốn hạ đều biến thành ve sầu. Tội ác đối với chúng quá lớn nên thiên nhiên phải tìm cách ghi lại, không phải bằng văn chương hay hội họa mà bằng ký ức của âm nhạc. Những tấm màng mỏng rung động mãnh liệt, âm thanh khuếch đại trong bụng ve rỗng, cường độ mạnh, âm vực lớn, tạo nên những khúc ca thay đổi. Nhưng thiếu bóng mát, ve sầu chỉ có thể sống lẩn lút giữa các bức tường xây ngổn ngang, trong gạch đá vôi vữa của kiến trúc đô thị bị phá hủy, rút ngắn đời sống của chúng.

Cơn điên mùa hè thổi tới. Bạn cảm nhận trong thứ tiếng khàn khàn: một chuyện gì khủng khiếp sắp xảy ra. Đó là một mùa hè nóng như thiêu đốt. Nhiều ngày không mưa, không khí đặc lại, trời mờ mờ, lá khô rơi xuống không chạm đất. Máy móc gầm rú khắp ngã đường. Khi những cây cổ thụ trăm năm, đã từng sống sót qua bão táp, qua bọ rầy, sâu, nấm, độc tố, ngày ngày cho bóng mát, bị các lưỡi cưa máy điềm nhiên cắt ngang như một người tù bị cưa ngang đầu gối, trên sa mạc Trung Đông, bị bịt miệng bằng tấm vải đen, chúng từ từ khuỵu chân xuống, ngã ngửa ra sau, phía không có lưỡi cưa, không có quá khứ, không có kỷ niệm, đổ ào vào các bức tường trắng bên đường.

Linh hồn của chúng bay lên trời, tạo ra những âm thanh nghe như tiếng khúc kha khúc khích của trẻ con mà mọi người khen là tuyệt hay. Đêm đêm những con ve sầu hót rền thành phố, không ai ngủ được, giọng rồ như người ngạt thở, kêu lạc giọng vượt ra ngoài âm vực bình thường, khiến chúng tôi với dụng cụ đặc biệt tinh vi cũng không thể nghe được. Nhưng chó và mèo đang ngủ, thức giấc vểnh tai, chạy loạn trong đêm, kêu gào. Mọi người trở nên nóng nảy bồn chồn, hay cãi cọ nơi làm việc, vợ chồng mới cưới gây sự đánh nhau trong đêm tân hôn, xé rách mền gối. Buổi chiều tan sở những người đàn ông về nhà muộn, ngày càng muộn, và khi họ lê chân về tới cửa, không còn thấy bóng các bà vợ.

Hồn của cây ở đâu? Ở trong cấu trúc phức tạp của chúng. Cấu trúc không phải là phép cộng các thành tố, chúng lớn hơn tập hợp ấy, và phần khác biệt nọ, phần trội lên kia của số đo vật chất, chính là linh hồn. Cây có mặt trên trái đất rất lâu trước các loài động vật có vú và trước con người. Chúng là một cộng đồng. Nhìn bề ngoài các cây đứng riêng rẽ nhưng thực ra chúng nương tựa vào nhau, về miễn dịch, về giới tính, về dinh dưỡng, thu hoạch thức ăn từ cây khác. Cây bị giết không chỉ vì các lưỡi cưa máy, chúng còn bị giết từ từ bằng quá trình hủy hoại bên trong, do tác động bên ngoài. Hủy hoại có hai cách: mục nát, bùn lầy, mê hoặc. Hoặc khô đi, cằn cỗi, rỗng ruột, hư vô. Như trong một cộng đồng người, khi một cây ngã xuống, nhiều cây khác tổn thương, chúng già sớm, chết non.

Mùa xuân không đến, hay đến không ai nhận ra, không có lá non và lộc biếc, chim chóc bay về lẻ tẻ không có bầy, chỉ có gió thổi hun hút các bờ tường và ống khói, không ngừng, mặt đường nhựa nóng rộp bàn chân. Các kiến trúc biệt thự từ thời Pháp, lãng mạn, hài hòa, vừa chắc chắn vừa thanh nhã, bỗng rùng mình rã hết vôi vữa, thoắt một cái trở thành đống xương lăng tẩm. Một vùng sông nước rì rào kinh rạch vướng rác rưởi, ruồi nhặng bay vù vù từ mùa khô tới mùa mưa, những mái ngói đỏ của Sài Gòn nhìn từ con kinh Tàu Hũ mịt mù vì bụi, các ngõ giao thoa văn hóa Việt – Pháp, Việt – Hoa, Việt - Ấn, Việt – Khmer bị lột trần như vũ nữ Apsara vừa bước khỏi sàn nhảy là gặp phải tướng cướp, lột váy. Sau khi linh hồn của cây chịu không được sức ép của không khí nóng, bay đi hết, thân xác chúng như trẻ con không cha mẹ liền bị đốn ngã, bị hạ độc, trái tim của những người đàn bà gập xuống như bẹ chuối khô, nhưng tâm trí những người đàn ông chúng tôi lại nhẹ nhõm hẳn ra, ngày càng nhẹ, bắt đầu bay lên được. Chúng tôi không cần nói nhiều, để mặc mọi người tranh luận, than thở, đọc ai điếu, viết trường ca, làm thơ châm biếm đủ loại từ Đường qua lục bát đến tân hình thức, chúng tôi đã bí mật quyết định xong, lầm lũi làm công việc của mình, đo ngắm các lòng đường, các diện tích có thể bán được, buổi sáng ngắm nghía các nóc chuông nhà thờ nơi chúng tôi có thể gởi trực thăng đến tháo gỡ chúng ra, ngắm nghía những đám cỏ xanh còn lại giữa hai lề đường, tìm cách phủ một lượt xi măng lên chúng.

Ôi xi măng: chúng tôi yêu quý bạn biết chừng nào. Ha, ha, ha! Chúng tôi thuộc về nền văn hoá mới: văn hoá kỹ trị. Chúng tôi phục vụ cho ý thức mới: tuân phục. Chúng tôi chỉ có niềm vui duy nhất: cái máng. Sinh ra trong đấu tranh: chúng tôi chỉ có thể là con đẻ của bạo lực. Chúng tôi căm ghét ký ức lãng mạn của Huế, Sài Gòn, Hà Nội, chúng tôi muốn đổi tên sông Thương thành sông Chiến thắng, sông Cầu thành sông Thành công, sông Đà rằng thành sông Độc lập, vân vân, hoặc đánh số các dòng sông, vì tên kiểu mới hay hơn, có nghĩa rõ ràng. Ký ức không thuộc về chúng tôi. Ký ức cá nhân chỉ là quá khứ, đáng thương, nhưng lãng mạn tập thể là chống lại văn minh công nghiệp, chống lại phát triển, đáng căm ghét. Cây là nữ tính: chúng tôi căm ghét nữ tính.

Thế rồi mọi chuyện có vẻ không ổn. Sau một thời gian dài, khi chúng tôi bắt đầu trồng lại những cây mới bứng từ trên rừng về chở bằng xe tải lớn, những cây ấy không sống được, hay lớn lên nhỏ nhoi còm cõi, vì không có linh hồn, lá me đầu xuân không xanh biếc như môi hôn, lá bàng cuối thu không đỏ như môi ăn trầu, chỉ một cơn gió nhẹ cũng làm những cành cong mềm mại nhất gãy đôi. Người ta bứng chúng đi. Những con đường không có người đi dạo lúc nào cũng mới.

Ngay những du khách nước ngoài táo bạo nhất hay ngu ngốc nhất hay dễ tính nhất, cựu chiến binh già yêu thích các vết thương và hố bom, bọn trí thức ở Mỹ về quàng khăn rằn đi guốc mộc nhưng chỉ uống được Chivas 25 trở lên, bọn hippies choai choai không xu dính túi cũng từ từ rời bỏ chúng tôi, một lần tới, không bao giờ trở lại, once you see a black (hole) you never come back, vì họ chẳng thấy gì khác nhau giữa một thành phố láng lẫy như gò venus bị cạo sạch và một tảng thịt cừu hay thịt lợn trên mặt thớt trơn bóng. Mỗi năm mùa hạ về, linh hồn cây cối lại kêu vang lưng chừng trời, nhưng không ai nhìn thấy chúng. Khi không còn cây lá, mái ngói rêu phong, ve sầu không nơi trú ngụ, như phần tâm linh không thân xác, chúng bám vào các cửa sổ xanh đỏ kêu suốt đêm, mơ ước cuộc đời đủ dài cho các sai lầm và các sửa chữa, nhưng cuộc đời không đủ dài, sáng mai rụng xuống rào rào như vỏ trái khô. Chó và mèo cắn nhau đến chết, khi không cắn nhau chúng đi lại khẽ khàng trên các bậc cửa nhìn mọi người gườm gườm. Trong những con hẻm nhỏ ở Sài Gòn, đầy các biểu ngữ ngày lễ hội, đến đêm là tối om vì đèn đường bị đập vỡ bóng, bốc mùi tương Vị yểu, quanh những đống rác vứt đầy bao cao su, những con chó không ăn không uống, không thích gặm xương, chúng chỉ thích đuổi nhau, lừa nhau, cắn nhau, chỉ thích sủa gâu gâu gâu vào người lạ mặt.

Mọi người trở thành kẻ lạ mặt. Một mùa hè, một đám mây bay qua, đám mây đỏ, nhưng không phải là máu, không phải mưa. Đó là trái tim của một linh hồn hiếm hoi còn sót lại của cây cổ thụ già nhất Sài Gòn, một cây dầu ba trăm hai mươi tuổi. Đám mây bay sát những ngôi nhà cao ngất chọc trời vừa được xây lên, bay thật chậm, nhỏ những giọt nước như ứa ra từ mí mắt. Khi chúng tôi ngước nhìn, những giọt nước ấy rơi trúng mặt, đen, mới đầu bỏng rát, nóng, đau đớn như cường toan, chúng tôi nhắm mắt chịu đựng, chúng từ từ mát lạnh trở lại, thấm vào da thịt, thấm vào tim, làm thay đổi chúng tôi, biến chúng tôi thành hàng cây đứng im trên đường. Thành những cây gòn xanh tươi, cây xà cừ vững chãi, cây me óng ả, khuynh diệp vàng, cây dầu cao lớn mơ mộng, cây sao mượt mà. Chúng khóc cho linh hồn phố thị. Chúng tôi bắt đầu biết im lặng, biết sợ hãi, biết nhục nhã, biết ngưỡng mộ, biết căm giận, vì đã lâu chúng tôi không còn biết im lặng, biết sợ hãi, biết nhục nhã, biết ngưỡng mộ, biết căm giận về bất cứ điều gì, chỉ có những kẻ thất bại mới biết thế, chúng tôi biết kêu rì rào khi mùa xuân tới, biết đến nỗi hoan lạc của sự sống tự do chưa hề có từ lúc chúng tôi mới sinh ra. Và bắt đầu biết thương tiếc, thương tiếc, thương tiếc và để chống lại trạng thái buồn rũ rượi chết người mà cảm giác ấy gây nên, chúng tôi chỉ còn biết làm việc, làm việc, làm việc.

( Nguồn: vanviet)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 03.03.2015

Thư gửi người anh nhân bài “VỚI HOA MAI”

Thư gửi người anh nhân bài “VỚI HOA MAI” 
 
Lê Quang Vinh
 
Em chào anh Nguyễn Quốc Toàn! Năm mới kính chúc anh chị cùng các con cháu mạnh khỏe, muôn sự an lành!
Từ dạo anh “Nam tiến” đến nay, không được gặp nhau, thật nhớ. Nhớ nhất, anh có bộ Báo “Văn nghệ” không sót lấy một tờ nào, kỳ nào (đến thời điểm anh nói với em ở Đồng Hới) và kho sách tới ngàn cuốn để chật kín cả mấy gian nhà (hình như 3000 cuốn  thì phải). Nhớ nhất lòng anh hồ hởi, cáu giận khi về làng Lộc Điền (quê “miêềng”) chỉ ra bao sai sót mà ở đây đã đắp các câu đối bằng chữ Nam sai chữ sai nghĩa bét bè be…Ví như: chữ “nhân” trong “nghĩa nhân” thì thành “nhân” trong “nhân bánh”, chữ “tiền” trong “tiền nhân” thành “tiền” trong “tiền tài”, 4 đại tự ở gian giữa đình “quang minh chính đại” thành “cao minh chính đại”…; rồi chính quyền đồng tâm hiệp lực triệt phá (hạ giải) cả 2 cột nanh – 2 trụ biểu cổ duy nhất còn lại như “hồn làng” của đình Lộc Điền(*). Lúc này em đã đổ lỗi là: tại anh cả đấy. Anh liền nổi nóng sang em: Bay ngu, đã chỉ rồi mà không sửa, không mần theo còn trách cứ chi rứa! Em cự lại: Anh nói kiểu chi mà họ không thèm nghe rứa? Có lẽ thấy thằng em cũng “ngu lâu” cùng cả lũ nớ nên sau đó anh không thèm nói thêm chi nữa.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 02.03.2015

CHUYỆN VỀ NGƯỜI VẼ LÁ CỜ THƠ

CHUYỆN VỀ NGƯỜI VẼ LÁ CỜ THƠ  

           Ngô Minh

        QTXM: Hôm nay là ngày 12 tháng Giêng năm Ất Mùi, 3 ngày nữa là đến Rằm Nguyên Tiêu, ngày thơ Việt Nam. Cả nước sẽ tổ chức đọc thơ, ngâm thơ, thả thơ, trình diễn thơ. Trước khi đọc thơ các nơi đều chào  LÁ CỜ THƠ. Bạn có biết ai là người đã vẽ ra lá cờ thơ? Đó chính là nhà thơ-nhạc sĩ- họa sĩ Nguyễn Trọng Tạo. Đây là bài viết về những kỷ niệm với con người tài hoa này…

Nguyễn Trọng Tạo là một thương hiệu đa năng hấp dẫn suốt mấy chục năm nay. Đó là thương hiệu thơ với hàng chục tập thơ ấn tượng, có rất nhiều câu thơ tài hoa ai cũng nhớ: Thời tôi sống có bao nhiêu câu hỏi/ Câu trả lời thật không dễ dàng chi… Mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ/ Mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió… Sông Hương hoá rượu ta đến uống / Ta tỉnh đền đài ngả nghiêng say… Bạn bè ở Huế thương nhau thiệt/ Một đứa vợ la chục đứa kinh…Tin thì tin không tin thì thôi… Thương hiệu nhạc với những bài hát nổi tiếng cả nước: Làng quan họ quê tôi. Khúc hát sông quê, Đôi mắt đò ngang… mà không ít nhạc sĩ thèm thuồng. Thương hiệu hoạ với hàng trăm cái bìa sách lạ lùng, hiện đại, trong đó có mấy cái được giải bìa sách đẹp. Đặc biệt Nguyễn Trọng Tạo là người đã vẽ Lá cờ THƠ, được công nhận và trở thành lá cờ biểu trưng được kéo lên trong Ngày thơ Việt Nam  từ nhiều năm nay. Thương hiệu “tửu” với những cuộc uống thâm đêm thâm ngày. Nhạc sĩ Ngọc Đại từng chứng kiến Tạo uống có cuộc 25 tiếng đồng hồ. Uống đến mức Gặp nhau là nhớ mùi rượu Hiếu/ Mưa nắng sá gì dốc Phú Cam… Đã có nhiều học giả, nhà văn nổi tiếng viết về Nguyễn Trọng Tạo như Hoàng Cầm, Vũ Cao, Hoàng Ngọc Hiến, Hoàng Phủ Ngọc Tường,… Tôi chỉ xin lan man đôi chuyện đời thường đằng sau cái thương hiệu Nguyễn Trọng Tạo để bạn đọc hiểu thêm về con người tài hoa mà gần gũi này. Những câu chuyện đã kết thành hạt trong lòng tôi… (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 02.03.2015

TÙY BÚT MỚI CỦA NGUYỄN QUANG LẬP

  TÙY BÚT MỚI CỦA NGUYỄN QUANG LẬP

Như baodansinh.vn đã đưa tin, nhà văn Nguyễn Quang Lập đã được cơ quan công an cho tại ngoại trong quá trình điều tra. Ông đang nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng và cùng gia đình chuẩn bị đón năm mới. Nhưng là một nhà văn thì luôn phải viết và chia sẻ. Ông vừa gửi đến baodansinh.vn bài tuỳ bút “Cầu đã bắc qua sông” cùng dòng tâm sự: “Được về nhà đúng những ngày giáp Tết, sao thấy nhớ quê mình quá!”. Bài tuỳ bút với nhiều ngẫm nghĩ và mừng vui về những thay đổi và phát triển của quê hương, đất nước. Xin giới thiệu với bạn đọc. 

Cầu đã bắc qua sông

Tuỳ bút của NGUYỄN QUANG LẬP

Tối qua nhậu về trúng gió hơi bị cảm, check mai nhận được cái thư của một học trò: “Thầy ơi em nhớ thầy đưa chúng em đi  dọc sông Gianh hè năm 2009 quá”, tự nhiên ngồi thừ ra nhớ sông Gianh.

Năm đó mình đưa Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Thanh Vân và mấy đứa học trò lớp biên kịch đi đò dọc sông Gianh một ngày trời, chuyến đi gặp nắng gắt khá mệt nhưng mà thích. Mình đã ba lần đi dọc dòng sông. Lần thứ nhất năm 1985 đi dọc sông Thu Bồn cùng với Nguyên Ngọc, Phan Tứ, Cao Việt Bách, Thuận Yến… Lần thứ hai đi dọc sông Hương năm 1987 cùng với Hoàng Phủ Ngọc Tường, Tô Nhuận Vĩ, Hồng Đăng… Và đây là lần thứ ba. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 01.03.2015

“Tứ bất” ở Biển Đông năm 2014

Tàu chiến TQ tập trận trên biển Đông

“Tứ bất” ở Biển Đông năm 2014

“Tứ bất” (Bất ổn – bất an – bất định – bất ngờ) kể trên có thể khái quát tình hình tại Biển Đông và biển Hoa Đông trong năm 2014. 

Trung Quốc có đường biên giới với 14 quốc gia (CHDCND Triều Tiên, Nga, Mông Cổ, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan, Afghanistan, Pakistan, Ấn Độ, Nepal, Bhutan, Myanmar, Lào và Việt Nam), nhưng có tranh chấp lãnh thổ với tất cả các nước này, trừ Pakistan. Bởi theo thỏa thuận biên giới ký năm 1963, Bắc Kinh nhượng 1.942km2 đất cho Pakistan, đổi lại nước này công nhận nhiều khu vực ở Bắc Kashimir và Ladakh của Ấn Độ thuộc về Trung Quốc.

Tư tưởng nước lớn

Giới phân tích cho rằng, chiến lược Biển Đông của Bắc Kinh không thay đổi, đó là tiếp tục củng cố và khiêu khích để hoàn thành giấc mộng độc bá khu vực này. Điều này được ghi trong Báo cáo Đại hội 18 và đây là lần đầu tiên Trung Quốc đưa “xây dựng cường quốc biển” vào văn kiện đại hội đảng. Điều này cho thấy sự coi trọng cao độ của Bắc Kinh đối với việc nhanh chóng đưa Trung Quốc trở thành cường quốc biển. Tuy nhiên, theo nhận định của Giáo sư Trường đại học Quốc gia Singapore Kishore Mahbubani: Nếu Bắc Kinh quyết giành Biển Đông bằng mọi giá, Trung Quốc sẽ mất cả thế giới.
Theo giới phân tích, căng thẳng đã bùng lên trong khu vực khi nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới lao vào tranh chấp lãnh thổ với một số láng giềng như Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines, Việt Nam… ở biển Hoa Đông và Biển Đông. Và để giải quyết tranh chấp, giới chuyên môn coi thỏa hiệp giữa Philippines với Indonesia và Ấn Độ với Bangladesh là hình mẫu để tham khảo. Nhưng trong khi dư luận coi cách giải quyết tranh chấp biển giữa Ấn Độ với Bangladesh (9/7/2014) và Indonesia với Philippines (23/5/2014) là mô hình tham khảo tốt để giải quyết những bất đồng về biên giới trên bộ cũng như trên biển giữa các quốc gia hữu quan, thì Trung Quốc tiếp tục quan điểm nước lớn, không chấp nhận thỏa hiệp với bất cứ nước nào. Ngoài ra, Bắc Kinh còn coi Washington và Tokyo là những trở ngại cần loại bỏ trong chiến lược độc bá Biển Đông và biển Hoa Đông nói riêng, cũng như trở thành vị trí số một trên thế giới trong thời gian tới.

Vẫn theo giới phân tích, Trung – Mỹ phải hợp tác với nhau trong thế kỷ XXI vì được định hình và chi phối bởi mối quan hệ giữa siêu cường Mỹ và một Trung Quốc đang nổi lên. Bên cạnh đó, 2 nước có mối quan hệ địa – chính trị, kinh tế – thương mại và năng lượng, cùng những ràng buộc khác khiến Trung – Mỹ khó trở mặt thành thù ngay tức thì. Nhưng cũng có người cho rằng, căng thẳng tại châu Á đang khiến cho quan hệ Mỹ – Trung ở vào giai đoạn tồi tệ nhất. Trung Quốc cũng lộ rõ mưu đồ hất cẳng Mỹ ra khỏi Châu Á – Thái Bình Dương, và đang muốn thay đổi trật tự thế giới. Bởi tờ Thời báo Hoàn Cầu từng mô tả Tổng thống Barack Obama là “nhà lãnh đạo sáo rỗng và làm việc chán ngắt”. Còn tờ Le Figaro cho rằng, Tổng thống Mỹ chỉ thành công tại châu Á và thất bại ở nhiều khu vực khác trên thế giới.

Giới quân sự cho rằng, tham vọng viễn dương của Bắc Kinh đang được đẩy nhanh sau khi Hải quân Trung Quốc liên tục diễn tập quân sự và mở các tuyến hàng hải mới. Điều đáng nói là động thái này diễn ra trong bối cảnh Mỹ quyết tâm “xoay trục” về Châu Á – Thái Bình Dương. Tờ Thời báo Washington dẫn tuyên bố của cựu Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Kurt Campbell khi giải thích về việc Lầu Năm Góc khó xây dựng lòng tin với quân đội Trung Quốc trong 20 năm qua bởi Bắc Kinh muốn đuổi Washington ra khỏi châu Á. Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường thừa nhận, Trung – Mỹ vẫn có bất đồng trong nhiều vấn đề, nhưng 2 nền kinh tế lớn nhất thế giới cần tôn trọng lợi ích cốt lõi của nhau và chỉ khi Mỹ – Trung coi trọng lợi ích cốt lõi và những mối quan tâm chính của nhau, cũng như kiểm soát tốt những bất đồng thì 2 nước mới có thể nâng mối quan hệ song phương lên một tầm cao mới.

Giới truyền thông cho biết, kể từ tháng 1/2014, Trung Quốc đã xây dựng 3-4 đảo nhân tạo ở Trường Sa với diện tích khoảng 20-40 mẫu Anh, trong đó có ít nhất 1 đảo nhân tạo dành riêng cho mục đích quân sự, các đảo nhân tạo còn lại là nơi neo đậu, cung cấp hậu cần tàu thuyền. Dư luận cho rằng, việc làm của Bắc Kinh không những nhằm chính sách hóa, hệ thống hóa sự hiện diện của Trung Quốc tại những vùng biển tranh chấp, mà còn là kiểu “xâm lấn mềm”, “ngặm nhấm dần chủ quyền”, “cung cấp pháp lý” để cổ vũ, động viên, tạo điều kiện thuận lợi cho ngư dân Trung Quốc gia tăng hoạt động tại những khu vực không nằm trong vùng lãnh hải của Trung Quốc ở Biển Đông.

Theo giới phân tích, chiến lược “trồng tre nẩy măng” mà Trung Quốc từng thực hiện đang được áp dụng trên Biển Đông – lợi dụng sơ hở của láng giềng để từng bước chiếm đoạt chủ quyền lãnh thổ của họ. Giới quân sự cũng cảnh báo về 6 nguyên tắc gây chiến của quân đội Trung Quốc. Thứ nhất, bất ngờ. Thứ hai, tập trung toàn lực. Thứ ba, tấn công trước tiên. Thứ tư, chờ đợi thời cơ. Thứ năm, biện minh cho các hành động của mình. Thứ sáu, sẵn sàng mạo hiểm.

Một năm dậy sóng

Dư luận quan tâm tới thông tin trên tờ Philstar khi cho rằng, Bắc Kinh không những ngăn cản Mỹ tham dự vào Biển Đông, biển Hoa Đông, mà còn cưỡng chế áp đặt “tầm nhìn an ninh Tập Cận Bình” lên châu Á, đồng thời bác bỏ vai trò của các cường quốc ngoài châu Á. Theo giới chuyên môn, chiến lược thống trị toàn bộ Biển Đông và biển Hoa Đông của Trung Quốc có thể đẩy Nhật Bản vào thế phải trang bị vũ khí hạt nhân.

Tờ New York Times dẫn lời học giả Huge White, Giáo sư nghiên cứu chiến lược tại Trường đại học Quốc gia Australia cho rằng, Trung Quốc cố ý thực hiện những hành động đơn phương tại Biển Đông nhằm chứng minh rằng, không thể có chuyện Mỹ vừa quan hệ tốt với Trung Quốc, vừa có thể duy trì quan hệ với đồng minh tại châu Á. Điều này đồng nghĩa với việc, Bắc Kinh đang tìm cách ngăn chặn các mối quan hệ đồng minh của Mỹ và cố gắng chia rẽ, để Mỹ hiểu rằng, nếu duy trì các mối quan hệ tại châu Á, Washington có nguy cơ xung đột với Trung Quốc.

Ngày 27/2/2014, người phát ngôn Bộ Quốc phòng Trung Quốc Dương Vũ Quân cho biết, quyết định về việc thiết lập thêm ADIZ (ở Biển Đông) sẽ tùy thuộc vào mức độ nguy cơ mà Bắc Kinh phải đối mặt. Trước đó (10/2/2014), người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Doanh (Oánh) nhấn mạnh, việc thiết lập ADIZ là quyền của mọi quốc gia có chủ quyền. Tờ Yomiuri dẫn các nguồn tin trong giới quân sự cho biết, quân đội Trung Quốc đã thành lập Trung tâm chỉ huy tác chiến hỗn hợp tại vùng biển Hoa Đông, đồng thời tăng cường giám sát ở khu vực này. Giới quân sự cho rằng, Châu Á – Thái Bình Dương chạy đua vũ trang vì những hành động bất chấp luật pháp của Trung Quốc.

Ngày 19/6/2014, Manila đã hối thúc Tòa án Trọng tài quốc tế nhanh chóng ra phán quyết về vụ kiện Bắc Kinh về “đường lưỡi bò” phi lý bởi theo Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario, việc thúc đẩy quá trình vụ kiện là cần thiết vì tình hình trên Biển Đông ngày một trở nên căng thẳng. Giới bình luận cho rằng, việc Mỹ và Philippines cùng thách thức “đường lưỡi bò” đang khiến Trung Quốc vô cùng tức giận. Bắc Kinh cho rằng, Washington không phải là một bên trong tranh chấp ở Biển Đông, do đó nên tránh xa khu vực này.

Ngay sau khi lệnh cấm bắt cá do Trung Quốc đơn phương đưa ra hết hiệu lực vào 12h ngày 1-8-2014, Bắc Kinh đã đưa gần 9.000 tàu cá ra Biển Đông. Bởi số tàu này đã tụ hội tại cảng Tam Á từ hôm 31-7-2014 và đây là năm thứ 16 Trung Quốc đưa ra lệnh cấm bắt cá phi lý trên Biển Đông. Dư luận quốc tế đã vạch trần âm mưu của Trung Quốc trên Biển Đông sau khi Bắc Kinh công bố tấm bản đồ mới, thâu tóm gần như toàn bộ Biển Đông. Đây là động thái nhằm đẩy mạnh hợp thức hóa tuyên bố chủ quyền phi lý của Trung Quốc, đồng thời thể hiện rõ hơn các tuyên bố đơn phương của Bắc Kinh đối với Biển Đông.

Được biết, Trung Quốc đã đơn phương “luật hóa”, “dân sự hóa” nhằm khẳng định “chủ quyền” ở Biển Đông bằng cách thông qua 6 luật, lập 2 cơ quan quản lý, một thành phố (Tam Sa); công bố 418 bản đồ, trong đó có 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam; đơn phương tuyên bố lệnh cấm đánh bắt cá, xây dựng 10 “bia chủ quyền” ở Biển Đông. Ngoài ra, Trung Quốc còn lập nhiều dự án phát triển kinh tế ở Biển Đông, cũng như đẩy mạnh công tác khảo sát, thăm dò tại Biển Đông với phương châm “ưu tiên khai thác trên biển trước, trên đất liền sau; biển xa trước, biển gần sau; khu vực tranh chấp trước, khu vực do Trung Quốc quản lý sau”.

Giới quan sát cảnh báo, hành động ngang nhiên hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam (từ 1-5 đến 15-7-2014) đã và đang ảnh hưởng tới an ninh, an toàn hàng hải ở Biển Đông, không có lợi cho hòa bình, ổn định và hợp tác trong khu vực và thế giới. Dư luận cho rằng, tình hình Biển Đông tiếp tục diễn biến phức tạp, ẩn chứa nhiều rủi ro và nguy cơ, nếu Trung Quốc tiếp tục khẳng định và triển khai yêu sách “đường lưỡi bò” như công bố “Biện pháp thực thi Luật Ngư nghiệp Trung Quốc của tỉnh Hải Nam”; tổ chức tập trận tại Biển Đông…

Giáo sư Carl Thayer thuộc Học viện Quốc phòng Australia và Giáo sư Ronald Clarke của Đại học Sydney cho rằng, việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của Việt Nam là bước đi nhằm củng cố tham vọng kiểm soát Biển Đông. Và có nhiều động thái cho thấy, Trung Quốc muốn kiểm soát toàn bộ Biển Đông, kể cả hoạt động khai thác nguồn tài nguyên tại đây. Bởi Tổng Công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc (CNOOC) từng từ chối đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào khu vực thuộc thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của Việt Nam vì quá tốn kém, nhưng CNOOC vẫn nhận lệnh “tiến vào khu vực này bởi hoạt động thăm dò dầu khí chỉ là phụ”. Tờ New York Times từng mô tả: Trung Quốc giống như con sư tử dùng sức mạnh để “vồ mục tiêu ở Biển Đông”.

Dự báo cho năm con dê 2015

Tạp chí Defense Review Asia (DRA) dẫn lời Giám đốc bộ phận dịch vụ tư vấn của Công ty Phân tích hải quân AMI International (Mỹ) Bob Nugent dự đoán, trong 20 năm tới các nước Châu Á – Thái Bình Dương sẽ chi 200 tỉ USD để mua hơn 1.000 tàu chiến, tàu hộ vệ, khu trục hạm, tàu có khả năng chở trực thăng, tàu tuần tra… Điều này đồng nghĩa với một cuộc đua vũ trang trên biển khiến Châu Á – Thái Bình Dương “nóng” lên từng ngày.

Tàu Hải giám Trung Quốc săn đuổi tàu Kiểm ngư Việt Nam
Tàu Hải giám Trung Quốc dùng vòi rồng tấn công tàu Kiểm ngư Việt Nam trên vùng biển chủ quyền của Việt Nam

Trung tâm Nghiên cứu Pew của Mỹ từng dẫn kết quả thăm dò ý kiến đối với 5 quốc gia châu Á về tranh chấp trên biển giữa Trung Quốc với các nước láng giềng sẽ dẫn tới xung đột quân sự và người Philippines lo ngại nhiều nhất (93%), tiếp theo là Nhật Bản (85%), Việt Nam (84%), Hàn Quốc (83%), Trung Quốc (62%). Theo nhận định của tờ Đa Chiều, trong năm 2015, Mỹ có thể tiếp tục gây sức ép ngoại giao, quân sự trong quan hệ với Trung Quốc xung quanh vấn đề Biển Đông bởi Washington vẫn khẳng định chiến lược “xoay trục” không bị ảnh hưởng bởi những tác động “từ bên ngoài”.

Biển Đông sẽ là thách thức lớn nhất đối với Malaysia trong vai trò Chủ tịch ASEAN 2015 bởi Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình đã tán dương Kuala Lumpur vì nước này đã chọn cách im lặng trong các vấn đề Biển Đông khi gặp Thủ tướng Najib Razak. Ngày 13/11/2014, Malaysia đã tiếp quản chức Chủ tịch ASEAN năm 2015 từ Myanmar. Giới chuyên môn cho rằng, Trung Quốc ở quá gần và quá mạnh so với các nước ASEAN ven Biển Đông. Tờ Business World Online từng đăng phân tích của Hãng Standard & Poor’s, theo đó Biển Đông sẽ tiếp tục là điểm nóng trong năm 2015 và sức mạnh chính trị cùng kinh tế ngày càng tăng của Trung Quốc tiếp tục tác động đến mối quan hệ đang lên đối với một số nước láng giềng.

Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia nổi tiếng về Biển Đông, đến từ tại Học viện Quốc phòng Australia và Đại học New South Wales nhận định, trước sự trỗi dậy của Trung Quốc, trong tương lai tam giác Mỹ – Nhật – Australia sẽ phát triển, thậm chí tứ giác Mỹ – Nhật – Australia – Ấn Độ sẽ được hình thành. Theo học giả June Teufel Dreyer, cựu chuyên gia về Viễn Đông của Quốc hội Mỹ, Trung Quốc có khả năng sẽ kiểm tra quyết tâm của Mỹ bằng cách gia tăng căng thẳng trong khu vực thời gian tới. Tiến sĩ Antonio Hsiang, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế – Thương mại Mỹ Latinh, Viện Công nghệ Chihlee, Đài Loan cho rằng, Trung Quốc không những muốn tìm kiếm một chiến lược làm đối trọng với chiến lược “xoay trục” của Mỹ, mà còn muốn chuyển đổi trật tự thế giới hậu học thuyết Monroe.

Cựu Thủ tướng Australia Kevin Rudd từng nhận định, trong thế kỷ XXI, khu vực Đông Á tồn tại “mồi lửa” trên biển tương tự chiến tranh Balkan xảy ra cách đây một thế kỷ. Theo trang tin Global Research, Đông Nam Á đã trở thành chiến trường ngoại giao khi Mỹ, Nhật Bản và Ấn Độ quyết đua với Trung Quốc. Nhiều người cho rằng, Trung Quốc không khỏi choáng váng và tức giận khi Mỹ liên tiếp công khai chỉ trích những đòi hỏi chủ quyền thái quá của Bắc Kinh ở Biển Đông thời gian qua. Những động thái gần đây của Mỹ cũng cho thấy, Washington không thể ngồi yên trước việc Bắc Kinh quyết liệt đòi chủ quyền đối với gần như toàn bộ Biển Đông, nơi chiếm tới 10% sản lượng đánh bắt cá toàn cầu, chứa nguồn dầu mỏ lớn và là tuyến đường giao thương của 5.000 tỉ USD hàng hóa/ngày.

Ông Vladimir Chizhov, đại diện thường trực của Nga tại Liên minh châu Âu (EU) từng tiết lộ, Moskva cho Bắc Kinh kết nối Crimea với “Con đường tơ lụa”. Điều này cho thấy, Trung Quốc có vai trò trong việc xây dựng hải cảng ở Crimea bởi trước đó Bắc Kinh đã muốn đầu tư 10 tỉ USD để tạo lập cảng và kiến thiết cơ sở hạ tầng. Theo chuyên viên Nga Mikhail Aleksandrov, dự án Crimea của Bắc Kinh nằm trong chiến lược toàn cầu nhằm củng cố sự hiện diện của Trung Quốc trên thế giới. Phó thủ tướng Nga Arkady Dvorkovich từng tuyên bố bên lề Diễn đàn kinh tế châu Á Bác Ngao, Trung Quốc quan tâm đến chương trình liên kết về phát triển năng lượng thay thế ở Crimea.

Theo Tuấn Quỳnh – PetroTimes

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 01.03.2015

Tin buồn: Nhà thơ Lê Văn Ngăn đã mất!

Tin buồn: Nhà thơ Lê Văn Ngăn đã mất!

QUÀ TẶNG XỨ MƯA cô cùng thương tiếc báo tin: nhà thơ Lê Văn Ngăn đã qua đời tại thành phố Quy Nhơn, Bình Định lúc 10h40 ngày 27-02-2015.Xin gửi tới gia quyến nhà thơ lời chia buồn sâu sắc.

 

Chân dung nhà thơ Lê Văn Ngăn, họa sỹ Phan Ngọc Minh thực hiện bên cửa Thượng Tứ, Kinh Thành Huế

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 28.02.2015

THƯ GỬI ANH MINH

THƯ GỬI ANH MINH

  Văn Cầm Hải

  Mấy ngày hôm nay, tuyết rơi nhiều lắm. Tuyết bay rưng buồn nghe giọng Anh. Anh biết không, chưa bao giờ em quen với giọng nói mùi bồ hóng như thể âm thanh của một màu xanh kiệt sức trên cát như vậy. Mới mấy hôm trước, gọi điện nghe anh cười giòn tan nói trong đại hội chi hội nhà văn Việt Nam đã chuyển phiếu miệng của em bầu anh Hoan làm trưởng chi nhánh hội cùng một nữ sỹ nào đó phụ tá anh Hoan đêm hôm công việc. Anh biết không, em đã quen tiếng cười giòn như cọng rau muống luộc chấm nước mắm cá nục quê mình như thế của Anh. Tiếng cười viễn liên bên kia vốn đã quen thuộc giúp em hồn nhiên vẽ ra trên mặt đất miền viễn tây này những hình bóng tự do như lai. Thành ra bây giờ nghe cái âm thanh thiếu máu ấy, thật lạ lẫm như đang là nói với một kiếm sĩ gãy kiếm, không phải Anh.

  Em nói với cu Tây, bác Minh bị ốm, giọng yếu lắm. Tây, dù cao hơn em và cự phách trong các kỳ thi hùng biện, vẫn ngây thơ nói để con mua cho bác Minh cái loa. Tôi ngạc nhiên hỏi vì sao mua loa. Tây nói giọng Bác Minh yếu thì phải mua loa, loa hiện đại lắm, nhỏ nhưng nói là phóng to để Bác có thể gọi Mệ Tâm hay sai anh Bình anh Tân được. Tôi cười mà trào nước mắt, nếu mua loa như thế chắc cả xóm Bến Ngự không ai ngủ được.Em nhớ Tây gần mười năm trước, lên nhà Anh, sờ vào đầu vú tượng Venus, sờ rồi bú bú tay như con dê con liếm láp sữa thơm vú mẹ trên thảo nguyên. Anh nhìn Tây, cười giòn tan nói thằng ni sờ vú tượng mà như sờ vú người, thằng ni hay hè hay hè, hay hơn Bác sờ vú người mà cứ như sờ vú tượng. Bao nhiêu năm qua vẫn ngu mà không hiểu ý Anh, chợt bây giờ mới nhận ra là có lẽ vân tay Anh đã chai sờn vì sờ nhiều vú nên mới sờ người như sờ tượng. Ôi thống khoái xiết bao khi được sờn vân tay như Anh!

  Tự dưng nhớ chuyện em và Thanh Tú bịa ra để đùa Anh ở tạp chí Sông Hương. Hai thằng em buồn mồm nhỏ to với chị Đào, rằng đêm qua công an đi lục khám quán Karaoke ở đường Nguyễn Huệ, bắt được một nhà thơ nổi tiếng đang vừa ở lỗ vừa hát. Công an ập vào, vẫn đứng ở lỗ hát. Say quá mà. Nhà thơ ấy có tên gọi là Ngô Minh. Chị Đào, chị Trang cứ xúm lại nhỏ to, thầm thì, thi thoảng mắt liếc về phòng tổng biên tập Thạch ra về dò xét và trách móc chuyện động trời rứa mà không nói cho chị em biết. Hai thằng cưỡi xe máy đi vê. Cười mà nghĩ có ai tin chuyện mình vì anh Minh có bao giờ đi hát, vì anh có bao giờ bước vào quán Karaoke. Đời Anh, chỉ là hát thay cho cát và biển quê hương Quảng Bình.

  Không ngờ chị Đào thật lòng lo thanh danh Anh bị vấy  nên gọi điện hỏi thăm và chia sẻ với Anh chuyện hồi hôm anh đi hát karaoke ở lỗ bị công an bắt có cần chị ấy nhờ bạn bè bên công an can thiệp không. Anh điện thoại, âm lượng gầm lên bọn bây bậy bạ, ba trợn bịa chuyện tau đi hát karaoke ở lổ bị công an bắt.  Hai thằng bây  biết không tau đi mô ai cũng nhìn tau bụm miệng cười rúc rích. Huế nhỏ như cái bánh bèo, tau biết che mặt đi mô cho hết mang tiếng mang tăm đây. Em đổ tội cho Tú, em nói tại Thanh Tú cả.  Em đổ tội cho Thanh Tú là vì Thanh Tú to cao, em gầy yếu, anh có đánh thì đánh Tú chứ không nỡ ra tay với em. Lo thế vì chỉ dùng một ngòi viết mình Anh đã đánh đắm một băng đảng buôn lậu của mấy tay công thần nhà nước huống chi em, anh dấu phẩy một cái cũng đủ ngã chứ đừng nói là chấm một câu. Anh gặp Tú mắng Tú mi là thằng đàn anh mà mi không dạy em út lại đi hùa với hắn nói bậy bạ. Người to cao như võ sĩ nhưng có cái tên tính nữ ấy lại đổ tội cho em. Anh tài năng thi ca nhưng không điều tra nỗi đứa em nào là chủ mưu bịa chuyện.  Anh Thạch cườ ha hả vì thấy Anh nổi giận. Có lẽ đó là nụ cười trần gian cuối cùng của anh Thạch trước khi anh biến mình thành một cõi thiền định, đi bộ, ăn trường chay, nhìn bụi không nhìn ai. Anh Tạo từ Hà Nội điện vô, nghe Tú kể cũng cười khoái chí. Cười là vì thấy lâu nay, ngoài rượu, khó ai làm Ngô Minh được giận hờn.

  Tại Anh hay giòn tan bao dung quá, tại  biết Anb chiều quá nên em út hư bày ra chuyện Anh như thế. Hối hận lắm nhưng nói thật là bây giờ từ miền viễn tây xa xôi, em vẫn muốn bay về, bịa chuyện chi đó về Anh để được cười. Nhưng Thanh Tú đã ngớ ngẫn gặp ai cũng quát nạn xin thuốc lá, nhận ra anh em còn khó huống gì bịa chuyện ai. Tương kính Anh để nói một lời mong ước được về với Anh, ngồi với Anh trên dốc Bến Ngự, ăn miếng dưa cải như ngày xưa đói xây xẩm mặt chị Tâm cho ăn. Anh biết không, những ngày đó mưa nắng vĩa hè sông Hương, có nhiều hôm nửa đêm tỉnh dậy sâu rơi từ trên cây phượng già xuống đầy người, mình vẫn rạng rỡ như tưởng là binh minh đến sớm, hóa ra là vì màu cơm trắng ăn ở nhà Anh hay nhà anh Thạch trong cả tháng không được nhìn thấy cơm. Đó là những ngày cùng anh Thạch luyện đao pháp chống lại bọn giang hồ trên cái chòi nhỏ ở khu tập thể Đống Đa.  Anh biết không, sau này bưng bát cơm đầy nơi đất khách, có hôm sựng cả mười ngón tay, sựng lại là vì nhớ cái mùi khói cơm, mùi dưa cải năm xưa trong ngôi nhà cũ của Anh hay trên phòng tầng năm của anh Thạch như phảng phất đâu đây chưa lịm tàn.

  Mấy hôm trước mở blog của Anh, được đọc lại lời bình kịch bản phim chân dung em viết khi mới ló mặt về truyền hình từ tòa án. Đó là lần đầu tiên em viết lời bình cho phim tài liệu. Người ta nhờ em viết mà không cho em đi theo về quê Quảng Bình quay phim. Em ngồi trong góc lễ tân khánh sạn Hoa Hồng nhộn nhịp khách. Viết. Chỉ trong hơn một tiếng đồng hồ em đã viết xong. Viết như có ai xui mà viết. Không chút chuyên nghiệp phim ảnh, viết không biết cảnh quay hiện trường gì cả, chỉ biết tựa vào thơ Anh. Sau này có nậy lên một chút, em mới hiểu hóa ra lúc đó, nói theo ngôn ngữ của Như Lai, nhờ thi ảnh quán tưởng thơ Anh mà tuy chưa tới biển em đã được mặn muối làng biển Thượng Luật của Anh.  Thơ Anh thật ghê gớm. Hay “tởm luôn” như dân quê mình khen món gì đó ngon quá độ.

  Thơ anh Thạch là thơ loài nước nặng. Một chữ nặng một kiếp hoang mang. Thơ anh Tạo là thơ vô chiêu, anh dùng bút như ý lấy ra một con chữ buồn ẩn cư trong cát bụi mà không cần vận nội công. Anh thì không như anh Tạo anh Thạch. Anh không bay lượn nghệ sĩ tính không như anh Tạo, anh cũng không thâm trầm ngồi moi đất móng chân trong tiệc rượu như anh Thạch. Anh là một hạt cát như là. Như là bởi anh thấy biển trong cát cát trong biển.

  Mênh mông trong cô đơn.

Một ngọn gió nồm vô úy của quê hương Quảng Bình.

Anh ạ, thây kệ bầu trời sụp đổ, mình cứ sống, đừng sợ sống Anh nhé. Nikos Kazantzakis tuyên ngôn vậy Anh nhớ không. Anh hãy là Alexis Zorba Anh nhé. Cười và đi qua cơn mệt mõi này để dành sức mà dạy thiên hạ chiêu thức làm thể nào để mười ngón tay được tự do mòn vân tay.

Từ khung cửa tầng ba , nơi anh ngồi viết, nhìn qua là chùa Phổ Quang nơi Anh Sơn quy y và nương náu vĩnh hằng.

Anh cứ cười đi, nụ cười giòn tan thường trực. Nụ cười ấy là tuyệt chiêu Anh như lai hóa chính mình trong từng giây phút.

Anh biết không, anh là một thế giới hiếm hoi, nơi em được hồn nhiên.

( Gửi từ Mỹ ngày 28 tháng 2/2015)

Ngày Thầy thuốc VN 27 – 2, đọc bài thơ “SIÊU ÂM TIM” của Thi sĩ Ngô Minh

 Lê Quang Vinh

Như máu nóng luôn chảy về tim nơi cội nguồn của sự sống con người ta, Thi sĩ Ngô Minh đã dành cho cha mẹ mình lời đề từ của đầu bài thơ “Kính dâng hương hồn ba mạ và đồng đội”. Đó chính là chữ “HIẾU” xuyên suốt nội dung bài thơ của anh.

Mở đầu bài thơ, trái tim anh được ví “như củ khoai tía gọt vỏ tím hồng” và liền sau là câu hỏi với thầy thuốc đang thăm khám cho mình: “ - Làm sao tôi vẫn bình thường ?”. Thông thường, sau là lời đáp của bác sĩ dành cho bệnh nhân. Thế nhưng, người bệnh đã nhanh nhảu giải bày về “bệnh trạng đang tiềm ẩn” mà không chắc gì bác sĩ có thể chẩn đoán ra:
 “Bác sĩ ơi,  tim tôi từ lâu không còn lành lặn
7 tuổi, ba bị bắt cùm chân . Mạ bảo 
Trưa ni con bới cơm cho ba”. Tôi ôm mo cơm đến chỗ giam, thấp thỏm mừng vì sắp được gặp ba. Bỗng thằng lính trợn mắt: “Chưa đến giờ, đ.mạ mày, đồ con phản động !”. Rồi nó tung chân đá mo cơm trên tay tôi văng tơi bời  trên cát. Tôi khóc thấy tim mình cũng văng thành từng mảnh vụn đớn đau.”.
Đây là câu thơ bất thường nhất mà không mấy khi chúng ta được gặp. Là đoạn kể lại trọn vẹn một câu chuyện vô cùng điển hình thời CCRĐ: sự tàn ác, thú tính của quỷ sứ đang tấn công một mầm tơ, một đứa trẻ chỉ mới 7 tuổi đời. Câu thơ phá cách mà mẫu mực này có sức lay động lòng người cả ngàn vạn cân nặng!

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 27.02.2015

CHUYỆN CỦA NHỮNG NGƯỜI BẠN VỢ TÔI

Bác sĩ Xuân Hương bên cầu “Cổng vàng” (Golden Gate Bridge) vịnh San Francisco.

CHUYỆN CỦA NHỮNG NGƯỜI BẠN VỢ TÔI

                                                                 Lê Quang Vinh

QTXM – Nhân ngày Thầy thuốc VN 27/2, QTXM xin giới thiệu bài viết của Nhà báo Lê Quang Vinh “CHUYỆN CỦA NHỮNG NGƯỜI BẠN VỢ TÔI” . “Người vợ bạn tôi” trong câu chuyện dưới đây chính là Thầy thuốc Ưu tú, Bác sĩ chuyên khoa II Ngành Nội – Thận tiết niệu, Phan Thị Xuân Hương. Bác sĩ Xuân Hương thuộc lớp những người thầy thuốc được đào tạo chuyên khoa sâu tại Nhật Bản, Mỹ về “Thận học” . Làm việc suốt hơn 30 năm tại Khoa Thận – Tiết niệu, Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) là tuyến “Trung ương” của Ngành Y tế nên có điều kiện học hỏi, rèn luyện trình độ nâng cao tay nghề; nhờ vậy bà có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu khoa học được giới thiệu rộng rãi trong các Tuyển tập Công trình khoa học hằng năm (Y thư) của Bệnh viện Bạch Mai, Đại học Y Hà Nội, Hội Nội khoa VN và trên các tạp chí chuyên ngành trong và ngoài nước. Ngày 16/11/2005, Bác sĩ Phan Thị Xuân Hương được Chủ tịch nước Trần Đức Lương phong tặng Danh hiệu “Thầy thuốc Ưu tú”.Bác sĩ Phan Thị Xuân Hương là con gái đầu của Nhà thơ Phan Xuân Hạt và cụ Cao Thị Bạch Hường – Người phụ nữ tuyệt đẹp một thời của quê hương Phượng Lịch mà phần đông người ở xứ này như Nhà thơ Phan Xuân Hạt, Võ Văn Trực, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Đăng An…từng tấm tắc và lột tả trong các tác phẩm văn chương của mình.

 

 Người Bác sĩ quân y thế hệ chị Đặng Thùy Trâm

  Một tin thật vui đến với ngành y tế cả nước là, ngày 20/2/2006, Chủ tịch nước đã có Quyết định truy tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” cho Liệt sĩ – chiến sĩ – nữ bác sĩ Đặng Thùy Trâm, “bởi thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước”. Cuộc đời của người nữ anh hùng thật ngắn ngủi, khi người con gái này hiến dâng giọt máu cuối cùng của mình cho Tổ quốc khi mới chưa đầy 28 tuổi. Tuy nhiên cuộc đời và sự nghiệp ngắn ngủi này vẫn kịp để lại cho muôn đời sau, cho mỗi chúng ta hôm nay – một nét văn hóa, đạo đức, nhất là với những người làm công tác y tế – thật sống động và lòng cảm kích sâu xa. Chính vì thế trong dịp lễ kỷ niệm lần thứ 51, ngày thầy thuốc Việt Nam (ngày 27/2/2006), được sự đồng ý của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Bộ y tế chính thức phát động phong trào thi đua “Học tập và làm theo gương Liệt sĩ – Bác sĩ Đặng Thùy Trâm”.

Đảng, Nhà nước, ngành y tế tôn vinh chị Thùy Trầm, thực chất là tôn vinh lớp lớp những thầy thuốc đã cống hiến, đã ngã xuống trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc. Có lẽ thế nên trong những ngày này, bỗng dưng trong lòng tôi trở nên chộn rộn để rồi tuôn về bao ký ức.

Hồi ấy, tôi mới 16 – 17 tuổi, vào một ngày đang gánh đất để làm thủy lợi thì bất thình lình bị đứt một bên tao gióng làm đòn gánh bật thẳng đánh vào cằm khiến hai hàm răng tôi cắn phập phải đầu lưỡi gần như bị đứt đôi, máu me tuôn trào lênh láng nhuộm đỏ cả vùng ngực. Tôi được đưa ngay tới một trạm quân y đóng ở đầu làng. Người bác sĩ – chiến sĩ phẫu thuật trạc chỉ ngoài 20 tuổi, giọng miền Bắc, ẵm lấy tôi từ trên cáng và đưa vào hầm (trạm xá thời chống Mỹ, cứu nước nằm sâu trong lòng đất) để cấp cứu. Dưới ngọn đèn bão ánh sánh hắt lờ nhờ, phải trợ lực thêm một đèn pin, tôi được nối lại hàng chục mạch máy và sợi dây thần kinh vị giác. Người bác sĩ phẫu thuật đã mất gần cả đêm để có thể chắp lại phần lưỡi bị đứt cho tôi. Sau phẫu thuật tôi được về nhà, vị bác sĩ trẻ này nhiều lần luôn đến thăm như đến với một người em trai thân thương. Khoảng mươi ngày được chăm sóc chu đáo thì vết thương đã tương đối ổn và sức khỏe dần hồi phục, anh này còn tự làm tặng tôi một chiếc sáo trúc. Bác sĩ khuyên tôi thường xuyên thổi sáo cho đầu lưỡi mềm mại trở lại và ngày ngày còn hướng dẫn tôi bền bỉ luyện giọng như một kiểu “lý liệu pháp” bây giờ. Sau vài tháng, tôi đã uốn lưỡi được rồi nói lại giọng nói của mẹ đẻ. Sau này, khi ra Hà Nội học Đại học, tôi được một vị Giáo sư đầu ngành khám lại và ông quả quyết: Nếu không có cách luyện đúng như hướng dẫn của người thày thuốc đã mổ cứu lưỡi cho tôi, chắc chắn tôi sẽ không thể nói trở lại bình thường.

Hằng ngày, ngoài nhiệm vụ trực chiến cứu chữa thương – bệnh binh, người chiến sĩ “áo cỏ úa” này – màu áo bác sĩ quân y trong chiến tranh – còn mổ đẻ, cứu chữa cho bao nhiêu người dân bị đau ốm, bệnh tật trong vùng. Rồi một buổi chiều, khoảng tháng tư năm 1966, những “thần sấm”, “con ma” Mỹ đã tuôn bom đạn, bắn rốc két vào đầu làng tôi. Bệnh xá dã chiến dưới hầm sâu ấy cùng với tốp thầy thuốc quân y bị vùi sâu trong mưa bom bão đạn. Tất cả chỉ trong thoáng chốc, các anh hy sinh và vĩnh viễn nằm lại trên mảnh đất đầu làng tôi. Trong số đó, người bác sĩ tôi vừa kể, tên là Quang. Nhiều ngày sau, đồng đội và dân làng vẫn không tìm thấy xác anh. Vào thời đó vì còn quá ít tuổi chưa thật khôn lớn, tôi đã không tìm hiểu gì nên giờ không thể biết anh họ gì, quê quán nơi đâu và phiên hiệu đơn vị chiến đấu của anh Quang (!)

Ôi, ngày 27/2 này, tôi muốn thắp một nén nhang lòng để tạ ơn anh Quang và những chiến sĩ quân y năm xưa…

Chuyện của những người bạn vợ tôi

  Khoảng 1976, tôi lấy vợ. Vợ tôi được công tác tại một bệnh viện lớn của Trung ương ở Hà Nội – Bệnh viện Bạch Mai. Là “rể” của bệnh viện, nên tôi được quen biết một số bác sĩ từ chiến trường chuyển về. Qua câu chuyện, tôi biết một bác sĩ tên là Giống, là lứa các chiến sĩ quân y tôi vừa kể cũng là đồng niên, đồng khoa của chị Thùy Trâm. Bác sĩ Giống sau khi xuất ngũ, da tái vàng bị sốt rét, bị thương nhiều lần. Được trở về công tác tại một cơ sở y tế lớn bậc nhất nước, thử thách đầu tiên với anh là khắc phục bệnh tật, sức khỏe để học tập nâng cao trình độ, tiếp thu những kỹ thuật – chuyên môn tiên tiến của thế giới nhằm đáp ứng công tác khám chữa bệnh vốn đòi hỏi ở mức rất cao của một bệnh viện tuyến cao nhất trong mạng lưới y tế cả nước. Bền bỉ chống chọi với sức khỏe và bệnh tật, anh Giống đã học ngoại ngữ, luyện tay nghề và nhiều năm là tấm gương sáng trong bệnh viện; được bệnh nhân yêu mến, đồng nghiệp tin cậy. Trong môi trường công tác đó, anh trở thành một bác sĩ đầu ngành cứng cáp, vững vàng nên đã được Nhà nước cử ra nước ngoài làm công tác giảng dạy, chữa bệnh cho nhân dân một nước bạn châu Phi nhiều năm.

Tôi còn nghe kể một chuyện rất cảm động của một nữ bác sĩ khoa Thận – tiết niệu ở bệnh viện này như sau – chính do người chồng của bác sĩ này kể. Anh ta yêu cầu không được đăng báo, nhưng nay trong dịp vui và vẻ vang này, tôi xin phép hai vợ chồng người bác sĩ bạn tôi được kể ra và vì thế không nêu tên.

Vào cuối tháng 10 âm lịch năm ấy trời rét lắm, lại mưa phùn gió bấc nữa. Khoảng 2 giờ sáng, đang yên giấc; tôi – ông chồng kể – nghe sột soạt tiếng áo mưa. Tôi choàng dậy thì thấy cô ấy đã gọn lõn trong 2 cái áo mưa lồng nhau. Lồng đến 2 áo mưa vì “nhà tôi” sắp đến ngày “vỡ chum” nên người trở nên quá “sồ sề” quá cỡ. Tôi hỏi đi đâu vào giờ này, cô ấy bảo, anh cứ ngủ đi, em tự đi bộ – nhà ở Tập thể lắp ghép Trương Định đi tắt vào bệnh viện độ 3 cây số. Tôi hoảng quá, sao lại đi vào giờ này? Cô ấy trả lời: “Hồi chiều có một bệnh nhân mới nhập viện, bệnh tình người này chắc chắn phức tạp vì rất nặng. Nhưng trực đêm nay thì lại chỉ một bác sĩ trẻ, ra trường chưa được bao lâu, kinh nghiệm xử lý sợ còn chưa chắc chắn, ngộ nhỡ xảy ra chuyện không hay…”.

Nghe nói vậy, tôi tìm áo mưa và dắt xe đạp đèo nhà tôi vào viện. Đến được C6 – Khoa Thận – tiết niệu, tôi lò dò đi theo cô ấy. Cô ấy vào thẳng buồng bệnh và vén màn lên xem kỹ giấc ngủ và nghe hơi thở của người bệnh nhân; xong rồi cũng lẳng lặng rón rén ra về và cũng thôi không gặp bác sĩ trực đang chìm trong giấc ngủ nơi phòng trực. Tôi hỏi, chỉ thế thôi à? Cô ấy trả lời: được rồi. Bệnh nhân ngủ yên, tiếng ngáy sáng sủa, êm và mềm. Tôi chưng hửng. Tiếc cái công lò mò “giữa đêm mưa gió dặm trường” của vợ tôi – cái bà “bụng mang dạ chửa” to đùng to đoàng này, mà lại cất công vào đây nhưng thật là lạ, không làm bất cứ thứ gì cho người bệnh ấy. Sau này, bình tâm lại, tôi mới hiểu là chính mối lo và sự bận tâm đặc biệt của người bác sĩ phải sâu xa và trách nhiệm như thế nào thì mới có được cái việc “không đâu vào đâu kia”…Một tuần sau, ngày 12/11/1984, cô ấy sinh cô con gái thật kháu khĩnh, tên cháu bé là Lê Phan Thị Quỳnh Dao – Tuổi Giáp Tý.

Dầu muôn cám dỗ vẫn trọn tình với bệnh nhân

Mấy năm nay, các hãng dược phẩm tung vào thị trường tầng tầng lớp lớp các “trình dược viên”. Một số là các sinh viên vừa tốt nghiệp từ trường y, trường dược; một số khác là “trái ngành trái nghề”. Đội quân này có thời đã ồ ạt tấn công vào khắp mọi bệnh phòng, áp sát các bác sĩ để hướng họ kê đơn thuốc theo ý các nhà phân phối. Họ tính % hoa hồng mỗi đơn thuốc tới vài trăm nghìn đồng cho bác sĩ. Trình dược viên còn đến nhà riêng, mang theo hoa quả, bánh trái, rượu tây, phong bì biếu xén các bác sĩ, tạo nên thu nhập gấp mấy lần lương của Nhà nước.

Khi dư luận xã hội và các cơ quan chức năng nhận thấy mối nguy hại này tới đạo đức người thày thuốc và quyền lợi của bệnh nhân, các hãng đồng loạt “đổi chiêu”. Trình dược viên hẹn hò các bác sĩ đi ăn uống, cà phê cà pháo để bàn định các “sách” của mình chứ không vào bệnh viện nữa. Các hãng còn tổ chức cho các bác sĩ đi du lịch “chui” cơ quan quản lý; lúc thì nước này, lúc thì nước khác trong phạm vi khu vực Đông Nam Á. Trước các cơn lốc ấy, có nhiều bác sĩ đã mắc phải vòng cương tỏa của các hãng dược phẩm và trình dược viên, sẵn sàng bán đứng con bệnh của mình để cầu lợi, để làm giàu trên sự đau khổ của đồng loại.

Thế nhưng, chính ngành y tế của chúng ta cũng rất may là còn vô khối những người thầy thuốc vẫn giữ được y đức của mình. Và vì thế tôi xin kể tiếp một mẩu chuyện nữa của người nữ bác sĩ, vợ người bạn mà tôi vừa nói ở trên. Bác sĩ này vừa được Chủ tịch nước công nhận “Thầy thuốc ưu tú”. Thật vẻ vang cho hai vợ chồng ông bạn tôi. Chị là một phụ nữ rất chăm chỉ học hành ngay từ thời học phổ thông, một phụ nữ đẹp, hát hay và rất khéo tay. Lúc còn rất trẻ, tại cuộc thi “Tuổi trẻ sáng tạo” do Trung ương Đoàn TNLĐ và Tổng Liên đoàn lao động cùng phối hợp tổ chức, người nữ bác sĩ này đoạt luôn giải nhất của ngành y với đề tài “Sinh thiết thận dưới màn huỳnh quang” và được trao luôn “Huy chương vàng” cùng bằng “Lao động sáng tạo” của Trung ương Đoàn. Như đã nói, chị là một tấm gương học tập dùi mài nên có vốn ngoại ngữ rất khá, do đó đã tiếp thu và cập nhật được vô số các kiến thức y học hiện đại và các thủ thuật chuyên ngành bậc cao của thế giới để áp dụng trong khám chữa bệnh hằng ngày tại khoa Thận – tiết niệu (Bệnh viện Bạch Mai). Một điều rất đáng quý là người bác sĩ này không bao giờ kê đơn thuốc theo ý các “trình dược viên”. Nhà báo Nguyễn Đình Chúc – quyền Trưởng ban kinh tế, Báo Lao động – nói với tôi: Anh có quen biết chị bác sĩ này và cho biết khi kê đơn, bác sĩ đã rất cân nhắc, lựa chọn kỹ lưỡng từng loại biệt dược để có lợi nhất cho bệnh nhân. Chị ấy tâm sự rằng: làm cái nghề này phải trong sáng khi sử dụng từng viên thuốc. Nhất là với người nghèo, nếu cẩn thận suy tính là có thể giúp bệnh nhân có đủ điều kiện để chữa bệnh cho họ. Nếu ẩu và nhất là “nhắm mắt” theo sự cuốn hút của đồng tiền thì việc kê đơn của mình không những không cứu được bệnh nhân mà còn vô tình góp phần cướp sớm đi sinh mạng người bệnh. Do đó, nguyên tắc đầu tiên là phải kê thuốc giá rẻ, thuốc “nội” nhưng vẫn bảo đảm được yêu cầu của hướng điều trị. Thứ đến mới dùng tới thuốc “ngoại”, nhưng phải luôn trong sự tính toán chặt chẽ từng ngày điều trị, từng chuyển biến nhỏ trong cơ thể bệnh nhân nhằm giảm gánh nặng chi phí cho họ – nhất là đối với các đối tượng bệnh nhân nghèo, bệnh nhân mắc các chứng mãn tính, hiểm nghèo…(Nhà báo Nguyễn Đình Chúc hiện nay đã là Phó TBT Báo Lao động).

Viết ra một vài chuyện nhỏ như trên, tôi thầm muốn nói với hương hồn chị Đặng Thùy Trâm rằng: tinh thần của chị, đức hy sinh cao cả của chị với dân, với nước, với thương bệnh binh và những bệnh nhân yêu dấu chị từng điều trị, hiện đang được bạn bè, các lứa thầy thuốc em chị ngày nay vẫn tiếp tục noi theo. Chính vì thế, tôi tin rằng, cuộc vận động mới mẻ này của ngành y tế “Học tập, làm theo tấm gương anh hùng liệt sĩ – bác sĩ Đặng Thùy Trâm” sẽ rất thiết thực, góp phần nâng cao y đức trong toàn ngành y tế như mong muốn và sự tin yêu của toàn xã hội đối với mỗi người thầy thuốc chúng ta.

      ( Tác giả gửi cho QTXM)   

 

Nhìn từ xa… Tổ Quốc! tiếng thơ quằn quại bi hùng

 

Tháng 9-2013, khi nhà thơ Nguyễn Duy cùng GS Hà Dương Tường (Ha-Duong Tuong) và nhà nhiếp ảnh Dương Minh Long (Duong Minh Long) trở lại Czech, một người Việt ở Praha – anh Nguyễn Cường – nói: “Anh còn một bảo vật, chúng em giữ bấy lâu, nay xin gửi lại”. Đó là tập bản thảo viết tay hoàn chỉnh đầu tiên của bài thơ Nhìn Từ Xa Tổ Quốc mà Nguyễn Duy tặng Nguyễn Cường năm 1990 trong một lần kẹt lại ở Đông Âu. Nguyễn Duy viết bài thơ này hai năm trước đó tại kí túc xá Viện Văn học Gorki, Maskva.

Nhà thơ Nguyễn Duy vừa quyết định tặng lại bản thảo này để Nhịp Cầu Hoàng Sa bán đấu giá. Ông cũng đồng thời cho in Nhìn Từ Xa Tổ Quốc trong tập thơ một bài bằng ba thứ tiếng Việt – Pháp – Anh (NXB Hội Nhà Văn 2014) dưới dạng “Quà tặng” để Chương trình gây quỹ (Hiệu Minh blog)

Chu Văn Sơn

Trong sáng tạo, có những khoảnh khắc lóe sáng. Không hẳn sự xuất thần của tài lạ. Không hẳn sự vỡ òa của tâm đau. Mà là sứ mạng vụt cất tiếng. Hơn cả tiếng kêu từ vết thương sâu. Hơn cả tiếng rền từ phẫn nộ của lí trí. Nó dội vào nhân tâm, rung chấn những nẻo lòng giá băng, tra vấn những lương tri hẵng còn mê ngủ. Ai từng bị đánh động, khó có thể nguôi yên.

Nhìn từ xa… Tổ quốc! của Nguyễn Duy chẳng phải thế sao?

Thực ra, Nhìn từ xa … Tổ quốc! thuộc một mạch thơ vẫn vần vụ khôn nguôi trong hồn thơ này: mạch yêu và đau/ quằn quại bi hùng. Nếu chỉ kể những bài hạng nặng, thì trước đó 6 năm (1981-1982) là Đánh thức tiềm lực, sau đó 3 năm(1990 -1991) là Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ. Ba thi phẩm tiếp ứng nhau như ba tia sét phóng xuống từ khối vần vụ trắng tích điện đã quá lâu ngày. Vì thế, chớp lóe mà tất yếu. Nếu cái trước tiền hô, cái sau hậu ủng, thìNhìn từ xa… Tổ quốc là ánh chớp chói gắt nhất xuyên thấu màn đêm. Nó gây nên nhiều dư chấn hơn cả.

Lạ. Chả rõ từ đâu, có ai bảo ai không mà đời lại cứ mặc nhiên coi tiếng nói yêu nước của những bậc anh hùng cái thế, những chức trách cao trọng mới thuộc cỡ vằng vặc trăng rằm. Còn thảo dân, thì nên yên ở tầm… thảo dân thôi. Nghĩa là, chớ có vượt tầm yêu cỏ nội hoa hèn. Rồi yêu nước cũng phải có chỉ đạo nữa. Có phải thế không mà lòng yêu nước, nỗi đau đời lắm khi cứ phải nói chui như một thứ hàng lậu. Thiện chí bị nghi ngờ, thiện tâm bị cảnh giác. Lời tâm huyết bị kiểm duyệt, cắt xén sao cho hợp những cái khuôn cấm kị, lọt được những lỗ tai đông đặc nghi kị. Ở chốn nào lòng yêu nói ra được thành thơ cũng đã khó. Ở đây, sự khó muôn phần… Dõng dạc cất lên trong thời buổi như thế, Nhìn từ xa… Tổ quốc!là lòng yêu nước của ai đây? – Của thảodân. Tầm nào đây? – Thì tầm thảo dân thôi. Hợp khuôn không? – Chao. Lại có cái khuôn cho những dòng nham thạch phụt trào trước cơ sự quốc gia hưng vong ư? Có chỉ đạo chứ? – Tất nhiên. Chỉ đạo bởi tâm linh trong sạch của một lương dân: Dù có sao vẫn Tổ Quốc trong lòng/ mạch tâm linh trong sạch vô ngần… Hèn chi mà sóng gió. Cũng hèn chi mà nức lòng.

Nói cho đúng, nếu chỉ biết yêu nước không thôi, Nguyễn Duy không có được tiếng thơ này. Đành rằng, yêu và thương không dễ tách bạch. Chúng thường song sinh và chuyển hóa lẫn nhau. Đành rằng, cụm từ cửa miệng “yêu nước thương nòi”/ “yêu nước thương nhà”/ “yêu nước thương dân”… có vẻ tự đủ. Nhưng, cứ nói hoài đầu môi chót lưỡi đâm ra quen, mòn, sáo, rỗng. Dần lâu, nó chỉ còn là một thành ngữ chéo nhạt nghĩa. Một thứ chốt an toàn để người luôn nói thế được yên chí với mình, yên sự với đời. Song, yêu và thương dễ đánh đồng thế sao! Tình yêu, về bản chất, là niềm say mê hướng về cái đẹp, mà rộng hơn, là giá trị. Tình thương lại là nỗi xót xa hướng về những bất hạnh, đau khổ. Yêu thích những ca tụng, tán dương. Thương ưa được thấu cảm, chia sẻ. Yêu dễ bay bổng, thoát li. Thương khó cầm lòng, tránh né. Yêu say đắm ngất ngây. Thương trăn trở đau đớn. Yêu thụ hưởng. Thương xả thân. Yêu nồng. Thương nặng. Biết yêu nước thật cần. Biết thương nước còn cần hơn. Thơ yêu nước tràn đầy. Thơ thương nước còn thưa thớt.

Không chỉ yêu nước, Nguyễn Duy đã thực sự Nhìntừ xa… Tổ quốc! bằng lòng thương nước. Đã nói bằng nỗi đau của một con dân. Đã viết bằng ngòi bút quằn quại bi hùng. Càng yêu càng thương. Càng thương càng đau. Thiết tha bao nhiêu với những giá trị phì nhiêu – nhân tình – từ bi – thông minh -thật thà – bao dung – kỉ cương – cần cù… của đất nước nghìn đời nay, thì đau đớn bấy nhiêu khi thấy những giá trị ấy bị xói mòn, biến dạng, tha hóa. Thơ cứ vỡ ra trong thống thiết. Ấy là nỗi thống thiết trước cơ cảnh dân nước: Đừng lớn lối khi dân lành ốm đói/ vẫn còng làm cho thẳng lưng ăn. Ấy là nỗi thống thiết trước di họa của thứ yêu mê dễ dãi từng ca hót chim chóc suốt một thời: Ta là ta mà ta cứ mê ta.Nỗi thống thiết đã tràn ra thành điệp khúc dai dẳng: Ai? Ai ? Ai ? Không ai ! Không ai ! Không ai ! Đã tràn ra thành hàng hàng những câu hỏi. Câu hỏi nào cũng rách xé như lời chất vấn của vết thương. Những chất vấn không lời đáp (hay đáp lời không?) cứ buốt nhức suốt toàn bài tạo nên thứ âm hưởng rỉ máu: âm hưởng quằn quại. Còn lời thơ thì cứ nghẹn uất: Vâng – đã có một thời hùng vĩ lắm/ hùng vĩ đau thương hùng vĩ máu xương/ mắt người chết trừng trừng không chịu nhắm. Cứ đắng chát: Khủng khiếp thay ngoảnh mặt bó gối/ Cái tốt nhiều hơn sao cái xấu mạnh hơn. Cứ bi phẫn khí tiết: Đổi mới thật không hay giả vờ đổi mới/ máu nhiễm trùng ta có thể thay chăng? Cứ can trường: Thật đáng sợ ai không có ai thương/ càng đáng sợ ai không còn ai ghét// Ngày càng hiếm hoi câu thơ tuẫn tiết/ ta là gì ? / ta cần thiết cho ai ?… Chỉ thuần yêu thôi, liệu có thể ứa máu vậy chăng ? Dòng, dòng dòng như thế, Nhìn từ xa … Tổ quốc ! khác nào một hải ngoại huyết thư.

*

Dù xuất thần, cũng phải từ nung nấu. Dù viết bằng máu, thì thơ vẫn phải hiện ra trong một hình hài. Tôi chắc, lần này, khi đối diện ngọn đèn/ trang giấy trắngnhư xeo bằng ánh sáng, Nguyễn Duy đã phải trải nhiều băn khoăn để tìm cho ra một hình thức độc đáo mà định dạng những vần vụ ngổn ngang trong lòng thành thi phẩm. Đây luôn là phần việc khó khăn bậc nhất của sáng tạo thơ. Không thể lặp lại Đánh thức tiềm lực theo cái cách Ta nói với Em (viết hoa). Chưa thể (hay không thể) như Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ làm một túy ông xuất ra cả loạt hư chiêu thượng thặng. Càng không thể rút tỉa tinh, qui giản gọn như một bài thơ ngắn. Đây là lúc cần nói rát, nói đau về sự thật. Cần nói sâu, nói thấu về sự thực. Song, cũng không thể là nghị luận bắt thành vần. Không thể là liên khúc kiểm kê. Càng không thể la liệt bày ra như bộ sưu tập những điều nhức nhối. Hình thức nào, qui mô nào, rồi cấu trúc, hình tượng, hình ảnh… nào đây cho tiếng thơ hạng nặng này? Phải thật mới lạ. Hẳn rồi. Phải gây ấn tượng mạnh. Đúng thế. Phải thật phù hợp nữa. Đương nhiên. Vậy phải làm sao? Cuối cùng, chẳng biết do sự mách bảo kì bí nào, mà Nguyễn Duy đã tạo được choNhìn từ xa… Tổ quốc ! cái hình hài lạ thế.

Không nên coi Nhìn từ xa… Tổ quốc ! làmột bài thơ dài. Mà nên đọc nó như một trường ca ngắn. Một dạng trường ca nén. Đúng là nó không được dàn bày ra thành nhiều chương khúc; không triển khai những nội dung đa tuyến, đa tầng; không dựng lên một thế giới nhân vật đông đảo; cũng không dày công khắc họa chi li các chân dung. Nghĩa là Nhìn từ xa… Tổ quốc! không có những chỉ dấu thông thường của một bản trường ca quen gặp. Song, nó vẫn là một dạng trường ca. Không chỉ vì cái nó đề cập là vấn đề có tầm vóc lịch sử. Không chỉ vì cặp hình tượng trung tâm xuyên suốt bài thơ là cái bóng máu me của người anh hùng bất lực dài ngoẵng và cái- tôi – thảo – dân có tính biểu tượng cao. Không chỉ do các màn phát vấn cứ kết nhau thành một liên khúc bi phẫn. Mà, trước hết, bởi tâm trạng chủ thể là rung chấn của thời đại, của lịch sử : Đêm Bắc bán cầu vần vụ trắng … yêu và đau/ quằn quại bi hùng… Đó chẳng phải là tâm trạng trường ca sao? Và, mạch thơ cứ lần lượt điểm tới cả chục vấn nạn, chục mối an nguy ngấm ngầm như thập diện mai phục. Vấn nạn ăn mày. Vấn nạn thương binh. Vấn nạn thất học. Vấn nạn lãn công. Vấn nạn lìa xứ. Vấn nạn tôn giáo. Vấn nạn kỉ cương. Vấn nạn lưu manh. Vấn nạn điếm… Chúng khiến nội dung thơ thành một toàn cảnh đau buồn về thực trạng đất nước trong một chặng dài. Một toàn cảnh như thế chẳng phải tầm bao quát của trường ca sao? Chỉ ngần ấy cũng đã đủ đểNhìn từ xa… Tổ quốc ! nhập tịch vào thể loại trường ca. Một bản trường ca quặn mình trong khuôn hẹp chỉ hơn mười trang in.

Nếu Đánh thức tiềm lựcKim MộcThủy Hỏa Thổ đều lấy điểm nhìn gần từ bên trong đất nước, thì thi phẩm này chọn cự li khác: Nhìn từ xa… Tổ Quốc. Thi sĩ là một con dân ở xa đau đáu nhìn về đất mẹ. Nhờ đó mà tạo được cách tiếp cận nghệ thuật độc đáo. Ấy là một cái nhìn kép cho con mắt thơ: ngoại quan mà nội soi. Cách xa, hóa ra, lại là điều kiện cần về không gian để có thể trông khắp lượt, khắpxứ. Và Dù ở đâu vẫn Tổ quốc trong lòng/ cột biên giới đóng từ thương đến nhớ. Nên, càng xa, càng khách quan; càng khách quan, càng thấu đáo. Nhìn từ xa để thấy thật gần là cái tình huống thơ độc đáo khởi tạo nên thiphẩm này.

Chọn cự li xa cũng là tiền đề dẫn tới lựa chọn nghệ thuật khác: tổ chức phát ngôn thơ thành một cuộc đối thoại. Ấy là cuộc trò chuyện rợn mình với cái bóng máu me. Hồi viếtĐánh thức tiềm lực, Nguyễn Duy đã có những câu: Tuổi thanh xuân trọn vẹn cuộc chiến tranh/sau lưng ta là kỉ niệm bi tráng/ trước mặt ta vẫn con đường gập ghềnh… Lần nhìn từ xa Tổ Quốc này, cái kỉ niệm bi tráng luôn ẩn khuất sau lưng kia đã hiện lên trong một diện mạo nghệ thuật mới: ấy là người anh hùng bất lực dài ngoẵng sõng soài nền nhà trong vết máu bầm đen. Hình tượng vừa thực vừa siêu thực đó đã trở thành một biểu tượng độc đáo. Không có nó, hẳn không thể có cuộc đối thoại huyền hoặc thế. Nó đem đến cho thơ một cấu trúc đối nghịch: trò chuyện siêu thực mà nói về hiện thực; đối thoại mà độc thoại; chất vấn mà tự vấn. Hai kẻ hai ngôn ngữ khác nhau. Cái tôi thì bằng lời. Cái bóng thì cử chỉ.Nhìn từ xa … Tổ quốc ! vì thế, có dáng dấp một vở kịch đặc biệt. Không – thời gian sân khấu là một đêm Bắc bán cầu. Diễn biến kịch là cuộc thoại một người -một bóng. Người nói. Bóng câm. Nên, kịch không hẳn câm, mà bán câm. Lại vừa như một cuộc điều trần mở trong cõi thẳm của lương tri. Cái bóng bị can. Cái tôi công tố. Cái bóng nạn nhân và đồng phạm. Cái tôi thụ lý và tố tụng. Còn tội phạm thì náu mặt, cứ như vô can. Suốt cuộc điều trần, cái tôi có tới mười lần phát vấn, lần nào cũng nhói lên một câu, câu chỉ một từ: Ai ?/ Ai ?/ Ai ?… Cái bóng tỏ đến mười cử chỉ khác nhau. Cử chỉ nào cũng ra cùng một dấu hiệu: bất tri và bất lực. Vết bầm đen đấm ngực. Vết bầm đen quều quào giơ tay. Vết bầm đen ngửa mặt lên trời. Vết bầm đen tọa thiền. Vết bầm đen cúi đầu lặng thinh. Vết bầm đen vò tai. Vết bầm đen nhún vai. Vết bầm đen rứt tóc. Vết bầm đen gập vuông thước thợ. Vết bầm đen còng còng dấu hỏi. Cứ thế. Cái tôi quày quả đủ phương. Cái bóng u uất một niềm. Cái tôi nóng lời. Cái bóng lạnh tiếng. Thành thử, đó là màn cáo trạng đơn côi, là cuộc trò chuyện vô vọng với người câm suốt cả đêm dài. Cuộc đối thoại gan ruột mà thành ra màn độc thoại hoang vắng. Vò võ trắng đêm thế, cái tôi thảo dân khác nào một kẻ cô trung.

Càng đi sâu vào bên trong càng thấy cấu tứ không đơn mạch. Nó nhất thể mà đa nguyên. Chẳng thế mà cái tứ này còn được tổ chức thành cuộc bắt bệnh. Và cái tôi cũng thuộc dạng nhất thể đa vai: thi sĩ mà bác sĩ, thầy thuốc mà bệnh nhân. Bắt bệnh đời cũng là thăm bệnh mình. Chữa cho đời cũng là tự chữa. Thấy đây đủ cả vọng văn vấn thiết. “Vọng” đã tỏ. “Văn” đã tường. Nhìn từ xa … Tổ quốc! điểm ra cả chục căn bệnh trầm kha trong thực thể xứ sở. Xứ sở phì nhiêu sao thật lắm ăn mày? Xứ sở nhân tình sao thật lắm thương binh đi kiếm ăn đủ kiểu? Xứ sở từ bi sao thật lắm thứ ma? Xứ sở linh thiêng sao thật lắm đình chùa làm kho hợp tác? Xứ sở thông minh sao thật lắm trẻ con thất học? Xứ sở thật thà sao thật lắmthứ điếm? Xứ sở cần cù sao thật lắm Lãn Ông? Xứ sở bao dung sao thật lắm thần dân lìa xứ? Xứ sở kỉ cương sao thật lắm thứ vua?… Mỗi câu hỏi một xác chứng. Mỗi câu hỏi một đối chứng. Vừa phản biện gay gắt sự ca hót dễ dãi về xứ sở. Vừa than tiếc cay đắng về những băng hoại tan hoang. Cái tôi bác sĩ đau đáu truy tìm cho ra thủ phạm của trọng bệnh. Ai ? Ai đã gây ra những căn bệnh này? Càng “vấn” càng không lời đáp. Không ai! Không ai! Không ai!… Để tìm cho ra nhẽ, có lẽ phải “thiết”. “Thiết” đây không thể là bắt mạch. Mà phải là xét nghiệm. Cái tôi bèn quyết định: Chích một giọt máu thường xét nghiệm, thì dưới kính hiển vi, lập tức một cấu trúc máu thê thảm hiện nguyên hình: tí trí thức – tí thợ cày – tí điếm/ tí con buôn – tí cán bộ – tí thằng hề/ phật và ma mỗi thứ tí ti. Thì ra là thứ máu nhiễm trùng. Thủ phạm là đấy chứ đâu. Máu nhiễm trùng phát thành bao nhiêu bệnh. Bệnh cứ ngấm ngầm làm băng hoại cơ thể từng ngày. Do đâu mà nên cái cơ sự này ? Chẳng cần quá nhiều y lý, y thuật, cũng truy ra được. Chẳng qua, là do tham, do háu, do ăn sống nuốt tươi, do mất vệ sinh mà ra cả: Bụng dạ cồn cào bất ổn làm sao/ miếng quá độ nuốt vội vàng sống sít/ mất vệ sinh bội thực tự hào/ Sự thật hôn mê – ngộ độc ca ngợi. Lại chủ quan không chịu chẩn trị, chữa chạy nên bệnh và tật bao nhiêu năm ủ lại mà thành ra thế. Muộn rồi chăng? Bỏ mặc chăng? Không thể. Một khi đã truy ra nguồn cơn rồi, thấy nguy cơ suy vong đe dọa từng ngày rồi, không thể không đắn đo kê đơn bốc thuốc : chả lẽ bây giờ bốc thang chửi bới/ thầy chửi bới nhe dàn nanh cơ hội/ chả lẽ bốc thang cỏ khô nhai lại/ Lạy ông-cơ-chế lạy bà-tư-duy… Tất cả các thang ấy đều không thể. Vậy phải tính sao? Bản tính thảo dân vốn không chấp nhận bi quan, nên thi sĩ thầythuốc này cần phải tìm một điểm tựa để mà tin. Theo y lí, cơ thể có bị tàn phá, nhưng nguyên khí còn, thì vẫn còn có cơ. May thay, thực thể tuy nhiễm trùng, nhưng nguyên khí vẫn mạnh. Thơ – tâm linh trong sạch. Đó là nguyên khí của cái tôi. Dân – gốc của muôn đời. Đó là chân khí của giống nòi. Cả hai hãy còn nguyên vẹn. Dù có sao vẫn Tổ Quốc trong lòng/ mạch tâm linh trong sạch vô ngần/ còn thơ còn dân/ ta là dân – vậy thì ta tồn tại. Vậy là, niềm tin đã được nhóm lên. Nhưng, tin suông sao? Không. Trước tình trạng chí nguy cái tốt nhiều hơn nhưng cái xấu mạnh hơn, cần lập tức hành động. Hành động cấp thời là gì? – Xốc dậy ngay nguyên khí. Tức là xốc dậy ngay phần tốt đẹp trong đời. Những người tốt đang cần liên hiệp lại.Đồng thời, phải gấp rút thay máu, dù không dễ dàng nhẹ nhàng: Giọt từng giọt/ nặng nhọc/ Nặng nhọc thay. Giải pháp là đấy, hành động cũng là đấy. Còn gì táo bạo hơn! Còn gì thiết thực hơn!

Mang căn cốt thảo dân, hiển nhiên thơ Nguyễn Duy đậm chất dân gian. Lục bát thì rõ mười mươi rồi. Còn thơ tự do xem ra lại hoàn toàn hiện đại. Đọc thơ tự do của Nguyễn Duy, thấy ngòi bút tung hoành phá cách, tưởng chừng anh đã siêu vượt ra ngoài cái căn tính dân gian đó rồi. Nhưng, không hẳn. Chính ở thơ tự do mới thấy cái phần dân tộc, dân gian nặng căn thế nào. Và đó thực là điều đáng tự hào với một phong cách thơ bền vững. Dân gian đây không chỉ ở việc dùng thi liệu, ngôn liệu. Dân gian đây cũng không chỉ ở vay mượn đôi ba sắc thái giọng điệu. Những thứ ấy chẳng qua chỉ là lớp lộ thiên, là dăm ba lá chồi nhú lên bề mặt thôi. Dân gian nằm sâu ngay trong bộ rễ của mỗi cây thơ, ẩn sâu trong cấu tứ mỗi thi phẩm. Đọc Nhìn từ xa … Tổ quốc ! thấyphần sâu của nội dung điểm ra đủ chục vấn nạn, tôi đã đinh ninh cấu tứ này ảnh hưởng chất dân gian từ con số 10 chua chát của bài vèMười loạn từng gây xôn xao hồi bấy giờ. Thứ nhất là loạn quốc ca/ thứ nhì loạn giá thứ ba loạn tiền/ thứ tư là loạn chuyên viên/ thứ năm là loạn tình duyên vỉa hè/ thứ sáu là loạn ông nghè/ thứ bảy là loạn con phe ngoài đường/ thứ tám là loạn huân chương/ thứ chín là loạn tuyên dương anh hùng/ thứ mười là loạn… lung tung. Nhưng không phải.

Nguyễn Duy đâu phải tạng kể lể bi quan, hay hăng hái chỉ trích suông cho khoái khẩu nhỉ? Tạng anh mỗi sự đau đời là một vốc muối xát vào chính lòng mình, đau thương mà trách nhiệm, khổ tâm mà mạnh mẽ kia mà. Vì thế, phải đọc đến câu kết lẩy nguyên lời ca dao“còn da lông mọc còn chồi nảy cây” (thoạt nghe, cứ như cái kết lạc quan tếu, lạc quan…lạc !), tôi mới vỡlẽ về bí mật thật sự của cấu tứ ở bài thơ hiện đại này. Đúng là một cấu tứ kiểu dân gian. Nhưng, là nét dân gian khác. Cũng nương theo con số 10. Nhưng là một số 10 khác. Tứ của bài thơ, trong lõi cốt của nó,được tổ chức theo tinh thần bài ca dao kì lạ của miền Trung bộc lộ một niềm lạc quan vô bờ bến. Bài Mười quả trứng: Tháng giêng tháng hai/ tháng ba tháng bốn/ tháng khốn tháng nạn/ đi vay đi tạm/ được một quan tiền/ ra chợ kẻ Diên/ mua được con gà mái/ về nhà đẻ được mười quả trứng/ Một quả trứng ung/ hai quả trứng ung/ ba quả trứng ung/ bốn quả trứng ung/ năm quả trứng ung/ sáu quả trứng ung/ bảy quả trứng ung/ Còn ba quả nở được ba con/ con diều tha/ con quạ bắt/ con mắt cắt xơi. Khánh kiệt rồi, cùng đường rồi. Tuyệt vọng, gục ngã ư ? Không. Vẫn nuôi hi vọng, vẫn tràn ngập lạc quan. Từ tột cùng vô vọng, tứ thơ vút lên tột đỉnh hy vọng: Chớ than phận khó ai ơi/ còn da lông mọc còn chồi nảy cây. Vâng, lứa trứng đầu thế là hỏng tất. Nhưng mẹ gà còn đó, thì sự sống vẫn còn đây. Nhìn từ xa… Tổ quốc! cũng thế. Kể ra đến mười vấn nạn, chẳng phải là điểm ra mười thứ trứng ung sao! Trứng thuộc nòi tốt, ủ ấp thế nào mà ung, nuôi giữ thế nào mà bị tha bắt cắt xơi hết cả. Song, chừng nào lòng còn thơ, nước còn dân thì vẫn còn gốc của hi vọng: còn thơ còn dân/ ta là dân – vậy thì ta tồn tại. Dù có sao/ đừng thở dài/ còn da lông mọc còn chồi nảy cây? Tứ thơ cũng từ đáy khánh kiệt vút lên đỉnh lạc quan. Vậy là, câu kết vận ca dao đó chỉ là phần lộ thiên của một vỉa ngầm.

Viết thế, chẳng phải Nguyễn Duy vẫn dân gian, dân tộc khỏe khoắn và thâm hậu sao! Có lẽ, dân gian đã nhập sâu vào trong tiềm thức chủ thể. Nên khi viết ra, dù chẳng có chủ định học ca dao dân gian đi nữa, nó vẫn cứ ra ca dao, cứ là dân gian vậy. Huống chi, một thi phẩm như thế này không thể không bắt rễ, không thể không nảy sinh từ cái gốc trường tồn ấy. Với cấu tứ thế, Nhìn từ xa… Tổ quốc! đã mang trong nó cái lõi trầm của minh triết dân gian.

*

Cảm xúc có ngập tràn, tình huống có độcđáo, cấu trúc có tinh vi, minh triết có sâu xa và giọng điệu có như trút cả lòng ra,… ngần ấy vẫn là chưa đủ để bài thơ thành một sự sống, nếu thi ảnh, cái phần trực quan nhất của thơ, thiếu đi máu huyết. Làm sao truyền dẫn được tâm huyết vào mỗi chi tiết thơ dù nhỏ nhất, làm sao cho chất sống phập phồng trong mỗi hình ảnh thơ dù thoáng qua? Có lẽ đó là thách thức sống còn của thứ sáng tạo khổ ải này.Nhìn từ xa… Tổ quốc! cần tới loại thi ảnh nào đây? Có thể là thứ hoa mĩ kì khu của kì công được chăng? Thứ bay bướm của tài liên tưởng biến ảo bay bổng được chăng?Không. Một tiếng thơ nộ khí vuột thẳng ra từ nỗi quặn lòng thì không thể hả lòng với lớp thi ảnh phù hoa thế. Phải là loại hình ảnh thơ giàu chất trực kiến, giàu tính trực ngôn. Phải là thi ảnh dồn tích được nhiều nhất những bức xúc, tổn thương. Không trang sức. Không vẽ vời. Càng mộc, càng đau, càng mãnh liệt. Và, Nhìn từ xa… Tổ quốc! đã thực sự gây rung chấn trong người đọc bằng những hình ảnh thơ không thể cầm lòng. Thi ảnh nào cũng như nảy từ vết thương. Hình ảnh nào cũng muốn xát muối vào lòng lãnh đạm, cào cứa vào lương tâm đóng băng, quất thẳng vào lương tri đang u mê ú ớ:

–    Tuổi thơ oằn vai mồ hôi nước mắt/  tuổi thơ còng lưng xuống chiếc bơm xe đạp/  tuổi thơ bay như lá ngã ba đường

–    Bịt mắt bắt dê đâu cũng đụng thần đồng/ mở mắt… bóng nhân tài thất thểu

–    Nạng gỗ khua rỗ mặt đường làng/ mẹ liệt sĩ gọi con đội mồ lên đi kiện/ ma cụt đầu phục kích nhà quan

–    Điếm cấp thấp bán trôn nuôi miệng/ điếm cấp cao bán miệng nuôi trôn

–    Đạo Chích thành tôn giáo phổ thông

–    Mặc kệ cỏ hoang cánh đồng gái góa

–    Lãnh chúa xứ quân san sát vùng cát cứ/ lúc nhúc cường hào đầu trâu mặt ngựa

–    Luật pháp như đùa như có như không có/ một người đi chật cả con đường

Đọc cả bài thơ bi hùng này, đọc từng lời thơ của bao chấn thương trong thân tâm con dân đất Việt như thế này, các nhà phê bình chuẩn chỉ lại loay hoay xếp Nhìn từ xa… tổ quốc! vào các ngăn ô dựng sẵn chăng? Lại trữ tình chính trị, trữ tình công dân, lại hiện thực chủ nghĩa, cảm khái thời thế, hay thế sự thì hiện tại, hoặc cảm hoài, thuật hoài đời nay… chăng? Có nên uổng công, nhọc sức thế không? lạnh lòng thế không? Nhìntừ xa… tổ quốc! không từ chối những thứ chứng chỉ hàn lâm, những vòng nguyệt quế quy chuẩn như vậy. Nhưng. Thưa rằng. Trước hết. Nó là thơ tuẫn tiết. Vậy thôi!

Được viết năm 1988, ngót 30 năm đã trôi qua đầu ngòi bút, mà lạ, Nhìn từ xa… tổ quốc! vẫn cứ như vừa mới ra đời, còn chưa ráo mực (*). Cái nhìn thấu suốt của tầm hay diệu năng thấu cảm của tâm? Làm sao phân biệt được. Chỉ biết tiếng thơ đã được cất lên bởi sứ mạng. Sứ mạng một nhà thơ. Sứ mạng một thảo dân.

HàNội – Vinh, Thu Giáp Ngọ, 2014

————————–

 (*) Cách đây ít hôm, tại đảo sen Tây hồ, trong cuộc đàm đạo bạn bè, Nguyễn Duy có đọc bài thơ này. Thì có tao nhân dự cuộc cứ đinh ninh nó là sáng tác… mới toanh.

( Nguồn: vanviet)

 

Đầu xuân cảm khái về 2 bài thơ của Cao Bá Quát

  Nguyễn Huệ Chi

26-02-2015

Cao Bá Quát. Nguồn: Wikipedia

Cao Bá Quát (1908 – 1855) như ta biết là một thi hào lừng lẫy ở nửa đầu thế kỷ XIX, tài thơ không chỉ bạn bè trong Nam ngoài Bắc mà đến hai vị vua Thiệu Trị và Tự Đức đều phải nể phục. Nhưng phải nói ông là một nhà thơ độc sáng ở ý thức về khát vọng tự do. Chính sự tìm kiếm một khoảng trời tự do không nản không mỏi trong suốt cuộc đời – trong thời đại nhà thơ sống – mà không bao giờ đạt được, theo chúng tôi, mới làm nên nét phong cách ưu mỹ của thơ ông.

Năm 1847, đang bị giam lỏng trên bờ con sông Trà Khúc (Quảng Ngãi), vào một buổi tối ngày rằm tháng Chín, gặp người bạn đồng hương được bổ đi làm quan ở Cần Giờ ghé thăm, ông làm bài thơ Trăng thu trên sông Trà (Trà Giang thu nguyệt ca) tặng bạn, cũng là để tặng mình:

Trăng thu trên sông Trà

Đêm nay vì ai mà trong sáng?

Muôn dặm quan san trắng xóa một màu,

Khắp nơi vương vấn tình người xa nhau.

Cất chén thử mời trăng

Trăng đi vào trong chén

Đỡ chén lên môi trăng vụt biến,

Chỉ còn bóng người đang dọc ngang…

(Vũ Khiêu dịch)

Nhân dịp đầu xuân Ất Mùi, bạn bè gần xa đều khai bút trong khi bản thân không kiếm được ý tưởng gì, để gạt đi cái cảm giác tắc tị rất không hay, xin mượn hai bài thơ của Cao Bá Quát từ lâu vẫn tâm đắc để gửi “chút lòng” mình với bạn đọc. Hai bài thơ có lẽ được sáng tác vào hai thời điểm khác nhau, song khi đặt bên nhau thì hình như lại có một mối liên hệ nội tại, là hai khổ thơ liên hoàn nhắm tới cùng một đích.

Bài thứ nhất, Cảm xúc mới một ngày sau tiết lập xuân (Lập xuân hậu nhất nhật tân tình立 春 後 一 日 新 情) một bài thơ cảm tác về sự đột hiện của mùa xuân, nhưng ẩn sau nó là một ý tưởng bứt phá mãnh liệt:

昨 夜 春 來 破 舊 寒

今 朝 紅 紫 斗 千 斑

何 當 世 事 如 花 事

風 雨 江 山 盡 改 觀

Tạc dạ xuân lai phá cựu hàn,

Kim triêu hồng tử đấu thiên ban;

Hà đương thế sự như hoa sự,

Phong vũ, giang sơn tận cải quan.

Xuân đến xua tan rét cuối đông,

Sáng nay đua nở, tía chen hồng.

Việc đời sao được như hoa nhỉ?

Mưa gió – rạng ngời khắp núi sông.

(Huệ Chi dịch)

Mới nhìn về hình thức, bài thơ có vẻ như là sự mong mỏi một cuộc cách mạng hoa hồng hay hoa nhài nào đấy. Nhưng đọc kỹ sẽ thấy ngay, một người có tầm nhìn viễn kiến như Cao Bá Quát không bao giờ lại nhận lầm hoa hồng hay hoa nhài tự nó là bản chất của mọi sự thay đổi. Điều kiện cốt yếu để giang sơn đổi sắc, có sự đua nở của hoa hồng hoa nhài, phải bắt đầu từ một cuộc vần vũ gió mưa: Mưa gió – rạng ngời khắp núi sông. Cao Bá Quát chỉ gọi tắt là “mưa gió” (phong vũ) nhưng phải hiểu đây là “bạo phong sậu vũ”: mưa sa gió táp. Hai chữ “phong vũ” ngắt thành một nhịp, mở đầu câu thơ bảy chữ kết cấu liền một mạch, có giá trị như một sự bùng nổ. Phong vũ – giang sơn tận cải quan: Sau một phen mưa sa gió táp, giang sơn thảy đều đổi mới.

Và với nguyện vọng nung nấu đến cao độ ấy, Cao Bá Quát hầu như đã tập trung hết tinh lực vào việc làm sao cho trời nổi những cơn giông. Bài Nghe tiếng ễnh ương (Văn hà mô聞蝦 蟆) bộc lộ sự sốt ruột mong mưa của nhà thơ:

蝦 蟆 為 民 乎

一 聲 在 深 處

汝 鳴 何 遲 遲

昨 夜 望 甘 雨

Hà mô vị dân hồ?

Nhất thanh tại thâm xứ.

Nhữ minh hà trì trì?

Tạc dạ vọng cam vũ.

Ễnh ương há cũng vì dân?

Náu trong bụi rậm bất thần kêu vang.

Sao ngươi kêu quá muộn màng?

Khát mưa từ lúc còn đang tối trời.

(Huệ Chi dịch)

Tất nhiên, thời đại Cao Bá Quát không cho phép ông tìm thấy những cơn mưa. Ông tìm khắp mọi nơi. Từ ngoài Bắc cho đến kinh thành. Ở trong nước rồi ra hải ngoại. Tìm bằng bút và tìm bằng gươm. Rốt cùng ông đã thất bại:

Ta muốn lên ngọn cao,

Hát vang mây nước dậy.

Hẹn thế mà được đâu,

Phàm việc đều như vậy.

(Lên chơi núi Thầy – Du Sài Sơn. Trúc Khê dịch)

Có thể nói, Cao Bá Quát trong tư cách một thực thể tự do đã không vượt được cái giới hạn mà sau này Jean-Paul Sartre nói: “Là thực thể tự do, không phải là có thể làm những gì ta muốn, mà là muốn cái ta có thể làm” (Être libre, ce n’est pas pouvoir faire ce que l’on veut, mais c’est vouloir ce que l’on peut).

Vậy thì thời đại chúng ta, soi trong khát vọng cháy bỏng của Cao Bá Quát và trong giới hạn triết học mà Jean-Paul Sartre xác định, chúng ta có thể làm được gì. Phải chăng đến giữa thập kỷ thứ hai thế kỷ XXI, đất nước Việt Nam vẫn có khả năng lùi trở về với không-thời gian của nửa đầu thế kỷ XIX?

Để giải đáp cho câu hỏi khó khăn muôn vàn ấy, và cũng chẳng lấy gì làm lạc quan ấy, cũng tức là tìm lấy một hướng đi khả dĩ, trong mùa xuân Ât Mùi lắm bi hài này, tôi tin rằng có người rất muốn (hoặc đã) gọi điện hỏi ngay vị hoàng đế phương Đông họ Tập. Số đông hơn, tôi dám chắc không ít người lại định vấn kế ở vị Tổng thống xứ Cờ hoa. Còn nếu thận trọng và để cho có vẻ khách quan, không tìm đến cả hai nhân vật quyền lực kia, cũng không muốn tỏ ra ngạo nghễ chỉ lắng nghe chú ễnh ương như chàng hàn sĩ họ Cao “nhất sinh đê thủ bái mai hoa” xưa kia, thì biết đâu… nhiều trí thức nhân sĩ đang ra sức truy tầm di sản của nhà vật lý thiên tài Einstein mà loay hoay tra khảo.

Bản thân tôi, trước câu hỏi hắc búa ở trên, tôi chỉ thấy hiện đang là một lời thách đố bất khả giải.

N.H.C

(Nguồn: Internet)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 26.02.2015

LẠI THÊM MỘT VỤ ĐẠO THƠ

Nhà văn Hoàng Bình Trọng ( ảnh chụp năm 2009)

LẠI THÊM MỘT VỤ ĐẠO THƠ

  Mai Văn Hoan

QTXM- Tôi nghe nhà thơ Mai Văn Hoan kể về việc thơ anh Hoàng Bình Trọng bị ăn cắp, rồi được giải thưởng, được tuyển vào tập thơ viết về chiến tranh chống Mỹ của NXB Thanh Niên mà uất ức không ngủ được. Liền bấm máy cho Mai Văn Hoan bảo hãy viết để đưa ngay việc này lên mạng. Nhà văn Hoàng Bình Trọng năm nay U80 rồi, phải bảo vệ tác phẩm của anh đến cùng. Mời bạn đọc cùng sẻ chia câu chuyện

Bài thơ Về với mẹ in trong tập Những miền ký ức của nhà thơ Hoàng Bình Trọng, NXB Văn học – 2002. Lời bình của tôi về bài thơ Về với mẹ được đăng ở báo Quân đội Nhân dân ct, ra ngày 02-8-2007. Mới đây, tôi lại thấy bài thơ này xuất hiện ở trang 64, trong tuyển tập Bài ca bất tử, do NXB Thanh Niên ấn hành, năm 2014, nhưng tên tác giả được đổi thành Phạm Lễ Hùng và câu “Chẳng bao giờ mẹ xa cách chúng con” gần cuối bài bị lược bỏ.

   Tôi hết sức ngạc nhiên, bèn điện hỏi nhà văn Hoàng Bình Trọng (hiện đang nghỉ hưu tại Quảng Hòa, Quảng Trạch, Quảng Bình). Nhà văn Hoàng Bình Trọng vô cùng bức xúc: “Cái thằng Phạm Lế Hùng nào đó nó ăn cắp thơ tớ, cậu ạ! Tớ đang định viết thư cho ông Giám đốc NXB Thanh Niên và Ban biên tập làm rõ chuyện này. Nghe đâu họ còn tặng giải cho bài thơ mà hắn ta ăn cắp của tớ nữa”. Tôi nói đùa an ủi anh: “Bị ăn cắp như thế thì cũng đáng mừng. Vì những người trong Ban biên tập và Chấm giải đã đã khẳng định sự “bất tử” của bài thơ Về với mẹ. Chỉ đáng buồn là những người trong Ban biên tập và Chấm giải không chịu khó truy tìm xem tác giả bài thơ Về với mẹ có phải của Phạm Lễ Hùng không. Mà với những bài thơ hay như Về với mẹ thì sự truy tìm đâu có khó. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 25.02.2015

CHÙM THƠ NGÔ MINH IN TẠP CHÍ THƠ 12/2014

CHÙM THƠ NGÔ MINH IN TẠP CHÍ THƠ 12/2014 

 

SIÊU ÂM TIM

 Kính dâng hương hồn ba mạ và đồng đội

 
Trái tim tôi như củ khoai tía gọt vỏ tím hồng
phập phồng màn hình siêu âm như hỏi
 – Làm sao tôi vẫn bình thường ?

Bác sĩ ơi,  tim tôi từ lâu không còn lành lặn
7 tuổi, ba bị bắt cùm chân . Mạ bảo “Trưa ni con bới cơm cho ba”. Tôi ôm mo cơm đến chỗ giam, thấp thỏm mừng vì sắp được gặp ba. Bỗng thằng lính trợn mắt :” Chưa đến giờ, đ.mạ mày, đồ con phản động !”. Rồi nó tung chân đá mo cơm trên tay tôi văng tơi bời  trên cát. Tôi khóc thấy tim mình cũng văng thành từng mảnh vụn đớn đau.

Lần đầu tiên tôi nhận ra không phải cứ người là tốt
Sao trái tim nát tan ấy không hiện lên màn hình ?

lên 7, ba tôi bị trói vào cọc xử bắn, súng nổ, bốn anh em

                                                        tôi ôm lấy mạ nấc lên,

12 phát đạn xuyên vào tim mạ tim tôi

53 năm rồi vết thương tim còn rỉ máu

Đó là lần đầu tiên tôi thấy con người thật ác …
Sao không hiện lên màn hình ?

Mạ góa bụa nuôi con. Đêm đêm nước mắt khóc chồng

                          thương con thành a-xít xói mòn tim trẻ.

Tuổi 30 tôi thét lên khi mạ qua đời:” Răng con bỗng không còn mạ !” nước mắt mồ côi trào như sóng.
Trái tim tôi mưng mủ đến bây giờ
Sao không hiện lên màn hình ?

Bác sĩ ơi, tim tôi từ lâu không còn lành lặn
Tuổi 20, ở chiến trường nhiều lần tôi vừa khóc vừa đào hố chôn đồng đội, nhiều đêm khiêng bạn bị thương vượt rừng về trạm phẫu tiền phương…

tiếng bạn rên la thắt nghẹn buồng tim … 
34 năm rồi, vết thương ấy trở trời lại nhức
Sao không hiện lên màn hình ?

Tuổi 40, không có đồng tiền để bỏ vào mê nón

                                      mệ ăn mày bên đường, tôi khóc
tuổi 60, nhìn dân quê dắt díu lang thang

                                        vì mất ruộng mất nhà, tôi khóc
khóc 42 người Quảng Hải đắm đò chết oan

                                                         vì không có cầu qua

 trái tim nhỏ bao phen nhàu nát

 

Sao không hiện lên màn hình ?

Và em nữa.
hòa bình về mất em tôi rỗng trái tim.
Vết thương không thành sẹo
Sao không hiện lên màn hình ?

Trái tim tôi như củ khoai tía gọt vỏ tím hồng
phập phồng trên màn hình như hỏi:
- Bác sĩ ơi, máy siêu âm Nhật hiện đại nhất thế giới
sao không phát hiện ra ngàn vết thương tim

                                                buốt nhức kiếp người ?
 

BV Trung ương Huế
10-3-2009
(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.02.2015

BÀI THƠ THẦN NĂM ẤT MÙI

Cụ Nguyễn Khắc Mai

BÀI THƠ THẦN NĂM ẤT MÙI

 

Nguyễn Khắc Mai

Tôi chào đón năm Ất Mùi này (2015) với bài thơ Thần đã ra đời vào năm Ất Mùi 1655, đúng 360 năm trước. Lịch xưa tính đúng chẵn sáu hội (mỗi hội 60 năm). 

Đây là bài thơ đã được ghi lại trong Đại Nam Thực Lục – một bộ sử biên niên ghi lại thời kỳ các Chúa Nguyễn rồi Nhà Nguyễn trị vì đất nước.

Bấy giờ, Chúa Hiền, Nguyễn Phúc Tần, một đêm nằm mộng thấy thần nhân hiện lên đọc cho nghe bài thơ. Hôm sau nhà Chúa đã đọc lại cho đình thần nghe, và cho rằng đó là lời mách bảo của thần linh (xem ĐNTL TI, NXB Giáo Dục, tr63).

Nguyên văn :

Tiên kết nhân tâm thuận.

Hậu thi đức hóa chiêu.

Chi diệp kham tồi lạc.

Căn bản dã nan dao (diêu)

Dịch nghĩa:

Trước hết phải cố kết nhân tâm cho thuận.

Sau là thi hành (chính trị) đạo đức để quy tụ mọi người.

Dẫu cành lá có gãy rụng.

Gốc rễ chẳng hề lung lay.

Trong văn học Việt Nam, người ta cho rằng đây là bài thơ thần thứ hai. Bài đầu là bài thơ “Nam quốc sơn hà”, tương truyền đã vang lên trong đền thờ hai vị thần Trương Hống, Trương Hát, ở ven sông Như Nguyệt, nơi phòng tuyến chống quân nhà Tống xâm lược, thời Lý Thường Kiệt.

Nếu bài thơ trước (Nam quốc sơn hà) là tinh thần, ý chí của dân Việt quyết tâm bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ của Đất Nước, quyết đánh bại mọi kẻ thù xâm lăng, được coi như một tuyên ngôn Độc lập, thì bài thơ sau là một “minh triết” chính trị. Bài thơ góp vào, làm nên sự phong phú sâu sắc của tư tưởng, đạo trị nước của Việt Nam. Cũng nên lưu ý một tình tiết tế nhị. Đó là bài thơ xuất hiện lúc đất Nước còn phân ly. Lực lượng nào muốn thắng, gồm thâu thiên hạ, đều phải chú ý đến những vấn đề cốt tử: Thi hành đức hóa, cố kết lòng người…

Ngoại trừ hoàn cảnh xuất hiện, phân tích kỹ 20 chữ của bài ngũ ngôn tứ tuyệt này, có thể rút ra được nhiều điều bổ ích, thú vị. Điều ấy, không những có ích cho những người lãnh đạo quốc gia ở tầm vĩ mô, mà còn có lợi cho cả công việc ứng xử ở tầm cơ sở, vi mô, của một gia đình, một doanh nghiệp, một cộng đồng xã hội, một chính đảng…

Chữ tiên, (trước hết) là nói tầm quan trọng của vấn đề. Câu đầu, đưa ra ba triết lý quan trọng: kết, nhân tâm thuận. Ba chữ này, là ba phạm trù rất cơ bản để nhận thức và ứng xử xã hội. Ngẫm về chữ kết, đã có điều thú vị, nó có vẻ dễ hiểu, thậm chí người ta nghe đã nhàm tai, nào kết đoàn ta là sức mạnh trong một bài hát Tàu, nào đoàn kết, đại đoàn kết…Chữ kết, người xưa viết với bộ “mịch”, có ý nói về sự bó bện cho bền chặt.Ý nghĩa là sự tập hợp cái nhiều (đa) thành cái một (nhất). Người ta phải “kết” cái nhiều lại để thành một cho mạnh cho bền chắc…nhưng không bao giờ lại thủ tiêu các thành viên, thành tố. Nếu hiểu kết mà chỉ nhăm nhăm coi trọng cái một mà bỏ cái nhiều, chỉ chú ý đến cái chung, mà bỏ cái riêng, thì chẳng còn ý nghĩa kết gì nữa. Đó là quy luật tự nhiên, huống chi là quy luật xã hội! Không thấy ý nghĩa “kết”, không thể gắn bó con người được. Phải hiểu và làm chữ kết trong thế vừa đề cao cái một, mà phải coi trọng cái đa, những thành tố riêng rẽ, để tạo thành cái “Kết”. Trong tự nhiên, người ta dễ hiểu và làm theo quy luật ấy. Như cái máy tính điện tử, nếu không coi trọng từng chi tiết, từng linh kiện, làm sao có thể có được chất lượng cao của bộ máy! Nhưng trong ứng xử xã hội, con người lại tầm thường đến độ ngu xuẩn, là muốn kết mà không muốn làm cho mọi thành tố mạnh lên!

Hai chữ nhân tâm cũng nên luận. Không nên chỉ hiểu đơn giản là lòng người. Phải thấy nhân là con người và cả cái tâm của nó. Nếu không biết nuôi dưỡng con người bằng một “politique” nhân văn, con người sẽ đói, sẽ khổ, sẽ méo mó bất thành nhân dạng, có thể thành quái thai, chỉ có phần con mà mất đi phần người.Trong trường hợp ấy, không thể có cái tâm đúng nghĩa.Tâm không chỉ là lòng người, nó là tổng hòa của cái trí, cái biết cái thức, thiếu tâm hồn, thiếu tri thức không thành người. Như vậy vấn đề nhân tâm không chỉ thuần túy là tinh thần, ý thức, tình cảm, tâm hồn. Phải tính cả những giá trị vật chất của con người cho con người, vì con người. Những thể chế, thiết chế, chế độ phản bội lại con người không thể gọi là nhân văn, lại có thể cố kết con người, làm mạnh con người. Còn chữ “Thuận”. Minh triết Việt biết đánh giá cao ý nghĩa chữ thuận – thuận vợ thuận chồng tát biển đông cũng cạn. Nhưng thuận không chỉ có nghĩa là cùng nhau, còn có cái nghĩa là theo quy luật, theo thiên tính, nhân tính, nhân tình. Con người từng đánh mất chữ thuận, nên đã làm cho con người, cho xã hội không hòa, địa không lợi, thiên không còn thời.

Vì thế, sau cái tiên kết, là nói hậu thi. Những điều phải thi hành, phải làm tiếp theo để thể hiện cho được sự cố kết, làm vững mạnh con người, làm cho nhân tâm thuận, nghĩa là làm cho tiến hóa nhân cách, nhân vị, nhân sinh làm cho tiến hóa xã hội.

Thi hành “đức hóa”, nghĩa là thi hành một nền chính trị đạo đức, nhân văn, một nền kinh tế đạo đức, nhân văn; một nền văn hóa giáo dục đạo đức nhân văn. Mọi sự tuyên bố chủ nghĩa, lý thuyết này nọ mà không theo tiêu chí ấy, đều là lừa dối, chỉ đạt tới dự nhất thời, nửa vời, đẩy con người và xã hội đi tới ngày càng suy đồi, tan rã. Không phải ngẫu nhiên, mà ngày nay đang xuất hiện nhiều những cảnh báo về cái ác tràn lan*, và đang đề xuất những tư duy lành mạnh, cổ vũ cho một tinh thần, một thái độ, một tâm thức “minh triết” trong đời sống. Bruce Lloyd**(Anh quốc) tha thiết đề nghị hãy kiến tạo xã hội minh triết, kinh tế minh triết. Còn Gandhi (Ấn) từ 1934, đã hô hào xây dựng nền giáo dục minh triết.

Thi hành đức hóa còn có nghĩa là thực hiện một đường lối, một phương thức quản trị, điều khiển, tổ chức, quản lý có nhân văn, đạo đức, coi trọng con người hơn là coi trọng giá trị vật chất gia tăng. Những cộng đồng, những xã hội vĩ mô và vi mô chỉ nhăm nhăm lợi ích giá trị vật chất gia tăng, bỏ rơi, bỏ quên con người, xã hội của con người đều không thể biện hộ cho tính “phản động” của mình. Người ta đang phải nói nhiều về nền chính trị có khuôn mặt người, kinh tế có tính người, văn hóa có tình người…

Đó là sự nuôi dưỡng, vun trồng, bồi đắp cho cái gốc, cái rễ (căn và bản) của con người, của xã hội, của Đất Nước, của nhân loại. Đó chính là bài học, là triết lý, là phương châm để một gia đình, một doanh nghiệp, một chính đảng, một nhà nước vận hành đạt tới nhân văn, tiến hóa. Nhãn tiền sự thoái hóa trông thấy trên Đất Nước ta và cả trên thế giới đều có thể chiêm nghiệm từ ý nghĩa bài thơ Thần này.

Xin chép lại bài thơ Thần đã xuất hiện đúng năm Ất Mùi (1655) và đôi lời thô thiển, nói lên cảm nghĩ của mình để hầu chuyện ban đọc bên chén rượu, chén trà xuân, năm này, cũng là một năm Ất Mùi của Dân tộc.

* Xin xem bài “Sự điên rồ của con người” TG Phạm Việt Hưng (Úc) trên trang blog <thonminhtriet.com>

** Tìm Bruce Lloyd trên mạng, bài Wisdom, Knowledge, Management and Leadership: Linking the Past, Present and Future.

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.02.2015

Hồ Chí Minh với Hoàng Xuân Hãn

Cụ Hoàng Xuân Hãn

Hồ Chí Minh với Hoàng Xuân Hãn

  •   Chu Trọng Huyến

“Cụ Hồ sẽ tiếp Hãn vào ba giờ chiều nay”. Đó là lời Cố vấn Vĩnh Thụy báo vớí Hoàng Xuân Hãn, vào sáng ngày  13-10-1945.

Hoàng Xuân Hãn (1908-1996), quê xã Yên Hồ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Ông đậu Thành Chung tại Vinh năm 1926 rồi ra Hà Nội học. Năm 1928, ông thi đỗ Tú tài toàn phần và được cấp bổng, du học tại  Pháp, lấy các bằng Kỹ sư Cầu – Đường,Thạc sĩ Toán… Năm 1936 ông về nước dạy các trường Trung, Đại học và làm công tác nghiên cứu, viết sách, trong đó có  cuốn “Danh từ khoa học”(1942). Từ 17-4 đến 23-8-1945, ông làm Bộ trưởng bộ Giáo dục- Mỹ thuật trong Chính phủ Trần Trọng Kim. Vào thời gian ấy, ông cho xây dựng và ban hành Chương trình giáo dục bằng Quốc ngữ ở các trường học, áp dụng việc học và thi Tú tài bằng tiếng Việt. Cách mạng Tháng 8-1945 thành công, sau những phút giây choáng váng, ông đứng về phía ủng hộ Chính quyền Dân chủ Nhân dân. Năm 1946, ông tham dự Hội nghị trù bị Đà Lạt là cuộc họp của các đại diện giữa ta và Pháp để chuẩn bị cho Hội nghị Phông-ten-blô. Năm 1951, từ Hà Nội, ông sang Pháp, định cư ở bên đó, công việc chính vẫn là nghiên cứu, học thêm, viết sách. Các tác phẩm nổi tiếng nhất của ông lúc này là “La Sơn Phu tử” viết về Nguyễn Thiếp(1952) cùng các sách Lịch sử và Lịch Việt Nam. Các công trình khoa học của ông đã được tóm lược trong bộ sách “La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn” do Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội ấn hành.Ông qua đời vào tháng 3-1996. Giáo sư, học giả Hoàng Xuân Hãn được Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhì và Giải thưởng Hồ Chí Minh về nghiên cứu khoa học(2000).

Như đã trình bày, Hoàng Xuân Hãn là một học giả nổi tiếng và cũng đã từng tham chính dưới thời Bảo Đại-Trần Trọng Kim. Cách mạng Tháng 8(1945) thành công, trước vô vàn khó khăn trong việc giữ vững chính quyền, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân ta, ông đã cố suy xét từ mọi phía để có một cái nhìn tương đối khách quan. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn trân trọng những ý kiến có lợi cho dân, cho nước từ các học giả, chính khách để thêm vững tay chèo lái, đưa con thuyền cách mạng Việt Nam lướt qua sóng gió trong hoàn cảnh lúc bấy giờ.

Sau đây là lời tự thuật của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn về nội dung và ý nghĩ của mình về buổi gặp riêng, duy nhất giữa ông với vị Chủ tịch nước. Ông nói:

   “…Chủ tịch tiếp tôi hơn một giờ. Hai lần xin cáo biệt nhưng Cụ giữ lại. Ban đầu bình phẩm về chính quyền. Tôi có nói: Nay ta mới độc lập, đang cần dư luận ngoại bang bênh vực. Nếu tỏ ra  bất lực hoặc có thái độ độc tài, thì khó lòng họ giúp mình. Cụ bảo rằng, (nếu có việc ấy là do) Ủy ban địa phương họ làm bậy chứ Chính phủ không có ý chuyên quyền. Cụ hỏi đi hỏi lại: “ Thế ra họ nói Chính phủ cộng sản, thực chăng?”. Tôi đáp: “Cụ đã nghe vậy thì có thật”. Cụ nói: “Còn Chính phủ độc tài thì có đâu. Trong Nội các có nhiều người không phải ở trong Mặt trận Viêt Minh”.

Cụ lại phân trần lâu việc bài xích hạng trí thức. Cụ nói Chính phủ không làm điều ấy; nhưng có người làm thì Chính phủ phải nhận lỗi. Rồi tôi nói sang chuyện đảng tranh làm dân chúng hoang mang. Chủ tịch rất chăm chú nghe, cặp mắt sáng trương to như rót vào mặt tôi. Cụ hỏi: “Trí thức theo cụ Nguyễn Hải Thần nhiều phải không? Ông giao thiệp rộng chắc biết”. Trong trả lời, tôi có nói: “Hình như khi ở nước ngoài, các cụ đã trù tính việc chung. Nay đều về, lại thấy các cụ chia rẽ, cho nên họ hoang mang. Nếu cụ Nguyễn Hải Thần chỉ kéo bè đảng mà thôi thì chắc họ (tức một số người chưa hiểu rõ tình hình) không theo. Cụ Nguyễn có tìm gặp tôi. Tôi đã thưa rằng, người trí thức chân chính không tìm địa vị. Các cụ già cứ hòa hiệp với nhau, rồi thì hạng trẻ như chúng tôi theo. Các cụ có cần gọi ra quét đường, họ cũng nhận”.

Nét mặt không di chuyển, Chủ tịch đặt câu hỏi thẳng: “Đối với ông thì cụ Nguyễn là thế nào?”. Tôi đáp: “Tôi không biết rõ nhưng cảnh huống bây giờ thì tuy là bậc cách mệnh lão thành nhưng trở về chậm nước, cụ phải ép vào thế non,…xem ra thế nào!” Cụ  (Chủ tịch) hỏi gặng: “Thế nào ?”. Tôi nói: “Thế nào…Tôi không tiện nói, chỉ có thể nói thế cụ Nguyễn(1) không được thuận. Tuy nhiên, làm cách mạng trong bốn mươi năm nay, cụ ấy có thanh thế. Vả, hạng trí thức ai cũng sẵn sàng làm việc nước, mà bị Chính phủ đem lòng ngờ vực, thì họ có đi theo cụ Nguyễn cũng là người ái quốc, đó cũng không nên lấy làm lạ!”…Tôi đứng dậy xin về mấy lần, Chủ tịch vẫn giữ lại. Cuối cùng, Cụ lại hỏi thẳng một cách cụ thể rằng: “Tôi có hai chuyện muốn hỏi ông. Ông cứ trả lời thật…Câu đầu là “Đối với cụ Nguyễn Hải Thần, nên làm thế nào?”. Tôi đáp: “Nếu cụ Nguyễn có thể làm dễ cho sự ngoại giao, thì nên dùng cụ. Tuy không nên cải tổ hấp tấp ra dáng sợ áp lực, nhưng nên cải tổ Chính phủ để hợp tác. Sự hợp tác phải thành thật, đừng để có cảm tưởng lấy danh nghĩa mà thôi”. Không động nét mặt mảy may, Chủ tịch hỏi tiếp: “Vấn đề thứ hai là ông cho biết một câu sát kết về Chính phủ?” Hoàng Xuân Hãn đã trả lời với đại ý: thừa nhận chủ trương đúng của Mặt trận(Việt Minh) là chống Pháp …

Về việc ấy, ông Hãn cũng trình bày là, lúc bấy giờ: “Chính phủ Trần Trọng Kim cũng đã có tác động cuối cùng là  khuyên cựu hoàng (Bảo Đại) mời các nhà cách mạng chính thức lập Chính phủ nhưng thiếu chuẩn bị (nên) sự ấy không thành…”

Rồi ông Hãn nói về tình hình cho đến lúc diễn ra cuộc gặp “Chắc riêng Chủ tịch hiểu rằng, đường đi đến độc lập và thống nhất còn dài và khó nhưng đại đa số còn lầm tưởng gần xong”.

Cuối cùng, Hoàng Xuân Hãn viết:

- Chủ tịch cảm ơn và thêm: “Hôm nay ông cho tôi biết được nhiều điều”. Tôi đứng dậy, từ giã, xuống lầu, cảm động vì có dịp tỏ nhiều lời tâm huyết, vì thấy vận mệnh đất nước đè lên vai một vị cách mệnh thâm niên gầy yếu nhưng tinh thần tinh anh, mặc tĩnh, thâm trầm, cử chỉ ôn tồn gãy gọn và kiên quyết. Không hiểu cảm tưởng của Chủ tịch đối với cá nhân tôi và những trực ngôn của tôi ra sao. Có lẽ không ai biết. Dẫu sao, hơn tháng sau,Cụ nhận sự hợp tác của các phái đối phương, và riêng đối với tôi, (cũng được)các anh đã nghĩ đến(2).

Sau khi Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946) được ký, để chuẩn bị cho một cuộc đàm phán chính thức bàn về quan hệ Việt-Pháp sẽ họp trên đất Pháp, một hội nghị trù bị gồm hai phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Pháp (đại diện cho thế lực của họ ở Nam Kỳ và Nam Trung Kỳ) được nhóm họp tại Đà Lạt (từ 19-4 đến 15-6-1946). Đoàn của Việt Nam do Nguyễn Tường Tam làm Trưởng đoàn và Võ Nguyên Giáp là Phó trưởng đoàn, có 12 đại biểu và 12 cố vấn, Hoàng Xuân Hãn là đại biểu, được phân công Trưởng tiểu ban chính trị của Đoàn. Ông đã ghi chép rất tỷ mỉ cộng với trí nhớ khác thường, sau này viết lại sự kiện lịch sử này, đăng (lần đầu) trên “Tập san Sử -Địa Sài Gòn” số 23, 24- 1971.

Nhớ là, ngày 15-4-1946 đoàn họp nhau lại để chuẩn bị cho chuyến đi. Chủ tịch Hồ Chí Minh và cụ Huỳnh Thúc Kháng đến thăm hỏi, căn dặn, động viên. Năm giờ rưỡi sáng ngày 16-4-1946, phái đoàn hội tụ ở Bắc Bộ phủ. Trước lúc phái đoàn ra sân bay để đi Đà Lạt, Hồ Chủ tịch và cụ Huỳnh lại ra tiễn chân anh em.

Tiếc là do phía Pháp cố bám lập trường thực dân của họ nên các vấn đề đặt ra tại Hội nghị này không đạt được một kết quả nào.

Dẫu vậy, do những tin tức từ Hội nghị Đà Lạt, nhân dân Pháp và các nước anh em bè bạn họ cũng hiểu được thiện chí tha thiết độc lập, tự do, yêu chuộng hòa bình, hữu nghị của Chính phủ và nhân dân ta.

Về phía Hoàng Xuân Hãn, sau đó, ông có tham gia dạy bộ môn Kỹ thuật cho một khóa huấn luyện của Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn. Rồi khi đã sang định cư tại Pháp, ông  còn theo học khoa Nguyên tử và đỗ bằng Kỹ sư của ngành này tại Đại học Saclay, năm 1956.

Say mê học hỏi, miệt mài nghiên cứu nhưng giáo sư Hoàng Xuân Hãn vẫn để tâm nhiều đến đất nước, nhân dân. Ngày  2-1-1996, tức 2 tháng, 8 ngày trước lúc qua đời, giáo sư có gửi thư về nước cho Nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Nguyên Phó Thủ tướng Võ Nguyên Giáp, trao đổi về tình hình phát triển của đất nước. Trong đó, nói về công lao lãnh đạo đấu tranh giải phóng đất nước qua trường kỳ lịch sử của dân tộc, ông viết: “Tôi đã có lúc luận biện về điều khác biệt giữa sự thắng ngoại xâm và sự giải phóng đất nước. Nước ta chỉ có hai cuộc giải phóng mà thôi: thời 1416-1427 với Lê Lợi cùng Nguyễn Trãi, và thời 1945-1975 với Bác Hồ cùng các anh”(3).

                                                                                                                              C.T.H

_________

(1), (2), (3) “Cụ Nguyễn” mà giáo sư Hoàng Xuân Hãn nhắc đến trong bài viết này là Nguyễn Hải Thần. Về nội dung buổi trao đổi, chủ yếu lấy từ  sách “La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn”, Tập II, Nxb Giáo Dục Hà Nội 1998. Nội dung những điều trao đổi giữa các nhân vật trong bài viết, chúng tôi giữ  nguyên cách hành văn đã in, chỉ sửa đổi tí chút  về mặt chính tả (chủ yếu là thêm những chữ trong ngoặc đơn) cho dễ hiểu hơn

( Nguồn :VHNA)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.02.2015

Lấn biển của Trung Quốc tạo lo ngại

Lấn biển của Trung Quốc tạo lo ngại

 Lê Phan

 

Sự việc Trung Cộng đang vội vàng và hăng hái xây dựng một loạt những kiến trúc trên các bãi cạn đang bị tranh chấp ở Biển Đông đang tạo báo động trên toàn vùng Thái Bình Dương và ở chính thủ đô Washington của Hoa Kỳ, lo ngại là Bắc Kinh đang dùng xi măng cốt sắt để hỗ trợ cho đòi hỏi đầy tranh cãi của họ về chủ quyền trên một vùng rộng lớn của một trong những hải lộ chính của thế giới.

Những hình ảnh mới

Những hình ảnh mới từ vệ tinh cho thấy Trung Cộng đang nhanh chóng nới rộng các đảo nhân tạo mà họ đang xây trên mặt của những bãi cạn ở Biển Đông.

Mới nhất, the IHS Jane’s, trước kia là Jane’s Defence vốn là một công ty nghiên cứu quân sự, cho thấy nạo vét và lấn biển trong năm qua tại Bãi Tư Nghĩa, thuộc quần đảo Trường Sa, đã tạo nên một hòn đảo rộng 90,000 yard vuông với hai bến đậu cho tàu bè, một sân bay cho trực thăng và điều có vẻ là một cơ sở có vẻ là một đài chống hỏa tiễn và cơ sở radar.

Hình ảnh vệ tinh chụp được hôm tháng 3 năm ngoái cho thấy chỉ mới có một cái nền xây trên mặt bãi vào lúc thủy triều lên. Một tấm hình khác cũng ở khu vực này, chụp hôm tháng 1, cho thấy một hòn đảo có người ở với những dự án xây dựng đang nhanh chóng hiện hình.

Theo Jane’s, những hòn đảo nhân tạo cũng đã mọc lên nhanh chóng ở Đá Gaven, Đá Gạc Ma, Đá Chữ Thập, vốn đều là những bãi cạn thuộc quần đảo Trường Sa mà Bắc kinh đã chiếm đóng.

Theo website mang tên Asia Maritime Transparency Initiative (Sáng kiến Minh Bạch Hàng Hải Á Châu), một cơ quan nghiên cứu của Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Thuật và Quốc Tế (Center for Strategic and International Studies-CSIS) trên Đá Gaven mà tiếng Việt gọi là Đá Ga-ven, Bắc Kinh đã xây dựng một căn cứ và cho đồn trú lính ở đó từ năm 2003. Nay thì cơ sở này gồm một bến đậu lớn nơi tầu có thể cập bến, nhiều ổ súng và các đài radar và truyền thông. Công cuộc xây dựng bắt đầu từ 30 tháng 3 năm 2014 và được xác nhận vào tháng 8 năm 2014. Nay một hòn đảo nhân tạo mới có diện tích 300×250 m, như vậy là tổng cộng 114,000 mét vuông đất mớc đã được xây dựng lên. Những kiến trúc mới ở Bãi Gaven hầu như hoàn toàn giống ở Đá Tư Nghĩa (tên quốc tế là Hughes Reef), cũng gồm một kiến trúc hình vuông có vẻ như là một tháp phòng không.

Ở Bãi Gạc-ma, vốn là một bãi ngầm rộng 7.2 km2 đã bị Trung Cộng chiếm từ tay quân đội Hà Nội, thì cho đến năm 2014, kiến trúc nhân tạo duy nhất là một bệ nhỏ chức một cơ sở thông tin, trại lính và một bến đậu. Bệ này nay được bao vây bởi một hòn đảo với diện tích 100,000 mét vuông. Đã có những tin đồn là Bắc Kinh muốn xây dựng một phi đạo trên hòn đá này, nhưng một số chuyên gia lý luận là nó quá nhỏ để có một ảnh hưởng chiết thuật đáng kể.

Bãi Chữ Thập nay đã là một căn cứ với 200 binh sĩ có khả năng radar và theo dõi kiểm soát vùng xung quanh. Các hoạt động lấn biển bắt đầu vào tháng 8 năm 2014, nhưng các họat động quanh bãi san hô này đã bắt đầu ba tháng trước đó. Trong giai đoạn từ tháng 8 đến tháng 11 năm ngoái, những tàu nạo vét Trung Cộng đã tạo nên một miếng đất chiếm toàn thể bãi cạn trước đó với khỏang chiều dài là 3,000 m và chiều rộng từ 200 đến 300 m. Hình ảnh từ vệ tinh của Digital Globe cho thấy là kế hoạch lấn biển của Trung Cộng đã gia tăng khu vực của Đá Chữ Thập gấp 11 lần, và làm cho nó rộng ra từ .08 đến .96 cây số vuông. Đá Chữ thập nay có thể là lớn gấp ba lần Đảo Ba Bình, vốn là hòn đảo lớn nhất của quần đảo Trường Sa do Đài Loạn kiểm soát. Các nhà phân tích tin là Trung Cộng có thể đang xây dựng một phi đạo trên Đá Chữ Thập.

Tạo quan ngại

Những hoạt động xây dựng này là chương mới nhất trong cuộc tranh chấp kéo dài về Biển Đông vốn đã đưa Trung Cộng đối đầu với hầu hết các nước láng giềng có hải phận lân cận và đưa Bắc Kinh trực tiếp đối đầu với Hoa Kỳ và Nhật Bản. Mục đích của việc Bắc Kinh lấn chiếm vùng này, theo tạp chí Foreign Policy, có thể là để củng cố việc tranh dành quyền lợi trong vùng biển giàu có, đầy tài nguyên ngư hải sản và chưa kể nguồn lợi dầu khí; nhưng đồng thời cũng là để tăng cường khả năng chế ngự quân sự trong một khu vực vốn bị Hoa Kỳ và các đồng minh chế ngự.

Trung Hoa thực sự chỉ mới dành Biển Đông trên nguyên tắc từ khi cuộc chiến Quốc Cộng chấm dứt hồi cuối thập niên 1940, khi Bắc Kinh và Dân Quốc ở Đài Loan đều dành chủ quyền trên một tấm bản đồ do Quốc Dân Đảng Trung Hoa vẽ ra, nhưng Bắc Kinh đã tăng cường việc dành chủ quyền trong những năm gần đây dưới thời Chủ Tịch Tập Cận Bình. Những hành động gây hấn như việc đưa một giàn khoan khổng lồ cùng với nhiều chục tàu hộ vệ vào vùng biển của Việt Nam hồi năm ngoái, tạo nên nhiều tháng chơi trò ú tim. Đồng thời các tàu của Trung Cộng thường xuyên gây sự với tàu đánh cá của các quốc gia khác.

Nay việc xây dựng vội vàng trên các bãi đá ngầm đang làm cho các quốc gia láng giềng của Trung Cộng lo ngại, kể cả Philippines, Indonesia, Malaysia và Việt Nam. Một phát ngôn nhân của Bộ Ngoại Giao Philippines tuyên bố tuần này là Philippines “quan ngại nghiêm trọng” về các hoạt động của Trung Cộng.

Vấn đề là liệu Trung Cộng có quyền, như họ nói, chiếm hầu như toàn thể Biển Đông, hay là liệu những cố gắng kiến trúc vội vàng ở những nơi đang tranh chấp này sẽ đi đến kết quả là qua mặt luật pháp quốc tế và thay đổi bộ mặt địa lý chính trị của một vùng đang đầy bất ổn. Manila đã kiện Trung Cộng trước một tòa trọng tài quốc tế về một số những bãi cạn tranh chấp, nhưng Bắc Kinh từ chối tham gia vụ kiện. Thay vì vậy họ tìm cách bắt nạt các quốc gia láng giềng với cần trục và tàu nạo vét. Bắc Kinh đã từ chối không cho phép cuộc tranh chấp về Biển Đông được đưa vào nghị trình của hội nghị sắp tới đây của Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN).

Giáo Sư James Holmes, giáo sư về chiến thuật của Học Viện Quốc Phòng Hoa Kỳ, được Foreign Policy dẫn lời nói, “Nếu Trung Quốc thực sự xây dựng những phi trường hoạt động được và các cơ sở khác trên các hòn đảo mà họ mới tạo dựng nên, thì họ có thể tăng cường cho những đòi hỏi chủ quyền lãnh thổ của họ.”

Việc xây dựng này đã làm một số người lo ngại ở Washington và ở Tokyo sợ là Bắc Kinh có thể cho đồn trú không hải quân ngay giữa những hải lộ thương mại quan trọng nơi là mỗi năm chứng kiến mậu dịch lên đến 5 ngàn tỷ đô la di chuyển qua.

Các viên chức Hoa Kỳ ngày càng tập trung vào tiềm năng đe dọa của sự hiện diện tiệm tiến này của Trung Cộng trong vùng. Mới tuần này, tư lệnh của Hạm Đội 7 tuyên bố là ông đang tính chuyện đặt chiến hạm Hoa Kỳ ở Úc, để tăng cường cho nhiều chiến hạm mới sẽ được bố trí ở Singapore bắt đầu từ năm 2017.

Một viên chức của bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, ẩn danh, đã cho biết là việc xây dựng của Trung Cộng trên các bãi đá này “đang tạo lo ngại trong vùng về ẩn ý của Trung Quốc trong quan ngại là họ sẽ quân sự hóa các căn cứ trên các địa hình đang bị tranh cãi ở Biển Đông.”

Thủ Tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã thúc đẩy quốc gia của ông từ bỏ chính sách chủ hòa của thời Hậu Đệ nhị thế chiến và theo đuổi một vai trò can thiệp quân sự hơn, một phần lớn bởi chính sách gây hấn của Trung Cộng trên toàn vùng Tây Thái Bình Dương. Trước đây trong tháng này, Nhật Bản nói họ đang tính chuyện nới rộng các cuộc đi tuần trên biển ở Biển Đông.

Và điều đó nhấn mạnh cho thấy nguy cơ của những hành động khiêu khích này của Trung Cộng: Họ đang làm các quốc gia trên toàn Á Châu bực tức và lo ngại, mà nhiều trong những quốc gia này trong những năm gần đây đã từ từ tiến lại vào quỹ đạo của Bắc Kinh vì tăng trưởng kinh tế khổng lồ của Trung Cộng.

Ngoài những cố gắng tăng cường quân sự của Nhật Bản, Philippines, Malaysia và Việt Nam đều gia tăng ngân sách quốc phòng, đặc biệt là các chiến hạm để đối phó với một hạm đội ngày càng lớn của Trung Cộng. Các xưởng đóng tàu Indonesia đang lần đầu tiên chuẩn bị nhận đơn đặt hàng của một khách hàng ngoại quốc. Đó là lệnh đặt hàng của hải quân Philippines. Úc đang tăng cường thêm nữa liên hệ quốc phòng với Hoa Kỳ và Nhật Bản và tăng cường thêm tàu ngầm và những hàng không mẫu hạm nhí cho hạm đội của họ. Các nhà phân tích chiến thuật nay nói đến nhu cầu cho Hoa Kỳ và Nhật bản tăng cường khả năng quân sự trên những hòn đảo ngoài khơi bờ biển Trung Cộng để giới hạn đe dọa này.

Vậy tại sao Bắc Kinh làm vậy? Theo Giáo Sư M. Taylor Fravel, chuyên gia về chính sách hàng hải của viện đại học Massachusetts Institute of Technology, thì việc Bắc Kinh biến những đảo san hô thành căn cứ hải quân và phi đạo có thể giúp đe dọa láng giềng qua việc giúp cho các lực lượng tuần duyên và hải giám của họ hoạt động xa các hải cảng của Bắc Kinh hơn. Việc này có thể mở màn cho việc lập lại cuộc chiến bằng súng bắn vòi rồng giữa các chiến hạm Trung Cộng và Hà Nội quanh giàn khoan như mùa hè năm rồi. Việc này lại càng có triển vọng xảy ra hơn nữa khi hôm tháng này Bắc kinh nói là đã tìm thấy một mỏ khí đốt “lớn” ở Biển Đông.

Nhưng ông Frazel cũng khẳng định là những tiền đồn này không giúp cho Trung Quốc đủ khả năng để xây dựng một vùng Nhận diện phòng không ADIZ trong khu vực này vì những đài radar đặt quá thấp và thiếu phi cảng đủ lớn gần đó. Ngược lại ông chỉ ra là những tiền đồn này sẽ là những mục tiêu đứng nguyên cho các đối thủ nếu chiến tranh xảy ra. Ông Fravel chỉ ra là những tiền đồn này rất dễ bị tấn công vì thiếu khả năng phòng vệ.

Điều quan trọng hơn nữa, theo Foreign Policy, là việc biến những bãi ngầm này thành những “hộp cát nhân tạo” chẳng thay đổi bao nhiêu tình hình về phương diện pháp lý. Hầu hết các luật gia quốc tế đồng ý là thay đổi những địa hình thiên nhiên không tăng cường thêm khả năng pháp lý. Điều này quan trọng vì bãi cạn và đá ngầm không có khả năng được coi là lãnh thổ cho chủ nhân của nó như là một đảo thực sự.

Tuy nhiên việc xây dựng này hiện đã tạo nên một thực tế khó khăn trên thực tế, ngay cả khi Washington đề nghị theo đuổi giải pháp ngoại giao và Philippines chờ ngày ra tòa. Điều đáng ngại, theo Giáo Sư Holmes là, “Nếu những quốc gia này không bảo vệ thành công được chủ quyền của họ thì họ sẽ làm gì? Và nếu họ không làm được gì cả, thì theo thời gian sự thực ở hiện trường sẽ củng cố thói quen quốc tế, hay cả luật pháp quốc tế nữa.Việc đó sẽ làm Bắc Kinh hài lòng lắm.”

(Nguồn: Internet)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.02.2015

Những kỷ lục của xứ Việt ta…

Những kỷ lục của xứ Việt ta…

QTXM-Xin phép không bình luận

Tô hủ tiếu lớn nhất

alt
Bánh tét dài nhất
alt
Bánh chưng, bánh dày lớn nhất
alt
Mâm ngũ quả lớn nhất
alt
Ly café lớn nhất
alt
Chai rượu lớn nhất
  alt
Những bữa cơm không bát đũa
alt
Đói rét chờ lũ rút
alt
Tuổi già bươi chải kiếm ăn
alt
Những đứa trẻ màn trời chiếu đất
alt
Những chỗ trú không thể gọi là nhà

( Nguồn: Internet)

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.02.2015

SAO LẠI LÀ “MÙA XUÂN CHÍN” ?

 

  SAO LẠI LÀ  MÙA XUÂN CHÍN” ?

                                    

     Ngô Minh

                Các  thế hệ nhà thơ Việt Nam đều có rất nhiều bài thơ Xuân rất hay, nhưng không hiểu sao cứ những ngày cận Tết đến Xuân về,  hồn tôi lại cứ vang lên bài thơ Mùa Xuân chín của Hàn Mặc Tử. Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi, / Hổn hển như lời của nước mây…Bài thơ như một nỗi niềm, bắt đầu từ những nét chấm phá đơn sơ mà ám ảnh:

                                         Trong làn nắng ửng khói mơ tan

                                          Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng

                                          Sột soạt gió trêu tà áo biếc,

                                         Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang.

            Bài thơ bắt đầu từ một buổi sáng rất bình yên, tinh khiết của một làng quê miền Trung thân thuộc. Tôi hình dung ra nhà thơ đang ngồi một nơi nào đó trên cao, trầm ngâm quan sát những hình ảnh, sắc màu Xuân đang hiển hiện từng nét, từng nét trước mắt mình. Trong làn nắng ửng khói mơ tan. Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng . Hai câu thơ tĩnh mà động. Tĩnh ở cảnh mà động ở tình.  Nắng ửng là nắng mới nhú, là nắng non, nắng xuân. Giống như Nắng mới của Lưu Trọng Lư : Mỗi lần nắng mới hắt bên songKhói mơ là sương giăng, là khói bếp chiều qua còn đọng lại,  đang tan dần trong nắng sớm . Thi sĩ phát hiện thêm những nét thuỷ mặc dưới thung xa:  Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng. Đó là hoa nắng, là ánh xuân đang rắc lên trời đất.. Đến câu thứ ba , thứ 4 của khổ thơ đầu thì  tác giả  bắt đầu nghe âm thanh, bóng dáng của mùa xuân sột soạt ngay cạnh mình : Sột soạt gió trêu tà áo biếc / Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang. Những động từ  Sột soạt, trêu, sang…nói rằng mùa xuân đang về gần lắm, tinh khôi lắm. có thể hít thở, sờ nắm được. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.02.2015

THƠ KHAI BÚT NĂM MÙI CỦA NGUYỄN TRỌNG TẠO

QTXM-Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo của mail cho Ngô Minh:”Gửi Ngô Mịnh bài khai bút. Khỏe nhanh lên nhé”. Bài thơ là tâm trạnd xốn xang của tác giả đầu năm trước bao điều thật giả. Xin trân trọng gửi đến quý độc giả.

BÚT NHƯ-Ý

 Nguyễn Trọng Tạo

Quà giao thừa một cây bút Như-ý

Hành Giả để trên bàn rồi về núi Quả Sơn.

Tôi nâng bút lên

Suối chảy mây vờn

Chim kêu vượn hót

Hoa quả đung đưa

Kẻ cười người khóc

Âm mưu bủa lưới hồn nhiên

Cõi nhân gian bé nhỏ. Cõi thiên đường

Mờ tỏ

Bút Như-ý phát hào quang rạng rỡ

Lộ thiên

Gương mặt điên điên

Gương mặt hiền hiền

Gương mặt đen đen

Gương mặt đỏ đỏ…

Những gương mặt vừa quen vừa lạ

Những chán chường và những yêu thương. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.02.2015

TRIẾT LÝ ẨM THỰC DÂN GIAN VIỆT

   TRIẾT LÝ ẨM THỰC DÂN GIAN VIỆT

                                     

      Ngô Minh

               Người Việt lúa nước từ ngàn năm nay đã tự tổng kết cho mình một một triết lý ẩm thực rất tinh tế và sâu sắc về tất cả các  khía cạnh của văn hoá ăn : Chọn thực phẩm ngon, cách chế biến món ăn, văn hoá ăn…Thời chưa có sách vở, triết lý ăn của người Việt đã được lưu truyền qua ca dao, tục ngữ. Ông cha ta nói Có thực với vực được đạo. Nhưng lại day Học ăn học nói, học gói học mở. Nghiên cứu triết lý ẩm thực Việt qua  ca dao tục ngữ cũng là một cách tìm về cội nguồn.

              Muốn có món ăn ngon phải biết chọn thực phẩm ngon. Muốn chọn thực phẩm ngon phải biết mùa. Tháng chín mùa rươi, tháng mười cua ra, tháng ba mùa rạm . Trong sách Miếng ngon Hà Nội, Vũ Bằng viết :” đến đầu mùa mà không được ăn bữa rươi thì như là một người đàn bà đẹp đã để phí mất tuổi hoa…”. Rươi xào với niểng thái chỉ, hay chả rươi, rươi hấp, rươi rang, mắn rươi… đều ngon, đều lạ, nhớ đời. Nhưng rươi mỗi năm chỉ có mấy ngày “Tháng 9  đôi mươi, tháng 10 mùng 5”. Nếu quên sẽ tiếc lắm, nhớ lắm. Biết mùa rồi còn phải biết địa chỉ : Muốn ăn bánh ít lá gai, lấy chồng Bình Định sợ dài đường đi; hay Ai về Tuy Phước ăn nem , Ghé qua Hưng Thạnh mà xem Tháp Chàm. Tuy Phước, Hưng Thạnh đều là địa danh ở Bình Định. Hà Nội có nhiều loại thực phẩm ngon nổi tiếng : Vải Quang, húng Láng, ngổ Đầm. cá rô Đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây, hay Ổi Quảng Bá, cá Hồ Tây…. Dưa La, cà Láng, men Báng, Tương Bần, nước mắn Vạn Vân, cá rô Đầm Sét. Rồi về với Huế :Tôm đồng lột vỏ bỏ đuôi, gạo de An Cựu mà nuôi mẹ già. Hay câu ca thể hiện sự gốc gác chung thuỷ của con người: Nhớ em anh nhớ quê nhà. Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương ! (Đọc tiếp…)

Những điều cấm kỵ trong ngày đầu năm mới trên thế giới

 

(TNO) Không chỉ ở Việt Nam, nhiều nước trên thế giới cũng có những điều kiêng cữ vào ngày đầu năm mới. Trong đó, có những quan niệm về điềm lành và điềm gở khá giống Việt Nam.

Những điều cấm kỵ trong ngày đầu năm mới trên thế giới - ảnh 1Khoảnh khắc đón năm mới ở Quảng trường Thời Đại, thành phố New York, Mỹ – Ảnh: Reuters

1. Không cho ai mượn tiền và trả dứt nợ

Nếu cho ai đó mượn tiền hay các đồ vật quý giá vào năm mới, bạn sẽ mất cả năm chỉ để đi đòi nợ và làm việc để trả nợ. Tất cả khoản nợ cũng phải được trả trước khi năm cũ qua đi. Không những vậy, bạn phải giữ tiền trong túi. Việc này sẽ mang lại sự thịnh vượng và may mắn.

2. Không khóc vào ngày đầu năm

Ai cũng nên lạc quan và hạnh phúc vào ngày đầu năm, vì như vậy họ sẽ gặp may mắn và thuận lợi cho cả năm đó. Không những ở Việt Nam, nhiều nước trên thế giới cũng kiêng cữ rơi nước mắt vào năm mới. Thậm chí ở một số nước phương Tây, nếu họ vô tình bắt gặp một chú mèo đang khóc thì phải bỏ chạy theo hướng ngược lại vì đó là điềm gở.

3. Giặt quần áo sẽ mang đến tai họa chết người

Giặt quần áo vào năm mới là điều rất cấm kỵ. Vì quần áo mang trong đó sự may mắn của con người. Nếu ai đó giặt quần áo thì may mắn sẽ trôi sạch, họ và gia đình có thể gặp tai họa chết người trong năm. Thậm chí, người ta còn kiêng cữ gội đầu vào năm mới cũng vì quan niệm đó.

4. Không đổ rác

Không được đổ rác, thức ăn hay bất cứ cái gì vào ngày đầu tiên của năm mới. Nếu có thứ gì muốn vứt đi, người ta sẽ để nó bên góc nhà hoặc trong nhà. Tất cả rác thường sẽ được đổ vào trước đêm 31.12 hoặc chờ đến ngày 2.1.

5. Không ra khỏi nhà hay mang vật gì ra khỏi nhà

Không nên đi ra khỏi nhà vào năm mới nếu không thực sự cần thiết. Việc ra khỏi nhà có thể khiến người ta bị mất đồ đạc và gặp xui xẻo trong năm tiếp theo. Ngược lại, nếu mang đồ đạc vào nhà sẽ gặp nhiều may mắn. Trong trường hợp bắt buộc phải mang vật gì đó ra khỏi nhà, gia chủ thường sẽ bù đắp bằng cách mang lại một vật gì đó vào nhà.

Ngọc Quý (tổng hợp

( Nguồn: Thanhnienonline)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.02.2015

THƠ DÊ CỦA LÊ ĐẠT

Nhà thơ Lê Đạt

Ông cụ chăn dê

 Lê Đạt

QTXM- Lê Đạt là nhà thơ say chữ. Ông coi chữ là hồn cốt của thơ. Tết Con Dê, xin mời bạn đọc thưởng thức bài thơ về Dê của  nhà thơ Lê Đạt để hiểu thêm về nỗi buồn của ông một thời và thưởng thức tài dùng chữ của thi sĩ.

Ông cụ mịt mù dê phía núi
Rít rít làng và khói xóm lưng

Mặt con chim hót
Thuở ông già nhập núi
                                  gió cửa rừng vơi lạnh

Ơi! Cái hơi người

Lũng vắng
Ba lần thuốc ông châm
Mảnh tinh lạc trời
Có quẹt đúng tẩu ông già gỗ sâng
mồi thuốc Mán bỗng rực
Ông rít hơi dài
Đàn dê bõm bẻm trăng
Mấy lũn cũn dê con
Chân tân tất trắng
vểnh râu thang gọi
Be he ông
Ông vuốt râu cháu nhỏ
đứa ông đón tay hạt muối
Bầy chiên lành cỏ mộng
luân mùa đất hẹn
Chăn đàn râu nắng

Ông là ông cụ chăn dê
Lòng những nơi mầm

Ông cải cỏ nương Voi
Cửa núi mình tơ tơ đẹp
Tỉa ngọn rừng non xòe lá tán
Miệng nõn nà dê
Đàn dê ông nuôi Hợp tác
nhân như rừng…

Anh kế bổ túc về
Biết phép tam suất
Đếm đi đếm lại
Một con dê trắng… hai con trắng dê
ba con dê trắng…
Dê hằng hà nghìn lẻ vỗ bạch đêm
Ơ những con A con B con C
con Dê
bản trang trang trắng thảo thơm
ông rén bước nhẹ
Mùa chẳng là xuân
Đất dậy men
Trời ghẹ xanh
Yếm trúc mẩy măng đôi núm sừng bò
Mót xoan
Gốc lim mười năm sét đánh
Ngó ngoáy chồi tơ trái đào
gọi là tí xuân
Con đông thử
đất lòng nửa năm tu ngủ
hé him mắt
ngáp cái xuân khởi động…
Bụng mầm xoan ba tháng
Rừng động xanh
Ai đừng được xuân
Mấy dê non buồn sừng húc gió
cẫng lên cỡn lên
Be he xuân

Ông bắt quả tang cây bạch đàn

Nồi cơm phì
                  phưỡn bụng khì

Anh kế thì say ông già đong lẫn
thì ông già khà khà
“Mùa xuân… mùa xuân
                                  gạo nở”

Ngày lún phún nắng
Gió xông nhà đỏ hoa hí hởn
màu phong bao

Anh kế lên cây “xi-mi-li”
đánh mới nước lần đôi xăng đá
Ông cháu ta xuất hành hướng nào
Ria vân vê đăm chiêu ông cụ
một câu khai bút
gầm sàn con hoa mơ bỗng

Đét đùi ông cụ nét hơ hớ
một sự sinh
tay ha hả phía mọc trời
“Hướng cục tác”
Ơ hỡi ngực son
phập phồng non nõn xuân
Con mái đuôi xòe ngơ ngỡ
Chiều bạn chân đàn núi
                                   gặm xanh đồng sao

Ông ngồi… thời gian
Trán bồi nếp địa tầng
Đêm vô cùng ông hàn huyên gì
Mải trời
Chiếc tẩu Mán khẽ rung
Có phải cần vô tuyến điện
Tút tít bên kia lúc lại bíp bíp về
Như tiếng chim bìm bịp đôi khuya
Ông hắt hơi thông ba lần
Chân ông con cún mực dương không động
leo lét ánh mắt sao ơi là xa
Nó anh em gì chó đăm chiêu Kim tự tháp
Năm trầm ngâm cát
nung nấu mơ mầm đá
Ông biết chờ…

*

Giang cánh cửa trời xanh ông
                                          “Chào bác”

Tức có hồi âm
                   “Chà… ào b… aác”

Trịnh trọng ông ngả mũ
Anh kế chợt à
Hai người chào ngôi thứ ba
Bông hoa mười giờ ai hẹn hò
Có người gọi hoa đồng hồ
Ông nghiêng bình toong nhựa Hàm Rồng
khà thôi nước luộc
tóc vòm lơ đãng trắng
Gối đầu tay hoa chờ
Ô sợi tóc tiên nào cù râu
Từng duyên nợ loài chim hiếm
Thời đồng đá đâu bay biển cạn
Tay hơi ai một chiếc lông đuôi
Nhịp nửa cầu vồng
ngã tư áo giải nàng công chúa
Be he Be he

Từng tiếng đơn thanh gió
Người khách du thấp thỏm chân trời
Nương sắn chiều nhớ lửa
Con gà rừng gáy gọi

Ông lim dim
nghe im cựa máy mùa

Sớm nay nhìn gì
Đỉnh núi ông đứng
Ông đứng nhìn gì
Bảy mươi năm làm người
hòn đá trôi xuôi
Con mương nay mừng thuận ngược
Dâu chiêm rể mùa
Hai họ lúa đi tơi tới
Ai thống kê bản Phượng hoàng xanh đèo đôi
Vườn đồng bào xen như vui vườn trẻ
Trạm thủy điện nhỏ đầy tuổi tôi bật đèn
Cây me mũ thóp đỏ đầu nhà sinh

Ông đứng cả giờ
Ông vẫn đứng

*

Dân bản xì xào
Như đỉnh núi ít lâu nay nhô cao
Các cụ rằng
Sách chép Âm Dương vận hành
Trăm linh xuân
lần đá đẻ
điềm Đại Mùa

Chòm núi hình sương sớm ông cụ chăn dê
Người ta gọi chòm núi
                                 Ông cụ Chăn Dê


Nguồn: Lê Đạt, Bóng chữ, NXB Hội nhà văn, 1994

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.02.2015

CHÚC MỪNG NĂM ẤT MÙI

CHÚC MỪNG NĂM ẤT MÙI

NĂM ẤT MÙI ĐẾN, QUÀ TẶNG XỨ MƯA CHÚC BẠN ĐỌC BỐN PHƯƠNG AN LÀNH, TÀI LỘC. NĂM GIÁP NGỌ QUA, QUÀ TẶNG XỨ MƯA (ngominh.vnweblogs.com và ngominhblog.wordpress.com) ĐÃ CÓ HÀNG TRIỆU ĐỘC GIẢ TRUY CẬP. ĐÓ LÀ ĐIỀU VÔ CÙNG PHẤN KHÍCH ĐỐI VỚI  CHỦ BÚT BLOG NGÔ MINH. TRONG NĂM CŨNG ĐÃ CÓ NHIỀU ĐỘC GIẢ HƯỞNG ỨNG LỜI KÊU GỌI CỦA QUÀ TẶNG XỨ MƯA ỦNG HỘ SÁCH CHO HỌC SINH LÀNG BIỂN NGHÈO, ỦNG HỘ KINH PHÍ ĐỂ IN TUYỂN TẬP LÊ ĐÌNH TY, KINH PHÍ HỖ TRỢ CHÁU HOÀI NAM, CON NHÀ THƠ QUÁ CỐ HẢI KỲ CHỮA SUY THẬN. THẬT LÀ CẢM ĐỘNG. NĂM ẤT MÙI ĐẾN QUÀ TẶNG XỨ MƯA XIN TẶNG BẠN ĐỌC CON DÊ CÓ CHỬA VÀ HAI BÀI THƠ VỀ TẾT

                                      Ngô Minh

                                           GIAO THỪA

                                      U ngóng giao thừa

                                      Cứ như trẻ nhỏ thức chờ cạn khuya

                                      Cái đợi thì chẳng tháy về

                                      Cái không đợi lại u mê hồn người

                                     

                                  Về ăn tết Huế

                                       nắng về ăn tết Huế
                                       vàng mai vàng sân vàng phố vàng chùa
                                       rưng rưng anh cắm cành nắng mới
                                       lên chỗ mình ngồi Xuân xưa

                                       sương về ăn tết Huế
                                       lừng thơm khói bánh giao thừa
                                       mưa xuân the vị mứt gừng lên tóc
                                       rêu Hoàng thành còn mắc lối sương qua

                                       người về ăn Tết Huế
                                       tập ăn trầu đỏ má đỏ môi
                                       người cắn hạt dưa người chờ câu hẹn
                                       thẻ xăm chùa khúc khích ngày mai 

                                       rủ nhau về ăn tết Huế
                                       ngàn thông thắp nến sang mùa
                                       Hương Giang trăm năm vua ngự
                                      vẫn giòn như thuở còn chưa…

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.02.2015

TẾT PHỞ

      TẾT PHỞ

                                                      Ngô Minh

             Năm 2011, chương trình CNNGo của kênh truyền hình CNN (Mỹ) vừa bình chọn và giới thiệu 50 món ăn ngon nhất thế giới. Trong đó Việt Nam có hai món Gỏi cuốnPhở được chọn.  Nhắc đến phở là nhớ Hà Nội. Nhớ về Hà Nội cái đầu tiên tôi nhớ là nhớ phở. Lại nhớ  thời sinh viên với những những cái Tết phở .  Phở Hà Nội bây giờ ở khắp bắc, trung , nam đâu đâu cũng có, nhưng chỉ có về Thủ Đô mới được thưởng thức “phở thứ thiệt”,” phở Hà Nội rin”. Phở đã vào thơ Tú Mỡ từ gần bảy mươi năm trước. Trong bài thơ Phở Đức Tụng ( ca tụng công đức của phở), hơn 40 câu viết năm 1937 nhà thơ mê phở và luận về phở rất hay : Một vài xu nào đắt đỏ mấy mươi/ Mà đủ vị: ngọt, bùi, thơm,béo, bổ. Bởi vậy:

                              Đừng khinh phở là món ăn hèn mọn

                              Đấu xảo thành Ba-lê còn phải đón phở sang

                              Cùng các món ăn ngoại quốc phô trương

                              Ngon lại rẻ, phở thường tranh quán giải

                              Sống trên đời, phở không ăn cũng dại…

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.02.2015

Con dê chín mùi

Con dê chín mùi

  •   Đặng Tiến

 

 Miền thôn dã quê tôi thường nghe câu hát ru em âu yếm và lạ lùng :

Ru em buồn ngủ buồn nghê

Con tằm chín đỏ, con dê chín mùi (muồi)

Con tằm chín đỏ để lại mà nuôi,

Con dê chín mùi làm thịt em ăn.

Lời ru thân thuộc, ngọt ngào lẫn chút huyền bí, lảng đảng  giữa những giấc trưa quạnh vắng. Ý nghĩa của nó chờn vờn  trong ánh nắng, gắn bó với bóng tre, đụn rơm, đọt xoài, lá mít. Câu hát dỗ dành giấc ngủ trẻ thơ, phất phơ một ít mộng mị người lớn, là thành phần một thực thể thôn trang. Nó hồi âm  cuộc sống, thực tế và tâm linh. Tách rời khỏi môi trường “một buổi trưa không biết tự thời nào““[1] thì câu hát vô nghĩa, vô lý – trừ phi ta cố công phân tích từng hình ảnh thành biểu tượng, tách lìa ra khỏi trí tưởng đơn giản của nông thôn. 

Giáo sư Bửu Cầm, tại giảng đường Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, năm 1962, có đưa ra giả thuyết : đây là câu hát vọng lên từ thuyền đò  : 

Ru con buồn ngủ buồn nghê

Con này mới théc (ngủ) con tê dậy rồi

Lời ru chập chờn lênh đênh trên sông nước, và ngọn gió vô tình đã thổi lệch đường viền của những âm hao, tạo ra những con dê chín mùi.

*** 

Năm Mùi, còn gọi là năm Vị : Mùi, Vị (năm, viết với bộ mộc) là hai từ đồng nghĩa, nhưng có thể xem như một từ với hai cách phát âm khác nhau : vị là cách đọc hán việt, mùi là cách đọc việt xưa (hay cổ Hán Việt có từ thời Đường). Còn mùi, vị hiểu theo nghĩa cảm xúc bằng mũi và lưỡi là hai từ khác, và khác nghĩa, tuy cùng một gốc từ nguyên. Ngày nay, trong tiếng Hán Việt,( khong phải thuần Việt) chữ mùi chỉ có nghĩa niên lịch, ngày giờ, còn chữ vị thì thông dụng và kết hợp rộng rãi hơn. Ở Trung Quốc, tiếng Quảng Đông phát âm giống nhau : Quý Mùi (mei6) mùi lai (vị lai), nơi khác phát âm là Vị (wei4). Tiếng Việt nói : At Mùi hay At Vị, nhưng không nói tuổi Vị, giờ Vị. 

*** 

Dê là một biểu tượng phong phú, xuất hiện lâu đời từ thời tiền sử loài người, trong đời sống vật chất và tâm linh. Sách Lĩnh Nam Chích Quái ở chương đầu tiên, về họ Hồng Bàng, đã kể lại rằng từ thời xa xưa ấy, người Việt trong hôn nhân, đã biết « giết trâu dê làm đồ lễ ». Nghĩa là con dê đã được nuôi làm gia súc và sử dụng vào việc tế lễ, nhưng không lấy gì làm bằng. Sử sách ghi lại rằng, thời Hán, 200 năm trước công nguyên, Lữ Hậu đã cấm xuất khẩu ngựa cái và dê cái sang Nam Việt để giới hạn việc chăn nuôi ở phần đất do Triệu Đà chiếm cứ. 

Vào giữa thế kỷ 16, trong bài Đào Nguyên Hành, Phùng Khắc Khoan (1528-1613) tục gọi Trạng Bùng đã tả cảnh nông thôn Việt Nam : 

Trâu bò, gà lợn, dê ngan,

Đầy lũ đầy đàn, rong thả khắp nơi.

***

 Từ Đông sang Tây, biểu tượng dê phong phú và phức tạp. Từ dê đực sang dê cái hình tượng đã đổi giá. Dê cái là hình ảnh đáng kính yêu trong các huyền thoại phương Tây, là nghĩa mẫu của thần Zeus, là bóng dáng con người gian nan vượt núi trèo non đeo đuổi cuộc sống và lý tưởng ; sừng dê cái biểu tượng sức sản sinh phồn thịnh. 

Ngược lại, dê đực tượng trưng cho mãnh lực và nhu cầu tính dục. Một chàng dê có thể đơn thân độc cước phục vụ cho cả đàn dê cái mà không mấy cực nhọc. Trong các xã hội xưa, đạo đức và tôn giáo tìm cách kìm hãm bản năng tính dục, thì sinh lực của chàng dê bị bêu riếu, phê phán, bị sử dụng như một thứ « dê tế thần, dê sứ giả » (bouc émissaire, scape coat) để ổn định xã hội. Trong khi đó, thịt dê vẫn được trân trọng « rượu nồng dê béo » vì được xem như có chất bổ dương. Chê cười dê, nhưng mong khỏe như dê. 

Người đàn ông hiếu dục, Tây phương gọi là Satyre, Việt Nam gọi là dê, dê xồm, dê cụ, dê được dùng làm động từ «  dê gái ». Trong trò chơi đánh đề, mỗi con số đề có vẽ hình một súc vật : số 35 kèm hình con dê : do đó « băm lăm » có nghĩa là hiếu sắc. Và hình tượng dê, trong nghĩa tiêu cực, chỉ áp dụng cho đàn ông. Đàn bà thì gọi là ngựa. Nghiệm cho cùng hai con vật đều bị hàm oan. Con người cũng là hàm oan của quyền lực : các đấng thần linh, mẫu hậu, đế vương thì không ai dám nói rằng dê rằng ngựa. 

Trong huyền thoại Hy Lạp con dê đực còn là hình tượng của thần Pan, thủy tổ của mục đồng, ngày xưa là kẻ chăn dê ; Pan sống trên non cao, thổi sáo làm bằng ống sậy để tưởng nhớ giọng nói của người yêu đã lẫn hồn vào lau lách. Dê còn làm hình tượng cho Dionyos, thần chủ của rượu nho, mặt nạ và sân khấu, do đó bi kịch, một thể loại văn học lớn lao của nhân loại, tiếng Hy Lạp là tragôidia bắt nguồn từ tragos, nghĩa là con dê đực. Vậy bi kịch là khúc dương ca, nói cho văn chương. Gọi là tiếng be he thì là vô lễ, nhưng không phải là vô lẽ. 

Trong tín ngưỡng dân gian, con dê có mặt trong bảng tử vi phương Đông lẫn phương Tây. Trong lịch Trung Quốc, dê tượng trưng cho năm Mùi ; trong lịch phương Tây, Dê tên là Ngư Dương sừng dê đuôi cá : capricorne là một trong 12 chòm sao trên hoàng đạo, ứng vào ngày đông chí ở Bắc bán Cầu : ngày bắt đầu dài. Trong niềm tin dân gian, đây là điềm lành. 

***                                                          

Năm bộ da dê

                                                           Bá lý Hề, năm bộ da dê

                                                           Từ chàng ra đi

                                                           Mổ con gà mái

                                                           Nồi cơm gạo đỏ

                                                           Chừ thương thì thương

                                                           Ngày nay giàu sang

                                                           Chàng quên chăng chàng

Đây là một câu hát trong bộ truyện Đông Chu Liệt Quốc. Bá Lý Hề là nho sĩ nghèo, bốn mươi tuổi phải bỏ nhà ra đi tìm công danh, có lúc phải ăn mày, cuối cùng đi giữ trâu và chăn ngựa cho vua Sở. Tần Mục Công biết tài, muốn rước về, nhưng sợ vua Sở phỗng tay trên, chỉ chuộc bằng năm bộ da dê. Bá Lý Hề về Tần, làm tể tướng, tuổi đã bảy mươi. Người vợ già lưu lạc và nghèo khó, tìm đến xin làm gia nhân, rồi thừa dịp hát bài hát nói trên, kể lại chuyện tiễn chồng ba mươi năm trước và Bá Lý Hề nghe lời hát đã nhận ra người vợ tao khang. Câu chuyện lý thú và cảm động, và chứng tỏ là trước công nguyên, việc nuôi dê đã phổ biến, da dê đã là hàng hóa thông dụng. Dĩ nhiên Đông Chu Liệt Quốc là tiểu thuyết viết sau này, nhưng cũng dựa vào tư liệu lịch sử.

Cùng thời chiến quốc (453-221 trước công nguyên) sách Trang Tử đã có kể chuyên người bán thịt dê nước Sở, có công phò vua, nhưng từ chối công khanh. Sách Liệt Tử, cùng thời, kể chuyện một con dê mất, nhiều người đi tìm, nhưng không kiếm ra vì đường đời lắm ngã rẽ. 

Trong điển cố phổ biến, có chuyện vua Tấn Vũ Đế đi xe dê vào hậu cung và các cung nữ rắc lá dâu trộn muối để cho dê dừng lại. Nên Nguyễn gia Thiều (1741-1791) trong Cung Oán Ngâm Khúc đã có câu : 

                                                         Phải duyên hương lửa cùng nhau

                                                         Xe dê lọ rắc lá dâu mới vào

và nhiều lần dùng chữ hán dương xa

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) không cần dùng đến điển cổ ngoại nhập, mà chỉ xử dụng thành ngữ  treo đầu dê bán thịt chó :

                                                         Lận thế treo dê mang bán chó

                                                         Lập danh cỡi hạc lại đeo tiền

(Lận nghĩa là lừa dối, trong từ gian lận, biển lận) câu thơ đồng thời chứng tỏ thành ngữ nói trên phải có từ lâu, và con dê là món hàng phổ cập. 

Tuy nhiên trong dân gian, nổi tiếng nhất là chuyện Tô Vũ chăn dê. Thời Hán Vũ Đế (141-87), Tô Vũ đi sứ Hung Nô, bị vua Thuyền Vu bắt giữ, đày lên miền Bắc Hải chăn dê, hẹn khi dê đực đẻ con mới được phóng thích, và loan tin Tô Vũ đã chết. Mười chín năm sau, Hồ Hán giảng hòa, sứ nhà Hán bịa đặt chuyện vua Hán nhận được thư Tô Vũ buộc vào chân nhạn, Thuyền Vu hoảng sợ mới trả Tô Vũ. Trong cõi lưu đày, Tô Vũ đã kết bạn với một con vượn cái. Chuyện Tô Vũ, với nội dung cảm động và nhiều tình tiết éo le đã là một đề tài nghệ thuật, cho nhiều tranh tượng, và điệu hát dân gian. 

*** 

Lê Thánh Tông (1442-1497) đã có hai bài Vịnh Tô Vũ , trong Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập : 

                                                         Biển bắc xuân chầy dê chẳng nghén

                                                         Trời nam thu thẳm nhạn không thông

Phải chăng đây là lần đầu, con dê, và tên dê, xuất hiện trong văn học quốc âm, nếu quả thật là thơ Hồng Đức. Vì bài này lại thấy trong truyện nôm Tô Công phụng sứ, khuyết danh, gồm có 24 bài đường luật, tương truyền có từ thời Mạc, thế kỷ 16, nhân chuyện Lê quang Bí đi sứ Trung Quốc, bị nhà Minh giữ lại 18 năm ở Nam Ninh, giống Tô Vũ ; truyện có những câu hay : 

Hơi dê hãy ngấu manh tơi lá

Tuyết nhạn còn in cái tóc lông

Ý nhắc hoàn cảnh người chăn dê sống chung với dê, quần áo đượm mùi dê, lông tóc trắng màu lông nhạn nơi Bắc Hải. 

Trong Hồng Đức Quốc Âm thi tập, còn có hình ảnh con dê độc lập, đi thẳng từ thiên nhiên vào thi ca, mà không qua điển cố văn học, trong bài Tương Phùng : 

                                                         Ong già buông nọc châm hoa rữa

                                                         Dê yếu văng sừng húc dậu thưa

Nếu quả thực là tác phẩm Lê Thánh Tông, hay một người nào khác trong nhóm Tao Đàn, thì câu thơ Việt Nam, từ thế kỷ 15 đã sắc cạnh, súc tích và hiện đại. Nó sẽ tái sinh trong hai câu cuối một bài thơ được gán cho Hồ xuân Hương, đầu thế kỷ 19, Mắng học trò dốt : 

                                                         Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ

                                                         Lại đây cho chị dạy làm thơ

                                                         Ong non ngứa nọc châm hoa rữa

                                                         Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa

Hai câu trước chỉ được phần đanh đá. Hai câu sau giàu hình tượng sắc sảo, nhưng không do Hồ xuân Hương sáng tạo ; bà có công điều chỉnh một số chữ nôm tinh vi và tinh quái. Đặc biệt câu cuối hàm súc, đa hiệu. Tách rời khỏi văn cảnh và câu chuyện mắng mỏ người khác, dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa  có thể mang ý nghĩa khác, đa mang chút âm hao u hoài, xa vắng.  

***

 Ta có từ “lục súc“ để chỉ sáu con vật được chăn nuôi trong phạm vi gia đình nông dân : trâu, ngựa, dê, gà, heo, chó. Nhưng đây là thành ngữ Trung Quốc, có trong sách vở từ thời đầu công nguyên. 

Truyện Nôm Lục Súc Tranh Công của ta cũng dựa theo sử sách Tàu, chứ thật ra việc nuôi dê không mấy phổ biến. Trong truyện ngụ ngôn nói trên ra đời tại Huế, vào thời nhà Nguyễn, con dê chỉ được sử dụng trong việc tế lễ : 

Dê vốn thật thuộc loài tế lễ

… Để hòng khi tế thánh tế thần,

… Hễ có việc lấy dê làm trước,

Dê dâng vào người mới lạy sau.

Nhưng lịch sử, tình cờ, đã tạo hai hình ảnh dê thật đẹp trong thơ Bùi Giáng và Lê Đạt. 

Cuộc kháng chiến chống Pháp đã đưa Bùi Giáng đi “chăn dê một đoạn đời 15 năm ở núi đồi Nam Ngãi Bình Phú“, như ông kể lại trong bài thơ Nỗi lòng Tô Vũ (Mưa Nguồn – 1962). Một bài thơ hay, thi vị và đằm thắm. Đàn dê trong thơ Bùi Giáng tự do nhảy múa, tha hồ be he, bé hé, bế hế, bê hê, tung tăng những bộ lông rực rỡ, trong chiếc vòng nhiều màu sắc do nhà thơ thoăn thoắt bện

Này em Đen chiếc vòng vàng tươi lắm

Này em Vàng chiếc trắng há mờ đâu

Này em Trắng chiếc hồng càng lóng lánh

Này đây em Hoa Cà hỡi ! chiếc nâu.

Và nhà thơ bỏ công ghi chú : Dê Hoa Cà có sắc lông lổ đổ tía hồng xem như hoa cà vậy. Đẹp vô cùng. Nhất là buổi chiều, sắc lông óng ả dưới nắng vàng – xa xa hình bóng dê rực rỡ bổi bật trên sườn núi xanh lơ. Dê Hoa Cà còn gọi là Dê Sao, vì lông lổ đổ sáng như sao…

… Cái lần đầu, thuở 20 tuổi trao cái vòng ngọc cho vị hôn thê mà không cảm động bằng lần đeo vòng cho dê vậy(tr.151). 

Ngẩng đầu lên nhìn anh mờ mắt lệ

Từ lần đầu vòng ngọc tuổi hai mươi

Trao người em trăm năm lời ước thệ

Đây lần đầu cảm động nhất mà thôi.

 

Vòng em xong, vòng anh dành riêng chiếc

Dành riêng mình – dê hỡi hiểu vì sao ?

Vì lòng anh luống âm thầm tha thiết

Gán đời mình trọn kiếp với dê Sao.

 

Nhìn anh đây các em Vàng Đen Trắng

Tía Hoa Cà lổ đổ thấu lòng chưa ?

Từ từ đưa chiếc vòng lên thủng thẳng

Anh từ từ đưa xuống cổ đong đưa

 

Và giờ đây một lời thề đã thốt

Nghìn thu sau đồi núi chứng cho ta

Cao lời ca bê hê em cùng thốt

Hòa cùng lời anh nghẹn nỗi thiết tha.

Về vẻ đẹp của một loài súc vật, và tình người với nó, tưởng trong văn học không mấy khi có những trang đằm thắm và tráng lệ như trong thơ Bùi Giáng. 

Mươi năm trước, Bùi Giáng đã tự nguyện đi chăn bò, chăn dê trên rừng núi Trung Trung Bộ. Mươi năm sau, nhà thơ Lê Đạt bị khổ sai làm một việc tương tợ, trong chương trình lao động cải tạo sau vụ án Nhân văn Giai Phẩm, tại vùng đồi núi Chí Linh, Bắc Bộ, từ tháng 8-1958 đến tháng 2-1959. Phải chăng trong thời kỳ này ông đã sáng tác, hay thai nghén bài Ông cụ chăn Dê trong tập thơ Bóng Chữ (1994) mở đầu bằng chân trời mông lung : 

Ông cụ mịt mù dê phía núi

Ríu rít làng và khói xóm lưng

Thơ Lê Đạt tân kỳ, đôi khi cầu kỳ, nhưng có nhiều đoạn trong sáng : 

Đàn dê bỏm bẻm trăng

Mấy lũn cũn dê con

Chân tân tất trắng

Vểnh râu thang gọi

Be he ông

Bỏm bẻm trănglà một hình ảnh sáng tạo độc đáo, vừa cụ thể vừa thơ mộng, gợi hình : một khuôn mặt già hom hem, nhá bánh tráng nướng, đối lập với đám dê lũn cũn – mà Hồ xuân Hương gọi là “dê cỏn“ – chân tân tất trắng. Từ ngữ “tân tất“ mới mẻ, táo bạo, sang trọng. Có lúc Lê Đạt đồng hóa đàn dê với sao trời, hay “Bóng Chữ“ lay động trên trang giấy 

Đếm đi đếm lại

Một con dê trắng… hai con trắng dê

Ba con dê trắng

Dê hằng hà nghìn lẻ vỗ bạch đêm

Ơ những con A, con Bê, con Xê

Con Dê

bản trang trang trắng thảo thơm

Cũng như trong thơ Bùi Giáng, không mấy khi trong ngôn ngữ, bình thường hay văn học, con dê được trọng vọng như vậy.

Và đây là niềm tin cuộc sống, ở vũ trụ và con người, qua tiếng be he đón xuân :

Rừng động xanh

Ai đừng được xuân

Mấy dê non buồn sừng húc gió

Cẫng lên cỡn lên

Be he xuân

                              (tr. 58-61)

Phải đặt bài thơ vào những năm 1958-1959 gian lao của tác giả, đồng cảnh với nhiều bạn văn bạn thơ đồng hội đồng thuyền khác, mới thấy được sức sống mãnh liệt của con người qua văn học và biết trân trọng tiếng nói của văn học.

Từ con dê non ngây thơ khao khát tự do, chết vì tự do, trong truyện ngắn của Alphonse Daudet, đến hình ảnh con dê chon von trên đỉnh núi, tận cùng của dấu thỏ dường dê, chim kêu vượn hú tứ bề núi non, trong truyện Lục vân Tiên, chúng ta tìm thấy một hình ảnh dê hiền lành, kham khổ, nạn nhân của phong tục, lễ nghi và bia miệng. 

***

Nhân chuyện dê năm Mùi, chúng ta ôn lại một số chuyện văn học và văn hóa. 

Thành ngữ và thành kiến « dê băm lăm » có lẽ chỉ xuất hiện trong dân gian về sau, do ảnh hưởng phương Tây. Trong văn chương truyền khẩu hay văn bản xưa chúng ta không gặp những câu xúc phạm đến dê. Ngược lại những thành ngữ như « treo đầu dê bán thịt chó », hay  « kêu như dê tế đền »  tạo hình ảnh đáng thương một con vật hiền lành, vô tội, oan khuất, bị lợi dụng hay hy sinh — và từ thuở Hồng Bàng hồng hoang thời nảo thời nao.

Ngược lại, ngày nay chúng ta đang có những bài thơ hiện đại xuất sắc, khôi phục danh tiết cho con dê, mà chúng ta nhớ lại nhân ngày Tết Ất Mùi.

Đồng thời, lần theo « đường dê » –  mà Nguyễn Trãi trong thơ Nôm ngày xưa có lần gọi là « dương trường đường hiểm khúc co que » –  chúng ta ghi dấu vài bước chân trong quá trình Thơ Quốc Âm từ buổi sơ nguyên, đến những bài thơ Việt Nam hiện đại nhất.

Xuân Ất Mùi, 2- 2015

( Nguồn: VHNA)


[1]Thơ Huy Cận

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.02.2015

CÁT THỜ

                       CÁT THỜ

                                                   Ngô Minh

 

             Người Huế chuẩn bị Tết, lo gì thì lo phải có cát trắng để thay vào bát nhang trên bàn thờ ông bă tiên tổ năm mới. Đó là chuyện tâm linh. Gia đnh nào cũng lo mua cât, mua hương cho đủ. Mỗi năm thay cát một lần, ngay sau lễ cúng tất niên trong câc ngày 29 hoặc 30 Tết. Chân nhang thì gom lại hóa vàng, còn cât cũ thì đổ đi,  lau rửa sạch sẽ bát nhang và thay cát mới . Không thay cát là coi như ông bà không có Tết. Nên năm hết Tết đến, có một “nghề” một năm chỉ làm cật lực một tuần, nửa thâng: đó là làm cát Tết và bán cát thờ. Gọi là nghề cho “oai”, thực ra là sự tranh thủ lúc nông nhàn kiếm thêm đồng ra đồng vào tiêu pha ngăy Tết. Nhưng nghề đó đã có hàng trăm năm nay. (Đọc tiếp…)

GS Ngô Bảo Châu: “Cả đắng cay cũng nằm trong hạnh phúc”

Trò chuyện dịp Tết, GS Ngô Bảo Châu chia sẻ: “Trong cuộc sống có cả cái ngọt ngào và đắng cay. Mình phải biết là ngay cả cái đắng cay đó cũng nằm trong hạnh phúc”.

Tôi quen lắm người nhiều tiền mà bất hạnh

Anh đang ở trên đỉnh cao khoa học, cảm giác ở trên đỉnh cao thế nào?

Tôi thấy cũng bình thường. Có cảm giác đặc biệt mà tôi phát hiện là khi mình nói thì nhiều người nghe hơn (cười). Thực ra là đối với công việc, thì tôi hơi ít thời gian để làm chuyên môn hơn. Tôi chưa tìm lời giải cho vấn đề ấy.

Mục tiêu kế tiếp của anh là gì?

Đối với tôi, giai đoạn nghiên cứu khoa học mà để chinh phục một kết quả khoa học thì tôi thấy đã làm được rồi. Một điều rất muốn mà tôi chưa làm được là đào tạo ra học trò giỏi.-GS Ngô Bảo Châu. 

Anh rất quan tâm đến đào tạo, vậy anh có khó khăn gì? Giờ anh bắt đầu một ước mơ mới, lại bắt đầu từ đầu?

Cái khó khăn bây giờ là ví dụ buổi họp bàn mà chưa đi đến kết luận gì hết. Đối với tôi cũng bình thường thôi, không thất vọng. Không ai cố tình gây khó dễ cho mình. Thực ra là khó khăn chung, khó khăn cơ bản là mình không có nhiều tiền, không thể muốn tiêu như thế nào thì tiêu.

Phải chấp nhận chuyện đó thôi. Những cái đó tôi nghĩ là mất thời gian nhưng sẽ giải quyết được. Cái khó khăn thứ hai là chuyện ước mơ của giới trẻ càng ngày càng ít hơn. Cái này thì không có cơ chế nào gỡ được. Tôi cảm thấy giới trẻ bây giờ ấp ủ ít ước mơ nhưng các bậc phụ huynh có vẻ ước mơ về con rất là nhiều.

Lần trước có đoàn học sinh đi thi quốc tế, tôi có gặp các bạn. Trong đó, có 3 bạn đăng ký học Đại học Ngoại thương, tôi hỏi: “Tại sao các em lại học Ngoại thương? Rõ ràng các em có thiên hướng, có tư chất học về Toán học cơ bản”. Mẹ một bạn bảo “Học Ngoại thương tốt về tương lai, vật chất sau này”. Nhưng bạn ấy phản đối câu trả lời của mẹ. Bạn ấy muốn học khoa học tự nhiên nhưng được bố mẹ định hướng thi Ngoại thương. Tôi nghĩ chuyện đấy rất là dở, vì cha mẹ định hướng cứ nghĩ là mình thực tế nhưng có khi lại sai lầm.

Anh có gặp phụ huynh và thuyết phục họ không định hướng cho con cái?

Thuyết phục thế nào được. Khó lắm. Với những người lớn thì không nên nói nhiều về ước mơ vì khi họ đã quá 30 – 40 tuổi ước mơ không còn quan trọng với họ nữa. Về mặt thực tế, tôi nghĩ cái nhìn ngắn hạn là rất sai lầm. Vì cái quan trọng trong cuộc đời của mỗi người không đơn thuần là kiếm được nhiều tiền. Kiếm được nhiều tiền đơn thuần không thể mang lại cho họ cuộc sống hạnh phúc được.

Cái chính của mỗi người phải là thực hiện được hết khả năng của bản thân, khả năng của mình đến đâu thì mình làm đến đó. Đó mới là cái toại nguyện nhất của bản thân. Cái bất hạnh nhất là mình cảm tưởng mình có nhiều khả năng mà mình không làm được. Tôi quen nhiều người nhiều tiền mà rất bất hạnh (cười).

Hạnh phúc của anh là gì?

Tôi vừa trả lời phỏng vấn thượng tọa Thích Nhật Từ làm báo Phật giáo Ngày nay câu hỏi này. Hạnh phúc đối với tôi thực ra khác với nhiều người nghĩ. Hạnh phúc nhất đối với tôi là cảm giác còn đang sống. Trong cái sống đó có cả cái ngọt ngào và đắng cay. Mình phải biết là ngay cả cái đắng cay đó cũng nằm trong hạnh phúc. Vì đó là cuộc sống. Khi người ta bắt đầu có những bất hạnh chính là khi chạy theo những ảo ảnh, những ảo ảnh hình dung cuộc sống rất ngọt ngào, như là chạy vào Disneyland. Khi chạy theo ảo ảnh thì chắc chắn sẽ bất hạnh. Đó là lúc mình từ chối cuộc sống thật sự.

Thưa anh, theo đuổi đam mê có phải chạy theo ảo ảnh?

Phải xem đó là đam mê như thế nào? Phải định nghĩa lại đam mê. Đam mê thực ra không phải là ảo ảnh. Nhưng nhiều cái ước mơ là ảo ảnh. Cảm giác mình đang sống rất quan trọng. Phải biết yêu cuộc sống như chính nó vốn có. Đó là một điểm rất quan trọng trong đạo Phật. Mình phải sống hết mình với những giây phút sống của mình.

Triết lý lớn nhất phải là yêu cuộc sống

Trong bài nói chuyện với nhà văn Phan Việt, anh nói “sống làm sao để sau này biến mất không dấu vết”. Nhưng Ngô Bảo Châu bây giờ biến mất thì hơi khó?

Mình phải hiểu là dấu vết như thế nào. Cũng giống như trong thiên nhiên, tất cả sinh linh tồn tại đều có một dấu vết gì đó. Dấu vết tức là cái mình để lại – cắt nghĩa chính xác rất khó. Có điều thực sự tôi rất sợ là khi nghĩ đến lúc mình chết rồi người ta làm cái mộ to tướng rồi ngày ngày đến thắp hương. Đấy là một cái dấu vết rất là kinh.

Đấy là cái nỗi sợ của anh nhưng là niềm mơ ước của rất nhiều người. Có nhiều người nhà giàu ở Việt Nam có phong trào xây mộ xây lăng cho mình?

Tôi vừa đi Huế. Nhà cho người ở thì ít nhưng mộ cho người chết thì rất to. Kể cả xây cho người đã chết rồi với tôi đó là sự lãng phí kinh khủng. Không để lại dấu vết với tôi cái lớn nhất là không nên cản trở cuộc sống của người khác. Kinh khủng nhất là cản trở cuộc sống của người khác.

Thực tế một số người tạo dấu vết của mình bằng cách cản trở cuộc sống, thậm chí cản trở sự phát triển của xã hội?

Tôi nghĩ triết lý lớn nhất là phải yêu cuộc sống. Yêu cuộc sống như chính nó chứ không phải là cuộc sống phải có chức năng nhiệm vụ gì cả. Nhiều khi mình phải nhìn kể cả những động vật, thực vật vô ích cho con người. Đôi khi chúng ta cũng nhổ cỏ dại, để bãi cỏ xanh tươi đẹp đẽ.

GS Ngô Bảo Châu với sinh viên.

Về mặt nguyên tắc không ai phủ nhận mình có quyền nhổ cỏ dại. Nhưng mình phải hiểu cỏ tồn tại vì nó tồn tại thôi, nó chẳng có lý do gì phục vụ cuộc sống con người cả. Con người cũng thế, mình phải nhìn người ta sống trong cuộc sống của chính họ, không phải tồn tại để phục vụ cho cuộc sống của mình.

Con người để đạt được trạng thái hồn nhiền của đầu óc rất khó vì bị quá nhiều kinh nghiệm, nhiều vấn đề của đời sống tạo nên những nếp hằn trong đầu óc. Tôi rất thích câu mang tính triết học của Trịnh Công Sơn “Em hồn nhiên rồi em sẽ bình minh”. Phải chăng cứ sống thật với mình rồi mình sẽ có niềm vui?

Không có hồn nhiên thì không thể khám phá được. Nếu đọc triết học của Platon thì một trong những tiền đề của sự khám phá là sự ngây thơ, hồn nhiên. Nếu cái gì mình cũng biết rồi thì ai còn ham mê khám phá nữa. Một trong những bí quyết để làm khoa học là giữ cho mình một tâm hồn trong trẻo.

Có lúc nào anh cảm thấy hối tiếc không?

Có. Tất nhiên là có những lúc hối tiếc về những quyết định trong cuộc sống.

Anh có thể kể về một sai lầm của anh không?

Không (cười). Tôi chưa chuẩn bị cho chuyện này. Sai lầm thì có nhiều sai lầm nhưng sai lầm để mình phải hối tiếc thì…

Anh đã bao giờ thấy chán Toán chưa? Đã bao giờ anh nghĩ đến việc bỏ Toán để theo đuổi cái khác chưa?

Mệt mỏi thì có chứ chán đến mức đó thì không.

Làm thế nào để hết mệt mỏi?

Mệt mỏi thì làm chuyện khác. Tôi nghĩ làm cái gì mãi thì cũng chán, nhưng quan trọng là phải luôn có cái mới. Khoa học hay ở chỗ lúc nào cũng đi tìm cái mới. Như Bổ đề cơ bản tôi theo đuổi nhiều năm trời nhưng làm xong tôi lại không thấy không ham mê như trước nữa.

Trong mười mấy năm lúc nào cũng đam mê như vậy ạ? Vậy không kết thúc thì tốt hơn đúng không, để lúc nào anh cũng thấy đam mê?

Ừ đấy. Trước đây tôi có viết một câu thơ lăng nhăng mà mọi người không ai hiểu là “Có một con đường ta đi/ Giá chi không bao giờ tới đích”. Chuyện làm Toán cũng thế, mình vẫn muốn tới đích, nhưng cái hạnh phúc nhất đó là lúc đi trên con đường. Cuộc sống của mình cũng thế. Cái đích của cuộc sống chẳng qua là cái chết (nghĩa trang thôi).

Tôi nghĩ là lúc mình đi trên con đường ấy, cái quá trình mình đi còn hạnh phúc hơn là đến được đích?

Nhưng nếu không có đích thì mình sẽ không thể đi được. Hôm trước tôi có nói với Phan Việt là phải có một cái đích cao quý. Cái cứu cánh có hai nghĩa, vừa là mục đích nhưng vừa có một cái nghĩa hơi hiểu sai một chút, đó là cái cứu mình, giúp mình tổ chức cuộc sống của mình.

Đó có phải lý tưởng không anh?

Phải có lý tưởng là đúng. Mỗi người phải có lý tưởng nhưng nói sống có lý tưởng thì tôi hơi ngại, một phần là hơi bị sáo. Lý tưởng là mình quên mất sống cuộc sống của mình mà chỉ nghĩ tới cái đích. Mình phải tin vào cái đích của mình.

Giờ có nhiều bạn trẻ có nhiều cái đích không phải là cao quý lắm, ví dụ có một cái nhà, một cái xe, một thu nhập ổn định. Đó không có gì xấu cả, nhưng nó khác với cái thời chiến tranh với lý tưởng cao quý “Thép đã tôi thế đấy”.

Xây dựng một cuộc sống an bình, đầy đủ cho gia đình thì không có gì là xấu cả. Nhưng nếu thực sự mà để dùng từ tôn giáo là “cứu rỗi” con người thì những mục đích đó không thể cứu rỗi con người được. Bản chất của con người, theo xuất phát điểm của tôn giáo, của triết học là luôn sợ hãi cái chết, nhìn thấy cái đích trước mặt mình là nghĩa trang. Cái gì là cứu rỗi mình ra khỏi cái đích đó, hiển nhiên không phải chuyện nhà cửa, xe cộ của mình mà chính là vươn lên những cái tốt đẹp nhất. Cái đó khác với cuộc sống hàng ngày.

Cái tốt đẹp là sống có ích?

Có ích và hướng tới những giá trị đẹp, cái đẹp cứu rỗi cuộc sống. Người ta nói “Phụ nữ đẹp cứu rỗi cuộc sống” (cười) nhưng thực ra không phải.

Phụ nữ đẹp nhiều khi làm cuộc sống phức tạp đi?

Phức tạp lắm. Vô cùng phức tạp (cười).

Phải đảm bảo cuộc sống vật chất

Người ta nghĩ đến anh là một nhà Toán học nổi tiếng nhưng không biết anh tiêu tiền thế nào?

Tôi không ham mê những gì đắt tiền. Tôi cũng không biết chính xác mình có bao nhiêu tiền. Vợ tôi cũng hơi giống tôi theo mức đó. Gia đình chi tiêu tương đối bình thường. Có đủ tiền để không quá mức so đo về việc chi tiêu. Đó là một phần tôi muốn cố gắng giáo dục con cái về chuyện đó.

Cái chính của mỗi người phải là thực hiện được hết khả năng của bản thân, khả năng của mình đến đâu thì mình làm đến đó. Đó mới là cái toại nguyện nhất của bản thân. Cái bất hạnh nhất là mình cảm tưởng mình có nhiều khả năng mà mình không làm được. Tôi quen rất nhiều người nhiều tiền mà rất bất hạnh.

Thật ra là mình chỉ thực sự thiếu tiền khi mình quá bị phụ thuộc vào những cái đắt tiền. Cái lớn nhất của con người cần có là tự do. Cái phụ thuộc lớn nhất là tiền nong. Khi mình quá ham mê những cái đắt tiền thì mình sẽ bị phụ thuộc rất nhiều.

Nhưng có phải do anh có tiền nên anh theo đuổi được đam mê hay không?

Cái đó đúng. Phải có một thu nhập nhất định nào đó để đảm bảo cuộc sống vật chất. Khi người ta đói thì không nên quy kết cho người ta bất cứ một chuyện gì cả. Theo Victor Hugo thì ăn cắp là việc xấu nhất nhưng khi đói thì được quyền ăn cắp để được sống. Quyền được sống lớn hơn…

Nhưng anh ở nước ngoài nên anh vừa có thể theo đuổi đam mê, vừa có thể có tiền. Nếu công việc của anh cũng là khoa học, nhà giáo, nhưng ở Việt Nam thì khó hơn.

Tôi biết thế. Nhưng tôi nghĩ xã hội rồi sẽ thay đổi. Nói chung tôi là con người tương đối lạc quan.

Đam mê kế tiếp của anh là gì?

Tôi chỉ muốn làm thế nào để tạo ra nhiều cơ hội cho nhiều bạn trẻ làm được cái mình muốn.

Sự thành công của anh cũng là tạo cơ hội rồi. Anh tạo niềm tin cho các bạn trẻ. Có bạn nào đã nói với anh là “Lớn lên em muốn trở thành người giống như anh” chưa?

Chưa thấy bạn nào nói vậy nhưng có mấy sắc đẹp nguy hiểm viết thư bảo “Em chỉ muốn lấy người như anh” thôi. (Cười).

Anh có rất nhiều việc, vậy cuộc sống của anh có gì khác với mọi người? Một ngày bình thường của anh như thế nào?

Tôi ngủ ít thôi nhưng ngủ đúng giờ. Ở Việt Nam, một ngày của tôi hơi “rắc rối” hơn vì gặp nhiều bạn. Nhưng sống ở nước ngoài thì buổi sáng tôi dậy tương đối sớm để cùng vợ chuẩn bị đồ ăn sáng, ăn trưa cho trẻ con, 2 đứa nhỏ. Trưa cô bé lớn ăn ở trường. Vợ tôi đưa trẻ con đi học. Có hôm tôi đưa. Có lúc tôi làm việc ở nhà, có lúc đến trường làm việc. Cũng có nhiều việc. Buổi chiều về nhà, xem bài vở con cái, nói chuyện với chúng nó một chút. Nói chung tôi tương đối hài lòng với cuộc sống của mình.

Anh có thể về hẳn Việt Nam, ở Việt Nam các cô gái chân dài chỉ hơi nổi tiếng thôi thì đi dự tiệc đã được trả 1.000- 3.000 USD rồi. Nổi tiếng như anh chỉ cần đi dự hội nghị là sống thoải mái.

Thôi. Thực ra làm việc ở nước ngoài cũng là một cách giúp đỡ được nhiều bạn Việt Nam hơn.

Anh có thích làm người quan trọng không?

Không muốn người khác giúp đỡ mình quá nhiều. Chính khi người khác làm cho mình quá nhiều thì mình mất đi cuộc sống của mình. Có một nhà khoa học viết một cuốn sách kinh điển về sử dụng tiếng Anh cách đây 100 năm rồi. Khi ông ấy viết được một nửa thì do ông viết chậm quá, nhà xuất bản Oxford mới đề nghị cử một bà đến để lo giặt giũ nấu nướng cho ông ấy vì ông ấy sống một mình. Ông ấy bảo “Không, các anh muốn tôi chết sớm à?”. Và ông ấy tiếp tục làm việc theo cuộc sống của ông ấy. Tất nhiên là viết cuốn sách đó rất quan trọng, nhưng sống cuộc sống của ông ấy quan trọng hơn. Cuộc sống đời thường là quan trọng nhất.

Xin cảm ơn anh!

Theo Phùng Nguyên – Hà – Hạnh
Tiền Phong

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.02.2015

Tết quê, hồn Việt thời nay

Tết quê, hồn Việt thời nay

  •   Phạm Thạch Hoàng  

1. Tết đến lòng ta có xốn xang?.Người Việt thời nay lòng còn có chút bồi hồi khi tết đến. Những người xa quê, và những người đón tết tại thành phố, ai đầy tâm trạng, ai thấy nhẹ nhàng trong cái tết cổ truyền này?

Hình như, bây giờ, trong tâm thức người lớn tuổi, nhiều người vẫn thèm một cái tết từ ngày xưa thơ bé của những năm đất nước chưa đổi mới, lúc đó mọi thứ còn giản đơn, cuộc sống còn nghèo, có được một cái tết được tươm tất là cả một niềm mơ ước. Những ngày Tết đến, anh em con cháu quây quần, trẻ con mong được mua sắm quần áo mới, vui được lì xì, được đi chơi. Người lớn được hội ngộ, được nâng ly và nói với nhau những lời tốt đẹp nhất…thậm chí thỏa sức say mà chẳng ai ca thán nhiều lời.

Thời hiện đại, tết vẫn là sự tiếp nối cái tết muôn xưa nhưng muôn vạn người là vạn nẻo cảm xúc với tết. Điều thú vị, tết là dịp để mỗi người có thời gian nghĩ về người thân, gia đình, họ tộc, dành cho nhau sự quan tâm và có thể thực hiện những ước nguyện của riêng mình.

2. Có thực người Việt không còn mặn mà với Tết?

Những tưởng cảm xúc vui tết đã nằm lòng trong người Việt nhưng thực tế có một cảm giác chung rất dễ nhận thấy trong lời nói, việc làm của mỗi con người hôm nay là không mặn mà nhiều với tết. Không quá xốn xang với thời khắc tết, không phải cầu kì tốn thời gian, công sức, tiền bạc cho việc mua sắm tết. Nhiều gia đình sinh hoạt tết giản dị như thường ngày. Trên nhiều diễn đàn truyền thông, trang mạng xã hội, đã có những cuộc tranh luận về ăn tết Tây thay cho tết Ta, đón tết đúng dịp năm mới Dương lịch cho khớp với sự vận hành của thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa và Việt Nam hội nhập quốc tế. Có những bàn luận suy xét về thời gian nghỉ tết vì nghĩ đến sự tiết kiệm cho sản xuất, chơi nhiều không hợp thời trong khi cuộc sống của nhân dân và đất nước chưa lấy gì làm khá giả.v.v…

Tại sao lại có những cảm xúc và thái độ có phần “nhạt” với tết? Nhìn trên bề mặt, chẳng khó để nhận ra những nguyên do này.

(i) Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, kinh tế thị trường với dòng công việc liên tục. Nghỉ dài thì công việc sản xuất, kinh doanh, với những lợi lộc bị đình lại và với không ít người, những nỗi lo bươn chải mưu sinh trong kinh tế thị trường khiến nhiều người không có tâm trạng nhiều cho tết.

Trong khi đó, gọi là 3 ngày tết (30, Mồng 1, Mồng 2) nhưng từ khi rục rịch nghỉ tết đến lúc làm việc bình thường trở lại, người Việt mất độ một tháng dành cho Tết. Hết tết là lại du xuân “tháng Giêng là tháng ăn chơi”, là mừng xuân mới. Với văn minh nông nghiệp mùa vụ, tết mang ý nghĩa nhiều hơn, vì đó là một sự giãn ra, một sự nghỉ ngơi, nhưng với thời buổi công nghiệp hóa, thời đại tin học thì quả là điều đáng nói. Lúc người Việt nghỉ vui tết, thì hầu hết các quốc gia trên thế giới vẫn vẫn hành công việc bình thường. Nhưng trong quan hệ với ta, họ bị gián đoạn do ta nghỉ tết. Lúc mà các nước đã vận hành được hơn một tháng của năm mới, thì chúng ta dường như mới bắt đầu.

(ii). Với sự phát triển hiện đại và thuận tiện của giao thông sự đi lại đã trở nên dễ dàng hơn, sự phát triển của các mạng điện thoại khiến cho sự thăm hỏi, giao lưu giữa con người và quê hương cũng thường xuyên hơn chứ không nhất thiết là đến tết mới hạnh ngộ cùng nhau.

(iii). Xu thế truyền thông đa phương tiện, các phương thức truyền tin cập nhật, các hình thức giải trí phong phú tràn ngập quanh ta, buồn cũng hội tụ vui cũng hội tụ liên hoan, hàng tuần, hàng tháng, đâu phải đến tết mới chén chú chén anh, mới làm bữa thịnh soạn.

(iv). Bối cảnh hội nhập, nhiều hoạt động văn hóa tinh thần trong những ngày lễ diễn ra gần như quanh năm, mỗi người trong những cộng đồng mình ít nhiều đã tham gia. Gần tết nguyên đán nhất là Noel và Dương Lịch, chưa kể lùi về trước là những mồng 2/9, 30/4-1/5, Quốc tổ Hùng Vương, 8/3, ngày nghỉ hè.v.v.

Tất cả những cái đó làm người Việt dường như đã chững lại với tết.

Tuy nhiên, đa số ý kiến vẫn ủng hộ cái tết cổ truyền được tạo dựng, giữ gìn từ muôn đời nay. Bởi nhiều người coi đó là tâm thức dân tộc, là hồn ông bà tổ tiên hiện diện, là cái hay đã được khẳng định và tôn vinh, là sự tích tụ, bồi đắp qua hàng nghìn năm của biết bao thế hệ người. Do vậy, Tết có dở nhưng lại đầy cái hay, nếu bỏ đi thì ắt sẽ tiếc nuối. Mà giữ lại thì đương nhiên sẽ có sự biến đổi và cải tiến. Do đó, xu hướng chung hiện nay là làm sao để đón cái tết vừa thiết thực tiết kiệm và an toàn. Đó là mong muốn của nhiều người.

3. Hồn Tết truyền thống trong đời sống hiện đại: sự đổi thay và những nỗi lo đôi khi đã “xưa như trái đất”.

Cái hồn tết là cái “siêu hình”… nhiều khi khó gọi tên và hình dung một cách chính xác, ngay cả đối với những nhà nghiên cứu văn hóa, bởi đây là một kiểu hình giá trị động chứ không hề đứng im, bất biến. Với ngày xưa, hồn tết hiện diện nơi “thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ”, là sum nhau quanh cỗ bài tam cúc, là trực nồi bánh chưng xanh bên bếp lửa đỏ đêm khuya…Ngày nay, sự sinh hoạt tết đa dạng hơn nhiều và nên hồn tết có phần nhạt nhưng cũng còn lưu giữ nhiều nét xưa. Cái đọng lại của muôn xưa trong hồn tết hôm nay đó là cái thú sắm tết, chơi cây và chơi hoa cho ngày tết, là xin chữ cầu phúc tài lộc, là chỉnh trang bàn thờ cúng tổ tiên, là thời khắc quần tụ cùng nhau chào đón giao thừa, là trao nhau những lời chúc tốt đẹp năm mới, là mừng tuổi người già và trẻ nhỏ, là đi thăm viếng đền chùa, miếu, nơi thờ tự linh thiêng để bày tỏ lòng thành kính và ngưỡng mộ tiền nhân có công lao với quê hương, đất nước. Những nét văn hóa đó là hồn tết được trao truyền từ muôn xưa đến nay chưa hẳn đã phôi phai và không dễ gì bị đánh mất. Và có một điều rằng, hình như càng đi lên hiện đại, người ta lại có nhu cầu tìm về và phục dựng cái truyền thống, bởi chỉ có thế mới níu giữ được kí ức dân tộc, mới thấy thiêng liêng hơn trong đời sống trần tục hưởng thụ văn minh vật chất hôm nay.

Tuy nhiên, trong thời kì mới, sự sinh hoạt tết cũng theo trào lưu chung của sự vận động xã hội và những nhu cầu cá nhân mới. Đối với nhiều người hiện nay, tết không hẳn là dịp trở về quê, hay ăn tết tại gia mà là dịp để thực hiện những chuyến đi ngắn: đi du lịch, đi nghỉ, khám phá những vùng đất mới, đi cầu may, đi thăm giao lưu bè bạn nơi xa, đi trong nước và đi ra cả nước ngoài…. Hình như đó cũng đã trở thành một cách thức/xu hướng thưởng thức tết của người Việt thời hiện đại!

Và điều này, nhiều người không nói ra nhưng mọi người dễ chấp nhận với nhau đó là tết – dịp để đi hành lễ nhà thờ, chùa, đền miếu, cầu lộc, cầu may cho năm mới…đây là điều thuộc về đời sống tâm linh mà con người hiện đại trong cuộc sống đầy áp lực quanh năm cho công việc rất cần được thõa mãn, và tết Cả là dịp thiêng liêng nhất cho thực hành miền tâm tưởng này, nên nhiều người vẫn háo hức nhất với Tết. Từ ngày “lễ tạ” cuối năm của quý bà, quý cô, đến tết ông Công, ông Táo (23 tháng Chạp), rồi Giao thừa, mồng Một đầu năm mới, ngày du xuân cầu may tiếp sau đó…là một chuỗi các ngày hành lễ cầu may, cầu tài, cầu lộc nằm trong cái gọi là “trường Tết”. Với các chị, các mẹ, du xuân cầu may dường như là hoạt động không thể thiếu mỗi khi tết đến xuân về.

Cái lo nhất đối với nhà quản lí và các cơ quan chức năng, và cũng là cái ái ngại của mỗi gia đình, mỗi người vào dịp tết, mỗi người đó là sự an toàn, an ninh đối với cộng đồng dân cư và các cá nhân. Bởi đó là “cao điểm” của năm về nhiều phương diện, nhất là chu chuyển của con người và hàng hóa. Nước Việt ta hiện 90 triệu người, cứ cho khoảng 1/2 lượng người ấy di chuyển vào dịp tết thì sự di động cơ học là rất lớn và như thế an toàn tàu xe, sự hiểm nguy bất trắc không phải là ít. Cộng với đó là do thói quen bia rượu vào ba ngày tết cũng góp phần làm mất an toàn giao thông. Không ít người đã phải vĩnh viễn giã từ tết vì về tết, chúc tết, du xuân. Không ít người phải tiếc nuối cho những người thân vì không những sự cố do không làm chủ được rượu bia. Do vậy, nên sự an toàn giao thông luôn là sự quan tâm thường trực của con người trong dịp lễ tết.

Còn nữa, nỗi lo về an toàn thực phẩm do hàng hóa tràn lan (hàng giả, hàng nhái…) khó kiểm soát, lo về sức khỏe 3 ngày tết do đi lại, hoặc thay đổi khí trời cũng khiến nhiều người cẩn trọng hơn. Theo thống kê của các cơ quan chức năng, dịp tết hàng giả hàng nhái, hàng kém phẩm bao giờ cũng nhiều hơn, vì lượng tiêu thụ tăng cao. Nhiều người mua không chỉ dùng mà mua để đi biếu, đi lễ. Nhiều người tranh thủ mua sắm vật dụng gia đình đã dự định bấy lâu sau một năm tích cóp được kha khá tiền.

Dịp tết tội phạm thường gia tăng, chỉ cần sơ sểnh là đã mất của hoặc ít hoặc nhiều. Từ xưa đến nay, nhiều người vẫn nhắc nhau cẩn thận về của cải vào tháng Củ Mật. Từ nỗi lo nhà cửa phải bỏ lại để đi chơi, hay về quê; từ những cung đường tàu xe chen lấn có bọn tội phạm trà trộn; từ những phiên mua sắm đông đúc ngày tết có lừa lọc gian manh…với đủ loại chiêu thức công nghệ cao thời hiện đại. Tết ồn ào, đông đúc, mọi người thường mang nhiều tiền của theo mình để sắm sanh, tiêu dùng ngày tết, bọn tội phạm chỉ chờ sơ sểnh là “chôm của”.

Cái lo nữa là an toàn cháy nổ, nhất là tình trạng buôn bán và sản xuất pháo. Mặc dù, pháo đã là một thứ hàng quốc cấm đã hai chục năm nay (từ NĐ 1994 của Thủ tướng Chính phủ), tuy nhiên, ở đâu đó, vẫn có sự âm thầm sản xuất và buôn báo pháo lậu. Theo thống kê của công an, năm 2013, có gần nghìn vụ bị bắt có liên quan đến pháo. Và không ít vụ nổ và gây chết người do sử dụng pháo.

Với những nỗi lo, sự phiền toái ấy làm tết giảm đi cái vui!

Mấy năm gần đây, do khủng hoảng kinh tế toàn cầu, sản xuất kinh doanh ngưng trệ, túi tiền của nhiều người, nhiều nhà gần như trống rỗng. Thời buổi kinh tế khó khăn chồng chất nỗi lo “cơm áo gạo tiền”, không khí tết nơi làng quê, ngõ phố có phần chững lại, những sự lo toan cho tết trở nên thiết thực hơn, phần nhiều không bày vẽ, và cũng chẳng vui làm gì trong khi đất nước khó khăn, lòng người đượm buồn.

 4. Tết với người xa xứ, tha hương.Tuy nhiên, với những người quanh năm đi làm ăn xa, không phải ai cũng có dịp trở về thường xuyên, ngày tết đến, vẫn mong được về quê để quay quần hội tụ, được thắp nén nhang cho ông bà tổ tiên, được kết nối với anh em thân tộc sau một năm bươn chải tha hương, lo toan công việc với đời sống của riêng mình…đó là những mong muốn rất chính đáng và thấm đẫm chiều sâu nhân văn.

Bởi vậy, những người có một miền quê xa, nhất là còn trẻ tuổi, hoặc mới có gia đình và con cái còn nhỏ, 23 tháng Chạp lịch âm, sau khi cúng ông Công, ông Táo nơi mình cư trú là nhiều gia đình rục rịch chuẩn bị về quê. Thường thì nỗi lòng có vui mà nửa có phần ái ngại, bởi mỗi bận đi về thực là một dịp “hành xác”. Sự lích kích mang theo đồ dùng, quà cáp, đi lại phiền toái, nhất là đối với các gia đình ở xa trung tâm, lại có trẻ nhỏ hoặc vợ mang bầu. Nhiều bà vợ miền Bắc, lấy chồng Trung, hoặc vợ miền Nam lấy chồng xứ Bắc, đôi khi nghĩ đến cảnh phải về tết tàu xe chật chội, chen lấn, tất bật, sự an toàn giao thông phố xá đông đúc mà cũng thấy ái ngại, chẳng mấy háo hức. Rồi những “thủ tục” đôi lúc cũng không ít phiền hà bởi phong tục, tập quán, lễ nghĩa đôi khi có phần khuôn sáo, sự khác biệt văn hóa vùng miền…thành ra, với nhiều người nỗi niềm tết không mấy hào hứng trong khi mà hoàn cảnh còn khó khăn, nhiều cái lo cộng gộp, nhưng tết như “đến hẹn lại lên”, như một nghĩa vụ, nhận thức về cái bổn phận của mình cần làm mà trở về…

Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng, vẫn còn nhiều người vẫn tha thiết được trở về với nơi quê hương trong ngày tết. Nhiều anh em chúng tôi ở Hà Nội đã mười lăm năm nay nhưng năm nào cũng về quê ăn tết, mặc dù đôi khi muốn ở lại cảm nhận cái tết thủ đô cho biết, nhưng tiếng gọi quê hương sâu nặng nghĩa tình nên thường trở về với quê vui tết, đón xuân. Cũng bởi, với nhiều người, xa quê chiều 30 Tết mới cảm nhận được tình yêu quê hương đến cháy lòng, do vậy, dù có khó khăn, đường xá xa cách nhưng nhiều người cũng lặn lội về tết với quê hương để được sống trong cái không khí tình nghĩa gia đình, xóm giềng, thân tộc, để tránh nỗi buồn cô đơn nơi đất khách quê người.

Chẳng phải vì người quê xa xứ, tha phương thường về quê đón tết nên phố phường và nơi trung tâm trong những ngày nghỉ tết thường vắng và thoáng hơn những ngày thường. Chỉ nhìn vào các thành phố lớn như Hà Nội thành phố Hồ Chí Minh thưa người trong dịp tết, mới thấy sự góp mặt của những người nhập cư, hoặc gốc gác các miền quê lớn nhường nào.

***

Tết cổ truyền là cái tết cả, trong năm 12 cái tết của văn minh nông nghiệp cổ truyền xưa còn lại. Chưa hẳn cái tết cổ truyền còn hợp với nhịp sống người hiện đại, nhưng tết như một “nguyên lí” vận hành đã được mặc định hàng ngàn năm nay, ai có thể bỏ!. Hiện nay, ở các nước Đông Á, Việt Nam, Trung Quốc là vẫn đậm cái tết cổ truyền này. Và với riêng chúng ta- một đất nước mà cái “sự sống” ở nông thôn vẫn chiếm tới 70% dân số, thì tâm thức tết cổ truyền in đậm là lẽ đương nhiên.

Không biết các thế hệ con cháu trong tương lai hàng thập kỉ tới sẽ đối xử như thế nào với cái tết Nguyên Đán dân tộc, điều đó với người hôm nay không quá quan trọng nhưng dẫu sao, với những người yêu nước, tôn sùng giá trị cổ xưa thì vẫn mong con cháu đừng quên cái tết của cha ông bởi trong sâu thẳm, ông cha đã kết tinh trong tết những giá trị văn hóa, những hồn cốt dân tộc. “Tết đến, xuân về” là thời khắc thiêng liêng để làm những điều thiêng liêng, ý nghĩa hơn vạn ngày thường.

Vậy nên, thay vì ca thán tết sự phiền toái, ta chúc nhau sự bình an đón tết. Chúc nhau năm mới tốt lành, tài lộc, ninh khang. Hi vọng tết mãi là một nguồn năng lượng tinh thần cho người Việt để có nhiều động lực hơn trong năm mới và cũng là dịp đễ mỗi người trân trọng những giá trị cha ông.

( Nguồn: VHNA)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 16.02.2015

CHUỐI THỜ TẾT HUẾ

     CHUỐI THỜ TẾT HUẾ

                 Ngô Minh

          Với các gia đình Huế, mặt hàng Tết quan trọng nhất là chuối thờ! Chuối để bày mâm ngũ quả ở bàn thờ tiên tổ. Mâm ngũ quả đẹp phải có nải chuối đặt ở phía dưới, từng trái chuối cong lên như vòng tay ôm gọn bốn thứ quả khác ở phía trên. Về tục thờ chuối thì người Huế giống người miền Bắc. Người miền Nam không bao giờ dùng chuối để thờ cúng bởi vì theo họ: “chuối” đọc trệch lại thành “chúi”, đầu năm mà thờ chuối thì cả năm không dám ngẩng mặt lên trời. Người Huế và người miền Bắc thì lại có quan điểm khác. Nải chuối như bàn tay hứng lấy những gì tinh túy nhất của trời đất.  Rồi phải có nải chuối thờ ở bàn  thờ ông, bà, cha mẹ, chuối Trang Bà, trang Bếp, chuối thờ ở góc Phật Di Lặc, rồi am thờ ngoài trời, trang thờ sân thượng. Rồi nải chuối để bày cỗ cúng Tất niên, chuối cúng tiễn ông Táo, chuối cúng giao thừa, chuối cúng sáng mùng Một, cúng đưa ông bà khi “bế mạc” Tết, v.v. Càng nhiều trang thờ, càng nhiều lễ cúng thì số  nải chuối thờ  phải mua càng nhiều. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 16.02.2015

Câu đối Tết Ất Mùi 2015

Câu đối Tết Ất Mùi 2015

Hà Sĩ Phu

QTXM:  Câu đối Hà Sĩ Phu Tết này phong phú và sâu sắc. QTXM xin dẫn vài câu  mình thích nhất.

Ngựa qua Dê tới

- Hết khoe MÃ một thời, NGỌ ngoạy lắm cũng ra vành móng NGỰA!

- Còn xuất DƯƠNG mấy độ, MÙI mẽ chi mà vểnh sợi râu DÊ?

——————————————

(*) MÃ = cái mã bên ngoài = Mã Khắc Tư

 Ngoại địch không nguy bằng nội gián

- Kẻ thù mới đừng quên: MÃ Viện dẫu tái sinh, triệu lính ngoại xâm không thể dọa!

- Bài học xưa phải nhớ: DƯƠNG Vương(*) dù quyết tử, một tên nội gián cũng là nguy!

(Dương Vương tức An Dương Vương 安陽王, chữ Dương陽 đồng âm với chữ Dương羊 là Dê, câu đối vẫn thường dùng chữ đồng âm dị nghĩa, lấy đó làm trò chơi chữ thú vị).

 

- Giáp Ngọ sắp qua, vài chú Ngựa non còn háu đá!

- Ất Mùi đang tới, mấy cụ Dê già vẫn hám chơi!

 

- Trâu bò húc Trâu bò, đang hăng máu sợ chi lòi… ruột?

- Đồng chí sợ Đồng chí, đã say quyền ắt phải nhẫn… tâm!

(*) “Đồng chí sợ đồng chí”: Lấy “điển tích” từ câu “cớ gì bây giờ mình phải sợ hãi các đồng chí của mình?” của ông Lê Hiếu Đằng.

 

Văn hóa “Hà Lội”:

 

- Phở chửi, cháo la, “văn vật” gớm!

- Bún lườm, ốc nguýt, “thủ đô” ghê!

(Chủ các quán ăn vừa bán vừa la lối chửi mắng thực khách mà khách vẫn chấp nhận bất đắc dĩ như một “thú vui” thì nền văn hóa ẩm thực độc đáo này có lẽ chỉ đất Hà thành “nghìn năm ôn vật” mới có!!

- “Thù địch” phần đông là tử tế!

- “Tà-Ru” hầu hết lại văn minh!

————

Tà-Ru” = Tù ra (chữ của nhà văn vừa quá cố Bùi Ngọc Tấn)

 

Văn hóa tang chế và nỗi buồn phong thủy

- Thương nhà này cha chết đã lâu, oan khí hồi luân, dương thế cứ nhấc lên đặt xuống!

- Buồn đám nọ mẹ già vừa khuất, vòng hoa tiễn biệt, âm binh vào phá ngược phá xuôi!

Năm Dê, hỏi bác Hồ Xuân Mãn

 

- Khai Cuội để anh hùng, công chẳng ra công, bác Mãn vẫn vui cùng Tết chứ?

- Máu làm thủ lĩnh, tội thì đắc tội, họ Hồ có thẹn với Xuân không?

( Nguồn: trang Hà Sĩ Phu)

Đăng bởi: Ngô Minh | 15.02.2015

Hình tượng con Dê trong văn hóa

Hình tượng con Dê trong văn hóa

Trầm Thiên Thu
 

alt

Năm 2015 là năm Ất Mùi, năm “cầm tinh” con Dê. Ất Mùi là sự kết hợp thứ 32 trong hệ thống đánh số Can Chi của người Á Đông, được kết hợp từ thiên can Ất (Mộc âm) và địa chi Mùi (Dê hoặc Cừu). Trong chu kỳ của lịch Trung quốc, nó xuất hiện sau năm Giáp Ngọ và trước năm Bính Thân.

Khi nói đến Dê – còn gọi là Dương hoặc Mùi, người ta không mấy thiện cảm, vì hình tượng Dê thường được dùng để ví von về những cái xấu. Tuy nhiên, trong các loài gia súc, Dê lại có ý nghĩa tinh thần phong phú và giá trị cao, thể hiện vai trò gần gũi mà quan trọng, tạo ra sức ảnh hưởng mạnh mẽ, đa dạng, tích cực đối với đời sống văn hoá của quốc gia.

Trong 12 con giáp, Dê được xem là biểu tượng của tính ôn hòa, thuần hậu nhưng không kém phần nhanh trí. Dê là một trong những thần vật được người Ai Cập sùng bái vì sự đóng góp quan trọng của Dê đối với đời sống con người. Một số dân tộc còn dùng Dê làm vật tế thần. Người Ai Cập dùng dê dâng cho các ác thần để thay thế cho con người.

Theo văn hóa Đông phương, trong đó có Việt Nam, Dê thuộc “tam sinh, lục súc”. Tam sinh là ba thứ lễ vật đặc biệt để cúng tế thần thánh: dê, lợn và bò; lục súc là sáu gia súc thông dụng nhất: dê, gà, chó, lợn, ngựa và trâu. Dê là một trong 12 con giáp, đại diện cho “chi” Mùi. Còn theo văn hóa Tây phương, Dê nằm trong 12 cung hoàng đạo với hình tượng Ma Kết. Dê còn xuất hiện trong thần thoại Hy Lạp và Kitô giáo.

Dê là biểu tượng phong phú mà phức tạp: Sừng dê cái biểu tượng sức sản sinh phồn thịnh, Dê đực tượng trưng cho mãnh lực và tính dục – vì Dê vốn tràn đầy sinh lực tình dục. Một con dê đực có thể giao phối với cả đàn dê cái. Nếu người đàn ông dục lực mạnh, dâm đãng, người Tây phương gọi họ là Satyre (bởi danh từ “satyriasis” là chứng cuồng dâm). Còn người Việt gọi họ là người có máu dê, là dê gái, dê xồm, hoặc dê cụ.

VĂN HÓA ĐÔNG PHƯƠNG

Văn hóa Đông phương có 12 con giáp (Tý, Sửu, Dần, Mẹo,…). Dê là con giáp thứ 8, “chi” Mùi. Dê còn là một trong 12 con vật được đặt tên cho 12 giờ khắc. Giờ Mùi kéo dài từ 14 giờ tới 16 giờ (chênh lệch một chút tùy mùa – Giờ Tý bắt đầu từ 12 giờ đêm), một giờ quan trọng, gọi là “giờ hoàng đạo”. Đó là khoảng thời gian mở đầu của buổi chiều, con người đã ăn uống và ngủ nghỉ, lúc này đang sung sức để tiếp tục làm việc.

Theo phong tục dân gian, chỉ mang tính dị đoan, khi khởi sự việc gì, ngoài việc chọn “ngày lành, tháng tốt”, người ta còn phải chọn “giờ tốt”. Xuất hành, khởi công xây dựng, khai trương cửa hàng, giờ đón dâu, giờ đưa đám ma, hạ huyệt,… đều phải chọn “giờ hoàng đạo”. Trừ trường hợp đặc biệt: Sắp đến giờ tàu hoặc xe xuất phát, nếu đợi giờ tốt có thể bị lỡ kế hoạch; hoặc có giờ tốt, ngày tốt, nhưng thời tiết rất xấu, chưa khởi công được… Quả thật, nếu quá câu nệ vào “giờ tốt” nhiều khi lại hỏng việc. Có hai thứ chắc chắn chúng ta không thể chủ động: Lúc sinh và lúc chết. Nếu chủ động, tại sao không chọn “giờ tốt” mà sinh hoặc chết? Như vậy, việc chọn “giờ tốt” có phải là dị đoan không? Nói chung, giờ nào cũng tốt cả, xấu hay tốt là do mình!

Đây là bảng tính giờ hoàng đạo, tham khảo chủ yếu để biết cho vui thôi!

gio-hoang-dao-cach-tinh-vinhhangvien_vn src=http://lamhong.org/wp-content/uploads/2015/02/gio-hoang-dao-cach-tinh-vinhhangvien_vn.png

Bảng trên đây cho biết ngày Dần hoặc ngày Thân, và giờ hoàng đạo ở các giờ: Tý, Sửu, Thìn, Tỵ, Mùi, Tuất.

Trung quốc có nhiều điển tích gắn liền với con dê, nổi tiếng là điển tích “Dương xa” (xe dê kéo). Tấn Võ Đế của thường dùng xe dê kéo đi mỗi đêm trong cung cấm, hễ dê dừng ở cửa phòng cung phi nào thì đêm ấy nhà vua sẽ ngủ với cung phi đó. Vì thế, hàng trăm cung phi tìm lá dâu non (loại lá dê thích) đặt trước cửa phòng mỗi đêm với hy vọng xe dê sẽ dừng lại tại cửa phòng mình. Nếu dê không dừng lại, tức là không được vua ghé vào, cung nữ sẽ tủi phận vô duyên, cảm thấy cô đơn, lạnh lẽo,… Điều này được phản ánh qua tác phẩm “Cung Oán Ngâm Khúc” (Lời Than của Cung Nữ, gồm 356 câu chữ Nôm, thể thơ song thất lục bát) của Nguyễn Gia Thiều (1741-1798):

Phải duyên hương lửa cùng nhau
Xe dê lọ rắc lá dâu mới vào
Ngấn phượng liễn chòm rêu lỗ chỗ
Dấu dương xa đám cỏ quanh co

Một điển tích khác cũng khá nổi bật, gắn liền với Tô Vũ, trung thần của nhà Hán, đi sứ sang đất Hung Nô, bị người Thuyền Vu giữ không cho về. Tô Vũ bị dụ dỗ đầu hàng nhưng quyết không chịu. Thuyền Vu nổi giận đem Tô Vũ bỏ vào hang núi cho chết đói, nhưng Tô Vũ vẫn sống nhờ uống sương đọng trên vách đá. Sau đó, Thuyền Vu lại đẩy Tô Vũ đi chăn dê ở Bắc Hải, nói rằng khi nào dê đực đẻ thì mới tha về nước. Khi nhà Hán đánh bại Hung Nô, Tô Vũ mới được tha về. Thừa tướng Bách Lý Hề là tướng nước Ngu. Khi nước Ngu bị nhà Tấn cướp, Bá Lý Hề lưu lạc sang nước Sở làm kẻ chăn dê. Vua nước Tần là Mục Công biết Bá Lý Hề là người tài giỏi, sai người mang 5 bộ da dê chuộc về làm tướng quốc. Sau đó, Bá lý Hề giúp Mục Công dựng được cơ nghiệp lớn.

Khi Bá Lý Hề lên đường lập công danh, người vợ nghèo đưa tiễn, đến lúc làm tướng quốc mải say mê công danh quên người vợ nghèo. Nàng lên đường đi tìm chồng. Nhân Bá Lý Hề bày tiệc có ca nữ múa hầu, nàng liền cải trang làm một ca nữ vào trước tiệc ôm đàn hát một khúc:

Bá Lý Hề năm bộ da dê,
Nhớ ngày chàng ra đi, giết con gà mái ấp, thổi nồi cơm gạo vàng.
Chừ nay được giàu sang, quên ta sao?

Bá Lý Hề nghe câu hát ngạc nhiên nhìn kỹ thì nhận ra là người vợ thuở hàn vi, hai vợ chồng lại đoàn tụ.

Ở Việt Nam, trò chơi “bịt mắt bắt dê” rất phổ biến, trẻ em ngày xưa thường thích chơi trò này vì vui nhộn và hồn nhiên. Còn đối với các cô cậu tuổi mới lớn, họ chơi trò này là dịp để tiếp cận, “đụng chạm” thể lý, nhưng vẫn với ý trong sáng, vui đùa với nhau mà thôi. Vì thế, ca dao nói rằng:

Giả vờ bịt mắt bắt dê
Để cho cô cậu “dễ bề” với nhau

Trong tác phẩm “Hịch Tướng Sĩ”, Hưng Đạo Vương cũng có nhắc đến “con dê”, có ý nói rằng bọn sứ giả Mông Cổ chỉ như loài dê loài chó mà lại hống hách, dương dương tự đắc. Ông mỉa mai:

Uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình
Đem thân dê chó mà ngạo mạn tể tướng

VĂN HÓA TÂY PHƯƠNG

Theo văn hóa Tây phương, Dê là một trong 12 biểu tượng của cung hoàng đạo. Trong thể loại bi kịch, một thể loại văn học lớn của nhân loại, tiếng Hy Lạp có nguồn gốc từ tragos (con dê đực). Biểu tượng của Ma Kết có hình ảnh của chữ V cho đầu của một con dê biển, bởi vì chòm sao Ma Kết được tìm thấy ở phía Nam trên bầu trời hoàng đạo. Cũng có ý kiến cho rằng biểu tượng này diễn tả một con dê đang khuỵu gối. Chòm sao này thường được mô tả bằng hình con dê có đuôi cá. Ma Kết đôi khi được ví như là một con dê biển, đôi khi là một con dê trên cạn.

Dê là hình tượng của Dionyos. Dionysus là ai? Dionysus là Thần Rượu Nho trong thần thoại Hy Lạp, tức là con trai của thần Zeus (Dớt). Công chúa người trần tên Semele có thai với Thần Zeus, và nàng đã đòi hỏi Thần Zeus bày tỏ sức mạnh thật của mình. Thần Zeus thuyết phục nàng không nên biết vì nàng là người trần, nhưng nàng không chịu, Thần Zeus liền lộ rõ sức mạnh và quyền uy của mình, nàng công chúa không chịu nổi sấm sét kinh thiên động địa nên đã chết. Khi nàng chết, Thần Zeus kịp thời đưa đứa bé ra khỏi bụng nàng, rồi khâu vào đùi của mình. Một thời gian sau, Dionysus được sinh ra từ đùi của Thần Zeus.

Công chúa Semele làm vậy vì Héra xúi giục. Để tránh cơn ghen tuông của Héra, Thần Zeus đã đem đứa bé về một hòn đảo, được các nàng tiên chăm sóc và được nuôi lớn. Cậu bé được đặt tên là Dionysus, sống vui vẻ giữa các nàng tiên cho đến khi thành một chàng trai khoẻ mạnh.

Một hôm, Dionysus đi hái nho về, cho tất cả vào chậu rồi để ở chân tường. Khi vói tay lên lấy đồ ở trên giá, chàng vô tình giẫm vào chậu nho. Chàng không biết làm thế nào, liền để nó lại trong hang rồi ra về. Vài ngày sau, chàng quay trở lại thì thấy có một mùi rất thơm toả ra từ chậu nho bị giẫm nát hôm trước. Khi uống nước đó vào thì có cảm giác sảng khoái và rất ngon. Dionysus rất thích thứ nước đó và đặt tên nó là rượu nho. Chàng quyết định sẽ làm cho cả thế giới phải tôn vinh nó. Trải qua bao thăng trầm và bị hiểu lầm, chàng đã thu nạp được đệ tử, được cha chàng (Thần Zeus) đón về đỉnh Olympus và trở thành một trong 12 vị thần [gồm Thần Zeus, Thần Héra, Thần Poseidon, Thần Demeter, Thần Athena, Thần Apollo, Thần Artemis, Thần Ares, Thần Aphrodite, Thần Hephaeatus, Thần Hermes, và Thần Dionysus]. Thần Dionysus thay vị trí của Thần Hestia. Và được Thần Zeus đồng ý, Thần Dionysus đón mẹ từ địa ngục lên đỉnh Olympus.

Theo một truyền thuyết khác, khi Thần Pan (Thần Dê) bị quái vật Typhon tấn công, Thần Pan đã trầm mình xuống sông Nin, phần phía trên mặt nước vẫn là dê, nhưng phần ở dưới nước đã hóa thành cá. Trong thần thoại Hy Lạp, dê đực còn là hình tượng của Thần Pan, thủy tổ của mục đồng (ngày xưa là người chăn dê). Thần Pan sống trên núi cao, thổi sáo làm bằng ống sậy để tưởng nhớ giọng nói của người yêu đã lẫn hồn vào lau lách. Thần thoại Hy Lạp không nói đến Dê biển mà chỉ nói đến Thần Pan là á thần (bán thần), có nửa trên là người và nửa dưới là dê. Thần Pan là con của Thần Hermes và mộ Nữ Thần Nymph (Thần Rừng). Theo văn hóa Babylon, Capricorn hoặc Dê biển, hình ảnh của Nam Thần Ea đầy quyền lực của xứ Babylon. Thần Ea có nửa cơ thể dưới là cá, đầu và mình là dê. Ban đêm, Thần Ea sống trong đại dương, ngày lại ngoi lên để canh giữ đất liền.

Thời La Mã cổ đại, trong lễ hội Lupercalia ngày 15 tháng Giêng hàng năm, các tư tế dâng thần linh một con dê và một con chó để cầu mưa thuận gió hòa và cầu xin tha tội cho mọi người. Da dê sau đó được chia ra từng mảnh nhỏ để các chàng trai mang trong mình làm “lá bùa” giúp cho mùa màng tươi tốt. Phụ nữ La Mã tìm mọi cách để có thể chạm tay vào miếng da dê tế thần, vì họ tin rằng làm vậy sẽ sinh nở dễ dàng. Do đó, sau lễ hội Lupercania, nhiều đôi trai gái nên duyên nợ nhờ miếng da dê “kỳ diệu” đó.

Theo thần thoại Bắc Âu, Thần Thor cưỡi trên một cỗ xe được kéo bởi hai con dê đực, mỗi khi nghe tiếng sấm, người Bắc Âu cổ xưa cho rằng Thần Thor đang cưỡi cỗ xe dê đến. Khi Thần Thor đến đấu trường, tên khổng lồ bằng đá nhưng có trái tim nhát gan liền bỏ chạy. Thần Thor quăng búa sét đánh Hrungnir, còn tên khổng lồ quăng một cặp sừng lên đánh Thần Thor. Chiếc búa đụng phải cái sừng nên bị văng mất, nhưng một mảnh vỡ của cái sừng lại đánh trúng đầu Thần Thor.

Tài liệu cổ xưa nhất về các nghi thức tôn giáo đối với các vị thần được tìm thấy trong các bài thơ Homer ca tụng Thần Hermes. Sự sùng bái 12 vị thần đỉnh Olympus của người Hy Lạp có thể bắt nguồn từ thế kỷ thứ 6 trước công nguyên ở thành Athens, hầu như không có tiền lệ vào thời kỳ văn hóa Mycenae. Việc tôn thờ 12 vị thần đỉnh Olympus thường được xác định bắt đầu thời gian Pesistratos lên nhiếp chính ở thành Athens, vào năm 522-521 trước công nguyên.

Thần thoại là những câu chuyện huyền thoại nhưng thú vị, thu hút cả trẻ em lẫn người lớn.

CHUYỆN TUỔI MÙI

Theo sử sách Trung Quốc, Dê là con vật dịu dàng, ôn hòa. Người tuổi Mùi vui vẻ, chân thật, thân thiết, sâu sắc, tốt bụng, dễ động lòng trắc ẩn với nỗi bất hạnh của người khác. Do đó, họ cũng được người khác quan tâm. Nếu được phát huy hết sở trường, người tuổi Mùi có tâm hồn nghệ sĩ, có năng khiếu thẩm mỹ, có thể trở thành những nghệ nhân có tính sáng tạo cao. Ngược lại, nếu không có những thành công về sự nghiệp, người tuổi Mùi có thể trở thành người bi quan, chán nản, yếm thế, vì họ là dạng người đa sầu đa cảm.

Tính cách của người tuổi Mùi hiền lành, bẽn lẽn, dễ mắc cở, nhưng hòa đồng. Họ hướng nội, sống khép kín, không thích chống đối, không thích đấu tranh, không muốn “đụng chạm”. Tuy nhiên, người tuổi Mùi vẫn gặp may mắn trong sự nghiệp và tài chính.

Người tuổi Mùi không thích bị bó buộc, thích cuộc sống phẳng lặng. Thái độ làm việc của người tuổi Mùi có thể khiến người ta khó chịu, nhưng biết sao được vì đó là thuộc tính của họ. Khi gấp, người khác có thể cuống cuồng, nhưng người tuổi Mùi vẫn từ từ, thản nhiên. Với đặc tính ôn hòa, người tuổi Mùi có thể kết bạn với những người mạnh mẽ, biết “khống chế” họ. Họ cần ở những nơi có nội quy nghiêm khắc để phát huy hết sở trường.

Năm Mùi nói chuyện cho vui
Mong con Dê chẳng ngậm ngùi suốt năm./.

( Nguồn: blog GPQN)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 15.02.2015

Tình bạn Phùng Quán – Phùng Cung

Tình bạn Phùng Quán – Phùng Cung

  •   Xuân Đài
Nhà thơ Phùng Quán Nhà thơ Phùng Quán

Cuối năm 1972, Phùng Quán (PQ) báo cho tôi, Phùng Cung (PC) được tha và đã về đến Hà Nội, hiện đang có mặt ở nhà, chúng mình đến thăm anh ấy ngay đi. Hôm ấy tôi bận họp chưa đi được. Quán và tôi có nhiều kỷ niệm với Phùng Cung, tôi nhớ nhất kỷ niệm này: chỉ sau mười lăm phút Phùng Cung bị bắt, tôi và Quán có mặt ở nhà anh ấy.

Cũng là chuyện tình cờ. Hôm đó tôi đến Trần Dần, mượn tập bản thảo tiểu thuyết Người chân đất anh vừa dịch. Trần Dần bảo, Phùng Cung đang cầm đọc, cậu xuống đó mà lấy. Tiện đường, tôi ghé PQ rủ anh cùng đi. Quán gật đầu và dắt xe đạp ra đường. Đến trước cổng nhà PC 135 Mai Hắc Đế Hà Nội, thằng bé con P hơn hai tuổi hớn hở ra vẻ thích thú bảo bố cháu đi rồi. PQ mau miệng hỏi, đi bằng gì hở Hề? (Cả nhà gọi cháu là Hề, tên thật Phùng Hà Phủ). Thằng Hề mừng rỡ toe toét cười, bố cháu đi bằng ôtô. PQ bảo tôi, chết rồi Đài ơi, PC bị bắt, nếu đi bộ tức là loanh quanh ở các quán nước chè năm xu gần nhà, đi xe đạp là đến cơ quan (lúc đó PC làm ở Hội nhà văn), đi ôtô là công an bắt, chứ chẳng có cơ quan nào đến rước một anh nhân viên đi bằng ôtô. PQ lo lắng: hôm nay bắt PC, vài hôm nữa bắt tao, bây giờ, tao về Nghi Tàm sắp xếp đồ đạc, còn mày liệu hồn, trở về tòa soạn ngay, lấy công lệnh đi viết bài một tỉnh thật xa, Lạng Sơn, Cao Bằng gì đó, xớ rớ ở Hà Nội bị bắt cả lũ. Tao làm gì mà người ta bắt? Quán cười như mếu : may mà nhân văn đóng cửa sớm, không thì cái chuyện ngắn thằng gù của mày đã đăng vào số 7. Chuyện này in ra thì mày no đòn! Tôi cãi, nhân văn đóng cửa là thiệt thòi cho tao. Mày tính, tao in bao nhiêu chuyện ngắn và thơ trên các báo có ai biết đến đâu, chỉ cần một truyện ngắn in trên nhân văn là vua biết mặt chúa biết tên. Sướng lắm !PQ nói thêm :khốn nạn chứ sướng gì, gương anh em nhân văn sờ sờ ra đó, chưa tởn à ! PQ tỏ ra hốt hoảng thực sự làm tôi đau lòng… Mới đó mà đã mười hai năm… Quán rủ tôi đến thăm PC ngay cũng là cách chơi, hai thằng tôi phải là người đến thăm PC đầu tiên, chứ không phải là những người khác. Bận họp không đi ngay được, thật lòng tôi rất tiếc. Quán bảo, thôi để hôm khác vậy, bây giờ mày có đồng nào, cân tem gạo nào, đưa cho tao. Tí nữa tao đi một vòng Hà Nội quyên góp anh em bạn bè, cứu đói cho PC. Mấy năm PC đi tù, vợ và hai đứa con anh ấy sống vất vả lắm, bây giờ thêm một miệng ăn, không hộ khẩu, không sổ gạo… xoay xở sao đây. Mấy ngày sau rỗi việc, tôi đến rủ Quán, Quán lại bận không đi được (lúc này Quán là cán bộ ở Bộ văn hóa). Tôi đành đến nhà PC một mình. Ngồi bên ly rượu nhạt, PC cho biết,  PQ đã đến nhà anh mấy lần, lần nào cũng biếu tem gạo và chút đỉnh tiền còm. Tôi biết, gạo và tiền là Quán thu gom từ tấm lòng nhân ái của bạn bè chứ Quán thì làm gì có. Cung bảo, Quán dặn tớ trước mắt là phải lo hộ khẩu để có sổ gạo. Nghe lời Quán, tớ đã lên công an tiểu khu (cấp phường hiện nay) nộp giấy tạm tha của trại giam. PC cười –  cái cười méo xệch – tạm tha chứ chưa phải tha hẳn, ai cũng thế chứ không riêng gì tớ đâu, cậu đừng ngạc nhiên. Tàn cuộc rượu với mấy hột lạc rang, dẫn tôi ra khỏi cổng, PC bảo, số tiền và tem gạo Quán đưa mấy lần cũng đủ cho tớ ăn hai tháng, tớ đã dặn Quán đừng quyên góp nữa làm phiền anh em bè bạn, cậu có gặp Quán nhắc lại với Quán điều này dùm mình.

Lúc này cháu Hề cũng đã mười lăm tuổi, trên cháu là một người anh vừa chớm ở tuổi thanh niên. Cả hai còn đi học đang sức ăn sức lớn, một mình chị Ngô Kim Thoa (vợ PC) xoay xở ra sao đây cho bốn miệng ăn, đó là điều lo nhất của Quán. Quán nói với anh em bạn bè là xúm lại, ra tay lo cho PC công ăn việc làm. Gặp ai Quán cũng giục họ. Có lần Xuân Trung, nhà thơ ít tuổi, ngất ngưởng nhất trong đám bạn bè, lắc đầu bảo tôi, lần nào gặp mình, ông Quán đều nhắc nhở lo việc làm cho ông Cung, làm như ông Quán không biết mình đang thất nghiệp, rồi Xuân Trung hạ một câu: nói vậy thôi, mình phục ông Quán ở cái tình bạn bè, cư xử với bạn như anh em ruột thịt, đời này những người như thế hiếm lắm! Tôi biết Xuân Trung, nghèo rớt mồng tơi cũng vun vén được mấy cân tem gạo đưa cho Quán. Nhà thơ Doãn Trang gặp tôi lần nào cũng bảo, tao nể PQ không phải ở chỗ giúp đỡ vật chất mà là kính nể ở tấm lòng của PQ với một người bạn văn chương vừa mới ra tù. Doãn Trang nói chắc nịch: nhất định họ vẫn còn theo dõi PC chứ đời nào lơi lỏng… PQ là loại người gan cóc tía mới thường xuyên đi lại thăm hỏi và giúp đỡ PC như thế, bỗng Doãn Trang giơ hai tay lên trời nói lớn, xin lạy PQ ba lạy. Tôi cười, nước mình chưa hết sĩ phu đâu mà nhặng xị lên, thiên hạ người ta cười vào mũi cho đấy, có tiền có tem gạo mau mau đưa cho Quán! Doãn Trang bảo, tao góp mấy lần rồi, PQ cho biết mày là thằng đóng góp ít nhất, PQ bảo thế, có đúng không? Tao nửa tin nửa ngờ. Hay là PQ bịa ra để khích anh em, dân Huế thâm lắm!

alt src=http://vanhoanghean.com.vn/images/phung%20Cung.jpg

Nhà thơ Phùng Cung

Tôi nói lại với PQ những điều Doãn Trang bình luận. PQ tớp một ngụm rượu, khà một tiếng: bây giờ là 1973 chứ không phải 1961, lãnh đạo đã nghĩ khác, ngành công an đổi mới nhiều, đội ngũ công an lúc này, nghiệp vụ thông thạo hơn trước, không như những năm 1960, họ theo dõi anh Cung làm gì. Mày biết không, nhiều thằng bạn trước ở bộ đội với tao, chuyển ngành sang công an từ ngày hòa bình lập lại, vừa rồi chúng nó đến tận nhà biếu PC tem gạo và chút tiền nhờ tao chuyển. Tao nhận ra chúng nó thật lòng trong cách cho và cách trò chuyện. Doãn Trang là đứa lạc hậu với thời cuộc. Mình tin một ngày không xa người ta sẽ khôi phục lại danh dự cho nhóm nhân văn, trong đó có PC. Cao hứng PQ đọc câu thơ anh làm cách đây gần 20 năm: chế độ ta hôm nay dân chủ cộng hòa/ ngày mai xã hội chủ nghĩa/ xa hơn nữa là đại đồng cộng sản/trạm chế độ đảng ta vạch sẵn/ Đường phải đi bão táp chông gai/ Khẩu hiệu về đến nơi, Đảng, người nghèo, quốc tế ca và cờ đỏ…. Niềm tin của Quán chẳng biết có truyền được sang ai không, ít nhất truyền được cho tôi và mấy thằng bạn một thời nông nổi.

Cuộc sống của PC dần dà mát mặt, anh có sổ gạo, phiếu vải, phiếu dầu… song vẫn cần sự quan tâm của Quán và bè bạn. Chúng tôi đều nghĩ thế. Quán bảo tôi, anh sẽ liên hệ với một số dịch giả để giúp PC dịch sách từ nguyên bản tiếng Pháp. Tôi nói lại với PC điều đó, Cung từ tốn: tớ không có bằng tú tài như Hoàng Cầm, Trần Dần nhưng có bằng thành chung, cũng dịch được với điều kiện có quyển từ điển, tốt nhất là quyển từ điển của Đào Duy Anh. Nói là làm, Quán đến Trần Dần hỏi xem Dần đang dịch gì có thể nhường cho Cung vài chương được không. Dần bảo, mỗi quyển tiểu thuyết tiếng Pháp định chuyển ngữ, NXB thường đưa cho vài người dịch thử một chương, họ bằng lòng ai nhất thì giao cho người đó dịch toàn bộ, hiện nay tớ không có dịch quyển nào cả, nhưng để đó hỏi mấy thằng bạn đang dịch sách cho mấy NXB, để chúng nhường Cung dịch vài chương kiếm chút tiền, trình độ tiếng Pháp của Cung đâu đến nỗi tồi, nó là người rất giỏi tiếng Việt, tiếng Việt của nó bậc thầy, tớ vẫn ghi trong sổ tay đây, và tớ sẽ đi hỏi mượn từ điển Pháp-Việt cho nó. Quán yên tâm… Những ngày đó, nhiều người không biết việc này, PCung miệt mài làm thơ và sửa chữa thơ anh làm trong nhà giam. Người đầu tiên được đọc thơ PCung và làm biên tập cho tập thơ chính là PQ. PQ đưa thơ PCung chép tay cho tôi đọc. Tôi sửng sốt trước tài năng thơ PCung mà xưa nay tôi vẫn nghĩ anh chỉ là người viết văn xuôi . Trước lúc đưa cho NXB Văn hóa bản thảo tập thơ Xem Đêm của PCung, PQ đã bỏ đi quá nhiều bài đến nỗi tôi phải kêu lên: dao của Quán sắc quá! nên để lại vài bài thơ PCung viết trong tù. Tôi kể lại với PCung điều này, Cung cười: PQ xưa nay vốn là người kiên định lập trường, nó loại bỏ đi như thế cũng được. Bài học mười hai năm tù của tớ là bài học cay đắng về sự không biết nhân nhượng! Nếu biết nhân nhượng một chút, chắc số phận đã khác rồi… PCung có lần bảo tôi, thơ PQ cứ tràng giang đại hải, đọc ở quảng trường cho đám đông nghe, tớ đã nhiều lần trao đổi với nó nên lặp ý, lặp tứ ngắn gọn. Tưởng là Quán giận, không ngờ Quán không bỏ ngoài tai, cân nhắc những điều mình trao đổi, sửa lại tập thơ về cây cỏ đã làm trong những ngày mình đang “dạo chơi” trên rừng núi Tây Bắc, Việt Bắc. Tập thơ xưng tụng cây cỏ, nhiều bài hay lắm như bài Trường ca cây cà, Vạn niên thanh, Cây xương rồng…, hóa ra Quán là người rất phục thiện.

Những năm đầu thập niên 90, PQ thường đưa thơ PCung đến các tòa soạn hết lời ngợi khen thơ PCung đề nghị họ in. Thơ PCung hay thực sự, vả lại nể PQ, nhiều báo in thơ PCung, vợ con anh có thêm thu nhập để cải thiện đời sống. Lúc này PCung, cũng như PQ đã có lương hưu. Về việc PCung có lương hưu xin các bạn đọc quyển Chiều chiều của Tô Hoài sẽ rõ ngọn ngành, Tô Hoài viết rất hóm, đọc vừa thương thân phận PCung vừa cười ra nước mắt, tôi kể ra nữa thì thừa. Tôi từ Sài Gòn ra Hà Nội, PQ rủ tôi lên PCung chơi (lúc này gia đình anh đã chuyển về làng Ngọc Hà) nhân thể đưa PCung ít tiền nhuận bút và tiền Lê Huy Quang vừa cho Quán mấy chục ngàn để mua rượu. Quán bảo: Lê Huy Quang vừa vẽ áp phích hay dựng cảnh cho vở kịch nào đó, Quán bảo tôi đưa hết cho PCung, dù sao tao cũng có đồng ra đồng vào hơn PCung! Vừa đến nhà, nghe tiếng chị Thoa từ bếp nói vọng ra: nói với chú ấy (người thu tiền điện) là cho khất vài hôm hoặc tháng sau thu một thể, chứ nhà không còn đồng nào. Quán reo lên từ ngoài ngõ: có tiền đây rồi, dư sức trả tiền điện, rồi ngoảnh sang hỏi anh thâu ngân bao nhiêu tiền. Anh ấy bảo ba mươi tám đồng sáu hào, Quán rút ba mươi chín đồng và bảo không phải thối lại. PCung ngạc nhiên, tiền đâu mà Quán có nhiều thế. Quán cười: tiền của anh đấy, nhuận bút báo Nông nghiệp in thơ anh, vừa nói Quán vừa đưa tờ báo cho PCung, họ đăng ba bài, ban đầu trả hai mươi đồng, thấy thơ anh ngắn người làm nhuận bút tưởng là một bài, tôi phải bảo đây là ba bài họ liền trả sáu mươi đồng, tôi đưa nhuận bút cho anh cộng thêm tiền Lê Huy Quang cho tôi, tất cả là hơn một trăm, anh cầm lấy mà tiêu dần.

Một hôm PQ bảo tôi, nhà nước cử Lê Hoài Nguyên, nhà thơ, công tác bên A25 đến thông báo cho tớ biết sẽ nâng lương hưu cho tớ và PCung lên chuyên viên 1, theo cậu có nên nhận không? Tôi bảo từ cán sự 1 lên chuyên viên 1 thêm được mấy chục nghìn, không nhỏ đâu. Cái quý giá, từ nay cậu và PCung được nâng lên loại cán bộ trung cấp, ốm đau nằm bệnh viện Việt Xô. Lộc nước thì nhận chứ từ chối là không nên! Chắc trong đầu cậu nghĩ mình sẽ phản đối chứ gì, tớ bây giờ không cực đoan như ngày trước đâu.

Những năm đầu thập kỷ 90 tôi ở Sài Gòn có điện thoại,muốn liên lạc với Quán, chào thua,vì Quán cho biết ở Hà Nội, muốn mắc một điện thoại bàn phải có hơn ba triệu, đào đâu ra số tiền lớn thế này, đành liên lạc với nhau bằng thư gửi qua bưu điện. Chậm như rùa, đành vậy, biết làm sao được. Một hôm, tôi nhận được bưu phẩm của Quán, mở ra đó là chín truyện ngắn và kèm theo lá thư của PC. Quán và Cung  đề nghị tôi tìm cách xuất bản. Nan giải quá! Cách đây mấy năm, tôi xuất tiền túi ra in cho PQ truyện dài Chép còm và in cho nhà văn Vũ Hạnh cuốn sách dịch về thời thơ ấu cùa vua hề Sác lô. Từ đó PQ hay giới thiệu với bạn bè tôi là đầu nậu sách, có thể in cho bất cứ ai. Ngây thơ quá Quán ơi! Tôi đọc truyện của PCung thấy sinh động, đã đưa mấy NXB sẵn sàng hợp tác với họ để in, nghĩa là tôi xuất tiền túi và tự phát hành. Anh Nguyễn Hữu Đang viết một lời giới thiệu về thơ và truyện ngắn PCung rất xúc động để in vào trang đầu cuốn sách. Tôi tính toán kỹ việc phát hành để truyện ngắn PCung ra đời mà không bị lỗ, ít nhất cũng thu hồi được vốn. Buồn quá, không NXB nào chịu cấp giấy phép, tôi biết họ còn ngại tác giả Con ngựa già của chúa Trịnh, đăng trên báo nhân văn dù đổi mới đã mấy năm rồi, anh em trong nhóm nhân văn đều đã có sách, văn xuôi, thơ… trình làng. Dịp may đến bất ngờ, cháu Phùng Hà Phủ lúc này đã ngoài ba mươi, chuyển vào Sài Gòn công tác ờ ngành địa chất, tôi bảo với cháu, đánh máy lại bản thảo của bố thu vào một cái đĩa hoặc USB, có dịp sang nước ngoài thì cầm theo, nhờ bên đó in cho. May mắn đến bất ngờ, cháu Phủ đi công tác Canada, một bà bác sĩ tốt bụng, quí mến và thương cảm PCung đã liên hệ với một NXB ở Mỹ và tập truyện ngắn của PCung được ra mắt bạn đọc nước ngoài. NXB đã trả cho chị Thoa 1500 USD tiền nhuận bút, chị khoe với tôi bằng giọng thương mến, cảm động, trước tấm lòng bạn bè phương xa và trong nước.

Sau 1975, tôi chuyển vào Sài Gòn sinh sống. Năm nào tôi cũng có mặt ở Hà Nội một vài lần. Năm 1995, PQ đưa cho tôi xem giấy phép của NXB Văn hóa cấp cho tập thơ Xem Đêm của PCung. Quán hỏi tôi hết bao nhiêu tiền in được quyển này. Là một người có chút hiểu biết giá cả các loại giấy, giá công in… tôi bảo nếu in 1000 cuốn phải có ít nhất ba triệu đồng. Lật lên lật xuống bản thảo, Quán hỏi nếu in 500 cuốn sẽ là triệu rưỡi à? Không thể chia đôi đơn giản như cậu nói. In nhiều giá rẻ, in càng ít giá thành càng cao. PCung chắc không có đồng nào, vận động ai đóng góp bây giờ. PQ bảo, tao đã có cách, sẽ bỏ ra sáu tháng xuyên Việt, đọc thơ và quyên tiền cho PCung! Tôi cãi: thơ PCung súc tích, ngắn gọn, chỉ ngồi chiếu rượu đọc cho nhau nghe, nhấm nháp thơ, thấm dần, chứ không thể ra sân vận động, bến xe, bến tàu như mày đã từng đọc để quyên tiền cho người nghèo mấy năm trước đây, hay mày lại chỉ đọc thơ mày. Hớp một ngụm rượu Quán bảo, đọc thơ tao và thơ PCung, dĩ nhiên trước khi đọc thơ PCung tao sẽ giải thích ngọn nguồn, người nghe sẽ thấu hiểu và xúc động trước thân phận thơ PCung. Ví dụ đọc bài Trà: quất mãi nước sôi/ trà đau nát bã/ không đổi giọng Tân Cương hoặc bài Bèo của anh Cung: lênh đênh muôn dặm nước non/ dạt vào ao cạn vẫn còn lênh đênh không cần giải thích, người nghe hiểu ngay thông điệp của những bài thơ ngắn gọn một cách độc đáo ấy…

Tôi vào Sài Gòn ít lâu thì nhận được thư PQ báo tin, anh Nguyễn Hữu Đang đã rút hết tiền tiết kiệm anh ky cóp mấy năm nay cho PC in thơ. Trong tập Trăng hoàng cung (NXB Văn Nghệ Tp Hồ Chí Minh – 1996) PQ viết rất xúc động về điều này. Cuối năm 1995, PC gửi vào cho tôi 200 cuốn Xem Đêm nhờ phát hành hộ. Giúp anh là nghĩa vụ của tôi. Tôi cầm sách đi bán dạo, cô giáo Trân ở trường Cao đẳng Sư Phạm mua cho 30 cuốn, các thầy các cô người ít nhất mua một cuốn, phần lớn mua từ 3 cuốn trở lên. PGS TS Trần Hữu Tá cũng phát hành giúp (sách  PCung gửi riêng cho THT), gom về được mấy trăm nghìn đồng đưa cho tôi nhờ chuyển ra Hà Nội. Nếu nhớ không nhầm, tôi đã đưa cho cháu Phùng Hà Phủ, một triệu ba trăm ngàn đồng để cháu chuyển cho bố mẹ. Lại vẫn PQ viết thư cho tôi, tiền bán sách Xem Đêm từ khắp nơi gom lại đủ để hoàn trả cho anh Nguyễn Hữu Đang. Anh Đang không nhận mà bảo, cứ để số tiền làm một cái quỹ giúp văn thi sĩ nghèo lúc cần đến…

Trong bữa cơm ở nhà PQ, cô giáo Bội Trâm (vợ PQ) thủ thỉ: ông Đài ạ, người ta hay nói về việc anh Quán giúp anh Cung, thực ra anh Cung giúp anh Quán rất nhiều. Anh Cung thường đọc rất kỹ những bài thơ của anh Quán, góp ý để thơ anh Quán không dài dòng như những bài độc tấu hồi đi biểu diễn với anh Thanh Tịnh. Và bát canh bí tôm khô hôm nay là cây nhà lá vườn của anh Cung cầm đến cho. Bát canh phiếu mẫu đấy! Tôi cười: bát cơm phiếu mẫu bà lại “biên tập” thành bát canh, vui thật…

Hai nhà thơ họ Phùng, một người sinh ra ở Vĩnh Yên, một người sinh ra ở Huế đã cư xử với nhau hơn cả anh em ruột thịt. Hai người đã về với ông bà gần 20 năm nay, PQ không được nhìn một loạt tác phẩm của anh xuất bản sau khi anh mất, PC cũng không được nhìn thấy tập thơ Xem Đêm NXB Hội nhà văn và công ty văn hóa Nhã Nam tái bản 2012 gần như đầy đủ thơ của PC trong tù và ngoài đời. Tập thơ đã được Hội nhà văn Hà Nội tặng giải thưởng cùng với tập tiểu thuyết Những ngã tư và những cột đèn của Trần Dần. Lời tiên đoán của PQ mấy chục năm về trước đã thành sự thật: rồi nhà nước sẽ khôi phục danh dự cho nhóm nhân văn (câu này Quán nói cuối năm 1973). Tôi hi vọng tập truyện ngắn của PCung in ở Mỹ sẽ được in lại ở Việt Nam như tập tiểu thuyết Trăng hoàng cung của PQ in ở Mỹ đã được NXB trong nước in lại.

Bạn bè tới nhà tôi chơi, đều đến bàn thờ có di ảnh PC, PQ thắp cho các anh một nén tâm nhang, báo tin vui cho hai thi sĩ họ Phùng là nhiều anh trong nhóm nhân văn đã được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng quốc gia. Giải thưởng Hồ Chí Minh có nhạc sĩ Văn Cao, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, giải thưởng Nhà nước có Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán. Hai nhà thơ họ Phùng ơi, những gì các anh tiên đoán đã thành sự thật. Đất nước đổi mới từng ngày.  

…………………

Nguồn: Chuyện Cà Kê; Xuân Đài; Nxb Hội Nhà Văn; Hn 2014

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 14.02.2015

Nguyễn Minh Châu – mảnh trăng cuối trời

Nguyễn Minh Châu – mảnh trăng cuối trời

Trần Đồng Minh

                  Lúc buồn tôi thường hay nhớ người bạn vong niên, nhà văn Nguyễn Minh Châu (1930- 1989). Buồn dễ nhớ đến ông vì sinh thời khuôn mặt Nguyễn Minh Châu trông cứ khắc khổ, nhầu nhĩ thế nào ấy. Dần dần tôi hiểu ra ông hay buồn, lo cho kiếp người, lẽ đời, cho nghiệp cầm bút. Ông lo buồn cho thói quen “rất thảm đối với tư cách của một người nghệ sĩ, hễ cầm bút là phải nghĩ đến né tránh, che chắn, rào đón, đối phó”. (Nguyễn Minh Châu toàn tập, tập 5, tr.118, Nxb. Văn Học). Ông nung nấu tâm sự: “Bây giờ đi đâu, tôi cứ muốn né né tránh tránh đi. Không muốn giơ mặt ra làm gì”. Và: “Buồn cũng phải nói. Thà làm cho người ta buồn, hơn là cho người ta vui một cách giả tạo” (Trò chuyện với Nguyễn Minh Châu – Vương Trí Nhàn). Có những lúc đến nhà riêng thăm ông, thấy ông ngồi “đóng đinh vào ghế” nơi bàn viết, đăm đắm nhìn bức tường hẹp trước mặt, tôi cảm tưởng Nguyễn Minh Châu đã “thập niên diện bích” bóng in hằn trên tường như cổ nhân ở phương Đông, lại có vẻ như đang muốn làm “người đi xuyên tường” như trong truyện của phương Tây. Cảm giác là trong đời và trong văn không mấy khi Nguyễn Minh Châu cười dù ông chẳng thiếu óc hài hước, vui đời. Về điểm này có lẽ ông giống nhà văn Nam Cao – nhà văn mà ông hằng yêu quý. Nguyễn Minh Châu tương tự các cây bút tâm huyết, trách nhiệm cao với nghiệp sáng tác, không thể sống và viết một cách nông nổi, hời hợt, điệu đà.

Hầu hết các truyện của ông đều “gieo vấn đề”, hoặc “có vấn đề” như cách người ta thường nói. Tiểu luận phê bình của ông càng hay “có vấn đề” và đã từng gây sóng gió trong đời văn Nguyễn Minh Châu. “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa”. (Trang giấy trước đèn. Nxb Khoa học Xã hội – 2002) quả là xôn xao một thời. Bài viết mang tâm huyết một nhà văn trung thực, biết tôn trọng trang giấy và cây bút, tôn trọng “nhân dân đầy trầm tĩnh và kỳ tài” – chữ của Nguyễn Minh Châu. Ngay cả truyện ngắn Mảnh trăng cuối rừng đẹp như một thi phẩm trữ tình, như một ánh trăng lãng mạn của thời đại mới, từng được đưa vào sách giáo khoa trung học phổ thông, cũng không thuần chỉ toát lên chất thơ và cảm xúc dịu ngọt nhẹ nhàng. Đồng thời với chủ đề khẳng định bom đạn tàn bạo của kẻ thù có thể đánh sập những công trình vật chất kiên cố như chiếc cầu đá xanh nhưng không thể làm đứt được “cái sợi chỉ xanh óng ánh của tình yêu và niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống” trong tâm hồn chúng ta, Nguyễn Minh Châu đã đặt vào trong tác phẩm ấy ít nhất là ba vấn đề rất đời, rất thú vị. Thứ nhất là cái đẹp của tình cảm, tình yêu, của dung mạo, của lòng dũng cảm; nghĩa là vẻ đẹp ngoại hình, vẻ đẹp nội tâm con người – ngay cả những người bình thường, vẫn luôn hiện hữu bên ta. Chỉ một chút vô tâm, một chút sao nhãng, một chút khó tính là ta không nhận ra, có khi bỏ qua một cách đáng tiếc. Thứ hai là đừng xem nhẹ phụ nữ, đừng khó tính khó nết, đừng vội đánh giá, suy nghĩ không tốt về người khác. Thứ ba: Trong thời chiến, trong hoàn cảnh đặc biệt hoặc ác liệt có thể làm ta gặp trắc trở, lỡ cơ hội, khó toại nguyện, nhưng cần biết bền bỉ, tin tưởng ở tình cảm, tình yêu con người. Rồi trong tiểu thuyết Dấu chân người lính dày hơn 500 trang, nhà văn quân đội này cũng ngầm nêu vấn đề ở cuối truyện rằng chuyện vẫn chưa thật kết thúc, vẫn còn là một ẩn số. Người đọc thích các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu cũng là vì thế. Bao nhiêu lần tôi dán mắt vào những dòng chữ của các truyện Bến quê, Chiếc thuyền ngoài xa, Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát… càng đọc càng ngẫm ngợi thêm nhiều ý tưởng mới, vấn đề mới. Truyện ngắn Bến quê có vẻ đơn giản tưởng như chẳng nói gì mới lạ cả nhưng thật ra cái câu chuyện đượm vị buồn của nhân vật Nhĩ bệnh trọng, đau nhức, sắp rời cõi thế, chỉ còn ở trong căn phòng hẹp bên bờ sông Hồng mà nhìn đời qua cửa sổ ấy mang một lời nhắc nhở, kêu gọi vô cùng cấp bách khẩn thiết là hãy khẩn trương đi sang bờ bến mới. Phải nhanh chân lên mau lẹ rời cái bờ bến cũ rất quen thuộc, thân thiết đã và đang xói lở này. Đừng để “trễ mất chuyến đò” cuối trong ngày đưa sang bãi bồi bờ bên kia tiềm ẩn sự giàu có và vẻ đẹp.

Tác giả Dấu chân người lính, Mảnh trăng cuối rừng… còn để lại nhiều trang bản thảo, sổ tay ghi chép. Những di cảo quý này chị Doanh – người bạn đời của nhà văn – đang lưu giữ. Chị cho biết có điều kiện thuận lợi sẽ dần dần đưa di cảo của anh Châu ra mắt bạn đọc. Chị Doanh cũng sưu tập cẩn thận những bài mà các nhà phê bình văn học, các bạn bè gần xa viết về nhà văn Nguyễn Minh Châu. Một tập sách bao gồm những trang viết ấy được ra đời, đó là tâm nguyện tha thiết của bạn đời và bạn đọc yêu mến con người, cây bút tài năng, tâm huyết Nguyễn Minh Châu.

Cảm phục người cầm bút một đời mặc áo lính dám “bước khỏi lối mòn”, nhà thơ Ý Nhi đã viết bài thơ Nhà văn Nguyễn Minh Châu với những lời thật kiệm và hay:

Tự thức tỉnh

Điều chỉ có nơi một lương tâm trong sạch

Tự bước khỏi lối mòn

(cái lối mòn từng dẫn tới vinh quang)

Điều chỉ xảy ra với một tài năng

 

Bừng sáng

giữa bao nhiêu ràng buộc tối tăm

Bừng sáng

Giữa bao nhiêu hiềm khích

Bừng sáng

Gương mặt người kêu gọi.

Nghĩ tới Nguyễn Minh Châu, tôi cứ nghĩ đến hình ảnh mảnh trăng cuối trời. Nhà văn như một mảnh trăng treo cuối trời, khi sáng khi mờ, lúc hiện lúc ẩn nhưng luôn vẫn in dấu, in ánh không phai trong con mắt và tâm trí nhiều thế hệ bạn đọc thân yêu.

( Nguồn: vanviet)

 

Cù Huy Hà Vũ mừng thọ Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh bằng ký hoạ chân dung

Cù Huy Hà Vũ

Kính gửi: Anh Huệ Chi, anh Phạm Toàn và các anh, chị ban biên tập Bauxite Việt Nam,

Được biết Bác Nguyễn Trọng Vĩnh đại thọ 100 tuổi nên tôi ký họa Bác Nguyễn Trọng Vĩnh để bày tỏ sự ngưỡng mộ của tôi đối với Vị Tướng lỗi lạc, hết mình vì Dân chủ và Nhân quyền ở Việt Nam, vì Độc lập, Chủ quyền và Toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam trước Trung Quốc xâm lược…

Trân trọng đề nghị các anh chị đăng bức ký họa chân dung Việt Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh này.

Chúc các anh, chị cùng gia đình vui Tết và đại thành công trong năm Mới 2015

Hà Vũ

( Nguồn: BVN)

Đăng bởi: Ngô Minh | 14.02.2015

THƠ VALENTINE

THƠ VALENTINE

Ngô Minh

CANH BA MÕ CHÙA

Gõ mòn đêm tiếng mõ chùa
Cốc cốc cốc cốc… như mùa còn đi
Thôi còn dan díu nỗi chi
Cõi trần cơn lốc sân si ù ù

Nam mô khuya khoắt đường tu
Nhặt bông sứ rụng sân chùa lại mong
Biết là có có không không
Mõ chùa cứ mõ đêm nồng mặc đêm…

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 13.02.2015

NGÀY TẾT, ĐI XIN XĂM CHÙA

Chùa Huế

 NGÀY TẾT, ĐI XIN XĂM CHÙA  

Phóng sự của  Ngô Minh

 

Ở Huế có tục lệ, từ sáng Mùng Một Tết cho đến rằm tháng Giêng, người Huế ai cũng  rủ nhau đi bắt xăm chùa  để xem vận hạn làm ăn của mình trong năm mới như thế nào . Có nhiều chỗ để xin xăm lắm, chùa BA Đồn, chùa Phước Điền, Đền thờ Trần Hưng Đạo ở 260 Phan Chu Trinh Huế, hay Điện Hòn Chén , thờ Đức Thánh Mẫu  Thiên Ý A Na…Sáng mùng một TẾt , hàng ngàn người tấp nập đến chùa Ba Đồn nổi tiếng xăm thiêng !Ngôi chùa này có những ngôi mộ tập thể của hàng ngàn người dân Huế bị chết trong sự biến thất thủ Kinh Đô ngày 23tháng năm ân lịch năm 1885, nên nghe nói thiêng lắm ! Người đi bói xăm mấy năm trước là các cặp vợ chồng, các cô các cậu đang yêu , các bà các chị buôn bán ,bà vợ giám đốc giàu có, còn bây giờ thì cán bộ công chức, chức càng to càng mê xăm chùa! (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 13.02.2015

Vàng Mã Cuối Năm

Trần Mộng Tú

Vàng Mã Cuối Năm

 

Trần Mộng Tú


     Cha tôi thuộc gia đình theo đạo Tổ Tiên, thờ cúng ông bà, nhưng hồi trẻ vào những ngày Tết, cha tôi có theo ông bà nội đi lễ vái đầu năm ở những ngôi chùa.

     Mẹ tôi là người theo Thiên Chúa Giáo từ nhỏ và cha tôi kết hôn với mẹ tôi người cũng theo vào đạo công giáo cho tới khi qua đời.

     Người anh ruột của cha tôi mất lúc còn khá trẻ, lại ở tận miền Bắc xa xôi, nên cha tôi vào Nam lên thay thế chức trưởng tộc. Mẹ tôi tuy theo công giáo, nhưng vẫn giữ bổn            phận dâu con. Mỗi năm vào ngày Tết và ngày    giỗ cha mẹ chồng, anh, em chồng, mẹ tôi luôn luôn có mâm cơm cúng và bày bàn thờ với hương, hoa, vàng mã cho cha tôi           khấn vái. Mẹ tôi nói: Chồng mình lấy mình, theo đạo của mình là đủ rồi, mình không nên bắt cả gia  đình bên chồng phải theo mình.

     Anh chị em chúng tôi lớn lên học trường Công Giáo, đi nhà thờ, đọc kinh mỗi ngày. Nhưng đến ngày giỗ bên nội, ngày Tết chúng tôi cũng được hòa mình vào mùi nhang,          hoa trái trên bàn thờ, được ngắm những chồng vàng mã cao ngất ngưởng, được nhìn mâm cơm cúng có đủ các món nấu, món xào và con gà luộc cả đầu bày trước hình ông        bà nội, hình bác, chú, họ Trần.

    Mỗi lần nhìn cha tôi thay quần áo chỉnh tề đứng nghiêm trang khấn vái lòng tôi lúc nào cũng rưng rưng xúc động. Nhất là khi cha tôi hóa vàng: Nào vàng thoi, tiền giấy,        quần áo, có khi mẹ tôi còn mua cả một cái nhà ba gian, một chiếc xe kéo và anh xe, chị bếp nữa. Cha tôi trịnh trọng lấy một chiếc chậu nhôm to, cho dần dần từng thứ vào rồi châm lửa, chúng tôi đứng chung quanh xem. Thỉnh thoảng nghe mẹ nói bên cạnh cha:

- Năm nay chúng con gửi cả anh xe và chị bếp mới xuống cho các cụ.

Tôi không biết mẹ tôi có hoàn toàn tin thật như thế không? Vì mẹ tôi là người Kitô giáo. Nhưng trong giọng nói của mẹ tôi, tôi nghe được cả tấm lòng thành.

Hóa vàng mã xong, cha tôi cầm mấy chung rượu nhỏ trên bàn thờ, rót lên đám tàn tro đó.

Cái xúc động đó mỗi ngày một tăng theo tuổi của tôi chứ không giảm đi. Nhất là khi sống bên ngoài nước Việt. Hình ảnh cha tôi đã già yếu, tóc bạc lơ thơ (vì cha tôi hói) chắp tay đứng trước bàn thờ, vào ngày giỗ ông bà nội, ngày Tết, trong một ngôi nhà ở Mỹ sao mà cô đơn thế. Tôi chắc cha tôi tủi thân lắm mà không nói ra vì người vốn hay giấu những cảm xúc trong lòng.Vàng mã ở đâu mà hóa, dù có, chắc cũng chẳng dám hóa ở nhà con rể, khác văn hóa, khác quốc tịch.

Cha tôi qua Mỹ theo con được 10 năm thì mất, mẹ tôi mất sau cha tôi 5 năm. Cả hai cụ đều mất ở tuổi 81. Ở thế hệ của cha mẹ tôi, như vậy là sống thọ, nhưng đối với tôi mấy chục năm nay, khi nghĩ mình không còn cha mẹ nữa, tôi vẫn tủi thân như một đứa trẻ mồ côi.

Chúng tôi làm giỗ cho cha mẹ mỗi năm, bằng nghi thức xin lễ ở nhà thờ, con, cháu, chắt, tụ lại đọc kinh, ăn uống. Trên bàn thờ có ảnh cha mẹ, nến, hoa và đĩa trái cây. Con cháu đến đông đủ thì thắp ba nén nhang, như gửi lòng thành bay lên theo khói và hương thơm.

Tôi không hề đốt vàng mã cho cha mẹ tôi từ ngày cha mẹ tôi mất đi. Vì ở nước Mỹ này mà nhóm lửa như thế ở ngoài mộ hay ở trong nhà đều rất phức tạp. Tôi cũng không tin cha mẹ tôi sẽ nhận đầy đủ số tiền tôi đốt, dù một xu.

Nhưng chị tôi thì không? Thỉnh thoảng vào ngày giỗ hay rằm tháng tám, chị vẫn âm thầm đi mua xấp vàng mã mỏng, âm thầm khấn vái một mình. Nếu em có bắt gặp thì chị ngập ngừng nói: Cứ làm cho yên lòng, nhỡ bố cần tiền không có thì sao?

Tôi có hơi cằn nhằn chị lẩn thẩn, nhưng lần sau thấy, tôi chỉ cười, có khi cùng đi mua theo chị. Cứ để chị an tâm còn hơn chị lo lắng. Vàng mã làm yên lòng người sống hơn người chết.

Tôi chỉ nghĩ hóa vàng là một phong tục tượng trưng đẹp, nếu không bị người ta thương mại hóa đưa tới chỗ phí phạm quá đáng.

Một người bạn gửi cho một bài về “Tiền âm phủ trong nước”. Tiền vàng không phải là một tờ giấy dó quét kim nhũ lên nữa, mà họ in thành tiền đô la và euro mới là điều lạ lùng.

Và để mua 1 đồng tiền âm phủ người ta phải mua giá chợ đen, trả tới 100 đồng tiền dương thế của chính phủ.

Chắc chắn không ai mua 1 đồng bao giờ. Để hóa, bao giờ tiền cũng phải mua từng xấp. Con cháu càng giàu có thì tiền mang đốt xuống âm phủ phải càng nhiều.

Trước tiên họ cần ba loại tiền khác nhau:

Đó là tiền bạch đinh, hoàng đinh và tiền hoa in hình đồng xu tròn. Giấy bạch đinh tượng trưng cho dương khí, hoàng đinh tượng trưng cho âm khí và đồng in hình xu tròn tượng trưng cho sự phối ngẫu cả hai loại tiền này, âm dương gắn kết, hài hòa. Một khi đốt cúng cho ông bà, người Việt Nam thường đốt kết hợp ba loại bạch đinh, hoàng đinh và tiền hoa để ông bà tùy nghi sử dụng.

Tục vàng mã này xuất phát từ Trung Hoa, sau 1000 năm đô hộ, nước Việt thấm nhuần cả phong tục, xấu và tốt của họ. Từ thời xa thật là xa (Nhà Chu, 1.122 trước Tây lịch) chỉ có vua quan khi chết có quyền chôn theo tất cả cái gì thuộc về mình, như: châu báu, vàng bạc, bề tôi trung (còn sống) thê, thiếp (còn sống). Sau thấy chôn người sống dã man quá, họ thay bằng người bện bằng cỏ, gọi là Sơ linh. Các vật dụng hàng ngày bằng đồ gốm, đá quý cũng được chôn theo. Mãi khi khám phá ra cây dó, làm giấy được thì vàng mã được thay vào.

Đây là một thị trường càng ngày càng phát triển theo đầu óc mê tín của người dân. Nên những con buôn nghĩ ra đủ mọi mặt hàng để kiếm tiền.

Vàng mã thịnh hành nhất ở miền Bắc nước Việt. Ngay từ thời còn nhỏ tôi đã nghe nhưng câu hát về vàng mã như:

Đồng tiền Vạn Lịch/Thích bốn chữ vàng/Anh tiếc công anh gian díu với nàng đã lâu/Bây giờ nàng lấy chồng đâu/ Để anh mua tặng trăm cau ngàn vàng/Năm trăm anh đốt cho nàng/Còn năm trăm nữa giải oan lời thề.

Chia tay cho một mối tình mà cũng phải mua vàng mã về đốt để giải lời thề, thì văn hóa này chỉ có ở miền Bắc nước Việt mà thôi.

Những làng chuyên nghề như làng Song Hồ (Thuận Thành, Bắc Ninh). Mỗi năm đến gần Tết và vào rằm tháng bảy, cả làng từ người già đến con trẻ, bận tối mặt về làm hàng mã.

Khi về thăm Hà Nội vào dịp cuối năm, tôi thích nhất đi vào phố hàng Mã để nhìn màu đỏ nhuộm đỏ không gian, nhuộm đỏ trái tim người đi qua phố.

Họ sản xuất không thiếu một thứ nào người sống có, mà người chết không có.Từ những trang phục cổ như: áo the, khăn xếp, ô đen cầm tay, xe kéo, xe đạp, con chó, con mèo,v.v… tới IPod, IPad, xe hơi, nhà lầu hạng sang nhất là chuyện thường, họ còn hóa cả hình nhân của các ca sĩ đang ăn khách xuống âm phủ cho những cậu quý tử ăn chơi chết trẻ.Ca sĩ càng nổi tiếng, giá càng cao. Giá cao tới đâu vẫn có người mua mang về hóa.

Nhưng trong đám vàng mã đó nếu muốn tìm một bộ quân phục, mũ tai bèo, nón cối, dép râu, cũng có ngay.

Nhìn hình ảnh bà mẹ già trong một đất nước đã thanh bình, không còn súng đạn nữa, ngồi hóa vàng cho con với những bộ quần áo, mũ, dép của người lính như thế trong những ngày vào xuân ai không mủi lòng.

Tôi biết đức tin công giáo của chị tôi rất mạnh, nhưng lòng thương cha khiến chị để trí tưởng tượng của mình đến một thế giới cần tiền âm phủ. Cái thế giới đó có ông bà, cha mẹ mình đang ở.

Cái thế giới đó có thật hay không? Nếu có thật thì vẫn có kẻ giàu, người nghèo như thế giới tôi đang sống. Rồi những người giầu sẽ nhận được xe hơi, nhà lầu, tiền đô la, tiền euro, ngay cả ca sĩ giúp vui. Và người nghèo vẫn chỉ có trong tay những đồng bạc vụn. Người lính Bắc Việt vẫn phải mặc hoài áo lính, nón cối, dép râu.

Ai muốn tin vào chuyện hóa vàng, muốn thi vị hóa đời sống cõi âm, muốn giữ một phong tục lâu năm bằng cách này hay cách khác. Đúng hay sai, khó mà nói được.

Chỉ tội một điều những người nghèo quá, Tết chưa chắc có tiền may một tấm áo mới cho đứa con đang tuổi lớn, làm sao có tiền đốt một cái áo giấy, một xấp bạc giả cho một vong hồn người đã chết bao năm, mà giá đắt gấp mấy mươi lần.

Ước chi có một cuộc hóa vàng của những người đã qua đời, đốt cho những người trên trần thế, để chúng ta nhận được tình thương yêu, đạo đức của tổ tiên mình.

Trần Mộng Tú

Tháng chạp Giáp Ngọ

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 12.02.2015

Vài hồi ức về Phan Bội Châu

Vài hồi ức về Phan Bội Châu

  L.T.S: Vương Đình Quang nguyên là thư ký tòa soạn báo “Tiếng Dân” do Huỳnh Thúc Kháng làm chủ biên, vừa là thư ký riêng của nhà yêu nước Phan Bội Châu, chuyên giúp Phan Bội Châu hoàn chỉnh những văn bản tiếng Việt trong mười lăm năm cuối đời sống và sáng tác tại Huế. Bài này trích từ “Hồi ký về cụ Phan và cụ Huỳnh” do chính tác giả viết tại quê hương Nam Đàn Nghệ Tĩnh khi tác giả vừa tròn 80 tuổi (1987).

VƯƠNG ĐÌNH QUANG

Tết nguyên đán năm 1926 cụ Phan dậy sớm hơn mọi ngày và đánh thức tôi dậy luôn. Cụ bảo đưa bút giấy ra để chép “Bài thơ chúc Tết”. Bằng cái giọng ồ ồ của xứ Nghệ cụ đọc:

Dậy! Dậy! Dậy!
Bên án một tiếng gà vừa gáy
Chim trên cây liền ngỏ ý chào mừng
Xuân ơi! Xuân có biết cho chăng?
Thẹn cùng sông, buồn cùng núi, tủi cùng trăng
Hai mươi năm lẻ đã từng chua với chát
Trời bể may còn thân sống sót,
Tháng ngày khuây với bạn đầu xanh
Thưa các cô, các cậu, lại các anh

Đọc đến đây cụ dừng lại và giải thích: “Các cô các cậu còn nhỏ, chớ các anh đã lớn rồi. Tôi van lại (lạy) các anh phải tính làm sao đây…”

Hiểu ý cụ, tôi viết lạy chứ không viết lại như cụ đọc theo tiếng Nghệ chẳng hề phân biệt lại (giới từ) lạy động từ.

Rồi cụ đọc tiếp hết bài ca:

Trời đã mới, người càng nên mới mới
Giương mắt thấy rõ ràng tân vận hội
Ghé vai vào xốc vác cựu giang sơn
Đi cho êm, đứng cho vững, trụ cho gan,
Dây đoàn thể quyết ghe phen thành nghiệp mới
Ai hữu chí, từ đây xin gắng gỏi
Cởi lốt xưa mà tu dưỡng lấy tinh thần
Chẳng thèm chơi, chẳng thèm mặc, chẳng thèm ăn.
Đúc gan sắt để dời non lấp bể.
Xối máu nóng rửa vết dơ nô lệ!
Mới thế này là mới hỡi chư quân!
Chữ rằng: “Nhật nhật tân, hựu nhật tân

Chúng tôi ăn điểm tâm vừa xong thì một số đồng bào lân cận đến chúc thọ cụ Phan. Rồi nam nữ học sinh, hết đoàn này đến đoàn khác kéo đến mỗi lúc một đông. Trong nhà không đủ chỗ, phải đứng ngoài sân, ngoài vườn. Bà Đạm Phương, mẹ anh Hải Triều, hội trưởng Hội nữ công Huế cũng có mặt. Ông Võ Liêm Sơn, giáo sư trường Quốc Học đọc bài văn khẳng khái chúc tụng:

Phan tiên sinh là người hào kiệt
………………………

Đồng bào vẫn tiếp tục đến. Cụ Phan bảo đọc “bài ca chúc tết” cho mọi người nghe. Nhưng những người đứng quá xa vẫn nghe được. Trước một công chúng đông đúc đang vây quanh mình, cụ Phan vừa xúc động vừa phấn khởi, cao giọng diễn thuyết như một nhà hùng biện. Cụ ra sức kích động tinh thần yêu nước của đồng bào, nhấn mạnh cái nhục của người dân nô lệ, kêu gọi đoàn kết đấu tranh cho tự do độc lập. Tiếng nói của cụ mỗi lúc một trầm hùng. Tiếng than mất nước. Tiếng thét căm thù.

Phải nói đây là cái Tết vui nhất trong đời cụ Phan. Hồi đó cụ chưa già lắm. Mới khoảng sáu mươi, râu tóc chưa bạc. Nhuệ khí đang dồi dào. Dưới con mắt của nhân dân, nhà lãnh tụ phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX xuất hiện như một ngôi sao chói lọi.

III

Hồi cụ Phan mới được tha về Huế ở nhà Nguyễn Bá Trác, những người đầu tiên đến thăm cụ là bọn chúng tôi, thanh niên, học sinh, từ miền ngoài vào, từ miền trong ra.

Chúng tôi đến vì tò mò và khâm phục.

Ông già hiên ngang ấy với chòm râu quai nón, vừng trán cao, mặc bộ quần áo Tàu (cụ bị bắt ở Trung Quốc) bôn ba hải ngoại mưu đồ sự nghiệp giải phóng dân tộc, không may bị giặc bắt đưa về giam lỏng, ông già ấy, chúng tôi sùng bái như một vĩ nhân.

Chúng tôi được cụ Phan tiếp rất niềm nở, thân mật như cha với con. Cụ hỏi từng người một: tên tuổi, quê quán, bố mẹ. Đặc biệt cụ để ý đến người Nghệ Tĩnh hơn.

IV

Cụ Phan được hầu hết các báo chí trong Nam ngoài Bắc gửi biếu. Đủ các loại. Đủ các màu sắc chính trị.

Về báo tiếng Việt, tôi có nhiệm vụ chọn lọc những bài quan trọng đọc cho cụ nghe. Về báo chữ Pháp, tôi chỉ dịch đại khái một số bài liên quan đến thời cụ.

Tạp chí Nam Phong của Phạm Quỳnh đăng một bài xã luận đề nghị Chính phủ Pháp trao trả mọi quyền nội trị cho dân Việt Nam, trừ ngoại giao và quốc phòng. Cụ Phan đùng đùng nổi giận. Cụ nói: “Hai cái quan trọng nhất mà giữ lại thì còn gì? Chết! chết!”.

Dạo ấy báo Argus (Minh Trí) của Clémenti xuất bản ở Hà Nội đăng một loạt bài nói về vụ tai tiếng giữa D’elloy với hoàng hậu vợ góa Khải Định. Cụ Phan thở dài, lẩm bẩm: “nhục ôi là nhục!” và bảo tôi đừng đọc những chuyện ấy nữa.

Báo Humanité (Nhân Đạo) cơ quan của Đảng Cộng sản Pháp cũng gửi biếu. Tờ báo này luôn luôn tỏ thái độ bênh vực các dân tộc thuộc địa và thỉnh thoảng có bài ủng hộ “nhà cách mạng Phan Bội Châu”.

Tờ báo được cụ Phan ưa thích nhất là tờ Cloche fêlée (Chuông rè) của luật sư Phan Văn Trường xuất bản ở Sài Gòn. Trong nước ta hồi đó chỉ có tờ báo này dám công nhiên chống chế độ thực dân Pháp. Nó đả kích mạnh những chủ trương chính sách vô nhân đạo của bọn thống trị.

Tờ báo này mở một cuộc lạc quyên kêu gọi đồng bào Nam bộ kẻ nhiều người ít giúp đỡ nhà chí sĩ Phan Bội Châu trong tuổi già. Kết quả số tiền thu được tổng cộng trên 2.000 đồng Đông Dương. Từ số tiền ấy: những bạn bè của cụ trích ra một khoản để mua một khoản vườn trên dốc Bến Ngự và dựng lên một ngôi nhà tranh để ổn định nơi ăn chốn ở cho cụ.

VI

Sogny – Chánh mật thám Trung Kỳ, một con cáo già thực dân Pháp, nói thạo tiếng Việt.

Một hôm y đến thăm cụ Phan và biếu cụ 100 đồng. Y nói:

- Đây không phải là tiền của Chính phủ. Đây là tiền riêng của cá nhân tôi. Đây là lòng thành của tôi đối với cụ.

Cụ Phan từ chối:

- Về vật chất, đồng bào đã giúp cho tôi đầy đủ, không thiếu thốn gì. Ngài có lòng tốt, tôi xin cảm ơn. Tiền, tôi không nhận.

Nhưng Sogny cứ nài nỉ:

- Đồng bào của cụ đã góp tiền giúp cụ vì họ hâm mộ cụ thì tôi đây cũng thế. Xin cụ vui lòng nhận cho tấm lòng thành của tôi.

Cuối cùng, cụ Phan nhận và hứa sẽ sử dụng số tiền đó vào việc công ích.

Ít lâu sau, một hệ thống dụng cụ thể dục trang bị đầy đủ từ xà đơn đến thang đu, được bố trí trước sân.

Hàng ngày mấy em thiếu nhi được cụ Phan nuôi cho ăn học trong nhà cùng với những thanh thiếu niên trong xóm đến tập luyện. Vì thiếu bảo quản và sử dụng bừa bãi, chẳng bao lâu dụng cụ hư hỏng hết cái này đến cái khác cho tới khi chỉ còn lại một chiếc xà đơn. Trăm đồng bạc của Sogny quả là bạc toi.

VII

Cụ Phan rất thích văn học dân gian. Cụ thường ngâm:

Chồng chài, vợ lưới, con câu
Sông Ngô bể Sở gặp đâu là nhà
Nên ra tay kiếm, tay cờ
Chẳng nên thì chớ, chẳng nhờ tay ai
.

và tỏ vẻ đắc ý với cái điệu phóng khoáng và tinh thần tự lực tự cường của câu ca.

Đối với bài “Thằng bờm có cái quạt mo” cụ bực tức lắm. Cụ giải thích như sau: ba bò chín trâu là nói về nông nghiệp. Một xâu cá mè là nói về thủy sản. Một bè gỗ lim là nói về lâm sản. Con chim đồi mồi tượng trưng cho nền văn hóa nghệ thuật. Phú cường như thế mà không biết, văn minh như thế mà không biết, chỉ biết miếng ăn bỏ vào mồm!

Hè năm 1926, Cụ Huỳnh Thúc Kháng từ Quảng Nam ra Huế để sắp xếp công việc Viện dân biểu. Cụ Ngô Đức Kế ở Hà Nội cũng vào chơi. Hai cụ cùng đến thăm cụ Phan. Trời oi bức, và cũng muốn được nói chuyện thoải mái, cụ Phan mời hai bạn đồng chí xuống đò ăn cơm và uống rượu trên sông Hương. Câu tâm sự giữa ba nhà chí sĩ trong một cuộc họp mặt hiếm có biết bao đậm đà. Cụ Phan ngâm và nêu lên một số đề tài để thảo luận:

Tích thù ta hãy còn lâu
Trồng tre nên gậy, gặp đâu đánh què.

Sự nghiệp cách mạng phải tiến hành về lâu về dài. Phải kiên trì, bền bỉ. “Dục tốc bất đạt”. Trồng tre! Chăm bón cho tre tốt lên để dùng làm gậy mới chắc chắn. Có lực lượng rồi mới đón chờ thời cơ: gặp đâu đánh què. Cụ Phan nhấn mạnh ý nghĩa sâu sắc của câu ca. Cụ nói với giọng tin tưởng lạc quan: “Cụ Hoàng sắp ra tờ báo, phải lo việc trồng tre”. Ý nói giáo dục đào tạo những con người làm cách mạng.

VIII

alt
Chân dung Cụ Huỳnh Thúc Kháng và tờ “Tiếng Dân” – Ảnh: internet

Cụ Huỳnh Thúc Kháng chuẩn bị cho ra một tờ báo.

Việc đầu tiên là phải đặt cho nó một cái tên để ghi vào đơn gửi ra phủ Toàn quyền xin phép xuất bản. Hồi đó cụ đã là Viện trưởng Viện dân biểu Trung Kỳ.

Thời bấy giờ, tức là vào khoảng trước những năm 30, ngôn ngữ văn tự nước ta có thói quen lệ thuộc vào chữ Hán. Một cái tên là một chuyện quan trọng. Phải là tên “chữ” đàng hoàng. Không thể là tên “nôm”, huống là tên của một tờ báo, một cơ quan ngôn luận. Trong Nam ngoài Bắc người ta đặt những tên như: Thực nghiệp dân báo, Đông Pháp thời báo, Nam phong tạp chí, Trung Bắc tân văn. Ngắn và gọn hơn thì như Trung lập Công luận, v.v…

Tờ báo của cụ Tiến sĩ Huỳnh Thúc Kháng lại càng phải có một cái tên xứng đáng. Chọn mãi và được nhiều người góp ý, ban đầu cụ định lấy hai chữ “Trung Thanh” vừa có nghĩa là tiếng nói ngay thẳng, vừa có nghĩa là tiếng nói của miền Trung. Cuối cùng cụ nghĩ đến hai chữ Dân Thanh (tiếng nói của dân). Hỏi ý kiến cụ Phan, cụ đáp: “Đã nói Dân thanh thì chi bằng nói quách là Tiếng Dân.”

Mới đầu chưa quen, nghe có vẻ nôm na thế nào ấy. Nhưng về sau lại thấy cái tên hay và đẹp.

alt
Trụ sở báo “Tiếng Dân”

IX

Tờ báo chính trị đầu tiên ra đời giữa kinh đô Huế cách đây hơn nửa thế kỷ do một vị đại khoa không xuất sĩ, mang trong lý lịch 13 năm tù đày. Sự kiện ấy có một tầm quan trọng lớn mà thế hệ trẻ ngày nay khó có thể hình dung được.

Ngay từ số đầu Tiếng Dân được quần chúng nhiệt liệt hoan nghênh. Người ta tò mò muốn biết cụ Huỳnh Thúc Kháng nói gì. Người ta đón chờ những bài luận thuyết ích quốc lợi dân. Người ta đòi hỏi những món ăn tinh thần hợp khẩu vị, khác với những món nhồi sọ của biết bao báo chí phản động.

Xã hội Việt Nam đương thời là một xã hội cực kỳ đồi trụy. Cả một bộ máy chính quyền hủ bại từ trên xuống dưới. Nạn tham ô nhũng nhiễu đầy rẫy khắp nơi. Ở nông thôn hàng ngày diễn ra cảnh tượng giành nhau từ một chỗ ngồi trong một buổi họp xóm, tranh nhau từ nắm xôi miếng thịt sau một cuộc tế lễ trong làng. Những vụ kiện cáo đê tiện bỉ ổi thường xẩy ra trước cửa công. Nạn hối lộ thịnh hành hơn bao giờ hết. Óc hư danh, óc tư lợi hàng ngày đẻ ra gian dối, nịnh hót, táng tận lương tâm. Cờ bạc, rượu chè, mãi dâm đua nhau gây những cảnh thương luân bại lý…

Trước tình hình đó, Tiếng Dân ra sức “khua chuông gõ mõ” nói theo ngôn ngữ hồi đó – để thức tỉnh đồng bào. Khi khuyên bảo, khi kêu gọi, khi gào thét. Tiếng Dân luôn luôn đóng vai trò giáo dục nhân dân. Đối với kẻ địch, tờ báo của cụ Huỳnh được sử dụng như một vũ khí để chiến đấu, sẵn sàng chống lại những chính sách thâm độc của bọn Pháp: bần cùng hóa nhân dân bằng đủ các thứ thuế lợi dụng Nam triều làm tay sai để đàn áp và thống trị, pháp luật dã man, giáo dục nhồi sọ, mê hoặc quần chúng và tất cả những gì để tiêu diệt tinh thần đấu tranh của dân tộc.

Đương thời đọc Tiếng Dân người ta nghĩ ngay đến cụ Huỳnh và nói đến cụ Huỳnh, người ta không thể quên được tờ báo đạo mạo, nghiêm chỉnh, hay đả kích, ít nô đùa, thường đệm những câu chữ nho nóng bỏng, kín đáo, một tờ báo chê nhiều hơn khen, luôn luôn thù địch với những cái cũ lỗi thời, những cái mới nguy hiểm, với hai chữ Tiếng Dân, kể bằng lối chân phương bất di bất dịch từ số đầu đến số cuối.

X

Cụ chủ nhiệm kiêm chủ bút Huỳnh Thúc Kháng làm việc không biết mỏi.

Ở vùng Bến Tượng, theo mé đường bờ sông Đông Ba nơi đặt trụ sở tòa báo, bà con trong phố quen gọi là “Cụ Tiếng Dân“. Đối với họ cái hình ảnh của ông già đi sớm về trưa lui tới tòa soạn, quanh năm đội chiếc mũ nỉ đã xài xạc nắng mưa, vừa đi vừa trầm ngâm suy nghĩ… là một hình ảnh quá quen thuộc.

Vào bàn giấy là bắt tay làm việc ngay. Trước hết duyệt qua những bài và tin tức mới gửi đến. Nếu là tin tức gửi từ nông thôn nói về một viên tổng lý hành hung, một viên quan bị dân kiện, một vụ khám xét, bắt bớ v.v… thì được cụ ưu tiên cho lên báo. Sau đó, cụ xem qua mấy tờ báo trao đổi, lướt qua vài quyển sách tặng. Sách hồi đó chẳng có gì, phần nhiều là tiểu thuyết vớ vẩn. Xem cái tên và nhà xuất bản là biết ngay nó thuộc vào loại nào. Nếu là tiểu thuyết phong tình lãng mạn thì cụ ném sang một bên. Thơ mới cũng vậy, cụ không thích. Vì không quen ý thơ và lời thơ phỏng theo phong cách phương Tây.

XI

Viết và xem sách là hai việc cụ say sưa nhất. Nếu không bận tiếp khách và đã cầm đến bút, đã tìm ra đề, là cụ viết luôn một mạch hết trang này sang trang khác, bài này đến bài khác. Nhiều khi không đọc lại bản thảo, quên dấu và sai sót là thường, cứ thế giao cho anh em chúng tôi bên tòa soạn điều chỉnh trước khi đưa sang nhà in.

Biệt hiệu của cụ Huỳnh có đến hàng chục. Khi thì cụ ký Tha Sơn Thạch, khi thì ký Khi Ưu Sinh, khi ký Chuông Mai, khi ký Sử Bình Tử và năm sáu bút danh khác nữa. Có những bài viết xong, chưa biết nên ký tên gì cho hợp nội dung, cụ chỉ ký tắt một hay hai chữ X.

Biệt hiệu chính của cụ là Minh Viên, ít khi cụ dùng đến.

Cụ viết nhiều quá, có khi thừa ra, vô ích. Cụ cũng biết thế nhưng muốn phòng khi thiếu bài.

Thời gian rỗi, cụ xem sách. Hầu hết là sách Hán. Đã cầm đến sách là cụ say mê vào đó, không còn biết trưa biết tối. Nhiều bữa người nhà phải đến mời cụ về ăn cơm. Ăn uống thì hết sức thanh đạm. Hầu như chỉ có muối vừng, và rau luộc. Nhiều người hỏi: “Sao cụ ăn khổ thế?”. Cụ trả lời: “Còn sướng hơn khi ở tù nhiều”.

Cụ Huỳnh không hay uống rượu như cụ Phan.

Cụ Phan vốn là cộng tác viên của báo Tiếng Dân. Những bài của cụ nhiều khi không ký tên hoặc chỉ ký tắt: S.N (Sào Nam), V.Đ (Việt Điểu). Cũng có khi ký Cây Sung. Sở dĩ cụ lấy bút danh này là vì chiếc đò của cụ thường đậu dưới một cây sung ở phía trên Bến Ngự.

Dưới con mắt của nhà chí sĩ luôn luôn mang trong mình một tâm hồn thơ, cây sung dễ gợi cho người ta nghĩ đến câu ca dao quen thuộc:

Ăn sung nằm cội cây sung
Lấy anh thì lấy, nằm chung không nằm.

Đây quả là một cảnh ngộ éo le, một tâm sự khó nói. Tâm sự của một cô gái bị hoàn cảnh ép buộc phải chung sống với một người mà cô ta không thể nhận làm chồng. Liên hệ bản thân, nhà cách mạng kiêm nhà thơ cảm thấy thân phận mình sao mà giống như cô gái đó. Với đầu đề “Lấy anh thì lấy, nằm chung không nằm” cụ Phan cảm tác bài thơ:

Thời thế xui nên giả vợ chồng!
Lấy anh chưa dễ đã nằm chung
Ù, chơi với nó toi đồng bạc,
Thật chẳng cho ai nếm má hồng!
Cười gượng lắm khi che nửa mặt,
Khóc thầm một nỗi khác hai lòng!
Bao giờ duyên cũ thay duyên mới,
Thỏa thuận cùng nhau tát biển Đông
.

Bài thơ sáng tác năm 1929, đăng lên báo Tiếng Dân được nhiều người chú ý.

Mãi cho tới năm 1938, khi Nhật Bản tiến quân vào Đông Dương, phát động chiến tranh Đại Đông Á, một tờ báo mới xuất bản – nếu tôi nhớ không sai thì đó là tờ Sông Hương của Phan Khôi – đem in lại bài thơ và lý luận rằng cụ Phan có xu hướng thân Nhật, gây dư luận xôn xao. Đến nỗi cụ Huỳnh Thúc Kháng phải lên hỏi. Thì cụ Phan trả lời:

- Duyên cũ là chính trị áp bức bất lương. Duyên mới là chính sách thành tâm khai hóa… Nước Nam không có ngày độc lập như ý nguyện của tôi thì chớ, chớ tôi không có ý điên cuồng gì mà mong ước cho nước Nam tôi làm Đài Loan, Triều Tiên thứ hai(1)

Bài phỏng vấn này được đưa lên báo Tiếng Dân ngày 25-8-1938.

Dù sao, đối với người đọc, lối giải thích duyên cũ, duyên mới của tác giả có vẻ gượng gạo, chưa thỏa đáng. Ai chứ như cụ Phan Bội Châu thì bao giờ lại tin và mơ ước “thành tâm khai hóa” của giặc Pháp. Đó chẳng qua là một cách nói để được đưa lên báo cho khỏi bị kiểm duyệt. Nếu muốn đúng với ý của tác giả thì phải nói: Duyên cũ là nước Việt Nam độc lập do cha ông để lại. Duyên mới là nước Việt Nam bị Pháp xâm lược và đô hộ.

XIV

Ngô Đình Diệm từ chức Thượng thư Bộ Nội vụ.

Thời gian ấy tôi không còn là thư ký của cụ Phan nữa. Nhưng tôi đến thăm cụ đúng vào lúc cụ đang làm bài thơ khen Diệm. Và tiện dịp cụ bảo tôi chép.

Bài thơ kết thúc bằng hai câu:

Ví bằng có dịp làm vai vế
Sau ngựa em xin múa ngọn roi.

Đến chữ “em” tôi không thể nhịn được, dừng bút lại, thưa với cụ:

- Xin phép cụ, con không đồng ý cụ tự hạ mình quá đi như vậy. Cụ là bậc cha, bậc anh.

Cụ Phan nói:

- Tôi làm cách mạng chớ nếu như đặt mình vào địa vị ấy, chưa chắc đã làm được như vậy.

Rồi cụ vừa nói vừa giải thích:

- Múa ngọn roi. Ăn thua mấy chữ đó. Ngựa anh cưỡi nhưng roi tôi cầm. Tôi quất cho ngựa đi tới. Dừng lại, không được với tôi.

Hồi đó, trong số những bạn bè ở Nghệ Tĩnh vào thăm cụ Phan có cụ Mai Lão Bạng, một tín đồ Thiên chúa giáo đã từng cùng cụ Phan hoạt động cách mạng ở nước ngoài. Cụ Mai Lão Bạng vốn quen Diệm. Cụ vừa thăm cụ Phan vừa thăm Ngô Đình Diệm. Ở với cụ Phan năm bảy ngày lại ở với Diệm năm ba ngày, qua lại như một con thoi.

Nội dung những cuộc gặp gỡ này, không ai rõ. Chỉ biết đại khái là hai bên muốn gặp nhau nhưng không tiện, mặc dù ở cách nhau không đầy một cây số: Bến Ngự – Phú Cam. Và một hai lần gì đó Diệm có gởi tiền giúp cụ Phan.

Năm 1940, cụ Phan ốm nặng, xem chừng không sống được bao lâu nữa.

Ngô Đình Diệm đánh liều đến thăm vĩnh biệt.

Sau đó cụ Phan vẫn còn tỉnh táo để viết sáng tác cuối cùng của mình:

Mạc sầu tiền lộ vô tri kỷ,
Thiên hạ thùy nhân bất thức quân
Bảy mươi tư tuổi trót phong trần
Được bạn mới, tinh thần thêm hoạt hiện
.

XV

Những năm cuối đời của cụ Phan là những năm buồn tủi nhất. Cảm cảnh thay cái thân phận của người tù già bị bao vây, cô lập! Đồng bào không mấy ai dám đến, sợ bị ghi vào sổ đen. Lớp bạn già lui tới thăm họa chăng chỉ còn có cụ Huỳnh. Không mấy chủ nhật cụ không dành riêng một buổi lên thăm, để nói vài câu chuyện tâm tình, an ủi và cũng để phần nào “giám thị” người đồng chí về già đâm ra lẩn quẩn, nhẹ dạ, cả tin. Những năm ấy, cụ Huỳnh kế tục cái nhiệm vụ mà trước kia cụ Phan Văn Trường đã làm trên báo Cloche fêlée: kêu gọi đồng bào quyên giúp nhà chí sĩ thiếu thốn và bệnh hoạn.

XVI

Khi cụ Phan gần hấp hối, cụ Huỳnh đọc trước bài điếu văn đã soạn sẵn với rất nhiều công phu, coi như để viếng sống. Đoạn kết của bài văn như sau:

Những ước gan vàng mình sắt, dù ngày mạt lộ, sống trăm năm mà làm bạn quốc dân.
Nào hay móc sớm sương mai, chán kiếp dư sanh, đau một trận hóa ra người thiên cổ.
Hỡi ôi!
Trời cướp danh nhân!
Đất vùi ngọc Thọ!
Hào kiệt đi đâu?
Non sông trơ đó!
Hồn cố quốc về chăng hay chớ! ào ào gió thổi, bốn mùa đỉnh núi sóng thông reo
Gương vĩ nhân sáng mãi chẳng lờ, vằng vặc nước trong, ngàn thuở lòng sông vừng nguyệt tỏ.
Chúng tôi
Tiếc đấng anh hùng,
Xót tình dòng họ
Uống nước nên nhớ đến nguồn cơn,
Khắc đá hãy ghi lời phế phủ.
Vàng ngọc nhờ ơn chỉ bảo, rượu ba tuần dâng món tâm hương.
Tiên trần rẽ ngã tử sinh, ngâm một khúc thay lời phi lộ.
Nào dám gọi sinh sau hơn trước, một lòng đền kính, đưa tiên sinh về cõi trường sinh
Chỉ mong câu “người chết như còn, chín suối có thiêng, dìu hậu bối lên đường tiến bộ“.

Cụ Phan nghe xong, đang cơn mê dần dần tỉnh lại, sống thêm được một tuần.

Cụ mất ngày 29-10-1940.

Từ đây ở Tiếng Dân hàng năm lại thêm một ngày nghỉ để anh em tòa soạn cũng như thợ nhà in dự lễ tưởng niệm Phan Sào Nam tiên sinh trước bàn thờ thiết lập tại tòa báo. Trước đây chỉ có ngày 24-3 là ngày kỷ niệm cụ Phan Chu Trinh.

V.Đ.Q
(SH34/12-88)

————–
(1) Trước thế chiến chứ 2, Đài Loan và Triều Tiên là thuộc địa của Nhật.

( Nguồn: tapchisonghuong…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 12.02.2015

Trên cao ấy có bạn tôi

Chung cư Lập ở

Trên cao ấy có bạn tôi

Hoàng Dũng

 

Sáng nay cùng Hoang Hung và Bùi Chát đến thăm Nguyễn Quang Lập.

 Vừa tới khối nhà B2 của Bọ Lập đã thấy chuyện lạ: ngay trước lối vào cầu thang là một cái bàn sáu, bảy người ngồi, sắc phục công an có, áo quần dân sự cũng có. Thấy bọn mình bước vào, họ nhốn nháo ùa tới, hỏi: “Các bác đi đâu?”. Mình trả lời: “Đi thăm bạn tôi, Nguyễn Quang Lập”. Một anh tre trẻ nhỏ nhẹ: “Các bác thông cảm, đã có lệnh, không được tiếp xúc với bác Lập”. Anh Hoàng Hưng thắc mắc: “Gửi thuốc bệnh cho Lập cũng không được ư?”. “Không bác ạ”. Mình nói: “Vậy mời Lập xuống uống cà phê ở quán ngay trong khu chung cư này cũng không được sao, các cháu?”. “Dạ không được”.

Thế là đành gọi con gái Lập xuống để lấy thuốc cho bố. Mình ôm vai cháu, không biết nói gì. Còn Lập, chỉ đành gặp nhau qua điện thoại. Tiếng Lập trong máy: “Ông ủng hộ tôi nhé, cứ về đi. Rồi anh em còn gặp nhau mà”. Thì về, chứ biết làm sao. Nhưng trước khi về, mình nói với anh em công an: “Tết nhất mà các cháu phải làm nhiệm vụ kiểu này thì khổ thật. Khổ cho các cháu, cho bác Lập, cho các bác đây”. Một chàng chừng ngoài hai mươi tuổi trầm ngâm: “Nhờ các bác nói giúp với bác Lập chúng cháu chỉ vì nhiệm vụ”.

Đã lấy xe ra khỏi khu chung cư một khoảng đường, mình dừng lại, nói anh Hoàng Hưng và Bùi Chát chờ mình một lát. Mình quay lại chụp ảnh khối nhà B2 của Lập. Trên cao ấy có bạn tôi.

PS. Trưa đi ăn với bạn bè. Anh Huỳnh Kim Báu và anh Lê Công Giàu thông báo anh Hồng Lê Thọ cũng được “[tù] tại ngoại” vào sáng nay. Anh Hồng Lê Thọ nhắn anh em đừng đến thăm vì chưa gặp được. Nghĩa là trước nhà anh Hồng Lê Thọ cũng có trạm gác của công an, như với Nguyễn Quang Lập. Anh Hoàng Hưng vừa cho biết thêm, lúc trưa nhà thơ Nguyễn Duy xách rượu đến định uống mừng Lập, cũng phải ra về mà không được gặp bạn.

H.D.

( Nguồn : facebook.com/hoanghung)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 11.02.2015

MỪNG BỌ LẬP ĐƯỢC TẠI NGOẠI

MỪNG BỌ LẬP ĐƯỢC TẠI NGOẠI

Ngô Minh

Sáng 10/2, Sĩ Sâm, một người Quảng Bình từ Nha Trng mail cho tôi” Anh Lập được tha rồi”. Không biết Sĩ Sâm lấy nguồn tin từ đâu.Tôi mừng ứa nước mắt. Nhưng đã đau dạ dày, rồi lại  bị gút ở chân quá nặng tôi không  trốn viện về được để viết tin chúc mừng Lập. Ngày 21/tháng Chạp âm lịch là ngày giỗ lần thư 20 Phùng Quán. Tôi nằm viện không đi được nên nhờ anh Tô Nhuận Vỹ chủ trò. Nghe anh Vỹ nói khi rót rượu, thắp nhang cúng anh Quán -chị Trâm, anh Vỹ đã khấn hương hồn anh Quán phù hộ cho Nguyễn Quàng Lập sơm được tại ngoại, khấn cho Ngô Minh mau lành bệnh. Thiêngthật, THế là ngày hôm sau Nguyễn Quang Lập được lệnh tại ngoại.

       Hôm qua nằm ở Bệnh Viện,nhiều người điện thoại cho tôi và tôi cũng điện thoại cho nhiều người báo tin Lập được tại ngoại. Ai cũng thương Lập giỏi giang, tài hoa mà thương tật nên ai cũng mừng. Cuối tháng 12/2014, anh Tô Nhuận Vỹ đi họp ở Hội Nhà văn Việt Nam về điện cho tôi là Nguyễn Quang Thiều một người rất thân bên Công an cho biết khả năng Lập được “tha” trước Tết.Hôm 21/12 âm lịch, nhà văn Nhất Lâm đi giỗ Phùng Quán về điện cho tôi ở bệnh viên là “Nguyễn Qang Lập chắc chắn ngày 27 Tết sẽ được tha”. THế mà mới ngày ông TÁo về Trời.Lập đã ra khỏi tù.

       Hôm qua và sáng nay tôi gọi điện thoại cho Lập theo số cũ, nhưng không ai bắt máy. Bí quá, tôi gọi điện cho nhà văn Nguyễn Quang Vinh. THế là được gặp Lập. Lập bảo vẫn khỏe. Ở trong tùkhổ nhất là đi cầu. Vì Lập đau chân, không ngồi được hố xí bệt nênanh em công an phải kiếm cho Lập một cái bô cao. Khi đi cầu vẫn có người đỡ. Nắm thì nằm dưới sàn xi măng, may có manh chiếu. May là Lập bị giam ở SÀi Gòn, chứ  mà giam ở Hà Nội đợt rét vừa rồi sẽ không chịu được. Lập cho biết bao giờ xử án thì họ gọi. Không biết có được án treo không?

    Thôi rứa là tạm yên một chuyện đau lòng mà hơn hai tháng nay báo chí mạng đồng tâm lên tiếng, kể cả cái  kiến nghị hơn 1500 chữ ký “đề nghị cho nhà văn Nguyễn Quang Lập tại  ngoại”.

     Tôi viết mấy dòng rồi phải lên bệnh viện đây. Bác sĩ theo dõi từng giờ. Họ vừa truyền xong cho tôi 250 cc máu ( một đơn vị máu). Nghĩa là từ khi nằm viện ( ngày 4/2/2015) đến nay đã truyền 3 đợn vị máu ( 0,75 lít). Không biết rồi sức khỏe có khả hơn không ?…

Đăng bởi: Ngô Minh | 09.02.2015

CHÚNG TÔI XÂY LĂNG MỘ PHÙNG QUÁN

Chuẩn bị hạ huyệt

CHÚNG TÔI XÂY LĂNG MỘ PHÙNG QUÁN  

        Ngô Minh                                                     

         Hành trình xây lăng mộ Phùng Quán –Bội Trâm có nhiều chuyện cảm động lắm. Nghèo như Phùng Quán mà có ngôi mộ vợ chồng sang trọng, đàng hoàng, quả là chuyện hiếm bây giờ. Có lẽ cuộc đời Phùng Quán trải quá nhiều tai ương, đau khổ, nhưng anh vẫn giữ vững bản lĩnh một nhà văn Vệ Quốc Đoàn nên Trời thương chăng ?. Hay tác phẩm và tài năng, khí phách của Phùng Quán xứng đáng được đền bù như thế ? Anh Ngay thẳng tột cùng/ sự ngay thẳng thuỷ chung/ của mỗi dòng chữ viết”. Anh đã để lại hàng chục tác phẩm được nhiều thế hệ bạn đọc mến mộ, trong đó những bài thơ Lời mẹ dặn, Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe, tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội, cuốn tạp văn  Ba phút sự thật… là những tác phẩm để đời. Năm 1955, lúc 25 tuổi, Phùng Quán đã được tặng Giải thưởng Văn học đầu tiên của Cách mạng : Giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu với tiểu thuyết Vượt Côn Đảo. Năm 2007, anh được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Nhà nước về VHNT.  Bài thơ Lời mẹ dặn được độc giả bình chọn trong là một trong 100 bài thơ Việt hay nhất thế kỷ XX. Chỉ chừng ấy thôi, Phùng Quán xứng đáng được tôn vinh suốt đời, xứng đáng có một  nơi an nghỉ vĩnh hằng sang trọng như vậy. (Đọc tiếp…)

Trao giải thưởng Quỹ Phùng Quán tại Lăng Mộ vợ chồng a Phùng Quán

      LỜI MẸ DẶN, TUYÊN NGÔN CỦA NGƯỜI CẦM BÚT

Ngô Minh

QTXM-Bạn đọc thân mến. Ngày mai, 21 tháng Chạp âm lịch là ngày giỗ thứ 20 nhà thơ Phùng Quán ( 1995- 2015). Ngô Minh nằm viện, nên tất cả công việc giỗ chạp đều do nhà văn Tô Nhuận Vỹ “cầm chịch”. Tham gia giỗ Phùng Quán năm nay có nhà thơ Mai Văn Hoan,nhà thơ Vihnx Nguyên, nhà thơ Nhất Lâm, Lê Tấn Quỳnh…Anh em sẽ lên mộ thắp nhang sau đó sẽ vào nhà thờ cúng giỗ. NhÂn dịp giỗ Phùng Quán, mời bạn đọc cùng Ngô Minh đọc lại bài thơ LỜI MẸ DẶN, bài thơ cốt tử nhất của Phùng Quán, bài thơ đã được khắc lên lăng mộ nhà thơ…

             Bài thơ “ Chống tham ô lãng phí “ trong Giai phẩm mùa Thu số I (9-1956 ) của Phùng Quán được những nguời cực đoan thời đó đánh giá là một bài thơ “nói xấu chế độ”, “chống đảng”, là “phản động”. Sau nhiều lần học tập, viết bản tự kiểm điểm, bị “đấu tố” gay gắt , Phùng Quán có nguy cơ bị khai trừ ra khỏi Hội Nhà văn, bị đưa ra khỏi biên chế Tạp chí Văn nghệ Quân đội, nơi anh đã dấn thân theo Vệ Quốc đoàn từ tuổi thiếu niên, rồi phải đi “lao động cải tạo” nhiều năm. Thực tế gần một năm sau, tức đến năm 1958 những hình thức kỷ luật này mới được thi hành, nhưng lúc đó ai cũng đã biết trước bản án dành cho “bọn nhân văn”. Đối với người miền Nam xa quê hương , thân cô thế cô giữa phố phường Hà Nội như Phùng Quán, nguy cơ bị kỷ luật như thế là rất đáng sợ. Bị coi là “phản động”, ai cũng tìm cách xa lánh, lại bị tách khỏi môi trường lính quen thuộc, xa đồng chí, bạn bè dễ làm người thanh niên trẻ tuổi dễ trở nên hoang mang tuyệt vọng , dễ dẫn đến bệnh tâm thần hoặc tìm đến cái chết. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 07.02.2015

NGHE TRẺ HÁT Ở TRƯỜNG SA

Hoa bàng vuống ở Trường Sa

NGHE TRẺ HÁT Ở TRƯỜNG SA

 Ngô Minh

Hôm qua em đến trường…

các em học sinh hát

nghe ở Trường Sa mà như ở làng quê Sông Hồng, Sông Hậu

tiếng hát bi bô sóng

bi bô đá

như dây leo xoắn cột mốc chủ quyền

lũ én đảo nghiêng tai riu rít

 

Trường Sa ơi

Trường Sa bây giờ không chỉ ra-đa và súng

Trường Sa đang sinh sôi tiếng trẻ học bài

gì sâu hơn mắt trẻ thơ ngơ ngác

xoe tròn trước đại đương xanh

 

Các em sinh ra ở đảo

như cây phong ba, như gốc bàng vuông

có tiếng hát các em

Trường Sa bỗng cao hơn

 

ở Trường Sa

tiếng trẻ bổng trầm hát theo cô trong lớp

lính đảo lắng nghe

như hồn Việt

gọi tên

 9-2011

( Giải 3, cuộc thi sáng tác :Đây biển Việt Nam” năm 2012)

   
Cao điểm 685-Ảnh P.V.Đ chụp 1996

Giao tranh ác liệt dành lại Cao điểm 685 (Lò vôi thế kỷ) – Vị Xuyên-Hà Giang 4 ngày giáp tết Ất Sửu-1985 (Kỳ 1)

 

Ký ức của Thượng sĩ Phạm Ngọc Quyền

(Đại đội 6- Tiểu đoàn 2-Trung đoàn 876-Sư 356)

Thưa quý vị và các bạn

Bắt đầu từ hôm nay, ngày 6/2/2015 tức ngày 18 Tết Ất Mùi, blog Phạm Viết Đào xin giới thiệu hồi ức của Thượng sĩ Phạm Ngọc Quyền kể về trận đánh  vào những ngày giáp Tết Ất Sửu-1985, cách đây 30 năm nhằm dành lại Cao điểm 685, nằm tại khu vực ngã ba Thanh Thuỷ, Vị Xuyên, Hà Giang bị Trung Quốc lấn chiếm.

Sau chiến dịch quân ta huy động 5 trung đoàn của các Sư đoàn 356, 312, 316, 314 và 313 ( có trung đoàn pháo tham gia) mở màn vào rạng sáng ngày 12/7/1984 nhằm dành lại Cao điểm 772, ngã ba Thanh Thuỷ, Vị Xuyên Hà Giang không thàng công. Sau chiến dịch này, lính Hà Giang đã mệnh danh Cao điểm 772 là “Đồi thịt băm” vì trong một ngày đêm 4 trung đoàn của ta đã hy sinh hơn 1000 bộ đội…

Sau trận 12/7/1984, phía Trung Quốc tiếp tục cho quân lấn chiếm sang đất ta; Để phản công lại, không để quân Trung Quốc lấn tới, quân ta đã thay đổi chiến thuật chuyến sang đánh lấn, lính Hà Giang thời đó gọi là “lấn dũi”, thay cho chiến thuật “biển người” bất thành trước đó…

Với chiến thuật áp dụng từ chiến dịch Điện Biên Phủ năm xưa, tại Vị Xuyên-Hà Giang đã xảy ra những trận đánh công kiên, ta và địch dành nhau tưng mỏm đồi, mỏm đá; một trong những trận đánh ác liệt, đẫm máu đó là trận xảy ra vào những ngày giáp Tết năm Ất Sửu 1985 từ 26 tết tới 29 tết tại Cao điểm 685…

Thượng sĩ Phạm Ngọc Quyền là người tham gia trận đánh và cũng từng tham gia trận 12/7/1984 đánh Cao điểm 772.

Ai đã đến khu vực Thanh Thuỷ, Vị Xuyên, Hà Giang, thăm những mỏm núi, đồi mà chiến sĩ ta phải đổ biết bao xương máu ra để dành giật với quân Trung Quốc sẽ thấy: phần lớn là đồi đá vôi, người không thể ở và canh tác nhưng do là lãnh địa, biên cương của Tổ quốc thì phải đổ máu xương ra mà bảo vệ.

Đọc những dòng hồi ức dưới đây của Phạm Ngọc Quyền, chúng ta không thể không xót xa vì hiện không ít kẻ đang phung phí, chà đạp thậm chí còn bán rẻ cho Trung Quốc đất đai, tài nguyên của Tổ quốc mà không nhớ rằng: bao con người đã phải đổ máu hy sinh dành giữ, bảo vệ.

Cao điểm 685 là cao điểm được lính Hà Giang mệnh danh là “Lò vôi thế kỷ”; Bởi ngày đêm cả pháo ta và pháo Trung Quốc bắn phá dữ dội đã khiến cho những dãy đá xanh của mỏm núi này trắng xoá như những lò vôi…

Đưa lại những dòng hồi ức này như một cử chỉ nhằm tri ân, trân trọng và nhớ tới những người lính như Phạm Ngọc Quyền; những người đã chiến đấu, đã ngã xuống tại các giải đất biên cương của tổ quốc và cả những người may mắn sống sót để trở về với đời thường.

Blog Phạm Viết Đào.

     Ký ức của Thượng sĩ Phạm Ngọc Quyền

(Đại đội 6- Tiểu đoàn 2-Trung đoàn 876-Sư 356)

   Dưới đây là toàn bộ những điều tâm huyết của bản thân tôi sau 30 năm vẫn còn lưu đọng trong tâm trí ! Nay tôi viết ra thành lời trên trang giấy, tuy có sai sót về từ ngữ, cú pháp, câu văn, chính tả..…nhưng về lịch sử, sự kiện, nhân vật là không sai và vĩnh viễn không bao giờ sai…

Kính mong toàn thể anh em, đồng đội và bạn đọc hãy coi đây là lời kể chân thật của một người lính trong cuộc chiến, được may mắn trở về kể lại, không phải là nhà văn vì vậy không coi đó là tác phẩm văn học .

Tôi xin chân thành cảm ơn những đồng đội, đồng chí, những người bạn trên khắp mọi miền của tổ quốc, những người bạn đang ở xa tổ quốc,đã theo dõi, động viên, khích lệ như tiếp thêm sức mạnh, để tôi có thêm nghị lực, cố gắng viết lại những dòng hồi ức này !
Tôi xin giành toàn bộ bài viết này, như một món quà TRI ÂN các anh hùng liệt sĩ đã xả thân vì độc lập tự do,vì chủ quyền dân tộc, vì sự toàn vẹn của biên cương tổ quốc..
Xin Kính Dâng lên Hương Hồn Các Anh  !!!
Đồng đội : Phạm Ngọc Quyền

đ/v : C6-D2-E876-F356

Ngày 26 tết năm Ất Sửu- 1985

…Ngày này cách đây 30 năm, năm 1984. Đã là ngày 26 tết, trong khi nhân dân cả nước đang hối hả, cập rập lo cho những công việc cuối cùng để chuẩn bị đón năm mới thì tại Thanh Thủy, Vị Xuyên, Hà Giang, những người lính biên cương lại hoàn toàn ngược lại; chúng tôi chẳng những không được lo đón tết mà lại phải căng mình chống chọi, giao tranh với các cuộc xâm lấn của quân Trung Quốc.

Tình hình chiến sự lúc này đã lên tới đỉnh điểm. Thời điểm này, tất cả từ sở chỉ huy xuống tới anh em lính tráng đều rất lo lắng, nguy cơ địch thừa thắng tràn xuống rất cao! Nhưng việc lo vẫn cứ lo, tuy rằng E 153 – F356 sau 3 tháng đánh lấn dũi E1 và E4 đến nay sức đã cạn kiệt, nhưng vẫn còn một số anh em bám trụ lại được một bên sườn của E1. Ngay phía sau (khoảng cách trên dưới 30m) là lực lượng D2 – E876 đang chốt chặn địch; nối tiếp ngay sau D2 – E876 đã có D1 phòng ngự. Và D3 trườn mình vận tải cho tuyến trên. Bên 400 vẫn còn lực lượng của D8 E149 chốt chặn…

(Thực chất gọi là D,C  chứ thực tế quân số một C lúc này chỉ có hơn 30 anh em thôi ).
Như vậy, địch muốn tràn sang hang Làng Lò, thì chúng phải vượt qua được các chiến sĩ của E153 còn sót lại, rồi qua các anh em D2…D1…D3 của E876. Sau đó mới trườn theo vách đá, thang dây, xuống hang cụt, rồi bì bọp lội theo suối cụt mới leo lên đỉnh hang rồi mới xuống được hang Làng Lò. Tuy nhiên vì lúc này địch dồn sức quá mạnh mà ta thi đã quá mệt mỏi sau gần 100 ngày đêm bám đá, chiến đấu kiên cường. Do đó sở chỉ huy nhận định và nâng mức độ nguy hiểm lên tột cùng cũng là điều dễ hiểu …
Có một điểm rất mừng lúc này là: Thay cho chuyển quà tết lên 685 cho chúng tôi, thì lại là hàng ngàn quả lựu đạn các loại, hàng ngàn quả đạn M79, hàng trăm quả đạn B40 B41 cùng nhiều vũ khí đạn dược được chuyển tới tay chúng tôi.

Quân số theo cách đánh thì mỗi mũi tấn công chỉ dùng từ 20-30 đồng chí, còn nằm sát các tuyến nối đuôi nhau phía sau, sẵn sàng chi viện kịp thời, do đó tâm lý anh em yên tâm hơn, không lo bi cô lập. Mặt khác, trong số tất cả các anh em đang đánh địch phản kích hay đang phòng ngự nếu bị thương, dù chỉ bị thương nhẹ cũng được lệnh cho rút về hang Làng Lò và thay ngay người khác vào vị trí để đảm bảo tinh thần, cũng như sức mạnh chiến đấu. Hiện lúc này chúng tôi có trong tay khá nhiều lợi thế:

-Thứ nhất: chúng tôi đã nằm phòng ngự trên 685, đã hứng chịu quá nhiều pháo đạn hàng trăm ngày đêm, nên độ lì rất cao.

-Thứ hai do ở đây lâu nên chúng tôi nắm bắt được các đường tấn công của địch rất rõ. Nhưng cũng có một bất lợi vô cùng lớn là: Công sự hầm hào đến lúc này là hoàn toàn nát bét! Vậy chỉ còn tùy quan sát để lợi dụng địa hình, hang, vách, mép đá để đánh địch…

Sau hai ngày đêm tấn công, địch đã lấy lại được E4 và một phần của E1 của 685. Bên cao điểm 400 địch cũng làm chủ được 2/3 cao  điểm. Có thể nói lúc này toàn bộ 685 đã bị địch khống chế ? Trước tình hình này, D2 E876 chúng tôi được lệnh phản kích địch nhằm giành lại thế chủ động trên cao điểm 685.
Nhiệm vụ của C6 chúng tôi là đánh phản kích giành lại E2 cao điểm 685-phát triển lên đẩy lùi địch ra khỏi E4 –đồng thời cô lập địch tại E1 kết hợp cho số còn lại E153 đánh lên giành lại E1. Chỉ huy mũi này là Tiểu đoàn phó Trần Đức Hiệp. Đại đội trưởng C6 đ/c Cảnh…
Nhiệm vụ của C5 là đánh phản kích địch giành lại  E5- phát triển sang trái kết hợp cùng C6 đánh địch tại E4 –sau khi làm chủ,chốt giữ đánh chặn địch từ 300 tràn sang giúp D8 E149 đòi lại 400. Chỉ huy mũi này là Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2 Hồ Xuân Tuân. Đại đội trưởng C5 đ./c Thái Khắc Ba. Còn lại C7 làm thê đội dự bị số 1 cho C5 và C6…
Ngay sát phía sau là lực lượng của D1 E876 làm thê đôi dự bị và sẫn sàng vào phòng ngự khi D2 lấy lai được mục tiêu. D3 vẫn làm công tác vận tải trên mặt trận.
-Chỉ huy toàn trận đánh là Sư đoàn trưởng Điếm
-Tham mưu trưởng là đồng chí Cây…
-Sở chỉ huy sư đoàn nằm tại hang Làng Lò;
– Sở chỉ huy trung đoàn nằm tại cao điểm 468;
Cũng tại cao điểm 468 ta đặt 2 ụ súng bắn tỉa, hỏa lực ĐKZ, cối 120ly,cối 82ly, bên giông đất của 468 là 12 ly 7, bên 600 là hỏa lực của tiểu đoàn….Hỏa lực mạnh của cấp trên; các trung đoàn pháo binh-hỏa tiễn sẽ bắn tối đa để chi viện cho 685-400…
Về phía địch: Tại E2, địch bố trí khoảng 1 trung đội thường trực, bên cạnh vào ra và dự bị nhảy vào đánh là khoảng một đại đội phía sau.Tại đây, chúng thường xuyên dùng súng bắn tỉa, cùng 4 ụ súng hỏa lực, bên cạnh đó từ các khe đá mà ta chưa xác định được chúng thường xuyên phun 14 ly 5 sang ta. Bên E5 chúng cũng bố trí khoảng gần một đại đội bộ binh, chúng dùng súng bắn tỉa và 6-7 ụ hỏa lực. Trên E4, chúng đặt 14 ly 5 ĐKZ bắn thẳng. Phía chân 400 chúng dùng khoảng 1 trung đội hỏa lực nằm ép sát chân của mỏm đá tai mèo. Bên Đ2 của 772 gần sát E4 của 685, chúng bố trí trận địa cối 82ly và ĐKZ. Bên Đ1 của 772 chúng bố trí 14ly5 ĐKZ, B các loại. Phía 300 chúng thường xuyên có cấp đại đội sãn sàng ứng cứu …

Qua nắm tình hình, chúng tôi nhận thấy địch đã học được ở chúng ta cách đánh lấn dũi: Chúng cho đào hào dẫn từ 233-226-lên chân của 772 qua A5- vòng trái 300 –phát triển lên E4 của 685 và sang E5 –E3 .bên hướng lên 400 chúng dào hào dẫn theo từ 233-226-qua 6ab – vòng trái đồi Cây Khô lên 400.
Phía tây nam của 685 chúng cũng đào hào đẫn từ Đ1 -772 sang E1 của 685 .phía tây bắc chúng đào nhiều đường dẫn từ Đ2 -772 sang E4  685…
Tất cả chúng tôi đã sẵn sàng chờ lệnh của cấp trên và chờ pháo  phát hỏa  ngay trong đêm nay 26 tết 1985…

Lại một đêm nữa trên cao điểm 685. Nó vẫn như hàng trăm đêm đã trôi qua …Nhưng không! đêm nay hẳn là khác các đêm trước. Trời đêm cuối tháng chạp có rét hơn, màn đêm đen đặc quánh, tối đen như đêm ba mươi, thỉnh thoảng những quả đạn pháo sáng của địch dội xuống như những bóng đèn điện có dây treo lơ lững trên đầu những đoàn quân đang ép mình chờ nổ súng… (Vâng câu thơ trong bài thơ đã được phổ nhạc: “Đêm nay rừng khuya sương xuống; Nằm kề bên nhau chờ giặc tới; Đầu súng trăng treo …” Ở đây,  gần đêm ba mươi không trăng… mà đầu súng pháo sáng treo !!!).

Rồi màn đêm được xé toang bởi tiếng pháo nổ, mặt đất rung chuyển, đất đá bay tơi tả cùng ảnh lửa chói lòa, sáng rực cả khu đồi…Pháo bắn vẫn như thường ngày, về đêm chúng có vẻ bắn ít hơn, dưới làn đạn pháo, anh em D3 E 876 nhanh nhen như con sóc chuyền tay nhau nhũng ba lô đạn dược, bông băng, lương khô và cả những can nước… Còn chúng tôi,cũng không kém, vận động hết ụ súng nọ, đến điểm chốt kia để vừa chuyển thêm đạn dược cho anh em, vừa kiểm tra xem còn thiếu sót gì nữa không? Tất cả chỉ nhìn nhau bằng ánh mắt trong đêm, tuyệt nhiên không một lời chào, không một cái vỗ về hay cái bắt tay… Bởi vì chúng tôi đã ngầm quy đinh với nhau là thực hiện 10 KHÔNG…
Những công việc vội vã cuối cùng cũng đã được chúng tôi thưc hiện xong trước 1h sáng ngày 27 âm lịch. Tinh thần anh em chúng tôi đã lên rất cao, bởi vì tất cả chúng tôi đều có chung một tâm trạng: Nằm đây quá lâu, quá khổ. ..thà rằng sống mái một mất một còn…chứ nằm đây mãi thì sớm muộn cũng chết…Ngay cả cánh anh em D3 cũng nhiều đồng chí xin được vào vị trí chiến đấu, chứ không muốn suốt ngay đêm căng mình trên bề mặt của mặt trận..Họ không có vị trí ẩn nấp pháo đạn địch nên họ bị thương vong và hy sinh nhiều hơn chúng tôi nhiều lần…

P.N.Q.

(Còn nữa…)

( Nguồn : blog PVĐ)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 06.02.2015

NẾP GIA PHONG HUẾ QUA ẨM THỰC

Bánh bông hồng Huế

   NẾP GIA PHONG HUẾ QUA ẨM THỰC

                                                Ngô Minh

                 Có lẽ Huế là một trong rất ít  địa phương ở Việt Nam có một nền nếp gia phong bền vững nhất. Gia phong Huế bao gồm nhiều khía cạnh của đời sống xã hội như nghi lễ, giỗ chạp, Tết nhất, trang phục, học hành, xã giao.  tôn ti trật tự.v.v.. Trong đó văn hoá ẩm thực là đậm nét nhất. Người phụ nữ Huế bao đời nay đều dạy dỗ, truyền lại cho con gái, cháu gái những món ăn ưa thích của gia đình. Con gái Huế lớn lên đã được mẹ dạy đi chợ, chế biến các món ăn Huế rất kỹ càng. Vì người Huế quan niệm món ăn cũng là nếp nhà. Tôi quen rất nhiều trí thức Huế  làm văn chương văn hóa nhưng nấu ăn món Huế rất ngon như chị Nguyễn Khoa Như Ý ( Nhà văn Hà Khánh Linh), chị Trương Thị Cúc, thư ký tòa soan Tạp chí Sông Hương đã nghỉ hưu, chủ nhà hàng nổi tiếng Ý Thảo (Huế), nhà văn Trần Thùy Mai, hay nhà văn Ngọc Trai ( một phụ nữ hoàng tộc Nguyễn) ở Hà Nội…Món ăn Huế nhờ thế mà truyền từ đời này sang đời khác, theo một phong cách rất riêng “ nghèo mà sang”. (Đọc tiếp…)

Older Posts »

Danh mục