Đăng bởi: Ngô Minh | 25.08.2015

QUÀ TẶNG XỨ MƯA KÍNH CÁO

QUÀ TẶNG XỨ MƯA KÍNH CÁO

QTXM: Chiều nay, vợ chồng NM lên tàu ra Tân Kỳ, Nghệ An để giỗ ông ngoại các cháu. Ông mất đúng ngày Vu lan 15 tháng 7 âm lịch năm 2008, giỗngayf 14 âm lịch. Nơi làng quê ấy khôgn có Wifi, nên không cập nhật được bài vở. Xin kiếu độc giả đến ngày 31/8, QTXM sẽ tiếp tục phục vụ độc giả. Nhân đây xin in lại bài thơ NM viết khi bên giường bệnh ông 7 năm trước… Kính cáo NGÔ MINH

Ngô Minh

                   BÊN GIƯỜNG BỆNH CHA

                              

                                    Kính dâng cha Nguyễn Trọng Ngọ

 

  Cha nằm như xác thời gian

ăn bằng hồ bơm qua lỗ mũi

tiểu bằng ống ra toàn mùi thuốc tây

mạng sống tính từng ngày…

 

Cha ơi, 79 tuổi đời cách mạng

đèo núi rừng sâu giặc giã xem thường

mình đi Cămphuchia, con trai vào bộ đội

hồi hưu tay trắng, lại ruộng vườn

 

Mấy chục năm làm quan huyện chỉ biết lo dân

Nghĩa Đàn, Tân Kỳ đói no đồng đất

bây giờ dân thương đến thăm chật phòng bệnh viện

cha như vị Bồ Tát hiện hình

 

 Nhìn cha hôn mê lòng con đau buốt

phận người còn một chút lắt lay

con gái con trai con dâu cháu chắt

không làm sao gọi được nụ cười

 

Nhưng con tin cha là người sống mãi

bằng chữ TÂM để lại cho đời

bằng cốt cách không màng danh lợi

bằng cháu con biết sống làm người !

 

Cha như cõi vô minh trong sạch

giữa cõi đời ô nhiễm bủa vây…

 

                        Lạt-Huế  28-6-2008

                        Con rể của cha

Đăng bởi: Ngô Minh | 25.08.2015

LÂM THỊ MỸ DẠ- CHO ANH TỰA VÀO EM

Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ bị bệnh (ảnh chụp ngày 24/8)

    LÂM THỊ MỸ DẠ- CHO ANH TỰA VÀO EM

                Ngô Minh

          QTXM: Nhân dịp vợ chồng nhà vănHoàng Phủ Ngọc Tường – Lâm Thị Mỹ Dạ ra thăm Huế, trong tình cảnh thương cảm: Dạ bị bệnh  già não (Alzheimer), không nhớ gì hết, không nhớ ai hết, NM xin in lại bài vbieets về Lâm Thị Mỹ Dạ viết từ 2 năm trước để bạn đọc hiểu thêm một tài năng đã chân như…     (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 25.08.2015

NHÀ THƠ LÂM THỊ MỸ DẠ ĐÃ CHÂN NHƯ

NM và vợ chồng nhà văn Tường- Dạ. ảnh chụp 8 giơ 30 ngày 24/8

 

NHÀ THƠ LÂM THỊ MỸ DẠ ĐÃ CHÂN NHƯ

Ngô Minh

Chân như là từ của Phật, nghĩa là vô sinh vô diệt, nghĩa là chẳng cần biết gì nữa. Đó là chữ mà nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã thốt lên với tôi khi gặp vợ chồng nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường- LâmThij Mỹ Dạ.  22 giờ đêm hôm  23/8/2015, vợ chồng nhà văn HPNT-LTMD đã từ Sài Gòn bay về tới Huế. Hiện ông bà ngụ tại Quán Trịnh, ở tầng 2 chung cư Nguyễn Tường Tộ, nơi ở cũ của hai người. (Đọc tiếp…)

Ai cam tâm lấy bài “Đoàn kết” của Trung Quốc
làm Ngày Âm nhạc Việt Nam hàng năm?

Giang Nam

.

 .

(VNTB) – Chọn Ngày âm nhạc Việt Nam, vì sao cũng phải cố ý tìm kiếm lý do gì đó gắn với tên tuổi HCM? Tiếc thay, lợi bất cập hại, Hội nhạc sĩ lại đi chọn bài ca Trung Quốc làm cơ sở.

Mấy tháng nay hiện tượng cố ý đưa biểu tượng Trung cộng chen lấn nền văn hóa Việt Nam đã thành xâu chuỗi. Bản nhạc “Ca xướng tổ quốc” của Trung cộng đưa vào buổi lễ “Khát vọng đoàn tụ” đưa chân Chủ tịch nước lên bục phát biểu đã bị phanh phui.

Chuẩn bị đại lễ quốc khánh 2/9 ai đã mua hàng nghìn chậu hoa hồng môn từ tỉnh Hồ Nam đưa về trồng quanh Bờ Hồ Hà Nội? Bằng chứng là các vỏ thùng hoa nguyên chữ Tàu ghi địa chỉ nơi trồng hoa. (Tiếc rằng báo Dân Trí chỉ phỏng vấn qua loa, không đi đến cùng điều tra vụ việc (?!). Hội chợ quốc tế Expo Milan 2015 ở Ý trưng bày áo xống kiểu Tàu trong Ngôi nhà Việt Nam. Đường ống nước mua của Tàu dẫn nước cho Hà Nội vỡ đến lần thứ 11 khiến dân HN đang sống dở chết dở vì mất nước giữa muà hè nóng bức…

Và, đây nữa, Ngày âm nhạc Việt Nam 3/9 được chọn trên cơ sở ngày Bác Hồ ngẫu hứng cầm que bắt nhịp bài hát “Kết Đoàn” (của Trung cộng) ở công viên Bách thảo Hà Nội.

Hội nhạc sĩ bắt chước Ngày Thơ Việt Nam do Hội nhà văn tổ chức tại Văn Miếu đêm Rằm tháng Giêng. Hội nhà văn đã chọn bài thơ Nguyên tiêu của Hồ Chí Minh viết thời chống Pháp làm biểu tượng. “Nguyên tiêu” tức Đêm rằm tháng Giêng, vì thế Rằm tháng giêng hàng năm trở thành Ngày thơ Việt Nam. Vì sao không chọn ngày sinh thi hào Nguyễn Du làm Ngày thơ Việt Nam mà tôi tin chắc hẳn người VN nào cũng tâm phục khẩu phục?

Lý do chọn ngày âm nhạc Việt Nam được thông báo trên Bản tin chính phủ sau đây:

Cổng điện tử chính phủ (Chinhphu.vn) – Thủ tướng Chính phủ vừa đồng ý lấy ngày 3/9 hằng năm là “Ngày Âm nhạc Việt Nam”. Ngày 3/9/1960 là ngày Bác Hồ chỉ huy dàn nhạc hợp xướng và quần chúng nhân dân hát bài ca “Kết đoàn” tại Công viên Bách thảo Hà Nội, nhân dịp chào mừng Đại hội Đảng lần III năm 1960. Từ sự kiện ý nghĩa đó, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý đề xuất của Hội Nhạc sỹ Việt Nam lấy ngày 3/9 hằng năm là Ngày Âm nhạc Việt Nam.

Ngày âm nhạc VN lần đầu tiên được tổ chức là 3/9/2010.

Bài hát “Kết Đoàn” nói trên nguyên văn Hán ngữ phiên âm là “Đoàn kết tựu thị lực lượng”, lời Mục Hồng, nhạc Lư Túc, sáng tác năm 1943 ở Trung Quốc (* [1]). Dịch giả người Việt khuyết danh đã dịch “Đoàn kết chính là sức mạnh”. Khi truyền miệng thường gọi tắt là “Kết đoàn”. Bài hát gần nguyên vẹn ca từ tiếng Trung, chỉ sửa câu chót Trung văn phiên dịch là: Hướng về mặt trời, hướng về tự do, hướng về nước Trung Quốc Mới, phát xuất ánh sáng xa vạn dặm” thay bằng câu“Tiến tiến mau mau kìa tự do đang reo bừng trong ánh dương, xây đời mới trong dân chủ mới!”. Nguyên cả bài hát chỉ sửa lời một câu, còn lại giữ nguyên của Tàu thì sao có thể gọi là bài hát Việt?

Như vậy, Hội nhạc sĩ đã lấy bài hát Trung Quốc làm cơ sở cho “Ngày âm nhạc Việt Nam” từ năm 2010. Dư luận ngay từ hồi ấy đã phàn nàn thắc mắc, nhưng Thủ tướng vẫn cứ chấp nhận đề xuất của NS Đỗ Hồng Quân.

Cứ cho rằng, trong kháng chiến chống Pháp quơ quào bất cứ vũ khí gì chống giặc là được, bất kể của ai, xá chi một bài hát. Nhưng ngày nay, bình tâm nhìn lại, chọn một ngày âm nhạc Việt Nam sao lại máy móc, câu nệ, phải chọn bài hát Tàu làm cột mốc đánh dấu lịch sử âm nhạc dân tộc – như thế khiên cưỡng quá chăng ?

Sự vong bản của Hội nhạc sĩ Việt Nam công khai hàng năm được Thủ tướng duyệt, sự kiện đó thực hiện từ 2010 đến nay đã 4 kỳ tổ chức rồi. (Năm nay chưa nghe công bố chương trình).

Âm nhạc truyền thống VN rất phong phú, đa dạng.

UNESCO đã công nhận các Di sản văn hóa phi vật thể Việt Nam sau đây:

Hát quan họ Bắc Ninh.

(Đọc tiếp…)

Mấy cảm nhận về sự khác biệt giữa giáo dục miền Nam và giáo dục miền Bắc

Nguồn: tạp chí NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN

 VƯƠNG TRÍ NHÀN
 
số chuyên đề GIÁO DỤC MIỀN NAM VIỆT NAM (1954- 1975)

 
Tôi vốn là người làm nghề nghiên cứu văn học.Trong cái nghề thuộc loại công tác tư tưởng này, những năm trước 1975, tôi chỉ được phép đọc các sách báo miền Bắc, còn sách vở miền Nam bị coi như thứ quốc cấm. 


Có điều, không phải chỉ là sự tò mò, mà chính lương tâm nghề nghiệp buộc tôi không thể bằng lòng với cách làm như vậy. 

Tôi cho rằng, muốn hiểu cặn kẽ văn học hiện đại, phải hiểu văn học cổ điển; muốn hiểu văn họcVN phải hiểu văn học thế giới. Thế thì để hiểu văn học miền Bắc làm sao lại lảng tránh việc nghiên cứu văn học miền Nam được.


Đối với giáo dục cũng vậy. Từ sau 30-4-75, tôi vẫn sống ở Hà Nội. Sự tiếp xúc với giáo dục miền Nam (dưới đây viết là GDMN), chỉ dừng ở mức sơ sài bề ngoài.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.08.2015

HOÀNG HÔN ĐàTẮT

Nhà văn Trác Diễm

HOÀNG HÔN ĐÃ TẮT

Truyện ngắn TRÁC DIỄM

– Hello Ma Coong, mai xin nghỉ một ngày đi nhé.

– Này, cho một đấm bây giờ.  Nghỉ  rồi lấy chi ăn?

– Hi iii…yên tâm đi. Anh sẽ nuôi em suốt đời.

– Thôi  đừng dẻo miệng nữa. Nói thử chương trình ngày mai xem nào?

– Ưhm… mai sẽ đi Bàu Rèn chụp cò. Cảnh ở đó đẹp tuyệt!

– Phạ ơi ! Xa thế em đi sao được?

– Cứ chuẩn bị tinh thần đi, mai 9 giờ có mặt ở cầu Bùng, anh sẽ tới rước. Thôi   bye bye MaCoong nhé.

– Hây ! khoan đã… (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.08.2015

Mại dâm là tệ nạn hay giải pháp?

Một động mại dâm

Mại dâm là tệ nạn hay giải pháp?

Luật sư Ngô Ngọc Trai Gửi cho BBC từ Hà Nội
  • BBC tiếng Việt – 19 tháng 8 2015
 Chờ khách tại một công viên ở Hà Nội
Tôi lớn lên ở vùng nông thôn, từ thủa nhỏ đã chứng kiến cảnh ngộ của nhiều gia đình đông con, trong khi người chồng còn tráng kiện dẻo dai thì người vợ lại sớm gầy gò già nua héo quắt.
Năm ngoái một người ông gần nhà lên mổ nội soi ở bệnh viện Bạch Mai Hà Nội, bệnh của ông liên quan gì đó đến đường tiết niệu. Thương và buồn cho ông mà không dám nói ra, một trong những nguyên nhân gây bệnh cho ông là tình trạng không được thỏa mãn tình dục kéo dài.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 24.08.2015

Lan man về Bộ Giáo dục Hoa Kỳ

Lan man về Bộ Giáo dục Hoa Kỳ

  Hiệu Minh

 

Bộ huy của Bộ Giáo dục HK. Ảnh: Wiki

Hoa Kỳ, một quốc gia có tới 353 người đoạt giải Nobel trong tổng số 889 vị trên thế giới được vinh danh. Người sớm nhất là Tổng thống Theodore Roosevelt, giải Hòa bình năm 1906 và gần đây nhất (2014) có tới 4 người người: William E. Moerner, Eric Betzig trong lĩnh vực hóa học, Shuji Nakamura (sinh ra ở Nhật) trong Vật lý và John O’Keefe* trong lĩnh vực Y học.

Một quốc gia hùng mạnh về khoa học, kinh tế, chiếm hầu hết các phát minh vĩ đại, nơi được coi là thủ đô trí thức toàn cầu, mà bộ Giáo dục…không ra gì. Ai làm trong Bộ này tại Washington DC đều lo về tương lai nghề nghiệp của mình vì có thể bị trảm bất kỳ lúc nào.

Cho tới năm 1980, Bộ Giáo dục Hoa Kỳ bị đặt ngoài vòng…pháp luật do Article 1, Section 8 of the Constitution của Hiến pháp Hoa Kỳ không cho phép Quốc hội thành lập Bộ trồng người này vì không có chữ…Education. Thượng tôn pháp luật là thế.

Năm 1979, TT Jimmy Carter có công lao trong việc lập ra bộ có quyền lực bé nhất trong các bộ với 4 mục đích: (1) Establish policy for, (2) Administer and coordinate most federal assistance to education, (3) Collect data on US schools, and (4) To enforce federal educational laws regarding privacy and civil rights – Tạo ra chính sách giáo dục, quản lý và phối hợp với các bang, thu thập dữ liệu các trường học cho mục đích nghiên cứu, đảm bảo quyền riêng tư và dân quyền tại các bang.

Lúc thành lập (1979) với kinh phí 12 tỷ USD và 3000 nhân viên, tới năm sau (1980) khi Bộ Giáo dục chính thức đi vào hoạt động thì kinh phí lên 14,2 tỷ và 17.000 nhân viên. Mỹ cũng như nước VN thôi, có bầu sữa miễn phí là có kẻ tới hút.

Năm 1980, TT Reagan tranh cử đã tuyên bố “Kế hoạch ngân sách mà tôi đệ trình lên quý vị vào ngày 8 tháng 2 sẽ thực hiện tiết kiệm đáng kể bằng việc loại bỏ Bộ Giáo dục” vì cho rằng sự thành lập là vi hiến.

Tuy không thành công trong việc xóa mớ bòng bong này, nhưng TT Reagan đã cắt rất nhiều kinh phí. Tuy nhiên, Bộ này mà nắm thêm vài trường đại học làm của riêng thì bộ trưởng về đuổi gà không xong vì phạm luật “vừa đánh trống vừa thổi còi” – conflict of interest hay xung đột lợi ích.

Trong suốt thập niên 1980, việc bãi bỏ Bộ Giáo dục là một phần trong chương trình nghị sự của Đảng Cộng hòa nhưng Tổng thống George H. W. Bush (cha) từ chối thực hiện ý tưởng này.

Năm 1996, một lần nữa, đảng Cộng hòa tiếp tục yêu cầu xóa sổ Bộ Giáo dục như là một phần quan trọng trong những lời hứa hẹn vận động của họ. Họ gọi nó là một sự can thiệp không đúng cách của liên bang vào công việc nội bộ thuộc về gia đình, tiểu bang và địa phương.

Phe Cộng hòa nói rằng “Chính phủ liên bang không có quyền hiến định can thiệp vào trong các chương trình giáo dục hay kiểm soát việc làm trong thị trường. Đó là lý do tại sao chúng ta sẽ phải loại bỏ Bộ Giáo dục, kết thúc sự can thiệp của liên bang vào trong trường học của chúng ta và khuyến khích sự chọn lựa của gia đình ở mọi cấp bậc giáo dục.”

Trong suốt cuộc vận động bầu cử tổng thống năm 1996, Thượng nghị sĩ Bob Dole hứa rằng: “Chúng ta sẽ cắt bỏ Bộ Giáo dục.”.

Năm 2000, một tổ chức vận động cho ý tưởng về quyền riêng tư và hạn chế ảnh hưởng của chính phủ thuộc Đảng Cộng hòa có tên gọi là Republican Liberty Caucus đã thông qua một nghị quyết loại bỏ Bộ Giáo dục.

Năm 2008, ứng cử viên tổng thống Ron Paul vận động tranh cử tổng thống trong đó ông tỏ ra chống đối Bộ Giáo dục.

Không hiểu năm tới (2016) trong tranh cử TT, đảng Cộng hòa có tiếp tục dọa thịt cái bộ chẳng có quyền hành này hay không. Sự tranh cãi sẽ còn tiếp tục, nhưng cho tới nay bộ Giáo dục vẫn đang tồn tại với 5500 nhân viên và kinh phí năm 2012 khoảng 70 tỷ đô la.

Hệ thống giáo dục Hoa Kỳ cho phép các tiểu bang và địa phương có quyền quyết định chương trình học của minh mà không cần tới chính quyền liên bang.

Người Mỹ cũng kêu gọi dành tiền nhiêu hơn cho giáo dục nhưng số đông phản đối – “More money for education.” Essentially they are asking to pay for the rope to hang their own children. Tiền nhiều cho giáo dục, nghĩa là họ trả tiền mua dây thắt cổ cho đứa con của chính mình bởi chính sách giáo dục của bộ đang bị lỗi thời.

Bộ Giáo dục có đóng vai trò lớn trong giáo dục dân Mỹ hay không thì nên hỏi người Mỹ và gia đình có con du học bên đó. Có điều chắc chắn, bộ này không ra các qui chế thi cử, tuyển chọn, ra lệnh các trường và giáo viên phải nghe theo các chương trình cải cách giáo dục do mấy ông salon máy lạnh vừa chơi game vừa nghĩ dự án “từ cải tiến giáo khoa đến chương trình học thuộc lòng lịch sử”.

Từ tiểu học tới trung học các tiểu bang có hệ thống trường công miễn phí, đảm bảo luật “No child left behind” không trẻ em nào bị bỏ rơi, không được học hành dù cha mẹ đến từ đâu trên trái đất, dù cha đang đi tù, dù mẹ làm nghề không mấy vẻ vang. Tất cả được đối xử công bằng.

Vào đại học phải trả tiền. Nếu ai giỏi và cảm thấy ra trường kiếm đủ tiền để trả nợ thì có thể vay và đi học. Chọn trường nào, ngành nào do cha mẹ và con cùng định hướng. Lão bộ Giáo dục mò đến can thiệp, đòi cấp chỉ tiêu…dân chúng tát cho vỡ mặt.

Nếu muốn kiếm tiền có thể học chủ nghĩa đô la bằng cách thuộc các tờ tiền của Mỹ. Ví dụ theo chủ nghĩa năng nhặt chặt bị của Washington (tờ 1$), thích mọi người sinh ra đều có quyền bình đằng như Jefferson (tờ 2$), mạnh và liều kiểu chứng khoán nên theo lão Benjamin Franklin (tờ 100$), được nhanh mà mất cũng nhanh.

Cho tới năm 1980 trước khi thành lập bộ Giáo dục, từ năm 1906 đên 1980, Hoa Kỳ có tới 316 giải Nobel, trung bình mỗi năm có 4 giải. Từ năm 1980 tới nay, chỉ được nhõn 37 giải, mỗi năm một giải. Có khi Hoa Kỳ bỏ cái bung xung bộ Giáo dục này đi, giải Nobel về nhiều hơn.

Kết thúc bài viết, xin nhắc một câu rất thú vị triết lý giáo dục sưu tầm trên mạng.

  1. The illiterate of the 20st century are those who cannot read and write – Ở thế kỷ 20, người mù chữ là người không biết đọc, không biết viết.
  2. The illiterate of the 21st century will not be those who cannot read and write, but those who cannot learn, unlearn, and relearn. ~ Alvin Toffler. Ở thế kỷ 21, người mù chữ là không phải không biết đọc, không biết viết mà là những kẻ không biết học, không biết bỏ qua cái sai và không thèm học lại những điều đúng đắn.

Chúc các bạn đưa con vào đại học như cháu muốn và ra đời kiếm tiềm theo kiểu Washington hay Franklin đều thành công.

Nguồn:https://en.wikipedia.org/wiki/List_of_Nobel_laureates_by_country#United

 

Học sinh lớp 1 mang cặp sách 5 kg

Nhân tuyển sinh 2015: Hệ thống giáo dục và những quan chức “ngáo đá” – Kỳ I

J.B. Nguyễn Hữu Vinh (blog)

Những ngày qua, trên các diễn đàn thông tin mạng Internet sôi sục một làn sóng chê trách, thắc mắc và kêu ca ngành giáo dục, nhất là ông Bộ trưởng Bộ Giáo dục Phạm Vũ Luận. Thậm chí một trang mạng yêu cầu ông Bộ trưởng này từ chức đã được khởi xướng. Mấy chục năm nay, có lẽ bây giờ người dân mới có cơ hội để biểu thị thái độ của mình về nền giáo dục Việt Nam cũng như quan chức của hệ thống hiện nay một cách mạnh mẽ như vậy.

   Cải cách giáo dục – cuộc thí nghiệm không dứt

Có lẽ kỳ thi tuyển sinh Tốt nghiệp PTTH và tuyển sinh vào Đại học năm nay là kỳ thi lạ nhất sau 45 năm, kể từ khi các kỳ thi tuyển sinh vào Đại học được mở lại ở miền Bắc Việt Nam và sau đó là cả nước. Kỳ thi này nằm trong công cuộc “Cải cách giáo dục” mới.

Mà cái gọi là “cải cách giáo dục” ở Việt Nam xưa nay vẫn tiến hành triền miên và liên tục. Thế nhưng, sau mỗi đợt cải cách nền giáo dục lại được kéo lùi thêm một đoạn. Cải cách xong lại quay đầu trở lại. Điển hình là từ những ngày đầu tiên cải cách chữ viết, nền giáo dục đã đào tạo được một số thế hệ viết chữ, từ chữ gốc Latinh, chuyển sang kiểu “chữ viết tượng hình”. Thế rồi vài ba thế hệ qua đi, thì lại trở lại vị trí ban đầu. Kế theo đó là phát âm, là chương trình… đủ cả.

Chương trình của học sinh thì ngày càng nặng, học đủ thứ. Cái cặp sách của học sinh lớp 1 mang gù cả lưng vẫn chưa đủ cho việc đảm bảo chương trình “cải cách”. Báo chí nói nhiều, kêu lắm thì cũng như nước đổ lá môn.

Thi cử hàng năm là một ngày hội, học sinh đỗ tốt nghiệp với tỷ lệ gần như tuyệt đối. Thậm chí, nhiều người còn kêu lên là nếu tỷ lệ đỗ tốt nghiệp cao như vậy, thì thi cử làm gì cho tốn kém.

Thế nhưng, trình độ của học sinh, sinh viên ra trường, phục vụ xã hội thì quả là… ngao ngán. Hiện tượng sinh viên ra trường không viết nổi cái đơn xin việc là chuyện bình thường. (Tôi đã từng chứng kiến một Kỹ sư xây dựng ra trường, đi làm đến 7 năm mà khi phải tính chu vi một vòng tròn, thì lấy đường kính nhân 2. Bởi vì theo cô lý luận, thì giỏi lắm nó dài gấp đôi đường kính, hỏi thì không biết số Pi là gì – Đây là chuyện có thật chứ không hề bịa).

Từ khi một đất nước có mấy chục trường Đại học, giờ cả nước đã có gần nửa ngàn trường, đủ các thể loại, đủ các địa phương… Nhưng rồi khi cần một điều gì đó cho quốc kế dân sinh hoặc đụng chạm đến vai trò của đảng như trưng cầu dân ý, thì đảng vẫn luôn cho là “dân trí còn thấp”.

Chắc rằng chờ đến khi Việt Nam đủ mỗi xã một trường Đại học thì dân trí sẽ cao hơn chăng?

Nếu nói đến vấn nạn giáo dục ở Việt Nam, thì ngồi cả ngày không hết chuyện. Phải chăng, điều đó đã phần nào thể hiện cái điều mà Hồ Chí Minh đã tự hào 70 năm trước, rằng: “Từ đây, các em được hưởng một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam” (Hồ Chí Minh – Thư ngày khai trường 2/9/1945).

Thế nhưng, 40 năm sau, kể từ khi Hồ Chí Minh tự hào về một “nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam” đó, theo Giáo sư Phạm Minh Hạc, nguyên Bộ trưởng Giáo dục thì “từ 1945-1985 nước ta vẫn chưa hoàn thành công cuộc xóa mù chữ. Và một nền tảng của ngôi nhà giáo dục chúng ta chưa có”.

GS Trần Kiều, nguyên Viện trưởng Viện KHGD, Bộ GD&ĐT, nói: “Tôi cũng đồng ý với một số người rằng, nền giáo dục của chúng ta chưa vượt khỏi phạm vi ứng thí. Người học chỉ có mục đích vượt qua các kỳ thi, nhất là thi tuyển vào 10, thi đại học. Nếu không cải cách về thi cử thì tất cả mọi cải cách khác đều vô nghĩa”

 

Nhưng, những cuộc cải cách giáo dục ở Việt Nam liên miên từ năm nọ đến tháng kia, dẫn đến một kết quả là những thất bại liên tiếp. Nhiều người đã ví von rằng những sáng kiến của công cuộc “cải cách giáo dục” ở Việt Nam không khác gì mấy việc sáng kiến của Ngân hàng nhà nước cho ra tờ bạc 30 đồng.

Có thể nói rằng, sau “Cải cách ruộng đất” làm thay đổi tận gốc nền văn hóa Việt, tạo thói quen cướp bóc có tổ chức trong xã hội, thì việc đưa nhiều thế hệ Việt Nam vào cuộc “Cải cách giáo dục” triền miên, liên tục đã dẫn cả đất nước vào trình trạng “dân trí thấp” như ngày nay ở vào thế kỷ 21.

Một kỳ thi tuyển khác lạ và nhiều ý kiến ở Việt Nam

 

Kỳ thi Tốt nghiệp PTTH kết hợp xét tuyển vào Đại học là một kỳ thi theo phương thức mới.

Trước hết, bỏ qua những phát sinh “không lường trước được” qua những ngày xét tuyển đại học đợt 1 vừa qua, thì công tâm mà nói đây là một kỳ thi theo chiều hướng tiến bộ hơn. Những việc làm của Bộ giáo dục trong kỳ thi vừa qua là đáng khích lệ khi kết hợp hai kỳ thi làm một và lấy kết quả xét tuyển vào các trường Đại học. Việc đó đã đơn giản hơn cho hàng chục ngàn thí sinh không có khả năng, nguyện vọng thi Đại học. Trước đây, đã thi tốt nghiệp xong là dù không có khả năng vẫn đăng ký thi đại học đã trở thành tâm lý chung. Thời ông Bộ trưởng Nguyễn Minh Hiển tỉ lệ tốt nghiệp THPT là 92,64%, số thí sinh thi đại học, cao đẳng đạt 15 điểm trở lên chỉ có 13,7%.

Tiếp theo là sự đơn giản hóa dần các thủ tục trong kỳ thi. Việc công bố điểm thi mặc dù bị phản ứng nhiều trên báo chí ngay trước kỳ thi vì không để cho các báo chí, công ty khác kinh doanh trên điểm thi của sinh viên mà Bộ đã tập trung thông báo tại website của Bộ. Điều này loại trừ được hàng chục tỉ đồng tiền của thí sinh và phụ huynh học sinh khi dùng dịch vụ nhắn tin xem điểm.

Việc các thí sinh và phụ huynh bị khốn đốn, ùn tắc khi nộp, rút hồ sơ trong đợt một vừa qua, là một sự lúng túng như Bộ đã từng lúng túng ngay từ đầu khi áp dụng kỳ thi này. Tuy nhiên với trình độ tin học ngày nay, chỉ cần một phần mềm (Software) cho các thí sinh nộp và rút hồ sơ trực tuyến là có thể đảm bảo đơn giản hóa đi rất nhiều việc xét tuyển trực tiếp “đút vào rút ra” như những ngày qua.

Tuy nhiên đã bộc lộ những vấn nạn khó có thể giải quyết cho nền giáo dục Việt Nam.

Ở một số nước, việc áp dụng hai kỳ thi làm một này đã diễn ra nhiều năm, vẫn trơn tru và tốt đẹp mà không đến mức như ở Việt Nam.

Bởi có những đặc thù Việt Nam, mà có mười ông Bộ trưởng có tài thánh cũng không thể nào giải quyết được.

Còn nhớ, ông cựu Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân đã phát động cuộc cải cách “Hai không” rồi “Bốn không” cho ngành giáo dục, trong đó việc “Nói không với bệnh thành tích” để rồi năm đó tỷ lệ học sinh tốt nghiệp thật thảm hại. Và để giải quyết vấn đề làm gì với đám học sinh trượt tốt nghiệp trở thành đa số tồn tại trong xã hội? Ông lại phải cho những thí sinh rớt thi lại. Để rồi kết quả tổng cộng lại là con số gần như tuyệt đối và cải tiến biến thành cải lùi.

(Còn nữa)

Hà Nội, ngày 23/8/2015

J.B. N.H.V

Nguồn: http://www.rfavietnam.com/node/2755

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.08.2015

Con người, hãy nhìn đây!

THƯ GIÃN CUỐI TUẦN- TÌNH THÚ

Con người, hãy nhìn đây!

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.08.2015

Cư dân mạng đòi Bộ trưởng Luận từ chức

Ô Phạm Vũ Luận

Cư dân mạng đòi Bộ trưởng Luận từ chức

  • BBC Tiếng 22 tháng 8 2015

 

Báo trong nước đăng tải thông tin Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Phạm Vũ Luận ‘nhận trách nhiệm về bất cập trong xét tuyển đại học đợt một’.

VnExpress tường thuật ông Luận thừa nhận ‘những bất cập trong đợt xét tuyển đại học đầu tiên gây phiền hà, tốn kém cho người dân, đồng thời công bố những chỉ đạo khắc phục trong đợt xét tuyển thứ hai’.

Báo này viết: “Việc để thí sinh đăng ký tới bốn ngành trong một trường, được thay đổi nguyện vọng trong 20 ngày là không hợp lý, tạo ra sự căng thẳng cho thí sinh, phụ huynh”. (Đọc tiếp…)

Nhà văn Tô Nhuận Vỹ trao thưởng cho học sinh

QUỸ PHÙNG QUÁN PHÁT THƯỞNG CHO HỌC TRÒ THỦY DƯƠNG

Ngô Minh

Các bạn thân mến. Sáng hôm qua (22/8/2015), NM và nhà văn Tô Nhuận Vỹ đã về Phường Thủy Dương, Thị xã Hương Thủy, Thừa Thiên Huế để phát thưởng của Quỹ Phùng Quán cho 10 em học sinh tiểu học và THCS xuất sắc nhất của phường. Mỗi em được cái bằng chứng nhận khen thưởng  có ảnh nhà thơ Phùng Quánvvà 500.000 đồng. NM là người sáng lập Quỹ Phùng Quán từ năm 2011, sau khi được bạn bè, văn nghệ sĩ toàn thế giới ủng hộ tiền để xây Lặng mộ vợ chồng nhà thơ Phùng Quán được 332 triệu đồng ( chuyện này sẽ kể dịp khác), còn lại 100 triệu, NM lập QUỸ PHÙNG QUÁN gửi vô ngân hàng. Hàng năm lấy tiền lãi khen thưởng cho học trò THủy Dương ( quê nội anh Quán) và tặng thưởng một tác phẩm văn học xuất sắc ở Huế . Qua 5 năm, QPQ đã tặng thưởng 56 em học sinh giỏi Thủy Dương và 4 tác phẩm văn học của các nhà văn Thừa Thiên Huế: Tiểu thuyết Vùng sâu của Tô Nhuận Vỹ, Tìm gọi xác đồng đội-trường ca củaj Trần Vàng Sao, Tiểu thuyết Xa Hà Nội của Nhất Lâm và tiểu luận phê bình Đọc Truyện Kiều và ngẫm của nhà thơ Mai Văn Hoan. Quỹ Phùng Quán được bà con Thủy Dương hoan nghênh khen ngợi nhiệt liệt

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.08.2015

Kiểm duyệt Trần Đình Sử: Im Lặng là Vàng?

GS Trần Đình Sử

Kiểm duyệt Trần Đình Sử: Im Lặng là Vàng?

Phùng Nguyễn (blog)

Trong bài viết “Nhân trường hợp Võ Phiến nhìn lại sự kiện Luận văn Nhã Thuyên” người viết cảnh báo rằng sự kiện “Luận văn Nhã Thuyên” có thể không phải là cú giãy cuối cùng và vô hại của nền phê bình chỉnh huấn. Như thực tế chứng minh, với sự đỡ đầu của bạo lực, cú giãy đã gây thương tích trầm trọng cho các nạn nhân. Không chỉ có Nhã Thuyên Đỗ Thị Thoan và Nguyễn Thị Bình mà còn cả sự thoái bộ đáng tiếc của tự do học thuật ở các cấp Đại học trên toàn quốc. Và điều tệ hại hơn nữa, không có gì bảo đảm đây sẽ là cú giãy sau cùng. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 23.08.2015

GIÁO DỤC – MỆNH LỆNH CỦA AI?

GIÁO DỤC – MỆNH LỆNH CỦA AI?

  FB Mạnh Kim

 Như một ngôi nhà cũ mục, từng mảng vữa bục ra rồi rơi vụn chất thành đống đổ nát với hình hài quái gở kinh dị, đó là hình ảnh nền giáo dục đổ đốn và thối nát chúng ta đang chứng kiến. Đã có người nói rằng giáo dục là vấn đề của mọi người. Nó không phải là trách nhiệm riêng của ông Bộ trưởng hay Bộ giáo dục. Mọi người không thể đổ hết lỗi lên đầu ngành quản lý giáo dục… Có người nói rằng trong cái văn hóa đổ lỗi phổ biến tràn lan hiện tại, mọi người nên tự nhìn lại bản thân và “giáo dục” chính mình, trước khi trút tội cho cơ quan quản lý giáo dục… Đó là những ý kiến ngụy biện, ngoa ngôn và hèn nhát. (Đọc tiếp…)

CụĐặng VănViệt và NM

  GẶP NGƯỜI TREO LÁ CỜ  ĐỎ SAO VÀNG LÊN ĐỈNH CỘT CỜ PHU VĂN LÂU 8-1945

                                                                         Ngô Minh

              Tôi muốn nói đến “cụ lính” Đặng Văn Việt. Gọi là cụ vì năm nay ông đã 96 tuổi. Ông vừa từ Hà Nội vào Huế dự Lễ kỷ niệm 70 năm Trường Thanh niên Tiền tuyến Huế chiều ngày 21/8/2015. Trường TNTT Huế là một ngôi trường “xanh vỏ đỏ lòng”, vì là trường của chính phủ Trần Trọng Kim thân Nhật nhưng lại đào tạo võ bị cho các sĩ quan tương lại của Việt Minh. Tôi vinh hạnh và vô cùng ấn tượng được gặp, bắt tay và trò chuyện với ông. Như là bắt tay, trò chuyện với nhân vật lịch sử bằng xương bằng thịt. Lịch sử thật nhân hậu. tôi sinh năm 1949, sau Cách mạng tới 4 năm, mà được ngồi trò chuyện với một người từng bắt hạ lá cờ quẻ ly của Triều Nguyễn xuống, treo lá cờ đỏ sao vàng lên trên đỉnh cột cờ Phu Văn Lâu. Sướng thật. Sướng lắm chứ!. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.08.2015

TRANG THƠ PHÁI ĐẸP-THƠ LƯU LY

Nhà thơ Lưu Ly

 TRANG THƠ PHÁI ĐẸP-THƠ LƯU LY

 QTXM: Nhà thơ Lưu Ly , hội viên Hội Nhà văn VN tên thật là Trần Thị Vân Dung. Chị là giảng viên văn học của Trường Cao đẳng Sư phạm Thừa Thiên Huế. Lưu Ly chủ yếu làn thơ tình. Thơ chị nồng đượm, không chú trọng cách tân chữ nghĩa, câu trúc, nhưng dễ cảm.TRANG THƠ PHÁI ĐẸP kỳ này xin giới thiệu chùm thơ của Lưu Ly.Mời bạn đọc chia sẻ

 

Lưu Ly

Không đề.

 

Em lật tháng ngày tìm bóng dáng anh

Thoa son lên môi tìm nụ hôn ngày trước

Thời gian như vết trượt

Ôm em vào lòng đi hoang

 

Em lật tháng năm tìm ánh mắt mơ màng

Ánh mắt đã giết chết em

vào một ngày xa lạ

Nơi linh hồn tượng đá

Một tình yêu tội lỗi dịu dàng! (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 22.08.2015

Hát quốc ca sẽ bị thu phí tác quyền?

Hát quốc ca sẽ bị thu phí tác quyền?

  • BBC tiếng Việt 3 giờ trước (20 giờ 00′ ngày 21/8/2015)

‘Hát quốc ca tại trường học thì không bị thu phí tác quyền’

Việc Trung tâm Bảo vệ Quyền tác giả Âm nhạc Việt Nam yêu cầu thu phí tiền tác quyền ca khúc ‘Tiến quân ca’ gây những tranh cãi.

Bài hát này đã trở thành quốc ca của Việt Nam từ năm 1946 cho đến nay nhưng chưa ai nghĩ rằng mình sẽ phải trả tiền khi hát nó.

Hôm 20/8, báo Thanh Niên đưa tin:

“Trung tâm Bảo vệ Quyền tác giả Âm nhạc Việt Nam yêu cầu thu phí tiền tác quyền bài hát này tại các chương trình nghệ thuật (ngay cả các chương trình nghệ thuật mang tính chính trị, không bán vé), chương trình biểu diễn của các đoàn nghệ thuật phục vụ bà con ở vùng sâu, vùng xa, các chương trình hội nghị, kỷ niệm (có thể xem xét tùy theo tính chất của chương trình), xuất hiện trong các tác phẩm điện ảnh (phim truyện, phim tài liệu)…

Trung tâm Bảo vệ Quyền tác giả Âm nhạc chỉ ‘không thu phí tác quyền trong một số trường hợp, chẳng hạn như học sinh hát quốc ca khi chào cờ vào mỗi sáng thứ hai hằng tuần’, báo Thanh Niên viết.

Cùng ngày, báo Tuổi Trẻ dẫn lời ông Văn Thao, con trai nhạc sĩ Văn Cao cho biết, “bà Nghiêm Thúy Băng, vợ nhạc sĩ Văn Cao, đã từng có thư gửi Bộ Văn hóa – Thể thao & Du lịch, ngỏ lời được hiến tặng ca khúc “Tiến quân ca”. (Đọc tiếp…)

Vụ “Tuần tra biển khống, rút ruột nhà nước”: Sĩ quan trong danh sách “xử lý nghiêm” trúng cử Bí thư Đảng ủy

Lao Động

Tàu của Bộ đội biên phòng Quảng Trị nằm yên tại cảng nhưng lập hồ khống tuần tra biển để rút ruột nhà nước hàng tỉ đồng

Như Lao Động đã thông tin, sau loạt bài về Bộ đội biên phòng (BĐBP) tỉnh Quảng Trị lập hồ sơ tuần tra biển khống để rút ruột nhà nước nhiều tỉ đồng trong các năm 2013, 2014, Bộ Tư lệnh BĐBP đã có kết luận khẳng định sai phạm trước hết thuộc về Chỉ huy trưởng và Chính ủy BĐBP Quảng Trị là đại tá Nguyễn Trọng Tiềng và đại tá Nguyễn Đức Khánh.

Đồng thời, Bộ Tư lệnh BĐBP cũng công bố danh sách 6 sĩ quan liên quan sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định sau khi có kết quả kiểm tra, xử lý của Tỉnh ủy Quảng Trị, trong đó đứng đầu danh sách là Chỉ huy trưởng và Chính ủy có tên trên.

Tuy nhiên, cho đến ngày 19.8, Tỉnh ủy Quảng Trị vẫn chưa có kết luận kiểm tra và hình thức xử lý đối với tập thể, cá nhân sai phạm tại Đảng ủy BĐBP tỉnh. Trong khi đó, tại đại hội Đảng bộ BĐBP tỉnh Quảng Trị vừa kết thúc, ông Nguyễn Đức Khánh- đại tá, Chính ủy đã được bầu giữ chức vụ Bí thư Đảng ủy, Chính ủy BĐBP tỉnh Quảng Trị nhiệm kỳ 2015 – 2020.

Về vụ “tuần tra biển khống, rút ruột nhà nước hàng tỉ đồng”, ngày 14.7.2015, Viện Kiểm sát quân sự Trung ương đã có công văn chỉ đạo số 62/VKS-P1 yêu cầu Viện Kiểm sát quân sự BĐBP và Bộ Tư lệnh BĐBP kiểm tra vụ việc do Báo Lao Động nêu và báo cáo bằng văn bản để Viện Kiểm sát quân sự Trung ương có cơ sở báo cáo Ban Chỉ đạo phòng chống tham nhũng Trung ương.

Thực hiện chỉ đạo này, ngày 16.7.2015, Viện Kiểm sát quân sự BĐBP đã phát công văn số 34 VKS-B1 “về việc yêu cầu báo cáo vụ việc có dấu hiệu tội phạm xảy ra tại đơn vị theo báo Lao Động nêu”, yêu cầu Bộ Chỉ huy BĐBP Quảng Trị tiến hành kiểm tra và báo cáo bằng văn bản nội dung sự việc và kết quả giải quyết.

( Nguồn: Lao động)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 21.08.2015

Kiểm soát quyền lực bằng cách nào?

Ông Vũ Ngọc Hoàng: “Tôi đã phát biểu trên báo Tuổi Trẻ nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Đảng 3/2 năm nay rằng, Việt Nam cần phải có nghị quyết và cơ chế về kiểm soát quyền lực”. Ảnh: Lê Anh Dũng

Kiểm soát quyền lực bằng cách nào?

Tiếp tục cuộc trò chuyện với Tuần Việt Nam, ông Vũ Ngọc Hoàng cho rằng, phương thức lãnh đạo của Đảng thì đến nay vẫn cơ bản giống như mấy chục năm trước, cơ bản là thế, chưa có đổi mới.

LTS:Tuần Việt Nam xin giới thiệu kì cuối của tọa đàm 30 năm đổi mới: Nhìn từ áp lực thể chế với sự tham gia của ông Vũ Ngọc Hoàng, Phó Trưởng ban thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương và ông Mai Liêm Trực, Nguyên Thứ trưởng thường trực Bộ Bưu chính-Viễn thông.

Nhà báo Lan Anh: Nhiều người cho rằng vấn đề Việt Nam đang bị vấp là ở chỗ thể chế. Vậy chúng ta nên hiểu thể chế ở đây thế nào cho đúng?

Ông Vũ Ngọc Hoàng: Bản thân nội hàm thể chế về mặt khoa học còn nhiều ý kiến lắm, nhưng theo tôi, thể chế là một bộ phận của cơ chế nói chung, mà bộ phận ấy liên quan đến quyền lực. Nếu hiểu theo cách này thì cơ chế nói chung rộng hơn thể chế.

 

Với góc nhìn như vậy, theo tôi, việc lớn nhất của chúng ta hiện nay là vấn đề kiểm soát quyền lực. Tôi đã nói rồi, quốc gia nào mà thả lỏng quyền lực, không kiểm soát được quyền lực thì nhất định sẽ dẫn đến tha hóa, tham nhũng, “lợi ích nhóm”. Tôi đã phát biểu trên báo Tuổi Trẻ nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Đảng 3/2 năm nay rằng, Việt Nam cần phải có nghị quyết và cơ chế về kiểm soát quyền lực.

Lâu nay Đảng đã có nhiều nghị quyết về xây dựng Đảng, nhìn chung đều đúng cả, không có gì sai, và cũng tích cực thực hiện, vậy mà suy thoái vẫn không dừng, thậm chí còn tăng hơn. Vì sao vậy? Phải chăng còn thiếu điều quan trọng nhất là cơ chế kiểm soát quyền lực và các cơ chế đảm bảo dân chủ thực sự. Phải kiểm soát quyền lực bằng quyền lực nhà nước; bằng cơ chế dân chủ, quyền tham chính của nhân dân; bằng công luận, sự công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình, điều trần.

 

Nhân dân ủy quyền cho Nhà nước việc gì – đến đâu, còn việc gì phải trưng cầu dân ý, các luật cho phép Chính phủ và các cơ quan Nhà nước khác đến đâu, chống lạm quyền bằng cách nào, giám sát chéo và dân giám sát thế nào… Rồi kể cả các tổ chức của Đảng, quyền đến đâu, chịu trách nhiệm pháp lý thế nào, ai kiểm soát quyền lực của các cơ quan Đảng, có ý kiến một số đảng viên đề nghị phải có Ủy ban giám sát của Đảng do Đại hội bầu ra cũng là việc rất nên bàn.

Khi bàn về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng thì cũng có nghĩa là bàn một phần quan trọng về đổi mới chính trị. Phương thức lãnh đạo của Đảng mặc dù nghị quyết đã nói nhiều lần về việc phải đổi mới nhưng cho đến nay vẫn cơ bản như mấy chục năm trước.

Cần phải đổi mới một cách căn bản, có cơ sở khoa học, theo hướng thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng và trong xã hội; công khai, minh bạch; lấy thuyết phục, đối thoại làm chính (thay cho áp đặt); thực hiện đầy đủ các quyền tự do, quyền con người mà Hiến pháp đã định. Trong đó, có quyền tự do tư tưởng và quyền thể hiện chính kiến của các công dân, nhằm đáp ứng tốt nhất cho yêu cầu phát triển lành mạnh, bền vững của đất nước và dân tộc Việt Nam.

Nhà báo Lan Anh: Cuối năm ngoái, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh được mời đến nói chuyện về các vấn đề kinh tế ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Thính giả là các lãnh đạo của hầu hết các tỉnh, thành phố. Tại đó, nhiều người hỏi Bộ trưởng Bùi Quang Vinh, thế nào là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ông đáp: “Chúng ta cứ nghiên cứu mô hình đó, mà mãi có tìm ra đâu. Làm gì có cái thứ đó mà đi tìm”. Các ông suy nghĩ thế nào về thực tế này?

Ông Vũ Ngọc Hoàng: Thế giới hiện nay có nhiều cách gọi, cách phân chia kinh tế thị trường, kể cả những năm gần đây có nói kinh tế thị trường hiện đại, kinh tế thị trường hội nhập…, nhưng phổ biến nhất có hai loại là kinh tế thị trường tự do và kinh tế thị trường xã hội.

Theo cách hiểu của tôi, kinh tế thị trường tự do khi tiến bộ lên, hoàn thiện hơn, có quản lý và điều tiết của nhà nước vì mục tiêu xã hội, thì thành kinh tế thị trường xã hội. Và người ta thường nói gọn, nói tắt là kinh tế thị trường. “Kinh tế thị trường” là cách gọi đã được quốc tế hóa rồi.

Trung Quốc đưa ra khái niệm kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Việt Nam thì kinh tế thị trường định hướng XHCN. Việt Nam nêu vấn đề “mềm” hơn Trung Quốc. Nhưng mấy chục năm rồi kể cả Trung Quốc và Việt Nam vẫn chưa làm rõ xong đặc điểm của nền kinh tế ấy. Tức là đã đặt tên trước khi làm rõ nội hàm. Có thể có lý do chính trị lúc ấy, thời điểm đặt tên gọi ấy.

Tôi cho rằng, không nên mất quá nhiều thời gian để tranh cãi về từ ngữ, và tên gọi, mà tốt nhất là làm rõ nội hàm đi, rồi chính nội hàm sẽ quy định tên gọi. Khi bàn về nội hàm của khái niệm khoa học, đừng nhầm lẫn giữa khái niệm khoa học với quan điểm chính trị. Hiện nay nước ta đang đề nghị các nước công nhận Việt Nam có nền “kinh tế thị trường” đó thôi, gọn vậy thôi, kể cả khi đoàn của Tổng Bí thư ta đi làm việc với Hoa Kỳ cũng thống nhất cách gọi như vậy.

  Tôi không nghe trực tiếp anh Bùi Quang Vinh nói nên không bình luận. Riêng tôi thì nghĩ rằng, định hướng đất nước trong tương lai sẽ tiến đến mục tiêu XHCN thì cứ định hướng, việc đó vẫn đúng (với cách hiểu XHCN phải thật sự tốt đẹp, chứ không phải hô khẩu hiệu, không lạm dụng danh từ ấy; quan niệm về XHCN phải với tinh thần rất đổi mới; đổi mới căn bản so với cách hiểu cũ kỹ, lạc hậu ngày xưa). Còn kinh tế thị trường thì cứ phải là kinh tế thị trường, hoàn toàn, đến cùng, không nửa vời, không biến tướng, tất nhiên có vai trò nhất định của nhà nước, và cũng có thể nói gọn “kinh tế thị trường”, như cách nói mà Đảng và nước ta đang yêu cầu thế giới công nhận là đủ rồi.

Mặt khác, khoa học cứ tiếp tục nghiên cứu về loại hình kinh tế thị trường, sáng tạo, tìm tòi cái mới. Cái mới là cái mà trước đó chưa có. Chưa có không đồng nghĩa với không có. Nhưng phải có đủ cơ sở khoa học, không thể ý muốn chủ quan, áp đặt và phải có cách tiếp cận đúng thì mới có thể tìm ra cái mới. Bằng tư duy cũ không tìm ra cái mới được.

Theo suy nghĩ của tôi, không thể tìm thấy kinh tế thị trường XHCN theo cách tiếp cận là nó phải khác căn bản so với kinh tế thị trường ở các nước tư bản. Mà ngược lại, nó phải kế thừa tối đa các giá trị phổ quát, lâu bền của kinh tế thị trường đang có ở các nước TBCN và phát triển lên, hoàn thiện hơn.

Kinh tế thị trường là giá trị chung của nhân loại chứ không phải chỉ của TBCN. Mà ngay cả tư bản thì cũng là sản phẩm của nhân loại. Và khi CNTB phát triển ở trình độ cao thì tự nó từng bước đang và sẽ tạo ra các yếu tố XHCN, tức là nó không còn nguyên là nó, mà đang dần dần trở thành cái khác, cái mới, tiến bộ hơn. CNTB hiện đại ngày nay đã khác rất xa so với thời kỳ C. Mác sống và viết Tư bản luận – một tác phẩm rất hay mà tôi chưa thấy ai vượt qua ông.

Tôi sẽ trở lại và xin được trao đổi tiếp vấn đề kinh tế thị trường trong CNXH và kinh tế thị trường trong CNTB trong một dịp khác.

Ông Mai Liêm Trực: Tôi hoàn toàn chia sẻ về quan điểm của Bộ trưởng Bùi Quang Vinh là không nên đi tìm cái không có. Nếu cứ khư khư giữ lấy cái không có, đi tìm cái không có thì mỗi người hiểu một cách, không thể đi đến đồng thuận để tìm được cơ chế kinh tế phù hợp.

Chúng ta đã tham gia một số Hiệp định thương mại và đang trong quá trình đàm phán TPP cũng như một số đối tác thương mại khác. Chúng ta muốn các nước công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường thì phải thì phải theo những tiêu chí phổ quát của kinh tế thị trường.

Chúng ta có thể cần một lộ trình nhất định cho một số lĩnh vực cụ thể đó là nước đi sau nhưng đã đi sau thì phải khẩn trương để tiến tới hoàn toàn phù hợp với luật chơi toàn cầu.

Ngành viễn thông là một ví dụ về sự mạnh dạn hội nhập quốc tế thành công. Viễn thông là một lĩnh vực rất nhạy cảm khi đàm phán Hiệp định thương mại Việt Mỹ và gia nhập WTO vì lo sợ an ninh thông tin và nước ngoài vào nắm hết khi mở cửa thị trường viễn thông nhưng sau BTA 15 năm nay, Việt Nam vẫn giữ vững thị trường trong nước và từng bước thành công ở thị trường nước ngoài nhờ chính sách đi thẳng vào công nghệ hiện đại. Đặc biệt là xoá độc quyền doanh nghiệp, mở cửa cạnh tranh thị trường nước ngoài để giá cước giảm và chất lượng dịch vụ tăng lên.

30 năm đổi mới chúng ta có nhiều thành công, nhiều tiến bộ vượt bậc khi so sánh với chính mình, nhưng nếu so với nhiều nước cùng hoàn cảnh phát triển thì vẫn kém xa. Nếu chúng ta cứ say sưa, thoả mãn với thành tích đã qua, lừng khừng không dám bứt phá thì sẽ tiếp tục mất đi cơ hội quý báu và nước ta sẽ tụt hậu xa hơn.

Tôi rất đồng cảm với câu nói của anh Nguyễn Mạnh Hùng – TGĐ Viettel đại ý, phải dám quên đi thành công của 10 năm trước thì ta mới bước ra thế giới được.

Nhà báo Lan Anh:Trong bối cảnh hiện nay để có thể đổi mới cơ chế, đổi mới thể chế thành công như người dân đang mong mỏi, những người lãnh đạo cần phải làm những gì, cần phải thay đổi những gì?

Ông Vũ Ngọc Hoàng: Chúng ta phải đổi mới căn bản, đổi mới toàn diện, đồng bộ, bắt đầu từ tư duy, tiếp theo là chiến lược phát triển, cơ chế, thể chế, chính sách và công tác cán bộ,…Lâu nay chúng ta đã nói phải phát triển bền vững đất nước. Đúng rồi, nhưng có lẽ chưa đủ.

Theo tôi, cái quan trọng trước nhất phải nghĩ đến là làm thế nào để phát triển dân tộc Việt Nam, trở thành một dân tộc giỏi, có đẳng cấp cao, đứng ở một tầm cao mới, có trí tuệ và năng lực cao để làm cho quốc gia cường thịnh và đủ sức bảo vệ vững chắc toàn vẹn Tổ quốc trong mọi tình huống.

Sự nghiệp phát triển Việt Nam có hàng vạn công việc phải làm; đồ sộ, khổng lồ, không một ban lãnh đạo nào có thể giải quyết được mọi việc, mà chỉ có toàn dân, một cộng đồng dân tộc mạnh mới giải quyết được. Có những con người phát triển thì sẽ có tất cả. Chính họ chứ không ai khác sẽ giải quyết có hiệu quả hàng vạn công việc kia.

Trước nhất và quan trọng nhất là phát triển con người Việt Nam. Đồng thời, cần phải có một chiến lược phát triển rõ ràng và hiệu quả, trong đó xác định rõ các ngành, lĩnh vực và sản phẩm ưu tiên (ví dụ như du lịch; nông nghiệp công nghệ cao; công nghiệp phần mền và công nghệ thông tin…), trên cơ sở đó mà tái cơ cấu nền kinh tế về mặt cơ cấu ngành.

Cần tính kỹ lại chiến lược năng lượng, hết sức tiết kiệm điện, ta lãng phí còn nhiều; chọn các ngành công nghiệp dùng điện ít (nếu “cả nước” làm công nghiệp phần mềm thì chỉ bằng vài nhà máy công nghiệp nặng); phát triển các nguồn năng lượng sạch (nước ta có nhiều nắng, nhiều gió và đang có các nghiên cứu khoa học về các nguồn năng lượng mới…), không ô nhiễm môi trường, không có phóng xạ kể cả khi gặp sự cố nghiêm trọng. Việc này liên quan đến sinh mạng và sự tồn vong của dân tộc.

 

alt

“Đổi mới căn bản” là cụm từ đúng và cần thiết để diễn đạt việc cần thiết phải làm cho đất nước trong giai đoạn tới đây. Ảnh minh họa

Một trong những yêu cầu cấp bách hiện nay là phải kiến tạo cho được động lực tăng trưởng mới của giai đoạn phát triển mới, phát triển theo chiều sâu, khi những động lực tăng trưởng được tạo ra trong chặng đường 30 năm Đổi mới vừa qua đang dần hết tác dụng.

Tôi biết có những ý kiến sẽ không đồng tình khi tôi dùng cụm từ “đổi mới căn bản” vì sợ rằng, làm như vậy sẽ mất ổn định, rối lên. Nhưng tôi vẫn cho rằng đây là cụm từ đúng và cần thiết để diễn đạt việc cần thiết phải làm cho đất nước trong giai đoạn tới đây. Tôi hiểu giá trị của sự ổn định, phải ổn định mới phát triển được. Phát triển là mục đích, ổn định là điều kiện.

Phải đổi mới để phát triển. Phát triển mới có ổn định lâu dài. Không phải cứ đổi mới căn bản thì mất ổn định. Ngược lại, không chịu đổi mới thì đến một lúc sẽ mất ổn định lớn hơn. Có cách làm đúng thì sẽ tốt. Dù đổi mới căn bản thì vẫn phải có bước đi, có lộ trình phù hợp. Phải mạnh dạn mới hy vọng kết quả lớn, giải quyết được tình hình.

Liên Xô sụp đổ là bài học lớn cho chúng ta. Vì sao thành trì cách mạng đó lại có thể sụp đổ nhanh đến thế ? Cái gọi là ổn định trước đó chỉ là sự ổn định bề mặt, giả tạo chứ không phải sự ổn định bản chất, vững chắc.

Suốt mấy mươi năm Liên Xô ổn định kiểu vậy, khi có quyền lực nhiều cái có thể vượt qua được, tưởng như thế là tốt, là xong rồi, nhưng nó lại tích tụ chồng chất mâu thuẫn bên trong, giống như nhìn thấy cây cối trên mặt đất vẫn bình yên, nhưng không thấy sự rạn nứt dần dần trong nền móng, để đến một ngày nó đổ ào đến mức khó hiểu.

Do vậy, từ thực tiễn và khoa học mà nói, cần phải đổi mới một cách căn bản, từ gốc rễ mới tạo dựng được sự ổn định lâu dài và phát triển vượt lên.

Lâu nay Đảng và Nhà nước luôn khẳng định là nhân dân làm chủ; quyền lực là của dân. Điều này quá đúng! Và chỉ khi người dân thực sự có quyền lực, thực sự làm chủ, cộng với cơ chế kiểm soát quyền lực bằng quyền lực Nhà nước, thì khi đó mới có thể kiểm soát được quyền lực.

Xưa nay, rất ít khi những người có quyền lực lại tự giới hạn hoặc từ bỏ quyền lực của chính mình; ngược lại luôn muốn tăng thêm, không muốn ai kiểm soát mình. Hy vọng những người lãnh đạo chân chính và trách nhiệm cao với quốc gia, dân tộc của Đảng và Nhà nước ta sẽ giải quyết tốt vấn đề này.

Việc cần làm trước nhất hiện nay là phải tập trung đổi mới tư duy, đổi mới công tác tư tưởng, đổi mới cơ chế lựa chọn cán bộ và khẩn trương ban hành các cơ chế kiểm soát quyền lực, chống tham nhũng, “lợi ích nhóm”.

Ông Mai Liêm Trực: Sự nghiệp đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng từ năm 1986 thực chất và chủ yếu là đổi mới thể chế kinh tế, chuyển sang cơ chế thị trường và chúng ta đã vượt qua được khủng hoảng, có nhiều thành công về mặt kinh tế.

Chúng ta chắc chắn phải tiếp tục đổi mới thể chế kinh tế như tôi đã nói ở trên nhưng sự chững lại của tăng trưởng kinh tế và tiêu cực xã hội đòi hỏi phải đổi mới cơ bản, mạnh mẽ cơ chế quản lý nhà nước pháp quyền.

Đất nước ta đang đứng trước thời cơ của công cuộc đổi mới lần thứ hai đòi hỏi sự dũng cảm và dấn thân của lãnh đạo như một số vị lãnh đạo đáng kính đã làm cuộc đổi mới gần 30 năm trước.

Thời nào cũng vậy, đặc biệt là những lúc khó khan, khủng hoảng thì cán bộ đóng vai trò quyết định. Do đó, cần thay đổi mạnh mẽ cơ chế chọn lựa và bổ nhiệm cán bộ. Cần có sự chọn lọc rộng rãi để tìm ra được những cán bộ có tâm và có tài quản trị đất nước, phụng sự tổ quốc nhân dân.

Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/254919/kiem-soat-quyen-luc-bang-cach-nao-.html

 

  

 

 

 

Thư Trần Trọng Kimgửi Hoàng Xuân Hãn năm 1947 bàn về Việt Minh

Nguyễn Đức Toàn (Viện Nghiên cứu Hán Nôm) (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 20.08.2015

HẬU CHUYỆN KỂ NĂM 2000- KỲ 29

 

 HẬU CHUYỆN KỂ NĂM 2000

(Thời biến đổi gien)

 Kỳ 29

Hồi tưởng không bao giờ hết. Mong ước không bao giờ ngừng. Cho nên thật bất ngờ làm sao khi nhận được điện thoại của Đoàn Duy Trọng:

– Anh có muốn vào thăm lại Trần Phú không?

Tôi như không tin ở tai mình:

– Em nói gì?

Tôi chưa một lần thổ lộ khao khát ấy của tôi với Trọng. Nên chưa hiểu ngay điều Trọng nói.

– Vào thăm lại trại giam Trần Phú ấy.

Tôi reo lên:

– Bao giờ?

– Bây giờ, anh chuẩn bị đi ngay với em.

Niềm vui quá lớn. Tất cả sắp trở thành hiện thực. Khao khát bấy lâu nay!

Trọng là con trai ông Đoàn Duy Thành, nguyên bí thư thành ủy Hải Phòng, phó thủ tướng chính phủ. Cả hai đều là bạn đọc của tôi. Tôi và Trọng nói với nhau nhiều chuyện nhưng chưa bao giờ tôi thổ lộ cùng anh nguyện vọng thăm lại các nhà tù. Tuy nhiên anh vẫn hiểu.

Tôi vội thay quần áo, xuống nhà, bước ra hè phố với bao niềm vui và hồi hộp. Trọng đã ngồi trong ô tô đậu ngay trước ngõ. Đang dở nói điện thoại, anh chỉ gật đầu chào tôi. Khi tôi lên xe, anh bảo:

– Em vừa nói chuyện với tay giám thị. Nó không ở Trần Phú nữa mà đã sang bên Gốc Thị rồi. Ta sang Gốc Thị anh nhé.

Tôi hơi hẫng. Đã tưởng mình được vào Trần Phú, gặp lại cái lối đi nhỏ từ khu 175 sang khu 176, gặp lại Bê Dê — Buồng D —, gặp lại những bể nước khổng lồ cho tù sáng ra làm vệ sinh, giặt giũ, và cái sân rợp bóng lá bàng. Cái sân hồi còn bị giam ở xà lim 175 tôi đã đu người lên dóng song sắt bẻ một nan chớp cửa thông hơi, nhìn xuống sân thấy anh tù động kinh mà tôi đã viết trong Chuyện kể năm 2000. Ở sân này còn một chuyện nữa tôi chưa viết nhưng nó đã làm tôi buồn không biết bao nhiêu. Cái sân hôm ấy khác hẳn những hôm khác: Gỗ, cầu bào, phoi bào, mùn cưa đã được dọn sạch. Sân trại vắng vẻ im lặng. Không có tiếng cưa đục, tiếng tù vừa làm việc vừa nói chuyện. Một biểu hiện khác thường. Rồi nguyên nhân của sự bất thường ấy đã xuất hiện: Một tốp gần chục ông công an mặc sắc phục đang từ sân xê rom bước ra. Đi đầu là ông đại uý chánh giám thị và một người mặc thường phục. Tôi không tin ở mắt mình: Nhà văn G, vị khách được đón tiếp long trọng đang đi chậm bước ở hàng đầu song song với ông đại uý, nhìn bên nọ, ngó bên kia, trong khi ông chánh giám thị đang nói và giơ tay chỉ trỏ như một hướng dẫn viên du lịch, theo sau là những ông quản giáo. Tôi hiểu nỗi xúc động của nhà văn G. Anh đang bước vào một địa hạt bí mật, một địa hạt thiêng liêng: Giam giữ và cải tạo con người. Nơi đây những người xấu xa, nguy hại cho sự nghiệp cách mạng đang trở thành những người tốt. Tôi cũng đã từng tin như vậy: Tôi đã viết trong một bản tự khai khi mới bị bắt vào Trần Phú về tính ưu việt, nhân đạo của chế độ: Đến con cái bọn bóc lột, chúng ta cũng giúp đỡ, cải tạo họ để họ trở thành những người tốt như chúng ta (!!!)

Cánh tay đu vào dóng sắt mỏi rời, nhưng không thể tụt xuống. Tôi muốn nhìn nét mặt trang trọng cao cả của đoàn người đi ngoài sân kia, nhất là vẻ xúc động của anh G. Xem cho kỹ, nghe cho kỹ rồi về viết nhé. Một Bài Ca Sư Phạm, một Những Ngọn Cờ Trên Tháp ([1]) đang đợi anh viết ra, Makarenko của Việt Nam ạ. G. là người tôi quen khi tôi còn làm ở Hà Nội. Anh có một tập tiểu thuyết mỏng in từ cuối những năm 50, được nhiều người đọc, trở thành nổi tiếng, và càng nổi tiếng hơn khi có người kiện anh, nói rằng chính anh ta mới là tác giả. Chẳng biết ai đúng ai sai, nhưng sau đó anh chuyển về Hải Phòng. Từ ấy không thấy anh viết lách gì nữa. Mà chuyên đi nói chuyện, giới thiệu các “sáng tác” người thực việc thực. Anh đã đi nhiều nơi tại Hải Phòng đăng đàn diễn thuyết về tập Người Gác Đèn Biển viết về anh hùng lao động Phùng Văn Bằng của tôi. Với tác phong cẩn thận chu đáo, anh đến báo Hải Phòng gặp tôi, đưa tập đề cương cho tôi xem, cả một thếp giấy với những dàn ý, những bối cảnh, những chủ đề từng đoạn, những phát triển bài viết của tôi, để tôi góp ý, còn tôi thì xấu hổ đỏ mặt lên vì thứ văn chương tổ đội của mình lại được một người bạn hơn tuổi coi trọng và làm việc với mình cẩn thận đến thế:

– Bác ơi. Tôi hoàn toàn tín nhiệm bác. Bác cứ theo ý bác mà làm…

Những bước chân chậm rãi, nét mặt trang nghiêm như đang bước trên một hành tinh khác của G. tiến gần tới xà lim của tôi. Tôi vội buông tay, tụt xuống. Từ dưới nhìn lên, họ có thể thấy tôi qua nan chớp bị bẻ.

Tôi nằm xuống ván lim. Rã rời. Thế đấy. Người sống chết với văn chương thì bị nhốt xà lim. Người không viết được, người làm chỉ điểm thì được đón tiếp long trọng như những vị khách quý. Ngay lúc ấy tôi đã nghĩ anh bạn G. làm chỉ điểm mà cách gọi nhẹ hơn là “đặc tình.” Khi bắt tôi, không khí khủng bố ở Hà Nội, Hải Phòng đã lên tới cao điểm. Văn nghệ sĩ là một lũ đáng ngờ. Phải đặc biệt cảnh giác và theo dõi chặt chẽ.

Thế nhưng G. lại được đón tiếp rất trọng thị. Được đến những nơi không ai có thể đến. Sự quản chế những tù nhân chưa thành án là rất ngặt nghèo, không thể vượt quá qui định, vượt qua nguyên tắc nếu không có một sự đối xử đặc biệt nào đó. Khi đi Gốc Thị với Đoàn Duy Trọng, tôi càng tin việc anh G. được tới Trần Phú không thể là chuyện bình thường của một nhà văn đi thực tế.

Trọng lái xe đưa tôi sang trại Gốc Thị, Kiến An. Đại tá chánh giám thị trại tạm giam Hải Phòng đang ngồi với một người khách Việt kiều chờ chúng tôi ở “nhà thuỷ tạ” ngay cổng trại. Ông còn rất trẻ, trạc tuổi con lớn tôi nhưng đã mang hàm đại tá. Trên xe, Trọng đã nói với tôi cái cách anh giới thiệu tôi và anh đã thực hiện đúng như vậy:

– Giới thiệu với bác: Đây là anh T. chánh giám thị trại giam Hải Phòng. Giới thiệu với anh T. Đây là ông bác tôi mới ở quê ra.

Chúng tôi ngồi trên sàn nhà làm ngay trên mặt hồ. Trên đầu tôi, chung quanh tôi toàn phong lan là phong lan. Hàng trăm bông phong lan từ chỗ chúng tôi ngồi chạy ra phía đầu hồ nước. Những chùm hoa phong lan như những đàn bướm nối nhau nằm im lặng ngủ trong tán lá. Và những cây lộc vừng cổ thụ quý hiếm, mốt ăn chơi thời thượng, được đưa thẳng từ rừng già về đã bén rễ, đâm chồi, tỏa tán lá xanh non. Bên cạnh chúng tôi là ao cá mênh mông. Cá đớp ngay bên cạnh, cá đớp dưới sàn. Cá nổi trên mặt nước uốn lượn. Tôi khen cơ ngơi đẹp như tranh của ông giám thị mà bụng nghĩ: Không biết bao nhiêu mồ hôi của cánh phạm đã đổ để có được cảnh tiên này. Ông giám thị tươi cười:

– Tất cả những thứ này là mới có mấy năm nay thôi bác ạ, từ khi cháu về làm giám thị.

Ông kể lai lịch từng cây cổ thụ, lai lịch từng khu phong lan một cách đầy hào hứng. Ông gọi tên một người. Một anh tù bước tới đem bia đến. Nhìn dáng vẻ sợ sệt, đôi mắt luôn cụp xuống, không dám nhìn ai của anh, tôi không thể không nghĩ đến thân phận mình ngày trước và cảm thấy ngượng trước sự khúm núm của anh. Nhưng sau đó lại nghĩ ngay: Anh bạn này trúng số độc đắc. Phải là con nhà. Hoặc phải rất nhiều đạn mới được làm công việc thơm như thế này. Được là tù tự giác. Được bán tự do. Không phải đi lao động theo toán. Không phải làm công việc nặng nhọc.Và chắc chắn no!

Trọng giúp tôi, đề nghị với ông giám thị cho phép “ông bác” anh được vào trong trại tham quan. Anh làm ra bộ ngây thơ: Ông bác tôi từ lúc bước chân lên xe tới đây chỉ ao ước được vào tham quan trong trại một tí…

Ông T. ôn tồn giải thích cho tôi và Trọng nghe nguyên tắc tuyệt đối không cho người không có trách nhiệm vào khu giam giữ phạm nhân. Và nói với chúng tôi về những gì bên trong bốn bức tường quây kín cả một khu mênh mông kia mà lâu ngày tôi chỉ còn nhớ là phòng giam nào cũng có tivi…

Tôi nói:

– Trại Gốc Thị, trước đây cứ nghe nói trại Gốc Thị Kiến An, hôm nay tôi mới được thấy.

Ông giám thị chỉ ra một gốc cây ở giữa sân được xây quây chung quanh vuông vắn, có đặt nhiều bát hương:

– Gọi là trại Gốc Thị vì ngoài cổng trại có cây thị bác ạ. Gốc nó còn đấy.

Câu chuyện đang dở dang thì có mấy phụ nữ đến, trong đó có một người đã tới nhà tôi.

– Cháu chào bác ạ.

Chị N. người có công việc giao dịch với Hải Yến con gái tôi cách nay hai chục năm khi Hải Yến còn công tác ở Hải Phòng, con dâu một người bạn của vợ tôi. Cứ nghe cung cách N. nói chuyện với ông giám thị thì biết rằng họ rất thân nhau. Thật lạ. Sao N. lại quen biết cả những người trong cơ quan chuyên chính, không dính dáng gì đến việc làm kinh tế của mình như ông T. nhỉ. Mà lại thân mật thế. Có cái gì chung giữa họ đâu? Hay có cái chung mà mình không biết? Có vẻ như N. thuộc loại có thể quen và thân với bất kỳ ai cần thân quen. Có một số người như vậy. Quen được với tất cả.

Tôi xin phép chủ nhân đứng dậy đi tham quan phía ngoài trại giam và được ông vui vẻ đồng ý. Vẫn chỉ là những bức tường cao vút, và những bốt gác nhô lên ở những góc trại, vẫn là cánh cổng sắt khép chặt mà tôi cố nhìn vào bên trong nhưng chỉ thấy những bức tường im lặng. Tôi tần ngần nhìn ngắm gốc cây thị được xây gạch quây tròn xung quanh, bên trên xếp kín bát hương, những chứng nhân của biết bao đau khổ chia lìa, chết chóc.

Bỗng một hồi kẻng vang lên. Tiếng kẻng trong vắt ngân nga quen thuộc. Tôi hiểu ngay đó là kẻng gì. Đã tan tầm. Buổi lao động khổ sai đã chấm dứt. Tiếng kẻng đã bao lần giữa rừng sâu rã rời cả phần xác lẫn phần hồn, tôi chờ đợi nó cất lên. Để tự động viên đã vượt qua được một ngày. Và chuẩn bị đón một đêm, chuẩn bị vượt qua một đêm. Cho dù một ngày đêm qua đi chẳng có ý nghĩa gì với bọn tù tập trung cải tạo không án chúng tôi. Cũng giống khi viết văn trước đây, mong viết kín một tờ pơ-luya dù nó mỏng dính chẳng có mấy ý nghĩa đối với một quyển tiểu thuyết, nhưng nhiều tờ pơ-luya xếp lên nhau sẽ có một chiều dầy, chiều dầy ấy động viên tôi; trong tù, bọn án cao su chúng tôi cũng tự động viên: nhiều ngày đêm sẽ thành một chục ngày, nhiều chục ngày sẽ thành một trăm ngày, nhiều trăm ngày sẽ thành một nghìn ngày, nhiều nghìn ngày có thể sẽ thành một điều để các ông ấy bỗng nhiên nghĩ tới mình: Ờ cái thằng ấy tù cũng lâu rồi nhỉ…

Hôm nay tôi không chờ nữa, đã quên rồi tiếng kẻng bám vào cuộc đời ấy. Nhưng nghe tiếng kẻng tôi nhớ lại và chờ đợi. Nhìn về phía cổng trại giam chờ đợi. Và tôi đã thấy. Từ lối đi phía bên phải cổng trại, khuất sau một hàng cây, một toán người xuất hiện. Tất cả mặc quần áo kẻ sọc. Nền kinh tế của ta đã khá lên rồi! Không như chúng tôi ngày xưa nữa. Tù được mặc quần áo sọc, loại pyjama cổ điển([2]). Một đám tôi ngày trước hết giờ lao động được về trại. Không biết họ làm gì. Đi lao động ngoài trại chắc là chăn nuôi trồng trọt gì đấy thôi. Thì ra dáng đi của người tù thời nào, ở đâu cũng giống nhau. Họ đi hệt chúng tôi đi non nửa thế kỷ trước. Kéo lê từng bước như kéo lê cuộc sống. Lẽ ra họ phải phấn khởi mới đúng chứ. Tù Gốc Thị, tù Trần Phú là trúng số rồi! Gạo trắng nước trong. Không phải đến những nơi khỉ ho cò gáy, rừng thiêng nước độc. Nhà thường xuyên tiếp tế. Hẳn phải mất khá đạn mới được tù ở đây.

Tôi trở về “nhà thuỷ tạ” và nhận ở ông giám thị một thái độ khác hẳn. Không còn vẻ lịch sự tôn trọng của một người tiếp đón ông bác của bạn mình, anh của phó thủ tướng nữa. Vẫn ngồi nguyên một chỗ, ông khinh khỉnh nhìn tôi một lượt từ đầu đến chân. Một cái nhìn giễu cợt kéo dài không che giấu, đắc thắng vì đã lật tẩy được chân tướng một kẻ bịp bợm. Cái nhìn của người thợ săn nhìn con mồi thoát khỏi tay mình, nhởn nhơ ngoài tầm súng. Rồi nhếch mép cười với một vẻ rất bề trên, nụ cười của ông chánh giám thị nhìn một kẻ từng phạm pháp, từng bị đi tù, khoảng cách giữa hai người là vời vợi nghìn trùng:

– Bùi Ngọc Tấn…

Và gật gù:

Chuyện kể năm 2000.

Rồi:

– Từng trải đấy.

Ngừng một lát, lại tiếp:

– Nhưng phải thay đổi tư duy đi.

Tôi hiểu rằng mình đã bị lộ chân tướng. “Lộ Miêu và Duy Liên” như chúng tôi vẫn nói với nhau khi còn ở báo Tiền Phong, một cách gọi phim Romeo và Juliet thời mới tiếp quản. Tôi đã trở về với vị trí của tôi, trong cái nấc thang cuối cùng của xã hội. Một phó người. Hơn thế, một phó người man trá. Biết đã đặt Trọng vào một tình thế khó xử, tôi không dám nhìn sang anh nữa. Ông đại tá giám thị trẻ nhắc đi nhắc lại một cách rất bề trên câu: Thay đổi tư duy đi. Tôi cảm thấy mình bị xúc phạm nhưng cố giữ im lặng. Đây không phải là lúc dành cho một cuộc đối thoại giữa tôi và chính quyền, giữa một kẻ bị bắt oan bị đày ải suốt đời với một người chuyên nghề chuyên chính, nhốt giam người. Thay đổi tư duy nghĩa là thay đổi cái gì? Nếu nội dung tư duy tôi phải thay đổi là nơi ban giám thị nhà giam làm việc và tiếp khách giờ đây đầy hoa phong lan và phạm nhân được mặc quần áo kẻ sọc thì đúng nhưng đấy chỉ là sự thay đổi bề ngoài. Còn bên trong nó? Rộng hơn nữa là việc thực thi luật pháp, việc thi hành án. Gần nửa thế kỷ đã qua kể từ ngày tôi bị bắt, sinh hoạt nhà tù nhất định khác trước hiểu theo cả hai nghĩa xấu hơn và tốt hơn, nhưng tôi tin chắc rằng nhà tù hôm nay vẫn là nơi giam cầm đầy đoạ làm cho con người khiếp sợ với bao điều khủng khiếp mà ai bước vào đó vĩnh viễn không thoát khỏi nó. Vẫn còn đó nguyên vẹn nỗi đau khổ của người bị mất tự do một cách oan ức. Vẫn còn đó và còn nhiều hơn trước sự bất bình đẳng trước pháp luật, sức mạnh của đồng tiền trong xét xử, giam cầm, vẫn còn đó sự bất công tàn bạo trong việc quất lên đời người những ngọn rồi sắt chuyên chính của chế độ độc trị… Nhưng điều làm tôi thấy bị xúc phạm không hẳn là nội dung câu nói của ông — Ai mà chẳng phải đổi mới trong suy nghĩ để bắt kịp cuộc sống. Mà nằm trong cách nói đầy tự tin rằng mình đã thay đổi tận gốc chế độ nhà tù, nhất là giọng nói rất mệnh lệnh, rất quản giáo, rất giám thị của ông ta. Nhưng thôi, không cãi nhau ở đây. Mình là khách, lại còn Trọng nữa. Hẳn là cái chị N. có đến nhà tôi vài lần đang bia bọt cười nói trước mặt tôi đã nói với ông giám thị về tôi.

Ngay lúc ấy tôi chỉ muốn lên xe ra về nhưng còn Trọng. Và kìa thức ăn đã được đưa lên. Những anh tù phục vụ cúi đầu thu cái nhìn không quá phạm vi bàn chân mình. Rượu, bia đã được rót. Chúng tôi chạm cốc. Những người quanh bàn tiệc nhìn tôi như nhìn một kẻ lừa đảo đã bị vạch mặt. Tôi có cảm giác mình đã ngồi nhầm chỗ mà vì lý do nào đấy, ông chánh giám thị rộng lượng bao dung. Còn cái cô N. cùng đám phụ nữ bạn của ông giám thị thì vẫn chuốc bia nhau rất sành điệu. Một lần nữa tôi ngạc nhiên và bất ngờ trước sự giao tiếp rộng của họ. Bởi con gái tôi không có đứa nào như vậy.

Khi lên xe ra về, rõ ràng chúng tôi đã thoát được một tình thế lố bịch. Trọng bảo:

– Lúc bác đi quanh sân Gốc Thị thì cái cô quen bác cùng với tay T. đi về phía đầu ao cá, rồi lại trở lại. Chứ khi em ngồi ở đấy không thấy ai nói gì về bác cả.

Cuộc đi thăm Trần Phú thất bại, hay nói cho đúng hơn, chỉ đạt số phần trăm kết quả rất ít.

Nhưng chuyến đi thăm trại Q. thì vượt mong đợi. Tất cả là nhờ cô Vũ Thị Hải, người đại uý công an đã đến thăm tôi lần đầu tiên khi Chuyện kể năm 2000 vừa bị thu hồi tiêu huỷ cùng với hai quả dứa, một túi cam và cứ ân hận mãi là bà bán hàng hết dứa nên không mua được mười quả dứa cho tôi — để đúng với số lượng dứa tôi đã tạt trong tiểu thuyết.

Sau khi thăm tôi lần ấy, cô đại uý công an thường lui tới nhà tôi, vợ chồng tôi coi cô như một người em gái. Hải sinh năm 1969, bằng tuổi cậu con trai út của tôi, sinh khi tôi đã vào tù. Hải thân với tôi, gọi vợ chồng tôi bằng anh chị và khi thấy mọi người ngạc nhiên, Hải cười: “Anh Tấn hỏi mình mẹ em bao nhiêu tuổi, mình trả lời mẹ em kém anh ba tuổi.” Rồi cười vang.

Tôi rất quý Hải. Cô đã ra khỏi ngành công an, về làm phóng viên báo Văn Nghệ Trẻ rồi phóng viên báo Nông Thôn Ngày Nay và là sát thủ của các quan tham, những chuyên gia “ăn đất.” Vụ tham ô đất Đồ Sơn bị phanh phui từng làm xôn xao dư luận của cả nước có đóng góp rất lớn của Vũ Thị Hải. Không chỉ vụ đất Đồ Sơn, còn vụ đất Kiến An, rồi vụ đất Quán Nam… Đất — cũng như chữ — vốn dĩ không biết nói. Đất chỉ ngậm máu, ngậm mồ hôi, đón nhận xương thịt tổ tiên cha ông chúng ta đã mở mang, khai phá. Đất thấm máu và nhận thịt xương các liệt sĩ đã giữ từng tấc đất của cha ông. Đất đời đời im lặng, và đã có biết bao quan tham mọi nơi mọi chỗ, mọi cấp mọi ngành luôn mồm ăn đất và luôn mồm rao giảng về sự thiêng liêng của Đất, về truyền thống, về mồ hôi xương máu thấm đẫm từng xăng-ti-mét đất đai Tổ Quốc. Năm 2005 Vũ Thị Hải là nhà báo nổi tiếng nhất trong năm và được chương trình Người Đương Thời của truyền hình Việt Nam mời lên ghi và phát hình. Hàng triệu khán giả, những người chỉ đọc chị, nghe nói đến chị đã được trực tiếp nhìn chị và nghe chị trên màn ảnh nhỏ.

Tôi đã nhiều lần “khai báo” với Hải:

– Làm sao về được những nơi anh đã lang thang nhỉ? Trước khi chết thế nào anh cũng phải tìm cách trở lại những nơi ấy.

Hải hứa sẽ giúp tôi và đã thực hiện lời hứa đó.

Cuối năm 2006, một người bạn đã cho Hải mượn một chiếc xe bốn chỗ kể cả lái xe và ba chúng tôi, nghĩa là tôi, Hải và nhà thơ Vũ Thị Huyền lên đường đến trại Hoành Bồ — trại QN trong tiểu thuyết. Chúng tôi thẳng tiến về hướng Đông Bắc và dừng xe dọc đường, ăn sáng, uống cà phê đá Huyền mang theo. Tôi chỉ nhớ được một địa danh để hỏi thăm đường: Trại Đồng Vải. Vì trại đặt tại xã Đồng Vải nên còn có tên gọi như vậy.

Trên đường tới Đồng Vải có một cái tên quan trọng khác: Trới. Hình như đây là huyện lỵ của Hoành Bồ. Tôi đã nghe vợ tôi nhiều lần nhắc tới địa danh này trong những lần “hồi ký cách mạng” về những chuyến lên thăm tôi. Và tôi cũng đã một lần từ Đồng Vải đến Trới, khi chúng tôi đi gánh than trong rừng đổ lên ô tô để chở về trại. Vậy là xe chúng tôi cứ bon bon tới Trới, một địa danh khá phổ cập.

Chẳng biết cái thị trấn Trới thời tôi đi tù như thế nào nhưng bây giờ nó đã được ngói hoá, bê tông hoá, có nhà nghỉ, có khách sạn, có quán ka ra ô kê, có nhiều biển quảng cáo và nhiều xe máy, xe ô tô đi lại trên đường nhựa. Một chiếc cầu bê tông bắc ngang qua sông Trới, một dòng sông nhỏ trôi xuôi.

Nơi đây xưa kia là bến đò vợ tôi phải vượt qua mỗi lần lên trại thăm tôi. Vác chiếc xe đạp poóc-ba-ga nặng trĩu đồ tiếp tế, lội qua bãi phù sa vì nước ròng, con thuyền đỗ ghếch lên mép nước mãi xa, vợ tôi dưới bãi, ông lái đò trên thuyền cúi đỡ chiếc xe đạp lệch một bên vai nàng khi ấy mới ba mươi tuổi, đặt nằm trong lòng thuyền, rồi sau đó nắm chặt tay vợ tôi để vợ tôi đu lên, bàn chân bết phù sa trơn loạng choạng trượt trên ván thuyền. Sang bờ bên kia. Lại lội lại vác.

Mặt trời chiều đã khuất sau rừng. Trời tối dần.

Ông lái đò biết vợ tôi đang đến chốn nào, động viên: “Đạp nhanh không tối đấy.

Tôi chưa đi đò Trới. Chưa vượt qua sông Trới. Cái hôm đi gánh than ấy, chúng tôi được ra bờ sông Trới rửa mặt mũi chân tay. Dòng sông vẫn như hôm nay nhưng ngày ấy với chúng tôi là bao la, là mênh mông, là vô tận. Trời. Chiều. Mây. Gió. Nước. Suốt một ngày cuốc, xúc, gánh trong rừng âm u không một gợn gió, làm việc thở ra mang tai, gánh than kéo mình xuống dốc phăng phăng, thấy gốc cây bị chém vát nhọn, vẫn cứ quăng chân vào, không tránh được. Mồ hôi. Muỗi đói. Ruồi vàng… Thế rồi là dòng sông mênh mông. Khoảng không cao rộng trời xanh choáng váng. Nhìn xuôi dòng típ tắp chân trời. Lội trên phù sa xoai xoải. Cho nước ngập đến gối, cho sóng ôm lấy bắp chân, cho sóng vỗ quanh đùi. Cho ngón chân bấm xuống, tận hưởng cảm giác mình ngâm trong nước mát, mình mọc lên từ bùn đất phù sa.

Chưa hết. Trên đường về trại, một đồi sim ương ương bất ngờ hiện ra. Tất cả lao vào. Vặt. Nhai. Nuốt. Vừa vặt vừa kêu: “Vàng bò!” Khắp đồi vang lên những tiếng hò reo phấn khởi “vàng bò!” Đúng là sim chưa chín, mới vàng bò.

… Xe qua cầu và dừng lại. Để tôi đứng trên cầu chụp ảnh. Chụp ảnh nơi xa nhất tôi đã đi tới trong những ngày lao lý, nơi vợ tôi đã vượt qua trong những chuyến tiếp tế cho tôi. Hải, Huyền cùng chụp ảnh với tôi. Kỷ niệm của tôi cũng là kỷ niệm của hai em.

Xe lại đi. Đường nhựa mới làm rộng và phẳng.

Thỉnh thoảng lại dừng hỏi những quán bên đường.

Tất cả đều trả lời: Trại Đồng Vải vẫn còn. Thật mừng. Tôi chỉ lo người ta đã chuyển trại để xây dựng khu kinh tế.

Cách đây ba năm đã một lần tôi tưởng được gặp lại trại Đồng Vải. Một người bạn đã lái xe ô tô định đưa tôi về đó. Tôi đã đứng bên này cầu nhìn sang bên kia cầu Trới.

Đang là mùa mưa.

Bên kia cầu là bùn lầy, một con lạc đà sa xuống đó cũng biến mất tăm theo cách nói của Chingiz Ajmatov([3]). Hôm nay một con đường nhựa mới mở với bốn làn đường xe chạy. Tôi đã trông thấy rừng. Rừng “nhấp nhô uyển chuyển giăng hàng” gói trong lòng nó biết bao nỗi niềm, bao tâm sự. Rừng vĩ đại im lặng không đe doạ tôi nữa mà đang chờ gặp lại tôi để chuyện cùng tôi. Rừng che bộ đội rừng vây quân thù([4]).

Rừng đã che tôi suốt tuổi thiếu niên, tuổi trưởng thành thời chín năm chống Pháp và rừng đã vây tôi sau đó, khi tôi mới ngoài ba mươi tuổi, thời gian sung sức nhất, thời gian đam mê sống, mỗi giọt máu trong người đều căng tràn tình yêu lứa đôi, tình yêu cuộc sống và lòng quyết tâm thực hiện mơ ước của đời mình.

Nhưng tôi vẫn chưa nhận ra rừng của tôi.

Rừng để sống và rừng để chết của tôi!

Gần bốn mươi năm trước, lần đầu tiên từ Trần Phú về đây trên một thùng xe vải bạt che kín, nào nhìn thấy gì đâu bốn chung quanh. Chỉ có bụi đất đỏ cuộn lên phía sau xe, bám vào quần áo đầu tóc, mặt mũi. Và khi tới trại, nhận buồng, đặt nội vụ xong tôi được quẩy đôi thùng làm bằng gỗ thông ngược ra ngoài trại, xuống suối gánh nước về cho anh em rửa mặt. Thật là một đặc ân. Sau một chuyến đi dài, được ngâm chân dưới suối, rửa sạch chân tay, vốc nước suối mát lạnh lên cổ lên mặt đầy bụi mới dễ chịu làm sao. Nhưng khi gánh trên vai hai thùng nước leo ngược dốc trại, loạng choạng run bắn, nhiều lúc muốn khuỵu xuống. Ngơ ngác tự hỏi vì sao, hai thùng nước này mình vẫn gánh chạy băng băng mà không biết một năm rưỡi xà lim đã làm cơ bắp gân cốt nhão ra rồi.

Ngồi trên thùng xe phủ vải bạt không nhìn thấy chung quanh nhưng chắc chắn có một con đường đất đỏ, hai bên là cỏ may ngay dưới bánh xe lăn. Hôm gánh than gần Trới tôi đã đi và về trên con đường ấy. Khi được di lý về Trần Phú, tưởng sẽ được tha, ngồi ở thùng xe com măng ca Romania đít vuông, lại nhìn thấy những hàng cỏ may ven đường. Giờ đây tất cả là đường nhựa. Con đường nhựa này chạy đến đâu? Không thể nào từ trại tới Trới lại xa như thế. Hỏi. Dừng xe lại hỏi. Hỏi những người phá đá, xây đá ven đường. Hỏi ô tô công an biển số Hà Nội đi ngược chiều. Cuối cùng tìm thấy lối rẽ. Một lối rẽ nhỏ, bình thường ít ai để ý. Lộ ra con đường rất hẹp. Rải đá. Có hai vệt nhẵn dành cho người đi và xe lăn bánh. Hai bên là cỏ may. Đúng con đường mình vẫn nghĩ về nó. Nhưng sao không thấy núi đá bên trái, nơi toán lò vôi vẫn làm việc. Dòng suối sâu bên phải có lẽ là đây. Sao suối nhỏ thế, lòng suối sâu và cạn thế? Đúng rồi! Đúng là mình đang trở lại chốn xưa rồi! Dưới lòng con suối cạn vắng vẻ và bẩn thỉu bỗng hiện ra hơn chục người đàn ông đang trần truồng tắm. Chỉ có thể là một toán hết thời gian lao động, tắm rửa trước khi về trại. Chỉ “chúng tôi” mới tắm ở con suối cạn tới đáy này, mới trần truồng chen chúc ở một nơi hoang vắng như vậy.

Tôi reo lên, chỉ tay xuống suối:

– Ta đây rồi!!

Và bảo hai cô bạn:

– Chính hắn đấy. Các em đừng ló mặt ra. Bọn hắn trông thấy, lên đuổi là không thoát được đâu.

Nói vậy. Để tự trấn tĩnh mình. Mong ước của tôi đang thành sự thật. Bao nhiêu kỷ niệm ập đến đè lên tôi. Tôi vừa nhận ra vừa không nhận ra mảnh đất đã đầy đoạ tôi. Tất cả như một nơi hoang dại. Không có dấu vết của sự sống. Không còn ngọn núi đá bên này suối, nơi toán lò vôi vẫn xô thùng búa làm việc. Tôi bỗng nhớ đến Nguyên còn rất trẻ, tập trung hình sự, toán lò vôi, bị tai nạn khi nổ mìn phá đá hỏng một bên mắt, con mắt bị lép khiến khuôn mặt anh trông mới kỳ dị làm sao. Rồi nghĩ đến Lỷ Xìn Cắm, khi trên xe đưa mắt tìm cái nghĩa địa tù bên suối. Không còn. Nói chung chẳng còn gì cả. Cả nhà gặp mặt, nhà hạnh phúc, nơi tôi đã được gặp vợ 24 tiếng. Dòng suối cũng sâu thế này. Hai vợ chồng tôi kẻ trước người sau, lần từng bậc xuống suối, rửa rau vo gạo. Được nhìn người vợ nhỏ bé, hiền thục và đau khổ của mình chuẩn bị bữa cơm, rồi nhặt nhạnh củi nhóm lửa trong bếp, giữa rừng già, ngồi sát bên nhau, ôm nhau nghe lửa reo, chờ cơm chín, rau sôi…

Hạnh phúc đơn sơ làm sao, mong manh làm sao và đau đớn biết bao!

Xe đỗ ở cuối “con đường cỏ may Cạnh đó là chiếc cầu bê tông gẫy. Nối với “con đường cỏ may” là con đường mòn ven suối quanh co khuất sau rừng.

Tôi đã nhận ra! Tôi đã nhận ra tất cả! Dù đổi thay, dù đã gần bốn mươi năm, tôi đã nhận ra tất cả. Đúng. Đất này là đất của tôi. Trên đất này tôi đã từng chết trong khi sống. Chúng tôi xuống xe. Tôi bảo Hải, Huyền:

– Chính xác đây rồi các em ạ.

Tôi đứng nhìn bao quát bốn chung quanh và khẳng định lại một lần nữa điều mình đã khẳng định. Nhưng tất cả đều như nhỏ lại. Núi thấp hơn, rừng bớt thâm u hơn. Suối không còn là suối mà chỉ là rãnh nước đầy rêu. Chúng tôi đi làm qua cái cầu xi măng này, một cái cầu xi măng cốt thép mà đổ gục xuống suối, thế đấy. Chẳng cái gì chịu được thời gian. Sáng sáng chúng tôi vẫn qua chiếc cầu này để đi làm. Vậy là vườn rau nơi toán tăng gia chúng tôi suốt ngày lê la nhổ cỏ, gánh nước tưới ngay bên tay trái tôi. Tôi quay ngoắt lại tìm những luống rau đã thấm bao mồ hôi của tôi. Và hoàn toàn thất vọng, Những nơi trước đây là những luống rau muống được tưới ướt đẫm chạy sóng hàng hay mênh mông rau cải chớm trổ hoa chỉ còn là một khu đất hoang cỏ mọc rậm rịt cằn cỗi.

Ngược theo dòng suối này lên sẽ có một chỗ ngoặt. Ở đó có những tảng đá cuội lớn bắc ngang suối dẫn tới vườn trong, nơi tôi được làm chân coi vườn khi di lí về Trần Phú để được tha, nhưng rồi lại từ Trần Phú trở lại trại để rồi sống tới đáy tuyệt vọng của một kiếp người. Và con đường mòn từ một hẻm rừng xiên chênh chếch vào con đường xe chúng tôi vừa đi qua đã có một đàn bướm vàng bay, im lặng bay mất hút trong tán lá…

Tôi giảng cho hai cô bạn gái về “lý lịch” những mảnh đất chung quanh tôi, về con suối dưới chân cầu, nơi chúng tôi vẫn tắm giặt trước khi về trại. Thật không ngờ nước cạn chưa đến mắt cá chân thế này mà chúng tôi vẫn tắm được.

Bên kia cầu là sân cơ quan. Nhà mới xây to đẹp hơn, đàng hoàng hơn. Chúng tôi đi qua chiếc cầu gỗ mới bắc. Hải với vẻ tháo vát của một phóng viên xông xáo năng động, bước tới một buồng làm việc cửa mở rồi quay ra vẫy tôi và Vũ Thị Huyền. Đó là phòng làm việc của ông thượng tá phó giám thị. Lời đề nghị được thăm và làm việc của Vũ Thị Hải vấp ngay phải những nguyên tắc không thể đảo ngược mà ông thượng tá đưa ra. Nhưng Hải vẫn không hề tỏ ra bối rối:

– Em biết rồi. Tức là phải được sự đồng ý trực tiếp của anh…cục trưởng C26 chứ gì. Chúng em cũng không có ý định làm việc ngay hôm nay. Chẳng qua là chúng em đi qua đây và vào liên hệ với anh trước thôi.

Hải giải thích về sự thông thạo của mình: “Em ở báo An Ninh Hải Phòng mãi mà. Anh cho em xin số điện thoại để chuyến sau em ra thì gọi điện báo trước…”

Trong khi Hải ghi số điện thoại của ông giám thị, tôi nói vui:

– Cố lên Hải ạ. Đừng để sểnh mất mẻ này nhé. Con cá này to đấy.

Ông thượng tá hiểu rằng tôi đang nói đến chuyện tình duyên của Hải. Tất cả cùng cười. Không khí đã có vẻ thân mật, chan hoà. Khi Hải ngỏ ý được đi tham quan bên ngoài trại, ông giám thị ngần ngừ một thoáng rồi thân dẫn chúng tôi đi. Thế là tôi được bước những bước trên khu tử địa của tôi.

Cái sân khu cơ quan vẫn như trước và tôi nhận ngay ra nó khi nhìn thấy dẫy nhà làm việc cũ ở phía sau sát sườn núi. Vậy là “trại giam của tôi” ở phía bên kia, trên lưng chừng ngọn núi trước mặt kia. Nhưng sao không thấy nó? Tôi rất muốn đi về phía ấy, nhưng ông giám thị dẫn chúng tôi đi ngược dòng suối mà bên kia suối là con đường vào trại chúng tôi vừa đi qua. Tôi biết những gì đã tồn tại ở phía bên ấy, chỗ nào đã từng là nhà gặp mặt, nhà hạnh phúc, chỗ nào đặt máy phát điện. Và mãi tôi mới hiểu ra nơi ngổn ngang nguyên vật liệu xây dựng, đá hộc, sắt thép chúng tôi đang đặt chân lên đây là khu làm việc của các toán quản chế: mộc, rèn, may ngày trước. Giăng, Giả Phỉ, Dũng cốc, Dũng chầy, Minh ba đen, Tuất ba tai… ngày ngày tới đúng mảnh đất này.

Một cổng trại to lớn và một nhà tù với tường đá cao vút hiện ra trước mắt chúng tôi. Chúng tôi đi theo ông giám thị vào khu vực sẽ là trại giam. Một công trình đang xây dựng dở dang. Đã hoàn thành một khu buồng giam, có hàng rào sắt vây quanh và trên mảnh sân nhỏ phía trong hàng rào sắt tôi thấy một đám tù nhân đang ngồi gục đầu phơi nắng.

Chúng tôi xin phép chụp bức ảnh kỷ niệm ở cửa tam quan và được ông đồng ý. Rồi chúng tôi mời ông chụp ảnh với chúng tôi. Hải nói với ông:

– Anh đã ở đây hai mươi năm rồi cơ à? Em chia buồn với anh phải chịu “án chung thân”.

Tất cả cười. Đó là một sự chia xẻ với ông, với việc đã hai mươi năm ông sống tại chốn rừng sâu heo hút này và không biết còn ở đến bao giờ. Nhiều “ông quản giáo” trẻ cũng đã nhận ra Vũ Thị Hải. Họ bảo Hải:

– Em nhận ra chị rồi. Trên tivi. Trong chương trình Người Đương Thời.

Điều đó tạo thêm thuận lợi cho chúng tôi. Với lại chỉ có nơi chúng tôi vừa đến — một trại giam đang trong giai đoạn xây dựng và đã có một số ít tù nhân — là quan trọng. Còn tất cả là một con suối cạn, những cánh rừng vây quanh, và con đường độc đạo, không một bóng người, cả quản giáo lẫn tù nhân, chẳng có gì phải giữ gìn, cảnh giác. Chúng tôi đi chậm hay đi nhanh, ông giám thị cũng chỉ đứng một chỗ nhìn theo. — Tôi xin được nói ngay ở đây rằng ông thượng tá phó giám thị không có một lỗi nhỏ nào trong việc để chúng tôi đi men theo bờ suối và những khu đất hoang trong trại. Hơn nữa chúng tôi có đủ giấy tờ. Không có chuyện mất cảnh giác ở ông thượng tá.

Đã tới chỗ ngoẹo suối, nơi lòng suối rộng ra, sâu hơn, cầu rửa của nhà bếp, nơi mỗi năm một lần buộc lũ trâu già chờ giết thịt đón Tết. Suối cạn, rêu xanh, chiếc cầu gỗ bắc ngang suối để chúng tôi đi về không còn nữa, thay vào đó là một con đường đá vắt ngang như một cái đập nhỏ. Đúng là trại giam chúng tôi ở lưng chừng ngọn núi trước mặt rồi. Nhưng chỉ còn một chòi gác nhô lên rất cao vượt trên tán lá rừng là cái mốc để tôi định vị. Mà rừng ở đây cũng như tất cả rừng vây quanh không còn là rừng đại ngàn nguyên sinh uy nghiêm tuổi tác rêu phong ẩm ướt chằng chịt dây leo gai góc hăm doạ nữa. Rừng trồng. Một mầu xanh dịu của những cây keo đã trưởng thành đều tăm tăm. Đã biến mất hoàn toàn những tán rừng xanh thẫm của cành lá cổ thụ vươn lên, nhoai ra chen nhau nhấp nhô trên nền trời. Mấy chục năm qua người ta đã đủ thời gian để triệt hạ cả một dải rừng Đông Bắc. Nhưng tôi vẫn nhận ra cái dốc cao sau trại, cái dốc cao nhất, cái dốc cuối cùng trên đường gánh phân từ nhà bò trở về, một bên là vực sâu, một bên là hàng rào trại giam cao vút, tiếng chân lên dốc chạy gằn từ gót dội lên mang tai, mồ hôi dính áo, Lê Bá Di đã hào phóng tặng tôi một bãi phân trâu ở lưng chừng dốc bên kia.

Cái hàng rào vĩ đại quanh trại cũng không để lại dấu vết, cái hàng rào làm bằng những thân cây trồng ken sít nhau. Cũng phải thôi.

Gần nửa thế kỷ rồi còn gì. Bao nhiêu thời gian. Bao nhiêu mưa nắng… Lớp tù ngày ấy đến bây giờ còn sống những ai. Minh Ba đen. Hỉn Sán. Cắm Xìn. Voòng Kỷ Mình, Chí Lồng Sếnh, Tằng Sình Quay, Voòng Sình Hắm… Cái nhà kho. Mảnh sân vôi trước cửa kho nung nóng không kém chảo rang, chiều tháng Sáu hầm hập, mồ hôi từ cằm từ lông mày rỏ xuống sân, khô ngay. Tôi và Voòng Kỷ Mình ngồi xổm nhặt những hột lạc rơi vãi cho vào lọ. Kỷ Mình bảo tôi:

– Đi tập trung cải tạo khó lắm a Tấn à…

Có lẽ cái đám ấy chết gần hết rồi. Trừ Giả Phỉ, Minh Ba Đen là kém tuổi, bọn tập trung chính trị ([5]) đều hơn tuổi mình, chắc chẳng còn sống bao nhiêu. Ngay cả đám trẻ nữa. Như Đỗ Lương, như Giăng. Cũng đã chết rồi. Người chết trên biển khi vượt biên. Người chết khi ngồi ô tô đi chơi Đà Lạt… Chả biết đâu mà lường. Mình còn sống đến bây giờ là lãi rồi.

Đến được đây một lần. Toại nguyện.

Hải bảo tôi:

– Anh cúi xuống như là rửa tay ở chỗ nhà bếp làm thịt trâu đi. Để em chụp ảnh.

– Anh nhìn về phía vườn – trong để em chụp.

Tôi làm theo mọi “mệnh lệnh” của Hải rồi đứng lặng nhìn trời nhìn đất, nhìn rừng, nhìn suối. Bốn mươi năm. Cảnh xưa không còn, người xưa không còn. Một nỗi buồn dâng lên trong tôi. Những gì tôi ghi xương khắc cốt và quan trọng đến thế đối với cuộc đời tôi chỉ còn trong suy nghĩ. Thời gian đã xoá đi tất cả. Không như mình vẫn đến với nó đêm đêm.

Có lẽ tôi là người duy nhất trong số cả ngàn anh em tù ngày ấy hôm nay trở lại chốn này. Ngoài tôi, có ai biết cái nơi đã từng ngấm đắng cay đau đớn vào máu thịt mình, vào từng tích tắc đời mình thay đổi thế này không. Biến mất rồi rừng của tôi, buồng giam của tôi, trại tù của tôi, những bạn tù, những ông quản giáo, những ông giám thị của tôi. Biến mất rồi nơi xẩy ra cuộc chết của tôi và cuộc chết của biết bao người. Không một dấu vết còn lại để những người sống hôm nay biết và nhớ lấy. Gió vẫn thổi. Trời vẫn mây. Rừng vẫn xanh. Nhưng trời, mây, gió, rừng đều đã đổi thay, hơn nữa rừng gió trời mây đều không ký ức. Thời gian sẽ nuốt chửng tất cả. Những tốt đẹp và những thối nát. Những chân thành và giả dối lừa mị. Những tiếng cười đắng cay. Những hy vọng và tuyệt vọng. Thời gian đã nuốt nhiều người trong số chúng tôi và sẽ nuốt tất cả vào cái dạ dầy không đáy của nó. Mà cuộc sống của chúng tôi đáng được mọi người biết đến. Nó cần được lưu giữ trong ký ức cộng đồng như bao điều cần được lưu giữ trong ký ức dân tộc!

Thật may. Tôi cũng còn vớt vát được chút ít. Rất ít. Trong Chuyện kể năm 2000. Và mấy cái truyện ngắn. Nếu không có những trang giấy mỏng manh ấy, tất cả sẽ mất tăm. Hy vọng nó sẽ là một cái bong bóng nhỏ cùng với nhiều bong bóng khác nổi lên trên mặt hồ tĩnh lặng của ký ức dân tộc về một thời mọi người đều có thể bị biến đổi gien. Đứng bên cạnh tôi, Vũ Thị Hải khe khẽ.

– Em sẽ đưa anh lên Vĩnh Quang. Nhưng phải đợi đến mùa xuân…

Tôi nắm tay Hải thay lời cảm ơn.

Vĩnh Quang, một trại nữa đang chờ tôi trở lại.

*

Tám mươi tuổi, đường đời đã đến điểm cuối rồi.

Nhiều bạn hỏi tôi sao không làm tuyển tập.

Tôi có in nhiều đâu mà làm tuyển tập?

Năm quyển tiểu thuyết thì ba quyển bị tịch thu khi còn là bản thảo, một quyển bị cấm, chỉ có một quyển được in và phát hành bình thường.

Hai tập hồi ký đã gộp lại thành một rồi.

Mấy chục cái truyện ngắn đã tinh tuyển thành một tập Người Chăn Kiến chỉ 200 trang in thưa chữ, thưa dòng.

Ít ỏi, mỏng manh. Chẳng đáng kể gì.

Hơn thế, khối tuyển tập chẳng có ai mua. Nên sợ.

Với lại lấy đâu ra tiền?

Nhưng tuyển tập là sự tổng kết một đời văn cũng không thể bỏ qua. Thôi thì lấy mấy câu đánh giá của bạn đọc làm tổng kết.

Bùi Ngọc Tấn là một trong những gương mặt quan trọng nhất của văn xuôi hiện đại Việt Nam.

— Nguyễn Vĩnh Nguyên – Báo Sài Gòn Tiếp Thị

Ở thành phố Hồ Chí Minh người ta nói Hải Phòng có hai đặc sản là ếch và Bùi Ngọc Tấn.

— Thúy Nga – Báo Tuổi Trẻ

Văn chương Bùi Ngọc Tấn rất đẹp, theo lối khiêm nhường, và hẳn ông dùng sức mạnh của cái ngôn từ đặc sắc đó cho tính chân thực (một phẩm chất đòi hỏi hầu hết năng lực ngôn ngữ của mỗi nhà văn) để viết cho được điều ông tự yêu cầu chính mình ở đây khi viết về bè bạn: “Tôi muốn có bóng dáng thời đại chúng tôi đã sống trong những trang viết của tôi…”

— Nguyễn Chí Hoan

Một nhà văn của nhiều nhà văn

– Thể Thao Văn Hóa

Tôi tìm được chữ để định tính ông bạn của cô rồi:

Ông ta sáng ngời! Ông ấy biết nhập thân lột tả không chỉ một người tù (điều đó đối với ông ta không khó) mà cả một người gác tù, một gái điếm, một con chó.

Tôi có cảm giác ông ấy luôn tìm kiếm phần tốt đẹp nhất trong mỗi chúng ta…

— Thư Jean Claude Renoux, một bạn đọc Pháp

gửi họa sĩ Vũ Thị Quỳnh Hương

về tập truyện ngắn Une Vie De Chien, nxb Aube

Với lời văn đẹp đầy chất thơ, Bùi Ngọc Tấn đưa ta đến nơi mà chúng ta chưa bao giờ đến. Sau khi gấp lại tập sách, chúng ta đã thay đổi. Và cũng trở nên tốt hơn.

— Lời giới thiệu

Biển và Chim Bói Cá

bản tiếng Pháp – Nxb. Aube

Chuyện kể năm 2000 là một cuốn truyện mà người đọc không thể kể lại được, không tóm tắt được, thậm chí không trích dẫn được bởi vì nói về tự do thì có trăm nghìn cảnh sống đều làm người ta phải đau đớn về sự mất tự do như một bộ quần áo, một đôi guốc, một cái điếu cày, một nhánh rau thơm, một lời chửi rủa, mắng mỏ đều có thể mang ý vị của tự do hoặc nỗi uất nghẹn của mất tự do. Cho nên muốn thuật lại, thì chỉ có cách chép lại toàn bộ cuốn sách… Nhiều nơi, nhiều người có ý kiến là phải đem cuốn tiểu thuyết này đi ứng cử giải Nobel văn học. Tôi thấy không phải là không có lý…

— Trần Độ

Vợ em bảo em mua một bộ Chuyện kể năm 2000 gói kỹ cất trong tủ để sau này con em lớn lên đọc.

— Trần Đình Nam

trưởng phòng Văn Nghệ

nhà xuất bản Kim Đồng

Em cứ đọc (Chuyện kể năm 2000) là khóc. Cả nhà em phục nhất anh viết về nỗi đau nhưng vẫn tràn đầy một tấm lòng.

— Phạm Kim Dung

phóng viên báo Nhân Dân

Em có nhu cầu đọc hàng ngày. Lâu lâu không có quyển sách nào hay mới xuất bản, em lại lấy Chuyện kể năm 2000 ra đọc. Quyển tiểu thuyết của anh có cái thích là giở bất kỳ đoạn nào ra đọc cũng được.

— Trường Giang, phóng viên

báo Sài Gòn Giải Phóng

Đọc anh, em thay đổi nhận thức.

— Kỹ sư Quang, Vietnam Game

“Tôi cô đơn như một ngọn cờ. Trên đỉnh núi hoang vu đời tôi. Tôi vinh quang như một ngọn cờ. Trên đỉnh dốc gian nan đời tôi. Ngọn cờ khát khao. Ngọn cờ bão giông…”

— Lời một bài ca của Trần Tiến

do Trần Tiến hát tặng tôi

● Bây giờ người ta nói “bị bắt” là “chăn kiến” đấy chú ạ. Dân ngồi hàng nước toàn nói thế thôi. Thằng ấy thằng nọ chăn kiến rồi!

— Trần Đức Trí, nguyên tổng giám đốc

công ty Baikal

Tấn là người được chọn

— Đạo diễn Đào Trọng Khánh

Vân vân và vân vân….

Càng về già, thời gian càng trôi nhanh hơn.

Cô phóng viên Vũ Thị Hải vẫn sẵn sàng đưa tôi đến Vĩnh Quang, giúp tôi thực hiện ước mơ. Nhưng tôi biết tôi sẽ không bao giờ đến được Vĩnh Quang nữa. Trở lại Đồng Vải là đã đủ. Cũng đến thế mà thôi. Cũng là nhìn lại nơi đẫm tim óc, đẫm thần kinh máu huyết mình đã thành xa lạ. Bao nhiêu năm tháng rồi, hẳn không còn chiếc lán ở bìa rừng thời gian B52 rải thảm, nơi chúng tôi đã nghe Đỗ Lương chơi clarinette bằng mồm. Cũng không còn khu rừng có cây cổ thụ bốc cháy đỏ hồng, gió mùa đông bắc bóc đi từng mảng than tung lên cuộn xuống. Không còn Kiều Duy Vĩnh ngồi thiền, không còn Cân ngồi lần tràng hạt đối thoại trước Chúa. Và nhất là không còn Nguyễn Văn Phổ băm băm xới xới trong nắng hè oi bức, trên đường về trại chiếc gáo tôn hoa đầy nước luôn thõng một bên tay.

Tám mươi tuổi, nhiều điều không còn quan trọng nữa: Như chứng mất ngủ. Như sự mong đọc một tác phẩm ngang tầm thời đại, đậm đà bản sắc dân tộc. Đã delete ao ước một lần thấy công lý thực thi. Và cũng xóa luôn nỗi thèm muốn được nói thật, sống thật giữa những người nói thật, sống thật.

Còn câu của dân do dân vì dân từng ức chế thần kinh thì đã biến được thành một câu hài dù cố mấy cũng không nặn ra được nửa nụ cười.

— Ngã Sáu Hải Phòng, 12-2013

Năm có 13 cơn bão.

Năm kỷ niệm 45 năm bị bắt.

40 năm ra tù.

Xem lại lần cuối 9-2014

khi trong người có một khối u.

(Hết)

B.N.T.

([1]) Những tác phẩm của Makarenko, Liên Xô cũ, viết về công cuộc cải tạo thanh thiếu niên hư hỏng.

(2)Thời tôi còn ở xà lim Trần Phú, chỉ có Độ và những tù tử hình mới có quần áo sọc. Ngày xử án, Độ phải cho mượn bộ cánh ấy, “trong xà lim Độ đánh độc một cái quần đùi, ngồi như một con cóc cụ.

(3) Nhà văn Liên Xô cũ.

(4) Thơ Tố Hữu.

(5) Phần lớn là những người đi lính và làm việc cho Pháp.

(Xem tiếp kỳ sau)

 Bùi Ngọc Tấn

 

 

Giáo sư Võ Tòng Xuân: Một mùa tuyển sinh không tiền khoáng hậu

Tuyển sinh đại học, cao đẳng 2015 sẽ đi vào lịch sử giáo dục Việt Nam như là một cơn hãi hùng không những đối với thí sinh và phụ huynh ăn ngủ không yên, tốn bạc triệu đi tới đi lui xem kết quả tạm thời và chờ đợi rút hồ sơ…, mà còn đối với Hội đồng tuyển sinh của các trường cao đẳng và đại học phải làm việc không nghỉ.

VTC

GS.TS Võ Tòng Xuân

GS Võ Tòng Xuân hiến kế đổi mới tuyển sinh đại học, cao đẳng

Giáo sư Võ Tòng Xuân đã chia sẻ quan điểm sâu sắc về những bất ổn của mùa tuyển sinh đại học, cao đẳng 2015.

Chưa bao giờ có cuộc tuyển sinh lạ lùng nhất không thể tìm thấy nơi nào trên quả địa cầu này ngoài Việt Nam.

Tuyển sinh đại học, cao đẳng 2015 sẽ đi vào lịch sử giáo dục Việt Nam như là một cơn hãi hùng không những đối với thí sinh và phụ huynh ăn ngủ không yên, tốn bạc triệu đi tới đi lui xem kết quả tạm thời và chờ đợi rút hồ sơ…, mà còn đối với Hội đồng tuyển sinh của các trường cao đẳng và đại học phải làm việc không nghỉ.

 

Nhưng người ngồi không yên nhất có lẽ là Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo, vì đây là nguồn gốc của tất cả khó khăn.

Đây là hậu quả của cách quản lý tập trung quá cao độ, bất cứ một quyết định nào cũng phải do Cục này chấp thuận, không cho trường có chút sáng kiến nào.

Sự thay đổi cách tuyển sinh đại học, cao đẳng theo “ba chung” là một việc rất cần thiết mà xã hội mong muốn từ nhiều năm nay.

Sau cùng nhờ quyết định sáng suốt của Phó Thủ Tướng Vũ Đức Đam mà Bộ Giáo dục và Đào tạo phải đổi mới, soạn quy chế cho tuyển sinh đại học, cao đẳng 2015.

Theo đề nghị của nhiều chuyên gia giáo dục, sự đổi mới nằm trong mong muốn của Đại Hội Đảng Toàn quốc suốt trong ba nhiệm kỳ IX, X và XI, cần được cụ thể hóa theo một lộ trình rất lôgic nhưng đơn giản.

Khâu thứ nhất là tổ chức tốt nghiệp phổ thông: không nên tổ chức quá rườm rà, căng thẳng, tốn kém mà cuối cùng kết quả phần đông học sinh đậu tỉ lệ quá cao một cách rất vô lý, thay vào đó các trường THPT chỉ nên xét học bạ của từng học sinh, nếu không có môn nào rớt trong suốt thời gian học phổ thông thì cho họ Giấy Chứng Nhận Tốt Nghiệp THPT.

Không tốn kém bao nhiêu mà kết quả tương đương với tổ chức thi THPT Quốc Gia quá tốn kém về kinh phí và sức người tham gia như vừa qua.

Khâu thứ hai là xét tuyển vào đại học, cao đẳng: Mỗi học sinh đã có Giấy Chứng Nhận Tốt Nghiệp THPT phải có thêm một Giấy Chứng Nhận Đủ Trình Độ Vào ĐHCĐ do một Trung Tâm Khảo Thí cấp.

Trung Tâm Khảo Thí được Bộ Giáo dục và Đào tạo thành lập tại các cụm tỉnh khắp nước (có thể đặt tại một trường đại học của vùng).

Các Trung Tâm Khảo Thí này sẽ tổ chức thi lấy Giấy Chứng Nhận Đủ Trình Độ Vào ĐHCĐ mỗi năm 2 lần, dùng đề thi trắc nghiệm là chính, lấy từ bộ đề của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Mỗi thí sinh đến Trung Tâm gần nhà mình nhất đăng ký xin thi lấy Chứng Chỉ A, B, C, D… tùy ngành học mà họ hằng mơ ước.

Thí sinh có thể yêu cầu bao nhiêu bảng kết quả điểm thi thì đóng tiền bấy nhiêu, tùy họ muốn nộp đơn vào bao nhiêu trường để xin vào học.

Tâm lý của phụ huynh và thí sinh là muốn nộp đơn cho nhiều trường cùng có ngành học lý tưởng của họ, xác suất vào được một trường sẽ lớn hơn chỉ được nộp ở một trường.

Khâu thứ ba là nhập học: Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định một ngày nhập học cho tất cả thí sinh được nhà trường thông báo trúng tuyển. Đến ngày này, thí sinh nào không vào học theo Giấy Báo Trúng Tuyển của trường này thì cũng có nghĩa là thí sinh này đã chọn trường khác rồi.

Các thí sinh ảo sẽ bị loại ra một cách rõ ràng khỏi danh sách trúng tuyển đợt 1 này. Các trường không có đủ thí sinh trúng tuyển đợt 1, sẽ lấy tiếp những thí sinh có điểm thấp hơn kế tiếp, hoặc tuyển mới đợt 2.

Lộ trình đơn giản, rõ ràng như thế dễ thực hiện, không tốn thời gian và tiền của của phụ huynh và thí sinh.

Lộ trình này không cần những tập trung quyền hành quá đáng vào Cục Khảo Thí như quản lý điểm thi của từng thí sinh, buộc thí sinh chỉ nộp đơn vào trường theo NV1 và bắt phải chọn 4 ngành học khác nhau trong trường đó.

Điều này triệt tiêu ước mơ ngành học lý tưởng của thí sinh (đáng lẽ là cho thí sinh nộp đơn vào 4 trường có cùng ngành lý tưởng, thì nay Bộ lại bắt nộp vào 1 trường và phải chọn 4 ngành trong trường đó không hoàn toàn theo lý tưởng).

Đây là một quy chế rất sai lầm, phản khoa học, làm hại tương lai của thanh niên ta. Việc quản lý điểm thi của tất cả các thí sinh toàn quốc cũng là một sai lầm quá lớn.

Cục Khảo Thí sợ điểm bị lộ, phải sử dụng phần mềm của Bộ để giữ đến nỗi bị nghẽn mạch ngay trong mấy phút đầu; một thí sinh muốn rút đơn ra cũng quá khó khăn vì dữ liệu của mình chưa được xóa.

Tội nghiệp vô cùng cho các gia đình ở tỉnh lẻ đưa con vào TP.HCM hoặc Hà Nội, đi đi về về nhiều lần vẫn thấp thỏm, lo rút đơn mà không được.

Sự hỗn loạn này đã khiến Bộ phải ra thông báo chỉ thị thường xuyên, vì các trường không ai dám vi phạm quy chế, dù quy chế không hợp lý, hành hạ người dân.

Cuộc xét tuyển đại học, cao đẳng 2015 ở NV1 kéo dài gần 20 ngày mà chưa biết kết quả ra sao, cả xã hội đều lo sợ, phập phồng.

Cũng nên nói thêm một vô lý khác của Cục Khảo Thí là tuyên bố cho các trường nào muốn hưởng quy chế xét tuyển theo học bạ thì phải đăng ký để Bộ cho phép tuyển như thế.

Do đó nhiều trường “chạy” được sự đồng ý của Bộ, đã mạnh dạn quảng cáo trên báo chí: “Tại sao bạn phải lo lắng học thi THPT Quốc Gia làm gì? Hãy nộp đơn vào trường XYZ chỉ cần xét học bạ của bạn mà thôi.”

Nhưng rồi thì quyết định đó không áp dụng được vì quy chế mới là thí sinh phải có bằng THPT!

Chúng ta rất mong những nghịch lý trong quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng 2015 sẽ được thay thế bằng cách làm lôgic hơn để trong các năm tới học sinh Việt Nam và phụ huynh không trải qua một trận kinh hoàng như năm nay.

 

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình chụp ảnh với các sĩ quan quân đội tại Bắc Kinh. (Ảnh chụp từ trang web của Xinhua).

Trung Quốc thăng tướng cho 4 sĩ quan chống Việt Nam

   VOA Tiếng Việt 

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình mới thăng cấp thượng tướng cho 10 sĩ quan cấp cao của nước này, và 4 nhân vật trong số đó từng tham gia vào việc hoạch định các chiến dịch quân sự chống Việt Nam. Giới quan sát trong nước cho rằng Hà Nội cần phải lưu ý đề phòng việc thăng hàm này.
4 sĩ quan này là ông Lưu Việt Quân, 60 tuổi, người đứng đầu quân khu Lan Châu thuộc tỉnh Cam Túc; ông Triệu Tông Kỳ, 60 tuổi, người đứng đầu quân khu Tể Nam, tỉnh San Đông; ông Lí Tác Thành, 61 tuổi, người đứng đầu quân khu Thành Đô thuộc tỉnh Tứ Xuyên và ông Vương Ninh, 60 tuổi, người đứng đầu lực lượng cảnh sát vũ trang.
Việc phong tướng này diễn ra trong bối cảnh quân đội Trung Quốc đánh dấu 88 năm ngày thành lập, củng cố vị thế lực lượng quân sự lớn nhất trên thế giới.

Nhận định về đợt thăng cấp này, ông Dương Danh Dy, cựu quan chức ngoại giao hiện nghiên cứu về quan hệ Việt-Trung, nói:

“Quân đội Trung Quốc mấy chục năm nay không có chiến tranh rồi. Cho nên bây giờ Trung Quốc rất cần những anh có thực tế chiến đấu, đề bạt những anh đã kinh qua thực tế chiến đấu, đặc biệt là với Việt Nam. Những thằng mà đã chiến đấu với Việt Nam thì ít nhất là nó cũng hiểu quân đội mình hơn. Nó hiểu mình hơn những thằng khác. Đề bạt 4 thằng chống Việt Nam, chứng tỏ nó [Trung Quốc] coi trọng chuyện chiến đấu với Việt Nam sắp tới. Nó nhằm vào cuộc chiến đấu với Việt Nam. Đấy là điều mà Việt Nam phải chú ý”.

Đích thân ông Tập Cận Bình, người đồng thời là Chủ tịch Quân ủy Trung ương của Trung Quốc, tham gia buổi lễ phong tướng cho 10 sĩ quan cao cấp.

Báo chí Việt Nam cũng đưa tin về đợt thăng tướng tập thể này, nhưng không nhắc tới mối liên hệ giữa 4 trong số các tướng lĩnh này với cuộc xung đột với Việt Nam.

Tiến sỹ Nguyễn Nhã, người cũng nghiên cứu về quan hệ Việt – Trung, cho rằng việc phong tướng của quốc gia láng giềng của Việt Nam cho thấy một “chiến lược” nhất định. Ông Nhã nói:

“4/10 vị tướng mới đây, trong đó có những người họ cho là có công chống Việt Nam thì như vậy thể hiện chiến lược của họ rồi. Rất rõ rồi, chứ không còn mơ hồ gì nữa. Họ vẫn cho rằng là đối với Việt Nam thì phải xử, phải phát triển vấn đề quân sự, trong đó có vấn đề phong tướng. Đó cũng là hình thức để dằn mặt Việt Nam”.

Giới quan sát cho rằng động thái của Trung Quốc cho thấy rằng Việt Nam vẫn nằm trong tầm ngắm của Bắc Kinh, nhất là khi quan hệ giữa hai nước láng giềng vấp phải nhiều sóng gió thời gian qua.

Tán đồng ý kiến của ông Nhã, nhà nghiên cứu Dương Danh Dy cho rằng việc Việt Nam hiện nay là “đối tượng tác chiến của quân đội Trung Quốc là điều rõ ràng”. Ông nói:

“Đối với Nga hay Ấn Độ, nó [Trung Quốc] cũng có thể nghiên cứu. Nhưng trước mắt mũi nhọn của nó [Trung Quốc] là chĩa vào Việt Nam vì những chuyện như biển Đông, biên giới trên bộ hay nhiều chuyện khác nữa. Lúc nào có thể gây chuyện với Việt Nam là nó gây chuyện. Chiến tranh biên giới, lúc nào Trung Quốc muốn là cũng có thể gây chuyện với Việt Nam được. Còn với Ấn Độ, với Nga, với nước lớn, Trung Quốc phải tính toán.”

Trong tổ chức quân đội Trung Quốc hiện nay, thượng tướng là cấp hàm cao nhất. Ngoại trừ tướng Trương Sĩ Ba (63 tuổi), Hiệu trưởng Đại học Quốc phòng, 7 thượng tướng còn lại đều có tuổi đời nhỏ hơn ông Tập (62 tuổi). Hai người còn lại có cùng tuổi đời với Chủ tịch Trung Quốc.

Mới đây, tin cho hay, Trung Quốc đã yêu cầu Brazil giúp phát triển một chương trình chiến tranh du kích cho Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Hoa (PLA), Đại tá Alcimar Marques de Araujo Martins, chỉ huy Trung tâm Huấn luyện Chiến tranh Du kích Brazil cho biết:

Ông Alcimar cho tờ Janes’s Defence Weekly biết như vậy hôm 10/8. Theo tạp chí về quốc phòng này, PLA cảm thấy cần phải tăng cường khả năng mở chiến tranh du kích vì có đường biên giới dài, nhiều cây cối với các nước láng giềng như Việt Nam và Ấn Độ, hai quốc gia hiện có tranh chấp lãnh thổ với Bắc Kinh.

Đại tá Alcimar Marques de Araujo Martins được trích lời nói: “Họ đã yêu cầu chúng tôi cử người sang huấn luyện phát triển chương trình chiến tranh du kích ở Trung Quốc”.

Tuy nhiên, quan chức quân sự này không nói rõ là Bắc Kinh đã yêu cầu bao nhiêu người cố vấn và khi nào thì chương trình sẽ bắt đầu.
Trung tâm huấn luyện chiến tranh du kích của Brazil đã huấn luyện gần 6.000 binh sĩ, trong đó có 500 người nước ngoài, kể từ khi được thành lập năm 1965.

Dù chưa có con số thống kê cụ thể, chiến tranh biên giới Việt-Trung năm 1979 đã làm hàng chục nghìn binh sĩ ở cả hai phía bỏ mạng.

Quan hệ Việt Nam và Trung Quốc thời gian qua trở nên căng thẳng vì các hành động lấn lướt của Bắc Kinh ở biển Đông.

Mới đây, báo Kommersant có trụ sở ở Moscow cho rằng “quân đội Việt Nam đang chuẩn bị các lực lượng đặc biệt để có thể tấn công các cơ sở Trung Quốc trong khu vực”.

Bài báo viết rằng cũng như các cuộc diễn tập quân sự đã được quân đội Việt Nam tiến hành từ năm 2004 đã cho thấy, máy bay chiến đấu SU-22 của Không quân Việt Nam sẽ được dùng để phát động cuộc tấn công đầu tiên chống các mục tiêu trên biển bằng tên lửa không đối địa AS-10.
Các chiến đấu cơ này có thể tấn công các tàu hải quân Trung Quốc từ độ cao 2.500 tới 3.000 mét.

Việt Nam chưa lên tiếng thừa nhận hay phản đối các thông tin mà tờ báo của Nga nêu ra.

Nguồn: http://www.voatiengviet.com/content/trung-quoc-thang-tuong-cho-bon-si-quan-chong-vietnam/2922300.html

 

alt

Nhà thơ Hữu Thỉnh trao giải thưởng cho Nguyễn Ngọc Phú cuộc thi ĐÂY BIỂN VIỆT NAM

Nguyễn Ngọc Phú

  CON ĐƯỜNG THỨC

(Trường ca)    

(Kính tặng cán bộ, chiến sỹ đoàn tàu không số)

 QTXM: Bạn đọc thân mến. Nhà thơ Nguyễn Ngọc Phú, hiện là TBT Tạp chí Hồng Lĩnh thuộc Hội VHNT Hà Tĩnh là nhà thơ của biển. Sinh ra ở biển.Lớn lên từ biển. Thơ về biển của Nguyễn Ngọc Phú mặn mòi vị biển. Cuộc thi sáng tác về biển đảo năm 2012 có tên ĐÂY BIỂN VIỆT NAM do Hội nhà văn và báo VietnamNet tổ chức, Nguyễn Ngọc Phú được giải 2 với bài thơ TỔ QUỐC TA BA NGÀN CÂY SỐ BIỂN ( Cuộc đó NM được giả 3 với bài thơ NGHE TRẺ HÁT Ở TRƯỜNG SA). Cuộc thi thơ của làng Chùa (Hà Đông) năm 2014 Nguyễn Ngọc Phú  được giải nhất cũng với một trường ca về biển. Hôm nay, QTXM xin gới thiệu với bạn đọc trích đoạn trường ca CON ĐƯỜNG THỨC viết về đoàn tàu không số trong chiến tranh chống Mỹ với 396 câu thơ máu thịt, cuốn hút.Trường ca được giải 2 ( giải thưởng 50 triệu đồng)cuộc vận động sáng tác về đề tài Giao thông vận tải do Bộ GTVT và Hội Nhà văn tổ chức, vừa mới được trao giải. Mời bạn đọc cùng thưởng thức

***

Bạn ơi!

Sau bốn mươi năm thống nhất

Sau bốn mươi năm nước nhà không còn chia cắt

Không còn chia cắt đất đai

Không còn chia cắt lòng người

Không còn Cầu Hiền Lương gãy nhịp

Không còn gãy nhịp   câu hò… (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 19.08.2015

THĂM THẲM LỜI QUÊ

THĂM THẲM LỜI QUÊ

  Ngô Minh

Không hiểu sao tháng rồi tôi liên tục đọc những trang viết đầy những lời quê gan ruột. Nhà văn Nguyễn Đặng Mừng, người Triệu Phong, Quảng Trị sống ở Sài Gòn ra Huế tặng tôi tập truyện ngắn Bóng chiều hôm (NXB Hội Nhà văn,2009), viết đặc tiếng quê mùa Quảng Trị: miềng, tui, eng, ả, toóc, rạ, chạc, dợ, mô, tê, cươi, tréc keng, răng, rứa…Mừng kể chuyện đời thằng Thỉ, đời chị Mịn, đời chú Gàn, đời chú Rìu… bằng cái tiếng quê ấy, đọc mà rưng rưng. Câu chuyện nào cũng thảng thốt cái tình quê dân dã rất cuốn hút. Tôi là dân nửa Quảng Bình, nửa Quảng trị. Mạ tôi người làng biển Thử Luật, Vĩnh Thái, Vĩnh Linh, nên đọc cái lời quê ấy thật đã, nghe thăm thẳm chuyện đời. Người quê Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế nói giống nhau, cũng những từ chân quê ấy, chỉ khác là Quảng Bình, Quảng Trị nói giọng nặng lơn, còn Thừa Thiên thì lại thêm cái đuôi ng sau các từ như ăng, mầng…Mạ tôi ngày xưa thuộc nhiều ca dao tục ngữ lắm. Mạ có thể ru cháu suốt ngày bằng ca dao mà không lặp lại: Rồi mùa toóc rạ rơm khô /Bậu về quê bậu biết nơi mô mà tìm…Ru em em théc cho muồi/ Để mạ đi chợ mua vôi ăn trầu… (Đọc tiếp…)

Kim Trọng – Nhân vật văn chương vĩ đại của Nguyễn Du

Đinh Bá Anh

“Văn chương là tấc lòng gửi tới thiên thu vậy.”

(Lưu Hiệp)

Hồi bé tôi đọc Kiều và nhân vật tôi thích nhất là Vương Thúy Kiều – vì nàng đẹp và tài hoa. Tôi cũng tin vào sự diễn giải của các thầy cô giáo hồi đó, rằng Kiều là nhân vật được Nguyễn Du kí gửi nhiều tâm sự nhất, rằng Nguyễn Du đã mượn cuộc đời nàng để nói lên nỗi lòng của ông về thời thế, nhân tình. Nhưng theo thời gian, tôi tự hỏi, sao lại là Thúy Kiều? Tại sao một trí thức như Nguyễn Du lại tìm thấy hóa thân của mình trong một cô gái mười lăm tuổi? Đã đành mĩ nhân dậy thì là niềm cảm hứng khó diễn tả của không ít nhà văn nam – chuyện này vốn không có gì lạ và mới – nhưng các nàng thường chỉ là đối tượng gây cảm hứng, là căn cớ của nỗi niềm, chứ không phải hóa thân của họ. Cũng như Eva là đối tượng gây cảm hứng và gieo tội lỗi cho Adam, nhưng Adam mới là hóa thân của Thượng đế; Gretchen là đối tượng gây cảm hứng cho Faust, nhưng Faust mới là hóa thân của Goethe; Lolita là đối tượng gây cảm hứng cho Humbert Humbert, nhưng Humbert Humbert mới là hóa thân của Nabokov; Lâm Đại Ngọc là nỗi đam mê không bao giờ với tới được của Giả Bảo Ngọc, nhưng chính Giả Bảo Ngọc mới là người được Tào Tuyết Cần kí gửi tâm sự. Qui luật tâm lí vốn phổ biến như vậy, cớ gì Nguyễn Du lại ngược đời hơn các vị kia, lại tìm thấy hóa thân của mình trong Thúy Kiều chứ không phải trong một nhân vật nam nào khác?

Trong Đoạn trường tân thanh có một nhân vật gây cảm giác mờ nhạt, ít được phân tích, và chưa bao giờ được đánh giá đúng, đó là nhân vật nam chính: Kim Trọng. Nhưng theo thời gian, càng ngày tôi càng nhận ra rằng, không phải Thúy Kiều, mà Kim Trọng mới là nhân vật văn chương “ruột” của Nguyễn Du. Kim Trọng mới là nhân vật khó xây dựng nhất, được dụng công nhiều nhất, và những trường đoạn có Kim Trọng mới là những trường đoạn trừu tượng, sâu thẳm, đau đớn và bí ẩn nhất trong Đoạn trường tân thanh.

Kì thực, Kim Trọng là một nhân vật không thể nắm bắt. Xét về tính cách, ông không có nét gì nổi bật. Ông không ác như Mã Giám Sinh, không đểu như Sở Khanh, không đa tình như Thúc Sinh, không anh hùng như Từ Hải, không gian hùng như Hồ Tôn Hiến. Tất cả các nhân vật kia đều có một nét gì đó khác thường, trong khi Kim Trọng lại bình thường. Miêu tả cái khác thường thực ra không khó, và quả thực, một văn tài như Nguyễn Du chỉ cần phẩy vài nét là ra Sở Khanh hay Từ Hải. Do vậy, khen Nguyễn Du tài khi miêu tả Sở Khanh hay Từ Hải, Tú bà hay Hoạn thư, thì tuy đúng, nhưng tài thế chưa phải tài lớn. Cái tài lớn nhất của Nguyễn Du là tài miêu tả Kim Trọng.

Kim Trọng là nhân vật phức tạp nhất.Trong Truyện Kiều, có ba nhân vật là nho sinh: Vương Quan, Thúc Sinh và Kim Trọng, trong đó Vương Quan là một nhân vật phụ, chỉ có vai trò làm nền, còn Thúc Sinh là một anh chủ cửa hàng, ăn chơi, nhu nhược; duy có Kim Trọng được kể là người trí thức. Ông là người duy nhất đọc nhiều sách, có học vấn và văn bằng cao, vượt lên tất cả các nhân vật khác về tầm vóc, trí tuệ. Tất cả các nhân vật khác đều chỉ là những con rối giản đơn, mỗi con được lập trình để múa vài động tác đơn điệu theo tính cách thô sơ của chúng, trong khi Kim Trọng thì khác: ông là một con người, đầy mâu thuẫn, phức tạp. Chúng ta đều dễ dàng hình dung ra khuôn mặt của Mã Giám Sinh hay Từ Hải – một tên tội phạm mày râu nhẵn nhụi, một người anh hùng hàm én mày ngài – nhưng chúng ta không bao giờ có thể hình dung ra khuôn mặt Kim Trọng.

Thế nhưng đoạn thơ miêu tả Kim Trọng lại là đoạn thơ miêu tả nhân vật dài nhất trong Truyện Kiều. Chúng ta hãy cùng đọc một lần, thật chậm rãi:

Dùng dằng nửa ở nửa về,
Nhạc vàng đâu đã tiếng nghe gần gần.
Trông chừng thấy một văn nhân
Lỏng buông tay khấu bước lần dặm băng.
Đề huề lưng túi gió trăng,
Sau chân theo một vài thằng con con.
Tuyết in sắc ngựa câu giòn,
Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời,
Nẻo xa mới tỏ mặt người,
Khách đà xuống ngựa tới nơi tự tình.
Hài văn lần bước dặm xanh,
Một vùng như thể cây quỳnh cành dao.
Chàng Vương quen mặt ra chào,
Hai kiều e lệ nép vào dưới hoa.
Nguyên người quanh quất đâu xa,
Họ Kim tên Trọng vốn nhà trâm anh.
Nền phú hậu bậc tài danh,
Văn chương nết đất thông minh tính trời.
Phong tư tài mạo tót vời,
Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa.

Người quốc sắc kẻ thiên tài,
Tình trong như đã mặt ngoài còn e.

Chúng ta thấy gì? Một đoạn thơ lê thê, không có câu nào gây ấn tượng? Kim Trọng được miêu tả từ xa đến gần. Từ tay, lưng, chân, áo, giày. Từ cưỡi ngựa, xuống ngựa, đi, đứng. Không có nhân vật nào trong Truyện Kiều được dành cho một đoạn miêu tả dài đến thế, mà rốt cuộc người đọc vẫn thấy bối rối, vẫn không thể hình dung ra khuôn mặt, tính cách nhân vật. Chúng ta có cảm nhận về sự sáo rỗng? Dường như là có. Có cái gì đó cứ bị đẩy vống lên, phóng to ra: nhà trâm anh, nền phú hậu, bậc tài danh, văn chương nết đất, thông minh tính trời, tài mạo tót vời, phong nhã, hào hoa, thiên tài… nhưng ta vẫn thấy thiếu một cái gì đó, thiếu một nét mày, một sắc mặt, một cái gì đó có thực để ta tin được. Chúng ta có cảm nhận được sự châm biếm kín đáo trong đoạn thơ đó không? Dường như cũng có. Những câu chữ như “đề huề lưng túi gió trăng”, “nguyên người quanh quất đâu xa”, “phong tư tài mạo tót vời”, “gặp tuần đố lá thỏa lòng tìm hoa”… dường như không đơn nghĩa. Đó là một cảm nhận gây khó chịu, vì thực ra – khác hẳn ở những đoạn miêu tả các nhân vật khác – ta không thể xác quyết được thâm ý của Nguyễn Du. Ta không thể biết chắc chắn Nguyễn Du muốn nói gì.

Nhưng bây giờ, ta hãy thử đọc Kim Trọng trong một tinh thần mới. Ta hãy không nhìn Kim Trọng như một nhân vật chính diện cổ điển, một chính nhân quân tử đơn thuần nữa. Ta hãy nhìn ôngnhư một con người – theo nghĩa hiện đại, và ta hãy thử diễn giải đoạn thơ trong tinh thần mới đó.

Ta sẽ thấy, đoạn thơ trên là một trong những đoạn thơ đầy ẩn ý kín đáo. Nó bắt đầu bằng một trạng thái “trông chừng”, một trạng thái lưỡng lự, một trạng thái không rõ ràng, một trạng thái thiếu xác quyết. Đó là trạng thái căn bản của Kim Trọng, và đó cũng là trạng thái căn bản của con người. Kim Trọng có phải một người xấu không? Dĩ nhiên là không. (Nếu Kim Trọng là người xấu thì việc miêu tả ông đã rất dễ.) Nhưng Kim Trọng có phải một người tốt không? Đó là câu hỏi để ngỏ. Đoạn thơ có gì đó sao sáo, mai mỉa, nhưng dường như lại không phải thế, bởi nếu Nguyễn Du miêu tả bằng một nét nào đó để người đọc nhận ra ngay là ông có ý châm biếm, thì Kim Trọng sẽ bị tiếp nhận như một nhân vật phản diện – mà thế thì lộ liễu quá, và hiển nhiên đó không phải dụng ý của Nguyễn Du.

Kim Trọng vẫn là nhân vật chính diện. Ông không xấu. Ông không làm gì sai. Tất cả những gì ông làm đều hợp lí, đều phải đạo. Bí mật lớn nhất của ông – đây trước hết là cái tài dựng chuyện của Thanh Tâm Tài Nhân, mà Nguyễn Du hẳn phải nhận ra –  là ông luôn được đặt vào những tình huống không phải hành động. Tất cả các nhân vật khác đều bị xô đẩy đến những hoàn cảnh buộc phải đưa ra quyết định, buộc phải hành động, buộc phải chấp nhận sự phán xét đạo đức: xấu tốt, hay dở, đúng sai, phải trái. Thúy Kiều buộc phải bán mình để có tiền cứu cha. Nàng chấp nhận hi sinh hạnh phúc cá nhân để giữ đạo hiếu, điều mà theo nàng là một việc phải làm, và hành động của nàng được xã hội phán xét là hợp đạo lí. Mã Giám Sinh, Sở Khanh là những kẻ sống bằng nghề buôn người, lừa đảo, họ làm việc theo hợp đồng của Tú bà, họ chấp nhận bị phán xét là kẻ xấu. Thúc Sinh đa tình mà sợ vợ, nên khi phải lựa chọn đã chấp nhận giữ vợ, phụ tình, cũng là một lựa chọn tai tiếng. Từ Hải anh hùng, một phút sa cơ mà phải chết đứng vì hận. Hồ Tôn Hiến gian hùng, phút say rượu có chút mềm lòng trước nhan sắc của Kiều, nhưng tỉnh dậy đã mau chóng sửa chữa. Tất cả họ đều là những con người hành động, bị xô đẩy đến hành động, và phải chấp nhận cái giá (đạo lí) của hành động. Riêng Kim Trọng thì không. Ông nằm ngoài các biến cố. Khi Kiều phải bán mình chuộc cha thì ông đang ở quê chịu tang – một lí do hết sức chính đáng, không ai trách ông được. Nhưng cứ giả sử lúc đó ông ở đó, thì ông có thể làm gì? Thanh Tâm Tài Nhân đã có câu trả lời rất rõ ràng, tôi sẽ phân tích kĩ ở bên dưới. Nhưng Nguyễn Du thì dứt khoát không cho chúng ta câu trả lời. Chúng ta chỉ biết, theo một cách kì lạ nào đó, Kim Trọng luôn tránh được những tình huống khó xử, những tình huống có thể khiến ông mất mặt. Danh dự của ông không bao giờ bị thách thức. Kim Trọng có hèn không? Chúng ta có cảm giác là ônghèn, nhưng bằng chứng đâu? Ông hèn khi nào? Không khi nào cả. Ông luôn hành động hợp đạo lí, tùy thời, tùy cảnh. Khi trở lại, biết Kiều phải bán mình, ông cũng đau khổ (Tỉnh ra lại khóc, khóc rồi lại mê) – thì đó cũng là một biểu hiện tình cảm bình thường. Rồi ông đi tìm Thúy Kiều khắp nơi – cũng là một hành động bình thường. Và khi không tìm được Kiều, mà đã đến tuổi lấy vợ, nghe mọi người khuyên nên lấy Thúy Vân, ông cũng thấy thế là hợp lí. (Đương nhiên! Không lẽ ông sống độc thân, và để Thúy Vân – vốn được Kiều ủy thác mối tâm duyên – trở thành bà cô già?). Rồi khi đỗ đạt, làm quan, đúng lúc quân phản loạn (Từ Hải) bị dẹp, trời yên, biển lặng, tìm lại được Thúy Kiều, ông cũng vì tình mà muốn nối lại duyên cũ, song khi thấy Kiều gạt đi thì ông cũng thấy thế là phải. Có thể thấy, Kim Trọng không bao giờ hành động tự thân, hành động theo một chủ định có sẵn, mà luôn hành động theo tình huống, tùy phản ứng của người khác mà nương theo, thấy sự việc có vẻ hợp lí thì thôi, chứ không cố đẩy sự việc theo một hướng nào đó. Như vậy, thực tế là ông không hành động.

Những nét miêu tả trên đây về Kim Trọng là những nét thô sơ. Nó mang lại cảm nhận rằng Kim Trọng là một nhân vật tự thân nhu nhược, vừa yếu về tính cách, vừa không có tài cán gì. Nhưng nếu chỉ có vậy thôi thì Kim Trọng có khác gì các nhân vật thô sơ khác như Sở Khanh hay Từ Hải, cũng chỉ là những tính cách nghèo nàn, đơn điệu, chứ sao lại là một nhân vật văn chương lớn được? Kim Trọng của Nguyễn Du, dĩ nhiên, không đơn giản như vậy. Nếu Thúy Kiều là con người của bản năng, con người dấn thân, con người trải nghiệm và cất lên tiếng nói từ những trải nghiệm của mình, thì Kim Trọng – một đối trọng của Thúy Kiều – là con người của lí trí, con người khách quan, con người quan sát và bình luận. Đó là vị trí của Kim Trọng trong Đoạn trường tân thanh, vị trí của người trí thức trong xã hội tôn sùng quyền lực, một vị trí dễ gây cảm giác nhẫn nhục, nhưng vẫn là một vị trí mà những phân tích bên dưới sẽ chỉ ra rằng theo Nguyễn Du là tuyệt đối cần thiết, để xã hội không bị rơi về trạng thái mọi rợ. Vị trí của Kim Trọng trong Đoạn trường tân thanh chính là vị trí của nho sĩ Nguyễn Du trong xã hội đương thời, và đó là lí do tôi nói rằng, Kim Trọng mới là hóa thân của Nguyễn Du, là nhân vật được ông trao gửi những tâm sự thầm kín nhất.

Kim Trọng của Nguyễn Du trong Đoạn trường tân thanh được thể hiện ở hai bình diện. Thứ nhất là ở bình diện nhân chứng, bình diện người quan sát. Trái với Kiều, bản thân Kim Trọng không phải tự mình trải qua những biến cố đau khổ, nhưng ông là người phải chứng kiến, nhìn thấy, nghe thấy. Người trải nghiệm nỗi khổ thì khổ, đã đành, nhưng người phải chứng kiến người thân yêu chịu khổ mà không làm gì được thì sao? Đối với Nguyễn Du, câu trả lời dứt khoát như sau:

Nỗi nàng tai nạn đã đầy,
Nỗi chàng Kim Trọng bấy chầy mới thương.

Vì sao lại “mới thương”? Vì phải về Liêu Dương chịu tang chú, hay vì phải chia tay người yêu? Tất nhiên là không, mấy việc đó thì có gì mà đáng thương. Mà bởi vì trông thấy nỗi đau của người khác.

Đó là hai câu thơ không có ẩn ý, hai câu thơ đơn nghĩa, nhưng vẫn là hai câu thơ kì lạ bởi tính quyết đoán của nó: Kim Trọng đáng thương hơn! (Đến đây, chúng ta hãy nhớ lại câu thơ thứ tư trong Truyện Kiều: “Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.” –  Đau lòng vì trông thấy nỗi khổ.)

Để làm rõ chủ ý của Nguyễn Du trong việc biến Kim Trọng trở thành con người quan sát, con người đứng bên ngoài sự kiện, ta cần một nghiên cứu so sánh văn bản giữa Kim Trọng của Thanh Tâm Tài Nhân với Kim Trọng của Nguyễn Du, bởi nhận định mà không căn cứ trên văn bản thì chỉ là nhận định võ đoán. Tuy nhiên, việc đưa một phân tích văn bản chi tiết vào đây sẽ làm phá vỡ bố cục bài viết, nên tôi chỉ giới hạn ở những nhận định tổng quát và chứng minh bằng vài ví dụ.

Đọc đối chiếu Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, ta thấy rằng, về cơ bản, Nguyễn Du bám sát cốt truyện gốc. Dĩ nhiên ông có lược đi, rút gọn hoặc thay đổi những chi tiết. Việc tìm kiểu kĩ các chi tiết bị thay đổi này có thể cho chúng ta có một hình dung xác thực hơn về sáng tạo của Nguyễn Du. Chính ở điểm này, tôi có thể nói rằng,trong khi ở các nhân vật khác, việc chỉnh sửa chi tiết không làm thay đổi bản chất nhân vật, thì riêng ở Kim Trọng, Nguyễn Du đã tạo ra một nhân vật khác về chất so với nhân vật của Tài Nhân.

Trong Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Kim Trọng được khắc họa như một chính diện quân tử, một Kim Thiên Lí tự tin, mạnh mẽ, thậm chí còn có đôi nét macho. Ông là đại diện cho lớp người được tôn trọng nhất trong xã hội Nho giáo, những người không chỉ tự tin rằng mình nắm giữ lương tri và tri thức, mà đồng thời còn luôn sẵn dũng khí và sức mạnh để “thế thiên hành đạo”. Kim Trọng của Tài Nhân luôn biết mình muốn gì, và luôn chủ động hành động để đạt được mục đích. Thế nhưng trong Đoạn Trường tân thanh của Nguyễn Du, tất cả những nét mạnh mẽ, quyết đoán đó của Kim Trọng đều bị tước đi, thay vào đó là những phản ứng tình huống, bị động. Kim Trọngcủa Tài Nhân được miêu tả với những nét khá cụ thể: một người học trò con nhà giàu họ Kim tên Trọng, tự là Thiên Lí, sinh ra trạng mạo giống Phan An, văn tài ngang Tử Kiến, tổi trạc đôi mươi,…”, và khi lần đầu gặp Thúy Kiều và Thúy Vân, thấy hai nàng đều xinh đẹp, Kim Trọng đã thề với lòng: “…Mình mà không được hai nàng này làm vợ thì suốt đời sẽ chẳng lấy ai.” (Ngay khi gặp lần đầu, Kim Trọng đã muốn lấy cả hai nàng làm vợ! – một ý muốn đầy nam tính và không sai trái theo đạo đức Nho giáo.) Sau những ngày dài mơ tưởng, đến khi gặp Thúy Kiều lần hai, vừa hấp tấp chui qua lỗ hổng để sang nhà nàng, Kim Trọng đã vội “bước lại ôm chầm lấy Thúy Kiều” (chi tiết này bị Nguyễn Du cắt bỏ). Tất cả những chi tiết, tuy có suồng sã, nhưng mạnh mẽ trong hành động của Kim Trọng đều bị Nguyễn Du chủ ý tước đi, thay vào đó là những cử chỉ, lời nói cao nhã, khiêm cung, yếm thế. Kim Trọng của Tài Nhân không chỉ là người có dung mạo đẹp, kiến thức thâm hậu (“trạng mạo giống Phan An, văn tài ngang Tử Kiến”), mà còn là người cưỡi ngựa, đeo kiếm. Chi tiết Kim Trọng dùng “thiết như ý” luôn mang sẵn bên người để khoét tường sang nhà Thúy Kiều, một chi tiết tuy nhỏ nhưng cũng đủ làm nên chân dung “văn võ” của Kim Trọng, cũng bị Nguyễn Du cắt bỏ.

Ở trên tôi đã đặt ra câu hỏi, giả sử Kim Trọng có mặt lúc Thúy Kiều gặp gia biến thì ông có thể làm gì? Tài Nhân đã có câu trả lời rõ ràng và mạnh mẽ trong một đoạn dài ở hồi thứ tư (trong số 20 hồi) của Kim Vân Kiều Truyện, nhưng cả đoạn nàyđã bị Nguyễn Du bỏ hẳn. Đó là đoạn đêm trước Kiều chuẩn bị kí giấy bán mình, nàng đã nằm mơ thấy Kim Trọng hiện ra cứu nàng. Trong giấc mơ đó, Kim Trọng mang phong thái của một vị cứu tinh quả cảm. Nghe kể chuyện gia đình Kiều gặp nạn, chàng nói: số tiền ba trăm lạng tôi xin xuất hộ, không việc gì phải theo đi với người phương xa”. Rồi,“nói xong, lấy ngay số bạc đặt lên bàn”. Quả là phong độ của một trang thiếu hiệp con nhà giàu! Ngay sau đó, vẫn trong giấc mơ, Kim Kiều “làm lễ thành hôn,… đưa vào động phòng”.

Tôi xin trích ra đây một đoạn khá dài những gì xảy ra sau đó:

“… Bỗng thấy người xem mặt ấy [người của Mã Giám Sinh] chỉ huy bọn hung đồ xông vào tận phòng bắt Thúy Kiều đem đi. Phía sau Kim Trọng đem người đuổi theo. Người ấy đẩy Thúy Kiều lên lưng ngựa, rồi giơ roi hét lớn. Ngựa chạy như bay, dần dần không thấy bóng người. Thúy Kiều bụng bảo dạ: ‘Ngựa chạy thế này, chàng Kim đuổi sao kịp. Ta phải nắm lấy một vật gì, nhảy xuống đợi chàng‘. Liền giơ tay túm lấy một cành cây, giữ chặt không buông. Con ngựa thoát ra chạy miết. Thúy Kiều vừa toan nhảy, nhưng nhìn xuống, thì dưới đất không phải chỗ đất bằng, mà là một hố lửa rất lớn, khói bốc ùn ùn, lửa bay ngùn ngụt, lửa bốc lên cháy cả thân cây. Thúy Kiều sợ hãi, mất cả hồn vía. Bỗng trên cây có một khối lửa to bằng cái đầu, nhằm thẳng mặt Thúy Kiều văng vào. Thúy Kiều hét lên một tiếng lớn: ‘Tôi chết cháy mất thôi!‘ Giật mình tỉnh dậy, thì là một giấc mộng. Chỉ thấy một ngọn đèn hiu hắt, nước mắt chảy quanh, chẳng thấy Kim Trọng đâu cả, chỉ có Thúy Vân nằm bên mình…”.

Ta phải đặt ra câu hỏi: Tại sao Nguyễn Du cắt đi cả một đoạn văn dài đó? Cắt đi cả một giấc mơ trong số những giấc mơ quan trọng của Thúy Kiều? Nếu xem xét kĩ, ta thấy đây là một việc cự kì bất thường. Ta biết Nguyễn Du đã lược hai đoạn dài trong Kim Vân Kiều Truyện, là đoạn Tú bà dạy Kiều nghệ thuật lầu xanh và đoạn Kiều báo ân báo oán; rồi đoạn Thúy Kiều mặc cả bán thân, hay một số đoạn dài dòng khác cũng bị ông lược đi. Ta hiểu tại sao ông làm thế. Nhưng ở những đoạn đó, Nguyễn Du cũng chỉ lược, rồi tóm tắt lại trong một hai câu, chứ không bỏ hẳn, bởi nếu bỏ hẳn thì câu chuyện sẽ bị đứt đoạn. Vậy tại sao Nguyễn Du lại cắt đi hẳn một đoạn dài miêu tả giấc mơ của Thúy Kiều, trong đó nàng mong Kim Trọng hiện ra cứu mình? Xét về mạch diễn biến tâm lí thì điều này lại càng bất thường. Ngay cả trong những bộ phim tâm lí xuất sắc hôm nay thì cảnh người gặp nạn, khi đến bước đường cùng, không biết bấu víu vào đâu, mơ thấy cứu tinh hiện ra vẫn thường được đạo diễn sử dụng, và vẫn luôn gây được hiệu ứng cho người xem. Trong Kim Vân Kiều Truyện cũng có nhiều giấc mơ, ví như những giấc mơ Thúy Kiều gặp Đạm Tiên hay Giác Duyên. Giấc mơ Kiều gặp Kim Trọng cũng rất có ý, một mặt, nó vừa phản ánh tâm lí của một cô gái gặp bước hoạn nạn, mong người yêu hiện ra cứu mình, mặt khác, do giấc mơ bị dập tắt phũ phàng, nó khiến Kiều càng thêm tin vào định mệnh rằng kiếp này nàng không thể sống được với Kim Trọng. Một chi tiết quan trọng hơn nữa trong giấc mơ đó là cảnh hai người “làm lễ thành hôn,… động phòng”, đây thậm chí có thể coi là một chi tiết chìa khóa trong câu chuyện. Ta hiểu rằng, cái quan trọng nhất đối với Thúy Kiều sau chữ hiếu là chữ trinh, bởi vậy, Tài Nhân đã cho nàng cơ hội trao chữ trinh cho Kim Trọng. Cho dù việc trao gửi đó chỉ diễn ra trong giấc mơ, nhưng ta phải hiểu rằng, đối với Thúy Kiều thì nó là “thật”. Cái chữ trinh – giá trị nhân phẩm cao nhất, biểu tượng ẩn dụ cho tâm hồn nàng, nàng đã trao cho Kim Trọng rồi, giờ chỉ còn cái xác phàm, nàng có thể phó mặc cho Mã Giám Sinh. Việc Nguyễn Du cắt hẳn đoạn văn này của Thanh Tâm Tài Nhân, ngoài việc khiến tác phẩm bị đứt đoạn (mất đi một chi tiết có tính mắt xích tâm lý quan trọng bậc nhất: lí do khiến Kiều cảm thấy được an ủi cho quyết định bán mình), nó còn tạo ra một cáo trạng (gián tiếp) cho sự bất tài vô dụng của Kim Trọng. Đây cũng là một đoạn văn kịch tính, miêu tả một cảnh chia li đau đớn trong mộng mà Nguyễn Du hoàn toàn có thể dùng văn tài của mình để viết ra vài chục câu thơ diễm lệ. Nhưng, bất chấp các lí do đó, tại sao Nguyễn Du làm vậy? Ta chỉ có thể giải thích rằng, nó nằm trong cả một chiến lược: Tước bỏ hoàn toàn khả năng hành động của Kim Trọng, ngay cả trong giấc mơ của Thúy Kiều!

Thay vào đó, ông đẩy màn mở đầu cho đoạn đời lưu lạc của Thúy Kiều đến độ khốc liệt trong hai câu thơ có tính bước ngoặt trong tác phẩm:

“Đùng đùng gió giục mây vần,
Một xe trong cõi hồng trần như bay.”

Ta phải đọc kĩ Thanh Tâm Tài Nhân mới hiểu được tại sao Nguyễn Du lại có hai câu thơ đó. Theo diễn biến câu chuyện thì đó là hai câu thơ tương ứng với cảnh Thúy Kiều chia tay gia đình, cùng Mã Giám Sinh khởi hành về Lâm Thanh (thực ra là Lâm Tri), một cảnh ở cuối hồi bảy, đầu hồi tám trong Kim Vân Kiều Truyện. Đoạn này tôi cũng xin trích dẫn dài một chút:

“… Cha con Chung Sự kiếu từ về trước. Còn gia đình họ Vương lại theo tiễn thêm một đoạn đường nữa đến tận mười dặm trường đình. Hai bên quấn quít không nỡ rời nhau. Mã Quy nói: – Trời đã muộn rồi, các người về đi thôi! Gái xuất giá, theo mãi làm gì như thế.

Vương Viên ngoại nói: – Ông Mã ơi! Tiểu nữ đây hoàn toàn trông cậy ông chiếu cố. Ái ngại cho em nó xa lìa cha mẹ, tứ cố vô thân, sao cho được thân yên cảnh thuận, thì già này sống chết ngậm vành kết cỏ, sẽ không bao giờ dám quên đức lớn.

Nói đến chỗ thương tâm, bất giác lệ tuôn như xối. Mã Quy thấy họ quyến luyến mãi, sợ xảy ra việc biến gì, nên phải vội vàng phát thệ: – Nếu Mã tôi khinh rẻ con gái ông bà, thề sẽ bị cướp phanh thây xẻ xác. Hôm nay khởi hành, nên để cho tôi đi đường được thuận lợi, đừng có trở ngại.

Thúy Kiều nói: – Cha mẹ và em về đi thôi!

Bọn Vương Viên ngoại chẳng biết làm thế nào, đành phải nín khóc yên ủi mấy lời, rồi chia tay từ biệt. [Xin xem tiếp hồi sau phân giải.]

Lại nói, vợ chồng cha con Vương Viên ngoại đứng sững trông theo hồi lâu, mãi đến khi không còn thấy hút đâu nữa, mới khóc một chập, rồi bất đắc dĩ phải cùng nhau quay về.

Mã Quy từ biệt vợ chồng Vương Viên ngoại rồi, liền bảo bọn phu xe đi mau. Dọc đường đói ăn khát uống, đêm ngủ ngày đi, chừng mấy bữa đã tới địa giới Lâm Thanh…”

Đoạn văn đó đi vào thơ Nguyễn Du như sau:

Vài tuần chưa cạn chén khuyên,
Mái ngoài nghỉ đã giục liền ruổi xe.
Xót con lòng nặng chề chề,
Trước yên ông đã nằn nì thấp cao:
Chút thân yếu liễu thơ đào,
Dớp nhà đến nỗi dấn vào tôi ngươi
Từ đây góc bể bên trời,
Nắng mưa thui thủi quê người một thân,
Nghìn tầm nhờ bóng tùng quân,
Tuyết sương che chở cho thân cát đằng.
Cạn lời khách mới thưa rằng:
Buộc chân thôi cũng xích thằng nhiệm trao.
Mai sau dầu đến thế nào,
Kìa gương nhật nguyệt nọ dao quỷ thần!
Đùng đùng gió giục mây vần,
Một xe trong cõi hồng trần như bay.
Trông vời gạt lệ chia tay,
Góc trời thăm thẳm ngày ngày đăm đăm.

Trong đoạn thơ trên, Nguyễn Du đã bám sát diễn biến câu chuyện (và bám sát ý) của Thanh Tâm Tài Nhân, nhưng hai câu thơ “Đùng đùng gió giục mây vần / Một xe trong cõi hồng trần như bay” lại được ông lấy ý từ đoạn văn bị cắt bỏ ở hồi bốn của bản gốc! Nghĩa là ở đây đã có một sự hoán chuyển rất tinh vi: Cảnh chia li đau đớn, khốc liệt, cảnh đẩy Kiều (xét ở bình diện tâm lí) vào chốn đoạn trường, vốn đã diễn ra ở hồi bốn trong giấc mơ mà Kiều bị giằng ra khỏi tay Kim Trọng trong đêm động phòng, đã được Nguyễn Du đẩy xa đến hồi bảy. Điều này củng cố thêm nhận định rằng, Nguyễn Du đã không hề coi nhẹ đoạn văn ông cắt bỏ trong bản gốc (ngược lại, ông đã có ấn tượng mạnh), mà nó nằm trong một chiến lược kép: Vừa tước bỏ sự hiện diện lẫn khả năng hành động của Kim Trọng (dù chỉ trong giấy mơ của Kiều), vừa tạo hiệu ứng khốc liệt cho bước đoạn trường của Kiều, bước đoạn trường mà Kim Trọng không có mặt, nhưng sẽ trông thấy (qua những lời kể sau này).

Như vậy tôi đã chỉ ra rằng, để xây dựng Kim Trọng như một nhân vật quan sát (trông thấy), Nguyễn Du đã triệt để tước bỏ các khả năng can thiệp vào sự kiện (tức các biến cố trong cuộc đời của Kiều). Bây giờ chúng ta hãy xem xét Kim Trọng ở bình diện thứ hai: bình diện người lắng nghe, cảm nhận và suy tư.

Quả thực, ở bình diện này, Nguyễn Du đã có sự dụng công lớn. Điều này được thể hiện trước hết trong bố cục của Đoạn trường tân thanh. Tác phẩm gốc của Thanh Tâm Tài Nhân có tổng cộng 20 hồi, thì 3 hồi đầu kể chuyện gia thế và chuyện Kim Kiều gặp gỡ; sau đó, từ hồi thứ 4 đến hồi 19 kể chuyện gia biến và lưu lạc; chuyện Kim Kiều đoàn tụ chỉ được tóm gọn trong chương 20. Tỷ lệ như vậy là 3 – 16 – 1. Thế nhưng trong Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du, có 3254 câu, thì tỷ lệ đó như sau: 572 –2168 – 514. Xin xem bảng so sánh:

alt

Như vậy chúng ta thấy rằng, Nguyễn Du đã mở rộng phần “Đoàn tụ” lên một dung lượng gần như tương đương với phần đầu. Tổng cộng phần thứ nhất và phần thứ ba, trong đó có sự xuất hiện, hoặc báo hiệu sự xuất hiện, của Kim Trọng, chiếm tới hơn 1/3 dung lượng tác phẩm! Đặc biệt đoạn cuối (514 câu thơ) có thể được đọc như “câu chuyện của Kim Trọng”, cho thấy sự dụng công đặc biệt của Nguyễn Du dành cho nhân vật này.

Trong Đoạn trường tân thanh, Kim Trọng là người được nghe người khác kể chuyện nhiều nhất. Khi mới gặp Kiều, ông được nghe nàng tâm sự về những lo âu mơ hồ, được nàng gảy cho nghe khúc “Bạc mệnh”, ông đã cảm nhận được những nỗi bất hạnh treo lơ lửng. Toàn bộ phần cuối của tác phẩm là câu chuyện Kim Trọng nghe kể về cuộc đời của Thúy Kiều. Ông nghe, cảm nhận và suy tư. Suy tư về người khác. Ông là nhân vật duy nhất trong tác phẩm có khả năng đó. Tất cả các nhân vật khác đều tính toán và hành động cho mình, kể cả Thúy Kiều. Đúng là Thúy Kiều đã bán mình chuộc cha, và đó dĩ nhiên là một hành động đạo lí, hi sinh bản thân vì người khác. Nhưng Kiều không suy tư về cảm giác và tâm hồn người khác. Kiều chỉ bận tâm tới cảm giác và tâm hồn của mình, bật ra tiếng nói từ bên trong mình. Nhiều nhà nghiên cứu lâu nay đều cho rằng tiếng nói của Kiều là giọng thứ hai của Nguyễn Du, bên cạnh giọng trần thuật và bình luận (triết lí) của tác giả. Theo tôi, tiếng nói của Kiều vẫn chỉ là tiếng nói của nhân vật, nảy sinh từ tình huống và điểm nhìn của nhân vật, dù ở đó có nhiều câu có tính triết lí về nhân tình. Giọng thứ hai của Nguyễn Du không phải là giọng Thúy Kiều, mà là giọng Kim Trọng. Thúy Kiều chỉ cất lên tiếng nói thương thân, còn Kim Trọng và Nguyễn Du mới cất lên tiếng nói thương người, một tiếng nói từ bên ngoài và bên trên, và thương người mới là điểm tối cao trong triết lí nhân đạo của Nguyễn Du.

Nếu ta xem Đoạn trường tân thanh như một canh bạc, trong đó ba tay chơi lớn là Kim Thiên Lí, Thúc Kì Tâm và Từ Minh Sơn đều đặt cược vào Thúy Kiều, ta sẽ thấy rằng, mỗi tay chơi đều nhận được phần thưởng đúng với cái giá mà y bỏ ra. Thúc Sinh đắm đuối nhan sắc, được Kiều như tình nhân. Từ Hải nhìn Kiều như một người đàn bà, được Kiều như phu nhân. Kim Trọng nhìn Kiều như một nhân cách, được Kiều như tri kỉ.

Tất cả những mẫu gốc Kim Trọng, Thúc Sinh, Từ Hải như tôi vừa chỉ ra vốn đã có sẵn trong tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân, làm nên khung triết lí của tác phẩm. Đây là điều mà chúng ta, dù muốn ca ngợi Nguyễn Du đến đâu, cũng không thể phủ nhận. Phải nói dứt khoát rằng, Thanh Tâm Tài Nhân đã tạo ra cái khuôn rất đẹp cho Nguyễn Du, mà nếu thiếu cái khuôn ấy, Nguyễn Du đã không thể viết ra được Truyện Kiều. Tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân không phải là một tiểu thuyết lớn, thậm chí chỉ dừng ở hạng xoàng, nhưng nó lại có một cốt truyện hay. Nguyễn Du đã nhận ra điều đó và đã vuốt nhọn các chi tiết để từng nhân vật có thể nảy nở tới hạn trong cái khung dự phóng của Tài Nhân. Riêng đối với nhân vật Kim Trọng, Nguyễn Du đã có sáng tạo lớn và gần như đã tạo ra một nhân vật khác về chất. Kim Trọng của Nguyễn Du không dừng lại như một công tử con nhà gia thế, đôi chỗ khá giống các nhân vật thiếu gia trong các câu chuyện kiếm hiệp, mà có những nét như Giả Bảo Ngọc trong Hồng Lâu Mộng – một nhân vật phức tạp, bất lực trước hành động nhưng lại cảm nhận được những rung động nhỏ nhất và những nỗi đau lớn nhất của xã hội và những người xung quanh.

Bây giờ, nếu chúng ta nhìn nhân vật Kim Trọng trong tinh thần mới, chúng ta sẽ thấy những đoạn thơ có Kim Trọng, đặc biệt rất nhiều câu thơ trong phần cuối của Truyện Kiều, thường phức tạp, ảo diệu và có một chất lượng triết lí rất sâu. Đây là một đoạn:

“Nỗi nàng nhớ đến bao giờ,
Tuôn châu đòi trận vò tơ trăm vòng.
Có khi vắng vẻ thư phòng,
Đốt lò hương giở phím đồng ngày xưa.
Bẽ bài rủ rỉ tiếng tơ,
Trầm bay nhạt khói gió đưa lay rèm.
Dường như bên nóc bên thềm,
Tiếng Kiều đồng vọng bóng xiêm mơ màng,
Bởi lòng tạc đá ghi vàng,
Tưởng nàng nên lại thấy nàng về đây.”

Phạm Công Thiện trong cuốn Nguyễn Du, đại thi hào dân tộc đã có một đoạn phân tích thú vị về ngôn ngữ và cơ chế hồi tưởng trong đoạn thơ này. Ông lưu ý chúng ta về những từ như “nhớ”, “tiếng”, “vọng”, “bóng”, “mơ”, “tạc”, “ghi”, “tưởng”, “thấy”… để chỉ ra Nguyễn Du đã sâu sắc (và đi trước!) triết học hiện sinh hiện đại như thế nào. Thật tiếc tôi không còn sách ở đây để trích dẫn, nhưng tôi cũng không cố tìm để phục vụ bài viết này, vì cuốn sách của ông đề cập tới vấn đề khác. Song việc một người có tâm hồn thơ lớn như Phạm Công Thiện chọn nhiều câu trong phần “Kim Kiều đoàn tụ”để phân tích, những câu thơ mà ông cho rằng hay nhất trong Truyện Kiều, đã khiến tôi đặc biệt thích thú, vì nó củng cố giả thuyết của tôi về việc Nguyễn Du đã dành cho Kim Trọng một vị thế đặc biệt: vị thế của một nho sĩ suy tư.

Trong bài viết này, tôi đã cố gắng đưa ra hai luận điểm sau, xin tóm tắt lại:

·         Không phải Thúy Kiều, mà Kim Trọng mới là hóa thân của Nguyễn Du, là giọng thứ hai của tác giả Nguyễn Du trong tác phẩm Đoạn trường tân thanh.

·         Kim Trọng được Nguyễn Du dụng công xây dựng thành một nhân vật trung tính, khác với nhân vật Kim Thiên Lí của Thanh Tâm Tài Nhân. Ở đây, Nguyễn Du một mặt không thể không dành cho hóa thân của mình một sự châm biếm kín đáo (khi ông soi số phận nhân vật vào cuộc đời bất lực của chính mình); mặt khác, ông lại cấp cho nhân vật một chiều sâu nhân bản cao hơn tất cả các nhân vật khác. Ở mặt này, Nguyễn Du không thể không cảm thấy ngán ngẩm cho bản thân; nhưng ở mặt khác, ông lại có niềm tin của người trí thức. Ông không thể bẻ gãy bạo quyền; đối với cái ác, ông bất lực; nhưng ông thấu hiểu và đề cao nhân phẩm.

Trong tinh thần đó, tôi xin dành phần cuối bài này để phân tích chữ Trinh và chữ Tâm trong tác phẩm của Nguyễn Du. Cả hai chữ gây tranh cãi này đều cần được xem xét thấu đáo trong tương quan Kim – Kiều như là hai đại diện cho hai giá trị này.

Về chữ Trinh, trong phần “Kim Kiều đoàn tụ”, khi Kim Trọng ngỏ ý muốn cùng Kiều thành thân, Kiều nói:

“Chữ Trinh còn một chút này,

Chẳng cầm cho vững, lại giày cho tan!”

Và Kim Trọng giải thích:

“Thương nhau sinh tử đã liều,

Gặp nhau còn chút bấy nhiêu là tình,

Chừng xuân tơ liễu còn xanh,

Nghĩ rằng chưa thoát khỏi vành ái ân.

Gương trong chẳng chút bụi trần,

Một lời quyết hẳn muôn phần kính thêm!

Bấy lâu đáy biển mò kim,

Là nhiều vàng đá, phải tìm trăng hoa.

Ai ngờ lại hợp một nhà,

Lọ là chăn gối, mới ra sắt cầm!”

Như vậy chúng ta phải hiểu rằng, chữ Trinh ở đây có ý nghĩa rất rộng lớn. Nó đương nhiên không thể được hiểu theo nghĩa hẹp hòi và thô thiển như là cái trinh tiết của phụ nữ. Nó chính là Phẩm giá (nhân phẩm). Chỉ khi chúng ta hiểu chữ Trinh như là Phẩm giá, chúng ta mới hiểu tại sao khi đã trải qua mọi biến cố, Thúy Kiều vẫn còn đủ tự tin để nói rằng: “Chữ Trinh còn một chút này”. Sau cuộc đoạn trường, một người nhờ trải nghiệm, một người nhờ lắng nghe và suy tư, cả Kim Trọng và Thúy Kiều đều đi đến nhận thức cao như nhau về phẩm giá. Đối với Kim Trọng thì phẩm giá của Thúy Kiều là bất khả phá hủy (“Gương trong chẳng chút bụi trần”), nhưng dù sao ông vẫn không thể xác quyết về con người tình cảm, con người bằng xương bằng thịt của nàng (“Chừng xuân tơ liễu còn xanh / Nghĩ rằng chưa thoát khỏi vành ái ân”), nhưng khi nghe Kiều nói (“Chữ Trinh còn một chút này”), ông lập tức nhận ra rằng, hóa ra từ lâu – nhờ trải nghiệm – nàng không những chỉ dừng ở mức nhận thức, mà còn chứng thực được phẩm giá.

Đến đây chúng ta hãy nhớ lại hai câu thơ trong đoạn Kim Trọng chia tay Thúy Kiều để về quê chịu tang khi mối tình giữa hai người vừa chớm nở:

“Dùng dằng một bước một xa,
Một lời trân trọng châu sa mấy hàng.”                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                         

Trong Đoạn trường tân thanh, Thúy Kiều có ba cuộc chia tay với ba người đàn ông mà nàng có tình cảm: chia tay Kim Trọng khi chàng về quê chịu tang, chia tay Thúc Sinh khi chàng về với Hoạn thư, chia tay Từ Hải khi chàng ra trận. Khi chia tay Thúc Sinh, Thúy Kiều căn dặn đủ điều về việc chàng phải sớm trình bày với Hoạn thư để Kiều được có danh phận; khi chia tay Từ Hải, nàng nói muốn được đi theo chồng, vì “phận gái chữ tòng”. Cả hai cuộc chia tay này đều diễn ra ở bình diện lợi ích và giao tiếp, trong khi cuộc chia tay với Kim Trọng lại diễn ra ở bình diện đối thoại nhân phẩm. Người này nhìn sâu vào và lắng nghe nhân phẩm của người kia, và chúng ta hãy xem Nguyễn Du dùng từ: một lời trân trọng. Hai người yêu nhau chia tay mà dùng từ “trân trọng” kể cũng khách sáo, nhưng nếu ta hiểu đối tượng được nói đến ở đây là nhân phẩm, ta sẽ thấy đó là hai từ đắt giá. Trong suốt câu chuyện, Thúy Kiều luôn mang nặng cảm giác “mang nợ” hay “mang ơn” Kim Trọng, dù trên thực tế, Kim Trọng đã không làm gì (không thể làm gì) cho Thúy Kiều. Đấy chính là cái ơn nợ về phẩm giá. Bởi vậy sau mười lăm năm lưu lạc, khi nghe Kim Trọng xác nhận: “Bấy lâu đáy biển mò kim / Là nhiều vàng đá, phải tìm trăng hoa“, Thúy Kiều đã đáp lại bằng cách “Nghe lời sửa áo cài trâm / Khấu đầu lạy tạ cao thâm nghìn trùng“. Nên nhớ khi Thúc Sinh cứu Kiều ra khỏi lầu xanh, hay khi Từ Hải giúp kiều báo ân báo oán, nàng cũng chỉ dừng lại ở mức nói lời cảm tạ. Vậy Kim Trọng làm gì mà Thúy Kiều phải đáp lại bằng cái lễ lớn như thế? Là bởi vì ngay từ đầu và mãi mãi, Kim Trọng đã luôn nhận ra và trân trọng giá trị lớn nhất của nàng: phẩm giá. (Ở đây xin lưu ý: chúng ta phải hiểu những ước lệ trong ứng xử  – chữ Lễ – của giới tinh hoa nho giáo thì mới hiểu những hành động như “sửa áo cài trâm”, “khấu đầu lạy tạ” là cách người ta biểu lộ lòng tri ân to lớn theo một nghi thức trang trọng tương xứng).

Còn về chữ Tâm, Nguyễn Du viết:

“Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài.”

Đương nhiên ở đây chúng ta phải hiểu chữ Tâm là “coi trọng việc thiện, mong muốn việc thiện”, còn chữ Tài là “khả năng làm việc thiện”. Mặc dù câu thơ, xét về hình thức, dễ cho cảm nhận Nguyễn Du coi trọng chữ Tâm và coi khinh chữ Tài, nhưng chúng ta cũng không nên hiểu hẹp hòi như vậy. Có lẽ chỉ nên hiểu Tâm là gốc, đánh mất chữ Tâm thì chữ Tài sẽ không đứng được.

( Trích)

Nguồn:http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/kim-trong-nhan-vat-van-chuong-vi-dai-cua-nguyen-du

 

“Lý giải thế nào về những kẻ tàn độc?”

  … nguyên nhân là bởi “yếu tố non kém, khập khiễng trong giáo dục, sự tha hoá của một số quan chức tham nhũng là tấm gương gần gũi và thực tế nhất mà bọn trẻ sẽ thấy mỗi khi bước chân ra khỏi nhà. Cùng với đó là tình trạng thiếu việc làm, kinh tế bị hụt hẩng, đói nghèo…”

Dân Trí

Bùi Hoàng Tám

(Minh họa: Ngọc Diệp)

(Dân trí) – Một loạt các vụ tàn sát dã man nhiều người một lúc đã khiến cả xã hội đều phải thốt lên: Điều gì đang xảy ra trên đất nước này? Và câu trả lời có lẽ cũng là của hầu hết mọi người: Không thể nào hiểu nổi!

Cách đây mấy năm, vụ án Nguyễn Đức Nghĩa, một gã sinh viên đang tâm sát hại người yêu rồi cắt ra từng mảnh đem vứt ở nhiều nơi đã khiến dư luận lúc đó bàng hoàng. Người ta không thể giải thích nổi tại sao một kẻ có học, tức là có hiểu biết lại có thể hành động tàn độc, phi nhân tính như vậy thì chỉ một thời gian sau, xuất hiện một kẻ sát nhân có lẽ còn tàn độc hơn cả Nguyễn Đức Nghĩa, đó là sát nhân Lê Văn Luyện.

Gã vị thành niên này đã đang tâm giết hại cả một gia đình. Sự tàn độc của gã “nổi tiếng” đến mức ở thời điểm này (7g ngày 17/8) chỉ cần đánh ba chữ “lê văn luyện” trên google đã thấy xuất hiện 881.000 kết quả trong vòng 0,44 giây.

Ngỡ rằng sự tàn độc của những kẻ “khát máu” như Nguyễn Đức Nghĩa, Lê Văn Luyện đã đến đỉnh điểm thì chỉ trong vòng hơn một tháng (2/7- 12/8), cả nước đã xảy ra 3 vụ án mà những kẻ sát nhân tàn độc nhiều khi còn hơn cả lũ Nghĩa, Luyện. Chúng đều đã đang tâm giết hại gần hết (trừ một cháu bé trong vụ Bình Phước) tất cả mọi người trong một gia đình.

Khởi đầu là vụ tàn sát gia đình anh Lô Văn Thọ ở bản Phồng, xã Tam Hợp, Tương Dương (Nghệ An) vào ngày 2/7 khiến 4 người tử vong trong đó có cả một em bé trai mới vừa 1 tuổi.

Dư luận chưa kịp nguôi ngoai thì 5 ngày sau (ngày 7/7) lại xảy ra một vụ thảm sát kinh hoàng ở Bình Phước. Những kẻ sát nhân tàn độc đã lạnh lùng giết tất cả 6 người gồm cả trẻ em trong một gia đình cùng một hình thức: đâm chết và cắt cổ.

Thế nhưng chưa dừng lại ở đó, hơn một tháng sau, ngày 12/8, lại một vụ sát hại cả gia đình 4 người ở vùng núi cao heo hút thôn 16, xã Lâm Giang, Văn Yên, Yên Bái khiến dư luận lại một lần nữa sững sờ. Lần này cũng có một em trai 2 tuổi mà theo lời khai của nghi can, là để “phòng sau này không bị trả thù”.

Điều đáng nói là nếu vụ Lê Văn Luyện động cơ là cướp của giết người, vụ án ở Bình Phước vì tình thì với hai vụ án gần đây, những vụ tàn sát lại bắt nguồn từ những lý do “lãng xẹt”. Đó là chỉ vì hái mấy quả chanh mà không xin phép hay cãi cọ nhau về cái bờ nương nước.

Như vậy không kể hai vụ án Nguyễn Đức Nghĩa và Lê Văn Luyện trước đây, chỉ trong vòng 40 ngày (2/7-12/8), ở cả ba miền của đất nước đã xảy ra 3 vụ án mạng nghiêm trọng, cướp đi sinh mạng 14 người của 3 gia đình trong đó có cả các em thơ từ 1 – 2 tuổi đến 15 tuổi.

Những hành động tàn độc này đang gây sự lo ngại trong dư luận. Tại sao lại có những kẻ tàn độc đến thế? Đã có nhiều lý giải khác nhau.

Trên Dân trí, PGS.TS Dương Tuyết Miên “đổ lỗi” cho “gia đình buông lỏng, không được giáo dục đến nơi đến chốn, dẫn đến thích chơi bời lêu lổng, thích sống bầy đàn, chạy theo các giá trị ảo, lười biếng và du nhập nhiều loại văn hoá phẩm độc hại”.

Song, bạn đọc Hoàng Tường cho rằng ý kiến của bà Miên quá xưa cũ, không thực tế mà cho rằng nguyên nhân là bởi “yếu tố non kém, khập khiễng trong giáo dục, sự tha hoá của một số quan chức tham nhũng là tấm gương gần gũi và thực tế nhất mà bọn trẻ sẽ thấy mỗi khi bước chân ra khỏi nhà. Cùng với đó là tình trạng thiếu việc làm, kinh tế bị hụt hẩng, đói nghèo. . .

Yếu tố gia đình rất quan trọng để hình thành một nhân cách. Vậy thì những cô chiêu, cậu ấm, con cái các quan chức từng nổi đình đám trong vô vàn phi vụ ăn chơi, quậy phá, phung phí, trác táng, vi phạp pháp luật… xuất thân từ đâu? Có cần thẩm tra tư cách bố mẹ của họ không vậy? Chừng ấy lý do và sự đổ lỗi theo cách suy diễn tối giản của bà thì điều nào nguy cơ cao hơn. Căn nguyên, bản chất sự việc ở đâu vậy?”.

Về cơ bản, mình đồng tình với ý kiến bạn Hoàng Tường và không hiểu nổi điều gì đang xảy ra trên đất nước này?

(Nguồn: Dân TRí)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.08.2015

CHÚNG TÔI MUA CHUYỆN KỂ NĂM 2000 NHƯ THẾ NÀO?

CHÚNG TÔI MUA CHUYỆN KỂ NĂM 2000 NHƯ THẾ NÀO?

Ngô Minh

Dịp ra Hà Nội dự Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ 6 tháng 4 năm 2000 tôi quyết tâm lùng mua cho được bộ tiểu thuyết Chuyện kể năm 2000 của nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Trong Tết, nhà thơ- nhà vẽ bìa sách Nguyễn Trọng Tạo vô ăn Tết Huế đã khoe với tôi cái bìa sách Chuyện kể năm 2000 do anh vẽ. Tạo bảo:” Đây là cái bìa sách mình thích nhất trong tất cả  bìa sách mình vẽ cho bạn bè!”. Tôi hỏi cuốn tiểu thuyết ấy có hay không?.Tạo khẳng định:” Hay lắm. Lạ lắm.Thật lắm. Thật là tiêu chuẩn đàu tiên của cái sự hay…”. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 18.08.2015

BÊN DÒNG CHÂU NGUYÊN

BÊN DÒNG CHÂU NGUYÊN

     Truyện ngắn Trác Diễm

 Bị bào mòn bởi nắng mưa và rêu phong phủ kín, những phiến đá nằm dọc theo lối đi trông như những tấm chăn phai màu cũ kĩ . Ngôi nhà của nhà điêu khắc nổi tiếng nằm ở đó như một trầm tích bị lãng quên trong một con hẻm nhỏ rậm rì cỏ dại.“Nhà của nhà điêu khắc đó…” Những người dân sinh sống và buôn bán ở đây luôn nói về ông với vẻ đầy kính trọng. (Đọc tiếp…)

HẬU CHUYỆN KỂ NĂM 2000 (Thời biến đổi gien)

  Kỳ 27

  Bùi Ngọc Tấn

Vẫn không dứt ám ảnh về những gì người ta đang giăng bẫy, tôi lên Hà Nội từ ngày mồng 9 để gặp gỡ các bạn, trao đổi bàn bạc. Tôi đưa cho Lê Bầu bản sao bức thư viết tay gửi Hữu Thỉnh, bản nháp bức thư sau khi đi Trung Quốc về tôi sẽ gửi Nguyễn Khoa Điềm hay Nông Đức Mạnh. Rồi tôi gọi điện cho Trần Thị Trường, người bạn mới quen nhưng đã hoàn toàn tin tưởng và quý mến.

Buổi tối, Trường đến nhà Dương Tường, gặp tôi ở đó. Chỉ có hai chúng tôi ngồi dưới phòng tranh của Mai Gallery và cũng là phòng khách. Vừa bắt đầu câu chuyện, từ phía sân ngoài cửa sổ đã có tiếng người:

– Anh Tấn mới lên đấy à.

Tôi nhìn ra. Trung Sơn, một chuyên viên điện ảnh, người tôi quen từ ngày làm báo Tiền Phong. Và một giọng nói khác:

– May quá. Gặp tác giả Chuyện Kể Năm 2000 ở đây. Tôi lại đang cầm tập sách của anh. Xin anh một chữ ký làm kỷ niệm. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.08.2015

HẬU CHUYỆN KỂ NĂM 2000- KỲ 28

HẬU CHUYỆN KỂ NĂM 2000

(Thời biến đổi gien)

  Kỳ 28

    Bùi Ngọc Tấn

Tất cả chỉ có vậy. Chẳng thấy gì vĩ đại thiêng liêng như người ta vẫn nghĩ, vẫn nói về nhưng ki-lô-mét số không, những địa đầu. Chẳng thấy kết thúc một cái gì và mở ra một cái gì. Chỉ là thanh bình nối tiếp thanh bình, tin cậy nối tiếp tin cậy, một an lạc bao trùm không gian trong suốt của Châu Âu. Kamal nói:

– Đây là xứ Flandre.

Lại một bất ngờ nữa. Nghe Kamal giảng, tôi mới biết Bỉ cũng có xứ Flandre. Xứ Flandre thuộc Pháp và xứ Flandre thuộc Bỉ. Flandre. Địa danh này, những con đường này đã nằm trong một quyển tiểu thuyết đoạt giải Nobel. Claude Simon. Những con đường xứ Flandre. Dương Tường dịch. Giá có Dương Tường ở đây cùng tham gia cuộc du hành…

  Lille là một địa bàn rất tốt để từ đó chúng tôi đi “thám hiểm” Bỉ, Hà Lan. Trong mười ngày ở Lille, tôi đã đi qua những con đường xứ Flandre, những ngọn đồi xứ Flandre nhiều lần. Đó là những nhánh rẽ từ những đại xa lộ vào các ngọn đồi mà nhìn từ xa ta cứ nghĩ là những khu rừng. Chỉ đến khi tới gần mới thấy đó là đường phố, những ngôi nhà, những biệt thự, những quảng trường, những cửa hiệu, những nhà thờ, và khi ô tô lên tới đỉnh dốc, mở cửa bước ra nhìn những phố xuôi dốc đổ xuống ngoại vi, thấy cánh đồng, thấy núi, thấy những đàn bò khoang im lặng gặm cỏ, những lùm cây đổ bóng sẫm đen trên đồng cỏ tưới đẫm nắng vàng. Cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa tôi với xứ Flandre là xứ Flandre thuộc Bỉ. Ngay trong buổi chiều chúng tôi tới Lille và gặp Kamal. Kéo chúng tôi vào một cửa hàng, ngồi uống mỗi người một chai bia Bỉ, Kamal bảo chúng tôi đứng lên ra xe ô tô:

– Gần đây có cửa hàng bán sườn nướng ngon lắm.

Xe lại lăn bánh trên con đường nhựa, xuống một sườn đồi thoai thoải, lượn quanh co trên một cánh đồng nhỏ và lại leo dốc. Một restaurant khác trên đỉnh một ngọn đồi. Khoảng đất rộng phía sau nhà hàng đậu kín ô tô. Chúng tôi xuống xe đi qua một mảnh sân hẹp. Nhà hàng thấp và cũ kỹ. Mái lợp đá đen. Tường để nguyên gạch mộc. Dính vào tường là hai cái vô lăng tầu thuỷ bằng gỗ, một cái to một cái nhỏ, gợi những cuộc viễn du của những mạch lô hoặc dấu vết của những “Viking đầu quấn lá sồi. Những thùng gỗ to xếp cạnh tường, những thùng rượu vang mà bên trong hẳn là rỗng, không có rượu, chỉ để tăng thêm không khí ẩm thực trước khi khách bước vào trong nhà ngồi trước bàn ăn gọi món. Ngay cửa nhà hàng là một chiếc xe bò với những bánh xe bằng gỗ lớn, chiếc xe hẳn chưa một lần lăn bánh đường trường, trong xe chất đầy những khúc gỗ tròn cưa cắt bằng nhau, chờ bổ cho vào lò, nhưng chắc chắn sẽ chẳng bao giờ được nhận một nhát rìu, chúng có mặt chỉ để gợi một không khí cổ xưa.

Trong nhà đã kín thực khách. Toàn người châu Âu. Những trai thanh gái lịch, những ông bà đứng tuổi và có tuổi im lặng ăn, im lặng uống. Lần đầu tiên bước vào một cửa hàng ăn châu Âu, tôi, một kẻ quê mùa từ một đất nước châu Á xa xôi nghèo nàn lạc hậu, không khỏi mất tự tin, nhất là khi mấy người quay ra nhìn chúng tôi bước qua khuôn cửa. Cái mặc cảm về thân phận, về chiều cao đến với tôi trong từng bước đi. Cám ơn Malika. Cô gái tóc vàng đã khoác tay tôi. Như hai bố con lững thững nhàn nhã sau một ngày làm việc mệt nhọc tìm nơi thư giãn. Dương Thụ, Kamal đi sau. Chúng tôi tìm được một bàn còn trống ngay cạnh chiếc lò sưởi bằng gang không biết có từ thế kỷ nào, đã lâu rồi không được dùng đến. Trong khi chờ thức ăn, chúng tôi uống bia và quan sát cửa hàng phía bên trong. Để dễ hiểu, ta gọi nó là một căn nhà cấp 4, có năm gian. Tất cả đều đen, mầu đen của khói bếp, của năm tháng. Những quá giang, những rui mè, những ngói lợp đều đen. Những thanh dầm gỗ, những trụ gỗ dựng dọc tường giữa những hàng gạch xây với những thớ to khô két thành từng rãnh sâu, uốn lượn cong vặn cứng như thép, không phải được cưa cắt mà như được xé đôi ra bằng cánh tay của những người khổng lồ như ta tách đôi một khúc tre. Nó còn nguyên tạo hình khi vẫn là cây là cành, rễ còn bám sâu vào đất, cành lá còn reo vui đón gió. Tường xây gạch mộc. Gạch và những mạch vữa đều một mầu đen. Trên tường, treo rải rác những đôi giầy bằng gỗ sơn trắng, một mầu trắng cũ kỹ, và bên trong những chiếc giầy, những ngọn đèn hình nến yếu ớt toả sáng. Tất cả bàn ăn đều bằng gỗ sồi mà tuổi của nó phải nhiều chục năm có thể hàng trăm năm, cũng một mầu nâu sẫm. Một ngọn nến nhỏ được đưa đến bàn của chúng tôi.

Hãy kín đáo nhìn mọi người ăn. Khi đặt chân tới Châu Âu tôi đã chú ý nhìn những nét mặt người, những dáng người đi. Và bây giờ tôi quan sát những người ngồi ăn. Không một lời nói to. Những tiếng đặt thìa nĩa cũng rất khẽ. Không một tiếng động gì tỏ ra có người đang say, lại càng không có những tiếng hét vang dzô dzô mỗi khi chạm cốc. Không có những khuôn mặt phừng phừng bóng nhẫy vì ăn, vì uống, không có những bộ mặt tự mãn hoặc tự tin quá mức, cũng chẳng một ai quên rằng mình đang ăn uống giữa những người khác cũng đang ăn uống.([1]) Chỉ có những nét mặt vui tươi, những tiếng rì rầm và những nụ cười. Tôi làm một cuộc tường thuật tại chỗ với Dương Thụ:

– Cứ ngồi yên. Đừng quay lại. Cô gái ngồi ở bàn sau lưng Thụ đã ăn hết dẻ sườn lợn nướng thứ ba hay thứ tư gì đó. Một cô gái còn rất trẻ xinh đẹp, tóc vàng nhưng không vàng bằng tóc Malika đâu. Cô ta chăm chú ăn, gặm tỉ mẩn từng chút thịt trên dẻ sườn, đặt dẻ sườn đã hết thịt xuống đĩa. Chưa. Chưa uống rượu. Còn đang mút ngón tay. Mút rất cẩn thận từng ngón tay một. Vẫn chưa uống. Lấy khăn lau những vết đen trên miệng. Bây giờ mới uống. Bia chứ không phải rượu. Và vặn một dẻ sườn nướng nữa rồi.

Tôi cứ thuyết minh như vậy. Malika không hiểu gì, nhưng thấy Kamal cười chị cũng cười. Cô gái tóc vàng nhạt ngồi sau lưng Dương Thụ còn rất trẻ, trẻ đến nỗi tôi tưởng cô đi ăn cùng bố mẹ. Chỉ đến cuối bữa, khi tất cả đứng lên chuẩn bị ra về, tôi mới biết mình nhầm. Toàn những thanh niên nam nữ trạc tuổi cô.

Những ngày ở Lille, nhờ sự quan tâm và lòng tốt tuyệt vời của Kamal, tôi và Dương Thụ đã sống những ngày thật sung sướng, vô tư, cùng nhau khám phá thế giới, trêu chòng nhau khi tắm biển Hà Lan, uống vang trắng dưới gốc một cây saule hay nhâm nhi cốc bia Leffe vàng óng, thứ bia Kamal nói là nồng nàn quá, rồi cùng nhau chụp ảnh trước chiếc cối xay gió trên một ngọn đồi.

Tôi đặc biệt yêu thành phố nhỏ Brugge nước Bỉ. Một thành phố với những con kênh ngang dọc. Móng những ngôi nhà, những dẫy phố, những biệt thự, lâu đài ngâm trong dòng nước, với những mảnh sân nhỏ, những bậc xây xuống bến, những hàng cây soi bóng, những con chim trắng, những con sâm cầm đen thả mình im lặng gà gà ngủ. Brugge mà theo Dương Thụ vừa rời Ý cách đây ít lâu, là một Venise thu nhỏ, êm đềm. Mỗi ngoẹo phố là một bất ngờ dành cho bạn. Giống như đang trên thuyền giữa vịnh Hạ Long. Không thể hình dung được những gì chờ ta mỗi khi rẽ ngoặt. Chính ở Brugge, tới một quảng trường trước cửa nhà thờ, chúng tôi đã gặp một ban nhạc nhẹ đồng quê. Có violon, cello, contrebasse, clarinette, piano, lại cả phong cầm, gợi một không khí rất Trung Âu thế kỷ trước. Ba cô gái trang phục cổ điển áo hoa liền váy, cùng các nhạc công complet cravate, thứ y phục quen thuộc, gần gũi. Không pop, không rok. Những làn điệu dân ca Trung Âu đậm âm hưởng nhạc chiều xê-rê-nat từ ba chất giọng soprano, mezzo, alto cùng với giọng baryton của người kéo phong cầm, khiến tôi tưởng mình đang sống trong một câu chuyện viết về nông thôn Romania nào đó như Những Người Chân Đất, Giếng Nước Cội Dương từng làm chúng tôi một thuở say mê và mãi mãi say mê. Thụ khe khẽ:

– Đúng là Châu Âu cổ xưa. Nhạc trăm năm. Chơi trên đường phố trăm năm, quảng trường trăm năm. Cây trăm năm. Y phục ngày xưa. Váy dài ngày xưa. Sơ mi áo vét ngày xưa. Thỉnh thoảng lại một cỗ xe ngựa ngày xưa đi ngang qua nữa…

Sau khi đặt tiền vào chiếc mũ để ngửa, chúng tôi tiếp tục công cuộc thám hiểm Brugge. Khi vượt qua chiếc cầu uốn cong bắc ngang một con kênh ăm ắp nước lặng tờ giữa những dẫy phố cổ, nhìn trời hoàng hôn thẫm dần, bóng tối đang len vào những cành sồi già trĩu nặng thời gian, trĩu nặng trọng lượng của chính mình ngả trên mặt kênh, Dương Thụ đã khóc. Anh không tin là người ta có thể được sống đẹp như vậy, anh không tin anh và tôi lại có thể có trong đời mình giờ phút đẹp như vậy, được làm người kiểu như vậy. Anh như nói với chính mình:

– Không phải thiên đường mà còn hơn thế. Không phải trên trời. Mà ngay trên mặt đất, ngay trong cuộc sống. Vẫn mơ ước một cuộc sống êm đềm, thanh bình, một quan hệ người với người thật tốt đẹp thì bỗng nhiên có ngay trước mặt mình, chung quanh mình. Mình được nhìn thấy, được sống, được hít thở trong nó. Dù chỉ là khoảnh khắc.

Chiều hôm sau Dương Thụ và tôi được Kamal đưa đi thăm một ngọn đồi xứ Flandre khác. Thị trấn ẩn trong rừng cây. Trên đỉnh đồi, giữa những tán lá là những cửa hàng, những khách sạn, những biệt thự và một nhà thờ nhỏ. Chúng tôi bước vào nhà thờ. Không có ai ngoài một bà già đang lúi húi dọn dẹp dưới tượng Chúa phía trong cùng và rất nhiều ngọn nến nhỏ im lặng cháy trong chiếc khay đặt trên bàn ở một góc khuất ngay cửa ra vào. Bà già bước về phía chúng tôi, nhẹ nhàng không một tiếng động, thì thào:

– Bonjour. Bonjour.— Xin chào. Xin chào.

Chúng tôi cũng thì thào đáp lại. Rồi chúng tôi bước ra, ngồi xuống chiếc ghế dựa bên lề đường. Dưới kia sườn đồi thoai thoải. Đàn bò khoang trắng đen vẫn thấy in hình trên những hộp sữa, gặm cỏ. Rừng đổ bóng thẫm xuống vạt cỏ xanh non. Tiếng nhạc nhà thờ vọng đến. Êm đềm, thanh bình đến thế là cùng. Như một chốn Bồng Lai. Dương Thụ rơm rớm. Anh nói với tôi:

– Em đang được thanh lọc.

Ngồi trên chiếc ghế gỗ sồi đặt ven đường, nghe gió thu Châu Âu chạm vào mái tóc, tôi hiểu được những nét mặt người, những dáng người đi này đã được hình thành như thế nào rồi. Đó là bao nhiêu năm người ta đã sống như chúng tôi mới được sống mấy ngày. Trừ mấy năm đại chiến thứ 2 mà tác dụng càng làm cho con người thêm yêu quý hoà bình. Sang Châu Âu, điều dễ nhận thấy nhất với những du khách như tôi, đập vào mắt ngay tức thì, là những nét mặt người và những dáng người đi.

Sau này về Paris, gặp Vũ Thư Hiên, tôi đã nói với Hiên nhận xét ấy:

– Trông những người bên này đi thích thật. Sải những bước dài, có mục đích, tự tin chứ không phải lang thang nổi trôi vô định. Thoăn thoắt, thoăn thoắt, dáng đi của người làm chủ cuộc đời, làm chủ số phận. Còn nét mặt họ mới tuyệt làm sao! Không một chút lo âu. Ở bên nhà, chúng tao vừa đi vừa nghĩ mưu. Ai cũng vừa đi vừa nghĩ mưu, không trừ một ai, từ tỷ phú cho đến những người khố rách áo ôm, từ ủy viên Bộ Chính Trị cho đến người đạp xích lô.

Hiên rất thích sự so sánh của tôi. Anh kể cho tôi nghe chuyện anh và các em gái anh mới ở Việt Nam sang đi du lịch nước Áo. Tới một quảng trường ở Vienne, thấy người ta cho chim ăn, mấy anh em Hiên cũng lấy bánh bẻ vụn trong lòng bàn tay chìa ra mời chim. Chim đến mổ bánh trong lòng bàn tay tất cả những du khách châu Âu, có một vài con đến mổ bánh trong lòng bàn tay Vũ Thư Hiên, mổ mấy mổ rồi đi. Còn những cô em mới ở Việt Nam sang, không một con chim nào bén mảng.

Chúng tôi kể những chuyện này cho nhau nghe khi anh ghi hình tôi trong buổi đến thăm lâu đài một vị hoàng đế nước Phổ. Tôi muốn lại gần con thiên nga một chút. Nó đã từ hồ nước lên bờ, trắng muốt, kiêu kỳ giương mắt nhìn tôi. Nhưng tôi tiến một bước, nó lại lùi một bước, giữ nguyên khoảng cách an toàn. Hiên bảo:

– Mày gọi nó đi.

– Gọi thế nào?

– Thiên nga ơi. Tiết canh! Tiết canh!

Chúng tôi cười lăn. Cũng phải kể một tối ở Berlin, chúng tôi đi chơi, về nhà Hoà, em gái Hiên, tại một chung cư.

Ngay chân cầu thang, gặp một ông già người Đức, dắt theo một con chó to lớn. Trông thấy chúng tôi, nó sủa, miệng há, răng trắng nhởn, nhả ra từng tiếng sủa và đớp từng miếng không khí. Người Đức tầng trên rất nhanh dắt con chó bước lên. Chúng tôi lên thang.

Cửa buồng Hoà đã mở. Hoà đang ngồi chờ chúng tôi. Hiên hỏi:

– Sao em biết bọn anh về mà mở cửa sẵn?

Hoà vô tư nhất đời:

– Nghe tiếng chó sủa là em biết. Con chó này chỉ sủa người Việt Nam mình thôi. Không sủa người Đức.

Chúng tôi cười và thè lưỡi nhìn nhau.

Chả lẽ lại thế thật ư? Vì sao?

Chỉ đến khi gặp một bạn đọc ở Úc tại Hải Phòng tôi mới đỡ buồn. Có thế chứ. Mà chắc là như thế nếu không thì sầu đời quá. Trong lúc chuyện vui, nghe tôi kể lại câu chuyện khó tin ấy, người bạn đọc Việt kiều Úc reo lên:

– Tôi hiểu rồi. Đến bây giờ tôi mới hiểu. Ở Úc, chúng tôi nuôi một con béc giê, người Việt Nam đến không sao, còn người Úc đến là sủa liền. Nó quen nhìn người mình, không quen nhìn người Úc, giống như con chó ở Đức quen nhìn người Đức, không quen nhìn người Việt.

*

Ở Lille 10 ngày, chia tay Dương Thụ về Paris, bắt đầu hơn một tháng cùng Vũ Thư Hiên lang thang mấy nước Châu Âu. Thật không ngờ hai chúng tôi lại có được những ngày bên nhau trên những ngả đường Châu Âu mà dù có giầu tưởng tượng mấy cũng không dám nghĩ tới. Chúng tôi, những kẻ khao khát tự do không mong ước gì hơn là nhân dân có một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, người với người là bạn. Chúng tôi, những người xa lạ với chính trị, cả đời chỉ mong viết được một điều gì đó về nhân dân, về đất nước và cả hai đã bị tống vào tù không xét xử. Chúng tôi, hai thằng bạn lẽ ra đã được tha nhưng cùng vì không nhận tội, cùng nói rằng bắt mình là vi phạm pháp luật nên đã chịu thêm mỗi thằng hai năm tù nữa. Tổng cộng: Tôi 5 năm. Vũ Thư Hiên 9 năm. Hai thằng bạn của một thời mộng mị, hai thằng tù phiêu bạt, hai ông già 70 tuổi, sau khi đã nếm đủ mọi cay đắng đang ngồi bên nhau trên xe ô tô của một người không họ hàng thân thích nhưng biết bao yêu quý xót thương, lang thang trên những nẻo đường đẹp như mơ của một Châu Âu thống nhất, bỗng sống lại thời trai trẻ tưởng đã chết hẳn rồi, cùng cất tiếng hát, những bài hát bật dậy từ đâu đó thẳm sâu ký ức. Chúng tôi những con chim nhốt trong lồng bịt kín, đang tung bay trên bầu trời bao la. Cái ý thức về tự do của chúng tôi càng được nhân lên khi chung quanh chúng tôi là đất nước tự do của những người tự do!

Sang Châu Âu tôi thêm một lần cảm nhận hạnh phúc của một nhà văn. Cái đêm từ biệt Lille, cùng Kamal về Paris để sáng hôm sau gặp Vũ Thư Hiên, tôi chia tay Dương Thụ và Kamal. Chiếc xe đón tôi có cả chị Hồng Ngọc, vợ anh Hoàng Minh Chính, mới từ Ý sang. Chúng tôi đến một ngôi biệt thự ngoại ô. Một bữa tiệc đã được tổ chức với khá đông trí thức Việt kiều đang chờ chúng tôi. Và khi tiệc tùng kết thúc, tôi, Vũ Thư Hiên cùng chị Hồng Ngọc đi thăm Paris. Hiên chụp rất nhiều ảnh chị Hồng Ngọc và tôi. Một bức ảnh chị Hồng Ngọc đứng trên cầu bắc qua sông Seine được Hiên đặt tên là “Nát một đời hoa.” Cười đấy nhưng đúng là nát một đời hoa. Tan nát đời một phụ nữ thủy chung nhan sắc.

Rồi chúng tôi ghé vào một hiệu thuốc nhỏ. Đứng sau quầy hàng là hai thiếu phụ người Việt.

Vừa trông thấy tôi, một người dáng chừng là chủ Pharmacie — và tôi đã không nhầm — kêu lên:

– Anh Bùi Ngọc Tấn!

Rồi chạy ra ôm lấy tôi. Chị đã nhận ra tôi, không cần ai giới thiệu. Đó là Nguyễn Thanh Hằng, một thiếu phụ mảnh mai, xinh đẹp, vợ anh Trần Ngọc Sơn, những người sẽ cho tôi ăn ở tại nhà và làm guide phần lớn thời gian tôi lưu lại Pháp.

Đến đâu tôi cũng được đón tiếp như những người thân, những người ruột thịt. Ông Vũ Quốc Phan đối xử với tôi như một người em, dắt tôi đi ăn cơm Việt, và nói cùng tôi bao nhiêu chuyện về thời thơ ấu, về những ngày ở Nam Định rồi Hải Phòng với Nguyên Hồng, về quãng đời lính thợ của ông. Ông lấy từ trong tủ ra những quyển sách Nguyên Hồng gửi tặng ông. Tôi hiểu mình đang được hưởng một may mắn mà số phận sắp đặt: Gặp một nhân chứng của lịch sử và văn học. Vũ Thư Hiên giúp tôi chụp lại bức ảnh Nguyên Hồng với ông Vũ Quốc Phan khi hoàn thành Bỉ Vỏ và bức ảnh Nguyên Hồng bóc từ thẻ nhà báo tặng ông Phan khi mất chức chủ bút tuần báo Văn, một tờ báo mà báo Nhân Dân nhận xét: Trước chữ Văn ta thấy chữ Nhân ló ra. Cẩn thận hơn, Hiên còn chụp cả dòng chữ viết sau tấm ảnh. Chỉ với hai bức ảnh này, tôi nghĩ mình đã lập công lớn đối với văn học.([2])

Khi chân tôi bị đau vì dãn tĩnh mạch, có tới bốn chị bác sĩ, dược sĩ chăm chú theo dõi với nét mặt đăm chiêu. Các chị muốn tiến hành phẫu thuật cho tôi, nhưng tôi bảo: “Tôi sang đây là để đi chơi chứ không phải để nằm viện.” Chị Nguyễn Thanh Hằng đã đo các chỉ số của bàn chân, bắp chân, ống chân tôi để đặt dệt cho tôi hai đôi bít tất chữa bệnh, giá tới gần một trăm Euro.

Biết tôi đang có mặt ở Nuremberg, nhiều bạn đọc đã vượt ba, bốn trăm ki-lô-mét để đến gặp tôi, mặc dù có người phải vào bệnh viện thay băng, một vết thương ngang ống đồng, khiến tôi lo lắng:

– Nhỡ nhiễm trùng thì làm sao em?

Anh bạn cười xoà:

– Anh yên tâm. Bên này không dễ nhiễm trùng như ở Việt Nam đâu.

Có nhiều người Việt Nam khác thường mà Vũ Thư Hiên gọi là Nam Hải dị nhân. Chẳng hạn như anh Kiểm ở Munchen — Munich. Anh bỏ tiền túi in Chuyện kể năm 2000 và phát không cho mọi người.

Hôm đến thăm anh Kiểm, sau khi chào chị vợ người Đức của anh, tôi đề nghị anh cho tôi xem “nhà in” của anh. Anh vui vẻ dắt tôi xuống tầng hầm. Mỗi hộ trong chung cư đều được chia một ô nhỏ trong tầng hầm. Đó là một thứ buồng kho. Trong phần hầm rất hẹp ấy, anh Kiểm có đủ máy in, máy đóng sách, máy xén giấy, toàn những máy hiện đại nhỏ xíu. Ở Việt Nam mà chứa những thứ này trong nhà, lĩnh vài cái bọp là cầm chắc. Chính trong tầng hầm này tôi nhớ đến tiếng cười giòn vang của Lê Bầu khi anh kể chuyện người công an hộ tịch đến nhà, nhờ anh cái máy chữ, đánh máy một đơn từ gì đó:

– “Ông ơi! Ông cứ gõ đủ các chữ đi. Tôi biết thừa, ông lấy đặc điểm máy chữ của tôi đúng không nào? Ông cứ nói thẳng ra như thế cho vui!” Tao bảo nó thế mày ạ! Nó không cải chính mà chỉ cười.

Ở Munchen có một Nam Hải dị nhân khác. Đó là Bùi Hồng Mạnh. Anh là kỹ sư hoá, tốt nghiệp ở Cộng Hoà Dân Chủ Đức, đã mấy lần sang Đức và lần này thì trở thành công dân Cộng Hoà Liên Bang Đức. Anh có một việc làm rất thú vị: Phiên dịch cho toà án. Mỗi giờ của anh thu nhập cả trăm Euro. Thế nhưng anh bỏ tất cả công việc, lái xe đưa tôi đi chơi ngang dọc nước Đức. Không chỉ nước Đức, còn sang cả Áo, để tôi được đặt chân tới ngôi nhà của Mozart và chụp ảnh trước tượng nhạc sĩ vĩ đại.

Rồi tôi sang Mỹ theo lời mời của trung tâm William Joiner Center, đại học Massachusett. Đầu năm đi Mỹ, cuối năm đi Nga. Người mời tôi tới Nga là Bùi Lan Hương, một phụ nữ Nga gốc Việt. Là chủ một doanh nghiệp kinh doanh trên địa bàn nhiều nước, Bùi Lan Hương đã ngừng mọi công việc ba tuần lễ, lo mọi kinh phí và thủ tục từ xin visa, lấy vé máy bay và đưa tôi đi thăm nước Nga, một nước Nga đang bước vào rực rỡ thu vàng. Cảm động làm sao khi Hương nói:

– Đọc chú, cháu vừa quý vừa thương chú, thương dân mình. Đọc chú, cháu thấy chú rất yêu nước Nga, yêu văn học Nga. Cháu ao ước được đón chú sang bên này, để chú tận mắt thấy nước Nga, chú cháu mình sẽ cùng đi thăm các bảo tàng, những cung điện, những nhà thờ, những rừng Nga… Cháu cứ nghĩ làm thế nào để mời được chú sang nhỉ? Không có địa chỉ, không biết điện thoại, không biết i-meo, chỉ có mỗi thông tin là chú ở Hải Phòng. Thế rồi mọi sự như trời sắp đặt. Cháu gặp một người quen chú có mọi thông tin về chú…

Thì ra ở đâu cũng có những Nam Hải dị nhân, Nga cũng như Đức, như Pháp, Mỹ và cả Việt Nam, những người yêu công lý, yêu lẽ phải, đau nỗi đau của người khác. Dù khiêm tốn đến đâu tôi cũng phải nói tôi rất tự hào được một bạn đọc quý mến mình đến thế. Lại thêm tự hào khi biết tôi đến Nga, nhiều bạn đọc từ Ba Lan đã làm thủ tục bay sang Nga để gặp tôi nhưng vì không xin được thị thực nhập cảnh nên chỉ một mình Lê Diễn Đức tới được. Anh có ý định mời tôi sang Ba Lan nhưng chân tôi bị đau, đến cửa bảo tàng Hermitaje mà không thể vào bên trong, đành chỉ ngồi ngoài chụp ảnh.

*

….Trong tôi giờ đây ngân nga những tên người tên đất. Tên những người bạn của tôi ở khắp bốn phương. Và tên những con đường, những thành phố, những Paris, Berlin, Thành Đô, Brugge, Amsterdam, Boston, New York, California, Peterburg, Mạc Tư Khoa …, những đất nước tôi đã đặt chân tới, những nơi tôi được bạn đọc đón nhận như những người anh em.

Đôi mắt tôi không còn bó gọn trong cái ô chữ nhật 12 inch của cái ti vi đen trắng, nghe và nhìn một cô ca sĩ hát rồi khi bất chợt thấy cô đi ngang qua, giật mình như thấy một ngôi sao rơi trước mặt.

Tưởng như thế là đã thỏa mãn, là được hưởng sự ưu đãi của số phận, không còn ao ước gì hơn, nhưng vẫn còn một khao khát âm ỉ, dai dẳng, vẫn còn những nơi tôi ước ao được đến. Đúng hơn, được một lần trở lại. Nhất là những đêm của tuổi già trằn trọc, những đêm chờ trời sáng, những đêm làm tổng kết cuộc đời. Một thèm muốn, một khát khao như thèm muốn khát khao được trở lại mảnh sân, góc vườn thời thơ ấu: Ao ước được trở lại những trại giam, những nhà tù tôi đã sống. Ao ước lại một lần bước qua cổng sắt đóng mở nặng nề trại giam Trần Phú, tiếng bản lề rít lên như tiếng cuộc đời bị kẹp nát, được nhìn lại dẫy xà lim biệt giam Trần Phú, nơi tôi nếm những phút giây tù ngục đầu tiên, được nhìn thấy cánh rừng già âm u hăm doạ và những rặng núi đá lởm chởm Hoành Bồ, hay đến với những thung lũng vùng đất đồi trại Vĩnh Quang — những trại 75, trại Q. trại V. trong tiểu thuyết — băm băm xới xới những luống sắn lá héo nẫu mềm rũ như luộc trong nắng hè, thứ nắng hè làm chúng tôi cũng rũ xuống như lá sắn.

Khi viết Chuyện kể năm 2000, tôi khao khát được trở lại đó chỉ với mục đích sống lại cảm xúc, sống lại hồi ức, sống lại chi tiết. Để tất cả ập vào tôi, chàm vào tôi, nhuộm lại tôi, để những gì tôi đã quên, đã “vãi rơi đi” lại trở về với tôi.

Giờ đây không phải thế. Nó như một thứ bản năng. Những nơi ấy là một phần cuộc đời mình, đã góp phần hình thành mình cả về xương thịt lẫn tâm hồn, không thể thiếu, không thể tách rời. Càng về già, càng đến gần cái kết thúc tất yếu càng mong được một lần trở lại. Những nơi đã ninh nhừ quãng thời gian đẹp nhất, sung sức nhất, chín nhất của đời, một quãng thời gian để sống và thời gian để chết của tôi. Không phải quê hương, nhưng là một cõi, cõi mình trải qua một kiếp. Khi ta ở đất chỉ là đất ở. Khi ta đi đất bỗng hoá tâm hồn.([3]) Đất ấy cũng hóa tâm hồn hay sao mà cứ bám theo tôi, gọi tôi, rủ tôi gặp lại? Tâm hồn của những người bạn tù đã sống, đã chết, những Lỷ Xìn Cắm, Phạm Văn Giăng, Đỗ Lương, Hỉn Sán rồi già Hải, già Đô, hai ông già khiến tôi có một nhân vật văn học khó quên… Đất ấy cũng mang tiếng rì rầm của những buổi ngày xưa vọng nói về,([4]) của những năm tháng tra tấn mà mình nguyền rủa và giờ đây mới mong được sống lại làm sao, vì dù thế nào cũng vẫn là tuổi trẻ của mình, đất mình bị đầy đọa, càng bị dày xéo quằn quại dưới gót sắt chuyên chính càng bùng lên khát vọng sống khát vọng tự do, đất luyện ngục định hình con người mình, cuộc đời mình, không chỉ thế, còn định hình cuộc đời vợ con mình nữa. Đất bắt rễ vào cuộc sống, vào thân thể, vào từng tế bào thần kinh từ đời nọ sang đời kia gọi là số phận.

Trong cuộc tìm lại thời gian đã mất của tuổi già, tôi không thể không nhớ đến các nhà tù. Những nơi ấy thường xuyên trở về như một ám ảnh tuyệt vọng: Làm thế nào để gặp lại nó lần nữa? Mỗi lần duyệt lại bản tổng kết cuộc đời, trong số biết bao hình ảnh, kỷ niệm, không bao giờ thiếu vắng những nhà tù như không bao giờ thiếu vắng những ngày thơ ấu. Những ngày thơ ấu không thể gặp lại nữa. Nhưng nhà tù, có thể gặp lại lắm chứ. Nó ở ngay đây thôi. Ngay Hải Phòng thôi. Đi dọc sông Lấp nay là hồ Tam Bạc là thấy . Tường đá cao vút. Dây thép gai chạy điện. Tôi bị nhốt ở một xà lim gần bệnh viện Việt – Tiệp. Bên này đường bên kia đường. Mùi xào nấu bếp bệnh viện không chỉ thơm nhức mũi, nhức dạ dầy mà còn nhức tim nữa. Nó nhắc tôi cuộc sống, gia đình, vợ con bố mẹ. Buổi sáng mở cửa xà lim khu biệt giam 76 đi đổ bô, nhìn những hạt mưa phơi phới rắc bụi trên những tầu lá chuối, những khóm cải cúc ven tường đọng thành những giọt tròn trong suốt lung linh, hiểu rằng xuân vẫn sang, lại sang, đang sang, xuân năm nay tươi và còn tươi mãi mãi mà ta đang chết dần dần.([5]) Buổi gọi đi lấy cung, bước qua đầu hồi khu biệt giam 76, chợt thấy một cây chanh nhỏ trổ những bông hoa xòe cánh trắng, những nụ hoa tím nhỏ, khựng lại như nhận một nhát dao giữa ngực. Đã hơn bốn mươi năm, hôm nay viết lại, nhận thêm nhát dao nữa. Ngày bất chợt gặp cây chanh nở hoa mùa xuân xà lim đầu tiên ấy, bố mẹ còn sống, lụi cụi trong vườn, dưới gốc chanh mong con về. Hôm nay biến mất rồi, mảnh vườn, gốc chanh, bố mẹ…

Khao khát làm sao vào được sân xê-rom, nơi có 5 (?) cánh cửa dẫn tới 5 (?) nhánh xà lim. Nơi vẫn qua mỗi sáng để đi đổ bô và mỗi tháng một lần ra nhận đồ tiếp tế. Mang túi đồ tiếp tế vào xà lim, lần giở gói vừng, gói thuốc lào, gói bích quy, mấy chiếc bánh mì mà nghĩ đến bàn tay vợ đã đặt vào những món quà này, những mối dây buộc này và đây là bao nhiêu dành dụm, bao nhiêu xót thương của bố mẹ, các anh chị, vợ con…

B.N.T.

([1]) Để đạt được những điều tốt đẹp trong ăn uống nơi công cộng này ở nước ta tôi dám chắc phải nhiều thế kỷ nữa.

(2) Xem Nguyên Hồng ở ParisViết Về Bè Bạn, Bùi Ngọc Tấn.

(3)Thơ Chế Lan Viên.

(4)Thơ Nguyễn Đình Thi.

(Xem tiếp kỳ sau)

([5])Tùy bút Phạm Văn Hạnh.

Nguồn:vv)

 

Tượng đài về Hamlet của William Shakespeare 

KIẾN TRÚC DÔ THỊ:

 ĐỘC ĐÁO THẾ GIỚI TƯỢNG ĐÀI THỦ ĐÔ LONDON

Nhà báo Lê Quang Vinh ( Hà Nội)

(Xây dựng)Gần đây, dư luận xôn xao quanh thông tin Hội đồng Nhân dân tỉnh Sơn La ra Nghị quyết thông qua “Đề án xây dựng tượng đài Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Tây Bắc” có tổng đầu tư 1.400 tỷ đồng (tại buổi họp báo chiều 5/8/2015 ở Hà Nội, đại diện tỉnh Sơn La khẳng định lại: “Riêng hạng mục tượng đài Bác Hồ là khoảng 200 tỷ đồng”). Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch hiện cũng đang lấy ý kiến cho “Dự thảo Quyết định phê duyệt quy hoạch hệ thống tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đến năm 2030”. Theo đó, hệ thống tượng đài sẽ được ưu tiên xây dựng tại 14 tỉnh – thành(1).  (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 17.08.2015

Cái nhìn tự sự đa chiều trong Truyện Kiều

Cái nhìn tự sự đa chiều trong Truyện Kiều

Trần Đình Sử

Tự sự không chỉ giản đơn là kể chuyện mà còn truyền cho người nghe, nguời đọc cảm giác được chứng kiến, được nhìn ngắm sự việc và con người, vì thế điểm nhìn tự sự có ý nghĩa rất quan trọng. Bất cứ tự sự nào cũng đều có người kể chuyện mang điểm nhìn đến cho người đọc. Truyện Kiều là một truyện thơ, một tác phẩm tự sự, thế nhưng lâu nay các nhà nghiên cứu ít bỏ công nghiên cứu đặc sắc của nó từ phương diện điểm nhìn. Nói đến tác phẩm này thì người ta tóm tắt truyện theo chương mục, so sánh thêm bớt giữa truyện Tàu và Đoạn trường tân thanh. Xem cách tả cảnh, tả tình, miêu tả tâm lí, khắc hoạ nhân vật sao cho giống, cho hệt, cách sử dụng từ ngữ khéo léo, tài tình, xem đó như là những yếu tố riêng biệt. Điều đó là cần thiết, song nghệ thuật là thế giới điểm nhìn được kể ra một cách toàn vẹn. Người kể chuyện và điểm nhìn trần thuật trong truyện cũng ít được xem xét. Đó là vì lí thuyết điểm nhìn mới có ở phương Tây trong khoảng từ những năm 20 đến 70 thế kỉ XX. Tuy nhiên tự sự học phương Tây thiên về phân tích điểm nhìn người kể và điểm nhìn nhân vật có tính kĩ thuật, nhưng cần nhìn nhận điểm nhìn trong văn bản tự sự theo một quan điểm rộng rãi hơn. Theo Thi pháp học kết cấu của Boris Uspenski thì điểm nhìn tự sự còn bao gồm điểm nhìn tư tưởng hệ, điểm nhìn không gian, thời gian, điểm nhìn tâm lí, điểm nhìn ngôn ngữ. Theo chúng tôi, cần xem xét điểm nhìn thể loại, bởi mỗi thể loại có một kiểu điểm nhìn riêng. Ví như tự sự sân khấu chỉ cho người xem nhìn thấy một phía, là phía người ngồi xem, không được xem từ phía cánh gà. Truyện Phật thoại, truyện giáo huấn chỉ được nhìn theo đối lập thiện ác, kẻ ác dù ác thế nào đều có thể “phóng hạ đồ đao, lập địa thành Phật” (buông dao sát sinh lập tức thành Phật), nhưng không thể có chuyện ngược lại, người đã thành phật lại làm chuyện sát sinh. Tam quốc diễn nghĩa cũng chỉ có chuyện trung vua nhất quán, không có điểm nhìn ngược lại. Điêu Thuyền chỉ biết hi sinh cho liên hoàn kế của Vương Tư đồ, không có mảy may suy nghĩ riêng tư.

Xét về mặt này Truyện Kiều là một tác phẩm tự sự đặc biệt, tự sự đa điểm nhìn hay điểm nhìn nhiều chiều. Mới nhìn thì có vẻ mâu thuẫn, những xem kĩ thì lại thống nhất rất tinh vi. Truyện Kiều trước hết là một tác phẩm truyện thơ Nôm, sáng tác trên cơ sở một tiểu thuyết văn xuôi chương hồi của Trung Quốc, cho nên trước hết nó mang trong mình vừa con mắt thơ của truyện thơ, vừa con mắt văn xuôi đậm chất tiểu thuyết. Thứ hai, Truyện Kiều vừa mang quan điểm đạo đức quan phương trung hiếu tiết nghĩa, vừa mang quan điểm của người dân bị chà đạp và khao khát muốn tháo cũi sổ lồng cho nên chứa đựng nhiều mâu thuẫn mới lạ, sảng khoái. Thứ ba, Truyện Kiều mang tư duy tu từ của lối sáng tác theo câu chữ, hình ảnh có sẵn, vừa mang tư duy có tính cá thể hiện đại tươi mới. Thứ tư, Truyện Kiều vừa tao nhã, quý phái vừa thế tục, suồng sã. Truyền Kiều vừa kết tinh tinh hoa tiếng Việt dân dã, trữ tình, vừa bao gồm tinh hoa ngữ liệu Hán với rất nhiều điển cố thơ văn cổ điển. Thứ năm, Truyện Kiều vừa có quan điểm nho gia, vừa có Phật gia, Đạo gia. Chính nhiều điểm nhìn trái chiều phối xen đã làm cho thế giới tác phẩm đa nghĩa, đa chiều, thẩm mĩ phong phú thỏa mãn những cách cảm thụ và diễn giải khác nhau.

1. Theo cặp điểm nhìn thứ nhất ta thấy, Truyện Kiều vừa giống tiểu thuyết mà nó dùng làm lam bản, lại vừa không giống, bởi vì nó là một truyện thơ. Và vì nó là truyện thơ cho nên nó đã tích hợp cả một truyền thống thi ca rất phong phú, vừa có ở trong kho tàng thi ca Trung Quốc, vừa có trong kho tàng thi ca và ngôn ngữ Việt Nam. Mới nhìn thoáng qua, hầu như các chi tiết, sự kiện Truyện Kiều đều đã có sẵn, vay mượn từ tiểu thuyết của tác giả Trung Hoa. Nhưng nhìn kĩ, thì tất cả các sự kiện chi tiết ấy đã được nhìn từ nhãn quan thi ca. Chân dung nhân vật chính là những chân dung thi ca, khác hẳn chân dung văn xuôi của Thanh Tâm Tài nhân. Cô Kiều thì: Làn thu thủy, nét xuân sơn, Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh. Còn Kim Trọng: Tuyết in sắc ngựa câu giòn, Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời, những hình ảnh rất đẹp, không có chút gì văn xuôi và cũng không có trong nguyên tác. Cuộc gặp mặt đầu tiên, rồi phong cảnh buổi chơi xuân, nỗi buồn vẩn vơ của mối tình chớm đậu thấm vào trong cảnh. Từ đó về sau, các cảnh nhớ nhà, cảnh ngắm trăng, cảnh đi sớm, cảnh ngồi một mình, cảnh tiễn biệt, niềm vui tái ngộ, tất tật đều có hơi hướng thi ca từ trong truyền thống thơ Đường, điều mà nguyên tác không thể có được. Cái cảnh đi trốn cùng Sở Khanh cũng đầy chất thơ: Đêm thu khắc lậu canh tàn, Gió cây trút lá trăng ngàn ngậm gương. Lối mòn cỏ lợt màu sương, Lòng quê đi một bước đường một đau. Cảnh chia tay Thúc Sinh: Người lên ngựa, kẻ chia bào, Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san. Cái nhìn trong cách xưng hô cũng rất thơ. Đối với Kiều, Kim Trọng người kể chủ yếu là xưng chàng, nàng, cách xưng hô dành cho nhân vật con nhà gia thế đồng thời rất gần gũi về mặt tâm tình. Tương ứng với cách xưng hô này là cách gọi tên Kiều một cách thân mật, mà không gọi là Thúy Kiều như trong nguyên tác. Chỉ Tam hợp đạo cô, một kẻ nắm vận mệnh Kiều, đứng rất xa nàngmới gọi nàng bằng Thuý Kiều. Cái nhìn thơ mộng này là điều mà một số nhà nghiên cứu trước đây và nhà nghiên cứu Trung Quốc chưa từng nhận thấy rõ. Nhưng Truyện Kiều không chỉ là thơ, mà còn là tiểu thuyết. Ở đây có cảnh vu oan, bắt người tra tấn, cảnh cướp phá, cảnh bán người, cảnh đánh đập bắt tiếp khách, cảnh báo ân báo oán với những chi tiết cụ thể. Có cử chỉ vờ vịt của Mã, Sở, của Bạc Hạnh, cảnh đánh ghen hiểm ác. Nhưng tự sự cũng rất thơ, không hề văn xuôi, bởi vì đăng đối hô ứng, thi vị. Nó rất nhanh gọn và nhip nhàng. Ví dụ việc Kiều nhân cha mẹ và hai em đi sinh nhật mà sang với Kim Trọng. Chỉ sáu câu mà kể đủ: Nhà lan thanh vắng một mình, Gẫm cơ hội ngộ đã đành hôm nay. Thì trân thức thức sẵn bày. Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mái tường. Cách hoa sẽ dặng tiếng vàng, Dưới hoa đã thấy có chàng đứng trông. Hay như cảnh Kiều tự tử ở lầu xanh lần thứ nhất. Khi mụ Tú đánh đập, Kiều liền: Thôi thì thôi có tiếc gì, Sẵn dao tay áo tức thì dở ra. Sợ gan nát ngọc liều hoa, Mụ còn trông mặt, nàng đà quá tay. Thương ôi tài sắc bậc này, Một dao oan nghiệt dứt dây phong trần. Nỗi oan vỡ lỡ xa gần, Trong nhà người chật một lần như nen. Nàng thì bằn bặt giấc tiên, Mụ thì cầm cập mắt nhìn hồn bay. Chỉ có 10 dòng mà sự lí rõ ràng, kịch tính sắc nét, lại có chút hóm hỉnh, mỉa mai của văn xuôi. Ở đây cái nhìn thơ và văn xuôi đan bện trong ngôn ngữ kể chuyện chứ không phải truyện kể văn xuôi xen lẫn với thơ của các nhân vật như một phép cộng giản đơn như trong nguyên tác và các truyện truyền kì khác. Cách kể bằng thơ cũng gọn gàng, nhịp nhàng rất thú vị. Chẳng hạn cảnh Kiều thấy Kim lần đầu: Chàng Vương quen mặt ra chào, Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa. Hoặc cảnh Kim Kiều tình tự, bỗng nghe người nhà về thì Vội vàng lá rụng hoa rơi, Chàng về viện sách, nàng dời lầu trang. Một lối kể chuyện gãy gọn chỉ có trong truyện thơ của Nguyễn Du và đem lại một nghệ thuật bậc thầy khó ai sánh được.

2. Truyện Kiều kể về chuyện một người phải bán mình làm nghề gái đĩ và một tướng cướp chống lại triều đình cuối cùng bị giết, nhưng cách nhìn của người kể rất đặc biệt. Hầu như mỗi sự kiện đều có song song hai điểm nhìn khác nhau. Khác với các truyện giáo huấn, truyện cổ tích, truyện diễn nghĩa con người chỉ nhìn một chiều theo đánh giá chính diện, phản diện, theo quan điểm tác giả, trong Truyện Kiều có cái nhìn nhiều chiều. Về việc bán mình, có cái nhìn từ phía luân lí đạo đức: Làm con trước phải đền ơn sinh thành, nhưng từ góc độ cá nhân thì nổi lên sự không đành lòng: Ôi Kim lang, hỡi Kim lang, Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây. Chuyện cậy em thay lời vừa muốn vừa không muốn: Duyên này thì giữ, vật này của chung. Chi tiết này là của Nguyễn Du. Đối với chữ trinh khi thì Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu, khi thì Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường. Khi thì không cần trinh tiết nữa: Biết thân đến bước lạc loài, Nhị đào thà bẻ cho người tình chung. Chi tiết này cũng của Nguyễn Du, không có trong nguyên tác. Đối với việc đi tu cửa Phật, có quan điểm tin vào phép Phật nhiệm màu: Cho hay giọt nước cành dương, Lửa lòng tưới tắt mọi đường trần duyên. Nhưng từ quan điểm cá nhân thì đi tu là một sự hủy hoại tuổi xanh: Đã đem mình bỏ am mây; Đã tu, tu trót, qua thì, thì thôi. Đi tu là một sự bất đắc dĩ. Đây là điểm nhìn của cô Kiều của Nguyễn Du, không có trong nguyên tác. Khi có điều kiện Kiều liền báo ân và báo oán, nhiều kẻ chết thê thảm, khác xa lí tưởng nhà Phật vốn là giới sát. Đến cuối truyện nhà Kiều lập am và Kiều dầu dèn chờ Giác Duyên chứ không hẳn là nàng tu phật, vì nàng đâu có xuất gia, nàng về danh nghĩa vẫn đang là vợ chính thức mới cưới của Kim Trọng. Như thế là đối với mỗi sự kiện đều có những cách hiểu khác nhau. Đối với Hồ Tôn Hiến lúc đầu giới thiệu rất trang trọng: Có quan Tổng đốc trọng thần, nhưng liền đó lại thấy con người tráo trở: Lễ nghi dàn trước, bác đồng phục sau. Lại có cái nhìn phát hiện ra y là kẻ tầm thường: Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình. Những điểm nhìn khác nhau vẽ ra những con người lập thể, đa diện. Phức tạp hơn hết là cái nhìn đối với nhân vật Từ Hải. Theo quan điểm quan phương thì Từ là một tướng cướp, là giặc, nhưng chỉ có họ Đô là xưng Từ là giặc, còn người kể chuyện ngay từ đầu đã gọi Từ là khách biên đình, là anh hùng, cho đến khi Từ đã chết, trước mặt Hồ Tôn Hiến Kiều vẫn nói: Rằng Từ là đấng anh hùng, Dọc ngang trời đất, vẫy vùng bể khơi. Khi khóc than chuẩn bị gieo mình xuống sông Tiền Đường Kiều đều gọi Từ là Từ Công, giống như khi trước gọi Hồ Tôn Hiến là Hồ Công. Đối với việc khuyên Từ Hải hàng, cũng có nhiều quan điểm. Khi thì gọi đó là “việc nước”, theo quan điểm quan phương, khi thì thấy đó là sự “giết chồng”, khi thì thấy là “có công”, khi lại thấy là có tội: Nghĩ mình công ít tội nhiều. Nhưng nghĩ kĩ thì thấy hành động của Kiều là nhẹ dạ: Nàng thì thật dạ tin người, Lễ nhiều nói ngọt, nghe lời dễ xiêu. Tức là nàng bị lừa. Điểm nhìn của Nguyễn Du, không có trong nguyên tác. Đối với ông Trời, quan điểm định mệnh của Nguyễn Du là rất rõ và nhất quán, tuy vậy cũng có lúc cho rằng Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều. Trời của Nguyễn Du không đồng nhất với Thiên của Nho giáo, vốn là một “thiên lí” siêu hình, mà là một kẻ biết xúc động với với hiếu tâm của Kiều, sẵn sàng nghiêm trị bọn bạc ác tinh ma. Đối với bọn Tú, Mã, Sở thì tội của chúng là do chúng tự chuốc lấy, chứ không phải tại trời. Trước đây các nhà phê bình Mác xít Việt Nam thường có thói quen duy vật là chỉ thừa nhận những tư tưởng tiến bộ của nhà văn, còn những tư tưởng lễ giáo hay định mệnh thì coi là những hạn chế. Thực ra nếu thừa nhận nhãn quan định mệnh, tư duy lễ giáo là tất yếu lịch sử của nhà thơ, thì sẽ thấy nhà thơ của chúng ta đã vượt lên trói buộc của thời đại để có những nhận thức mới phù hợp với quan điểm nhân văn.

3. Xem chân dung Thuý Kiều, Thúy Vân, Kim Trọng, Từ Hải ai cũng thấy đó là các chân dung có sẵn đâu đó trong văn học trung đại, không mang chút cá tính cụ thể nào. Những mai cốt cách, tuyết tinh thần, làn thu thủy nét xuân sơn, hoa cười ngọc thốt đoan trang… đều là những sáo ngữ. Ngay hình ảnh được nhiều người ca tụng Rõ ràng trong ngọc trắng ngà thì cũng là sáo ngữ, nói chung người con gái nào mà không như thế. Có thể nói đó là điểm nhìn tu từ học cổ điển, miêu tả theo lối ước lệ có sẵn. Nhưng nếu dựa vào đó để chê Truyện Kiều thiếu cá tính, thiếu ý thức cá nhân thì lại nhầm to. Nguyễn Du có một điểm nhìn trái ngược với quan điểm tu từ ấy khi miêu tả nhân vật, đó là miêu tả nhân vật từ bên trong, từ điểm nhìn nội tại có tính cá thể cao độ. Tôi đã có nhận xét rằng, trong Truyện Kiều, con người bên trong cụ thể cảm tính hơn con người bên ngoài, lời nói bên trong cụ thể hơn lời nói bên ngoài, phong cảnh bên ngoài có xu hướng nội tâm hóa. Thế giới nội tâm của Truyện Kiều là rất cụ thể, không lặp lại. Cảm xúc của Kiều khi gặp chàng Kim, cảm xúc khi phải bán mình, tình cảm lúc cậy em thay lời, cảm xúc khi buộc phải tiếp khách, cảm xúc khi phải chuyện trò với chàng Thúc chỉ biết hưởng thụ thân thể nàng. Toàn bộ thế giới tâm tình của nhân vật ai đã đọc đều không thể cho là ước lệ, đó là con người này, là một cá tính không lặp lại. Ở đây không còn là quan điểm tu từ của chủ nghĩa truyền thống, mà đã là quan điểm văn học theo kiểu cá nhân luận cận hiện đại. Không chỉ một mình Kiều như thế mà các nhân vật khác như Kim Trọng, Thúc Sinh, Từ Hải, kể cả nhân vật Mã Giám Sinh, mụ Tú Bà cũng đều có một cuộc sống riêng bên trong cái vẻ bề ngoài khuôn sáo mà chỉ có dòng ngôn ngữ nội tâm, độc thoại nội tâm thì mới miêu tả ra được. Ngay phong cảnh, sự việc đều hiện ra qua cảm thụ của con người. Hãy nhìn kĩ cách tả cảnh trong truyện sẽ thấy cảnh không phải là tĩnh tại, được đưa ra như là có sẵn, mà là xuất hiện dần dần theo bước chân, con mắt của nhân vật. Chẳng hạn, Bước lần theo ngọn tiểu khê, Nhìn xem phong cảnh có bề thanh thanh. Nao nao dòng nước uốn quanh, Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang. Sự vật hiện ra qua sự phỏng đoán của nhân vật, ví dụ: Bóng hồng nhác thấy nẻo xa; Trông chừng thấy một văn nhân; Thưa hồng rậm lục đã chừng xuân qua… Miêu tả hay trần thuật cái gì cũng lấy sự cảm nhận của con người làm trung tâm. Đây chính là giá trị đỉnh cao của tác phẩm về phương diện chủ nghĩa nhân đạo, nhân văn trên phương diện nghệ thuật.

4. Truyện Kiều kế thừa quan điểm chữ Thân trong Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm, nhìn con người qua quan điểm hình nhi hạ của than thể vật chất. Nếu lấy cuối thế kỉ XVII đầu thế kỉ XVIII là dấu mốc chia văn học Việt Nam trung đại làm hai giai đoạn thì ta thấy từ thế kỉ XVII về trước con người trong văn học chỉ được quan tâm từ hình nhi thượng, tức là con người sống theo đạo lí, nhìn người theo đạo lí. Còn văn học từ thế kỉ XVIII trở đi lại nhìn người chủ yếu theo hình nhi hạ, tức là nhìn người theo tấm thân. Thân đây là thân thể, cái phần vật chất sẽ bị thời gian tàn phá, sẽ có thể mua bán, có thể bị giày xéo, hư nát, khổ đau. Thân là tồn tại duy nhất một lần, rất cá nhân, cá thể. Truyện Kiều là tác phẩm tự sự theo điểm nhìn chữ Thân. Những người hiểu nhân vật qua chữ tài, sắc, chữ tình, chữ hạnh đều không hiểu gì Truyện Kiều. Những người bám vào câu “tài mệnh tương đố” cũng không hiểu được Truyện Kiều. Bởi Truyện Kiều là tác phẩm kể về một Tấm thân quằn quại vũng lầy, Thân lươn bao quản lấm đầu, kể nỗi đau của Tấm lòng trinh bạch từ nay cũng chừa, Xót thân chìm nổi đau lòng hợp tan. Truyện Kiều là sự phát triển sâu sắc nhất của dòng văn học chữ Thân trong văn học Việt Nam thế kỉ XVIII. Nguyễn Du đã nâng tư tưởng tài mệnh tương đố lên thân mệnh tương đố rất sâu sắc.

5. Truyện Kiều cũng tự sự theo quan điểm chữ Tâm. Chữ Tâm khiến nàng thương khóc Đạm Tiên, nể lời Kim Trọng, chữ Tâm khiến nàng bán mình chuộc cha, cậy em thay lời, chữ Tâm khiến nàng chịu nhẫn nhục, không buông thả theo lối tà dâm, khiến nàng khuyên Từ Hải hàng, lại chết theo Từ Hải. Trong truyện của Thanh Tâm tài nhân thì khi hầu rượu Hồ Tôn Hiến, Kiều liếc mắt đưa tình, lung lạc hắn, khác với Kiều Nguyễn Du. Nhìn theo chữ Tâm để kết truyện có thể nói Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài. Từ điểm này nhìn lại đoạn tả chị em Thuý Kiều, nhất là Kiều: Thông minh vốn sẵn tính trời, Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca ngâm, Cung thương làu bậc ngũ âm, Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương, Khúc nhà tay lựa nên chương, Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân, Phong lưu rất mực hồng quần thì thấy điểm nhìn lời kể có phần tung hô, quảng cáo theo lối cậy tài, thị tài thái quá, tương phản với câu Có tài mà cậy chi tài sau này. Đó là phục bút để cho người nhẹ dạ tưởng Nguyễn Du chỉ ca ngợi tài Kiều, mà không thấy nhà thơ đã dùng lời lẽ khác thường. Nhưng cái cảnh xem tài đàn là cái lầm người bấy nay thì thật khó hiểu. Cái tài bị ghét một cách oan uổng lại là điểm nhìn mâu thuẫn về thế giới quan thật.

6. Truyện Kiều là truyện kể vừa tao nhã, quý phái vừa là thế tục, vừa nhã vừa tục. Nói quý phái tao nhã khi miêu tả nhân vât với những đường nét cao sang như mai cốt cách, tuyết tinh thần, Kiều xuất hiện khi nào cũng có mùi hương quyến rũ, một điều mà nguyên tác không có. Trang phục nhân vật, hoàn cảnh xung quanh đều sang trọng, như Giải là hương lộn, bình gương bóng lồng, Một vùng như thể cây quỳnh cành dao, thật là tao nhã quý phái rất mực. Theo nguyên tác Trung Hoa thì gia đình họ Vương chỉ là viên ngoại, thường thường bực trung, Kiều không phải là tiểu thư khuê các, không có a hoàn theo hầu, nhưng nếu miêu tả theo quan điểm đó thì tác phẩm thiếu đi cái đẹp sang trọng tao nhã, không hợp với cái gu quý tộc vốn có của tác giả Nguyễn Du. Nhưng mặt khác Truyện Kiều nguyên là sản phẩm của dòng tiểu thuyết ra đời trên nền tảng thị hiếu thị dân, phong khí thế tục rất thịnh, kể những chuyện đời thường, có trộm ngọc cắp hương, có yếu tố sắc dục, có tình tiết mưu lừa, các kế sách mua gái nhà lành, lừa ép tiếp khách, đánh úp kẻ xin hàng. Nguyễn Du rõ ràng đã tước bỏ đi rất nhiều các mưu mẹo lọc lừa, các chi tiết gây hấp dẫn, nhưng tính chất thông tục của cuốn truyện vẫn không thay đổi. Bởi vẫn còn chuyện bán mình chuộc cha, bị lừa bán cho lầu xanh, bị đánh ghen, lại vào lầu xanh lần hai, làm vợ tướng giặc, bị ép gả cho thổ tù, nhục nhã phải gieo mình tự tận. Đó là một số phận đời thường mà ai cũng hiểu được, ai cũng quan tâm. Những khi nhục nhã ê chề, thanh lâu hai lượt thanh y hai lần, Kiều không còn gì là sang trọng, quý phái nữa, mà chỉ còn là con người đau khổ nhục nhã nói chung, đại diện cho bao thân phận phụ nữ bị dập vùi. Đó là truyện thông tục, bình dân, ai cũng hiểu. Đặc biệt Truyện Kiều tự sự từ chữ Thân, tức là thân thể, cái phần đau đớn, dễ bị mua bán, hành hạ, hủy hoại của kiếp người, cái phần sung sướng và đau khổ. Trong dòng văn học chữ Thân của Việt Nam nảy sinh từ thế kỉ XVIII với Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm, Truyện Kiều đã đi xa nhất, thể hiện một cái thân phổ quát nhất, do đó tác phẩm vừa là văn học đại chúng vừa là văn học tinh hoa cao cấp.

7. Gắn với tính chất cao nhã Truyện Kiều có một hệ thống ngôn ngữ chi tiết rất đẹp, với những thềm hoa, lệ hoa, trướng gấm, buồng thêu, tiếng vàng, giọt ngọc, con người thì mặt hoa, ngọc thốt, nhạc vàng, hài văn, đầy tính trang sức rất cao quý, tao nhã. Cũng với đó là các điển cố cầu lam, chương đài, chim xanh, Trang Chu mộng bướm, Đỗ Quyên khóc máu, hồn mai, giấc hòe, kim mã ngọc đường, tác phẩm như một đồ vật quý khảm vàng bạc châu ngọc rất quý giá. Nhưng mặt khác Truyện Kiều dày đặc những lời kể rất Việt Nam: Đau đớn thay phận đàn bà, Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung; Vui là vui gượng kẻo là, Ai tri âm đó mặn mà với ai; Người yêu ta xấu với người, Yêu nhau mà lại bằng mười phụ nhau, đọc lên hết sức gần gũi. Đặc biệt ngôn ngữ nhân vật trong truyện đều có tính chất cá thể hóa cao độ. Lời kể, lời tả, đều rất dung dị, thiết tha, đau đớn, thấm vào gan ruột người đọc.

Truyện Kiều là một tác phẩm tự sự đa chiều, nhiều giọng, nhiều điểm nhìn. Một mặt là những điểm nhìn có sẵn của truyền thống tự sự trung đại. Đó là điểm nhìn tu từ học, điểm nhìn tiểu thuyết chương hồi, điểm nhìn lễ giáo, quan phương. Nhưng mặt khác Nguyễn Du đã đem vào những điểm nhìn mới lạ, điểm nhìn thi ca, điểm nhìn cá nhân, cá thể thế tục của nhân vật, điểm nhìn nhân văn, điểm nhìn thân thể, điểm nhìn nội tâm, điểm nhìn tao nhã và điểm nhìn thông tục đời thường. Các điểm nhìn mới đó đã làm mới câu chuyện, làm mới hình thức và nội dung tác phẩm, biến một tác phẩm thường thường bậc trung thành một kiệt tác tầm cỡ thế giới.

Nguồn: https://trandinhsu. wordpress. com/2015/08/07/cai-nhin-tu-su-nhieu-chieu-trong-truyen-kieu/

 

NỒI BÚN, NỀN GIÁO DỤC VÀ MỚ BÒNG BONG CẢI CÁCH !

Có vị suốt ngày lo đi nhắc nhở bọn đế quốc nó âm mưu phá ta, thủ đoạn thâm độc, diễn biến này kia… thế mà cả ba đứa con của ổng đều cho qua cái xứ đầy âm mưu thủ đoạn đó học hành, ta nói ổng thiệt là không có trái tim mà! … Haizza, tạo lập nên một hệ thống giáo dục mà con cái mình rứt ruột sanh ra lại đưa cho thế lực thù địch giáo dục, chứ không dùng tới nền giáo dục nước nhà, thảo nào mà nền giáo dục nước nhà cứ như mớ bòng bong, tùm lum tà la tóa lọa khôn lường và hậu quả thì ai chịu biết zồi đấy!”

 FB Lê Đức Dục

 

Kỳ thi 2 trong 1 (tú tài và đại học) đã xong,chưa kịp vui thì việc xét tuyển đang là mớ bòng bong cho thí sinh lẫn nhà trường, thầy Văn Như Cương thì khẳng định kỳ thi này “đã thất bại hoàn toàn”.

Một sản phẩm của nền giáo dục, liên quan đến tương lai hàng triệu người mà sao có thể “ba lơn” như thế này? Phó thủ tướng Vũ Đức Đam phát biểu rằng “ Thực ra vấn đề này đã được nêu ra nhưng Bộ khẳng định đã lường được và yên tâm.Tuy nhiên thực tế cho thấy Bộ chưa lường được hết và chưa thể yên tâm”.

Đúng là thí sinh sau kỳ thi lại phải “chơi chứng khoán” với màn xét tuyển ! Nền giáo dục nước nhà bao nhiêu năm muốn đổi mới mà cứ mỗi lần đổi mới là con dân xứ Việt lại lên máu theo, từ chuyện chữ viết thẳng đơ thay cho nét kéo hồi những năm 80 của thế kỷ 20 đến sửa sách giáo khoa, thay đổi cách thức thi tuyển, rồi “ba không ba có”, nên đến năm thứ 15 của thế kỷ 21 vẫn loay hoay.

Nghĩ về hệ thống giáo dục nước nhà bổng dưng tôi nhớ tới quán bún đầu hẻm nhà mình. Quán bún của bà chị to béo vật vã, không ngon lắm, khách cũng thập loại chúng sinh, từ đi xe Audi tới bán vé số..Nhưng cái hay là tôi luôn thấy cả nhà chị ăn sáng bằng nồi bún nhà mình, cả chồng cả vợ, con gái, con rể, cháu ngoại…đều ăn sáng ở quán chứ không đi ăn lung tung.

Sản phẩm mình làm ra và mình dám ăn, ăn miệt mài ngày này qua ngày khác, nghĩa là có thể họ bằng lòng với cái của mình!

Nếu so với nền giáo dục nước ta thì chắc các nhà hoạch định chiến lược giáo dục thua xa bà bán bún này!

Bởi, nếu coi hệ thống giáo dục nước nhà là sản phẩm của các quý ngài quan chức ở các Bộ, Viện, ….thì chả thấy vị nào dùng sản phẩm của các vị khi mà con cái của các ông bà đều cho du học ở xứ người (hầu hết là ở các nước tư bản, đế quốc!)

Sản phẩm hệ thống giáo dục do mình kiến tạo mà mình không (dám) xài, mình đẩy con đi tỵ nạn giáo dục ở xứ người thì rõ ràng các ngài không bằng bà bán bún hẻm em, bởi nấu bún ra cả nhà bà cùng ăn luôn!

Đấy là chưa nói các vị rất liều mạng! Rất không có trái tim! Tình thương với con cái là vô biên, vô điều kiện, không gì sánh bằng, thế mà các vị lại đẩy con mình cho kẻ thù của chính mình dạy dỗ và đào tạo thì quá liều, liều quá!

Có vị suốt ngày lo đi nhắc nhở bọn đế quốc nó âm mưu phá ta, thủ đoạn thâm độc, diễn biến này kia…thế mà cả ba đứa con của ổng đều cho qua cái xứ đầy âm mưu thủ đoạn đó học hành, ta nói ổng thiệt là không có trái tim mà! (à còn chiện lấy tiền đâu để đẩy con cái đi học ở xứ thù địch lại là một chuyện đau đầu khác đối với nhân dân)

Haizza, tạo lập nên một hệ thống giáo dục mà con cái mình rứt ruột sanh ra lại đưa cho thế lực thù địch giáo dục, chứ không dùng tới nền giáo dục nước nhà, thảo nào mà nền giáo dục nước nhà cứ như mớ bòng bong, tùm lum tà la tóa lọa khôn lường và hậu quả thì ai chịu biết zồi đấy!

iem thật!

( Nguồn: FB Lê Đức Dục)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 16.08.2015

THƯ GIẢN CUỐI TUẦN- TƯỢNG ĐÀI SỰ SỐNG

THƯ GIẢN CUỐI TUẦN- TƯỢNG ĐÀI SỰ SỐNG

QTXM: Các bạn thân mến. Linga và Yuni là hai biểu tượng của phồn thực nhân loại. Tượng đài của quý đàn ông là tượng đài phồn thực, tượng đài  sự sống.Thật ý nghĩa, thật thú vị. Ở Bỉ, người ta dưng tượng thằng cu đái trên quảng trường lớn. Từ chim của Cu Đái, một dòng nước suốt ngày tuôn ra. Đó là nguồn mạch sự sống. Ở Việt Nam có Linga ở Trà Kiệu to lớn, cao hơn người. Ở Mỹ, người ta dựng tượng của quý đàn ông cho mọi người đến ngắm, đến chụp ảnh. Ở Nhật ,người ta đúc tượng của quý đàn ông  để rước trong một lễ hội lớn : Lễ hội rước của quý đàn ông. Của quý phồn thực ấy đã biến thành kem để mút, linga đã thành nơi để chị em sờ lấy phước, thành chỗ vui chơi. THƯ GIAN CUỐI TUẦN kỳ này xin giới thiệu mấy cái tượng dài phồn thực ấy. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 16.08.2015

Tượng đài, đền chùa và vận mệnh quốc gia

Tượng đài, đền chùa và vận mệnh quốc gia

Trần Văn Thọ (Tokyo)

Xây dựng tượng đài, chùa chiền, cung điện làm cạn kiệt nguồn lực đáng lẽ phải dành cho củng cố lực lượng phòng vệ, khoan thư sức dân và đầu tư cho nguồn nhân lực.

Ở Nhật Bản, Thời đại Chiến quốc kéo dài từ cuối thế kỷ 15 đến đầu thế kỷ 17. Các lãnh chúa tranh nhau mở rộng phạm vi thống trị và liên miên chiến tranh để thôn tính nhau. Cuối cùng Tokugawa Ieyasu (1542-1616) lấy được thiên hạ, mở đầu thời đại Edo hơn 250 năm (1615-1868). Giai đoạn cuối của thời chiến quốc này là sự đối đầu gữa chính quyền Toyotomi đóng ở thành Osaka và thế lực Ieyasu ở Edo (Tokyo ngày nay).

Một trong những chiến lược, mưu kế của Ieyasu là xúi giục chính quyền Toyotomi xây dựng nhiều chùa chiền, đền đài để cho ngân quỹ bị kiệt quệ, không còn nguồn lực cho tăng cường năng lực quân sự và cải thiện an sinh cho dân chúng trong thành. Cuối cùng chính quyền này suy yếu và bị Ieyasu tiêu diệt năm 1615.

Sau khoảng 100 năm nội chiến, ba lãnh chúa nổi trội nhất vào cuối thế kỷ 16 là Oda Nobunaga, Toyotomi Hideyoshi và Tokugawa Ieyasu. Ieyasu là đồng minh của Nobunaga nhưng yếu hơn nên trên thực chất là phục tùng Nobunaga, còn Hideyoshi là vũ tướng đắc lực, là cánh tay mặt của Nobunaga. Do đó, lịch sử đã chuyển động chung quanh Nobunaga và lúc đó ai cũng thấy là Nobunaga sẽ thống nhất thiên hạ, và trên thực tế đã bình định phần lớn các thế lực khác.

Nhưng bất ngờ là Nobunaga bị một vũ tướng khác của mình là Akechi Mitsuhide làm phản, bất ngờ tấn công vào chùa Honno ở Kyoto là nơi Nobunaga dừng chân trên đường đi tiếp viện cho Hideyoshi đang giao tranh với lãnh chúa Mori ở vùng Chugoku (hiện nay là Hiroshima). Trước quân số đông gấp 10 lần của Mitsuhide và bị tấn công bất ngờ, Nobunaga phải tự tử sau cuộc chiến đấu không cân sức.

Hideyoshi nhận định đây là thời cơ để mình lấy thiên hạ nên đã giảng hòa với Mori và tức tốc chuyển quân về Kyoto để trị tội Mitsuhide. Hideyoshi sợ Ieyasu ra tay trước nên đã hành động ngay. Với chiến lược chuyển binh thần tốc, bất ngờ và với tài dụng binh đã được thử thách qua nhiều năm, Hideyoshi đã thắng Mitsuhide dễ dàng. Sau đó Hideyoshi đã bình định nhiều lãnh chúa còn lại và hoàn thành sự nghiệp thống nhất thiên hạ mà Nobunaga đã bỏ dở. Năm 1585 Hideyoshi được thiên hoàng phong làm Kanpaku, một chức vị tương đương với địa vị của chúa, thay mặt thiên hoàng chấp chính, cai trị thiên hạ.

Bây giờ Ieyasu lại phải phục tùng Hideyoshi mặc dù vẫn nuôi chí lớn và chờ thời. Năm 1598 Hideyoshi mất, lúc đó người con trai duy nhất là Hideyori mới 06 tuổi lên kế vị. Trước khi mất Hideyoshi giao cho mẹ của Hideyori và các đại thần phò tá cho đến khi ấu chúa khôn lớn, với mong muốn chính quyền Toyotomi sẽ trường cửu. Ieyasu cũng được chỉ định là một trong mấy đại thần có trách nhiệm phò tá Hideyori nhưng trong lòng đã bắt đầu nuôi ý đồ chiếm đoạt thiên hạ.

Trong lúc chờ thời, một mặt Ieyasu củng cố thế lực, tăng vây cánh, mặt khác 02tìm cách làm cho chính quyền Toyotomi suy yếu mà một trong những chiến lược cụ thể là xúi giục chính quyền này xây mới và tu bổ thật nhiều chùa chiền, đền đài, không phải chỉ ở Nara và Kyoto mà trên quy mô toàn quốc. Trong các công trình này nổi tiếng nhất là việc xây dựng lại chùa Hokoji (Phương Quảng Tự) ở Kyoto, một công trình đồ sộ kéo dài từ năm 1602 đến 1613 mới hoàn thành.

Tượng đài, đền chùa, vận mệnh, quốc gia, Trần Văn Thọ, Tokyo, Nhật Bản

Tháp chuông của chùa Hokoji

Ieyasu biết là Hideyoshi đã để lại một tài sản kếch xù dưới dạng vàng bạc nên phải làm sao xúi giục chính quyền Toyotomi tiêu xài phung phí để làm cạn kiệt nguồn lực đó. Ieyasu cũng biết rằng khi những người chung quanh Hideyori bận tâm vào những việc xây cất nầy họ sẽ lơ là những việc quan trọng liên quan sự nghiệp củng cố sức mạnh của chính quyền. Về phía chính quyền Toyotomi, sau khi Hideyoshi mất, uy danh của dòng họ có suy giảm, và họ cho rằng việc kiến tạo, xây dựng đền đài, chùa chiền là một biện pháp để tiếp tục phô trương sức mạnh và sự tồn tại của mình. Do đó họ làm theo lời khuyên của Ieyasu mà không có chút nghi ngờ.

Bước qua thập niên 1610, Hideyori đã xấp xỉ 20 tuổi và dần dần tự mình có thể trực tiếp chấp chính. Không thể để tình trạng đó kéo dài, và thấy chính quyền Toyotomi đã suy yếu, Ieyasu quyết định tiêu diệt nên tìm cớ để cất binh đánh thành Osaka. Trận chiến mùa đông năm 1614 và trận chiến mùa hạ năm 1615 đã kết liễu chính quyền của dòng họ Toyotomi. Hai mẹ con Hideyori phải tự tử trước ngọn lửa do quân của Ieyasu bắn vào thành Osaka.

Xây dựng tượng đài, chùa chiền, cung điện làm cạn kiệt nguồn lực đáng lẽ phải dành cho củng cố lực lượng phòng vệ, khoan thư sức dân và đầu tư cho nguồn nhân lực. Toyotomi đầu thế kỷ 17 ở Nhật chỉ là một trong nhiều bài học mà lịch sử thế giới đã cho thấy.

Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/255797/tuong-dai–den-chua-va-van-menh-quoc-gia.html

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 16.08.2015

CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGÔ MINH

Tượng của Đào Phương

  CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGÔ MINH

    Thạc sĩ Nguyễn Thị Bích Kiều

Cái tôi trữ tình là chủ thể của hành trình sáng tạo thi ca, có vai trò quan trọng trong thơ với tư cách là trung tâm để bộc lộ lại tất cả suy nghĩ, tình cảm, thái độ được thể hiện bằng một giọng điệu riêng. Một cái tôi trữ tình phong phú tựa như viên nam châm luôn luôn có sức hút về phía mình sự giàu có của cuộc đời. Đặc điểm của cái tôi trữ tình phụ thuộc vào phong cách của mỗi nhà thơ, của các trào lưu, khuynh hướng. Chính vì vậy, mỗi thời đại có một kiểu cái tôi trữ tình đóng vai trò chủ đạo. Đi vào tìm hiểu cái tôi trữ tình trong thơ Ngô Minh, chúng tôi nhận thấy ở thơ ông chủ yếu ở các dạng thái: Cái tôi trữ tình ngợi ca- tự hào, Cái tôi trữ tình đời tư-thế sự, cái tôi trữ tình chiêm nghiệm-triết lí.

  Ngô Minh là một nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Cùng thời với ông, có một đội ngũ tác giả tên tuổi như Lâm Thị Mỹ Dạ, Hoàng Vũ Thuật,… nhưng trong khi những bạn thơ đã trưởng thành, Ngô Minh lại xuất hiện khá muộn. Con đường đến với thơ của ông đầy trắc trở, nhưng bằng tài năng, niềm đam mê mãnh liệt trong sáng tạo thi ca, Ngô Minh đã đem đến cho nền văn học nước nhà những vần thơ giàu‎ giá trị ở cả nội dung và hình thức nghệ thuật. Trong bài viết này, chúng tôi đi vào tìm hiểu cái tôi trữ tình trong thơ Ngô Minh, nhằm chỉ ra những đặc điểm nổi bật về nội dung thơ ông, đồng thời khẳng định vị thế của nhà thơ trong tiến trình vận động và phát triển của nền thơ hiện đại Việt Nam. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 16.08.2015

Ý NGHĨA NHỮNG TỪ THÔ TỤC TRONG VIỆT NGỮ

Ý NGHĨA NHỮNG TỪ THÔ TỤC TRONG VIỆT NGỮ

 Nguyễn Xuân Quang

Những từ mà chúng ta ngày nay cho là “thô tục”, đối với tổ tiên ta chúng mang đầy ý nghĩa về triết lý, vũ trụ quan và nhân sinh quan, nói một cách khác những từ này mang ý nghĩa của Dịch lý. Vì đây là một bài khảo cứu về ngôn ngữ và Dịch học, nên tác giả xin phép viết các từ thô tục này “nguyên con” (nguyên chữ). Xin các nhà đạo đức tạm gác cái bầu đạo đức qua một bên khi đọc loạt bài này kẻo không sẽ nguy hại tới sức khỏe (đây là lời khuyên của một thầy thuốc).

NHỮNG TỪ CHỈ BỘ PHẬN SINH DỤC NỮ

Trước hết xin nói về những từ chỉ bộ phận sinh dục phái nữ vì xã hội loài người bắt đầu từ mẫu hệ và hư vô trung tính chuyển qua vũ trụ âm trước. Việt ngữ có những từ chỉ bộ phận sinh dục nữ như nường, lồn, dánh, ke, ghe, nốc, dốc, đốc v. v… (Đọc tiếp…)

NGUYỄN HỮU ĐANG – SỐ PHẬN CHỨA MỘT PHẦN LỊCH SỬ

Nguyễn Thượng Thành

 

Hôm nay kỷ niệm đúng 100 năm ngày sinh cụ Nguyễn Hữu Đang (15/8/1913 -15/8/2013), một nhà báo có lương tâm, một trong những thành viên sáng lập Hội truyền Bá Quốc ngữ và là người chỉ huy dựng lễ đài độc lập cho ông Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945.

Nguyễn Hữu Đang là người không chịu dùng tài năng của mình để bẻ cong ngòi bút và không chịu uốn thấp nhân cách để làm những điều đi ngược lại với lương tâm. Nguyễn Hữu Đang tham gia Phong trào Nhân văn – Giai Phẩm và sau đó, mặc dù bị đe dọa khủng bố, nhưng với bản chất thẳng thắn cương nghị của mình, ông nhất quyết không chịu “đấm ngực nhận tội” và đặc biệt ông nhất định không bao giờ đứng ra tố cáo những anh em văn nghệ sĩ khác. Cái giá cho sự nghĩa khí này là ông phải chịu sự đàn áp và trả thù tàn bạo với mức án 15 năm giam cầm ở Hà Giang. Trước khi bị bắt, Nguyễn Hữu Đang cũng đã phải chịu những đòn đánh ác hiểm, cay nghiệt bằng nhiều bài báo của các “dư luận viên” của Đảng hồi đó. Dưới đây là một đoạn trong bài “Con đường phản cách mạng của Nguyễn Hữu Đang” của tác giả Hồng Vân, đăng trên tạp chí Văn Nghệ số 12, tháng 5 năm 1958:

“Nguyễn Hữu Đang tên bất học vô thuật này, nhảy vào văn nghệ với thủ đoạn của một tên khiêu khích, cũng chẳng tài giỏi gì hơn là cóp nhặt một số luận điệu, một số danh từ của những phần tử cơ hội chủ nghĩa đã ném ra, xuyên tạc những chính sách văn nghệ đúng đắn của Lên-nin, của Đảng cộng sản Trung Quốc, để tấn công vào sự lãnh đạo của Đảng ta trên văn nghệ…”
Nguyễn Hữu Đang được ra tù năm 1973 nhưng ông vẫn phải chịu sự ghẻ lạnh, xa lánh của xã hội. Tổng cộng thời gian ông bị cầm tù oan khuất và sống trong buồn tủi và cô đơn là gần 30 năm trời. Những năm cuối đời Nguyễn Hữu Đang sống trong cô độc, không vợ không con và nhờ vào nguồn thực phẩm chính là côn trùng, cóc nhái. Hãy nghe Phùng Quán, người bạn nghĩa tình đã giúp đỡ rất nhiều cho ông trong những năm đó viết về sinh hoạt của Nguyễn Hữu Đang:
“Cái chái bếp căn hộ độc thân của anh rộng khoảng 5 mét vuông, chật kín những tư trang, đồ đạc. Mấy cây sào ngọn tre gác dọc ngang sát mái, treo vắt cả chục cái khăn mặt rách xơ như giẻ lau bát, áo may-ô thủng nát, quần lao động vá víu. Cạp quần đeo lủng lẳng một chùm lục lạc làm bằng vỏ hộp dầu cao Sao vàng xuyên thủng, buộc dây thép, bên trong có hòn sỏi nhỏ. Động vào chùm lục lạc rung lên leng keng, nghe rất vui tai. Sau đó tôi được anh giải thích tác dụng của chùm lục lạc: Đi lại trong đường làng những đêm tối trời, anh thường bị cánh thanh thiếu niên đi xe đạp, xe máy phóng ẩu đâm sầm vào, làm anh ngã trẹo tay, sầy gối. Học tập sáng kiến của đồng bào các dân tộc ở Việt Bắc, treo mõ vào cổ trâu – trâu gõ mõ, chó leo thang– anh Đang chế chùm lục lạc đeo vào cạp quần, báo hiệu có người để họ tránh xe. Tác dụng thứ hai, quan trọng không kém… Mỗi lần đạp xe trên đường vắng, nghe tiếng lục lạc loong coong ngang thắt lưng, tự nhiên cảm thấy đỡ đơn độc…” (*)
Một con người thừa tự trọng, có nhân cách khảng khái, người không bao giờ bán đứng bạn bè, cương trực và nhân hậu như Nguyễn Hữu Đang đã từng tâm sự với Phùng Quán về việc đã chọn sẵn chỗ nằm cho mình khi ra đi: “… một búi tre gần cuối xóm, độc giữa cánh đồng…, dưới chân búi tre ấy có một chỗ trũng nhưng bằng phẳng, phủ dầy lá tre rụng, rất vừa người … Tôi sẽ nằm ở đó chết để khỏi phiền ai … Tôi đã chọn con đường ngắn nhất để có thể bò kịp đến đó, trước khi nhắm mắt xuôi tay” (*)

Hôm nay cầm trên tay bức ảnh cụ Nguyễn Hữu Đang tặng vợ chồng Phùng Quán, thấy trong lòng dấy lên một nỗi xót xa cho thân phận những văn nghệ sĩ, trí thức có thừa tài năng và nhân cách nhưng vì bất phùng thời mà cả cuộc đời đã trở thành những nạn nhân đau khổ, oan khuất của một chế độ mà họ đã từng đem tâm huyết và trí tuệ của mình để tận tâm phục vụ.

___________
(*) Ngày cuối năm tìm thăm người dựng lễ đài Tuyên ngôn độc lập in trong cuốn Ba phút sự thật.
Ông Đang
Phạm Xuân Nguyên
Mỗi số phận chứa một phần lịch sử
(E. Evtushenko)
1. Họp mặt cuối năm tạp chí Tia Sáng, vừa thấy tôi ló mặt vào hội trường Bộ Khoa học và Công Nghệ, ông Lê Đạt vẫy lại nói: “Anh Đang mất rồi, Nguyên”.

“Mất lúc nào vậy anh?

Sáng nay (8/2/2007).

Trước anh Quán một ngày (nhà thơ Phùng Quán mất vào ngày âm là 22 tháng Chạp).

Ừ. Sáng ngày ông Công đưa ma.

Nơi nào đứng ra làm tang lễ, anh?

Tao bảo thằng Quốc (Dương Trung) đứng ra, nhân danh Hội truyền bá quốc ngữ. Cứ để anh em trong nhóm làm mãi. Mà mày viết một bài về anh Đang đi.

Anh viết mới phải chứ, cùng hội cùng thuyền. Em là lớp hậu sinh.

Hậu sinh càng phải viết. Mà mày cũng cùng hội chứ sao ! »

 

 Tan họp, gọi điện thoại cho một anh bạn thân quen, tổng biên tập của một tờ báo có tiếng: «Ông Nguyễn Hữu Đang mất, tôi muốn viết một bài ». – «Không được ông ơi. Có chỉ thị rồi!».

.
Về nhà mở email, có thư của anh Nguyễn Ngọc Giao ở nhóm Diễn Đàn từ Paris với chữ URGENT: «Choa thân mến, vừa nghe tin ông Nguyễn Hữu Đang từ trần hôm qua. Choa có thông tin gì (xác nhận, precision…) thì cho biết ngay nhé».
.
2. Tôi biết gì về ông Đang?

Tôi không biết gì về ông Đang!

Tháng 11/1992, nhà thơ Phùng Quán đưa tôi một giấy mời:

«Mừng sống dai
Nguyễn Hữu Đang chiến sĩ kách mệnh. Trưởng ban tổ chức ngày đại lễ của đất nước Tuyên Ngôn Độc Lập mùng 2 tháng 9 năm 1945 tại Quảng trường Ba Đình Hà Nội. 1992 (Nhâm Thân) 80 xuân ngồi trầm tư tại bản quán trong căn hộ độc thân – nguyên cái chái bếp của tập thể giáo viên trường phổ thông cơ sở thôn Trà Vy, xã Vũ Công, huyện Kiến Xương, Thái Bình. Chúng tôi Phùng Cung và Phùng Quán (em kết nghĩa) xin trân trọng kính mời : đúng 10 giờ 30 ngày 20 tháng 11 năm 1992 đến tại nhà riêng chúng tôi số 10 Thụy Khuê – khu tập thể giáo viên trường Chu Văn An, uống chung rượu khổ sâm mừng sự sống dai.
Phùng Cung và Phùng Quán.”

In cùng những dòng này là bức ảnh ông Đang ngồi trong xó nhà của mình ở Thái Bình sáng mồng một tết Nhâm Thân (1992) kèm dòng chữ “Nguyễn Hữu Đang. Tám mươi xuân – trai tân – độc thân”. Mặt sau giấy mời là bản chụp lại trang bìa tạp chí Nghiên Cứu Lịch Sử số đặc biệt kỷ niệm 45 năm Cách Mạng Tháng Tám (1990) ghép với phần chụp bài viết trong tạp chí đó nói về vai trò của Nguyễn Hữu Đang, trưởng ban tổ chức ngày tuyên bố độc lập 2/9/1845. Phần chụp này là đoạn công bố hai bức thư do Nguyễn Hữu Đang viết gửi ông Thị trưởng Hà Nội.

Thư 1: “Kính gửi ông Thị trưởng Hà Nội

Bộ Tuyên truyền của Chính phủ lâm thời sẽ tổ chức ngày 2-9-1945 một “Ngày Độc Lập”. Muốn cho ngày ấy có một tính cách thiêng liêng, Ban Tổ chức chúng tôi yêu cầu Ngài hạ lệnh cho các chùa chiền, nhà thờ phải cho mở cửa, quét tước sạch sẽ và đốt trầm hương suốt ngày hôm ấy để mừng Ngày Độc Lập.

Kính thư
Nguyễn Hữu Đang”.

Thư 2: “Kính gửi ông Thị trưởng Hà Nội

Nhân “Ngày Độc Lập”, chúng tôi yêu cầu Ngài cho treo cờ ở vườn hoa Ba Đình và hai bên những phố lân cận. Còn về lễ chào quốc kỳ, chúng tôi nhờ ngài cho sửa soạn một chiếc cột cao 12 thước tây và bánh xe (poulie); sẽ có chỉ thị về chỗ dựng cột cho phu Tòa Thị chính.

Kính thư
Nguyễn Hữu Đang”.

Tôi đã bỏ lỡ dịp gặp ông Đang lần đầu này do “nhát sợ” trước một lời khuyên (chuyện đó tôi đã kể trong bài viết Nhớ ông Quán). Mãi sau tôi mới gặp ông khi ông Quán mất và những dịp giỗ ông Quán. Gặp nhưng vẫn không biết gì về ông. Ông Đang vẫn là một khối bí ẩn đối với tôi.

Trong một lần giỗ ông Quán, khi ấy vẫn ở tại nhà bên Hồ Tây, nhân nhắc lại chuyện mừng thọ ông Đang, có người đã chép lại cho tôi bài thơ làm ngay dịp đó tặng “người sống dai”:

Bốn mặt Tây Hồ bát ngát trông
Nơi đây bè bạn tới mừng ông
Sống dai tám chục còn dư sức
Chết ẻo trong tù có uổng công
Tuyệt thế nhân gian ờ cứ thế
Bắc Hà “hào kẹt” có tên ông
Thân hữu xa gần nâng cốc rượu
Trăm năm duyên nợ biết bao xong!
(Tùng Quân)

 
 


“Hào kẹt” là viết chại của “hào kiệt” để hiểu theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng.
3. Khi Đổi Mới xướng lên, nhiều vấn đề tồn đọng của lịch sử hiện đại Việt Nam được xới ra, lật lại, nhiều nhân vật bị khuất lấp được chiếu sáng. Ông Đang với tư cách một yếu nhân của Hội truyền bá quốc ngữ được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao trách nhiệm tổ chức ngày lễ độc lập 2/9/1945 dần dần hiện hình trở lại trên dòng thời gian và lịch sử. Nhưng điều đó không thành được sự “bảo chứng” để nói về ông Đang với tư cách một nhân vật chủ chốt của phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm, như nhiều người mong đợi. Cho đến hôm nay, khi ông nằm xuống, vụ việc này vẫn chưa được bạch hóa và con người ông trong đó vẫn bị che phủ, dẫu đã nửa thế ký trôi qua.

Trong một bản viết cho một nhà nghiên cứu nước ngoài về phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm vào cuối tháng 11/1998 tại Hà Nội, ông đã phân tích nguyên nhân sâu xa của hiện tượng này như sau:

“1. Ý thức, tư tưởng chủ đạo của phong trào là chống lại sự biến chất của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từ chế độ chuyến chính thông thường đã bắt đầu có xu hướng hướng cực quyền (còn gọi là toàn trị, tiếng Pháp là totalitarisme, tiếng Anh là totalitarian) trong đó con người bị cưỡng bức toàn diện, triệt để nhiều khi tàn nhẫn đến vô nhân đạo, phi nhân văn, biến con người bị trị thành nô lệ của một tập đoàn thống trị ít người và duy ý chí tuy nhân danh cách mạng mà hành động, nhưng hiệu quả khách quan của hành động lại phản tiến hóa.

Sự biến chất này do ảnh hưởng tai hại của chủ nghĩa Stalin và chủ nghĩa Mao Trạch Đông, cả hai đều tự nhận là chủ nghĩa Mác-Lênin! Rất tiếc là lúc ấy Đảng c.s. Việt Nam tin là như thế.

Phong trào còn lo ngại đáng lẽ chế độ chuyên chính vốn chỉ là một biện pháp bất đắc dĩ cách mạng phải dùng đến, trong thời gian ngắn gọn tiếp theo liền Tổng khởi nghĩa, để củng cố chính quyền vừa mới giành được, nhưng khi nó đã trở thành chế độ cực quyền, toàn trị, nó sẽ kéo dài không thời hạn, nghiễm nhiên tự coi như hình thái “đích thực”, “chân chính” của chủ nghĩa xã hội khoa học mà loài người mong ước sau những mò mẫm vô hiệu quả của chủ nghĩa xã hội không tưởng.

2. Ý thức, tư tưởng chống đối này âm ỷ từ lâu trong lòng những người trí thức và văn nghệ sỹ Việt Nam, ngay trong các đợt chỉnh huấncải cách ruộng đất được tiến hành song song với kháng chiến đánh thực dân Pháp mấy năm cuối. Đến năm1956, gặp hoàn cảnh thuận lợi, nó nổ bùng ra thành động cơ sôi nổi của một cuộc đấu tranh mãnh liệt trong nội bộ dân tộc Việt Nam. Sự kiện đó sẽ tồn tại mãi trong lịch sử Việt Nam như một cái mốc đánh dấu bước chuyển tiếp từ giai đoạn đấu tranh giành độc lập sang giai đoạn đấu tranh giành dân chủ.

Việc chuyển hướng là cần thiết, nó phù hợp với một tất yếu lịch sử, đáp ứng nhu cầu đời sống và tiến hóa xã hội. Trước mắt, nó là nguyện vọng cao cả của nhân dân. Chính Cụ Hồ, trước khi vĩnh biệt cuộc đời cũng để lại một lời tuyên bố nổi tiếng – sau khi đã nêu ra khẩu hiệu cho toàn dân: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” – vừa mạnh bạo nhận trách nhiệm, vừa thắm thiết ân tình: “Nước độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh phúc thì độc lập chẳng có nghĩa lý gì”. Nếu chúng ta hiểu “tự do” đây là dân chủ thì câu nói chí tình của ông cụ không xa cách cái thiện chí của phong trào “Nhân văn-Giai phẩm” nhiều lắm”.

Ông Đang viết tay, những từ những đoạn gạch chân là của ông.

4. Tôi đang đọc tiểu thuyết Sách cười và lãng quên của Milan Kundera. Đây là đoạn mở đầu của tác phẩm này:

“Tháng hai 1948, nhà lãnh đạo cộng sản Klement Gottwald đứng trên ban công một cung điện baroc ở Praha diễn thuyết trước đám đông hàng trăm nghìn công dân tụ tập trên quảng trường Thành Phố Cũ. Đây là một bước ngoặt trọng đại trong lịch sử xứ Bohêm. Một thời khắc định mệnh mà nghìn năm chỉ xảy ra một hay hai lần.

Gottwald được vây giữa các đồng chí của mình, đứng sát ngay cạnh ông là Clementis. Tuyết rơi, trời lạnh, Gottwald để đầu trần. Clementis đầy ân cần cởi chiếc mũ lông không vành của mình ra và đặt nó lên đầu Gottwald.

Ban tuyên huấn của đảng đã cho in ra hàng trăm nghìn bản tấm ảnh chụp cái ban công nơi Gottwald đội chiếc mũ lông không vành đứng giữa các đồng chí đang nói chuyện với nhân dân. Chính trên cái ban công đó đã bắt đầu lịch sử của xứ Bohêm cộng sản. Tất cả trẻ em đều biết tấm ảnh này vì đã thấy chúng trên các áp phích, trong sách giáo khoa hay trong các bảo tàng.
Bốn năm sau, Clementis bị kết án phản bội và bị treo cổ. Ban tuyên huấn của đảng lập tức cho ông ta biến khỏi Lịch Sử, và dĩ nhiên cũng biến khỏi tất cả các tấm ảnh. Từ đây, Gottwald chỉ còn một mình trên cái ban công. Nơi trước đây Clementis đứng giờ chỉ còn lại bức tường trống của cung điện. Còn về Clementis thì chỉ còn lại chiếc mũ lông không vành trên đầu Gottwald.” (Theo bản tiếng Pháp Le livre du rire et de l’oubli, Gallimard, Paris, 1985).
5. Đám tang ông Đang diễn ra sáng ngày ông Táo Bính Tuất về giời (10/2/2007) tại nhà tang lễ số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội. Một liên danh các cơ quan có dính dáng đến những ngành nghề ông Đang từng làm đứng ra chủ tang: Bộ Giáo dục và đào tạo, Ban liên lạc Hội truyền bá quốc ngữ, Ban liên lạc Hội diệt dốt, Báo Văn Nghệ… Trưởng ban tang lễ là ông Chánh văn phòng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Quan chức cao nhất đến viếng là bà thứ trưởng Bộ này. Ông bộ trưởng Bộ này bận việc, gửi vòng hoa đến viếng. Bà Ngô Thị Kim Thoa (vợ ông Phùng Cung) và bà Vũ Bội Trâm (vợ ông Phùng Quán) chít khăn tang lên đầu, viếng xong, đứng cùng thân quyến ông Đang bên linh cữu chịu tang, thay chồng làm bổn phận người em.
Tôi cùng nhà văn Nguyên Ngọc viếng ông Đang một vòng hoa trắng. Khá nhiều vòng hoa trắng viếng ông Đang. Chị bán hoa tang bảo: cụ ấy không vợ không con thì hoa trắng là đúng rồi, nhưng thọ thế thì em sẽ viền thêm hoa cúc vàng xung quanh. Lại bảo: anh đứng đây chờ em làm hoa xong để theo anh mang vào, chứ đám này bọn em không được tự mình mang hoa vào trong cho khách như các đám khác. Tôi hỏi vì sao. Chị ta bảo là họ đặt biển báo kia rồi. Tôi đi tới cổng nhà tang lễ và thấy một tấm biển nền đỏ chữ vàng có chân đứng đặt ở lối ra vào: “Chú ý: Khách đến viếng vui lòng tự mang hoa vào. Xin cảm ơn.”. Biển làm sẵn thế này là dùng cho những lúc cần dùng như thế này. Vào viếng cùng lượt với chúng tôi là nhà thơ Dương Tường mang vòng hoa bị hàng hoa đề sai tên mình thành ra rất tếu với ông Đang “Thương tiếc Anh, Dương Cường”. Viếng xong lượt mình, chúng tôi lại đi cùng đoàn viếng của talawas do nhà thơ Hoàng Hưng dẫn đầu. Giới thiệu đoàn này vào viếng, người xướng danh chỉ nói là đoàn nhà văn, nhà báo, vờ như không thấy cái tên talawas trong phiếu đăng ký viếng và trên băng tang vắt ngang vòng hoa.
Ông Đang nằm vây phủ lụa vàng trong quan tài mở nắp. Chín mươi lăm tuổi (âm) một đời người, ông còn gì, để lại gì, sau khi thân thể tan thành tro bụi (hỏa thiêu). Cái quan định luận. Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo chép lại cho họ hàng ông Đang đôi câu đối ông làm khi ra tù về quê (1994) mà ông đã ghi vào sổ tay anh:

“Nào công, nào tội, nào nhục, nào vinh, thương số phận Khuất Nguyên, Nguyễn Trãi
Vận nước, vận nhà, biết thời, biết thế, quý cuộc đời Phạm Lãi, Trương Lương”.

Từ Đà Lạt, nhà thơ Bùi Minh Quốc nhờ chị Vũ Bội Trâm đặt viết trên lụa đôi câu đối viếng ông Đang:

“Dâng Tổ Quốc kỳ đài Độc Lập vun gốc Nhân Văn một đời trong trắng
Hiến Nhân Dân diệu lý Tự Do đắp nền Pháp Trị muôn thuở sáng ngời”.

Tôi ghi sổ tang:
.
 “Ông Nguyễn Hữu Đang là ai?

 

Ông truyền bá quốc ngữ.

 

Ông tổ chức ngày độc lập 2/9/1945.

 

Ông làm Nhân Văn-Giai Phẩm.

 

Ông đã sống và đã chết Một Con Người.

 

«Mỗi số phận chứa một phần lịch sử»

 

Nền dân chủ tự do của nước Việt sẽ có ghi tên Ông”

 

Hà Nội 8 – 10/2/2007
Nguồn: Quê Choa

( Nguồn: trannhuong.com)

Đăng bởi: Ngô Minh | 15.08.2015

Đừng “siết” nữa, dân khổ lắm rồi!

Đừng “siết” nữa, dân khổ lắm rồi!

Phạm Hồ

(NLĐO)- Dự thảo với hơn 1.000 loại phí và lệ phí về nông nghiệp vừa được trình lấy ý kiến của Quốc hội làm cho bất cứ ai cũng phải giật mình. Nếu cứ mạnh tay thu phí như thế này thì người dân sẽ kiệt quệ và chẳng mấy lúc chẳng còn gì để thu.

Sau khi đọc bản tin của một số tờ báo tường thuật phiện họp Quốc hội (QH) vào ngày 10-8, nhiều bạn đọc không tin nổi con số hơn 1.000 loại phí và lệ phí đánh vào nông nghiệp được trình lấy ý kiến QH. Con số này quả là không tưởng nổi đối với một ngành nông nghiệp kém phát triển và mấy chục triệu nông dân còn quá khó khăn như ở nước ta.

Không đủ ăn lấy gì đóng phí?

Không cần nói thì ai cũng có thể hình dung cuộc sống của người dân ở vùng nông rất thiếu thốn. Một bộ phận lớn người dân còn nghèo, sống rất vất vả, thậm chí thiếu đói khi mùa giáp hạt. Hầu như họ chỉ đủ lo toan, chạy ăn từng bữa mà không có tích lũy gì nhiều, không lo nổi cho con cái ăn học đàng hoàng. Những loại phí “dài dằng dặc” kia thì rất “vô tư’ vẫn đều đặn có người đến thu đã và đang là gánh nặng đối với cuộc sống của họ.

Cứ tưởng là phí thì mức thu không lớn lắm, nhưng với thu nhập ít ỏi, nếu đóng những khoản thu này thì có khả năng gia đình, con cái của họ phải mất đi nhiều bữa ăn, giấc ngủ càng trằn trọc hơn vì bao lo toan về cuộc sống. Chúng ta không quá khó để có thể nhìn thấy rất nhiều mái nhà xiêu vẹo, rách nát ở bất cứ vùng nông thôn nào. Nông dân còn nghèo lắm, từng đồng đối với họ là mồ hôi, nước mắt trải ra trên cánh đồng. Thu gì thì phải cân nhắc chứ không thể ồ ạt như thế.

Ví dụ về một trường hợp cụ thể, bạn đọc Thanh Hà kể: “Vợ chồng chị tôi có 3 con. Cả nhà sống nhờ vào 3 sào ruộng và miếng vườn. Lúa làm ra không đủ cho gia đình ăn giáp hạt. Trồng rau quanh vườn cao lắm mỗi ngày thu hoạch được 20.000 đồng. Chồng thì làm thuê lúc được lúc không, rảnh rỗi thả câu kiếm dăm ba con cá cải thiện bữa ăn gia đình. Việc kiếm khoai sắn ăn trừ bữa diễn ra thường xuyên. Những đứa trẻ nhiều hôm nhịn đói đến trường trong manh áo cũ mèm, vá víu. Bao nhiêu năm nay chị trốn đóng những khoản phí mà địa phương thu. Đơn giản là chẳng có gì để đóng và nếu đóng thì con cái càng thiếu thốn”.

 Với thu nhập quá thấp như phần lớn người dân nông thôn hiện nay, họ không thể đầu tư được gì nhiều cho con cái. Một đứa trẻ bước vào học cao đẳng hoặc đại học thì học phí một năm mất khoảng 20 triệu đồng. Tiền ở trọ, chi phí sinh hoạt thêm khoảng 30 triệu đồng nữa. “Chỉ hai khoản này thôi thì thu nhập của phần lớn hộ nghề nông chẳng thể nào kham nổi. Điều đó có nghĩa con họ thất học và tương lai chờ đợi chúng sẽ là cái cuốc và miếng ruộng. Cứ thế, tình cảnh này sẽ tiếp tục lặp lại ở đời cháu…” – bạn đọc Trần Văn Tí Em phân tích.

Dân khổ lâu rồi

Sau khi Chủ tịch QH, ông Nguyễn Sinh Hùng bức xúc trước hàng ngàn loại phí trên thì các đại biểu, các vị bộ trưởng cũng “bức xúc” theo về sự bất cập trong việc thu phí, lệ phí hiện nay.

Nhiều bạn đọc ngạc nhiên: “Ô hay, những bất cập này, những nỗi khổ này người dân đã thấy và đã chịu bao nhiêu năm nay rồi, có gì mà các vị lãnh đạo lại “ngỡ ngàng” thế. Bao nhiêu năm qua người dân than trời, kiến nghị hoài trong các cuộc tiếp xúc cử tri hằng năm đấy thôi chứ có mới mẻ gì đâu các vị có vẻ khó hiểu. Vấn đề khó hiểu nhất chính là nó phi lý, khốn khổ với người dân bao nhiêu năm qua nhưng chẳng thấy thay đổi”.

Điều này cũng được chứng minh rõ qua trình bày của ông Phùng Quốc Hiển, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính – Ngân sách: Sau khi QH cho ý kiến lần đầu về dự án này tại kỳ họp thứ 9 vừa qua, thường trực ủy ban này và Bộ Tài chính (cơ quan chủ trì soạn thảo) đã phối hợp với các bộ, ngành địa phương rà soát, sắp xếp, bãi bỏ 5 khoản phí và 6 khoản lệ phí, chuyển 4 khoản phí sang giá và bổ sung 6 khoản phí khác.

Với một “rừng” phí như thế, qua một kỳ họp QH mà chỉ bỏ vài loại phí, lệ phí trong khi bổ sung thêm 6 loại phí mới thì có gì là đổi mới? Hình dung với hơn 1.000 loại phí, lệ phí “thấu trời” hiện nay mà muốn thay đổi như ý Chủ tịch QH “thu phí nhiều quá, dân sống sao nổi” thì chẳng biết đến bao giờ.

“Khoan sức dân là đường lối trị nước của bao vị vua hiền của dân tộc từ bao đời nay. Nhờ đó mà lòng dân một mối, gắn kết cộng đồng giành thắng lợi trong tất cả các cuộc chống ngoại xâm giành độc lập, xây dựng đất nước. Dân giàu thì nước mạnh. Cứ thoải mái thu như thế này thì dân khó thoát nghèo chứ nói gì đến giàu” – bạn đọc Thanh Lê nói thẳng.

P.H.

Nguồn: http://nld.com.vn/ban-doc/dung-siet-nua-dan-kho-lam-roi-20150811115640205.htm

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 15.08.2015

Con người suy thoái?

Nhà văn Vương Trí Nhàn

Con người suy thoái?

Vương Trí Nhàn

Trời sinh vua để làm vua
Và thi sĩ để làm thơ ru đời
Một ông vua trái luật trời
Việc vua thì nhác, lại đòi… làm thơ.
Trên đây là đoạn mở đầu của bài thơ “Nhà vua và nhà thơ” của Tú Mỡ, in trên báo Ngày nay ở Hà Nội năm 1939, tức hơn bảy chục năm trước. (Đọc tiếp…)

‘Người Việt ít quan tâm lịch sử nước mình’

Một số sử gia Việt Nam muốn lập các công trình và tưởng niệm nạn đói 1945.

Một giáo sư Nhật nói dân chúng Nhật khó hình dung lịch sử Việt Nam trong khi người Việt dường như “ít quan tâm lịch sử nước mình”.

Trả lời Nguyễn Hoàng của BBC tiếng Việt tại Nhật Bản, Giáo sư Ari Nakano từ Đại học Daito Bunka, chuyên nghiên cứu về chính trị và ngoại giao và nhân quyền Việt Nam, cũng nói rằng cần có nghiên cứu lịch sử một cách độc lập, tự do và có đủ thông tin khách quan hơn về những gì xảy ra tại Việt Nam giai đoạn quân đội Nhật chiếm đóng.

Vào ngày 07/08. Báo Asahi của Nhật có bài về Việt Nam và Nhật Bản trong bối cảnh từ khi Nhật chiếm đóng và những thập niên sau này trong đó có đề cập tới nạn đói năm Ất Dậu. (Đọc tiếp…)

HẬU CHUYỆN KỂ NĂM 2000 (Thời biến đổi gien)

    Kỳ 26

    Bùi Ngọc Tấn

Tôi càng trở thành một tên phản động chính hiệu khi được giải thưởng của Hội Quan Sát Nhân Quyền Hellman – Hammett. Có biết bao tin đồn về giải thưởng ở nước ngoài người ta dành cho tôi. Nhưng chỉ có hai giải thưởng là đúng sự thật.

Mùa Xuân năm 2001, tôi nhận được một cú điện thoại từ Mỹ báo tin tôi được tặng giải thưởng cho tập tiểu thuyết Chuyện kể năm 2000. Người bạn từ Mỹ nhấn mạnh đây là một giải thưởng thuần tuý văn chương. Tôi hỏi tổ chức nào trao giải. Người bạn tôi không biết mặt, cười: Điều ấy không quan trọng anh ơi. Đây là một giải văn chương sẽ được trao tháng sau tại Úc. Phần thưởng là một tháp pha lê ba mặt, khắc ba chữ Chân, Thiện, Mỹ, kèm theo ba nghìn đô la tiền mặt. Khi tôi nói tôi không thể nhận giải thưởng nếu không biết ai tặng giải, người đối thoại mới nói tổ chức đứng ra tặng giải là Việt Nam Phục quốc. Cẩn thận, tôi ghi cả số fax, số phôn bên Mỹ và hứa sẽ trả lời trong một ngày gần nhất. Tất nhiên một giải thưởng Chân Thiện Mỹ cho bộ tiểu thuyết của tôi là đáng trân trọng. Ba ngàn đô là rất to đối với tôi, người có lương hưu mười sáu đô la một tháng. Nhưng lại là của tổ chức có tên gọi Việt Nam Phục quốc. Tôi không biết tôn chỉ mục đích của tổ chức này nhưng chỉ nghe tên cũng đã thấy quá hận thù. Có mùi đao kiếm, mùi súng đạn. Chẳng lẽ đất nước này vẫn còn phải nghe súng nổ, nhìn máu chảy? Không. Không thể nào như thế. Đó là đại bất hạnh cho toàn dân tộc. Hãy thử tưởng tượng nếu Bùi Ngọc Tấn nhận giải thưởng Chân Thiện Mỹ của Việt Nam Phục quốc. Tôi có còn là tôi nữa không.

Tôi viết mấy dòng fax sang Mỹ, lời lẽ lịch sự và chung chung: Vì những lý do tế nhị, tôi tuyên bố không nhận giải thưởng Chân Thiện Mỹ. Để người bạn bên kia có văn bản chính thức. Để các vị bên này đừng có mà xuyên tạc. Đem lên bưu điện Hồng Bàng. Cô bưu điện đã định fax, nhưng sau khi đọc, cô từ chối, trả lại tôi tờ giấy:

– Bác mang lên bưu điện chính đi.

Mới chỉ đọc dòng fax thôi, cô bưu điện đã cảm thấy chuyện không bình thường và không nên dây vào. Sống ở Việt Nam, ai cũng trở nên nhậy cảm với chính trị. Bưu điện thành phố cũng từ chối thì làm sao nhỉ. May. Cháu gái nhân viên chỗ bàn fax bưu điện chính đưa tờ giấy viết tay của tôi vào máy. Chỉ lát sau, máy báo văn bản đã được chuyển đi, bên kia đã nhận được. Tôi phải trả hơn tám mươi nghìn, đúng một nửa tháng lương hưu. Có lẽ chưa đến hai phút, những dòng chữ tôi viết đã tới Mỹ. Mới lắm các đồng chí ạ! Tôi kêu thầm trong lòng câu nói các thủ trưởng hay vung tay chém gió hét lên khai hoá cho chúng tôi ngồi trong hội trường lắng nghe im phăng phắc.

Thế rồi sau đó ít lâu, một cú điện thoại từ Paris báo tin tôi được tặng giải thưởng Nhân Quyền Hellman – Hammett. Người gọi điện chừng như hiểu hết sự tình của giải thưởng Chân Thiện Mỹ, nói như reo vui:

– Giải thưởng do hai đảng viên đảng Cộng sản Mỹ góp tài sản sáng lập. Anh yên tâm nhé. Giải thưởng kèm theo bẩy ngàn đô la Mỹ. Chúc mừng anh. Nhưng trước hết anh cho ý kiến về giải thưởng đã. Nhận hay không nhận.

Ngay lập tức tôi tuyên bố nhận giải thưởng.

Không biết bao nhiêu cuộc điện chúc mừng tôi.

Từ Hà Nội về. Từ thành phố Hồ Chí Minh ra. Và từ nước ngoài. Trong dịp này tôi được tiếp chuyện nữ bác sĩ Lâm Thu Vân, một người đã hoạt động không mệt mỏi cho dân chủ. Đúng là chị đang ở Canada, đất nước vùng cực Bắc, chỉ nghe cũng thấy giọng chị hun hút xa lắm.

– Không ai tiến cử anh cả. Tập sách của anh được trích đoạn đưa lên tập san của Hội Văn Bút Quốc Tế và Internet bằng tiếng Anh, tiếng Pháp. Người ta đọc và người ta đưa anh vào danh sách. Chúc mừng anh. Anh khoẻ không? Tôi đã định scan về cho anh tấm bằng hội viên danh dự Hội Văn Bút Quốc Tế của anh nhưng sợ phiền cho anh. Với lại cũng là phù phiếm cả thôi. Cái chính là công việc mình làm anh nhỉ…

Rồi chị xuýt xoa như nói một mình:

– Hôm nay được nói chuyện với anh, nghe giọng nói của anh. Cảm động quá…

Tôi cũng cảm động không kém chị. Được nói chuyện với chị, nghe tiếng nói của chị, một việc chị chưa bao giờ làm vì không muốn tôi bị phiền hà.

Không biết đại tá Phạm Quế Dương, người cùng được giải thưởng Nhân Quyền với tôi gặp những khó khăn gì trong việc nhận giải, còn với tôi là cả một cuộc tổng tấn công.

Một chiều mưa ngập lụt đường phố, Đình Kính gọi điện cho tôi nói chiều tối nay Hữu Thỉnh sẽ có mặt ở Hải Phòng để gặp tôi về chuyện giải thưởng Nhân Quyền, xe đang trên đường 5. Kính khuyên tôi nên suy nghĩ kỹ trước khi nhận giải. Tôi hét lên trong máy:

– Nhưng mình tuyên bố nhận giải thưởng cách đây mấy tháng rồi.

Biết Kính đang trên xe với Thỉnh và đã được Thỉnh giao nhiệm vụ, ([1]) tôi nói tiếp với Kính:

– Kính đừng dính vào chuyện này. Cứ kệ mình.

Tôi vừa bất ngờ, vừa tức giận. Tôi không ghét gì Thỉnh. Những lần tiếp xúc trước đây, Thỉnh luôn tỏ ra biết điều, luôn tỏ ra biết mình đang đối thoại với ai. Là người ăn lương, hơn thế, một cán bộ đầu ngành, Thỉnh phải thực hiện những mệnh lệnh cho dù lố bịch đến đâu.

Trời mưa tầm tã cả ngày. Hữu Thỉnh, Đình Kính đến tôi vào lúc xâm xẩm tối. Thỉnh kéo tôi lên ô tô đi ngay. Đến một quán cà phê nào đó, anh em mình vừa ăn vừa chuyện. Bẩy giờ tối nay em đã hẹn gặp Tô Huy Rứa bí thư thành uỷ. Mỗi người một cái bánh mì, chúng tôi ngồi nhai trong một quán cà phê giải khát hẹp phố Trần Bình Trọng mà bên kia đường là trụ sở PA25. Thỉnh quay hẳn người lại nhìn thẳng vào tôi:

– Anh quyết tâm nhận giải thưởng Nhân Quyền à?

Tôi cười:

– Mình nhận rất thoải mái. Có gì đâu mà phải quyết tâm với không quyết tâm.

Rồi tôi nói quan niệm của tôi về tự do dân chủ, một mục tiêu phấn đấu của đảng, và chốt lại bằng một lý lẽ đầy thuyết phục:

– Hơn nữa, quỹ giải thưởng do hai đảng viên Đảng Cộng Sản Mỹ góp tài sản sáng lập.

Thỉnh nhăn mặt:

– Đảng viên Đảng Cộng Sản Mỹ cũng phức tạp lắm anh ơi.

Tôi bật cười vì sự gièm pha của Thỉnh:

– Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng phức tạp nữa là Đảng Cộng Sản Mỹ. Có đảng nào không phức tạp.

– Anh đã nhận được tiền chưa?

– Chưa.

Cặp mắt Thỉnh sáng lên:

– Thật không?

– Thật. Mình nói dối Thỉnh làm gì.

Niềm vui lộ rõ trên mặt ông bí thư đảng đoàn, phó tổng thư ký Hội Nhà Văn Việt Nam:

– Theo một nguồn tin chính thức, có trách nhiệm, tiền thưởng là của CIA, trong quỹ “Tìm kiếm người mất tích.”

Thỉnh nói đầy vẻ nghiêm trọng. Tôi cười:

– Người ta nói với tôi rằng quỹ thưởng là của hai đảng viên cộng sản Mỹ góp tài sản.

– Anh tin họ à?

– Tôi tin họ chứ. Họ phải nói chính xác. Bởi nếu họ nói dối, tôi từ chối nhận giải thì sẽ rất gay cho họ. Tôi có quyền từ chối giải bất kỳ lúc nào!

– Giải thưởng bao nhiêu tiền anh nhỉ?

– Bẩy ngàn đô la.

Thỉnh lẩm nhẩm: Hơn trăm triệu. Sẽ phải có cách bù cho anh. Hội đầu tư sáng tác hai suất là mười triệu. Giải quyết một chuyến anh đi Trung Quốc trị giá mười lăm triệu. Còn đâu hội, thành phố sẽ giúp anh khoảng dăm chục triệu. Thế là mình cũng có bẩy nhăm triệu. Cũng gần bằng của chúng nó rồi.

Tôi quá ngán cách tính toán đặt vấn đề của Thỉnh. Tiền kèm theo giải thưởng bẩy ngàn đô là hoàn toàn vô tư, không kèm theo một điều kiện nào. Một lời cám ơn cũng không, nếu anh không muốn nói. Đó là sự ghi công anh đối với Nhân Quyền, Dân Chủ. Còn món tiền Thỉnh tính toán đây là phải có điều kiện: Bán rẻ danh dự. Mà tôi có gì ngoài danh dự?

Thỉnh tiếp tục thuyết phục tôi:

– Anh in tập sách bao nhiêu người đồng cảm với anh, quý mến anh. Nếu anh nhận giải thưởng, em sợ là tình cảm ấy của mọi người sẽ mất đi, không còn nữa…

Tôi thừa biết sự việc sẽ ngược lại những điều Thỉnh nói. Chuyện kể năm 2000 ra đời, người ta yêu quý tác giả không chỉ vì hắn đã viết ra một quyển sách đọc được mà còn vì chính những điều hắn đã phải chịu đựng trong cuộc đời và thái độ của hắn đối với bạo lực, đối với cuộc sống. Đó là tài sản cực kỳ quý giá mà hắn đã có được. Hắn có gì đâu ngoài lòng yêu quý ấy của bạn đọc, của những người tâm huyết? Hắn tự biết hắn rất nghèo nhưng cũng rất giầu. Hơn nhiều người làm nghệ thuật khác cũng như hơn rất, rất nhiều chức sắc quyền cao chức trọng với không biết bao người vây quanh, không biết bao của nổi của chìm.

– Không phải thế đâu Thỉnh ơi.

Tôi chỉ mỉm cười bảo Thỉnh vì không thể tranh luận về những điều trừu tượng, tế nhị như vậy. Khuyên bảo tôi một lúc, Hữu Thỉnh đi gặp bí thư thành uỷ Tô Huy Rứa. Ông Rứa nghe nói cũng đang bị bao vây cô lập. Người ta nói rằng khi mới được ông Lê Khả Phiêu cử về Hải Phòng ít ngày, trong cái Tết đầu tiên ở Hải Phòng ông đã được mừng tuổi một tỷ tư — 1.400 triệu đồng — và ông đã đem nộp cho tài chính tất cả số tiền Chúc mừng năm mới đó. Vì vậy các đồng chí của ông chống lại ông, căm thù ông, cười mỉa ông, coi ông là thằng ngốc, cản trở việc làm ăn của họ. Ông phải ngủ trong doanh trại quân đội. Ông bị mất cắp. Không mất tiền bạc, đài đóm, đồng hồ nhẫn vàng, đô la mà mất cắp sổ tay, ghi những điều chỉ mình ông biết.

Trước khi đi gặp Rứa, Thỉnh dặn tôi:

– Anh nghe em. Việc này là trên yêu cầu nhưng cũng chính là quyền lợi của anh nữa. Sáng mai em đến đón anh đi ăn sáng rồi anh em mình trao đổi thêm.

Suốt buổi tôi và Thỉnh nói chuyện, Kính chỉ ngồi yên lặng. Sớm hôm sau, Thỉnh cùng Đình Kính lại nhà tôi. Thấy vợ tôi đang thắp hương trên gác lửng, Thỉnh rút ra một trăm nghìn:

– Chị cầm mua hoa quả thắp hương các cụ hộ em.

Không thể từ chối một khoản tiền như thế. Xe ô tô đưa chúng tôi đến Phở Cánh. Một hiệu phở ngon trên đường Trần Phú, nhìn ra vườn hoa Nhà Kèn. Tôi nói thêm với Thỉnh là tôi không thể từ chối giải được còn vì một lý do nữa: Tôi đã tuyên bố nhận giải cách đây đến mấy tháng. Mà điện thoại nhà tôi chắc chắn được theo dõi chặt chẽ. Trên chắc chắn biết. Nhưng không hề có ý kiến gì. Đến bây giờ mới đặt lại vấn đề thì đã muộn. Tôi là một trí thức. Tôi không thể tự phủ nhận mình. Có lẽ Hữu Thỉnh hiểu được rằng khó có thể làm tôi thay đổi quyết định, anh chuyển sang chuyện khác, chuyện nhà tôi luôn bị bao vây theo dõi:

– Chỉ cần anh không nhận giải thưởng, em đảm bảo với anh nhà anh sẽ không còn bất cứ sự theo dõi nào, kể cả điện thoại.

Tôi cười thầm. Hình như Thỉnh nói cho vui, cho xong chuyện thôi. Làm sao Thỉnh có thể bảo đảm được chuyện ấy? Họ còn theo dõi nhau nữa đấy, ngay cả trong nội bộ các đồng chí trung ương, bộ chính trị cùng sát cánh bên nhau vì lý tưởng, vì chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân.

Sau khi Thỉnh về Hà Nội, Kính mới có thời gian thuật lại cho tôi buổi tối hôm ấy, tối hôm Thỉnh gặp bí thư Tô Huy Rứa. Kính bảo: Em ngồi chờ hai người gặp nhau xong để đưa Thỉnh về nhà khách thành phố. Khuya Thỉnh mới bước ra. Cả Tô Huy Rứa. Hai người còn bàn với nhau một lúc — có cả em ở đấy — là thành phố sẽ trích quỹ để một hôm nào đó Tô Huy Rứa đến thăm anh thì đưa cho anh năm mươi triệu. Em bảo không nên làm như vậy mà đồng chí bí thư thành uỷ nên đến thăm cả bốn nhà văn cao tuổi nhất là Nguyễn Viết Lãm, Mai Vui, Nguyễn Dậu, Bùi Ngọc Tấn. Đến nhà văn nào thì tặng nhà văn ấy một cái phong bì. Người nào biết của người ấy. Phong bì của các nhà văn kia năm ba triệu gì đó thì tuỳ. Còn phong bì của anh Tấn nhiều hơn. Làm như vậy tế nhị mà không gây dư luận, chưa kể có thể sẽ còn bị xuyên tạc, không có lợi. Các ông ấy đều thấy đúng.

Kính rất thích thú sáng kiến của mình, một sáng kiến được cả người cho tiền lẫn người nhận tiền chấp nhận. Với anh, nhà văn nào cũng đói. Tôi lại càng đói. Kều được ít tiền công quỹ cho các nhà văn là điều rất nên làm. Đang vui, anh không để ý tới cái nhíu mày của tôi. Không. Phải bằng cách nào gạt bỏ ngay ý định tặng tôi năm mươi triệu của các vị đi. Trước tiên đây không phải là do lòng tốt. Giá không có chuyện giải thưởng kèm theo bẩy ngàn đô la mà họ đang ép tôi không nhận thì có chuyện cho tôi năm mươi triệu không? Mọi việc người ta làm cho tôi đâu phải vì tôi, vì người ta tốt với tôi. Tất cả đều vì một tình thế nào đó. Tôi lúc nào cũng là đối tượng. Đối xử với tôi thế nào cho có lợi nhất. Vậy thôi.

Tôi bảo Kính:

– Làm sao mình có thể nhận được năm mươi triệu ấy. Đấy là tiền thuế của dân.

Mấy ngày sau tôi thấy cần phải có sự trả lời bằng văn bản để chính thức hoá, tránh những sự xuyên tạc, mà xuyên tạc là đặc điểm nổi bật nhất của xã hội ta từ chính quyền tới các giới thượng hạ lưu. Tôi viết tay mấy dòng để kết thúc đề tài này. Cũng chẳng cần lý giải nhiều mà chủ yếu là tỏ thái độ:

Hải Phòng ngày 19 tháng 7 năm 2001

Kính gửi anh Hữu Thỉnh

– Bí thư Đảng đoàn Hội Nhà Văn Việt Nam

– Tổng Thư ký Hội Nhà Văn Việt Nam

Trước hết tôi xin chân thành cám ơn anh về những lời khuyên của anh đối với tôi trong chuyện tôi nhận giải thưởng của Hội Quan Sát Nhân Quyền (HRW) 2001.

Sau khi suy nghĩ, tôi xin nói lời cuối cùng của tôi như sau:

1–Tôi đã tuyên bố nhận giải thưởng của HRW cách đây khoảng hơn hai tháng, khi người ta từ nước ngoài báo tin cho tôi.

2– Như tôi đã trình bầy với anh, tôi nhận giải thưởng vì:

– a) Nhân quyền là vấn đề có mặt ở mọi nơi, mọi chỗ, mãi mãi song hành cùng với nhân loại.

– b) Đó cũng là một muc tiêu mà Đảng, Quốc Hội, Chính Phủ nước ta đang quan tâm lãnh đạo để thực hiện ngày một tốt hơn, hoàn thiện hơn.

– c) Giải thưởng là do những đảng viên Đảng Cộng Sản Mỹ sáng lập.

3–  Tôi đã tuyên bố nhận giải thưởng. Giờ đây tôi không thể phủ nhận.

Một lần nữa xin chân thành cám ơn anh về những quan tâm của anh đối với tôi và gia đình tôi.

Kính

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn

Thư viết xong, tôi đưa sang cho Đình Kính, để Đình Kính trao tay cho chánh văn phòng Hội Nhà Văn Tô Đức Chiêu đang công tác ở Đồ Sơn lát nữa sẽ ghé qua Kính trước khi về Hà Nội.

Đưa thư cho Kính, tôi nói thêm:

– Còn chuyện tiền năm mươi triệu của thành phố chưa có gì chính thức nên mình không viết vào đây. Nhờ Kính nói hộ với Thỉnh là số tiền năm mươi triệu với tôi là rất to nhưng tôi không thể nhận. Vì nếu là tiền cứu trợ thì quá nhiều. Còn nếu là tiền đền bù sửa sai thì quá ít.

Kính cười:

– Kể cũng hơi tiếc, nhưng thôi, không phải cứ thấy tiền là nhận.

Để bảo đảm “vụ năm mươi triệu” không xẩy ra, bên cạnh việc nói với Đình Kính, tôi còn gọi điện thoại lên Hà Nội cho Lê Bầu, Mạc Lân, Dương Tường biết, mà tôi luôn tin rằng câu chuyện giữa chúng tôi được ghi âm cẩn thận và chắc chắn sẽ đến tai những người cần thiết.

Tưởng chuyện như thế là minh bạch rõ ràng là không còn gì để nói cho cả đôi bên, ấy thế mà sau đó không biết bao người tới nhà tôi vận động tôi không nhận giải. Đầu tiên là nhà thơ Nguyễn Viết Lãm. Chưa bao giờ ông đến nhà tôi. Kể từ khi tôi từ báo Tiền Phong về đây cuối năm 1959. Kể cả những ngày tôi còn là một trong những cây bút chủ lực của báo Hải Phòng, còn là chuyên gia trong “văn chương tổ đội” toàn quốc. Kể cả những ngày tôi bị bắt và năm năm sau được tha, cũng như những ngày tôi lại được đi làm và viết văn trở lại. Giữa hai chúng tôi là một sự lạnh nhạt vong niên và kinh niên.

Thế nhưng trong “dịp giải thưởng” ấy, ông đến tôi, phân tích cho tôi điều hơn lẽ thiệt. Với tất cả nhiệt tình. Vì tôi. Vì uy tín của tôi, sự mến mộ của bạn đọc mà tôi đã có được. Ông nói ông không biết tôi được giải thưởng Nhân Quyền, ông không biết Hữu Thỉnh đã về gặp tôi khuyên tôi đừng nhận. Không ai giao nhiệm vụ cho ông tới gặp tôi cả. Một hôm ông ngồi ở Hội Văn Nghệ, nghe anh Mai Vui nói chuyện ông mới biết. Ông thấy cần phải gặp tôi. Vì tình bạn giữa chúng tôi. Vì chúng tôi quen nhau từ giữa thế kỷ trước, lúc nào ông cũng quý tôi. Vì giải thưởng này lúc đầu là tốt nhưng bây giờ đã bị CIA lũng đoạn, thao túng và thực chất là một tổ chức chiến tranh tâm lý…

Sao những lời khuyên giống nhau thế nhỉ? Tôi nghe. Cố gắng giữ bình tĩnh và đã giữ được bình tĩnh:

– Cám ơn anh có lời khuyên tôi. Nhưng giải thưởng không như anh nói đâu. Khác đấy. Với lại tôi đã nhận rồi. Không thể nói lại. Tuy kém tuổi anh nhưng tôi cũng già rồi. Điều tôi lo là giữ gìn cái tiếng của mình cho đến lúc chết. Nói thật với anh như thế. Anh hãy tin tôi biết xử sự.

Một buổi sớm chúng tôi vừa ăn sáng xong, hai người khách đã hiện ra ở khung cửa. Từ Hà Nội xuống. Nguyễn Trí Huân, phó tổng thư ký Hội Nhà Văn và Đỗ Kim Cuông, vụ phó vụ Văn Nghệ Ban Tư Tưởng Văn Hoá Trung Ương. Nhấp chén nước trà tôi pha, Nguyễn Trí Huân, Đỗ Kim Cuông vào chuyện ngay. Vẫn là chuyện giải thưởng của tôi. Đó là hai thuyết khách tuyệt vời. Các anh nói và các anh nghe tôi nói. Nghe và không nói lại, không tranh luận, không áp đặt. Có lẽ các anh cũng biết đây là một việc không nên làm, nhưng vẫn phải thực hiện lệnh trên. Lúc đó hình ảnh Nguyễn Khoa Điềm hiện lên không mấy đẹp đẽ trong tôi. Ngồi trên ghế quyền lực người ta có thể làm những việc kỳ khu đến thế. Và để bào chữa cho Điềm, tôi nghĩ tới một ông kẹ nào đó trong đội ngũ cố vấn tối cao rụng răng cũng thể kễnh, đông đảo và rách việc đang dùng quyền uy Thái Thượng hoàng và chút lực tàn của mình “bảo vệ cách mạng”.

Hai anh đến tôi chỉ để báo cáo với Nguyễn Khoa Điềm, cấp trên trực tiếp rằng các anh đã gặp tôi, đã thuyết phục tôi nhưng không kết quả. Chuyện vui vẻ một lúc, sau khi trao quà một ki lô chè móc câu cho tôi, các anh ra đi. Tôi tiễn các anh đến ô tô — ngày ấy chân chưa bị đau, còn đi lại tốt — một chiếc ô tô quân sự biển đỏ. Chắc là xe của đại tá Nguyễn Trí Huân.

Những thuyết khách sau các anh lại khác hẳn. Thật là muôn hình vạn trạng. Đó là Vũ Loan và Hồ Anh Tuấn, chủ tịch và phó chủ tịch Hội Văn Nghệ Hải Phòng. Vũ Loan là một nhạc công, lên đến chức giám đốc sở văn hoá thì về hưu sau khi đã đi nhiều nước Á Âu ([2]). Khi về hưu, ông Vũ Loan vẫn có một công việc oách: Chủ tịch Hội Văn Nghệ Hải Phòng. Ông rất ngại khi phải họp hành giao tiếp với cánh viết văn dù ông là chủ tịch hội. Ông chê trung tướng Trần Độ là ngu những khi chuyện trò thế sự. Sung sướng lại không biết đường hưởng. Chưa ai thuyết phục tôi một cách chân thành, nôm na và thẳng thắn như ông. Ông vạch ra cái sức ép tôi sẽ phải chịu, con cái tôi chắc chắn sẽ phải chịu nếu tôi kiên quyết nhận giải, mà bây giờ ai cũng sống vì con cái… Ông khẳng định tổ chức Quan Sát Nhân Quyền là do bọn phản động lập ra để chống phá cách mạng.  Tiền của nó là của CIA. Toàn những điều ông tin chắc như đinh đóng cột. Ông tượng trưng cho sự thẳng thắn của cách mạng báo trước cho tôi những điều tôi sẽ gánh chịu nếu cứ ngoan cố nhận giải. Mà có thể như thế thật. Những điều ông nói đâu phải ông nghĩ ra. Nhất là những biện pháp xử lý đối với tôi. Cấp trên nói với ông đấy chứ. Thần kinh tôi quá căng thẳng vì những cuộc viếng thăm thế này. Tôi bị bắt tù oan ức cả đời sao không ai để ý, không ai có một ý kiến gì. Lương hưu tôi thấp đến như vậy, bất công vô lý đến như vậy, không ai có ý kiến gì. Sao bỗng nhiên người ta quan tâm đến tôi, người ta vì tôi đến thế. Vợ tôi ngồi im lặng nghe ông nói, mặt tái đi trước những lời khủng bố. Đây là ngón đòn hiểm. Đe dọa tôi không được, họ đe dọa vợ con tôi. Tôi cố nén tức giận, giữ một thái độ hòa nhã để nói những lời thẳng thắn nhất. Giơ tay khẳng định một cách không cho bàn cãi, tôi chậm rãi:

– Tôi yêu nước không kém bất kỳ một người Việt Nam nào, kể cả tổng bí thư! Còn ai định dùng chính sách sức ép đối với tôi là sai đấy! Không có một chút tác dụng nào đâu. Tôi còn gì nữa để ép? Tôi không còn gì cả. Tôi thành bã từ lâu rồi. Tôi cũng không ngồi bệt dưới đất như người ta vẫn nói mà là ngã sóng xoài dưới đất cả đời rồi.

Hình như hôm ấy Vũ Loan có mang ghi âm. Tôi thấy ông ta để cái túi vải nhỏ bên trong có một vật gì tròn nặng như chiếc micro lên nóc tủ ly chỗ chúng tôi ngồi nói chuyện. Chà! Cứ ghi âm đi. Xem có ai tra khảo tôi về tội yêu nước không kém tổng bí thư không. Không kém là cái chắc. Nếu không nói là hơn. Bởi vì ngoài gia đình vợ con mà ai cũng có, tổng bí thư còn có đảng của ông, cái ghế của ông, vương triều của ông, bổng lộc của ông để ông yêu, để ông trìu mến. Còn tôi ngoài gia đình vợ con, chỉ có đất nước, nhân dân để mà xót thương, để mà yêu dấu. Cứ ghi âm đi. Tôi không sợ đâu.

Cũng may hai ông khách thì chỉ có ông Vũ Loan là diễn giả chính thôi. Có lẽ Vũ Loan là người trực tiếp nhận nhiệm vụ. Hồ Anh Tuấn là người đi cùng cho có đoàn nên chỉ ngồi nghe. Thỉnh thoảng Tuấn mới nói mà lại là những câu đại loại như: Tập sách của anh, thằng em tôi — ý nói Hồ Anh Thái — mua hàng chục bộ để tặng… Tôi rất cám ơn Hồ Anh Tuấn về sự tế nhị đó. Có lẽ anh xuất thân từ một nền văn hóa ứng xử khác, không bao giờ quá tự tin khi đối thoại, để nói như một cấp trên ra lệnh, hoặc như khẳng định chân lý. Tuấn biết có những giá trị khác, những giá trị hiện nay còn chưa được công nhận nhưng rất đáng kính trọng.

Cuộc vận động tôi không nhận giải Nhân Quyền hẳn là được chỉ đạo rất chặt chẽ. Từ Hà Nội, Nguyễn Trọng Tạo gọi điện về cho tôi thuật lại công an A25 trên Bộ nói với anh rằng tôi nhận sẽ có đối sách, tôi không nhận sẽ có chính sách. “Tạo cười Tạo bảo anh Tấn rất nghèo rất cần tiền nhưng lúc này tiền cũng không cần. Tiền không quan trọng bằng danh dự.” Đúng như Tạo nói. Ghi âm câu nói của tôi người ta sẽ thấy Tạo nói đúng như tôi nghĩ. Chính sách gì? Đối sách gì? Cái gậy và củ cà rốt! Nhưng tôi đâu phải là con thỏ. Tôi đã chịu đựng những đòn roi khủng khiếp. Và đã lì đòn.

Suốt thời gian những nhà thuyết khách, những nhà hăm doạ đến nhà, vợ tôi im lặng nghe, dành cho tôi toàn quyền phát ngôn. Tôi rất thương vợ tôi. Đã vì tôi mà vợ tôi phải chịu đựng căng thẳng như thế này và hơn thế này cả nửa thế kỷ rồi. “Lục trong đáy cuộc đời đâu chỉ có mấy ngày sung sướng mà thôi” như Maiakovski viết.

Hai chúng tôi đều không coi tiền tài là quan trọng hơn tất cả dù cực kỳ túng thiếu và bằng lòng với sự tối thiểu nhất trong cuộc sống. Chúng tôi chỉ mong được là người bình thường. Chúng tôi chỉ mong sự bình yên. Bình yên cho mỗi ngày. Đất nước hoà bình đã hơn 25 năm nhưng chúng tôi vẫn không có sự bình yên.

Khi Vũ Thư Hiên từ nước ngoài gọi điện báo cho tôi là người ta đã gửi tiền cho tôi lần thứ hai nhưng không được và đã lại rút tiền về bên ấy rồi, tôi đón nhận tin ấy như một sự tất yếu, không thế mới lạ.

Còn nghe cả tiếng Hiên chuyện với mấy người chắc là ngồi gần đó về nguyên tắc ngân hàng, người kia nói: Ngân hàng làm dịch vụ chuyển tiền, phải chuyển chứ, làm gì có chuyện không chuyển, và tiếng Hiên: Đây này. Gửi về cho ông Tấn mà ông ấy không nhận được, lại chuyển trả lại đây này.

Tôi bảo Hiên: “Hãy tạm hoãn việc chuyển tiền, Hiên ạ.” Trong điện thoại tôi chỉ nói được như vậy.

Thế rồi bỗng nhiên tôi nhận được một phong bì do Hội Văn Nghệ Hải Phòng chuyển, bên trong có ba công văn của Hội Nhà Văn. Công văn thứ nhất, gửi lãnh đạo thành phố Hải Phòng thông báo: Thực hiện kế hoạch hợp tác đã ký giữa Việt Nam và Trung Quốc, một đoàn đại biểu Hội Nhà Văn Việt Nam sẽ sang thăm và làm việc tại Trung Quốc, thời gian 10 ngày trong tháng 9 năm 2001, đề nghị Thành Uỷ, Uỷ Ban Nhân Dân và Hội Văn Nghệ thành phố Hải Phòng cho phép, tạo mọi điều kiện thuận lợi làm mọi thủ tục xuất cảnh cho nhà văn Bùi Ngọc Tấn đi Trung Quốc.

Công văn thứ hai là quyết định cử đoàn đại biểu cấp cao 5 người đi thăm và làm việc tại Trung Quốc, trong đó có tôi. Và cuối cùng, một công văn gửi cho tôi: Xin anh vui lòng và gấp rút chuẩn bị các thủ tục sau:

1–Quyết định nhân sự của cấp có thẩm quyền. (Hội Văn Nghệ làm tờ trình, Uỷ Ban thành phố ra quyết định.)

2– Tờ khai xin cấp hộ chiếu phổ thông (xin tại Sở Công An) xác nhận của Hội Văn Nghệ và 4 ảnh cỡ 4×6 để làm hộ chiếu.

Mong anh nhiệt tình tham gia để đoàn lên đường đúng dự định (ngày 10-9-2001)

Tổng thư ký Hội Nhà Văn Hữu Thỉnh

Giá như tự nhiên tôi được mời tham gia chuyến đi này. Một điều tuyệt vời không chỉ đối với cá nhân tôi mà còn đối với cái chung nữa, bởi như vậy chính sách đã có những thay đổi. Nhưng đây là một kế hoạch đối phó với tôi, ứng trước sự đền bù để tôi không nhận giải thưởng Nhân Quyền. Chắc chắn việc tôi đi đã được thông qua Bộ Chính trị, thông qua Nguyễn Khoa Điềm. Những người ấy không thể tốt với tôi. Cái bẫy gì đây? Nước cờ dụ tốt sang sông, tiếp theo là những bước gì? Không ai có thể buộc tôi từ chối nhận giải thưởng Nhân Quyền. Điều chắc chắn là sẽ có rất nhiều tin đồn, sự xuyên tạc được tung ra. Đó vốn dĩ là ngón nghề của họ.

Phải nói rằng tôi không muốn đi chút nào nhưng tình thế là khó thoái thác. Hơn nữa tôi rất muốn có cái hộ chiếu, điều bình thường không thể có được. Để dùng vào những việc sau này. Cuộc đời rồi sẽ cần có nó.

Nhưng tôi không khởi động gì về việc nhiều người thèm muốn ấy. Thúc giục Hội Văn Nghệ Hải Phòng làm đề nghị lên Uỷ Ban, Thành Ủy cũng không. Làm thủ tục lấy hộ chiếu cũng không. Trường hợp tôi là vậy. Không phải xin hộ chiếu. Mà là lấy hộ chiếu. Bởi vì họ cần tôi đi nước ngoài chứ không phải tôi. Chẳng bao giờ người ta lại cho không tôi một món hời như thế. Cân nhắc mọi nhẽ vẫn là cái việc họ sẽ tung tin, xuyên tạc, bôi nhọ tôi. Điều này không ngại. Chỉ cần lòng dạ mình trong sáng. Với lại mình không đi họ vẫn xuyên tạc cơ mà!

Hữu Thỉnh không trực tiếp nói với tôi một câu nào trong suốt quá trình chuẩn bị đi. Anh nắm tình hình qua Đình Kính. Cũng là đúng nguyên tắc. Vì Kính là chi hội trưởng chi hội nhà văn Việt Nam tại Hải Phòng. Hơn nữa nhà Kính lại gần nhà tôi, ngay bên kia đường.

Chính Kính giục tôi lên ngoại vụ làm thủ tục nhận hộ chiếu. Nhưng Kính cũng không nắm vững chuyện này. Khi tôi đã nộp thủ tục ở Hải Phòng([3]), Kính bảo không phải nộp ở Hải Phòng mà đem lên Hà Nội. Lại rút hồ sơ đã được xác nhận ra làm lại để chuyển lên Hà Nội. Ngoại vụ Hải Phòng huỷ hồ sơ, phát tờ khai, khai lại. Nhưng phòng ngoại vụ không xác nhận mà phải đem về phường. Phường nói phường chưa bao giờ xác nhận như vậy mà là ngoại vụ. Lại lên ngoại vụ. Ngoại vụ kiên quyết không xác nhận vào hồ sơ. Tôi không lo mà lại mừng. Thế là có cơ không phải đi. Khỏi phải điên lên vì những lời xuyên tạc bẩn thỉu. Còn một việc nữa: Uỷ Ban, Thành Uỷ chưa có quyết định để tôi đi, dù tôi chẳng ở biên chế nào của nhà nước và cũng chẳng phải đảng viên. Ngày 20-8-2001 Hội Văn Nghệ Hải Phòng làm văn bản đề nghị thành phố, và mãi tới ngày 5-9-2001 phó chủ tịch Uỷ Ban Bùi Thị Sinh mới ra quyết định. Có sự chậm trễ này hình như do mấy ông bà thư ký uỷ ban muốn kéo dằng dai để kiếm chút mồi như thông lệ. Mãi sau các ông bà mới biết cái tên Bùi Ngọc Tấn chẳng thèm đến chạy chọt, cái tên Bùi Ngọc Tấn ấy là một trường hợp đặc biệt, rất khó nhằn, nó nằm trong một thế cờ, “ngâm cứu” lâu là bể mánh. Tôi đoán thế — Cầu mong tôi đoán sai và được các vị lượng thứ.

Cái sự làm hộ chiếu cuối cùng có chỉ thị từ Hà Nội xuống là ngoại vụ cứ làm hồ sơ, sở công an Hải Phòng cứ ký rồi đưa lên cho Hội Nhà Văn làm ở Hà Nội. Đình Kính nắm tình hình rất chắc. Anh biết chiều hôm ấy người trực ngoại vụ là ai, và sáng hôm sau Bão Vũ lên Hà Nội tôi sẽ gửi Bão Vũ cầm lên. Công việc đúng như Kính nói. Những người có trách nhiệm sở công an đã ở lại quá giờ để làm cho tôi. Trong việc làm hộ chiếu, Kính rất nhiệt tình, tôi cảm ơn anh, hơn thế còn nhiều lúc cảm thấy mình là người có lỗi.

Thế là thủ tục đi Trung Quốc của tôi đã được hoàn tất mà không phải mất một giọt mồ hôi, một câu “báo cáo anh, nhờ anh giúp đỡ.”

Ngày 11 tháng 9 năm 2001, đúng ngày Bill Laden đánh tháp đôi New York, tôi bay đi Trung Quốc.

B.N.T

([1]) Kính là trưởng chi hội nhà văn Việt Nam tại Hải Phòng.

(2) Người ta nói thời gian ông Trần Hoàn làm bộ trưởng Bộ Văn Hoá, nhiều nhạc công, ca sĩ được cất nhắc lắm.

(3) Lần đầu tiên trong khi khai lý lịch tôi viết điều bị bắt tù 5 năm mà thấy bình chân như vại, không chút lo lắng hồi hộp sợ hỏng việc.

 

(Xem tiếp kỳ sau)

( Nguồn: VV)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 14.08.2015

Đám tang tướng Trần Độ…

Tướng Trần Độ

Đám tang tướng Trần Độ…

nhà báo Lưu Trọng Văn

QTXM: Bạn đọc kính mến. Hôm nay, 1-7 âm lịch là ngày giỗ Trung tướng Trần Độ . QTXM xin thắp nén nhang lên mộ ông với niềm kính trong và cảm phục sâu sắc đối với một vị tướng tài, một nhà văn, một nghệ sĩ nhiếp ảnh, một nhà văn hóa lớn của dân tộc. QTXM xin in lại hồi ức của nhà báo Lưu Trọng vĂn ( con trai cố nhà thơ Lưu Trọng Lư) về đám tang Tứơng Độ như một niềm chia sẻ.

***

 Nhà thơ Chế Lan Viên chê tướng Trần Độ khi làm thứ trưởng bộ Văn hóa (thực chất quyền như bộ trưởng) đã đem cách điều hành mệnh lệnh trong quân đội vào trong điều hành một cơ quan quản lý văn hóa. Tính của Chế Lan Viên thường châm trích cay nghiệt, ông bảo với gã, muốn gặp ông Độ phải báo cáo qua từ anh tiểu đội trưởng…

Rồi nghe cha gã kể, một lần có việc cha gã đến bộ Văn hóa ở đường Ngô Quyền để nói với ông thứ trưởng về tình hình văn hóa nghệ thuật theo cha gã là đang bê bết. Gặp ông Độ ở cầu thang, cha gã đi lên, ông thứ trưởng đi xuống, ông Độ hỏi sẵng, việc gì ? Cha gã tức khí gắt lên, có việc với anh đấy.

Gã rất hiểu tính cha gã. Có lần cha gã đã đập bàn với ông Trường Chinh vì ông phê phán Nguyễn Tuân khi Mỹ ném bom thảm sát Hà Nội lại chỉ viết chuyện về…phở.

Khi ông Lê Duẩn như cụ Huỳnh Thúc Kháng xưa, bảo truyện Kiều của Nguyễn Du là dâm thư, cha gã đã gân cổ bảo vệ nàng Kiều. Khi trong cuộc họp bàn về  kỷ niệm 600 năm Nguyễn Trãi toàn các trí thức tên tuổi cả, ông Võ Nguyên Gíap chắp tay sau đít cứ đi đi lại lại, cha gã bảo ông Giáp, anh ngồi xuống như anh em đi.

Thực ra tướng Trần Độ cùng trong một guồng máy quá lâu không thể không nhiễm cái thói quen của hầu hết các vị lãnh đạo tự cho mình có chức là đương nhiên ngồi trên đầu bất cứ ai.

Gã không thích cái thói ấy. Đến bây giờ gã vẫn nói như Phùng Quán, không thích thì bảo là không thích.

Nhưng rồi đám tang của ông, từ Sài Gòn chân ướt chân ráo ra, gã đã đến dự. Nắng gắt lắm. Cả cái sân Nhà Tang lễ như đổ lửa. Gã đến không hề vì tò mò, không hề vì muốn ta đây tỏ một thái độ chống đối này nọ mặc dù chống đối… đang là mốt thời thượng.

Vậy mà đã 13 năm trôi qua rồi.

Hôm nay 9.8 ngày ông Trần Độ mất.

Gã xin thắp nén nhang tưởng nhớ ông. Và cái ngày nắng gắt ấy gã cũng đã khóc chia tay ông cùng một nén nhang.

Không thích một việc, đó là cái thói đời, thương cho những người như ông cũng bị nhiễm. Nhưng lại có nhiều cái thích khác lớn hơn, đè khuất cái gờn gợn không thích kia.

***

Vòng hoa của đại tướng Võ Nguyên Giáp, và vòng hoa của gia đình đại tướng Lê Trọng Tấn, đại tướng Hoàng Văn Thái bị ách lại chưa được đưa vào viếng trung tướng Trần Độ. Tình hình rất căng thẳng, đại tá Huyên, trợ lý của đại tướng Võ Nguyên Giáp nói sẽ điện về xin ý kiến của đại tướng.

Lý do là trên băng tang đề dòng chữ “vô cùng thướng tiếc” trung tướng Trần Độ. Chỉ thị từ cấp cao nhất, không để lọt bất cứ “vô cùng thương tiếc” nào mà chỉ được, “kính viếng” hoặc “viếng” thôi.

Gã ngồi bệt vỉa hè dưới tán cây phượng với ông Nguyễn Kiến Giang, một người mà gã kính yêu. Khi ông Độ trên đỉnh cao quyền lực hoặc dẫn đầu đoàn quân xung trận thì ông Nguyễn Kiến Giang bị nhốt trong tù.

Một lần cà fê với ông dưới gốc đa già công viên Lý Tự Trọng bên hông báo Lao Động, ông Giang kể gã nghe vì sao ông bị đích thân ông Lê Đức Thọ tống ông vào tù. Rồi trong tù hai ông đã tranh luận thế nào về con đường phát triển của đất nước.

Gã thích ông Giang ở lòng nhân ái bao la của ông, ông không hề hằn học tức giận những người đã cho ông vào tù và ông tôn trọng quan điểm lập trường của những người chống ông. Sau này tìm hiểu về ông Mandela của Nam Phi gã thấy tấm lòng nhân ái của ông Giang chả khác ông Mandela.

Chính vì yêu mến ông Kiến Giang mà gã có cái nhìn khác đi về tướng Độ. Một người như ông Giang sẵn sàng đứng dưới cờ của tướng Độ, thì chắc chắn phải có lí do. Và gã được biết ông Giang chính là nhà tư tưởng của nhóm tướng Độ, thế là gã cảm mến ông Độ vì không phải tự dưng lại chọn ông Giang. Thế đấy. Dắt dây. Sợi dây tình cảm. Suốt đời của gã, gã chỉ chấp nhận cho sợi dây tình cảm xỏ mũi mình.

Nói thế, là, gã đến dự đám tang tướng Độ, người gã chưa hề gặp ngoài đời, hoàn toàn không vì ông là người chống chế độ.

Gã cứ ngồi bệt thế trên vỉa hè với ông Nguyễn Kiến Giang. Thỉnh thoảng gã lấy tờ báo quạt quạt cho ông. Mồ hôi. Oi. Không khí tang. Buồn. Tức. Đủ chuyện.

Khi thấy ông Giang, bất cứ ai quen biết, kính trọng ông khi đi qua đều đon đả tới chào ông. Dương Thu Hương, Hoàng Minh Chính… hầu hết là những nhân vật bất đồng chính kiến. Trong nhiều người đến chào ông Giang nhà tư tưởng của nhóm tướng Độ, gã biết một số người cơ hội. Gã nói thẳng với ông Giang, ông Giang khẽ cười, cậu nói số ít à, theo mình là không ít đâu. Giọng ông nhẹ tênh coi chuyện kẻ cơ hội trong một phe nhóm nào đó là…đương nhiên.

Gã nhớ lại cũng lần dưới gốc đa ở Sài Gòn ấy, gã đã hỏi thẳng ông Giang rằng ông anh có cảm thấy có sự nhầm lẫn về ngọn cờ, về thủ lĩnh chưa xứng tầm không?

Gã nghĩ mình hỏi câu hỏi có ý xúc phạm ấy sẽ làm ông Giang khó chịu. Nhưng thật không ngờ, ông chỉ cười, vẫn nụ cười rất chân thành, mộc mạc, mà hiếm có một nhà tư tưởng, một triết gia hàng đầu đất nước như ông có được.Ông nói, có những cái vì việc lớn mình phải chấp nhận thôi.

Gã thực sự xúc động và càng thương yêu ông vì cái nụ cười và câu nói ấy. Ông bảo, Văn ạ, cậu sướng hơn mình rất nhiều. Mọi quyết định thay đổi của cậu có thể chỉ trong ba mươi giây, còn mình phải mất ba mươi năm đấy.

Gã đủ không ngốc lắm để hiểu thông điệp mang tính khoảng cách các thế hệ vô cùng tinh tế này. Ông Trần Độ cũng thế thôi, có khi để có quyết định thay đổi ông đã phải mất hơn cả cái thời gian dằng dặc ba mươi năm ấy nữa.

Thế rồi ông Giang không phải tự dưng kể cho gã nghe câu chuyện khi ông bị bắt giam, mẹ ông một nữ anh hùng cuộc Khởi nghĩa Xô Viết Nghệ Tĩnh, một đảng viên cộng sản năm 1930 đã tuyên bố từ ông.

Ông đau đớn lắm. Ông cảm giác cái nỗi đau của ông từ Đảng, Đảng mà cả tuổi trẻ của ông theo đuổi, phấn đấu hy sinh cũng không thể bằng nỗi đau của mẹ ông khi mẹ ông từ ông. Và càng không thể bằng nỗi đau của chính ông khi bị mẹ khước từ tình mẹ con.

Gã nhận thêm thông điệp nữa, ông Trần Độ cũng có những quặn đau như thế.

Dám từ bỏ một niềm tin, hơn thế nữa niềm tin ấy lại hun đúc bằng cả tuổi thanh xuân, bằng cả bao xương máu thành đức tin, thì chỉ chuyện ấy thôi cũng phải biết trân trọng những con người như ông Giang, như ông Độ rồi.

Gã vỡ lẽ ra nhiều điều. Bây giờ gã mới hiểu hết nỗi đau của cha gã khi gã hoặc thằng Ninh em trai gã đem chuyện tiêu cực xã hội, những bất công xã hội, những tha hoá xã hội ra kể. Có lần cha gã quăng đũa, bỏ cơm. Cha ơi con xin lỗi cha. Ngàn lần xin lỗi.Vì con đã làm cho cha buồn.

Thương quá một thế hệ chiến đấu vì lý tưởng cách mạng như ông Giang, như cha gã. Và từ tình thương này gã dắt dây thương những người như ông Trần Độ. Nhà cao cửa rộng. Gia đình êm ấm, con cái tử tế, bổng lộc không thiếu, uy danh có thừa, nhưng đã bỏ tất cả.

Đúng sai không bàn.

Dấn thân là trả giá.

Ông Nguyễn Kiến Giang kể: Sau này, bà mẹ của mình từ quê ra tìm mình, bà ôm lấy mình, khóc, bà nói, con ơi, con đúng, mẹ xin lỗi con.

***

Đã tới giờ làm lễ tang tướng Trần Độ.

Ông Giang đứng dậy, khẽ đọc cho gã nghe mấy câu thơ của ông Độ.

Những mơ xóa ác ở trên đời

Ta phó thân ta với đất trời

Ngỡ ác xóa rồi thay cực thiện

Ai hay, biến đổi ác luân hồi.

Gã và ông Giang bước vào hàng những người vào viếng lần cuối. Lúc này bên cạnh gã là nhà văn Xuân Cang, nữ đạo diễn sân khấu Phạm Thị Thành và rất nhiều tướng tá, sĩ quan quân đội, rất nhiều trí thức nổi tiếng, rất nhiều những khuôn mặt của lực lượng dân chủ.

Gã hỏi ông Giang câu nói nào của ông Trần Độ mà ông nhớ nhất. Ông Giang nói: Có hai câu.

Một. Văn hóa mà không có tự do là văn hóa chết.

Hai. Mọi sự độc quyền, độc tôn đều đưa đến thoái hóa, ruỗng nát.

Gã đã run run thắp nén nhang cho tướng Trần Độ, khói nhang như hai câu nói kia cứ quẩn quanh gã.

 

Gã lẩm bẩm như nói với tướng Độ, ở tuổi 27 tôi đã nhiều tháng ngày cùng trung đoàn Sông Lô mà ông từng làm chính ủy khi ông 27 tuổi, tiêu diệt bọn diệt chủng tàn ác Khmer đỏ.

 

Cái ác phải bị tiêu diệt.

Bản nhạc Hồn tử sĩ vang lên. Hơn một ngàn con người đứng im mặc niệm tướng Trần Độ.

Gã thấy vòng hoa của đại tướng Võ Nguyên Giáp không hiểu ai đã…lén đặt lên bên quan tài của tướng Trần Độ, dòng chữ “vô cùng thương tiếc” không bị bóc bỏ.

Và rồi ông Vũ Mão, chánh văn phòng Quốc hội, nơi ông Trần Độ từng là phó chủ tịch, lên đọc điếu văn. Giọng ông hùng hồn ngợi ca công lao của ông Độ đối với đất nước, dân tộc. Nhưng đến kết thúc điếu văn giọng ông tự dưng tụt âm lượng, tiếc rằng, cuối đời đồng chí đã phạm những sai lầm…

Cả khán phòng im lặng sững sờ vì “nghĩa tử là nghĩa tận” theo truyền thống dân tộc Việt xưa nay, vậy mà một ông đại diện cho Quốc hội lại cố tình bất chấp…

 

Gã cảm nhận như ông Vũ Mão biết cái gì sẽ xảy ra. Đọc xong điếu văn ông lặng lẽ đi xuống mà không nhìn vào mặt bất cứ ai. Ông đứng sát bên gã ở hàng đầu bên phải. Mồ hôi đầm đìa khuôn mặt vốn luôn khá cởi mở của ông.

 

Gã thú thật gã vốn có cảm tình với ông khi chứng kiến ông, bí thư thứ nhất trung ương Đoàn đã say sưa hát cho công nhân Công trình Thủy điện Sông Đà nghe bài hát mà chính ông sáng tác nói về tình yêu tuổi trẻ. Bây giờ thì ông chuẩn bị đón chờ bão tố đấy. Ông liên tục lấy khăn tay lau mồ hôi. Gã nghe được cả tiếng thở phập phồng của ông.

 

Và bão tố đã nổi khi Trần Thắng, con trai của tướng Trần Độ thay mặt gia đình: Chúng tôi không công nhận lời điếu văn của ông Vũ Mão. Những tiếng hò hét, những tiếng vỗ tay vang dội ủng hộ lời tuyên bố kia.

Một người đàn bà mặc áo nâu sồng nét quê kệch gào lên: Ối anh ơi là anh ơi, anh chết rồi mà người ta vẫn không để anh yên.

Gã thấy một loạt tướng tá, cựu chiến binh huân chương đầy ngực từng là đồng đội vào sinh ra tử khắp các chiến trường từ Điện Biên Phủ đến chiến trường Nam bộ, chiến trường Trị Thiên vây lấy ông Vũ Mão. Họ chỉ chỏ vào mặt ông Vũ Mão chửi thậm tệ. Trước khi chửi họ đều xưng họ tên cấp bậc từng chiến đấu ở chiến trường nào.

Gã biết đa số trong họ có thể không tán đồng tư tưởng chọn lựa con đường khác như ông Trần Độ, nhưng họ hơn ai hết hiểu cái tấm lòng yêu nước xả thân của người từng là chỉ huy hoặc đồng đội của mình.

 

Gã ké một câu hỏi, ai buộc anh cho cái đoạn phê phán ông Trần Độ vậy?

Ông Vũ Mão lấy một ngón tay chỉ lên… trời.

***

Năm 2007, ông Vũ Mão có viết một bức thư rất chân thành, ông kể lại sự kiện ông bị phân công đọc điếu văn mà chính ông không muốn.

 

Ông nói rằng, ông rất khổ tâm về điều này vì có thể có các quan điểm khác nhau “nhưng nghĩa tử là nghĩa tận, đặc biệt trong tang lễ đọc cả điều thiếu sót là điều tối kỵ”.

 

Và ông thanh minh, là ông đã xúc động thật sự khi cố tình dõng dạc kể công lao của ông Trần Độ, và ông chủ động xuống giọng khi nói tới sai lầm, thiếu sót.

 

Gã ghi nhận điều ông nói là sự thật. Và hôm nay, sau 13 năm cái sự kiện lần đầu tiên trong một đám tang nhà nước có cuộc vỗ tay phản đối điếu tang, gã xin kể cho ông Vũ Mão, người mà bây giờ thích được gọi là nhà thơ, hay nhạc sĩ hơn bất cứ chức danh lãnh đạo nào mà ông từng nắm giữ, một sự thật mà chắc chắn ông không hề biết, đó là, khi ra khỏi Nhà Tang lễ, nhà cách mạng chân chính Nguyễn Kiến Giang đã đọc hai câu thơ của ông viết tặng tướng Trần Độ ngày 17.3.1993.

 

Vì dân vì nước anh hiến dâng cuộc đời

Anh là đóa hoa hồng đẹp tươi.

 

Rồi người đồng chí gần gũi thân thiết nhất của tướng Trần Độ ấy đã nói, đừng trách Vũ Mão.

 

Cuối cùng thì sự khác biệt của những nhà cách mạng thực sự vì dân vì nước với những ai khác cũng chỉ là cái tình và cái dám chiến đấu, dám tù đày, hy sinh vì cái tình ấy.

 

Lúc này, khi viết những dòng cuối cùng này, gã thú thật gã chẳng còn nhớ đến ông Trần Độ, thậm chí cả ông Nguyễn Kiến Giang nữa.

 

Mà gã nhớ đến hình ảnh bà mẹ của ông Giang sau nhiều năm vật vã đau đớn trăn trở đã ôm người con trai của mình mà vì niềm tin, đức tin của mình đã từ bỏ:

 

Mẹ xin lỗi con!

 

9.8.2015.

 

Viết thêm.

Tối 10.8 nhà văn Nguyễn Quang Thân có điện thoại cho gã nói, thời Mỹ ném bom Hà Nội, Nguyễn Tuân không viết về phở nữa mà viết về hoa. Những bút kí về phở lẫn về hoa của Nguyễn Tuân đều bị phê phán. Đó là thời mà Nguyễn Quang Thân biết rành hơn gã, còn gã chỉ nghe cha gã kể lại thôi.Để tôn trọng sự thật gã xin viết thêm đoạn này.

(Nguồn: FB Lưu Trọng Văn)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 14.08.2015

PHỎNG VẤN THẠCH QUỲ- THƠ NGÔ MINH

Thạch Quỳ và NM

PHỎNG VẤN THẠCH QUỲ

 Ngô Minh

 

là đá sao không đứng lại quỳ ?

em đẹp thế dại gì ngô nghê đứng

trời cao quá đất mới là bè bạn

quỳ trước cỏ xanh cũng một cách nguyện cầu

 

  biển đầy thế sao người gầy như gió ?

biển không đầy bằng chai

không đầy bằng mắt nhớ

phải gầy hơn mũi tên mới vào được hư vô

lúm tiền má em thăm thẳm đến không ngờ

 

 nước ngập nhân gian sao người không tắm ?

đá có tắm đâu nắng có tắm đâu

kẻ tắm sữa xông hơi mà tâm hồn dơ dáy

làm sao đến được cõi người !

 

 sao ta thấy người cười mà như khóc

ta cười thật mà cười thật người ơi

lọt lòng mẹ ta đã cười nhăn nhở

nếu ta khóc 65 năm vò xé

còn đâu nước mắt để cười

 

 thơ là gì mà người đeo đuổi

thơ là ma. Thơ chính là ta

nếu được tái sinh xin lại làm thi sĩ

để được tự do xơ xác vì thơ…

HongSokHour (bên trái ngoài cùng)  – Ảnh: Phnom Penh Post

Bắt khẩn cấp Thượng nghị sĩ chủ mưu chống phá biên giới Việt Nam-Campuchia

  Hồng Thủy

 (GDVN) – Thủ tướng Hun Sen ra lệnh bắt khẩn cấp Hong Sokhour vì ông ta đã tải một “điều ước quốc tế giả” liên quan đến biên giới Việt Nam – Campuchia lên Facebook.

The Cambodia Daily ngày 13/8 đưa tin, Thượng nghị sĩ phe đối lập CNRP Hong Sokhour đã bị bắt tại trụ sở chính của đảng này ở Phnom Penh sáng hôm nay, chỉ một giờ sau khi Thủ tướng Hun Sen yêu cầu cảnh sát bắt giữ khẩn cấp ông ta.

“Tôi có thể xác nhận rằng Hong Sokhour đã bị bắt giữ tại trụ sở chính của CNRP ở xã Chak Angre Loeu một vài phút trước đây”, Kong Korm, Chủ tịch đảng Sam Rainsy (vẫn tồn tại vì lý do pháp lý mặc dù đảng Sam Rainsy đã sáp nhập vào CNRP) nói với The Cambodia Daily.

“Ông ấy đã bị đưa ra khỏi trụ sở CNRP nhưng chúng tôi không biết ông ta bị đưa đi đâu. Chúng tôi có thể nói rằng việc bắt giữ được thực hiện ngay sau khi Thủ tướng Hun Sen kêu gọi các cơ quan chức năng bắt giữ ông ấy”, ông Kong Krom đồng thời cũng là một Thượng nghị sĩ xác nhận.

Hong Sokhour đóng một vai trò quan trọng trong chiến dịch gần đây của CNRP vu cáo Việt Nam xâm phạm biên giới Campuchia sau khi đi du lịch Paris để thu thập các bản đồ nhằm chứng minh rằng, bản đồ chính phủ Campuchia đã dùng đàm phán phân giới cắm mốc với Việt Nam là “giả mạo” bản đồ hiến pháp và “nhượng đất cho Việt Nam”.

Kep Chuktema, một nhà lập pháp của đảng CPP cầm quyền viết trên Facebook cá nhân sáng nay rằng, Thủ tướng Hun Sen ra lệnh bắt khẩn cấp Hong Sokhour vì ông ta đã tải một “điều ước quốc tế giả mạo” lên tài khoản Facebook cá nhân mình.

Tuy nhiên theo tường thuật của tờ The Phnom Penh Post ngày 13/8, mặc dù có tin Thủ tướng Hun Sen ra lệnh bắt khẩn cấp vì tội phản quốc, nhưng Hong Sokhour vẫn còn ở một nơi an toàn, Teav Vannol, một Thượng nghị sĩ đối lập cho biết. Cũng giống như Chủ tịch đảng CNRP Sam Rainsy, Hong Sokhour mang hai quốc tịch Campuchia và Pháp.

“Tôi không chắc chắn về vị trí, nhưng tôi biết ông ấy chưa bị bắt, giờ này ông ấy đang ở một nơi an toàn. Tôi đã nói chuyện với vợ ông ấy, bà này nói rằng chồng bà vẫn đang ở một nơi an toàn”, Teav Vannol cho biết. Thủ tướng Hun Sen ra lệnh bắt khẩn cấp Hong Sokhour vì ông ta đã tải một “điều ước quốc tế giả” liên quan đến biên giới Việt Nam – Campuchia lên Facebook.

Phát biểu tại Phnom Penh, Thủ tướng Hun Sen gọi Hong Sokhour là kẻ phản quốc. “Chính phủ phải có hành động đối với kẻ phản quốc này”, The Phnom Penh Post dẫn lời ông cho biết. Hun Sen ra lệnh cho tướng Neth Savoeun – Ủy viên Cảnh sát quốc gia bắt khẩn cấp Hong Sokhour, đồng thời chỉ thị Bộ trưởng Tư pháp đề nghị Thượng viện bãi miễn tư cách Thượng nghị sĩ của ông.

Hun Sen cũng ra lệnh cho sân bay quốc tế Phnom Penh ngăn chặn Hong Sokhour bỏ chạy, đồng thời yêu cầu tất cả đại sứ quán các nước ở Campuchia không được can thiệp vào vụ này. Người phát ngôn của đại sứ quán Pháp Nicolas Baudoin nói rằng Hong Sokhour không có mặt tại cơ quan này.

“Sân bay Pochentong phải đóng cửa tất cả các trạm kiểm soát đối với người đàn ông đó. Các đại sứ quán xin vui lòng không chấp nhận (dung túng) người đàn ông này. Đây là một hành vi phạm tội thực tế và ông ta phải bị bắt ngay lập tức. Đại sứ quán các nước không nên can thiệp”, ông Hun Sen được dẫn lời cho biết.

Theo đài RFI, ngay sau khi có lệnh bắt khẩn cấp Hong Sokhour, lực lượng an ninh Campuchia đã có mặt ngay trước cổng các đại sứ quán nước ngoài, đặc biệt là đại sứ quán Mỹ, đại sứ quán Pháp đề phòng viên Thượng nghị sĩ này bỏ trốn.

( Nguồn: Báo GDVN)

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 14.08.2015

TRANG THƠ PHÁI ĐẸP- THƠ TÔN NỮ NGỌC HOA

 

TRANG THƠ PHÁI ĐẸP- THƠ TÔN NỮ NGỌC HOA

( Tác giả tự chọn)

QTXM: Tôn Nữ Ngọc Hoa là người Huế.Chị làm thơ ở Huế rồi lên dạy học ở Buôn Ma Thuột. Thơ nàng Tôn Nữ này dịu dàng e ấp mà nồng ấm. TRANG THƠ PHÁI ĐẸP kỳ này xin giới thiệu chùm thơ Tôn Nữ Ngọc Hoa do tác giả tự chọn.

Tôn nữ Ngọc Hoa

Ước Muốn Dịu Dàng

Anh biết không

Khi bất ngờ em thấy

Chút khói mây vương trên mái tóc anh

Bao yêu thương bỗng cuộn dâng như sóng

Ùa đầy em thành ước muốn dịu dàng

Em ước mình là cô bé hồn nhiên

Tìm trong tóc cha sợi khác thường đáng ghét

Để được trả công bằng bao nhiêu cổ tích

Em sẽ xin anh quên chuyện buồn đau

Em ước mình như mẹ ngày xưa

Tìm trong tóc cha dấu thời gian sớm lạc

Dấu chán chường dấu ưu tư lưu vết

Tiếng cười anh – em đầy ắp niềm vui

Em ước ngoài em không đôi mắt khác nào

Thấy trên tóc anh màu mây màu khói

Rất có thể – cũng như em – người ấy

Sóng cuộn dâng thành ước muốn dịu dàng (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Ngô Minh | 13.08.2015

HẬU CHUYỆN KỂ NĂM 2000- KỲ 25

HẬU CHUYỆN KỂ NĂM 2000

(Thời biến đổi gien)

  Kỳ 25

    Bùi Ngọc Tấn

Đến bao giờ mình mới không phải là nhà trọng điểm, bao giờ mới có thể sống bình thường? Cả hai chúng tôi đều khát khao cuộc sống của người bình thường. Tác giả Vĩnh Xương trong một bài giới thiệu Chuyện kể năm 2000, dù chưa một lần gặp tôi, đã viết rất chính xác rằng: Bùi Ngọc Tấn không thích đấu tranh, ông chỉ mê văn chương chữ nghĩa. Tôi rất phục Vĩnh Xương. Chỉ đọc văn tôi mà ông hiểu được tính tình tôi. Tôi rất sợ sách nhiễu, những cuộc gọi hỏi, những cuộc thăm viếng, những cuộc khám xét, những cuộc tranh luận cãi vã chính trị, cãi vã đời sống, những cuộc thanh minh hoặc đôi co. Tôi cũng sợ những kẻ khiêu khích công khai cũng như những kẻ vu cáo ẩn danh. Nếu những chuyện như vậy đến với tôi, tôi sẽ im lặng. Bởi nó sẽ ngốn rất nhiều thời gian, sức lực, thần kinh. Mà tôi lại cần nhiều thời gian thần kinh sức lực để làm việc, và cả để nghỉ ngơi. Cũng đã xẩy ra chuyện đặt điều theo một kịch bản nào rồi đấy, tôi im lặng, tin rồi mọi người sẽ hiểu.

  Thần kinh tôi đã chịu tra tấn gần 60 năm! Không biết có ai bị lâu như tôi không. Các tiền bối thuở ấy như Vũ Đình Huỳnh, Đặng Kim Giang, Hoàng Minh Chính, Nguyễn Kiến Giang… đều đã qua đời.

Còn ai từ năm 1967 ấy tới nay 2014 vẫn bị theo dõi như tôi không? Tôi không giấu giếm sự mệt mỏi của tôi, nhất là sự mệt mỏi của vợ tôi vì lấy tôi mà khổ cả đời. Đã hơn nửa thế kỷ chúng tôi căng thẳng rã rời cùng một niềm uất hận vì oan khuất. Nhưng không có nghĩa tôi đầu hàng. Tôi có cách phản kháng của tôi, niềm ham thích nhất của tôi: Yên lặng, miệt mài trên bàn viết. Viết để lưu giữ cuộc sống này, trật tự xã hội này, sự giả dối trắng trợn này trên giấy trắng. Tôi đã nói với Kiên và Dũng khi chúng tôi gặp nhau ở khách sạn Thái Dương:

– Các anh cứ theo dõi tôi đi. Các anh sẽ thấy tôi là người cực kỳ lương thiện. Tôi ngồi viết văn. Sách của tôi in có địa chỉ. Có giấy phép của cục xuất bản, có người chịu trách nhiệm. Tôi không tự in ấn rồi tán phát như danh từ các anh thường dùng. Hành động có thể coi là thoái hoá biến chất đối với tôi là thỉnh thoảng nhấm nháp vại bia hơi vỉa hè. Thế thôi.

Trong thời gian Hậu Chuyện kể năm 2000 chắc chắn đã có một sự chỉ đạo thống nhất nhằm bôi nhọ tôi. Cháu Hà Như Hải, người đánh máy bản thảo Chuyện kể năm 2000 giúp tôi khi còn là sinh viên nay làm cho một xí nghiệp liên doanh với nước ngoài. Hai mẹ con cháu đến nhà tôi với vẻ mặt rất lo lắng vì trong một cuộc họp ở xí nghiệp, cháu Hải nghe cấp trên nói rất nhiều đến Chuyện kể năm 2000, một quyển sách phản động do một tên phản động đã mãn hạn tù viết ra.

Người ta lên án tôi ở cả một xí nghiệp liên doanh với nước ngoài! Còn đây là thông tin từ Vũ Trọng Thuần. Thuần là bạn học. Anh học dưới tôi một lớp và tham gia thành uỷ Hải Phòng đúng khoá ông Trần Đông làm bí thư. Anh đã nghỉ hưu với cương vị một giám đốc xí nghiệp. Nghĩa là anh là người trong hàng ngũ chức sắc.

– Tôi mới họp chi bộ xong. Ông chi uỷ nói về ông, về Chuyện kể năm 2000. Tôi cứ ngồi im xem họ nói năng ra làm sao. Ông đại diện chi bộ nói: Có một thằng cha phản động đi tù về vẫn không chịu hối cải, mới viết một quyển sách phản động, nói xấu đảng, chửi từ trung ương trở xuống, không từ một ai. Chửi đảng, chửi chế độ, chửi lãnh tụ, chửi cả lãnh đạo thành phố. Biết nó nói về ông rồi. Tôi mới giả cách nhổm lên hỏi: Bắt chưa? Bắt chưa? Chưa. Sao một phần tử như thế mà không bắt. Vẫn để nó ở ngoài xã hội à? Phải tóm ngay chứ! Mấy ông ấy nói: Chắc sớm muộn rồi cũng bắt thôi. Ác cái là thằng ấy lại ở ngay phường mình. Thế mới gay chứ. Làm đồng chí bí thư, đồng chí chủ tịch phường mất ăn mất ngủ.

Thuần cười:

– Tôi mới bảo: Chắc gay lắm nhỉ. Khéo ốm thì gay. Rồi tôi hỏi ông chi uỷ đang đứng nói: Thế các ông đọc chưa đã? Rồi. Thật không? Thật. Tên quyển ấy là gì? Chuyện kể năm 2000. Nội dung là gì ông nói tôi nghe xem nào. Không ông nào nói được. Tức là chưa đọc. Chưa đọc nhưng trên bảo thế nào thì cứ thế hót. Tôi mới bảo các ông ạ. Tôi đọc quyển ấy rồi. Tất nhiên là bản phô-tô thôi — Bản ông ký tặng tôi, tôi phải cất đi chứ. Cất kỹ. Nhà có máy phô-tô. Tôi phô-tô hai bản. Tha hồ đọc, tha hồ cho mượn, không sợ mất. Nhà tôi có. Ông nào muốn đọc đến lấy đọc. Các ông đã đến nhà anh Bùi Ngọc Tấn là người viết ra cuốn sách chưa? Tôi đến rồi.— Tôi không nhận ông là bạn học của tôi. Tôi đến nhà anh Tấn rồi. Gặp cả chị vợ anh ấy nữa. Văn hoá lắm. Nhất là chị vợ. Những người như thế không thể là những kẻ chửi bới vô văn hoá được. Tôi rất ít đọc sách văn nghệ. Thế mà tập này tôi đọc suốt đêm. Có nhà tôi đây này, các ông cứ hỏi nhà tôi mà xem. Chả là nhà tôi cũng hưu rồi, cũng sinh hoạt chi bộ đường phố, nằm trong chi uỷ. Bà ấy hơn tôi. Chi uỷ cẩn thận. Bà ấy cười bảo: Đúng. Vớ được tập sách, nhà tôi đọc cả đêm. Tôi bảo: Tập sách ấy tôi có. Ông nào muốn đọc đến tôi cho mượn. Bản phô-tô thôi.

Thuần nhìn tôi cười rất đắc ý:

– Từ bấy đến nay tôi chờ, nhưng không ai đến mượn cả ông ạ. Thì ra cứ nói như con vẹt thế thôi, chứ các bố không quan tâm, các bố không đọc.

Thuần ở Lương Văn Can, gần nhà tôi. Thỉnh thoảng sang chơi. Dăm ba câu thế sự như những người về hưu khác. Đầu năm 2003 nghĩa là mùa xuân năm Quý Mùi, đã ba năm sau khi in Chuyện kể năm 2000, câu chuyện tôi là tên phản động trong phường vẫn còn nguyên tính thời sự. Thuần cười ngặt nghẹo. Cười rất lâu rồi mới nói được thành lời:

– Tết xong, phường họp toàn thể cán bộ đảng viên. Đông. Ông bí thư phường lên nói nhiều chuyện trong đó có chuyện phường ta đón xuân thắng lợi an toàn. Ông ấy bảo phường ta có một điểm nóng. Nên phường rất lo. Phải phân công trực ngày đêm. Đề phòng trường hợp xấu nhất. Nhưng may, không có gì xẩy ra.

Nói đến đây Thuần lại cười ngất khiến tôi lờ mờ đoán được chuyện gì. Và tôi đã không nhầm.

Điểm nóng ấy ở số 10 Điện Biên. Nhà ông Bùi Ngọc Tấn. Ông này bị đưa đi cải tạo năm năm. Về viết tập Chuyện kể năm 2000 nói xấu chế độ, chửi Đảng, chửi Nhà Nước. Mà giao du vô cùng phức tạp. Người ra người vào, Hà Nội, Huế, thành phố Hồ Chí Minh. Người nước ngoài. Mỹ, Pháp đủ cả. Đến mồng 3 Tết thấy không xẩy ra chuyện gì chúng tôi mới yên tâm.

Thuần vừa kể vừa cười giàn nước mắt.

Tôi cũng cười:

– Tức là Bùi Ngọc Tấn không giật mìn phá Nhà Hát Lớn! Mà khách đến nhà ông Tấn cũng không có ai là al-Qaeda!

Thuần lau nước mắt, kể tiếp:

– Tôi bảo bà cụm trưởng. Bảo bà cụm trưởng thôi. Ông bí thư còn đang đứng nói. Tôi là bạn học với ông ấy. Bà có muốn đến nhà ông Tấn tôi đưa đi. Người hiền như đất. Người ấy không thể làm điều ác điều xấu. Mà cũng chẳng thể làm phản động được. Chẳng biết cái gì ngoài văn chương chữ nghĩa. Ông ấy có nói với nhiều người rằng ông ấy yêu nước không kém bất kỳ một người Việt Nam nào kể cả tổng bí thư. Tôi tin. Nhà tôi có một bộ Chuyện kể năm 2000. Hay lắm. Các ông các bà muốn đọc, đến tôi, tôi cho mượn.

Thuần lại cười với cái điệp khúc quen thuộc của anh:

– Vẫn chẳng vị nào đến ông ạ.

Tôi nghĩ phần lớn những người lên án tôi, lên án tập sách đều là những người độc ác một cách hồn nhiên như vậy. Không đọc, không biết nội dung, nhưng nghe trên phổ biến cứ thế là nói. Thành thật. Thiết tha. Chẳng muốn tìm hiểu vì có người tìm hiểu sẵn cho rồi. Chẳng muốn suy nghĩ vì có người suy nghĩ sẵn cho rồi. Không muốn khởi động và không làm sao khởi động được bộ não trì trệ của mình, bộ não không suy nghĩ bởi đã có người suy nghĩ hộ. Tôi không trách họ. Chỉ buồn: Đấy là những người được coi là ưu tú nhất trong nhân dân, những người lãnh đạo dẫn dắt nhân dân, cầm cương nẩy mực, thức tỉnh Nhân Dân! Buồn hơn nữa vì người ta đã thành công trong việc tạo ra những lớp người kế tiếp nhau như vậy để thông qua họ cai trị Nhân Dân. Một Nhân Dân bị lừa dối, chịu quá nhiều đau thương đã trở nên mệt mỏi, cam chịu, phục tùng, luôn nghĩ rằng chẳng thể nào thay đổi được.

Tháng 6 năm 2004 ban tổ chức Festival Thơ Huế định mời tôi tham dự. Cũng là tạo điều kiện cho tôi thăm Huế và gặp những bạn đọc Huế yêu quý tôi. Nhưng rồi ban tổ chức nhận được một ý kiến của TRÊN: Anh Bùi Ngọc Tấn vào xẩy ra việc gì chúng tôi không chịu trách nhiệm. Không ai dám mời tôi. Và nếu có được mời, tôi cũng “không dám đâu.” Đường từ đây vào Huế dài lắm, dài hơn đường 5 của vợ chồng Lưu Quang Vũ cả mấy chục lần!

Trong những tháng năm căng thẳng sống trong không khí vu cáo thù địch, tự giam mình trong nhà, vùi đầu vào công việc viết lách cho quên đi sự tù túng, nhớ đường phố, nhớ cây, nhớ vại bia vỉa hè trong những cuộc “tụ bạ”, một hôm tôi được giấy mời ra bưu điện nhận bưu phẩm: Một hộp sắt tây cũ, băng keo bao kín, kẹp chì bảo hiểm. Đúng tên, đúng số nhà. Đúng cả số điện thoại. Nhưng người gửi thì lạ hoắc. Nguyễn Văn Vận. Một cái tên tôi chưa nghe thấy bao giờ. Địa chỉ: Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh — tôi đã quên mất số nhà tên phố. Hộp không nặng, chỉ khoảng một ki lô. Tôi lắc khẽ: Có tiếng lục cục bên trong. Trở về nhà tôi đặt món quà lạ lùng không mong đợi, được niêm phong rất kỹ, phải ra tận bưu điện ký nhận này trên sàn gỗ, giữa buồng. Vợ tôi biết có bưu phẩm, bước đến. Hai chúng tôi nhìn nhau, không nói nhưng hiểu ý nghĩ của nhau. Và ngồi nhìn cái hộp im lặng như chúng tôi im lặng.

Tôi cầm hộp lên xem, đọc lại lần nữa tên người nhận, tên người gửi, tên bưu cục. Và lục lại trí nhớ. Không. Tôi không quen ai có cái tên Nguyễn Văn Vận. Người này là ai? Sao lại gửi cái hộp này cho tôi? Nhằm mục đích gì? Có gì bên trong? Tôi lại lắc nhè nhẹ. Rồi đưa cho vợ tôi. Vợ tôi cũng giơ lên tai khẽ lắc — Tôi rất sợ một tiếng nổ lớn vang lên ngay thái dương vợ tôi, sẽ tan nát hết cả hai chúng tôi, tan nát cả cái buồng này! Chúng tôi cùng thống nhất nhận định: Hộp đựng nhiều vật rắn, còn nhiều khoảng trống, chưa đầy. Nhìn vết xoắn của mối bảo hiểm được kẹp chì mà hoang mang. Chỉ cần lấy kéo cắt mối dây, tháo lớp băng keo khoanh tròn nắp hộp là biết bên trong có gì, là biết người ta gửi gì cho tôi, là biết tôi nhận được cái gì. Nhưng không thể. Trước tiên tôi không quen một ai có tên Nguyễn Văn Vận ở thành phố Hồ Chí Minh để gửi cho tôi món quà này. Cái tên chưa từng nghe thấy chứ đừng nói một người quen. Lại càng không thể có người quen nào gửi hộp bưu phẩm kỳ cục bí hiểm mà không báo trước. Trên hộp có ghi chính xác số điện thoại của tôi, sao không gọi? Điều gì sẽ đến khi lưỡi kéo chạm phần lõi của dây? Cứ cho là vẫn chẳng có điều gì xảy ra. Nhưng còn lớp băng keo, sau khi đã liều mạng bóc lớp băng keo an toàn, chắc chắn tôi không dám cậy mở nắp hộp. Một bí ẩn chết người đang nằm trong đó. Một tiếng nổ đang nín lặng trong đó. Một khối lửa chờ bùng lên đang thu mình trong đó. Một sự tàn phá nằm hiền lành trong đó. Một xé toang lồng ngực, đổ sập nhà cửa phục sẵn trong đó. Tôi đã chứng kiến vụ đánh mìn ở phố Trần Khánh Dư gần nhà tôi, rung chuyển gian gác tôi ở, khói bụi cuồn cuộn, từ cửa sổ nhìn sang rất rõ…

Tôi gọi điện vào thành phố Hồ Chí Minh cho Hải Yến, hỏi vợ chồng con gái tôi có quen ai tên như vậy, ở số nhà như vậy không? Hải Yến điện hỏi chồng đang làm việc ở cơ quan rồi trả lời cả hai không quen ai tên Vận. Tôi bảo Hải Yến hỏi cho tôi số điện thoại cái bưu cục đã nhận chuyển hộp quà rồi tôi gọi điện tới.

Một giọng nữ trong trẻo đầu dây bên kia:

– Nguyễn Văn Vận à? Anh chờ cho một xíu… Người gửi nói là thuốc bắc.

Thuốc bắc! Tôi có quen ai ở Nhà Bè và nhờ người ta mua thuốc bắc đâu. Mà tôi có ốm đau gì đâu! Nghĩ ra rồi! Không nghi ngờ gì nữa! Thuốc bắc có nghĩa là tẩm bổ, là kéo dài tuổi thọ. Thằng khốn nạn nói đểu đấy. Phải hiểu ngược lại là chết, chết ngay tức khắc. Không lừa được bố mày đâu, đồ chó đẻ! Tôi khẽ đu đưa cái hộp sắt và lắng nghe. Vẫn tiếng va đập nhè nhẹ nhưng tôi như đã nghe thấy tiếng nổ. Người tôi bị ép nhừ. Căn buồng sập. Bụi mù mịt…

Tôi đã quyết định. Dù bên trong hộp có là vàng tôi cũng không mở. Phải tống khứ ngay lập tức. Một phút một giây còn để trong nhà là một phút giây nguy hiểm. Tôi gọi điện cho cậu con út Bùi Quang Dũng. Dũng đi xe máy tới đèo tôi lên cầu Lạc Long. Cầu cho trên đường đi nó đừng phát nổ. Hai tay tôi nâng niu cái hộp trên lòng, tránh mọi va đập mạnh. Đã đến chân cầu. Đã đến giữa cầu. Tôi xuống xe, vịn lan can cúi nhìn dòng nước đục phù sa trôi dưới chân cầu và buông tay thả cái hộp sắt xuống sông Tam Bạc. Chờ một tiếng nổ rung chuyển, một cột nước dựng cao, mặt cầu rạn vỡ, người đi trên cầu hoảng hốt kêu thét vì trúng thương vì sợ hãi. Và sẵn sàng nhẩy lên xe máy phóng đi để khỏi bị bắt vì tội phá cầu. Hoặc chỉ là một cột khói bốc lên, không gây tác hại gì và tất cả quay lại nhìn tôi như nhìn một tên gián điệp. Nhưng không có tiếng nổ nào, không có cột khói nào. Mọi người xuôi ngược qua cầu chẳng ai thèm nhìn tôi vừa thả một vật gì xuống sông, Chiếc hộp nổi. Trôi. Trôi trên mặt nước giữa sông. Trôi giữa những khóm bèo tây, những mảnh xốp, những vỏ bòng, những rác rến lúc nào cũng rải rác lềnh bềnh mặt sông. Nghiêng nghiêng trôi. Im lặng trôi. Về phía cửa sông nơi hội với dòng sông Cấm.

Chắc nước chưa ngấm vào hộp nên ngòi nổ chưa được kích hoạt. Nó vẫn trôi. Phải mau chóng thoát khỏi nơi này, tôi bảo Dũng quay ngược xe xuống dốc cầu.

Tối, theo dõi báo đài không thấy đưa tin về một vụ nổ nào. Mấy hôm sau, Bùi Ngọc Hiến đến nhà hỏi tôi:

– Bố có nhận được hộp thuốc hoàn thằng Vận tầu Việt Xô 07 gửi ra cho con không?

Hộp thuốc hoàn giá bốn triệu của con tôi đặt người ta làm. Đến lúc ấy tôi mới biết. Hiến ở một ngõ thuộc đường Thiên Lôi, sợ khó tìm nên đã bảo bạn gửi về địa chỉ của tôi ở trung tâm thành phố, gần ngay bưu điện, mà không nói cho chúng tôi bởi thấy không cần phải nói. Còn chúng tôi, quen sống trong lo lắng, luôn nghĩ tới và đối phó với những âm mưu hãm hại nhưng không cho con cái biết, để chúng bớt đi một điều nghĩ ngợi. Chuyện cứ như là của những kẻ tâm thần. Vâng. Chính là chuyện của những kẻ tâm thần. Chúng tôi là những kẻ tâm thần chính hiệu. Những kẻ tâm thần một trăm phần trăm. Sống trong hoàn cảnh như vậy không bị tâm thần mới là chuyện lạ.

*

Có lẽ chúng tôi chỉ mắc chứng tâm thần thôi mà không điên bởi đã được tôi luyện trong gần hai nghìn ngày lao tù rồi cả vạn ngày hậu tù tiếp theo kinh khủng không kém gì tù tội. Hơn thế, hôm nay không còn là cô đơn gậm nhấm oan khuất, âm thầm chịu đựng, tiếp tục thói quen nuốt tiếng thở dài vào bụng, lặng lẽ nghiền ngẫm tiêu hóa nó. Rất nhiều bạn đọc đến với tôi, đem đến cho chúng tôi sự động viên rất lớn, tăng cường sức bền cho hệ thần kinh vốn suy nhược của chúng tôi.

Những người khách đủ mọi tầng lớp, đủ mọi lứa tuổi. Đi xe máy. Đi ô tô. Đi bộ. Đi xe đạp. Máy ảnh. Chân chống vác trên vai. Những vị khách người nước ngoài, những đàn ông da đỏ au cao mét chín, hai mét với camera, với đèn chiếu sáng, những đàn bà tóc bạch kim quần soóc, ôm những bó hoa tươi. Có tốp hai ba người, có đoàn lên tới gần hai mươi người, quay phim chụp ảnh từ đầu ngõ vào cho tới khi lên gác. Tất cả cùng một nét mặt hân hoan, một nụ cười tươi tắn, hơn cả lời nói chúc mừng.

Một nhạc sĩ đang công tác ở nước ngoài về Hải Phòng nhờ Vũ Cao Quận đưa đến thăm vợ chồng tôi.

Giữa trưa. Chúng tôi đang ăn cơm. Người bạn đọc ấy nói:

– Tôi biết anh chị đang ăn cơm. Nhưng tôi chỉ gặp anh một tí thôi. Tôi đến chỉ để vái anh một vái.

Người khách đứng chắp hai tay vái tôi và tiếp:

– Anh đã làm một việc nhân đức. Bộ sách của anh có sức mạnh bằng mấy sư đoàn. Nhiều người sẽ cám ơn anh. Nhiều gia đình sẽ cám ơn anh. Tôi đang nghiên cứu đạo Phật. Anh sẽ được Phật Tổ Như Lai phù hộ độ trì. Cứu một người phúc đẳng hà sa. Tập sách của anh chắc chắn không chỉ cứu một người. Anh chị sẽ được Đức Phật che chở, được hưởng ân phúc của Đức Phật.

Nói rồi anh đi, sau khi đã trao cho tôi cái các vi-dit và hẹn gặp lại. Chúng tôi cứ đứng ngớ ra, không kịp cả rót nước mời anh.

Rồi một chiến sĩ tên lửa thời chống Mỹ. Một vị tướng về hưu — cũng đã trải qua vòng lao lý oan sai —xách đến cho tôi một can mắm tép nhà làm. Mấy ông đại tá bị tù oan. Một thầy giáo già trên bẩy mươi tuổi vừa cắt mật mổ gan trong bệnh viện tới gặp tôi chỉ ao ước có Chuyện kể năm 2000 để đọc mà không dám hỏi. Anh lái xe Nguyễn Vĩnh Cường lái xe cho công ty kiểm toán ở Hà Nội đưa cán bộ đến làm việc ở đâu là nhờ nơi ấy in tiếp vài chục trang Chuyện kể năm 2000 trên mạng, mỗi khi về Hải Phòng lại cầm đoạn đang đọc dở đến nhà tôi xin chữ ký với lời nói về mình rất tự hào: “Cháu là lái xe nên có văn hóa đọc chú ạ. Trong khi anh em làm việc cháu nằm trên xe đọc chú.”

Nhà báo Nguyễn Duy Tâm râu dài cuồn cuộn như râu anh hùng Núp rầm rầm lên thang. Từ thành phố Hồ Chí Minh, anh theo đoàn đua xe đạp xuyên Việt và đội bóng Công An thành phố Hồ Chí Minh ra thi đấu tại sân Lạch Tray. Nhưng anh không xem đấu bóng. Anh xách một bịch to những cốc, những ấm pha trà đến làm quà cho tôi. Anh nói anh mượn được của “anh chị Diệu” bộ sách của tôi. Mãi mới mượn được. Nhiều người mượn quá. Anh bấm di động để tôi nói chuyện với anh chị Xuân Thu trong Sài Gòn, nguyên mẫu anh chị Diệu trong tiểu thuyết. Tiếng chị Diệu ngoài đời reo vui bên kia đầu dây:

– Chị đọc của chú rồi. Viết về chị thế, đọc cũng mát ruột.

Đi Pháp về, Hoàng Hưng cùng vợ đến nhà. Chào người hùng. Sang bên ấy mới thấy tầm vóc người hùng, thơm lây vì có quen người hùng. Nhưng phải viết một cái gì nữa đi. Khác hẳn quyển này. Châu Diên tuyên bố: “Tao cũng sẽ ra một tập.” Điều ấy thật bất ngờ và làm tôi sung sướng. Anh bỏ viết văn lâu quá rồi. Anh là người thông minh và tài năng. Tôi rất mong anh viết trở lại. Cũng như thật vui mừng biết bao khi Nguyên Bình từ Hà Nội về tươi cười:

– Thằng khốn nạn ạ. Đọc mày tao lại muốn viết.

Nguyên Bình cũng đã hàng chục năm nay không viết. Anh đang nghiên cứu một thứ tập luyện nào đó, và đã trở thành một bậc “đại sư” “thượng thừa” như nhiều người nhận xét, nó giải quyết cho anh cả những vấn đề triết học chúng ta là ai, chúng ta từ đâu đến, chúng ta đi tới đâu và đã hơn một lần anh nói với tôi: Tao đi theo cái này hay quá. Biết nó hay nên chỉ muốn giúp bạn. Mày tập đi. Tập đến một lúc nào đó thì mày sẽ không muốn viết nữa. Thế mà bây giờ Bình bảo tôi: Đọc mày tao lại muốn viết. Làm sao tôi không sung sướng.

Trung tướng Trần Độ trước khi vào nhà, dừng lại ở cửa hỏi tôi: Những điều anh viết về chị ấy trong Chuyện kể năm 2000 là thật hay “văn nghệ” thêm ra đấy? Khi được trả lời là tôi viết còn dưới sự thật, những chuyện vợ tôi sống trong thời gian tôi đi tù, tôi có dám hỏi đâu, ông cười, bông đùa như những người bạn đã quen từ thuở nào rồi:

– Thế thì tôi ghen với anh.

Rồi ông khoác vai cả hai vợ chồng tôi cùng ông bước vào nhà. Cùng đi với Trần Độ, nguyên phó chính ủy quân giải phóng miền Nam, nguyên phó chủ tịch Quốc Hội, nguyên trưởng ban tư tưởng văn hóa trung ương một vị lão thành cách mạng nhưng nổi lên như một người chống đối bị giám sát chặt chẽ là một đoàn tháp tùng và tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, người mới bị bộ Công An bắt giam hơn hai tháng. Hai ông từ Hà Nội về thăm tôi, thăm tác giả Chuyện kể năm 2000. Nói về những chuyện chung quanh tập sách của tôi, ông bảo:

– Cứ hô hào vận động viết tiểu thuyết hay. Nói dối cả đấy. Có tiểu thuyết hay là cấm. Không có tự do làm sao có tiểu thuyết hay được.

Ông hỏi những người cùng đi:

– Các ông đã đọc Những Người Rách Việc của ông này chưa? Tập ấy đọc cũng thú lắm. Đọc Một Thời Để Mất thấy cả nước nói dối. Đọc Những Người Rách Việc thấy chẳng ai làm việc gì cả. Toàn vớ vớ vẩn vẩn…

Lúc ấy tôi mới biết ông đã đọc tất cả sáng tác đã in của tôi. Chao! Giá như Bộ Chính Trị có lấy năm bẩy người như Trần Độ. Thì đất nước này đã đổi khác rồi. Chắc chắn nhân dân sẽ có cuộc sống dễ thở hơn. Tiếc thay phần lớn những bộ mặt dù cố làm ra cao cả nhưng mọi người vẫn nhìn thấy những gì ẩn giấu bên trong họ. Nhìn họ xuất hiện trên tivi, lại cứ nhớ đến Nietzsche: Ta biết quá rõ những kẻ giống với Thượng Đế…

Tôi xin phép thuật lại một cuộc gặp trong rất nhiều cuộc gặp cảm động với những người đọc sách của tôi, những cuộc gặp khiến thần kinh bị đầu độc chết cứng của tôi tươi nở lại. Một cuộc gặp thật hiếm xẩy ra đối với một nhà văn như tôi.

Một hôm nhạc sĩ Duy Thái và đạo diễn Quang Long đến nhà, nằn nì:

– Anh phải đi đằng này với chúng em. Không phải đi ăn đâu.

Cái nhìn của tôi nói với hai người rằng tôi không muốn đi đâu vào lúc ấy. Đã mấy lần tôi theo các anh tới nhà bạn các anh vốn rất muốn gặp tôi “ăn một bữa cơm gia đình, ăn là phụ mà chủ yếu là trò chuyện.” Dù tôi rất vui được gặp những bạn đọc yêu quý mình, nhưng các anh nhanh chóng phát hiện ra tôi thường bị mệt ở những chỗ đông người, tôi chẳng uống được bia rượu, còn hàm răng của tôi gần như hỏng hết, chỉ ăn được những thứ mềm và cũng chẳng ăn được bao nhiêu. Hai anh thấy cần nói rõ hơn:

– Có một ông bác sĩ bị ung thư nằm chờ chết đọc anh và rất muốn gặp anh. Đi anh. Ngay ngõ chợ Tám Gian thôi.

Chỉ vậy cũng đủ để tôi thay đồ, xuống thang đi ngay

Bác sĩ Hoàng Ngọc Thắng là phó khoa ngoại bệnh viện Hữu Nghị Việt – Tiệp. Một bác sĩ có tài, có lương tâm thầy thuốc đã cứu nhiều người khỏi lưỡi hái thần chết. Anh khoảng trên dưới năm mươi tuổi, nghĩa là tài năng đang độ chín, cái tài năng cứu nhân độ thế. Lưỡi dao mổ của anh đang đạt tới độ chính xác, hiệu quả cao. Anh bị ung thư di căn. Lần này lưỡi dao mổ của anh, của đồng nghiệp anh hoàn toàn bất lực.

Đang nằm trên giường, thấy chúng tôi vào, anh nhỏm dậy, nhưng đó là một cố gắng vượt quá sức, anh chỉ nghiêng được người và hơi nhấc đầu lên chào chúng tôi. Tôi nắm chặt tay anh. Bàn tay ẩm ướt hâm hấp nóng. Bàn tay người bệnh. Tôi đã có hai người bạn chết vì ung thư. Minh Đà không biết mình bị ung thư nên vẫn tin tưởng sẽ vượt qua bệnh tật cho đến lúc hôn mê. Dương Hùng biết mình bị ung thư, đã chạy xạ, khối u đã teo đi, tóc đã mọc trở lại, đã nhuộm tóc và đi xe máy, những tưởng tai qua nạn khỏi nhưng rồi bệnh lại tái phát. Biết mình không còn sống được bao lâu nữa, anh khóc. Khóc một mình lặng lẽ cũng như mỗi khi có bạn đến thăm. Khóc không giấu giếm. Bởi vì sao trong khi bạn bè sống khoẻ mạnh thế kia, anh lại bị căn bệnh quái ác này. Để anh phải chết.

Tôi giữ bàn tay bác sĩ Thắng khá lâu. Anh để yên tay anh trong tay tôi. Tôi khe khẽ:

– Anh có đau lắm không?

Anh gật đầu:

– Đau.

Ung thư là đau. Minh Đà cũng ung thư gan như anh. Minh Đà vật vã trên giường bệnh, lúc tung hết chăn ra và đòi bật quạt, lúc lại kéo chăn đắp kín người. Minh Đà đã cầm truyện ngắn Người Chăn Kiến của tôi vào tận Nghệ An, đưa cho Thanh Quế, được Thanh Quế công bố lần đầu tiên trên tờ Sông Lam… Sao lại có một thứ bệnh dã man như thế. Y học rồi phải khống chế được , không cho tác oai tác quái, không cho tuyên án tử hình con người để con người nằm chờ cái chết đến từ từ, nghe lại gần mình, từng bước, từng bước… Anh rời tay tôi ra và cố gắng ngồi dậy. Tôi đỡ anh. Lần này anh ngồi dậy được. Anh thở mạnh nhưng cười rất tươi:

– Cám ơn anh đã đến thăm tôi. Đọc anh, tôi ngỏ ý với Duy Thái, Quang Long là muốn được gặp anh…

Anh lại nắm tay tôi. Đôi mắt long lanh, cái long lanh của người đang sốt và cả vẻ long lanh của người bất chấp số phận, không quan tâm đến bệnh tật, vẫn sống yêu đời:

– Anh đã giúp tôi rất nhiều. Tôi hiểu rằng con người không được phép bi quan, không được phép đầu hàng. Tập sách của anh đã nâng đỡ tôi sống những ngày còn lại. Còn một ngày cũng sống cho ra sống…

Tôi cảm thấy gai người. Trong đời viết văn long đồng lận đận nguy nan của tôi, tôi không chờ đợi một điều to lớn như thế.

– Cám ơn anh.

Tôi nói mà thấy tự hào. Từ đáy lòng, tôi cám ơn anh, không phải những lời xã giao cửa miệng. Và bỗng thấy giữa tôi và anh có một sợi dây liên hệ gần gũi như những người bạn quen nhau đã lâu rồi, hơn thế, giống những người ruột thịt, những người chung huyết thống đang nói cùng nhau những lời vĩnh biệt khiến người tôi nổi da gà.

– Đọc anh xong, muốn gặp anh quá. Duy Thái, Quang Long hứa sẽ đưa anh đến. Cám ơn anh đã tới thăm tôi.

Từ buồng trong, vợ con anh ra chào tôi. Thằng con nhỏ chắc đang học lớp năm lớp sáu gì đó. Chị vợ xin phép chúng tôi đưa con đi có việc. Như vậy lát nữa khi chúng tôi ra về, anh sẽ ở nhà một mình. Một mình với bệnh tật. Tôi hiểu rằng anh bệnh đã lâu, cuộc sống vẫn cứ phải tiếp tục với tất cả bận bịu vất vả lo toan, mọi người trong gia đình chấp nhận điều khủng khiếp là rồi đây sẽ mất anh như chấp nhận cuộc sống.

– Tôi muốn lại anh chơi quá. Tôi muốn gặp chị, gặp các cháu, xem căn buồng của anh, cây xoan trước cửa buồng anh. Nhưng thôi, được gặp anh như thế này là tốt lắm rồi.

Đã có một bạn đọc từ Hà Nội về đòi tôi dắt đến cửa sổ chỉ cho anh nơi cây xoan đã in bóng lên tường. Và hai bạn đọc nữ hỏi tôi về tập Anna Karenina còn không? Những câu nói làm tôi xúc động. Duy Thái, Quang Long người pha nước, người giúp anh uống thuốc.

– Cuộc sống thật muôn hình muôn vẻ. Anh vẫn tiếp tục dòng suy nghĩ. Thật khó khăn phức tạp… Tôi có cầm cự giỏi lắm cũng chỉ mấy tháng nữa thôi. Thú thật, nhiều lúc chán lắm nhưng rồi tôi gặp một người bạn…

Anh chỉ tay vào bộ sách của tôi đặt bên gối:

– Tập sách của anh rất cần thiết cho cuộc đời này. Cần lắm đấy. Bao nhiêu điều người ta vẫn nghĩ mà không nói được ra. Anh đã nói hộ. Trong hoàn cảnh khó khăn đến thế anh vẫn không chịu thua. Cho nên quyển sách của anh lại càng cần đối với những người như tôi.

Và hình như bỗng nhớ tới nghề nghiệp và cả căn bệnh của mình nữa:

– Bây giờ là phải dùng dao mổ. Ung thư mà cứ dùng mãi bê một để từ đời nào rồi. Làm sao khỏi được. Lưỡi dao mổ của anh sắc lắm.

Ông bác sĩ ngoại khoa cười hóm hỉnh. Tôi cũng lây cái vui của anh:

– Còn thua xa lưỡi dao mổ của anh trước đây.

– Tôi không sống được bao lâu nữa. Lời nói của tôi là chân thành: Những người như anh rất cần cho cuộc đời nay. Quyển sách của anh cũng vậy. Rất cần cho cuộc đời này.

Tôi rưng rưng vì những lời anh nói, vì cách nói không cho cãi lại của anh. Và tự nhủ sẽ cố gắng để có ích cho cuộc đời này, để cần cho cuộc đời này như anh nói. Dù có gặp hiểm nghèo, dù có bị coi là phó người, túng thiếu, vất vả kể cả lại sa vào vòng lao lý.

Người bác sĩ ngoại khoa ung thư đã mất. Không ai báo cho biết, nên không được dự buổi đưa tiễn anh. Nhưng thật may, tôi đã kịp có mặt trong lễ tang trung tướng Trần Độ.

Trung tướng Trần Độ về thăm tôi cuối năm 2000 và qua đời vào giữa năm 2002. Không thể không lên Hà Nội. Không thể không lên vĩnh biệt vị tướng được cả nước yêu thương, người đánh đổi cuộc sống vương giả cộng sản siêu hạng lấy sự trù dập, bị theo dõi săn đuổi, bị bôi nhọ ở mọi nơi mọi chỗ, chỉ vì muốn đất nước, nhân dân được hạnh phúc. Không thể không lên vĩnh biệt người bạn đọc già đã chia xẻ cùng tôi.

Ông chết đã nhiều ngày người ta mới công bố. Công bố tối hôm trước, sáng hôm sau tổ chức tang lễ ngay. Để những người yêu quý ông khắp cả nước khó đến dự. Được tin tối hôm trước trên tivi, sáng hôm sau tôi đi tầu hoả lên Hà Nội ngay. Lên người không rồi sẽ kiếm một vòng hoa vào viếng — Nhà tang lễ ấy tôi biết. Tôi đã lên đó đưa tang bà Tề, vợ ông Vũ Đình Huỳnh, mẹ Vũ Thư Hiên bạn tôi. Thật không ngờ. Tới ga, tôi gặp anh Hữu Tiến và anh Sơn, những người Hải Phòng bị công an theo dõi gắt gao, những người đã cùng tướng Trần Độ đến nhà tôi. Chúng tôi đổi vé cho những hành khách khác để có thể ngồi chung một chỗ trò chuyện. Thì ra đại tá Vũ Cao Quận đã lên Hà Nội ngay tối hôm trước và đã đặt vòng hoa ở trên ấy. Anh Hữu Tiến lấy trong túi xách ra cái băng sẽ cài lên vòng hoa. Một cái băng mầu xanh. Và dòng chữ: Vô cùng kính trọng Trung Tướng Trần Độ. Những người bạn đồng hành Hải Phòng. Hữu Tiến rất đắc ý với dải băng xanh chứ không phải giải băng đen. Nó nói rằng Trung Tướng Trần Độ vẫn sống với chúng tôi. Lại còn dòng chữ nữa. Tiến bảo: Vô cùng thương tiếc là đối với người đã chết. Còn Vô cùng kính trọng là Trần Độ vẫn sống.

Nhưng sự đời luôn đầy những bất ngờ.

Xuống tàu, ba chúng tôi gọi tắc xi. Vừa đến cửa nhà tang lễ, xe dừng, chúng tôi mở cửa bước xuống, một phụ nữ mặc bà ba đen, giọng miền Nam bước lại hỏi tôi:

– Anh là anh Bùi Ngọc Tấn?

Tôi chào chị. Chị nói tiếp:

– Anh Nguyên Ngọc không đến được. Anh Ngọc đang dự một hội nghị về văn hoá ở miền Trung.

Ngừng một lát chị nói:

– Trông anh khoẻ hơn béo hơn bức ảnh ở bìa sách. Bức ảnh ấy trông anh gầy quá.

Tôi biết ngay chị là vợ anh Nguyên Ngọc. Nhưng chưa kịp hỏi chuyện, mấy ca-mê-ra đã đến chĩa ống kính vào chúng tôi. Chà chà. Chu đáo quá. Ghi hình ngay cả ở ngoài đường phố. Một người nữa chạy đến:

– Bùi Ngọc Tấn! Phạm Quế Dương đây!

Phạm Quế Dương. Người tôi đã gặp hôm đưa tro hài cốt Vũ Huy Cương vào chùa. Người được giải Nhân Quyền Hellman – Hammett cùng tôi. Người tôi đã đến nhà mấy lần nhưng không gặp. Tôi muốn hỏi Phạm Quế Dương về chuyện giải thưởng, nhưng nhiều ca-mê-ra đã chĩa vào chúng tôi. Thật là mẫn cán. Những người dám đến đây đều phải cảnh cáo bằng cách ghi hình. Nữa là Bùi Ngọc Tấn và Phạm Quế Dương. Chúng tôi phải tản ra. Thì lại một người nữa bước tới. Lê Hồng Hà. Chúng tôi chỉ bắt tay nhau, và đều hiểu rằng mình đang là tiêu điểm của sự chú ý nên chẳng thể ghé tai thì thầm những điều cần hỏi. Bây giờ mới là Vũ Cao Quận. Anh kéo chúng tôi ra nhận vòng hoa anh đã đặt. Những hai vòng hoa. Một cho Những người bạn đồng hành Hải Phòng, một cho riêng anh, Người lính già Vũ Cao Quận. Chúng tôi kẻ trước người sau khiêng hai vòng hoa bước vào khu tang lễ. Vừa qua cổng, chúng tôi đã được hướng dẫn vào phòng kiểm tra. Tôi đã dự nhiều đám tang nhưng đây là lần đầu tiên có một phòng kiểm tra như vậy. Chúng tôi phải giơ cao vòng hoa lên. Một người đeo phù hiệu Ban Tổ Chức cầm một cái gậy bên trên gắn một cái gì loe ra giống một chiếc đĩa nhỏ mầu đen hơ hơ vào những bông hoa, như người ta hơ chung quanh hành khách mỗi khi bước vào phòng chờ máy bay vậy. Thật khôi hài hết cỡ. Và trơ trẽn đến thế là cùng. Bởi dưới ánh nắng mặt trời, những cánh hoa những đài hoa gần như trong suốt, chẳng thể giấu trong đó một quả mìn tự tạo rồi cho phát nổ.

Hiển nhiên trò khôi hài này chỉ là cái cớ dẫn tới một việc khác mà đây mới là việc chính. Chúng tôi được mời vào trong nhà. Một người đàn ông trạc năm mươi tuổi to khỏe như một võ sĩ giu đô, dáng là sếp ở đó ôn tồn giải thích cho chúng tôi là phải thay băng chữ trên vòng hoa. Rằng băng chữ không thích hợp. Trước tiên là băng vải phải mầu đen. Mà băng vòng hoa to, vòng hoa của cả đoàn lại mầu xanh. Phạm quy. Hai nữa, tất cả các băng đều không được có chữ “thương tiếc” hoặc “kính trọng.” Mà băng của cả đoàn lại có chữ kính trọng. Chúng tôi xúm lại đấu tranh. Chúng tôi viết thế vi phạm ở chỗ nào? Có điều luật nào cấm không? Chúng tôi làm sai hiến pháp ở chỗ nào? Hiến pháp chỉ quy định chung còn trong những trường hợp cụ thể, nhà nước có những quy định riêng. Bộ Chính Trị, Chính Phủ đã quyết định như vậy. “Người lính già” Vũ Cao Quận hăng hái nhất: Anh cho chúng tôi xem bản quyết định ấy. Tôi nói là đủ. Chúng tôi không tin anh. Nguyễn Khoa Điềm là cái thứ gì. Là con cháu Trần Độ thôi chứ là gì? Hình như người đối thoại với chúng tôi đã được dặn dò rất kỹ là kiên quyết nhưng phải mềm mỏng, không để xẩy ra một sự cố nào. Anh ta lắc đầu: Lệnh trên là các băng không đúng quy định đều phải thay. Mà các bác không phải làm gì cả. Cứ ngồi đây. Đã có người thay cho các bác. Các bác cũng không phải trả tiền. Vũ Cao Quận nghiêm trang: Thế thì các anh cho một cái quy định đi. Vì sau đây chúng tôi còn đi nhiều đám ma. Đám nào được thương tiếc, được khóc. Đám nào không thương tiếc. Đám nào cười.

Cuộc thương lượng rất căng thẳng. Và trong khi đấu khẩu, các ca-mê-ra lại châu vào chỗ chúng tôi. Gí tận mặt từng người. Xè xè quay. Cạnh đó là những chiếc ghế băng ngồi kín những thanh niên choai choai ngực đeo phù hiệu Ban Tổ Chức làm ra vẻ thờ ơ với cuộc cãi vã, vô công rồi nghề mà tôi tin rằng đấy là những Hồng Vệ Binh đang ngứa ngáy chân tay, sẵn sàng tung ra những miếng võ học được trong các trường đào tạo công an. Ngôi nhà đối diện phía bên kia cổng cũng rặt những thanh thiếu niên “vô công rồi nghề” như vậy, người nào cũng mang phù hiệu Ban Tổ Chức, nhiều người với chiếc ca-mê-ra trong tay.

Nói thì nói thôi, chúng tôi đều hiểu cái người đối thoại với chúng tôi đây — chắc chắn là một mật vụ có hạng — chẳng có quyền gì. Anh ta chỉ là một cỗ máy, thực hiện nhiệm vụ của Đấng Tối Cao. Một rô-bốt đã được lập trình, cứ thế mà vận hành. Cuối cùng thì vòng hoa lớn, vòng hoa của cả đoàn được mang đi và được mang trả lại rất nhanh với băng vải đen in dòng chữ như mọi vòng hoa khác: Kính viếng ông Trần Độ. Chúng tôi bước khỏi phòng kiểm tra ra sân. Người đàn ông béo khoẻ đang ngồi bỗng đứng bật lên chạy theo chúng tôi. Lần này là vì vòng hoa riêng của Vũ Cao Quận. Yêu cầu bác quay lại thay băng đã. Vẫn không dừng lại, mặc anh ta lải nhải, chúng tôi chầm chậm vào sân. Vũ Cao Quận nói như quát trong “hành tiến”:

– Tôi không quay lại. Vừa nẫy các anh bảo chỉ thay một băng. Còn băng của tôi thì được. Bây giờ các anh lại bảo thay là thế nào? Các anh mời những nhà ngôn ngữ học lại đây xem băng của tôi có gì sai. Kính viếng Trung Tướng Trần Độ. Người lính già Vũ Cao Quận. Có gì sai, các anh nói đi. Ông Trần Độ có là trung tướng không? Tôi năm nay ngoài 70 tuổi làm liên lạc cho ông ấy từ những năm đầu cách mạng có được là người lính già không? Hay vẫn là người lính trẻ? Các anh nói đi.

Vũ Cao Quận đã thắng. Chúng tôi bước vào nhà tang lễ. Quan tài ông đặt trước một tấm vải mầu sẫm — đang ở ngoài nắng bước vào nhà tối, tôi không kịp phân biệt xanh hay đen — trên đó là vỏn vẹn 5 chữ kiểu ba tông không có chân, cắt bằng giấy trắng Lễ tang ông Trần Độ. Bôi bác đến thế là cùng. Những chữ tiêu đề hội nghị ở Quốc Doanh đánh cá Hạ Long mà thằng thi đua là tôi cũng không dám làm cẩu thả như vậy. Đó là chưa kể lời điếu của Vũ Mão kể tội ông. Lòng tôi sôi lên. Thật không ngờ người ta có thể táng tận lương tâm đến mức ấy. Còn Nguyễn Thanh Giang thì nhận xét: Họ sợ Trần Độ khi còn sống và sợ cả khi Người đã chết. Một đám tang không được nói tiếc thương. Mà chính Trần Độ là người đã góp công sức tạo dựng nên ngai vàng của họ!

Chúng tôi đi một vòng quanh quan tài và nhìn ông qua tấm kính trên nắp ván thiên. Bị bảo quản trong nhà lạnh quá lâu, khuôn mặt ông phù nề, sưng lên. Chỉ lát nữa thôi, ông sẽ thành tro bụi. Hạt bụi nào hoá kiếp thân tôi… Tất cả chúng ta đều sẽ thành tro bụi. Nhưng cũng có nhiều loại tro bụi. Cũng như ông và nhiều người khác, tôi nghĩ tro bụi của ông không thể để bên cạnh, lại càng không thể “sống” hoà hợp được với tro bụi chung quanh! Tro của ông được đưa về quê, theo ý nguyện của ông. Vĩnh biệt ông mà tôi cứ nghĩ đến lời giối giăng của ông với con với cháu: Hãy trở thành người tử tế. Thành người tử tế trong xã hội này thật khó khăn biết bao. Mà tử tế chỉ là tiêu chuẩn sơ đẳng của việc làm người! B.N.T. ( Kỳ sau in tiếp)

Nguồn:VV

 

Đăng bởi: Ngô Minh | 13.08.2015

HOÀNG HÔN ĐàTẮT

Nhà vănTrác Diễm

HOÀNG HÔN ĐÃ TẮT

Truyện ngắn TRÁC DIỄM

– Hello Ma Coong, mai xin nghỉ một ngày đi nhé.

– Này, cho một đấm bây giờ.  Nghỉ  rồi lấy chi ăn?

– Hi iii…yên tâm đi. Anh sẽ nuôi em suốt đời.

– Thôi  đừng dẻo miệng nữa. Nói thử chương trình ngày mai xem nào?

– Ưhm… mai sẽ đi Bàu Rèn chụp cò. Cảnh ở đó đẹp tuyệt!

– Phạ ơi ! Xa thế em đi sao được?

– Cứ chuẩn bị tinh thần đi, mai 9 giờ có mặt ở cầu Bùng, anh sẽ tới rước. –  Thôi  bye bye MaCoong nhé.

– Hây ! khoan đã… (Đọc tiếp…)

BÀI HỌC QUÝ GIÁ TỪ MỘT ĐỐM LỬA NHỎ GẠC MA

Tô Văn Trường 

Tôi nhớ có lần đọc ở đâu đó, có người viết đại ý: Một định lý trong cuộc sống mà ai cũng đồng tình: một ánh lửa chia sẻ là một ánh lửa lan tỏa. Một đồng tiền kinh doanh là một đồng tiền sinh lợi. Đôi môi có hé mở mới thu nhận được nụ cười. Bàn tay có mở rộng trao ban, tâm hồn mới tràn ngập vui sướng”.

  Nhiều đơn vị lớn có uy tín đã từng tổ chức tưởng nhớ tri ân các chiến sỹ đã hy sinh anh dũng ở Gạc Ma nhưng đều bất thành. Hình ảnh một số người dân Việt Nam tụ tập biểu lộ lòng yêu nước và tưởng niệm các chiến sỹ đã hy sinh anh dũng ở Gạc Ma bị đám đông dư luận viên phá rối thô bạo năm ngoái ở thủ đô Hà Nội vẫn ám ảnh nhiều người bỗng nhiên vỡ òa nhờ sự kiện “Bức tranh Gạc Ma – Vòng tròn bất tử” kết thúc thật có hậu và lan tỏa khắp cả nước thật xúc động ngoài tiên liệu của Ban tổ chức và người khởi xướng từ ý tưởng nhờ họa sĩ vẽ bức tranh ban đầu đến tổ chức thực hiện chính là ông Nguyễn Văn Phước, giám đốc Công ty văn hóa sáng tạo Trí Việt – First News.

  Khi cuộc đấu giá của First News đi được nửa chặng đường thì một nhân tố mới xuất hiện đã hỗ trợ rất nhiều và cùng đứng ra tổ chức Đại lễ tưởng niệm lần đầu tiên cho các chiến sĩ Gạc Ma trên 4000 người tham dự vô cùng xúc động và uy nghiêm, được báo chí và VTV đánh giá như một “Hội nghị Diên Hồng” – Đó là Thương Tọa Thích Thanh Phong, Trụ trì Chùa Vĩnh Nghiêm, đã trực tiếp đấu giá bức tranh và đứng ra cùng First News kết nối với Trung ương Giáo hội Phật Giáo Việt Nam thực hiện rất thành công sự kiện vô tiền khoáng hậu này.

Ban tổ chức, các nhà tài trợ tổ chức thực hiện thành công chương trình đấu giá bức tranh “Gạc Ma – Vòng tròn bất tử” và trao toàn bộ số tiền cho 64 gia đình liệt sỹ, kể cả 7 chiến sĩ Gạc Ma (1988) từng bị Trung Quốc bắt giam giữ 3 năm và 5 gia đình tử sĩ trong trận hải chiến bảo vệ Hoàng Sa năm 1974 còn ở Việt Nam đồng đều mỗi gia đình 20 triệu đồng là một việc làm hết sức có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, biểu lộ sự hòa giải dân tộc cùng là con cháu dòng máu Lạc Hồng hy sinh bảo vệ hải đảo của tổ quốc. Ban tổ chức cũng đã tặng Cảnh sát Biển Việt Nam 300 triệu đồng.

Tiếng vang và cách thức truyền thông của sự kiện đấu giá “Bức tranh Gạc Ma Vòng tròn bất tử” rất đặc biệt ở chỗ: Sự việc không chỉ được đăng tải rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng chính thống của nhà nước, trên các diễn đàn, các trang mạng xã hội, Facebook trong và ngoài nước, nhất là ở Mỹ. Đích thân ông G. James Zumwalt – con trai Đô đốc Hải Quân Mỹ Zumwalt – từng là Trung tá Hải quân trong chiến tranh Việt Nam viết bài trên báo ở Mỹ. Rất nhiều người bất ngờ đặt câu hỏi thú vị: “Điều lạ gì đang diễn ra đây?”. “Diễn biến gì đây?” khi bức tranh Gạc Ma được những người đấu giá muốn tặng cho Quốc hội, cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, cho Tổng Thống Obama, cho Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, cho Viện bảo tàng, v.v. cùng những lý do xác đáng và thú vị. Đúng là một sự kiện chưa từng xảy ra, bất ngờ nối tiếp bất ngờ. Vâng! Chỉ có lòng yêu nước mới lan tỏa với độ nóng và nhanh rộng, đầy cảm xúc đến như vậy. Và cũng đã rất lâu rồi, cảm xúc đó mới xuất hiện trở lại ở Việt Nam…

Một đốm lửa nhỏ từ sự kiện “Bức tranh Gạc Ma – Vòng tròn bất tử” đã thổi bùng lòng yêu nước bất tử không chỉ thể hiện qua những câu chuyện trong các trang sử, mà hiện diện ngay giữa cuộc sống hàng ngày. Chúng ta có thể thấy được, chạm đến được và cùng rung động với sự bất tử đó.

Hành động hung hăng tàn bạo của Trung Quốc thể hiện rõ trong vụ thảm sát những lính Việt Nam dũng cảm với “Vòng tròn bất tử” được tạo ra bởi 73 chiến sĩ hải quân dàn thế phòng thủ cố giữ lá cờ. Ai đã coi clip video quay thật về cuộc tàn sát này được đăng tải trên internet vào năm 2012 càng thấy rõ mức độ tàn ác của cuộc thảm sát và dã tâm ngày nay của Trung Quốc tiếp tục bành trướng muốn độc chiếm biển Đông.

Bằng ngôn ngữ “biểu tượng”, Bùi Lệ Trang đã khéo léo thể hiện một “trận chiến” dưới dạng một vòng cung, một chiến lũy “nước” ở trung tâm bức họa; giống như một vòng hoa lớn được đan kết bằng những con người đang giương cao 3 lá cờ Tổ quốc (quá khứ, hiện tại và tương lai) trong trận chiến “quyết tử vì Tổ quôc quyết sinh”, dưới làn đạn dày đặc, hung hãn của quân thù.

Biểu tượng “người chiến sỹ cầm Cờ đỏ sao vàng, không vũ khí trong tay với trái tim rỉ máu”, là phần thể hiện tinh thần tinh tế nhất của bức tranh muốn chuyển tải đến người xem, gây cảm xúc mạnh. Nó thể hiện ý chí sắt đá và tinh thần quật cường, bất diệt của dân tộc ta, không khuất phục trước bất kỳ kẻ thù nào, được trang bị vũ khí tối tân đến mấy (những họng súng đang nhả đạn). Đây cũng là thông điệp hòa bình của Việt Nam ta gửi cho thế giới thông qua biểu tượng “đường chân trời hình vòng cung, biển xanh, mây trắng”.

Một bất ngờ sau cùng – Sau cuộc đấu giá và đại lễ, Ban tổ chức và rất nhiều người đã xúc động bật khóc khi đọc bức thư cảm ơn chân tình, mộc mạc của Trần Thị Thủy, con gái của anh hùng liệt sĩ Trần Văn Phương, người giữ cờ và hi sinh trên đảo Gạc Ma – Quần đảo Trường Sa trong trận chiến không cân sức với quân xâm lược tàn bạo Trung Quốc, được đăng nguyên văn như sau:

Vừa qua, con được tham dự đại lễ cầu siêu cho anh linh của ba con cùng những đồng đội đã hi sinh tại Chùa Vĩnh Nghiêm và nhân đây con cùng gia đình những đồng đội của ba được nhận sự ủng hộ từ số tiền bán đấu giá bức tranh “ Gạc ma – Vòng tròn bất tử” của Ban tổ chức.

Trước hết, con xin được thay mặt gia đình cảm ơn sự động viên, quan tâm của tất cả mọi người. Xin được gửi lời cảm ơn tới Ban Trụ trì Chùa Vĩnh Nghiêm cùng toàn thể tăng ni phật tử Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã tổ chức một buổi đại lễ cầu siêu cho linh hồn của ba con và đồng đội, đây là một đại lễ lớn nhất và diễn ra đầu tiên kể từ khi ba con nằm xuống, đã 27 năm rồi, thời gian trôi qua không phải là khoảng thời gian quá dài nhưng cũng không phải là ngắn đối với gia đình chúng con; những gia đình mất đi người thân, người mẹ mất con, người vợ mất chồng và những đứa con vĩnh viễn không bao giờ được gặp người cha thân yêu của mình. Đó chính là nỗi đau thương thiệt thòi quá lớn mà không gì có thể bù đắp được. 27 năm trôi qua con chưa bao giờ được chứng kiến hay tham dự một buổi đại lễ cầu siêu nào để cầu cho linh hồn những người đã không tiếc thân minh hi sinh cho Tổ quốc để họ được yên ủi nằm lại trong lòng biển sâu lạnh lẽo, băng giá.Cho tới ngày hôm nay con mới được chính thức tham dự một đại lễ cầu siêu lớn như vậy, thực sự con cảm thấy rất ấm lòng, cũng là sự động viên tinh thần rất lớn đối với gia đình con cũng như gia đình 63 liệt sỹ khác.

Xin cảm ơn họa sĩ Bùi Lệ Trang, người đã vẽ lên bức tranh bằng những đường nét sắc sảo để có một bức tranh mang đậm chất nhân văn và đánh vào lòng tự trọng của những kẻ đã đang tâm ăn cướp của người khác.

Cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới giám đốc Công ty văn hóa sáng tạo Trí Việt (First News), người đã có ý tưởng và cùng với Ban tổ chức, các nhà tài trợ… tổ chức thực hiện thành công chương trình đấu giá bức tranh “Gạc ma – Vòng tròn bất tử” và trao toàn bộ số tiền cho 64 gia đình liệt sỹ, một việc làm hết sức có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, là sự động viên lớn cho những gia đình như chúng con trong dịp 27/7 này.

Nhân dịp này không chỉ gia đình con mà cả gia đình của 63 liệt sĩ khác được công khai khóc cho những người chồng, người cha của mình mà không phải sợ bị ảnh hưởng đến tập thể hay cá nhân nào. Thiết nghĩ, cha mình hi sinh không tiếc bản thân mình cho Tổ quốc; không phải là để ghi danh hay gia đình đòi hỏi bất cứ một thứ gì, nhưng thời gian qua kể từ lúc cha con hi sinh gia đình con rất ít khi được nhận sự quan tâm của Nhà nước. Thi thoảng chỉ là những dịp lễ, ngày thương binh liệt sỹ; thế nhưng dần dà càng về sau thì càng bị quên lãng. Ba con mất đi chỉ có gia đình, mẹ con con chịu thiệt thòi, mất mát. Một mình mẹ phải gánh vác mọi việc trong gia đình, ruộng vườn cày cấy, làm thuê cuốc mướn vất vả khó nhọc để có tiền nuôi con ăn học trưởng thành. Bởi vì với những đồng tiền trợ cấp ít ỏi của con không thể đủ để cho mình con ăn học. Bản thân mẹ không được nhận trợ cấp. Cho đến năm 2009, qua bao nhiêu lần ngược xuôi làm giấy tờ thủ tục thì mới được hưởng. Mọi khó khăn khổ nhọc trong cuộc sống có lẽ là mẹ đã trải qua không bỏ sót cái nào.

 

 

 

Ảnh: Hai mẹ con vợ liệt sĩ Trần Văn Phương

Trong những năm trước, có thể nói nhắc đến sự kiện 14/3/1988 là điều không thể, như bị ngăn cấm, như sợ bị ảnh hưởng đến quan hệ ”quốc gia láng giềng tốt đẹp” giữa mình và một đất nước đã đang tâm cướp đi bao sinh mạng, bao người thân yêu của chúng con. Với tư cách là một người con mất cha, con cảm thấy rất căm thù kẻ thù, lòng căm hận sôi sục nhưng tại sao lại không được bày tỏ, tại sao lại không được nhắc đến và tại sao chúng ta lại phải giấu diếm cho tội ác tày trời của chúng. Chúng ta kìm nén, chúng ta nhường nhịn và chúng ta nhẫn nhục mãi cho tới tận ngày hôm nay để chúng ta nhận được những gì, cũng không có gì thay đổi, vẫn là sự ngang nhiên xâm chiếm, vẫn là sự ngang tàng táo tợn khó hiểu của những kẻ bộc lộ rõ bản chất xấu xa với những ý đồ nham hiểm trên vùng biển của ta; làm hại người dân của ta. Cho tới ngày hôm nay khi được tự do nói đến, khi được một số cơ quan, đoàn thể quan tâm đến thì có một số người cha người mẹ của liệt sỹ đã mất vì già yếu, bệnh tật. Cũng có một số thương binh trở về từ cuộc chiến đã mất, những người còn sống cũng chưa được hưởng chế độ gì, hoặc nếu có thì phải trải qua bao khó khăn mới có được như mẹ con.

Những điều tâm sự con nói ở đây không phải là để chỉ trích toàn bộ hệ thống mà đây là một số bộ phận, cơ quan nhà nước và những cá nhân tắc trách trong công việc. Họ không hề biết rằng ai đã hi sinh ai đã đổ máu để lại phía sau là gia đình, là vợ góa con côi, mẹ già côi cút để cho họ có quyền được sống và ngồi đó hưởng sự sung sướng. Họ hạch sách và đòi hỏi đủ điều để phục vụ cho lợi ích của họ. Đây chính là điều mà con cảm thấy không được hài lòng nhất trong thời gian qua. Cha con và đồng đội ngã xuống vì Tổ quốc, để lại cho người thân của họ những nỗi đau không gì bù đắp được, thế nhưng khi những người còn sống đã chịu nhiều đau thương mất mát thì lại không được quan tâm chia sẻ, động viên. Không phải đòi hỏi nhưng đó là quyền lợi mà những người thân như gia đình chúng con cần được có; chúng con cần những lời động viên, cần sự quan tâm và cần sự chia sẻ để lấy đó làm niềm an ủi tinh thần mà vượt qua mọi khó khăn thử thách trong cuộc sống; và con nghĩ mọi sự chia sẻ ấy sẽ làm yên lòng người đã khuất, và ấm áp lòng người còn sống.

Cho nên trong dịp này, một đại lễ cầu siêu cho anh linh các liệt sỹ và một cuộc đấu giá để hỗ trợ cho gia đình là rất có ý nghĩa. Một lần nữa con xin cảm ơn tấm lòng quan tâm chia sẻ của tất cả mọi người”.

 

Thay cho lời kết của Nhân quả:

“Nếu ta bắn vào quá khứ bằng súng lục – tương lai sẽ bắn ta bằng đại bác”

 

Lịch sử có cả gam mầu hồng và mầu tối. Trận “thảm sát” Gạc Ma, không hiểu vô tình hay hữu ý, mà người ta (giới hữu trách) không hề nói nhiều về nó? Có thể, họ ỉm đi để đổi lấy “mối quan hệ” với ông bạn láng giềng đểu giả. Điều đáng nói nữa về măt đối nội (nội bộ ta), hình như họ muốn quên Gạc Ma, họ lại chối bỏ quên luôn cả 64 người con anh dũng đã hi sinh để bảo vệ lãnh hải của tổ quốc? Giả thử, nếu Trung Quốc không công bố đoạn video nhạy cảm và dã man ấy, thì mấy ai ở Việt Nam biết được điều sự thật này?

Dân tộc ta luôn trân trọng và yêu quí sự thật, và lòng trung thực, đừng làm mất lòng dân vì thiếu trung thực. Mà có dân mới có tất cả – mất lòng tin của dân là mất tất cả. Hãy nhớ rằng khi có giặc ngoại xâm, chỉ có dân và con cái người dân đi đánh giặc – nên hãy biết tri ân từ bây giờ, kẻo muộn.

Bài học quý giá qua sự kiện đốm lửa nhỏ Gạc Ma đã làm rõ thêm nhiều điều cần phải bàn tiếp. Đặc biệt là vấn đề chia sẻ thông tin của giới hữu trách với người dân; việc cư sử, tri ân với những người đã hi sinh trong cuộc chiến biên giới chống quân giặc Tàu.

Lịch sử tồn tại của một dân tộc là chuỗi các sự kiện tích cực và tiêu cực. Giới chính trị thường lợi dụng phần tích cực của lịch sử và “ỉm đi” phần không có lợi cho họ (tiêu cực). Sự kiện Gạc Ma chỉ là một trường hợp cụ thể cho sự “què quặt” đó. Người dân Việt Nam và giới trẻ ngày nay không thích học sử Việt vì người ta đã chủ ý “bẻ” đi phần không thích, để nó tồn tại như một con chim Việt bị què.

Xin trích câu nói nổi tiếng trong ngôi đền thờ cổ Vua Hùng để kết luận cho bài viết này:

“Ngọn muốn vươn đến tột đỉnh của tương lai,

Rễ phải bám chặt tận cùng của quá khứ”.

  Ông cha ta với lịch sử 4000 năm văn hiến đã dạy truyền thống tốt đẹp như vậy, tại sao không nghe theo?

T..V.T.

( Nguồn: BVN)

 

Trung Quốc ‘cơi nới đảo nhiều hơn công bố’

  • BBC Vn 9 giờ trước (7 giờ 03′ ngày 22/8/2015)

Công trình của Trung Quốc trên Đá Subi

Lầu Năm Góc nói Trung Quốc mở rộng diện tích đảo nhân tạo tại Trường Sa trong Biển Đông nhiều hơn được biết.

Phúc trình mới của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ cũng cho hay Bắc Kinh vừa kết thúc xây dựng đường băng trên một trong bảy điểm tiền tiêu mà Trung Quốc xây cất lên.

Khi đường băng mới này, trên Đá Chữ Thập (Trung Quốc gọi là Vĩnh Thử), được đưa vào hoạt động thì Trung Quốc có thể sử dụng nó cho các chiến đấu cơ đặt trên hàng không mẫu hạm để thực hiện các chiến dịch ở ngoài khơi xa.

Hàng không mẫu hạm duy nhất mà Trung Quốc có trong tay đã tham gia các hoạt động tập dượt ở Biển Đông nhưng chưa được vận hành hoàn toà. Một số chuyên gia cho rằng Trung Quốc có thể sẽ tự sản xuất tàu sân bay khoảng năm 2020 như một phần trong kế hoạch phát triển hải quân xa bờ của mình. (Đọc tiếp…)

Older Posts »

Danh mục