Đăng bởi: Ngô Minh | 30.06.2015

CHÙM THƠ MAI VĂN HOAN

MVH viéng mộ Đại tướng

CHÙM THƠ MAI VĂN HOAN

 QTXM: Mai Văn Hoan là nhà thơ của phái đẹp. Anh làm thơ tặng người đẹp mà nên danh. Có người đẹp anh tặng cả tập thơ. Ấy là những người đẹp đương thời. Anh còn làm thơ tặng những người đẹp mà bóng còn trong lịch sử để nói chuyện ân oán thế thời. Bài thơ TRƯỚC MỘ ĐẠI TƯỚNG là cảm thức về đất nước và thế thái nhân tình của thi nhân trước mộ của Thánh Giáp. QTXM xin giới thiệu chùm “thơ tình thế sự” mới của nhà thơ Mai Văn Hoan

GỬI MỊ NƯƠNG

 Mị nương ơi! Nàng có thấu cho chăng?

Bởi yêu nàng, ta thành người trọng tội

Không lấy được nàng khiến ta tức tối

Ta điên cuồng dâng nước đánh Sơn Tinh.

 

Giờ ngẫm ra: Thần Núi cũng như mình

Đều giống đàn ông, đều mê gái đẹp…

Ta cùng chàng thi nhau hóa phép

Sơn Tinh với ta thật cân sức, cân tài

 

Cha nàng phân vân không biết chọn ai

Bèn bày đặt cái trò dâng sính lễ

– Ai dâng sớm, trẫm sẽ gả con gái cho (ngài phán thế)

Nào voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao!

 

Ta là Thần Sông biết tìm những thứ ấy ở đâu?

Voi, ngựa, gà thì Sơn Tinh có sẵn

Lẽ ra ta phải xông thẳng vào cha nàng mà đánh

Bởi sự bất minh của đấng quân vương

 

Nếu Thần Núi thi phú hơn ta, ta sẽ chịu nhường

Đòi sính lễ – chính cha nàng là người đầu tiên tạo ra thói xấu

Bao kẻ lót luồn: ngọc, vàng, châu báu…

Thiên hạ đua nhau chạy chức, chạy quyền

Sự bất minh của cha nàng làm vận nước bất yên

 

Bao làng quê vì cơn giận của ta mà tan hoang nhà cửa…

Ta – tất nhiên bị người đời nguyền rủa

Nhưng sao sự bất minh của cha nàng không ai dám hé răng?

Nỗi niềm này, nàng có thấu cho chăng? (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 30.06.2015

HOÀNG ĐẾ VÀ THI NHÂN

Tượng Nguyễn Du

NHÂN ĐẠI HỘI NHÀ VĂN IX:

HOÀNG ĐẾ VÀ THI NHÂN

Nguyễn Thế Quang

 QTXM: Tiểu thuyết NGUYỄN DU của nhà văn Nguyễn Thế Quang NXB Hội Nhà Văn 2010, năm 2012, NXb trẻ 2015) đã tái bảnNguyễn Du là thi hào bậc nhất của Thi ca Việt Nam. Là tôi trung của nhà Lê, bất đắc dĩ phải làm quan dưới ách cai trị của chế độ quân chủ độc quyền nhà Nguyễn, Tố Như biết sống, biết hy sinh để làm nên những vần thơ chữ Hán trác tuyệt và Truyện Kiều bất hủ. Dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, trước bất kỳ uy lực nào, trái tim Thi nhân vẫn trong trẻo, cốt cách con người vẫn cứng cỏi, tiếng thơ vẫn lay động đất trời. Nhân dịp Đại hội lần thứ IX Hội Nhà văn Việt Nam,QTXM xin giới thiệu chương 7 phần IV của tiểu thuyết Nguyễn Du để bạn đọc hiểu thêm thái độ của thi nhân trước uy lực Hoàng Đế . Đầu đề do chúng tôi đặt;

NGUYỄN DU – CHƯƠNG 7

Nguyễn Du đang ngồi trên chiếc chõng tre ở giữa sân. Trăng mười bốn đã lên qua rặng trúc vườn nhà, bầu trời Kinh thành thăm thẳm, muôn vì sao nhấp nhánh như vẫy gọi. Trời đẹp thế này mà không có bạn hiền, Nguyễn cảm thấy trống trải. Lòng lại nhớ non Hồng và cái bát ngát của rừng già, nhớ bạn đi săn ở quê… Đang mải nghĩ, nghe có tiếng chân người qua cổng, Nguyễn nhìn ra và giật mình: một viên thái giám rảo bước tới,liền vội đứng

dậy. Thái giám nói:

– Có khẩu dụ của Hoàng thượng mời quan Tham tri vào cung. Kiệu đã đợi sẵn.

Nguyễn quá ngạc nhiên: sao Hoàng thượng lại gọi ta vào lúc này nhưng  không dám hỏi , vội vào lấy quan phục mặc.  Thái giám giơ tay ngăn lại:

– Không cần. Ngài mặc thường phục là được rồi. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 29.06.2015

NHÀ VĂN VÀ VỢ

NHÀ VĂN VÀ VỢ

Trần Mộng Tú  

(Viết tặng PXĐ)

Anh mở tủ lạnh, tìm chai nước cam. Cánh cửa tủ lạnh vừa mở ra, mấy cái hộp nhựa đựng thức ăn ngay phía ngoài lăn nhoài xuống đất, anh đỡ không kịp. Thức ăn rơi cả xuống chân anh. Anh bực mình, nhặt lên, đóng cánh cửa lại, quên cả là mình đang tính uống một ly nước cam.

Hơn chục năm rồi, từ ngày thôi việc, ở nhà, vợ anh bắt đầu có thói quen tích trữ. Không phải chỉ thức ăn, mà bất cứ cái gì có thể cất đi được là nàng tích trữ. Bắt đầu là quần áo. Anh không biết hiện giờ anh có bao nhiêu cái sơ mi, bao nhiêu cái quần, chưa tháo cái giây tòng teng nhãn hiệu, giá tiền, đang treo trong tủ hay đang ở trong một cái túi nào vứt dưới chân tủ.

Bao giờ nàng mang quần áo về nhà cũng kèm theo một câu: “Hàng hiệu đắt tiền bán còn 1/3 giá, em mua cho anh”.  Anh cũng hưu trí rồi, có đi làm hàng ngày đâu mà cần nhiều quần áo đến như thế. Nhưng không thể nào tranh luận với cái tư tưởng “Càng mua càng tiết kiệm” này. (More you buy, more you save.)

Sau quần áo, là thực phẩm: Gạo, bún, muối, mắm, cá tôm, thịt,v.v. Nghe bạn bè nói chỗ nào tươi, ngon, hàng mới về là nàng chạy ngay đến mua. Đắt một chút cũng được. Tôm, cá, thịt cần tươi ngon. Nàng khênh về đủ cho mười người ăn, nhưng nhà chỉ có hai người. Lo gì, chia ra từng gói nhỏ, cất vào ngăn đá. Tuần sau ăn vẫn còn tươi. Nhưng tuần sau của nàng có thể là tháng sau, năm sau, hay đôi khi là không bao giờ, vì nó bị bỏ quên trong ngăn đá cả năm rồi.

Mua nhiều thực phẩm có nghĩa là sẽ mang về nhà cả trăm cái bao. Nàng giữ hết, không vứt đi một cái bao nào. Bao chợ bằng giấy, bằng plastic, xếp đống từ trong bếp, dưới chân bàn viết của anh, dưới gầm giường. Nàng nói:

–  Đến lúc cần, mới biết. Cứ để đấy cho em.

Anh mới đầu còn cằn nhằn, sau nói mãi không được, đành hàng. Thỉnh thoảng đợi lúc nàng vắng nhà (chuyện này ít khi xẩy ra) anh vứt bớt đi một mớ, nàng về cũng không biết ngay, vì nó chẳng suy chuyển bao nhiêu và độ vài hôm sau những chỗ trống đó sẽ có những cái bao khác nhét ngay vào.

Anh nghĩ, phải chăng đó là căn bệnh trầm kha của một người lúc nào cũng sợ thiếu. Hay là nàng muốn tạo cho mình một thế giới riêng tư mà nàng cho là an toàn nhất. Ăn, mặc vốn là hai thứ thiết yếu của đời sống. Nàng ngủ an giấc khi biết trong tủ có quần áo mặc cho cả bốn mùa, thực phẩm đủ cho cả những cơn động đất, mưa bão đến bất ngờ trong thành phố.

Anh đem chuyện bà vợ lo xa của mình kể cho một chị bạn văn rất thân nghe. Cô ấy ngửa mặt lên trời cười:

–   Anh với chị ấy giống nhau lắm, đừng có than. Điều khác biệt là anh nhìn thấy sự tích trữ của chị ấy mỗi ngày trước mắt, nhưng anh không nhìn thấy những thứ anh tích trữ trong đời sống của anh mỗi ngày.

Anh hùng hổ cãi.

–  Tôi chẳng giữ cái gì cả, ăn thì ăn ít, quần áo nàng mua cho tôi, tôi xếp xó, chẳng màng tới. Đừng bắt tôi ăn thực phẩm đông lạnh và cả ngày đeo cà vạt. Đó không phải là tôi.

Người bạn văn của anh lại cười.

–  Anh không tích trữ hả? Thế vốn liếng đâu mà anh viết mỗi ngày? Anh không giữ thực phẩm, quần áo, nhưng anh tích trữ chữ nghĩa, văn chương, kinh nghiệm sống. Anh đọc sách của người này, đọc thơ của người kia. Anh giữ trong đầu anh những dòng văn, câu thơ từ xa xưa (cái ngăn đá đấy) anh đâu có biết. Anh gặp bao nhiêu chuyện vui buồn trong đời, bộ chúng nó trôi tuột đi hết cả, không lưu lại chút gì trong tâm hồn anh sao? Khi cần đến anh mang ra, xả đá, hâm lại. Phải không?

Anh há miệng, không biết trả lời thế nào, một lúc anh cố cãi:

–  Nhưng tôi không để lung tung, và tôi không cố ý tích trữ.

–  À, cái khác biệt ở chỗ đó. Một người cố ý tích trữ, một người tích trữ mà không biết. Chị biết mình cất đi, đôi khi chị quên, lúc tìm ra thì không dùng được nữa, phải vứt đi. Nhưng anh tích trữ mà không biết, nên anh không bao giờ cho là mình quên và không bao giờ vứt đi cả. Anh tái chế bằng vốn liếng mà anh đã thu nhập từ bao nhiêu nguồn khác nhau từ thế giới này mà anh đâu có hay.

Anh ngây người ra.

–   Thế thì tôi phải làm sao?

–  Chẳng làm sao cả. Khi anh viết văn là anh rút từ kho chứa của anh những điều mà anh cần, cho qua một hệ thống máy lọc là cái khả năng nghệ thuật hóa nơi anh, để biến những nguyên liệu thô ấy thành lời lẽ, du dương mềm mại hoặc sắc sảo gai góc. Mà cũng không hẳn anh hoàn toàn dùng vốn liếng anh đã tích góp được, đôi khi chúng chỉ là cái cớ, vì anh còn một khả năng khác, là sáng tạo. Tuy anh không phải là “đấng sáng tạo” từ cái hoàn toàn không làm thành cái có, nhưng chính từ cái kho chứa phong phú của anh, mà anh tạo ra những điều xem như hoàn toàn mới mẻ, là tác phẩm của anh.

Anh tần ngần, biết là mình có cả ngàn cái cầu vồng, ngàn cơn mưa, ngàn vạt nắng, ngàn hạt giống trong đầu từ bốn phương tám hướng mang tới và tụ lại.

Anh biết anh được hưởng cái ân huệ đó một phần trời cho anh một góc riêng trong tâm hồn để giữ nó lại, dù rất phức tạp thiên hình vạn trạng nhưng vẫn có một trật tự riêng nào đó, khi cần anh vẫn lấy ra dùng không khó khăn; và một góc khác để vun trồng cho nó nở hoa, kết trái, ấy chính là khả năng sáng tác của anh.

Thôi, từ nay anh không cằn nhằn vợ nữa. Cứ để nàng tích trữ những sản phẩm nàng cho là cần thiết của nàng.

Nàng có kho của nàng, anh cũng có kho của riêng anh, của trời chung mà vô tận của mình riêng. Cái “ngăn đá” trong tâm hồn anh hình như sâu hun hút vô tận, mỗi ngày anh vẫn gửi vào đấy bao nhiêu thứ, nó nhận hết, anh không phải thỉnh thoảng phải dọn dẹp loại bỏ bớt thứ này thứ kia. Và do một khả năng kỳ diệu nào đó, mỗi khi anh viết lách cả kho chứa ấy vẫn luôn luôn tiếp tế chất liệu và cả nguồn cảm hứng cho anh.

Kể ra cũng khập khễnh nếu so sánh kho áo quần và thức ăn của vợ anh với cái kho tinh thần của anh. Nhưng ngẫm ra cả hai đều có cái dụng chân chính cả. Nhiều quá hay ít quá hay vừa phải, thật khó biết đâu là tiêu chuẩn chung. Thôi thì vui vẻ chấp nhận nhau. Ong có việc của ong, kiến có việc của kiến.

Trần Mộng Tú

6/14/2015

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 29.06.2015

Rất nhỏ và rất lớn

GS Tương Lai

Rất nhỏ và rất lớn

 
GS Tương Lai
 
Rất nhỏ thì như đảo quốc Singapore. Diện tích chỉ cỡ huyện Cần Giờ của TP HCM, với dân số hơn 5,2 triệu người. Thế nhưng bình quân thu nhập tính trên đầu người của họ thì gấp 30 lần nước ta. Người ta đưa ra một con số thật chua chát rằng nếu họ cứ “kiên trì” đứng yên tại chỗ như ta kiên trì lập trường xã hội chủ nghĩa thì cũng phải 158 năm nữa nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ta mới đuổi kịp họ!
Nhưng đâu chỉ thu nhập đầu người! Nước có thu nhập đứng thứ ba thế giới này cũng là nước được xếp hạng cao trên các lĩnh vực giáo dục, chăm sóc sức khoẻ và đặc biệt là sự minh bạch của guồng máy quản lý và tính cạnh tranh kinh tế! Vậy mà vào trước sau 1975, bình quân thu nhập của người dân quốc đảo này cũng thấp như dân mình buổi ấy!
Dõi theo lễ khai mạc rồi lễ bế mạc SEA Games do Singapore đăng cai mà báo chí trong, ngoài nước đều đồng thanh tán thưởng đây là kỳ SEA Games thành công nhất trong lịch sử những ngày hội thể thao các nước Đông Nam Á từng tổ chức, càng cảm phục đất nước của ông Lý Quang Diệu. Những người tham dự ngày hội thể thao này phải thốt lên hai tiếng “siêu việt” về trình độ tổ chức của nước chủ nhà. Không chỉ về ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ cao mà thời đại đạt được, họ còn chu đáo đến từng chi tiết, thể hiện được bản sắc văn hoá trong những ứng xử nhuần nhuyễn và tế nhị.
Thật xúc động nghe phóng viên tác nghiệp tại Singapore nhắc đến một chi tiết: khi Ánh Viên vừa chạm đích thì đã nghe một giai điệu Việt Nam được tấu lên. Động thái tuyệt vời thể hiện được cái tầm văn hoá của người tổ chức được thực hiện đối với tất cả các vận động viên phá kỷ lục hoặc cán đích đầu tiên với bài hát quen thuộc của nước mình! Họ chu đáo từ các giải pháp vĩ mô với những sự việc ấn tượng như đặt máy điều hoà, mái che sân vận động cũng đồng thời là màn hình tivi… cho đến việc nhỏ như cái tăm xỉa răng được cẩn thận cài vào suất ăn của vận động viên Việt Nam.
Tại sao họ làm được vậy? Chẳng thấy họ nói đến một cái “kim chỉ nam” nào cả! Phải chăng vì họ không nô lệ sao chép và làm theo ai cả. Họ biết tiếp nhận một cách sáng tạo những thành tựu văn minh của thế giới, đồng thời biết khôn ngoan ứng xử với thế giới. Đảo quốc bé nhỏ này biết kết bạn với ai và cảnh giác với ai từ vị thế một nước nhỏ, rất nhỏ. Trong cái guồng máy tàn khốc “cá lớn nuốt cá bé”, nhất là khi quốc đảo này nằm trong đường cắt khúc 9 đoạn của cái lưỡi bò ghê tởm siêu cường Đại Hán đang thè ra định liếm trọn Biển Đông, họ biết cách làm thế nào để mình không bị nuốt.
Đó là, như lời ông Lý Quang Diệu, phải biết cách trở thành con cá bé rất độc mà cá lớn nuốt vào thì chết liền! Thế rồi, từ vai trò của một hải cảng trung chuyển họ trở thành một quốc gia có một vị trí quốc tế hấp dẫn. Vì thế mà nước họ rất nhỏ nhưng sức hấp dẫn của đảo quốc này thật đáng nể trong cái nhìn đầy thiện cảm của thế giới.
Điều này thì ngược hẳn với cái nhìn của khu vực và thế giới đối với một nước lớn, rất lớn với số dân hơn tỷ người đang nuôi mộng siêu cường. Nhưng là “siêu cường cưỡng bức” quen thói hung đồ như nhận định của nhật báo Le Monde của Pháp trong bài phân tích mang tựa đề Trung Quốc, siêu cường cưỡng bức.
Tác giả của bài báo lưu ý: Sự tích cực xúc tiến “mô hình Trung Quốc và nâng cao năng lực kinh tế là cơ sở cho một sự đô hộ mới. Và như vậy thì thế giới cần phải cân nhắc trước vai trò siêu cường Trung Quốc tương lai, cho một thế giới tốt đẹp hơn hoặc tệ hại đi khi Tập Cận Bình đeo đuổi tham vọng làm cho số phận của các quốc gia mới nổi dậy và thịnh vượng ở châu Á đang ngày càng tăng lên phải lệ thuộc vào Trung Quốc với tư cách đại cường. Một thứ đại cường “mang màu sắc Trung Quốc” mà điểm then chốt là duy trì quyền hành độc đảng.
Nhà nước độc đảng này chưa bao giờ đặt ra câu hỏi về giới hạn pháp luật và đạo đức cho hành động của họ. Bắc Kinh chỉ quan tâm đến kết quả, từ việc quản thúc các nhà tranh đấu, ngăn cản các nhà báo làm việc cho đến đóng cửa nhiều tổ chức phi chính phủ. Phân tích về hậu quả của chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc với tính chất toàn trị của chế độ này, Le Monde dẫn lời cựu Thủ tướng Úc Kevin Rudd, “hy vọng về dân chủ hóa Trung Quốc nhờ sự trỗi dậy của giai cấp trung lưu và toàn cầu hóa chỉ là hoang tưởng. Tập Cận Bình không cảm thấy rằng khi vừa dấn sâu vào cải cách thị trường để đạt được mục tiêu, đồng thời áp đặt thêm những hạn chế về tự do chính trị cá nhân, là một nghịch lý. Trên thực tế, ông ta còn coi đây là tinh túy của “mô hình Trung Hoa” trước tự do dân chủ phương Tây mà Tập cho là hoàn toàn không thích hợp. Vì vậy phải bằng mọi giá để bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa theo kiểu Trung Quốc, có nghĩa là duy trì quyền hành độc đảng.
Mục tiêu tối thượng này định ra các hành động của chế độ Bắc Kinh trong đối nội cũng như đối ngoại. Hai cột trụ cho tính chính danh của Đảng Cộng sản Trung Quốc là dân tộc chủ nghĩa cực đoan với một Trung Quốc bất di bất dịch trong vấn đề chủ quyền và phát triển kinh tế được tăng cường với việc bành trướng ra khỏi biên giới về mọi phương diện. Để đạt mục tiêu đó, Trung Quốc bất chấp luật pháp và đạo đức.
Chiến dịch thanh toán đối thủ, một chiêu bài dễ tranh thủ được công luận, đã và đang diễn ra tàn khốc. Cuộc “đả hổ diệt ruồi” của Tập đã phơi bày trước thế giới sự thối nát đến tận gốc khi mà những kẻ mới hôm nao còn lừng lẫy trên cái quyền uy tối thượng của Đảng Cộng sản và của Nhà nước, những người được quy định trong bộ luật bất thành văn là không được chạm tới các “ông cốp” như cỡ Uỷ viên Thường vụ Bộ Chính trị, thì nay đang hiện lên mặt báo như là những tội đồ lịch sử.
Chẳng hạn như Chu Vĩnh Khang với những chứng cứ về các tội tham nhũng cực lớn, sống đồi trụy với nhiều cô nhân tình, nghi án giết vợ, đặc biệt là vụ âm mưu chính biến chống Tập Cận Bình… đã bị phanh phui. Nhưng đâu chỉ có Chu. Tạp chí Động Hướng phân tích rằng vây cánh của Chu cũng chính là vây cánh của Giang ở Tứ Xuyên, Trùng Khánh, Thượng Hải, Giang Tô. Phanh phui thế lực của Chu Vĩnh Khang đã giáng một đòn chí tử vào Giang Trạch Dân. Đến lượt Giang, từng là Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch Nước, cha đẻ của thuyết “ba đại diện” từng một thời soi đường chỉ lối cho Đảng và là “kim chỉ nam” cho dân tộc Trung Hoa cuối thế kỷ XX bước sang thế kỷ XXI được hiện nguyên hình là một kẻ có cuộc sống truỵ lạc và tham nhũng. Nhưng tội lớn nhất là định lật đổ Tập Cận Bình. Chuyện này cũng chẳng có gì lạ.
Thanh toán một cách đẫm máu và tàn khốc đối với những người vừa hôm qua còn là đồng chí tin cậy cùng chung lý tưởng, cùng tôn thờ một ý thức hệ thì như cơm bữa ở cái quốc gia xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc này! Mao thanh toán Lưu Thiếu Kỳ là một ví dụ quá điển hình. Tiếp đó các nguyên lão của Đảng Cộng sản lật đổ “bè lũ bốn tên” trong đó có vợ Mao. Rồi cứ thế triền miên những cuộc thanh toán đẫm máu để tranh giành quyền lực trong giới chóp bu ở Trung Nam Hải nhầy nhụa “màu sắc Trung Quốc” cho đến thời Đặng, Giang, Hồ. Tập hiện nay. Nhưng man rợ và ghê tởm nhất của Giang và cả của Tập là tội ác thảm sát, tiêu diệt Pháp luân công và mổ cướp nội tạng của nạn nhân đang còn sống.
Cuốn sách Bloody Harvest (Thu hoạch đẫm máu) của David Matas David Kilgour ước tính rằng mỗi năm có 8.000 học viên bị giết bởi thu hoạch nội tạng sống. Sự kiện này đã làm kinh động công luận khắp thế giới. Quốc hội Mỹ đã phải thông qua Nghị quyết 281 lên án việc mổ cướp tạng sống. Nghị sĩ Ileana Ros-Lehtinen, người đảm nhiệm Nghị quyết 281, cho biết có một lượng lớn các bằng chứng cho thấy việc buôn bán các nội tạng được thu hoạch cưỡng bức, và tội ác cực kỳ ghê tởm này phải chấm dứt. Luật sư Han Zhiguang viết: “Thu hoạch nội tạng sống là một tội ác mà một số người không thể tin nổi vì đã không tận mắt chứng kiến; tôi khó có thể tin rằng tội ác này thực sự tồn tại bởi vì nó quá tàn nhẫn và khiến bất cứ ai cũng phẫn nộ”.
Dana Rohrabacher, nghị sĩ Quốc hội Mỹ, Chủ tịch của Tiểu ban Giám sát và Điều tra, thuộc Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Hoa Kỳ nói: “Sự tha hóa đạo đức đến mức mổ cưỡng bức lấy tạng nạn nhân để bán là một hiện tượng chưa từng có… Tập Cận Bình lo ngại sự sụp đổ của chính quyền Trung Quốc khi toàn dân và thế giới biết sự thật nên đã tiếp tục im lặng và tội ác vẫn đang tiếp diễn. Thật quá bi hài khi tội ác giết người mổ nội tạng, tra tấn dã man được xem là “tuyệt mật quốc gia””.
Thật ra thì chuyện mổ thi thể người sống để cướp nội tạng không là chuyện lạ ở nước Tàu, chỉ có điều là nó chưa trở thành “tuyệt mật quốc gia” như thời Tập hôm nay. Người Việt đọc sách Tàu chắc không quên chuyện thời Đông Chu, Dịch Nha giết con trai lên ba để xào cho Tề Hoàn Công ăn khi nghe vua nói các giống điểu, thú, trùng, ngư đã nếm đủ, chỉ còn thiếu vị thịt người là chưa biết. Giới Tử Thôi cắt thịt đùi của mình nấu cháo cho Tấn Văn Công khi còn phải tha phương lánh nạn! Đấy là chuyện xưa. Vào thế kỷ XX, văn hào Lỗ Tấn quyết liệt phơi lên sách báo thời hiện đại vấn nạn khủng khiếp này để đánh thức lương tri người Trung Hoa. Trong Nhật ký người điên viết vào tháng 1 năm 1918, qua nhân vật Nguỵ Liên Thù, ngòi bút của ông rỉ máu: “Cổ lai, việc ăn thịt người thường lắm, mình cũng còn nhớ, nhưng không được thật rõ. Liền giở lịch sử ra tra cứu thử. Lịch sử không đề niên đại, có điều trang nào cũng có mấy chữ nhân, nghĩa, đạo đức viết lung tung tí mẹt. Trằn trọc không sao ngủ được, đành cầm đọc thật kỹ, mãi đến khuya mới thấy từ đầu chí cuối, ở giữa các hàng, ba chữ: “Ăn thịt người. … Không thể nghĩ được nữa… Bây giờ mới biết mình đã sống bao nhiêu năm ở một nơi mà người ta ăn thịt lẫn nhau từ bốn nghìn năm nay”.
Mà đâu chỉ Lỗ Tấn, Mạc Ngôn, người vừa được giải Nobel văn chương trong thế kỷ XXI này, tiếp tục đưa món thịt người mang “đặc sắc Trung Quốc” vào văn chương của mình trong nỗi ám ảnh khủng khiếp về người ăn thịt người của nền văn minh Trung Hoa.
Năm 1992, vợ chồng ký giả Nicholas D. Kristof và Sheryl Wudunn của tờ New York Times tìm được một số hồ sơ tiết lộ chi tiết về những vụ ăn thịt người tập thể trong giai đoạn Đại Cách mạng Văn hóa tại một số khu vực ở tỉnh Quảng Tây hồi cuối thập niên 60. Theo những tài liệu kể trên, đã có ít nhất 137 người đã bị ăn thịt, mỗi nạn nhân bị cả chục người cùng ăn. Hầu hết những người liên quan đến việc ăn thịt người tại tỉnh Quảng Tây chỉ bị phạt nhẹ sau khi kết thúc Đại Cách mạng Văn hóa.
Xin dừng lại thôi. Tiếp tục phơi bày chuyện “rất lớn” của “người đồng chí cùng chung ý thức hệ” (…)thì hãi quá.
Mà “hãi quá hoá lú” thì còn “mênh mông thế sự”thế quái nào được nữa!
T. L.
( Nguồn: BVN)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 29.06.2015

Hồi ký Trần Quang Cơ – Chương 1.

Ông Trần Quang Cơ

Hồi ký Trần Quang Cơ – Chương 1.

  QTXM: Ông Trần Quang ơ Nguyên thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao Việt Nam Trần Quang Cơ vừa qua đời tối hôm thứ Năm 25/6 ở tuổi 89.Lễ tang ông sẽ được tổ chức tại Nhà tang lễ Quốc gia, số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội, sáng ngày 1/7. Ông Cơ là người từng khước từ chức bộ trưởng ngoại giao mà Đảng Cộng sản Việt Nam sắp đặt sau khi Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch bị buộc phải ra đi dưới áp lực của Trung Quốc năm 1991.Ông Trần Quang Cơ sinh năm 1927 tại Nam Định, làm ngoại giao từ 1954 tới khi về hưu năm 1997. Có thể nói ông là một trong các nhà ngoại giao lão luyện nhất của Việt Nam, từng kinh qua các chức vụ như Đại sứ Việt Nam tại Thái Lan, Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao. Ông vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN từ năm 1986. QTXM xin giới thiệu cuốn hồi  ký của ông TRần Quang cơ,cuốn hồi ký có giá trị cảnh báo nguy cơ Việt Nam rơi vào thời kỳ Bắc thuộc mới.

  1. VIỆT NAM TRONG THẬP NIÊN 70 CỦA THẾ KỶ 20

Nước Việt Nam ta trong những năm 70 của thế kỷ 20 đã trải qua những sự kiện to lớn: Hiệp định Paris 1973 về Việt Nam kết thúc cuộc đàm phán “ma-ra-tông” 1968-1973 giữa Việt Nam và Mỹ toàn thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 đã đưa Việt Nam tới đỉnh cao của giải phóng dân tộc và uy tín quốc tế. Thắng lợi của Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ không chỉ là một tác nhân đưa đến những thay đổi rất quan trọng trong chiến lược của các nước lớn mà còn làm chuyển đổi cục diện chính trị khu vực Đông Nam Á. Nể sợ sức mạnh quân sự và ý chí kiên cường của Việt Nam, mặt khác lo ngại mối đe doạ từ nước Trung Hoa khổng lồ tăng lên một khi Mỹ rút khỏi Đông Nam Á, đồng thời lại có yêu cầu phát triển kinh tế, các nước ASEAN sốt sắng bình thường hóa cải thiện quan hệ với Việt Nam; tổ chức liên minh quân sự SEATO tan rã; xu hướng hoà bình, ổn định ở Đông Nam Á phát triển. Sau khi bị “gáo nước lạnh” ở Việt Nam Mỹ lo tháo chạy khỏi Đông Nam Á, song lại sợ tạo ra một “khoảng trống” có lợi cho các đối thủ của mình. Một mặt sợ Liên Xô thừa thế mở rộng ảnh hưởng ở Đông Nam Á và thế giới, mặt khác lo Trung Quốc phát huy vai trò nước lớn Châu Á để lấp chỗ “trống” đó nên Mỹ vừa tìm cách khai thác mâu thuẫn Xô – Trung vừa muốn có một nước Việt Nam độc lập cả với Trung Quốc lẫn Liên Xô để duy trì thế cân bằng chiến lược giữa ba nước lớn trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 28.06.2015

ĐÊM TAM TÒA- CHÙM THƠ NGÔ MINH

ĐÊM TAM TÒA- CHÙM THƠ NGÔ MINH

 

ĐÊM TAM TÒA

 

đêm phương nào cũng trắng

trắng nhô bờ bãi

trắng quẫy ngư kình

trắng phập phồng ai thở

núm hồng nhu nhú bình minh

sóng mặn môi hoang

 

đêm phương nào cũng nhớ

ta đứa trẻ

Tam Tòa khai sinh

Thượng Đế là phương trắng

cho lâu đài thiên nhiên

ta lập thân bằng nỗi khát

lịm đêm

 

trắng phương nào cũng gió

ngủ hay thức

hoang mang tìm…

Đồng Hới, 2010 (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 28.06.2015

SỐ TỬ VI CỦA TÔI

1b2ce-eb7

SỐ TỬ VI CỦA TÔI

Kỷ niệm Montreal 375 tuổi và tri ân Bệnh viện General Juif

Mai Khắc Ứng

(Bài gửi cho QTXM từ Canada)

Tôi là Mai Khắc Ứng, nhân viên Trung tâm Quản lý Di tích Cố đô Huế, nguyên quán làng Đĩnh Lữ, tổng Phù Lưu, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, thường trú tại thành phố Huế (Việt Nam).Năm 1995 tôi xin nghỉ hưu và đã nhờ một vị túc Nho thuộc hậu duệ nhà vua Nguyễn Thánh Tổ niên hiệu Minh Mạng, chấm cho một lá số tử vi. Lá số có nhiều ô gồm các cung mệnh tôi nhớ không trọn. Duy chỉ có hai điều tôi không thể quên. Một là cuộc đời tôi gian nan trầm luân lắm.Hai là tôi hết số vào tuổi 82. 82 tính theo lịch âm ứng với năm Giáp Ngọ­2014.

Biết vậy, nên năm 2013 nhờ người quen trong xóm, tôi đã tìm được chổ nằm tại nghĩa địa gần nhà. Công việc xây dựng sinh phần xong, vợ chồng tôi yên chí dắt nhau sang Montreal thăm con cháu để về mà “đi”. Cuối năm 2013 tôi chưa về đã bổ bệnh. Vé bay khứ hồi đành bỏ nửa sau. Năm 2014, theo định mệnh số tử vi chực lôi tôi “đi”. May là các vị lương y ở Bệnh viện General Juif cố giành tôi lại.

Những ngày “thập tử nhất sinh” ấy, tôi tự an ủi: “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều” (Nguyễn Du) và nghĩ rằng “nhân định thắng thiên” đối với tôi đang nằm trong tay quý vị “Lương y như từ mẫu”.

Xin cảm ơn tất cả.

1600#407 Rue Saint­Louis, Ville St-Laurent,

SỐ TỬ VI CỦA TÔI

Tôi ra khỏi bụng mẹ tôi giữa giờ Tý ngày mồng 1 tháng Chạp năm Giáp Tuất.Giáp Tuất ứng với năm 1934. Giờ tý là đầu ngày. Mồng 1 là đầu tháng. Tháng Chạp là cuối năm. Cuối năm âm lịch lại đầu năm dương lịch. 01 tháng Chạp Giáp Tuất nhằm vào 05 tháng 01 năm 1935. Thành ra số tử vi cuối âm đầu dương của tôi đã báo trước sướng ít khổ nhiều. Sướng những ngày trong vòng tay âu yếm của cha mẹ. Khổ những ngày đơn độc bơi giữa trần gian nhiễu nhương. Nhưng nhờ nhà có phúc, ông bà cha mẹ ăn hiền ở lành nên cho dù gặp nhiều hoạn nạn tai ương vẫn qua. Hậu vận lại có quý nhân phò trợ.

Lá số tử vi ông nội tôi chấm cho tôi lâu ngày đã mất. Mẹ tôi chỉ nhớ đại khái như vậy.

Làng tôi là một vùng quê nghèo. Phía bắc giáp chân núi Hồng Lĩnh. Phía đông giáp độn cát Yên Điềm do gió biển Thái Bình Dương vun lên. Nằm ở vị trí chânrừng góc biển ấy, thuở trước làng tôi như biệt lập với thành thị phố phường. Cuộc sống tự cung tự cấp không gây nên tâm lý cạnh tranh. Tự tại như là thuộc tính. Tôi lớn lên trong môi trường thanh bình nhân ái đó 10 năm thì biến động xã hội sôi sục. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 28.06.2015

QTXM THÔNG BÁO

QTXM THÔNG BÁO

SÁNG NAY, TRANG BLOG ngominh.vnweblogs.com bị lỗi, không  post bài lên được. Ngô Minh chưa tìm ra lỗi cđể chỉnh sửa, mong các bạn thông cảm. KÍNH CÁO.

Tiến sĩ Phạm Đăng Khánh.
Tiến sĩ Phạm Đăng Khánh.

Chàng lao công gốc Việt trở thành khoa học gia không gian vũ trụ của Mỹ

Tiến sĩ Phạm Đăng Khánh.

Trà Mi-VOA

Một thanh niên làm lao công cho các cửa hàng trong những khu mua sắm khi sang Mỹ tỵ nạn trở thành một nhà khoa học không gian vũ trụ của Trung tâm Thí nghiệm Nghiên cứu Không quân Hoa Kỳ sau 25 năm miệt mài vượt khó vươn lên.

Đó là câu chuyện thành công của Tiến sĩ Phạm Đăng Khánh, cháu nội đích tôn của sử gia nổi tiếng Phạm Văn Sơn và là cháu ngoại của nhà thơ lừng danh một thời Bàng Bá Lân.

Đến Mỹ năm 1991 theo diện HO vì bố mẹ là cựu tù nhân chính trị từng làm việc cho chính phủ Mỹ trước năm 1975, chàng thanh niên 19 tuổi quyết tâm theo đuổi ‘giấc mơ Mỹ’, phấn đấu tiến thân bằng con đường học vấn. (Đọc tiếp…)

THƯ GIÃN CUỐI TUẦN

Sự dữ dội trong tranh khỏa thân thời Phục Hưng

Mỹ thuật Phục Hưng là một trong những đỉnh cao của lịch sử mỹ thuật. Thời đó, những họa sỹ thiên tài đã đưa ra cái nhìn hoàn toàn mới mẻ về tiêu chuẩn thẩm mỹ, theo đó, họ tôn sùng vẻ đẹp tự nhiên của cơ thể con người.

Ở thời kỳ này, những truyền thuyết, thần thoại Hy Lạp – La Mã bắt đầu sống dậy và trở thành suối nguồn sáng tạo cho các tác phẩm hội họa. Để phản ánh sự yếu đuối, mỏng manh của con người, các họa sĩ Phục Hưng thường để nhân vật trong tranh lộ nguyên phần xác.

Đối với nghệ thuật Phục Hưng, khỏa thân bỗng trở thành tâm điểm của sáng tạo nghệ thuật, gợi nhớ về một thuở con người sống rất “thiên nhiên”.

Danh họa người Ý Michelangelo (1475-1564)

Sự dữ dội trong tranh khỏa thân thời Phục Hưng
Bức “Leda and the Swan” (Leda và thiên nga) vẽ năm 1530, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia, London, Anh.

Khi đã ngoài 50 tuổi, Michelangelo công khai mình đồng tính. Ông dũng cảm viết những bài thơ tình dành tặng một thanh niên quý tộc đẹp trai. Ở thời đó, người ta có thể bị thiêu chết vì đồng tính. Trong bức tranh này, nàng Leda của ông có khuôn mặt khá… nam tính.

Danh họa người Ý Leonardo da Vinci (1452-1519)

Sự dữ dội trong tranh khỏa thân thời Phục Hưng
Bức “Leda and the Swan” (Leda và thiên nga) vẽ năm 1515-1520, trưng bày tại Triển lãm Uffizi, Florence, Ý.

Leonardo cho rằng phản ánh dục vọng là sứ mệnh vĩ đại của nghệ thuật. Ông từng viết: “Mỹ thuật siêu đẳng hơn thi ca bởi nếu thi ca chỉ có thể miêu tả tình yêu thì mỹ thuật khắc họa tình yêu. Người họa sĩ châm lên ngọn lửa khao khát trong người xem”.

Sự dữ dội trong tranh khỏa thân thời Phục Hưng
Bức “Saint John the Baptist” (Thánh John làm lễ rửa tội) vẽ năm 1513-1516, trưng bày tại Bảo tàng Louvre, Paris, Pháp.

Đương thời Leonardo từng hai lần bị bắt vì tội “tằng tịu” với người đồng giới. Tuy vậy, ông chưa bao giờ bị kết án bởi những người tình của ông đều xuất thân quý tộc. Trong bức tranh này, người ta tin rằng Leonardo đang khắc họa một người tình của mình.

Danh họa người Ý Raphael (1483-1520)

Bức “The Fornarina” (Nàng Fornarina) vẽ năm 1518, trưng bày tại lâu đài Palazzo Barberini, Rome, Ý.
Bức “The Fornarina” (Nàng Fornarina) vẽ năm 1518, trưng bày tại lâu đài Palazzo Barberini, Rome, Ý.

Trong bức họa là người tình của Raphael – nàng Fornarina. Chính vì vẻ đẹp này mà ông đã sớm qua đời ở tuổi 37 vì một lần “quá sức”.

Danh họa người Hà Lan Rembrandt (1606-1669)

Bức “The Fornarina” (Nàng Fornarina) vẽ năm 1518, trưng bày tại lâu đài Palazzo Barberini, Rome, Ý.
Bức “Portrait of Hendrickje Stoffels” (Chân dung Hendrickje Stoffels) vẽ năm 1654-1656, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia, London, Anh.

Khi Rembrandt thực hiện bức tranh này, người tình của ông cũng đồng thời là nhân vật nữ trong tranh đang gặp rắc rối với nhà thờ vì bị kết án là một “phụ nữ dễ dãi”. Nàng Hendrickje chuyển về sống với Rembrandt dù họ không kết hôn. Bức tranh này đã thể hiện tình yêu sâu sắc mà Rembrandt dành cho người tình, nó lột tả cả vẻ đẹp nhan sắc và nội tâm của nàng.

Bức “The Fornarina” (Nàng Fornarina) vẽ năm 1518, trưng bày tại lâu đài Palazzo Barberini, Rome, Ý.
Bức “A woman bathing in a stream” (Người phụ nữ tắm suối) vẽ năm 1654, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia, London, Anh.

Lại một bức tranh khác mà Rembrandt vẽ nàng Hendrickje Stoffels. Nàng trở thành người tình của ông sau khi vợ của Rembrandt qua đời. Ông không thể kết hôn với Hendrickje, bởi việc kết hôn này sẽ tước quyền thừa kế tài sản từ vợ ông. Kinh tế của Rembrandt khá bấp bênh và ông không thể từ bỏ quyền thừa kế. Sau này, Rembrandt vẫn bị phá sản vì ông đầu tư quá nhiều vào trang phục cho người mẫu cũng như sưu tầm quá nhiều tranh.

Danh họa người Ý Agnolo Bronzino (1503-1572)

Bức “The Fornarina” (Nàng Fornarina) vẽ năm 1518, trưng bày tại lâu đài Palazzo Barberini, Rome, Ý.
Bức “An Allegory with Venus and Cupid” (Biểu tượng thần Vệ Nữ và thần Tình Yêu) vẽ năm 1545, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia, London, Anh.

Bronzino là người đồng tính. Đương thời, ông chung sống với người bạn đời làm nghề sản xuất binh khí. Khi người tình qua đời, Bronzino đã lãnh trách nhiệm chăm sóc cho gia đình của người đàn ông kia.

Tranh của Bronzino nhấn mạnh vẻ đẹp hình thể và những khoái lạc của con người. Bức họa trên là món quà mà tòa án tối cao của Cộng hòa Florence tặng nhà vua Pháp. Tác phẩm này đã truyền cảm hứng và sự mạnh dạn cho nhiều họa sĩ Pháp sáng tạo nên những tác phẩm đậm màu dục vọng.

Danh họa người Ý Tiziano Vecelli (1490-1576)

Bức “The Fornarina” (Nàng Fornarina) vẽ năm 1518, trưng bày tại lâu đài Palazzo Barberini, Rome, Ý.
Bức “The Venus of Urbino” (Vệ Nữ của tỉnh Urbino) vẽ năm 1536-1538, trưng bày tại Triển lãm Uffizi, Florence, Ý.

Một người bạn của họa sĩ Tiziano từng viết một lá thư tay, trong đó đề cập tới tình hình sức khỏe của Tiziano như sau: “Sức khỏe của Tiziano tốt nhưng đôi khi rơi vào trạng thái kiệt sức vì sau khi thực hiện những bức tranh tuyệt đẹp về phụ nữ, Tiziano thường “yêu” luôn mẫu”. Điều này đã lý giải tại sao những bức tranh của Tiziano luôn chân thực, sống động và thể hiện khát khao mạnh mẽ đối với cái đẹp.

Bức “Danae” (Nàng Danae) vẽ năm 1544 – 1545, trưng bày tại Bảo tàng Capodimonte, Naples, Ý.
Bức “Danae” (Nàng Danae) vẽ năm 1544 – 1545, trưng bày tại Bảo tàng Capodimonte, Naples, Ý.

Nàng Danae của thần thoại Hy Lạp đang ngẩng đầu lên nhìn thần Dớt đến tự tình với cô trong hình dáng một cơn mưa vàng.

Bức “Danae” (Nàng Danae) vẽ năm 1544 – 1545, trưng bày tại Bảo tàng Capodimonte, Naples, Ý.
Bức “Diana and Actaeon” (Diana và Actaeon) vẽ năm 1556 – 1559, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia, London, Anh.

Bức tranh kể lại một truyền thuyết Hy Lạp: tráng sĩ Actaeon đi săn trên núi, tình cờ nhìn thấy nữ thần Diana tắm. Actaeon liền bị Diana biến thành một con hươu. Chàng bị chính đàn chó săn của mình xẻ thịt. Đó là cái giá phải trả cho thói tò mò, mạo phạm tới thần linh của Actaeon.

Bức “Danae” (Nàng Danae) vẽ năm 1544 – 1545, trưng bày tại Bảo tàng Capodimonte, Naples, Ý.
Bức “Saint Mary Magdalene” (Thánh Mary Magdalene) vẽ năm 1535, trưng bày tại Triển lãm Palatina, cung điện Pitti, Florence, Ý.

Danh họa người Ý Palma Vecchio (1480-1528)

Bức “Danae” (Nàng Danae) vẽ năm 1544 – 1545, trưng bày tại Bảo tàng Capodimonte, Naples, Ý.
Bức “A Blonde Woman” (Một phụ nữ tóc vàng) vẽ năm 1520, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia, London, Anh.

Bức chân dung khắc họa một gái điếm ở Venice. Dấu hiệu để nhận biết những cô gái này là trên tay họ luôn cầm một bó hoa. Đặc điểm này sinh ra từ một truyền thuyết La Mã, theo đó gái điếm được bảo vệ bởi nữ thần Cây cỏ.

Danh họa người Ý Antonio Correggio (1489-1534)

Bức “Danae” (Nàng Danae) vẽ năm 1544 – 1545, trưng bày tại Bảo tàng Capodimonte, Naples, Ý.
Bức “Jupiter and Io” (Thần Dớt và nàng Io) vẽ năm 1539, trưng bày tại Bảo tàng Kunsthistorisches, Vienna, Áo.

Các họa sĩ Phục Hưng đặc biệt thích khắc họa chuyện yêu đương của thần Dớt. Trong các truyện thần thoại cổ xưa, thần Dớt thường ngụy trang, biến hóa khôn lường để có thể tự tình với phụ nữ mà không bị vợ ngài – nữ thần Hera phát hiện ra. Khi ở bên nàng Io, ngài hóa thành sương mù.

Danh họa người Đức Lucas Cranach (1472-1553)

Bức “Danae” (Nàng Danae) vẽ năm 1544 – 1545, trưng bày tại Bảo tàng Capodimonte, Naples, Ý.
Bức “Cupid Complaining to Venus” (Thần Tình Yêu làm nũng thần Vệ Nữ) vẽ năm 1525, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia, London, Anh.

Thần Vệ Nữ trong tranh Lucas Cranach rất thanh mảnh – một “chuẩn đẹp” khá mới so với quan niệm đương thời.

 

 

Danh họa người Ý Sandro Botticelli (1445-1510)Bức “Danae” (Nàng Danae) vẽ năm 1544 – 1545, trưng bày tại Bảo tàng Capodimonte, Naples, Ý.
Bức “Venus and Mars” (Thần Vệ Nữ và thần Chiến Tranh) vẽ năm 1485, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia, London, Anh.

Vẻ đẹp của thần Vệ Nữ đã ru ngủ thần Chiến Tranh. Sắc đẹp có thể khiến mọi sức mạnh dù tàn bạo nhất phải ngã gục. Vì vậy, người ta thường nói cái đẹp cứu thế giới.

Danh họa người Hà Lan Gerrit van Honthorst (1592-1656)

Bức “Saint Sebastian” (Thánh Sebastian) vẽ năm 1623, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia, London, Anh.
Bức “Saint Sebastian” (Thánh Sebastian) vẽ năm 1623, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia, London, Anh.

Bức tranh kể lại chuyện Thánh Sebastian bị bắn chết vì đi theo đạo Thiên Chúa. Trong tác phẩm này, Honthorst thể hiện rõ nét phong cách của mình: sự đối lập mạnh mẽ giữa ánh sáng và bóng tối.

Danh họa người Ý Guido Reni (1575-1642)

Bức “Saint Sebastian” (Thánh Sebastian) vẽ năm 1623, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia, London, Anh.
Bức “Saint Sebastian” (Thánh Sebastian) vẽ năm 1620-1630, trưng bày tại Triển lãm Dulwich, London, Anh.

Các nhà phê bình mỹ thuật rất giỏi “bắt mạch” đời sống tình cảm của họa sĩ qua tranh. Đối với trường hợp của Honthorst và Reni, họ cùng thực hiện hai bức tranh về Thánh Sebastian. Các nhà phê bình nhận định rằng, ở cả hai tác phẩm, họ đều thấy sự khao khát mạnh mẽ của họa sĩ đối với chính nhân vật mà họ tạo nên.

Anh em họa sĩ người Ý Antonio và Piero del Pollaiolo

Bức “Saint Sebastian” (Thánh Sebastian) vẽ năm 1623, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia, London, Anh.
Bức “The Martyrdom of Saint Sebastian” (Hành quyết Thánh Sebastian) vẽ năm 1475, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia, London, Anh.

Thời Phục Hưng, người ta thường gọi những người đồng tính là “Florenzer” (Người ở thành Florence, Ý). Có từ lóng này là bởi các họa sĩ phương Tây đương thời thích tới Florence sống. Rất nhiều người trong số họ đồng tính khiến chính quyền thành phố quyết định thành lập một ban chuyên trách, phát hiện, xử lý những người đàn ông đồng tính. Bức tranh này đã ngầm phản ánh nỗi lo sợ của các họa sĩ trước sự khắc nghiệt của luật pháp đương thời.

Danh họa người Ý Giorgione Castelfranco (1477-1510)

Bức “Laura” (Nàng Laura) vẽ năm 1506, trưng bày tại Bảo tàng Kunsthistorisches, Vienna, Áo.
Bức “Laura” (Nàng Laura) vẽ năm 1506, trưng bày tại Bảo tàng Kunsthistorisches, Vienna, Áo.

Giorgione đương thời nổi tiếng là họa sĩ đào hoa, đẹp trai. Ông chơi đàn luýt rất hay và thường lấy món tài lẻ này để quyến rũ phụ nữ. Ông chinh phục được những người đẹp nổi tiếng ở Venice và thường thuyết phục họ làm mẫu cho các bức vẽ của mình. Đây là một trong những người tình của ông.

Bức “The Tempest” (Giông tố) vẽ năm 1505-1508, trưng bày tại Triển lãm Accademia, Florence, Ý.
Bức “The Tempest” (Giông tố) vẽ năm 1505-1508, trưng bày tại Triển lãm Accademia, Florence, Ý.

Venice là thành phố của tình yêu và sự nghiệt ngã. Những cô gái điếm hết thời có cuộc sống hết sức bi đát.

Danh họa người Pháp Francois Clouet (1510-1572)

Bức “The Tempest” (Giông tố) vẽ năm 1505-1508, trưng bày tại Triển lãm Accademia, Florence, Ý.
Bức “A Lady in her Bath” (Quý bà đang tắm) vẽ năm 1571, trưng bày tại Triển lãm Mỹ thuật Quốc gia, Washington DC, Mỹ.

Những quý bà thượng lưu ở Pháp đương thời có “mốt” vẽ tranh chân dung khỏa thân. Người phụ nữ trong tranh là Diane de Poitiers, người tình của vua Henry II của Pháp. Khi nhà vua lên ngôi năm 27 tuổi, Diane đã 48 tuổi nhưng bà vẫn có vẻ đẹp vô song.

Danh họa người Đức Peter Paul Rubens (1577-1640)

Bức “The Tempest” (Giông tố) vẽ năm 1505-1508, trưng bày tại Triển lãm Accademia, Florence, Ý.
Bức “The Little Fur” (Chiếc áo lông) vẽ năm 1630, trưng bày tại Bảo tàng Kunsthistorisches, Vienna, Áo.

Bức chân dung khắc họa nàng Helena Fourment – vợ của Rubens. Họ kết hôn vào năm 1630 khi Helena 16 và Rubens 53 tuổi.

Danh họa người Ý Paris Bordone (1500-1571)

Bức “The Tempest” (Giông tố) vẽ năm 1505-1508, trưng bày tại Triển lãm Accademia, Florence, Ý.
Bức “Venetian Women at their Toilet” (Những cô gái Venice điểm trang) vẽ năm 1545, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia Scotland, Edinburgh, Anh.

Tại Venice ở thế kỷ 16 có tới 20.000 gái điếm. Trong tranh là hai cô gái đang thay đồ và trang điểm, người phụ nữ đội khăn xanh là một mụ tú bà.

Danh họa người Ý Tintoretto (1518-1594)

Bức “The Tempest” (Giông tố) vẽ năm 1505-1508, trưng bày tại Triển lãm Accademia, Florence, Ý.
Bức “Leda and the Swan” (Leda và thiên nga) vẽ năm 1555, trưng bày tại Triển lãm Uffizi, Florence, Ý.

( nGUỒN: iNTERNET)

 

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 27.06.2015

TRANG THƠ NGƯỜI ĐẸP-Chùm thơ Minh Đan

Minh Đan

TRANG THƠ NGƯỜI ĐẸP-Chùm thơ Minh Đan

Em coi thường bọn đàn ông

QTXM- Minh Đan quê Bình Định, tự gọi mình là Lọ Lem đất võ.Thơ Minh Đan thảng thốt mà cứng cỏi, như tình tình của chị…

 MINH ĐAN

 SÀI GÒN MƯA
Nhổ nắng đi rồi
Sài Gòn chỉ còn những buổi chiều ươn ướt
Con đường quen tên dỗi hờn 
Bế thốc tiếng cười di trú

Cầm mưa 
Nghĩ về đứa trẻ 
Tiếng khóc thành sông, tiếng gào thành sấm
Lụt ở đáy lòng
Công viên Lê Văn Tám chật một chỗ nằm
Em trải đời vui bên thảm cỏ
Sũng ướt nụ cười
Sũng ướt hi vọng
Sũng ướt vầng trăng mùa hạ
Sự ấm bỗng thành điều khao khát lớn 

Cầm tập thơ thơm tay
Nghĩ về đồng xu lẻ
Ước mỗi câu chữ mua được ổ bánh mì cầm hơi
Dỗ dành em phút đói lòng, khát nước
Ước mỗi bản thảo gói được nắm xôi niềm tin của ngày mai
Thả vào ngón tay em hạt đơm nóng hổi 

Cầm mọi thứ trên đời
Sợ hãi nhiều hơn khát vọng
Tôi cầm lòng mình đi qua bão, sóng thần bằng câu thơ lóng ngóng:
“Sài Gòn thật như chiêm bao?” (Đọc tiếp…)

NM& nhà văn Võ Thị Xuân Hà ĐH 8

Nhân đại hội nhà văn lần thư IX  ( 7-2015)

Đại hội nhà văn IV cuối 1989:Phái vui tươi và phái hằm hằm.

VƯƠNG TRÍ NHÀN/ vtn blog

 ( Ghi chép của một nhà văn Việt Nam ở Liên Xô tên Ph.)

  Moskova đầu năm 89

  18/5

 Định xin phép sứ quán về Hà Nội dự Đại Hội nhà văn, rồi lại không xin nữa. Lúc đau quá, tôi nghĩ cái Hội nhà văn ấy, bây giờ gợi ra hình ảnh một đống đổ nát, ở đó, có những thứ người ta đáng còn dùng được mà đã vứt đi, và toàn bộ thì không ra hình thù gì nữa. (Đọc tiếp…)

 TIN KHẨN:Trung Quốc đưa trứng gà giả có nhiễm HIV vào Việt Nam?

 

 

 

Hãy lên tiếng ..vì bạn và cộng đồng người Việt chúng ta
Trung Quốc đang đưa vaò VN một loại trứng gà giả được làm bằng cao su bên trong chứa HIV Dương Tính .và số trứng này đang tràn vaò miền Bắc nước ta rất nhanh chóng.
Với những điểm đầy nghi vấn như: “Trứng không có mùi tanh. Đầu lòng đỏ có sợi xoắn, giống như là đầu màng nilon bọc lòng đỏ được xoắn lại. Để lâu bên ngoài sẽ xuất hiện đỉa.
Hãy ” Chia sẻ ” bài viết này và Tag những người thân,bạn bè của bạn vào, để mọi người thấy hết được sự tàn ác của Trung Quốc.
Sẽ giúp cho người thân Bạn bè của bạn biết mà phòng tránh đấy. 1 click thôi,3s nhưg bạn cứu được khá nhjều người.

( Nguồn: Nhà văn TNV cung cấp qua Email)

QTXM-Quý vị đọc và suy nghĩ xem, nếu việc này xẩy ra tại VN, người phụ nữ kia sẽ bị buộc vào tội gì? Vì ở VN, không có tội “khiếm nhã”!
 

  TỔNG THÔNG OBAMA KHIẾN NGƯỜI PHỤ NỮ PHÁ BĨNH PHẢI CÂM LẶNG

Tổng thống Obama nói rằng hành động của người phụ nữ là ‘khiếm nhã’ rồi yêu cầu an ninh đưa bà ra khỏi phòng.

   Tổng thống Mỹ Barack Obama thường phớt lờ những người cố tình làm gián đoạn các cuộc xuất hiện trước công chúng của ông, nhưng trong buổi tiếp tân ở Nhà Trắng hôm qua, ông đã “bật lại”. (Đọc tiếp…)

TỰ DO THÔNG TIN: NỀN TẢNG CHO MỘT XÃ HỘI MINH BẠCH

Thái Thanh ghi

Thông tin đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống bởi nó liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người dân trong mọi lĩnh vực. Thông tin đồng thời cũng là “ô-xi của nền dân chủ”, như khẳng định của Chiến dịch Toàn cầu về Quyền tự do ngôn luận. Tự do thông tin – bao gồm tự do tìm kiếm, lưu giữ, truyền đạt và sử dụng thông tin dưới mọi hình thức – được coi là một trong những quyền cơ bản của con người. (Đọc tiếp…)

 NÓI THÊM VỀ CUỐN GIÁO TRÌNH CỦA TIẾN SĨ HOÀNG THỊ HUẾ

Ngô Minh

Bạn đọc thân mến.  Ngày 24/6, QTXM đã công bố ngừng việc trao đổi về cuốn giáo trình VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI GIAI ĐOẠN 1930-1945 của cô giáo-tiến sĩ Hoàng Thị Huế ở Đại học Sư phạm Huế, vì mọi sự đã sáng tỏ. Nhưng hiện có quá nhiều bạn đọc quan tâm, thắc mắc.Nên NgôMinh xin nói thêm đôi lời. Trong comment của mình, bạn Nguyễn Văn Tính thắc mắc:” Sao nhà thơ Ngô Minh dừng lại chuyện bàn luận he? Chuyện giáo trình ở một trường đại học quan trọng như vậy mà? Quà mưa xứ Huế ( xin lỗi QUÀ TẶNG XỨ MUA chứ không phải QUÀ MƯA XỨ HUẾ-NM) phải để cho mọi người đưa ra ý kiến chớ?”. Thiết nghĩ mọi việc đã rõ như ban ngày, in các bài trao đổi nữa sẽ lặp lại. Vấn đề là Ông Hiệu trưởng Đại học Sư phạm Huế sẽ xử lý như thế nào về cuốn giáo trình này, cho hủy hay bắt sữa chữa lại cho hoàn chỉnh, mà thôi. (Đọc tiếp…)

Khảo sát: Người Việt Nam ngả mạnh về Mỹ, quay lưng với Trung Quốc

VOA Tiếng Việt

Một cuộc khảo sát toàn cầu mới cho thấy người Việt Nam tiếp tục có quan điểm rất tích cực về hình ảnh và vai trò của Mỹ trên thế giới, trong khi thái độ tiêu cực về Trung Quốc ít thay đổi và thậm chí xấu đi.

Trung tâm Nghiên cứu Pew hôm thứ Ba công bố báo cáo về cuộc khảo sát quan điểm toàn cầu về Mỹ, Trung Quốc, sự cân bằng quyền lực quốc tế, và một số vấn đề chính yếu ở châu Á. Cuộc khảo sát được thực hiện thông qua 45.435 cuộc phỏng vấn trực tiếp hoặc qua điện thoại ở 40 quốc gia từ cuối tháng 3 tới cuối tháng 5 năm nay. 1000 người Việt Nam được Pew phỏng vấn trực tiếp.
Thiện cảm với Mỹ
78 phần trăm người Việt Nam được khảo sát cho biết họ có cái nhìn tích cực về nước Mỹ, tăng hai điểm phần trăm so với năm 2014, trong khi chỉ có 13 phần trăm nói điều ngược lại. Quan điểm này tương đồng với đa số những nước mà Pew khảo sát, cho thấy Mỹ được quốc tế nhìn nhận với thái độ phần lớn là tích cực, 69 phần trăm.
Đại bộ phận giới trẻ Việt Nam có thiện cảm với Mỹ với 88 phần trăm những người trong độ tuổi từ 18-29 cho biết như vậy. Với nhóm tuổi 30-49 thì tỉ lệ này là 77 phần trăm và 64 phần trăm cho thế hệ từ 50 tuổi trở lên. Việt Nam là nước có cách biệt thế hệ lớn thứ hai trong tất cả những nước được khảo sát về quan điểm tích cực đối với Mỹ. Nước đứng đầu là Trung Quốc.
Ngoài ra, phần đông người Việt Nam cho rằng Mỹ là nước tôn trọng những quyền tự do cá nhân (79 phần trăm), bày tỏ sự tin tưởng cao đối với Tổng thống Barack Obama về những vấn đề quốc tế (71 phần trăm), và ủng hộ cuộc chiến chống Nhà nước Hồi giáo do Mỹ lãnh đạo (55 phần trăm).
Dư luận thế giới không đồng tình với những phương pháp thẩm vấn mà Mỹ sử dụng đối với những nghi phạm khủng bố sau những vụ tấn công ngày 11 tháng 9 năm 2001 bị nhiều người coi là tra tấn. Dù vậy 43 phần trăm người Việt Nam cho rằng những phương pháp này là hợp lý so với 36 phần trăm có quan điểm ngược lại.
Nói ‘không’ với Trung Quốc
Trung Quốc nhìn chung nhận được đánh giá tích cực từ cộng đồng quốc tế, tuy nhiên Nhật Bản và Việt Nam là hai nước nổi bật trong cuộc khảo sát vì có quan điểm rất tiêu cực về Trung Quốc với tỉ lệ lần lượt là 89 và 74 phần trăm. 19 phần trăm người Việt Nam có quan điểm tích cực về Trung Quốc, cao hơn năm ngoái 3 điểm phần trăm.
Tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc và các nước láng giềng ở Biển Đông Trung Hoa và Biển Đông, và những hành động quyết liệt của nước này nhằm khẳng định chủ quyền, dường như là một trong những nguyên nhân dẫn tới quan điểm tiêu cực này. Đáng lưu ý là 54 phần trăm người Philippines, nước cũng vướng vào tranh chấp lãnh hải căng thẳng với Trung Quốc, có quan điểm tích cực về Trung Quốc so với 43 phần trăm tiêu cực.
Việt Nam, Nhật Bản, Philippines là ba nước thể hiện mạnh mẽ nhất quan điểm Trung Quốc sẽ không bao giờ thay thế Mỹ trong vai trò siêu cường thế giới. 50 phần trăm người Việt Nam nói rằng hiện giờ Mỹ mới là cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới trong khi chỉ có 14 phần trăm nói đó là Trung Quốc.
Trung Quốc bị đánh giá kém về vấn đề nhân quyền với nhìn nhận tiêu cực nhất đến từ các nước phương Tây, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia. 53 phần trăm người Việt Nam có cùng quan điểm này.
Đồng lòng về TPP
Chiến lược chuyển trọng tâm về châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ nhận được sự quan tâm rất lớn của các nước trong khu vực với hai cột trụ chính yếu là thỏa thuận thương mại tự do Quan hệ Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) với 11 nước và những cam kết quân sự của Mỹ với các đồng minh ở châu Á.
Việt Nam dẫn đầu 12 nước đối tác TPP về tỉ lệ ủng hộ với 89 phần trăm người được khảo sát nói rằng thỏa thuận thương mại này là điều tốt, và chỉ có 2 phần trăm cho rằng không tốt. Khảo sát của Pew cho thấy tuyệt đại đa số (95 phần trăm) thanh niên Việt Nam từ 18 tới 29 tuổi ủng hộ đất nước gia nhập TPP trong khi tỉ lệ ủng hộ ở hai nhóm tuổi còn lại cũng rất cao, 86 và 87 phần trăm. 69 phần trăm người Việt Nam đề cao thắt chặt quan hệ kinh tế với Mỹ trong khi với Trung Quốc là 18 phần trăm và 4 phần trăm với cả hai nước.
Về quan hệ với Trung Quốc, gần ba phần tư người Việt Nam cho rằng cứng rắn với Trung Quốc về tranh chấp lãnh thổ quan trọng hơn là có mối quan hệ kinh tế mạnh mẽ với nước này (17 phần trăm). Đây có thể là lý do quan trọng giải thích vì sao tới 71 phần trăm người Việt Nam hoan nghênh Mỹ tập trung nguồn lực quân sự về khu vực châu Á.
Xem chi tiết kết quả cuộc khảo sát của Pew tại đây.

 

Mỹ yêu cầu Việt Nam giảm bớt lệ thuộc vào nguyên liệu từ TQ

alt

Công nhân dệt may tại nhà máy may mặc ở Gia Hưng, tỉnh Chiết Giang.

Tin liên hệ

altBáo cáo mới cho thấy người Việt Nam có quan điểm rất tích cực về Mỹ và mong muốn thắt chặt quan hệ với nước này thay vì Trung Quốc 
24.06.2015
Nhằm mục đích nâng đỡ các nhà xuất khẩu của Mỹ, Hoa Kỳ yêu cầu các nước gia nhập khu vực thương mại Thái Bình Dương hãy giảm thiểu hàng hoá nhập khẩu từ Trung Quốc.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 25.06.2015

NM và nhà thơ Nguyễn Ngọc Phú ở ĐH 8

ĐẠI HỘI NHÀ VĂN VUI ĐÁO ĐỂ

Ngô Minh

 Mỗi kì Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam đều để lại những kỉ niệm khó quên.  Tôi là nhà văn đã dự liên tục nhiều kỳ đại hội Hội Nhà Văn Việt Nam (4, 5, 6, 7,8). Đại hội 9 diễn ra từ ngày 9- 11/7/2015, đã có giấy mời. Như thế tôi đã dự 6 ĐH nhà văn. Nhiều chuyện vui lắm. Đối với tôi, ấn tượng nhất là Đại hội IV họp 6 ngày, từ 26/10 đến ngày 1/11/1989 tại Hội trường Ba Đình. Tôi đã ghi tốc ký đầy một cuốn sổ tay đầy. Dự kiến sẽ viết một cuốn sách, nhưng chưa viết được. Trong Đại hội này các nhà văn đã bàn nhiều chuyện rất nghiêm túc như:  không nên có một phương pháp sáng tác duy nhất, tự do sáng tạo, đổi mới văn chương, nghị quyết 05 của Bộ Chính trị về Văn hoá văn nghệ, về việc đổi mới của báo Văn Nghệ , tạp chí Sông Hương. Đại hội bầu trực tiếp Tổng thư ký Hội, quy định một người không giữ chức Tổng thư ký quá hai nhiệm kỳ, thông qua điều lệ mới v.v…Đại hội sôi nổi và căng thẳng giữa  2 phe “cấp tiến” và “bảo thủ” . Nhiều người Hà Nội đến trước Hội trường Ba Đình “biểu tình”, chờ các nhà văn nghỉ giải lao để gửi kiến nghị lên trên. Các bác xích lô Hà Nội thấy tôi đi bộ, đeo phù hiệu ĐH là mời ngồi lên xe về nhà khách Chu Văn An không lấy tiền vì nhà văn đổi mới…Nhân Đại hội Nhà văn IX sắp họp, tôi muốn kể những chuyện rất lạ, rất vui mà chỉ có Đại hội Nhà văn mới có. (Đọc tiếp…)

NM ở Vạn lý Trường thành

Trung Quốc dám làm những điều loài người không dám!

Hà Văn Thịnh

Những hành động càn rỡ, ngang ngược của nhà cầm quyền Trung Quốc (TQ) trong mấy tháng gần đây ở Biển Đông – xây dựng trái phép những công trình kiên cố quy mô lớn trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam, đã và đang đe dọa, thách thức nghiêm trọng nền độc lập của dân tộc Việt Nam! Rất cần phải cảnh báo rằng kinh nghiệm lịch sử cho thấy nhà cầm quyền TQ có “truyền thống” dám làm tất cả những gì người khác không dám. Không ý thức rõ vấn đề này, cứ để cho người TQ làm cái sự đã rồi thì tất cả đều đã muộn…
Để duy trì quyền lực, các hoàng đế TQ dám làm những điều mà không một người nào ở bất kỳ dân tộc nào, bất kể thời điểm nào có thể “nghĩ” ra. Sử ký Tư Mã Thiên cho biết tướng Tần là Bạch Khởi, theo lệnh của Tần Doanh Chính (tức tần Thủy Hoàng sau này) chôn sống một lúc 40 vạn hàng binh nước Triệu năm 228 tr.CN!

Đàn áp những người chống đối thì từ cổ chí kim không hiếm, thế nhưng, dùng xe tăng để nghiến nát sinh viên – cháu con của chính họ, thì chỉ có TQ là độc nhất vô nhị trên trái đất này.
“Đầu tư” cả cái thai trong bụng để sau này làm vua như cách Lã Bất Vi đã làm là chuyện không thể tìm ra cái tương tự trong sử sách nhân loại…
Kiên nhẫn khác thường là một trong những đặc tính nổi bật của TQ. Họ dám bỏ ra gần 100 năm để đục núi đá, làm nên pho tượng Phật ngồi cao gần 100m trên núi Nga Mi; dám bỏ ra gần 500 năm để xây Vạn Lý Trường Thành (VLTT)…. Tại sao không nghĩ rằng họ có thể bỏ ra 50 năm hay 100 năm để dần dần, từng chút một, gặm mòn, lấn chiếm hết đảo này đến đảo khác ở Biển Đông?
Bất chấp tốn kém về người và của, miễn… xong việc, là đặc tính thứ hai. Các nhà sử học ước tính, để xây VLTT, không ít hơn vài triệu người đã bỏ mạng. Để xây Di Hòa Viên, Từ Hy Thái Hậu “cho qua” toàn bộ kinh phí lẽ ra dành cho phát triển một hạm đội, miễn là bà ta được vui thú cuối đời. Không ít chuyên gia trên thế giới tính rằng chỉ riêng việc vận chuyển vật liệu để xây các công trình trên các đảo Gạc Ma, Huy Gơ (thuộc Trường Sa, Việt Nam) đã tốn nhiều tỷ USD. Hai đảo này nằm giữa Trường Sa: khỏi phải bàn về âm mưu dài lâu, nham hiểm của cách xây để cướp.
Dám làm mọi sự không tưởng nhưng vẫn làm được là đặc tính thứ ba. Từ thời cổ đại, Hán Vũ Đế (140-87 tr.CN) đã “mơ” giấc mơ kiềm chế… người Việt bằng cách ra lệnh cấm bán gia súc, gia cầm giống cái cho người Giao Chỉ(!?). Nói như thế để thấy ‘giấc mơ’ đè ép người Việt của chủ nghĩa Đại Hán đã có ít nhất từ 2.100 năm trước!
Gần đây nhất, chúng ta thấy TQ dám thành lập cái gọi là ‘thành phố Tam Sa”, trắng trợn gộp hai quần đảo của Việt Nam vào Đông Sa. Chưa có nước nào trên thế giới thành lập một thành phố mà nơi đầu đến chỗ cuối cách nhau cả ngàn cây số(!) Và, họ đang xây những tòa nhà cao đến 8 tầng để chứng minh rằng đó là thành phố?…
Không từ bất kỳ thủ đoạn nào, dẫu tàn ác, phi nhân, theo nguyên tắc “cứu cánh biện minh cho phương tiện” là đặc tính thứ tư.
Trên thế giới, không hiếm những chính quyền đàn áp dã man người dân nhưng dùng xe tăng để nghiến nát sinh viên như TQ đã làm là điều không ai dám! Cũng tương tự như thế, việc các triều đại “hy sinh” hàng triệu mạng sống để xây một công trình là điều chưa hề xảy ra trong lịch sử. VLTT là dẫn chứng điển hình.
Việc dẫu nhỏ, nhưng nếu cần để phô trương quyền lực thì TQ vẫn làm, là đặc tính thứ năm.
Ở Tử Cấm Thành có những tảng đá nguyên khối dài 11m, rộng 3,8 m (mà người viết bài này đã đo bằng thước dây), dày nghe đâu là 1m nặng hơn 200 tấn(!) để làm “lối đi” của hoàng đế Trung Hoa, được khai thác cách Bắc Kinh hàng chục km. Vua chẳng bao giờ đi trên tảng đá đó vì nó chạm hình rồng, đi là tai nạn.
Thế nhưng, TQ sẵn sàng đào một con kênh dài hàng chục km, dẫn nước vào, chờ mùa đông đóng băng để “chở” những tảng đá đó về bằng cách kéo trượt trên băng. Nói như thế để thấy rằng đừng nghĩ việc nhỏ, phi thực tế nhưng có ý nghĩa chính trị, đối ngoại xâu sa thì TQ vẫn làm…
Những khái quát trên đây chỉ mới là phần nổi dễ thấy của một tảng băng. Còn rất nhiều những sự kiện, những bài học chua xót mà loài người phải luôn cảnh giác từ nguy cơ Đại Hán. Một trong những bài học điển hình nhất là bài học về Nhà Thanh – người Mãn. Lúc đầu, Mãn Thanh định Mãn hóa người Hán nhưng về sau, họ đã tự Hán hóa một cách thụ động vì không thể thoát được những thủ đoạn tinh vi của người Hán. Đến nay, trong số hàng triệu người gốc Mãn, chỉ còn vài trăm người nói tiếng Mãn là “tấm gương” nhãn tiền về nguy cơ Hán hóa đối với bất kỳ dân tộc nào chịu ảnh hưởng trực tiếp và bị chi phối bởi TQ…
Chế Lan Viên đã có vần thơ rất hay: Hãy cảnh giác em ơi cảnh giác/ Nửa cái hôn phải tỉnh thức ngó quân thù… Thiết nghĩ, lời cảnh báo vẫn còn nguyên giá trị cho đến tận bây giờ…
Huế, 21.5.2015
H.V.T.

 

 

VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC VĨNH BIỆT GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ

  QTXM vô cùng xúc động và kính tiếc báo tin:

Giáo sư Tiến sĩ
TRẦN VĂN KHÊ
sinh 1921
Nguyên Giáo sư Đại học Sorbonne Paris,
Nguyên Giám đốc nghiên cứu (Directeur de recherche) Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp.Thành viên danh dự Hội đồng Quốc tế Âm nhạc (Unesco). Viện sĩ thông tấn Hàn Lâm viện châu Âu Khoa học, Văn chương, Nghệ thuật.
Đã từ trần hồi 020h55 ngày 24/06/2015 (tức ngày 09/05 Ất Mùi) tại bệnh viện nhân dân Gia Định (TP. Hồ Chí Minh) Hưởng thọ 94 tuổi.

TIỂU SỬ GS TRẦN VĂN KHÊ

Trần Văn Khê sinh ngày 24 tháng 7 năm Tân Dậu (1921) tại làng Đông Hòa, tổng Thuận Bình, tỉnh Mỹ Tho (nay là huyện Châu Thành, Tiền Giang) trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ, nên từ nhỏ ông đã làm quen với nhạc cổ truyền. Năm lên 6 tuổi ông đã được cô (Ba Viện) và cậu (Năm Khương) dạy đàn kìm, đàn cò, đàn tranh[2], biết đàn những bản dễ như “Lưu Thuỷ”, “Bình Bán vắn”, “Kim Tiền”, “Long Hổ Hội”. Ông nội ông là Trần Quang Diệm (Năm Diệm), cha ông là Trần Quang Chiêu (Bảy Triều), cô là Trần Ngọc Viện (tức Ba Viện, người đã sáng lập gánh cải lương Đồng Nữ ban), đều là những nghệ nhân âm nhạc cổ truyền nổi tiếng. Cụ cố ngoại ông là tướng quân Nguyễn Tri Phương. Ông ngoại ông là Nguyễn Tri Túc, cũng say mê âm nhạc, có ba người con đều theo nghiệp đờn ca[3]. Một trong số đó Nguyễn Tri Khương, thầy dạy nhạc và nhà soạn tuồng cải lương nổi tiếng. Riêng mẹ ông là Nguyễn Thị Dành (Tám Dành), sớm tham gia cách mạng, gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930 và bị thương rồi mất trong năm đó[4]. Cha ông vì thương nhớ vợ nên qua đời năm 1931. Ông có một người anh họ ngoại (con ông Nguyễn Tri Lạc) là nhạc sĩ Nguyễn Mỹ Ca[4].

 

Mồ côi từ rất sớm, mẹ mất năm 9 tuổi, cha mất năm 10 tuổi, nên ông cùng với hai em là Trần Văn Trạch (về sau là một ca sĩ nổi tiếng, có biệt danh Quái kiệt), Trần Ngọc Sương được cô Ba Viện nuôi nấng. Cô Ba Viện rất thương, cho anh em ông đi học võ, học đàn kìm.

Năm 10 tuổi, Trần Văn Khê đậu tiểu học, sang Tam Bình, Vĩnh Long nhờ người cô thứ năm nuôi. Đến đây Trần Văn Khê được học chữ Hán với nhà thơ Thượng Tân Thị. Trong kỳ sơ học năm 1934 tại Vĩnh Long được đậu sơ học có phần Hán Văn. Cả tỉnh chỉ có Trần Văn Khê và Nguyễn Trọng Danh được đậu bằng chữ Hán.

Năm 1934, ông vào trường Trung học Trương Vĩnh Ký, được cấp học bổng. Học rất giỏi, năm 1938 ông được phần thưởng là một chuyến du lịch từ Sài Gòn đến Hà Nội, ghé qua Phan Thiết, Đà Nẵng, Nha Trang, Huế. Nhờ đậu tú tài phần nhất năm 1940, thủ khoa phần nhì năm 1941, ông được đô đốc Jean Decoux thưởng cho đi viếng cả nước Campuchiaxem Chùa Vàng, Chùa Bạc tại Nam Vang, viếng Đế Thiên Đế Thích. Khi về Việt Nam, nhờ thầy Phạm Thiều giới thiệu, ông được Đông Hồ tiếp đãi, dẫn đi chơi trong một tuần.

Thời gian này, ông cùng Lưu Hữu Phước, Võ Văn Quan lập dàn nhạc của trường, và dàn nhạc của học sinh trong câu lạc bộ học sinh mang tên là Scola Club của hội SAMIPIC. Ông là người chỉ huy hai dàn nhạc đó.

Năm 1942, Trần Văn Khê ra Hà Nội học y khoa. Tại đây, cùng với Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Phan Huỳnh Tấng (nay đổi thành Phạm Hữu Tùng), Nguyễn Thành Nguyên, hoạt động trong khuôn khổ của Tổng hội Sinh viên. Do thể hiện một trình độ cảm nhạc xuất sắc, ông được cử làm nhạc trưởng của giàn nhạc trường, nhân giới thiệu những bài hát của Lưu Hữu Phước. Ông còn tham gia phong trào “Truyền bá quốc ngữ” trong ban của GS Hoàng Xuân Hãn, “Truyền bá vệ sinh” của các sinh viên trường Thuốc, và cùng các bạn Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng tổ chức những chuyến “đi Hội đền Hùng“, và đi viếng sông Bạch Đằng, Ải Chi Lăng, đền Hai Bà.

Năm 1943, ông cưới bà Nguyễn Thị Sương, và sau đó có nhiều sự kiện làm Trần Văn Khê phải xin thôi học để trở về miền Nam. Con trai ông là Trần Quang Hải, sinh năm 1944, sau này cũng là một nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc Việt Nam danh tiếng. Sau Cách Mạng Tháng Tám, ông tham gia kháng chiến một thời gian rồi về vùng Pháp kiểm soát cuối năm 1946.

Ông sang Pháp du học từ năm 1949. Hè năm 1951, ông thi đậu vào trường Chính trị Khoa giao dịch quốc tế. Cho đến năm 1958, ông theo học khoa nhạc học và chuẩn bị luận án tiến sĩ dưới sự chỉ đạo của các Giáo sư Jacques Chailley, Emile Gaspardone và André Schaeffner. Tháng 6 năm 1958, ông đậu Tiến sĩ Văn khoa (môn Nhạc học) của Đại học Sorbonne. Từ năm 1963, ông dạy trong Trung tâm Nghiên cứu nhạc Đông phương, dưới sự bảo trợ của Viện Nhạc học Paris (Institut de Musicologie de Paris). Ông là thành viên của Viện Khoa học Pháp, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm châu Âu về Khoa học, Văn chương và Nghệ thuật cũng như nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế khác; là Chủ tịch Hội đồng Khoa học của Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc bằng phương pháp đối chiếu của Đức (International Institute for Comparative Music Studies)[5].

Sau 50 năm nghiên cứu và giảng dạy ở Pháp, nay ông trở về sinh sống và tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc tại Việt Nam. Ông cũng là người đã hiến tặng cho Thành phố Hồ Chí Minh 420 kiện hiện vật quý, trong đó có nhiều loại nhạc cụ dân tộc và tài liệu âm nhạc.

Sau một thời gian bị bệnh, ông qua đời vào khoảng hai giờ sáng ngày 24 tháng 6 năm 2015 tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định, Thành phố Hồ Chí Minh.

 

Tàu sân bay Mỹ vào biển Đông

Thế giới ủng hộ chính sách của Mỹ ở Châu Á và Trung Đông

Một cuộc thăm dò mới cho thấy đa số dân chúng trên thế giới ủng hộ sự dịch chuyển quân sự của Mỹ sang Á Châu và chiến dịch quân sự do Mỹ lãnh đạo để chống lại Nhà nước Hồi giáo, hai nỗ lực hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Tòa Bạch Ốc.

Theo Trung tâm Nghiên cứu Pew, kết quả thăm dò ý kiến công chúng ở 40 quốc gia cho thấy sự đánh giá tổng quát đối với nước Mỹ tiếp tục có tính chất tích cực. 69% dân chúng thế giới bày tỏ quan điểm tích cực đối với nước Mỹ. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.06.2015

Mùi hiện sinh trong thơ Hoàng Vũ Thuật

Nhà thơ Hoàng Vũ Thuật

Mùi hiện sinh trong thơ Hoàng Vũ Thuật

TS. TRẦN HOÀI ANH

  QTXM- Theo TS Trần Hoài Anh, ” Với tập thơ Mùi, Hoàng Vũ Thuật là một trong không nhiều nhà thơ đã mang đến cho thơ ca hiện đại Việt Nam một cách nhìn khác về cuộc đời. Đó là một cái nhìn hiện thực như nó vốn có chứ không phải như nó phải có…”. Xin giới thiệu cùng bạn đọc bài viết rất hay, rất  đáng giá về thơ Hoàng Vũ Thuật hiện nay

  1. Không hiểu vô tình hay sự lựa chọn có ý thức, Hoàng Vũ Thuật mở đầu tập thơ Mùi(1) của mình với bài thơ “Chiếc ghế bỏ trống” viết tặng bạn anh, nhà viết kịch, với những câu thơ đong đầy ưu tư mà khi đọc lên và ngẫm ngợi ta không khỏi cảm thấy se sắt cõi lòng trước lẽ biến dịch của cuộc đời.

                                  rồi nắng tắt

                                  nặng trĩu đêm dày

                                  sóng bận rộn cuộc tình muôn thuở

                                  ngôi sao vụt sáng nỗi thèm khát

                                  anh nghe cuộc đời cựa quậy

                                  chỗ chiếc ghế bỏ trống.

                                                     (Chiếc ghế bỏ trống)

2. Đời vốn là sân khấu với những biến dịch khôn lường của thế sự. Ý tưởng này không mới, thậm chí cũ mòn. Song, cái mới ở đây là cách nhìn cuộc đời với những biến dịch đầy bi hài chỉ diễn ra “quẩn quanh” bên một “chiếc ghế bỏ trống”. Và cũng từ “chiếc ghế bỏ trống” này, những phận người nổi trôi, bồng bềnh, chìm đắm trong cõi u minh của lợi danh, lừa gạt, tị hiềm, giả dối, phi nhân… cứ thế mà “cựa quậy”, mà bày ra một cách “trần trụi” giữa cuộc đời. Và cứ thế, cuốn con người vào những bến mê của sự huyễn hoặc, của bi kịch phận người mà chủ nghĩa hiện sinh gọi đó là sự vong thân, sự tha hóa bản thể trong kiếp lưu đày của thân phận trước một thế giới đầy những buồn nôn… Và đây chính là mùi hiện sinh, một cảm thức chủ đạo tan chảy trong thơ Hoàng Vũ Thuật, cái mùi mà bằng sự cảm nhận tinh tế của một thi nhân luôn khắc khoải trước số phận con người, anh đã nhìn thấy sự “lây nhiễm” của nó đối với nhân tính, khi con người ngày càng tha hóa khủng khiếp trước quyền lực, dục vọng, tiền tài…

Mùi…

                    có thể viêm nhiễm sau cuộc giải phẫu

                    có thể mới ra đời đã biến mất

                    có thể từ trời cao đổ xuống từ dưới đất trồi lên

                     ….

                    mùi mưa mùi nắng mùi gió mùi cáu bẩn

                     mùi nguyên trinh

                    mùi kiệt quệ mùi phục sinh mùi mùa

                    mùi của mùi.

(Mùi)

Vì vậy, trong tận cùng tâm cảm, anh đau với nỗi đau của đồng loại khi con người bị cuốn vào vòng xoáy của thế sự đảo điên. Và câu hỏi nhà thơ tự vấn chính mình cũng là tự vấn tha nhân.

sao loài người

                           mê ngủ

                           hoài thai cùng đảo điên

                                      (Ngày mới)

Và những đảo điên của thế sự đã làm vỡ nát tâm hồn vốn rất dễ bị tổn thương của thi nhân khi anh nhận ra quá nhiều điều bất an của cuộc sống đang từng phút, giây hiển hiện như những hố thẳm chôn vùi nhân phẩm con người, đẩy con người vào những bi kịch có tên và không tên, được sơn phết bằng những mỹ từ “nằm ngoài chân lý” với những mớ “lý luận huyễn hoặc”, hoàn toàn xa lạ với những giá trị nhân bản của loài người.

 

                              tôi nhai nhạt nhẽo cuốn sách ngược nội dung

                              thuộc làu mỹ từ nằm ngoài chân lý

                              chữ nghĩa nhảy dây rười rượi màu son

                                                            (Hai ngày không tôi)

Không những thế, mùi hiện sinh trong thơ Hoàng Vũ Thuật còn thể hiện trong nhiều bài thơ nói về nỗi khổ đau phận người như sự ám ảnh của một tâm thức hiện sinh mà anh đã trải nghiệm từ “những điều trông thấy” trước nỗi “đau đớn lòng”. Và sự nghiệm sinh này là nhân tố giúp anh chuyển hóa hệ hình tư duy nghệ thuật thơ của mình, dũng cảm bứt phá, vượt thoát khỏi lối tư duy thơ ca minh họa để vươn đến chân trời mới, hệ hình mới với ý thức sáng tạo mới. Phải chăng, đây cũng là một giá trị cần được ghi nhận trong sự vận động của tư duy thơ Hoàng Vũ Thuật ở một số bài thơ gần đây mà tập thơ Mùi là một minh chứng. Bởi, với một nhà thơ “lớp trước” như anh, việc từ bỏ cái “ao tù” của tư duy thơ chật hẹp để vươn ra “biển lớn” là điều không dễ dàng, nếu nhà thơ không có ý thức tự lột xác mình. Chính điều này đã đưa anh đến với cảm thức hiện sinh, một cảm thức mang tính nhân văn sâu sắc, bởi nó luôn quan tâm đến số phận con người, với nỗi cô đơn bản thể, với sự mong manh, hư ảo của kiếp nhân sinh. Và với một trái tim “không ngủ yên”, trước đau thương của nhân quần, Hoàng Vũ Thuật đã thể hiện cảm thức hiện sinh trong thơ thật cảm động mà khi đọc lên ta không khỏi thấy lòng quặn thắt, đớn đau.

                                     những cánh tay chọc thủng gạch ngói

                                     những chiếc nón vẫy mưa

                                     những tiếng kêu đứt đoạn

                                     những hốc mắt đói nhìn

                                     mỏi mòn đêm tối

                                     kiệt quệ rạng ngày

                                       …

                                    mẹ thắp hương chờ

                                    những đứa con không trở lại

                                    những đứa con khát sữa gào lên khuya khoắt

                                    sạp giường lạnh tanh

                                    đôi vòng tay trơ rỗng

                                    sách vở trộn bùn đất

                                    rơm rạ trộn thây người

                                                  (Lá cứ hồn nhiên)

Vâng! “Lá cứ hồn nhiên”… Song, chẳng lẽ con người lại cứ mãi hồn nhiên trước nỗi đau của đồng loại!? Đó là những câu hỏi xuyên thủng lịch sử mà Hoàng Vũ Thuật đặt ra trong thơ. Bởi suy cho cùng, giá trị cao quí của thơ ca hay lịch sử không phải là sự biện minh cho một chủ thuyết nào chính là giá trị nhân văn, là sự quan tâm đến từng số phận con người được thể hiện trong đó.

                                      đôi khi ngoái về trái đất nhìn

                                      thác máu xối xả

                                      biển đen ngòm hoại tử

                                      những bóng câm lặng vật vờ 

                                      những vở tuồng chính trường châu lục

                                      những chém giết kinh hoàng 

                                      những trận động đất kép

                                                          (Hai ngày không tôi)

Đã một thời, thơ không chạm đến niềm đau, nỗi buồn. Thậm chí, những điều này bị xem như một cấm kỵ. Nhưng, nếu thơ không nói đến nỗi đau phận người vốn là căn tính của bản thể thì thơ có hoàn thành sứ mệnh của mình với thiên chức là sứ giả của cái đẹp để cứu rỗi con người hay không!?. Và như vậy, liệu thơ có còn cần cho con người, khi nó chỉ là những lời tụng ca sáo rỗng, vô nghĩa, cổ xúy cho những thứ ngụy tín hoàn toàn xa lạ với con người!? Hoàng Vũ Thuật ý thức rất rõ điều này nên mùi hiện sinh trong thơ anh thấm đẫm chất nhân bản sâu sắc là vì thế.

       đôi khi tôi nhớ ngày mẹ tôi ra trường đấu 

                               dượng tôi vỡ sọ sau loạt đạn người thân

                               anh tôi ngả xuống

                               chẳng kịp nhắn tin

                               chú tôi kháng chiến

                               một đi không trở lại 

                               thằng bạn họ Hoàng buồn bã

                                 ngày ngày

                               cúi lạy cô đơn

                                         (Hai ngày không tôi)

Và từ nỗi đau phận người, mùi hiện sinh trong thơ Hoàng Vũ Thuật còn biểu hiện ở nỗi cô đơn thận phận, ở khát vọng tự do trong các bài thơ: Chiếc ghế bỏ trống, Trước nhà thờ Đức Bà Pari, Trở về, Tự do, Buồn ơi, Bài thơ chưa viết… Ở những bài thơ này, nỗi cô đơn phận người luôn dày vò tâm cảm anh, cứa vào lòng anh những vết thương rỉ máu mà sự thấu cảm trước nỗi “cô độc” của Quasimodo, một “kỳ nhân” nhưng không “kỳ tâm” trong tiểu thuyết Nhà thờ Đức Bà Paris nỗi tiếng của Victor Hugo không khỏi làm ta nhói lòng.

                                  hai mươi tám vị tông đồ ngự trên tường cao

                                hai mươi tám cánh thiên thần

                                trắng muốt

                                tôi là thằng gù Quasimođo

                                đơn độc

                                kéo hồi chuông

                                hỡi những hồn oan bé nhỏ bây giờ nơi đâu.

                                                   (Trước nhà thờ Đức Bà Paris)

Hay sự thổn thức của niềm cô đơn bản thể hiển lộ qua cảm thức rỗng không ở các bài thơ: Hai ngày không tôi, Nàng biến đi trong gió, Rỗng... Và tận cùng của nỗi cô đơn là: cuộc chơi trốn tìm / tôi bắt được nàng / nhưng chỉ là cái bóng vô hình cái bóng chẳng nói / cái bóng đầy tôi /cái bóng của những khoảng trống / trong suốt (Nàng biến đi trong gió) Để rồi: đắng cay chồng hạnh phúc / con đường mới xuyên qua cuộc đời em lặng lẽ (Rỗng)

Song hành với nỗi cô đơn là nỗi khao khát tự do bản thể, một khát khao mà nhân loại luôn ngưỡng vọng. Và điều này được Hoàng Vũ Thuật nói đến trong thơ như một tuyên ngôn sống của anh và thế hệ anh mà một thời không được, hoặc không dám nói đến, dù chỉ trong thơ: hôm nay ngày cuối / bắt đầu một kiếp khác / tự do / ăn tự do ngủ tự do nói tự do làm tự do sống tư do (Người)

Tôi muốn chia sẻ cùng bạn đọc cái cảm thức tự do mà theo Hoàng Vũ Thuật là :“thông điệp của mọi thông điệp”. Và bài thơ Tự do, theo tôi là một tượng đài thiêng liêng của khát vọng tự do bản thể dựng lên bằng sự trải nghiệm cả một đời người qua bao đắng cay của thế cuộc mà thi nhân muốn gởi đến chúng ta.

                          tự do như chữ viết có mắt có chân

                         bay lên xuyên tường rào xuyên núi xuyên đất

                         đến và đi không biên giới

                           tự do vang trong ngôi nhà ấm áp tiếng cười trẻ thơ

                         nước từ chỗ cao xuống thấp

                         khát cần uống đói cần ăn

                          …

                        tự do thông điệp của mọi thông điệp

                        giản dị chân thành cuộc gặp không định trước

                        người nằm xuống tự do đứng lên.

                                                            (Tự do)

Nhận thức về tự do bản thể cũng là nhận thức được qui luật biến dịch của đời sống nên những suy niệm về sự hư ảo của kiếp người cũng là một phương diện thể hiện mùi hiện sinh trong thơ Hoàng Vũ Thuật ở các bài thơ: Viết cho một người bạn vừa treo cổ, Trà đạo, Không không phải, Ánh chớp, Nước, Lý giải... Cát bụi rồi cũng sẽ trở về cùng cát bụi. Không có cái gì trên đời này là miên viễn. Nếu ai đó tin rằng ở cõi trần còn có cái gì là vĩnh hằng thì chỉ là những ý nghĩ điên rồ huyễn hoặc của một thứ tư duy hoang tưởng. Ta hãy nghe Hoàng Vũ Thuật chia sẻ điều ấy trong thơ:

                  cái sống không mang nổi ý nghĩa thì cái sống chỉ là sợi dây

                  đánh đu cùng cái chết

                  anh đánh đu tất thảy mọi thứ trên đời

                   và

                  mọi thứ

                  không bao giờ thật cả.

                                    (Viết cho một người bạn vừa treo cổ)

Vâng! Mọi thứ “không bao giờ thật cả”!? Có những điều hôm nay là chân lý nhưng ngày mai lại là ngụy chân lý. Sự hoài nghi, phải chăng cũng là điều cần thiết cho cuộc sống mà nếu không có đủ độ chín của tư duy và chiều sâu tâm hồn, thi nhân không thể đặt ra trong thơ mình những tâm tưởng mang tính phản biện sâu sắc đến thế? Tôi rất thú vị với ý thức phản biện trong thơ Hoàng Vũ Thuật. Chính sự “lật trở” của một tư duy thơ luôn vận động đã làm nên một giá trị khác của thơ anh đó là tính triết luận. Và chính chất triết luận làm cho mùi hiện sinh trong thơ Hoàng Vũ Thuật có hương vị riêng, đầy quyến rũ. Ta hãy nghe anh lý giải về cái không “có thật” ở cuộc đời bằng cái nhìn thấm đẫm màu sắc hiện sinh qua sự chuyển dịch của hiện hữu:

                                          đám mây

                                      dạt vào khoảng không rồi tan biến

                                      để lại giọt nước trên mặt hồ

                                      sinh tử.

                                      bong bóng bước trong sương giá

                                      tin rằng

                                      vũ trụ trong lòng tay

                                      sự tàn lụi tín ngưỡng

(Lý giải)

Và chính vì sự dịch chuyển vô thường của hiện hữu, nên nhiều khi con người không lý giải nổi về sự hiện hữu của chính mình. Trong cái nhìn của triết học hiện sinh mọi hiện hữu đều phi lý và đây cũng là một phẩm tính của mùi hiện sinh trong thơ Hoàng Vũ Thuật qua những câu hỏi đầy trăn trở. Về đâu /dòng sông ngang qua đời / ta /không bọt / về đâu những con sóng vỗ chân cầu /đừng nói nữa / chiếc hộp trà đêm đêm /đối diện /dấu đi /thi thể ngàn năm / trôi / sóng truyền kiếp / chiều nay / dạt phía chân cầu. (Trà đạo) Và : Tôi phải làm gì / với sợi dây thời gian / căng chặt quanh người / đè nặng hơi thở cơn mê vòm ngực / trước đường biên / hữu hạn (Không không phải)

3. Để trả lời câu hỏi thơ là gì, mỗi nhà thơ có cách lý giải riêng. Và cách lý giải của Hoàng Vũ Thuật ở đây chính là cảm thức hiện sinh được thể hiện trong thơ anh với những dằn vặt, ưu lo trước số phận con người, là sự hoài nghi trước những phi lý đến buồn nôn của hữu thể. Thơ Hoàng Vũ Thuật, vì vậy, là thơ có Tính Người, một giá trị mà mọi nhà thơ chân chính đều hướng đến. Và nếu nói như Apollinaire: “Nhà thơ là kẻ tìm ra được hứng thú mới, dẫu hứng thú đó khó chịu đựng. Có thể thành nhà thơ ở mọi lĩnh vực: Miễn là thích phiêu lưu và đi khám phá” (2) thì Hoàng Vũ Thuật là nhà thơ như thế. Bởi, thi nhân đã không ngừng khám phá cuộc sống, khám phá chính mình để sáng tạo và chính điều này là căn cước cho sự tồn sinh của thơ anh trong cuộc đời cũng như trong tâm thức người tiếp nhận. Vì nói như Pierre Reverdy: “Thơ không ở trong cuộc đời, cũng chẳng ở trong sự vật – Thơ chính là cách sử dụng sự vật và cuộc đời, cùng là cái gì anh mang thêm vào cuộc đời và sự vật.” (3)

Với tập thơ Mùi, Hoàng Vũ Thuật là một trong không nhiều nhà thơ đã mang đến cho thơ ca hiện đại Việt Nam một cách nhìn khác về cuộc đời. Đó là một cái nhìn hiện thực như nó vốn có chứ không phải như nó phải có. Và đây là khởi nguyên để tạo nên cái mùi hiện sinh đầy nhân bản, một giá trị cần được khẳng định trong thơ Hoàng Vũ Thuật và thơ ca dân tộc hôm nay và mai sau…

Xóm Đình An Nhơn, Gò Vấp, tháng Giêng, Ất Mùi

Sài Gòn, 12.3.2015

 

Chú thích:

(1) Tập thơ Mùi của Hoàng Vũ Thuật, Nxb. Hội Nhà văn, H, 2014)

 (2), (3) Trần Hoài Anh, Thơ – Quan niệm và Cảm nhận, Nxb. Thanh niên, H, 2010, tr. 269, tr.270, tr.271

  Qua cuốn giáo trình của tiến sĩ Hoàng THị Huế, báo động với trình độ soạn giáo trình ở trường Đại học sư phạm Huế

 

   QTXM- Ngày 17/6/2015, chúng tôi cho in bài của Võ Văn Kha phê phán cuốn giáo trình văn học soạn cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm của cô giáo-tiến sĩ Hoàng Thị Huế, đến nay đã 8 ngày. Chúng tôi đã liên tục gửi đến bạn đọc bốn phương nhiều bài viết của các tác giả  phân tích, trao đổi, phân phán. Chỉ có một bài duy nhất của Lê Đức Quân là nói ngược lại, phản đối sự phê phán và đặt câu hỏi ” động cơ thực sự của Võ Văn Kha (?) ở đây là gì? Có phải là sự gài bẫy nham hiểm để báo tư thù không ?”. Kỳ này QTXM xin đăng tiếp bài viết của tác giả Nguyễn Phước Nhơn tiếp tục phân tích những yếu kém, bất cập của cuốn giáo trình và báo động về trình độ soạn giáo trình ở trường Đại học sư phạm Huế. Chúng tôi cũng nhận được nhiều comments của bạn đọc và nhiều điện thoại của độc giả phê phán cuốn giáo trình, kể cả điệnt hoại của một tờ báo muốn viết về việc này. Như thế là đã rõ. Giáo trình VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI GIAI ĐOẠN 1930-1945 của tiến sĩ Hoàng Thị Huế là cuốn giáo trình yếu kém nhiều mặt, từ câu chữ, nhận định đến lựa chọn tác giả, phương pháp biên soạn…Chúng tôi cho rằng giáo trình như thế không xứng đáng dùng để giảng dạy cho sinh viên đại học, những người sẽ trở thành thầy giáo sau này. Đề nghị ông Giám đốc Đại học Huế, ông Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Huế cùng Hội đồng khoa học của trường xem xét lại chất lượng cuốn giáo trình để khỏi làm ảnh hưởng đến chất lượng sinh viên ra trường. Nhận thấy mọi sự đã được sáng tỏ, QTXM xin dừng cuộc trao đổi ở đây. Các ý kiến  phê phán trao đổi tiếp tục đề nghị gửi về ông Hiệu trường Trường Đại học sư phạm Huế. NHÀTHƠ NGÔ MINH

  Nguyễn Phước Nhơn

Xem xong các bài viết trên Quà tặng xứ mưa tôi tìm đọc cuốn giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại giai đoạn 1930 – 1945 của tiến sĩ Hoàng Thị Huế, Nxb Đại học Huế năm 2015. Tôi nghĩ vị tiến sĩ này chẳng lệch lạc gì về tư tưởng như ông Võ Kha nói đâu, mà là sự kém cỏi, hạn hẹp về kiến thức. Chính trình độ kém dẫn đến việc biên soạn một cuốn giáo trình ngây ngô, nông cạn. Không hiểu sao một cuốn sách kém như vậy mà vẫn được xuất bản và vẫn được đem ra giảng dạy ở một trường đại học?
Cảm giác đầu tiên của tôi: đây là một cuốn sách cẩu thả, vội vàng. Những sai sót mà tác giả Võ Văn Kha chỉ ra là hoàn toàn chính xác. Tuy nhiên, những lỗi này không nghiêm trọng bằng những sai sót, phiến diện về nội dung của cuốn giáo trình này. Ở đây tôi không nói về tiểu tiết mà xin đưa ra những vấn đề trọng yếu:
– Quan điểm viết giáo trình thiển cận (lựa chọn tác giả tùy tiện, phiến diện).
– Phương pháp biên soạn máy móc, rập khuôn (chủ yếu lược kê lại tiêu mục ở phần kết luận).
– Nhầm lẫn giai đoạn lịch sử (giai đoạn 1930 – 145, nhưng phân tích Di chúc – 1969, tr. 243).
– Các tiêu mục lộn xộn, không logic, phi khoa học (không theo một tiêu chí nào cả.
– Lấy ý kiến của nhiều người khác nhưng không trích dẫn rõ ràng (đạo văn).
1. Trước hết nội dung hạn hẹp, phiến diện của cuốn sách này xuất phát từ quan điểm viết giáo trình rất thiển cận. Đối với bộ môn văn học sử điều quan trọng nhất là giúp sinh viên nắm bắt được đặc điểm, diện mạo, các thành tựu của từng giai đoạn văn học. Vậy mà vị tiến sĩ này đã lựa chọn tác giả, tác phẩm một cách rất tùy tiện. Tác giả cho rằng: “một số nhà thơ như Tố Hữu, Xuân Diệu, Huy Cận do sẽ đề cập đến trong phần văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 nên không đưa vào khảo sát “ (xem tr.6).
Quan niệm trên cho thấy người viết giáo trình không hiểu gì về văn học sử, không hiểu gì về phong cách nhà văn gắn với tiến trình vận động và phát triển của văn học. Cùng một nhà văn nhưng mỗi giai đoạn lịch sử có đặc điểm sáng tác khác nhau. Sáng tác của Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên giai đoạn 1930 – 1945 chắc chắn khác giai đoạn 1945 – 1975 về nội dung lẫn hình thức thể hiện.
Vì quan niệm thiển cận như vậy nên tác giả giáo trình đã lựa chọn các tác giả một cách tùy tiện. Tên của cuốn giáo trình là Văn học Việt Nam hiện đại giai đoạn 1930 – 1945, nhưng nội dung bên trong chỉ thiên về giải quyết các nhà văn hiện thực phê phán. Cả một giai đoạn phê bình rất phong phú, tác giả chỉ viết được một mục và mục này chưa tới 6 dòng (Xin xem tr.21). Trào lưu văn học cách mạng thiếu hẳn Tố Hữu – một đại biểu xuất sắc, có những đóng góp quan trọng để làm nên diện mạo của dòng văn học này. Trào lưu văn học lãng mạn: thiếu hẳn Tự lực văn đoàn, Phong trào Thơ mới.
2. Kiến thức nông cạn còn thể hiện ở chỗ: để chứng minh tính hiện đại của giai đoạn này, tác giả đã chọn Nguyễn Bính và phân tích dài dòng về nhà thơ này. Nói đến “tính hiện đại”, trước hết phải kể đến Xuân Diệu và nhóm Trường thơ loạn, với các gương mặt xuất sắc như Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê. Không ai phủ nhận vị trí của Nguyễn Bính giai đoạn 1930 – 1945, đặc biệt là “hồn thơ chân quê da diết”. Tuy nhiên, chọn Nguyễn Bính – một tác giả chủ yếu sử dụng thể thơ truyền thống (thể lục bát) để chứng minh “tính hiện đại” của giai đoạn này thì quả thực là “ngớ ngẩn”!
Với nội dung méo mó như trên, sinh viên sẽ có một cái nhìn phiến diện về quá trình hiện đại hóa của thơ ca Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945. Đây lại là giai đoạn văn học chiếm nội dung khá quan trọng trong chương trình Đại học và phổ thông trung học.
3. Giáo trình này bộc lộ một tư duy máy móc, đơn giản của người biên soạn. Phần mở đầu thì lược kê tác phẩm, kết luận thì lược kê các tiêu mục. Tôi chưa đọc một cuốn giáo trình nào về lĩnh vực văn học mà lại có kiểu soạn tệ hại như vậy. Việc giới thiệu tiểu sử và sự nghiệp của một tác giả là hết sức quan trọng, tuy nhiên không ai lại lược kê một cách máy móc, rập khuôn như vậy.
Có nhiều mục tác giả không giải quyết bất kỳ điều gì ngoài việc lược kê lại tác phẩm (Xin xem chương Nguyễn Hồng tr.119). Có những chương đã lược kê tác phẩm ở phần tiểu sử, phần sau lại lược kê thêm lần nữa (Xem chương Nguyễn Công Hoan tr.27 đã lược kê gần trọn một trang, nhưng tr. 57 lại lược kê tiếp). Người đọc có cảm giác như tác giả này cố gắng độn tư liệu vào để cuốn sách được dày trang thêm, không cần tính đến chất lượng của giáo trình.
Tất cả các phần kết luận đều lược kê lại các tiêu mục và chương nào cũng viết dạng như thế này: “Kết luận: Chương 3 trình bày những kiến thức cơ bản về tác giả Vũ Trọng Phụng: tiểu sử, sự nghiệp sáng tác, quan niệm nghệ thuật,… những đặc trưng nghệ thuật của thể loại phóng sự và tiểu thuyết hiện thực Vũ Trọng Phụng, phong cách nghệ thuật độc đáo của Vũ Trọng Phụng biểu hiện ở nhãn quan hiện thực và khuynh hướng khái quát, triết lý, trào phúng chi phối ở tất cả các phương diện, các cấp độ kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu” (tr.117). Tôi trích nguyên đoạn văn lủng củng này để bạn đọc thấy được “trình độ diễn đạt” của tác giả giáo trình.
Theo yêu cầu một cuốn giáo trình, kết luận của một chương phải trả lời được câu hỏi: những vấn đề giải quyết chương này nhằm để làm gì? Nó có ý nghĩa giáo dục, nhận thức gì cho sinh viên và bạn đọc nói chung? Thao tác lược kê rập khuôn này sẽ dẫn đến một hậu quả nguy hại: nhồi sọ cho sinh viên một lối tư duy máy móc vì lười biếng suy nghĩ.
Còn một số vấn đề khác ở cuốn giáo trình này cần phải bàn tới, tôi chưa kịp đề cập. Điều cần nói ở đây là: một cuốn giáo trình bao giờ cũng có Hội đồng biên tập. Chẳng lẽ Hội đồng chuyên môn lại thờ ờ, thả nổi, không có trách nhiệm gì trong chuyện này? Nếu vị tiến sĩ này mới tập tễnh viết lách thì phải tham khảo những đồng nghiệp đi trước chứ? Chẳng hạn anh Đại Vinh, anh Bửu Nam, chị Bích Hải, chị Hường… Tôi nghĩ, Ban chủ nhiệm Khoa văn, Ban lãnh đạo trường cần phải xem xét một cách nghiêm túc cuốn giáo trình này.

.Nguyễn Phước Nhơn commented on quick comments

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.06.2015

Nhát chém đầu đời

Nhà thơ Đỗ Hoàng

Nhát chém đầu đời

QTXM- Nhà thơ Đỗ Hoàng (tên thật Đỗ Hữu Lời) là bạn học cùng lớp với Ngô Minh ở Trường Cấp 3 Lệ Thủy,Quảng Bình. Anh làm thơ từ hồi học sinh lớp 8, tự học tiếng Trung Quốc làm được thơ chữ Hán, đã dịch Kim vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân ra hơn 6000 câu lục bát Việt rất hay, xuất bản thành sách Kiều Thơ. Đỗ Hoàng đang viết loạt chuyện gọi là Chuyện nhặt in trên blog của anh ( dohoang.vnweblogs.com). Chuyện Nhát chém đầu đời là một chuyện trong số đó, nhà thơ viết về những ngày tốt nghiệp cấp 3 ở nơi sơ tán rất buồn, liên quan đến nhiều anh em bạn bè, trong đó có Ngô Minh. QTXM xin giới thiệu với bạn đọc.

Đỗ Hoàng

Chết dần dần, chết từ từ, chết từ từ, chết từng phần, chết từng phần, chết dần dần…giống như xử tội tùng xẻo thời trung cổ bên Tàu và sập đầm lầy bên Nga
Điều đó rất đúng với thảm cảnh của tôi năm học lớp 10, niên khóa 1967- 1968, thế kỷ trước ở trường cấp 3 Lệ Thủy A – Tuyên Hóa, Quảng Bình, nhất là những ngày đợi chờ cắt giấy hộ khẩu chuyển về bản quán lao động cải tạo!. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.06.2015

Bên ngoài trời còn có trời

GS Tương Lai

Bên ngoài trời còn có trời

GS Tương Lai

Đây là mượn ý câu của Lý Giác, sứ Tàu đời nhà Tống, “thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu” tạm dịch là ngoài trời còn có trời, đừng có coi thường. Viên sứ Tàu sống ở thế kỷ thứ X này xem ra hiểu biết hơn, có viễn kiến hơn ngài ngoại trưởng họ Vương thế kỷ XXI (không hiểu có phải hậu duệ của Tổng binh Vương Thông thế kỷ XV đời nhà Minh bị nghĩa quân Lê Lợi đánh cho tơi tả để Nguyễn Trãi viết trong Bình Ngô đại cáo: “ra đến biển chưa thôi trống ngực, về đến Tàu còn toát mồ hôi”) dám tuyên bố liều mạng và xấc xược rằng: việc xây đắp các đảo nhân tạo, trong đó có Gạc Ma vừa cướp của Việt Nam, là xây trên sân nhà chúng nó. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.06.2015

ĐẠI HỘI NHÀ VĂN NGÂM KHÚC

Nguyễn Duy và Ngô Minh6/2015 ở Huế

 ĐẠI HỘI NHÀ VĂN NGÂM KHÚC

Nhà thơ Nguyễn Duy

QTXM: ĐH lần thứ 4 HNVVN (1989) là một ĐH lịch sử chẳng những kéo dài 11 ngày mà còn đầy ắp không khí thảo luận văn chương, tư tưởng sang trọng và kịch tính.Đại hội chia làm 2 phái :”Phái vui tươi” và phải hắm hằm”. ĐH quyết định Tổng thư ký ( bây giữ là chủ tịch) chỉ 2 nhiệm kỳ, ĐH trực tiếp bầu tổng thư ký…Nhân mùa đại hội sẽ  diễn ra từ 8-11/7/2015, QTXM xin giới thiệu lại Ngâm khúc này của nhà thơ Nguyễn Duy viết từ ĐH 4. Tiếc rằng nhà thơ Nguyễn Duy đã ra khỏi Hội nên chắc không thể có ngâm khúc ĐH lần 9 nữa

Thuở trời đất lên cơn đại hội
dân làng văn lắm nỗi truân chuyên
xanh kia thăm thẳm tầng trên
vì ai xa cách cho nên nỗi này

Trống Hà Thành lung lay bóng nguyệt
sương Ba Đình mờ mịt thức mây
mấy lần nghị quyết trao tay
đêm đêm bàn bạc định ngày khai trương

Phút khởi sự hội trường ngơ ngác
bác Đông Hoài giảng Mác – Lê Nin
nhà văn phải có niềm tin
đổi mới dân chủ lại thêm kết đoàn

(Đọc tiếp…)

”Những người có duyên nợ với “Về Kinh Bắc

Hoàng Cầm kể (HH ghi)

1/ Cô “Cần Thơ”:

Cần Thơ là ai? Tôi quan hệ thế nào với cô?

Nguyên tôi có người bạn ở trong Sài Gòn là anh Nguyễn Bùi Chấn, anh ruột cô Nguyễn Thị Bắc là hoa khôi tỉnh Bắc Giang – tôi định nhờ cô Bắc diễn vở kịch Kiều Loan rút cuộc là không thành mà thành một người tình của tôi. Nguyễn Bùi Chấn là bạn học cũ của tôi suốt từ năm đồng ấu cho đến năm lớp nhất ở tỉnh Bắc Giang. Năm 1979, anh có viết thư cho tôi đại ý là: Ở bên Pháp có một nữ bác sĩ còn ít tuổi hâm mộ thơ của anh, tên cô ấy là Bùi Thị Cần Thơ, vậy thì nhận được thư này anh làm ơn cho tôi biết ngay là anh có vui lòng quan hệ với một người như thế không? Cô ấy cũng nói anh thích có cái quà gì hoặc anh thích bất cứ cái gì, cô ấy sẽ gửi tặng anh. Vốn tính tôi khi thấy có một độc giả yêu thích thơ mình như thế, nhất lại là nữ, thì tôi sốt sắng ngay.

Thế là tôi viết thư cho ông Nguyễn Bùi Chấn là tôi sẵn sàng quan hệ với độc giả ở xa; còn về quà, thì hiện nay ở Hà Nội việc mua kháng sinh và những cái thuốc tốt của nước ngoài thật là khó khăn, vậy nếu cô ấy là bác sĩ thì tôi muốn cô ấy tặng tôi một ít thuốc nhưng thuốc chính là kháng sinh, tóm lại là tất cả các loại kháng sinh về bệnh đường ruột, đường hô hấp, đường tiết niệu v.v. để cho gia đình dùng. Độ hai tháng thì tôi nhận được giấy báo của bưu điện Hà Nội ra nhận gói hàng ở phố Lê Thạch. Họ đưa cho tôi một tờ giấy để khai, khai cả tên người gửi, tôi để trống chỗ ấy. Khi đưa tờ giấy khai thì cô ở bưu điện có vẻ hống hách lắm, bảo “Bác không đề tên người gửi vào đây thì chúng tôi biết thế nào mà phát”. Tôi cũng đâm cáu, tôi nói hơi to: “Xin nói với chị rằng tôi là Hoàng Cầm, một người làm thơ rất nhiều độc giả ở khắp nơi trên thế giới này, người ta có thể biết tôi, thế thì người nào đó gửi quà cho tôi, tôi chịu, không biết tên được, chị chỉ việc tìm người gửi cho tôi thôi chứ bây giờ chị hạch tôi như thế thì thôi tôi chả cần phải lĩnh đâu tôi đi về đây”. Lúc bấy giờ có lẽ cô bưu điện thấy như thế là quá đáng, cô bảo “Không, không cháu nói thế thôi, bác đứng lại để cháu tìm”. Xong rồi cô tìm ra gói hàng đó thì cô đọc tên người gửi và hướng dẫn tôi ghi vào bản khai: người gửi là Bùi Thị Cần Thơ ở thành phố Troie bên Pháp. Tôi lĩnh được một cái gói hàng vuông vắn bằng cáctông đúng 1kg, mở ra toàn là thuốc, đúng như lời tôi yêu cầu trong thư gửi anh Nguyễn Bùi Chấn, các thứ thuốc kháng sinh, trong nam gọi là trụ sinh, toàn thứ thuốc tốt cả, bên cạnh đó là một lô thuốc bổ cực kỳ đắt tiền ví dụ H500,… Thuốc bổ thì tôi không muốn dùng mặc dù tiêm vào thì cũng tốt thôi, nhưng mà trong hoàn cảnh gia đình tôi không có đủ tiền sinh hoạt hằng ngày, mà khi lĩnh thuốc ngay ở bưu điện đã có những anh đi buôn thuốc theo về tận nhà xin mua. Gói hàng đó có 1kg thôi và không có cái thư nào gài vào đấy cả, nhưng cô Cần Thơ viết ở phía trong cái bìa. Cô viết khéo lắm, cứ thỉnh thoảng viết về thuốc thì cô gài cái ý ngoài, đại ý là: bên này em là bác sĩ một ngày chỉ làm việc ở bệnh viện nửa ngày thôi, còn nửa ngày nghỉ, em đọc thơ anh rất nhiều, nhưng mà em rất mong có những bài thơ mới của anh về quê hương đất nước, thơ chưa in cũng được, anh gởi cho em ít bài vì bên này cần những cái đó lắm.

Tôi có ông bạn hay nói đùa làm ở bệnh viện Việt Đức, ông bảo: tên bà là Cần Thơ tức là bà đang cần cái thơ của anh. Lại còn họ Bùi? Bùi Thị Cần Thơ! Tôi nghĩ ngay chưa chắc đó là tên thật nhưng cô ấy lấy họ Bùi chắc cũng là một cách đối phó với chính quyền hay gây những khó khăn trong quan hệ xã hội, lấy họ Bùi để người ta có thể nghĩ là em gái hay họ hàng gì với ông Bùi Hoàng Cầm. Sau đó độ 1, 2 ngày thôi thì tôi viết được ngay một bài thơ, lâu rồi tôi quên mất đầu đề, những câu đầu như thế này “Một áng hương em gói lỏng xuân, Từ đâu bỡ ngỡ cánh thiên thần”. Bài thơ cũng dài tất cả 8, 9 đoạn mỗi đoạn 4 câu. Tôi gửi thư ngay theo địa chỉ đề ở trong hộp quà, ở cách Paris về phía Đông Nam khoảng 100 km. Thế là từ đấy trở đi quan hệ với cô Cần Thơ này càng ngày càng xiết chặt và tôi luôn luôn gửi thư, cứ độ một tháng có một cái thư, gửi cái nào thì tôi đều nhận được một bưu thiếp thôi chứ không phải là thư, cô ấy trả lời bằng bưu thiếp để cho tôi dễ nhận – cô ấy biết nếu gửi thư thì có thể là thư đề địa chỉ Hoàng Cầm sẽ bị kiểm duyệt. Cách đến 3 năm sau thì có lần cô gửi một cái thư tay qua một người bạn đem đến tận nơi, cùng với 100 đô biếu tôi. Thư ấy rất dài, cô kể tỉ mỉ việc cô ấy làm, cô ấy mới nói ra là cô có khuynh hướng theo Phật. Có một lần cô ấy đi xuống phía Nam nước Pháp để nghiên cứu về bệnh trẻ em, cô đến đấy và gặp trên lưng chừng một quả đồi có một ngôi chùa người ta tụng kinh, làm lễ Phật, người ta ngồi thiền, và cô ấy thấy rất cảm động và say mê, cho nên cô ấy có khuynh hướng không làm bác sĩ nữa mà đi hẳn vào con đường tu hành.

Trong đời tôi chưa hề có độc giả nào giúp đỡ tôi đều đặn đến như thế, suốt từ năm 1979 đến nay, lúc tôi bị bắt thì bên ấy cô cũng biết tin ngay và cô gửi cho bà Yến 100 đô, đó là người đầu tiên gửi tặng tiền tôi khi tôi ở trong tù, và từ năm tôi ở tù và sau khi ra tù thì cứ mỗi một năm thế nào cô cũng gửi cho tôi đến hai lần quà và tiền, càng về sau thì tiền gửi dễ dàng hơn; trước kia gởi bằng quà, bằng thuốc, lúc đầu chỉ 1kg sau dần dần cô gửi tới 5kg.

Qua những cái thư cô viết cho tôi, đầy nhân hậu, và cũng đầy triết lý, dần dần tôi mới hiểu Bùi Thị Cần Thơ là tên giả trong nhiều tên giả lắm, tên thực của cô là Cao Ngọc Thu. Làm việc thiện từ khi 16, 17 tuổi, hoạt động ở Sài Gòn, cô Ngọc Thu học ở đại học Vạn Hạnh, sau làm đệ tử của một vị tu sĩ nổi tiếng thế giới là Thích Nhất Hạnh. Thầy Thích Nhất Hạnh chỉ vì những hoạt động xã hội và từ thiện đã bị chính phủ Diệm trục xuất. Cô Ngọc Thu sang Pháp theo sư phụ và từ đấy không về nước nữa. Từ năm 1985 cô đã cắt tóc đi tu và bỏ làm bệnh viện nhà nước Pháp nhưng vẫn đem cái hiểu biết y học đi chữa bệnh cho người Việt Nam ở miền Nam nước Pháp. Thầy Thích Nhất Hạnh lập ra một làng Việt Nam, đầu tiên gọi là Village des Roses nhưng gần đây thì gọi là Village des Pruniers vì trồng nhiều cây mận, tức là làng Mai, tập trung các đệ tử tu thiền theo pháp môn của mình. Từ ngày thống nhất đất nước đến bây giờ, cô Cao Ngọc Thu (đến nay thì tôi biết pháp danh của cô là Chân Không) có viết cho tôi một cái thư hơi cay đắng: “Hiện nay em đang ở Mã Lai, đi theo thầy để giảng đạo ở đấy, em biết rằng bây giờ em chỉ còn cách tổ quốc 200km mà vẫn xa xôi, tưởng như không bao giờ quay lại tổ quốc được”. Có lần trong thư cô ấy kể cho tôi câu chuyện cô đi quyên tiền khắp thế giới để cứu các em nhỏ là nạn nhân của chiến tranh hoặc là tàn tật, mồ côi, bố mẹ chết trong chiến tranh, hoặc là gia đình tan tác. Có một nghịch lý là chính phủ Nguyễn Văn Thiệu cho rằng thầy Nhất Hạnh và cô ấy đi theo cộng sản, còn ở ngoài Bắc thì lại cho họ là tay sai của C.I.A, thế thì buồn cười lắm. Trong thực tế tôi thấy là thầy Thích Nhất Hạnh viết nhiều sách, toàn sách về đạo, triết học, dân tộc, các cách tu luyện, làm thế nào để con người yêu thương lẫn nhau, làm thế nào để tâm hồn con người luôn luôn trong sáng v.v… toàn là những việc tốt cả. Còn cô Ngọc Thu-Chân Không thì tôi thấy là một người độc giả yêu tác giả đến mức như thế suốt từ 1979 đến nay gần 20 năm trời luôn luôn ủng hộ tiền nong, với những bức thư đầy tình nghĩa và luôn luôn nói đến tâm hồn con người làm thế nào cho cao quí, chính đó là nguồn cảm hứng của tôi, thì đó là người tôi phải biết ơn suốt đời.

2/ Nam Dao Nguyễn Mạnh Hùng:

Lần đầu tiên tôi gặp Nguyễn Mạnh Hùng là năm 1979, do anh Dương Tường đưa đến nhà. Anh là tiến sĩ kinh tế dạy đại học Montreal, Canada, anh lấy vợ người Canada con ông thứ trưởng một bộ gì đó (tôi quên rồi). Anh là con người rất yêu nước, trong suốt cuộc chiến tranh anh theo dõi tin tức của Việt Nam, nhất là anh em văn nghệ sĩ mà anh yêu mến. Khi giải phóng miền Nam thì anh có đặt vấn đề về hẳn Việt Nam để phục vụ nhân dân Việt Nam. Việc không thành vì người vợ không chịu, đó cũng là một trong những lý do dẫn đến hai người ly hôn. Năm 1978 anh về nước lần đầu, trong thời gian đó anh quan sát, nghiên cứu tình hình kinh tế và viết ra mấy đề án cải tiến đưa cho ông Phạm Văn Đồng xem, ông Phạm văn Đồng quí đến mức ra lệnh cho cấp dưới từ nay trở đi anh Nguyễn Mạnh Hùng từ Canada về không cần phải xin giấy nhập cảnh nữa. Thế là anh thường xuyên đi đi về về.

Ngay lần gặp đầu tiên, anh khoe đã thuộc một số bài thơ cũ của tôi như là bài ‘Bên kia sông Đuống’, vài bài trong tập “Tiếng hát quan họ” đã in từ trước. Từ đấy anh hay đến tôi. Lúc anh sắp đi thì anh có đưa nhà thơ Nguyễn Duy đến thăm tôi, anh đem đến tặng tôi chai rượu Johnnie Walker và một áo sơ mi còn ở trong túi nilon rất đẹp. Ba anh em cùng uống rượu và nói chuyện thơ. Nguyễn Duy bảo “Ôi giời ơi! Kinh Bắc của anh thì chữ nghĩa nó ma quái lắm”. Nguyễn Mạnh Hùng thì bảo “Em thích nhất là bài gì có câu ‘Lớn lên em đừng tìm mẹ phía cơn mưa’, câu thơ nó vang động trong em, vang động cả một tình cảm quê hương”.

Gặp nhau nhiều lần, tôi thấy anh Nguyễn Mạnh Hùng quả là một người bạn đồng cảm đáng tin cậy. Nên tôi nhờ anh mang hộ một băng cassette sang Pháp cho cô Cần Thơ. Tôi có ngâm vào đấy độ 9, 10 bài thơ, trong đó có bài ‘Bên kia sông Đuống’ mà chính cô Cần Thơ đã có văn bản rồi, nhưng đặc biệt có những bài mà cô chưa có, một số bài trong tập “Về Kinh Bắc” ví dụ ‘Lá Diêu Bông’, ‘Quả vườn ổi’, ‘Về với ta’… Cái băng cả hai mặt 90 phút, tôi thu cái băng đó ở nhà hoạ sĩ Hoàng Lập Ngôn, hôm đó có mấy người bạn đến nghe và xem tôi thu, có cậu Ngô Đăng Tuất làm ở nghe nhìn trung ương, cậu ấy đánh guitar rất giỏi rất hay, cậu đệm cho tôi 90 phút, tôi đã sang lại một băng để ở nhà còn một băng gửi Nguyễn Mạnh Hùng mang đi. Nguyễn Mạnh Hùng nhận lời, lần ấy là năm 1981. Đến đầu năm 1982 Hùng lại về, lần này ở lâu trong nước độ 3, 4 tháng. Trong thời gian ấy anh yêu một cô làm việc ở điện ảnh, có tổ chức cưới ngay ở nhà hàng Phú Gia, nhưng anh xin lỗi không mời tôi vì trong đám cưới đó có nhiều quan khách lắm. Sau đó thì Nguyễn Mạnh Hùng có mời tôi với vợ tôi đến một cửa hàng ăn bình thường ở phố Chả cá.

Lần này Nguyễn Mạnh Hùng xin tôi tuyển chọn cho anh một số tác phẩm của tôi, Trần Dần, Lê Đạt, Văn Cao, Đặng Đình Hưng. Đến khi tôi cho anh xem tập “Về Kinh Bắc” thì anh mê quá, nhất định xin tôi toàn bộ tập thơ đó. Lúc bấy giờ chưa có photocopy, chỉ có đánh máy mà đánh máy vừa lâu vừa tốn tiền, thế nên tôi ngồi tôi chép ra cho anh. Anh mang vào Sài Gòn để chuẩn bị trở về Canada thì tôi bị bắt. Dương Tường nghe tin Hoàng Cầm bị bắt một cái là lập tức bảo Nguyễn Mạnh Hùng “Tất cả cái gì của Hoàng Cầm thì giao lại cho Dương Tường”, thế là Dương Tường gửi anh Cao Xuân Hạo tập “Về Kinh Bắc”, anh giữ kín và thỏa thuận với anh Cao Xuân Hạo cũng giữ kín không nói cho ai biết là anh Nguyễn Mạnh Hùng có gửi tập “Về Kinh Bắc” ở đây. Quả nhiên anh Nguyễn Mạnh Hùng ra sân bay Tân Sơn Nhất về Canada thì bị khám kỹ lắm, sau này anh có kể chuyện là họ bắt cởi hết quần áo ra, chỉ mặc cái quần đùi để cho họ khám xem có tài liệu gì của Hoàng Cầm trong người không. Từ đấy anh hầu như không được phép về Việt Nam nữa, mãi đến năm 1987 tức là 5 năm sau anh mới được về, lúc ấy thì tôi đã được phục hồi.

3/ Hoàng Hưng:

Cũng năm 1982, Hoàng Hưng, một nhà thơ trẻ từ Sài Gòn ra, đến thăm tôi và bảo: “Em ra Hà Nội chỉ độ một tuần nữa thì em về Sài Gòn, vậy anh làm thế nào anh chép cho em toàn bộ tập “Về Kinh Bắc”. Ở trong ấy em có sinh hoạt với nhóm anh em trẻ làm thơ, họ muốn có tập “Về Kinh Bắc” của anh để nghiên cứu bởi vì cứ nghe đồn hoặc là thuộc vài câu vài bài thích lắm mà tam sao thất bản cả, anh chịu khó chép giúp em”. (Trước kia tôi đã chép cho Hoàng Hưng ba bài: ‘Tam cúc’, ‘Diêu bông’, ‘Vườn ổi’). Tôi còn chần chừ thì ông Minh Đức Trần Thiếu Bảo đến bảo là “Hoàng Hưng bảo nó xin anh tập Về Kinh Bắc thì anh cho nó đi! Tôi có bảo cậu ấy bồi dưỡng cho anh, giờ anh nghỉ bán rượu để chép thì anh làm gì có tiền mà chi tiêu”. Ông Minh Đức mua giúp Hoàng Hưng 200 tờ giấy trắng đẹp lắm, mỗi một hôm bán rượu đến độ rỗi rãi vắng khách thì tôi mới ngồi chép, thường thường về đêm, khoảng 10h30 tôi lại chép độ 1 tiếng đồng hồ trước khi đi ngủ. Thành ra độ 10 ngày tôi mới chép xong. Khi tôi giao cho Hoàng Hưng tập “Về Kinh Bắc” tại nhà ông Trần Thiếu Bảo – lúc ấy nhà ông cũng mới mở quán ăn uống – thì Hoàng Hưng lại sẵn có một bìa do anh Văn Cao trình bày và bốn tranh phụ bản của Bùi Xuân Phái, có ba cái tôi thích lắm bởi vì anh Bùi Xuân Phái đã đọc “Về Kinh Bắc” rồi và anh đã từng vẽ phụ bản cho tôi chép một tập mà tôi cho cà phê Lâm. Chính cái bản cho cà phê Lâm có một hôm tôi đã mượn về, vì có mấy anh bạn uống rượu cứ đòi xem, họ uống suốt từ 9h sáng cho đến chiều, ngồi uống rồi đọc tập “Về Kinh Bắc”. Đến chiều hôm ấy tôi không tìm thấy lại tập thơ nữa. Tập ấy là tập tôi chép rất đẹp, cũng có bốn phụ bản của Bùi Xuân Phái cũng rất đẹp, anh vẽ những cảnh hội Kinh Bắc, hai cô con gái quan họ, một chân dung của tôi, thành ra anh Lâm giữ như là của gia bảo…

Mấy ngày sau khi giao bản chép tay “Về Kinh Bắc” cho Hoàng Hưng thì tôi bị bắt (ngày 20/8/1982). Đêm đầu tiên vào Hoả Lò, tôi mới được mấy người tù cũ cho biết ngày 18/8 Hoàng Hưng cũng bị bắt vào đây, ở đúng buồng này. Hôm sau có lúc tôi thoáng thấy anh đi cung ngang qua sân nhà giam… Sau tôi được biết Hoàng Hưng bị giam tù 39 tháng vì tập “Về Kinh Bắc” và những bài thơ anh ta làm từ trước, chép trong sổ tay để ở nhà. Mãi sau Đổi mới, tôi mới gặp lại anh ở Sài Gòn.

4/ Những người toan tính xuất bản Về Kinh Bắc:

Sau ngày “Đổi mới”, tôi và anh em Nhân Văn-Giai Phẩm đã được phục hồi, nhà thơ Xuân Quỳnh là người đầu tiên sốt sắng xuất bản “Về Kinh Bắc”. Xuân Quỳnh làm thơ rất hay, tôi coi cô như con gái, cô rất thân với con gái tôi là Hoàng Yến. Xuân Quỳnh đã đọc tập thơ này từ lâu rồi khoảng năm 1974, 1975 gì đó, tôi cho cô mượn đến một tháng trời, cả hai vợ chồng Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh đều rất thích. Xuân Quỳnh đến tận nhà tôi bảo là “Chú à, cháu là biên tập ở nhà xuất bản Tác Phẩm Mới, chú để cháu in tập Về Kinh Bắc”. Lúc bấy giờ tôi giữ ý, tôi bảo đừng lấy tên “Về Kinh Bắc”, người ta vẫn còn săn nó ghê lắm, người ta còn thành kiến ghê lắm, tên tập thơ “Về Kinh Bắc” quá nổi nên công an người ta không thích, nếu cô có in thì in thêm bài “Bên kia sông Đuống”, lấy tên tập thơ là “Bên kia sông Đuống” thì được. Cô Xuân Quỳnh bảo “Thôi được rồi chú cứ để mặc cháu, miễn chú đồng ý là được rồi, cháu đấu tranh thế nào để tập thơ nó phải ra đời không thể giữ kín mãi được, phải để cho độc giả người ta đọc”. Thế rồi cô ấy biên tập xong, cô làm bản nhận định đưa cho giám đốc là anh Vũ Tú Nam, anh Vũ Tú Nam cũng đã ký vào rồi và chuẩn bị in rồi thì đùng một cái có bốn ông công an đến nhà xuất bản Tác Phẩm Mới yêu cầu không được in tập thơ này. Đã xảy ra một cuộc cãi lộn rất lớn giữa Xuân Quỳnh và anh Vũ Tú Nam, sau này Xuân Quỳnh có thuật lại cho tôi biết. Vũ Tú Nam nói với Xuân Quỳnh rằng “Ở trên (ý nói lãnh đạo, nói chung bao giờ cũng dùng chữ “ở trên”) người ta không đồng ý tôi in cái tập này đâu thì thôi Xuân Quỳnh xoá nó đi không in nữa”, thì Xuân Quỳnh bảo “Các anh buồn cười nhỉ, chính anh đã ký vào bản nhận định của tôi rồi, ký vào rồi là đồng ý đi in rồi, tại sao bây giờ anh lại rút ra, sao anh hèn đến như thế, anh cũng làm thơ anh cũng viết văn, anh xem cái tập thơ này nó xấu ở chỗ nào? nó làm hại dân tộc làm hại tổ quốc ở chỗ nào, anh đã đồng ý rồi bây giờ anh thấy công an đến anh sợ anh lại đòi hủy đi, thế là thế nào tôi không hiểu, tôi không hiểu được thái độ của anh… Thôi được rồi, anh không in tôi in, bởi vì anh đã ký vào đây rồi, tôi vẫn còn giữ cái bản ấy đây, tôi đem in, nếu nhà xuất bản không bỏ vốn tôi sẽ tìm cách bỏ vốn tôi in”. Vũ Tú Nam sợ quá nói gần như van như lạy: “Thôi, Xuân Quỳnh nghĩ đến anh một tí, anh là phụ trách, giám đốc thì tất nhiên về mặt chính trị, về mặt pháp luật thì phải chịu trách nhiệm”, thế thì Xuân Quỳnh bảo “Tôi chỉ có thể nhân nhượng cho anh là vẫn in mà đổi tên, không lấy “Về Kinh Bắc” nữa mà có thể lấy “Bên kia sông Đuống” bởi vì “Bên kia sông Đuống” là bài thơ tốt trong kháng chiến chống Pháp ai cũng biết rồi, nhưng ở bên trong thì vẫn in đầy đủ các bài của tập “Về Kinh Bắc”. Tôi chỉ nhân nhượng anh về điều đó thôi còn nếu không thì tôi vẫn cứ đem in đây này”. Tôi nghe câu chuyện đó thì tôi bảo “Thôi Xuân Quỳnh à, Xuân Quỳnh cũng nên thôi và nếu có in thì nên chọn một nửa thôi, một nửa số bài trong “Về Kinh Bắc” là những bài nổi tiếng, đổi tên đi và thêm vào đấy một số bài mới hoặc thêm những bài trong kháng chiến chống Pháp ví dụ bài ‘Giữ lấy tuổi trẻ’, bài ‘Đêm liên hoan’ hay là bài ‘Tâm sự đêm giao thừa’ hay bài ‘Bên kia sông Đuống’, đấy là những bài đã được khẳng định trong kháng chiến chống Pháp, lẫn lộn vào đấy như thế cho nó nhẹ bớt Về Kinh Bắc đi”. Xuân Quỳnh cự lại tôi “Khổ quá chú bị ở tù rồi bây giờ chú đâm ra nhát quá, cháu cứ in thì đã làm gì, chả làm sao cả, bây giờ ai đem ra tranh luận tập thơ này xem nó xấu ở chỗ nào thì cháu có thể đảm bảo với chú cháu sẽ đánh bại mọi ý kiến nào đả phá nó”.

Còn dằng dai như thế thì ở trong Huế, anh Nguyễn Trọng Tạo cùng với anh Hoàng Phủ Ngọc Tường, lúc bấy giờ anh Hoàng Phủ Ngọc Tường là chủ tịch Hội Văn nghệ Thừa Thiên Huế còn anh Trọng Tạo là biên tập của Nhà xuất bản Thuận Hóa của Huế, hai anh có ý định in tập “Về Kinh Bắc” nhưng cũng vui lòng lấy tên là “Bên kia sông Đuống” hoặc “Thơ Hoàng Cầm” thế thôi. Các anh chuẩn bị đến mức là xong ở nhà in rồi, chuẩn bị giấy má, tiền công in và anh Trọng Tạo định in một vạn rưỡi cuốn vào năm 1988. Nhưng một hôm tôi đang ngồi giặt ở máy nước trước cửa trông thông thống ra ngoài đường thì thấy ca sĩ Ngọc Bảo vẫy vẫy tôi một cách rất vội vã, anh vẫy tôi ra chứ anh không vào. Tôi chạy ra xem anh bảo cái gì, thì anh ghé vào tai tôi nói thầm “Này cậu in tập thơ gì ở Huế phải không? Cậu đánh điện cho nó bảo thôi đi chớ nếu không tay Nhạ (phòng an ninh chính trị Sở Công an Hà Nội) nó bắt cậu lại ngay lập tức, bởi cậu có cái lệnh tạm tha thôi lúc nào nó bắt lại cậu cũng được, ở tù thì khổ lắm, tôi thương cậu tôi biết chuyện đó tôi mách cậu đấy, nên bảo nó hoãn đi, đừng in vội thì cậu thoát nếu không thì nó ra cái lệnh bắt nữa thì khổ cậu lắm”. Thế là tôi đâm sợ, đâm hoảng thật vì ở tù thì chả có ai thích cả, muốn quyết tâm gì, muốn khí phách gì chăng nữa chứ ở tù thì cũng khổ lắm, tôi thì vốn nhát cái chuyện đó, lúc nào người ta bắt tôi chả được, tôi là con giun con dế họ dẫm mãi cũng chết, tôi chưa muốn chết, chả tội gì mà đâm đầu vào đấy làm gì, nó có giá trị thì để 50 năm nữa in vẫn cứ được. Tôi nghĩ như thế nên tôi đánh điện vào cho anh Hoàng Phủ Ngọc Tường yêu cầu hoãn không thời hạn việc ấn hành tập thơ của tôi, dưới bức điện ký tên Hoàng Cầm. Sau này anh Trọng Tạo mới kể lại chuyện với tôi là “Nhận được cái điện ấy thì anh Hoàng Phủ Ngọc Tường đang phân vân, Trọng Tạo bảo ‘Tôi đã chuẩn bị đầy đủ rồi cả tranh bìa rồi, việc in, giấy má, hợp đồng là xong hết cả rồi, chỉ có việc đánh máy và đưa đi in thôi, còn có cái gì nữa đâu, cứ in bừa đi, cái ông Hoàng Cầm hay nhát lắm, chắc có ai dọa ông ấy sợ”. Anh Hoàng Phủ Ngọc Tường thì chín chắn hơn, anh bảo “Không, giá ai đánh điện thì tôi cứ làm nhưng đây chính anh Hoàng Cầm đánh điện, anh ký tên hẳn hoi ở dưới, nếu tôi làm nhỡ ra anh ấy có bị làm sao thì có phải tôi đẩy anh ấy vào chỗ chết không”.

Rồi đến Nhà Xuất bản Văn học cũng lại thế. Lúc bấy giờ còn anh Lý Hải Châu làm giám đốc, anh Lý Hải Châu cũng định in ít bài “Về Kinh Bắc” độ 5, 3 bài thôi còn thì in những bài thơ cũ của tôi hoặc những bài thơ mới làm, cuối cùng anh Lý Hải Châu cũng bị công an đến yêu cầu, anh Lý Hải Châu cũng tranh luận với họ một lúc, nhưng sau đó anh Lý Hải Châu bảo với tôi rằng “Trong lúc an ninh người ta đang làm căng thẳng thì tôi không nên đẩy thêm căng thẳng làm gì, mà đẩy thêm thì chỉ khổ cho anh thôi. Thế thì thôi anh cứ hoãn cũng được, lúc nào tình hình khá lên, dân chủ mở ra một chút nữa, đổi mới này nó khá lên một chút nữa ta in thì chả làm sao cả, tác phẩm hay thì lúc nào in cũng được”.

Người thứ tư muốn in “Về Kinh Bắc” là anh Sinh trưởng ban biên tập Nhà xuất bản Phụ nữ, anh muốn in những bài nổi tiếng như bài ‘Diêu Bông’, ‘Tam Cúc’ trong một tập thơ của tôi nhưng chỉ đề là ‘Thơ Hoàng Cầm’ thôi, thế là lập tức công an đến, rồi ông Quang Phòng Tổng cục phó Anh ninh viết cái thư cho anh Sinh “Anh Hoàng Cầm có thể in tất cả những bài thơ mới của anh nhất là những bài thơ tình anh mới viết, riêng tập “Về Kinh Bắc” thì còn phải chờ một thời gian nữa, yêu cầu nhà xuất bản Phụ nữ không in bất cứ một bài nào trong tập Về Kinh Bắc cả”.

Đang trong tình cảnh chán nản như thế, thì một hôm tôi mang một tập thơ toàn những bài thơ tình, cả thơ cũ lẫn thơ mới làm, đến anh Quang Huy tức là Nhà xuất bản Văn hóa, tôi đề ở ngoài là “Mưa Thuận Thành”, tôi cũng không yêu cầu gì với anh Quang Huy là in hay không in, tôi chỉ nói “Tôi có một tập thơ toàn những thơ tình mới cả đây tôi đưa anh đọc”. Quang Huy mới bảo “Ôi giời ơi! Thơ tình của anh để tôi xuất bản, tôi sẵn sàng xuất bản ngay anh không cần bỏ vốn ra, thơ của anh tôi bán được”. Thế là anh Quang Huy tự nhận lấy việc in tập thơ “Mưa Thuận Thành” không có một bài nào trong tập “Về Kinh Bắc” cả. Nhưng rồi anh Quang Huy lại bảo “Nếu in “Mưa Thuận Thành” thì anh phải cho mấy bài đã nổi tiếng đã đăng báo rồi như ‘Diêu Bông’, ‘Tam Cúc’, ‘Về với ta’, ‘Tắm đêm’… có độ 7, 8 bài anh đã in báo, có bài đã đăng hai lần rồi, chẳng có dư luận xấu nào đối với anh cả, anh nên cho thêm vào để tập thơ có giá trị, nếu chỉ có “Mưa Thuận Thành” không thì chưa chắc người ta đã thích mua đâu”. Tôi bảo “Ôi giời tập “Về Kinh Bắc” thì công an người ta đã ra chỉ thị tuyệt đối không có nhà xuất bản nào được in dù là một bài ở trong tập ‘Về Kinh Bắc’”. Quang Huy bảo “Thôi được rồi anh cứ mặc tôi, nếu cần đấu tranh thì tôi đấu tranh, anh đừng phải quan tâm gì cả anh cứ thay cho tôi 8 bài, 8 bài nào mà anh thấy kém nhất trong tập “Mưa Thuận Thành” anh thay bằng những bài “Về Kinh Bắc” đã đăng báo rồi, tôi dựa vào chuyện đã đăng báo rồi tôi sẽ đấu tranh được”. Quả nhiên là khi bản thảo tập “Mưa Thuận Thành” đã đến tay anh Quang Huy thì lại có 4, 5 cán bộ công an trên tổng cục xuống yêu cầu nhà xuất bản cho mượn cái bản thảo rồi cho xem những bản đã đánh máy vi tính, thế thì anh Quang Huy nói lại rất mềm dẻo nhưng cũng rất cứng, anh bảo “Thưa các đồng chí cái này nó đã vào kế hoạch xuất bản của tôi rồi, đã vào kế hoạch thì tôi không thể thay quyển khác vào đây, nếu các anh mượn thì tôi cũng vui lòng đưa các đồng chí xem, chỉ có một điều là những bài chúng tôi chọn của anh Hoàng Cầm ở đây có một số bài hình như có trong tập “Về Kinh Bắc” đấy, nhưng toàn là những bài đã đăng báo từ ngày đổi mới đến giờ, có bài đã đăng 2, 3 lần, chúng tôi thấy cũng không có vấn đề, độc giả vẫn hoan nghênh, cũng không có ý kiến nào phản đối những bài thơ đó cả, vậy thì các đồng chí nên xem xét để chúng tôi in cho nó nhanh cho nó kịp, các đồng chí mượn thì xin các đồng chí trả đúng thời hạn”.

Không biết bên công an nghĩ thế nào, nhưng rồi cuối cùng tập “Mưa Thuận Thành” cũng ra trót lọt, ra được 8 bài trong “Về Kinh Bắc” toàn là bài hay. Tập “Mưa Thuận Thành” tôi không biết bên trong anh Quang Huy in bao nhiêu nhưng đề bên ngoài 1000 bản, có 15 ngày thì bán hết.

Vậy là từ sau ngày tôi bị kỷ luật, nói cách khác, tính từ quyển cuối cùng in ở Nhà xuất bản Văn Học năm 1956 cho đến năm 1989 tức là sau 33 năm tôi mới trở lại việc ấn hành một tập thơ. Dư luận quanh tập “Mưa Thuận Thành” đang sôi nổi thì lại có việc nhạc sĩ Trần Tiến dựa theo ý thơ ‘Lá Diêu Bông’ sáng tác ra bài ‘Sao em nỡ vội lấy chồng’. Bài hát của Trần Tiến rất là nổi, đó là bài hát dung dị dễ thuộc, dễ nhớ, mang nhiều tính chất dân giã, thành ra cả năm 1990, 1991, rồi cả năm 1992, 1993 nữa, thậm chí tôi nghe cả xẩm ngoài đường, xẩm chợ Hôm, chợ Hàng Bè hát bài ấy.

Đến năm 1994 thì Nhà xuất bản Văn Học của anh Lữ Huy Nguyên được một anh cán bộ an ninh trên Trung ương xuống nói rằng “thôi bắt đầu từ bây giờ tập thơ “Về Kinh Bắc” được mở ra rồi, tức là cái chỉ thị cấm in đã hủy bỏ”. Thế là khoảng tháng 7 tháng 8 năm 1994, “Về Kinh Bắc” chính thức ra mắt tại NXB Văn Học.

( Nguồn: vanviet)

 

Đại sứ Mỹ Ted Osius

Đại sứ Mỹ Ted Osius trả lời phỏng vấn trực tuyến VnExpress

***TT Obama có thể thăm Việt Nam năm nay**

Nhân dịp Việt Nam và Mỹ kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao, Đại sứ Mỹ Ted Osius chia  với độc giả về mọi mặt trong giao kết đặc biệt hai nước vào 14h30 hôm 22/6 trên VnExpress. Trả lời phỏng vấn của độc giả VnExpress, đại sứ Mỹ tại Việt Nam Ted Osius cho biết năm nay sẽ chứng kiến nhiều chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao hai nước, trong đó có thể có việc Tổng thống Obama tới Việt Nam.

– Năm 2000, Tổng thống Bill Clinton đã nói: “Chúng tôi vinh dự được cùng các Ngài viết nên một chương mới trong quan hệ giữa hai nước Mỹ và Việt Nam, và chúng tôi biết ơn vì chương sử mới này đã có một khởi đầu tốt đẹp. Quả thực, lịch sử mà chúng ta để lại sau mình rất đau buồn và nặng nề. Chúng ta không được quên nó. Nhưng chúng ta cũng không được để nó chi phối chúng ta. Quá khứ chỉ là cái đến trước tương lai, quá khứ không phải là cái quyết định tương lai”. Xin được hỏi ngài đại sứ, chính sách của nước Mỹ hiện nay chọn những nội dung nào là trọng tâm để hiện thực quan điểm đó? Xin cám ơn. (Nguyễn Công Danh, 45 tuổi)
– Tôi rất vui có mặt ở đây tại thời gian này, trong giai đoạn lịch sử này khi chúng ta kỷ niệm 20 năm ngày bình thường hóa quan hệ ngoại giao hai nước. Đây cũng là năm có lẽ có khoảng 6 đến 7 ủy viên Bộ Chính trị Việt Nam sang thăm Mỹ và có 5 hoặc 6 quan chức cấp bộ trưởng Mỹ, có thể cả tổng thống Mỹ, sang thăm Việt Nam. (Xem video)
Đây cũng là năm dự kiến chúng ta hoàn tất đối tác TPP, có thể mang lợi ích to lớn cho Việt Nam và Mỹ. Vào ngày 12/7 tới chúng ta sẽ kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ hai nước. Năm nay các hoạt động kỷ niệm sẽ được tổ chức tại hầu hết các tỉnh thành Việt Nam. Cho tới nay, sứ quán đã phối hợp tổ chức tại 50 tỉnh thành, với nội dung tập trung làm sâu sắc mối quan hệ này.
Tôi muốn trả lời câu hỏi này bằng trích dẫn câu nói của Ngoại trưởng John Kerry. Ông nói “trên thế giới không có hai nước nào làm tốt hơn Việt Nam và Mỹ trong việc đưa mối quan hệ hai nước gần nhau hơn, hướng tới tương lai”.
Hai nước ta đã xử lý vấn đề chất dioxin cùng với việc xử lý người mất tích. Sự hợp tác đó mở khả năng tiến hành nhiều hợp tác khác. Chúng ta có nhiều tiến triển trong nhiều lĩnh vực. Tin tốt là ta đã đạt được tiến độ trong kinh tế, thương mại, chính trị ngoại giao, giáo dục, môi trường, sức khỏe đến mối quan hệ hai nước.
Tôi muốn nêu 3 lĩnh vực cụ thể mà quan hệ hai nước đã vượt qua tầm song phương ra toàn cầu. Thứ nhất là gìn giữ hòa bình. Mỹ đã giúp VN đào tạo binh sĩ, cán bộ đủ kỹ năng cần thiết để tham gia nhiệm vụ gìn giữ hòa bình trên thế giới. Thứ hai là sức khỏe toàn cầu. Việt Nam là một nước trọng điểm trong sáng kiến của tổng thống Mỹ về sức khỏe toàn cầu. Ngoài ra, Mỹ còn hơp tác cùng VN trong việc đối phó với nhiều căn bệnh, trong đó có bệnh truyền nhiễm. Thứ ba là cơ hội hơp tác kinh tế khu vực. Việt Nam là một trong những nước trọng tâm trong việc đàm phán Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP).
– Liệu Mỹ có làm ngơ việc Trung Quốc muốn chiếm cả Biển Đông, khi ông Tập Cận Bình mang những miếng mồi béo bở về kinh tế sang Mỹ vào tháng 9 tới không? (Lượng Minh Trung, 61 tuổi, Đồng Tháp – Việt Nam)
– Quan điểm của Mỹ về vấn đề Biển Đông rất rõ ràng. Từ lâu chúng tôi đã ủng hộ tự do hàng hải, các hoạt động thương mại an toàn, không bị cản trở và phù hợp với luật pháp quốc tế.
Chúng tôi kêu gọi tất cả các bên kiềm chế, không tiến hành những hành động khiêu khích, đe dọa sử dụng vũ lực.
Chúng tôi kêu gọi tất cả các bên ngừng vô thời hạn các hoạt động cải tạo đất và chấm dứt việc quân sự hóa các vị trí chiếm đóng tại khu vực này. Các bên cần tham gia vào quá trình đàm phán ngoại giao nhằm giải quyết căng thẳng tại khu vực này.
Chúng tôi kêu gọi Trung Quốc và các nước tuyên bố chủ quyền trong khu vực này có phản hồi tích cực với lời kêu gọi của chúng tôi.
– Khi nào Việt Nam có cơ hội để mua máy bay chiến đấu F16, máy bay săn ngầm P3C Orion? Xin cảm ơn đại sứ. (Hiếu, 35 tuổi)
– Mấy tuần trước, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter đã đến thăm Việt Nam. Ông ấy đã cùng Bộ trưởng Phùng Quang Thanh ký kết về tuyên bố tầm nhìn chung giữa hai nước.
Bản tuyên bố này được xây dựng trên cơ sở biên bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng hai nước được ký từ năm 2011. Bản tuyên bố này tạo ra khả năng để mở rộng thương mại quốc phòng giữa hai nước chúng ta.
Việt Nam sẽ xem xét các nhu cầu quốc phòng và đưa ra đánh giá để sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực quốc phòng hiệu quả. Mỹ sẽ xem xét tích cực các yêu cầu của Việt Nam, nhưng Việt Nam sẽ là người quyết định trong việc xác định nhu cầu quốc phòng phù hợp với mình. Chúng tôi sẽ xem xét các yêu cầu của Việt Nam.
– Những gì xảy ra tại biển Đông không chỉ là tranh chấp lãnh thổ, nó làm ảnh hưởng đến tất cả các nước trong khu vực và trên thế giới. Với tư cách là cường quốc số 1 thế giới về kinh tế và quân sự, Mỹ luôn chủ trương không đứng về bên nào trong tranh chấp lãnh thổ, tuy nhiên, Mỹ sẽ làm gì để ngăn chặn Trung Quốc bành trướng tại Biển Đông? (Nguyễn Đức Tài, 21 tuổi)
Mỹ là một cường quốc. Chúng tôi có những lợi ích to lớn trong tương lai của châu Á. Tương lai của châu Á theo tầm nhìn của chúng tôi là một châu Á thịnh vượng, hòa bình, nơi các nước có thể giải quyết các tranh chấp thông qua luật pháp quốc tế và biện pháp ngoại giao.
Về lịch sử mà nói, khi xuất hiện một cường quốc đang trỗi dậy thì giữa cường quốc đang trỗi dậy và cường quốc hiện tại thường có xu hướng xảy ra xung đột.
Để tránh khả năng xung đột đó, chúng tôi mong muốn phát triển một cấu trúc an ninh bền vững ở châu Á. Một cấu trúc an ninh bền vững ở châu Á đòi hỏi ASEAN phải là một tổ chức mạnh mẽ và đóng vai trò trọng tâm.
Chúng tôi ủng hộ và mong muốn ASEAN phát triển mạnh hơn, đoàn kết hơn, thịnh vượng hơn nhằm tiến tới một châu Á mạnh mẽ, độc lập và thịnh vượng.
Việt Nam đóng vai trò dẫn dắt quan trọng trong các nước ASEAN và Mỹ ủng hộ vai trò này của Việt Nam.Các cơ hội để giải quyết một cách hòa bình các khác biệt về tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông sẽ trở nên khả thi hơn  khi ASEAN phát triển mạnh hơn và đoàn kết hơn.
– Tôi được biết Mỹ có hai cấp độ quan hệ với các nước khác. Một là đồng minh. Hai là đối tác bình thường. Có phải như vậy không thưa ngài? Quan hệ đối tác toàn diện là gì? Và chúng ta đang ở đâu? (Khiem Nguyen Huy, 42 tuổi, 49/7Y3 Quang Trung, P12, GV)
Chúng ta là những đối tác mạnh mẽ. Trong những năm gần đây, chúng tôi nhận thấy rằng không chỉ quan hệ đồng minh mới quan trọng mà các quan hệ đối tác cũng rất quan trọng.
Tôi từng đến Ấn Độ để giúp xây dựng quan hệ đối tác mạnh mẽ. Sau đó, tôi tới Indonesia xây dựng quan hệ đối tác mạnh mẽ với Indonesia. Hiện tôi đang ở Việt Nam để giúp xây dựng quan hệ đối tác mạnh mẽ với Việt Nam.
Điều khác biệt ở đây là chúng ta từng có những khó khăn trong quá khứ. Và trong thời gian qua, chúng ta đã cố gắng rất nhiều để cải thiện điều này.
– Ông có thể kể về chuyến đi đáng nhớ nhất của mình tại Việt Nam từ khi làm đại sứ đến nay? Những trải nghiệm có khác so với hình dung ban đầu?(Phạm Bích Nga, 50 tuổi, Lâm Đồng)
– Hồi tháng 5, tôi có dịp cùng trợ lý ngoại trưởng leo lên đỉnh Fansipang. Nhóm của chúng tôi cả người Mỹ và Việt Nam, trong đó có một số nhân viên thuộc Bộ Ngoại giao Việt Nam. Chúng tôi đã leo đến tận đỉnh. Đó là một chuyến đi nhiều thách thức. Núi rất dốc, đoạn gần đỉnh vừa dốc vừa trơn. Rất khó khăn nhưng rất đáng để chúng tôi cùng nhau dốc sức.
Mấy ngày trước khi chúng tôi đi, hai bên đã tiến hành vòng đối thoại về nhân quyền và đó là một thách thức khó khăn, nhưng chúng tôi đã làm việc đó cùng nhau.
Năm nay tôi 53 tuổi và sẽ có người nói rằng thật điên rồ khi muốn trèo lên đỉnh núi cao nhất của Việt Nam, nhưng đại sứ Mỹ đầu tiên tại Việt Nam cũng là sếp cũ của tôi thường hay nói rằng không có gì là không thể và tôi hoàn toàn đồng ý với ông ấy.
– Tôi rất hâm mộ tình yêu của ngài, ngài có hài lòng với tình yêu của mình không? (Dang tieu Tran, 33 tuổi)
Tôi rất tự hào về gia đình mà tôi và Clayton cùng gây dựng nên.
Bạn đời và tôi đã kết hôn 9 năm trước vào thời điểm hôn nhân đồng tính chưa hợp pháp tại Mỹ. Chúng tôi đã nhận nuôi đứa con đầu lòng cách đây một năm rưỡi và đứa thứ hai cách đây 2 tháng. Chúng tôi cảm thấy rất may mắn khi hai con đều khỏe mạnh.
– Ông muốn để lại dấu ấn gì của mình trong nhiệm kỳ này? (Phạm Văn Bình, 23 tuổi, Quảng Ngãi)
Điều tôi muốn là làm sâu sắc hơn mối quan hệ đối tác giữa hai nước chúng ta. Theo quan điểm của tôi, để đạt được điều đó, ta phải cùng làm việc về các nội dung quan trọng với người dân. Những nội dung ấy là tạo điều kiện để trẻ em có sức khỏe tốt, học hành tốt, tạo công ăn việc làm cho người dân. Các hoạt động hợp tác về môi trường cũng quan trọng vì nó liên quan đến con cháu họ.
Hợp tác giáo dục là nội dung quan trọng, vì các hoạt động về lĩnh vực này tạo cơ sở cho tương lai của người dân. Một trong những nội dung hai bên đang hợp tác và cũng là nội dung thú vị nhất chính là hợp tác thành lập trường Đại học Fulbright đầu tiên ở Việt Nam. Đây sẽ là trường kiểu Mỹ độc lập, phi lợi nhuận đầu tiên ở Việt Nam và sẽ được thành lập ở thành phố Hồ Chí Minh.
Tới nay, chính phủ Mỹ đã góp 17,5 triệu USD và các tổ chức cá nhân khác cũng đóng góp rất nhiều, đưa tổng tiền là 40 triệu USD cho việc thành lập đại học này. Tôi tin chúng ta sẽ thành công và trường đại học này sẽ tạo ra mối quan hệ đối tác mạnh mẽ cho nhiều thập kỷ trong thời gian tới.
– Trong các hoạt động kỷ niệm 20 năm quan hệ Việt Nam và Mỹ sắp tới, thông điệp mà phía Mỹ muốn đưa ra là gì? (Dương Văn Thanh, 55 tuổi, TP HCM)
Thông điệp của chúng tôi rất đơn giản. Hãy nhìn lại trong 20 năm qua hai nước đã tiến xa chừng nào và từ đó có thể hình dung được khả năng tiến xa của hai nước trong 20 năm tới.
Năm nay chúng ta có một cơ hội hiếm có để xác định tầm nhìn chung cho quan hệ hai nước. Chúng ta có thể chuyển từ hợp tác song phương hiệu quả sang hợp tác hiệu quả cấp khu vực và toàn cầu. Chúng ta có thể chứng minh rằng không gì là không thể.
– Việt Nam và Mỹ ngày trước là hai kẻ thù, sau 20 năm là quan hệ bang giao. Người Việt Nam chúng tôi thường dùng chữ “Bạn” để nói về mối quan hệ này. Từ “Bạn” theo cách nghĩ của người Việt Nam là thân thiện, giúp đỡ, sẻ chia … và vì nhau để cùng phát triển. Vậy từ “Bạn” theo cách nghĩ của ngài và chính quyền Tổng thống Obama có giống như cách nghĩ và hành động của người Việt Nam hay không? (Nguyễn Văn Quang, 58 tuổi, 29 Lê Cơ , Quận Hải Châu, TP. Đà Nẵng)
Có. Nếu chúng ta định nghĩa “Bạn” chính là cùng nhau làm việc để đạt được phát triển và hướng tới thành công của Việt Nam thì chắc chắn đó là điều mà chúng tôi nghĩ.
– Thưa ngài đại sứ, như chúng ta đã biết thì Mỹ đã cấp thị thực có thời hạn 10 năm cho Trung Quốc. Câu hỏi của tôi là, khi nào chính phủ Mỹ sẽ tăng hạn thị thực từ một năm lên 10 năm cho người mang hộ chiếu Việt Nam ?(Hà Quang Anh, 22 tuổi, 207 Nguyễn Trãi, Phường 2, Quận 5, TpHCM)
Các bạn biết không, hiện nay Việt Nam cấp thị thực ba tháng xuất nhập cảnh một lần cho công dân Mỹ. Trung Quốc cấp thị thực xuất nhập cảnh nhiều lần cho công dân Mỹ trong 10 năm. Trong số các nước tham gia Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), không có nước nào ngoài Việt Nam yêu cầu Mỹ có thị thực khi xuất nhập cảnh vào Việt Nam.
Nếu chính phủ Việt Nam thực sự mong hội nhập quốc tế toàn diện thì việc chỉ cấp thị thực ba tháng một lần cho công dân Mỹ là một điều sai lầm. Một cơ chế cấp thị thực hiện đại hơn của Việt Nam sẽ tạo điều kiện tăng thêm số lượng khách du lịch, sinh viên, nhà đầu tư Mỹ sang Việt Nam. Nhưng vì Việt Nam thực hiện chính sách thị thực rất khắt khe như vậy nên tôi có nhiệm vụ phải áp dụng các cơ chế thị thực tương ứng.
Trong tương lai gần chúng tôi chỉ có thể cấp visa ba tháng xuất nhập cảnh một lần cho công dân vì chúng tôi chỉ được cấp thị thực tương ứng với giá trị thị thực mà các nước cấp cho chúng tôi. Tôi không muốn làm việc này nhưng chính phủ Việt Nam không cho tôi thêm sự lựa chọn nào khác. Tôi đã nêu vấn đề này với mọi quan chức chính phủ Việt Nam mà tôi gặp ở Hà Nội và các tỉnh thành khác. Tôi nghĩ việc áp dụng quy chế khắt khe như vậy là trái với lợi ích của hai nước chúng ta. 
Quý vị quan tâm đến xin visa đi Mỹ có thể tham khảo tại website:http://ustraveldocs.com/vn_vn/index.html
– Nếu được cử làm Ngoại trưởng đầu tiên tới một xứ sở nào đó ngoài hành tinh Ngài có làm không? và tại sao? (Lê Phú Tài, 32 tuổi, ấp Vĩnh Lộc, xã Vĩnh Bình, huyện Châu Thành, An Giang)
Nếu tổng thống nói nhiệm vụ của tôi phải làm vậy thì tôi sẽ chấp nhận điều đó. Vì sao ư? Vì đó là nhiệm vụ. Tôi nghĩ nó sẽ là một cuộc phiêu lưu khi ta đến nơi chưa có ai từng đặt chân đến. 
– Thưa ngài đại sứ Ted Osius, hiện nay nông dân đất nước tôi rất khó khăn về vấn đề nguồn ra cho sản phẩm nông nghiệp và thuỷ sản cuộc sống nhiều nông dân đang rất khó khăn, tôi rất mong sản phẩm nông dân chúng tôi đến được thị trường Mỹ và các nước đồng minh thân Mỹ. Sau khi ký hiệp định TPP thì những mặt hàng nông sản và thuỷ sản có được đến tay người tiêu dùng Mỹ và các nước thân Mỹ không? (Nguyễn Long Hồ, 31 tuổi, TP HCM)
Theo một số kết quả nghiên cứu của các chuyên gia kinh tế, việc ký kết thực hiện TPP sẽ giúp tăng 30% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam. Với tư cách là nước ít phát triển nhất trong số 12 nước đang đàm phán TPP, Việt Nam sẽ là nước hưởng nhiều lợi ích nhất từ hiệp định này.
Hiện nay, một nửa lượng hàng xuất khẩu của Mỹ sang Việt Nam là nông sản và hơn một nửa hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ cũng là nông sản.Vì vậy chắc chắn khi TPP hoàn tất thì lượng sản phẩm nông sản của hai nước xuất khẩu sang thị trường của nhau sẽ tăng lên.
Vì vậy, tác động lớn nhất của TPP là sẽ đẩy nhanh quá trình hội nhập quốc tế toàn diện của Việt Nam. Chính sách đó đã được nhiều nhà lãnh đạo Việt Nam công bố. Tôi rất lạc quan rằng quá trình đàm phán TPP sẽ sớm được hoàn tất. Điều này sẽ bổ sung, nâng cao đáng kể chất lượng quan hệ của chúng ta.
– Thưa ngài Đại sứ, tôi đã nghe nói nhiều về lợi ích của Việt Nam khi tham gia hiệp định TPP mà chưa nghe nói về lợi ích của nước Mỹ. Xin ngài cho biết về điều này. (Pham Duc Ha, 64 tuổi, 635 Vu Tong Phan Ha Noi)
Cách đây vài năm, Tổng thống Obama đã ra quyết định tái cân bằng chính sách của Mỹ sang châu Á. Có một số người diễn giải quyết định này là để chuyển các nguồn lực quân sự của Mỹ sang châu Á. Nhưng cách thể hiện chính xác hơn điều này là tuyên bố gần đây của Bộ trưởng Quốc phòng Ashton Carter khi nói rằng TPP quan trọng hơn nhiều so với một tàu sân bay.
Hiệp định TPP sẽ làm sâu sắc hơn nữa hợp tác kinh tế của 12 nước thành viên, chiếm 40% GDP toàn cầu. Hiệp định này sẽ tạo điều kiện để 12 nước thành viên đặt ra và thực hiện tiêu chuẩn ở cấp độ cao trong thương mại toàn cầu. Hiệp định này không chỉ có ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa quan trọng về chiến lược bởi vì điều này sẽ làm gia tăng lựa chọn của chúng tôi.
Các nhà lãnh đạo Việt Nam đã nói với tôi rằng quyết định khi đưa Việt Nam tham gia TPP mang tính chiến lược. Và đối với Mỹ cũng vậy, việc Mỹ cùng với các nước hoàn thành hiệp định này cũng là một quyết định chiến lược.
– Xin chào ngài đại sứ! Chúc ngài sức khỏe, thành công! Tôi xin được hỏi ngài nước Mỹ đang có những chính sách gì để khắc phục hậu quả chất độc da cam trên đất nước chúng tôi, xin cảm ơn ngài. (vu ngoc phan, 33 tuổi)
Mỹ đã dành 100 triệu USD cho hoạt động khắc phục ô nhiễm dioxin gần sân bay Đà Nẵng và dự án này đã đạt được kết quả rất to lớn. Khi tôi lần đầu tiên tới Việt Nam, thời điểm đó hai nước còn chưa thảo luận về dioxin nhưng hiện nay vấn đề này đã trở thành một chủ đề được thảo luận tích cực giữa hai nước chúng ta.
Từ kinh nghiệm thực tế, chúng tôi rút ra rằng nếu chúng ta tôn trọng quá khứ và làm việc cùng nhau với thái độ chân thành về quá khứ thì sẽ mở ra cánh cửa tương lai cho quan hệ giữa hai nước. Một trong những điều gây ấn tượng mạnh mẽ nhất với tôi về người dân Việt Nam là sự chú ý và quan tâm của họ đối với tương lai. Cách hướng tới tương lai đó thể hiện sự lạc quan của người Việt Nam và tôi cũng rất lạc quan về tương lai.
– Ngài đại sứ thích điều gì nhất ở đất nước Việt Nam và có điều gì Ngài không hài lòng? (Lê Phú Tài, 32 tuổi, ấp Vĩnh Lộc, xã Vĩnh Bình, huyện Châu Thành, An Giang)
Điều quan trọng nhất là tôi yêu mến và tôn trọng người dân Việt Nam.
Từ trải nghiệm của tôi, người dân Việt Nam rất mến khách, thông minh và cần cù lao động. Tôi rất thích và tôn trọng truyền thống lịch sử của Việt Nam. Ví dụ như tôi rất thích truyền thống ăn Tết, tôi đã có cơ hội nấu bánh chưng và thả cá đưa ông Táo về trời. Tôi thích các truyền thuyết của Việt Nam, đặc biệt là truyện người dân Việt Nam có dòng dõi con rồng cháu tiên.
Truyền thuyết thể hiện tính cách và giá trị của người Việt Nam, đó là sức mạnh tinh thần, truyền thống học hỏi cũng như truyền thống nhân đạo.
Tôi rất thích các món ăn của Việt Nam, đặc biệt là bánh xèo, phở hay bất cứ món nào có cua hoặc hoa quả tươi, kể cả sầu riêng.
Danh sách những thứ tôi không thích ngắn hơn nhiều. Tôi không thích bất kỳ yếu tố nào làm giảm khả năng của người Việt Nam trong việc xây dựng một đất nước vững mạnh và độc lập.
Nếu không có những tiến bộ cụ thể trong lĩnh vực nhân quyền thì không chỉ mối quan hệ đối tác của chúng ta không thể khai thác hết các tiềm năng mà bản thân người Việt Nam cũng không thể khai thác hết tiềm năng của mình.
Vì vậy điều mà tôi mong muốn được thấy trong tương lai ở Việt Nam là mọi người dân Việt Nam có thể khai thác đầy đủ mọi tiềm năng của mình, trong đó có việc được thực hiện các quyền tự do thể hiện ý kiến, tự do tôn giáo hay tự do hội họp.
Tôi cho rằng đã có rất nhiều tiến bộ đạt được trong các lĩnh vực nói trên kể từ khi tôi đến thăm Việt Nam lần đầu tiên và tôi rất chào mừng những tiến bộ đó.
Tôi muốn bổ sung một điều vào danh mục những điều tôi yêu thích ở Việt Nam là người dân Việt Nam luôn tràn đầy hy vọng và lạc quan về tương lai. Tôi chia sẻ tinh thần lạc quan đó của người Việt Nam
( Nguồn:.VnExpress

 

Trung Quốc nhồi nhét hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào sách giáo khoa lớp Ba như thế nào?

Phùng Hoài Ngọc

Ở Trung Quốc mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc và khu tự trị đều được phép tự soạn giáo khoa thư, căn cứ bộ chương trình khung của Bộ. Chúng tôi mục sở thị hai bộ sách tiểu học ở Thượng Hải và Giang Tô, sách Ngữ văn lớp Ba đã đưa vào học hai bài văn tả cảnh giàu đẹp Hoàng Sa (Tây Sa) và Trường Sa (Nam Sa) – mời bạn đọc coi qua cho biết.

22 : 富饶的西沙群岛

(Bài  học 22: Phú nhiêu đích Tây Sa* quần đảo) 

Đó là tên bài học số 22 trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp Ba quyển 1 xuất bản ở Thượng Hải, Trung Quốc (xuất bản lần đầu 2003, tái bản 2013, trang 87-89).

Bài số 22.   Quần đảo Tây Sa giàu đẹp (bản dịch) 

Quần đảo Tây Sa là một quần đảo nằm trên Nam Hải (Biển Đông), là tuyến tiền tiêu phòng vệ trên biển của tổ quốc ta. Nơi đó cảnh quan đẹp tuyệt, sản vật thiên nhiên phong phú, là một xứ đáng yêu. 

Quần đảo Tây Sa có dải nước biển tươi đẹp lấp lánh, tráng lệ không nơi nào sánh được: nước biển có lúc xanh lam, có lúc xanh nhạt, có lúc xanh lục nhạt, có lúc màu vàng quả quất. Từng khối, từng dòng đan xen nhau. Vì đáy biển mấp mô không bằng phẳng, có những vách đá, khe ngòi, nước biển khi đậm khi nhạt, nhìn theo mặt biển, màu sắc khác nhau, không đều. 

Trên các mỏm đá dưới đáy biển mọc lên các loại san hô, có loại giống đóa hoa đang nở e ấp, có loại phân nhánh như sừng hươu. Hải sâm khắp nơi dưới đáy biển đung đưa chậm rãi. Loài tôm hùm toàn thân trùm vỏ bọc xẻ rãnh, kéo nhau lượn qua lượn lại, trông vẻ khoan thai oai vệ. 

Cá quần tụ thành đàn lũ lượt bơi xuyên qua các bụi cây san hô rất đẹp mắt. Có loài toàn thân chúng như được bao bọc hoa văn nhiều màu sắc; có loài trên đầu mọc lên một cái tua màu hồng, có loài toàn thân giống như gắn những chiếc quạt, lúc bơi lượn lờ mềm mại; có loại mắt tròn bóng loáng, trên thân mọc đầy gai, lúc phồng lên tròn như quả cầu da. Số lượng các loài cá nhiều không kể hết. Cũng như nhiều người thường nói, quần đảo Tây Sa một nửa là nước, một nửa là cá. 

Trên bãi biển có nhiều vỏ sò xinh đẹp đếm không thể hết, loại lớn, loại nhỏ màu sắc không đều, đủ thứ hình thù kì lạ. Thú vị nhất phải kể rùa biển, khoảng tháng Tư tháng Năm, rùa biển loại lớn kết thành từng đàn kéo nhau bò lên bãi biển đẻ trứng. Ngư dân lật ngửa mình rùa biển khiến bốn chân nó hướng lên trời, không thể nào chạy trốn được. 

Quần đảo Tây Sa cũng là thế giới của chim. Trên đảo có từng mảng rừng rậm rạp, trong rừng cây có nhiều loại chim biển làm tổ. Khắp nơi trứng chim rải rác. Dưới mỗi gốc cây là những đống phân chim dày, đó là loại phân bón rất quý giá. 

Quần đảo Tây Sa giàu đẹp là nơi sinh trưởng của nhiều thế hệ tổ tiên chúng ta. Cùng với công cuộc xây dựng tổ quốc, quần đảo Tây Sa ắt sẽ thay đổi ngày càng xinh đẹp, giàu có hơn. 

Chú thích: Người Việt Nam gọi là quần đảo Hoàng Sa (tiếng Anh: Paracel Islands) hiện là huyện Hoàng Sa  biên chế vào thành phố Đà Nẵng, Việt Nam.

Vùng biển của quần đảo Hoàng Sa rộng hơn 500.000 km², có tổng cộng 40 đảo chia ra hai nhóm trong đó có nhóm 29 đảo nổi lên trên mặt biển.(P.H.N)

Bìa sách Ng văn lp 3 quyn thượng xut bn Thượng Hi :

    alt

            Tiếp theo, mời bạn đọc hãy xem Trung cộng nhồi nhét quần đảo Trường Sa vào đầu óc non nớt của học sinh lớp Ba ở Giang Tô như thế nào.

苏教版三年级语文下册

(Tô giáo bản tam niên cấp Ngữ văn hạ sách)

Bản in của tỉnh Giang Tô: Ngữ văn lớp Ba quyển hạ

文 2:“美丽的南沙群岛”

Bài 2: Qun đo Nam Sa m l

(Nguồn: http://www.szxuexiao.com/keben/html/438.html )

Bài học số 2 (bản dịch)

1.Theo truyền thuyết, một tiên nữ giáng trần, ném xuống vùng biển rộng lớn xa xôi phía Nam Trung Quốc từng xâu chuỗi hạt trân châu bóng ngời, đó là quần đảo Nam Sa mỹ lệ. Nam Sa quần đảo nằm ở chót cực nam của tổ quốc chúng ta, với hơn hai trăm đảo nhỏ, những tảng đá lớn ngầm bủa giăng chằng chịt bày ra như bàn cờ. 

Tổ tiên chúng ta từ rất sớm, trên hai ngàn năm trước đã lái những chiếc  thuyền vượt qua biển lớn đến vùng này, bắt cá, vỡ đất hoang trên các đảo nhỏ, trồng cây. Nam Sa mênh mang, qua từng hòn đảo, dừng lại đó, tổ tiên ta đã  thắp lên những ngọn khói hương cho buôn bán sầm uất. 

2.Nam Sa là một kho tàng chứa bảo vật màu lam khổng lồ của tổ quốc. Nàng tiên nữ đã cho chúng ta một nguồn sinh vật biển quý giá với số lượng nhiều khó đo lường được, cất giữ che giấu một nguồn tài nguyên khoáng sản vô cùng phong phú, lưu trữ nguồn năng lượng biển dùng không bao giờ hết. Dưới những tầng cát sâu, chứa đựng trữ lượng dầu khí vô cùng dồi dào mà thiên hạ ca tụng là “vịnh Ba Tư thứ hai”.

  1. Nam Sa cũng là một thế giới đẹp mê người. Trời xanh một màu xanh lam ngọc, biển là một khối ngọc phỉ thúy. Trông xa, trời nước nối liền, phỉ thúy hòa lẫn lam ngọc hợp bích, diện mạo thật hùng tráng, sung mãn. Cúi nhìn nước biển xanh trong, sáng ngời thấy rõ những con tôm hùm, cá chim, rùa biển ngũ sắc rực rỡ, khiến tâm hồn con người rất phóng khoáng vui vẻ. Những làn sóng xanh bao la bát ngát trên vùng biển Nam Sa, miên man sóng bạc đầu, từng lớp từng lớp nâng đỡ rồi tung lên những bọt sóng tuyệt đẹp, chừng như đang nhảy múa dâng hoa chào đón mọi người. Có thể khẳng định, quần đảo Nam Sa trong tương lai sẽ là một nơi thắng cảnh cực kỳ hấp dẫn du khách bốn phương.

Hai trang scan/pdf dưới đây trích từ sách lớp Ba xuất bản ở Giang Tô:

alt

alt

Chú thích

Người Việt Nam gọi là quần đảo Trường Sa (tiếng Anh: Spratly Islands)

Trường Sa diện tích gần 160.000 km2, kích thước 800 kmx 600 km, khoảng 160 đảo nhỏ-cồn cát-rạn đá ngầm-bãi cát ngầm/bãi cạn-bãi ngầm đã đặt tên (phía TQ),

Tổng diện tích đất nổi thường xuyên của quần đảo rất nhỏ, không quá 5 km² tới 11 km², phần còn lại bị chìm khuất khi thủy triều lên. Đảo Song Tử Tây là đảo san hô, cao nhất với cao độ 4 m so với mực nước biển.

Hiện còn tranh chấp giữa Việt Nam với Brunei, Philippins, Malaysia, Đài Loan và Trung Quốc (riêng TQ và Đài Loan tự ý vạch ra đường chữ U-chín khúc- lưỡi bò tham lam trùm tất cả P.H.N).

Tin mới nhận: Trung cộng đang cho xây các đảo nhân tạo nhô lên trên các bãi ngầm, đảo ngầm ở Trường Sa làm căn cứ quân sự và công bố sắp hoàn thành. Giới bình luận quốc tế cho rằng quốc tế sẽ không công nhận những “lãnh địa” nhân tạo.

Đây cũng là bài học kinh nghiệm cho Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.

Khi sắp kết thúc bài viết này, chúng tôi mới nghe tin: hai quần đảo HS-TS đã vào chương trình học (có lẽ ngoại khóa thôi) của các trường học ở Sài Gòn – TPHCM từ năm học 2015.

Vậy là, Sài Gòn đã đi trước Hà Nội một bước.

Nhớ lại chuyện ở Việt Nam, năm 2007 những người yêu nước tự nguyện đi biểu tình đòi hai quần đảo, một lão bí thư chi bộ ở vùng Sài Gòn (TP.HCM) le te mắng mỏ những người biểu tình ấy. Một phóng viên chìa mic ra phỏng vấn lão, lão đáp tỉnh queo rằng “có cái bãi hoang chim ỉa thôi mà đòi ầm ĩ làm chi”. Đó là một kiểu bí thư chi bộ điển hình ở Việt Nam, chả cần biết quần đảo Hoàng Sa là cái ất giáp gì, cũng như nhiều việc khác, bí thư chi bộ chẳng cần tư duy, chỉ cần nói dựa theo ý cấp trên là xong. Đáng phê phán và thương hại biết bao !

P.H.N

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.06.2015

PHÙ SA BIỂN CỦA NGÔ MINH

   PHÙ SA BIỂN CỦA NGÔ MINH

                    HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG

              Trước tình hình số tập thơ được xuất bản với tốc độ chóng mặt, người ta bỗng nhiên cảm thấy e ngại mỗi khi cầm một tập thơ trên tay. E ngại, không phải vì người ta sợ nhọc sức, mà e ngại vì người ta nghĩ rằng sẽ phải đọc một tập thơ dở! Cảm giác ấy xem ra thật bất công, nhưng thật tình nó quả là như vậy. Nhưng với Phù sa biển của Ngô Minh vấn đề lại khác. Ngô Minh sinh trưởng ở một làng biển Quảng Bình, đó là điều rất quan trọng để hiểu tính cách tác giả, để hiểu được những khát vọng và những kỷ niệm mặn mà thời tuổi dại. Ngô Minh đã theo đuổi việc học từ một một trường ở làng quê, điều ấy giúp anh có một cái nhìn chân thật về bạn bè. Cuối cùng, cũng như nhiều thanh niên cùng lứa tuổi, Ngô Minh đã đi bộ đội và tham gia giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh; điều giúp tác giả có một cái nhìn tổng kết thẳng thắn về cuộc đời và cũng như những tình cảm lớn khác trong thơ. Xuất ngũ, anh lại làm thơ và chỉ làm thơ (đây là tập thơ thứ chín đã xuất bản của anh). Ngô Minh là một người biết chí tình với thơ trong cuộc sống. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.06.2015

Về công trình Văn miếu ở Vĩnh Phúc

Về công trình Văn miếu ở Vĩnh Phúc

Chu Hảo

Gần đây công trình Văn miếu đang xây dựng ở tỉnh Vĩnh Phúc đã được bàn luận sôi nổi trên các phương tiện truyền thông. Nhưng lại một lần nữa chúng ta bị đặt trong tình thế bàn chuyện “đã rồi”: đã được chính quyền tỉnh Vĩnh Phúc phê duyệt và cấp kinh phí để khởi công từ tháng 8 năm 2010; đã tiêu hết kinh phí dự toán là 271 tỷ VNĐ, đã dự trù bổ sung 43 tỷ nữa mà chưa chắc đã đến hồi kết. Chắc là chẳng dừng được nữa, chỉ còn có thể làm được một việc góp ý kiến để kết thúc công trình cho hợp lý và tiếp tục “mổ xẻ” rút kinh nghiệm cho các dự án trong lĩnh vực Văn hóa vốn đã đầy rẫy tai tiếng.
Một lần nữa chúng ta lại chứng kiến thảm trạng: Chủ trương đúng nhưng thực hiện sai; và sẽ không ai thực sự chịu trách nhiệm. Chủ trương phục dựng các di tích lịch sử có ý nghĩa nhằm bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc là hoàn toàn đúng, nhưng ở dự án cụ thể này việc thực hiện là rất có vấn đề. Chẳng hạn: 1) Đây là một công trình hoàn toàn xây mới không phải trên nền một di tích Văn miếu cũ nào, và với một mô hình kiến trúc không thể biết được là kế thừa từ đâu. 2) Đã là Văn miếu, tức là miếu thờ Văn Tuyên vương (tức Khổng Tử), thì phải thờ Khổng Tử. Dựng mới một công trình thờ Khổng Tử đồ sộ như vậy, to tát và tốn kém như vậy trong bối cảnh hiện nay chắc là không hợp lý. 3) Cũng như nhiều dự án dùng ngân sách Nhà nước khác, dự án này cũng làm rất đúng quy trình, trong đó có hạng mục lấy ý kiến của dân cư trên địa bàn và của các nhà khoa học. Thế nhưng trong thực tiễn, chủ đầu tư thường chỉ là làm lấy lệ cho qua chuyện hoặc không tiếp thu bất kể ý kiến nào không thuận cho việc phê duyệt dự án đã được cấp trên có thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư.
Trong bối cảnh hiện nay, khi giá trị đích thực của Khổng Tử đang được tranh luận kịch liệt chính ngay quê hương của ông thì việc hùa theo chủ trương “xuất khẩu” cái gọi là Học thuyết Khổng tử nhằm quảng bá sức mạnh mềm của thế lực bành trướng Đại Hán cực đoan ra thế giới là điều nên tránh. Cơn sốt Khổng Tử mấy năm qua ở Trung Quốc nhằm mưu đồ chính trị, thông qua việc quảng bá rầm rộ cuốn sách “Luận ngữ tâm đắc” (NXB Trẻ, 2014) của nữ Giáo sư – tuyên truyền viên trẻ tuổi Vu Đan trên chương trình của Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc, đã dấy lên một cuộc khẩu chiến và bút chiến quyết liệt giữa các nhà lý luận bảo vệ quan điểm chính thống của Đảng Cộng sản Trung Quốc là tiếp tục tôn sùng Khổng Tử (phục vụ ý đồ chính trị), và những học giả khai phóng quyết một lần nữa đặt Khổng Tử vào đúng vị trí đáng có của mình (hai lần trước là vào năm 1919 với phong trào Ngũ Tứ vận động; và vào năm 1974 với phong trào phê Lâm phê Khổng do Mao Trạch Đông phát động). Độc giả có thể tìm hiểu thêm vấn đề này qua bài viết của Lưu Hiểu Ba “Hôm qua chó nhà tang, hôm nay chó gác cửa: Bàn về cơn sốt Khổng Tử hiện nay”, đăng trên mạng ngày 2 tháng 5 năm 2015, khi bình luận cuốn sách mới xuất bản của GS Đại học Bắc Kinh Lý Linh nhan đề “Chó nhà tang – Tôi đọc Luận ngữ”. Đối với họ, Khổng Tử mà các vương triều Trung Hoa đời đời tôn sùng như một Đại Thánh không phải là Khổng Tử trong đời thật, mà do người ta nhào nặn ra. Có lẽ ông là một người chăm chỉ học hành, yêu chuộng đạo lý, không mệt mỏi truyền đạt văn hóa cổ xưa, có học vấn mà mà suốt đời đi khuyến dụ tầng lớp cai trị noi gương nhà Chu để thiên hạ thái bình nhưng không ai thèm nghe, cũng như một dạng Don Quixote, cuối đời đành quay về quê nhà và chết trong buồn tủi. Còn Luận ngữ, cũng tựa như cuốn Mao tuyển thời Cách mạng Văn hóa, hầu hết cũng là những câu nói giản dị, rút ra từ “minh triết dân gian”, đã được tán tụng thành những lời dạy tinh diệu của Thánh nhân.
Trong tình hình hiện nay, dù vô tình hay hữu ý, phụ họa chính sách dùng Khổng Tử như một “Đại Thánh Chí Thành Văn Tuyên Vương” nhằm thực hành “quyền lực mềm” của thế lực dân tộc cực đoan Đại Hán là việc làm vừa không khôn ngoan, vừa nguy hiểm.
Thiết nghĩ, các cơ quan chức năng phải xác định lại mục tiêu của công trình. Là Văn miếu thì phải thờ Khổng Tử; nếu xây trên nền di tích cũ, với quy mô nhỏ và theo mô hình kiến trúc Viêt cổ, thì có thể là hợp lý. Nhưng nếu xây hoàn toàn mới với quy mô hoành tráng như hiện nay thì không nên coi là Văn miếu, không thờ Khổng Tử; mà nên tận dụng để làm việc khác, chẳng hạn như làm một ngôi đền chùa mới với những nội dung bên trong phù hợp.
Hội An, ngày 18/6/2015 
( Nguồn: BVN)

 

VÕ NGUYÊN GIÁP, NHÀ BÁO CHUYÊN NGHIỆP XUẤT SẮC

      Ngô Minh

          Các chính khách lớn thường bắt đầu sự nghiệp bằng con đường báo chí. Cụ Hồ khởi đầu mục tiêu giải phóng dân tộc bằng báo “Người cùng khổ” (Le Paria). Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng vậy, trước khi trở thành thiên tài quân sự, Người cũng khởi hành bằng báo chí. Hiếm có vị tướng nào trên thế giới lại viết hàng trăm bài báo, gần 100 luận văn có giá trị như Đại tướng. Cũng hiếm có một vị tướng nào lại làm tất tần tật công việc của một nhà báo chuyên nghiêp: từ Chủ tịch hội, Tổng biên tập, viết xã luận, thời đàm, nghị luận, điều tra, phóng sự, biên tập, duyệt bài, sắp xếp nội dung, cho tới bố cục, lên trang, trình bày, đưa nhà in, sửa morrasse và phát hành báo. Năm 1991, Hội Nhà báo Việt Nam đã trao tặng nhà báo Võ Nguyên Giáp Huychương vì sự nghiệp báo chí vì có từ 25 năm làm báo trở lên.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.06.2015

NGƯỜI ĐÙA GIỠN VỚI NAM TÀO!

KTS Nguyễn Trọng Huấn ở mộ mình

NGƯỜI ĐÙA GIỠN VỚI NAM TÀO!

QTXM: KTS Nguyễn Trọng Huấn là người thân thiết với Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Trọng Tạo , Ngô Minh… Anh là KTS giỏi và tâm huyết với đời. Chuyện anh xây mộ mình ở Thiên An, Huế hơn 10 năm nay, rồi thỉnh thoảng từ Sài Gòn ra thăm mộ mình là chuyện hy hữu. Xin giới thiệu với bạn đọc con người tài tình, tài tử này qua bài viết của họa sĩ Anh Thơ, vợ của KTS

Họa sĩ Võ Anh Thơ

(Nhân dịp anh Nguyễn Trọng Huấn 80 tuổi)

Nhìn tấm ảnh KTS Nguyễn Trọng Huấn, ngồi cười thật tươi bên bia mộ của chính mình, nhiều người không khỏi ngạc nhiên. Trong chuyến về Huế thăm lại cố hương, anh đã ghé thăm khu mộ phần của mình. Người chiến sĩ Điện Biên năm xưa, nói cười sang sảng. Anh đi vòng quanh khu mộ ngắm 12 cây đại đã nở hoa, cạnh mộ là hai bụi trúc, cách vài đoạn là bốn cây sa kê. Mấy người bạn thân của anh ngồi chơi bên mộ cười nói rôm rả. Anh Huấn bảo đây là nhà của anh, sau này anh sẽ chuyển hộ khẩu chính thức về. Trên mộ có bộ ấm trà để bạn bè ngồi chơi nhâm nhi. Anh trèo lên tường xây xung quanh mộ chụp ảnh toàn cảnh, rồi ngồi bên bia mộ của chính mình làm thêm mấy pô nữa với nụ cười mãn nguyện. Điện thoại mấy người bạn văn nghệ sĩ ở Huế réo gọi: “Ông Huấn ơi nghe nói ông khánh thành mộ của ông, một lát nữa chúng tôi ra mộ chơi với ông nhé”. (Đọc tiếp…)

 

Tiếng nói sinh viên: Những băn khoăn về kiến thức trong cuốn giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại 1930 -1945 của tiến sĩ Hoàng Thị Huế

N.T.T.N

Em là một sinh viên, em xin đưa ra một số ý kiến chủ quan của mình và mong nhận được sự giải đáp của bạn đọc Quà tặng xứ mưa. Em nghĩ những sai sót trong một cuốn sách là điều không thể tránh khỏi. Có thể chủ quan, có thể khách quan. Nếu lỗi sai nhiều quá, em nghĩ khi tái bản, cần phải chỉnh sửa lại. Tác giả Võ Văn Kha cũng không nên mất công lược ra những lỗi đó làm gì, vì chúng em có thể nhận biết được. Điều em băn khoăn là một số nhận định của giáo trình về các tác gia giai đoạn 1930 – 1945 không phù hợp với những gì mà em đã tiếp thu trước đây. Đây lại là giai đoạn mà chúng em sẽ đến các trường phổ thông thực tập trong năm tới nên không thể không lo lắng. (Đọc tiếp…)

Thư giãn cuối tuần: Chuyện lạ- vẽ tranh nghệ thuật lên cơ thể nữ khỏa thân

 Tác giả Huỳnh Thanh Trung

   Vẻ tranh  nghệ thuật lên cơ thể người phụ nữ khỏa thân, được biết đớn mới đây ở Việt Nam, được gọi là body painting. Với người mẫu trong hình dạng khỏa thân rồi sau đó được nhà họa sĩ vẽ lên người với những họa tiết rất lạ và nghệ thuật.Hàng giờ lướt cọ trên cơ thể người mẫu khỏa thân là một thử thách phải vượt qua để người nghệ sĩ tạo nên được tác phẩm body painting thăng hoa, thoát tục. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.06.2015

Trang thơ người đẹp – thơ Hoàng Thúy

Hoàng Thúy

Trang thơ người đẹp –  thơ Hoàng Thúy

 QTXM: Trang thơ người đẹp kỳ này chúng tôi giới thiệu một giọng thơ nữ rất trẻ và rất mới: Hoàng Thúy. Chị người Quảng Bình, sống ở Nha Trang. Nhà thơ Hoàng Vũ Thuật giới thiệu:” Khác với những cây bút trẻ cùng thời, Hoàng Thúy đi thẳng vào mạch cảm xúc không qua bước khởi động. Thơ như trạng thái tâm hồn dồn nén, đến thời thì xuất hiện. Điều này hiếm thấy ở một tác giả trẻ. Thơ Hoàng Thúy biểu hiện của vẻ đẹp tự nhiên sâu kín, không phải trau chuốt. Trong trường hợp này thơ chính là hiện tượng linh ứng của con người trước thế giới thiên nhiên và xã hội”.

  HOÀNG THÚY

Thành phố như một giấc mơ đi

Thành phố nằm nghe đêm hát lời tự tình bên ngực trái
cậu bé có đôi mắt sâu thẳm lang thang mang ngơ ngác vào đời
thành phố bồng bềnh
dòng sông vẫn chảy, đôi cánh thuyền lạc ở phía khơi xa không
người dẫn hướng
những con sóng dập dềnh
cạn
vơi…

thành phố nối những chuyến đi hờ hững
nắng cháy rồi màn đêm tóc bạc
thành phố hát cho đất, cho cây, cho bầu trời cho mỗi đôi chân
duy nhất một bài ca rực khát
đen đúa
những nét cười trần trụi!

thành phố cô đơn
thành phố buồn
thành phố khờ khạo giấu nỗi nhớ không tên
mùa chín đỏ rồi xanh, ước nguyện qua bao lần thay lá
định mệnh xoay vần, vội vàng cuốn theo những tính toan
giữa lưng trời
chẳng có hình hài nào vẹn nguyên
thành phố lên đèn ngả vàng hiu hắt,
con đường bình minh xa lạ quá
cậu bé có đôi mắt sâu thẳm lang thang giấu chút bình yên bên
ngực phải
nửa mùa thương bỏ lại
thành phố như một giấc mơ đi.

Không đề

vẫn là câu chuyện cũ, mới
em đi qua mùa thu từ lâu không có tuổi
câu thơ già trong kí ức mục rỗng

đôi khi chẳng biết lòng buồn hay vui
chỉ thấy hạnh phúc mắc kẹt giữa bàn tay nhìn không ra năm ngón
để lạc trái tim gầy và cả nỗi nhớ mong manh

em muốn thương mình hơn sau những ngày chông chênh
dẫu mùa đã khô khốc
hoa cúc nào vừa chết trên nụ môi trinh nguyên

Vẫn là những khóc, cười cứ đến rồi đi.

Thôi đừng viết về đàn bà

cuốn sách nằm ngoan trên giá
viết về người đàn bà
dày bốn nghìn chín chín lời ca ngợi
triệu triệu con chữ mù lòa chạy đường thẳng
lối về kết thúc bằng dấu chấm

người đàn bà có trong những người đàn bà
ngoài nỗi đa đoan và nụ môi mềm run như cỏ
là bờ ngực khát hạnh phúc

thôi đừng viết về người đàn bà
cuốn sách rồi sẽ bị bỏ quên bụi thời gian kết mạng nhện quanh co
thôi đừng hoài nghi nữa
gấp lại
ném đi
chạy đến mà níu những ngón gầy…!

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.06.2015

CHUYỆN HOÀNG CẦM BỊ BẮT

Nhà thơ Hoàng Cầm

 CHUYỆN HOÀNG CẦM BỊ BẮT

QTXM: Cần THơ là bút dangh của một nữ trí thức Việt Kiều tại Pháp. Chị vừa xuất bản cuốn hồi ức “Cần Thơ về Kinh Bắc”. Trong đó có đoạn nói về nhà thơ Hoàng Cầm bị bắt giam. Đây không phải là chuyện bới móc, mà chuyện nhà thơ là chuyện của đất nước, chuyện của mọi người. Chúng tôi in lại 2 chương trong cuốn sách để bạn đọc hiểu thêm về nhà thơ Hoàng Cầm, độ lan tỏa của thơ Hoàng Cầm

Chương VI

Hoàng Cầm bị bắt

Sau một thời gian rất lâu vắng thư Hoàng Cầm, tôi bỗng nhận được thư của chị Lê Hoàng Yến, thấy dòng chữ nghệch ngoạc: Xin cô đừng liên lạc với chồng tôi nữa, anh ấy mới bị đi tù. Anh bị bắt vào tháng 8 năm 1982. Sau đó tôi có gửi 100 đô-la cho chị qua em Phan Đạm Hiệp, một người em cùng Thầy, từ miền Nam đem tiền ra Bắc. Hiệp tìm cách ra tận nơi mang tiền đến cho chị. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.06.2015

800 Năm Magna Carta – Đôi điều suy nghĩ

800 Năm Magna Carta – Đôi điều suy nghĩ

Trần Thạnh

Anh Quốc và một số nước khác trên thế giới vừa kỷ niệm ngày Magna Carta ra đời, cách đây đúng 800 năm, ngày 15 tháng 6 năm 1215.

Magna Carta (Đại Hiến Chương) là văn kiện đầu tiên trên thế giới đưa ra nguyên tắc thượng tôn pháp luật (rule of law), qua đó Vua John của Anh Quốc chấp nhận phải cai trị đất nước theo pháp luật, cá nhân nhà vua không được đứng trên pháp luật. (Đọc tiếp…)

 

Cần phải nhìn vào những sai sót căn bản của cuốn giáo trình ở bậc đại học

QTXM: Bạn đọc thân mến.Như vậy cuốn giáo trình của tiến sĩ Hoàng Thị Huế ở ĐH Sư phạm Huế đã trở thành đề tài tranh luận sôi nổi của bạn đọc. Đó là một điều tốt. QTXM xin các tác giả có bài trao đổi phải hướng về chất lượng thực sự của cuốn giáo trình dùng cho sinh viên đại học ( và cả cao học?). So với các giáo trình của các thầy hàng đầu như Nguyễn Đăng Mạnh,Hà Minh Đức, Trần Đình Sử…thì giáo  trình tiến sĩ Huế xếp ở mức độ nào ? Có xứng để cho sinh viên đại học học không? Giáo trình là sự đúc kết, nhưng riêng về tác giả tiêu biểu của giai đoạn 1930-1945 mà chọn nhà văn Hồ Chí Minh có đúng không ? Cụ Hồ là lãnh tụ của dân tộc, cụ có viết văn làm thơ, nhưng về văn chương thì cụ không phải là tác giả tiêu biểu của giao đoạn 30-45, tại sao lại được chọn? Nhà thơ Võ Văn Trực comment rất chính xác rằng,”Tiến sĩ Hoàng Thị Huế và tác giả bài viết này Lê Đức Quân, có biết chyện “Cái rắm thơm” chưa? Đừng khoác lên mình Cụ Hồ nhiều thứ mà thực tế không như lâu nay cứ nói đại lên mà thành nhé”. Mời các tác giả trao đổi về những nội dung trên để nó tập trung về học thuật. Còn những bài trao đổi “thiếu thiện chí”, “đả kích”… chúng tôi sẽ không dùng. NGÔ MINH

Võ Văn Kha

Thư hồi đáp ông Lê Đức Quân

Như tôi đã nói: tôi không phải là người am tường về lĩnh vực văn chương. Tôi chỉ nêu lên những suy nghĩ của mình về một cuốn giáo trình bậc đại học mà quá cẩu thả, quá sai sót như vậy. Tôi cám ơn ông Lê Đức Quân đã cho tôi một bài giáo huấn sâu sắc về khái niệm phong cách nghệ thuật và phương pháp tư duy. Tôi xin thành tâm tiếp thu.

Tôi đồng ý với tinh thần của tác giả Lê Đức Quân là phê bình học thuật phải xuất phát từ thiện chí. Thiện chí cao nhất của tôi là: mong cho môi trường giáo dục đừng có những cuốn giáo trình kém chất lượng như cuốn Văn học Việt Nam hiện đại 1930 – 1945 của tiến sĩ Hoàng Thị Huế. Vậy nên, xin đặt ra hai vấn đề:

Vì sao trình độ một tiến sĩ mà lại soạn một cuốn giáo trình cẩu thả, vụng về như vậy? Cẩu thả trong diễn đạt, trình bày, cẩu thả trong trích dẫn, diễn giải. Có những câu không đủ thành phần, có nhiều đoạn văn lủng củng, không thể chấp nhận được. Hàng loạt trang không có trích dẫn rõ ràng – một yêu cầu quan trọng của người nghiên cứu, giảng dạy.

– Vì sao giáo trình viết về Văn học Việt Nam hiện đại 1930 – 1945 mà lại đi phân tích miên man Di chúc (1969)? Đây cũng là một đặc điểm “tẩu hỏa nhập ma” của cuốn sách này. Thậm chí có chỗ tác giả lấy ông nọ chắp cằm bà kia, lấy ý người này chồng lên người khác (Xin xem tr.71). Giáo trình đại học mà như thế này ư?

–  Đọc bài của ông, tôi nghĩ ông là một người có kiến thức. Vậy xin ông cho biết: khi cầm một cuốn giáo trình cẩu thả như vậy, ông không có cảm giác bị xúc phạm sao?
Tôi cám ơn ông lần nữa về những diễn giải thuộc các khái niệm như: phương pháp tư duy, lập luận, cá tính sáng tạo của nhà văn. Tôi là dân ngoại đạo nên chỉ biết nói về những gì mình hiểu. Tôi viết bài này với mong muốn: cuốn giáo trình kém chất lượng này cần phải được chỉnh sửa một cách nghiêm túc. Tôi không tư thù ai nên ông đừng suy diễn, kết luận nóng vội như vậy.Tôi xem như bổn phận của tôi đến đây đã kết thúc (Tất nhiên, trừ khi ông yêu cầu tôi dẫn ra những sai sót, tôi sẽ rất sẵn lòng. Và cũng phải nói với ông và tiến sĩ Hoàng Thị Huế rằng: không dưới 100 lỗi). Còn về chuyên môn, tôi xin nhường cho các bậc giáo sư, tiến sĩ ở các trường đại học luận bàn về cuốn giáo trình này.

Trân trọng cám ơn.

 ( Văn Kha commented on quick comments)

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.06.2015

GIÁM ĐỐC ‘’SỢ’’ NHÀ BÁO ?

        GIÁM ĐỐC ‘’SỢ’’ NHÀ BÁO ?

      Ngô Minh

Quan hệ giữa giám đốc doanh nghiệp với các nhà báo hiện nay có rất nhiều điều bức xúc phải suy nghĩ. Báo chí phải tôn vinh các doanh nghiệp làm ăn giỏi vì họ là lực lượng chủ lực  trong phát triển đất nước thời hội nhập . Nhưng các nhà báo không phải ai cũng sống và viết với ý nguyện lớn lao đó! Không ít các nhà báo hiện nay là những tên trấn lột doanh nghiệp đích thực. Trấn lọt bằng “chạy quảng cáo”, “đọc lệnh quảng cáo”. Trần lột bằng xin đểu…Tôi có anh bạn đang là giám đốc một doanh nghiệp lớn. Mấy lần tôi gợi chuyện xung quanh ‘’đề tài’’ này, anh đều thoáng chút căng thẳng và buồn trên nét mặt, rồi nhanh chng lảng sang chuyện khác. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.06.2015

THÔNG REO NGÀN HỐNG ( chương V)

THÔNG REO NGÀN HỐNG

  Nhà văn Nguyễn Thế quang

  QTXM:Sau khi giới thiệu 2 chương , chúng tôi nhận được sự quan tâm của nhiều bạn đọc. Theo yêu cầu của nhiều người, chúng tôi xin giới thiệu chương 5 phần V của tác phẩm,là chương cuối. Ở đây ta sẽ gặp lại tâm trạng của 3 nhân vật là 3 trí thức lứn của thời đó. Chế độ Quân chủ độc quyền ngày càng thối nát, bất lực, quan lại ngày càng tham những vô độ, dân chúng ngày càng khốn khổ điêu linh, giặc ngoại xâm đã tràn đến, nguy cơ mất nước hiển hiện. Trong nỗi đau tột cùng đó, những kẻ sĩ chân chính như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát càng thấy được trách nhiệm của mình, cốt cách vẫn cứng cỏi, vẫn vẹn nguyên khát vọng được mãi là người con của Đại Nam., sống hết mình vì sự toàn vẹn của giang sơn Đại Nam. QTXM xin gửi đến mọi người những điều tâm huyết đó. …

  Chương 5- LÀM CÂY THÔNG ĐỨNG GIỮA TRỜI MÀ REO (trích)

Ra đi từ sáng sớm chưa tỏ mặt người nhưng mãi đến cuối giờ thìn ( gần 9 h ) cha con cụ Thượng Trứ mới đến đỉnh ngọn Mã Yên – ngọn núi cao nhất của Ngàn Hống 99 ngọn chập chùng. Bấy giờ đã là cuối tháng Mười, mùa đông năm Canh Ngọ (1858) khí trời lạnh và khô nhưng Công Nhị mồ hôi ướt đẫm cả áo (…) Đến chân núi, Nhị nhảy xuống dắt ngựa.  -Con về đi. Giờ Thân ngày mai lên đón cha.Công Nhị trố mắt nhìn mái đầu bạc phơ: -Đêm nay cha một mình ở đây?   -Phải! Ta muốn đêm nay một mình say cùng Ngàn Hống (…)

Mặc cho con xuống núi, Nguyễn vẫn đứng đấy, cái đầu bạc phơ quay nhìn bốn phía: đâu đâu cũng rừng cây xanh ngắt trải dài tít tắp tới tận chân trời. Không gian thoang thoảng mùi thơm ngào ngạt của nhựa thông, của các loại hoa rừng. Nguyễn hít căng không khí trong lành, dơ đôi bàn tay to khỏe và gân guốc ra đọng nắng vàng, da dẻ như hồng lên. Gió vi vu trên những ngọn thông, tạo nên muôn thanh âm nhẹ nhàng, trong trẻo ngập đầy cả núi rừng. Có tiếng rào rào trên không: một đàn cò  trắng dang những sãi cánh rộng rạp xuống những cây cao trước mặt. Đẹp qụá Tất cả trong trẻo vô cùng. Không có con mắt ai dòm ngó. Không có bon chen kèn cựa, hãm hại lẫn nhau. Không có ai áp bức ai.Ta và cây cỏ, khí trời đều thân thiện. Tất cả như hòa cùng nhau. Đặt tay lên tảng đá. nắng đã làm cho ấm lên, Nguyễn khoan thai ngồi xuống. Lấy tấm thổ cẩm của đồng bào Khmer An Giang đặt xuống tảng đá, Nguyễn nằm gối đầu lên, bắc chân chữ ngũ, nhìn trời cao khoáng đạt, ngắm những cây thông cao vút, xanh rờn, chợt nhớ câu thơ của Tố Như, bèn thay vài chữ cho hợp cảnh mình, nghêu ngao đọc: Nghêu ngao vui thú yên hà, / Thông là bạn cũ, hạc là người quen. (Đọc tiếp…)

  Gần 50 triệu người Nga đã chết dưới sự cai trị của Stalin

Điều gì khiến các chế độ độc tài vẫn tồn tại?

Rachel Nuwer

Những người dân sống ở các xã hội dân chủ thường gắn kết chế độ độc tài với sự đàn áp, vi phạm nhân quyền, nghèo đói và hỗn loạn. Các chế độ độc tài đã giết chết không biết bao nhiêu người, trong số đó có đến 49 triệu người chết dưới thời Joseph Stalin ở Liên Xô và gần ba triệu người Campuchia dưới chế độ của Pol Pot.

Với những con số thống kê như thế thì việc phải chấm dứt mãi mãi chế độ độc tài dường như là mục tiêu đáng phải làm. Nhưng liệu điều đó có làm được không? Điều gì khiến cho những kẻ độc tài có đất dụng võ và mọi việc sẽ thay đổi như thế nào đối với những người độc tài trong tương lai? (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.06.2015

Thế giới quanh tôi

Ô Mai Khắc Ứng

Thế giới quanh tôi

  Mai Khắc Ứng

( Bài gửi cho QTXM  từ Canada)

Sáng ngày 22 tháng 4 năm 2014 sau khi phòng cấp cứu A5 đo huyết áp, điện tâm đồ, lấy máu xét nghiệm, tôi được chuyển lên phòng 632­A. Phòng này có 4 giường dành cho bệnh nhân, ngăn bởi 4 tấm rèm vải hình chữ L góc tù gần giống 4 cánh cung. Giường dành cho tôi đặt về phía cửa sổ.

Trời Montreal tháng 4 năm 2014 cao xanh vời vợi. Tôi thích thú được ngự tại vị trí này. Nhìn da trời tinh anh. Nhìn những làn mây trắng chầm chậm trôi rồi nhìn lên đỉnh núi Mont­Royal với tòa Thánh đường Saint­Joseph trầm mặc lòng tôi tự nhiên xốn xang. (Đọc tiếp…)

PHÊ PHÁN HỌC THUẬT PHẢI XUẤT PHÁT TỪ THIỆN CHÍ

QTXM- Sau khi in bàI “Một giáo trình ở trường Đại học sư phạm Huế viết sai lệch về quan điểm nghệ thuật của Hồ Chủ Tịch!”của  tác giả Võ Văn Kha ( Sau QTXM đặt lại đầu đề là”Một giáo trình ở trường Đại học sư phạm Huế viết sai nhiều lỗi”, chúng tôi đã nhận được nhiều ý kiến phản hồi, người ủng hộ, người phản đối bài viết, kể cả ý kiến của tiến sĩ Hoàng Thị Huế.Nhưng không ai gửi bài theo chính danh, chỉ có thư “Gửi ông Ngô Minh” ký tên Lê Đức Quân gửi qua commented on quick comments ở blog ngominhblog.wordpress.com. Tôn trọng quyền phát biểu của người đọc, chúng tôi in nguyên văn bài viết này, mặc dù chúng tôi nhận thấy xự xuống cấp của Đại học Việt Nam đang là một thực trạng đau lòng. Mong bạn đọc gần xa cùng trao đổi.

Lê Đức Quân

Gửi ông Ngô Minh,
Tôi viết bài này sau khi đọc bài “Một giáo trình ở trường Đại học sư phạm Huế viết sai lệch về quan điểm nghệ thuật của Hồ Chủ Tịch!” đăng ở Blog của ông. Để thể hiện sự dân chủ trao đổi ý kiến và rộng đường dư luận, tôi TRÂN TRỌNG mong ông đăng bài này để bạn đọc tiếp cận.

PHÊ PHÁN HỌC THUẬT PHẢI XUẤT PHÁT TỪ THIỆN CHÍ

Đầu tiên tôi muốn nói ngay rằng, phương pháp tư duy và trình độ kiến thức chuyên môn của tác giả bài này khiến bạn đọc phải nghi vấn và cảnh giác. Sau đây xin chứng minh. (Đọc tiếp…)

Ông Nguyễn Sự phát biểu tại buổi gặp mặt (Ảnh: HC)

Ông Nguyễn Sự: “Đừng đem tôi làm đòn kê để “bắn” người khác!”

Hải Châu

 Chiều 15/6, cuộc gặp mặt “Hội An với báo chí” nhân 90 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam đã thành cuộc hội ngộ báo chí ba miền chia tay đầy xúc động với ông Nguyễn Sự, nguyên Bí thư Thành ủy Hội An!

Cuộc hội ngộ báo chí ba miền ở Hội An

Ông Nguyễn Sự cho hay, hàng năm Hội An đều tổ chức gặp mặt nhân Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21/6, nhưng điều khiến ông xúc động là tại cuộc gặp mặt năm nay, không chỉ báo giới ở Đà Nẵng, Quảng Nam mà còn có nhiều nhà báo ở hai đầu đất nước cũng vượt cả ngàn cây số để về với Hội An.

Bên cạnh các nhà báo đang công tác có cả nhiều nhà báo đã nghỉ hưu như Hồ Duy Lệ, nguyên Tổng biên tập báo Quảng Nam; Lê Hoàng, nguyên Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ; Hoàng Linh, nguyên Giám đốc Đài Phát thanh – Truyền hình Quảng Nam; Cung Văn (báo Sài Gòn Giải phóng), Huỳnh Phi Long (Thời báo Kinh tế Sài Gòn), Trung Yên (Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại Đà Nẵng)…

“Đó là tình cảm rất lớn mà báo chí dành cho Hội An, đặt ra vấn đề Hội An phải suy nghĩ làm tốt hơn để xứng đáng với lòng tin đó. 21 năm tôi làm ở đây, anh chị em báo giới đã gắn bó với Hội An lúc vinh quang cũng như lúc lên bờ xuống ruộng. Những lúc vui nhất và những lúc buồn nhất của Hội An, các anh chị đều có mặt, sẵn sàng sát cánh. Hội An có được như hôm nay, ngoài nhân dân và nỗ lực của hệ thống chính trị Hội An còn có sự giúp đỡ của bạn bè, trong đó có báo chí đã đồng hành với Hội An cả khi ấm lẫn lúc lạnh!” – ông Nguyễn Sự nói.

Ông cho biết, sau khi thôi chức Bí thư Thành ủy, hiện ông vẫn còn là Chủ tịch HĐND TP Hội An để làm tròn trách nhiệm đến khi Đại hội Đảng bộ TP. Sang năm, ông sẽ hoàn toàn rời khỏi “vũ đài”, lúc đó sẽ có dịp gặp mặt những người làm báo với tư cách là những người bạn, người anh em, thân hữu… Có thể gặp nhiều hơn, ngồi lâu hơn và trải lòng với nhau nhiều hơn. Nhưng với tư cách là người còn đương chức thì đây là lần cuối cùng ông gặp mặt báo giới. Vì vậy ông xin phép tâm sự đôi điều.

“Kiểu mấy anh nhà báo mà, tôi biết rồi!”

Điều đầu tiên, ông Nguyễn Sự nói lời cám ơn, nhưng không khách sáo, đối ngoại như lẽ thường. “Với tôi, thực ra chơi với anh em báo chí, tôi không đối ngoại, mà tôi thiệt. Về mặt cá nhân, anh nào tôi ưng thì tôi chơi. Còn về mặt trách nhiệm, tôi tiếp anh với tư cách là phóng viên thì tôi tiếp. Anh khen, tôi cũng làm, nhưng khen cho trúng. Anh chê tôi cũng làm, nhưng chê cho trúng. Anh khen làm sao tôi không đỏ mặt, anh chê làm sao tôi cảm thấy không phải là sự bươi móc. Tôi rất rõ ràng, sòng phẳng điều này mà chắc ở đây nhiều anh chị em biết rất rõ!” – ông Nguyễn Sự bày tỏ.

Ông nói thẳng: “Kiểu mấy anh nhà báo mà, tôi biết rồi. Đôi lúc cũng nâng lên một tí, hạ xuống một tí. Muốn chê thì hạ nó xuống một tí, muốn khen thì nâng nó lên một tí, thậm chí lên 10 tí!”. Và ông kể lại nhiều kỷ niệm ông từng to tiếng, đòi kiện, thậm chí đòi “nhận nước” một số phóng viên khi đưa tin không hoàn toàn đúng sự thật về Hội An. Nhưng như người ta vẫn nói là “đánh nhau mới nhận bà con”, nhiều trường hợp, ông với các nhà báo từ chỗ “đánh nhau” đã trở thành bạn, rất trân trọng nhân cách của nhau dù tuổi tác có thể chênh lệch.

 

“Tôi biết báo chí khen tôi, khen Hội An nhiều lắm. Lúc nãy tôi có nói với vài anh em là hôm nay gặp mặt tri ân báo chí, đồng thời tôi cũng đòi món nợ với báo chí. Đó là báo chí đã “viết trên lưng” Hội An, kể cả “trên lưng” tôi nữa, lấy nhuận bút. Lần này cuối đời rồi, dứt khoát các anh phải chia nhuận bút lại đây! Tôi nói đùa vui như vậy để thấy Hội An cũng là niềm cảm hứng, là chỗ để các phóng viên có đất dụng võ. Nhưng trên hết, đó là tấm lòng của báo chí đối với Hội An!”.

Ông thổ lộ, mình không “nhớ lâu, thù dai, ghim guốc mãi”, nhưng chính những kỷ niệm “đụng độ” làm cho ông nhớ báo chí. Và chắc chắn những kỷ niệm về sự gai góc của ông làm cho báo chí nhớ đến ông. Có thể yêu, có thể ghét, nhưng chắc chắn là phải nhớ tới “ông Sự gai góc, nhiều vấn đề”. Và ông cũng nêu rõ, có không ít điều báo chí phê phán Hội An là đúng. Ông nhận đó là những lúc mình “dốt”, cứ nghĩ làm như vậy là đúng. Đến khi báo chí lên tiếng thì Hội An mới “giật mình” nhận ra vấn đề, chấp nhận sửa sai ngay và được người dân đồng tình.

“Đừng đem tôi làm đòn kê để “bắn” người khác!”

Đề cập đến chuyện mình xin nghỉ hưu sớm, ông Nguyễn Sự nói thẳng: “Vừa rồi báo chí “đóng đinh” tôi lên cây thập tự dữ quá. Không những đóng một cây mà đóng cả triệu cây. Tôi xin nghỉ bởi một lẽ rất giản đơn là mình không nên ở lại nữa. Với cái tuổi này, mình không nên ở lại nữa. Tôi làm hết mình, nghỉ cũng hết mình. Nhưng rồi một loạt báo không gặp tôi mà nói đủ thứ, bàn luận và đem tôi ra trở thành đòn kê để “bắn” người khác.

Tôi rất cám ơn giới truyền thông quan tâm, nhưng tôi không thích sự quan tâm như vậy. Tôi không làm đòn kê cho ai và cũng không nên đặt tôi vào những người khác. Tôi là tôi, họ là họ. Họ có suy nghĩ của họ, tôi có suy nghĩ của tôi. Có nhiều người gọi điện hỏi tôi bất mãn cái gì mà nghỉ? Anh bị sự cố gì mà hạ cánh an toàn? Tôi chả bất mãn gì cả. Rồi lại hỏi anh có bị ai ép gì không? Cuộc đời này ai ép được ai? Mà đặc biệt tôi thì chả ai ép được. Ngoài cha mẹ tôi ra, không ai ép được tôi!”.

Ông Nguyễn Sự khẳng định “anh em Hội An bây giờ đủ điều kiện, đủ yếu tố để tiếp nhận công việc, thậm chí có khi đã hơi muộn” nên việc ông xin nghỉ hưu sớm rất nhẹ nhàng. Ông biết giới báo chí dành nhiều tình cảm cho mình, nhưng tán riết một hồi lại thành ra hướng khác. Có cả một số vị đại biểu Quốc hội, cựu lãnh đạo ở TƯ nghe như vậy cũng “tán lên”.

Ông Nguyễn Sự phát biểu tại buổi gặp mặt (Ảnh: HC)

“Tôi suy nghĩ một điều rất giản đơn là việc tôi nghỉ không phải vấn đề tuổi tác mà là tư duy của mình đã già, lực mình đã cỗi, không thể xông xáo như trước nữa, vì vậy không nên bám miết như tàu lá chuối, để đến khi người ta cắt vứt đi thì xấu hổ quá. Cách nói của tôi, cách suy nghĩ của tôi nôm na như vậy. Nhưng có người lại nâng nó lên thành “triết lý tư duy lá chuối” loạn hết. Đôi lúc bình một chặp nó trật lất.

Tất nhiên đó không phải là điều vui mà là điều đáng buồn cho xã hội hiện nay. Cái việc nó nhỏ, không lớn, tình cảm dành cho tôi chỉ cần đưa tin vài dòng. Nhưng có một điều khi “tán” ra một chặp, tự nhiên tôi vốn là người rất trần tục, thậm chí trần tục hơn những người trần tục, lại đem “phong thánh” tôi thì tôi thấy không ổn!” – ông Nguyễn Sự nói mà không hề ngại có thể sẽ gây mất lòng người này, người khác.

“Anh em báo chí không “ăn” gì của Hội An cả!”

Quay trở lại với chuyện về Hội An, ông Nguyễn Sự nhận định, Hội An chỉ cần “hắt hơi, sổ mũi” là thành sự kiện, trong khi ở các nơi khác thì đó là chuyện bình thường. Điều đó chứng tỏ báo chí đã dành nhiều tình cảm đẹp cho Hội An, không phải chỉ là công việc bình thường với tư cách nghề nghiệp mà là tấm lòng của những người làm báo đối với Hội An. Sự quan tâm đó tạo ra áp lực rất lớn để người dân và chính quyền Hội An phải luôn tự soi mình, điều chỉnh mình. Cái đó có lợi vô cùng cho Hội An!

Ông bày tỏ, nói Hội An làm nên di sản là không sai, nhưng chưa đủ. Phải nói Hội An và bạn bè đã tạo ra thương hiệu Hội An và làm nên di sản Hội An. Hồi năm 1995, không ai nghĩ Hội An trở thành Di sản Văn hóa thế giới. Lúc đó giữa Hội An và Mỹ Sơn chỉ nên chọn một, vì chưa có tiền lệ một tỉnh có hai di sản, và tỉnh Quảng Nam ưu tiên Mỹ Sơn vì dễ hơn.

Tuy vậy Hội An vẫn bắt tay vào làm hồ sơ, khi ra Huế học cách làm thì “chết khiếp” với khuyến cáo phải “chở 5 xe tải tài liệu”. Nhưng rồi với sự cổ vũ, đồng hành của báo chí, cả Hội An và Mỹ Sơn đều được công nhận là di sản. Tất cả những ân nghĩa đó ông không bao giờ quên được!

 

Với các cán bộ kế cận, ông Nguyễn Sự nhắn gửi: “Khi tôi nghỉ rồi, hãy nhớ tôi với tư cách là Nguyễn Sự, nhớ tôi với tư cách là người anh, người chú, chứ đừng nhớ tôi với tư cách là Bí thư. Bởi vì nhớ tới với tư cách là Bí thư thì lúc nào anh cũng thấy cái vai trò của người tiền nhiệm đè lên lưng anh nặng quá. Muốn sửa cũng sợ đụng, làm cái chi cũng ngại, anh em khó làm. Quá khứ, tôi chịu trách nhiệm; tương lai, anh em phải chịu trách nhiệm, tự quyết định lấy. Nhân dân, lịch sử và công luận sẽ phán xét việc này chứ không phải ông Sự phán xét việc này, vì tôi không có quyền phán xét ai với tư cách cá nhân cả!”.Ông khẳng định: “Không phải anh em báo chí “ăn” cái gì của Hội An. Hội An không cho gì báo chí cả. Với tư cách là Chủ tịch, Bí thư Hội An 21 năm, tôi chưa bao giờ cho bất cứ phóng viên nào một đồng bạc để viết tốt về Hội An. Và chưa bao giờ anh em báo chí ngửa tay đòi một đồng bạc nào khi viết tốt về Hội An. Cũng không có phóng viên nào dọa Hội An viết xấu để lấy tiền. Hôm nay tôi khẳng định điều đó, chứ không phải vì Hội An ưu ái cho báo chí. Tôi đâu có cho gì anh em. Không cho gì cả. Hội An không cho, cá nhân tôi cũng không cho!”.

“Đừng nhớ Nguyễn Sự với tư cách là Bí thư!”

Nhìn nhận đối với mình bây giờ “mọi tiếng thị phi không còn là điều quan trọng nữa, chê cũng không sao, chửi cũng chẳng sao, khen cũng chẳng sao, ca ngợi cũng chẳng sao” vì “đã tới cái tuổi cần phải trở lại chính mình là mình, biết mình như thế nào”, nhưng có vài việc theo ông Nguyễn Sự là rất lớn mà ông muốn gửi gắm đến báo giới:

“Lâu nay các anh chị gắn bó với Hội An, gắn bó với tôi. Nay các anh em mới lên, nói mới nhưng cũng cũ lắm rồi vì tôi ngồi cản đường miết, đâu có lên được. Tôi ngồi như tảng đá ngăn đường, cản trở giao thông mà không có ông CSGT nào thổi còi tôi hết. Do đó anh em không lên được. Tôi mong báo chí đã yêu Hội An, thương Hội An, trong đó có thương tôi nữa, thì hãy thương anh em, tiếp tục giúp anh em, tạo điều kiện cho anh em và đi cùng với anh em. Lúc thương tôi thì chín bỏ làm mười, với anh em bây giờ, tôi đề nghị các anh chị bảy bỏ làm mười.

Anh em còn mới, chưa quen, cần có thời gian để quen việc. Chắc chắn là sẽ có những trục trặc này, trở ngại khác. Khi tôi mới lên, tôi chả hiểu phố cổ là gì cả. Chính các bạn báo chí đã dạy tôi hiểu về phố cổ, Do đó tôi đề nghị anh chị em báo chí tiếp tục đồng hành cùng Hội An, giúp đỡ các anh chị em tôi. Coi như đó vừa là tình cảm, vừa là trách nhiệm đối với Hội An!”.

Với các cán bộ kế cận, ông Nguyễn Sự nhắn gửi: “Khi tôi nghỉ rồi, hãy nhớ tôi với tư cách là Nguyễn Sự, nhớ tôi với tư cách là người anh, người chú, chứ đừng nhớ tôi với tư cách là Bí thư. Bởi vì nhớ tới với tư cách là Bí thư thì lúc nào anh cũng thấy cái vai trò của người tiền nhiệm đè lên lưng anh nặng quá. Muốn sửa cũng sợ đụng, làm cái chi cũng ngại, anh em khó làm. Quá khứ, tôi chịu trách nhiệm; tương lai, anh em phải chịu trách nhiệm, tự quyết định lấy. Nhân dân, lịch sử và công luận sẽ phán xét việc này chứ không phải ông Sự phán xét việc này, vì tôi không có quyền phán xét ai với tư cách cá nhân cả!”.

 

“Đồng chí Nguyễn Sự là người lãnh đạo đã cống hiến hết mình cho Hội An, người đã bắt nhịp cầu thân ái kết nối Hội An với báo chí và báo chí với Hội An, người đã sống và cư xử trọn vẹn nghĩa tình, tâm huyết, sức cảm thụ đối với đồng chí, nhân dân và đối với đội ngũ những nhà khoa học, văn nghệ sĩ, phóng viên báo chí trên cả nước.

Đồng chí đã chủ động, thể hiện hết mình tinh thần trách nhiệm và tình cảm khi bàn giao lại trọng trách cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo kế cận của Hội An. Ngọn lửa nhiệt huyết và sự dấn thân mà đồng chí đã đun thổi, khơi truyền sẽ thôi thúc chúng ta phấn đâu nỗ lực nhiều hơn nữa trong công việc và cuộc sống. Nhịp cầu tình cảm gắn bó thủy chung Hội An và báo chí mà đồng chí đã dày công vun đắp sẽ nâng bước chúng ta đi, kết nối chúng ta cùng tiến lên phía trước vì một Hội An giàu đẹp.

Lãnh đạo và nhân dân TP Hội An xin trân trọng ghi nhận công sức và thành quả mà đồng chí Nguyễn Sự là đầu tàu tạo dựng nên. Chúng tôi sẽ đem hết tâm sức và tấm lòng chân thành để tiếp tục giữ gìn, nâng niu, phát huy quan hệ tốt đẹp giữa báo chí với Hội An; sẽ luôn luôn gần gũi và tạo mọi điều kiện thuận lợi để các cơ quan báo chí và anh chị em phóng viên đến với Hội An, chia sẻ cùng Hội An những buồn vui, khi khó khăn cũng như lúc thành công!”

(Ông Kiều Cư, tân Bí thư Thành ủy Hội An, phát biểu tại buổi gặp mặt)

 

Nguồn: http://infonet.vn/ong-nguyen-su-dung-dem-toi-lam-don-ke-de-ban-nguoi-khac-post166732.info

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.06.2015

NHÀ THƠ MAI VĂN HOAN MỜI MUA SÁCH

    NHÀ THƠ MAI VĂN HOAN MỜI MUA SÁCH

QTXM- Nhà thơ Mai Văn Hoan vừa cho “ra lò” tập thơ tình mới 

Quân Vương và Thiếp .Nhà thơ nhờ QTXM thông báo đến bạn đọc, bạn nào yêu thích, MVH sẽ nhờ bưu điện chuyển đến tận tay. Giá bìa 60 000đ/ tập, nhưng với bạn chỉ cần gửi vào số TK: Mai Văn Hoan, 0161 0005 79665 vietcombank, 78 Hùng Vương, Huế 50 000đ kèm địa chỉ của bạn là bạn sẽ có ngay Quân vương và thiếp. Sau đây là “sự tích” ra đời của tập thơ tình Quân vương và thiếp
 

 

                                    LỜI DẪN

               Mai Văn Hoan

             Từ khi có phong trào chơi blog trên thế giới mạng, tôi vô cùng háo hức. Nhà thơ Ngô Minh là người đầu tiên hướng dẫn cho tôi cách chơi. Ngày nào tôi cũng dành vài ba tiếng đồng hồ để đọc Blog, ghi cảm nhận, post bài, post ảnh… Rồi một hôm, tôi tình cờ bắt gặp trang blog có cái tên ngồ ngộ: Lãng Du! Ngắm ảnh “đại diện”, tôi thấy nàng có vẻ đẹp vừa đài các vừa  kiêu sa. Thế là tôi bị hút hồn. Lần dõi theo những trang blog của nàng, tôi nhận thấy nàng có tâm hồn đa cảm, tinh tế và hình như số phận cũng hơi đa đoan. Tôi đặc biệt thích thú khi đọc những bài thơ của Puskin, Exenhin, Olga Bergolts…  được nàng dịch từ nguyên bản tiếng Nga.

  Qua thơ nàng, tôi biết nàng từng sống những năm tháng tuyệt vời ở xứ sở của những cây bạch dương. Điều làm tôi hết sức hạnh phúc khi nàng “bật mí” rằng nàng từng đọc và mê thơ tôi từ thời đang học phổ thông. Quê mẹ nàng cách quê tôi chỉ một dòng sông. Quê tôi ở bờ nam còn quê ngoại nàng ở bờ bắc sông Gianh. Từ đó hai chúng tôi thường xuyên trao đổi bài vở với nhau. Sau khi đọc bài thơ thể hiện mơ ước được làm hoàng hậu ở xứ sở những cây bạch dương của nàng, tôi nảy ra ý định trêu đùa nàng cho vui. Thế là “Đùa với Lãng Du” ra đời. Tôi vừa post bài thơ lên trang Blog của mình thì ngay ngày hôm sau đã nhận được Hồi âm trên trang Blog của nàng. Nàng gọi tôi là Quân vương và tự xưng là Thiếp. “Đùa với Lãng Du” 2, 3, 4, 5… 25 lần lượt ra đời. Bài thơ nào của tôi cũng được nàng đáp lại. Có hàng nghìn bạn đọc khắp nơi trên thế giới mạng chăm chú theo dõi và khích lệ trò chơi thơ đối đáp này. Hai chúng tôi người tung, kẻ hứng, mạch thơ cứ thế tuôn trào một cách tự nhiên. Đôi khi ranh giới giữa đùa và thật vô cùng mong manh. Tôi nhập vai Quân vương còn nàng nhập vai Thiếp trong một thời gian khá dài. Câu chuyện tự nó đưa đẩy một cách ngẫu hứng, không hề có sự sắp xếp trước. Và khi tôi quyết định từ bỏ “ngai vàng” thì câu chuyện cũng đến hồi kết thúc. Nàng tự dưng biến mất một cách đầy bí ẩn và tôi cũng không muốn cuộc tình vô vọng kéo dài thêm. Từ đó tôi bỏ luôn trò chơi blog và chuyển sang chơi facebook…

        Nhớ lại lời hứa với nàng, tôi quyết định cho ra mắt độc giả “Quân vương và Thiếp”. Tôi và nàng nhất trí cứ để nguyên như thế, không sửa chữa, không thêm bớt. Tôi vốn không thông thạo thơ Đường luật cho lắm nhưng do nàng gửi cho tôi đến 8 bài Đường luật của nàng nên tôi cũng thử “múa bút” xem sao.  Âu cũng là “điếc không sợ súng”! Đọc chùm thơ Đường luật của tôi, thấy có chỗ nào thất niêm, thất luật mong quý vị sành thể thơ này rộng lòng tha thứ!

                                                                                                                                                                                                            Huế, 20-4-2015

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.06.2015

ĐỒNG HỚI

Nhà thờ Tam Tòa, ĐH

Đồng Hới

  LÊ THỊ MÂY

1
Hơn mười ba năm về trước, kỳ vừa ngưng bom đạn, thường từ sớm chủ nhật, tôi đã về quanh quẩn với phố đổ rậm rì cỏ dại. Nhiều lần đếm đi đếm lại, cũng chỉ còn sót có mười bốn cây dừa, thân bị băm kín miểng bom. Tàn lá xơ xáp, đỏ cháy.

Người Đồng Hới và Quảng Bình nói chung, hẳn không ai quên “hũ gạo Bình Trị Thiên” những năm sáu mươi. Nhà nhà, cứ đến bữa đổ gạo vào nồi đều lặng lẽ xúc động vốc lại một nắm to bỏ vào hũ, đến kỳ cuối tháng, dốc ruột đổ ra, gởi vào đồng bào Trị Thiên Huế kháng chiến. Thời đó, ngoài hũ gạo Bình Trị Thiên, rặng dừa kết nghĩa Bình Trị Thiên chạy dọc bờ Nhật Lệ cũng được ươm trồng lên tươi tốt. Nơi mỗi gốc cây, được cắm một tấm biển được mang tên những học sinh trường Đào Duy Từ, làm người bảo vệ, chăm sóc cây. Cây dừa trước góc chợ, cạnh nhà lục giác, cắm biển mang tên tôi, bom Mỹ giết hại từ bao giờ? (Đọc tiếp…)

CẦN CÓ MỘT NGÀY KỶ NIỆM CỦA BÁO CHÍ QUỐC NGỮ VIỆT NAM

  Ngô Minh

  Tôi là người viết báo từ tuổi thiếu niên đến bây giờ. Còn làm báo có thẻ hành nghề chuyện nghiệp thì có 16 năm ( 1989- 2005).Tuổi học trò lớn lên, ngày nào nào cũng nghe thầy giáo giảng, nghe đài, đọc báo, rằng:” Ngày 21 tháng 6 là ngày báo chí Việt Nam”. Tôi tin đó là sự thật. Lớn lên một chút, đọc nhiều hơn một chút, tôi biết ngày 21/6 là “Ngày báo chí Cách Mạng Việt Nam”. Ngày mà Cụ Hồ do như cầu tuyên truyền cách mạng đã cho xuất bản thờ báo Thanh niên ( 21-6-1925) ở hải ngoại. Ngày đó trở thanh ngày sinh của báo chí Cách mạng Việt Nam do Đảng Công sản lãnh đạo. Ngày đó hàng năm được tổ chức  kỷ niệm rầm rộ: nào phát giải thưởng báo chí, ngày lãnh đạo gặp gỡ và úy lạo báo chí, ngày các doanh nghiệp nhà nước, đoàn thể tặng “quà” các nhà báo đã viết bài ca ngợi doanh nghiệp, cơ quan mình… (Đọc tiếp…)

Một giáo trình ở trường Đại học sư phạm Huế viết sai lệch về quan điểm nghệ thuật của Hồ Chủ Tịch!

QTXM: Bạn đọc thân mến. Chúng tôi vừa được comment của một bạn đọc blog: ngominhblog.wordpress.com(blog này chúng tôi đóng phần comment, nhưng có đường dẫn chuyển sang email), phản ánh về giáo trình đại học của cô giáo Hoàng Thị Huế ở Trường Đại học sư phạm Huế có rất nhiều lỗi, những lỗi không chấp nhận được. Chugns tôi không quen biết ông Kha. Nhưng chung tôi thấy cần phải đưa vấn đề này ra công luận, nên, chúng tôi in lại đây để Lãnh đạo Trường Đại học Sư phạm Huế, NXB Đại học Huế,cô giáo Hoàng Thị Huế cùng bạn đọc cùng suy nghĩ về trình độ một tiến sĩ hiện nay. Đề nghị những người có trách nhiệm trong việc này, nhất là các thầy trong lãnh đạo Trường ĐH Sư phạm trao đổi để bạn đọc và tác giả bài viết rõ. Nhà thơ Ngô Minh

Võ Văn Kha

Tôi là một giáo viên giảng dạy môn giáo dục công dân nên không sành văn chương. Tuy nhiên, con tôi hiện là sinh viên Khoa văn, nên tôi quan tâm đến những vấn đề liên quan. Vừa rồi con tôi hỏi: Có phải hiện nay được phép sử dụng chữ Y dài và I ngắn như nhau không? Tôi giật mình trước câu hỏi này. Chẳng lẽ ba năm ở trường Đại học, con mình không đủ trình độ để nhận biết một vấn đề sơ đẳng của ngôn ngữ tiếng Việt? (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 30.06.2015

Khí phách Trần Quang Cơ

Khí phách Trần Quang Cơ

QTXM: Chúng tôi in bài này để bạn đọc hiểu thêm về nhân cách của nhà ngoại giao Trần Quang Cơ, một cán bộ tận trung với đất nước, dù trong hoàn cảnh gian nguy vẫn giữ lòng trung trinh ấy. Còn nội dung và văn phong bài viết là chuyện riêng của TS Đinh Hoàng Thắng

TS Đinh Hoàng Thắng 

Chắc hẳn nhiều người còn nhớ buổi giao ban năm ấy… Với sắc mặt thất thần, ông Trần Quang Cơ gần như gào to giữa phòng họp: “Mọi người biết không, người ta sắp cắt thủ cấp Nguyễn Cơ Thạch để dâng cho nước ngoài rồi”. Đoán “triều đình” có biến, lũ chúng tôi (những đứa lần đầu được dự giao ban), chẳng ai bảo ai, im thin thít. Tôi cố gắng tập trung vào “Bản tin A” (*) nhưng đầu óc thì nghĩ mông lung.

Không tham quyền cố vị

Trước tháng 12/1986, đại sứ Trần Quang Cơ được Bộ triệu tập về họp. Khi trở sang nhiệm sở (Bangkok), ông kể lại với một cán bộ tâm phúc về quyết định của “anh Thạch” dự kiến điều ông về nước làm thứ trưởng ngoại giao và giới thiệu ông vào Ban Chấp hành TƯ Đảng.

Ông lưỡng lự trước đề nghị của Bộ trưởng và tâm sự: “Với cơ chế của ta thì không thể làm việc được”. Sợ ông từ chối cái ghế nhiều người đang mơ ước, cán bộ tâm phúc ấy nói với ông rằng, anh nên nhận lời anh Thạch. Cố nhiên, anh không đi thì “chợ vẫn đông”, nhưng anh làm sẽ tốt hơn khối người khác.

Thế mới biết, tại sao năm 1991, rồi năm 1993 ông lại đề nghị được rút khỏi danh sách Ban Chấp hành TƯ. Đặc biệt và có thể nói vô tiền khoáng hậu (xin lỗi nếu có ngoại lệ), ông từ chối cả cái ghế Bộ trưởng Bộ Ngoại giao khi Tổng Bí thư Đảng đã có quyết định.

Khí phách Trần Quang Cơ hẳn nhiên đạt tới “đỉnh” khi ông quyết định công bố “Hồi ức và Suy nghĩ” khá sớm, khoảng đầu 2001. Chính nhà ngoại giao Dương Danh Dy cũng không hiểu vì sao được ông tín nhiệm, giao tận tay một lúc cả hai bản đánh máy. Thấy chắc chắn sẽ có ích cho cái chung, ông Dy góp thêm một số ý kiến, sau đó công khai đưa lên mạng.

Hồi ký Trần Quang Cơ lập tức trở thành sách gối đầu giường đối với nhiều nhà quan sát và giới cầm bút muốn có nguồn tư liệu trung thực để phân tích tình hình Việt Nam những năm hậu chiến, thậm chí để hiểu thấu được cả những sự kiện mà hệ lụy của chúng còn kéo dài mãi tới hôm nay và mai sau.

Cống hiến và phản biện

Trần Quang Cơ đóng góp nhiều cho Ngành từ những ngày ông về phụ trách Vụ 2, vụ đối sách với Mỹ, đàm phán tìm giải pháp cho vấn đề Campuchia, bình thường hóa với Trung Quốc. Từ những năm ấy, ông đã xác quyết các ý đồ và âm mưu của Trung Quốc đối với Việt Nam, đặc biệt là âm mưu cướp biển đảo.

Và Trần Quang Cơ đã bảo vệ đến tận cuối cuộc đời mình tất cả những kế sách mà ông cho là hiệu quả trong cuộc đấu tranh không cân sức với Trung Quốc.

Trần Quang Cơ đã bảo vệ đến tận cuối cuộc đời mình tất cả những kế sách mà ông cho là hiệu quả trong cuộc đấu tranh không cân sức với Trung Quốc.

Ông đã lên tiếng kêu gọi phải khẩn trương trong việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ và sớm gia nhập ASEAN. Triết lý sống còn về an ninh của đất nước được ông khái quát khá sớm: “Trong cái thế anh nằm ngay cạnh nước lớn, nước khổng lồ, mà không có bạn thì anh sẽ bị ép”. Đối với ông, chiến lược an ninh và đối ngoại phải hết sức linh hoạt, phải phù hợp với xu hướng chung của cục diện chính trị-kinh tế thế giới, nhất thiết phải tương thích với những đặc điểm lớn của thời đại đại.

Nhưng rồi ông cũng cay đắng đưa ra nhận xét, ngày ấy, ta đã làm những việc cần thiết đối với Mỹ và ASEAN “chậm trễ tới cả mười năm”.

Sau này, ngay cả khi đã “rửa tay gác kiếm” ông vẫn sẵn lòng cho chúng tôi biết thêm một số chi tiết giá trị trong cuộc vật lộn ngoại giao đằng sau các cuộc chiến, đặc biệt là những bão táp thời hậu chiến mà ông là người trong cuộc, có lúc từng là tác nhân và nhờ sự tỉnh táo mách bảo, biết rút ra sớm khỏi cuộc chơi trước khi có thể trở thành nạn nhân.

Phản biện thông minh và luôn có ý thức tích lũy để cống hiến. Từng là cán bộ địch vận, thuyết phục binh lính Pháp, cùng làm việc với nhiều “cây đa, cây đề” trong làng ngoại giao và văn hóa, một thời dưới trướng Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Từ ngày chuyển về Bộ Ngoại giao, ông càng có cơ hội phát huy tầm nhìn xa trông rộng đối với các vấn đề mỗi khi góp phần vào việc đề xuất chính sách.

Có lẽ các phẩm chất tử tế nói trên đã làm Trần Quang Cơ thành danh như nhận xét của nhà báo tự do Huy Đức. Tuy nhiên, chiến cuộc ngoại giao mà suốt đời ông phụng sự một cách tận tụy thì vẫn còn đó… và đang hết sức nan giải.

Nhưng vận mệnh đất nước không thể cứ “bèo dạt mây trôi” như thế này mãi. Ông ra đi nhưng dường như vẫn muốn nán lại để hỏi chúng ta: “Những người đang sống phải làm gì?”

————-

 Tác giả nguyên Đại sứ Việt Nam tại Hà Lan, nguyên Trưởng Nhóm Tư vấn Lãnh đạo Bộ Ngoại giao.

* Bản tin A: bản tin lưu truyền nội bộ hàng ngày của Bộ Ngoại giao

( Nguồn: BBC- Nhà báo Lê Quang Vinh cung cấp từ Luân Đôn)

Older Posts »

Danh mục