Đăng bởi: Ngô Minh | 30.09.2016

NGÔ KHA, MỘT CÕI TANG BỒNG

IMG_8193

ĐỌC BỘ SÁCH “NGÔ MINH TÁC PHẨM”, TẬP 2: 

NGÔ KHA, MỘT CÕI TANG BỒNG

 

 Ngô Minh

 ngo-kha  Bây giờ tôi mang hoa đến dòng sông      

                      Đọc diễn văn truy tặng người đãng trí…

 Bao nhiêu lứa học trò các trường Quốc Học, Hàm Nghi, Hưng Đạo, Nguyên Du ( Huế) năm xưa của thầy Ngô Kha cứ mỗi lần vịn vai cầu Bến Ngự, nhìn sông An Cựu tím dần trong chiều sương khói, lại rớm rớm nước mắt, lặng đọc những câu thơ của người thầy thân yêu mở đầu bản trường ca bí ẩn ”Ngụ ngôn của người đãng trí”. Rồi họ cùng ôn lại những ngày biểu tình đòi chính quyền “trả thầy giáo Ngô Kha lại cho chúng tôi”, hô vang khẩu hiệu “đả đảo bọ ăn cướp thầy” vào tháng 3 năm 1973, sau khi thầy bị bắt lần thứ hai.  Đã bốn mươi hai năm rồi, một ngày đầu  tháng 2 năm 1973 ấy ( ngày 27 Tết),ngay sau khi hiệp định Paris về hoà bình ở Việt Nam được ký kết,  khi thầy Ngô Kha đang ở nhà với người mẹ già Cao Thị Uẩn, một toán mật vụ nhảy xuống xe, bắt “nhà thơ đãng trí” tống lên xe chạy như bay về Ty Cảnh sát Quốc gia , nhà lao Thừa Phủ… (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 30.09.2016

Khiển trách công an ‘vung tay vào mặt PV’

Khiển trách công an ‘vung tay vào mặt PV’

BBC


Image captionẢnh ghi lại vụ công an hành hung phóng viên báo Tuổi Trẻ (áo trắng) đang được chia sẻ nhiều trên mạng xã hội

Công an Hà Nội kết luận viên cảnh sát huyện Đông Anh ‘đá nhưng không trúng vào người và vung tay vào mặt’ phóng viên báo Tuổi Trẻ.

Lãnh đạo thành phố và công an Hà Nội yêu cầu điều tra sau khi có video ghi lại lúc phóng viên Trần Quang Thế (báo Tuổi Trẻ) bị công an huyện Đông Anh đánh ngày 23/9.

Tuy vậy, ngày 29/9, công an TP. Hà Nội kết luận ông Ngô Quang Hưng, công an huyện Đông Anh, chỉ “dùng chân đá (nhưng không trúng vào người) và vung tay vào mặt” phóng viên Trần Quang Thế.

Ông Hưng bị kết luận vi phạm “Quy tắc ứng xử của CBCS – CAND khi thực hiện nhiệm vụ bảo vệ hiện trường”, và bị khiển trách.

Một viên công an khác, Nguyễn Văn Thuyên, bị xác định “dùng tay gạt máy quay của một người tự xưng là phóng viên Báo Pháp luật Việt Nam”.

Công an kết luận phóng viên của báo Pháp luật Việt Nam không có ai báo cáo “bị đánh hoặc làm hư hỏng máy quay”. Vì thế, ông Thuyên bị phê bình rút kinh nghiệm.

Phóng viên vi phạm

Công an Hà Nội giải thích vào sáng 23/9, có thông tin một người đàn ông bị chết dưới gầm cầu Nhật Tân cùng chiếc xe taxi ở trên cầu.

Công an huyện Đông Anh được kết luận là đã có nhiệm vụ bảo vệ hiện trường, trong khi “một số người tự nhận là phóng viên của một số báo, xông vào khu vực bảo vệ hiện trường để tác nghiệp, chụp ảnh”, theo tường thuật của An Ninh Thủ Đô.

Phóng viên Trần Quang Thế bị kết luận “có hành vi vi phạm vào khu vực cấm, nơi tiến hành hoạt động có nội dung thuộc phạm vi bí mật Nhà nước mà không được phép”.

Ngoài ra, công an Hà Nội nói ông Thế “chụp ảnh tại khu vực cấm”, “có lời nói lăng mạ người thi hành công vụ”, “lợi dụng tư cách nhà báo, phóng viên can thiệp, cản trở hoạt động đúng pháp luật của tổ chức, cá nhân”.

Bản tin tường thuật của báo Tuổi Trẻ ngày 29/9 nói nhà báo Quang Thế tường trình với cơ quan rằng ông chỉ đồng ý lỗi vi phạm để xe trên cầu, còn các lỗi khác ông “hoàn toàn không chấp thuận lỗi vi phạm”.

“NGƯỜI MAN DI HIỆN ĐẠI” Nguyễn Văn Vĩnh và tính phức tạp của công cuộc hiện đại hóa thuộc địa ở Việt Nam

Nguyễn Văn Vĩnh và vấn đề “văn minh” dưới thời bị đô hộ.

clip_image002

Vua Bảo Đại và Toàn quyền Ro Bin lắp những thanh ray tàu hỏa hỏa cuối cùng trong buổi khánh thành đường sắt Hà Nội – Sài Gon ngày 2.9.1936. (ảnh sưu tập của Ngô Văn Đức – Pháp)

Phần lớn những người biết về Nguyễn văn Vĩnh đều thích thú, cười mỉa một cách chế nhạo mục bài nổi tiếng của ông có nhan đề là  Lên án tất cả

(Se moquer de tout), trong đó ông hệ thống lại toàn bộ sự phê phán của mình đối với những cái mà theo ông, đó là những thói hư tật xấu của xã hội Việt Nam, những tập quán liên quan đến việc sinh đẻ, tục ăn trầu, sự tham nhũng, thói mê tín dị đoan…

Từ năm 1913 đến 1915, ông đã viết hàng chục bài báo và tiểu luận về sự cần thiết phải tiến hóa toàn diện xã hội Việt Nam, và làm cho nó “Tây” hơn, “văn minh” hơn.

Bị thôi thúc trước những quan điểm chính trị-xã hội của học thuyết Đác-uyn (Darwin), Nguyễn Văn Vĩnh coi sự phục hưng, đổi mới của Việt Nam phải được thực hiện bằng việc thích nghi một cách thận trọng với sự hiện đại hóa kiểu phương Tây, qua con đường thuộc địa Pháp. Hơn tất cả mọi điều khác, ông muốn tạo ra một nước Việt Nam thực sự “hiện đại”, phát triển như châu Âu. Điều ông quan tâm trên hết, là ghi tên nước Việt Nam vào bản đồ của các quốc gia “văn minh”.

Nguyễn Văn Vĩnh tin rằng, từ sự va chạm mãnh liệt với một phương Tây thực dân, đất nước ông sẽ biết cách tìm ra được nghị lực và sự phân biệt đủ thuyết phục, để rũ bỏ những cái mà theo ông là vấn nạn xã hội, những thói tục và những tập quán của nó, vốn thuộc một thời đại khác để lại. Cách tiếp cận rất phương Tây của ông, đã đặt lên hàng đầu tư tưởng rằng: nước Việt Nam có thể, một khi cải cách, sẽ đạt được một cấp độ văn hóa ngang với cấp độ của nước đô hộ.

Cần nhấn mạnh rằng, chúng ta có thể tìm thấy những suy nghĩ tương tự về việc Âu hóa và văn minh hóa ở Nhật Bản, Thái Lan (Xiêm) và Trung Quốc. Vấn đề không phải chỉ là một tiến trình “Pháp-Việt”(46). Thực tế chính là trong bối cảnh rộng mở hơn ấy của sự văn minh mà, theo tôi, chúng ta cần phải phân tích sự công kích của Nguyễn Văn Vĩnh vì sao phải “chống lại” xã hội và văn hóa truyền thống(47).

Xin lấy ví dụ, chuyện y phục được coi như là tiêu chí quan trọng của mức độ văn minh. Trong một tiểu luận có nhan đề là “Chuyện ăn mặc”, ngay ở đầu bài viết, ông Vĩnh đã trình bày suy nghĩ như thế nào trước sự thay đổi này, tuy chỉ là bề ngoài, nhưng lại là cái chìa khóa để xác lập sự ngang hàng với phương Tây và các nước đang trong tiến trình “văn minh hóa theo kiểu Tây phương”.

Giống như người Thổ Nhĩ Kỳ, người Xiêm đã chấp nhận y phục Âu châu, chỉ trừ một chi tiết. Người Thổ giữ lại chiếc mũ đấu ( gọi là fez, loại mũ ở Thổ Nhĩ Kỳ và một số nước Hồi giáo-ND). Người Xiêm giữ lại cái sampot (khố-ND). Cả hai nước đều đã bỏ những vết tích cuối cùng này trong trang phục truyền thống của họ. Bằng cách này, họ muốn xác định rằng, đất nước họ đã thực sự Âu hóa. Và từ nay,thông qua vẻ bề ngoài, họ muốn mọi người nhìn họ giống như tất cả các dân tộc văn minh khác ở châu Âu (…).

Ỏ châu Á, người Nhật Bản đã chấp nhận y phục Âu châu sau khi được tổ chức theo kiểu châu Âu. Người Trung Hoa cũng đã làm như vậy, rồi tiếp nữa là người Xiêm. Thực hiện việc này, mọi người đã tuân theo một giá trị ảnh hưởng huyền bí của những biểu hiện bên ngoài tác động đến sự thay đổi bên trong.

Với các dân tộc lạc hậu, để đạt đến nền văn minh Âu châu, ít ra là cách tổ chức kiểu châu Âu, thì dường như việc chấp nhận các cung cách bên ngoài là một điều cần thiết để khẳng định ý chí bình đẳng với châu Âu trong con mắt của thế giới và trong chính con mắt mình”(48).

Quan sát ở Việt Nam, Nguyễn Văn Vĩnh lấy làm tiếc là nó chỉ được chấp nhận một cách chậm chạp cách ăn mặc kiểu quần áo phương Tây. Ông lưu ý rằng, một vài những chuẩn mực Tây hóa nào đó đã xảy ra rõ rệt nhất về trang phục chỉ có ở những công chức cạo giấy, đặc biệt ở giới nhà binh.

Nhưng cách phục sức hẳn phải đi đôi với một lối suy nghĩ nào đó. Ông đã chế giễu những ai ăn mặc giống người phương Tây, nhưng lại không thực sự hiểu được bản chất của việc làm ấy. Mặc dù đã có sự phổ biến về các tiêu chí mới trong cách ứng xử, Nguyễn Văn Vĩnh vẫn thất vọng bởi lối sống cơ hội trong việc bắt chước một cách máy móc của một số người Việt Nam. Họ muốn được người Pháp để mắt tới và thừa nhận hơn là để thể hiện sự hiện đại hóa về tư tưởng phải đi đôi với tác phong trong trang phục của họ.

Chắc chắn, Nguyễn Văn Vĩnh, như nhiều người ở châu Á, châu Âu, hoặc các nơi khác, đã dựa trên một quan niệm phương Tây về phép “lịch sự” và cách “ứng xử”(49). Như những người công chức Việt Nam mặc trang phục phương Tây hôm nay (cũng là sự khuyến khích cho các bộ tộc vùng núi hãy cứ mặc những bộ đồ sặc sỡ)(50), ông Vĩnh rất lấy làm tiếc vì có nhiều người nước ngoài nhìn những người Việt Nam mặc đồ truyền thống, nhưng lại quan sát họ như thể họ là những hiện vật thuộc quá khứ trong các bảo tàng, bên cạnh đó lại khiến họ thích thú.

Giống như Phan Châu Trinh, Nguyễn Văn Vĩnh đã đả kích những gì theo ông là “nghi thức phong kiến”, đặc biệt là việc quỳ lạy(51) của giới quan lại và vua tôi của họ. Đối với ông, nước Việt Nam nên theo gương Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và Trung Hoa. Phương Tây hóa là điều không tránh được, và Nguyễn Văn Vĩnh đã tin chắc, mình là người biết đàm phán thế nào với người Pháp.

“Vậy là có những lý do xác đáng trong sự thay đổi đã được người Thổ Nhĩ Kỳ, người Ai Cập, người Nhật, người Xiêm quyết định đối với các vấn đề liên quan trong việc áp dụng một cách tổng thể cách thức sử dụng y phục truyền thống của họ. Đây cũng là một bước hướng tới sự thống nhất của con người trong các biểu hiện liên quan đến đời sống cộng đồng của nó, điều đã làm cho một vài nhân vật tài tử nghiệp dư thích đi tìm cái kỳ lạ và sắc thái bản địa phải thất vọng”.

Đương nhiên, với con mắt của những ai thích thú, để tâm tới thời kỳ “tiền thuộc địa”, hay với sự đa dạng của truyền thống, của văn hóa hay lịch sử Việt Nam, thì việc nêu những quy tắc trong ăn mặc, phong cách và tư tưởng theo xu hướng Âu hóa của Nguyễn Văn Vĩnh trở thành lạ lùng, hời hợt và cả sự khó chịu.

Tuy nhiên, chúng ta cần nghĩ đến việc đánh giá đúng và nghiêm túc về Nguyễn Văn Vĩnh, bởi lẽ, ông không phải là người duy nhất có cách suy nghĩ và hành xử này. Một lần nữa, ta thấy Nguyễn Văn Vĩnh thuộc lớp người dám dấn thân vào trào lưu khuyến khích cải cách văn hóa vượt khỏi giới hạn một nước “Việt Nam” hay của một “Đông Dương thuộc Pháp”.

Nước Nhật Bản vào kỷ nguyên Minh Trị đã cho những tấm gương tương tự về cách đặt vấn đề và việc thích nghi trong văn hóa, phục trang và những khái  niệm Tây phương trước quan niệm về văn minh của những dân tộc chịu ảnh hưởng của đạo Khổng và Thần đạo. Chương trình “Tân sinh” ở nước Trung Hoa Dân quốc cũng nằm trong tinh thần ấy.

Tại Đông Nam Á, ta có thể xem xét đến “Sắc lệnh về văn hóa” do Phibul Songkram thông qua vào cuối những năm 1930, đã bắt buộc người Thái Lan phải mặc trang phục kiểu phương Tây, phải bắt tay khi chào hỏi thân mật (sawatdii), hay ôm hôn vợ trước khi ra khỏi nhà đi làm như những biểu hiện của “văn minh” (siwilai). Thực vậy, khá nhiều đổi thay về văn học, nghệ thuật, cách ứng xử có tính tâm lý học diễn ra ở Việt Nam cũng đã từng sảy ra ở Thái Lan một cách cuốn hút(53).

Vấn đề Âu hóa ở một đất nước không nhất thiết phải có sự can thiệp, cưỡng bức trực tiếp qua một công cuộc khai thác thuộc địa theo kiểu châu Âu(54), cho dù có một sự kiện nổi bật nữa là Nhật Bản thời Minh Trị cũng đã ứng xử ở Triều Tiên y hệt như các thế lực thực dân châu Âu cùng với một cách tư duy tương tự(55). Vậy là, thời kỳ thuộc địa Pháp ở Việt Nam cũng nằm trong một tiến trình lịch sử và địa lý của quá trình canh tân tổng quát và rộng lớn hơn.

Nguyễn Văn Vĩnh muốn chỉ ra cho người Pháp thấy rằng, người Việt Nam cũng có thể văn minh. Ước nguyện của ông khi đưa vở kịch Người bệnh tưởng của Molière lên sân khấu với các vai diễn là người Việt Nam vào đầu những năm 1920, căn bản là bị ý chí thúc đẩy, ông muốn chứng minh cho người Pháp thấy rằng, người Việt Nam hoàn toàn có khả năng hiểu, nhận thức và diễn đạt một tác phẩm văn học phức tạp của nền văn hóa phương Tây. Như một báo cáo của cảnh sát Pháp cho thấy: bản dịch tiếng Việt tác phẩm của Molière có chủ ý

“chứng minh cho các kiều dân Pháp đang cư trú ở Việt Nam thấy rằng, người dân ở đất nước này cũng có khả năng hiểu được sâu sắc và cũng biết thưởng thức các tác phẩm của Molière và những nhà văn nổi tiếng khác”(57).

Ông cũng mang ý tưởng đó khi giới thiệu lên màn ảnh tác phẩm điện ảnh Kim Vân Kiều. Ông đã viết bài trên tờTrung Bắc Tân văn, bộ phim này để chỉ cho người Pháp và cho thế giới biết rằng “người Việt Nam không phải là một giống mọi rợ”. Bộ phim nhằm giúp người Việt Nam“làm cho thế giới biết”, rằng họ cũng là “một phần của nhân loại” và không hề là một dân tộc dòng giống mọi rợ, nguyên thủy. Một cách thú vị, ông còn viết thêm rằng, bộ phim này là một trong những phương pháp mới nhất, nhanh nhất, hiệu quả nhất làm cho người ta nghe thấy thông điệp của người Việt Nam(58). Quả thực, ông đã không hề nhầm lẫn điều này.

Nói tóm lại, vấn đề văn minh và so sánh các nền văn minh là trung tâm của cuộc sống và các công trình nghiên cứu của Nguyễn Văn Vĩnh. Ước muốn ứng xử theo phong cách Âu Tây, mặc đồ Âu, đội chiếc mũ kiểu thuộc địa, nói tiếng Pháp với ngay cả bạn bè người Việt, có lẽ không thể chỉ vì bề ngoài, hay một ý nguyện tượng trưng còn cao hơn một sự dàn cảnh đơn giản với biểu tượng của một người Pháp ( hãy so sánh với một số người phương Tây lạ lùng là muốn “bản xứ hóa” hơn cả người bản địa, nhằm thoát khỏi nền văn minh phương Tây mà chính họ sinh ra từ đó).

Như ông đã từng nhấn mạnh trong nhiều tiểu luận bàn về vấn đề văn hóa xã hội, điều đó tương ứng phần nào ý muốn đưa người Việt Nam lên ngang hàng với thế giới Tây phương, và lên trên những dân tộc khác bị coi là “mọi rợ”(59).

Điều nên lưu ý là có không ít người Việt Nam – Không phải chỉ có Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh – Xem xét, đánh giá các khái niệm, nhận thức mới về “văn minh phương Tây”, đối chiếu với những thiên kiến cũ của người Việt, về tính ưu việt giả định họ đã có, so sánh với các nước láng giềng theo Phật giáo tiểu thừa ở phía Tây.

Nếu người Pháp biện minh việc cai trị Việt Nam của họ bằng một sự vượt trội về văn minh và cao hơn phương Tây hiện đại, thì Nguyễn Văn Vĩnh và một số người khác sẽ biện minh cho việc áp đặt Tây Đông Dương của mình cũng bằng cách thức tương tự không thua kém. Đối với Nguyễn Văn Vĩnh và một số người khác, nhờ tính ưu việt vượt trội của mình, nước Việt Nam đã giữ vị trí ưu tiên trong sứ mệnh khai hóa văn minh Pháp-Việt ở Đông Dương thuộc địa(60).

Khi đáp lại phe đối lập trong số các trí thức Campuchia về sự gia tăng nhập cư của người Việt sang Campuchia thuộc địa, tờ báo L’Annam Nouveau đã trả lời rằng, người Việt đã tới Camphuchia vì cùng những lý do phù hợp với học thuyết Đác Uyn, giống như người châu Âu đã tới châu Á, và cũng như người Nhật đến Mãn Châu.

“Ít ra là người Campuchia cũng không muốn bị tách biệt như những bộ tộc hoang dã ở Trung Phi, họ cần thiết và thực sự quan tâm đến việc mở rộng vòng tay đón nhận mọi sứ giả của nền văn minh. Hình như, lúc này không phải là ý tưởng của một số người trong bọn họ”(61).

Tư tưởng phức tạp về văn minh này, vậy mà lại trùng nhau ở nhiều điểm khi đối chiếu sau này. Cái cách thức theo giọng điệu của một thuộc địa Pháp mang mầu sắc khai hóa lại trùng với giọng điệu của Việt Nam xưa hơn ở Đông Dương, tạo thành một trong những sự phân nhánh lý giải lý thú nhất. Một cách nói khác, tất nhiên là theo ý tưởng Cộng sản ở một nước Việt Nam trẻ đã truyền bá nhằm nhấn mạnh sứ mạng làm cách mạng ở Lào và Campuchia sau này(62).

Tất cả những chính kiến chung quanh vấn đề ảnh hưởng của phương Tây có thể xem như phi lý vào thời đại của những “giá trị Á Đông” và của “sự va chạm giữa các nền văn minh”. Nhưng chúng tôi cho rằng, điều quan trọng, đây là mối bận tâm chủ yếu của những con người sống trong thời kỳ này, và là một tiến trình phức tạp cần được nghiên cứu nhiều hơn và vượt ra cả những khuôn khổ quốc gia đơn thuần của nước Pháp, của Đông Dương, thậm chí của cộng đồng Pháp ngữ. Trở thành văn minh, cũng có nghĩa là có thể khai hóa cho người khác. Nguyễn Văn Vĩnh biết rất rõ điều này!

Điều kỳ lạ ở chỗ, cuộc va chạm đáng buồn giữa người Việt Nam và người Khơ me lúc đó, đã làm suy giảm đi những thuyết lý khai hóa của người Việt ở một Đông Dương thuộc địa, thì mối giao hảo Pháp-Nam cũng phải hứng chịu những rắc rối mang tính phá hoại như thế. Bởi lẽ, nếu Nguyễn Văn Vĩnh coi văn minh Việt Nam cao hơn văn minh của người Khơ me, thì ông đã bị thất vọng sâu sắc trước một sự khinh miệt cố hữu nào đó của bản thân chế độ thuộc địa (nếu không muốn nói là tiến trình của sự văn minh?!). Sự việc điển hình đó xuất hiện vào năm 1933, trong một vụ va chạm nảy lửa giữa người Pháp và người Việt sảy ra tại rạp chiếu bóng Majestic Hà Nội (rạp Tháng 8 hiện nay).

Nguyễn Văn Vĩnh đã phê phán sự hiểu lầm khó chịu này, nó thực sự đối lập giữa kẻ cai trị là thực dân và kẻ bị trị. Ông đã yêu cầu phải thông báo rõ ràng sự việc và yêu cầu người Pháp bỏ ngay cái thái độ trịch thượng kiểu thực dân, mà đó là nguyên nhân của vụ việc ồn ào này(64).

Nhưng điều đã khiến Nguyễn Văn Vĩnh bị xúc phạm là sau khi ông cho đăng bài báo, ông đã nhận được lời cảnh cáo chính thức của nhà cầm quyền (Chính phủ thuộc địa-ND) và trong nội dung của bài viết đã liệt ông vào loại người “chống Pháp” (khác gì việc buộc tội người Lào và người Campuchia “chống Việt Nam”)(65). Nguyễn Văn Vĩnh đã không thể đồng ý với cách phân tích như vậy:

“Thật tình, họ dùng tính từ này thật quá dễ dãi, thậm chí là ranh ma. Liệu có ai đưa ra được cho chúng ta một cách định nghĩa thế nào là chống Pháp?!”.

Ông kết thúc bài viết về sự kiện này bằng những lời:

“Ngày mà tất cả những người Pháp ở đây đều thừa nhận rằng, sự độc ác phải bị trừng trị, dù nó đến từ phía nào, xuất phát từ đâu, ngay cả từ một người Pháp; rằng người An Nam cũng là con người, rằng họ cũng phải hành động tự thân chống lại mọi sự xúc phạm, bất công, và khi hành xử như thế, họ sẽ có ở bên mình tất cả những người Pháp lương thiện, thì ngày đó, mối giao hảo Pháp-Nam không còn là một cách nói xuông”(66).

Dù có liên quan đến người Pháp hay người Campuchia, Nguyễn Văn Vĩnh đã chứng minh cho chúng ta một góc nhìn thật thú vị về cách thức của trí thức Việt Nam ứng xử trước các vấn đề đặt ra của vô số những giao điểm đa dạng của các nền văn minh khác nhau trong hoàn cảnh của quá trình khai thác thuộc địa.

Tuy nhiên, Nguyễn Văn Vĩnh đã tin tưởng sâu sắc vào tiến trình hiện đại hóa của đất nước này chỉ có thể thực hiện thông qua sự liên minh với nước Pháp, điều này lại phù hợp với quan điểm chính thức. Sự trùng hợp tư tưởng đó, đã tạo thuận lợi cho người Pháp tìm cách để liên kết những người Việt Nam như ông vào với dự án thuộc địa của Pháp ở Đông Dương. Hơn thế nữa, người Pháp cũng chẳng phải là những kẻ duy nhất muốn lấy được lòng tin của người Việt Nam.

Nguyễn Văn Vĩnh và “Pháp ngữ” thuộc địa

clip_image004

Có phải từ hơn 100 năm trước, Toàn quyền Paul Doumer và Nguyễn Văn Vĩnh đã mơ có cảnh này?! (Ảnh Tổng thống Pháp Francois Hollande và Nhà khoa học Ngô Bảo Châu trên đường phố Hà Nội 5.9.2016).

Không phải chỉ có nền văn minh Pháp dưới thời thuộc địa, và những nhà cai trị thuộc địa Pháp thời đó mới hiểu một cách tường tận về sự phát triển văn hóa và văn mình Pháp và vai trò của Nguyễn Văn Vĩnh đều xuất phát từ mối lo của người Pháp, rằng văn hóa và tư tưởng của họ không thấm đến được người dân và tầng lớp quan lại Việt Nam. Những nền văn hóa khác, đặc biệt là của Trung Hoa, vẫn có một ảnh hưởng mạnh hơn và đã bắt rễ sâu hơn cả về thời gian và không gian.

Việc Âu hóa thuộc địa có những giới hạn của nó, như Denys Lombard đã nhấn mạnh một cách chính xác, ngay cả ở Đông Dương thuộc Pháp[1]. Sự chọn lựa của chính quyền thuộc địa trong việc đặt cược vào Nguyễn Văn Vĩnh là bằng chứng rõ rệt.

Nhà chức trách thuộc địa, đặc biệt là toàn quyền Albert Sarraut (1911-1913, 1917-1919) và giám đốc chính trị của ông ta, Louis Marty, đều quyết tâm ngăn chặn sự tuyên truyền của Đức và ảnh hưởng của Trung Quốc đến với tầng lớp ưu tú Việt Nam bằng những bản dịch chữ Hán, dựa vào hệ thống sách báo Trung Hoa vẫn nối liền Việt Nam với bên ngoài – dù đã có nền đô hộ thuộc địa.

Sarraut trình bày với bộ trưởng Thuộc địa sự thiếu hiểu biết của người Á Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng về nước Pháp.

“Tiếng Anh, ông nói, là thứ tiếng duy nhất trong các ngôn ngữ châu Âu được sử dụng phổ biến ở Viễn Đông, các nhà xuất bản sách Trung Quốc ở Thượng Hải và các hải cảng khác đã tìm thấy trong đồng bào họ những người biên dịch giỏi để dịch thứ tiếng đó”.

Nói rộng ra, ngay cả những bản dịch Trung Hoa đang tiếp tục thâm nhập vào Việt Nam vẫn không làm cho người ta biết đến nước Pháp bằng các nước châu Âu khác. Sarraut lấy làm tiếc rằng phần lớn kiến thức của người Việt về thế giới và châu Âu đều đến từ những xuất bản phẩm không phải của người Pháp, như những bản tường thuật nhiều tập mà Khang Hữu Vi đã viết sau chuyến đi châu Âu.

Để bảo vệ những lập luận của mình, Sarraut đã dẫn chứng bản báo cáo của Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp do Noel Péri viết năm 1911 về những bài thi của các quan, cho thấy người Pháp không phải là “người nắm công luận”. Péri và những người khác cho biết rằng các sách vở Trung Hoa vẫn tiếp tục chiếm phần lớn trong các tủ sách ở địa phương của các quan. Nghiêm trọng hơn:

“Công trình của Khang Hữu Vi vẫn tiếp tục được sử dụng và lưu hành tại thuộc địa, mặc dù đã có lệnh ngăn cấm mọi sách báo Trung Hoa, thuộc bất cứ loại nào”[2].

Chính trong bối cảnh đó mà Sarraut dựa vào một nhóm nhà nghiên cứu Việt Nam tài năng, đã chiêu tập những người trí thức biết tiếng Pháp như Phạm Quỳnh, Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Văn Vĩnh và những người khác, và đưa họ đứng đầu những tờ báo nhằm xúc tiến sự nghiệp của Pháp ở Đông Dương – cụ thể là Nam Phong, La Tribune Indigène (Diễn đàn bản xứ) vàĐông Dương tạp chí, cùng với Trung Bắc tân văn.

Sarraut chủ yếu dựa vào Louis Marty và Schneider để lập nên một “chương trình có hệ thống” nhằm cắt đứt Việt Nam khỏi bối cảnh châu Á và ngăn chặn những kẻ cạnh tranh không phải nước Pháp trong các kế hoạch “của Pháp” ở Đông Dương.

Họ chọn lọc những trí thức và nhà báo Việt Nam biết tiếng Pháp và chữ quốc ngữ để phụ trách các tờ báo, dịch thuật và nắm các câu lạc bộ văn học để làm cho người Việt Nam biết đến nước Pháp và nền văn minh Pháp, và chủ yếu là qua tiếng Việt.

Ngay cả sau chiến tranh, tầm quan trọng làm cho châu Á và Việt Nam biết đến nước Pháp vẫn là điều ưu tiên ở thuộc địa. Louis Marty nhắc lại cho Sarraut hồi tháng 3-1919 rằng:

“Trong sách báo Trung Quốc hiện đại, các công trình mô phỏng hay biên dịch các tác phẩm Pháp sau thế kỷ 18 là cực kỳ hiếm. Ngược lại, Viễn Đông đầy dẫy những sách thuộc đủ loại chủ đề dịch từ tiếng Anh hay từ tiếng “Đức”.

Marty tán thành quyết định của Sarraut, “thành lập và phát triển những cơ quan tuyên truyền của Pháp viết bằng tiếng dân tộc của người An Nam với sự trợ giúp của ông Schneider, và nhanh chóng chinh phục thiện cảm của công chúng. Những cơ quan đó ngày nay đang đảm bảo cuộc đối thoại, trong khi bổ khuyết cho việc tổ chức cơ quan tuyên truyền của chúng ta”.

Đối với Marty thì các cơ quan tuyên truyền đó vận hành “bề ngoài có vẻ là độc lập, nhưng chịu sự kiểm soát rất chặt chẽ của Chính phủ Thuộc địa và nhà chức trách địa phương”. Ông nói cần phải “thông tin và dạy dỗ”. Nói tóm lại, trước hết phải làm cho người ta biết nước Pháp, tầm quan trọng của nó trong thế giới, tính hiện đại và văn hóa đối với người Việt Nam và bằng ngôn ngữ của họ.

“Những thần dân được bảo hộ của chúng ta cần thiết phải có bên mình một tờ thông tin, thông báo cho họ biết chính xác kèm theo lời bình luận giải thích về tình hình chung của đất nước cũng như về các sự kiện bên ngoài, có thể thỏa mãn sự tò mò hợp pháp của họ nhưng tránh xa mọi xu hướng độc hại; Chính phủ cũng cần có khả năng chuẩn bị thông qua một sự quảng cáo thông minh về một số biện pháp hành chính, một số cải cách, để chúng sẽ được tiếp nhận tốt hơn nếu chúng được giải thích tốt hơn và hiểu rõ hơn.

Cơ quan đó […] cần phải có một vai trò chủ yếu là giáo dục; nó phải làm cho người bản xứ tự đánh giá được lợi ích và tầm vóc của những nỗ lực lớn lao đang thực hiện vì họ; nó cũng phải dạy cho họ biết rõ nước Pháp hơn, về những ý tưởng hào hiệp, về sự nghiệp của các nhà tư tưởng và các nhà bác học; nói tóm lại phải góp phần đem lại cho họ một ý thức rõ rệt rằng mối quan tâm của nước bảo hộ không hề mặc cả. Nếu nó được phổ biến đầy đủ, nó sẽ phục vụ cho việc xây dựng dần dần một tinh thần công cộng tích cực […]”[3].

Chính Schneider đã bắt đầu triển khai kế hoạch đó dưới thời Sarraut. Nắm vững tiếng Việt, ông xúc tiến việc tuyên truyền cho nước Pháp bằng quốc ngữ. Chương trình phổ biến đó, vừa văn hóa vừa chính trị, phải thực hiện không phải chỉ bằng tiếng Pháp mà bằng cả tiếng Việt để có thể đến với những người không biết tiếng Pháp. Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh và một số người khác được chọn để xúc tiến việc tuyên truyền cho Pháp có hiệu quả hơn đối với người Việt Nam. Marty thay thế Schneider sau chiến tranh.

Năm 1937, Vayrac, phụ trách kiểm duyệt báo chí ở Bắc Kỳ, đã từng tuyển dụng Nguyễn Văn Vĩnh vào dự án đó và ông Vĩnh đã từng trở thành người bạn gần gũi nhất của Vayrac. Ông đã trình bày cơ sở của việc tuyên truyền cho Pháp và vai trò của Nguyễn Văn Vĩnh trong bản báo cáo nội bộ: Những nỗ lực ở Bắc Kỳ từ khoảng 25 năm nay nhằm cung cấp sách báo tốt cho người An Nam đọc.

Theo lời Vayrac, khá lâu trước khi Thế chiến thứ nhất bùng nổ, Nguyễn Văn Vĩnh đã quan tâm nhiều đến việc dịch các tác phẩm nói lên tư tưởng chính trị của nước Pháp thế kỷ 18 hơn là dịch các hài kịch của Molière và kịch châm biếm của thế kỷ trước. Vayrac không che dấu rằng Nguyễn Văn Vĩnh “đã dịch các nhà triết học Pháp để chuẩn bị cho cuộc Cách mạng. Chúng tôi phải kể đến việc ông đã thực hiện sáu hay bảy bản dịch liên tục của Khế ước Xã hội, được lưu hành ngấm ngầm”.

Vayrac đã cố hết sức để “thuyết phục [ông ta], trong những dịp trò chuyện giữa chúng tôi, rằng đấy không phải là những tác phẩm cần dịch trước tiên, rằng người An Nam, trong tình trạng tiến hóa hiện nay, chưa thể rút ra được điều gì bổ ích”.

Ông nói đã phải “mất hàng năm trời để thuyết phục ông Vĩnh rằng phải bắt đầu bằng những tác phẩm đã được cả thế giới ca tụng và dịch ra đủ các thứ tiếng, như Truyện ngụ ngôn của La Fontaine và Truyện cổ tích Perrault”[4]. Như vậy ta thấy Nguyễn Văn Vĩnh không phải được tùy ý chọn các tác phẩm phương Tây để dịch.

Phe nhóm của Sarraut đang cần đến ông. Vayrac giải thích rằng ông Vĩnh đã thành lập và điều hành nhiều tờ báo bằng Quốc ngữ và chữ Hán, rằng ông đã điều hành trong thời gian ngắn Nhà in Bắc Kỳ (Imprimerie tonkinoise) và quyết tâm ra một tờ báo bằng quốc ngữ mà không cần giấy phép, “để kiếm cớ bị bắt và gây nên một vụ bê bối”.

Chính lúc đó Vayrac đã thuyết phục được ông Vĩnh hãy tiến một bước về phía ông ta và về phía chính phủ thuộc địa đang thừa nhận rằng “ở đây có một sức mạnh cần sử dụng, nhưng trong trật tự và trong sự hợp pháp”.

Sự dàn xếp đó trùng hợp với ý đồ của Sarraut là loại bỏ ảnh hưởng bên ngoài thông qua chữ Quốc ngữ chứ không phải qua tiếng Pháp. Nguyễn Văn Vĩnh là “người của chúng ta” ở Bắc Kỳ. Từ đấy Schneider và ông Vĩnh cùng hợp tác để điều hành tờ Đông Dương tạp chí, rồi tờ Trung Bắc tân văn. Như Vayrac đã nhấn mạnh “Ông Vĩnh cuối cùng đã tìm được con đường đi. Ông sẽ trở thành nhà dịch giả các tác phẩm lớn của văn học Pháp”,mà quên nói thêm rằng việc đó nhằm xúc tiến ảnh hưởng của Pháp chống lại những kẻ cạnh tranh của Á Đông và cả của phương Tây ở châu Á.

Thật vậy, vai trò giao phó cho ông Vĩnh trong việc xúc tiến văn hóa Pháp bằng tiếng Việt trước hết là kết quả mối lo của người Pháp nhìn thấy “dư luận châu Á” bành trướng ở Việt Nam, nhất là khi nó bị những cường quốc phương Tây khác thao túng (như người Đức trong Thế chiến thứ nhất). Phân tích ngược lại thời kỳ 1931, Nguyễn Văn Vĩnh giải thích rằng vai trò của ông là góp phần dựng nên một nền dư luận Việt Nam, vì sự thật là“các báo chí Trung Hoa, tuy không đề cập riêng những vấn đề An Nam, nhưng vẫn tạo nên một luồng dư luận châu Á đối với các nước lớn là những đế quốc ở châu Âu”[5].

Ngay sau Thế chiến thứ nhất, chữ Hán vẫn tiếp tục chiếm một vị trí đáng kể ở Việt Nam. Cho đến cuối những năm 1920 chẳng hạn, người Pháp sử dụng ông Vĩnh để “chống lại sự xâm nhập của tiểu thuyết Trung Hoa” bằng cách cho ông lập các Tủ sách Bắc kỳ (Lectures Tonkinoises). Năm 1927 và 1928, thống sứ René Robin thành lậpAlmanach Annamite (Niên lịch Thông thư An Nam) và một tủ sách dịch La Pensée de l’Occident

(Âu Tây Tư tưởng), theo cùng một ý tưởng trên. Robin đặt ông Vĩnh đứng đầu hai tủ sách đó, được Nhà nước thuộc địa tài trợ. Sự cắt đứt dây liên hệ đó với thế giới Trung Hoa tất nhiên không phải tự nó đến.

Cho đến những năm 1930, người Việt Nam vẫn đọc các sách lịch Trung Hoa in ở Quảng Châu hay Thượng Hải, được xuất bản “hàng trăm nghìn và có lẽ đến hàng triệu bản” theo lời ông Vayrac. Một số lớn sách lịch Tàu đó được bán ở Đông Dương chỉ từ 1 hào đến 1,2 hào. Vayrac giải thích rõ rằng “chỉ có chính phủ (mới có thể) tài trợ cho một công việc dưới những điều kiện bi đát như vậy”. Bối cảnh châu Á vốn có của nền văn minh Việt Nam không thể biến mất trong ngày một ngày hai.

Chính phủ Pháp đã mua và phân phát phần lớn các sách lịch của Nguyễn Văn Vĩnh trong cuộc chiến chính trị-văn hóa đó, như vậy tủ sách Âu Tây Tư tưởng đã xuất bản được 1.800.000 bản dịch, trong đó có 1.000.000 bản cho việc phát không với 65.000 bộ[6].

Về nhiều mặt, văn hóa Trung Hoa có nguồn gốc xa xưa hơn và bắt rễ sâu hơn vào văn minh Việt Nam so với văn hóa Pháp, và nó vẫn tiếp tục tồn tại dưới thời thuộc địa. Không thể làm cho “đám đông dân chúng” Việt Nam hiểu được, các nhà cai trị thuộc địa phải tăng cường, nỗ lực để xúc tiến quảng bá nền văn hóa và sự tiến bộ của nước Pháp. Vì vậy mà vào đầu thời kỳ thuộc địa, những hiểu biết về nước Pháp, về ngôn ngữ, và việc phổ biến những tác phẩm của Pháp ở Đông Dương đều phải thực hiện hoặc bằng tiếng Pháp, hoặc bằng tiếng Việt. Chính vì thế mà những bản dịch của Nguyễn Văn Vĩnh nằm trong tổng thể những công cụ đắc lực cho việc tuyên truyền của chính quyền thuộc địa[7].

Vayrac biết rõ mọi vấn đề từ bên trong, bản thân ông cũng thừa nhận, như ông đã nhấn mạnh trong những lời nói đầu bài viết này. Và đấy là lý do khiến ông cảm thấy một nỗi buồn lớn lao khi người bạn Nguyễn Văn Vĩnh của ông qua đời. Thật quá đáng nếu bỏ qua hiệu quả của văn hóa và ngôn ngữ Pháp ở Việt Nam dưới thời thuộc địa, nhất là ở các thành phố với một lớp thanh niên sử dụng tiếng Pháp nhiều hơn trong những năm 1930. Ta cũng có thể sai lầm nếu không nhận ra rằng, văn hóa và ngôn ngữ Pháp ở Đông Dương thuộc địa[8] đã chưa thể chinh phục được ngay số đông độc giả Việt Nam.

Nước Pháp thuộc địa (cũng như Anh và Nhật Bản) rất cần đến Nguyễn Văn Vĩnh để “xóa bỏ sự ngộ nhận hoàn toàn đó” giữa hai dân tộc rất khác nhau, để ngăn chặn những ảnh hưởng cạnh tranh với sự hiện diện của người Pháp, và để cắm sâu nền đô hộ và văn minh Pháp vào mảnh đất xa lạ, với một nền văn minh xuất phát từ châu Á chứ không phải từ phương Tây. Việc hiện đại hóa thuộc địa thật phức tạp; không phải tự nhiên mà thực hiện được. Nguyễn Văn Vĩnh hoàn toàn ý thức rõ điều đó.

Thay lời kết luận

Tuy nhiên, hình như Nguyễn Văn Vĩnh đã đặt mình đâu đó giữa quá khứ và hiện tại, về cuối cuộc đời hình như ông không biết nên chọn con đường nào. Sự việc ông bị phá sản hoàn toàn về tài chính khiến cho công việc của ông không dễ dàng. Nguyễn Văn Vĩnh vẫn còn tin vào hiện đại hóa theo phương Tây và vào sự phát triển song hành của văn minh Việt Nam. Ông đã cho ta ví dụ có ý nghĩa về một con người quan niệm hiện đại hóa Việt Nam trong khung cảnh thuộc địa và minh họa những khó khăn đặt ra trong hoàn cảnh đó.

Khi Tưởng Giới Thạch thi hành một đường lối văn hóa Khổng giáo “truyền thống” vào đầu những năm 1930, bài xích lối ăn mặc theo Tây đang thịnh hành ở thành thị Trung Quốc, Nguyễn Văn Vĩnh trả lời trong một tiểu luận rằng cần thiết phải phục hồi và phát triển một nền nho học mới và hiện đại ở Việt Nam, một thứ ý thức hệ Nhà nước, nhưng phải gắn chặt với những “tiến bộ khoa học”.

Khổng giáo, ông Vĩnh nhấn mạnh, đem lại một sự đóng góp hàng đầu đối với người Á đông vì nó mang theo ưu thế tạo nên “một sự ổn định lạ thường”[9]. Hai mươi năm trước, ông không bao giờ nói như vậy.

Đây không phải là vấn đề của riêng Việt Nam. Sự khác biệt nằm ở chỗ trong hoàn cảnh bị Pháp đô hộ, bị kiểm duyệt và giám sát, trí thức Việt Nam không được tự do để “dân tộc hóa” những điều vay mượn của phương Tây như các người đồng nghiệp Nhật Bản hay Thái Lan. Người Việt Nam không cai trị đất nước mình, người Pháp không dành cho họ vai trò đó.

Nguyễn Văn Vĩnh không thể trở thành bộ trưởng Bộ Văn hóa Việt Nam giống như ông Vichit Vathakan nổi tiếng ở Thái Lan. Ông không thể có cái hokugaku hay hokutai trong nước Việt Nam thuộc địa giống như ở Nhật Bản, nếu không phải là những ý định thực hành theo hướng đó của nhiều nhân vật, đều bị liệt vào loại “chống Pháp”. Quá trình “dân tộc hóa” phương Tây hiện đại ở Việt Nam – giống như ở Nhật Bản và Thái Lan – chỉ có thể thực hiện một khi sự kiểm soát của chủ nghĩa thực dân biến mất.

Thật vậy, hốt hoảng trước những vụ nổi loạn của phong trào quốc gia vào cuối những năm 1920, các nhà cai trị thuộc địa như Pierre Pasquier đã quay về với quá khứ, về nước An Nam thuở xưa, nhằm làm sống lại nền quân chủ mà người Pháp đã lấy mất quyền lực và uy tín, trong khi vào lúc đó người Việt Nam, noi theo Nguyễn Văn Vĩnh và những người khác, đòi hỏi những thiết chế mới, gần phương Tây hơn, nhằm dựng nên một nước Việt Nam “mới”.

Hiển nhiên, không phải ngẫu nhiên mà tờ L’Annam Nouveau (Nước Nam mới) được thành lập khi Pierre Pasquier ca ngợi quá khứ để vực lại uy tín của nền quân chủ. Chúng ta cũng không ngạc nhiên khi ông Vĩnh và nhiều người khác đều phấn khởi trước cuộc cách mạng Thái Lan năm 1932 và sự sụp đổ của nền quân chủ chuyên chế nhường chỗ cho một “nền dân chủ có ích” [10].

…Để kết thúc những suy nghĩ về một con người đặc biệt trong một hoàn cảnh cực kỳ phức tạp của chính sách thuộc địa, tôi xin làm theo cách nhường lại lời nói của chính ông, rất có thể, điều này đã hé mở rõ hơn cho tất cả chúng ta hiểu được cái nan giải, cái cách lựa chọn một lý tưởng trong bối cảnh khó khăn của ông. Năm 1932, trong một bức thư ông gủi cho nhà Nho, nhà cải cách Huỳnh Thúc Kháng, ông đã viết:

“Cái hố sâu ngăn cách một nhà Nho chân chính như ông, người không còn tin vào những tư tưởng lẫn những phương pháp của quá khứ, với một người man di hiện đại như tôi, sản phẩm của một nền giáo dục hỗn tạp và khiếm khuyết, đang muốn tìm một vài chân lý trong cùng cái quá khứ đó, mà tôi, tất nhiên cũng không biết gì hơn ông Kháng, dù sao, cái quá khứ đó cũng hiện lên đối với tôi như một nguồn sức sống và ánh sáng chưa được biết tới.

Chúng ta đã gặp nhau trên cùng một con đường, ai cũng cho là mình đi đúng hướng…chẳng qua vì con đường đó chưa có. Giống như, rốt cùng, cả hai chúng ta đều đang đi tìm chân lý, thì không nhất thiết cứ phải đi theo cùng một hướng!”(76).

——————————————-

Hết

* Tiến sỹ Christopher E. Goscha, quốc tịch Mỹ, chuyên gia nghiên cứu lịch sử Việt Nam hiện đại. Cộng tác viên của Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp. Hiện là giảng viên khoa Đông phương học thuộc đại học Montreal-Canada. Bài viết đăng trên RFHOM, T.88, số 332-333 (2001).

[1] Denys Lombard, Ngã tư đường Java, I: Những hạn chế của Âu hóa, dẫn luận.

[2] “Toàn quyền Đông Dương gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa”, ngày 15-9-1917, phông Đông Dương, Toàn quyền Đông Dương, 65409, CAOM.

[3] “L. Marty gửi Toàn quyền Đông Dương”, ngày 3-3-1919, phông Đông Dương, Toàn quyền Đông Dương, d. 65407, CAOM.

[4] “Báo cáo về những nỗ lực ở Bắc Kỳ trong khoảng 25 năm để cung cấp những sách đọc tốt cho người An Nam”, ngày 17-2-1937, ký tên Vayrac, Giám đốc Phòng Xuất bản bản xứ, RSTF/NF, d. 05219, CAOM.

[5] Nguyễn Văn Vĩnh, “Báo chí tự do bản xứ”, AN, 20-4-1931.

[6] “Báo cáo về các sự kiện Bắc Kỳ”, tr. 9-11.

[7] Một cách ngịch lý, có lẽ ông đã làm nhiều hơn để thấm nhuần văn hóa Pháp vào Việt Nam trong thời thuộc địa, so với các nhà văn Việt Nam viết tiếng Pháp có thể làm sau này khi chế độ thuộc địa đã bị thủ tiêu.. Có lẽ là do ông du nhập ngôn ngữ và văn hóa Pháp vào Việt Nam bằng tiếng Việt chứ không phải bằng tiếng Pháp. Nó giải thích tại sao đến ngày nay, Nguyễn Văn Vĩnh vẫn không có tên trong lịch sử “Pháp ngữ” hậu thuộc địa, đặc biệt trong các công trình tiếng Pháp.

[8] Ở Lào và Campuchia lại càng ít hơn, nơi đó ảnh hưởng của Pháp tương đối ít hơn và họ ít quan tâm đến việc hiện đại hóa mà Nguyễn Văn Vĩnh và nhiều người Việt Nam khác từng mơ tưởng.

[9] Nguyễn Văn Vĩnh, “Cuộc vận động tân sinh ở Trung Quốc”, AN, 11-10-1934.

[10] “Bài học của cách mạng Xiêm”, AN, 3-7-1932.

Chú thích:

46 “Về chủ đề nhà báo và nhà in Nguyễn Văn Vĩnh”, tr. 1.

47 Nguyễn Văn Vĩnh, Trung Bắc tân văn, dẫn theo Quốc Anh trong “Người Việt Nam đầu tiên cổ vũ cho điện ảnh”, sđd.

48 Thongchai Winichakul, “Đi tìm văn minh…”, sđd, tr. 528-549.

49 Về ý tưởng khai hóa văn minh của Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh, xem: Goscha, Việt Nam hay Đông Dương?

50 Hy Tong, “Điều gì đã xảy ra ở Cao Miên?”, AN, 20-8-1933, và cả ở Việt Nam hay Đông Dương?

51 Những người cộng sản chủ trương hiện đại hóa Việt Nam đều biết rõ lời nói về sứ mệnh văn minh của Nguyễn Văn Vĩnh đối với các nước tây Đông Dương. Xem: Văn kiện Đảng, tập II, Hà Nội, Nxb Sự thật, 1977, tr. 476-477.

52 Nguyễn Văn Vĩnh, “Quanh một sự cố đáng buồn”, AN, 15-6-1933.

53 Nguyễn Văn Vĩnh, “Chống Pháp”, AN, 27-8-1933.

54 Nguyễn Văn Vĩnh, “Nhích lại gần nhau”, AN, 6-7-1933.

55 Denys Lombard, Ngã tư đường Java, I: Những hạn chế của Âu hóa, dẫn luận.

56 “Toàn quyền Đông Dương gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa”, ngày 15-9-1917, phông Đông Dương, Toàn quyền Đông Dương, 65409, CAOM.

57 “L. Marty gửi Toàn quyền Đông Dương”, ngày 3-3-1919, phông Đông Dương, Toàn quyền Đông Dương, d. 65407, CAOM.

58 “Báo cáo về những nỗ lực ở Bắc Kỳ trong khoảng 25 năm để cung cấp những sách đọc tốt cho người An Nam”, ngày 17-2-1937, ký tên Vayrac, Giám đốc Phòng Xuất bản bản xứ, RSTF/NF, d. 05219, CAOM.

59 Nguyễn Văn Vĩnh, “Báo chí tự do bản xứ”, AN, 20-4-1931.

60 “Báo cáo về các sự kiện Bắc Kỳ”, tr. 9-11.

61 Một cách ngịch lý, có lẽ ông đã làm nhiều hơn để thấm nhuần văn hóa Pháp vào Việt Nam trong thời thuộc địa, so với các nhà văn Việt Nam viết tiếng Pháp có thể làm sau này khi chế độ thuộc địa đã bị thủ tiêu.. Có lẽ là do ông du nhập ngôn ngữ và văn hóa Pháp vào Việt Nam bằng tiếng Việt chứ không phải bằng tiếng Pháp. Nó giải thích tại sao đến ngày nay, Nguyễn Văn Vĩnh vẫn không có tên trong lịch sử “Pháp ngữ” hậu thuộc địa, đặc biệt trong các công trình tiếng Pháp.

62 Ở Lào và Campuchia lại càng ít hơn, nơi đó ảnh hưởng của Pháp tương đối ít hơn và họ ít quan tâm đến việc hiện đại hóa mà Nguyễn Văn Vĩnh và nhiều người Việt Nam khác từng mơ tưởng.

63 Nguyễn Văn Vĩnh, “Cuộc vận động tân sinh ở Trung Quốc”, AN, 11-10-1934.

64 “Bài học của cách mạng Xiêm”, AN, 3-7-1932.

Ảnh minh họa trong toàn bài của BBT.Tannamtu.com.

LB

Đăng bởi: Ngô Minh | 30.09.2016

BIỂN ĐÔNG: NHỮNG CHỈ DẤU BẤP BÊNH

BIỂN ĐÔNG: NHỮNG CHỈ DẤU BẤP BÊNH

Lâu nay, Việt Nam và Philippines là hai nước có tiếng nói mạnh mẽ nhất trong vấn đề Biển Đông. Do đó, việc tìm kiếm sự ủng hộ từ phía Việt Nam trong chuyến thăm Hà Nội tuần này của ông Duterte có thể sẽ giúp cho Philippines tránh được thế bị cô lập. Tuy nhiên, bước “xoay trục” của Nga, quay sang ủng hộ lập trường của Trung Quốc đã dấy lên mối quan ngại về một quy tụ lực lượng bất lợi đối với các nước nhỏ trên Biển Đông.Ngày 24/9/2016, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh đã có bài phát biểu trước Đại Hội đồng Liên hiệp quốc. Tại đây, ông Phạm Bình Minh nêu lên những nguy cơ xung đột tiềm ẩn ở châu Á – Thái Bình Dương có thể “đe dọa hòa bình, an ninh và thịnh vượng chung của khu vực” và ông kêu gọi “tăng cường chủ nghĩa đa phương, tuân thủ luật pháp quốc tế vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững”. Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh cũng bày tỏ lo ngại về các quy tắc cũng như luật pháp quốc tế đang bị đe dọa, trong khi nhiều nước (không nêu đích danh Trung Quốc) đã có những hành động đơn phương, áp đặt, sử dụng vũ lực nhằm giải quyết các vấn đề an ninh quốc tế…

Tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN ở Lào (6-9/9), Tổng thống Duterte nói ông không có ý định đưa vấn đề tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc ra trong các cuộc thảo luận cùng với các nước ASEAN khác…

Ông Duterte “trấn an” Hà Nội? 

Trong một diễn biến liên quan, dư luận quan tâm đến chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte, trong hai ngày 28-29/9, đồng thời cho rằng ông Duterte đến Hà Nội là nhằm “trấn an” và tranh thủ sự ủng hộ của Việt Nam để không bị cô lập hóa vì những phát ngôn gây nghi ngờ về lập trường của Philippines trong vấn đề tranh chấp Biển Đông. Đây là chuyến thăm Việt Nam đầu tiên và là chuyến công du nước ngoài thứ tư của ông Duterte trên cương vị tổng thống. Theo lịch trình, sau Việt Nam, Thái Lan, ông Duterte dự kiến sẽ sang Trung Quốc và Nhật Bản. Chuyên gia nghiên cứu Biển Đông, Giáo sư Ngô Vĩnh Long của Trường đại học Maine, Hoa Kỳ, nhận định mục tiêu đầu tiên của chuyến đi Việt Nam của ông Duterte là nhằm làm yên lòng Việt Nam. Vị chuyên gia này phân tích: “Tổng thống Philippines đến Việt Nam là để trấn an Việt Nam và để trao đổi thông tin với Việt Nam. Bởi vì gần đây, ông ấy có tuyên bố rằng sẽ thương lượng với Trung Quốc. Mặc dù ông nói rõ ràng rằng ông sẽ thương lượng với Trung Quốc trên cơ sở phán quyết của Tòa án thường trực, nhưng thái độ của ông đối với Mỹ đang làm cho nhiều nước trong khu vực thấy bất an”.

Tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN ở Lào (6-9/9), Tổng thống Duterte nói ông không có ý định đưa vấn đề tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc ra trong các cuộc thảo luận cùng với các nước ASEAN khác. Ngoài ra, những phản ứng có phần dè dặt của Washington đối với Philippines sau phát ngôn “gây sốc” của ông Duterte dành cho Tổng thống Barack Obama trong kỳ họp trên đã khiến cho không chỉ các nước trong khu vực, mà cả các đối tác và đồng minh phương Tây e ngại. Gần đây, đặc sứ của ông Duterte về Trung Quốc, cựu Tổng thống Fidel Ramos đã bay sang Hồng Kông để gặp cựu Thứ trưởng Ngoại giao của Trung Quốc Phó Oánh. Hai bên đã thỏa thuận với nhau về việc giảm thiểu căng thẳng thông qua đàm phán. Tuy nhiên, cuộc thảo luận giữa hai giới chức đã không đề cập đến phán quyết của Tòa trọng tài ở La Haye.

Ngày 24/9/2016, Đại sứ quán Mỹ ở Manila vừa xác nhận trên trang web của mình, Philippines dự kiến sẽ chủ trì cuộc thao dượt quân sự chung với Hoa Kỳ vào tháng tới, ít ngày sau khi Tổng thống Duterte tuyên bố, Manila vẫn cần sự hiện diện của binh sỹ Mỹ ở Biển Đông. Việc ông sang Hà Nội tuần này để tìm kiếm sự ủng hộ của Việt Nam sẽ giúp cho Philippines tránh cái thế “bị cô lập”. Tổng thống Duterte cũng nói nếu đến Trung Quốc, ông sẽ đòi Bắc Kinh trao trả quyền đánh cá cho ngư dân của nước này trong khu vực có tranh chấp chủ quyền giữa hai nước. Đồng thời, ông nhấn mạnh “không hề có kế hoạch làm ngơ phán quyết của Tòa trọng tài quốc tế của Liên Hiệp Quốc”.

Bắc Kinh tăng cường ảnh hưởng

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm chính thức Trung Quốc từ 10-15/9, tham dự lễ ký kết 10 văn kiện hợp tác trên các lĩnh vực thương mại, đầu tư, tài chính, nông nghiệp, ứng phó biến đổi khí hậu, giáo dục, du lịch. Tuy nhiên, trước chuyến thăm này, Quốc hội Việt Nam đã hoãn việc phê chuẩn TPP, một hiệp định do Mỹ bảo trợ. Cùng với cuộc tập trận chung Nga – Trung diễn ra trên Biển Đông, thể hiện tinh thần đoàn kết chống Mỹ, trong Thông cáo chung ra ngày 14/9, Trung Quốc và Việt Nam tái khẳng định “thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc”. Theo tác giả Ralph Jennings từ tờ Forbes, thỏa thuận quản lý cuộc tranh chấp trên biển này có nghĩa là Trung Quốc sẽ đẩy mạnh việc xây dựng hạ tầng cơ sở trên các vùng biển đảo đang có tranh chấp. Vì vậy, quan hệ giữa hai nước vẫn đứng trước nhiều bấp bênh. Mặc dù Việt Nam không ngừng lo ngại về ảnh hưởng đang gia tăng của Trung Quốc, nhưng Trung Quốc vẫn là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam.

Thoả thuận của Trung Quốc với Việt Nam phản ánh một tình huống tế nhị mới đối với cuộc tranh chấp trên Biển Đông. Trung Quốc đã ký kết các thỏa thuận kinh tế với nhiều quốc gia Đông Nam Á khác nhằm tạo điều kiện để Trung Quốc xâm nhập sâu rộng hơn vào khu vực này về lâu về dài. Tháng Giêng năm nay, hai công ty Trung Quốc đã góp vốn trong một nỗ lực tốn hàng tỷ đô la nhằm cứu Quỹ Phát triển (1MDB) của Malaysia đang gặp khó khăn. Tại Indonesia, đầu tư Trung Quốc tăng lên 5 lần giữa năm 2015 và năm 2016. Rõ ràng, Trung Quốc đang qua mặt Hoa Kỳ để trở thành nguồn đầu tư nước ngoài quan trọng nhất vào cơ sở hạ tầng tại Indonesia. Gần đây, Trung Quốc đã sử dụng sức mạnh kinh tế – chính trị của mình, thông qua các hoạt động đầu tư hay thương mại để giành ảnh hưởng trong khu vực.

Cũng liên quan đến lập trường về Biển Đông, Trung Quốc hoàn toàn bác bỏ phán quyết của Tòa Hòa giải Thường trực, một phán quyết cho rằng Bắc Kinh không có thẩm quyền pháp lý để bênh vực yêu sách đường chín đoạn của mình. Thái độ bất tuân này của Trung Quốc gây lo ngại cho Philippines (nước đã đưa đơn kiện Trung Quốc tại Tòa hòa giải) và gây phẫn nộ cho một số nước Đông Nam Á khác. Theo quan điểm của Bắc Kinh, phán quyết này – vốn dựa vào Công ước Liên Hiệp quốc về Luật Biển – là bất công đối với Trung Quốc. Đại sứ Trung Quốc tại Anh Liu Xiaoming, nói rằng Bắc Kinh tìm cách “giải quyết các tranh chấp liên quan bằng thảo luận và đàm phán song phương”. Nhưng trong một bối cảnh xung đột địa – chính trị tại những vùng biển tranh chấp, chính xác mà nói, những cuộc đàm phán này sẽ diễn ra như thế nào, chưa ai có thể nói chắc chắn.

Cuộc đọ sức Trung – Mỹ

Chiều ngày 23/9, Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry đã gặp gỡ những người đồng cấp ASEAN tại New York, trong đó có Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh. Phát biểu khai mạc, Ngoại trưởng Kerry nhấn mạnh ASEAN có vai trò trung tâm trong các vấn đề an ninh khu vực Đông Nam Á. Về vấn đề Biển Đông, ông Kerry khẳng định Hoa Kỳ “tin rằng những tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ cần được giải quyết một cách hòa bình và phù hợp với các nguyên tắc và phán quyết pháp lý rõ ràng, chứ không phải bằng cách cưỡng ép”. Ông nói thêm Mỹ và ASEAN có chung mối quan tâm về việc cần duy trì luật pháp quốc tế và thuyết phục tất cả các quốc gia có liên quan ở Biển Đông cần kiềm chế để giảm căng thẳng. Ông cho rằng hiện nay ASEAN “có vai trò rất rõ ràng cần phải thể hiện trong việc hoàn tất cuộc đàm phán quan trọng về bộ quy tắc ứng xử có ý nghĩa (COC)”, cũng như trong việc “ngăn cản hoạt động quân sự hóa các tiền đồn, tôn trọng cơ chế ngoại giao và pháp lý”.

Ngày 25/9, tờ The New York Times bình luận, chính phủ Philippines có khả năng đẩy lùi kế hoạch của Trung Quốc xây đảo nhân tạo ngoài bãi cạn Scarborough, nhưng sẽ khó ngăn được tham vọng bành trướng của Bắc Kinh ở Biển Đông trong dài hạn. Mục tiêu của Trung Quốc xây đảo nhân tạo ở Scarborough không thay đổi. Mấy năm qua, tàu hải cảnh và tàu cá Trung Quốc vẫn lượn lờ ngoài bãi cạn này. Thậm chí thông tin có tàu nạo vét, bơm cát khổng lồ xuất hiện ngoài Scarborough gần đây. Tuy nhiên, khi Tổng thống Rodrigo Duterte lên cầm quyền với hàng loạt phát biểu chống lại Hoa Kỳ có thể đã làm thay đổi tính toán của Trung Quốc. Điều này không có nghĩa là Bắc Kinh từ bỏ mục tiêu dài hạn của mình, đó là thiết lập một căn cứ quân sự ở Scarborough. Nhưng trong thời điểm hiện nay, kế hoạch này đã được hoãn lại. Theo các nhà phân tích, điều quan trọng hơn đối với Bắc Kinh bây giờ là củng cố tình bạn với ông Rodrigo Duterte và làm sao để Philippines sớm tách khỏi Hiệp ước liên minh với Washington. Việc xây dựng ở Scarborough bây giờ có thể làm hỏng cơ hội đó.

Để đối trọng lại TTP

OBOR là cách viết tắt bằng tiếng Anh tên của đại dự án “Một vành đai, một con đường” (One Belt, One Road) của Trung Quốc nhằm đối trọng lại Hiệp định TPP do Mỹ chủ trì và được 12 nước, trong đó có Việt Nam đã ký kết. Trên thực tế, OBOR chủ trương gửi các công ty Trung Quốc đi xây dựng các cơ sở hạ tầng nước ngoài để mở đường cho sự xâm nhập và nới rộng ảnh hưởng toàn cầu của Bắc Kinh. “Vành đai” sẽ kết nối các nền kinh tế chủ yếu xuyên qua đại lục Á – Âu (Eurasia) trong khi “con đường tơ lụa” sẽ trải dài từ châu Á đến nhiều vùng ở châu Phi, trong đó đặc biệt là đi qua đa số các quốc gia Đông Nam Á.

Hẳn nhiên, đây không phải là một dàn xếp êm ái đối với các quốc gia liên hệ nói trên. Chủ tịch Tập Cận Bình tin tưởng rằng những quốc gia đặc biệt lệ thuộc vào Trung Quốc sẽ chấp nhận sự thống trị địa – chính trị của Bắc Kinh để đổi lấy các đầu tư kinh tế trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Chủ tịch Tập đang dùng ảnh hưởng tài chính của Trung Quốc làm lá bài mặc cả trong các cuộc dàn xếp để thúc đẩy các quốc gia lệ thuộc trấn áp phản ứng của người dân trước sự xâm lấn lãnh thổ do Trung Quốc gây ra.

Cũng vào thời điểm này năm ngoái, ông Tập đưa ra hứa hẹn sẽ không quân sự hóa các đảo tại Trường Sa. Nhưng trên thực tế, Trung Quốc đã không hề tỏ ra minh bạch về các ý định của mình liên quan đến khu vực. Có lẽ Bắc Kinh đang chờ đợi thời cơ. Nhiều phân tích trên báo chí quốc tế gần đây thậm chí còn gợi ra hình ảnh một con hổ Trung Hoa sẽ vồ lấy lấy bãi cạn Scarborough trước hoặc sau thời điểm bầu cử Tổng thống Mỹ. Dù dự đoán này có trở thành hiện thực hay không, những gì đang diễn ra là sự thay đổi quan trọng trong bàn cờ địa – chính trị tại Biển Đông và nói rộng ra tại Đông Nam Á. Trung Quốc đang ký kết các thỏa ước quan trọng để củng cố thế mặc cả trong khu vực, phòng khi một cuộc khủng hoảng thật sự sẽ nổ ra trên biển…

Căn cứ vào vụ việc nói trên, thì những căng thẳng là quá rõ ràng giữa Trung Quốc và phương Tây có liên quan tới cuộc tranh chấp Biển Đông. Khi vị Tổng thống mới của Mỹ được bầu chọn vào ngày 8/11 sắp tới, thế giới sẽ rất muốn biết Mỹ và phương Tây sẽ lên kế hoạch đối phó với tham vọng bình thiên hạ (Trật tự Trung Hoa/Pax Sinica) của Bắc Kinh như thế nào. Thử nghiệm đầu tiên cho một chính phủ Mỹ mới sẽ được bầu chọn (còn non trẻ) là một thử nghiệm đầy cam go, bất cứ một tính toán sai lầm nào cũng có thể đột xuất đưa đến một cuộc leo thang xung đột trong khu vực. Tình hình càng trở nên bấp bênh đáng sợ khi các cuộc tập trận hải quân hỗn hợp Nga – Trung vừa kết thúc trên Biển Đông cho thấy Moskva hậu thuẫn Bắc Kinh trong bối cảnh của phán quyết La Haye./.

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 30.09.2016

Làm sao trị nạn “cả họ làm quan”?

Làm sao trị nạn “cả họ làm quan”?

  •   NGUYỄN DUY XUÂN

Thông tin ông Triệu Tài Vinh, Bí thư tỉnh ủy Hà Giang có rất nhiều người thân trong  gia đình nắm giữ các vị trí  quan trọng của chính quyền tỉnh này đang là tâm điểm chú ý của dư luận mấy tuần qua.

Tuy đây không phải là lần đầu tiên chuyện cả họ làm quan được phát hiện nhưng thực sự với những gì đang diễn ra ở Hà Giang đã khiến dư luận bức xúc. Tâm trạng chung của cộng đồng có thể gói gọn trong hai chữ: Ngán ngẩm!

Dù ông Triệu Tài Vinh đã lên tiếng rằng ông từng phản đối việc bổ nhiệm người nhà; dù người thân của ông là những quan chức đương nhiệm ở Hà Giang cũng đã trần tình với báo chí, nhưng quả thực để trấn an được dư luận chẳng dễ dàng gì.

Bà Phạm Chi Lan khẳng định: “Bí thư Tỉnh uỷ Hà Giang thực sự không muốn những người thân của mình được bổ nhiệm thì đã dứt khoát không chấp nhận… Trong việc này, nếu Bí thư Tỉnh đã kiên quyết thì có ai dám trái ý?“.[1]

Trung tướng Nguyễn Quốc Thước cũng cho rằng, “Nếu ông Bí thư đã muốn gạt ra thì ông phải quyết liệt từ đầu, nghĩ vậy thì phải làm vậy. Nhiều khi, cán bộ cấp dưới cũng muốn nịnh bợ cấp trên, cho nên người lãnh đạo phải tỉnh táo và quyết liệt, công tâm và sáng suốt“.[2]

Theo tướng Thước, những người ruột thịt, họ hàng Bí thư Triệu Tài Vinh mà giỏi thực sự thì nên thi thố, vươn lên ở địa phương khác, chứ nếu được bổ nhiệm ở nơi người thân mình làm lãnh đạo tỉnh thì không nên, người dân cũng không phục.

Bà Phạm Chi Lan cũng đồng ý kiến: Nếu có tài thì người ta đã có thể xông pha đi làm việc ở chỗ khác được. Đất nước rộng lớn chứ đâu chỉ có tỉnh Hà Giang mà cứ phải bám vào đó?

Trước phản ứng của dư luận, ông Triệu Tài Vinh đã nói những gì? Có thể tóm tắt trần tình của ông trên các báo: Ông Vinh xác nhận cả 8 người trên đều là người thân của mình. Gia đình và cá nhân ông không phải người ham chức vụ, quyền lực. Ông đã từng phản đối việc bổ nhiệm vợ và em trai mình. Ông không cảm thấy vui khi nhiều người trong gia đình được bổ nhiệm làm lãnh đạo. Tuy nhiên ông cũng cho rằng: Việc bổ nhiệm họ là đúng quy trình, không có khuất tất. Tất cả những người này đều nằm trong quy hoạch cán bộ, khi đưa ra bàn để bố trí nhiệm vụ thì do Ban thường vụ Tỉnh uỷ quyết định, cá nhân ông chỉ là một ý kiến. Ông Vinh khẳng định: Nếu mọi người lên Hà Giang sẽ biết năng lực của các cán bộ được bổ nhiệm như thế nào.[3]

Còn bà Triệu Thị Tình, quyền Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Giang và ông Triệu Là Pham, Phó Ban Nội chính Tỉnh ủy Hà Giang thì khẳng định, con đường thăng tiến của họ là cả một quá trình phấn đấu gian khổ, không liên quan gì đến BT tỉnh ủy. Tuy nhiên bà Tình và ông Vinh có quan hệ cháu chú cháu bác với nhau; ông Pham là họ hàng thân thích.[4]

Về chuyện thăng tiến của mình trước đây, ông Vinh giãi bày: “Năm 1999 tỉnh Hà Giang có lấy phiếu tín nhiệm để tôi làm lãnh đạo một huyện. Tôi gặp lãnh đạo tỉnh và nói tôi không thể làm được đâu, cho tôi làm phó văn phòng UBND huyện là được rồi, chứ không thể làm Phó chủ tịch huyện được. Nhưng sau đó, tôi vẫn được bầu làm Phó chủ tịch UBND huyện từ năm 1999 đến năm 2004“.[5] Thời điểm đó, ông Triệu Đức Thanh, bố ông Vinh đang là một trong hai lãnh đạo cao nhất của tỉnh.

Những thông tin như thế cũng đủ để dư luận hiểu, vì sao cá nhân Bí thư Vinh và người nhà ông lại có thể dễ dàng thăng tiến như thế ở địa phương. Tình trạng này không chỉ riêng ở Hà Giang mà đã và đang phổ biến ở nhiều địa phương, ở một số bộ, ban, ngành đến mức, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng đã phảilên tiếng “chọn người tài chứ không phải chọn người nhà“. Tuy thế vấn nạn này vẫn cứ tiếp diễn và khi bị đưa ra trước công luận người ta vẫn cứ khăng khăng là “đúng quy trình”, điều mà TS Nguyễn Đình Cung gọi đó là sự trơ trẽn.

Để chấn chỉnh vấn nạn cả họ làm quan đang khiến dư luận mất niềm tin, người viết bài này mạo muội đề nghị:

1. Nhà nước nên mở một cuộc tổng điều tra từ trung ương đến cơ sở (cấp phường, xã) về công tác tổ chức cán bộ hiện nay để đánh giá chính xác thực trạng “cả họ làm quan”.

2. Điều chuyển những người thuộc diện “cả họ làm quan” sang địa phương khác, thử thách chức vụ tương đương trong một thời gian nhất định, nếu không đủ năng lực thì cho thôi chức, trở về công việc chuyên môn ban đầu. Những ai không chấp nhận thuyên chuyển thì cho thôi chức, trở về công việc chuyên môn được đào tạo.

3. Xử lí những cá nhân lạm dụng chức quyền nhằm mưu lợi cá nhân, gia đình, dòng họ, nhóm lợi ích thông qua việc bổ nhiệm cán bộ.

4. Học tập người xưa, áp dụng Luật Hồi tỵ để ngăn chặn việc bổ nhiệm người nhà, người thân làm lãnh đạo tại địa phương hoặc ngành mình công tác.

…………………………..

Nguồn tham khảo:

[1]. http://soha.vn/ong-bi-thu-tinh-da-quyet-khong-bo-nhiem-thi-ai-dam-trai-y-20160918061128882.htm

[2]. http://motthegioi.vn/thoi-su-c-66/tuong-thuoc-nguoi-than-bi-thu-ha-giang-neu-thuc-su-gioi-thi-nen-thi-tho-o-noi-khac-43112.html

[3,5]. http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/chinh-tri/327279/bi-thu-vinh-len-ha-giang-se-biet-nang-luc-nguoi-duoc-bo-nhiem.html

[4]. http://soha.vn/neu-toi-khong-phai-ho-trieu-thi-co-le-da-o-vi-tri-khac-roi-20160918103459997.htm

( Nguồn: VHNA)

Đăng bởi: Ngô Minh | 29.09.2016

BA BUỔI SÁNG VỚI TRẦN DẦN

IMG_8193

ĐỌC BỘ SÁCH “NGÔ MINH TÁC PHẨM”, TẬP 2:

BA BUỔI SÁNG VỚI TRẦN DẦN

                                                            Ngô Minh

 

tran-danNhà thơ Trần Dần

Có những con người mà ta chỉ gặp một đôi lần trong đời để rồi mãi nhớ, mãi ám ảnh về họ. Với tôi, Trần Dần là một người như vậy. Tôi đã đọc Người người lớp lớp của ông từ lúc học trường làng ở Quảng Bình trong tủ sách cha tôi để lại. Trong tưởng tượng của tôi ông là một chiến binh cao lớn, oai vệ lắm. Nhưng khi gặp ông lần đầu ở Huế cách đây gần mười năm tôi chợt ngớ ra trước một ông già nhỏ bé, bạc trắng tóc râu, một chân bị liệt phải chống chiếc gậy trúc, đi đứng nhọc nhằn, lên bậc tam cấp phải có người dìu đỡ. Tiếng ông nói vang, ấm nhưng thường bị hụt hơi vào cuối câu, nên rất khó nghe. Chỉ đôi mắt ông là rực sáng long lanh như hai hột ngọc. Đôi mắt ấy phát sáng cho ta đọc được một tính cách mạnh mẽ. Đôi mắt lấp lánh của một tư chất thông minh, nhậy cảm và đầy tin cậy. Và khi tiếp xúc nhiều lần với ông, nghe ông kể chuyện và đọc thơ văn ông, tôi nhận ra một điều lý thú: Ngôn ngữ của ông cũng long lanh ánh sáng rất ấn tượng như mắt ông!

Chuyến ông được Phùng Quán tháp tùng vào Huế đầu tháng 5.1988, theo ông kể là chuyến vô Huế lần thứ hai. Hồi còn trẻ năm 1946, ông theo một bóng hồng vô Huế như một lữ khách giang hồ. Sau ba mươi năm ngồi một chỗ ở Hà Nội, vào Huế ông được mời tiếp xúc, đối thoại với công chúng hai buổi ở Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên (cũ), và ở nhà văn hóa Thanh niên Thành đoàn Huế. Sau hai buổi ra mắt ấy, ông lại ngồi tại khách sạn 2 Lê Lợi, chỗ ông được bao trọ. Tại đây tôi có ba buổi sáng trò chuyện với ông. Nói đúng hơn là tôi đặt câu hỏi rồi nghe ông nói. Và ghi chép như một nhà báo. Ông nói rất hay, rất cuốn hút.

Sáng ngày 11.5.1988, tôi đến khách sạn hầu chuyện ông. Thấy ông ngồi một mình trên giường, tôi hỏi sao không đi chơi đâu đó với anh Quán. Ông nói: «Phùng Quán ngồi không yên, chỉ thích đi. Mình ngồi ba chục năm quen rồi. Ngồi mà vẫn đi, vẫn ngao du. Mình có cuốn sổ bụi sổ ngao du. Mình đi chơi lang thang trong cuốn sổ này. Đây là sổ để ghi tất cả những gì mình nghĩ ra, có khi ngoài cả ý thức. Đó là cách đi của mình». Đang nói rồi ông chợt dừng lại, chớp mắt, hỏi tôi: «Ngô Minh có quen Dương Tường không?». Tôi bảo có đến nhà uống rượu với anh ấy mấy lần. Ông bảo: «Dương Tường hợp với tính mình, nó ngồi được. Nghĩ nhiều hơn đi!». Tôi hỏi ông có thích uống rượu không, Huế có rượu Chuồn, rượu Hiếu ngon chẳng khác gì rượu làng Vân ngoài Bắc. Ông bảo: «Mình không uống được nhiều rượu. Vui thì làm một ly. Nhưng nói chung thì không uống. Mình chỉ nghiện thuốc lào. Thuốc lào phải hút bằng đóm, châm vào đèn dầu hỏa như các cụ ở quê, mùi muội đèn làm cho thuốc bắt hơn.

Tôi lái sang chuyện thơ. Ông phấn chấn hẳn lên. Thơ là cái thăm thẳm. Thơ là cái không lường được như A-rít-xtốt nói. Không thể lường được với các nhà thơ! Cụ Hồ có lần khuyên cụ Phan Bội Châu: «Lập thân tối hạ kỵ văn chương». Cụ Phan không nói gì mà chỉ cười. Rồi cụ Phan vẫn lấy văn chương mà lập thân.

Văn chương có hai loại: Văn chương quân tử và văn chương tiểu nhân. Văn chương tiểu nhân thì không lập thân được. Văn chương cụ Phan hướng tới mục đích là Văn hiến, văn hóa, là khai sáng.

Vào Huế, mình thấy Huế là xứ thơ. Thơ là trời, là đất, là vũ trụ. Ở đây, vừa có trời, vừa có trăng non, lại vừa có đất. Ở các thành phố hiện đại trẻ con không biết có ông trăng, không biết có trời, lại không biết có đất vì chỗ nào cũng gạch lát và đường nhựa. Ở phố Cổng Tỉnh (Nam định) quê mình cũng có trời, có đất. Trời đất cổng tỉnh cho mình tiểu thuyết thơ Cổng Tỉnh! Tôi rất kinh ngạc khi ông đọc cho tôi nghe một danh sách dài trên 30 cuốn sách mà ông viết trong 30 năm qua, kẻ từ vụ Nhân văn, từ sau Người người lớp lớp, Nhất định thắng, Cách mạng tháng 8 (1955-1956). Đó là các tác phẩm Đây Việt Bắc (thơ, 1957), 17 tình ca (1958-1959), Cổng tỉnh (1960, dạ khúc trường thiên), Đêm núm sen (1961, tiểu thuyết); Những ngã tư và những cột đèn (tiểu thuyết, 1964), Mùa sạch ( thơ, 1965), Một ngày Cẩm Phả (1965, tiểu thuyết), Con trắng (1967, thơ hồi kí), Động đất tâm thần (tập thơ 1974), Thơ không lời-Mây không lời (tập thơ 1978), Thiên thanh-77-ngày ngày (1979), 36-thở dài-Tư Mã dâng sao (thơ, 1980), Thơ mini (1987) v.v… và rất nhiều tác phẩm văn học dịch. Quả là một sức sáng tạo kì lạ. Đa số các tác phẩm trên chưa được in. Gần đây ông được Nhà xuất bản Hội nhà văn in Bài thơ Việt Bắc (1990) và tập thơ Cổng Tỉnh (1995). Tập Cổng Tỉnh được tặng thưởng Hội nhà văn Việt Nam 1995. Âu đó cũng là niềm an ủi đối với ông sau mấy mươi năm vắng bóng trên văn đàn. Nhưng còn rất nhiều bản thảo của ông chưa được xuất bản, mong sao các tác phẩm ấy sớm đến được với độc giả.

Sáng hôm sau ông lại say sưa nói với tôi về thơ. Trần Dần cho rằng làm thơ là làm chữ. Con chữ nó đẻ ra nghĩa, sẽ được nhiều nghĩa. Cái biết rồi là nghĩa, cái chưa biết là chữ. Nếu làm thơ mà làm nghĩa rồi mượn chữ để diễn đạt nghĩa thì nghĩa sẽ hẹp. Cái chưa biết mới là cái thăm thẳm, cái chưa biết chính là cái mới. Nguyễn Du vừa làm chữ, vừa làm nghĩa. Ví dụ câu Trăm năm trong cõi người ta / Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau là làm nghĩa. Còn câu Mai sau dù có bao giờ  là làm chữ. «Ngô Minh thấy không, ông nhấn mạnh, câu thơ toàn hư tự mà lại đa nghĩa, đa cảm! Có anh bạn làm thơ ở Hà Nội, tôi và Phùng Quán thường gọi là Chúc Bờ sông, còn có cả bài thơ một chữ: Xong – «Vợ chồng – Xong». Một bài thơ thật đa nghĩa, mới mẻ. Tôi có lời bình rất tâm đắc về bài thơ ông Chúc ấy, nhưng bị Phùng Quán chê là quá dài dòng. Lời bình của tôi là: «Vợ chồng / Cái mớ bòng bong ấy gọi là xong». Chữ của thơ nó khiếp thế đấy. Gần đây tôi làm nhiều thơ ngắn. Cực ngắn, gọi là thơ mini. Mỗi bài chỉ có hai câu. Cũng muốn đưa ra một loại thơ mới, trọng cái chữ hơn.

Ví dụ bài một câu: Mưa rơi không cần phiên dịch hay bài hai câu: Có những chân trời không có người bay / Lại có những người bay không có chân trời …

Tôi nhắc lại chuyện 1946, ông cùng với Đinh Hùng và một số bạn thơ lập nên nhóm Dạ Đài với tuyên ngôn thơ tượng trưng. Chủ trương làm cuộc cách mạng đổi mới thơ ca. Thực tế ông vừa là người chiến sĩ tham gia kháng chiến chống Pháp, đánh trận Điện Biên Phủ, viết tiểu thuyết ca ngợi người lính cách mạng, đồng thời ông là Chiến sĩ thơ luôn trung thành xông xáo với ước vọng đổi mới thơ ca. Ông nhìn xa, lặng lẽ châm đóm thuốc lào, rồi ông nói, giọng trầm hơn: «Đúng, tôi muốn thơ phải luôn luôn mới. Hôm qua tôi nói trước công chúng là chôn tiền chiến, chắc có người chưa hiểu hết ý. Thơ văn tiền chiến là thành tựu. Không thể phủ nhận. Nhưng thế hệ mình phải có cái của mình chứ. Thơ phải luôn luôn tự đổi mới. Bắt chước tiền chiến là một loại bệnh. Tôi gọi nó là bệnh đèm đẹp. Giống như người trồng hoa mà mỗi buổi sáng lại đi rưới nước hoa vào những luống hoa. Quen dần trong nếp cũ, sẽ không còn khả năng vạch ra cái mới, cái có ích, tức là mất khả năng khám phá, là chết dần với những cái cũ lặp lại. Loài người phải luôn khám phá sáng tạo. Tự do là tất yếu là một phát kiến lớn. Nhưng Hội nghị triết học bàn tròn Pháp cho rằng Tự do là phản tất yếu cũng là một phát kiến cách mạng. Con người không thể bay, vì con người không có cánh – đó là tất yếu. Nhưng con người muốn bay và bay được – đó là phản tất yếu. Những người lắp cánh bằng màng mỏng vào tay, bay từ tầng lầu cao xuống đã chết. Đó là cái chết của ước muốn bay. Đó là khởi đầu của khoa học hàng không vũ trụ. Đó là tự do. Đi vào cái mới, khám phá cái mới cũng có thẻ phải chết. Nhưng nếu không có sự khai phá, dấn thân của một cá nhân, một nhóm, một thế hệ, thì cả nhân loại chỉ có tự do sống trong cái cũ. Vì thế mà tôi luôn chủ trương đổi mới thơ».

Chiều 14.5.1988, tôi mời cơm ông, Phùng Quán và một số an hem nhà văn như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Quang Lập, Vĩnh Nguyên tại căn phòng tập thể của mình ở chân dốc Bến Ngự. Anh em thì uống rưựou với đồ nhắm. Riêng nhà thơ Trần Dần được ưu tiên các loại bánh Huế như bánh nậm, bánh bèo, bánh bột lọc… Cuộc rượu hôm đó phải thắp đèn dầu vì mất điện. Dù vậy câu chuyện văn chương vẫn rôm rả đến tận nửa đêm. Sáng hôm sau, gặp lại tôi, ông bảo: «Ở Huế ăn ngon, hợp khẩu vị, không cay như món ăn Ấn Độ. Bánh của nhân loại Huế, nhân loại tím, là chúa sơn lâm! Các nơi khác có nguyên liệu mà không làm được. Cái ngon, cái mới cũng có sẵn đâu đó như là bánh Huế. Chỉ có người thích làm, dám làm, biết làm mới làm được…».

Ông tự gọi mình là Tư Mã Gãy. Ấy là sự buồn của đời ông. Nhưng trong tôi ông bao giờ cũng là ấn tượng mạnh. Tròn một tháng ông về thiên cổ, tôi viết mấy dòng này như nén nhang tưởng niệm ông, một người suốt đời vì những con chữ Việt.

(Huế, 2.1997)

Đăng bởi: Ngô Minh | 29.09.2016

Tản mạn về “văn hóa khinh bỉ”

Tản mạn về “văn hóa khinh bỉ”

Hạ Đình Nguyên

Góp phác họa một bức tranh vân cẩu của hiện tình đất nước, một vị quan to bước ra từ cửa lò đỏ, đã cống hiến một cụm từ vừa bự, vừa mới mẻ, lại cũng khá ỡm ờ, có ý nghĩa như một giải pháp cho sự nghiệp chống tham nhũng đang hồi rất gay go. Nó như sau:

Phải xây dựng văn hóa khinh bỉ kẻ tham nhũng.

Câu nói bất ngờ này làm làm hoang mang cho giới học trò và cả học giả. Tuy nhiên, nếu đã có một thứ “văn hóa phong bì từng xuất hiện, thì nay “văn hóa khinh bỉ ra đời có chi phải xét nét? Hãy cứ xem như một sáng tạo về văn hóa chữ nghĩa của một thời kỳ đặc biệt, và lạ gì một khi có cái đuôi xã hội chủ nghĩa, thì bầu trời trở nên bao la hơn, vượt nhiều thứ chuẩn mực đã có trước.

Những cách nói như văn hóa suy đồi, văn hóa xuống cấp,… hình như đã quá nghèo nàn, không còn khả năng gây cảm xúc. Nay cần nói theo một cách mới hơn để gây ấn tượng cho người dân?!

Mà nó gây ấn tượng thật!

Bậc đại quan làm được điều gây ấn tượng này là ông Đinh Thế Huynh, nguyên thống soái ngành văn hóa tư tưởng của đất nước, nay là nhân vật số hai của Đảng Cộng sản Việt Nam, là một trong những ứng viên dự kiến của ai đó để lên chức số một.

Cái cảm xúc khinh bỉ đối với tệ tham nhũng, đã có sẵn trong nhân dân, nhưng dường như chưa đủ mạnh, chưa đủ lớn, nên cần phải phát động tuyên truyền và đặc biệt là xây dựngthành một phong trào văn hóa rộng khắp, lâu dài, có tên là “văn hóa khinh bỉ.

Vì là tham nhũng đã phát triển quá mức sâu rộng, lại tiếp tục trên đà tiến lên, đến nỗi nó chiếm lĩnh mọi trận địa mà “pháp quyền xã hội chủ nghĩa (cứ cho là đang có thật) chừng như không làm gì được. Sự lớn mạnh của nó, chính lời ông Tổng đương kim Nguyễn Phú Trọng khẳng định, rằng thì là “biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp gây bức xúc dư luận“; rằng thì là “Nó thành đường dây có tổ chức rồi, chứ không còn từng người một người ăn mảnh nữa.Không có gì quý hơn… các câu này!

Nó nghiêm trọng đến thế nên ông Đinh Thế Huynh đã đưa ra đề án mới, xây dựng văn hóa khinh bỉ để thay hoặc hỗ trợ cho pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã chứng tỏ bất lực. Đó là một sáng kiến vi diệu, làm người ta nhớ ngay đến tác phẩm A.Q. chính truyện với “phép thắng lợi tinh thần. Lấy lòng khinh bỉ làm động lực/biện pháp để giải quyết hay ứng xử với tham nhũng? Ông Huynh là nhà duy vật biện chứng, bỗng bất ngờ trở thành người duy tâm!

Mỗi người dân hãy cứ ngồi yên ở nhà, tự mình phát ra cái làn sóng khinh bỉ ấy. Nhưng ông nói, phải xây dựng cái khinh bỉ ấy thành một thứ văn hóa, suy ra ắt phải phát huy rộng lớn cái khinh bỉ ấy, làm lan truyền trong cả cộng đồng thành một sức mạnh tinh thần. Phải phát động cho vợ con, người thân trong gia đình, cả làng trên xã dưới cùng đồng lòng, đồng loạt khinh bỉ tham nhũng, như ông đã yêu cầu: “Phải tạo được áp lực xã hội mà những kẻ tham nhũng không chịu nổi”. Nhưng tạo bằng cách nào thì ông không nói rõ. Hẳn là từ đó sẽ sinh ra cái “tụ tập đông người”, có lời hô to để bắt nhịp, lại có biểu ngữ giương cao… Cái này gọi là bày tỏ tập thể, còn gọi là biểu tình, đã được Hiến pháp ghi từ 70 năm qua, nhưng đến nay Quốc hội còn hẹn, chưa làm kịp. Xúi dân bày tỏ theo cách ấy chắc không phải ý ông Huynh. Có thể ông không muốn hoặc không thích, có lẽ các đồng chí của ông cũng thế, nên Quốc hội còn đang ầu ơ ví dầu cầu ván đóng đinh… về cái luật ấy. Vậy là ý ông Huynh chỉ muốn người dân bày tỏ sự khinh bỉ của mình, theo cách một mình, và ở tại nhà mình, không được gây ảnh hưởng đến người khác, kể cả việc không được đưa lên net. Nhưng cách này thì kẻ tham nhũng hoàn toàn chịu nổi, vì không chạm đến cái lông chân của bọn họ.

Đề án văn hóa của ông Huynh – nổi tiếng là người kín đáo, ăn nói khéo léo – thoạt nghe là có lý nhưng thực hiện là không thể. Ông không (thể) chỉ ra cái cách xây dựng nó, nên ông đã tự biến hóa thành nhân vật chính trong A.Q. chính truyện với phép thắng lợi tinh thần được ông ứng dụng kịp thời và độc đáo.

Cái “giải pháp” văn hóa khinh bỉ do ông Huynh đưa ra kể cũng lý thú. Nó tạm thời thỏa mãn lòng dân, mà không gây hại ai cả, nhất là cái đối tượng bị khinh bỉ cũng an toàn. Thế là ông ấy đã hóa giải một cách tài tình cái mâu thuẫn có tính trường kỳ kháng chiến hiện nay giữa người dân và giới cầm quyền, để cả hai bên cùng thắng. Đúng là win-win, đang là khẩu hiệu thời thượng của các giới kinh doanh về hàng hóa, kể cả về kinh doanh ý tưởng. Nhưng đặc biệt hơn, biện pháp dùng văn hóa khinh bỉ đối với tham nhũng ngay vào lúc mà cuộc tấn công tham nhũng của ông Nguyễn Phú Trọng đang gặp rối loạn, cũng là hữu ích phần nào.

Tuy nhiên, đã khó thực hiện, cái văn hóa khinh bỉ còn làm nảy sinh thêm những vấn đề nan giải khác lớn hơn nhiều.

Người dân mà nghe theo ông Huynh có thể tự biến thành những công dân mơ mộng. Còn những kẻ tham nhũng thì không thể ngồi nhà mà tiến hành văn hóa khinh bỉ đối với những kẻ tham nhũng khác và đồng thời với chính mình. Vì họ là như nhau, lại toàn là đồng chí nhau cả. Họ là đồng môn, đồng liêu, đồng sàng, lại đồng mộng. Họ là đối tượng của nhau, chứ không một người dân nào lọt vào đây cả. Bởi lẽ, ngồi nhà mà khinh bỉ nhau thì chẳng tới đâu. Nó phải phát lộ ra bằng sức mạnh tinh thần chuyển sang sức mạnh vật chất như giáo trình mà tất cả họ đã học, vì thế tham nhũng với tham nhũng tự nó va chạm nhau ác liệt. Có khi là tiếng va đập của dao búa, có khi là tiếng súng nổ dứt khoát, có khi là tác dụng êm ả của các loại hóa chất. Lợi hại hơn nữa là loại ám khí vô hình núp dưới bóng chữ nghĩa hay con số, vốn làm nắp che cho quyền lực. Có những con số 3.000 tỉ, 10.000 tỉ hay cao hơn nữa. Cũng có những con số rất dễ sợ, như con số 1950 hay 1956.

Có nên vội vàng khen ông Huynh chăng, về sự dũng cảm của ông khi đề xuất cái loại văn hóa khinh bỉ ấy, nhằm ngay vào đối tượng là đồng chí mình, ở chung quanh mình, mà hằng ngày gặp gỡ, ngồi cùng nhau trà nước, trước tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh và dưới lá cờ vẻ vang của Đảng? Như thế thì ông còn làm việc được với ai!

Có người lo cho ông Huynh sao mà ông dám bạo miệng dùng cái từ ngữ quá nặng nề ấy cho đồng chí mình. Có người thì không nghĩ thế, bởi cho rằng ông nói thế nhưng ý không phải thế. Ông ấy chỉ nói cho dân nghe thôi. Còn họ thì hiểu ngầm với nhau, không thực sự khinh bỉ nhau, mà là đô vật với nhau. Vả lại, nói khinh bỉ là khinh bỉ đối tượng mà họ đang nhắm đến để đánh đổ, chứ không phải khinh bỉ tất cả những kẻ tham nhũng. Người bình dân hiểu nôm na là phe nhóm đánh nhau để giành quyền được cái… khinh bỉ ấy, là cái cũng quý, không dễ có. Lại có người bảo: “ngu gì mà không tham nhũng?”. Giá như, cái giáo trình văn hóa khinh bỉ ấy được chính thức đưa vào trường “Lý luận cao cấp” của Đảng thì sao nhỉ? Sao lại không hay!

Có một cách hiểu dễ hơn: văn hóa khinh bỉ là biện pháp mà ông Huynh muốn hiến tặng, là chỉ dành riêng cho người dân sử dụng, để muôn dân được hưởng phép thắng lợi tinh thần.

Văn hóa khinh bỉ hay chính là cái phông văn hóa mà ông đang tựa lưng, có tác dụng như một khẩu súng chĩa mũi ngược về phía mình. Ông đã tự hứng lấy cái kết quả về tình trạng văn hóa đang hoành hành trong bộ máy mà ông là một nhân vật cao cấp, đồng thời là chủ nhân của sáng tạo cái văn hóa mới nói trên. Văn hóa khinh bỉ mà ông nói đã trở thành sự khinh bỉ về một thứ văn hóa đã nuôi nấng những ai đó, từ bé cho đến lúc lớn lên và thành đạt như những vị quan hôm nay. Hơn nữa, ông không phải là người bình thường, mà là một người đã từng hít thở, lớn lên, thành đạt trong ngành văn hóa – tư tưởng ấy, nên bản thân ông đã và đang là biểu tượng của nền văn hóa xuống cấp thê thảm mà ông lên án. Mà không chỉ là tham nhũng vật chất, nó còn tiến lên với cụm từ mới: tham nhũng quyền lực. Nó siêu hơn về kỹ năng và nghệ thuật, có chăng nó cũng thuộc họ hàng đối tượng của loại văn hóa khinh bỉ?

Từ “xây dựng” mà ông nói làm người ta có thể mường tượng, đó là một thứ văn hóa vật thể, có thể dùng kéo, dao, búa… để cắt, chặt, di dời, hoặc may vá lại theo ý muốn, nó có thể xây dựng bằng cát đá xi măng thông qua chỉ thị, nghị quyết, thông tư… Trong thứ văn hóa ấy, việc đập phá – như triệt hạ chùa Liên Trì chẳng hạn – thành đống gạch vụn, rồi lại xây dựng lại ở một nơi khác, là rất dễ dàng. Cái văn hóa ấy có thể trồng được, từ trồng cây đến trồng người. Không cần một trăm năm, chỉ cần năm hay mười năm có thể trồng một thế hệ, dễ như trồng rau, nhanh hơn trồng cây thân gỗ. Thậm chí chỉ hai năm, như ở trường đoàn, trường đảng, là có thể chuyển hóa một thế hệ thanh niên này thành một thế hệ thanh niên khác, cóchân lý chắc nịch nắm gọn trong tay. Với cái búa chân lý ấy, anh ta hay chị ta có thể đi phá tan hoang mọi thứ. Mới mẻ gì cái sự phá hoại các đền cổ do IS thực hiện; đó chỉ là sự bắt chước muộn màng và kém xa, sau hằng nửa thế kỷ.

Cái giá trị phi vật thể nó nằm bí mật ở các thứ Ban Tuyên huấn, Tuyên giáo hoặc là ở Hội đồng Lý luận Trung ương – loại tổ chức “đậm đà bản sắc” Việt Nam. Nó không nằm ở trong dân gian, là hiểu lầm vì lộn chỗ. Ông quan lớn phát động xây dựng một nền văn hóa khinh bỉ khá cụ thể, là khinh bỉ những kẻ tham nhũng. Mà chuyện khinh bỉ tham nhũng cũng đã có từ lâu, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với cương lĩnh bài phong kiến, chống thực dân, đánh đế quốc. Chống kịch liệt, chống tàn bạo với biết bao nhiêu máu đã tuôn ra. Hẳn ông quan to đã nói là có cơ sở từ một thực tế. Từ khinh bỉ chuyển sang căm thù, đã tạo nên một thời kỳ Cải Cách Ruộng Đất được mô tả là long trời lở đất. Sau năm cái đại hội và thêm cái thứ sáu, mà ông nguyên Chủ tịch nước phải cay đắng xấu hổ khi nhìn vào bản đồ tham nhũng thế giới, thấy Việt Nam đứng vào xếp vào hạng cao! Thế là cái thực tế ấy nó không giảm mà ngày càng tăng, nên bây giờ càng phải tiếp tục xốc tới với cái vũ khí khinh bỉ chăng? Và, khinh bỉ là biện pháp cuối cùng (?), và có thể tự an tâm, vì “không có cách nào khác”. Đó là một sự thảm hại đầy đủ! Gom các câu nói của các vị lãnh đạo lại, sẽ cho thấy một cấu trúc rất nhịp nhàng: khi còn quyền lực, còn Nhà nước thì ở đâu và thời nào cũng sẽ còn tham nhũng(Nguyễn Phú Trọng), như một nguyên lý; không có cách nào khác […] phải lấy lại niềm tin trước sự rộng lượng của nhân dân bằng cách hành động, bằng tính tiên phong đã được chứng minh trong thực tiễn đấu tranh“ (Trương Tấn Sang) như một quyết tâm; và cần xây dựngvăn hóa khinh bỉ tham nhũng (Đinh Thế Huynh), như một biện pháp. Than ôi! Càng hành động – có kêu gọi thêm tiền nhân giúp sức – thì tham nhũng càng phát triển!

Nó giống như cuộc tự bao vây lẫn phòng thủ của tham nhũng đã khá là toàn diện.

Cái tham nhũng ngày nay được hiểu một cách rộng rãi, bởi tính càng tinh vi của nó. Không những là của cải, nhà cửa, đất đai, tiền bạc, mà còn quan trọng hơn, chính là tham nhũng quyền lực, nó là suối nguồn tươi mát của mọi thứ kia. Nó đáng khinh bỉ hơn, nhưng nó mạnh mẽ hơn, đến nỗi nó khinh bỉ cái khinh bỉ mà ông ấy nói, xem nhỏ như con rệp, với hàng tỉ thí dụ. Cô con gái 24 tuổi của một quan lớn, vừa xong cái đại học ngành báo chí gì đó, đùng một cái, nhảy cao hơn cóc, lên cái ghế Chủ tịch Hội đồng Quản trị một công ty lớn để điều khiển hằng mấy nghìn con người. Hai tháng sau thì bị lôi xuống, cũng bởi quyền lực, chứ chẳng phải bởi sức mạnh của sự khinh bỉ. Khinh bỉ, vốn là trạng thái cảm xúc ở tầng mức tâm lý – tinh thần, nó thuộc chủ quan của mỗi con người, không có chuẩn mực và không có giá trị gì về pháp lý. Cái ông quan to nhất của môn duy vật biện chứng giả hiệu trong thực tế nghèo nàn túng quẫn của trí tuệ một chiều, vội vàng nhấc cái vung này để đậy lên cái nồi kia. Đó là một sự thảm hại sâu thẳm của cái văn hóa ấy, nên cảm thông hơn là khinh bỉ. Thông cảm là ở chỗ do cái vai đóng thì phải diễn thôi, thông cảm để tiến tới sự rạch ròi về một cách nói vô nghĩa của một cựu quan to: “Tham nhũng ở nước ta là do cả cơ chế lẫn con người!“ (Lê Khả Phiêu).Sao lại thế? Chẳng có cơ chế nào mà không có con người, chẳng có con người nào mà sống ngoài cơ chế, nhưng có cơ chế đã làm con người tự đánh mất mình, đưa đến trạng thái vong thân, tha hóa.

Cái cơ chế ấy đã đẻ ra mọi thứ đáng khinh bỉ.

Có nên xây dựng một nền văn hóa khinh bỉ không?

Trên nền văn hóa phổ quát ngày nay không ai đi xây dựng sự khinh bỉ hay lòng căm thù để dùng làm động lực cho bất cứ mục tiêu đấu tranh nào, dù nhân danh cái tốt.

Văn hóa ngày nay nêu cao sự tôn trọng cho dù có sự khác biệt, xây dựng lòng vị tha thay cho khinh bỉ và căm thù, thuyết phục/đối thoại thay cho trấn áp bạo lực, đưa luật pháp minh bạch vào đúng vai trò của nó thay cho những giáo điều tuyên huấn tầm phào. Người dân đòi hỏi dân chủ là ở đó, không cần sự khinh bỉ lẫn dùi cui. Khinh bỉ chuyển thành căm thù chỉ một bước nhỏ. Căm thù đã nhiều lần tạo nên những vết nhơ có tính lịch sử mà không thể nào xóa bỏ, nó đang tiếp tục các biện pháp dao búa, súng nổ, chất độc, và các loại mưu kế khác. Khinh bỉ không thể là điều được khuyến khích hay cỗ vũ.

Nói theo cách của các tôn giáo, là chẳng nên khinh bỉ ai. Từ thằng bé bị trừng trị vì đói mà ăn cắp hai ổ bánh mì, từ người phụ nữ thiếu nợ mà phải thuê người chặt tay chân mình để mong nhận được đền bù bảo hiểm, từ một bà mẹ uống thuốc tự tử hầu mong con mình được hưởng trợ cấp cứu đói, đến chuyện các quan hạ sát nhau công khai bằng súng, đến người tù bị xử kín lặng lẽ trong nhà lao, cho đến kẻ tham quyền nhân danh không tham vọng quyền lực diệt kẻ tham vọng quyền lực và trở thành kẻ có đại quyền lực… Không hơn một trò đùa dai, nhưng rất man rợ! Chuyện một ông quan đầu tỉnh đưa một loạt tám người trong gia đình vào hàm quan các cấp, đã vượt xa thời phong kiến. Chuyện ông quan đầu tỉnh khác bị đồn thổi chăm lo cho bồ nhí cực kỳ chu đáo từ vật chất cho đến chức quyền, vượt quá xa xã hội có chủ nghĩa tư bản “giãy chết”. Các ông ấy không tự mình mà lên làm quan đầu tỉnh được. Chính nền văn hóa ấy đã tạo nên ngổn ngang những điều khốn khổ, tệ hại; cũng chính nó đưa các ông – trong đó có ông Huynh – lên đỉnh cao quyền lực; có tay quan ăn cắp 3.300 tỷ, 10.000 tỷ, có kẻ ăn cắp quyền lực của 90 triệu dân, có cả em thiếu niên ăn cắp bánh mì.

Thế mà nó vẫn tự ca tụng là “một thời kỳ rực rỡ nhất lịch sử!

Cái toàn cảnh đó do đâu?

Trong một nền văn hóa mà sự khủng khiếp vượt lên trên sự khinh bỉ hay trọng vọng, như nhận xét của GS Trần Đình Sử:

Với việc cha dành [và giành] suất lãnh đạo cho con, chồng bổ nhiệm vợ, vợ tìm chức cho người tình, mua quan bán chức công khai và dấm dúi, ăn hối lộ công nhiên, tìm mọi cách vơ vét tiền của dân dưới vô vàn danh nghĩa, chế độ ta đạt đến sự thối nát nhất trong các chế độ đã có và hiện có. Thật khủng khiếp.

Ông giáo sư đã dùng chữ “chế độ ta” tiếp theo là “thật khủng khiếp”, tôi nghe như máu ứa trong lòng ông, và rõ là cái đau của ông không phải cái đau của người ngoài cuộc.

Phải chăng việc xây dựng nền văn hóa khinh bỉ có ý nghĩa kích hoạt nhằm chuẩn bị một động lực căm thù cho các loại vệ binh dưới cờ? Có thể ông Huynh không nhằm đi xa vào ý ấy, mà ông chỉ muốn dừng lại ở phạm vi ông gọi là văn hóa, chỉ như một thứ biện pháp để xoa dịu nhất thời, để chữa cháy cho một tình trạng quá bề bộn, lủng củng không lối ra.

Mà cách chữa cháy ấy cũng thật là dang dở… như bản “anh hùng ca nọ, mà không ai rõ là cacái gì! Hay cũng chỉ là “phép thắng lợi tinh thần” trong chốc lát của A.Q. chính truyện?

Và, vũ khí văn hóa khinh bỉ, có thể đã trở thành sự khinh bỉ các loại văn hóa vũ khí mà ông đã từng cho ra đời từ Ban Tuyên giáo của ông, như đội ngũ dư luận viên chẳng hạn.

Xét về cả hai mặt, việc phát động văn hóa khinh bỉ tham nhũng, là thủ thuật ứng phó nhất thời làm trợ thủ cho chiến dịch chống tham nhũng, hay là một kế hoạch đích thực của cánh ông, thì đều vô nghĩa và không đi đến đâu. Hãy xem đó là lời bông đùa vô tội vạ trong một lúc cao hứng.

Tôi đã tào lao cả đêm nay để viết những dòng này, biết chắc nó chẳng hề “tạo được áp lực xã hội mà những kẻ tham nhũng không chịu nổi”, như ông Huynh đã trót đùa, lại không chừng đang có nhóm an ninh trong đối tượng ấy đến canh cửa, cho dù tôi có thực hành văn hóa khinh bỉ như đã chỉ dẫn hay không.

Cái gay là văn hóa khinh bỉ ấy dường như đã tự phát triển tràn lan, mà không cần ông Huynh phải nhọc công “xây dựng”.

25/9/2016

H.Đ.N.

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 29.09.2016

Nhân Tổng thống Philippine thăm Việt Nam

Duterte: Vị tổng thống “vô nguyên tắc”

TTO – Ông Rodrigo Duterte mang khá nhiều biệt danh vì kiểu làm chính trị không giống ai của ông. Nhưng kiểu mạnh mẽ đó dường như đang lấy được lòng dân.

Tân tổng thống Philippines: Vị tổng thống “vô nguyên tắc”
Ông Rodrigo Duterte, tân tổng thống Philippines – Ảnh: Reuters

Ông Rodrigo Duterte, 71 tuổi, thị trưởng 7 nhiệm kỳ tại thành phố miền nam Davao, Philippines, vừa trở thành tổng thống mới của quốc gia có hơn 7.100 hòn đảo ở Đông Nam Á.

Chiến thắng của ông Duterte sẽ tạo nên bước chuyển chính trị đáng kể ở Philippines.

Bắt đầu chiến dịch tranh cử với việc tự cho mình là người ngoài cuộc, dám nói thẳng, nói thật (đôi khi… thẳng quá), ông Duterte giành thiện cảm cử tri bằng những cam kết mạnh mẽ về việc xóa bỏ đói nghèo, chấm dứt tham nhũng và diệt trừ tận gốc tội phạm.

“Duterte Harry”

Vào ngày cuối cùng của chiến dịch tranh cử (7-5), ông Duterte nói rõ sẽ tiếp tục duy trì đường lối cứng rắn của mình trong việc điều hành đất nước nếu đắc cử tổng thống.

Những tuyên bố hùng hồn kiểu như khi ông Duterte nói về đám tội phạm ma túy: “Tôi không hề kiên nhẫn, tôi cũng không trung dung, hoặc các anh giết tôi hoặc tôi sẽ giết những lũ ngốc các anh” đã khiến dư luận đặt cho ông biệt danh là “Duterte Harry”, nhại theo tên một nhân vật chính trong bộ phim Dirty Harry (Harry bẩn thỉu) năm 1971 vốn là người không hề xem trọng luật pháp.

Không phải vô lý khi giới truyền thông so sánh ông Duterte với tỉ phú Donald Trump, ứng cử viên tổng thống bên Mỹ. Độ “sốc” trong phát ngôn của hai chính khách này có lẽ ở mức “một chín một mười”.

Ông Duterte tai tiếng với những chuyện tếu táo về tình dục và cưỡng hiếp. Ông thường phô phang về khả năng “làm chuyện ấy” và cả tác dụng của những viên Viagra.

Thậm chí trong một sự kiện tranh cử, ông nói có hai bà vợ và hai cô con gái rồi đùa rằng ông nuôi cả một mớ “em út” trong các khu nhà trọ rẻ tiền để lúc cần là đưa tới khách sạn “vui vẻ”!

Có một chuyện mà nhiều cử tri bực bội với ông khi nói về vụ nhà truyền giáo nữ người Úc bị cưỡng hiếp tập thể và giết hại trong vụ bạo loạn xảy ra năm 1989 ở Davao, khi ông đang là thị trưởng.

Ông đã hài hước quá đà: “Trông cô ấy cứ như một diễn viên xinh đẹp người Mỹ vậy. Thật uổng quá. Họ đã xếp hàng đợi và cưỡng hiếp cô ấy. Tôi rất phẫn nộ vì việc cô ấy bị hiếp. Đó là một chuyện. Nhưng cô ấy quá xinh đẹp. Đáng lẽ thị trưởng phải là người đầu tiên (cưỡng hiếp) mới phải chứ”.

Từng đắc cử cương vị thị trưởng thành phố Davao tới 7 nhiệm kỳ trong 22 năm, ông Duterte tự hào vì dưới quyền điều hành của ông, Davao đã sạch bóng tội phạm. Ông cũng thẳng thắn thừa nhận thành tích đó có được là nhờ việc áp dụng những biện pháp cực đoan.

Trong một diễn văn năm ngoái, ông tuyên bố chiến lược ứng phó tội phạm của ông là “giết sạch”. Gần đây ông nhắc lại quan điểm, nếu đắc cử ông sẽ săn lùng ráo riết bọn tội phạm, thậm chí thề sẽ tự tay giết chúng và rồi cấp cho mình một lệnh ân xá của tổng thống!

Ông cũng hứa quét sạch tội phạm chỉ trong vòng nửa năm sau khi đắc cử – một việc mà giới cảnh sát Philippines nói là không thể.

Dù vậy, không ít người dân hài lòng vì điều đó. Một tài xế xe buýt ở Davao, anh Giovanni Perucho, kể: “Cảnh sát đã làm đúng chức trách tại thành phố này. Đó là nhờ thị trưởng Duterte. Bọn tội phạm sợ ngài thị trưởng, và cảnh sát cũng sợ ông ấy. Họ biết họ phải làm việc của mình”.

Với phong cách đó, người ta cũng không ngạc nhiên khi ông từng đe dọa sẽ giải tán luôn quốc hội và thành lập một chính phủ cách mạng trong trường hợp phải đương đầu với các nghị sĩ cứng đầu không chịu hợp tác.

Chính sách đối ngoại chưa rõ

Cũng giống tỉ phú Donald Trump, ông Duterte bị phe phản đối gọi là “một ca khó đỡ”, một kiểu lệch chuẩn về phép tắc ngoại giao truyền thống khi ông đưa ra những bình luận “chả có tí ngoại giao” nào về Úc, Mỹ và Trung Quốc – ba đối tác trọng yếu trong những chính sách đối ngoại của Philippines.

Philippines là một trong những quốc gia đồng minh lâu đời nhất của Mỹ tại châu Á.

Tuy nhiên, ông Duterte từng cảnh báo nếu trở thành tổng thống sẽ cắt đứt quan hệ với Úc và Mỹ sau khi đại sứ những nước này chỉ trích ông về bình luận liên quan tới vụ cưỡng hiếp tập thể nhà truyền giáo người Úc.

Ông cũng không giấu giếm mối ngờ vực về quan hệ đồng minh quân sự lâu nay giữa Mỹ và Philippines.

Ngay cả ở một đất nước có tới hơn 80% dân số là người theo đạo Thiên Chúa thì ông Duterte cũng chẳng ngại nêu quan điểm chỉ trích Giáo hoàng Francis cùng đoàn tùy tùng trong chuyến thăm Philippines năm ngoái đã gây ách tắc giao thông nghiêm trọng tại thủ đô Manila.

Ông nói mong Giáo hoàng sẽ không tới Philippines nữa. Tất nhiên sau đó ông Duterte có gửi thư xin lỗi Vatican về ý kiến đó nhưng rất nhiều người không quên chuyện này.

Giới phân tích dự đoán việc ông Duterte đắc cử sẽ làm suy yếu đồng peso của Philippines nếu căn cứ vào chính sách kinh tế không chắc chắn của ông.

Cuối tuần trước, thị trường chứng khoán Philippines đã giảm điểm lần thứ 10 trong 11 ngày trong không khí bầu cử với những băn khoăn của giới đầu tư.

Tổng thống chuẩn bị bãi nhiệm Benigno S. Aquino cho rằng việc ông Duterte trở thành tổng thống cũng tương tự với việc chính thể Philippines quay trở lại với chế độ độc tài.

Ông Aquino lo sợ ông Duterte sẽ phá hỏng nền dân chủ Philippines, cũng như sẽ phung phí các thành quả kinh tế đạt được trong 6 năm qua khi Philippines là một trong những nước có tỉ lệ tăng trưởng nhanh nhất châu Á với 6,2%.

Kêu gọi hội nghị thượng đỉnh đa phương về Biển Đông

Ngay sau khi nắm chắc phần thắng, ông Rodrigo Duterte tuyên bố sẽ giải quyết các tranh chấp tại Biển Đông thông qua đối thoại đa phương, trong đó có sự tham gia của các nước như Mỹ, Nhật Bản, Úc và những nước có quyền lợi liên quan.

Theo Reuters, ông Rodrigo Duterte nói Trung Quốc cần phải tôn trọng vùng đặc quyền 200 hải lý theo luật pháp quốc tế và nên hợp tác với Philippines trong việc khai thác dầu mỏ và khí đốt ngoài khơi. Ông nói: “Tôi tin vào sự chia sẻ”.

Quan điểm của ông Duterte cho tới nay vẫn gây bối rối với công luận cũng như giới ngoại giao quốc tế vì sự mâu thuẫn trong lập trường hành xử với Trung Quốc và vấn đề Biển Đông.

Lúc thì ông nói muốn đối thoại với Bắc Kinh, nhưng ngay sau đó lại nói sẽ đích thân chèo thuyền tới và cắm cờ Philippines lên đảo bị Trung Quốc chiếm đóng và nếu có bị bắn, ông sẽ thành anh hùng dân tộc!

( Nguồn: Tuổi trẻ)

Đăng bởi: Ngô Minh | 29.09.2016

THẾ HỆ NHÀ VĂN SAU 1975, HỌ LÀ AI?

THẾ HỆ NHÀ VĂN SAU 1975, HỌ LÀ AI?

CHU VĂN SƠN
 Lịch sử văn học bao giờ cũng là cuộc chạy tiếp sức không mệt mỏi của các thế hệ văn học. Mỗi chặng luôn có sự góp mặt của nhiều thế hệ khác nhau.

                                                          Nhà phê bình Chu Văn Sơn

Các thế hệ vừa có tiếp bước, song hành, vừa có đan xen, chuyển hóa trên hành trình văn học để kiến tạo nên hệ thẩm mỹ thời mình. Nhưng bao giờ vai trò chủ lực cũng thuộc về một thế hệ nào đó. Thế hệ ấy mới là chủ thể đích thực của chặng ấy. Phần cốt yếu của bức tranh văn học ở chặng đó được vẽ bởi ngòi bút của họ. Trong thế kỉ XX, ở ta, do những tác động của lịch sử và vận động của bản thân văn học, có thể thấy có bốn chặng lớn, mỗi chặng nổi lên một thế hệ chủ lực: 1900 – 1945 thế hệ Hiện đại hóa, 1945 – 1954 thế hệ kháng Pháp, 1954 – 1975 thế hệ chống Mỹ, và sau 1975 là một thế hệ văn học mới: thế hệ hậu chống Mỹ. Được gọi là thế hệ nhà văn sau 1975.

Thế hệ nhà văn sau 1975, họ là ai?

Chưa thể trả lời ngay được câu hỏi này, nếu chưa khai thông được các tiền đề vốn móc xích nhau: thế nào là một chặng đường văn học? gần hơn: thế nào là một hệ giá trị thẩm mỹ? và sát sạt: thế nào là một thế hệ văn học?

Lịch sử văn học thống nhất nhưng không đồng nhất với lịch sử xã hội. Một chặng đường lớn của văn học có thể có lúc được cắm mốc bằng sự kiện chung nào đó của xã hội. Nhưng không phải lúc nào một sự kiện xã hội như vậy cũng đồng thời là khởi đầu hay kết thúc cho một chặng đường văn học. Về căn bản, một chặng đường văn học cần được xác lập dựa trên việc đã kiến tạo được trọn vẹn hay chưa một hệ giá trị thẩm mỹ mới cùng một diện mạo mới cho nền văn học. Một chặng đường lớn phải là một hệ giá trị mới được kiến tạo với những khác biệt lớn so với chặng trước đó. Khi một hệ giá trị đã hoàn mãn, phía sáng tạo đã bão hòa, phía tiếp nhận đã bội thực, thì một hệ giá trị mới tất sẽ ra đời. Nó có thể manh nha trứng nước đâu đó trong lòng chặng trước, nhưng phải đến lúc này, nhờ được cổ vũ lớn, kích hoạt mạnh từ phía tiếp nhận, nó mới đạp toang lớp vỏ để chính thức khai sinh. Và khi đó một hệ giá trị mới mới thực sự được xác lập và lên ngôi. Một chặng đường văn học mới bấy giờ mới thực sự được mở ra. Nhờ nguồn sinh lực của hệ giá trị mới đó mà diện mạo văn học được tượng hình rồi thắm da đỏ thịt, đồng thời nhờ sức vóc và dung nhan của văn học mà hệ giá trị ấy được tôn vinh. Về sau, hành trình văn học sẽ bắt đầu vào khúc ngoặt để sang chặng mới, khi phía trước lấp ló một hệ giá trị khác kế tiếp. Chưa làm xong điều này, thì chặng đường văn học hãy còn dang dở. Khắt khe hơn: văn học chưa thực sự có một chặng mới. Vì vậy, về bản chất, chặng đường văn học chính là quá trình vận động trọn vẹn của một hệ giá trị thẩm mỹ nào đó trong văn học.

Đến đây, tất có câu hỏi: vậy thế nào là một hệ giá trị thẩm mỹ? Về điều này, có thể có những quan niệm khác nhau và mỗi quan niệm lại chọn cho mình một điểm nhấn khác nhau đối với các thành tố cấu thành một hệ thẩm mỹ. Nhưng, dù khác nhau đến đâu, cuối cùng, vẫn phải gặp nhau trên những nét cơ bản. Cụ thể, một hệ giá trị thẩm mỹ phải được hiện hình qua cách ứng xử của một lớp người viết trong ba mối quan hệ: với hiện thực, với ngòi bút và với người đọc. Và được hình dung bằng một chuẩn mực đặc thù về cái đẹp, một điệu tình cảm thẩm mỹ nổi bật và một hệ thống thi pháp tương ứng. Hệ thẩm mỹ ấy được kiến tạo bằng cả kế thừa và phủ định đối với cái cũ, nhưng chủ yếu bằng thử nghiệm và xác lập cái mới. Một chặng đường văn học thực sự phải là một tiến trình sống động trong đó hệ giá trị thẩm mỹ vừa được kiến tạo bởi thực tiễn sáng tạo vừa âm thầm kiến tạo nên chính thực tiễn đó. Nghĩa là, một hệ giá trị vừa là động lực vừa là sản phẩm của một chặng đường văn học.

Một thế hệ văn học thực sự phải là chủ thể cốt lõi của một chặng đường văn học. Sáng tạo, xét đến cùng, là chuyện cá nhân. Từng cá nhân có thể có trường hợp sắc màu dị biệt, tầm vóc ngoại cỡ. Nhưng, một thế hệ văn học không phải là phép cộng giản đơn của các cá nhân. Đó phải là một lớp người cầm bút được kết nối bởi cùng một hệ giá trị chung của thời mình. Họ vừa là kẻ sản sinh lại vừa là sản phẩm của hệ giá trị đó. Do vậy, nhìn nhận một thế hệ văn học, không phải là phép mô tả lần lượt từng cá nhân. Mà phải nhìn vào gương mặt nghệ thuật chung của cả một lớp người. Thêm nữa, việc này không thể không tính đến ngoại lệ, nhưng căn cứ chính không thể là ngoại lệ.

Nhìn vào lực lượng cầm bút trong mỗi chặng đường lớn, người ta thấy một cơ cấu gồm ba thành phần được phân vai khá rõ. Ấy là ba lớp người. Tạm gọi là lớp trên, lớp giữa và lớp dưới. Lớp trên, vốn là chủ lực của chặng trước. Họ là đại diện cho một hệ giá trị đã lên ngôi và ngự trị giai đoạn trước đó. Có thể có người đến lúc này vẫn còn tỏa sáng, thản hoặc, có trường hợp mãi khi này mới bừng sáng, nhưng về căn bản, độ sung sức nhất trong ngòi bút của cả thế hệ đã ở sau lưng. Có thể có cá nhân tinh anh nào đó của lớp ấy làm được cái việc thám thính dò đường cho chặng sau. Thậm chí, có cây bút nội lực dồi dào, dám phủ định mình, dám lột xác để có thể tiếp tục thắp sáng trong hệ giá trị mới. Nhưng cực hiếm. Và, dù sao, kí ức của hệ giá trị trước vẫn trầm tích sâu nặng trong sáng tác mới của họ. Bởi thế, về thực chất, họ vẫn là chính chủ của chặng trước và là khách danh dự của chặng này. Còn lớp dưới thì đã bắt đầu góp mặt, hăng hái đầu quân. Hơn thế, có thể ít nhiều đã thành tựu. Nhưng, về căn bản, họ sẽ là nguồn lực của chặng sắp tới, những chồi mầm của hệ giá trị kế tiếp. Bởi vậy, chủ lực của một chặng đường văn học bao giờ cũng là lớp giữa. Họ là lớp người có sứ mạng chính trong việc kiến tạo, xác lập và hoàn thiện hệ giá trị của thời mình. Không lớp nào tranh chấp được với họ và họ cũng không thể đùn đẩy được cho các lớp khác. Sáng tạo của họ vừa là chân dung nghệ thuật tự họa của thế hệ mình vừa quyết định đến gương mặt nghệ thuật chung của cả chặng. Nhìn vào từng cá nhân, có thể có trường hợp vượt khung, nhưng nhìn chung, các cá nhân trên mỗi chặng thường thuộc về một trong ba lớp người như vậy. Mặc dù đây chỉ là dạng phổ biến, không phải lúc nào, ở đâu cũng nhất nhất như vậy, nhưng thực tiễn văn học Việt Nam hiện đại thì khá chuẩn với mô hình chung đó[1].

*

Thế hệ nhà văn sau 1975, họ là ai?

Những đường viền đầu tiên của bức chân dung thế hệ, đương nhiên, phải là độ tuổi và thời điểm gia nhập văn đàn. Trừ một ít ngoại lệ, về căn bản, một thế hệ phải có sự gần gũi nhau về độ tuổi. Nếu phổ tuổi của thế hệ Hiện đại hóa là +/- 1x, thế hệ chống Pháp là +/- 2x, thế hệ chống Mỹ chủ yếu là 3x – 4x, thì thế hệ sau 1975, trên đại thể, chủ yếu là 5x – 6x. Và, thế hệ này chỉ thực sự bước lên văn đàn từ sau 1975. Nói “thực sự”, vì ngoài phần đại thể, có thể có người đã cầm bút từ trước đó. Song, quãng trước, họ mới mon men mé ngoại vi, thủ vai chầu rìa, thậm chí, còn lạc lõng, lạc dòng. Phải sau 1975, họ mới đĩnh đạc cất tiếng.

Ở văn xuôi, họ là các cây bút Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Sương Nguyệt Minh, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà, Võ Thị Hảo, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Trần Thùy Mai, Dạ Ngân, Thuận, Đoàn Minh Phượng, Trần Vũ, Thu Trân, Phan Thị Vàng Anh, v.v… Ở thơ là những gương mặt: Nguyễn Lương Ngọc, Dương Kiều Minh, Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Trần Quang Quý, Trần Hùng, Inrasara, Trương Đăng Dung, Đỗ Trọng Khơi, Đỗ Minh Tuấn, Dương Thuấn, Trần Anh Thái, Nguyễn Việt Chiến, Trần Hòa Bình, Phạm Công Trứ, Nguyễn Bình Phương, Giáng Vân, Tuyết Nga, Thu Nguyệt, Phạm Thị Ngọc Liên, Phan Hoàng, v.v… Ở lí luận phê bình là: Trương Đăng Dung, Đỗ Lai Thúy, Huỳnh Như Phương, Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Đăng Điệp, Văn Giá, Inrasara, Nguyễn Hưng Quốc, Đoàn Cầm Thi, Trần Đăng Khoa, Trần Ngọc Vương, Trần Nho Thìn, Nguyễn Hữu Sơn, Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Thị Minh Thái, Đoàn Thị Đặng Hương, Lưu Khánh Thơ, Lý Hoài Thu, Trần Thị Trâm, Hồ Thế Hà, Lê Tiến Dũng, Phan Huy Dũng, Phạm Phú Phong, Nguyễn Thành Thi, Đoàn Lê Giang, Bùi Thanh Truyền, Trần Hoài Anh, Mai Bá Ấn, Nguyễn Chí Hoan, Nguyễn Hòa, Đông La, v.v… Và dịch thuật là: Phạm Xuân Nguyên, Trương Đăng Dung, Hồ Anh Thái, Ngô Tự Lập, Nguyễn Quang Thiều, Trần Tiễn Cao Đăng, Nguyễn Đình Thành, Trương Hồng Quang, v.v…

Bên cạnh đại thể đó, không thể bỏ qua những ngoại lệ. Ấy là những cây bút, về độ tuổi có thể thuộc 4x, nhưng thời điểm gia nhập văn đàn thực sự và khẳng định thành tựu thì lại sau 1975. Trong thơ, là những Trúc Thông, Y Phương, Dư Thị Hoàn, Hoàng Trần Cương,… trong lý luận phê bình là Lại Nguyên Ân, Trần Đình Sử, Lê Ngọc Trà, Lã Nguyên, v.v…

Với màn điểm danh chưa thể đầy đủ như vậy, đã có thể khẳng định thế hệ nhà văn sau 1975 là một lực lượng đông đảo và hùng hậu, không phải chặng nào cũng có được.

Nhưng, nghệ thuật là lĩnh vực của chất lượng. Làm nên gương mặt và tầm vóc của một thế hệ không phải là quân số. Điều cốt yếu phải là thành tựu. Thành tựu riêng bầu lên mỗi cá nhân, thành tựu chung bầu lên một lớp người. Bằng những thành tựu phong phú của mình, thế hệ nhà văn sau 1975 đã kiến tạo nên một hệ giá trị mới, đưa lịch sử văn học Việt Nam sang một chương/trang mới.

Muốn hình dung rõ về chặng này, có lẽ cần điểm lại chặng trước.

Từ 1945 đến 1975, đất nước lâm vào hai cuộc chiến tranh liên tiếp. Sự tồn vong của tổ quốc được đặt lên hàng đầu. Số phận dân tộc là mối quan tâm nóng bỏng của toàn dân. Lòng yêu nước của mọi công dân đều được kích hoạt quyết liệt. Cổ vũ tinh thần chiến đấu hy sinh cho tổ quốc là yêu cầu bức thiết của hoạt động tuyên truyền. Vì thế, văn học Việt Nam, về căn bản, vận hành theo mỹ học thời chiến. Đó là mỹ học của cái phi thường. Chiến tranh là chuyện bất thường, nó hòng cướp đi đời sống bình thường của mỗi người dân. Muốn tồn tại, cần phải có một sức mạnh phi thường. Vì thế, hiện thực kháng chiến là một hiện thực phi thường. Trong hệ thẩm mỹ thời chiến, cái phi thường tất phải lên ngôi. Và nó có tên là chủ nghĩa anh hùng. Xu hướng thẩm mỹ bao trùm của thời chiến là làm nổi bật cái phi thường, cũng có nghĩa là nổi bật cái anh hùng. Âm hưởng chủ đạo tất phải là âm hưởng anh hùng ca. Phương cách làm nổi bật cái phi thường trùm lên tư duy thẩm mỹ cả thời đại ấy là: tìm cái bình thường trong cái bất thường. Bình thường hóa cái bất thường chính là sự phi thường. “Cuộc đời vẫn đẹp sao, tình yêu vẫn đẹp sao”, “Tất cả như là trong báo động/ Tất cả như là trong báo yên”, “Đường ra trận mùa này đẹp lắm”, “Thế đấy giữa chiến trường nghe tiếng bom rất nhỏ”,… là cái tứ chung của cả thời đại, không chỉ ở thi ca. Chúng ta hiểu vì sao đó là chặng đường văn học của chủ nghĩa lạc quan vô bờ bến, của khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, của xu hướng trữ tình hóa và kí hóa ở mọi thể loại văn học. Vì sao đó là chặng đường của tư duy phân tuyến ta – địch, với lược đồ: ta tốt – địch xấu, ta cao – địch thấp, ta sang – địch hèn, ta thắng – địch thua khi mô tả mọi tình thế của thực tại. Vì sao ý thức hệ giai cấp lại thành khung tư tưởng chung của mọi người cầm bút. Và vì sao hệ thống thi pháp chủ yếu xoay quanh cái trục xuyên suốt là phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa. Chặng đường văn học ấy dừng lại, khi thế hệ nhà văn chống Mỹ đã hoàn thành sứ mệnh kiến tạo hệ thẩm mỹ đó một cách vẻ vang. Họ là hình ảnh chuẩn của mẫu nhà văn chiến sĩ.

Sau 1975, đất nước hòa bình trở lại. Sau hai cuộc đụng độ biên giới, cuộc sống hoàn toàn trở lại bình thường. Mỹ học của cái phi thường tỏ ra không còn phù hợp. Nhưng quán tính của nó vẫn chưa hết lai rai câu giờ. Một số cây bút tinh anh của thế hệ chống Mỹ đã sớm nhận ra điều này. Họ muốn chấm dứt và phủ định nó. Họ thám thính, dò đường. Họ đập cửa, mở cửa. Khi nhận ra đường mới, họ đã hăm hở đặt những bước đầu tiên. Một số đã vật vã lột xác để thành người lữ hành của chặng đường mới. Nhưng, do trầm tích của chặng trước nặng đè, năng lượng xài nhiều đã vơi, đi được dài trên chặng mới là không dễ. Dầu sao, họ cũng đã làm được cái việc khởi động cho cả một công cuộc sắp sửa, đặt những tiền đề quan trọng cho chặng tới. Hệ thẩm mỹ mới không thể không biết ơn những Việt Phương, Lưu Quang Vũ, Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Nguyễn Trọng Tạo, Trần Mạnh Hảo, Ý Nhi, v.v… trong thơ, những Nguyễn Trọng Oánh, Thái Bá Lợi, Lê Lựu, Nguyễn Minh Châu, v.v… trong văn xuôi, những Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Đăng Mạnh, Ngô Thảo, Vương Trí Nhàn, v.v… trong lí luận phê bình. Họ là chính chủ chặng trước cũng là những tiền nhân của chặng sau.

Tuy nhiên, phải đến năm 1986, khi Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện, thì một thế hệ cầm bút mới mới chính thức khai hỏa, một sự nổi loạn trong thẩm mỹ chính thức bắt đầu. Mỹ học thời chiến lùi hẳn vào hậu trường nhường chỗ cho mỹ học hậu chiến. Đó là mỹ học của cái ngày thường muôn thuở. Cái ngày thường không còn ta – địch, chỉ có con người và những phiền tạp bất tận của nhân gian. Cùng với những gì có từ muôn thuở, thực tại nhiễu nhương thời này lại có thêm bao bộ mặt mới. Trong thực tại ngày thường, việc sống cho ra con người là bận tâm sâu thẳm nhất. Phẩm tính nhân bản mới là vẻ đẹp đích thực muôn đời. Bởi thế, bồi đắp phẩm tính nhân bản cho con người trong cái đời thường đầy phiền tạp này là tiếng gọi bức thiết đối với nghệ thuật. Trong cái bình lặng yên ả của thực tại ngày thường, những giá trị người cứ bị ăn mòn, tính người cứ bị băng hoại bởi những thứ axit vô hình nào đó. Chính vì thế, phát hiện cái bất thường trong cái bình thường là tư duy thẩm mỹ bao trùm của chặng đường này. Dù có viết về các cuộc chiến tranh đã qua như là thực tại đặc thù của chặng trước, thì văn học chặng này cũng sẽ nhìn chiến tranh bằng tư duy mới này. Nếu trong mỹ học thời chiến chủ nghĩa yêu nước được ưu tiên, cái phi thường được ưu tiên, thì trong mỹ học hậu chiến cái được ưu tiên là cái bình thường, là chủ nghĩa nhân bản. Và điều này dường như đã kích hoạt và kiến tạo nên khuynh hướng thẩm mỹ chung của thế hệ này.

Điều đập ngay vào sự tiếp nhận là: thế hệ văn học này không ưu tiên ca ngợi hiện thực, mà ưu tiên tra vấn hiện thực. Do tinh thần tra vấn hiện thực mà khuynh hướng sử thi nhạt dần, nhường chỗ cho khuynh hướng thế sự và đời tư, cảm hứng lãng mạn thoái vị nhường ngôi cho cảm hứng phản tư, đối thoại. Hoài nghi và đối thoại trở thành nhu cầu thời đại. Do cảm hứng phản tư, đối thoại thúc đẩy mà trong hệ thẩm mỹ này, việc ru vỗ ve vuốt con người thành viên, con người đoàn thể mất dần hấp dẫn, thay vào đó là việc phục hồi mối quan tâm tới con người cá thể và rồi chuyển mạnh sang đào bới con người bản thể. Khoan xoáy sâu vào những miền tối thuộc bản thể là kim la bàn định hướng khá xác định của việc tiếp cận con người trong chặng văn học này. Tóm lại, mối bận tâm về con người công dân đã nhường chỗ cho mối quan hoài về con người phổ quát – Con Người viết hoa.

Ta hiểu vì sao, những mâu thuẫn và nghịch lí của đời sống, những nhức nhối âm ỉ trong con người hậu chiến được phơi bày ráo riết và thấm thía như vậy. Nó hiện diện phong phú trong các chủ đề văn học chống tiêu cực, văn học chấn thương, văn học giải ảo, văn học nữ quyền, văn học sinh thái, văn học đồng tính, v.v… vừa tiếp ứng nhau vừa nhất loạt ra đời trong chặng này. Và chưa bao giờ những khuất khúc, những bí mật ẩn sâu trong vùng mờ của bản thể lại được soi rọi bạo dạn, sắc sói như chặng này. Người đọc quen tiếp nhận hình ảnh một hiện thực được cho là đang “vận động trong quá trình phát triển cách mạng của nó” sẽ luôn thấy khó khăn khi tiếp nhận hình ảnh một thực tại bất toàn và nhất là sự bất toàn của những mẫu nhân vật từng ngự trị chặng trước giờ được văn học chặng này khám phá.

Một cách ứng xử với hiện thực như thế tất phải dẫn đến hệ quả về điệu cảm xúc bao trùm. Thấm thía vào mọi tiếng nói văn học không còn là niềm hân hoan nồng nhiệt dễ dãi của một chủ nghĩa lạc quan vô bờ bến, mà phải là nỗi băn khoăn day dứt, là nỗi buồn cao cả, là mối quan hoài khôn cầm của chủ nghĩa phản tư. Những nỗi niềm thời thế, thân thế, nhân thế ùa vào văn chương. Nỗi cô đơn cá thể được sẻ chia. Nỗi cô đơn bản thể được trân trọng. Những điều đó đã đem đến cho chặng văn học này một âm hưởng mới mang một chiều kích khác hẳn chặng trước: ấy là nỗi băn khoăn triết luận về phận người.

Ta hiểu vì sao từ văn xuôi đến thơ, từ tiểu thuyết, truyện ngắn đến tùy bút tản văn, tạp văn, từ thơ cực ngắn đến những bản trường ca của chặng này đều thấm đượm những cung bậc day dứt, trăn trở, đều thấm thía những lo âu, hoang hoải, đều khắc khoải những bất an và trang văn nào dường như cũng nặng trĩu triết luận buồn. Những người đọc quen thụ hưởng tiếng nói vui vẻ và cho rằng phải luôn hoan hỉ mới là tích cực và xem bi kịch là không tích cực, sẽ khó mà tiếp nhận được nét cao quí của loại bi cảm nhân bản, những bi cảm nâng cao phẩm tính con người như vậy.

Sự ra đời một hệ thẩm mỹ mới thực sự trong nghệ thuật bao giờ cũng phải là cuộc đảo chính về thi pháp. Hệ thống thi pháp của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa từng điều phối sáng tạo văn học chặng trước giờ được miễn nhiệm nghỉ ngơi. Sân chơi sáng tạo chặng này không còn sự độc tôn của riêng một phương pháp nào. Tinh thần hậu hiện đại được hấp thụ. Tôn trọng sự khác biệt vốn là linh hồn của nó. Cho nên, sự thoải mái trong lựa chọn những chiêu nghệ thuật riêng để thỏa mãn cá tính mình càng trở thành nhu cầu mạnh mẽ của sáng tạo chặng này. Và cuối cùng, là sự nổi loạn về ngôn ngữ. Thứ ngôn ngữ đơn sắc, đơn giọng, qui lát, đồng phục thời chiến tỏ ra nghèo, lũa trước thực tại đời thường. Một ngôn ngữ đa sắc, đa âm, đa tầng có khả năng sinh sự, gây hấn với những lối tiếp nhận quen mòn đã mang lại sức sống mới cho ngôn ngữ của thế hệ này.

Ta hiểu vì sao, các khuynh hướng văn chương của thế hệ này lại phong phú thế. Các lề lối kiến tạo thế giới nghệ thuật như tượng trưng, siêu thực, huyền ảo, kinh dị, viễn tưởng, dã sử/ giả sử, cổ tích/ giả cổ tích,… được huy động. Các kĩ thuật tự sự hiện đại xâm nhập vào văn xuôi. Các kĩ năng trữ tình tân kì hấp thụ từ Đông sang Tây được nhập tịch vào thơ. Nhiều thể loại mới bùng nổ, và ngay trong những thể loại quen thuộc, thì hình thái thể loại cũng hoàn toàn khác trước. Chưa bao giờ văn xuôi Việt Nam lại phong phú về cấu trúc, biến ảo về phương thức và cách thức trần thuật như vậy. Chưa bao giờ thơ Việt Nam lại dồi dào về lối kiến tạo thi ảnh và táo bạo về thi liệu cùng vật liệu đến như vậy. Chưa bao giờ lí luận phê bình Việt Nam lại cập nhật các lí thuyết mới, các cách đọc mới và ứng dụng chúng linh hoạt đến thế để khảo tả, cảm luận các giá trị văn chương như vậy. Và chưa bao giờ ngôn ngữ văn học lại được làm mới với những khả năng biểu đạt bằng những góc cạnh đầy bất ngờ, được kết nối với ngôn ngữ của nhiều loại hình nghệ thuật khác mạnh tay như vậy. Tất cả những điều đó đều khiến văn học của thế hệ này luôn tồn tại như một thách thức với thói quen thẩm mỹ trước. Và lối đọc quen với mỹ học của chặng trước không khỏi có lúc dị ứng, kì thị, thậm chí xung đột với hệ thẩm mỹ mới này. Điều đó âu cũng là bình thường trong sự vận động thẩm mỹ của đời sống một dân tộc nói riêng và mọi dân tộc nói chung.

*

 Cái nhìn khái lược và sơ lược trên đây chắc chắn chưa bao hết được toàn cảnh chặng đường văn học sau 1975 cũng như gương mặt của thế hệ văn học sau 1975.

Gọi họ là Thế hệ hậu chiến? Thế hệ sau chống Mỹ? Thế hệ đổi mới?… những cụm từ như thế hoặc ít hoặc nhiều, hoặc góc này hoặc phía khác đều có được những đường viền nào đó giúp hình dung về gương mặt họ. Chúng ta gọi họ là thế hệ nhà văn sau 1975. Và, cho dù cách gọi nào thì cũng không thể né tránh được sự thực này: đến chặng này, với hệ thẩm mỹ hậu chiến, mẫu nhà văn chiến sĩ thời chiến đã nhường chỗ cho mẫu nhà văn kẻ sĩ hiện đại thời bình. Ngay các cây bút chiến sĩ theo nghĩa đen của chữ ở chặng này cũng trình hiện mình trong mẫu nhà văn kẻ sĩhiện đại. Đó cần được xem là một bước vận động tích cực của tiến trình văn học. Và, cho dù cách gọi nào cũng không thể bác bỏ được: họ là chủ thể cốt lõi của chặng đường văn học sau 1975.

Đến giờ bó đuốc trên tay họ vẫn tiếp tục tỏa sáng, dù trong cuộc chạy tiếp sức không mệt mỏi của lịch sử văn học đã rầm rập bước chân của lớp người kế tiếp.

” Nguồn: In trong cuốn Thế hệ nhà văn sau 1975 (kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia do Trường Đại học Văn hóa Hà Nội tổ chức ngày 18/4/2016), NXB Hội nhà văn, 2016)”


[1] Các chặng trước 1945, chống Pháp, chống Mỹ đều trình hiện một tình hình như vậy. Ví dụ, chặng trước 1945. Có thể thấy sự góp mặt của những Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Phạm Duy Tốn, Hồ Biểu Chánh, Tản Đà, Á Nam Trần Tuấn Khải, Nguyễn Tử Siêu, Phan Khôi,… thuộc lớp trước. Và đến cuối chặng, đã thấp thoáng bóng dáng Hoàng Cầm, Trần Dần,… nhưng họ sẽ là những cây bút chủ chốt của chặng sau – chặng chống Pháp. Còn chủ lực lúc này vẫn là thế hệ của những Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam,… Cũng như thế, ở chặng chống Pháp. Có thể các nhà Thơ mới đã lột xác để nhập cuộc vào thời mới, nhưng đại diện cho hệ giá trị mới của thời này vẫn phải là những cây bút của lứa Tô Hoài, Kim Lân, Trần Mai Ninh, Nguyễn Đình Thi, Quang Dũng, Hoàng Cầm, Chính Hữu, Trần Dần,… Lúc này, những cây bút như Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc đã xuất hiện, nhưng họ sẽ là hạt giống mẩy của chặng sau. Chặng chống Mỹ, vẫn có sự góp mặt của các nhà văn từng thành danh ở các chặng trước, tuy nhiên, lực lượng chính làm nên diện mạo chặng này vẫn là thế hệ của những Nguyễn Thi, Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, Nguyễn Minh Châu, Phan Tứ, Tô Nhuận Vĩ, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Khoa Điềm, Thu Bồn, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Hữu Thỉnh, Thanh Thảo, Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ, Bằng Việt,

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 29.09.2016

Đức ‘chưa biết Trịnh Xuân Thanh ở đâu’

Đức ‘chưa biết Trịnh Xuân Thanh ở đâu’

BBC

Image copyrightOTHER
Image captionHọp báo ở Sứ quán Đức ngày 28/9

Đại diện Sứ quán Đức nói với báo chí Việt Nam rằng họ chưa có thông tin ông Trịnh Xuân Thanh đang ở đâu nên chưa đặt ra câu hỏi về việc dẫn độ nhân vật này.

Việt Nam trước đó loan báo khởi tố và truy nã quốc tế với ông Trịnh Xuân Thanh vì sai phạm làm thua lỗ gần 3.300 tỷ tại Tổng công ty Xây lắp dầu khí Việt Nam (PVC) thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.

Có tin đồn ông Thanh có thể đã trốn sang Đức.

Nhưng sáng 28/9, tại một cuộc họp báo ở Hà Nội, Phó Đại sứ – Trưởng phòng lãnh sự – Trưởng Phòng Kinh tế, TS Wolfang Manig, nói Đức không có thông tin.

Phóng viên Việt Nam đã hỏi nếu ông Thanh bị bắt tại Đức, hai nước sẽ làm gì để dẫn độ ông này.

Việt Nam và Đức chưa ký kết hiệp định hợp tác về dẫn độ tội phạm.

Nhưng TS Wolfang Manig trả lời, theo các tờ báo Việt Nam, rằng hiện không rõ ông Thanh đang ở đâu, vì vậy chưa đặt ra câu hỏi về việc dẫn độ.

Buổi họp báo vốn nhằm đánh dấu Quốc khánh Đức.

Ông Trịnh Xuân Thanh nguyên là Phó chủ tịch tỉnh Hậu Giang, cựu Chủ tịch Hội đồng quản trị PVC.

Ngày 15/9, công an Việt Nam khởi tố vụ án hình sự “cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”, để điều tra khoản thua lỗ gần 3.300 tỷ tại Tổng công ty Xây lắp dầu khí Việt Nam (PVC) thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.

Tối 16/9, Bộ Công an phát lệnh khởi tố và truy nã quốc tế với ông Trịnh Xuân Thanh.

Cáo buộc sai phạm

Ông Trịnh Xuân Thanh được truyền thông Việt Nam nêu tên từ tháng Sáu, khi ông còn là Phó chủ tịch Hậu Giang và bị tố cáo được đưa đón bằng xe tư nhân Lexus LX570 giá 5 tỷ đồng, nhưng gắn biển xanh.

Ông cũng bị cáo buộc gây ra tình trạng thua lỗ ở PVC, nơi ông từng là lãnh đạo, nhưng vẫn được thuyên chuyển, bổ nhiệm.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu kiểm tra các sự việc trên.

Đến tháng Bảy, Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng Cộng sản kết luận ông có trách nhiệm cho việc thua lỗ khi ông lãnh đạo PVC giai đoạn 2007-2013.

Ủy ban này cũng nói việc ông Thanh “vẫn đề nghị” để chuyển về Bộ Công Thương và sau đó tỉnh Hậu Giang là thể hiện “thiếu trung thực, thiếu trách nhiệm và thiếu gương mẫu”.

Sau đó, ông Thanh không được giới thiệu tái cử Phó chủ tịch Hậu Giang và bị hủy tư cách đại biểu Quốc hội.

Khoản lỗ ở PVC giai đoạn 2011-2013 bị lật lại, với chỉ đạo của Thủ tướng yêu cầu điều tra.

Image copyrightTRINH XUAN THANH
Image captionÔng Trịnh Xuân Thanh chưa được xác định đang ở đâu

Ngày 7/9, trong động thái gây ngạc nhiên, ông Trịnh Xuân Thanh, người đang bị Đảng Cộng sản điều tra, đã gửi đơn xin ra khỏi Đảng, theo truyền thông Việt Nam.

Trong ngày 7/9 trên mạng internet cũng loan đi tài liệu ba trang, tự nhận là báo cáo của ông Trịnh Xuân Thanh gửi Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

Mặc dù chưa rõ độ tin cậy của tài liệu này, nhưng nó được tung ra vào đúng ngày các báo chính thống tại Việt Nam đưa tin ông Thanh xin ra khỏi Đảng.

Trong văn bản này, người ký tên Trịnh Xuân Thanh nói ông xin ra khỏi Đảng vì “không tin vào sự chỉ đạo của đồng chí Tổng bí thư”.

Người ký tên này cũng chỉ trích rằng Đảng đã “gây áp lực cho cơ quan tố tụng, cơ quan thực thi pháp luật, dùng báo chí nói sai sự thật”.

Ngày 8/9, Ban Bí thư Đảng Cộng sản bỏ phiếu kín với kết quả 100% đồng ý khai trừ ông Thanh ra khỏi Đảng.

Chiều 16/9, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đến Hậu Giang thi hành quyết định khai trừ Đảng. Đến tối, công an Việt Nam tuyên bố khởi tố và truy nã ông Thanh.

Trước đó, ngày 19/8, ông Thanh gửi đơn lần hai xin nghỉ một tháng đến đầu tháng 9 để đi nước ngoài trị bệnh. Kể từ đó, tung tích của ông trở thành câu hỏi.

Đăng bởi: Ngô Minh | 28.09.2016

LỜI MẸ DẶN, TUYÊN NGÔN CỦA NGƯỜI CẦM BÚ

  LỜI MẸ DẶN, TUYÊN NGÔN CỦA NGƯỜI CẦM BÚT

 

        Ngô Minh

 

     PQThi sĩ Phùng Quán

      Bài thơ “ Chống tham ô lãng phí “ trong Giai phẩm mùa Thu số I (9-1956 ) của Phùng Quán được những nguời cực đoan thời đó đánh giá là một bài thơ “nói xấu chế độ”, “chống đảng”, là “phản động”. Sau nhiều lần học tập, viết bản tự kiểm điểm, bị “đấu tố” gay gắt , Phùng Quán có nguy cơ bị khai trừ ra khỏi Hội Nhà văn, bị đưa ra khỏi biên chế Tạp chí Văn nghệ Quân đội, nơi anh đã dấn thân theo Vệ Quốc đoàn từ tuổi thiếu niên, rồi phải đi “lao động cải tạo” nhiều năm. Thực tế gần một năm sau, tức đến năm 1958 những hình thức kỷ luật này mới được thi hành, nhưng lúc đó ai cũng đã biết trước bản án dành cho “bọn nhân văn”. Đối với người miền Nam xa quê hương , thân cô thế cô giữa phố phường Hà Nội như Phùng Quán, nguy cơ bị kỷ luật như thế là rất đáng sợ. Bị coi là “phản động”, ai cũng tìm cách xa lánh, lại bị tách khỏi môi trường lính quen thuộc, xa đồng chí, bạn bè dễ làm người thanh niên trẻ tuổi dễ trở nên hoang mang tuyệt vọng , dễ dẫn đến bệnh tâm thần hoặc tìm đến cái chết. (Đọc tiếp…)

Một số ngụy biện về quan hệ với Trung Quốc

nguyen-dinh-cong
 GS Nguyễn Đình Cống

Vừa qua Câu lạc bộ đọc sách báo của chúng tôi mời được một diễn giả nói chuyện về tình hình thời sự. Ông MĐ là Tổng biên tập một tờ báo lớn, đại biểu HĐND thành phố, ứng cử và được bầu tại phường chúng tôi. Việc ông dành thời gian gần 2 giờ để nói chuyện, đối với CLB là một vinh dự ít có. Ông nói về một số vấn đề thời sự trong nước và thế giới, trong đó điều làm tôi quan tâm nhất là quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc. Theo ông MĐ, tuy rằng có một vài sự kiện ở Biển Đông, nhưng quan hệ Việt Nam và Trung Quốc đang rất tốt đẹp, đặc biệt sau chuyến thăm Trung Quốc của TT Phúc. Ông cho rằng đường lối hòa bình mềm dẻo và tôn trọng luật pháp quốc tế của Đảng ta là sáng suốt, phù hợp với tình hình quốc tế và truyền thống dân tộc. Ông viện dẫn các sự kiện lịch sử các đời vua của Việt Nam vẫn thần phục và triều cống hoàng đế Tàu, mà sự kiện đáng chú ý là Quang Trung, sau khi đánh tan 20 vạn quân Thanh phải sang Bắc Kinh xin thần phục vua Khang Hy (!) nhà Thanh, cho đó là tấm gương cần noi theo.

Đã lâu tôi không được nghe các buổi nói chuyện của các cán bộ tuyên giáo. Trước đây, mỗi lần được nghe như thế tôi chỉ tiếp thu một chiều, làm tôi phấn khởi, được biết thêm nhiều chuyện, được sáng mắt sáng lòng. Nay thì khác, tôi nghe để biết quan điểm của diễn giả và xem “sự ngụy biện” đến đâu.

Kết thúc trong tiếng vỗ tay hoan hô, ông MĐ tỏ ra thỏa mãn, nán lại gặp gỡ và trao đổi thêm với một vài người. Tôi cũng ở lại một chốc, được ông chào và hỏi: “Bác thấy tôi trình bày thế nào”. Tôi trả lời: “Anh nói hay, cung cấp được một số thông tin có giá trị, đa số bà con tham dự xem ra là thỏa mãn, riêng tôi thấy có vài chỗ anh chỉ mới đề cập đến một phần của sự thật bên ngoài, bỏ mất phần khác quan trọng hơn, riêng các lập luận, có hình thức chặt chẽ nhưng để ý ra thì thấy khoảng một phần ba là sai vì phạm vào lỗi ngụy biện, đặc biệt phần nói về quan hệ Việt Trung, về vua Quang Trung”. Đó là một nhận xét có tính phản biện mà diễn giả không mong đợi. Tôi chờ một câu trả lời đại khái như: “Xin cám ơn bác, xin bác chỉ cho biết những chỗ mà bác cho là phần quan trọng hơn, là sai vì ngụy biện”. Nhưng không! Ông ta phản ứng bằng cách chống chế. Tôi biết không thể tiếp tục trao đổi nên xin rút lui để ông đàm đạo với những người khác đang chờ đợi những ý kiến quý báu của ông.

Về quan hệ với Trung Quốc, xin vạch ra một số ngụy biện mà tuyên huấn của Đảng vẫn dùng để lừa nhân dân, mà tiếc thay, một số người vẫn vui vẻ nghe theo (như tôi trước đây).

1. Nước ta bị thế kẹt là ở sát Trung Quốc, bị nó khống chế nhiều bề

Giáp với Trung Quốc không phải chỉ có Việt Nam mà còn 13 nước khác như Mông Cổ, Bhutan, Nepal, Tajikistan, Kazakstan, Nga, Myanmar, Ấn Độ v.v. Trừ Nga và Ấn Độ, các nước khác đều bé, thế mà họ có chịu khuất phục Trung Quốc như Việt Nam đâu. Đặc biệt như Bhutan, có biên giới khá dài với Trung Quốc mà không có quan hệ ngoại giao. Sự chịu khuất phục do nguyên nhân địa lý chỉ là một phần rất rất nhỏ. Nguyên nhân chính là do đường lối lãnh đạo. Nếu đổ cho nguyên nhân địa lý thì giải thích thế nào về các nước như Bhutan, Nepal, Takjilistan… đều bé, Trung Quốc tuy có phá phách ít nhiều nhưng cơ bản không làm họ khuất phục. Ta giáp với Trung Quốc từ khi lập quốc đến giờ mà các đời vua phong kiến trước đây có chịu lép vế một bề như dưới thời CS hay không.

2. Nước ta và Trung Quốc cùng ý thức hệ cộng sản, cùng chung lý tưởng XHCN

Đây là lập luận ngụy biện xảo trá. Việc cùng ý thức hệ có phải là tiền định, là trời bắt phải thế đâu. Đó là do con người lựa chọn. Từng đảng viên cộng sản khi vào Đảng thì có thề trung thành với Đảng nhưng dân tộc này có bao giờ thề lệ thuộc vào Trung Quốc đâu. Ừ, mà cùng ý thức hệ tốt đẹp thì cũng tạm được, nhưng ý thức hệ đó đã lạc hậu, đã thối rữa mất rồi thì đeo bám làm gì. Trước đây chúng ta theo Liên Xô vì ý thức hệ, thế mà Liên Xô sụp đổ rồi, trong lúc Trung Quốc cố dựa vào ý thức hệ để thôn tính Việt Nam thì vin vào nó mà làm gì ngoài sự lừa bịp những người nhẹ dạ cả tin. Mà hỏi xem, ngoài một số rất ít còn dựa vào ý thức hệ để trục lợi thì đại đa số dân Việt Nam có còn tin gì vào nó nữa đâu. Hơn nữa ĐCS Trung Quốc chỉ giữ lại cái tên và tổ chức chứ ý thức hệ CS cũng đã bị vứt bỏ từ lâu, chúng nó chỉ dùng để lừa bịp những người khờ dại trong và ngoài nước. Cũng vì ý thức hệ mà lãnh đạo ĐCS Việt Nam đã ký kết mật ước Thành Đô. Nhiều dư luận yêu cầu công khai minh bạch cho toàn dân biết nội dung, thế mà đến nay lãnh đạo ĐCS vẫn giấu kín.

3. Truyền thống tổ tiên vẫn thần phục Tàu

Đây là lối ngụy biện dùng một phần sự thật để che dấu bản chất. Tổ tiên chúng ta bên ngoài tỏ ra thần phục Tàu chứ chưa bao giờ chịu khuất phục (trừ bọn Ích Tắc, Chiêu Thống…). Như Nguyễn Trãi đã viết: “Như Đại Việt ta, vốn xưng nền văn hiến đã lâu. Núi sông bờ cõi đã riêng, phong tục Bắc Nam cũng khác. Trải mấy triều Đinh, Lê, Lý, Trần dựng nền độc lập. Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên hùng cứ một phương…”. Xét trong lịch sử, trừ thời nhà Hồ bị nhà Minh cướp nước (Gần đây vì họ Hồ chính sách nặng phiền, khiến trong nước lòng người oán giận. Quân Minh cuồng bạo thừa dịp hại dân. Đảng nịnh mưu gian rắp tâm bán nước….Tát cạn nước Đông Hải khôn rửa sạch tanh hôi. Chẻ hết trúc Nam Sơn không đủ ghi tội ác…), thì chưa thấy có triều đại nào chịu khuất phục Trung Quốc về mọi mặt một cách nhục nhã như bây giờ. Ngay như Quang Trung, ông cho người đóng thế mình sang bái phục Càn Long (không phải Khang Hy) chỉ là cái mẹo sau khi đã đánh tan 20 vạn quân của Tôn Sĩ Nghị. Đánh thắng rồi mới cầu hòa chứ không phải cúi đầu xin chỉ thị về mọi việc lúc chưa xẩy ra.

Việc nhất nhất thần phục Tàu Cộng đã được cài sẵn vào gène, vào máu của CS Việt Nam từ khi mới thành lập. Chẳng thế mà Trần Huy Liệu (người thay mặt Hồ Chí Minh vào Huế nhận sự thoái vị của Bảo Đại), vào khoảng năm 1949 có nói một câu nhận xét không tốt về Tàu (coi chừng kẻ thù truyền kiếp của dân tộc) thì bị thất sủng ngay. Năm 1954, Phạm Văn Đồng sau khi ký Hiệp định Genève đã khóc vì bị Chu Ân Lai ép buộc chia cắt đất nước đến vĩ tuyến 17. Năm 1958, được tin Trung Quốc muốn độc chiếm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thì Phạm Văn Đồng ký Công hàm công nhận ngay (ngoài ông Đồng ra hình như không có ai ủng hộ Trung Quốc nữa). Năm 1974 Hà Nội giữ hoàn toàn im lặng để cho Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa do VNCH quản lý. Năm 1988 Lê Đức Anh (Bộ trưởng Quốc phòng) ra lệnh cho các chiến sĩ đảo Gạc Ma không được chống cự lính Trung Cộng, để toàn bộ 64 chiến sĩ bị sát hại, xác bị quăng xuống biển. Năm 1991 Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng, Đỗ Mười sang Thành Đô (Trung Quốc không cho đến Bắc Kinh) cầu xin sự che chở và ký mật ước, cố xin gặp Đặng Tiểu Bình nhưng hắn không cho gặp. Năm 2000 Lê Khả Phiêu ký cho Tàu một số đất ở Thác Bản Giốc và Hữu Nghị Quan. Những chuyện như vậy liệu có bao giờ xẩy ra trong lịch sử của tổ tiên. Thế mà ĐCS cứ đưa tổ tiên ra làm bình phong để che đậy.

4. Luận điệu gìn giữ hòa bình, tôn trọng luật pháp Quốc tế

Cứ mỗi lần Trung Quốc có hành động ngang ngược ở biển Đông thì phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam lại tuyên bố: “Phản đối, đòi tôn trọng chủ quyền, chủ trương giải quyết tranh chấp bằng hòa bình, thương lượng, tôn trọng luật pháp quốc tế, không liên kết với nước khác để chống nước thứ ba…”. Nghe quá hóa nhàm. Có những việc lớn, quan trọng mà sao chỉ có đại diện Bộ Ngoại giao, hoặc quá lắm là một cá nhân cấp cao nào đó phát biểu một cách dè dặt, Chính phủ, Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước lặng im. Và dân quá bức xúc biểu tình phản đối thì bị đàn áp. Ừ thì tôn trọng hòa bình, ta không chủ động gây chiến, nhưng ai cấm những phát biểu mạnh mẽ phản đối của Chính phủ, sao lại cấm dân biểu tình, sao không dám kiện ra Tòa án quốc tế như Philippine. Luận điệu “mềm dẻo, hòa bình, tránh xung đột” chẳng qua để che giấu một tâm trạng hèn yếu, không dám tin vào dân, chỉ muốn thần phục để vinh thân phì gia.

5. Luận điểm: Về kinh tế ta phụ thuộc vào Tàu quá nhiều, nếu ta có những đấu tranh mạnh mẽ để bảo vệ chủ quyền mà bị Tàu nổi giận cắt đứt mọi giao dịch thương mại thì ta lâm vào khủng hoảng lớn

Tôi gọi đây là luận điểm chứ không phải luận điệu vì xét ra có phần đúng. Nhưng có phải vì giao lưu hàng hóa mà để cho Tàu vào chiếm cứ các vị trí xung yếu của đất nước, để người Tàu tràn ngập các vùng quan trọng, để họ phá nát môi trường. Những nước như Mỹ, Đức, Nhật, Úc… họ có làm như thế đối với các nước khác đâu. Việc để kinh tế, thương mại, xây dựng của Việt Nam quá lệ thuuộc vào Tàu, để cho Tàu thực hiện các dự án lớn làm hủy hoại môi trường là tội của những người lãnh đạo tham và ngu. Bây giờ đã lỡ ra rồi thì không phải cứ cố trượt dài trên con đường sai lầm mà phải tìm cách khắc phục. Tuy vậy việc ngừng giao lưu kinh tế với Tàu khi chúng ta có những đấu tranh mạnh mẽ để bào vệ chủ quyền cũng chỉ mới là suy đoán. Việc giao lưu là có lợi cho cả hai bên. Việc giao lưu với Tàu nếu bị giảm sút, trước mắt kinh tế Việt sẽ gặp khó khăn, đời sống của đân bị ảnh hưởng. Nhưng thử hỏi dân xem họ có vui lòng chấp nhận khó khăn trong thời gian ngắn để loại bỏ mọi xấu xa do Tàu mang đến. Tôi nghĩ rằng được giải thích đa số dân sẽ vui lòng. Hơn nữa dân ta có câu: “Trong cái khó ló cái khôn”. Trước đây vì nhầm lẫn mà ta ưu tiên thị trường Trung Quốc, nhưng nếu vì bảo vệ chủ quyền mà nó bị co lại thì các nhà doanh nghiệp Việt có đủ trí khôn để mở ra các nước khác, chứ làm sao chịu bó tay.

6. Nhận định

Tôi cho rằng những ngụy biện trên đây chỉ nhằm để duy trì chế độ độc tài Đảng trị theo đường lối CS, đem nước ta phụ thuộc vào Tàu Cộng. Muốn thoát khỏi sự lệ thuộc này trước hết phải thoát ra khỏi ý thức hệ CS, phải cải cách thể chế theo con đường dân chủ chân chính. Một ngày mà ĐCS Việt Nam còn kiên trì đường lối hiện hành thì dân Việt còn chịu cảnh lầm than và đất nước dần dần bị thôn tính.

Để kết thúc xin kể câu chuyện: Ngày xưa bên Tàu, nước Triệu (Thời U Mục Vương), nhờ có Lý Mục và Tư Mã Thượng là những người tài giỏi, yêu nước mà ngăn chặn được sự xâm lược của nước Tần. Thế nhưng vua Triệu tin dùng tên quan đứng đầu triều đình là Quách Khai, một kẻ tham lam. Gián điệp nước Tần đem biếu Quách khai một số lớn vàng bạc với yêu cầu vu cáo Lý Mục và Tư Mã thượng là bọn phản bội, chống lại nhà vua, để họ bị loại bỏ. Quách Khai nhận vàng bạc, thực hiện âm mưu, xui dục vua giết chết Lý Mục, đuổi được Tư Mã Thưọng. Kết quả quân Tần xâm chiếm nước Triệu một cách dễ dàng. Sau vụ này vua Tần nói: Ta chỉ bỏ ra ít vàng bạc mua được Quách Khai, dùng Khai để chiếm được Triệu, quá rẻ. Quách Khai hý hửng cho rằng đã lập công với Tần nhưng bị Tần đuổi đi, không dùng kẻ phản phúc. Quách Khai về quê, chở theo mấy xe vàng bạc. Giữa đường bị những người nghĩa khí giết hết cả nhà, lấy hết của cải.

Bình luận – Việc này đáng cho nhiều người Việt suy ngẫm. Nhưng những kẻ rắp tâm bán nước nghĩ rằng họ khôn hơn Quách Khai vì đã tuồn nhiều của cải và cho con cháu ra nước ngoài. Không đâu, chúng mày khôn, sẽ có người khôn hơn và trên hết, chúng mày đã gây ra nghiệp chướng, thế nào cũng chịu nghiệp báo. Hãy luôn nhớ rằng của cải do sức lao động và tài năng làm ra mới bền chặt, còn của phi nghĩa do gian lận, tham nhũng, tước đoạt thì chỉ làm giàu tạm thời, không đời chúng mày thì đời con, đời cháu cũng tiêu thành mây khói và chưa biết còn những thảm họa nào nữa.

N.Đ.C.

( Nguồn: Google)

Đăng bởi: Ngô Minh | 28.09.2016

NHỚ TÁC GIẢ QUỐC CA VIỆT NAM

NHỚ TÁC GIẢ QUỐC CA VIỆT NAM

 

Nhà thơ, nhạc sĩ NGUYỄN THỤY KHA

Trong giây phút xạ thủ Hoàng Xuân Vinh đứng trên bục cao nhất của đấu trường quốc tế, nhận huy chương vàng Olimpic 2016, cờ Tổ quốc Viêt Nam được kéo lên và Quốc ca Việt Nam vang lên lần đầu tiên trên đấu trường vĩ đại này, tôi vừa nhìn màn hình, vừa rưng rưng nhớ Văn Cao –  tác giả của giai điệu hùng khí này.

Văn Cao đến với âm nhạc từ năm 16 tuổi vơi “Buồn tàn thu” mang âm hưởng ca trù. Cũng năm đó, vừa là nhân viên bưu điện Hải Phòng ông vừa viết những phóng sự về đời thợ thuyền lam lũ của thành phố cảng. Những phóng sự của ông qua bàn tay biên tập của Vũ Bằng đã được in trên “Tiểu thuyết thứ bảy”. Chỉ một năm sau ông lại đến với thơ. Hai bài thơ đầu tiên là Ai về kinh Bắc” và “Đêm ngàn” cũng đã được giới thiệu trên báo chí thời đó và được tạp chí Văn ở Sài Gòn trước 30-4-1975 in lại trong một số đăc biệt về Văn Cao.

Cuộc tỏa mình vào luồng sáng nghệ thuật vẫn chưa đủ với Văn Cao. Sau khi người cha thân yêu qua đời, dẫn tới chuyến hành phương Nam với nhiều dằn vặt, ông trở về Hải Phòng với bài thơ “Một đêm lạnh trên sông Huế” và vụt sáng lên một trường ca “Thiên Thai” khi đi hát ca trù trên song Phi Liệt miền Thủy Nguyên lặng phắc những triền đá vôi. Chính lúc ấy ông lại tìm đến hội họa bằng việc lên học lớp dạy vẽ dự thính ở trường Cao đẳng Đông Dương. Chỉ vài năm sau, ông đã rực sáng trong làng văn nghệ Việt Nam với “Suối Mơ”, “Bến xuân” mà Phạm Duy mang đi gieo rắc suốt cuộc du ca xuyên Việt, với bức tranh “Cuộc khiêu vũ của những người tự tử” treo trong cuộc triển lãm mang tên “Duy nhất”, cùng với những bài thơ tìm tòi những ám ảnh siêu thực ấn hành đâu đó…

Nhưng rực sáng cũng chỉ để rực sáng. Cái đói vẫn ám ảnh hàng ngày trong đời thường. Cái đói chung của cả dân tộc nô lệ “một cổ hai tròng” thực dân Pháp và phát xít Nhật. Chính trong lúc “cùng tắc biến” ấy, được sự giác ngộ của đồng chí Vũ Quý, Văn Cao đã đến với Cách mạng. Mùa đông năm 1944 giá buốt. Nạn đói đã bắt đầu liếm lan vào những làng quê nghèo nàn và rách rưới. Những đoàn người lem luốc lang thang, tha thủi lên Hà Nội, trong đó có cả gia đình họ hàng nhà Văn Cao. Khi đó, Văn Cao nhận được chỉ thị phải viết một hành khúc cho quân đội non trẻ của Mặt trận Việt Minh. Thực tế trên đã đập mạnh vào ý nghĩ và cảm xúc của Văn Cao. Và thế là “Tiến quân ca” đã ra đời trên căn gác nhỏ số 171 phố Mông-gơ-răng (nay là 45 Nguyễn Thượng Hiền-Hà Nội). Ngay sau đó, bản hành khúc đã được đưa lên chiến khu Việt Bắc.

Suốt từ đầu năm 1945 đến ngày Tổng khởi nghĩa tháng Tám, Văn Cao hoạt động trong đội danh dự trừ gian. Sau vụ ám sát tên Việt gian thân Nhật là Đỗ Đức Phin nổi danh cả Hải Phòng, Văn Cao lại tiếp tục công việc của một “hiệp sĩ” trên các nẻo đường Hà Nội. Ông không hề biết trong Quốc dân Đại hội ở Tân Trào, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chọn “Tiến quân ca” làm bài ca chính thức của mặt trận Việt Minh. Chiều 17-8-1945 tại Nhà hát lớn hà Nội, khi lá cờ đỏ sao vàng rộng lớn được thả xuống từ trên nóc nhà, thì cũng là lúc giai điệu “Tiến quân ca” vang lên bởi tiếng đàn Ac-mo-ni-ca do nhạc sĩ Nguyễn Hữu Hiếu trình tấu. Giai điệu đã như một quả bom bùng nổ được ném vào dinh lũy thực dân:

Đoàn quân Việt Nam đi, chung lòng cứu quốc
Bước chân rộn vang trên đường gập ghềnh xa
Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước
Súng ngoài xa chen khúc quân hành ca…

Từ đấy, “Tiến quân ca” bắt đầu ngấm vào dân tộc để rồi biết đớn đau như da thịt, biết chảy xót xa như máu. Sau Cách mạng Tháng tám, chiều Tuyên Ngôn Độc Lập 2-9-1945, “Tiến quân ca” đã được dàn quân nhạc tấu lên hùng tráng dưới sự chỉ huy của nhạc sĩ Đinh Ngọc Liên. Đầu năm 1946, trong khi Văn Cao cùng Hà Đăng Ấn đi tàu lửa áp tải tiền và vũ khí vào tiền phương của mặt trận Nam bộ ở Quảng Ngãi, cũng là khi Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa nhất trí chọn “Tiến quân ca” làm Quốc ca của nước Việt Nam mới.

Trên đường kháng chiến, trước khi dành toàn tâm toàn ý cho văn nghệ, Văn Cao còn nhận chỉ thị lập ra quán “Biên thùy” ở Lào Cai làm tai mắt an ninh, đề phòng quân Tưởng thua trận tràn sang từ Trung Quốc. Làm văn nghệ, Văn Cao vẫn tỏa mình trong cả âm nhạc, thi ca và hội họa. Nếu ở âm nhạc lênh láng một trường ca “Sông Lô”, thì ở thi ca là bài thơ dài “Ngoại ô Hà Nội mùa đông 1946” như một sự nối tiếp của “Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc”. Còn ở hội họa là bức tranh lập thể về một cậu bé thổi sáo. Ông còn viêt cả tiểu thuyết và kịch. Rất tiếc những bản thảo này đã không được giữ lại. Đóng góp đáng kể của ông và những người đồng chí hướng là cuộc tranh luận “Thơ không vần” ở chiến khu Việt Bắc chính giữa lúc cuộc kháng chiến cam go nhất. Sau hành khúc dự báo cách mạng là “Tiến quân ca” lại đến hành khúc “Tiến về Hà Nội” của dự báo ngày toàn thắng, trở về tiếp quản Thủ đô: Trùng trùng quân đi như sóng. Lớp lớp đoàn quân tiến về… Năm của ô đón mừng đoàn quân tiến về. Như đài hoa đón mừng nở năm cánh đào…

Từ khi hòa bình lập lại trên miền Bắc, Văn Cao cũng nhanh chóng vạch mặt những kẻ cơ hội trong hàng ngũ cách mạng trong trường ca “Những người trên cửa biển”. Sự thẳng thắn đó khiến tác giả Quốc ca Việt Nam bị rơi vào một tình thế bất lợi. Ông tìm đến âm nhạc không lời với các tác phẩm độc tấu dương cầm là “Sông tuyến”, “ Biển Đêm” và “Hàng dừa xa”. Bên cạnh đó là những bài thơ được viết chữ nhỏ li ti trong cuốn sổ tay bé tẹo. Ông viết nhạc cho kịch cho phim và vẽ minh họa, làm bìa sách… Ngọn lửa sáng tạo trong Văn Cao chưa bao giờ bị dập tắt. Nó vẫn âm ỉ ngày này qua tháng khác qua những câu thơ, nét vẽ. Và lại bập bùng lên trong bản giao hưởng viết cho phim tài liệu “Anh bộ đội cụ Hồ” của Xưởng phim  Quân đội. Cũng thật tiếc do hạn chế của lưu trữ, chúng ta đã không còn nghe được bản giao hưởng này. Tất cả sự âm ỉ ấy đã dẫn ông tới sự rực cháy vào mùa xuân thống nhất năm 1976 qua ca khúc đậm chất nhân bản, tầm nhân loại “Mùa Xuân đầu tiên”: Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về/ Mùa bình thường mùa vui nay đã về/ Mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên/ Với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông/ Một trưa nắng vui cho bao tâm hồn….

Ca từ của nhạc phẩm là một bài thơ hay đến se thắt. Có lẽ không hề quá lời khi ta khẳng định rằng, đây là bài hát luôn thức dậy trong hồn ta mỗi độ Tết đến xuân về, kèm theo đó là những bâng khuâng, day dứt về một thái độ sống sao cho xứng với những gì mà cả dân tộc đã phải mất bao nước mắt, máu xương mới giành lại được… Nhưng ca khúc này, sau khi ông qua đời nó mới thực sự được cả dân tộc biết đến, như từng biết “Tiến quân ca”, để rồi đi qua thời gian, càng ngày “Quốc ca Việt Nam” càng khẳng định vị thế của mình trong đời sống chính trị và trong tình cảm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân.

Ngọn gió Đổi Mới đã mang đến một tinh thần mới trong đời sống văn học, nghệ thuật. Từ mùa xuân 1988 – năm Văn Cao 65 tuổi – những đêm nhạc Văn Cao tỏa sáng không gian âm nhạc Hà Nội, Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh. Tập thơ “Lá” gồm đa số những bài được ông viết trong thời kỳ “im lặng trắng” đã được Nhà xuất bản Tác Phẩm Mớiấn hành. Vừa in nhạc, in thơ và minh họa của Văn Cao là tập “Thiên Thai” của Nhà xuất bản Trẻ. Chính trong ấn phẩm quý báu này, người đọc mới biết lý do vì sao Văn Cao viết “Tiến quân ca” qua đoạn hồi ký ngắn của ông.

Văn Cao đã xa cõi đời 21 năm. Nhưng năm nay lại là năm mà cái cụm từ “Quốc ca Việt Nam” bước vào tuổi “Nhân sinh thất thập” với sinh nhật của nó là ngày mà kỳ họp quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khai mạc: 6-1-1946. Nhân sự kiện này, gia đình ông gồm bà quả phụ Văn Cao và các con đã thống nhất hiến tặng cho Nhà nước bản quyền “Quốc Ca Việt Nam”. Ý nguyện trọng đại này cũng được tổ chức hết sức trọng đại. Đấy là một cử chỉ đẹp, một cử chỉ “rất Văn Cao” mà sinh thời ông luôn xử sự như thế. Quốc ca Việt Nam là bất tử như Quốc kỳ và Quốc huy. Đó là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam!

( Nguồn: vanvn.net)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 28.09.2016

Chứng nhân của quảng trường

Chứng nhân của quảng trường

  • luu-a-chau
  •   LƯU Á CHÂU (NHÀ VĂN TRUNG QUỐC)
 Mao Trạch Đông phát động cuộc Đại Cách mạng Văn hóa, thả lũ ma quỷ ra khỏi chiếc bình của ông nhưng sau đấy không thể nào thu hồi lại chúng. Dân tộc [Trung Hoa] cổ xưa này nhiễm phải cơn sốt điên cuồng chẳng khác ông già rơi vào lưới tình. Hỡi các bạn trẻ, hãy nghĩ tới tình cảnh bạn bị một bà lão điên cuồng theo đuổi mình. Hãy nhớ lấy đôi mắt chảy bỏng và cặp vú khô đét ấy. Đó là cuộc Đại Cách mạng Văn hóa.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 28.09.2016

Tòa Kỳ Anh nhận đơn kiện Formosa

Tòa Kỳ Anh nhận đơn kiện Formosa

BBC

tTIN MUNG CHO NGUOI NGHEO
Linh mục Anton Đặng Hữu Nam (giữa) là người đại diện theo ủy quyền của ngư dân trong vụ kiện Formosa

Linh mục dẫn dắt việc khởi kiện Formosa trả lời BBC sau khi Tòa án Nhân dân Thị xã Kỳ Anh tiếp nhận hàng trăm bộ hồ sơ của ngư dân.

Hôm 27/9, Tòa án Nhân dân Thị xã Kỳ Anh nhận 506 bộ hồ sơ của các hộ ngư dân và có biên bản xác nhận đơn khởi kiện.

Cùng ngày, trả lời BBC từ Hà Tĩnh, Linh mục Anton Đặng Hữu Nam, Giáo xứ Phú Yên, người đại diện theo ủy quyền của ngư dân, nói: “Việc ngư dân khởi kiện Formosa không phải vì lợi ích cá nhân của họ mà vì dân tộc và giống nòi.”

“Chỉ cần một người bị bệnh tật do thảm họa cá chết cũng là vấn đề của nhân loại.”

“Lẽ ra nếu Việt Nam có dân chủ thật sự thì vụ kiện này phải do chính phủ khởi kiện chứ không phải người dân.”

“Tòa án xác nhận với tôi rằng sau 30 ngày kể từ hôm nay, họ sẽ trả lời là thụ lý đơn kiện hay chuyển lên tòa cấp cao hơn.”

“Án phí cho vụ kiện dự trù lên đến 4 tỷ đồng.”

<span >’Thế lưỡng nan’

Hôm 27/9, một nhà hoạt động quan tâm vụ việc, Nguyễn Anh Tuấn, nhận định với BBC: “Chính quyền đang ở thế lưỡng nan trước vụ kiện này.”

“Đấu tranh pháp lý không phải là lựa chọn đầu tiên của người dân miền Trung trong vụ việc, song lại là lựa chọn khả dĩ duy nhất sau khi chính phủ thất bại trong việc đưa ra giải pháp hiệu quả nhằm đạt được công lý.”

Image copyrightPAUL TRAN MINH NHAT
Image captionNgười dân tập trung ở Giáo xứ Phú Yên – Nghệ An trước khi lên đường đến Tòa án Nhân dân Thị xã Kỳ Anh

“Nếu để tòa án hoạt động độc lập chắc chắn họ sẽ thụ lý đơn của người dân và khả năng rất cao là tuyên Formosa thua kiện, trước những chứng cứ rõ ràng về sai phạm của tập đoàn này.”

“Một phán quyết như vậy, sẽ kéo theo một cơn lũ đơn kiện đến từ hàng triệu người dân miền Trung khác đã, đang và sẽ chịu thiệt hại trực tiếp cũng như gián tiếp, gồm các ngành dịch vụ như lữ hành, lưu trú, nhà hàng“.

“Ngược lại, nếu thao túng tòa án để không thụ lý đơn, chính quyền sẽ xuất hiện trước công chúng như một tổ chức bất chấp công lý và sự khốn khổ của người dân để bảo vệ đến cùng Formosa.”

Vụ kiện cũng được tường thuật trên truyền thông nhà nước tại Việt Nam.

Báo Pháp Luật TP. HCM hôm 27/9 dẫn lời ông Nguyễn Quốc Hà, Chủ tịch UBND thị xã Kỳ Anh, cho biết: “Hiện tình hình an ninh trật tự đang ổn định bình thường, TAND thị xã đang tiếp nhận đơn của người dân.”

“Hiện Tòa án đang tiếp nhận đơn, còn nội dung đơn khởi kiện chưa tổng hợp kịp, tối nay mới tổng hợp đơn. Hiện đã nhận đơn trên 200 đơn. Trong đó chủ yếu người dân Nghệ An đi xe đăng ký ở Nghệ An vào nộp đơn,” ông Hà nói.

Ông nói thêm: “Công dân có quyền nộp đơn thì Tòa án tiếp nhận đúng theo quy định , sau đó mới xem xét thụ lý.”

Trước đó, chính phủ Việt Nam nói Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh đã chuyển đủ 500 triệu đôla bồi thường cho phía Việt Nam.

Formosa, công ty Đài Loan, đã chính thức xin lỗi và nhận trách nhiệm cho hiện tượng cá chết hàng loạt ở 4 tỉnh miền Trung.

Chủ tịch Công ty Formosa cam kết thực hiện bồi thường 500 triệu đôla cho thiệt hại về kinh tế cho người dân, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp, bồi thường xử lý ô nhiễm, phục hồi môi trường biển tại 4 tỉnh miền Trung.

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 27.09.2016

AI MUA THƠ TA BÁN THƠ CHO.. .

ĐỌC BỘ SÁCH ” NGÔ MINH TÁC PHẨM”, TẬP 4:  

 AI MUA THƠ TA BÁN THƠ CHO.. .

 

      Ngô Minh         

 

IMG_8193

“Bán thơ “, ở góc độ lãng tử là một từ đẹp, thậm chí rất đẹp. Tản Đà thi sĩ từng  “gánh thơ lên bán Chợ Trời” ! Hàn Mặc Tử thì rao : ” Ai mua trăng ta bán trăng cho”. Bán thơ cũng như bán trăng , là bán cái trinh tuyết của tâm hồn . Bán là cách nói cho có vẻ đời thực, chứ thơ, cũng như trăng là thứ  chỉ để ngắm, để tặng, để dâng hiến .. Ngay cả chuyện ra tiệm sách mua một tập thơ của ai đó rồi về tặng người yêu, mượn thơ người khác trao gửi tình cảm của mình cũng là chụyện bất đắc dĩ lắm . Một lần cách đây đã nhiều năm, tôi bươn bả ra hiệu sách ở đường Trần Hưng Đạo, Huế mua cuốn thơ của đại thi hào Targor kẻo sợ hết. Cô bán sách xinh đẹp nhìn tôi tủm tỉm cười rồi đột nhiên hỏi :” Anh mua thơ mần chi ?”. Trời ơi, người đã đẹp lại hỏi “chết người” như rứa, mần răng mà trả lời ! Tôi đoán chắc là sách hết liền xuống giọng cấu khẩn và biến baó :”Ờ, ơ.., tôi mua thơ để tặng cô bạn gái, chị làm ơn..”. Tôi chưa hết câu người đẹp đã cười khanh khách và phán một câu xanh rờn :” Anh phải tự làm lấy thơ mà tặng người yêu, ai lại đi mua thơ người khác để tặng, kỳ chết ” ! Dường như câu nói đó đã xui tôi làm thơ.. ! Vâng đó là một kỷ niệm thật đẹp về chuyện mua bán thơ. Còn chuyện “bán thơ” mà tôi đang “rao” đây lại hoàn toàn tục lụy trong chốn thị trường mồ hôi, nước mắt.. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 27.09.2016

NGHỆ THUẬT CHƠI CHỮ TRONG LỤC BÁT

NGHỆ THUẬT CHƠI CHỮ TRONG LỤC BÁT

Đoàn Minh Tâm – Chơi chữ là thú vui “tao nhã” của giới cầm bút từ trước đến nay.

                                                                     Nhà thơ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu

Chơi chữ như cách phân chia của người xưa gồm nhiều phương thức nhưng dù theo phương thức nào thì ẩn đằng sau đó luôn là một nụ cười khi kín đáo, ý nhị lúc bộc trực sảng khoái, khi tếu táo, giễu cợt, khi thâm thúy sâu cay.

Là thể loại mang tính chất “quốc hồn quốc túy” của văn học Việt, lục bát, như một lẽ tất yếu, có nhiều bài chơi chữ rất thú vị. Nhiều bài đã thể hiện sự tài hoa, sâu sắc và hóm hỉnh trong cách chơi chữ của tác giả. Dưới đây, xin được điểm qua một số bài lục bát chơi chữ của một số nhà lục bát tiêu biểu.

Nhà thơ Tản Đà, cái gạch nối giữa hai nền thi ca như lời Hoài Thanh chiêu tuyết, người nổi tiếng với những bài phong dao đẫm chất trữ tình, trong một lần hiếm hoi đã viết bài lục bát Ếch mà:

Phượng kêu trái núi bên tê

Rồng bay bốn bể nhạn về nơi nao

Cánh bằng đập ngọn phù dao

Đầm xa tiếng hạc lên cao vọng trời

Ao thu lạnh lẽo sự đời

Cành sương ngọn gió bời bời lá tre

Lắng tai ếch những ngồi nghe

Tiếc xuân, cuốc đã gọi hè, ai thương?

Chàng ve khóc đòi ăn sương

oanh học nói như nhường công tai!

Nỏ mồm chú khướu hót ai

Vì ai bác đêm dài cầm canh?

Canh khuya cậu vạc mò ăn

To mồm xơi cắp là anh quạ đùng!

Diều hâu rít lưỡi giữa đồng

Tắc kè nghiến lợi, thạch sùng chép môi

Gáy đâu! mái nhà ai?

Mèo gào chó hú, trên trời lợn kêu

Ếch nghe cũng đã đủ điều

Ếch trông cũng đã đủ nhiều trò vui

Điểm thú vị của bài thơ là đã liệt kê ra hàng loạt con vật từ cao quý đến bình thường rất quen thuộc trong đời sống sinh hoạt và văn hóa người Việt như rồng, phượng, chim bằng, nhạn, gà, chó mèo… Qua ngòi bút điêu luyện của Tản Đà, các con vật hiện lên với dáng vẻ sinh động, đúng với tập tục sinh hoạt của chúng. Quan trọng hơn, thông qua việc khắc họa những con vật ấy, mượn cái tứ “ếch ngồi đáy giếng” của người xưa, Tản Đà, một mặt tự trào mình, một mặt vẽ nên xã hội nhí nhố những năm đầu thế kỉ XX khi mà những giá trị cũ đã phai nhạt và những giá trị mới chưa hình thành.

Nguyễn Bính, người viết lục bát một cách tự nhiên như nhà văn viết văn xuôi, cũng có nhiều bài thơ chơi chữ một cách độc đáo, trong đó nổi tiếng nhất có lẽ là bài Không hẹn ngày về:

Anh đi không hẹn ngày về
Chỉ đào ai buộc, tóc thề ai chôn
Muốn gì, em muốn gì hơn
Hôn hoàng nay lại hoàng hôn mai ngày
Môi khô vóc liễu thêm gầy
Anh xa, ai kẻ đôi mày cho ai
Thơ không làm trọn một bài
Đàn không gẩy trọn một vài khúc ngâm
Ông tơ lầm lẫn nên nhầm
Ai cho sum họp, ai làm chia phôi
Chẳng thà đứng hết duyên đôi
yêu nhau lắm để rồi xa nhau
Tính năm tính tháng thêm rầu
Ấy hai con én ngang lầu bay bay

Bài này Nguyễn Bính viết tặng nữ thi sĩ Anh Thơ sau những lần gặp gỡ, trao đổi chuyện văn chương. Cách chơi chữ độc đáo của bài thơ nằm ở các chữ đầu các câu. Khi ghép các chữ đầu mỗi câu thơ lại với nhau sẽ ra một câu đùa tếu táo, thú vị mà Nguyễn Bính muốn gửi cho người bạn thơ tài năng của mình: Anh chỉ muốn hôn môi Anh Thơ đàn ông ai chẳng có tính ấy. Một lời tự thú rất…Nguyễn Bính và cũng rất đàn ông. Trong một bài lục bát khác viết tặng họa sĩ Việt Quyên, người bạn thân “chí tình chí cốt”, Nguyễn Bình cũng thể hiện khả năng chơi chữ độc đáo của mình.

Có cụ vê-qu-vê-ria

Suốt ngày nghĩ chuyện “pờ-le-dia” suốt ngày

“Đờ manh” cụ cứ thế này

Dờ hồn kẻo lại có ngày “mò ria”

Điểm độc đáo của bài thơ này là nằm ở hai điểm. Thứ nhất, mỗi câu đều chen một từ tiếng Pháp: vê-qu (vivre), pờ-le-dia (Plaisir), Đờ manh (demain), mò ria (mourir). Thứ hai, chữ tiếng Pháp đầu tiên vê-qu là tên viết tắt của họa sĩ Việt Quyên, vừa tả bộ dạng ngồi của họa sĩ lúc ấy.

Nhà thơ Tố Hữu, cánh chim đầu đàn của nền thơ ca cách mạng Việt Nam, cũng có những bài lục bát chơi chữ hóm hỉnh. Trong thiên trường ca Nước non ngàn dặm, khi miêu tả phút giây bịn rịn chia tay kẻ ở người về giữa người con trai miền Bắc với đồng bào miền Nam, nhà thơ hạ bút viết hai câu thơ:

Chia tay lưu luyến mắt nhìn

Sầu riêng bịn rịn nhớ miền Nam xa

Từ sầu riêng dùng trong trường hợp này rất đắc địa, vừa mang nghĩa danh từ dùng để chỉ một trong những loại quả nổi tiếng của miền Nam, vừa mang nghĩa tính từ diễn đạt tâm trạng của tác giả. Sử dụng hình ảnh một loại quả mang tính biểu trưng của miền Nam để nói về tâm trạng của người Bắc khi đến miền Nam, Tố Hữu đã cho thấy cái tài trong việc dùng chữ và cái tình của mình đối với mảnh đất thân yêu của đất nước.

Về già, dời xa quan trường, nhà thơ có dịp đi thăm thú nhiều vùng miền trên khắp cả nước. Trong một lần đến thăm huyện Như Xuân của tỉnh Thanh Hóa theo lời mời của một người bạn, Tố Hữu có làm bài thơ Như Xuân trong đó ông sử dụng cách chơi chữ lặp từ:

Như Xuân tươi mãi vẫn là Như Xuân

Bằng thủ pháp này, nhà thơ bày tỏ mong muốn huyện Như Xuân phát triển, có một tương lai tốt đẹp như chính tên gọi của mình. Thủ pháp này cũng được Tố Hữu sử dụng trong bài Chợ Đồng Xuân nhưng với dụng ý ngược lại:

Đồng Xuân ơi, đến chưa thời Đồng Xuân

Nhà thơ tỏ ý không hài lòng khi thấy khu chợ nổi tiếng nhất của thủ đô vẫn phát triển chưa tương xứng với sự kì vọng của mọi người.

Nói đến lục bát, không thể không nhắc đến Nguyễn Duy, người đã làm mới lục bát bằng một phong cách thơ rất riêng. Trong nhiều bài lục bát, Nguyễn Duy có sử dụng biện pháp chơi chữ mà Về làng là một ví dụ khá tiêu biểu.

….

Không răng… cha vẫn cười khì

Đời là rứa kể làm chi cho rầu

Cha con xa cách đã lâu

Mấy năm mới uống với nhau một lần

…..

Cha ta thì cứ không răng cười cười

Nguyễn Duy chơi chữ không răng rất đắt trong trường hợp này. Không răng là từ tiếng địa phương của Thanh Hóa (Nguyễn Duy là người xứ Thanh) nghĩa là không sao. Ở bài thơ, Nguyễn Duy dùng từ này vừa để miêu tả tình trạng không mấy khả quan của…bộ nhai, vừa phản ánh tâm trạng của cha mình. Đối lập với nỗi niềm thương xót (Ruột ta thắt mặt ta nhăn) và cảm thấy mình có lỗi của Nguyễn Duy (Ta đi mơ mộng trên trời/ Để cha cuốc đất một đời chưa xong), cha của tác giả, một người nông dân cả đời “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” mà vẫn đói khổ lại luôn giữ cho mình thái độ sống “không răng” nhẹ như lông hồng. Trong cách chơi chữ này, có cái gì đó vừa đắng đót, vừa mang tính tự trào, tự giễu mình của Nguyễn Duy.

Và nhắc đến lục bát, nhiều người trong số chúng ta sẽ nghĩ đến Bùi Giáng, thi sĩ của trường thơ loạn với những câu thơ không thuộc thế giới người thường. Trong thế giới thơ Bùi Giáng, có những câu lục bát thể hiện khả năng chơi chữ thú vị. Trong bài Mưa nguồn, Bùi Giáng làm bạn đọc liên tưởng đến những vần thơ Nôm của thi sĩ Hồ Xuân Hương bằng lối nói lái đặc trưng của dân tộc:

Lọt cồn trận gió đi hoang

Tồn liên ở lại xin làn dồn ra.

Trên đây là một số bài lục bát chơi chữ của một số “tên tuổi lớn” trong làng lục bát Việt. Chơi chữ, thiết nghĩ vừa để vui cũng vừa là một cách để người viết thể hiện cái tài của mình trong việc “dụng chữ”. Không có thực tài thì không thể làm được.

(Nguồn: Tạp chí NV&TP)

 

Còn nhiều cú đấm không thể quay clip được thưa 500 anh em

Lê Đức Dục

ca

Thật ra chuyện phóng viên Tuổi Trẻ bị lực lượng chấp pháp oánh hộc máu mồm khiến giang hồ dậy sóng là bởi có clip quay, có nghe rõ tiếng chửi thề, có cảnh camera của phóng viên báo Pháp Luật Việt Nam bị đập rớt…

Đó là những cú đấm được mọi người nhìn thấy,
Phóng viên Quang Thế có đau không? Chắc là rất đau!

Nhưng còn những cú đánh khác mà tôi nghĩ làng báo cũng đau không kém!
Và giang hồ cũng không dậy sóng, bởi những cú đánh đó không thể quay clip được.

Là những vụ mới đây như vụ Vũ tôn lò thép được “tát yêu”… im lặng.
Là gần hơn như vụ Formosa xảy ra cũng được “tát khẽ”… im lặng
Số phận những ngư dân trong thời điểm ấy cũng được lịnh… im lặng!
Một con rùa chết cũng được “tát nhẹ” im lặng (rồi lệnh hết… im).
Án mạng kinh hoàng cũng được tát dịu dàng… im lặng.

Chưa nói xa hơn, những dịp kỷ niệm chiến tranh biên giới chống Tàu hay những người dân bày tỏ thái độ với việc Tàu đang cướp biển mình…

Là những trang báo đã lên khuôn nhưng được lịnh phải gỡ …
Bao nhiêu lần truyền thông im tiếng ngậm miệng bởi những tin nhắn, cú điện thoại, email…

Không phải là cánh tay tung ra đòn đấm sấm sét như viên cảnh sát chấp pháp đấm vào mặt phóng viên Quang Thế!
Đó là cú ra đòn có tên là “NHẠY CẢM”!
Cú đấm vào miệng Quang Thế và những cú đấm khiến làng báo im mồm – miếng đòn mang tên NHẠY CẢM ấy, chưa biết cú đấm nào đau hơn! Chỉ có điều nó không trào máu ra miệng mà nó chảy máu trong lòng!

Nguồn: FB Lê Đức Dục

Đăng bởi: Ngô Minh | 27.09.2016

Nghĩa bạn

Nghĩa bạn

 Năm một nghìn chín trăm chín mươi tư Phùng Quán vào Sài Gòn chơi. Trong một cuộc “tăm tăm tình bạn” (chữ của Phùng Quán), tức uống rượu. Hôm đó có đông đủ anh em bè bạn thời niên thiếu với nhau, Quán bảo tôi, sao mày không viết một bài về Lê Minh Ngọc? Ngọc chơi với chúng ta từ thời con nít, thời thiếu sinh quân liên khu bốn, bây giờ giàu nứt đố đổ vách. Tôi nâng ly rượu đụng vào ly Phùng Quán, thong thả bảo, “tăm tăm” đi rồi tao nói cho mà nghe, tính đến hôm nay theo chỗ tao biết, mà biết không nhầm, đã có hơn 50 bài báo, báo Ta báo Tây viết về Lê Minh Ngọc, liệu có cần thêm một bài của tao kể về “thành tích” của ông chủ đất, chủ góp vốn vào hơn mười công ty kinh doanh đa nghề, chủ xưởng làm men bánh mì, làm thạch dừa… nữa không? Phùng Quán hỏi, hơn năm mươi bài báo viết về Ngọc, người ta nói những gì? Tôi cáu, hỏi gì lắm thế, suốt ngày lo đi đọc thơ, nhậu nhẹt, làm nhà truyền giáo đỏ (chữ của Phùng Quán), chẳng bao giờ đọc báo nào cả. Quán cãi, tao vẫn thường xuyên đọc báo Nhân dân, báo Hà Nội mới, chưa thấy hai tờ báo này đả động gì đến ông bạn Ngọc của chúng mình cả, thế những báo khác họ đã viết gì về Lê Minh Ngọc, mày còn giữ hơn năm mươi tờ báo Tây Ta viết về Ngọc thì đem cho tao đọc, tao sẽ bỏ ra vài ngày không rượu chè thơ phú gì nữa để nghiền ngẫm. Tôi nhẹ nhàng, các báo viết về Ngọc đã kể bố mẹ Ngọc tham gia cách mạng từ năm ba mươi, ông bố Ngọc là đảng viên kì cựu, bạn thân của Võ Nguyên Giáp, Ngọc tham gia cách mạng từ lúc 15 tuổi, làm liên lạc cho bộ đội, rồi học trường thiếu sinh quân liên khu bốn, sang Trung Quốc học ở trường Quế Lâm, về nước làm việc một thời gian lại được cử sang Trung Quốc học khoa học xã hội, tiếng Nga…rồi lại được cử sang Nga học Văn học Nga và xã hội học. Lúc về nước, Ngọc mới ngoài 20 tuổi, công tác ở viện Triết học, được kết nạp đảng, trở thành một người cộng sản vừa hồng vừa chuyên.

Sau ngày thống nhất đất nước Ngọc chuyển vào Sài Gòn làm việc tại Viện Khoa học xã hội, bộ phận phía Nam, một thời gian sau, nhờ sự cởi mở về chính sách kinh tế nhà nước, Ngọc lên Bảo Lộc, xuống Vũng Tàu, về Đồng Nai…mua đất hoang hóa, mua lại đất nông trường làm ăn không hiệu quả, lập trang trại trồng chè, trồng cà phê, trồng hồ tiêu, trồng chuối, trồng các cây ăn quả…Ngọc biết kết hợp với các kỹ sư nông nghiệp giỏi, biến đất hoang hóa thành đất màu mỡ, tạo công ăn việc làm cho hơn 1400 công nhân phần lớn là dân Huế con cháu dòng họ Lê và những người cùng làng. Từ đó Ngọc trở thành triệu phú, mỗi năm thu nhập không dưới 500 nghìn đô la. Phùng Quán thấy chưa, các báo viết hết cả rồi, theo mày tao nên viết cái gì nữa? Quán nhìn tôi cười cười, còn khối thứ để viết, mày là thằng nhà báo chuyên nghiệp, mày nhìn Ngọc ở góc độ khác để viết. Bây giờ mày viết về Lê Minh Ngọc là viết cái nhân văn trong tâm hồn một nhà doanh nghiệp, một nhà giáo, ví dụ như cái chuyện Ngọc sẵn sàng xuất tiền ra đưa cho tao và mày để in tập thơ cho Tuân Nguyễn, một thằng bạn từ thuở thiếu thời gặp quá nhiều bất hạnh. Còn gì nữa – tôi hỏi vặn – như việc đối với xứ sở quê hương, Ngọc không chỉ xuất tiền ra giúp đỡ xây trường học, xây bệnh viện mà còn tạo công ăn việc làm cho bà con làng xóm. Mày ở Sài Gòn mày biết Lê Minh Ngọc nhiều hơn tao, tao dạy mày viết gì, hóa ra làm cái việc “dạy đĩ vén váy”, vô duyên, dị hợm quá! Bỗng Quán đột ngột hỏi, theo chúng mày, cái giống và cái khác giữa Lê Minh Ngọc với các doanh nghiệp khắp cả nước là ở chỗ nào? Kiến trúc sư Nguyễn Trọng Huấn, người đã từng ở cùng đơn vị với Quán thời kháng chiến chống Pháp, trả lời ngay, rành rọt: “Cái giống là các doanh nghiệp kinh doanh gì cũng muốn kiếm ra nhiều tiền cho công ty mình, Ngọc cũng thế thôi. Còn cái khác là Ngọc không kinh doanh bất động sản, dù việc kinh doanh này, trong thời điểm hiện tại là kiếm lời rất lớn. Ngọc chú tâm kinh doanh ngành nông nghiệp để giải quyết công ăn việc làm cho người nông dân và dân nghèo thành thị. Ông Đài có viết về Ngọc xin lưu ý cho tôi điểm này…”. Đặt chén rượu xuống chiếu, Phùng Quán “phán”:  thôi, bây giờ thế này, ngày mai cả bọn chúng mình kéo lên Lê Minh Ngọc “đập phá” một trận, tụi bay có đồng ý không? Người bạn ngồi cạnh Phùng Quán, giọng thong thả, cách đây một tuần chúng tớ có cả Trịnh Công Sơn, Thu Bồn, vợ chồng họa sĩ Lâm Triết vừa lên lâu đài của Ngọc ở Tân Bình uống bia, ca hát…đến nửa đêm mới kéo nhau về, Quán muốn lên Ngọc thì Đài đưa đi là được rồi, không việc gì phải kéo cả bọn gây huyên náo gia đình người ta. Phùng Quán gật gù, lại ngoảnh sang hỏi tôi, thế mày có định viết về Lê Minh Ngọc không? Tôi bảo sẽ viết nhưng không phải là bây giờ, viết văn chứ không phải viết một bài báo ngắn gọn, kể lể đầu đuôi thân thế sự nghiệp của ông tư sản trong thời kỳ đổi mới.

Kể từ bữa gặp gỡ giữa Phùng Quán và bạn bè ấy đến nay đã gần 20 năm và anh bạn thơ Phùng Quán cũng đã qua đời 18 năm, tôi vẫn áy náy về lời hứa với Quán về một bài viết chưa thực hiện. Tôi nhờ một cô gái làm ở thư viện sưu tầm những bài báo viết về Lê Minh Ngọc, mấy ngày sau cô cho biết đã có 79 bài ca ngợi ông chủ tư sản mới này, kể cả những bài viết về thầy giáo Ngọc chủ tịch Hội đồng quản trị trường Đại học Văn Hiến. Cô gái cho tôi 79 bản photo các bài báo này…

Đầu tuần vừa rồi tình cờ Lê Minh Ngọc gọi điện thoại cho tôi, anh trách cứ sao lâu quá rồi không lên chơi, tôi cho Ngọc biết vừa phải nhập viện đặt hai cái tent thông động mạch vành, yếu lắm, không đi đâu xa bằng Honda được. Ngọc bảo, cứ ở nhà mai sáng tớ cho xe ô tô xuống đón. Đúng hẹn, anh lái xe đậu xe trước cổng nhà tôi. Lên xe, anh lái xe hỏi như trách cứ: có dễ gần hai mươi năm em mới được lái xe đón anh! Tôi cười và hỏi lại, anh lái xe cho gia đình Lê Minh Ngọc bao nhiêu lâu rồi nhỉ. Anh bảo, hơn ba mươi năm, tất cả bạn bè ông Ngọc, em đều quen mặt, em đều gọi bằng anh chứ không gọi bằng chú như ngày xưa nữa vì các anh đều xấp xỉ trong ngoài tám mươi, bằng tuổi anh cả của em, riêng ông Ngọc em vẫn gọi bằng cậu đó là quan hệ gia tộc họ hàng, nhưng anh đừng nói lại điều này với ông Ngọc, ông vui tính hòa đồng nhưng khó lắm trong cư xử với quan hệ dòng họ và quan hệ giữa người giúp việc chúng em với bạn bè của ông. Cái lần em nhờ anh tráng và in cuốn phim màu, biết chuyện, ông la em lần sau không được nhờ bạn bè ông làm những việc đó. Tôi hỏi anh bây giờ ở đâu, có nhà riêng chưa? Anh cho biết, ông Ngọc cho em mượn hai trăm triệu mua nhà trừ dần vào lương, từ hồi giá nhà còn thấp, bây giờ ngôi nhà này muốn mua phải tiền tỷ, nhà em ở đối diện nhà ông Ngọc bên kia đường. Ông Ngọc không chỉ cho em vay tiền mua nhà, ông còn cho nhiều người khác là nhân viên, công nhân của ông vay tiền mua nhà trước lúc lập gia đình. Tôi hỏi, ông Ngọc đã vun vén cho mấy cặp nam nữ đi đến hôn nhân. Anh lái xe cười, nhiều lắm em không nhớ hết nổi. Cái hay của ông Ngọc không chỉ là lo đời sống vật chất ngày càng tăng cho người lao động để họ đủ tiền sinh sống và thừa chút đỉnh gửi về giúp đỡ gia đình ở ngoài quê mà còn lo cho đời sống tinh thần, hạnh phúc lứa đôi cho người lao động…

Lúc này Ngọc không còn ở nhà cũ ở bên phường 16 quận Tân Bình, anh đã xây mấy ngôi nhà liền nhau ở đường Lê Thúc Hoạch phường Bình Tân. Bước vào nhà, tôi thấy Ngọc đang cắm cúi đọc sách ở phòng khách. Tôi liếc nhìn, nhận ra đó là tiểu thuyết bằng tiếng Nga, cuốn Tội ác và trừng phạt của Đovtoivsky. Ngọc ngồi đọc sách không biết là tôi đã đến, tôi bỗng nhớ đến bài viết của ông Kurihara trên báo Akahata vào năm 1994, ông cho biết đã gặp Lê Minh Ngọc vào mùa thu năm 1990 tại một hội nghị ở Maxcơva, ông mô tả Lê Minh Ngọc nói thuần thục tiếng Nga như một người Nga, (tôi muốn mách với nhà đông phương học người Nhật Bản là Ngọc nói tiếng Trung Quốc như người Tàu). Tôi bảo Ngọc, hôm nay chúng ta không nói chuyện làm kinh tế. Mình hỏi cậu câu này, một tờ báo ở Pháp gọi cậu là Red Bourgeois (tư sản đỏ) cậu nghĩ thế nào? Ngọc thong thả, tớ là đảng viên Cộng sản, bây giờ trở thành nhà tỉ phú, nó gọi thế không có gì sai cả, khen tớ thì ít mà khen Đảng Cộng Sản Việt Nam thì nhiều, khen công cuộc đổi mới của Đảng là phù hợp với trào lưu đổi mới của nhân loại, Đảng cho đảng viên làm kinh tế thì đất nước chỉ giàu lên, Đảng giàu lên chứ có mất mát gì đâu. Ngọc lý giải vậy, tôi biết vậy. Theo yêu cầu của tôi, Ngọc đưa tôi vào thang máy (thang máy ở nhà riêng, Sài Gòn có mấy nhà?), trên lầu hai, ông chủ tịch Hội đồng quản trị trường Đại học Văn Hiến có bốn cái kệ sách đầy ắp sách văn học Nga, Trung Quốc bằng ngôn ngữ của hai nước này và chật ních văn học Việt Nam, rất nhiều sách của các nhà văn bạn bè thời thiếu sinh quân như Nguyễn Quang Thân, Trần Công Trấn, Phùng Quán, Cửu Thọ…

Đột nhiên Ngọc hỏi tôi, nghe bạn bè nói cậu đã viết xong quyển sách về Phùng Quán sao không thấy in. Nghe nói cậu viết hơn ba trăm trang, đúng không ?

– Các nhà xuất bản, từ lúc Quán qua đời, đã in rất nhiều tác phẩm về Quán, trên giá sách của cậu tớ thấy đến bốn quyển bạn bè viết về Quán hoặc những tác phẩm của Quán lúc sống chưa kịp in. Bây giờ in thêm quyển của mình, sợ khó bán. Nhà xuất bản đề nghị mình xuất tiền ra in, họ sẽ phát hành dùm. Tớ đang đắn đo suy nghĩ. Cháu Quyên con thằng Quán, đang sống bên Lào bảo là cháu có tiền (bán bản quyền cuốn Tuổi thơ dữ dội cho một hãng phim truyền hình làm phim nhiều tập) cháu sẽ góp phần tài trợ, nhưng mình không muốn lấy tiền của cháu. Mà tự mình sẽ xuất tiền ra in vào năm sau.

– Cậu vừa đi mổ tim tốn bao tiền, tớ biết, bây giờ lấy tiền đâu ra.

– Cậu không nên tò mò việc này, tớ có tiền bằng sức lao động của mình, chứ không đi ăn cướp, không đi lừa đảo đâu mà cậu sợ.

Ngọc cười hết ga, mày và Phùng Quán lúc nào cũng có thể nói tếu được…

Tôi bước ra sân, trời mưa lâm thâm, liếc nhìn đồng hồ đã gần mười hai giờ. Ngoảnh sang, tôi bảo Ngọc, thôi tớ về. Ngọc giữ tôi lại ăn cơm, tôi từ chối vì có hẹn ở nhà. Ngọc cầm điện thoại gọi lại xe về đón. Tôi ngăn, để tớ đi taxi được rồi. Theo chỗ tớ biết, lái xe của cậu đang khám bệnh ở bệnh viện. Lúc ngồi trên xe cậu ấy cho biết hai giờ chiều mới về được. Thôi đừng phiền cậu ấy.

Hai chúng tôi đều cầm điện thoại gọi xe. Xe của hãng Ngọc gọi đến trước. Đẩy tôi lên xe, Ngọc dúi cho tôi ít tiền, tôi từ chối, nhưng Ngọc cứ đút tiền vào túi áo tôi. Thôi thì lấy tiền của thằng bạn nhà giàu, tốt bụng cũng chẳng có gì phải băn khoăn nhiều… Trước lúc xe lăn bánh tôi ngoảnh lại vẫy tay người bạn thuở thiếu thời bây giờ là một ông tư sản giàu tiền bạc và giàu tình nghĩa với bạn bè, với công nhân, với sinh viên học trò của mình…

Phùng Quán ơi, thế là bài viết về Lê Minh Ngọc như Quán yêu cầu đã xong. Nếu báo đăng, hôm nào ra Huế, mình sẽ rủ các văn hữu thi hữu đến mộ quán đọc cho Quán nghe và hỏa táng bài báo cho Quán nghiền ngẫm rồi đêm đêm Quán về báo mộng cho mình như Quán đã từng làm nhiều lần trước đây. Dân Huế vốn tin ở tâm linh, họ không cười mình và cậu đâu…

Nguồn Văn nghệ

 

Cặp đôi trác dị Minh Mệnh – Nguyễn Công Trứ

  •   TRỊNH VĂN ĐỊNH

nguyen-cong-tru minh-mang

Cụ Nguyễn Công Trứ và vua Minh Mạng

Còn một câu hỏi treo lên trong giới nghiên cứu là tại sao trong điều kiện đại thiết chế chuyên chế đang đi vào giai đoạn phát triển đỉnh cao của nó, lại xuất hiện kiểu phong lưu danh sĩ, tự do cá nhân và cá tính Nguyễn Công Trứ nở rộ như vậy ở ngoài lăng miếu. Đương nhiên, khía cạnh tài hoa, tài tử của Nguyễn Công Trứ là điều kiện không thế thiếu, nhưng nếu chỉ có yếu tố tài tử của ông thì chưa đủ, phải chăng, nó còn cần đến một điều kiện khác mở từ phía khác nữa, đó là vai trò, đặc biệt là vai trò của người đứng đầu thiết chế đối với sự ra đời tự do cá nhân, văn hóa cá tính[1]xuất hiện.Chúng tôi sẽ chứng minh rằng, sự xuất hiện của trường hợp đặc biệt Nguyễn Công Trứ không thể thiếu được sự “dung túng” của người đứng đầu nhà Nguyễn, người quan trọng nhất tạo ra trường hợp Nguyễn Công Trứ không ai khác chính là hoàng đế Minh Mệnh. Chính Minh Mệnh và cái nhìn độc đáo của ông đối với hạn chế của hệ thống khoa cử và từ đó thiết lập chế độ biệt nhưỡng người trác dị là tiền đề xuất hiện những kiểu ngườitrác dị, cá tính như Nguyễn Công Trứ. Và đương nhiên, phải có những cá nhân xuất chúng như Nguyễn Công Trứ có thể chia sẻ, tương tác và nắm bắt được thời cơ đặc biệt này để thể hiện tự do cá nhân và khẳng định cá tính trong lịch sử. Họ hình thành cặp đôi đặc biệt, chúng tôi định danh là cặp đôi trác dị[2].

1.       Minh Mệnh và lịch sử đánh giá Minh Mênh trong ứng xử với Nguyễn Công Trứ

Theo Việt Nam sử lược Trần Trọng Kim, “Tháng giêng năm Canh thìn (1820) hoàng thái tử húy là Đảm lên ngôi, đặt niên hiệu là Minh Mệnh.

Vua Tháng tổ là một ông vua có tư chất minh mẫn, có tính hiếu đọc và lại hay làm; phàm có việc gì, ngài cũng xem xét đến, và có châu phê rồi mới được thi hành”[3]

Trước nay, trong mối quan hệ giữa Minh Mệnh và Nguyễn Công Trứ, có xu hướng chung đánh giá Minh Mệnh là ông vua chuyên chế hà khắc, xuống tay nhiều tình huống khá nặng với Nguyễn Công Trứ. Tuy nhiên, cũng có cái nhìn mang tính trung dung hơn và khách quan hơn. Trong số nhiều đánh giá về mối quan hệ này, điển hình cho cái nhìn thứ nhất là Phạm Thế Ngũ và nhà Nghiên cứu Lê Thước. Điển hình cho cái nhìn thứ hai là tác giả Việt Nam sử lược,Trần Trọng Kim.

Trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập 2, phần về Nguyễn Công Trứ, Phạm Thế Ngũ nhật xét về quan hệ Minh Mệnh với Nguyễn Công Trứ như sau: “Tư cách của một ông vua biết thủ đoạn dùng người, đánh, vuốt, thăng, giáng, lung lạc tinh thần người ta bằng đủ phương cách. Đối với Nguyễn Công Trứ, khi tín cẩn trọng dụng, cho tiền, cho quà, săn sóc, rỉ tai, khi nghiêm khắc trừng phạt, truất giáng đáo để”.[4]

Nhà Nghiên cứu Lê Thước cũng có nhận xét tương tự: “Tuy nhiên ấy là một cái thủ đoạn điên đảo hào kiệt, chứ kì thực thì nhà vua thấy cụ có tài cao đức trọng, ai cũng kính phục, không muốn để cái thanh thế cụ lớn lên quá, sợ khó giá ngự về sau; vì thế cho nên đã lấy ân mà cất lên, lại phải dùng oai mà ức xuống. Nhưng ân thì thường chỉ là ân mọn, mà oai thì toàn là oai lớn”.[5]

Nhà nghiên cứu Lê Thước còn kể: “Tháng 10 năm Minh Mệnh 7, bổ tham hiệp Thanh Hóa. Đi đến Hải Lăng (Quảng Trị) thì bị bệnh. Vua được tin xuống chỉ rằng: “Nay nghe Nguyễn Công Trứ đi đường chẳng may bị bệnh, chẳng hay đã lành chưa, lòng trẫm luống những bất an. Đặc phái một tên thị vệ đem theo viên ngự y, lập tức bắt trảm đi tới nơi điều trị, vụ được lành. Còn Nguyễn Công Trứ thì cứ an tâm mà uống thuốc bất kỳ một hai tháng, khi nào trong mình được thập phần khang kiện mới được ra đi chớ nên kíp vội, giờ mùa đông lạnh lẽo, nếu đau yếu lại, ấy là phụ các lòng quyến cố của Trẫm. Khâm thử[6]. Theo Phạm Thế Ngũ, nó là thủ đoạn rỉ tai mà thôi.

Người có đánh giá tương đối khách quan hơn cả là Trần Trọng Kim, trong Việt Nam sử lược ông viết: “Vua Thánh Tổ là một ông vua chuyên chế, tất thế nào cũng có nhiều điều sai lầm và có nhiều điều tàn ác, nhưng xét cho kỹ, thì thật ngài cũng có lòng vì nước lắm. Trong lo sửa sang mọi việc, làm thành ra nền nếp chỉnh tề, ngoài , đánh Xiêm dẹp Lào, làm cho nước không đến nỗi kém hèn.

Vậy cứ bình tĩnh mà xét, thì dẫu ngài không được là ông anh quân nữa thì cũng không phải là ông vua tầm thường; cứ xem công việc của ngài làm thì hiểu rõ”.[7]

Như vậy, cả ba nhà nghiên cứu đều nhận xét Minh Mệnh là ông vua chuyên chế hà khắc, đối xử với Nguyễn Công Trứ ân mọn oai lớn, sợ Nguyễn Công Trứ uy danh vang dội nên một mặt bổ dùng nhưng một mặt phải ra oai để kìm kẹp. Nói chung, tất cả những nhận xét trên đây đều không sai nhưng có lẽ nó chưa đủ. Tôi rất thích một nhận xét của Trần Trọng Kim, “dẫu ngài không được là ông anh quân nữa thì cũng không phải là ông vua tầm thường”. Chúng tôi cho rằng, vượt lên trên cả hà khắc và tầm vóc, Minh Mệnh là một ông vuatrác dị một từ mà ông rất thích dùng để nói về những người đặc biệt xuất chúng. Chúng tôi sẽ chứng minh tính chất trác dị của Minh Mệnh qua việc ứng xử với Nguyễn Công Trứ. Tức là chúng tôi sẽ không đọc Nguyễn Công Trứ và Minh Mệnh như các tiền bối đã làm, chúng tôi thử áp dụng những tiêu chí của ông vua trác dị (đặc biệt xuất sắc, lạ thường) để soi chiếu vào ứng xử của Minh Mệnh với Nguyễn Công Trứ và cũng nhìn ngược lại Nguyễn Công Trứ đã hô ứng với ông vua trác dị này như thế nào. Sự hô ứng của ông vua trác dị và một phong lưu danh sĩ trác dị, kết thành cặp đôi trác dị lừng danh trong lịch sử. Và chính tính chất trác dị của Minh Mệnh, đặc biệt là trác dị trong việc tìm kiếm, đào tạo và tưởng thưởng cho người trác dị, Minh Mệnh đã đóng vai trò là người mở đường chongườikiểu Trứxuất hiện và phát tiết thời Nguyễn, mà ở đó Nguyễn Công Trứ là trường hợp tiêu biểu nhất.

2.       Tư tưởng của Minh Mệnh về khoa cử, về tìm kiếm người trác dị và chế độ tưởng thưởng người trác dị và đặc biệt là tư tưởng về việc tìm kiếm, đào tạo, phát hiện người tài bằng con đường phi khoa cử – cơ chế mở đường người trác dị, những cá tính xuất hiện, đăng đàn và phát tiết.

Chính cái nhìn khác biệt của Minh Mệnh là cơ sở để cho những nhóm người được tuyển chọn chính thống hoặc cả nhóm phi chính thống có cơ hội được xuất hiện và phát triển. Những người có cá tính, khát vọng tự do cá nhân kiểu Trứ có cơ hội phát triển và thăng hoa. Theo chúng tôi, nó là yếu tố quan trọng nhất giúp Minh Mệnh có thể tuyển chọn được nhiều cá tính độc đáo. Cùng với đó là một cơ chế tưởng thưởng, khuyến khích đặc biệt, cả những ứng xử đặc biệt và đầy ngẫu hứng xuất hiện. Trong đó, sử dụng, tưởng thưởng và cả giáng cách với Nguyễn Công Trứ là sự ảnh xạ rõ nét nhất của tư tưởng khác thường của Minh Mệnh.

Một cái nhìn sắc sảo vào hạn chế của hệ thống khoa cử

Là người mang trọng trách kiện toàn thiết chế trong nước và mở rộng bờ cõi, Minh Mệnh quan tâm đặc biệt đến khía cạnh làm sao và bằng cách nào tìm kiếm được người tài năng, đặc biệt là tìm kiếm được người trác dị. Từ cái nhìn như vậy, ông đã nhìn trúng hạn chế cốt tử của hệ thống khoa cử: không những không tìm kiếm được người tài mà còn làm cho nhân tài mỗi ngày kém đi: “Lâu nay khoa cử làm cho người ta sai lầm. Trẫm nghĩ văn chương vốn không có quy củ nhất định, mà nay những văn cử nghiệp chỉ câu nệ cái hủ sáo, khoe khoang lẫn với nhau, biệt lập mỗi nhà một lối,  nhân phẩm cao hay thấp tự đó, khoa tràng lấy hay bỏ cũng do tự đó. Học như thế thì trách nào nhân tài chẳng mỗi ngày mỗi kém đi. Song tập tục đã quen rồi, khó đổi ngay được, về sau nên dần dần đổi lại”.[8]

Có thể Minh Mệnh không thật thiện cảm với khoa cử và có thể hiểu ông cũng không có cái nhìn ưu ái với những người thành đạt từ khoa cử. Vậy, tập tục đã quen, sau dần đổi lại, Minh Mệnh đã hướng trọng tâm tìm kiếm người tài của mình theo một hướng phi chính thống, tìm kiếm người tài không thông qua con đường khoa cử và đây là trọng tâm trong tìm kiếm người tài của ông.Phải chăng như chính Mênh Mệnh nói: Quốc gia ta xây dựng nền tảng ở Phương Nam[9] là cội nguồn của một sự thoát ra khỏi văn chương khoa cử trong đào tạo người tài như vậy.

Tìm kiếm người tài phi khoa cử

Lật giở Minh Mệnh chính yếu thiên cầu hiềnkiến quan, chúng ta sẽ bắt gặp dày đặc những chỉ dụ của Minh Mệnh về cách thức tìm kiếm người không qua con đường khoa cử. Năm Minh Mệnh thứ mười sáu, quyển 4, Minh Mệnh chính yếu, “Vua xuống dụ rằng:“Cầu cho nước trị bình thì lấy nhân tài làm trước tiên. Nay trẫm ra lệnh phải đề cử người mình biết, là muốn mở rộng đường lối cử người hiền tài. Nếu biết đích người ấy quả thực có tiếng hiền tài, có chính trị giỏi, hoặc là nhân phẩm ngay thẳng đứng đắn, là có thể cho ra ứng cử, có phải trẫm bắt phải quen biết mật thiết mới am hiểu cái tài cái nết của con người đâu, sao mà trịnh trọng quá như vậy. Phương chi quan có kẻ cao người thấp, mà phận sự làm bầy tôi như nhau, hà tất phải chậm chạp đề cử sau người ta. Nay chuẩn cho phải lựa chọn mà cử cho nhanh, hoặc hai ba người cử một người cũng được.”[10]

Rõ ràng, thái độ ông rất quyết liệt và yêu cầu phải làm gấp. Không chỉ dừng lại ở đó, ông còn luôn đau đáu, lo lắng những người tài đi ở ẩn không chịu ra giúp triều đình. Minh Mệnh năm thứ mười sau, “vua xuống dụ cho thị thần rằng: “Trong nước có người hiền tại thì công trị bình được rực rỡ, cũng như núi sông có ngọc châu thì mới có ánh sáng, nhưng người hiền tài sinh ra chỉ muốn gặp được vua. Có kẻ dấu tên ẩn kín là tự vua không biết dùng thôi. Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, hạ chiếu cầu hiền đến hai ba lần, tất là kẻ sĩ có tài đức không còn đi ẩn nữa, nếu được người hiền tài mà dùng thì đường lối trị bình trong nước mới có được[11].

Đặc biệt, Minh Mệnh còn nghĩ đến cả những người tài vì không quen với sự bó buộc của trường quy mà thi không đỗ, hoặc vì hạn ngạch mà không tuyển được bằng con đường khoa cử…Tức là Minh Mệnh đã nghĩ đến những trường hơp đặc biệt, những trường hợp này vì tự do, vì cá tính mà không theo quy củ nên không thi hoặc thi không đỗ. Ông đã xót xa và nghĩ đến họ: “Vua xuống dụ cho Nội các rằng: “hiện nay trong nước thái bình là đường chính của sĩ tử khoa mục, đã mở khoa tuyển chọn rồi, ngoài ra lại có cống hiến người hằng năm, bổ làm giám sinh và tú tài để sung vào giáo chức. Sự trừ súc lấy nhân tài làm trước nên lại nghĩ đến kẻ ở cửa sài nhà tranh, có người vốn theo nghề học muốn do khoa cử tiến thân, lại vì trường quy bó buộc, không khỏi lao đao nơi trường thi. Cũng có kẻ học tập biết viết, biết tính, muốn vào các nhà làm, thì lại bị lệ ngạch hạn chế, rồi đến phải chìm đắm nơi đồng ruộng, hạng người này không phải ít[12].

Ông nhìn ra những loại người tài mà không đi bằng hoặc không qua con đường khoa cử rất nhiều. Sự nhấn mạnh nhiều lần loại người này chứng tỏ ông có sự lưu tâm, đặc biệt chú trọng và coi trọng loại người này, nó như là một sự ám ảnh thường trực nơi ông.

Ông luôn đau đáu tìm cách có được người tài, nhưng ông cũng luôn băn khoăn suy nghĩ làm thế nào để có thể tìm kiếm được người tài thông qua tiến cử một cách thực chất, vì ông lo vàng thau lẫn lộn: “Trẫm muốn gấp dùng người tài, mà vẫn lo khó biết người, khoa đạo thường chầu ở hai bên, tiến cử cũng đã khả quan nhưng người hiền tài hay không chưa hay biết tường tận được. Muốn thử bằng lời nói, thì kẻ khéo biện luận thường nói quá sự thực, mà kẻ thành thực chất phác thường lại vụng lời nói, bằng vào đấy mà dùng hay bỏ, liệu không sai được chăng? Ngươi nên xét ai có thể dùng được thì đề cử lên”.[13]

“Người làm việc quan là do năng lực của anh ta”

Minh Mệnh nói rất rõ rằng, làm quan được xuất phát từ chính năng lực của anh ta. “Vua xuống dụ rằng:“Lập thành chính trị cần được người giỏi, mà sự cầu nhân tài không chỉ một cách nào. Kinh Thư nói: “Cử người làm được việc quan là do năng lực của anh”, đó là nói tiến người hiền lên vua dùng là chức vụ của kẻ đại thần vậy. Trẫm từ khi lên chấp chính đến nay, bên văn thì thi cử, bên võ thì tuyển chọn, lần lượt cử hành, đường lối cất nhắc nhân tài không phải là không mở rộng.Nhưng lại nghĩ đến người có tài năng hoặc còn chìm đắm ở những chức bên dưới, mà chưa xuất hiện được”. Bèn hạ lệnh ở kinh, bên văn thì thượng thư cử người khả kham làm hiệp trấn, tham tri cử người khả kham làm tham hiệp, thị lang cử người khả kham làm tri phủ, lang trung cử người khả kham làm tri huyện, huyện thừa. Bên võ thì chưởng doanh cử người khả kham làm vệ úy, đô thống thống chế cử người khả kham làm phó vệ úy quản cơ, thân binh, cấm binh, quản vệ cử người khả kham làm phó quản cơ, thành thủ úy, mỗi hạng một người. Người được cử không kể bị can phạt, giáng chức về việc công, cử khả kham làm được việc là chuẩn cho đề cử. Giám sinh (học trò nhà Giám) có học thức cũng cho phép giám thần (quan trong nhà Giám) xét cử lên”.[14]

Thưởng và phạt

Về việc thưởng phạt Minh Mệnh cũng rất rõ ràng và sòng phẳng: “Trẫm cũng muốn làm như thế, nhưng lại nghĩ giữ quyền quốc gia chỉ có thưởng với phạt; nay kẻ bị cách chức vừa mới có tội phải truất bỏ, mà lại đem ra dùng thi chúng lại lên mặt mà bảo nhau rằng: người có tư cách đời nay tuy bị bãi chức rồi lại được làm, rồi đến chỗ chúng bắt trước nhau, sợ không có cách nào dẹp được[15].

Tìm kiếm và tưởng thưởng người trác dị

Minh Mệnh không chỉ khát khao ngày đêm tìm kiếm người có năng lực làm việc quan, ông còn khát khao tìm kiếm và tưởng thưởng người trác dị, từ này do chính ông dùng, được Quốc sử quán chép lại trongMinh Mệnh chính yếu. Trác dị, theo như giải thích của Quốc sử quán nhà Nguyễn là “đặc biệt hơn người”. Minh Mệnh năm thứ tám, quyển 4, “Định ra lệ trác dị cấp kỷ. Vua xuống dụ rằng: “Sự gia cấp kỷ lục (ghi chép) là để tưởng thưởng khuyến khích người có công, trước nay lệ gia cấp bậc và ghi công đặc biệt, chưa từng bàn đến. Khi giao cho đình thần bàn định thêm thì đều cho là người trác dị (đặc biệt hơn người) tất phải có công nghiệp hành chính đối với dân xuất sắc hơn, người ấy chưa dễ thường có. Duy có người làm chính công bằng, xử kiện đúng lý, giữ không có trộm cướp, dân được yên ổn, làm quan có tiếng tốt, thì nên thưởng để khuyên người có công, là việc không thể thiếu được[16].

Như vậy, Minh Mệnh song song với tìm kiếm người tài bằng hình thức khoa cử, ông đặc biệt chú trọng và dành một sự ứu ái đặc biệt đối với những người được tiến cứ, tức không qua khoa cử. Ông hiểu rất rõ những cái hạn chế của chế độ khoa cử, ông thấu hiểu những người ở ẩn và không tiến thân bằng con đường khoa cử, ở một ý nghĩa nào đó ông trân trọng và chia sẻ với những người ưu tích tự do, không thích bó buộc và cả những người cá tính. Trong đó, ông mong ngóng và khát vọng ghi công đặc biệt cho những người trác dị. Hẳn phải là ông vua trác dị mới khát vọng tìm kiếm những người đồng điệu trác dị. Nhưng như chính ông nói, người trác dị chưa dễ thường có.

Điểm đặc biệt đáng chú ý là, Minh Mệnh đã không đặt niềm tin vào hệ thống (tức hệ thống khoa cử) mà ông chuyển hướng đặt niềm tin vào con người. Một sự chuyển hướng trọng yếu, không chỉ tạo ra sự khác biệt giữa Minh Mệnh với các hoàng đế khác mà còn là cơ sở trọng yếu tạo ra những người trác dịkiểu Nguyễn Công Trứ xuất hiện.

3.       Ứng xử của Minh Mệnh với Nguyễn Công Trứ nhìn từ tiêu chí của ông vua trác dị ứng xử với Nguyễn Công Trứ trác dị.

Người trác dị dùng người trác dị vào những việc đặc biệt, công việc hệ trọng, những việc mà người thường không làm được nhưng người trác dị làm được. Minh Mệnh đã đặc biệt thành công trong việc dùng Nguyễn Công Trứ vào những công việc kiểu như vậy.

Dùng người trác dị vào việc dẹp loạn.

Trong giai đoạn Minh Mệnh chấp chính, do đất nước mới thống nhất nên giặc giã nổi lên ở nhiều nơi trên khắp cả nước, trong đó nổi bật và nguy cấp là: Giặc Phan Bá Vành, giặc Quảng Yên và giặc Nông Văn Vân. Giặc Phan Bá Vành ở  Nam Định. Giặc Quảng Yên ở các đảo ven biển và giặc Nông Văn Vân ở miền núi phía Bắc. Đây cũng là những tên giặc đầu sỏ, hoành hành làm cho Minh Mệnh đau đầu, ăn ngủ không yên. Thú vị là, Minh Mệnh biết rõ Nguyễn Công Trứ là văn quan nhưng lại dùng ông với vai trò võ tướng dẫn đầu hoặc cùng dẫn đầu tiêu diệt nhưng giặc đảng nguy hiểm, khó đánh bắt được. Việc dùng văn quan cùng với vàdẫn đầu võ tướng là một cái nhìn đặc dị và cách dùng người đặc dị, có lẽ của những người trác dị, và vì thế Minh Mệnh cũng thành công đặc biệt và Nguyễn Công Trứ cũng tỏ ra là người trác dị, khi mà ông gạt bỏ được mối lo của Minh Mệnh, tạo ra môi trường ổn định, thống nhất trong  nước. Vì công lao trác dị này, Minh Mệnh đã triệu Nguyễn Công Trứ về triều và có những hành động ban thưởng cũng hết sức trác dị, chúng ta hãy theo dõi sử quan nhà Nguyễn chép: “Đạo Tuyên Quang dùng kế hỏa công, Vân bị chết cháy. Tin thắng trận tâu lên. Vua hạ lệnh cho quân ba đạo hát khúc thắng trận về kinh. Trứ vào trước thềm ra mắt vua. Vua thân rót rượu ban cho để tỏ lòng yêu quý đáp công. Lại thường cho các đồ chơi quý báu; ấm thự cho một người con Trứ làm Hiệu úy cẩm y[17].

Hành động rót rượu là một kiểu ứng xử đặc biệt dành cho Trứ, tưởng thưởng cho các đồ chơi quý báu (thuộc về chức năng chơi, biểu trưng hơn là giá trị vật chất) cũng là những kiểu đồ chơi không bình thường, đặc biệt. Và trác dị hơn nữa, là Minh Mệnh ấm thự cho người con Nguyễn Công Trứ. Một kiểu ứng xử tưởng thưởng cũng trác dị mà Minh Mệnh dành cho ông khi lập đại công.

Dùng người trác dị vào việc khẩn hoang

Minh Mệnh không chỉ thành công trong dùng Nguyễn Công Trứ với tư ách văn quan dẹp loạn ở vùng biên viễn, ông còn trác dị thể hiện ở việc dùng Nguyễn Công Trứ khai hoang, mở rộng lãnh thổ, thu thuế và ổn định lưu dân cho đế chế.Không chỉ thành công trong khai hoang ở Kim Sơn và Tiền Hải, quan trọng hơn nữa Nguyễn Công Trứ còn quy tụ và thu phục được lưa dân, lưu tán đang thất nghiệp ở khắp nơi về lập làng lập ấp. Không chỉ ổn định, tránh bạo loạn từ đám lưu dân này, khi lưu dân ổn định, đế chế còn nguồn lợi khác là thu thuế cho đế chế. Đánh giá về công lao của Nguyễn Công Trứ, Quốc sử quán nhà Nguyễn ghi nhận công lao của Nguyễn CôngTrứ một cách xác đáng: tạo ra mối lợi vĩnh viễn: “tỏ sức ở chiến trường, nhiều lần lập được công chiến trận. Buổi đầu Trứ lĩnh chức Doanh điền, sửa sang mới có trong một năm mà các việc đều có đầu mối, mở mang ruộng đất, tụ họp lưu dân, thành ra mối lợi vĩnh viễn”.[18]

Như vậy, mối lợi vĩnh viễn mà Trứ tạo ra cho đế chế gồm rất nhiều việc ông đã làm nhưng nổi bật là hai việc dẹp loạn và khẩn hoang. Bởi dẹp loạn nó tạo ra sự ổn định, bảo vệ tính quyền uy duy nhất của nhà Nguyễn mà Minh Mệnh là Hoàng đế và khai hoang không những mở rộng đất cho đế chế, còn thu thuế và đặc biệt ổn định lưu dân, giúp chống nổi loạn. Tất cả những việc làm này, hoàn toàn phù hợp thậm chí vượt qua tiêu chí của người trác dị mà minh mệnh hằng tìm kiếm.

Trác dị trong thưởng phạt, thăng giáng, luân chuyển

Nhìnvào diễn biến quan nghiệp của Nguyễn Công Trứ, dễ dàng phát hiện vô số khía cạnh bất thường, khác thường. Qua đó, có thể thấy tính bất thường trong ứng xử của Minh Mệnh đối với Nguyễn Công Trứ. Trước hết, tính bất thường trong thăng giáng.Nếu sơ đồ hóa nó như là hình lướt sóng, tức kiểu hình sin cứ lên lại xuống, cứ xuống lại lên. Tính bất thường của nó là nó không lên thượng đỉnh hẳn, cũng không lên một chiều, nó cũng không xuống đến đáy, tất nhiên có lúc cũng xuống đến cấp bậc thấp như Tri huyện Kinh. Nhưng sau đó lại thăng.Tính chất hình sin là đặc điểm nổi bật trong ứng xử của Minh Mệnh dành cho Nguyễn Công Trứ. Đặc điểm của hình sin này là: giữ thăng bằng trong khuông khổ và nằm trong tầm kiểm soát và không ở vị trí nào quá lâu, không bị giáng chức ở lâu vị trí nào mà thường giáng là thăng ngay. Tính ý đồ trong thăng giáng là hết sức rõ ràng.Giữ cho Nguyễn Công Trứ không theo một đường thẳng, hoặc không lên quá cao, hoặc không xuống quá thấp, tức không cực đoan hóa theo một định hướng nào phải chăng là dụng ý sâu xa trong ứng xử của Nguyễn Công Trứ với Minh Mệnh. Làm như vậy, Nguyễn Công Trứ vẫn vừa cống hiến cho nhà Nguyễn, nhưng lại giúp Minh Mệnh an toàn khi Nguyễn Công Trứ không đủ thời gian và tầm ảnh hướng để có thể quy tụ được một lực lượng đủ lớn để tạo thế đối trọng (nếu có), đồng thời, làm cho tính chất ổn định của Nguyễn Công Trứ luôn thay đổi.

Tính chất bất thường còn thể hiện ở việc ông liên tục được Thự (kiêm nhiệm) và luân chuyển qua nhiều vị trí khác nhau với công việc không giống nhau và ở những vùng miền khác nhau. Mặt khác, trong thưởng phạt cũng chứa nhiều điều không bình thường, phạt cũng có lúc rất nặng, nhưng như sử quán nhà Nguyễn chép, giáng lại thăng ngay và nhiều lúc thăng sửquán không biết lý do Minh Mệnh thăng là gì? Nó như là một kiểu dạng thức ứng xử riêng với người trác dị, tức nó theo lô gic của những người trác dĩ, duy họ mới hiểu ứng xử của nhau, nó ra ngoài khuôn khổ và người thường không hiểu được căn nguyên sâu xa của nó. Những món quà, mang tính đồ chơi cũng là một sự lạ, cả việc cho tiền, rỉ tai, cho bác sĩ riêng….cũng là những điểm không bình thường của Minh Mệnh dành cho Nguyễn Công Trứ, có lẽ chỉ có họ, hai người trác dị mới hiểu ý nghĩa và mới cảm được chiều sâu và sự khế ước ngầm trong ứng xử của cặp đôi trác dị này.

4.       Những ứng xử trác dị Nguyễn Công Trứ dành cho Minh Mệnh

Tạo ra “mối lợi vĩnh viễn” cho Minh Mệnh

Ứng xử khác thường tức là những ứng xử vượt trội, đặc biệt đột biến hoặc đặc biệt xuất sắc mà người khác không làm thế hoặc không ứng xử được, được hiểu là ứng xửtrác dị. Điều dễ nhận ra nhất mà chính Quốc sử quán nhà Nguyễn đã tổng kết, ứng xử trác dị lớn nhất, lừng danh nhất của Nguyễn Công Trức dành cho Minh Mệnh là đã tạo ra mối lợi vĩnh viễn cho Minh Mệnh và đế chế Nguyễn dựa trên hai nền tảng và thành tựu cơ bản của ông là dẹp giặc loạn: Phan Bá Vành, giặc Quảng Yên và đặc biệt là Nông Văn Vân và thứ hai là khẩn hoang và ổn định lưu dân, khẩn hoang ở Kim Sơn và Tiền Hải. So với các tiêu chí về người trác dị Minh Mệnh nêu ra thì những thành tựu mà Nguyễn Công Trứ đã làm được vượt xa tiêu chí của người trác dị mà Minh Mệnh hằng mong mỏi.

Không oán thán, không làm phản là ứng xử trác dị thứ hai Nguyễn Công Trứ dành cho Minh Mệnh

Mặc dù mang lại mối lợi vĩnh viễn cho đế chế nhưng Nguyễn Công Trứ nhận được ứng xử cũng hết sức “trác dị” mà Minh Mệnh dành cho ông. Liên tục thăng, lại giáng, giáng lại thăng, có lúc đang ở đỉnh cao quyền lực giáng Tri huyện Kinh. Hay nói như nhà nghiên cứu Lê Thước ân mọn oai lớn. Nhưng ứng xử của Nguyễn Công Trứ cũng hết sức khác thường. Ông vẫn một lòng cống hiến phục vụ Minh Mệnh và đế chế đúng nghĩa đến hơi thở cuối cùng, khi đã già còn xin Tự Đức cho đi đánh Pháp. Không những thế, bị giáng liên tục, thậm chí bị giáng nặng hơn so với những sai lầm, nhưng ít thấy ở ông một sự phẫn uất, bất mãn (ít nhiều có). Đặc biệt, nó không đẩy Nguyễn Công Trứ cực đoan theo hướng về ở ẩn hoặc theo hướng trở thành lực lượng đối lập.Hẳn đó cũng là ứng xử khác thường mà Nguyễn Công Trứ dành cho Minh Mệnh.

5.       Tổng luận về sự tương tác giữa Minh Mệnh và Nguyễn Công Trứ với tư cách là một cặp đôi trác dị.

Minh Mệnh – người “mở đường” cho Nguyễn Công Trứ đến với tự do cá nhân và phát triển cá tính

Như phần trên chúng tôi đã chỉ ra và nhiều nhà nghiên cứu đã đồng thuận, đến Nguyễn công Trứ đã hình thành tự do cá nhânvà dần hình thành một kiểu văn hóa cá tính[19]. Văn chương và ứng cử của phong lưu danh sĩ Nguyễn Công Trứ là minh chứng sinh động của một kiểu tự do trong lòng thiết chế chuyên chế.

Cần thiết nhắc lại rằng, về lý thuyết và cả trong thực tế không có sự xuất hiện tự do cá nhân trong lòng thiết chế chuyên chế, bởi thiết chế chuyên chế về một khía cạnh bản chất là phi tự do John Stuart Mill viết: “Ngay cả chế độ chuyên chế cũng không gây ra những ảnh hưởng tồi tệ nhất của nó miễn là tính cá biệt vẫn tồn tại dưới chế độ đó; và bất cứ cái gì bóp chết tính cá biệt đều là chuyên chế, dù cho nó được gọi là tên gì[20]. Nếu có tự do và đứng bên trên mọi luật pháp, quy tắc ứng xử, một cách tương đối đó là một nhân vật duy nhất là Hoàng đế. Đồng thời, với tư cách là cái lõi của tự do cá nhân, cá tính một mặt là phẩm chất cá nhân, một mặt là kết tinh của tự do cá nhân. Cũng có nghĩa là không có cơ hội xuất hiện và phát triển trong lòng thiết chế chuyên chế. Vậy tại sao đến Nguyễn Công Trứ tự do cá nhân và cá tính Nguyễn Công Trứ được thể hiện ở ở thời đại đại chuyên chế nhà Nguyễn với ông vua hà khắc Minh Mệnh.

Câu trở lời cho sự bất thường này ngoài lý do chủ quan là tài năng, khát vọng và cá tính Nguyễn Công Trứ thì một điều kiện không thể thiếu đó là cơ chế, hay một cái ô bảo trợ cho sự xuất hiện đó là gì? Thời đại chuyên chế Nguyễn không hoặc chưa đủ điều kiện cho tự do cá nhân và văn hóa cá tính xuất hiện.Vì thế, Nguyễn Công Trứ là trường hợp đặc biệt, mang tính cá biệt, không mang tính đồng loạt. Như vậy, đế chế và người đứng đầu của nó, chỉ tạo điều kiện cho một trường hợp cá biệt trác dị Nguyễn Công Trứ có cơ hội phát triển cá tính và tự do cá nhân.

Nguyên nhân sâu xa của hiện tượng đặc dị này, như chúng tôi đã chỉ ra ở trên, chính là Minh Mệnh – người mở đường cho tự do cá nhân và cá tính Nguyễn Công Trứ xuất hiện và phát triển. Cụ thể hơn có nghĩa, chính định hướng quyết liệt tìm kiếm người ngoài khoa cử, tức không qua thi cử (đương nhiên Nguyễn Công Trú qua thi Hương đỗ thủ khoa), thông qua tiến cử và đặc biệt là chính sách tưởng thường và ưu đại đặc biệt dành cho người “trác dị” là đường hướng mở đường cho những kiểu người như Nguyễn Công Trứ có cơ hội phát triển tự do và cá tính phát triển. Theo chúng tôi, đó là cội nguồn về cơ chế, môi trường văn hóa và môi trường chính trị cho phép kiểu ứng xử và kiểu văn chương tự do đầy màu sắc cá tính, chơi cười, giễu, bỡn, say của Nguyễn Công Trứ được xuất hiện và phát triển.

Nguyễn Công Trứ – người “nhận đường” đến với tự do cá nhân và phát triển cá tính.

Thông qua những phân tích ở trên, có thể nhận thấy Nguyễn Công trứ đã đặc biệt hiểu, chia sẻ và tương tác với Minh Mệnh. Bằng chứng của sự tương tác này là ông đạt được thành tựu đặc biệt xuất sắc như mong muốn của Minh Mệnh về người trác dị, tạo mối lợi vĩnh viễn cho Minh Mệnh và đế chế. Hẳn Nguyễn Công Trứ cũng thấu hiểu những lần bị giáng cách nhưng ngay sau đó là thăng, và ông cũng rất hiểu nhiều lần một Minh Mệnh tuân theo phép tắc lại thăng ông không có lý do, và hình thức tưởng thưởng: thưởng tiền đột xuất, cho đồ chơi, ấm thự cho con của Nguyễn Công Trứ… Đặc biệt, tính chất hô ứng nhận đường, nhận tín hiệu từ Minh Mệnh của Nguyễn Công Trú thể hiện rất rõ quan hai mảng văn chương trong và ngoài lăng miếu[21]. Mảng văn chương trong lăng miếu mang thể dạng của đại thần mực thước, tuân thủ và chỉnh chu. Nhưng bộ phận văn chương ngoài lăng miếu lại đối lập hoàn toàn với bộ phân văn chương trong lăng miếu. Thông hiểu này rõ ràng được Nguyễn Công Trứ ý thức rõ ràng, phận sự đại thần và phục vụ đế chế Nguyễn Công Trứ vẫn luôn hoàn thành và hoàn thành đặc biệt xuất sắc, đương nhiên Minh Mệnh đặc biệt hài lòng. Khi đã hoàn thành phận sự đại thần, đóng góp đặc biệt cho đế chế, Minh Mệnh đã mở ra một con đường để Nguyễn Công Trứ đến với tự do cá nhân và phát triển cá tính. Nguyễn Công Trứ đã rất hô ứng với điều này, dấu hiệu giải thích cho sự hô ứng này rất hợp lý là ông đã rất chuyên biệt trong tư cách đại thần ở trong triều và đã rất phi đại thần trở thành hình ảnh phong lưu danh sĩ khi ngoài lăng miếu, đặc biệt thú vị là, văn chương trong lăng miếu hình ảnh Minh Mệnh mang đậm tính ngợi ca thì trong văn chương ngoài lăng miếu vắng bóng hình ảnh Minh Mệnh. Nhưng có lẽ đặc biệt nhất và thú vị nhất là, sở dĩ Minh Mệnh mở ra và không thổi còi đối với Nguyễn Công Trứ ở ngoài lăng miếu và Nguyễn Công Trứ ý thức triệt để việc đó là tự do cá nhân và cá tính Nguyễn Công Trứ không trực tiếp công phá và làm ảnh hưởng, tổn hại đến hình ảnh hoàng đế Minh Mệnh và đế chế. Nguyễn Công Trứ có giễu nhưng cao nhất là giễu quan đại thần, mà không dám trực tiếp giễu, bỡn Hoàng đế. Cả Minh Mệnh và Nguyễn Công Trứ đều khế ước với nhau và đó là bí mật của sự xuất hiện trường hợp tự do cá nhân và đặc thù cá tính với tư cách là trường hợp cá biệt xuất hiện, phát triển và thăng hoa ở thời Nguyễn Minh Mệnh.

KẾT LUẬN

Như vậy, tư tưởng về người trác dị, tìm kiếm người phi khoa cử và đánh giá thấp vai trò của khoa cử, và kiến tạo một cơ chế đặc dị cho người trác dị là đặc sắc, ghi dấu tầm vóc của Minh Mệnh. Vậy tại sao ông lại nghĩ khác các vị vua các triều đại trước, cội nguồn sâu xa của nó là gì? Có lẽ, để trả lời cần có một sự khảo luận kỹ càng nhưng có lẽ hợp lý nhất là, Minh Mệnh đặc biệt ý thức về tính chất địa chính trị và địa văn hóa của việc kiến tạo quốc gia mình, ông đã nói trước văn võ bá quan rằng: Quốc gia ta xây dựng nền tảng ở phương Nam[22], phải chăng, chính cái nền tảng Phương Nam đó khiến ông có cái nhìn mang tính Phương Nam, tức khai mở, khai phóng hơn về cách thức tìm kiếm và sử dụng người tài. Và thú vị hơn nữa là, một giai xứ Nghễ  ngồn ngộn phẩm chất lại được tung hoành ở một nền tảng quốc gia phương Nam Nguyễn Công Trứ, tức tính chất khai phong, khai mở của tinh thần Phương Nam không chỉ là cơ sở nền tảng giúp Nguyễn Công Trứ thể hiện và xúc tác cho cá tính của ông thăng hoa, mà nhiều dấn ấn của phương Nam khai mở kết tinh trong cả ứng xử và văn chương nơi ông.

Để kết luận cho bài viết này, tôi xin dẫn lại câu nói của John Stuart Mill trong On Liberty: “Giá trị của một quốc gia, về lâu dài, chính là giá trị của những cá nhân tạo nên quốc gia đó”. Nguyễn Công Trứ và cả Minh Mệnh đều xứng đáng là những giá trị của quốc gia vì họ tạo nên quốc gia đó về lâu dài. Ngày nay, chúng ta cần nhiều hơn nữa những Nguyễn Công Trứ và cần thiết hơn là phải đi tiếp những khía cạnh mà Nguyễn Công Trứ chưa đi vì chưa có điều kiện đi hoặc vì những lý do chủ quan và khác quan khác và cần thiết hơn nữa là những vị đứng đầu với nhiều khía cạnh sáng suốt như Minh Mệnh: chuyển trọng tâm từ cái nhìn hệ thống sang trọng tâm cái nhìn về con người!


[1] Chữ dùng của giáo sư Trần Đình Sử

[2]Trác dị là chữ của Minh Mệnh dùng chỉ những người đặc biệt xuất sắc.

[3]Việt Nam sử lược, Trần Trọng Kim, Nxb Văn học, 2016, tr. 342.

[4] Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập 2, Nxb Đồng Tháp, 1997, tr. 498-499

[5] Dẫn theo, Nguyễn Công Trứ trong dòng lịch sử, Đoàn Tử Huyến chủ biên, Nxb Nghệ An, 2008, tr. 472

[6] Dẫn theo Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập 2, Nxb Đồng Tháp, 1997, tr. 498-499

[7]Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Nxb Văn học, 2016,, tr. 343.

[8]Dẫn theo Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Nxb Văn học, 2016, tr. 348-349

[9] Quốc sử quán triều Nguyễn, Minh Mệnh chính yếu, quyển 4, Nxb Thuận Hóa, Huế, năm 1994, Tr. 183.

[10]  Quốc sử quán triều Nguyễn, Minh Mệnh chính yếu, tập 1, Nxb Thuận Hóa Huế 1994, tr. 161.

[11]Quốc sử quán triều Nguyễn, Minh Mệnh chính yếu, quyển 4, Nxb Thuận Hóa, Huế, năm 1994, Tr 161.

[12]Quốc sử quán triều Nguyễn, Minh Mệnh chính yếu, quyển 4, Nxb Thuận Hóa, Huế, năm 1994, Tr. 163

[13]Việt Nam sử lược,  Sđd, tr. 159-160

[14]Việt Nam sử lược , Sđd, tr. 157-158

[15]Việt Nam sử lược,Sđd, Tr. 157

[16]Việt Nam sử lược,  Sđd, Tr. 174

[17]Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện, Nxb Thuận Hóa, 2014,tr. 290.

[18]Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện, Nxb Thuận Hóa, 2014, tr. 457

[19] Đã dẫn chữ dùng của giáo sư Trần Đình Sử

[20] On Liberty, Bàn về tự do, chương 3.

[21] Trong lăng miếu là văn chương trong triều đình, thuộc về triều đình. Văn chương ngoải lăng miếu là văn chương của Nguyễn Công Trứ ngoài triều đình, sáng tác tự do theo xúc cảm cá nhân.

[22]S đ d, Tr.

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 27.09.2016

VN chuẩn bị đón Tổng thống Philippines

VN chuẩn bị đón Tổng thống Philippines

BBC
REUTERS
Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte có những thông điệp trái ngược về chính sách ngoại giao

Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte sẽ hội kiến với Chủ tịch nước Việt Nam Trần Đại Quang khi thăm Việt Nam từ 28 đến 29/9.

Ông cũng sẽ gặp cộng đồng người Philippines ở Hà Nội.

Chính phủ Philippines ước tính khoảng 3.800 người Philippines đang sống ở Việt Nam.

Ông Rodrigo Duterte cũng cho biết ông dự kiến sẽ đi thăm Trung Quốc, Nhật Bản và Nga.

Ông nói tại Trung Quốc, ông sẽ thảo luận về tranh chấp biển đảo nhưng cũng muốn thúc đẩy quan hệ thương mại.

Image copyrightEPA

Dự kiến ông Duterte sẽ thăm Trung Quốc, Nhật Bản vào tháng 10

Hai tác giả Việt Nam nằm trong dự đoán Giải Nobel Văn học 2016

Mary Morose (Canada)

V.V. dịch

y-nhi

Hoàng Thị Ý Nhi là người đang giữ Giải thưởng Cikada (Ve Sầu – Giải Thơ châu Á hằng năm của Thụy Điển – ND), là nhà thơ Việt Nam đầu tiên nhận giải này. Ban giám khảo ca ngợi thơ Ý Nhi vì sự bảo vệ tính thánh thiện của sự sống con người. Tinh thần bảo vệ sự thuần khiết và thánh thiện của sự sống bắt nguồn từ trải nghiệm của bà trong chiến tranh Việt Nam, trong thời gian ấy bà là nhà báo. Bà được coi là một trong những nhà thơ lớn nhất của Việt Nam sau chiến tranh. Thơ Ý Nhi được chú ý nhiều vì sự hấp dẫn về cảm xúc và hình thức hiện đại, trong đó bà bàn về số phận của người phụ nữ trong chiến tranh. Thơ bà có đặc điểm là cách chọn từ ngữ tinh tế, sự thầm lặng của chủ đề, trong đó là sự cô đơn của người nữ, sự mất mát trong tình yêu. Điều ấy khiến nhiều nhà phê bình ghi nhận giọng điệu buồn trong thơ bà. Hoàng Thị Ý Nhi đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, như Đức, Tây Ban Nha, Pháp, Nga, Anh. Chắc chắc thơ bà sẽ sớm có bản dịch tiếng Thụy Điển.

duong-thu-huongDương Thu Huơng là một nhà văn và nhà bất đồng chính trị ở nước Việt Nam Cộng sản, là đảng viên Cộng sản cho đến năm 1989 thì bị khai trừ do phê phán sự tham nhũng trong chính quyền và sau đó bị bắt giam vì những bài viết đả kích chính phủ nặng nề. Bà có lúc bị cấm xuất cảnh nhưng hiện đang cư trú tại Paris Pháp. Trước khi bị cấm xuất bản sách, Duơng Thu Hương đã ở trong số nhà văn nổi tiếng nhất ở Việt Nam. Tuy nhiên, từ khi ra khỏi Đảng Cộng sản và bạt xứ, tác phẩm của bà không được xuất bản và bà không được trở về nước; nhưng Hương đã có được sự tán thưởng rộng lớn hơn bên ngoài Việt Nam. Giống như phần lớn các nhà văn bất đồng, Dương Thu Hương vẫn nuôi hy vọng tương lai của đất nước sẽ vuợt qua tình trạng hiện tại và thành tựu được dân chủ.

http://morose-mary.blogspot.sg/2016/08/nobel-prize-for-literature-2016.html

( Nguồ: Google)

Đăng bởi: Ngô Minh | 26.09.2016

‘Tham nhũng lan vào chốn thiêng liêng’

‘Tham nhũng lan vào chốn thiêng liêng’

BBC

Ông Vũ Ngọc Hoàng có hai bài viết trên VietnamNet bàn về quyền lực và kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam mới đây.

Cựu Phó trưởng ban Tuyên giáo Trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam, Vũ Ngọc Hoàng có bài viết nói rằng hiện nay “tham nhũng và lợi ích nhóm” đã lan vào cả các lĩnh vực “trong sạch, thiêng liêng”.Trang VietnamNet đăng bài của ông Vũ Ngọc Hoàng phê phán cả sự tha hóa quyền lực trong bộ máy ở Việt Nam.

“Có những người lúc đầu khi chưa có quyền lực thì tốt, nhưng sau đó, khi đã có quyền lực trong tay thì dần dần trở nên hư hỏng, thành người xấu; thậm chí đến mức có thể phản bội nhân dân, bán rẻ Tổ quốc vì ngai vàng của cá nhân.”

Tuy nhiên, ông không nêu rõ những người đó là ai mà chỉ nêu ra luận điểm chung là quyền lực “làm thay đổi con người”.

“Trên đỉnh cao của quyền lực ít ai nhìn thấy tai họa ẩn chứa vốn có từ bên trong quyền lực ấy, nếu không phải là người lãnh đạo có nhân cách lớn, minh triết uyên thâm…”

Ông cũng cảnh báo “tha hóa quyền lực dẫn đến sụp đổ chế độ” và nhắc rằng “việc kiểm soát quyền lực trước tiên là để bảo đảm cho quyền lực luôn thuộc về đúng chủ nhân của nó, tức là thuộc về nhân dân”.

“Sự tha hóa quyền lực tất yếu sẽ dẫn đến sụp đổ chế độ chính trị. Nếu sự tha hóa ấy không dừng lại và lành mạnh hóa thì sụp đổ là không thể khác, chỉ còn là vấn đề thời gian. Sự sụp đổ ấy chính là tự đổ, không phải do ai phá và cũng không ai cản nổi.”

Tuy vậy ông cũng thừa nhận một thực trạng kêu gọi, vận động nhiều năm qua mà ngành Tuyên giáo của ông đóng một vai trò, đã không đem lại kết quả:

“Nhiều năm qua lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta đã rất nhiều lần đề ra chủ trương và kêu gọi phải chống tham nhũng, chống “lợi ích nhóm” tiêu cực, cũng đã mất nhiều công sức cho công việc khó khăn và vất vả này, nhưng kết quả vẫn còn rất hạn chế.”

“Tình hình tham nhũng, ‘lợi ích nhóm’ chẳng những không dừng lại, mà đang còn khá phổ biến và phức tạp, gây nhức nhối xã hội, đau đầu các cơ quan lãnh đạo đất nước.”

‘Tha hóa mọi lĩnh vực’

TS Hà Hoàng Hợp
Ý kiến trong hai bài viết của nguyên Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng còn ‘chưa minh bạch, lập lờ’, theo TS. Hà Hoàng Hợp.

“Nó cứ lan rộng dần vào tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, của công việc quản lý và quản trị quốc gia, vào ngay trong các lĩnh vực mà trước đến nay thường được cho là trong sạch, thiêng liêng.”

Các lĩnh vực này được Tiến sỹ Vũ Ngọc Hoàng định nghĩa là “dạy người, cứu người, an ninh quốc gia, nắm cán cân công lý để bảo vệ sự nghiêm minh, kể cả cơ quan ở cấp cao, cả nhà thờ, chùa chiền, cả lĩnh vực làm từ thiện, nhân đạo, chính sách đền ơn đáp nghĩa…”.

Tóm lại là, theo ông, việc “kiểm soát quyền lực về cơ bản chưa được kiểm soát, từ đó dẫn đến tha hóa cán bộ và các tổ chức trong bộ máy lãnh đạo quản lý”.

Thời gian qua trong chính bộ máy Đảng Cộng sản và chính quyền tại Việt Nam đã xảy ra liên tiếp nhiều vụ việc gây lo ngại.

Hôm 18/8, truyền thông nhà nước Việt Nam nói một chi cục trưởng kiểm lâm ở Yên Bái, ông Đỗ Cường Minh đã dùng súng công vụ bắn chết Bí thư Tỉnh ủy Phạm Duy Cường và Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Ngô Ngọc Tuấn.

Mới đây Bí thư Thanh Hóa, tỉnh lớn vào loại nhất nước về dân số, ông Trịnh Văn Chiến phải lên tiếng bác bỏ các tin trên mạng xã hội rằng ông có ‘bồ nhí, con riêng’ và tài sản ‘nhiều chục tỉ đồng’.

‘Chưa minh bạch, lập lờ’?

Cựu Phó Trưởng ban Tuyên giáo Vũ Ngọc Hoàng trong phần 2 của bài viết nói trên cũng trên VietnamNet đưa ra quan điểm của ông về kiểm soát quyền lực.

Trong bài viết có tựa đề “ Nhiều việc bị lấy cớ là ‘nhạy cảm’ để không minh bạch thông tin“, Tiến sỹ Hoàng viết:

“Trong phần 1, tôi đã nói về lý do phải kiểm soát quyền lực. Trong phần 2 này, tôi xin góp bàn về quyền lực cần được kiểm soát như thế nào, bằng cách nào? Trước tiên phải thấm nhuần sâu sắc quan điểm quyền lực tối cao thuộc về nhân dân. Lời ấy không phải là hô khẩu hiệu, mà phải được thấm sâu trong hệ thống chính trị và trong cộng đồng nhân dân. Mọi người phải ý thức rõ ràng và đầy đủ về quan điểm ấy, thường xuyên thể hiện bằng hành động thực tế.

“Bảo đảm việc lập hiến là của toàn dân (thông qua cử tri toàn quốc), nhân dân phải trực tiếp quyết định những vấn đề cơ bản của Hiến pháp (chứ không phải là nhân dân góp ý để Quốc hội xem xét). Phải trưng cầu dân ý đối với những vấn đề quan trọng của đất nước. Tiến tới Chủ tịch nước phải do nhân dân trực tiếp bầu (chứ không phải Quốc hội)…”

Bình luận về ý kiến của ông Vũ Ngọc Hoàng qua hai bài báo trên VietnamNet, hôm 25/9, Tiến sỹ Hà Hoàng Hợp, nhà nghiên cứu chính trị Việt Nam và quốc tế, từ Hà Nội nêu nhận xét:

“Bài thứ hai ông ấy nói về chuyện vì nhạy cảm không minh bạch hóa thông tin, chính ông mắc vào chuyện ấy. Ông chẳng chẳng minh bạch gì cả, ông nói rất lập lờ, đọc thì tôi thấy ông ấy nói rất lập lờ, ông chẳng nói gì cụ thể cả.

“Ông ‘đao to, búa lớn’ nói có người bán rẻ Tổ Quốc. Nếu ông ấy đủ dũng cảm, ông ấy đủ minh bạch, ông ấy nên nói thẳng ra đấy là ai? Hay ông nói đến Trần Ích Tắc hay là Lê Chiêu Thống xưa?”

Đăng bởi: Ngô Minh | 26.09.2016

Xin đừng “nhìn ngược” như thế

Xin đừng “nhìn ngược” như thế

  •   NGUYỄN DUY XUÂN
 bo-chieu
Vụ chở thi thể người bằng xe máy ở Sơn La gây chấn động dư luận mấy ngày qua.

Trên các trang báo điện tử cũng như mạng xã hội, hầu hết độc giả đều chia sẻ, bày tỏ nỗi thương cảm sâu sắc cho thân phận một con người cũng như gia cảnh của người phụ nữ xấu số.

Thế nhưng cũng có ý kiến ngược lại, thật hiếm hoi trong tâm trạng xót xa chung của dư luận.

Trong một bài đăng trên trang điện tử Kiến thức với tựa đề: “Góc nhìn ngược vụ chở thi thể người bằng xe máy ở Sơn La“, tác giả bài viết nêu ý kiến của bác sĩ Lương Quốc Chính – Khoa Cấp cứu của Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) cho rằng “hành động chở thi thể người bằng xe máy ở Sơn La đáng trách hơn là đáng thương, vì “là một sự cẩu thả, liều lĩnh“.

Trên trang Facebook cá nhân của mình, bác sĩ Lương Quốc Chính viết: “Theo mình, vụ một anh thanh niên dùng xe máy để chở thi thể bệnh nhân tử vong từ bệnh viện về nhà là một sự cẩu thả, liều lĩnh, không hiểu biết về y tế dự phòng.

Nhìn tấm ảnh và đọc lướt qua nội dung câu chuyện, chắc chắn ai cũng thấy xót xa cho phận nghèo. Nhưng mình thì lại khác, xót xa cho một tầng lớp người dân lạc hậu, cổ hủ, liều lĩnh làm càn… Đừng lấy cái cớ nghèo để bao biện rằng không có tiền thuê xe chuyên dụng nên mới làm vậy”.

Bác sĩ Chính nêu thắc mắc: “Tại sao không chậm lại một chút, tại sao cứ phải nóng lòng đưa thi thể về nhà khi không có tiền, không có điều kiện. Tại sao không kêu gọi sự giúp đỡ từ bệnh viện, từ người xung quanh, từ cộng đồng, và nếu có kêu gọi thì phải kêu thật to, đừng kêu lí nhí lấy lệ để rồi lại dựa vào đó nói rằng không ai giúp đỡ”.

Có lẽ khi viết những dòng status này, bác sĩ Chính chưa nắm được thông tin đầy đủ về vụ việc, điều này cũng dễ thông cảm cho bác sĩ.

Tôn trọng quyền của mỗi người được bày tỏ chính kiến trước một vấn đề xã hội, nhưng tôi cũng xin phép được trao đổi đôi điều với BS Lương Quốc Chính.

Thưa bác sĩ! BS nói hành động chở thi thể người bằng xe máy ở Sơn La đáng trách hơn là đáng thương, vì đây “là một sự cẩu thả, liều lĩnh, không hiểu biết về y tế dự phòng”.Tôi nghĩ BS đã quá nặng lời. Trong trường hợp hi hữu này, người trong cuộc làm sao mà ý thức được “về y tế dự phòng” thưa BS?

Còn vì sao người nhà phải “cẩu thả, liều lĩnh” thì xin thông tin thêm về vụ việc để BS biết. Chị Lò Thị P không phải chết tại bệnh viện như thông tin ban đầu. Do bệnh tình quá nặng và hoàn cảnh gia đình khó khăn nên người nhà đã làm cam kết xin đưa chị về và bệnh viện đã đồng ý. Nhưng chị P đã chết trên đường đi sau khi rời bệnh viện được khoảng 30 phút. Vẫn biết đạo lí của người Việt mình từ ngàn xưa đến nay luôn tỏ thái độ và hành động khả kính, tôn trọng, bảo vệ, nâng niu thi thể người chết. Nhưng trong hoàn cảnh này, người chết dọc đường, người thân lại là dân nghèo miền núi, không liều thì còn biết làm sao được nữa, BS nhỉ? Tôi nghĩ, họ cực chẳng đã, quẫn lắm rồi mới phải làm “liều” như thế.

BS bảo: “Tại sao không kêu gọi sự giúp đỡ từ bệnh viện, từ người xung quanh, từ cộng đồng”? Thì đây, người em họ Là Văn May kể lại: “Làm cam kết xong, chúng tôi hỏi các bác sĩ xem bệnh viện có hỗ trợ xe đưa về không, các bác sĩ nói là không được hỗ trợ và gợi ý nếu có thuê xe thì sẽ gọi xe ô tô ngoài cho“. Bệnh viện không hỗ trợ, kêu xe ngoài giá 5 triệu – một khoản tiền khủng đối với người nghèo như gia đình chị P. Đến tiền thuốc men, tiền viện phí còn chưa lo nỗi nữa là.

Còn kêu gọi sự giúp đỡ từ cộng đồng ư? Trong lúc bối rối, đau xót vì mất người thân, lại giữa đường giữa sá như thế này, thật khó cho những người dân nghèo nơi vùng sâu vùng xa như họ. Họ không thể kêu được chứ đừng nói là “kêu thật to“, không phải “lí nhí lấy lệ” như BS chỉ bảo.

Đôi khi “nhìn ngược” để ta hiểu thấu vấn đề. Nhưng “nhìn ngược” để rồi cười cợt, dè bỉu trên nỗi đau và sự nghèo khó của người khác, nghe nó lạnh lùng và chua chát lắm, BS ạ. Xin BS đừng “xót xa cho một tầng lớp người dân lạc hậu, cổ hủ, liều lĩnh làm càn…”, đừng phê phán họ “lấy cái cớ nghèo để bao biện rằng không có tiền thuê xe chuyên dụng nên mới làm vậy”. Tội cho những thân phận nghèo hèn lắm, thưa ông!

Chuyện chở thi thể người bằng xe máy ở Sơn La vừa qua là điều cực chẳng đã, chẳng ai muốn xảy ra. Nhưng nó đã xảy ra rồi. Đó là nỗi đau của cộng đồng, của xã hội, cần được mọi người sẻ chia bằng tấm lòng nhân ái của mình để không còn những phận người mong manh, khổ đau đến cả lúc nhắm mắt xuôi tay như chị Lò Thị P.

………………………………………………………………

Nguồn tham khảo:

http://kienthuc.net.vn/xa-hoi/goc-nhin-nguoc-vu-cho-thi-the-nguoi-bang-xe-may-o-son-la-742585.html

– http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/326951/cho-thi-the-tren-xe-may-bac-si-bao-khong-ho-tro-xe.html

Đăng bởi: Ngô Minh | 26.09.2016

Ý NGHĨA NHỮNG TỪ THÔ TỤC TRONG VIỆT NGỮ

Ý NGHĨA NHỮNG TỪ THÔ TỤC TRONG VIỆT NGỮ

 Nguyễn Xuân Quang

 

Những từ mà chúng ta ngày nay cho là “thô tục”, đối với tổ tiên ta chúng mang đầy ý nghĩa về triết lý, vũ trụ quan và nhân sinh quan, nói một cách khác những từ này mang ý nghĩa của Dịch lý.

Vì đây là một bài khảo cứu về ngôn ngữ và Dịch học, nên tác giả xin phép viết các từ thô tục này “nguyên con” (nguyên chữ). Xin các nhà đạo đức tạm gác cái bầu đạo đức qua một bên khi đọc loạt bài này kẻo không sẽ nguy hại tới sức khỏe (đây là lời khuyên của một thầy thuốc).

NHỮNG TỪ CHỈ BỘ PHẬN SINH DỤC NỮ

Trước hết xin nói về những từ chỉ bộ phận sinh dục phái nữ vì xã hội loài người bắt đầu từ mẫu hệ và hư vô trung tính chuyển qua vũ trụ âm trước. Việt ngữ có những từ chỉ bộ phận sinh dục nữ như nường, lồn, dánh, ke, ghe, nốc, dốc, đốc v. v…

NƯỜNG

Nường là tiếng cổ Việt chỉ bộ phận sinh dục nữ thấy rõ qua từ kép “nõ nường”. Nõ là nọc là cọc là cặc (xem dưới). Nường là nương, là nang có nghĩa là cái bao, cái túi, cái bọc. Nường là nòng, nõ là nọc. Nõ nường là nọc nòng dương âm là càn khôn. Ta cũng có từ nõn nường hàm nghĩa chỉ bộ phận sinh dục:

                         Ba mươi sáu cái nõn nường,

                        Cái để đầu giường, cái gối đầu tay.

(ca dao).

Thật ra nõn nường chỉ bộ phận sinh dục gái tơ với nõnnon, trẻ, mượt mà như vải phin nõn, trắng nõn trắng nà. Từ nõn nà với nà là ná, nạ (mẹ) nàng, nường.  Nõn nà là nường non, gái tơ, cái nường trắng nõn, trắng nà. Nõn nà là nàng đẹp tương đương với mị nương chính là Mã Lai-Java ngữ nona, nàng.

LỒN

Lồn là lồng, lòng, nòng, nàng, nường, nang có nghĩa là cái bao cái túi, cái bọc.

Lồn, lồng là dạng nam hóa, hiện kim của nòng, nường (l là dạng nam hóa, hiện kim của n). Lồn liên hệ với lồng thấy rõ trong Anh Pháp ngữ: vagina, vagin (âm đạo) liên hệ với invagination (lồng vào nhau) nhưintestinal invagination (chứng ruột lồng) còn có tên là intestinal intussusception. Lồng còn có nghĩa là  vật đựng, dùng để “nhốt” chim hay gà. Ở một diện, chim biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam (xem dưới) và gà trống cũng vậy. Anh ngữ cock là gà trống và cũng là từ chỉ bộ phận sinh dục nam. Anh ngữ “cock” có gốc coc-, chính là Việt ngữ cọc, cặc. Rõ ràng cái lồn, cái lồng dùng để “nhốt” chim và gà của phái nam. Với nghĩa là túi, bao, bọc, lồn tương ứng với Pháp ngữ vagin, Anh ngữ vagina (âm đạo). Theo v=b như víu = bíu, vagin, vagina có gốc vag- = bag (túi, bao). Anh ngữ vaginate có nghĩa là có bao, có túi. Với nghĩa là lồng, lòng, dạ, lồn liên hệ với Ba Lan ngữ lono (‘bosom’, ngực, lòng; lap, đùi, chỗ trũng, chỗ lõm, với Phạn ngữ yoni (vulva, âm hộ) (theo qui luật l=d=y). Phạn ngữ yoni liên hệ với yauna (dạ con),yauna chính là yoni + a. Ta thấy rõ trong tiếng Việt, phái nữ nàng, nương, nường gọi theo bộ phận sinh dục nữ nường, lồn giống hệt như các tộc khác của Ấn Âu ngữ như Phạn ngữ yoshana, yosha, yoshit (đàn bà) là gọi theo yoni. Ý ngữ donna, Tây Ban Nha dona (n có dấu ngã), Bồ Đào Nha dona, v. v… có nghĩa làlady (bà, đàn bà, phái nữ) tất cả có gốc don-, theo d=l như dần dần = lần lần, don- = lồn. Ở Thái Bình có loài sò hến gọi là con don. Món canh don ở Thái Bình rất nổi tiếng. Sò hến có một nghĩa dùng chỉ bộ phận sinh dục phái nữ. Con don là con yoni con lồn.

Cũng xin nói thêm ở đây là vì có biến âm d=l nên ta có từ nói lái đôn lò.

KE

Trong Từ Điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes có từ ke chỉ “chỉ bộ phận sinh dục đàn ông hay đàn bà”. Về phía phái nữ ke chính là kẽ như kẽ nứt, kẽ hở, kẽ tay, đọc thêm hơi vào ke thành khe. Ke, kẽ, khe là những từ tượng hình chỉ bộ phận sinh dục nữ, Anh ngữ bình dân gọi là slit. Cũng trong Từ Điển Việt Bồ La có tứ dánh, dắnh chỉ lồn. Đây chính là từ dãnh, rãnh chỉ cái khe, cái mương, cái máng.

GHE

 Ghe chỉ bộ phận sinh dục nữ như thấy qua câu ca dao:

        Khôn thì ăn cháo, ăn chè,

        Dại thì ăn đếch, ăn đác, ăn ghe, ăn đồ.

(ca dao).

Ghe chỉ bộ phận sinh dục nữ như thấy qua cách biếu xén quà cáp. Muốn chửi rủa ai, vào dịp giỗ tết đem biếu hai quả cau và ba chén chè. Hai quả cau “nang” chỉ hai cái “trứng” của phái nam và ba (chén) chè nói lái lại là ghe bà. Theo chuyển hóa k= gh như ké = ghé, kê = ghế (cái đòn kê để ngồi là dạng nguyên thủy của cái ghế ngày nay), ta có ke = ghe. Ghe là ke là kẽ, là khe.  Ghe chỉ bộ phận sinh dục nữ nên ta có từ “ghế” tiếng nói trại đi của từ “gái”. Con ghế có ghe. Nguyên thủy cái ghe làm từ một thân cây khoét rỗng (dug-out) có hình cái khe. Vì thế mà thuyền độc mộc gọi là cái ghe. Phi Luật Tân Tagalog ngữ gay”là ghe biến âm với gái, theo g = c, gay = cây. Rõ ràng ghe, gay là thuyền độc mộc khoét từ một khúc cây và liên hệ đến gái, bộ phận sinh dục nữ. Ở đây ta có thể dùng tiếng Việt để giải thích nguyên ngữ của từ Anh ngữ she (nàng, nường, phái nữ, đại danh từ ngôi thứ ba số ít, giống cái). She liên hệ với Việt ngữ chị, với Quảng Đông ngữ chế (nên nhớ là Quảng Đông là phần đất cũ của Bách Việt). Áp dụng qui luật c = k = s như cắt = sắt, khe = she. She liên hệ với khe, ghe. She có khe, có ghe ! Một điểm cũng cần nói tới là Việt ngữ ghe cũng có nghĩa  là thuyền tàu (ship). Như đã nói, ghe  biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ mang tính thuần âm nên chỉ nói là “cái ghe” chứ không bao giờ nói “con ghe”. She gần âm với shipshipcũng có giống cái phải dùng she thay cho ship.

Xin bước ra ngoài lề bài viết để kể một câu chuyện lúc tôi đi tuần du hải dương (sea cruise). Trong một buổi gặp mặt thuyền trưởng, một du khách hỏi vị thuyền trưởng là tại sao ship có giống cái và nói là she. Vị thuyền trưởng trả lời là các người đi biển coi con tầu, chiếc thuyền như một mỹ nhân, một người yêu, họ sống chết theo con tầu, chiếc thuyền. Tôi có nói nhỏ với vị thuyền trưởng là trong Việt ngữ  ghe ship có nghĩa là bộ phận sinh dục nữ. Ông ta há hốc miệng. Bằng chứng là Ainu ngữ của thổ dân ở Nhật có từchip là ghe thuyền cũng có nghĩa lóng là bộ phận sinh dục nữ (xem dưới).

NỐC, DỐC, ĐỐC

 Nốc là cổ ngữ Việt chỉ thuyền, ghe. Ngày nay chỉ thuyền nhỏ, còn dùng ở miền bắc Trung Việt:

        Ăn thì cúi chốc, kéo nốc thì than.

(Tục ngữ).

Ăn thì cắm đầu xuống ăn, còn kéo thuyền thì than.

Hay

        Một trăm chiếc nốc chèo xuôi,

        Không có chiếc mô chèo ngược, để tôi gởi lời viếng thăm.

                                (Hát đò đưa Nghệ Tĩnh).

Hay

        Đêm khuya thắp ngọn đèn chai,

        Quen o nốc đáy, ăn hoài cá tươi.

(ca dao).

Cũng nên biết nốc ở dưới nước nên liên hệ tới nước. Nốc còn có nghĩa là uống như nốc nước, nốc rượu. Nốc biến âm với nác, nước, núc. Nguyên thủy nốc cũng làm từ một thân cây khoét rỗng. Nốc liên hệ với Anh ngữ nog (cái chốt bằng khúc cây) log (thân cây). Nốc là ghe cũng có nghĩa là bộ phận sinh dục nữ. Nốc liên hệ với An ngữ nook (chỗ lõm, “xó” nhà, chỗ lõm dùng làm chỗ ngồi ăn gần bếp). Theo n=l, nốc =lốc, lốc cũng chỉ bộ phận sinh dục như thấy qua câu ca dao:

        Cô lô cô lốc,

        Một nghìn ghính ốc đổ vào lồn cô.

Thật ra phải viết là “cô lô cô nốc” mới đúng. Từ hiện kim lốc là dạng nam hóa của nốc (giống như của) vô nghĩa. Như thế nguyên thủy nốc là thuyền độc mộc. Cổ ngữ Việt cũng có từ  dốc, đốc chỉ thuyền. Trong Từ Điển Việt Bồ La có từ dốc chỉ cơ quan sinh dục đàn bà. Theo n = d như này = đây, ta có nốc = dốc, đốc. Đốc cũng chỉ cơ quan sinh dục đàn bà như thấy qua từ mồng đốc chỉ hạt tình (clitoris) (1).  Mồng đốc là cái mồng thịt ở cái đốc, cái nốc phái nữ.

Như thế ta thấy một nhóm chỉ bộ phận sinh dục nữ qua các từ có nghĩa là ghe, nốc liên lạc với nước mang tính thái âm, thuần âm. Ngay cả từ đò đôi khi cũng được dùng để chỉ bộ phận sinh dục nữ như thấy qua câu ca dao:

        Khi xưa anh ở cùng đò,

        Bây giờ đò rách anh mò thuyền nguyên.

 Từ đò gần âm với đồ. Từ đồ có nghĩa là ông đồ nho và cũng có nghĩa là bộ phận sinh dục như thấy qua câu thơ của một nhà thơ cổ chế riễu hai ông nhà nho:

        Hai đứa tranh nhau một cái đồ!

Đò biến âm với đỏ. Đỏ cũng có một nghĩa là con gái, bộ phận sinh dục nữ như thấy trong câu hát:

                Thằng cu vỗ chài,

Bắt trai bỏ giỏ.

Cái đỏ ẵm em,

Đi xem đánh cá…

 Cái đỏ đối với thằng cu, “đỏ” đối với “cu”.

Đò cũng biến âm với đó, dụng cụ bắt cá có hình túi cũng chỉ bộ phận sinh dục nữ như thấy qua câu tục ngữ:

                Đó rách ngáng chỗ.

 Ý nói các bà vợ có “đó đã rách” nên nằm ngáng chỗ khiến các ông chồng không thể mò được “thuyền nguyên”. Cái hay nữa là “đó” cũng có nghĩa là “ấy”. Cái đó là cái ấy.

Điều rất thú vị là không những các từ cổ Việt chỉ bộ phận sinh dục nữ còn có nghĩa là ghe, nốc mà trong ngôn ngữ của người Ainu (Hà Di), thổ dân sống ở Nhật Bản có từ chỉ bộ phận sinh dục nữ cũng có nghĩa là ghe, nốc. Ainu ngữ chip chỉ ghe thuyền. Ta thấy rất rõ chip liên hệ với Anh ngữ ship (ghe thuyền, theo c=s). Ngoài ra Ainu ngữ chip cũng dùng như một tiếng lóng chỉ âm đạo:chip, a slang word for the vagina(Rev. John Batchelor, Aini-English-Japanese Dictionary, Tokyo, 1905). Người cổ Việt đã gặp người Ainu “trong phòng the” cách đây hàng mấy ngàn năm. Nên biết là cái nốc, cái độc mộc có thể đi khắp bốn biển sang tới tận Madagascar (ngày nay thuyền độc mộc còn dùng nhiều ở đảo này, ngôn ngữ Magdagascar liên hệ với tiếng Mã-Nam Dương và Nam Á) thì thuyền độc mộc hay cái “nốc” của phái nữ cổ Việt sang tới đất Nhật Bản cũng là chuyện không có gì đáng ngạc nhiên cả.

Dĩ nhiên, ngoài ra còn có những tiếng lóng chỉ bộ phận sinh dục nữ. Chỉ xin nói tới một từ phổ thông nhất là từ lá đa.

 LÁ ĐA

Lá đa chỉ bộ phận sinh dục nữ thấy qua câu ca dao:

Sự đời như cái lá đa,

Đen như mõm chó, chém cha sự đời.    

Như đã giải thích ở chương Giống Đực Giống Cái trong Tiếng Việt Huyền Diệu, miền Bắc gọi là cây đa trong khi Trung Nam gọi là cây da. Từ da của Trung Nam theo duy âm, nòng có một nghĩa là cái túi cái bao, cái bọc thân người như da người, da trời.  Thái ngữ nang là da. Với nghĩa là túi, bọc, nang nên lá đa là lá nường, là lá nàng, lá nòng, là lồng, lồn.

Về ngôn ngữ học, lá đa theo duy dương, nọc có nghĩa là lửa, mặt trời, đỏ.

Như thế lá đa theo duy dương là lá trời, lá đỏ (Nguyễn Xuân Quang, Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt, 2002). Như trên ta đã thấy đỏ cũng chỉ bộ phận sinh dục nữ, phái nữ như “con đỏ ẵm em”. Lá đỏ chỉ bộ phận sinh dục nữ vì thế lá vông cũng dùng chỉ bộ phận sinh dục nữ vì vông biến âm với vang có nghĩa là đỏ.  Đỏ biến âm với đẻ, Phạn ngữ ja là đẻ cùng âm với Việt ngữ da, đa. Lá đa, lá vông có thể hiểu là “lá đỏ”, “lá đẻ”. Lá vông chỉ bộ phận sinh dục nữ, phái nữ thấy rõ qua tục mai táng của Việt Nam:

        Cha gậy tre, mẹ gây vông.

Khi cha chết con trai chống gậy tre. Như đẵ biết tre là cây “que”, loài thảo mộc thẳng như cái que không có cành nhánh lớn. Que biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam, phái nam vì thế mà khi cha chết con trai phải chống gậy tre là vậy. Trong khi đó lá vông là lá đỏ chỉ bộ phận sinh dục nữ, phái nữ nên khi mẹ chết con trai phải chống gậy vông.

Ngoài ra về hình dạng lỗ sinh dục phái nữ cũng giống lá đa. Hình lá đa chỉ lỗ sinh dục phái nữ còn thấy rất rõ trong gốm cổ Moche của Peru (Gốm Tình Dục Peru Cổ).

Gốm diễn tả bộ giống phái nữ làm theo cơ thể học, người nữ hình Mẹ Đời ngồi ở tư thế sinh con, hai tay giơ lên phía đầu, ở trong Trứng Vũ Trụ (ở giữa), hình nòng O (bên trái) và hình lá đa (bên phải), Bảo Tàng Viện Larco (ảnh của tác giả).

 Lá đa, lá vông, lá mơ đều có hình dạng giống nhau vì thế “hiện thực” hơn nữa, lá mơ lông cũng dùng chỉ bộ phận sinh dục nữ.

Hơn nữa tổ tiên ta chọn lá đa, lá da và từ lá đa, lá da được dùng phổ thông hơn các thứ lá khác vì cây đa, cây da là cây thờ, cây linh thiêng, Cây Đời (Tree of Life), Cây Vũ Trụ (Cosmic Tree) sinh ra vũ trụ muôn loài. Người đàn bà đầu tiên của loài người hay Mẹ Đời của truyền thuyết Mường Việt cổ là Dạ Dần sinh ra từ một cây si, cùng họ với cây đa (Nguyễn Xuân Quang, Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt,  2002). Cái lá đa của phụ nữ Việt là một thứ lá “thiêng liêng” vì thế tục thờ  “lá đa” nói riêng và thờ nõ nường, thờ dâm thần của người cổ Việt theo mẫu hệ là chuyện dĩ nhiên.

THÌ LA, THÌ LẨY, THÈ LE, TÈ LE

Xin nói tới một từ chỉ bộ phận sinh dục nữ rất bí hiểm không một ai biết nghĩa. Ta có bài đồng dao nói về con gái:

Thì la thì lẩy,

Con gái bẩy nghề,

Ngồi lê là một,

Dựa cột là hai,

Ăn quà là ba,

Kêu ca là bốn,

Trốn việc là năm,

Hay nằm là sáu,

Láu táu là bẩy.

Thì la thì lẩy là gì? Xin thưa bài hát này nói về “con gái” nên thì la, thì lẩy có nghĩa là bộ phận sinh dục nữ. Tiếng dân dã bộ phận sinh dục gọi là cái “thè le” , “tè le” như thấy qua câu nói “dập cái thè le”,cái tè le”. Mường ngữ có hai từ thim lớ (hay “xiêm rỡ”) chỉ tình nhân cùng âm với thì la. Thì la, thì lẩy, thè le ruột thịt với Mã Lai ngữ  *tila, tilay, female genital, tộc Kelantan Borneo  teli, vagina, Balinese teli, vulva và Phi Luật Tân Tagalog ngữ tilin, vagina.  Tộc Gorontalo (WMP; Pateda 1977) tele, ‘vagina’ = tè le. Trong khi đó gốc til có nghĩa là hạt tình, mồng đốc, hột le, cái thè le (clitoris): tộc Bare’e (WMP; Adriani 1828)  tile, ‘clitoris’ = (hột) le’, thè le, thè lè; tộc Samoan (OC; Milner 1966) tela (not in decent use), ‘clitoris’ = thè le. Tôi gọi là ‘hạt tình’ vì gốc til cùng âm với ‘tình’ và “hạt’ tương ứng ‘với “hạt” dẻ rừng (glans) tức qui đầu của phái nam. Về phương diện cơ thể học hạt tình, hạt til clitoris = hạt dẻ glans.

Ông đồ nào là tác giả làm bài đồng dao này cho con nít hát quả thật là một ông “đồ thâm” nho,  một ông đồ “nho nặng” (nhọ), đồ này rất “đen” và rất “nhọ”. Cũng nên biết là bài đồng dao này rất phổ biến ở miền Bắc vì thế không phải chỉ có Trung Nam có liên hệ với Nam Đảo như Mã- Phi Luật Tân mà miền Bắc cũng có liên hệ.

NU NA NU NỐNG

Ta cũng thường nghe trẻ em hát bài đồng dao:

        Nu na nu nống,

        Cái bống nằm trong,

        Con ong nằm ngoài. . .

Như đã  giải nghĩa  ở chương Dịch Học trong Tiếng Việt Huyền Diệu, na là một tiếng cổ Việt có nghĩa là (ná, nạ là mẹ), nàng, nang, nường như  nõn nà = nõn nường (cái nà, cái nường trắng nõn). Cổ Việt nống là cái nọc để chống, để nâng vật gì lên. Na và nống là nường nõ, nòng nọc. Na là nà, là nàng, là nường là nòng là dòng là nước nên đi với câu hát thứ nhì có con cá bống, còn nống là cọc là nọc nên đi với câu thứ ba có con ong là loài có nọc (“ong non ngứa nọc”). Hai câu sau giải thích nghĩa của hai từ cổ ‘na” và nống”.  Còn từ “nu” nghĩa là gì? Nu biến âm với neo, néo, đeo, đéo với đu, đụ. Nu na nu nống hiển nhiên là “đu na đu nống” là làm tình. Ông đồ nào làm ra bài đồng dao này cũng là loại đồ thâm.

 NHỮNG TỪ CHỈ BỘ PHẬN SINH DỤC NAM

Việt ngữ có những từ chỉ bộ phận sinh dục nam như nõ, lõ, ke, que, buồi, cặc, chông, chim, cò, cu v. v…

Nhìn chung những từ chỉ bộ phận sinh dục nam có nghĩa là “vật nhọn” như nọc, cọc, que, roi, dùi…

NÕ                                 

Tiếng cổ Việt nõ chỉ bộ phận sinh dục nam như nõ nường (nọc nòng). Nõ là cây cọc, nọc như đóng cọc mít cho mau chín gọi là đóng nõ mít. Nõ nam hóa thành lõ. Trong từ Điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes có từ “lõ”: ‘làm dương vật cương lên như khi con vật giao cấu. Blỏ cùng một nghĩa’ và có từ “lô”, “con lô”: ‘cơ quan sinh dục của đàn ông’. Hiển nhiên lõ, lô là biến âm của nõ. Lõ trong tiếng Việt hiện kim chỉ vật gì đâm ra như cọc nhọn ví dụ mũi lõ, cặc lõ hay lõ cặc. Có phương ngữ nói là cặc lỏ (dấu hỏi). Theo l=n, lỏ =nỏ, vật bắn mũi tên (một thứ nọc, cọc nhọn). Thời cổ con người dùng cây nõ, cây cọc nhọn đâm thú vật mải về sau mới phát minh ra cây nỏ, cây ná bắn mũi tên. Ta thấy cây nõ đẻ ra cân nỏ, cây ná.

Ở đây ta thấy lõ (dấu ngã) và lỏ (dấu hỏi) theo hai cách nói và viết với hỏi ngã khác nhau của hai phương ngữ khác nhau đều đúng cả, chỉ có từ này cổ hơn từ khác mà thôi. Vì thế trong Việt ngữ vùng này nói theo âm dấu hỏi vùng kia nói theo âm dấu ngã chưa hẳn là ai đúng ai sai. Chúng ta phải chờ cho tới khi có một hàn lâm viện Việt Nam quyết định chọn viết theo dấu nào để dùng trong pháp ngữ Việt thì khi đó ta đem dùng trong các viết theo học viện (academic). Giả dụ các ông học viện sĩ (hàn lâm viện sĩ, viện sĩ) hỏi ý kiến tôi chọn cách viết theo dấu ngã hay theo dấu hỏi, thì tôi chọn viết theo lõ (dấu ngã) dựa vào các lý lẽ sau đây:

./ gốc nõ (cây cọc) cổ hơn nỏ (vật bắn cọc nhọn) như đã nói ở trên cây nõ đẻ ra cây nỏ.

./ theo cách giúp trí nhớ về hỏi ngã mà chúng ta thường nghe nói tới là “(Chị) Huyền ngã nặng, hỏi sắc(thuốc) không?” thì dấu ngã (lõ) đi với dấu nặng (cặc).

./ta thường viết mũi lõ rồi  thì viết cặc lõ cho nó  thuận chiều với nhau.

 NỌC

Heo nọc là heo đực.

CỌC

  Cọc chỉ bộ phận sinh dục nam như thấy qua thơ Hồ Xuân Hương:

        Quân tử có thương thì đóng cọc,

        Xin đừng mân mó nhựa ra tay.

(vịnh Quả Mít).

Hay

Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không.

(vịnh Cái Đu).

Anh ngữ cock gà sống cũng có nghĩa là bộ phận sinh dục nam, có coc– chính là cọc.

CHÔNG

Chông là cọc nhọn cũng chỉ bộ phận sinh dục nam:

. . . . . .

Thịt chó tiểu đánh tì tì,

Bao nhiêu lỗ tội tiểu thỉ cắm chông.

Nam mô xứ Bắc xứ Đông,

Con gái chưa chồng thì lấy tiểu tôi.

(ca dao).

Chông cùng vần với chống là que, nọc để đỡ vật gì, với trống là đực với chồng là người có chông, có chống là người trống. Trong khi đó vợ biến âm với vỏ là cái bao, cái bọc, cái túi (xem Dịch Lý).

KE, QUE

Như đã nói trong từ Điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes có từ ke chỉ bộ phận sinh dục nữ và nam. Theo duy dương, ke biến âm với kẻ (kèo nhỏ, thước kẻ), với que chỉ bộ phận sinh dục nam.

CẶC

Trung Nam gọi bộ phận sinh dục nam là cặc. Cặc là biến âm của cược, cọc như tiền đặt cọc là tiền đặt cược (Lê Ngọc Trụ, Việt Ngữ Chính Tả Tự Vị). Từ cặc liên hệ với những từ chỉ bộ phận sinh dục nam của Tây Ban Nha carajo, Latin dân dã caracium, Hy Lạp karas (pointed stake, cọc nhọn, REW. 1862) có car– là cặc; với Breton kalc’h, Cornish cal, Welsh col (sting, ngòi, nọc), Ái Nhĩ Lan colg (sword, gươm, kiếm, Pederson 1.105), giáo hội Slavic kocanu (c và u có dấu ă), Albanian kotsh (rod, stalk, que, roi, cọng cây, Berneker 536); Phạn ngữ kaprt(h)– (r có chấm ở dưới) (Walde –P. 1.348, 2.49). . .

BUỒI

Miền Bắc dùng từ buồi chỉ bộ phận sinh dục nam không dùng từ cặc. Buồi biến âm với bổ, búa (búa đây là búa có mỏ nhọn tức búa chim) cũng là vật nhọn. Buồi liên hệ với Anh ngữ bur (mũi khoan), ebur (ngà voi), spur (mấu nhọn như cựa gà, mấu nhọn ở gót giầy để thúc ngựa). Buồi biến âm thành “bòi »: trong từ Điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes có từ bòi: ‘cơ quan sinh dục của đàn ông’. Buồi ngày nay  cũng nói trại đi thành “bòi” như “Đứa nào cười tớ nó ăn bòi”. Buồi, bòi liên hệ với Anh ngữ boy (con trai). Thằng “boy” có bòi, có buồi. Theo biến âm b=v, bòi = vòi, vọi. Khái Hưng trong truyện Trống Mái có một nhân vật rất nổi tiếng, một biểu tượng về tình dục (sex symbol) mang đầy hùng tính, nam tính tên là Vọi. Có lẽ Khái Hưng đã chọn tên này vì nó gần cận với Vòi, Bòi. Theo biến âm b=m, buồi = muồi, muỗi. Con muỗi là con mũi có vòi nhọn như kim nhọn hút máu; buồi = mùi. Trong mười hai con giáp Mùi là con dê là con thú có sừng biểu tượng cho dương, nam tương đương với con hươu. Hán Việt dương là dê. Dương có một nghĩa là đực. Đực biến âm với đục (chisel) là vật nhọn.

Nhìn chung buồi là  bổ, búa, vật nhọn liên hệ với gốc tái tạo Ấn-Âu ngữ *pes-, *pesos– (Walde-P. 2.68, Ernout-M 7520. Anh ngữ penis có gốc pen- có một nghĩa là cây bút, viết. Bút là bót, vót, viết là vót, vọt, que vót nhọn, nguyên thủy que vót nhọn dùng làm viết vạch lên đất sét, đá mềm. Pháp ngữ verge, Latinvirga phát xuất từ gốc rod (roi), stalk (que, cọng cây) ta thấy rõ gốc ver-, vir– liên hệ với Việt ngữ vọt. Hòa Lan ngữ roed (penis) liên hệ với Việt ngữ roi

 CHIM, CÒ, CU.

 Dưới một góc cạnh, chim cò, cu có mỏ nhọn biểu tượng cho dương, bộ phận sinh dục nam. Theo biến âm ch= k như chặt = cắt, chim = kim (vật nhọn). Ta có từ ghép đồng nghĩa chim chóc. Chóc là chim. Tày-Thái ngữ chốc là chim. Với h câm chóc = cóc = cọc. Thái Lan ngữ nok là chim. Nok là nọc. Cò biến âm với cồ là đực. Đực biến âm với đục (chisel), vật nhọn. Đực là nọc như heo đực là heo nọc. Tục ngữ có câu:

    Cơm no, cò đói.

Câu này cùng nghĩa với câu:

No cơm, ấm cật,

Rậm rật tối ngày.

Cu biến âm với cò, cồ. Chim cu biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam:

                 Mù u, ba lá mù u,

                Vợ chồng cãi lộn, con cu giải hòa.

(ca dao).

Con trai nhỏ thường gọi là thằng cu. Như thế chim, cò, cu có gốc từ vật nhọn, kim, nọc, cọc nên biểu tượng cho dương, bộ phận sinh dục nam.

Tóm lại, qua những từ chỉ bộ phận nam nữ ta thấy có những điểm quan trọng cầm lưu tâm như sau:

-Trong những từ chỉ bộ phận sinh dục nữ như  nường, lồn, ghe, nốc, khe, kẽ v. v. từ lồn hiện kim có gốc từ cổ ngữ nường, nòng là cái bao cái túi, cái bọc liên hệ tới Nòng (ngược với Nọc), Khôn (ngược với Càn) dùng trong vũ trụ quan, vũ trụ giáo, thờ mặt trời, Dịch học. Lồn, lồng là dạng nam hóa, hiện kim của nòng, nường (l là dạng nam hóa, hiện kim của n).  Từ lồn dùng phổ thông cả ba miền Bắc Trung Nam. Còn những từ khác gọi theo “bề ngoài” như ke, ghe, nốc  v. v… ít phổ thông. Ghe, nốc dùng nhiều ở Trung Nam thôi.

-Trong tất cả các từ chỉ bộ phận sinh dục nam như ke (que), buồi, cặc, chim cò đều có nghĩa là vật nhọn, nọc, cọc. Miền Bắc dùng buồi trong khi Trung nam dùng cặc. Điểm này một lần nữa ngôn ngữ cho thấy hai xã hội Bắc Nam mang màu sắc Nam Bắc phân ranh (giới) có thể một phần là do hậu quả của một thời Nam Bắc phân tranh. Từ buồi của miền Bắc có gốc là bổ, búa. Từ bổ biến âm với bố (ngược với mẹ). Điểm này ta thấy gần cận với Hán ngữ phụ (bố) biến âm với phủ (rìu, búa). Bố có bổ, có buồi; phụ có phủ.  Buồi của miền Bắc gần cận văn hóa Trung Hoa. Bố Việt và phụ Trung Hoa đều có búa cả. Trong khi từ cặc của Trung Nam như đã thấy liên hệ với Phạn ngữ kaprt(h)- (r có chấm ở dưới), bộ phận sinh dục nam (nên nhớ là trong Chàm ngữ, Mã Lai ngữ có rất nhiều gốc Phạn)  và gần cận với Mã Lai ngữ (bang Riau Johor)chok chỉ bộ phận sinh dục nam. Chok chính là cọc là cặc. Mã-Lai cận đại theo Hồi giáo vay mượn tiếng Ả Rập hak, zakar (cặc). Theo h = c (hủi = cùi) hak = cak, cặc và zakar có –kar là cặc. Từ cặc của Trung Nam gần cận với văn hóa Mã Lai Đa Đảo.

-Về bộ phận sinh dục nam Bắc Trung Nam có hai từ riêng biệt buồi và cặc, trong khi từ lồn ngày nay được dùng phổ thông khắp ba miền. Điều này cho thấy mẹ Việt Nam đời đời như nhất, ảnh hưởng mẫu hệ vẫn còn duy trì kiên cố trong xã hội Việt Nam;  vai trò phụ nữ trong xã hội Việt Nam vẫn không thay đổi, nói một cách khác vẫn được duy trì, tôn thờ dù ở xã hộ mẫu quyền hay phụ quyền dù ở bất cứ một thể chế chính trị nào. . . Trong khi nam phái đã chia rẽ, phân biệt Bắc Trung Nam và đi theo các xu hướng, thể chế văn hóa , chính trị khác nhau.

-Lồn hiện kim có gốc từ cổ ngữ nường, nòng là cái bao cái túi, cái bọc liên hệ tới Nòng. Mặt khác buồi và cặc tuy là hai từ khác nhau nhưng đều có nghĩa gốc là vật nhọn, nọc. Như thế những từ chỉ bộ phận sinh dục nữ, nam phổ thông hiện nay đều mang nghĩa nòng nọc (âm dương). Điểm này cho thấy Dịch lý giữ một vai trò cốt yếu trong tiếng Việt nói riêng và trong văn hóa Việt nói chung. Ta thấy rõ bai chữ cái nòng (O) và nọc (I) trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que có gốc từ bộ phận sinh dục nữ và nam.

Điều này giải thích cho thấy rất rõ là người cổ Việt thờ nõ nường. Khảo cổ học tìm thấy những đôi tượng đá tạc bộ phận sinh dục nam nữ (nõ nường) ở  Sông Mã, tượng bộ phận sinh dục nam ở Văn Điển, trên nắp thạp Đào Thịnh có những cặp nam nữ đang làm tình… Nhiều nơi ở vùng đất tổ Việt như  ở xã Khúc Lạc và Dị Hậu tỉnh Phú Thọ gần đây còn giữ tục thờ sinh thực khí. Hàng năm hai xã vào đám ngày mồng 7 và 26 tháng giêng. Đồ lễ ngoài trầu cau rượu thịt còn có  36 âm vật và dương vật (18 cặp) gọi là nõ nường, dân địa phương gọi là “nọ nường”. Làng Đông Kỵ, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tổ chức hội xuân rước nõ nường vào ngày mồng 6 tháng giêng. Một bô lão dẫn đầu đám rước một tay cầm dương vật và một tay cầm âm vật bằng gỗ vừa đi vừa hát:

        Cái sự làm sao, cái sự làm vầy,

        Cái sự thế này, cái sự làm sao.

Vừa hát cụ vừa múa điệu âm dương diễn tả theo động tác làm tình. Cụ lồng hai hai bộ phận nam nữ vào nhau v. v… Một vài xã ở Hải Dương cũng có tục này. Khi đi rước thanh nam hát:

        Cái nạo thế sừ, là cái sự thế nào?

Thanh nữ hát đáp lại:

        Cái nạy thế sừ, là cái sự thế này. . .

(Nguyễn Xuân Quang, Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt, 2002). Sự thờ phượng nõ nường, thờ phượng dâm thần hay sinh thực khí của cổ Việt không phải là thứ “man di mọi rợi”, là thứ ‘dâm phong” “ngoài vòng lễ giáo” như người Trung Hoa gán cho người cổ Việt. Nhiều người Việt ngày nay đã sai lầm cho rằng sự thờ phượng nõ nường là thô tục, là điều đáng xấu hổ. Phải hiểu nõ nường là nọc nòng là nguồn cội, là sinh tạo, là tạo hóa sinh ra vũ trụ muôn loài. Thờ nõ nường là đạo thờ nòi giống, là đạo duy trì giống nòi, là đạo hiếu sinh, trường tồn. Thờ nõ nường là đạo tối cổ của nhân loại. Hình bóng thờ nõ nường để lại trong những nền văn minh “tiến bộ hơn” nghĩa là muộn hơn như thờ lingayoni của Ấn Độ. Vào thời phụ quyền sự thờ phượng “nõ” ngự trị hơn như hình thạch bi obelisk của Ai Cập, Menhirs ở Anh và các trụ thạch ở nhiều nơi khác. . . với ý nghĩa đã xa rời “đạo gốc”, nõ nường âm dương.

Một điểm rất lý thú là trong truyền thuyết vũ trụ tạo sinh của người Hawaii có hai vị thần tổ sinh tạo ra trần thế (Earth and the things on the Earth) có tên là thần KuLono  (Martha Beckwith, Hawaiian Mythology, tr.32) tương ứng với Việt ngữ là  thần Cu và thần Lồn. Điều này cũng dễ hiểu vì những tộc Mặt trời nước liên hệ với cổ Việt hay phát xuất từ cổ Việt ở Đa Đảo (Polynesia), Mã-Nam Dương đã dùng thuyền đi tìm đất mới tới tận các đảo xa xôi, trong đó có quần đảo Hawaii.

Chim biểu của bang Hawaii là con ngỗng ne ne ruột thịt với con vịt trời le le (ne ne là âm cổ của le le ; ne biến âm với na, nã là nước và le biến âm với lã là nước ngọt, ngỗng ne ne và vịt trời le le đều là loài chim nước). Ngỗng ne ne của Hawaii ruột thịt với le le Vụ Tiên của Việt Nam. Con vịt trời le le Vụ Tiên bay tận đến Hawaii biến thành con ngỗng ne ne. Do đó ngôn ngữ cũng như truyền thuyết về vũ trụ tạo sinh của người Hawaii vẫn còn sót lại những dấu tích của cổ Việt.

Người cổ Việt thờ nõ nường nên Việt Dịch nòng nọc là Dịch nguyên thủy. Trong khi Trung Hoa có thuyết âm dương nhưng không thờ nõ nường chứng tỏ Dịch Trung Hoa không phải là Dịch nguồn cội, là loại Dịch đã tân tiến, đã muộn.

NHỮNG TỪ CHỈ LÀM TÌNH

Những từ phổ thông chỉ làm tình miền Bắc có những từ như địt, đéo, lẹo (loài vật), phủ…, Trung Nam có từ đụ.

ĐỊT

Miền Bắc dùng từ địt chỉ làm tình, trong khi đó Trung Nam từ địt chỉ đánh hơi (Miền Bắc nói đánh hơi là đánh rắm). Trong những năm còn là sinh viên y khoa tôi thường được nghe kể lại câu chuyện một vị gáo sư Y Khoa người miền Nam, sau khi giải phẫu bụng cho một cô gái người Bắc di cư, lúc đi thăm hậu giải phẫu, vị giáo sư này hỏi người bệnh “Chị đã địt chưa?”. Con bệnh đỏ mặt, xấu hổ . . .  Cho tới khi tôi viết những dòng này, không ai hiểu tại sao. Xin giải toả thắc mắc này.

-Địt là làm tình.

Theo biến âm đ=d như đa = da (cây), ta có địt = dịt. Từ dịt có một nghĩa là dính vào nhau, dán dính vào, buộc vào nhau như dịt thuốc vào vết thương. Theo d = r (dăng = răng), dịt = rịt, rít. Rít có nghĩa là dính như rít rịt. Theo d = ch như  giăng = chăng, dịt = chịt, chít. Chằng chịt là cột cứng bằng nhiều dây rợ qua lại nhiều lần. Chít khăn là cột, quấn khăn. Theo d = n như dăm = năm, ta có dịt = nịt. Nịt là dây, đai, thắt lưng; nai nịt là cột người bằng thắt lưng, bằng dây. Như thế địt chỉ làm tình có nghĩa là dính vào nhau, cột vào nhau. Ta thấy rất rõ miền Bắc có từ đi tơ chỉ loài vật (thường là chó) giao hợp với nhau. Tơ là sợi dây. Đi tơ là cột vào nhau như cột bằng sợi tơ, sợi dây.  Địt liên hệ với Phi Luật Tân Tagalog dikit, joined, Paiwan d’ekets (e ngược), to stick, gốc Uraustronesisch Dempwolff’s construction *deket (e ngược), to stick (Davidson). Rõ nhất là địt và Tagalog dik-, joined có nghĩa là nối với nhau, giao nhau cùng nghĩa với giao hợp. Địt liên hệ với Phạn ngữ snit, to love, yêu, có -nit là địt (n=đ như này = đây). Phạn ngữ snit biến âm với Phạn ngữ snih, attached, đính vào, cột vào. Rõ như ban ngày địt biến âm với dịt liên hệ ruột thịt với Phạn ngữ snit, snih.  Ngoài ra địt cũng liên hệ với Phạn ngữ nidhuvana, sexual intercourse, làm tình.  Rõ như “Con cua tám cẳng hai càng, Một mai hai mắt rõ ràng con cua” là địt  liên hệ với phần đầu nid- của Phạn ngữ nidhuvana. Nid- = nịt = địt.

-Địt là đánh hơi

Theo biến âm đ = r như đôm đốp =  rôm rốp (tiếng kêu),  ta có địt = rít. Từ rít có một nghĩa là tiếng kêu do hơi thoát qua một ống hay một lỗ nhỏ như ấm nước sôi rít lên, còi tầu hỏa hay tầu thủy (chạy bằng hơi nước) rít lên từng hồi. Rít liên hệ với Phạn ngữ ri là rít, là rú lên. Ta có từ ghép rên rỉ với từ rỉ chính là Phạn Ngữ ri (các nhà ngữ học hiện nay cho rằng rên rỉ là tiếng láy với thành tố láy rỉ vô nghĩa là sai). Như thế đánh địt, đánh hơi là đánh rít. Vì thế mà người Bắc nói đánh hơi là đánh rắm, đánh rítrắm rít. Rắm rít là đánh hơi. Ta thấy người Bắc nói rắm còn Trung Nam biến rít thành địt. Từ rắm rít là một từ ghép điệp nghĩa, rít có nghĩa là tiếng kêu thì rắm cũng phải có nghĩa là tiếng kêu. Thật vậy, rắm biến âm với rầmchỉ tiếng kêu như rầm rầm. Hiển nhiên đánh hơi cũng kêu thành tiếng. Trong một truyện tiếu lâm ví tiếng đánh hơi như tiếng sấm rầm rầm hay sấm gầm. Theo r = g như  rợn = gợn (sóng) ta có rầm = gầm. Trong một buổi ngự triều, một vị vua đang ngủ gà ngủ gật, một ông quan lỡ đánh “bụp” rầm một tiếng làm vua giật mình thức dậy, hoảng hốt, vua hỏi “Cái gì kêu vậy?” Vị quan lanh miệng đáp: “Bẩm Thượng Hoàng, sấm kêu!”. Vua vặn lại “Sấm kêu sao lại thối?”. Vị quan chữa lại “Dạ có con cóc chết!”. Vua thắt mắc: “Cóc chết sao lại kêu?”. Vị quan giải thích: “Sấm kêu làm cóc chết!”. Vua giận “Cóc kêu gọi sấm thì làm sao sấm làm cóc chết được”.  Rồi ra lệnh lôi vị quan ra chém đầu, nghi vị quan này muốn ám sát mình.

Rõ nhất là rít,  địt liên hệ ruột thịt với Phạn ngữ dhish, to emit sound (phát ra tiếng kêu). Cũng rõ như  “Con cua  tám cẳng hai càng, Một mai hai mắt rõ ràng con cua” là địt  ruột thịt Phạn ngữ dhish, phát ra tiếng kêu. Anh ngữ đánh hơi gọi là to fart liên hệ với Phạn ngữ pard (to fart), Hy Lạp ngữ là perdo, Old High German là ferzan. Các từ này có gốc fa-, pa-“ liên hệ với Việt ngữ phà là xì ra hơi, nhả ra hơi như phà ra hơi, phà khói, phì phà điếu thuốc  và gốc pe-, fe– liên hệ với Việt ngữ phèo như thấy qua từ ghép phì phèo, với Hán Việt phế là phổi (phổi là cơ quan hô hấp phì, phà ra hơi…). Việt ngữ có từ phá thối nếu hiểu theo nghĩa thô tục thì gần cận với từ phà thối. Ở đây ta có thể dùng Việt ngữ phà ra hơi, đánh hơi để hiểu ngọn ngành Anh ngữ to fart là phà ra hơi.

Như thế ta thấy rất rõ hai từ địt của miền Bắc và Trung Nam là hai từ đồng âm dị nghĩa. Đúng ra Trung Nam phải nói đánh dít hay rít  cho đồng điệu với từ rắm của miền Bắc theo đúng  như từ đôi rắm rít thay vì địt mới không gây ra hiểu nhầm.

ĐÉO, LẸO.

Miền Bắc cũng thường dùng từ đéo chỉ làm tình như giai thoại “đá bèo” (nói lái lại là ‘đéo bà”) của Trạng Quỳnh và thơ Cao Bá Quát có câu:

        Hai hồi trống giục, đù cha kiếp,

        Một lưỡi gươm đưa, đéo mẹ đời.

Đéo biến âm với đeo, có nghĩa là bám cứng vào nhau, dính chặt vào nhau như “đeo như đỉa đói”. Đéo biến âm với “đèo” là chở nhau, ôm nhau, cõng nhau như đèo bòng tức đèo bồng (bồng là bế, bồng bế”). Đéo cũng biến âm với néo, hai khúc cây nối bằng một khúc dây dùng “neo” bó lúa để đập lúa. Néo hàm nghĩa cột cứng vào nhau (cùng nghĩa với nai, nịt, địt). Néo liên hệ với Anh ngữ nail, vật nhọn dùng đóng chặt hai vật vào nhau. Nguyên thủy neo, nailnêu, cọc nhọn. Như thế từ đéo cũng có nghĩa giống như từ địt làm tình là dính vào nhau, cột vào nhau. Từ đéo biến âm với đeo, đèo, néo nghiêng nhiều về hình ảnh bám chặt vào nhau, ôm nhau, cõng nhau thường thấy nhiều ở loài vật khi giao cấu với nhau như hai con sam khi giao hợp ôm cứng nhau nên tục ngữ có câu “đeo như sam”, cóc ếch khi giao cấu ôm nhau, cõng nhau, đèo nhau… Theo biến âm đ = l như đãng tai = lãng tai, ta có đéo = lẹo. Lẹo cũng có nghĩa là làm tình như con đó với thằng đó lẹo tẹo với nhau. Hai con chó giao cấu với nhau thường nói là “mắc lẹo”.

ĐỤ

Trung Nam nói làm tình là đụ. Ta thấy có thể:

-Đụ là biến âm với đu có một nghĩa là bám cứng như đeo, với đâu (nối lại như  đâu lại với nhau) cũng hàm nghĩa như từ địt của miền Bắc. Theo t = n như túm = núm (nắm, bắt) ta có địt = địn. Địn là từ nói trại đi của địt. Ta có từ đụn địn là từ nói trại đi của hai từ đụ địt. Địa khai ngôn ngữ đụn địnđụ địt còn đào tìm thấy qua bài đồng dao sau đây:

Mười rằm trăng náu,

Mười sáu trăng treo,

Mười bẩy sẩy chiếu,

Mười tám rám trấu,

Mười chín đụn địn,

Hai mươi giấc tốt

. . . . . .

“Mười bẩy sẩy chiếu” là đêm mười bẩy sải chiếu, trải chiếu.“Mười tám rám trấu” là đêm mười tám đốt trấu làm lò sưởi đã cháy rám, đã cháy nám, đã bén cháy. Tất cả đã sửa soạn sẵn sàng xong, “Mười chín đụn địn” là đêm mười chín đụn địn, tức là làm tình đụ-địt. Các tác giả hiện nay thường giải thích “né tránh” cho khỏi thô tục cho đụn địn có nghĩa là “đi ngủ”. Từ ngủ cũng có nghĩa là làm tình như “con đó ngủ với nhiều thằng”. “Hai mươi giấc tốt” là đêm hai mươi ngủ ngon. Rõ ràng đêm mười chín đâu có ngủ, suốt đêm thức lục đục lo “đụn địn” nên đêm hôm sau mới lăn ra ngủ, mới có “giấc tốt”. Làm tình là liều thuốc ngủ thiên nhiên tốt nhất.

-Đụ là dạng giảm thiểu của đục. Từ đục bị đục bỏ chữ “c” cuối còn lại “đụ”. Đục chỉ động tác làm tình. Theo biến âm đ = th (đủng đỉnh = thủng thỉnh), ta có đục = thục, thúc, thọc, thụt, thọt liên hệ với Anh ngữthrust, chỉ động tác làm tình.

-Đụ là biến âm với tụ, tủ (theo đ = t). Tụ có nghĩa là qui vào nhau như tụ tập, tụ họp. Đụ, tụ là kết vào nhau, dính vào nhau, đến với nhau. Những nghĩa này đều hàm ý làm tình thấy rất rõ qua từ Latin coitus, coire, Pháp ngữ coit có nghĩa đen là come together (có gốc “co-“, cùng, chung). Coitus, coit gần âm với Việt ngữ chơi (chơi là đến với nhau, cùng vui với nhau), chọi

Còn tủ là phủ là che đậy. Phủ cũng chỉ nghĩa giao cấu, giao hợp như trong truyền thuyết có chuyệnthuồng luồng “phủ” người. Làng Ngãi ở Bắc Việt có tục thờ bà Phạm Ngọc Dong. Bà đã được thuồng luồng phủ và sinh ra một bọc trứng nở ra Đại Hải Long Vương. Ông này sau làm tướng giúp  vua Hùng đánh thắng quân Thục bằng các quân lính hoàn toàn là loài thủy tộc. Hàng năm vào ngày mồng 3 tháng giêng, dân làng mở hội, cúng tế, bao giờ cũng có món gỏi cá để cúng ông thần sông Hà Bá và bà Chúa Đầm; cúng ở đình và ở  các bến nước bằng gỏi cá. Vì thế tại vùng này có câu ca dao “Trống Mơ, cờ Sỏi, gỏi Nghìa” để ca tụng  món gỏi cá nổi tiếng của làng Nghìa, làng Nghĩa tức làng Ngãi (Lê Thị Nhâm Tuyết). Mổ xẻ ta thấy quân Thục thuộc sắc dân Tầy-Thái thuộc họ ngoại Mặt Trời Êm Dịu An Dương Vương dòng Nước, âm, họ ngoại Âu Cơ (An Dương Vương dựng nước Âu Lạc kết hợp giữa Âu Việt của Âu Cơ  và Lạc Việt của Lạc Long Quân). Vì thế phải có một vị tướng con của Thuồng Luồng có cốt cá sấu (cá sấu mới đẻ ra trứng) thuộc dòng nước là Đại Hải Long Vương (rõ ràng rồng Long có cốt cá sấu thuồng luồng) và phải dùng quân là các loài thủy tộc mới đánh thắng được quân Thục thuộc dòng nước. Ta cũng thấy tên Dong có nghĩa là bao bọc như thấy qua từ ghép đồng nghĩa bao dong. Lá dong là thứ lá dùng để bao, để bọc, để gói như bánh chưng. Dong là bao bọc là Nong là Nòng.  Tên bà là Bao, Bọc nên bà đẻ ra một bọc trứng và bà là di duệ của Âu Cơ đẻ ra một bọc trứng nở ra trăm Lang Hùng). Bà Phạm Ngọc Dong thuộc dòng nòng, dòng nước nên được thuồng luồng phủ là vậy. Ta cũng thấy công chúa Ngọc Dung (Dung biến âm của Dong như bao dung = bao dong) con vua Hùng vương có dòng máu “mẹ”, nước nên lấy một gã thuyền chài tên là Chử Đồng Tử (Cậu Con Trai sống bên Bến Sông) ở làng Chử Xá (Làng Ven sông). Cuối cùng tại sao chọn ngày 3 tháng giêng làm ngày hội? Xin thưa số 3 là số Đoài tức ao đầm và số 1 là số Chấn (Nguyễn Xuân Quang, Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt, 2002) tức nước dương có một khuôn mặt là biển (Vua Mặt Trời Nước Lạc Long Quân có mạng Chấn nên có một khuôn mặt là Long Vương Thần biển hóa thành con Rùa Vàng Kim Qui giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa, xây thành xong con Rùa Vàng quay về Biển. An Dương Vương thuộc dòng nước Âu-Lạc, cuối đời cầm sừng tê giác bẩy khấc rẽ nước đi xuống biển là vậy). Ngày 3 tháng giêng đều là ngày của dòng nước, ao hồ sông biển.

Ở đây ta có thể dùng tiếng Việt tìm nguyên ngữ của Anh ngữ fuck. Từ “fuck” có gốc fu- ruột thịt với Việt ngữ phủfu(ck) = phủ = tủ = đụ.

Cuối cùng, như đã nói ở trên, là từ địt của miền Bắc liên hệ với phần đầu nid– của Phạn ngữ nidhuvana(sexual intercourse). Nid- = nịt = địt. Ta cũng thấy từ đụ của Trung Nam cùng âm –dhu- phần thứ hai của Phạn ngữ nidhuvana. Phải chăng miền Trung Nam lấy phần âm giữa còn miền Bắc lấy phần âm đầu? Cả hai cùng một gốc Phạn?

Những từ làm tình của Việt cũng mang ý nghĩa kết hợp, giao hòa, giao hợp nghĩa là mang ý nghĩa của Dịch lý. Qua hai từ địt của miền Bắc và đụ của miền Nam ta cũng thấy có sự phân biệt, chia rẽ như hai từ buồi và cặc.

Cước Chú

(1). Tôi gọi clitoris là hạt tình vì clitoris về cơ thể học tương đương với glans (qui đầu) của dương vật. Tiếng phổ thông glans chỉ một thứ hạt dẻ rừng, vì cơ thể học tương đương với nhau nên đã gọi glans là hạt thìclitoris cũng phải dùng từ hạt cho cân xứng.

Ta cũng thấy dân dã Việt Namgọi clitoris là “hạt chay” như thấy qua câu ca dao:

        Chị em rủ nhau tắm đầm,

        Của em son đỏ, chị thâm thế này?

        Chị thâm là tại anh mày,

        Xưa kia chị cũng hạt chay đỏ lòm.

( Nguồn: Blog Nguyễn Xuân quang)

10 Thảm Họa Thực phẩm Lớn Nhất Làm Chấn Động Thế Giới

Các vụ bê bối thực phẩm có thể một cơn ác mộng vì khối lượng thiệt hại mà chúng gây cũng như nỗi kinh hoàng mà chúng gieo rắc trong tâm trí người tiêu dùng. Tất nhiên, thực phẩm an toàn là nhu cầu thiết yếu của mọi người, nhưng những vụ bê bối cứ liên tiếp xảy ra hết lần này đến lần khác. Sau đây là những vụ bê bối thực phẩm lớn nhất gây chấn động thế giới. Từ đó trở đi, chúng khiến cho nhiều người phải nhìn vào thực phẩm bằng một con mắt hoàn toàn khác.

WHO đưa ra danh sách các vụ bê bối như sau:

  1. Công ty URC Company Việt Nam bị phạt $264,000 (khoảng 5,8 tỷ VND) vì các sản phẩm nhiễm chì (C2 và Rồng Đỏ)

10-tham-hoa-thuc-pham-lon-nhat-lam-chan-dong-gioi9Năm 2016, Công ty TNHH URC Việt Nam đã bị phạt 5.8 tỷ VNĐ (US $ 264,000) vì các sản phẩm nước giải khát bị nhiễm chì của công ty. Hai sản phẩm nước giải khát Trà xanh C2 và nước tăng lực Rồng Đỏ chứa hàm lượng chì cao hơn so với thông tin trên nhãn. Công ty này đã bán các sản phẩm ra thị trường và thu được VNĐ3.8 tỷ đồng ($ 173,000).

Theo quyết định của Bộ Y tế ký kết, công ty đã phải thu hồi và tiêu hủy tất cả các sản phẩm từ hai lô hàng có chứa hàm lượng chì cao.

Gần đây, có rất nhiều báo cáo không chính thức về hai loại đồ uống có chứa hàm lượng chì cao lan truyền trên Internet và các mạng truyền thông xã hội. Các mẫu C2 và Rồng Đỏ đã được phát hiện lần lượt có hàm lượng 0.087mg chì mỗi lít và 0.085mg mỗi lít, trong khi giới hạn cho phép là 0.05mg mỗi lít.

Các báo cáo lan truyền trên Internet gần đây đã thu hút sự chú ý của Bộ Y tế. Bộ đã thu thập các mẫu đồ uống URC Việt Nam tung ra thị trường để kiểm tra lượng chì để đưa ra kết luận cuối cùng đối với những cáo buộc rằng URC bán sản phẩm kém chất lượng.

Một nhóm thanh tra, dẫn đầu là Nguyễn Văn Nhiên, Phó Chánh thanh tra của Bộ, được giao nhiệm vụ thanh gia và đánh giá xem công ty có  tuân thủ các quy định về an toàn thực phẩm hay không trong thời gian 15 ngày.

Công ty này đang đứng trước cáo buộc của việc sử dụng axit xitric chất lượng thấp làm chất điều chua trong sản phẩm nước giải khát của mình.

  1. Fanta

10-tham-hoa-thuc-pham-lon-nhat-lam-chan-dong-gioi8Nhiều người đã quen thuộc với hình ảnh chai Fanta tại cửa hàng tạp hóa địa phương mình. Tuy nhiên, thương hiệu này đã có một lịch sử khá tai tiếng.

Thật không may cho Coca-Cola, công ty này không thể bán siro cola đến nước Đức vì một mâu thuẫn nhỏ được gọi là Chiến tranh Thế giới II.

Chi nhánh công ty ở nước Đức không có cách nào để cung cấp cho quân phát xít thức uống yêu thích của thế giới. Vì vậy, trụ sở chính của công ty ở Đức đã sáng tạo ra một thức uống mới và gọi nó là Fanta. Vì chi nhánh của Coca-Cola có trụ sở tại Đức muốn tiếp tục hoạt động và sản xuất nước giải khát bất chấp lệnh cấm vận thương mại, họ không làm điều gì tai tiếng và tiếp tục sản xuất đồ uống.

Tuy nhiên, sau chiến tranh, vụ bê bối nổi lên khi Coca-Cola vui mừng nhận lấy lợi nhuận thu được từ việc bán Fanta cho người Đức – bao gồm cả Đức Quốc Xã. Nhiều người phương Tây đã rất thất vọng về cuộc xung đột lợi nhuận này và đặt dấu chấm hỏi về sự trung thành của công ty.

Coca-Cola vẫn duy trì thương hiệu Fanta và tiếp tục sản xuất các sản phẩm Fanta để bán ra thị trường. Tuy nhiên, vụ bê bối, dường như chỉ cho thấy rằng cuộc chiến tranh chỉ gây ra chút bất tiện và kết luận của nó là quay trở lại kinh doanh như bình thường.

Ngày nay có hơn chín mươi hương vị Fanta trên toàn thế giới. Rõ ràng, người ta đã quên lửng đi vụ scandal. Coca-Cola vẫn là nhãn hàng nước ngọt phổ biến nhất trên thế giới.

  1. Bệnh bò điên

10-tham-hoa-thuc-pham-lon-nhat-lam-chan-dong-gioi7Suốt khoảng thời gian cuối thập kỷ 1980, người dân Anh Quốc đối diện trực tiếp với vụ scandal kinh hoàng về thịt bò. Nhiều con bò đã bị cho ăn xương bị nhiễm bệnh não xốp bò, còn được gọi là bệnh bò điên.

Căn bệnh thoái hóa thần kinh chết người bắt đầu hoành hành và 166 người dân Anh quốc đã qua đời sau khi mắc phải một dạng của căn bệnh này do ăn thịt bò nhiễm bệnh.

Dịch bệnh này và thịt bò bị nhiễm khuẩn khiến nhiều quốc gia phải ban hành lệnh cấm hoàn toàn trên thịt bò Anh.

Trong khi gia súc bị tiêu hủy, nỗi sợ hãi ở Anh vẫn bao trùm đất nước bởi vì mầm bệnh này có thể sống sót trong cơ thể người nhiều tháng liền và thậm chí nhiều năm liền trước khi bộc phát.

Căn bệnh này đặc biệt kinh khủng vì nó ảnh hưởng đến não bộ. Nó gây thoái hóa thần kinh – thường rất nhanh chóng – kết quả là mất trí nhớ, hay quên, rối loạn chức năng cân bằng và phối hợp, động kinh, vv …

Khi xuất hiện, bệnh này để lại “các lỗ hổng” trong não và không có phương thuốc nào chữa khỏi được. Hầu hết bệnh nhân ngã quỵ trong vòng vài tháng sau khi xuất hiện các triệu chứng ban đầu. Những người khác có thể sống sót được lâu nhất là hai năm; tuy nhiên, căn bệnh này và các biến thể của nó luôn gây tử vong.

Trong khi bệnh bò điên là một vụ scandal thực phẩm chưa từng có của Vương quốc Anh, nó cũng khiến rất nhiều người trên thế giới tuyên bố sẽ cắt giảm hoặc loại bỏ thịt bò ra khỏi chế độ ăn uống của họ. Nỗi kinh hoàng thực sự đã lan ra toàn thế giới và nhiều người vẫn chưa thể an tâm khi nhìn thấy một chiếc bánh hamburger.

  1. Ngộ độc ngũ cốc ở Iraq

10-tham-hoa-thuc-pham-lon-nhat-lam-chan-dong-gioi6Thảm họa ngộ độc này xảy ra chủ yếu là do rào cản ngôn ngữ. Mexico và Mỹ đã gửi một ít ngũ cốc đến Iraq vào năm 1971.

Lượng ngũ cốc này đã được xử lý bằng một loại thuốc diệt nấm có chứa thủy ngân. Mặc dù số ngũ cốc gửi đến Iraq không phải để dành cho người dân tiêu thụ, nó bị lẫn lộn vì người ta không hiểu các nhãn cảnh báo ghi bằng tiếng nước ngoài.

Số ngũ cốc này được tiêu thụ và người dân bắt đầu mắc bệnh. Trong thực tế, số người chết chính thức đứng ở mức 650, nhưng một số ước tính cho thấy tổng số thực có thể cao gấp đôi con số đó.

Thảm họa này dẫn đến các quy định chặt chẽ về việc ghi nhãn, xử lý và phân tán các hạt ngũ cốc được xử lý qua thủy ngân. Bởi vì các nhãn cảnh báo trên bao bì ngũ cốc được ghi bằng tiếng Anh hoặc Mexico, nhiều người dân không hề nghi ngờ gì về mối nguy hiểm liên quan đến những hạt ngũ cốc mà mình sắp tiêu thụ.

Nhiều người, đã gieo trồng số ngũ cốc đó, cũng mắc bệnh khi ăn ngũ cốc bị nhiễm độc. Hầu hết mọi người bắt đầu nhận thấy các triệu chứng của căn bệnh trong vòng chưa đầy bốn mươi ngày kể từ khi hấp thụ chúng. Kết cục họ bị tử vong vì hệ thần kinh trung ương ngừng hoạt động.

  1. Nước ép táo giả Beech-Nut

10-tham-hoa-thuc-pham-lon-nhat-lam-chan-dong-gioi5Trẻ em cần vitamin và khoáng chất để tăng trưởng và phát triển. Hầu hết mọi người đều biết điều đó! Tuy nhiên, dường như Beech-Nut lại nghĩ rằng họ có thể cắt giảm lượng chất dinh dưỡng trong táo và thậm chí loại bỏ hoàn toàn khi sản xuất nước ép táo cho trẻ sơ sinh.

Có thể giám đốc điều hành công ty không có con cái và phỏng đoán rằng bọn trẻ sẽ chẳng bao giờ biết được! Bên cạnh đó, nếu gia tăng đủ lượng xi-rô bắp, những đứa trẻ sẽ uống sạch hết cả thôi.

Quay trở lại những năm 1980, Beech-nut đã bị phạt hàng triệu đô-la vì bán nước ép táo giả. Nó đã trở thành một trong những vụ bê bối thực phẩm lớn nhất trong thế kỷ này.

Đây cũng là một trong những khoản tiền phạt khổng lồ nhất từng bị Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm áp đặt. Công ty đập tan lòng tin của tất cả các khách hàng khi họ quảng cáo sản phẩm của mình là “nước ép táo 100%.” Trong thực tế, nó được làm từ đường củ cải, đường bắp, và các thành phần khác. Thật không may, có rất ít hoặc chẳng có tí táo nào trong hỗn hợp này cả.

Mặc dù nước ép chứa các thành phần “an toàn”, thực chất,  đây là một lời nói dối trắng trợn khi gọi sản phẩm của họ là nước ép táo khi thực ra nó là nước ép củ cải đường. Thật khó có thể tin rằng, công ty này vẫn còn đang hoạt động. Bây giờ bạn có mua sản phẩm của họ không? Rõ ràng vẫn còn nhiều người mua hàng bởi vì họ vẫn đang bán được hàng.

  1. Thịt cừu giả ở Trung Quốc

10-tham-hoa-thuc-pham-lon-nhat-lam-chan-dong-gioi4Ở Trung Quốc, bất cứ điều gì liên quan đến thịt đều đáng lo ngại. Vấn đề xảy ra khi họ bắt đầu thói lừa dối.

Ví dụ, thật là vô đạo đức khi nói với khách rằng họ đang ăn thịt cừu trong khi nó thực ra là thịt chuột. Đó chỉ là những gì đã xảy ra ở Trung Quốc, quê hương của những vụ bê bối thực phẩm.

Mới năm ngoái, ở phía Đông Trung Quốc, chính phủ đã bắt được cả một đường dây cung cấp thịt chuột, chồn, và thậm chí cả cáo, để làm giả thịt cừu.

Theo báo cáo, sáu mươi ba người đã bị bắt. Nhiều người vô cùng phẫn nộ, tất nhiên là thế. Hãy tưởng tượng bạn đang đi du lịch tại Thượng Hải và muốn thưởng thức món sườn cừu. Và bạn nhớ rằng mình có thể ăn phải thịt chuột!

Chính phủ đang cố gắng theo dõi điều tra về vi phạm an toàn thực phẩm. Đây sẽ là một vụ án khổng lồ, và nó làm cho người ta tự hỏi không biết liệu chính phủ có bắt được hết tất cả các thủ phạm hay không.

Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi nhiều người lo ngại về sự an toàn khi nói đến thực phẩm ở Trung Quốc. Các vụ bê bối có thể sẽ xảy ra – và đã đang xảy ra – ở khắp mọi nơi, và có vẻ như Trung Quốc đang phải gánh chịu nhiều hậu quả từ những điều họ đã làm.

Mặt khác, nhiều người Trung Quốc vui vẻ khi ăn thịt chuột và thịt chồn. Những loại thịt này được bán hợp pháp ở Trung Quốc. Tuy nhiên, nó là phi pháp khi bán chúng với giá thịt cừu – đặc biệt là chỉ vì mục đích lợi nhuận!

  1. Khoai tây chiên hương vị bò

10-tham-hoa-thuc-pham-lon-nhat-lam-chan-dong-gioi3Nếu bạn ăn chay và vô tình đi lạc vào một cửa hàng McDonald, bạn sẽ không có nhiều lựa chọn.

Tuy nhiên, trong nhiều năm qua, người ăn chay có thể thưởng thức món khoai tây chiên. Vâng, ít nhất là họ nghĩ rằng mình có thể khi McDonalds tuyên bố rằng món khoai tây chiên nổi tiếng thế giới của họ được chiên bằng dầu thực vật tinh khiết.

Sau đó, người ta phát hiện ra phụ gia chiết xuất từ thịt bò được thêm vào dầu dùng để chiên khoai tây và góp phần tạo nên hương vị thơm ngon của món ăn này.

Sau vụ bê bối lộ diện, McDonald tuyên bố rằng nó sẽ không bao giờ quảng cáo người ăn chay có thể dùng món khoai tây chiên, nhưng họ chẳng thể nào bù đắp được mọi thiệt hại đã xảy ra.

Có không ít các vụ bê bối thực phẩm đã xảy ra, nhưng vụ này làm chấn động đến cốt lõi ngành công nghiệp thực phẩm. Món khoai tây chiên McDonald, bằng nhiều cách, là biểu tượng của thức ăn nhanh – là nền tảng hùng vĩ của ngành và của người khổng lồ thức ăn nhanh.

Hậu quả của vụ bê bối này là McDonald đã trao tặng USD10 triệu cho nhóm người Ấn độ giáo và những người khác vì sai lầm của họ. Nhiều người Hindu cho rằng bò là thiêng liêng và không bao giờ nghĩ đến việc ăn thịt bò dưới mọi hình thức. Những người ăn chay và ăn không thịt bò vô cùng phẫn nộ trước vụ bê bối này.

Tuy nhiên, những người hâm mộ trung thành của vẫn tiếp tục ủng hộ McDonald và món khoai tây chiên ngon lành của họ. Nó vẫn là chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh lớn nhất trên hành tinh bất kể thực đơn không dành cho giới ăn chay của họ.

  1. Thịt ở đâu – Taco Bell

10-tham-hoa-thuc-pham-lon-nhat-lam-chan-dong-gioi2Khi gọi món taco thịt bò, lẽ tự nhiên bạn cho rằng mình đang ăn thịt bò, phải không? Bạn có thể thừa nhận với chính mình rằng, đậm đà như thế này, lẽ nào lại không phải là thịt chất lượng tốt nhất.

Trong trường hợp Taco Bell, thịt không hoàn toàn là thịt. Trong thực tế, vụ bê bối nổ ra vì trên thực tế Taco Bell sản xuất món taco bằng thịt bò mà chỉ có 35% là thịt bò thật. Vậy thì 65% còn lại là gì?

Chỉ vài năm trước đây, thịt bò của chuỗi cửa hàng đã được kiểm nghiệm và kết quả thật đáng kinh ngạc. Một cư dân California đã kiện chuỗi cửa hàng này – không phải vì tiền – nhưng vì họ không trung thực.

Vụ kiện yêu cầu chuỗi cửa hàng này phải trung thực về những gì họ sử dụng để thay thế cho lượng thịt bò đó. Để công bằng, nó thực sự không nên khẳng định thịt là thịt bò trong khi nó chỉ đơn thuần là một hỗn hợp của các thành phần bao gồm thịt bò.

Taco Bell bác bỏ yêu cầu bồi thường và tuyên bố rằng hỗn hợp của họ sử dụng 88% thịt bò. Trong vài năm qua, thậm chí tuyên bố 88% này cũng là nỗi ám ảnh cho khách hàng. Thành phần còn lại trong hỗn hợp này là gì?

Gần đây, công ty đã thừa nhận công khai các thành phần khác và không có gì đáng ngạc nhiên – không có gì tai tiếng cả. Có yến mạch và các thành phần khác mà người ta có thể mong đợi từ thực phẩm chế biến. Có vẻ như vụ kiện 35% đã bị phóng đại – bản thân nó là một vụ bê bối đã ám ảnh thương hiệu Taco Bell.

  1. Burger King

10-tham-hoa-thuc-pham-lon-nhat-lam-chan-dong-gioi1Dù thịt ngựa được phép tiêu thụ tại các quốc gia như Bỉ và thậm chí cả Pháp, nó chắc chắn món bị cấm kỵ ở Vương quốc Anh. Mặc dù đã phủ nhận trước đó, năm 2013 Burger King cuối cùng đã thừa nhận rằng món hamburger nổi tiếng của họ làm từ thịt ngựa.

Burger King đổ lỗi cho nhà cung cấp của họ – đặc biệt là một nhà cung cấp ở Ba Lan – vì cung cấp thịt ngựa bị nhiễm bệnh. Họ tuyên bố là bị vi phạm.

Tuy nhiên, người Anh đã đúng khi nhấn mạnh rằng nhà cung cấp bánh burger thịt bò nên biết rõ những gì đang đi vào sản phẩm của mình. Các tin tức nhanh chóng làm rung chuyển cộng đồng thức ăn nhanh ở Anh. Hơn nữa, bởi vì Burger King là một thương hiệu quốc tế, nhiều quốc gia khác bắt đầu đặt câu hỏi về thành phần trong món burger của họ.

Ngành công nghiệp thức ăn nhanh đã vài lần chao đảo, nhưng những vụ bê bối liên quan đến việc dùng các thành phần thay thế thịt khiến nhiều người thực sự bị sốc. Nó cũng khiến người ta đấu tranh để có sự minh bạch.

Người dân có quyền được biết họ đang ăn những gì. Họ cũng cần phải tìm hiểu xem các công ty có đang nói dối họ về các loại thực phẩm họ tiêu thụ hay không. Burger King có thể không phải là chuỗi cửa hàng duy nhất bị cáo buộc dùng các thành phần khác để thay thế thịt, nhưng họ đã chắc chắn phải chịu thiệt hại nặng nề khi vụ bê bối xảy ra ở Anh.

  1. Bottled Tap Water

10-tham-hoa-thuc-pham-lon-nhat-lam-chan-dong-gioiNhiều người mua nước đóng chai để thay thế cho nước máy. Vì vậy, khi một công ty quyết định để đổ đầy sản phẩm của mình bằng nước máy cho thuận tiện, chắc hẳn rắc rối sẽ xảy ra. Dường như ngày nay bán nước giải khát là một ngành gặp nhiều khó khăn.

Trở lại năm 2004, sản phẩm nước đóng chai của Coca-Cola là Dasani đã bị phát hiện là không chứa gì khác ngoài nước máy tinh khiết.

Nó không được lấy từ nguồn nước suối. Nhiều người cảm thấy sốc khi biết sự thật này, nhưng thực tế là việc này tương đối phổ biến. Dù vậy, nhiều người vẫn còn tức giận dữ với ý nghĩ uống nước máy đóng chai.

Tồi tệ hơn nữa là, Coke tuyên bố rằng họ sử dụng một hệ thống lọc tiên tiến trong khi trên thực tế, hệ thống đó khá là khiêm tốn và được sử dụng bởi các thương hiệu chẳng mấy nổi tiếng khác.

Đối với những người muốn uống nước tự nhiên tinh khiết lấy từ nguồn nước suối, Dasani không phải là sản phẩm dành cho họ. Mặc dù là nước tinh khiết, vấn đề là nó không phải là nước suối.

Trong thực tế, bởi vì nước máy đã trải qua quá trình lọc tạp chế và xử lý rồi, thật khó hiểu Dasani có làm nên điều khác biệt gì không. Làm sao để ngăn họ sử dụng thẳng từ nguồn nước máy để đóng chai? Dù sao đi nữa, nước máy cũng hợp pháp. Điều này khiến cho người ta thực sự phải dừng lại và đặt câu hỏi về chính những gì mà họ uống mỗi ngày.

Theo Global News

( Nguồn: Google)

Đăng bởi: Ngô Minh | 25.09.2016

THƯ GIÃN CHỦ NHẬT: THIÊN THIÊN KỲ THÚ

buoi

cu

THƯ GIÃN CHỦ NHẬT: THIÊN NHIỂN KỲ THÚ 

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 25.09.2016

NGUYỄN BÍNH – NGƯỜI ĐỒNG HÀNH CÔ ĐỘC

ĐỌC BỘ SÁCH ” NGÔ MINH TÁC PHẨM”, TẬP 2 

 NGUYỄN BÍNH – NGƯỜI ĐỒNG HÀNH CÔ ĐỘC

 IMG_8193

Ngô Minh

Đúng là ông luôn hiện lên trong chúng ta, bên chúng ta, cùng tỉ tê chia sẻ nỗi niềm trong một đêm mưa, một ánh lửa chài, trong dáng sông bóng núi. Có ông bên những người tha phương. Có ông bên những người Việt đang yêu từ những năm 1939 cho đến tận hôm nay. Thơ Nguyễn Bính hay như thế, nhưng một thời được cho là “lãng mạn tiêu cực”, “tiểu tư sản” không được in và không được phổ biến. Mãi đến khi đất nước thống nhất, đổi mới, thơ Nguyễn Bính mới được xuất bản, nhiều bạn trẻ mới được đọc. Nhưng trong sổ tay anh Ngô Tấn Ninh , người anh trai yêu thơ của tôi ở làng biển Thượng Luật những năm 60 của thế kỷ trước vẫn chép  đầy thơ  Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính…Anh tôi dấu cuốn sổ thơ ấy kỹ lắm và thường anh chỉ đọc, ngâm nga trong các cuộc rượu bạn bè.

 

Tôi lớn lên, sổ tay thơ cũng chép đầy thơ Nguyễn Bính – những “Lỡ bước sang ngang”, “Cô lái đò”, “Cô hái mơ”, “Tương tư”, “Chân quê”, “Người hàng xóm”,” Giời mưa ở Huế”,” Hành phương Nam”.v.v.. Không hiểu mình thành chàng trai trước hay thuộc thơ tình Nguyễn Bính trước! Thật biết ơn ông anh trai si thơ!

 

Con gái Hà Nội, con gái tỉnh Nam xưa thuộc Kiều và thuộc cả tập thơ “Lỡ bước sang ngang“.  Nhà thơ của chúng ta đồng hành với ông thợ cắt tóc, với cô lái đò, các cô gái ngoại ô bơi thúng hái rau bên sông Tô Lịch cho đến các bà các cô trong phòng khuê nhung lụa. Nhà văn Chu Văn kể câu chuyện về Nguyễn Bính và cô lái đò bên bến sông Châu tên Thoa thật cảm động. Nguyễn Bính hàng ngày đi chợ vẫn nhờ đò cô đưa sang. Cô lái không lấy tiền. Và hình như thi sĩ cũng có tặng cô thơ, nên cô rất quí ông. Khi nghe tin Nguyễn Bính mất, cô Thoa đã nấc lên nghẹn ngào, gục mặt lên mái chèo.” Ước chết thay cho thi sĩ !” Thế mới biết thơ thật diệu kỳ. Qua thơ, nhà thơ đến với mọi người như một người cật ruột, tin tưởng, gửi gắm.

 

Có lẽ vì có nhiều người đọc, nhiều người thuộc nên Nguyễn Bính là trường hợp nhà thơ hiện đại duy nhất thơ có nhiều dị bản. Khi Nguyễn còn sống, đã có nhiều bài thơ bị in nối dài thêm khổ, thêm câu. Trong Tuyển tập Nguyễn Bính (NXB Văn học, 1986), chỉ riêng 60 bài thơ tuyển từ các tập thơ trước 1945, đã có 24 trường hợp có các đoạn thơ, câu thơ, chữ thơ có các bản in khác nhau. Ấy là thơ đã tự nối dài cuộc đời, tự hóa thân để đồng hành được với nhiều tâm trạng. Có một Nguyễn Bính si tình – lại có một Nguyễn Bính thi sĩ của cuộc kháng chiến. Bài hát “Tiểu đoàn 307” phổ thơ Nguyễn Bính từ Nam Bộ chống Pháp đã cùng hành quân với các binh đoàn trong cả nước cho tới những ngày chống Mỹ thắng lợi với giọng hát liêu trai của ca sĩ Quốc Hương.

 

Đồng hành thân thiết với nhiều thế hệ, nhưng Nguyễn Bính lại là một người cô đơn, cô độc. Ông cô độc cả về cảnh ngộ và tâm trạng thi sĩ , là một lữ khách giang hồ lên Bắc vào Nam. Chỉ trong vòng 15 năm, từ 1939 đến 1954, theo địa danh ghi dưới các bài thơ Nguyễn Bính đã “lăn lóc có dư mười mấy tỉnh” Bắc Giang, Hải Phòng, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Vinh, Huế, Sài Gòn, lục tỉnh miền Đông. Ông đi và sống được nhờ lưng vốn thơ với tâm tình độc giả mến mộ. Rồi ở trọ một mình, xê dịch một mình. Hồi vô Sài Gòn năm 1939, có lúc phải mà cả ngã giá bán từng câu thơ đăng báo để kiếm sống .Tiền thì ít nhưng “ Vẫn dám tiêu hoang cho đến hết / Ngày mai ra sao rồi hãy hay … ( Hành phương Nam). Tiền không có nhưng vẫn trọng thơ hơn tiền, coi khinh bọn định giá văn chương. Theo lời kể của ông Hoàng Tấn (dẫn theo Hà Đình Nguyên- Báo Thanh Niên), ông chủ bút tờ Dân Báo đặt Nguyễn Bính một bài thơ để đăng trên số đặc biệt Tết Ất Dậu(1945) để báo thu hút bạn đọc. Ông chủ bút đòi mỗi trang thơ  hai đồng bạc. Nguyễn Bính  đòi mỗi câu hai đồng, sau đó đồng ý một đồng. Nguyễn Bính viết bài thơ Sao chẳng về đây? 10 khổ 40 câu. Bài thơ khổ kết như sau : Xuân đã sang rồi em có hay / Tình xuân chan chứa, ý xuân đầy / Kinh kỳ bụi quá xuân không đến / Sao chẳng về đây, chẳng ở đây. Ông chủ bắt Nguyễn Bính phải sửa đi sửa lại hai câu cuối đến ba lần, đồng ý trả mỗi câu thơ hai đồng nếu sửa tốt. Khi báo in ra, Nguyễn Bính đến đòi nhuận bút. Ông chủ báo đưa 10 đồng, Nguyễn Bính chê ít, không nhận. Ông chủ báo nói :” Với các văn sĩ nổi tiếng khác, tôi trả cao lắm cũng chỉ 5 đồng…” Nguyễn Bính lập tức ném xấp tiền  xuống đất rồi ra về. Ngay chiều hôm đó, tòa soạn phải cử người đến xin lỗi và đưa cho Nguyễn Bính 80 đồng! 80 đồng lúc đó bằng một cây vàng, ngang với lương tháng của một tri huyện. Túng tiền, Nguyễn Bính còn bò ra  năm ngày chép tay tập thơ Lỡ bước sang ngang với chữ ký của mình để “bán đấu giá”… Kiếp giang hồ, nhiều khi nhà thơ  bơ vơ nơi sông khách :

Quê người đứng ngắm mây lưu lạc

                   Bến cũ nằm nghe sóng lỡ làng

Có lúc đơn chiếc đến tê dại trên sân ga :

Chân bước hững hờ theo bóng lẻ

                   Một mình làm cả cuộc phân ly

 

Nguyễn Bính yêu nhiều, yêu si mê, đã hiến cho tình yêu nhiều bài thơ đặc sắc, nhưng ông mãi mãi là người cô đơn trong tình yêu. Nhà văn Tô Hoài kể rằng, ngày trước, Nguyễn Bính đi đâu cũng kè kè cái hộp sắt tây. Loại hộp bánh bích quy, nhưng không đựng bánh mà đựng toàn thư tình, thơ tình. Nguyễn Bính thỉnh thoảng lại mở ra đọc, ngắm rồi lại vuốt lại, xếp lại, đêm ngủ thì gối cái hộp trên đầu. Thì ra những bức thư, là thư tình cũ của các cô nương luôn thề non hẹn biển, có lúc dọa cắt tóc đi tu hay uống thuốc phiện, dấm thanh cho chết (!), nhưng chẳng ai chịu “ăn đời ở kiếp” với nhà thơ nghèo khó ! Nguyễn Bính  cắp cái hộp đựng tình yêu cũ ấy đi từ Bắc vào Nam  như là một bảo vật ! Ông đi cô độc giữa cái mê hồn trận cay đắng ấy, để rồi chạm đến là ngân thành thơ. Một thứ thơ nồng nàn mà se xiết phận người! Ông như người sinh ra cho những duyên kiếp lỡ làng, ông là sự dấn thân cho thơ, cho cái đạo thơ !

 

Trong hồi ký “Cát bụi chân ai”, Tô Hoài kể rằng, thời kỳ Nguyễn Bính làm báo Trăm Hoa ở Hà Nội (1956 ) có một người con gái đã đến với ông. Họ có với nhau một mụn con đặt tên là Hiền. Rồi hai người xa nhau. Cô gái mang cậu con trai đến trả cho Nguyễn Bính! Ngày ngày nhà thơ ẵm vác cậu bé một bên vai, như mèo tha con. Một tối kia, Nguyễn Bính say rượu bế con thẫn thờ ra phố. Rồi không hiểu sao, trong vô thức nhà thơ lại trao con cho một người đàn ông xa lạ đang đi tới. Trở về, cơn say vật Nguyễn Bính thiếp đi. Quá nửa đêm quờ tay không thấy con, lật đật chạy đi kêu cứu bạn bè, mặt mày tái nhợt. Mọi người đổ đi tìm khắp thành phố, đi báo nhờ Công an tìm….Nhưng, đứa con ấy ba chục năm ròng vẫn không tìm thấy…Ôi,cuộc đời nhà thơ sao mà đau khổ, thương tâm thế !

 

Nguyễn Bính – Người đồng hành cô độc tuyệt vời của chúng ta sinh năm 1918, nếu còn sống, năm nay vào tuổi 96. Ông mất sáng 30 tết Bính Ngọ, tức ngày cuối cùng của năm Ất Tỵ (20-1-1966). Con người tài tử, từng giang hồ mưa gió bốn phương ấy lại thổ huyết chết vì một luồng gió độc trong vườn tại quê nhà. Lạ thật! Cuối năm 2007, trong đợt về thăm thành phố Nam Định, tôi đã cùng  người bạn thân nhạc sĩ Huy Tập về làng Thiện Vịnh, xã Cộng Hoà, Vụ Bản cách Nam định  gần chục cây số viếng mộ Nguyễn Bính. Nguyễn Bính là nhà thơ số một Việt Nam về thơ làng quê đồng bằng sông Hồng.. Thắp nhang vái ông, tôi lại nhẩm những câu thơ ông viết về Huế  trong đợt hành phương Nam của nhà thơ đầu những năm 40 của thế kỷ trước.  

Giời mưa ở Huế sao buồn thế

                            Cứ kéo dài ra suốt mấy ngày

                           Thềm cũ nôn nao đàn kiến đói

                           Trời mờ ngao ngán một loài mây

                           Trường Tiền vắng ngắt người qua lại

                            Đập Đá mênh mang bến nước đầy

                            Đò vắng khách chơi nằm bát úp

                            Thu về lại giở gió heo may…

                                                         ( Giời mưa ở Huế)

         Bởi thế về Nam Định đến thắp nhang lạy ông là ý nghĩ đầu tiên của tôi. Một sự trùng hợp rất ý vị là hai hôm trước ở Hà Nội, tại Hội chợ sách quốc tế Vân Hồ, lần đầu tiên tôi gặp và bắt tay nhà văn Nguyễn Bính Hồng Cầu, người con gái miền Nam của thi sĩ . Bây giờ tôi lại đứng  bên mộ ông.  Mộ nhà thơ được xây ngoài vườn nhà rất khang trang. Trong nhà là bàn thờ, những kỷ vật của Nguyễn Bính.Tôi và Huy Tập thắp nhang lạy Nguyễn Bính rồi ghi vào sổ lưu niệm. Theo Huy Tập kể thì trước đây là ngôi nhà cũ của  gia đình, lúc Nguyễn Bính đi xa, người em trai ở. Để có được ngôi nhà lưu niệm nhà thơ tài hoa,  gia đình đã bàn với ông em đi làm nhà ở chỗ khác, để anh em góp tiền sửa sang xây lại ngôi nhà cũ thành nhà lưu niệm nhà thơ Nguyễn Bính. Ở xứ ta mộ nằm giữa làng quê đầm ấm thân thuộc châu thổ Sông Hồng này là hiếm lắm và cũng hạnh phúc lắm lắm. Tiếc là bây giờ những hình ảnh thôn quê trong thơ Nguyễn Bính như đậu mùng tơi, khăn mỏ quạ, quần nái đen.v.v..đã thành quá vãng. Các cô gái quê nhà “đi tỉnh”, đi Hà Nội, đi xuất khẩu lao động ở Hàn Quốc, Đài Loan…môi son mỏ đỏ, áo phông hở lưng, hở rốn, quần jin lửng, và không bao giờ về làng nữa…

 

Nguyễn Bính đã sống và viết nhiều thơ về Huế. Trong hai tập “Người con gái lầu hoa” và “Mười hai bến nước” của ông có nhiều bài thơ đặc sắc về Huế, đã trở thành tài sản tâm hồn của mọi người. Người Huế không ai không thuộc đôi đoạn, đôi câu trong các bài “Giời mưa ở Huế”, “Vài nét Huế”, “Người con gái lầu hoa”, “Lửa đò” “ Xom Ngự Viên”v.v… Nhiều hình ảnh, hình tượng thơ về Huế Nguyễn Bính dùng đã trở thành cổ điển, khó vượt qua. Như các hình ảnh “Giời mưa ở Huế” hay “Cầu cong như chiếc lược ngà…”, “Con đò không chở những người chính chuyên” v.v… và đây là tiếng đàn kỹ nữ xưa :

Đàn ai chừng đứt dây tình

                   Vẳng lên một tiếng buồn tênh rồi chìm

 

Từ sau khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, nhiều tập thơ và tuyển thơ Nguyễn Bính lại được in đi in lại, đến với độc giả yêu thơ cả nước. Mới hay cái trường tồn của một thi sĩ là những bài thơ “ rút ruột đẻ ra”, những bài thơ “chân quê” nói về cái “tôi trữ tình”của tác giả, “cái tôi” muôn thuở kiếm tìm, khao khát của con người! Thơ Nguyễn Bính nói với tôi nhiều điều tâm đắc về sự được mất trong thơ. Trong một bức thư gửi bạn Trọng Miên năm 1939, Hàn Mặc Tử đã viết rằng:”Bởi muốn cho Loài thi sĩ làm tròn nhiệm vụ ở Thế gian này – nghĩa là tạo ra những tác phẩm tuyệt diệu, lưu danh lại muôn đời- Chúa Trời bắt chúng phải mua bằng giá máu, luôn có một định mệnh tàn khốc theo riết bên mình. “Không rên xiết là thơ vô nghĩa lý”. Thi sĩ rơi xuống cõi đời bơ vơ, bỡ ngỡ và lạ lùng. Không có lấy một người hiểu mình...”.

 

Điều đó đúng với Hàn Mặc Tử và đúng cả với Nguyễn Bính !

 

Nguyễn Bính lại đồng hành với tuổi trẻ hôm nay và sẽ còn đồng hành với nhiều thế hệ lứa đôi mai sau. Thi sĩ ơi, thi sĩ là người cô độc, nhưng thơ mãi mãi là bạn đồng hành cùng trái tim người muôn thuở….

 

 

 

 

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 25.09.2016

Tam giác mạch, loài hoa “Tiên” nơi cực Bắc

Tam giác mạch, loài hoa “Tiên” nơi cực Bắc

 

Trong muôn vàn loài hoa mà thiên nhiên ban tặng cho con người, mỗi loài hoa có những nét đẹp quyến rũ của dáng hình, màu sắc và mùi hương… Có những loài hoa đã rất sớm được phát hiện và trở nên gần gũi gắn bó với con người, và được con người cải tạo  trở nên “ thương hiệu” có giá trị vĩnh hằng trong đời sống, sinh hoạt và được dùng cả trong những vị thuốc dân gian…Ở Việt Nam các thi nhân từ xa xưa cũng đã không thể không đưa vào văn chương vẻ đẹp tuyệt mỹ của một số loài hoa như: Hoa Sen, hoa Hồng, hoa Cúc, hoa Đào, hoa Mận, hoa Lê, hoa Mai…và cũng đã mượn vẻ đẹp, sự thanh khiết của các loài hoa ấy để ca ngợi vẻ đẹp về tâm hồn trong trắng của người phụ nữ . Ấy là chuyện về các loài hoa nổi tiếng của “ thiên hạ”. Còn chuyện về các loài hoa của quê tôi vùng núi cao cực Bắc Hà Giang – có thể nói cũng không kém phần đa dạng và hấp dẫn đối con người như: Hoa Đào, hoa Mận, hoa Lê và đặc biệt là hoa Tam giác mạch ( một loài hoa đã gắn bó với con người Hà Giang hàng trăm năm nay, nhưng vài năm gần đây mới được khai thác vẻ đẹp đến nao lòng của sắc màu, mùi hương của hoa và cả giá trị về kinh tế). Hoa Tam giác mạch vùng Cao nguyên Đá Đồng Văn – Hà Giang đang nổi lên như một hiện tượng mới  của vùng đất biên cương Công viên Địa chất Toàn cầu Cao nguyên Đá, được bạn bè, khách du lịch trong và ngoài nước ngưỡng mộ.

 

Tam giác mạch – loài hoa “Tiên” nơi cực Bắc. Nguồn Internet

Nói về miền đất Hà Giang, có một nhà thơ đã viết: Quê hương tôi vùng núi cao cực Bắc/ Có đá núi trập trùng ngút ngát/ Nâng bước chân tôi chập chững vào đời/ Có ruộng bậc thang như cung đàn lên trời/ Hoa đào, hoa lê  bức tranh quê thổ cẩm/ Có hoa Tam giác mạch dệt đất trời thơ mộng/  Ta đương ở trần hay lạc giữa cõi Tiên…    

Hoa Tam giác mạch quê tôi nở vào cuối thu đầu đông ( khoảng vào giữa tháng mười ( Dương lịch). Ấy là lúc vùng cao biên giới Hà Giang tiết trời se lạnh, núi rừng cũng lãng đãng sương giăng. Những giọt sương mai qua đêm còn gắn trên những cánh lá, nụ hoa, ngọn cỏ…tạo nên một miền đá thơ mộng, lãng mạn đến ngọt ngào…Có phải loài hoa này hiểu được lòng con người mảnh đất nơi đây trập trùng đá núi, đèo cao, vực sâu, thiếu đất sản xuất, khô hạn, một năm thiếu nước ăn phải đến 7-8 tháng; cây trồng chủ yếu là ngô; bà con phải gùi đất lên nương, bỏ vào từng hốc đá để trồng…mà cùng chia sẻ nỗi niềm, cam chịu giá lạnh, sương muối, sống trên đất đá khô cằn để nở hoa, kết quả, dâng tặng cho con người Hà Giang – một sản phẩm vừa có giá trị về thẩm mỹ cao vừa có giá trị kinh tế thiết thực, hữu ích?

Vào mùa hoa Tam giác mạch, cả cao nguyên Đá Đồng Văn như một bức tranh thổ cẩm, trên các triền núi, dưới các thung lũng, bên những ngôi nhà trình tường của đồng bào Mông, Lô Lô, Giáy…hoa tam giác mạch nở tràn, lung linh dưới ánh nắng dịu dàng của miền đá xám cực Bắc, như đưa ta vào cõi Tiên cảnh…Không chỉ có vẻ đẹp huyền bí của sắc hoa, hạt cây tam giác mạch còn cho ta giá trị về kinh tế như: xay thành bột làm các loại bánh, ăn có vị bùi, ngọt nhẹ, dẻo, thơm dịu của hương núi;  hạt Tam giác mạch nấu rượu uống có vị đượm sắc, nồng độ nhẹ và thơm lạ, khác với bất cứ loại rượu nào trên vùng cao. Uống rượu Tam giác mạch không say ngay mà sự sya từ từ êm dịu, ; con trai, con gái uống rượu tam giác mạch má chỉ ửng hồng như chính màu sác của hoa …Bánh và rượu hoa tam giác mạch cho ta hương vị thơm đặc trưng của hoa, lá, cỏ cây thiên nhiên vùng xứ Đá.

Thời gian sinh trưởng của hoa Tam giác mạch theo như thổ dân cao nguyên đá cho biết, từ lúc gieo hạt đến khi kết quả thu hoạch khoảng 3 tháng. Thời gian đẹp nhất của tuổi hoa là tháng thứ 2, ấy là thời kỳ  hoa Tam giác mạch nở hoa rộ nhất, trút hết sinh lực của mình ra để tạo nên sắc màu của cánh hoa tươi đẹp nhất.  Thời tiết lúc này cũng đẹp nhất,  ít những ngày mưa dày, ít những ngày sương mù và lạnh buốt. Thời gian đó cũng là thời điểm đẹp nhất đẻ cho du khách lên Cao nguyên đá Đồng Văn thưởng ngoạn loài hoa “ Tiên” này.

Mấy năm gần đây khi cây hoa Tam giác mạch của Hà giang đã trở thành “ Thương hiệu” mới, một số bạn bè đồng nghiệp làm báo, viết văn ở Hà Nội, Tây Nguyên và Thành phố Hố Chí Minh, cứ đến đầu mùa thu lại gọi điện thoại cho tôi, hỏi thăm tình hình mùa hoa Tam giác mạch năm nay ở Hà Giang thế nào?. Có mở rộng diện tích trồng hoa không? Các điểm thưởng ngoạn hoa Tam giác mạch có nhiều không? Đường đến các vùng hoa Tam giác mạch có dễ hơn những năm trước không? Hình thức phục vụ và hướng dẫn khách du lịch tham quan như thế nào để tạo điều kiện “ Vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi vv… Chỉ mấy câu hỏi như vậy của các bạn đồng nghiệp, cũng đủ cho tôi và các nhà quản lý, người dân ở Hà Giang cảm động, vui rồi!  Bởi loài hoa Tam giác mạch ở Hà Giang mới nổi lên vài năm nay mà cụ thể từ  lễ hội Hoa Tam giác mạch Hà giang lần thứ I năm 2015 tổ chức tại huyện Đồng Văn ( Trung tâm của vùng hoa Tam giác mạch), đã đi vào được lòng người bốn phương. Nhưng đó cũng đặt ra cho Hà Giang những suy nghĩ mới, làm sao để quảng bá, giữ vững được hình ảnh của  một loài hoa “ Tiên “ nơi cực Bắc này?

Năm ngoái, sau những lần hẹn hò, tôi đã đưa tiến sĩ, nhà văn, nhà lý luận phê bình văn học Hội Nhà văn Việt Nam – Nguyên An lên Cao nguyên đá Đồng Văn, đúng vào dịp Hà Giang tổ chức Lẽ hội Hoa Tam giác mạch lần thứ I. Nhà văn Nguyên An đã vài lần lên Hà Giang, nhưng chưa lần nào có điều kiện lên Cao nguyên Đá. Ra khỏi thành phố Hà Giang, vượt qua cổng Trời Quản Bạ, dọc miền lên Cao nguyên Đá, ông bị cuốn hút bởi phong cảnh thiên nhiên núi non hùng vĩ, mây trời giao thoa, đường dốc uốn lượn mềm mại như những dải lụa vắt trên đỉnh núi…Những nương ngô xanh mướt vươn lên trong hốc đá tai mèo như sức sống của người dân nơi đây. Những cổng trời mây phủ, mây lùa vào xe mát dịu…Ông phải thốt lên : Đẹp quá! Tuyệt vời quá! Đúng là đệ nhất hùng quan!

Ông đi thăm một số điểm trồng hoa Tam giác mạch của đồng bào các dân tộc  thuộc xã Sủng Là, Phó Bảng ( Đồng Văn). Được mắt thấy, tai nghe  những thửa ruộng, nương hoa tam giác mạch, ông bảo: Như lạc vào chốn Tiên cung, trước vẻ đẹp quyễn rũ của sắc hoa Tam giác mạch với sự hài hòa của các màu đỏ, tím, phớt hồng…Ông nhẹ nhàng men theo các bờ ruộng vào vườn hoa để nhờ tôi bấm máy.  Ông hồ hởi len vào giữa bãi hoa, lúc ở góc vườn, khi cúi xuống hôn hoa…Các biểu hiện tình cảm của ông đối với loài hoa Tam giác mạch đã phần nào tôi hiểu được sự trân trọng, yêu quý và cảm phục một loài hoa – theo như ông nói: Lần đầu tiên mới được thưởng thức.

Chúng tôi về phố cổ Đồng Văn để tham dự Lễ hội Hoa Tam giác mạch. Những cây hoa Tam giác mạch đẹp nhất  ở các xã, thôn, các huyện vùng cao trong tỉnh Hà Giang về đây thi tài, đã làm nên một rừng hoa Tam giác mạch tuyệt đẹp. Đặc biệt là bên cạnh những chậu hoa Tam giác mạch trình diễn, còn có các cô gái Mông, Dao, Lô Lô…thuyết minh, giới thiệu đã tôn thêm vẻ đẹp vốn có của cảnh vật thị trấn huyện Đồng Văn càng rực rỡ đến xao lòng. Trong lễ hội ấy chúng tôi còn dduwwocj thưởng thức những làn điệu dân ca, nhạc cụ sáo, khèn, nhị, đàn tính …của cộng đồng các dân tộc Mông, Dao, Tày, Lô Lô…trên cao nguyên Đá, để lại cho du khách những tình cảm tốt đẹp, ấn tượng.

Lại một mùa hoa Tam giác mạch trên Cao nguyên Đá Đồng Văn đang đến gần, cứ nghĩ về Lễ hội hoa Tam giác mạch của Hà Giang năm qua thành công, trong lòng tôi lại tràn lên một cảm xúc niềm tin vào Lễ hội hoa Tam giác mạch của Hà Giang ở các huyện vùng cao  lần thứ II sẽ tốt đẹp. Qua tìm hiểu về công tác chuẩn bị cho Lễ hội Hoa Tam giác mạch 2016, tôi được biết, các huyện vùng trọng điểm hoa Tam giác mạch : Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc  trên Cao nguyên Đá năm nay đã có nhiều đổi mới, như: Mở rộng diện tích trồng hoa; xây dựng đầu tư các điểm hoa Tam giác mạch có tính điển hình để du khách tham quan; đường giao thông được nâng cấp thuận tiện cho khách đi lại và công tác đón khách tham quan được tổ chức chặt chẽ, chu đáo…

Như vậy là tôi có thể   thông tin lại cho các bạn đồng nghiệp cũng như du khách gần xa rằng: Lễ Hội Hoa Tam giác mạch Hà Giang lần thứ II năm 2016 vào trung tuần tháng 10 đã sẵn sàng. Hà Giang xin được đón chào Quý khách! Hãy lên với Hà Giang – Cao nguyên Đá Đồng văn – Công viên Địa chất Toàn cầu đang chào đón Bạn!

( Nguồn: Báo Văn nghệ)

Kiểm soát quyền lực: “Có những người bán rẻ Tổ quốc vì quyền lợi cá nhân”

Vũ Ngọc Hoàng

“Có những người lúc đầu khi chưa có quyền lực thì tốt, nhưng sau đó, khi đã có quyền lực trong tay thì dần dần trở nên hư hỏng, thành người xấu; thậm chí đến mức có thể phản bội nhân dân, bán rẻ Tổ quốc vì ngai vàng của cá nhân”.

LTS: Tuần Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết mới nhất của Tiến sĩ Vũ Ngọc Hoàng, nguyên phó trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, xung quanh một vấn đề mà ông luôn trăn trở – quyền lực và kiểm soát quyền lực.

Quyền lực như “con ngựa” bất kham, người không đủ nhân cách mà giao cho họ cầm cương thì nó sẽ tung phá, gây đổ ngã và làm chết cả người ngồi trên yên ngựa. Quyền lực là “con dao” hai lưỡi, có thể phục vụ cho đời và cũng có thể làm hại đất nước nếu rơi vào tay những kẻ bất tài, tham lam.

Năm 2011, Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề cập, dù là mới thoáng qua, việc kiểm soát quyền lực. Rất tiếc là chủ trương đó chưa được triển khai thực hiện cụ thể. Trước và trong Đại hội XII, Tổng Bí thư của Đảng ít nhất đã hai lần nhấn mạnh phải kiểm soát quyền lực.

Gần hai năm trước, trong bài “Tham vọng quyền lực và sự tha hóa”, tôi có viết ý kiến về kiểm soát quyền lực và trả lời phỏng vấn của báo chí về việc này. Thời gian gần đây một số tờ báo có đặt vấn đề phỏng vấn tôi yêu cầu nói tiếp ý kiến về kiểm soát quyền lực. Đó là lý do khiến tôi viết tiếp bài này trao đổi thêm để bạn đọc tham khảo.

Kiểm soát quyền lực, Vũ Ngọc Hoàng, Liên Xô sụp đổ, Diễn biến hòa bình, Tham nhũng, Lợi ích nhóm

TS Vũ Ngọc Hoàng. Ảnh: Lê Anh Dũng

Câu hỏi trước tiên cần nói thêm là vì sao phải kiểm soát quyền lực? nếu không kiểm soát quyền lực thì sẽ thế nào?

Mặt tiêu cực của quyền lực

Quyền lực vốn là của cộng đồng nhân dân, khởi đầu là thế, và mãi mãi cũng là thế, không phải của thần linh, không phải của bất kỳ cá nhân ai, của một gia đình trị hoặc một tộc họ nào; cũng không phải của bất kỳ một tổ chức nào khác.

Từ lâu Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức được và đã nhiều lần khẳng định trong các Nghị quyết rằng quyền lực thuộc về nhân dân. Nhân dân không trực tiếp nắm giữ tất cả, mà chỉ nắm giữ một số vấn đề then chốt (sẽ nói sau), còn lại là ủy quyền cho nhà nước quản lý và sử dụng quyền lực để bảo vệ và phục vụ nhân dân, kiến tạo một quốc gia phát triển.

Tuy nhiên, trong lịch sử, đã từng có không ít trường hợp những người (hoặc nhóm người) bằng các thủ đoạn chính trị đã cướp đoạt quyền lực của nhân dân, biến nhân dân thành đối tượng bị cai trị. Nhân dân sau khi ủy quyền thì mất quyền, còn người được ủy quyền thì dần dần bị quyền lực làm tha hóa. Họ sử dụng quyền lực không phải để bảo vệ và phục vụ nhân dân như mục đích ban đầu, mà để phục vụ lợi ích của cá nhân, gia đình, dòng họ, cho một nhóm người, họ quay lại ức hiếp nhân dân, biến nhân dân từ chủ nhân của quyền lực thành đối tượng bị chèn ép, bị ức hiếp, bị tước đoạt.

Ở bất kỳ đâu và bất kỳ lúc nào, quyền lực cũng luôn có hai mặt. Mặt tích cực, nó là công cụ hữu hiệu bậc nhất để tập hợp lực lượng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng một xã hội tốt đẹp, nếu như quyền lực ấy được trao cho những con người có nhân cách tốt.

Mặt tiêu cực, nó luôn làm tha hóa những con người và bộ máy sử dụng quyền lực nhưng lại yếu kém về nhân cách và không có cơ chế tốt để kiểm soát quyền lực. Sự tha hóa như vậy có từ trong bản chất tự nhiên của con người và quyền lực. Có những người lúc đầu (khi chưa có quyền lực) thì tốt, nhưng sau đó, khi đã có quyền lực trong tay thì dần dần trở nên hư hỏng, thành người xấu; thậm chí đến mức có thể phản bội nhân dân, bán rẻ Tổ quốc vì ngai vàng của cá nhân.

Cá biệt có những người thay đổi bản chất rất nhanh, chỉ sau một lần bỏ phiếu, họ gần như trở thành một người khác hẳn, từ dáng đi, cách nói, cách bắt tay. Họ khệnh khạng hơn, có vẻ “oai vệ” hơn, “bề trên” hơn. Khi người ta đến được đỉnh cao của “chiến thắng” trong quyền lực thì đấy là lúc người ta bắt đầu thua, mà trước tiên là thua chính mình.

Trên đỉnh cao của quyền lực ít ai nhìn thấy tai họa ẩn chứa vốn có từ bên trong quyền lực ấy, nếu không phải là người lãnh đạo có nhân cách lớn, minh triết uyên thâm, có khả năng vượt qua chính mình và ma lực cám dỗ của quyền lực, để tịnh tâm nhìn xa trông rộng. Khi đã có trong tay tất cả thì đấy cũng là lúc tự mình bắt đầu đánh mất dần.

Tha hóa quyền lực dẫn đến sụp đổ chế độ 

Việc kiểm soát quyền lực trước tiên là để bảo đảm cho quyền lực luôn thuộc về đúng chủ nhân của nó, tức là thuộc về nhân dân, được sử dụng đúng mục đích, không bị lợi dụng, lạm quyền. Khi quyền lực bị lạm dụng thì tất yếu sẽ tha hóa bộ máy cầm quyền, và cũng là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến tha hóa đạo đức xã hội.

Sự tha hóa quyền lực tất yếu sẽ dẫn đến sụp đổ chế độ chính trị. Nếu sự tha hóa ấy không dừng lại và lành mạnh hóa thì sụp đổ là không thể khác, chỉ còn là vấn đề thời gian. Sự sụp đổ ấy chính là tự đổ, không phải do ai phá và cũng không ai cản nổi.

Có những suy nghĩ rất ấu trĩ sai lầm khi cho rằng nắm cho chắc lực lượng vũ trang là có thể đẩy lùi sự sụp đổ. Không đâu! Liên Xô ngày trước cả quân đội và lực lượng an ninh KGB còn rất mạnh, bậc nhất thế giới, vậy mà đến một lúc, khi sự tha hóa đã đến ngưỡng, thì cả một chế độ được cho là thành trì ấy bỗng chốc đổ ào, đến mức không tưởng tượng được, không hiểu nổi.

Nhiều người đã giải thích rằng do địch phá bằng “diễn biến hòa bình”… Không phải như thế đâu! Đấy là cách giải thích miễn cưỡng, không có cơ sở khoa học, tự trấn an mình. Địch thì lúc nào mà chả phá ta? Do phá ta nên nó mới là địch. Địch mà không phá ta mới là chuyện lạ.

Phá là việc của địch, còn ngã đổ là chuyện của ta. Nếu cứ đổ lỗi cho địch thì rồi chẳng biết cách nào mà sửa. Địch phá Liên Xô ư? Phá sao bằng thời kỳ trước đó, khi 14 nước đế quốc tập trung bao vây nhà nước nhân dân còn non trẻ, rồi nội chiến, rồi chủ nghĩa phát-xít đã tập trung cao độ lực lượng với nửa nghìn sư đoàn thiện chiến trong đại chiến thế giới lần thứ 2 để tiêu diệt Liên Xô, nhưng không tiêu diệt được.

Ngược lại, Liên Xô đã lớn mạnh thành một cường quốc hàng đầu thế giới. Sao bây giờ địch giỏi vậy, tài tình vậy, chẳng tốn một viên đạn mà Liên Xô vẫn đổ ào không cứu vãn được, cứ như một cơn đột quỵ dữ dội và bất ngờ. Địch mà giỏi như vậy thì thật đáng kính phục?

Những nhà tuyên truyền “ngây thơ” đã vô tình tâng bốc địch, vậy mà cứ tưởng thế mới là có lập trường địch – ta. Bản chất của vấn đề Liên Xô đổ là tự đổ, do tha hóa quyền lực mà đổ, do không thể tự đứng được nữa mà đổ, do thối nát mà đổ, chứ chẳng phải ai xô ngã được.

Kiểm soát quyền lực, Vũ Ngọc Hoàng, Liên Xô sụp đổ, Diễn biến hòa bình, Tham nhũng, Lợi ích nhóm

Có những người có quyền lực trong tay trở nên tha hóa. Ảnh minh họa: Shutterstock/Thanh niên

Tham nhũng, lợi ích nhóm lan cả vào chốn thiêng liêng

Đặc điểm chính trị quan trọng nhất của xã hội xã hội chủ nghĩa (XHCN) chân chính là quyền lực thật  sự và luôn luôn thuộc về nhân dân. Chỉ khi ấy mới có một nền chính trị thật sự tốt đẹp và bền vững.

Thực tế lịch sử nhân loại đã cho thấy: nhà nước của chủ nô, của vua và các tập đoàn phong kiến, nhà nước của quan lại tha hóa (như Liên Xô giai đoạn sau chẳng hạn) và nhà nước của tài phiệt (tư bản hoang dã thời kỳ đầu) cuối cùng đều phải ngã đổ và kết thúc. Chỉ có nhà nước của dân, thật sự của dân, thì mới bền vững lâu dài, vì dân là vạn đại.

Vì vậy, việc kiểm soát quyền lực vừa là giá trị nhân văn của một xã hội tiến bộ, phòng chống sự tha hóa của Nhà nước và xã hội, đồng thời là để thực hiện mục tiêu XHCN chân chính, để có được một nhà nước bền vững lâu dài phục vụ nhân dân.

Khi quyền lực không được kiểm soát thì mặt trái của nó chính là tác nhân quan trọng nhất làm tha hóa cán bộ, tha hóa những con người được trao quyền lực, rồi tha hóa cả bộ máy, làm cho bộ máy bị biến chất, không còn là nhà nước của dân, mà dần dần thành nhà nước phản bội nhân dân.

Trong bất kỳ điều kiện nào, sự tha hóa quyền lực ở cán bộ và các cơ quan lãnh đạo quản lý, đều là nguyên nhân lớn nhất làm cho đạo đức xã hội xuống cấp, văn hóa suy đồi, dân tộc bị mất dần sức mạnh nội sinh, xã hội trì trệ và quốc gia không thể hưng thịnh, không có đủ sức mạnh để bảo vệ Tổ quốc, mục tiêu XHCN tốt đẹp mà nhiều người đã từng mong ước cũng trở nên xa vời và mơ hồ.

Lịch sử nước ta đã từng có nhiều lần do tha hóa quyền lực mà dẫn đến mất nước. Hầu hết các triều đại phong kiến Việt Nam đã từng bị sụp đổ vì tha hóa quyền lực. Triều đại sau được dân chúng ủng hộ lên thay, rồi cũng tha hóa tương tự, lặp lại như cũ. Ngay cả những triều đại đã một thời rất huy hoàng, có công lao to lớn bậc nhất với lịch sử dân tộc nhưng sau đó cũng tha hóa và sụp đổ (như nhà Lý, nhà Trần, Hậu Lê và Tây Sơn chẳng hạn).

Nhiều năm qua lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta đã rất nhiều lần đề ra chủ trương và kêu gọi phải chống tham nhũng, chống “lợi ích nhóm” tiêu cực, cũng đã mất nhiều công sức cho công việc khó khăn và vất vả này, nhưng kết quả vẫn còn rất hạn chế. Tình hình tham nhũng, “lợi ích nhóm” chẳng những không dừng lại, mà đang còn khá phổ biến và phức tạp, gây nhức nhối xã hội, đau đầu các cơ quan lãnh đạo đất nước.

Nó cứ lan rộng dần vào tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, của công việc quản lý và quản trị quốc gia, vào ngay trong các lĩnh vực mà trước đến nay thường được cho là trong sạch, thiêng liêng (như lĩnh vực dạy người, cứu người, an ninh quốc gia, nắm cán cân công lý để bảo vệ sự nghiêm minh, kể cả cơ quan ở cấp cao, cả nhà thờ, chùa chiền, cả lĩnh vực làm từ thiện, nhân đạo, chính sách đền ơn đáp nghĩa…).

Điều đó có nguyên nhân trực tiếp quan trọng nhất là chưa làm tốt việc kiểm soát quyền lực, nói thẳng và mạnh hơn là quyền lực về cơ bản chưa được kiểm soát, từ đó dẫn đến tha hóa cán bộ và các tổ chức trong bộ máy lãnh đạo quản lý.

Vũ Ngọc Hoàng

*Tiêu đề, các tiêu đề phụ của bài viết do Tuần Việt Nam đặt.

Kiểm soát quyền lực như thế nào, bằng cách nào? Mời độc giả đón đọc trong Phần 2.

Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/tieudiem/329103/co-nhung-nguoi-ban-re-to-quoc-vi-ngai-vang-ca-nhan.html

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 25.09.2016

Truyền thông mạng đang đi trước báo chí

Truyền thông mạng đang đi trước báo chí

Tiến sỹ Khuất Thu Hồng
Image captionTiến sỹ Khuất Thu Hồng cho rằng truyền thông mạng đang phát huy được sức mạnh giám sát và phản biện của mình và ngày càng phát triển rộng rãi.

Truyền thông mạng xã hội, truyền thông ‘lề dân’ hay ‘lề trái’ đang ‘đi trước’ báo chí chính thống của nhà nước và loại hình truyền thông này thực sự đang phát huy được sức mạnh ‘giám sát, phản biện’, theo ý kiến của chuyên gia và khách mời Bàn tròn trực tuyến của BBC.

Trao đổi với Bàn tròn thứ Năm về chủ đề ‘Truyền thông dân và phản ứng quan’ hôm 22/9/2016, Tiến sỹ Khuất Thu Hồng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội (ISDS) từ Hà Nội, nói:

“Mạng xã hội ngày nay đang ngày càng trở thành một kênh thông tin để cho các vị lãnh đạo, các cơ quan thực thi công vụ, những cơ quan công quyền của nhà nước tham khảo, nó càng ngày càng trở nên một kênh thông tin để tham khảo và hành động.

“Việc hai vị bí thư ở hai tỉnh phải có phản hồi ngay lại dư luận ở trên mạng xã hội bắt đầu phản ánh việc các vị hành động, cũng như chuyện Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc có phản hồi lại dư luận xã hội trên mạng về đoàn xe hộ tống của Thủ tướng đi vào Hội An cho thấy không chỉ là nghe…

“Tôi tin rằng từ trước đến bây giờ nguồn thông tin ở trên mạng vẫn được tham khảo, vẫn được nghiên cứu, có thể nói rất là kỹ, nhưng để phản hồi, để có những hành động, thì bắt đầu từ Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và tiếp đây là hai ông bí thư với tư cách là những vị lãnh đạo cấp cao.

“Ngoài ra, mạng xã hội cũng là nguồn thông tin mà tôi thấy hiện nay rất thú vị ở chỗ rằng những thông tin từ mạng xã hội lại đi trước báo chí và nó trở thành nguồn dinh dưỡng, hay nguồn cung cấp thức ăn rất phong phú cho báo chí.

“Nhiều khi báo chí lại đến sau mạng xã hội. Ví dụ như chuyện chở tử thi ở Sơn La chẳng hạn, có một ai đó chụp được một cái ảnh đưa lên và lúc đó báo chí đưa vào và mạng xã hội cũng lên tiếng rất là mạnh mẽ và cuối cùng chính quyền tỉnh Sơn La, Bệnh viện Lao ở tỉnh Sơn La và ngành y tế đã phải vào cuộc.

“Tôi thấy rằng mạng xã hội hiện nay thực sự đang phát huy được sức mạnh của nó, sức mạnh giám sát, sức mạnh phản biện, sức mạnh cung cấp thông tin và chia sẻ thông tin ngày càng rộng rãi hơn và tôi cũng xin chia sẻ với nhà báo Trương Duy Nhất cũng như chị Mạc Việt Hồng (khách mời tại Bàn tròn) rằng chính quyền, các nhà lãnh đạo đã bắt đầu có những phản hồi tích cực hơn với những thông tin từ mạng xã hội.

“Bằng chứng là việc hai ông Bí thư (Tỉnh ủy) phải thanh minh, rồi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc có ý xin lỗi việc làm của đoàn xe hộ tống của ông, cho thấy rằng bây giờ không phải lúc người ta có thể bỏ qua mạng xã hội nữa rồi, mà phải sử dụng nó, đấy là một cách phản ứng rất thông minh, một cách phản ứng rất sáng suốt, tôi cho là như vậy,” Tiến sỹ Xã hội học Khuất Thu Hồng nói với BBC.

‘Chuyên nghiệp hơn nhiều’


Image captionPhóng viên Lan Phương của BBC cho rằng chất lượng của truyền thông mạng nói chung đã được nâng cao rất nhiều.

Phóng viên Lan Phương của BBC Việt ngữ từ Bangkok, trong tư cách khách mời, chia sẻ với Bàn tròn một nhận định về chất lượng của truyền thông mạng xã hội ở Việt Nam:

“Lý do mà các quan chức (Việt Nam) đã phản hồi rất nhanh trước sự kiện này cho thấy có một yếu tố mà chúng ta quên nhắc đến đó là trình độ của chính độc giả và những người tạo ra thông tin trên mạng đã tăng lên rất nhiều so với trước đây.

“Có thể lấy một ví dụ là trước đây chúng ta đọc thấy một tin trên mạng xã hội thì nó có thể chỉ là một vài cái hình, có rất nhiều cảm tính, bình luận, vì tôi nghĩ rằng người đọc và người tạo thông tin trên mạng xã hội thời điểm đó chắc chắn ban đầu không phải là những nhà báo chuyên nghiệp.

“Họ viết một cách bản năng, viết những cảm giác của họ và họ chưa thuyết phục được độc giả vào thời điểm đó, nhưng đến thời điểm này họ đã càng ngày càng chuyên nghiệp hơn.

“Ví dụ, khi một sự việc nào đó xảy ra thì họ bật máy và làm ‘live-stream’ (trực tiếp), sau đó họ gọi điện đến các cơ quan để xác minh, sau đó họ đối chiếu thông tin với những trang chính thức của chính phủ.

“Tôi lấy ví dụ việc ông Bí thư Hà Giang, ông Triệu Tài Vinh, có nhiều người thân làm các vị trí, thì các trang đó đã đi tìm thông tin của ông ở trên các trang chính thức của nhà nước, sau đó họ đối chiếu lại rồi mới đăng bài.

“Tức là họ có đi qua quá trình xử lý thông tin như nhà báo chúng tôi, họ không còn dừng lại ở mức mô tả thông tin nữa, họ đã xử lý thông tin. Rồi lấy ví dụ ông Nguyễn Xuân Phúc đi vào phố cổ, rất nhiều ý kiến nói là Thủ tướng ‘trăm công, nghìn việc’ nên không thể đi bộ vào được.

“Thế nhưng có những người đã đo khoảng cách con phố đó để nói rằng con phố đó rất là ngắn và lẽ ra để tỏ ra văn minh thì Thủ tướng có thể đi bộ vào. Thế tức là sự phản biện của cư dân mạng đã tăng trình độ, điều đó khiến cho nhà nước cảm thấy rằng không thể nào dừng ở mức độ im lặng được nữa.

“Và họ phản ứng lại, họ đang đối thoại với những thông tin ngày càng có uy tín hơn, chứ không phải là đối thoại như những cuộc tranh cãi lộn xộn ở ngoại chợ ngày trước nữa,” nhà báo Lan Phương nói với Tọa đàm.

Tác động xã hội

Nhà báo Mạc Việt HồngImage copyrightMAC VIET HONG
Image captionNhà báo Mạc Việt Hồng cho rằng truyền thông mạng xã dù ở mô hình xã họi nào cũng đều có những tác động tích cực.

Từ Warsaw, thủ đô Ba Lan, nhà báo Mạc Việt Hồng bình luận với bàn tròn về vai trò và tác động xã hội của truyền thông mạng xã hội ở nước này, bà nói:

“Tôi nghĩ rằng mạng xã hội này đối với bất kỳ nước nào, tùy theo mô hình chính trị của mỗi nước có thể có những tác động khác nhau, nhưng ở bất kỳ mô hình xã hội nào thì nó đều có những tác động tích cực nhất định.

“Ở Ba Lan, người ta có quyền tự do hội họp, tự do biểu tình, có điều gì đó bất bình với chính phủ, gần đây nhất là cuộc 140 nghìn người kéo đi biểu tình, thì những cuộc biểu tình đó người ta đều hô hào trên mạng xã hội.

“Và cái đó mạng xã hội có thể biến thành các cuộc biểu tình, ở Việt Nam quyền biểu bình vẫn còn bị ngăn chặn, cho nên mạng xã hội ở một mặt nào đó chưa có một tác động trực tiếp như đối với ở Ba Lan mà chỉ sau một cuộc kêu gọi, chỉ sau một, hai, ba ngày, một trăm nghìn người có thể xuống đường ngay.

“Ở Việt Nam, vì những lý do mà ai cũng biết, chúng ta chưa thể có được những sự kiện như thế,” nhà báo Mạc Việt Hồng nói với BBC.

Cũng tại cuộc Tọa đàm, nhà báo Trương Duy Nhấtcho hay ông đánh giá cao hành động của các quan chức ở Việt Nam khi họ có phản hồi với mạng xã hội, ông nói:

“Tôi đánh giá cao sự phản ứng trả lời lại của phía các quan chức, bởi vì nếu anh không trả lời, anh tạo một hình ảnh xấu, hành vi xấu cho các quan chức đó.

“Ví dụ như Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc…, nếu mà ông không trả lời chuyện đó, thì nó tạo ra một hình ảnh rất xấu của Thủ tướng, nhưng khi ông chọn cách đối thoại như thế, thì ông lại lấy điểm rất nhanh và lấy điểm rất sáng trong cách nhìn của người dân, của bạn đọc.”

Nhân đây, blogger từ Đà Nẵng cũng đưa ra một bình luận mang tính so sánh giữa tính chất của truyền thông mạng xã hội và báo chí chính thống nhà nước qua một sự kiện thời sự là vụ xét xử phúc thẩm blogger Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và động sự:

“Ngày nay đang xét xử Ba Sàm, thì có một câu nhận định là báo chí chính thống toàn nói chuyện Ba Sàm, nhưng trang Ba Sàm thì toàn nói chuyện chính thống,” nhà báo Trương Duy Nhất nói với BBC.

Nhà báo, blogger Trương Duy Nhất
Image captionNhà báo, blogger Trương Duy Nhất đánh giá cao hành động phản hồi mạng xã hội của các quan chức ở Việt Nam mới đây.
Đăng bởi: Ngô Minh | 25.09.2016

Điều tra vụ ‘công an đánh phóng viên’

Điều tra vụ ‘công an đánh phóng viên’

BBC

Image captionẢnh ghi lại vụ công an hành hung phóng viên báo Tuổi Trẻ (áo trắng) đang được chia sẻ nhiều trên mạng xã hội

Giám đốc Công an TP Hà Nội cam kết “xử nghiêm” vụ một phóng viên báo Tuổi Trẻ bị 10 người nghi là công an huyện Đông Anh hành hung.

Đã xuất hiện video ghi lại lúc phóng viến Trần Quang Thế (báo Tuổi Trẻ) bị người nghi là công an huyện Đông Anh (Hà Nội) đánh chảy máu mồm ngày 23/9.

Công an huyện đã xin lỗi tờ báo nhưng chỉ nói nhận đó là “hành vi không đúng mực”, giải thích là do áp lực công việc.

Thiếu tướng Đoàn Duy Khương, Giám đốc Công an TP Hà Nội, tuyên bố sẽ điều tra.

“Dù là công an hay đối tượng nào cũng sẽ xử nghiêm để tạo điều kiện cho anh em tác nghiệp.”

Phó Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam Hồ Quang Lợi đã ký công văn gửi công an TP. Hà Nội yêu cầu “khẩn trương điều tra, xử lý nghiêm minh”.

Ông Lợi cũng nói gần đây “liên tục xảy ra các vụ việc nhà báo bị cản trở khi đang tác nghiệp, hoạt động đúng quy định của pháp luật”.

Theo ông, đã có những vụ hành hung, thu giữ, đập phá, huỷ hoại phương tiện tác nghiệp của nhà báo.

‘Kiềm chế’

Hôm 24/9, bình luận với BBC từ TP Hồ Chí Minh, ông Hoài Nam, cựu phóng viên báo Thanh Niên, nói: “Theo tôi, để giảm thiểu những vụ hành hung phóng viên như gần đây thì phải đưa vào luật việc phóng viên đi tác nghiệp.”

“Những ai có hành vi cản trở, hành hung phóng viên thì phải khép vào tội chống người thi hành công vụ.”

“Từ kinh nghiệm của tôi, phóng viên đi tác nghiệp nên đi cùng những người khác và cố gắng kiềm chế khi xảy ra va chạm.”

“Mặt khác, những vụ hành hung phóng viên cần được làm sáng tỏ và xử lý nghiêm minh.”

‘Thái độ không đúng’

Hôm 24/9, báo Tuổi Trẻ cho hay Công an TP Hà Nội yêu cầu Công an huyện Đông Anh báo cáo việc một phóng viên của báo này bị công an có ‘thái độ không đúng’ trên cầu Nhật Tân.

Vụ hành hung phóng viên Trần Quang Thế của báo Tuổi Trẻ xảy ra hôm 23/9 khi người này đến khu vực cầu Nhật Tân tìm hiểu vụ việc một tài xế taxi tử vong bên dưới chân cầu.

“Ông Thế đi cách xa hiện trường khoảng 30m và chụp ảnh thì bị một nhóm người, trong đó có cán bộ, chiến sĩ Đội Cảnh sát Hình sự Công an Đông Anh mặc thường phục lao vào cản trở và hành hung”, Tuổi Trẻ tường thuật.

“Ông Thế cho biết mình bị đánh chảy máu mồm, bị đấm vào đầu gây choáng váng.”

“Khu vực diễn ra sự việc không có biển cấm quay phim, chụp ảnh hay giăng dây cách ly hiện trường”.

Báo Tuổi Trẻ sau đó ghi nhận đội trưởng Đội Cảnh sát Hình sự Công an huyện Đông Anh (Hà Nội) đến xin lỗi báo Tuổi Trẻ và ông Thế và thừa nhận chiến sĩ của đơn vị đã có “thái độ không đúng”.

Chiều 23/9, trả lời Thông Tấn Xã Việt Nam, Đại tá Nguyễn Anh Tuấn, Trưởng Công an huyện Đông Anh cho rằng không phải là công an đánh phóng viên.

Ông Tuấn mô tả vào sáng 23/9, công an huyện “bảo vệ hiện trường” trong lúc “có sự việc liên quan đến tình hình an ninh trật tự xảy ra tại khu vực cầu Nhật Tân”.

“Lúc này có một số phóng viên cứ xông vào để chụp ảnh thì có thể anh em có gạt chân, gạt tay để bảo vệ hiện trường chứ không phải là đánh phóng viên,” Đại tá Nguyễn Anh Tuấn nói.

Trước đó, báo Người Lao Động hôm 21/9 đưa tin, ông Đỗ Thanh Hải, phóng viên VTC News thường trú tại Đắk Lắk đến hiện trường vụ cưỡng chế mặt bằng tại xã Cư Pô thì bị công an xã, dân quân tự vệ “lao đến vây lấy, xô đẩy và giật máy ảnh, ba lô trên người”.

“Vụ việc làm gãy ống kính máy ảnh, rách ba lô và người bị xây xát”.

Báo này dẫn lời ông Nguyễn Văn Huệ, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Cư Pô giải thích “việc vây giật máy ảnh và đẩy phóng viên ra ngoài là do tưởng là người dân chống đối và mục đích… đảm bảo an toàn cho phóng viên”.

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.09.2016

TRANG PHÁI ĐẸP – THƠ NGUYỄN THỊ ÁNH HUỲNH

TRANG PHÁI ĐẸP – THƠ NGUYỄN THỊ ÁNH HUỲNH

vanvn.net. Nhà thơ Nguyễn Thị Ánh Huỳnh, quê Long An, hiện sống ở TP.HCM, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, tốt nghiệp Đại học sư phạm TP.HCM, đã in 4 tập thơ. Đã được trao tặng giải thưởng thơ của Tạp chí Tài hoa trẻ năm 2001, tặng thưởng thơ của Hội Nhà văn TP.HCM 2006, giải thưởng thơ của Tạp chí VNQĐ năm 2010.

Nhà thơ Nguyễn Thị Ánh Huỳnh

Nguyễn Thị Ánh Huỳnh

GIẤC NGỦ

 

Có phải trời theo gió leo vào mũi con

Đất hóa thành cơm chui vào bụng con

Sông nước mượn cơn khát chảy vào máu thịt con

Nên khi con nhắm mắt

Vẫn nhìn rõ bầu trời

Khi con ngủ say

Vẫn sờ được tay vào sông vào bể

 

Con là hạt ủ mầm trong lòng mẹ

Con là chồi vươn tự khoảng trời cha

Cái con nhìn thấy khi thức

Nhỏ hơn nhiều lần từ giấc ngủ sinh ra !

 

 

MÙA THU ẢO

 

Nam Kỳ em

không có mùa thu

sao em vẫn nhớ ?

 

mùa thu chết

trong nhạc

mùa thu vàng

trong thơ

mùa thu huyền

trong mắt anh

trút xuống em

quầng đêm

trút xuống em

vầng tóc xõa

 

ngoài kia lông ngỗng đầy trời

mùa thu rắc lối cho người tìm em

anh

người chưa có thật

như mùa thu ảo

trong em

 

em vẫn đợi

tiếng ngỗng gõ cửa

em vẫn chờ

heo may rủ rê

 

đêm tháng mười một này

chợt

cúc vàng trong thơ Đường

lá vàng thu Nguyễn Khuyến

hoa thạch thảo Apollinaire

nghìn nghịt  xếp hàng

lũ lượt đến tìm em…

 

 

SÓNG

 

Có nước là có sóng

Có gió là có sóng

Có khói là có sóng

Có người là có sóng

Không có nước, không có gió, không có khói, không có người…

Vẫn có sóng

 

Sóng điện từ, sóng vũ trụ, sóng âm

Sóng lòng, sóng hư vô, sóng thần, sóng sánh

Sóng anh đánh vào em

Như đánh đu

Như đánh đáo

Như đánh đàn…

 

Anh dắt tay em

Sóng vẫn đánh giữa hai ta :

  • Sóng đôi !

Thân thể em

Nhấp nhô

Bởi sóng

 

Sóng ơi

Em đâu phải tình nhân tuyệt vọng,

Đâu phải kẻ thù sinh tử của người

Mà người vẫn đeo đuổi em tới huyệt mộ

Mà người vẫn truy nã em cả lúc lên giường …

 

Mai sau

Em ngủ giấc muôn đời

Chỉ còn sóng

Thuỷ chung

Anh đắp lên mồ em

Từng sóng cỏ …

 

 

BÀI CA THIÊN NGA

 

Trên thế gian này

chưa bao giờ

vâng, chưa bao giờ

vợ chồng thiên nga

thề thốt tình yêu

chung thủy

 

trên mặt hồ này

chưa bao giờ

vâng, chưa bao giờ

một chàng thiên nga

không bơi chung với vợ

 

trên bầu trời này

chưa bao giờ

vâng, chưa bao giờ

có một chàng thiên nga

vừa góa vợ

lại bay đôi với ả khác

 

bởi vì

chàng thiên nga cô đơn kia

không bao giờ

vâng, không bao giờ

còn bầu trời

còn mặt đất

còn mặt hồ

còn thế gian

– chàng đã tự tử !

 

chưa bao giờ

vâng, chưa bao giờ

con người

mang trái tim thiên nga

 

 

CẢM ƠN CON

 

Mẹ cằn khô nụ cười, nước mắt

May còn có con dạy mẹ học

Bao giờ

Cho mẹ bé lại

Bao giờ

Mắt mẹ mới lên ba, lên năm ?

 

Để mẹ được nhìn thấy

Như con đang thấy

Dề lục bình trôi trên các mái nhà

Sấm đùng đùng giận vợ

Hạt mưa quẹt lửa bông mào gà

 

Những vì sao bò lên trời thành kiến

Mẹ đêm mang thai con mặt trời

Sao hôm bú tí trăng non

Cám ơn con

Mẹ đã sinh ra thân thể con

Nay con chợt sinh ra tâm hồn mẹ !

 

 

BẮC THANG LÊN ĐÀ LẠT

 

bắc một cái thang

là đèo Chuối

bắc hai cái thang

là đèo Bảo Lộc

bắc ba cái thang

là đèo Prenn

 

em đã trèo lên mây

bằng xe hơi

Đà Lạt treo trên trời

lửng hửng mù sương

 

em đã bắc một trăm cái thang

vẫn không trèo lên được đời anh

tâm hồn anh xa hơn trời

 

anh đã bắc một ngàn cái thang

mà không trèo lên được tình yêu em

tình yêu em không ở trên trời

 

dù em

đang ở Đà Lạt

 

CÁP TREO BÀ NÀ

 

em rơi ngược lên trời

rơi năm cây số

ớn quá

lên tới đỉnh Bà Nà mới dám mở mắt

cáp treo dài nhất thế giới

 

còn phải rơi xuống đất

bằng độ nghiêng lệch nhất thế giới

tự nhủ đừng ớn

em đang học cách tin tưởng vô sắt thép

một đống sắt thép trôi trên trời

trôi không có dây cáp

máy bay

 

anh ơi

đừng để em hồ nghi anh

anh hãy phấn đấu bằng sắt thép

để em tin rằng

anh là sợi dây cáp chắc chắn

sợi dây cáp vô hình

kéo em lên đỉnh hạnh phúc

như cáp treo Bà Nà

 

kìa trái đất

có buộc vô sợi cáp nào đâu

mà vẫn bay

trái đất chỉ rớt vô vũ trụ lỗ đen

nếu sợi cáp vô hình giữa đôi ta

bị đứt.

 

 

QUA CỒN PHỤNG  

 

Qua cồn

Không gió hú

Nước làm sao cồn cào

Bà ong chúa thức dậy

Bảo chích cho sưng cánh rừng

Nhưng lũ thợ còn bận xỉn

Trong ngôi nhà ngập rượu đường

 

Muốn nghe qua di động

Giọng  một người Sài Gòn  …

 

Không phát âm

Không thu thanh

Không tiếp sóng

Trưa cồn tĩnh như tranh

Ai chơi trò giả bộ

Trưa cồn lặng như lụa

Coppy từ giấy than

Muốn tìm con chim phụng

Nó bay đâu mất rồi

Chỉ còn

Tiếng cánh đập

Là có thật mà thôi !

 

 

HỘI AN

 

sông Hoài không chịu chảy vô thế kỷ mười tám

lửng lơ với thế kỷ Chùa Cầu

thế kỷ Đàng Trong

trăng Minh Hương

gió Phù Tang

buồm Tây dương

mây ngang trời muối trắng

ngói cổ nằm phơi tiếng thở dài

 

những bờ rêu không muốn thành hiện tại

phố cổ cò

phố thắt cổ chai

phố ruột ngựa

phố bơ vơ

chỉ lá bàng xê dịch

phố u u

gió nuốt cánh diều

 

hộc tốc chạy từ Trường Sơn

Thu Bồn nằm dài ra

ngủ với biểnCửa Đại

sóng vân vi hồn Chúa Sãi, Chúa Hiền

nghe ngoài Cù Lao Chàm

còn nguyên ba thế kỷ

biển toàn quá khứ

sóng ấy còn hôm qua

 

hoàng hôn lặn vô ngàn chiếc đèn lồng

bóng tối cổ kính

Tây ba lô cổ kính

đêm Hội An

ai cũng thành lịch sử

 

 

BÌM BỊP KÊU THƯƠNG

 

ai bịp mày chim ơi

mà bìm bịp suốt đời

hay sông Vàm Cỏ bỏ mày

đi lấy vợ

hay Đồng Tháp Mười bỏ mày

đi lấy chồng

bìm bịp

tiếng chim kêu

làm góa cả buổi chiều

 

cho chị ngủ nốt đêm Cần Đước

kêu thương chi cho đau lòng nhau

bật máu cây trạng nguyên

đốt cháy tán bàng

 

cứ bíp bịp hoài

chị không về Sài Gòn đặng

sợ chồng ghen

có ai lại lấy tiếng chim bìm bịp làm chồng

 

thôi chị phải bỏ đi

không dám ngủ trọn một đêm với tiếng kêu thương

tiếng chim có bùa ngải

 

bìm bịp bìm bịp…

tiếng kêu vò xé bầu trời

nghe chim

có thể chết người

như không !

 

 

CHIỀU NHẠT

 

Chiều cuồng cuồng nắng

Gió tốc tốc xanh

Chợt quầng mây màu bã mía

Trời nhàn nhạt

 

Chiều buông màn

Người đàn bà ngồi tiếc nắng

Tìm sự mặn nồng còn sót lại trong cây cơm nguội

 

Sự nhàn nhạt của thời gian

Dan díu với người đàn bà

Bằng màu mỡ gà lá bàng chớm lửa

 

Cảm giác canh suông của vàng mười hoa vông

Cảm giác đơn điệu của mái ngói nhạt rêu

Nghe tóc chiều cay khói

Ngôi nhà trôi

Tay người đàn bà chới với

 

Hoàng hôn chợt là khách trong nhà

Đêm đã nằm trên giường chờ đợi

Người đàn bà và cây cơm nguội

Cố níu lấy chiều

Đang nhạt

 

Nhưng

Đám mây màu bã mía

Đã hắt chiều

Đổ đi !

 

 

MIỆT VƯỜN

 

má chôn cuống nhau em

vào tiếng cuốc

chiều  miệt vườn

gió lạc trong cây

đêm bị thương bởi tiếng đờn cò

chú Tư vuốt

ánh trăng thành tiếng nấc

 

miệt vườn

gan ruột ai xuống xề câu vọng cổ

khách thương hồ

ly rượu bốc mù sương

 

ma đưa lối

tiếng vạc sành xe thổ mộ

nhịp hồn xưa

gõ mõ suốt canh trường

quẫy sao trời

cá lìm kìm nức nở

 

không ai là người dưng

khác làng cũng lối xóm

quầng mây thành bà con

người khuất mặt khuất mày tiên tổ

ổ chim trên bàn thờ

ly rượu uống tàn nhang

 

miệt vườn

cố hương của nỗi niềm vạn cổ

ai chưa biết thưởng thức nỗi buồn

có đi tới tận cùng châu thổ

cũng không tìm thấy miệt vườn

 

em là miệt vườn

anh bỏ quên

ngoài cửa sổ

 

 

TIẾNG RƠI

 

Lê trời nhỏ vài giọt

Đã lộp độp núi đồi

Nước mắt người ta khóc

Bao giờ có tiếng rơi

 

 

NHA TRANG

 

con đường đang nằm chơi

đột ngột đứng dậy bước qua đèo Rù Rì

rừng thẳm chăng ?

không phải, đó là Nha Trang

 

thành phố pha với biển

biển pha với  trời

người pha với sóng

ta pha với mình

 

biển không lên bờ được

nhờ gió lên bờ dùm

gặp ai gió cũng ôm xiết

gặp ai gió cũng hôn

gió Nha Trang

đa tình hơn gió Sài Gòn

 

ra đường không dám che dù

không dám mặc váy

sợ gió mang đi bỏ ta

ngoài Hòn Tằm Hòn Mun

nghe bãi đêm cám dỗ

mùi mực nướng

 

con diều Vipearl Land

bay lên  bằng dây cáp

đêm ấp gió ngủ

sóng biển ôm ghì người ta

 

ngoài kia

Hòn Chồng Hòn Vợ

yêu đến thành đá rồi

vẫn cứ tình tang …

 

mai mốt về Sài Gòn

gặp lại người thân

ráng hình dung ra

con là biển

chồng là sóng

ta vẫn có

Nha Trang trong nhà .

 

 

LÀM SAO THINH LẶNG

 

Có tiếng gì rớt xoảng

Thình lình hồn vía

Bể ra choang choang …

 

Nằm nhắm mắt mà không tin được nữa

Như đã từng hoa tin bóng tối dịu lành

May con thằn lằn chắc luỡi

Đêm vừa nối lại đủ nguyên đêm

 

Không ngủ nằm cộng trừ

Quy được ra chút ít

Tiếng động như nốt sol

Hát dùm khi mỏi mệt

Tiếng động tựa dịch truyền

Pha loãng cơn đau ốm

 

Là âm thanh ấy xe về ngõ

Là gió đồng khuya tìm về chòi

Là bàn thờ tối tàn nhang cúng

Lá lá ngoài sân quẹt từng hồi

 

Làm sao mà im lặng

Sao thinh lặng được mỗi đời người …

 

 

THÁNH ĐỊA MỸ SƠN

 

thần Shiva ngủ mơ trong đá

thần Linga-Youni quằn quại tháp KaLan

thần Visnu mê tơi hoang tàn

thần Brama tạc trời bằng đá

 

ba đỉnh rêu mọc thành núi

kusula lấy mây làm cánh

sulaha đội một cà om mặt trời

mahaparvata long sàng thần linh Hindu

 

thánh địa Mỹ Sơn

viên ngọc phế tích

chữ Phạn cổ

hồn Chămpa khóc

nắng hoàng kim

 

anh ơi

đừng để cái đẹp lên đỉnh

đừng để hạnh phúc lên đỉnh

như những tháp đá Mỹ Sơn

cái tuyệt mỹ xuống dốc

chúng mình có dám yêu nhau

cả lúc suy tàn ?

 

 

THỜI TRANG

 

Mang thời trang ánh trăng

trời ôm đất

mang thời trang bốn mùa

đất bồng trời

 

ta lấy tâm hồn nhau

làm thời trang

tình yêu a la mốt !

 

em

mặc tháng ngày

diện mốt thời gian

em

mặc đêm

thời trang hạnh phúc

 

con người

mốt nhất

khi lấy chính mình

làm thời trang.

 

 

VỌNG CỔ

 

Mê Kông xòe chín nhánh mùi mẫn

xuồng ba lá trên dòng cải lương

bác Sáu Lầu vuốt dây tơ

làm dây câu

câu vọng cổ

 

kinh rạch hết hồn

tiếng đàn kìm

luyến nước lớn

láy nước ròng

ai canh tàn đói lòng

ăn gió chướng

ngồi ca

 

có người đàn bà mê anh kép Út…

hóa thành chim bìm bịp

đêm đêm

ứa một câu Văn Thiên Tường

rồi chết

 

thằng SáuVàm Láng Le

tương tư đào Nhứt

biến thành người khác

nó qua Bắc Vàm Cống

gặp má ruột

má con hổng nhận ra nhau

múc nước sông nhậu trái bình bát

sáu câu nức nở điên khùng

 

nhậu đi sông ơi

tối nay gánh hát về ấp

cánh cò bay lạc tiếng thổ tiếng kim

gió sên phách kéo màn sông Hậu

vút câu thứ năm đã nghẹn dòng kinh

búng khẽ ghi ta câu sáu lên

dàn dụa sông Tiền

 

anh chê em cải lương

gánh hát đi

sáng ra bờ tre đẫm nước mắt

vọng cổ ơi

mặc kệ chồng em rất cải lương

khi yêu

ai chẳng xuống xề

( Nguồn: vanvn.net)

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.09.2016

CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGÔ MINH

 ĐỌC CỘ SÁCH “NGÔ MINH TÁC PHẨM”, TẬP 4:

CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGÔ MINH

 

  Thạc sĩ Nguyễn Thị Bích Kiều

 

IMG_8193

Cái tôi trữ tình là chủ thể của hành trình sáng tạo thi ca, có vai trò quan trọng trong thơ với tư cách là trung tâm để bộc lộ lại tất cả suy nghĩ, tình cảm, thái độ được thể hiện bằng một giọng điệu riêng. Một cái tôi trữ tình phong phú tựa như viên nam châm luôn luôn có sức hút về phía mình sự giàu có của cuộc đời. Đặc điểm của cái tôi trữ tình phụ thuộc vào phong cách của mỗi nhà thơ, của các trào lưu, khuynh hướng. Chính vì vậy, mỗi thời đại có một kiểu cái tôi trữ tình đóng vai trò chủ đạo. Đi vào tìm hiểu cái tôi trữ tình trong thơ Ngô Minh, chúng tôi nhận thấy ở thơ ông chủ yếu ở các dạng thái: Cái tôi trữ tình ngợi ca- tự hào, Cái tôi trữ tình đời tư-thế sự, cái tôi trữ tình chiêm nghiệm-triết lí.

 

Ngô Minh là một nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Cùng thời với ông, có một đội ngũ tác giả tên tuổi như Lâm Thị Mỹ Dạ, Hoàng Vũ Thuật,… nhưng trong khi những bạn thơ đã trưởng thành, Ngô Minh lại xuất hiện khá muộn. Con đường đến với thơ của ông đầy trắc trở, nhưng bằng tài năng, niềm đam mê mãnh liệt trong sáng tạo thi ca, Ngô Minh đã đem đến cho nền văn học nước nhà những vần thơ giàu‎ giá trị ở cả nội dung và hình thức nghệ thuật. Trong bài viết này, chúng tôi đi vào tìm hiểu cái tôi trữ tình trong thơ Ngô Minh, nhằm chỉ ra những đặc điểm nổi bật về nội dung thơ ông, đồng thời khẳng định vị thế của nhà thơ trong tiến trình vận động và phát triển của nền thơ hiện đại Việt Nam.

 

Trong rất nhiều thể loại văn học như truyện, kí, kịch, thơ…thì thơ thể hiện tính chủ quan của người nghệ sĩ nhiều nhất. Cái chủ quan tồn tại quy tụ mọi yếu tố khác nhau như tư tưởng, hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu, cảm hứng,…cái chủ quan được biểu hiện bằng cái tôi trữ tình trong thơ. Thực tế cũng đã chứng minh nhiều thi sĩ “gắn liền với đời thơ như hình với bóng. Nhà thơ là nhân vật chính, là hình bóng trung tâm, là cái tôi bao quát trong toàn bộ sáng tác” [2, tr.295]. Cũng có khi nhân vật trữ tình không phải là nhà thơ. Cái tôi trữ tình lúc này là “cái tôi của tác giả được nghệ thuật hóa” [2, tr.307]. Chính cái tôi trữ tình đã góp phần tạo nên thế giới nghệ thuật của nhà thơ. Tìm hiểu về cái tôi trữ tình trong thơ Ngô Minh đã có không ít tác giả như: Mai Văn Hoan, Hồ Thế Hà, Nguyễn Trọng tạo…Ở mỗi bài viết, các tác giả đều dành tình cảm yêu mến và những lời ngợi ca chân thành nhất đối với nhà thơ Ngô Minh. Tuy nhiên, cho tới nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu về cái tôi trữ tình trong thơ Ngô Minh một cách chuyên sâu.

Trong bài viết này, chúng tôi tập trung nghiên cứu kỹ những tác phẩm tiêu biểu qua các tập thơ: Phía nắng lên (1995), Đứa con của cát (1998), Thơ tặng (2007) thể hiện rõ nét đặc trưng nghệ thuật thơ Ngô Minh – nhìn từ hình tượng cái tôi trữ tình, góp phần khẳng định phong cách thơ độc đáo và sáng tạo trong dòng thơ hiện đại Việt Nam.

 

Khi những quả bom đầu tiên của không quân Mỹ dội xuống miền Bắc, một thời kỳ khốc liệt, dữ dội nhất của dân tộc Việt Nam bắt đầu. Cũng từ ngày ấy, hàng triệu người dân Việt Nam phải sống dưới bom đạn. Trong chiến tranh, mỗi người dân Việt Nam chân chính đều là một chiến sĩ yêu nước, sẵn sàng đấu tranh để bảo vệ Tổ quốc. Là nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, ý thức được trách nhiệm của người cầm bút trước thời đại, Ngô Minh đã viết nên những vần thơ phản ánh cuộc sống chiến đấu của quân và dân ta trên mọi miền Tổ quốc. Cuộc sống, chiến đấu của nhân dân, hình ảnh những người lính ra trận, hình ảnh quê hương tươi đẹp, những dòng sông, bãi bờ, ngọn núi đã đi vào thơ Ngô Minh như một niềm tự hào của người con yêu nước, thương dân sâu sắc. Ngô Minh yêu và gắn bó sâu nặng với quê hương. Ông sinh ra và lớn lên ở Quảng Bình, từ mảnh đất này, nhà thơ đã cất lên tiếng thơ ngợi ca, suy nghiệm sâu sắc về con người, về mảnh đất Quảng Bình anh hùng trong chiến đấu và miệt mài trong lao động. Giữa cuộc đời đầy gian khổ, khó khăn, người dân Ngư Thủy, Quảng Bình vẫn rạng ngời lên một vẻ đẹp cần cù, chịu thương, chịu khó, một tâm hồn hiền hậu, trong sáng: “Lòng tôi yêu tha thiết/ Những khổ đau hạnh phúc quê tôi/ Tôi yêu những người trồng khoai đánh cá/ Chai sạn bàn tay da săn nắng gió” (Đứa con của cát). Chiến tranh làm cho con người cá nhân không ít thì nhiều cũng không thể tách rời con người cộng đồng. Ở đây, trong thơ Ngô Minh, con người cá thể và con người công dân có sự gặp gỡ thật tự nhiên: “Anh không có tuổi chơi tuổi ngủ/ Nhận khẩu súng núi xa gần lại/ Mỗi ụ mối, gốc cây cũng Tổ quốc mất còn” (Ba mươi sáu dây đàn). Trong lớp lớp những con người “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” (Tố Hữu), Ngô Minh đã dành sự quan tâm đặc biệt cho những người chiến sĩ, người lính cụ Hồ. Rời quê hương, gia đình, bạn bè,…họ lên đường với tất cả nhiệt huyết của tuổi thơ một lòng nhắm thẳng quân thù: “Xa xôi gì mà chẳng nhớ/ Những ngày đường đỏ hố bom/ Có một màu xanh Xuân Dục/ trong mắt chiến sĩ lên đường” (Đêm qua cầu Long Đại). Tác giả yêu và càng thêm tự hào vì vẻ đẹp của những con người anh hùng bất khuất, vẻ đẹp của thiên nhiên đất trời Tổ quốc: “Đêm nay qua cầu Long Đại/ Thêm yêu Đất nước, con đường Trập trùng quân lên biên giới/ Chiếc cầu-vương cánh tay nâng” (Đêm qua cầu Long Đại). Đến với Quảng Trị, nhà thơ không chỉ ngợi ca mảnh đất này, mà hình ảnh những con người nơi đây cũng được nhà thơ nhắc đến. Người Quảng Trị đầu tiên được nhà thơ nhắc đến đó là hình ảnh “mạ”, người đã chịu nhiều vất vả “kiếm gạo nuôi tôi” dẫu cho “tóc mẹ dần ngả màu cát lạnh”, nuôi con, dõi theo con đến lúc“Ngực chạm gió Trường Sơn biết mình đã lớn” (Gió tuổi hai mươi). Lúc này đây, nhà thơ nhận thức ra người mẹ thứ hai trong cuộc đời mình, người mẹ ấy lớn hơn và rất đỗi thiêng liêng, cao quý: Đó là mẹ Tổ quốc. Ý thức được nỗi khổ của chiến tranh, nhân dân ta quyết một lòng đoàn kết đấu tranh để giải phóng đất nước đem lại độc lập tự do cho dân tộc. “30 tháng tư ấy” là bài thơ thể hiện niềm reo vui và lòng tự hào, ngợi ca về chiến thắng của nhân dân ta. Hình ảnh cờ hoa hòa lẫn trong nước mắt vui sướng, đôi dép cao su, mũ tai bèo giản dị của các anh bộ đội hiện lên rõ nét hơn trong ngày vui thắng lợi của nước nhà: “30 tháng tư ấy/ Cờ hoa và nước mắt/ Dép cao su lấm đất đỏ miền Đông/ Mũ tai bèo cơm vắt/ Đơn vị con vào Dinh Độc Lập” (30 tháng tư ấy). Cái tôi trữ tình ngợi ca, tự hào về quê hương, đất nước trong thơ Ngô Minh không chỉ có trong thời chiến, mà trong thời bình cũng luôn tỏa sáng.

Không cất giọng cao để ngợi ca, tự hào như bao nhà thơ khác viết về quê hương, đất nước. Nhà thơ Ngô Minh với giọng thơ nhẹ nhàng mà sâu lắng đã đem đến cho người đọc tình cảm yêu mến và lòng kính phục về một con người giàu lòng yêu nước thương dân. Trong không khí ngút trời của những ngày đất nước chiến đấu chống giặc, dễ hiểu khi cái tôi trữ tình nhà thơ ít nhiều cũng hòa nhập vào cái ta chung của cộng đồng để ngợi ca về công cuộc đấu tranh và bảo về Tổ quốc của quân và dân ta. Cùng với cái tôi ngợi ca, tự hào về quê hương, đất nước, thơ Ngô Minh luôn suy tư về cuộc đời, về con người, hình thành nên cái tôi trữ tình đời tư – thế sự hòa cùng cuộc sống.

  

Sự thay đổi của lịch sử kéo theo sự thay đổi cảm hứng trữ tình. Giờ đây, cảm hứng trữ tình chuyển từ tự hào, ngợi ca xuống lắng đọng, suy tư. Vấn đề thế sự, đời tư dần dần được chú ý đến. Các nhà thơ khao khát được bộc bạch, được giãi bày cái tôi bản thể trong dòng cảm xúc phức hợp, đa chiều. Đâu đó, trong dòng chảy cuộc đời, Ngô Minh tìm được cho mình một thế giới tĩnh lặng, một “ốc đảo” để ngẫm ngợi, suy tư. Khi trở về với cõi riêng tư, con người thường đối diện với cung bậc của nỗi buồn, cô đơn “Mảnh buồn ai rơi đầu phố bụi/ Ta nhặt lên như nhặt lại đời mình”. Trong chốn phồn hoa, đô hội lắm bạn bè và người quen, nhưng nhà thơ luôn trăn trở, suy tư “Ta trốn vào đâu phố phường đông đúc/ Ta là đêm ẩm ướt mơ hồ” (Tự Họa). Giữa đạn bom đầy máu lửa, Ngô Minh đã viết nhiều câu thơ đẹp về tình yêu lứa đôi hài hòa trong tình yêu tạo vật, thiên nhiên “Quen em từ giữa quãng đời lửa bom” (Nón bài thơ và hương đất Cao Nguyên). Nhà thơ không lí tưởng hóa, không mĩ lệ hóa tình yêu mà chấp nhận những nghiệt ngã của nó: “Ngày tình yêu chớm nở/ Những bông hồng ngát hương/ Bây giờ hoa, em hỡi/ Cánh rã rơi lạnh lùng” (Xác hồng). Khác với thơ tình, âm hưởng chủ đạo là sự đằm thắm, thiết tha nhưng cũng không kém phần nghiệt ngã, cô đơn, Ngô Minh có những vần thơ “tặng” chân thành và xúc động về tình bạn, đồng nghiệp. Ông dành cho nhà văn Nguyễn Tuân cả sự mến phục và tình cảm thắm thiết: “Không ai trùm che nổi ông/ Ông cũng không trùm che ai/ Bóng mát văn ông chim về xây tổ”(Nhớ ông Nguyễn Tuân). Cũng như thơ viết về đồng nghiệp, thơ viết về đồng đội, bạn bè của Ngô Minh cũng rất đỗi chân thực. Không  bao giờ mất đi trong anh những năm tháng bạn bè:  “Ta như sóng ấy dễ tan đi/ Bạn là ghềnh đá dấu ta ghi/ Những gì sâu thẳm ngoài vô tận/ Đều có cho ta giữa bạn bè” (Năm tháng bạn bè)…Với bạn bè, ông trìu mến, đồng cảm, có chút trăn trở thì với gia đình, ông thể hiện tình cảm đau xót tận đáy lòng mình. Đó là tình yêu với người cha, người mẹ, tình cảm thủy chung với vợ, tình yêu tha thiết với con, cháu,… Mỗi lần ông viết về cha là mỗi lần ông đau đớn tột cùng vì những kí ức thương tâm của ngày xưa lại hiện về: “Ba ơi!/ Từ tuổi ba mang uất hận xuống mồ/ Con mang vết đạn xoáy tìm ba/ Đi tìm giặc đến ngày bạc tóc!,…(Khuya bên mộ ba). Cùng với tình yêu dành cho cha, Ngô Minh luôn nhớ về mẹ bằng một tình yêu thương tha thiết. Thơ ông viết về mẹ gần như chiếm phần lớn trong những trang thơ. Viết về mẹ, Ngô Minh ngoài niềm kính yêu, lòng biết ơn và niềm thương vô hạn, ông còn thể hiện nỗi nhớ khôn nguôi với mẹ. Dù mẹ đã không còn nữa, nhưng trong lòng thi nhân, hình ảnh mẹ vẫn sống mãi để dõi theo bước đi của nhà thơ. Nơi bắt đầu cuộc đời của thi nhân là trên cát bỏng, hình ảnh mẹ với bao khổ đau như cũng hòa lẫn trong hạt cát của quê hương “Bạn ơi, nơi ấy tôi sinh/ Nơi ấy mẹ bọc tôi trong vạt áo đẫm mồ hôi và dính đầy bụi cát” (Đứa con của cát). Có lẽ, những trang thơ viết về mẹ của Ngô Minh là những trang thơ xúc động nhất. Mẹ một đời lam lũ, vất vả để lo cho con hiện lên trong thơ ông, khiến người đọc cũng day dứt trong lòng: “Mẹ sinh ra con trên hai bàn tay/ manh áo rách ủ làm chăn đắp/ đêm tối trời nổi cơn bão cát/ cuốn mịt mù bốn phía không gian” (Cát xanh),…Đâu chỉ có vậy, Ngô Minh còn luôn hướng tâm hồn mình đến những mảnh đời nhỏ bé, bất hạnh trong xã hội: em bé bán vé số, chị bán phở, người bán chè,…để bày tỏ niềm cảm thông, chia sẻ với những con người kém may mắn trong cuộc đời.

  

Dù không được đào tạo qua một trường lớp văn chương nào trên ghế nhà trường, nhưng thơ Ngô Minh vẫn nặng ở chiều sâu ý nghĩa. Cái tôi trữ tình nhà thơ luôn hòa nhập cùng cuộc sống, cái tôi ấy không bao giờ là một cá nhân cách biệt mà nằm trong cấu trúc cuộc sống, để tìm sự đồng cảm, san sẻ những nghĩ suy, chiêm nghiệm. Vì thế, ta bắt gặp trang thơ Ngô Minh bàng bạc chất triết lí – chiêm nghiệm. Thơ ông không dừng lại ở cảm quan bề ngoài mà luôn đi sâu vào bên trong đối tượng để khám phá, phát hiện bản chất của vấn đề, biểu lộ một hồn thơ giàu suy tưởng và đa cảm. Chiến tranh đã lùi xa, những tháng ngày hòa bình yên ổn đã trở về bên mỗi gia đình. Nhưng đằng sau tiếng cười vui là những kí ức vẫn đeo bám trĩu nặng trong cõi lòng nhà thơ. Thi nhân chợt buồn đau, cô đơn, xót xa về sự đổi thay của lòng người sau chiến tranh để rồi đúc kết thành những triết lí: “Xin anh đừng buồn giận/ Sông vẫn trong ngày mắt em nhìn/ Chỉ thưa dần câu hò khoan chân thật/ Và lòng người như vẫn đục nhiều hơn/ Và nhiều hơn xăng xe bia bọt/ Và ít dần người biết khóc vì sông” (Đêm Kiến Giang thức với người thương binh hỏng mắt). Nhà thơ có những trải nghiệm về cuộc đời, nên khi chạm vào vòng xoáy của cuộc sống hiện đại, ông luôn day dứt và lo âu, với bao câu hỏi lớn về cuộc sống. Cuộc sống có biết bao nỗi niềm khó sẻ chia, thế thái nhân tình với lắm điều đau đớn, những ung nhọt của xã hội, phức tạp của lòng người,…trở thành nỗi day dứt ưu tư trĩu nặng trong tâm hồn thi sĩ. Minh triết và lặng lẽ tự kiểm đời mình, Ngô Minh tìm cho bản thân một lối ứng xử riêng: “Căn phòng bé nhỏ/ Mỗi ngày tôi khóa nỗi buồn tôi/ Để ra với thế giới/ Nói cười” (Mở Cửa). Trang thơ Ngô Minh luôn trăn trở với những day dứt về nỗi buồn, nhưng cũng tràn đầy niềm tin và khát vọng: “Phút buồn đau cô quạnh/ trong lá còn tiếng chim/ Còn ngôi sao bé bỏng/ thức hoài tới bình minh” (Trong lá). Nếu cái tôi trữ tình đời tư- thế sự đem đến cho người đọc sự cảm thông, chia sẻ với nhà thơ nỗi niềm và sự ngẫm ngợi, xót xa trước thế thái nhân tình thì cái tôi chiêm nghiệm- triết lí giúp người đọc thẩm thấu một cách trọn vẹn về thơ Ngô Minh. Ý thức được sự trôi chảy của thời gian, nhà thơ cảm thấy đời người quá ngắn ngủi trong vũ trụ miên man, bất tận. Dưới sự tác động của thời hiện đại, con người ý thức về thời gian một cách mãnh liệt như một cuộc chạy đua để tồn tại, để sống có ích. Thời gian luôn trôi qua như gió thoảng, mây bay, đến và đi không bao giờ có thể níu giữ lại được. Thơ Ngô Minh thường hoài niệm về quá khứ, nhà thơ nhận ra cái hữu hạn của đời người và cái vô cùng của đất trời, từ cái “tuổi cứ rơi dần vào xa ngái- dấu tích nào còn lại dưới trời kia”. Ngô Minh có những cảm nhận về hạnh phúc“Hạnh phúc hiếm hoi/ Chân trời xa thẳm” (Thơ không cùng tuổi). Nhận thức về hạnh phúc, nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ cũng có lần viết“Hạnh phúc mong manh hương ổi bay”. Mong manh là vậy, nhưng con người vẫn cố gắng tìm kiếm hạnh phúc, cố gắng xây đắp hạnh phúc để cuộc đời được vang ngân những tiếng cười. Thời gian luôn cứ “vội vã” giữa những bí ẩn trong tâm hồn con người, phức tạp, khó hiểu, nhà thơ luôn day dứt, băn khoăn: “Ôi hồn người bí ẩn mênh mông/ Lướt qua ta những thời gian vội vã/ Những sâu xa chân thành mới mẻ/ Cứ lướt qua như thế mỗi ngày” (Trên đường). Chất chiêm nghiệm, triết lí, cứ thế hiện lên qua trang thơ Ngô Minh. Tập thơ tặng của Ngô Minh có nhiều bài như nén tâm nhang dành cho bạn bè cùng nghiệp. Viết về sự ra đi của các nhà thơ, nhà văn ông không chỉ tiếc thương mà còn thể hiện những chiêm nghiệm về lẽ mất còn, về sự vĩnh hằng hiện tồn trong giới hạn khiêm tốn của tuổi đời. Viết về Trịnh Công Sơn: “Ngày ơi ngày ngày mong manh quá/ Người bỏ ta đi hạ trắng rồi/ Xin níu sợi chiều giăng Bến Ngự” (Chiều Huế nhớ Trịnh Công Sơn), Ngô Minh còn có những dòng thơ tưởng niệm Văn Cao, Thu Bồn,….

 

Từ những năm tháng đất nước còn trong chiến tranh, nhà thơ Ngô Minh đã thể hiện cái tôi trữ tình ngợi ca, tự hào về quê hương, đất nước, con người. Khi hòa bình lặp lại, cái tôi trữ tình lúc bấy giờ đi sâu vào đời tư, thế sự, để khám phá những miền sâu xa trong cõi tâm linh, sâu thẳm của con người. Cái tôi ấy thể hiện nỗi buồn đau nhân thế, chứa đựng giá trị nhân văn cao cả. Ngô Minh mong muốn được chia sẻ, cảm thông, thấu hiểu hơn với tình đời, tình người. Đó cũng là nỗi trăn trở, suy tư của nhà thơ về tha nhân, từ đó, rút ra những triết lý sâu sắc về cuộc đời. Cái tôi triết lý đã được đúc kết từ sự trải nhiệm của bản thân, từ những chiêm nghiệm, nghĩ suy; do đó rất mực chân thành và cảm hóa tâm hồn bao người.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

[1] Hồ Thế Hà, Những khoảnh khắc đồng hiện, Nxb Văn học, Hà Nội, 2007.

[2]  Hà Minh Đức, Tuyển tập tập 1, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2004.

[3]  Nhiều tác giả, Chân dung văn học Bình Trị Thiên, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1989.

[4]  Ngô Minh, Phía nắng lên, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1985.

[5]  Ngô Minh, Đứa con của cát, Nxb Sở Văn hóa thể thao Quảng Bình, 1998.

[6]  Ngô Minh, Thơ tặng, Nxb Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2007.

[7]  Ngô Minh, Chuyện làng thơ, Nxb Lao động, Hà Nội, 2001.

 

(Bài đã đăng trong Tạp chí Khoa học của Đại học Đà Nẵng )

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.09.2016

NHÀ VĂN ĐỘC HÀNH, ĐỘC BỘ

NHÀ VĂN ĐỘC HÀNH, ĐỘC BỘ

Vũ Từ Trang –
Sau thời gian dài im hơi lặng tiếng, năm 2000, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh cho ra mắt tiểu thuyết “ Hồ Quý Ly”, tạo thành hiện tượng văn học sôi động. Sách bán rất chạy. Nhà xuất bản cho nối bản, tái bản nhiều lần. Nhiều báo chí bàn tán ngợi ca. Có hội thảo khoa học về cuốn sách này. Ông trở thành người nổi tiếng.

Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh

Nhưng mãi sau này, tôi mới  có dịp quen biết ông. Trước đó,  nhà văn Lê Bầu, một người bạn thân của ông,  đã đôi lần kể cho tôi nghe về cuộc đời cay cực, vất vả mà ông đã trải qua, thì tôi càng nể trọng.

Ông là người Hà Nội gốc. Cái làng quê Cổ Nhuế của ông nay đã biến thành phố xá. Có  thời, gia đình ông sống ở phố Huế, một phố buôn bán sầm uất. Còn bây giờ, ông ở ngõ nhỏ thuộc phố Trần Khát Chân. Ông và gia đình đã sống mấy chục năm trên mảnh đất này. Diện mạo ngõ phố bây giờ khác xa với xóm nghèo ngày trước. Những  căn nhà lá xập xẹ. Những bờ ao bờ chuôm thả đầy rau muống bè. Những khóm tre pheo  tả tơi. Những người lao động lầm lũi. Những cống rãnh nước thải của thành phố đổ về. Xác chuột chết, lòng lợn lòng gà thối, những cọng rau ôi vật vờ trôi… Tôi muốn nhắc lại môi trường sống của nhà văn mấy chục năm từng gắn bó, để hiểu thêm những trang viết của ông sau này.

Cuộc đời mỗi con người có những khúc ngoặt bất ngờ. Ông kể, đang là sinh viên trường y, một trường đại học sang trọng ở Hà Nội, năm 1952, ông bỏ bút nghiên xin đi bộ đội. Nhiều người trong gia đình phải kêu lên, là ông có thần kinh không đấy? Những ngả đường hành quân, những buổi diễn tập và tình đồng đội đã thôi thúc  ông cầm bút. Tryện ngắn đầu tay “ Một đêm ” in trên tạp chí Văn Nghệ Quân Đội, năm 1959 ;  rồi  tập  truyện ngắn “ Rừng sâu”, Nhà xuất bản Văn học, in năm 1962, là những chứng chỉ cho ông bước vào con đường sáng tác văn học đầy cam go và nhiều giá phải trả. Những ngày tháng đi dự Lớp bồi dưỡng những người viết văn trẻ, khóa 1,  cho ông tiếp xúc nhiều nhà văn nhà thơ danh tiếng; đồng thời được sống cùng những người cầm bút cùng trang lứa, rồi sau này, họ đều là những nhà văn chủ lực tạo lên diện mạo văn học nước nhà. Học xong, ông trở về làm việc ở Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội. Ông  là cây bút năng nổ. Ấy rồi vướng mắc quan điểm nghề nghiệp, ông phải chuyển sang báo Thiếu niên tiền phong. Những năm đầu của cuộc chiến tranh phá hoại, ông làm phóng viên  thường trú ở khu bốn. Năm 1983, ông  về nghỉ hưu non. Đời ông lại sang một khúc ngoặt mới. Ông phải làm mọi  việc nặng nhọc để có  tiền nuôi con ăn học. Thợ mộc, thợ bốc vác, thợ cán mỳ sợi, bảo vệ kho lương thực. Có thời kỳ  làm thợ may. Ông có đôi bàn tay may  khéo léo, từng may cắt quần áo cho nhiều nhạc sỹ, họa sỹ. Một thời, túng quá, ông phải đi bán máu. Ông từng làm bí thư chi bộ tiểu khu Thanh Nhàn. Năm 1970, xóm nghèo Thanh Nhàn có điện nước sinh hoạt, người dân nơi đây vẫn nhắc, ấy là phần lớn nhờ công sức của ông.

Con người ông sinh ra như để gắn bó với con chữ. Sau những giờ phút lao động mưu sinh cật lực để nhận đồng tiền  về nuôi vợ con, những con chữ, những trang sách lại vẫn quẫy đạp trong tâm trí ông. Khốn nỗi, vì  lâm nạn nghề nghiệp một thời, nên mỗi khi toan cầm bút  viết, tâm trí ông lại giằng xé. Một loạt bạn  viết của ông  cùng bị chung số phận. Ấy là Châu Diên, từng có “ Con nhện vàng”. Lê Bầu, từng có “ Thông reo”. Ấy là Dương Tường, từng có những bộ sách dịch đồ sộ. Rồi Bùi Ngọc Tấn từng in vài tập truyện ngắn… vậy mà thời kỳ ấy, họ đều phải im hơi lặng tiếng, vì những lý do rất khó giải thích. Thời điểm ấy, họ đều vất vả, ít gặp gỡ, ít đàm đạo về văn chương nghệ thuật. Nhưng họ vẫn âm thầm, quyết liệt với con chữ.  Khi có cơ hội, họ lại quyết quật trở lại, với  cái nghiệp vừa vinh quang vừa cay đắng của họ.

Chả biết sức mạnh vô hình nào cho ông đương đầu với những công việc mưu sinh quá nặng nhọc so với sức vóc của ông? Sau những phút đổ mồ hôi, sau những ngày tháng túng bấn, đêm đêm, ông lại chong đèn thức cùng  con chữ. Những trang  sách kinh điển,  luôn dọi ánh sáng  huyền diệu cho ông tin yêu và vượt qua những khoảng khắc bi đát. Những con chữ vẫn bám riết lấy ông. Vốn ngoại ngữ tiếng Pháp được cơ hội  phát huy. Ông  đọc và dịch. Ông đã dịch hàng chục cuốn sách. Ông sớm có ý thức củng cố tri thức để làm hành trang  trên con đường dài của  mình.

Hai tiểu thuyết “ Miền hoang tưởng ” và “ Trư cuồng ” của ông ra đời trong thời gian này. Đấy là thời kỳ mà tên tuổi ông vẫn khó được chấp nhận trên các báo chí. Vậy mà ông vẫn  âm thầm viết. Bản thảo viết ra,  một vài bạn bè thân đọc. Họ khen và cổ vũ. Nhưng việc công bố tác phẩm thì vẫn là điều xa xôi. Mãi cho đến khi ngọn gió  đổi mới  thổi  khắp đất  nước, năm 1990, tiểu   thuyết “ Miền hoang tưởng ” của ông mới được Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản, với bút danh Đào Nguyễn. Đứa con tinh thần ra đời trong bối cảnh không mấy suôn sẻ, nhưng cũng đủ củng cố cho ông niềm tin. Rằng,  những trang viết nếu thật sự vui buồn vì nhân dân, vì đất nước, thì trước sau sẽ được nhân dân đón nhận.

Với  niềm  hứng khởi đó, ông bắt tay vào viết  tiểu  thuyết  lịch   sử “ Hồ Quý Ly “. Ông đã mạnh dạn khai thác thời khắc đầy sóng gió  của lịch sử. Hồ Quý Ly là nhân vật  đầy mâu thuẫn. Là một nhà cách tân? Hay là một bạo chúa? Câu hỏi luôn bám riết trong quá trình sáng tạo của ông. Mỗi trang sách  đầy ăm ắp sự kiện và  giằng xé tâm trạng. Nhà xuất bản Phụ nữ đã mạnh dạn đón nhận  và xuất bản tác phẩm này. Quan hệ giữa nhà văn và Nhà xuất bản đôi khi là một cơ duyên. Ông trở thành tác giả thân thiết đặc biệt với Nhà xuất bản Phụ nữ từ đó. Sách của ông được tái bản liên tục và được nhận nhiều giải thưởng văn học cao quý.

Gần bẩy mươi tuổi, ông lại  bắt tay vào viết tiểu thuyết mới, tiểu thuyết “ Mẫu thượng ngàn”. Ông  muốn tái tạo sự sống của làng cổ vùng đồng bằng Bắc bộ qua trang sách của mình. Đạo Khổng thâm nhập vào Việt Nam, đạo Mẫu có bị bài trừ? Theo ông, đạo Mẫu là đạo của người nghèo khổ. Dưới mỗi mái nhà, là bao cảnh đời chẳng bình yên. Những hội hè đình đám, những tập tục, những hương ước, lề lối của xóm làng  trói buộc, đày đọa bao kiếp người. Hàng mấy chục nhân vật sống động trong từng trang sách. Bà đĩ Váy, bà mõ Pháo, cô đồng Mùi, cô trinh nữ Nụ… Bà Tổ Cô thì bí ẩn, bà Ba Váy thì đa tình, bao mùa màng, bao lễ tết vừa giải thoát, vừa trói buộc con người.“ Mẫu thượng ngàn” là tiểu thuyết  phong tục, tràn ngập âm thanh và màu sắc.

Lại dồn sức vào niềm đam mê mới. Ông viết  tiểu thuyết “ Đội gạo lên chùa”, cuốn sách tạo thành bộ ba của chủ đề  mà ông ấp ủ. Lại những cảnh đời của người áo nâu chân đất, lầm lũi và giầu mơ mộng. Lại vẫn những luật lệ hủ lậu, hà khắc của thôn xóm. Lại những binh biến, loạn lạc,  làm tan nát cuộc đời họ. Ấy nhưng họ vẫn bền bỉ sống. Những tình cảm vẫn đằm thắm, những nghĩa cử vẫn ngời sáng, những số phận vẫn trớ trêu, những kiếp người vẫn bị quăng quật. Với lối viết điềm tĩnh mà cuồn cuộn, với cái nhìn tỉnh táo mà mê muội, tiểu thuyết “ Đội gạo lên chùa” đưa người đọc đi dọc chiều dài chiều rộng của một vùng quê đầy kịch tính. Ngôi chùa nhỏ ở làng Sọ, như muôn vàn ngôi chùa quê khác, bao đời nó là nơi trú ngụ của những tâm hồn bất an, những số phận đầy trắc ẩn. Chú tiểu An, hòa thượng Vô Úy, sư bác Khoan Độ, bà cụ Thầm, bà Nấm, bà Khoai, cô Thắm, cô Nguyệt, em Rêu… bao năm, họ vẫn cam chịu sống trong không gian u u mê mê. Lòng tốt, đức tính nhân ái, tình thương yêu cũng chẳng đưa họ sống vượt giới hạn tăm tối và hà khắc của lũy tre làng. Tiếng mõ, tiếng chuông chùa, mùi hương khói, hương hoa ngâu, hoa mộc cũng chỉ an ủi xoa dịu một phần nỗi đau trần thế của họ. Nhà văn đã chỉ rõ, cửa Phật là nơi nương tựa và trú ngụ những tâm hồn mong manh, mờ mịt, bất an. Liệu có phải cách mạng mới lay thức, thay đổi và đem ánh sáng  sự sống mới cho họ? Nhưng cách mạng rồi, thì Phật ở trong mỗi con người ra sao? Cái thiện cái ác, thế giới tâm linh con người có thay đổi? Tiểu thuyết “ Đội gạo lên chùa” đặt ra những vấn đề nhân sinh muôn thưở của con người, cần lời giải đáp. Với một bối cảnh không gian làng quê nhỏ, những con người trong vùng quê bé nhỏ, nhà văn đã phác họa và khái quát một phần số phận của dân tộc. Khác với các nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử trước, ông không lệ vào các sự kiện. Sự kiện lịch sử chỉ là nơi nương tựa, để ông giăng mắc các số phận. Từ những số phận đan chéo buồn vui, ông lý giải mọi mâu thuẫn. Văn của ông có sức mê dụ  người đọc, tạo thành  thủ pháp riêng, sự thành công riêng của ông.

Nhiều sự việc, nhiều cảnh đời trong sách ám ảnh tôi. Sự chịu đựng âm thầm của hòa thượng Vô Úy, đường đời gập ghềnh của An, thân phận vô hinh vô ảnh  như bà Nấm, cô Khoai, giếng thơm và cái chết của Rêu hẳn mãi day dứt người đọc. Rêu trong sáng, mong manh và nhậy cảm. Tại sao Rêu phải  trẫm mình xuống giếng thơm tự vẫn? Vì Rêu không chấp nhận sự thực bẩn thỉu. Nói một cách khác,  Rêu đổ vỡ niềm tin. Con chim họa my có cổ họng thủy tinh và tiếng hót vút cao đã phải gãy cánh. Rêu như hình tượng của nghệ thuật đích thực, không  đồng lõa với cái ác, cái lừa dối, nên  phải trả giá. Tôi lại nhớ hình tượng con hổ cảm nhận được tâm tính  sư bác Khoan Độ, do hòa thượng Vô Úy thuần dưỡng nơi cửa phật. Khi bị sa bẫy kẻ ác, con hổ quyết cắn bỏ một chân  mắc bẫy, ba chân còn lại cố lết về rừng xanh, chấp nhận cái chết cô đơn nơi hang sâu, không cam chịu chết đớn hèn trong tay kẻ ác. Đó là cái chết đầy tự trọng. Một hình ảnh khác trong tập sách, mà  mỗi khi nhớ lại, tôi vẫn thấy nhồn nhột. Ấy là cảnh tra tấn người trong bể phân. Người bị nhục cứ bị dấn chìm từ từ trong bể phân. Những con ròi bẩn thỉu cứ vô tư bò lên mặt, lên mũi, rồi nó bò vào trong lỗ mũi, bò vào trong lỗ tai, nó gặm nhấm óc người đang bị làm nhục. Với một bút pháp già dặn, điềm tĩnh, tỉnh táo, cố giấu đi nỗi đau quặn thắt, mà chứa chất nỗi niềm thương cho một kiếp người.

Trong một chuyến đi thăm ngôi chùa cổ vùng Kinh Bắc, tôi toan hỏi ông khi viết tới những trang văn  ấy, ông có buồn lắm không? Rồi tôi  không nỡ hỏi. Vì tôi biết mỗi trang viết là mỗi khúc ruột đầy nỗi niềm của ông. Cuộc đời bể dâu trong trang viết, thấp thoáng hiện lên chặng đường đời không mấy suôn sẻ của ông. Tôi nghiệm thấy rằng, người cầm bút có tài, nếu chịu nhiều bất hạnh trong đời sống, thì những con chữ trên trang viết  lại như được bù đắp lại. Những con chữ phập phồng, chứa chất nỗi niềm, nặng nhiều nghĩ suy.

Tiểu thuyết “ Đội gạo lên chùa ” sau bao năm ông trăn trở, đã được Nhà xuất bản Phụ Nữ cho ra mắt bạn đọc. Ấn phẩm  sang trọng, gần chín trăm trang khổ 14×20,5cm. Sau mấy ngày bận bịu  niềm vui đi tặng sách mới cho người thân, một buổi chiều  gặp ông, ông kêu lên: Chán quá, đang chán quá! Tôi hiểu, đó là  trạng thái tinh thần của một người có ý thức. Với một người thô sơ nào đó, hẳn sẽ  hoan hỉ thỏa mãn  với thành quả nghệ thuật của mình. Còn ở ông, tôi  cảm nhận ông  như người vừa bị rút hết ruột gan cho cuốn sách vừa ra đời. Có thể ông đã và đang ấp ủ một đề tài mới cho cuốn sách mới. Có thể niềm vui lớn hơn đang chờ đợi ông ở phía trước.

Một người cầm bút đã  tuổi tám mươi, cứ vài năm lại cho ra mắt một tác phẩm bề thế, đóng đinh vào tâm thức người đọc như ông, thì  thật hạnh phúc. Trong tiểu thuyết “ Hồ Quý Ly” ông có mượn ý người xưa mà nói rằng: con người vốn độc hành, độc bộ. Vâng,  người nghệ sỹ chân chính luôn cô đơn, biết lặng lẽ đi  theo lối  của riêng  mình !

 

*

*     *

 

 

                    Đôi điều về quan niệm tùy duyên trong tiểu thuyết                         “ Đội gạo lên chùa ”

 

Mở đầu tiểu thuyết, nhà văn đã dẫn trích bài phú “ Cư trần lạc đạo ” của Trần Nhân Tông và tôi thấy quan niệm sống tùy duyên như xuyên suốt tập sách. Cư trần lạc đạo thả tùy duyên. Sống ở đời, hãy biết tùy duyên mà ứng sử.

Những nhân vật trong tập sách đều biết chọn cách tùy duyên để sống, để tồn tại. Tùy duyên là một thái độ nhập thế, xuất thế. Không phải lối sống vô thức, được chăng hay chớ, không phải sống buông thả. Mà đấy là lối sống của ý thức, của con người có nhận thức, có trách nhiệm.

Vậy tùy duyên là thế nào? Hãy nghe sư cụ Vô Úy khuyên nhủ chú tiểu An.

       -Con ơi! Trên đường đời dài dằng dặc, một người con của Phật, hay một con người cũng vậy, đều phải biết tự đi bằng đôi chân của mình… Phải biết độc hành con ạ… Đường của Phật gian nan lắm. Muốn tìm được đạo, phải biết độc hành.

Vậy tùy duyên thế nào trên con đường độc hành?

        – Người tu thiền không phải chỉ ngồi tư thế hoa sen, rồi hít thở theo đúng quy cách đã là tu thiền. Mọi lời nói, mọi hành vi, cử chỉ đều là thiền hết. Thiền là một nếp sống đạo hạnh.

Tùy duyên chính là trạng thái tu thân để sống.

        Không rèn luyện để hướng tới cao thượng không phải là người. Cao thượng đó là cái tâm của Phật. Đó là tâm từ, tâm bi, tâm hỉ, tâm xả. Tâm từ yêu thương tất cả chúng sinh. Tâm bi thương xót những người đau khổ. Tâm hỉ vui với người đang vui. Tâm xả không dính chấp với được thua ở đời. Đạt được bốn cái tâm cao thượng ấy, là tiến được khá xa trên con đường tu lập.

Nhưng tùy duyên không dễ dàng chút nào. Thời buổi trao đảo, con người càng cần tỉnh táo và có lý trí.

        Một con người nhiệt tình quá đỗi, say mê quá đỗi, cũng là điểm mạnh và điểm yếu. Thời mạt pháp, con người chỉ là những chiếc lá để gió lốc cuốn đi. Hay là chưa đủ nhân duyên để con người trụ lại, và có quá nhiều nhân duyên kéo con người trôi lăn trong trần thế…

Vậy tùy duyên và nhân quả, có gì mâu thuẫn nhau chăng? Có đấy, mà cũng lại là không đấy. Trong tùy duyên, vẫn có phần nhân quả. Trong nhân quả, lại có hạnh ngộ của tùy duyên.

          Nhân quả hiểu theo nghĩa thông thường là Nghiệp. Giữa người mê và người ngộ. Nghiệp tác động không giống nhau. Người mê coi nghiệp là tai ách, gặp hoàn cảnh khó khăn là đau khổ, than vãn. Còn với người ngộ, khi đã vô phân biệt giữa khách và ta, giữa ngoài và trong, họ biết mình vẫn có nghiệp như ai, nhưng không cảm thấy nghiệp là nặng, họ tự do tự tại trong mọi hoàn cảnh.

Tùy duyên, là một thái độ sống, nhưng phải biết nhẫn. Có nhẫn, mới đi hết ý thức tùy duyên được.Ông giải thích về sự nhẫn ở mỗi con người.

         Con người nghĩ chữ nhẫn của đạo phật là sự yếu hèn, cam chịu. Chắc chắn không phải vậy. Cuộc đời lắm lúc phải biết dừng lại để suy ngẫm, để tích tụ sức mạnh… Năng lượng của nhẫn ghê gớm không tưởng tượng nổi…Sức mạnh của từ bi có thể làm sụp đổ những gì tàn bạo nhất.

Nhưng giữa thời buổi cuộc sống sục sôi. đầy bạo loạn, đầy bất trắc, con người có thể nhẫn mãi được không? Nhà văn lại giải thích Muốn đi tới chỗ đạt chỗ ngộ phải giữ tâm được bình thường, dù hòan cảnh thế nào cũng không được loạn động. Có thể điều này được diễn ra, được thực thi trong tâm tưởng, vì Phật luôn mong cho con người đồng môn đủ nghị lực để gánh chịu kiếp nạn. Vì những cuộc bể dâu ở thế gian này là chuyện thường bằng, chúng xảy ra như những đợt sóng.  Đến nỗi, nhiều khi  bóng mát ngôi chùa đã chẳng che nổi cho con người, mặc dù con người rất nhỏ nhoi, mà bóng mát kia thì rất to lớn.

Vậy thì con người biết sống thế nào đây khi đầy dẫy sự rình rập và bất trắc quanh mình? Ấy là cần tĩnh tâm, tỉnh táo nhận ra tùy duyên cho chính mình. Cái quan niệm tưởng như chồng chéo, phá vỡ nhau, mà lại là sự đồng nhất, nhất quán, giàng rịt nhau tồn tại. Chẳng có gì sinh ra, chẳng có gì mất đi. Gặp duyên thì tụ thì sinh. Hết duyên thì tán thì diệt.

Lại muốn hỏi, Phật giáo có phải để cứu đời? Phật giáo hóa cho dân thật vô lượng. Vì thế làng nào xã nào trên đất nước ta cũng có chùa. Chính quyền lo sự an dân. Nhà chùa lo dạy dân hướng thiện, tránh ác. Phật giáo lo trị bệnh cái tâm con người. Tâm lành thì mọi việc bình an. Tâm là gốc của sự sự, việc việc trên thế gian…

Tiểu thuyết “ Đội gạo lên chùa” như muốn khơi gợi, kêu gọi phật tính trong mỗi con người. Nếu phật tính trong mỗi con người trở lại, lớn lên, thì con người biết yêu thương và bỏ qua hận thù. Đức Phật bảo sân hận là một trong những nguyên nhân tạo thành đau khổ thế gian. Hận thù nối tiếp hận thù sẽ muôn đời muôn kiếp không tan, cái vòng luẩn quẩn như thế chẳng bao giờ dứt.

Ấy nhưng muốn bỏ qua hận thù, thì con người càng cần nhìn nhận rõ kẻ thù của chính mình. Con người cần có thái độ xác đáng với kẻ thù của mình. Nhận rõ kẻ thù, lại biết tùy duyên, để tránh cái ác nảy nở từ hận thù, có thế mới tránh hiểm họa. Phép tùy duyên, nghĩ cho cùng, là sự tu thân, là sự dấn thân của con người. Thời buổi hiện đại, con người càng phải dấn thân và thoát xác. Phải chăng đó là thái độ nhập cuộc và thoát xác của mỗi con người. Hãy đọc tâm trạng của An, nhân vật chính trong truyện, trong những ngày ở chiến trường khốc liệt. Có lúc cận kề cái chết, không hiểu sao tôi cứ nhớ tới câu chuyện về cuộc hành hương của Thầy tôi lên đất Phật…Thầy tôi dạyngười đi đường ngắn, đường dễ ít khi tới đích. Muốn đi tới đỉnh thường phải đi đường vòng…Cái khác giữa hai cuộc đi của thầy tôi và của tôi ở chỗ, ngày xưa thầy lên Yên Tử, đó là cuộc hành hương đến chốn linh địa. Còn bây giờ, cuộc đi của tôi là cuộc hành hương vào cuộc đời..ở dạng trần trụi nhất, khốc liệt nhất, nơi cái chết ở sát bên ta. Nơi ấy cuộc sống như chiếc cối xay và ta chỉ là hạt thóc. Ta sẽ bị tróc vỏ, trầy cám” và quan niệm về sự hành hương của sư thầy là Hành hương không chỉ là tìm đến một nơi chốn mà chính là để tìm thấy sức mạnh linh thiêng trong tâm hồn mình. Rốt cuộc, đó là cuộc truy tìm cái bản lai diện mục của chính mình.

Trong dân gian thường có câu “ Phật tại tâm” và quan niệm về đường tu, như“ Thứ nhất là tu tại gia. Thứ nhì tu chợ. Thứ ba tu chùa” . Vậy thì, thời nào cũng vậy, con người luôn phải tự nhận ra mình, phấn đấu vượt lên chình mình, hướng thiện và vươn lên những điều cao cả. Đó là nghị lực là ý chí sống, hay nói rộng ra, đó là tình yêu cuộc sống. Nhà văn lại mượn lời nhân vật của mình để nói về quan niệm tu thân trong mọi tình thế của kiếp người. Người tu Phật phải hiểu rằng muốn tìm được con đường Phật đạo, ta không được dựa vào bất cứ ai. Ta phải dựa vào chính bản thân mình. Cho nên  phải cần đến sự cô độc. Thường độc hành độc bộ…lối sống Phật giáo là dạy cho con người một mình đứngc vững, độc hành trong cái thế gian đầy thống khổ này ( Ghi chú: Những dòng in nghiêng trong bài viết này, là trích dẫn, hoặc lược ý từ tiểu thuyết “Đội gạo lên chùa”). Vậy là Phật giáo chính là một lối sống. Con người có thể tu  thân tích đức ở mọi nơi, mọi chốn, để vươn tới điều thện, để làm điều tốt, để xã hội được thanh bình, thịnh vượng.

Tùy duyên, chính là thái độ xuất thế, nhập thế ở mỗi con người trước thời cuộc. Tiểu thuyết “ Đội gạo lên chùa” của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh quán xuyến và xuyên suốt vấn đề này. Từ sư cụ Vô Úy, đến sư Khoan Độ, từ chú tiểu An đến thầy giáo Hải, từ vãi Thầm đến cô Khoai, từ cô Nguyệt đến em Rêu…mỗi người một cảnh ngộ, đầy dẫy sự trần ai, trắc trở. Đã là con người sống trong cõi đời này, làm sao có thể vô tư, phởn phơ và suôn sẻ được. Mọi tình huống, mọi cảnh ngộ, luôn đẩy con người tới điểm mút của ý chí, của nghị lực sống và sự phân định đường đi của họ. Đó là vượt lên, đứng thẳng lên, hay là gục ngã, hay là khuất phục. Quan niệm tùy duyên, luôn đồng hành với chặng đường làm người của mỗi phận người. Cho dù thế nào, thì ý chí làm người vẫn phải chiến thắng bản năng thô sơ ở mỗi con người. Đấy là thước đo của con người và cũng là niềm tin cao cả của con người trước cuộc sống. Cuộc sống hiện đại, con người càng bị nhiều áp lực, ham hố, thúc ép. Để tới đích cuộc sống của mình, con người càng cần nâng cao Phật tính cho chính mình. Con người càng cần từ bi hỉ xả. Nói theo cách khác, đời sống hiện đại, phần dương tính trong mỗi con người càng bốc lên ngùn ngụt. Ham muốn, dục vọng càng cao, càng cần thái độ từ bi, nhân ái, vị tha. Có như thế, âm tính và dương tính trong mỗi con người mới hài hòa, phát sáng.

Gấp cuốn truyện, hẳn người đọc không tránh khỏi nỗi buồn xâm chiếm. Số phận con người, trải qua bao thời khắc, bao giai đoạn, xem ra vẫn buồn bã và bi thương. Sư cụ Vô Úy, một người tu  đắc đạo, vậy mà cuộc đời trải qua bao nỗi trầm luân. Một người nhân ái, ôn hòa, rồi cũng phải gánh chịu tù đầy tra tấn. Sư bác Khoan Độ từng tung hoành ngang dọc, khi tiếp cận cửa Phật, muốn sống trong sạch dưới ánh sáng của Phật, nguyện sống để bảo vệ pháp Phật,  cũng gặp bao trắc trở. Bà vãi Thầm thì như cả đời sống trong cõi âm. Thầy giáo Hải, con người  lý tưởng,  bị kẻ thù  tra tấn và giết hại dã man. Rêu quá mong manh, quá trong sáng, không chấp nhận sống cùng sự bỉ ổi, không chấp nhận cái ác, đã phản kháng bằng cách trẫm mình xuống giếng thơm. An và Nguyệt mồ côi cha  mẹ vì chiến tranh loạn lạc. Cơ duyên với hai chị em, là may mắn được nương nhờ cửa Phật, nhưng vào đời,  lại đầy bất trắc. Nguyệt nết na xinh đẹp, nhưng thời thế làm cho đường tình duyên lỡ làng, khi luống tuổi, đành gắn với người đàn ông một thời hảo hán. Chú tiểu An gánh  nhiều cơ cực, cởi bỏ áo nâu sồng lên đường ra trận. Chiến tranh kết thúc, An lấy Huệ khi thân thể Huệ gánh thương tật của chiến tranh. Họ muốn quay về mái chùa xưa mà không được nữa, đành đưa nhau lên  núi trồng cây  bốc thuốc, dựng am thờ nhỏ cho tĩnh tâm.

Khép lại  số phận các nhân vật, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh viết “ Kiếp người chẳng qua như những con đom đóm…Kiếp nhân sinh là con đom đóm. Chẳng ai thắp mà đom đóm vẫn sáng… Trong đêm đen, con đom đóm cố hết sức để tự phát sáng. Ánh sáng ấy nhỏ nhoi lắm, yếu ớt lắm…”

Kiếp người sao quẩn quanh và u buồn  vậy?

Số phận ư? Con người có vượt qua  số phận?

Triết lý tùy duyên, vừa an ủi,  vừa xót xa, ngậm ngùi!

Tùy duyên báo biến.

Tùy duyên bất biến.

Tùy duyên mãi là cách sống, là thái độ sống.

Con người mãi độc hành độc bộ trên chặng đường dằng dặc của chính mình. Kiếm tìm và vươn tới điều chân thiện.

Tư tưởng của cuốn sách, thiết nghĩ, chính là ở điểm này.

(Nguồn: vanvn.net)

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.09.2016

Dân Hà Tĩnh đòi bồi thường thiệt hại

Dân Hà Tĩnh đòi bồi thường thiệt hại

BBC

Image copyrightBBC
Image captionCác hộ dân kê khai thiệt hại dưới sự hỗ trợ và tư vấn của các luật sư.

Hơn 1000 hộ gia đình tại huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, gửi đơn đến Quốc hội và Chính phủ “yêu cầu chi trả tiền bồi thường thiệt hại” vì môi trường biển bị tàn phá.

Bức thư đề ngày 22/9/2016 đề nghị Quốc hội và Chính phủ trích hơn 2 ngàn tỉ đồng từ số tiền 11.500 tỉ đồng mà họ mô tả là Công ty Formosa đã thanh toán toàn bộ để bồi thường cho hơn 1.100 hộ dân.

“Không chỉ có những nạn nhân trực tiếp là ngư dân, những người làm công việc hậu cần nghề biển, mà còn có cả những người làm trong ngành nghề dịch vụ như kinh doanh nhà hàng, nhà nghỉ, và người buôn bán nhỏ lẻ khác.

“Số tiền yêu cầu bồi thường của từng hộ gia đình được tính dựa trên thiệt hại thu nhập trung bình trên thực tế trong 6 tháng qua, thiệt hại tài sản vật chất dùng cho việc sản xuất kinh doanh, tổn hại tinh thần, và thiệt hại thu nhập trung bình trong 5 năm tới do hậu quả tàn phá môi trường biển bởi Công ty Formosa gây ra,” bức thư viết.

Image copyrightFB TRINH MINH HIEN

Được biết vào ngày 15/9/2016 chính quyền Hà Tĩnh đã tổ chức buổi họp với người dân ở đây để phổ biến thông tin về việc kê khai thiệt hại, nhưng đã vấp phải sự phản đối của người dân ở đây.

“Họ đã bỏ ra về mà không thực hiện sự kê khai theo bảng mẫu hướng dẫn của chính quyền đưa ra.

Image copyrightAFP
Image captionDu lịch tại các tỉnh miền Trung bị ảnh hưởng môi trường cũng đang hứng chịu hậu quả.

“…Bên cạnh đó, những người bị thiệt hại cũng không đồng ý với thời gian tính thiệt hại của chính quyền là chỉ bồi thường thiệt hại trong 6 tháng (từ tháng 4 đến tháng 9), vì họ cho biết căn cứ vào kết quả khoa học được công bố, để phục hồi lại trạng thái ban đầu của môi trường biển phải mất từ 50 đến 70 năm tới,” thông cáo viết.

Trong bức thư cử người đại diện cho họ là một linh mục và một luật sư nói rằng nếu Chính phủ không trích từ số tiền 11.500 tỉ đồng mà Công ty Formosa đã chuyển đầy đủ cho Chính phủ để chi trả bồi thường thiệt hại thực tế cho họ, thì trong vòng 15 ngày nữa, hơn một ngàn hộ dân này sẽ đồng loạt tiến hành khởi kiện Formosa ra tòa án có thẩm quyền.

Một số luật sư tham gia Liên danh Phục vụ Công lý đã tới Hà Tĩnh trong vài tháng qua để trợ giúp hàng ngàn hộ dân khiếu kiện đòi bồi thường thiệt hại do phía công ty Formosa gây ra.

Báo cáo của chính phủ Việt Nam nói vụ cá chết ở miền trung ảnh hưởng hàng trăm ngàn người.

Image copyrightREUTERS

Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Nguyễn Thiện Nhân, được dẫn lời nói tại kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa 14 hồi tháng Bảy rằng việc Formosa xả thải gây ô nhiễm môi trường và gây hậu quả nghiêm trọng cho 4 tỉnh ven biển miền Trung.

“Cử tri và nhân dân cũng yêu cầu làm rõ trách nhiệm và xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân đã buông lỏng trách nhiệm quản lý Nhà nước về đầu tư và bảo vệ môi trường,” ông Nhân nói.

Một báo cáo khác được mô tả là vừa được gửi đến Quốc hội cho biết Chính phủ Việt Nam nói: “Theo Chính phủ, tính toán sơ bộ thì sự cố ô nhiễm biển miền Trung đã ảnh hưởng trực tiếp đến hơn 100 nghìn người, do không có việc làm ổn định, thu nhập thấp và 176.285 người phụ thuộc”.

Image copyrightFACEBOOK ANTHANH LINHGIANG

Vào đầu tháng 8 đã có nhiều cuộc xuống đường với khẩu hiệu về vấn đề môi trường biển và công ty Formosa đã diễn ra tại khu vực Nghệ An, Quảng Bình, Hà Tĩnh.

Trước đó trong tháng Năm hàng ngàn người xuống đường tại các thành phố lớn trong đó có Hà Nội và TP. HCM yêu cầu làm rõ trách nhiệm vụ cá chết này.

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.09.2016

Kiểm soát quyền lực bằng cách nào?

Kiểm soát quyền lực bằng cách nào?

Tiếp tục cuộc trò chuyện với Tuần Việt Nam, ông Vũ Ngọc Hoàng cho rằng, phương thức lãnh đạo của Đảng thì đến nay vẫn cơ bản giống như mấy chục năm trước, cơ bản là thế, chưa có đổi mới.

LTS:Tuần Việt Nam xin giới thiệu kì cuối của tọa đàm 30 năm đổi mới: Nhìn từ áp lực thể chế với sự tham gia của ông Vũ Ngọc Hoàng, Phó Trưởng ban thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương và ông Mai Liêm Trực, Nguyên Thứ trưởng thường trực Bộ Bưu chính-Viễn thông.

 

Nhà báo Lan Anh: Nhiều người cho rằng vấn đề Việt Nam đang bị vấp là ở chỗ thể chế. Vậy chúng ta nên hiểu thể chế ở đây thế nào cho đúng?

Ông Vũ Ngọc Hoàng: Bản thân nội hàm thể chế về mặt khoa học còn nhiều ý kiến lắm, nhưng theo tôi, thể chế là một bộ phận của cơ chế nói chung, mà bộ phận ấy liên quan đến quyền lực. Nếu hiểu theo cách này thì cơ chế nói chung rộng hơn thể chế.

Với góc nhìn như vậy, theo tôi, việc lớn nhất của chúng ta hiện nay là vấn đề kiểm soát quyền lực. Tôi đã nói rồi, quốc gia nào mà thả lỏng quyền lực, không kiểm soát được quyền lực thì nhất định sẽ dẫn đến tha hóa, tham nhũng, “lợi ích nhóm”. Tôi đã phát biểu trên báo Tuổi Trẻ nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Đảng 3/2 năm nay rằng, Việt Nam cần phải có nghị quyết và cơ chế về kiểm soát quyền lực.

Lâu nay Đảng đã có nhiều nghị quyết về xây dựng Đảng, nhìn chung đều đúng cả, không có gì sai, và cũng tích cực thực hiện, vậy mà suy thoái vẫn không dừng, thậm chí còn tăng hơn. Vì sao vậy? Phải chăng còn thiếu điều quan trọng nhất là cơ chế kiểm soát quyền lực và các cơ chế đảm bảo dân chủ thực sự. Phải kiểm soát quyền lực bằng quyền lực nhà nước; bằng cơ chế dân chủ, quyền tham chính của nhân dân; bằng công luận, sự công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình, điều trần.

đổi mới, căn bản, toàn diện, kinh tế, thị trường, thế giới, kiểm soát, quyền lực, khoa học, chính trị, nhà nước, pháp quyền

Ông Vũ Ngọc Hoàng: “Tôi đã phát biểu trên báo Tuổi Trẻ nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Đảng 3/2 năm nay rằng, Việt Nam cần phải có nghị quyết và cơ chế về kiểm soát quyền lực”. Ảnh: Lê Anh Dũng

Nhân dân ủy quyền cho Nhà nước việc gì – đến đâu, còn việc gì phải trưng cầu dân ý, các luật cho phép Chính phủ và các cơ quan Nhà nước khác đến đâu, chống lạm quyền bằng cách nào, giám sát chéo và dân giám sát thế nào… Rồi kể cả các tổ chức của Đảng, quyền đến đâu, chịu trách nhiệm pháp lý thế nào, ai kiểm soát quyền lực của các cơ quan Đảng, có ý kiến một số đảng viên đề nghị phải có Ủy ban giám sát của Đảng do Đại hội bầu ra cũng là việc rất nên bàn.

Khi bàn về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng thì cũng có nghĩa là bàn một phần quan trọng về đổi mới chính trị. Phương thức lãnh đạo của Đảng mặc dù nghị quyết đã nói nhiều lần về việc phải đổi mới nhưng cho đến nay vẫn cơ bản như mấy chục năm trước.

Cần phải đổi mới một cách căn bản, có cơ sở khoa học, theo hướng thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng và trong xã hội; công khai, minh bạch; lấy thuyết phục, đối thoại làm chính (thay cho áp đặt); thực hiện đầy đủ các quyền tự do, quyền con người mà Hiến pháp đã định. Trong đó, có quyền tự do tư tưởng và quyền thể hiện chính kiến của các công dân, nhằm đáp ứng tốt nhất cho yêu cầu phát triển lành mạnh, bền vững của đất nước và dân tộc Việt Nam.

Nhà báo Lan Anh: Cuối năm ngoái, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh được mời đến nói chuyện về các vấn đề kinh tế ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Thính giả là các lãnh đạo của hầu hết các tỉnh, thành phố. Tại đó, nhiều người hỏi Bộ trưởng Bùi Quang Vinh, thế nào là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ông đáp: “Chúng ta cứ nghiên cứu mô hình đó, mà mãi có tìm ra đâu. Làm gì có cái thứ đó mà đi tìm”. Các ông suy nghĩ thế nào về thực tế này?

Ông Vũ Ngọc Hoàng: Thế giới hiện nay có nhiều cách gọi, cách phân chia kinh tế thị trường, kể cả những năm gần đây có nói kinh tế thị trường hiện đại, kinh tế thị trường hội nhập…, nhưng phổ biến nhất có hai loại là kinh tế thị trường tự do và kinh tế thị trường xã hội.

Theo cách hiểu của tôi, kinh tế thị trường tự do khi tiến bộ lên, hoàn thiện hơn, có quản lý và điều tiết của nhà nước vì mục tiêu xã hội, thì thành kinh tế thị trường xã hội. Và người ta thường nói gọn, nói tắt là kinh tế thị trường. “Kinh tế thị trường” là cách gọi đã được quốc tế hóa rồi.

Trung Quốc đưa ra khái niệm kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Việt Nam thì kinh tế thị trường định hướng XHCN. Việt Nam nêu vấn đề “mềm” hơn Trung Quốc. Nhưng mấy chục năm rồi kể cả Trung Quốc và Việt Nam vẫn chưa làm rõ xong đặc điểm của nền kinh tế ấy. Tức là đã đặt tên trước khi làm rõ nội hàm. Có thể có lý do chính trị lúc ấy, thời điểm đặt tên gọi ấy.

Tôi cho rằng, không nên mất quá nhiều thời gian để tranh cãi về từ ngữ, và tên gọi, mà tốt nhất là làm rõ nội hàm đi, rồi chính nội hàm sẽ quy định tên gọi. Khi bàn về nội hàm của khái niệm khoa học, đừng nhầm lẫn giữa khái niệm khoa học với quan điểm chính trị. Hiện nay nước ta đang đề nghị các nước công nhận Việt Nam có nền “kinh tế thị trường” đó thôi, gọn vậy thôi, kể cả khi đoàn của Tổng Bí thư ta đi làm việc với Hoa Kỳ cũng thống nhất cách gọi như vậy.

đổi mới, căn bản, toàn diện, kinh tế, thị trường, thế giới, kiểm soát, quyền lực, khoa học, chính trị, nhà nước, pháp quyền

“Kinh tế thị trường thì cứ phải là kinh tế thị trường, hoàn toàn, đến cùng, không nửa vời, không biến tướng”. Ảnh: DNNN

Tôi không nghe trực tiếp anh Bùi Quang Vinh nói nên không bình luận. Riêng tôi thì nghĩ rằng, định hướng đất nước trong tương lai sẽ tiến đến mục tiêu XHCN thì cứ định hướng, việc đó vẫn đúng (với cách hiểu XHCN phải thật sự tốt đẹp, chứ không phải hô khẩu hiệu, không lạm dụng danh từ ấy; quan niệm về XHCN phải với tinh thần rất đổi mới; đổi mới căn bản so với cách hiểu cũ kỹ, lạc hậu ngày xưa). Còn kinh tế thị trường thì cứ phải là kinh tế thị trường, hoàn toàn, đến cùng, không nửa vời, không biến tướng, tất nhiên có vai trò nhất định của nhà nước, và cũng có thể nói gọn “kinh tế thị trường”, như cách nói mà Đảng và nước ta đang yêu cầu thế giới công nhận là đủ rồi.

Mặt khác, khoa học cứ tiếp tục nghiên cứu về loại hình kinh tế thị trường, sáng tạo, tìm tòi cái mới. Cái mới là cái mà trước đó chưa có. Chưa có không đồng nghĩa với không có. Nhưng phải có đủ cơ sở khoa học, không thể ý muốn chủ quan, áp đặt và phải có cách tiếp cận đúng thì mới có thể tìm ra cái mới. Bằng tư duy cũ không tìm ra cái mới được.

Theo suy nghĩ của tôi, không thể tìm thấy kinh tế thị trường XHCN theo cách tiếp cận là nó phải khác căn bản so với kinh tế thị trường ở các nước tư bản. Mà ngược lại, nó phải kế thừa tối đa các giá trị phổ quát, lâu bền của kinh tế thị trường đang có ở các nước TBCN và phát triển lên, hoàn thiện hơn.

Kinh tế thị trường là giá trị chung của nhân loại chứ không phải chỉ của TBCN. Mà ngay cả tư bản thì cũng là sản phẩm của nhân loại. Và khi CNTB phát triển ở trình độ cao thì tự nó từng bước đang và sẽ tạo ra các yếu tố XHCN, tức là nó không còn nguyên là nó, mà đang dần dần trở thành cái khác, cái mới, tiến bộ hơn. CNTB hiện đại ngày nay đã khác rất xa so với thời kỳ C. Mác sống và viết Tư bản luận – một tác phẩm rất hay mà tôi chưa thấy ai vượt qua ông.

Tôi sẽ trở lại và xin được trao đổi tiếp vấn đề kinh tế thị trường trong CNXH và kinh tế thị trường trong CNTB trong một dịp khác.

Ông Mai Liêm Trực: Tôi hoàn toàn chia sẻ về quan điểm của Bộ trưởng Bùi Quang Vinh là không nên đi tìm cái không có. Nếu cứ khư khư giữ lấy cái không có, đi tìm cái không có thì mỗi người hiểu một cách, không thể đi đến đồng thuận để tìm được cơ chế kinh tế phù hợp.

Chúng ta đã tham gia một số Hiệp định thương mại và đang trong quá trình đàm phán TPP cũng như một số đối tác thương mại khác. Chúng ta muốn các nước công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường thì phải thì phải theo những tiêu chí phổ quát của kinh tế thị trường.

Chúng ta có thể cần một lộ trình nhất định cho một số lĩnh vực cụ thể đó là nước đi sau nhưng đã đi sau thì phải khẩn trương để tiến tới hoàn toàn phù hợp với luật chơi toàn cầu.

Ngành viễn thông là một ví dụ về sự mạnh dạn hội nhập quốc tế thành công. Viễn thông là một lĩnh vực rất nhạy cảm khi đàm phán Hiệp định thương mại Việt Mỹ và gia nhập WTO vì lo sợ an ninh thông tin và nước ngoài vào nắm hết khi mở cửa thị trường viễn thông nhưng sau BTA 15 năm nay, Việt Nam vẫn giữ vững thị trường trong nước và từng bước thành công ở thị trường nước ngoài nhờ chính sách đi thẳng vào công nghệ hiện đại. Đặc biệt là xoá độc quyền doanh nghiệp, mở cửa cạnh tranh thị trường nước ngoài để giá cước giảm và chất lượng dịch vụ tăng lên.

đổi mới, căn bản, toàn diện, kinh tế, thị trường, thế giới, kiểm soát, quyền lực, khoa học, chính trị, nhà nước, pháp quyền
Ông Mai Liêm Trực

30 năm đổi mới chúng ta có nhiều thành công, nhiều tiến bộ vượt bậc khi so sánh với chính mình, nhưng nếu so với nhiều nước cùng hoàn cảnh phát triển thì vẫn kém xa. Nếu chúng ta cứ say sưa, thoả mãn với thành tích đã qua, lừng khừng không dám bứt phá thì sẽ tiếp tục mất đi cơ hội quý báu và nước ta sẽ tụt hậu xa hơn.

Tôi rất đồng cảm với câu nói của anh Nguyễn Mạnh Hùng – TGĐ Viettel đại ý, phải dám quên đi thành công của 10 năm trước thì ta mới bước ra thế giới được.

Nhà báo Lan Anh:Trong bối cảnh hiện nay để có thể đổi mới cơ chế, đổi mới thể chế thành công như người dân đang mong mỏi, những người lãnh đạo cần phải làm những gì, cần phải thay đổi những gì?

Ông Vũ Ngọc Hoàng: Chúng ta phải đổi mới căn bản, đổi mới toàn diện, đồng bộ, bắt đầu từ tư duy, tiếp theo là chiến lược phát triển, cơ chế, thể chế, chính sách và công tác cán bộ,…Lâu nay chúng ta đã nói phải phát triển bền vững đất nước. Đúng rồi, nhưng có lẽ chưa đủ.

Theo tôi, cái quan trọng trước nhất phải nghĩ đến là làm thế nào để phát triển dân tộc Việt Nam, trở thành một dân tộc giỏi, có đẳng cấp cao, đứng ở một tầm cao mới, có trí tuệ và năng lực cao để làm cho quốc gia cường thịnh và đủ sức bảo vệ vững chắc toàn vẹn Tổ quốc trong mọi tình huống.

Sự nghiệp phát triển Việt Nam có hàng vạn công việc phải làm; đồ sộ, khổng lồ, không một ban lãnh đạo nào có thể giải quyết được mọi việc, mà chỉ có toàn dân, một cộng đồng dân tộc mạnh mới giải quyết được. Có những con người phát triển thì sẽ có tất cả. Chính họ chứ không ai khác sẽ giải quyết có hiệu quả hàng vạn công việc kia.

Trước nhất và quan trọng nhất là phát triển con người Việt Nam. Đồng thời, cần phải có một chiến lược phát triển rõ ràng và hiệu quả, trong đó xác định rõ các ngành, lĩnh vực và sản phẩm ưu tiên (ví dụ như du lịch; nông nghiệp công nghệ cao; công nghiệp phần mền và công nghệ thông tin…), trên cơ sở đó mà tái cơ cấu nền kinh tế về mặt cơ cấu ngành.

Cần tính kỹ lại chiến lược năng lượng, hết sức tiết kiệm điện, ta lãng phí còn nhiều; chọn các ngành công nghiệp dùng điện ít (nếu “cả nước” làm công nghiệp phần mềm thì chỉ bằng vài nhà máy công nghiệp nặng); phát triển các nguồn năng lượng sạch (nước ta có nhiều nắng, nhiều gió và đang có các nghiên cứu khoa học về các nguồn năng lượng mới…), không ô nhiễm môi trường, không có phóng xạ kể cả khi gặp sự cố nghiêm trọng. Việc này liên quan đến sinh mạng và sự tồn vong của dân tộc.

đổi mới, căn bản, toàn diện, kinh tế, thị trường, thế giới, kiểm soát, quyền lực, khoa học, chính trị, nhà nước, pháp quyền

“Đổi mới căn bản” là cụm từ đúng và cần thiết để diễn đạt việc cần thiết phải làm cho đất nước trong giai đoạn tới đây. Ảnh minh họa

Một trong những yêu cầu cấp bách hiện nay là phải kiến tạo cho được động lực tăng trưởng mới của giai đoạn phát triển mới, phát triển theo chiều sâu, khi những động lực tăng trưởng được tạo ra trong chặng đường 30 năm Đổi mới vừa qua đang dần hết tác dụng.

Tôi biết có những ý kiến sẽ không đồng tình khi tôi dùng cụm từ “đổi mới căn bản” vì sợ rằng, làm như vậy sẽ mất ổn định, rối lên. Nhưng tôi vẫn cho rằng đây là cụm từ đúng và cần thiết để diễn đạt việc cần thiết phải làm cho đất nước trong giai đoạn tới đây. Tôi hiểu giá trị của sự ổn định, phải ổn định mới phát triển được. Phát triển là mục đích, ổn định là điều kiện.

Phải đổi mới để phát triển. Phát triển mới có ổn định lâu dài. Không phải cứ đổi mới căn bản thì mất ổn định. Ngược lại, không chịu đổi mới thì đến một lúc sẽ mất ổn định lớn hơn. Có cách làm đúng thì sẽ tốt. Dù đổi mới căn bản thì vẫn phải có bước đi, có lộ trình phù hợp. Phải mạnh dạn mới hy vọng kết quả lớn, giải quyết được tình hình.

Liên Xô sụp đổ là bài học lớn cho chúng ta. Vì sao thành trì cách mạng đó lại có thể sụp đổ nhanh đến thế ? Cái gọi là ổn định trước đó chỉ là sự ổn định bề mặt, giả tạo chứ không phải sự ổn định bản chất, vững chắc.

Suốt mấy mươi năm Liên Xô ổn định kiểu vậy, khi có quyền lực nhiều cái có thể vượt qua được, tưởng như thế là tốt, là xong rồi, nhưng nó lại tích tụ chồng chất mâu thuẫn bên trong, giống như nhìn thấy cây cối trên mặt đất vẫn bình yên, nhưng không thấy sự rạn nứt dần dần trong nền móng, để đến một ngày nó đổ ào đến mức khó hiểu.

Do vậy, từ thực tiễn và khoa học mà nói, cần phải đổi mới một cách căn bản, từ gốc rễ mới tạo dựng được sự ổn định lâu dài và phát triển vượt lên.

Lâu nay Đảng và Nhà nước luôn khẳng định là nhân dân làm chủ; quyền lực là của dân. Điều này quá đúng! Và chỉ khi người dân thực sự có quyền lực, thực sự làm chủ, cộng với cơ chế kiểm soát quyền lực bằng quyền lực Nhà nước, thì khi đó mới có thể kiểm soát được quyền lực.

Xưa nay, rất ít khi những người có quyền lực lại tự giới hạn hoặc từ bỏ quyền lực của chính mình; ngược lại luôn muốn tăng thêm, không muốn ai kiểm soát mình. Hy vọng những người lãnh đạo chân chính và trách nhiệm cao với quốc gia, dân tộc của Đảng và Nhà nước ta sẽ giải quyết tốt vấn đề này.

Việc cần làm trước nhất hiện nay là phải tập trung đổi mới tư duy, đổi mới công tác tư tưởng, đổi mới cơ chế lựa chọn cán bộ và khẩn trương ban hành các cơ chế kiểm soát quyền lực, chống tham nhũng, “lợi ích nhóm”.

Ông Mai Liêm Trực: Sự nghiệp đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng từ năm 1986 thực chất và chủ yếu là đổi mới thể chế kinh tế, chuyển sang cơ chế thị trường và chúng ta đã vượt qua được khủng hoảng, có nhiều thành công về mặt kinh tế.

Chúng ta chắc chắn phải tiếp tục đổi mới thể chế kinh tế như tôi đã nói ở trên nhưng sự chững lại của tăng trưởng kinh tế và tiêu cực xã hội đòi hỏi phải đổi mới cơ bản, mạnh mẽ cơ chế quản lý nhà nước pháp quyền.

Đất nước ta đang đứng trước thời cơ của công cuộc đổi mới lần thứ hai đòi hỏi sự dũng cảm và dấn thân của lãnh đạo như một số vị lãnh đạo đáng kính đã làm cuộc đổi mới gần 30 năm trước.

Thời nào cũng vậy, đặc biệt là những lúc khó khan, khủng hoảng thì cán bộ đóng vai trò quyết định. Do đó, cần thay đổi mạnh mẽ cơ chế chọn lựa và bổ nhiệm cán bộ. Cần có sự chọn lọc rộng rãi để tìm ra được những cán bộ có tâm và có tài quản trị đất nước, phụng sự tổ quốc nhân dân.

Tuần Việt Nam

 

TÂM THƯ NGỎ GỬI BỘ CHÍNH TRỊ VÀ BAN BÍ THƯ VỀ VIỆC CẦN CÓ QUỐC SÁCH ĐỐI VỚI TIẾNG ANH

 

Trần Văn Nhung

Tổng Thư ký Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước (Nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)

(Vì gn đây mi người đang bàn bc nhiu v ch trương hc ngoi ng hin nay nước ta, tiếng Anh và 5 th tiếng, tôi xin đăng li bc thư ng tâm huyết tôi gi BCT và BBT nhân dp sinh nht 2015 ca Ch tch H Chí Minh, đ góp thêm ý kiến. Nếu có đim nào b lc hu, không cp nht, mong được th li! Xin cám ơn!)

Hà Nội, Ngày 19 tháng 5 năm 2015

(V vic: Cn có Ch th/Ngh quyết ca B Chính tr và Ban Bí thư đ tăng cường vic dy, hc và s dng tiếng Anh Vit Nam.)

Kính gi: Đng chí Nguyn Phú Trng, Tng Bí thư, và các Đng chí trong B Chính tr và Ban Bí thư, Ban Chp hành Trung ương Đng Cng sn Vit Nam.

Kính thưa các Đng chí,

Với tư cách cá nhân của một một công dân, đảng viên và nhà giáo, một người đã “lặn lội, tự học” tiếng Anh mãi ở trong nước mà khi dùng vẫn rất khó khăn, vẫn không tự tin và không thể khá lên được, tôi xin đề nghị Bộ Chính trị và Ban Bí thư: Xem xét, nghiên cu đ sm có được mt ch th hay ngh quyết (nói nôm na là mt quc sách) đ tăng cường vic dy, hc và s dng tiếng Anh Vit Nam, trong thi hi nhp quc tế, tương tự như Chỉ thị 58-CT/TW năm 2000 của Bộ Chính trị và Nghị quyết 36-NQ/TW năm 2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển Công nghệ Thông tin (CNTT). Chúng ta vui mừng chờ đón Đại hội Đảng lần thứ XII đang đến gần. Tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN, TPP, WTO, …, chưa bao giờ yêu cầu hội nhập quốc tế lại bức thiết và trực tiếp như hiện nay. Càng ngày chúng ta càng thấy rõ: Khả năng sử dụng tiếng Anh của người Việt Nam đang là một trong những rào cản không nhỏ tốc độ hội nhập quốc tế, xây dựng và củng cố quốc phòng, an ninh và phát triển văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ, giáo dục và đào tạo. Khi viết bức tâm thư này, tôi muốn được nhắc lại một công thức quan trọng của thời đại toàn cầu hóa ngày nay là CNTT + Tiếng Anh + B Óc tt = Tt c (IT + English + Good Brain = All!) “Bộ Óc tốt/Good Brain” ở đây là một khái niệm tổng hợp gồm tất cả những yếu tố cần và đủ nằm trong cái “vỏ CNTT + Tiếng Anh” để bảo đảm cho công dân toàn cầu chung sống thành công. Như vậy, mặc dù “CNTT + Tiếng Anh” là rất quan trọng, nhưng vẫn chỉ có tính chất công cụ, công cụ cần thiết. Còn kiến thức tổng hợp và các kỹ năng đa chiều mới là cái quyết định hiệu quả của hội nhập quốc tế. (TS Hoàng Ngc Vinh, V trưởng V Giáo dc Chuyên nghip, B Giáo dc và Đào to, đã cho tôi biết đến công thc trên.) (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.09.2016

TÌM MUA ĐẤT MỘ -THƠ NGÔ MINH

 Ngô Minh  

 

      TÌM MUA ĐẤT MỘ

 

nghĩa trang chật hẹp đến không ngờ

len lỏi thấp cao tìm mua đất mộ

nơi ở vĩnh hằng tưởng sang trọng lắm

hóa ra đơn côi những nấm cỏ vùi

người già nhiều mà đất mộ cạn rồi

đất để chết cũng tranh giành chen lấn

thằng quyền lực nửa quả đồi xây cất

đứa dân đen chín mét sụt sùi

lương hưu giờ eo hẹp như đời

cũng dành dụm kiếm vài thước đất

nơi gần đã bao người đi trước

nơi xa xôi tội con cháu nhang đèn

Tôi tìm mua đất mộ cho mình

Mới biết sống không dễ chết càng không dễ

Viết bài thơ nôm na cùng hậu thế

Khuôn thơ vuông hay nấm đất đang tìm…

 

10-2012

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.09.2016

Phúc thẩm y án Anh Ba Sàm

ba-sam

Phúc thẩm y án Anh Ba Sàm

BBC
Image copyrightSTRAFPGETTY IMAGES

Image caption‘Phiên tòa công khai’ nhưng nhiều nhà hoạt động, nhà báo tự do bị ngăn cản trên đường đến dự

Phiên phúc thẩm ở Hà Nội ngày 22/9 xét xử ông Nguyễn Hữu Vinh và cộng sự giữ nguyên mức án ban đầu.

Ông Vinh từng là chủ trang Anh Ba Sàm. Trong sáu năm, cho đến khi chủ trang bị bắt giữ năm 2014, trang Ba Sàm đã thu hút hàng triệu độc giả trong và ngoài nước.

Tháng 3/2016, ông Nguyễn Hữu Vinh, tức blogger Anh Ba Sàm bị Tòa án Nhân dân Hà Nội tuyên phạt 5 năm tù giam, cộng sự của ông, bà Nguyễn Thị Minh Thúy, bị phạt 3 năm tù.

Tòa phúc thẩm giữ nguyên mức án này.

Ông Vinh và bà Thúy bị bắt giam từ tháng 5/2014.

Trong diễn biến dường như chứng tỏ căng thẳng tại tòa, một luật sư, Trần Vũ Hải, nói ông bị chủ tọa đuổi ra khỏi phiên xử vào những giây phút cuối của phiên xử.

“Sau khi luật sư Trần Văn Tạo yêu cầu đại diện Viện Kiểm sát tranh luận, công bố căn cứ pháp lý cho lập luận của mình, vị chủ toạ nói thay Viện Kiểm sát rằng không cần tranh luận nữa.”

“Tôi đề nghị ông chủ toạ để đại diện Viện Kiểm sát đối đáp, nêu căn cứ pháp lý, vì các luật sư đã nêu căn cứ pháp lý cho lập luận của mình. Việc này chỉ bé “bằng móng tay”, nếu đại diện VKS không nêu, không thể gọi là tranh luận, gây khó cho nghề luật sư chúng tôi, không phải là phiên toà dân chủ.”

“Ông chủ toạ liền thông báo đuổi tôi ra khỏi phiên toà.”

Theo luật sư Trần Vũ Hải, ông Nguyễn Hữu Vinh nói “khá nhiều” tại tòa, tuy “bị ngắt tiếng” khi đến lúc nói lời cuối cùng.

Tại tòa, ông Vinh nhắc đến bản kháng cáo 76 trang của ông, nhưng không được đưa vào vụ án và các luật sư không được tiếp cận tài liệu này.

Phiên tòa sơ thẩm ngày 23/3 tại Hà Nội xử hai người về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” theo quy định tại Điều 258, khoản 2-Bộ luật hình sự.

Hình ảnh và clip trên mạng xã hội hôm 22/9 cho thấy an ninh thắt chặt xung quanh khu vực tòa án và có cáo buộc về việc một số nhà hoạt động, nhà báo tự do bị câu lưu hoặc bị hành hung trong lúc tìm cách đến dự ‘phiên tòa công khai’ theo như thông báo của tòa.

Có sáu luật sư tham gia phiên phúc thẩm gồm Trần Quốc Thuận, Trần Văn Tạo, Trần Đình Triển, Trần Vũ Hải, Hà Huy Sơn và Nguyễn Hà Luân.

Image copyrightFACEBOOK BACH HONG QUYEN

Image captionAn ninh được thắt chặt quanh khu vực Tòa án Nhân dân Cấp cao Hà Nội

Cáo trạng đề cập hai trang của ông Vinh, diendanxahoidansu.wordpress.com (blog “DÂN QUYỀN”) và blog chepsuviet.wordpress.com (blog “CHÉP SỬ VIỆT”).

Cáo trạng nói hai bị cáo đăng 24 bài viết “nội dung sai sự thật, không có căn cứ; tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; bôi nhọ các cá nhân”.

Hôm 22/9, bà Lê Thị Minh Hà, vợ ông Vinh, viết trên trang cá nhân: “Chỉ còn 2 năm rưỡi tù thật là ngắn, để [ông Vinh] tiếp tục đấu tranh cho một nhà nước có pháp quyền buộc phải thay đổi theo hướng dân chủ để hi vọng cho tương lai con cháu mai sau sẽ mãi tự hào”.

Trước đó, từ New York, Tổ chức nhân quyền Human Rights Watch (HRW) phát đi thông cáo kêu gọi Việt Nam hủy bỏ cáo buộc với blogger Anh Ba Sàm (Nguyễn Hữu Vinh).

“Chính phủ Việt Nam nên trả tự do và hủy bỏ tất cả các cáo buộc chống lại hai blogger nổi tiếng,” HRW viết trong thông cáo.

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.09.2016

Mạng xã hội VN rọi đèn hai bí thư Đảng

Mạng xã hội VN rọi đèn hai bí thư Đảng

Image copyrightOTHER
Image captionÔng Trịnh Văn Chiến, Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa

Phản ứng của các bí thư Hà Giang, Thanh Hóa trước thông tin trên mạng xã hội được nhà hoạt động và các trí thức đánh giá là “rất nhanh” và “đáng mừng”.

Cuối tuần qua mạng xã hội ở Việt Nam lan truyền thông tin bí thư Thanh Hóa Trịnh Văn Chiến có con riêng và cung cấp tài sản “nhiều chục tỉ đồng” cho một viên chức sở xây dựng Thanh Hóa.

Đồng thời, cư dân mạng cũng chia sẻ cáo buộc rằng tám người thân của Bí thư Tỉnh ủy Hà Giang Triệu Tài Vinh giữ vị trí chủ chốt trong các cơ quan của tỉnh.

Rất nhanh sau đó, cả ông bí thư Thanh Hóa và Hà Giang đều có trả lời trên báo chí tại Việt Nam về sự việc liên quan đến họ.

Thông thường, các lãnh đạo tại Việt Nam hiếm khi trả lời các tin đồn hoặc thông tin từ mạng xã hội.

Ông Hoàng Văn Dũng, nhà hoạt động của nhóm Con Đường Việt Nam nhận định các vị trên “đã phản ứng rất nhanh với mạng xã hội” và cho rằng “tức là người ta rất quan tâm”.

“Tôi cho rằng cộng đồng mạng có sức mạnh. Chắc chắn là thế, bởi vì những sự kiện nào bên tuyên giáo chỉ định không được đăng thì dù mạng xã hội có lên tiếng đến mấy thì nó cũng chỉ nằm trên mạng xã hội. Chứ còn những sự kiện như ông Triệu Tài Vinh hay ông bí thư Thanh Hóa thì không nằm trong sự kiểm duyệt của Ban tuyên giáo thì người ta sẽ phải phản ứng ngay lập tức,” ông Dũng nói.

Image copyrightFACEBOOK HOANG DUNG
Image captionNhà hoạt động Hoàng Văn Dũng của nhóm Con Đường Việt Nam

Nhóm Con đường Việt Nam là một trong những trang lan truyền thông tin về bí thư tỉnh Hà Giang có nhiều người nhà làm quan chức.

Chưa rõ ảnh hưởng

Tuy nhiên, ông Dũng không lạc quan về việc các thông tin này có ảnh hưởng thực sự hay không. Ông nói với BBC: “Ảnh hưởng hay không còn phụ thuộc vào nội bộ người ta. Nội bộ họ đã thống nhất với nhau, hay gọi là thân mến nhau, cùng phe nhau thì rất khó để có ảnh hưởng gì. Nếu họ không cùng phe và có những vấn đề nội bộ thì đây là cơ hội để người ta tìm cách thay đổi nội bộ.”

“Một số độc giả cảm thấy điều đó là bình thường vì không như thế mới lạ. Một bộ phận nhỏ thì thấy bất ngờ vì cho rằng đó là thêm một lần minh chứng nữa chất lượng cán bộ trong Đảng có rất nhiều vấn đề trục trặc đằng sau về tình ái, tài sản, các quan hệ mang tính chất họ hàng của quan chức.”

Nhà hoạt động này nhận định các vụ việc “là ví dụ cho thấy Đảng đang độc quyền lãnh đạo và đang có rất nhiều vấn đề đằng sau.”

Nhà hoạt động Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (Blogger Mẹ Nấm) nhận định sự việc là “dấu hiệu tích cực”.

“Các thông tin trên mạng xã hội có ảnh hưởng đến đời sống và nó buộc các quan chức không thể giữ im lặng, cũng không thể phớt lờ như đã cư xử suốt hàng chục năm qua,” bà Quỳnh nói.

“Nhưng cách phản ứng ngược lại nó cho thấy thay vì chọn một phương thức là công bố hoặc minh bạch thông tin. Thì cách mà ông bí thư tỉnh ủy tỉnh Thanh Hóa chọn là bịt miệng. Ông yêu cầu thu hồi tên miền và xử lý các trang thông tin vi phạm. Hướng xử lý này vẫn chưa vượt qua khỏi cái suy nghĩ có thể kiểm soát được mạng xã hội và thông tin”

“Tôi không nghĩ cách phản ứng của ông Bí thư tỉnh Thanh Hóa là cách hay, minh bạch. Phản ứng của ông bí thư Hà Giang cho người ta thấy một vấn đề sâu hơn. Đó là nếu đúng quy trình thì bí thư không đồng ý bổ nhiệm thì sẽ không có ai đồng ý bổ nhiệm được người nhà ông ấy làm ở các vị trí giữ chức vụ trong cùng một tỉnh,” nhà hoạt động này bình luận về phản ứng của hai lãnh đạo tỉnh.

Nhà văn Nguyên Ngọc, một trong những trí thức nổi tiếng tại Việt Nam nói với BBC ông cho rằng sự phản ứng của các bí thư là “điều đáng mừng”.


Image captionTranh cãi về gia đình bí thư tỉnh Hà Giang bắt đầu từ trên mạng

Ông nói: “Tiếng nói của dân chúng, đặc biệt trong thời của chúng ta, mạng xã hội, không ai ngăn nó được cả.”

“Người ta phản ứng với những hiện tượng xấu trong xã hội, đặc biệt là trong những người có trách nhiệm lãnh đạo. Đã đến lúc thông tin đó giờ lan rộng lắm.”

“Người ta không chỉ đọc trên báo chí. Thậm chí theo tôi biết những người có điều kiện không quan tâm đến báo chí công khai hàng ngày nhiều. Ở đấy chẳng có thông tin gì đáng để mà đọc cả. Và người ta đọc trên mạng xã hội nhiều. Áp lực đó buộc quan chức phải tìm cách trả lời và thanh minh. Nó chứng tỏ rằng mặc dầu sự xiết chặt trở lại nhưng không gian tự do vẫn đang dần được nống ra [mở rộng ra].”

Cơ hội để nhà báo lên tiếng?

Trong hai vụ việc tin đồn này, các tờ báo tại Việt Nam trở thành nơi “thanh minh” và lên tiếng của hai bí thư tỉnh ủy. Nhiều tờ báo trích lời ông Trịnh Văn Chiến và ông Triệu Tài Vinh về những vấn đề họ bị cư dân mạng nhắc đến.

“Điều này làm cho những nhà báo chính thống có thể nói về tin đồn một cách chính thức trên mặt báo,” nhà hoạt động Như Quỳnh nói.

“Việc tung một tin đồn từ một trang không rõ, rồi toàn bộ báo chí phải chạy đi xác minh tin đồn, rồi có công văn về tin đồn. Nó cho thấy một nỗ lực dập tắt đám cháy, nhưng đám cháy ấy sẽ lan ra các tỉnh thành khác không sớm hoặc muộn.”

Bà Như Quỳnh gọi đây là “cơ hội xác minh một tin đồn trên trang báo chính thống”.

“Là một nhà hoạt động tôi lại thấy rằng bất cứ thông tin nào có dấu hiệu sai phạm, đặc biệt là sai phạm tham nhũng, lạm quyền suốt mấy chục năm qua, được đưa ra đều tốt hết. Thứ nhất là tốt cho nhận thức người dân. Thứ hai là rồi sẽ phải thay đổi chứ không thể giữ mãi cơ chế ấy được nếu người dân phát hiện được thông tin và lên tiếng. ”

Nhà văn Nguyên Ngọc nói báo công khai tại Việt Nam “rất đáng buồn”.

Image copyrightGETTY IMAGES
Image captionNhà văn Nguyên Ngọc (phải) trong một cuộc tuần hành ôn hòa năm 2014

“Nếu tình hình vẫn tiếp tục phát triển như thế, đến lúc báo chí công khai sẽ phải tìm đến cách khác. Và thực ra với sự o ép mà chúng ta biết, ngay trên báo chí công khai một số nhà báo vẫn tìm cách này cách khác để nói đến một mức độ nào đó để biểu lộ ý kiến của người ta, hoặc tình hình xã hội ở mức độ nào đó trên báo chí công khai.”

“Xã hội vừa bị siết chặt trở lại, thậm chí các mảng tự do, thậm chí những mảng tự do ngay trên báo chí công khai cũng được nống ra dần dần từng chút một. Tất nhiên là ít hơn rất nhiều và khó khăn hơn rất nhiều. ”

“Tôi biết có rất nhiều nhà báo còn có lương tâm. Họ buộc phải giữ cái diễn đàn đó. Họ phải giữ gìn, nhưng vẫn tìm cách này cách khác để phản ánh dư luận xã hội, ” nhà văn, nhà nghiên cứu Nguyên Ngọc bình luận.

Ông Nguyên Ngọc nhắc đến trải nghiệm của chính bản thân: “Vừa rồi tôi có nói một số ý kiến về những điều đáng lo ở Tây Nguyên. Một số báo công khai cũng tìm cách đưa lại ý kiến đó. Cách đây vài năm thậm chí họ không dám nhắc đến tên tôi đâu. Vẫn còn những người làm báo có lương tâm trong tình trạng o ép, để họ đưa thông tin đến người đọc.”

Nhà văn Nguyên Ngọc thừa nhận thông tin “đấu đá nội bộ” là rất nhiều nhưng vẫn “đưa tác động tốt”

“Khi các phe phái đánh nhau, thì có một điều là nó phơi thông tin đó ra cho mọi người. Độc giả bây giờ tinh lắm. Người ta thấy các thế lực đánh nhau thế nào. Nhân dân biết được là rất tốt. ”

“Họ [người dân] biết như thế và họ mất lòng tin đi. Họ không còn tin những thế lực đó nữa. Khi những thế lực đó tìm cách mị dân, dụ dỗ họ. Tôi thấy vậy cũng được. Còn tình trạng thông tin đấu đá nội bộ mình không thể nói là không có. Cái tốt, xấu ở chỗ nào cũng có.”

“Cuộc giằng co này còn kéo dài lắm,” ông Nguyên Ngọc bình luận về những gì đang diễn ra.

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.09.2016

Biên bản Hội đàm Thành Đô viết gì?

Biên bản Hội đàm Thành Đô viết gì?

  •   NGÔ HƯNG ĐƯỜNG (TRUNG QUỐC)

thanh-doHình ảnh HNTĐ

Cuộc gặp gỡ nội bộ lãnh đạo cấp cao Trung Quốc và Việt Nam tiến hành lặng lẽ tại Thành Đô thuộc tỉnh Tứ Xuyên trong hai ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990. Tham gia cuộc gặp nội bộ này phía Trung Quốc có Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc đương nhiệm Giang Trạch Dân và Thủ tướng Quốc Vụ Viện đương nhiệm Lý Bằng; phía Việt Nam có Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười và Cố vấn Trung ương ĐCSVN Phạm Văn Đồng. Đây là cuộc gặp đầu tiên giữa các nhà lãnh đạo chủ yếu của hai đảng, hai nước sau thời gian gián đoạn 13 năm.

Hồi đó tôi đang làm Trưởng Phòng Nghiên cứu của Ban Liên lạc đối ngoại Trung ương ĐCSTQ, có tham gia cuộc gặp nói trên với tư cách cán bộ tùy tòng.

Lời nhắn miệng của Đặng Tiểu Bình

Tháng 7 năm 1986, Tổng Bí thư ĐCSVN Lê Duẩn qua đời. Tháng 12, tại Đại hội ĐCSVN lần thứ VI, Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư TƯ ĐCSVN. Những năm 60, trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ Nguyễn Văn Linh là thành viên Cục Miền Nam của ĐCSVN, có thái độ hữu hảo với Trung Quốc, từng nhiều lần đến thăm Trung Quốc. Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình đều từng hội kiến với Nguyễn Văn Linh. Sau khi được bầu làm Tổng Bí thư TƯ ĐCSVN, ông đã đã tích cực đẩy mạnh thực thi đường lối mới của cách mạng Việt Nam và bắt tay cải thiện mối quan hệ với Trung Quốc.

Trong thời gian từ cuối 1988 đến đầu 1989, phía Việt Nam trước sau đã ba lần ngỏ ý mong muốn cải thiện mối quan hệ Việt-Trung. Tháng 10/1989, Đặng Tiểu Bình hội kiến với Cay-xỏn Phôm-vi-hản [Kaysone Phomvihane] Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Lào, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng Lào.

Lý Gia Trung [1] hồi đó là Trưởng phòng Đông Dương thuộc Vụ Châu Á Bộ Ngoại giao từng tham dự cuộc hội kiến này và làm nhiệm vụ ghi chép, có tiết lộ rằng Chủ tịch Cay-xỏn đã chuyển [tới Đặng Tiểu Bình] lời thăm hỏi của Nguyễn Văn Linh, nói Việt Nam nay đã có nhận thức mới đối với tình hình Trung Quốc, thái độ đối với Trung Quốc đã có thay đổi, mong muốn Trung Quốc có thể mời ông thăm Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình cũng đề nghị Cay-xỏn chuyển lời thăm hỏi tới Nguyễn Văn Linh.

Đặng Tiểu Bình nói: Việt Nam đề xuất muốn bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, chúng tôi hoan nghênh. Tôi quen đồng chí Nguyễn Văn Linh từ lâu. Tôi mong muốn đồng chí ấy quả quyết giải quyết dứt điểm vấn đề Campuchia. Tôi hiện nay tuổi đã cao, sắp nghỉ hưu. Mong sao trước khi tôi nghỉ hưu hoặc không lâu sau khi nghỉ hưu thì vấn đề Campuchia có thể đã được giải quyết, mối quan hệ Trung Quốc-Việt Nam được khôi phục bình thường; như vậy sẽ chấm dứt được một nỗi băn khoăn của tôi. Đặng Tiểu Bình nhấn mạnh hy vọng Việt Nam rút sạch sành sanh, rút triệt để quân đội ra khỏi Campuchia, thực hiện khối liên hợp 4 bên do Sihanouk đứng đầu (4 bên, tức chính quyền Heng Samrin do Việt Nam ủng hộ, và 3 phái chống lại: Mặt trận Đoàn kết dân tộc giành độc lập, trung lập, hòa bình và hợp tác Campuchia; Kampuchea Dân chủ do Khieu Samphon là đại diện, Mặt trận Giải phóng dân tộc nhân dân Cao-miên với đại diện là Son Sann), chỉ có làm được điều đó thì mới kết thúc quá khứ, khôi phục mối quan hệ Trung-Việt.

Tháng 6/1990, Nguyễn Văn Linh hội kiến Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Trương Đức Duy. Ông nói tình hình quốc tế hiện nay đang biến đổi mạnh, tình hình Đông Âu diễn biến rất phức tạp, tình hình Liên Xô cũng rất nghiêm trọng. Hai nước Việt Nam, Trung Quốc là láng giếng XHCN, ông hy vọng sớm đến Bắc Kinh hội kiến với các đông chí lãnh đạo TƯ ĐCSTQ, thực hiện việc bình thường hóa quan hệ Việt-Trung trong những năm tháng ông còn trên đời.

Ngày 27/8, tại Liên Hợp Quốc, 5 nước thường trực Hội đồng Bảo an đạt được sự nhất trí về việc giải quyết toàn diện vấn đề  Campuchia và quyết định ngày 10/9 sẽ  triệu tập một cuộc họp thảo luận thông qua 5 văn kiện về việc giải quyết toàn diện mặt chính trị vấn đề  Campuchia. Nội dung chính của các văn kiện đó là 4 bên Campuchia liên hợp cùng tổ chức cơ quan quyền lực lâm thời của Campuchia — Hội đồng Tối cao Toàn quốc Campuchia [SNC, Supreme National Council]. Đây là một bước quan trọng và một tiến triển có tính đột phá trong việc giải quyết chính trị vấn đề Campuchia, cũng là thành quả quan trọng mà cộng đồng quốc tế giành được trong 12 năm tìm kiếm biện pháp giải quyết hòa bình vấn đề Campuchia.

Trong tình hình như vậy, Chính phủ Trung Quốc quyết định mời các nhà lãnh đạo ĐCSVN tới thăm Trung Quốc để tiến hành trao đổi ý kiến.

Theo chỉ thị từ trong nước và sau khi được Ban Đối ngoại TƯ ĐCSVN thu xếp, chiều ngày 29/8, Đại sứ Trương Đức Duy gặp mặt Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười, thay mặt Giang Trạch Dân và Lý Bằng mời hai ông cùng ông Phạm Văn Đồng đến Trung Quốc thăm nội bộ vào thời gian từ ngày 3 đến ngày 4 tháng 9. Đại sứ còn thông báo, do Đại hội Thể thao châu Á [Á Vận hội, ASIAD] sắp được tổ chức tại Bắc Kinh nên để tiện giữ bí mật, địa điểm hội đàm sẽ thu xếp tại Thành Đô thuộc tỉnh Tứ Xuyên. Phía Việt Nam rất vui mừng tiếp nhận lời mời.

Điểm mấu chốt của cuộc đàm phán: “+1” hay không

Ngày 31/8, tôi được Phó Trưởng ban Ban Liên lạc Đối ngoại TƯ ĐCSTQ Chu Thiện Khanh gọi tới gặp riêng. Ông báo cho tôi biết 3 ngày sau tôi sẽ đi theo Giang Trạch Dân và Lý Bằng đến Thành Đô tham gia cuộc gặp gỡ nội bộ Trung Quốc-Việt Nam, và yêu cầu tôi gấp rút viết một tài liệu về tình hình phong trào cộng sản quốc tế, sự biến đổi tình hình ở Đông Âu và Liên Xô, tình hình đảng ta khôi phục quan hệ với các đảng cộng sản từng cắt quan hệ trong cuộc luận chiến Trung-Xô, để chuẩn bị trình lãnh đạo trung ương đọc. Ông dặn tôi phải nghiêm ngặt giữ bí mật, không được nói việc này dù là với đồng sự hoặc người nhà. Tôi bỏ ra một ngày khẩn trương viết xong tài liệu nói trên và đưa in nộp lên trên.

Ngày 2/9, Giang Trạch Dân và Lý Bằng mỗi người đáp một chuyên cơ cất cánh từ sân bay Tây Giao Bắc Kinh. Nhân viên tùy tòng cũng chia làm hai tốp đi theo. Tốp đi theo Giang Trạch Dân gồm: Phó Chánh Văn phòng TƯ ĐCSTQ Tăng Khánh Hồng, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Tề Hoài Viễn, Phó trưởng ban Ban Liên lạc Đối ngoại TƯ ĐCSTQ Chu Thiện Khanh. Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Từ Đôn Tín và một số người khác đi theo Lý Bằng, trong đó có tôi.

Chuyên cơ của Lý Bằng cất cánh lúc 3 giờ rưỡi chiều., khoảng 6 giờ đến Thành Đô. Chuyên cơ Giang Trạch Dân cũng đến nơi vào 6 giờ rưỡi.

Chúng tôi trọ tại nhà khách Kim Ngưu ở ngoại thành. Đây là một nhà khách nằm trong khu vườn cây, yên tĩnh mà đơn giản. Hội đàm và tiệc chiêu đãi sẽ làm tại tòa nhà chính số 1 ở chính giữa, khách và chủ sẽ trọ tại biệt thự ở hai bên tòa nhà này.

Tối hôm ấy, Giang Trạch Dân và Lý Bằng trao đổi với nhau về phương châm hội đàm. Tăng Khánh Hồng triệu tập các cán bộ tùy tòng của Văn phòng TƯ Đảng, Ban Liên lạc đối ngoại TƯ Đảng, và Bộ Ngoại giao bàn bạc tại chỗ  việc thu xếp chương trình làm việc và lễ nghi đón tiếp trong hai ngày tới, kể cả các chi tiết như bố trí khách và chủ ra vào đi riêng theo cửa nào, ai vào trước, ai vào sau. Tôi có tham gia cuộc bàn bạc này.

11 giờ sáng ngảy 3/9, chuyên cơ Việt Nam hạ cánh xuống sân bay chuyên dụng ở Nam Ninh. Đây là chuyến máy bay hàng không dân dụng Việt Nam đầu tiên bay đến Trung Quốc trong 12 năm nay. Phái đoàn Việt Nam gồm mười mấy người. Ngoài Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng ra, cán bộ chủ yếu đi theo gồm: Chánh Văn phòng TƯ Đảng CSVN Hồng Hà, Trưởng ban Đối ngoại TƯ ĐCSVN Hoàng Bích Sơn và Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Đinh Nho Liêm. Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Trương Đức Duy cũng đi cùng.

Tề Hoài Viễn, Chu Thiện Khanh, Từ Đôn Tín ra sân bay đón tiếp đoàn Việt Nam. Sau đó khách và chủ cùng đáp chuyên cơ của phía Trung Quốc bay về Thành Đô.

Hai giờ chiều, đoàn Nguyễn Văn Linh tới nhà khách Kim Ngưu. Giang Trạch Dân và Lý Bằng đón khách tại bên ngoài cửa vào tòa nhà chính số 1. Cuộc hội đàm bắt đầu vào khoảng hơn 4 giờ. Phòng họp rộng hơn 200 mét vuông bố trí đơn giản, chính giữa kê chiếc bàn dài, hai đoàn ngồi ở hai bên. Hội đàm tiến hành tổng cộng trong khoảng hơn ba tiếng đồng hồ.

Hồi đó Việt Nam đã rút quân khỏi Campuchia, những vấn đề chưa giải quyết chủ yếu liên quan tới hai mặt: đánh giá và hành xử như thế nào đối với 5 văn kiện của 5 nước thường trực Hội đồng Bảo An LHQ về việc giải quyết vấn đề Campuchia, và vấn đề thành viên của Hội đồng Tối cao toàn quốc Campuchia. Vấn đề của hai mặt đó có liên quan với nhau. Hai phía Trung Quốc và Việt Nam có những điểm đồng thuận, cũng có những điểm bất đồng. Ý kiến bất đồng chủ yếu có hai điểm.

Trước hết, nên đối xử ra sao với 5 văn kiện nói trên. Phía Việt Nam muốn trình bày ý “hoan nghênh”. Lý Bằng nói: Hoàng thân Sihanouk và Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc, Liên Xô đều tỏ ý ủng hộ 5 văn kiện này, vì thế nên dùng “tán thành”. Sau thảo luận, phía Việt Nam biểu thị đồng ý [với phía TQ], nhưng yêu cầu thêm từ “khung”, phía Trung Quốc cũng đồng ý.

Bất đồng lớn hơn là ở chỗ hạn mức số người của 4 bên trong Hội đồng Tối cao toàn quốc Campuchia. Phía Việt Nam đồng ý “6 (phái Heng Samrin) + 2 (phái Sihanouk) + 2 (phái Khieu Samphon) + 2 (phái Son Sann)” Phía Trung Quốc đề xuất phương án “6 + 2 + 2 + 2 + 2 + 1”; trong đó “1” là Sihanouk, cho rằng Sihanouk là Chủ tịch Hội đồng Tối cao, nên có quyền lực tương ứng. [2]

Phía Việt Nam cảm thấy phương án của Trung Quốc rất khó được phía Phnom Penh tiếp nhận. Cuộc đàm phán trong ngày thứ nhất chưa đạt được đồng thuận về vấn đề này.

Đạt được “Biên bản hội đàm”

Hội đàm kéo dài một mạch đến 8 giờ tối. Đến 8 giờ rưỡi, buổi chiêu đãi mới bắt đầu. Trên bàn tiệc, Giang Trạch Dân và Lý Bằng tiếp tục trao đổi với Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười về những vấn đề chưa đạt đồng thuận.

Sau khi kết thúc buổi chiêu đãi, các cán bộ tùy tòng chính của hai bên tổ chức thành nhóm dự thảo biên bản hội đàm, họp bàn ngay trong đêm hôm ấy. Nhóm này phía Trung Quốc do Tăng Khánh Hồng phụ trách, phía Việt Nam do Hồng Hà phụ trách. Cuộc hội đàm [?] tiến hành cho tới đêm khuya.

Tôi cũng tham gia cuộc họp bàn của nhóm dự thảo biên bản. Nhiệm vụ chính của tôi là sẵn sàng bất cứ lúc nào khi cần là có thể báo cáo cho Giang Trạch Dân và Lý Bằng biết tình hình thảo luận của nhóm, sau đó truyền đạt lại ý kiến của hai vị ấy tới các cán bộ Trung Quốc trong nhóm dự thảo.

Cuộc thảo luận rất gian khổ, bàn bạc từng chữ từng câu. Có một tranh chấp chính là sau khi hai bên Trung-Việt đạt được sự nhất trí ý kiến về vấn đề Campuchia, những ý kiến đó sẽ chuyển lại cho các bên liên quan của Campuchia như thế nào. Qua bàn bạc lâu dài, hai bên đồng ý trình bày là “bằng sự cố gắng của mỗi bên”, “thúc đẩy” các bên Campuchia đạt được thỏa thuận về việc thành lập Hội đồng Tối cao toàn quốc.

Sáng ngày 4/9, lãnh đạo hai bên tiến hành cuộc hội đàm lần thứ hai.

Sau khi đi vào nội dung chính, hai bên tiếp tục bàn vấn đề thành phần nhân sự của Hội đồng Tối cao. Nguyễn Văn Linh bỗng dưng nêu ra một vấn đề:  Hội đồng Tối cao sẽ tuân theo nguyên tắc làm việc như thế nào, là nguyên tắc điều hòa nhất trí hay nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số?

Giang Trạch Dân khôn khéo trả lời câu hỏi này. Ông nói, nếu 4 bên đã đều đồng ý thành lập Hội đồng Tối cao thì họ nên xuất phát từ đại cục lợi ích dân tộc, thực sự thực hiện hòa giải dân tộc. Dưới tiền đề đó, phía Trung Quốc “có thể đồng ý” Hội đồng Tối cao làm việc theo nguyên tắc hiệp thương nhất trí.

Phạm Văn Đồng đồng ý với ý kiến của Giang Trạch Dân.

Sau khi giải quyết xong các vấn đề chủ yếu, việc còn lại là quyết định cuối cùng “Biên bản hội đàm [nguyên văn Hội đàm kỷ yếu]”.

Về  vấn đề Hội đồng Tối cao Campuchia, Biên bản hội đàm viết: Hai bên cho rằng, việc sớm thành lập Hội đồng Tối cao Campuchia là bước then chốt để giải quyết chính trị vấn đề Campuchia. Hội đồng này nên tuân theo nguyên tắc bất cứ phái nào cũng không được chiếm địa vị chi phối, cũng không loại trừ bất cứ phái nào, [Hội đồng này] do 4  bên Campuchia tổ chức nên. Việc để Hoàng thân Sihanouk làm Chủ tịch [Hội đồng] là thích nghi. Hai bên đồng ý sẽ thông báo cho các bên Campuchia và sẽ làm việc với họ, cố gắng sớm nhất dựa theo phương thức 6+2+2+2+1 thành lập Hội đồng Tối cao và [Hội đồng này] sẽ làm việc căn cứ theo nguyên tắc hiệp thương nhất trí.

Về vấn đề bình thường hóa quan hệ Trung Quốc-Việt Nam, Biên bản chỉ ra: Hai bên đã trao đổi ý kiến về vấn đề sớm khôi phục mối quan hệ hai đảng, hai nước, đồng ý cùng với việc giải quyết chính trị vấn đề Campuchia một cách toàn diện, công bằng và hợp lý, sẽ từng bước cải thiện quan hệ hai đảng, hai nước, tiến tới thực hiện bình thường hóa. Trong đó hai chữ “hai đảng” được thêm vào là căn cứ theo kiến nghị của Phạm Văn Đồng.

Hai bên còn trao đổi ý kiến về các biện pháp cụ thể để từng bước cải thiện quan hệ, nội dung gồm có: 1) Hai bên áp dụng biện pháp giảm lực lượng quân đội ở biên giới, tránh tất cả các hoạt động đối địch; 2) Đình chỉ mọi tuyên truyền đối địch với đối phương; 3) Tăng cường sự đi lại của dân chúng; 4) Khôi phục trật tự bình thường trong buôn bán ở vùng biên giới [biên mậu]; 5) Lãnh đạo cấp cao hai nước tiến hành tiếp xúc và thăm lẫn nhau.

Bắt đầu tiến trình bình thường hóa quan hệ

Hai giờ rưỡi chiều, hai bên Trung Quốc-Việt Nam làm lễ ký kết [Biên bản Hội đàm] tại tòa nhà chính số 1. Phía Trung Quốc đề nghị để Giang Trạch Dân, Lý Bằng và Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười thay mặt đảng và chính phủ nước mình ký kết. Phía Việt Nam đồng ý.

Ngay tại lễ ký kết, Giang Trạch Dân dẫn câu thơ thất luật của Lỗ Tấn [3] để tặng các đồng chí Việt Nam: “Độ tận kiếp ba huynh đệ tại, tương phùng nhất tiếu mẫn ân cừu” [tạm dịch: Qua kiếp nạn, anh em còn đó. Gặp nhau cười, hết sạch ơn thù]. Hội trường vang lên tiếng vỗ tay.

Tối hôm ấy, Nguyễn Văn Linh cũng xúc động viết 4 câu thơ [4]: “Huynh đệ chi giao số đại truyền, oán hận khoảnh khắc hóa vân yên, tái tương phùng thời tiếu nhan khai, thiên tải tình nghị hựu trùng kiến.” [dịch ý:  Tình anh em truyền bao đời, trong khoảnh khắc mọi oán hận tan thành mây khói, khi gặp nhau nở nụ cười, xây đắp lại tình hữu nghị muôn đời].

Trong tháng đó, bốn bên Campuchia gặp nhau tại Jakarta [Indonesia], thành lập Hội đồng Tối cao toàn quốc Campuchia, tuyên bố các bên Campuchia đều tiếp thụ các văn kiện do 5 nước thường trực Hội đồng Bảo an LHQ thông qua và dùng các văn kiện đó làm cơ sở để giải quyết chính trị vấn đề Campuchia.

Ngày 29/6/1991, Đại hội lần thứ VII Đảng CSVN bế mạc, Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư, Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng làm Cố vấn. Tinh thần cơ bản chung của Đại hội là: Việt Nam ở vào giai đoạn đầu [sơ cấp]  của CNXH, phát triển sức sản xuất là nhiệm vụ trung tâm, đồng thời tiếp tục chấp hành đường lối cải cách đổi mới mở cửa do Đại hội VI đề ra, chủ trương hợp tác hữu nghị với các nước.

Buổi chiều ngày thứ hai sau khi Đại hội bế mạc, Lý Bằng hội kiến đại biểu đặc biệt của Trung ương ĐCSVN Lê Đức Anh và Hồng Hà. Hai bên đồng ý tổ chức sớm nhất cuộc gặp gỡ cấp cao Trung Quốc-Việt Nam.

Ngày 5/11, tân Tổng Bí thư TƯ ĐCSVN Đỗ Mười và tân Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao đảng và chính phủ Việt Nam chính thức thăm Trung Quốc.

Hai nước ra công báo chung, tuyên bố sẽ phát triển mối quan hệ hữu nghị láng giềng trên cơ sở 5 nguyên tắc chung sống hòa bình, và dựa trên cơ sở 4 nguyên tắc về mối quan hệ đảng “Độc lập tự chủ, hoàn toàn bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp công việc nội bộ của nhau” khôi phục mối quan hệ bình thường giữa hai đảng Trung Quốc-Việt Nam..

Giang Trạch Dân phát biểu: Sau khi mối quan hệ giữa hai nước trải qua một đoạn đường quanh co, các nhà lãnh đạo hai nước Trung Quốc-Việt Nam hôm nay có thể ngồi lại cùng nhau tiến hành cuộc gặp cấp cao là việc có ý nghĩa quan trọng. Ông nói, đây là một lần gặp gỡ kết thúc quá khứ, mở ra tương lai, đánh dấu sự bình thường hóa mối quan hệ giữa hai nước.

 

Ghi chú của người dịch:

* Nguyên văn đầu đề là: Sự thật về cuộc gặp nội bộ Trung Quốc-Việt Nam tại Thành Đô.    Bài đăng trên tuần san Trung Quốc Tân Văn ngày 1/8/2015. Ngô Hưng Đường吴兴唐từ 1960 công tác lần lượt tại Vụ Một thuộc Ban Liên lạc đối ngoại TƯ ĐCSTQ, Viện Nghiên cứu Liên Xô-Đông Âu, Đại sứ quán TQ tại CHLB Đức, từng làm Trưởng phòng Nghiên cứu BLLĐN, Cục trưởng Cục Thông tin và người phát ngôn của BLLĐN. Sau 1993 là Tổng Thư ký Hội Giao lưu quốc tế TQ. Hiện là giáo sư thỉnh giảng của Học viện Quan hệ quốc tế ĐH Nhân dân Bắc Kinh, Cố vấn Hội Phong trào cộng sản quốc tế TQ. Từng viết hơn 200 bài báo.

[1] Lý Gia Trung 李家忠 (1936-), biết tiếng Pháp, tiếng Việt, từng có 40 năm tiếp xúc với Việt Nam, 18 năm làm việc ở VN, làm Bí thư thứ hai, Tham tán chính trị, 12/1995-7/2000 là Đại sứ TQ tại VN, từng viết nhiều bài báo và sách về VN, Hồ Chí Minh.

[2] Theo Lý Gia Trung (xem http://nghiencuuquocte.org/2014/11/07/noi-tinh-cuoc-gap-lanh-dao-trung-viet-tai-thanh-do/) : Phía TQ đưa phương án SNC gồm Sihanouk là Chủ tịch, ngoài ra phái Heng Samrin có 6 người, 3 phái chống đối (Khmer Đỏ, Ranaridh, Son Sann) mỗi phái 2. Nguyễn Văn Linh tán thành. Đỗ Mười nói phương án này khó được phái Heng Samrin tiếp thu. Phạm Văn Đồng nói phương án của TQ không công bằng, không hợp lý. Nhưng cuối cùng phía VN vẫn chấp nhận.  Qua hai bài của Lý Gia Trung và Ngô Hưng Đường, có thể thấy trong hội đàm Thành Đô, phía VN tập trung vào vấn đề khôi phục quan hệ TQ-VN, còn TQ tập trung vào việc giải quyết vấn đề CPC.

[3] Giang Trạch Dân lại nói câu thơ này là của nhà thơ Giang Vĩnh (1681-1762), người cùng quê với GTD. Có lẽ Lỗ Tấn đã mượn câu thơ này để đưa vào bài thơ “Đề Tam Nghĩa tháp” ông làm năm 1933 khi đến thăm tháp Tam Nghĩa. Phó Viện trưởng Viện Khoa học xã hội Quảng Tây Cố Tiểu Tùng cũng nói như GTD.

[4] Chưa rõ ông Linh viết mấy câu thơ này bằng chữ Hán hay chữ Quốc ngữ rồi được dịch ra tiếng TQ.

Nguồn:

吴兴唐: 中越成都内部会晤真相

《中国新闻周刊》2015-08-01

Nguyễn Hải Hoành dịch và ghi chú

( Nguồn: VHNA)

CHUYỆN BUỒN VUI VỀ CÁC “ĐỒNG CHÍ BỊ LỘ”

Nhà văn Nguyễn Khắc Phê

 

Cái nhan đề này có “nguồn gốc” từ một giai thoại: Tại một cuộc họp nào đó – sau khi nghe báo cáo vụ án ông X. bà Y. nào đó bấy lâu vẫn được ngồi ghế long trọng, được bầu “4 tốt” vừa lộ mặt là một tên tham nhũng không gớm tay – một đảng viên lão thành mở đầu ý kiến của mình rằng: “Thưa các đồng chí chưa bị lộ…”

Tức thì, cách nói độc đáo này khiến người dự họp cười tung tóe; nhưng niềm vui không trọn vì đồng chí lão thành đã rơm rớm nước mắt: “Phải nói như thế là đau lắm! Vì chứng tỏ là chúng ta đang dung dưỡng, che giấu những kẻ sâu mọt…”
Đồng chí lão thành này không nói ẩu. Chúng ta đều đã biết nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang từng nói là có cả “một bầy sâu”!…
Cứ coi như đó là chuyện “quá khứ”; đáng buồn là trong những ngày này, sau rất nhiều những hội nghị long trọng được “đánh giá cao” với nhiều cờ hoa và danh hiệu cao quý, “bầy sâu” ấy, “các đồng chí chưa bị lộ” ấy bỗng kéo nhau xuất hiện liên tục khiến cả xã hội ngao ngán nhưng cũng …buồn cười!
Sẽ có người hỏi: Sao ông đã “buồn” còn “cười” được. Buồn thì rõ quá rồi, vì nhiều đồng chí của chúng ta được cất nhắc, bố trí “đúng quy trình” bỗng nhiên hư đốn, bị khiển trách và không chừng phải tù tội. Cuộc chiến đấu thì còn dài, rất dài lâu, có khi cả thế kỷ nữa chưa đến đích mà quân số hao hụt thế thì nguy. Tuy vậy, vẫn phải cười … vì “ngộ quá” phải không các bạn. Ai đời sếp làm cơ quan “môi trường đô thị” mà lại rước chất thải độc hại về trang trại của mình! Hải quan, biên phòng nơi rừng cấm lại “thoải mái” mở “cửa” cho lâm tặc chất gỗ quý cạnh nhà! v…v… Rồi nhà máy này, xí nghiệp kia lỗ tiền tỷ hoặc tốn tiền tỷ đầu tư vẫn đắp chiếu, nhưng không ai hề hấn gì thì quả là tự do thoải mái nhất thế giới!
Xin miễn nêu tên cụ thể vì tất cả đang bày ra trên các mặt báo, các kênh truyền hình, phát thanh của Đảng và Nhà nước (chứ không phải của “thế lực thù địch” nào cả!). Mặt khác, họ chưa bị kết án, tức chưa phải tội nhân; và biết đâu, bằng một “phép mầu” nào đó, bằng một cách “chạy” nào đó, họ sẽ thoát tội, được “hạ cánh an toàn” hoặc thậm chí được “cơ cấu” vào một chỗ ngồi béo bở nào đó, rồi lại được trúng cử với số phiếu rất cao như họ đã làm từ trước. Mặt khác, nhắc tên bọn họ rồi xếp vào danh sách “bầy sâu” đang tàn phá đất nước, người viết bỗng có chút áy náy khi nghĩ đến con cháu, anh em, họ hàng của họ hẳn sẽ xấu hổ, thất vọng mỗi khi mở tờ báo, bật ti vi thấy cái… mặt thân thiết bấy lâu mình ngưỡng mộ hóa ra… Nói điều này cũng là một cách nhắc nhở những kẻ sắp biến thành “sâu”, hãy dừng lại khi chưa quá muộn. Có thể họ không sợ bị tù (vì vào tù vẫn có “đệ tử” vòng ngoài lo lót để được chăm sóc tử tế, rồi sẽ mau chóng được giảm án về với vợ con) và có thể họ cũng không biết xấu hổ; chính vì thế, nhắc họ nghĩ đến danh dự những người thân sẽ như là một biện pháp hỗ trợ có tính nhân văn, ngăn ngừa tình trạng “người biến thành sâu”!

(Có lẽ nên “mở ngoặc” nói thêm: Tất nhiên, “các đồng chí bị lộ” nói trên không bao gồm tên đạo chích chuyên mở khóa phòng các vị lãnh đạo ở Quảng Bình, Hà Tĩnh vừa mới bị xử 8 năm tù. Nhắc chuyện “ngoại đề” này vì chẳng hiểu hắn đánh hơi giỏi thế nào mà hai lần “ghé thăm” phòng đồng chí Bí thư một tỉnh đang rất nổi tiếng để rồi phải nhảy lầu khi bị lộ nên mới bị bắt!)
Tên trộm bị lộ thì chỉ vợ con hắn buồn; còn các “đồng chí bị lộ” hơi bị… nhiều trong những ngày vừa qua thì rõ ràng là cả “tổ chức”, cả hệ thống chính trị buồn phiền phải xem xét, đánh giá lại mọi thứ. Dân gian chẳng đã có câu “rút dây động rừng” là gì! Đâu chỉ mình anh ta bị “bêu dương” mà bao nhiêu mối quan hệ, bao nhiêu là ban bệ, hội đoàn đều phải được soi xét tận nơi. Chẳng phải là Ban Thanh tra, Ban Kiểm tra cấp nhỏ đến cấp lớn, nghe tin “các đồng chí bị lộ” khắp nơi, đã phải lập đoàn nhỏ đoàn to khẩn cấp kéo đi xác minh đó sao?…

Tuy vậy, về sự kiện các “đồng chí bị lộ” , không ít người lại cho là chuyện vui vì nó chứng tỏ bộ máy khổng lồ với rất nhiều lần tuyên bố quyết liệt chống tham nhũng, lần này sẽ ra tay thực sự. Và như vậy, bộ máy của Đảng và Nhà nước sẽ trong sạch như mong ước của toàn dân. Ở đây, lại xin dẫn một giai thoại, nên coi như chuyện vui. Khi hay tin một “đồng chí bị lộ” bị khai trừ, bị đuổi khỏi cơ quan, các “phó thường dân” lập tức lên tiếng: “Ê! Không được! Nhân dân chúng tôi trong sạch, đâu phải là hố rác để chứa chấp những thứ đó!” Chỉ là giai thoại thôi; mà “hết quan hoàn dân” – lộ hay không cũng thế. Lòng dân luôn khoan dung và quần chúng biết trọng danh dự, thì cũng đáng để vui cười chứ? Nhất là giữa cuộc sống ăn gì cũng lo bị nhiễm độc, ra đường thì lo đụng xe, đến công sở thì sợ gặp phải … sâu – tức là “các đồng chí chưa bị lộ” đó!

( Nguồn: trannhuong.com)

Đề án ngoại ngữ gần 9.400 tỷ sau 8 năm làm được những gì

QTXM: BỘ GIÁO DỤC HÃY TRẢ LỜI CÂU HỎI ĐỀ ÁN 9.400 TỶ  DẠY NGOẠI NGỮ ẤY KẾT QUẢ TỚI ĐÂU? HỌC SINH TỪ LỚP 3 ĐẾN LỚP 12 SAU KHI HỌC MẤY % ẸM NÓI Và\À VIẾT THẠO TIẾNG ANH? SAU ĐÓ MỚI NÓI TỚI DẠY TIẾNG TRUNG, TIẾNG NGA. BGIAOS DỤC LÀ DẠY TRI THỨC, KỸ NĂNG SỐNG ĐỂ CÁC EM LỚN LÊN PHÙ HỢP VỚI  THẾ GIỚI THỜI HỘI NHẬP. BỘ GIÁO DỤC KHÔNG PHẢI LÀ BỘ NGOẠI GIAO MÀ ĐI THEO NƯỚC NÀO THÌ DAY TIẾNG NƯỚC ĐÓ!

Đi chặng đường dài tốn hàng nghìn tỷ đồng, nhưng khi phụ huynh hỏi “Con tôi học ngoại ngữ vậy có dùng được không?”, nhiều cán bộ quản lý phải né tránh.

Đề án Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020 (gọi tắt là Đề án) được phê duyệt năm 2008. Mục tiêu là đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong các trường, để “đến năm 2020, đa số thanh niên Việt Nam tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng và đại học có đủ năng lực ngoại ngữ sử dụng độc lập, tự tin giao tiếp, học tập, làm việc trong môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ, đa văn hóa, biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam”.

Đề án có tổng kinh phí gần 9.400 tỷ đồng, trong đó giai đoạn 2008-2010 là 1.000 tỷ đồng, giai đoạn 2011-2015 gần 4.400 tỷ đồng, giai đoạn 2016-2020 khoảng 4.000 tỷ đồng. Nhưng sau 8 năm thực hiện, đến nay Đề án làm được những gì?

de-an-ngoai-ngu-gan-9400-ty-sau-8-nam-lam-duoc-nhung-gi

Nhiều địa phương còn thiếu trầm trọng giáo viên dạy tiếng Anh chứ chưa nói đến giáo viên bản ngữ. Ảnh: Ngọc Thành.

Mục tiêu lớn nhưng đích đến còn xa vời

Trọng tâm của Đề án là giai đoạn 2016-2020 với nhiệm vụ triển khai chương trình ngoại ngữ 10 năm trên cả nước, từ lớp 3 đến lớp 12; tăng cường tiếng Anh trong tất cả trường nghề, cao đẳng và đại học. Đến nay, đề án tiêu tốn khoản tiền khá lớn nhưng chưa đạt được kết quả mong muốn.

Năm 2016, cả nước có khoảng 1,6 triệu học sinh lớp 3, 4, 5 trong tổng số gần 7,8 triệu học sinh được học tiếng Anh 4 tiết/tuần, chiếm khoảng 20%. Số còn lại tiếp cận với tiếng Anh với thời lượng 2 tiết/tuần. So với mục tiêu 100% học sinh lớp 3 được học chương trình tiếng Anh 10 năm thì đích đến vẫn còn xa. Đội ngũ giáo viên thiếu trầm trọng là khó khăn lớn nhất, cấp THCS hiện chỉ có hơn 33% đạt chuẩn và cấp THPT hơn 26%.

Số giáo viên đạt chuẩn của nhiều địa phương còn thấp hơn nhiều. Như Cao Bằng hiện chỉ có 86 giáo viên tiếng Anh trong khi có 275 trường. Nhiều tỉnh khác rơi vào hoàn cảnh tương tự, như Hà Giang, Bắc Kạn, Lào Cai, Sơn La, Hòa Bình, Hà Tĩnh, Kon Tum, Khánh Hòa…

Đánh giá hiệu quả giai đoạn vừa qua, Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Phùng Xuân Nhạ cho rằng chất lượng đề án còn thấp, đặc biệt là tiếng Anh, thể hiện rõ trong kỳ thi THPT quốc gia. Giai đoạn mới cần thực hiện việc dạy và học cho chuẩn hơn. “Dạy và học ngoại ngữ mà chưa chuẩn thì thà không dạy còn hơn”, ông nói.

Đội ngũ giáo viên “chuẩn mà chưa chuẩn”

Nhìn lại chặng đường 8 năm triển khai, nhiều tỉnh thành có số giáo viên “đạt chuẩn” nhưng năng lực thực tế ra sao thì lại là câu hỏi lớn. Tại hội nghị triển khai đề án giai đoạn 2016-2020 do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức ngày 17/9, trong kế hoạch giai đoạn mới không có dòng nào đề cập đến những thành quả đạt được cũng như hạn chế của những năm 2008-2015.

Lãnh đạo nhiều sở giáo dục thẳng thắn chỉ ra bất cập trong công tác bồi dưỡng, tập huấn giáo viên để đạt chuẩn. Ông Nguyễn Minh Trí, Phó giám đốc Sở Giáo dục Quảng Ngãi cho biết, tỉnh này hiện có 80% giáo viên tiếng Anh đạt chuẩn, nhưng qua khảo sát năng lực chuyên môn thì thấy còn rất yếu ở tất cả kỹ năng. Việc đạt chuẩn có phản ánh đúng thực chất hay không là câu hỏi lớn nên các cấp quản lý thường nói với nhau “Đạt chuẩn nhưng chưa chuẩn”.

“Vậy nên khi phụ huynh hỏi Con tôi học ngoại ngữ vậy có dùng được không, tưởng dễ mà thật khó trả lời và rất nhiều cán bộ đào tạo phải né tránh”, ông kể.

de-an-ngoai-ngu-gan-9400-ty-sau-8-nam-lam-duoc-nhung-gi-1

Lãnh đạo nhiều Sở Giáo dục cho rằng điều kiện vùng miền khác nhau nên khi triển khai đề án không thể “dàn hàng ngang mà tiến”. Ảnh: Ngọc Thành.

Ông Trí đánh giá, trong việc bồi dưỡng giáo viên các đơn vị chưa thật sự chủ động vào cuộc. Đa số giáo viên, đơn vị trường phổ thông và cả phòng giáo dục đều có tâm lý ỷ lại, trông chờ vào lớp bồi dưỡng do Sở và Bộ tổ chức. Đề án đặt mục tiêu đến năm 2025 toàn bộ giáo viên đạt chuẩn có phù hợp với thực tế và khoa học hay không là vấn đề phải bàn kỹ.

TS Đỗ Tuấn Minh, Hiệu trưởng Đại học Ngoại ngữ (Đại học Quốc gia Hà Nội), cho rằng việc bồi dưỡng giáo viên ngoại ngữ được ưu tiên số 1, nhưng phải quanh năm, không thể chỉ diễn ra vào dịp hè và mang tính chất thời vụ. Hiện nay, việc bồi dưỡng còn ngắn, chỉ được tổ chức một lần cho đến khi giáo viên đạt chuẩn là kết thúc. Đôi khi, các cơ sở chỉ làm cho xong mà thiếu đi những hoạt động sau bồi dưỡng để giáo viên áp dụng.

Giám đốc Sở Giáo dục Hải Phòng Vũ Văn Trà đánh giá, việc học tiếng Anh hiện nay vẫn loay hoay ở hai kỹ năng là đọc, viết và chủ yếu phục vụ cho mục đích thi chứ chưa thực sự ứng dụng cao trong thực tiễn. Nhiều người bằng nọ, chứng chỉ kia nhưng đi dự hội thảo, tiếp xúc với người nước ngoài không dám nói. Việc đánh giá năng lực học sinh cũng mới dừng lại ở kỳ thi THPT quốc gia. Theo ông Trà, dạy tiếng Anh phải theo phương châm “Dạy đến đâu, dùng được đến đấy”.

Hiện, chưa có khảo sát cụ thể về năng lực người học, song thạc sĩ Nguyễn Thị Kim Phượng, Phó trưởng khoa Ngoại ngữ, Đại học Tây Nguyên cho biết, ngoài lớp học thì môi trường thực hành ngoại ngữ của sinh viên ở đây hầu như không có. Trong số sinh viên còn nợ học phần tốt nghiệp thì tới 79% không đạt chuẩn đầu ra về ngoại ngữ. “Con số trên nói được rất nhiều về năng lực người học ở cấp học hiện tại”, bà nói.

Theo bà Phượng, hiện khu vực Tây Nguyên rất thiếu giáo viên chuyên ngữ, chuyên ngành. Gần 40 năm qua, trường mới có một giảng viên ngoại ngữ là tình nguyện viên nước ngoài và mới kết thúc chương trình làm việc 9 tháng tại trường. Chưa kể, chương trình đào tạo giáo viên phổ thông đều chưa được xây dựng và triển khai. Tiếng Anh vẫn là môn tự chọn trong thi tốt nghiệp dẫn đến tỷ lệ học sinh chọn thi rất thấp.

Đề án giai đoạn 2016-2020 đưa lộ trình đạt chuẩn đối với giáo viên tiếng Anh các cấp học phổ thông quy định theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam. Năm 2016 là 45% giáo viên tiểu học, 55% giáo viên trung học cơ sở, 65% giáo viên THPT. Từ năm 2017-2019, tỷ lệ đạt chuẩn mỗi năm tăng thêm 10% đối với giáo viên các bậc học. Mục tiêu năm 2020 đạt chuẩn 100% giáo viên các bậc học. Đối với giảng viên đại học, cao đẳng, đề án đưa ra lộ trình năm 2018 phải đạt chuẩn 100%.

Đặc biệt, trong lộ trình triển khai dạy và học ngoại ngữ mới trong các cơ sở giáo dục phổ thông, Bộ Giáo dục đưa ra mục tiêu thí điểm dạy tiếng Nga, tiếng Trung, tiếng Nhật như ngoại ngữ 1 và tiếng Pháp, tiếng Hàn, tiếng Đức như ngoại ngữ 2. Nhiều ý kiến băn khoăn “Dạy tiếng Anh còn chưa tốt thì đưa thêm các ngoại ngữ khác vào chương trình liệu có ổn?”.

Lãnh đạo địa phương cho rằng, điều kiện mỗi vùng miền khác nhau, nếu cứ “dàn hàng ngang mà tiến” như trước thì đề án sẽ gặp khó khăn và đề xuất Bộ nên định hướng dạy và học ngoại ngữ phù hợp với điều kiện vùng miền, mở rộng khung, chuẩn quy định để tăng sự lựa chọn cho các tỉnh thành.

6 nhiệm vụ của Đề án dạy và học ngoại ngữ giai đoạn 2016-2020:

– Nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ theo chương trình 7 năm hiện hành (từ lớp 6 đến hết lớp 12); triển khai chương trình tiếng Anh mới của giáo dục phổ thông, đến năm học 2020-2021, 100% học sinh lớp 3 tiểu học, 70% học sinh 6 THCS và 60% học sinh lớp 10 THPT được học chương trình mới (10 năm). Đến năm 2025, phổ cập tiếng Anh trong trường phổ thông các cấp.

– Tăng cường môn ngoại ngữ đối với giáo dục nghề nghiệp. Đến năm 2020, 60% học sinh trường trung cấp, 100% sinh viên trường cao đẳng và tới năm 2025 có 90% học sinh trường trung cấp đạt trình độ bậc 3 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc Việt Nam và có thể sử dụng tiếng Anh trong việc làm.

– Nâng cao ngoại ngữ trường chuyên và không chuyên. Đến năm 2018-2019, 100% các đại học triển khai đào tạo chương trình tiếng Anh tăng cường; 100% sinh viên chuyên ngữ tốt nghiệp đạt chuẩn (bậc 5 theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam). Đến năm 2020 70% sinh viên không chuyên ngữ và đến năm 2025, 100% sinh viên không chuyên ngữ đạt chuẩn đầu ra khi tốt nghiệp (bậc 3).

– Đổi mới dạy, học ngoại ngữ trong các cơ sở giáo dục thường xuyên, đến năm 2020, 50% người học đạt chuẩn đầu ra; đến năm 2025, 100% người học đạt chuẩn đầu ra theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam.

– Nâng cao ngoại ngữ cho nguồn nhân lực, đội ngũ cán bộ, viên chức trong các cơ quan nhà nước. Phấn đấu vào năm 2020: 40% cán bộ, công chức, viên chức nói chung có trình độ ngoại ngữ bậc 2 và 20% có trình độ bậc 3. Đến năm 2025, đạt tỷ lệ tương ứng là 60% và 40% .

– Tiếp tục dạy và học các ngoại ngữ khác ngoài tiếng Anh như ngoại ngữ 1 và triển khai thí điểm việc dạy và học ngoại ngữ 2 trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Hoàng Phương

(Nguồn: VNXSPRESS)

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.09.2016

NHỮNG KÝ ỨC KHÔNG THỂ NÀO QUÊN

NHỮNG KÝ ỨC KHÔNG THỂ NÀO QUÊN

ANH NGỌC
Nhận được lời mời của Ban biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội viết bài cho dịp kỉ niệm 60 năm ngày thành lập Tạp chí, tôi nghĩ khá lung.

Nhà thơ Anh Ngọc

Tôi đã sống và làm việc dưới mái nhà số 4 Lý Nam Đế từ tháng 9 năm 1979 đến tận ngày về hưu, tháng 3 năm 2008, tính chi li là hai mươi tám năm rưỡi, chiếm trọn tuổi trung niên và tuổi “cận già”… Có biết bao nhiêu chuyện buồn vui, bao nhiêu kỉ niệm khó quên… nhưng biết rằng trong một bài báo nhỏ, khó lòng tham lam, nên tôi thử chọn để nhớ lại mấy kỉ niệm thuộc loại trung tính, tức là nửa buồn nửa vui, hoặc trong vui có buồn, trong buồn có vui…

Kỉ niệm đầu tiên bắt đầu vào mùa hè năm 1967, mười hai năm trước khi tôi gia nhập gia đình nhà số 4. Còn nhớ, lúc đang dạy tại một trường trung cấp ở Thanh Hóa, nhân dự trại sáng tác văn học của tỉnh, tôi xin đi thực tế ở trận địa Hàm Rồng mấy tuần để lấy tư liệu sáng tác. Câu chuyện này tôi đã kể mấy lần, xin không nói lại nữa, chỉ xin kể lại đoạn cuối như vầy: Với tình yêu và sự cảm phục các chiến sĩ pháo cao xạ bảo vệ cầu Hàm Rồng đóng trận địa trên cao điểm 54, tức đồi Ba Cây Thông, ở ngay bờ nam cầu Hàm Rồng, tôi đã sáng tác bài thơ nhan đề là Cao điểm. Cả bài thơ đầy khí thế anh hùng và lạc quan, nhưng từ quan sát trực giác và nâng lên khái quát về cái lõi của hiện tượng, tôi đã kết bài thơ bằng bốn câu:
Vậy mà sau những giờ chiến đấu
Trận địa xa nhìn như bãi đất
vỡ hoang
Những nòng pháo ghếch nghiêng
như cán cuốc
Đang dở buổi gieo trồng trên
cao điểm của thời gian

Các bạn đồng nghiệp ở Thanh Hóa đã in bài này vào tờ tập san văn nghệ của tỉnh, còn in trong cả một cuốn sách nhỏ chọn lọc toàn thơ về Hàm Rồng và lấy tên bài thơ của tôi đặt nhan đề cho cuốn sách. Chưa kịp vui thì hay tin “trên tỉnh” phê phán bốn câu thơ trên là “hạ thấp, tầm thường hóa hình ảnh oai hùng của Hàm Rồng” và yêu cầu loại bỏ bài thơ thì mới cho hai ấn phẩm trên phát hành! Lúc ấy tôi đã ra Bắc và nhận được tin buồn của anh em nhắn ra, cũng ngán ngẩm. Nhưng may thay, cùng lúc gửi cho Thanh Hóa, tôi cũng gửi bài này cho Tạp chí Văn nghệ Quân đội và gần như cùng lúc đó, tôi nhận được thư nhà thơ Xuân Sách báo tin bài thơ sẽ in trên tạp chí và đừng gửi chỗ khác nữa. Còn hơn cả phép màu, vài hôm sau các bạn Thanh Hóa tin ra là nhờ Văn nghệ Quân đội, Tạp chí của lực lượng vũ trang nhân dân, Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam đã in trọn vẹn bài thơ này nên các “bố” Thanh Hóa đành gật cho phát hành…

Kỉ niệm thứ hai liên quan đến nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh và người nhạc sĩ tôi vô cùng hâm mộ: Trịnh Công Sơn. Còn nhớ, một hôm anh Cảnh gọi điện cho tôi, bảo đang ngồi tổng duyệt một chương trình biểu diễn tập thể ở sân Mỹ Đình (anh Cảnh vốn là chuyên gia viết kịch bản và lời thuyết minh cho các sự kiện kiểu này). Anh Cảnh nói đang có người phàn nàn với mình rằng tại sao trong đội ngũ văn nghệ sĩ quân đội lại có tay ca ngợi Trịnh Công Sơn thế không biết. Tôi liền hỏi: “Thế anh trả lời ông ta ra sao?”. Anh Cảnh đáp: “Tớ nói với ông ta là… là… là… “tôi cũng y như thế đấy””… Và phá lên cười.  Tôi cũng không nhịn được, ôm điện thoại mà cười. Sống ở đời mà gặp được những sự đồng thanh, đồng khí như thế há lại chẳng sướng lắm sao! Giờ anh Phạm Ngọc Cảnh đã về giời rồi. Cầu chúc anh linh của anh thanh thản phiêu du trên cõi vĩnh hằng và tiếp tục cười trên đó!

Ngay từ cuộc họp đầu tiên vào hàng “màn chào hỏi” ở Văn nghệ Quân đội, trong khí thế “tiền đổi mới” khá nóng bỏng lúc ấy, tôi đã phát biểu khá táo tợn về sự phải thay đổi trong cách viết, hứng lên tôi còn đọc cả một đoạn trích trong trường ca Điệp khúc vô danh mình đang viết, đoạn về cải cách ruộng đất. Sau khi tôi nói, có nhà văn không đồng tình nhưng có nhà văn tỏ ra quý tôi từ đấy. Một hôm, nhà văn Nguyễn Minh Châu vào phòng tôi chơi và kể rằng có người lên tiếng về bài thơ Thơ mùa xuân đọc lại giữa mùa thu của tôi, cho rằng là tôi sao lại viết lách toàn giọng buồn bã, tiêu cực thế nhỉ. Anh Châu kể chính anh ấy đã phải thanh minh cho tôi bằng cách đưa cho mọi người xem dòng chú thích ở dưới bài thơ – “QYV 103 ngày…”, đoạn bảo: “Nó làm khi nằm viện thì buồn là đương nhiên rồi!”. Lí lẽ thuyết phục thế ai bắt bẻ được! Không có anh, chắc bài thơ của tôi đã bị trên gác lại. Giờ anh Châu cũng đã về giời lâu lắm rồi! Cầu chúc anh linh anh thanh thản phiêu du trên cõi vĩnh hằng!

Lại nhớ vào khoảng cuối năm 2006, nước ta có tổ chức hội nghị thượng đỉnh APEC. Nhà văn Khuất Quang Thụy, khi đó là Phó Tổng biên tập, đặt hàng tôi viết một bài thuộc loại cao đàm khoát luận về công cuộc hội nhập của nước ta. Tôi nhận lời và viết ngay. Thế là bài già kí, non tùy bút có nhan đề Trong đại gia đình nhân loại ra đời, đăng số Tết của tạp chí phát hành đầu năm 2007. Cả cơ quan chẳng thấy ai nói gì, cả khen lẫn chê. Nhưng chỉ ít lâu sau, một hôm anh Thụy tìm đưa cho tôi cái thư dày cộp của một độc giả có ý kiến không đồng tình về bài viết của tôi. Anh Thụy cười bảo, chính một thủ trưởng Tổng cục Chính trị đưa cái thư này cho anh ấy kèm theo lời nhận xét “Viết thế này thì chết con người ta rồi còn gì” và cụ ấy tịnh không nói gì thêm. Chỉ riêng động tác của thủ trưởng Tổng cục Chính trị trao thư cho thủ trưởng Tạp chí và thủ trưởng Tạp chí lại trao thư cho tôi để đọc cho vui đã là một thái độ thông cảm không lời với tôi rồi… Tôi vô cùng cám ơn về điều đó và về nhà mở thư ra đọc càng cám ơn bội phần, vì nếu ở một cơ quan nào đó, chỉ cần e sợ ý kiến của dư luận, là các đồng chí phụ trách ít ra cũng nhắc nhở hoặc phê bình một người viết như tôi.

Qua một vài kỉ niệm nhỏ liên quan đến những “tai nạn” nghề nghiệp ở trên, thiết nghĩ cũng chẳng cần nói gì thêm để cho bạn đọc hiểu lí do vì sao tôi yêu Tạp chí Văn nghệ Quân đội – “Hội Nhà văn thứ hai” của bao nhiêu nhà văn nước Việt – đến thế nào rồi chứ!

(Nguồn: Tạp chí VNQĐ)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.09.2016

Có một sự thật khác ở Cà Ná

Có một sự thật khác ở Cà Ná

 

Mai Quốc Ấn
Có một sự thật khác đã diễn ra tại Cà Ná, Phước Diêm – nơi dự kiến triển khai dự án thép Hoa Sen Cà Ná.
Văn bản số 981 về việc thông tin tuyên truyền về dự án thép Hoa Sen Cà Ná của Sở Thông tin truyền thông Ninh Thuận ra ngày 15.9.2016. Đây là văn bản nhằm “để góp phần tạo sự đồng thuận của nhân dân địa phương đối với việc triển khai dự án Khu liên hợp thép Hoa Sen Cà Ná trong thời gian tới”.
Tuy nhiên, có một sự thật khác đã diễn ra tại Cà Ná, Phước Diêm- nơi dự kiến triển khai dự án thép Hoa Sen Cà Ná.
Dân phản đối thép, chính quyền làm ngơ
Phóng viên đã đến gặp người dân tại hai xã Cà Ná, Phước Diêm thuộc huyện Thuận Nam, Ninh Thuận để xem họ có đồng thuận với dự án thép Hoa Sen Cà Ná hay không. Đáp án là có, nhưng…
h1
Chợ cá Cà Ná vẫn còn hoạt động nhưng vẫn còn đó nỗi lo về dự án thép. Ảnh: báo DV
“Chỉ có những người ăn không ngồi rồi mới mong dự án thép để có tiền đền bù đất. Đất ở đây từ khi có dự án làm muối thì đâu trồng được cây cối nên đâu làm được gì. Những người đó sung sướng thì chúng tôi đau khổ. Chúng tôi sống bằng nghề biển nên mong các ngành các cấp đừng cho tập đoàn Hoa Sen về làm thép ở đây!”- Bà Nguyễn Thị Răng, một phụ nữ sống tại thôn Lạc Nghiệp, xã Cà Ná cho biết.
Người dân nơi đây cũng nói rằng cha mẹ họ đã dạy con qua nhiều đời nay. “Có cá mới sống, không cá là chết!”
Bà Phạm Thị Mùi ở thôn Lạc Tân 2, xã Phước Diêm nói bà xem các tác hại của Formosa và rất lo lắng khi nghe tin tập đoàn Hoa Sen làm thép. Bà nói: “Chúng tôi chọn cá, chọn nước chứ không chọn thép. Dân chúng tôi không muốn thép! Chúng tôi cầu mong chính phủ để cho chúng tôi có cá để đánh bắt, để trả nợ ngân hàng (vay đóng tàu-PV), cho con cháu chúng tôi được sống yên ổn.”
Nhiều người dân Phước Diêm, Cà Ná cho biết việc phản đối làm dự án thép Cà Ná là việc chắn chắn họ sẽ làm. Vào năm 2008, khi dự án thép Vinashin- Lion (cũng dự định đặt tại Phước Diêm) thì người dân cũng đã rầm rộ phản đối.
Và có một điều rất kỳ lạ là người dân hai xã Cà Ná, Phước Diêm- nơi mà cả tập đoàn Hoa Sen và tỉnh Ninh Thuận đang dự kiến làm dự án thép lại chẳng nhận được thông tin gì. Khoảng 30 người dân mà phóng viên gặp đều khẳng định chính quyền xã không thông báo gì cho họ dù dân hai xã đã ba lần kéo lên trụ sở để thắc mắc. Dân muốn lên huyện Thuận Nam hay vào Phan Rang để hỏi UBND tỉnh nhưng xã không cho.
“Cá!”
Ngư dân Nguyễn Dắn, ngư dân lâu năm tại địa phương nói: “Tôi mong chính quyền Ninh Thuận và Chính phủ phải cứng rắn với dự án thép. Nơi đây chỉ có nắng và gió để làm muối, đến mùa khô hạn thì nước không đủ cho bà con dùng và cứu hạn thì tại sao lại ưu tiên nước cho dự án thép? Tôi phản đối dự án thép vì không chỉ cho bản thân mình, cho bà con Cà Ná, Phước Diêm mà còn cho đời con, đời cháu chúng tôi!”
Đại diện gia đình có truyền thống làm nước mắm 50 năm, ông Lê Lâm dẫn phóng viên đến xem xưởng nước mắm đang đóng cửa của mình. Xưởng phủ một lớp bụi dày, các hầm ủ mắm cạn trơ, máng nhện đóng đầy khắp nơi. “Từ năm 2010 đến nay kiếm cá cơm, cá nục khó hơn rất nhiều, giá cá làm nước mắm tăng cao quá sức chịu đựng của tôi. Nay nếu thêm tập đoàn Hoa Sen về làm thép thì tôi nghĩ chỉ còn có cách ăn muối mà sống.”- ông Lê Lâm nói.
Ông Huỳnh Hùng Dũng, một chủ ghe nhiều đời đi biển thì cho rằng đời sống của người dân nơi đây gắn bó, sinh tồn cùng với biển. Ông Dũng nói chính ông cũng đã nghe về câu chuyện Formosa nên không mong có dự án thép nào xuất hiện tại quê hương mình.
Để kiểm chứng lần nữa, phóng viên đã đến cảng cá Cà Ná khi nơi này đang tấp nập thuyền ghe chuyển cá vào bờ và hỏi rất nhiều người có mặt tại đó cùng một câu: “Vậy cuối cùng bà con chọn cá hay chọn thép?”.
Tất cả đều đáp lớn: “Cá!”
( THeo Dân Việt)

LIỆU TẬP CẬN BÌNH CÓ DÁM CHUYỂN SANG CHẾ ĐỘ TỔNG THỐNG HAY KHÔNG?

Tự Minh


Tập Bình

Từ đầu năm nay có nhiều phân tích về việc ông Tập Cận Bình có giải tán chế độ Ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) và chuyển sang chế độ tổng thống hay không. Các nhà chuyên môn về thể chế trong đảng cũng nói về chế độ tổng thống.

Tuy nhiên, nếu thực hiện chế độ tổng thống thì sẽ đụng chạm đến nền tảng cơ sở của chế độ độc đảng của ĐCSTQ. Trong khi phe cánh của cựu lãnh đạo Giang Trạch Dân vốn ăn bám rất nhiều vào quyền lực của đảng, đã liên tục thể hiện lập trường phản đối việc này.
Tháng 5 năm nay, khi phát biểu tại Trường Đảng Trung ương của ĐCSTQ, nhân vật thứ 3 trong đảng thuộc phe ông Giang Trạch Dân là Thường ủy viên Bộ Chính trị Trương Đức Giang đã có bài phát biểu, trực tiếp phản đối việc tiến hành chế độ tổng thống. Đồng thời, nhân vật cùng phe, đứng thứ 5 trong đảng là Thường ủy viên Lưu Vân Sơn, cũng thắt chặt kiểm soát truyền thông và ngôn luận bàn về chế độ tổng thống, thể hiện thái độ chống lại ông Tập Cận Bình.

Chuyên gia thể chế trong đảng bàn về chế độ tổng thống

Tháng 3 năm nay, trong một buổi hội kiến với phóng viên, giáo sư Học viện Hành chính Quốc gia Uông Ngọc Khải lần đầu tiên bàn về việc Trung Quốc nên thay đổi từ “chế độ chủ tịch quốc gia” sang “chế độ tổng thống”. Vì hiện nay Trung Quốc đang thực thi chế độ độc đảng, hoàn toàn không gần gũi với chế độ tổng thống nên cần phải thay đổi toàn diện chế độ chính trị.
Sau đó vào tháng 7, ông Uông Ngọc Khải lại một lần nữa bàn về chế độ tổng thống. Lần này, thậm chí còn nói rằng: “Trước khi chuyển sang chế độ tổng thống, cần thiết phải kết thúc chế độ ủy ban thường vụ”.
Phát ngôn của ông Uông Ngọc Khải ngay lập tức được báo chí Trung Quốc, Hồng Kông và hải ngoại đăng tải. Xét theo thông lệ ở Trung Quốc, nếu không có sự cho phép của ông Tập Cận Bình thì những phát ngôn của ông Uông Ngọc Khải không thể được truyền thông một cách công khai như vậy. Do đó, có khả năng rất cao ông Tập Cận Bình đã cho phép ông Uông Ngọc khải nói về “chế độ tổng thống”.

Hội nghị Bắc Đới Hà thảo luận về việc phế bỏ chế độ ủy ban thường vụ?

Hội nghị Bắc Đới Hà của các nhân vật lãnh đạo của ĐCSTQ họp mỗi năm một lần vào tháng 7 hoặc 8. Tháng 5 năm nay, trước khi hội nghị diễn ra, tạp chí Asian Week có trụ sở tại Hồng Kông đưa tin, Hội nghị Bắc Đới Hà năm nay sẽ thảo luận 3 vấn đề: (1) Phế bỏ chế độ ủy ban thường vụ, (2) Luật ‘7 lên 8 xuống’ (trong kỳ đại hội đảng, thường ủy viên 67 trở xuống được giữ lại, 68 trở lên sẽ phải thôi nhiệm), (3) nhân sự cho thế hệ kế cận của ĐCSTQ.
Có phân tích cho rằng, nếu ông Tập Cận Bình có thể bố trí đủ nhân sự thân cận sau Hội nghị Bắc Đới Hà, thì vào phiên thứ 6 Đại hội Đảng Toàn quốc mùa thu năm nay, hay Đại hội 19 sẽ diễn ra vào năm sau, ông Tập sẽ đưa ra “một quyết định có tính bất ngờ”.
Đe dọa sử dụng Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc để ‘bẻ nanh’ Tập Cận Bình
Ngày 23/5, Thường ủy viên Trương Đức Giang, tại Trường Đảng Trung ương của ĐCSTQ, khi bàn về Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc đã nói “Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc có khả năng giám sát Chủ tịch quốc gia”, thể hiện thái độ kiềm tỏa ông Tập Cận Bình.
Mặc dù để thực hiện “chế độ dân chủ” là không thể thiếu Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc, nhưng ông Trương Đức Giang đã thể hiện rõ ý đồ lợi dụng việc vẫn còn một lượng lớn nhân sự trong đảng thuộc phe cánh của ông Giang Trạch Dân, để mượn Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc mà soán quyền lãnh đạo của ông Tập Cận Bình. Tờ Động Hướng của Hồng Kông đã phân tích việc này trong số báo tháng 6/2016.
Việc phe cánh của ông Giang Trạch Dân trực tiếp khiêu chiến với ông Tập Cận Bình về vấn đề chế độ tổng thống bắt đầu từ tháng 9/2014 đến nay. Khi đó, cấp dưới của ông Trương Đức Giang là Lý Chân Minh đã nói: “Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc có thể bãi miễn chức chủ tịch quốc gia”. Đây là phát ngôn khiêu chiến trực tiếp đối với ông Tập Cận Bình.

Tập Cận Bình dùng truyền thông để trả đòn

Truyền thông nhà nước Trung Quốc, tờ “Nhân Dân Nhật Báo” số ngày 16/6 năm nay đăng bài viết “Lịch sử hình thành chủ yếu của trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc”. Theo bài viết, từ năm 1934 đến năm 1956, trong 22 năm, không có Ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị mà Bí thư Trung ương Đảng giữ quyền chỉ đạo. Bài viết này muốn nói rằng chế độ ủy ban thường vụ là không cần thiết. Đây là đòn phản kích của phe ông Tập Cận Bình với các phát ngôn của ông Trương Đức Giang.

Phe Giang Trạch Dân kiểm soát ngôn luận

Ngày 13/7, tạp chí của viện nghiên cứu nghệ thuật Trung Quốc “Viêm Hoàng Xuân Thu” bị tước quyền quản lý bởi nhân vật số 5 trong ĐCSTQ, Thường ủy viên Lưu Vân Sơn (thuộc phe Giang). Tờ tạp chí này được biết đến là một tạp chí chuyên đăng các tin dự báo phân tích định hướng tương lai, trước kia vào các thời điểm nhạy cảm của chính trị Trung Quốc đã từng đăng các bài ủng hộ ông Hồ Diệu Bang, Triệu Tử Dương v.v. Theo một người nắm nhiều thông tin về giới lãnh đạo Trung Quốc cho biết, ông Lưu Vân Sơn sử dụng Tổng cục Quản lý Truyền thông và Xuất bản Quốc gia để ép giám đốc và tổng biên tập của tạp chí này từ chức, sau đó thay thế người của chính quyền Trung Quốc vào. Ý đồ của ông ta là xiết chặt các ngôn luận có khả năng bàn về các vấn đề “nhạy cảm” để chuẩn bị chống đối với ông Tập Cận Bình.
Ngày 18 và 19 tháng 7 năm nay, tại nhiều tỉnh thành ở Trung Quốc đồng loạt xuất hiện nhiều sự kiện “quần chúng ái quốc” một cách dồn dập. Các sự kiện này lẽ ra là do quần chúng yêu nước nhiệt tình tự phát, tuy nhiên sau đó cộng đồng mạng tiết lộ sự thật về những người dẫn đầu, tổ chức các sự kiện này, các trí thức hải ngoại cũng bình luận về sự bất bình thường như sau:
• Bình luận viên cao cấp của Viện khoa học xã hội Trung Quốc, Chu Kiến Đông trên blog kêu gọi toàn dân ngày thứ 7 và Chủ Nhật tẩy chay KFC. Về sau, trên mạng lộ ra việc ông Chu Kiến Đông nhận được chỉ đạo của Đoàn Thanh niên Cộng sản Trung Quốc và Bộ Tuyên truyền.
• Phúc Kiến Nhật Báo đăng bài kêu gọi chống Mỹ.
• Ngày 18/7, giám đốc một xí nghiệp tại Hàng Châu, Chiết Giang là Trương Vân Long, đăng một bài “thông tri ái quốc”. Thông tri này được truyền đi hơn 10.000 lần, số lượng đọc hơn 1 triệu lượt. Thông tri này xuất hiện đúng lúc, như đổ thêm dầu vào lửa cho các hoạt động chống Mỹ.
• Chiều ngày 18/7, cục Công an và cục Giao thông huyện Tứ Dương tỉnh Giang Tô đã tổ chức cuộc tuần hành chống Mỹ và chống Nhật. Đội cảnh sát giao thông đã đặc biệt hướng dẫn lộ tuyến của cuộc tuần hành, cũng như cho người giả trang xen lẫn vào quần chúng để chỉ huy cuộc tuần hành thị huy.
Nhà bình luận chính trị Trung Quốc là Lưu Cang ở hải ngoại nhận định, việc có thể đồng thời khống chế truyền thông và chính quyền để tiến hành hàng loạt sự kiện diễu hành thị huy nhắm vào cùng một đối tượng tại nhiều nơi, nhất định cần có bàn tay chỉ đạo phối hợp. Người có khả năng như vậy, không ai khác ngoài ông Lưu Vân Sơn.
Mục đích của ông ta là dùng dư luận để gây sức ép lên các tiến trình hành động của phe ông Tập Cận Bình, ở mức độ nhỏ có thể làm trì hoãn các kế hoạch cải cách của Tập, bùng phát lên có thể tận dụng để “đảo chính”.

Phe Tập Cận Bình cũng sử dụng truyền thông để phản kích

Ngày 23/6, “Thời Báo Học Tập” của hệ thống Trường Đảng Trung ương ĐCSTQ có đăng bài “Thời đại của Tập Cận Bình” trong đó có viết một câu làm người ta đặc biệt lưu ý: “Lần này chính là lần đại cải cách quyết định vận mệnh của Trung Quốc”. Bài viết có nói rõ, chính quyền ông Tập Cận Bình “có quyết tâm cải cách rất lớn, quy mô rộng khắp, trong lịch sử nhân loại có thể nói là chưa từng thấy”, sẽ cải cách liên quan đến 60 phương diện nhiệm vụ khác nhau, 336 đầu mục chính sách cần cải cách, bao quát các phạm vi từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội cho đến sinh thái, quốc phòng v.v.
Phó thủ tướng Trung Quốc Lưu Diên Đông khi đến thăm Mỹ, cũng giới thiệu về kế hoạch cải cách rộng khắp này.
Ngoại giới từng nhận định, “đại cải cách quyết định vận mệnh của Trung Quốc” có khả năng bao gồm cả việc phế bỏ chế độ Ủy ban Thường vụ, thành lập chế độ tổng thống.

Tâm điểm trong cuộc chiến giữa Giang Trạch Dân và Tập Cận Bình.

Trong bối cảnh trận chiến quyền lực giữa phe Giang Trạch Dân và chính quyền Tập Cận Bình vẫn đang căng thẳng, nổi lên một vấn đề có khả năng quyết định kết quả của cuộc chiến này. Suốt từ năm 1999 đến nay, những người tu Pháp Luân Công tại Trung Quốc vẫn bị bức hại theo nhiều phương thức khác nhau như cưỡng ép lao động cải tạo, kết án tù giam phi pháp, tra tấn về thể chất và tinh thần v.v. Đặc biệt, vấn đề mổ cướp nội tạng, trong đó phần lớn nạn nhân là những người tu Pháp Luân Công, gần đây đã bị cộng đồng quốc tế đặc biệt quan tâm và yêu cầu gấp rút tiến hành điều tra. Tháng 6 năm nay, Hạ Viện Mỹ đã đưa ra Nghị quyết số 343 lên án việc Trung Quốc mổ cướp nội tạng. Vấn đề này cũng được nghị viện châu Âu đặc biệt quan tâm. Suốt từ tháng 4, vấn đề mổ cướp nội tạng diễn ra tại Trung Quốc đã được đưa ra thảo luận. Đến ngày 12/9, Nghị viện châu Âu chính thức đưa ra Tuyên bố số 48 yêu cầu Trung Quốc dừng ngay việc mổ cướp nội tạng và cho phép tiến hành điều tra độc lập.
Đối với vấn đề bức hại Pháp Luân Công, ông Tập Cận Bình vẫn không có phát ngôn nào thể hiện lập trường, không tuyên bố sẽ ngừng bức hại, tuy nhiên cũng không thể hiện ý định tích cực bức hại. Sau khi nhậm chức Chủ tịch Trung Quốc, chính quyền Tập Cận Bình đã bãi bỏ chế độ lao động cải tạo, vốn là một cơ cấu thường xuyên được sử dụng để bức hại người tu Pháp Luân Công. Sau đó, bắt giam nhân vật thuộc phe Giang, Thứ trưởng Bộ Công An Lý Đông Sinh, người có vai trò quan trọng trong việc thiết lập hệ thống chính sách bức hại Pháp Luân Công. Tháng 4, trong một cuộc họp cấp cao trong ĐCSTQ, ông Tập Cận Bình đã phát biểu, nhấn mạnh vào “tự do tín ngưỡng tôn giáo”, thể hiện ý định sẽ giải quyết các vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng đang còn tồn tại.
Tuy nhiên, theo thống kê của trang Minh Huệ, số lượng các trường hợp bị bức hại như bị bắt giam, bị tuyên án phi pháp, bị tra tấn v.v. không có dấu hiệu suy giảm. Các nhà điều tra độc lập cũng đưa ra nhiều phân tích cho thấy việc mổ cướp nội tạng cũng không hề có dấu hiệu ngừng lại, chỉ trở nên càng lúc càng tinh xảo hơn trong việc che giấu.
Ngoại giới nhìn nhận, nếu ông Tập Cận Bình tập hợp đủ lực lượng ủng hộ rồi sử dụng tội “diệt chủng” và “phản nhân loại” để truy cứu ông Giang Trạch Dân và những người có liên quan, có thể trận chiến sẽ hoàn toàn kết thúc. Hiện nay, số người ký tên khởi kiện ông Giang Trạch Dân về các tội này lên Tòa án Tối cao Trung Quốc đã lên đến khoảng 1,5 triệu người.

Chuyên gia nhận định về các cách thức chuyển sang chế độ tổng thống

Trong chương trình “Bình luận thời sự” của Đài tiếng nói Hoa Kỳ VOA, học giả Trung Quốc đang sinh sống tại Mỹ, Ngô Tổ Lai đưa ra một hướng giải quyết để quá độ ôn hòa chính trị Trung Quốc, một cách thức đặc thù nhưng hợp pháp và khả thi. Đó là thông qua danh nghĩa Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc, giải tán ĐCSTQ. Ông nhận định, ông Tập Cận Bình có khả năng đang cân nhắc việc sau khi hết hai nhiệm kỳ giữ chức Tổng Bí thư sẽ chuyển sang giữ chức Chủ tịch Ủy ban Thường vụ của Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc, đồng thời sẽ đem quân quyền giao cho Đại hội Đại biểu Nhân dân. Nếu làm như vậy thì quân đội và quốc gia sẽ thực sự thuộc về nhân dân, và có khả năng giải tán ĐCSTQ một cách hợp pháp.
Trong một lần trả lời phỏng vấn cho một tờ báo hải ngoại, con trai của Thượng tướng lão thành La Thụy Khanh, La Vũ cũng nhận định ông Tập Cận Bình sẽ phát triển theo hướng dân chủ, thay thế chế độ ủy ban thường vụ để tiến hành bầu cử trong ĐCSTQ hoặc bầu cử toàn quốc. ông La Vũ nhận định, vào mùa thu năm sau, tại Đại hội 19, trừ ông Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường, 5 người khác trong Bộ Chính trị sẽ phải thoái vị, như vậy những người có khả năng gây cản trở quá trình cải cách của ông Tập Cận Bình đều sẽ bị rút xuống. Ông La Vũ khẳng định:“Tôi nghĩ rằng chế độ tổng thống là con đường duy nhất của ông Tập Cận Bình, không có lựa chọn khác. Trực tiếp gọi là chế độ tổng thống hay không cũng vậy. Thực chất chính là chế độ tổng thống. Đây cũng là việc từ bỏ khái niệm đảng phái và tuyên bố: Tôi chính là tổng thống của nhân dân.”
Tự Minh
(nguồn: trithucvn.net – theo FB Van Chinh Đinh)

Rùng mình với “chiến tích” nuôi bồ nhí của hàng loạt quan chức TQ

Diệp Anh 

Đất nước láng giềng mà chúng tôi đang nhắc đến chính là Trung Quốc. Có lẽ không ở đâu, dâm quan và tham quan lại nhiều như ở quốc gia này.

Bằng chứng là thỉnh thoảng báo chí Trung Quốc lại có một bài đăng tải, phản ánh sự thật trần trụi, không thể chối cãi của các “quan ông ngã ngựa” – nhóm đối tượng được kết luận là 100% nhận hối lộ và 95% có dính líu đến gái gú.

Sở hữu 140 bồ nhí, “chén” cả mẹ lẫn con gái

Người đầu tiên trong danh sách dài hàng chục tham quan bị truyền thông phanh phui việc nuôi bồ nhí sau khi “ngã ngựa” là Từ Kỳ Huy – người từng giữ trức vụ Giám đốc sở Xây dựng tỉnh Giang Tô, Trung Quốc.

Với số lượng bồ nhí lên đến hơn 140 người, Từ hoàn toàn đủ tư cách để ghi tên mình vào sách kỷ lục thế giới Guiness về hạng mục quan chức “vừa tham vừa dâm”.

Được biết, khi ông ta trong người “không được khỏe”, phải vào bệnh viện hạng sang để truyền dịch, dù một tay bên trái không thể cử động vì đang đặt kim truyền nhưng tay còn lại vẫn đủ khả năng… mở hết cúc áo của nữ y tá xinh đẹp có tên Vương Tú Lệ.

Rùng mình với chiến tích nuôi bồ nhí của hàng loạt quan chức TQ - Ảnh 1.

Từ Kỳ Huy và hai mẹ con Vương Tú Lệ.

Sau khi trở thành tình nhân của Từ Kỳ Huy, Vương đề nghị Từ sắp xếp công việc giúp cô con gái chuẩn bị tốt nghiệp đại học, đồng thời sẵn sàng dâng cả con gái đến trước “miệng hổ”.

Về sau, cô gái đáng thương này trong một năm phải đến bệnh viện phá thai đến 2 lần vì gã đàn ông là bồ của cả hai mẹ con.

Điều khiến người ta “dựng tóc gáy” là, kẻ hoang dâm vô độ như Từ Kỳ Huy không những không che giấu sự vô sỉ của mình mà thậm chí hắn còn lấy đó làm tự hào.

Sau một lần uống rượu, Từ không chỉ huênh hoang trước mặt đám đông rằng mình “bắn một mũi tên trúng hai đích” mà còn hoan hỉ so sánh kỹ năng trên giường của cả hai mẹ con Vương Tú Lệ.

“Săn” gái còn trinh để tăng cường tuổi thọ

Sau Từ là Ngô Thiên Hỷ – nguyên phó chủ nhiệm chính hiệp huyện Bình, tỉnh Hà Nam. Ông ta cũng từng là đại biểu quốc hội Trung Quốc khóa 9.

Theo truyền thông Trung Quốc, nhân vật này sở hữu nguồn tài sản lên đến hàng trăm triệu NDT, được xem là một nhân vật có thể hô mưa gọi gió tại địa phương.

Rùng mình với chiến tích nuôi bồ nhí của hàng loạt quan chức TQ - Ảnh 2.

Một cô bồ nhí của tham quan Trung Quốc.

Mặc dù có đầu óc làm ăn song đây là một kẻ vô đạo đức, có thú vui dâm đãng “săn lùng gái trinh” để giúp hắn… tăng cường tuổi thọ.

Được biết, dâm quan này có một tay chân chuyên chỉ điểm, tìm kiếm “nguồn hàng” cho hắn. Ước tính phải có đến 100 cô gái trẻ đã trở thành “con mồi” trong tay Ngô.

“Bạ đâu xơi đấy”, 107 phụ nữ trở thành “mồi ngon trước miệng hổ”

Trương Nhân Giang – Bí thư thành ủy Thành phố Thiên Môn, tỉnh Hà Bắc cũng không thua kém Ngô Thiên Hỷ. Không chỉ nuôi bồ trong thời gian dài, nhân vật tai to mặt lớn này thậm chí còn “ăn tạp”, bạ đâu “xơi đấy”, bất kể là đi công tác, vi hành đến bất cứ đâu.

Rùng mình với chiến tích nuôi bồ nhí của hàng loạt quan chức TQ - Ảnh 3.

Với dâm quan “ăn tạp” này, thậm chí là gái gọi ông ta cũng “xơi”.

Nguyên tắc “hành sự” của Trương là sai khiến nhân viên của mình “lượn vài vòng quanh phố phường, thấy chỗ nào ‘ngon’ thì đưa hắn đến”.

Từ năm 1989 đến tháng 7/2001 – trước khi bị ngã ngựa, Trương Nhân Giang đã quan hệ xác thịt với 107 phụ nữ, chưa tính đến “chính thất phu nhân”.

Qua tay dâm quan, công việc sẽ được bố trí đâu vào đấy

Từng giữ chức vụ Cục trưởng cục phát thanh truyền hình Trùng Khánh, Trương Tiểu Xuyên không chỉ ham cờ bạc mà còn phong lưu khét tiếng.

Có người từng tố cáo, ngoài số lượng phụ nữ lên đến hơn 30 người trong nội bộ hệ thống phát thành truyền hình từng qua tay Trương, ông ta còn có quan hệ nam nữ bất chính với hàng chục phụ nữ khác bên ngoài, tổng số lượng lên đến con số 70.

Rùng mình với chiến tích nuôi bồ nhí của hàng loạt quan chức TQ - Ảnh 4.

Phàm là bồ nhí của các “quan ông”, cô nào cũng xinh xắn.

Hầu hết những người từng “phục vụ” Trương đều được ông ta cất nhắc lên các vị trí trọng yếu trong ngành. Thậm chí có người không liên quan gì đến ngành truyền hình, vốn chỉ là một y tá cũng được nhân vật này điều lên làm chủ nhiệm phòng văn nghệ của đài truyền hình.

Nuôi đến cả “bà năm”

Đặng Bảo Câu – chủ nhiệm quỹ tín dụng Sa Tỉnh, thành phố Thâm Quyến trong chưa đầy 3 năm đã lạm dụng công quỹ lên đến 230 triệu NDT (tương đương khoảng 800 tỉ đồng).

Không chỉ nuôi “bà hai”, vị quan “không lớn lắm” này còn nuôi cả “bà ba”, “bà tư”, “bà năm”. Được biết số tiền mà Đặng dùng để bao “bà hai” lên đến 3 triệu NDT (tương đương hơn 10 tỉ đồng).

Đãi ngộ dành cho “bà ba”, “bà tư” cũng không kém và tất nhiên, họ chẳng dại gì mà không “tiêu xả láng” số tiền bòn được từ túi của tham quan.

Rùng mình với chiến tích nuôi bồ nhí của hàng loạt quan chức TQ - Ảnh 5.

Chiều bồ nhí hết cỡ.

Cho đến khi Đặng Bảo Câu gặp gỡ “bà năm” Tiểu Thanh, ông ta đã đốt hơn 18 triệu NDT cho cô bồ trẻ trong vòng 800 ngày liên tiếp. Trung bình mỗi ngày số tiền Đặng chi cho Tiểu Thanh là 23.000 NDT (tương đương gần 80 triệu đồng).

Trên đây mới chỉ là vài nhân vật được chúng tôi nhặt ra trong danh sách 100 dâm, tham quan “tiếng xấu để đời” do trang báo mạng Tây Lục (Trung Quốc) thống kê.

Dẫu biết bồ bịch, nuôi tình nhân là chuyện không còn lạ lẫm trong giới quan chức Trung Quốc nhưng trác táng như những “quan ông” nói trên, thật nằm ngoài sự tưởng tượng của dư luận.

( Nguồn: Google)

Những căn nhà sinh thái được xây dựng lấy ý tưởng hoặc dựa vào thiên nhiên, khiến nhiều người phải bất ngờ khi nhìn thấy

 
Nhà hàng Đá (Rock Restaurant) tại Zanzibar (Tanzania) là một trong những nhà hàng nổi tiếng nhất không phải chỉ với thức ăn, phong cảnh thiên nhiên mà còn vị trí độc lạ. Được xây dựng ngay trên 1 tảng đá, nhà hàng chỉ đón khách từ đất liền vào khi thủy triều lên.
 
Nhà Hobbit tại Matamata, New Zealand rất nổi tiếng với người hâm mộ bộ phim “Chúa tể của những chiếc nhẫn”. Nơi này cũng trở thành một điểm du lịch độc đáo.
 
Nhà mái vòm tại Pháp (Dome House)
 
Được sự ủy thác của gia đình nhà leo núi quá cố Luca Vuerich, kiến trúc sư Giovanni Pesamosca đã thiết kế căn nhà gỗ mang tên Luca Vuerich trên đỉnh núi Foronon del Buinz cao hơn 2.500 mét. Căn nhà hoàn toàn miễn phí cho khách vãng lai, nhưng rất hiếm khi có người gõ cửa bước vào.
 
Nhà của đá (House of Stone) nằm tại Fafe, Bồ Đào Nha. Căn nhà được xây dựng từ bốn tảng đá lớn. Dù bề ngoài có vẻ thô sơ, mộc mạc nhưng bên trong nhà lại rất đủ tiện nghi. Ngôi nhà 2 tầng này được xây dựng vào năm 1974.
 
Kiến trúc sư Robert Harvey Oshatz đã tạo ra một tác phẩm nghệ thuật tuyệt vời với ngôi nhà gỗ cây tại Portland, Oregon. Thiết kế ấn tượng này phải mất 7 năm mới xây dựng xong và được hoàn thành vào 2004. Theo KTS, phải đi dạo hết căn nhà mới thấy được sự phức tạp của thiết kế và sự gắn kết của nó với thiên nhiên.
 
Khách sạn Rogner Bad Blumau tại Styria, Áo được Friedensreich Hundertwasser thiết kế. Bản thân khách sạn là một tác phẩm nghệ thuật với mục đích phát triển môi trường sinh thái. Có hàng nghìn cây xanh được gieo trồng và chăm sóc tại khách sạn.
 
Làng Kandovan tại Iran được xây dựng trên những vách đá, hang, tàn tích của núi lửa. Hình thù kỳ dị của những vách đá do chính dung nham mài mòn và người dân nơi đây đã biến nó thành những căn nhà độc đáo.
 
Lấy cảm hứng từ cuốn tiểu thuyết “The Hobbit”, Simon Dale đã xây dựng một ngôi nhà giống thật ở ngoài đời mang tên Hobbit tại Wales. Dù trông nhỏ nhắn nhưng ngôi nhà rất tiện nghi và mang không khí kỳ diệu.
 
Cave House tại Troyes, Pháp trước đây là một mỏ khai thác đá vôi. Người chủ đã khéo léo dựng lên một ngôi nhà tiện nghi và trồng thêm rất nhiều cây ở xung quanh để cải thiện môi trường.
 
Clay Huts tại Arizona là một trong những loại nhà truyền thống rất đặc trưng. Nhà được dựng bằng các thanh gỗ, đắp đất xung quanh và chỉ có 1 cửa ra vào.
 
Nhà có mái làm bằng cỏ tại Ba Lan. Chính mái cỏ này làm giảm nhiệt độ trong nhà từ 30-40%, đóng vai trò như một điều hòa không khí tự nhiên.
 
Ngôi nhà gần mặt nước tại Blagaj và dựa vào vách đá thẳng đứng là một ngôi nhà tuyệt vời, gắn liền với thiên nhiên.
 
Cave Dwellings tại Cappadocia, Thổ Nhĩ Kỳ. Các căn nhà được xây trong cách tảng đá và đào hầm ngầm phía dưới như một cách để người dân nơi đây lẩn trốn kẻ địch trong các cuộc chiến ngày xưa. Hiện tại, vẫn còn có rất nhiều người sống trong các căn nhà bằng đá này.
 
Nhà cây tại Hokuto, Nhật Bản được xây dựng bởi Terunobu Fujimori. Ngôi nhà là nơi tuyệt vời để uống trà và ngắm hoa anh đào tại Nhật Bản./.
( Nguồn: Google)
Đăng bởi: Ngô Minh | 21.09.2016

IMG_8193

ĐỌC BỘ SÁCH ” NGÔ MINH TÁC PHẨM”, TẬP 3:

NGHĨA ĐỊA HOẠN QUAN

 Ngô Minh

 

Về, Huế, đi theo đường lên lăng Tự Đức,  đến làng Dương Xuân, là gặp chùa “ Từ Hiếu”. Đây là một địa chỉ du lịch hấp dẫn của Huế. Ngôi chùa cổ kính này do nhà sư Nhật Định xây dựng 126 năm trước. Chùa nổi tiếng vì ở đây có khu  Nghĩa địa hoạn quan! (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 29.09.2016

Hãy nguyền rủa cho chính xác thủ phạm

Hãy nguyền rủa cho chính xác thủ phạm

(Rút từ facebook của Đỗ Duy Ngọc)

Hôm qua mưa ngập toàn thành phố HCM, cũng từ hôm qua trên facebook của người Sài Gòn ướt sũng nước. Ai cũng than trời, đau khổ vì nước như lũ miền Tây. Lũ miền Tây mang theo tôm cá, phù sa, làm giàu cho đất và người. Lũ thành phố là tai hoạ. Nhưng theo tui, phải có những cơn lũ toàn thành thế này thì dân mới đặt được câu hỏi mấy chục ngàn tỉ đồng để chống ngập đã chảy vào đâu mà Sài Gòn vẫn còn ứ nước?
Nhờ có mưa ngập phi trường Tân Sơn Nhất khiến hơn 20 chuyến bay trong và ngoài nước không đáp xuống được thì người ta mới lại đặt ra câu hỏi quân đội lấy 180 mẫu đất của phi trường để làm giàu cho ai khiến hệ thống thoát nước của sân bay bị ứ, phi đạo không mở thêm được, sân bay tù túng, chật hẹp và dự trù mở ở Long Thành, lại tiếp tục bóp họng dân với sưu cao thuế nặng để trả nợ tiền vay?
Nhờ những cơn lũ, chường ra những cán bộ ban ngành chống ngập lâu nay chỉ rung đùi bỏ túi từ hàng trăm dự án thoát nước, đến cơ quan để đi nhậu, chiều ung dung đi về vào quán hưởng lạc chứ không giải quyết được con mẹ gì mà phong bì thì thời nào cũng có?

Cũng nhờ cơn mưa lũ mới thấy chất lượng của những con đường với giá một tỉ đồng một mét đường bị ăn chận ăn bớt như thế nào vì nước mưa đã cuốn phăng những giấu giếm che đậy từ bên trong khi những ổ voi xuất hiện sau mưa.
Cũng nhờ mưa lũ mới thấy dân ta có sức chịu đựng khủng khiếp thế nào, nhẫn nhục thế nào. Từng đoàn người, từng đoàn xe lầm lũi dưới mưa. Những em bé đi học về ướt lem nhem, người mẹ tìm mọi cách vượt qua dòng chảy một cách tuyệt vọng, che chở con bằng những gì có được trong tay. Những người phu xe già còng lưng níu chiếc xe giữa dòng nước cuốn. Những người buôn gánh bán bưng luống cuống che những món hàng ít ỏi của mình mặc cho mưa rát mặt. Những chiếc xe tắt máy giữa biển nước, đoàn người đẩy xe đi như cơn mộng du vĩ đại. Tất cả đều chỉ có trách trời, nhưng thực chất, tội không bởi tại trời mà bởi lòng tham không đáy cùng sự ngu dốt đầy kiêu hãnh của con người.
Cũng nhờ mưa lớn ngập đường mới thấy cán bộ thành phố ta mặt trơ trán bóng thế nào khi tất cả đều lặng im, không có hành động nào thể hiện trách nhiệm, không cảm thấy day dứt khi đã ăn biết bao tiền mà mưa lũ vẫn bao trùm thành phố!!!

Bởi mấy lí do trên, tôi không nguyền rủa cơn mưa chiều qua và những cơn lũ sắp tới. Tui còn cám ơn vì nhờ nó tất cả sự xấu xa, bỉ ổi đều được phô ra giữa thanh thiên bạch nhật. Hãy nguyền rủa cho chính xác thủ phạm của phố thành sông, đừng trách trời cao tội nghiệp.
27.9.2016

Older Posts »

Danh mục