Đăng bởi: Ngô Minh | 11.12.2016

THƯ GIÃN CHỦ NHẬT: KHÓA!

khoa

THƯ GIÃN CHỦ NHẬT : KHÓA!

khoa1

Đăng bởi: Ngô Minh | 11.12.2016

Tìm lại mình qua “Vần cũ”

img_8195

ĐỌC BỘ SÁCH “NGÔ MINH TÁC PHẨM”, TẬP 4:

Đến với bài thơ hay :

 

Tìm lại mình qua “Vần cũ”

 

Vần cũ

         Ngô Minh

Ta về

đêm cỏ kiếm tìm

non tây khuyết chén

đàn chìm nốt sương

 

uống đi

mấy kiếp đoạn trường

rượu suông nhấm với

tình suông ơ hờ

 

nát nhàu

vần cũ tờ thơ

trăng theo phù phiếm

gió chờ phù vân

 

uống đi

nghe vỡ tiếng đàn

nghe ta nằm với

muôn vàn

nín câm…

 

 LỜI BÌNH CỦA KHÁNH CHI:

Thơ là cái chí, cái tình bắt nguồn từ cảm xúc mạnh mẽ do va chạm giữa nhà thơ và cuộc sống. Nhưng nếu không có kỹ thuật ngôn từ, cấu trúc thì nhà thơ không thể chuyển tải cảm xúc dạt dào của mình đến độc giả được. Vì thế ai không chú ý lao động trên từng con chữ, trên từng câu thơ thì sẽ không có thơ hay” (Ngô Minh) (Đọc tiếp…)

Thấy gì từ vụ bổ nhiệm phó vụ trưởng 32 ngày?

  •   NGUYỄN DUY XUÂN
Ông Vi Minh Hoàng (ph£i) khi nh­n quy¿t Ënh iÁu vÁ làm phó giám Ñc Trung tâm xúc ti¿n §u t° th°¡ng m¡i và hÙi chã triÃn lãm C§n Th¡ - £nh: ài PT-TH C§n Th¡ và các quy¿t Ënh bÕ nhiÇm dành cho ông Hoàng ¢nh: Chí QuÑc

Ông Vi Minh Hoàng (ph£i) khi nh­n quy¿t Ënh iÁu vÁ làm phó giám Ñc Trung tâm xúc ti¿n §u t° th°¡ng m¡i và hÙi chã triÃn lãm C§n Th¡ – £nh: ài PT-TH C§n Th¡ và các quy¿t Ënh bÕ nhiÇm dành cho ông Hoàng ¢nh: Chí QuÑc

Dư luận đang xôn xao vụ bổ nhiệm kì lạ ông Vũ Minh Hoàng, 26 tuổi, quê ở Bắc Ninh giữ chức phó vụ trưởng Vụ kinh tế thuộc Ban chỉ đạo Tây Nam bộ mặc dù ông Hoàng chưa một ngày làm việc tại đây.

Thăng tiến như diều gặp gió

Con đường thăng tiến của ông Vũ Minh Hoàng xem ra còn khủng khiếp hơn cả những “tài năng” trẻ làm giám đốc sở ở tuổi ba mươi hay con trai cựu bộ trưởng Công thương Vũ Huy Hoàng từng gây sốc dư luận thời gian qua.

Thông tin trên báo chí cho hay, ông Vũ Minh Hoàng sinh ngày 22-8-1990, năm nay tròn 26 tuổi. Ông Hoàng đã có bằng thạc sĩ tại ĐH Kent (Bỉ) và ĐH Thanh Hoa (Trung Quốc).

Sau khi hoàn thành “nhiệm vụ” du học trở về nước, ngày 1-8-2014 ông Hoàng được tuyển dụng vào biên chế chính thức làm việc tại phòng Nghiên cứu – tổng hợp trực thuộc văn phòng BCĐ, không qua thi tuyển và cũng không qua hội đồng xét tuyển, sát hạch theo quy định.

Ngày 8-9-2014, thường trực Ban chỉ đạo Tây Nam bộ có quyết định cử ông Hoàng đi làm nghiên cứu sinh tiến sĩ tại ĐH Tokyo (Nhật Bản) theo diện tự túc từ ngày 1-10-2014 đến 30-9-2017, không hưởng lương tại Ban chỉ đạo Tây Nam bộ.

Điều kì lạ là trong thời gian ông Hoàng ở nước ngoài, mọi việc bổ nhiệm, thuyên chuyển đối với ông vẫn diễn ra.

Ngày 15-1-2016 ông Nguyễn Quốc Việt, phó trưởng Ban chỉ đạo Tây Nam bộ, ký quyết định bổ nhiệm ông Hoàng giữ chức phó vụ trưởng Vụ kinh tế trong khi ông Hoàng đang làm nghiên cứu sinh ở Nhật.

Ngày 17-2-2016, sau 32 ngày nhậm chức trên giấy, ông Hoàng được UBND TP Cần Thơ làm công văn gửi Ban chỉ đạo Tây Nam bộ “xin” về. Ngay trong ngày, ông Nguyễn Quốc Việt phó trưởng Ban chỉ đạo kí quyết định số 02-QĐ/BCĐTNB đồng ý cho ông Hoàng chuyển công tác về UBND TP Cần Thơ.

Ngày 7-3-2016, UBND TP Cần Thơ bổ nhiệm ông Hoàng làm phó giám đốc Trung tâm xúc tiến đầu tư – thương mại và hội chợ triển lãm TP Cần Thơ.

Ngày 22/3, Chủ tịch UBND TP Cần Thơ có công văn gửi Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản về việc ông Hoàng sẽ quay lại Nhật để tiếp tục chương trình làm nghiên cứu sinh tiến sĩ. Công văn nêu rõ: “Ông Hoàng được phân công nhiệm vụ vừa học tập, vừa phụ trách công tác xúc tiến thị trường Nhật; tìm hiểu, tiếp nhận thông tin và kết nối, tạo cơ hội xúc tiến đầu tư, thương mại từ thị trường Nhật vào TP Cần Thơ“.

Con đường thăng tiến từ một sinh viên vừa mới chân ướt chân ráo ra trường, chưa một ngày làm việc, lên những chức vụ như mơ của ông Hoàng cứ ngỡ như chuyện trong phim ảnh, trên sân khấu. Người ta đã dàn dựng một “vở diễn” cực kì “đúng qui trình” nhằm hợp thức hóa, dọn đường công danh cho một vị “công tử” – gọi là “công tử” vì chắc chắn rằng, nếu ông Hoàng là con em thường dân thì chả ai hơi sức nào mà “nhiệt tình” lo liệu, cất nhắc với tốc độ chóng mặt đến vậy. Còn nếu bảo ông Hoàng là tài năng thực sự thì sao phải đợi đến khi vụ bổ nhiệm kì lạ này bị đưa ra công luận thì thiên hạ mới biết đến tên ông?

Vấn đề mà dư luận đặt ra là các cấp có thẩm quyền cần sớm làm rõ ai là tác giả “vở diễn” này?

Đang du học ở nước ngoài vẫn được bổ nhiệm

Hơn một tháng sau khi được tuyển dụng, ông Vũ Minh Hoàng được thường trực Ban cử đi làm nghiên cứu sinh tiến sĩ tại ĐH Tokyo (Nhật Bản) theo diện tự túc từ ngày 1-10-2014 đến 30-9-2017, không hưởng lương tại Ban chỉ đạo Tây Nam bộ.

Điều kì lạ là trong thời gian ông Hoàng học ở nước ngoài, ông Nguyễn Quốc Việt, phó trưởng Ban chỉ đạo Tây Nam bộ lại ký quyết định bổ nhiệm ông Hoàng giữ chức phó vụ trưởng Vụ kinh tế.

Việc bổ nhiệm này liệu có trái với Qui chế làm việc do cơ quan thường trực Ban chỉ đạo Tây Nam bộ ban hành năm 2012 hay không? Qui chế này nêu rõ: Các chức danh vụ trưởng, chánh văn phòng ban phải là chuyên viên cao cấp hoặc tương đương, còn phó vụ trưởng, phó chánh văn phòng phải có bằng đại học, giữ ngạch công chức chuyên viên chính hoặc tương đương, có bằng cao cấp lý luận chính trị.

Về lí do đề nghị Ban Tổ chức trung ương đồng thuận tiếp nhận ông Vũ Minh Hoàng, Ban chỉ đạo Tây Nam bộ nêu: Căn cứ nhu cầu công tác của cơ quan cần nhân sự để nghiên cứu, tham mưu, đề xuất lãnh đạo ban trong lĩnh vực đối ngoại.

Tuy rất cần nhân sự như thế nhưng khi UBND TP Cần Thơ làm công văn gửi Ban chỉ đạo Tây Nam bộ “xin” ông Hoàng, lập tức ông Nguyễn Quốc Việt kí công văn đồng ý ngay trong ngày, để rồi chỉ mấy hôm sau, UBND TP Cần Thơ bổ nhiệm ông Hoàng làm phó giám đốc Trung tâm xúc tiến đầu tư – thương mại và hội chợ triển lãm TP Cần Thơ.

Dư luận câu hỏi: Tại sao ông phó trưởng ban chỉ đạo lại sốt sắng kí quyết định bổ nhiệm ông Hoàng cũng như kí tắp lự công văn chấp nhận cho ông này thuyên chuyển về UBND TP Cần Thơ? Liệu có phải chuyện tiếp nhận cũng như bổ nhiệm chức vụ phó vụ trưởng cho ông Hoàng chỉ là bước đệm để hợp lí hóa, còn đích đến thực sự mới là UBND TP Cần Thơ?

Một vụ bổ nhiệm kỳ lạ chứa đựng nhiều uẩn khúc. Ngay cả ông Sơn Minh Thắng – ủy viên Trung ương Đảng, phó trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ cũng nhìn nhận “đúng là bổ nhiệm quá nhanh, có điều bất thường”.

Được biết, không riêng gì trường hợp ông Vũ Minh Hoàng, tại Ban chỉ đạo Tây Nam bộ, thời điểm ông Nguyễn Phong Quang làm phó trưởng ban thường trực – trước khi ông này nghỉ hưu – một loạt trường hợp khác được bổ nhiệm không đúng theo quy định chung và quy chế làm việc do chính cơ quan này ban hành.

Dư luận mong các cấp, các ngành chức năng sớm làm sáng tỏ những câu hỏi nêu trên và hi vọng, vụ bổ nhiệm bất thường này không lặp lại những điệp khúc “đúng qui trình” và “tập thể nhất trí”!

( Nguồn: VHNA)

Hình vệ tinh cho thấy VN đang cải tạo đảo ở Trường Sa

BBC

Đá Lát trong bức hình chụp qua vệ tinh ngày 30/11/2016Image copyrightPLANET LABS
Image captionĐá Lát trong bức hình chụp qua vệ tinh ngày 30/11/2016

Hôm thứ Sáu 9/12, Bắc Kinh lên tiếng phản đối Việt Nam xây cất ở Trường Sa, gọi đây là hành động vi phạm chủ quyền của Trung Quốc.

Hình vệ tinh mới được công ty PlanetLabs đặt tại Hoa Kỳ công bố cho thấy Việt Nam đang nhanh chóng cải tạo Đá Lát ở quần đảo Trường Sa, tiếp theo các dự án hạ tầng khác ở Biển Đông.

Việc cải tạo này nói chung cũng được cho như động thái khẳng định chủ quyền.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Lục Khảng nói trong buổi họp báo thường kỳ rằng Trung Quốc có “chủ quyền không thể chối cãi” đối với toàn bộ Trường Sa, kể cả Đá Lát (Trung Quốc gọi là Nhật Tích Tiêu, tiếng Anh là Ladd Reef).

Ông Lục cũng yêu cầu Hà Nội “không có thêm hành động làm phức tạp thêm tình hình và hợp tác với Trung Quốc để giữ hòa bình và ổn định ở Biển Đông”.

Đá Lát, thường ngập dưới nước, nằm ở rìa tây nam của Trường Sa, hiện có một hải đăng và một trạm gác nhỏ.

Đảo đá này do Việt Nam kiểm soát nhưng Đài Loan cũng tuyên bố chủ quyền.

Chính phủ Việt Nam chưa đưa ra phản ứng gì về các ảnh vệ tinh mới công bố.

Chưa rõ mục đích

Đá Lát trước và sau ngày 30/11/2016 - hình chụp từ vệ tinhImage copyrightPLANETLABS
Image captionĐá Lát trước và sau ngày 30/11/2016 – hình chụp từ vệ tinh

Trong bức hình chụp ngày 30/11 và được Planet Labs cung cấp cho một số hãng truyền thông, có thể thấy một số tàu đang hoạt động trong kênh đào nối biển và vụng biển bên trong Đá Lát.

Hiện chưa rõ các tàu này làm công việc gì. Giới phân tích cho rằng đây là quá trình nạo vét để xây dựng trên các đảo đá lân cận.

Trevor Hollingsbee, phân tích gia về tình báo hải quân, nói với hãng Reuters: “Chúng ta có thể thấy rằng trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam thực sự không đặt lòng tin chiến lược vào ai…. nước này đang nhanh chóng tăng cường quốc phòng.”

“Họ đang nỗ lực khắc phục những điểm dễ tổn thương thí dụ như trạm gác trên Đá Lát.”

Cũng Reuters hồi tháng Tám cho hay Việt Nam đã điều giàn hỏa tiễn di động ra một số đảo ngoài Biển Đông.

Greg Poling, chuyên gia về Biển Đông tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) ở Washington, nói hoạt động ở Đá Lát có thể không phải để xây đắp mà chỉ để giúp tàu vận tải và tàu cá dễ tiếp cận đảo đá này.

Hoạt động cải tạo và xây đảo nhân tạo của Việt Nam tuy nỗ lực nhưng không thấm tháp vào đâu so với Trung Quốc.

Việt Nam cũng lo ngại Trung Quốc có thể dùng sức đẩy bật hải quân Việt Nam ra khỏi 21 đảo và đá mà Việt Nam đang kiểm soát ở Trường Sa.

Bắt giam, khởi tố cựu tổng giám đốc DongA Bank

BBC

Cựu tổng giám đốc DongA Bank Trần Phương Bình TUOI TRE
Cựu tổng giám đốc DongA Bank Trần Phương Bình

Cựu tổng giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đông Á (DongA Bank) Trần Phương Bình cùng một số người khác bị Cảnh sát Điều tra tội phạm kinh tế và tham nhũng (C46) thuộc Bộ Công an bắt giữ.

Vụ bắt giữ diễn ra vào tối hôm 9/12, và ông Bình nay có lệnh tạm giam bốn tháng.

Ngay sau vụ bắt giữ, DongA Bank ra thông cáo xác nhận việc ông Trần Phương Bình cùng bà Nguyễn Thị Ngọc Vân, cựu Phó tổng giám đốc và ba nhân viên khác của DongA Bank bị khởi tố “do vi phạm các quy định của pháp luật trong hoạt động tiền tệ ngân hàng”.

Tuy nhiên, thông cáo nhấn mạnh rằng đây là những người đã bị đình chỉ chức vụ kể từ tháng 8/2015 và không còn quản lý, điều hành ngân hàng kể từ đó, cho nên “việc Cơ quan CSĐT khởi tố vụ án, khởi tố các bị can nêu trên hoàn toàn không ảnh hưởng hoạt động kinh doanh” của DongA Bank.

Sau vụ một số quan chức bị kỷ luật, đình chỉ chức vụ, DongA Bank đã bị Ngân hàng Nhà nước (SBV) đưa vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, với việc người của SBV được vào tham gia ban lãnh đạo của DongA Bank.

Ông Trần Phương Bình giữ chức Tổng giám đốc DongA Bank từ 1998, và đảm nhận chức Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị từ 2013.

ATMImage copyrightJUSTIN MOTT/BLOOMBERG VIA GETTY IMAGES
Image captionDongA Bank từng là một trong những tổ chức tín dụng hàng đầu về công nghệ thẻ và dịch vụ ngân hàng bán lẻ

‘Hoạt động ổn định’

Từng là một trong những tổ chức tín dụng hàng đầu về công nghệ thẻ và dịch vụ ngân hàng bán lẻ, DongA Bank được cho là bắt đầu rơi vào tình trạng khó khăn, thua lỗ kể từ nửa cuối năm 2014.

Trong thông cáo mới nhất liên quan tới vụ bắt giữ các cựu lãnh đạo, DongA Bank nói ngân hàng hiện đã hoạt động ổn định và nêu ra một số số liệu cho thấy vào thời điểm này, tiềm lực tài chính của ngân hàng đạt mức cao hơn yêu cầu.

Cụ thể, DongA Bank nói tỷ lệ dự trữ thanh khoản của ngân hàng là 20%, cao hơn mức quy định chung chỉ cần 10%, khả năng chi trả trong 30 ngày liên tiếp bằng tiền đồng đạt 82% so với quy định chung là 50%, trong lúc khả năng chi trả bằng ngoại tệ tính theo chuẩn đô la Mỹ đạt 106% so với mức đòi hỏi chỉ cần 10%.

Thông cáo cũng cho biết ngân hàng đã xử lý và thu hồi nợ được 3 nghìn 655 tỷ đồng.

Theo bản tin của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam hôm 1/11/2016 thì DongA Bank “đã kiểm soát được nợ xấu”.

Tuy nhiên, tổng số nợ xấu của DongA Bank tại thời điểm này là bao nhiêu vẫn là điều không được nêu rõ.

Hồi tháng 12 năm ngoái, Phó cục trưởng được truyền thông trong nước dẫn lời, theo đó nói số nợ xấu của ba ngân hàng 0 đồng (gồm GPBank, OceanBank và CBBank) và DongA Bank là “khoảng 50-70 nghìn tỷ đồng

Những ngôi làng “độc”, “lạ” nhất thế giới 
Đó là những ngôi làng độc đáo có một không hai trên Trái Đất, khiến nhiều người kinh ngạc. 


Những ngôi làng “độc, lạ” nhất hành tinh - 1 

Làng nằm trong miệng núi lửa: Đó là một ngôi làng nhỏ nằm bên trong miệng núi lửa thuộc hòn đảo Aogashima, nằm biệt lập trong quần đảo Izu, cách Tokyo 358km về phía Nam.
Cư dân ngôi làng giờ đây đã tăng hơn 200 người kể  từ  sau  đợt phun trào cuối cùng của núi lửa xảy ra năm 1875, khiến nhiều người thiệt mạng. Cách duy nhất để khách du lịch có thể đến Aogashima là bằng phà hoặc trựng thăng. Tuy nhiên, hòn đảo thường ít khách bởi nơi đây thường bị bao phủ bởi sương mù dày đặc, rất khó để máy bay đến đảo. 

Những ngôi làng “độc, lạ” nhất hành tinh - 2 
Làng ẩn sau vách đá: Người dân thuộc ngôi làng Monemvasia ở Hy Lạp lại sống núp mình sau vách núi dựng đứng khổng lồ, quay lưng lại với thành phố biển Laconia nhộn nhịp. Ban đầu, Monemvasia và Laconia dính liền nhau, nhưng sau trận động đất diễn ra năm 375 đã tách Monemvasia ra khơi xa. Cư dân trên hòn đảo nhỏ gần như bị lãng quên và được thiên nhiên ban tặng cho khung cảnh hùng vĩ, tráng lệ hướng ra vịnh Palaia Monemvasia thơ mộng. Ngày nay đã có một con đường nhỏ dẫn ra từ đất liền ra đảo, giúp kết nối người dân làng trên đảo với đất liền được thuận tiện hơn. 

Những ngôi làng “độc, lạ” nhất hành tinh - 3 
Làng tổ ong: Đó là ngôi làng Phuktal hay quần thể tu viện Phugtal  ở  Ấn Độ nằm ẩn mình trên vách đá núi treo leo, chắn trước cửa hang phía Đông-Nam vùng Zanskar thuộc Ladakh và được coi là địa điểm hẻo lánh nhất phía Bắc Ấn. Nhìn từ xa, quần thể làng tu viện này trông giống như một 
chiếc tổ ong khổng lồ treo lơ lửng chiếc miệng hang. Được biết, nơi đây được thành lập vào đầu thế kỷ 12 và trở nên biệt lập cho đến khi nhà ngôn ngôn ngữ học và phương Đông học người Hungary là Alexander Cosmo de Koros lần đầu ghé thăm vào thập niên những năm 1800 và lưu lại đây nghiên cứu ngôn ngữ Tạng trong một thời gian với kết quả là 
cuốn từ điển Tạng – Anh kinh điển. 


Những ngôi làng “độc, lạ” nhất hành tinh - 4 

Ngôi làng băng giá Bắc cực: 64 người dân bộ tộc Inuit ở làng Isortoq, đảo quốc Bắc cực Greenland nằm lọt thỏm trên nền băng tuyết lạnh giá nhất hành tinh. Người dân nơi đây sống chủ yếu dựa vào thịt động vật trong khi rau xanh lại vô cùng khan hiếm bởi không có đất canh tác tại khu vực này. Tuy vậy, người Inuit giờ đây đã có thể yên tâm  hơn khi họ  đã có  một đại siêu thị (căn nhà màu đỏ nổi bật trong hình), cung cấp đủ loại mặt hàng thực phẩm, ngay cả sốt cà chua Ketchup cho đến sốt  trứng gà mayonnaise cũng không thiếu tại đây. 


Những ngôi làng “độc, lạ” nhất hành tinh - 5 



Ngôi làng 16 người cheo leo trên núi cao: Ngôi làng Gásadalur hẻo lánh nằm ở phía Tây của Vágar trên quần đảo Faroe,  Đan Mạch. Điều đặc biệt là ngôi làng tí hon này chỉ có 16 người dân sinh sống bình yên trong khungcảnh hùng vĩ của núi non dựng đứng nhìn ra Vịnh Stream thuộc Bắc  Đại Tây Dương. Trước kia, người dân làng muốn đi đến ngôi làng bên cạnh họ phải mất hàng giờ đi bộ hoặc ngồi trên lưng ngựa trên sườn núi cao 400m. Thế nhưng giờ đây một đường hầm được xây năm 2004 đã giúpngười dân nơi đây không còn gặp áp lực về chuyện đi lại. 
Những ngôi làng “độc, lạ” nhất hành tinh - 6 

Làng đại gia giữa hoang mạc cằn cỗi nhất hành tinh: Ngôi làng Huacachina  ở đất nước Nam Mỹ Peru là một ốc đảo cây cối tốt tươi giữa sa mạc khô cằn nhất hành tinh. Nơi đây mọc lên tầng lớp những cây cọ chen chúc quanh một hồ nước xanh biếc như ngọc, làm giảm bớt cái nóng ngột ngạc của sa mạc nơi đây. 96 người dân làng Huacachina sống nhờ vào 
thương mại du lịch khai thác từ chính nguồn tài nguyên tuyệt vời của làng. Qua đó, khách được tận hưởng các dịch vụ nhà hàng, khách sạn tuyệt hảo trên một ốc đảo yên tĩnh đến tận cùng. 
Những ngôi làng “độc, lạ” nhất hành tinh - 7 

Ngôi làng đất sét cheo leo sườn vách núi: Thổ dân người Dogon sống quần cư trong ngôi làng với những ngôi nhà làm từ đất sét nung, treo mình trên vách núi Cliff of Bandiagara, Tây Phi. Đây là vùng cao nguyên kết hợp giữa núi và đồng bằng có thành phần cấu tạo địa chất chính là đất sét đỏ. Ngôi làng là quần thể chuỗi các ngôi nhà, kho lương thực, khu bảo tồn, ủy ban hoàn toàn làm từ đất sét đỏ nung cứng như gạch vô cùng kỳ thú, độc đáo.

Những ngôi làng “độc, lạ” nhất hành tinh - 8 
Ngôi làng thần tiên ẩn mình trong thung lũng: Khi du khách đến với ngôi làng nhỏ Undredal nằm ẩn mình trong thung lũng hẹp Aurlandsfjord của Na Uy, mọi người sẽ không khỏi thốt lên trầm trồ trước vẻ đẹp thần tiên giống như trong thế giới của Walt Disney. Vẻ đẹp mê hoặc và thoát tục  của  làng Undredal không khác thiên đường chốn hạ giới, với khoảng 100 cư dân sinh sống bằng nghề chăn nuôi dê và sản xuất món bơ dê nâu nổi tiếng thơm ngon cùng món xúc xích dê hảo hạng. Trước những năm 1988, người ngoài chỉ có thể  đi thuyền để đến được với làng Undredal, nhưng giờ đây đã  có  đường bộ là hệ thống đường hầm đôi nằm trong tuyến  đường châu Âu E16, kết nối nơi đây với thế giới bên ngoài. 

Những ngôi làng “độc, lạ” nhất hành tinh - 9 

Ngôi làng nằm kẹt trên vịnh biển: Làng Furore cổ kính nằm ẩn mình trên vịnh Fjord thuộc vùng Campania, phía Tây Italia với những ngôi nhà có sắc vàng nổi bật được trang trí  bằng các bức tranh tường đẹp mắt. Furore từng được mệnh danh là”ngôi làng vô hình trên bản đổ”, trưởng  thôn đã quyết định đến lúc phải hành động và tìm cách đưa ngôi làng nhỏ xinh này lên bản đồ. Ông đã yêu cầu người dân trang hoàng ngôi nhà của mình bằng cách sơn màu thật sặc sỡ khiến ngôi làng trở nên nổi bật bên bờ biển. 

Những ngôi làng “độc, lạ” nhất hành tinh - 10 

Bản làng ‘đu mình’ trên sóng ruộng bậc thang: Những bản làng người H’Mông sống hòa mình trên những thửa ruộng bậc thang trồng lúa tại một trong những khu vực đẹp nhất thế giới – Sapa, miền Bắc Việt Nam. 
Người dân bản vừa sống dựa vào làm nương lẫn du lịch, kinh doanh dịch vụ lưu trú địa phương cũng như bán các sợi dây thổ cẩm sặc sỡ cho khách du lịch treking. 

Những ngôi làng “độc, lạ” nhất hành tinh - 11 

Ngôi làng chuột chũi: Những căn nhà của người dân làng Coober Pedy thuộc phía Bắc của Nam Úc sẽ khiến nhiều người nghĩ đó là những đụn đất khổng lồ đùn lên từ hang chuột chũi. Thực tế đó lại là ngôi làng ẩn dưới lòng đất nhằm chống chọi trước cái nóng như thiêu đốt của mặt trời. Theo một thống kê năm 2011, dân số nơi đây khoảng 1,695 người, phần chính sống dựa vào khai thác đá mắt mèo  đắt  đỏ, quý hiếm tại đây. 
Những ngôi làng “độc, lạ” nhất hành tinh - 1 
Làng đỉnh đồi: Ngôi làng Rougon được mệnh danh là làng đỉnh đồi bởi vị thế độc đáo của nó trên đỉnh đồi cheo leo hiểm trở trong dãy Alpes-de-Haute-Provence nước Pháp. Khung cảnh thanh bình nơi đây cùng nhà nguyện Saint Christophe, một pháo đài thời phong kiến còn xót lại sẽ mang lại cho du khách những kinh nghiệm có một không hai. 
Những ngôi làng “độc, lạ” nhất hành tinh - 2 

Bộ lạc da đỏ hẻo lánh trong lòng nước Mỹ: Ít ai biết rằng giữa khung cảnh tráng lệ của công viên Grand Canyon vốn tấp nập du khách lại ẩn giấu một vương quốc thổ dân người da đỏ với dân số hơn 600 người, đó là tộc người Havasupai của làng Supai hẻo lánh. Vì nằm ở địa thế hiểm trở và hẻo lánh, du khách chỉ có thể đến bộ lạc này bằng cách đi bộ hoặc trực thăng hay thậm chí là cưỡi lừa. Tại đây cũng có đầy đủ 
quán cà phê, cửa hàng tạp  hóa, nhà nghỉ, bưu điện, trường học, nhà nguyện và cả một nhà thờ Thiên chúa nhỏ nhắn. 

Những ngôi làng “độc, lạ” nhất hành tinh - 4 

Ngôi làng biệt lập thế giới: Người ngoài sẽ phải mất tới 6 ngày lênh đênh trên thuyền từ Nam Mỹ hay hàng tháng trời nếu đi qua Nam Đại tây dương để đến được ngôi làng hẻo lánh nhất trên Trái Đất, có tên gọi Tristan da Cunha. Đây vốn là một quần đảo có chiều dài 7km và diện tích 98km2 
với khoảng 300 dân sinh sống bằng nghề nông, nằm chơi vơi giữa đại dương, cách đảo núi lửa Saint Helena (thuộc Anh) hơn 2.000 km, 2.400km từ Nam Phi và 3.400km từ Nam Mỹ. 

Những ngôi làng “độc, lạ” nhất hành tinh - 5 
Làng nổi trên đảo cỏ: Người dân bộ tộc tiền Inca là Uru suốt mấy ngàn năm qua vẫn sống trên 42 hòn đảo nổi Uros thuộc vùng hồ Titicaca Puno trên biên giới hai nước Peru và Bolivia. Đảo nổi Uros được kết từ những thân cây sậy mọc trên hồ Titicaca Puno. Cây sậy ngoài ra còn góp phần 
quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm cho người dân Uros. 

Những ngôi làng “độc, lạ” nhất hành tinh - 6 

Làng sống chênh vênh dưới tảng đá: Ngôi làng Monsanto với 828 nhân khẩu ở Bồ Đào Nha vẫn thản nhiên sinh sống khi trên đầu họ luôn lơ lửng mối đe dọa từ tảng đá granite khổng lồ nặng hơn 2.000 tấn có thể lăn xuống bất cứ lúc nào.

( Bài do nhà báo Lê Quang Vinh cung cấp)

Đăng bởi: Ngô Minh | 11.12.2016

Alaska – Vùng đất lớn kỳ diệu

Alaska – Vùng đất lớn kỳ diệu

 
Alaska là một trong hai tiểu bang không giáp với bất kỳ tiểu bang nào khác của Mỹ, là “hộp băng” với những ngày dài lạnh giá được Mỹ mua lại với giá chỉ hơn 3 xu/hecta, nhưng cũng là “vùng đất lớn” chứa đựng nhiều bất ngờ kỳ diệu.
http://dantri.vcmedia.vn/Uploaded/2010/03/03/020301.al.bmp

Alaska không giáp với bang nào của Mỹ
Với diện tích hơn 1.477.000 km2, Alaska lớn hơn diện tích của Anh, Pháp, Italia và Tây Ban Nha cộng lại, nhưng được Mỹ mua lại từ Nga năm 1867 với giá 7,2 triệu USD. Chỉ có hơn 3 xu đôla/hecta, nhưng vụ mua bán này lúc đó cũng đủ làm dấy lên làn sóng phản đối rất lớn từ phần đông những người dân Mỹ. Họ gọi đây là “cái hộp băng của ông Seward”, sau khi Ngoại trưởng Mỹ William H. Seward tán thành việc mua bán này. Vào thời điểm đó, rất ít người biết được tầm quan trọng của Alaska sau này cũng như nguồn tài nguyên khổng lồ mà Alaska cất giấu trong lòng nó.
http://dantri.vcmedia.vn/Uploaded/2010/03/03/020310.al3.jpg
William Seward (1801-1872), cựu Ngoại trưởng Mỹ dưới thời Tổng thống Lincon, người đã mua Alaska về cho nước Mỹ
Tiểu bang gần Alaska nhất là Washington, nhưng cách đến 800 km, qua địa phận Canada. Với 40.000 km đường biển, dài hơn bất kỳ bang nào của Mỹ, Alaska được coi là bang có diện tích lớn nhất trong số 50 bang của Mỹ. Nguồn lợi thủy sản và giá trị xuất khẩu hàng năm của Alaska cũng lớn hơn giá trị của tất cả cá bang của Mỹ cộng lại.
Sở hữu mỏ kẽm Red Dog lớn nhất thế giới, thiên nhiên còn ban tặng cho Alaska mỏ đồng Kennecott dồi dào ở phía Bắc Cordova. Đó là còn chưa kể đến những giếng dầu và khí khổng lồ gần như chưa được động đến trong lòng bán đảo giàu có này. Hiện một ống dẫn dầu khổng lồ đang được lên kế hoạch xây dựng đến 48 bang của Mỹ để cung cấp nhiệt lượng cho hàng chục triệu người. Gỗ xây dựng từ những khu rừng lớn cũng luôn là nguồn xuất khẩu quan trọng của Alaska vì nhờ có Tongas – khu rừng lớn nhất ở Mỹ.
http://dantri.vcmedia.vn/Uploaded/2010/03/03/020310.al1.jpg
Dưới chân Brook Range
Các cư dân đầu tiên của Alaska là những người châu Á, đến đây từ khoảng 10.000 năm trước Công nguyên. Cho đến nay, dân số của Alaska chỉ khoảng 650.000 người và một nửa trong số này chỉ sống trong một thành phố, đó là Anchorage. Nếu lấy mật độ dân số của Alaska đặt vào diện tích Manhattan ở New York thì cả trung tâm thương mại khổng lồ này sẽ trở nên cực kỳ hoang vắng với số dân là 16 người. So sánh như vậy để thấy được Alaska rộng lớn và nguyên sơ đến mức nào. Đây thực sự đúng với nghĩa đen tên gọi “Vùng đất lớn” của nó.
http://dantri.vcmedia.vn/Uploaded/2010/03/03/195020310.al4.jpg
Thành phố Anchorage, nơi sinh sống của một nửa số dân ở Alaska
Alaska sở hữu nhiều dãy núi hùng vĩ nhất thế giới, như dãy Brooks và Alaska. Dãy Alaska cũng là nơi có ngọn núi cao nhất Bắc Mỹ, núi McKinley với độ cao hơn 6.700 mét, bao quanh bởi những ngọn núi cao khác. Từ trên trực thăng nhìn xuống một thung lũng khổng lồ vây quanh bởi những ngọn núi lớn hùng vĩ, con người sẽ thấy thực sự mất cảm giác về tỷ lệ và kích cỡ.
http://dantri.vcmedia.vn/Uploaded/2010/03/03/030310.al5.jpg
Thiên nhiên hoang sơ bên dòng sông Turner
Alaska cũng là quê hương của những dòng sông băng, khoảng 5.000 con sông – trong đó mỗi sông băng có diện tích lớn hơn cả Thụy Điển, và là nơi lý tưởng để chơi thể thao, leo núi hay các môn thể thao tìm cả giác mạnh. Là điểm đến của những dòng sông mang nặng thứ cá quý hiếm – cá hồi, Alaska là nơi trú ngụ của nai sừng tấm Bắc Mỹ, dê núi, gấu đen và rái cá biển… Các sinh vật ở Alaska được cho là rất quý hiếm, tồn tại từ thời nguyên thủy đến nay, nên chính phủ Mỹ hiện không cho mở rộng khai khoáng ở khu vực này.
http://dantri.vcmedia.vn/Uploaded/2010/03/03/020310.al2.gif
Một góc của Rừng Quốc gia Tongas Alaska
Alaska được gọi là “hộp băng”, nhưng sự thật nơi này không hoàn toàn chỉ là tuyết. Mùa hè ở miền Trung Nam khu vực này kéo dài từ tháng 5 đến tận tháng 10. Trong những tháng ấm áp nhất, nhiệt độ có thể dao động từ 15-20 độ C và bầu trời chan hòa ánh nắng. Mùa Đông có thể dài và lạnh hơn, nhưng mùa Đông ở Alaska có sự hấp dẫn riêng của nó. Lúc này, Alaska sôi động với những hoạt động và trò chơi dành cho cả trẻ con và người lớn.
Có thể vì được tận hưởng lâu nay không khí trong mát và thiên nhiên ưu đãi nhiều, nên thực sự rất ít nơi nào trên thế giới con người với con người lại đối xử chân thành và tin tưởng nhau như ở đây. Nếu bạn đến “Vùng đất lớn”, hãy cố tận hưởng cảm giác bình an này.
Việt Hà
Sưu tầm
( Bài do nhà báo Lê Quang Vinh cung cấp)

KINH CÁO: QTXM HÔM NAY XIN TRỞ LẠI PHỤC VỤ BAN ĐỌC!

  CHỦ BÚT: NGÔ MINH

Đăng bởi: Ngô Minh | 08.12.2016

QUÀ TẶNG XỨ MƯA KINH CÁO

QUÀ TẶNG XỨ MƯA KÍNH CÁO

DO CÔNG VIỆC GIA ĐÌNH, CHỦ BÚT XIN VẮNG 3 NGÀY, BẮT ĐẦU TỪ 9/12/2016 KHÔNG CẬP NHẬT ĐƯỢC BÀI VỞ. VẬY XIN CÁO LỖI CÙNG BẠN ĐỌC. SAU ĐÂY, CHỦ BÚT QTXM SẼ TẶNG BẠN ĐỌC CHÙM THƠ TÌNH MỚI. KÍNH MONG BẠN ĐỌC THA LỖI,

                                                                         NGÔ MINH

ngo-minh

CHÙM THƠ TÌNH MỚI CỦA  NGÔ MINH

 SÔNG LŨ

 

Sông em 
khép mở gọi mùa
đêm nay cuộn xoáy
đôi bờ trào tuôn

cột chèo anh cắm giữa dòng
rừng rực sông lũ
oắn cong đất trời

sông lũ ơi
sông lũ ơi
anh vượt ghềnh thác
mồ hôi ướt đầm…

13-11-2016 (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 08.12.2016

Hai thang thuốc quý của vua Gia Long, Minh Mạng

 minh-mang1Vua Minh Mạng

Hai thang thuốc quý của vua Gia Long, Minh Mạng

 

     ngo-minh Ngô Minh

 

Mỗi ông vua đều có những thầy thuốc riêng của mình. Cơ quan y tế của triều đình gọi là Thái Y Viện. Vua muốn  bồi bổ sức khỏe hay chữa bệnh , Thái Y Viện phải cử các Ngự Y giỏi nhất nước bắt mạch, kê đơn, sau đó trình vua phê duyệt  rồi mới bốc thuốc. Trong gần 150 năm triều Nguyễn, hiện còn  lưu truyền 2 thang thuốc quý mà các Ngự Y đã  bốc cho vua Gia Long và Minh Mạng .Cả hai thang thuốc đều là thuốc đại bổ. (Đọc tiếp…)

 

Bán kết AFF: Tuyển Việt Nam thua “bạc nhược” trước Indonesia

Tuyển Việt Nam thể hiện lối chơi rời rạc, thiếu gắn kết trước sức ép của đối thủ AFP
Tuyển Việt Nam thể hiện lối chơi rời rạc, thiếu gắn kết trước sức ép của đối thủ

Trước trận bán kết lượt đi trên sân Indonesia, tôi đã viết bài viết nhận định rằng đây mới đúng là trận chiến đúng nghĩa đầu tiên của tuyển Việt Nam tại AFF Cup năm nay, là khoảnh khắc mà chất lượng thực sự của đội tuyển được phơi bày.

Và sau trận đấu, sự thật ấy chính là một đội tuyển nhợt nhạt, thiếu bản sắc trong tấn công và bất ổn trong phòng ngự.

90 phút thất vọng trên đất Indo

Tuyển Việt Nam đã khởi đầu không hề tệ khi chủ động giành quyền kiểm soát trận đấu những phút đầu.

Nhưng đúng vào lúc ta bắt đầu nghĩ về một trận tích cực của đội tuyển thì Việt Nam phải nhận bàn thua từ tình huống phạt góc của đội chủ nhà ở phút thứ 6 do công của cầu thủ Hansamu Pranata.

Tuy có bàn thắng nhưng Indonesia vẫn chưa bắt nhịp được trận đấu trong khi tuyển Việt Nam giữ được sự bình tình cần thiết và có bàn thắng gỡ hòa ở phút 17 của Văn Quyết trên chấm phạt đền.

Tiếc thay đó là tất cả những gì thầy trò Hữu Thắng làm được trận này.

Tuyển Việt Nam trùng xuống khó hiểu sau bàn gỡ hòa (có thể Hữu Thắng chủ động chơi chậm, chắc) còn Indonesia dần nóng máy và gây sức ép lớn dần về phía thủ môn Nguyên Mạnh.

Lối chơi của đội bóng xứ vạn đảo về cơ bản khá đơn giản, nhưng vấn đề là họ biết cách đánh vào những điểm yếu cố hữu ở hàng phòng ngự tuyển Việt Nam như từng phân tích nhiều lần trước đây: nhanh, trực diện và đặc biệt chắt chiu những tình huống cố định.

Độ chính xác trong các tình huống phối hợp của Indonesia có thể không cao nhưng tốc độ và sức mạnh của họ đủ khiến chính các tuyển thủ Việt Nam mắc sai lầm.

Phút 50, đội trưởng Boas của Indonesia ghi bàn nâng tỉ số lên 2-1 trên chấm 11m xuất phát từ tình huống mắc sai lầm nghiêm trọng và phải phạm lỗi với đối phương của trung vệ Quế Ngọc Hải.

Trong khi hàng phòng ngự tỏ ra yếu đuối trước sức mạnh của Indonesia thì mặt trận tấn công lại quá thiếu ý tưởng sáng tạo.

Trận đấu với Indonesia cho thấy gần như Hữu Thắng không có sẵn hoặc chậm trễ trong việc đề ra những phương án B, phương án C khi phương án A tỏ ra bế tắc.

Một phần mặt sân rất kém chất lượng của nước chủ nhà và một phần với lối chơi pressing tốc độ cao của đối thủ khiến những tình huống phối hợp nhỏ của tuyển Việt Nam không có đất diễn.

Ngay cả trong 20 phút cuối trận, khi đối thủ chủ động rút về phòng ngự dày đặc, tuyển Việt Nam vẫn tỏ ra loay hoay, và khi thỉnh thoảng những cơ hội rõ rệt bất ngờ xuất hiện, Văn Quyết hay Công Vinh lại bỏ lỡ đáng tiếc.

Trận đấu khép lại với tỉ số 2-1, một “gáo nước lạnh” cần thiết để đội tuyển bừng tỉnh sau 3 trận vòng bảng quá dễ dàng.

Quyết đấu ở Mỹ Đình

Beny Wahyudi đẩy cầu thủ đội Việt Nam dẫn tới quả phạt đềntrong trận bán kết lượt đi AFF Suzuki Cup 2016 ở Cibinong, West Java, Indonesia BAY ISMOYO
nBeny Wahyudi đẩy cầu thủ đội Việt Nam dẫn tới quả phạt đền trong trận bán kết lượt đi AFF Suzuki Cup 2016 ở Cibinong, West Java, Indonesia

Thua với tỉ số tối thiểu và có được bàn thắng sân khách, đó là lợi thế không nhỏ trong những trận đấu loại trực tiếp theo thể thức lượt đi – lượt về, nhưng là ngoại lệ với một giải đấu khu vực mà người ta hay ví von “ao làng” như AFF Cup.

Không nói đâu xa, cách đây 2 năm tuyển Việt Nam đã thậm chí thắng cả Malaysia 2-1 trên đất khách nhưng lại thua tan nát 2-4 trên sân Mỹ Đình ở trận lượt về.

Kết quả 2-1 sẽ khiến tuyển Việt Nam bước vào trận lượt về với tâm thế bất lợi hơn nhiều đối thủ Indonesia dù ta được thi đấu trên sân Mỹ Đình.

Nhiệm vụ bắt buộc của tuyển Việt Nam là một chiến thắng tối thiểu cộng thêm điều kiện đủ là không để thủng lưới, nếu không thầy trò Hữu Thắng sẽ phải thắng với cách biệt ít nhất 2 bàn.

Sẽ là một trận quyết chiến sau đây 4 ngày – quyết chiến với Indonesia trên thảm cỏ Mỹ Đình và quyết chiến với chính bản thân các cầu thủ khi rõ ràng về mặt tâm lí chiến, chúng ta đang tỏ ra kém cỏi hơn đối thủ.

Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm của tác giả

CỤ HUỲNH THÚC KHÁNG VỚI CHỦ QUYỀN HOÀNG SA CỦA VIỆT NAM

NGUYỄN VĂN MẠNH-Kỷ niệm 140 năm ngày sinh Cụ Huỳnh Thúc Kháng-Từ lúc cất tiếng khóc chào đời tại làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông (nay là thôn 5, xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, Quảng Nam), đến nay đã tròn 140 năm (1/10/1876 – 1/10/2016); nhưng mỗi lần nhớ đến quyền Chủ tịch nước Cụ Huỳnh Thúc Kháng chúng ta không khỏi xúc động về một con người đã cống hiến trọn đời mình cho dân cho nước.

Bác Hồ và Cụ Huỳnh Thúc Kháng trong Chính phủ đầu tiên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-Ảnh: Internet

Còn nhớ vào đầu thế kỷ XX, Cụ Huỳnh sau khi đỗ Hội nguyên Tiến sĩ khoa Giáp Thìn (1904), lúc chỉ mới 28 tuổi, mặc dù học giỏi đỗ cao, danh tiếng lừng lẫy nhưng đã không ra làm quan với triều đình phong kiến nhà Nguyễn. Trước cảnh đất nước nghèo khổ lầm than dưới ách bọn thực dân đế quốc, Cụ cùng các sĩ phu yêu nước khác phát động phong trào Duy Tân để mở mang dân trí, tăng cường sức mạnh cho đất nước. Cuộc vận động này xuất phát từ Quảng Nam năm 1905 rồi lan nhanh ra các tỉnh Trung Kỳ và sau đó phát triển đến các tỉnh Nam Kỳ và Bắc Kỳ. Do ảnh hưởng ngày càng lớn của phòng trào, năm 1908 Cụ bị thực dân Pháp bắt đày đi Côn Đảo. Đến năm 1921 khi ra tù, Cụ về làm chủ bút báo Tiếng Dân và Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ.
Sau Cách mạng tháng Tám, Cụ tham gia Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, giữ chức Bộ trưởng bộ Nội vụ, quyền Chủ tịch nước, Chủ tịch hội Liên Việt. Dù ở cương vị nào con người của Cụ cũng luôn toát lên một nhân cách “giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khó không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan. Cả cuộc đời cụ Huỳnh không cần danh vị, không cần lợi lộc, không thèm làm giàu; cả đời cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập…1

Là một người ngay thẳng, chỉ biết nói điều hay lẽ phải, bởi thế ngay trong số đầu ra mắt báo Tiếng Dân ngày 10/8/1927, Cụ Huỳnh từng công khai tuyên bố: “Nếu không có quyền nói tất cả những điều mà mình muốn nói thì ít ra giữ những quyền không nói những điều người ta ép buộc nói”2. Chỉ cần một tuyên ngôn đó cũng đủ để thấy nhân cách con người Huỳnh Thúc Kháng.

Phải nói rằng, bên cạnh những đóng góp trong hoạt động của phong trào Duy Tân, hoạt động dân biểu, hoạt động trên lĩnh vực báo chí, Cụ còn là một nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu. Một trong những đóng góp của Cụ đối với đất nước là những bài chuyên luận bàn về chủ quyền quần đảo Hoàng Sa. Những bài viết của Cụ được đăng tải trên tờ Tiếng Dân mà Cụ là chủ bút. Đó không phải là những lời tuyên bố sáo rỗng, vô căn cứ, trái lại, Cụ đặc biệt chú ý đến các luận cứ khoa học để chứng minh chủ quyền quần đảo Hoàng Sa của đất nước ta.3

Từ giữa những năm 1938 trở đi, việc tranh chấp quần đảo Hoàng Sa (Tây Sa) giữa Pháp và Nhật hết sức gay gắt. Tháng 3/1939, Nhật chiếm quần đảo Hoàng Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam đặt dưới quyền cai trị của Pháp. Từ ngày 12/7/1938, Tiếng Dân bắt đầu đăng một loạt bài về quần đảo Hoàng Sa (Tây Sa) như: “Quần đảo Tây Sa (Paracels) với Pháp” (Tiếng Dân, số 1280), “Quần đảo Tây Sa trở thành vấn đề quan trọng” (Tiếng Dân, số 1281), “Việc Paracels (Tây Sa), Pháp chính thức nhận chủ quyền đảo ấy (Tiếng Dân, số 1282). Đặc biệt, Tiếng Dân còn có một bài nghiên cứu, bình luận dài, viết rất công phu và có giá trị: Dấu tích đảo Tây Sa (Paracels) trên lịch sử Việt Nam ta và giá trị bản Phủ Biên Tạp Lục” (Tiếng Dân, số 1284, 23/7/1938) do Sử Bình Tử tức Huỳnh Thúc Kháng viết. Trong bài báo này Cụ đề cập đến việc tranh chấp quần đảo Hoàng Sa đã trở nên nghiêm trọng: “Như trong bài báo Tiếng Dân số trước đã nói, đảo Tây Sa là mấy hòn đảo con con làm nơi trú cho loài chim biển ở ngoài biển khơi, không ai cần để ý đến, mà nhân cuộc Trung Nhật chiến tranh trở nên một vấn đề nghiêm trọng trên trường quốc tế, rõ là một điều không ngờ4. Và Cụ khẳng định: “Theo các báo cáo ta gần đây sưu tập các tài liệu về đảo Tây Sa để chứng minh thì đảo ấy là phần sở hữu của nước Nam ta, vì chính người Nam đã chiếm trước hết và đã kinh dinh các công cuộc ở đảo ấy…”.5

Cụ đã liệt kê các tài liệu phong phú: Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn, Đại Nam Nhất Thống Chí cả bản trước và bản của Cao Xuân Dục soạn lại, Triều Chính Yếu Thực Lục của hai triều Gia Long – Minh Mạng, Lịch Triều Hiến Chương của Phan Huy Chú hoặc Cống Hạ Ký Văn của Dương Quốc Dung, Mán Hình Thi Thoại và Đông Hành Thi Thuyết của Lý Văn Thức, Biển Sử Cương Giám của Nguyễn Thông… trong đó đều đề cập đến Hoàng Sa và chủ quyền của nước ta từ thời bấy giờ. Trong số đó Cụ Huỳnh nhấn mạnh giá trị của Phủ Biên Tạp Lục bởi sự khẳng định chuẩn xác các yếu tố hành chính, địa lý, kinh tế, quân sự của một nhà khoa học uyên thâm. Qua bài báo “Dấu tích đảo Tây Sa (Parasels) trong lịch sử Việt Nam ta và giá trị bản Phủ Biên Tạp Lục, trước hết Cụ Huỳnh nhấn mạnh vấn đề chủ quyền quần đảo Hoàng Sa cần phải dựa vào các tài liệu chữ Hán làm minh chứng: “…chúng ta lại phát kiến một điều không ngờ nữa là một mớ sách chữ Hán của tiền nhân ta lâu nay đã bỏ xó, lề hư bìa nát, phần đông nhất là bạn thanh niên, cho đó là một thứ học mượn, thứ chữ chết, không cần đếm xỉa đến, nay nhân vấn đề đảo Tây Sa, trở thành món tài liệu rất quý giá có quan hệ đến công pháp quốc tế không phải là ít”.

Từ đó Cụ dựa vào các tài liệu cổ sử để chứng minh đảo Hoàng Sa thuộc quyền quản lý của nước ta, cụ thể:

1. Trước hết Cụ dựa vào tài liệu Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn cuối đời Lê để viết: “… nơi phủ Quảng Ngãi, huyện Bình Sơn, làng An Bình gần biển, ngoài biển có nhiều hòn đảo, trong đó có đảo Hoàng Sa dài ước 30 dặm. Rồi kể vật sản: yến sào, chim biển, ốc taive, xà cừ, đồi mồi, hải sâm… Sử chép truyện Chúa Nguyễn có đặt đội Hoàng Sa 70 suất thay phiên ra đảo lấy hải vật, đi ba ngày đêm đến đảo, mỗi năm tháng 3 đi, tháng 8 về; lại có chép sao biên bản của Thuyên Đức Hậu là cai quản đội Hoàng Sa ấy, kể rõ mỗi năm nhặt được thiếc mấy cân, vàng mấy hốt, đồi mồi, yến sào mấy cân, lại có khi nhặt được đồng khí, súng tiền… (những thứ có lẽ là đồ vật của những chiếc tàu chìm đây đó). Đến giá trị nhất là tờ công văn của Quan Chánh Đường quan huyện Văn Xương, phủ Huỳnh Châu (Trung Hoa) gởi sang Chúa Nguyễn ở Thuận Hóa khi hộ tống hai tên trong đội Hoàng Sa bị phiêu bạt sang đây; trong “Thuận Hóa” công văn có chép: “Năm Càn Long thứ 19 (1754, triều Hiến Võ năm thứ 17) tên quân đội Cát Vàng, người làng An Bình, huyện Chương Mỹ, phủ Quảng Ngãi, nước An Nam, ngày tháng 7 đi ra Vạn Lý Trường Sa tìm nhặt các hải vật, tám tên lên bờ tìm nhặt để hai tên lại giữ thuyền, rủi bị trận bão, đứt dây neo, thuyền trôi dạt vào bãi biển Tàu, viên huyện Văn Xương cho thuyền về xứ, chúa truyền Nguyễn Thuận Hóa cai bạ Thức Lượng Hầu làm thư phúc đáp. Đọc đoạn đại lược chép trên, thấy công trước tác của cụ Lê Quý Đôn thật không phụ cái tiếng “tài cao học rộng” và sách Phủ Biên Tạp Lục giá trị đáng quý là dường nào! (Bản này không chỉ kể chuyện trên, nào việc Xiêm La, Chân Lạp… cho đến làng xã, thuế khóa, vật sản, đường thủy, đường lục, cầu trạm, quán xá đều có chép). Trong nước có bản sách quý hóa như vậy mà chỉ có bản chép bằng tay, tam sao thất bản, rồi gác vào xó kín, không đem ấn hành và công bố sách độc, sách dạy; đến ngày nay nhân dịp có việc mới nhắc đến, để mong góp chút ánh sáng nhỏ nhoi truyền đến người đọc. Như thế trách nào dân không ngu. Rõ thẹn với hai chữ “văn hiến” biết bao”.

2. Dựa theo Lịch Triều Hiến Chương của Phan Huy Chú, Cụ viết: “Cống Hạ Ký Văn của cụ Dương Quốc Dung dưới mục Phong Vực có nhắc đến… ngoài phần biển Quảng Ngãi có đảo Hoàng Sa từ cửa biển Sa Kỳ đi hướng đông, ba ngày đêm thì đến nơi, cồn cát nơi đứt nơi nối, vài mươi dăm không sao kể hết, dấu người ít đến”.

3. Cụ dựa vào Mán Hình Thi Thoại và Đông Hành Thi Thuyết của cụ Lý Văn Thức ghi lại trong những chuyến đi Trung Quốc và Lucon (Philippines): Năm Minh Mạng thứ 12 (1831) cụ đi Phúc Kiến có chép: “Thuyền đi về bến hữu, nơi gọi là “Vạn Lý Thạch Đường” đều là cát vàng (Hoàng Sa) cũng gọi là “Vạn Lý Trường Sa”; Cụ có bài thi có câu: Vạn Lý Trường Sa bí tuyệt hiểm Thất châu cuồng lăng nhạ oan hào. Năm Minh Mạng thứ 13 (1832) cụ lại đi Lữ Tống (Lucon) đảo Phi Luật Tân hồi đó thuộc Tây Ban Nha. Thuyền từ Quảng Ngãi đi theo hướng đông, bị gió lạc vào vùng Vạn Lý Trường Sa cụ có bài dẫn nói: Một chòm đảo cát nổi lên giữa biển, phía Tây là biển Quảng Ngãi phía Bắc tiếp biển Quảng Đông, Phúc Kiến, phía đông tiếp biển Lữ Tống, phía Nam thì kéo dài… là một nơi tuyệt hiểm có thuyền bè.

4. Tiếp đến Cụ dẫn Đại Nam Nhất Thống Chí cả bản trước và bản của cụ Cao Xuân Dục mới soạn lại và Bản Triều Chính Yếu Thực Lục cả tiền triều và triều Minh Mạng, Bản Biển Sử Cương Giám của Nguyễn Thông để minh chứng: Đảo Tây Sa là phần sở hữu của nước Nam ta, vì chính người Nam đã chiếm trước hết và đã kinh dinh các công cuộc ở đảo ấy…

5. Cuối cùng Cụ kết luận, vấn đề “quốc tịch đảo Tây Sa” này, nếu trên sân khấu quốc tế, nhận chủ quyền sở hữu của những ai chiếm trước và có tài liệu làm chứng hẳn hoi, như luật điền thổ, khai tài, khai lập nghiệp ở xa, bằng theo lộ tịch và phân thư chúc từ của tiền nhân để lại, tưởng không có nước nào có chứng cứ đầy đủ như nước ta. Quyền ngoại giao ta ngày nay đã phó thác cho nước Pháp, quyền này đã có nước Bảo Hộ đối phó. Ký giả viết bài này cốt có hai điều cảm khái:

– Triều Nguyễn ta từ đời Minh Mạng về trước rất lưu tâm mặt quốc phòng, không chỉ về mặt biên giới lục địa như Xiêm La, Cao Miên, săn sóc mở mang, mà về đường hải phận thường có thuyền quan phải đi khảo sát và giao thiệp với các xứ ngoài (đời ấy gọi là Dương Đình Hiệu Lực).

– Những sách tiền nhân ta viết bằng chữ Hán, trong đó có nhiều sách giá trị quý báu, có quan hệ đến quốc gia và xã hội rất đáng biểu dương, không phải đáng mạt sát hết như phần đông các thiếu niên đã tưởng lầm. Nhân vấn đề đảo Tây Sa này, may ra những sách có giá trị trong kho Hán học bỏ xó kia, có một vài thứ đã chết sẽ sống lại chăng?6

Như vậy, theo Cụ Huỳnh Thúc Kháng, về vấn đề chủ quyền quần đảo Hoàng Sa cần phải chú ý đến các yếu tố sau đây:

1. Vấn đề tranh chấp quần đảo Hoàng Sa đã diễn ra từ cuối những năm 40 của thế kỷ XX.

2. Quốc gia nào có đầy đủ các bằng chứng, cứ liệu sớm về phân thư, chúc thư, luật điền thổ – lập nghiệp của tiền nhân để lại, cũng như các thư tịch cổ khẳng định chủ quyền của quần đảo này thì quốc gia đó có luận cứ khoa học khẳng định chủ quyền quần đảo Hoàng Sa thuộc về mình.

3. Cần sử dụng các tư liệu Hán Nôm, các tài liệu thuộc về thư tịch cổ để tìm cơ sở khoa học cho chủ quyền quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam đã từ lâu.

4. Cần chú ý nghiên cứu triều Nguyễn về vấn đề bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, đặc biệt là biên giới biển đảo.

5. Trong tất cả các tài liệu cổ, tác phẩm Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn là tài liệu có giá trị nhất về chủ quyền quần đảo Hoàng Sa đối với Việt Nam.

Cụ Huỳnh Thúc Kháng đã qua đời cách đây gần 70 năm (21/04/1947) nhưng những trăn trở, suy nghĩ, những lời răn dạy của Cụ về đất nước, về chủ quyền biển đảo vẫn còn nguyên giá trị lịch sử của nó. Nhớ về Cụ, chúng ta không chỉ nhớ về một con người có nhân cách trong sáng, ngay thẳng, trung thực, “không cần danh vị, không cần lợi lộc, không thèm giàu sang” chỉ “phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập”; nhắc lại những bút tích của cụ về chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, ta lại càng thấm thía hơn đạo đức, nhân cách và trách nhiệm của Cụ đối với dân tộc và đất nước.

(Nguồn: Tạp chí Sông Hương11-2016)

—————–
1. Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết về Cụ Huỳnh Thúc Kháng khi Cụ qua đời, ngày 21/4/1947; dẫn theo Trương Điện Thắng (2009),Huỳnh Thúc Kháng và bài báo khẳng định chủ quyền Hoàng sa, http: biendaovietnam.com/2009/12/21.
2. Dẫn theo Trương Điện Thắng(2009), Bđd
3. Quần đảo Hoàng Sa nằm ở giữa kinh tuyến 111-118 độ Đông và vĩ tuyến 14.45 – 17.15 độ Bắc cách cửa biển Đà Nẵng 350 km đường biển. Quần đảo Hoàng Sa là 1 huyện đảo thuộc thành phố Đà Nẵng; quần đảo gồm 2 nhóm đảo: nhóm Bắc gồm đảo Cây (Cù Mộc), đảo Trung, đảo Bắc, đảo Nam, đảo Tây, đảo Côn Nam, đảo Hòn Đá, đảo Linh Côn, đảo Phú Lâm; nhóm Tây gồm đảo Hoàng Sa, đảo Duy Mộng, đảo Quang Ánh, đảo Quang Hòa, đảo Bách Quy, đảo Trì Tôn.
4. Nguyễn Thành (1992), Lịch sử báo Tiếng Dân, tr.200.
5. Nguyễn Thành (1992), Sđd, tr.201.
6. Những bút tích trên đều dẫn từ Huỳnh Thúc Kháng (1938), Dấu tích đảo Tây Sa (Paracels) trên lịch sử Việt Nam ta và giá trị bản “Phủ Biên Tạp Lục” Tiếng Dân, số 1284 ngày 23/7/1938.

( Nguồn: vanvn.net)

Đăng bởi: Ngô Minh | 08.12.2016

Hà Nội và tiếng leng keng tầu điện xưa

Hà Nội và tiếng leng keng tầu điện xưa

Thu Hằng– RFI
Hà Nội và tiếng leng keng tầu điện xưa

Tầu điện trên phố Đinh Tiên Hoàng năm 1979.Flickr.com

Trong suốt nhiệm kỳ toàn quyền (1897-1902), Paul Doumer bỏ nhiều công sức để cải tiến cấu trúc thuộc địa và phát triển cơ sở hạ tầng tại Đông Dương. Dù bị chỉ trích vì cách quản lý độc đoán và sau này bị triệu về Pháp để giảm bớt căng thẳng với Anh Quốc trong tranh chấp biên giới tại Vân Nam (Trung Quốc), Paul Doumer đã khởi xướng hay cho hoàn thiện rất nhiều công trình quan trọng làm thay đổi cảnh quan Việt Nam.

Cũng trong giai đoạn này, Hà Nội trở mình mạnh mẽ để đóng vai trò trung tâm hành chính của Đông Dương. Cũng nhờ Paul Doumer, lúc đó là một trong số nhà quản lý của Tổng Công ty Điện lực (Compagnie général d’électricité, trước đó là Công ty Điện lực Normandie (Société normande d’électricité), do Pierre Azaria thành lập tại Pháp), nên Hà Nội trở thành đô thị đầu tiên tại châu Á có điện thắp sáng. Năm 1897, công suất cơ học của nhà máy điện là 300 mã lực được nâng lên thành 850 mã lực để đáp ứng nhu cầu sử dụng của người đặt mua và của thành phố.

Đây cũng là điều kiện tiên quyết để phát triển hệ thống xe điện nối trung tâm Hà Nội với các vùng lân cận. Chính quyền thuộc địa hy vọng phương tiện này đáp ứng được nhu cầu đi lại của dân cư mỗi ngày một đông. Hà Nội được mở rộng gấp 10 lần so với khu phố cũ và phát triển xứng tầm với một đô thị quan trọng cùng với hệ thống thoát nước, xe điện và nhiều công trình có quy mô lớn.

Theo cuốn Thành phố Hà Nội (Ville de Hanoi) do Chính phủ Đông Dương phát hành năm 1905 (Hanoi, Imprimerie G. Taupin et Cie, 1905), một công ty vô danh có vốn 2.750.000 franc đã nhận được hợp đồng nhượng quyền xây dựng và khai thác một hệ thống xe điện dài 12 km nối trung tâm Hà Nội và vùng ngoại ô. Hợp đồng được ký ngày 02/05/1899 giữa chính quyền bảo hộ Bắc Kỳ, thành phố Hà Nội cùng với các ông Courret, Krug và anh em nhà Durant.

Đến năm 1902, doanh nghiệp này thuộc quyền sở hữu của Công ty Điền địa Đông Dương (Société foncière de l’Indochine), trụ sở ở Paris, nhưng có chi nhánh kinh doanh và nhà máy sửa chữa đầu máy, đóng toa xe ở Thụy Khê (Hà Nội) từ năm 1901. Năm 1929, một lần nữa được đổi tên thành Công ty Xe điện Bắc Kỳ (Compagnie des Tramways du Tonkin) và trở thành Công ty Giao thông công cộng vùng Hà Nội (Transports en commun de la région de Hanoi) năm 1951 (L’Eveil économique de l’Indochine (Thức tỉnh kinh tế Đông Dương), 02/08/1931).

Tầu điện trên phố Hàng Đào năm 1940.Flickr.com

Trên dự án, thành phố Hà Nội có ba tuyến xe điện, xuất phát từ quảng trường Négrier (quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục ngày nay) với tổng chiều dài là 13.101,08 m, gồm: Tuyến A: Quảng trường Négrier (Bờ Hồ) – Bạch Mai (3.524,50 m) ; Tuyến B: Quảng trường Négrier – làng Giấy (5.433,67 m) ; Tuyến C: Quảng trường Négrier – Thái Hà Ấp (Kinh Lược) (4.131,91 m).

Trong cuốn hồi ký Tình hình xứ Đông Dương thuộc Pháp (Situation de l’Indochine française, Paris, Vuibert et Nony, Editeurs, 1905), toàn quyền Paul Doumer cho biết ngay năm 1900, công việc xây dựng nhà máy, lắp đặt đường ray và máy móc nhanh chóng được tiến hành và một phần hệ thống đã được khai thác. Hợp đồng cuối cùng được toàn quyền Đông Dương ký trước khi trở về Pháp là tuyến Bờ Hồ – Cầu Giấy (đường Sơn Tây, route de Sontay) vào tháng 11/1901.

Hợp đồng này nằm trong kế hoạch kéo dài thêm 8.100 m đường sắt, được thành phố Hà Nội lên kế hoạch vào năm 1905. Tuyến A được kéo dài từ Bạch Mai đến đường vành đai (route circulaire, ngã tư Đồng Lầm, nay là ngã tư Đại Cồ Việt-Lê Duẩn). Tuyến B được nối thêm từ Thụy Khuê lên chợ Bưởi. Tuyến C được kéo dài từ Thái Hà vào Hà Đông. Nhiệm vụ duy nhất của chính quyền là xây một cây cầu lớn bằng sắt bắc qua sông Nhuệ thay cho cây cầu gỗ cũ kĩ và không chịu được trọng tải của xe điện. Quá trình phôi thai đoạn kéo dài này mất tận 10 năm. Nhưng đến năm 1915, tuyến xe Hà Nội-Hà Đông vẫn nằm bên kia cầu mà không vào được trung tâm thị xã. Thay vì xây một cây cầu mới, Sở Công Chính lại chỉ cho gia cố bằng xi măng cây cầu cũ, thậm chí làm cả đường ray trên cầu.

Năm 1930, thành phố Hà Nội thông qua dự án xây một tuyến đường mới, dài khoảng 5.500 m, nối hai đầu đường Quan Lộ (Route Mandarine, một đoạn của đường Lê Duẩn ngày nay) từ ngã tư Đại Cồ Việt ngày này đến Yên Phụ, đi qua các phố Thiên Tân (rue Tientsin, nay là phố Hàng Gà) và Hàng Than. Như vậy, tính đến thời điểm này, Hà Nội có 5 tuyến tầu điện, với khoảng 27 km đường sắt, nối từ trung tâm Bờ Hồ với vùng ngoại ô : Bờ Hồ – Cầu Giấy, Bờ Hồ – Hà Đông, Bờ Hồ – Chợ Bưởi, Bờ Hồ – Chợ Mơ và một tuyến không qua Bờ Hồ là Yên Phụ – Bạch Mai.

Tầu điện, từ xa xỉ đến thân quen

Trong suốt 13 năm đầu khai thác, công ty luôn bị thua lỗ vì mua vé đi tầu điện vẫn là một điều xa xỉ với người dân nghèo. Họ thà đi bộ 2 km hơn là trả thêm 1 xu. Doanh thu từ xe điện chỉ tăng dần trong khoảng những năm 1920-1930, giữa hai cuộc Thế Chiến. Người dân dư giả hơn một chút và người nông dân sẵn sàng trả hai xu để tránh đi bộ 1 hoặc 2 km.

Thời Pháp thuộc, mỗi đoàn tầu chỉ có hai hoặc ba toa. Theo thống kê năm 1905, có 22 toa lái và 15 toa xe moóc. Xe điện hoạt động được nhờ một chiếc cần sắt dài, trên đầu có một cái ròng rọc để tiếp xúc với đường dây dẫn điện mắc ở phía trên song song với đường tầu. Thiết bị điện ở mỗi toa gồm hai động cơ lớn, mỗi chiếc có công suất 25 sức ngựa.

Đường sắt rộng một mét, giống hệ thống đường sắt Đông Dương. Mọi chi phí xây dựng và để tuyến đường đi vào hoạt động đều do nhà thầu chịu trách nhiệm. Hợp đồng nhượng quyền khai thác kéo dài 60 năm, sau đó sẽ thuộc về chính quyền thuộc địa, trừ thiết bị di động vẫn là tài sản của công ty. Chi phí và rủi ro trong quá trình khai thác hoàn toàn phụ thuộc vào nhà thầu, chính phủ không cấp bất kỳ khoản hỗ trợ nào.

Tầu điện và xe kéo, phố Hàng Bông (rue du Coton) và vườn hoa Cửa Nam (place Neyret), năm 1925.Flickr.com

Từ năm 1927, Công ty Tài Chính Pháp và Thuộc địa (Société financière française et coloniale, SFFC) của Octave Homberg sở hữu phần lớn cổ phiếu của Công ty Điền Địa, nhà thầu hệ thống xe điện Hà Nội, vì vậy vốn của công ty được tăng lên. Thương vụ này được công luận đánh giá cao vì cuối cùng, những toa tầu cũ từ gần 30 năm kêu ầm ĩ ngoài phố sẽ được tân trang và hiện đại hóa. Nhiều đường ray nhẹ được thay thế bằng đường ray nặng và các thiết bị cũ mòn được thay thế bằng thiết bị mới.

Theo tài liệu lưu trữ quốc gia Pháp về thế giới lao động (tại Roubaix, Pháp), năm 1951, vốn của Công ty Giao thông công cộng vùng Hà Nội (Transports en commun de la région de Hanoi) tăng lên thành 45,9 triệu franc và 114,7 triệu franc vào năm 1953. Đến ngày 01/06/1955, công ty ngừng hoạt động sau khi Pháp thất bại tại Đông Dương. Chính phủ nước Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam cam kết bồi thường cho công ty 300 triệu franc trong vòng 25 năm. Thế nhưng, ngay giữa năm 1959, các khoản nợ đã được thanh toán hết. Công ty Giao thông công cộng vùng Hà Nội giải thể vào năm 1962.

Từ năm 1968, tầu điện được phục hồi và phát triển để trở thành phương tiện công cộng quan trọng của thành phố phục vụ hơn 30 triệu lượt khách mỗi năm. Cho đến cuối những năm 1980, xe đạp và tầu điện vẫn là những phương tiện quen thuộc của người dân thủ đô.

Năm 1991, từ khi tuyến đường cuối cùng bị ngừng hoạt động, xe máy dần dần tràn ngập Hà Nội (chiếm 78% số lượng phương tiện giao thông) cùng với mức đô thị hóa và phát triển kinh tế xã hội cũng như dân số. “Hà Nội không vội được đâu” trở thành câu nói quen thuộc mỗi khi nhắc đến tình trạng tắc nghẽn giao thông.

Theo Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) tại Hà Nội, kể từ năm 2001, hệ thống xe buýt được tổ chức lại và được hy vọng là giải pháp thay thế cho phương tiện cá nhân, song vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu ngày càng tăng của giao thông nội đô. Trước tính cấp bách của tình trạng “khủng hoảng giao thông đô thị”, năm 2008, thành phố Hà Nội đã thông qua một kế hoạch chỉ đạo, trong đó dự kiến thiết lập một mạng lưới 5 tuyến tàu điện ngầm (dự kiến hoàn thành vào năm 2030). Cơ quan Phát triển Pháp tham gia tài trợ cho tuyến tầu điện ngầm số 3 từ ga Hà Nội đi Nhổn và được đánh giá là tuyến thí điểm.

Đăng bởi: Ngô Minh | 08.12.2016

Nghi phạm bạo hành trẻ em bị bắt ở TP HCM

BBC

Stefan Struik và Nguyễn Thanh Dũng (bên phải)Image copyrightYOUTUBE
Image captionNguyễn Thành Dũng (bên phải) bị bắt ở TP HCM

Một người Việt Nam nghi bạo hành trẻ em Campuchia sau khi video quay cảnh lạm dụng được lưu truyền trên mạng đã bị bắt ở TP HCM.

Các hình ảnh video gây chấn động dư luận cho thấy cảnh Nguyễn Thành Dũng bạo hành một bé trai Campuchia hai tuổi.

Báo trong nước dẫn nguồn lãnh đạo Cục Cảnh sát Hình sự (C45) thuộc Bộ Công an xác nhận thông tin đã bắt được nghi phạm 34 tuổi này để điều tra hành vi hành hạ trẻ em.

Vụ bắt giữ được nói xảy ra lúc khoảng 8 giờ tối thứ Tư 7/12.

Báo Thanh Niên cho hay “ngoài các clip bị tung lên mạng có cảnh Dũng hành hạ những đứa bé thì công an thu giữ được 48 clip hành hạ trẻ em khác có trong điện thoại của Dũng”.

Trước đó theo tờ The Cambodia Daily, một người Hà Lan (có tên Campuchia là Ly Heng) và hai người Campuchia (Ret Sothy, 28 tuổi, và Oeu Nat, 25 tuổi ) đã bị cảnh sát tại tỉnh Kompong Cham bắt giữ hôm thứ Ba 6/12 vì các hình ảnh video trong đó có cảnh dùng roi điện đâm vào các bộ phận cơ thể trần truồng của bé trai này.

Các đoạn video cũng cho thấy một người nói tiếng Việt dùng roi điện chích nhiều lần vào một bé trai không mặc quần áo khiến em bé gào khóc đau đớn.

Nghi phạm thứ tư được cho là một người Việt có tên Nguyễn Thành Dũng, quê ở tỉnh An Giang, lúc đó đã bỏ trốn về Việt Nam.

Hành hạ trẻ em

Nếu bị xử tội mua bán trẻ em, ngược đãi và mua dâm trẻ em, người có tội có thể phải đối diện với khung hình phạt lên đến 20 năm tù hoặc tù chung thân

Vẫn theo tờ The Cambodia Daily trích lời Phó cảnh sát trưởng Kompong Cham, ông Heng Sambath, thì những người này bị nghi liên quan vụ hành hạ và xâm hại tình dục bé trai, con một người làm công tại đồn điền ở tỉnh Mondolkiri, giáp tỉnh Đăk Nông của Việt Nam.

Bức ảnh nghi phạm người Hà Lan đang bị tạm giam trùng khớp với các bức ảnh trên mạng của ông Stefan Struik, Giám đốc điều hành một công ty sở hữu đồn điền cacao ở Mondolkiri và một nhà máy đường cọ ở tỉnh Kompong Cham.

Ông James McCabe, người đứng đầu một tổ chức thiện nguyện mang tên Đơn vị Bảo vệ Trẻ em (Child Protection Unit) ở Campuchia, cho biết hiện họ đang chăm sóc bé trai này.

Theo Phó cảnh sát trưởng tỉnh Mondolkiri – ông So Sovann, mẹ của bé trai không biết gì về vụ bạo hành này vì không có những dấu vết bầm tím để lại trên cơ thể bé và bà cũng không biết vụ việc xảy ra khi nào.

Tuy nhiên một báo cáo của cảnh sát được ông Sambath cung cấp nói rằng có những bằng chứng trên thân thể là bé trai đã bị cưỡng hiếp bằng đường hậu môn.

Cuộc điều tra vẫn đang được tiếp tục.

img_8195

ĐỌC BỘ SÁCH “NGÔ MINH TÁC PHẨM”, TẬP 5

TIẾNG CƯỜI LẠC QUAN MỘT VÙNG ĐẤT QUA  “NGHE CHUYỆN TRẠNG VĨNH HOÀNG

 

         Phạm Dũng

 

Chuyện trạng Vĩnh Hoàng (Vĩnh Linh) thì nhiều người đã nghe, nhưng chuyện kể vào thơ thì e rằng cũng hiếm. Đó là trường hợp bài thơ ”Nghe chuyện trạng Vĩnh Hoàng” của nhà thơ Ngô Minh.

Bom hất sang sông đỡ tốn tiền đò

                             Đi bứt tranh bứt nhầm đuôi cọp

                             Người kể chuyện quả quyết rằng có thật

Ai chưa tin xin mời đến làng tôi.

Nhà thơ đã nắm bắt được khẩu khí dân gian, đến cả giọng điệu, hơi thở của chuyện trạng Vĩnh Hoàng. Tác giả cũng đã lựa chọn những chi tiết điển hình. Ngày xưa đi bứt tranh, gặp cọp ai không khiếp vía, hồn xiêu phách lạc. Vậy mà người dân Vĩnh Hoàng tỉnh bơ,”bứt nhầm cả đuôi cọp”. Sau này Vĩnh Linh là “túi bom” trong chiến tranh huỷ diệt của đế quốc mỹ; và đạn bom nào phải chuyện đùa, sống chết trong gang tấc, nhưng chẳng hề gì, “Bom hất sang sông đỡ tốn tiền đò”- người Vĩnh Hoàng cười đùa trước hiểm nguy, thử thách. Tiếng cười dân gian vui nhộn, thoải mái, hào sảng đã hoá giải mọi điều ác, mọi tai ương; và chỉ có sức mạnh dan gian thâm hậu mới làm nổi điều này, làm nên bản lĩnh Vĩnh Linh- Quảng Trị. Tiếng cười lạc quan, tự tin đã mạnh hơn cái chết và làm nền cho sự sống đâm chồi. Nhà thơ đã đồng điệu và bắt nhịp được âm hưởng dann gian.

Người kể chuyện xoè hai bàn tay

                             Săn mùi đất và chai lì vỏ hến

                             Người nghe chuyện thường hay tán thưởng

                             Chẳng nghi ngờ câu chuyện của anh

                             Tôi đã nghe dễ đến trăm lần

                              Và tôi yêu như yêu màu đất đỏ

                              Yêu bao điều như hạt tiêu kỳ lạ

                              Yêu mắt nhìn sinh ngọn gió bình yên

 

Thì nào ai có nghi ngờ gì những câu chuyện trạng mang đậm chất Vĩnh Linh đã ngấm vào thịt da, máu tuỷ của người dân nơi đây. Chỉ có những con ngưới làm lụng kiên cường, bất khuất, yêu đất đai như con cái của mình và”biết cười từ trong bào thai” mới biết sáng tạo ra chuyện trạng Vĩnh Hoàng, mới sinh hạ nên những nghệ sĩ dân gian làm rạng rỡ văn hoá quê nhà:

Vĩnh Linh ơi từ địa đạo bước lên

                              Tưởng trắng sơn một màu tang trắng

                              Ai ngờ dưới tro nhữmg câu chuyện trạng

                              Lại lên xanh lấp lánh mắt cười

 

Phép lạ của tiếng cười dân gian chính là ở đó. Trong mưa bom bão đạn, trong tang tóc rợn người thì tiếng khóc ra đời, âu cũng là điều dễ hiểu. Song kì lạ thay tiếng cười đã cứu rỗi mọi điều, đã đứng cao hơn tất thảy, thức dậy một niềm tin sự sống. Tiếng cười đã hoá thành một gia tài vô giá:

Nắng lè lưỡi mà mưa thâm trời

                              Như ngày nào đạn bom tối mặt

                              Tất cả sẽ ra đi, chỉ tiếng cuời trẻ nhất

                              Cha trao con như kỷ vật trên đời

Những ai từng sống, từng biết đến mảnh đất”ô châu ác địa” hẳn sẽ thấu hiểu phần nào con người nơi đây phải chống chọi với “ giặc trời”- giặc ngoại xâm như thế nào để bảo toàn sự sống. Tất cả rồi sẽ qua đi, chỉ riêng tiếng cười là trẻ mãi không già. Có thể đời trước không truyền lại cho đời sau nhiều của nả, nhưng hậu sinh được thừa kế những tiếng cười lạc quan như thế cũng đã giàu có về mặt tâm hồn. Đó là điều may mắn của một vùng đất, mà dẫu có bạc vàng cũng không thể mua bán được:

Một củ khoai phải luộc đến năm nồi

                              Chuyện như chẳng thể nào tin được

                              Nhưng đến Vĩnh Linh vốc lên từng  nắm đất

                              Hiểu thêm sự tích lạ lùng hơn

Chính sự nếm trải, sự đồng cảm đã khiến nhà thơ kết thúc bài thơ như một phát hiện sâu sắc, một kinh nghiệm sống quý báu. Luỹ thép Vĩnh Linh từng là niềm tự hào một thời không chỉ riêng của Quảng Trị, mà còn của cả nước. Sự tích dân gian từ tiếng cười đã tạo nên sự tích cuộc đời…

NGHE CHUYỆN TRẠNG VĨNH HOÀNG

 Ngô Minh


Bom hất sang sông đỡ tốn tiền đò
Đi bứt tranh bứt nhầm đuôi cọp
Người kể chuyện quả quyết rằng có thật
Ai chưa tin xin mời đến làng tôi.

Người kể chuyện xoè hai bàn tay
Săn mùi đất và chai lì vỏ hến
Người nghe chuyện thường say tán thưởng
Chẳng nghi ngờ câu chuyện của anh

Tôi đã nghe dễ đến trăm lần
Và tôi yêu như yêu màu đất đỏ
Yêu bao điều như hạt tiêu kỳ lạ
Yêu mắt nhìn sinh ngọn gió bình yên

Vĩnh Linh ơi từ địa đạo bước lên
Tưởng trắng rợn một màu tang trắng
Ai ngờ dưới tro những câu chuyện trạng
Lại lên xanh lấp lánh mắt cười.
Một củ khoai phải luộc đến năm nồi

Chuyện như chẳng thể nào tin được

Nhưng đến Vĩnh Linh vốc lên từng  nắm đất

Hiểu thêm nhiều sự thật lạ lùng hơn !

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đọc Lênh đênh của Lưu Na: Thơ mộng và đau đớn

Phan Tấn Hải

clip_image002

Em và chị Như bị hiếp ba bốn chục lần, chúng đã ném chị Như xuống biển, vừa định bắt em theo thì có tàu hàng hải tiến gần nên tụi nó bỏ đi. Lên đảo em xin đi Na Uy chứ không đi Mỹ với anh Tuấn fiancé của em nữa.”

Những dòng trên là lời của Phượng nói với Ngà ở trại tỵ nạn, được ghi lại nơi trang 87 trong tác phẩm Lênh đênh, khi Phượng kể về chiếc ghe vượt biên gặp hải tặc.

Và nơi trang 88, tác giả Lưu Na kể về thân phận người phụ nữ Việt:

Ngà biết từ đây cho đến chết Ngà sẽ không bao giờ trả lời câu hỏi mà tất cả những ai đi vượt biên đều hoặc hỏi thầm hoặc thốt thành câu: có “bị” hải tặc. Nói có là dối mà nói không có tội, tội với Phượng, tội với tất cả những người phụ nữ không may. Tự bao giờ cái may mắn của một vài cá nhân trở nên tội với những người thọ nạn? Người con gái Việt Nam da vàng, tất cả những người phụ nữ vượt biên – vết chàm đã khắc, màu chàm đã nhuộm, và anh Tuấn, tất cả những Tuấn chàng trai nước Việt, có còn cách nào khác hơn là chúng ta phải xa nhau, để ở mỗi phương trời cách biệt may ra còn có thể sống tiếp. Đêm vẫn trong, chỉ hồn mình đục. Đảo tị nạn không chỉ xóa lối về mà tẩy trắng luôn những tờ hồn trắng, để lại những vết gôm nham nhở xám buồn…”

Và như thế, tác phẩm Lênh đênh hình thành. Đó là những dòng chữ đầy sức mạnh.

oOo

Cũng là chuyện một thời Miền Nam thất thủ, cũng là chuyện sân trường đại học Sài Gòn thuở giao thời dưới quyền cán bộ từ Bắc vào Nam, cũng là những băn khoăn về giá trị của tự do, cũng là chuyện đi ghe vượt biển, cũng là chuyện lên đảo tỵ nạn, cũng là chuyện vào đại học Mỹ, cũng là chuyện đi làm và giao tiếp trong một cộng đồng người Mỹ gốc Việt, và rồi một vài mối tình tan vỡ.

Nhiều người cũng đã trải qua hoàn cảnh như thế. Nhưng tác phẩm Lênh đênh của Lưu Na mang sức mạnh rất khác. Từng dòng chữ của tác giả như dường viết trong lặng lẽ, trong cô tịch, nhưng ẩn sau các dòng chữ là nêu lên được những gì rất buồn của kiếp người. Giữa những dòng chữ là nỗi đau của Phượng, là cái chết bi thảm của Như, và là nỗi buồn vĩnh kiếp của Ngà.

Những con tàu bị xô dạt trên các triền sóng. Mạng người mong manh trong dông bão đại dương. Khi cô sinh viên tên Ngà bước lên trại tỵ nạn, cô như bước sang một kiếp khác. Ngà thâm cảm sự may mắn của cô, nhưng được nghe kể về rất nhiều người đã biến mất trên biển, và rồi nghe kể từ các nạn nhân hải tặc.

Những mối tình trong tác phẩm buồn man mác, không thành toàn, hệt như cõi đời đầy hư vỡ này.

Bạn hẳn là đã từng đọc những chuyện tương tự, và có thể bạn cũng đã trải qua các sóng gió, hư vỡ đó. Thậm chí, có thể bạn đã gian nan hơn cô Ngà, thí dụ, bạn có thể đã trải qua vượt biên đường bộ, đã bị bắt vào tù nhiều lần, đã lặn lội buôn than trên các chuyến xe lửa Bắc-Nam, hay vân vân.

Nhưng tác phẩm Lênh đênh của Lưu Na rất khác. Văn phong Lưu Na xô đẩy độc giả vào những khung trời cảm xúc. Truyện không phải kể để cho qua. Khi bạn gấp cuốn sách 190 trang lại, sẽ thấy lơ lửng trước mắt, trên các trang giấy là một thời của Sài Gòn, là tiếng rì rào ven biển quanh các trại tỵ nạn Đông Nam Á, là những chen chúc trong xã hội bận rộn nơi xứ người – và sâu thẳm, là một nỗi buồn của người đã đi thật xa, nhớ nhà, nhớ mẹ và tự băn khoăn về trách nhiệm với quê hương.

Văn của Lưu Na có sức mạnh khác thường như thế.

Như trong đoạn văn, nhân vật chính là cô Ngà đứng trong hàng sinh viên ở sân trường, nghe bà Chủ tịch từ Bắc vào tiếp quản, và nghe chị Chánh (sinh viên nằm vùng) nói chuyện và chợt nhớ chuyện má của Ngà kể thời trước 1954 ở Miền Bắc, không khác gì, và hình ảnh trái nghịch giữa ống quần bà cán bộ và các tà áo dài trắng nữ sinh viên, trích:

Bà nói giọng Trung, nhưng không phải Huế, thấp và tròn. Tấm áo bà ba bằng vải ny lông in bông với cái quần vải đen dầy mịn như lạc loài giữa rừng áo dài trắng. Có lẽ, phải nói là nó kiêu hãnh một mình giữa rừng tà áo mới đúng. Ống quần của bà lật phật theo làn gió trên đôi guốc gỗ, Ngà ngó xuống mình, ngó chung quanh, có ai thấy khó chịu như Ngà với cái ống quần tới mắt cá ấy? Cùng với cái giọng lanh lảnh, cái ống quần phần phật như vả vào mặt mọi người. Bên cạnh bà chủ tịch thấp tè, chị Chánh đã cao như cao hơn. Chị đứng nghiêng nghiêng đầu, tóc kẹp kéo qua một bên vai áo sơ mi trắng, quần đen. Chị cười cười, nụ cười thật vô tư như những thành tích đấu tranh, những mưu mô lươn lẹo để tồn tại với chính phủ cũ là của một ai đó ba đầu sáu tay. Thật lạ, bà chủ tịch, chị Chánh, hay những anh bộ đội ngơ ngác, tất cả như từ cuốn phim “cộng sản” má kể mấy mươi năm trước, hiện ra sống động. Những khuôn mặt im lìm không biểu lộ gì.” (Lênh đênh, trang 12-13)

oOo

Văn của Lưu Na cũng nói về những cảnh đời thường nhưng lại cực kỳ thơ mộng. Và cả đau đớn. Hãy đọc về một ngày mưa, Ngà được thầy Hoà kể về mối tình giữa thầy và chị Phụng, nơi trang 26:

Một ngày mưa tầm tã Ngà tới lớp thầy Hòa. Thầy đang ân cần chậm nước mưa trên đầu của chị Phụng, người Hoa lai Việt. Chị về rồi, người nhà thầy chửi gióng giả sau bếp, môi thầy mím lại cằm bạnh ra, mặt trắng bệch, con mắt một mí như tóe lửa. Thầy ngồi xuống, nói bằng tiếng Anh, kể với Ngà mối tình với chị Phụng. Ngà nghe tai được tai không, nước mưa dán tóc sát xuống da, Ngà nghe từng giọt nước thấm xuống lòng buốt lạnh, đầu óc váng vất hình ảnh thầy Hòa chậm nhẹ những giọt nước trên tóc chị Phụng. Ngà ra về, nước mưa chảy dọc màng tang nhiễu xuống cổ áo. Có bàn tay nào cho Ngà.”

Bạn có thể đọc đi, đọc lại… Văn Lưu Na đẹp như thơ, trong một cảnh cực kỳ hiện thực: thầy Hòa chậm nước mưa trên đầu chị Phụng, khi chị về rồi, tiếng chửi vọng từ sau nhà, thầy phải dùng tiếng Anh kể cho Ngà nghe tình của thầy với chị Phụng, và từng giọt nước mưa ngấm buốt vào lòng Ngà… Bạn hãy hình dung, khi cảnh này nếu đưa vào phim… chúng ta sẽ cảm nhận được nước mưa ngấm cả hơi lạnh trong suốt cõi tử sinh đời người.

Vận mệnh nào cho dân tộc Việt Nam, khi những đôi dép râu bước khắp đường phố Sài Gòn?

Có phải vì trời quá cao, nên không nghe được tiếng dân kêu? Hay vì trời quá thấp, nên mọi chuyện hóa ra chật chội, đổ vỡ?

Tác giả Lưu Na kể về những mảng đời của dân Sài Gòn hệt như các tấm nhôm bị dép râu đạp lên, méo mó, dị hình:

Ngà từ giã anh Quang ở bùng binh Sài Gòn, ngước mắt nhìn trời. Trời thấp quá, đè bẹp mọi cái thau nhôm to nhỏ thành những miếng nhôm phẳng méo mó dị hình rồi những bước dép râu đạp lên, chà nghiến những miếng nhôm ấy lên mặt đường khô lồi lõm gập ghềnh. Khi Ngà về đến nhà, tấm thân nhôm mỏng đã thủng thêm vài lỗ.” (Lênh đênh, trang 42)

Và thử hỏi, làm cách nào có thể ghi lại nỗi nhớ? Thí dụ, nỗi nhớ má? Tác giả Lưu Na ghi rằng nhân vật Ngà nằm trên đảo chờ tỵ nạn, có những đêm nhớ má, và quặn thắt khi thấy đời mình như con nước trôi xa. Như nơi trang 78-79:

Đêm hằng đêm Ngà thèm mơ thấy Má, thấy lại mái nhà xưa, thấy lại cả những con người mình hằng ghét bỏ, mà họ bặt tăm, mà đời sống bặt tăm. Tại sao Ngà lại ở chốn này, sao Ngà vẫn sống khi gốc rễ của mình đã tan biến? Sông khi đổ ra biển thì con nước tan vào biển cả nhưng ngọn nguồn lòng bãi vẫn còn dạng hình dấu vết, mà những thân phận con người ra đi lại trở thành con nước bơ vơ không nhập được với đại dương nào trong khi cái nôi hứng đỡ đã một khắc một giờ bị xóa. Nước đi là nước không về. Nước chi là nước giữa trời.”

oOo

Tác phẩm Lênh đênh cũng ghi về một kỷ niệm thơ mộng trên đảo của Ngà, với Bách, một chàng trai hướng dẫn thiếu nhi thánh thể. Nhiều thập niên sau, Ngà gặp lại Bách tại Quận Cam, khi Bách đã trở thành một linh mục từ một tiểu bang xa, đang ghé thăm Quận Cam.

Và sau đây là những dòng văn rất đẹp của tác giả Lưu Na, khi ghi lại cảm xúc của Ngà bâng khuâng khi gặp lại Bách:

Cuộc sống như sóng dồn, đẩy tấm thuyền bé ngày một xa khơi qua muôn khúc quanh qua ngàn dòng nước. Ngà và Bách đã dạt khỏi nhau như một giấc mơ tỉnh dậy là quên hết. Mọi sự đều có thể và đều không có thể, trăng còn mãi với thời gian nhưng làm sao để có lại một lần cái màu xám bạc hoang liêu. Gặp lại Bách như gặp lại một mảnh đời thất lạc. Gặp lại Bách như tìm thấy bóng mình của thuở đầu đời. Gặp lại Bách như đã đi hết một vòng của cuộc sống. Ngà nhận ra mình vẫn nhớ bờ môi ấy. Ngà nhận ra mình vẫn nhớ hơi ấm của bàn tay xưa.

Vành môi cũ nay ban lời Chúa. Bàn tay xưa nay mở ra phúc âm. Ta là khởi đầu và cũng là kết thúc. Hết một vòng đời Bách rồi đã đến thiên đường, chỉ còn Ngà đứng trên kỷ niệm xưa nhìn lại tháng năm, thấy quãng đời đã qua chỉ là vết đau dài.” (Lênh đênh, trang 187)

Và đó cũng là những dòng cuối truyện. Sách khép lại, nhưng vết đau dài chưa dứt.

Đọc xong những dòng cuối truyện, tôi ước mơ phải chi tác giả Lưu Na viết bằng tiếng Anh, để thế hệ trẻ hiểu được và cảm nhận được những nỗi đau đớn của những người bước lên ghe ra đi. Chân bước đi, cũng như con nước rời xa, vô định. Những gì còn lại sẽ là những dòng chữ của Lưu Na, thơ mộng và đau đớn.

( Nguồn: VV)

HOÀNG NGỌC HIẾN- TRIẾT HỌC ẨN DẬT TRONG VĂN HỌC

CHU VĂN SƠN
Tôi đọc ông sớm, biết ông cũng sớm. Nhưng phải đến lần cùng vào phương Nam trong mấy chuyến lưu giảng cho giáo viên đồng bằng sông Cửu Long các kì hè đầu những năm 2000, tôi mới có dịp được trò chuyện sâu cùng ông.

Nhà văn, nhà phê bình Hoàng Ngọc Hiến (nguồn Internet)

Đoàn chúng tôi gồm những nhà văn, nhà lý luận và giảng viên đại học, phần lớn vào từ Hà Nội. Tôi nhớ những ngày ở khách sạn Chương Dương Mỹ Tho, cứ dạy về, đoàn lại tản thành từng nhóm nhỏ, vừa tản bộ trong hoa viên trước sảnh, vừa nói đủ thứ chuyện trên giời dưới biển. Một chiều, khi chỉ còn hai chúng tôi, chuyện vãn thành tâm tình, tôi mới nói nhận xét của mình. Đại ý rằng tôi đã đọc ông hồi còn là học trò chuyên văn, từ cái Triết lý Truyện Kiều, có khi đó là cái đầu tay của ông cũng nên. Và sau đó, bất cứ cái gì ông viết tôi đều đọc hết. Rằng hồi ông còn dạy ở Nguyễn Du, tôi cũng đến nghe ké rất nhiều. Rằng tôi đã cố hết sức để định danh cho mình Hoàng Ngọc Hiến là ai. Rằng tôi thấy các danh xưng quen thuộc mà người ta vẫn dùng gọi ông: nhà lí luận văn học, nhà phê bình văn học, nhà nghiên cứu văn học… đều không hợp, không ra. Riêng tôi, tôi thấy dù văn học là điểm nhấn, nhưng hoạt động của ông chả bó riêng gì trong văn học, mà ra nhiều lĩnh vực khác nhau của văn hoá, và tôi luôn thấy cảm hứng bao trùm mọi cái viết của ông là triết học. Cái tạng ấy dường như đã được phát lộ ngay từ cái đầu tay đó. Vì thế phải gọi ông là nhà triết luận mới đúng, mới đủ, chứ các danh xưng kiểu kia chả đâu vào đâu. Ông gật gù và chỉ nói “có lẽ thế”. Khi ấy tôi nghĩ: vẻ tán thưởng này chỉ là giao đãi để làm hài lòng người trò chuyện, chứ ông chả để tâm, chắc sẽ quên ngay thôi. Nào ngờ, mấy tuần sau, khi ra Hà Nội rồi, một hôm ông gọi điện rủ tôi ra chơi. Cách tiếp trịnh trọng khiến tôi ngỡ ngàng. Ông bảo: sau khi cậu nói, mình mới xem xét toàn bộ những gì mình viết và thấy cậu rất có lí, cậu đã giúp mình hiểu rõ mình hơn. Tôi quá bất ngờ. Làm sao ngờ được nhận xét của mình lại được một người như ông lưu tâm đến thế. Rồi ông rủ luôn đi ăn cháo vịt Vân Đình. Phải nói là tôi sướng rơn, cả hãnh diện nữa. Nhất là, chỉ ít lâu sau, ông cho xuất bản một cuốn sách, mà những khái niệm tôi trao đổi cùng ông đã được đặt làm nhan đề: Triết lí văn hoá và triết luận văn chương. Kể từ bấy, viết bài gì ông cũng chuyển cho tôi qua đường mail, in cuốn nào ông cũng dành cho tôi. Và tôi vẫn đọc ông chăm chỉ bằng tâm thế một học trò như thế. Sau cái lần làm xong Tuyển tập Nguyễn Đăng Mạnh, tôi tỏ ý muốn làm Tuyển tập Hoàng Ngọc Hiến. Thế là ông liền cung cấp cho tôi tất cả những tài liệu tôi cần. Đến nay, công việc đã hòm hòm, dù chưa xong hẳn.

 

Người khởi đầu giới nghiên cứu Minh triết Việt

Tìm hiểu một tác giả nào đó, người ta thường ngược về quá khứ để tìm những mầm mống dự báo thiên hướng và tương lai của tác giả, đặng lí giải sự nghiệp ông ta. Khỏi phải nói là tôi cũng tuân theo lề lối ấy. Tôi tin hôm nay ông trở thành người khởi xướng và đứng đầu giới nghiên cứu Minh triết Việt là một tất yếu. Cái xu hướng này dường như đã nằm sẵn đâu đó trong tố chất của ông. Tôi đã được nghe kể về bệnh ham lí giải của cậu học trò Hiến. Gặp cái gì cũng muốn giải thích ngay, giải thích bằng được, dù chả phải lúc nào cũng thuyết phục, cứ lí giải cốt để tư duy được khởi động, vận hành. Mà lí sự thì rặt bằng những phạm trù nọ, phạm trù kia, do vận dụng nhanh cũng có, do vừa lóe ra cũng có. Tôi cũng được biết thuở còn học trung học phổ thông, cuốn sách mà cậu học trò này ôm cả vào trong giấc mộng chính là cuốn triết của trường dòng, mà trong đó triết học còn bao gồm cả mỹ học, lô gíc, đạo đức chứ chưa phân hoá chuyên ra như bây giờ. Và tất nhiên, cậu cũng chưa ý thức đầy đủ đó là triết. Tôi cũng biết sau này khi theo học đại học, không phải ngẫu nhiên mà trong các giáo sư thời bấy giờ, ông phục Trần Đức Thảo và Cao Xuân Huy hơn cả, dù có lúc chưa phải lắm với họ. Tư duy triết học của các bậc thầy này đã mê hoặc ông cũng như ảnh hưởng đến thiên hướng tư duy của ông không ít. Tiếc rằng, thời ấy, tư duy triết học ở ta không được khuyến khích lắm. Nếu khác đi, con đường học thuật của ông hẳn đã khác nhiều…

Nhưng, xem ra, cái mầm sau này mọc thành cây, chính là nếp nghĩ theo triết học, sống theo khoa học kiểu riêng của ông. Tôi rất ấn tượng về câu chuyện của ông Lâm, một bác sĩ kì cựu, từng được học Hoàng Ngọc Hiến những ngày tò te làm cậu giáo giữa đám trò quê. Chuyện rất vui. Thuở ấy tụi họ tuổi đều sêm sêm, cả học lẫn chơi đều chung chạ tất. Có lần cùng nhau tắm truồng, đang tồng ngồng từ dưới sông lên, thì gặp một toán phụ nữ. Đám học trò đứa nào đứa nấy cứ cuống cuồng lấy tay che phần dưới, dúi dụi vào nhau, bước không nổi. Chỉ riêng cậu giáo Hiến thì úp hai bàn tay che mặt và bước rất thản nhiên. Cả bọn ngơ ngác. Hỏi, thì cậu giáo trẻ bảo: cái dưới thì ai chả giống ai, nhìn nó làm sao nhận ra đứa nào, chỉ có cái mặt mới khác nhau thôi, có bị lộ mặt thì mới lộ mình… Ra thế, cả bọn lại ồ lên, ngớ ra. Cái pha ngộ nghĩnh thời cận thành niên ấy mách bảo tôi một điều nghiêm túc: biết đâu từ cái triết lí “truổng cời” đó Hoàng Ngọc Hiến đã là nhà minh triết rồi.

Ai đã tiếp xúc với ông chắc sẽ ấn tượng ngay về một thói quen kì kì. Đó là giới thiệu những trải nghiệm về sức khoẻ và thuốc thang của mình một cách rất khoa học và… li kì. Thường những cuộc như thế đều y như một bài thuyết trình công phu và tâm huyết. Tôi đã được biết về tính năng nhiều thứ thuốc từ ông. Cái lần ông quảng bá cho hoạt huyết dưỡng não là thế. Ông kể rất đinh ninh: có một dược sĩ cao cấp của ta nổi tiếng về các công trình nghiên cứu nhân sâm đã được hội những người nghiên cứu nhân sâm quốc tế mời tham gia một dự án lớn. Họ đã đem tất cả những loại sâm thượng thặng như nhân sâm Trung Quốc, Triều Tiên, nhân sâm Xibêri… đến để nghiên cứu. Còn nhà dược sĩ ta thì đem theo củ đinh lăng. Họ cùng nhau làm một thí nghiệm, đó là cho chuột bạch ăn, mỗi con ăn một thứ trong cùng một khoảng thời gian. Đến kì hạn, họ quẳng tất lũ chuột xuống bể nước và quan sát. Kết quả là: tất cả những con ăn các loại sâm khác cứ dần dần theo nhau chìm hết. Duy có một con vẫn chống chọi cầm cự, hàng tiếng đồng hồ sau nữa mới chịu chìm. Cậu biết con nào không, thật bất ngờ, đó là con ăn đinh lăng. Rồi hăng hái: hiện nay, đinh lăng là một bí mật, một dược liệu chiến lược của ta. Hoạt huyết dưỡng não được chế từ đinh lăng theo một công thức bí truyền. Vô cùng hiệu quả. Cậu nên dùng, nên dùng. Còn ông thì nghiện hẳn rồi. Tôi chắc, nếu chỉ đọc nhãn thuốc không thôi, ông chả mê thế đâu, dù nó hay ho đi nữa. Ông bị cám dỗ chỉ bởi cái thí nghiệm rất chi là khoa học kia thôi. Phần mình, tất nhiên là tôi bị đánh gục và bắt đầu xài luôn từ trưa hôm ấy.

Thế mà có lần, đang ở khách sạn Sóc Trăng, ông gọi lễ tân mang cho một chai nước. Cô phục vụ mang lên thì thấy một ông già trên giường, đầu cắm xuống gối, chân chổng ngược lên trần nhà, mặt đỏ gay, tay lẩy bẩy chống đỡ thân mình, cặp giò lúc nghiêng phải, lúc ngoẹo trái, cứ chực đổ. Cô ta hoảng quá, chẳng hiểu ra làm sao. Còn ông, cứ nguyên tư thế ấy mà ra hiệu đặt nước lên kệ, ra hiệu cám ơn, ra hiệu tạm biệt. Mặt rất căng thẳng. Té ra, ông trồng cây chuối. Một bài tập cho máu dốc lên não. Ô hay, đã có hoạt huyết rồi mà. Bài tập dồn huyết này muốn phủ định bài thuốc hoạt huyết kia chăng? Đâu có. Cái này đâu phủ định cái kia. Quan hệ của chúng là cộng sinh. Nhà triết luận của chúng ta hoàn toàn tin thế.

Người ta vẫn kháo rằng đằng sau người đàn ông thành công bao giờ cũng có bóng dáng một người phụ nữ. Tôi cũng nghĩ thế. Và tin rằng: Hoàng Ngọc Hiến đi vào triết, chắc chắn là nhờ cả công… vợ. Bà Tố Nga là một phụ nữ thật đặc biệt. Bà có cái thú rất nổi tiếng là “nói xấu chồng”. Hễ có khách đến, bà thường ra tiếp trước. Và, trong lúc đợi ông xuống, thể nào bà cũng tố với khách đủ cái “ngu dại” của chồng, chì chiết say sưa, giọng thì đầy hứng khởi, lời lẽ thì đến là đáo để, gai góc. Thế nhưng, ai lại dại mồm vào hùa với bà để kể xấu ông thật, thì bà tống ra cửa ngay lập tức. Lần sau thì đừng có mà vác mặt đến. Thì ra, “tố Hiến” là một cái thú lạ, là tiết mục độc quyền của “tố Nga”. Ấy là cách yêu chồng độc nhất vô nhị của bà. Người hiểu thì thấy rất thú vị, và chả dại gì mà chêm vào hay xía vào. Vì thế, lần nào đến chơi, nghe chuyện bà, tôi cũng thầm nhớ đến cái câu chuyện cổ Hy Lạp ấy. Chuyện một cậu học trò định lấy vợ đã đến xin thầy mình là nhà hiền triết một lời khuyên. Nhà hiền triết đã khuyên rằng: con cứ kết hôn đi, đằng nào thì con cũng được, nếu được vợ hiền, con sẽ là người hạnh phúc; còn gặp phải vợ dữ thì con sẽ thành… một nhà triết học!

 

Triết lý sống độc đáo của một triết nhân

Một người có “máu” triết học thì tất phải có một thái độ triết học trong đời sống. Thiếu điều này, triết nhân sẽ chỉ là một thường nhân thôi. Là một học giả có cỡ được không ít nơi trên thế giới biết đến, nhưng đến nay nhiều người vẫn cứ băn khoăn vì sao ông Hiến không có những học hàm như Giáo sư, danh vị như Nhà giáo nhân dân giống bao nhiêu vị khác. Ông chỉ có một hàm vị duy nhất là Tiến sĩ. Thực ra là Phó tiến sĩ. Bảo vệ ở Nga hồi còn Liên Xô. Mà thấy ông chả có vẻ sốt ruột hay bất mãn gì. Lúc nào ông cũng thản nhiên. Dù quanh ông, người ta cứ nhao lên,  nhộn nhạo lên với những danh này vị nọ. Lạ. Giữa cái thời chủ nghĩa duy lợi lên ngôi, thói cầu danh áp đảo thế này, sống được thế, tất ông phải có một quan niệm, một triết lí sống độc đáo nào đó ? Đoán vậy, có lần tôi đã hỏi. Thì ông cũng chả giấu diếm gì: điều mình tâm đắc và lấy làm phương châm sống suốt đời là ý tưởng ở câu cuối cùng trong Đạo đức kinh của Lão Tử: Thánh nhân chi đạo vi nhi bất tranh. Đạo của thánh nhân là làm mà không tranh giành với ai. Ngẫm ra, tôi thấy ông đã sống trong đời đúng như vậy, không riêng gì thái độ đối với danh vị.

Nhưng quả là cuộc đời này vẫn có những công bằng riêng của nó. Nó vẫn luôn biết ai là ai. Lần vị hiệu trưởng trường Nguyễn Du là Huỳnh Khái Vinh được phong học hàm giáo sư đã diễn ra một việc thú vị. Đám học viên Nguyễn Du hồi ấy toàn những cây bút, những nhà văn đã thành danh cả. Họ đã chuẩn bị sẵn hai bó hoa để chúc mừng. Khi lễ mừng tặng diễn ra, họ đã mời cả Huỳnh Khái Vinh và Hoàng Ngọc Hiến cùng lên sân khấu. Người đại diện tặng hoa cho thầy Vinh trước với lời chúc mừng “Đây là vị giáo sư do nhà nước phong”. Rồi quay sang tặng hoa và ôm hôn thầy Hiến thật hoan hỉ : “Đây là vị giáo sư do nhân dân phong”. Cả hội trường vỗ tay ầm ĩ. Thầy Vinh ôm hôn thầy Hiến đầy phấn khích. Còn thầy Hiến sau một phút ngỡ ngàng, vẻ vẫn rất thản nhiên. Lạ hơn, bây giờ trên các phương tiện truyền thông đại chúng, mỗi khi giới thiệu ông, bao giờ người ta cũng cứ kèm danh vị giáo sư. Công chúng chẳng ai ngạc nhiên. Còn ông thì vẫn thản nhiên.

Tôi cứ ngỡ ông là người thờ ơ, hoàn toàn không để ý gì đến những chuyện ồn ào vặt. Nhưng không hẳn. Một lần đang trò chuyện vui vẻ, mặt ông bỗng đỏ gay, lời lẽ hết sức bức xúc, chỉ vì nhớ ra hôm qua xem ti vi, bắt gặp Nguyễn Đình Thi trên hình. Tôi chắc, trong cảnh đó, Nguyễn Đình Thi đã nói một điều gì đó đại loại như cao giọng quá đà trước anh em hay hạ giọng quá mức trước bề trên chăng. Nghe ông kể, thì không phải. Té ra, chỉ bởi Nguyễn Đình Thi đã đi đi lại lại bên hồ Gươm, rồi làm bộ làm tịch đang suy tư xa xăm cho camera ghi hình, thế thôi. Vậy mà, ông thất vọng không thể chịu nổi: vì sao một người như Nguyễn Đình Thi mà lại đi diễn trò, một thứ trò vớ vẩn như thế. Tôi còn nhớ, không kiềm được phản ứng của mình, ông đã văng tục ra nữa. Cứ như vừa bị mất một cái gì rất lớn. Thoạt tiên, tôi rất buồn cười, vì thấy phản ứng của ông có vẻ thái quá. Trò diễn ấy cho qua được mà. Ngẫm lại, thì hiểu ông hơn. Là người chân thật đến … kì cục, ông ghét cay ghét đắng thói diễn. Bậc cao nhân lại càng không nên diễn. Thì ra, ông luôn có một nguyên tắc sống, một quan niệm về giá trị sống nào đó, chứ đâu phải ơ hờ.

 

Khi hình dung về một triết gia, ta có cái thói đòi hỏi người ấy phải là tác giả của một triết thuyết nào đấy; nếu không sản sinh được một hệ thống triết học nào, thì khó mà được thừa nhận là nhà triết học. Điều này xem chừng có thể trở thành một đòi hỏi vô lối ở thời đại chúng ta. Hãy nghe Foukault – một triết gia lớn của thế kỉ XX – nói:  “Thời đại chúng ta chẳng thể sinh ra được một hệ thống triết học lớn nào cả” và chỉ nhất nhất hiểu theo cái nghĩa xa xưa của nó, thì xem chừng “triết học đã “chết” rồi”. Nhận xét của đại gia này khiến chúng ta phải xem lại cách hiểu về triết học và triết gia đương đại. Hình như, không phải lúc nào triết thuyết cũng hiện diện như một hệ thống kinh viện, không phải lúc nào nó cũng tồn tại lộ thiên. Và không phải cứ nói thẳng chuyện triết học và say sưa xây dựng các triết thuyết thì mới là triết gia thì phải.

Trong một lần sang hội thảo về triết học tại Hà Nội, Francoi Jullien có đưa ra một nhận xét rất tinh: ở Việt Nam, triết học lẩn vào văn học. Không hẳn là nhận định về tình trạng sơ khai của triết ở ta, mà có lẽ là về cách tồn tại đặc biệt (cũng là thân phận ?) của triết Việt. Điều này trước hết ứng với Hoàng Ngọc Hiến, nếu như không muốn nói rằng nó được rút ra từ chính ông.

Sự khốn đốn của một số triết gia là bậc thầy gần gũi hồi Nhân văn Giai phẩm và Xét lại đã khiến cho nhiều người ham mê triết học đã chùn bước. Trong khi tuyên truyền Mác Lê thành chuyên nghiệp và hùng hậu, thì tư duy triết học lại thưa thớt và nghiệp dư. Không ít mầm non triết học đã phải âm thầm nảy nở trong bóng đêm, thành một thứ triết học du kích, hoặc rẽ sang hướng khác, hoặc bứng trồng vào mảnh đất khác (ví như Trần Đình Hượu bỏ triết học sang nghiên cứu văn chương). Hoàng Ngọc Hiến cũng thế chăng? Nhưng, nếu hoàn cảnh hoàn toàn thuận lợi thì Hoàng Ngọc Hiến có thể trở thành một triết gia không nhỉ? Hình như cái tạng của ông cũng không phải là một triết gia thuần túy. Có lẽ ông thuộc “tạng hai trong một” – tạng “văn triết bất phân”. Nghĩa là một nhà nghiên cứu văn học, văn hoá trên tinh thần triết học, hoặc một nhà triết luận suốt đời bấn bíu với văn hóa, văn học. Điều này ở ông khiến triết lẩn vào văn vừa như một thân phận vừa như một định mệnh.

Tuy nhiên chính điều này đã làm nên đặc sắc Hoàng Ngọc Hiến. Ông sẽ đi vào các lĩnh vực văn hoá với cảm hứng triết học, sẽ nhìn nhận các vấn đề từ văn học đến văn hoá bằng con mắt triết nhân, ông sẽ đem những công cụ của tư duy triết học để tường giải những vấn đề của văn hoá, văn học. Đây chính là nét khác biệt của học thuật Hoàng Ngọc Hiến so với nhiều hiện tượng khác cùng thời. Có thể nói triết luận Hoàng Ngọc Hiến là một dạng triết học lui về ở ẩn trong văn học.

Đắc đạo sau những cuộc chơi triết học

Ai biết Hoàng Ngọc Hiến đều thấy ông say mê các triết thuyết và đã miệt mài suốt đời mình với triết Tây, triết Đông. Ông đã đọc và khảo hầu khắp các triết gia cổ kim đông tây. Mà đâu chỉ có triết theo nghĩa hẹp, ông còn đam mê triết theo nghĩa rộng nhất. Tức là say mê cả đạo đức học, tâm lí học, mỹ học nữa. Ông dịch “Đạo đức học” của Banzelatde, ông giảng “Phân tâm học” của Freud, ông nói về “các phạm trù mỹ học của Đông Á cổ”, ông dịch “Những phạm trù văn hóa trung cổ” của Gurêvich… Một thời ông rất say mê Mác. Từ năm 1949, ông đã trở thành hội viên trẻ của hội những người nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở khu IV mà đứng đầu là Nguyễn Chí Thanh rồi. Có lẽ người được ông trích nhiều hơn cả trong các công trình của mình là Mác. Mác thực sự đã để lại dấu ấn sâu đậm trong nhỡn quan của ông cho đến mãi sau này. Cái hồi ông viết bài “Phải đạo”, nhiều người không hiểu lòng ông đã qui kết ông là phi Mácxit. Nhưng chính trong cái buổi hội thảo nghiêng hẳn về qui kết ấy, sau một hồi lắng nghe ý kiến của ông và những người phản bác ông, chính Lê Đức Thọ đã tỏ ra rất tỉnh đời khi kết luận: “Anh Hiến là người Mácxit”. Và nhờ kết luận này mà các ý kiến công kích hăng tiết đã… ngãng dần ra.

Hoàng Ngọc Hiến rất tâm đắc với nhận xét này của Robert N. Bellah về một sử gia, đồng thời là chính trị gia và là nhà xã hội học người Pháp Alexis de Tocqueville (1805 -1859): Khoa học xã hội của Tocqueville là một loại triết học vị công (public philosophy). Nghĩa là nó quan tâm đến công ích, và coi trọng công luận khi nêu ra những vấn đề khoa học của mình. Có thể nói, triết luận của Hoàng Ngọc Hiến cũng là thứ triết học vị công như thế. Ai đã đọc ông đều không mấy khó khăn để nhận ra điều này. Xem xét từng bước đường, thấy đam mê triết của ông có những giai đoạn lớn. Hồi đầu ông say mê tìm hiểu tư tưởng Nga Xô, rồi lại say mê tìm hiểu tư tưởng Pháp, đến cuối những năm 80 ông lại say mê nghiên cứu tư tưởng và văn hóa Mỹ. Gần đây, tưởng chừng triết gia đương đại Pháp là F. Jullien đã hoàn toàn hớp hồn ông, khiến những năng lượng học thuật cuối cùng của ông sẽ bị hiện tượng triết học này vắt kiệt. Nào ngờ, lại thấy ông bày “cuộc chơi triết học” mới, đầy đam mê, là quay về nghiên cứu minh triết Việt. Không biết những người khác thế nào, còn tôi thấy trong đó một hành trình nhất quán, và thấy càng ngày ông càng “đắc đạo” hơn. Ông nghiên cứu cái gì cuối cùng cũng chỉ để tìm ở đó những bài học có ích cho nước nhà. Không phải ngẫu nhiên mà sau mỗi một hồi triết luận về vấn đề nào đó mình khơi ra, nêu lên, bao giờ ông cũng có ngay những đề xuất khá kịp thời. Có không ít những đề xuất ở tầm vĩ mô, ví như về chiến lược văn hóa trong phát triển, về giáo dục đào tạo, về việc nghiên cứu minh triết, về coi trọng việc dạy văn chương đối với bồi dưỡng nhân cách thế hệ trẻ, hay chiến lược ngoại ngữ cho hiện tại và tương lai… Hồi Nga Xô đang hưng thịnh, việc tiến hóa bấy giờ được xem như Nga hóa, ông muốn biết thực chất nó thế nào. Rồi ngày nay, khi Mỹ đang là một siêu cường với tầm ảnh hưởng toàn cầu của nó, đến nỗi hình thành trào lưu Mỹ hóa ở nhiều nơi trên thế giới, ông cũng muốn xem nó thực chất ra sao… Ông muốn biết mỗi mô hình ấy về mặt tư tưởng có điều gì khả thủ. Và ông say mê nghiên cứu các triết thuyết không phải để truy tìm cho mình chỉ một triết thuyết độc tôn, rồi cứ thế mà dùng nó làm một thứ công cụ tư duy vạn năng đến mức làm nô tài cho nó như bao người khác. Trái lại, ông là người thủy chung với một tinh thần năng động triết học, chứ không phải giam mình trong một thói nô lệ triết học như những ai kia. Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà trong các định nghĩa triết học, ông tâm đắc nhất với định nghĩa của Thomas Carlyle, khi triết gia lớn này phát biểu: “Triết học là gì, phải chăng là một cuộc chiến liên tục chống lại tập quán: một nỗ lực luôn luôn đổi mới nhằm vượt siêu cầu trường của tập quán mù quáng?”. Có thể, sau này ông mới gặp định nghĩa này. Nhưng toàn bộ hoạt động của đời ông đối với triết học đã thực sự là một minh chứng cho định nghĩa ấy. Nói khác đi, hành trình của ông dường như đã được dẫn dắt bởi định nghĩa kia một cách vô thức. Cả đời ông là một cuộc chiến không mệt mỏi để chống lại tập quán mù quáng, mỗi bài viết dù trực tiếp về triết học hay về văn hóa, văn học đều là một nỗ lực đổi mới mình trong nhận thức, tư tưởng nhằm vượt siêu cầu trường của những nhận thức hời hợt bị bóng đè bởi một đức tin mù quáng. Mà điển hình nhất chẳng phải là bài “Về một đặc điểm của văn học Việt Nam trong giai đoạn vừa qua”, vẫn được gọi nôm là bài “phải đạo” đó sao ? Một tinh thần năng động triết học đó là phẩm chất đáng kể của học thuật Hoàng Ngọc Hiến.

Sau những cuộc thám hiểm triết học, ông đã trở về bến quê, về lại mái nhà xưa để nâng niu gia tài minh triết của ông cha mình. Những cuộc phiêu lưu ấy đã đủ khiến ông tự tin hơn khi nhìn ngắm cái di sản minh triết độc đáo của tổ tiên. Nếu, sau những chuyến đi xa vào những xứ sở triết học khác để rồi trở về khinh rẻ vốn hương hỏa quí báu của tiên tổ, liệu có phải là người đã đạt đạo không ? Tôi nghĩ, điều đáng trân trọng ở hành trình triết học này của ông chính là ở chỗ: nó nâng ông lên một tầm mới để có thể thấy được vàng ngọc trong minh triết truyền thống và thấy cần thiết phải xây dựng một đội ngũ cho công cuộc khai thác minh triết tiềm ẩn trong nền văn hóa Việt. Cầu mong cho ông luôn đủ sức khỏe để tiếp tục theo đuổi sự nghiệp cao quí này và truyền cảm hứng cho những người đi sau.

Khi viết “Triết lý Truyện Kiều”, cái tạng triết luận ở ông mới khởi lên những nét đầu tiên thôi, còn chưa thật sắc nét. Nhưng càng về sau, thiên hướng triết luận càng ngày càng nắm vị thế chủ đạo trong các luận giải văn chương và văn hóa của ông. Đề cập bất cứ sự kiện văn học nào, dù đó là tác phẩm như Truyện Kiều, Ơ đip làm vua, Đăm San…hay đó là tác giả như Nguyễn Du, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Maiacôpxki, Eptusenkô, Văn Cao, Trịnh Công Sơn, Hữu Thỉnh, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Trọng Tạo, Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà… nghĩa là cả những tác gia kinh điển lẫn những cái tên mới nổi, dù đó là một giai đoạn văn học như Văn học Việt Nam thời chống Mỹ, văn chương Việt ở Hải ngoại, hay đi sâu vào một bình diện nào đó của văn chương như thể loại, thể tài, giọng điệu nghệ thuật hay ảnh hưởng của vô thức trong sáng tạo v.v… bao giờ ông cũng muốn truy nguyên vào bản chất, vào bản thể, bao giờ ông cũng muốn tìm cho ra những qui luật của sáng tạo, nhất là lật lên những bình diện triết học của mỗi hiện tượng ấy. Truy tìm vào bản chất sâu xa, săn tìm những qui luật phổ biến, lật tìm những ý nghĩa triết học và luận giải cho kì nổi bật mới thôi, đó chẳng phải là cảm hứng triết học hay sao ! Ông viết bài “Phải đạo” luận về những bình diện mỹ học và triết học khiến sản sinh nên cái đặc điểm của văn học Việt Nam suốt ba mươi năm chiến tranh (viết về “cái hiện thực phải có” hơn là “cái hiện thực đang có”) là theo tinh thần ấy, ông viết bài “Âm Dương”, muốn dùng những phạm trù triết học cổ phương Đông để luận giải và tiên đoán về mạch vận động của văn học ta qua bước ngoặt hậu chiến là theo tinh thần ấy. Ông khảo về những thể loại văn học như bi kịch, trường ca, tiểu luận, trào phúng là theo tinh thần ấy. Ông tường giải sáng tạo chân chính bao giờ cũng là sự giao cắt giữa cái tuyệt đối và cái hiện tại là theo tinh thần ấy. Ông luận về nguyên tắc tính nữ (thường gọi là thiên tính nữ) trong sáng tác Nguyễn Huy Thiệp cũng theo một tinh thần như thế…

Một thủ lĩnh trận tiền trong đổi mới văn học

Những ai quan tâm đến việc sáng tạo văn học Việt Nam đều thấy Hoàng Ngọc Hiến có một tầm ảnh hưởng không nhỏ đối với không ít cây bút đương đại. Đó không hẳn là kiểu ảnh hưởng của một tay viết bậc thầy lão luyện nghề chữ, cũng không hẳn kiểu ảnh hưởng của một học giả uyên bác uyên thâm. Mà có vẻ là kiểu ảnh hưởng khác: truyền niềm thiết tha với văn hóa, nhiệt hứng sáng tạo, nhiệt hứng tư tưởng, tinh thần trí thức, kích thích tư duy. Mà trùm lên tất cả vẫn là ảnh hưởng từ cái phẩm chất năng động triết học đó. Nếu Trần Dần được xem là thủ lĩnh trong bóng tối, thì cũng có thể xem Hoàng Ngọc Hiến là một thủ lĩnh ngoài trận tiền.

Ai đọc Hoàng Ngọc Hiến cũng thấy ở ông cái sở thích đối lập. Ông thường xây dựng hoặc sử dụng những phạm trù đối lập với tham vọng đạt đến tầm phổ quát nhất cho những những khái quát của mình: âm và dương, vi và vô vi, vị và vô vị, ý và vô ý, ngã và vô ngã, văn hóa và văn minh, minh triết phương Đông và triết học phương Tây, xây dựng Dự án và nương nhờ vào Thế, chủ nghĩa hiện đại và chủ nghĩa cổ điển mới, tính dân tộc và tính hiện đại, trí thức tinh hoa và trí thức bình dân, bi kịch và lạc quan, hiện thực và tuyệt đối, cái phải tồn tại và cái đang tồn tại, có đáy và không có đáy, viết cho bõ hờn và viết để thỏa chí, kể nội dung và viết nội dung, lý thuyết và nghiệm sinh, trí tuệ của trí tuệ và trí tuệ của trái tim, danh và thực, có và là… Sự phân lập kiểu này là sản phẩm rất đặc trưng của tư duy triết học. Lối đối lập này dần lâu dường đã thành một thứ thương hiệu Hoàng Ngọc Hiến. Ông còn đặc biệt tinh nhạy về những khía cạnh triết học của ngôn ngữ và giỏi mài rũa cái mặt triết tiềm ẩn nào đó để mỗi từ ngữ sáng lên vẻ đẹp triết học của mình. Ít ai không nhớ lần ông nói về các phương pháp khoa học bằng một chữ đích đáng, lần ông luận về quan niệm nhân cách của người Việt qua một chữ hẳn hoi, hay lần ông tranh luận với một cây bút hải ngoại xung quanh chữ moment trong tiếng Anh… Nhiều trường hợp, ông đưa ra những đối chọi chữ nghĩa khiến chúng cũng ánh lên những tia sáng triết luận triết lí bất ngờ nào đó. Ví như ông xem phê bình là làm sáng giá và sang giá cho những sáng tạo văn học, hay ông chọi chữ có và là như một cách đối lập giữa danh và thực, vốn là một mâu thuẫn phổ biến trong cõi người ta. “Một mâu thuẫn oái oăm trong “cõi người ta”- ông viết – là mâu thuẫn giữa “có” và “là”. Có thể có vợ, nhưng không là một người chồng, có thể có con nhưng không là một người cha, có thể có học hàm nhưng không là một người thầy, có thể có học vị, nhưng không là một trí thức,… có thể có tất cả nhưng không là gì cả”. Có thể nói năng lực ngôn ngữ của một nhà văn đã giúp ông diễn đạt sắc bén những suy tư triết lí của một nhà triết luận. Và có thể thấy lối phân lập ráo riết kia trong từ ngữ của ông là khá bén nhạy và nhuần nhuyễn, nó đã thực sự trở thành một nét thuộc phong cách triết luận của ông. Dù không khỏi có lúc cực đoan, nhưng bao giờ sự phân lập ấy cũng gây hứng thú và có khả năng truyền cảm hứng tư duy cho người đọc, thậm chí có lúc đã thực sự gây sốc. Không phải vô cớ mà người ta đã xem Hoàng Ngọc Hiến là người khơi mào, gây hứng thú tranh luận, đối thoại cho người khác hơn là người nói lời kết luận cho các vấn đề.

 

*

 

Hoàng Ngọc Hiến là một người uyên bác mà trẻ trung, là người nhất quán mà năng động, là người thâm thúy mà rất đỗi hồn nhiên… Hình như tuổi tác cứ biến ông thành người già, nhưng tinh thần và tư duy của ông không bao giờ chịu già. Ai gần ông đều thấy cái vẻ lão hóa trong cơ thể muốn biến ông thành người già nua. Nhưng cái tinh thần trẻ trung và tích cực trong ông luôn cưỡng lại. Cái run run của tay chân, cái rè rè của giọng nói cứ muốn phanh ông lại, nhưng tư duy đầy chất trẻ trong ông lại luôn dấn ga để tạo nên một chất sống băng về phía trước, muốn vượt siêu cầu trường của trì trệ. Có lẽ ít ai ở vào tuổi ấy vẫn còn say sưa với mọi công nghệ hiện đại, mọi phương tiện tối tân để cập nhật tri thức nhân loại một cách hiệu quả như vậy. Ít ai vào tuổi ấy vẫn say sưa với những dự án dài hơi về tri thức về nghiên cứu và đào tạo như vậy. Ít ai vào tuổi ấy vẫn còn chơi với những người trẻ thoải mái hồn nhiên như vậy. Hồn nhiên, luôn đổi mới mình, luôn muốn người khác cùng đổi mới, luôn muốn cuộc đời đổi mới, có phải đó là những phẩm chất hiển nhiên của một người thực sự có cốt cách triết nhân ?

Trong sự nghiệp của ông, người ta luôn thấy triết học ẩn dật trong văn học và văn học sóng sánh cùng triết học. Nó là sự nghiệp “hai trong một” của một văn nhân – triết nhân.

Dù cảm nhận của tôi được ông chia sẻ và tâm đắc, nhưng tôi luôn nghĩ ông vẫn là một giá trị lớn mà hôm nay chưa dễ gì hiểu hết được.

 

Hà Nội, 2010

 

Lời thêm:

Do một linh tính nào đó mà tôi đã ép mình kịp hoàn thành bài viết này để gửi ông trước khi đi một chuyến công tác đặc biệt phải cách biệt hoàn toàn với bên ngoài. Và, may thay, ông đã kịp đọc nó ba ngày trước khi lên bàn mổ. Nếu không, hẳn là tôi phải ân hận suốt đời. Theo nhà văn Văn Giá, thì có thể nó là bản thảo cuối cùng ông đọc được trước lúc vào viện. Đến ngày được ra khỏi chốn cách biệt đó, tôi đến viện thăm ông thì ông đã hôn mê sâu rồi. Thật oái oăm ! Trong bài viết, khi nói đến tâm huyết của ông đối với sự nghiệp nghiên cứu minh triết Việt, tôi có một lời: “Cầu mong cho ông luôn đủ sức khỏe để tiếp tục theo đuổi sự nghiệp cao quí này và truyền cảm hứng cho những người đi sau”. Khi viết thế, tôi vẫn đinh ninh tuổi ông tuy đã cao, nhưng sức ông cũng chưa đến nỗi nào. Đâu ngờ, trọng bệnh đã đem ông đi vĩnh viễn mất rồi !

Biết bao giờ cuộc đời mới lại có được một Hoàng Ngọc Hiến nữa đây !

Biển Đông diễn biến bất lợi, Việt Nam tăng cường phòng thủ Trường Sa

Phát Thứ hai, ngày 05 tháng mười hai năm 2016
Biển Đông diễn biến bất lợi, Việt Nam tăng cường phòng thủ Trường Sa

Ảnh vệ tinh ngày 07/11/2016 cho thấy hai nhà chứa máy bay lớn trên đảo Trường Sa Lớn, có khả năng chứa phi cơ giám sát biển PZL M28B hay vận tải cơ CASA C-295 của Không Quân Việt Nam.@csis/amti

Một loạt những diễn biến gần đây trong và ngoài khu vực có phần không có lợi cho Việt Nam trong quyết tâm chống lại sức ép của Trung Quốc trên vấn đề Biển Đông. Có lẽ vì đã dự phòng khả năng xấu đó mà Việt Nam đã kín đáo tăng cường phòng thủ các thực thể mình đang kiểm soát ở vùng quần đảo Trường Sa, để tránh bị bất ngờ nếu Trung Quốc làm càn.

Vấn đề nói trên đã được nêu bật với báo cáo ngày 15/11/2016 của trung tâm thông tin Sáng Kiến Minh Bạch Hàng Hải AMTI thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược và Quốc Tế CSIS của Mỹ, tiết lộ những hoạt động xây dựng mới của Việt Nam trong vùng đang bị tranh chấp. Đã có nhiều giả thuyết được đưa ra, nhưng có một điều chắc chắn : Đó là vào lúc này, Việt Nam là nước duy nhất tại Đông Nam Á vẫn kháng lại sức ép của Trung Quốc trên vấn đề Biển Đông, trái với Philippines và Malaysia đã tỏ dấu hiệu khuất phục Bắc Kinh.

Gọng kềm từ hai phía của Bắc Kinh

Từ một nước đi đầu trong việc chống lại Trung Quốc, với tân tổng thống Duterte, Philippines đã rời xa Mỹ và ngả vào vòng tay Trung Quốc để tranh thủ những khoản đầu tư, tín dụng và lợi ích kinh tế hậu hĩnh. Theo chân ông Duterte, thủ tướng Malaysia cũng chạy theo Trung Quốc, để được tài trợ với những khoản đầu tư to lớn. Biển Đông đối với hai nước này đã trở thành thứ yếu.

Trung Quốc cũng đã chiêu dụ được Lào, chủ tịch ASEAN năm nay, và vung tiền nắm chắc Cam Bốt với kết quả là tránh được việc Hiệp Hội Đông Nam Á ASEAN nhắc đến phán quyết về Biển Đông của Tòa Trọng Tài La Haye cho dù đó là một văn kiện được cho là tối quan trọng cho an ninh Đông Nam Á.

Một cái nhìn bi quan sẽ phát hiện ra là Việt Nam như đã bị lọt vào trong gọng kềm của Trung Quốc, trên biển thì khó dựa vào Philippines hay Malaysia khi cần, trên bộ thì phải thận trọng, nhất là với Cam Bốt.

Trên trường quốc tế, sự kiện ông Donald Trump đắc cử tổng thống Mỹ cũng có thể ảnh hưởng đến chính sách Biển Đông của Việt Nam, nhất là khi nhân vật này đã dọa dẹp bỏ ngay lập tức hiệp định TPP, một thành tố quan trọng trong chính sách xoay trục qua châu Á-Thái Bình Dương của người tiền nhiệm Barack Obama, vốn rất có lợi cho Việt Nam cho đến nay. Mối quan ngại hiện nay là với tâm lý ” con buôn “, liệu ông Trump có sẽ chiều ý Trung Quốc trên vấn đề Biển Đông nêu được Trung Quốc « đền bù » xứng đáng hay không ?

Từ phi đạo đến pháo phản lực

Chính trong toàn cảnh đó mà thông tin về việc Việt Nam kéo dài phi đạo trên đảo Trường Sa Lớn và cho xây dựng một số nhà chứa máy bay tại chỗ được tiết lộ vào trung tuần tháng 11 vừa qua, kèm theo là một số ảnh vệ tinh chỉ rõ những gì mới được xây dựng.

Thông tin trên nối tiếp theo một thông tin khác không được kiểm chứng do hãng tin Anh Reuters đưa ra vào tháng 08/2016, theo đó Việt Nam đã kín đáo chuyển pháo phản lực EXTRA có độ chính xác cao – mua của Israel – ra 5 căn cứ ở Trường Sa, bố trí ở những nơi có thể tấn công các phi đạo và căn cứ quân sự của Trung Quốc trong khu vực.

Trước các động thái của Việt Nam, một số nhà quan sát đã vội vàng cho rằng Việt Nam đang thách thức Trung Quốc ở Biển Đông, thậm chí còn tự hỏi là phải chăng Việt Nam đang châm lại mồi lửa ở Biển Đông.

Giáo sư Ngô Vĩnh Long : Đề phòng Trung Quốc là chính

Đối với giáo sư Ngô Vĩnh Long, chuyên gia về Biển Đông và Trung Quốc tại trường Đại Học Maine (Hoa Kỳ), thì các động thái của Việt Nam mới đây của Việt Nam tại Trường Sa chỉ nhằm mục tiêu phòng thủ. Trả lời Ban Việt Ngữ, giáo sư Long nhận định :

Ngô Vĩnh Long :Về việc Việt Nam kéo dài phi đạo và đang xây hai nhà chứa máy bay trên thực thể gọi là “đảo Trường Sa” thì tôi không nghĩ việc này có nghĩa là Việt Nam đang chuẩn bị đánh nhau với Trung Quốc.

Nếu báo cáo hôm 15 tháng 11 vừa qua của Sáng Kiến Minh Bạch Hàng Hải Châu Á (AMTI) thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Tế và Chiến Lược CSIS tại Mỹ là đúng, thì Việt Nam đã nối dài đường bay từ khoảng dưới 750 mét đến khoảng 990 mét.

Báo cáo trên nói thêm là Việt Nam có thể sẽ xây đường bay này dài đến khoảng 1200 mét trong tương lai, nhưng đến lúc đó thì các máy bay phản lực của Việt Nam vẫn khó có thể sử dụng đường bay này vì vẫn chưa đủ dài và vẫn chật hẹp.

Ngược lại thì hiện nay tại 3 cái đảo nhân tạo lớn nhất của Trung Quốc trong khu vực Trường Sa có những phi đạo dài hơn cái phi đạo mà Việt Nam đang xây rất nhiều và có nhà chứa đủ cho khoảng 24 máy bay phản lực trên mỗi đảo nhân tạo đó.

Tôi cũng xin nói thêm về việc anh đã đề cập đến là Việt Nam đưa hỏa tiễn ra Trường Sa : Tháng 8/2016, tôi đã hỏi một số nhân vật rất cao cấp trong chính phủ Việt Nam, thì được trả lời rằng đó chỉ là vấn đề tập luyện, tức là đưa ra đưa vào, chứ Việt Nam không có ý định đưa hẳn các hỏa tiễn ra đảo, vì như vậy rất nguy hiểm. Nếu mà Trung Quốc biết được thì Trung Quốc có thể bắn phá. Cho nên vấn đề là tập luyện và đề phòng.

Theo giáo sư Ngô Vĩnh Long, động thái của Việt Nam không phải là thách thức Trung Quốc mà chính là để tạo thêm điều kiện tự vệ, qua đó cảnh báo các nước khác về khả năng Trung Quốc có thể làm càn tại Biển Đông nếu chính sách xoay trục của Mỹ gặp khó khăn do chính quyền mới của ông Donald Trump.

Ngô Vĩnh Long : Tôi nghĩ rằng Việt Nam không có ý định thách thức Trung Quốc. Theo báo cáo của AMTI, đối với phi đạo, sau khi hoàn thành thì Việt Nam sẽ có thể sử dụng đường bay và hai nhà chứa máy bay mới cho việc tuần tra khu vực Trường Sa.

Đây là một hành động để phòng vệ và để cảnh giác các nước khác là trước khả năng chính sách “tái cân bằng” về Châu Á của Obama sẽ bị hạn chế, nếu không nói là bị phá vỡ, thì an ninh trong khu vực Biển Đông có thể sẽ bị Trung Quốc đe doạ trầm trọng.

Xin nhắc sơ qua ở đây là chính sách “tái cân bằng” được đặt trên nền tảng xây dựng các hệ thống đa phương, trong đó có ASEAN và hiệp định tự do mậu dịch Xuyên Thái Bình Dương (TPP). TPP không chỉ là một hiệp định thương mại giữa 12 nước mà đồng thời cũng là một hệ thống an ninh đa phương với ý định củng cố ASEAN và các hiệp định an ninh giữa Mỹ và các nước khác trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Chính quyền Obama nghĩ rằng Mỹ không có thể đơn thương độc mã bảo vệ an ninh trong khu vực mà phải dựa vào sự ủng hộ của các nước khác.

Nhưng trong cuộc tranh cử tổng thống ở Mỹ vừa qua một số ứng cử viên đã chống TPP kịch liệt (như Donald Trump và Bernie Sanders) hoặc đòi phải đàm phán lại để cho Mỹ có lợi hơn (như Hillary Clinton). Với việc TPP không được phê chuẩn bởi Quốc Hội Mỹ, một số nước ASEAN (như Philippines, Malaysia và Indonesia) đã có thái độ mập mờ, nếu không nói là đã cho thấy đang nghiêng về phía Trung Quốc.

Nếu không muốn ASEAN bị lung lay hay bị tê liệt, và qua đó tạo cơ hội cho Trung Quốc càng leo thang ở Biển Đông, thì Việt Nam không thể hững hờ trước sự đe doạ an ninh của Trung Quốc. Việt Nam không còn có cơ hội đu dây nữa nên phải có thái độ dứt khoát hầu có thể vận động các nước khác trong việc bảo vệ an ninh và lợi ích chung.

Chấp nhận căng thẳng để đánh động quốc tế

Riêng về khả năng động thái của Việt Nam làm dấy lên căng thẳng, đặc biệt là với Trung Quốc, giáo sư Ngô Vĩnh Long cho rằng điều đó sẽ có tác dụng thức tỉnh đối với chính quyền Donald Trump về hiểm họa Trung Quốc, để đề phòng việc ông Trump” đi đêm ” với Trung Quốc, điều không thể loại trừ.

Ngô Vĩnh Long :Nếu có bùng lên căng thẳng thì việc này có thể sẽ làm cho thế giới rõ thêm về hiểm hoạ của Trung Quốc. Hiện nay chưa rõ chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc, nói riêng, và Châu Á Thái Bình Dương, nói chung, là như thế nào trong tương lai gần hay xa.

Trong khi tranh cử tổng thống Trump đã doạ là sẽ tăng thuế quan trên các mặt hàng Trung Quốc xuất sang Mỹ đến khoảng 45% để đem công ăn việc làm về cho lao động Mỹ. Trump cũng nói là sẽ đóng thêm mấy trăm chiến thuyền cho hải quân Mỹ. Nhưng có thể đây chỉ là một cách mị dân để lấy phiếu hay để đàm phán với Trung Quốc.

Trong trường hợp Trump chơi tay đôi với Trung Quốc theo chiến lược “cân bằng quyền lực” (balance of power) thì Trump sẽ sẵn sàng hi sinh lợi ích của các nước nhỏ. Thêm vào đó thì ê-kíp về an ninh và quốc phòng mà Trump đã chọn cho đến nay đều là các vị tướng bộ binh đã chỉ huy các chiến trường vùng Trung Đông và đã chống chính sách của Obama về việc rút quân ra khỏi vùng này để “xoay trục” về Châu Á Thái Bình Dương. Do đó sẽ có việc tranh giành ảnh hưởng giữa các binh chủng mà giới quân đội gọi là “turf wars” (chiến tranh dành sân chơi). Vậy chưa chắc gì những chiến thuyền mới, nếu có được đóng đi nữa, sẽ được điều động sang Tây Thái Bình Dương.

Nếu có nguy cơ bùng lên căng thẳng thì tôi nghĩ việc này có thể giúp nhắc nhở Trump và các vị tướng xung quanh ông rằng Biển Đông, nơi mà hơn 50% các hàng mậu dịch di chuyển trên biển của toàn cầu phải xuyên qua, thì không phải là nơi họ có thể bỏ rơi cho Trung Quốc được.

Các cử chỉ và hành động của Trump cho đến nay chứng tỏ là ông ta cần được nhắc nhở và cần được tự chứng tỏ.

Tóm lại, theo giáo sư Ngô Vĩnh Long việc củng cố cơ sở tại Trường Sa cho phép Việt Nam chủ động tự bảo vệ, đồng thời cảnh báo các nước khác.

Ngô Vĩnh Long : Việt Nam phải năng động, và phải có những hành động nhắc nhở các nước ASEAN, nhắc nhở các nước lớn là nếu mà họ đi đêm với nhau về Biển Đông, thì Việt Nam cũng có phương cách để bảo vệ mình, cũng như bảo vệ an ninh trong khu vực, và nếu mà có rối ren trong khu vực Biển Đông, thì các nước nhỏ trong khu vực sẽ bị ảnh hưởng trước nhất.

Đăng bởi: Ngô Minh | 07.12.2016

Bắt Trịnh Xuân Thanh ‘phải có thời gian’

Bắt Trịnh Xuân Thanh ‘phải có thời gian’

BBC

  • TBT Trọng nói về ông Trịnh Xuân Thanh: 'tinh thần là bắt bằng được, không trốn được đâu'
Image captionTBT Trọng nói về ông Trịnh Xuân Thanh: ‘tinh thần là bắt bằng được, không trốn được đâu’

Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, ông Nguyễn Phú Trọng nói hôm 6/12/2016 về hai nhân vật Trịnh Xuân Thanh và Vũ Huy Hoàng và nhấn mạnh lại quyết tâm ‘chống tham nhũng’ của bộ máy chính trị tại Việt Nam.

Tiếp xúc cử tri tại Đông Anh, Hà Nội, ông Nguyễn Phú Trọng cũng thừa nhận nói:

“Trịnh Xuân Thanh chỉ là Phó Chủ tịch của một tỉnh thôi nhưng đã ghê gớm, móc ngoặc, dây dợ rồi bỏ trốn đi nước ngoài, nhưng không trốn được đâu.”

Nghe lời bình luận ‘con voi mà chui qua lỗ kim’ từ một cử tri về vụ nguyên Đại biểu Quốc hội, Phó Chủ tịch tỉnh Hậu Giang Trịnh Xuân Thanh hiện đang trốn ở nơi nào không ai rõ, ông Trọng nói:

“Bây giờ chúng ta đã phát lệnh truy nã ra cả quốc tế, phối hợp với các cơ quan của các nước và tinh thần là bắt bằng được, không trốn được đâu. Chúng ta làm theo luật pháp quốc tế nhưng phải có thời gian.”

Còn khi nói về nguyên Bộ trưởng Công thương Vũ Huy Hoàng, ông Nguyễn Phú Trọng cho hay:

“Lần đầu tiên Quốc hội đã ghi vào trong Nghị quyết chất vấn là Quốc hội nghiêm khắc phê phán ông Vũ Huy Hoàng, việc này có người bảo như thế đã đau chưa…”

Giáo sư Trọng cũng nhắc lại đề nghị kỷ luật của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, xử lý nhiều cơ quan, gồm cả Ban Tổ chức Trung ương, Bộ Nội vụ, Bộ Công thương, Tỉnh ủy Hậu giang, bảy cán bộ bị xử lý kỷ luật, theo trang Zing (06/12).

Liên tục hỏi về vụ Trịnh Xuân Thanh

Có vẻ như các lãnh đạo cao cấp nhất ở Việt Nam phải liên tục giải thích về vụ ông Trịnh Xuân Thanh ‘bỏ trốn’.

Liên quan đến vụ việc về ông Trịnh Xuân Thanh khiến tỉnh ủy Hậu Giang bị kỷ luật, hôm 04/12, Chủ tịch Quốc hội Việt Nam, bà Nguyễn Thị Kim Ngân đã có lời giải thích với cử tri Ninh Kiều, Cần Thơ.

Trước câu hỏi của một cử tri “Tại sao tỉnh Hậu Giang xin cán bộ cho địa phương và được Ban tổ chức Trung ương đồng ý, nhưng cuối cùng nguyên Bí thư và Bí thư tỉnh này bị kỷ luật?”, bà Ngân đã nói:

“Tôi biết, Hậu Giang có hai lần xin Phó chủ tịch tỉnh. Lần đầu tiên là xin một Phó chủ tịch, lần hai là xin đích danh ông Trịnh Xuân Thanh. Còn vì sao lãnh đạo tỉnh Hậu Giang bị kỷ luật, vì khi xin một Phó chủ tịch UBND tỉnh mà không thông qua Thường vụ Tỉnh ủy là sai nguyên tắc.

“Chỉ vì làm không đúng nguyên tắc đã ảnh hưởng đến Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hậu Giang. Ngoài ra còn cái sai nữa là để lãnh đạo tỉnh đi xe biển trắng gắn biển xanh. Đó là hai cái sai của Hậu Giang.”

Được biết, cử tri Cần Thơ cũng bày tỏ với Chủ tịch Quốc hội Việt Nam ý kiến “băn khoăn, chưa đồng tình về việc xử lý cán bộ đứng đầu liên quan đến vụ án Trịnh Xuân Thanh.”

Theo báo Nhân Dân (04/12), các ý kiến này nói “hiện nay, Đảng chỉ mới xử lý cấp phó và cấp dưới, còn xử lý trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, đơn vị chưa thực hiện, cho nên chưa tạo sự công bằng, đồng thuận trong nhân dân”.

Ông Trịnh Xuân Thanh nguyên là Phó Chủ tịch Hậu Giang

Image captionÔng Trịnh Xuân Thanh nguyên là Phó Chủ tịch Hậu Giang

Trước đó, hôm 30/11/2016 ông Đinh Thế Huynh, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng CSVN đã bị cử tri Đà Nẵng hỏi cũng về vụ ông Trịnh Xuân Thanh.

Một cử tri ở Quận Thanh Khê, Đà Nẵng nói rằng “một người ăn cắp mấy triệu đồng dù có trốn đi đâu thì cũng bị bắt về quy án. Còn ông Thanh thì làm thất thoát cả nghìn tỷ đồng với nhiều sai phạm mà trốn đi nước ngoài không ai hay. Điều này quá vô lý.”

Đáp lại, ông Đinh Thế Huynh bày tỏ sự thất vọng khi xảy ra những sai phạm liên quan đến Trịnh Xuân Thanh.

Theo các báo Việt Nam, ông Huynh cho biết:

“Không chỉ Bộ Công thương mà cả những đơn vị – nơi mà Trịnh Xuân Thanh từng công tác cũng sẽ bị xem xét trách nhiệm liên đới.”

Liên quan đến vụ ông Trịnh Xuân Thanh, trong cuộc họp ba ngày từ 28/11-30/11 ở Hà Nội, các ủy viên Ủy ban Kiểm tra Đảng Cộng sản Việt Nam đã xem xét xử lý, đề nghị kỷ luật bảy cán bộ cao cấp.

Đó là các vị Huỳnh Minh Chắc, cựu Bí thư Tỉnh ủy Hậu Giang nhiệm kỳ 2010-2015; Trần Công Chánh, bí thư Tỉnh ủy Hậu Giang nhiệm kỳ 2015-2020; Trần Lưu Hải, nguyên phó Ban thường trực Ban Tổ chức Trung ương Đảng; ông Bùi Cao Tỉnh; bà Trần Thị Hà; ông Trần Anh Tuấn và ông Nguyễn Duy Thăng.

Ông Trịnh Xuân Thanh, sinh năm 1966, từng làm Tổng giám đốc rồi Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng công ty cổ phần Xây lắp dầu khí Việt Nam (PVC) cho đến 2013.

Ông được luân chuyển về Bộ Công thương trước khi về làm Phó Chủ tịch tỉnh Hậu Giang năm 2015.

Bộ Công an Việt Nam ngày 16/9/2016 đã ra quyết định truy nã ông vì liên quan vụ án Cố ý làm trái quy định của Nhà nước gây hậu quả nghiêm trọng xảy ra tại Tổng công ty Cổ phần xây lắp Dầu khí Việt Nam (PVC).

Bộ này nói “sau khi xác định” ông Thanh bỏ trốn, công an ra quyết định truy nã toàn quốc và truy nã quốc tế.

img_8195

ĐỌC BỘ SÁCH “NGÔ MINH TÁC PHẨM”, TẬP 5: 

“NHỚ MẠ”- NÉN NHANG THƠM THẢO CỦA “ĐỨA CON XỨ CÁT”

 

                                                                MẠNH LÊ

                                                            ( Tác giả đã mất)

 

            Nắng, mưa, gió, cát không chỉ là kí ức thiêng liêng của người quê Quảng Bình mà còn là nỗi ám ảnh của mọi người ở những vùng quê biển khác. Với Ngô Minh, ký ức về người mẹ làng Thượng Luật quê anh mang một vẻ đẹp riêng:

Nhớ mạ mỗi sớm mặt trời

                             Thơm như miếng trầu đỏ thắm.

Thời gian, không gian mở đầu và kết thúc bài thơ từ bình minh của một ngày cho đến cuối chiều. Có một đứa con xa mạ về quê tìm mạ, người mạ xưa đã mất. Từ một hình ảnh sinh động đã in hẳn trong ký ức nhà thơ về quê tìm mẹ, lần theo những dấu vết của quê hương còn lưu lại hình ảnh của mẹ đã bừng thức trong anh những tình cảm mà anh đã vùi sâu trong tâm khảm: (Đọc tiếp…)

So với Nhật Bản, điểm thua kém của khoa học Trung Quốc

  •   LỖ BẠCH
    ( ĐH Bắc Kinh, TQ)

Sau sự kiện nhà khoa học Nhật Bản Yoshinori Ohsumiđược giải Nobel Y học 2016, dường như có hiện tượng tranh luận trong học giới Trung Quốc, so sánh khoa học Trung Quốc và Nhật Bản. Từ góc nhìn văn hóa, Lỗ Bạch (鲁白, Lubai), giáo sư khoa học thần kinh nổi tiếng Trung Quốc thuộc Đại học Thanh Hoađã tìm câu trả lời cho câu hỏi: Tại sao trong những năm qua Nhật Bản vượt trội so với Trung Quốc về giải Nobel? Bài viết đăng trên trang“Giới trí thức” (知识分子, Zhishifenzi) do tác giả chủ biên.

Bàn về khoa học công nghệ chấn hưng đất nước người ta thường lấy nước Mỹ làm chuẩn, chú trọng thảo luận về chính sách, pháp lệnh, cơ chế, phương pháp của người Mỹ, vì Mỹ là nước phát triển khoa học công nghệ hàng đầu thế giới. Nhưng là một nước Tây phương điển hình, về bản chất người Mỹ có tinh thần thực chứng và theo đuổi chân lý mạnh mẽ, cộng thêm truyền thống thích khám phá, tìm tòi cái mới, vì thế việc nước Mỹ phát triển hùng cường là dễ hiểu. Ngoài ra, Mỹ là đất nước dân di cư, xã hội Mỹ rất dễđón nhận những nhân tài từ nơi khác đến.Đây là những nét khác biệt khá lớn với truyền thống và văn hóa Trung Quốc.

Vì thế, việc so sánh với Nhật Bản, nước láng giềng gần gũi về văn hóa và địa lý với Trung Quốc, mang nhiều ý nghĩa hơn. Tình cảm của người Trung Quốc đối với người Nhật Bản rất phức tạp, tuy hai dân tộc gần gũi về nhân chủng, thói quen sống, cách tư duy và văn hóa, nhưng Trung Quốc lại không muốn thẳng thắn nhìn nhận sự nổi lên của Nhật Bản. Cho dù từng bị Nhật Bản đánh bại nhưng dường như người Trung Quốc chưa dành sự tôn trọng đúng mức với Nhật Bản.

Trong những năm qua, khoa học công nghệ Nhật Bản có những tiến bộ nhảy vọt, liên tục giành giải Nobel, từ Vật lý, Hóa học, đến Y sinh học, (năm 2010 hai nhà khoa học Nhật được giải Nobel Hóa học; năm 2014 ba nhà khoa học Nhật giành Nobel Vật lý; Nobel Y học 2012 thuộc về nhà khoa học Anh và Nhật – ND), còn giải Nobel Y học năm nay cho giáo sư Yoshinori Ohsumi là người chỉ được học sau tiến sĩ vài năm ở Mỹ. Khoa học Nhật Bản giành giải Nobel không chỉ giúp người Nhật Bản thêm niềm kiêu hãnh về địa vị của họ trước thế giới, cũng góp phần thúc đẩy kinh tế Nhật Bản phát triển mạnh hơn.

Trung Quốc cần học kinh nghiệm, cách làm của Nhật Bản để phát triển khoa học giáo dục, chấn hưng đất nước. Tôi muốn nói về cách nhìn của mình theo vài phương diện sau:

1. Vai trò chủ đạo của nhà khoa học trongxây dựng quyết sách khoa họcquan trọng

Ví dụ, để đáp trả “Dự án đại não loài người” (Human Brain Project, HBP) của chính phủ Obama, Nhật Bản cho ra đời “Dự án não” của Nhật Bản (MIND). Cũng tương tự như chính phủ Mỹ, chính phủ Nhật Bản chỉ nói “phải làm” dự án khoa học não chứ không xác định “làm gì” hay “làm như thế nào”.

Điều này do tập thể các nhà khoa học lão luyện, sau quá trình lấy ý kiến của giới khoa học thần kinh, qua nhiều lần thảo luận rồi trình dự án cho chính phủ, từ đó biến kế hoạch thành hành động thực tế. Chính phủ chỉ có thể quyết định “làm và không làm”, không thể tùy tiện thay đổi “làm gì” và “làm như thế nào”. Trái lại, cơ quan quản lý khoa học của Trung Quốc thì vô cùng tích cực trong chuyện “làm gì” và “làm như thế nào”, thậm chí thường xảy ra tình trạng cách nghĩ của nhà quản lý khác với ý kiến của nhà khoa học, vì thế cho thay đổi hàng loạt nhà khoa học để thảo luận lại, đến khi nào phù hợp cách nghĩ của nhà quản lý.

Đối với chính sách khoa học công nghệ, bao gồm lĩnh vực và hướng nghiên cứu, kinh phí đầu tư, kết quả kỳ vọng như thế nào, chỉ có nhà khoa học mới hiểu rõ nhất, thế nhưng trong việc xây dựng và cải cách những chính sách khoa học quan trọng ở Trung Quốc, vai trò của nhà khoa học rất bị hạn chế.

Ở đây còn có vấn đề niềm tin vào nhau giữa nhà khoa học và giới chức nhà nước.

Có người chất vấn, nhiều nhà khoa học khi đề xuất kiến nghị thường nghĩ đến lợi ích của cá nhân hoặc đơn vị mình. Tư tưởng này là một thực tế ở Trung Quốc hiện nay, cũng có lý do của nó. Nhưng từ nhu cầu phát triển lâu dài, cần tham khảo kinh nghiệm của các nước có nền khoa học tiên tiến (như Mỹ, Nhật…), khi xây dựng chính sách khoa học công nghệ cần có “người trong nghề”, tức quyết định cần thuộc về nhà khoa học.

Một trong những cách làm hay là giao trọng trách cho “nhà khoa học chiến lược” (là người nắm được những tiến bộ hàng đầu của khoa học, có tiếng trên quốc tế và có tầm nhìn chiến lược, có lòng công tâm, uy tín, dám gánh vác trách nhiệm, có cái nhìn toàn cuộc). Nhà khoa học chiến lược là những người chí công vô tư, suy nghĩ và việc làm của họ dựa trên lợi ích chung, không vì tư lợi cá nhân.

Dĩ nhiên, tiến cử chỉ là bước đầu tiên trong công tác nhân tài, làm sao để nhân tài được tiến cử phát huy được khả năng mới quan trọng.

2. Đầu tư cho khoa học cơ bản

Chính sách hỗ trợ khoa học cơ bản của Nhật Bản từng có giai đoạn trục trặc, họ cũng từng giống như Trung Quốc hiện nay chỉ nóng vội lợi ích trước mắt, quá xem trọng nghiên cứu ứng dụng, chuyển hóa thành tựu khoa học công nghệ để trả công cho việc đầu tư… Sau này họ mới nhận ra không nên quá công lợi như thế. Có nhiều phát hiện khoa học quan trọng ban đầu không nhận ra được ý nghĩa ứng dụng gì, nhưng rồi sau đó mới thấy đó là phát hiện mang tính cách mạng. Hơn nữa, sự hùng mạnh của một quốc gia nằm ở mức độ tiên tiến về khoa học cơ bản, đó là tinh thần tìm tòi khoa học do thúc đẩy của lòng hiếu kỳ trí thức, là biểu hiện của văn minh loài người.

Chính phủ Nhật Bản đã dốc toàn lực đầu tư cho khoa học cơ bản. Từ thập niên 1960 – 1970, tổng chi phí cho nghiên cứu khoa học của Nhật Bản đã tăng khoảng 6 lần; đến thập niên 1980, chính phủ Nhật Bản đưa ra chính sách “kỹ thuật lập quốc”, chi kinh phí nghiên cứu khoa học lên đến 180 tỷ Yên; đến thập niên 1990, Nhật Bản phê chuẩn dự toán “Ủy ban Khoa học và Công nghệ” đột phá với số kinh phí đến 500 tỷ Yên. Vì sự đầu tư lâu dài này, giới khoa học Nhật Bản, đặc biệt là những nhà khoa học ưu tú có thể an tâm theo đuổi tìm tòi khám phá khoa học cơ bản, không phải canh cánh lo lắng đi xin kinh phí.

3. Chế độ và nền văn hóa thu hút “chất xám bên ngoài”

Với nguồn lực của Trung Quốc ngày nay, điều kiện cứng dành cho nghiên cứu khoa học không hề thua kém nước khác. Nhưng nhiều nhân tài khoa học được đào tạo ở các nước tiên tiến Âu Mỹ khi về nước lại cảm thấy “không hợp thủy thổ”, điều này liên quan nhiều đến “điều kiện mềm” của môi trường xã hội. Vì thế phải cố gắng nâng cấp “điều kiện mềm” để thu hút nhân tài nước ngoài về nước làm việc.

Mức độ quốc tế hóa của Nhật Bản rất cao, họ rất thân thiện (friendly) với người nước ngoài. Ví dụ như Viện Nghiên cứu Riken có nhiều nhà khoa học thuộc những chủng tộc khác nhau, họ được hỗ trợ rất tốt về cuộc sống và công việc. Những con người khác nhau về quốc tịch, chủng tộc, văn hóa nhưng có thể dễ dàng chung sống cùng, tương tác với nhau mạnh mẽ nên tạo ra những thành tựu nghiên cứu bất ngờ, đóng vai trò rất quan trọng cho tiến bộ khoa học. Nhà bình luận chính trị nổi tiếng Thomas Freedman đã tổng kết năm trụ cột quan trọng giúp nền kinh tế Mỹ không ngừng phát triển, một trong số đó là chính sách di dân của Mỹ, đặc biệt là đối với nhân tài khoa học công nghệ cao. Hiện nay chính sách thu hút nhân tài khoa học của Trung Quốc chỉ chú trọng kêu gọi người Trung Quốc về nước, rất hạn chế đối với nhân tài khác chủng tộc.

Sau khi thu hút nhân tài trở về phải quan tâm giúp họ nhanh chóng hội nhập vào môi trường xã hội một cách thuận lợi nhất, trong đó việc cơ bản nhất là đơn giản hóa các thủ tục phức tạp, tạo môi trường thông thoáng.

4. Tính chăm chỉ, nghiêm cẩn và kiên trì của người Nhật Bản

Nhiều người cho rằng, tính sáng tạo với những ý tưởng đột phá thường không phải điểm mạnh của giới nghiên cứu khoa học Nhật Bản. Họ không giàu trí tưởng tượng và sáng tạo, không giỏi sáng kiến hoặc khai phá lĩnh vực khoa học mới, giới khoa học Nhật Bản cũng không mạnh về tinh thần mạo hiểm và tinh thần phê phán. Thành tựu của khoa học Nhật Bản chủ yếu dựa vào tính nghiêm cẩn, chăm chỉvà kiên trì.

Thực tế chứng minh, những đức tính này cũng có thể giúp người ta làm được những công việc lớn lao tầm cỡ thế giới. Nhiêu Nghị (饶毅, Raoyi) [**] từng chỉ ra: “Tỷ lệ thành quảđột phá là rất thấp trong một quần thể người chỉ dựa vào tính cần cù, để có một lượng nhỏ thành quả đột phá với quần thể như vậy thì cần một số lượng người thật đông đảo tham gia vào.Theo quan điểm này, một người bình thường mà có thể đạt được giải Nobel nhờ lao động chăm chỉ cho thấy quốc gia này có rất nhiều người đang cần mẫn làm nghiên cứu khoa học, cho thấy hoạt động khoa học kỹ thuật của quốc gia này mang tính phổ biến”.

Tính chăm chỉ, nghiêm cẩn và kiên trì của người Nhật Bản có quan hệ rất lớn với truyền thống văn hóa và lịch sử của Nhật Bản. Dân tộc Nhật Bản thích theo đuổi sự hoàn mỹ, như chúng ta thường ví là tinh thần nghệ nhân. Chúng ta thường thấy nhiều người Nhật Bản bỏ cả đời để làm một việc, đưa công việc lên đến trình độ chí cao. Muốn chứng minh một hiện tượng hoặc nguyên lý khoa học cần phải làm lặp đi lặp lại nhiều lần, xem xét kỹ lưỡng bằng các phương pháp khác nhau. Với người Nhật, công bố một thành quả nghiên cứu cẩu thả, bị trùng lặp hoặc sai lầm là đáng hổ thẹn. Tác phong làm việc chăm chỉ, cẩn trọng và kiên trì là đặc điểm phổ biến của giới khoa học Nhật Bản. Ngược lại, đối với giới khoa học Trung Quốc ngày nay, tiêu chí thời thượng là “ngắn và nhanh”, nhiều thứ được công bố chỉ thực hiện trong vài tháng, cách làm mang tính công lợi này khiến nhiều thành quả công bố có độ tin cậy hạn chế, về lâu dài tác động rất tiêu cực với phát triển khoa học Trung Quốc.

Tôi biết nhiều nhà khoa học Nhật Bản không hoan nghênh cái gọi là “đi tắt đón đầu”, họ không tùy tiện vứt bỏ một đề tài, càng không tùy tiện thay đổi đề tài, điều này rất khác với Trung Quốc hiện nay. Vì thếnhà khoa học thần kinh nổi tiếng Nakanishi Shigetada chia sẻ với tôi, ông vô cùng thận trọng trong việc chọn đề tài. Theo quan sát của tôi, họ thường chọn những vấn đề rất khó, cần sự chuyên tâm và công phu. Khi làm nghiên cứu cũng đặc biệt trọng tinh thần kỷ luật, mỗi bước đi đều nghiêm cẩn làm theo trình tự và kiên trì trong thời gian lâu dài.

5. Thượng tôn văn hóa trung thực

Francis Fukuyama là học giả người Mỹ gốc Nhật, là tác giả cuốn “Sự cáo chung của lịch sử và con người cuối cùng” (The End of History and the Last Man) nổi tiếng thế giới. Trong cuốn sách “Niềm tin: Mỹ đức xã hội và sự thịnh vượng” (Trust:The Social Virtues and the Creation of Prosperity) ông chia xã hội loài người thành hai kiểu: một kiểu là “xã hội có độ trọng chữ tín cao”, tiêu biểu là Mỹ và Nhật Bản; một kiểu là “xã hội có độtrọng chữ tín thấp”, tiêu biểu là Trung Quốc và Ý.

Xã hội Nhật Bản là xã hội có độ trọng chữ tín cao, mang lại rất nhiều lợi ích đối với khoa học. Nghiên cứu khoa học là hoạt động sáng tạo, yêu cầu cơ bản nhất đối với khoa học chính là thành tín, không thể chấp nhận dù chỉ một chút gian dối. Trong khám phá khoa học cần tinh thần thực sự cầu thị, việc công bố kết quả khoa học cũng phải tôn trọng thực tế, không được khoa trương, mập mờ, cả hai trường hợp đều nguy hại cho khoa học.

Mối quan hệ giao lưu giữa các nhà khoa học cũng cần sự thành tín. Giới khoa học Nhật Bản rất có niềm tin vào nhau, vì thế họ hợp tác với nhau dễ dàng. Việc nghi ngờ, giấu diếm, hoặc nói dối là hiện tượng hiếm thấy. Môi trường như vậy giúp họ tránh được nhiều chuyện phức tạp, thúc đẩy hiệu quả cao trong nghiên cứu khoa học. Còn xã hội Trung Quốc là xã hội có độ trọng chữ tín quá thấp, hiện tượng giả dối, ăn cắp, phóng đại, cướp quyền tác giả diễn ra liên miên.

Xã hội Nhật Bản là xã hội trọng liêm sỉ, người giả dối phải trả giá nặng nề hơn nhiều so với các xã hội khác. Ví dụ, trong chuyện Haruko Obokata phát hiện tế bào toàn năng mới (tế bào STAP), sau khi tạp chí Nature của Anh đăng tải kết quả nghiên cứu (năm 2014) đã gây chấn động giới nghiên cứu tế bào quốc tế. Tuy nhiên sau đó có thông tin chỉ raHaruko Obokata gian dối trong nghiên cứu khiến toàn xã hội Nhật Bản lên tiếng chất vấn chữ tín của nhóm nghiên cứu, hệ quả là tất cả những học giả từng tham gia hợp tác phải chịu áp lực khủng khiếp của xã hội.

Có thế thấy, cảm thức về danh dự và liêm sỉ của người Nhật Bản rất mạnh mẽ. Sau khi Haruko Obokata đứng ra xin lỗi trước công chúng không bao lâu thì người thầy hướng dẫn Yoshiki Sasai đã tự sát để tạ tội. Ý thức về danh dự khiến ông Yoshiki Sasai cho rằng chỉ có cái chết mới rửa sạch được nỗi nhục. Một xã hội có ý thức về liêm sỉ cao độ như thế là tiền đề quan trọng hình thành môi trường nghiên cứu khoa học nghiêm cẩn và cầu thực. Còn bầu không khí khoa học Trung Quốc ngày nay đầy phù phiếm và nôn nóng. Nhiều người bất chấp thủ đoạn không công chính, miễn sao ai làm được thì kẻ đó là anh hùng. Nhưng về lâu dài, điều này là trở ngại nghiêm trọng cho không khí hợp tác và giao lưu học thuật ở Trung Quốc.

…..

Đoàn Đức Thanh (lược dịch)

 [*] Giáo sư Đại học Bắc Kinh, đồng chủ biên trang Giới trí thức.

( Nguồn: VHNA)

Thương tiếc Lý Tiến Dũng, thương tiếc một tài hoa

(Rút từ facebook của Ngô Thị Kim Cúc)

Có mặt ở nhà riêng của vợ chồng Lý Tiến Dũng – Nông Thanh Vân cùng với Đào Hồng Hạnh và con trai vào tối ngày 4 tháng 12, tôi vẫn còn nguyên nỗi bàng hoàng sửng sốt đến mức không thể khóc nổi. Ở đó, tôi nhìn thấy đông đủ các anh chị em của Dũng và Vân; con trai và con gái của hai em; và nhất là mẹ Dũng, người cũng vừa chịu tang chồng – giáo sư Lý Chánh Trung – vào tháng 3 vừa rồi. Trên gương mặt của tất cả mọi người là một nỗi chết lặng đầy chịu đựng, trước nỗi đau mà họ đã phải làm quen suốt một năm qua, khi bệnh của Dũng bắt đầu bộc phát.

Tôi không biết sớm chuyện buồn được giữ kín này. Gần đây, thỉnh thoảng đọc những stt của Vân trôi trên dòng thời gian, tôi cảm thấy có chuyện gì đó rất nặng nề đang chiếm tâm trí em, nhưng tôi không nghĩ đó lại là điều mà ít ai ngờ tới: mạng sống của Lý Tiến Dũng. Suốt thời gian ấy, Vân tất tả ngược xuôi lo thang thuốc cho chồng, kể cả chuyến đi Anh với hy vọng cuối sẽ tìm được cách để Dũng có thể đi tiếp cùng vợ con trong cõi sống đang đầy những hiểm nguy này. Vậy mà chiều ngày 4 tháng 12, Dũng đã lặng im, mãi mãi không tỉnh dậy sau khi hôn mê sâu…

Nhìn gương mặt như đã hóa đá của Vân, tôi cảm thấy mọi lời lẽ đều vô nghĩa. Tất cả bạn bè đều biết rất rõ tình yêu em dành cho chồng, một mối tình trọn vẹn, mê đắm và vô điều kiện. Nếu ngoài xã hội, Dũng có bao điều để nghĩ ngợi, buồn đau, căm giận, thì trong gia đình, Dũng là người chồng người cha hoàn toàn hạnh phúc, với người vợ đẹp giỏi giang và hai đứa con xinh đẹp thông minh đủ trai đủ gái.

Tôi không biết phải viết gì ngoài nỗi tiếc thương quá lớn về con người tài hoa Lý Tiến Dũng, em không chỉ là nhà báo đầy năng lực và dũng khí, em còn có một trái tim thổn thức của người nghệ sĩ, luôn đập chung với nhịp đập của hàng triệu người đang sống quanh mình…

Xin chép lại một đoạn về Lý Tiến Dũng trong bài viết về sự ra đi của giáo sư Lý Chánh Trung cha em:

“Vào đầu thập niên 1990, khi làm việc ở báo Tuổi Trẻ, đánh bạn với các bạn ở báo Phụ Nữ mà tòa soạn đối diện nhau, tôi được biết Lý Tiến Dũng con trai ông, chàng đại úy trẻ mới trở về từ chiến trường Kampuchia, đang bắt đầu “học việc” làm báo sau khi ra quân. Ấy là bởi anh đã “bật lại” một ông tướng trong cuộc họp sĩ quan ở quân khu 7, khi ông này nhắc tới cha anh như một người cần phải “cảnh giác”. Từ một phóng viên, Lý Tiến Dũng đã học “nhảy lớp” rất nhanh, rất giỏi, trở thành cây viết sắc sảo phụ trách mảng chính trị xã hội của báo Phụ Nữ. Khi tổng biên tập Thế Thanh “rời khỏi chức vụ”, phó tổng biên tập Minh Hiền chuyển về báo Đại Đoàn Kết, Lý Tiến Dũng cũng ra đi. Chính ở báo Đại Đoàn Kết, sau thời gian dài khẳng định bằng công việc rồi được giao trách nhiệm tổng biên tập, Lý Tiến Dũng một lần nữa lại làm điều mà không phải ai cũng dám. Anh đã cho đăng bức thư đại tướng Võ Nguyên Giáp góp ý kiến về việc phá bỏ hội trường Ba Đình để xây mới sau khi nhiều tờ báo đã từ chối không đăng. Cộng thêm một số việc rất “cả gan” đúng khí chất dân Sài Gòn, Lý Tiến Dũng cũng đã được “thôi giữ chức” tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết”.

Xin Nông Thanh Vân, hai cháu và gia đình hãy nguôi bớt nỗi đau, xin hãy góp tay làm điều gì đó để những gia đình khác không phải chịu đựng mất mát tổn thương từ hiểm họa quá đáng sợ này: căn bệnh ung thư đang treo lơ lửng trên đầu mỗi chúng ta.

Xin nguyện cầu cho Lý Tiến Dũng về gặp cha mình – Giáo sư Lý Chánh Trung và anh em mình – Lý Anh Dũng, Lý Trung Dũng, với nỗi bình yên có thật ở một cõi vĩnh hằng an lạc…

clip_image002

Đã “tử biệt” em rồi, người đồng nghiệp yêu quý của mọi người…

clip_image004

Gương mặt em, đầy trăn trở…

clip_image006

Và cũng đầy miệng cười con trẻ…

clip_image008

Dũng đang nghĩ gì?

clip_image010

Giữa rất đông đồng nghiệp: với Bùi Nguyễn Trường Kiên, Nguyễn Thế Thanh, Ba Kiem MaiNguyễn Ngọc Hải.

clip_image012

Với Bùi Nguyễn Trường Kiên, Nguyễn Thế ThanhBa Kiem Mai.

clip_image014

Hát với cựu tổng biên tập Thế Thanh trong khi Đỗ Ngọc Dona tác nghiệp

clip_image016

Hai chị em Minh Hiền – Tiến Dũng giờ lại gặp nhau rồi

Đăng bởi: Ngô Minh | 06.12.2016

NỮ PHÓNG VIÊN CHIẾN TRANH NGÀY ẤY…

NỮ PHÓNG VIÊN CHIẾN TRANH NGÀY ẤY…

MAI NAM THẮNG

 

Như Vanvn.net đã đưa tin, Thượng tá, nhà văn Nguyễn Thị Như Trang đã từ trần tại Hà Nội ngày 5-12-2016, hưởng thọ 77 tổi. Trước khi nghỉ hưu, chị là biên tập viên văn xuôi của tạp chí Văn nghệ Quân đội; là tác giả của 14 đầu sách bao gồm tiểu thuyết, truyện ngắn và bút ký. Chị đã từng giành Giải Nhì truyện ngắn báo Văn nghệ năm 1967; Giải Nhất kịch ngắn của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam năm 1994; Giải A bút ký của Bộ Tư lệnh Hải quân năm 1994; Giải thưởng Bộ Quốc phòng về văn học nghệ thuật 5 năm 1989-1994; Giải thưởng Nhà nước về VHNT năm 2012…

Thượng tá, nhà văn Nguyễn Thị Như Trang (1939-2016)

Với một người cầm bút thì khối lượng tác phẩm và “bộ sưu tập giải thưởng” như thế là là chứng chỉ của sự thành đạt. Vậy mà mới đây đến thăm chị, khi tôi nhắc lại nhận xét nêu trên, Nguyễn Thị Như Trang lại tâm sự rất thật lòng: “Viết văn xuôi là một công việc nhọc nhằn, người viết thì chẳng mấy lúc tự bằng lòng mình, nhưng đấy vẫn là một công việc vô cùng lý thú. Tuy nhiên, tôi không cho rằng công việc này là quá ư quan trọng. Nghề văn không thay đổi được xã hội, có chăng nó chỉ làm cho con người sống tốt đẹp hơn, cuộc sống có ý nghĩa hơn. Được thế đã là quý lắm rồi…”.

Cách nay 5 năm, tôi đến thăm chị tại nhà riêng của chị trên đường Phan Đình Phùng-Hà Nội. Khi tôi hào hứng kể về chuyến công tác mới đây của tôi đến một vị bộ đội đóng ở Quảng Ninh, được nghe một số cán bộ ở đấy khoe trước đây từng đón chị về thăm đơn vị, chị bỗng trầm ngâm: “Mấy chục năm làm tạp chí Văn nghệ Quân đội, cũng là công biệc làm báo, nhưng là làm “báo văn”. Cuộc đời tôi chỉ có hơn 3 năm làm báo thực sự, đó là thời kỳ tôi làm phóng viên báo Quân Bạch Đằng, bây giờ là báo Quân Khu Ba. Chỉ hơn 3 năm thôi, nhưng đó là một quãng thời gian đặc biệt quan trọng, khởi đầu sự nghiệp cầm bút của tôi…”.

Nguyễn Thị Như Trang (mặc áo măng tô) trò chuyện cùng đồng nghiệp năm 1995.

Và thế là dòng hồi ức về những ngày làm báo Quân Bạch Đằng được khơi mạch. Nguyễn Thị Như Trang hào hứng kể cho tôi nghe về giai đoạn “khởi đầu sự nghiệp cầm bút” với giọng nói đã hơi khó khăn do tuổi già và hậu quả của một lần bị tai nạn giao thông chấn thương sọ não…

Năm 1966, đang là học viên khóa 2 Trường bồi dưỡng viết văn Quảng Bá, Nguyễn Thị Như Trang được ông Mai Vui, Thư ký tòa soạn báo Quân Bạch Đằng lên tuyển về làm phóng viên bản báo. Lúc bấy giờ tòa soạn đã có các anh: Mai Vui, Đình Khản, Triệu Bôn, Kim Chuông và Lê Lựu. Xét về “giới tính” thì cả cơ quan chỉ mỗi Như Trang là nữ. Xét về “chức tước” thì mấy anh kia đều là sĩ quan, “lẹt đẹt” như Lê Lựu cũng là thượng sĩ chính qui, chỉ mỗi mình chị là công nhân viên thường phục, lương tháng ba mươi bảy đồng năm hào. Thế nhưng trong công việc làm báo thì cô phóng viên xinh đẹp 26 tuổi quyết không thua kém cánh sĩ quan mày râu. Bất kể nắng mưa, bất chấp bom đạn, hễ ở đâu có sự kiện là Nguyễn Thị Như Trang lại lóc cóc xe đạp bám gót hôm thì Lê Lựu, hôm thì Triệu Bôn, hôm thì… thân gái dặm trường vào tận cầu Hàm Rồng viết về trung đội nữ dân quân Yên Vực bắn rơi máy bay. Nhà báo Nguyễn Thị Như Trang là một trong những người đầu tiên viết về Ngô Thị Tuyển, người nữ dân quân Hàm Rồng đã vác những hòm đạn nặng gấp đôi trọng lượng cơ thể, chạy băng băng dưới làn mưa bom lên các trận địa phòng không…

Cuộc chiến đấu trên các đảo còn nguy hiểm và gian khổ gấp bội các trận địa trên đất liền, nhưng Nguyễn Thị Như Trang vẫn không quản ngại. Chị theo thuyền 12 mã lực ra với bộ đội đảo Hòn Mê ở Thanh Hóa. Chị vượt sóng gió cấp 6, cấp 7 trên những con tàu chỉ vài trăm tấn để ra với các chiến sĩ đang canh giữ đảo Bạch Long Vỹ. Nghe tin ở “đảo đèn” có ông đảo trưởng gan dạ, năng động… chị theo thuyền đánh cá ra Long Châu viết bài tuyên truyền góp phần xây dựng điển hình tiên tiến Lại Văn Sầm thành Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân…

Chao ơi những năm tháng làm báo Quân Bạch Đằng gian khổ, khó khăn, nguy hiểm… nhưng sao mà hào khởi và lãng mạn thế! Cơ quan chị 6 người thì có tới 3 ông say mê viết truyện và làm thơ là Mai Vui, Lê Lựu và Kim Chuông. Cái không khí văn chương ấy đã cuốn Nguyễn Thị Như Trang theo. Vừa viết báo, vừa say mê sáng tác. Truyện ngắn, truyện dài, bút ký… đăng báo nhà, báo bạn và báo trung ương. Năm 1967, truyện ngắn “Màu tím hoa mua” của chị đoạt Giải Nhất cuộc thi 2 năm 1966-1967 của báo Văn nghệ. Cho đến nay, giới chuyên môn vẫn cho rằng đó là một trong những cuộc thi văn chương sang trọng bậc nhất của tuần báo Văn Nghệ, với sự phát hiện một loạt những cây bút sau này trở thành những tác giả nổi tiếng, như: Phạm Tiến Duật, Lâm Thị Mỹ Dạ, Vương Trọng, Đỗ Chu, Lê Lựu, Nguyễn Thị Như Trang… Chính từ cuộc thi này mà sau đó Nguyễn Thị Như Trang được rút lên tạp chí Văn nghệ Quân đội, một “ngôi đền văn chương” trên phố nhà binh ở Hà Nội.

( Nguồn: vanvn.net)

Phó Tổng biên tập báo Thanh Niên bị thu thẻ nhà báo

BBC

  • Sản xuất nước mắmGETTY IMAGES
Thông tin sai sự thật về nước mắm có thạch tín đã ảnh hưởng đến nước mắm truyền thống

Phó TBT báo Thanh Niên Đặng Việt Hoa bị Bộ Thông tin Truyền thông thu thẻ nhà báo sau khi báo này bị phạt nặng vì “thông tin sai về nước mắm”.

Theo quyết định số 2184/QĐ-BTTTT được Bộ Trưởng Trương Minh Tuấn ký ngày 5/12, ông Đặng Việt Hoa (tên thật là Đặng Ngọc Hoa) bị thu thẻ nhà báo vì đã bị xử lý kỷ luật cảnh cáo.

Nguyên Ủy viên Ban Biên tập, Tổng thư ký tòa soạn Võ Văn Khối cũng bị thu thẻ nhà báo theo quyết định số 2185/QĐ-BTTTT ký cùng ngày.

Ông Khối trước đó đã bị xử lý kỷ luật cách chức.

Báo Thanh Niên hôm 21/11 cùng 49 cơ quan báo chí khác đã bị xử phạt hành chính trong vụ điều tra “các cơ quan báo chí đăng thông tin sai sự thật về việc nước mắm có hàm lượng thạch tín vượt ngưỡng quy định”.

Báo này bị phạt mức cao nhất là 200 triệu đồng.

Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam lúc đó nói Báo Thanh Niên, và sau đó là Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam (Vinastas), vào tháng 10 đã công bố thông tin “mập mờ” về tỷ lệ nhiễm thạch tín trong nước mắm, không giải thích loại nào là độc hại, loại nào là không độc hại.

Từ hai nguồn này, hàng chục cơ quan báo chí Việt Nam đã đăng “170 tin, bài công bố kết quả khảo sát có nội dung sai sự thật từ báo Thanh Niên và Vinastas”.

Báo Thanh Niên trước đó đã đăng lời cáo lỗi và gỡ bỏ 5 bài viết về nước mắm ra khỏi trang mạng của họ.

Đăng bởi: Ngô Minh | 06.12.2016

Li-fi 100 lần nhanh hơn Wi-Fi

Giáo sư Harald Haas từ Đại học Edinburgh đã phát minh ra một công nghệ truyền tin mới, “Li-Fi”:
 Li-fi 100 lần nhanh hơn Wi-Fi

 
 
100 fois plus rapide que le Wi-fi, le Li-fi
Giáo sư Harald Haas từ Đại học Edinburgh (Đại học Edinburgh) 


Từ các nhà hàng tới nhà ga, những mạng không dây Wi-Fi được lắp đặt khắp nơi trong thành phố. Với sự phổ biến ngày càng tăng của các trang web video, một số người muốn truy cập internet với tốc độ nhanh hơn nữa. Một trong những công nghệ này là “Li-fi”, cho phép truyền với tốc độ 100 lần nhanh hơn Wi-fi.


Li-Fi do Harald Haas, giáo sư tại Đại học Edinburgh, Vương quốc Anh, phát minh ra. Sự khác biệt lớn nhất so với mạng Wi-Fi sử dụng sóng vô tuyến điện không dây đó là Li-Fi sử dụng quang phổ điện từ của ánh sáng nhìn thấy được, có phổ tần số rộng hơn 10.000 lần sóng vô tuyến. Điều này cung cấp khả năng truyền tin với tốc độ cực cao với hiệu quả sử dụng điện tuyệt vời.


Nguyên tắc của nó tương tự như mã Morse. Ánh sáng đảm bảo truyền tin thay vì các tín hiệu kỹ thuật số. Với công nghệ này, ví dụ dùng ánh sáng của một bóng đèn LED với một tốc độ cao của nano giây (một nhấp nháy quá nhanh để có thể nhìn thấy bằng mắt thường), một lượng lớn dữ liệu có thể được truyền cực nhanh. Nó không có bất kỳ tác động nào lên cơ thể con người như sóng vô tuyến, chúng ta có thể nói rằng đây là một chuẩn truyền tin không dây an toàn.


Ánh sáng không thể xuyên qua các bức tường, do đó phạm vi của mạng bị hạn chế. Tuy nhiên điều đó cũng cung cấp một bảo mật cao hơn so với các tiêu chuẩn của truyền tin Wi-Fi thông thường Ưu điểm lớn nhất của Li-Fi là tốc độ của nó. 


Trong những năm gần đây, khi tốc độ mạng cáp quang đã đạt tới 100 Gbps (gigabyte) cho mỗi giây, thì Li-fi cho phép một tốc độ cực cao là 224 Gbps mỗi giây. Về lý thuyết, tốc độ tải về của Li-fi cho một bộ phim dài 2 tiếng 1.5GB sẽ là 18 giây.


Hãng Velmenni của Estonia đã bắt đầu cung cấp lắp đặt  công nghệ Li-Fi trong các môi trường khác nhau, và nó đã được chứng minh rất hữu dụng. Giám đốc điều hành công ty Deepak Solanki tuyên bố “hiện nay đang tiến hành thử nghiệm trong các cơ quan và các khu công nghiệp và văn phòng.”


Li-Fi nhanh hơn và rẻ hơn so với Wi-Fi. Việc sử dụng đèn LED cũng có lợi thế là điện năng thấp và thân thiện với môi trường hơn so với bóng đèn thông thường.
( Nguồn: Google)
Đăng bởi: Ngô Minh | 05.12.2016

ĐÃ ĐI VỚI NHÂN DÂN THÌ THƠ KHÔNG THỂ KHÁC

    ĐÃ ĐI VỚI NHÂN DÂN THÌ THƠ KHÔNG THỂ KHÁC

 (Tham luận không được đọc của Ngô Minh tại Đại hội Hội Nhà văn VIII, 2010)

ngo-minhNgôMinh

Đỗ Phủ là nhà thơ đời Đường, cùng với Lý Bạch được coi hai nhà thơ vĩ đại nhất Trung Quốc. Bản thân ông 15 năm cuối đời là người bần hàn, khốn khó, đói rách. Một lần Đỗ Phủ chạy giặc trên chiếc đò nhỏ trên sông Tương, nhịn đói đã 10 ngày. Sau đó chức sắc trong vùng biết tin, đem rượu thịt mời. Ông ăn uống no say rồi bị “thương thực”, lăn ra chết. Gọi là chết no, nhưng thực chất là chết đói. Vì thế thơ ông thấm đẫm nỗi đau của người dân cùng khổ. Nói về Đỗ Phủ, trong bài thơ “Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe” của Phùng Quán có khúc thơ rất thống thiết: Đã đi với nhân dân / Thì thơ không thể khác/ Dân máu lệ khốn cùng / Thơ chết áo đắp mặt… Tôi muốn nhân chuyện thơ Phùng Quán  viết về Đỗ Phủ để nói vài ý kiến ngắn về lối đi của nhà văn trên con đường văn chương thăm thẳm để có tác phẩm đích thực mà người đọc luôn mong đợi. Gần mực thì đen/Gần đèn thì sáng. Nhà văn đi với ai thì sẽ viết ra thứ văn chương đó. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 05.12.2016

Chao ôi là buồn

CHUYỆN GIÓA SƯ, TIẾN SĨ Ở vIỆT NAM:

Chao ôi là buồn

(Rút từ facebook của Đỗ Ngọc Thống)

Nhân một comment gần đây của GS Trần Đình Sử: “…Mày giáo sư thì tao cũng giáo sư”.

Tôi có dịp may và cũng không may là được/ phải tiếp xúc với nhiều người có học hàm, học vị. Có người giỏi thật, tôi cứ nghĩ mình học suốt đời không hết chữ ông ấy. Nhưng cũng có nhiều người không hiểu sao có được chức danh này. Rồi cứ lẩm nhẩm nhại theo câu thơ của Bảo Sinh:
Đêm nằm nghĩ mãi không ra
Tại sao tay ấy lại là giáo sư?


Thì đây, một ông có tên tuổi trong lĩnh vực giáo dục, luôn nghĩ mình giỏi, chẳng chịu tìm hiểu gì, cứ oang oang tuyên bố với báo chí: làm gì có dạy học dự án; cả Bộ Giáo dục có vài dự án lấy đâu ra cho học sinh cả nước tham gia. Té ra ông ấy hiểu dự án là phải có việc đầu tư hàng trăm triệu đô. Trong khi cái mà người ta đang bàn là dạy học dự án (project-based teaching), một phương pháp/ hình thức trong dạy học rất phổ biến ở các nước có nền giáo dục phát triển. Một ông GS khác khi phản biện luận án liên quan đến chương trình đánh giá học sinh quốc tế PISA; chẳng hỏi, chẳng xem và cũng chẳng đọc, phán một câu xanh rờn: Tại sao văn chương lại gắn với thứ bánh của Tây? Rồi mới mấy hôm trước một bà GS lịch sử cao giọng tuyên bố rất hùng hồn: “Chỉ những người làm lịch sử mới có tầm nhìn xa, trông rộng, hơn hẳn người làm khoa học tự nhiên…”. Một ông thứ trưởng cũng được gọi là GS, đã về hưu hơn chục năm rồi, nhưng rất hay lên tiếng phê phán giáo dục. Theo ông nhà trường hiện nay nhìn vào đâu cũng thấy hỏng, trình độ giáo viên yếu kém, đạo đức học sinh xuống cấp, tầm nhìn cán bộ quản lý hạn chế… Không hiểu sao khi còn đương chức không thấy ông ấy lên tiếng, bây giờ về hưu rồi toàn đổ lỗi cho người khác… Hình như ông ấy là GS Vật lý, nhưng tôi đã nghe nhiều người bảo: ông này cái gì cũng biết trừ vật lý…
Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du từng viết: “Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường”. Hóa ra câu ấy đúng cho rất nhiều lĩnh vực, chẳng cứ gì chữ trinh,“GS kia cũng có ba bảy đường”. Gặp các vị ấy rồi, thấy nản quá. Lại nghĩ đến comment của thầy Trần Đình Sử.
Chao ôi là buồn.

Đăng bởi: Ngô Minh | 05.12.2016

VĂN HÓA TÂM LINH TÀY TRONG VĂN CHƯƠNG Y PHƯƠNG

VĂN HÓA TÂM LINH TÀY TRONG VĂN CHƯƠNG Y PHƯƠNG

NGUYỄN HUY BỈNH
 Tín ngưỡng ma quỷ, thần linh ở người Tày vốn tồn tại và lưu truyền từ xa xưa. Hệ thống tín ngưỡng này có ảnh hưởng trực tiếp đến ý niệm, hành vi và ứng xử của người Tày một cách sâu sắc.

Nhà thơ Y Phương

Y Phương là người am tường văn hóa truyền thống của người Tày, ông đã vận dụng, truyền tải tất cả các hình thức văn hóa tâm linh này vào trong trang viết của mình một cách sinh động, gần gũi. Đặt vấn đề tìm hiểu tín ngưỡng ma quỷ và thần linh của người Tày trong văn chương của Y Phương, bài viết hướng đến làm rõ ý niệm và thực hành nghi lễ ma quỷ, thần linh vốn đã tồn tại từ bao đời nay trong văn hóa tâm linh của người Tày, trên cơ sở đó lý giải sự ám ảnh tín ngưỡng này trong các sáng tác của ông. Điều đó vừa bao hàm việc phục dựng tín ngưỡng ma quỷ, thần linh người Tày từ góc nhìn của dân tộc học, vừa làm rõ giá trị nghệ thuật trong sáng tác của Y Phương qua việc sử dụng yếu tố văn hóa này.

Trong thực tiễn, ở người Tày xuất hiện niềm tin vào ma quỷ, thần linh như là một hiện tượng, một tín điều phổ quát và bền vững. Theo nhà văn Y Phương thì hầu như ở người Tày ai ai cũng chỉ tin vào ma quái, thần thánh: một thế giới ma quái bao bọc lấy đời sống xã hội người Tày. Bất kể chỗ nào cũng có ma. Ma trong nhà. Ma ngoài sân. Ma rừng thiêng. Ma nước độc. Ma hòn đá. Ma vực sâu. Ma thuồng luồng. Ma gốc cây. Ma trẻ con. Ma hành khất. Ma bà lão. Thế giới ma ngự trị đời sống tinh thần, từ khi con người sinh ra đến lúc chết đi. Mọi rủi ro đến với con người, họ đều cho rằng ma làm. Ma bắt đứa trẻ kia bị ốm. Ma làm cho bà già kia phải chết. Ma đẩy anh kia xuống vực. Ma làm cho con bé năm tuổi người Nùng biết nói tiếng Kinh…Nghĩa là mọi sự diễn ra bất thường, đều có bàn tay điều khiển của ma. Vậy con ma là gì? Nó như thế nào? Chẳng một ai nhìn thấy. Ma là một thế lực đầy quyền uy. Đối với người trần mắt thịt, những gì trông thấy, kể cả hổ báo, người ta không sợ. Chỉ sợ ma![1]. Y Phương đã chỉ ra được một cách sống động niềm tin vào ma quỷ của người Tày, ma quỷ xuất hiện mọi lúc, mọi nơi và trong mọi sự vật hiện tượng trên thế gian này, thậm chí là trong cả giấc mơ, trạng thái tình cảm của con người. Có thể nói, đối với người Tày, ma quỷ đã thấm sâu vào trong não trạng của họ và tồn tại một cách vô thức – một dạng của vô thức tập thể.

Trong tín ngưỡng của người Tày, “phi” (tức “ma” theo nghĩa tiếng Việt) có nghĩa rất rộng, chỉ tất cả các thần thánh, ma quỷ có mặt trên trời dưới đất, dưới nước như: ma trời (Phi fạ), ma đất (Phi đin), ma rừng (Phi pá) ( Không phải Phi pá mà là Phi đông), ma núi cao rừng già (Phi slấn) (Slấn là thần linh chứ không phải ma), ma thuồng luồng (Phi Nguộc)  Phi ngưởc), những người chết bất đắc kỳ tử (Phi slương), ma thề nguyền (Phi mang), ma thiên lôi (Phi lòi), ma thành hoàng, ma thổ công, ma tổ tiên (Phi pẩu pú), ma người chết (Phi thai), ma người sống (Phi đíp)[2]… Trong tản văn của mình, Y Phương đã nói lên được hiện thực về tín ngưỡng ma quỷ. Ông đã chỉ ra niềm tin “vạn vật hữu linh” (mọi vật đều có linh hồn) của người Tày một cách sinh động, ông viết: “Kể cả anh, cả tôi, cả các bạn đông tây nam bắc, đều chưa một ai biết con ma hình thù nó như thế nào. Nhưng với người miền núi quê tôi, con ma có mặt hầu hết mọi nơi mọi chỗ. Từ lúc con người sinh ra, đến ngày về núi, vẫn bị con ma điều hành, chi phối. Mở mắt ra là có ma. Nhắm mắt vào ngủ cũng có ma chầu chực. Ngồi trong nhà hay ra ngoài rừng đều có ma đi theo sau lưng. Vì thế, người vùng cao chúng tôi không bao giờ dám quay lưng ngoảnh mặt”[3]. Như vậy, trong tâm thức người Tày, ma là loài không có hình thù, xuất hiện ở khắp trong không gian, trong nhà hay ngoài rừng. Trong suốt đời người, từ khi con người sinh ra cho đến khi chết đi ma đều hiển hiện. Ma tồn tại trong khi con người ta thức và cả khi con người ta ngủ… Điều đó cho thấy, ý niệm về ma quỷ đã thực sự ăn sâu trong hành vi và suy nghĩ của đồng bào dân tộc Tày.

Trong tản văn Y Phương, ông đã mô tả được không gian quỷ ma tồn tại và trú ngụ, đó là những nơi gần gũi như trên cơ thể con người và những nơi quen thuộc và gắn bó với người dân: “Người ta nói con ma nấp ở trong tóc. Trong xống áo. Trong xó bếp. Trong góc nhà. Ở đuôi sàn phơi thóc. Ở bên trong gốc cây sung cây ổi. Ở ngã ba ngã tư quốc lộ hay đường rừng. Nhất là ở những nơi nghĩa địa”. Thậm chí, ngay cả trong lá hoa của người xưa truyền lại rằng, ở đó có những con ma chuyên đi bắt vía người lười biếng. Ông cũng chỉ ra được một số đặc tính của ma quỷ trong ý thức của người Tày: “Chúng tụ tập thành làng thành tổng. Nhưng ma thường hay xuất hiện vào lúc ban đêm tối trời. Ma kỵ ánh sáng ban ngày và ngọn lửa đang rực cháy. Ma trú ngụ ở những vùng có nước xoáy và vực sâu. Ma ngủ không có tiếng kêu. Nhưng nó có bóng. Bóng của ma nhọp nhẹp lởn vởn. Nó in hình cái đầu hói lên vách nhà, lấp ló đằng sau cánh cửa[4].

“Phi” – ma có sức ám ảnh ghê gớm đến tâm lý của người Tày, mọi hành vi bất bình thường của con người và vạn vật xung quanh họ đều do “phi” gây ra. Y Phương mô tả lại quan niệm về sự chi phối của ma quỷ đối với trẻ con. Khi những đứa bé khó ngủ thì người ta cho rằng: “Nó nhìn thấy những con ma lạ hoắc. Con mặt đỏ. Con râu vàng. Con đầu trọc. Nên cứ nhắm mắt vào là thấy, làm nó sợ. Trẻ khóc suốt đêm là vì vậy. Mãi đến gần sáng nó mới hết khóc và thiếp dần vào giấc ngủ”[5]. Vì thế để đứa trẻ không bị sợ hãi ma thì người ta phải thực hành các  nghi thức ma thuật để đuổi ma đi. Họ khấn trời khấn phật, khấn mẹ Hoa và đặt những con dao đã yểm bùa xuống dưới chiếu ở bốn góc giường. Những con dao đó theo Y Phương thì nó vẫn còn mới tinh, được người ta làm từ thép già, chưa một lần dính máu. Những con dao nhọn này quay về bốn hướng để diệt bốn loại ma khác nhau, dao nhọn chĩa mũi về hướng đằng Đông vì nơi ấy loài ma có nước da màu xanh nước biển; dao quay mũi về đằng Tây vì nơi ấy ma quỷ có bộ mặt đỏ quạch; dao chĩa mũi nhọn về phía Nam vì nơi ấy có ma quỷ đầu bẹt xanh như đít nhái, giọng nói khàn khàn vịt đực; dao nhọn quay mũi về phía Bắc vì nơi ấy là nơi ở của ma quỷ có cặp mắt trắng dã, môi thâm xì. Họ tin rằng nếu làm như vậy sẽ chế ngự được các loài ma.

Không chỉ kể chung chung về các loài ma, Y Phương đã miêu tả cụ thể về một số ma, có những loại ma của người Tày mà ông nhắc đến rất hiếm khi nghe thấy ở các tộc người khác như ma xay thóc và ma gà. Ma xay thóc vốn là linh hồn của những đứa trẻ, chẳng may mà chết. Chúng nó đùa nghịch hơn thuở còn ở trên dương thế. Trời đất quay cuồng trong tiếng hét hú. Loài ma này có quyền lực ngang tựa ông trời, không biết sợ ai, chúng có quyền lực vô hình và vô hạn: “Ma xay thóc là lực lượng quyền uy trên cả ông giời. Nên ông giời buộc phải chào thua. Ông giời phải để dành riêng một khoảnh rừng phi eng làm nơi răn dạy loài người”[6]. Vì thế, những biểu hiện của thiên nhiên, mà người Tày tin là do trời tạo ra như hiện tượng mưa, gió, sấm, chớp thì họ cũng nghĩ ngay đến là do con ma xay thóc đã chọc giận trời: “Người làng tôi nói trên con ma là đến ông giời. Nghĩa là nó chỉ kém ông cao xanh có một bậc. Nay con ma dám trêu tức ông giời thế này là lụt to rồi. Quả nhiên trời mưa như trút. Mưa nghe như thác đổ. Làng xóm chìm trong mưa trắng xóa. Thóc lúa ngoài đồng chìm nghỉm trong nước trắng băng băng. Sấm chớp xé rách nát bươm cả bầu trời, mặt đất”[7]. Trong cộng đồng, người ta tin rằng, con người phải biết phục tùng ma, ma bảo gì thì phải nghe đấy, và đã làm người thì phải biết sợ con ma. Có thể nói, với người Tày, ý niệm về loài ma xay thóc – vốn là linh hồn của những đứa trẻ chết bất đắc kỳ tử đã có từ xa xưa, nó là minh chứng cho sự sợ hãi của con người trước hiện tượng của tự nhiên đã ăn sâu trong suy nghĩ và trong đời sống tâm linh của họ. Ma xay thóc còn có nghĩa tung hoành trời đất chẳng sợ ai, loài ma có quyền lực, có sức mạnh, có khả năng siêu phàm, nó có thể tác động đến trời đất, con người ở nhiều phương diện của cuộc sống. Loài ma này tồn tại phổ biến trong tâm trí của cộng đồng.

Một loại ma cũng rất đặc biệt tồn tại trong tâm thức của người Tày đó là ma gà, loài ma này còn có tên gọi khác nhau: “phi cáy”, “phi gjống” “phi phẳn”, “phi Phạm Nhan”, “phi đằm cằm”,… Theo quan niệm của người Tày thì những nhà có ma gà do từ ngày xưa truyền lại. Nghĩa là từ đời cụ, đời ông,… có ma thì đời con cháu, chết sau này cũng trở thành gia đình có “ma”[8]. Tín ngưỡng ma gà xuất hiện từ khi nào, mặt mũi nó ra sao thì không ai hay biết, người Tày chỉ biết là sinh ra và lớn lên là đã nghe nói có loài ma này, Y Phương viết: “Không những người làng tôi, mà cả vùng núi Việt Bắc, Tây Bắc, ai ai cũng đồn đại xung quanh chuyện con ma gà. Nó thổi từ tai người nọ sang tai người kia. Nó truyền từ miệng người này, nhả sang miệng người khác. Tin đồn loang nhanh như ao bèo tấm. Thực hư chả biết. Nhiều người ghê khiếp ma gà”. Họ khiếp sợ ma gà bởi nó có thể nhập vào người và tồn tại trong người đó, thậm chí nó còn di truyền từ đời này sang đời khác. Ma gà có sức mạnh ghê gớm, nó làm hại người, hại vật: “Người có ma gà, nhìn vào đâu cũng làm cho muôn vật bị thui chột. Lời nói của họ như nhựa cây sơn. Dính vào liền bị ngứa khắp người. Nó sẽ làm héo úa cây rau, thối cây hoa. Làm xanh máu. Làm teo cơ. Trong người khó ở. Trâu, bò, lợn, gà bỗng dưng biếng ăn…”. Những người chẳng may bị ma gà nhập vào thì bị điên, bị dại. Con ma gà biến người ấy đã biến những hành vi lời nói từ con người trở thành con vật. Do vậy, ma gà đã ám vào ai thì người ấy bị cả cộng đồng chối bỏ: “Ra đường không dám mở miệng chào ai. Vào làng, không dám chào trâu bò lợn gà. Không dám khen trẻ nhỏ. Không dám hỏi thăm người già. Khi đi làm đồng, hay lên rừng kiếm củi, lũi cũi đi một một mình. Không có ai bước chân đi cùng. Giữa đường, chẳng may gặp mưa to gió lớn, người có ma gà không dám đứng trú chân. Chỉ sợ người nào nhìn thấy. Người ấy liền réo tên vạch mặt, ông trời nghe tiếng. Ông trời lập tức sai thần sét đánh chết”[9]. Như vậy, người nào bị coi là có ma gà thì cả cuộc đời bị cô lập hoàn toàn, họ sống bi kịch khủng khiếp, họ luôn ở trong trạng thái tâm lý tự ti, sợ hãi. Sự tự ti và sợ hãi ấy ám lấy con người như một thứ vô hình luôn hiện hữu mọi lúc, mọi nơi. Nó trở thành nỗi ám ảnh kinh hoàng mà con người phải chịu đựng.

Trong thực tế, đối với những gia đình mang tiếng có ma gà, bà con hàng xóm thường không đến vay mượn hoặc lấy của cải nhà ấy. Vì họ cho rằng nếu vay mượn hoặc lấy của cải mà không trả đúng thời hạn thì con “ma” nhà ấy sẽ đến đòi nợ bằng cách “ma” nhập vào vía người sống, nhất là trẻ con mới sinh, người trong gia đình sẽ bị ốm yếu, rồi “ma” sẽ ăn gan,… Vì vậy, những nhà mang tiếng “có ma” trở thành nguy hiểm đối với bà con hàng xóm, mặc dầu họ không biết gì về ma thuật, không bao giờ có ý nghĩ làm hại người khác. Trái lại, họ hết sức tránh tiếng là người có ma[10]. Y Phương đã lý giải hiện tượng ma gà rất độc đáo, ông không tin đó là loài ma có thật, nó chỉ là loài ma do con người tưởng tượng ra, về sau nó biến tướng và trở thành mối nguy hại vô cùng lớn đối với con người, ông cho rằng, người ta để làm hại nhau thì họ vu cho người bị làm hại ấy là có ma gà: “những ai sủi tăm hơn người một chút, liền bị gán cho có ma gà. Khi không ưa ai, thiên hạ cũng quàng lên cổ người ta hai chữ ma gà. Ma gà như vòng kim cô ở nơi nhạt muối. Ở những người thiếu tình thương đồng loại. Cái sự ác tâm, làm thành lời đồn… Lời đồn đại ấy, vô tình làm cho nhiều gia đình lâm vào cảnh khốn đốn”[11]. Như vậy, ma gà vốn xuất phát từ tín ngưỡng dân gian, nó là hiện tượng văn hóa tâm linh độc đáo của người Tày, người Nùng. Về sau, hiện tượng này đã bị biến tướng, nó trở thành một vấn nạn lớn đối với con người trong cộng đồng.

Không chỉ mô tả về tín ngưỡng thờ cúng ma quỷ, Y Phương còn sử dụng hiện tượng văn hóa tâm linh này như một phương tiện nghệ thuật nhằm truyền tải trạng thái cảm xúc của mình đối với những đồng đội, người thân, người lính đã tử trận trong chiến tranh, trong Khúc mở: Khêu đèn lên soi tỏ nàng Trăng Y Phương mô tả: Đêm nay giữa trời trăng ngồi/ Tôi chợt thấy nước mắt trăng loác loác/ Tưới đẫm bao người/ Đang ngủ vùi trong đất/ Giờ đây/ Họ biến thành cây/ Thành cỏ/ Thành hoa/ Thành quả/ Thành hồ nước/ Thành cua/ Thành cá/ Thành khói mây/ Thành hơi thở cho chúng ta ngày nay… Tôi mời bạn/ Thư thư tôi kể/ Những chuyến hành hương kiếm tìm/ Linh hồn người lưu lạc[12]. Trong cảm nhận của Y Phương, những người chiến sĩ hy sinh, họ đang ngủ trong lòng đất, họ biến thành cỏ cây, hoa trái, hồ nước, khói mây,… họ trở thành nguồn sống cho con người thực tại; rồi những hồn ma ấy khi hiện lên, họ hóa thân làm đàn đom đóm, lân tinh: Từ đâu/ lập lòe/ Đàn đom đóm/ Như đám lân tinh/ Những hạt sáng bay bay/ Rồi lặng im/ Tắt phụt/ Tự dưng thấy đau đầu tức ngực/ Ù tai/ Này/ Những hồn ma/ Hát nữa đi/ Múa nữa đi/ Hát bừa phứa chơi chơi/ Múa bừa phứa chơi/ Chiến trường cần tiếng cười/ Chết đâu phải là hết[13]. Những đàn đom đóm, lân tinh với những vạt sáng tượng trưng cho hình ảnh của người đã chết còn lang thang không biết lối về, chưa tìm được quê hương làng bản của mình. Vì vậy, để tìm những hồn ma đó trở về, người ta thực hành những nghi lễ tìm kiếm theo các nghi thức truyền thống, trong Khúc ca: Hành trình kiếm tìm, Y Phương viết: Hồn vía các chàng trai binh nhất binh nhì hạ sỹ thiếu úy/ Bị nàng tiên áo hồng áo chàm áo tím áo nâu giữ lại/ Giữ lại để chơi con dê kéo cày…/ Hồn vía các chàng trai binh nhất binh nhì hạ sỹ/ thiếu úy còn bị ma núi/ Ma sông/ Ma đồng bằng/ Ma rừng thiêng giữ lại/ Giữ lại để thi phi ngựa bắn cung/ Thi đố vui lày cỏ/ Chia hai bên ném còn/ Ai ném trúng hồng tâm/ Sẽ được cưới nàng tiên áo hồng áo vàng áo nâu áo chàm/ Tùy chọn/ Nên hồn vía quên mọi đường về/ Hồn chưa về/ Người làng tôi buồn đau/ Lúc đầu chỉ bằng hạt vừng/ Về sau to mãi dần lên thành quê hương miền núi/ Họ thắp hương/ Cúng con gà giò mỏ đỏ lông vàng/ Bên mâm xôi trứng kiến/ Bói xem/ Đoán xem/ Hồn người nhà trú ngụ nơi đâu/ Rú…r..ú…r…ú…r…ú/ Cuốc xẻng bằng đất sét. Đất sét/ Se sẽ chạm vào người…[14]. Trong cách miêu tả của Y Phương, hồn vía những người lính hy sinh trong chiến tranh chưa trở về quê hương bản quán bởi họ còn bị những loài ma sông, ma núi, ma đồng bằng, ma rừng thiêng giữ lại cùng nhau vui đùa nên quên đường về, khiến cho người làng buồn đau, nỗi đau ban đầu bằng hạt vừng, về sau lớn lên thành quê hương miền núi. Vì thế, muốn linh hồn những người lính trở về, họ thực hành nghi lễ bằng cách chuẩn bị con gà, mâm xôi trứng kiến rồi bói xem hồn người nhà trú ngụ nơi đâu để mời gọi, để kiếm tìm.

Trong thế giới tâm linh của người Tày, ma quỷ là những linh hồn của người và của vật. Họ có niềm tin vạn vật đều có linh hồn – linh hồn tồn tại cả ở người, con vật, đồ vật và cây cối. Khi con người chết đi linh hồn và thể xác rời xa nhau, linh hồn người lang thang sẽ trở thành các loài ma: người Tày phân biệt hai loại ma, ma lành và ma dữ tức là phúc thần và hung thần. Đồng bào thờ ma lành ở trong nhà hay ở miếu thổ công, thành hoàng. Đối với loài ma dữ, đồng bào không thờ cúng. Nhưng khi thầy bói hay thầy cúng phát hiện ra con ma nào gây ra ốm đau, tai họa thì phải cúng con ma ấy, tùy từng loại ma to nhỏ mà liệu lễ vật,… Loại ma lành ban ơn ban phúc cho người trần, nhưng cũng trừng phạt người trần nếu làm trái ý hoặc lo việc cúng bái không chu đáo. Ngay cả ma tổ tiên cũng quấy rầy con cháu không kém các loại ma dữ, nếu không vừa ý. Muốn cho khỏi bệnh, muốn cho tai qua nạn khỏi lại phải cúng tế tạ tội[15]. Có thể nói, việc thờ cúng ma quỷ của người Tày nhằm chế ngự sự sợ hãi của con người trước những hiểm họa của cuộc sống như ốm đau, bệnh tật, chết chóc,…; mặt khác, họ thờ cúng ma quỷ còn cầu mong các lực lượng siêu nhiên này ban phúc lành cho người dân.

Bên cạnh việc mô tả lại ý niệm và thực hành nghi lễ ma quỷ của người Tày, trong sáng tác của Y Phương còn xuất hiện tín ngưỡng thần linh – một tín ngưỡng đã ăn sâu trong tâm thức cộng đồng người Tày. Trong vũ trụ luận người Tày, thế giới phân ba tầng tương ứng với ba mường, mường Trời, mường Đất và mường Nước. Ở mỗi mường ấy với một hệ thống thần linh riêng, khá đồ sộ[16]. Xuất phát từ ý niệm này cho nên trong đời sống tâm linh người Tày, họ thờ cúng nhiều vị thần linh khác nhau, đại diện cho thế giới ba tầng và những khát vọng của con người. Một hiện tượng tín ngưỡng được mọi gia đình đều quan tâm đó là tín ngưỡng thờ Mẹ Hoa – vị thần bảo hộ cho việc sinh nở. Nhà văn Y Phương viết về tín ngưỡng này như sau: “Từ khi các cháu bé lọt lòng mẹ, Ngọc Hoàng thượng đế đã cắt cử Hoa Vương Thánh Mẫu làm người trực tiếp chăm sóc, cai quản phần hồn các cháu. Người Tày gọi đó là mẻ bjooc mẻ woa – Mẹ Hoa. Bất kể trong nhà người Tày nào, dù định cư ở đâu, họ cũng đều lập bàn thờ Mẹ Hoa. Bàn thờ đặt vào nơi trang trọng nhất. Mùng một hôm rằm hoặc lễ tết, người nhà phải thắp hương cúng khấn. Mẹ Hoa không những là người cai quản mà còn phân phối chia đều con trai con gái cho từng nhà từng người. Ai hiếm muộn phải lập đàn chay cúng khẩn thỉnh cầu Mẹ Hoa. Mẹ cho đậu mới được đậu. Mẹ Hoa là người có một vị trí vô cùng quan trọng trong thế giới tâm linh của người Tày Nùng”[17]. Có thể nói, trong thực tiễn tín ngưỡng thờ Mẹ Hoa đã ăn sâu, bám chắc trong tâm lý và hành vi của người Tày hết sức sâu sắc. Tín ngưỡng này đã trở thành biểu tượng văn hóa của người Tày, nó đại diện cho khát vọng về một cuộc sống đông con nhiều cháu trong mỗi gia đình người Tày, mặt khác đó còn là niềm tin về một thế giới tâm linh đang bao bọc và chi phối đến con người nơi trần gian. Y Phương mô tả cụ thể về thực hành nghi lễ của người dân đối với Mẹ Hoa, Bố Trời như sau: Ngày đầy tháng con/ Đầy tháng mẹ/ Ba mâm hương bày ra/ Bảy mâm đèn đặt tới/ Cỗ bàn lao xao khói/ Liền đấy/ Bố Trời cưỡi ngựa hồng/ Mẹ Hoa cưỡi hạc trắng/ Đỗ xuống bờ sông/ Dàn nhạc khèn tấu lên/ Cờ phướn tung bay đón/ Mời bố Trời đặt tên/ Bố Trời cười khà khà/ Khẽ nháy sang mẹ Hoa/ Mẹ Hoa cầm quạt phất/ Bố Trời nói/ Con là một hạt đất/ Mẹ Hoa nói? Không? Con là một hạt người/ Hãy để người đặt tên[18]... Đối với người Tày, mường Trời là nơi ngự trị của các thần linh tối cao, đó là nơi trú ngụ của linh hồn con người sau khi chết. Mường Trời là nơi ngự trị của vua quan, thần phật có quyền năng quyết định mọi vấn đề sinh tử và số mệnh con người, ở đó bao gồm Ngọc Hoàng, Phật Bà Quan Âm, vua Hành Khiển, vua Số và Mẹ Hoa (Mẻ Bioóc/ Mẻ Va). Ngoài ra, ở mường Trời còn có tướng lĩnh dưới quyền Ngọc Hoàng, các nàng tiên, các loài quỷ thần có phép lạ[19]. Xuất phát từ ý niệm đó, Y Phương đã diễn đạt được hình ảnh Bố Trời cưỡi ngựa hồng, Mẹ Hoa cưỡi hạc trăng xuống trần gian gặp gỡ chia vui với gia đình và che chở đứa bé mới chào đời. Hình ảnh ấy hết sức gần gũi và mang đầy tính nhân văn, nhân ái đối với con người nơi trần gian.

Trong tâm thức của người Tày đã và đang tồn tại một hệ thống tín ngưỡng dân gian hết sức đồ sộ, đó là tín ngưỡng vật linh đa thần giáo. Xuất phát từ tín ngưỡng này của người Tày cho nên ý niệm ma quỷ, thần linh đã thực sự chi phối cuộc sống thường nhật của họ. Y Phương viết: “Làng tôi có đến ba bốn ngôi đền thờ Thổ Công xây bằng đá hộc. Mỗi xóm có một ngôi đền trấn giữ ma quỷ. Đằng sau và hai bên tả hữu ngôi đền có năm sáu cây cổ thụ, các vị đều thọ trên trăm năm tuổi. Nương theo tâm linh, những chòm cây cổ thụ, đó chính là hình ảnh các bậc tiền nhân. Các cụ ngôi chơi xơi rượu, đánh cờ”[20]. Trong cách miêu tả của Y Phương đã diễn tả niềm tin của con người vào việc sùng bái Thổ Công – vị thần linh trong làng luôn được người dân thờ ở ngôi đền xây bằng đá hộc; còn ở mỗi xóm lại thờ các thần trấn giữ ma quỷ; những chòm cây cổ thụ là nơi các bậc tiền nhân hiện về…Tất cả đã nói lên được niềm tin vào thế giới siêu nhiên, kỳ bí nhưng cũng rất gần gũi với cộng đồng cư dân ở nơi nhạt muối.

Như vậy, tín ngưỡng ma quỷ, thần linh của người Tày trong văn chương Y Phương hiện lên một cách cụ thể và thực chứng từ những điều mắt thấy tai nghe. Những yếu tố văn hóa tâm linh được Y Phương đề cập đến bao gồm ý niệm và thực hành nghi lễ về ma quỷ, thần linh vốn là những vấn đề cốt yếu của tín ngưỡng này. Do vậy, đọc văn chương Y Phương chúng ta có thể thấy được phần nào hiện trạng thờ cúng ma quỷ, thần linh – một hiện tượng văn hóa tâm linh hết sức đặc thù của người Tày. Có thể nói, mặc dù chưa thể phục dựng được toàn bộ diện mạo và bản chất của tín ngưỡng ma quỷ, thần linh của người Tày, nhưng bằng bút pháp nghệ thuật văn chương hấp dẫn, bằng vốn tri thức hiểu biết cặn kẽ của mình, Y Phương đã dẫn/đưa người đọc trở về quá khứ, trở về với văn hóa “gốc” của người Tày trong các trang viết đầy mê hoặc của ông. Chính vì vậy, đọc những sáng tác văn chương Y Phương, người đọc không chỉ thưởng thức giá trị thẩm mỹ mà loại hình nghệ thuật ngôn từ mang lại, mà ở đó còn chứa đựng những yếu tố văn hóa đặc thù của người Tày – tộc người mà Y Phương đã gắn bó suốt cả cuộc đời.

(“Nguồn: In trong cuốn Thế hệ nhà văn sau 1975 (kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia do Trường Đại học Văn hóa Hà Nội tổ chức ngày 18/4/2016), NXB Hội nhà văn, 2016)”)

Đăng bởi: Ngô Minh | 05.12.2016

Di sản

Di sản

  •   HOÀNG HỐNG MINH

fidel

Có những nhân vật trước khi ra đi đã nhắn lại được những điều thật sáng sủa, làm cho người đời phải phải suy ngẫm và thán phục.

Ông Lưu Bị thời Tam Quốc trước khi chết đã nhắn lại “chớ thy điu thin vì nh, mà bỏ thôi làm; chớ thy điu ác vì nh, mà cứ làm ba. ”

Ông Fidel Castro “mun tên tui và hình nh ca ông không được sử dng trong các cơ quan, đường ph, công viên và các công trình công cng sau khi ông qua đi; không xây dng các tượng đài và công trình tưởng nim ông” – AP dẫn lời chủ tịch Raul Castro. (http://vietnamnet.vn/vn/the-gioi/fi…) Điều đầu tiên mà chính quyền Cuba đã thực hiện được, là hoả thiêu thi hài ông Fidel Castro và không xây lăng tẩm cho ông.

Từ việc nhắn lại được, cho đến đám đông kế tục họ sau đó có làm được như thế không, cũng vô cùng chuyện.

Ở Cuba, đồng chí và nhân dân của fidel Casro đã tổ chức tang lễ ông rất đơn giản nhưng nghiêm trang và công bố những lời ông dặn.

Đây mới là việc đáng ngẫm, đáng bàn. Phải chăng đây là một di sản lớn của Fidel Castro.

(Nguồn: VHNA)

Đăng bởi: Ngô Minh | 05.12.2016

Biển Đông : Việt Nam thách thức Trung Quốc

Biển Đông : Việt Nam thách thức Trung Quốc

mediaẢnh vệ tinh chụp nhà để máy bay mà Việt Nam đang xây ở Trường Sa.@csis/amti

Với việc nâng cấp phi đạo duy nhất của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa và xây dựng các nhà để máy bay mới tại địa điểm này, Hà Nội đáp lại việc Trung Quốc trong thời gian qua đã ồ ạt xây dựng các cơ sở quân sự tại khu vực đang tranh chấp này ở Biển Đông.

Các hình ảnh vệ tinh do Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược (CSIS) công bố vào tuần trước cho thấy là Hà Nội đã mở rộng phi đạo và xây hai nhà chứa máy bay lớn trên một đảo của Trường Sa để có thể tiếp nhận những phi cơ mới của không quân Việt Nam, như máy bay giám sát biển PZL M28B và máy bay vận tải CASA C-295. Để mở rộng phi đạo, Việt Nam đã bồi đắp đảo cho lớn hơn, tương tự như việc Trung Quốc xây các đảo nhân tạo, tức bồi đắp các đá thành những đảo thật sự.

Thật ra thì quy mô của công trình mở rộng phi đạo của Việt Nam chẳng thấm vào đâu so với các công trình của Trung Quốc ở Trường Sa, vì các chiến đấu cơ phản lực chỉ có thể sử dụng một cách hạn chế phi đạo vừa được mở rộng. Nhưng theo ghi nhận của dự án Sáng Kiến Minh Bạch Hàng Hải Châu Á (AMTI), thuộc trung tâm CSIS, hành động nói trên cho thấy là ngay cả khi căng thẳng ngoại giao với Trung Quốc giảm bớt, Việt Nam vẫn tiếp tục hiện đại hóa quân đội và thắt chặt quan hệ an ninh với các nước Nhật, Mỹ, Ấn Độ, để chuẩn bị đối phó với những hành động khác của Trung Quốc trong tương lai nhằm áp đặt chủ quyền của họ ở Biển Đông.

Hãng tin Reuters tháng 8/2016 tiết lộ rằng Việt Nam đã bắt đầu triển khai các dàn tên lửa địa đối không ở quần đảo Trường Sa. Hà Nội đã không xác nhận thông tin này, nhưng theo nhận định của AMTI, hành động đó không có gì là đáng ngạc nhiên khi chúng ta thấy tiềm lực không quân rất mạnh mà Trung Quốc chẳng bao lâu nữa sẽ triển khai ở vùng Trường Sa.

Theo AMTI, Việt Nam có thể sử dụng phi đạo mở rộng và nhà để máy bay mới cho việc tuần tra khu vực Trường Sa. Cho dù tiềm lực quân sự của Việt Nam không thể so với của Trung Quốc, nhưng Hà Nội có vẻ quyết tâm nâng cao khả năng giám sát hoặc khả năng bảo vệ chủ quyền, nếu thông tin về việc triển khai tên lửa là đúng.

Hôm thứ sáu tuần trước, phát ngôn viên bộ Ngoại giao Trung Quốc đã yêu cầu Việt Nam ngưng xây dựng « trên lãnh thổ Trung Quốc », nhưng chắc là Hà Nội sẽ không làm theo yêu cầu này của Bắc Kinh.

Dầu sao thì với nguy cơ chiến tranh tái diễn với Trung Quốc do vấn đề Biển Đông, Việt Nam không có con đường nào khác hơn là phải tiếp tục hiện đại hóa quân sự, một mặt nâng cao khả năng sẳn sàng chiến đấu của quân đội, mặt khác đầu tư phát triển ngành công nghiệp quốc phòng, cùng với việc mua thêm vũ khí và thiết bị quân sự từ nhiều nguồn khác nhau.

Ý kiến: Thủ tướng Phúc có thể tạo nên sự khác biệt?

  • Vietnam Prime Minister Nguyen Xuan PhucImage copyrightSTR/AFP/GETTY
Image captionÔng Nguyễn Xuân Phúc nhậm chức Thủ tướng từ đầu tháng 4/2016

Kể từ khi chính thức tuyên thệ nhậm chức vào ngày 7/4/2016 tại Kỳ họp thứ nhất Khóa 14 Quốc hội, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã và đang tạo ra phong cách chỉ đạo điều hành quyết liệt, cụ thể, kịp thời với sự ‘đôn đốc’ của tổ công tác để tăng cường thực thi các nghị quyết, chỉ đạo của chính phủ.

Các nhà quan sát chính trị trong và ngoài nước quan tâm đang dõi theo những động thái của chính phủ, trước hết là người đứng đầu.

Nhiều tuyên bố, đặc biệt là quyết tâm xây dựng một chính phủ liêm chính, phục vụ, kiến tạo, đã tạo được ấn tượng mạnh về sự mạnh mẽ và khác biệt trong điều hành, những ‘chỉ đạo’ của thủ tướng đã và đang gây ấn tượng và thu hút được sự chú ý của công luận và người dân.

Trong một cuộc họp chính phủ ông có nói đại ý rằng từ trước đến nay ‘chúng ta bắn lên trời’ nhiều rồi, nghĩa là các hành động trước kia không cụ thể, không có địa chỉ.

Phải chăng những chỉ đạo liên tục của Thủ tướng là những hành động cụ thể, kịp thời và là minh chứng cho việc ‘lời nói đi đôi với việc làm’?

Sự chỉ đạo nổi bật của Thủ tướng, trước hết, về vụ việc quán cafe Xin chào, được xem là ‘sự chỉ đạo cụ thể đầu tiên’, sau khi ông nhậm chức nửa tháng.

Một người dân bình thường ở huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh, mở quán café Xin chào để làm ăn…và bị khởi tố hình sự. Báo chí phản ánh ‘dồn dập’, và, như nhiều báo, giật tít ngày 21/4/2016:

“Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã trực tiếp gọi điện cho Chủ tịch UBND TPHCM – ông Nguyễn Thành Phong – yêu cầu dừng ngay việc khởi tố vụ án hình sự chủ quán cà phê Xin Chào.”

Như đã biết, các cơ quan chức năng ‘làm rõ’ và ‘báo cáo’ Thủ tướng đây là vụ án ‘oan sai’… Kết quả là một số cán bộ, công an bị ‘xử lý’, trong đó có trưởng công an và phó viện trưởng Viện KSND huyện bị cách chức…

Đọc báo chẳng rõ người ta mừng vì một số lãnh đạo làm sai bị mất chức hay mừng là chủ quán café lại tiếp tục được làm ăn!

Gần đây nhất, trong cuộc họp Chính phủ ngày 28-29/11/2016 Thủ tướng đã có những chỉ đạo quyết liệt:

“Yêu cầu Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam kiểm tra việc chi phí để làm quà tặng (logo) tại Tập đoàn này; Yêu cầu Thanh tra CP kiểm tra vụ việc và không để cán bộ phát ngôn theo kiểu ‘xấu xa đậy lại’; Yêu cầu kiểm tra lại hiện tượng bổ nhiệm ở các bộ ngành khiến dư luận bức xúc trong thời gian vừa qua; Yêu cầu các địa phương không được về Hà Nội chúc tết, tặng quà cho Thủ tướng, các phó thủ tướng, bộ trưởng mà hãy dành thời gian chủ động tập trung chăm lo Tết cho nhân dân…”

‘Rào cản thể chế’

VietnamImage copyrightCHRIS JACKSON/GETTY IMAGES

Các chỉ đạo của Thủ tướng dường như càng ngày càng có ‘độ phức tạp’ lớn hơn, trong đó sự ‘nhảy cảm’ và khó khăn thực thi chính là ‘quy trình thể chế’.

Thủ tướng thẳng thắn nhận định rằng “còn khá phổ biến tình trạng ‘trên bảo, dưới không nghe'”, và “các cơ quan quản lý giải trình thực hiện ‘theo đúng quy trình’, nhưng vẫn gây bức xúc dư luận”.

Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Nội vụ làm việc ngay với Ban Tổ chức Trung ương rà soát lại các quy định về cán bộ để tránh tình trạng bổ nhiệm quá số lượng, người nhà… mà vẫn đúng quy trình.

Đặc biệt, Thủ tướng giao Bộ Nội vụ thực hiện ngay việc nghiên cứu, đề xuất thể chế về từ chức – một đề xuất được Quốc hội chấp nhận trong kỳ họp thứ 2 khóa 14 vừa diễn ra tại Hà Nội.

Sự quyết tâm của Thủ tướng đang vướng các rào cản thể chế. Có lẽ ông hiểu điều đó nên trước mỗi ‘chỉ đạo’ luôn nhấn mạnh rằng Chính phủ vì nhân dân và phục vụ nhân dân.

Như đã biết, vụ Trịnh Xuân Thanh (cán bộ cấp trung), ngay sau đó là Vũ Đình Duy đang bị điều tra về hành vi thiếu trách nhiệm làm thất thoát tài sản nhà nước hàng ngàn tỷ đồng, thì bỏ trốn ra nước ngoài trót lọt kiểu ‘con voi chui lọt lỗ kim’- như một đại biểu Quốc hội phát biểu.

Ông Vũ Huy Hoàng, cựu bộ trưởng Bộ Công thương, cấp trên của hai nhân vật nêu trên, bị Ủy ban Kiểm tra trung ương điều tra và có kết luận rằng các vi phạm, khuyết điểm của ông ta trong thời gian làm bộ trưởng đã gây hậu quả nghiêm trọng. Đảng đã tuyên bố cách chức Bí thư Ban cán sự đảng Bộ Công thương trong thời gian 2011 – 2016 đối với ông này ngày 2/11 vừa rồi.

Cách chức một cá nhân khi không còn chức, rõ ràng hình thức kỷ luật trên mang tính ‘biểu tượng’, ‘đạo đức’ hoặc ‘mang tính răn đe’, song chính vì vậy mà đã hơn một tháng nay, Quốc hội và Chính phủ vẫn không thể vận dụng được, thậm chí chưa sửa được quy trình thể chế hiện hành để phán xét và xử lý đúng ‘tội’ khi ông Hoàng đã nghỉ hưu.

‘Sự bất lực’

A Ho Chi Minh poster in HanoiImage copyrightHOANG DINH NAM/GETTY IMAGES

Người ta nói về ‘sự bất lực’ xuất phát từ ‘lỗi’ hệ thống.

Muốn kỷ luật một cán bộ lãnh đạo nào đó, trước hết đảng phải ‘có ý kiến chỉ đạo’, xử lý về đảng, sau mới đến chính quyền. Cơ chế này đang có vấn đề qua các vụ việc nêu trên.

Rõ ràng phải đổi mới đảng cầm quyền trước tiên.

Nguyên phó thủ tướng Vũ Khoan cho rằng một trong những đổi mới chính trị ở Việt Nam thời gian qua là đảng Cộng sản dần không can thiệp vào công việc của chính phủ, tuy nhiên thể chế nào để lấp vào khoảng trống quyền lực đó thì chưa được rõ.

Nhà nước Việt Nam hiện nay được tổ chức theo cấu trúc thứ bậc với quyền lực tập trung trong tay đảng Cộng sản nhằm thực thi luật lệ trong các lĩnh vực, đang thay đổi theo hướng pháp trị và chịu sức ép trước hội nhập quốc tế và nhu cầu xã hội dân sự về nghĩa vụ giải trình và chịu trách nhiệm chính trị, nơi mà chính phủ hành động phù hợp với thể chế kinh tế thị trường và phải có trách nhiệm trước nhân dân.

Nhà nước luôn có xu hướng tập trung quyền lực, còn thể chế pháp quyền và giải trình và chịu trách nhiệm chính trị thì lại đặt ra những hạn chế theo cách ngăn ngừa tha hóa quyền lực, và chính quyền cần phải được kiềm soát bởi pháp luật và chịu trách nhiệm giải trình trước nhân dân.

Điều này chưa được đặt ra cụ thể và thỏa đáng trong cải cách thể chính trị ở Việt Nam do ý thức hệ bảo thủ và quan niệm giáo điều về chủ nghĩa xã hội.

Mặt khác, Việt Nam không thể học theo kinh nghiệm của Trung Quốc mặc dù hai nước tương đồng về chế độ chính trị, về cách chống ‘quốc nạn’ tham nhũng.

Tham nhũng và quyền lực là cặp bài trùng. Trung Quốc chọn việc tập trung quyền lực cao hơn để chống tham nhũng, và sự tranh giành quyền lực là không tránh khỏi.

Vietnam Prime Minister Nguyen Xuan Phuc in Beijing, Nov 13, 2016Image copyrightLINTAO ZHANG/GETTY IMAGES
Image captionÔng Nguyễn Xuân Phúc gặp Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trong chuyến thăm Bắc Kinh hồi tháng 9/2016

Ở Trung Quốc chủ tịch Tập Cận Bình, được coi là ‘kiến trúc sư’ chiến dịch ‘đả hổ giệt ruồi’. Mới đây tại Hội nghị trung ương 6 khóa 18 đảng Cộng sản, cho biết trong 3 năm 2013-2016 của nhiệm kỳ đầu tiên cầm quyền của ông, hơn 1,01 triệu quan chức bị điều tra tham nhũng, trong đó có hàng nghìn cán bộ cao cấp, như Bạc Hy Lai, Chu Vĩnh Khang… bị kết tội.

Cũng trong Hội nghị trên chủ tịch Tập được đảng trao danh hiệu ‘lãnh đạo hạt nhân.’ Ông là nhân vật thứ ba có danh hiệu này sau Chủ tịch Mao và Đặng Tiểu Bình.

‘Danh hiệu’ nêu trên, lần đầu tiên được nhắc đến chính là Đặng Tiểu Bình, khi nói rằng ‘một nền lãnh đạo tập thể phải có một hạt nhân; không có hạt nhân thì không thể chế nào có thể đủ vững mạnh.’

Các nhà quan sát chính trị cho rằng đây là ‘biểu tượng quyền lực’, vì nó mở đường cho việc tháo dỡ dần những quy tắc và chuẩn mực bất thành văn của đảng Cộng sản vốn điều chỉnh hành vi của giới tinh hoa và quá trình chuyển giao lãnh đạo trong gần ba thập niên qua ở Trung Quốc.

Ở Việt Nam, liệu có cần quy hoạch hay bồi dưỡng ai đó trở thành ‘lãnh đạo hạt nhân’ trong quá trình chuyển giao tổng bí thư – chức vụ cao nhất của đảng Cộng sản sắp tới? Liệu có thể xoay chuyển tình hình ‘trên bảo dưới không nghe’?

Sự bất ổn kinh tế và xã hội trong thời gian qua đã xé rách những luật lệ với những quy trình hiện có, báo hiệu một thời kỳ khó dự đoán về sự thay đổi thể chế chính trị để vượt qua những khó khăn phía trước, đưa đất nước phát triển

Đảng Cộng sản Việt Nam liệu đã rút ra những bài học gì qua sự kiện ‘phê bình đồng chí X không thành tại Hội nghị trung ương 6 khóa 11 của Đảng Cộng sản’? Có lẽ không phải vấn đề cá nhân các lãnh đạo, giữa đảng và chính phủ, mà là vấn đề thể chế!

Trong bối cảnh ấy liệu Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc có tạo nên sự khác biệt so với người tiền nhiệm?

Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của PGS.TS Phạm Quý Thọ, khoa Nghiên cứu Chính sách Công, Học viện Chính sách và Phát triển.

  • fidel

    Không tượng đài, tên đường mang tên Fidel Castro

 (NLĐO) – Chủ tịch Cuba Raul Castro ngày 3-12 tuyên bố dự luật mới theo di nguyện của cố lãnh tụ Fidel Castro là sẽ không dùng tên này đặt cho đường phố, xây tượng đài, công viên…
 

Cố lãnh tụ Fidel Castro làm thế vì không muốn sùng bái cá nhân lan tỏa ở Cuba. Ông từng viết trong tự truyện: “Đàn ông và phụ nữ lãnh đạo đất nước này đều là con người, không phải thánh thần”.

Fidel Castro không muốn được tạc tượng, vinh danh bằng tên đường, công trình kiến trúc, công viên
Fidel Castro không muốn được tạc tượng, vinh danh bằng tên đường, công trình kiến trúc, công viên

Em trai ông là Raul Castro nhấn mạnh: “Cuba không có tên đường, tượng đài hoặc công viên được đặt tên Fidel Castro vì di nguyện của ông là không muốn tôn sùng cá nhân”. Dẫu không tạc tượng hay đặt tên đường nhưng cái tên Fidel được xem là tượng đài vững chắc trong trái tim người dân Cuba. Nhiều hoạt động tưởng niệm đã được tổ chức để tiễn biệt lãnh tụ tài hoa trong lòng họ.

“Với chúng tôi, ông ấy không bao giờ chết” – Maria de la Caridad, tham dự tưởng niệm lãnh tụ của mình, chia sẻ. Theo kế hoạch, tro cốt của lãnh tụ Fidel Castro sẽ được an táng ở nghĩa trang Ifigenia tại Santiago.

Di nguyện của lãnh tụ Fidel Castro dẫn đến hai luồng tranh luận trên mạng, một số ca ngợi ông khiêm nhường, tự trọng, một tư tưởng lớn. Tuy nhiên, số khác cho rằng các vĩ nhân, các nhà văn hóa lớn nên được tạc tượng, vinh danh để truyền cảm hứng tích cực cho thế hệ sau.

M.Khuê (Theo Telegraph)

lang-lon

THƯ GIÃN CHỦ NHẬT: NGƯỜI VIỆT MÌNH ĐẶT TÊN SEX LẮM!

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 04.12.2016

CHUYỆN “…NGƯỜI YÊU NƯỚC MÌNH ”

img_8195

ĐỌC BỘ SÁCH “NGÔ MINH TÁC PHẨM”, TẬP 2:

CHUYỆN “…NGƯỜI YÊU NƯỚC MÌNH ”

 Ngô Minh

 

mẹ tôi nuôi tôi mười mấy năm không lấy chồng

                             thương tôi nên ở góa nuôi tôi

                             … mẹ thương con nên cách trở sông đò

                             hàng gánh nặng phải qua cầu xuống dốc

                             đêm nào mẹ cũng khóc

                             đêm nào mẹ cũng khấn thầm

                             mong con khôn lớn cất mặt với đời…

 

Thế hệ thanh niên yêu thơ những năm chống Mỹ ở miền Bắc ai cũng xúc động khi đọc “Bài thơ của một người yêu nước mình”, “bài từ miền Nam gửi ra” của Trần Vàng Sao. Với tôi, bài thơ như viết cho hoàn cảnh  riêng của mình, có lẽ cũng là hoàn cảnh riêng của nhiều người Việt Nam trong thời binh đao tao loạn. Ba tôi bị giết oan khi tôi mới  bảy tuổi. Mạ tôi ở góa, đi mót khoai hà, đội nón mê đi ăn xin tôm cá dọc biển, rồi buôn thúng bán bưng chạy chợ suốt ba chục năm ròng nuôi năm đứa con khôn lớn nên người. Nên mỗi lần  đọc lại Bài thơ của người yêu nước mình của Trần Vàng Sao, tôi đều ứa nước mắt…. tôi yêu đất nước này xót xa… tôi yêu đất nước này cay đắng… tôi yêu đất nước này áo rách…tôi yêu đất nước này rau cháo… tôi yêu đất nước này lầm than… tôi yêu đất nước này chân thật… Cái điệp khúc “ tôi yêu đất nước này…” lúc cất lên như tiếng nấc, lúc chìm sâu như nỗi nghẹn ngào, khi nghe như tiếng vọng của tâm linh thăm thẳm. Thật may cho tôi, hơn 30 năm nay, ở Huế, nhiều lần cùng nâng chén, chuyện trò với nhà thơ mà mình ngưỡng mộ. Bùi Minh Quốc từ Đà Lạt về Huế, tôi lại chở về Vỹ Dạ thăm Trần Vàng Sao, Nguyễn Trọng Tạo vô Huế lại rủ tôi xuống Trần Vàng Sao, Nguyễn Quang Lập, Phạm Xuân Nguyên từ Hà Nội vào cũng rủ tôi mò xuống thăm Trần Vàng Sao… Tôi thấy ở nhà Lâm Thị Mỹ Dạ có loại rượu quê Tuy Lộc, Lệ Thuỷ cực ngon, tôi lại năn nỉ xin một chai nhỏ mang xuống cho Trần Vàng Sao…Nhiều lần tiếp xúc với nhà thơ nổi tiếng không biết Hội Nhà văn là gì này, tôi mới nghiệm ra một chân lý: Càng “yêu nước mình” Trần Sao càng khổ, càng bị hất ra ngoài rìa cuộc sống !… (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 04.12.2016

VẪN CÒN ĐÂY MỘT TPP KHÔNG CÓ MỸ

VẪN CÒN ĐÂY MỘT TPP KHÔNG CÓ MỸ

Theo đánh giá của các chuyên gia, nếu Hoa Kỳ rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), điều này tất yếu sẽ ảnh hưởng đến chiến lược xoay trục sang châu Á của Mỹ và có thể tạo cơ hội để Trung Quốc tăng cường vị thế đối với thương mại khu vực và toàn cầu.

 

Ngày 27/11/2016, phát biểu với truyền thông trong nước, nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan, vị lãnh đạo cấp cao của Việt Nam từng đặt chân vào Nhà Trắng để đàm phán và ký kết Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ trước đây (BTA), khẳng định: “TPP là một mắt xích quan trọng của quá trình tự do hóa thương mại toàn cầu. Với việc ông Trump đã chính thức tuyên bố sẽ rút khỏi TPP, quá trình tự do hóa toàn cầu ấy chịu một sức ép không nhỏ”. Cũng theo ông Vũ Khoan, giờ đây một số người lại nói có hay không có TPP cũng không vấn đề gì. Nếu nói như vậy, hãy đặt lại câu hỏi: Vậy thì anh vào TPP làm gì, cố công đàm phán bao nhiêu năm trời, thậm chí có rất nhiều kỳ vọng, nhiều dự đoán lạc quan để làm gì. Theo ông Vũ Khoan, nếu rồi đây, TPP không còn nữa, hay nó sẽ thay đổi đi, thì ta phải tính toán, thích nghi với tình hình đó. Từ khi ta tham gia WTO, ta đã dùng các thỏa thuận về tự do hóa mậu dịch để mở rộng thị trường, có thêm đầu tư, đồng thời cũng dùng nó để thúc đẩy quá trình đổi mới ở trong nước. Quá trình này sẽ tiếp tục với việc ta hội nhập quốc tế và tham gia nhiều Hiệp định Thương mại tự do (FTA) khác nhau, nhưng nó sẽ phải điều chỉnh trong trường hợp không có TPP.

 

Mọi chuyện không đơn giản

Ngày 28/11/2016, theo nhiều chuyên gia, việc Mỹ rút khỏi Hiệp định TPP sẽ mở đường cho Nga và Trung Quốc nắm vị trí chủ chốt trong khu vực Thái Bình Dương. Quyết định rời TPP của ông Trump đã khiến không ít nhà lãnh đạo các nước thành viên của hiệp định thất vọng. Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe bày tỏ lo ngại trước nguy cơ hiệp định bị tan vỡ và “TPP sẽ trở nên vô nghĩa nếu như không có Mỹ“. Trong khi đó, một số nhà lãnh đạo khác lại đưa ra hướng đi tương lai mới. Cuối tuần trước Tổng thống Peru Pablo Pedro Kuczynski đã chủ trì hội nghị APEC trong đó có tổng thống Obama, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cùng với một số nhà lãnh đạo các nước khu vực Mỹ La Tinh và Châu Á Thái Bình Dương. Một ngày sau hội nghị, khi hay tin tổng thống đắc cử Donald Trump tuyên bố Mỹ sẽ rút khỏi TPP, Tổng thống Kuczynski nhận định “Một hiệp định mới sẽ được thay thế cho TPP trong đó sẽ không có Mỹ tham gia. Thay vào đó Trung Quốc và Nga sẽ là hai nước thành viên chủ chốt trong hiệp định mới này“.

Sau 8 năm đàm phán, Hiệp định TPP đã được 12 quốc gia trên hai bờ Thái Bình Dương, từ những nước vừa và nhỏ như Việt Nam, Brunei, đến các quốc gia hùng mạnh như Hoa Kỳ, Nhật Bản, kí kết vào tháng 2/2016. Peru cũng nằm trong số các quốc gia đó. Tuy nhiên, giống như nhiều thành viên khác, TPP vẫn phải cần Quốc hội của nước này phê chuẩn. Ở Peru, không phải ai cũng có cùng quan điểm với Tổng thống Kuczynski. Tuần trước đã có một số cuộc biểu tình chống lại TPP diễn ra ở ngay trên đất nước Peru. Đối với những người phản đối TPP, tuyên bố của ông Trump được xem như “ánh bình minh” đang ló dạng phía chân trời. Trong suốt chiến dịch tranh cử của mình, ông Trump bền bỉ theo đuổi lập trường của mình. Đối với vị tổng thống vừa đắc cử, các thỏa thuận thương mại tự do, về mặt lý thuyết, là cái gì đó cao quý, nhưng trên thực tế, nó đã cướp đi rất nhiều việc làm của người dân Mỹ.

Thượng đỉnh Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC) ở Peru từ ngày 17—20/11/2016 đã quy tụ 21 nguyên thủ quốc gia và người đứng đầu chính phủ. Trong tuần lễ APEC ấy, việc tân Tổng thống Trump tái khẳng định sẽ xóa bỏ các thỏa thuận thương mại tự do đã trở thành chủ đề chính tại Hội nghị, dù ông Trump không có mặt. Các nguyên thủ dường như đều muốn truyền đạt thông điệp của họ tới người sẽ chính thức trở thành Tổng thống thứ 45 của Mỹ vào tháng 1/2017. Tổng thống nước chủ nhà Peru Kuczynski đã cảnh báo về những tác động tiêu cực có thể xảy ra nếu Mỹ có bất kỳ động thái nào nhằm ngăn chặn hàng nhập khẩu. Ngoài ra, ông vẫn tiếp tục lên tiếng ủng hộ TPP.

Việc Mỹ rút khỏi TPP đã vô tình tạo chỗ trống lớn trong khu vực xuyên Thái Bình Dương. Theo đánh giá của các chuyên gia, nếu Hoa Kỳ rút khỏi Hiệp định TPP, điều này tất yếu sẽ ảnh hưởng đến chiến lược xoay trục sang châu Á của Mỹ và có thể tạo cơ hội để Trung Quốc tăng cường vị thế đối với thương mại khu vực và toàn cầu. Trung Quốc đang đấy mạnh tiến trình hoàn thiện hiệp định mới có tên Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) trong đó bao gồm các nước thành viên thuộc hiệp định TPP như Úc và Nhật Bản. Nếu RCEP được ký kết thành công, vị thế của Trung Quốc trong khu vực sẽ mạnh hơn, nhất là đối với các nước Châu Á. Bên cạnh đó, Trung Quốc còn kêu gọi các nước Châu Mỹ La Tinh tham gia hiệp đinh RCEP nhằm giảm dần tầm ảnh hưởng của Mỹ đối với khu vực này- nơi được coi là “sân sau” của Mỹ. Trong những năm gần đây cả Trung Quốc và Nga đang đẩy mạnh đầu tư các nước Châu Mỹ La Tinh. Kể từ năm 2005, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc đã “bơm” 120 tỷ USD vào khu vực này. Năm 2008, Nga đã gửi quân đội đến một số quốc gia như Venezuela, Brazil và một số nước khác trong khi cắt giảm ký kết khai thác dầu ở Mexico.

 

Quốc tế vẫn chống bảo hộ

Hội nghị thượng đỉnh Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) vừa kết thúc tại thủ đô Lima của Peru có thể sẽ là một trong những hội nghị APEC nổi bật nhất trong lịch sử của thế kỷ 21, khi nó chứng kiến một sự chuyển dịch kịch tính đối với các xu hướng chủ đạo của nền kinh tế toàn cầu. Mỹ, quốc gia sở hữu nền kinh tế số một thế giới, đang trở thành tâm điểm của sự chỉ trích khi tuyên bố chung của hội nghị đã chỉ đích danh nước Mỹ như một điển hình của xu hướng bảo hộ thương mại sau khi Donald Trump đắc cử tổng thống. Trong khi đó, nền kinh tế số hai thế giới là Trung Quốc lại đang nổi lên như quốc gia ủng hộ mạnh mẽ nhất cho tự do thương mại toàn cầu. Chưa bao giờ vị thế của nước Mỹ, của nền kinh tế Mỹ lại trở nên suy yếu và bị nghi ngờ nhiều đến thế trong một hội nghị thượng đỉnh hàng đầu như APEC.

Có thể nói, những gì diễn ra tại hội nghị thượng đỉnh APEC tại Peru vừa qua là phản ứng quyết liệt và dữ dội nhất của các nền kinh tế hai bờ Thái Bình Dương trước kết quả bầu cử tổng thống Mỹ 2016, nơi ứng cử viên có xu hướng bảo hộ và phản đối tự do thương mại Donald Trump là người đắc cử. Lãnh đạo 21 nước thành viên APEC đã kết thúc hội nghị thượng đỉnh diễn ra hàng năm này với lời kêu gọi chống lại chủ nghĩa bảo hộ trong bối cảnh sự hoài nghi về tự do thương mại đang ngày càng gia tăng, mà điển hình là việc Donald Trump đắc cử tổng thống Mỹ. Nó được thể hiện rõ ở tuyên bố chung của các nước thành viên hội nghị: “Chúng tôi tái khẳng định cam kết sẽ mở cửa các thị trường nội địa của mình và chiến đấu chống lại tất cả các hình thức của chủ nghĩa bảo hộ”.

Tuyên bố chung này là đòn phản công của quốc tế đối với chiến thắng của ông Trump, khi nó đồng nghĩa với một thông điệp chung: Tất cả các nền kinh tế ở hai bờ Thái Bình Dương phản đối và không ủng hộ lập trường bảo hộ và chống lại tự do thương mại của vị tân tổng thống Mỹ. Bài phát biểu sau đó của tổng thống nước chủ nhà Peru Kuczynski càng làm nổi bật hơn vấn đề: “Chủ nghĩa bảo hộ trên thực tế là một sự phản ánh về tình trạng khó khăn mà các nền kinh tế đang gặp phải. Đây là một điều đáng lo ngại khi kết quả bầu cử tại một số nền kinh tế lớn nhất thế giới thời gian qua đã phản ánh xu hướng chống lại thương mại tự do”. Ông Kuczynski cho rằng, kết quả bầu cử tổng thống Mỹ 2016 và nước Anh bỏ phiếu Brexit rời khỏi EU theo xu hướng bảo hộ là một sự trái ngược với thực tế rằng hầu hết các nền kinh tế trên khắp thế giới đều đang chung tay hỗ trợ thúc đẩy thương mại toàn cầu để lấy lại sự thịnh vượng trước đây.

 

Quan hệ thương mại Mỹ – Việt

Sau khi hiệp định TPP được coi là “chết lâm sàng”, luật sư Sesto Vecchi của hãng luật quốc tế Russin & Vecchi trong một bài viết cho tờ The Hill có trụ sở ở Washington DC đã khuyến nghị, Mỹ nên tập trung vào một hiệp định thương mại song phương với Việt Nam với các điều khoản đã được thương lượng về cắt giảm thuế và bảo hộ lao động trong TPP. Ông Vecchi, với hơn 35 năm kinh nghiệm hành nghề luật, coi Việt Nam là một trường hợp đặc biệt để Mỹ xem xét trong bối cảnh Trung Quốc đang tìm cách theo đuổi một hiệp định thương mại khác với các nước trong khu vực để thay thế TPP. TPP là một trong 3 hiệp định thương mại và đầu tư lớn nhất mà Mỹ từng thương lượng trong kỷ nguyên hậu chiến tranh. Hiệp định này xóa bỏ 18.000 loại thuế đối với các mặt hàng và dịch vụ của Mỹ và do đó sẽ làm tăng lượng hàng xuất khẩu và đầu tư của Mỹ vào châu Á.

Theo lập luận của luật sư hàng đầu của hãng luật có nhiều văn phòng trên toàn cầu, Việt Nam là một thị trường phát triển nhanh nhất đối với hàng xuất khẩu của Mỹ. Năm 2015, lượng hàng xuất khẩu từ Mỹ sang Việt Nam có mức tăng 24%/năm với tổng doanh thu lên tới 7.1 tỷ đô la và với các các loại thuế bảo hộ được xóa bỏ, theo các điều kiện thương lượng trong TPP, thì con số này sẽ tăng gấp đôi vào năm 2020. Hơn thế nữa, Mỹ là thị trường lớn nhất cho hàng xuất khẩu của Việt Nam. Việt Nam xuất khẩu gần 16 tỷ đô la hàng may mặc và giày dép vào Mỹ năm 2015 với các nhãn hàng nổi tiếng của Mỹ như Nike, Ralph Lauren và Calvin Klein. Mặc dù phải chịu mức phí lớn hơn do tiêu chuẩn về môi trường và lao động cao hơn, như các điều kiện của TPP đã được thương thảo, nhưng các nhà xuất khẩu của Việt Nam sẽ có những lợi ích lớn khi được hưởng thuế suất thấp hơn vào Mỹ và gia tăng thị phần trên thị trường Mỹ.

Tuy nhiên, nhà nghiên cứu Trần Trường Thủy của Học viện Ngoại giao lại cho rằng với một hiệp định thương mại song phương như trên, Việt Nam sẽ không có nhiều lợi ích như Mỹ. Trên trang Twitter của mình, ông Thủy viết khi phản ứng về nhận định của luật sư Vecchi rằng: “Một TPP song phương sẽ làm thay đổi quan hệ thương mại Mỹ theo hướng là chỉ có lợi cho người Mỹ”. Còn trong bài viết của mình, luật sư Vecchi nói một hiệp định thương mại song phương sẽ làm thay đổi mối quan hệ thương mại Việt-Mỹ theo hướng sẽ có lợi cho cả 2 bên nhưng cũng có người bị thiệt thòi. Theo phân tích của ông, công nhân Mỹ sẽ là những người được hưởng lợi nhiều nhất, vì hàng nghìn việc làm với mức lương cao sẽ được tạo ra nhờ vào việc xuất khẩu của Mỹ sang Việt Nam trong tương lai và Việt Nam sẽ có được những tiêu chuẩn bảo vệ cao hơn cho môi trường và người lao động trong nước. Người bị thiệt thòi nhất, theo ông Vecchi là các nhà xuất khẩu Trung Quốc, vì họ sẽ mất đi thị phần và công việc do sự cạnh tranh tăng cao của Việt Nam./.
Nguồn Văn nghệ số 49/2016

Cuộc hội ngộ của hai kẻ cựu thù tại Paris năm 1895

  •   LÊ NGUYỄN tăng kích thước chữ
Vua Hàm Nghi những năm cuối đờiVua Hàm Nghi những năm cuối đời

Trong lịch sử gần 100 năm thuộc Pháp, vua Hàm Nghi là vị hoàng đế duy nhất đã rời bỏ kinh thành để mưu cuộc kháng chiến, với sự phò tá của những quan lại giàu lòng yêu nước như Tôn Thất Thuyết và hai con (Tôn Thất Đạm, Tôn Thất Thiệp), như Lê Trực, Nguyễn Phạm Tuân…, những con người luôn coi sự tồn vong của đất nước quan trọng hơn sự an nguy của gia đình mình.

***
Kể từ cái ngày được sử gọi là “thất thủ kinh thành” 5.7.1885 đến ngày cựu hoàng Hàm Nghi rơi vào tay giặc (2.11.1888), một thời khoảng hơn 3 năm đã trôi qua, lời hịch Cần vương đã khơi dậy những phong trào chống Pháp sôi nổi: Phan Đình Phùng ở Hà Tĩnh, Đinh Công Tráng ở Thanh Hóa, Cai Kinh, Hoàng Hoa Thám ở Lạng Giang và Yên Thế, Nguyễn Thiện Thuật ở Hưng Yên… Riêng vùng rừng núi Quảng Bình, cái “nôi” của phong trào Cần vương, có ba nhóm quân kháng chiến chống Pháp: một nhóm của Tôn Thất Đạm, được vua Hàm Nghi cử làm Khâm sai nên tướng sĩ vẫn quen gọi là Khâm Đạm, giữ nhiệm vụ chính là hậu cần cho quân kháng chiến trong vùng và hoạt động trong khu vực phía Bắc Quảng Bình, giáp với Hà Tĩnh để chiêu mộ thêm nghĩa sĩ. Gần nhà vua hơn, có hai nhóm kháng chiến chủ lực, một của Tá sự Nguyễn Phạm Tuân (được vua Hàm Nghi phong hàm Thượng thư) hoạt động trong phạm vi huyện Tuyên Hóa, một của Đề đốc Lê Trực, được người dân thời đó gọi một cách thân thiết là Đề Lê, hoạt động quanh khu vực làng Thanh Thủy, phủ Quảng Trạch là quê của ông (nay thuộc xã Tiến Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, nơi có mộ phần của ông).

Vua hàm Nghi khi mới bị Pháp bắt

 

Trong thời gian trước cuối năm 1886, hoạt động của nghĩa quân trong khu vực Quảng Bình-Hà Tĩnh là một mối bận tâm lớn của thực dân Pháp, họ phải nhờ sự giúp sức của hàng giáo sĩ Pháp tại địa phương, tiêu biểu là giáo sĩ Tortuyaux, một điềm chỉ viên rất đắc lực của Pháp. Cuối năm 1886, cuộc đối kháng Việt-Pháp tại Quảng Bình có những chuyển biến mới. Một sĩ quan Pháp là đại úy Mouteaux đã đưa quân ngược dòng sông Gianh (tên ghi trong các sử liệu cổ là Linh giang), thiết lập một đồn bót mới tại Minh Cầm, nằm phía trên làng Thanh Thủy, khống chế các đường liên lạc, tiếp tế của hai nhóm nghĩa quân Nguyễn Phạm Tuân và Lê Trực. Chiến thuật của Mouteaux quả đã gây khó khăn rất nhiều cho hai cánh quân trên. Ngày 8.4.1887, do sự phản bội của một thủ hạ, Nguyễn Phạm Tuân cùng binh sĩ thuộc quyền bị quân của đại úy Mouteaux tấn công bất thần tại làng Yên Hương, ông chỉ kịp quơ vội thanh gươm lệnh, chiếc tráp dựng ấn tín của vua Hàm Nghi cùng một số giấy tờ của viện Cơ Mật rồi tìm đường thoát chạy. Nhưng không kịp nữa, Nguyễn Phạm Tuân trúng một viên đạn của giặc vào mạng sườn và qua đời hơn một ngày sau. Mất chủ tướng, lực lượng của Nguyễn Phạm Tuân tan rả dần. Với Đề đốc Lê Trực, Mouteaux áp dụng một chiến thuật khác: dùng lời lẽ thuyết phục ông bãi binh. Thư qua thư lại nhiều lần giữa hai người, song cuối cùng Mouteaux vẫn không làm xoay chuyển được ý chí kiên quyết chống Pháp của Lê Trực. Dù sao lịch sử chống Pháp cũng ghi nhận một mối quan hệ thú vị giữa hai kẻ thù khác màu da, mỗi người có một trách nhiệm không thể nào dung hòa với nhau được, nhưng vẫn đối xử với nhau bằng sự lịch sự, hòa nhã và tôn trọng nhau bằng một thứ tình cảm phóng khoáng nhất. Về sau, trong những giấy tờ do Mouteaux để lại, người ta tìm thấy gần đầy đủ những bức thư trao đổi giữa ông ta và Đề đốc Lê Trực (L. Cadière – Quelques papiers du capitaine Mouteaux-Bulletin des Amis du Vieux Hue (BAVH) No 1-1-2/1944). Chúng giúp làm sáng tỏ nhiều điều trong cuộc kháng chiến chống Pháp của vua Hàm Nghi cùng tướng sĩ vào những năm 1886-1887 tại Quảng Bình.
Có thể đánh giá Mouteaux là sĩ quan Pháp đã gặt hái được nhiều thành công trong việc làm suy yếu khả năng đề kháng của các lực lượng nghĩa quân chống Pháp trong phạm vi Quảng Bình, cái nôi của phong trào Cần vương. Song bên cạnh niềm vui đó, ông ta vẫn còn ray rứt mãi về chuyện đã không thực hiện được mục tiêu tối hậu của chiến dịch tại Quảng Bình là bắt sống vua Hàm Nghi. Ngày 7.10.1887, Mouteaux rời đồn Minh Cầm, bàn giao công việc lại cho đại úy Troupel, lòng ray rứt mãi với hồi ức về một buổi sáng hành quân trong thời gian ông ta còn ở Quảng Bình. Đó là buổi sáng một ngày tháng 7.1887, Mouteaux dẫn quân từ đồn Minh Cầm lên Khe Ve, bao vây cả xóm Thằng Cuộc, rồi ngược dòng sông Rào Nậy (một chi nhánh của sông Gianh), tìm Trương Quang Ngọc, một trong những thủ hạ gần gủi nhất của vua Hàm Nghi có tin là đang ở xóm Chà Mạc. Trên đường đi, thuyền của Mouteaux chạy ngược dòng với thuyền do một người phụ nữ đứng tuổi chèo, trên thuyển có một thiếu niên độ 15-16 tuổi ăn mặc trông nghèo nàn nhưng áo quần sạch sẽ. Viên đại úy Pháp ra lệnh dừng chiếc thuyền đó lại và lục soát. Người phụ nữ chèo thuyền và người thiếu niên lộ vẻ bối rối, song vẫn tỏ ra thân thiện với toán lính Pháp. Mouteaux từng nghe kể rằng vua Hàm Nghi luôn mang theo mình một ống điếu hút thuốc bằng gỗ có khảm hoa văn nên ra lệnh lục soát kỹ nhưng không tìm thấy gì. Sợ rằng dây dưa lâu sẽ làm trễ nãi cuộc hành quân, ông ta cho thả thuyền đi. Nhưng khi tới Chà Mạc, Mouteaux gặp toán quân của thượng sĩ Bosché đã đến trước và biết rằng Trương Quang Ngọc vừa trốn khỏi nơi ở, bỏ lại tại nơi ở nào giáo mác, nỏ, tên độc, bàn đèn thuốc phiện…( L. Cadière sách dẫn trên, trang 81 và Ch. Gosselin – L’Empire d’Annam – Paris 1904, trang 295). Viên đại úy Pháp giật mình, linh cảm rằng ông ta vừa để thoát vua Hàm Nghi, tức chàng thiếu niên trên chiếc thuyền mà ông ta vừa cho lục soát.

Khi rời Minh Cầm, Mouteaux mang theo nỗi ám ảnh về chàng thiếu niên 15-16 tuổi mà ông ta đã gặp trong cuộc hành quân vào một ngày tháng 7. Không lâu sau ngày 2.11.1888, tức ngày thực dân Pháp bắt được vua Hàm Nghi tại một ngôi nhà nhỏ trên thượng nguồn sông Gianh, báo chí Pháp tại Paris in hình nhà vua được chụp lén trong thời gian bị áp giải từ Quảng Bình về cửa Thuận An, coi như đó là một thắng lợi quan trọng trong nỗ lực dập tắt các phong trào kháng chiến tại Việt Nam. Mouteaux đã có dịp nhìn xem bức ảnh nhà vua trên báo và không rõ do mối ám ảnh cũ hay từ một linh cảm xác thực, ông ta tin rằng chàng thiếu niên mình đã gặp trên sông dạo nào chính là vua Hàm Nghi.
Năm 1895 (Ch. Gosselin ghi là năm 1893), Mouteaux tình cờ được giới thiệu với cựu hoàng Hàm Nghi tại Câu Lạc Bộ Quân đội trên đại lộ Opéra của thành phố Paris (Pháp). Ông từ Alger sang thăm thủ đô nước Pháp. Hai kẻ cựu thù từng nghe nói về nhau từ lâu, nay mới gặp mặt. Mouteaux coi đấy là dịp may nghìn năm một thuở có thể giúp ông ta giải tỏa nỗi ám ảnh đã đeo đẳng trong hơn 7 năm trời. Cựu hoàng ngồi nghe ông ta kể lại chi tiết vụ “chạm trán” với chàng thiếu niên trên sông vào một buổi sáng tháng 7 năm 1887 bằng một thái độ chăm chú và nụ cười nhẹ nhàng, nhưng cuối cùng ông đã làm cho Mouteaux thất vọng khi tránh không trả lời thẳng vào câu hỏi ông có đúng là chàng thiếu niên đó không. Thái độ xử sự ấy không chỉ với riêng Mouteaux mà theo những người Pháp đã quen biết với cựu hoàng Hàm Nghi trong thời gian ông sống lưu đày ở Alger, ông luôn ít nói, đặc biệt không bao giờ nhắc lại hay trả lời những câu hỏi liên quan đến năm tháng trị vì và quảng thời gian hơn ba năm trời bôn ba trong vùng rừng núi Quảng Bình.

****
Tháng 11 năm 1904, cuộc sống lưu đày của cựu hoàng Hàm Nghi lật sang một trang mới. Ông cưới cô Marcelle Laloe, con gái ông chánh án tòa thượng thẩm Alger. Trong cảnh sống lưu đày, không chút hi vọng trở về quê hương, ông đã chấp nhận cuộc hôn nhân này như một định mệnh. Một trong những điều đáng quý nhất ở ông là trong suốt cuộc sống lưu đày 55 năm nơi xứ người (1889-1944), hầu như không bao giờ ông rời bỏ chiếc khăn đội đầu và bộ y phục thuần Việt. Vào giữa thập niên 1990, trong những dịp tiếp xúc với ông Nguyễn Phúc Vĩnh Cầu, con trai út cựu hoàng Thành Thái, sinh năm 1924 tại đảo Réunion, người viết bài này được nghe ông kể rằng vào khoảng năm 1935-1936, bữa nọ có một người khách phương xa ghé lại đảo Réunion tìm thăm cựu hoàng Thành Thái. Sau những giây phút bỡ ngỡ đầu tiên, người nhà mới được biết người khách lạ đó chính là cựu hoàng Hàm Nghi. Xét về vai vế trong hoàng tộc nhà Nguyễn, cựu hoàng Hàm Nghi (Ưng Lịch) ở vào hàng chú của cựu hoàng Thành Thái (Bửu Lân), hàng ông của cựu hoàng Duy Tân (Vĩnh San). Phút trùng phùng thật cảm động, vì cả ba cựu hoàng đều là những ông vua yêu nước đang sống cảnh lưu đày. Trong buổi gặp đó, cựu hoàng Thành Thái có ý muốn để cựu hoàng Duy Tân sang Alger sống cùng ông chú, song cựu hoàng Hàm Nghi ngần ngừ, không trả lời dứt khoát. Từ đó cho đến ngày ông nhắm mắt trên xứ người, quê hương vẫn là một hình ảnh luôn hiện diện trong trái tim ông; điều đó thể hiện trong cung cách ông giáo dục ba người con mang hai dòng máu Việt-Pháp: hai công chúa Như Mai, Như Lý và ông hoàng Minh Đức.

 

 

Nguồn:fb Lê Nguyễn

Đăng bởi: Ngô Minh | 04.12.2016

Lòng Dân

Lòng Dân

  •   KHÁNH LINH giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ

Gần cuối buổi Liên hoan gia đình văn hóa tiêu biểu của Phường, cô nhân viên vui vẻ đưa cho tôi 10 ngàn đồng kèm lời giải thích gửi chú tiền chế độ họp sáng nay. Thú thật là tôi hơi giật mình vì đã lâu lắm rồi tôi không biết đến chế độ hội họp như thế này.

May mà trước đó quan sát thấy bà con khối xóm ai cũng đón nhận tờ bạc nhỏ xíu và mỏng manh với thái độ rất trân trọng nên tôi không thể có thái độ gì khác.

Bây giờ nhớ lại, tôi vẫn thấy tự ngượng cho bản thân. Cái con người tôi đã quá nhiều lần tham dự các cuộc hội nghị long trọng của hàng tỉnh. Rồi đi họp báo, khai trương, động thổ … hoa hòe giăng mấy dãy, cờ đèn phủ rợp trời. Ra về được gửi cái túi quà trong đó kiểu gì cũng có vài bài báo quảng bá ring rang, ít hiện vật và cái phong bì. Riêng cái phong bì nhẩm ra có khi còn hơn cả chục, thậm chí cả trăm lần cái chế độ mà cô nhân viên phường đã gửi.

Tôi để ý thấy trong suốt buổi Liên hoan, bà con không nói những chuyện cao siêu, không GDP, CPI, không Tái cấu trúc, không Tập đoàn kinh tế gì hết. Họ nói những chuyện trong nhà họ và chuyện bên cạnh họ. Một công chức đã nghỉ hưu, cộng thu nhập của hai vợ chồng chưa đầy 5 triệu đồng nhưng nghĩ mình là đảng viên nên bấm bụng chắt chiu dàn mỏng số tiền để nuôi mẹ già và 2 con ăn học. Một doanh nhân lên báo cáo điển hình mà chân thật như lời tự thú vợ chồng nhờ khôn khéo vận dụng được cơ chế nhà nước nên có tiền làm từ thiện giúp người nghèo để thanh thoát nội tâm. Rồi mọi người đua nhau hát say sưa những bài ca ngợi Đảng, ca ngợi Bác Hồ và quê hương đất nước. Không khí thật hồn nhiên và trong sáng vô cùng.

Họ đều là những đại biểu nhận 10 ngàn đồng chế độ như tôi.

Tôi kể câu chuyện này với một số đồng nghiệp. Mấy đứa bảo tôi dở hơi, thời buổi này ai thừa công để ý tới chuyện vặt vãnh nơi đầu phố cuối ngõ vậy.

Tôi lại nghĩ điều khác, nghĩ về tấm lòng của người dân.

Sáng ra ngồi quán nước, gặp mấy bác cựu chiến binh đang đợi nhau đi thăm đồng đội. Câu chuyện lan man từ Triều Tiên và Ấn Độ phóng tên lửa rồi quay về xăng đã tăng giá, hàng trăm doanh nghiệp đang chết lâm sàng và mấy lâu nay Trung ương 4 có vẻ lại mất lửa Diên Hồng rồi. Mỗi người một câu, ồn ào, có lúc tranh luận lên như cao trào, căng lắm. Căng nhưng lại rất hòa đồng vì xem ra nỗi niềm ai cũng giống ai.

Thời nào cũng vậy, tấm lòng của người dân không có gì màu mè, nó bộc trực và rải dọc suốt cuộc sống thường ngày. Nếu chịu khó lắng nghe thì ở bất kỳ đâu cũng có thể bắt sóng được đủ tâm trạng và đủ sự suy tư của đủ loại thảo dân.

Trong đám bạn học cấp 3 dạo trước, nay chỉ mình tôi là có dính một tý vào ghế quan trường. Thỉnh thoảng gặp nhau mấy anh doanh nghiệp tư nhân là nổ mạnh nhất. Có đứa còn chỉ vào mặt tôi loại đảng viên có chức có quyền như mày mới thường có những suy nghĩ bẩn thỉu thôi, thảo dân họ đàng hoàng lắm, tốt lắm. Tôi cũng choáng luôn. Nhưng kể ra nó chửi thế cũng không oan. Ngẫm lại tôi thấy có lúc mình đúng là không được người lớn như đám bạn bè, bụng dạ cũng đầy những toan tính mờ ám về điều này chuyện nọ và tiền hậu cũng lắm khi bất nhất. Họp hành cứ nói liên miên về tu dưỡng đạo đức, rèn luyện phẩm chất… nhưng nói vậy mà có làm được vậy đâu. Nó giống như câu chuyện người Mông nóiCái Đảng ở trên cây (ý chỉ cái loa phát thanh) thì mình rất thích  nghe nhưng cái Đảng ở dưới đất (ý chỉ các đảng viên cụ thể) thì mình chưa theo được gì cả.

Bây giờ Đảng đang triển khai Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI). Tôi thấy cái sự lạ là không ai tổ chức nhưng người dân cũng đang tự làm Trung ương 4 theo tấm lòng của họ. Không tài liệu, không loa đài, không báo cáo viên mà họ cứ đau đáu những tâm sự lo cho Đảng khó mà chống được suy thoái, lo cho Đảng bị bộ phận không nhỏ thao túng lộng quyền. Tôi lại nhớ sáng hôm ngồi ở quán nước, bà chủ quán bỗng nhiên nẩy ra điều ước giá như Cụ Hồ mà sống lại thì loại tặc quan đó chắc chắn phải tìm lỗ nẻ mà chui. Rồi trở lại chuyện của Nghệ An, ông cựu Đại tá khen bài phát biểu của Bí thư Tỉnh ủy quán triệt Nghị quyết 4 rất hay nhưng vẫn xa xôi quá, chung chung quá. Lòng dân đang muốn làm Trung ương 4 là phải làm rất cụ thể. Không làm được nhiều thì cũng phải tập trung vào một số chuyện đã và đang gây ra những nghi hoặc trong dư luận nhân dân. Ví như chuyện nếu có quan chức nào lỡ làm sân sau cho một số dự án hoặc quan chức để vợ con đi vay cả hàng trăm tỷ kinh doanh bất động sản bị vỡ nợ thì cũng phải sớm có cơ chế mà chấn chỉnh. Nói thì nghe khó chịu là vậy nhưng người dân lại rất nhân từ và độ lượng, chỉ mong sau Trung ương 4 Đảng ta và cán bộ đảng viên được tốt hơn lên.

Sàng đi lọc lại, tôi nhận ra cái tấm lòng đầy trăn trở và cái khát vọng vô cùng chính đáng của người dân trước thời khắc khó khăn của Đảng và dân tộc.

Muôn đời lòng dân vẫn trong sáng thế. Và lòng dân càng sáng thì trách nhiệm của chúng ta càng phải nặng nề thêm để thảo dân một lần nữa có được chỗ mà vững tâm neo đậu niềm tin.at

Đăng bởi: Ngô Minh | 04.12.2016

Hà Nội và tiếng leng keng tầu điện xưa

Hà Nội và tiếng leng keng tầu điện xưa

Thu Hằng– RFI
Hà Nội và tiếng leng keng tầu điện xưa

Tầu điện trên phố Đinh Tiên Hoàng năm 1979.Flickr.com

Trong suốt nhiệm kỳ toàn quyền (1897-1902), Paul Doumer bỏ nhiều công sức để cải tiến cấu trúc thuộc địa và phát triển cơ sở hạ tầng tại Đông Dương. Dù bị chỉ trích vì cách quản lý độc đoán và sau này bị triệu về Pháp để giảm bớt căng thẳng với Anh Quốc trong tranh chấp biên giới tại Vân Nam (Trung Quốc), Paul Doumer đã khởi xướng hay cho hoàn thiện rất nhiều công trình quan trọng làm thay đổi cảnh quan Việt Nam.

Cũng trong giai đoạn này, Hà Nội trở mình mạnh mẽ để đóng vai trò trung tâm hành chính của Đông Dương. Cũng nhờ Paul Doumer, lúc đó là một trong số nhà quản lý của Tổng Công ty Điện lực (Compagnie général d’électricité, trước đó là Công ty Điện lực Normandie (Société normande d’électricité), do Pierre Azaria thành lập tại Pháp), nên Hà Nội trở thành đô thị đầu tiên tại châu Á có điện thắp sáng. Năm 1897, công suất cơ học của nhà máy điện là 300 mã lực được nâng lên thành 850 mã lực để đáp ứng nhu cầu sử dụng của người đặt mua và của thành phố.

Đây cũng là điều kiện tiên quyết để phát triển hệ thống xe điện nối trung tâm Hà Nội với các vùng lân cận. Chính quyền thuộc địa hy vọng phương tiện này đáp ứng được nhu cầu đi lại của dân cư mỗi ngày một đông. Hà Nội được mở rộng gấp 10 lần so với khu phố cũ và phát triển xứng tầm với một đô thị quan trọng cùng với hệ thống thoát nước, xe điện và nhiều công trình có quy mô lớn.

Theo cuốn Thành phố Hà Nội (Ville de Hanoi) do Chính phủ Đông Dương phát hành năm 1905 (Hanoi, Imprimerie G. Taupin et Cie, 1905), một công ty vô danh có vốn 2.750.000 franc đã nhận được hợp đồng nhượng quyền xây dựng và khai thác một hệ thống xe điện dài 12 km nối trung tâm Hà Nội và vùng ngoại ô. Hợp đồng được ký ngày 02/05/1899 giữa chính quyền bảo hộ Bắc Kỳ, thành phố Hà Nội cùng với các ông Courret, Krug và anh em nhà Durant.

Đến năm 1902, doanh nghiệp này thuộc quyền sở hữu của Công ty Điền địa Đông Dương (Société foncière de l’Indochine), trụ sở ở Paris, nhưng có chi nhánh kinh doanh và nhà máy sửa chữa đầu máy, đóng toa xe ở Thụy Khê (Hà Nội) từ năm 1901. Năm 1929, một lần nữa được đổi tên thành Công ty Xe điện Bắc Kỳ (Compagnie des Tramways du Tonkin) và trở thành Công ty Giao thông công cộng vùng Hà Nội (Transports en commun de la région de Hanoi) năm 1951 (L’Eveil économique de l’Indochine (Thức tỉnh kinh tế Đông Dương), 02/08/1931).

Tầu điện trên phố Hàng Đào năm 1940.Flickr.com

Trên dự án, thành phố Hà Nội có ba tuyến xe điện, xuất phát từ quảng trường Négrier (quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục ngày nay) với tổng chiều dài là 13.101,08 m, gồm: Tuyến A: Quảng trường Négrier (Bờ Hồ) – Bạch Mai (3.524,50 m) ; Tuyến B: Quảng trường Négrier – làng Giấy (5.433,67 m) ; Tuyến C: Quảng trường Négrier – Thái Hà Ấp (Kinh Lược) (4.131,91 m).

Trong cuốn hồi ký Tình hình xứ Đông Dương thuộc Pháp (Situation de l’Indochine française, Paris, Vuibert et Nony, Editeurs, 1905), toàn quyền Paul Doumer cho biết ngay năm 1900, công việc xây dựng nhà máy, lắp đặt đường ray và máy móc nhanh chóng được tiến hành và một phần hệ thống đã được khai thác. Hợp đồng cuối cùng được toàn quyền Đông Dương ký trước khi trở về Pháp là tuyến Bờ Hồ – Cầu Giấy (đường Sơn Tây, route de Sontay) vào tháng 11/1901.

Hợp đồng này nằm trong kế hoạch kéo dài thêm 8.100 m đường sắt, được thành phố Hà Nội lên kế hoạch vào năm 1905. Tuyến A được kéo dài từ Bạch Mai đến đường vành đai (route circulaire, ngã tư Đồng Lầm, nay là ngã tư Đại Cồ Việt-Lê Duẩn). Tuyến B được nối thêm từ Thụy Khuê lên chợ Bưởi. Tuyến C được kéo dài từ Thái Hà vào Hà Đông. Nhiệm vụ duy nhất của chính quyền là xây một cây cầu lớn bằng sắt bắc qua sông Nhuệ thay cho cây cầu gỗ cũ kĩ và không chịu được trọng tải của xe điện. Quá trình phôi thai đoạn kéo dài này mất tận 10 năm. Nhưng đến năm 1915, tuyến xe Hà Nội-Hà Đông vẫn nằm bên kia cầu mà không vào được trung tâm thị xã. Thay vì xây một cây cầu mới, Sở Công Chính lại chỉ cho gia cố bằng xi măng cây cầu cũ, thậm chí làm cả đường ray trên cầu.

Năm 1930, thành phố Hà Nội thông qua dự án xây một tuyến đường mới, dài khoảng 5.500 m, nối hai đầu đường Quan Lộ (Route Mandarine, một đoạn của đường Lê Duẩn ngày nay) từ ngã tư Đại Cồ Việt ngày này đến Yên Phụ, đi qua các phố Thiên Tân (rue Tientsin, nay là phố Hàng Gà) và Hàng Than. Như vậy, tính đến thời điểm này, Hà Nội có 5 tuyến tầu điện, với khoảng 27 km đường sắt, nối từ trung tâm Bờ Hồ với vùng ngoại ô : Bờ Hồ – Cầu Giấy, Bờ Hồ – Hà Đông, Bờ Hồ – Chợ Bưởi, Bờ Hồ – Chợ Mơ và một tuyến không qua Bờ Hồ là Yên Phụ – Bạch Mai.

Tầu điện, từ xa xỉ đến thân quen

Trong suốt 13 năm đầu khai thác, công ty luôn bị thua lỗ vì mua vé đi tầu điện vẫn là một điều xa xỉ với người dân nghèo. Họ thà đi bộ 2 km hơn là trả thêm 1 xu. Doanh thu từ xe điện chỉ tăng dần trong khoảng những năm 1920-1930, giữa hai cuộc Thế Chiến. Người dân dư giả hơn một chút và người nông dân sẵn sàng trả hai xu để tránh đi bộ 1 hoặc 2 km.

Thời Pháp thuộc, mỗi đoàn tầu chỉ có hai hoặc ba toa. Theo thống kê năm 1905, có 22 toa lái và 15 toa xe moóc. Xe điện hoạt động được nhờ một chiếc cần sắt dài, trên đầu có một cái ròng rọc để tiếp xúc với đường dây dẫn điện mắc ở phía trên song song với đường tầu. Thiết bị điện ở mỗi toa gồm hai động cơ lớn, mỗi chiếc có công suất 25 sức ngựa.

Đường sắt rộng một mét, giống hệ thống đường sắt Đông Dương. Mọi chi phí xây dựng và để tuyến đường đi vào hoạt động đều do nhà thầu chịu trách nhiệm. Hợp đồng nhượng quyền khai thác kéo dài 60 năm, sau đó sẽ thuộc về chính quyền thuộc địa, trừ thiết bị di động vẫn là tài sản của công ty. Chi phí và rủi ro trong quá trình khai thác hoàn toàn phụ thuộc vào nhà thầu, chính phủ không cấp bất kỳ khoản hỗ trợ nào.

Tầu điện và xe kéo, phố Hàng Bông (rue du Coton) và vườn hoa Cửa Nam (place Neyret), năm 1925.Flickr.com

Từ năm 1927, Công ty Tài Chính Pháp và Thuộc địa (Société financière française et coloniale, SFFC) của Octave Homberg sở hữu phần lớn cổ phiếu của Công ty Điền Địa, nhà thầu hệ thống xe điện Hà Nội, vì vậy vốn của công ty được tăng lên. Thương vụ này được công luận đánh giá cao vì cuối cùng, những toa tầu cũ từ gần 30 năm kêu ầm ĩ ngoài phố sẽ được tân trang và hiện đại hóa. Nhiều đường ray nhẹ được thay thế bằng đường ray nặng và các thiết bị cũ mòn được thay thế bằng thiết bị mới.

Theo tài liệu lưu trữ quốc gia Pháp về thế giới lao động (tại Roubaix, Pháp), năm 1951, vốn của Công ty Giao thông công cộng vùng Hà Nội (Transports en commun de la région de Hanoi) tăng lên thành 45,9 triệu franc và 114,7 triệu franc vào năm 1953. Đến ngày 01/06/1955, công ty ngừng hoạt động sau khi Pháp thất bại tại Đông Dương. Chính phủ nước Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam cam kết bồi thường cho công ty 300 triệu franc trong vòng 25 năm. Thế nhưng, ngay giữa năm 1959, các khoản nợ đã được thanh toán hết. Công ty Giao thông công cộng vùng Hà Nội giải thể vào năm 1962.

Từ năm 1968, tầu điện được phục hồi và phát triển để trở thành phương tiện công cộng quan trọng của thành phố phục vụ hơn 30 triệu lượt khách mỗi năm. Cho đến cuối những năm 1980, xe đạp và tầu điện vẫn là những phương tiện quen thuộc của người dân thủ đô.

Năm 1991, từ khi tuyến đường cuối cùng bị ngừng hoạt động, xe máy dần dần tràn ngập Hà Nội (chiếm 78% số lượng phương tiện giao thông) cùng với mức đô thị hóa và phát triển kinh tế xã hội cũng như dân số. “Hà Nội không vội được đâu” trở thành câu nói quen thuộc mỗi khi nhắc đến tình trạng tắc nghẽn giao thông.

Theo Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) tại Hà Nội, kể từ năm 2001, hệ thống xe buýt được tổ chức lại và được hy vọng là giải pháp thay thế cho phương tiện cá nhân, song vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu ngày càng tăng của giao thông nội đô. Trước tính cấp bách của tình trạng “khủng hoảng giao thông đô thị”, năm 2008, thành phố Hà Nội đã thông qua một kế hoạch chỉ đạo, trong đó dự kiến thiết lập một mạng lưới 5 tuyến tàu điện ngầm (dự kiến hoàn thành vào năm 2030). Cơ quan Phát triển Pháp tham gia tài trợ cho tuyến tầu điện ngầm số 3 từ ga Hà Nội đi Nhổn và được đánh giá là tuyến thí điểm.

Nhân chứng vụ bắt cóc đổi mạng tử tù Nguyễn Văn Trỗi

BBC

Nguyễn Văn Trỗi ra pháp trườngImage copyrightVNA
Image captionNguyễn Văn Trỗi bị xử bắn ngày 15/10/1964

Năm 1964, du kích cánh tả ở Caracas, Venezuela đã bắt cóc đại tá Michael Smolen, tùy viên quân sự Hoa Kỳ, nhằm đổi mạng tử tù Nguyễn Văn Trỗi.

Người chiến binh Việt Cộng này lúc đó đang chờ ngày bị tử hình vì đặt mìn mưu sát Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara trên cầu Công Lý ở Sài Gòn.

Phi vụ đổi người của du kích Caracas bất thành nhưng đã gây tiếng vang trong dư luận quốc tế lúc bấy giờ.

Mưu sát bất thành

Tháng 5/1964, biệt động nội thành Nguyễn Văn Trỗi nhận nhiệm vụ đặt mìn ở cầu Công Lý nhằm vào phái đoàn quân sự cao cấp của Chính phủ Hoa Kỳ do Bộ trưởng quốc phòng Robert McNamara dẫn đầu.

Nhiệm vụ này bại lộ, Nguyễn Văn Trỗi bị bắt tối 9/5/1964 và bị kết án tử hình.

Vụ ám sát McNamara qua báo chí đã đến với các thành viên phong trào cánh tả có cảm tình với Việt Cộng ở Mỹ Latin.

Nhân chứng vụ bắt cóc đổi mạng tử tù Nguyễn Văn Trỗi

Trong khi chờ đợi ngày ra pháp trường, du kích ở Caracas, Venezuela, thực hiện phi vụ bắt cóc đại tá Mỹ Michael Smolen nhằm đổi mạng cho Nguyễn Văn Trỗi vào hôm 9/10/1964.

Nhân chứng duy nhất của vụ bắt cóc đổi mạng năm 1964, Carlos Argenis Martínez Villalta, 72 tuổi, kể lại:

“Sự việc xảy ra vào buổi sáng ngày 9/10/1964. Một nhóm bốn người, trong có đồng chí David Salazar, đồng chí Carlos Rey Gómez và tôi lái xe đến phố Los Mangos và chờ bên ngoài khu căn hộ của nhân viên CIA cao cấp, đại tá Michael Smolen, tùy viên sứ quán Mỹ tại Venezuela.

Sáng đó ông ta đi làm muộn hơn thường lệ vì có ăn sáng với sếp của ông ta là Đại tá Henry Lee. Khoảng 8 giờ, thấy ông ta và Lee bước ra. Khi họ chuẩn bị lên xe thì xe của chúng tôi áp lại gần và tôi hô lớn: Đứng lại! Đây là giải phóng quân!

Henry Lee chạy mất nhưng chúng tôi đã bắt được Smolen, kéo lên xe của chúng tôi và chở đi.

Buộc phải thả

“Chúng tôi giữ ông ta ba ngày trong một căn hộ gần Đại lộ El Porvenir. Trên đường đi chúng tôi phải ngụy trang ông ta, cho đeo kính râm và đổi xe hơi ở Sabana Grande trước khi đến địa điểm cuối cùng.

Chúng tôi không tra tấn hay hành hạ gì ông ta. Chúng tôi cho ông ta ăn uống đầy đủ, chỉ khám người và có một nhóm canh gác ông ta. Chúng tôi nói với ông ta về cuộc chiến phi nghĩa của Hoa Kỳ ở Việt Nam, về các trận ném bom, về Nguyễn Văn Trỗi, tại sao chúng tôi lại thực hiện phi vụ này để đổi mạng ông ấy.

Phim 'Nguyễn Văn Trỗi' năm 1966Image copyrightXƯỞNG PHIM TRUYỆN HÀ NỘI
Image captionNguyễn Văn Trỗi đã đi vào nhiều tác phẩm nghệ thuật và tuyên truyền của miền Bắc

Sự kiện đã gây tiếng vang rất lớn, các báo đài đều nói về việc đại tá Mỹ bị bắt, dư luận rất nhiều. Thế nhưng có kẻ mật báo với cảnh sát về chúng tôi, chúng tôi bị truy lùng và buộc phải thả Smolen trước khi chúng tôi bị phát hiện. Chúng tôi chở ông ta bằng xe hơi và thả ông ta tại gần địa điểm mà chúng tôi bắt ông ta.”

Trong ba ngày, phe du kích Caracas không trực tiếp thương lượng được với chính phủ Hoa Kỳ về việc đổi mạng, nhưng thông tin về vụ bắt đại tá Michael Smolen, mà báo Mỹ nói là do “khủng bố Venezuela” thực hiện đã khiến việc tử hình Nguyễn Văn Trỗi tạm ngưng.

Đọc tin trên báo New York Times ngày 10/10/1964 ‘Khủng bố Venezuela bắt cóc đại tá Mỹ và đe dọa ông ta’

Tuy nhiên ngay sau khi du kích Venezuela, lúc đó còn hoạt động bí mật, buộc phải thả Smolen, chính quyền Sài Gòn đã mang Nguyễn Văn Trỗi ra pháp trường ngày 15/10/1964.

Năm đó biệt động viên này 19 tuổi và trước khi bị bắt mới lấy vợ được gần 20 ngày.

Sau đó hình tượng Nguyễn Văn Trỗi được sử dụng nhiều trong các tác phẩm nghệ thuật và tuyên truyền của miền Bắc.

Carlos Argenis Martínez Villalta nói: “Tôi rất buồn khi nghe tin Nguyễn Văn Trỗi bị tử hình, nhưng ông ấy không bao giờ chết. Ông ấy sống mãi. Người chiến đấu vì sự sống không bao giờ chết cả. Khi biết tin ông ấy vẫn bị xử tử, tôi rất đau đớn vì thực sự chúng tôi đã hy vọng là có thể thay đổi được tình hình.

Tất nhiên, nếu được làm lại tôi sẽ vẫn làm như vậy. Việc bắt cóc đại tá Mỹ là hành động đoàn kết với Việt Nam, với thế giới tiến bộ. Và để cứu mạng người muốn đặt bom giết McNamara. ”

Đăng bởi: Ngô Minh | 03.12.2016

TRANG THƠ NGƯỜI ĐẸP- THƠ BẠCH DIỆP

Bach DiệpNữ sĩ Bạch Diệp

TRANG THƠ NGƯỜI ĐẸP- THƠ BẠCH DIỆP  

QTXM: BẠCH DIỆP VẪN XINH ĐẸP NHƯ XƯA. THƠ VẪN HAY NHƯ XƯA NAY. THƠ CHỊ ĐÃ IN TRÊN CÁC  BÁO VÀ TẠP CHÍ : VĂN NGHỆ, NHÀ VĂN VÀ TÁC PHẨM, SÔNG HƯƠNG. QTXM XIN GIỚI THIỆU CHÙM THƠ MỚI NHẤT CỦA CHỊ

BẠCH DIỆP

Ở ĐÂY NÀNG KHÔNG CÔ ĐỘC

Nàng mang nỗi buồn từ xứ sở rét mướt
Phơi dưới nắng dã quỳ
Sau lưng là phố cũ mùa đông
Một mình giữa phòng chờ 
Một mình với chuyến bay xa lạ.

Những thiên thằn ca hát nơi thánh đường đá nâu
Thành phố như vòng tay ôm hoa
Những ngón tay ngọt ngào mùi quả chin 
Ở đây nàng không cô độc

Nàng hát thì thầm trong ngôi biệt thự cũ
Đọc một cuôn sách trong căn phòng tiểu thư con gái Chef ga
Ngắm mình trong chiêc gương của nàng
Nghe tiếng còi tàu trăm năm vọng về
Tím một nhành hoa thạch thảo

Ở đây nàng không cô độc
Đường lên dốc chợ bày đầy trái chín hoa tươi
Mùi đậu nành thơm ấm một góc đường
Những con dốc ngắn
Cho những ngôi nhà bên những hàng cây
Nương tựa.

Ngày đến đây nàng không còn khóc
Gió vén tóc ngọt ngào
Nắng dã quỳ dịu dàng trên vai
Như trẻ thơ êm trong giấc mơ ngàn hoa
Như người tình trong vòng ôm tin cậy

Một ngày có bốn múa
Xuân hạ thu đông cho ngày mai lại xuân
Nàng không một mình trên chuyến bay trở về
Mặt trời cao nguyên ấm bàn tay nhỏ (Đọc tiếp…)

Gò bồng đảo và lạch đào nguyên trong thơ Hồ Xuân Hương

 mai-van-hoanMai Văn Hoan

 

Trong thơ ca Việt Nam từ xưa đến nay có hai bức tranh phác hoạ vẻ đẹp thân thể của người phụ nữ được mọi người hết sức quan tâm. Chung quanh hai bức tranh này có rất nhiều lời bình phẩm, nhận xét, đánh giá khác nhau. Ở bài viết này, tôi muốn trao đổi thêm đôi điều về bức tranh Thiếu nữ ngủ ngày của Hồ Xuân Hương.

Khi đề cập đến bức tranh Thiếu nữ ngủ ngày, giáo sư Nguyễn Lộc có nhắc đến Nguyễn Du: Nguyễn Du tả cảnh Thuý Kiều tắm. Nhà thơ gọi cơ thể của Thuý Kiều là một toà thiên nhiên trong trắng ngọc ngà. Nhưng nhà thơ vẫn kiểu cách bày biện ra cái buổi tắm ấy “ Thang lan rủ bức trướng hồng tẩm hoa” chứ Hồ Xuân Hương thì không cần bày biện gì hết… (Hồ Xuân Hương. Tuyển thơ và bình – Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1986). Nguyễn Du nghiêng về vẻ đẹp hình thể, tổng quát. Thân thể của nàng Kiều “rõ ràng” mà không thật “rõ ràng” vì thiếu những “điểm nhấn”cần thiết. Ở bức tranh Thiếu nữ ngủ ngày, Hồ Xuân Hương đã bổ sung  thêm hai điểm nhấn hết sức quan trọng, càng tôn thêm vẻ đẹp tuyệt mỹ của thân thể người phụ nữ. Vì thiếu nữ “nằm chơi quá giấc nồng” giữa ban ngày ban mặt, lại vô ý để cho chiếc yếm đào “trễ xuống dưới nương long” nên mới lộ ra : Đôi gò Bồng Đảo sương còn ngậm / Một lạch Đào Nguyên suối chửa thông” ! Đúng là một vẻ đẹp thần tiên. Chỉ cảnh tiên mới có Bồng Đảo, mới có Đào Nguyên. Gò Bồng Đảo đã đẹp rồi “sương còn ngậm” lại càng đẹp hơn nữa. Lạch Đào Nguyên đã hấp hẫn rồi “suối chửa thông” lại càng hấp dẫn hơn. Tất cả hãy còn trinh nguyên! Cho dù nhà thơ vẫn sử dụng cách nói ẩn dụ nhưng cách nói ẩn dụ ở đây trực tiếp hơn, khác với cách nói ẩn dụ ở  các bài thơ Bánh trôi nước, Đèo Ba Dội, Hang Cắc Cớ… “Đôi gò Bồng Đảo” dẫu sao thì tôi cũng đã từng thấy đây đó ở các bức phù điêu, các bức tranh dân gian còn cái “lạch Đào Nguyên” trong thi ca và cả trong hội hoạ, điêu khắc trung đại Việt Nam thì quả thật tôi mới thấy lần đầu. Chỉ có Hồ Xuân Hương mới bạo dạn đặc tả cái “lạch Đào Nguyên” hết sức ấn tượng và tuyệt vời đến như vậy. Nhưng dù táo bạo đến mấy  thì Hồ Xuân Hương lẫn Nguyễn Du đều mang phong cách Á Đông. Người phụ nữ Phương Đông nói chung rất ít khi chủ động phô vẻ đẹp thân thể của mình cho mọi người nhìn ngắm. Dưới các triều đại phong kiến, điều đó càng ít xảy ra. Thuý Kiều tắm một mình, nàng đâu ngờ có chàng Thúc Sinh đang ngắm trộm. Thiếu nữ vì “ngủ chơi quá giấc nồng” nên  mới vô tình để lộ “đôi gò Bồng Đảo”, “một lạch Đào Nguyên”. Nàng đâu biết có chàng “quân tử” đang “dùng dằng đi chẳng dứt / Đi thì cũng dở ở không xong”. Vì Nguyễn Du để cho chàng Thúc đứng ở góc khuất nên ít ai chú ý, tội nhất là chàng quân tử trong Thiếu nữ ngủ ngày của Hồ Xuân Hương. Tôi không hiểu vì sao người đời cứ  chê bai, dè bỉu chàng. Có một số vị còn quả quyết rằng Hồ Xuân Hương đã “trói chàng vào đây để cho chàng ê mặt cả bên ngoài lẫn bên trong”. Tôi thì tôi không nghĩ như vậy. Quả tình nữ sĩ có cười chàng quân tử thật. Nhưng là cái cười đầy rộng lượng và thông cảm. Mấy ai may mắn có được cái cơ hội trời cho như vậy! Đôi gò Bồng Đảo và một lạch Đào Nguyên đẹp như thế, trinh nguyên như thế ai mà không muốn nhìn, muốn ngắm. Chàng quân tử đang rơi vào một tình thế hết sức khó xử: đi thì quá tiếc nhưng cứ đứng nhìn mãi thì sợ bị người ta phát hiện mình đang nhìn trộm. Vì thế nên chàng mới “dùng dằng”. Hồ Xuân Hương rất hiểu tâm trạng của chàng. Đứng trước đôi gò Bồng Đảo, một lạch Đào Nguyên đẹp như vậy, nguyên trinh như vậy mà không biết chiêm ngưỡng mới là sự lạ, mới là bệnh hoạn. Không chỉ chàng quân tử ở trong bài thơ này mà ngay cảì những bậc hiền nhân, quân tử, những bậc anh hùng, vua, chúa trong các bài thơ Vịnh cái quạt, Đèo Ba Dội tôi cũng không hề thấy Hồ Xuân Hương mỉa mai, chế diễu họ. Đó là nụ cười của một người đàn bà từng trải, quá thấu hiểu bản tính của giới mày râu. Những bậc”hiền nhân, quân tử” thời nay đứng trước vẻ đẹp của “Đèo Ba Dội” thì cũng thế thôi “mỏi gối, chồn chân vẫn muốn trèo”. Chỉ có những kẻ hách dịch, luôn làm ra vẻ đạo mạo mới đáng chế diễu : Ban ngày quan lớn như thần / Ban đêm quan lớn tần mần như ma. Tác giả (thơ Nguyễn Công Trứ được dân gian hóa) tỏ thái độ khinh miệt hết sức rõ ràng : ban ngày – ban đêm, như thần – như ma đối nhau chan chát. Động tác “tần mần” của các vị quan này đã nói lên tất cả. Mà đâu chỉ thời phong kiến, các vị quan như thế ở thời nào mà chẳng có. Hai cách nói với hai mục đích khác nhau. Cách nói của Hồ Xuân Hương trong các bài Thiếu nữ ngủ ngày, Vịnh cái quạt, Đèo Ba Dội là nhằm tôn vinh cái đẹp trời cho của người phụ nữ. Còn cách nói  trong bài “Ban ngày quan lớn…” là nhằm vạch trần bản chất dâm ô của những vị tai to mặt lớn cường hào, hách dịch. Lối phê bình áp đặt có một thời khá thịnh hành ở nước ta và đến nay không phải là đã chấm hết.

Mấy năm lại đây, trong xu thế đổi mới, hoà nhập một vài cây bút trẻ có những cách nói khá táo bạo, gây ra không ít lời khen, tiếng chê. Riêng tôi, tôi vẫn thích Hồ Xuân Hương. Mặc dù hơn hai thế kỷ đã trôi qua  nhưng gò Bồng Đảo và lạch Đào Nguyên của Hồ Xuân Hương vẫn còn làm bao chàng quân tử dùng dằng… đi thì cũng dở ở không xong !

M.V.H

Cần thích ứng với một xã hội đa dạng về tư tưởng và lối sống

Mạc Văn Trang

Chúng ta đang sống trong thời đại toàn cầu hóa, hội nhập với các nền văn hóa, các thể chế chính trị, các lối sống khác nhau của các dân tộc, quốc gia trên toàn thế giới. Điều đó đòi hỏi ta phải có hiểu biết rộng mở, có thái độ tôn trọng, thân thiện với những sự khác biệt, vừa học hỏi vừa giữ được cốt cách độc đáo riêng của mình. Hướng ra bên ngoài đã như vậy, thì bản thân trong lòng xã hội của chúng ta cũng phải thay đổi theo hướng đó.

Xã hội ta hiện nay đã rất đa dạng, phức tạp, nhiều khác biệt về hệ tư tưởng, niềm tin, thái độ chính trị, lối sống, chứa đựng nhiều mâu thuẫn. Hiện trạng này đang diễn biến ngày một gia tăng. Nếu xảy ra những biến cố xã hội, những mâu thuẫn tiềm ẩn có thể sẽ bùng phát thành những xung đột xã hội nguy hiểm. Để phòng ngừa tình trạng đó, CHÍNH QUYỀN VÀ MỖI NGƯỜI DÂN đều cần thích ứng ngày càng cao hơn, ứng xử phù hợp với sự đa dạng, khác biệt, phức tạp về nhiều mặt của các tổ chức và cá nhân trong xã hội, nhằm hướng đến sự đồng thuận vì lợi ích chung của đất nước, của toàn dân.

1. Tôi thấy Chính quyền đã và đang thích ứng…

Về đối ngoại, chính quyền đã thích ứng rất linh hoạt với những đối tác có các thể chế, quan điểm… rất khác nhau để tìm một điểm chung nào đó, chẳng hạn:

– Đối với cựu thù “đế quốc mỹ xâm lược”, chính quyền cũng tay bắt mặt mừng, nâng lên hàng hợp tác toàn diện. TBT Nguyễn Phú Trọng sang Mỹ, hội đàm cùng TT Obama chia sẻ những điều quốc gia đại sự; Thường trực Ban bí thư Đảng CSVN Đinh Thế Huynh hội đàm cùng Ngoại trưởng Mỹ, ông này từng nói “Ở Việt Nam không thấy dấu vết của chủ nghĩa cộng sản, chỉ thấy chủ nghĩa tư bản cuồng nhiệt”… Ông Huynh chả cãi, vẫn tươi cười, bắt tay thân thiện…

– Đối với ông bạn Trung Hoa, dù chiếm Hoàng Sa, Gạc Ma của ta, gây hấn ở biển Đông, lòng dân oán hận, nhưng chính quyền vẫn hợp tác chiến lược toàn diện; TT Nguyễn Tân Dũng có lúc tuyên bố “Không đánh đổi chủ quyền lấy tình hữu nghị viển vông”, nhưng rồi gặp nhau lại ôm hôn, vỗ lưng nhau “bộp bộp”…

– Ông bạn Campuchia, thỉnh thoảng lai về hùa với Trung cộng, “chọc sườn” Việt Nam một cái, nhưng họ với ta gặp nhau vẫn ôm hôn thắm thiết, luôn thề thốt, sống chết có nhau, không quên ơn cứu khỏi họa diệt chủng…

– Còn với các doanh nhân đến từ khắp mọi nơi trên thế giới, mang theo hệ tư tưởng, quan điểm chính trị, niềm tin, động cơ, lối sống khác nhau, chính quyền đều “rải thảm đỏ” đón mời, thậm chí còn ưu ái quá mức, như đối với tập đoàn Formosa Đài Loan. Trong số họ có nhiều người ghét cộng sản, cười khẩy cái CNXH, “nói xấu” chính quyền dốt nát, nhiễu nhương, tham nhũng… nhưng họ vẫn được đối đãi như khách quý…

Vậy mà với đồng chí, anh em, bà con ta ở trong nước, khi không tin vào hệ tư tưởng Mac- Lê, không tin có CNXH, không thích cộng sản, phê phán chính quyền tham nhũng, thì bị ghét bỏ, thậm chí bị khủng bố, bị tù đầy, là sao? Người xưa dạy: “Khôn ngoan đối đáp người ngoài, gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”, sao chính quyền làm ngược lại? Bực thì nói vậy, nhưng nghĩ lại, chính quyền cũng đang có những chuyển biến về đối nội, thích ứng dần với xu thế xã hội, ví dụ như:

– Thử hỏi còn mấy đảng viên, quan chức có niềm tin vô thần cộng sản? Họ công đức xây đình, chùa, đền, miếu, cầu cúng thánh thần rất nhiệt tâm; họ xem tướng số, phong thủy, ngày tốt, giờ đẹp… công khai; họ có tin gì chủ nghĩa xã hội đâu, họ thi đua làm giàu bằng kinh tế tư nhân cá thể; họ chỉ muốn gửi con đi du học ở các nước tư bản, không phải học chủ nghĩa Mac – Lê, CNXH khoa học, đường lối chính sách của Đảng; học toàn hệ tư tưởng tư sản, về nước vẫn trọng dụng cơ cấu vào các cấp chính quyền. Như thế là chính quyền chấp nhận sự khác biệt đa nguyên về hệ tư tưởng, quan điểm, niềm tin… ngay trong bộ máy của mình, chứ còn gì nữa.

– Nhiều nhân sĩ trí thức ký tên gửi kiến nghị lên lãnh đạo cấp cao và công bố rộng rãi, rằng cần phải đổi mới thể chế chính trị, tránh độc quyền lãnh đạo, vì “quyền lực tuyệt đối, dẫn đến tha hóa tuyệt đối”; phải tam quyền phân lập, phải phát triển xã hội dân sự… chính quyền cũng tiếp nhận, tuy chưa làm theo, nhưng cũng không phản ứng tiêu cực…

– Hiện nay các tổ chức phi chính phủ (NGO) cũng khá phát triển; rồi đã có hàng chục hội, đoàn hoạt động độc lập có tính xã hội dân sự, chính quyền vẫn để yên, tuy Luật về Hội chưa được Quốc hội thông qua…

– Các trang mạng xã hội đăng nhiều tin bài phản biện mạnh mẽ, thậm chí có bài quá đáng, nhưng chính quyền cũng để yên. Nhớ cách đây hơn một năm, có cô giáo viết bình luận trên FB “ghét cái mặt kênh kiệu của chủ tịch tỉnh”, ông này đã lệnh cho “toàn hệ thống chính trị địa phương quyết liệt vào cuộc”, làm to chuyện: kiểm điểm cô giáo và những người like lời bình luận đó, còn phạt mỗi người 5 triệu đồng, ra chỉ thị răn đe… Nhưng Chính phủ đã yêu cầu dẹp ngay vụ đó, Chủ tịch tỉnh phải xin lỗi cô giáo… Chính quyền cũng phạt những trạng mạng đăng tin thất thiệt gây hại cho tổ chức hay cá nhân, như vụ đăng nước mắm truyền thống có chất gây ung thư… Dù sao, mạng xã hội ở ta đã và đang phát triển mạnh. Nhiều quan chức cũng có trang cá nhân trên mạng xã hội. Dư luận xã hội trên mạng đang là một kênh thông tin được chính quyền quan tâm cả mặt tích cực, lẫn tiêu cực. Đó là xu hướng tốt.

– Gần đây nhiều cuộc biểu tình đã được chính quyền đối xử ôn hòa hơn, các lực lượng chức năng không dùng bạo lực đàn áp, thì người biểu tình cũng biểu thị ôn hòa. Đây là điều hết sức quan trọng, chính quyền, nhất là các lực lượng an ninh càng cần thích ứng cao, để ứng xử ôn hòa với người biểu tình, tránh gây bạo lực để rồi kích động bạo lực tràn lan. Xu thế chuyển động của xã hội càng cho thấy Luật biểu tình ra đời lúc này rất cần thiết. Cả chính quyền và người dân đều phải tập luyện ứng xử với hành vi xã hội từ thấp lên cao, để thích ứng với các tình huống xã hội phức tạp, gay cấn, tránh xảy ra xung đột đáng tiếc.

Tóm lại, nhìn khái quát, thấy chính quyền đã và đang có chuyển biến để thích ứng với sự đa dạng, khác biệt, phức tạp về hệ tư tưởng, thái độ chính trị, niềm tin, lối sống của một xã hội đang phát triển năng động…

2. Mỗi cá nhân càng cần tự thay đổi để thích ứng…

Người ta nói, nhiều người “bảo hoàng hơn nhà vua” quả không sai. Chẳng hạn một số ông già viết bài phê phán, phản biện, gửi cho chính quyền, chính quyền vui vẻ tiếp nhận. Nhưng trong dân chúng lại có người chửi bới “mấy thằng già phản động”! Chỉ cần lướt qua các bình luận trên FB sẽ thấy ngay dân ta nhiều người vẫn đầu óc cứng nhắc, chứa đầy những định kiến nặng nề từ mấy mươi năm nay!

– Nhiều người vẫn còn tư duy “TA và ĐỊCH”, hễ ai khác “Ta”, ngược với “Ta” là “Địch” là “phản động”, quyết đấu tranh, lên án, loại bỏ… Đối với kẻ “phản động” thì phải “căm thù” đấu tố, bới móc, mạt sát như thời đấu địa chủ, đấu Nhân văn giai phẩm với thái độ hằn học, lời lẽ, hành vi thô lỗ… Họ chỉ biết mạt sát, chẳng đưa ra được lý lẽ gì để tranh biện một cách khách quan, trung thực, ôn hòa, tìm điểm tương đồng…

– Ngược lại, nhiều người trọng lòng vẫn chứa chất hận thù cộng sản, chưa thoát được lòng sân hận rất sâu xa, nên bất cứ cái gì liên quan đến cộng sản, bất chấp đúng, sai, phải trái là nguyền rủa, là sổ toẹt, bất hợp tác… Đây là bi kịch lớn của dân tộc ta. Nếu chúng ta không vượt qua được lòng sân hận, khép lại quá khứ, để đoàn kết, hợp tác, thì dân tộc ta cứ hận thù, chia rẽ mãi sao? Tôi đã thấy ở bên Đức, những người Việt biểu tình mang cờ đỏ sao vàng và cờ vàng ba sọc đỏ cùng hợp lại, hô vang khẩu hiệu chống Trung Cộng gây hấn ở Biển Đông… Đó là tín hiệu tốt đẹp. Vừa qua anh “Hùng Cửu Long” làm một thử nghiệm mạo hiểm và thú vị, anh mặc áo dài đỏ có ngôi sao vàng trước ngực xuất hiện tại Little Saigon bên Mỹ, nhiều bà con vốn là thuyền nhân tị nạn tại đây, đã phản ứng dữ dội, nhưng chưa đến nỗi bạo lực; cảnh sát Mỹ luôn bảo vệ an toàn cho anh. Anh muốn kêu gọi sự hòa hợp dân tộc và đây là một phép thử phản ứng thú vị. Để chấp nhận sự khác biệt, hòa hợp dân tộc, đòi hỏi một quá trình thay đổi nhận thức, thái độ, xóa bỏ định kiến, thoát khỏi lòng sân hận từ tất cả các bên, có khi phải qua một thế hệ; khi đó mọi người mở rộng lòng bao dung, vì tình yêu đất nước, ứng xử với nhau hòa hợp, thân thiện, văn minh…

– Còn nhiều người khác lại quen áp đặt chủ quan, chê bai, bài xích tất cả những ai khác với suy nghĩ, tình cảm của mình, nhiều khi khá thô bạo. Điều đó cũng rất bất lợi cho xu thế phát triển một xã hội dân chủ, tôn trọng quyền tự do biểu đạt suy nghĩ, tình cảm, thái độ, niềm tin, lối sống khác nhau, đa dạng, phức tạp trong một xã hội dân sự. Chẳng hạn như, một số bạn mắng mỏ những người xếp hàng vào sứ quan Cu Ba viếng Fidel Castro là “lũ ngu lâu”, là “bầy cừu”! Như vậy là xúc phạm đến quan điểm, tình cảm của họ. Bạn không thích, thậm chí rất ghét Fidel, nhưng không được gây thù nghịch với họ như vậy. Họ từng học tại Cu Ba, từng yêu quý Cu Ba và Fidel… đó là quyền bầy tỏ tư tưởng, tình cảm của con người, cần được tôn trọng.

Có bạn đi du lịch Hàn Quốc về, viết bài so sánh Việt Nam – Hàn Quốc mấy chục năm trước phát triển ngang nhau, nay Hàn Quốc như thiên đường…, bạn khác liền bình luận: “Cút mẹ mày sang thiên đường mà ở, ở đây làm gì”! Sao có thể thô lỗ như vậy. Đất nước này là của mọi người dân Việt do Tổ tiên tất cả chúng ta ngàn đời xây đắp nên, để lại cho các thế hệ con cháu, bạn có quyền gì mà đuổi người khác đi?

Khi GS Ngô Bảo Châu viết một câu cũng chẳng xúc phạm gì Cụ Hồ, thế mà mấy người xúm vào chửi té tát, bảo nhờ có Đảng, chế độ tạo điều kiện cho ăn học, nay “ăn cháo đá bát” (?). Ô, thế ở những nước không có đảng, chế độ này, người ta không thành tài sao? Mà nếu có “ăn” thì cũng là ăn vào tiền thuế của dân, chứ đảng có làm ra đồng nào? Bản thân đảng, chính phủ cũng đều ăn vào dân cả. Nếu có điều gì đó cần trao đổi, thì thiếu gì cách diễn đạt, sao chỉ quen đấu tố, thóa mạ nhau!

Ngay bài tôi viết “Xem Trump “cơ cấu” nhân sự”, vừa đưa lên FB, có trích một câu của ông Trương Tấn Sang …, một bác bình luận: “Không phải người Mỹ đừng viết về Trump; không phải ruột rà của ông Trương Tấn Sang, đừng có trích câu ông ấy nói”… (?).

Những cách ứng xử như vậy là trở ngại lớn cho sự đồng thuận, đoàn kết dân tộc theo xu hướng chấp nhận sự đa dạng, khác biệt, ngày càng phức tạp hơn về hệ tư tưởng, niềm tin, thái độ chính trị, quan điểm, lối sống của mỗi người, mỗi nhóm người trong xã hội. Vì vậy mỗi người chúng ta đều cần tự thay đổi để thích ứng một cách tích cực với xu thế đó. Ngày nay mạng xã hội chính là một trường học lớn để chúng ta tự học, tự thay đổi, nâng mình lên thích ứng với trào lưu tiến bộ của nhân loại. Dân giác ngộ đến đâu, chính quyền sẽ buộc phải thay đổi đến đấy!

Ngày 1/12/2016

MVT

Nguồn: FB Mạc Văn Trang

HOÀNG NGỌC HIẾN- TRIẾT HỌC ẨN DẬT TRONG VĂN HỌC

chu-van-son
CHU VĂN SƠN
 Tôi đọc ông sớm, biết ông cũng sớm. Nhưng phải đến lần cùng vào phương Nam trong mấy chuyến lưu giảng cho giáo viên đồng bằng sông Cửu Long các kì hè đầu những năm 2000, tôi mới có dịp được trò chuyện sâu cùng ông.

Nhà văn, nhà phê bình Hoàng Ngọc Hiến (nguồn Internet)

Đoàn chúng tôi gồm những nhà văn, nhà lý luận và giảng viên đại học, phần lớn vào từ Hà Nội. Tôi nhớ những ngày ở khách sạn Chương Dương Mỹ Tho, cứ dạy về, đoàn lại tản thành từng nhóm nhỏ, vừa tản bộ trong hoa viên trước sảnh, vừa nói đủ thứ chuyện trên giời dưới biển. Một chiều, khi chỉ còn hai chúng tôi, chuyện vãn thành tâm tình, tôi mới nói nhận xét của mình. Đại ý rằng tôi đã đọc ông hồi còn là học trò chuyên văn, từ cái Triết lý Truyện Kiều, có khi đó là cái đầu tay của ông cũng nên. Và sau đó, bất cứ cái gì ông viết tôi đều đọc hết. Rằng hồi ông còn dạy ở Nguyễn Du, tôi cũng đến nghe ké rất nhiều. Rằng tôi đã cố hết sức để định danh cho mình Hoàng Ngọc Hiến là ai. Rằng tôi thấy các danh xưng quen thuộc mà người ta vẫn dùng gọi ông: nhà lí luận văn học, nhà phê bình văn học, nhà nghiên cứu văn học… đều không hợp, không ra. Riêng tôi, tôi thấy dù văn học là điểm nhấn, nhưng hoạt động của ông chả bó riêng gì trong văn học, mà ra nhiều lĩnh vực khác nhau của văn hoá, và tôi luôn thấy cảm hứng bao trùm mọi cái viết của ông là triết học. Cái tạng ấy dường như đã được phát lộ ngay từ cái đầu tay đó. Vì thế phải gọi ông là nhà triết luận mới đúng, mới đủ, chứ các danh xưng kiểu kia chả đâu vào đâu. Ông gật gù và chỉ nói “có lẽ thế”. Khi ấy tôi nghĩ: vẻ tán thưởng này chỉ là giao đãi để làm hài lòng người trò chuyện, chứ ông chả để tâm, chắc sẽ quên ngay thôi. Nào ngờ, mấy tuần sau, khi ra Hà Nội rồi, một hôm ông gọi điện rủ tôi ra chơi. Cách tiếp trịnh trọng khiến tôi ngỡ ngàng. Ông bảo: sau khi cậu nói, mình mới xem xét toàn bộ những gì mình viết và thấy cậu rất có lí, cậu đã giúp mình hiểu rõ mình hơn. Tôi quá bất ngờ. Làm sao ngờ được nhận xét của mình lại được một người như ông lưu tâm đến thế. Rồi ông rủ luôn đi ăn cháo vịt Vân Đình. Phải nói là tôi sướng rơn, cả hãnh diện nữa. Nhất là, chỉ ít lâu sau, ông cho xuất bản một cuốn sách, mà những khái niệm tôi trao đổi cùng ông đã được đặt làm nhan đề: Triết lí văn hoá và triết luận văn chương. Kể từ bấy, viết bài gì ông cũng chuyển cho tôi qua đường mail, in cuốn nào ông cũng dành cho tôi. Và tôi vẫn đọc ông chăm chỉ bằng tâm thế một học trò như thế. Sau cái lần làm xong Tuyển tập Nguyễn Đăng Mạnh, tôi tỏ ý muốn làm Tuyển tập Hoàng Ngọc Hiến. Thế là ông liền cung cấp cho tôi tất cả những tài liệu tôi cần. Đến nay, công việc đã hòm hòm, dù chưa xong hẳn.

 

Người khởi đầu giới nghiên cứu Minh triết Việt

Tìm hiểu một tác giả nào đó, người ta thường ngược về quá khứ để tìm những mầm mống dự báo thiên hướng và tương lai của tác giả, đặng lí giải sự nghiệp ông ta. Khỏi phải nói là tôi cũng tuân theo lề lối ấy. Tôi tin hôm nay ông trở thành người khởi xướng và đứng đầu giới nghiên cứu Minh triết Việt là một tất yếu. Cái xu hướng này dường như đã nằm sẵn đâu đó trong tố chất của ông. Tôi đã được nghe kể về bệnh ham lí giải của cậu học trò Hiến. Gặp cái gì cũng muốn giải thích ngay, giải thích bằng được, dù chả phải lúc nào cũng thuyết phục, cứ lí giải cốt để tư duy được khởi động, vận hành. Mà lí sự thì rặt bằng những phạm trù nọ, phạm trù kia, do vận dụng nhanh cũng có, do vừa lóe ra cũng có. Tôi cũng được biết thuở còn học trung học phổ thông, cuốn sách mà cậu học trò này ôm cả vào trong giấc mộng chính là cuốn triết của trường dòng, mà trong đó triết học còn bao gồm cả mỹ học, lô gíc, đạo đức chứ chưa phân hoá chuyên ra như bây giờ. Và tất nhiên, cậu cũng chưa ý thức đầy đủ đó là triết. Tôi cũng biết sau này khi theo học đại học, không phải ngẫu nhiên mà trong các giáo sư thời bấy giờ, ông phục Trần Đức Thảo và Cao Xuân Huy hơn cả, dù có lúc chưa phải lắm với họ. Tư duy triết học của các bậc thầy này đã mê hoặc ông cũng như ảnh hưởng đến thiên hướng tư duy của ông không ít. Tiếc rằng, thời ấy, tư duy triết học ở ta không được khuyến khích lắm. Nếu khác đi, con đường học thuật của ông hẳn đã khác nhiều…

Nhưng, xem ra, cái mầm sau này mọc thành cây, chính là nếp nghĩ theo triết học, sống theo khoa học kiểu riêng của ông. Tôi rất ấn tượng về câu chuyện của ông Lâm, một bác sĩ kì cựu, từng được học Hoàng Ngọc Hiến những ngày tò te làm cậu giáo giữa đám trò quê. Chuyện rất vui. Thuở ấy tụi họ tuổi đều sêm sêm, cả học lẫn chơi đều chung chạ tất. Có lần cùng nhau tắm truồng, đang tồng ngồng từ dưới sông lên, thì gặp một toán phụ nữ. Đám học trò đứa nào đứa nấy cứ cuống cuồng lấy tay che phần dưới, dúi dụi vào nhau, bước không nổi. Chỉ riêng cậu giáo Hiến thì úp hai bàn tay che mặt và bước rất thản nhiên. Cả bọn ngơ ngác. Hỏi, thì cậu giáo trẻ bảo: cái dưới thì ai chả giống ai, nhìn nó làm sao nhận ra đứa nào, chỉ có cái mặt mới khác nhau thôi, có bị lộ mặt thì mới lộ mình… Ra thế, cả bọn lại ồ lên, ngớ ra. Cái pha ngộ nghĩnh thời cận thành niên ấy mách bảo tôi một điều nghiêm túc: biết đâu từ cái triết lí “truổng cời” đó Hoàng Ngọc Hiến đã là nhà minh triết rồi.

Ai đã tiếp xúc với ông chắc sẽ ấn tượng ngay về một thói quen kì kì. Đó là giới thiệu những trải nghiệm về sức khoẻ và thuốc thang của mình một cách rất khoa học và… li kì. Thường những cuộc như thế đều y như một bài thuyết trình công phu và tâm huyết. Tôi đã được biết về tính năng nhiều thứ thuốc từ ông. Cái lần ông quảng bá cho hoạt huyết dưỡng não là thế. Ông kể rất đinh ninh: có một dược sĩ cao cấp của ta nổi tiếng về các công trình nghiên cứu nhân sâm đã được hội những người nghiên cứu nhân sâm quốc tế mời tham gia một dự án lớn. Họ đã đem tất cả những loại sâm thượng thặng như nhân sâm Trung Quốc, Triều Tiên, nhân sâm Xibêri… đến để nghiên cứu. Còn nhà dược sĩ ta thì đem theo củ đinh lăng. Họ cùng nhau làm một thí nghiệm, đó là cho chuột bạch ăn, mỗi con ăn một thứ trong cùng một khoảng thời gian. Đến kì hạn, họ quẳng tất lũ chuột xuống bể nước và quan sát. Kết quả là: tất cả những con ăn các loại sâm khác cứ dần dần theo nhau chìm hết. Duy có một con vẫn chống chọi cầm cự, hàng tiếng đồng hồ sau nữa mới chịu chìm. Cậu biết con nào không, thật bất ngờ, đó là con ăn đinh lăng. Rồi hăng hái: hiện nay, đinh lăng là một bí mật, một dược liệu chiến lược của ta. Hoạt huyết dưỡng não được chế từ đinh lăng theo một công thức bí truyền. Vô cùng hiệu quả. Cậu nên dùng, nên dùng. Còn ông thì nghiện hẳn rồi. Tôi chắc, nếu chỉ đọc nhãn thuốc không thôi, ông chả mê thế đâu, dù nó hay ho đi nữa. Ông bị cám dỗ chỉ bởi cái thí nghiệm rất chi là khoa học kia thôi. Phần mình, tất nhiên là tôi bị đánh gục và bắt đầu xài luôn từ trưa hôm ấy.

Thế mà có lần, đang ở khách sạn Sóc Trăng, ông gọi lễ tân mang cho một chai nước. Cô phục vụ mang lên thì thấy một ông già trên giường, đầu cắm xuống gối, chân chổng ngược lên trần nhà, mặt đỏ gay, tay lẩy bẩy chống đỡ thân mình, cặp giò lúc nghiêng phải, lúc ngoẹo trái, cứ chực đổ. Cô ta hoảng quá, chẳng hiểu ra làm sao. Còn ông, cứ nguyên tư thế ấy mà ra hiệu đặt nước lên kệ, ra hiệu cám ơn, ra hiệu tạm biệt. Mặt rất căng thẳng. Té ra, ông trồng cây chuối. Một bài tập cho máu dốc lên não. Ô hay, đã có hoạt huyết rồi mà. Bài tập dồn huyết này muốn phủ định bài thuốc hoạt huyết kia chăng? Đâu có. Cái này đâu phủ định cái kia. Quan hệ của chúng là cộng sinh. Nhà triết luận của chúng ta hoàn toàn tin thế.

Người ta vẫn kháo rằng đằng sau người đàn ông thành công bao giờ cũng có bóng dáng một người phụ nữ. Tôi cũng nghĩ thế. Và tin rằng: Hoàng Ngọc Hiến đi vào triết, chắc chắn là nhờ cả công… vợ. Bà Tố Nga là một phụ nữ thật đặc biệt. Bà có cái thú rất nổi tiếng là “nói xấu chồng”. Hễ có khách đến, bà thường ra tiếp trước. Và, trong lúc đợi ông xuống, thể nào bà cũng tố với khách đủ cái “ngu dại” của chồng, chì chiết say sưa, giọng thì đầy hứng khởi, lời lẽ thì đến là đáo để, gai góc. Thế nhưng, ai lại dại mồm vào hùa với bà để kể xấu ông thật, thì bà tống ra cửa ngay lập tức. Lần sau thì đừng có mà vác mặt đến. Thì ra, “tố Hiến” là một cái thú lạ, là tiết mục độc quyền của “tố Nga”. Ấy là cách yêu chồng độc nhất vô nhị của bà. Người hiểu thì thấy rất thú vị, và chả dại gì mà chêm vào hay xía vào. Vì thế, lần nào đến chơi, nghe chuyện bà, tôi cũng thầm nhớ đến cái câu chuyện cổ Hy Lạp ấy. Chuyện một cậu học trò định lấy vợ đã đến xin thầy mình là nhà hiền triết một lời khuyên. Nhà hiền triết đã khuyên rằng: con cứ kết hôn đi, đằng nào thì con cũng được, nếu được vợ hiền, con sẽ là người hạnh phúc; còn gặp phải vợ dữ thì con sẽ thành… một nhà triết học!

 

Triết lý sống độc đáo của một triết nhân

Một người có “máu” triết học thì tất phải có một thái độ triết học trong đời sống. Thiếu điều này, triết nhân sẽ chỉ là một thường nhân thôi. Là một học giả có cỡ được không ít nơi trên thế giới biết đến, nhưng đến nay nhiều người vẫn cứ băn khoăn vì sao ông Hiến không có những học hàm như Giáo sư, danh vị như Nhà giáo nhân dân giống bao nhiêu vị khác. Ông chỉ có một hàm vị duy nhất là Tiến sĩ. Thực ra là Phó tiến sĩ. Bảo vệ ở Nga hồi còn Liên Xô. Mà thấy ông chả có vẻ sốt ruột hay bất mãn gì. Lúc nào ông cũng thản nhiên. Dù quanh ông, người ta cứ nhao lên,  nhộn nhạo lên với những danh này vị nọ. Lạ. Giữa cái thời chủ nghĩa duy lợi lên ngôi, thói cầu danh áp đảo thế này, sống được thế, tất ông phải có một quan niệm, một triết lí sống độc đáo nào đó ? Đoán vậy, có lần tôi đã hỏi. Thì ông cũng chả giấu diếm gì: điều mình tâm đắc và lấy làm phương châm sống suốt đời là ý tưởng ở câu cuối cùng trong Đạo đức kinh của Lão Tử: Thánh nhân chi đạo vi nhi bất tranh. Đạo của thánh nhân là làm mà không tranh giành với ai. Ngẫm ra, tôi thấy ông đã sống trong đời đúng như vậy, không riêng gì thái độ đối với danh vị.

Nhưng quả là cuộc đời này vẫn có những công bằng riêng của nó. Nó vẫn luôn biết ai là ai. Lần vị hiệu trưởng trường Nguyễn Du là Huỳnh Khái Vinh được phong học hàm giáo sư đã diễn ra một việc thú vị. Đám học viên Nguyễn Du hồi ấy toàn những cây bút, những nhà văn đã thành danh cả. Họ đã chuẩn bị sẵn hai bó hoa để chúc mừng. Khi lễ mừng tặng diễn ra, họ đã mời cả Huỳnh Khái Vinh và Hoàng Ngọc Hiến cùng lên sân khấu. Người đại diện tặng hoa cho thầy Vinh trước với lời chúc mừng “Đây là vị giáo sư do nhà nước phong”. Rồi quay sang tặng hoa và ôm hôn thầy Hiến thật hoan hỉ : “Đây là vị giáo sư do nhân dân phong”. Cả hội trường vỗ tay ầm ĩ. Thầy Vinh ôm hôn thầy Hiến đầy phấn khích. Còn thầy Hiến sau một phút ngỡ ngàng, vẻ vẫn rất thản nhiên. Lạ hơn, bây giờ trên các phương tiện truyền thông đại chúng, mỗi khi giới thiệu ông, bao giờ người ta cũng cứ kèm danh vị giáo sư. Công chúng chẳng ai ngạc nhiên. Còn ông thì vẫn thản nhiên.

Tôi cứ ngỡ ông là người thờ ơ, hoàn toàn không để ý gì đến những chuyện ồn ào vặt. Nhưng không hẳn. Một lần đang trò chuyện vui vẻ, mặt ông bỗng đỏ gay, lời lẽ hết sức bức xúc, chỉ vì nhớ ra hôm qua xem ti vi, bắt gặp Nguyễn Đình Thi trên hình. Tôi chắc, trong cảnh đó, Nguyễn Đình Thi đã nói một điều gì đó đại loại như cao giọng quá đà trước anh em hay hạ giọng quá mức trước bề trên chăng. Nghe ông kể, thì không phải. Té ra, chỉ bởi Nguyễn Đình Thi đã đi đi lại lại bên hồ Gươm, rồi làm bộ làm tịch đang suy tư xa xăm cho camera ghi hình, thế thôi. Vậy mà, ông thất vọng không thể chịu nổi: vì sao một người như Nguyễn Đình Thi mà lại đi diễn trò, một thứ trò vớ vẩn như thế. Tôi còn nhớ, không kiềm được phản ứng của mình, ông đã văng tục ra nữa. Cứ như vừa bị mất một cái gì rất lớn. Thoạt tiên, tôi rất buồn cười, vì thấy phản ứng của ông có vẻ thái quá. Trò diễn ấy cho qua được mà. Ngẫm lại, thì hiểu ông hơn. Là người chân thật đến … kì cục, ông ghét cay ghét đắng thói diễn. Bậc cao nhân lại càng không nên diễn. Thì ra, ông luôn có một nguyên tắc sống, một quan niệm về giá trị sống nào đó, chứ đâu phải ơ hờ.

 

Khi hình dung về một triết gia, ta có cái thói đòi hỏi người ấy phải là tác giả của một triết thuyết nào đấy; nếu không sản sinh được một hệ thống triết học nào, thì khó mà được thừa nhận là nhà triết học. Điều này xem chừng có thể trở thành một đòi hỏi vô lối ở thời đại chúng ta. Hãy nghe Foukault – một triết gia lớn của thế kỉ XX – nói:  “Thời đại chúng ta chẳng thể sinh ra được một hệ thống triết học lớn nào cả” và chỉ nhất nhất hiểu theo cái nghĩa xa xưa của nó, thì xem chừng “triết học đã “chết” rồi”. Nhận xét của đại gia này khiến chúng ta phải xem lại cách hiểu về triết học và triết gia đương đại. Hình như, không phải lúc nào triết thuyết cũng hiện diện như một hệ thống kinh viện, không phải lúc nào nó cũng tồn tại lộ thiên. Và không phải cứ nói thẳng chuyện triết học và say sưa xây dựng các triết thuyết thì mới là triết gia thì phải.

Trong một lần sang hội thảo về triết học tại Hà Nội, Francoi Jullien có đưa ra một nhận xét rất tinh: ở Việt Nam, triết học lẩn vào văn học. Không hẳn là nhận định về tình trạng sơ khai của triết ở ta, mà có lẽ là về cách tồn tại đặc biệt (cũng là thân phận ?) của triết Việt. Điều này trước hết ứng với Hoàng Ngọc Hiến, nếu như không muốn nói rằng nó được rút ra từ chính ông.

Sự khốn đốn của một số triết gia là bậc thầy gần gũi hồi Nhân văn Giai phẩm và Xét lại đã khiến cho nhiều người ham mê triết học đã chùn bước. Trong khi tuyên truyền Mác Lê thành chuyên nghiệp và hùng hậu, thì tư duy triết học lại thưa thớt và nghiệp dư. Không ít mầm non triết học đã phải âm thầm nảy nở trong bóng đêm, thành một thứ triết học du kích, hoặc rẽ sang hướng khác, hoặc bứng trồng vào mảnh đất khác (ví như Trần Đình Hượu bỏ triết học sang nghiên cứu văn chương). Hoàng Ngọc Hiến cũng thế chăng? Nhưng, nếu hoàn cảnh hoàn toàn thuận lợi thì Hoàng Ngọc Hiến có thể trở thành một triết gia không nhỉ? Hình như cái tạng của ông cũng không phải là một triết gia thuần túy. Có lẽ ông thuộc “tạng hai trong một” – tạng “văn triết bất phân”. Nghĩa là một nhà nghiên cứu văn học, văn hoá trên tinh thần triết học, hoặc một nhà triết luận suốt đời bấn bíu với văn hóa, văn học. Điều này ở ông khiến triết lẩn vào văn vừa như một thân phận vừa như một định mệnh.

Tuy nhiên chính điều này đã làm nên đặc sắc Hoàng Ngọc Hiến. Ông sẽ đi vào các lĩnh vực văn hoá với cảm hứng triết học, sẽ nhìn nhận các vấn đề từ văn học đến văn hoá bằng con mắt triết nhân, ông sẽ đem những công cụ của tư duy triết học để tường giải những vấn đề của văn hoá, văn học. Đây chính là nét khác biệt của học thuật Hoàng Ngọc Hiến so với nhiều hiện tượng khác cùng thời. Có thể nói triết luận Hoàng Ngọc Hiến là một dạng triết học lui về ở ẩn trong văn học.

Đắc đạo sau những cuộc chơi triết học

Ai biết Hoàng Ngọc Hiến đều thấy ông say mê các triết thuyết và đã miệt mài suốt đời mình với triết Tây, triết Đông. Ông đã đọc và khảo hầu khắp các triết gia cổ kim đông tây. Mà đâu chỉ có triết theo nghĩa hẹp, ông còn đam mê triết theo nghĩa rộng nhất. Tức là say mê cả đạo đức học, tâm lí học, mỹ học nữa. Ông dịch “Đạo đức học” của Banzelatde, ông giảng “Phân tâm học” của Freud, ông nói về “các phạm trù mỹ học của Đông Á cổ”, ông dịch “Những phạm trù văn hóa trung cổ” của Gurêvich… Một thời ông rất say mê Mác. Từ năm 1949, ông đã trở thành hội viên trẻ của hội những người nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở khu IV mà đứng đầu là Nguyễn Chí Thanh rồi. Có lẽ người được ông trích nhiều hơn cả trong các công trình của mình là Mác. Mác thực sự đã để lại dấu ấn sâu đậm trong nhỡn quan của ông cho đến mãi sau này. Cái hồi ông viết bài “Phải đạo”, nhiều người không hiểu lòng ông đã qui kết ông là phi Mácxit. Nhưng chính trong cái buổi hội thảo nghiêng hẳn về qui kết ấy, sau một hồi lắng nghe ý kiến của ông và những người phản bác ông, chính Lê Đức Thọ đã tỏ ra rất tỉnh đời khi kết luận: “Anh Hiến là người Mácxit”. Và nhờ kết luận này mà các ý kiến công kích hăng tiết đã… ngãng dần ra.

Hoàng Ngọc Hiến rất tâm đắc với nhận xét này của Robert N. Bellah về một sử gia, đồng thời là chính trị gia và là nhà xã hội học người Pháp Alexis de Tocqueville (1805 -1859): Khoa học xã hội của Tocqueville là một loại triết học vị công (public philosophy). Nghĩa là nó quan tâm đến công ích, và coi trọng công luận khi nêu ra những vấn đề khoa học của mình. Có thể nói, triết luận của Hoàng Ngọc Hiến cũng là thứ triết học vị công như thế. Ai đã đọc ông đều không mấy khó khăn để nhận ra điều này. Xem xét từng bước đường, thấy đam mê triết của ông có những giai đoạn lớn. Hồi đầu ông say mê tìm hiểu tư tưởng Nga Xô, rồi lại say mê tìm hiểu tư tưởng Pháp, đến cuối những năm 80 ông lại say mê nghiên cứu tư tưởng và văn hóa Mỹ. Gần đây, tưởng chừng triết gia đương đại Pháp là F. Jullien đã hoàn toàn hớp hồn ông, khiến những năng lượng học thuật cuối cùng của ông sẽ bị hiện tượng triết học này vắt kiệt. Nào ngờ, lại thấy ông bày “cuộc chơi triết học” mới, đầy đam mê, là quay về nghiên cứu minh triết Việt. Không biết những người khác thế nào, còn tôi thấy trong đó một hành trình nhất quán, và thấy càng ngày ông càng “đắc đạo” hơn. Ông nghiên cứu cái gì cuối cùng cũng chỉ để tìm ở đó những bài học có ích cho nước nhà. Không phải ngẫu nhiên mà sau mỗi một hồi triết luận về vấn đề nào đó mình khơi ra, nêu lên, bao giờ ông cũng có ngay những đề xuất khá kịp thời. Có không ít những đề xuất ở tầm vĩ mô, ví như về chiến lược văn hóa trong phát triển, về giáo dục đào tạo, về việc nghiên cứu minh triết, về coi trọng việc dạy văn chương đối với bồi dưỡng nhân cách thế hệ trẻ, hay chiến lược ngoại ngữ cho hiện tại và tương lai… Hồi Nga Xô đang hưng thịnh, việc tiến hóa bấy giờ được xem như Nga hóa, ông muốn biết thực chất nó thế nào. Rồi ngày nay, khi Mỹ đang là một siêu cường với tầm ảnh hưởng toàn cầu của nó, đến nỗi hình thành trào lưu Mỹ hóa ở nhiều nơi trên thế giới, ông cũng muốn xem nó thực chất ra sao… Ông muốn biết mỗi mô hình ấy về mặt tư tưởng có điều gì khả thủ. Và ông say mê nghiên cứu các triết thuyết không phải để truy tìm cho mình chỉ một triết thuyết độc tôn, rồi cứ thế mà dùng nó làm một thứ công cụ tư duy vạn năng đến mức làm nô tài cho nó như bao người khác. Trái lại, ông là người thủy chung với một tinh thần năng động triết học, chứ không phải giam mình trong một thói nô lệ triết học như những ai kia. Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà trong các định nghĩa triết học, ông tâm đắc nhất với định nghĩa của Thomas Carlyle, khi triết gia lớn này phát biểu: “Triết học là gì, phải chăng là một cuộc chiến liên tục chống lại tập quán: một nỗ lực luôn luôn đổi mới nhằm vượt siêu cầu trường của tập quán mù quáng?”. Có thể, sau này ông mới gặp định nghĩa này. Nhưng toàn bộ hoạt động của đời ông đối với triết học đã thực sự là một minh chứng cho định nghĩa ấy. Nói khác đi, hành trình của ông dường như đã được dẫn dắt bởi định nghĩa kia một cách vô thức. Cả đời ông là một cuộc chiến không mệt mỏi để chống lại tập quán mù quáng, mỗi bài viết dù trực tiếp về triết học hay về văn hóa, văn học đều là một nỗ lực đổi mới mình trong nhận thức, tư tưởng nhằm vượt siêu cầu trường của những nhận thức hời hợt bị bóng đè bởi một đức tin mù quáng. Mà điển hình nhất chẳng phải là bài “Về một đặc điểm của văn học Việt Nam trong giai đoạn vừa qua”, vẫn được gọi nôm là bài “phải đạo” đó sao ? Một tinh thần năng động triết học đó là phẩm chất đáng kể của học thuật Hoàng Ngọc Hiến.

Sau những cuộc thám hiểm triết học, ông đã trở về bến quê, về lại mái nhà xưa để nâng niu gia tài minh triết của ông cha mình. Những cuộc phiêu lưu ấy đã đủ khiến ông tự tin hơn khi nhìn ngắm cái di sản minh triết độc đáo của tổ tiên. Nếu, sau những chuyến đi xa vào những xứ sở triết học khác để rồi trở về khinh rẻ vốn hương hỏa quí báu của tiên tổ, liệu có phải là người đã đạt đạo không ? Tôi nghĩ, điều đáng trân trọng ở hành trình triết học này của ông chính là ở chỗ: nó nâng ông lên một tầm mới để có thể thấy được vàng ngọc trong minh triết truyền thống và thấy cần thiết phải xây dựng một đội ngũ cho công cuộc khai thác minh triết tiềm ẩn trong nền văn hóa Việt. Cầu mong cho ông luôn đủ sức khỏe để tiếp tục theo đuổi sự nghiệp cao quí này và truyền cảm hứng cho những người đi sau.

Khi viết “Triết lý Truyện Kiều”, cái tạng triết luận ở ông mới khởi lên những nét đầu tiên thôi, còn chưa thật sắc nét. Nhưng càng về sau, thiên hướng triết luận càng ngày càng nắm vị thế chủ đạo trong các luận giải văn chương và văn hóa của ông. Đề cập bất cứ sự kiện văn học nào, dù đó là tác phẩm như Truyện Kiều, Ơ đip làm vua, Đăm San…hay đó là tác giả như Nguyễn Du, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Maiacôpxki, Eptusenkô, Văn Cao, Trịnh Công Sơn, Hữu Thỉnh, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Trọng Tạo, Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà… nghĩa là cả những tác gia kinh điển lẫn những cái tên mới nổi, dù đó là một giai đoạn văn học như Văn học Việt Nam thời chống Mỹ, văn chương Việt ở Hải ngoại, hay đi sâu vào một bình diện nào đó của văn chương như thể loại, thể tài, giọng điệu nghệ thuật hay ảnh hưởng của vô thức trong sáng tạo v.v… bao giờ ông cũng muốn truy nguyên vào bản chất, vào bản thể, bao giờ ông cũng muốn tìm cho ra những qui luật của sáng tạo, nhất là lật lên những bình diện triết học của mỗi hiện tượng ấy. Truy tìm vào bản chất sâu xa, săn tìm những qui luật phổ biến, lật tìm những ý nghĩa triết học và luận giải cho kì nổi bật mới thôi, đó chẳng phải là cảm hứng triết học hay sao ! Ông viết bài “Phải đạo” luận về những bình diện mỹ học và triết học khiến sản sinh nên cái đặc điểm của văn học Việt Nam suốt ba mươi năm chiến tranh (viết về “cái hiện thực phải có” hơn là “cái hiện thực đang có”) là theo tinh thần ấy, ông viết bài “Âm Dương”, muốn dùng những phạm trù triết học cổ phương Đông để luận giải và tiên đoán về mạch vận động của văn học ta qua bước ngoặt hậu chiến là theo tinh thần ấy. Ông khảo về những thể loại văn học như bi kịch, trường ca, tiểu luận, trào phúng là theo tinh thần ấy. Ông tường giải sáng tạo chân chính bao giờ cũng là sự giao cắt giữa cái tuyệt đối và cái hiện tại là theo tinh thần ấy. Ông luận về nguyên tắc tính nữ (thường gọi là thiên tính nữ) trong sáng tác Nguyễn Huy Thiệp cũng theo một tinh thần như thế…

Một thủ lĩnh trận tiền trong đổi mới văn học

Những ai quan tâm đến việc sáng tạo văn học Việt Nam đều thấy Hoàng Ngọc Hiến có một tầm ảnh hưởng không nhỏ đối với không ít cây bút đương đại. Đó không hẳn là kiểu ảnh hưởng của một tay viết bậc thầy lão luyện nghề chữ, cũng không hẳn kiểu ảnh hưởng của một học giả uyên bác uyên thâm. Mà có vẻ là kiểu ảnh hưởng khác: truyền niềm thiết tha với văn hóa, nhiệt hứng sáng tạo, nhiệt hứng tư tưởng, tinh thần trí thức, kích thích tư duy. Mà trùm lên tất cả vẫn là ảnh hưởng từ cái phẩm chất năng động triết học đó. Nếu Trần Dần được xem là thủ lĩnh trong bóng tối, thì cũng có thể xem Hoàng Ngọc Hiến là một thủ lĩnh ngoài trận tiền.

Ai đọc Hoàng Ngọc Hiến cũng thấy ở ông cái sở thích đối lập. Ông thường xây dựng hoặc sử dụng những phạm trù đối lập với tham vọng đạt đến tầm phổ quát nhất cho những những khái quát của mình: âm và dương, vi và vô vi, vị và vô vị, ý và vô ý, ngã và vô ngã, văn hóa và văn minh, minh triết phương Đông và triết học phương Tây, xây dựng Dự án và nương nhờ vào Thế, chủ nghĩa hiện đại và chủ nghĩa cổ điển mới, tính dân tộc và tính hiện đại, trí thức tinh hoa và trí thức bình dân, bi kịch và lạc quan, hiện thực và tuyệt đối, cái phải tồn tại và cái đang tồn tại, có đáy và không có đáy, viết cho bõ hờn và viết để thỏa chí, kể nội dung và viết nội dung, lý thuyết và nghiệm sinh, trí tuệ của trí tuệ và trí tuệ của trái tim, danh và thực, có và là… Sự phân lập kiểu này là sản phẩm rất đặc trưng của tư duy triết học. Lối đối lập này dần lâu dường đã thành một thứ thương hiệu Hoàng Ngọc Hiến. Ông còn đặc biệt tinh nhạy về những khía cạnh triết học của ngôn ngữ và giỏi mài rũa cái mặt triết tiềm ẩn nào đó để mỗi từ ngữ sáng lên vẻ đẹp triết học của mình. Ít ai không nhớ lần ông nói về các phương pháp khoa học bằng một chữ đích đáng, lần ông luận về quan niệm nhân cách của người Việt qua một chữ hẳn hoi, hay lần ông tranh luận với một cây bút hải ngoại xung quanh chữ moment trong tiếng Anh… Nhiều trường hợp, ông đưa ra những đối chọi chữ nghĩa khiến chúng cũng ánh lên những tia sáng triết luận triết lí bất ngờ nào đó. Ví như ông xem phê bình là làm sáng giá và sang giá cho những sáng tạo văn học, hay ông chọi chữ có và là như một cách đối lập giữa danh và thực, vốn là một mâu thuẫn phổ biến trong cõi người ta. “Một mâu thuẫn oái oăm trong “cõi người ta”- ông viết – là mâu thuẫn giữa “có” và “là”. Có thể có vợ, nhưng không là một người chồng, có thể có con nhưng không là một người cha, có thể có học hàm nhưng không là một người thầy, có thể có học vị, nhưng không là một trí thức,… có thể có tất cả nhưng không là gì cả”. Có thể nói năng lực ngôn ngữ của một nhà văn đã giúp ông diễn đạt sắc bén những suy tư triết lí của một nhà triết luận. Và có thể thấy lối phân lập ráo riết kia trong từ ngữ của ông là khá bén nhạy và nhuần nhuyễn, nó đã thực sự trở thành một nét thuộc phong cách triết luận của ông. Dù không khỏi có lúc cực đoan, nhưng bao giờ sự phân lập ấy cũng gây hứng thú và có khả năng truyền cảm hứng tư duy cho người đọc, thậm chí có lúc đã thực sự gây sốc. Không phải vô cớ mà người ta đã xem Hoàng Ngọc Hiến là người khơi mào, gây hứng thú tranh luận, đối thoại cho người khác hơn là người nói lời kết luận cho các vấn đề.

 

*

 

Hoàng Ngọc Hiến là một người uyên bác mà trẻ trung, là người nhất quán mà năng động, là người thâm thúy mà rất đỗi hồn nhiên… Hình như tuổi tác cứ biến ông thành người già, nhưng tinh thần và tư duy của ông không bao giờ chịu già. Ai gần ông đều thấy cái vẻ lão hóa trong cơ thể muốn biến ông thành người già nua. Nhưng cái tinh thần trẻ trung và tích cực trong ông luôn cưỡng lại. Cái run run của tay chân, cái rè rè của giọng nói cứ muốn phanh ông lại, nhưng tư duy đầy chất trẻ trong ông lại luôn dấn ga để tạo nên một chất sống băng về phía trước, muốn vượt siêu cầu trường của trì trệ. Có lẽ ít ai ở vào tuổi ấy vẫn còn say sưa với mọi công nghệ hiện đại, mọi phương tiện tối tân để cập nhật tri thức nhân loại một cách hiệu quả như vậy. Ít ai vào tuổi ấy vẫn say sưa với những dự án dài hơi về tri thức về nghiên cứu và đào tạo như vậy. Ít ai vào tuổi ấy vẫn còn chơi với những người trẻ thoải mái hồn nhiên như vậy. Hồn nhiên, luôn đổi mới mình, luôn muốn người khác cùng đổi mới, luôn muốn cuộc đời đổi mới, có phải đó là những phẩm chất hiển nhiên của một người thực sự có cốt cách triết nhân ?

Trong sự nghiệp của ông, người ta luôn thấy triết học ẩn dật trong văn học và văn học sóng sánh cùng triết học. Nó là sự nghiệp “hai trong một” của một văn nhân – triết nhân.

Dù cảm nhận của tôi được ông chia sẻ và tâm đắc, nhưng tôi luôn nghĩ ông vẫn là một giá trị lớn mà hôm nay chưa dễ gì hiểu hết được.

 

Hà Nội, 2010

 

Lời thêm:

Do một linh tính nào đó mà tôi đã ép mình kịp hoàn thành bài viết này để gửi ông trước khi đi một chuyến công tác đặc biệt phải cách biệt hoàn toàn với bên ngoài. Và, may thay, ông đã kịp đọc nó ba ngày trước khi lên bàn mổ. Nếu không, hẳn là tôi phải ân hận suốt đời. Theo nhà văn Văn Giá, thì có thể nó là bản thảo cuối cùng ông đọc được trước lúc vào viện. Đến ngày được ra khỏi chốn cách biệt đó, tôi đến viện thăm ông thì ông đã hôn mê sâu rồi. Thật oái oăm ! Trong bài viết, khi nói đến tâm huyết của ông đối với sự nghiệp nghiên cứu minh triết Việt, tôi có một lời: “Cầu mong cho ông luôn đủ sức khỏe để tiếp tục theo đuổi sự nghiệp cao quí này và truyền cảm hứng cho những người đi sau”. Khi viết thế, tôi vẫn đinh ninh tuổi ông tuy đã cao, nhưng sức ông cũng chưa đến nỗi nào. Đâu ngờ, trọng bệnh đã đem ông đi vĩnh viễn mất rồi !

Biết bao giờ cuộc đời mới lại có được một Hoàng Ngọc Hiến nữa đây !

Viện Viễn Đông Bác Cổ, EFEO và kho sách quý hiếm về Việt Nam

Thu Hằng– RFI
Viện Viễn Đông Bác Cổ, EFEO và kho sách quý hiếm về Việt Nam

Một số tranh khắc trong bộ sưu tầm của nhà nghiên cứu Maurice Durand, EFEO, Paris.RFI / Tiếng Việt

Ngay năm 1886, khi vừa được bổ nhiệm làm tổng công sứ Trung-Bắc Kỳ, Paul Bert đã có ý tưởng thành lập Bắc Kỳ Hàn Lâm Viện (Académie tonkinoise) nhằm tạo bầu không khí hữu hảo và kiềm chế sự chống đối của người dân Bắc Kỳ vừa bị đặt dưới chế độ bảo hộ Pháp.

Dù bị thất bại « ngay trong trứng nước », nhưng kế hoạch trên trở thành cơ sở cho các sáng lập viên của Viện Viễn Đông Bác Cổ (Ecole française d’Extrême-Orient, EFEO), thuộc Viện Hàn Lâm Văn Khắc và Văn Chương Pháp (Académie des Inscriptions et Belles-Lettres).

Hơn một thế kỷ vì châu Á

Ban tiếng Việt đài RFI đã có dịp trao đổi với chị Magali Morel, cán bộ thư viện phụ trách kho sách Đông Nam Á, về sự ra đời của Viện Viễn Đông Bác Cổ :

« Ban đầu, người ta muốn lập một Hội Nghiên cứu Khảo cổ châu Á. Giám đốc đầu tiên của Viện Viễn Đông Bác Cổ, Louis Finot, muốn thành lập một ngôi trường Pháp, theo mẫu trường đã được thành lập ở Roma hay Athens. Thời gian đầu, ông muốn trường tập trung nghiên cứu về Ấn Độ, nhưng kế hoạch không thành. Lúc đó Paul Doumer đang làm toàn quyền Đông Dương lại bị dự án này cuốn hút và cuối cùng, Viện Viễn Đông Bác Cổ được thành lập ở Hà Nội ».

Tiền thân của Viện là Hội Nghiên cứu Khảo cổ Đông Dương (Mission archéologique d’Indo-Chine) được thành lập tại Sài Gòn năm 1898 với hai nhiệm vụ chính : khuyến khích các nhà nghiên cứu Pháp đến thực địa tại châu Á và phụ trách thống kê cũng như bảo quản di sản văn hóa Đông Dương.

Năm 1900, theo quyết định của toàn quyền Paul Doumer, tên gọi và cơ cấu của hội được thay đổi, trở thành Viện Viễn Đông Bác Cổ. Theo nhận xét của bán nguyệt san La Quinzaine coloniale (n° 101, 10/03/1901), quyết định này đánh dấu tính thường trực và đề cao vai trò quan trọng của Viện trong việc « nghiên cứu và phổ biến kiến thức về lịch sử các công trình và chữ tượng hình của các dân tộc Đông Dương mà quá khứ còn xa xưa hơn lịch sử của chúng ta vẫn chưa tiết lộ hết những bí mật ».

Từ năm 1902, trụ sở của Viện được chuyển ra Hà Nội với các nhiệm vụ chính : thăm dò khảo cổ học, sưu tập bản thảo, bảo tồn các công trình, thống kê nhân chủng học các tộc người, nghiên cứu di sản ngôn ngữ, lịch sử các nền văn minh phương Đông, từ Ấn Độ đến Nhật bản.

Để hỗ trợ cho kế hoạch nghiên cứu khoa học đầy tham vọng này, một thư viện và một viện bảo tàng (sau này trở thành Bảo tàng Lịch sử Việt Nam) được thành lập. Thư viện ở Hà Nội trở thành kho dữ liệu quan trọng của các nhà nghiên cứu của Viện Viễn Đông Bác Cổ.

Bìa cuốn sách Mối quan hệ của phái đoàn các Cha dòng Tên với Vương quốc Nam Kỳ, xuất bản năm 1631, EFEO, Paris.RFI / Tiếng Việt

Ngày 27/11/1909, trong bài diễn văn nhân dịp khai mạc phiên họp của Hội đồng Tối cao, toàn quyền Đông Dương Antony Klobukowski đã cho biết về kho sách quý giá này : « Thư viện của Viện Viễn Đông Bác Cổ ngày càng phong phú hơn nhờ 100 tập sách do Quốc Sử Quán(triều Nguyễn) in ấn và được Hoàng đế An Nam trao tặng. Ngoài ra, còn có rất nhiều tác phẩm đến từ Trung Quốc và các bản sao chép tác phẩm quý hiếm của Việt Nam nhờ các vị quan hay nho sĩ cho mượn. Vì vậy, có thể nói đây là thư viện về nghiên cứu Đông phương đầy đủ nhất thế giới ».

Trong suốt thế kỷ XX, kho sách của thư viện ngày càng thêm phong phú về số lượng và chất lượng nhờ đặt mua, trao đổi và được di tặng. Trong cuốn Một thế kỷ vì châu Á. Viện Viễn Đông Bác Cổ, 1898-2000, tác giả Catherine Clémentin-Ojha Manguin cho biết, sau hiệp định Geneve 1954, một phần kho sách, được đóng thành 500 kiện, đã rời Hà Nội vào cuối tháng Bẩy cùng năm để sang Phnom Penh (Cam Bốt), Vientiane (Lào) và một chi nhánh mới của Viện Viễn Đông Bác Cổ ở Sài Gòn. Trung tâm tại Hà Nội tiếp tục hoạt động đến 1957 để sao chụp các bộ sưu tập sách của thư viện, chủ yếu là các bản viết tay, nhằm phục vụ cho các trung tâm khác và trụ sở ở Paris, như lời giải thích của chị Magali Morel :

« Kho sách Việt Nam gốc hiện đang được bảo quản tại Nhà Châu Á (Maison de l’Asie) ở Paris đến từ thư viện được thành lập ở Hà Nội. Các bộ sưu tập được thu thập tại đó, liên quan rất nhiều đến Đông Dương. Sau đó, chúng được chuyển đi sau loạt sự kiện trong những năm 1950 tại Việt Nam.

Những bộ sưu tập này được phân chia sang các nước thuộc Đông Dương cũ là Việt Nam, Cam Bốt, Lào, nhưng cũng có cả Thái Lan. Rất nhiều kiện sách (318 kiện) được gửi từ Việt Nam đến Cam Bốt, rồi từ Cam Bốt đến Pondichéry và cuối cùng đến Paris trong những năm 1950.

Trung tâm của kho sách Đông Dương, đặc biệt là của Việt Nam, ban đầu chính là các bộ sưu tập tài liệu được hình thành ở Đông Dương vào đầu thế kỷ XX ».

Kho sách cổ với tác phẩm có từ thế kỷ XVII

Một trong những tài liệu quý hiếm giúp thư viện của Viện Viễn Đông Bác Cổ Paris trở thành một trong những trung tâm quan trọng trong giới nghiên cứu về Đông Dương và Việt Nam là bộ sưu tầm 20.000 ván khắc Hán Nôm. Đây là kho tài liệu quan trọng giúp tái dựng cổ sử Việt Nam.

Ngoài ra, còn phải kể đến bộ sưu tập tranh dân gian Việt Nam với khoảng 400 bức tranh do nhà nghiên cứu Maurice Durand thu thập. Được bảo quản trong điều kiện tốt, bộ sưu tập đa dạng và phong phú về nhiều đề tài khác nhau : cuộc sống thường nhật, các ngành nghề nhỏ, chúc tụng và những tấm bùa hộ mệnh, tôn giáo và tín ngưỡng, lịch sử, văn học, giáo dục, tục ngữ, ngạn ngữ…

Cuối cùng, còn có hơn 3.000 đầu sách về Việt Nam, trong đó có rất nhiều sách cổ, trên tổng số gần 33.000 tác phẩm thuộc kho Đông Nam Á. RFI đã có dịp được ngắm hai tác phẩm cổ liên quan đến Việt Nam, được in năm 1631 và 1646, hiện không còn phục vụ độc giả.

Bìa cuốn sách Lịch sử Vương quốc Bắc Kỳ, xuất bản năm 1646, EFEO, Paris.RFI / Tiếng Việt

« Tôi mang ra đây mấy cuốn sách cổ để giới thiệu. Cuốn sách nhỏ này có từ thế kỷ XVII, có tựa đề Relations de la nouvelle mission des Pères de la Compagnie de Jésus au Royaume de la Cochinchine (tạm dịch : Mối quan hệ của phái đoàn các Cha dòng Tên với Vương quốc Nam Kỳ). Tác phẩm được dịch từ tiếng Ý và là một trong số những cuốn sách cổ nhất của bộ sưu tập được thu thập ở Hà Nội. Hầu hết bộ sưu tầm được hình thành từ những cuốn hồi ký du lịch hay những cuốn sách của các nhà truyền đạo miêu tả Nam Kỳ thời kỳ đó.

Còn đây là một cuốn khác, Histoire du Royaume de Tonquin (Lịch sử Vương quốc Bắc Kỳ), cũng là một tác phẩm có từ thế kỷ XVII. Chúng tôi có nhiều tác phẩm về những tiếp xúc đầu tiên của phương Tây với Đông Dương và Việt Nam. Tiếp theo, còn có những kho sách liên quan đến nghiên cứu Đông Dương từ lúc Viện Viễn Đông Bác Cổ được thành lập ở châu Á, trong đó có rất nhiều nghiên cứu khảo cổ, nhân chủng học và triết học đáng quý ».

Viện Viễn Đông Bác Cổ nằm trong quần thể Nhà Châu Á (Maison de l’Asie), tọa lạc trong quận 16 nổi tiếng của Paris, ngay gần Trocadéro và quảng trường Nhân Quyền (Parvis des droits de l’homme) nhìn ra tháp Eiffel. Đây cũng là trụ sở của nhiều trung tâm nghiên cứu về châu Á khác thuộc các trường Nghiên cứu nâng cao về Khoa học Xã hội (EHESS) và trường Cao Đẳng Thực Hành (EPHE), như trung tâm nghiên cứu Ấn Độ, Trung Hoa hiện đại và đương đại, Đông Nam Á (CASE) và Tây Tạng, cũng như thư viện của những cơ sở này.

Dù độc giả đến đây có thể tra cứu được các kho sách của cả ba trường trên (EFEO, EPHE và EHESS), nhưng số lượng người đọc không nhiều so với các thư viện khác. Chị Magali Morel giải thích :

« Vì Viện Viễn Đông Bác Cổ là một cơ quan chuyên biệt. Chúng tôi đón sinh viên cao học, các nhà nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực trọng điểm, rất đặc biệt. Hiện chúng tôi đang cố trao đổi nhiều hơn nữa với bên ngoài vì cần phải tiếp nhận những công nghệ mới và trao đổi với mạng xã hội… Đây cũng là dự án mà chúng tôi đang làm để mở rộng hơn một chút và có thể để lập một địa điểm năng động hơn. Đúng là chúng tôi là một cơ quan chuyên biệt, nhưng dù sao cũng mở rộng với tất cả ».

Ngoài trụ sở tại Paris, Viện Viễn Đông Bác Cổ có mặt tại Pondichéry, Ấn Độ. Trong khu vực Đông Nam Á có các trung tâm hoặc chi nhánh ở Lào, Việt Nam, Cam Bốt, Thái Lan và Indonesia. Riêng Miến Điện mới chỉ có một đại diện. Cuối cùng, Viện Viễn Đông Bác Cổ cũng có mặt ở Nhật Bản và mới đây một văn phòng đã được mở ở Trung Quốc.

Phòng đọc thư viện của EFEO, Paris.

19 GIỜ HÔM NAY: INDONEXIA- VIỆT NAM

AFF Cup 2016 : Tuyển Việt Nam toàn thắng vòng bảng, nhưng vẫn còn ở xa đích

rfi
AFF Cup 2016 : Tuyển Việt Nam toàn thắng vòng bảng, nhưng vẫn còn ở xa đích

Đội tuyển Việt Nam trong một trận đấu giải SEA Games.REUTERS

Đến ngày 26/11/2016, đội tuyển quốc gia bóng đá Việt Nam vừa hoàn thành thắng lợi một tuần thi đấu vòng đấu bảng AFF Suzuki Cup 2016, tại Miến Điện, với kết quả thắng cả 3 trận, chiếm ngôi đầu bảng B. Thành công ở chặng đầu này của đội tuyển đang làm dấy lên không khí lạc quan trong người hâm mộ Việt Nam, giấc mơ đoạt chiếc Cúp Đông Nam Á như đang trở nên gần hơn với bóng đá Việt Nam.

Bước vào giải đấu một cách tự tin, đội tuyển Việt Nam đã lần lượt hạ chủ nhà Miến Điện 2-1, Malaysia 1-0 và cuối cùng là đội tuyển Cam Bốt 2-1. Trước mặt thầy trò huấn luyện viên Nguyễn Hữu Thắng bây giờ mới là những thách thức thực sự lớn hơn nhiều. Đó là đội tuyển Indonesia của huấn luyện viên người Áo Alfred Riedle, người đã từng dẫn dắt đội tuyển quốc gia Việt Nam, khi Hữu Thắng còn là trung vệ của đội.

Chỉ là hai trận đấu (lượt đi và về), nhưng đó là một sự chờ đợi rất dài với những cổ động viên đội tuyển. Thầy trò huấn luyện viên Nguyễn Hữu Thắng còn nhiều việc phải hoàn thiện trong những ngày tới để đến được trận chung kết trong mơ, khép lại mùa thi đấu, cho đến lúc này đang khá thành công của bóng đá Việt Nam.

Chương trình hôm nay chúng ta cùng với chuyên gia bóng đá Trần Duy Ly, nhìn lại hành trình vòng bảng của đội tuyển Việt Nam.

 

Nhà báo bị đình chỉ vì Facebook post về Castro ‘độc tài’

BBC

nhà báoImage copyrightOTHER
Image captionÔng Phùng Hiệu đang công tác tại báo Nhà báo & Công luận

Tin cho hay một nhà báo ở TP Hồ Chí Minh bị đình chỉ do viết Facebook post về Castro ‘độc tài, bảo thủ’.

Ông Phùng Hiệu, người đang công tác tại cơ quan phía Nam của báo Nhà báo & Công luận, đã bị đình chỉ công tác.

Nhà báo & Công luận là cơ quan thuộc Hội Nhà báo Việt Nam.

Do công văn kỷ luật ông Hiệu được cho là “đang trên đường chuyển từ Hà Nội vào TP Hồ Chí Minh” nên BBC không có điều kiện tiếp cận.

Vụ việc liên quan đến một Facebook post trên trang cá nhân của ông Hiệu với nội dung: “Sau gần 50 năm cai trị đất nước Cuba với sự độc tài, bảo thủ và tôn thờ chủ nghĩa Marx một cách mê muội, ông Fidel Castro đã để lại một Cuba nghèo nàn, lạc hậu.”

“Hy vọng sau khi ông mất người dân Cuba sẽ hòa nhập vào thế giới tiến bộ của con người.”

Hôm 2/12, trả lời BBC từ TP Hồ Chí Minh, ông Hiệu nói: “Tôi đã gỡ cái post đó.”

“Tôi viết cái post trong lúc say rượu, mới đi đám cưới về và đang trong tình trạng vô thức.”

Khi BBC hỏi về rắc rối liên quan đến cái post này, ông nói: “Anh thông cảm, tôi đang mệt mỏi, không muốn trả lời về vấn đề này”.

‘Bày tỏ quan điểm’

Cùng ngày, ông Nguyễn Ngọc Niên, Tổng Biên tập Nhà báo & Công luận nói với BBC: “Ông Hiệu viết Facebook bày tỏ quan điểm cá nhân vi phạm quan điểm nên phải xử lý và bị đình chỉ công tác rồi.”

“Việc này không chỉ ảnh hưởng đến ông ấy mà còn đến cấp trên, những người đứng đầu nữa.”

Ông cũng cho hay ông Hiệu “chỉ là phóng viên, và chưa được cấp thẻ hội viên Hội Nhà báo” và “không phải là quyền phụ trách cơ quan phía Nam của tờ báo như thông tin trên mạng xã hội”.

Vụ kỷ luật ông Hiệu được cho là diễn ra ngay tại buổi giao ban báo chí định kỳ đầu tháng của Bộ Thông tin – Truyền thông Việt Nam.

Tống Văn Công ‘về già mới chợt tỉnh’

Hôm 30/11, trả lời BBC từ bang California, Mỹ, nhà báo Tống Văn Công, cựu tổng biên tập báo Lao Động nói: “Thách thức lớn nhất đối với những người đang tâm huyết với nghề báo tại Việt Nam là không có quyền tự do báo chí.”

“Báo chí phải viết theo chỉ đạo của Ban Tuyên huấn Đảng cộng sản.”

“Dù Việt Nam có báo chí tư nhân nhưng nếu vẫn bị Ban Tuyên huấn chỉ đạo thì vẫn không có tự do báo chí.”

Dịp 2/9/2015, Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam loan báo thu hồi thẻ nhà báo của ông Đỗ Văn Hùng, thường được biết với tên Đỗ Hùng.

Báo Thanh Niên đã miễn nhiệm chức vụ Phó Tổng Thư ký tòa soạn Báo điện tử Thanh Niên với ông Hùng.

Quyết định của Bộ Thông tin và Truyền thông không nêu nguyên do, nhưng giới nhà báo trong nước tin rằng nó xuất phát từ một đoạn ngắn trên Facebook cá nhân.

Hôm 2/9/2015, trong lúc Việt Nam đánh dấu 70 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh, ông Hùng đăng một đoạn trên Facebook nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Giọng văn hài hước của ông Hùng sau đó bị một số người trên mạng lên án là giễu cợt Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Quyết định nhanh chóng của báo Thanh Niên và của Bộ Thông tin và Truyền thông dường như cho thấy giới chức xem đây là vấn đề nghiêm trọng.

Đăng bởi: Ngô Minh | 02.12.2016

LINH HỒN CỦA ĐOÀN TÀU KHÔNG SỐ

 co-tich

LINH HỒN CỦA ĐOÀN TÀU KHÔNG SỐ

 

                                                              Ghi chép của Ngô Minh

QTXM: NĂM 2010, BỘ QUỐC PHÙNG VÀ BINH CHỦNG HẢI QUÂN CHUẨN BỊ KỶ NIỆM 50 NĂM MỞ ĐƯỜNG HCM TRÊN BIỂN ĐÃ XUẤT BẢN CUỐN SÁCH “HUYỀN THOẠI TÀU KHÔNG SỐ” CỦA NHÀ VĂN ĐÌNH KÍNH DO BỘ TƯ LỆNH HẢI QUÂN ĐẶT HÀNG, CUNG CẤP TƯ LIỆU. SÁCH ĐÃ KHÔNG CÓ MỘT DÒNG VIẾT VỀ TỔNG TƯ LỆNH VÕ NGUYÊN GIÁP, NGƯỜI ĐÃ KHAI SINH RA ĐOÀN TÀU KHÔNG SỐ. VIẾT NHƯ THẾ LÀ  BÔI NHỌ LỊCH SỬ.  BUỘC TÔI PHẢI VIẾT CUỐN SÁCH “CỔ TÍCH TÀU KHÔNG SỐ” ( NXB HỘI NHÀ VĂN 2011), ĐỂ NÓI RÕ VAI TRÒ CỦA TƯỚNG GIÁP . ĐÂY LÀ MỘT CHƯƠNG TRONG CUỐN SÁCH ẤY.

(Đọc tiếp…)

Về 10 đặc tính người Việt do Viện Xã hội học Mỹ nêu ra

Trần Đình Sử

Trần Đình Sử

1.10 đặc điểm ấy đều chính xác, tuy nhiên chưa phải là đầy đủ.

2. Cách nêu trong thế so sánh ngầm với tư duy phương Tây. Chỉ người phương Tây mới nhìn ra 10 đặc điểm này.

3. Các đặc điểm đều có hai mặt. Ta thường tự khẳng định chỉ có một mặt, thiếu biện chứng VÀ THIẾU KHOA HỌC.

4. Nó không ngợi ca theo kiểu đề cao “bản sắc Việt Nam”, “tính dân tộc”, cũng không theo kiểu “người Việt xấu xí” học mót của Bá Dương, cho nên có vẻ khách quan.

5. Xét Các đặc điểm đó với thực tế nghèo khổ, lạc hậu, tụt hậu của VN thì thấy rất đúng. Nước nông nghiệp lạc hậu, tư duy theo mùa vụ, lấy đâu ra tầm nhìn dài lâu? Lại theo chế độ trách nhiệm nhiệm kì lấy đâu ra nhìn xa. Nói tầm nhìn cho có vẻ oai thế thôi, chứ ai thực hiện? Ai cũng mong hạ cánh nhẹ nhàng thôi. Tầm nhìn người Việt không xa hơn cái ghế. Câu chuyện tầm nhìn là xa xỉ đối với người Việt hiện đại. Cứ nhìn thực tế vá víu ở VN thì thấy rõ chẳng có ai có tầm nhìn. Tầm nhìn XHCN là giả tạo. Tầm nhìn TBCN không có. Chỉ mỗi việc công nghiệp hoá mà ì ạch mãi, công nghiệp hoá theo kiểu Vũ Huy Hoàng thì chỉ đớp cho ngập miệng mà thôi.

6. Tôi thấy người Việt có tính a dua, hay học đòi. Thấy thế giới có gì hay thì học đòi, tham gia ngay, nhưng do thiếu hiểu biết, nên làm không đúng nghĩa. Ví dụ thấy di sản văn hoá thế giới là đăng kí tới tấp, cái gì cũng muốn cho thỏa cơn khát sĩ diện, nhưng có suy nghĩ để bảo tồn đâu?

7. Người Việt hiện nay thiếu một trung tâm đoàn kết lớn cho cả dân tộc. Hạt nhân đoàn kết trong thực tế không lôi kéo được người dân. Cho nên làm gì cũng nửa vời. Cái gì cũng làm theo lối diễn, không làm thật bao giờ, cho nên mọi mặt không phát triển. Cả xã hội là một show diễn vĩ đại, hoành tráng từ cấp cao nhất cho đến cấp thấp (ngoại trừ một số hoat động chuyên môn). Rất ít ai làm thật một điều gì. Chỉ một vụ Vũ Huy Hoàng là thấy người ta đang nghĩ cách để diễn cho đẹp mặt, chứ không muốn qua đó mà chấn chỉnh lại xã hội. Thằng Vũ Huy Hoàng đã phá hoại sự nghiệp công nghiệp hoá của đất nước mà không xử tội, lại còn huân chương độc lập, đồng chí đồng rận… Họ không muốn từ bỏ loại CÁN BỘ KIỂU VŨ HUY HOÀNG. Do không mấy ai làm thật các sự nghiệp xã hội, cho nên xã hội không chiu phát triển. Lấy vị dụ về giáo dục. Biết bao khẩu hiệu, biết bao quốc sách, biết bao dự án tiêu bạc tỉ đô, mà mấy ai làm thật?

8. Cho nên chỉ khi nào có người muốn làm thật, không biểu diễn thì đất nước mới có cơ hội phát triển. Người Mỹ không phát hiện ra khả năng biểu diễn của người Việt chúng ta. Nếu họ hiểu có thể họ sẽ không viện trợ nữa. Cho nên cần giấu kĩ đặc tính này và phải biểu diễn cho i hệt như thật.

9. Người Việt có lối tự tôn ngầm mù quáng rất tai hại. Nước Nhật chẳng hạn, thấy mình thua nước nào thì học ngay nước đó để bằng họ. Người Việt thấy mình thua người ta thì tìm một cái khác của mình để đối trọng ra điều ta chẳng thua, vì thế mà cứ thua mãi. Ví dụ tự hào về chế độ của mình.

10. Muốn tiến bộ cần học tập tư duy phương Tây. Chớ nên dựa vào bản sắc dân tộc mà ảo tưởng và tụt hậu, Thời đại đã khác xưa rồi.

T.Đ.S.

Nguồn: FB Trần Đình Sử

TIẾNG NÓI NHÀ VĂN: VỀ BI KỊCH ĐỌC KHÔNG VỠ CHỮ VĂN CHƯƠNG…

NGUYỄN THỊ MINH THÁI
 Trong các loại hình văn nghệ, thì nghệ thuật văn chương đứng riêng ra một lối, ở tính đặc thù của ngôn ngữ loại hình. Đó là tính phi vật thể của ngôn ngữ văn học, bởi văn học hiện diện với tư cách là nghệ thuật của ngôn từ.

Nhà văn Nguyễn Thị Minh Thái

Nói trắng ra theo cách diễn nôm, văn học là nghệ thuật viết chữ của từng nhà văn, trong cái viết riêng tư đặc trưng, dẫn tới tác phẩm văn học là sự tổ chức đặc thù của con chữ, nên bản thảo của nhà văn phải được in ấn, xuất bản thành sách văn học và, đương nhiên, phải dẫn đến cái đọc của độc giả.

Chưa đến đáy cùng của chữ

Cho nên, quan hệ lớn nhất và duy nhất của tác phẩm văn học là quan hệ giữa cái viếtcái đọc, giữa nhà văn và người đọc, đã chỉ thông qua… chữ và chữ. Và tất cả bản chất quan hệ này chỉ có thế và thế thôi. Vì thế, mối bận tâm lớn nhất, đặc trưng nhất của cả hai bên, nhà văn và bạn đọc, chính là việc viết chữ văn chương thế nào và đọcchữ văn chương ra sao? Ấy là chưa kể đến nghệ thuật chữ của từng nhà văn nhà thơ, nhất là nhà thơ, như Lê Đạt, ông thấy chữ thơ có thể tỏa bóng rợp mát cả một vùng tâm linh người đọc, ông thấy chữ có thể lay động và in bóng trên mặt sóng dưới chân cầu, nên cả nghĩ mà đặt tên tập thơ mình là “Bóng chữ”. Trên tinh thần triết học về lao động thi sĩ, chưa ai như Lê Đạt, tự gọi cái nghề làm thơ của mình là nghề làm “phu chữ”.

 Kinh nghiệm đọc và phân tích văn chương kịch của ít nhiều năm chăm chỉ miệt mài làm cố vấn văn học kịch (theo tôi, cũng là kiểu “phu chữ”, trên tinh thần Lê Đạt) cho Nhà hát Tuổi Trẻ và Nhà hát Kịch Việt Nam, khiến tôi tin chắc rằng, chữ văn chương là thứ chứa chất nhiều hồn vía “phi vật thể” nhất so với sự hiển thị “vật thể”: thành hình tượng nhân vật bằng xương bằng thịt của diễn viên sắm vai nhân vật trên sân khấu, trong phim truyện, hoặc tạo hình trong nghệ thuật múa hoặc nghệ thuật ca hát… Chữ không những có hồn vía, mà có thể là bóng lay động, đa mang trong lòng nó nhiều nghĩa ở bên ngoài chữ, trong lòng chữ và thậm chí lặn thật sâu ở dưới đáy chữ, khiến người đọc hầu như không biết bao giờ mới dò tới tận đáy thẳm của nó…

Trải nghiệm cá nhân cho tôi biết, có những sách văn học đọc đi đọc lại suốt quãng đời dài của đời sống hữu hạn mà vẫn chưa thể đi đến đáy cùng của con chữ. Chính điều ấy khiến tác phẩm văn chương thứ thiệt luôn xuyên qua thời gian, không gian, để còn mãi với thời gian, không gian và luôn thách thức cái đọc trong sự hữu hạn đời sống trần thế của người đọc. Hẳn các nhà văn chúng ta đã xem tiểu thuyết Người đọc và bộ phim chuyển thể từ tiểu thuyết này, mà không nghĩ rằng, rất nhiều tác phẩm thuộc các ngôn ngữ vật thể khác, do được khởi nguyên từ ngôn ngữ văn học mà được sáng giá, lên giá, treo cao giá ngọc cho các ngôn ngữ hữu hình được chuyển thể từ cái vô hình của văn chương “phi vật thể”…

Vậy thì, chỗ của nhà phê bình văn chương ở đâu, và tại sao nhà phê bình cần có chỗ trong quan hệ thẩm mỹ rất căn cơ giữa nhà văn và bạn đọc, ( chính là quan hệ giữa cái viếtcái đọc) thông qua những con chữ rất “phi vật thể” này, để xác lập tư cách người đọc đặc thù, chính là nhà phê bình, người chuyên trị đọc/phải đọc “vỡ chữ”?  Theo tôi, chỗ của nhà phê bình văn học là đứng giữa tác phẩm văn chương và người đọc, với tư cách người bình giá, thẩm định, môi giới cái đẹp của con chữ nhà văn đến với độc giả. Cũng vì thế, nhà phê bình đương nhiên phải thông hiểu cả hai nghệ thuật tạo nên mối quan hệ thẩm mỹ đặc thù giữa cái viếtcái đọc này, với một bên là nghệ thuật viết văn của nhà văn và một bên là nghệ thuật đọc văn chương của người đọc.

Ở chỗ đứng rất đặc biệt này, có thể rất nhiều khi/ít khi, nhà phê bình phải đương đầu và phải vượt thoát một bi kịch thường hay xảy ra đối với cái đọc tác phẩm văn chương, đó là bi kịch đọc không vỡ chữ. Thậm chí việc giải quyết bi kịch này có thể là việc cấp thiết nhất, cần đặt ra thường hằng đối với những ai đã mang lấy nghiệp phê bình văn học vào thân, nếu không muốn nói, đây cũng chính là vượt thoát của cả nền văn học Việt Nam trong suốt tiến trình hiện đại hóa của nó, đã, đang, và sẽ diễn ra dài dài suốt từ thế kỷ XX cho đến thế kỷ XXI hôm nay…

Cũng chính vì buộc phải vượt thoát bi kịch này mà các nhà phê bình hôm nay luôn phải đương đầu với bi kịch “đọc không vỡ chữ”, nhất là đối với các tác phẩm mới, các nhà văn mới xuất hiện.Ta từng chứng kiến cách đọc văn như đọc báo trong tác phẩm Cánh đồng bất tận của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, cùng sự quá lời đến mức xúc phạm nhà văn, khi một vài cán bộ văn nghệ ở tỉnh Cà Mau đã kết tội nữ nhà văn này một cách thô bạo và khiên cưỡng trên báo chí…

 

 

Dịch thuật không vỡ chữ

Ngày gần đây, 8.5.2013, tại Trung tâm văn hóa Pháp 24 Tràng Tiền, Hà Nội, đã diễn ra cuộc thảo luận về dịch thuật và phê bình dịch thuật. Tôi cho rằng căn cơ của việc thảo luận này vẫn không ra ngoài việc đọc và dịch tác phẩm văn chương nước ngoài hiện nay, trong ít nhiều trường hợp, vẫn chưa thoát khỏi việc đọc chưa vỡ chữ của nguyên tác, dẫn đến việc dịch cũng không vỡ chữ thành tiếng Việt từ nguyên tác. Và thực trạng việc dịch văn chương ấy liệu có liên quan mật thiết đến việc đọc và dịch văn chương một cách có văn hóa không, và thực sự, đang có vấn đề về văn hóa đọc của nhà phê bình và văn hóa dịch của các dịch giả hay không? Và, cả văn hóa đọc lẫn văn hóa dịch này có liên quan đến văn hóa đọc văn chương hôm nay hay không?

Không hề ngẫu nhiên, trong nền dịch thuật Việt hôm nay, đã xuất hiện những nhà phê bình “ném đá” vào dịch giả, cùng những lời lẽ đánh đập thô bạo, quá lời, khiến một số dịch giả phải kêu lên “chưa có không khí phê bình dịch thuật lành mạnh”. Song, phải thấy rằng, không phải lúc nào, tác phẩm nào của dịch giả cũng sáng láng trong cách đọc vỡ chữ tiếng nước ngoài và cách uyển chuyển “Việt hóa” của người dịch am tường, thấu hiểu tiếng Việt, khiến cho, có lúc, dịch thuật văn chương nước ngoài sang tiếng Việt đã được gọi tên là “thảm họa dịch thuật”.

Việc đọc của nhà phê bình văn chương hôm nay đối với tác phẩm văn học, vì thế, đương nhiên, được/phải diễn ra trên hai loại tác phẩm: loại tác phẩm được viết bằng tiếng Việt, tiếng mẹ đẻ, và loại khác, được dịch từ tiếng nước ngoài sang tiếng mẹ đẻ là tiếng Việt. Như đã nói, việc đọc của nhà phê bình văn học dịch là người Việt, chắc chắn phải dựa trên sự đọc “vỡ chữ” từ nguyên bản (tiếng Anh, Pháp, Nga, Đức, Trung Quốc… chẳng hạn) và cái sự đọc này chắc hẳn phải ngang bằng với sự đọc “vỡ chữ” và diễn đạt tử tế bằng tiếng mẹ đẻ là tiếng Việt, của chính người dịch Việt. Các bản dịch hay nhất của những dịch giả người Việt từ nền văn chương của các quốc gia trên thế giới đã và đang nằm trên giá sách của người Việt yêu văn chương thế giới từ trước đến nay, đã chứng tỏ điều đó. Những thảo luận về sai sót trong dịch thuật hôm nay chỉ chứng tỏ rằng, trong tình cảnh lộn xộn, bát nháo, vội vã, thậm chí chộp giật, của thị trường xuất bản sách dịch hôm nay, đã xảy ra rất nhiều lỗi văn hóa trong dịch thuật, liên quan đến lỗi văn hóa trong cái đọc, và tất nhiên, đi liền với nó là cái viết bình luận bằng tiếng Việt trong dịch thuật, trước hết là của nhà phê bình văn chương nói chung và nói riêng, là của nhà phê bình dịch thuật… Chính dịch giả Trịnh Lữ (Cuộc đời của PiĐại gia Gasbi cũng đã phải nhận thực trên báo Thanh Niên: nguy hiểm nhất của nghề dịch là cái sai về văn hóa. Bởi người dịch vốn được coi là người vận chuyển và người thương lượng giữa hai nền văn hóa. Dich giả Trần Đình Hiến dịch Báu vật của đời cũng đồng thuận: dịch thực chất là giao lưu giữa hai nền văn hóa mà nhiều khi yếu tố văn hóa cho một dịch phẩm thành công quan trọng hơn ngôn ngữ. Văn hóa rất quan trọng với người dịch, cần phải có phông văn hóa sâu rộng của cả hai nền văn hóa. Trong ký ức riêng, tôi cất giữ kỷ niệm về một dịch giả bậc thầy hào hoa phong nhã dịch truyện ngắn cổ điển tiếng Nga  của I.Bunhin sang tiếng Việt, khi cùng qua con phố nhỏ gần đồi đại học Tổng hợp Lomonosov ở Maxcơva, năm 1984, ông nói: Để dịch một chi tiết về cái phố nằm trên triền đồi dông dốc với những khúc lượn rất dễ thương này của Maxcơva, tôi đã phải đi qua đi lại đây hàng trăm lần, ngắm nghía, thưởng thức nó trong mấy năm đại học và cả khi quay trở lại làm nghiên cứu sinh…

 

 

Khó nhất là vỡ chữ thơ

Trong các thể loại mà nhà phê bình văn chương lấy làm đối tượng để bình giá, để phê bình, tôi thấy việc đọc “vỡ chữ” thơ (thẩm thơ) là điều khó khăn, phức tạp nhất và cho dù thế nào, cũng khó có ai thuộc thế hệ sau Hoài Thanh có thể “qua mặt” ông trong việc bình thơ, dù thơ của thế kỷ XXI rất khác với thơ của thế kỷ XX. Nhưng thế kỷ nào thì cũng cần thơ hay, cũng có thơ hay và những bài thơ hay trong ngôn ngữ của quốc gia này vẫn được dịch thật hay sang ngôn ngữ quốc gia khác. Về dịch thơ, tôi nghĩ bản dịch Đợi anh về của thi sĩ người Nga Simonov được nhà thơ Tố Hữu dịch sang tiếng Việt, hoặc bài thơ Không đề của Olga Bergol, nữ sĩ người Nga, được nhà thơ Bằng Việt dịch sang tiếng Việt, rồi Hoàng Hạc Lâu của thi sĩ Trung Hoa Thôi Hiệu đời Đường được thi sĩ Tản Đà dịch sang tiếng Việt… đã là những thí dụ sáng giá nhất về dịch thơ.

Về Thơ Mới, có lẽ không thể thiếu sự bình giá đích đáng của Hoài Thanh, như một tri âm lãng mạn nhất, có phép ứng xử văn hóa nhất với Thơ Mới trong giai đoạn đầu quá trình hiện đại hóa văn học Việt thế kỷ XX, trong bối cảnh hiện đại Việt Nam giao lưu văn hóa với phương Tây.

 Việc đọc vỡ chữ Thơ Mới của Hoài Thanh, đương nhiên, đã gắn kết biện chứng, “liền ruột” với cách diễn đạt tiếng Việt của ông, cũng thật là mẫu mực về sự trong sáng, uyển chuyển và tinh tế trong cái viết của một nhà phê bình thơ. Vì vậy, có khi phải là một nhà văn mới có thể viết bình luận về một nhà văn, và nhà văn sáng tác tác phẩm văn chương và nhà văn bình luận tác phẩm văn chương là hai công việc cùng bản chất sáng tạo và, đương nhiên, tác phẩm của cả hai đều bình đẳng dưới ánh sáng mặt trời. Xin chú ý một đoạn thôi, khi Hoài Thanh viết về Thế Lữ, người khởi đầu Thơ Mới ở những năm 30 của thế kỷ XX, trong Thi nhân Việt Nam, với sự phát hiện đúng là của một kẻ tri âm về cái mới, mang tính tiền phong của thơ Thế Lữ: “Độ ấy Thơ Mới vừa ra đời, Thế Lữ như vầng sao đột hiện ánh sáng chói khắp cả trời thơ Việt Nam. Dầu sau này danh vọng Thế Lữ có mờ đi ít nhiều, nhưng người ta không thể không nhìn nhận cái công của Thế Lữ đã dựng thành nền Thơ Mới ở xứ này. Thế Lữ không bàn về Thơ Mới, không bênh vực Thơ Mới, không bút chiến, không diễn thuyết, Thế Lữ chỉ lặng lẽ, chỉ điềm nhiên bước những bước vững vàng mà trong khoảnh khắc cả hàng ngũ thơ xưa phải tan vỡ. Bởi không có gì khiến người ta tin ở Thơ Mới hơn là đọc những bài thơ mới hay. Mà thơ Thế Lữ về thể cách mới không chút rụt rè, mới từ số câu, số chữ, cách bỏ vần, cho đến kết cấu âm thanh. Thế Lữ đã làm rạn vỡ những khuôn khổ ngàn năm không di dịch. Chữ dùng lại rất táo bạo. Đọc đôi bài, nhất là bài“Nhớ rừng”, ta tưởng chừng những chữ bị xô đẩy, bị dằn vặt bởi một sức mạnh phi thường”.

Tưởng không có lời nào huy hoàng, đích đáng hơn Hoài Thanh, khi viết về sức mạnh riêng của con chữ thơ Thế Lữ, với vai trò thi sĩ tiền phong, khởi đầu trào lưu Thơ Mới.

 

Di chuyển từ kịch bản lên sàn diễn

Như thế, hoàn toàn không ngẫu nhiên, việc đọc vỡ chữ của nhà văn làm nghề phê bình văn chương, còn liên quan đến một công việc sáng tạo vô cùng quan thiết với các loại hình nghệ thuật khác, khởi đi từ văn chương, thí dụ nghệ thuật sân khấu, điện ảnh, âm nhạc… là chuyển từ ngôn ngữ phi vật thể của kịch bản văn học sang ngôn ngữ vật thể của vở diễn trên sàn diễn, hoặc của bộ phim trên màn ảnh phim truyện. Về chuyện di chuyển đầy sáng tạo và cũng đầy thú vị này, tôi tin vào một bậc trưởng thượng của giới sân khấu, đó là NSND Nguyễn Đình Nghi, con trai trưởng của NSND Thế Lữ. Hai cha con họ chiếm hai vị trí nửa đầu và nửa cuối thế kỷ XX về công cuộc đưa nghề đạo diễn từ châu Âu vào Việt Nam và kiến tạo nghề này vững chãi ở Việt Nam.

Đạo diễn là một nghề mang tính chỉ huy tổng thể đối với tác phẩm sân khấu. Muốn làm cái nghề đưa tác phẩm văn học kịch lên sân khấu này, theo Nguyễn Đình Nghi, việc đầu tiên của đạo diễn là phải chứng tỏ quyền năng hành nghề ở khâu đầu tiên, hoàn toàn liên quan đến văn chương, đó là “đọc cho vỡ chữ” văn bản kịch. Nghĩa là đạo diễn có quyền lựa chọn kịch bản văn học, có khả năng làm hỏng một kịch bản hay, hoặc làm hay hơn một kịch bản trung bình. Một khi đạo diễn đã tìm được cách đọc kịch bản và cách dàn dựng trên sân khấu thì cả tác giả kịch lẫn diễn viên kịch đều khó bề cưỡng chống. Đạo diễn phải là người hiểu, cắt nghĩa, giải thích tác phẩm theo cách riêng của mình, khi ấy văn bản kịch sẽ mang ánh sáng của riêng người đạo diễn. Cùng một kịch bản văn chương, mỗi đạo diễn sẽ có cách ứng xử văn hóa riêng, càng riêng càng độc đáo. Tất nhiên, riêng ở đây không có nghĩa là phản bội tinh thần của người viết kịch. Nguyễn Đình Nghi nhấn mạnh rằng, đạo diễn kịch phải là người hiểu kịch bản, “tiêu dùng” nó như một khám phá, để làm bệ đỡ cho một ngôn ngữ khác, đó là dàn dựng vở diễn, chứ không phải hề đồng lóc cóc chạy theo nhà viết kịch. Và ông dẫn ra một thí dụ rất hay từ một bài thơ tình trong kho tàng thơ cổ Trung Hoa. Theo trí nhớ của ông, bài thơ có nguyên văn chữ Hán: Quân tri thiếp hữu phu/ Tặng thiếp song minh chu/ Cảm quân triền miên ý/ Hệ tại hồng la nhu/ Hoàn quân minh chu song lệ thủy/ Hận bất tương phùng vị giá thì… Ông tạm dịch nghĩa: Chàng biết thiếp có chồng, vẫn tặng thiếp đôi ngọc minh châu. Cảm cái tình sâu nặng của chàng, thiếp đeo ngọc trong áo lót mình màu phấn đỏ. Nhưng nghĩ mình là gái đã có chồng, không muốn phụ lời vàng đá với chồng, đành rơi lệ mà trả chàng đôi ngọc, hận vì không gặp chàng khi còn là gái chưa chồng. Khi bài thơ được dịch sang tiếng Việt, ông Nghi thấy ai cũng dịch thật sát nguyên văn cái hình ảnh đẹp nhất của bài thơ: thiếu phụ ấy đã khóc mà trả lại đôi ngọc minh châu cho người tặng. Ông Nghi cũng hiểu y chang như thế, ngay cả khi đọc bài thơ nguyên bản chữ Hán. Bỗng nhiên ông được đọc bài thơ ấy bằng tiếng Pháp, do một người gốc Trung Quốc dịch. Người đó dịch: Em xin trả lại chàng đôi ngọc. Đấy là hai giọt nước mắt em rơi xuống. Ông Nghi lập tức thấy vỡ ra một điều gì đó giống như một phát hiện. Bài thơ bỗng lạ hẳn, mới hẳn, hay hơn hẳn và rực sáng như khuôn mặt đẹp lúc xuất thần. Từ đó, ông liên tưởng đến sức mạnh tư duy của người đạo diễn sân khấu, và khẳng định: Hệt như dịch giả Trung Quốc trong bài thơ này, người đạo diễn phải có sức khám phá, phát hiện riêng, phải đẩy cho được kịch bản lên một tầm cao mới, trong ngôn ngữ vở diễn trên sân khấu. Bởi vậy, tự thân kịch bản văn chương đòi người đạo diễn sân khấu buộc phải có sức biện biệt về văn học. Sức biện biệt này càng mạnh, càng lớn, thì người đạo diễn càng hay, càng độc đáo. Vì thế, khi tôi đối thoại với ông về nghề đạo diễn cách đây đã vài chục năm, ông Nghi từng thú nhận cảm giác rợn ngợp khó tả của ông khi đứng trước… chữ của văn bản kịch, y như trước cánh cửa khép kín, mà thoạt đầu không thể tìm thấy ngay chìa khóa mở cửa. Là người tự trải nghiệm sâu sắc về văn hóa đọc… chữ kịch bản để chuyển sang cái dàn dựng sân khấu, Nguyễn Đình Nghi không bao giờ tin một kịch bản hay lại lồ lộ phơi trần tất cả ý nghĩa của nó ngay lần đầu chạm mặt. Bao giờ kịch bản hay cũng mang trong lòng nó những ý chìm sâu, lắng đọng mà chừng nào ông Nghi chưa tìm ra nó, thì chưa thể yên tâm bắt tay vào dàn dựng. Song, là người đọc tinh tế, ông cũng không bao giờ muốn kết luận thô thiển: tác phẩm văn học kịch chỉ nên viết vừa phải, để dành khoảng trống cho đạo diễn và diễn viên bù đắp, khi chuyển ngữ sang vở diễn sân khấu. Theo ông, một kịch bản đích thực là văn chương không phải là nơi để nhà đạo diễn sân khấu thêm thắt, bù đắp, mà chính là một kho báu cho đạo diễn phát hiện, đào bới mãi cũng chưa đi hết giới hạn văn chương cuối cùng của nó. Chính vì thế, dù cho Shakespeare đã viết kịch bản Hamlet kỹ lưỡng đến thế về văn chương kịch, thì hoàn toàn vẫn còn rộng chỗ cho đạo diễn và diễn viên trên toàn cầu sáng tạo ngôn ngữ sân khấu và điện ảnh. Trên thực tế, đã có hàng trăm bản dựng của hàng trăm đạo diễn và cũng thế, hàng trăm vai diễn Hamlet khác nhau trên sân khấu và điện ảnh toàn cầu. Càng gặp đạo diễn và diễn viên có tài thì chàng hoàng tử Đan Mạch ấy càng lộ diện nhiều khuôn mặt và số phận nghệ thuật phong nhiêu trên sân khấu và màn ảnh thế giới. Cuối cùng, Nguyễn Đình Nghi cho rằng việc khám phá chữ nghĩa của văn bản kịch phụ thuộc vào việc đạo diễn phải đặt mình vào trạng thái sáng tạo của nhà viết kịch, nghĩa là trạng thái… viết của người tạo con chữ trên mặt giấy, để cố gắng sống lại tâm ý của người viết, khi tạo nên tác phẩm kịch, rồi mới làm được việc tiếp nối của đạo diễn là đưa các con chữ lên, “vật thể hóa” nó trên sàn dựng và sàn diễn. Và chỉ khi nào người đạo diễn tìm ra trong công việc ấy một niềm hạnh phúc sáng tạo thì việc dàn dựng vở diễn mới có thể bắt đầu. Ông Nghi, khi nói những điều này, cũng hiểu rõ: một tác giả kịch không chỉ thể hiện bộ mặt tinh thần của mình chỉ qua một tác phẩm. Vậy, đấy lại là điều nhà đạo diễn phải tìm kiếm, thí dụ qua vài chục vở kịch, Lưu Quang Vũ muốn nói điều gì canh cánh và xuyên suốt với công chúng Việt vào mấy thập niên cuối thế kỷ XX ở Việt Nam chẳng hạn? Từ đó, Nguyễn Đình Nghi đã tìm được một định nghĩa đích đáng về nghề đạo diễn kịch, trên một căn bản triết lý về sức biện biệt văn học, đối với nghề này, như một đảm bảo bằng vàng cho việc sáng tạo vở diễn kịch. Theo ông:

*Đạo diễn sân khấu = người giải thích tác phẩm văn học

*Đạo diễn sân khấu = bội số của tác phẩm văn học

*Đạo diễn sân khấu = giấc mơ về tác phẩm văn học

Tôi và chúng tôi, những người làm công việc bình luận những vấn đề đặt ra từ sự phát triển đang hết sức phức tạp, đa dạng, bộn bề của nền văn nghệ Việt hôm nay đã đi đến thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, và đang gắng sức nhận thực, phân tích hiện trạng văn hóa đọc hôm nay, đặng tìm cách chuồi ra, thoát khỏi bi kịch “đọc không vỡ chữ”, từ những kinh nghiệm, bài học của tiền nhân, của đồng nghiệp và của những trải nghiệm từ bản thân việc viết phê bình của mình. Và đây là một cố gắng nhỏ nhoi của tôi và cũng là phát biểu có tính trải nghiệm cá nhân về công việc bình luận văn nghệ từ chính mình, không có ý nào khác…

( Nguồn: vanvn.net)

Đăng bởi: Ngô Minh | 02.12.2016

Bàn về liên hệ “Nguyên nhân – hậu quả”

Bàn về liên hệ “Nguyên nhân – hậu quả”

  •   NGUYỄN HUỲNH MAI

Lướt qua vài tựa báo trên mạng hôm nay, ta có thể thấy những tựa bài rất … câu khách.

Phụ nữ có vòng 3 lớn hơn sẽ thông minh và khỏe mạnh hơn

Phụ nữ ngực càng to càng thông minh.

Nguy cơ suy thận do ngủ không đủ giấc.Đàn ông lấy vợ thông minh sống lâu hơn.

.Các bài báo thường bắt đầu bằng “Một nghiên cứu của trường Đại Học X, Y , … đã cho thấy rằng …” như để chính thống hóa thông tin nhưng không cho biết xuât xứ rõ ràng của nghiên cứu, tức là đã đăng trên tạp chí khoa học nào, số mấy và năm nào. Không có nguồn gốc thì thông tin không khả tín được.

Thông minh và giấc ngủ là hai …”sở trường” của tác giả bài này vì cá nhân đã làm việc ở một Trung tâm giấc ngủ (Sleep Center, ULg) và có nhiều liên kết với Trung tâm Thần kinh (GIGA, Center for Nero Sciences, ULg) của Đại học Liège trong gần hai mươi năm.

Nhưng bài này không nói về nội dung mà đặt vấn về về phương pháp, về các cách kết luận, các khẳng định “nhân-quả” giữa hai hiện tượng.

Thật vậy, liên hệ giữa hai hiện tượng có thể

– là một liên hệ giống nhau theo hình thức, theo quá trình cấu thành liên hệ giữa hai hiện tượng hay theo diễn tiến – tức là những điều quan sát được, kiểm tra được.

– là một liên hệ phụ thuộc. Vì b là cấu thành của a chẳng hạn

– là một liên hệ ảnh hưởng lẩn nhau (khi a tăng thì b giảm, hay ngược lại)

– là một liên hệ thời gian (xãy ra cùng một lúc chẳng hạn)

– cũng là một liên hệ thời gian nhưng hiên tượng này đi trước hiện tượng kia

– cũng trong thời gian, hiện tượng a có thể tự biến đổi mà không có can thiệp của bất cứ yếu tố ngoại lai nào, kể cả hiện tượng b đối diện mà ta đang quan sát

– bất cứ hiện tượng nào, nhất là các hiện tượng xã hội, đều có nhiều liên hệ với nhiều hiện tượng khác, cùng một lúc, chằng chịt.

Nhưng có một liên hệ mà tất cả các nhà khoa học đều rất thận trọng trước khi kết luận : liên hệ nhân quả hay liên hệ nguyên nhân và hậu quả (lien de causalité).

Vì làm sao minh chứng được rằng a là nguyên nhân hay hậu quả của b trong khi a và b, trong môi trường và trong cuộc sống, bị “bao vây” và có nhiều liên hệ phức tạp với nhiều hiện tượng khác cùng lúc ?

Vài thí dụ:

X và Y ly dị nhau vì Y không đoan trang hiền thục. Biết bao nhiêu cặp đôi trong đó bà vợ không khác gì … sư tử Hà Đông vẫn sống cùng nhau tới già kia mà. Có thể còn yếu tố hoàn cảnh, liên hệ ngoài luồng, … chen vào trong trường hợp của X và Y ở đây.

X học giỏi vì X thông minh ? – Còn tùy thể chế và hệ thống trường học, ta vẫn nói “trong xứ người mù thì ông chột là vua” mà. Còn tùy cá nhân của X, chuyên cần, lại được cha mẹ khuyến khích và đầu tư đầy đủ hay, hiếm hơn nhưng vẫn có thể, X học giỏi vì X muốn được cha mẹ yêu, tức là do một vấn đề về tâm thần nội tại của X.

Thiếu ngủ cho nhiều hệ lụy, điều đó không ai chối cải dù y khoa hiện cho thấy là ngủ nhiều nguy hiểm hơn là ngủ ít. Nhưng theo các kết quả hiện thời của y khoa – qua các Hội nghị về giấc ngủ gần đây nhất- chưa có nghiên cứu nào cho thấy là thiếu ngủ kéo theo suy thận – thiếu ngủ tới chừng mực nào?, trong bao nhiêu năm ? Suy thận cở nào? Làm sao cách biệt ra được các nguyên nhân khác về di truyền hay về vệ sinh thường thức của cuộc sống của các cá nhân mà nghiên cứu quan sát ?

Còn mông hay ngực to và thông minh trong chừng mực nào đó, có thể đúng. Có thể vì những phụ nữ với mông và ngực to được xã hội vinh danh nhiều hơn, được nhiều stimulis (kích thích) hơn nên …thông minh hơn nhưng tới bây giờ, chưa có một nhà khoa học nào dám khẳng định điều đó vì thế nào là thông minh vẫn còn đang bị tranh cải, Chỉ số IQ không được nhất trí đồng thuận vì cách đo có nhiều biais hay trục trặc khiếm khuyết. Vã lại thông minh ở đây là thông minh loại nào, vì hiện giới khoa học đồng tình ít nhất ở một điểm: ta có nhiều loại thông minh…

Thế có nghĩa là liên hệ nguyên nhân – hậu quả giữa mông hay ngực to và thông minh là một liên hệ hiện chưa chứng minh được.

Cuối cùng, cũng theo các tựa bài dẫn ở trên, bài nói về sự trường thọ của những người đàn ông lấy vợ thông minh được mang về từ một địa chỉ thương mại http://iheartintelligence.com/, mà dò theo các posts, ta có thể đọc, chẳng hạn, rằng các chất gây nghiện tốt cho não (!)

tức là nguồn này còn tệ hơn những tờ báo lá cải, xin miễn bàn.

Về một chữ trong bài thơ Thuật Hoài của Đặng Dung

Bài thơ Thuật hoài của Đặng Dung là bài thơ xuất sắc, tiêu biểu cho tinh thần yêu nước, ý chí chống ngoại xâm của người Việt. Đáng tiếc là xưa nay, các bản in, theo tôi nghĩ, người ta cứ cố tình in sai đi một chữ, kể cả là trong sách dạy cho học trò! Mà chữ đó lại rất quan trọng, là sự giải bày của tác giả, cũng là linh hồn của bài thơ đó nữa!

Cụ thể như sau:

Thế sự du du nãi lão hà

Vô cùng thiên địa nhập hàm ca

Thời lai, đồ điếu thành công dĩ

Sự khứ, anh hùng ẩm hận đa

Trí chủ hữu thời phù địa trục

Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà

Quốc thù vĩ báo đầu tiên bạch

Kỷ độ long tuyền đái nguyệt ma!

Câu thứ 5 của bài thơ này, các sách xưa nay đều in là Trí chủ. Riêng sách Nghệ An dư địa chí của Bùi Dương Lịch viết chữ đó là Cải chủ. “CẢI” chứ không phải “TRÍ”!

Trí chủ có nghĩa là cúc cung tận tụy phục vụ ông chủ.

Ngược lại ý đó, Cải chủ có nghĩa là thay đổi ông chủ.

Hai chữ TRÍ và CẢI có nghĩa đối lập nhau. Ta nên hiểu thế nào?

Xét lại thời điểm bài thơ ra đời ta thấy: Sau khi Trần Ngỗi giết chết Đặng Tất (cha của Đặng Dung, tác giả bài thơ này), Đặng Dung kéo quân từ miền tây Quảng Bình ra Nghệ An truất Trần Ngỗi, đưa Trần Quý Khoáng lên ngôi, đặt tên hiệu vua mới là Trần Trùng Quang. Lúc đấy, Đặng Dung viết bài thơThuật hoài (thuật lại chuyện vừa xẩy ra, bày tỏ tấm lòng của mình), ngoài việc nêu cao tinh thần yêu nước, ý chí chống ngoại xâm triệt để, tác giả còn có ý làm sáng tỏ trước dư luận về việc thay vua (Cải chủ). Đặng Dung muốn thiên hạ hiểu rằng, việc ông thay vua (Cải chủ) là vì mục đích “phù địa trục” chứ không phải là việc trả thù riêng của cá nhân ông. Trong trường hợp này, Đặng Dung chỉ có thể viết hai chữ Cải chủ, chứ không thể là Trí chủ. Với chữ Cải chủ, câu thơ này rất rõ nghĩa: “Cải chủ hữu thời phù địa trục”. Với câu thơ đó, Đặng Dung muốn phân bua, muốn giải thích, giải bày với mọi người rằng, việc ông thay chủ là vì nghĩa lớn, vì nước, vì dân, vì “phù địa trục”, vì mục tiêu của cuộc kháng chiến, vì sự vững bền của non sông xã tắc, chứ không phải vì mối hận thù riêng cá nhân như trên đã nói. Rõ ràng, với bài thơ này, chữCải chủ là hoàn toàn hợp cảnh, hợp tình, hợp lý.

Nhưng vì sao người ta cứ cố tình in chữ Trí chủ?

Theo tôi nghĩ, điều này rất dễ hiểu. Người Việt xưa nay, thời nào cũng thế, rất sợ “án văn tự”. Mà “án văn tự” ở trong thời phong kiến thì bị chém đầu như chơi, ai mà chẳng sợ! Vì vậy, trong thời vua quan phong kiến chẳng ai đủ gan để dám nói, dám viết, dám in ấn hai chữ Cải chủ. Bởi vì, nói Cải chủ là nói thay chủ, đổi chủ, là nói đến sự lật đổ một ông vua, một triều đại, một chính thể. Bởi thế nên, trí thức, quan lại các thời, các kiểu đều phải kiêng dè, né tránh, rồi sau đó là cố tình, cố ý, đọc chệch, nói chệch, viết chệch dần dà tiến tới chỗ lấy chữ Trí chủ thay vì Cải chủ để in ấn trong các văn bản, nhằm mục tiêu bảo đảm an toàn! Điều đó có thể hiểu được.

Nhưng điều đáng nói là, thời phong kiến văn chương phải chịu sự tù mù ấm ớ như vậy đã đành, đến thời ta, sao các vị lại vẫn cứ tiếp tục in chữ Trí chủ ở trong sách giáo khoa để dạy học trò mà không in chữ Cải chủ? Có ai bắt ép các vị phải in ấn rồi giảng dạy một cách tù mù ấm ớ như thời xưa vậy đâu! Vậy thì các vị phải thay đổi và in ấn rồi giảng dạy bài thơ này cho đúng y xì như nguyên bản đi chứ nhỉ?

Thuật hoài của Đặng Dung là bài thơ xuất sắc về tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường chống giặc ngoại xâm của người Việt, dân tộc Việt, nhưng đồng thời nó cũng gắn chặt với các sự kiện đặc thù của một thời lịch sử, cùng với đó, là những nỗi niềm “ngổn ngang trăm mối” ở trong tâm hồn, tâm trạng của tác giả tại thời điểm viết ra bài thơ ấy.

Dạy văn học là phải dạy cho học trò hiểu cả cái nỗi niềm day dứt ở trong tâm hồn, tâm trạng tác giả, đồng thời cũng chính là cái day dứt trăn trở, nghĩ suy ở trong lòng người đó nữa, chứ không phải chỉ dạy lòng yêu nước căm thù giặc một cách chung chung, khái niệm…

Vì thế, tôi đề nghị cần sửa ngay chữ Trí chủ (né tránh) thành chữ Cải chủ (nguyên tác) trong bài thơThuật hoài của Đặng Dung ở trong sách giáo khoa trước khi đem nó ra dạy cho học trò, để chúng được học bài thơ y nguyên tinh thần nguyên bản.

 

Nguồn Văn nghệ 49/2016

Older Posts »

Danh mục