“TAI NẠN VĂN CHƯƠNG”:TIỂU THUYẾT “THỜI CỦA THÁNH THẦN”:HAI BÀI TRÊN BÁO QĐND

QTXM-Bạn đọc thân mến. Tiểu thuyết Thời của thánh thần của nhà văn Hoàng Minh Tường là cuốn sách hay, phản ảnh được hiện thực xã hội nước ta một thời. Nhưng sách vừa mới ra mắt đã phải chịu nhiều sóng gió. Đây cũng là một “tai nạn văn chương” một thời. Sau đây là hai bài  đăng trên báo QĐND về cuốn tiểu thuyết này.

1/ Nếu chỉ tâng bốc, tô hồng

Hà Thế

Đầu năm 2005, nhà văn Hoàng Minh Tường đã cho ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Ngư phủ”, một tiếp nối trong “Gia phả của đất”. Sau “Ngư phủ”, tiểu thuyết Hoàng Minh Tường hoặc có thể sáng chói, hoặc có thể bị lu mờ. Nhất là cuốn tiểu thuyết “Thời của thánh thần” mới đây của anh tạo ý kiến đa chiều của bạn đọc. Chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với Hoàng Minh Tường, xin giới thiệu với bạn đọc để hiểu thêm góc nhìn của nhà văn. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 27.04.2015

Plêi Breng Uép

Plêi Breng Uép

  Mai Khắc Ứng

( Bài gửi từ Canada)

QTXM- Plêi Breng Uép là một buôn của đồng bào Giarai ở KonTum,nhưng không còn tìm ra ngôi nhà dài truyền thống của buôn nư xưa nữa. Những “nhà dài văn hóa”,”nhà rông văn hóa” đã làm biến mất dần những ngôi nhà truyền thống của đồng bào. Ai chịu trách nhiệm đây ?

  Mùa mưa trên cao nguyên miền Trung năm nay vợi sớm. Những thoáng nắng, thoáng mưa đan xen vào nhau làm nên từng nhịp cầu vồng bảy sắc lung linh. Một vài chóp xanh tinh anh của rừng già mới gội vươn lên trên các dải mây trắng để phảng phất đôi nét Sapa, đôi nét thuỷ mặc của một bức tranh quê trong ta. Tháng 9 mà tạnh ráo thế này là may mắn lắm. Mưa vớt vát cuối mùa, thưa mà nhẹ vừa đủ thấm mặt đường để ém các lớp bụi, vừa đủ bốc hơi trên từng thảm lá rừng cùng làm nên một làn sương mỏng.“Hơi lam xoá dải chân làng” Câu thơ của ai đó từ một thời xa lắc, chợt hiện nhớ trong tôi. Hơi lam. Vâng! Hơi lam cao nguyên cuối mùa mưa sao mà mong manh vậy. (Đọc tiếp…)

NGUYỄN KKHẮC VIỆN-YÊU VÀ MƠ“- CUỐN SÁCH THỨ 20 CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN KHẮC PHÊ

QTXM-Đúng ngày sách Việt Nam năm ngoái, nhà văn Nguyễn Khắc Phê (NKP) in cuốn “TRANG SÁCH, CUỘC ĐỜI, NHÀ VĂN” gồm 75 bài phê bình-tiểu luận viết trong khoảng 10 năm (2003-2013) để “tự kỷ niệm” mình tròn 75 tuổi. Để “tự kỷ niệm”, nên tất nhiên phải bỏ tiền ra. Năm nay cũng vào dịp kỷ niệm Ngày Sách Việt Nam 21/4, cuốn sách thứ 20 của NKP vừa được NXB Trẻ in. Đó là cuốn “NGUYỄN KHẮC VIỆN YÊU & MƠ”.

Xin trích “Lời nói đầu” và một trong số thư tình của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện (BSNKV) để bạn đọc biết cuốn sách có gì đáng đọc. Từ những lá thư tình cực kỳ lãng mạn của BSNKV viết từ gần nửa thế kỷ trước lần đầu được công bố, bạn đọc sẽ hiểu được đầy dủ và chính xác nhất mối tình tay ba đặc biệt giữa Trần Đức Thảo-Nguyễn Thị Nhất-Nguyễn Khắc Viện; còn qua 78 giấc mơ cuối đời của ông, chúng ta sẽ hiểu thêm một vấn đề khoa học còn nhiều bí ẩn và những mối quan hệ của BSNKV với nhiều lớp người khác nhau, trong đó có người yêu đầu tiên của ông ở Pháp và cả một vài “trí thức” về sau trở thành thủ lĩnh “Khơme Đỏ”!… Đọc cuốn sách, chúng ta hiểu thêm “chân dung” lớp “trí thức thiên tả” một thời, hiện đang có những cách đánh giá khác nhau (Đọc tiếp…)

 TRỌNG THỂ TIỄN ĐƯA NHÀ THƠ PHAN XUÂN HẠT VỀ CÕI VĨNH HẰNG

NGUYỄN TRỌNG TẠO 

Nhà thơ Phan Xuân Hạt làm rể làng tôi, nên tôi biết anh từ lâu và vô cùng kính trọng. Anh sống nhân hậu, ân tình với mọi người. Trong nghề biên tập sách văn học, anh được nhà xuất bản Thanh Niên gọi là “bác thợ cả”. Suốt một đời cầm bút, anh làm những bài thơ giản dị, mộc mạc nhưng mang nhiều triết lý nhân sinh và dạt dào tình cảm. Thơ anh có vẻ lặng lẽ thế, nhưng cũng có lúc gặp sóng gió. Nhưng anh vẫn sống hồn nhiên như “cỏ non tơ, mỡ màu/ sống hết mình xanh biếc”.

Tuy tuổi cao nhưng tôi thấy anh không ốm đau bao giờ. Gặp bạn bè thì cùng nhau uống cốc bia, đàm đạo văn chương. Thỉnh thoảng anh lại làm thơ bằng tiếng Pháp, và có lần anh đã gửi cho Tổng thống Pháp 1 bài thơ và được Tổng thống viết thư phúc đáp, bình phẩm, khen ngợi. Thơ anh cũng đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và in ở nước ngoài như Đức, Pháp, Nga, Cuba, Trung Quốc, Nhật bản, Tiệp Khắc, Campuchia… (Đọc tiếp…)

Nhà thơ Nguyễn Ngọc Phú

ĐƯỜNG TỚI SÀI GÒN 30 THÁNG 4: HÀNH TRÌNH THƠ …      

  Nguyễn Ngọc Phú

      QTXM-Cố thủ tướng Võ Văn Kiệt nói, ngày 30-4 có 1 triệu người vui cũng có một triệu người buồn. Niềm vui thì hát lên. Nỗi buồn thì lặng im nuốt vào lòng. Sau đây là niềm vui của các nhà thơ miền Bắc trong hành trình tới ngày 30 tháng Tư ấy…

Nhà thơ Hữu Thỉnh – Tác giả của trường ca “Đường tới thành phố”, một trong  những trường ca viết thành công về đề tài chiến tranh được giải thưởng  Hội nhà văn Việt nam – Ông nói: Lần đầu trường ca được mang tên “Hành trình qua dây thép gai”. Một cái tên ấn tượng về sự khốc liệt của cuộc chiến tranh. Một hành trình qua những giới hạn ngặt nghèo của số phận cả một dân tộc và của mỗi con  người. Đường tới Thành phố Sài Gòn  ngày 30/4/1975 là  một cuộc hành trình dài qua biết bao hy sinh gian khó, từ hậu phương tới chiến  trường, từ rừng núi xuống đồng bằng, từ đồng bằng vào thành phố. Những câu thơ hay  nhất, cảm động nhất trong trường ca của Hữu Thỉnh là viết về hậu phương. Ở đó có  người mẹ: “Chiến dịch này ăn cơm không phải độn – Mừng thì mừng m thương mẹ  biết bao nhiêu” và: “Từ chịu đựng neo đơn của mẹ – Bao việc làng, việc nước lớn dần  ra”. Từ một người chị ở hậu phương: “Hai mươi năm chị tôi đi đò đầy – Cứ sợ đắm  vì mình còn nhan sắc” đến một người vợ trong vùng địch tạm chiếm: “Một mình một  mâm cơm – Ngồi bên nào cũng lệch – Chị chôn tuổi xuân trong má lúm đồng tiền”. (Đọc tiếp…)

NSND Đặng Nhật Minh khai mạc buổi chiếu phim
Nhà văn Tô Nhuận Vỹ phát biểu ý kiến

“LÊ BÁ ĐẢNG –TỪ BÍCH LA ĐẾN PARIS”- BỘ PHIM XÚC ĐỘNG

  Ngô Minh

  Nhân  dịp 49 ngày mất của họa sĩ lừng danh Lê Bá Đảng, chiều ngày 25/4/2015, tôi vinh hạnh được mời đến dự buổi chiếu ra mắt phim tài liệu “ LÊ BÁ ĐẢNG- TỪ BÍCH LA ĐẾN PARIS” tại khách sạn 5 sao IMPERIAL ( Khách Hoàng Đế), Huế. Bộ phim do Hãng phim Khánh An, hãng phim đầu tiên của Huế sản xuất. Đạo diễn điện ảnh-nghệ sĩ nhân dân Đặng Nhật Minh là Giám đốc hãng phim này. Nhà văn Tô Nhuận Vỹ là cố vấn nội dung, chị Lê Cẩm Tế là gián đốc sản xuất. Đây là phim đầu tiên của hãng ra mắt công chúng. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 25.04.2015

MƯA ĐÊM

 

Ngô Minh

 MƯA ĐÊM

 ta ngồi

như đá quên đêm

nghe mưa tong tả

phương em mưa về

 

mưa môi

cho nhợt tái tê

mưa hai con mắt

u mê cõi người

 

tóc mưa

cuốn lũ bên trời

dạt trôi nào

cũng

dạt trôi bọt bèo

 

đêm mòn

từng trận mưa reo

lòng như sông lở

trôi vèo

nhân gian…

Nhạc sĩ Trần Tiến: “Sáng tạo khó thế đấy bạn ơi!”

“Đi đâu, làm gì thì cũng nên có bạn đồng hành. Nhưng sáng tạo thì đừng, phải độc hành” (Trần Tiến)

Trần Tiến chưa từng đi tìm một người hát hay nhất nhạc của mình, bởi nhạc của ông là dành cho cuộc đời, cho những ai tìm thấy vui buồn của mình trong đó. Nhưng năm 60 tuổi, ông đã thức suốt đêm ngồi nghe đi nghe lại CD “Trần Tiến”, món quà mừng sinh nhật được cô cháu gái Hà Trần gửi tặng từ phương xa, và bỗng nhận ra rằng, mình có được đứa cháu tri âm. Rồi lúc này, khi đã cận kề tuổi thất thập, ông lại gật gù: “Giờ thấy nó giống mình, hay hơn mình, mà lại là con gái…”

Chảy về biển, vì tôi chơi thân với dòng sông

– Ông từng có những câu hát rất hay về mẹ, nhất là lại còn được hát bởi Hà Trần: “Ngày xưa cha ngồi uống rượu, mẹ ngồi đan áo/Ngoài kia mùa đông, cây bàng lá đổ…”. Một ám ảnh buồn trong nhiều sáng tác của ông, hẳn vậy?
– Mẹ – người như bao người đàn bà trên trái đất, như cô bé đang chơi đùa với bạn ngoài vỉa hè kia, mồ hôi mướt mải. Em là mẹ tôi ở kiếp nào đó, là chị, là em, là người tình tôi ở hành tinh nào đó. Họ là cái gì tôi không có, nên tôi luôn trân trọng, yêu thương. Không có họ, trái đất này hoang vắng, già cỗi và sẽ chết. Mỗi người đàn ông trân trọng phụ nữ một cách. Với tôi, mẹ là đẹp nhất. Người là thiên thần cứu rỗi tôi, kể cả khi không còn ở cùng tôi. Khi Người về trời, tôi mới biết thế nào là cô độc tận cùng.
Tôi chỉ viết những gì ám ảnh tôi, có thể là một chút hạnh phúc hay nỗi tái tê, chút mộng mị hay niềm “cay cú”. Đời cho tôi cái gì, xin trả ơn Người cái đó. Đó cũng là khao khát duy nhất để tôi tự thấy mình đang tồn tại một cách tự do và không mắc nợ. Ngoài ra tôi không có mưu đồ gì lớn lao và cần thiết cho việc viết lách…
Bạn thấy tôi là ai, mảng nào quan trọng trong sáng tác thì đó là việc của bạn. Trời bắt tôi làm cái cột ăng ten thu phát, thì tôi phải thu phát. Có khi đày tôi làm nhạc sỹ, hay người đứng đường làm nghề chỉ trỏ, lại có lúc đày xuống làm thầy lang, ca sỹ, hay người rửa bát, tất cả chỉ là chuyện thu, phát của ăng ten. Gì cũng được, miễn là đang làm việc và tồn tại. Nhạc sỹ hay rửa bát rồi cũng đến lúc chia lìa cõi đời đẹp đẽ này. Có gì quan trọng lắm đâu. Tôi chỉ đang cố trả nợ những đắng cay vui buồn cuộc đời cho tôi, để khi ra đi thanh thản, với một nụ cười chào mọi người đã cùng tôi đi qua trái đất thân yêu.
– Và đó là lý do khiến ca khúc của ông, kể cả những bài có ca từ tếu táo hay giai điệu vui tươi, vẫn phảng phất nỗi buồn nhân thế?
– Cuộc đời buồn nhiều hơn vui, chả thế Trời báo cho tất cả những đứa trẻ phải khóc cái đã, rồi mới được vào đời! Thật may, ngoài nước mắt, con người còn được sở hữu nụ cười. Thế nên khi mắc lỗi, người ta dùng nụ cười để xin lỗi. Thế nên có người làm nghề bán nụ cười. Những anh hề thời nào cũng đắt giá hơn kẻ bán nước mắt. Cũng đúng thôi, kẻ biết đùa thường rất thông minh và có cuộc đời đau đớn lắm, trầm luân lắm. Vua hề thì không bao giờ toét miệng.
Tôi không thích nước mắt, nhưng nỗi buồn là có thật. Thế nên tôi thường dùng các thủ pháp đối lập để trình bày ca khúc. Bài hát vui thì phải cười ra nước mắt. Bài hát buồn thì phải giấu một nụ cười tự giễu. Nhìn người hay cười trông có vẻ ngốc nghếch. Nhưng người hay khóc thì cũng không hơn gì. Thế nên tôi thường viết những ca khúc chẳng vui, cũng chẳng buồn. Chút ánh sáng đượm chút bóng tối, kiểu như bài “Tạm biệt chim én”. Tâm trạng nào cũng hát được. Nó vui nhè nhẹ và buồn man mác. Chỉ có hai bài hát tôi hoàn toàn bất lực, không thể pha nụ cười. Đó là bài hát về mẹ và chị. Những bài hát này, tôi cứ hát là khóc. Cũng sến lắm!
– Vì thế nhạc sỹ Nguyễn Cường – bạn ông – mách, trong nhóm “tứ quái Hà Nội”, ông là người có tất cả: gia đình êm ấm, nhiều bài hát nổi tiếng và đặc biệt tài năng. Nhưng dường như ông chưa bao giờ thấy mình “yên ổn”…  
– Như đã nói, tôi còn mắc nợ trần gian. Làm sao có thể sống yên ổn, khi cuộc đời quanh ta đâu có bình yên. Khi Tổ quốc, quê hương, bạn bè, và người thân của bạn vẫn còn đang sống trong một cuộc đời đầy sợ hãi, lo âu và bất trắc. Khi bản thân bạn, tuổi già, nghèo nàn, bệnh tật và nỗi cô độc sẽ ụp xuống bất cứ lúc nào…
– Ông sinh ra và lớn lên bên một dòng sông, nhưng giờ ông chọn sống ở nơi cửa biển. Ông có thấy những đoạn đời sống ấy khác biệt?
– Tôi chơi thân với dòng sông, lớn lên biết nó chảy về biển, tôi đành phải theo nó…

Hà thành công cả những bài tôi không nhớ mình sáng tác
– Ông chắc chưa bao giờ quan tâm ai hát hay nhất nhạc của mình. Còn Hà Trần thì bảo, nhiều người có thể hát hay nhạc Trần Tiến, nhưng hát sâu và hát “ra chất” Trần Tiến thì chỉ có thể là cô ấy?
– Tôi trọng những người hát có hồn, hơn là khoe giọng và kỹ thuật mồi chài. Hà là người hát có hồn và lại có nghề. Không chỉ nhạc của chú, cả nhạc tiền chiến lẫn nhạc rock, Hà chơi tuốt và rất đáng gờm. Thể loại nào ra thể loại đó và rất sang trọng, có văn hóa. Vừa rồi, hai chú cháu diễn cùng trong đêm nhạc của tôi ở Phú Quốc, tôi bảo: “Con cứ ngẫu hứng, thích gì hát nấy, không cần là bài của bố”. Thế là được nghe cháu hát “Nỗi lòng người đi” của Anh Bằng mà giật mình. Người hát như Hà ở xứ ta hơi hiếm. CD tiền chiến của Hà bán được nhiều hơn và mắc hơn CD nhạc chú. Thế là tôi mừng.
– Hà hát “hơn người” nhạc của ông, hẳn còn vì cô ấy có một câu chuyện của riêng mình?
– Tôi không biết cháu mình có chuyện riêng gì, nhưng việc Hà hát hay có liên quan đến văn hóa, sự nhẫn nại và khát vọng vượt lên chính mình của gia tộc. Cháu Vinh (con chị Yến), cháu Bình (con em Oanh) là những đại gia chân chính vượt lên từ những đứa con nhà nghèo. Cháu Hoàng (con anh Trần Hiếu), cháu Văn (con anh Trung) là những họa sỹ, nhà văn đáng gờm (Đây đều là các cháu, anh, chị, em trong gia đình của nhạc sĩ Trần Tiến – PV). Phải lao động như nhà nông đi cày, cộng một chút DNA dòng giống, may ra mới có thể thành công trong đường đời.
– Giờ đây, khi Hà đã “ngồi chiếu diva”, ông nghĩ gì về con đường nghệ thuật với cô ấy?
– Tôi có nhiều người bạn cùng đi chung con đường nghệ thuật. Nhưng khi gặp nhau chỉ tán chuyện rượu, đàn bà và nhân tình thế thái, đố có bao giờ chia sẻ về nghệ thuật. Việc ai người đó làm, cốt ở cái tâm và sự sang trọng. Rất may, cho đến giờ, chưa có người nào đi sai đường. Chỉ có bệnh tật, tuổi già và cái chết làm cho bạn bè xa nhau thôi.

“… Cháu đi rồi, không biết điều gì mách bảo, tôi gọi lại và xé bài hát đi. Hôm sau đưa cháu một bài hoàn toàn khác. Đó chính là ‘Sắc màu’…”

Riêng cháu Hà thì khác. Tôi xa Hà Nội năm Hà mới 6 tuổi, tôi có hình cháu múa thật đáng yêu như bé Nala (con gái Hà Trần – PV) bây giờ. Chả nghe anh chị kể gì về cháu. Rồi đùng cái, Hà đoạt giải tiếng hát sinh viên gì đó, rồi nghe anh Trịnh Công Sơn bảo: “Cháu của Tiến hát hay lắm!”. Tôi hỏi: “Cháu hát bài gì?”. Anh bảo: “Hát bè cho Thanh Lam thôi, nhưng sau này sẽ là một giọng ca tầm cỡ”. Tôi nghe thế nhưng vẫn chẳng có ấn tượng gì, thậm chí còn thất vọng khi nhờ cháu thu bài “Cô bé vô tư” ở Hà Nội. Hình như ngày xưa, bố mẹ không dạy cháu hát, vì nghĩ giọng con bé như mèo hen, lại còn phô nữa. Chắc nhờ bố, mẹ và chú chê nên con bé “cay cú” và quyết tâm luyện hát. Không thể quên công dạy dỗ của chị Phi Hiển, em ruột của chị dâu, mà cháu cất cánh từ con vịt xấu xí thành thiên nga.

– Nếu coi Trần Tiến là một chiếc cầu vồng nhiều sắc màu, ông có thấy Hà Trần cũng là một chiếc cầu vồng? Con đường sáng tạo và làm nghề của Hà có ảnh hưởng từ yếu tố gia đình như thế nào, và sự vượt thoát khỏi những chiếc bóng lớn của thế hệ trước, theo ông là động lực hay là khó khăn của Hà?

– Chuyện cầu vồng thì để người nghe đánh giá. Còn sự vượt thoát thì khó khăn và những chiếc bóng lớn vốn là động lực cần thiết cho người muốn vượt thoát. Yếu tố gia đình là cần, nhưng không chắc đã đóng góp thành công của một đời người. Không phải con vua thì sẽ làm vua. Có khi anh cắt tóc lại… làm vua một thời.

– Từ lúc nào thì ông chính thức coi cháu mình là một ca sỹ?

– Mãi sau này Hà kể lại, từ bé, mỗi lần chú ra Hà Nội thăm và hát cho bố mẹ những sáng tác mới, cháu toàn ngồi hóng hớt nghe, nuốt từng lời. Rồi khi chú biểu diễn, đêm nào con bé cũng đứng cánh gà sân khấu xem chú nói chuyện và hát với khán giả. Sau này Hà quyết hát lại những bài của nhóm Du Ca, vì Hà nghĩ họ chưa hát ra cái “thần” của chú mình.

Có lần vào Tp. Hồ Chí Minh, Hà muốn chú sáng tác riêng cho một bài. Tôi thấy giọng cháu hồn nhiên nên viết bài gì đó rất trong sáng, bài hát có câu: “Nào một hai ba, bước qua thời học trò”.Con bé lấy làm thích thú nhận bài. Cháu đi rồi, không biết điều gì mách bảo, tôi gọi lại và xé bài hát đi. Hôm sau đưa cháu một bài hoàn toàn khác. Đó chính là “Sắc màu”. Nghe đâu, đây chính là ca khúc đưa cháu lên ngôi. Ngoài ra thì mọi thành công của cháu, có lẽ chẳng dính dáng gì đến tôi hoặc bố Trần Hiếu. Từ ngày đó, cháu là người duy nhất trong nhà được quyền lục tung vốn liếng của chú, kể cả những mẩu nhạc ở sọt rác. Cháu đã thành công cả những bài tôi không nhớ là mình đã sáng tác, như bài “Chuyện tình thảo nguyên” là một ví dụ. Bài “Dòng sông mùa thu” cháu phải khóc vì chú không còn nhớ đã viết tặng tên cháu Thu Hà hồi nhỏ. Ngày về Mỹ theo chồng, cháu gửi về tặng chú một CD nhân sinh nhật lần thứ 60. Lần đầu tiên tôi ngồi nghe đi, nghe lại cả đêm. Không phải vì nhạc của mình, mà vì mình có được đứa cháu tri âm.

Giờ thấy nó giống mình, hay hơn mình, mà lại là con gái.

– Những năm sau giải phóng, khi đa số nghệ sỹ viết những bài hát ca ngợi quê hương đất nước, thì ông viết “Tạm biệt chim én” (ca khúc được nhiều người làm nghề bình chọn xứng đáng là ca khúc pop Việt đầu tiên). Ông lúc nào cũng đi riêng một đường. Ông có thấy mình cô đơn trong thế giới sáng tạo đó?

– Đi đâu, làm gì thì cũng nên có bạn đồng hành. Nhưng sáng tạo thì đừng, phải độc hành! Thương gia giỏi như kẻ buôn chuyến ngày xưa còn tìm tơ lụa bằng con đường độc đạo. Huống chi nghệ sỹ! Buồn cho một bài hát mới mà khán giả thấy như đã nghe đâu đó, cũ rồi! Cô đơn thì buồn, nhưng nếu không, thì chẳng làm nên cơm cháo gì. Nếu đi con đường này thì phải một mình, có khi lần mép vực thẳm, té lúc nào không hay. Sáng tác như người đi xiếc trên dây. Nhưng không được chết. Đã chết thì làm sao còn làm xiếc, còn là nghệ sỹ. Nếu muốn an toàn, đi con đường an toàn thì tùy. Nhưng ca khúc an toàn thì… như gói mỳ.

Thời đó, những bài hát chiến tranh thường đứng trước nòng súng, thúc giục. Vậy mình viết bài hát phía sau nòng súng, nơi gần trái tim. Ngày đó anh Sơn (nhạc sỹ Trịnh Công Sơn – PV) viết về thân phận cô đơn của một người phía bóng tối quá tuyệt vời. Thì mình ra ánh sáng, nói về thân phận của nhiều người, kêu gọi nụ cười cộng đồng. “Thành phố tôi rất trẻ, bạn hãy nghe họ hát, bằng trái tim rất trẻ…” (trích “Thành phố trẻ”). “Buồn thì vẫn buồn, cười thì vẫn cười…” (trích 30 tổ khúc “Ra ngõ”). Và thế là các bạn biết tên tôi. Sáng tạo khó thế đấy bạn ơi. Khó chết mẹ!.

Bài: Thục Khôi

Nguồn: http://dep.com.vn/Doi-thoai/Nhac-si-Tran-Tien-Ha-giong-toi-hay-hon-toi-ma-lai-la-con-gai/36409.dep

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 25.04.2015

Hoàng Xuân Hãn bàn chuyện đi sứ

Hoàng Xuân Hãn bàn chuyện đi sứ

Hoàng Yên Lưu

Bắc đình thời nào cũng vậy từ Tần Thủy Hoàng, Hán Quang Vũ, Đường Thái Tông, Tống Thần Tông, Nguyên Thế Tổ, Minh Thành Tổ, Thanh Càn Long cho tới Mao Trạch Đông… đều lăm le xâm lăng Nam quốc nếu có cơ hội và khả năng. Lòng tham không đáy, thủ đoạn dã man của rợ Hồ (như cách nói của Trần Quang Khải: “cầm hồ Hàm tử quan”) đã khiến dân Việt lúc nào cũng phải cảnh tỉnh và mài sẵn long tuyền (như Đặng Dung từng nói: “Kỷ độ long tuyền đới nguyệt ma”) để trảm xâm lăng bảo vệ giang sơn Hồng Lạc.

Đối với cường địch, dân Nam vốn kiên cường và dũng cảm nhưng “bất đắc dĩ dụng quyền”. Lại vì hiếu hòa, trọng nhân ái như Nguyễn Trãi từng viết trong Bình Ngô đại cáo: “Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn. Đem chí nhân để thay cường bạo”, nên trước lúc giao tranh và sau khi thắng trận, ta vẫn thường sử dụng “lễ”, nghĩa là ngoại giao để thức tỉnh kẻ thù rằng nên sớm tỉnh ngộ, tránh thảm bại nếu xâm phạm đất của “nam đế” như Tướng quân Lý‎ Th‎ường Kiệt từng khuyến cáo bọn đồ tể từ Biện Kinh kéo sang ta: “nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”.

“Tiên lễ hậu binh” nên trong ngoại giao cần nhất vai trò của sứ giả. Hoàng Xuân Hãn trong tác phẩm Lý‎ Thư‎ờng Kiệt kể chuyện sứ giả đại diện cho vua Lý‎ là Đào Tông Nguyên theo lệnh vua nước ta, vào năm 1078 sang sứ Tống, mượn cớ cống voi nhưng chủ tâm đòi lại châu Quảng Nguyên, vốn đất ta mà bọn Quách Quỳ chiếm đoạt. Ta lấy lại được Quảng Nguyên nhờ có vua hiền, tôi giỏi, lại thêm sứ giả tài ba nên Tống Thần Tông biết khó nuốt châu quận của đất Việt phải cắn răng trả Quảng Nguyên cho phương Nam. Người sau mai mỉa vua tôi nhà Tống trong sự kiện ngoại giao này:

Nhân tham Giao Chỉ tượng

Khước thất Quảng Nguyên kim.

(Vì tham voi Giao Chỉ nên mất vàng Quảng Nguyên)

Hoàng Xuân Hãn luôn luôn ca tụng chính sách ngoại giao và bảo vệ giang sơn của tổ tiên chúng ta:

“Nếu ai xét lịch sử Nam tiến của dân tộc Trung Quốc, thì không thể không ngạc nhiên trước sự ngày nay còn có nước Việt Nam tự chủ trong khi các bộ lạc “Man-di”đã bị thôn tính từ triền sông Dương Tử đến sơn tuyến từ Ấn Độ sang Đông Hải nước ta. Các nước ở phương Nam đã không bị quận huyện, chính nhờ sơn tuyến ấy, chỉ trừ đất Lạc Việt thì có năm đường thủy lục từ biên giới Bắc, châu vào trung nguyên triền sông Nhị, lớn chỉ bằng một phủ của Trung Quốc mà thôi. Sự tồn tại ấy đã nhờ vào các đức tính thông minh, bền bỉ, tự hào của con cháu Lạc dân; biết học tập văn hóa người mà không để thâu hóa; biết lợi dụng hình thế, thời tiết, khí hậu nước mình; biết thừa cơ thế yếu tạm thời của Trung Quốc mà giải phóng nước mình; biết khống chế Nam thùy không để Trung Quốc lừa gạt liên minh để phân tán thế lực ta; biết thâu hóa những dân tộc hoặc cá nhân dị chủng, kể cả những người đến đô hộ mình; và biết nhún nhường, hòa hảo đối với Trung Quốc khi họ không tỏ ý xâm lăng”.

Trong lãnh vực quân sự và chính trị ta đã có Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi và Quang Trung. Còn bảng vàng ngoại giao đời sau kể tới Đào Tông Nguyên, Mạc Đĩnh Chi, nhất là Nguyễn Biểu và Lê Quý‎ Đôn.

Sứ giả không những phải học rộng tài cao, có thể dùng học vấn và ngôn ngữ để khuất phục kẻ thù, khiến đối phương ở nơi tự hào là nguồn cội Khổng-Mạnh, nơi sản xuất Kinh Thi và Sở Từ cũng phải tâm phục khẩu phục. Vì phục sứ giả nên vua quan phương Bắc không thể coi phương Nam là man di mọi rợ được. Đó là Lê Quý Đôn ở tuổi ba mươi đã khiến kẻ sĩ Bắc đình nghiêng mình kính trọng.

Hoàng Xuân Hãn trong bài Lê Quý Đôn đi sứ Thanh đã cho chúng ta biết: “Trong bài Đề Từ sách Bắc Sứ Thông Lục, ông kể chuyện rằng: “Khi ta mới tám chín tuổi, học sách Luận Ngữ (Khổng Tử) với cha, đến câu “Làm việc biết điều đáng thẹn, đi sứ bốn phương mà không làm nhục mệnh Vua, như thế có thể gọi là kẻ Sĩ”, cha tôi hỏi: “Mày có thể làm như vậy không?”. Tôi đáp: “Chỉ biết thẹn là khó mà thôi. Còn đi sứ làm vẻ vang Nước nhà, làm trọng mệnh Vua, thì có khó gì?”. Cha tôi cười mà bảo: “Thằng bé này có hào khí!” và dạy rằng: “Ý khí thì cố nhiên nên hào, nhưng không nên quá. Nên không nhún, không rời phẩm cách, nhưng phải nhã nhẵn, nhẹ nhàng, đừng để lộ ra một chút thô suất”. Tôi thưa: “vâng”.”

Sử gia nhắc lại:

“Gần cuối triều Lê, đời Cảnh Hưng, hai lễ tuế cống năm 1756 và 1759 cử hành từ kinh đô Thăng Long vào đầu năm 1760. Vả chăng ở nước ta, trước đó 20 năm, đã có chuyện đổi vua mà giấu ‘Thiên Triều’. Nguyên là, năm 1735, khi vua Long Đức (Thuần Tông) mất, chúa Trịnh Giang lập em vua lên ngôi với niên hiệu Vĩnh Hựu. Vua Thanh cũng chịu sắc phong. Nhưng đến năm 1740, có phe đảng lập kế truất Trịnh Giang để lập Trịnh Doanh và nhân đó bỏ vua Vĩnh Hựu mà lập con vua trước, với niên hiệu Cảnh Hưng. Việc này tất nhiên không để vua Thanh biết. Vậy thì vua Cảnh Hưng ở ngôi trong 20 năm mà không có sắc phong của vua Thanh. Đối với Thanh, ta vẫn phải lấy tên vua Vĩnh Hựu để giao thiệp, và đối nội thì vua này được tôn làm Thái Thượng Hoàng. Trong khi đang sửa soạn việc tuế cống này, Thái Thượng Hoàng mất (8-6 Kỷ Mão 1759). Triều đình ta nhân dịp, xin phó thêm sứ vụ: việc cáo ai và cầu phong.

Sứ bộ gồm: chánh sứ Trần Huy Mật 45 tuổi, người huyện Đông Sơn xứ Thanh Hóa, đậu tiến sĩ năm 1736; giáp phó sứ (phó sứ số 1) Lê Quý Đôn 33 tuổi, người huyện Diên Hà xứ Hải Dương, đậu bảng nhãn khoa 1752; và ất phó sứ (phó sứ số 2) là Trịnh Xuân Chú 55 tuổi, người huyện Đông Ngạn xứ Kinh Bắc, đậu tiến sĩ khoa 1748. Công chức phụ tá gọi là hành nhân, có 9 người, 3 thông sự (phiên dịch), 2 trung thư (thư kí), 2 y viện (y sĩ) và 2 người thường vụ. Các sứ lại được chọn một số tùy nhân để giúp việc riêng, số là 11 người; và có thể đem theo một người bà con thân cận gọi là môn tử. Lần này với 2 môn tử, sứ bộ gồm tất cả 25 người.

“Vì còn ít tuổi, chức tước chưa cao, cho nên ông chỉ được sung phó sứ số một, nhưng kì thật thì trong các cuộc ứng đối, ông đứng hàng đầu. Trong phần nhỏ sách ký sự của ông còn lại, ta cũng thấy người Trung Quốc để ý đến ông hơn chánh sứ nhiều. Lời ông viết nối trong Đề Từ: “Từ trước đến nay, văn thần được tuyển đi sứ là trên dưới 50 tuổi. Mà tôi vâng mệnh đi lần này, tuổi mới hơn 30, bề ngoài còn hăng hái sỗ sàng. Tự vui thích chơi bời bay nhảy, cảm tình với xưa, tò mò với nay. Đến đâu cũng đề vịnh (xướng họa với chánh sứ đến vài trăm bài). Đến những chỗ công sảnh, nhà quan, hễ thấy đối liễn, thơ đề trên quạt, ta đều nhẩm ghi để khi về thuyền sao lại. Ta lại được các bậc cao sĩ phu Trung Châu đem thi từ thân tặng. Cho nên trong lúc này có ghi nhiều văn từ thấy ở các công thự, ở phong cảnh núi sông, những lời hỏi đáp với các quan liêu”.

Sự thành tựu của sứ vụ, thì ông tự phê bình trong Đề Từ:

“Ta vừa qua Nam Quan, liền gặp quan Tuần Kiểm họ Tra đưa thơ thách họa. Dọc đường gặp các quan liêu, bậc cả, sĩ phu đặt những câu hỏi hóc búa, họ bắt bẻ tranh luận như là kẻ địch. Lại có sứ Triều Tiên, quan Khâm Sai bạn tống đều là những bậc văn hào. Họ đã không coi mình là người nước ngoài mà khinh, đã tiếp chuyện nhiều lần. Tôi may nhờ hồng phúc, dùng văn tự nói chuyện, may khỏi bị khinh khi, mà còn được tán khen. Các sách Quần Thư Khảo Biện và Thánh Mô Hiền Phạm Lục là những sách tôi soạn trước 30 tuổi, được các người thích và giữ như của quí. Vậy mới biết lòng người không khác nhau. Lấy lòng thành thật chính trực đãi nhau, lấy văn tự làm quen nhau thì người bốn bể đều là anh em cả… Vả chăng nếu mình rụt rè, tự coi mình là người nơi xa vắng, ít giao tiếp, ít nói năng thì bị người ta khinh bạc, mà dùng tiếng Di Ngôn Di Sứ (lời mọi, sứ mọi) mà chỉ chúng ta”.

Trí thức phương Trung nguyên đã bị Lê Quý Đôn chinh phục qua những lời hỏi đáp. Chẳng hạn khi một danh Nho nhà Thanh là Chu Bội Liên đặt một câu hỏi chê nước ta không có thành quách nguy nga, lập tức nhận được câu trả lời ngầm nhấn mạnh “chỉ vì họa ngoại xâm từ phương Bắc rình rập nên phải có kế hoạch phòng vệ thích nghi”.

“Chu nói: “Quí quốc có nhiều người tài nghệ như thế, mà tôi nghe rằng hiện nay, các trị sở tại trấn, phủ, huyện đều không có thành quách, là tại sao?”

Lê Quý Đôn đáp: “Sách Hán chí chép: Giao chỉ có hơn 60 thành. Gần đây, trong khoảng triều Minh cai trị, cũng đắp hơn 20 thành. Không phải rằng nước tôi không biết giữ nếp cũ, nhưng ban đầu, khi quốc triều (Lê) mới lập, đã san bằng hết. Chỉ ở trấn thị, đắp lũy đất mà thôi. Tôi trộm nghĩ rằng đó bởi có thâm ý…”.

Chu hỏi: “Tại sao?”.

Đáp: “Nước nhỏ tôi và nước lớn Ngài, sự thể không giống nhau. Nay may được Thánh triều ôm ấp vỗ về, hai nước thành một nhà, không phải trở lại lo nữa. Nhưng trong buổi đầu triều Nguyên và triều Minh, bị tụi biên thần tham công mà sinh sự với nước tôi. Chúng tôi sợ bị đột nhập. Nếu tụ nhau ở trong một thành, ngồi để chịu vây đánh, thì chẳng là kế hay. Dân chúng là lính, làng mạc là của. Nếu ở linh tinh phân tán, thì muốn đánh cũng không chỗ nào mà đánh, muốn cướp cũng không thấy đâu mà cướp. Trái lại, nhân chỗ họ mà phá rối, đặt phục mà cản đường. Làm như vậy mới có thể giữ nước”.

Những câu trả lời trên thật là lý thú. Một mặt, nhờ Lê Quý Đôn nhắc lại, chúng ta được biết cái cửa Thiên An Môn cùng 8 cửa khác của thành Bắc Kinh là công trình của người nước ta, cũng như doanh thự trong thành. Việc nầy người Trung Quốc đời nay vẫn biết. Một mặt khác, ông đã giải thích một cách chí lý chiến lược “của không nhà trống”, phân tán du kích, để cảnh giác người Thanh. Chu Bội Liên phải khen rằng: “Sứ quân biện cực tài! Nhưng cuối cùng, tôi cho rằng như thế không bằng xây thành quách làm hiểm trở mà tự thủ…!”.

Rồi sau khi Lê Quý Đôn lý luận bác thuyết Việt Thường hiến bạch trị cho Chu Vương và Chu Vương cho xe chỉ nam, Bội Liên mừng rỡ mà khen: “Bàn luận thật là khoái, khiến người thán phục và kính trọng!”.

Và ngày nay, đọc đến đây, cũng phải thán phục một người trẻ tuổi, học tiếng nước ngoài, phải theo đòi cử nghiệp, mà đã kiến thức mông mênh, lý luận chắc chắn, ứng đối mẫn tiệp như Lê Quý Đôn. Thật ông đã làm đúng như lời hứa với cha khi tám chín tuổi: làm vẻ vang Nước nhà”.

Trong bản dịch Nghĩa sĩ truyện của Hoàng Trừng, kể lại chuyện vị đại anh hùng thời Trần mạt là Nguyễn Biểu, Hoàng Xuân Hãn lại có cơ hội nói về một đại sứ giả của nước ta khi vận nước chông chênh trước giặc Minh tàn bạo:

“Đức Nguyễn-Biểu, người huyện Chi-la, làng Bình-hồ. Đậu Thái-học-sinh. Về đời Trần Trùng-quang làm quan đến chức Điện-tiền-thị-ngự-sử. Tính Ngài rất cương trực, gặp việc gì thì quả-quyết nói ngay. Trước hồi bấy giờ, giặc Minh sai Trương-Phụ đắp thành trên núi Nghĩa-liệt. Vua Trùng-quang đắp thành ở Chi-la về phía nam sông, cùng giặc đối lũy.

Sau vua vào Hóa-châu. Trong khoảng đời vua Minh Thành-tổ hiệu Vĩnh-lạc có xuống chiếu tìm con cháu nhà Trần. Vua bèn sai Ngài sung chức đi cầu phong. Ngài bèn lạy trước bệ vua để lĩnh mệnh; tiện đường qua thăm nhà, yết tổ-tiên và sắm sửa đồ lề, rồi mới ra đi. Khi tới trước tướng giặc Trương-Phụ, bọn giặc bảo Ngài lạy. Ngài đứng trơ không nhúc-nhích. Nhân thế, giặc đặt tiệc thết, nấu một đầu người mà mời, cốt để dò cho rõ ý Ngài. Ngài tức thì lấy đũa, khoét hai mắt, hòa với giấm mà nuốt (trong bản chép có chua thêm rằng: Lúc tiệc bày ra, Ngài cười mà nói: đã mấy lúc mà người Nam được ăn đầu người Bắc).

Trương-Phụ than rằng: “Thực là một tráng-sĩ, thấy thế mà không kinh sợ”. Giặc biết Ngài không chịu khuất, lấy lễ phép mà mời Ngài về.

Ngài về tới cầu Lam. Có tên Phan-Liêu là con Phan Quý-Hựu, người làng Bàn-thạch, huyện Thạch-hà, trước đã hàng với giặc, được làm tri-châu Nghệ-an và hay cùng giặc vào ra bàn-bạc. Nhân đó, Trương-Phụ hỏi Liêu rằng Ngài là người thế nào? Liêu vốn cùng Ngài không thích-hợp, nên nói rằng: “Người ấy là một người hào-kiệt nước An-nam. Nếu Ngài muốn lấy nước An-nam mà lại thả người ấy ra thì việc làm sao xong được”. Trương-Phụ cho là phải, tức thì sai người đuổi bắt trở lại. Ngài tự đoán chắc là phải giết, bèn lấy tay đề vào cột cầu Lam rằng: “Thất nguyệt sơ nhất nhật Nguyễn-Biểu tử” nghĩa là “ngày mồng một tháng bảy Nguyễn-Biểu mất”.

Ngài bèn trở lại. Trương-Phụ trách Ngài vô-lễ, người hầu bắt Ngài lạy. Ngài càng không chịu khuất, và nghiêm sắc mặt mà mắng Trương-Phụ rằng: “Bề trong thì lấy kế để mưu đánh lấy, bề ngoài thì phao rằng đem quân sang để làm việc nhân-nghĩa. Đã hứa lập con cháu nhà Trần, mà lại đặt bày ra quận huyện để cai-trị. Không những cướp của-cải quý báu, mà lại còn giết hại sinh-dân. Bay thực là tụi giặc làm càn!”

Trương-Phụ giận lắm, trói Ngài vào dưới cầu Lam, trước chùa Yên-quốc, rồi đánh chết (bản chép có chua thêm: lúc ấy, ba ngày nước thủy-triều không lên đến đó. Ngài vẫn mắng Phụ không dứt tiếng. Phụ cho là có thần giúp, bèn cởi trói và đem trói trước cửa chùa Yên-quốc rồi đánh chết). Sau lúc Ngài mất (bản chữ Hán có chép thêm rằng: Phụ vì nghĩa mà lấy hậu-lễ đem táng Ngài ở làng Bình-hồ. Bây giờ trước miếu là lăng đó). Vua nghe tin lấy làm đau-đớn và than-tiếc.

Vua Lê Thái-tổ khởi nghĩa ở núi Lam-sơn, cùng quân Minh đánh nhau ở chùa Bình-than. Ngài báo mộng rằng sẽ đến giúp. Quả thực, quân Minh thua to. Sau lúc đã đại-định rồi, vua hạ chiếu lập đền thờ ở làng cũ, sắc phong làm Nghĩa-sĩ đại-vương, sai quan mỗi năm về tế: cho cắt một người trong con cháu làm chức phúng lễ, hai người phụ-tế, sáu tên hầu rượu để thờ Ngài.

Về sau, con cháu Ngài, đời đời quý hiển người ta cho là vì lòng trung-nghĩa của Ngài mà giời báo đáp.

Ôi! lúc thời mạt, cúi đầu mà theo, bỗng nhiên không kẻ vì vua can-gián; khi gặp nạn, tiết-tháo thay đổi, ai là tôi giỏi, vì nghĩa chết trung. Chỉ có Ngài, gặp thời vận hết, nước nhà nghiêng đổ lìa tan mà hay vì nước hết lòng trung, bỏ thân giữ nghĩa. Làm như vậy, nghìn năm sau, nghe tiếng Ngài, người ta vẫn tưởng rằng sinh-khí Ngài còn rõ-ràng trước mắt. Hoặc là cuộc đời thay đổi, kẻ đã hàng giặc, thấy đó mà không thẹn lắm ru!”.

Đi sứ như Lê Quý Đôn và Nguyễn Biểu mới không làm nhục dân tộc, không tủi hổ là con Rồng cháu Tiên. Còn học thói Trần Di Ái đi sứ Nguyên, dù là chú vua Trần nhưng chỉ vì danh lợi và hèn nhát nên đã cam tâm làm tôi tớ Bắc đình bán rẻ quốc gia hay như Trương Quyền là sứ giả của Lưu Chương, chúa Tây Thục, vì lợi riêng mà mang bản đồ quê hương hết dâng cho Tào Tháo không xong lại mang hiến cho Lưu Bị thì tránh sao không bị muôn đời mai mỉa và thóa mạ.

H. Y. L.

—————–———

Tài liệu tham khảo:

– Lê Quý Đôn đi sứ nước Thanh -Hoàng Xuân Hãn- Giai Phẩm Đoàn Kết Xuân 80

– Nguyễn Biểu, một gương nghĩa liệt -Tuyển tập La sơn Yên hồ q.2, do nhóm Hữu Ngọc soạn 1998

( Nguồn: thời báo)

Đồng bằng sông Cửu Long – 40 năm nhìn lại

(kỳ 2: Tranh chấp ruộng đất)

Lê Phú Khải

Cũng trong khoảng thời gian này, công cuộc khai phá hai vùng đất hoang rộng lớn của Đồng bằng sông Cửu Long là Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên chưa thu được kết quả như mong muốn nếu không muốn nói là thất bại. Do duy ý chí và nóng vội, chúng ta đã cho máy bay đi gieo sạ lúa ở nông trường Lúa Vàng tại Đồng Tháp Mười nên thất bại hoàn toàn. Tại Tứ giác Long Xuyên, trong vòng hơn 10 năm, đầu từ năm 1975 đến 1987, mọi cố gắng của hai tỉnh An Giang và Kiên Giang đều kém hiệu quả.

Tình hình sản xuất và đời sống của nông dân Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục gặp khó khăn, phải đến khi có chủ trương khoán 100 của Ban Bí thư, rồi khoán 10 của Bộ Chính Trị (tháng 4/1988) thừa nhận hộ nông dân là đơn vị kinh tế chủ thể, hay nói khác đi, ruộng đất trả về cho nông dân… thì tình hình sản xuất nông nghiệp ở Đồng bằng sông Cửu Long mới khởi sắc.

Nhưng một cơn bão lại ập đến với Đồng bằng sông Cửu Long vào những cuối thập niên 80 là tình trạng tranh chấp ruộng đất. Khác với đồng bằng Bắc Bộ, ruộng đất đã qua cải cách ruộng đất và Hợp tác hóa nông nghiệp đã lâu, chủ đất cũ không còn nữa, hoặc đã quá già, ruộng đất đã được Nhà nước quản lý và phân chia một thời gian rất dài… Ruộng đất ở Đồng bằng sông Cửu Long mới qua vài năm làm ăn tập thể, chủ ruộng vẫn còn đó, nên chủ trương cào bằng ruộng đất “nhường cơm sẻ áo”… Khi khoán 10 ra đời đã thành cuộc đòi lại, chia lại ruộng đất rất gay gắt, khốc liệt.

  Trong vòng hai năm 1988-1989 những cuộc tranh chấp dẫn đến đập phá, đánh chém nhau diễn ra liên tiếp ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Hàng đoàn nông dân từ các làng quê kéo lên các thị xã thành phố trong vùng biểu tình đòi ruộng đất diễn ra hàng ngày, hàng tháng… Người bị lấy ruộng để chia cho người khác… đòi!. Người không có ruộng đã được chia ruộng nay bị chủ cũ chiếm lại… đòi! Người có ruộng nhưng phải giao ruộng cho Hợp tác xã để phân chia, rồi phải nhận ruộng của người khác theo “tiêu chuẩn” nhân khẩu… nay đòi về thửa ruộng cũ của mình do ông bà để lại, do gần nhà, v.v. cả đồng bằng náo loạn. Trung ương chưa có chỉ thị, chưa có chủ trương nên các địa phương ở đồng bằng không biết đâu mà lần!

Trong những ngày này, tôi và các phóng viên Thông tấn xã Việt Nam thường trú tại Tiền Giang, nơi có nạn tranh chấp ruộng đất khốc liệt nhất, đã nhận được thông tin và đến tận nơi có tranh chấp, có khi phải liều mình xông vào những nơi đánh chém để ghi chép, chụp hình. Những hình ảnh mà chúng tôi còn giữ lại đến nay, mỗi khi xem lại, còn thấy… cay xè hai con mắt!

Tôi đã ghi chép và tổng kết thành 10 nguyên nhân tranh chấp ruộng đất ở tỉnh Tiền Giang. Báo Công An Tiền Giang lúc đó do Thiếu tá Võ Thị Cẩm Hồng phụ trách đã đăng bài tổng kết này dưới dạng “trích sổ tay phóng viên” với nhan đề “Những dạng đòi đất” trong số báo 13, kỳ 1 tháng 12-1988. Số báo này tôi còn giữ, với ý định sau này sẽ dùng làm đề cương cho một cuốn tiểu thuyết về giai đoạn bi thương này ở Đồng bằng sông Cửu Long, nhưng chưa làm được. Nhân “Nhìn lại 40 năm”, tôi chép lại nguyên văn bài báo đó để độc giả tham khảo.

    NHỮNG DẠNG ĐÒI ĐẤT

(Trích sổ tay phóng viên)

– Xáo canh, khi thực hiện khoán theo chỉ thị 100, cán bộ, đảng viên lợi dụng chức quyền giành phần ruộng tốt gần nhà mình, phân bổ cho họ hàng bà con, phe cánh của mình ruộng tốt, chừa phần đất xấu cho xã viên, tập đoàn viên. Nay xã viên đòi được trở về canh tác ruộng cũ của mình. Bị cán bộ đàn áp.

– Có con đi nghĩa vụ quân sự bị cắt bớt đất, nay con trở về, đòi lại phần đất bị cắt.

– Khi khoán, ít lao động, nay con cái lớn đòi được trả lại đất đã bị điều hòa bớt đi trước kia.

– Có ruộng bị điều hòa trước kia, nhưng lại điều cho ngụy quân, ngụy quyền. Nay đòi lại (vì vẫn ghét ngụy quân ngụy quyền đã tàn sát nhân dân).

– Có ruộng bị điều hòa trước kia, nay thấy người được nhận ruộng của mình lười biếng, bỏ ruộng hoang nên đòi lại.

– Có ruộng bị điều hòa trước kia, nay người được nhận ruộng của mình có nhà ngói, sân gạch, giàu có hơn chính mình nên tức mà đòi lại.

– Có ruộng bị điều hòa trước kia, nay đời sống của gia đình vẫn no đủ… Người được nhận ruộng của mình vẫn còn khổ vì có ít ruộng. Nhưng thấy bàn dân thiên hạ đi đòi thì cũng đòi, được lại ruộng cũ thì càng hay, không được thì thôi.

– Có ruộng bị xáo canh phân cho người khác. Còn mình thì nhận ruộng mới. Bán ruộng mới ăn hết rồi. Nay đòi ruộng cũ (!)

– Không có ruộng cũng đi đòi (!) Đòi hộ người khác, nếu đòi được thì có “chỉ”, có tiền. Lúc đi đòi được người khác thuê, chi phí ăn uống, vui chân nên đi đòi!!!

– Có ruộng bị điều hòa, nay đòi lại, chính quyền, hợp tác xã xét cấp trả lại thêm một số diện tích đã bị điều hòa trước kia nhưng không chịu. Đòi được trả lại hết. Cán bộ giải thích, nếu đòi hết thì người đang trực canh hết ruộng, chết đói. Không chịu, vẫn tiếp tục đòi.

– Ruộng từ đời ông cố nội, qua bao nhiêu thăng trầm qua tay nhiều người, nay lấy cớ là của ông cha. Đòi !

– Ruộng cha mẹ chia cho con cái. Nay con cái tranh giành hơn thiệt, đâm đơn thưa kiện, trong lúc chờ phân xử, lấn chiếm xô xát nhau… vân vân… và… vân vân…

Có lẽ không cần bình luận nữa. Chỉ với những lý do đòi đất như chúng tôi thu lượm được, cũng đủ cho thấy việc tranh chấp đất đai hiện nay là rất phức tạp. Phải giải quyết cụ thể từng trường hợp, không thể nôn nóng, “quơ đũa cả nắm”, hoặc cứng nhắc giữ thái độ ủng hộ phía đòi đất hay phía giữ đất (!)

Nhà báo Hữu Thọ, nếu tôi nhớ không lầm thì lúc đó là Phó Tổng biên tập báo Nhân dân, đã vào Nam để đi quan sát tranh chấp ruộng đất ở Đồng bằng sông Cửu Long. Ông đã đến Tiền Giang – nơi tranh chấp nóng bỏng nhất – tôi đã “báo cáo” ông những gì lượm lặt được về tranh chấp ruộng đất. Sau đó, báo Nhân dân đã có một loạt bài viết về sự kiện này.

Điều nguy hại nhất là, khi chưa có chỉ đạo của Trung ương, trước tình trạng tranh chấp ruộng đất ngày một lan rộng, một số lãnh đạo các tỉnh không chịu nhìn thẳng vào sự thật mà đổ lỗi cho “địch phá hoại”, có bàn tay của CIA… thế là xong. Cần thì… bắt!

Ngày 15/8/1988 báo Nhân Dân đã đăng bài nhan đề: “Giải quyết tranh chấp ruộng đất ở Tiền Giang theo hướng nào” của tôi. Xin chép lại nguyên văn bài báo đó:

  GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP RUỘNG ĐẤT Ở TIỀN GIANG THEO HƯỚNG NÀO?

Tình hình tranh chấp ruộng đất ở Tiền Giang vẫn không có chiều hướng giảm. Có vụ gần đây rất quyết liệt như vụ xảy ra lúc ba giờ chiều 18-7-1988 ở ấp Tây Hòa, xã Song Thuận, huyện Châu Thành. Trên một công rưỡi đất lúa hè thu đã trổ bông của gia đình ông Trần Văn Đầy, lực lượng dân quân xã, dưới sự chỉ huy của chủ tịch xã Ngô Thị Hoa đã đến cắt phá ruộng lúa này. Khi con trai của ông Đầy là anh Trần Văn Nghi thấy thế vác con dao đang làm việc trên cánh đồng gần đó chạy tới ngăn cản thì lực lượng du kích đã nổ súng hăm dọa anh, sau đó bao vây nhà ông Đầy cho tới khuya. Nguyên nhân của việc phá lúa này là cán bộ xã muốn răn đe gia đình ông Đầy đã đòi lại công rưỡi đất khi con trai ông là Nghi hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về. Thiếu ruộng làm, ông phải đòi lại thửa ruộng đã phải điều hòa bớt đi khi con trai ông đi nghĩa vụ. Lực lượng dân quân xã phá lúa của ông vì sợ việc ông Đầy đòi lại được ruộng thì bao nhiêu gia đình khác cũng sẽ đòi lại ruộng, sẽ nhằm vào gia đình cán bộ xã đang chiếm dụng nhiều ruộng đất nhất, vượt quá tiêu chuẩn bình quân theo lao động. Những sự việc như thế không phải là hiếm và đang tiếp tục diễn ra trên đồng ruộng Tiền Giang. Theo con số chính thức của tỉnh, từ đầu năm đến nay có hơn 2600 vụ khiếu nại đòi lại ruộng đất tự động lấy lại ruộng đất trước kia đã điều hòa,

Xảy ra tranh chấp nhiều nhất trong tỉnh là huyện Chợ Gạo với hơn 500 vụ, tiếp sau là Cái Bè 453 vụ, Châu Thành 425 vụ, Cai Lậy 410 vụ; tổng diện tích tranh chấp trong cả tỉnh khoảng 1.000 ha.

Nguyên nhân tranh chấp đất đai ở Tiền Giang hiện nay rất phức tạp. Có nhiều cách giải thích khác nhau, đánh giá khác nhau và đi đến những biện pháp giải quyết khác nhau trên thực tế và trên công luận. Qua nghiên cứu nhiều đơn khiếu nại của nông dân, đối thoại trực tiếp với nhiều hộ nông dân và cán bộ trong tỉnh, kể cả đối thoại với các đồng chí lãnh đạo như bí thư tỉnh ủy, chủ tịch UBND tỉnh, qua nhiều lần xuống tận nơi xảy ra tranh chấp dẫn tới xô xát và đối thoại với các đương sự ngay trên thửa ruộng còn ngổn ngang những dấu vết tranh chấp, chúng tôi tạm nêu lên một số nguyên nhân như sau:

Một là, chính sách quản lý ruộng đất của Đảng và Nhà nước nói chung, ở địa phương Tiền Giang nói riêng đang khuyến khích người làm ruộng. Nông dân thật sự thấy làm ruộng hiện nay có lợi, cho nên một số không ít trước đây từng bỏ ruộng nay lại quay về với ruộng đất. Đó là khía cạnh đáng mừng.

Hai là, so với các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long, Tiền Giang là tỉnh ít ruộng đất nhất. Có thể nêu một vài con số làm thí dụ, diện tích đất tự nhiên của huyện Hòn Đất tỉnh Kiên Giang tới 110 nghìn hecta, tương đương với cả diện tích đất canh tác của tỉnh Tiền Giang. Bình quân ruộng đất trên đầu người của huyện Vĩnh Hưng thuộc tỉnh Long An nằm trong vùng Đồng Tháp Mười là ba héc-ta, gấp 30 lần bình quân ruộng đất ở Tiền Giang. Vì thế, việc tranh chấp ruộng đất đang là vần đề của cả Đồng bằng sông Cửu Long, nhưng ở Tiền Giang là gay gắt nhất. Trên thực tế, Tiền Giang không có điều kiện giải quyết tranh chấp ruộng đất như ở những tỉnh láng giềng còn vùng đất hoang rộng lớn, bằng cách trả lại ruộng đã bị điều hòa cho chủ cũ và người trả đất được nhận đất mới ở vùng khai hoang, điều kiện khách quan không có vùng đất khai hoang rộng lớn cũng gây không ít khó khăn cho lãnh đạo tình Tiền Giang trong việc giải quyết tranh chấp ruộng đất.

Ba là, ngay từ khi có chủ trương điều hòa ruộng đất, rồi sau đó là khoán hộ, cán bộ xã và tập đoàn sản xuất, hợp tác xã ở một số nơi đã tư túi, không thực hiện giữ nguyên canh, xáo trộn đất đai để giành phần ruộng tốt, gần nhà cho gia đình dòng họ và phe cánh của mình; chừa phần ruộng xấu cho xã viên, tập đoàn viên. Nay nhờ mở rộng dân chủ, rộng đường dư luận, người nông dân bị thiệt thòi trước kia, nay đòi lại ruộng cũ của mình. Chỉ thị UBND tỉnh Tiền Giang (ngày 10-5-1988) và những chỉ thị trước đó về vấn đề tranh chấp ruộng đất, cũng có nói đến việc phải mạnh dạn sửa chữa, điều chỉnh cho hợp lý, nhưng không được cấp huyện và xã thi hành triệt để hoặc có thi hành thì chỉ trên giấy tờ, hình thức.

Bốn là, do một số nông dân nghe theo bọn xấu xúi giục, lợi dụng việc mở rộng dân chủ đề gây rối, nhằm đục nước béo cò. Nhưng số này không nhiều. Nguyên nhân này không phải là nguyên nhân cơ bản.

Tình hình nói trên ở Tiền Giang và những nguyên nhân của tình hình ấy đòi hỏi có những biện pháp tháo gỡ một cách có hiêu quả và kịp thời, không thể để tình trạng như hiện nay tiếp tục diễn tiến. Cần có ngay một hội nghị chuyên đề về tranh chấp ruộng đất ở Đồng bằng sông Cửu Long do Trung ương tổ chức. Đề nghị của tỉnh Tiền Giang trong báo cáo gửi Hội đồng Bộ trưởng ngày 16-5-1988 có nêu vấn đề cần có sự chỉ đạo chính thức thống nhất cho cả nước vấn đề tranh chấp ruộng đất, tránh tình trạng mỗi nơi, mỗi địa phương làm một cách. Đó là đề nghị đúng và rất cần thiết lúc này với Đồng bằng sông Cửu Long.

Sau Hội nghị thống nhất đó, các tỉnh có vấn đề tranh chấp ruộng đất, dựa trên Luật đất đai của Nhà nước đã ban hành và những chỉ thị hướng dẫn dưới luật do hội nghị nói trên thông qua để có cách giải quyết đồng loạt, dứt điểm trên phạm vi rộng. Muốn vậy, các tỉnh phải tập trung thời gian và cán bộ, thành lập một ban chuyên trách lo giải quyết vấn đề này. Cách làm như hiện nay, chỉ thông qua con đường kiện tụng, hòa giải, xét xử ở các phòng tiếp dân, thông qua một vài bài báo trên cơ quan thông tin đại chúng của địa phương, không giải quyết được tận gốc vấn đề, chỉ có tính cách chữa cháy, nhỏ giọt.

Việc nóng bỏng cần làm ngay ở Tiền Giang là chặn đứng những hành động thô bạo của cán bộ chính quyền cấp xã đang phá rau màu, bắt giữ trái phép những nông dân bị oan ức, vì chưa hiểu luật đất đai, thậm chí vì bọn xấu xúi giục, mà đòi lại ruộng đất. Xung đột về ruộng đất ở Tiền Giang cũng như ở các nơi trên Đồng bằng sông Cửu Long là thuộc những mâu thuẫn nội bộ, nhất thiết phải được giải quyết trên tinh thần công khai hòa giải để tìm ra phải trái, tìm cách phân xử trong các đại hội của tập đoàn sản xuất, của xã, ấp. Mọi hành động như bắt trói và phá hoại rau màu đều là thô bạo, trái với pháp luật, phải được ngăn chặn và trừng trị thích đáng.

Dư luận trong tỉnh đang đòi hỏi đưa ra xét xử trước pháp luật những cán bộ cấp xã ở Hòa Tịnh (huyện Chợ Gạo), ở Điềm Hy và Song Thuận, v.v. trong việc bắt giữ trái phép những nông dân và phá hoại rau màu trong các vụ tranh chấp ruộng đất.

Riêng đối với tỉnh Tiền Giang, tuy là một tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long, nhưng phải đặt vấn đề di dân đi khai hoang các tỉnh khác thuộc miền Tây hoặc miền Đông Nam Bộ vì đất quá hẹp người quá đông. Sau ngày giải phóng. Diện tích trồng lúa của Tiền Giang là 120 nghìn hecta. Dân từ 1,2 triệu; nay lên 1,4 triệu. Như vậy là mất đi một huyện đất và thêm một huyện dân. Thống kê năm 1985, bình quân ngày công lao động trong cả năm từ 200 đến 220 ngày, tức là từ năm đến bảy tháng, người nông dân phải ở không; tới nay tới nay số ngày ở không còn nhiều hơn. Đây là những nguyên nhân chính dẫn đến tranh chấp ruộng đất. Những quân nhân hết hạn nghĩa vụ quân sự trở về, lúc đi bị cắt đất, lúc về không còn đất để canh tác, như trường hợp anh Trần Văn Nghi con ông Trần Văn Đầy ở xã Song Thuận huyện Châu Thành kể trên là một thí dụ tiêu biểu.

Chưa bao giờ người nông dân Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và nông dân Tiền Giang nói riêng thiết tha với ruộng đất, nỗ lực sản xuất như lúc này. Nếu những tranh chấp ruộng đất hiện nay được giải quyết chắc chắn sức sản xuất sẽ được bật lên mạnh mẽ hơn lúc nào hết. Với cách nhìn như thế, những tranh chấp ruộng đất hiện nay ở Tiền Giang là không có gì đáng lo ngại, nếu chúng ta quyết tâm giải quyết một cách đúng đắn.

Lê Phú Khải

Cùng với hàng loạt các bài báo khác được đăng tải trên báo Nhân Dân và các báo khác ở Trung ương… vấn đề tranh chấp ruộng đất ở Đồng bằng sông Cửu Long đã có hướng giải quyết. Hội đồng chính phủ sau đó có Hội nghị về vấn đề này ở Cần Thơ do Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt chủ trì đã có kết luận tháo gỡ dần những khó khăn. Đồng bằng sông Cửu Long từ đó bước vào một giai đoạn mới, phát triển đúng hướng khi ruộng đất đã được trả về cho dân cày từ chủ trương khoán 10 của Bộ Chính Trị.

  L. P. K.

( Nguồn: BVN)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.04.2015

TANG LỄ NHÀ THƠ PHAN XUÂN HẠT

TANG LỄ NHÀ THƠ PHAN XUÂN HẠT

 

Nhà thơ Phan Xuân Hạt (1931-2015)

QTXM- Như chúng tôi đã đưa tin : NHÀ THƠ PHAN XUÂN HẠT ĐÃ TRÚT HƠI THỞ CUỐI CÙNG VÀO LÚC 1 GIỜ 58’ – NGÀY 23/4/2015 – 5/3/Ất Mùi. Thọ 85 tuổi. THeo Ban tổ chức tang lễ như sau:  Lễ nhập quan lúc 7 giờ 15’, lễ viếng  từ 9 đến 11 giờ trưa thứ 7 – ngày 25/4/2015 (7 tháng 3 năm Ất Mùi) tại Nhà tang lễ Bệnh viện Thanh Nhàn. Ngay sau Lễ viếng là Lễ truy điệu và đưa tang về Đài hóa thân hoàn vũ Văn Điển – Hà Nội.

Vậy QTXM thông báo để bạn bè gần xa được biết. Ai có điều kiện thì về dự lễ tang. NGÔ MINH

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.04.2015

Đồng bằng sông Cửu Long – 40 năm nhìn lại

Đồng bằng sông Cửu Long – 40 năm nhìn lại

(kỳ 1: Ngăn sông cấm chợ)

Lê Phú Khải

  Cùng với việc tập thể hóa nông nghiệp, chính sách quản lý thị trường, ngăn sông cấm chợ đầu những năm 80 thế kỷ trước, những lộng hành của hệ thống các trạm trại quản lý thị trường, thâu thuế, đăng kiểm tàu bè ở cái xứ sông rạch chằng chịt này đã gây nên bao bất bình, căm phẫn cho người nông dân vốn rất hiền lành ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Đầu những năm 80, người viết cuốn sách nhỏ này có mặt ở Đồng bằng sông Cửu Long với tư cách là phóng viên thường trú của Đài Tiếng nói Việt Nam tại đồng bằng, có dịp rong ruổi trên sông nước Cửu Long đã chứng kiến tận mắt những cảnh rất đau lòng do bộ máy quan liêu, hống hách, tiêu cực gây ra với đồng bào.

Những năm 80 là những năm diễn ra cảnh “ngăn sông cấm chợ” khủng khiếp nhất ở nước ta. Ở Đồng bằng sông Cửu Long, nơi có nhiều hàng hóa nông sản nhất nước, cảnh ngăn sông cấm chợ càng tệ hại. Trạm thuế Tân Hương, vị trí giáp ranh của tỉnh Tiền Giang với Long An là địa danh khét tiếng một thời. Xe cộ từ các tỉnh miền Tây lên đến đây bị ùn tắc vì phải đỗ lại để quản lý thị trường khám xét. Khách hàng phải xuống xe hết để nhân viên quản lý thị trường lên xe xăm soi từng cái gầm ghế. Một cân gạo, một trái dừa khô, một ký đường… cũng bị tra hỏi. Có anh bộ đội về phép đem 10 kg gạo, khi bị quản lý thị trường giữ, anh ta nói có giấy phép của ông Đỗ Mười, quản lý thị trường quát: “Dù là ai cũng tịch thu!”. Sự việc trên ra đời ở cái vùng nhiều lúa gạo nhất ở nước này là Đồng bằng sông Cửu Long.

Tôi đã có lần đi qua trạm Tân Hương, lấy máy ảnh chụp đoàn xe nối đuôi nhau cả cây số để chờ khám xét, đã bị quản lý thị trường trạm Tân Hương bắt, nhốt vào một cái phòng tối om cả nửa ngày, mặc dù trước đó, đã trình thẻ nhà báo, nhưng vẫn bị tịch thu cuộn phim trong máy ảnh. Khi về cơ quan thường trú ở TP.HCM, báo cáo việc này, giám đốc Nguyễn Thành đã bảo tôi viết một bài ghi nhanh ở Tân Hương, nhưng khi thu băng rồi, gửi ra Hà Nội, đài Tiếng nói Việt Nam cũng không dám phát, vì lúc đó việc quản lý thị trường là “một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước!”.

Nhưng nói đến nạn ngăn sông cấm chợ thì những năm đầu thập niên 80 (thế kỷ 20) ở Đồng bằng sông Cửu Long phải nói đến tình trạng vận chuyển đường sông mới là đáng nói. Vì đa số hàng hóa ở đồng bằng đều do đường sông đảm nhiệm. Sông Tiền và sông Hậu rộng mênh mông nối với mạng lưới kinh rạch chằng chịt ở đồng bằng, có những nơi hẻo lánh và đặc điểm của vận tải sông là ghe thuyền chạy suốt đêm ngày, vì động cơ của nó luôn có cấu tạo để luôn có nước sông làm mát, không như ô tô chạy trên bộ. Các trạm thuế vụ, trạm quản lý thị trường đều được trang bị súng… nên họ lộng hành và dân vận tải sông rên xiết dưới sự “kiểm soát” của họ. Một cái ghe chở hàng mấy chục tấn, đang chạy giữa sông Tiền, sông Hậu rộng mênh mông, chỉ cần nghe một phát súng trường nổ trên bờ là phải quay vào để thuế vụ, quản lý thị trường kiểm tra giấy tờ, khám xét hàng hóa. Nếu đủ giấy tờ và không chở “hàng lậu” thì cũng phải nộp tiền chi phí phát đạn vừa nổ để báo hiệu tàu thuyền phải quay vào bờ… Giá tiền một phát đạn như thế muốn tính bao nhiêu cũng phải chịu. Tôi đã đi theo một đoàn ghe 5 chiếc, mỗi chiếc có tổng trọng tải 25 tấn của Hợp tác xã vận tải đường sông Rạch Gầm tỉnh Tiền Giang chở thuê cho nhà nước từ các kho ở tỉnh Kiên Giang lên kho của Tổng công ty lương thực Miền Nam ở TP.HCM, cả đi lẫn về 11 ngày liền nên đã được chứng kiến tận mắt cảnh các trạm kiểm soát dọc đường sông ở Đồng bằng sông Cửu Long đã hành hạ các chủ ghe và thủy thủ của họ như thế nào. Có chủ ghe nói thẳng với tôi, sẽ tu sửa ghe thật tốt rồi sẽ đưa cả vợ con đi vượt biên, không thể sống với các ông được! Sau chuyến đi đó, tôi đã viết bài điều tra mang tên “Đi theo những con thuyền mang tên Rạch Gầm”, báo Sài Gòn Giải Phóng đầu tháng 12-1986 đã đăng bài phóng sự đó. Chính đại tá Hoàng Cuông, Trưởng ty công an Hải Hưng năm xưa, người được nhắc đến như một điển hình tốt của Bộ Công An đã đọc được bài báo đó khi ông nhận chức Cục phó một cục của Bộ có cơ quan phía Nam. Đại tá Hoàng Cuông đã đi xe com-măng-ca, nhưng đỗ ở đầu đường, đi bộ đến nơi tôi đang ở tại TP.HCM “để giữ bí mật” theo tác phong của ông, để gặp tôi và hỏi chuyện sau khi đọc bài phóng sự trên báo. Tôi đã nói thẳng với vị đại tá công an này, là người ta sẽ bỏ nước đi hết nếu Đảng không thay đổi đường lối lãnh đạo, vẫn ngăn sông cấm chợ kiểu này!

Đó là chuyện tôi viết báo công khai, tôi còn làm một “báo cáo mật” cho Chủ tịch Tiền Giang Nguyễn Công Bình về việc các trạm thuế trên các đường sông. Đó là một lần tôi đang đi lang thang bên rạch Bảo Định ở Mỹ Tho. Tôi nghe thấy một bà chủ ghe dưới rạch lớn tiếng than: “Kỳ này đi về tôi sẽ đốt ghe, không đi buôn nữa!”. Tôi vội lao xuống xem sự tình như thế nào. Thấy chiếc ghe khá lớn mang biển số KG, tôi biết là ghe của tỉnh Kiên Giang. Bà chủ ghe cho tôi hay, ghe của bà có trọng tải 21 tấn, bà chở đủ 21 tấn khoai mỳ (sắn) lên Thành phố Hồ Chí Minh bán, nhưng đi qua các tỉnh, các trạm thuế đều bắt đóng thuế “bổ sung” lấy lý do bà chở quá trọng tải 21 tấn quy định. Nếu không đóng thuế “bổ sung” thì phải dỡ khoai mỳ lên cân lại! Bà than: “Bốc đủ 21 tấn khoai mỳ lên cân lại thì bằng thắt cổ tôi cho xong!”. Đó là cách bắt chẹt, bóp cổ dân của các trạm thuế. Ghe của bà trọng tải 21 tấn nhưng khi lên đến trạm thuế Kinh Nước Mặn tỉnh Long An – một trạm thuế “kinh hoàng” trên đường sông như trạm Tân Hương trên đường bộ ở Đồng bằng sông Cửu Long thời đó, thì số hóa đơn thu thuế “bổ sung” đã lên đến 20 tấn, xấp xỉ trọng tải chiếc ghe 21 tấn của bà. Đến Kinh Nước Mặn, chồng bà phải tháo chiếc đồng hồ Seiko đeo tay để trạm thuế “cầm”, như người ta “cầm đồ”, đợi khi nào lên TP.HCM, bán được khoai mỳ, lúc trở về sẽ chuộc (!). Khi lên đến TP.HCM, trạm thuế thành phố miễn thuế cho bà vì lúc đó TP.HCM có chính sách miễn thuế cho các ghe chở lương thực như khoai mỳ lên cứu đói cho thành phố. Thành phố muốn có khoai mỳ để cán bộ công nhân viên và nhân dân thành phố ăn sáng! Chính sách của TP.HCM như thế lúc đó, mà sau này người ta gọi là chính sách “xé rào” của thành phố. Tôi hỏi bà chủ ghe mang biển số KG: “Những trạm thuế nào ở Tiền Giang thu thuế bổ sung của bà?”. Bà cho biết tất cả các huyện của Tiền Giang mà ghe bà chạy qua đều bắt nộp thuế bổ sung như: Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành… Tôi xin bà các hóa đơn thu thuế bổ sung, bà cho ngay, trong đó còn có cả cái giấy biên nhận giữ đồng hồ của chồng bà ở trạm thuế Kinh Nước Mặn, khi ghe bà quay về, chuộc lại mà trạm Kênh Nước Mặn quên không đòi lại. Với chứng cứ ấy trong tay, suốt đêm hôm ấy tôi viết bản “báo cáo mật” về vụ đánh thuế chiếc ghe biển số KG…, kèm theo các hóa đơn thu thuế bổ sung. Sáng hôm sau tôi đem báo cáo chủ tịch tỉnh Nguyễn Công Bình. Xem xong “báo cáo mật” của tôi, ông chủ tịch đập tay xuống bàn rất mạnh và không nói câu nào cả. Đến kỳ họp giao ban hàng tuần, có đầy đủ các ty ban ngành trong sở, chủ tịch Sáu Bình đã phê phán gay gắt ngành tài chính và các trạm thuế. Ông đập tay xuống bàn, rồi giơ tập hóa đơn thuế bổ sung lên nói to trước hội nghị: “Thế này thì chúng ta thành kẻ cướp rồi, đâu phải chính quyền Cách mạng!”.

Một ông trưởng ty ngồi cạnh tôi, ghé vào tai tôi nói nhỏ: “Đây là bọn công an kinh tế tỉnh nó “chơi” bọn tài chính thuế vụ đấy!” (không ai biết là tôi đã “báo cáo mật” bằng văn bản cho chủ tịch Sáu Bình). Đến buổi chiều, ông chủ tịch gọi tôi đến, bảo tôi viết thay ông một lá thư xin lỗi bà chủ ghe ở Kiên Giang. Ông cho tôi hay: “Sẽ theo địa chỉ ghi trên bảng hiệu của ghe và tên bà chủ ghe để cử cán bộ xuống Kiên Giang xin lỗi bà, bồi hoàn số tiền mà tỉnh Tiền Giang đã đánh thuế oan với bà”.

Chủ tịch tỉnh Tiền Giang là một người như thế, ông nổi tiếng là sáng suốt, cương trực và liêm chính. Nhiệm kỳ chủ tịch của ông, tỉnh Tiền Giang đứng đầu Đồng bằng sông Cửu Long về nhiều mặt.

L. P. K.

( Nguồn: BVN)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.04.2015

Lăng Thiên Thụ – ưu tư một thuở miệt vuờn

vua Gia Long

ĐỂ HIỂU HUẾ HƠN

QTXM-THƯ CÂNADA:

Anh Minh ơi!

U bướu ruột tôi được cắt từ ngày 02/2, Xuất viện 07/2. Người của b/v đến nhà cắt bỏ 44 khuy kim loại khâu vết mổ ngày 12/2. Tưởng thế là yên thân. Vậy mà b/v vẫn chưa buông. Ngày 11/3 tái khám ấn định ngày 18/3 đến khoa Radio-Onecologi xét nghiệm máu. Ngày 20/4 xét nghiệm máu tiếp.Ngày 21/4 đến để người ta lắp ống dẫn thuốc diệt vi khuẩn xấu gây u bướu. Ngày 22/2 (hôm qua) đến để chuyền thuốc. Chiều tối mới được về. Buổi trưa 22/4 b/v cho ăn tốt còn thừa mang về cho vợ con một mớ. Tất cả miễn phí. Sướng chưa.

Gõ xong bài lăng Thiên Thụ Ggửi QTXM. Nếu thấy được nhờ Anh lại chuyển cho Sông Hương. 
Anh tuy nghi nhé. Ứng

Lăng Thiên Thụ – ưu tư một thuở miệt vuờn

  Mai Khắc Ứng

“Hoàn cầu dễ không đâu có chốn nhà mồ của bậc vua chúa nào mà khéo hòa hợp cái cảnh thiên nhiên với cái cảnh nhân tạo, gây nên một cái khí vị riêng như não nùng, như thương nhớ, như lạnh lẽo, như hắt hiu, mà lại như đầy những thơ những mộng, khiến người khách vãng cảnh luống những ngẩn ngơ trong lòng…Lăng đây là gồm cả mầu trời, sắc nước, núi cao rừng rậm, gió thổi ngọn cây, suối reo hang đá…”(1)

Đầu thế kỷ trước, trên báo Nam Phong số 10 (1918), Thượng Chi Phạm Quỳnh đã viết nên những điều như thế. Có lẽ ông là người đầu tiên và dường như sớm nhất nhận ra lăng vua Nguyễn ở Huế cũng là “chốn nhà mồ”.Nhà mồ một thuở Đông Son. Người miền xuôi dần quên. Nhà mồ lên núi làm nên những khu rừng thiêng, làm nên nhiều “rừng” tượng. Nhà mồ là cõi sống của người đã chết làm nơi giao lưu cộng cảm giữa kẻ khuất người còn. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.04.2015

CÁT VỌNG

Ngô Minh

CÁT VỌNG

 

    Kính dâng hương hồn Ba

      @

Ba ra đi một sáng hãi hùng

xâc quằn quại máu ròng cọc xử bắn

Mạ ôm con khóc gào bới cát

“trời kia không có mắt!”

Mạ ơi

trời đất cháy rồi

biết níu vô mô…

 

53 tuổi lần đầu ba khóc

nước mắt nghẹn tròng không rơi được

cát trắng thế sao lòng người đen độc !

hoa lông chông xoay tít bãi bờ

chạy trốn

 

ngôi nhà rường ba gian đời ba chắt bóp

họ chia nhau đứa cột đứa kèo

may mà họ không biết chữ

nên sách không thành quả thực !

      @

từng trang từng trang sách nát

mạ nhặt lại cho con

chút tài sản cuối cùng Ba gửi lại

 

đêm ánh đèn dầu cá

ngôi lều cát trắng phau như mộ

chữ như cát không ai giết được

chữ là ánh mắt Ba

 gọi con sau từng trang sách 

 

 những đêm đông đêm đông

Mạ gối cát nghe con đọc Lục Vân Tiên

nước mắt bầm đêm goá bụa

thơ làm lửa sưởi qua mùa

 

  @

 thơ ơi cát vọng

bóng ba trắng toât biển khuya

cát hay tro sự thật?

cát hay nước mắt?

câu hỏi khuya cuộn xoáy biển bờ…

              Làng Thượng Luật,

               6-3 Bnh Tuất,2006

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.04.2015

BA TÔI 57 NĂM HỒN KHÔNG NHẬP XÁC

BA TÔI 57 NĂM HỒN KHÔNG NHẬP XÁC

  Ngô Minh

 QTXM- Bạn đọc thân mến. Nhân ngày giỗ ba tôi ( hôm nay 5 tháng 3 âm lịch),QTXM xin in lại bài viết BỐ NGÔ MINH 57 NĂM NAY HỒN KHÔNG NHẬP XÁC” đã in năm 2012 và bài thơ CẦU HỒN BA để bạn đọc chia sẻ.

          Mấy ngày nay, Ngô Minh phải ra làng Thượng Luật, xã Ngư Thủy Trung, Quảng Bình để dự lễ cầu hồn ba mình về nhập xác. Cuộc lễ nghiêm trang, linh thiêng do một ông thầy tên là Thanh ở Hải Thái, Gio Linh, Quảng Trị thực hiện suốt bốn tiếng đồng hồ đêm 27 tháng 6 âm lịch. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.04.2015

NHÀ THƠ PHAN XUÂN HẠT TỪ TRẦN

Thi sĩ Phan Xuân Hạt

NHÀ THƠ PHAN XUÂN HẠT TỪ TRẦN

 QTXM-Sau hơn một tháng điều trị tích cực do lâm bệnh hiểm nghèo tại Bệnh viện Hữu Nghị Hà Nội, , Nhà thơ lão thành Phan Xuân Hạt đã trút hơi thơ cuối cùng vào lúc 1 giờ 58’ sáng nay 23/4/2015 – 5/3/Ất Mùi – Thọ 85 tuổi.QUÀ TẶNG XỨ MƯA xin lạy thắp nén nhang tiễn biệt nhà thơ, cầu mong nhà thơ vãng sinh cự lạc; đồng thời thống thiết chia buồn với gia quyến; đặc biệt là vợ chồng bác sĩ Pham Xuân Hương (con gái) và nhà báo Lê Quang Vinh( con rể), những người thân thiết của QTXM. Sau đây là vài nét tiểu sử của nhà thơ Phan Xuân hạt và chùm thơ của ông để bạn đọc chia sẻ. NGÔ MINH

 Trong cuốn “HỢP TUYỂN THƠ PHAN XUÂN HẠT” Do Nhà xuất bản Hội Nhà Văn in và phát hành năm 2012, phần “ĐÔI DÒNG TIỂU SỬ VÀ BÚT TÍCH”, Nhà thơ Phan Xuân Hạt tự bạch: (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.04.2015

NGÀY GIỖ BA

NGÀY GIỖ BA

 Ngô Minh

Ngày ơi ngày buồn thiêng

Ngày mồ côi của những con thuyền

Ngày trời trắng hoàng hôn máu dựng

Ngăy biển xanh nông nổi triều dâng

 

Ngày giỗ ba con ra với biển

Nắm cát buồn mắt gió chông chênh

Mạ khóc hoài cho tới ngày khuất bóng

Con đi tìm khôn lớn giữa cô đơn

 

Ngày ơi ngày đốt nén nhang mong

Bóng cha về rẽ thời gian trắng

Cát bay cát bay vầng râu che chở

 Mùa xanh mắt biển lệ nhòa

 

Ngày giỗ cha làng biển đói khoai

Bếp đói lửa buồm khơi đói gió

Anh em xóm giềng nhịn cơm góp giỗ

Nén thơ buồn con thắp lửa trái tim

 

Ngày giỗ cha cho con biết có mình !

 

              Mồng 5 thâng 3 âm lịch, 1996

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.04.2015

BA TÔI

Ngày mai, 5-3 âm lịch là ngày giỗ ba tôi. Tên ông là Ngô Văn Thắng, sinh năm 1903. Ông là một ngư dân chăm chỉ, hiền từ,  bị Đội CCRĐ bắn sáng 6-3 âm lịch năm 1956. Tập tục ở ta giỗ ngày sống. 59 năm rồi mà như mới hôm qua. Bọn đội thu, đốt hết ảnh ba tôi, nên bây giờ không có ảnh ông để thờ. Cho đến tận bây giờ sắp gần 70 tuổi rồi, học, đọc không biết bao nhiêu là sách vở, tôi vẫn không hiểu nổi chính thể này đã làm cái gọi là CCRĐ ấy để làm gì? Ai chịu trách nhiệm, ai phải ra trước vành móng ngựa về tôi giết hại hàng trăm ngàn người dân vô tội ấy? Dù thời gian có dài lâu bao nhiêu vẫn phải tìm cho ra bọn giết người tàn bạo ấy. Không thể muốn làm gì thì làm, muốn giết ai thì giết được !

 

  BA TÔI  

   Ngô Minh

    

Ba tôi là ông Ngô Văn Thắng, một ngư dân có chữ ở làng Thượng Luật. Tôi không biết ông học ở đâu và học đến cấp nào, nhưng tôi thấy,  mỗi khi rỗi việc, ông ngồi lấy bút lông chấm mực tàu, cặm cụi viết chữ Nôm (hay Hán ?) lên những tờ giấy  bổi, rồi cất vào cái tráp sơn mài đen láng. Ông  giữ chức lý trưởng làng Thượng Luật thời Chính phủ Lâm thời của Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại làm Quốc trưởng, trong hai năm, từ  năm 1947- 1948.  Hồi đó  làm lý trưởng phải được sắc phong . Ông hay nhâm nhi rươụ nói chuyện  văn chương thời cuộc cùng các cụ trong làng. Mới  53 tuổi  mà ông đã để râu trắng dài, nói cười  vuốt râu như lão trượng. Mỗi bữa ăn, ông ngồi một mình hoặc với khách một mâm trên sập gụ. Năm mạ con tôi ngồi  mâm trải chiếu dưới sàn nhà. Phong độ, vóc dáng nho nhã , trí thức thế nhưng ông lại làm nghề đánh cá chuyên nghiệp. Ông là người đi biển giỏi .Thời ba mươi tuổi ông  đi biển  suốt ngày đêm, nên có tiền để mua thuyền lưới thuê bạn  chài cùng đi biển. Ngày đi biển, đêm về ông  thắp đèn dầu ngồi đọc sách. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.04.2015

Bạn đồng hành

Bạn đồng hành

  Mai Khắc ứng

(Bài gửi từ Canada)

QTXM- Một bài viết tưởng thoáng qua mà rất sâu về thời CCRĐ tang thương đau xót

   Nhà tôi ở góc biển huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Cụ thể là xóm Đông thôn Thượng làng Đĩnh Lữ. Mỗi lần trong làng ai muốn đi xa đều phải ra Vinh mua vé tàu xe. Bởi lên Nghèn đón giữa chặng thường bấp bênh. Có khi còn chầu chực vất vưởng mé đường góc quán vài ba đêm ngày. Vả lại quê tôi thuần nông. Ít người ra khỏi làng. Nếu có ai trong bụng muốn đi đây đi đó thì ngần ngại rụt rè. Bởi không biết đường. Không biết đến đâu, với ai! Thế là tôi đành đi một mình. Đi bộ từ nhà ra cầu Bàng rồi qua Truông Vùn thuộc làng Yên Điềm là đến đò Đồng Kèn. Truông Vùn là những đụn cát chồng lên nhau kéo dài từ chùa Chân Tiên phía cực bắc làng Yên Điềm nay thuộc xã Thịnh Lộc, xuống tận Rú Bờng làng Xuân Khánh nay thuộc xã Thạch Bằng. Những ngày hè nắng nóng muốn vượt qua truông, nếu không có giày dép người ta thường bọc chân bằng bẹ chuối, mo cau hoặc cầm sẵn một nắm lá. Chạy thật nhanh dăm bảy bước thì bỏ nắm lá xuống rồi đứng lên cho đỡ rát chân. Tích tắc lại chạy. Chạy trên cát vừa lún vừa như tụt lui. Mệt lắm.

  Bến đò nằm đầu cửa lạch sát biển Đông sao lại gọi là Đồng Kèn. Đồng Kèn là ranh giới hai huyện. Bên ngoài là Nghi Xuân. Bên trong là Can Lộc. Đầu địa phận Can Lộc có Đồng Chợ thuộc đất Kẻ Đạu xưa. Đồng Kèn, Đồng Chợ một thời rât hoang vắng nhưng cũng rất thanh bình. Nhằm ngày lẻ, có phiên chợ Huyện Thị dưới làng Vĩnh Hòa khách qua đò đông. Vào ngày chẵn chợ Lù trong Kẻ Lủ, đò vắng khách. Vắng khách, đợi đò coi như nghỉ chân. Lần đợi đò này tôi ngồi xem những con cáy con cá nhấp nhói chơi với bùn. Chúng cũng có vẻ tần tảo lắm. Nhưng được cái vô tư. Dòm ngó, dò la, xoi mói đấu đá hình như không có trong cộng đồng còng, cáy. Chẳng ai cai trị chúng. Chúng chẳng kèn cựa ai. Đầu đội trời. Chân đạp nước. Tự do, vô tâm đứng ở hàng đầu. Tôi nghĩ vậy. Thế mới sướng chứ. Nhưng không hiểu sao chúng lại nhát gan thế. “Nhát như cáy”. Tôi ngồi thật yên lặng, chúng rối rít như mắc cửi. Hễ trở mình dù rất nhẹ là chúng nháo nhác rồi biến mất. Hẳn là trong lịch sử làm còng, cáy ít nhất một lần bị biến cố kinh hoàng nào đó như loài người quê tôi gặp thuở “nhất đội nhì trời” cũng nên. Tính thất kinh cha truyền con nối ăn sâu vào tiềm thức loài cáy, đến nỗi không con nào dám gần con nào. Láo nháo đó đây những cái lá bần vừa dạt đến nằm chênh vênh cao thấp như những tấm thẻ mo cau cắm nhận ruộng chia hồi cải cách ruộng đất. Bãi bồi nước rút trơ ra bùn với bùn.

  Không bờ, không kẹ. Nhấp nhô cao thấp y như các cánh đồng sau ngày vào hợp tác xã nông nghiệp. Nơi tôi ngồi nghe nói dạo trước tự nhiên vô cớ vở sụt một đoạn bờ. Ông Cù Huy Tuồng người làng Phù Lưu Thượng khấp khởi mừng cải cách ruộng đất sửa sai đi tìm cha bị tù ngoài Nghệ An, ngồi chờ đò bỗng dưng theo bờ cát cuốn vào đại dương. Đồng Kèn không nổi được một tiếng kèn nào. Rứa là hai cha con làm nên hai kiểu chết ngoài quy luật “sinh lão bệnh tử”. Sang đò, tôi theo bờ biển lên lên Cương Gián rồi qua Cầu Đạm để ra cơn Da Lách. Đi bộ dọc làng quê vừa kết thúc cuộc cách mạng dân chủ long trời lở đất hồ hởi lắm. Những câu khẩu hiệu viết lên nia, nôống, phên, vách treo, dựng, chăng khắp nơi có vẻ đã cuối mùa nên xộc xệch, vênh váo trông vui mắt đáo để. “Có khổ nói khổ. Nông dân vùng lên”. “Đả đảo địa chủ cường hào ác bá”. “Có áp bức, có đấu tranh”. “Chuyên chính vô sản muôn năm”…vui mắt đáo để. Tôi lặng lẽ đi. Tuyệt nhiên không nghe một tiếng chó sủa.Thuở “ba cùng” chó bị tiêu diệt đầu tiên. Qua khỏi Cơn Da Lách thì dừng lại xếp hàng chờ xuống phà. Những cán bộ có xe đạp, có lệnh hỏa tốc, có giấy giới thiệu, có thẻ thương binh nghĩa là có quyền lực trong xã hội được ưu tiên xuống trước. Tôi chưa đến lượt phải né sang một bên, đứng chờ, quan sát rồi nhẩm đọc”cán bộ to thì đeo xắc đỏ. Cán bộ nhỏ thì đeo xắc đen. Cán bộ quèn thì đeo xắc vải bạt”. Cơ man nào là cán bộ. Người không có xắc, lép vế cũng vô khối. Tất cả như tôi, né sang một bên ráng chờ. Chưa nói đến đồng tiền bát gạo. Xuống phà qua sông không thôi, đã thế. Nhúc nhích dần rồi tôi cũng đến lượt. Gần như cuối cùng của chuyến phà cuối cùng bữa đó. Đứng sát bên tôi là một người đàn ông luống tuổi. Mặt mũi có lẽ đã từng tuấn tú khôi ngô và đã từng trải qua mất bữa nhiều ngày nên gầy mà da dẻ lại hơi mai mái bủng xanh. Nguyên vẹn ở ông chỉ còn đôi con mắt. Và, trong đôi mắt ấy, tôi nhận ra một điều gì đó vừa nhân ái vừa vị tha. Vâng! Đôi mắt sẻ chia và hiền từ làm sao. Hẵn là một ông “đồ Nghệ”.

 Phà kéo bằng dây cáp nên trôi rất chậm. Tôi được đứng bên ông. Tuy giữa mùa Đông nhưng thấy lòng mình ấm lại. Trái với khuôn mặt thiếu máu, bộ quần áo ông bận lại rất sạch, rất thơm. Hình như mới giặt phơi được nắng. Cái áo bông cổ lông cừu giả sờn vai và chỗ cùi chỏ đã có mụn vá. Hai mông quần được chần hai lớp vải bên trong bằng những đường chỉ đồng tâm song song chi chít như hoa văn kỷ hà. “Đói cho sạch. Rách cho thơm”. Tôi nghĩ về ông như thế. Phà trôi rất chậm. Hơn nửa sông rồi mà không nghe ông nói một lời nào. Cuối cùng chắc ông đoán được sự mong đợi nơi tôi nên mới hỏi:

­ Chú cũng lên ga Vinh à? Ra Bắc hay vào Nam?

­ Thưa anh. Vào Nam thế nào được.

­ Ngoài Bắc chú làm gì?

­ Công nhân đắp đê quai Hữu Bị.

­ Hữu Bị ở đâu?

­ Xã Lộc Tân, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định.

­ Thế à!

­ Vâng!

Phà từ từ áp vào bờ bắc. Thế là cuộc gặp tình cờ ngắn ngủi với một người bạn đồng hành “đói” nhưng “sạch”. “Rách” nhưng “thơm” sắp chia tay. Tập giấy mỏng anh nhờ tôi cầm khi chuẩn bị vịn cái trụ bên bến phà để nhảy lên bờ quên lấy lại.

  Chắc chẳng quan trọng gì. Tôi giữ để đưa lại cho anh. Nhưng trời nhá nhem, người lại đông mà bến phá khấp khểnh những đá là đá. Nên không gặp lại anh. Trong tập giấy này có vài bài thơ Đường như dịch nháp. Vinh không xa nhưng đường thẳng đến vinh lại nham nhở gồ ghề còn lâu mới khắc phục được nên cứ phải đi vòng.

  Những ngày nghỉ, nằm trong nhà ông bà Nhã ở thôn Hữu Bị tôi lục ba lô lôi mấy bài thơ của người bạn đồng hành “trời cho” trên chuyến phà Bến Thủy đáng nhớ, ra ngâm nga. “Hoàng Hạc Lâu” của Thôi Hiệu có đến 9 bài dịch. Tôi thích nhất là câu cuối của Vũ Hoàng Chương. “Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi” và toàn bộ bài sau của Hy Tuệ. “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” thấm vào tôi và nghiền ngẫm mãi.

“Hạc vàng người trước cưỡi đi rồi,

Lầu trống còn tên Hoàng Hạc thôi.

Một thuở hạc vàng không trở lại,

Nghìn năm mây trắng vẫn đang trôi”.

  Mây trắng đầy trời vậy. Biết đến bao giờ mới chịu phôi pha.

( Tác giả gửi cho QTXM)

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.04.2015

30 tháng Tư ấy…

Ngô Minh

30 tháng Tư ấy…

 

30 tháng Tư ấy

cờ hoa và nước mắt

dép cao su lấm đất đỏ miền Đông

mũ tai bèo cơm vắt

đơn vị tôi vào Dinh Độc Lập

 

30 tháng Tư ấy

nghe đài loan tin giải phòng Sài Gòn

ở góc biển Quảng Bình heo hút

mạ đánh rơi chiếc cuốc góc vườn

rồi òa khóc như trẻ nhỏ

nước mắt già mặn chát biển cô

long lanh như cát

không kịp rửa chân tay

mẹ cầm ảnh con chạy khắp xóm giềng

nắng đỏ

 

30 tháng Tư ấy

em vuốt vội bờ tóc cháy

mười năm trời em lại soi gương

gió động cửa

mắt nhòe bối rối…

 

  30 tháng Tư ấy

sách nào chép hết

niềm vui  nỗi đau mỗi đời riêng

như khúc nhạc chín trong lồng ngực

đụng hờ lại rung lên…

Sài Gòn 5-1975

Thi sĩ Hữu Loan

Về “Lời tự sự của thi sĩ Hữu Loan”: Lại thêm một sự gian lận đê hèn của giới báo chí!

Nguyễn Đình Nguyên

Tình cờ trên FB lại chuyền nhau về “Lời tự sự của thi sĩ Hữu Loan” coi như là hồi ký của ông được đăng tải trên trang Petrotimes (18/08/14) do Nguyễn Như Phong làm Tổng biên tập. Đã đọc qua rồi, nhưng vốn mê “Màu tím hoa sim” như mọi người mê văn chương, nên tôi vẫn muốn đọc đi đọc lại về ông.

Bài tự sự của ông đã được biên tập lại gọn ghẽ, thành câu đoạn dễ đọc. Đọc qua một lượt, bỗng dưng gợi lại trong trí nhớ của tôi có những đoạn tôi ngờ ngợ là đã từng đọc khá lâu trước đây không phải như vậy. Những đoạn này đã được gọt tỉa một cách khéo léo, “tài tình”, nếu không tinh ý thì không thể nhận ra đó có phải là văn gốc của tác giả hay không. Sinh nghi, kiểm tra lại thì thấy quả là có sự “biên tập” quá thô thiển. Tôi trích ra đây để bạn đọc tham khảo và nhận xét, dù tôi không có trong tay bút chỉ của ông nhưng vẫn tin là như thế.

  Những phần được lược bỏ là những cụm từ, những câu chỉ trích về đoàn thể, về chính sách về sự vô cảm phi nhân tính của cấp lãnh đạo mà ông đã từng là một thành viên. Sau khi tỉnh ngộ ông “chán kháng chiến” (bị lược bỏ), họ “không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến” (bị lược bỏ) của ông, vì ông đã “chán ngấy bọn họ quá rồi!” (bị lược bỏ).

Nói về vụ “Nhân văn Giai phẩm” (NVGP), ông cho NVGP là nhằm “chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cặn” (bị lược bỏ). “Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! (bị lược bỏ).

Đỉnh điểm của sự việc là lúc ông viết “Màu tím hoa sim” để khóc người vợ trẻ đẹp xấu số của mình “không chết người trai khói lửa mà chết người gái nhỏ hậu phương”, “cấp trên” ông cấm ông khóc vợ, làm cách mạng không được phép ủy mị và không được lan truyền sự ủy mị. Ông tuyên bố bỏ ngũ một cách công khai sòng phẳng “cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được!” (lược bỏ).

Về quê ẩn dật cũng không yên. Dùng xe, thu xe. Đẩy xe kút cít, cũng thu, gánh đá bằng vai trần. Ấy thế mà “đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi…” (bị lược bỏ).

Rồi ông gặp người vợ thứ hai, con của một gia đình địa chủ bị đấu tố. Ông kể lại sự tàn ác của đội đấu tố: “hai vợ chồng ông bị đội phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết.” (bị lược bỏ) “Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng.” (bị lược bỏ).

Cái tinh khí của nhân tài dù có ở đâu thì cũng phát tiết. Ông ẩn dật mấy chục năm “chẳng màng đến thế sự”. Ngày đào đá núi đi bán, tối về bạn với rượu trăng để làm thơ “thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì.” (bị lược bỏ).

Như lời kể, ông “tái xuất giang hồ” năm 1988. Ông “lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội Văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức”, “để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự.” (bị lược bỏ).

Sự thật vẫn là sự thật. Tài năng cộng với khí phách ngang tàng, không chịu khuất phục bất cứ một cường quyền nào của ông đã làm nên một Hữu Loan nổi tiếng (đến độ có căm thù ông vẫn phải nhắc đến ông) và bất diệt.

N. Đ. N.

Tác giả gửi BVN.

Bảng đối chiếu:

 

Lời tự sự của Thi sĩ Hữu Loan
Bài đăng trên Petrotimes 18/08/2014http://petrotimes.vn/news/vn/xa-hoi/cong-dong-mang-roi-nuoc-mat-vi-tu-su-don-dau-cua-cha-de-mau-tim-hoa-sim.html#.VSH5a-hXh5k.facebook Xem bản đăng trên blog của Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn ngày 3/2/2010: http://tuanvannguyen.blogspot.com.au/2010/02/loi-tu-thuat-cua-tac-gia-bai-tho-mau.html. Lưu ý Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn có ghi nguồn là www.danchimviet.com/articles/2004/1/Li-t-thut-ca-tac-gi-1-bai-th-ni-ting-Mau-Tim-Hoa-Sim/Page1.html nhưng nay địa chỉ này không thể truy cập được nữa.
Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời… từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi” hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều… Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá!   Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi “hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!
Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng…Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông…

Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chỗ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc? Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý…

Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo.

Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản…

Đó là thời năm 1955–1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cặn. Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng… Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông…

Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chỗ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc? Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi…

 
………….Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách.

… Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc….

…………Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng.

Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói.

Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ… Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì.
Năm 1988, tôi “tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức. Năm 1988, tôi “tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự.

 

( Nguồn :BVN)

Suy nghĩ nhân đọc bài “Lịch sử và lãnh tụ” của ông Nguyễn Minh Nhị

Lê Phú Khải

  Thiết tha với “việc Đảng và vận nước” lắm, ông Nguyễn Minh Nhị mới thổ lộ những suy nghĩ gan ruột của mình: “Con đường cách mạng Việt Nam chạy qua cung đường thời gian 30 năm qua xem ra nguyên liệu “đổi mới” đã cạn. Nó đang chạy với quán tính của giai đoạn cuối của đà “đổi mới” và năng lượng của FDI từ chính sách thu hút đầu tư nước ngoài”.

Tôi nghĩ, ông Chủ tịch tỉnh đã về hưu này phải cân nhắc lắm mới công bố suy nghĩ của mình trước thềm Đại hội 12 quan trọng của Đảng cầm quyền. Và, đó là một suy nghĩ sâu và đúng.

Xét về bản chất của khái niệm “Đổi mới” từ Đại hội 6 của Đảng Cộng sản Việt Nam, thì phải gọi đúng tên của nó là “Đại hội Sửa sai”. Kinh tế thị trường là qui luật mà cả loài người đã đi theo, như một dòng sông luôn chảy không ngừng nghỉ. Xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa theo kế hoạch tập trung của các đảng cộng sản khác nào xây một cái đập giữa dòng sông đó. Nó tạo nên mực nước chênh lệch giữa hai bên. Khi mực nước phía thượng nguồn dâng cao, có khả năng vỡ đê thì Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu xoá bỏ chế độ độc đảng, làm lại từ đầu với không ít gian nan. Việt Nam thì sửa sai chỉ bằng cách phá cái đập ở giữa sông đi. Thế là… nước chảy ào ào. “Cái cung đường thời gian 30 năm qua” phát triển như lời ông Nhị nói, đã qua. Bây giờ nước chảy lừ đừ vì không còn thế năng, không còn động lực. Chẳng lẽ lại xây một cái đập giữa sông để tạo nên động lực, rồi lại phá cái đập đi để tạo năng lượng cho dòng chảy mới?!!!

  Vậy thì cần có một “đầu kéo” mới như lời ông Nhị, con tàu mới chạy được, dòng sông mới lại chảy đều… Cái đầu kéo ấy chính là cải cách chính trị, cải cách thể chế. Khi Đại hội 6 vừa kết thúc, nhà trí thức Nguyễn Khắc Viện bảo tôi: “Đổi mới kinh tế mới là năm mươi phần trăm, nửa còn lại phải là đổi mới chính trị thì đất nước mới tiến lên được, mới là sự thay đổi thực sự về chất”. Cái thời khắc đổi mới chính trị ấy đã đến: Đại hội 12.

Đổi mới, cải cách chính trị là gì? Điều này ai cũng biết – là tam quyền phân lập, là tự do ngôn luận, là quốc hội tự do ứng cử, tự do bầu cử, là xã hội dân sự… Tất nhiên những việc lớn lao này phải làm dần dần từng bước trong ôn hoà, nhưng không làm những điều đó thì không có con đường nào khác để đưa dân tộc Việt, đất nước Việt đi lên.

Việt Nam hiện nay là nước đang tụt hậu xa về cả chính trị lẫn kinh tế so với các nước Đông Nam Á ở quanh ta. Đó là điều không một người Việt Nam nào ở trong nước và hải ngoại có tự trọng có thể ngủ ngon giấc mỗi đêm.

Tham nhũng hiện nay là một quốc nạn không thể chống được. Nếu ai tố cáo tham nhũng thì như ông Nhị nói, các cơ quan thanh tra, kiểm tra… đều kết luận “chưa có cơ sở kết luận”! Thế là người đi tố cáo bị khoác lên cổ cái tội “vu cáo cán bộ”! Và thế là… tù mọt gông! Pháp luật như vậy thì trên thực tế đi bảo vệ kẻ tham nhũng, chứ không khuyến khích chống tham nhũng. Không có dân chủ thì mọi việc chống tham nhũng đều là trò hề, vô nghĩa!

Cải cách chính trị là không có con đường nào khác. Để người Việt Nam không phải “ngước nhìn lên” (Hạ Đình Nguyên) dẫu chỉ là những quốc gia như Campuchia, Myanmar, Thái Lan!!!

Sài Gòn, tháng 4/2015

( Nguồn: BVN)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.04.2015

NGƯỜI ANH KHỎA THÂN BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Một … hai … ba … Lột đồ ra !!!!  

 

​​

Naked bike được tổ chức hàng năm tại London để phản đối việc lạm dụng xe hơi làm ô nhiễm môi trường. Năm 2014 , có khoảng 1000 người tham gia, khởi hành từ 6 điểm tập trung khác nhau, và kết thúc tại Wellington Arch. Các Cyclists khi tham gia không được lột đồ trước, chỉ lột khi có lệnh của Ban tổ chức tại điểm xuất phát. Với khẩu hiệu ” bare as you dare” bạn có thể muốn trần trụi cỡ nào cũng được. Năm nay 2015 sẽ tổ chức vào thứ bảy ngày 13/6/2015, bạn nào muốn tham gia xin đăng ký trước…

 
 
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.04.2015

THI SĨ HÀ NHẬT ĐẾN HUẾ

THI SĨ HÀ NHẬT ĐẾN HUẾ

 Ngô Minh

 

Ngô Minh đau ốm nằm một chỗ từ trước Tết Ất Mùi cho đến tuần rồi mới đỡ, đi lại được trong nhà ngoài sân, thì thi sĩ Hà Nhật và chị Phương đến thăm. Hai vợ chồng từ Sài Gòn ra Đồng Hới cúng mộ ông bà tiên tổ ở Tuyên Hóa, Bảo Ninh (Đồng Hới) cả tuần liền, bây giờ mới vào Huế. Vào Huế Hà Nhật trọ ở nhà nghỉ Gia Đạt, đường Trần Thúc Nhẫn cạnh chợ Bến Ngự, rất gần nhà Ngô Minh, nên thầy dẫn vợ đi bộ đến thăm Ngô Minh.Xúc động lắm !

 

Thi sĩ Hà Nhật- Lương Duy Cán là thầy giáo dạy văn rất giỏi ở Lệ Thủy, Đồng Hới. Ở Quảng Bình có câu châm ngôn “Văn Cán- Toán Trình” xưng tụng hai thầy giáo dạy văn và toán giỏi ở Đồng Hới, Lê Thủy là Lương Duy Cán và Đoàn Trình. Ngô Minh vinh hạnh vào cấp 3 được học với cả hai thầy Cán, Trình. Thầy Cán (Hà Nhật) được điều lên Lệ Thủy dạy Ngô Minh, Lâm Thị Mỹ Dạ, Đỗ Hoàng, Hải Kỳ, Lê Đình Ty, Nguyễn Minh Hoàng… ở cấp 3 Lê Thủy. Cả một lớp làm thơ từ đó. Sau đó thầy về lại Đồng Hới. Vì thế ở Huế rất nhiều học trò của thầy. Nhiều học trò của thầy bây giờ là hiệu trưởng các trường Đại học ở Huế, đa phần là giáo viên đã nghỉ hưu. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.04.2015

VĂN TẾ CHIẾN SĨ GẠC MA

Trận chiến Gạc Ma

 VĂN TẾ CHIẾN SĨ GẠC MA

TRANG HẠNH
(Khoa tim mạch BV Đa Khoa Bắc Ninh)

Than ôi!
Biển bốn hướng sóng dậy hờn căm,
Trời tám phương mây giăng u uất.
Chẳng sao ngăn niềm đau đớn tột cùng,
Khó xóa hết nỗi hờn căm chất ngất!

Nhớ linh xưa,
Lớn lên bằng củ sắn củ khoai;
Trưởng thành trong lời ca lời hát.
Thấm nhuần đạo đức, ươm ước mơ cố gắng tôi rèn,
Chẳng ngại gian truân, nuôi hoài bảo chuyên cần học tập.
Giữ gìn đất nước, biết quê hương từ tiếng mẹ ru,
Yêu mến non sông, thương tổ quốc từ câu cha hát.
Bóng trăng đáy nước, quan họ ơi tình nặng mạn thuyền,
Lưng ngựa câu then, khăn piêu vẫy rừng vang tiếng nhạc.
Đờn ca tài tử bồi hồi,
Câu hát xẩm xoang ngây ngất.
Rộn rã tiếng cồng chiêng tây nguyên,
Réo rắc điệu khèn môi tây bắc.
Ngẩn ngơ điệu múa chiếu  chèo,
Bằng hoàng câu hò  phường vải.

Thế mà,
Rung rinh đá đảo, tự dưng bị trận cuồng phong
Bình lặng dòng sâu, bỗng nhiên nổi cơn bão táp!
Quân bành trướng, ỷ binh nhiều tướng mạnh, ngang nhiên cướp đất bắt người,
Lũ ma vương, cậy súng lớn đạn to, vô cớ hiếp tàu cắt cáp.
Cậy quân đông lấy thịt đè người,
Ỷ thế mạnh xua quân chiếm đất.
Uốn miệng lưỡi, cứ ngỡ bạn hiền,
Nhe nanh vuốt dè đâu quỷ dữ!
Thò tay quỷ  mà vẽ lưỡi bò,
Lòi mặt nạ té ra  kẻ cướp!
Tàu cá khoang không tấc sắt, để chúng tự tiện cầm tù,
Ngư dân phơi tấm lưng trần, mặc chúng thẳng tay đánh đập.
Làm vợ khóc chồng ruột héo gan bầm,
Để con nhớ cha lòng đau dạ thắt.

Nhưng chúng đã lầm! bởi nhân dân ta:
Thừa dũng cảm, nữ nhi là Bà Triệu, bà Trưng,
Đủ trí mưu, trai tráng là Quang Trung,  Thường Kiệt.
Yêu hòa bình, nhưng gươm Lê Lợi lưỡi vẫn sáng ngời,
Chuộng tự do, nhưng cọc Bạch Đằng  đầu luôn nhọn hoắt!

Bừng khí thế, trăm thiếu niên trương cờ sáu chữ: “… báo hoàng ân” *
Sục hờn căm, ngàn dũng sĩ thích tay một lời thề sát thát!

Gươm so gươm, gươm lóe ngợp trời,
Súng đọ súng, súng vang dậy đất!
Bạch Đằng xác địch nổi lênh bênh,
Đống Đa thây thù cao chất ngất!

Nay Chiến sĩ Gạc Ma,
Ăn chung mâm, ngủ chung chiếu, chuyện riêng tư cũng cùng kể nhau nghe,
Trùm chung chăn, mơ chung giấc, thư thầm kín đều chuyền tay nhau đọc!
Khác cha mẹ mà giống hệt ruột rà,
Không họ hàng mà y như máu thịt!

Khen thay!
Vì nhân dân, quản chi gối đất màn sương,
Vì đất nước nào sá gì mưa nam gió bắc.
Giống kiên cường, lại tiếp kiên cường,
Máu bất khuất, vẫn luôn bất khuất!
Hẹn với lòng một nhục một vinh,
Thề với giặc một còn một mất!

Thương ôi!
Cũng vì nước mạnh dân no,
Nào kể xương tan thịt nát!
Nguyễn Văn Lanh, bụng trúng lê tay vẫn giương thẳng tay cờ,
Trần Văn Phương, tay ôm ngực còn thét : “ Không cho mất đảo!” **
Máu ai loang cả mạn tàu!
Máu ai hòa theo nước biển!
Bởi dòng máu Đại Việt đỏ mãi ngàn năm,
Nên non nước Lạc Hồng nối liền một dải.
Dù giọt nước Biển Đông, con cháu cũng phải giữ gìn,
Dù hòn sỏi Gạc Ma, chiến sĩ quyết không để mất!

Xót thay!
Nam nhi hề, vai khoác chiến y,
Chiến sĩ hề, ai về đầu bạc?
Chuyện nhục vinh thì cứ luận bàn,
Đường sinh tử có ai không thác?
Luận anh hùng ai kể bại thành,
Xét chí khí nên coi cao thấp.

Hôm nay,
Thắp nén tâm hương ,
Tưởng người tiết liệt.
Gương hiếu trung mãi mãi  chẳng phai mờ,
Máu hào kiệt ngàn đời không đổi sắc.
Hiếu với dân chẳng quản máu xương rơi,
Trung với nước đâu chờ bia đá tạc!

Ô hô! Có linh xin hưởng!

——-

Chú thích:
* Trần Quốc Toản thêu lên cờ 6 chữ “ Phá cường địch, báo hoàng ân”** Trần Văn Phương trước khi hy sinh đã thét lớn: “ Thà hy sinh, không để mất đảo”

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.04.2015

Lên Kongtum với chị Điềm

Nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị

Lên Kongtum với chị Điềm

  Mai Khắc Ứng

( Bài gửi từ Canada)

Hạ tuần tháng Tư năm 1995, chị Điềm từ Paris về đến Sài Gòn vài ngày thì gọi điện thoại ra Huế rủ tôi lên Kontum. Tôi nhận lời. Hai chị em hẹn gặp nhau tại Plêi-Ku vào ngày 29 tháng Tư bằng chuyến bay buổi sáng từ Tân Sơn Nhất và từ Đà Nẵng. Máy bay Sài Gòn hạ cánh trước. Tôi lên sau. Theo lời nhắn của chị Điềm để lại tại sân bay, tôi tìm về Khách sạn Plêi­Ku ở đường Lê Lợi. Đến nơi đã thấy Kiến trúc sư Nguyễn Trọng Huấn đang chờ ở phòng tiếp tân. Kontum và Plêi­Ku từng là tuổi thơ của chị Điềm từ 63 năm về trước khi cụ thân sinh của chị làm Quản đạo (coi như Tỉnh trưởng) thưở Tây Nguyên còn hoang sơ chưa thuần. Cũng là vận may. Sở Văn Hóa Thông Tin Gia Lai vừa sắm được xe con cho Giám đốc. Anh Vũ Ngọc Bình mới nhận xe vài ba ngày sẵn sàng cho chúng tôi sử dụng. Vậy là “nguyệt tận” tháng Tư bốn chị em “bò” lên Kontum. Kontum thật nhiều khẩu hiệu lại lắm gập ghềnh. Tình trạng “nhà không số, phố không tên…” đang khá phổ biến. (Đọc tiếp…)

Ảnh: CSIS Asian Maritime Transparency Initiative / DigitalGlobe

Đường băng mới của Trung Quốc ở Biển Đông gần như hoàn thành

Tác giả: Isaac Stone Fish Keith Johnson

Người dịch: Huỳnh Phan

Ảnh vệ tinh mới cho thấy, việc Trung Quốc (TQ) xây dựng đường băng trên các đảo tranh chấp tiến triển xa hơn mọi người nghĩ trước đây.

TQ gần hoàn tất việc xây dựng đường băng trên một chỏm đất nhỏ ở Biển Đông, nâng cao khả năng triển khai sức mạnh trong khu vực từ vùng biển tranh chấp và nâng cao hơn nữa phần được mất trong một cuộc thách thức ngày càng căng thẳng giữa Bắc Kinh với các nước láng giềng và Hoa Kỳ.

Ảnh vệ tinh mới cung cấp cho Foreign Policy cho thấy, những tiến bộ trong việc xây dựng một dải mặt đường trên Đá Chữ Thập. Đá này nằm gần cuối phía nam của vùng biển tranh chấp trên Biển Đông, cách Philippines vài trăm dặm. Đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa, một quần đảo mà TQ, Philippines, Malaysia, Việt Nam, Đài Loan và Brunei đòi chủ quyền toàn bộ hoặc một phần. Các ảnh, trong đó ảnh gần đây nhất vào ngày 11 tháng 4, cho thấy, khoảng 3.000 feet (tương đương 914 m) đường băng đã hoàn thành trong các sắc màu xanh lá cây, xanh dương và xám.

Các ảnh này do Asia Maritime Transparency Initiative (AMTI), một chi nhánh nghiên cứu thuộc nhóm chuyên gia cố vấn ở Washington của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) cung cấp.

“Khả năng bất kỳ loại máy bay nào đều có thể đáp xuống được trên rạn đá này, cải thiện đáng kể khả năng tuần tra khu vực và thực thi các yêu sách của TQ trên Biển Đông”, Giám đốc AMTI Mira Rapp-Hooper nói.

Trò xây dựng rạn đá của TQ, bao gồm nạo vét lớn để biến các rạn san hô thành đảo nhân tạo, đã được báo chí, bao gồm cả Foreign Policy, tường thuật hồi tháng 2. Ngày 16 tháng 4, tờ New York Times và các báo khác đã đăng các ảnh về việc xây dựng của TQ trên Đá Chữ Thập, chụp hồi cuối tháng 3 cho thấy, đường băng đồn đại lâu nay đang hình thành. Các ảnh vào tháng 4 do Foreign Policy thu được cho thấy, thậm chí nhiều công trình hơn đã được thực hiện trên rạn đá này, kể cả việc mở rộng sân bay.

TQ đòi chủ quyền phần lớn Biển Đông, vùng biểnn quan trọng về mặt chiến lược. Đó là một khu vực rộng 1,4 triệu dặm vuông thuộc Thái Bình Dương, phía Bắc tiếp giáp với TQ, còn phía Đông, phía Tây và phía Nam tiếp giáp một số nước Đông Nam Á. Các quan chức hàng đầu của Mỹ, kể cả Tổng thống Barack Obama và lãnh đạo cấp cao hải quân gần đây đã lên tiếng báo động về thái độ hung hăng của TQ trong khu vực, đặc biệt là những nỗ lực bồi tạo các rạn đá đã trở nên nổi bật trong vòng sáu tháng qua. Hồi đầu tháng này, TT Obama chỉ trích việc TQ rõ ràng sử dụng “kích cỡ và cơ bắp để buộc các nước vào vị trí lệ thuộc”. Đô đốc Harry Harris Jr., chỉ huy Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ, lên án “trường thành cát” của TQ trong một bài phát biểu hồi cuối tháng 3 tại Úc.

Trong tháng 11, các ảnh do hãng phân tích IHS Jane công bố cho thấy rằng, Bắc Kinh đã bồi tạo nên một đảo lên Đá Chữ Thập đủ lớn để phục vụ một đường băng dài khoảng 10.000 feet (tương đương 3048 m). Những ảnh mới mà AMTI mua từ công ty vệ tinh thương mại DigitalGlobe, cho thấy, việc xây dựng đường băng đã thực sự bắt đầu.

Ảnh ngày 14 tháng 2 cho thấy, các dấu mốc cho một đường băng trên cát, nhưng chưa có mặt đường. Vào giữa tháng 3, mặt đường tráng đã dài ra 958 feet (tương đương 292 m) và tổng chiều dài đường băng là 1.525 feet (tương đương 465 m). Đến ngày 11 tháng 4, có thể nhìn thấy đường băng, sân đỗ, và nhiều cấu trúc phục vụ khác. “Có khả năng là đường băng sẽ hoàn thành sớm”, Rapp-Hooper nói.

Đô Đốc Samuel Locklear, người đứng đầu Bộ Tư Lệnh Thái Bình Dương, nói trong buổi điều trần trước Quốc hội ngày 15 tháng 4 rằng các hoạt động lấn biển “hung hăng” của TQ, gồm khả năng có một sân bay mới, sẽ nâng cao khả năng quân sự của Bắc Kinh trong khu vực. Ông cũng cảnh báo khả năng TQ sẽ tuyên bố một khu vực nhận diện phòng không trên Biển Đông. Hồi tháng 11 năm 2013, TQ tuyên bố thành lập một khu vực nhận diện phòng không trên Biển Hoa Đông, làm tăng căng thẳng giữa TQ, Nhật Bản, và Hoa Kỳ, một đồng minh thân cận của Nhật Bản. Như nhiều học giả TQ và các quan chức quân đội về hưu gợi ra, việc tuyên bố một vùng [nhận diện phòng không] bên trên Biển Đông có thể làm tăng căng thẳng với Hoa Kỳ hơn nữa. Và đường băng sẽ góp vào chuyện đó.

“Nó mở rộng khả năng hoạt động của họ trong Biển Đông, bao gồm cả giám sát khu vực và có khả năng từ chối truy cập đối với những nước khác”, một quan chức cao cấp trong chính quyền Obama gần đây đã nói với Foreign Policy.

Xây đường băng trên Đá Chữ Thập không là việc làm lần đầu của TQ trong khu vực này. Trung Quốc đã có một sân bay ít được sử dụng trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa, một quần đảo nhỏ ở Biển Đông, hoàn thành vào năm 1990. Tuy nhiên, nó có thể có tiềm năng rất quan trọng trong việc củng cố chiến lược cơ bản của TQ, giữ Hải quân Mỹ càng cách xa bờ biển TQ càng tốt nhờ vào một hỗn hợp máy bay trên đất, tàu ngầm và đội pháo tên lửa diệt tàu.

Đóng quân trên Đảo Chữ Thập và quan trọng là có thêm một đường băng đa dụng sẽ mở rộng tầm hoạt động quân sự tiềm năng của TQ: Đường băng dài 10.000 feet (3.048 m) đủ sức đáp ứng gần như tất cả các loại máy bay trong quân đội TQ.

TQ không phải là nước đầu tiên xây đường băng trên quần đảo Trường Sa – trên thực tế, ngoại trừ nước Brunei nhỏ bé, TQ là nước cuối cùng trong các bên tranh chấp làm điều này. Đài Loan, Việt Nam, Malaysia và Philippines đều có đường băng trên quần đảo Trường Sa, dù khác nhau rất lớn về kích thước và mức độ phức tạp, tất cả đều có vẻ ít đáng kể hơn nhiều so với đường băng của TQ.

Isaac Kardon, một học giả thuộc Viện Luật Mỹ-Á, Đại học Luật New York (NYU Law), đang nghiên cứu về vấn đề Biển Đông nói: “Việc xây dựng khả năng nhằm phô trương sức mạnh đang diễn ra. Vấn đề chỉ là TQ đang xây dựng nhiều hơn bất cứ nước nào khác”. Sở ngoại vụ tỉnh Hải Nam, tỉnh quản lý Đá Chữ Thập, đã không trả lời đề nghị bình luận, còn Hải Quân TQ thì không liên hệ được.

Philippines đã lớn tiếng kêu gọi sự hậu thuẫn nhiều hơn từ các quốc gia khác, đặc biệt là Hoa Kỳ, trong việc đối đầu với điều mà họ xem là sự gây hấn của TQ ở Biển Đông. Tuần này Indonesia cho biết họ muốn có thêm các cuộc tập trận huấn luyện với Hải Quân Mỹ trong các khu vực ở Biển Đông gần nơi TQ tuyên bố chủ quyền.

Báo chí TQ đã không hề né tránh việc đăng tải dự án xây dựng trên Đá Chữ Thập, hoặc sự phát triển đảo. Cuối tháng 3, một bài báo trên các trang web tin tức iFeng của TQ tường thuật rằng, lính trên Đá Chữ Thập – mà TQ gọi là Yongshu (Vĩnh Thử) – bây giờ có thể truy cập mạng 4G, do vậy lính đóng quân trên đảo có thể “chia sẻ những phong cảnh đẹp”. Báo Tài Chính Quốc Tế của của TQ ước tính rằng TQ đã chi khoảng $12 tỉ cho việc xây dựng các phần nhân tạo của Đá Chữ Thập, chưa kể các cấu trúc trên đảo.

Trong khi Bộ Ngoại giao TQ nói rằng các đảo này sẽ được sử dụng cho các mục đích quốc phòng không xác định, họ đã tìm cách hạ thấp những tác động quân sự của các hoạt động đó. Đầu tháng 4, một người phát ngôn Bộ Ngoại giao TQ nói rằng việc bồi đắp thêm các rạn san hô nhằm làm cho việc tiến hành các hoạt động đáp ứng thiên tai, chẳng hạn như các chuyến bay tìm kiếm, cứu hộ và ứng phó với giông bão, dễ dàng hơn.

Tuy nhiên, nhiều nhà phân tích hoài nghi. “Đó không phải là công việc nhân đạo nhằm tạo thêm sự cơ động cho việc cứu trợ nhân đạo. Đó là một cách triển khai vành đai phòng thủ – chấm hết”, Said Bryan McGrath, Phó giám đốc Trung tâm American Seapower thuộc Viện Hudson.

Ông nói rằng nó có thể giúp TQ triển khai máy bay, tên lửa đất-đối-đất, tên lửa đạn đạo chống tàu, và các hệ thống phòng thủ trên không “Trong khi làm như vậy, họ giữ cho kỵ binh — tức Hải quân Mỹ — thậm chí ở cách xa hơn là khi chỉ đơn giản triển khai vành đai phòng thủ đó từ đại lục”, McGrath nói.

Chắc chắn một số nhà phân tích Mỹ thấy các hoạt động bồi đắp đất của TQ không đe dọa nhiều. M. Taylor Fravel, một chuyên gia về tranh chấp biển châu Á tại Viện Công Nghệ Massachusetts (MIT), nghi vấn liệu các sân bay cô lập không có lớp các cấu trúc phục vụ đầy đủ như các cơ sở tiếp tế nhiên liệu và bảo trì sẽ làm được gì nhiều để làm tăng tầm hoạt động quân sự của TQ. Ông nói, chúng vẫn sẽ mong manh đối với bất kỳ cuộc tấn công nào của Mỹ. Hơn nữa, chúng cũng mong manh trước thời tiết.

“Một cơn bão lớn có thể cuốn đi hết tất cả”, Rapp-Hooper đồng ý.

Cuộc đấu khẩu về 10.000 feet (3.034 m) bê tông trên Đá Chữ Thập nhấn mạnh mức độ mà các đường băng đang và từ lâu được dùng cho việc triển khai sức mạnh trong những khoảng cách rộng lớn của Thái Bình Dương. Trong Thế chiến II, việc Nhật Bản xây dựng một sân bay trên đảo Guadalcanal đã khiến Thủy Quân Lục Chiến Mỹ tung ra cuộc tập kích đầu tiên trên đất liền trong Chiến Tranh Thái Bình Dương. Tương tự như vậy, nhu cầu về các sân bay áp chế phần lớn chiến lược nhảy cóc (island-hopping) lên các đảo trung tâm Thái Bình Dương của Đô Đốc Chester Nimitz qua việc tóm lấy các bệ phóng ở chuỗi đảo Marshalls, Marianas và cuối cùng là Ryukyu để có thể giành ưu thế trên không ở khu vực, lẫn việc ném bom tầm xa vào các đảo chính của Nhật. Ngay cả ở châu Âu, các sân bay ở các vị trí chiến lược cách xa nhau như Iceland, Azores, và Malta đã đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc chiến chống tàu ngầm của Đức và tấn công các tuyến đường tiếp liệu của Phe Trục. Gần đây hơn, Diego Garcia ở giữa Ấn Độ Dương đã là một căn cứ quan trọng cho các cuộc không kích tầm xa của Mỹ ở Trung Đông.

Trớ trêu thay, mặc dù qua nhiều thập kỷ tiến bộ trong công nghệ quân sự, sân bay vẫn còn quan trọng như từ trước tới nay, vì máy bay phản lực ngày nay có tầm hoạt động tương đối ngắn, Đảo Hải Nam của TQ và Quần Đảo Trường Sa cách nhau gần 600 dặm, không quân TQ sẽ phải hoạt động ở mức giới hạn cuối cùng trong bất kỳ cuộc đối đầu nào trong khu vực.

Nhưng xây dựng một đường băng trên Đá Chữ Thập về cơ bản cho Bắc Kinh một tàu sân bay không thể chìm, nằm sẵn ở trung tâm Biển Đông. Theo cách đó, vành đai phòng thủ của TQ được đẩy xa bờ biển gần 600 dặm sẽ khiến cho các nhóm tấn công tàu sân bay Hải Quân Mỹ với các máy bay tầm ngắn khó can thiệp hơn nhiều mà không sợ mất đi một con tàu nhiều tỉ đô la.

Nguồn:Foreign Policy

 

Bìa 3 tập NGÔ MINH TÁC PHẨM 1,3,5 do nhà thơ Nguyễn Trong Tạo vẽ

 VỀ BỘ SÁCH ”NGÔ MINH TÁC PHẨM”

 NGÔ MINH

   Bạn đọc và bạn bè văn nghệ sĩ cả nước thân mến.

         Vì có nhiều  bạn bè điện thoại, nhắn tin hỏi thăm, nên Ngô Minh xin thông báo về bộ sách tuyển NGÔ MINH TÁC PHẨM như sau :

         Năm nay (2015) Ngô Minh 67 tuổi.Từ cuối năm 2014 đến nay, tôi đau yếu liên miên: Đau khớp, gút sưng hai chân không đi được từ trong Tết đến nay. Đau loét dạ dày, chảy máu ngầm, phải nằm viện 2 lần, thiếu máu, suy dinh dưỡng phải truyền tới 4 đơn vị máu ( 1 lít). Bây giờ tôi đi lại vẫn khó khăn. Khi nói, tiếng vẫn ra đằng tai. Tôi nhận thấy sức khỏe mình giảm sút, không biết có sống tới 70 tuổi không. Nên tôi đã tự đọc chọn, biên tập một bộ tuyển tập của mình có tên là NGÔ MINH TÁC PHẨM ( vì sợ chữ “TUYỂN” xui). Đây coi như là bộ sách khép lại quá trình sáng tác Văn học hơn 40 năm của mình.Nhà thơ Hoàng Cát làm tuyển khi 68 tuổi.Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ làm tuyển khi 60 tuổi. Nên tuổi Ngô Minh tổng kết quá trình sáng tác cũng là bình thường. Thơ văn Ngô Minh là những trang viết thật lòng, thật đời, thật xúc cảm, nên được nhiều bạn đọc yêu mến. Nay chọn lọc lại chắc chất lượng sẽ cao hơn. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.04.2015

NHỮNG CÂU THƠ TÀI HOA CỦA NGÔ MINH

NHỮNG CÂU THƠ TÀI HOA CỦA NGÔ MINH

Nguyễn Vũ Tiềm

Trong tuyển NGHÌN CÂU THƠ TÀI HOA VIỆT NAM dày 887 trang, do nhà thơ Nguyễn Vũ Tiền sưu tầm- tuyển-dịch ( NXB Văn học, năm 2000) có in 1000 câu thơ tài hoa của 886 tác giả có tên và vô danh. Những câu thơ rất hay này được người tuyển xắp xếp thành những mục như thơ về cha-mẹ, tình yêu.v.v.., trong đó Ngô Minh được chọn 7 câu thơ tài hoa. Xin giới thiệu để bạnd dọc cugnf chia sẻ

Câu 15.51:

Trắng như tờ lịch vừa rơi
Ngày không em giấy không lời khát khao
May đời còn có chiêm bao
Cho hoa diệp liễu thơm vào trông không
( Sang trang ) (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.04.2015

LỊCH SỬ VÀ LÃNH TỤ

Ông Nguyễn Minh Nhị,cựu chủ tịch tỉnh An Giang

LỊCH SỬ VÀ LÃNH TỤ

Nguyễn Minh Nhị

Nhân đọc bài của TS Tô Văn Trường về chủ đề Đại hội Đảng khóa 12 sắp tới mà anh gửi riêng tham khảo, tôi như được gợi mở suy nghĩ trên tinh thần trách nhiệm về việc Đảng và vận nước.

Lịch sử là con đường không thẳng. Có ai ngờ 40 năm nước nhà độc lập, thống nhất mà con đường đi lên hạnh phúc không thẳng tắp, “rộng thênh thang” như ta tưởng. Và mỗi lần vượt qua khúc quanh hoặc để “nắn dòng” chảy đòi hỏi phải có con người lịch sử. Chỉ có con người lịch sử mới chuyển dòng lịch sử một cách lành tính. Đó là trường hợp ông Trường Chinh.

Những gì tôi đọc, nghe đều cho rằng ông từng có khuyết điểm trong Cải cách ruộng đất và cứng rắn trong chủ trương xây dựng Hợp tác xã ở Miền Bắc (1958), và trên cả nước sau khi hai miền thống nhất cho đến năm 1986. Nhưng khi Tổng Bí thư Lê Duẩn qua đời, lịch sử trao gánh nặng cho Ông: Cứu Đảng – cứu chế độ, cứu dân. Ông Đổi mới! Chỉ có ông dám thông qua Báo cáo chính trị phê phán sai lầm của Chủ nghĩa xã hội giáo điều, quan liêu, bao cấp mà thành trì Liên Xô đang lung lay sụp đổ.

Nhờ có tư duy nhạy bén, biết lắng nghe hơi thở của cuộc sống, có uy tín cao trong Đảng , ông đã dũng cảm vượt lên chính mình, trực tiếp chỉ đạo viết lại Văn kiện Đại hội Đảng VI theo tinh thần Đổi mới. Sau mười năm báo cấp (1976-1986), nền kinh tế Kế hoạch hóa Việt Nam đang tuột dốc thảm hại, ông dám “bẻ góc” cho nó vọt lên thì chính ông là người làm nên lịch sử.

 Khi bàn về tính công minh của lịch sử Engels đã nói đại ý như sau Khi nhận định một nhân vật lịch sử thì phải chú ý những gì người ta làm được, còn những thiếu sót là những hạn chế của điều kiện lịch sử“. Người ta thường tranh luận “Thời thế tạo anh hùng hay anh hùng tạo ra thời thế”? Có thể ở trong trường hợp của Trường Chinh cả hai yếu tố nêu trên đều đúng. Lịch sử và người dân luôn nhớ về ông như tấm gương sáng thể hiện rõ bản lĩnh và vai trò của lãnh tụ.

 

“Đổi mới” đang đuối tầm!.

Con tàu Cách mạng Việt Nam chạy qua cung đường thời gian 30 năm xem ra năng lượng “Đổi mới” đã cạn. Nó đang chạy với tốc độ quán tính giai đoạn cuối của đà “Đổi mới” và năng lượng của FDI từ chính sách thu hút đầu tư nước ngoài. Từ 5 năm nay các chỉ số hài lòng của người dân với bộ máy hành chính, hay nói cho công bằng, là cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng và các dịch vụ hành chính – sự nghiệp như: nhà đất, hộ tịch hộ khẩu, y tế, giáo dục…của Chính phủ, theo điều tra của cơ quan LHQ và các cơ quan Chính phủ, mới công bố vẫn không cải thiện được bao nhiêu. Công nhân đình công mà không thấy bóng Công đoàn. Nông dân khiếu kiện đất đai thì không thấy mặt Hội của mình đứng ra hướng dẫn, chỉ đạo. Phụ nữ bị bạo hành gia đình thì thường là nhờ công an can thiệp chớ vai trò Hội của chị em bặt tăm. Tệ “chạy”, đường ai nấy biết, nếu mở miệng phải trưng “bằng chứng” thì có nước đi tù, vì Thanh tra, Kiểm tra “chưa có cơ sở kết luận” v.v….

Về cơ cấu kinh tế, nếu nhìn từ xuất khẩu thì theo Tổng cục Thống kê năm 2014, tổng kim ngạch của cả nền kinh tế là 150 tỷ US, trong đó doanh nghiệp FDI chiếm hơn 2/3 (101 tỷ = 67% kể cả dầu thô), nếu không tính các Liên doanh xuất khẩu dầu thô thì cũng còn là 94 tỷ = 63%. Trong FDI, riêng Samsung xuất khẩu khoảng 24 tỷ. Như vậy là kinh tế nội địa tham gia xuất khẩu chỉ chiếm khoảng hơn 30% = khoảng 50 tỷ nhưng trong đó hàng nông – lâm – thủy – hải sản chiếm 20,5 tỷ.

Huyện Tịnh Biên ( tỉnh An Giang, Anh hùng Kháng chiến), qua ba cuộc chiến tranh liên tiếp, xã nào cũng được tuyên dương Anh hùng, riêng xã Nhơn Hưng bản quán của tôi đến ba lần Anh hùng. Đó là niềm kiêu hãnh. Nhờ Đổi mới mà bộ mặt Bảy Núi – An Giang (điện, đường, trường, trạm, nước sạch…) đổi thay rõ nét. Đó là niềm tự hào. Nhưng sự so sánh “hôm nay hơn hôm qua”, “bây giờ khác xa hơn 30 năm trước” theo lối tư duy cũ xưa là không thể nhìn ra hiện thực xã hội đòi hỏi nên thường bị tụt hậu mà không hay. Đó là vấn đề công ăn việc làm và thu nhập của từng nhà rõ ràng là không bền vững.

Nói đến đây tôi vô cùng biết ơn ông Lý Quang Diệu với khu công nghiệp Singapore – Bình Dương và các anh Sáu Phong (Bí thư) anh Út Phương (Chủ tịch) tỉnh Bình Dương đã tiên phong khai mở con đường cho dân nghèo quê tôi có thêm công ăn việc làm. Nhiều nhà, thậm chí cả xóm đi hết lên đó. Tôi từng sợ doanh nghiệp FDI sẽ làm doanh nghiệp nội địa của ta “liệt kháng”. Nhưng nay thì như phân tách cơ cấu kim ngạch xuất khẩu vừa nói, nếu không có FDI thì kinh tế ta sẽ “liệt cần”! Hiệp định TPP sẽ là một cơ hội lịch sử chăng?

Năm 2016 Đại hội Đảng lần thứ 12. Chu kỳ thời gian có sự trùng hợp ngẫu nhiên với Đại hội lần thứ 6 năm 1986! Yêu cầu 1986 là Đổi mới để thoát sụp đổ còn lần này tất yếu là tìm nguồn năng lượng mới hay nói nôm na là phải có “đầu kéo” mới để không bị đùn toa. Nói đùn toa nghe thì nhẹ nhưng nó cũng sẽ lật toa và hậu quả cũng không khác gì sụp đổ.

Nhớ khi xưa vận nước Đại Cồ Việt đang bên bờ vực: Nội bộ triều Đinh lục đục, giặc Tống lăm le xâm lược nước ta. Nếu không phải Thái hậu Dương Vân Nga thì không ai cứu được nước và chặn được giặc ngoại xâm. Bà đã vượt lên chính vai Thái hậu uy quyền của mình và vượt lên cả Triều đình họ Đinh mà cứu nước. Chỉ có bà mới làm được. Con bà là Đinh Toàn chính danh sẽ là Vua nhưng không làm được, các đại thần nhất là các Hoàng thân càng không làm được, vì họ xem cái họ Đinh là lớn hơn trăm họ. Uy và quyền của bà lúc bấy giờ lớn hơn cả họ Đinh mà bà còn đặt nó dưới trăm họ thì nước sao không mạnh, giặc nào không thua!

Lý Công Uẩn dời đô vì Đại La có thế “Rồng cuộn hổ ngồi” như ngài ra chiếu, nhưng cũng có người bình luận: còn là vì ngài muốn tránh xa cái họa phe nhóm, dư đảng của các đại thần Đinh, Lê xâu xé triều chính, để nhà vua rảnh tay lo chống giặc phương Bắc và xây dựng Đại Việt. Vả lại một kinh đô Hoa Lư chỉ rộng đủ chứa một bậc Sứ quân thì làm sao thỏa sức vẫy vùng của một bậc Đế vương mà câu chuyện truyền tụng dân gian là thuở còn là chú tiểu ở chùa có lần bị nhà chùa phạt trói cột Ông đã từng than: “Đêm nằm chẳng dám ngay chân thẳng/ Sợ nỗi Sơn hà Xã tắc nghiêng”!

Việt Nam đang trước ngã ba đường hội nhập quốc tế. Nói ngã ba là để hình dung giữa các nước lớn, các loại thị trường, các đối tác và đối thủ…để chọn lựa cách đi chớ không có tư duy nhìn đâu cũng ngã ba, ngã bảy hoặc cạm bẩy hay nhìn lối mòn nào cũng ra đại lộ để cặm cuị đi và nhìn đâu cũng thấy kẻ thù để giận. Mà giận thường mất khôn thì làm sao cạnh tranh nổi với người ta. Nói thế không có nghĩa Việt Nam hết kẻ thù thì ngây thơ quá. Không phải vậy. Vì “tấm huân chương còn có bề trái” thì không có đối tác nào mà không có khả năng là đối thủ – kẻ thù. Thậm chí kẻ thù có thể đang lù lù ngồi kế bên ta đó. Do đó chúng ta phải bình tĩnh , sáng suốt để tránh các thế lực thù địch bên ngoài “chuyển vế” ngược, làm cho trong nhà ganh tị, thù hận nhau thì ta như tự sát!

  Lời kết

Tôi vừa được Tỉnh ủy truyền đạt: Hội nghị TW 10 mới rồi khẳng định: “Đảng lấy quốc gia dân tộc làm đầu” và “Dân là gốc” chớ không phải “Lấy dân làm gốc”. Đại hội Đảng lần thứ 12 sẽ lấy chủ đề này làm trọng tâm thì chính là tín hiệu Đảng dám vượt lên chính mình, vượt xa Đại hội 6 “lấy dân làm gốc” để đưa con thuyền Tổ quốc vượt qua khúc quanh lịch sử hiện nay. Cơ hội không đến hai lần. Lịch sử tạo ra lãnh tụ. Lãnh tụ làm nên lịch sử. Tôi tin vậy!

N.M.N.

( Nguồn BVN)

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.04.2015

Văn Cao tiếng hát

Văn Cao
(Ký họa của Trịnh Công Sơn, 1992) 

Đặng Tiến 

  Thiên Thai Trương Chi của Văn Cao là hai ca khúc nổi tiếng từ nửa thế kỷ nay, cấu trúc trên hai truyền thuyết được lưu hành lâu đời. Thiên Thai là chuyện Lưu Nguyễn lạc vào cõi bồng lai, Trương Chi kể lại niềm đau đớn của chàng ngư dân có tiếng hát hay, tuyệt vọng vì tình: ai cũng hiểu như thế và hiểu đúng. Gần đây Phạm Duy có phát triển thêm ý nghĩa của hai bài hát, trong một loạt bài rất hay đăng trên Văn Học (California), số 16&17 (tháng 10&11.1987) [đăng lại trên Hợp Lưu số 8].

 Nay chúng tôi muốn đưa một lối nhìn khác về hai nhạc phẩm, không phải để đi tìm cái độc đáo, lập dị, mà để đưa Thiên Thai Trương Chi vào toàn bộ sự nghiệp thơ-nhạc-hoạ của Văn Cao, như một đồng bộ thống nhất: hai bài hát đó, chúng tôi xem như là tuyên ngôn nghệ thuật của Văn Cao – những nguyên tắc thẩm mỹ đưa ra từ thuở hai mươi, sẽ chung thuỷ với Văn Cao đến tuổi xế chiều.

Thiên Thai mở ra bằng một tiếng hát:

Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng…

Bồng Lai, ở đây, chỉ là tiếng hát: Thiên Thai là lịch sử một tiếng hát, một tác phẩm nghệ thuật lừng danh và vô danh. Tiếng hát, không à ơi trên võng, không tỉ tê bên gối, không ê a dưới ánh đèn màu, không rè rè qua máy phát thanh, mà vang lừng trên sóng, vượt tới vũ trụ và lấn át vũ trụ. Tiếng hát át tiếng sóng là một âm thanh tự thức đè lên những âm thanh vô thức. Tiếng ai hát… ai hát? Ta không biết và không cần biết. Một tác phẩm nghệ thuật, khi lìa tác giả, không còn cần tác giả, như đứa con khi trưởng thành không còn cần mẹ như trước. Chúng ta yêu Truyện Kiều mà không cần liên hệ với Nguyễn Du. Liên hệ, dĩ nhiên, “thì cũng tốt thôi” nhưng không phải là điều chính yếu trong nghệ thuật. Cái sai lầm của cô Mỵ Nương là đã muốn đồng hoá tiếng hát với người hát: “Hồ nghe tiếng hát thì thương… Hồ trông thấy bóng anh chàng thì chê…” như lời ca dao có kể lại. Không cứ gì một cô bé lầu Tây sai lầm, mà cả nền văn nghệ hiện thực xã hội chủ nghĩa (đã) sai lầm, khi đánh giá những bài hát nói của Nguyễn Công Trứ qua Nguyễn Công Trứ, đánh giá tiểu thuyết Nhất Linh qua con người Nhất Linh – mà lại đánh giá sai.

Thiên Thai là gì? là “cả một thiên thu trong tiếng đàn chơi vơi”. Sự đối lập, hay song lập, giữa vĩnh viễn và mong manh, giữa những định hình và những chơi vơi, là thế giới nghệ thuật. Nụ cười mong manh trở thành miên viễn trong bức hoạ La Joconde. Không gian như có dây tơ trong buổi chiều Xuân Diệu – hay bóng chiều Nguyễn Du, thướt tha bên cầu tơ liễu, là những ánh sáng mong manh ấy, là cả một thiên thu.

Một mặt, nghệ thuật là tiếng đàn vui ai quên đời dương thế…, tách rời khỏi thực tế; nghệ thuật là một thế giới riêng, với những quy luật riêng, bảo vệ và phát huy bản năng sáng tạo độc lập với hiện thực. Mặt khác, nghệ thuật cần bám rễ vào thực tại để phát triển, và phả sắc, nhả hương về lại trần gian. Nói giản dị hơn: nghệ thuật cần thực tại để nảy sinh và cần quần chúng để trưởng thành, nghệ thuật là ánh trăng thanh mơ tan thành suối trần gian. Nghệ thuật là một mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn qua một lần, là những cánh hoa trong một bức tranh tuyệt mỹ, không nở không tàn, nhưng chỉ sống thực khi gặp cái nhìn của người xem; sóng mắt con người đánh thức cành hoa trong hội hoạ, và trong ánh mắt đó, nó sẽ nở sẽ tàn như mọi thứ hoa trần thế; và chỉ có giờ phút bừng sống đó, cành hoa nghệ thuật mới đạt tới đời sống thực và có khả năng trở thành một cành hoa lý tưởng. Trong khi chờ đợi, cành hoa huệ của Tô Ngọc Vân, cành hoa cúc của Lê Phổ… vẫn còn là những hoa xuân chưa gặp bướm trần gian.

Người nghệ sĩ khi cầm cây cọ, ngòi bút trên tay vẫn biết rằng phút mê cuồng có một lần và chỉ một lần thôi, nếu có. Và có thể phút mê cuồng ấy không đến: phút linh cầu mãi không về như lời thơ Hồ Dzếnh. Hoặc đến không phải nơi phải lúc. Phút mê cuồng ấy linh thiêng, tuyệt đối, là động cơ cuối cùng của sáng tạo mà mỗi nghệ sĩ, mỗi xã hội đều có nhiệm vụ bảo vệ vì nó chỉ có một lần. Khi khai triển, chuyển phút có một lần thành cả một thiên thu, người nghệ sĩ lại phải tỉnh táo: trước để chuẩn bị, và sau đó, để hoàn tất. Lúc tỉnh táo, trước và sau đó, anh là người thợ, phải có dụng cụ, có tay nghề. Anh đừng cả tiếng khinh thường thợ thơ, thợ vẽ: không có người thợ trong tay, anh suốt đời chỉ nguệch ngoạc, hoặc rung đùi đợi vợ con hầu rượu và lạc rang, và khinh đời “không có trình độ”.

Thiên Thai là luồng điện hai chiều: người trần gian mơ hạnh phúc bồng lai trong khi những tiên cô khao khát “ khúc tình duyên” trần thế. Lưu Nguyễn khi ở Thiên Thai đã “ quên đời dương thế”, khi về trần, muốn tìm lại cõi tiên thì Đào Nguyên nơi nao? Nghệ thuật cũng vậy. Nghệ thuật là cuộc đời hoá thân thành màu sắc, âm thanh; mà cũng là những âm sắc khô cứng muốn trở lại làm hoa làm lá. Nghệ thuật là đoá hoa mong chín mọng thành trái đầu mùa, mà cũng là quả cây chín muộn, nhung nhớ cánh bướm hoang đường từ một mùa xuân xa vắng. Là những lối đi trùng với lối về, nghệ thuật là cõi hẹn hò ngang trái. Mỗi ngang trái là một chung thuỷ và hạnh phúc của sáng tạo nảy sinh từ sự thuỷ chung đó. Nghệ sĩ cùng bầy tiên đàn ca bao năm, không còn nhớ đường về; anh sống với nghệ thuật cũng vậy: trước giá vẽ, anh chỉ biết vui với cây cọ và màu sắc, mà không cần nhớ cuộc sống, không chịu thêm vào một bó hoa hồng để tranh dễ bán, không chịu bớt đi một đoá hoa sen cho hợp đường lối, lập trường. Anh vẽ cuộc sống, nghĩa là vẽ cuộc sống trong anh; dù vẽ cái ly trước mặt, anh vẫn vẽ ra hàng ngàn cái ly đã chứng kiến đời anh, bằng một cái ly trong tâm tưởng. Tĩnh vật trước mặt chỉ là cái cớ, làm trung gian giữa tác giả và người xem tranh. Những mối tình lớn không cần trung gian. Những hoạ phẩm lớn không cần đề tài. Nhưng ngược lại, khi rời khỏi giá vẽ, trở lại đời sống bình thường của xã hội, thì anh lại phải sống bình thường, đau cái đau của con người, vui cái vui của vợ con, buồn nỗi buồn của dân tộc. Nguyễn Du không lăn lóc suốt đời thì không thốt lên được tiếng đoạn trường. Nguyễn Khuyến không lo sốt vó vì vụ lụt lội mất mùa, phần thuế quan thu, phần trả nợ thì không thể viết nổi câu nước trong veo. Nói vậy để trả lời những người hỏi Văn Cao: Sao tài hoa xuất chúng mà đi lãnh việc trong ban khủng bố? Sao lại không? Chẳng lẽ là tài hoa, anh lãnh phần làm nhạc quốc ca thôi, còn việc tầm thường thì để người khác làm thay? Hỏi như thế thì khác gì trách Nguyễn Công Trứ cầm quân dẹp loạn, hay trách André Malraux chỉ huy lữ đoàn thép Alsace Lorraine?

Thiên Thai là cõi vô thuỷ vô chung, không có thời gian. Mà không có thời gian thì không có âm Nhạc. Lôgíc. Không có khúc nghê thường. Gió hát trầm tiếng ca, tiếng phách ròn lắng xa là nghệ thuật, là trần gian, là ý thức của huỷ thể. Âm ba thoáng rung cánh đào rơi trong một mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn qua một lần. Nghệ thuật đã làm rụng chiếc lá đầu tiên xuống Đào Nguyên. Nghệ thuật là cố gắng của con người vượt qua khỏi vật thể, tội lỗi và cái chết trong trần thế, là tiếng hát vang lừng trên sóng sau cơn bão.

Trương Chi

Có nhiều huyền thoại Trương Chi. Tình sử Trung Quốc kể chuyện một cô gái mê tiếng hát của một người lái buôn rồi chết, tim hoá đá, cho đến khi người đàn ông trở lại, nhỏ một giọt nước mắt, khối tình mới tan. Theo truyền thuyết Việt Nam, người đàn ông là một người thuyền chài, có tiếng hát hay, nhưng bị chê nghèo (hoặc xấu); nhân vật nữ là cô Mỵ Nương. Có thuyết cho là nàng chết, thuyết khác cho chàng chết, tim hoá gỗ bạch đàn hay ngọc đá. Văn Cao nhấn mạnh hai chủ đề nhạc và giai cấp, và chuyện chấm dứt ở cái chết của Trương Chi, chỉ còn lại tiếng hát nức nở trên sông. Không có chuyện trái tim và nước mắt. Phạm Duy, trong Khối tình Trương Chi (1945), kể lại truyền thuyết từ đầu đến cuối. Hai bản nhạc đồng thời với nhau và Phạm Duy đã có lần giải thích rất hay tác phẩm bạn mình (báo Văn Học, đã dẫn).

Bài hát Trương Chi mở đầu trong một thế giới sơ khai: Một chiều xưa trăng nước chưa thành thơ, một thế giới chưa có nghệ thuật, chưa có sáng tạo; sau đó không gian mới rung thành tơ: con người đã phát triển được bản năng thẩm mỹ, bằng cách tiếp thu một cách tiêu cực vẻ đẹp của vũ trụ, rồi dần dần sáng tạo ra nghệ thuật, ôi tiếng cầm ca thu tới bao giờ. Con người trước tiên tiếp xúc với vũ trụ để tự vệ và sản xuất. Nhờ có nghệ thuật, họ đã giao tiếp với ngoại giới bằng những rung cảm mới, ngoài phạm vi nhu cầu tồn tại. Tương quan giữa tiếng cầm ca thu tới bao giờ là tương quan giữa bản năng thẩm mỹ, bản năng sáng tạo và cái đẹp của thiên nhiên. Thiên nhiên thì vẫn vậy thôi, hay chuyển hoá rất chậm và rất ít theo chu kỳ, nhưng ý thức thẩm mỹ của con người càng ngày càng phát triển nhanh, càng tiến bộ trở thành phức tạp, tinh tế. Cho đến một lúc nào đó, con người bỗng thấy lòng chiều bơ vơ lúc thu vừa sang… Buổi chiều. Mùa thu. Niềm bơ vơ: chúng ta đã đến những chủ đề cổ điển của văn thơ thế giới, từ nhiều nguồn văn minh khác nhau. Con người chủng tộc, văn hoá khác nhau có thể cùng rung cảm như nhau, vì cái đẹp khách quan bàng bạc dưới ánh sáng hài hoà của vũ trụ và cái đẹp chủ quan ấp ủ trong bản năng thẩm mỹ của con người, bản chất gần nhau. Từ đó, nghệ thuật là mớ vốn chung cho toàn thể nhân loại, nó phải có tham vọng đáp ứng lại nhu cầu thẩm mỹ của con người – dĩ nhiên là qua lăng kính ngôn ngữ, văn hoá của từng dân tộc một. Sáng tạo nghệ thuật làm vũ trụ và con người càng ngày càng giàu có thêm. Buổi chiều, cũng như buổi sáng, buổi trưa, không đẹp, không xấu: buổi chiều là giờ an nghỉ, phút chia tay, một ánh trầm tư, một thoáng u hoài trước cảnh vật phai màu nhạt sắc. Buổi chiều, một thoáng bơ vơ, trở thành một tình cảm văn nghệ.

Nhưng theo đà tiến hoá, nghệ thuật – và con người nữa – cách ly ra khỏi thiên nhiên, độc lập và có khi đối lập với thiên nhiên. Nghệ thuật ngày một ngày hai trở thành một hoạt động chuyên nghiệp có qui chế trong xã hội. Ngày nay, ai thích lời chim ríu rít tiếng oanh ca không nhất thiết phải thích âm nhạc; ai yêu phong cảnh sông Lô bến sóng vàng từng nhà mờ biếc chìm một màu khói thu, người ấy không nhất thiết phải yêu hội hoạ.

Nhưng nghệ thuật, cụ thể là âm nhạc, hội hoạ và văn thơ khơi sâu ý thức về cái đẹp trong con người, giúp con người yêu thêm, yêu sâu sắc hơn ngôn ngữ và những âm sắc thiên nhiên. Không phải tự nhiên mà con người nghe suối hát theo đôi chim quyên hay ngoài song mưa rơi trên bao cung đàn… Trong trường ca Những người trên cửa biển, Văn Cao nói rõ hơn:

Có người không biết trăng là đẹp
Bỗng nhiên chiều đứng ngắm trăng lên
Nghe như ai hát trong lòng…

Có người quên hàng chục năm dĩ vãng
Chợt nhớ ra tất cả nhữ ng ước mơ
Của những ngày niên thiếu

(, tr. 72)

Như một câu thơ, một khúc nhạc. Nghệ thuật là bội số của cuộc đời nhân cuộc đời thành ngàn vạn giấc mơ, từ đó, Văn Cao đã có thể khẳng định những bức tranh tăng dân số chúng ta. Và anh giải thích:

Bao tình yêu khát khao hy vọng
Gửi từng cuộc đời nhỏ bé
Từng thế giới con con
Với tôi tất cả
Đều rộng lớn vô cùng

Vì những nhỏ bé con con ấy lớn lên trong nghệ thuật, đều trở thành cái vung tay hùng tráng của người gieo (le geste auguste du semeur).

Nhưng cái đẹp trong nghệ thuật không phải lúc nào cũng lung linh ánh trăng, long lanh tiếng suối, lóng lánh hơi mưa, nó có thể lem nhem than khói:

Nhạc đang biến thành sự thực quanh ta
Tôi càng yêu hơn
Những cuộc đời sau bức tường xám xa
lem nhem than khói
Những lá thuyền chen chúc nép bên nhau
Qua chiếc lưới phơi thấp thoáng bóng người
Cả đến cuộc đời những con hà lóng lánh

(, tr. 71)

Tác dụng của nghệ thuật thật lớn lao trong cuộc sống của loài người. Cô Mỵ Nương vốn ở lầu Tây, con quan Thừa tướng ngày ngày cấm cung trong ca dao làm sao có tầm hiểu biết như thế.

Tây hiên Mỵ Nương khi nghe tiếng ngân hò khoan
Mơ bóng con đò trôi
Giai nhân cười nép trăng sáng lả lơi
Lả lơi bên trời

Sai lầm của cô gái lầu Tây là đã mơ người hát qua lời hát, mơ tác giả qua tác phẩm, sau đó lại muốn chiếm hữu tác giả – nghĩa là chiếm hữu toàn bộ tác phẩm lẫn nguồn sáng tạo cho riêng một mình – rồi lại chê nhặt chê khoan. Cô là hiện thân của những hệ thống chính trị cưỡng đoạt văn nghệ từ xưa đến nay. Đường Minh Hoàng chuộng Lý Bạch, Louis XIV nâng đỡ Molière, bất quá là để mua vui như Lê Thái Tôn dùng nhạc Lương Đăng; còn chế độ chuyên chính vô sản, từ Staline đến nay, chiếm đoạt văn nghệ ra sao, thì chúng ta không cần dài lời. Trong bài hát, Văn Cao phớt qua hình ảnh Mỵ Nương, chút nhan sắc của cô bé dậy thì này không đáng cho anh dừng mắt lại lâu, anh chỉ trách ai khinh nghèo quên nhau. Quên nhau là thôi, là hơn. Trương Chi dừng chèo là Văn Cao dừng chuyện. Không cần gì tim phải hoá đá để đòi nợ nước mắt. Vả lại không ngọc đá nào quý bằng trái tim con người, trái tim biết yêu, biết nhớ, trái tim khi ngừng đập là tan rã với cỏ cây. Trái tim Trương Chi, trái tim Văn Cao không có gì sánh được. Còn món nợ kia? Ở đời, một là anh phủi nợ, thì hết vấn đề. Hai là anh nhận nợ, thì không bao giờ anh trả hết: chết đi, chết kiểu gì đi nữa, thì anh cũng chỉ mới thoát nợ chứ chưa phải là trả nợ. Lẩn thẩn mà Văn Cao đòi nợ thì phiền lắm: cả nước nợ anh một bản quốc ca, mỗi chúng ta còn nợ anh một điệu nhạc tình, cả mấy cô tiên trên Thiên Thai vẫn còn nợ Văn Cao trái đào thơm. Năm nay bảy mươi tuổi, Văn Cao đã ăn được trái đào thơm nào đâu? Còn quả đắng, thì suốt một đời, anh phải ăn nhiều lắm. Văn Cao là chú đạo đồng dâng mật ngọt cho bữa tiệc trần gian rồi suốt đời phải ăn trái đắng.

Trái tim Trương Chi thì đã tan rã. Nhưng tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung… Đây là định mệnh của tác phẩm nghệ thuật, là ý nghĩa đặc biệt của nhạc phẩm Trương Chi, chứ không phải là chuyện tình lẩn thẩn. Phải hiểu như thế mới bắt được mạch thơ Văn Cao:

Đêm nay dòng sông Thương dâng cao
Mà ai hát dưới trăng ngà
Ngồi đây ta gõ ván thuyền
Ta ca trái đất còn riêng ta

Ta ở đây không phải là cá nhân Trương Chi, cũng không phải là Văn Cao, mà là Con Người, Nhân Loại sáng tạo ngôn ngữ, rồi sáng tạo nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật, văn minh, để làm chủ trái đất còn riêng ta. Con người gõ ván thuyền mà ca, giữa cảnh trăng nước sông Thương, đẹp hơn cả hình ảnh Trang Sinh khi vỗ bồn mà hát. Hát rằng: Ta có trời đất làm quan quách, nhật nguyệt làm ngọc bích, tinh tú làm ngọc châu, vạn vật làm lẽ sống… Mà còn thêm chi cho lắm việc (Liệt ngự khấu, Ngoại Thiên). Bối cảnh có khác nhau, nhưng nội dung chính yếu của chuyện gõ thuyền, gõ chậu mà ca không khác nhau: Con Người tự thức, làm chủ thể của ý thức và ngoại vật. Tự thức ở Trang Tử là tư tưởng lớn lao của ông, tự thức của Văn Cao là nghệ thuật của mình, là tiếng hát vang lừng trên sóng, mà cũng là tiếng sóng. Tiếng sóng Kêu khát suốt ngày đêmSuốt ngày đêm kêu khát. Nghệ thuật phải là những làn môi. Những làn môi nóng bỏng căng mình chờ đợi:

Nước ngọt của dòng sông
Bao giờ đổ đầy lòng biển

(Câu khép trường ca Những người trên cửa biển).

Đ.T. 

 ( Nguồn: vanviet)

 

Nhà thơ Việt Phương

NGƯỜI LÀM THƠ CHẤN ĐỘNG MỘT THỜI Ở PHỦ THỦ TƯỚNG

Nhà văn Dương Kỳ Anh
“Mở đài địch như mở toang cánh cửa”, “Ta nhất quyết đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sỹ/ Hình như đấy là niềm tin, ý chí và tự hào/ Mường tượng rằng trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ/ Sự ngây thơ đẹp tuyệt vời và ngờ nghệch làm sao”, “Ta đã thấy những chỗ lõm lồi trên mặt trăng sao/ Những vệt bùn trên tận đỉnh chín tầng cao”… Những câu thơ từng gây chấn động dư luận một thời mà bây giờ tôi mới biết nó được trích từ bài thơ “Cuộc đời yêu như vợ của ta ơi”, một trong những bài trong tập thơ “Cửa mở” của nhà thơ Việt Phương do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1970. Vào những năm 70 mà viết những câu thơ như thế, tôi khâm phục ông vô cùng.


 

Chuyện ít biết về tác giả ‘Cửa mở’ gây chấn động một thời
 
Hôm kỷ niệm 50 năm thành lập Hội Nhà văn Việt Nam tại Cung Văn hóa Hữu Nghị, tan buổi, tôi đứng chờ xe taxi để về nhà thì gặp nhà thơ Việt Phương. Ông bảo: “Dương Kỳ Anh ơi, lên đây cùng về với mình”. Buổi đầu, tôi cứ tưởng xe cơ quan đón ông, nhưng khi tôi lên xe ôtô mới biết đó là xe riêng của con trai ông. Thấy phong thái con trai ông lễ phép, thân tình và cởi mở, tự nhiên tôi muốn đến thăm gia đình ông, gia đình của một nhà thơ từng gây chấn động dư luận với tập thơ “Cửa mở”.
 
Nhà thơ Việt Phương họ Trần, Trần Việt Phương, tên thực của ông là Trần Quang Huy. Năm ông 17 tuổi, tham gia hoạt động bí mật chống thực dân Pháp, bị bắt, bị giam với một người bạn tù cũng xấp xỉ tuổi ông. Hai người ở hai xà lim nhưng cũng thường trao đổi với nhau. Lúc đó ông có bí danh là Việt Phương và người bạn tù lại lấy tên ông là Trần Quang Huy làm bí danh. Sau này, người bạn tù đó trở thành Bộ trưởng Trần Quang Huy (tên thực là Vũ Đắc Huề).
Việt Phương có hai người con trai là Trần Trung Thực sinh năm 1956 và Trần Quang Huy sinh năm 1960. Là ông lấy tên khai sinh của mình đặt tên cho con. Ông kể rằng, trong hộ khẩu của ông có hai tên Trần Quang Huy nên dạo còn bao cấp, mỗi lần đi mua gạo mua dầu… người ta vặn hỏi ông, ông nói vui rằng nhà tôi có Trần Quang Huy 3 lít dầu và Trần Quang Huy 1/5 lít dầu (người lớn được mua 3 lít, trẻ con 1/5 lít).
Nhà thơ Việt Phương sinh năm 1928, đậu tú tài thời Pháp thuộc. Ông là trợ lý của Thủ tướng Phạm Văn Đồng mấy chục năm. Đã ở tuổi 87 mà trông ông như mới ngoài 70. Ông kể nhiều chuyện vui và hài hước. Những chuyện về văn chương, gia đình, những chuyện ít ai biết về số phận những tập thơ của ông.
Vợ ông, bà Trần Tú Lan năm nay 81 tuổi, từng là cô giáo với nhiều học trò nổi tiếng như Dương Trung Quốc, Chu Hảo… Bà kể chuyện con trai đầu của ông bà là Trần Trung Thực nhiều lần được ăn cơm cùng Bác Hồ: “Có lần, Bác gắp cho cháu Thực một miếng táo, nó cứ nhìn miếng táo để trong bát… Chắc thấy lạ vì Bác Hồ thường ăn táo sau khi đã hấp chín… Bác cũng hay cho cháu Thực sách để đọc. Một lần cháu Thực cầm cuốn sách lên thưa với Bác là cuốn này cháu đã đọc rồi ạ. Bác bảo: Cháu thật thà thế là tốt. Rồi Bác đi tìm cuốn sách khác đưa cho Thực…”. Về sau Thực học chuyên toán, được giải nhì kỳ thi học sinh giỏi thành phố Hà Nội. Bây giờ Trần Trung Thực là Vụ trưởng, làm việc ở Bộ Công Thương sau nhiều năm làm tham tán công sứ ở cộng đồng châu Âu (tại Bỉ). Nhà thơ Việt Phương đã có ba cháu nội, cháu đích tôn của ông mang tên ông là Trần Việt Phương, năm nay 31 tuổi, tốt nghiệp thạc sỹ tại Anh quốc.
“Mở đài địch như mở toang cánh cửa”, “Ta nhất quyết đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sỹ/ Hình như đấy là niềm tin, ý chí và tự hào/ Mường tượng rằng trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ/ Sự ngây thơ đẹp tuyệt vời và ngờ nghệch làm sao”, “Ta đã thấy những chỗ lõm lồi trên mặt trăng sao/ Những vệt bùn trên tận đỉnh chín tầng cao”… Những câu thơ từng gây chấn động dư luận một thời mà bây giờ tôi mới biết nó được trích từ bài thơ “Cuộc đời yêu như vợ của ta ơi”, một trong những bài trong tập thơ “Cửa mở” của nhà thơ Việt Phương do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1970. Vào những năm 70 mà viết những câu thơ như thế, tôi khâm phục ông vô cùng. Thời đó tôi còn là sinh viên khoa văn của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, chúng tôi chỉ đọc thầm cho nhau nghe, người này truyền qua người khác chứ thực tình tôi chưa nhìn thấy tập thơ “Cửa mở” bao giờ.
Tôi hỏi ông rằng, dạo đó người ta đồn thổi nhiều chuyện như ông bị cách chức, các con ông cũng bị “vạ lây”… có đúng không? Ông cười, lắc đầu “Không có chuyện đó đâu”. Ông nói, tập “Cửa mở” năm đó in 5.200 bản, chỉ trong vài tuần là hết: “Anh Huy Cận bảo tôi chỉ còn vài chục cuốn người ta giữ lại thôi”. Rất nhiều người khen, cũng nhiều người phê phán, có một nhà thơ là cán bộ cao cấp nói trong một cuộc họp: “Phủ Thủ tướng có một kẻ điên làm thơ”. Vợ ông, bà Trần tú Lan khẳng định “Các con chúng tôi không làm sao cả”. Rồi bà kể: “Tôi có đến gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Thủ tướng tưởng tôi đến có chuyện gì đó liên quan tới các con vì ông biết tôi rất chăm con. Tôi nói: Thưa chú, cháu đến vì tập thơ “Cửa mở”. Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói: “Phương có đem cho mình xem đâu”. Tôi bảo: Tập thơ “Cửa mở” hay đấy chứ ạ. Thủ tướng Phạm Văn Đồng bảo tôi: “Thơ Phương thì Tú Lan khen hay là phải rồi”.
Nhà thơ Việt Phương đưa cho tôi bản thảo một bài thơ của ông, có chữ viết tay của nhà thơ Tố Hữu chữa hai câu thơ của ông: “Nhưng tôi không chịu” – Ông nói. Nhiều lần, ông đưa một số bài thơ mới làm cho các đồng chí Trường Chinh, Tố Hữu đọc. “Các anh ấy góp ý rất chân tình. Có lần Bác Hồ còn sửa thơ cho tôi” – Ông kể . Trong lúc vợ ông đang lục tìm những tấm ảnh của các con lúc còn bé, nhà thơ Việt Phương đến giá sách lấy 3 tập thơ tặng tôi, trong đó có tập “Cửa mở” cũng do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2009. Tập thơ “Cửa mở” tái bản y nguyên bản in đầu tiên, nhà thơ Việt Phương cho biết. Hai tập thơ còn lại đều là những bài thơ mà nhà thơ Việt Phương sáng tác trong nhiều năm gần đây. Tập thơ “Nắng” và tập “Lan” (Lấy tên vợ ông làm tên tập thơ) đều in năm 2013, một sức làm việc đáng kính nể.
“Đời đang đón đợi để đong đầy”, tôi đang đọc câu thơ của ông in ngoài bìa tập thơ “Nắng” thì có tiếng chuông điện thoại. Cậu con trai thứ hai Trần Quang Huy hiện đang là Phó Tổng giám đốc Ngân hàng (MHB), người đã lái xe đón ông hôm tôi đi nhờ, gọi điện về nói sẽ đưa xe ôtô đến đón bố mẹ đi viếng Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Phòng khách ở tầng một căn biệt thự bốn tầng trên đường Trần Quang Diệu bày nhiều thứ có vẻ như là đồ cổ mà theo nhà thơ Việt Phương là do cậu con trai thứ hai Trần Quang Huy mang về. Ông không dùng điện thoại di động, nên vừa tiếp khách, ông vừa xin lỗi để đi nghe điện thoại, chiếc điện thoại cố định đặt ở góc phòng.
Vợ ông, bà Trần Tú Lan kể rằng, chính bà đã bắt thăm và thật may mắn chọn được mảnh đất để xây nhà ở vị trí này, một vị trí có thể nói là đắc địa vì có hai mặt đường lớn: “Hôm ấy, cơ quan tổ chức bắt thăm, có mấy chục người, mấy chục mẩu giấy gấp làm tư, tôi nhìn thấy một mẩu giấy như đang vẫy vẫy tôi, có lẽ do luồng gió từ quạt trần làm mẩu giấy lất phất như vậy. Tôi thấy lạ và hay hay nên nhặt lên, ai ngờ lại chọn được vị trí đẹp nhất”. Nhà thơ Việt Phương gật đầu xác nhận: “Đúng thế đấy… xây ngôi nhà này do một tay nhà tôi lo liệu”.
Ông cầm một tệp đĩa nhạc đưa cho tôi và nói: Lúc cháu Thực chưa đầy năm, ông thường để cháu nằm trên giường, bên cạnh là chiếc máy hát (máy quay đĩa) do Thủ tướng Phạm Văn Đồng tặng. Ông bật máy quay, cho con nằm nghe nhạc. Những bản nhạc du dương, êm dịu của Beethoven. Ông nói, ông rất thích nhạc sĩ thiên tài này. “Mỗi lần tôi bật máy nghe nhạc là cháu Thực và sau này là cháu Huy nằm yên trên giường nghe rất chăm chú. Có lẽ vì thế mà sau này, khi các con tôi trưởng thành, chúng cũng yêu thích âm nhạc như tôi. Tôi nghĩ, nghệ thuật giúp cho con người sống nhân văn hơn” – Ông bảo vậy.
Trò chuyện với ông, tôi không những biết nhiều cái lạ trong thơ mà còn thấy ông có nhiều cái lạ trong cuộc sống hằng ngày. Ông kể, lúc con ông bắt đầu tập nói, những buổi chiều tối, ông để con ngồi trên chiếc ghế mây buộc sau xe, lọc cọc đạp xe lên bờ đê sông Hồng. Để xe xuống vệ cỏ bờ đê, ông bế con trên tay nhìn Sông Hồng cuộn chảy rồi bắt đầu dậy con tập nói. Ông chỉ đám mây bay là là trên mặt sông và nói “mây”, con ông cũng bập bẹ “mây”. Ông chỉ tay xuống mặt nước Sông Hồng nói “nước”, thằng bé cũng bập bẹ “nước”. Cứ như vậy, ông chỉ lên bầu trời, chỉ dãy núi phía xa xa, chỉ đàn chim đang bay, chỉ con sóng đang lượn, bông hoa đang nở, cây lúa đang ngậm đòng… “Vợ chồng tôi muốn các con sau này lớn lên hiểu được mọi thứ trên đời cụ thể nhất, chân thật nhất” – Ông nói.
Làm trợ lý cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng mấy chục năm, nhà thơ Việt Phương đã đi nhiều nơi trên thế giới. Ấy vậy mà vợ ông bà Trần Tú Lan lại chưa bao giờ đi nước ngoài. Tôi ngạc nhiên thực sự, mới hỏi bà vì sao? Có phải vì bà sợ đi máy bay? Hay có lý do nào khác? Bà nói đã từng được cử đi học ở Nga, bà cũng rất thích đi nhưng lúc đó các con bà còn nhỏ, nên bà đã nhường suất đi học nước ngoài cho người khác. Ở đời, được cái này phải biết hy sinh cái khác… Ngay cả sau này, khi cháu Thực làm tham tán công sứ ở nhiều nước châu Âu, cháu cũng rất muốn mẹ đi một vài chuyến du lịch nước ngoài… Mình nuôi con, rồi nuôi cháu, phải hiểu được quy luật bù trừ. Nếu mình cái gì cũng được hưởng thì sau này phần đâu cho con cháu?! Bây giờ, các con tôi, rồi các cháu được đi học nước ngoài, công tác ở nhiều nước, được đi đây đi đó là tôi mãn nguyện, là như tôi đã được đi nước ngoài rồi”. Tôi thấy bà rất vui khi nói điều này. Tôi bỗng nhớ hai câu thơ của nhà thơ Việt Phương mà tôi vừa đọc trong tập “Lan”: “Một thời cửa mở cho tất cả; Từ trong đại họa hóa bình yên”. Thế đấy!
( Nguồn: trannhuong.net)

 

Người Bàu Thôn vẫn lưu giữ “mộ vọng” cụ Nguyễn Du ở Huế?

  TRẦN VIẾT ĐIỀN

Một số nhà nghiên cứu đã chú tâm tìm kiếm nơi an táng đại thi hào Nguyễn Du ở Huế, sau khi ông qua đời vào ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn (16/9/1820).

Mộ Nguyễn Du ở Hà Tĩnh – Ảnh: internet

Dẫu biết gia đình đại thi hào đã dời mộ cụ về cố hương từ năm 1824 nhưng giới nghiên cứu vẫn có niềm mong là làm sao tìm được dấu tích ngôi mộ cũ của đại thi hào ở Huế. Gần 200 năm, một ngôi mộ đã dời, việc tìm kiếm quả là “mò kim đáy biển”. Tuy nhiên vẫn hy vọng (dù mong manh) rằng người xưa, trong đó có người thân của cụ, lúc bấy giờ đang làm quan ở Huế, các bạn đồng liêu quý mến cụ,… sẽ giữ lại ngôi mộ không còn cốt của cụ, lấp đất làm “mộ vọng”, làm nơi đến thắp hương để tưởng niệm người xưa. Với chiều hướng ấy, chúng tôi xin góp phần với các nhà nghiên cứu để tìm mộ cũ của đại thi hào Nguyễn Du ở Huế. Để tìm kiếm trước hết chúng tôi tổng quan vấn đề, rút ra những thông tin đáng tin cậy nhất, dựa vào chúng để tiến hành khảo sát điền dã, tìm cơ sở để hình thành giả thuyết.

TỔNG QUAN

Phần tổng quan chúng tôi chia hai nhóm tác giả, một chỉ dựa vào ghi chép hoặc truyền ức của họ Nguyễn Tiên Điền, một có khảo sát điền dã để tìm địa danh Bầu Đá, xã An Ninh (Thượng, Hạ).

Nhóm I

Các tác giả nhóm này không khảo sát thực địa ở Huế, dựa vào truyền ức trong gia tộc cụ Nguyễn Du ở Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh để viết về nơi an táng đầu tiên cụ Nguyễn Du ở Huế.

Đinh Sỹ Hồng, Ban quản lý khu di tích Nguyễn Du, năm 2011, viết bài: “Lăng mộ Đại thi hào Nguyễn Du”, có thông báo: “Ban đầu, mộ được chôn tại cánh đồng Bàu Đá, xã An Ninh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Đám tang cụ lặng lẽ không có nhiều người đi đưa. Nhà vua Minh Mạng biết tin ban cho tên “Thụy” và gửi phẩm vật phúng viếng. Các quan trong triều cũng gửi phẩm vật và câu đối phúng điếu”.

Phạm Trọng Chánh trong bài “Đọc sách “Nguyễn Du trên đường gió bụi” của Hoàng Khôi”, nguồn Văn hóa Nghệ An thứ bảy, 09/11/2013, viết Niên biểu Nguyễn Du, có đoạn: “1820. Gia Long mất, Minh Mệnh lên ngôi cử Nguyễn Du làm Chánh sứ đi báo tang và xin thụ phong; Chưa kịp đi thì bị bệnh dịch mất ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn tức ngày 16/9/1820. Ngô Thời Vị làm Chánh sứ thay thế. Thi hài Nguyễn Du được an táng đồng Bàu Đá, xã An Ninh, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên. Năm 1824 con là Nguyễn Ngũ cải táng đưa về làng Tiên Điền”.

Vân Huyến trong bài “Thân thế và sự nghiệp đại thi hào Nguyễn Du” viết: “Năm 1820, Nguyễn Du được cử đi sứ Trung Quốc nhưng chưa kịp lên đường thì lâm bệnh, mất tại kinh thành Huế, thọ 56 tuổi. Thi hài Người được an táng tại cánh đồng Bàu Đá xã An Ninh (nay là An Hòa) huyện Quảng Điền tỉnh Thừa Thiên Huế”.

Nhóm II:

Trên báo Văn hóa Phật giáo số 131 ngày 16/6/2011, nhà nghiên cứu Hồ Đắc Duy công bố bài viết: “Đi tìm nơi an táng của thi hào Nguyễn Du tại Huế”. Tác giả đã về quê hương đại thi hào tìm thư tịch cần thiết, nắm thông tin cụ Nguyễn Du “được an táng tại cánh đồng Bàu Đá xã An Ninh”, về Huế khảo sát điền dã, nhờ các nhà địa lý phong thủy cổ tác nghiệp độc lập, sử dụng Google Map, Google Earth,… đã đi đến kết luận mộ cũ Nguyễn Du là tiền thân của ngôi mộ Thượng thư Bộ công Hoàng Hữu Thường, ở tọa độ 160 27! 41!!, 1070 321 8.6611, thuộc Bầu Sắn (tác giả lại gọi là Bầu Đá), làng An Ninh (thượng), phía tả sông Bạch Yến.

Nhằm trao đổi với nhà nghiên cứu Hồ Đắc Duy, trong bài “Cụ Nguyễn Du được an táng tại Bàu Đá hay Bàu Sắn?”(Tạp chí Văn hóa Phật giáo số 135 (15/08/2011)), tác giả Lê Trường Quỳnh góp ý về sự nhầm lẫn một số địa danh mà nhà nghiên cứu Hồ Đắc Duy có nêu trong bài viết, tác giả bác bỏ vị trí mộ cũ của Nguyễn Du là tiền thân mộ Thượng thư Bộ công Hoàng Hữu Thường, ở cánh đồng Bầu Sắn (chứ không phải Bầu Đá) ở Lựu Bảo, thay vào đó tác giả cho rằng “Cụ Nguyễn Du có thể được an táng lần đầu tiên ở cánh đồng Bàu Đá (Bàu Thạch) làng An Ninh Thượng, Hương Long, thành phố Huế, nơi này hiện không còn dấu tích gì”. Vị trí này sau đồi Hà Khê và phía hữu sông Bạch Yến. Tuy nhiên cả hai ông Hồ Đắc Duy và Lê Trường Quỳnh đều thừa nhận thông tin: “Mộ cũ của cụ Nguyễn Du ở cánh đồng Bàu Đá, An Ninh, kinh thành Phú Xuân”.

Nhà thơ Mai Văn Hoan rất tha thiết tìm kiếm nơi ở, nơi an táng của cụ Nguyễn Du ở Huế. Trong bài “Đi tìm dấu tích Nguyễn Du ở Huế”, đăng ở Tuổi trẻ cuối tuần, 13/07/2011, tác giả dựa vào sự kiện chắt nội của cụ Nguyễn Du là cụ Nghè Mai, có quan hệ với ngài Tuần Chi, chủ nhân nhà vườn nổi tiếng An Hiên, đã mang cây hồng tiến từ quê hương Nguyễn Du vào trồng ở vườn An Hiên nên Mai Văn Hoan có ý nghĩ cụ Nguyễn Du từng ngụ trong hoặc gần vườn An Hiên, khi mất táng ở nghĩa trang xã An Ninh. Mai Văn Hoan viết: “Nguyễn Du được an táng tại nghĩa trang xã An Ninh (tức làng An Ninh Thượng và An Ninh Hạ, thuộc phường Hương Long, thành phố Huế bây giờ). Bốn năm sau (1824), con cháu mới cải táng về Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Nghĩa trang xã An Ninh cách không xa vườn An Hiên”.

Nhà nghiên cứu Lê Quang Thái trong bài “Truyện Kiều đã được viết tại Phú Xuân – Huế”, đăng trên Tạp chí Sông Hương số 297, tháng 11/2013, viết: “Thúy Kiều truyện, tên gọi ban đầu được đổi tên mới Đoạn Trường Tân Thanh (Tiếng nói mới nghe ra như đứt ruột) sau khi Nguyễn Du đã bị bệnh dịch tả và mất tại nhà riêng ở phường Vạn Xuân, Huế và qua đời vào ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn (16/9/1820), niên hiệu Minh Mạng năm thứ nhất. An táng tại rú Bàu Đá, phía sau ngoài vườn chùa cổ của làng Lựu Bảo được Võ vương Nguyễn Phúc Khoát ban tặng Quốc tự năm 1747”.

Thân Trọng Tuấn trên web www.art2all.net/ tho/tho viết bài “An Ninh Thượng Hạ” có viết: “Cụ qua đời sau vài ngày mắc bệnh, chôn tại An Ninh Thượng. Năm sau (1821), mới dời về quê là làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Chưa có thể truy biết đích xác là Nguyễn Du được tạm thời mai táng ở đâu, chỉ suy luận rằng, “kẻ trú” qua đời ở An Ninh Thượng thì phải tạm an táng ở An Ninh Thượng, tức là ở Rú Vi, chứ chắc gì được đưa qua chôn ở làng khác vì “phép vua thua lệ làng”, kiêng cữ đủ điều cho dù Nguyễn Du đang giữ chức Lễ bộ Hữu Tham tri, nhất là trong khi nạn dịch tả hoành hành, người bị bệnh chết chôn không kịp! Phía dưới ngã ba Lưu Bảo (tiếng địa phương là Lựu Bảo, Lũ Bảo), ngày xưa có cây cầu gỗ cũng gọi là cầu Bạch Yến thông qua vùng Rú Vi sau lưng Văn Thánh bị mưa lụt trôi mất nhiều lần, xây đi cất lại tốn công tốn của. Bên tê Rú Vi của xứ Đại Thành lăng mộ từng hàng. Nghĩa địa của An Ninh Thượng nằm trong phần đồi phía sau đền Văn Thánh, trường Quốc Tử Giám và chùa Thiên Mụ.”

alt
Đường phân giới Hậu Thôn Kim Long với An Ninh Hạ

THẢO LUẬN ĐỂ RÚT THÔNG TIN ĐÁNG TIN CẬY

Các tác giả nhóm II rõ ràng dựa vào thông tin của nhóm I, ấy là “Cụ Nguyễn Du đã được táng ở cánh đồng Bàu Đá, xã An Ninh, Quảng Điền”. Thông tin này do ghi chép hoặc truyền ức trong gia quyến cụ qua nhiều đời, nên có chỗ “tam sao thất bản”. Thật vậy có hai xã An Ninh, An Ninh Thượng và An Ninh Hạ (tính từ thế kỷ 18, 19). Hai xã An Ninh Thượng, thuộc tổng An Ninh huyện Hương Trà chứ không thể là huyện Quảng Điền. Một vọng tộc có nhiều người khoa bảng, một số làm quan ở Phú Xuân thời Tây Sơn, triều Nguyễn Gia Long thì không thể nhầm lẫn những xã huyện sát gần Kinh thành Phú Xuân. Có khả năng cụm từ “Quảng Điền” trong văn cảnh (người xưa ghi) là ý nói ruộng Bàu Đá thuộc cánh đồng rộng làng An Ninh (sau này gọi là cánh đồng rộng làng An Hòa). Cánh đồng rộng này thực ra gồm đất ruộng cồn bãi của nhiều làng như làng An Ninh thượng, làng An Ninh hạ, Hậu Thôn (Bàu Thôn) làng Kim Long, làng Trúc Lâm, làng An Vân, thậm chí cũng có của làng Thế Lại, làng Phú Xuân… Sở dĩ có tình hình ấy là vì do cần “giải tỏa đền bù” 8 làng khi triều Gia Long đã tiến hành để xây dựng phòng thành Huế. Vậy “quảng điền” ở đây phải ghép “An Ninh quảng điền” (cánh đồng rộng An Ninh) chứ không phải làng An Ninh thuộc huyện Quảng Điền.

Cụ Nguyễn Du mất do bệnh dịch, tuổi 56, nên chắc chắn trước đó cụ chưa phải lo sanh phần. Lại thêm cụ là đại thần tước hầu, Cần chánh điện đại học sĩ, có chiếu vua chuẩn bị đi sứ, là chú ruột của cung tần Nguyễn Thị Uyên (vợ vua Gia Long), có em, cháu cũng là quan triều đình,… khi qua đời lại được vua Minh Mạng ưu ái, cấp lụa tiền để làm đám tang, cho nên trong lúc “gấp rút” lo việc mai táng thì có khả năng triều đình cấp đất công ở làng An Ninh để an táng cụ. Nếu táng ở nghĩa trang của làng An Ninh như Rú Vi, hay Bàu Đá (lớn) thì có điều bất cập; phía làng An Ninh rất ngại “vong vị” không phải người làng, huống gì bị bệnh dịch! Còn phía gia đình người quá cố thuộc vọng tộc, lại bên ngoại vua nên không để “người thân” khi qua đời lại mang tiếng “ăn đậu ở nhờ”. Thế thì khả năng vua Minh Mạng cấp đất công, thuộc loại cát địa, để táng cụ Nguyễn Du là cao nhất. Đại Nam thực lục chính biên chép: “Canh Thìn, năm Minh Mệnh thứ 1 [1820], mùa thu… Vua dụ bầy tôi rằng: “Gần đây lệ khí lan tràn từ Gia Định trở ra đến Quảng Bình nhiều người ốm chết, trẫm nghe thấy rất lấy làm thương……

Hữu tham tri Bộ Lễ là Nguyễn Du chết. Du là người Nghệ An rộng học giỏi thơ, càng giỏi về quốc ngữ. Nhưng là người nhút nhát, mỗi khi ra mắt vua thì sợ sệt không hay nói gì… Đến bây giờ có mệnh sai sang nước Thanh, chưa đi thì chết. Vua [Minh Mệnh] thương tiếc, cho 20 lạng bạc, 1 cây gấm Tống. Khi đưa tang về lại cho thêm 300 quan tiền” (sdd, đệ nhị kỷ, q.4, tr.83).

Ghi chép trong gia phả họ Nguyễn Tiên Điền rằng năm 1824 khi con trai Nguyễn Ngũ vào kinh đô có làm đơn xin phép cải táng mộ thân phụ, điều ấy chứng tỏ khả năng cụ Nguyễn Du được táng ở ruộng Bàu Đá thuộc loại ruộng đất công, được bảo vệ đàng hoàng. Và với sự ưu ái của vua Minh Mạng, đồng liêu, nên dẫu mộ đã dời, con cháu cũng như dân sở tại sẽ biến thành mộ vọng, để có nơi tưởng nhớ một vị đại quan tài hoa nhưng bạc mệnh, tác giả “Đoạn trường tân thanh” viết bằng chữ nôm… Cả trăm năm mà cụ nghè Nguyễn Mai (đỗ tiến sĩ nhưng không ra làm quan), vẫn giao du với ngài Tuần Chi, chứng tỏ Nguyễn Mai chắc có viếng “mộ vọng” ông cố của minh khi mỗi lần vào kinh đô Huế.

Khảo sát điền dã ở An Ninh Thượng, An Ninh Hạ

Ngày 28/3/2014 gặp ông Mai Khắc Chính, 54 tuổi, chắt nội của cụ Mai Khắc Đôn, ở Hậu Thôn (hay Bàu Thôn) làng Kim Long. Cụ Mai Khắc Đôn là thầy học và là nhạc gia của vua Duy Tân. Theo ông Mai Khắc Chính, sinh thời ông cố Mai Khắc Đôn có mua đoạn mãi khoảng 5 mẫu ruộng “của nhà vua”, thuộc Bàu Đá của An Ninh Hạ. Giữa Hậu Thôn với đám ruộng Bàu Đá làng An Ninh Hạ có đường phân giới, dân sở tại nói trại là đường Giái. Ông Mai Khắc Chính cho biết thân phụ ông là Mai Khắc Lưu, cùng nhiều vị cao niên cho rằng giữa ruộng Bàu Đá có dấu tích mộ dời của ngài Du Đức hầu, tức Nguyễn Du, hiện nay vô chủ. Chúng tôi cùng với ông Mai Khắc Chính khảo sát ngay dấu tích ấy.

alt
Một sắc phong của ngài Mai Khắc Đôn

Ngôi mộ lớn hình chữ nhật, rộng 13m, dài 17m, uynh xây bằng đất có ốp đá nhưng chỉ còn một đoạn trước mộ, chỉ còn uynh đất do bị sạt lở hoặc do bị gỡ đá ốp. Mộ xây gạch đắp hai mái bằng vữa cổ, trên liếp chữ nhật 1,2x3m. Hướng ngôi mộ lớn này tọa tốn hướng càn (tọa đông-nam, hướng tây- bắc, nghiêng bắc 45 0). Quan sát kỹ thấy đầu bia đá Thanh, chúng tôi dùng bay nhẹ tay gỡ lớp đất bám vào mặt bia, dòng chính giữa khắc bằng chữ Hán 前 朝 貴 人 諡 鍴 靚 阮 有 族 之寢 (Tiền Triều Quý nhân thụy Đoan Tịnh Nguyễn Hữu tộc chi tẩm). Tra cứu Nguyễn Phúc Tộc thế phổ có chép bà Quý Nhân, vợ vua Minh Mạng, chính là chủ nhân ngôi mộ này như sau: “Nguyễn Thị Trường 阮 氏 長 Quý nhân. Bà húy Nguyễn Thị Trường, người Phong Điền, Thừa Thiên, là con gái của Cẩm Y Vệ Hiệu úy Nguyễn Hữu Trạc. Năm sinh và mất không rõ. Khi mất bà được ban thụy Đoan Tịnh.

alt alt
Mộ và bia của Q.N Nguyễn Thị Trường Mặt bia mộ bà Q.N Nguyễn Thị Trường

Bà sinh được 3 Hoàng tử và 1 Hoàng nữ.

Hoàng tử: Nguyễn Phúc Miên Thần [1817 – 1878], Nguyễn Phúc Miên Cung [1824 – 1849], Nguyễn Phúc Miên Gia [1825 – 1875], Hoàng nữ: Nguyễn Phúc Đoan Trinh [1821 – 1899].”.

alt
Ảnh chụp vệ tinh mộ vọng cụ Nguyễn Du và mộ bà Quý nhân Nguyễn Thị Trường (vợ vua Minh Mạng)

Ngôi mộ nhỏ hơn, cách ngôi mộ lớn 3m, phía trái ngôi mộ bà Quý nhân Nguyễn Thị Trường, và chỉ còn nền đất, không nấm, không bia, bình đồ chữ nhật 4,5mx7,5m, hướng mộ tọa cấn hướng khôn (tọa đông-bắc, hướng tây-nam, nghiêng nam 45 0). Về mặt địa lý phong thủy cổ thì ngôi mộ nhỏ được đặt rất đúng. Tả long là dải đất có Hậu Thôn, An Ninh Hạ, An Ninh Thượng. Hữu Hổ là Cồn Môn, hậu chẩm là Cồn Kê, Cồn Ma Lại, minh đường là những mẫu ruộng xưa của ngài Mai Khắc Đôn. Sự hiện hữu ngôi mộ bà quý nhân Nguyễn Thị Trường gần mộ cũ nói trên, chứng tỏ ruộng Bàu Đá An Ninh Hạ là đất công. Mộ nhỏ hơn đã cải táng nhưng khi có ngôi mộ mới của hoàng tộc, người xưa không “triệt bỏ” thì chứng tỏ mộ cũ của một nhân vật quan trọng vậy. Như vậy, ngôi mộ nhỏ chính là mộ vọng của ngài Du Đức Hầu, tức mộ cũ của cụ Nguyễn Du theo như truyền ngôn trong dòng họ Mai Khắc ở Kim Long.

alt
Toàn cảnh mộ vọng cụ Nguyễn Du (dựng ở mộ đã cải táng)

Xóm Bàu ở làng Hạ, đã có nhà thờ ngài Mai Khắc Đôn, sư phụ và nhạc gia của vua Duy Tân, lại thêm sự kiện ngài Mai Khắc Đôn khi mua 5 mẫu đất, nguyên gốc là đất công, được cấp cho một vị hoàng thân triều Nguyễn, đã giữ nguyên ngôi mộ vọng của cụ Nguyễn Du và mộ của Quý nhân Nguyễn Thị Trường (vợ vua Minh Mạng) là một việc làm đáng trân trọng… Hơn nữa bà Quí nhân Nguyễn Thị Trường (vợ vua Minh Mạng) được táng vào cuộc đất có mộ vọng của cụ Nguyễn Du, chứng tỏ gia đình cụ Nguyễn Du đã chọn huyệt đất tốt với sự hỗ trợ của hoàng tộc triều Nguyễn.

Rất mong các cơ quan chức năng và các nhà nghiên cứu quan tâm kiểm chứng giả thuyết của chúng tôi, xác nhận mộ vọng của Nguyễn Du ở cánh đồng Bàu Đá, gần Hậu Thôn Kim Long. Nếu giả thuyết của chúng tôi được xác nhận thì Huế có thêm một di tích độc đáo, nơi tưởng niệm Nguyễn Du những ngày làm quan ở Huế của người Huế xưa và nay vậy.

Huế 17/11/2014
T.V.Đ

( Nguồn: Tạp chí Sông Hương 17/4/2015)

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.04.2015

THƠ TỪ SÂM

THƠ TỪ SÂM

 Sắt và gỗ

            Từ Sâm –Khôi Lê

mẹ tôi một đời câu liêm

như ách vào cổ

mặt úp bùn khăn mỏ quạ

để lại cho con lưỡi liềm

hoang  phế  trên đồng khô

chỉ  là  sắt và gỗ

 

bố tôi một đời cùng khổ

còng lưng với búa

bị ghè nát chân

đề lại cho con

búa rời cán nằm yên một chỗ

chỉ là sắt và gỗ

 

tôi  chạy theo  gió chướng

về phố phường tìm nơi trú chân

tôi lạc vào cõi âm?

kẻ  sang giàu người lầm than

kẻ  khiêng búa người  vác câu liêm

như  thánh giá

nha trang tháng 4 năm 2015 (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.04.2015

Thưa các đồng chí chưa bị lộ!

Thưa các đồng chí chưa bị lộ!

  Tiểu phẩm của Nguyễn Hoàng Linh

  Thưa các đồng chí, những người đã trót nhúng tay vào chàm như tôi! Kể từ khi tôi phải đứng trước vành móng ngựa, không ngày nào là tôi không nghĩ đến các đồng chí. Tôi cứ ngẫm mãi tại sao mình phải dấn thân vào chốn lao tù như thế này mà các đồng chí lại không? Tại sao nhiều đồng chí “ăn” đậm hơn tôi rất nhiều lần, không những không dính đòn  mà còn có cơ hội ăn đậm hơn nữa? Tại sao cùng là những kẻ ngày ngày đua nhau cấu véo tài sản của dân chúng mà lại  có  cảnh “người ngoài cười nụ người trong khóc thầm”? Đau lắm! (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.04.2015

ĐỈNH CAO CỦA SỰ SỢ HÃI

Dân Tuy Phong  biểu tình dựng vật cản chặn Quốc lộ 1A 2 ngày phản đối nhà máy điện làm ô nhiễm.

ĐỈNH CAO CỦA SỰ SỢ HÃI

Huy Đức

Nếu có một cơ hội để đối thoại, người dân Tuy Phong, chắc chắn, sẽ không lựa chọn giải pháp cứng rắn như họ đang làm. Những nông dân hôm qua còn chân chất, hiền lành, có thể sẽ bị bắt.

Những nông dân chất phác đó có thể đã phải cân nhắc, họ chấp nhận rủi ro vì không thể tiếp tục hít thở bụi than.

Tương lai họ sẽ ra sao nếu thân mình thì tù tội trong khi con quái vật khổng lồ đó vẫn ngày ngày phun xỉ than vào phổi của con em họ.

Tại sao nhà thầu Trung Quốc có thể đưa công nghệ luyện thép lò đứng đến Vũng Áng, đưa nhiệt điện đốt than tới Tuy Phong? Chúng ta rất khó nói ra câu trả lời mà ai cũng nghĩ trong đầu. Nhưng nếu người dân có đại diện thực sự của họ, các tổ chức môi trường có thể dễ dàng hình thành, những công nghệ đã bị xua đuổi ở các nước phát triển đó chắc chắn khi đến Việt Nam đã bị chặn từ khi bắt đầu dự án.

Chế độ có muốn nông dân biểu tình cắt đứt tuyến giao thông huyết mạch không? Không. Chế độ có muốn công nhân đình công không? Không. Vậy sao chế độ không đặt câu hỏi: Tại sao dưa ế, những tiếng nói đầu tiên tìm lối thoát giúp nông dân Quảng Ngãi không phải là Hội Nông dân? Tại sao khi cảm thấy Điều 60, Luật Bảo hiểm xã hội chi trả tiền bảo hiểm không công bằng, 90 nghìn công nhân Pou Yuen phải đình công thay vì tìm tiếng nói từ Tổng Liên đoàn lao động?

Nếu muốn “ổn định chính trị” đừng chi những khoản ngân sách khổng lồ cho những đoàn thể chỉ biết làm cái loa rè cho chế độ. Nếu muốn quy trình ban hành chính sách tránh được những quy định kích hoạt những cuộc đình công khổng lồ như Điều 60 Luật Bảo hiểm thì hãy để công nhân lập ra những hội đoàn nói tiếng nói của họ thay vì chỉ bịt tai, bưng mắt chính quyền. Nếu muốn những nông dân chất phác hiền lành không có một ngày tự nhiên vác gậy gộc ra chặn đường thì hãy để cho họ có một hội nông dân của họ.

Di sản lớn nhất mà loài người nhận được từ chế độ Cộng sản là sự sợ hãi. Dân chúng thì sợ từ anh dân phòng cho tới công an, quan tòa. Chính quyền thì sợ nhau và sợ dân.

Đỉnh cao của sự sợ hãi đối với những người trong tay không có gì sẽ là sự khuất phục hoàn toàn nhưng cũng có thể là sự liều lĩnh khó lường. Đỉnh cao của sự sợ hãi của những kẻ cầm quyền hoặc là bỏ chạy hoặc trở nên vô cùng tàn bạo.

Hãy để cho dân thiết lập các kênh đối thoại để trước hết giải thoát sự sợ hãi cho chế độ.

H. Đ.

Nguồn: FB Truong Huy San

 

 
So sánh tốc độ phát triển GDP per capita của Hàn Quốc và Việt Nam trong khoảng thời gian 28 năm sau chiến tranh, từ lúc số liệu thống kê được ghi nhận. Hàn Quốc (từ 1960 đến 1988) và Việt Nam (từ 1985 đến 2013).

BỐN MƯƠI NĂM SAU CUỘC CHIẾN VIỆT NAM BÀI HỌC ĐẠI HÀN DÂN QUỐC

QTXM- Đọc để biết tại sao Việt Nam sau 40 năm vẫn là nước nghèo đói, chậm phát triển. Làm sao để đất nước sánh ngang với các cường quốc năm châu ? Một câu hỏi lớn không người đáp/ Bốn mươi năm rồi mặt vẫn chau! ( bắt chước Huy Cận)

Trần Thạnh, PhD

Thấm thoát đã 40 năm kể từ ngày cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc. Khoảng thời gian dài đó dường như không đủ để hàn gắn lòng người ly tán. Tệ hại hơn, khoảng thời gian đủ dài cho bất cứ một đất nước bình thường nào cũng có thể vươn lên, lại phải chứng kiến một nước Việt Nam vẫn chìm đắm trong lạc hậu.

Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (The World Bank)[1] thu nhập bình quân đầu người (GDP per capita) của Việt Nam vào năm 2013 là 1910 Mỹ kim, xếp Việt Nam vào hạng thứ 123 trong số 169 nước trên thế giới có số liệu thu thập. Trong khi đó thu nhập trung bình của các quốc gia được liệt vào hạng trung bình thấp (lower middle income) của thế giới là 2043 Mỹ kim, và thu nhập trung bình của tất cả các quốc gia trên thế giới là 10610 Mỹ kim .

Đại Hàn Dân Quốc (Daehan Minguk, 大韓民國, Republic of Korea, trong bài này sẽ gọi tắt là Hàn Quốc) là một đất nước trong khu vực, có lịch sử và văn hoá gần giống với Việt Nam. Về phương diện địa chính trị, Hàn Quốc nằm ở một vị thế không khác Việt Nam, nếu không nói là có phần bất lợi hơn: phía bắc và tây của bán đảo Triều Tiên là Trung Quốc, phía đông là Nhật Bản. Trong lịch sử, cả hai nước này đã từng nhiều lần xâm chiếm bán đảo Triều Tiên.

Sau cuộc chiến tàn phá đất nước từ năm 1950 đến 1953, Hàn Quốc trải qua một thời kỳ nghèo khó, là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới. Nhưng hiện nay đất nước này đã trở thành một trong những quốc gia có nền kinh tế hàng đầu của thế giới. “Kỳ tích Hán giang” (Miracle of the Han River) là điều khiến cả thế giới ngạc nhiên và khâm phục. Vào thời điểm 40 năm sau khi cuộc chiến Hàn Quốc kết thúc, nghĩa là vào năm 1993, thu nhập bình quân đầu người của Hàn Quốc là 8869 Mỹ kim theo giá trị tiền tệ thời bấy giờ. Thu nhập trung bình của tất cả các nước vào lúc đó là 4653 Mỹ kim, trong khi trung bình của khối các nước có thu nhập cao nhưng không thuộc các nước phát triển (high income non-OECD countries) là 5477 Mỹ kim.[2]

Những con số trích dẫn bên trên là bằng chứng rõ ràng về sự thất bại của nhà cầm quyền Việt Nam trong 40 năm xây dựng đất nước trong thời bình (ngoại trừ một số năm chiến tranh cục bộ ở biên giới phía bắc và tây nam). Đã có những bài viết so sánh sự phát triển của Hàn Quốc và Việt Nam sau chiến tranh.[3] Bài viết này nhằm tìm hiểu sơ lược lịch sử đất nước Hàn Quốc, thu thập các dữ kiện góp phần trả lời hai câu hỏi:

1. Vì sao Hàn Quốc phát triển nhanh như vậy?

  1. Các nước đang phát triển có thể học được bài học gì từ Hàn Quốc?

Sơ lược lịch sử Hàn Quốc đến năm 1953

Hàn Quốc, Đại Hàn, Cao Ly, Triều Tiên là các tên gọi khác nhau của đất nước nằm trên một bán đảo nơi miền viễn đông của Á châu. Vương triều đầu tiên trên bán đảo này là Cổ Triều Tiên (Gojoseon, 古朝鮮) được thành lập từ hơn 2000 năm trước Công Nguyên. Trải qua một thời gian dài phân chia và chiến tranh, vương triều Cao Ly (Goryeo, 高麗) được thành lập năm 918. Goryeo hay Cao Ly là nguồn gốc của tên tiếng Anh “Korea” dành cho bán đảo Triều Tiên.[4] Tên của vương triều cũng được dùng làm tên của vương quốc.

Năm 1392, tướng Lý Thành Quế (Yi Seong-gye[5], 李成桂) lật đổ triều đại Cao Ly để thành lập vương triều Triều Tiên (Joseon, 朝鮮) hầu gợi lại triều đại cũ Cổ Triều Tiên. Đây là triều đại lâu dài và thịnh vượng nhất của đất nước này với sự phát triển đáng kể về văn học, nghệ thuật, kiến trúc, khoa học, giáo dục.[6] Trong triều đại này, Khổng giáo được coi là hệ tư tưởng chính thay thế cho ảnh hưởng thống trị của Phật giáo được phát triển mạnh dưới triều đại Cao Ly. Năm 1897 Triều Tiên được đổi thành Đại Hàn Đế Quốc (Daehan Jeguk,大韓帝國, Korean Empire), từ đó có tên Đại Hàn hay Hàn Quốc.

  Từ năm 1910 đến năm 1945, Hàn Quốc là thuộc địa của Nhật Bản. Ngày 1 tháng 3 năm 1919, cuộc biểu tình ôn hoà khắp bán đảo Triều Tiên đòi độc lập bị Nhật Bản đàn áp dã man. Sau biến cố này, Chính phủ Lâm thời Cộng hoà Triều Tiên được thành lập tại Thượng Hải, lãnh đạo cuộc kháng chiến chống lại sự cai trị của Nhật.

 Sau khi Nhật Bản đầu hàng phe Đồng minh, bán đảo Triều Tiên bị chia đôi, phía bắc vĩ tuyến 38 do Liên Xô quản lý, và phía nam do Hoa Kỳ kiểm soát. Tháng 11 năm 1947, Đại Hội đồng Liên hiệp quốc (LHQ) ra quyết nghị tổ chức tổng tuyển cử tại Hàn Quốc, dưới sự giám sát của LHQ. Vì Liên Xô từ chối sự giám sát này trên vùng đất phía bắc vĩ tuyến 38, việc bầu cử chỉ được tổ chức ở phía nam vào ngày 10 tháng 5 năm 1948. Đại Hàn Dân Quốc được thành lập với Tổng thống dân cử đầu tiên Lý Thừa Vãn (Rhee Syngman[7]). Một chế độ cộng sản do Liên Xô ủng hộ được thiết lập ở phía bắc, đó là nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Democratic People’s Republic of Korea), dưới sự lãnh đạo của Kim Nhật Thành (Kim Il-sung).[8]

Ngày 25 tháng 6 năm 1950 quân đội bắc Triều Tiên bất ngờ tấn công Hàn Quốc. Cuộc chiến kéo theo sự tham gia của lực lượng LHQ (do Hoa Kỳ lãnh đạo) để bảo vệ Hàn Quốc. Quân đội Trung Cộng chiến đấu trực tiếp bên cạnh quân đội bắc Triều Tiên, với sự ủng hộ của Liên Xô. Sau 3 năm 1 tháng, cuộc chiến kết thúc ngày 27 tháng 7 năm 1953. Hai bên trở lại với vĩ tuyến 38 chia đôi đất nước. Các bên tham chiến đưa ra con số tử vong khác nhau, nhưng điều không thể chối cãi là hằng triệu binh lính và thường dân cả hai bên thiệt mạng. Đất nước bị tàn phá thảm khốc.

  Những năm sau chiến tranh

Trong thời gian bị Nhật đô hộ (từ 1910 đến 1945), nền kinh tế của cả bán đảo Triều Tiên lệ thuộc hoàn toàn vào Nhật Bản, từ vốn liếng đến kỹ thuật và quản lý. Việc chia đôi đất nước mang lại hậu quả tai hại cho miền nam (Hàn Quốc). Trong khi dân số của Nam Hàn là 15,6 triệu người và của Bắc Hàn là 7,9 triệu (theo thống kê năm 1940) thì 92% nguồn sản xuất điện là từ các nhà máy ở miền bắc (do Nhật xây dựng trong thời gian chiếm đóng). Đa số các nguồn tài nguyên, các nhà máy kỹ nghệ nặng và hoá chất cũng nằm ở phía bắc.[9] Làn sóng di cư từ bắc vào nam[10] và việc hồi hương của những kiều dân Triều Tiên sống trên đất Nhật là nguyên nhân của nạn khan hiếm thực phẩm trầm trọng.

Thiệt hại gây ra bởi chiến tranh (nhà cửa, cơ sở vật chất, sản xuất, vân vân) lên đến 3 tỉ Mỹ kim, tương đương với GNP của cả hai năm 1952 và 1953. Hàn Quốc lúc đó là một trong những nước nghèo nhất thế giới, với thu nhập bình quân đầu người (GNP per capita) vào năm 1953 là 67 Mỹ kim.[11]

Thiệt hại về tinh thần trầm trọng không kém thiệt hại vật chất. Ước tính có khoảng gần 6 triệu người (khoảng 20% dân số vào thời điểm đó) thất lạc thân nhân. Vài thập niên sau, có vẻ như “Kỳ tích Hán giang” chữa lành bề mặt vết thương của cuộc chiến, nhưng vết thương trong tâm hồn vẫn dai dẳng, cho đến ngày hôm nay. Ngày 30 tháng 6 năm 1983 hầu như cả nước Đại Hàn rơi lệ khi Đài KBS phát sóng trực tiếp chương trình đoàn tụ với thân nhân bị thất lạc trong chiến tranh. Vượt ngoài dự kiến của Đài KBS, chương trình ban đầu được dự định phát hình 1 buổi phải kéo dài 138 buổi, với hơn 100.000 người ghi tên xin tìm kiếm thân nhân. Trong số đó, chỉ hơn 10.000 người tìm lại được người thân, vì nhiều lý do trong đó có lý do là sự cứng rắn vô lý của chính phủ Bắc Triều Tiên.[12]

Người dân Hàn Quốc phải tạm quên nỗi đau tinh thần để lo phát triển đất nước. Vì mối đe doạ của Bắc Triều Tiên, Chính phủ Lý Thừa Vãn tập trung phát triển quân đội hơn là phát triển kinh tế. Tham nhũng khiến chính quyền gặp sự phản kháng mạnh mẽ từ người dân, nhất là từ giới sinh viên. Ngày 25 tháng 4 năm 1960, trước áp lực của dân chúng, Tổng thống Lý Thừa Vãn rời chức vụ và sống lưu vong. Chính phủ dân chủ do Tổng thống Doãn Phổ Thiện (Yun Bo-seon) và Thủ tướng Trương Mẫn (Chang Myon) không ổn định được tình hình. Ngày 16 tháng 5 năm 1961, Thiếu tướng Phác Chánh Hi (Park Chung-hee, 1917 – 1979) cầm đầu cuộc đảo chánh quân sự lật đổ chính phủ Doãn Phổ Thiện.

Phác Chánh Hi nắm quyền lãnh đạo Hàn Quốc trong suốt 18 năm, từ 1961 đến khi Ông bị giám đốc Cục Tình Báo Trung Ương Hàn Quốc Kim Tái Khuê (Kim Jae-gyu) ám sát chết ngày 26 tháng 10 năm 1979. Trong lịch sử Hàn Quốc có lẽ thời gian cầm quyền của Phác Chánh Hi là đề tài gây tranh cãi nhiều nhất đối với công luận Hàn Quốc, với các chính trị gia, và các nhà nghiên cứu trong lẫn ngoài nước. Tuy cứng rắn và được xem như một nhà lãnh đạo độc tài, Ông đã giúp thay đổi Hàn Quốc, đưa đất nước này từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở thành một cường quốc công nghiệp.

Sáng kiến và cải cách

Sự thành công về kinh tế của Hàn Quốc gắn liền với vai trò của Tổng Thống Phác Chánh Hi. Khác với Lý Thừa Vãn, Phác Chánh Hi chủ trương xây dựng một nền kinh tế vững mạnh để làm cơ sở cho việc phát triển quân đội, kiến tạo một đất nước hùng cường, có thể đối đầu với phe cộng sản Bắc Triều Tiên. Cần nhắc lại, vào đầu thập niên 1960 Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên hơn hẳn Đại Hàn Dân Quốc về sản xuất công nghiệp, tài nguyên thiên nhiên, và ổn định chính trị. Quyết định kiến tạo kinh tế vững mạnh để củng cố quốc phòng có lẽ là bài học mà Phác Chánh Hi học được từ Nhật Bản trong thời gian ông phục vụ trong quân đội Nhật ở Mãn Châu.

Việc xác định một thể chế đúng đắn với đường lối công nghiệp hoá hợp lý là tiền đề cho sự thành công của Hàn Quốc. Thêm vào đó là vai trò của giáo dục để tạo ra một đội ngũ lao động thích hợp cho sự phát triển kinh tế. Hơn nữa trách nhiệm xã hội của công dân được hình thành qua giáo dục. Chính phủ đóng vai trò điều tiết một nền kinh tế vĩ mô ổn định, tỉ lệ lạm phát thấp, chi tiêu công hợp lý, đầu tư vào phát triển nhân lực.[13]

Để tạo nguồn vốn ban đầu quan trọng cho sự phát triển kinh tế, Phác Chánh Hi đã đưa ra hai quyết định quan trọng, bất chấp sự mạo hiểm về chính trị. Đó là quyết định bình thường hoá quan hệ với Nhật Bản và gửi quân đội tham chiến bên cạnh quân đội Đồng minh tại Nam Việt Nam.[14] Theo Donald Gregg, Đại sứ Hoa Kỳ tại Hàn Quốc từ năm 1989 đến năm 1993, việc bình thường hoá quan hệ với Nhật Bản vào năm 1965 mang đến cho Hàn Quốc 800 triệu Mỹ kim tiền viện trợ kinh tế, và việc gửi quân tham chiến tại Nam Việt Nam mang lại cho Hàn Quốc nguồn ngoại tệ lớn nhất lúc đó. Nguồn vốn ban đầu này giúp thay đổi tình hình kinh tế của đất nước; trong khoảng thời gian cầm quyền của Phác Chánh Hi thu nhập bình quân đầu người tăng lên gấp hơn 10 lần.[15]

Một quyết định quan trọng khác của Phác Chánh Hi là việc thúc đẩy công nghiệp hoá đất nước theo hướng xuất khẩu (export-oriented industrialisation, EOI). Theo kế hoạch này Hàn Quốc chấp nhận nhập khẩu những mặt hàng mà họ không thể sản xuất với giá thành rẻ hơn giá nhập khẩu. Thay vào đó họ tập trung phát triển những ngành công nghiệp có lợi thế so sánh (comparative advantage) để xuất khẩu mang ngoại tệ về cho đất nước.

Trái ngược với đường hướng phát triển kinh tế này, nhiều nước đang phát triển áp dụng chính sách công nghiệp hoá để thay thế nhập khẩu (import substitution industrialisation, ISI). Việt Nam trong nhiều năm sau năm 1975 áp dụng chính sách ISI, với những kế hoạch 5 năm công nghiệp hoá đất nước, với chủ trương tự lập, tự cung, tự cấp, bên cạnh những sai lầm khác, khiến nền kinh tế cả nước kiệt quệ.

Thật ra Phác Chánh Hi không loại trừ hẳn chính sách ISI mà Ông xem EOI và ISI là hai chính sách bổ sung nhau. Những dự án ISI nhằm hướng tới xuất khẩu cũng được khuyến khích.[16] Việc khuyến khích thành lập các tập đoàn (âm tiếng Hàn: chaebol, chữ Hán: 財閥, Hán Việt: tài phiệt) như tập đoàn LG, Hyundai, Samsung, Lotte, vân vân, cũng nằm trong sự bảo trợ của nhà nước theo hướng phát triển xuất khẩu.

Về phương diện xã hội để đối phó với sự lạc hậu của vùng thôn quê và giúp nâng cao cuộc sống người nông dân, Phác Chánh Hi phát động phong trào Saemaul Undong (Tân Hương Vận động, 新運動, hay phong trào Nông thôn mới, New Village Movement). Cần nhắc lại là cho đến năm 1970, vẫn còn 80% người dân nông thôn phải sống trong nhà mái lá, không có điện thắp sáng mà phải dùng đèn dầu.

Mục tiêu của phong trào Saemaul Undong là khuyến khích người nông dân tự giúp mình, hợp tác giúp đỡ nhau để phát triển nông thôn, với sự tài trợ của nhà nước. Về tinh thần, phong trào cổ động việc phát huy mối quan hệ thân thiện với láng giềng, phát huy truyền thống của dân tộc dựa trên lòng hiếu thảo và nâng cao ý thức cộng đồng. Phong trào đề cao ba phẩm chất chính, đó là sự cần cù, tự lựchợp tác.

 

Sự thành công của phong trào Saemaul Undong nhanh hơn sự mong đợi. Đến năm 1974, thu nhập ở nông thôn đã cao hơn ở thành thị; đến năm 1977, 98% các xã đã có thể độc lập về kinh tế.[17]

Phát triển kinh tế song song với phát triển giáo dục

Các nhà lãnh đạo Hàn Quốc nhận thức rõ vai trò của giáo dục trong việc phát triển đất nước. Trong bài diễn văn tại Đại hội Toán thế giới 2014 (International Congress of Mathematicians ICM 2014) tổ chức tại Seoul vào tháng 8 năm 2014, Tiến sĩ Chung KunMo (cựu Bộ trưởng Khoa học và Kỹ thuật Hàn Quốc) nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục, khoa học và kỹ thuật cùng với vai trò trụ cột của toán học trong việc phát triển kinh tế.[18]

Theo Tiến sĩ Chung KunMo, trong nhiều thập niên, Chính phủ đã nỗ lực trong việc gửi sinh viên sang học tập ở các nước tiên tiến (chủ yếu là Hoa Kỳ), đồng thời đẩy mạnh việc chiêu gọi các nhà khoa học, các giáo sư đại học gốc Hàn trở về giúp xây dựng đất nước. Điển hình là vào năm 1971, đích thân ông đã mời 50 trong số 260 giáo sư gốc Hàn tại Hoa Kỳ trở về giảng dạy tại viện KAIST (Korean Advanced Institute of Science and Technology) khi viện này được thành lập.

Sự đầu tư đúng mức này đã đưa KAIST lên vị trí một trong những trường đại học hàng đầu của thế giới. Theo bảng xếp hạng các trường đại học trên thế giới của Times Higher Education, năm 2014 KAIST đứng ở hạng 52 (http://www.timeshighereducation.co.uk).

Sự phát triển của nền toán học Hàn Quốc cũng là điều đáng nhắc đến ở đây. Hàn Quốc chính thức gia nhập Hiệp hội Toán học Quốc tế (International Mathematical Union, IMU) vào năm 1981, ban đầu thuộc nhóm 1. Đến năm 1993 được nâng lên nhóm 2, và đến năm 2007 được đặc cách lên nhóm 4, điều chưa từng xảy ra trong lịch sử của IMU.[19], [20]

Theo Giáo sư Martin Groetschel (Thư ký Ban chấp hành IMU nhiệm kỳ 2011 – 2014), vào năm 1981 các nhà toán học Hàn Quốc chỉ có 3 công trình toán học đăng trên các tạp chí toán quốc tế. Tuy nhiên, hiện nay Hàn Quốc xếp hàng thứ 12 trên thế giới về tổng số công trình đóng góp.[21]

Một sự phát triển ngoạn mục khác cần nói đến là trong hai thập niên 1970 và 1980 nhiều nhà toán học Hàn Quốc phải nhờ vào sự giúp đỡ của thế giới để tham dự Đại hội Toán thế giới ICM (được tổ chức 4 năm một lần), nhưng đến năm 2014 Hàn Quốc đã tổ chức thành công ICM tại thủ đô Seoul với 5193 người tham dự, đến từ 122 nước. Người khai mạc ICM 2014 là Tổng thống Phác Cận Huệ (Park Geun-hye), ái nữ của cố Tổng thống Phác Chánh Hi.

Đáng nói thêm là với lòng biết ơn sự giúp đỡ của thế giới trước đây đối với nền toán học Hàn Quốc, quốc gia này đã tài trợ cho 1000 nhà toán học ở các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) đến tham dự ICM 2014. Họ hãnh diện đặt tên cho chương trình này là NANUM, tiếng Hàn có nghĩa là “sự chia sẻ tử tế và vô điều kiện”. [22]

Việc giáo dục không những chú trọng kiến thức khoa học, kỹ thuật, mà cả giáo dục tinh thần, truyền thống hiếu thảo, tinh thần yêu nước.[23] Việc tìm hiểu lịch sử đất nước được chú trọng ngay từ bậc tiểu học. Vào ngày cuối tuần tại các bảo tàng viện, hình ảnh các nhóm học sinh tiểu học thăm viếng và thảo luận gây sự chú ý cho du khách (xem Hình 4).

 Phát huy dân chủ

Phác Chánh Hi cai trị Hàn Quốc bằng một chính sách độc tài, dẹp bỏ đối lập để có sự ổn định cho phát triển kinh tế. Có rất nhiều ý kiến chỉ trích đường lối cai trị độc tài đó, nhưng cũng có ý kiến đồng tình. Tiến sĩ William Overholt, chuyên gia về quan hệ Á Châu của Hoa Kỳ, người từng là trưởng nhóm đặc nhiệm về chính sách Á Châu của chính phủ Jimmy Carter năm 1976, có nhận định như sau. Sự thành công về kinh tế và thể chế của Phác Chánh Hi đã cứu Hàn Quốc khỏi sự xâm lăng của Bắc Triều Tiên. Nếu Hàn Quốc vẫn duy trì một chế độ dân chủ kém khả năng, như dưới thời chính phủ Doãn Phổ Thiện, thì Hàn Quốc đã là mục tiêu hấp dẫn cho Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên.[24]

Khi nỗi sợ hãi về chiến tranh và nghèo đói không còn nữa, khi tầng lớp trung lưu có học thức đã trở thành nền tảng cho một nền dân chủ ổn định, thì những giá trị dân chủ và nhân quyền trở nên yếu tố quyết định về phương diện chính trị. Thể chế đã được thiết lập trong hai thập niên 1960 và 1970 xem ra không còn hợp thời. Sau cái chết của Phác Chánh Hi, Hàn Quốc đã dần dần chuyển biến lên một mức độ cao hơn về quản lý kinh tế và chính trị.

Theo tường trình của tổ chức The Economist Intelligence Unit, vào năm 2012 chỉ số dân chủ (democracy index) của Hàn Quốc là 8,13 điểm, xếp Hàn Quốc ở vị trí thứ 20 trong số 167 nước. Na Uy dẫn đầu với chỉ số 9,93, Việt Nam ở hàng thứ 144 với chỉ số 2,89, và Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên ở cuối bảng với chỉ số 1,08.[25]

Kết luận

Hàn Quốc và Việt Nam là hai quốc gia có hoàn cảnh khá tương đồng. Sự phát triển của Hàn Quốc và sự lạc hậu của Việt Nam rõ ràng là hệ quả tất yếu của việc chọn lựa đường hướng xây dựng đất nước sai lầm của nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay, và sự khôn ngoan của các lãnh đạo Hàn Quốc.

Không thể tách rời sự thành công của Hàn Quốc với vai trò và đóng góp của Tổng thống Phác Chánh Hi. Ngay cả những người chống đối Ông cũng không thể phủ nhận những đóng góp đó. Điều quan trọng là, tuy là một nhà lãnh đạo độc tài, Ông đã đặt lợi ích của quốc gia lên trên hết. Việc chọn lựa thể chế và đường lối đúng đắn (với chính sách EOI), khơi dậy ý thức trách nhiệm với cộng đồng và xã hội (qua phong trào Saemaul Undong) cùng với giáo dục truyền thống đã giúp đưa Hàn Quốc từ một quốc gia nghèo đói nhất thế giới trở nên một cường quốc công nghiệp trong thời gian kỷ lục.

Thành công của Hàn Quốc là “ước mơ và hy vọng cho các quốc gia khởi hành muộn”, đó là lời kết luận trong ngày bế mạc ICM 2014.

Phụ lục: Những con số biết nói

Các đồ thị dưới đây cho thấy sự phát triển vượt bực về kinh tế của Hàn Quốc, dựa vào thu nhập bình quân đầu người (GDP per capita) theo World Bank.

World Bank có số liệu của Hàn Quốc từ năm 1960 đến năm 2013, và của Việt Nam từ năm 1985 đến năm 2013. Hình 5 so sánh sự phát triển trong vòng 28 năm sau chiến tranh của hai quốc gia, đối với Hàn Quốc là từ 1960 đến 1988, trong khi đối với Việt Nam là từ năm 1985 đến 2013.

Các hình từ 6 đến 9 so sánh sự phát triển của Hàn Quốc và Việt Nam với các nước cùng nhóm. Đặc biệt Hình 7 cho thấy GDP per capita của Hàn Quốc ngày càng vượt trội so với trung bình của thế giới, trong khi Hình 9 cho thấy Việt Nam ngày càng thua sút thế giới.

Những con số biết nói này bác bỏ lập luận cho rằng kinh tế Việt Nam vẫn đang phát triển, khi so với quá khứ. Sự so sánh hợp lý phải bao gồm cả việc so sánh với các nước khác, ít nhất là với các nước có cùng một hoàn cảnh địa lý và lịch sử phát triển.

( Có một số biểu đồ so sánh phát triển của Hàn Quốc nhưng không hiện hình được- thông cảm ( QTXM)

Chú thích:

[1] Nguồn: http://www.databank.worldbank.org, truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2014.

2 Nguồn: như trên.

3 Xem: Phạm Quang Tuấn, “Việt Nam và Hàn Quốc: So sánh hai quá trình công nghệ hoá” trên trang mạng Bauxite Việt Nam (http://www.bauxitevn.net) ngày 08.10.2014.

4 Nguồn: Korea.net – Gateway to Korea.

5 Họ Yi, Ri, hay Rhee của người Triều Tiên là họ Lý, khác với họ Yi của người Trung Hoa 易 là họ Dịch. Tưởng cũng nên nhắc lại, Hoàng tử Lý Long Tường của triều đại nhà Lý Việt Nam, do phải trốn tránh sự tàn sát của Trần Thủ Độ và nhà Trần, đã đưa gia nhân và đoàn tuỳ tùng khoảng 6000 người sang lánh nạn tại bán đảo Triều Tiên vào năm 1226, triều đại Cao Ly. Từ đó phát sinh một dòng họ Lý tại Triều Tiên.

6Nguồn: Wikipedia dưới tiêu đề Joseon (tiếng Anh) và Nhà Triều Tiên (tiếng Việt).

7 Xem ghi chú 5. Nhiều tài liệu trên internet hiện nay đưa tin khi Tổng thống Lý Thừa Vãn sang thăm VNCH vào năm 1958, Ông cho Tổng thống Ngô Đình Diệm biết Ông thuộc dòng dõi họ Lý của Việt Nam. Tuy chưa được kiểm chứng, có nhiều ý kiến cho là Ông là con cháu đời thứ 25 của Lý Long Tường. Nhưng cũng có tài liệu cho là Ông thuộc dòng dõi của Hoàng tử Lý Dương Côn (con nuôi của Vua Lý Nhân Tông), người đã lánh nạn sang Cao Ly 76 năm trước Hoàng tử Lý Long Tường để tránh bị sát hại trong việc tranh giành ngôi vua.

8 Nguồn: Korea.net – Gateway to Korea.

9 Xem “Economic Growth in South Korea Since World War II” trong phần tài liệu tham khảo.

10Theo số liệu của Korea Foundation, trong đặc san “Koreana – A Quartely on Korean Culture & Arts” số phát hành tháng 8 năm 2014 (www.koreana.org.kr) trong khoảng thời gian từ năm 1945 đến 1953 có khoảng 1,5 triệu người di cư từ bắc vào nam. Xem bài “60 Years After the Korean War” trong số đặc san này.

1[1] Theo David I. Steinberg, 1989, “The Republic of Korea: Economic Transformation and Social Change”, Westview Press, Boulder Colorado.

[1]2 Như ghi chú 10. Xem bài “Wartime Trauma Etched Deeply in the Korean Heart”.

[1]3 Niels Hermes, New explanations of the economic success of East Asia: Lessons for developing and Eastern European countries, 1997, CDS Research Report No. 3.

[1]4 The Park Chung Hee Era: The Transformation of South Korea, 2011, Harvard University Press.

15 Donald Gregg, “Park Chung Hee”, Time, August 23rd, 1999.

16 Như chú thích 14.

17 Korea Saemaul Undong Center (http://www.english.saemaul.com).

18 Chung KunMo “Mathematics, a fundamental pillar of Korean economic development”, www.icm2014.org.

19 Korean Mathematical Society (http://www.kms.or.kr).

20 IMU (International Mathematical Union) chia các nước thành viên thành từng nhóm, từ nhóm 1 (thấp nhất) đến nhóm 5 (nhóm các nước có nền toán học phát triển cao nhất như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản, …). Nước Úc thuộc nhóm 4, đồng hạng với Hàn Quốc, trong khi Việt Nam vẫn còn ở nhóm 1. (Nguồn: http://www.mathunion.org).

21 ICM 2014 www.icm2014.org, nghe bài thuyết trình của Gs Groetschel trong lễ khai mạc.

22 ICM 2014 www.icm2014.org.

23 Một bạn đồng nghiệp Hàn Quốc cùng làm việc tại Sydney với tác giả bài viết này đã trở về phục vụ đất nước vào giữa thập niên 1990, lúc đang xảy ra căng thẳng về chính trị và quân sự giữa hai miền Nam – Bắc. Anh đã khẳng khái nói “Tôi trở về, nếu cần tôi sẽ chiến đấu để bảo vệ đất nước tôi”. Hiện anh là giáo sư tại một trường đại học Hàn Quốc.

24William H. Overholt, “Park Chung Hee’s International Legacy”, 2011.

25 Democracy Index 2012 – Democracy at a Standstill, A Report from the Economist Intelligence Unit (http://pages.eiu.com/rs/eiu2/images/Democracy-Index-2012.pdf).

Sách tham khảo

1. C.R. Frank Jr., K.S. Kim, L.E. Westphal, Economic Growth in South Korea since World War II, in Foreign Trade Regimes and Economic Development: South Korea (eds: C.R. Frank Jr., K.S. Kim, L.E. Westphal), 1975, NBER.

  1. B.K. Kim, E. F. Vogel, The Park Chung Hee Era: The Transformation of South Korea, 2011, Harvard University Press, Cambridge.

Sydney ngày 14 tháng 1 năm 2015

T.T.

[25] Democracy Index 2012 – Democracy at a Standstill, A Report from the Economist Intelligence Unit (http://pages.eiu.com/rs/eiu2/images/Democracy-Index-2012.pdf).

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.04.2015

Học người xưa cách đối diện với thị phi

Học người xưa cách đối diện với thị phi

 Câu chuyện thứ nhất:


Trong một buổi nhàn hạ, vua Đường Thái Tông hỏi chuyện vị quan cận thần là Hứa Kính Tôn rằng:
– Trẫm thấy khanh phẩm cách cũng không phải là phường sơ bạc. Sao lại có nhiều tiếng thị phi chê ghét như thế?
Hứa Kính Tôn trả lời:
– Tâu bệ hạ. Mưa mùa Xuân tầm tã như dầu, người nông phu mừng cho ruộng đất được thấm nhuần, kẻ bộ hành lại ghét vì đường đi trơn trợt. Trăng mùa thu sáng vằng vặc như gương treo trên bầu trời đêm, hàng thi nhân vui mừng gặp dịp thưởng du ngâm vịnh, nhưng bọn đạo chích lại ghét vì ánh trăng quá sáng tỏ. Trời đất kia vốn vô tư không thiên vị, mà cơn nắng mưa thời tiết vẫn bị thế gian trách hận ghét thương.
Còn hạ thần đâu phải một người vẹn toàn thì làm sao tránh khỏi tiếng chê bai chỉ trích.Cho nên ngu thần trộm nghĩ, đối với tiếng thị phi trong thế gian nên bình tâm suy xét, đừng nên vội tin nghe. Vua tin nghe lời thị phi thì quan thần bị hại. Cha mẹ tin nghe lời thị phi thì con cái bị ruồng bỏ. Vợ chồng tin nghe lời thị phi thì gia đình ly tán. Tiếng thị phi của thế gian nọc độc còn hơn rắn rết, bén hơn gươm đao, giết người không thấy máu.

Câu chuyện thứ hai:

 

 


 

Một lần, Phật đi giáo hóa ở vùng có nhiều người tu theo Bà La Môn giáo. Các tu sĩ Bà La Môn thấy đệ tử của mình đi theo Phật nhiều quá, nên ra đón đường Phật mà mắng chửi. Phật vẫn đi thong thả, họ đi theo sau không tiếc lời rủa xả. Thấy Phật thản nhiên làm thinh, họ tức giận, chặn Phật lại hỏi:
– Ngài có điếc không?
– Ta không điếc.
– Ngài không điếc sao không nghe tôi chửi?
– Này tín đồ Bà La Môn, nếu nhà ông có đám tiệc, thân nhân tới dự, mãn tiệc họ ra về, ông lấy quà tặng họ không nhận thì quà đấy về tay ai?
– Quà ấy về tôi chứ ai.
– Cũng vậy, ông chửi ta, ta không nhận thì thôi.


 

Trong kinh Phật viết rằng, khi người ác mắng chửi người thiện, người thiện không nhận thì người ác giống như người ngửa mặt lên trời phun nước bọt, nước bọt không tới trời mà rời xuống ngay mặt người phun. Có thọ nhận mới dính mắc đau khổ, không thọ nhận thì an vui hạnh phúc. Thế nên từ nay về sau nếu có nghe thấy ai đó nói lời không tốt về mình, chớ có thọ nhận thì sẽ được an vui.Theo Phật giáo, khẩu nghiệp là một trong những nghiệp nặng nề nhất mà một người có thể tạo ra. Vết thương bạn gây ra trên thân thể người khác còn có ngày lành nhưng vết thương gây ra bởi lời nói thì chẳng biết ngày nào mới lành lại được.

Vì vậy hãy cẩn trọng với lời nói của mình, đừng gây ra thị phi vì vô ý thức, cũng đừng trách móc người khác chỉ vì lỗi lầm của họ bởi: “Every saint has a past, every sinner has a future”, nghĩa là “Vị thánh nào cũng có một quá khứ, và tội đồ nào cũng có một tương lai”.

Nguồn: giadinhonline- vandannnb)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.04.2015

THƠ BÁC ƯNG MÁI Ở CANADA

Thi sĩ Ưng Mái

THƠ BÁC ƯNG MÁI Ở CANADA

Anh Minh ơi!

Đương thời ông chep của tôi thương hay ví von: “Súng không sợ điếc”. Quả là như thế!. Đã là súng cần chi sợ điếc.Kẻ nhàn hạ này từng theo voi ăn bả mía đã quen “súng không sợ điếc”. Xin được múa rìu.

Tự – Tử

Tự vấn không còn. Tự trọng tiêu.

Tự tung, tự tác. Tự nhiên liều.

Tự ti nhường chỗ. Tự tư lấn.

Tự ý làm càn. Tự phụ kiêu.

Tự đắc vô bờ. Tự động vơ.

Tự hào quá lố. Tự dưng trơ.

Tự phô công trạng. Tự do cướp.

Tự thú hay hơn. Tự tử chờ.

      Ưng Mái (Mai Khắc Ứng)

Đăng bởi: Ngô Minh | 16.04.2015

VỀ HIỀN LƯƠNG GẶP CÂU HÁT CŨ

Cầu Hiền Lương

VỀ HIỀN LƯƠNG GẶP CÂU HÁT CŨ

 Ngô Minh 

 ước gì sông rộng tày gang

mênh mang trong nắng Hiền Lương câu hò

ru con ai hát dưới đò

hay em phơi lúa bên bờ gọi ai

 

rộng tày gang dòng sông ơi

và cầu đã bắc lâu rồi người qua

sao còn câu hát thiết tha

xui lòng tôi cứ như là nhớ mong

 

ước gì sông rộng tày gang

gió Cồn Tiên cứ thổi sang bên này

cái mùi đất đỏ gây gây

trong tôi như lửa những ngày hành quân

nhớ đêm đợi lệnh vượt sông

giặc lùng mưa lạnh nóng lòng dế ran

lời ru bỗng nghẹn cuối làng

ước gì sông rộng tày gang, ước gì ?

 

bắc cầu câu hát tôi đi

qua bao vách đá rừng khuya lũ tràn

chao ơi, sông rộng tày gang

mà Đất nước mấy mươi năm dãi dầu

cách chia bạc trắng mái đầu

khóc oà cha vịn vai cầu ngày vui

và bao bè bạn xa rồi

tấc gang câu hát biển trời đạn bom

 

chiều nay trở lại Hiền Lương

nghe câu hát cũ chạnh thương nắng vàng

ôi, điều ước nhớ non mang

ẩn trong câu hát quá giang ngày thường

Đăng bởi: Ngô Minh | 16.04.2015

Một quan niệm rất sai về tiếng Việt

Một quan niệm rất sai về tiếng Việt

  •   Hữu Đạt

Báo Văn nghệ số 16 (năm 2014) có bài “Tiếng Việt chưa có chuẩn” của tác giả Phạm Thuận Thành. Đây là một bài viết có nhiều lập luận  thiếu cơ sở khoa học, hơn nữa, về tư tưởng còn bộc lộ một thái độ coi thường tiếng Việt, có tác động không tốt đến tầng lớp thanh thiếu niên. Vì vậy, với thái độ thẳng thắn, chúng tôi thấy cần trao đổi với tác giả bài viết một số vấn đề đáng chú ý sau đây.

Thứ nhất, bài viết này có những sai lầm cơ bản trong nhận thức. Đó là sự nhầm lẫn trong việc nhận biết giữa cái toàn thể và cái bộ phận ( trong triết học còn gọi là quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giữa cái khái quát và cái cụ thể), giữa hiện tượng và bản chất. Từ đó nêu ra những nhận định hồ đồ, vội vã. Tuy chỉ là một phát biểu mang tính cảm tính, thiếu khách quan khoa học, nhưng nó lại gây ra hoang mang không ít cho học sinh, sinh viên. Từ sự hoang mang này, học sinh sẽ  có thái độ coi thường không nghiêm túc trong việc học tập và rèn luyện tiếng Việt. Hơn nữa nó còn tác động không nhỏ tới một bộ phận giáo viên, nhất là giáo viên tiểu học.

Chúng ta đều biết, ngôn ngữ là sản phẩm của một loại vật chất đặc biệt, đó là bộ óc con người. “ Ngôn ngữ cũng cổ xưa như ý thức vậy. Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng. Ngôn ngữ tồn tại cho người khách và cho chính bản thân tôi” ( Các Mác). Nói đến ngôn ngữ chính là nói đến tư duy của  một cộng đồng người nhất định. Vì vậy, ta mới có các khái niệm: Tiếng Việt, tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Hán…Đây là cách gọi tắt của các cụm từ : Ngôn ngữ của người/dân tộc Việt”, “Ngôn ngữ của người/dân tộc Nga”… Mặc dù khác nhau, nhưng ngôn ngữ nào cũng có cái chuẩn riêng của mình. Không có chuẩn, ngôn ngữ sẽ là một hệ thống rối loạn, không thể giao tiếp được. Nói một cách khác, không có chuẩn thì khi nói hay viết, người ta không thể hiểu được nhau. Hơn nữa, nhờ có chuẩn và sự bảo lưu được chuẩn mà các thế hệ sau mới hiểu được các thông tin của các thế hệ trước để lại. Thử hỏi tiếng Việt không có chuẩn thì làm sao đến thế kỷ thứ XXI, người Việt vẫn đọc và hiểu được Hồng Đức quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, Truyện Kiểu của Nguyễn Du…? Không có chuẩn thì ngôn ngữ không thể trường tồn. Dân tộc Việt hàng ngàn năm bị đô hộ của phong kiến phương Bắc, gần trăm năm bị nô lệ bởi thực dân, nhưng không bị đồng hóa hay bị tiêu diệt bởi chính sách xâm lược của ngoại bang (coi rẻ tiếng Việt, bắt dân ta phải dùng chữ Hán và chữ Pháp làm văn tự chính thống) chính nhờ có sự đấu tranh sống còn để bảo lưu cái chuẩn của tiếng nói dân tộc. Như vậy, nói tới chuẩn ngôn ngữ là ta nói tới tính qui ước của cộng đồng và tính hành chính của bộ máy quản lý Nhà nước. Chuẩn ngôn ngữ không do một cá nhân hay một nhóm người qui định mà do một cộng đồng ngôn ngữ rộng lớn- tức cộng đồng dân tộc và những qui định mang tính chế ước của Nhà nước quản lý nó qui định. Nếu những qui ước của cộng đồng và qui định của Nhà nước ngược nhau thì nó kìm hãm không cho ngôn ngữ phát triển. Ngược lại, nếu có sự phù hợp thì ngôn ngữ lại có cơ hội tiến triển và ngày càng đạt được chuẩn mực cao. Trước năm 1945, do tiếng Việt bị chính quyền thực dân coi rẻ, cho nên khi giành được độc lập rồi nhiều người bị ảnh hưởng nền giáo dục Pháp đã còn cho rằng tiếng Việt không thể giảng dạy ở bậc đại học. Nhưng sự thực là chính quyền cách mạng, sau tháng Tám, tiếng Việt đã được đưa vào giảng dạy ở mọi cấp học. Ngày nay, tiếng Việt không những chỉ được dùng ở bậc đại học mà còn được dùng ở bậc cao hơn để đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ. Tôn vinh tiếng Việt, đưa vị trí của tiếng Việt từ địa vị thứ yếu (bị trị) sang địa vị chính thống, độc tôn chính là ý thức bảo vệ văn hóa, tư duy của người Việt, cái làm nên bản sắc của dân tộc Việt Nam.

Tác giả Phạm Thuận Thành rất sai lầm khi coi tiếng Việt chưa có chuẩn, lại càng sai lầm hơn nữa khi coi một số hiện tượng tùy tiện trong sử dụng ngôn ngữ là cách tân. Tác giả này viết “ Trong ngôn ngữ mạng, giới trẻ đang có xu hướng dùng chữ cái w thay cho phụ âm qu, chữ cái j thay cho phụ âm ch… là sự cách tân rất đáng chú ý”. Chúng tôi rất lấy làm lạ trước cách lập luận của tác giả. Bởi về mặt khoa học, ai cũng biết đó là những hiện tượng ngôn ngữ chỉ có thể được xếp vào thứ “tiếng lóng” của một số ít người trong lớp trẻ (không phải tất cả thanh niên VN đều dùng như vậy). Nó không thể đại diện cho hệ thống ngôn ngữ của một cộng đồng. Hơn nữa, tác giả lớn tiếng để đả phá cái gọi là “tiếng Việt không có chuẩn” nhưng những tri thức tối thiểu về ngôn ngữ học tác giả lại tỏ ra không hiểu gì. Vậy làm sao có thể thuyết phục người đọc ? Chẳng hạn, trong tiếng Việt không có cái gọi là “phụ âm qu” như tác giả quan niệm. Đó là một tổ hợp gồm phụ âm [ k ] kết hợp với bán nguyên [ w ] (còn gọi là âm đệm [ w]). Chính vì thiếu những tri thức cần thiết nên tác giả kêu lên “ Dựa vào chuẩn nào để nói người khác”lệc chuẩn đây””? Xin thưa, khi chúng ta chưa chính thức có luật về ngôn ngữ thì vẫn có rất nhiều cơ sở cho phép  ta có thể dựa vào để xem xét về chuẩn. Chẳng hạn, dựa vào qui định, nghị định của các cơ quan có thẩm quyền với chức năng đại diện cho Nhà nước về lĩnh vực mà mình quản lý. Ví dụ, qui định về cách viết chính tả, cách phiên âm từ, thuật ngữ tiếng nước ngoai của UBKHXH Việt Nam trước đây (đã có nhiều văn bản) và của Viện Hàn lâm KHXH ngày nay. Cũng có thể dựa vào các bộ Từ điển tiếng Việt do Nhà nước đứng ra tổ chức biên soạn và ấn hành. Ngoài ra, còn có thể dựa vào các tài liệu được sử dụng chính thống trong giáo dục. Chẳng hạn, có thể dựa vào sách dạy tiếng Việt hiện đã được Nhà nước ban hành ( tức sách giáo khoa)…Có lẽ vì thiếu những hiểu biết này mà tác giả bài viết trên đã nhầm lẫn coi những hiện tượng tùy tiện về sử dụng ngôn ngữ là các hiện tượng cách tân và cổ súy cho nó. Nhận định này có tác dụng rất tai hại đối với việc giáo dục tiếng mẹ đẻ cho tầng lớp thanh thiếu niên hiện nay.

Thực ra, cách nói “chuẩn ngôn ngữ” là cách nói chung chung. Trên thực tế, chuẩn ngôn ngữ là cái được thể hiện trên nhiều bình diện cụ thể. Chính vì thế, trong cuốn “Phong cách học tiếng Việt hiện đại”(*), chuẩn ngôn ngữ được bàn đến từ nhiều bình diện: Chuẩn ngữ pháp, chuẩn ngữ âm, chuẩn từ vựng, chuẩn phong cách. Cơ sở đê xác định chuẩn là những qui tắc cơ bản của tiếng Việt, trong đó cần phải xem xét cả mối quan hệ giữa tiếng toàn dân (ngôn ngữ phổ thông) và tiếng địa phương ( phương ngữ). Ví dụ, ta có cặp từ chính phủ/chánh phủ thì “chánh phủ” được coi là tiếng địa phương, còn “chính phủ” được coi là tiếng toàn dân và là chuẩn ( được dùng chính thức trong các văn bản hành chính, ngoại giao…mang tính quốc gia). Với cặp vào/vô thì “vào” được coi là chuẩn. Về cách viết, nếu viết “nghành giáo dục” sẽ là lệch chuẩn, là sai vì âm [ng ] trong tiếng Việt được thể hiện dưới 2 dạng chứ viết là: ng, ngh tùy theo nó kết hợp với âm nào sau nó. Nếu nó kết hợp với các nguyên âm dòng sau và nguyên âm dòng giữa ( a, u, ơ) thì phải viết là ng: nga, ngành, ngả, ngu, ngư, ngô, ngơ, ngớ…. Nếu nó kết hợp với các nguyên âm dòng trước  (i,e,ê) thì phải viết là ngh: nghe, nghi, nghỉ, nghê ( ngô nghê); nếu viết là ngi, ngỉ, nge phải coi là lệch chuẩn, là sai.

Tương tự như vậy, âm [ k ] trong tiếng Việt được thể hiện bằng 2 chữ cái là c và k. Nếu sau nó là nguyên âm dòng sau hay dòng giữa thì dứt khoát phải viết là c: ca, có, cốc, cưng ( viết: ka, kó, kốc là sai, là lệch chuẩn)…; nếu sau nó là nguyên âm dòng trước phải viết là k: kỷ, kiệt, kẻ, kế, kể ( viết: cỉ,ciệt, cẻ, cể là sai là lệc chuẩn)…  Vì sao lại như vậy? Vì đó là qui ước của những nguời sáng lập ra chữ Quốc ngữ – một thứ văn tự dùng chữ cái La tinh để ghi âm tiếng Việt. Đó là thứ văn tự đã được Chính phủ, Quốc hội nước Việt Nam Dân chú Công hòa chọn làm văn tự chính thống của quốc gia ngay từ khi thành lập và được toàn dân ủng hộ. Đây chính là cơ sở pháp lý mà tác giả Phạm Thuận Thành không nhận ra. Chính vì thế, tác giả mới hồ đồ cho rằng “lấy J thay cho ch, z thay cho tr…” là sự cách tân. Trái lại, cần coi đây là hiện tượng lệch chuẩn vì nó chỉ là thứ tiếng lóng do một bộ phân thanh thiếu niên tạo ra. Nó không thể đại diện cho một cộng đồng ngôn ngữ, cũng không thể thay thế cho hệ thống chữ viết được thừa nhận chính thống về mặt Nhà nước.

Đành rằng, trong hệ thống chữ Quốc ngữ không khỏi có chỗ bất hợp lý, nhưng việc cải tiến chữ Quốc ngữ là một câu chuyện lớn lao và lâu dài. Muốn cải tiến nó phải nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc nếu không cải tiến sẽ trở thành thụt lùi. Bởi tiếng Việt là ngôn ngữ rất phong phú, đa dạng về cách phát âm nên không phải ngẫu nhiên, hệ thống chữ cái La tinh là một hệ thống chữ cái khá hoàn chỉnh, được nhiều ngôn ngữ Âu châu sử dụng (tiếng Anh, Pháp, Đức) nhưng khi dùng là văn tự ghi âm tiếng Việt, các nhà sáng lập phải tạo thêm các dấu phụ để ghi lại cách phát âm mang tính đặc trưng của người Việt. Thế cho nên, tuy cùng dùng hệ chữ cái La tinh để ghi âm, nhưng chỉ trong tiếng Việt mới có các nguyên âm mang dấu mũ. Bài học vui dạy viết cho trẻ có câu: O tròn như quả trứng gà, ô thì đội mũ ơ thì thêm râu…được sáng tạo để ghi dấu nét đặc trưng đó.

Mấy điều vừa nói ở trên là nói về chuẩn chính tả. Còn chuẩn ngữ âm thì sao? Một câu chuyện mất khá nhiều giấy bút trên báo mạng trong năm trước là câu chuyện lẫn lộn n / l. Tại sao có nhiều vị quan chức khi xuất hiên trên truyền hình, khi diễn thuyết người nghe-xem phải phì cười? Vì họ có những cách phát âm lệch chuẩn lẽ ra không nên có với cương vị công tác của mình. Ví dụ, “làng tôi có rất nhiều nhà cao tầng” thì lại phát âm thành “nàng tôi có rất nhiều nhà cao tầng”; “ Nó nói lắm lại hay lẫn lộn” lại phát âm thành “ ló nói nắm nại hay ní nuận”…

Trong sử dụng từ vựng, sự lệch chuẩn cũng không kém phần phong phú. Ở một số địa phương người nông dân thường nói “ Con tôi mới được lên chú ý rồi” trong khi cần phải nói “Con tôi mới được lên thiếu úy rồi”, Hoặc nói: “ Nó bàng quang lắm” thay vì phải nói “Nó bàng quan lắm”…

Nói đến chuẩn ngữ pháp hay chuẩn phong cách cũng còn vô vàn những ví dụ sinh động khác.

Có thể nói hiện tượng lệch chuẩn là hiện tượng làm vẩn đục ngôn ngữ và là hiện tượng rất cần được khắc phục, Tuy nhiên, hiện tượng lệch chuẩn cũng rất đa dạng và có nhiều nguyên nhân khác nhau. Có những hiện tượng lệch chuẩn là do thói quen phát âm của tiếng địa phương, biệt ngữ hay thổ ngữ. Có những cách phát âm phổ biến trong một vùng phương ngữ rộng lớn như tiếng Nghệ Tĩnh  chẳng hạn, có thể vẫn được coi là những nét bản sắc miền vùng. Nó có thể được sử dụng rộng rãi trong các hoạt động giao tiếp khẩu ngữ, thậm chí được dùng trên đài phát thanh truyền hình địa phương nhưng không được dùng làm ngôn ngữ chuẩn trên phương tiện truyền thông quốc gia. Những hiện tượng lệch chuẩn do cá nhân hay một nhóm người tự đặt ra ( gọi là tiếng lóng) vẫn có thể được dùng giao tiếp trong phạm vi hẹp và được dùng trong sáng tác văn học với ý nghĩa là một phong cách chức năng, nhưng nó không bao được coi là chuẩn trong giao tiếp chính thức. Điều này không hề hạn chế đến khả năng sáng tạo của cá nhân hay nhóm người trong quá trình sáng tạo. Vì rằng, chuẩn không phải là cái bất biến, không biến đổi. Trái lại, chuẩn là cái mang tính thời đại và có tính khả biến cao. Nhưng chuẩn chỉ chấp nhận những gì là thực sự sáng tạo, hợp qui luật và phù hợp với tâm thức của người bản ngữ và được cộng đồng ghi nhận. Cách dùng ngôn ngữ của Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nhiều trường hợp chính là sự sáng tạo để tạo ra chuẩn mới cho tiếng Việt.

Từ trước đến nay, có nhiều bài viết bàn về tiếng Việt, về từ vay mượn tiếng nước ngoài ( nhất là tiếng Hán), về chuẩn đã làm cho ngôn ngữ của ta rối rắm thêm vì: một là họ không hiểu rõ bản chất của ngôn ngữ cũng như qui luật vận hành, tiếp xúc của ngôn ngữ; hai là, có  không ít người có nhầm lẫn tai hại là đồng nhất ngôn ngữ với văn tự, hoặc đồng nhất ngôn ngữ với cách phát âm. Những sự nhầm lẫn này dẫn đến nhiều suy lý sai và hiểu không đúng về bản chất cũng như tính năng động của tiếng Việt./.

——————————

(*) Xem thêm, Hữu Đạt “ Phong cách học tiếng Việt hiện đại”, Nxb GD VN, 2009

( Nguồn: VHNA)

 

Tinh thần phản tỉnh trong tản văn của Nguyễn Quang Lập

 

Nguyễn Trọng Bình

QTXM- Bài viết rất hay. Rất đáng đọc.Riêng chuyện “Nhà văn như Thị Nở” tôi nghĩ có lẽ nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên muốn nhà văn là người nấu cho cuộc đờidđang điên đảo, lwuu manh một bát cháo hành chăng ?

 

1.

Thời điểm này mà nhắc đến tên Nguyễn Quang Lập e là rất “dễ” trở thành người “nổi tiếng” theo cái kiểu “bất đắc dĩ” và vô cùng lãng xẹt?! Thế mới biết, ở cái xứ này “giang hồ thì hiểm ác, lòng người thì khó lường, chữ nghĩa, văn chương thì khó… viết”. Nói chung là nghĩ và làm cái gì cũng khó, đặc biệt là làm người đàng hoàng và tử tế lại càng khó hơn nữa!

Nhưng chẳng lẽ vì ngại khó mà người ta lại từ chối cái quyền được/phải làm người tử tế và đàng hoàng của mình? Thôi thì, bắt chước cụ Nguyễn Du “cũng liều nhắm mắt đưa chân/để xem con tạo xoay vần đến đâu!”

 2.

Nếu tôi nhớ không lầm thì có lần (khi còn là “chủ sở hữu hợp pháp” cái “bờ lốc, bờ leo” quechoa nổi tiếng) Nguyễn Quang Lập cho rằng, người viết tản văn hay nhất nước Việt hiện nay có lẽ là nhạc sĩ Tuấn Khanh (trẻ). Với nhận định này phải nói rằng, Nguyễn Quang Lập quả là một nhà văn “đàn anh” có đôi mắt tinh tường cùng“tấm lòng biệt nhỡn liên tài”!

Quả đúng như vậy, hiện nay, ngoài tư cách nhạc sĩ, Tuấn Khanh còn viết nhiều tản văn rất hay. Tuy vậy, nếu như ở Tuấn Khanh là khả năng “tổng hợp” những vấn đề thời sự nóng hổi của đất nước sau đó “tung hứng” bằng những con chữ lung linh và đầy ám ảnh thì tản văn của Nguyễn Quang Lập là chiều sâu của tinh thần nhân bản và tự phản tỉnh của một người từng trải.

Cái tính “hoạt khẩu” để gây cười (như ai đó đã nhận định) tuy cũng là thế mạnh nhưng thật ra, theo tôi đó chỉ là “phần nổi” trong tản văn Nguyễn Quang Lập mà thôi. Thật ra, nghiêm túc mà nói, Nguyễn Quang Lập cũng rất “già đời” khi cố tình hoạt khẩu như thế để gây cười và “lôi” người đọc thâm nhập vào đường dây của những câu chuyện mà ông kể. Hơn nữa, hoạt khẩu như vậy sẽ không làm cho người trong cuộc “nổi khùng” hoặc là “nghỉ chơi” với ông (trường hợp những tản văn viết những bạn bè, người quen của ông). Tuy vậy, điều quan trọng nhất vẫn là thái độ và sự chân tình tự phản tỉnh về tất cả các vấn đề đời sống; về tất cả cái gì thuộc về con người nhằm đấu tranh cho cái “lương tâm của xã hội, của thời đại” hôm nay trước nguy bị chó tha đi mất.

Có thể thấy, ngay từ những năm đầu đổi mới, ở Nguyễn Quang Lập đã bắt đầu nhen nhóm và “thai nghén” cái tinh thần này. Khi ấy, chỉ qua tiêu đề của quyển tiểu thuyết “Những mảnh đời đen trắng”, Nguyễn Quang Lập đã bộc lộ sự “hoài nghi” của mình về thời cuộc và con người Việt Nam lúc ấy. Càng về sau, ý thức này càng bộ lộ rõ hơn qua hàng loạt tản văn viết về đề tài “chuyện nhà quê” hay những miền “ký ức vụn” trong ông. Và mới đây nhất, cái tinh thần này ông được cẩn thận “gói” vào tiếng… “đánh rắm” trong bài thơ có nhan đề “Một ngày”:

“… Khó ngủ quá
Chổng mông đánh rắm một phát chơi
Rắm xong rồi lại ngửi
Ngẩn ngơ ngồi dậy ngẩn ngơ cười.”

 

 Phải chăng, cuộc đời ô trọc này nó buộc ông phải tỏ thái độ bằng cách “đánh rắm một phát chơi”? Mà thật ra là “đánh rắm” vô mặt bọn “trí thức giả cầy”hay chính xác hơn là bọn “lưu manh giả danh trí thức” thời nay. Nhưng oái oăm thay, cuộc đời oan nghiệt quá nên ông chợt nhận ra, mình “đánh rắm” xong có khi chính mình là người trước tiên phải “ngửi” chứ không phải ai khác? Thế mới đau! Vì vậy, mới có chuyện“ngẩn ngơ ngồi dậy ngẩn ngơ cười”? Một tiếng cười ít nhiều nói lên sự bất lực của con người trước sự thô bạo và hiểm ác của cuộc đời – một sự phản tỉnh thành thật của con tim khi nghĩ về những giới hạn của bản ngã trước muôn vàn sự giả dối, trắng – đen! Vậy thì có nên tiếp tục “đấu” với cuộc đời ô trọc và bọn“lưu manh giả danh trí thức” kia nữa không? Nhà văn chân chính đương nhiên là sẽ “chơi” tiếp! Tôi nghĩ vậy!

3.

Bàn về văn chương Nguyễn Quang Lập không thể không đề cập đến một vấn đề mà theo tôi, đa phần các nhà văn Việt hôm nay có lẽ, sẽ phải ghen tị với ông. Ghen tị vì lẽ, họ không có hoặc cũng từng có như ông nhưng vì chủ quan, không cẩn thận và nhất là thiếu bản lĩnh nên đã đánh mất lúc nào không hay. Là vấn đề gì? Xin thưa: đó là những “LỜI MẸ DẶN” mà nhà thơ Phùng Quán đã nói cách đây mấy mươi năm.

Thật ra, quan điểm và cách nói về chuyện “yêu ghét phải rõ ràng” trong bài thơ này của nhà thơ Phùng Quán tuy là hay nhưng với tôi nó không đặc sắc bằng cái tiêu đề “LỜI MẸ DẶN” nếu nhìn ở phương diện văn hóa và ý nghĩa mang triết học của nó. “LỜI MẸ DẶN” ở đây không đơn giản là lời của một người mẹ cụ thể, là mẫu thân của nhà thơ nữa mà nó còn mang một ý nghĩa biểu tượng rất độc đáo! Có lẽ, bất cứ người mẹ nào trên thế giới (chứ không riêng gì bà mẹ ở VN) đều có chung một ước nguyện và niềm mong mỏi là con mình lớn lên sẽ thành tài và nên người. Vì vậy, có lẽ tất cả mọi bà MẸ trên quả đất này đều răn dạy những đứa con của mình khi lớn lên điều quan trọng nhất là PHẢI SỐNG cho ĐÀNG HOÀNG VÀ TỬ TẾ?

Vì thế, thật hạnh phúc cho ai trong đời luôn nhớ và lúc nào cũng giữ gìn cẩn thận những “LỜI MẸ DẶN”. Dĩ nhiên cũng thật bất hạnh cho những ai vì lý do nào đó đã đánh mất những “LỜI MẸ DẶN” vốn rất THIÊNG LIÊNG này!

Đặc biệt, với những người cầm bút viết văn nhằm “tưới mát” và làm “lành mạnh hóa tâm hồn” con người thì càng phải cẩn trọng hơn nữa, nếu không đó sẽ là thảm họa cho xã hội!

Đến đây, chợt nhớ đến cách nói của nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên khi ông so sánh tư cách nhà văn với nhân vật“Thị Nở” – người đàn bà “dở hơi” trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao. Không hiểu sao, dù rất quý và kính trọng nhà phê bình nhưng bản thân tôi lại không thể đồng cảm với cách so sánh “Nhà văn như Thị Nở” như thế này. Hình như có gì đó hơi “giật gân” và “thiêng liêng hóa” mối tình Thị Nở – Chí Phèo trong truyện ngắn này thì phải?

Cần nhớ rằng, xây dựng nhân vật Thị Nở ý đồ chủ yếu của Nam Cao là nhằm nhấn mạnh đến bi kịch nghiệt ngã của Chí. Tức là, ở cái làng Vũ Đại không người nào chịu giao tiếp, không ai chịu “chơi” với Chí. Thậm chí đến ngay cả mụ đàn bà xấu “ma chê quỷ hờn” kia, có ai ngờ cuối cùng cũng “ngoai ngoái cái mông đít” bỏ Chí mà đi. Đồng ý là trước đó, tình yêu của Thị Nở tuy có giúp Chí thức tỉnh và nhận ra hắn còn là một con người nhưng cũng chính Thị chứ không ai khác vì cái sự “dở hơi” của mình đã vô tình triệt tiêu con đường quay về nẻo chính của Chí. Nam Cao viết:

“Thị chống tay vào háng, vênh vênh cái mặt và tớn cái môi vĩ đại lên trút vào mặt hắn tất cả những lời của bà cô. Hắn nghĩ ngợi một tí rồi hình như hiểu. Hắn bổng nhiên ngẩn người. Thoáng một cái, hắn lại như hít hít thấy cái hơi cháo hành. Hắn cứ ngồi ngẩn mặt không nói gì. Thị trút giận xong rồi. Cái mũi đỏ dị xuống rồi bạnh ra. Thị hả hê lắm. Thị ngoai ngoái cái mông đít đi ra về. Hắn sửng sốt đứng lên gọi lại! Ai mà thèm lại!”

Có thể nói chính vì sự “dở hơi” này của Thị Nở mới có câu nói bất hủ của Chí ở cuối tác phẩm: “tao muốn làm người lương thiện nhưng ai cho tao lương thiện?”

Nói cách khác, đành rằng, Thị Nở đã từng yêu đắm say nhờ đó đã đánh thức tính người trong Chí nhưng thử hỏi nếu trong sâu thẳm bản chất của Chí không phải là lương thiện thì chắc gì tình yêu của Thị sẽ trở thành chất xúc tác cho “phản ứng” giết kẻ thù là Bá Kiến xảy ra? Hơn nữa, trong chuyện này, vấn đề mà nhà văn Nam Cao muốn nói là, Chí Phèo tuy là “đứa không cha không mẹ” nhưng với câu nói “ai cho tao lương thiện” ở cuối tác phẩm cho chúng ta thấy cách hành xử của Chí “đẹp” và chững chạc hơn gấp ngàn lần những kẻ có cha có mẹ và được cha mẹ dạy dỗ đàng hoàng! Điều này rất phù hợp với việc Nam Cao đề cập ở đầu tác phẩm, bản chất của Chí tuy là “đứa không cha không mẹ” không ai dạy bảo nhưng hắn sống rất thật thà, đến nỗi bị bà vợ Ba của Bá kiến mắng mỏ về sự thật thà ấy lúc mụ kêu Chí lên “bóp chân” và “bóp lên trên”.

Vì vậy, theo tôi nếu so sánh Nhà văn với một người “dở hơi” như Thị Nở e là không hợp lẽ cho lắm. Như thế thì tội cho những nhà văn nhất là những nhà văn chân chính quá! Nhà văn trước hết, phải là người tự ý thức về bản thân mình, là người phải biết tự thức tỉnh lương tâm mình trước khi muốn thức tỉnh người khác! Nhà văn ở phương diện nào đó nên giống như Chí Phèo hay anh Hộ trong Đời thừa thì có lẽ dễ chấp nhận hơn chăng?

Từ đây, trở lại vấn đề của Nguyễn Quang Lập, có thể nói ẩn sau những “câu chuyện đời vớ vẩn”, ẩn sau sự hoạt khẩu gây cười là một cái nhìn rất sâu sắc nhằm cảnh báo về những nhầm lẫn, ấu trĩ, tệ hại, xấu xa, đê tiện… của con người trong cuộc sống.Thậm chí, như đã nói, Nguyễn Quang Lập còn mang cả bạn bè và ngay bản thân mình ra để “trăn qua trở lại” xem coi có xứng đáng với chức phận của người cầm bút viết văn hay không (nhất là trong xã hội ngày nay)? Ở chỗ này, ta thấy Nguyễn Quang Lập rất tinh tế và cũng gần với Nam Cao ở chỗ dám tự sỉ vả mình (kiểu nhân vật Hộ trong tác phẩm Đời thừa đã khóc và tự mắng mình là “thằng khốn nạn” vì đã viết ra thứ văn chương rẻ tiền, nhạt như nước ốc, đầu độc tâm hồn con người).

Viết văn được như vậy, theo tôi phải là người có tâm hồn trong sáng và luôn hướng về điều thiện; là người hết lòng phụng sự cuộc sống, phụng sự con người bằng tất cả sự chân thành trong sự phản tỉnh cao độ. Từ đây, trong cái nhìn so sánh với vô số những người cầm bút viết văn hôm nay, phải chăng Nguyễn Quang Lập là nhà văn may mắn vẫn còn giữ được một “thứ vũ khí sắc bén” bên mình (như tôi đã đề cập ở trên): những “LỜI MẸ DẶN”?

4.

Trong “Bút pháp của ham muốn” nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy trong khi bàn về trường hợp thơ của Chế Lan Viên, có đặt ra vấn đề: “phải chăng mặt nạ cũng là một bản chất của người nghệ sĩ?”. Tôi cho rằng, đây là nhận định rất hay! Quả đúng như vậy, nhà văn – người nghệ sĩ trong xã hội hiện đại” (nhất là ở những xã hội con người bị bao cấp về tư tưởng) có khi phải thường xuyên đeo “mặt nạ” để “ngụy trang”. Đây không hẳn là cách sống hai mặt hay muôn mặt mà có lẽ, trước hết là do “thời thế thế thời phải thế”. Và người nghệ sĩ trong xã hội hiện đại như Chế Lan Viên nói, đôi khi cũng giống như cái “tháp Bayon bốn mặt” trong đó buộc phải “ngụy trang” một mặt để sống vì vậy đã vô tình làm “đau ba mặt kia trong cõi ẩn hình”!

Tuy vậy, vấn đề là làm sao để nhận ra nhà văn chân chính, làm sao để nhận ra người nào đang đeo “mặt nạ” và ngụy trang dưới những con chữ nhưng không nhằm mục đích lừa dối con người, lừa dối cuộc đời? Theo tôi, trong chuyện này chúng ta nhất định cần phải bàn đến vấn đề nhà văn đó có phải và đồng thời là một trí thức thứ thiệt hay không? Hay thật ra chỉ là bọn “lưu manh trí thức” – những kẻ chỉ coi văn chương và dùng văn chương như một thứ công cụ không hơn không kém nhằm phục vụ cho thói háo danh và những lợi ích nhất thời, tầm thường của riêng họ? Nói cách khác, ở đây, có lẽ chúng ta phải trở về ở về với quan điểm của M.Gorki: “văn học là nhân học” để nhìn nhận và xem xét thôi!

Trong cái nhìn này, trong cảm nhận của riêng tôi, tuy Nguyễn Quang Lập vẫn chưa thể sánh ngang với trường hợp Vũ Trọng Phụng hay Nam Cao nhưng phải khẳng định ông là một nhà văn, một nghệ sĩ, một trí thức đúng nghĩa trong thời đại ngày nay. Điều này thể hiện rất rõ không chỉ qua cái nhìn tự phản tỉnh của ông trong tản văn mà còn qua sự “hăng máu” khi ông quyết định dấn thân và chuyển sang làm một nhà báo chơi “bờ lốc, bờ leo” trong thời đại kỹ thuật số. Và hậu quả là, như chúng ta đã biết cái “bờ lốc bờ leo” ấy đã làm cho ông khốn đốn! Nhiều người (trong đó có tôi) buồn và đau xót cho ông về chuyện này nhưng có lẽ với ông – một trí thức bản lĩnh và chân chính có khi đó lại là “cơ hội” (dù không mong đợi) để trải nghiệm nhằm phục vụ cho việc viết văn của mình cũng không chừng!?

Chúng ta – những kẻ tầm thường và hèn nhát thường hay có nhiều mối lo và sợ sệt không đâu. Hoặc không thì lại có tâm lý muốn đeo mặt nạ của những nhà văn chân chính để rồi huênh hoang nói những lời nước thải vu vơ và sáo rỗng!

Trời ạ! Lắm khi nhìn lại mà thấy xấu hổ vô cùng!

Cần Thơ, 14/4/2015

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 15.04.2015

CÁC “TAI NẠN” VĂN CHƯƠNG ĐƯƠNG ĐẠI

Nhà văn Bảo Ninh

CÁC “TAI NẠN” VĂN CHƯƠNG ĐƯƠNG ĐẠI

QTXM- Tiểu thuyết “Nỗi bồn chiến tranh” của nhà văn Bảo Ninh là một trong ít cuốn sách viết về chiến tranh hay nhất, được bạn đọc trong nước và thế giới ca ngợi. THế mà có thời cuốn sách bị “đánh” tơi bời.Lạ lùng là người đánh ‘Nỗi buồn chiến tranh” lại chính là các nhà văn.  Mới hay nhà văn cũng không biết  giá trị sách hay như thế nào. QTXM xin trích in lại bài viết in trên Văn Việt để bạn đọc hiểu”Nỗi buồn nhân thế”.

Văn Việt: Trong lịch sử Việt Nam, không hiếm những “tai nạn văn chương” lớn nhỏ, từ bài thơ “phản nghịch” của con trai cả đại thần Nguyễn Văn Thành thời Gia Long khiến cha con tác giả mất mạng đến vụ mới nhất là “luận văn thạc sĩ Nhã Thuyên” với hậu quả “nhẹ” hơn nhiều (tác giả bị tước bằng, đuổi việc; người hướng dẫn bị cho về hưu). Hồ sơ “Các tai nạn văn chương đương đại” của Văn Việt xin hệ thống lại những vụ tiêu biểu trong khoảng 60 năm lại đây, mở đầu là vụ tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” những năm đầu thập kỷ 1990, rồi đi ngược thời gian đến sau vụ “Nhân văn-Giai phẩm” (hồ sơ vụ án lịch sử này đã được nhiều công trình tổng kết nên xin phép không nhắc lại nữa). Lịch sử không nên và không thể bị quên. Những ai cố tình quên hoặc bất chấp các bài học lịch sử thì không thể làm được việc gì tử tế trong hiện tại, còn những việc không tử tế thì dù mưu gian kế hiểm hay tàn trắng bạo trợn cũng sẽ thất bại, đặc biệt trong lĩnh vực văn chương nghệ thuật, các sản phẩm tinh thần cao cấp của con người. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 15.04.2015

Học viện quân sự West Point (Mỹ)

Học viện quân sự West Point xây dựng từ 1910

 Ở Mỹ đào tạo nhân tài như thế nào ?

  Học viện quân sự West Point (Mỹ)

 Ở Mỹ, đi xin việc làm, nếu vào thấy có ứng viên tốt nghiệp trường West Point cùng tham gia thì thôi coi như mình cầm chắc 1 suất rớt. Đi về cho nhanh, khỏi phỏng vấn nữa. Rất đông các CEO của các tập đoàn ở Mỹ tốt nghiệp trường West Point, tỷ lệ CEO trên sinh viên tốt nghiệp (nhớ là tỷ lệ nhé) cao hơn Harvard, Stanford hay Yale…Ở Mỹ nghe ai nói t​ôi​ từng học ở West Point, người ta nhìn mình từ trên xuống dưới, như 1 thực thể lạ, một con người hoàn hảo. Không xếp hạng được vì nó không có tiêu chuẩn để xếp.

Vậy West Point là trường gì? (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 14.04.2015

VỀ BỘ SÁCH ”NGÔ MINH TÁC PHẨM”

Bìa 3 tập NGÔ MINH TÁC PHẨM 1,3,5 do nhà thơ Nguyễn Trong Tạo vẽ

 VỀ BỘ SÁCH ”NGÔ MINH TÁC PHẨM”

 NGÔ MINH

         Bạn đọc và bạn bè văn nghệ sĩ cả nước thân mến.

         Vì có nhiều  bạn bè điện thoại hỏi thăm, nên Ngô Minh xin thông báo về bộ sách tuyển NGÔ MINH TÁC PHẨM như sau :

         Năm nay( 2015) Ngô Minh 67 tuổi.Từ cuối năm 2014 đến nay, tôi đau yếu liên miên: Đau khớp, gút sưng hai chân không đi được từ trong Tết đến nay. Đau loét dạ dày, chảy máu ngầm, phải nằm viện 2 lần, thiếu máu, suy dinh dưỡng phải truyền tới 4 đơn vị máu ( 1 lít). Bây giờ tôi đi lại vẫn khó khăn. Khi nói, tiếng vẫn ra đằng tai. Tôi nhận thấy sức khỏe mình giảm sút, không biết có sống tới 70 tuổi không. Nên tôi đã tự đọc chọn, biên tập một bộ tuyển tập của mình có tên là NGÔ MINH TÁC PHẨM ( vì sợ chữ “TUYỂN” xui). Đây coi như là bộ sách khép lại quá trình sáng tác Văn học hơn 40 năm của mình.Nhà thơ Hoàng Cát làm tuyển khi 68 tuổi.Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ làm tuyển khi 63 tuổi. Nên tuổi Ngô Minh tổng kết quá trình sáng tác cũng là bình thường. Thơ văn Ngô Minh là những trang viết thật lòng, thật đời, thật xúc cảm, nên được nhiều bạn đọc yêu mến. Nay chọn lọc lại chắc chất lượng sẽ cao hơn.

          Bộ NGÔ MINH TÁC PHẨM gồm 5 tập, mỗi tập dày 450-500 trang ( 14,5 x 20,5 cm), như sau :

-Tập 1: THƠ, tuyển 400 bài thơ trong số hơn 1200 bài thơ của Ngô Minh. Tuyển thơ chia làm các phần: a,Đứa con của cát ( thơ về quê mẹ); b,Tìm tôi tìm Huế ( thơ về Huế, quê hương thư hai); c, Thơ tặng ( thơ tặng các văn nghệ sĩ,người đường thời); d, Gọi đôi ( thơ tình); e, Thơ về xứ người ( thơ về các nước); g, Mặt trời đi nhà trẻ ( thơ thiếu nhi); h, Cát vọng ( thơ dâng bộ mẹ đã khuất)

– TẬP 2: CHÂN DUNG: 45 bài viết về chân dung của các văn nghệ sĩ đương đại như :Trần Quang Long, Ngô Kha, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Lâm Thị Mỹ Dạ, Thanh Hải, Trần Vàng Sao, Nguyễn Minh Châu, Hoàng Cầm, Phùng Quán, Nguyễn Khắc Thạch, Nguyễn Trọng Tạo, Tô Nhuận Vỹ, Hà Khánh Linh, Nguyễn Tuân.v.v..,Đây là nhưng chân dung có cá tính, bản lĩnh và có nhiều biến cố  cuộc đời.

– Tập 3: KÝ & PHÓNG SỰ : Gồm các bài ký và phóng sự chọn lọc, xúc động viết trong các chuyến đi thực do Hội  tổ chức, tập trung xưng tụng sự đổi mới, quan niệm mới trong xây dựng đất nước và nhận thức lịch sử.

-Tập 4: BÚT KÝ VÀ TIỂU LUẬN THƠ: Tuyển chọn những bài bút ký và tiểu luận thơ của Ngô Minh viết tâm huyết, thực lòng từ trước tới nay, nêu bật những quan niệm, nhận thức đánh giá của tác giả về thơ hiện nay.

-Tập 5: NGÔ MINH-PHÙ SA BIỂN: Tuyển chọn bài viết của nhiều tác giả viết về thơ, văn và cuộc đời Ngô Minh, của : Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hồ Thế Hà, Hông Nhu, Nguyễn Khắc Phê, Nguyễn Trong Tạo, Tô Nhuận Vỹ, Phạm Phú Phong, Nguyễn Ngọc Phú.v.v…Trong tập này còn có hơn 100 ảnh NgooMinh với gia ddihnf , vợ con và bạn bè văn nghệ sĩ cả nước.

         Đầu năm 2015, tôi đã làm xong bộ NGÔ MINH TÁC PHẨM.

         Để in bộ sách 5 tập này quan trọng này, với số lượng ít nhất 300 cuốn ,bìa cứng, để tặng bạn bè, kinh phí cũng lên tới 100 triệu đồng. Gia đình tôi tuy nghèo, hai vợ chồng lương hưu thấp cũng đã dành dụm được một ít.  Để có thêm tiền in bộ sách NGÔ MINH TÁC PHẨM sớm ra mắt độc giả, dự định sẽ vay. Vừa qua, nghe tin Ngô Minh đau ốm, đang làm tuyển tập, nên một số anh em văn nghệ sĩ thân thiết và con cháu đã ủng hộ được một phần kinh phí. Đó là:  Vân Hà (Mỹ), nhà thơ Phan Luận, nhà văn Tô Nhuận Vỹ, Viết Anh, Trần Hữu Hoàng( Mỹ), nhà thơ Hà Nhật, nhà văn Trần Thùy Mai, nhà thơ Nguyễn Văn Dùng, nhà thơ Nguyễn Đức Tùng( Canada).nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ( Hà Nội), nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo ( ủng hộ bằng cách vẽ bìa 5 tập và bìa hộp)…; cùng các cháu Ngô Thị Quỳnh Anh, Nguyễn Thị Luyến, Trương Thị Niềm, Vê- Sang…Ngô Minh xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tất cả mọi người. Hiện gia đình vẫn cố gắng tìm mọi cách để có đủ tiền in bộ sách.

       Bộ tuyển Ngô Minh đang xin giấy phép NXB Hội Nhà văn và in tại Đà Nẵng. Khi nào in xong  QUÀ TĂNG XỨ MƯA sẽ thông báo trên mạng mọi người để cùng chia sẻ và ủng hộ.

Để hiểu thêm về Huế:

Nghĩa lý và cội nguồn 2 câu thơ: “VĂN NHƯ SIÊU QUÁT VÔ TIỀN HÁN/ THI ĐÁO TÙNG TUY THẤT THỊNH ĐƯỜNG”

DÂN TRÍ

Không học chữ Nho, nghe qua hai câu thơ Hán Việt vừa dẫn thì cũng có thể hiểu được nghĩa lý một cách mang mang hồn sử thi.

Chân dung Cao Bá Quát – Ảnh: wiki

Chữ “vô” (無) và chữ “thất” (失) là hai từ “mắt khóa” để bật mở ra ý nghĩa hai câu đối và rồi dịch ra tiếng Việt một cách nhẹ nhàng như sau:

“Văn của ông Siêu, ông Quát khiến thời Tiền Hán phải chịu,
Thơ của Tùng Công, Tuy Công thì thời Thịnh Đường phải nhường”.

Tưởng cũng cần chép lại nguyên tác bằng chữ Hán:

文 如 超 适 無 前 暵
詩 到 從 綏 失 盛 唐

I. Bốn nhân vật văn học nổi tiếng giữa thế kỷ 19

1.1. Bồ chữ: Tiếng “bồ” trong giai thoại về Cao Bá Quát, là ngôn từ dân dã – Người nông dân dùng cái bồ để chứa lúa. Đã là giai thoại thì làm sao tránh khỏi tính cách nửa đùa, nửa thực. Nho sinh, kẻ sĩ, sĩ phu “đựng chữ” ở trong cân não, trong bụng dạ. Nhà nông có lúa gạo, người học thức có chữ, giàu chữ thì phải có “bịt”, có bồ để đựng, để chứa.

Cao Bá Quát (1809 – 1854) được người đời tôn gọi là “Thánh Quát” vì là thần đồng, thiên tài về văn chương thi phú đương thời. Bạn chí thân của ông là Phó bảng Nguyễn Văn Siêu (1799 – 1872) với tuổi tác chênh lệch nhau khác nào tuổi đời cách biệt giữa Nguyễn Du (1766 – 1820) với bạn tri âm Phạm Quý Thích (1760 – 1825) vậy.

Thời Tiền Hán dài trên hai trăm năm, kể từ năm 206 trước Tây Lịch đến năm thứ 8 sau Công nguyên. Vào thời kỳ này văn học phát triển thịnh đạt và rực rỡ. Tiêu biểu nhất về văn sử là Tư Mã Thiên, ông đã để lại cho hậu thế một công trình biên soạn lớn lao được chép theo lối kỷ truyện, chớ không theo lối biên niên.

Năm Minh mạng thứ 12, 1831 Cao Bá Quát thi Hương tại trường thi Thăng Long đỗ Á nguyên trong danh sách 20 thí sinh được chấm đậu lấy Cử nhân. Không hiểu vì lý do gì khiến 6 tháng sau có lệnh chấm lại các quyển thi của ông rồi xếp đậu cuối bảng. Xưa, có lệ thí sinh đỗ đội bảng phải bưng khay đựng áo mão cho những tân khoa đỗ thứ bậc bên trên từ thứ 1 đến 19. Vinh đi liền sau với nhục; Cao Bá Quát hận đời chẳng đẹp. Ông cũng nổi tiếng thêm vì đã nén lòng “chịu nhục” do thi cử bất minh.

Thơ văn họ Cao đã dậy sóng từ những trước năm 1831 được thế gian phong là thần đồng. Tuy đỗ đạt nhưng Cao Bá Quát chưa chịu ra làm quan. Rồi cảnh ngộ gieo neo, vợ chết sớm để lại 2 con. Năm 1841, triều đình lục dụng người tài ẩn dật, ông bị tiến cử về Kinh đô Huế nhậm chức Hành Tẩu bộ Lễ. Vào thời điểm ấy, Phương Đình Nguyễn Văn Siêu đã làm quan tại Viện Hàn lâm và Viện Tập Hiền. Văn tài của đôi bạn lại dậy sóng ở đất thần kinh: “Văn như Siêu Quát vô Tiền Hán”.

Lúc Cao Bá Quát giữ chức Chủ sự bộ Lễ, sau điện Cần Chánh mới đắp một hòn non bộ để dựng trong bể cạn, vua Tự Đức sai Nguyễn Văn Siêu đề câu đối. Ông Siêu ngẫm nghĩ mấy hôm chưa ý tứ để đề cho hay, nhân gặp ông Quát đến chơi, ông Siêu lấy tình thân mới thành thực ngỏ ý với bạn quý. Ông Quát liền viết ngay lên giấy, rồi đọc cho bạn nghe:

Sơn nhược hữu thần hô Hán tuế,
Hải như sinh thánh thiếp Chu ba
(1)

Dịch là:

Núi có thần linh thì hớn hở chúc mừng vua Hán
Biển như sinh thánh thì im lặng sóng gió nhà Chu.

Các quan trong triều ngoài quận đều lăn phục là tuyệt hay: Thơ Thánh!

Sách Đại Nam Chính Biên Liệt truyện có đoạn về thi tài của “thánh Quát” như sau:

“Cao Bá Quát, người huyện Gia Lâm tỉnh Bắc Ninh, cùng với anh là Bá Đạt đẻ sinh đôi nên đặt tên như thế, nhỏ kháu khỉnh thông minh đều có văn tài, Quát sau làm nhà ở trong thành Đại La tỉnh Hà Nội. Minh Mạng năm thứ 12 (1831) về khoa thi Hương đỗ Á nguyên, khi bộ duyệt đánh vào hạng chưa được Á nguyên mà thi Tiến sĩ thường bị hỏng. Bá Quát tức giận ngày thêm dùi mài, văn càng mạnh, cùng với Phó bảng huyện Thọ Xương là Phương Đình Nguyễn Văn Siêu đều nổi tiếng. Bấy giờ nhiều người hâm mộ có câu: “Văn như Siêu Quát vô Tiền Hán”, nghĩa là “Văn của Siêu – Quát vượt cả danh nho đời Tiền Hán”.(2)

1.2. Thi ông Tùng Thiện và Thi bá Tuy Lý: Tiểu sử của nhân vật lịch sử trở thành một nhánh của sử, đó là Truyện. Cứ theo điển lệ, hoàng tử đến tuổi trưởng thành có thực tài, bước đầu lập công, nhân cách đạo hạnh phải trải qua kỳ thi khảo hạch để được phong tước “Công”. Rồi theo đà tiến và thời gian mới được tôn phong Quận Vương, và truy phong hoặc tiến phong. Thông thường tước Vương là tột trần để truy phong sau khi đã mất.

Năm Minh Mạng thứ 16, 1836 Hoàng tử thứ 10 là Nguyễn Phúc Miên Thẩm (1819 – 1870) được nhà vua tấn phong Tùng Thiện Công. Tùng Thiện là tên một huyện ở Bắc Hà, cho mở phủ ở phường Liêm Năng trong Hoàng Thành(3). Bốn năm sau, Hoàng tử thứ 11 là Nguyễn Phúc Miên Trinh (1819 – 1897) được tấn phong làm Tuy Lý Công. Tuy Lý tên một huyện ở tỉnh Phú Yên.

Tại hai phủ gần bên nhau của hai anh em Tùng – Tuy, thi ông và thi bá đương thời thỏa lòng xướng họa, vui hưởng thơ phú cùng với sĩ phu trong triều ngoài quận. Và từ đó là cái gốc, cái nôi cho Tùng Vân thi xã ra đời mà Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát cùng tham dự để gây sốc phát sinh ra nhiều giai thoại kỳ thú.

Đại Nam Chính Biên Liệt truyện đã viết phẩm cách của hai hoàng tử:

“Ông [Tùng Thiện Công] thông minh ham học, ngoài sách vở ra không thích gì. Nghe có sách hay, bỏ tiền ra mua. Học vấn sâu rộng; lời ý điển nhã, càng giỏi về thơ. Cùng hoàng tử thứ 11 là Tuy Lý Vương đều nổi tiếng bằng nhau. Dực Tôn Anh Hoàng đế vốn tin yêu, thường thường sai biên chép thơ chọn lọc của các đời, chấm và phê bình để tiến lên. Cho nên người làm thơ có câu: “Thơ đến ông Tùng, ông Tuy hơn cả đời Thịnh Đường”(4).

Nhân dịp lễ húy kỵ và kỷ niệm 100 năm ngày mất của Tùng Thiện Vương (30/3/1870) năm 1970 các tác giả Ưng Trình và con trai trưởng là giáo sư Bửu Dưỡng đã cho ra mắt độc giả sách “TÙNG THIỆN VƯƠNG” (1819 – 1870)(5). Hai soạn giả đã khẳng định một cách quả quyết hai câu thơ bất hủ được lưu truyền nói trên không phải do vua Tự Đức sáng tác. Vì sao? Trong toàn bộ thi văn của nhà vua không hề ghi chép hai câu thơ ấy.

Nhà báo Phan Khôi (1887 – 1959), tác giả sách Chương dân thi thoại xuất bản năm 1936 thì chưa phân định rõ vua Thiệu Trị hay vua Tự Đức là tác giả.

“Tùng Thiện Vương, tên là Miên Thẩm, tự là Thận Minh, con trai thứ mười vua Minh Mạng, người Huế quen gọi ngài Tùng, hay là Thương Sơn (Thương Sơn là biệt hiệu ngài), có tiếng hay chữ nhất trong thời ấy, mà sở trường về nghề làm thơ. Có em là Tuy Lý Vương cũng học rộng và hay thơ, nổi tiếng ngang nhau, tục truyền vua Thiệu Trị hay vua Tự Đức chi đó có câu thơ rằng: “Thi đáo Tùng Tuy thất thạnh Đường”, là chỉ hai ngài đó”.(6)

alt
Mộ Tùng Thiện Vương (ở Huế). Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên

1.3. Những ai đã khẳng định vua Tự Đức là tác giả 2 câu thơ ấy

Từ đầu thế kỷ 20 cho đến nay nhiều nhân sĩ trí thức có tiếng, chuyên tâm nghiên cứu văn học cổ Việt Nam đều khẳng định tác giả hai câu thơ đã dẫn thượng là đích thị vua Tự Đức. Rất tiếc là chỉ dừng lại và không phân tích hoặc chú giải thêm.

1.3.1. Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề dày công viết sách Việt Nam ca trù biên khảo xuất bản năm Nhâm Dần, 1962 viết:

“Ông [Cao Bá Quát] tài hoa mẫn tiệp, xuất khẩu thành chương, áp đảo được mọi người. Vua Tự Đức đã khen:

“VĂN NHƯ SIÊU QUÁT VÔ TIỀN HÁN
文 如 超 适 無 前 暵

THI ĐÁO TÙNG TUY THẤT THỊNH ĐƯỜNG
詩 到 從 綏 失 盛 唐(7)

Hồng Liên Lê Xuân Giáo dịch rõ và thanh thoát:

Văn như Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát thời Tiền Hán phải thua
Thơ như Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương thời Thịnh Đường còn kém
.(8)

Thời Thịnh Đường văn chương Trung Quốc thịnh đạt và rực rỡ, tiêu biểu là thơ Tiên, thơ Thánh của Lý Bạch, Đỗ Phủ. Trăm hoa đua nở, thể thức thơ Đường đã đi vào quy chuẩn mẫu mực. Thời kỳ này là hoàng kim thời đại, trải qua trên 110 năm, từ năm 713 đến 823 sau Tây lịch. Thời Thịnh Đường, các văn nhân và thi hào gây ra phong trào phục hồi văn học thành thực và mạnh mẽ của triều nhà Hán.

1.3.2. Thi sĩ Vũ Hoàng Chương vận dụng hết tài năng viết bài diễn thuyết sáng giá có tựa đề Một niềm tin nhân dịp kỷ niệm ngày giỗ thứ 149 của Đại thi hào Nguyễn Du. Bài diễn thuyết có đoạn viết gây ấn tượng:

“…Mà xét kỹ thì con người được dân chúng Bắc Hà kính phục tài văn chương đến xưng tụng là Thánh Quát, con người ấy đã đậu Á nguyên năm Minh Mạng thứ 12 rồi 6 tháng sau lại bị các quan Đại thần ở Đế đô mang bài thi ra tái duyệt để vin vào những lý luận viển vông hạ tuột cái địa vị Á nguyên xuống tận hàng Cử nhân đội bảng. Thật là một điều hy hữu trong lịch sử thi cử nước nhà. Mặc dầu vua Tự Đức có ý định giàn hòa cả Đàng Ngoài, Đàng Trong bằng 2 câu ngự bút:

“Văn Như Siêu, Quát Vô Tiền Hán
Thi Đáo Tùng, Tuy Thất Thịnh Đường”
(9)

1.3.3. Hồng Liên Lê Xuân Giáo viết bài khảo cứu về Cái chết bi hùng của Thánh Quát. Tác giả nói về thiên tài của Cao Bá Quát như sau:

“Từ đây [năm 1831], tiếng tăm hay chữ của vị Á nguyên họ Cao đã được loan truyền khắp đất Bắc Hà, và còn vang dội vào tận chốn Thần kinh nữa.

Những bậc văn nhân mặc khách trong nước, không mấy ai không nghe tiếng “Thánh Quát”, và không mấy ai mà không đối thoại với “Thánh Quát”…

Về văn tài, Quát ngang hàng với Nguyễn Văn Siêu (biệt hiệu Phương Đình, đỗ phó bảng, quê thôn Dũng Thọ, huyện Thọ Xương, Hà Nội), nên Dực Tông Anh Hoàng Đế mới có hai câu thơ: “Văn Như Siêu Quát Vô Tiền Hán/ Thi Đáo Tùng Tuy Thất Thịnh Đường”.(10)

II. CỘI NGUỒN LÀM ĐÀ SÁNG TẠO CHO HAI CÂU THƠ THỜI DANH ẤY

Viết Truyện hoặc Liệt truyện thì phải vận dụng thể tài văn học nhằm thuật lại gốc ngọn trước sau của một người, từng nhân vật. Trong 4 nhân vật thì họ Cao gây nhiều ấn tượng nhất đối với độc giả. Nắm vững được tầm tinh của nhân vật “mắt đinh” này thì sẽ hiểu sức thâm nhập của Tam giáo đồng nguyên của Cao Bá Quát không bằng 3 nhân vật còn lại.

Cao Bá Quát là con trai của ông Đồ hay chữ Cao Cửu Chiếu bằng trang tuổi của Nguyễn Du. Thân phụ của “thánh Quát” đã từng nhận xét về hai người con trai sinh đôi rằng: “Văn của Bá Quát thì trỗi về tài tử, nhưng thua về khuôn phép. Nếu đem cái tài tử của Bá Quát hợp với cái quy cũ của Bá Đạt sẽ có thể trở nên một văn tài hoàn toàn”(11). Tiếc thay! Cao Bá Quát không thấm sâu lời nghiêm phụ đã dạy.

2.1. Về hai dòng tộc họ Nguyễn và họ Cao của Nguyễn Du và Cao Bá Quát có nhiều nét tương đồng. Hai dòng tộc này đều là thuộc hàng danh gia thế phiệt. Các bậc tiên hiền tiền bối đều đỗ đạt cao, làm quan lớn tới chức Tể tướng, Thượng thư dưới các thời nhà Hậu Lê và Lê Trung Hưng. Quan điểm phò Lê, hoài Lê khá sâu đậm nét trong cân não, dòng máu của sĩ phu, danh sĩ Bắc Hà đương thời. Vậy mà sau khi đất nước đại định, giang san thu về một mối, vua Gia Long đã đổi tên gọi Bắc Hà ra Bắc Thành. Từ Thanh Hóa ngoại (tức Ninh Bình bấy giờ) trở ra gọi là Bắc Thành gồm 11 trấn. Cố đô Thăng Long được đổi chữ viết “Long” (con rồng) thành tiếng đồng âm “Long” của niên hiệu Gia Long.

2.2. Nguyễn Du và Cao Bá Quát có hai tánh khí khác nhau. Sách Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện cho biết: “Du là người ngạo nghễ tự phụ, mà bề ngoài tỏ ra kính cẩn, mỗi khi vào yết kiến sợ hãi như không nói được…”(12)

Nguyễn Du ngạo nghễ tự phụ theo ảnh hưởng của mạch đất, của chất Bắc Hà – Nghệ Tĩnh. Đọc tiểu sử của ông thì dễ dàng thấy rõ nhược điểm này.

Nguyễn Du khôn khéo gởi gắm nguồn cơn tâm sự rõ nét qua Truyện Kiều. Khí phách của Từ Hải đã nói thay cho ông… Nguyễn Bách Khoa đã viết trong sách Nguyễn Du và Truyện Kiều, xuất bản lần thứ hai năm 1951 khá nhiều. Tiêu biểu trích dẫn một câu:

“Từ Hải và cuộc đời ngang dọc của Từ Hải chỉ là giấc mộng đẹp thân yêu của mình mà sức bố đáp Cần vương đã tàn theo một đẳng cấp tàn”.(13)

Đường làm quan với tân triều của Nguyễn Du khiên cưỡng. Vẫn còn như ẩn dấu ấp ủ “cái gì” chưa nói hết ra được “một cách trực diện”. Đã có 3 lần Nguyễn Du xin nghỉ về vui thú điền viên: năm 1805 đang làm quan phủ huyện, cụ xin cáo bệnh về quê. Năm 1812 lại xin cáo bệnh xin từ quan, sau năm 1813 đi sứ về cụ lại vin cớ xin nghỉ 6 tháng.

Còn Cao Bá Quát thì xuất thân làm quan buổi đầu khiên cưỡng. Rồi nhập thế cũng lắm truân chuyên chỉ vì có tài, thị người cho nên trước sau cũng bị “đẩy hất” đi ra cho “khuất con mắt” người ta ở chốn triều đình được vua Thiệu Trị đặt tên đất thần kinh. Thôi thì “hất lên” cho ông Cao Bá Quát “ra riêng một cõi” ở phương trời hiu hắt đèo heo hút gió. Họ Cao tự phụ, kiêu hãnh cho xuất thân là thần đồng, thơ thánh. Cái ma men của rượu nồng đã góp phần báo hại khiến đời ông tan tác như “cuồng sĩ”. Tuổi trẻ mà tài cao là điều không hay! “Chữ tài liền với chữ tai một vần”. Cổ thi đã từng nói lên điều ấy bằng câu: “Trí tuệ thông minh khước thụ bần”.

Ở nhiệm sở mới, giáo thụ phủ Quốc Oai tỉnh Sơn Tây, Cao Bá Quát nhân dịp đầu xuân làm thơ khai bút, có hai câu tả chân:

Hốt hốt bút niêm thành vạn tự.
Thao thao bút hạ tảo thiên quân.

忽忽 筆 拈 成 萬 字
滔滔 筆 下 掃 千 軍

Hồng Liên Lê Xuân Giáo dịch là:

Lập tức cầm tay, thành vạn chữ
Thao thao tay hạ, quét sạch ngàn quân”
(14).

Rồi, ông chán ngán sự đời, từ quan ra về, rồi cùng với Nguyễn Kim Thanh phò tá Lê Duy Cự là con cháu nhà Lê khởi nghĩa.

Cao Bá Quát bị bắt đưa về làng Phú Thị xử tử. Hai con trai là Cao Bá Thông và Cao Bá Phùng đều bị chết. Quốc sử không chép như thế mà lại nói ông chết trận! Bị trúng đạn!

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã có phần luận lý liên quan đến đời văn, đời thơ của Nguyễn Du, của Cao Bá Quát:

“Cho nên thi hào Nguyễn Du đã phải dùng VĂN, lấy áng “thiên thu tuyệt diệu từ”(15) để Hóa-giải mọi đắng cay ngấm ngầm, hàn gắn mọi vết thương tận đáy lòng, nhổ bật lên mọi chiếc gai tự tôn cũng như tự ti mặc cảm, mong chặn đứng lại mầm kỳ thị chia rẽ tranh giành…

Nhìn lại khoảng thời gian từ 1820 đến nay, nhiều vị hẳn lắc đầu nghi hoặc: cái ước vọng HÓA-GIẢI của tiên sinh đã đạt được gì cụ thể đâu! Này nhé. Vua Minh Mạng vừa lên ngôi được 6 năm, rồi đến đời vua Tự Đức lại có lần quật khởi thứ hai ở Sơn Tây, Bắc Ninh, thực lực và thanh thế đều đáng lo ngại hơn gấp bội. Chính bậc kỳ tài Cao Bá Quát đã gia nhập “loạn đảng” và bị kết tội “phản thần”, cả nhà cả họ mắc vạ lây, máu lê tràn ngập trên pháp trường rồi cô đọng lại nơi vân điểu”.(16)

Giữa “đời” và “truyện” như hé mở ra hai trục đường, đôi ngả. Ai hiểu sao thì hiểu. Cao Bá Quát có “cách làm” của ông. Kế thế thế giới quan của người đi trước là Nguyễn Du. Ở thời đẳng cấp Cần Vương hoài cổ sắp đã tàn… Cho nên phải “chịu trận” mà Phương Đình Nguyễn Văn Siêu đã nói là: “… cõi trần lưu xấu mà cũng lưu thơm”.

Sau khi Nguyễn Du thọ bệnh và mất, bạn thân là tiến sĩ Phạm Quý Thích hoàn thành bản khắc in Truyện Kiều. Vua Minh Mạng ngự lãm và đổi tên thành tên mới Đoạn trường tân thanh. Không rõ Hoàng thượng có nhuận sắc và châu phê gì thêm không. Về sau, vua Thiệu Trị cũng giận lây. Chính vua Tự Đức lại càng tỏ ý giận dữ hơn khi hay tin khẩn báo về triều việc Cao Bá Quát tham gia khởi nghĩa phò Lê. Họ Cao làm giặc, là nghịch thần phải chịu cái án “tru di tam tộc”. Vua Tự Đức duyệt lại Truyện Kiều. Từ đó hình thành 2 bản: bản kinh và bản phường…

Và từ đó, sử sách cũng đã chép lệch đi tác giả của 2 câu thơ bất hủ ấy là của người đời, của người làm thơ đương thời! Và sự thật như thế nào thì chỉ có trời biết, dân gian biết. Giữa “chuyện” và “truyện” đã có sai lệch tạo thành “nghi án” văn học và khuyết nghi của lịch sử thời cận đại.

Xưa nay, từ cổ chí kim nếu một tiểu phẩm, một danh phẩm nào được cho là có nhiều tác giả khác nhau thì lại càng được nâng cấp giá trị, lại càng được thế gian lưu truyền nhanh chóng và rộng rãi chỉ vì “miệng thế gian như có gang có thép”.

*

Cổ học tinh hoa của Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc có chép chuyện vua nước Sở mất gươm. Nhà vua và triều thần sai quân lính và các quan thừa hành bên dưới đi tìm gươm. Có quan tâu lên Hoàng đế rằng: “Vua nước Sở mất gươm báu thì dân nước Sở được, chớ sức mô mà tốn công, tốn của, sức lực của thần dân đi tìm”. Vua mất, dân được. Vua cũng là dân nước, giao cho dân giữ thì còn và lại bền vững hơn. Mạnh Tử nói: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”.

Tích xưa, việc cũ nó như thế đấy! Ai hiểu sao thì hiểu. Tùy duyên.

28/2/2015
D.T
(SDB16/03-15)

—————
1. Nguyên tác bằng chữ Hán:
山 若 有 神 呼 漢 歲
海 如 生 聖 帖 周 波

2. Đại Nam Chính Biên Liệt truyện, tập 3, quyển 46, Mục II, Quốc sử quán, viện Sử học dịch, Nxb. Thuận Hóa Huế, 1993, tr.511.

3. Phía sau Tam tòa cũ, đường Đinh Công Tráng. Về sau dời về làng An Cựu và làng Vỹ Dạ.

4. Đại Nam Chính Biên Liệt truyện, tập 2, quyển 5, Mục I, Quốc sử quán, viện Sử học dịch, Nxb. Thuận Hóa Huế, 1993, tr.104.

5. Tùng Thiện Vương (1819 – 1870), Ưng Trình và Bửu Dưỡng, Nxb. Sao Mai, Sài Gòn, 1970, tr.72.

6. Chương dân thi thoại, Phan Khôi, Nxb. Đà Nẵng, 1998, tr.90. Tái bản theo bản in năm 1936.

7. Việt Nam ca trù biên khảo, Đỗ Bằng Đoàn, Đỗ Trọng Huề, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, tái bản, 1994, tr.635 – 636. Bản đầu tiên in năm 1962 do Đại học Vạn Hạnh phát hành.

8. Văn hóa tập san, số 3, 1973, bài “Cái chết bi hùng của Thánh Quát”, Lê Xuân Giáo, Nxb. Nha Văn hóa, bộ QGGD và TN, Sài Gòn, 1973, tr. 72. Ông Giáo là học trò Tiến sĩ Nguyễn Mai (mất năm 1954) cháu của Nguyễn Du.

9. Văn hóa tập san, số 2 – 3 (năm 1969), bài “Một niềm tin”, Vũ Hoàng Chương, Nxb. Nha Văn hóa, phủ Quốc vụ khanh đặc trách Văn Hóa, Sài Gòn, 1969, tr.31. Đây là bài diễn thuyết sáng giá nhân kỷ niệm 149 năm ngày mất của Nguyễn Du.

10. Văn hóa tập san, Số 3, 1973, Sđd, bài đã dẫn, tr.70 – 71.

11. Văn hóa tập san, Số 3, 1973, Sđd, tr.68.

12. Đại Nam Chính Biên Liệt truyện, tập 4, quyển 20, Truyện các quan, Mục XVII. Quốc sử quán, viện Sử học dịch, Nxb. Thuận Hóa Huế, 1993, tr.335 – 336.

13. Nguyễn Du và Truyện Kiều, Nguyễn Bách Khoa, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 1951, tr.123.

14. Văn hóa tập san, Số 3, 1973, Sđd, bài đã dẫn, tr.76.

15. Áng “thiên thu tuyệt diệu từ” hàm ý chỉ Truyện Kiều. Cụ Tú tài Phan Thạch Sơ có thơ đề Kiều như sau:

Hữu minh nhất đại vô song kỹ
Đại Việt thiên thu tuyệt diệu từ

Nguyễn Bách Khoa trong tác phẩm Nguyễn Du và Truyện Kiều dịch:

Cô đĩ không hai ở trong đời nhà Hữu Minh
Lời văn rất hay để lại nghìn năm nước Đại Việt

16. Văn hóa tập san, Số 2 – 3, 1969, Sđd, tr.76

( Nguồn: TC Sông Hương )

 

8 phụ nữ khỏa thân trong nghệ thuật đẹp nhất mọi thời

phụ nữ khỏa thân, nghệ thuật hội họa, nữ quyền, vẻ đẹp cổ điển, thần vệ nữ

Hình tượng phụ nữ khỏa thân luôn là vẻ đẹp khiến thiên hạ từ trước đến nay mê mẩn, thậm chí là nguồn cơn cảm hứng và khuấy động nhiều nỗi giận dữ khác.

phụ nữ khỏa thân, nghệ thuật hội họa, nữ quyền, vẻ đẹp cổ điển, thần vệ nữ

Tác phẩm Vệ nữ Urbino (The Venus of Urbino) của Tiziano – sưu tập của dòng họ Medici, nay được lưu giữ tại Galleria Degli Uffizi (TP Florence, Italy) từ năm 1736.

Được vẽ năm 1538, Vệ nữ Urbino của Tiziano được xem là một trong những bức tranh xuất sắc của nghệ thuật Phục hưng Italy, khắc họa rõ tính chất đời thực trong hội họa thế kỷ XVI.
Nàng Vệ nữ – nhân vật bước ra từ thần thoại Hy Lạp – biểu tượng cho sắc đẹp, tình yêu và sự trù phú, đang nằm ở tư thế ngả người duỗi theo chiều dài của bức tranh, phô diễn mọi vẻ đẹp thanh tân của các nàng. Sự quyến rũ của nàng Vệ nữ ở còn được nhắc đến nhiều hơn bởi bàn tay che đi một phần cơ thể. Nó vừa như khơi gợi đến nhục dục, dư vị của tình yêu, cội nguồn cho mọi sự hờn ghen, vừa như bị chặn lại trong cái vẻ thánh thiện của biểu tượng thánh thần ở một ranh giới hết sức mong manh của xúc cảm.

2. Nhiếp ảnh gia Juergen Teller – Ảnh Vivienne Westwood (2013)

phụ nữ khỏa thân, nghệ thuật hội họa, nữ quyền, vẻ đẹp cổ điển, thần vệ nữ

Vivienne Westwood No 3.

Nhiếp ảnh gia Juergen Teller nổi tiếng với phong cách ảnh thừa sáng và không chỉnh sửa ảnh. Hầu hết các tác phẩm của anh đều đầy màu sắc, điển hình là các chiến dịch quảng cáo sản phẩm của Marc Jacobs.
Trong bộ ảnh quảng cáo xuân/hè 2009 của thương hiệu thời trang Anh quốc Vivienne Westwood, nhà thiết kế Vivienne Westwood nổi tiếng với phong cách thời trang ấn tượng lạ mắt, xuất hiện khỏa thân trong một bức hình do Juergen Teller chụp có tên Vivienne Westwood No 3.
Ranh giới giữa những thông lệ của nhiếp ảnh, thời trang, nghệ thuật khỏa thân bị Vivienne Westwood, trong độ tuổi 70, xóa nhòa theo từng suy nghĩ khác nhau của người xem ảnh, theo tờ Guardian.

3. Danh họa François Boucher – Bức họa Louise O’Murphy (1752)

phụ nữ khỏa thân, nghệ thuật hội họa, nữ quyền, vẻ đẹp cổ điển, thần vệ nữ

Louise O’Murphy

Trong bức họa Louise O’Murphy, tình nhân của vua Pháp đang khoe trọn khuôn người phía sau cô. Đặt trong bối cảnh thời kỳ Khai sáng ở châu Âu, bức họa không đơn thuần là một bức tranh khỏa thân, mà nhân vật chính khêu gợi một cách có chủ đích.
Nghệ thuật khỏa thân truyền thống Hy Lạp đôi khi bị nhầm lẫn với việc theo đuổi vẻ đẹp cổ điển; Nhưng trên thực tế, danh họa Boucher và mẫu vẽ của ông đã khẳng định, thứ nghệ thuật đó phải luôn luôn và luôn luôn gợi nhắc về dục tính.

4. Danh họa Ingres – Bức họa La Grande Odalisque (1814)

phụ nữ khỏa thân, nghệ thuật hội họa, nữ quyền, vẻ đẹp cổ điển, thần vệ nữ

La Grande Odalisque

Tranh sơn dầu La Grande Odalisque của họa sĩ Jean Auguste Dominique Ingres, vẽ năm 1814, được đánh giá là “bức họa sống động hơn cả ảnh chụp”. Bức tranh vẽ một vị cung phi với những chi tiết thon dài có chủ ý của họa sĩ. Nhiều người đương thời cho rằng họa sĩ Ingres đã miêu tả một nàng cung phi có hình thể thiếu tính hiện thực trong giải phẫu. Bức tranh đã gặp phải nhiều chỉ trích trong lần ra mắt đầu tiên.
Họa sĩ Ingres được xem là họa sĩ bậc thầy về chân dung, về cảnh phụ nữ tắm và về các thị tì Thổ Nhĩ Kỳ. Hai tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là La grande baigneuse và La grande odalisque.

5. Nhóm “Guerrilla Girls” – Tác phẩm “Do woman have to be naked to get into the Met Museum” (1989)

phụ nữ khỏa thân, nghệ thuật hội họa, nữ quyền, vẻ đẹp cổ điển, thần vệ nữ
Nữ giới phải khỏa thân mới được vào viện bảo tàng


Không đơn thuần nói đến tính nữ trong nghệ thuật, nhóm nữ du kích Guerrilla Girls còn nhấn mạnh đến tính nữ quyền trong nghệ thuật bởi theo họ, một số đặc tính nào đó, như dịu dàng, mềm mại, hay tinh tế, tức những đặc tính thường được quy cho nữ giới, là điều gì không có thực. Họ từng viết cuốn “sách hướng dẫn gối đầu giường về lịch sử nghệ thuật phương Tây của các nữ du kích” (The guerrilla girls’ bedside companion to the History of Western Art) , yêu cầu phải đưa thêm các nghệ sĩ nữ vào lịch sử nghệ thuật.Riêng với bức Nữ giới phải khỏa thân thì mới được vào bảo tàng? (Do woman have to be naked to get into the Met Museum?), nhóm nữ nghệ sĩ đặt một cái đầu tinh tinh lên cô gái trong tranh của họa sĩ Ingres. Tác phẩm nhắc đến một thực tế rằng, số lượng nữ nghệ sĩ nổi tiếng trong nghệ thuật chỉ có 5%, trong khi đó, số mẫu khỏa thân cao đến 85%. Phải chăng khỏa thân là công cụ ép buộc? Ngày nay, nhìn tranh khỏa thân, người ta khó thể lờ đi câu hỏi này.6. Danh họa Pablo Picasso – Bức tranh “Nude, Green Leaves and Bust” (1932)

phụ nữ khỏa thân, nghệ thuật hội họa, nữ quyền, vẻ đẹp cổ điển, thần vệ nữ
Nude, Green Leaves and Bust
Bức tranh Nude, Green Leaves and Bust được danh họa Picasso hoàn thành vào năm 1932. Vào tháng 5/2010, tại nhà đấu giá Christie’s New York, một tỷ phú giấu tên đã chi 106.5 triệu USD mua bức họa. Bức tranh trở thành tác phẩm đắt giá thứ 2 từng được mua lại của vị họa sĩ Tây Ban Nha này.
Bức tranh hiển hiện tình yêu của Picasso dành cho tình nhân của ông thông qua việc danh họa đặt mọi yếu tố cảm xúc về tình dục vào từng phần của bức tranh. Nếu nói Picasso đánh đồng nghệ thuật khỏa thân với tính sở hữu, điều đó cũng là hoàn toàn đúng và trung thực.

7. Danh họa Sandro Botticelli – Bức tranh “The Birth of Venus”

phụ nữ khỏa thân, nghệ thuật hội họa, nữ quyền, vẻ đẹp cổ điển, thần vệ nữ

The Birth of Venus

Sandro Botticelli là một họa sĩ thiên tài người Italy vào thời kỳ tiền Phục Hưng. Trong thần thoại Hy Lạp, thần Vệ Nữ được sinh ra từ bọt biển, và sự ra đời của thần Vệ Nữ trở thành một đề tài lớn trong hội họa, trong đó có những bức tranh rất nổi tiếng của Cabanel, Bouguereau hay Amaury Duval. Tuy vậy, bức tranh của Botticelli vẫn được công nhận rộng rãi là tác phẩm hoàn hảo và kinh điển nhất.
Trong tranh, thần Vệ Nữ được miêu tả có mái tóc mây vàng rực rỡ, làn da trắng muốt, gương mặt thánh thiện và làn môi mọng.
Người mẫu của bức họa được cho là Simonetta Cataneo Vespucco – người được Giuliano di Piero de Medici, cháu trai của dòng họ Medici danh giá ở Florence – đem lòng yêu say đắm. Thế nhưng, danh họa Sandro Botticelli cũng không tránh khỏi rung động trước vẻ đẹp kiều diễm của nàng Simonetta. Mối tình tay ba giữa người nghệ sĩ tài hoa và nhà quý tộc với một thiếu nữ có sắc đẹp khuynh thành đã được dân chúng thêu dệt bao điều ly kỳ và chính vì thế mà những bức họa Sandro Botticelli vẽ Simonetta càng trở nên nổi tiếng.

8. Danh họa Diego Velázquez – Bức tranh The Rokeby Venus (1647-51)

phụ nữ khỏa thân, nghệ thuật hội họa, nữ quyền, vẻ đẹp cổ điển, thần vệ nữ

The Rokeby Venus

Năm 1914, Mary Richardson, một trong những phụ nữ đòi quyền bầu cử đầu tiên đã cào xước sáng tạo của họa sỹ người Tây ban Nha (1647-1951) ở bảo tàng tranh Quốc gia London. Bà ta rạch nó tới bảy lần, sau này tranh được phục chế thành công bởi giám đốc nhóm chuyên phục chế của bảo tàng tranh.
Người phụ nữ này sau đó giải thích hành động của mình là để phản đối vụ bắt giữ lãnh đạo nhóm phụ nữ đòi quyền bầu cử Emmeline Pankhurst hôm trước đó.
“Tôi đã cố phá hỏng bức tranh về người đàn bà đẹp nhất trong lịch sử thần thoại để phản đối việc chính quyền phá hoại cuộc đời bà Pankhurst, người có tính cách đẹp nhất lịch sử hiện đại,” bà nói trong một lần phát biểu trên báo. Trong một cuộc phỏng vấn, bà nói lúc đó bà thấy ghét cách bức tranh miêu tả những cái nhìn thô tục hàng ngày của bọn đàn ông khi nhìn chằm chằm vào thần Vệ Nữ khỏa thân trong tranh.
Theo Gafin.vn

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 14.04.2015

Ngẫu hứng Trần Tiến 14

Ngẫu hứng Trần Tiến 14

  Lập à,

Thằng Khanh “khú” mấy ngày nay chẳng thèm phôn. Anh sợ nó bệnh hoặc giận anh, chán anh. Không, nó chở vợ con đi chơi, nhân ngày lễ. Nó điện lại phân trần. Anh bảo: chứ còn gì nữa! Gia đình là một thứ thảo dược mát nhất, đắt nhất trên đời.

Đừng  quên Lập nhé, cái thằng suốt đời rượu đưa lên mây kia! Không có gia đình mày chết lâu rồi. Rượu thì hỏa, khát vọng là hỏa, không nóng, sao lại khát…vọng. Gia đình giữ ta  lại để sống như mọi sinh vật đấy, em giai.
Vài nghệ sỹ bạn anh chết sớm cũng còn một lý do, không vợ con. Nhưng kinh hãi nhất là không bạn bè, không người thân, không có ai trên đời. Chỉ là vì họ không phải là người bạn sẽ nhớ đến lúc cô đơn nhất. Mặc dù họ là bạn bè, là người thân. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 13.04.2015

Gia Hội sau những dặm đường

 

Để hiểu Huế hơn:

Gia Hội sau những dặm đường

  Mai Khắc Ứng

( Bài gửi cho QTXM từ Canada)

  “Đổi tên cầu An Hội làm cầu Gia Hội, lập chợ Gia Hội, xây dựng phố dài. Vua nghĩ một dải phố bờ phía đông sông tả hộ thành, dân cư xen lẫn nhà gianh,thuờng bị nạn cháy, bèn sai thự Thống chế Hữu dực quân Vu lâm là Lê VănThảo coi đem biền binh làm nhà ở chợ Gia Hội lợp bằng ngói (89 gian), mặt truớc chợ ra đến sông làm một cái đinh gọi là đình Quy Giả, đinh làm 2 tầng, lại từ phía bắc cầu Gia Hội đến chỗ ngang với góc đai Trấn Bình làm lên phố dài gọi là phố Gia Hội, Đông Ba, Đông Hội (Tất cả 399 gian, dài suốt 319 trượng, dân xin làm lại 147 gian, Nhà nuớc làm 252 gian, đều cột bằng gạch, xây bằng vôi, mặt truớc làm cửa ngõ, cứ 3 gian ngăn bằng tuờng gạch, mặt sau xây gạch, vách mở cửa cuốn, sau vách để trống 5 thuớc làm đuờng nhỏ, từ phía bắc cầu Gia Hội đến phía nam cầu Đông Ba gọi là phố Gia Hội, từ phía bắc cầu Đông Ba đến phía nam cầu Thế Lại gọi là phố Đông Ba, từ phía bắc cầu Thế Lại đến chỗ ngang với góc đai Trấn Ninh gọi là phố Đông Hội, bờ sông xây kè đá, lan can xây bằng gạch để ngăn chấn).

  Cho dân thuờng tự làm nhà thì không phải đóng thuế địa tô, nhà của Nhà nuớc làm mà dân muốn ở thì mỗi gian mỗi năm nộp tiền 20 quan, nhận đủ 120 quan thì đuợc nhận làm của riêng, tiền ấy do phủ Thừa Thiên thu giữ, để phòng chẩn cấp cho dân nghèo và chi phí việc sửa sang cầu cống, đuờng sá. Quan phủ Thừa Thiên lại xin ở 2 tầng trên, duới đinh Quy Giả nhu gặp khi có xe vua di qua đều đặt hương án, treo cờ đỏ để đón và tiễn theo như lễ nghi. (Các phố Gia Hội, Đông Ba, Đông Hội cung thế). Còn ngày thuờng ngồi từng hàng và lên đấy ngoạn cảnh thì không cấm. Các nguời bày hàng ở phố chợ thì chia ra từng hạng đánh thuế (hằng năm 1.286 quan tiền) cùng với tiền nhà ở phố phải nộp (30.240 quan tiền) sung cấp cho dinh vệ các quân để chi phí việc công nhu.

  Vua nói rằng: làm ra phố chợ, cốt đề phòng hỏa hoạn, tiện cho dân ở, nguyên không thèm tính toán tiền thuê, duy nhân dân có lợi đuợc ở, mà biền binh phải làm rất là khó nhọc.Vả lại dinh vệ các quan thuờng năm theo lệ có cấp tiền công nhu, nay các nhà ở phố chợ, số tiền phải nộp xem ra nhiều, nên lấy số tiền ấy cấp thêm cho một nửa, cho đuợc cùng huởng lợi ấy. Vậy cho bộ Hộ châm chuớc bàn định thi hành (Các đội Túc trực, Truờng trực, Thuờng trực vệ Cẩm y; 10 vệ 2 dịch tả hữu quân Vu lâm; các dinh Thần co, Tiền phong, Long võ, Hổ uy, Hùng nhuệ, mỗi dinh 10 vệ; 6 vệ trung bảo nhất nhị, Tiền bảo nhất nhị, Hậu bảo nhất nhị; 15 vệ 3 dinh Thủy su; mỗi vệ mỗi năm cấp cho 200 quan tiền. Vệ Long Thuyền, 4 vệ Kỳ võ, mỗi vệ cấp cho 150 quan tiền, 3 vệ kinh tuợng nhất nhị tam, 2 vệ Phi kỵ, Khinh kỵ viện Thuợng tứ và vệ Võng thành, mỗi vệ đều 100 quan tiền, 5 đội vệ giám thành; 4 đội Dực võ ty kỳ cổ, 3 đội Trấn phủ; 3 đội thự Hòa thành; 7 đội ty Lý thiện; 2 đội Dực thắng; 5 đội Dực hòa; 2 đội Dực hùng, 3 đội Dực cuờng; 4 đội Dực vinh; 2 đội Dực oai; 4 đội Dực thịnh; 4 đội Dực chấn; 2 đội Dực tín; 4 đội Dực mỹ; mỗi đội ty đều 10 quan). Rồi cho 3 phố Gia Hội, Đông Ba, Đông Hội đều lấy tên hàng gọi là 3 hàng ở phía đông thành. Lại từ chợ Gia Hội thẳng đến hạ ấp chợ Doanh (Dinh) chia đặt làm 8 hàng, tên hiệu riêng biệt, gọi là 8 hàng dọc sông (Gia Thái hàng, Hòa Mỹ hàng, Phong Lạc hàng, Doanh Ninh hàng, Hội Hòa hàng, Mỹ Hung hàng, Thụy Lạc hàng, Tam Đăng hàng, dài suốt hon 452 truợng),các hàng đều có biển ngạch (viết rõ tên hàng nhu các chữ Gia Hội hàng v.v…) đặt một nguời hàng truởng, để truyền bảo công việc cho nhanh” (Đại Nam Thực Lục, tập 5, nhà xuất bản Giáo dục, 2007, trang 100­101)

  Sở di tôi chép hết nội dung nói về việc đổi tên cầu và xây dựng 3 phố, 8 hàng trên phần đất còn lại của tổng Phú Xuân sau khi hoàn tất công việc xây dựng Kinh thành Huế, bởi sự quan tâm đặc biệt của nhà vua Nguyễn Thánh Tổ vừa đổi tên cầu vừa xây dựng phố xá ở đây duờng nhu đuợc uu đãi hon. Vì sao lại có đặc ân nhu thế? Tổng Phú Xuân vốn là làng Thụy Lôi truớc năm 1558. Sau 30 năm xây dựng (1803­ 1832), một nửa Phú Xuân đa là Kinh đô nguy nga tráng lệ. Lẽ nào lại bỏ roi nửa Phú Xuân còn lại. Bởi vậy An Hội mới nên Gia Hội cầu, Gia Hội phố, Gia Thái hàng.

  Gia Hội có mối liên hệ gì với Gia Long, Gia Định, Gia Miêu, Gia Viễn hay không, chỉ có nhà vua cho mở mang xây dựng Gia Hội mới biết. Nhung Nguời đã về cõi vinh hằng ngót 2 thế kỷ không để lại một lời di huấn nào mà tư liệu lịch sử thì tuyệt nhiên không luu ý. Thế nhung với tôi, Gia Viễn, Gia Miêu, Gia Định, Gia Long, Gia Hội … như đã làm nên những cung đuờng để lại từng mốc quá khứ kiên nhẫn, bền bỉ, thủy chung, rất đỗi tự hào.

  Năm Minh Mạng thứ 18 (1837) quả là một năm đáng ghi nhớ. Phải chăng sau 18 năm Gia Long với 18 năm đầu thời Minh Mạng, Vuong triều Nguyễn từng buớc xây dựng và củng cố nền thống nhất quốc gia đa đạt đuợc những thành tựu mong muốn. Bởi vậy, ngay từ tháng Giêng đầu năm, nhà vua thứ 2 Vuong triều Nguyễn đã cho xây dựng điện và miếu Phụng Tiên mới với quy mô 9 gian nhu Thế Tổ miếu để thờ Thánh vị dòng họ mình đồng thời định vị Cửu đỉnh vừa hoàn công. Tháng 2 tiếp theo, cho tổ chức lễ mừng thọ “thất tuần đại khánh” Hoàng Thái Hậu. Tháng 5 đổi cầu An Hội thành Gia Hội đồng thời cho xây dựng phố xá nguy nga nhu đã trích dẫn. Với trình tự, nhịp nhàng vừa nêu cho ta nhận biết ý tuởng, chủ truong các công việc trên không ngẫu hứng mà thực sự thể hiện tu duy nhất quán trãi qua nhiều thế hệ.

  Gia Hội đuợc định danh cùng năm với điện Phụng Tiên, Cửu đỉnh nhu là một hình thức báo tiệp. Gia Hội, Đông Ba, Đông Hội nay là đuờng Bạch Đằng. Gia Thái, Hòa Mỹ, Phong Lạc, Doanh Ninh, Hội Hòa, Mỹ Hung, Thụy Lạc, Tam Đăng nay là đuờng Chi Lăng.

  Đuờng Bạch Đằng nằm theo huớng bắc – nam. Đuờng Chi Lăng nằm theo huớng đông – tây. Hai con đuờng này giao nhau đầu cầu Gia Hội gợi nên trục tung và trục hoành của sự mãn nguyện hoàn thành công đức và cung là phương huớng phát triển bền vững của non sông.

  Và, một điều nếu chúng ta luu ý chắc sẽ nhận ra là Gia Hội nằm về phía “Tả Thanh long” tức phía trái kinh đô Huế duờng nhu dành riêng cho “nội thân, nội thích”. Vạn Xuân, Kim Long nằm về phía “Hữu Bạch hổ” tức bên phải kinh đô Huế có lẽ dành riêng cho “ngoại thân, ngoại thích”. Bởi vậy phủ các ông Hoàng phần nhiều tọa lạc trên đất Gia Hội. Phủ các bà chúa và họ ngoại thuờng tọa lạc trên đất Kim Long. Hoàn tất công việc kiến thiết kinh đô, xây dựng thành quách các tỉnh xung yếu, lập pháo đài bảo vệ biên cương, biển đảo, cải cách hành chính và tổng điều tra lập sổ bộ và địa bạ các tỉnh Nam Kỳ và nam Trung Kỳ. Đến năm Minh Mạng thứ 18 (1637) đất nuớc thực sự đạt đến đỉnh cao của thời cực thịnh. Từ sự hưng phấn đó, sang năm Minh Mạng thứ 19 (1838) nhà vua Nguyễn Thánh Tổ đa cho đổi Quốc hiệu Việt Nam thành Đại Nam.

  Năm 1992, sau một thời gian dài băn khoăn với những ô chữ khắc theo phong cách “nhất thi nhất họa” trên các dải liên ba, cổ diềm nội, ngoại thất các công trình kiến trúc chính ở Hiếu lăng, tôi mày mò và cuối cùng đã phát hiện ra phuong pháp bố cục các ô chữ trên kiến trúc Nguyễn giống như cách treo câu đối ở nhà thờ họ của ông nội tôi nên đã ghép đuợc trên 120 bài tho thất ngôn và ngũ ngôn tứ tuyệt.Trong số đó có một bài nội dung nói về phố xá. Vì non kém nên khi ghép 4 ô thuộc loại ngũ ngôn trong bốn bản liên ba tại tầng trên Minh Lâu cứ nghĩ là thơ hư cấu tuởng tuợng nên cảm thấy băn khoăn ngỡ ngàng rồi tự hỏi: đầu thế kỷ XIX Kinh đô Huế đa có phố xá rồi ư? Đã có “Tỉ ốc vạn nhân gia” rồi ư? Đọc kỹ mẫu ghi chép về “Đổi tên cầu An Hội…” trong Đại Nam Thực Lục mới biết là mình phạm tội khi quân. Một đuờng phố xây gạch lợp ngói dài 319 truợng bên bờ hữu ngạn sông Đông Gia (nay là Đông Ba) chính là linh hồn, là “nguyên liệu” thực sự của tứ thơ trên: Thông cù bách hóa tập / Tỉ ốc vạn nhân gia./ Thủy ảnh chiếu song thuợng,/ Son quang nhập hạm tà.

Dịch thơ:

Đường thông hàng hội tụ,

Nhà mọc mái đua chen.

Bóng nước soi song cửa,

Ánh núi lùa tận hiên.

(Nguyễn Trọng Tạo dịch)

  Thế kỷ XIX cáo chung, văn minh phuong tây tràn vào nuớc ta theo chế độ thuộc địa. Tư tuởng chống ngoại xâm bảo tồn nền độc lập tự chủ trong lòng con dân đất nuớc càng ngày càng chín. 3 phố Gia Hội, Đông Ba, Đông Hội đuợc mang tên Bạch Đằng, 8 hàng nằm dọc đuờng Gia Hội ­ chợ Dinh đuợc mang tên Chi lăng như nhắc nhở về kẻ thù truyền kiếp và chiến công giữ nuớc vĩ đại của cha ông để cháu con ghi nhớ. Giữa hai con đuờng mà tôi tuởng tuợng nên hai trục tung và hoành ấy là các đuờng Tô Hiến Thành, Nguyễn Du, Mạc Đỉnh Chi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Huong, Cao Bá Quát…

  Ai đa có dụng tâm “thỉnh” các vị danh nhân văn hóa tiêu biểu về mảnh đất vốn là Thụy Lôi đa nên Phú Xuân để thành Gia Hội này? Xin kính cẩn nghiêng mình truớc anh linh của một con nguời mà tâm hồn chan chứa nhân văn đất Việt để muôn năm kính phục! Nếu Gia Hội với nhà vua Nguyễn Thánh Tổ là sự hồi cố những cung đuờng mà họ Nguyễn đã đi trên dặm dài mở nuớc thì Bạch Đằng, Chi Lăng mãi mãi nhắc nhở mọi nguời hãy nuôi trong lòng mình tình yêu non sông nồng nàn quả cảm như cha ông mình đã từng trãi qua. Và, nhờ những chiến công lẫm liệt oai hùng như thế nguời Việt mới sánh vai với bè bạn 5 châu không chút tự ti. Nguyễn Du, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Huong, Cao Bá Quát là gì nếu không coi đó là niềm tự hào dân tộc.

  Các thế hệ cầm quyền về sau “giá nhu biết ý nguời xua”, hiểu đuợc tấm lòng nguời xua dành cho Gia Hội trọn vẹn các con đuờng Danh nhân Văn hóa thì 3 phuờng Phú Cát, Phú Hiệp, Phú Hậu mãi mãi là noi hội tụ tao nhân mặc khách tiêu biểu nhất và sẽ là địa danh đặc sắc nhất của đất nuớc. Có lẽ đến một lúc nào đó, nguời ta biết sẻ chia để có sự sắp xếp lại thì sau Tô Hiến Thành có Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, bên cạnh Cao Bá Quát còn có Nguyễn Văn Siêu, Tùng Thiện vuong, Tuy Lý vuong, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Thuợng Hiền…

  Gía như rồi sẽ thế, Gia Hội thành một vùng địa nhân văn với “Tao Đàn” với “Thi Xã” thì trên đất nuớc này, trên hành tinh này quả là “chẳng noi nào có đuợc”.

  Hẹn với mai sau “Huế Đẹp, Huế Thơ” sẽ nên điều đó.

( Tác giả gửi cho QTXM)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 13.04.2015

Cuộc gặp lịch sử Hoa Kỳ – Cuba

Cuộc gặp lịch sử Hoa Kỳ – Cuba

  BBC

11-04-2015

Tổng thống Barack Obama và Chủ tịch Cuba Raul Castro đã lần đầu tiên đối thoại chính thức sau suốt nửa thế kỷ, trong cuộc gặp bên lề Hội nghị Thượng đỉnh các nước châu Mỹ.

Ông Obama gọi cuộc gặp lịch sử nhằm khép lại khoảng cách Cuba – Hoa Kỳ là “thẳng thắn và có kết quả”.

Đây là cuộc gặp gỡ đầy đủ đầu tiên kể từ khi mối quan hệ có dấu hiệu tan băng hồi tháng 12/2014.

Ông Castro kêu gọi Hoa Kỳ gỡ bỏ cấm vận kinh tế áp đặt lên Cuba từ năm 1959.

Vấn đề nhạy cảm

Tổng thống Obama nói giờ là lúc “thử điều gì đó mới” và việc Hoa Kỳ tham gia trực tiếp hơn với chính phủ Cuba cũng như với người dân Cuba là điều quan trọng.

Ông nói thêm, qua thời gian những chia rẽ cũ sẽ được bỏ lại nhưng ông biết rằng vẫn còn nhiều khác biệt lớn giữa hai nước.

“Chúng tôi cũng kết luận rằng chúng tôi vẫn có thể bất đồng nhưng dựa trên tinh thần tôn trọng và phép lịch sự.”

Ông Obama nói những việc có thể thực hiện ngay gồm bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa hai nước và mở tòa đại sứ của Hoa Kỳ tại Havana, và ngược lại, tòa đại sứ Cuba ở Washington DC.

Chủ tịch Castro nói ông đã sẵn sàng đàm phán về những vấn đề nhạy cảm, tuy vẫn cần kiên nhẫn.

“Chúng tôi sẵn sàng tiến hành theo cách mà ngài tổng thống đã nêu ra,” ông nói.

Lãnh đạo các quốc gia Mỹ Latinh và vùng Caribbean bày tỏ hoan nghênh sự kiện hòa giải này trong hội nghị tại Panama.

Phóng viên BBC News, Vanessa Buschchluter, từ thành phố Panama phân tích:

Hội nghị thượng đỉnh năm nay đã luôn tập trung vào mối quan hệ giữa Tổng thống Obama và Raul Castro.

Tòa Bạch Ốc đã có chỉ dấu cho thấy họ quan tâm tới cuộc gặp riêng mặc dù lúc đó chưa có lịch trình chính thức.

Cuối cùng, cuộc họp diễn ra trong căn phòng nhỏ bình thường ở trung tâm hội nghị Panama City.

Hai vị lãnh đạo trông không thực sự thoải mái, ngồi trên những chiếc ghế nhỏ, được xếp hơi quay về phía nhau, nhưng cách họ nói thì khá thân mật.

Ông Obama gọi cuộc gặp là “lịch sử” còn ông Castro nói sẽ tiếp tục thực hiện các bước nhằm bình thường hóa quan hệ giữa hai nước cựu thù.

Cuộc gặp mang thuần tính biểu tượng, chưa có quyết định nào được đưa ra.

Tuy nhiên thông điệp rất rõ ràng: chúng tôi khác biệt nhưng chúng tôi vẫn có thể làm ăn với nhau.

Trước đó, lãnh đạo Cuba gọi ông Obama là “người trung thực” sau một diễn văn dài chủ yếu nói về lịch sử quan hệ Hoa Kỳ – Cuba.

“Khi tôi nói về cuộc cách mạng, niềm đam mê của tôi phần nào lộ ra,” lãnh đạo Cuba nói.

“Tôi phải xin Tổng thống Obama lượng thứ. Ông không chịu trách nhiệm trước những gì diễn ra trước thời ông ấy.”

Phát biểu trước các lãnh đạo cao cấp khác, ông Obama nói: “Bước tiến này trong chính sách của Hoa Kỳ cho thấy bước ngoặt đối với cả khu vực của chúng ta.”

Hoa Kỳ cắt đứt quan hệ ngoại giao với Cuba vào năm 1959, sau khi ông Fidel Castro và em trai Raul dẫn dắt cuộc cách mạng lật đổ Tổng thống Fulgencio Batista do Mỹ ủng hộ.

Gia đình Castro từ đó thiết lập nhà nước xã hội cách mạng, quan hệ thân cận với Liên Xô.

Hội nghị Thượng đỉnh các nước châu Mỹ gồm lãnh đạo các quốc gia Bắc, Trung và Nam Mỹ. Hội nghị lần thứ 7 này cũng là dịp đầu tiên có Cuba tham dự.

Những nỗ lực cải thiện quan hệ giữa Hoa Kỳ và Cuba bắt đầu từ tháng 12/2014 khi ông Obama tuyên bố cách tiếp cận của Washington “đã lỗi thời”

( Nguồn: BBC)

 

Older Posts »

Danh mục